Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:13:49 PM



Tiêu đề: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:13:49 PM
Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian" được đăng tải ngay trên blog của Ông: http://nguyenmanhdau.blogspot.com. Tôi đã được gặp, được biết và khâm phục Ông không phải vì là một người tướng lĩnh của QĐ NDVN mà vì ở Ông có một tấm lòng và những hành động cao cả vì đồng đội, vì các AHLS đã ngã xuống. Xin phép và giới thiệu với bạn đọc cuốn hồi ký của Ông.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:14:34 PM
LỜI GIỚI THIỆU
   
                                    
LÊ KHẢ PHIÊU
Nguyên Tổng Bí thư BCHTW Đảng Cộng sản VN
Nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐNDVN



Tôi biết Nguyễn Mạnh Đẩu đã khá lâu. Lần đầu tiên vào cuối năm 1969, khi tôi chủ trì Hội nghị tập huấn trợ lý thanh niên các đơn vị thuộc Quân khu Trị Thiên, thì Nguyễn Mạnh Đẩu là Trợ lý thanh niên của Trung đoàn 8 – Sư đoàn 324. Hồi đó anh còn rất trẻ, nhưng đã trực tiếp trải qua chiến đấu 5 năm ở chiến trường.
Từ một chàng trai tình nguyện nhập ngũ khi chưa đủ tuổi, Nguyễn Mạnh Đẩu đã gắn bó cả cuộc đời với quân ngũ. Anh đã tham gia nhiều trận chiến đấu ác liệt, và sau này giữ nhiều cương vị trong quân đội: Cục trưởng Cục Chính sách, Phó Hiệu trưởng về chính trị Trường Sĩ quan Lục quân 1, rồi Chính ủy Tổng cục Kỹ thuật.
Nguyễn Mạnh Đẩu là một cán bộ nhiệt tình, xông xáo, quyết đoán, có tầm nhìn và sống nghĩa tình, nên ở mọi vị trí công tác, anh đều để lại dấu ấn cho đơn vị và ấn tượng, tình cảm tốt đẹp cho đồng chí, đồng đội. Cuốn Hồi ký “Những nẻo đường thời gian” đã tái hiện những chặng đường chiến đấu, công tác anh đã đi qua. Do sự phong phú về vốn sống và sự trải nghiệm gắn với những vị trí công tác khác nhau, nên cuốn sách là tư liệu để chúng ta hiểu hơn cuộc sống và hoạt động của nhiều loại hình tổ chức trong quân đội: đơn vị chiến đấu cấp phân đội, cơ quan cấp chiến lược của Bộ Quốc phòng, học viện nhà trường quân đội.
Phần kể về thời kỳ tham gia chiến đấu những năm tháng chiến tranh chống Mỹ cứu nước, tác giả cho ta những hình ảnh chân thực và cảm động nhất về những người chiến sĩ đặc công trong gian khổ ác liệt, sự dũng cảm hy sinh và nghĩa tình đồng đội. Phần kể về thời kỳ công tác ở các cơ quan chiến lược, chúng ta có thấy nhiều điều, đặc biệt là thời kỳ ở Cục Chính sách, với cương vị Cục trưởng Cục Chính sách đã tham mưu cho Tổng cục Chính trị, Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ Quốc phòng và Nhà nước nhiều chủ trương, chính sách quan trọng, có ý nghĩa lớn. Đây không chỉ là hoạt động của cơ quan, mà qua đó, ta hiểu được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và Quân đội về công tác chính sách đối với bộ đội và những người có công qua các cuộc chiến tranh cách mạng của dân tộc. Thời kỳ công tác ở Trường Sĩ quan Lục quân 1 cũng như sau này đảm nhiệm cương vị Chính ủy Tổng cục Kỹ thuật, chúng ta lại được gặp ở Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu những phẩm chất đáng quý về trí tuệ và nhân cách của cán bộ quân đội ta.
Cuốn Hồi ký “Những nẻo đường thời gian" do chính tác giả thể hiện, nên các câu chuyện được tái hiện sinh động, chân thực và có chiều sâu, có nhiều tư liệu quý, rất nên đọc và nghiên cứu.
      
Hà Nội, ngày 30 tháng 6 năm 2010
[/i]


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:17:17 PM
MỘT SỐ BÀI VIẾT VỀ CUỐN HỒI KÝ " NHỮNG NẺO ĐƯỜNG THỜI GIAN"



KHÚC CA XƯA VANG VỌNG ĐẾN BÂY GIỜ
(Báo An ninh cuối tháng, số 113, tháng 12/ 2010)

Khánh Linh (Việt Hà)


Giữa tháng 11 năm nay, bà Phạm Thị Lan, 81 tuổi, quê ở xã Cẩm Thăng, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, có chồng là liệt sĩ Nguyễn Hoán, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 3, Sư đoàn 324, hy sinh trong chiến trường Quảng Trị năm xưa đã khăn gói lặn lội từ trong Hà Tĩnh ra  Hà Nội tìm Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu, nguyên Chính ủy Tổng cục Kỹ Thuật khi đọc được cuốn hồi ký ông viết về chồng mình. Gặp ông mà ngẹn ngào, rưng rưng. Có những người con đã trang trọng đặt cuốn hồi ký đó lên bàn thờ bố, với một niềm ngưỡng vọng, vì lần đầu tiên kể từ khi nhận được tờ giấy báo tử lạnh lùng, họ được biết một chân dung về cha mình đầy đủ, cảm động và chân thực đến thế. Và rất nhiều, rất nhiều câu chuyện cảm động đã và sẽ còn khi chiến tranh đã lùi xa, thời gian đã phủ bụi lên quá khứ.

Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu ngồi trầm ngâm trong ngôi nhà nhỏ của mình khi lần dở lại những dòng ký ức. Hình như đối với ông, ký ức chưa bao giờ đi xa...
Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu rời xa chốn quan trường cách đây gần năm. Hơn 45 năm gắn với cuộc đời binh nghiệp, giờ đây ông mới có những khoảng lặng cho riêng mình, cởi bỏ khỏi chiếc áo phong sương của một đời lính, thanh thản với niềm vui tuổi già. Nhưng một người lính đã từng đi qua trận chiến như ông và may mắn được trở về, vẫn thấy mình mắc nợ với cuộc đời, với đồng đội. Câu chuyện với Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu giờ là câu chuyện của ký ức, về những ngày xa xưa… và nó vẫn hiện về mồn một trong ông. Một vị tướng đi qua nhiều cuộc chiến tranh, cả thời chiến lẫn thời bình như ông, thì câu chuyện không phải là của ngày hôm nay, mà đó là những ký ức, vẫn còn nguyên vẹn, tươi rói như mới chỉ xảy ra ngày hôm qua. Bởi ông còn lưu giữ trong mình quá nhiều những kỷ niệm, về đồng đội năm xưa, những con người vô danh đã bị cuốn trôi trong lớp bụi của thời gian
Ông sinh ra ở một miền quê nghèo của Nghệ An nắng cháy, xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, một cậu bé quê tinh nghịch, thông minh. Quê hương của Nguyễn Mạnh Đẩu là một vùng cát pha, những con người phải quằn mình trước khắc nghiệt của khí hậu, là những ngày theo cha đi ăn cơm tập thể bộ đội, và đầm mình thỏa thích trong dòng sông Lèn thơ mộng, có lần suýt chết đuối vì không biết bơi. Đó là một tuổi thơ dữ dội với nhiều biến cố trong đời sống riêng của gia đình, khiến cậu bé Đẩu sớm trưởng thành, đĩnh đạc.  Lần đầu tiên nhìn thấy máy bay Mỹ, khi đó Nguyễn Mạnh Đẩu tròn 16 tuổi, cậu nằng nặc xin thêm một tuổi và trốn cha đi bộ đội. Ngày lên đường nhập ngũ của Đẩu vì thế không có người đưa tiễn, cậu bé sống mũi cay cay, khi nhìn thấy vòng tay ấm áp của những người thân tiễn người đi chiến trận. Lúc đó, cậu mới chạnh lòng. Nhưng ý đã quyết, Nguyễn Mạnh Đẩu trở thành chiến sĩ giải phóng quân hoạt động trên những vùng chiến ác liệt, Lào, Quảng Trị - Thừa Thiên.  Và trong những ngày cận kề với cái chết, ông đã viết nhật ký, viết với tâm thế của một người lính ra trận không xác định ngày về. Những dòng nhật ký được viết vội sau từng trận đánh, của một chàng trai trẻ muốn dành niềm tự hào cho cha, và trong những trang đầu tiên của cuốn nhật ký, ông viết, “Sau khi tôi hy sinh, hãy gửi lại cho cha để ông có quyền tự hào về con trai mình, đã sống và chiến đấu trên tuyến đầu.” Nhưng cuốn nhật ký đã bị lưu lạc và ông may mắn được trở về. Đó là khi ông tham gia chiến dịch đường Chín Nam Lào, đại đội đặc công của ông được giao nhiệm vụ đánh vào cao điểm 550, nhằm tiêu diệt lữ đoàn 147 của địch. Ông đã bị thương nặng, đến nỗi nhiều người nghĩ rằng ông đã hy sinh. Một đồng đội đã cầm cuốn nhật ký, và gửi lại nơi hậu cứ. Nhưng sau một trận oanh tạc của máy bay Mỹ, người lính ấy cũng đã bị thương và bỏ lại một chân ở chiến trường, và ông đã không thể giữ lại cuốn nhật ký.
Hơn 40 năm đã đi qua, nhưng đến bây giờ, ông vẫn nhớ như in từng dòng nhật ký đó. Chuyện cách đây một, hai năm có thể quên, nhưng câu chuyện hào sảng của một chàng trai 20 tuổi đi vào chiến trận với tâm thế lãng mạn, lạc quan đó thì làm sao có thể quên. Đó là những tháng ngày chiến đấu vô cùng ác liệt mà những người lính như ông đứng mong manh giữa sự sống và cái chết. Rất nhiều đồng đội ông đã bỏ lại thân xác của mình nơi rừng sâu heo hút. Có nhiều chiến thắng, nhưng có rất nhiều hy sinh, có những cái chết của đồng đội còn ám ảnh ông đến tận bây giờ. Khe Sanh, đường Chín, không có trận chiến nào khốc liệt hơn thế, và hình ảnh đồng đội, những chiến sĩ liên lạc vượt nguy hiểm khi gặp được đơn vị đã đói lả chỉ còn thoi thóp, những cái bắt tay của đại đội trưởng bộ binh trước giờ xung trận và mãi mãi không trở về… Tất cả đều trở thành nỗi ám ảnh trong tâm khảm Nguyễn Mạnh Đẩu. Ông đã không thể đi tiếp cùng đồng đội trong cuộc  tiến về giải phóng miền Nam mà lùi lại hậu cứ, về công tác ở Tổng cục Chính trị năm 1972. Và sau này đảm nhiệm nhiều cương vị khác nhau: Cục trưởng Cục Chính sách - Tổng cục Chính trị, Phó Hiệu trưởng về Chính trị Trường Lục quân 1 và Chính ủy Tổng cục Kỹ thuật. Trở về thời bình, mang tâm thế của một chiến binh đã từng đi qua chiến trận, hiểu được nỗi mất mát, hy sinh, hiểu được cái giá của hòa bình đã trả bằng biết bao máu xương của đồng đội, dù bận trăm công ngàn việc ở những cương vị mới, nhưng Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu vẫn dành một góc riêng cho đồng đội năm xưa. Nhiều câu chuyện buồn thời hậu chiến đã được ông tìm hiểu, hóa giải, về những vấn đề chính sách. Có những việc ông làm được, nhưng có những việc ông đã bó tay vì sự đã rồi, nhìn đồng đội âm thầm chịu thiệt thòi mà đau xót… Từ Cục Chính sách, ông được điều về Trường Sĩ quan Lục quân 1, nơi đào tạo những sĩ quan vừa hồng, vừa chuyên của quân đội. Và sau  cùng của cuộc đời binh nghiệp, ông tham gia lãnh đạo, chỉ đạo công tác bảo đảm kỹ thuật vũ khí, trang bị kỹ thuật - một thành tố đặc biệt quan trọng góp phần tạo nên sức mạnh chiến đấu của Quân đội và tiềm lực quốc phòng của Đất nước - không kém phần  khó khăn.
 Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu đã cầm bút từ sự thôi thúc, viết để tri ân, báo đáp những đồng đội trong mấy chục năm trường. Cuốn hồi ký do chính tự tay ông chấp bút đã tái hiện lại một không gian lịch sử hào hùng nhưng cũng đầy bi tráng của dân tộc. Ông tâm sự:  “Hơn 60 tuổi đời, chẵn 45 năm quân ngũ, ôn lại những nẻo đường đã qua, hiện lên trong tâm trí tôi như những thước phim quay chậm. Những thước phim lung linh sắc màu thời gian, bao kỷ niệm, ký ức, những hình ảnh thân thuộc. Tương tư gõ vào kỷ niệm. Tôi bồi hồi nhớ về quê hương, gia đình yêu dấu, nhớ lại cánh đồng chiêm mùa một nắng hai sương, với hạt gạo củ khoai, cha mẹ tảo tần nuôi tôi từng ngày khôn lớn, nhớ lại người thân bè bạn một thời hồn nhiên, trìu mến…”. Nguyễn Mạnh Đẩu đã viết bằng cảm xúc trực tiếp của một người đi qua cuộc chiến, nếm trải những mất mát đau thương của đồng đội, vì thế cuốn hồi ký thực sự làm lay động lòng người. Đó không chỉ là những hào quang của chiến thắng, mà có cả sự mất mát, cả những đau thương. Ông viết bằng cả sự chiêm nghiệm về cuộc đời. Những nẻo đường thời gian của ông không viết nhiều về mình mà đầy ắp những sự kiện về cuộc chiến, về đồng đội, bởi với ông, sự sống còn hôm nay của Nguyễn Mạnh Đẩu có một phần xương máu của đồng đội ông năm xưa. Kể cả những hồi ức trong thời bình, ông cũng khiêm nhường nép mình trong dòng chảy chung của dân tộc. Chuyện đời, chuyện thế sự, lúc buồn lúc vui, âu cũng là lẽ thường tình. Có một nhà văn Pháp đã nói rằng, viết hồi ký là khi đã đến lúc thấy những khát vọng, những hoài vọng về cuộc đời đã cạn kiệt. Thế nên quá khứ với Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu không phải là hào quang của chiến thắng, của những đối đãi trọng vọng khi còn chức tước. Quá khứ của ông được viết nên bằng máu và nước mắt của đồng đội, là nỗi day dứt còn đó về những mất mát thời hậu chiến, là những dự định con dang dở… Giống như trên một chuyến tàu, đã đến lúc dừng ga, và bước xuống, trong tư thế của một kẻ sĩ luôn biết người biết ta, thấu hiểu thời cuộc. “Trên tàu / Người giàu ngồi chễm chệ toa sang / kẻ nghèo hèn ngồi bệt toa đen / Vốn thế / Một diện tích nhỏ nhoi rành rẽ / Phân biệt Anh, Tôi / Xuống tàu / tất cả như nhau / còn ai hay số ghế chỗ ngồi /quên lãng/ Đoàn tàu đầy ắp lữ hành… 
 Nhưng đằng sau những chiến công của một vị tướng đã đi qua thời chiến và thời bình ấy, vẫn thấy bóng dáng của một tâm hồn thi sĩ. Tâm hồn ấy được nuôi dưỡng từ miền quê nghèo cát trắng quê ông. Như một bài thơ nói lên cảm xúc về hồi ức của ông khi trở lại chiến trường xưa :
“...Những cánh rừng cao su bạt ngàn
Gợi lại cho ta một thời trận mạc
Người lính kiêu hùng có trái tim biết hát
Khúc ca xưa vang vọng đến bây giờ
....”


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:18:02 PM
Đọc sách NHỮNG NẺO ĐƯỜNG THỜI GIAN
(Hồi ký của Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu
Nhà xuất bản Quân Đội 2010)



Nhà thơ Lê Văn Vọng


          Tập hồi ký “Những nẻo đường thời gian” của tác giả Nguyển Mạnh Đẩu kể về quãng đời gian lao thử thách, phấn đấu tự hào của một người chiến sĩ Quân đội Nhân Dân. Người thanh niên Nguyễn Mạnh Đẩu 16 tuổi đã khai tăng tuổi để đủ tuổi nhập ngũ lên đường đi chiến đấu. Qua tháng năm, qua nhiều chiến trường, trận đánh, đảm nhiệm nhiều cương vị trong chiến đấu, công tác, từ một anh lính binh nhì sau chặng đường 45 năm phấn đấu lên đến Trung tướng.
Tập sách dược chia làm 8 chương và lời kết. Ở chương 1 tác giả dành nhiều tâm huyết nói về quê hương, gia đình và quãng đời ấu thơ. Ai cũng có một tuổi thơ, một vùng quê của riêng mình. Nhưng cái tuổi thơ của tác giả ở một vùng quê nghèo: Xã Nghi Hợp, Nghi Lộc( Nghệ An) lại làm người đọc khó quên. Nghi Lộc không chỉ là vùng đất hiếu học mà còn giàu truyền thống yêu nước. Người đọc sẽ nhận ra ở đây nhiều nhân vật có công với nước như Nguyễn Xí ( 1397- 1465), một đại thần của bốn đời vua Lê, từ Lê Thái Tổ đến Lê Thánh Tông. Ông là một vị tướng trụ cột đã giúp Lê Lợi trong cuộc trường kỳ kháng chiến 10 năm chống quân Minh (1418 – 1428). Sau đó ông phò tá Vua Lê Thánh Tông, vị vua nổi tiếng anh minh trong lịch sử đất nước gây dựng xã tắc, giữ gìn và mở mang bờ cõi, chấn hưng đất nước. Dưới thời cách mạng, trong hai cuộc kháng chiến chống xâm lược bảo vệ Tổ quốc, Nghi Lộc cũng nổi tiếng là huyện có nhiều tướng lĩnh, khoảng 20 người từ Thiếu tướng đến Thượng tướng. Mảnh đất giàu truyền thống ấy đã tạo nên niềm tự hào, sức bật để chàng thanh niên Nguyễn Mạnh Đẩu luôn hoàn thành nhiệm vụ được giao, khi xông pha nơi trận mạc cũng như lúc bị thương không còn đủ sức chiến đấu phải lui về hậu phương công tác. Các chương 2, 3, 4 ghi lại thời kì chiến đấu ở các chiến trường: Lào, Quảng Trị - Thừa Thiên, Đường 9 - Nam Lào… Đó là quảng thời gian từ 1964 – 1971 là thời kì khó khăn quyết liệt nhất của bộ đội ta trên chiến trường miền Nam. Lúc cao điểm lực lượng quân Mĩ lên tới 500.000 người và hơn 1 triệu quân ngụy với đủ các loại vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại, từ pháo đài bay B52, xe  tăng M41 đến hàng rào điện tử Mắc – Na – Ma – Ra .v.v. . Chiến trường Quảng Trị - Thừa Thiên được coi là nơi so tài thử sức giữa lực lượng ta và địch, vì thế cũng là nơi có thể nói là ác liệt nhất. Những địa danh, những trận đánh đã đi vào lịch sử chiến đấu oai hùng của quân đội ta mà mỗi khi nhắc tới ai cũng tự hào: Cồn Tiên, Dốc Miếu, Khe Sanh, Đường 9 – Nam Lào…
          Người chiến sĩ nào khi ra trận cũng phải đối mặt với gian khổ hi sinh; nhưng ở cái “chảo lửa” này sự thử thách sẽ nghiệt ngã, ác liệt hơn nhiều nơi khác. Trong “Những nẻo đường thời gian” tác giả kể lại rất nhiều trận đánh khi anh là chiến sĩ bộ binh, khi là chiến sĩ đặc công. Có trận thắng dòn dã, song cũng có nhiều trận quân ta bị thiệt hại nặng nề không hoàn thành nhiệm vụ như trận đánh cao điểm 817 – Tà Tách, nhiều mũi chiến đấu hi sinh không còn một người. Trước sự ác liệt ấy có những con người đã bộc lộ sự hèn nhát, giả ốm, tự thương, thậm chí chạy sang hàng ngũ địch để giữ mạng sống. Trong “Những nẻo đường thời gian” cuộc sống sinh hoạt, chiến đấu của các chiến sĩ ngoài chiến trường cũng được tác giả mô tả khá sinh động. Gian khổ, ác liệt, thiếu thốn, bệnh tật, chết chóc… Song bao trùm lên tất cả là tình đồng chí, đồng đội, mối quan hệ thân ái, chí tình  giữa cấp trên cấp dưới… coi nhau như anh em một nhà. Điếu thuốc bẻ đôi, nhường nhau ngụm nước, sẻ chia niềm vui, nỗi buồn. Những trang viết chân thực súc tích về tình đồng chí đồng đội làm người đọc cảm động. Đó cũng chính là điểm tựa vững chắc, tin cậy để người chiến sĩ vượt qua thử thách hoàn thành nhiệm vụ.
          Ngày đó ai cũng biết cả miền Bắc nhất là vùng khu 4 luôn phải gồng mình chống  trả cuộc đánh phá  tàn bạo của không quân Mĩ. Trên khắp quê hương từ thành thị đến thôn quê không ngày nào không có những cuộc ném bom và không ngày nào không có người ngã xuống vì bom đạn địch. Những người lính từ chiến trường Quảng Trị - Thừa Thiên thường được gọi là những người “ăn cơm Bắc, đánh giặc Nam”. Sau thời gian chiến đấu gian khổ, quân số hao hụt, các đơn vị lại được lệnh hành quân ra miền Bắc để bổ sung lực lượng, học tập và bồi dưỡng sức khỏe. Trong “Những nẻo đường thời gian” tác giả cũng đề cập tới cuộc chiến tranh  phá hoại của đế quốc Mĩ trên vùng đất Quảng Bình, Hà Tĩnh nơi đơn vị anh đóng quân sau khi từ chiến trường ra. Qua lời kể ta biết cuộc sống người dân những nơi này còn muôn vàn khó khăn, nhưng họ vẫn sẵn sàng  dành nơi ăn chỗ nghỉ cho bộ đội, sẵn sàng dành cân thóc cuối cùng, đứa con trai duy nhất cho cuộc kháng chiến giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
          Cuốn hồi kí cũng dành một phần đáng kể dể nói về quãng thời gian 35 năm tác giả công tác ở cơ quan Tổng Cục Chính Trị, Trường Sĩ quan Lục quân I và Tổng Cục Kỹ Thuật với các vị trí công tác: Trợ lý, Cục trưởng Cục Chính Sách, Phó hiệu trưởng về chính trị Trường Sĩ quan Lục quân I, Chính ủy Tổng Cục Kỹ Thuật.
Công tác chính sách quân đội là một công việc hết sức khó khăn, phức tạp, đòi hỏi người làm phải có đức hi sinh và lòng kiên trì. Song cao hơn cả là cái tâm và cái tình. Do hoàn cảnh đất nước chiến tranh kéo dài, hàng chục vạn trường hợp thương binh, liệt sĩ và gia đình có công bị tồn đọng, chưa được giải quyết chế độ đãi ngộ. Đó là một thiệt thòi đối với những người có cống hiến cho cách mạng. “Những nẻ đường thời gian” cho ta thấy một đội ngũ những người làm công tác chính sách quân đội tận tụy, giàu lòng nhân ái, thấm nhuần đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc; từ lãnh đạo, chỉ huy, trợ lý ở cơ quan tới những chiến sĩ các đội qui tập hài cốt liệt sĩ trên các chiến trường Việt Nam, Lào, Campuchia. Nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước họ ngày đêm làm việc với một tâm nguyện là đem lại quyền lợi chính đáng cho hàng chục vạn thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ, góp phần tạo nên niềm tin và sức mạnh của quân đội ta.
Đề cập tới thời gian công tác ở Trường Sĩ quan Lục quân I, tác giả dành những trang viết vừa trân trọng vừa tình cảm. Đây là ngôi trường đầu tiên của quân đội ta, được thành lập theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Tuyên Quang – Thủ đô gió ngàn với tên gọi ban đầu là Trường Quân chính kháng Nhật. Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, Trường Sĩ quan Lục quân I được mang tên: Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn, một danh tướng kiệt xuất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta. Trải qua tần 60 năm xây dựng và hoạt động. Trường Sĩ quan Lục quân I đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi của nhân dân ta trong cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền, trong  hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, làm nhiệm vụ Quốc tế và trong sự nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ quốc. Từ ngôi trường này hang vạn đồng chí đã trở thành cán bộ trung, cao cấp của Đảng, Nhà nước và Quân đội. Hàng trăm người trở thành tướng lĩnh, anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Người đọc cũng dễ dàng nhận ra, niềm tự hào của tác giả khi được công tác ở một ngôi trường có bề dày lịch sử, niềm vui được cống hiến sức mình vào công việc đào tạo lớp sĩ quan cho quân đội; cũng như sự lớn mạnh của nhà trường. Hồi ký “Những nẻo đường thời gian” còn cho ta hiểu sự hình thành và phát triển của Tổng cục Kỹ thuật. Đây là một “binh chủng” không thể không có trong việc xây dựng và duy trì sức mạnh chiến đấu của quân đội và tiềm lực quốc phòng của đất nước. Ngay từ buổi đầu sơ khai, những cán bộ kỹ thuật, công nhân quốc phòng đã có những đóng góp đáng kể cho cuộc kháng chiến chống Pháp. Cùng với sự lớn mạnh của quân đội ta và yêu cầu bức thiết của cuộc chiến đấu chống xâm lược với những vũ khí, khí tài hiện đại, cán bộ chiến sĩ Tổng cục Kỹ thuật đã vượt qua khó khăn, gian khổ, những hi sinh mất mát hoàn thành tốt nhiệm vụ. Họ là những người “giữ lửa” đã, đang ngày đêm âm thầm làm việc, đảm bảo sức chiến đấu cho bộ đội mọi lúc, mọi nơi.
          Với 500 trang hồi ký, tác giả Nguyễn Mạnh Đẩu đã “dắt” người đọc qua NHỮNG NẺO ĐƯỜNG THỜI GIAN cho họ thấy được sự phấn đấu, trưởng thành của một người chiến sĩ trong sự yêu thương, giúp đỡ chí tình, chí nghĩa của đồng chí, đồng đội đã một thời cùng vào sinh ra tử và chung lưng đấu cật - cái cao quý nhất không gì có thể sánh được, nhất là trong cơ chế thị trường hôm nay. Từ đó có thể nhận ra sự phát triển lớn mạnh của Quân đội Nhân dân Việt Nam và cái giá mà dân tộc ta phải trả cho cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại.
          Viết hồi ký “Những nẻo đường thời gian” tác giả Nguyễn Mạnh Đẩu không cường điệu cũng không né tránh những khó khăn gian khổ trong đời sống chiến trường và những hi sinh tổn thất của bộ đội ta trong chiến đấu. Anh trung thực kể lại những gì đã xảy ra với tâm thế của người trong cuộc bằng cách nhìn khách quan, biện chứng, song không dửng dưng lạnh lùng.
          Đất nước  ta đã trải qua một cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ, đánh thắng nhiều tên đế quốc sừng sỏ tàn bạo. Có được cuộc sống hôm nay chúng ta không thể quên những năm tháng hào hùng, sự hi sinh lớn lao của dân tộc. Quân đội ta giờ đây đã, đang xây dựng tiến lên chính qui hiện đại. Quyển hồi ký “Những nẻo đường thời gian” rất cần cho mọi người, nhất là lớp thanh niên và những ai đã, đang là người lính và sắp bước vào cuộc đời làm lính./.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:18:48 PM
Bạn đọc viết ngày 3 tháng 4 năm 2012
 


Kính gửi:  Anh NGUYỄN MẠNH ĐẨU,


     Những nẻo đường thời gian  giúp em nhớ lại những kỷ niệm về quê hương, về tuổi thơ.  Giống y chang quê em vậy. Trong  Cải cách ruộng đất, làng em cũng có người bị đấu tố oan uổng, rồi bị bắn. Cũng có thành phần địa chủ kháng chiến, vì con cái hoạt động CM. Cũng có người hoạt động 2 mang, bị qui là Quốc dân Đảng, rồi xử bắn, rồi được sửa sai…Sau đó là Tổ đổi công, HTX nông nghiệp cấp thấp, cấp cao...Em cũng từng tham gia rất tích cực trong Đội thiếu niên, cũng đánh trống, cầm loa đi đến từng ngõ xóm, hô khẩu hiệu, rồi HTX măng non, rồi cắm trại... Tết đến, sáng mồng một, từng gia đình tập trung, kéo cờ, chào cờ, hát quốc ca rất nghiêm chỉnh. Xong, mọi nhà đều kéo ra sân HTX để chào cờ tập trung, tham gia các trò chơi. Em nhớ trong trang đầu của quyển Tập đọc lớp một có hình ảnh một buổi chào cờ, dưới ghi câu thơ: Nghiêm trang chào lá quóc kỳ/ Tình yêu đất nước ta ghi vào lòng. Anh giúp em nhớ lại bài thơ Chú đi tuần của Trần Ngọc: Chú đi tuần đêm nay/Hải Phòng đang giấc ngủ say/Cây rung theo gió, lá bay xuống đường...
     Mười sáu tuổi đã lên đường nhập ngũ. Và 7 năm, anh cùng đồng đội đã trải qua bao trận chiến đấu vô cùng ác liệt, vô cùng dũng cảm. Cứ nghĩ đến các cháu ở độ tuổi 16-23 bây giờ, thì không hình dung nổi ngày ấy, anh, và cả thế hệ anh em mình có thể làm được những điều vĩ đại đến thế? Em cũng có một anh trai ( sinh năm 1927), tham gia đoàn quân Nam Tiến năm 1945, hy sinh tại Phú Phong, Bình Định năm 1947.
     Những trang viết của anh thật sinh động và cảm động. Em rất cảm phục!
     Em cảm nhận rằng, việc anh làm Cục trưởng Cục Chính sách – TCCT cứ như là một sứ mệnh mà Nguyễn Mạnh Đẩu được đồng đội - những người đã khuất và những người còn sống - uỷ thác. Em cũng đã được nghe anh hát Cục ca rồi đấy nhé!
    Có thể nói:  Trong suốt cuộc đời quân ngũ của mình, anh  có quyền tự hào rằng, mình có quyền tự hào về sự lựa chọn đó!
    Rất cảm ơn anh! Em chúc anh sức khoẻ, may mắn, hạnh phúc, viết đều tay!

                                                             
TRƯƠNG THANH


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:20:06 PM
Nguyễn Mạnh Đẩu: Vị tướng nặng tình với đồng đội

( Bài của tác giả Xuân Lộc đăng ở Báo Năng lượng mới ngày 17/7/2012 )


(Petrotimes) - Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu sinh năm 1948 (xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc) - một miền quê nghèo của Nghệ An giàu truyền thống cách mạng và khoa bảng. Trọn cuộc đời quân ngũ, ông đã để lại dấu ấn trên từng cương vị.

Khai man tuổi để được… nhập ngũ

         Ngày 5 tháng 8 năm 1964, sau “Sự kiện vịnh Bắc Bộ”, đế quốc Mỹ cho không quân ồ ạt ném bom bắn phá Miền Bắc. Nhiều nơi ở thành phố Vinh và Bến Thủy bị máy bay oanh kích. Rất bất ngờ, chẳng ai biết trước.
        Ông bộc bạch: “Cuộc chiến tranh phá hoại khốc liệt của giặc Mỹ kéo dài gần một thập kỉ với biết bao đổ nát, tang tóc, ập đến những người dân lành đầu trần, chân đất quê tôi.  Đây là lần đầu tiên trong đời, tôi nhìn thấy máy bay phản lực Mỹ”.
       Từ ngày đó quê ông bắt đầu bước vào cuộc sống thời chiến. Các gia đình đào hố phòng không trong nhà, trong vườn để tự vệ khi không quân địch oanh tạc vào làng. Dân quân luyện tập, canh gác trực chiến suốt ngày, từ trong xã ra tận bãi biển Cửa Lò. Mọi người được quán triệt, cùng với việc phòng tránh, đánh trả máy bay Mỹ, còn phải sẵn sàng đánh tàu chiến khi cập gần bờ. Đặc biệt là, sẵn sàng đánh quân địch đổ bộ bằng đường không và đường biển.
        Tháng 9 năm 1964, Nguyễn Mạnh Đẩu được các chú, các anh cho vào dân quân. Tập dân quân chừng nửa tháng, cậu được chọn làm liên lạc cho trung đội dân quân của làng. Nguyễn Mạnh Đẩu có nhiệm vụ truyền đạt mọi chỉ thị, mệnh lệnh từ trung đội xuống các tiểu đội và các báo cáo từ trung đội lên xã đội.
       Nguyễn Mạnh Đẩu nhớ lại: “Có lần, đang nửa đêm, chú Lê Văn Ngọc trung đội trưởng giao tôi ra Cửa Lò để truyền đạt mệnh lệnh cho tiểu đội canh gác ngoài đó. Mệnh lệnh thì dài, nhiều khoản mục, nhưng không được phép ghi lại bằng giấy. Chú Ngọc nói: Tập cho quen, ngộ nhỡ trên đường đi “kẻ địch” bắt được. Việc quân cơ, sống để dạ chết mang đi, không để lại dấu tích gì cả…”. Tôi phải nhập tâm, một mình đi bộ gần 5 cây số ra truyền đạt lại với chú Thanh Tùng không sót một chữ. Mọi người khen tôi vừa gan vừa có trí nhớ tốt. Ngày đó đi đêm từ làng này sang làng khác giữa đồng không mông quạnh, lại qua nhiều nghĩa địa, ai cũng sợ ma chứ không sợ trấn lột như bây giờ.
      Trong năm 1964, cấp trên đã triển khai mấy lần tuyển quân: đợt 1 tháng 4, đợt 2 tháng 8, tiếp đến đợt 3 là tháng 10. Nguyễn Mạnh Đẩu trúng tuyển đợt 3. Ông kể: “Đúng ra, vì tôi bị viêm amidan không qua được phòng khám tai mũi họng. Tôi xin phiếu khám khác và nhờ Phan Ngọc Thịnh, bạn cùng làng, khám thế ở phòng đó. Còn các phòng khác, tôi qua được. Đến phòng kết luận cuối cùng của Hội đồng Nghĩa vụ quân sự, tôi gặp anh Hoàng Văn Lượng, là anh  vợ của anh Thuần, con ông bác họ. Anh Lượng bảo tôi: Em chưa đủ tuổi, không đi được đợt này!”. Tôi năn nỉ xin và được anh đồng ý khai tăng thêm cho tôi một tuổi.Thế là từ đó, trong lý lịch quân nhân của tôi đều ghi sinh  năm 1947.
      Tròn 16 tuổi, nặng 48 kg, cao 1,62 m, Nguyễn Mạnh Đẩu đã trốn cha lên đường nhập ngũ. Ngày 15 tháng 10 năm 1964 là cột mốc bắt đầu sự nghiệp cuộc đời tôi -  mở đầu quãng đời đằng đẵng 45 năm quân ngũ. Ông tâm sự: “Đêm trước ngày lên đường, Ủy ban hành chính xã Nghi Hợp mời các thanh niên trúng tuyển dự liên hoan chia tay. Đêm dự liên hoan ở xã về, tôi tâm sự với mẹ. Mẹ tôi đã khóc rất nhiều. Suốt cả đêm hai mẹ con không tài nào ngủ được. Cha thì chưa về, chị thì thoát ly ở xa. Mẹ ở nhà với ba em còn nhỏ dại, thơ ngây… Sáng dậy, mẹ đưa cho tôi 7 đồng bạc trong số 12 đồng mẹ mới bán trái cây trong vườn. Phụ cấp binh nhì ngày đó là 5 đồng. Như vậy, số tiền mẹ cho tôi còn hơn một tháng phụ cấp. Tôi mặc cái áo xanh, chiếc quần ka-ki. Nhét vội 7 đồng bạc vào túi quần, tôi ôm choàng lấy mẹ trước giờ chia tay trong nước mắt.
      Ngày lên đường nhập ngũ của Nguyễn Mạnh Đẩu vì thế không có người đưa tiễn, cậu bé sống mũi cay cay, khi nhìn thấy vòng tay ấm áp của những người thân tiễn người đi chiến trận. Lúc đó, cậu mới chạnh lòng. Nhưng ý đã quyết, Nguyễn Mạnh Đẩu trở thành chiến sĩ giải phóng quân hoạt động trên những vùng chiến ác liệt, Lào, Quảng Trị – Thừa Thiên.

Tham gia những trận đánh ác liệt

        Lúc mới nhập ngũ, Nguyễn Mạnh Đẩu được biên chế vào Tiểu đội 1, Trung đội 2, Đại đội 2, Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 101, Sư đoàn 325B. Ngày 25 tháng 12 năm 1964, toàn đơn vị bắt đầu lên đường đi B. Đơn vị hành quân từ miền tây Quảng Bình vượt qua Đường 9 đi dọc Trường Sơn vào Miền Nam. Nhưng rồi trên chặng đường hành quân Nguyễn Mạnh Đẩu bị sốt rét nặng, đơn vị phải gửi lại điều trị ở một cơ sở quân y của trạm giao liên thuộc Đoàn 559.
       Khi khỏi bệnh, Nguyễn Mạnh Đẩu được điều động về Tiểu đoàn 929 hoạt động ở chiến trường Trung Lào. Tại chiến trường này, đơn vị ông  liên tục chiến đấu trên trục Đường 9 ở tỉnh Savanakhet (nước bạn Lào) nhằm bảo vệ hành lang phía tây của Đường dây Chiến lược 559.
     Sau gần 2 năm chiến đấu trên chiến trường Lào, đơn vị ông chuyển về hoạt động ở chiến trường Bắc Quảng Trị – từ khu vực Hồ Khê, Đá Bạc và qua các trục Đường 74, Đường 75 đến An Cát Khê, Trung An. Ông kể: “Sau khi đi xem xét một lượt địa hình trong toàn khu vực, theo chỉ thị của trên, Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 29 chúng tôi bố trí trận địa đón lõng quân địch ở khu vực Hồ Khê, Đá Bạc. Theo dự kiến, sau khi phát hiện có chủ lực của ta hoạt động ở phía Bắc Đường 9, quân Mỹ sẽ hành quân từ căn cứ Đầu Mầu ở Đường 9 đánh chiếm dọc theo triền núi đi về phía suối La La và Đồi Không Tên”.
       Quãng thời gian từ 1964 – 1971 là thời kì khó khăn, quyết liệt nhất của bộ đội ta trên chiến trường Miền Nam. Lúc cao điểm, lực lượng Mỹ lên tới hơn 500.000 quân và hơn 1 triệu quân ngụy với đủ các loại vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại. Chiến trường Quảng Trị-Thừa Thiên được coi là nơi “so tài đọ sức” giữa chủ lực ta và địch, vì thế đây là nơi ác liệt nhất. Những địa danh, những trận đánh đã đi vào lịch sử chiến đấu oai hùng của quân đội ta mà mỗi khi nhắc tới ai cũng tự hào: Cồn Tiên, Dốc Miếu, Khe Sanh, Đường 9-Nam Lào…
       Nguyễn Mạnh Đẩu tâm sự: “Ở chiến trường nào cũng vậy, đối với người lính khi ra trận luôn phải đối mặt với gian khổ, hi sinh. Nhưng quả thật, ở cái “chảo lửa” Quảng Trị-Thừa Thiên, thì sự thử thách nghiệt ngã, ác liệt hơn nhiều nơi khác. Ngoài nhiều trận đánh thắng giòn giã, cũng có một số trận quân ta bị thiệt hại nặng nề, như trận đánh Cao điểm 817- Ta Tách có mũi chiến đấu hi sinh không còn một người… Song bao trùm lên tất cả là tình đồng chí, đồng đội, mối quan hệ thân ái, chí tình  giữa cấp trên cấp dưới… coi nhau như anh em một nhà. Điếu thuốc bẻ đôi, nhường nhau ngụm nước, sẻ chia niềm vui, nỗi buồn. Đó cũng chính là điểm tựa vững chắc, tin cậy để người chiến sĩ vượt qua thử thách hoàn thành nhiệm vụ”.
       Cũng tại chiến trường Quảng Trị – Thừa Thiên Huế ác liệt này, người chính trị viên đại đội đặc công Nguyễn Mạnh Đẩu đã cùng đơn vị dũng cảm chiến đấu, lập nhiều chiến công xuất sắc. Bản thân ông đã không ít lần bị thương – có lúc vết thương quá nặng tưởng chừng không vượt qua nổi. Và trong những ngày cận kề với cái chết, ông đã viết nhật ký, viết với tâm thế của một người lính ra trận không xác định ngày về. Những dòng nhật ký được viết vội sau từng trận đánh, của một chàng trai trẻ muốn dành niềm tự hào cho cha. Ở trang đầu tiên của cuốn nhật ký, ông viết, “Sau khi tôi hy sinh, hãy gửi lại cho cha tôi, để ông có quyền tự hào về con trai mình, đã sống và chiến đấu trên tuyến đầu”. Nhưng rồi cuốn nhật ký đó đã bị lưu lạc.
       Đó là trong chiến dịch Đường 9- Nam Lào, đại đội đặc công của ông được giao nhiệm vụ phối hợp với đơn vị bạn đánh vào Cao điểm 550, nhằm tiêu diệt Lữ đoàn 147 của địch. Ông đã bị thương nặng, đến nỗi nhiều người tưởng rằng ông đã hy sinh. Ông Phạm Huy Chưởng (sau này là Thiếu tướng, Phó Tư lệnh Quân khu 4) là đồng đội của ông đã giữ lại cuốn nhật ký. Và trước khi đi chiến đấu, ông Chưởng đã gửi lại cuốn nhật ký đó cho một đồng đội khác ở hậu cứ. Nhưng sau một trận oanh tạc của máy bay Mỹ, người đồng đội ấy cũng đã bị thương bỏ lại một chân ở chiến trường và đã không thể giữ lại cuốn nhật ký.

Dấu ấn trên từng cương vị công tác

        Nguyễn Mạnh Đẩu đã trải qua nhiều trận chiến đấu ác liệt. Từ chiến trường Lào đến chiến trường Quảng Trị – Thừa Thiên Huế, đến chiến dịch Đường 9 – Nam Lào ròng rã 7 năm với nhiều chiến công.
      Tiếp đến, Nguyễn Mạnh Đẩu đã trải qua 35 năm công tác tại cơ quan Tổng cục Chính trị, Trường Sĩ quan Lục quân 1 và Tổng cục Kỹ thuật với các vị trí công tác: từ Trợ lý đến Cục trưởng Cục Chính sách, Phó Hiệu trưởng về Chính trị Trường Sĩ quan Lục quân 1 rồi sau cùng là Chính ủy Tổng cục Kỹ thuật – Bộ Quốc phòng.
      Trải qua nhiều cương vị, Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu luôn nỗ lực phấn đấu, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Đặc biệt, ông đã để lại nhiều dấu ấn trong thời kỳ ở Cục Chính sách. Với cương vị Cục trưởng Cục Chính sách, ông đã tham mưu cho Tổng cục Chính trị, Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ Quốc phòng và Nhà nước nhiều chính sách quan trọng, hiệu quả, có ý nghĩa  lớn.
      Công tác chính sách là một mặt hoạt động của công tác chính trị trong quân đội. Đó là việc nghiên cứu đề đạt chính sách và chỉ đạo tổ chức thực hiện những chính sách đã ban hành đối với quân nhân khi tại ngũ cũng như khi chuyển ra ngoài quân đội. Hơn nữa, do hoàn cảnh đất nước trải qua nhiều năm chiến tranh, hàng chục vạn trường hợp thương binh, liệt sĩ và gia đình có công chưa được giải quyết chế độ đãi ngộ; hàng triệu người có chiến công chưa được khen thưởng.  Dưới sự lãnh đạo của Tổng cục Chính trị, Quân ủy Trung ương – Bộ Quốc phòng; nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước, trên cương vị Cục trưởng trong một thời gian khá dài, Nguyễn Mạnh Đẩu đã cùng tập thể Cục Chính sách đã hoàn thành một khối lượng công tác lớn, với tính chất khó khăn, phức tạp, bức thiết, đem lại quyền lợi cho quân nhân đang tại ngũ và các đối tượng chính sách.
       Thời kỳ công tác ở Trường Sĩ quan Lục quân 1 cũng như sau này đảm nhiệm cương vị Chính ủy Tổng cục Kỹ thuật, chúng ta lại được gặp ở Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu những phẩm chất đáng quý về trí tuệ và nhân cách của người cán bộ quân đội.
       Trường Sỹ quan Lục quân 1 được thành lập ngày 15/4/1945, theo Chỉ thị của Bác Hồ tại Tuyên Quang- Thủ đô gió ngàn- với tên gọi ban đầu là Trường Quân chính kháng Nhật. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Trường được mang tên là Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn, danh tướng kiệt xuất bậc nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta. Từ ngôi trường này, hàng vạn người đã trở thành cán bộ trung, cao cấp của Đảng, Nhà nước và Quân đội. Hàng trăm cán bộ, giáo viên, học viên của trường đã trở thành tướng lĩnh, anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Được công tác ở một nhà trường có vị thế và bề dày truyền thống, Nguyễn Mạnh Đẩu luôn cảm thấy vinh dự. Trên cương vị được giao, ông đã cùng tập thể Đảng ủy- Ban Giám hiệu xây dựng nhà trường không ngừng lớn mạnh, thường xuyên hoàn thành tốt nhiệm vụ đào tạo sĩ quan chỉ huy tham mưu cấp phân đội cho quân đội.
        Bất kể thời bình hay thời chiến, ngành kỹ thuật quân sự là một “binh chủng” quan trọng của quân đội. Cán bộ, chiến sĩ ngành kỹ thuật quân sự là những người “giữ lửa”  ngày đêm âm thầm làm việc, đảm bảo sức mạnh chiến đấu của quân đội. Với Nguyễn Mạnh Đẩu, Tổng cục Kỹ thuật – Bộ Quốc phòng là chặng cuối cùng trong cuộc đời binh nghiệp. Trong thời gian đảm nhiệm cương vị Chính ủy Tổng cục, ông đã tâm đầu ý hợp, sát cánh đắc lực và hiệu quả với ông Trương Quang Khánh – Chủ nhiệm Tổng cục (sau đó là Ủy viên Trung ương Đảng, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng) cùng tập thể lãnh đạo, chỉ huy Tổng cục Kỹ thuật hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ Quân ủy Trung ương – Bộ Quốc phòng giao phó. Rất nhiều lần ông đã đến thăm và chỉ đạo công tác ở hầu hết các đơn vị trong toàn Tổng cục từ nhà máy đến nhà trường, từ cơ quan nghiên cứu đến các đơn vị cơ sở kho tàng đạn dược; từ Việt Bắc gió ngàn đến Trường Sơn, Tây Nguyên hùng vĩ. Ở nơi nào cũng vậy, ông đều phát huy trí tuệ, quy tụ trách nhiệm chính trị và tình cảm của cán bộ, chiến sĩ trong Tổng cục Kỹ thuật vào một một mục tiêu chung: Thường xuyên đảm bảo vũ khí, trang bị kỹ thuật – một thành tố đặc biệt quan trọng tạo nên sức mạnh chiến đấu của Quân đội và tiềm lực quốc phòng của Đất nước.

Thượng tướng Lê Khả Phiêu, nguyên Tổng Bí thư, nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐNDVN đã viết: “Nguyễn Mạnh Đẩu là một cán bộ nhiệt tình, xông xáo, quyết đoán, có tầm nhìn và sống nghĩa tình, nên ở mọi vị trí công tác, anh đều để lại dấu ấn cho đơn vị và ấn tượng, tình cảm tốt đẹp cho đồng chí, đồng đội…"


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:21:34 PM
Chương một: Quê hương, gia đình và thời thơ ấu
 
   
Tôi quê ở làng Đại Xá, xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.
Nghệ An có diện tích 16.487 km2 là tỉnh lớn nhất Việt Nam, với số dân khoảng 3 triệu người (tính đến 1-4-2004). Theo sử sách, năm 628 vùng đất này gọi là châu Hoan rồi châu Diễn. Năm 1030, bắt đầu gọi là châu Nghệ An, rồi năm 1040 lại đổi lại là xứ Nghệ An. Thời Tây Sơn gọi là Nghĩa An trấn. Thời Gia Long đặt lại là Nghệ An trấn. Năm 1831, vua Minh Mệnh chia trấn Nghệ An làm hai tỉnh Nghệ An (bắc sông Lam), Hà Tĩnh (nam sông Lam). Năm 1976, sau khi thống nhất đất nước, trong xu thế chung, hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh sáp nhập lại thành tỉnh Nghệ Tĩnh. Đến năm 1991 lại tách ra như cũ.
 Nghệ An nằm trong vùng khí hậu gió mùa, có bốn mùa rõ rệt Xuân, Hạ, Thu, Đông. Từ tháng 4 đến tháng 8 âm lịch hàng năm chịu ảnh hưởng của gió tây nam (gió Lào) khô và nóng. Về mùa Đông chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc lạnh và ẩm ướt. Từ xa xưa, qua mọi thời đại, Nghệ An là quê hương của nhiều danh nhân tiêu biểu. Trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, Nghệ An đã có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc,  bảo vệ Tổ quốc.
 Nghi Lộc là huyện ven biển, với diện tích gần 39.000 hécta, số dân hơn 20 vạn người, có 1 thị trấn và 32 xã. Theo lịch sử thì từ năm 1490 đến năm 1831 gọi là huyện Chân Phúc. Từ năm 1832 đến năm 1888 gọi là huyện Chân Lộc. Từ năm 1889 trở đi gọi là huyện Nghi Lộc. Là nơi có bờ biển dài với hai cửa lạch thông ra biển Đông và có các tuyến giao thông huyết mạch của quốc gia, nên mọi cuộc chiến tranh đều đi qua vùng đất Nghi Lộc. Bao đời nay, những người con ưu tú của Nghi Lộc đã nối gót nhau cống hiến cho giang sơn đất nước, tô thắm thêm truyền thống quê hương.
Xã Nghi Hợp nằm ở phía đông huyện Nghi Lộc, có diện tích 386,52 hécta, với số dân 3.485 người; có ba làng: Đại Xá, Kỳ Sơn, Hợp Xá. Nghi Hợp có các đặc điểm lớn: Là xã duy nhất trong vùng không có người dân nào theo đạo Thiên Chúa. Trong kháng chiến chống Pháp chưa có lần nào giặc Pháp hoặc ngụy quân đặt chân đến. Trong chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, mặc dù nhân dân các xã trong vùng bị thương vong nhiều do máy bay Mỹ oanh tạc khốc liệt, bị pháo hạm từ tàu hải quân Mỹ bắn phá dữ dội, vậy mà ở đây không ai hề hấn gì. Duy chỉ một lần, năm 1968, máy bay Mỹ ném một quả bom trúng vào vườn ông Châu (Nguyễn Đình Mợi), cách nhà tôi khoảng 100 mét, nhưng lại chui sâu xuống lòng đất, không nổ. Mãi đến bây giờ cũng chưa ai đào lên. Suốt hai cuộc kháng chiến, ngay trên đất xã tôi không có người nào bị thương vong, không có cái nhà nào bị cháy - mặc dù thời đó Khu 4 là trọng điểm đánh phá của máy bay và tàu chiến Mỹ. Nhiều người cho rằng, sở dĩ có điều đó vì Nghi Hợp là quê hương của Nguyễn Xí, được Ngài che chở.
 Thái sư Cương quốc công Nguyễn Xí (1397 - 1465) - Công thần khai quốc thời Hậu Lê, là một đại thần của bốn đời vua Lê - từ Lê Thái Tổ đến Lê Thánh Tông. Ông là một viên tướng trụ cột của Lê Lợi, có công lớn trong 10 năm trường kỳ kháng chiến chống quân Minh (1418 - 1428). Là người chủ xướng trong cuộc binh biến ngày 6 tháng 6 âm lịch năm 1460 phế vua Thiên Hưng (tức Lê Nghi Dân), rước Lê Tư Thành lên ngôi báu –tức vua Lê Thánh Tông nổi tiếng trong lịch sử dân tộc (1442-1497). Tiếp đó, ông đã phò tá vua Lê Thánh Tông gây dựng xã tắc, gìn gìữ và mở mang bờ cõi, chấn hưng đất nước. Đó là thời kỳ hưng thịnh, rực rỡ nhất trong các triều đại phong kiến Việt Nam. Hiện nay trong xã có đền thờ Nguyễn Xí là di tích lịch sử đã được xếp hạng. Trong đền có bài văn điếu của vua Lê Thánh Tông khắc bằng chữ Hán trên một tấm bia đá rất to. Dưới bài văn điếu ghi Trạng nguyên Nguyễn Trực thảo. Thật là công bằng rành rọt, lời điếu của Vua đối với một đại thần, vẫn còn ghi lại ai là người soạn thảo văn bản. Nguyễn Trực (1414- 1474) -  Lưỡng quốc Trạng nguyên, người xã Bối Khê, huyện Thanh Oai (Hà Nội), xuất thân trong một gia đình nho học nhiều đời, ông nội và cha đều là khoa bảng.
 Từ tấm văn bia ngẫm kỹ toát lên mấy điều: Một vị vua anh minh; Một đại thần trung nghĩa; Một trạng nguyên học giả tài ba.
Làng Đại Xá là một làng nhỏ. Sau này, khi lớn lên đã đi qua nhiều vùng quê, tôi cứ tự hỏi tại sao làng mình, một làng nhỏ như vậy mà lại gọi là làng Đại. Xem lịch sử các dòng họ (gia phả), các chứng tích còn lại, tôi nghĩ rằng làng Đại Xá hình thành khoảng 300 trăm năm nay. Thuở ban đầu chắc chỉ là một xóm trại (ấp) do các ông tổ của các dòng họ: Lê, Nguyễn Văn, Nguyễn Gia, Phan Ngọc,..khăn gói từ các vùng quê khác đến lập cơ nghiệp, sinh con đẻ cái. Tính đến nay gia phả của các dòng họ trong làng cũng mới ghi được trên dưới mười đời. Trong làng có một cây đa duy nhất được coi là cổ thụ. Nghe kể, cây đa này do cố Lê Văn Tế đi chợ Sơn mang về trồng. Mà từ cố Tế đến nay cũng mới chỉ bốn đời.
Làng tôi trước đây có đền và chùa. Đền thờ Thành Hoàng. Cả đền, chùa mới có từ đầu thế kỷ 20, do những người cùng thế hệ ông nội tôi xây dựng. Được biết toàn bộ gỗ dựng đền được xẻ ra từ một cây lim to, các cụ mua tận Phủ Quỳ rồi chở bè về cách hơn trăm cây số. Khi tôi lớn lên đền, chùa còn đẹp lắm, đã trở thành nơi hội họp của làng và là chỗ học của học sinh. Ngày đó xung quanh đền, chùa là mấy lùm khá rộng rậm rạp với nhiều loại cây và đẹp tựa như hai vạt rừng nguyên sinh. Mùa hè đi dạo trong đó rất mát. Ở chùa còn có hai cây thị cao to, nhiều quả chín mọng thơm lựng.
 Từ sau Cách mạng Tháng Tám đến hết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, lệ làng là hàng năm cứ đến sáng mồng Một Tết Nguyên đán, cả làng tập trung chúc Tết và chúc thọ Cụ Hồ ở đền. Các cụ già khăn áo chỉnh tề, chân đi guốc mộc đến cửa đền đều hô to một cách cung kính: “Chào làng, chào Cụ Hồ”.  Ăn cỗ ở làng bao giờ cũng chia phần cho các chiến sĩ đang tòng quân. Phần ít thôi, một đĩa xôi, một miếng thịt luộc, hoặc gà hoặc lợn. Nhưng là một miếng giữa làng hơn một sàng trong bếp. Gia đình binh sĩ được mang suất phần đó về. Một việc nhỏ nhưng có ý nghĩa lớn, góp phần tôn vinh các gia đình quân nhân tại ngũ, động viên bộ đội đang ngày đêm chiến đấu trên các chiến trường. Đến năm 1957 đền và chùa bị dỡ ra để lấy vật liệu xây trường phổ thông cấp I của xã. Cả lùm chùa và lùm đền đều đã bị phá để lấy đất tăng gia. Đến nay chẳng còn dấu tích gì nữa.
Đất không rộng, người không đông, kinh tế khó khăn, khí hậu thời tiết khắc nghiệt. Nói chung, tính cách người dân quê tôi cương trực, cần cù, hiếu học, tiết kiệm và đoàn kết. Những đặc trưng đó là do điều kiện địa lý, lịch sử, kinh tế và văn hóa hun đúc nên từ bao đời nay.
Không được thiên nhiên ưu đãi đồng ruộng phì nhiêu, mưa thuận gió hòa, quê tôi là vùng đất cát pha bạc mầu. Ruộng đồng chia làm hai mùa rõ rệt. Vụ mùa lúa được cấy ở ruộng nước và gieo hạt ở ruộng khô. Vụ chiêm thì chỉ cấy lúa ở ruộng nước, còn ruộng khô thì trồng khoai, ngô, đỗ, lạc, vừng,…Thu hoạch vụ chiêm vất vả lắm. Trời nắng chói chang. Gió Lào nóng bỏng. Công việc bộn bề. Phần đông người quê tôi, bất kể gái trai, da dẻ đều cháy đen trong những tháng hè. Xã tôi không có sông. Cách biển (Cửa Lò) khoảng hai cây số. Cách sông Cấm khoảng bốn cây số. Sông Cấm là con sông đào từ thời Hậu Lê.
Trong vùng có hai cái đập: đập Xã và đập Họ. Hai cái đập cách nhau một con đường, nói đúng hơn là một con đê. Nước đập Xã chảy sang đập Họ qua một cái cống (trẻn) để chảy ra biển. Trước đây cả hai đập còn sâu, rộng, nước trong xanh. Con trai, con gái lớn lên đều tập bơi và biết bơi từ hai cái đập này. Quanh năm đập được bảo vệ nghiêm ngặt không để bất cứ ai khai thác cá. Mỗi năm tổ chức đánh cá ở đập một lần (tiếng địa phương gọi là đánh đập) vào cuối tháng 6 âm lịch, sau khi đã thu hoạch xong vụ chiêm. Khi có hiệu lệnh phát ra, kẻng gõ dồn dập, trống khua ầm ỹ, hàng nghìn người trai, gái, già, trẻ đổ ra đập như đi trẩy hội. Có người dùng vó (chậm), lưới, nhủi. Còn phần đông là dùng nơm dàn hàng ngang hết đợt này đến đợt khác úp cá cứ như các khối duyệt binh, tuần hành trong các lễ hội. Đã qua hơn nửa thế kỷ, đến nay trong tôi cảm xúc vẫn còn tươi nguyên cái không khí vui  vẻ, nhộn nhịp, hối hả, nô nức của những lần đánh đập. Ở quê tôi bây giờ không còn đánh đập nữa.
Ông nội tôi  là Nguyễn Văn Hành, gọi trệch là Hiềng, sinh năm 1870, là con út trong một gia đình có ba anh em trai. Ông cả là Nguyễn Văn Ngơn (Xuơn), ông thứ hai là Nguyễn Văn Điền. Mặc dù như nhiều người cùng thế hệ, không được đi học, nhưng ông nội tôi lại thuộc rất nhiều câu thành ngữ, châm ngôn có tác dụng giáo dục sâu sắc, nhất là trong gia đình. Ông cũng thuộc lòng nhiều chuyện thơ nôm, nhiều điển tích lịch sử, cả ta lẫn Tàu. Bà nội tôi là Nguyễn Thị Thêu thua ông nội hơn mười tuổi. Sinh ra trong một gia đình không giàu có nhưng rất gia giáo. Bà là người siêng năng, tần tảo,đảm đang, chu toàn lo toan việc nhà, việc họ, việc làng. Bà giáo dục con cái rất khuôn phép, nghiêm khắc, mà lại rất công bằng và tình cảm.
Gia đình ông nội tôi theo nền nếp truyền thống nông thôn Việt Nam thuở đó. Nhiều thế hệ, nhiều cặp vợ chồng chung sống dưới một mái nhà, quan niệm rằng tam đại, tứ đại đồng đường mới là phúc đức. Trong nhà mặc dù  ba người con trai đã lấy vợ, sinh con mà vẫn ở chung, làm chung và ăn chung với ông bà. Mọi việc trong gia đình đều do bà nội tôi điều hành, xoay xở. Một gia đình lớn hơn mười người, nhiều thế hệ với nhu cầu và tính cách khác nhau, mấy gian nhà tranh chật chội, công việc bộn bề, đời sống khó khăn vất vả, nhưng chung sống với nhau  thuận hòa. Ông bà mẫu mực, công bằng, nghiêm khắc, tình cảm; con cái đoàn kết gắn bó, chịu khó, chịu thương. Nhờ biết lo liệu làm ăn, siêng năng, cần kiệm, từ chỗ nghèo túng, gia đình khá dần lên. Có được như vậy cũng là nhờ sự lo toan, đảm đang, tần tảo của bà nội tôi. Như người xưa từng nói:  phúc đức tại mẫu. Hạnh phúc của một gia đình, nhất là sự thành đạt của các người con, trước hết tùy thuộc vào vai trò của người mẹ. Trong gia đình, ảnh hưởng của người mẹ đến các con thường là chủ yếu.
Bà cô cả của tôi tên là Nguyễn Thị Tuệ, lấy chồng người làng Kỳ Sơn. Trước đây có lần tôi nghe kể khi cô sinh con, hàng ngày bà nội tôi cứ khoảng 8 giờ tối cơm nước xong vội vã tất tả vào làng Kỳ Sơn để chăm cháu ngoại. Đến khoảng 4 giờ sáng bà lại bươn bả trở về nhà cho kịp gánh bánh đi bán phiên chợ sáng. Trên đường về có chỗ nước sâu phải bơi một mình giữa trời đêm, có khi còn mưa gió, rét mướt. Tôi cho rằng, bà làm được việc đó là xuất phát từ trách nhiệm, tình cảm và bản năng nữa. Vợ chồng cô tôi dù nghèo nhưng rất tốt tính.
 Mọi người trong gia đình đều nói rằng, bác Tần là người cường tráng, phúc hậu. Tôi không biết mặt bác, vì bác mất ba năm rồi tôi  mới sinh. Cha tôi kể, trong phong trào Xô Viết Nghệ An năm 1930-1931, mặc dù chưa phải đảng viên cộng sản nhưng bác Tần là quần chúng trung kiên chí cốt của phong trào. Bác đã dũng cảm hăng hái tham gia rải truyền đơn, biểu tình, trấn áp bọn phản cách mạng. Bác thường giấu truyền đơn trong gáng hàng mang đến rải ở chợ Sơn, chợ Quán, chợ Đình. Bác tham gia biểu tình, cùng nhân dân vây đánh đồn Pháp ở núi Cồn Thông (cuối xã tôi). Khi quân Pháp trong đồn dùng súng bắn dữ dội, phản kích trở lại, đoàn biểu tình chỉ có giáo mác, gậy gộc, thậm chí nhiều người chỉ tay không, bị thương vong nhiều và rút lui. Sau đó mấy tháng trong thoái trào của cách mạng, thực dân Pháp và tay sai ráo riết bắt bớ, đàn áp dã man những người tham gia. Ông bà tôi đã phải bố trí cho bác Tần trốn lên miền ngược một thời gian. Trong họ tôi có ông Nguyễn Văn Oanh, tôi gọi bằng chú, bị địch bắt. Ông Oanh là người có học lại cường tráng, kẻ địch tuyên truyền đã bắt được lãnh tụ Cộng sản. Ông bị giải đi tù ở Lao Bảo, Kon Tum, rồi bị hy sinh trong nhà tù. Đến nay mặc dù con cháu đã tìm mọi cách mà vẫn chưa tìm thấy mộ.
Anh Tần là con trai cả của bác Tần. Quê tôi trước đây là vậy, bố thường mang tên người con đầu. Anh Tần là người hiếu học, thông minh. Anh coi đọc sách là một nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống. Tính cách anh Tần thẳng thắn, trung thực, thậm chí có lúc hơi thái quá. Tôi được anh Tần chăm sóc, bảo ban từ khi còn bé. Trọn đời anh em chúng tôi thương quí nhau như anh em ruột.
Chú Cát được ông bà nội tôi cho ăn học nhiều năm từ trường làng đến trường xã, cả chữ Nho và chữ Quốc ngữ. Chính khi học ở trường xã, chú được giác ngộ cách mạng trong phong trào học sinh. Ông Nguyễn Trường Khoát, sau này làm Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An trong kháng chiến chống Pháp, là thầy học đồng thời là người giác ngộ cách mạng cho chú. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 chú Cát nhập ngũ. Kết thúc chiến tranh chú chuyển ngành rồi nghỉ hưu ở thị trấn Vĩnh Trụ, tỉnh Hà Nam. So với những người cùng thời, chú Cát là người có học, giao lưu rộng, trải nghiệm nhiều, vốn sống phong phú. Chú rất quan tâm đến chúng tôi. Khi bày dạy các cháu, chú thường dẫn dụ giảng giải sâu sắc. Tôi nhớ hồi tôi lên mười tuổi, trong nhà treo tranh tứ bình. Chú đọc và giải thích rành rõ từng bức tranh:
“ Xuân thiên mai nhụy phô thanh bạch
Hạ nhật hồng hoa đấu hảo kỳ
Cúc ngạo thu tình hương vạn hộc
Tùng lăng đông tuyết ngọc thiên chi”.
 Nghĩa là: Giữa trời Xuân những bông mai vàng phô lên sự thanh bạch.Vào ngày Hè những bông hồng đua nhau đẹp như màu cờ. Những bông cúc cười tình tứ, tỏa hương giữa mùa Thu. Giữa mùa Đông tuyết trắng phủ, những cây tùng đẹp đẽ như những viên ngọc trời cho.
Quả là hay thật, thơ tả theo tranh, tranh họa theo thơ. Mãi đến bây giờ tôi vẫn nhớ, mặc dù tôi không biết tác giả bài thơ thất ngôn tứ tuyệt và những bức tranh tứ bình từ xưa là ai.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:22:01 PM
 Cha tôi là Nguyễn Văn Được, tên thường gọi là Hòe, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1914. Đến tuổi trưởng thành cha tôi rất khỏe. Sau này nhiều người trong làng kể lại rằng, hồi đó có một ông thầy cúng (có thể là thầy phù thủy) đi cả vùng mới chọn tìm được một người ngồi đồng. Khi lên đồng chẳng biết phép thuật của thầy cách nào mà cha tôi chân trần có thể bước lên giàn than lửa, lưỡi cày, lưỡi dao nung đỏ rồi nhảy phắt lên một cái bàn cao, miệng đọc sớ, tay cầm bút lông kê đơn thuốc chữa bệnh. Mặc dù không biết chữ nho, cũng không biết nghề thuốc, vậy mà cha tôi lại kê đơn thuốc chữa bệnh được cho nhiều người. Việc này, cả người kể, người nghe và cả cha tôi đều không giải thích được. Chỉ biết đó là một việc có thật. Dù không biết vì sao nhưng chắc chắn rằng, để làm được điều đó phải là người khỏe mạnh và có một năng lực nào đó, mà người bình thường không thể làm được.
Cha tôi kể, vào khoảng năm 1935, thực dân Pháp tuyển lính lê dương đi Ma- rốc, An-giê- ri, Tuy- ni- di. Cả xã Thượng Xá bắt đi khám tuyển rất đông mà chỉ trúng được hai người: ông Lưu - con trai cố Cu Trường và cha tôi. Bà nội tôi sợ con trai đi lính chết trận, nên đã bố trí cho cha tôi trốn lính. Ông Nguyễn Gia Khánh (Thựu) là hương bản cho người truy bắt không được, đã mắng te tát bà nội tôi:
- Bà đẻ ra con trai. Phận nam nhi hoặc là học lên để sau này đỗ đạt ra làm quan, hoặc đi lính sau này lập nên công trạng có thể làm tướng. Con bà đã không đi học để làm quan, chỉ còn mỗi con đường đi lính để may ra làm tướng. Tại sao bà không cho đi lính?
Bà tôi dõng dạc trả lời:
- Tôi không ước ao con làm quan, làm tướng gì cả! Mong được làm dân sống yên thân thôi. Đi lính làm tướng đâu chẳng thấy nhưng dễ phải chết trận lắm.
Vào đầu những năm 1940, thực dân Pháp và hào lý ở địa phương hà hiếp dân mình. Sưu cao, thuế nặng, phu phen, tạp dịch triền miên. Trong một lần cùng thanh niên trai tráng địa phương đấu tranh quyết liệt chống đi phu, cha tôi cùng ông Nguyễn Đình Phát và ông Lê Văn Tửu là ba người hăng hái trung kiên nhất, bị lính lệ bắt trói giải lên huyện đường, đánh đập tra tấn dã man. Xót con bị đòn đau, ông nội tôi cùng ông Nguyễn Đình Chía và ông Lê Văn Tế lên huyện đường xin được tha. Huyện đường cách nhà 7 cây số. Tới nơi gặp cả ông hương bản Nguyễn Gia Khánh (Thựu) đang khúm núm tấu trình tri huyện. Ông Khánh quay sang quát mắng ông nội tôi và các bô lão:
- Các người là phụ bất năng giáo tử (tức là cha không dạy được con). Chúng nó làm làm loạn, phải trị bằng được. Không trị để chúng nó làm giặc à?
 Một câu nói vừa lấy uy với dân lành, vừa tâng công lấy lòng thượng cấp. Cha tôi và mấy thanh niên bị giam ở nhà lao huyện mất một thời gian thì được tha.
Cũng thật lạ, làm hương bản cho chế độ cũ bao nhiêu năm, vậy mà đến ngày Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, ông Khánh lại là Đảng viên Cộng sản quay sang giữ chức Phó Chủ tịch xã Xá Lệnh (gồm 3 xã ngày nay : Nghi Hợp, Nghi Xá, Nghi Quang). Còn cha tôi được đoàn thể cử giữ chức Đội phó Đội Tự vệ của xã. Đội Tự vệ ngày đó có chức năng bảo vệ chính quyền cách mạng còn non trẻ, với nhiệm vụ gần như công an và xã đội bây giờ gộp lại.
Mãi đến bây giờ tôi vẫn băn khoăn và chưa kịp hỏi cha tôi, phong trào đấu tranh lúc đó do quần chúng tự phát hay do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Nếu do quần chúng tự phát thì thật đáng kính trọng và cũng thuận theo quy luật: có áp bức là có đấu tranh. Còn nếu do Đảng Cộng sản lãnh đạo, thì nghiễm nhiên theo chính sách hiện hành, cha tôi được suy tôn là lão thành cách mạng, hưởng chính sách ưu đãi người có công.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, cha tôi đi Giải phóng quân. Ông nhập ngũ ngày 6 tháng 4 năm 1946 vào Trung đoàn Nghệ An, còn gọi là Trung đoàn Đội Cung ( sau này đổi tên là Trung đoàn 57). Cùng tòng quân với ông, trong làng còn có ông Lê Văn Chưu và ông Lê Văn Lẫm. Gọi là trong làng nhưng thực ra ba nhà cách nhau trong vòng 50 mét. Ông Chưu sau giải phóng Miền Bắc chuyển ngành làm Bí thư Đảng ủy Nông trường Quyết Thắng ở Vĩnh Linh rồi về hưu ở quê, mất năm 2000. Ông Lê Văn Lẫm ở bộ đội liên tục. Trong chống Mỹ, ông Lẫm làm trung đoàn trưởng pháo cao xạ ở Bộ Tư lệnh Trường Sơn, hy sinh năm 1972, được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Ngày lên đường, cả ba gia đình đều đưa tiễn ở ga Cầu Cấm (bây giờ không còn ga này nữa). Gia đình ông Chưu có bà Chưu, ông Chương, ông Bằng. Gia đình ông Lẫm có bà Lẫm, ông Dụ (Dũng). Gia đình tôi có mẹ tôi và chú Cát. Mọi người chia tay nhau trong bịn rịn, lưu luyến nhớ thương. Tàu chuyển bánh, mỗi người đưa tiễn cầm một cành thông để vẫy cho đến khi đoàn tàu khuất bóng .
Bà Lẫm lúc đó 19 tuổi, mới cưới mấy tháng, chưa có con. Bà Chưu đã có hai con trai, anh Trân và anh Minh. Mẹ tôi mới có chị Hòe.
Trên đường quay về, bà Lẫm nói:
- Khổ thân chị Hoe! Từ nay anh ấy đi rồi, chị phải tự đi cày.
Mẹ tôi tủi thân, khóc nức nở.
Quê tôi trước đây có tục phụ nữ khi lập gia đình thì gọi theo tên chồng, với nhà bình dân sinh con trai đầu gọi bằng cu, sinh con gái đầu gọi bằng hoe, đặt trước tên người chồng. Mẹ tôi lúc đó gọi là chị Hoe Được.
Huấn luyện xong cha tôi được điều động vào Bộ đội Tiếp phòng quân đóng ở Hải Phòng do ông Lê Thiết Hùng làm Chỉ huy trưởng, ông Trần Văn Quang làm Chính ủy.
 Ông Lê Thiết Hùng quê ở xã Hưng Thông, huyện Hưng Nguyên, hoạt động cách mạng từ rất sớm, là con rể cụ Hồ Học Lãm, quê ở làng Quỳnh Đôi - nhà Cách mạng Việt Nam đồng thời là Tướng quân trong quân đội Quốc Dân Đảng. Ông Lê Thiết Hùng được Bác Hồ gửi đi học ở Trường Hoàng Phố. Thời kỳ Quốc Cộng liên minh chống Nhật, ông được tổ chức cử vào quân đội Tưởng Giới Thạch, với quân hàm Đại tá, giữ chức Sư đoàn trưởng. Sau khi về nước tham gia giành chính quyền, ngày 24 tháng 9 năm 1946 ông được phong quân hàm Thiếu tướng. Đây là vị tướng đầu tiên của quân đội ta. Ông Trần Văn Quang sinh ra trong một gia đình cách mạng ở xã Nghi Hoa, huyện Nghi Lộc; sau này là Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Chủ tịch Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam nhiều năm.
 Tiếp phòng quân được tổ chức sau Hiệp định sơ bộ  6-3 giữa ta và Pháp, có nhiệm vụ canh gác đối xứng với quân Pháp ở các căn cứ, các công sở, ở các thành phố, thị xã. Sau một thời gian ngắn, Pháp trở mặt không thi hành Hiệp định, bắt đầu quay lại xâm lược nước ta. Các đơn vị Tiếp phòng quân đánh nhau với quân Pháp ngay từ đầu. Sau này cùng ông trở lại Hải Phòng, Kiến An, Thái Bình, Nam Định, tôi được cha tôi kể lại những ngày oanh liệt đó. Sau khi thất thủ ở Hải Phòng, các đơn vị của ta lùi dần về phía sau để bảo toàn lực lượng. Vừa rút lui vừa phá hoại giao thông để cản bước làm chậm tốc độ tiến công của quân Pháp. Các cụ lùi dần qua Cầu Rào, về Kiến An, Đồ Sơn, rồi Thái Bình, Nam Định. Thời gian trụ lại chiến đấu ở Thái Bình là lâu nhất. Chính thời gian đó cha tôi được Ủy ban Kháng chiến tỉnh Thái Bình tặng bằng khen về thành tích chiến đấu bắn cháy ca nô địch trên sông Thái Bình.
Cha tôi thuộc lòng từng địa danh vùng Đông Hưng, Vũ Thư cho đến cầu Tân Đệ. Có sự trùng hợp ngẫu nhiên, sau này con gái tôi, cháu Nguyễn Trần Thùy Vinh lấy chồng quê ở Thái Bình. Năm 2002, ông và vợ chồng tôi về thăm nhà thông gia lại đến đúng làng Ký Con, xã Đông Xuân - cái làng mà từ năm 1946 - 1947, cha tôi đã từng chiến đấu. Gần 60 năm trở lại, mặc dù cảnh vật đã có nhiều thay đổi, nhưng cha tôi vẫn nhận ra được những mốc chính từ Cầu Bo đến ngã ba Gia Lễ. Hỏi lại người xưa, lớp cũ chẳng ai còn. Lớp sau, những cụ già 70-80 tuổi khi nghe cha tôi nhắc lại những sự kiện, tên người, tên đất đều mừng mừng, tủi tủi. Cha tôi về lại Thái Bình, về làng Ký Con được ba lần.
Gần 2 năm chiến đấu, vì sức khỏe yếu (bị sốt rét, bị ngã đau lưng trong một lần vượt tường ), ngày 6 tháng 12 âm lịch năm 1947, cha tôi được đơn vị cho về nhà chữa bệnh. Mẹ tôi mang thai và sinh ra tôi trong dịp đó. Sau gần một năm cha tôi trở lại đơn vị.
Sau khi trở lại đơn vị cha tôi tham gia nhiều chiến dịch. Lúc đầu ông được biên chế vào đơn vị xung kích. Xung kích ngày đó, theo ông kể, mỗi tiểu đội có 7 người thì có 1 khẩu súng tuyn, 3 khẩu súng trường, còn lại là mã tấu, kiếm, giáo mác. Chỉ khi đánh nhau giáp la cà thì kiếm, mã tấu, giáo mác mới phát huy tác dụng. Còn khi địch ở xa, chỉ nằm nhìn mấy người có súng bắn thôi. Mấy năm sau ông được điều về làm tiểu đội trưởng thông tin điện thoại của Đại đội 164, Trung đoàn 57 Đại đoàn 304. Làm lính thông tin điện thoại trong chiến đấu theo ông rất vất vả, nguy hiểm.
Thông tin điện thoại là người luôn đi trước về sau trong mọi trận đánh. Trận đánh phát triển thuận lợi, kết thúc gọn gàng, thắng lợi giòn giã thì suôn sẻ. Trận đánh lùng nhùng, dở dang hoặc thất bại thì lính thông tin đi thu lại đường dây rất dễ thương vong, thậm chí có khi bị bắt. Cha tôi kể, có lần ông đi thu hồi đường giây, bị địch phát hiện và đuổi bắt. Ông chạy dọc bờ đê, may chui xuống cống ngầm mới thoát.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:22:29 PM
 Năm 1950, cha tôi được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Ông tham gia các chiến dịch Hòa Bình, Hoàng Hoa Thám, Hà - Nam - Ninh và đến đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ ông giữ chức trung đội phó, chi ủy viên của Đại đội 164 Trung đoàn 57 Đại đoàn 304. Đại đội 164 do ông Hoàng Như Ấm làm chính trị viên. Trung đoàn 57 vây đánh cứ điểm Hồng Cúm giành thắng lợi lớn nhưng thương vong nhiều. Nói chung, chiến dịch Điện Biên Phủ là vậy. Sau này, cha tôi ra chơi với gia đình tôi ở Khu tập thể gia đình quân nhân ở 1A - Hoàng Văn Thụ - Hà Nội. Gần nhà tôi có ông Hoàng Như Ấm công tác ở Cục Khoa học quân sự - Bộ Tổng Tham mưu. Tình cờ một buổi sáng trông  thấy cha tôi đi dạo bộ,  ông Ấm reo lên:
- Ôi! anh Được! Anh đi mô đó ?
Cha tôi thốt lên:
- Ôi! Hoàng Như Ấm! Ở đây à? Mình ra chơi nhà con trai.
Ông Ấm cảm động nói:
-  Trời! ở đây bao nhiêu năm, biết nó lâu rồi mà đâu biết là con anh.
 Cha tôi kể ông Ấm là người Huế, ngày đó gầy gò bé nhỏ. Khi ông Ấm bị thương, cha tôi cõng ông bê bết máu với bùn.
Cuối năm 1954, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, cha tôi về phép.Tôi nhớ một buổi chiều tháng Mười, trên cánh đồng Nạy đã gặt và cắt rạ xong, lũ chúng tôi  trần truồng như nhộng khoảng dăm, bảy đứa, mặt bê bết bùn, đang bốc đất be bờ ngăn ruộng để tát cá. Chơi là chính chứ thực ra chỉ bắt được mấy con cá rô, cá diếc bé tý tẹo để nướng và chấm muối ăn tại chỗ. Đang say sưa vừa tát cá vừa đùa nghịch thì có một chú bộ đội vai khoác ba lô đi qua, nửa như hỏi đường nửa như xem xét:
- Các cháu là con cháu người làng Đại Xá phải không?
 Một đứa lớn nhất bọn, hình như là anh Dần con bác Thuần, trả lời:
- Đúng đấy ạ, nhưng mà chú hỏi về nhà ai?
- Chú hỏi về nhà chị Hoe Được.
 Tự nhiên nghe có người nói tên mẹ mình, tôi nhanh nhẩu nói:
- Thế thì là nhà cháu.
Chú bộ đội giật mình, với ánh mắt vừa phảng phất đăm chiêu cảm động, vừa thẫn thờ mừng rỡ:
- Thế ra, con là Đấu đấy à. Dẫn cha về nhà đi con.
Nói rồi, cha tôi ôm choàng lấy tôi:
- Ôi! Con trai tôi đây rồi!
Tôi ngơ ngác trong vòng tay của ông. Rồi cả bọn trẻ cứ thế trần truồng lục tục dắt díu nhau kéo về nhà tôi.
 Đây là lần đầu tiên trong đời tôi biết mặt cha tôi. Một người trung niên đen xạm, quắc thước, khỏe mạnh, chân đi dép lốp, đầu đội mũ nan lợp vải, phía trước có quân hiệu. Lúc đó tôi tròn 6 tuổi. Về tới nhà, cha đưa tôi sang giếng cố Vận bên cạnh nhà múc nước kỳ cọ tắm gội. Ông xát xà phòng tắm lên khắp cả người tôi thơm phức. Đó là loại xà phòng Pháp, chiến lợi phẩm thu được ở trận địa trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Mãi đến bây giờ tôi vẫn nhớ mùi thơm đặc trưng của loại xà phòng đó. Cha tôi mang về nhiều thứ : ba lô, võng dù, màn tuyn, ca uống nước, bi đông, đèn pin, khăn mặt, máy lửa, dây dù các loại. Tất cả đều là chiến lợi phẩm. Cái gì cũng lạ đối với chúng tôi lúc đó.
  Ông nói:
- Đây là hàng tiếp tế của Mỹ, thả dù xuống cho lính Pháp bị vây hãm ở Điện Biên Phủ. Dù theo gió bay sang trận địa ta, bộ đội thu được.
Sau mấy bữa quan sát tôi thấy cứ mỗi buổi sáng ngủ dậy cha tôi đánh răng. Mà quê tôi thuở đó có ai biết đánh răng là thế nào đâu. Một lần tôi tò mò mở ra xem, đưa lên mũi ngửi thử thấy thơm, thè lưỡi liếm thử thấy ngọt, tôi đậy nắp lại  chạy vội sang nhà đứa bạn thân tên là Năm khoe:
- Cha tao mang về có loại kẹo gì vừa ngọt, vừa thơm, vừa cay, mày sang hai đứa ta cùng ăn.
Năm và tôi đi tắt qua mấy vạt vườn quay về nhà tôi. Tôi mang hộp thuốc đánh răng của cha tôi ra bóp cho mỗi đứa ăn một khúc. Ôi thôi! Cả hai đứa bị đau bụng và đi lỏng suốt một ngày vì ăn phải xà phòng. Phan Ngọc Năm là con trai út của ông Phan Ngọc Cường, người cùng làng. Ông Cường đi dân công ở Thượng Lào, bị sốt rét hy sinh năm 1953, được xác nhận liệt sỹ. Hồi nhỏ Năm cùng học và chơi thân với tôi. Học hết phổ thông trung học, Năm đi bộ đội, là con liệt sĩ được ưu tiên cử đi học khóa 1 Đại học Quân y. Năm học cùng khóa, cùng lớp với vợ tôi. Sau này mỗi lần gặp nhau ở Sài Gòn, kể lại chuyện ăn thuốc đánh răng, chúng tôi vừa buồn cười, vừa thấy tủi, thấy thương cho một thời.
Một lần khác, mấy đứa trẻ chúng tôi cãi nhau là dây dù Mỹ đốt có cháy không. Đứa bảo rằng cháy, đứa bảo không. Giữa buổi trưa anh Nam con bác Hưng dắt díu em sang chơi - em là anh Bắc, anh Bảy bây giờ - hăng hái đề xuất ý kiến, để tao thử xem sao. Vậy là đang lúc cha tôi ngủ say trên võng, anh Nam bò lại dùng một que lửa đốt thử. Tức thì, dây cháy queo, võng đứt phựt, cha tôi ngã uỵch xuống nền nhà. Giật mình, bị ngã đau bất ngờ, mất giấc ngủ trưa, cha tôi bực lắm nhưng vì mới về, lại là trò nghịch dại của con cháu trong nhà nên ông cố nén giận. Anh Nam sau này lớn lên vào bộ đội, tháng 8 năm 1964, đi chiến đấu ở chiến trường Miền Nam hy sinh  năm 1966 tại A Sầu, A Lưới tây Thừa Thiên.
Mấy ngày đầu cha tôi mới về, bà con, làng xóm thường tụ tập ở nhà tôi vừa ăn kẹo, ăn lạc rang, uống nước chè, vừa nghe cha tôi kể chuyện trong bộ đội, chuyện đánh giặc. Có bữa ngồi chơi đến khuya. Hồi đó quê tôi vẫn vậy. Hễ có một người đi thoát ly về phép là bà con hàng xóm đến thăm hỏi, chuyện trò rôm rả mấy đêm liền.
Cuối năm 1956, sau Cải cách ruộng đất cha tôi về phép. Ngày trả phép cha  mang tôi đi theo để trực tiếp chăm sóc dạy dỗ. Lúc đầu mẹ tôi không chịu vì sợ phải xa con trai. Cha tôi nói mãi mới được. Mẹ và chị Hòe đưa tiễn hai cha con. Cả nhà đi bộ vào Vinh, gần 20 cây số. Tôi chỉ tự đi được một vài quãng ngắn, còn lại là cha mẹ thay nhau cõng. Chị Hòe lon ton chạy theo sau. Đây là lần đầu tiên được đến Vinh, tôi thích lắm. Đường nhựa, ô tô, xe ngựa, phố xá, nhà lầu, đèn điện, nước máy - với tôi cái gì cũng mới lạ. Cha tôi thuê nhà trọ ngủ qua đêm để sáng ngày mai hai cha con đi ô tô ra Thanh Hóa, hai mẹ con đi bộ trở về nhà. Nhưng khi vào nhà trọ, chẳng hiểu sao, chị Hòe khăng khăng không chịu ngủ lại, nằng nặc đòi về nhà ngay. Chị kêu toáng lên, nếu mẹ không về, chị sẽ bỏ về một mình. Cha mẹ tôi đành chịu thua, tần ngần bịn rịn chia tay nhau. Mẹ ôm lấy tôi, khóc òa lên. Cái nhà trọ nhỏ bên cái hồ nhỏ, gần bến xe Vinh, cách đây đã hơn nửa thế kỷ, sau này mỗi dịp qua đó, tôi vẫn ngoái lại nhìn. Ký ức tuổi ấu thơ hằn sâu trong trí nhớ.
Sáng ngày hôm sau hai cha con mua vé ô tô đi Thanh Hóa. Gần 9 giờ xe mới chuyển bánh. Từ Vinh ra Thị xã Thanh Hóa chưa đầy 150 km, như bây giờ xe tốt chỉ chạy hơn 2 giờ đồng hồ. Nhưng ngày đó đường rất xấu, nhiều ổ gà, ổ trâu, lại còn phải qua bốn phà: Cấm, Giát, Hoàng Mai, Ghép. Mỗi lần qua phà, xe nối đuôi nhau xếp hàng dài, hành khách phải xuống xe. Là đứa trẻ hiếu kỳ, hiếu động, với lại cái gì cũng mới lạ, tôi chạy lung tung giữa đoàn người tứ xứ. Cha tôi sợ con bị lạc, cứ phải chạy theo. Khi đến bến phà Ghép, mưa phùn, trời lạnh, tôi trèo lên một mô đất cao bị trơn trượt ngã, mặt mũi quần áo lấm lem. Cha tôi phải dùng khăn mặt nhúng nước sông để lau cho tôi. Gần tối xe mới tới được Thị xã Thanh Hóa. Sau khi đã thuê được nhà trọ, hai cha con đi ăn tối. Dạo qua mấy dãy phố dưới ánh điện mờ, nhìn thấy nhiều nhà hàng treo lủng lẳng những con gà luộc, những bộ lòng lợn luộc béo ngậy, đang đói meo tôi thèm, đòi ăn. Hồi nhỏ ở quê, tôi chỉ được ăn thịt vào những bữa giỗ, Tết. Mà cũng chẳng nhiều nhặn gì. Mặc dù trong túi tiền rất ít, nhưng cha vẫn chiều tôi ăn uống no nê.
Sáng ngủ dậy, hai cha con đi tiếp ô tô về đơn vị của ông. Ngày đó cha tôi đang an dưỡng tại Đoàn điều dưỡng của Đại đoàn 304, đóng trong nhà dân ở huyện Hà Trung, Thanh Hóa, gần chợ Bình Lâm, cách Đò Lèn khoảng 5 km. Khi tới nơi tôi thấy một số cán bộ cũng mang con đến đơn vị. Các chú bộ đội trong đơn vị thương quí tôi, nhất là các chú cùng quê. Cả đơn vị ăn cơm trong một cái đình làng rất rộng. Cơm ăn chung còn thức ăn chia theo khẩu phần: đại táo, trung táo. Đại táo là suất ăn của cán bộ đại đội trở xuống. Trung táo là suất ăn của cán bộ tiểu đoàn, trung đoàn. Đến bữa ăn nhiều chú kéo tôi về mâm, hoặc gắp thức ăn sang mâm hai cha con. Hàng ngày, tôi được cha tôi và các chú dẫn đi chơi trong vùng. Khi ra chợ Bình Lâm, khi ra xem thợ đang thi công cầu Đò Lèn, khi leo núi, khi vãn cảnh chùa.
Vùng này cò nhiều cây vải cao to, sai quả. Quả to mà hạt cũng to. Không nhỏ hạt và ngọt như vải thiều bây giờ, nhưng cũng ngon. Có chú tên là Thắng quê ở xã Nghi Quang, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An là dân vùng biển rất giỏi bơi lặn. Chú đưa tôi ra tập bơi ở bến sông Lèn. Chú nói rằng, tập sơ bộ thôi, cứ quẳng xuống nước tự khắc biết bơi. Con chó, con trâu có tập bao giờ đâu mà cũng biết bơi. Chính vì vậy, có lần chú bế tôi ra giữa sông rồi thả ra. Tôi đã vùng vẫy, uống no nước, suýt chết đuối. Chú Thắng vội lao ra cứu. Về nhà, cha tôi quát chú Thắng một trận. Bà chủ nhà sợ tôi mất vía, đã lấy sàng gạo làm phép chao vía. Đi chơi với các chú bộ đội trẻ, tôi được bày dạy nhiều điều.
Cuối năm 1957, giống như hàng loạt nông dân mặc áo lính tham gia kháng chiến chống Pháp hồi đó, cha tôi được quân đội cho giải ngũ theo chế độ phục viên. Trước đó đơn vị giải quyết cho ông chuyển về Nông trường quân đội, nhưng ông không thích. Ông cho rằng ở nông trường cũng làm ruộng mà lại xa vợ con, về quê vẫn hơn. Ông phục viên trong đợt 8 vạn quân chuyển ra.
Quả thật, đó là một lớp người có công lao lớn mà chính sách đãi ngộ rất ít. Nhưng biết làm sao được. Buổi ấy đất nước mới thoát ra khỏi chiến tranh. Kinh tế tài chính còn khó khăn trăm bề. Người nông dân tòng binh đánh giặc. Giặc tan họ trở về ruộng đồng. “Tĩnh vi nông, động vi binh””. Triết lý sống của người Việt Nam ta tự ngàn xưa là vậy.
Ngày đó cha tôi đã 43 tuổi, văn hóa chưa hết lớp 4, mắt đã phải đeo kính lão, không còn đáp ứng được yêu cầu xây dựng quân đội chính qui trong thời bình. Ông trở về là phải. Ông tự nguyện hăng hái trở về như ngày nào ông hăm hở tình nguyện tòng quân, dẫu biết rằng rất có thể bỏ mình trong chiến trận. Ngày khoác ba lô về làng, thuở đó chưa có hợp tác xã, nghĩa là mọi người còn tự do làm ăn trên mảnh đất của mình. Cầm 350.000đồng tiền trợ cấp phục viên cha tôi nuôi chí làm giàu. Việc đầu tiên là ông mua cái sân gạch ở xã Nghi Thịnh. Vì đất ở hiện tại quá chật, không chăn nuôi được, ông có ý định chuyển nhà lên vạt ruộng ở Cửa Nghè đầu làng tôi. Ông trồng tre, trồng phi lao thành bờ bao đẹp lắm. Hồi đó từ cây đa đầu làng đến Cửa Nghè còn vắng vẻ. Vì thế mẹ tôi dứt khoát không đồng ý chuyển nhà lên ở giữa đồng.
Việc chuyển nhà không thành, cha tôi quay sang đầu tư sản xuất. Ông cho rằng, với hơn 1,2 mẫu đất ruộng cộng với đất vườn, hai vợ chồng, hai con  (chị tôi và tôi, ngày đó chưa có các em sau), với sức khỏe tốt, siêng năng, cần cù, tiết kiệm, làm ăn có kế hoạch lại có một lưng vốn tương đối khá, chắc là đời sống gia đình được cải thiện và từng bước đi lên. Nào ngờ, sự thể cuộc đời không như ông dự liệu.
 Năm 1958, quê tôi mọi nông dân đều vào hợp tác xã nông nghiệp. Tất cả ruộng vườn, trâu bò, nông cụ đều đưa vào hợp tác xã hết. Ai không vào hợp tâc xã thì chính quyền địa phương và nhân dân coi là phần tử xấu, chống lại chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước. Con cái đi học bị dị nghị. Thậm chí đi học, học nghề, đi thoát ly không được Ủy ban hành chinh xã xác nhận lý lịch, hoặc có xác nhận thì cũng nhận xét không ra gì.Trong Đội thiếu niên, trong Đoàn thanh niên có em nào cha mẹ không vào hợp tác xã thì bị để ý, bị cản trở đủ điều. Là gia đình đảng viên, dĩ nhiên cha mẹ tôi phải vào hợp tác ngay đợt đầu tiên.
Đúng là những năm đầu mới vào hợp tác xã quê tôi vui lắm. Làm ăn tập thể, sáng, trưa, chiều, tối đều có kẻng ra đồng và về làng. Ngày đó chưa có khoán. Sau từng buổi làm, từng đội xã viên tập trung ngồi ở bờ ruộng để tính công, bình công, chia điểm.Từ chỗ làm ăn riêng lẻ, lặng lẽ tùy nghi đi sớm về khuya mặc lòng, nay đi về có giờ giấc qui củ. Làm ăn tập thể, chuyện trạng, chuyện tiếu lâm ồn ào. Vui thì có vui nhưng vẫn nghèo. Thậm chí nghèo hơn trước.Cái nghèo được chia đều cho mọi người. Động lực không được khêu gợi và phát huy, kỹ thuật không có gì mới, thậm chí không cải tiến mà là cải lùi trong một số khâu sản xuất, dẫn đến năng suất lao động rất thấp.Thêm vào đó tệ quan liêu và nạn tham nhũng bắt đầu xuất hiện trong sản xuất, phân phối và lưu thông sản phẩm.
 Khi động lực lợi ích không được kích thích thì việc chây lười, làm ẩu, làm dối nổi lên. Dân số ngày càng tăng theo qui luật sau chiến tranh. Đất đai canh tác bị thu hẹp lại, vì phải dành cho đất ở, đất giao thông, đất thủy lợi và các công trình công cộng khác…Tất cả những điều đó tác động trực tiếp đến miếng cơm, manh áo người nông dân một nắng hai sương. Cũng may dù đời sống vật chất có khó khăn, thiếu thốn nhưng đời sống tinh thần, tình làng nghĩa xóm rất mặn nồng. Các tệ nạn hầu như không có. Thuở đó, quê tôi mọi người ra đồng, đồ đạc để ở nhà không cần khóa. Lúa, khoai, lạc, ngô phơi ở sân, nếu trời mưa bất chợt mà không kịp về thì đã có người hàng xóm sang thu dọn, cất đặt hộ.
 Điều đáng tiếc là sau năm 1954, hầu như quê tôi không còn đền, chùa. Tất cả đều đã bị dỡ bỏ. Theo đó, mọi tục lệ từ ngàn xưa đều bị xóa dần. Sau này nghĩ lại, tôi thấy cũng lạ lùng. Chống mê tín, dị đoan là đúng. Nhưng lại chống cả tín ngưỡng, phong tục văn hóa đã trở thành truyền thống tốt đẹp từ bao đời thì thật là sai lầm. Không có niềm tin, không ước mơ, thì con người dễ phân tâm, đời sống tâm linh sẽ nghèo nàn, tâm hồn khô cứng, tình cảm chai sạn. Đặc biệt là, con người sẽ không biết sợ. Ở đời sợ nhất là sống chung với những người không biết sợ. Một khi đã không biết sợ, thì dễ làm càn, làm ẩu, bất chấp qui luật, gây hậu quả xấu cho mình và cho xung quanh. Cũng may việc thờ phụng tổ tiên, ông bà ông vải trong các ngày giỗ, tết ở mỗi gia đình vẫn còn. Luân lý, đạo đức, thuần phong, mỹ tục còn được giữ lại và phát huy trong điều kiện mới.

Những năm về già, cha tôi thường ra Hà Nội ở với chúng tôi. Mặc dù tuổi đã cao nhưng ông vẫn còn khỏe, minh mẫn. Chúng tôi đưa ông đi tham quan nhiều nơi, cả ngoài Bắc và trong Nam. Hàng năm vào dịp hè, chúng tôi thường đưa ông đi nghỉ mát ở Cửa Lò, Đồ Sơn, Hạ Long. Cha tôi phát bệnh tiểu đường từ cuối năm 2006. Điều trị nhiều ngày, cả đông y và tây y, nhưng không khỏi, bệnh tình ngày một nặng hơn. Theo ý ông, ngày 14 tháng 5 năm 2008 (tức ngày 10 tháng 4 Mậu Tý), chúng tôi chuyển cha tôi về quê. Hơn một tháng sau, ngày 20 tháng 6 năm 2008 (tức ngày 17 tháng 5 Mậu Tý) cha tôi từ trần. Dù đã biết trước, nhưng chúng tôi hẫng hụt và tiếc thương ông vô cùng. Giữa một ngày hè nắng chói chang, gia đình, họ hàng, chính quyền đoàn thể ở địa phương, các đơn vị và bạn hữu của các con ông, từ nhiều nơi về dự lễ tang ông đông đủ, chu đáo, nghĩa tình.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:23:25 PM
Mẹ tôi  tên là Trần Thị Tuấn, tiếng địa phương gọi là Tuớn,  sinh năm 1919, thua cha tôi 5 tuổi. Ông ngoại tôi là Trần Bá Huấn, thuở nhỏ là nho sinh. Nghe nói những người học chữ Nho thuở đó nếu thành đạt thì vào đời làm được bốn nghề: nho, y, lý, số (nho là làm thầy giáo; y là làm thầy thuốc; lý là địa lý; số là thầy xem tướng số). Ông ngoại tôi vừa làm thầy đồ vừa đi bắt mạch bốc thuốc vào tận Huế, Sài Gòn và ra Hà Nội. Ông thường đưa mẹ tôi theo trong những chuyến đi xa. Mẹ tôi có dáng người tầm thước, gương mặt đẹp, phúc hậu. Bà là người hiền lành tốt tính, trong quan hệ luôn lấy hòa khí làm trọng. Họ hàng nội ngoại, làng trên xóm dưới, cả một đời, mẹ tôi không mất lòng ai.
Khi sinh tôi được mấy tháng, cha tôi trở lại đơn vị, trong nhà chỉ còn ba mẹ con. Lúc đó chị Hòe mới hơn 5 tuổi, tôi thì còn ẵm ngửa. Mấy gian nhà tranh trống trếnh, thường bị dột lúc trời mưa to, tốc mái khi gió bão. Nhà nuôi một con bò, một miếng vườn nhỏ, mấy vạt ruộng độ dăm sào. Có ruộng được ông bà nội chia cho. Có ruộng do cha mẹ tôi mới tậu sau khi ra ở riêng.
 Một mình mẹ tôi lo việc cấy cày đồng áng. Bốn, năm tuổi, tôi đã lẽo đẽo bám theo mẹ ra đồng.  Mẹ tôi thường đặt tôi ở góc bờ ruộng trong lúc cày cấy. Mãi đến trưa, đến tối lại lẽo đẽo cõng về. Có bữa làm ở ruộng Cửa Nghè trời nắng quá, mẹ tôi bẻ một cành cây lá to để che cho tôi. Có bữa làm ở đồng Hạ Lang, mẹ gửi tôi ở nhà bà Hội Tuynh là dì ruột của mẹ. Thuở đó hầu như trẻ con quê tôi thường có tật đi theo cha mẹ ra đồng. Dù ngăn trở thế nào cũng đi theo bằng được. Có lẽ do ở nhà chẳng biết chơi với ai và cũng chẳng có gì để chơi cả. Ra đồng thoáng đãng, mát mẻ hơn.
Trong kháng chiến chống Pháp và những năm sau hòa bình lập lại ở Miền Bắc, cha tôi còn tại ngũ, mẹ tôi vừa làm lụng nuôi con vừa tham gia việc xã hội. Bà làm cán bộ phụ nữ xã Nghi Hợp. Năm 1955, Cải cách ruộng đất như một cơn bão bất thần tràn đến quê tôi. Mặc dù nhà nghèo, nhưng là cán bộ phụ nữ xã, mẹ tôi bị qui là đảng viên Quốc Dân đảng. Thực ra, không riêng gì mẹ tôi, không hiểu sao ngày đó hầu hết cán bộ ở địa phương đều bị quy là đảng viên Quốc Dân đảng. Những cán bộ chủ chốt của xã đều bị bắt giữ. Tôi còn nhớ hồi đó nhà bác Thuần cạnh nhà tôi có một con chó mực to tự nhiên bị chết. Chó đã được chôn ở vườn Cố Hợi được hai ngày rồi nhưng chẳng biết ai vu cáo, Đội Cải cách bắt đào bới lên, mổ ra khám nghiệm. Kết quả khám nghiệm là chó chết do thuốc độc ( sau này, khi đã lớn, tôi nghĩ, chắc là chó ăn phải bả chuột). Đội Cải cách cho rằng, mẹ tôi cùng mấy đảng viên khác dùng loại thuốc độc đó để mưu sát cán bộ Đội. Bà bị bắt giam giữ, xét hỏi mất mấy ngày. Tôi chẳng biết người ta xét hỏi cái gì và mẹ tôi khai báo thế nào cả, vì mãi về sau không thấy bà nói về chuyện đó.
Tôi còn bé bơ vơ, sang chơi với bạn bè nhà hàng xóm, kể cả một vài nhà bà con, đều bị xua đuổi. Một mình tha thẩn, tôi quay về nhà tủi thân òa khóc. Thực ra chẳng ai ghét tôi nhưng ngày đó họ sợ bị liên lụy bản thân. Với một đứa trẻ lên  bảy tuổi thì biết gì, làm được gì cơ chứ.
Hồi Cải cách ruộng đất quê tôi có nhiều trường hợp bị qui sai oan uổng. Có gia đình cũng nghèo, nhà tranh, vách nứa, có vài mẫu ruộng do cả một đời, thậm chí mấy đời cần mẫn và tằn tiện mới tậu được, con cái chẳng được học hành, quanh năm làm lụng vất vả lại là đảng viên, chẳng hiểu sao vẫn qui là địa chủ. Tương tự, nhà có người đi bộ đội, đi thoát ly làm cán bộ thì gọi là địa chủ kháng chiến.
Mãi sau này tôi mới biết vì chạy theo tỉ lệ do trên xác định, lại không dựa vào cấp ủy địa phương, chỉ dựa vào cốt cán xâu chuỗi rễ và mấy ông Đội điều từ nơi khác đến, không hiểu rõ tình hình thực tế, nên qui chụp lung tung. Hình như càng qui chụp được nhiều càng có thành tích, càng chứng tỏ “lập trương giai cấp vững vàng”. Ai đã qui là địa chủ, lập túc bị tịch thu toàn bộ gia tài điền sản. Có người bị chết oan, bị xử bắn, bị bức tử, bị tra tấn đến chết, hoặc có người quá căng thẳng mà tự vẫn. Xã tôi có hai người bị bắn trong cải cách.
Nếu nói trong mấy chục năm qua, cách mạng có lúc tả  khuynh,thì quả thật quê tôi luôn dẫn đầu của sự tả khuynh đó. Có một vấn đề hình như có tính qui luật: Ở đâu nghèo, ở đó có phong trào cách mạng cao, có nhiều cống hiến hy sinh trong chiến tranh, lại hay tả khuynh trên nhiều phương diện, và kết cục nơi đó  mãi mãi nghèo hơn vùng khác.
Tôi sinh rằm tháng Chín năm Mậu Tý (tức ngày 17 tháng 10 năm 1948). Tính ra là sau 9 tháng 9 ngày, kể từ khi cha tôi đặt chân về làng. Vì tôi là con trai (trước đó sinh ba chị gái) cha mẹ tôi và nói chung cả hai bên nội ngoại đều mừng lắm. Thật ra tên tôi lúc còn nhỏ là Đấu chứ không phải là Đẩu như sau này. Cha tôi nói đặt tên Đấu là để kỷ niệm đi chiến đấu về sinh con. Còn tên là Đẩu là vì ngày đầu tiên vào bộ đội, anh trợ lý quân lực khi lập danh sách quân nhân hỏi tên gì, tôi trả lời là Đấu. Khổ thay, tiếng Nghi Lộc phát âm không rõ, Đấu nghe thành Đẩu. Anh quân lực vào sổ và từ đó suốt đời tôi mang tên là Đẩu. Lúc đó với tôi được nhập ngũ là mừng rồi, mọi việc không lấy gì làm quan trọng. Bởi có về quê mọi người vẫn gọi tôi là Đấu. Người Nghi Lộc gốc khi phát âm không phân biệt dấu sắc với dấu hỏi, cũng như không phân biệt dấu nặng với dấu ngã.
 Năm 1953, có tin quân Pháp đổ bộ lên cảng Cửa Lò, lực lượng dân quân du kích ở lại bám trụ bảo vệ quê hương. Trung đội dân quân tiến hành tổ chức kiểm tra vũ khí đạn dược sẵn sàng chiến đấu. Chú Nguyễn Văn Bá - người bà con trong họ, ở cạnh nhà tôi - được cử ra ném thử lựu đạn. Hồi đó, dân quân mới được trang bị lựu đạn do công binh xưởng của ta chế tạo. Loại lựu đạn này khi ném phải dùng tay đập về phía sau ( hình như là để đập hạt nổ ) rồi ném lên phía trước. Chú Bá vừa đập lựu đạn vào phía sau đang dang tay để ném, không ngờ lựu đạn nổ ngay làm cụt cánh tay phải.
Ngoài lực lượng ở lại bám trụ chiến đấu, còn lại dân làng tôi gồng gánh, dắt díu bồng bế nhau đi tản cư lên mạn phía tây của huyện. Mẹ tôi quyết định sẽ tản cư lên nhà cậu Long (em trai út của mẹ) ở gần làng Đồn Kiều - cách nhà tôi khoảng 25 cây số. Mẹ tôi quẩy một gánh gồm lương thực, quần áo, nồi niêu, bát đĩa,…Mẹ nhờ anh Thuân, con anh cả của mẹ, quẩy một gánh khác. Gánh của anh Thuân, một đầu là tôi ngồi trong  một cái thúng với một tấm chăn mỏng để lót. Đầu kia là một hũ đựng mắm cua đồng. Chị gái tôi lọc cọc đi bộ phía sau. Mẹ con, cô cháu dắt díu nhau chạy giặc. Khi mới qua cầu Phương Tích (xã Nghi Phương bây giờ), đường gồ ghề mấp mô, gióng thì dài, anh Thuân thì thấp, sơ ý vấp phải hòn đá ở vệ đường làm tôi rơi lăn kềnh xuống đất, đầu bên kia hũ mắm cũng rơi uỵch vỡ tan, mắm chảy lênh láng ra đường. Vừa đau, vừa sợ, tôi khóc òa lên.  Mẹ tôi xuýt xoa trách anh Thuân vô ý. Anh Thuân lóng ngóng thanh minh là tại gióng cô dài. Năm đó anh Thuân chừng 16, 17 tuổi. Sau này nhiều lần về phép lên nhà  bên ngoại chơi, tôi được anh Thuân kể lại chuyện này như một kỷ niệm không bao giờ quên.
Năm lên 7 tuổi tôi bắt đầu đi học vỡ lòng. Thầy dạy chữ đầu tiên là ông Lê Văn Nhựa ở cạnh nhà tôi. Lớp học vỡ lòng ở nhà thờ họ Lê, trong nhà ông Nga Huỳnh. Ông Nhựa rèn chữ rất nghiêm khắc. Hễ trò nào viết sai, viết cẩu thả, viết xấu, tức thì ông bắt đưa tay lên bàn, dùng thước gỗ lim đánh khá đau. Chẳng riêng gì ông Nhựa, các cụ dạy học xưa là vậy. Nhờ thế mới có người viết chữ đẹp. Phần vì sợ thầy, phần vì chán học, tôi thường trốn. Hàng ngày, mẹ tôi cõng tôi đến lớp, mẹ quay về trước, tôi lẻn về sau, cứ thế mất một thời gian.
Cuối năm 1956, khi tôi đang ở với cha tôi tại Thanh Hóa, mẹ tôi viết thư khẩn thiết đòi cha cho tôi về quê để đi học. Ngày xin vào học, sau khi nghe cha tôi trình bày, cô giáo Nguyễn Thị Hiệp xếp tôi vào học lớp một. Cha tôi thì  xin được vào thẳng lớp hai. Nói mãi cô Hiệp đành chịu nhưng với một điều kiện là nếu không theo được thì phải xuống lớp dưới. Bởi thế, ngay từ bé tôi đã cùng học với các anh, các chị hơn tuổi. Với sĩ số 47 học sinh, tháng đầu tiên tôi được cô giáo xếp đội sổ, đứng thứ 47. Cô Hiệp định cho tôi xuống lớp, cha tôi năn nỉ xin cho ở lại vì cho rằng tôi mới về chưa quen. Từ tháng thứ hai trở đi tôi quen dần và học tốt hơn. Khi tôi học xong lớp 2 thì tất cả các lớp được chuyển vào Trường cấp I của xã ở làng Kỳ Sơn. Cô giáo Hiệp dạy tôi năm lớp 2, hơn 50 năm sau, tôi đến thăm nhà cô ở Hà Nội, cô vẫn nhớ ra.
Sau khi tốt nghiệp cấp I, tôi thi đậu vào Trường cấp II Nghi Khánh. Cha mẹ tôi rất mừng. Vì trong vùng hơn mười xã mà chỉ có một trường cấp II, người dự thi đông, số được nhận vào học ít. Cả lớp 4 của tôi ở Trường cấp I xã Nghi Hợp chỉ đậu có mấy người. Từ nhà tôi đến trường hơn 2 km. Ngày đó trường chỉ có mấy dãy nhà tranh vách nứa ở gần hai cây lim to. Giữa các lớp ngăn ra bằng một tấm vách, lớp bên này đọc bài , lớp bên kia nghe hết. Hình như đó vốn là doanh trại  của một đơn vị bộ đội Miền Nam tập kết vào năm 1955.
Khi tôi còn bé ở quê có nhiều bạn. Trong làng có lớp ít hơn tôi vài ba tuổi gồm:  Bảy, Phượng, Lam, Tấn, Ưng, Mai, Ba, Dinh, Thìn…Lớp cùng lứa có: Bắc, Hiền, Châu, Vĩnh, Anh, Thịnh, Liễu, Ngữ, Sĩ,…và có cả lớp trên như các anh:  Cần, Duệ, Dần, Nam, Ba, Tư, Minh, Dinh... Chúng tôi chơi với nhau hồn nhiên, vô tư bằng nhiều trò chơi: đá bóng, chơi khăng, nhiều hơn cả là chơi đánh trận giả. Lớn lên, bước vào thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, hầu như tất cả bạn bè cùng trang lứa với tôi đều gia nhập bộ đội, đi chiến đấu ở các chiến trường. Trong số ấy có nhiều người đã hy sinh hoặc bị thương. Bạn bè thuở đó, ngoài những người họ hàng ruột thịt, có Lê Văn Hiền là người gắn bó, thân thiết với tôi từ khi còn học vỡ lòng cho đến tận bây giờ.
 Đội thiếu niên ở làng được tổ chức qui củ, chặt chẽ và cũng vui lắm. Mỗi tháng một lần sinh hoạt đội. Mỗi tháng một lần Đội thiếu niên tập trung rước đuốc đi cổ động trong làng. Trước khi đi toàn đội tập trung ở Hội quán để kiểm tra quân số, phổ biến nội dung cổ động và cung đường đi. Trên đường đi, người đội trưởng cầm một tờ giấy trên đó ghi các câu khẩu hiệu và hô to.Các em thiếu niên đồng thanh hô, hòa theo tiếng trống ếch. Cả đoàn đuốc sáng trưng, tiếng hô rầm rộ đến từng ngõ xóm, bọn trẻ chúng tôi thích lắm. Sau khi rước đuốc mấy vòng trong làng, cũng là lúc đuốc tàn, toàn đội tập trung trở lại Hội quán để rút kinh nghiệm: quân số đủ không, ai không đi, tại sao, có xin phép không, đuốc đủ sáng không, hô khẩu hiệu đều không, to không. Khi các phương tiện thông tin chưa có nhiều như ngày nay, việc tổ chức cho thiếu niên đi rước đuốc cổ động vừa giúp ích cho việc tuyên truyên các chủ trương chính sách của lãnh đạo các cấp, vừa tạo ra ý thức tập thể cho thiếu niên ngay từ bé. Đội thiếu niên có tổ chức hợp tác xã măng non: trồng rau, nuôi lợn, nuôi gà. Dưới gốc đa làng là một dãy chuồng gà của hợp tác xã măng non. Hàng ngày từng đội viên được phân công cho gà, lợn ăn. Đến phiên trực em nào cũng lo lắng đến trách nhiệm, nhất là những ngày mưa gió, rét mướt. Hoạt động của Đội thiếu niên thường tập trung vào hai ngày trong năm: Mồng một tháng Sáu và Tết Trung thu, nhất là Tết Trung Thu.
Vào những ngày rằm, nhất là rằm tháng Tám, ánh trăng nơi thôn dã quê tôi đẹp lạ lùng. Trăng tròn vành vạnh giữa trời cao không một gợn mây. Ánh sáng vàng ruộm rắc xuống từng ngõ xóm, những lũy tre xanh, những bãi cát trắng phau, mịn màng. Gió thổi nhẹ, trời mát dịu, chúng tôi vui chơi hồn nhiên, thỏa thích. Vào hai ngày 1 - 6 và Tết Trung Thu, thiếu niên toàn xã tổ chức cắm trại, hội thi, hội thao, vui chơi, ngủ tập trung, ăn cơm tập đoàn, thích lắm. Thường tổ chức thi các môn: đồng diễn thể dục, các môn thể thao, thi cắm trại đẹp, thi báo tường, thi tín hiệu còi, cờ mooc-xờ. Công việc chuẩn bị được triển khai từ rất sớm, trước cả tháng. Một không khí vui tươi, thi đua sôi nổi tràn ngập trong các làng. Các cán bộ, bà con cô bác, các bậc phụ huynh ở từng làng đầu tư công sức cho việc luyện thi.  Các anh chị phụ trách rất quan tâm lo lắng.Việc chấm điểm trong các Hội đồng thi cũng gắt gao, nghiêm túc và công bằng. Trong các lần cắm trại, làng Đại Xá thường dẫn đầu tất cả các môn thi và đứng thứ nhất của xã Nghi Hợp. Đó là niềm vinh dự tự hào của thiếu niên làng chúng tôi qua nhiều thế hệ.
Năm tôi đang học lớp 6 thì được đi đón Bác Hồ về thăm quê lần thứ hai. Từ sáng sớm ngày 8 tháng 12 năm 1961, học sinh chúng tôi  đi bộ vào Vinh, xếp hàng ở cổng sân bay Chợ Dâu (bây giờ gọi là sân bay Vinh) để đón Bác. Đến 12giờ30 phút một chiếc máy bay Đa-cô-ta cánh  bạc xuyên  mây hạ cánh. Bác rời máy bay lên xe com-măng-ca mui trần. Chúng tôi ùa ra, tay vẫy cờ, hoa và đồng thanh hô to : Hồ Chủ tịch muôn năm. Bác giơ tay vẫy lại. Được biết ngày đó lãnh đạo tỉnh Nghệ An bố trí một chiếc xe du lịch mui trần kết hoa để đón Bác. Nhưng khi xuống máy bay, Bác lại lên chiếc xe mui bạt của Bộ Tư lệnh Quân khu 4. Ngồi vào xe, Bác bảo tháo bạt ra để Bác còn vẫy chào nhân dân ra đón. Xe kết hoa chạy sau để cụ Lê Nhu nguyên chủ tịch Uỷ ban kháng chiến tỉnh Nghệ An ngồi. Cụ Lê Nhu râu tóc bạc phơ, da dẻ hồng hào, nhiều người tưởng nhầm là Bác. Có người lại nói là đó là người đóng thế Bác, để nghi trang. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi vinh dự được tận mắt nhìn thấy Bác Hồ. Ngày đó Bác còn khỏe nhưng tôi đứng rất gần nhìn kỹ, thấy da mặt Bác đã có mấy chấm tím đen.Về nhà, hỏi người lớn thì biết đó là chấm đồi mồi - người già vẫn vậy. Không ngờ rằng, đó cũng là lần duy nhất tôi nhìn thấy Bác Hồ. Ngay sau đó mấy hôm, thầy Hoàng Văn Bàng, dạy văn lớp chúng tôi ra một bài thi kiểm tra :”Em hãy tường thuật buổi đón Bác Hồ về thăm quê”. Bài văn tôi được chấm điểm cao nhất lớp. Được thầy yêu cầu đọc cho cả lớp nghe chung. Chỉ là thành tích nhỏ nhưng tôi cảm thấy vinh dự, tự hào.
Mặc dù học giỏi năm lớp 7 ở Trường cấp II Nghi Khánh nhưng khi thi vào cấp III Nghi Lộc, tôi bị trượt. Tôi buồn vô cùng. Các thầy, cô và bạn bè tôi đều không nghĩ là tôi trượt. Mọi người động viên tôi, thôi thì học tài thi phận, khuyên tôi về nhà ôn, sang năm thi tiếp. Cả đời tôi, qua các trường, các bậc học, đây là lần thi trượt đầu tiên và duy nhất. Vừa buồn vừa xấu hổ, sĩ diện với bè bạn, lại cho rằng học bổ túc cũng được, miễn là tốt nghiệp được lớp 10 để đi xin việc, tôi quyết định xin vào học lớp 8 bổ túc văn hóa của Trường cấp III Nghi Lộc.
Chương trình Bổ túc văn hóa cũng cùng trường, cùng giáo viên, cùng giáo khoa như trường Phổ thông. Chỉ khác là chúng tôi chỉ học ba môn tự nhiên Toán, Lý, Hóa. Thời gian học là vào các buổi tối trong tuần. Hồi đó chưa có điện, lớp học được thắp sáng bằng đèn măng xông. Cùng học với tôi một lớp có Lê Văn Ba ngay cạnh nhà. Trường  cấp III  Nghi Lộc hồi đó ở thị trấn Quán Hành, gần chỗ huyện đội bây giờ, cách nhà khoảng 7 cây số, đi bộ hơn 1 tiếng đồng hồ. Hàng ngày, cứ đến 5 giờ chiều, tôi và Ba cắp sách đến trường. Học xong về đến nhà khoảng 10 giờ rưỡi đêm. Có bữa trời mưa, không về, ngủ lại trên bàn. Đêm rét quá, lấy tấm ni lông đắp.Vì đắp ni lông, mồ hôi hai anh em tụ lại chảy ròng ròng như người xông hơi.
Học xong lớp 8, tôi học tiếp lên lớp 9. Trong lý lịch bây giờ của tôi có ghi  hai bằng đại học: Kinh tế, Chính trị. Nhưng đó là chuyện sau này.



Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:23:42 PM
Sinh ra, lớn lên bữa no bữa đói bằng hạt gạo, củ khoai, củ sắn ở một miền quê nghèo khó, nhưng bù lại tôi được nuôi dưỡng bằng một đời sống văn hóa tinh thần bình dị mà phong phú. Quê tôi từ năm 1945 đã được giải phóng. Hình ảnh những cánh đồng trải rộng thẳng cánh cò bay, những lũy tre xanh rợp mát những trưa hè; những câu ca dao thấm đẫm tình người bên chiếc võng tre qua lời ru của mẹ :

“Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một đời thờ mẹ, kính cha
Mới tròn chữ hiếu, mới là đạo con”

 “Nhiễu điều phủ lấy giá hương
Người trong một nước phải thương nhau cùng”.

Khi đến tuổi cắp sách tới trường đi học, từng bước đã đưa tôi đến những trang lịch sử chống ngoại xâm oai hùng của dân tộc. Từ khởi nghĩa hai Bà Trưng, khởi nghĩa Phùng Hưng, Triệu Thị Trinh, Mai Thúc Loan, rồi đến Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán ở Bạch Đằng Giang năm 938 chấm dứt 1.000 Bắc thuộc. Lý Thường Kiệt đánh thắng quân Tống trên sông Như Nguyệt, với bài thơ bất hủ được coi như Bản Tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất :

“Nam quốc sơn hà Nam đế cư
 Tuyệt nhiên định phận tại thiên thư
 Giang hồ nghịch lỗ lai xâm phạm
 Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”.

Với khí phách Đông A, thời Trần đã ba lần đánh thắng đế quốc Nguyên Mông mà vó ngựa xâm lăng của chúng đã từng chinh phạt nhiều quốc gia từ Á sang Âu. Bằng tài thao lược của Quốc công Tiết chế Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn và chí khí quật cường của trăm họ đã lập nên những võ công oanh liệt ở thế kỷ XIII.  Đến thế kỷ XV, Lê Lợi - Nguyễn Trãi đã phất cao ngọn cờ đại nghĩa, mười năm trường kỳ nếm mật nằm gai lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Minh giành thắng lợi huy hoàng. Nguyễn Huệ, người anh hùng áo vải cờ đào lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Tây Sơn thu giang sơn về một mối sau hơn 200 trăm bị chia cắt; tiếp đến, lên ngôi Hoàng đế Quang Trung đã xuất quân thần tốc từ Phú Xuân ra Bắc Hà đại thắng 20 vạn quân Thanh chỉ trong mấy ngày Tết năm Kỷ Dậu (1789). Từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, những cuộc khởi nghĩa liên tiếp nổ ra : Nguyễn Trung Trực, Thủ khoa Huân, Nguyễn Hữu Cầu, Phan Đình Phùng rồi Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thái Học. Dẫu lần lượt thất bại, nhưng khí phách quật cường của phong trào, chí khí lẫm liệt của những người anh hùng sống mãi với sử xanh.
Ngày đó thầy giáo yêu cầu chúng tôi học thuộc lòng Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo:
“…Ta cùng các ngươi sinh ra phải thời loạn lạc, lớn lên gặp buổi tai ương. Nhìn sứ giặc nghênh ngang ngoài đường, uốn tấc lưỡi cú diều mà lăng nhục triều đình; đem tấm thân dê chó mà khinh rẻ tổ phụ…Ta thường đến bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ tức một nỗi chưa xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân giặc; dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa ta cũng cam lòng…”.
 Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi được coi như Bản Tuyên ngôn độc lập lần thứ hai:

…” Việc nhân nghĩa cốt để yên dân
 Quân điếu phạt trước lo trừ bạo
 Như nước Đại Việt ta thuở trước
 Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
 Nước non bờ cõi đã chia
 Phong tục Bắc Nam cũng khác
 Trải Triệu, Đinh, Lý , Trần; bao đời xây nền độc lập
 Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên; mỗi bên hùng cứ một phương…”.

 Những trang lịch sử oanh liệt cùng những áng hùng văn bất hủ đó đã thấm đậm vào tình cảm và tâm hồn non trẻ của chúng tôi mà đến trọn đời không bao giờ quên. Những bài thơ hào sảng của Nguyễn Đình Chiểu, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Tố Hữu và nhiều nhà thơ khác đã khắc sâu vào tâm trí của chúng tôi. Ngay từ khi chúng tôi học cấp I, thầy giáo yêu cầu học thuộc lòng những bài văn hay như Đêm Trung thu gác trại, Cây tre Việt Nam của Thép Mới, bài thơ Chú đi tuần của Trần Ngọc…
Hồi đó, đất nước mới giành được thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Chúng tôi được học, được nghe kể về những tấm gương anh hùng tiêu biểu : Bế Văn Đàn lấy thân mình làm giá súng, Tô Vĩnh Diện chèn thân cứu pháo, Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai. Rồi đến những câu chuyện người thật, việc thật của các bậc cha chú trong làng tham gia chiến đấu trên các chiến trường đánh Pháp từ Việt Bắc, Tây Bắc đến Tây Nguyên, Khu 5, Nam Bộ. Đế quốc Mỹ xâm lược Miền Nam, lập ra chính quyền bù nhìn tay sai, chúng tôi được nghe kể về tội ác của Mỹ - Diệm đang thực hiện chính sách đàn áp dã man bằng Luật 10 / 59 và được học những bài thơ, bài văn ca ngợi tinh thần đấu tranh bất khuất của đồng bào Miền Nam.
                                            ***

Tình yêu quê hương, tình yêu Tổ quốc, niềm tự hào dân tộc được nhen nhóm từ thuở nhỏ và được vun đắp qua sự giáo dục bằng nhiều con đường đã hình thành nên đời sống tinh thần và sự xác định lý tưởng sống, lẽ sống của thế hệ chúng tôi là vậy. Tôi nghĩ rằng, đó chính là nền tảng ban đầu và cũng là hành trang của lớp thanh niên thời kỳ đầu lên đường chống Mỹ, cứu nước.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:24:12 PM
Chương  hai: Trên chiến trường nước bạn Lào
 
Ngày 5 tháng 8 năm 1964, sau “Sự kiện vịnh Bắc Bộ”, đế quốc Mỹ cho không quân ồ ạt ném bom bắn phá Miền Bắc. Nhiều nơi ở thành phố Vinh và Bến Thủy bị máy bay oanh kích. Rất bất ngờ, chẳng ai biết trước. Cuộc chiến tranh phá hoại khốc liệt của giặc Mỹ kéo dài gần một thập kỉ với biết bao đổ nát, tang tóc, ập đến những người dân lành đầu trần, chân đất quê tôi là vậy đó. Giữa trời nắng chói chang, nhiều nhà vừa ăn cơm xong đang nghỉ trưa, thấy máy bay nhào liệng vun vút giữa trời cao, nhiều người thấy lạ, hiếu kỳ xúm xít đứng xem, gọi nhau, hỏi nhau í ới. Sau đó nghe tiếng nổ rất to đanh rền của bom, tiếng nổ lụp bụp của pháo cao xạ, biết là máy bay Mỹ ném bom, mọi người  nháo nhác hoảng loạn. Nhìn lên phía Vinh thấy một cột khói đen kịt bốc cao lên tận trời. Mấy ngày sau mới biết, đó là kho xăng dầu mỡ bị trúng bom, bốc cháy dữ dội, kéo dài.
 Đây là lần đầu tiên trong đời, tôi nhìn thấy máy bay phản lực Mỹ. Hầm hố trú ẩn chưa có, mọi người hốt hoảng chạy nhào xuống rào, nhảy đại xuống mương thủy lợi ở mép làng. Hễ có chỗ nào thấp và có cây cối  rậm rạp là chạy rạt xuống. Chưa có kinh nghiệm gì. Mọi người cứ nghĩ là,  những chỗ đó máy bay không thấy hoặc bom nổ cũng đỡ thương vong hơn. Nghe kể, có người chui đầu vào một cái hố, khi hết máy bay, kêu toáng lên vì không ra được. Đầu mắc kẹt trong hố, chân tay vùng vẫy, khua khoắng ở ngoài. Mọi người đến kéo ra, hỏi tại sao làm vậy. Thì người đó trả lời: “ Khi máy bay ném bom, cố giữ lấy cái “gáo”. Chân tay có trúng đạn, chỉ bị thương thôi, cùng lắm là cụt. Còn cái đầu mà trúng thì chỉ có chết. Hơn nữa cho đầu vào trong, nghe tiếng bom nhỏ hơn, đỡ sợ hơn”.
Sau này tôi được biết, sự thực của “Sự kiện Vịnh Bắc Bộ” là:  Trước thất bại nặng nề trên chiến trường Miền Nam, từ giữa năm 1964, đế quốc Mỹ có dã tâm dùng không quân và hải quân đánh phá ác liệt Miền Bắc nhằm ngăn chặn sự chi viện của hậu phương lớn Miền Bắc đối với tiền tuyến lớn Miến Nam. Các nhà hoạch định chiến lược của Mỹ đã tạo cớ bằng một kịch bản là cho tàu hải quân của Hạm đội 7 xâm phạm, khiêu khích, khiêu chiến trong vùng biển Miền Bắc Việt Nam. Trưa Chủ nhật ngày 2 tháng 8 năm 1964, một phân đội tàu phóng lôi của Hải quân Việt Nam được lệnh xuất kích tiến công tàu khu trục Ma-đốc của Mỹ đang xâm phạm vùng biển ta ở gần đảo Hòn Mê (Thanh Hóa), buộc tầu Ma-đốc vừa dùng pháo bắn chặn vừa bỏ chạy ra vùng biển quốc tế. Đêm 4 tháng 8 năm 1964, chính quyền Giôn - xơn đã cho dựng lên một vở kịch là: cho tàu chiến Mỹ đang ở ngoài khơi vịnh Bắc Bộ bỗng nhiên bắn pháo sáng lên trời và bắn pháo cấp tập ra xung quanh để vu khống là tàu chiến Mỹ bị tàu chiến của Hải quân Việt Nam tiến công ở vùng biển quốc tế.
Dựng lên “Sự kiện vịnh Bắc Bộ”, Giôn-xơn lấy cớ dùng không quân với 64 lần chiếc máy bay bắt đầu đánh phá miền Bắc từ 12 giò 30 phút trưa ngày 5 tháng 8 năm 1964. Quân và dân ta ở Vinh, Bến Thủy (Nghệ An), cửa sông Gianh (Quảng Bình), Lạch Trường (Thanh Hóa), thị xã Hòn Gai ( Quảng Ninh) đã sẵn sàng và chiến đấu rất dũng cảm bắn rơi 8 máy bay hiện đại của Mỹ, bắt sống tên giặc lái đầu tiên là Ê-vơ-rét An-va-rê ở Hòn Gai.
Ngày 5 tháng 8 năm 1964 là cột mốc mở đầu cho cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Từ ngày đó quê tôi bắt đầu bước vào cuộc sống thời chiến. Các gia đình đào hố phòng không trong nhà, trong vườn. Hố đào sơ sài đơn giản. Nhiều hố trống không. Có hố gác mấy tấm ván mỏng dính lên làm nắp. Dân quân luyện tập, canh gác trực chiến suốt ngày, từ trong xã ra tận bãi biển Cửa Lò. Mọi người được quán triệt, cùng với việc phòng tránh, đánh trả máy bay Mỹ, còn phải sẵn sàng đánh tàu chiến khi cập gần bờ. Đặc biệt là, sẵn sàng đánh quân địch đổ bộ bằng đường không và đường biển. Tháng 9 năm đó, gần tròn 16 tuổi, tôi được các chú, các anh cho vào dân quân. Súng ít thôi, phần nhiều là súng cũ từ hồi đánh Pháp, được trên cấp thêm mấy khẩu K44 gọi là súng trường kỵ binh Nga còn mới tinh. Súng đạn chỉ trang bị cho những người đã qua kháng chiến chống Pháp và những người được coi là nòng cốt. Theo qui định chung, tôi xin mẹ mấy đồng bạc mua một cây đòng và một cuộn dây thừng. Mẹ tôi cười:
- Con còn bé, sức vóc thiếu niên ấy trói được ai, bắt được ai. Mẹ nghe nói thằng Mỹ cao to lắm. Hơn cả thằng Pháp cơ.
Ban ngày tôi  tập dân quân, có nhiều khoa mục: Kỹ thuật thì xạ kích, đâm lê, ném lựu đạn, gói bộc phá, đào công sự,…Chiến thuật thì học phòng ngự, phục kích, tập kích, bao vây, truy kích. Thao trường là sân kho hợp tác xã, cồn Làng Đông và các phía bìa làng. Tình huống giả định là, sau khi chiếm được Cửa Lò, địch cho quân tấn công làng Đại Xá, trung đội dân quân có nhiệm vụ bám trụ phòng ngự cản bước tiến, tiêu hao sinh lực địch, giữ bàn đạp cho bộ đội chủ lực cơ động phản công tiêu diệt địch. Giáo viên huấn luyện là các chú bộ đội phục viên sau kháng chiến chống Pháp dùng tài liệu hướng dẫn của trên. Ban đêm thì thay phiên nhau canh gác. Nhiều bữa tôi cùng các anh, các chị ra gác tận Cảng Cửa Lò. Tuổi trẻ cộng hưởng với không khí chung, háo hức lắm. Chiến tranh ác liệt đang  tới gần nhưng chúng tôi thấy rất vui. Thời gian đi tập dân quân được tính công điểm trong hợp tác xã nông nghiệp như đi làm.
Tập dân quân chừng nửa tháng, tôi được chọn làm liên lạc cho trung đội dân quân của làng. Liên lạc có nhiệm vụ truyền đạt mọi chỉ thị, mệnh lệnh từ trung đội xuống các tiểu đội và các báo cáo từ trung đội lên xã đội. Có lần, đang nửa đêm, Chú Lê Văn Ngọc trung đội trưởng giao tôi  ra Cửa Lò để truyền đạt mệnh lệnh cho tiểu đội canh gác ngoài đó. Mệnh lệnh thì dài, nhiều khoản mục, nhưng không được phép ghi lại bằng giấy.
Chú Ngọc nói :
- Tập cho quen, ngộ nhỡ trên đường đi “kẻ địch” bắt được. Việc quân cơ, sống để  dạ chết mang đi, không để lại dấu tích gì cả.
Tôi phải nhập tâm, một mình đi bộ gần 5 cây số ra truyền đạt lại với chú Thanh Tùng không sót một chữ. Mọi người khen tôi vừa gan vừa có trí nhớ tốt. Ngày đó đi đêm từ làng này sang làng khác giữa đồng không mông quạnh, lại qua nhiều nghĩa địa, ai cũng sợ ma chứ không sợ trấn lột như bây giờ.
Ngày đó ở quê tôi rầm rộ phong trào tòng quân đi chiến đấu ở chiến trường. Trong năm mấy lần tuyển quân: đợt 1 tháng 4, đợt 2 tháng 8, tiếp đến đợt 3 là tháng 10. Tôi trúng tuyển đợt 3. Đúng ra, vì tôi bị viêm amidan không qua được phòng khám tai mũi họng. Tôi xin phiếu khám khác và nhờ Phan Ngọc Thịnh, bạn cùng làng, khám thế ở phòng đó. Còn các phòng khác, tôi qua được. Đến phòng kết luận cuối cùng của Hội đồng Nghĩa vụ quân sự, tôi gặp anh Hoàng Văn Lượng, là anh  vợ của anh Thuần, con ông bác họ. Anh Lượng bảo tôi:
- Em chưa đủ tuổi, không đi được đợt này.
Tôi năn nỉ xin và được anh đồng ý khai tăng thêm cho tôi một tuổi.Thế là từ đó, trong lý lịch quân nhân của tôi đều ghi sinh  năm 1947.
 Tròn 16 tuổi, nặng 48 kg, cao 1,62 m, tôi lên đường nhập ngũ. Thực ra, tôi đã trốn cha tôi để đi bộ đội. Ngày đó ông đang tham gia khai hoang ở xã Nghi Kiều, cách nhà khoảng 30 cây số. Tôi sợ nói ra cha tôi không cho đi. Bằng cách là ông sẽ kiện lãnh đạo địa phương, vì tôi chưa đến tuổi. Tôi trốn đi, ông có biết cũng không thay đổi được nữa. Vì lúc đó tôi đã vào tận chiến trường Miền Nam rồi.
 Đêm trước ngày lên đường, Ủy ban hành chính xã Nghi Hợp mời các thanh niên trúng tuyển dự liên hoan chia tay. Đợt đó trong xã tôi có bốn người tòng quân: Làng Kỳ Sơn có anh Trần Văn Hợi con cố Tý Bờng, anh Nguyễn Đình Siêu con ông Siêu Sáng. Làng Đại Xá có anh Hoàng Quốc Định con ông Ổn và tôi. Sau Ngày toàn thắng 30-4, thì anh Hợi và anh Siêu hy sinh; Anh Định và tôi bị thương. Sau buổi liên hoan, trên đường về nhà, tôi cùng đi với chú Bá, lúc đó là cán bộ Văn phòng Ủy ban xã. Chú Bá hỏi tôi:
- Thế anh không tin cho bác trai biết à?
         Tôi trả lời:
           - Thôi chú ạ, không kịp nữa rồi. Vào trong đó, tôi sẽ viết thư về xin phép. Và sau này, nếu  còn sống trở về,  tôi tạ lỗi cha tôi cũng được. Nhờ chú ở nhà động viên hai ông bà hộ.
            Như phần trên tôi có nói, chú Nguyễn Văn Bá là dân quân bị thương năm 1953 do ném thử lựu đạn khi quân Pháp đổ bộ lên Cửa Lò. Chú là con ông Nguyễn Văn Oanh, theo thứ bậc trong họ, chú gọi tôi bằng anh, mặc dù chú hơn tôi 21 tuổi.
Đêm dự liên hoan ở xã về, tôi tâm sự với mẹ. Mẹ tôi đã khóc rất nhiều. Suốt cả đêm hai mẹ con không tài nào ngủ được. Cha thì chưa về, chị thì thoát ly ở xa. Mẹ ở nhà với ba em còn nhỏ dại, thơ ngây. Em Đào lên 6 tuổi. Em Loan lên 4 tuổi. Em Phượng mới hơn 1 tuổi. Kinh tế gia đình túng bấn. Sáng dậy, mẹ đưa cho tôi 7 đồng bạc trong số 12 đồng mẹ mới bán trái cây trong vườn. Phụ cấp binh nhì ngày đó là 5 đồng. Như vậy, số tiền mẹ cho tôi còn hơn một tháng phụ cấp. Tôi mặc một cái áo xanh, một quần ka-ki. Nhét vội 7 đồng bạc vào túi quần, tôi ôm choàng lấy mẹ trước giờ chia tay trong nước mắt.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:24:39 PM
 Tôi thật không ngờ, cái ngày 15 tháng 10 năm 1964 là cột mốc bắt đầu sự nghiệp cuộc đời tôi -  mở đầu quãng đời đằng đẵng 45 năm quân ngũ, cũng là ngày cuối cùng tôi chia ly vĩnh viễn mẹ tôi, không bao giờ gặp lại. Tôi đi chiến trường được hai năm thì mẹ tôi mất. Bà mất ngày 21 tháng giêng âm lịch năm 1966, khi mới 47 tuổi. So với bây giờ, phụ nữ ở tuổi đó còn trẻ lắm. Tin mẹ mất đến với tôi rất muộn. Trong chiến tranh thư từ vô cùng khó khăn. Cả đời tôi và cả gia đình tôi đều xót thương mẹ. Bà sinh thành, dưỡng dục năm người con trong bần hàn. Bà ra đi quá sớm chưa hề được một chút gì của con cái báo đáp.
Ngày tôi lên đường không một người đưa tiễn. Đầu không mũ, chân đi đôi dép lốp, tay cầm một quyển sách, tắt qua vạt vườn lên ngang nhà mự Doãn, mọi người đang lăn lúa ở sân hỏi tôi:
- Đấu đi đâu đó?
Tôi trả lời:
- Cháu đi bộ đội.
Mọi người nghĩ là tôi đùa.
Cứ thế, tôi lẳng lặng một mình đi lên thị trấn Quán Hành, nơi tập trung tân binh. Tới nơi, tôi thấy nhiều gia đình tiễn con em đi bộ đội rất nhộn nhịp. Anh Ổn, anh Vĩnh làng tôi đi tiễn anh Định. Anh Tý người làng Kỳ Sơn đi tiễn anh Hợi. Đến trưa mọi người mở cơm nếp, thịt gà ra ăn. Tôi chẳng có gì. Thấy thế, các anh xẻ cho tôi một nắm xôi và một miếng thịt gà luộc. Tôi cầm ăn, không nuốt nổi vì tủi thân, mũi cay xè, nước mắt rơi lã chã, lòng nghẹn ngào khôn tả.
Đêm đầu tiên ngủ lại nhà dân ở xã Nghi Trung. Sáng ngủ dậy, chúng tôi tập trung  ở thị trấn Quán Hành và lần lượt được cán bộ nhận quân gọi tên từng người lên xe ô tô. Những chiếc xe ca, trên đầu cắm cờ đỏ, hai bên thành xe là hai khẩu hiệu lớn, nền đỏ chữ vàng: “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” và“Chào mừng thanh niên lên đường nhập ngũ”. Đúng 7 giờ xe chuyển bánh. Trước đó mấy phút, nhìn xuống vệ đường, tôi nhìn thấy mự Việt là bà con trong làng, quẩy gánh, hình như đi Chợ Cầu. Tôi thò đầu qua cửa kính,gọi thật to:
- Mự Việt ơi! Xin chào mự. Cháu đi bộ đội đây nhé. Mự về nói lại với mẹ cháu là cháu đã lên đường rồi.
 Chẳng biết có nghe không, tôi thấy mự gật gật đầu.
                                        ***

Xe qua cầu Bến Thủy, chạy bon bon dọc đất Hà Tĩnh rất dài. Đến Đèo Ngang xe chạy chầm chậm, tôi quan sát kỹ hai bên đường thấy quả là nơi đây đẹp thật - một danh lam thắng cảnh, non nước hữu tình. Qua văn học, tôi được biết đây là nơi dừng chân ngắm cảnh, đề thơ của các tao nhân mặc khách. Tôi nhớ lại và se sẽ đọc bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà huyện Thanh Quan:

"Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà
 Cỏ cây chen đá lá chen hoa
Lom khom dưới núi tiều vài chú
 Lác đác bên sông chợ mấy nhà
Nhớ nước  đau lòng con cuốc cuốc
 Thương nhà mỏi miệng cái da da
 Dừng chân nhìn lại trời non nước
 Một mảnh tình riêng ta với ta."

Lòng tôi ngổn ngang cảm xúc vừa vui, lại vừa buồn. Vui vì được tòng quân lên đường chiến đấu như ý muốn. Buồn vì xa gia đình, quê hương, bè bạn, đặc biệt là xa mẹ tôi.
  Đến thị trấn Ba Đồn (Quảng Trạch, Quảng Bình), xe rẽ phải theo quốc lộ 20 đi về phía tây. Qua phà Minh Cầm, xe dừng lại đổ quân xuống. Trời mưa tầm tã, chẳng có áo mưa vì chưa được phát quân trang. Mỗi đứa chúng tôi cầm một cành lá cọ, bắt đầu hành quân bộ. Trời mưa rét, đường trơn, chúng tôi xuyên rừng vượt Đèo Khế. Đây là con đường mòn của thợ sơn tràng. Đèo cao lắm, leo dốc mệt vô cùng. Giữa trời rét mà mô hôi cứ túa ra, ướt cả áo. Lần đầu tiên tôi hiểu thế nào là vượt dốc, trèo đèo, mưa rừng, gió núi. Chân đạp lên những mỏm đá tai mèo sắc nhọn, chảy cả máu. Ngửi thấy mùi máu, vắt bám theo tua tủa. Lần đầu tiên trong đời tôi nhìn thấy cảnh này, ghê lắm.
 Tối mịt, chúng tôi đến một làng khá rộng dưới chân đèo, giữa thung lũng, phía trước là một con sông. Cả đơn vị dừng lại đóng quân trong nhà dân. Đó là làng Cổ Liêm, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình. Cán bộ chỉ huy phổ biến: “Tại đây, các đồng chí được cấp quân trang, biên chế chính thức vào từng tiểu đội, trung đội, đại đội và tiến hành huấn luyện tân binh. Vừa huấn luyện vừa ăn bồi dưỡng. Thời gian khoảng 1 tháng nữa sẽ hành quân đi B dài”.
Hàng ngày, sáng ngủ dậy chúng tôi ra bờ sông đánh răng, rửa mặt. Nước sông trong xanh, chảy xiết, cát trắng mịn. Dưới ánh bình minh, bóng núi chiếu xuống lòng sông, trông thật đẹp. Hồi đó nghe nói ở đại đội bên có người đi đánh răng, sơ ý  trượt chân ngã bị nước lũ cuốn chết đuối.
 Đồng bào nơi đây ở nhà sàn. Hình như là người dân tộc. Tối về chúng tôi ngủ trên sàn lát nứa cùng đồng bào. Dưới sàn là mấy con trâu buộc ở chân cột nhà. Đêm đông miền núi, cạnh lèn đá vôi, rét lắm. Không ngủ được, mấy anh em ngồi dậy quây quần bên bếp lửa. Bếp lửa là cả những cây gỗ khô to bằng cổ chân để dài cứ thế đốt suốt ngày. Trên giàn bếp đầy bồ hóng, tôi thấy những chiếc đầu bò, chân bò, đầu trâu, chân trâu đen kịt và cả những xâu ngô treo lủng lẳng. Ở đây ngô gọi bằng sạo. Tôi được biết, những thứ đó đều là thực phẩm, lương thực dự trữ quanh năm của đồng bào. Khi mổ trâu bò, chặt chân và đầu cứ để tươi thế đem gác bếp đến khô quắt lại. Không hề bị hỏng. Những ngày mưa gió không có thức ăn tươi, họ lấy những thứ đó ra, đẽo lấy mấy miếng ngâm nước gạo, rửa sạch, đem xào nấu, hoặc nấu canh ăn.
 Tôi được biên chế vào Tiểu đội 1, Trung đội 2, Đại đội 2, Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 101, Sư đoàn 325B. Được biết, trước đó, Sư đoàn 325A đã vào B. Sư đoàn 325 (thời kỳ đầu gọi  là Đại đoàn) thành lập ở Bình Trị Thiên từ trong kháng chiến chống Pháp, trên cơ sở ba trung đoàn: Trung đoàn 18 Quảng Bình, Trung đoàn 95 Quảng Trị và Trung đoàn 101 Thừa Thiên. Tư lệnh kiêm Chính ủy đầu tiên của Sư đoàn là ông Trần Quí Hai, quê Quảng Ngãi, một trong những người lãnh đạo Đội du kích Ba Tơ. Sau này Ông Trần Quí Hai là Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng Tham mưu phó, kiêm Trưởng ban Cơ yếu Trung ương). Sư đoàn 325B lúc đó do ông Trần Văn Trân làm Tư lệnh, ông Trần Xuân Lư làm Chính ủy. Trung đoàn 101 do ông Nguyễn Xuân Lực, Anh hùng quân đội, làm Trung đoàn trưởng. Tiểu đoàn 4 của chúng tôi do ông Nguyễn Văn Thoại làm Tiểu đoàn trưởng.
 Ngày hai buổi chúng tôi được tập trung ở các bãi cỏ cạnh chân núi để huấn luyện quân sự. Tập bắn súng, ném lựu đạn, đâm lê, mắc tăng võng, đào bếp Hoàng Cầm…Nhiều hơn cả là tập hành quân mang vác nặng, trèo đèo, lội suối. Ngoài ra, còn làm nhiều việc khác như đi vào rừng đốn củi, xuống bếp thay nhau làm cấp dưỡng,…Với tôi, việc gì cũng khó, cũng lạ vì ở nhà tôi chưa bao giờ làm những việc đó. Các anh lớn tuổi hơn coi tôi như đứa em út trong tiểu đội, thương và thường xuyên giúp đỡ tôi mọi việc từ nhỏ đến lớn.
 Cùng với việc huấn luyện quân sự, hậu cần, kỹ thuật, chúng tôi còn được phổ biến thời sự, học tập chính trị nhằm quán triệt tình hình, nhiệm vụ, xác định quyết tâm lên đường chiến đấu. Cán bộ chính trị của đơn vị tuyên truyền về hai sự tích anh hùng còn tươi rói trong năm 1964 là: Gương liệt sỹ Nguyễn Văn Trổi, chiến sỹ biệt động Sài Gòn đặt mìn ám sát Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mac-na-ma-ra ở cầu Công Lý ngày 9-5-1964 không thành, bị địch bắt. Và, những giây phút lịch sử cuối cùng của anh ở pháp trường trước giờ địch xử bắn ngày 15-10-1964. Gương liệt sỹ Nguyễn Viết Xuân, chính trị viên Đại đội 3, Tiểu đoàn 14 cao xạ, Sư đoàn 325B, trong trận chiến đấu khốc liệt với máy bay Mỹ, ngày 18-11-1964, tại khu vực Cha Lo miền tây Quảng Bình, với khẩu lệnh bất hủ: “Nhằm thẳng quân thù, bắn”. Chúng tôi chăm chú nghe không sót một câu, lòng ngưỡng mộ vô cùng. Toàn đơn vị  được khích lệ trong không khí sôi nổi, hăng hái, sẵn sàng lên đường thi đua giết giặc lập công.  Mỗi người đều viết quyết tâm thư, có người viết bằng máu.

 Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước phải hơn 10 năm sau, với biết bao xương máu, gian khổ hy sinh chồng chất, mới giành được thắng lợi cuối cùng. Vậy mà ngày đó, đám lính trẻ chúng tôi cứ lạc quan, hăm hở, háo hức như thể, không đi nhanh vào B sẽ không kịp góp mặt trong ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng. Mà cũng chẳng phải riêng chúng tôi, có lẽ cả đất nước đều vậy. Đi bộ đội là một niềm vinh dự. Càng vinh dự hơn là được vào Nam chiến đấu. Cách tuyên truyền như nhà văn Bảo Ninh đã viết trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh, là: " Ta thắng, địch thua, Miền Bắc được mùa, thế giới chia làm hai phe rõ rệt ”.
Cách tuyên truyền ngày đó, có mặt tích cực là khơi gợi, phát huy lòng nồng nàn yêu nước, chí căm thù giặc sâu sắc của nhân dân ta; cổ vũ động viên cả nước lên đường, mọi người ra trận. Đồng thời có mặt hạn chế, sau này chúng tôi mới nhận ra, đó là cách tuyên truyền đơn điệu, phiến diện, một chiều, chỉ thấy thuận lợi không thấy khó khăn, gây tâm lý ảo tưởng, chủ quan, nóng vội. Chỉ thấy mặt hào hùng, không thấy sự khốc liệt của cuộc chiến. Vì thế, đến khi đối mặt với thực tế khốc liệt, đầy gian khổ hy sinh, khó khăn phức tạp trăm bề, thậm chí không ít lần thất bại, thoái trào, thì tưởng như đây là sự phũ phàng, bị dối lừa, dễ dao động, hoang mang, ngờ vực. Thậm chí, có người quay lưng lại phủ nhận tất cả. Cá biệt có người chiêu hồi, đầu hàng địch.
 Ban ngày tôi hăm hở say mê làm mọi việc khẩn trương, gấp rút theo không khí chung. Lợi thế của tuổi trẻ và sức khỏe giúp con người ta dễ thích nghi với hoàn cảnh sống. Đêm về, trời rét đậm, hình như cái giá lạnh từ trong lèn đá lan tỏa sang. Thao thức không ngủ được, nghe tiếng vượn kêu thảm thiết vọng từ trong núi ra, tôi nhớ nhà, nhớ quê hương kinh khủng, đặc biệt là nhớ mẹ da diết. Nhiều hôm đứng gác giữa trời đêm, mưa phùn, gió lạnh, cô quạnh quá, tôi ôm súng thút thít khóc một mình.
 Có lần tôi được cử đi thị trấn Qui Đạt để nhận khiêng lợn về cho đơn vị. Đến bến sông nước lũ đục ngầu chảy xiết. Thỉnh thoảng nhìn thấy những cây gỗ to từ thượng nguồn lao vun vút theo dòng nước chảy xiết. Mọi người trèo lên ngồi  trên một cái thuyền độc mộc, từ một thân cây gỗ đục ra. Một dây song rất dài, to bằng cổ tay nối vào hai gốc cây hai bên bờ. Chúng tôi cùng bám vào hợp sức kéo dây song thật mạnh, đưa thuyền sang bờ bên kia. Tôi hình dung, nếu giữa dòng, dây song bị đứt thì chắc chắn cả cái thuyền độc mộc sẽ bị nhấn chìm và tất cả chúng tôi bị nước cuốn chết đuối hết. May cả đi lẫn về, chúng tôi đều trót lọt.
Hồi huấn luyện ở vùng Qui Đạt, trước khi đi B, ngoài anh Định cùng nhập ngũ, tôi còn gặp hai người cùng làng: Chú Lê Văn Kỷ và anh Phan Ngọc Mai. Mới thoát ly, lúc xa nhà trên miền đất lạ gặp được đồng hương, lại là đồng hương làng, thật là quí hiếm. Chú Kỷ làm trung đội trưởng trong cùng đại đội. Anh Mai làm văn thư quân lực tiểu đoàn. Anh Mai hơn tôi 4 tuổi, học trên tôi 1 lớp, đi bộ đội trước tôi 1 năm. Ngày đó giữa đám tân binh quân phục còn thơm mùi hồ, nhìn thấy anh Mai rắn rỏi trong bộ quân phục bạc màu, tôi nể phục lắm.
Hết thời gian huấn luyện và bồi dưỡng sức khỏe, chúng tôi hoàn tất mọi công việc chuẩn bị lên đường đi B. Mọi người được trang bị đầy đủ:  ba lô con cóc, quần áo, chăn màn, mũ tai bèo, tăng võng, ni lông, bi đông, túi đựng cơm, lương khô, mắm kem, bao gạo (ruột tượng), hộp thuốc cá nhân, thuốc pha với nước lã uống trực tiếp, băng cá nhân. Trên danh nghĩa, chúng tôi sẽ là chiến sĩ Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam. Do đó, theo qui định bắt buộc, tất cả những thứ tư trang, đồ dùng cá nhân, từ tấm ảnh, giấy tờ tùy thân, sổ lưu bút, nhật ký, có cái gì liên quan đến Miền Bắc xã hội chủ nghĩa đều phải gửi lại, bỏ lại, không được mang theo người. Phát hiện ra ai không chấp hành, cố tình mang đi là bị xử lý kỷ luật.
 Ngày đó tôi là đứa trẻ mới lớn, chưa có người yêu. Những anh lớn tuổi hơn, có người yêu, thậm chí có vợ con rồi, khi bỏ lại những tấm ảnh của người thân, tần ngần, xúc động, tiếc lắm. Mà ảnh thì có phải nhiều như bây giờ đâu. Có người cả đời chưa chụp ảnh. Nhiều người trước lúc chia tay, vội vàng chụp một pô ảnh đen trắng để làm kỷ niệm, nên rất quí. Có người dùng túi ni lon bọc ảnh rất kỹ, cố giấu ảnh tận đáy ba lô. Trên đường hành quân đi B và khi ở chiến trường sau này, thi thoảng một mình nhớ nhà quá, mở ra xem. Tiền thừa còn lại và tư trang đều phải gửi về nhà qua đường bưu điện. Từng người kê khai, đóng gói, tập trung lại do đơn vị cử người đi gửi. Tôi gom góp lại được 100 đồng, gồm tiền ăn bồi bưỡng còn thừa được thanh toán cộng với tiền trong túi còn lại. Đồng thời giặt sạch bộ quần áo ngày mặc lên đường gấp lại kèm một bức thư gửi về cho mẹ.
 Chúng tôi được lãnh đạo, chỉ huy đơn vị phổ biến là theo mệnh lệnh của trên, đơn vị sẽ đi “B dài”. “B dài” nghĩa là, đơn vị sẽ vào chiến đấu lâu dài ở Miền Nam từ nam Đường 9 cho tới tận cùng Nam Bộ. Còn “B ngắn” là chiến đấu ngắn ngày, thường là một chiến dịch, trên chiến trường Bắc Quảng Trị, còn gọi là “ăn cơm Bắc, đánh giặc Nam”. Hoặc những cán bộ được cử vào chiến trưòng “B dài” công tác một thời gian rồi trở ra Bắc. Đi “B dài”, gia đình ở hậu phương sẽ  được địa phương đăng ký, quản lý, cấp phát tiền trợ cấp B cho những thân nhân chủ yếu (cha, mẹ, vợ, con) chưa đến hoặc đã hết tuổi lao động; được hợp tác xã , trường phổ thông, cơ sở y tế,…thực hiện đầy đủ mọi chính sách hậu phương quân đội theo qui định của Nhà nước. Còn “B ngắn” thì gia đình không được hưởng trợ cấp B. Thời gian ở chiến trường “B ngắn” quân nhân được bảo đảm toàn bộ chế độ cung cấp; đồng thời được hưởng chế độ tiền lương, phụ cấp cao hơn khi ở Miền Bắc- khoảng gần  gấp rưỡi. Sau từng đợt chiến dịch, trên dưới 1 năm, đơn vị rút ra Miền Bắc để cung cố, an dưỡng, huấn luyện. Thường đóng ở Quảng Bình, Hà Tĩnh. Từng người được thanh toán truy lĩnh toàn bộ tiền lương, phụ cấp trong thời gian đi chiến đấu ở chiến trường. Mỗi người dồn lại một cục gửi về gia đình.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:25:09 PM
Ngày 25 tháng 12 năm 1964, toàn đơn vị nhập trạm giao liên bắt đầu lên đường đi B. Chúng tôi được biết, lộ trình hành quân sẽ là từ miền tây Quảng Bình  vào Nông trường Quyết Thắng (Vĩnh Linh), lên Làng Ho, vượt qua Đường 9 vào Trường Sơn sang Lào. Từ vùng giải phóng Lào đi dọc theo tuyến tây Trường Sơn thẳng về Nam. Tùy theo nhiệm vụ của từng đơn vị bổ sung cho từng chiến trường mà rẽ ngang về Trị Thiên, về Khu 5, vào Tây Nguyên, hoặc đi thẳng qua đất Cămpuchia vào tận Nam Bộ.
Ngày đó, chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ mới giới hạn ở những trọng điểm nhất định, chưa lan rộng như 1 - 2 năm sau. Đông và Tây Trường Sơn vẫn là những cánh rừng nguyên sinh nhiệt đới bạt ngàn rậm rạp, nhiều tầng, có nơi lâu lắm rồi hình như chưa có dấu chân người. Đường hành quân bộ là đường mòn Hồ Chí Minh. Một lối đi  nhỏ thôi, hàng một, vươn ra, vươn xa dưới những khu rừng đại ngàn được phủ kín bóng cây cao bóng mát, vượt qua nhiều con suối nước trong  xanh. Sau này, khi nghe bài hát Trường Sơn Đông-Trường Sơn Tây, nhạc của Hoàng Hiệp, lời thơ của Phạm Tiến Duật, có câu “ Đường ra trận mùa này đẹp lắm”, đám lính trẻ chúng tôi tranh luận với nhau sôi nổi. Có người lập luận, nhà thơ đã lãng mạn hóa, thi vị hóa để cổ động tuyên truyền mọi người ra trận, chứ  thực ra đường ra trận có gì đâu mà đẹp. Hơn nữa, bất cứ ở đâu, lúc nào, mọi cuộc chiến tranh, kể cả chiến tranh chính nghĩa, đều là điều bất đắc dĩ đối với con người. Chiến tranh là một biện pháp giải quyết tình thế giữa các tập đoàn xã hội, khi không còn phương cách nào khác, thì hãy đừng coi đó là đẹp. Có người lại nói, kể ra nếu dùng từ “vui” thay cho từ “đẹp” thì đúng hơn. Vì ngày đó với khí thế hừng hực, như nhà thơ Tố Hữu đã viết: “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai”, trong không khí rộn rịp, thì dùng  từ “vui” hợp lý hơn. Với tôi, tôi cho rằng ở thời điểm cuối năm 1964 đầu năm 1965, đường hành quân đi B chưa bị bom đạn địch cày xới, cây rừng còn xanh tươi, chưa bị chất độc làm trụi lá, non nước hữu tình, cộng với khí thế hào hùng sôi nổi hăm hở của những chàng trai trẻ đi chiến đấu, trùng điệp những đoàn quân ra trận, thì quả thật, đường ra trận vừa vui, vừa đẹp.
Trên đường hành quân mỗi người mang theo trên mình khoảng 30 kg. Trong đó riêng bao gạo đủ ăn được 10 ngày. Đến từng trạm bổ sung dần lương thực, thực phẩm. Mỗi ngày chúng tôi hành quân qua một cung trạm. Từ trạm này sang trạm khác khoảng 30 cây số. Trên đường đi cứ bình quân 1 tiếng đồng hồ nghỉ giải lao độ 10 phút. Thường là sau khi đã ăn sáng, đổ đầy nước sôi vào bi đông, được lệnh xuất phát từ 5 giờ thì đến trạm tiếp theo khoảng 5 giờ chiều. Ở rừng trời mau tối. Hơn 5 giò chiều đã nhá nhem, mọi người chuẩn bị nấu cơm ăn, mắc tăng võng để ngủ. Bếp ăn tiểu đội, mọi người chuẩn bị củi đuốc, che lại ánh sáng, khơi lại bếp để nấu cơm tối và chuẩn bị bữa sáng mai, trưa mai.
Để bảo đảm bí mật, chỉ huy đơn vị  phổ biến yêu cầu mọi người thực hiện nghiêm ngặt mọi qui định. Thực hiện đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng. Đúng như các cụ xưa thường nói: “Lai vô ảnh, khứ vô hình”. Đi không dấu là rời khỏi nơi trú quân tuyệt đối không để lại dấu tích gì, dù là nhỏ nhất. Khi chặt cây rừng để làm cột mắc võng hoặc lấy củi, phải rút hết toàn bộ cành lá xuống. Nếu để lại, cành cây bị chết khô, từ trên cao, máy bay địch sẽ phát hiện được dấu hiệu khả nghi. Nấu không khói là để tránh máy bay Mỹ phát hiện, khi nấu cơm phải đào bếp Hoàng Cầm. Ban ngày thì không có khói. Ban đêm thì không phát ra ánh sáng. Chúng tôi được biết bếp Hoàng Cầm xuất hiện từ hồi kháng chiến chống Pháp do một chiến sỹ nuôi quân tên là Hoàng Cầm đã có sáng kiến đào đường hầm dẫn khói đi trong lòng đất rồi lan tỏa dần. Như vậy là, ở nước ta có ba ông Hoàng Cầm thành danh: Tướng Hoàng Cầm, nhà thơ Hoàng Cầm và chiến sĩ nuôi quân Hoàng Cầm. Nói không tiếng là nói đủ nghe, không ồn ào, sợ biệt kích địch phát hiện. Ngày đó Mỹ đã nghiên cứu chế tạo ra một loại máy thu phát tín hiệu, vỏ bằng cao su, nhựa, bề ngoài không tinh mắt nhìn như một loại cây rừng - gọi là cây nhiệt đới. Máy bay Mỹ thả cây nhiệt đới vào các khu rừng trên tuyến hành quân của ta để thu thập và phát thông tin về các căn cứ của chúng.
Cứ thế, ngày đi đêm nghỉ. Đến một ngày cả đơn vị vượt qua một con sông nhỏ trên một cái cầu mấy cây tre ghép lại, có tay vịn. Tới giữa dòng, anh chính trị viên đại đội ngoái lại nói nhỏ với tôi rằng, đây là sông Sê Pôn. Sang bên kia là  huyện Mường Phìn, tỉnh Savanakhet đất Lào rồi. Qua cầu, tôi ngoảnh lại bờ đông là một rừng tre cao vút dưới nắng vàng, đẹp lắm. Nơi ấy là Tổ quốc mình. Lòng tôi bồi hồi xúc động. Đây là lần đầu tiên trong đời, tôi đi ra nước ngoài. Đi ra nước ngoài mà không có hộ chiếu, không có giấy tờ tùy thân. Với bộ quân phục Quân Giải phóng và chiếc mũ tai bèo, mà như nhà thơ Tố Hữu sau này đã viết, chẳng làm đau một chiếc lá trên cành, đã thay cho hộ chiếu. Trong túi áo của mỗi người chỉ vỏn vẹn một tờ giấy bìa cứng, rộng bằng cái chứng minh thư, trên đó đề  là Giấy chứng nhận XYZ, họ và tên, được cử đi Bác Ái. Lúc đó tôi cũng chẳng biết giấy XYZ  là cái gì, để làm gì, cất giữ ra sao, tại sao lại lấy 3 ký hiệu toán học đặt tên cho nó. Đi Bác Ái nghĩa là đi đâu. Chỉ biết rằng, mỗi người đi “B dài” đều được cấp giấy XYZ. Nhưng khi đã vào chiến đấu ở chiến trường rồi chẳng còn quan tâm đến miếng giấy đó nữa. Sau này, khi ra Bắc, nghe đâu cần có giấy chứng nhận XYZ để làm khen thưởng thì phải. Ai nghĩ ra việc đó kể cũng lạ. Người lính bao năm lăn lộn vào sinh ra tử ở chiến trường, ai còn giữ được một cái miếng giấy nhỏ bằng nửa lòng bàn tay!
 Đêm dừng lại trú quân ở một cánh rừng tre, trời mưa phùn, se lạnh, cơm nước xong,  trèo lên võng nằm, lòng bồi hồi cảm xúc, tôi viết mấy câu thơ làm kỷ niệm sau này:

         “ Ra đi chiều ấy cuối mùa Đông
          Biên giới là đây một nhánh sông
         Qua cầu tre nhỏ sang đất Bạn
         Ngoảnh lại giang sơn chốn Lạc Hồng”.

Hành quân được bốn  ngày, đến bữa ăn tôi thấy rất ngon miệng, cảm giác như ăn bao nhiêu cũng hết, không biết no. Sau này mới biết đó là dấu hiệu ban đầu của bệnh sốt rét rừng. Người bị bệnh sốt rét có hai thời điểm ăn rất nhiều: trước khi bị ngả bệnh mấy hôm và sau khi hết bệnh ăn giả bữa. Sang ngày thứ 5 khi đến trạm giao liên tôi  bị sốt li bì. Bên ngoài thì người đỏ lừ sốt cao, mà trong bụng thì rét kinh khủng. Rét tận đáy lòng, thấu tận sống lưng. Tôi vơ bao nhiêu thứ đắp vào mà vẫn run cầm cập, chui vào bếp đốt lửa sưởi cũng không hết rét. Lúc đầu tôi cứ nghĩ là bị cảm lạnh nhưng không phải, chẳng hiểu bị bệnh gì. Đêm đến, anh tiểu đội phó lên đại đội báo y tá xuống xem. Anh Soạn y tá đại đội, quê ở vùng Qui Đạt- Quảng Bình đến gặp tôi sờ trán, hỏi han, cặp nhiệt kế đo nhiệt độ lên tới 39,5 độ. Anh vừa mỉm cười, vừa nói :
- Như thế này là bị sốt rét rồi, em ạ. Không sao đâu, chịu khó uống thuốc đủ liều,  rồi mấy bữa là khỏi thôi. Người ta nói, phi sốt rét bất thành Quân Giải phóng mà. Sống ở rừng, trước sau thì ai cũng bị sốt rét cả, không ai thoát được đâu. Có điều, em bị sốt rét hơi sớm. Mới hành quân được 5 ngày thôi đấy.Vào tận cùng, nghe đâu,  phải hành quân bộ mất những 3 tháng nữa cơ.
Nói rồi, anh đưa tôi mấy viên thuốc quinin và một bát nước. Tôi uống vào đắng lắm. Đến khuya thì tôi hạ sốt nhưng vẫn rét run người.
  Sáng ngày ngủ dậy tôi đau ê ẩm toàn thân, đầu đau như búa bổ, miệng đắng ngắt, lưng đau nhừ, chân tay bủn rủn. Đến giờ hành quân, anh tiểu đội trưởng san hết đồ đạc của tôi cho toàn tiểu đội. Người thì mang khẩu súng, người khoác hộ ba lô, người quàng thêm bao gạo. Tôi chỉ chống một cây gậy thất thểu lên đường, chân bước liêu xiêu. Cứ thế, mấy ngày sau, bệnh tình tôi không thuyên giảm, thậm chí còn nặng thêm. Mấy bữa liền không ăn uống được gì, người tôi gầy rộc và khuỵu xuống không đi được nữa. Anh em trong tiểu đội phải chặt một khúc tre làm đòn khiêng cột võng vào làm cáng  để cáng tôi tiếp tục hành quân. Nằm trên võng lắc lư khi lên dốc, lúc xuống đèo, vượt suối, người bị sốt li bì, tôi chẳng biết gì. Khi tỉnh dậy tôi thương anh em đồng đội vô cùng. Cáng được tôi trên đường hành quân anh em đồng đội vất vả lắm.
 Ba ngày sau, theo đề đạt của tiểu đội, trung đội, thủ trưởng đại đội xét thấy, tôi không còn đủ sức đi tiếp mà để anh em cáng, thì làm chậm tốc độ hành quân của đơn vị. Vì vậy, đề nghị lên tiểu đoàn gửi tôi lại trạm giao liên, đợi đến lúc khỏe sẽ vào sau. Tôi cứ nằm trên võng, từng anh em trong tiểu đội đến  cầm tay tôi nồng ấm bịn rịn chia tay:
- Em ở lại nhé, đi sau.
 Tôi giàn giũa nước mắt lưu luyến giã từ đồng đội. Đó là những người vừa là đồng đội, vừa là bạn học, vừa là đồng hương. Chúng tôi không chỉ gắn bó với nhau bằng nhiều kỷ niệm trong thời gian mới vào quân ngũ mà còn thân thiết với nhau từ khi còn ở quê. Tôi linh cảm, cuộc chia ly này khó có ngày hội ngộ.
Quả thật, trong suốt thời gian ở chiến trường và hơn thế, đằng đẵng 45 năm quân ngũ, trải qua nhiều cương vị, nhiều đơn vị, nhiều địa bàn, tôi chưa bao giờ gặp lại những người cùng nhập ngũ, cùng đơn vị ngày đó. Sau này tôi được biết, đơn vị đó hành quân vào Tây Nguyên chiến đấu một thời gian rồi đi tiếp vào Nam Bộ. Sau hơn 10 năm chiến đấu, cùng nhập ngũ với tôi ngày đó, rất nhiều người đã hy sinh, bị thương, số còn lại  hầu hết phục viên về quê sau ngày toàn thắng, số rất ít phục vụ quân đội đến  tuổi nghỉ hưu. Mãi tới sau này, tôi mới gặp lại hai người cùng ở đơn vị, đó là anh Nguyễn Công Dung, Đại tá, Chỉ huy trưởng Quân sự Thị xã Cửa Lò- Nghệ An và anh Lương Tiến Đại, Đại tá, Chỉ huy phó về Chính trị Tỉnh đội Quảng Bình, nghỉ hưu làm Chủ tịch Hội Cựu Chiến binh tỉnh Quảng Bình.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:25:41 PM
 Khi anh em cáng tôi đến bàn giao cho trạm xá của trạm giao liên hay của binh trạm, tôi mê man chẳng biết gì. Hôm sau tỉnh dậy, tôi thấy cùng cảnh mới đến như tôi độ khoảng 10 người nữa. Cũng đều là đám lính trẻ hành quân đi B bị sốt rét rừng, không chịu nổi, phải gửi lại. Còn lại là số thương hinh, bệnh binh đã điều trị ở đây từ trước.
Trạm xá ở một khu rừng nước bạn Lào bằng phẳng, cây cối  tốt tươi, rậm rạp và đẹp. Nép dưới tán lá cây rừng là mấy dãy nhà lợp cỏ tranh, xung quanh che chắn bằng phên nứa. Các dãy lán dài trải bằng sạp nứa. Nằm trên đó có cả thương binh lẫn bệnh binh. Chúng tôi được phổ biến rằng, đây là trạm xá dã chiến để thu dung thương binh, bênh binh trên tuyến hành quân. Ai nhẹ thì điều trị một thời gian rồi trả về đơn vị cũ hoặc bổ sung cho đơn vị khác theo quyết định của cấp trên. Ai nặng thì chuyển về phía sau, nặng hơn nữa thì chuyển hẳn ra Bắc. Hàng ngày, sau giờ ăn sáng, cấp thuốc uống hoặc tiêm, ai không bị lên cơn sốt thì, hoặc là chơi tú lơ khơ, đánh cờ tướng, hoặc tha thẩn dạo chơi xung quanh trạm xá. Cũng có khi chúng tôi ra suối câu cá hoặc vào rừng hái rau tàu bay, hoặc đào hái măng đưa về cho nhà bếp cải thiện thêm bữa ăn.
 Điều trị ở trạm xá được hơn mười ngày, dứt cơn sốt, sức khỏe bình phục dần, tôi háo hức xin trạm xá cho lên đường đuổi theo đơn vị. Nhưng các thủ trưởng ở trạm xá nói rằng, 10 ngày qua, đơn vị đó đã đi xa lắm rồi, không thể theo kịp nữa, hãy chờ lệnh cấp trên bổ sung cho đơn vị khác. Tôi lại phải tiếp tục ở đó thêm mấy hôm nữa.

  Đến một buổi sáng, tôi và ba người nữa được thông báo có cán bộ đến nhận về đơn vị mới. Tất cả bốn anh em chúng tôi tập trung lại nghe một anh cán bộ trung tuổi, người tầm thước, thái độ niềm nở, vui vẻ, nói tiếng Nghệ Tĩnh, tự giới thiệu là Hồ Chư, Thiếu úy, Trợ lý chính trị của Tiểu đoàn 929 Quân khu 4, được đơn vị cử đến đón chúng tôi về. Chúng tôi cảm ơn, bịn rịn chia tay bác sĩ, y sĩ, cán bộ và các anh chị nhân viên, y tá của trạm xá để lên đường. Chỉ hơn mười ngày thôi nhưng các cán bộ, nhân viên trạm xá đã dành cho chúng tôi trách nhiệm và tình cảm thân thương. Cảm động lắm, nhiều người đã nhiều đêm thức trắng bên lán, chăm sóc cho chúng tôi từng viên thuốc, từng thìa cháo. Chắc chắn là, trong hoàn cảnh khó khăn, ác liệt ở chiến trường, tình cảm giữa con người với nhau gắn bó sâu nặng hơn.
 Theo sự chỉ huy của anh Hồ Chư, chúng tôi bốn người gồm: Nguyễn Văn Kiu, Trần Công Thuận, Nguyễn Trọng Năm và tôi hành quân về đơn vị là Tiểu đoàn 929.  Chúng tôi cùng lứa tuổi, là đồng hương, cùng nhập ngũ,cùng hoàn cảnh hành quân đi B bị sốt rét gửi lại trạm xá giao liên, cùng được bổ sung về một đơn vị lại cùng chiến đấu nên thân thương nhau lắm. Anh Kiu quê ở xã Nghi Hưng, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, năm 1965, trong một trận chiến đấu ở tây Savanakhet (Lào), bị cụt một chân, sau đó phục viên về quê. Anh Thuận quê ở xã Thanh Cát, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, năm 1968, làm trung đội trưởng, hy sinh ở khu vực Bình Điền tây Thừa Thiên - Huế. Anh Năm quê ở xã Thanh Khai, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, năm 1969, làm chính trị viên phó đại đội hy sinh ở Đường 12 tây Thừa Thiên-Huế. Còn anh Hồ Chư, quê ở xã Thạch Lạc, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, năm 1969, làm chính trị viên Tiểu đoàn 9, rồi Trưởng tiểu ban tổ chức Trung đoàn 3, Sư đoàn 324, sau giải phóng Miền Nam nghỉ hưu, đã từ trần năm 2000.
Đang giữa mùa khô, trời nắng chói chang, chúng tôi đi bộ trọn một ngày dưới rừng cây khộc khô khốc mới tới được đơn vị. Tiểu đoàn bộ đóng quân ở một con suối cạn nằm ở phía tây huyện Mường Phìn, tỉnh Savanakhet. Người ra tiếp chúng tôi là anh Võ Vượng, Trung úy, Trợ lý tác huấn tiểu đoàn. Anh Vượng giới thiệu sơ bộ về đơn vị. Tiểu đoàn 929 là một trong 3 tiểu đoàn biên phòng của Quân khu 4 thành lập sau khi miền Bắc được giải phóng. Tiểu đoàn 925 đóng ở biên giới phía tây tỉnh Nghệ An. Tiểu đoàn 927 đóng ở biên giới phía tây tỉnh Hà Tĩnh. Tiểu đoàn 929 đóng ở biên giới phía tây tỉnh Quảng Bình. Những năm huấn luyện trong thời bình, Tiểu đoàn 929 đóng quân ở Thanh Lạng, xã Trung Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình. Địa bàn hoạt động lên tận cửa khẩu Cha Lo. Từ năm 1961 đến lúc đó, đơn vị liên tục hoạt động ở Lào, từ Khăm Muộn đến Savanakhet. Ở thời điểm chúng tôi có mặt, đơn vị đang chiến đấu trên trục Đường 9 nhằm bảo vệ hành lang phía tây của Đường dây 559. Tiểu đoàn trưởng là anh Hoàng Nhiên. Chính trị viên tiểu đoàn là anh Nguyễn Khuốc. Chính trị phó tiểu đoàn là anh Lê Văn Dánh.
Cùng Tiểu đoàn 929 với tôi hồi đó hiện nay điểm lại chỉ còn có mấy người : anh Lê Chí Tuân, quê ở xã Quảng Tiên, huyện Quảng Trạch, tỉnh quảng Bình, sau này làm Sư đoàn trưởng Sư đoàn 379 - Quân khu 2 rồi về công tác ở Học viện Quốc phòng; anh Hoàng Huy Nhở quê ở Hậu Lộc - Thanh Hóa, hiện đã nghỉ hưu ở quê; anh Đinh Minh Chúng quê ở xã Trung Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình, là Thượng tá, nguyên tham mưu phó Sư đoàn 968 - Quân khu 4, hiện đã nghỉ hưu ở quê; anh Cao Sĩ Nguyên quê ở Tân Đức, Minh Hóa, Quảng Bình, hiện nghỉ hưu ở quê; anh Hồ Sĩ Dục quê ở xã Hương Thu, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh, hiện nay nghỉ hưu ở Vũng Tàu…
 Trong  Ban chỉ huy Tiều đoàn 929 ngày đó có anh Lê Văn Dánh gắn bó với tôi mãi nhiều năm sau này. Từ chiến trường Lào, vào Miền Nam và cả sau này nữa. Anh Lê Văn Dánh quê ở xã Tiến Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình; sau này là Thiếu tướng, Phó Tư lệnh về Chính trị Quân khu 4. Anh là người chiến đấu dũng cảm, thường xuyên có mặt ở những nơi hiểm nguy, gian khó. Vốn là cán bộ chính trị nhưng ở anh trình độ quân sự cũng rất sắc sảo. Năm 1980, đang là Phó chính ủy Sư đoàn, anh được bổ nhiệm Sư đoàn trưởng Sư đoàn 324 - Quân khu 4. Trong lãnh đạo chỉ huy, anh quyết đoán, rành mạch, rõ ràng, đơn vị luôn hoàn thành nhiệm vụ trên chiến trường. Nhưng ở anh cũng bộc lộ một vài nhược điểm. Anh thường tỏ ra coi thường những cán bộ chỉ nói hay, không làm hoặc làm dở. Vì vậy, có người cho rằng anh kiêu binh. Anh thẳng thắn bộc trực đến mức hơi thái quá. Gặp bất cứ ai, lần đầu, câu cửa miệng của anh là : “Cậu quê đâu?”. Những người nói tiếng “trọ trẹ” đồng hương Khu 4 - nhất là Quảng Bình - thì ngay lập tức được anh tin tưởng. Anh đánh giá cán bộ có khi cực đoan, có lúc định kiến. Với anh, trong chiến đấu ai đó chỉ mất lòng tin một lần là mất tất cả. Anh tin tưởng ai thì người đó luôn luôn đúng. Bởi thế, người quí trọng anh rất nhiều, nhưng người không hài lòng với anh cũng không ít.
Tôi nhớ, năm 1991, khi còn làm Trưởng phòng Kế hoạch Tổng hợp của Văn phòng Tổng cục Chính trị, tôi tham gia bộ phận phái viên của Tổng cục Chính trị do anh Võ Thịnh, Phó Văn phòng TCCT dẫn đầu dự Đại hội Đảng bộ Quân khu 4. Tại Đại hội đó, giờ kiểm phiếu bầu Đảng ủy Quân khu, Đại hội nghỉ giải lao. Vừa kiểm phiếu xong, anh Lê Văn Mẹo, Chủ nhiệm Chính trị Quân khu chạy ra nói nhỏ với chúng tôi:” Kết quả kiểm phiếu: anh Lê Văn Dánh, Bí thư Đảng ủy đương nhiệm không trúng Đảng ủy mới”. Tôi giật mình, quả thật đây là điều không bình thường. Toàn bộ phần nội dung tiếp theo của Đại hội, như ra mắt Đảng ủy mới, hứa hẹn quyết tâm trước Đại hội; thông qua Nghị quyết Đại hội, Đoàn chủ tịch đều đã phân công anh Dánh đảm nhiệm. Bây giờ anh Dánh trượt Đảng ủy, không còn tư cách thể hiện nữa, phải là người khác làm. Chúng tôi đề nghị anh Nguyễn Quốc Thước, Tư lệnh Quân khu nghiên cứu tài liệu trước để đảm nhiệm toàn bộ phần việc đó.
Tôi kề bên anh Dánh. Anh rất bức xúc, mặt tái đi, mồ hôi anh túa ra ướt đầm cả áo. Anh nói với tôi :
- Trong quân khu, tại Đại hội Đảng bộ có người vận động chống anh, mới nên nông nỗi này.
Tôi ôn tồn:
- Thôi anh ạ, kết quả bầu cử như vậy rồi, anh phản ứng là vi phạm nguyên tắc và liệu có ích gì, lại thêm phức tạp ra. Em tham gia với anh trên hai tư cách. Về lý, em là phái viên của cấp trên đi dự Đại hội Đảng bộ Quân khu. Về tình, em là thằng liên lạc của anh cách đây 25 năm trên chiến trường, lúc anh còn là chính trị viên phó tiểu đoàn. Tính anh em biết rồi, nóng nảy thường dẫn đến sơ suất. Vì vậy, từ giờ phút này em đề nghị anh hết sức bình tĩnh.
Thế rồi, anh Dánh đã kiềm chế được. Nhưng tôi biết anh vẫn rất buồn. Mấy tháng sau, anh bị bệnh nhũn não, điều trị ở Viện 108, tôi vào thăm mấy lần. Khi xét thấy anh nặng lắm rồi, gia đình xin đưa anh về nhà để chăm sóc những ngày cuối đời.
Tháng 4 - 1992, khi là Cục phó Cục Chính sách, tôi tham gia gia Đoàn Tổng cục Chính trị do anh Lê Khả Phiêu Chủ nhiệm Tổng cục dẫn đầu ra thăm Trường Sa, qua đài phát thanh, tôi nghe tin anh Lê Văn Dánh từ trần. Tôi buồn bã nhớ về anh với những kỷ niệm xưa.
Anh Hoàng Nhiên, Tiểu đoàn trưởng, quê ở xã Diễn Minh, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An; năm 1965 được bổ nhiệm làm Tham mưu trưởng Trung đoàn 29, rồi Trung đoàn trưởng Trung đoàn 28 đi chiến đấu ở Tây Nguyên. Thời kỳ đó ở Tây Nguyên có bốn trung đoàn trưởng đều là người Nghệ An: Hoàng Nhiên, Nguyễn Quốc Thước, Hồ Đệ, Phùng Bá Thường. Năm 1973, anh Nhiên ra Bắc làm Tỉnh đội phó tỉnh Nghệ An, làm Sư đoàn trưởng, Đại tá, rồi nghỉ hưu ở quê. Anh Nguyễn Khuốc, Chính trị viên tiểu đoàn, quê ở xã Hiền Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình; sau này là Đại tá, cán bộ của Học viện Chính trị. Anh Võ Vượng, Trợ lý tác huấn, quê ở xã Đức Lạc, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, năm 1970 hy sinh ở chiến trường tây Thừa Thiên Huế, lúc đó là Thiếu tá, giữ chức Trung đoàn phó Trung đoàn 3, Sư đoàn 324, Quân khu Trị Thiên - Huế.
Từ tiểu đoàn tôi được bổ sung vào Tiểu đội 4 Trung đội 2 Đại đội 2. Anh Đinh Xuân Bài, Tiểu đội trưởng nhận tôi về. Tiểu đội có 7 người. Anh Đinh Xuân Bài quê xã Hương Đô, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh; lính 1962, làm Tiểu đội trưởng. Anh Cao Sĩ Tính quê xã Hợp Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình; lính 1962, làm Tiểu đội phó. Anh Đinh Xuân Các quê ở xã Quảng Lộc, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, lính 1963, giữ khẩu trung liên RPĐ. Anh Nguyễn Văn Liệu quê ở xã Vạn Trạch, huyện Bố Trạch , lính 1963, giữ khẩu B40. Anh Lê Văn Sơ quê huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương, lính 1963, giữ khẩu AK. Còn tôi và Nguyễn Văn Kiu quê ở xã Nghi Hưng, mỗi đứa giữ một khẩu CKC. Trừ tôi và Kiu là hai tân binh mới tò te chưa ngửi mùi thuốc súng, còn lại các anh trong tiểu đội hơn tôi chừng năm, bảy tuổi, lại đã trải qua chiến đấu, dạn dày trận mạc, ít nhất là hơn một năm. Tôi tin tưởng và cảm phục các anh trên mọi phương diện. Các anh coi tôi như đứa em út trong tiểu đội, hướng dẫn, giúp đỡ tôi mọi việc từ nhỏ đến lớn.
Trung đội trưởng Trung đội 2 là anh Lê Đôn Quý, quê ở huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Anh Quý chiến đấu rất dũng cảm, trong cuộc sống anh thẳng thắn, bộc trực. Anh Quí hy sinh giữa năm 1965 trong một trận chiến đấu mà anh giữ chức Đại đội phó Đại đội 3. Trung đội phó là anh Nguyễn Văn Sửu quê ở huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Anh Sửu hy sinh đầu năm 1966 ở gần Mường Phìn do bị máy bay bắn. Đại đội trưởng Đại đội 2 là anh Nguyễn Văn Tèo quê ở  Miền Bắc, tôi không rõ ở tỉnh nào. Đến đầu năm 1965, anh Tèo chuyển đi đơn vị khác, trên điều động anh Nguyễn Văn Dương quê ở xã Hưng Đạo, huyện Hưng Nguyên về làm Đại đội trưởng. Chính trị viên đại đội là anh Nguyễn Văn Trinh quê ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh; đến giữa năm 1965 thì thay bằng anh Điện, sau đó lại thay bằng anh Nguyễn Thụy quê ở xã Tào Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An. Chính trị phó đại đội là anh Hồ Sĩ Dục quê ở xã Hương Thu, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh. Đến giữa năm 1965, được thay anh Nguyễn Văn Tin quê ở huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Đại đội phó là anh Lê Văn Lướt, người Tây Nguyên.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:26:12 PM
 Khi tôi mới bổ sung vào thì Đại đội 2 có một trận đánh chặn địch ở Đồng Mót rất quyết liệt. Trong trận đó, trước khi đại đội phản kích tiêu diệt địch giành thắng lợi lớn, thì cả Tiểu đội 8 Trung đội 3 làm nhiệm vụ chốt chặn đã hy sinh đến người cuối cùng. Các anh hy sinh trong tư thế vẫn ôm súng bắn, giữ nguyên đội hình, không ai rời bước khỏi trận địa.
Thời tiết ở Lào chia làm hai mùa rõ rệt. Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10. Mùa khô thì trời nắng chói chang. Cây cỏ khô khốc. Đi giữa rừng khộc trụi lá, cành trơ xác xơ, gầy guộc. Những chiếc lá khộc khô dòn to như những chiếc bánh đa nhỏ, bước lên gãy vỡ vụn. Cả ngày đi có khi không tìm nổi một chỗ có nước uống. Mùa mưa thì mưa xối xả suốt ngày đêm. Đúng là mưa rừng. Cây cối tốt tươi. Đóng quân ở những khu rừng tre tha hồ hái măng trên cây và đào măng củ. Những con suối cạn khô khốc về mùa khô, lại tràn trề nước vào mùa mưa. Có nhiều trường hợp hành quân trải bạt ngủ bên suối cạn. Đang đêm trời mưa to, lũ tràn về,  không kịp chạy sẽ bị nước cuốn trôi. Mùa mưa đầy nhựa sống nhưng mùa mưa ẩm ướt là mùa của sốt rét rừng. Có tiểu đội sốt hết không còn người dậy nấu cơm. Có người bị sốt rét mắc võng nằm cạnh bờ suối, khi nước lũ tràn về không còn sức tháo chạy, nằm yên trên võng bị chết đuối. Vậy là, cái chết nối liền với giấc ngủ. Đến khi nước rút, anh em chạy đến để nguyên cả võng khiêng đi an táng. Đơn vị bị sốt rét la liệt là do mùa mưa muỗi anôphen sinh sôi nảy nở nhiều. Đêm ngủ không màn, muỗi từng đàn thi nhau cắn, làm lây lan vi trùng sốt rét từ người nọ sang người kia. Mùa mưa cả ta và địch đều ít hoạt động. Mùa khô mới là mùa đánh nhau, vì dễ triển khai lực lượng hơn.
Hoạt động ở chiến trường Lào ngày đó chưa bị bom đạn khốc liệt như sau này. Thường là khi hành quân chiến đấu, đêm đến chỗ trú quân, anh Bài cắt cử người canh gác, rồi tất cả tiểu đội xúm vào, người thì bẻ lá cây che bếp khỏi phát ra ánh sáng, người thì bẻ lá cây rải ra một vạt đất bằng rồi trải tấm vải nhựa lên đó, cả tiểu đội xếp dàn hàng ngang ngủ. Trời nắng thì không sao. Thỉnh thoảng chỉ bị ve, vét cắn thôi. Trời mưa thì cả tiểu đội ướt như chuột lột. Công sự không phải đào. Chỉ lợi dụng địa hình, địa vật, chủ yếu là khe suối, hang đá, hốc cây làm nơi  ẩn nấp khi có động.
Không quân địch mới có máy bay cánh quạt T28 và AD6. Nhưng mỗi khi oanh tạc thì dai dẳng lắm. Hình như các loại máy bay cánh quạt, chứa được nhiều xăng, giờ bay lâu hơn. Pháo binh thì chỉ đến lựu pháo 105 ly. Quân địch ngày đó là quân ngụy Lào, chúng tôi vẫn gọi là lính Phu Mi . Giống như cách gọi quân Pôn Pốt ở chiến trường Cămpuchia sau này.
Hình thức chiến thuật của bộ đội ta lúc thì phục kích, lúc tập kích và có cả phòng ngự. Ở chiến trường tổ chúc nấu cơm cấp tiểu đội vừa nhanh, vừa gọn. Anh em luân phiên nhau nấu. Thường là xúm lại cùng làm như một gia đình vậy. Ăn thì lương thưc, thực phẩm được nhận ở các kho trên đường dây vận chuyển. Thực phẩm thường chỉ có cá khô, muối, mỡ, mì chính, mắm kem. Thỉnh thoảng có thịt hộp, cá hộp. Nước uống thì hái chè rừng nhưng chủ yếu là uống nước gạo rang. Hàng tháng, chúng tôi được nhận nhu yếu phẩm do xe từ hậu cứ chuyển lên. Mỗi người được cấp một cân đường, một cân đậu xanh để vài ba ngày nấu chè một lần. Không hiểu sao hồi đó chúng tôi thích đồ ngọt đến thế. Có thể do thiếu chất. Lâu lâu có một ít kẹo, bánh, thuốc lá, chè trà. Nghe nói, đó là quà úy lạo của các cơ quan, đoàn thể trong nước gửi sang. Theo xe từ hậu cứ sang, còn chuyển cả thư, người có người không. Ở chiến trường xa không nhận được thư nhà, buồn lắm!
 Ngoài trang bị chiến đấu như súng CKC, lựu đạn, xẻng, bao gạo, ba lô, tôi được anh Tính tiểu đội phó giao cho mang hai cái nồi. Nồi to dùng để nấu cơm đủ ăn 7 người. Nồi nhỏ dùng để nấu thức ăn. Tôi đặt cái nồi nhỏ trong nồi to, dùng giây vải buộc chặt vào ba lô mang sau lưng. Chính hai cái nồi này, với tôi, có một kỷ niệm không bao giờ quên.
Sự thể là, trong trận đánh quân địch ở ngoài công sự ở gần Huội Mua, ngày 22 tháng 2 năm 1965. Lúc khoảng 3 giờ chiều, cả tiểu đoàn chúng tôi đang tiến vào địa bàn quân địch thường hoạt động. Đội hình hành quân chiến đấu trinh sát tiểu đoàn đi trước, theo cách sâu đo để thăm dò địch. Sau trinh sát là Đại đội 2 chúng tôi. Trung đội tôi đi trước, Tiểu đội 4 dẫn đầu. Đến một khu rừng khộc, thấy phía trước có nhiều ụ khói bốc lên. Khả nghi có quân địch, trinh sát báo cáo về phía sau. Tiểu đoàn trưởng Hoàng Nhiên đầu cắt trọc, người đỏ au, quàng một mảnh dù nhỏ, không mang vũ khí, chạy vội lên trước. Chạy theo anh là anh Xiểm liên lạc. Anh Nhiên  lệnh cho toàn đơn vị dừng lại triển khai chiến đấu. Giao cho trinh sát vào  phía trong bám địch. Khoảng nửa tiếng sau, anh Cao Sỹ Nguyên , Tiểu đội trưởng trinh sát quay ra báo cáo với Tiểu đoàn trưởng. Anh Nhiên giao cho anh Xiểm liên lạc chạy về phía sau đội hình mời anh Khuốc chính trị viên tiểu đoàn lên hội ý. Thấy hai anh hội ý chừng 5 phút, anh Nhiên cho triệu tập các đại đội trưởng lên giao nhiệm vụ. Anh Tèo đại đội trưởng nhận nhiệm vụ Đại đội 2 làm mũi tấn công chủ yếu.
Chúng tôi được lệnh tiếp tục tiềm nhập để rút ngắn cự ly với địch. Được chừng 100 mét thì dừng lại chờ hỏa lực tiểu đoàn khai hỏa. Cối 82ly và ĐKZ75 ly của tiểu đoàn bắn cấp tập khoảng 10 phút thì dừng. Chúng tôi bắt đầu nổ súng tấn công. Với tôi đây là trận chiến đấu đầu tiên trong đời. Tôi hồi hộp lắm. Nghe tiếng đạn bắn ra tới tấp, ràn rạt, tôi cũng hoảng. Nhìn sang bên phải thấy anh Liệu đã bắn được một quả B40, nòng còn bốc khói. Nhìn sang bên trái thấy anh Các đã xiết được mấy tràng trung liên, vỏ đạn bay rào rào. Cạnh tôi, anh Bài đang ghì khẩu AK vào gốc cây khộc, xiết cò từng điểm xạ ngắn. Mới khoảng 4 giờ chiều, giữa rừng khộc đã cháy trụi, ở cự ly không tới 100 mét, tôi nhìn quân địch rõ lắm. Tôi bắn liền một kẹp đạn CKC, đã thay sang kẹp khác, thì nghe một tiếng choang rất đanh, tôi tưởng mình đã bị thương nhưng chẳng thấy đau mà sờ xung quanh người cũng không có máu. Anh Bài hô:
- Tất cả tiểu đội chuẩn bị xung phong.
Tôi đưa tay dương lê lên vì cho rằng, sắp đánh nhau giáp la cà, phải dùng đến lưỡi lê để đâm. Thấy thế, anh Bài hét to:
         -  Đẩu gấp lê lại ngay.
      Như một cái máy, tôi gấp lê lại, dẫu chẳng hiểu vì sao. Mấy phút sau, cả trung đội chúng tôi chiếm lĩnh toàn bộ trại địch. Một bãi chiến trường ngổn ngang nhà cháy, vách đổ, đất cát bị cày xới bởi những hố đạn đen ngòm. Mấy xác chết, cái thì cháy đen, cháy sạm, cái  thì loang lổ bê bết máu. Trong tay có đứa còn cầm súng. Nhìn vào bếp, thấy mấy tuýp (liễn) xôi còn nóng hôi hổi, tôi cầm luôn. Lệnh của chỉ huy, đơn vị phải thu dọn chiến lợi phẩm và rút ra ngay đề phòng pháo địch oanh kích.
Xuyên rừng độ hai tiếng đồng hồ sau, đến chỗ dừng lại trú quân, anh Tính tiểu đội phó bảo tôi cởi nồi ra để nấu cơm tối. Tôi vừa hạ xuống thì thấy cả hai cái nồi bị một viên đạn xuyên thủng từ bên nọ sang bên kia. Cả tiểu đội xúm lại nhìn. Anh Bài nói:
- Như vậy là số cậu cao. May mà thằng Phu Mi bắn hơi chếch lên một chút. Nếu viên đạn hạ xuống 10 cm thôi, thì hôm nay Đẩu nhà mình đã thành liệt sỹ rồi.
 Anh còn giải thích với tôi rằng, sở dĩ chiều nay thấy tôi dương lê lên bị anh quát, là vì, lúc xung phong cự ly cách địch còn chừng 100 mét, dương lê lên sẽ bị vướng. Tối đó, may mà có hai liễn xôi tôi lấy được trong trại địch, không thì cả tiểu đội nhịn đói sau một ngày chiến đấu căng thẳng. Trận đó tiểu đôi tôi không ai việc gì. Tiểu đội 5 có anh Duyến và anh Thoại hy sinh.
 Sau này về hậu cứ ở bản Nôn Nhang rút kinh nghiệm trận đánh, có ý kiến từ cấp trên phê phán rằng, đó là một trận đánh không thắng lợi chứ chưa nói đến thất bại. Về hình thức chiến thuật giống như một trận càn. Mà càn thì không có trong các loại hình tác chiến của quân đội cách mạng. Chỉ đánh vỗ mặt không tổ chức lực lượng bao vây, chia cắt, vu hồi quân địch. Hiệu quả chiến đấu thấp. Cả một tiểu đoàn đầy đủ binh hỏa lực không tiêu diệt nổi hai trung đội địch ngoài công sự. Cán bộ tiểu đoàn thì cho rằng, đây là hình thức tao ngộ chiến. Đã ai biết được lực lượng địch là bao nhiêu. Giữa rừng khộc bằng phẳng, mênh mông, lính Phu Mi như thổ phỉ khó đánh tiêu diệt được. Biết làm sao được, người xưa đã từng dạy, kiến dĩ tác nan mà!
Hàng chục năm sau, tôi gặp lại anh Bài lúc anh đã là Đại tá, trung đoàn trưởng, nghỉ hưu ở Hà Nội. Chúng tôi cười vui ôn lại chuyện xưa. Anh trìu mến ghì chặt lấy tôi:
- Trời ơi, thằng em út của tiểu đội ngày nào mặt búng ra sữa, bây giờ đã thành ông Tướng rồi ư!
Rồi như sực nhớ ra điều gì, anh trêu đùa tôi:
- Này, Đẩu ơi, em sờ lại sau lưng xem hai cái nồi còn không.
Anh Bài là người chiến đấu dũng cảm, chỉ huy quyết đoán, gương mẫu về mọi mặt. Tôi nhớ trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, anh giữ chức tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 3, bị thương và bị địch bắt được đưa lên trực thăng. Khi máy bay mới rời mặt đất được dăm mét, anh lao mình ra cửa nhảy xuống thoát được nhưng bị chân thương cột sống, đau lưng một thời gian khá dài. Trong đời sống anh giản dị, khiêm nhường mà thẳng thắn, chân thành, được đồng đội quí mến. Anh là người trưởng thành từ chiến sĩ lên tới trung đoàn trưởng trong cùng một đơn vị cho đến khi nghỉ hưu. Khi anh nghỉ hưu, quân đội cấp cho anh hai gian nhà cấp bốn trên mảnh đất hơn 100 mét vuông trên mặt đường ở Xuân La, gần cơ quan  UBND và Quân ủy quận Tây Hồ - Hà Nội. Như bây giờ mảnh đất đó có giá trị hàng chục tỷ bạc, nhưng lúc đó anh đem đổi lấy ba vạn gạch về xây ba gian nhà cấp bốn trong khu tập thể cơ quan chị Lợi là vợ anh ở Dốc Vân, Gia Lâm. Anh Bài mất năm 2001 do bị ung thư phổi, không biết có phải do nhiễm chất độc ở chiến trường không. Khi nghe tin anh Bài mất, từ Trường Sĩ quan Lục quân 1 ở Sơn Tây tôi đến viếng anh tại nhà riêng. Nhiều đồng đội đã về hưu, phục viên tận trong Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình đã ra viếng anh.
Trước đó mấy hôm, khi anh ốm nặng tôi đến thăm ở Viện Quân y 108. Anh thều thào nói với tôi:
- Anh đau lắm em ạ, chưa bao giờ đau thế này. Chắc không được mấy ngày nữa đâu. Điểm danh lại, tiểu đôi ta đã mất hết cả rồi. Chỉ còn em, đứa em út của tiểu đội ngày nào còn bé nhỏ 16, 17 tuổi đầu thôi.
Nghe anh tâm sự, tôi cảm thương anh vô cùng, nước mắt lã chã rơi. Biết rằng, tôi sắp phải vĩnh biệt người anh, người thầy của mình trong chặng đầu tiên của cuộc đời quân ngũ mà đành bó tay chẳng  làm được gì cho anh.



Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:26:31 PM
 Sau khi hoàn thành nhiệm vụ của trận tập kích quân địch ngoài công sự, tiểu đội 4 chúng tôi được tăng cường cho Đại đội 3 của tiểu đoàn đang làm nhiệm vụ phòng ngự ở Sê-Con-Cam. Sê-Con-Cam cách thị trấn Mường Phìn không xa. Địch ở Pờ Lan, Pắc Sế thường nống ra lấn chiếm, nhằm thọc sườn uy hiếp chặt đứt hành lang chiến lược Bắc-Nam của ta. Tiểu đội làm lực lượng cơ động ngoài công sự để chi viện cho Trung đội 1 Đại đội 3. Trung đội trưởng trung đội 1 là anh Võ Đình Vân quê ở xã Nghi Thịnh, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Tiểu đội chúng tôi được bố trí bên cạnh Ban chỉ huy đại đội 3. Đại đội 3 do anh Trần Công Giao quê ở huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa làm đại đội trưởng, anh Trần Triền quê ở Văn Hóa, Tuyên Hóa, Quảng Bình làm chính trị viên. Phương án tác chiến được xác định là khi địch đánh vào trận địa phòng ngự của trung đội 1, thì tùy hoàn cảnh cụ thể , đại đội sẽ dùng tiểu đội tôi tăng cường lên trận địa phòng ngự hoặc đánh vu hồi vào phía sau, hoặc đánh thọc bên sườn quân địch. Nhận nhiệm vụ xong, mấy ngày đầu, anh Bài dẫn tiểu đội đi địa hình xung quanh trận địa phòng ngự vừa để thuộc địa hình, địa vật, vừa kết hợp tuần tra khu vực. Sau đó lập phương án đánh địch. Chuẩn bị đường xuất kích,… Địa hình ở đây bằng phẳng trống trải. Bên triền sông là những vạt rừng tre xen lẫn những cánh đồng nứt nẻ đang giữa mùa khô. Ở đây không có địa thế hiểm yếu nên không thật thuận lợi cho bố trí phòng ngự. Nhưng lại thuận cho lực lượng cơ động phản công. Trước trận địa phòng ngự, Đại đội 3 đã bố trí các bãi mìn dày đặc và cắm chông tua tủa.
Dân địa phương đã đi sơ tán xa. Bỏ lại những đàn trâu, đàn bò thả rông, vô chủ. Nhiều lần cả đàn trâu, bò tràn vào bãi mìn. Mìn nổ, trâu bò không chết ngay chỉ  thủng bụng lòi ruột ra và cụt chân nằm bẹp tại chỗ rồi mới chết. Nhiều con chết thối rữa ra, quạ đen từng đàn đến rỉa, kêu toáng một vùng. Nhiều lần chúng tôi ra bãi mìn lần theo vết trâu bò đã đi, đến những con còn sống dùng dao xẻo lấy thịt mang về nấu ăn. Lấy được thịt tươi ăn nhưng cũng nguy hiểm. Sợ địch phát hiện được dùng súng bắn trực tiếp hoặc gọi pháo dập vào. Sợ nhất là đạp phải mìn ta cài. Người cài mìn bao giờ cũng phải làm giật lùi, trước mặt là bãi mìn đã cài, sau lưng là bãi trắng.
Thời gian làm nhiệm vụ phòng ngự ở Sê-Con-Cam, tiểu đội chúng tôi đánh được 5 trận qui mô nhỏ, đều theo đúng như phương án tác chiến đã xác định. Mỗi lần địch đánh vào chốt phòng ngự của Trung đội 1, lệnh của đại đội, tiểu đội chúng tôi xuất kích đánh thọc vào ngang mạng sườn ép địch dạt vào bãi mìn. Bọn địch vừa bị đạn  thẳng, cối và mìn nên thương vong nhiều, buộc phải rút chạy về phía sau.
Có một kỷ niệm nhỏ,  một hôm cả tiểu đội xuất kích đánh địch về đang ngồi ăn cơm. Trời tối đen nhưng không được thắp đèn. Bất thần pháo 105 của địch bắn tới tấp vào trận địa. Mọi người lao vội xuống hầm. Anh Lê Văn Sơ chân đang đi đôi giày vải cao cổ, cuống cuồng bước vào nồi nước sôi vừa bắc từ trên bếp xuống. Nóng quá, anh kêu toáng lên. Tôi vội lấy dao cắt đứt dây tháo giày ra, chân anh vẫn bị bỏng nhẹ. Sau này gặp lại, anh Sơ đùa:
- Bữa đó tại chú mày mà anh hỏng mất đôi giày đẹp đấy.
Tôi đùa lại:
- Bữa đó không có em nhanh trí thì anh vẫn còn nguyên giày nhưng không còn đôi chân lành lặn như bây giờ đâu.
Hai anh em ôm nhau cười.

Kết thúc nhiệm vụ phòng ngự ở Sê-Con-Cam, chúng tôi trở về đội hình cũ. Cả tiểu đoàn đang tham gia vận chuyển lương thực, làm đường và kéo pháo vào chuẩn bị đánh lớn ở Huội Mua. Không khí chuẩn bị chiến trường rầm rộ. Chặt cây, san đường xong thì kéo pháo vào trận địa. Anh Bài, anh Tính nói với cả tiểu đội rằng từ ngày đi chiến trường đến bây giờ, chưa bao giờ có lực lượng tham gia hùng hậu đến như vậy. Có bộ binh, công binh, pháo binh, nghe đâu có cả xe bọc thép nữa.
Trung đội chúng tôi được giao nhiệm vụ kéo một khẩu pháo 105 ly từ phía bắc Mường Phìn vào gần Sê-Con-Cam. Tuy không vượt dốc, trèo đèo như người ta vẫn nói về việc kéo pháo vào, pháo ra ở Điên Biên Phủ trước đây, nhưng quả thật kéo pháo là rất mệt. Người mỏi nhừ, tay phồng rộp. Những ngày kéo pháo vào trận địa chúng tôi vui và tin tưởng. Vậy là trong trận chiến đấu tới đây, bộ binh chúng tôi được pháo binh chi viện. Pháo 105 ly sẽ bắn sập công sự và tiêu hao sinh lực địch, uy hiếp găm quân địch xuống, tạo điều kiện cho bộ binh tấn công, hoặc là chế áp pháo binh địch bắt chúng phải câm họng.
Ngày đó, tôi thấy cả ông Xổm Xắc, Tổng Tham mưu phó Quân đội Pa thét Lào xuống thăm hỏi và động viên chúng tôi trong  khi kéo pháo. Ông là người Lào Thưng, hoạt động chủ yếu ở Trung Hạ Lào. Các anh cán bộ trong tiểu đoàn tôi rất thân thiết với ông, coi ông như người cùng đơn vị. Ông  và đại đội địa phương tỉnh Savanakhet đã cùng ăn, cùng ở, cùng hoạt động, cùng sát cánh chiến đấu trên một chiến hào với bộ đội tình nguyện Việt Nam. Đúng là tình hữu nghị đặc biệt hiếm có.
Theo trinh sát tiểu đoàn báo cáo và thông báo của trên, đồn Huội Mua của địch đóng trên một ngọn đồi thấp, có công sự gỗ đất với mấy lớp lô cốt, được nối với nhau bằng chiến hào và giao thông hào; có một lớp hàng rào thép gai và bên ngoài là một lớp cây rừng cưa đổ bao quanh làm chướng ngại vật; lực lượng địch có một đại đội tăng cường. Khi Huội Mua bị tấn công, pháo binh địch ở Pà Lan, Đồng Hến sẽ bắn chi viện.
 Tiểu đoàn 929 chúng tôi là lực lượng chủ yếu tấn công vào đồn Huội Mua. Ngoài hỏa lực vốn có trong biên chế là cối 82ly, ĐKZ 75ly, đại liên, Tiểu đoàn được trên chi viện là 4 khẩu 105ly, 4 khẩu cối 120 ly, một đại đội súng cao xạ 12,7 ly. Nghe nói còn có cả 4 xe bọc thép sẵn sàng xuất kích. Nghe nói, vì khi chuẩn bị chiến trường tôi không nhìn thấy và cũng không được cấp trên chính thức phổ biến.
Theo phương án tác chiến của tiểu đoàn được cấp trên thông qua, Đại đội 1 là lực lượng chủ công đánh vào hướng chủ yếu, Đại đội 2 chúng tôi đánh vào hướng thứ yếu, Đại đội 3 làm lực lượng thê đội 2, sẵn sàng ứng phó các tình huống. Trong khi pháo binh ta bắn cấp tập vào trận địa địch, lực lượng bộ binh nhanh chóng chiếm lĩnh vị trí xuất phát tấn công, đào hố cá nhân ẩn nấp, chờ sẵn. Khi pháo binh chuyển làn, bộ binh các mũi thực hành phá rào mở cửa tấn công quân địch trong công sự. Hiệu lệnh tác chiến là súng pháo hiệu do tiểu đoàn trưởng quyết định.
Đúng 5 giờ chiều ngày 15 tháng 4 năm 1965, Tiểu đoàn 929 xuất kích vào chiếm lĩnh vị trí tập kết. Dưới nắng chiều, cả đoàn quân vòng lá ngụy trang phấp phới, trông khí thế rất hùng dũng. Mấy anh Điện ảnh Quân đội trực tiếp quay phim. Máy trên vai chạy sè sè, ghi hình bộ đội hành quân và thực hành chiến đấu. Trước đó các anh cũng đã ghi hình chúng tôi kéo pháo vào trận địa.
Đúng 6 giờ tối, pháo 105ly và cối 120ly, đặt cách trận địa chừng 5 km, đồng loạt khai hỏa. Lần đầu tiên được nghe tiếng nổ đầu nòng (tiếng đề-pa) tiếng đạn rít trên không và tiếng nổ giòn to đanh, rất trúng đích, chúng tôi mừng vô cùng. Có người không kìm được, nhảy kiễng lên hô lớn:
- Tiên sư mấy thằng Phu Mi nhé, phen này cho chúng mày chết. Thắng đến nơi rồi, anh em ơi!
Chúng tôi vào đến vị trí xuất phát tấn công, cách đồn địch chừng 200 mét,  dừng lại dùng xẻng đào hố cá nhân. Pháo binh vẫn dồn dập nã đạn. Trong đồn nhiều đám cháy bốc lên cao. Chắc quân địch cho rằng, ta chỉ tập kích bằng hỏa lực, không có bộ binh, nên chưa thấy động tĩnh gì. Thỉnh thoảng trong đồn bắn vu vơ ra xung quanh trận địa mấy quả cối và mấy loạt đại liên như thể thăm dò. Cả một vùng rực sáng. Anh Bài bảo tôi chú ý giữ khoảng cách kẻo lạc. Mọi người trong tư thế sẫn sàng nổ súng. Chừng 10 phút, pháo chuyển làn, từ phía sau hai phát pháo hiệu đỏ rực vút lên không trung. Anh Quí hô toàn trung đội vượt qua hàng rào, đánh thẳng vào tiền duyên địch. Chúng tôi vừa vượt qua hàng rào bằng cây khô, băng qua lớp hàng rào thép gai, cách chiến hào tiền duyên của địch chừng 100 mét, thì các họng súng trong đồn bắn tới tấp vào đội hình. Vừa nhô lên có mấy người bị trúng đạn, gục tại chỗ. Trong giây lát tất cả các hướng tấn công đều bị khựng lại, chững lại.
Anh Bài hô:
- Liệu dùng B40 bắn vào lô cốt đầu cầu.
Anh Liệu phóng liền hai quả mà vẫn không trúng. Anh Các xả tiếp một tràng trung liên vào đó cũng chẳng ăn thua. Từ dưới nhìn lên, các hỏa điểm của địch bắn ra đỏ rực, đạn bay chíu chíu, cày xới xung quanh chúng tôi. Thực sự, lúc đó tôi cũng hoảng. Nói không sợ là tự dối lòng mình.
Từ phía sau đội hình, anh Dương đại đội trưởng điều khẩu đội ĐKZ 75ly được tiểu đoàn tăng cường cho đại đội, đặt ngắm bắn trực tiếp mấy phát liền. ĐKZ vừa bắn xong, anh lao lên, hô lớn:
- Nào các đồng chí, dừng lại đây là chết, tất cả xung phong.
Đáp lời anh, cả Trung đội 2 chúng tôi vừa chạy thốc lên vừa cặp súng bắn trong làn đạn địch. Anh Liệu bắn tiếp một quả B40, chúng tôi nhìn rõ quả đạn lao vút cắm phập vào lô cốt đầu cầu nổ rầm lên, khẩu đại liên địch bị tiêu diệt. Cả trung đội lao lên chiếm được chiến hào ngoài cùng.
Nhìn lại đội hình, tôi đã thấy thưa dần. Theo lệnh anh Quí trung đội trưởng, các tiểu đội  xốc lại lực lượng, bám chắc tiền duyên đánh lấn vào trong. Tiếng lựu đạn nổ chát chúa.Tiếng súng bộ binh các loại nổ liên hồi, đanh rát. Anh Bài chỉ huy chúng tôi đánh thốc vào sườn bên phải. Tôi ném 2 quả lựu đạn, bắn liền cả kẹp đạn CKC.
Trong vòng 1 giờ đồng hồ, từ chiến hào tiền duyên địch, đại đội chúng tôi đánh chiếm được mỏm đồi thấp phía ngoài. Cả trận địa mịt mù khói đạn, khét lẹt, cay xè. Từ đây phát triển vào tung thâm phải qua một cái yên ngựa. Đồi phía trong cao hơn. Từ trên cao hai khẩu đại liên địch bắn chéo cánh sẻ, đạn bay xối xả,chi chít. Thêm vào đó là các loại súng phóng lựu, cối 81 ly, ĐKZ của địch bắn ra dữ dội. Giằng co mãi hàng tiếng đồng hồ, không sao dứt điểm được. Mấy lần đại đội tổ chức tấn công đều bị đánh bật lại, do bị tổn thất quá nhiều. Anh Dương không chịu lùi, trực tiếp dẫn Trung đội 1 đánh thốc lên lần nữa, lại cũng bị thương vong quá nửa. Bản thân anh Dương bị thương vào đầu và chân, anh em phải cõng ra.
Phía bên kia, Đại đội 1 là hướng tấn công chủ yếu của tiểu đoàn cũng gặp khó khăn, thưa dần tiếng súng, chỉ đánh chiếm được non một nửa trận địa địch. Ta thương vong lớn. Địch co cụm chống trả quyết liệt, chờ viện binh. Nếu tình trạng này kéo dài, trời sáng địch sẽ cho máy bay đến oanh kích và cho bộ binh đến chi viện. Lệnh của trên cho tiểu đoàn rút lui.
Đề phòng địch phản công, đại đội bố trí thực hành rút theo kiểu cuốn chiếu. Đưa thương binh, liệt sỹ ra trước, các trung đội lần lượt rút dần ra. Đến 7 giờ sáng hôm sau, cả tiểu đoàn mới về đến hậu cứ. Trong trận này tôi có mấy người bạn hy sinh. Trong đó tôi thương nhất là Cồng, 18 tuổi, cao to, trắng trẻo, đẹp trai, quê Tĩnh Gia - Thanh Hóa, bị thương nặng cụt cả hai chân, còn tỉnh táo, nhưng khiêng ra đến được nửa đường về hậu cứ thì hy sinh vì mất quá nhiều máu. Trên đường ra, hai chiếc máy bay T28 của địch quần đảo bắn phá dữ dội nhưng cách đội hình hàng trăm mét, không ai bị thương vong.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:26:56 PM
 Sau này tôi được biết rẳng, cùng phối hợp tác chiến với  trận Huội Mua của Tiểu đoàn 929 chúng tôi, còn có trận đánh vào căn cứ địch ở Đồng Hến do Trung đoàn 9 - Sư đoàn 304 đảm nhiệm với qui mô to hơn nhưng cũng không giành được thắng lợi. Tổn thất thương vong nhiều. Trận đó, anh Lê Khả Phiêu, sau này làm Tổng Bí thư  Ban Chấp hành Trung ương Đảng, làm Phó Chính ủy Trung đoàn 9 trực tiếp đi với mũi vu hồi. Hướng chủ yếu do anh Mai Hiền, Tham mưu trưởng Sư đoàn ( sau này là thủ trưởng của chúng tôi hồi chiến đấu ở tây Thừa Thiên ) trực tiếp chỉ huy. Anh Mai Hiền là người trưởng thành từ chiến sĩ đã dạn dày trận mạc, trải qua nhiều cương vị chỉ huy chiến đấu trong kháng chiến chống Pháp lên tới trung đoàn trưởng. Nhưng đến khi đánh trận Đồng Hến thì anh Hiền bị kỷ luật do không hoàn thành nhiệm vụ, gây hậu quả nghiêm trọng. Chính trận Đồng Hến như một cái lá chắn, cản trở con đường công danh sự nghiệp của anh.
Vậy đấy, đừng ai nghĩ rẳng đánh giặc bao giờ cũng thắng, dù người cầm quân là ai đi nữa. Thành bại là việc thường của binh gia. Vấn đề là, phần thắng cuối cùng thuộc về ai.  Chính Tôn Tử - Nhà quân sự lỗi lạc của Trung Quốc thời cổ đại - đã tổng kết rằng: tri kỷ, tri bỉ, bách chiến vô nguy. Nghĩa là: biết địch, biết ta, trăm trận không nguy. Không nguy là không bị thất bại lớn, không bị tiêu diệt. Chứ không phải như nhiều người giải thích không thật đúng là: biết địch, biết ta, trăm trận trăm thắng. Cổ, kim, đông, tây, có lẽ chưa có danh tướng nào trăm trận, trăm thắng!

Kết thúc trận Huội Mua, các đơn vị trợ chiến rút về nước. Tiểu đoàn 929 chúng tôi vẫn ở lại củng cố, bổ sung quân số, trang bị, tiếp tục bám trụ địa bàn trong mùa mưa năm 1965. Đến giữa năm 1965, trên quyết định thành lập Trung đoàn 29 trên cơ sở lấy Tiểu đoàn 929 làm nòng cốt, đổi tên là Tiểu đoàn 7. Điều thêm từ bên nước sang 2 tiểu đoàn bộ binh là Tiểu đoàn 8 và Tiểu đoàn 9, các đại đội trực thuộc gồm công binh, thông tin, cối, ĐKZ, trinh sát, vận tải, quân y, cao xạ 12 ly 7 và Trung đoàn bộ. Trung đoàn 29 trực thuộc Quân khu 4 có nhiệm vụ hoạt động đánh địch án ngữ địa bàn tỉnh Savanakhet, giữ vững vùng giải phóng, bảo vệ hành lang phía tây cho Đường dây Chiến lược 559.
Ngày mới thành lập, trung đoàn trưởng là anh Võ Hạp quê Thừa Thiên; chính ủy là anh Trần Văn Ân quê xã Diễn Thịnh, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An; trung đoàn phó là anh Trần Sĩ Kịch quê ở xã Quảng Long, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình; phó chính ủy là anh Đặng Chính Đoàn quê ở xã Nam Thanh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Anh Kịch, anh Đoàn vốn là tiểu đoàn trưởng và chính trị viên Tiểu đoàn 929 những năm trước. Trên bổ nhiệm anh Hoàng Nhiên làm tham mưu trưởng trung đoàn, Anh Nguyễn Hoán quê ở xã Cẩm Thăng, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh được trên điều về thay anh Nhiên làm tiểu đoàn trưởng.
Tôi nhớ, có một lần ở con suối cạn tôi gặp một anh bộ đội đã khá già, người thấp bé, mặc một bộ quân phục cũ sờn nhuộm màu lá khộc, chân đi vòng kiềng, miệng nhai trầu bỏm bẻm, răng đen, mắt mấp máy. Chẳng biết là ai, tôi hỏi:
          - Bác ơi,quê bác ở đâu, bác làm gì, ở đơn vị nào?
 Anh bộ đội già nhoẻn miệng cười, từ tốn trả lời:
           - Tớ quê Diễn Thịnh, Diễn Châu, Nghệ An. Làm nuôi quân ở trung đoàn bộ.
  Tôi nhanh nhẩu buột miệng nói:
 - Trời ơi, tội nghiệp chưa, hết người rồi hay sao mà lại bắt ông già phải đi chiến trường thế này?
Rồi anh bộ đội già bỗ bã thân tình hỏi tôi chuyện ăn ở, sinh hoạt, chuyện chiến đấu. Tôi trả lời một cách hồn nhiên, mộc mạc. Khi thấy anh Lê Văn Dánh từ xa đi đến đứng nghiêm chào ông và giới thiệu, mọi người mới té ngửa, đó là anh Trần Văn Ân, Trung tá, Chính ủy trung đoàn. Tôi hú vía, ngượng ngùng xấu hổ.
Anh Trần Văn Ân vào Đảng từ năm 1938, sau này là Thiếu tướng, Phó Tư lệnh Quân khu 4. Trong chiến tranh và cả sau ngày hòa bình, tôi còn tiếp xúc với anh Ân nhiều dịp. Mỗi lần gặp nhau, anh vẫn thường trìu mến gọi tôi bằng con. 
Tiểu đoàn chúng tôi được giao nhiệm vụ chuẩn bị đánh quân địch đổ bộ bằng đường không xuống khu vực xung quanh thị trấn Mường Phìn. Cả tiểu đoàn xây dựng công sự khá tốt, có lô cốt gỗ đất, ụ súng, giao thông hào và chiến hào. Cắm chông chi chít mấy bãi đất trống, dự kiến địch có thể đổ quân bằng trực thăng hoặc nhảy dù. Các đại đội ngày đêm luyện tập phương án đánh địch. Lúc này các anh điều tôi làm liên lạc đại đội. Tôi càng có điều kiện tiếp xúc và học hỏi các anh thủ trưởng được nhiều hơn.
 Một thời gian sau, trên lệnh cho tiểu đoàn xây dựng trận địa chốt chặn địch trên Đường 13, đoạn từ thị trấn Mường Phìn đi về phía nam khoảng 20km. Đó là những dãy đồi cao, xa hơn về phía nam là sông Sê-Măng-Hiêng, con sông duy nhất chảy từ phía Đông sang phía Tây. Về địa thế quân sự, ai chiếm được dãy đồi này thì khống chế được toàn bộ khu vực Mường Phìn. Lúc này cả đơn vị đang đóng quân ở khu vực bản Nôn Nhang, cách trận địa dự kiến bố trí khoảng 30 km. Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Hoán cùng trinh sát dẫn các đại đội trưởng đi địa hình và giao nhiệm vụ trực tiếp tại thực địa. Tôi lọc cọc theo anh Dương đại đội trưởng đi địa hình mấy ngày liền. Ngày quay trở về đưa đơn vị ra trận địa thì bất ngờ anh Dương vừa bị sốt vừa bị đi lỏng liên tục, người xanh xao cứ lả dần kiệt sức không thể đi được. Anh Dương trao đổi với anh Nguyễn Thụy chính trị viên rằng, ngoài anh ra chỉ có tôi biết địa hình và hơn thế nữa là biết được ý định của anh về bố trí lực lượng của đại đội ở khu vực phòng ngự trong thế bố trí chung của tiểu đoàn. Vì vậy, mạnh dạn giao cho tôi dẫn các trung đội trưởng và tiểu đội trưởng hỏa lực đi lên bố trí lực lượng ở Đường 13. Anh Thụy nhất trí vì nhiệm vụ thì đã cận kề, không còn cách nào khác.Trước khi chúng tôi lên đường, anh Dương dặn dò thêm mấy việc cụ thể.Việc một liên lạc đại đội thay mặt đại đội trưởng dẫn các trung đội trưởng đi bố trí trận địa ngày đó là hiếm, gây xôn xao cả tiểu đoàn. Nhiều người tin tưởng, cho rằng như thế là rất hợp lý, vì tôi có trí nhớ tốt, nắm chắc ý định của tiểu đoàn và của anh Dương. Một tuần sau khỏi bệnh, anh Dương lên kiểm tra trận địa. Anh rất hài lòng, vì việc bố trí lực lượng hoàn toàn đúng. Anh biểu dương tôi trước hàng quân. Tôi mừng lắm.


Vốn là liên lạc đại đội thời kỳ chiến đấu ở chiến trường Lào,  sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, tôi cố ý tìm lại các anh cán bộ đại đội ngày đó. Có người thì bặt vô âm tín, có người thì tìm được trong những trường hợp tình cờ, ngẫu nhiên.
Trong số cán bộ đại đội ngày đó, tôi gắn bó nhất là anh Nguyễn Văn Dương. Vì tôi làm liên lạc cho anh hơn 1 năm ở chiến trường. Tôi cố tìm anh bằng được. Năm 1999, khi còn là Cục trưởng Cục Chính sách - Tổng cục Chính trị vào công tác ở Tỉnh đội Đồng Tháp, nghe nói ở Thị xã Cao Lãnh có một ông bộ đội tên là Dương, đã nghỉ hưu, quê ở xã Hưng Đạo, Hưng Nguyên, Nghệ An vào ở với con trai tên là Tâm, cán bộ của Tỉnh đội. Tôi tìm đến tận nhà, nhưng khi gặp, thì lại không phải.
Tháng 6 năm 2001, lúc còn là Phó Hiệu trưởng Chính trị Trường Sĩ quan Lục quân 1 đi kiểm tra học viên năm cuối đang thực tập tại Sư đoàn 324 - Quân khu 4, đóng tại Đô Lương, Nghệ An. Khi ra thao trường của Trung đoàn 1, tôi gặp một cán bộ tên là Minh, Thiếu tá, cán bộ Phòng Chính trị Sư đoàn quê ở xã Hưng Đạo, hỏi thăm thì được biết anh Dương vẫn còn. Tôi mừng, nhưng sợ lại nhầm hoặc sợ lâu quá rồi anh Dương không còn nhớ tôi nữa. Vì vậy, trước khi về Trường tôi đã viết một lá thư nhờ Minh lúc nào về quê chuyển cho anh Dương. Một tuần sau tôi nhận được thư trả lời, anh nói rằng vẫn nhớ tôi và nhiều năm nay tìm mà không biết ở đâu. Anh mời tôi về quê chơi để anh em gặp nhau.
Tết năm 2001, tôi về gặp lại anh Dương. Anh em ôm nhau ngẹn ngào. Xa nhau hơn 35 năm mới gặp lại, thật cảm động. Ôn lại chuyện cũ mừng mừng tủi tủi, nhớ lại bao đồng đội không còn. Tôi đề nghị anh ra ngoài sân dạo một vòng, anh trước tôi sau. Vào nhà, tôi hỏi chị Yên và mấy người con trai:
- Trong nhà mình có ai biết khi đi anh Dương có đặc điểm là gì không?
Mọi người lắc đầu không biết.
Tôi nói :
- Khi đi anh Dương thường nhô vai trái lên trước và cao hơn vai phải một chút. Tôi biết điều đó vì những khi  hành quân ở chiến trường, bao giờ tôi cũng lẽo đẽo mang khẩu AK đi sau anh. Hành quân ở chiến trường không phải tính bằng ngày mà có nhiều khi là cả tháng.
Anh Dương kể với tôi, sau khi rời đơn vị  trên điều động anh làm Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn huấn luyện quân đi B thuộc Đoàn 22, sau đó làm Tiểu đoàn trưởng đặc công chiến đấu ở Đường 9 - Khe Sanh. Đến năm 1970 anh bị thương ra Bắc điều trị một thời gian thì nghỉ hưu.
Cũng nhờ về thăm anh Dương lần đó mà tôi còn gặp được anh Nguyễn Quốc Việt là người cùng chiến đấu với tôi hồi ở Đại đội 20 Dặc công Trung đoàn 3, nay về nghỉ ở quê. Anh Việt dẫn tôi về nhà rồi đi thẳng vào gian giữa. Anh chỉ tay lên xà nhà, hỏi tôi có đọc được chữ gì không. Tôi ngước lên nhìn thấy dòng chữ viết ngay ngắn bằng phấn trắng đã mờ theo thời gian nhưng vẫn đọc được: “Người giới thiệu tôi vào Đảng là ông Nguyễn Mạnh Đẩu, quê ở xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc”. Anh Việt bảo tôi rằng, anh ấy viết lên đó để làm kỷ niệm cho mình và con cháu. Nghe anh nói, tôi xúc động về tình cảm của những con người một thời trận mạc.
Sau này có hai lần tôi mời anh Dương ra nhà tôi ở Hà Nội và lên Trường Lục quân 1 chơi. Anh vốn là cựu học viên Khóa 10 của Trường. Hàng năm anh vẫn về quê tôi trong dịp giỗ mẹ tôi,  ngày 21 tháng 1 âm lịch. Khi cha tôi từ trần, ngày 17 tháng 5 âm lịch năm 2008, anh Dương cùng con trai trưởng và cháu đích tôn đến viếng. Đến giỗ 49 ngày cha tôi cũng vậy.
Anh Nguyễn Văn Dương bị ốm nặng điều trị ở Quân y viện 4 không khỏi, gia đình đưa về nhà, mất lúc 3 giờ sáng ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 2009 ở quê. Nghe tin, tôi  tức tốc về quê  kịp nhìn mặt anh lần cuối và tiễn biệt anh về nơi an nghỉ cuối cùng, giữa một chiều hè gió Lào cuồn cuộn, nóng hầm hập, nắng chói chang.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:27:27 PM
 Tháng 5 năm 2006, khi làm Chính ủy Tổng cục Kỹ thuật, trong một lần tôi đi công tác ở Tây Nguyên gặp anh KsorNham, Phó Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai tại Hội nghị xây dựng vành đai an toàn của các kho vũ khí, đạn dược trên địa bàn Tây Nguyên. Anh KsorNham có nước da đen bóng, dáng người cao to và gương mặt đẹp, được các đạo diễn chọn làm diễn viên đóng vai Anh hùng Núp trong bộ phim Đất nước đứng lên. Nhìn anh, tôi liên tưởng đến anh Lê Văn Lướt - người đại đội phó năm xưa - vì giữa hai người có nhiều nét giống nhau. Tôi nhờ anh KsorNham tìm hộ, may ra gặp được. Thật là mò kim đáy bể nhưng không hiểu sao tôi tin là anh có thể tìm được, vì anh có lợi thế là cựu Giám đốc Công an tỉnh Gia Lai.
Mấy ngày sau về Thành phố Hồ Chí Minh, đang đêm tôi nhận được điện của anh KsorNham. Anh bảo rằng, nhân dự một đám cưới, anh đã tìm được ông Lê Văn Lướt cán bộ quân đội nghỉ hưu ở thị trấn Đắc Đoa, Gia Lai. Và khi hỏi ông Lướt thì ông ấy vẫn còn nhớ tôi. Tôi mừng quá.
Đợt công tác sau vào Tây Nguyên tôi tìm đến tận nhà anh Lướt. Người đại đội phó cường tráng, xông xáo, oanh liệt một thời là niềm mơ ước cuả chúng tôi, nay là một ông già ngót 80 tuổi, hom hem. Gánh nặng thời gian đè lên tất cả mọi số phận. Nhìn anh, chỉ còn sót lại hàm răng trắng và đôi mắt sáng. Anh là người dân tộc Giarai, đi bộ đội từ hồi chống Pháp, hòa bình lập lại tập kết ra Bắc, được cử đi học Trường Sĩ quân Lục quân, khóa 11. Vốn anh không có họ, chỉ có tên là Lướt. Khi nhập học, cơ quan cán bộ yêu cầu phải có cả họ trong danh sách đăng ký, chợt nhìn lên phía trên phòng họp thấy treo ảnh ông Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng, anh khai đại mình họ Lê – Lê Văn Lướt. Và từ đó, suốt đời anh và sau này nữa, các con anh, mang họ Lê.
Năm 1963, tốt nghiệp Trường Sĩ quan Lục quân, với quân hàm Thiếu úy, anh được điều đi chiến đấu ở chiến trường Lào giữ chức Đại đội phó đại đội chúng tôi. Sau đó, giữa năm 1965, là người dân tộc, anh được điều động về hoạt động ở địa bàn Tây Nguyên. Đến năm 1985, sức khỏe yếu, lại là thương binh, anh được trên cho nghỉ hưu.
Tôi hỏi:
- Trước khi về nghỉ hưu, anh giữ cấp bậc gì?
Anh cười hiền khô:
- Đẩu ơi! mình có hai sao thôi.
Tôi bảo:
- Vậy là anh Trung tá.
Anh nói ngay:
 - Không, mình chỉ là Trung úy.
Tôi thốt lên:
- Trời ơi!  Hơn 12 năm chiến đấu ở chiến trường, vào sống ra chết bao nhiêu trận, vậy mà anh chỉ được mỗi bậc quân hàm – tức là một bậc lương thôi ư?!
 Anh mỉm cười:
- Ồ, đấy là việc của tổ chức mà. Mình có suy bì, so sánh, đòi hỏi gì đâu. Nước có giặc thì đi đánh giặc. Hết giặc thì về quê. Tổ chức trao gì được nấy. Biết làm sao được. Biết bao người còn thua thiệt hơn mình nữa chứ.
Tôi chia tay anh dưới rặng thông già, giữa nắng chiều Tây Nguyên vàng ruộm, lòng trĩu nặng ngậm ngùi, suy tư. Ngoài kia, đường 14 phẳng lì, hối hả người xe tấp nập.

Đầu năm 1966, Trung đoàn 29 được lệnh rút về nước. Sau gần mười ngày hành quân, chúng tôi về đóng quân ở huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Khi vượt Trường Sơn nhìn về phía Đông dưới kia những thôn xóm hiện ra trước mắt, tiếng trẻ con khóc, tiếng chó sủa, gà kêu, đặc biệt là mùi khói lam chiều, lòng tôi lâng lâng vui buồn khó tả. Vui vì được trở về Tổ quốc sau gần 2 năm đi chiến đấu trên chiến trường nước Bạn. Buồn nhớ thương da diết những người bạn nằm lại không về. Trước khi hành quân về nước, thủ trưởng tiểu đoàn yêu cầu các đại đội cho người lên nghĩa trang đắp lại mộ liệt sĩ, tổ chức viếng. Đúng trước những dãy mộ dài, hình ảnh thân thương của từng người bạn chiến đấu hiện về trong đầu tôi. Họ đều trạc tuổi tôi, còn rất trẻ. Khi quay ra, lòng chúng tôi ngẹn ngào, mắt đỏ hoe. Thôi ! bọn mình về nhé, nằm tạm đây, mai này có dịp sẽ sang đưa các bạn về đất mẹ.
Về đến Lệ Thủy, trung đoàn bộ đóng ở xã Dương Thủy, bên sông Kiến Giang. Tiểu đoàn 7 chúng tôi đóng quân ở xã Tân Thủy. Đại đội 2 đóng quân ở xóm Tân Thái. Tôi và Kham cùng liên lạc đại đội ngủ trong nhà ông Dương Văn  Oanh có con trai đi bộ đội Hải quân tên là Bảo, có cô con gái độ 16 tuổi tên là  Dương Thị Yến. Đêm đầu tiên mới đến trời tối mịt, tôi được bà chủ nhà xếp cho ngủ trên chiếc giường một. Đang loay hoay chưa biết trải giường thế nào, tôi hỏi bà chủ nhà, mẹ ơi khi ngủ trở đầu đường nào. Hồi đó mới thoáy ly, tôi nói còn nặng tiếng địa phương. Không nghe quen tiếng Nghi Lộc, bà chủ nhà trả lời tôi, con ơi không được thắp đèn, ở đây máy bay hoạt động dữ lắm. Nhà không có dầu đâu. Nghe xong cả nhà cùng cười. Có sự trùng hợp ngẫu nhiên lý thú: có ba người nằm ngủ trên cái giường gỗ đó ở ba thời điểm khác nhau, sau này đều là cấp Tướng. Năm 1966, tôi ở đó khi còn làm liên lạc đại đội thì sau này là Trung tướng. Năm 1969, anh Nguyễn Huy Hiệu ở đó khi làm đại đội trưởng, sau này là Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Năm 1972, anh Vũ Cao ở đó khi làm Trung đoàn trưởng pháo binh, sau này là Trung tướng, Cục trưởng Cục Tác chiến - Bộ Tổng Tham mưu.
 Những chuyện đó, mãi tới sau này, năm 1999 gặp lại cô Yến ở Đà Nẵng, tôi mới biết. Cô Yến nói với tôi rẳng, bố em đã hy sinh năm 1972 khi đang chỉ huy trung đội dân quân bắn máy bay Mỹ. Mẹ em còn sống, năm nay đã 82 tuổi , thế mà thỉnh thoảng bà vẫn nhắc cái đêm đầu tiên vào nhà ngủ, anh hỏi trở đầu đường nào, thì bà lại trả lời là không có dầu đâu. Đặc biệt là, cái giường gỗ nhà em ngày đó nay vẫn còn. Các anh xem có nên đưa về làm kỷ niệm. Vì từng ngủ trên cái giường đó các anh ra đi chiến đấu còn sống trở về và sau này đều thành đạt lên tới cấp Tướng.
 Chuyện tôi gặp lại cô Yến cũng rất tình cờ. Cuối năm 1999, trong một chuyến đi công tác ở Huế, buổi tối khi du thuyền trên sông Hương, chúng tôi ngồi cùng vợ chồng anh Chương, Trưởng Ban Chính sách tỉnh đội Thừa Thiên Huế. Theo thói quen, tôi hỏi chị vợ anh Chương:
- Chú Chương quê ở xã Quang Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh thì tôi biết rồi. Còn cô quê ở đâu?
Cô ấy trả lời:
- Quê em ở  xã Tân Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình anh ạ.
Tôi hỏi tiếp:
- Thế có biết cô Yến con ông Oanh không?
 Cô ấy nói:
- Chị Yến người cùng xóm Tân Thái với em. Chị ấy lấy chồng bộ đội tên là Trần Văn Tam, Đại tá, Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Hải quân. Gia đình hiện nay đang ở Đà Nẵng.
Cô lục tìm cho tôi số điện thoại của Yến.
Về tới nhà nghỉ ở Đoàn 40B trên đường Trần Cao Vân, dẫu đã khuya, tôi vẫn gọi điện. Sợ bị nhầm, tôi nói thật rành rõ là, tôi muốn gặp chị Yến con ông Oanh quê ở xóm Tân Thái, xã Tân Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Chưa kịp hỏi tôi là ai, thì Yến  đã thốt lên:
- Ôi!  anh Đẩu phải không?  Anh vẫn còn sống à?
Tôi bàng hoàng cảm động. Đã 33 năm không gặp lại nhau, thế mà Yến vẫn nhận ra tôi qua điện thoại.
 Liên lạc Đại đội 2 lúc đó có tôi và Nguyễn Văn Kham quê ở xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Kham hơn tôi 1 tuổi, nhập ngũ trước tôi 6 tháng, người khỏe mạnh, dũng cảm, hiền từ, siêng năng. Chúng tôi coi nhau như anh em em ruột. Năm 1968, khi vào chiến đấu ở Huế, Kham  hy sinh khi làm trung đội trưởng đánh vào Thành nội. Lần gặp cô Yến ở Đà Nẵng, nghe tôi nói Kham đã hy sinh, Yến nghẹn ngào, vậy mà mấy chục năm nay em không hề biết gì. Ngày trước Kham và Yến thân nhau lắm, hình như yêu nhau rồi thì phải. Lúc chia tay cả hai đều khóc sướt mướt. Hồi đó tôi còn lớ ngớ, chẳng biết gì.
Khi đơn vị đóng quân ở Lệ Thủy, Quảng Bình, tôi nhận được thư của cha tôi. Đọc thư nhà, tôi đã nghẹn ngào âm thầm khóc, thương xót cha tôi vô cùng. Cha tôi kể rằng, mẹ tôi mất, chị Hòe ở xa, tôi đi chiến đấu, các em còn thơ dại, cha tôi vất vả lắm. Cảnh gà trống nuôi con, ông vừa làm cha vừa làm mẹ. Trong chiến tranh chợ búa không họp ban ngày vì sợ máy bay. Mọi thứ trao đổi mua bán chợ quê đều diễn ra cuối chiều, lúc chập tối. Cái ăn không đủ, vải mặc thiếu thốn, sách vở học hành của ba em nhỏ,…tất cả đều trút lên vai cha tôi một mình bươn trải. Lúc ấy ông mới hơn 50 tuổi. Mấy bận, chú Cát, anh Tần, anh Y, chị Nam về nghỉ phép, cám cảnh đó giục cha tôi tục huyền. Cha tôi sợ cảnh mẹ ghẻ, con chồng, con ông, con bà phức tạp ra, đành cắn răng chịu đựng.
Tháng 7 năm 1966, Trung đoàn chúng tôi hành quân từ Lệ Thủy, Quảng Bình ra Hương Khê, Hà Tĩnh. Lúc này tôi đã được điều lên làm tiểu đội trưởng liên lạc Tiểu đoàn. Hành quân từ Lệ Thủy ra Hương Khê toàn tiểu đoàn đi dọc theo bờ biển khởi hành từ xã Ngư Thủy. Càng ra sát mép biển càng dễ đi. Thời kỳ này ở Quảng Bình, Hà Tĩnh máy bay địch thường xuyên hoạt động đánh phá ác liệt, nhất là trên các trục đường giao thông. Chọn phương án đi theo dọc bờ biển là khá táo bạo, bất ngờ. Để tránh máy bay, cả đơn vị ngày nghỉ đêm đi. Đến đêm thứ hai, từ Bảo Ninh chúng tôi vượt sông Nhật Lệ. Chính Mẹ Suốt, được tuyên dương Anh hùng, là một trong những người chèo đò đưa chúng tôi qua sông sang thị xã Đồng Hới. Thị xã Đồng Hới hồi đó đã bị máy bay Mỹ oanh tạc tàn phá. Nhà thờ Động Tòa bị đánh sập tan tành chỉ còn trơ lại tháp chuông. Ban ngày mọi người được nghỉ trong nhà dân trên trục đường hành quân. Riêng liên lạc vẫn như con thoi phải đi lại truyền đạt mệnh lệnh của tiểu đoàn đến các đại đội.
Khi về đến Hương Khê, tiểu đoàn đóng quân ở xã Hương Hòa, trung đoàn bộ đóng ở xã Hương Đồng. Có lần, anh Đặng Chính Đoàn phó chính ủy trung đoàn xuống làm việc với tiểu đoàn. Khi gặp, biết tôi mới được điều từ đại đội 2 lên, anh Đoàn hỏi:
- Theo đồng chí, liên lạc tiểu đoàn khác liên lạc đại đội cái gì, có oai hơn không?
Tôi trả lời:
- Thưa thủ trưởng, liên lạc tiểu đoàn và liên lạc đại đội cùng giống nhau về tính chất nhiệm vụ - đều là liên lạc. Điểm khác nhau là phạm vi hoạt động của liên lạc tiểu đoàn rộng hơn liên lạc đại đội. Nhưng không vì thế mà oai hơn.
Nghe xong, anh Đoàn vừa nói vừa cười hồn hậu:
 - Cậu này khá.
Thời kỳ này, chỉ huy các cấp thay đổi nhiều. Anh Ma Vĩnh Lan, dân tộc Tày, quê Bắc Kạn làm Trung đoàn trưởng. Anh Nguyễn Văn Cảnh quê ở Đô Lương, Nghệ An làm Chính ủy. Anh Nguyễn Hoán được đề bạt lên Tham mưu trương Trung đoàn. Anh Bùi Trần, quê xã Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình nguyên Trưởng tiểu ban Tác chiến Trung đoàn về giữ chức Tiểu đoàn trưởng. Anh Dương được điều đi đơn vị khác.
 Ngày anh Dương đi tôi đã khóc rất nhiều. Ở chiến trường, anh Dương và tôi vừa như cha con vừa như anh em. Tình cảm giữa chúng tôi sâu nặng. Sẵn sàng chia lửa, ứng cứu, che chở nhau trong hiểm nguy; cùng chia ngọt sẻ bùi, đồng cam cộng khổ. Trước khi lên đường, anh Dương dặn dò tôi mọi điều, chúc tôi mạnh giỏi và mau chóng trưởng thành. Cuối cùng, anh đưa tôi mấy đồng bạc. Anh nói rẳng, trong thời gian đóng quân ở đây mấy lần anh lên Trung đoàn họp, khi qua sông Kiến Giang còn nợ tiền đò nay vội đi không kịp trả, nhờ tôi chuyển hộ cho bác lái đò. Một việc cụ thể nhưng đối với tôi là bài học lớn về sự chu toàn trong cuộc sống. Anh đã dạy tôi biết làm người lớn từ những điều rất nhỏ nhoi, thường nhật.
Trong chiến đấu, thông tin là mạch máu, phải thường xuyên bảo đảm thông suốt kịp thời, chính xác, bí mật. Ở cấp phân đội, bất cứ loại hình chiến thuật nào, việc bảo đảm thông tin cũng phải kết hợp bằng 3 cách: vô tuyến điện, hữu tuyến điện và truyền đạt chạy bộ. Vô tuyến điện bằng máy 2 oát, 15 oát thì hay bị trục trặc kỹ thuật do địa hình, thời tiết, máy móc, cũng có khi bị địch dò sóng phát hiện được. Hữu tuyến điện thì đường dây thường bị bom, pháo băm nát. Thậm chí có khi bị địch móc máy vào nghe trộm, lộ hết bí mật. Còn lại chỉ còn truyền đạt bằng chạy bộ là chắc chắn hơn. Tuy nhiên, quá trình tác chiến, nhất là trong phòng ngự, mọi  người được che chắn trong công sự, riêng liên lạc phải băng mình trong lửa đạn để truyền đạt mệnh lệnh của người chỉ huy. Có nhiều trường hợp thương vong. Cá biệt có trường hợp bị địch bắt. Bởi vậy, trong chiến đấu, đơn vị nào cũng vậy, liên lạc phải là người nhanh nhẹn, thông minh, gan dạ, trung thành, trung thực. Thông thường, liên lạc được chọn lựa từ hàng trăm người trong đơn vị. Chọn liên lạc nhiều khi còn khó hơn chọn tiểu đội trưởng. Quá trình công tác, người liên lạc thường xuyên tiếp xúc với lãnh đạo, chi huy đơn vị, học hỏi được nhiều điều, nên phần đông liên lạc đều thành đạt. Trong hàng tướng lĩnh của quân đội ta, nhiều người thuở ban đầu là  liên lạc đại đội, liên lạc tiểu đoàn trong chiến đấu.
Ở Hương Khê (Hà Tĩnh) tiểu đoàn thực hành huấn luyện bổ sung. Ngày đó ngoài các loại hình chiến thuật đã có, được cấp trên chỉ đạo hướng dẫn huấn luyện bổ sung chiến thuật mới là: chốt kết hợp với vận động tấn công đánh quân địch đổ bộ đường không và chiến thuật phòng ngự kiềng ba chân, hổ vồ mồi. Thao trường đặt trên các triền núi thuộc dãy Vũ Quang, được chuẩn bị rất công phu. Với khẩu hiệu:“Thao trường đổ mồ  hôi, chiến trường bớt đổ máu”, cả đơn vị ngày đêm hăng say huấn luyện. Thời kỳ này đơn vị mới được trang bị mìn định hướng ĐH10. Tôi nhớ hôm thực nghiệm nổ mìn ĐH10, anh Hồ Hữu Lạn, Thiếu úy, Trợ lý công binh Trung đoàn trực tiếp thực hành. (Anh Hồ Hữu Lạn quê ở xã Quỳnh Lương, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An vào chiến đấu ở chiến trường Trị Thiên, kết thúc chiến tranh làm Trung đoàn trưởng; sau này là Đại tá, Sư đoàn trưởng rồi Tham mưu phó Quân khu 4 ). Tiểu đoàn trưởng Bùi Trần cho cắm nhiều loại bia bằng cót dán giấy xen lẫn các thân cây chuối to tươi cách nơi đặt mìn bằng nhiều cự ly khác nhau. Khi mìn nổ, chúng tôi cầm phấn trắng đánh đấu những vết thủng dày chi chít trên mặt bia, kể cả những bia ở khá xa, đến hàng trăm mảnh. Cùng với ĐH10, đơn vị còn học cách cài đặt mìn bay. Đào những cái hố tạo ra độ chếch về phía địch, đặt một khối lượng bộc phá dưới một tấm gỗ, trên tấm gỗ đặt nhiều quả mìn sát thương. Khi cho bộc phá nổ, đẩy tấm ván hất toàn bộ mìn về phía trước.
 Qua thực nghiệm, mọi người tin rằng nay mai vào chiến trường mìn ĐH10 và mìn bay sẽ diệt được nhiều sinh lực địch, nhất là trong phòng ngự. Tiểu đội liên lạc phải bám sát địa hình và phải hiểu được các phương án tác chiến của tiểu đoàn để thuần thục mọi công việc của mình. Chúng tôi thuộc hết khu vực các xã Hương Hòa, Hương Luyện, Hương Vĩnh, Hương Đồng và vùng xung quanh. Mặc dù thuộc đường nhưng không được đi trên các trục đường có sẵn mà giao cho từng người cầm một tấm bản đồ, một địa bàn, xác định tọa độ và cắt góc phương vị đi, cả ban ngày lẫn ban đêm.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:28:22 PM
Chương ba: Chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị, Thừa Thiên
 
 
Tháng 10 năm 1966, Trung đoàn chúng tôi rời Hương Khê hành quân vào Miền Nam. Cả đơn vị dừng lại trú quân ở Nông trường Quyết Thắng, Vĩnh Linh. Tiểu đoàn trưởng Bùi Trần, các đại đội trưởng và tiểu đội trinh sát đi nghiên cứu địa hình. Là tiểu đội trưởng liên lạc, đồng thời là liên lạc trực tiếp cho Tiểu đoàn trưởng, tôi cũng thuộc thành phần đi trinh sát chiến trường. Từ Nông trường Quyết Thắng, chúng tôi vượt qua Bến Tắt để sang bờ Nam sông Bến Hải. Từ đây, chúng tôi đi tiếp theo hướng đông về huyện Gio Linh. Trước đó, tháng 7 năm 1966, các trung đoàn của Sư đoàn 324 mới đánh nhau với quân Mỹ ở trục Đường 9 từ Cù Đinh, Ba De đến gần sát khu vực Cồn Tiên, Dốc Miếu.
 Đây là lần đầu tiên tôi đặt chân vào chiến trường Miền Nam. Mặc dù đã trải qua chiến đấu gần 2 năm trên chiến trường Lào, nhưng là mới đánh nhau với quân ngụy Lào (Phu Mi), chưa chạm trán bộ binh Mỹ. Mãi sau này, nhất là khi đã trở thành cán bộ, tôi cứ nghĩ rằng, nếu với cách tổ chức sinh hoạt và chiến đấu như thời kỳ ở Lào mà đơn vị chúng tôi đã trải qua, thì không thể trụ lại được với sự khốc liệt gian khổ ở Miền Nam, dù chỉ là trong thời gian ngắn.  Những nơi chúng tôi đi qua là cảnh tan hoang của chiến trường. Cây cối đổ ngổn ngang, cháy trụi, bị bom đạn băm nát xác xơ. Hố bom đạn chằng chịt cày xới mặt đất, cái đen kịt, cái đỏ lòm. Qua các bãi đổ bộ, trú quân của quân Mỹ, rặt một mùi Mỹ khó tả. Mùi đồ hộp các loại, mùi thuốc lá, mùi xà phòng tắm, mùi nước hoa, mùi thùng các tông, mùi thuốc súng, mùi cây cối bị cháy sém, mùi mồ hôi ở quần áo đồ dùng vứt lại…Tất cả quyện lại thành một mùi hỗn tạp hoi hôi, ngai ngái, ngầy ngậy, ghê ghê, gây buồn nôn. Tôi ấn tượng ngay từ đầu và mãi sau này, mỗi khi vào trinh sát các cứ điểm Mỹ đóng quân, trong khứu giác của mình không bao giờ quên được cái mùi đặc trưng đó.

Chúng tôi đi nghiên cứu địa hình từ khu vực Hồ Khê, Đá Bạc vòng về làng An Cát Khê, làng Trung An, qua các trục Đường 74, Đường 75, lên đến làng An Nha, An Hướng. Nơi đây đang là vùng tranh chấp giữa ta và địch. Dân đã đi sơ tán hết. Có dân lên rừng, vào vùng giải phóng. Có dân chạy vào Đông Hà, thị xã Quảng trị, thành phố Huế, vùng địch kiểm soát. Chỉ còn lại dân quân du kích phối hợp hoạt động cùng bộ đội chủ lực. Dọc bờ nam sông Bến Hải, nam cầu HIền Lương ra tới biển và dọc theo Đường 1 là vùng quân địch vẫn còn chiếm đóng.
 Sau khi đi xem xét một lượt địa hình trong toàn khu vực, theo chỉ thị của trên, tiểu đoàn chúng tôi bố trí trận địa đón lõng quân địch ở khu vực Hồ Khê, Đá Bạc. Theo dự kiến, sau khi phát hiện có chủ lực của ta hoạt động ở phía Bắc Đường 9, quân Mỹ sẽ hành quân từ căn cứ Đầu Mầu ở Đường 9 đánh chiếm dọc theo triền núi đi về phía suối La La và Đồi Không Tên.
 Ngày 15 tháng 4 năm 1967, từ khu vực tập kết ở Bình độ 100, các đơn vị trong tiểu đoàn vào khu vực núi Hồ Khê, Đá Bạc thuộc xã Cam Tuyền, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị xây dựng công sự, trận địa. Thế bố trí lực lượng là: Đại đội 1, Đại đội 2 và Đại đại 3  được bố trí theo hình tam giác ( kiềng ba chân). Theo đó, Đại đội 1 và Đại đội 3 (thiếu Trung đội 1) là lực lượng đánh chặn địch ở tiền duyên, Đại đội 2 được bố trí hẳn sang phía bên quyết chiến điểm, nhằm đánh thốc vào sau lưng địch. Trung đội 1 của Đại đội 3 do anh Lê Hồng Hải làm trung đội trưởng được bố trí bên cạnh Sở Chỉ huy Tiểu đoàn làm lực lượng cơ động. Sở chi huy tiểu đoàn đặt sau Đại đội 1. Đại đội 4 trợ chiến bố trí hỏa khí cối 82 ly, ĐKZ 75 ly, đại liên phân tán, nhưng các loại hỏa lực đều phải bắn tập trung vào quyết chiến điểm. Ngoài ra, ở khu vực đó còn bố trí mìn ĐH10.
Thực hiện kế hoạch của tiểu đoàn, các đại đội và tiểu đoàn bộ đang triển khai đào công sự, xây dựng trận địa được 3 ngày thì có một việc đột xuất đặc biệt xảy ra : Trần Hữu Lễ quê ở Bố Trạch (Quảng Bình), chiến sĩ thông tin 2 oát của tiểu đoàn đi chiêu hồi, đầu hàng địch. Chiều hôm đó sau khi kết thúc phần đào hầm ở Sở chỉ huy tiểu đoàn, chúng tôi trở về khu vực tập kết ở Bình độ 100. Khi về cách khu vực tập kết khoảng 3 cây số, lúc trời đã nhá nhem tối, Lễ cầm một cái xẻng bảo là tạt ra ngoài bìa rừng để đi vệ sinh. Chờ mãi không thấy Lễ quay lại, tôi báo cáo với anh Thuyết trung đội trưởng thông tin. Anh Thuyết báo cáo với anh Phan Hà, tiểu đoàn phó. Anh Hà chỉ thị cho các lực lượng của tiểu đoàn bộ phải quay lại để tìm bằng được Lễ. Chúng tôi bao gồm trinh sát, liên lạc, thông tin, tỏa ra đi tìm. Nghĩ rằng, Lễ có thể bị thương bởi pháo địch vẫn thường bắn vu vơ xung quanh vào thời điểm đó, hoặc bị rắn rết cắn, hoặc bị cảm gió nằm bẹp ở đâu đó.
Từng bộ phận, từng người dàn hàng ngang, tìm đi tìm lại nhiều lần từng hốc cây, khe đá trong phạm vi khoảng hai cây số vuông vì nghĩ rằng Lễ chưa đi xa hơn. Tìm suốt cả đêm không thấy tăm hơi. Ngày hôm sau, trời sáng nhìn rõ hơn, tổ chức đi tìm kỹ lần nữa vẫn bặt vô âm tín. Đến chiều cấp trên thông báo, theo tin kỹ thuật của ta nắm được thì Trần Hữu Lễ đã chiêu hồi địch ở tận Đông Hà. Chúng tôi ngớ người ra. Hoàn toàn bất ngờ về việc này. Mãi mấy ngày hôm sau, từ trên máy bay phát ra đích thực là lời kêu gọi đầu hàng của Lễ, chúng tôi mới tin đó là sự thật.
Ngày đó, chúng tôi cứ tưởng rằng, Lễ trực tiếp ngồi trên máy bay để nói lời kêu gọi. Chưa biết là, từ Đông Hà hay ở Huế, địch thu tiếng của Lễ vào băng rồi phát lại trên máy bay. Vì thế, khi nghe Lễ kêu gọi đầu hàng, chúng tôi phẫn uất, căm giận, nguyền rủa kẻ đầu hàng phản bội.
Chân ướt chân ráo vào chiến trường Miền Nam, chưa đánh trận nào, mới chỉ nếm mùi ác liệt căng thẳng của phi pháo trên đường hành quân và trú quân thôi, mà đã có kẻ dao động cầu an, sợ chết, đầu hàng địch. Thực ra, hồi đó, ngoài việc chịu đựng sự ác liệt của bom đạn địch, gian khổ của đời sống chiến trường, bộ đội ta còn bị tác động đòn tâm lý chiến thâm độc, xảo quyệt của địch. Khắp bãi chiến trường, truyền đơn các loại rải trắng xóa như bươm bướm. Có truyền đơn nén trong đạn pháo bắn đi, nhưng phần nhiều là rải từ máy bay xuống.
Mặc dù cán bộ đơn vị cấm đọc truyền đơn địch, nhưng với sự tò mò, tính hiếu kỳ, bọn lính trẻ chúng tôi vẫn đọc. Với thói quen nhìn nhận vấn đề từ mọi góc cạnh, tôi cho rằng, nhận thức của mình sẽ không bị phiến diện, bảo đảm khách quan hơn, chính xác hơn. Chỉ đọc qua truyền đơn mà đã chạy theo địch, thì chắc chẳng còn ai trụ lại trên chiến trường hàng chục năm. Đọc qua truyền đơn, dẫu còn rất trẻ, chúng tôi cũng biết được luận điệu xuyên tạc, bộ mặt giả nhân, giả nghĩa của kẻ thù. Nội dung truyền đơn của địch đa dạng: ảnh, ký họa, thơ ca, hò vè, văn xuôi - đủ cả. Có nội dung xuyên tạc cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta, chúng cho rẳng Miền Bắc xâm lược Miền Nam theo sự chỉ đạo của Liên Xô, Trung Quốc. Có truyền đơn cường điệu, thổi phồng cảnh chết chóc tang thương, thất bại của bộ đội ta trên các chiến trường. Có nội dung bôi nhọ Đảng và lãnh tụ. Nhiều hơn cả là truyền đơn kêu gọi cán bộ, chiến sĩ ta buông súng chiêu hồi, về với “chính nghĩa quốc gia”. Có tờ truyền đơn in hình ảnh và lời kêu gọi đầu hàng của Mai Hồng Nhị, của Lê Xuân Chuyên. Theo đó, Mai Hồng Nhị là trung đội trưởng đầu hàng ở chiến trường Quảng Trị. Lê Xuân Chuyên là trung đoàn phó chiêu hồi ở chiến trường Tây Nguyên. Chúng tôi xem truyền đơn nhưng đều khẳng định là địch nói láo, thế thôi.
Trên trời thì máy bay trinh sát L19, VO10 suốt ngày quần đảo thám thính, rải truyền đơn và ra rả lời kêu gọi cán binh Cộng sản BắcViệt đầu hàng. Dưới đất thì bom đạn địch ngay đêm bắn phá ác liệt. Đời sống vật chất thì kham khổ. Tuy vậy, tuyệt đại bộ phận cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị vẫn kiên định giữ vững quyết tâm chiến đấu. Trường hợp dao động, cầu an đến mức chiêu hồi phản bội như Trần Hữu Lễ là rất cá biệt.
 Sau khi Lễ đi đầu hàng, để tránh địch thực hành đánh phá theo sự chỉ điểm của Lễ, tiểu đoàn chúng tôi đã phải di chuyển địa điểm tập kết sang khu vực khác. Trận địa đã bố trí ở Hồ Khê - Đá Bạc đều phải điều chỉnh lại toàn bộ. Cả đơn vị phát động phong trào lên án tư tưởng và hành động của Lễ.
 Mãi đến năm 1984, anh Đinh Minh Chúng bạn tôi, làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 6 ra học khóa 6 Học viện Cao cấp, gặp tôi ở Hà Nội, kể rằng sau giải phóng có gặp Trần Hữu Lễ là thiếu tá tâm lý chiến của quân ngụy đóng tại Huế, đang đi cải tạo. Lúc nhìn thấy nhau chẳng nói năng gì. Thực ra còn có gì để nói nữa. Bản thân sự việc và kết cục của nó đã nói lên mọi điều.
Việc Lễ đi chiêu hồi rồi cũng chìm lắng xuống rất nhanh. Còn bao nhiêu việc phải làm. Cả tiểu đoàn gấp rút chuẩn bị  trận địa, gia cố thêm công sự, bố trí bãi mìn, lấy phần tử xạ kích cho cối, ĐKZ, chuẩn bị đường cơ động các hướng,  dự trữ lương thực, thực phẩm.
Ngày 15 tháng 5 năm 1967, từ sáng sớm pháo địch từ các căn cứ Đông Hà, Ái Tử, Đầu Mầu, Điểm cao 241 dồn đập bắn vào khu vực Hồ Khê. Đến 10 giờ, mấy tốp máy bay F105, F4 oanh  tạc liên tục, mấy chiếc trực thăng vũ trang UH1 quần đảo bắn rốc két vào Đá Bạc. Tiếp đến máy bay trinh sát VO10 chao liệng liên tục ở tầm rất thấp, nghe rè rè nhức óc. Tất cả động thái đó chứng tỏ là địch sắp hành quân lấn chiếm vào khu vực ta đã bố trí sẵn. Tiểu đoàn trưởng Bùi Trần lệnh cho toàn tiểu đoàn vào vị trí sẵn sàng chiến đấu. Tiểu đội trinh sát, một mặt cử người ra tiền duyên để bám nắm địch, mặt khác trên đài quan sát phải thường xuyên theo dõi nắm chắc mọi động thái của địch, kịp thời báo cáo tiểu đoàn. Ở khu vực này là các bãi cỏ tranh và cây cối lúp xúp nên dễ quan sát. Đến 4 giờ chiều, bộ binh địch bắt đầu tiến vào trận địa ta. Tiểu đoàn trưởng Bùi Trần lệnh cho các đơn vị phải chờ địch vào giữa quyết chiến điểm mới được nổ súng. Hiệu lệnh nổ súng là cối, ĐKZ, mìn các loại đồng loạt khai hỏa.
Một không khí yên ắng căng thẳng bao trùm trận địa. Chúng tôi thường có một linh cảm là, ở chiến trường lúc yên ắng nhất lại là lúc căng thẳng nhất. Đặc biệt, trước mỗi trận ném bom của máy bay B52, B57 thì không khí như đặc quánh lại.
Phương án tác chiến đã được thông qua là, cùng với sự chi viện của hỏa lực, các đại đội dựa chắc vào công sự dùng mìn định hướng ĐH10, mìn bay và súng bộ binh các loại tập trung bắn vào đội hình địch. Khi quân địch đã bị thương vong, tiêu hao sinh lực, thì Đại đội 1 và Đại đội 3 cùng lúc phản công tiêu diệt địch. Đại đội 2, dựa chắc vào công sự, đánh chặn đường rút của địch ra phía sau. Trường hợp quân địch chọc thủng chốt đánh chặn của Đại đội 1, Đại đội 3, thì Đại đội 2 tiến hành xuất kích đánh thốc vào lưng địch. Trường hợp ban ngày không tổ chức phản kích được, chờ đến tối địch co cụm lại, cho trinh sát bám nắm và thực hành tập kích  bằng cả hỏa lực và xung lực.
Lúc này trong hầm chỉ huy có anh Trần, tiểu đoàn trưởng, anh Đào chính trị viên tiểu đoàn, anh Phan Hà tiểu đoàn phó và tôi là liên lạc. Tôi thành sợi dây nối liền giữa Sở chỉ huy tiểu đoàn với các bộ phận tham mưu, chính trị, trinh sát, thông tin, ở các hầm xung quanh. Đến lúc ấy, vì chưa nổ súng để giữ bí mật, vô tuyến điện vẫn chưa được mở máy, sợ đài kỹ thuật của địch dò sóng phát hiện được. Điện thoại trong hầm chi huy chốc chốc lại réo lên. Trinh sát báo về, các đại đội báo cáo lên. Anh Trần chăm chú nghe, vừa nghe vừa nói lại cho các anh cùng nghe, rồi chỉ thị rành rọt cho từng hướng, từng đơn vị. Có lúc anh dừng lại trao đổi ý kiến với anh Đào và anh Hà.
Đúng 16 giờ 17 phút, từ các hướng báo cáo, đội hình quân Mỹ đã vào quyết chiến điểm, anh Trần hạ lệnh nổ súng. Tất cả hỏa lực cối 82, ĐKZ, giàn mìn bay, mìn định hướng ĐH10, đồng loạt nổ tới tấp lên đội hình địch. Tiếng cối, tiếng ĐKZ nổ chát chúa, tiếng mìn nổ dậy đất, tiếng đại liên từng tràng giòn giã cùng tiếng súng bộ binh các loại. Tất cả tạo nên một âm thanh hỗn tạp liên hồi. Bị đánh bất ngờ, quân Mỹ dạt sang hai bên chững lại mất mấy phút rồi dùng súng các loại bắn trả quyết liệt. Pháo địch từ các căn cứ bắn vào Sở chỉ huy tiểu đoàn dồn dập, đã có hầm trúng đạn pháo, có bộ phận thương vong. Cả khu vực mịt mù khói đạn khét lẹt, cay xè. Đường dây điên thoại bị dứt nhiều đoạn. Tiểu đội trưởng thông tin Nguyễn Ngọc Chuân quê ở xã Nghi Ân, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An và chiến sĩ Nguyễn Văn Thuận quê ở Cẩm Thủy, Thanh Hóa đi nối dây bị trúng đạn pháo hy sinh. Máy 2 oát liên lạc thông suốt với các đại đội, nhưng là khẩu lệnh trực tiếp, không dùng mật khẩu nữa. Cuộc chiến đấu diễn ra được hơn 1 giờ đồng hồ, khi tiếng súng đã thưa dần, anh Trần yêu cầu các đợn vị báo cáo tình hình.
Về phía ta, đến lúc đó, các đại đội vẫn bám vào công sự đã bố trí sẵn, dùng các loại súng bắn sát thương quân địch. Cơ số đạn các loại đã dùng hơn một nửa. Tỷ lệ quân số hao hụt không nhiều, phần đông số thương vong là do công sự không vững chắc, bị phi pháo công phá dữ dội. Thương binh, tử sỹ đều phải để tạm trong công sự. Cả ngày chiến đấu, bộ đội ăn lương khô 702 và uống nước lã., quyết tâm chiến đấu của các đơn vị vẫn được giữ vững.
Về phía địch, ngay từ loạt đạn phủ đầu đánh trúng đội hình, quân Mỹ bị thương vong nhiều. Tại khu vực quyết chiến điểm ngổn ngang xác lính Mỹ. Số quân địch còn lại dạt sang một ngọn đội chếch về phía Nam co cụm lại, lập công sự, chống trả quyết liệt. Để chi viện cho bộ binh, máy bay, pháo binh địch liên tục oanh kích vào trận địa ta. Phải thừa nhận rằng, pháo binh Mỹ triển khai thao tác rất nhanh và có trình độ chính xác rất cao. Bộ binh ta và bộ binh Mỹ cách nhau cự ly rất ngắn, có chỗ chỉ con suối cạn, thể hiện không rõ trên bản đồ. Vậy mà pháo địch luôn bắn trúng vào trận địa ta, không rơi quả nào sang đội hình quân Mỹ. Có thể, do bộ binh Mỹ tại chỗ trực tiếp xác định tọa độ, lấy phần tử chỉ thị mục tiêu cho pháo binh. Đồng thời, trắc thủ pháo binh ở các căn cứ đã xử lý thông số kỹ thuật rất kịp thời, chính xác.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:28:54 PM
 Sau khi tổng hợp tình hình chung, đến 18 giờ, Ban Chỉ huy tiểu đoàn  báo cáo Trung đoàn và đề nghị cho nắm lại địa hình, địch tình, để tối đến tổ chức tập kích quân địch đang đứng chân phía trước trận địa. Trung đoàn biểu dương tinh thần, kết quả chiến đấu của Tiểu đoàn 7 và  đồng ý với đề nghị của tiểu đoàn.
Đến 18 giờ 15 phút, anh Trần cho gọi anh Vận đại đội trưởng Đại đội 1, anh Nghiêm đại đội trưởng Đại đội 3 và anh Trường đại đội trưởng Đại đội 4 lên tiểu đoàn nhận nhiệm vụ. Trước khi các đại đội trưởng đến, tiểu đoàn trưởng Bùi Trần đã trao đổi thống nhất phương án tác chiến và nhiệm vụ của các đại đội với chính trị viên Nguyễn Văn Đào và tiểu đoàn phó Phan Hà. Sau khi nghe anh Sơn tiểu đội trưởng trinh sát báo cáo tình hình khu vực địch đóng quân ở phía trước, các đại đội bổ sung ý kiến. Tiểu đoàn trưởng Bùi Trần nói:
- Phương án tác chiến là, đúng 8 giờ tối, hỏa lực tiểu đoàn tập kích vào trung tâm trận địa địch chừng 10 phút. Sau đó, bộ binh sẽ chia làm hai mũi tấn công. Mũi chủ yếu đánh vào chính diện do Đại đội 1 đảm nhiệm. Mũi thứ yếu đánh thọc vào sườn phía đông bắc do Đại đội 3 (thiếu) đảm nhiệm. Tiểu đội trinh sát phải tăng cường bám nắm địch. Từ 7 giờ, các đại đội chuẩn bị tiếp cận địch, rút ngắn cự ly. Đại đội 4 nhanh chóng xác định mục tiêu cho cối và ĐKZ lấy phần tử sẵn sàng, có lệnh là nổ súng được ngay.
Tiếp lời anh Trần, anh Đào chậm rãi nói:
- Thành tích chiến đấu trong ngày của các đơn vị là tốt. Yêu cầu các đại dội kịp thời động viên anh em. Chú ý làm tốt công tác chính sách, thực hiện đúng việc thay thế kịp thời cán bộ do bị thương vong trong chiến đấu. Bất luận trong trường hợp nào cũng phải có người chỉ huy, lãnh đạo đơn vị.
Sau đó, anh Trần hỏi:
- Có ai ý kiến gì không?
Thấy mọi người nhất trí, anh nói thêm:
- Khi hoàn thành nhiệm vụ, các đơn vị tổ chức rút quân về khu vực tập kết ở Bình độ 100.
Anh Trần dứt lời, mọi người trở về đơn vị triển khai ngay các công việc.
Đúng 20 giờ, cối 82 ly, ĐKZ 75 ly của Đại đội 4 đồng loạt bắn. Cối đặt cách mục tiêu chừng hơn 800 mét bắn cầu vồng. ĐKZ đặt cách muc tiêu khoảng 300 mét ngắm bắn trực tiếp. Từ trên đài quan sát, trinh sát báo cáo về, đạn cối và ĐKZ bắn rất chụm, trúng mục tiêu. Hơn 10 phút, anh Trần hạ lệnh cho Đại đội 1 và Đại đội 3 xuất kích.
Cả hai hướng tấn công súng nổ giòn giã. Lúc này điện đài 2 oát bảo đảm liên lạc tốt giữa các đại đội và tiểu đoàn.
Sau gần nửa giờ chiến đấu, mũi thứ yếu do Đại đội 3 đảm nhiệm phát triển thuận lợi, đã đánh chiếm được khoảng một phần ba trận địa địch. Mũi tấn công chủ yếu của Đại đội 1 gặp khó khăn vì  bộ đội phải vượt qua địa hình trống trải một bãi cỏ tranh đã cháy trụi, bị hỏa lực địch bắn chặn, bộ đội thương vong. Chỉ mới Trung đội 1 của Đại đội 1 đánh chiếm được phần ngoài trận địa địch. Đôi bên đang ở thế giẳng co quyết liệt. Anh Trần hội ý nhanh với anh Đào và anh Hà, quyết định tung trung đội dự bị của tiểu đoàn vào tăng cường cho Đại đội 1 để nhanh chóng dứt điểm.
Anh Trần nói với tôi:
- Đẩu chạy nhanh đến gặp Hải trung đội trưởng Trung đội 1, Đại đội 3 truyền đạt mệnh lệnh: Trung đội 1 vào chi viện cho Đại đội 1. Đồng thời, Đẩu trực tiếp dẫn anh Hải đưa Trung đội 1 vào chiến đấu, vì Hải chưa thuộc địa hình, sợ bị lạc trong đêm. Khi dẫn Hải gặp được anh Vận đại đội trưởng Đại đội 1 tại trận địa, thì Đẩu quay về tiểu đoàn ngay, chờ nhiệm vụ mới.
Anh Trần vừa dứt lời, anh Đào nói luôn:
-  Còn mấy ngày nữa mới tổ chức lễ kết nạp, nhưng hôm nay, với tư cách Bí thư Đảng ủy tiểu đoàn, tôi  chính thức tuyên bố, từ giờ phút này, đồng chí Nguyễn Mạnh Đẩu trở thành đảng viên.
Anh Đào nói xong, tôi chỉ có một tiếng:
- Dạ !
Tay cầm khẩu AK đạn đã lên nòng, tôi nhảy phắt ra khỏi hầm lao về Trung đội 1 cách đó hơn 100 mét. Mặc dù đã gần 21 giờ, nhưng máy bay địch thả pháo sáng, cả trận địa sáng trưng như ban ngày. Trong khoảnh khắc, tôi gặp và nói rất ngắn với anh Hải:
- Tiểu đoàn ra lệnh cho trung đội anh chi viện cho Đại đội 1. Anh chỉ huy trung đội theo tôi đi ngay.
Anh Hải không nói gì, cứ thế chúng tôi chạy một mạch về hướng Đại đội 1. Xung quanh pháo cối  địch nổ rất gần, mảnh đạn bay rào rào và đạn thẳng địch bắn ra chiu chít. Băng qua bãi cỏ tranh đang cháy, vượt lên một đoạn dốc thoai thoải, chúng tôi lao về Đại đội 1 gặp anh Vận lúc đó đang cách địch khoảng hơn 50 mét. Khi gặp nhau, anh Vận như đã biết trước, chỉ nói với tôi một câu:
- Đẩu dẫn trung đội Hải lên rồi à, tốt quá. Thôi, em quay về tiểu đoàn đi.
 Tôi chỉ kịp cầm tay anh Vận và anh Hải rồi quay lại tiểu đoàn bộ. Sau lưng tôi, Trung đội 1 Đại đội 3 theo sự chỉ huy của anh Vận và anh Hải lao vào chiến đấu ngay.
Khi tiếp nhận lực lượng dự bị, anh Vận đã chỉ huy Trung đội 1 đánh thốc vào trận địa địch. Đại đội 1 và Trung đội 1 (Đại đội 3) dưới sự chỉ huy của anh đã hoàn thành nhiệm vụ đánh tan quân địch ở hướng chủ yếu. Nhưng gần đến phút chót, anh Vận hy sinh vì một loạt tiểu liên cực nhanh của địch. Tại Sở chi huy tiểu đoàn, khi nghe anh Trần thông báo, tôi đã ngẹn ngào khóc.Tôi không ngờ cái bắt tay lúc tôi quay về tiểu đoàn lại là thời khắc cuối cùng tôi vĩnh viễn xa anh Vận.
 Anh Vận quê ở huyện Yên Thành (hình như ở xã Vĩnh Thành thì phải), Nghệ An. Tốt nghiệp Sĩ quan Lục quân, anh được bổ sung vào tiểu đoàn chúng tôi khi còn chiến đấu ở Lào, làm trung đội trưởng thay anh Lê Đôn Quí. Một thời gian sau, anh lên đại đội phó. Vào chiến trường Miền Nam, anh được bổ nhiệm đại đội trưởng. Tôi cùng chung sống và chiến đấu với anh từ khi còn ở Đại đội 2. Anh là người cương trực, chân thành, chiến đấu dũng cảm lại được học hành cơ bản, nên luôn được cấp trên  tin tưởng và anh em trong đơn vị quí trọng.
Anh Lê Hồng Hải, nhập ngũ tháng 4 năm 1963, quê ở xã Quảng Phúc, huyện Quảng Trạch. Tỉnh Quảng Bình. Gia đình anh vốn theo đạo Thiên chúa. Bố anh là ông Lê Văn Hiến, được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang. Tôi quen thân anh Hải từ khi cả hai chúng tôi còn là liên lạc. Anh Hải làm liên lạc tiểu đoàn, còn tôi là liên lạc đại đội. Trong trận chiến đấu ngày 20 tháng 3 năm 1971 ở Cao điểm 550 của Chiến dịch Đường 9- Nam Lào, anh Hải làm Chính trị viên Tiểu đoàn 9 bộ binh, còn tôi làm Chính trị viên Đại đội 20 đặc công của trung đoàn. Kết thúc chiến tranh, anh Hải làm Chính ủy Trung đoàn 24 - Sư đoàn 304, được cấp trên cử đi học Khóa 1- Học viện Cao cấp. Ra trường, anh được bổ nhiệm làm Sư đoàn phó-Tham mưu trưởng, rồi Sư đoàn phó Chính trị Sư đoàn 304 - Quân đoàn 2.
 Tháng 8 năm 1978, khi tôi ở Khu tập thể gia đình quân nhân 1A, Hoàng Văn Thụ, Hà Nội. Lúc đang giặt giũ ở bể nước công cộng, thấy một người mang quân hàm Trung tá đến chơi nhà anh Vũ Cao, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 341 ở dãy bên cạnh nhìn thấy tôi chạy ra hô toáng lên:
- Ơ!  Đẩu, có phải Đẩu không?
Tôi ngạc nhiên nhìn lại, té ra là anh Trực –Hoàng Trung Trực quê ở xã Quảng Minh, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, trước đây cùng ở với tôi một trung đội. Anh Trực nói với tôi rằng, cùng Trung đoàn  ngày đó, có mấy người cùng ra học ở Học viện Cao cấp. Hôm Thứ 7 tới sẽ rủ nhau lên đây chơi.
Đến tối Thứ 7, sau khi đã cơm nước xong, tôi nghe có người gõ cửa, mở ra thì là Anh Hải. Chúng tôi ôm choàng lấy nhau, ngẹn ngào khóc như hai đứa trẻ.
 Anh Hải nói:
- Sợ Trực nhầm với người khác vì trong đơn vị mọi người nghe tin Đẩu hy sinh trên tuyến chuyển thương từ đầu năm 1971 rồi. Hôm nay lên đây, đề nghị mọi người đứng ngoài chờ, mình vào trước xem thử có đúng không.
Nói rồi, anh Hải gọi mọi người cùng vào nhà, chuyện trò ríu rít sau 7 năm trời gặp lại.

Sau khi bị thất bại ở Hồ Khê, Đá Bạc, lực lượng còn lại của địch rút về Đường 9. Hai ngày sau, từ khu vực tập kết, anh Trần dẫn chúng tôi gồm mấy anh đại đội trưởng và một số trung đội trưởng và mấy anh em trinh sát, liên lạc trở lại trận địa xem xét đối chiếu để rút kinh nghiệm. Cả một vùng bị bom đạn cày xới ngổn ngang, đồ dùng cả hai bên vứt lại bừa bãi, nhiều nơi lửa còn cháy âm ỉ. Ở giữa sườn đồi, nhiều xác lính Mỹ, cả da trắng và da đen, bị cháy queo, có thể trúng đạn B40 hoặc đạn ĐKZ, còn nằm vất vướng ở trận địa. Cách đó không xa, chúng tôi thấy mấy thi thể tử sỹ ta mà khi rút đơn vị chưa kịp đưa ra. Mặc dù đã bị biến dạng nhiều, nhưng trong số đó, tôi vẫn nhận ra một số anh, như anh Mai Ngọc Quyến, trung đội trưởng Trung đội 2, Đại đội 1 quê ở xã Văn Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình. Anh Quyến vốn là trinh sát tiểu đoàn, người cao, trắng, có chiếc răng khểnh. Chúng tôi tổ chức khâm liệm các anh vào võng rồi chuyển về an táng ở khu vực đã chuẩn bị.
Hoàn thành nhiệm vụ ở khu vực núi Hồ Khê - Đá Bạc, cả tiểu đoàn lui về  khu vực Bình độ 100, chuẩn bị cho trận chiến đấu tiếp theo. Dự kiến là sau khi bị thất bại, địch sẽ tiếp tục đưa quân lên với số lượng và qui mô lớn hơn, đánh sâu hơn vào vùng giải phóng của ta. Toàn tiểu đoàn tập trung củng cố lực lượng, bổ sung trang bị vũ khí, lương thực, hoàn thiện phương án tác chiến, xây dựng công sự trận địa,…Đài quan sát của tiểu đoàn đặt ở cao điểm 88, phía tây làng An Cát Khê, ngày đêm thường xuyên bám sát các động thái trong khu vực.
Ngày 20 tháng 5 năm 1967 là một ngày trọng đại trong cuộc đời tôi. 19 tuổi đời, hơn 2 năm tuổi quân, trải qua rèn luyện thử thách ở chiến trường, tôi vinh dự được kết nạp vào Đảng. Ngày đó, được vào Đảng là điều thiêng liêng, niềm tự hào đối với thế hệ trẻ chúng tôi.
Lúc 17 giờ, toàn thể chi bộ tiểu đoàn bộ tập trung ở một khúc suối cạn dưới chân Bình độ 100 để tổ chức lễ kết nạp Đảng viên mới. Hôm đó kết nạp hai người: tôi và Trần Công Thuận bạn thân của tôi, quê ở xã Thanh Cát, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, tiểu đội phó trinh sát. Trước khi buổi lễ bắt đầu, anh Phan Hà tiểu đoàn phó thông báo việc chốt chặn địch ở các hướng, dự kiến các tình huống có thể xảy ra và xác định các phương án xử lý. Tiếp đến phần tuyên bố lý do của anh Trần Văn Thuyết trung đội trưởng thông tin, chi ủy viên, cả chi bộ đứng dậy chào cờ, không hát Quốc tế ca, Lễ kết nạp bắt đầu. Anh Ngô Đình Nựu chính trị viên phó tiểu đoàn, Bí thư chi bộ, đọc vắn tắt lý lịch cùng đơn xin vào Đảng của tôi. Mời anh Phan Hà là người giới thiệu tôi vào đảng đứng dậy phát biểu. Anh nói  rất nghiêm túc, ngắn gọn, chân thành:
- Tôi, Phan Hà, phó bí thư chi bộ, tiểu đoàn phó, quê xã Diễn Kỷ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, là người giới thiệu đồng chí Nguyễn Mạnh Đẩu vào Đảng. Tôi xin bảo đảm về mọi mặt, đồng thời có trách nhiệm sẽ tiếp tục bồi dưỡng đồng chí Đẩu trở thành người Đảng viên chính thức.
Tiếp theo là anh Trần Ngọc Lợi, Bí thư Chi đoàn thanh niên đọc biên bản giới thiệu của chi đoàn. Cuối cùng là lời tuyên thệ của tôi. Trong giờ phút thiêng liêng, trước cờ Đảng, trước chi bộ, tôi nắm chặt tay, xúc động ngẹn ngào nói lên lời hứa quyết tâm tự đáy lòng mình.
Tiếp sau phần kết nạp tôi, là kết nạp anh Trần Công Thuận. Thủ tục vẫn như trước. Người giới thiệu anh Thuận vào Đảng là Anh Ngô Đình Nựu. Với chất giọng mộc mạc chân quê, anh Nựu nói:
- Tôi, Ngô Đình Nựu, một vợ ba con, quê xã Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, Bí thư chi bộ tiểu đoàn bộ, chính trị viên phó tiểu đoàn, là người giới thiệu đồng chí Trần Công Thuận vào Đảng,….
Buổi lễ kết nạp Đảng tại trận địa diễn ra khoảng 30 phút nhưng rất trọng thị, nghiêm túc, thực hiện đầy đủ mọi nguyên tắc thủ tục. Tôi cảm thấy thiêng liêng.
Trên đường về hầm, tôi hỏi anh Nựu:
- Này anh, có phải hôm đánh địch ở Hồ Khê, các anh nghĩ rằng, khi dẫn trung đội 1 của anh Hải xuất kích, em có khả năng hy sinh. Nên trước khi em lên đường, anh Đào chính trị viên tiểu đoàn đã tuyên bố em chính thức trở thành Đảng viên phải không anh? Mà hôm nay sao lại phải kết nạp lại? 
- Đúng đấy, trong giờ phút hiểm nguy mà quang vinh đó, vào sinh ra tử là chuyện khó tránh khỏi, bọn mình thống nhất là, tuyên bố trước để nếu có hy sinh, cậu cũng đã là người đảng viên Cộng sản đích thực. Nhưng hôm nay có điều kiện vẫn cứ tiến hành việc kết nạp cho đúng với nguyên tắc thủ tục. Nếu không, sau này khi xác định Đảng tịch, ngộ nhỡ có người không hiểu thực tế chiến trường, gây nghi ngại phức tạp ra, không cần thiết.
Anh Nựu vui vẻ trả lời .
Tôi nói nửa đùa, nửa thật:
- Như thế là, nếu hy sinh, em được vào Đảng trước 5 ngày so với em còn sống.
          Cả hai chúng tôi cùng cười.

Anh Phan Hà về tiểu đoàn chúng tôi từ tháng 5-1965 giữ chức Tham mưu phó tiểu đoàn rồi lên Tiểu đoàn phó. Sau khi anh Bùi Trần hy sinh, anh Hà được bổ nhiệm Tiểu đoàn trưởng. Quê anh cách quê tôi khoảng 30 km. Ở chiến trường ngoài tình đồng chí, anh còn coi tôi là đồng hương. Có điều gì tôi làm chưa tốt, anh thẳng thắn bày dạy đến nơi đến chốn. Anh sống chân thành, giản dị nhưng lại dí dỏm sâu sắc. Có lần ở hậu cứ tiểu đoàn tổ chức văn nghệ quần chúng, anh đăng ký một tiết mục. Mọi người tưởng anh đùa. Nhưng đến lúc anh lên hát bài con vỏi con voi, cái vòi đi trước, hai chân trước đi trước,… theo cách biểu diễn của nghệ sỹ Trần Hiếu.Với chất giọng nam trầm, với thể hình thấp đậm, da đen, đầu húi cua, tai to, mũi to và các động tác minh họa theo lời bài hát của anh vừa vui vừa ngồ ngộ làm cho chúng tôi được một trận cười no nê.
Trong đợt Tổng tấn công và nổi dậy Mùa Xuân 1968, anh Phan Hà là tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 7 đánh vào Huế. Trong suốt hơn 20 ngày dũng mạnh đánh chiếm, kiên cường bám trụ Thành nội Huế, Tiểu đoàn 7 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đầu tháng 3 năm 1968, anh Hà được bổ  nhiệm giữ chức Trung đoàn phó. Tháng 7 năm 1969, Đoàn cán bộ của Tiểu đoàn 9 đi địa  hình ở Cốc Muộn tây Thừa Thiên bị trúng bom tọa độ máy bay B57, thương vong gần hết. Hôm đó anh cùng đi nên đã hy sinh. Đang tập huấn ở Quân khu bộ Quân khu Trị Thiên Huế, nhận được tin, tôi đau xót vô cùng. Cùng hy sinh một lần với anh Phan Hà, còn có anh Nguyễn Đăng Loạt, tiểu đoàn trưởng, quê Quảng Văn, Quảng Trạch, Quảng Bình; Nguyễn Duy Hào, tiểu đoàn phó, quê Thọ Xuân , Thanh Hóa và mấy anh em nữa.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:29:25 PM
 Tôi biết anh Ngô Đình Nựu khi anh còn làm trung đội trưởng trung đội cối 82 ly thuộc Đại đội 4. Làm trung đội trưởng nhưng anh được tín nhiệm bầu vào  Đảng ủy tiểu đoàn. Thật là hiếm có. Thông thường thì Đảng ủy tiểu đoàn bao gồm: Cán bộ chủ trì trong Ban chỉ huy tiểu đoàn và các chính trị viên đại đội. Giữa năm 1965, anh lên chính trị viên phó rồi một thời gian ngắn sau được bổ nhiệm chính trị viên Đại đội 4. Đến khi đơn vị vào chiến đấu ở chiến trường Miền Nam, anh được bổ nhiệm giữ chức Chính trị phó tiểu đoàn.
Xuất thân từ một gia đình nghèo ở một vùng quê cũng nghèo, nhập ngũ từ năm 1953, trải qua hoạt động nhiều ở chiến trường, anh Nựu mang trong mình phẩm chất mộc mạc, giản dị, cần cù, dũng cảm. Ở anh luôn luôn toát lên tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn. Đặc biệt là tình nghĩa với đồng đội và ý thức tổ chức kỷ luật, tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh cấp trên. Năm 1973, anh giữ chức Chính ủy trung đoàn được cử ra tập huấn ở Bộ, nghe tin tôi xây dựng gia đình, anh đến chúc mừng. Năm 1988, anh Nựu nghỉ hưu. Tháng 8 năm 1992, khi Cục Chính sách - Tổng cục Chính trị tập huấn ở Đồ Sơn, tôi gặp anh Quyết, trưởng ban chính sách tỉnh đội Quảng Bình, người cùng làng với anh Nựu. Biết tin anh ốm nặng, tôi nhờ Quyết chuyển hộ thư thăm hỏi và một khoản tiền nhỏ để anh thêm vào mua thuốc uống. Cuối năm đó, Quyết kể với tôi rằng, khi đọc thư và cầm mấy trăm bạc tôi gửi, anh Nựu đã khóc. Hơn một tháng sau thì anh từ trần ở quê.

                                                      
 Ngày 12 tháng 6 năm 1967, Tiểu đoàn 7 chúng tôi đánh nhau với quân Mỹ một trận quyết liệt ở chân Bình độ 100. Đến 9 giờ tối, xét thấy sức chiến đấu của tiểu đoàn đã bị tiêu hao sau hơn một tháng hoạt động, cấp trên lệnh cho tiểu đoàn rút về phía sau củng cố. Khi tổ chức cho toàn đợn vị rút ra theo thế cuốn chiếu, đề phòng quân địch đánh tập hậu, tiểu đoàn giao cho Trung đội 2 Đại đội 3 do anh Đinh Xuân Bài làm trung đội trưởng ở lại bám trụ trận địa, rút ra sau cùng. Cả tiểu đoàn hành quân độ hơn một tiếng đồng hồ, khi đã qua suối La La, Đồi Không Tên được khoảng bốn cây số, anh Trần  giao tôi trở lại trận địa dẫn trung đội anh Bài rút ra.
Giữa đêm tối mịt mùng, phía trên đồi là quân Mỹ, với khẩu AK trong tay, đạn đã lên nòng, hai quả lựu đạn mỏ vịt dắt lưng, một mình tôi quay trở lại trận địa. Từ khi đơn vị chưa vào cho đến suốt thời gian hoạt động, chúng tôi đã có nhiều lần đi  trinh sát, nên tôi nắm rất chắc địa hình ở đây. Bám theo đường cũ, từng chặng một tôi quan sát nghe ngóng động tĩnh, rồi lao đi thật nhanh. Cứ thế, gần một giờ sau tôi đã vào trận địa của trung đội anh Bài. Trên đường đi tôi sợ gặp địch đã đành, nhưng khi gần sát tới trận địa ta tôi lại sợ anh em tưởng nhầm là thám báo địch mò vào mà bắn thì nguy hơn. Bởi thế, tôi chọn cách là bò vào như đi trinh sát đồn địch để tiếp cận vào ngay hầm anh Bài rồi nhảy tót vào. Trong trường hợp đang tiếp cận mà anh em phát hiện được nổ súng trước, bị trúng ngay loạt đạn đầu thì đành chịu. Còn nếu chưa trúng thì tôi sẽ dựa vào một vật che chắn rồi hô toáng lên, chắc chắn anh em sẽ nhận ra.
Theo kinh nghiệm, tôi cho rẳng, vào ban đêm nói chung là bắn trượt, trừ phi phát hiện trước từ xa ngắm thật kỹ. May quá, tôi vào được hầm anh Bài mà không ai biết. Khi nhận ra, anh Bài vừa dang tay đón tôi vừa nói:
- Trời ơi! Đẩu hở em!
Tôi nói nhanh:
- Anh ơi, cả Tiểu đoàn đã rút về phía sau rồi. Anh Trần nói, anh cho toàn thể trung đội rút ra theo em.
 Đến rạng sáng thì chúng tôi về tới hậu cứ tiểu đoàn. Đang chợp mắt, nghe tin tôi về, anh Trần nhảy phắt dậy ôm choàng lấy tôi như người cha ôm lấy con trai từ nơi hiểm nguy trở về.
Kết thúc đợt chiến đấu ở khu vực núi Hồ Khê, Đá Bạc, khi bình xét khen thưởng, tôi được đơn vị đề nghị trên tặng thưởng Huân chương Chiến công Giải phóng Hạng Ba. Ngày đó, việc bình xét khen thưởng chặt chẽ, thậm chí khắt khe nữa.
Sau hơn một tháng củng cố, tiểu đoàn trở lại hoạt động ở làng An Cát Khê và làng Trung An thuộc huyện Gio Linh. Lúc này, các anh tiểu đoàn điều tôi sang làm tiểu đội trưởng trinh sát thay anh Sơn đi làm trung đội trưởng bộ binh ở Đại đội 1. Trước khi đơn vị vào xây dựng công sự, trinh sát chúng tôi đi nắm địch và nghiên cứu địa hình. Đây là vùng sát đồng bằng, cách Đường 1 không xa. Là vùng giáp ranh giữa ta và địch, nhân dân đã sơ tán hết. Trong các khu vườn chè, tiêu và rất nhiều cây ăn quả rậm rạp, đã lâu không có người chăm bón, thu hoạch. Có nhiều quả mít chín thơm lừng, nhiều buồng chuối chín rục, chúng tôi mang về ăn. Có một lần, tôi đang cắt một buồng chuối, thì phát hiện ra một tử sĩ của ta nằm bên cạnh một gốc mít. Phần thịt đã tiêu hết, chỉ còn một bộ xương khô trong bộ quân phục vải Tô Châu. Bên cạnh là một khẩu AK đã hoen rỉ. Cầm khẩu súng lên thấy băng đạn vẫn còn, khóa súng vẫn mở, tôi tháo băng đạn, kéo khóa nòng thì viên đạn văng ra. Chứng tỏ, lúc hy sinh người chiến sĩ vẫn trong tư thế nằm bắn. Mấy anh em đào huyệt an táng người liệt sỹ vô danh vào giữa vườn chè của dân. Trước đó, ở khu vực này, tháng 7 năm 1966, Trung đoàn 2, Sư đoàn 324 đã đánh nhau rất quyết liệt với quân Mỹ. Cạnh nhà thờ Trung An vẫn còn một chiếc trực thăng H34 bị bắn cháy khi đổ quân, nằm chỏng chơ.
Ngoài việc nghiên cứu địa hình tại khu vực, chúng tôi còn phải đi trinh sát nắm tình hình địch trong phạm vi xa hơn. Sang tận các làng Nam Đông, Nam Dương, dọc theo trục Đường 74, ra gần sông Hiền Lương. Ở các vùng ven đó, để bảo vệ cứ điểm Cồn Tiên và Dốc Miếu, cả quân Mỹ và quân ngụy tăng cường hoạt động. Cùng với chủ lực địch, lực lượng bảo an dân vệ cũng ngày đêm bố phòng canh gác.
Tôi nhớ có lần tôi và hai người nữa là Thiên và Hồi vào làng Nam Dương nắm địch. Đã khuya, trời sáng trăng, chúng tôi đang tiếp cận vào một cái chốt của dân vệ, thì nghe trong đó nói vọng ra the thé một giọng con gái còn trẻ:
- Chà!  Trăng sáng quá hỉ. Khẩu súng mới toanh thế ni. Bây chừ mà gặp mấy thằng Việt Cộng bắn thử, nghe ngon dữ hè.
Tôi biết, để lấy tinh thần cho nhau, chúng chỉ nói bâng quơ, tình cờ chúng tôi nghe được. Nhưng điều đó chứng tỏ sự đối kháng một mất một còn trong chiến tranh là không thể mơ hồ. Khi đã lùi ra ngoài cánh đồng, Thiên còn tức tối nói với tôi:
        - Tiên sư nó, hôm nay không vì đi trinh sát, ta vào đó xả cho bọn chúng một trận nên thân.

Ngày 10 tháng 8 năm 1967, tiểu đoàn chúng tôi chặn đánh quân địch hành quân từ Nam Đông ra khu vực Miếu Bái Sơn. Lần này chúng dùng xe tăng làm mũi đột kích chủ yếu. Đại đội 2 đánh chặn ở khu vực làng Trung An, Đại đội 3 đánh chặn địch ở phía đông làng An Cát Khê. Khi địch đưa 2 xe tăng lên trước, Trung đội 2 Đại đội 2 dùng B40 bắn cháy tại chỗ 1 xe tăng. Chiếc còn lại dùng pháo trên xe bắn phá dữ dội. Đặc biệt là, lần này trên xe tăng có trang bị súng phun lửa. Từng quầng lửa lớn nóng rực, phun cháy cả mấy bụi tre và cả vườn chè cháy trụi. Lần đầu tiếp xúc với vũ khí mới của Mỹ, bộ đội ta có người cũng hoảng. Anh Trần hét lên qua điện thoại:
- Các anh em đừng sợ, cứ bám chắc vào công sự, nó phun kệ nó, chờ nó tới gần dùng B40 tiêu diệt.
         Anh dặn thêm:
- Cử ra hai người thoát ra khỏi công sự, một AK yểm trợ và một B40 cơ động vòng ra ngoài đến gần bắn vào bên sườn xe tăng.
Mấy phút sau, một tiếng nổ rất to, một cột khói bốc lên cao, chiếc xe tăng còn lại bị trúng đạn B40, đạn trong xe cũng đã nổ theo. Quân địch lùi về phía sau. Máy bay các loại và pháo địch dồn dập bắn vào trận địa tiểu đoàn. Đang ngồi cảnh giới trên miệng hầm chỉ huy, Nguyễn Văn Tự chiến sĩ liên lạc bị một quả pháo nổ rất gần mảnh pháo cắt cụt cẳng chân trái, máu ra xối xả. Chúng tôi ôm Tự đưa xuống hầm, nhanh chóng băng ga rô cầm máu. Tự quê ở thôn Tự Nhiên xã Hoằng Trung, huyện Hoằng Hóa tỉnh Thanh Hóa, bổ sung vào đơn vị từ tháng 6 năm 1966.
Chiều hôm đó, mấy lần liền, với chiến thuật dùng phi pháo bắn phá dọn đường, dọn bãi, sau đó bộ binh Mỹ tiếp tục tấn công vào trận địa ta. Mặc dù bị thương vong mất một số, nhưng cả tiểu đoàn chúng tôi vẫn kiên cường, đánh bật nhiều đợt tấn công của quân Mỹ. Đến chiều tối, tôi gặp anh Cao Sĩ Tính và mấy cán bộ của đại đội đặc công trung đoàn. Vốn là tiểu đội phó của tôi hồi ở Lào, bây giờ anh Tính đã là mũi trưởng đặc công. Sau khi hỏi tôi về địa hình, địch tình, anh Tính nói vói tôi là, trung đoàn giao cho đại đội đặc công ra đây nghiên cứu để tối nay tổ chức tập kích quân địch đang dừng chân ở phía trước Tiểu đoàn 7.
 Đến 8 giờ tối, trung đoàn lệnh cho Tiểu đoàn 7 chúng tôi bàn giao trận địa cho đại đội đặc công, di chuyển toàn bộ đội hình về khu vực Miếu Bái Sơn, ở chân cao điểm 88. Nơi đó công sự trận địa đã có sẵn, chỉ cần gia cố thêm, cả tiểu đoàn gấp rút chuẩn bị đánh địch trong ngày mai.
Đường từ Trung An, An Cát Khê về cao điểm 88 bị pháo địch bắn phá dữ dội. Để tránh thương vong do phi pháo địch bắn chặn đường, tôi đề nghị với anh Trần cho tiểu đội trinh sát dẫn bộ đội hành quân cắt góc phương vị về hướng bắc chừng 2 tiếng đồng hồ rồi mới quặt về hướng tây vào trận địa ở cao điểm 88 trước khi trời sáng. Anh Trần đồng ý. Mở bản đồ ra, đặt địa bàn, chúng tôi lấy góc phương vị và bắt đầu hành quân. Các tử sĩ hy sinh trong ngày đều đã được an táng vào khu vực bố trí sẵn ở làng Trung An. Còn thương binh nặng thì cáng đi cùng bộ đội. Chúng tôi hành quân trong đêm tối mịt mùng. Bỏ lại phía sau làng Trung An và làng An Cát Khê nghi ngút khói lửa dưới ánh đèn dù pháo sáng máy bay Mỹ thả. Phía xa trên khu giáp ranh, pháo địch vẫn bắn liên hồi. Khoảng 5 giờ sáng chúng tôi về đến trận địa mới. Mọi người bắt tay vào củng cố công sự, nấu cơm ăn.
Khoảng hơn 10 giờ, tôi thấy anh Ma Vĩnh Lan trung đoàn trưởng, anh Nguyễn Văn Cảnh chính ủy trung đoàn, anh Nguyễn Hoán tham mưu trưởng trung đoàn đều có mặt ở Sở chi huy tiểu đoàn. Hầm chỉ huy sở khá rộng. Ngồi trong hầm có các anh Bùi Trần, Nguyễn Văn Đào, ba anh thủ trưởng trung đoàn. Anh Trần ngồi ở chính giữa  ngoảnh mặt ra cửa hầm. Cạnh đó là anh Đào chính trị viên. Các anh khác ngồi hai bên. Còn tôi ngồi cảnh giới ở cửa hầm. Sau khi nghe anh Trần báo cáo, anh Lan mở bản đồ, cầm bút chì vừa nói vừa chỉ. Mắt quan sát bên ngoài nhưng tai tôi vẫn nghe ngóng bên trong. Chẳng phải tò mò mà vì công việc đòi hỏi biết được các hoạt động có liên quan. Anh Lan nói:
- Tối qua đại đội đặc công tập kích địch co cụm ở Trung An, đạt kết quả tốt. Rạng sáng nay, sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ, đại đội đặc công đã rút về phía sau. Đồng thời, sáng nay, ĐKB (hỏa tiễn) của Mặt trận sẽ tập kích địch ở Nam Đông , Nam  Dương, Trung An. Cấp trên chỉ thị đưa Tiểu đoàn 7 về đây để tiếp tục đánh chặn địch vào hôm nay. Yêu cầu tiểu đoàn cho các đơn vị vào trạng thái chiến đấu ngay.
Chấp hành chỉ thị của anh Lan, anh Trần điện cho các đại đội tăng cường cảnh giới, nắm địch, chuẩn bị chiến đấu. Khoảng hơn một giờ chiều, đài quan sát báo về, địch bắt đầu chuyển quân lên Miếu Bái Sơn. Anh Trần điện cho anh Sơn, lúc này đang là đại đội phó, quyền đại đội trưởng Đại đội 1, chú ý theo dõi địch sẵn sàng nổ súng. Chừng nửa tiếng sau, súng nổ dồn dập ở hướng Đại đội 1. Điện thoại reo, anh Trần nghe anh Sơn báo cáo tình hình. Anh thông báo lại với cả hầm cùng nghe là, Đại đội 1 đã dùng mìn định hướng và các loại hỏa lực sát thương, chặn đứng và đánh lùi địch xuống chân cao điểm. Anh Trần chỉ thị đại đội tranh thủ củng cố lại công sự, tăng cường quan sát, không để bị bất ngờ.
Mấy phút sau, một tốp máy bay Mỹ oanh tạc ngay vào khu vực Sở chi huy tiểu đoàn. Nhiều quả bom nổ rất gần. Có cả bom đào và bom sát thương. Bom đào nghe tiếng nổ trầm đục không to, chỉ thấy đánh ục một cái, rồi cả căn hầm lắc lư, chao đảo, xiêu vẹo. Bom sát thương mảnh bay rào rào trên mặt đất, cây cối bị phạt đổ ngổn ngang.
Anh Trần nhắc:
- Sau mỗi loạt bom, các bộ phận nhớ liên lạc với nhau ngay, nhỡ có hầm nào trúng bom bị sập, còn kịp thời đào bới, cứu anh em khỏi bị chết ngạt.
Khoảng nửa tiếng sau, Anh Trần quay lại nói với tôi:
          - Thôi, Đẩu về bên hầm tranh thủ nghỉ đi một chút. Mấy đêm thức trắng rồi, còn để sức tối nay nữa. Cho cậu nào sang trực thay cũng được.
          Nhảy ra khỏi hầm chỉ huy, chạy về hầm trinh sát cạnh đó, tôi gọi Thiên sang thay. Khi Thiên đi, tôi dặn:
- Chú ý thường xuyên cảnh giới và giữ liên lạc với các bộ phận.
 Nguyễn Ngọc Thiên chiến sĩ trinh sát, đẹp trai, khỏe mạnh, hơn tôi hai tuổi, quê ở làng Khương Hà, xã Hưng Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
 Máy bay oanh tạc chừng 10 phút, thì pháo địch bắn tới tấp vào khu vực Đại đội 1 và Sở chỉ huy tiểu đoàn. Thực ra, ở trận địa bị pháo bắn còn căng thẳng hơn bị máy bay oanh tạc. Liên tục, dai dẳng cứ như người ta đánh đáo vậy. Chẳng biết có quả nào trúng hầm mình không. Thôi thì phải chấp nhận sự may rủi.
Đang miên man, thì có một quả pháo nổ ngay cạnh hầm tôi, phía trước hầm chỉ huy. Chợt nghe tiếng kêu từ phía hầm chỉ huy, tôi nhảy ra khỏi hầm, giữa mịt mù khói đạn cay xè, khét lẹt. Tới cửa hầm, tôi thấy xác Thiên nằm sõng soài, đầu vỡ toác, máu lênh láng. Lao vào trong hầm, tôi thấy anh Trần đã gục xuống tấm bản đồ. Ngực, lưng anh và cả tấm bản đồ ướt đẫm máu. Cạnh đó,  anh Lan, anh Cảnh, anh Đào đang lả đi vì bị sức ép, bị ngạt.
Quả đạn pháo nổ sát miệng hầm, một mảnh pháo cắt ngang phần nửa trên đầu Thiên xuyên thẳng tới ngực anh Trần, chắc trúng tim. Tôi chạy sang báo cáo với anh Phan Hà, Tiểu đoàn phó và anh Ngô Đình Nựu, Chính trị viên phó ở một hầm cách đó chừng 20 mét. Hai anh chạy sang. Anh Hà yêu cầu chúng tôi lấy võng bọc thi thể anh Trần và Thiên lại để dưới miệng hầm, rồi anh ngồi vào vị trí chỉ huy.
Hết đợt pháo kích, quân địch tấn công vào toàn bộ trận địa tiểu đoàn. Anh Hà chỉ thị, bằng mọi giá, các đại đội phải tập trung giữ bằng được trận địa. Mười phút sau, Đại đội 1 báo cáo, anh Sơn đại đội phó và anh Túng trung đội trưởng bị hy sinh khi chỉ huy bộ đội phản kích ở phía nam Cao điểm 88. Ở hướng Đại đội 2 và hướng Đại đội 3 đều chặn đứng, đánh lui được nhiều đợt tấn công của quân địch, giữ vững trận địa. Nhưng, thực tế là, qua mấy ngày chiến đấu, bộ đội ta thương vong với một số lượng tương đối lớn. Trong số bị thương vong, một phần bị phi pháo và nhiều hơn là trong tác chiến với bộ binh địch. Anh Sơn quê ở làng Tượng Sơn, xã Quảng Long, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Anh Túng quê ở gần Hoàn Lão, xã Trung Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:29:56 PM
Đến 8 giờ tối, sau khi trao đổi với anh Cảnh chính ủy, Anh  Lan trung đoàn trưởng lệnh cho Tiểu đoàn 7 tổ chức lui quân về phía tây. Sau khi an táng Thiên tại chỗ, chúng tôi dùng cáng đưa thi thể anh Trần cùng hành quân với đơn vị. Khi đã qua suối La La, chúng tôi an táng anh Trần ở chân Đồi Không Tên.
Trong chiến đấu, tôi đã nhiều lần vĩnh biệt đồng chí, đồng đội, nhưng việc anh Trần hy sinh là điều đau xót nhất đối với tôi. Anh vừa là thủ trưởng trực tiếp, vừa như người anh vô cùng thân thiết trong mọi hoàn cảnh, đặc biệt là những lúc hiểm nguy. Tôi được nhiều lần đi trinh sát nắm địch cùng anh Trần. Có lần khi đi trinh sát ở Đường 9 mạn gần Cam Lộ,  tối dừng lại ở chân Cao điềm 35 cạnh làng Tân Kim, tôi và anh ngủ trong một cái hầm cũ. Đây là vùng địch kiểm soát, thám báo Mỹ vẫn thường xuyên lùng sục. Trước khi đi nằm, hai anh em kéo cành cây khô làm hàng rào chắn, ít nhất là tạo ra tiếng động khi có người đi qua. Chưa yên tâm, đến khuya anh nói tôi dậy lấy 4 quả lựu đạn cài 4 phía, cách hầm chừng hơn chục mét.
Cài lựu đạn giống như cài mìn. Khi cài không ngại. Ngại nhất là khi gỡ. Chỉ cần sơ suất một chút là chết người. Sáng tinh sương, anh bảo tôi dậy cùng gỡ lựu đạn để đi tiếp. Tôi bảo anh cứ ngồi trong hầm, nếu có sự cố gì, mình em chịu. Trong sinh hoạt, anh luôn coi tôi như đứa em út.
Quê anh ở xóm Sỏi, xã Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Trên đường hành quân vào B, anh đưa tôi tạt về nhà. Ngày đó bà cụ Trực mẹ anh vẫn còn. Chị Thuyết vợ anh là cán bộ phụ nữ tỉnh Quảng Bình. Anh chị có hai con. Cháu Yên sinh sau khi hòa bình lập lại ở Miền Bắc. Cháu Chiến là kết quả của lần anh tạt về tranh thủ trước khi đi chiến đấu ở Lào, năm 1965. Cuối năm 1967, Trung đoàn cho tôi và anh Ngô Trí Thướng, Trưởng tiểu ban quân lực chuyển di vật anh về gia đình. Chị Thuyết đã ôm lấy tôi khóc gào thảm thiết. Lúc đó cháu Yên, cháu Chiến còn nhỏ, ngơ ngác chưa biết gì.

 28 năm sau, năm 1995, tôi vào công tác ở Đồng Hới. Khi đang ngồi làm việc với anh Cao Lương Bằng, Thiếu tướng, Tỉnh đội trưởng Quảng Bình, thấy một người đi ngang trước cửa phòng. Nhìn thoáng qua tôi thấy rất quen mà không nhớ nổi là ai. Tôi liền hỏi anh Bằng, đó là ai. Anh Bằng nói là lái xe của anh ấy. Tôi nghĩ chắc mình nhầm với ai đó. Thiên hạ thiếu gì người giống nhau.
Trưa ăn cơm xong, như có điều linh tính mách bảo, tôi  tìm người lái xe hỏi:
- Này, cậu quê ở đâu?
Cậu lái xe trả lời:
- Quê em ở huyện Quảng Ninh, xã Vạn Ninh.
Tôi hỏi dồn:
- Có biết nhà ông Bùi Trần con cụ Trực không?
Cậu ta giật mình trả lời:
- Ôi! Em là con ông Trần đây, sao Thủ trưởng lại biết nhà em.
Tôi thảng thốt:
- Ơ! cháu là Chiến à?! Trời ơi, hèn chi cháu giống bố thế. Gần 30 năm trước chú là liên lạc của bố cháu. Ngày đó, bố cháu trạc tuổi cháu bây giờ thôi.
Mọi người đều quay lại nhìn chúng tôi. Anh Bằng nói:
- Anh Đẩu nói đúng đấy. Chiến giống bố nó lắm. Tôi nghe bà Thuyết, mẹ Chiến nói lại, có lần một bà cô đến nhà chơi đã mắng Chiến, cớ làm sao mà cháu dám đặt ảnh của mình lên bàn thờ ông bà tổ tiên vậy?  Chiến phải nói ngay rằng, cô ơi, đó là di ảnh của bố cháu đấy chứ. Bà cô ngẩn người nhìn lại, chà, bố con cháu giống nhau như hai giọt nước.
Chiều hôm đó, Chiến đưa tôi về thăm nhà. Bà cụ Trực đã mất, chị Thuyết đã già đi nhiều, nhưng vẫn nhận ra tôi sau nhiều năm xa cách.

 Tháng 10 năm 1967, sau đợt hoạt động dài ngày ở chiến trường Bắc Đường 9, cấp trên điều Trung đoàn chúng tôi ra Miền Bắc củng cố. Bắt đầu xuất phát từ một khu rừng ở mạn  phía tây bắc huyện Gio Linh, Tiểu đoàn 7 hành quân vượt qua Bến Tắt – gần Nghĩa trang Liệt sỹ Quốc gia Trường Sơn bây giờ. Mấy ngày sau toàn  đơn vị về đóng quân ở khu rừng già phía tây huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình, cách Khương Hà khoảng 5 cây số. Qua một con sông hình như sông Son thì phải. Tiểu đoàn 7 đóng quân cách Trung đoàn bộ hơn 3 cây số. Tiếng là về hậu phương củng cố nhưng cả đơn vị vẫn đóng quân trong các khu rừng già, cách động Phong Nha không xa. Cả tiểu đoàn được bổ sung quân số, trang bị, xây dựng thao trường huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật. Ban chỉ huy Tiểu đoàn lúc này có sự thay đổi. Anh Phan Hà được bổ nhiệm làm tiểu đoàn tưởng. Anh Nguyễn Văn Đào được cấp trên điều đi đơn vị khác. Sau này tôi mới biết là anh Đào vào Tây Nguyên. Anh Ngô Đình Nựu làm chính trị viên tiểu đoàn. Anh Tăng Văn Miêu quê ở Thái Thụy, Thái Bình, đại đội trưởng Đại đội 4 được bổ nhiệm làm tiểu đoàn phó. Anh Nguyễn Thái quê ở Nho Quan, Ninh Bình, chính trị viên Đại đội 3 được bổ nhiệm làm chính  trị viên phó tiểu đoàn. Thời kỳ này máy bay Mỹ thường xuyên đánh phá ác liệt trên trục đường 15 từ Hoàn Lão lên phà Xuân Sơn, sang tận Lào. Có lần tiểu đoàn giao cho các đại đội cử người ra Khương Hà nhận lương thực, bị bom bi Mỹ rải dọc đường và bến sông hy sinh mất mấy anh em.
Ngày 15 tháng 12 năm 1967, anh Nguyễn Hoán tham mưu trưởng trung đoàn về làm việc với Tiểu đoàn 7. Gặp tôi, anh nói:
- Sắp tới vào Miền Nam sẽ đánh lớn, mình về trung đoàn bàn với các anh sẽ điều cậu lên Ban Tham mưu trung đoàn.
Tôi chẳng biết nói gì. Mấy ngày sau có quyết định điều tôi lên trung đoàn làm trợ lý trong Tiểu ban quân lực. Tôi chia tay với anh em trong tiểu đội liên lạc, tiểu đội trinh sát là hai nơi tôi đã gắn bó trong suốt mấy năm ở chiến tường. Các anh: Phan Hà, Ngô Đình Nựu, Nguyễn Thái, Tăng Văn Miêu trong Ban chỉ huy Tiểu đoàn dặn tôi như vậy là em được cấp trên tin tưởng giao nhiệm vụ mới. Em phải nỗ lực phấn đấu để xứng danh là lính Tiểu đoàn 929, xứng đáng với lòng mong mỏi của các anh. Chia tay các anh giống như chia tay những người ruột thịt, ngày ra đi tôi đã khóc.
Sau này tôi được biết, khi ở chiến trường ra, tại buổi làm việc với Tiểu ban cán bộ Trung đoàn, khi nói đến tôi, trong Ban chỉ huy tiểu đoàn có hai ý kiến khác nhau. Người thì đề nghị cho tôi đi học Trường Sĩ quan Lục quân vì có chỉ tiêu của trên mà tôi lại cũng đủ tiêu chuẩn. Người thì đề nghị giữ tôi lại để bồi dưỡng thành cán bộ của đơn vị, như thế nhanh hơn. Khi biết được tình hình đó, anh Hoán đòi đưa lên cơ quan Trung đoàn.
Anh Nguyễn Hoán là Tiểu đoàn trưởng của chúng tôi hồi còn chiến đấu ở Lào. Anh vốn xuất thân con nhà giàu, được học hành đầy đủ từ nhỏ. Năm 1945 vào bộ đội, năm 1946 vì đã có bằng thành chung ( tốt nghiệp phổ thông trung học ) anh được chọn đi học Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn. Cuối cuộc kháng chiến chống Pháp anh giữ chức tiểu đoàn trưởng rồi tham mưu phó trung đoàn. Trong đợt phong quân hàm đầu tiên, năm 1958, anh được trao cấp bậc đại úy. Thuở đó như vậy là to rồi. Nhưng vì là con địa chủ, có thể do tư tưởng thành phần chủ nghĩa của một số người chi phối công tác cán bộ trong một thời kỳ dài, đường công danh của anh không suôn sẻ. Từ tham mưu phó trung đoàn anh lại trở lại giữ chức tiểu đoàn trưởng.
Anh Hoán là con người vừa có tài, vừa có tâm. Trong chỉ huy chiến đấu anh là người mưu lược, dũng cảm, quyết đoán. Còn trong cư xử với mọi người, từ cấp dưới đến cấp trên, anh là người chân thành, lịch lãm. Anh sống khiêm nhường. Đó là sự khiêm nhường có ý thức của người thường xuyên tự ti, mặc cảm, cố ý rèn luyện mình.
 Có lần hành quân ở Đèo 1001, tôi thấy anh dừng lại vác hộ khẩu trung liên của một chiến sĩ bị lên cơn sốt. Chúng tôi thật sự cảm phục một trung đoàn phó lưng đeo súng ngắn K59, vai vác khẩu trung liên, mặt đỏ au, mồ hôi nhễ nhại,  vững bước đi giữa đoàn quân ra trận. Hành động đó có ý nghĩa hơn cả những lời thuyết giáo dài dòng, sáo mòn, trống rỗng. Nhiều khi vào các khu vực quân Mỹ mới rút, đồ hộp, dụng cụ và giấy tờ vứt lại ngổn ngang, chúng tôi mù tịt chẳng biết gì, anh Hoán cầm đọc từng loại bằng tiếng Anh và bày cho chúng tôi, nhất là khai thác khoản đồ hộp của Mỹ.
Dáng người anh  Hoán cao to, quắc thước, râu quai nón, đôi mắt sáng, đầu húi cua. Trình độ công tác tham mưu của anh rất giỏi. Cách ra chỉ thị bằng khẩu lệnh hoặc viết điện của anh luôn luôn chính xác, ngắn gọn, dễ hiểu. Theo anh, sự chính xác, ngắn gọn và dễ hiểu trong mệnh lệnh của cấp trên là điều kiện thuận lợi đầu tiên cho cấp dưới hoàn thành nhiệm vụ. Cùng sống với anh, cả trong chiến đấu cũng như trong sinh hoạt, chúng tôi được học nhiều điều.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:30:16 PM
 Ngày 25 tháng 12 năm 1967, tôi có mặt nhận nhiệm vụ ở Ban Tham mưu trung đoàn. Ban Tham mưu Trung đoàn có Tham mưu trưởng và các tiểu ban: Tác chiến, Trinh sát, Thông tin, Công binh, Pháo binh, Quân lực, Cơ yếu. Anh Hoán  tham mưu trưởng dẫn tôi sang giao cho anh Ngô Trí Thướng trưởng Tiểu ban Quân lực. Tiểu ban Quân lực lúc đó có 5 người. Anh Thướng trưởng tiểu ban và 4 trợ lý: anh Nguyễn Thanh Chương quê Cẩm Xuyên – Hà Tĩnh, trợ lý quân số; anh Lê Văn Xảo quê Thọ Xuân- Thanh Hóa, trợ lý trang bị; anh  Phí Văn Mao quê Lập Thạch – Phú Thọ, trợ lý chính sách. Anh Thướng biết tôi từ trước. Các anh khác tôi mới gặp lần đầu. Anh Thướng giao cho tôi trước mắt cứ tìm hiểu công việc chung của cơ quan, rồi sẽ phân công công việc cụ thể sau.
Cơ quan tham mưu lúc bấy giờ toàn những người hơn tuổi tôi. Các anh lãnh đạo đều là bộ đội từ hồi chống Pháp. Các anh trợ lý cũng đều là lớp trên tôi. Cả cơ quan chỉ có Trương Tấn Phượng hơn tôi hai tuổi, mới được điều từ Đại đội 12 ly 7 lên làm trợ lý bảo mật. Hai “tân binh” trở thành đầu sai của cơ quan trong các công việc đòi hỏi đến sức khỏe. Phượng trầm tĩnh, cẩn thận, chắc chắn bù lại tôi tháo vát, nhanh nhẹn, xông xáo. Bởi thế, tôi và Phượng thân nhau ngay từ những ngày đầu gặp gỡ. Phượng quê ở làng Quảng Cư, xã Xuân Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, đang học dở lớp 9 năm 1965 thì đi bộ đội.
Tôi lên Trung đoàn được 3 ngày thì cả đơn vị bắt đầu hành quân đi chiến đấu. Lần này, Trung đoàn không trở lại chiến trường Đường 9 mà hành quân vào sâu hơn. Lệnh của trên là cả Trung đoàn phải hành quân cấp tốc. Tôi nhớ hôm vượt qua phà Long Đại. Ở đây có qui định các đơn vị chỉ được qua phà lúc trời đã tối hẳn, đề phòng lộ bến máy bay Mỹ phát hiện oanh tạc. Đơn vị đi đầu của Trung đoàn đến bến lúc 4 giờ chiều. Anh trưởng bến phà, nói giọng Khu 5 rất gay gắt, dứt khoát không cho qua. Anh ấy nói:
- Việc qua phà ban ngày là vi phạm kỷ luật chiến trường. Ai muốn qua, phải bước qua xác tôi.
Căng quá. Thậm chí đưa cả điện khẩn tối mật của cấp cao nhất cho anh ấy đọc và nói thế nào cũng không được. Các anh chỉ huy Trung đoàn đang lúng túng chưa biết tính sao, thì  anh Lê Văn Dánh, Phó Chính ủy Trung đoàn  nói:
- Lúc này mệnh lệnh hành quân chiến đấu là trên hết, chậm trễ thì không hoàn thành nhiệm vụ. Thuyết phục không được, phải cưỡng bức.
Nói rồi, Anh Dánh giao cho mấy anh em trinh sát giữ chặt anh Trưởng bến phà lại. Chờ đến khi cả Trung đoàn qua sông xong thì thả ra. Đó là cách làm lưỡng tiện. Trung đoàn chúng tôi kịp hành quân theo mệnh lệnh của trên. Mà chỉ huy bến phà cũng không vi phạm qui định.
 Cả trung đoàn vượt Đèo 1001, Dốc Chè. Sáng Mồng Một Tết Mậu Thân, khi vượt Sông Bồ đi về Hương Trà-Thừa Thiên, qua Đài Phát thanh được nghe Thơ Chúc tết của Bác Hồ:

”Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua
Thắng trận tin vui khắp nước nhà
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ
Tiến lên!Toàn thắng ắt về ta”.

Từng đoàn quân trên đường ra trận khí thế ngất trời. Chúng tôi mừng vô cùng. Bầu không khí rầm rập, rạo rực bao trùm cả đội hình hành quân. Lúc này hình như không còn giữ bí mật nữa. Cả đoàn quân đi náo nức, oai hùng. Mấy anh cán bộ mang đài bán dẫn mở hết cỡ. Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Phát thanh giải phóng liên tục đưa tin thắng trận ở thành phố Huế, Sài gòn và trên khắp chiến trường. Cả Miền Nam bắt đầu cuộc Tổng Tấn công và nổi dậy đồng loạt. Chúng tôi như bay, như nhảy trên đường hành quân. Trung đoàn 29 chúng tôi được giao nhiệm vụ vào tham gia chiến đấu ở Huế. Các trung đoàn lúc đó đều gọi là Đoàn (Quân khu Trị Thiên Huế có các Đoàn 4,5,6,8,9). Trung đoàn 29 đổi tên là Đoàn 8. ( Đến đầu năm 1969, khi vào đội hình của Sư đoàn 324 thì Đoàn 8 lại đổi là Trung đoàn 3).
Chiều tối Mồng Một Tết hành quân qua ngã ba Hương Trà, xuống Miếu Ông Ầm, các tiểu đoàn rẽ đi các hướng theo nhiệm vụ chiến đấu được giao. Tiểu đoàn 7 đánh vào Thành nội, chợ Đông Ba. Tiểu đoàn 9 đánh vào Cửa Chánh Tây, An Hòa. Tiểu đoàn 8 đánh ở ngoại thành Huế, vùng La Chữ, Quế Chữ. Ngày Mồng Hai Tết, các đơn vị bước vào tham chiến với cả quân Mỹ và quân Ngụy. Trời mưa phùn gió lạnh.
Tiểu ban Quân lực lúc này chia làm hai bộ phận. Anh Thướng, anh Xảo, anh Mao đi cùng Ban Tham mưu Trung đoàn. Anh Chương và tôi được bố trí ở Hương Trà có nhiệm vụ tiếp nhận quân và vũ khí đạn dược bổ sung đưa lên phía trước ; đồng thời thu dung thương binh, phân luồng đi chữa trị ở các Bệnh viện dã chiến.
Cả thời kỳ chiến đấu ở Huế, trung đoàn tôi được bổ sung  tám đợt tân binh. Ban Tham mưu Trung đoàn phân phối quân số bổ sung cho các đơn vị tùy thuộc vào hai yếu tố: Số lượng thương vong trong chiến đấu và nhiệm vụ được giao của từng đơn vị, nhất là các đơn vị đang trực tiếp chiến đấu. Có anh em bổ sung vào đơn vị lúc chập tối, chưa biết phiên hiệu đơn vị, thậm chí chưa biết mặt, biết tên thủ trưởng trực tiếp, cứ thế bước vào chiến đấu. Đến đêm có người hy sinh, có người bị thương, cán bộ cơ sở không nắm được cụ thể. Bộ đội chiến đấu bị thương ở các hướng đưa về phía sau cũng nhiều loại, nhiều kiểu. Thương binh nặng thì cáng lên viện ở phía sau xa hơn. Thương binh vừa và thương binh nhẹ thì bố trí đến các đội điều trị hoặc các viện dã chiến. Phần đông thương binh vừa và  thương binh nhẹ, trừ trường hợp bị thương vào chân, đều tự đi đến cơ sở điều trị.
Trong chiến đấu nhiều đồng chí có quyết tâm cao. Bị thương nặng coi như bị thương nhẹ. Bị thương nhẹ coi như không bị thương. Tiếp tục ở lại cùng chiến đấu với đơn vị. Nhưng cũng có trường hợp, tuy không nhiều, mượn cớ bị thương để lùi về phía sau. Có trường hợp rất cá biệt, dùng súng tự thương để rời khỏi chiến trường, thoái thác nhiệm vụ.
 Bằng thực tiễn đó, mấy chục năm sau, khi đã là Cục trưởng Cục Chính sách, tôi càng hiểu hơn, thông cảm hơn một tình hình là tại sao trong chiến đấu việc quản lý quân số hy sinh, bị thương của các đơn vị ở chiến trường khó khăn đến thế. Những tồn đọng về chính sách nhiều năm sau chiến tranh chưa giải quyết xong do nhiều nguyên nhân. Có nguyên nhân chủ quan do trách nhiệm và khả năng, nhưng có những nguyên nhân khách quan trong chiến đấu ở chiến trường là bất khả kháng.
Từ chỗ đóng quân trên đất Hương Trà, theo sự phân công của anh Thướng, tôi đến các đơn vị để nắm tình hình thực lực quân số, trang bị. Đến các đội điều trị, các viện dã chiến để nắm số lượng và danh sách quân nhân bị thương. Hồi đó, tôi được anh Thướng giao cho một tập giấy khống chỉ chứng nhận bị thương đã ký tên anh Nguyến Hoán tham mưu trưởng Trung đoàn và đóng dấu sẵn để kịp thời giải quyết cho những anh em khi bị thương rời đơn vị chưa được cấp. Giấy chứng nhận bị thương là căn cứ pháp lý để thực hiện chính sách. Giấy này dùng để phân biệt người bị thương trong chiến đấu với các trường hợp khác. Căn cứ vào bệnh án và lời khai của từng người, tôi điền vào giấy khống chỉ rồi trao tận tay cho anh em.
Những ngày đầu, ta bất ngờ tấn công, đánh chiếm hầu hết các mục tiêu quan trọng của Thành phố Huế. Địch bị thất bại nặng nề, chỉ còn trụ lại được ở cứ điểm Mang Cá. Nhưng sau đó chúng đã được tăng viện liên tiếp phản kích chiếm lại những vị trí đã mất.
Sau 27 ngày liên tục bám trụ chiến đấu ở Huế, giành giật, chống trả nhiều đợt tấn công với qui mô lớn của bộ binh địch, dưới sự bắn phá ác liệt của phi pháo địch, mặc dù đã được bổ sung mấy đợt liền nhưng vẫn không bù đủ quân số thương vong của Trung đoàn. Quân số thiếu hụt, vũ khí đạn dược đã cạn kiệt, bảo đảm lương thực khó khăn, không thể duy trì được sức chiến đấu. Tinh hình bộ đội ta ở Mặt trận Huế cũng là tình hình chung của toàn chiến trường Miền Nam lúc bấy giờ.
Hai mươi năm sau (1988), ba mươi năm sau (1998), bốn mươi năm sau (2008), đã có nhiều hội thảo khoa học lịch sử quân sự về Chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 – Một cột mốc lớn chói sáng trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. Tại các lần hội thảo và trên nhiều sách báo, các nhà lãnh đạo chính trị, các nhà lãnh đạo, chỉ huy cấp chiến lược ở Trung ương, các vị Tướng lĩnh - Tư lệnh các chiến trường, các nhà nghiên cứu lịch sử, nghiên cứu khoa học quân sự,…trên từng bình diện khác nhau, đã có những đánh giá về thắng lợi, về khuyết điểm hạn chế, rút ra những bài học kinh nghiệm về sự kiện lịch sử này.
Ý kiến qua lại thì nhiều, trong đó có cả ý kiến khác biệt. Điều đó cũng dễ hiểu. Xưa nay là vậy, lịch sử diễn ra chỉ một lần nhưng viết lịch sử, đánh giá lại, định vị lại giá trị của lịch sử thì lại diễn ra bằng nhiều lần. Mọi người có cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu khác nhau. Hơn nữa, độ lùi cho phép của thời gian, sự đầy đủ của thông tin và kết cục của cuộc chiến càng làm sáng tỏ nhiều vấn đề mà ngay trong chiến tranh chưa có điều kiện kiểm chứng. Nhưng nói gì đó thì nói, tựu trung lại có thể khái quát ngắn gọn là:  Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 đã giành được thắng lợi to lớn, toàn diện, có ý nghĩa chiến lược quan trọng. Ta đã táo bạo bất ngờ tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực cấp cao của Mỹ ngụy; đánh chiếm những mục tiêu hiểm yếu, phá hủy một khối lượng quan trọng các phương tiện chiến tranh và cơ sở hậu cần hiện đại nhất của Mỹ - ngụy. Thắng lợi đó, về cơ bản, đã đánh bại chiến lược “chiến tranh cục bộ”, làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, đã tạo ra một sự đột biến làm thay đổi cục diện chiến tranh, tạo điều kiện và thời cơ tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn cho sự nghiệp giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước. Khuyết điểm chính là: Do nhận thức và đánh giá chưa thật sát đúng tình hình. Trong khi lực lượng Mỹ-ngụy và chư hầu đông tới 1 triệu 20 vạn tên, nắm trong tay những phương tiện chiến tranh hiện đại, khổng lồ, đang chiếm giữ những căn cứ được phòng thủ vững chắc, cuộc chiến tranh đang diễn ra quyết liệt, việc đề ra chủ trương Tổng tiến công-Tổng khởi nghĩa là không sát thực tế. Đã kéo dài cuộc Tổng tiến công vào các đô thị khi yếu tố bất ngờ không còn, địch đã củng cố, thực hành phản công quyết liệt. Chậm chuyển hướng chiến lược. Những khuyết điểm, sai lầm ấy đã gây cho ta những tổn thất rất to lớn. Sau này tổng kết lại, có ý kiến cho rằng, nếu ngày đó mục đích của Tổng tiến công chỉ là đánh địch thiệt hại nặng, buộc chúng phải ngồi vào bàn đàm phán, thì công bằng mà nói, cái giá phải  trả quá đắt.
Đánh giá về toàn cục của các cấp chiến lược là vậy. Nhưng ở cấp cơ sở, quả thật lúc đó, ban đầu trong khí thế hừng hực sục sôi, qua tuyên truyền và ý kiến chỉ đạo, phổ biến của lãnh đạo chỉ huy trực tiếp, chúng tôi cứ nghĩ rằng, đây là trận chiến đấu cuối cùng để giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước. Tuồng như,  nếu chậm chân sẽ không có vinh hạnh được góp mặt trong cái ngày trọng đại, huy hoàng ấy. Nhưng sau đó, bom đạn ác liệt quá, thương vong nhiều quá, địch mạnh quá, dường như ta không cân sức, thì nhiều người sinh ra bi quan dao động, thậm chí có một số đã đào ngũ, chạy dài về phía sau. Điều mà trước đó hầu như ở đơn vị chúng tôi không hề có.
Ngày 22 tháng 2 năm 1968, Quân khu ra lệnh cho Trung đoàn chúng tôi rút ra khỏi Huế hành quân về vùng giáp ranh Bình Điền, Hương Trà để củng cố lực lượng, chuẩn bị cho trận chiến đấu tiếp theo. Tại đây, ngày 20 tháng 5 năm 1968, tôi được chuyển thành Đảng viên chính thức.
Sau khi tái chiếm hoàn toàn thành Huế và các huyện đồng bằng, địch bắt đầu đánh nống lên vùng giáp ranh. Các loại máy bay trực thăng, phản lực và máy bay cánh quạt C130 ngày đêm thay nhau quần đảo, bắn phá ác liệt. Thêm vào đó, nhiều lần B57, B52 ném bom rải thảm và pháo bầy các loại 105 ly, 175 ly,…từ các căn cứ ở đồng bằng cấp tập dội vào trận địa ta. Có lần bộ binh Mỹ đã đánh đến cách Trung đoàn bộ không đầy cây số. Quân số thương vong nhiều hơn, cả đơn vị và cơ quan. Gạo tiếp tế từ Miền Bắc không vào kịp, gạo ở đồng bằng không lên được vì bị địch đánh chặn các ngả đường. Tiêu chuẩn mỗi người mỗi ngày chỉ được 2 lạng gạo, không đủ nấu cơm, phải nấu cháo độn rau môn thục hoặc rau tàu bay. Đặc biệt là muối ăn không đủ. Con người ta đói ăn, khát uống không căng bằng thiếu muối. Người cứ lả đi, chân tay rời rã. Thiếu ăn dẫn đến nhiều loại bệnh tật phát sinh, nhất là bệnh phù thũng. Đây bắt đầu là thời kỳ khó khăn đối với chủ lực ta.  Đồng đội tôi, phần thì hy sinh trong chiến đấu ở Huế, phần thì hy sinh ở Bình Điền, Hương Trà, đã vãn đi khá nhiều. Riêng quân số hy sinh ở Huế trong Tết Mậu Thân của Trung đoàn tôi lên tới mấy trăm người. Ác liệt, gian khổ, thương vong diễn ra hàng ngày, hàng giờ. Một không khí bi hùng bao trùm lên toàn đơn vị.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:30:40 PM
 Chính thời gian rút ở Huế lên Bình Điền, Hương Trà, nghĩ rằng, trong điều kiện bom đạn ác liệt, biết đâu sự hy sinh ập đến lúc nào không biết trước được, tôi đã làm sẵn một quyển sổ bìa cứng để ghi lại những cảm xúc của mình trong những ngày đó. Đây không phải biểu hiện của tư tưởng bi quan lo lắng mà là chủ động một tâm thế thanh thản lạc quan. Ngoài bìa, tôi  nắn nót viết một dòng bằng chữ in: KHI TÔI HY SINH, ĐỀ NGHỊ ĐƠN VỊ CHUYỂN HỘ VỀ CHO CHA TÔI. Trong quyển sổ đó, tôi ghi chép nhiều thứ như là Nhật ký chiến trường. Đặc biệt là, có một bản di chúc tôi gửi cha tôi.
 Bản Di chúc tôi viết là: “Cha kính yêu! Khi cha nhận được quyển sổ này, thì Nguyễn Mạnh Đẩu – đứa con trai thân yêu của cha đã hy sinh ngoài mặt trận. Cha! hãy bình tĩnh lại Cha ạ. Lúc còn nhỏ, Con vẫn được Cha dạy rằng, việc sống chết là luật tiết của tạo hóa. Dẫu có sống đến 800 tuổi như Ông Bành Tổ rồi cũng phải chết, không ai qua được. Vấn đề là, sống và chết thế nào cho xứng đáng. Tiếc là con hy sinh  quá sớm, khi mới tròn 20 tuổi đầu. Con ân hận là chưa làm được gì để đền đáp công ơn sinh thành, dưỡng dục của Cha Mẹ. Nhưng, về phận sự với đất  nước, con có quyền tự hào là  trong cuộc chiến đấu quyết liệt với quân thù, con đã sống xứng đáng trên tuyến đầu và đã hy sinh vẻ vang vì sự nghiệp,…Cuối cùng, Con cầu mong Cha khỏe mạnh, bình an. Mong cha nuôi dạy các em con mau khôn lớn trưởng thành để sau này thay con phụng dưỡng cha lúc tuổi già, sức yếu. Xin vĩnh biệt Cha!” . Cuối bản Di chúc là mấy câu thơ:

”Hãy vui lên Cha, Con hy sinh
Cũng vì giải phóng đất nước mình
 Cha ơi, tương lai đà soi sáng
 Vì mọi người, Con hiến tuổi xanh”.

Đây là những lời tâm sự, nhắn nhủ tâm huyết, viết ra trong nước mắt, thốt ra tự đáy lòng, tôi gửi lại cho cha tôi - người thân yêu nhất trên đời. Nhưng mãi tới mấy chục năm sau, cho đến khi từ trần, cha tôi cũng chưa hề đọc bản Di chúc đó của tôi. Tôi cũng không bao giờ kể với ông chuyện này.
Cứ mỗi khi có điều kiện, tôi lại ghi chép. Và mỗi lần đi chiến đấu tôi đều gửi lại hậu cứ Quyển sổ bìa cứng đó. Trong chiến dịch Đường 9-Nam Lào năm 1971, khi nghe tôi bị thương nặng không qua khỏi, anh Phạm Huy Chưởng, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 9 về hậu cứ mở quyển sổ ra đọc rồi giữ lại chờ dịp chuyển về cho cha tôi. Nhưng sau đó, năm 1972, đi chiến đấu chiến dịch Động Tranh ở tây Thừa Thiên,  sợ mình không giữ được, anh Chưởng lại giao cho anh Lê Văn Thảo phụ trách hậu cứ. Sau này, theo lời anh Chưởng, tôi tìm gặp anh Thảo ở Thành phố Thanh Hóa thì được biết rằng hậu cứ bị trúng bom cháy hết không còn gì. Thảo bị cụt một chân trong trận bom đó. Tôi tiếc vô cùng. Anh Phạm Huy Chưởng quê Hương Khê - Hà Tĩnh, cùng chiến đấu với tôi từ hồi ở Lào. Sau này anh là Thiếu tướng, Tỉnh đội trưởng Thừa Thiên Huế rồi Phó Tư lệnh –Tham mưu trưởng Quân khu 4. Mỗi lần chúng tôi gặp nhau, anh Chưởng vẫn thường nhắc về quyển sổ này. Anh cũng còn kể cho nhiều người nghe.
Sau một thời gian chiến đấu ở vùng giáp ranh, chấp hành mệnh lệnh của Quân khu, các đơn vị chủ lực lần lượt rút lên rừng để củng cố. Trung đoàn 8 rút về  Phu Rếch- Cô Trang  gần Đường 12 tây Thừa Thiên, rồi sau đó rút lên tận Mường Nòng (Lào).

 Ngày 10 tháng 6 năm 1968, theo chỉ thị của trên, trước yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu, Trung đoàn tái thành lập đại đội đặc công, lấy phiên hiệu là C20. (Đại đội đặc công cũ đã bàn giao cho Mặt trận Bắc Quảng Trị khi Trung đoàn hành quân vào đánh Huế). Qui trình là bộ khung của đại đội được xây dựng trước, rồi đón tân binh ở Miền Bắc vào bổ sung, lắp ráp thành từng tiểu đội, trung đội. Sau đó tổ chức huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật đặc công.
Đặc công là lực lượng đặc biệt tinh nhuệ, yêu cầu chất lượng cao, tinh binh, tinh cán. Bộ khung từ tiểu đội  trưởng cho đến cán bộ đại đội, đều là những cán bộ trẻ, khỏe, nhanh nhẹn, mưu trí, dũng cảm, đã lập được nhiều thành tích trong chiến đấu bộ binh, được lựa chọn trong toàn thể Trung đoàn. Trên cơ sở tiêu chuẩn đã được xác định, Trung đoàn giao chỉ tiêu cho tập thể cấp ủy các đơn vị lựa chọn đề nghị lên. Trung đoàn thẩm tra, xem xét lại rồi quyết định. Ban đầu bộ khung được hình thành là : Ban chỉ huy đại đội bốn người. Đại đội có ba trung đội, mỗi trung đội 3 cán bộ. Mỗi trung đội có ba tiểu đội, với ba tiểu đội trưởng. Đại đội trưởng là anh Nguyễn Duy Hào, quê Thọ Xuân, Thanh Hóa, vốn là đại đội trưởng Đại đội 9 Tiểu đoàn 9. Chính trị viên đại đội là anh Trương Anh Dung, quê Quang Minh, Kim Anh, Vĩnh Phú, vốn là chính trị viên Đại đội 12 ly 7 cao xạ. Đại đội phó là anh Đinh Minh Chúng, quê Trung Hóa, Tuyên Hóa, Quảng Bình, vốn là đại đội phó Đại đội 3 Tiểu đoàn 7. Chính trị viên phó là anh Hồ Văn Bé, quê Nghi Xuân, Hà Tĩnh, vốn là chính trị viên phó Đại đội 1, Tiểu đoàn 7. Khi mới thành lập đại đội đặc công, do xác định tính chất hoạt động độc lập, phân tán trong địch hậu, mỗi trung đội có biên chế một chính trị viên.
 Một buổi tối tháng 6 năm 1968, ở vùng giáp ranh Hương Trà, anh Hoán cho liên lạc gọi tôi sang hầm của anh. Thay mặt lãnh đạo, anh trao quyết định phong cấp trung đội bậc trưởng cho tôi. (Một cách phong quân hàm hồi đó đối với Quân Giải phóng. Với bậc này, nếu ra Miền Bắc, tôi được phiên sang thiếu úy). Sau đó, anh  vừa dặn dò vừa tâm sự, đại ý, em lên công tác ở cơ quan Trung đoàn được 6 tháng rồi. Kết quả hoàn thành nhiệm vụ tốt, được tập thể cơ quan tín nhiệm. Với đà đó em có triển vọng phát triển ở cơ quan tham mưu. Bây giờ em có nguyện vọng gì không. Rất phấn khởi vì được phong quân hàm và thực sự  cảm động về những lời nói ân tình chí nghĩa của anh Hoán, tôi bày tỏ cám ơn sự quan tâm dìu dắt của các anh mà đặc biệt là anh Hoán. Đồng thời, đây là dịp tốt tôi có điều kiện giải bày nguyện vọng cùa mình. Bởi vậy, tôi thành thật xin anh Hoán cho tôi về đơn vị chiến đấu. Tôi nói:
-  Anh ạ ! Phong cách làm việc ở cơ quan không thật sự phù hợp với lứa tuổi như em. Em xin về đơn vị chiến đấu, vì về lại dưới ấy dù có vất vả hơn nhưng trẻ trung, vui vẻ, sôi nổi với bạn bè cùng trang lứa, đầy chất lính hơn.
Chăm chú nghe tôi trình bày hết, anh Hoán nói nhỏ nhẹ:
- Thôi được, anh hiểu em, để anh bàn với các anh trong Ban chỉ huy Trung đoàn. Trước mắt, em về tiếp tục làm tốt công việc của mình.
Mười ngày sau, tính từ buổi tối gặp anh Hoán, tôi có quyết định của Trung đoàn điều động về Đại đội 20 đặc công nhận nhiệm vụ với cương vị chính trị viên Trung đội 2. Ngày đó, dưới con mắt của mọi người, đặc công được kính nể vì những chiến công xuất quỉ nhập thần trong các sào huyệt của địch. Được tuyển chọn vào bộ đội đặc công là một vinh dự. Tôi vui mừng và có phần hãnh diện. Trung đội trưởng trung đội 2 là anh Cao Hồng Nhụy quê Tuyên Hóa, Quảng Bình, trung đội phó là anh Trần Văn Thành quê Hương Khê, Hà Tĩnh. Tôi về Đại đội 20 đặc công được hơn nửa tháng, thì đi nhận tân binh ở Lao Bảo- Quảng Trị.
Tân binh nhập ngũ đợt tháng 2-1968, quê chủ yếu ở hai huyện Tiền Hải và Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Quân số đại đội lúc này lên tới 120 người. Chúng tôi hành quân về Dốc Giao, tổ chức huấn luyện ngay.Theo chỉ thị của trên, thao trường được chuẩn bị rất công phu. Hào đào sâu hơn 3 mét, rộng 5 mét. Dưới lòng hào cắm chông nhọn tua tủa. Làm hàng rào thép gai mấy lớp:  rào đơn, rào cũi lợn, bùng nhùng, giàn mướp. Chặt gỗ ghép lại thành các bức tường cao hơn 3 mét. Xây dựng lô cốt, chiến hào, ụ súng, giao thông hào. Tất cả đều như thật. Kỹ thuật, chiến thuật, võ thuật đặc công có sức hấp dẫn đối với lớp trẻ. Lại được nghe giới thiệu nhiều chiến tích của bộ đội đặc công hồi đó, chúng tôi hăm hở ngày đêm hăng say luyện tập.
Tình huống giả định có khi mật tập và có khi cường tập vào đồn địch. Mật tập là bí mật tiếp cận mục tiêu để tiêu diệt. Cường tập là khi vào chưa tới mục tiêu đã bị lộ, phải nhanh chóng vượt qua mọi chướng ngại vật, lao vào mục tiêu để đánh. Khó và nguy hiểm nhất là khi tập cường tập. Từng người và cả đội hình phải băng qua hàng rào thép gai, vượt hầm chông. Có buổi tập xong, người bị xây xát máu. Một lần đang huấn luyện tại thao trường, bị máy bay Mỹ thả bom bi, cậu Tuyển y tá bị trúng bom hy sinh. Trong suốt thời gian huấn luyện, Quân khu cho một tổ giáo viên trinh sát đặc công của Bộ gồm năm người về làm giáo viên huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật và võ thuật đặc công. Tổ trưởng giáo viên là anh Nguyễn Như Huyền.
Có sự trùng hợp ngẫu nhiên, 31 năm sau, năm 1999, cùng đợt thăng quân hàm Thiếu tướng một ngày với tôi có hai người cùng đơn vị cũ là anh Nguyễn Như Huyền, Cục trưởng Cục Tác chiến – Bộ Tổng Tham mưu và anh Tăng Văn Miêu, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 3.
Tháng 10 tháng 1968, cả Trung đoàn hành quân về Lệ Thủy, Quảng Bình. Đại đội đặc công đóng quân trong nhà dân ở xã Mai Thủy, Lệ Thủy. Về Mai Thủy được mấy ngày, tôi được Bộ Tư lệnh Quân khu Trị Thiên Huế quyết định thăng quân hàm đại đội bậc phó, bổ nhiệm giữ chức chính trị viên phó đại đội thay anh Hồ Văn Bé đi làm chính trị viên phó Tiểu đoàn 7.
Ban chỉ huy đại đội ở trong nhà chị Trường, một cái nhà ngói to, vườn rộng, có cây mít sai quả. Chị Trường có chồng là anh Lê Văn Giang, quê ở Quảng Nam, Thiếu úy, Thuyền trưởng Hải quân, đã hy sinh trong trận chiến đấu với máy bay Mỹ, năm 1965, ở căn cứ  Thanh Khê, cửa biển Sông Gianh. Về đây, chúng tôi tiếp tục xây dựng thao trường và huấn luyện. Tổ chức biên chế của đại đội lúc này không là trung đội nữa mà cả đại đội có sáu  mũi với 120 quân. Mũi trưởng Mũi 1 là anh Lê Văn Ba. Mũi trưởng Mũi 2 là anh Cao Hồng Nhụy. Mũi trưởng Mũi 3 là anh Trần Viết Xuân. Mũi trưởng Mũi 4 là anh Lê Văn Rật. Mũi trưởng Mũi 5  anh Bùi Công Tiếp. Mũi trưởng Mũi 6 là anh Lê Văn Khoa.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:31:02 PM
Sau một tháng thục luyện, cuối tháng 12, Trung đoàn giao cho đại đội đặc công tổ chức diễn tập dưới sự giám sát của Thủ trưởng và cơ quan Trung đoàn. Mục tiêu là đánh vào “một căn cứ của địch” có hàng rào thép gai, công sự vững chắc. Để đảm bảo sát với thực tế chiến đấu, Trung đoàn cho đại đội trinh sát làm quân xanh, bố trí mìn sáng và canh gác rất nghiêm ngặt. Trong chiến đấu đặc công, việc tiềm nhập qua các chướng ngại vật (bãi mìn, hàng rào,…) tiếp cận vào sát mục tiêu là khâu đầu tiên có ý nghĩa quyết định sự thành bại của trận đánh. Nếu tiếp cận mục tiêu mà bị lộ thì phải cường tập. Đó chỉ là giải pháp tình thế, bất đắc dĩ, vì tỷ lệ thương vong sẽ rất cao. Trong diễn tập, khi tiềm nhập nếu bị lộ thì phải thực hành cường tập. Trường hợp này coi như hoàn thành nhiệm vụ ở mức thấp. Theo sự phân công trong Ban chỉ huy đại đội, tôi đi với Mũi 1 đánh vào hướng chủ yếu. Lệnh nổ súng là tiếng nổ của  khối bộc phá đánh vào chỉ huy sở của “địch”. Theo thuật ngữ quân sự gọi là “bộc phá lệnh”. Khi đã tiềm nhập vượt qua các hàng rào, các vọng gác, chúng tôi tiếp cận vào mục tiêu chủ yếu, mà “ quân địch “ vẫn không phát hiện được.
Tôi nhìn đồng hồ vừa đúng thời gian nổ súng theo hiệp đồng. Anh Ba mũi trưởng đưa tay ám hiệu với tôi cho bắt đầu đánh, tôi gật đầu. Cậu Sức lao lên đặt bộc phá vào hầm chỉ huy của  “địch”, giật nụ xòe. Một quầng lửa rực trời, kèm theo một tiếng nổ rất to. Sức ép của quả bộc phá hất chúng tôi dạt xuống. Tiếp đó, định thần lại rất nhanh, từng cá nhân theo sự phân công trước trên sa bàn, tiến đánh “tiêu diệt” các mục tiêu. Ở các mũi khác đều thực hành suôn sẻ. Kết thúc diễn tập, lúc rút kinh nghiệm, tôi hỏi anh Ba mũi tưởng, tại sao bộc phá lệnh nổ to thế. Anh Ba nói rằng, khi gói bộc phá lệnh anh em đã tự ý tăng khối lượng bộc phá lên để nổ thật to, thật oách. Chúng tôi cùng cười.
 Có lần tập võ thuật, tôi và anh Trương Anh Dung thực hành bài đánh dao găm đối kháng bằng dao thật. Đến động tác tôi quật ngửa anh Dung, ngồi lên ngực, hai đầu gối ghì chặt hai tay anh, dùng hai tay đâm bổ thượng từ trên xuống để “ tiêu diệt”. Theo bài tập trong trường hợp này, anh Dung chỉ cần cùng một lúc gồng bụng lên hất mạnh, giật hai tay ra đưa lên trên luồn vào giữa hai cánh tay tôi thì không bao giờ dao đâm thấu người anh. Thế nhưng, không hiểu tại sao, tay anh Dung đưa lên quá chậm và mũi dao găm của tôi đâm vào giữa trán anh. Không sâu xuống phần xương nhưng thủng da chảy máu. Cũng may tôi đâm nhẹ. Thật hú vía. Tôi biết trước đây có lần trinh sát Tiểu đoàn 929 khi tập võ thuật có trường hợp bị đánh chết chỉ vì không kịp đỡ một quả đấm của bạn tập.
Thời kỳ huấn luyện ở Mai Thủy, có một lần anh Trần Minh Dần, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 28 đóng quân ở xã Mỹ Thủy đến thăm tôi . Anh là người cùng xã, là anh ruột của anh Hợi cùng nhập ngũ với tôi một ngày. Chúng tôi đã từng biết nhau từ hồi chiến đấu ở Lào và Đường 9. Anh tuổi Mậu Dần, sinh năm 1938, hơn tôi 10 tuổi. Tôi nghe anh kể, mẹ tôi lúc còn làm cán bộ phụ nữ xã, có đến dự đám cưới anh, vui lắm.
Là người chiến đấu rất dũng cảm và sống rất nhân nghĩa nên đi đến đâu, anh Dần cũng được mọi người kính trọng, quí mến. Anh thường quan tâm và động viên tôi trong chiến đấu và công tác. Tôi coi anh như người anh ruột. Hai anh em chơi với nhau được một buổi rồi anh về đơn vị . Không ngờ đó là lần cuối cùng, tôi vĩnh viễn xa anh. Năm 1969, đơn vị anh hành quân vào Tây Nguyên. Tháng 4 năm 1972, đang làm Trung đoàn phó Trung đoàn 28, anh Dần được điều sang làm Trung đoàn phó  Trung đoàn 66 chiến đấu ở Đắc Tô – Tân Cảnh, bị bom Mỹ đánh trúng Sở chỉ huy tiền phương, anh hy sinh. Trước đó, anh Hợi, em ruột anh cũng đã hy sinh ở tận Nam Bộ. Sau này về quê, tôi mấy lần đến thắp hương ở Nhà bia tưởng niệm liệt sĩ của xã nhà. Danh sách liệt sĩ hy sinh trong các thời kỳ chiến tranh được khắc vào tấm bia lớn bằng đá xanh, khá to. Bảng danh sách nối dài hàng trăm người. Đọc hết một lượt, tôi bồi hồi xúc động. Mỗi dòng tên một cuộc đời. Họ hy sinh khi đang độ tuổi thanh xuân. Các anh đã tô thắm truyền thống quê hương. Góp phần rất xứng đáng vào thành tích xuất sắc của xã Anh hùng trong thời kỳ chống Mỹ. Dừng lại dòng tên Trần Minh Dần, hình ảnh chất phác, kính quí, ánh mắt và nụ cười thân thương của anh hiện về trong tâm trí tôi với bao kỷ niệm ngậm ngùi.
Thời kỳ ở Lệ Thủy, Quảng Bình, Sư đoàn 324 được thành lập. Thực ra, Sư đoàn 324  thành lập từ trong kháng chiến chống Pháp. Còn đây là  Sư đoàn 324 thứ bao nhiêu rồi. Trong kháng chiến chống Mỹ, một Sư đoàn có thể “nở” thành nhiều Sư đoàn  theo sự phát triển của quân đội  trước yêu cầu của chiến tranh. Chúng tôi được biết, ban đầu lúc mới thành lập, Sư đoàn lấy phiên hiệu là Sư đoàn 169- thành lập tháng giêng năm sáu chín. Sau một thời gian ngắn đổi lại tên là Sư đoàn 324. Tư lệnh Sư đoàn là anh Chu Phương Đới. Chính ủy Sư đoàn là anh Nguyễn Công Trang. Sư đoàn phó là anh Mai Hiền, Phó Chính ủy Sư đoàn là anh Trần Văn Ân. Anh Thái Cán làm Tham mưu trưởng Sư đoàn. Anh Bùi Phan Kỳ làm Chủ nhiệm chính trị.

                                                        *
                                                     *    *
 
Sau Tết Nguyên Đán Kỷ Dậu, chúng tôi rời Lệ Thủy hành quân đi chiến đấu. Lần này lại trở lại chiến trường Thừa Thiên-Huế.
 Quảng Trị và Thừa Thiên là hai tỉnh đất không rộng, người không đông. Nếu tính từ sông Bến Hải giới tuyến quân sự tạm thời đến Đèo Hải Vân thì địa hình rất dài. Nhưng bề ngang từ biên giới Việt-Lào trên dãy Trường Sơn ra đến Biển Đông thì rất hẹp. Có nơi chỉ khoảng 40 cây số. Đất đã hẹp rừng núi lại nhiều, nhưng nơi đây là vùng tiếp giáp với Miền Bắc, là nơi đối đầu, đọ sức của hai bên,  nên cuộc chiến tranh diễn ra vô cùng khốc liệt. Một dải đất hẹp, với số dân mấy chục vạn người, vậy mà trong kháng chiến chống Mỹ, ở Trị - Thiên hình thành hai quân khu. Chiến trường  phía bắc Quảng Trị tính từ Đường 9 trở ra do Mặt trận B5  đảm nhiệm. Từ phía nam tỉnh Quảng Trị, tính từ Đường 9 trở vào đến đèo Hải Vân do Quân khu Trị Thiên - Huế (B4) đảm nhiệm. Thực ra, từ trước năm 1966, Trị Thiên Huế còn là Phân khu Bắc thuộc Quân khu 5. Sau đó lực lượng phát triển lên thành Quân khu Trị Thiên - Huế tách khỏi Quân khu 5.
Khi vượt qua Đường số 9 được mấy ngày, vừa mới đến Trạm 19 ở động A Vương trên đường vào A Bia, A Sầu thì địch đổ quân ở động Cô Ác phía trước.Trung đoàn giao cho đại đội đặc công cùng với Đại đội 7 Tiểu đoàn 8 tiến hành trinh sát  nắm địch, chuẩn bị tập kích vào quân địch ở Cô Ác.
Cô Ác là một cứ điểm dã chiến của quân Mỹ ở tây Thừa Thiên. Là một dãy đồi mà Mỹ đã dùng máy bay ném bom phát quang và bom na-pan đốt cháy đen, trọc lóc. Lực lượng đi trinh sát gồm có anh Hào đại đội trưởng, tôi, các mũi trưởng và một tổ trinh sát. Đại đội 7 có anh Thỉ đại đội tưởng , anh Phan Văn Đân chính trị viên cùng ba  trung đội trưởng.
Đến vị trí tập kết, chúng tôi chia ra thành mấy bộ phận để đi trinh sát ở mấy hướng. Tôi cùng đi với anh Đân, anh Thịnh trung đội trưởng Đại đội 7cùng một chiến sĩ liên lạc. Trước khi tiếp cận vào mục tiêu, chúng tôi chọn một ngọn đồi đối diện cách cứ điểm Cô Ác khoảng 1.000 mét để đặt đài quan sát. Tìm được một vị trí thích hợp, giao cho anh Thịnh và một chiến sĩ liên lạc làm nhiệm vụ cảnh giới ở dưới, tôi và anh Đân trèo lên một cây cao để quan sát. Khi dứng trên ngọn cây cao, hai anh em nhìn vào cứ điểm Cô Ác rõ lắm. Vòng ngoài là hai lớp rào kẽm gai cánh bướm. Phía trong là những dãy nhà bán âm, căng dù lên trên. Sở chỉ huy ở trung tâm, cạnh đó là đài thông tin vì có cột ăng ten cao. Cách Sở chỉ huy khoảng 200 mét là trận địa pháo 4 khẩu. Chốc chốc lại bắn về phía xa. Mỗi khi pháo bắn, chúng tôi nhìn rõ cả khói và nghe tiếng nổ đầu nòng (đề-pa) rất to. Trong trận địa thấy lố nhố quân lính đi lại. Có lần liếc xuống dưới đất, tôi thấy anh Thịnh trung đội trưởng đang ngồi trải tấm bản đồ đặt địa bàn trên đó, hình như đang xác định tọa độ khu vực.
Tôi và anh Đân vừa quan sát vừa trao đổi về phương án phối hợp tác chiến giữa đặc công với bộ binh, thì bất thần mấy loạt tiểu liên bắn rất đanh ở ngay dưới gốc cây. Lúc đầu tôi nghĩ là súng anh Thịnh cướp cò. Ép mình vào cành cây to, khi tiếng súng đã im, tôi nhìn xuống thì anh Thịnh đã hy sinh nằm gục trên tấm bản đồ, mấy tên thám báo Mỹ đang bu quanh xì xồ, lục lọi. Anh Đân và tôi nói nhỏ với nhau, nếu cứ ở trên này thì khi nó ngước nhìn lên sẽ bắn xiên táo cả hai anh em. Chúng tôi quyết định thả lựu đạn xuống trước, rồi lao xuống thoát ra ngoài. Tức thì, 4 quả lựu đạn mỏ vịt cùng thả xuống một lúc. Lựu đạn nổ rất đanh, mảnh bay rào rào. Bị bất ngờ, bọn thám báo không kịp đối phó. Chúng tôi bám cành cây tụt  rất nhanh xuống đất. Khi cách mặt đất gần 5m, chúng tôi nhảy đại, liếc nhanh tôi thấy mấy tên thám báo Mỹ chết gục cạnh gốc cây. Anh Đân và tôi mỗi người một khẩu súng ngắn bắn đại mấy viên có tính chất uy hiếp, rồi chạy một mạch về khu vực tập kết.
Anh Phan Văn Đân sinh năm 1936 cùng là tuổi Tý, hơn tôi một giáp. Quê anh ở làng Võ Xá, xã Võ Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Kết thúc chiến tranh chống Mỹ, anh làm Chính ủy Trung đoàn; sau đó được bổ nhiệm Phó Sư đoàn trưởng về Chính trị Sư đoàn 324. Anh nghỉ hưu với quân hàm Đại tá. Bây giờ anh đã có chắt nội. Mấy lần gặp nhau ở Hà Nội, hai anh em xúc động kể lại chuyện xưa.
Ngày hôm sau, để nắm chắc địa hình và địch tình toàn bộ khu vực, chúng tôi tổ chức một bộ phận đi trinh sát một vòng tròn xung quanh cứ điểm động Cô Ác. Đồng thời, tiến hành tiềm nhập vào phía sau cứ diểm của địch. Thành phần trinh sát có tôi, anh Xuân mũi trưởng mũi 2, anh Hội trợ lý trinh sát Trung đoàn và một tổ trinh sát ba người do anh Dực làm tổ trưởng. Đề phòng thám báo tuần tra xung quanh cứ điểm, từ vị trí tập kết,chúng tôi cắt góc phương vị đi vòng ngoài khá xa. Xuất phát từ sáng sớm đến tối mịt chúng tôi dừng lại chọn hướng tiếp cận vào cứ điểm của địch. Ăn tối bằng lương khô xong, uống no nước suối, chúng tôi chia làm hai tổ đi tiềm nhập. Tổ một có tôi và anh Xuân và một chiến sĩ trinh sát. Tổ hai có anh Hội, anh Dự và hai chiến sĩ trinh sát. Mục tiêu được phân công là Sở chỉ huy và trận địa pháo của địch. Hẹn nhau cố gắng trinh sát xong trong đêm, rạng sáng mai sẽ hợp nhau về điểm xuất phát.
Đúng 9 giờ tối, ba anh em chúng tôi bắt đầu tiềm nhập. Phương pháp tiềm nhập là, qua từng đoạn một, giao cho chiến sĩ trinh sát làm nhiệm vụ cảnh giới, tôi và anh Xuân lần lượt chui qua bãi cây đổ ở vòng ngoài rồi qua lớp hàng rào kẽm gai lò xo. Đến 2 giờ sáng, chúng tôi  tiềm nhập vào được trận địa pháo của địch. Nhìn chếch lên phía trên là hầm thông tin và sở chỉ huy. Đối chiếu giữa thực địa và nhìn thấy từ ban ngày không khác bao nhiêu. Chúng tôi lần lượt quay ra theo đường cũ. Đến hơn 4 giờ sáng về tới nơi xuất phát. Trời mưa to, quần áo ướt sũng, nhưng chúng tôi mừng vì trời mưa sẽ xóa sạch các dấu vết tiềm nhập. Chúng tôi chờ khoảng 30 phút thì bộ phận anh Hội cũng về tới. Bên đó các anh cũng vào được gần sát sở chỉ huy.
Đề phòng gặp địch sẽ lộ hết bí mật, lần về chúng tôi lùi ra xa hơn và cắt đường về khu tập kết.  Nào ngờ, do xác định góc phương vị không chuẩn, đã vòng đi quá xa. Đi mãi hai ngày, lương khô mang theo đã hết, nhưng mở bản đồ xác định tọa độ vẫn cách vị trí tập kết khá xa. Bụng đói meo, chân chồn, gối mỏi, tôi cảm thấy bắt đầu hoa mắt. Dừng lại bên một con suối cạn, mấy anh em lần bắt được hơn chục  con cua đá, cứ thế xé ra ăn sống, ngon lắm, tỉnh ra, lại đi tiếp.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:31:27 PM
 Đến trưa ngày thứ tư, chúng tôi về đến nơi tập kết. Anh Hào đại đội trưởng mừng rỡ ôm lấy tôi. Anh nói:
- Trời ơi, mấy hôm nay bọn mình nghĩ rằng các cậu đã rơi vào ổ phục kích và đã hy sinh hết cả rồi.
Tôi lả đi, chẳng nói gì, nhìn thấy mấy vắt cơm rất thèm, chực ăn. Thấy thế, cậu Long y tá nói:
- Thủ trưởng không được ăn nhiều cơm ngay, vì sợ bội thực mà chết.
Nói rồi, cậu ta bẻ nắm cơm ra cho chúng tôi ăn một ít, còn lại đem nấu cháo. Có lẽ trong đời tôi chưa bao giờ cảm thấy ăn cơm không mà ngon đến vậy. Ăn đến đâu biết đến đó và sức khỏe hồi phục dần. Mắt sáng ra, chân tay đỡ bủn rủn.
Ngày hôm sau chúng tôi trở về đơn vị, khớp lại thông tin kết quả trinh sát,  đắp sa bàn tổ chức hội nghị quân nhân, thông qua chi ủy và báo cáo cấp trên thông qua phương án chiến đấu. Phương án tác chiến là, dùng đại đội đặc công tập kích vào hai hưởng:  chỉ huy sở, trận địa pháo và đại đội bộ binh của địch. Đại đội 7 Tiểu đoàn 8 làm thê đội 2, sẵn sàng tiếp sức cho đại đội đặc công khi gặp khó khăn. Trong trường hợp đại đội đặc công đánh thắng giòn giã, thì Đại đội 7 sẽ tiếp quản trận địa do đại đội đặc công bàn giao lại.
5 giờ chiều ngày 10 tháng 3 năm 1969,  chúng tôi đã có mặt ở khu tập kết, kiểm tra lại toàn bộ công tác chuẩn bị. 8 giờ tối, các mũi bắt đầu tiếp cận để tiềm nhập mục tiêu. Thời gian nổ súng là 12 giờ đêm.
Tôi cùng đi với mũi 3 do anh Xuân làm mũi trưởng, anh Việt làm mũi phó. Muc tiêu được giao cho mũi 3 là đánh vào trận địa pháo và phát triển sang sở chỉ huy. Khi  cả mũi đã luồn  hết qua hàng rào kẽm gai, nhìn đồng hồ mới  hơn 11 giờ. Sợ vào sớm quá mà bị lộ thì gây khó khăn cho các mũi khác, tôi nói anh Xuân cho dừng lại. Dừng tại chỗ độ 10 phút, chúng tôi bò tiếp về phía trước, trời tối om, không một tiếng động, bốn bề lặng lẽ. Khi đã sát vào tới trận địa pháo, chúng tôi mới phát hiện ra không có một tên địch nào cả. Các dấu hiệu còn lại cho thấy khả năng chúng đã rút từ lúc chiều. Chiều nay khi có nhiều lượt trực thăng H34 đỗ xuống cứ điểm động Cô Ác, ở đài quan sát trinh sát lại nhận định là chúng đổ quân tăng cường, nào ngờ là rút quân. Lúc này đề phòng hai tình huống dễ xảy ra là: Hoặc là, bộ đội ta ở các hướng khác trong đêm không nhận ra nhau, tưởng là địch, sẽ bắn nhầm.  Hai là, địch biết ta đã vào trong cứ điểm, chúng dùng pháo bắn cấp tập. Thực tế ở chiến trường đã diễn ra một số trường hợp như vậy. Tôi điện đề nghị anh Hào cho các mũi rút ra ngay, theo đường cũ.
Trong chiến đấu, việc nắm chắc địch tình, địa hình và làm tốt các khâu chuẩn bị coi như thắng lợi được một nửa. Suốt mấy ngày trinh sát nắm địch, chuẩn bị chiến đấu, thu được những kết quả rất tốt, anh em mong muốn được ra quân đánh thắng trận đầu. Nhưng khi tiếp cận, chuẩn bị nổ súng thì không còn một mống địch, anh em trong đơn vị chưng hửng. Chúng tôi trở về khu tập kết tiếp nhận lại đồ đạc và hành quân tiếp về phía Nam. Sau mấy ngày hành quân, chúng tôi về đóng ở vùng A - Lê - Thiêm, A – Lê - Lốc sẵn sàng nhận nhiệm vụ mới.
 Nhiệm vụ của Trung đoàn 3 Sư đoàn 324 lúc đó là  dùng Tiểu đoàn 8  chốt chặn đánh địch ở dãy núi ABia. Sau đó dùng lực lượng Tiểu đoàn 7 và Tiểu đoàn 9 tấn công vào quân địch ở thung lũng A Sầu phía tây dãy điểm cao A Bia, sát biên giới Việt – Lào, cách Huế khoảng 50 km về phía tây nam.
Đầu tháng 5 năm 1969, Tiểu đoàn 8 dưới sự chỉ huy của anh Nguyễn Văn Ninh tiểu đoàn trưởng và anh Lê Ngọc Mai chính trị viên tiểu đoàn, bằng công sự trận địa đã bố trí sẵn, trong điều kiện phi pháo rất ác liệt, đã liên tục giữ vững trận địa trong nhiều ngày, kiên cường dũng cảm đánh bật hàng chục đợt tấn công của quân Mỹ. Đại đội 6 là lực lượng chủ công của Tiểu đoàn 8 do anh Cao Thanh Giáo đại đội trưởng và anh Lê Văn Thi chính trị viên đã lập công xuất sắc.
Ngày 12 và ngày 13 tháng 5 năm 1969, dưới sự chỉ huy của Trung đoàn 3, Tiểu đoàn 7 do anh Tăng Văn Miêu tiểu đoàn trưởng và anh Trần Triền chính trị viên tiểu đoàn chỉ huy, cùng Tiểu đoàn 9 do anh Võ Vượng tiểu đoàn trưởng và anh Hồ Chư chính trị viên tiểu đoàn chỉ huy tấn công vào một đơn vị của Sư đoàn không vận số 101 Mỹ ở thung lũng A Sầu, phía tây cao điểm A Bia. Ta loại khỏi vòng chiến đấu gần 300 tên Mỹ, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, bẻ gãy nhiều đợt tiến công của quân ứng cứu. Lúc bấy giờ, quân Mỹ kinh hoàng gọi A Bia là đồi thịt băm (Hămbagiơ).
Sau Mậu thân, địch tăng cường càn quét bình định, gây không ít khó khăn cho cách mạng ở vùng đô thị, đồng bằng, kể cả vùng giáp ranh trên các chiến trường. Chiến thắng A Bia góp phần giữ vững hành lang chiến lược, thúc đẩy phong trào đánh dịch ở đồng bằng Thừa Thiên.
Phát huy chiến thắng của trận ABia, ngày 4 tháng 6 năm 1969 Bộ Tư lệnh Quân khu Trị Thiên Huế giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 3 đặc công của Quân khu được tăng cường Đại đội 20 đặc công của Trung đoàn 3, tiến hành trinh sát, nghiên cứu quân địch trong cứ điểm 817-Ta Tách và cứ diểm Ba Đu, Tà Bạt. Sau khi được anh Ma Vĩnh Lan trung đoàn trưởng và anh Kiều Tam Nguyên chính ủy trung đoàn giao nhiệm vụ, anh Nguyễn Duy Hào đại đội trưởng cùng tôi đến gặp anh Trần Duy Thị tiểu đoàn trưởng và anh Lê Văn Doãn chính trị viên Tiểu đoàn 3 để nhận nhiệm vụ cụ thể.
Tiểu đoàn 3 là đơn vị đặc công của Bộ được huấn luyện rất cơ bản, được điều vào Quân khu Trị Thiên. Mới vào chiến trường mấy tháng nhưng Tiểu đoàn 3 đã đánh thắng giòn giã trận Cô-Ca-Va, tiêu diệt một cứ điểm của quân Mỹ ở tây Thừa Thiên. Trận Cô-Ca-Va là một trận thắng có ý nghĩa lớn cả về quân sự và chính trị. Mở đầu cho một năm chiến đấu trong thời kỳ mới. Chấm dứt thời kỳ khó khăn sau Mậu Thân. Ngày đó, được chiến đấu trong đội hình của tiểu doàn 3, chúng tôi tin tưởng lắm. Tiểu đoàn trưởng là anh Trần Duy Thị, quê ở Cẩm Hòa, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh. (Sau này, anh Thị là Đại tá, Phó Tư lệnh Binh chủng Đặc công). Chính trị viên tiểu đoàn là anh Lê Văn Doãn, quê ở Thanh Hóa. Trong số cán bộ của Tiểu đoàn 3 ngày đó, có anh Lê Văn Hân là chính trị viên Đại đội 3. Mấy chục năm sau, anh Lê Văn Hân là Trung tướng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Nhiệm vụ của đại đội chúng tôi là chia làm hai bộ phận: Lực lượng chính của đại đội tham gia cùng Tiểu đoàn 3 do anh Thị tiểu đoàn trưởng chi huy đánh Ta Tách. Cử một mũi -mũi 3- do anh Trần Văn Thành làm mũi trưởng- tham gia với  Đại đội 1 của Tiểu đoàn 3, do anh Vân tiểu đoàn phó chỉ huy đánh vào  Ba Đu, Tà Bạt.
Ngày 6 tháng 6 năm 1969, Đoàn cán bộ đi trinh sát nghiên cứu địch ở Ta Tách lên đường do anh Thị và anh Doãn dẫn đầu. Anh Hào và tôi cùng năm anh mũi trưởng, ba chiến sĩ trinh sát tham gia đoàn. Chúng tôi vượt qua khu vực Kho 61 ở A Lưới, vượt qua thung lũng A Sầu,  cắt đường ô tô đi sâu vào phía động Ta Tách. Khi đến một khu rừng cách cao điểm Ta Tách chừng 5 km, có một con suối nhỏ, hai bên bờ có nhiều cây to, anh Thị cho đoàn dừng lại và chọn làm nơi tập kết.
 Buổi chiều hôm đó, trên đường đi, cánh trinh sát bắt được một con rùa, cả bộ phận chúng tôi chặt cây bông báng lấy lõi nấu với thịt rùa ăn rất ngon. Đang ăn, tôi chợt nghĩ, dân gian vẫn có câu:” gặp rắn thì đi, gặp qui trở lạị”. Gặp rùa mà lại ăn cả thịt rùa thế này, chắc là báo hiệu điềm không may sẽ xảy ra. Nghĩ vậy, nhưng tôi không dám nói ra. Bởi lẽ, với tư cách là cán bộ chủ trì về chính trị lúc đó, tôi sợ anh em đánh giá mình mê tín dị đoan, gieo rắc sự lo lắng, hoang mang ngay từ đầu cho mọi người. Khi thực hiện những công việc hệ trọng mà lại nguy hiểm nữa, thì trạng thái tâm lý cần được thoải mải, thanh thản, tự tin, tuyệt đối không ám ảnh, lởn vởn, vướng víu vào những điều  không cần thiết.
 Tối hôm đó, ngủ lại bên bờ suối, mở đài bán dẫn, tôi nghe tin thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời Miền Nam Việt Nam do ông Huỳnh Tấn Phát làm Chủ tịch. Chính phủ lâm thời là với Mặt trận Giải phóng Miền Nam Việt Nam do Luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch là nòng cốt cùng với Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam do Luật sư Trịnh Đình Thảo làm Chủ tịch lập ra. Đây là một sự kiện chính trị, đánh dấu bước phát triển mới trong phong trào Cách mạng ở Miền Nam. Là những người lính cầm súng chiến đấu trên chiến trường khi nghe tin này chúng tôi rất phấn khởi.
Theo thông báo của trên, tại Cao điểm 817 - Ta Tách lực lượng địch có một tiểu đoàn quân Mỹ thuộc Lữ đoàn 47 thủy quân lục chiến. Đây là một căn cứ được bố trí vững chắc. Ở ngoài cùng là hàng rào bằng cây đổ, tiếp đến là 3 hàng rào thép gai. Trong trận địa có hệ thống liên hoàn chiến hào, giao thông hào, ụ súng, lô cốt.
Trên cơ sở phân công trước, Đại đội 20 chúng tôi được giao nhiệm vụ tổ chức 3 mũi đánh vào mỏm B nơi địch bố trí trận địa pháo và một đại đội thủy quân lục chiến. Anh Hào và tôi thống nhất chia làm 3 tổ đi trinh sát ở 3 hướng. Hướng một do anh Hào đại đội trưởng phụ trách cùng với anh Ba mũi trưởng Mũi 1 tiếp cận vào phía Nam. Hướng hai do tôi phụ trách cùng với anh Ngãi mũi phó Mũi 4 (mũi trưởng Mũi 4 là anh Cao Hồng Nhụy bị ốm, anh Ngãi đi thay) tiếp cận vào phía Đông. Hướng ba do anh Xuân mũi trưởng Mũi 2 tiếp cận vào hướng Tây. Tổ trinh sát hướng đông gồm có tôi, anh Ngãi và cậu Phết - chiến sỹ trinh sát. Từ  trưa, xuất phát từ vị trí tập kết, chúng tôi cắt góc phương vị đi về phía đông. Đến 3 giờ chiều gặp một hang đá kiểu hàm ếch ở chân cao điểm 817, cách địch khoảng 2 km, chúng tôi chọn làm vị trí dừng chân. Từng người một thay nhau cảnh giới ở cửa hang, chúng tôi tranh thủ chợp mắt để tối đi tiềm nhập. Mục tiêu tiềm nhập là phải nắm được hệ thống chướng ngại vật, hệ thống công sự trận địa bố phòng và trận địa pháo của địch. Đến 6 giờ tối, sau khi ăn lương khô xong, bỏ lại các thứ lặt vặt, chúng tôi bắt đầu tiềm nhập vào đồn địch. Ngãi và Phết mang mỗi người một khẩu AK báng gấp, hai quả lựu đạn ,dao găm. Tôi mang một khẩu súng ngắn, hai quả lựu đạn, dao găm và một cái địa bàn. Từ ngoài, chúng tôi thực hành tiếp cận kiểu sâu đo. Nghĩa là, lần lượt từng người tiếp cận lên phía trước rồi dừng lại lợi dụng địa hình địa vật cảnh giới cho người sau tiến lên. Người sau lại tiến sâu hơn nữa rồi lại làm nhiệm vụ cảnh giới. Cứ thế, đến 7 giờ tối chúng tôi đến chân hàng rào đầu tiên. Bố trí cậu Phết trinh sát cảnh giới ở mép rào, tôi và Ngãi bắt đầu động tác dùng tay dò mìn, chống rào, rồi lại dùng tay do mìn  trong hàng rào để chui qua.
 Sau khi tôi và Ngãi đã qua được rào, làm nhiệm vụ cảnh giới cho Phết chui qua. Giữa hàng rào ngoài cùng với hàng rào thứ hai là một bãi trống với chiều sâu chừng 70 mét, trừ đường tuần tra, còn lại địch cài nhiều mìn sát thương và mìn chiếu sáng các loại. Ba anh em chúng tôi phải vừa dò gỡ mìn vừa trườn lên phía trước. Cứ thế mất gần một tiếng đồng hồ chúng tôi mới tới được hàng rào thứ hai. Cách tiếp cận giống như khi qua hàng rào thứ nhất. Nhưng khi mới đưa mình ra khỏi hàng rào, tôi nghe thấy trong đồn địch rú lên một hồi còi, tiếp đó là các loại súng của địch thi nhau bắn ra ngoài đạn bay chiu chít, có cả những viên đạn vạch đường đỏ lừ.
Ba anh em nằm sát mặt đất chỉ ghé mắt nhìn, nên không việc gì. Sự việc này chúng tôi đã lường trước. Theo qui luật, hàng đêm địch vẫn bắn súng báo động. Khi đi trinh sát, kể cả lúc tiềm nhập vào đánh, nếu không bình tĩnh, tưởng bị lộ mà phản ứng là rất nguy hiểm. Chừng 2 phút sau, tiếng súng im bặt, bốn bề lại vắng lặng. Khi chui qua hàng rào thứ 3, nhìn đồng hồ đã 2 giờ sáng, tôi ra hiệu cho Ngãi và Phết quay ra theo đường cũ. Khi ra, người bò sau cùng phải xóa hết dấu vết. Đến 5 giờ sáng, chúng tôi về đến hang đá. Tôi bàn với Ngãi và Phết là sẽ tiềm nhập tiếp đêm mai nữa mới có thể hoàn thành nhiệm vụ trinh sát, mục tiêu cuối cùng là phải vào tận trận địa pháo.
Hôm sau, anh em chúng tôi thay nhau ngủ ban ngày đến 6 giò tối lại đi tiềm nhập căn cứ địch. Đêm thứ hai vì đã biết trước, tốc độ tiềm nhập nhanh hơn. Đến 1 giờ sáng, chúng tôi vào được tận trận địa pháo, đặt được tay lên càng pháo, đếm được 4 khẩu rồi mới quay ra. Đêm thứ hai đi trinh sát, có hai điều mà sau này tôi vẫn kể cho anh em trong đơn vị nghe và suốt đời tôi không bao giờ quên. Đó là, khi mới rời trận địa pháo quay ra, để căn giờ, tôi nhìn đồng hồ nhưng trời tối đen không thấy gì ( hồi đó chúng tôi đang dùng đồng hồ Pôlzot của Liên Xô, không có dạ quang). Tôi lo trời sáng mà không ra kịp thì nguy. Chợt thấy một đốm lửa nhỏ gần đó thỉnh thoảng lại sáng hơn một ít, tôi nghĩ đó là một thân cây cháy dở, ở trên cao chốc chốc gió thổi làm sáng lên. Tôi vừa trườn vừa bò lại gần hơn để xem giờ. Nhưng khi lại gần sát thì thấy cây đen đó động đậy, tôi hú vía. Té ra đó là một thằng lính Mỹ da đen đứng gác, đang hút điếu thuốc lá xì gà loại to bằng ngón tay cái. Mỗi lần nó rít vào thì điếu thuốc đỏ rực lên. Tôi nhẹ nhàng quay lui.
 Khi ra đến hàng rào cuối cùng, thứ tự chui ra là, cậu Phết ra trước làm nhiệm vụ cảnh giới, tôi ra thứ hai, anh Ngãi ra sau cùng. Khi đã ra ngoài hàng rào, nhìn về phía đông trời đã gần hửng sáng, tôi ngoái lại thấy anh Ngãi đang nằm giữa hàng rào, trong tư thế quay đầu vào phía địch tay lăm lăm khẩu súng và cho chân ra trước. Đã cho chân ra trước thì tốc độ chậm lắm, hết vướng cái nọ sang vướng cái kia. Tôi phải gỡ cho anh Ngãi từng tý một.
Xưa nay, mọi việc ở đời người ta đã khái quát đầu có xuôi đuôi mới lọt, có lẽ xuất phát từ một một động tác cụ thể này đây. Thời gian càng trôi đi, trời sắp sáng đến nơi rồi mà anh Ngãi vẫn loay hoay trong hàng rào, tôi sốt ruột lo lắng vô cùng. Sợ nguy hiểm cho cả tổ một phần, nhưng đáng lo hơn là làm lộ, làm lỡ kế hoạch chung của toàn tiểu đoàn, nói rộng ra là toàn Mặt trận. Khi đã ra đến vị trí an toàn hơn, tôi nổi cáu hỏi Ngãi:
- Trời sắp sáng rồi. Ông điên hay sao mà lại chui ngược thế ?
          Ngãi phân trần :
           - Anh không hiểu. Khi Phết và anh ra thì tôi làm nhiệm vụ cảnh giới. Các anh ra cả rồi, mỗi mình tôi ra sau phải quay lại tự cảnh giới cho mình và còn phải xóa dấu vết nữa chứ. Nhỡ đang chui rào mà có một tốp lính địch đi tuần phát hiện được thì sao? Nó đến lôi mình ra như lôi con cá mắc lưới ấy chứ!
           Nghe anh Ngãi nói, thấy có lý, chúng tôi cùng cười. Sau này về hậu cứ huấn luyện, tôi vẫn hay đùa với anh em trong đơn vị là khi đi trinh sát cần phải học thêm khoản chui rào ngược, đặt tên là chui rào kiểu ông Ngãi.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:32:48 PM
 Sau ba ngày đi trinh sát, chúng tôi quay về khu vực tập kết để báo cáo. Nhìn thấy anh Lộc đại đội trưởng Đại đội 2 quấn khăn trắng ngang đầu, tôi hỏi vì sao. Anh Lộc trả lời khi nó bắn súng báo động, anh ấy cố nghển đầu lên nhìn để định vị các hỏa điểm, không may dính một viên xẹt qua đầu, may chỉ là phần mềm.
Tôi hội ý với anh Hào trước khi báo cáo tiểu đoàn. Kết quả hướng một tiếp cận ở phía nam, hướng 2 tiếp cận ở phía đông đạt kết quả tốt. Riêng hướng tây, tổ trinh sát của anh Xuân mới vào được hàng rào thứ hai, chưa vào được tận trong cùng trận địa. Vì vậy, khi nghe báo cáo, anh Thị tiểu đoàn trưởng đã yêu cầu cần trinh sát thêm. Anh Hào phân công tôi cùng đi lại hướng tây với anh Xuân một lần nữa mới bảo đảm chắc chắn. Thế là tôi, anh Xuân mũi trưởng mũi 2 và hai trinh sát lại lên đường.
Trong chiến đấu đặc công, việc vào cứ điểm địch để trinh sát (điều nghiên) chẳng khác một trận đánh, nhiều lúc còn căng thẳng hơn. Trong chiến đấu còn có lực lượng và hỏa lực trong tay để tiêu diệt địch. Còn đi trinh sát vào trong đồn địch chỉ có ba, bốn anh em, vũ khí gọn nhẹ, chủ yếu là để tự vệ lúc cần thiết. Và mỗi trận đánh, để đảm bảo chắc thắng, có khi phải vào căn cứ trinh sát nhiều lần. Trong điều kiện địch bố phòng bằng nhiều lớp hàng rào, nhiều bãi mìn các loại, nhiều vọng gác, nhiều lần tuần tra, việc một tổ trinh sát vào tận trung tâm địch, đòi hỏi phải có quyết tâm cao, dũng cảm và mưu trí.
Tối hôm thứ nhất, sau khi đã qua được hai hàng rào, đến hàng rào thứ ba, giao cho trinh sát cảnh giới, tôi và anh Xuân luồn qua, mới đến giữa hàng rào thì bất ngờ có một tốp lính đi tuần, chúng tôi nằm bất động chờ chúng đi qua để trườn tiếp. Nằm được mấy phút, không hiểu sao, tôi buồn ngủ đến lạ lùng và thiếp đi. Đến khi anh Xuân dùng tay cấu nhẹ, tôi mới giật mình tỉnh giấc, suýt nữa thì bật nên lời. Trong chiến đấu, tôi thường có tật rất buồn ngủ trong 3 trường hợp: Khi ngồi trong hầm nghe pháo bắn cầm canh; khi ngồi phục kích địch; và khi tiềm nhập vào đồn địch. Nói ra có người không tin, nhưng đó là sự thật. Chẳng phải tôi bình tĩnh đến mức đó đâu. Theo tôi, có thể do căng thẳng quá, thần kinh tôi không chịu nổi, đã chùng xuống quá ngưỡng, gây buồn ngủ.
Đêm đó chúng tôi vào được trung tâm trận địa địch rồi quay ra an toàn.
Sau khi trinh sát xong, cả đoàn cán bộ quay về hậu cứ ở A-Lê-Thiêm báo cáo  cấp trên và làm các công tác chuẩn bị. Hôm thông qua kế hoạch tác chiến trên sa bàn do anh Chu Phương Đới, Tư lệnh sư đoàn chủ trì. Tham dự còn có anh Thái Cán, Tham mưu trưởng Sư đoàn và cán bộ các cơ quan Quân khu, Sư đoàn, Trung đoàn. Sau khi nghe anh Trần Duy Thị, Tiểu đoàn trưởng báo cáo, các cơ quan thay nhau phát biểu khá sôi nổi.
 Trước khi kết luận và giao nhiệm vụ, anh Chu Phương Đới nói :
- Từ sáng đến giờ chúng ta mới chỉ nghe các đồng chí đại diện các cơ quan phát biểu. Tốt thôi. Nhưng đó đều là ý kiến tư vấn của những người không trực tiếp đánh nhau. Bây giờ chúng tôi cần nghe chính kiến của mấy đồng chí cán bộ phân đội – là những người  trực tiếp chi huy chiến đấu. Sự thành bại của trận đánh do kết quả thực hành chiến đấu của bộ đội ở cơ sở. Nào, tiểu đoàn 3 đã trình bày rồi, đến lượt cán bộ  Đại đội 20 phát biểu đi.
 Anh Hào giao tôi phát biểu. Tôi nói là:
           - Báo cáo Tư lệnh Sư đoàn, Đại đội 20 chúng tôi nhất trí hoàn toàn về phương án tác chiến của toàn tiểu đoàn, do anh Thị tiểu đoàn trưởng trình bày. Riêng ở hướng thứ yếu, chúng tôi đã tiềm nhập vào cả 3 phía của mỏm B, thấy rằng, nếu bộ đội tiềm nhập tốt, khả năng mật tập có thể giành thắng lợi lớn. Còn khi bị lộ mà phải cường tập thì rất khó khăn, vì ở đó có tới 3 lớp hàng rào thép gai và một hàng rào cây đổ. Hơn nữa địa hinh ở ngoài vào rất dốc, hỏa lực địch dễ phát huy tác dụng.
           Tôi vừa trình bày xong, anh Chu Phương Đới nói ngay:
- Đồng chí Đẩu nói đúng đấy. Phải mật tập chứ. Cường tập là vạn bất đắc dĩ thôi.
Sau phần thảo luận, Tư lệnh sư đoàn kết luận giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 3 và Đại đội 20. Theo đó, Tiểu đoàn 3 được tăng cường Đại đội 20 có nhiệm vụ tập kích, đánh tiêu diệt tiểu đoàn thủy quân lục chiến Mỹ, phá hủy toàn bộ trận địa pháo. Phân công nhiệm vụ cụ thể là: Tiểu đoàn 3 đảm nhận hướng chủ yếu đánh vào Sở Chỉ huy, 2 đại đội thủy quân lục chiến Mỹ. Đại đội 20 đảm nhận hướng thứ yếu, đánh vào trận địa pháo và 1 đại đội thủy quân lục chiến Mỹ.
Anh Chu Phương Đới, dân tộc Tày, quê ở xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, có 8 năm liền làm Tư lệnh Sư đoàn 324 trong kháng chiến chống Mỹ. Sau này anh là Thiếu tướng, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Lào (BTL 678). Năm 2006,  anh Đới từ Cao Bằng về điều trị ở Viện Y học dân tộc quân đội ở Hà Nội, biết tin tôi đến thăm, anh em ôn lại thời kỳ chiến đấu ở chiến trường Trị Thiên ác liệt, khó khăn.
Sau khi nhận nhiệm vụ, chúng tôi tổ chức hội nghị quân nhân, họp chi ủy, chi bộ để quán triệt và bàn biện pháp triển khai thực hiện cụ thể. Ngoài việc thảo luận trên sa bàn, chúng tôi còn làm thao trường mô phỏng, có hàng rào, lô cốt, chiến hào, trận địa pháo để  luyện tập. Khí thế đơn vị hăng hái lắm. Anh em tin tưởng và có quyết tâm cao. Trận này, do anh Dung bị sốt cao, đi tiểu ra máu, anh Chúng bị tái phát vết thương ở đầu gối, vì còn mảnh đạn, nên không tham gia được. Bởi thế, trong Ban chỉ huy đã phân công: Anh Hào, đại đội trưởng đi cùng Mũi 1 do anh Ba làm mũi trưởng đánh vào hướng nam. Tôi với cương vị  phụ trách chính trị viên đại đội đi với Mũi 2 do anh Xuân làm mũi trưởng đánh vào hướng tây. Còn  hướng đông do anh Nhụy mũi trưởng cùng anh Ngãi mũi phó  Mũi 4 chỉ huy, không có cán bộ đại đội đi cùng.
3 giờ chiều ngày 16 tháng 6 năm 1969, chúng tôi xuất phát từ hậu cứ hành quân vào chân động Ta Tách, cùng đi còn có anh Nguyễn Văn Thuận, quê ở Hương Khê, Hà Tĩnh, chủ nhiệm trinh sát Trung đoàn. Đến 6 giờ tối, khi đã qua thung lũng A Sầu, bộ phận đi đầu vướng mìn nổ, 3 người hy sinh tại chỗ gồm: anh Thuận chủ nhiệm trinh sát, anh Ba mũi trưởng Mũi 1 quê ở xã Đức Phong, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh và một chiến sĩ. Cậu Nguyễn Văn Lợi quê ở nhà số 10, Ngô Gia Tự, thị trấn Từ Sơn, Bắc Ninh bị thương nặng khiêng được một quãng ngắn thì hy sinh. Đây là một tổn thất khi chưa bước vào chiến đấu. Sau khi an táng cho anh em xong, chúng tôi giao cho anh Thỏa mũi phó thay thế anh Ba chỉ huy Mũi 1. Cả đại đội  tiếp tục đi vào vị trí tập kết và chuẩn bị  mọi mặt theo kế hoạch chiến đấu.
7 giờ tối ngày 17 tháng 6 năm 1969, rời vị trí tập kết, tôi cùng Mũi 2 bắt đầu tiềm nhập vào phía đồn địch. Lực lượng Mũi 2 có anh Trần Viết Xuân mũi trưởng, anh Nguyễn Quốc Việt mũi phó và 3 tổ, mỗi tổ có 5 người.  Đến 8 giờ tối cả Mũi 2 đã đến mép ngoài hàng rào cây đổ. 12 giờ30 đêm chúng tôi đã luồn qua hàng rào thứ nhất. Theo kế hoạch là tất cả các mũi trong toàn tiểu đoàn sẽ nổ súng vào lúc 1giờ30 phút sáng. Hiệu lệnh nổ súng là quả bộc phá của Đại đội 2 đánh vào sở chi huy tiểu đoàn địch. Nhưng bất ngờ lúc 1 giờ 5 phút, tôi nghe tiếng súng nổ giòn giã ở phía đại đội 2. Anh Xuân nói nhỏ với tôi, chắc là hướng chủ yếu bị lộ mất rồi anh ạ. Tôi bảo, hãy dừng lại, bình tĩnh nghe ngóng xem sao. Độ 10 phút sau, một tiếng nổ rất to ở trung tâm, chắc đó là quả bộc phá lệnh. Cùng lúc tiếng B40, B41, tiếng  bộc phá của bộ đội ta nổ rền cả ở mỏm A và mỏm B. Tất cả các hỏa điểm trong mỏm B đồn địch đồng loạt nhả đạn ra phía chúng tôi. Cối 81 ly, súng phóng lựu M79, ĐKZ, súng chống tăng của địch bắn cấp tập ra ngoài hàng rào. Lúc này yếu tố bí mật không còn nữa. Máy thông tin 2 oát bị hỏng, không liên lạc được với tiểu đoàn. Tình huống lúc này buộc chúng tôi phải chọn lựa một trong hai cách: Hoặc là, cường tập vượt qua hàng rào trong cùng, rồi tiến đánh các mục tiêu theo phân công. Nhưng khoảng cách tới được mục tiêu còn khá xa, địa hình dốc, lại còn phải băng qua 2 lớp hàng rào, bãi mìn, dưới làn đạn dày đặc của địch, thương vong sẽ nhiều, khả năng tiến sát để đánh địch là rất khó. Hoặc là, nhanh chóng tổ chức bắn yểm trợ và cho anh em rút ra ngoài. Kinh nghiệm cho thấy, trong tình huống này, người chỉ huy phải quyết đoán  nhanh, dứt khoát. Nếu ngập ngừng hoặc phủ phục tại chỗ để chờ cơ hội là rất nguy hiểm. Anh Xuân nói nhanh với tôi: “ Xin anh cho dùng hai khẩu B41 phóng mấy quả vào mấy hỏa điểm để anh em rút ra”. Tôi cho rằng, không còn cách gì khác, lao lên cường tập thì cũng không đánh chiếm được mục tiêu, mà sẽ thương vong hết. Thôi đành vậy. Tôi đồng ý với đề nghị của anh Xuân. Đây là một quyết định ám ảnh cả đời tôi. Là người chủ trì cao nhất lúc đó, tôi dám chịu trách nhiệm và sẵn sàng nhận kỷ luật của cấp trên về quyết định của mình. Có thể, có người cho là quyết định rút lui trong trường hợp đó là do dao động ý chí chiến đấu. Sợ chết ư? Đúng! làm người ai mà chẳng sợ chết. Song, một khi đã ý thức được chết cho ai, vì cái gì, đem lại cái gì, thì con người ta lại sẵn sàng đón nhận cái chết về mình một cách thanh thản. Thực ra, đã vào chiến trường bao nhiêu năm, chiến đấu bao nhiêu trận rồi, thì coi việc vào sinh ra tử như một lẽ tự nhiên. Nhưng, bao giờ cũng vậy, lòng quả cảm không đồng nghĩa với sự liều lĩnh. Gần hai chục mạng người lao vào chắc chắn là hy sinh cả, mà cuối cùng cũng chẳng giải quyết được gì, thậm chí chẳng diệt nổi một tên địch.
 Nhiều năm sau này, tôi về Thái Bình họp mặt một số lần với anh em cùng Đại đội 20 đặc công thuở đó: Tạ Ngọc Dũng quê ở xã Nam Cường, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình; Trần Quang Bình quê ở xã Hồng Tiến, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình; Bùi Văn Tường và Bùi Văn Ký quê ở xã Nam Hưng, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình; Lê Văn Thảo quê ở Phường Nam Ngạn, thành phố Thanh Hóa; Nguyễn Viết Hiền quê ở xã Xuân Bắc, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định; Mai Sĩ Thanh quê ở thành phố Thanh Hóa; Nguyễn Văn Tiên quê ở xã Tây Phong, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình; Trần Văn Tảo quê ở xã Nam Cường, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, Nguyễn Văn Quân quê ở xã Bình Định, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình,…Mọi người nay đã trên dưới sáu mươi tuổi, thành ông nội, ông ngọai cả rồi. Anh em đều nói với tôi : “ Đêm hôm đó nếu anh không ra lệnh bắn yểm trợ và rút ra ngay, mà cứ đánh thốc vào hoặc lừng khừng, ngập ngừng ở giữa các lớp rào thì rồi cũng chẳng giải quyết được gì. Điều chắc chắn là toàn bộ anh em chúng ta sẽ chết hết như Mũi 4 của anh Nhụy cả rồi”. Nghe xong, tôi chẳng nói gì, lòng ngậm ngùi nhớ về gương mặt phúc hậu của anh Cao Hồng Nhụy và những anh em Mũi 4 thuộc Đại đội 20 đặc công ngày đó.
Sau khi ra khỏi hàng rào cuối cùng, pháo địch bắn phá dữ dội xung quanh cao điểm. Điều đặc biệt là, ở bên ngoài hàng rào độ 100 mét, địch đã đặt sẵn nhiều thùng chất độc hóa học. Khi pháo bắn trúng vào đó, chất độc bung ra trở thành một hàng rào chất độc. Mọi người bị cay sặc. Chúng tôi phải cởi áo ra, lấy nước tiểu của mình thấm vào và đặt lên mũi để vượt qua khu vực chất độc mờ mịt, ngột ngạt. Không biết sau này trong số đó có ai bị nhiễm chất độc hóa học của Mỹ hay không.
Khi chúng tôi về đến vị trí tập kết, thì Mũi 1 do anh Hào chỉ huy cũng vừa  về. Tôi báo cáo với anh Hào, thì anh Hào nói bên đó tình hình cũng giống như hướng chúng tôi. Chờ đến trưa không thấy Mũi 4 của anh Nhụy trở về, chúng tôi bắt đầu lo lắng. Trước khi  đưa anh em về hậu cứ, tôi và anh Hào trèo lên đài quan sát để nhìn lại vào trong căn cứ địch. Qua ống nhòm, chúng tôi thấy trong đó nhiều nơi vẫn còn khói lửa âm ỷ cháy. Một chiếc trực thăng đang nổ máy tại chỗ, lố nhố mấy tên Mỹ đang áp giải một số chiến sỹ ta (chắc là đã bị thương) bị địch bắt đưa lên máy bay. Chúng tôi nhận định là, Mũi 4 đánh vào bị mắc kẹt trong căn cứ, hy sinh gần hết, còn một ít bị thương rồi bị địch bắt. Thương xót anh em vô cùng mà chẳng biết làm sao.
Hôm sau, tôi hỏi lại anh Lộc đại đội trưởng Đại đội 2 – mũi chủ yếu, tại sao ở phía bên này, chúng tôi nghe súng nổ khoảng 10 phút rồi bộc phá lệnh mới nổ và kết quả ở hướng chủ yếu thế nào. Anh Lộc cho biết là, khi đang tiềm nhập qua hàng rào cuối cùng, thì bất thần các loại súng trong đồn bắn ra rất mạnh, tổ mũi nhọn  3 người hy sinh hết, chi ủy Đại đội 2 trao đổi chớp nhoáng với nhau là địch bắn báo động theo qui luật chứ không phải bị lộ, và cử người khác thay thế tổ mũi nhọn để tiếp cận vào đánh. Khi cả mũi đã lọt qua hàng rào, thì bất ngờ một tốp lính Mỹ đi tuần. Anh Lộc cho anh em dùng AK bắn liền mấy loạt. Mấy tên Mỹ chết gục tại chỗ,  số còn lại chạy thục mạng vào trong. Mấy phút  sau, tổ mũi nhọn  mới lao lên đánh vào hầm chỉ huy và các mục tiêu lân cận. Do bị thương vong cả khi tiềm nhập và cả khi đánh vào trong, mũi chủ yếu không đủ lực lượng đánh tiếp, đành phải rút. Anh Lộc mặc dù đã bị thương vào chân, vẫn cố dìu được thương binh khác đưa ra ngoài. Ở các hướng khác đều phát triển không thuận lợi.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:33:03 PM
Như vậy là, trận tấn công quân địch ở Cao điểm 817 - Ta Tách đã không giải quyết dứt điểm được. Chỉ đánh thiệt hại một bộ phận, tiêu hao một số sinh lực, phá hủy một số công sự và phương tiện của địch. Về phía ta bị thương vong tương đối lớn. Riêng Đại đội 20 chúng tôi bị mất toàn bộ mũi 4. Trước đó, trong trận Ba Đu,Tà Bạt do anh Vân chỉ huy cũng đã bị “phơi áo” anh em thương vong nhiều, không hoàn thành nhiệm vụ. Cả mũi 3 của Đại đội 20 chúng tôi tham gia trận đó do anh Thành mũi trưởng chỉ huy đều bị hy sinh hết.
Cả đơn vị về hậu cứ, một không khí buồn bã, u uất, nặng nề bao trùm lên toàn thể cán bộ, chiến sĩ. Quân số đại đội có 85 người thì 30 người hy sinh, 25 người bị thương. Tinh thần chiến đấu của anh em bị giảm sút, thiếu tin tưởng vào cách đánh đặc công. Thêm vào đó, lương thực thiếu thốn, mỗi người mỗi ngày chỉ được 2 lạng gạo, còn lại phải ăn sắn, muối ăn cũng khan hiếm, đời sống khó khăn. Nội bộ đơn vị xuất hiện tình hình mất đoàn kết.
Tôi nhớ lúc họp rút kinh nghiệm ở Trung đoàn, anh Đinh Minh Chúng đại đội phó đã phê phán gay gắt và còn văng tục. Không giữ được bình tĩnh, tôi nổi cáu:
 - Này ông Chúng, ông nói gì thế? Ông dũng cảm, giỏi giang, nhưng khi anh em đi trinh sát trong căn cứ địch và đi đánh, thì ông lại ngồi ở hậu cứ, để bây giờ ông phán. Nói sau bao giờ chả đúng! Còn việc ông nói tục, nói bậy là không xong với tôi đâu. Nói nữa là tôi bạt tai ông đấy.
Chúng cũng chẳng vừa, mặt đỏ tía tai, mắt trợn trừng, quát lớn:
         - Tôi nói thế đấy, ai làm gì nào. Tôi không đi được là do vết thương tái phát chứ. Bao nhiêu đồng đội hy sinh vì chỉ huy kém cỏi, liều lĩnh. Còn ông Đẩu làm chính trị viên mà dọa đánh tôi hở. Được thôi. Có giỏi thì đánh đi. Ông được 10 phần thì tôi cũng được 8 chứ, sợ gì ông…
         Không chờ Chúng nói hết câu, tôi lao vào giáng cho Chúng mấy quả đấm. Chúng vừa chống đỡ, vừa hét toáng lên:
- Anh em ơi, ông Đẩu chính trị viên đánh tôi.
          Tôi hăng máu vừa đánh vừa nói to:
        - Nhân danh những người đã hy sinh và những người đang sống, tôi phải trị ông. Đây là thằng Đẩu đánh thằng Chúng, bạn nó, vì nó nói bậy, chứ chẳng có chính trị gì ở đây cả.
 Mấy anh em chạy lại can, đưa mỗi người ra một góc. Sau đó, tự mình, chúng tôi biết là sai nên ân hận. Đây là biểu hiện điều bức xúc trước sự tổn thất của đơn vị, thương xót những những đồng đội đã hy sinh. Chứ thực ra giữa tôi và Chúng chẳng có thù oán gì, thậm chí chơi thân với nhau từ khi cùng chiến đấu với nhau ở Tiểu đoàn 929. Ngày hôm sau, anh Lê Văn Dánh phó chính ủy Trung đoàn - vốn là thủ trưởng cũ của chúng tôi khi còn ở Tiểu đoàn 929- cho gọi tôi và Chúng lên. Vừa nhìn thấy chúng tôi bước vào, anh Dánh trừng mắt quát lớn:
- Thế nào hai ông? Các ông đẹp mặt quá nhỉ. Cán bộ đại đội đánh nhau. Từ khi tôi vào bộ đội đến bây giờ chưa thấy ai thế bao giờ. Trẻ con quá đấy. Đã hai mốt, hai hai tuổi rồi. Là lính Tiểu đoàn 929 với nhau, tôi thật xấu hổ về các ông.
 Ngừng một lát, không cho chúng tôi kịp phân trần, anh Dánh nói luôn:
- Thôi! Không nói gì cả. Có lỗi thì sửa. Tôi thông cảm cho hành động nóng nẩy, bột phát, thiếu suy nghĩ của các ông. Bây giờ về đơn vị, hai ông phải cùng nhau chung sức, chung lòng xây dựng đơn vị. Sau này nếu còn tiếp diễn cảnh đó là không xong đâu nhé. Sẽ kỷ luật nặng đấy. Thôi ! có mấy bánh lương khô đây, vào ăn đi rồi mà về.
 


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:34:15 PM
  Cả hai chúng tôi ra về sau cái bắt tay xiết chặt, nồng ấm, chân thành của anh Dánh. Cách của anh Dánh là vậy. Ở với nhau bao nhiêu năm rồi, anh hiểu chúng tôi và chúng tôi cũng rất hiểu anh. Anh là mẫu cán bộ chính trị của công việc, luôn luôn bám sát thực tế chiến đấu, gương mẫu, miệng nói tay làm. Trong lãnh đạo, anh không nhiều lời giải thích dài dòng. Anh đề cập mọi vấn đề một cách trực diện, thẳng thắn, chính kiến rõ ràng, hiệu quả.
Sau trận đánh Ta Tách và Tà Bạt, đại đội chúng tôi được giao tập kích quân địch ở cao điểm 354. Ở trận này, sau khi trinh sát kỹ, nắm rất chắc việc bố phòng của địch, Ban Chỉ huy đại đội quyết định chỉ dùng có 11 chiến sỹ do anh Bùi Công Tiếp mũi trưởng chỉ huy. Trận đánh nhanh gọn hiệu suất chiến đấu cao. Ta đánh thiệt hại nặng một đại đội quân Mỹ. Phía ta hy sinh một người là Phạm Xuân Khu, xạ thủ B40, quê ở xã Bình Định, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Sau này đã có lần tôi đến nhà thăm bố mẹ Khu và thắp hương cho Khu.
Trong trận này có tình huống:  Khi cả tổ đã tiềm nhập vào bên trong cứ điểm địch, thì có một tên Mỹ lao ra bế xốc tổ trưởng Nguyễn Viết Hiền và quật xuống. Quá bất ngờ, tên Mỹ thì cao to, Hiền thì nhỏ con không làm sao gượng lại được. Loay hoay mất gần 1 phút, Hiền rút được một quả thủ pháo, đưa tay ra phía sau lưng tên Mỹ, giật nụ xòe. Nụ xòe kêu đánh tách, lửa phụt ra, tên Mỹ hoảng quá buông Hiền bỏ chạy.  Ngay tức khắc, Hiền ném quả thủ pháo, tên Mỹ bị chết tại chỗ. Vì quả thủ pháo nổ quá gần, Hiền bị thương vào mắt. Hiền vốn là liên lạc của tôi mới đưa xuống làm tổ trưởng.
Khi về tới vị trí tập kết, tôi hỏi Hiền:
 - Làm sao không cho tên Mỹ ấy một nhát dao có gọn hơn không?
 Hiền nhỏ nhẹ trả lời:
- Thủ trưởng ạ, nó ôm ghì em chặt lắm không cựa quậy nổi, may mà thò tay rút được quả thủ pháo, nghĩ rằng, sẽ cùng chết chung với nó. Ai ngờ, nó hoảng quá buông ra, em ném luôn vào chân.
Nguyễn Viết Hiền quê ở xã Xuân Bắc, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Hiện nay là thương binh ở quê. Năm 2003, tôi đã về quê thăm gia đình Hiền.
Giữa năm 1969, đơn vị chúng tôi hoạt động bám trụ chiến trường ở vùng núi tây Thừa Thiên. Lúc này đời sống khó khăn, gian khổ lắm. Đang giữa mùa mưa, thời tiết ở rừng nặng nề. Từ sáng sớm đến chiều tối mưa dai dẳng, cả ngày trời tối xầm. Lương thực thiếu thốn, mỗi người mỗi ngày chỉ có 2 lạng gạo. Phải độn thêm ngô, sắn, chêm thêm măng, các loại rau tàu bay, môn thục, dương xỉ và cả đọt lá sắn nữa mới đủ no. Thực phẩm không có. Muối ăn cũng rất thiếu. Anh em trong đơn vị sốt rét nhiều. Tôi bị sốt rét mấy ngày liền, không ăn uống gì được, người gầy xọp đi.
Giữa lúc đó, Đài Tiếng nói Việt Nam bất ngờ thông báo về tình hình sức khỏe của  Bác Hồ. Mãi đến bây giờ, tôi vẫn không thể quên được giọng đọc trầm buồn, xúc động, nghiêm trang của người phát thanh viên trên Đài Tiếng nói Việt Nam ngày đó. Ai nấy đều dừng tất cả mọi công việc, chăm chú, lo lắng, hồi hộp lắng nghe. Rồi tiếp đến, chúng tôi đau đớn bàng hoàng nghe tin Bác Hồ từ trần. Mọi người chúng tôi đều khóc. Một không khí đau thương trùm lên toàn đơn vị. Theo thông báo của trung đoàn, chúng tôi tổ chức Lễ truy điệu Bác vào ngày 9 tháng 9, đúng với giờ Đài Tiếng nói Việt Nam tường thuật Lễ truy điệu ở Quảng trường Ba Đình Hà Nội.
Đang lên cơn sốt rét, mặt đỏ phừng, chân đi không vững, trời lại đang mưa tầm tã, cậu Long y tá đại đội đưa tôi uống mấy viên Vitamin B1 rồi khoác tấm ni lông dìu tôi ra hội trường đại đội. Đó là một cái hầm lộ thiên rộng, có hào râu tôm thông ra xung quanh. Anh em đã làm một bàn thờ Bác, không có ảnh, không hương hoa. Đúng giờ, theo tiếng hô của anh Trần Viết Xuân đại đội phó, cả đại đội gần trăm con người ngẹn ngào đứng dậy trang nghiêm mặc niệm Bác. Mặc niệm xong, anh Xuân giới thiệu tôi lên phát biểu. Tôi bước lên bục nói vo không giấy tờ nhưng đủ ý và xúc động. Bằng nhận thức và tình cảm của mình, tôi nói ngắn, đại ý là: Khái quát về thân thế, sự nghiệp và công lao vĩ đại của Bác Hồ đối với dân tộc Việt Nam. Bác Hồ mất đi là một tổn thất vô cùng to lớn, không có gì bù đắp được đối với nhân dân và cách mạng, để lại cho chúng ta sự tiếc thương vô hạn. Để xứng đáng với lòng mong muốn của Bác, chúng ta - những người lính trực tiếp cầm súng chiên đấu trên chiến trường - nguyện vượt qua mọi khó khăn, ác liệt, hy sinh, tiếp tục quyết tâm chiến đấu giành thắng lợi lớn hơn, tiến tới thắng lợi cuối cùng. Sau phát biểu của tôi, theo chương trình, một cán bộ và một đảng viên trẻ lên phát biểu cảm tưởng và hứa quyết tâm. Cả hai người đều nói ngắn nhưng rất tình cảm và rất đúng. Đó là những lời nói mộc mạc, dung dị nhưng rất chân thành, được chắt ra, thốt lên tự đáy lòng.                                                        


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:34:24 PM
Tháng 10 năm 1969, tôi được cử đi tập huấn ở Quân khu Trị Thiên. Đối tương dự tập huấn là cán bộ cấp đại đội, tiểu đoàn các đơn vị chiến đấu và một số cán bộ cơ quan Sư đoàn, Quân khu. Làm cán bộ mấy năm rồi, mãi đến lúc đó tôi mới được đi tập huấn những kiến thức cơ bản về quân sự, chính trị trong lãnh đạo, chỉ huy quản lý đơn vị. Phần đông cán bộ trưởng thành trong chiến đấu là vậy. Ở chiến trường, lớp sau học lớp trước và  đồng thời tự mình rút kinh nghiệm qua thực tiễn chiến đấu công tác là chính. Chúng tôi tập huấn ở Hội trường Thanh niên, gần dốc Cao Bồi (tôi cũng không hiểu tại sao lại gọi như vậy). Giáo viên dạy quân sự là anh Dương Bá Nuôi tham mưu phó Quân khu và các anh cán bộ chủ chốt trong Bộ Tham mưu Quân khu. Giáo viên dạy chính trị là anh Thanh Quảng, Phó Chính ủy Quân khu (ngày đó gọi là ông Hồ Tú Nam), anh Trần Văn Ân, Chủ nhiệm Chính trị Quân khu, anh Mai Trọng Thường, Cục phó Cục Chính trị, anh Lê Khả Phiêu, Trưởng phòng Tổ chức, anh Kiều Tam Nguyên , Trưởng phòng Tuyên huấn,..Nhạc sĩ Trần Hoàn (ngày đó có tên là Hồ Thuận An) Phó ban Tuyên huấn Khu ủy có đến giảng bài.
 Bằng năng lực, kinh nghiệm, trách nhiệm và tình cảm của mình, các anh lãnh đạo đã tận tình giảng giải cho lớp cán bộ trẻ chúng tôi về nội dung, hình thức và phương pháp trong tiến hành lãnh đạo, chỉ huy đơn vị. Quả thật lúc đó, đầu óc chúng tôi như tờ giấy trắng, có chí tiến thủ, đang khát khao hiểu biết để soi rọi, kiểm chứng vào thực tiễn sinh động đang diễn ra ở chiến trường. Lại được các anh vừa có kiến thức sâu sắc, vừa có sự trải nghiệm phong phú giảng giải cho, chúng tôi  hứng thú, tin tưởng và ngưỡng mộ vô cùng. Chúng tôi chăm chú say mê nghe giảng bài như nuốt lấy từng lời, uống lấy từng đơn vị kiến thức. Đúng như Bác Hồ đã từng nói với học viên ở một lớp đào tạo cán bộ: ”Học để làm người, học để làm cán bộ”. Có những điều trước đây chúng tôi mò mẫm làm, nay đối chiếu lại thấy có cái đúng, cái dở. Lớp học ngắn thôi, nhưng trong hoàn cảnh đó, đã trang bị cho chúng tôi rất nhiều điều bổ ích.
Sau khi tập huấn ở Quân khu về, tôi được đề bạt lên cấp đại đội bậc trưởng (nếu ra Bắc thì được phiên sang là thượng úy), đồng thời được bổ nhiệm làm Trợ lý thanh niên của Trung đoàn thay anh Bùi Anh Sum quê xã Diễn Viên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An sang làm Trưởng tiểu ban Tuyên huấn Trung đoàn. Trưởng tiểu ban Tuyên huấn trước đó là anh Nguyễn Thái được điều động đi làm chính trị viên Tiểu đoàn 7 thay anh Trần Triền.
 Khi giao nhiệm vụ cho tôi, anh Lê Văn Dánh, Chính ủy Trung đoàn đã nói:
 - Đẩu ạ, em vừa tròn 21 tuổi. Em là cán bộ hăng hái sôi nổi,  nói được, viết được, làm được, đảm nhiệm chức vụ Trợ lý thanh niên Trung đoàn là phù hợp,  xứng đáng. Cả trung đoàn hơn hai nghìn quân, tất cả cán bộ cấp phân đội và chiến sĩ đều đang độ tuổi thanh niên. Em phải tham mưu cho Chủ nhiệm chính trị Trung đoàn, chỉ đạo các đơn vị trong toàn Trung đoàn làm tốt hai khâu : Một là, Kiện toàn, củng cố tổ chức Đoàn luôn luôn vững mạnh, xứng đáng là trường học, là chỗ dựa của thanh niên, đồng thời là cánh tay đắc lực của tổ chức Đảng ở cơ sở; Hai là,Tăng cường giáo dục đoàn viên thanh niên về lý tưởng, niềm tin. Cách giáo dục không cứng nhắc, phải phong phú, sinh động phù hợp với “khẩu vị”, với nhu cầu tâm lý của thanh niên. Từ đó, động viên thanh niên hăng hái làm lực lượng xung kích trong mọi mặt hoạt động của đơn vị. Kịp thời cổ vũ những gương điển hình tiên tiến trong chiến đấu, công tác để nhân rộng ra trong toàn đơn vị.
           Nghe xong, tôi hứa sẽ cố gắng hết sức mình để hoàn thành nhiệm vụ, đồng thời mong các anh chỉ huy lãnh đạo, mà nhất là Chỉnh ủy, quan tâm giúp đỡ.
Là trợ lý thanh niên của Trung đoàn, tôi luôn bám sát các đơn vị. Khi xuống đơn vị, tôi không đơn thuần làm công tác thanh niên mà là phái viên của cơ quan chính trị Trung đoàn đến kiểm tra, phát hiện,  hướng dẫn, tham gia chỉ đạo các mặt công tác đảng, công tác chính trị và các lĩnh vực khác của đơn vị cơ sở. Cùng ăn ở, cùng tham gia hoạt động chiến đấu, công tác với bộ đội, lúc đó, đối với tôi có nhiều điều lý thú. Tuổi trẻ, sức khỏe, những kiến thức thu lượm được, cộng với một số kinh nghiệm trong chỉ huy, lãnh đạo trước đây, đã giúp tôi làm được nhiều việc hữu ích  tại các đơn vị  trong Trung đoàn. Nói chung là, tôi được lãnh đạo, chỉ huy và nhất là anh em thanh niên ở các đơn vị  thân quí.
Tháng 8 năm 1970, Trung đoàn 3 đang tham gia chiến dịch Cốc Bai ở tây Thừa Thiên, tôi được Ban Chính trị cử làm phái viên đốc chiến ở Tiểu đoàn 9. Cùng làm phái viên như tôi, Ban Tham mưu trung đoàn cử anh Cao Sĩ Nguyên trưởng tiểu ban Trinh sát ( anh Nguyên cùng chiến đấu với tôi hồi còn ở Tiểu đoàn 929; sau này, anh đã nghỉ hưu ở quê - Tân Đức, Tuyên Hóa, Quảng Bình).
 Khoảng 3 giờ chiều, khi Tiểu đoàn 9 vừa mới dừng lại chưa kịp bố trí xong đội hình chiến đấu, thì lực lượng địch khoảng một tiểu đoàn quân ngụy xuất hiện ở tiền duyên. Đảng ủy và Ban chỉ chỉ huy tiểu đoàn họp gấp, mời tôi và anh Nguyên cùng dự. Ban chỉ huy tiểu đoàn 9 lúc đó có anh Lê Văn Tành, tiểu đoàn trưởng, quê ở Đại Phong, Lệ Thủy, Quảng Bình;  anh Nguyễn Thụy, bí thư đảng ủy, chính trị viên tiểu đoàn quê ở Tào Sơn, Anh Sơn, Nghệ An (mấy năm trước đó, hồi còn chiến đấu ở Lào, tôi đã từng làm liên lạc cho anh Thụy, khi anh ấy làm chính trị viên đại đội ); tiểu đoàn phó là anh Nguyễn Đăng Loạt quê ở Quảng Văn, Quảng Trạch, Quảng Bình; chính trị phó là anh Lê Văn Tình quê ở Hậu Lộc, Thanh Hóa. Khi họp bàn, có hai loại ý kiến khác nhau: đánh, chưa đánh, chưa ngã ngũ. Ý kiến đánh, cho rằng, địch mới đến chưa có công sự, ta bất ngờ đánh phủ đầu ngay, địch bị bất ngờ không kịp trở tay, chắc chắn sẽ giành thắng lợi. Ý kiến chưa đánh, cho rằng, không nên nóng vội, cần phải có thời gian nắm địch, phải chắc thắng mới đánh. Nghe ra, ý kiến nào cũng có lý. Anh Thụy bí thư đảng ủy, chính trị viên tiểu đoàn quay sang tôi và anh Nguyên. Anh nói:
       -  Đề nghị hai đồng chí phái viên của Trung đoàn cho ý kiến.
Tôi phát biểu ngay:
      - Ý kiến của anh Nguyên như thế nào tôi chưa biết. Nhưng theo tôi, đây là thời cơ tốt, Tiểu đoàn 9 cần phải tổ chức đánh ngay khi địch vừa hạ ba lô, chưa có công sự. Đánh địch ngoài công sự, trên mặt đất, bao giờ cũng thuận lợi hơn đánh địch trong công sự. Không cầu toàn việc nắm địch. Quá trình tác chiến, theo sự phát triển cụ thể sẽ tùy cơ ứng biến.
Dừng một chút, nhìn qua một lượt, xem xét thái độ của mọi người, để tiếp tục khẳng định, tôi nói thêm:
     - Với tư cách phái viên của Trung đoàn, chính kiến của chúng tôi là vậy. Còn đánh hay không là quyền của các đồng chí. Nhưng kiểu gì, Tiểu đoàn 9 cũng đều phải báo cáo về Thủ trưởng Trung đoàn.
           Tôi vừa dứt lời, anh Nguyên nói tiếp:
           - Tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến của anh Đẩu. Không sợ gì cả, Tiểu đoàn 9 đang sung sức, các anh cứ mạnh dạn cho đánh ngay. Theo tôi, vắn tắt cách đánh là thế này: Tiểu đoàn lệnh cho Đại đội 12 hỏa lực cấp tập một đợt ngắn rồi cho Đại đội 9 và Đại đội 11 đánh thốc lên. Nên để Đại đội 10 làm lực lượng dự bị.
       Anh Nguyên nói xong, anh Thụy hỏi có ai ý kiến gì khác không? Cả hội nghị nhất trí và thông qua phương án tác chiến cụ thể.
 5 giờ chiều bắt đầu nổ súng. Đến chập tối, thì Tiểu đoàn đánh tan tiểu đoàn địch. Đêm đến, khi quân địch co cụm lại, Tiểu đoàn 9 còn tổ chức tập kích bằng hỏa lực cối 82 ly và ĐKZ 75 ly. Trận đó tiểu đoàn 9 giành thắng lợi lớn.
Sau chiến dịch, trong một cuộc họp, anh Lê Văn Dánh, Chính ủy trung đoàn đã khen ngợi chiến công của lãnh đạo, chỉ huy và toàn thể cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 9. Đồng thời, anh biểu dương hai phái viên đốc chiến của trung đoàn, với trách nhiệm, ý chí, kinh nghiệm và uy tín của mình, đã có những đóng góp đáng kể vào chiến công đó.
Tháng 7 năm 1970, khi giữ chức Trung đoàn trưởng, trong lần dẫn bộ phận cán bộ đi trinh sát ở vùng A Lưới, gần Đường 12 tây Thừa Thiên, anh Nguyễn Hoán bị trực thăng địch phát hiện, chúng bắn rất rát và hạ cánh đổ quân xuống đánh chụp. Khi đã bị thương, anh hô cậu Nhật liên lạc chạy thật xa. Anh ném quả lựu đạn còn lại và bắn hết viên đạn cuối cùng rồi vứt khẩu súng ngắn cách chỗ anh hy sinh đến hơn chục mét, chắc là không để cho địch thu được. Đến khi Nhật dẫn chúng tôi chạy đến thì địch đã rút, anh đã hy sinh.
28 năm sau, năm 1998,  tôi mới có dịp tìm được gia đình anh  Hoán ở Vinh, trong khu tập thể gia đình quân nhân. Bây giờ thì chị Lan vợ anh và cháu Hoài con gái duy nhất của anh chị không còn ở Vinh nữa mà đã chuyển nhà vào thị xã Hà Tĩnh. Trước đây, khi còn công tác, hàng năm tôi vẫn đến thăm gia đình, thắp hương anh Hoán.

Tháng 10 năm 1970, anh Trương Anh Dung chính trị viên Đại đội 20 đặc công bị ốm nặng, hình như bị viêm cầu thận, phải đi điều trị dài ngày ở Bệnh viện 68 của Quân khu. Chỉ huy và anh em Đại đội 20 đề nghị cấp trên cho tôi về lại đơn vị. Tôi cũng thích thế. Nhưng Ban Chính trị Trung đoàn không đồng ý, với ý định sẽ bố trí tôi vào cương vị khác cao hơn. Cơ quan đưa ra mấy phương án lựa chọn người về thay anh Dung, nhưng đều không được Đảng ủy, Thủ trưởng Trung đoàn đồng ý. Cuối cùng, lãnh đạo chỉ huy Trung đoàn đành cho tôi trở lại làm chính trị viên Đại đội 20 đặc công; đồng thời, chỉ định tôi vào Đảng ủy cơ quan Tham - Chính (tức là Đảng ủy gồm các đơn vị: Ban Tham mưu, Ban Chính trị Trung đoàn và Đại đội Trinh sát, Đại đội Đặc công).
Tôi về lại Đại đội 20 đặc công, dù mới xa hơn một năm mà đã có nhiều thay đổi. Anh Hào đại đội trưởng chuyển sang làm tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 9 đã hy sinh ở Cốc Muộn. Anh Dung sau khi khỏi bệnh được điều động lên Ban Chính trị Trung đoàn. Khi tôi về, anh Đinh Minh Chúng làm đại đội trưởng, anh Trần Viết Xuân làm đại đội phó, anh Lê Văn Rật quê ở xã Liên Am, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng làm chính trị phó. Một thời gian sau, trên điều động anh Chúng đi làm tham mưu trưởng Tiểu đoàn 9. Vì đã cùng chung sống, chiến đấu với nhau nhiều năm, với biết bao kỷ niệm vui buồn, nên ngày chia tay, anh Chúng và tôi ôm nhau nghẹn ngào khóc. Trên bổ nhiệm anh Trần Viết Xuân quê xã Hương Thu, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh, làm đại đội trưởng.
Sau mấy năm hoạt động ở chiến trường, đời sống kham khổ, một vài trận chiến đấu không dứt điểm, tỷ lệ thương vong cao, nội bộ không thật sự đoàn kết, thiếu tin tưởng. Không khí chung của đơn vị trầm lắng. Trước tình hình đó, việc đầu tiên khi tôi về là bàn bạc cùng các anh trong Chi ủy và Ban Chỉ huy nhanh chóng chấn chỉnh lực lượng, kiện toàn tổ chức, biên chế.  Cán bộ các mũi, các tổ có sự điều chỉnh thích hợp hơn. Tiếp đó, chúng tôi lập kế hoạch tăng cường luyện tập kỹ, chiến thuật; duy trì có chất lượng các chế độ sinh hoạt giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, rèn luyện kỷ luật, phát huy dân chủ, tăng cường đoàn kết cán binh, xây dựng củng cố quyết tâm chiến đấu,…Sau một thời gian, tình hình chung của đơn vị có nhiều chuyển biến tích cực. Từng bước, mọi hoạt động đi vào nền nếp, khí thế hăng hái sôi nổi hơn.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:35:03 PM
Chương bốn:  Tham gia Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào


  Tháng 1 năm 1971, thực hiện Chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ, quân đội Sài Gòn tiến hành Cuộc hành quân Lam Sơn 719, đánh lên Đường 9 - Nam Lào, hòng chặt đứt tuyến vận chuyển chiến lược Bắc- Nam của ta. Lực lượng địch huy động rất lớn, gồm: 3 sư đoàn (1 sư đoàn bộ binh, 1 sư đoàn dù, 1 sư đoàn thủy quân lục chiến), 1 liên đoàn biệt động quân, 1 lữ đoàn thiết giáp, 13 tiểu đoàn pháo binh ngụy; 20 tiểu đoàn Mỹ (7 tiểu đoàn bộ binh, 8 tiểu đoàn pháo binh, 5 tiểu đoàn thiết giáp) và 2 trung đoàn quân ngụy Lào phối hợp ở hướng Tây. Tổng quân số khoảng 5 vạn tên ( tương đương 5 sư đoàn bộ binh).
Để chặn đứng, đánh bật cuộc hành quân, tiêu diệt lớn quân địch, giữ vững hành lang huyết mạch của cuộc kháng chiến, tuyến vận chuyển Chiến lược 559, từ đó từng bước đánh bại Chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ, Quân đội ta đã thực hành chiến dịch phản công với qui mô rất lớn. Lực lượng ta có 5 sư đoàn bộ binh (gồm các sư đoàn: 2, 304, 308, 320 và 324), các lực lượng tại chỗ (Mặt trận B5, Trị Thiên, Đoàn 559), 3 tiểu đoàn tăng-thiết giáp, 4 trung đoàn pháo mặt đất, 4 trung đoàn pháo phòng không, 3 trung đoàn công binh, một số tiểu đoàn đặc công, thông tin,…Chiến dịch bắt đầu từ ngày 30 tháng 1 năm 1971.

Đang đứng chân ở vùng A Lưới - Thừa Thiên, chúng tôi được lệnh hành quân cấp tốc ra Đường 9 - Nam Lào. Vừa đi vừa phổ biến quán triệt nhiệm vụ vừa xây dựng quyết tâm chiến đấu cho anh em.
Ngày 5 tháng 2 năm 1971, khi chúng tôi mới hành quân ra đến Trạm 19 thì gặp địch. Sở trường của bộ đội đặc công là táo bạo, bí mật, bất ngờ tập kích địch trong cứ điểm vào ban đêm. Đánh hiểm, đánh nhanh, thắng nhanh và rút khỏi trận địa nhanh. Vũ khí trang bị của đặc công là gọn nhẹ. Trong biên chế trang bị chỉ có thủ pháo, lựu đạn, súng tiểu liên AK và B40, B41;  không có các loại hỏa lực khác có uy lực lớn hơn (như: trung liên, đại liên, cối, ĐKZ, trọng liên 12,7 ly…).Vì vậy, đặc công khó phát huy sức mạnh trong tác chiến với bộ binh địch ở ngoài công sự. Sở đoản của đặc công là đánh địch ban ngày. Nhất là khi được giao nhiệm vụ chốt chặn phòng ngự, chiếm giữ mục tiêu, chiến đấu dưới sự oanh kích của phi pháo địch, thì đặc công càng khó hơn. Nay, gặp địch giữa ban ngày, mới khoảng 3 giờ chiều. Trong Ban Chỉ huy có anh  lo không hoàn thành nhiệm vụ, đề nghị cho bám nắm địch, chờ đến khi trời tối mới tập kích. Với tôi, trước khi chuyển sang đặc công đã từng chiến đấu bộ binh nhiều trận, nên đã quen với tình huống này. Tôi vẫn nhớ cách các anh lớp trước nói rằng, đây là hình thức chiến thuật “tao ngộ chiến”, nói theo thuật ngữ mới là “đánh gặp gỡ”. Trong trường hợp này, lý luận nguyên tắc yêu cầu phải “tam tiên”, nghĩa là phải nhanh chóng làm ba việc trước đối phương: triển khai trước, nổ súng trước, xung phong trước. Bởi thế, tôi trao đổi với anh Trần Viết Xuân đại đội trưởng và chúng tôi thống nhất quyết định triển khai đội hình chiến đấu ngay. Anh Xuân chỉ huy mũi 2. Tôi chỉ huy mũi 1 do anh Phạm Văn Quí mũi trưởng tiếp cận vào quân địch.
Khi cách địch chỉ còn khoảng 30 mét, nhìn rõ, nghe cả tiếng cuốc xẻng chúng đang đào công sự và nói chuyện với nhau. Biết chắc là quân ngụy. Tôi chỉ thị cho cậu Bình xạ thủ B40 ngắm vào chỗ địch đang tập trung, khi nào tôi hô thì bắn. Tôi quay sang nói với Quí mũi trưởng chuẩn bị nổ súng. Nhưng chẳng hiểu sao, Quí nói với tôi:
- Anh Đẩu ơi, không đánh được đâu, lực lượng ta thì ít mà địch đông lắm.
          Tôi cáu tiết:
- Ông có đánh không, thì bảo?
Quí vừa lắc đầu, vừa nói:
- Em xin anh!
Tức mình, tôi gọi Mai Sĩ Thanh mũi phó lại và tuyên bố:
- Từ giờ phút này, ông Thanh giữ chức mũi trưởng chỉ huy chiến đấu, còn ông Quí lùi về phía sau ngay.
Thanh:
-  Vâng!
Quí cứ thế lầm lũi quay ra. Tôi ra lệnh nổ súng. Trận đó đại đội tôi giành thắng lợi. Chúng tôi diệt được nhiều địch, thu vũ khí và bắt được một tù binh.
Xem giấy tờ tùy thân của  tên tù binh nó là Trần Hữu Đức, quê quán ở Quế Chữ, Hương Trà, Thừa Thiên; đã tốt nghiệp Trường Võ bị Thủ Đức, trung úy, đại đội trưởng thuộc trung đoàn 1, sư đoàn 1 bộ binh. Ngoài ra, nó còn mang theo giấy xác nhận được tặng thưởng huân chương, ghi rõ tuyên dương công trạng đã giết được 5 cán binh cộng sản, thu 3 súng cá nhân và 1 súng cộng đồng.
Đọc đến đó và nhất là trước thái độ nói năng xấc xược của nó, tôi rút khẩu súng ngắn dí vào thái dương chực bắn bỏ cho bõ tức. Nhưng sợ vi phạm chính sách tù binh nên tôi kìm nén, đút súng vào bao. Tôi gọi điện báo cáo kết quả trận đánh lên anh Hoàng Trọng Thế trung đoàn trưởng. Anh Thế khen ngợi và yêu cầu đưa ngay tên tù binh lên trung đoàn để khai thác ngay.
  Ba hôm sau, tôi trực tiếp lên báo cáo tình hình và kết quả chiến đấu với Trung đoàn. Anh Hoàng Trọng Thế trung đoàn trưởng và anh Lê Văn Dánh chính ủy trung đoàn đều khen Đại đội 20 đặc công đã kiên quyết chủ động đánh địch, mặc dù ban ngày không phải là sở trường, chưa kịp nắm tình hình, gặp địch triển khai lực lượng đánh ngay, thu được thắng lợi lớn. Đánh thắng trận đó có ý nghĩa mở màn cho chiến dịch của Trung đoàn.
Trước khi trở về đơn vị, tôi gặp anh Trần Thư phó ban cán bộ Sư đoàn. Anh Thư nói nửa đùa, nửa thật:
      - Này ông Đẩu! Theo Điều lệnh hiện hành, có qui định nào cho phép ông được quyền cách chức mũi trưởng đối với Phạm Văn Quí và bổ nhiệm Mai Sĩ Thanh lên mũi trưởng?!
Tôi trả lời:
- Báo cáo anh, chính nhiệm vụ cấp trên giao và xương máu của anh em lúc ấy đã trao cho tôi cái quyền đó. Lúc đó không làm thế, thì chẳng biết điều gì sẽ xảy ra.
Nghe tôi nói, anh Thư cười và nói:
 - Không, tôi nói vậy thôi. Việc quyết định của ông lúc đó là kịp thời, chính xác. Điều quan trọng hơn là Đại đội 20 đặc công đã có một trận đánh thắng giòn giã.
Thực ra, ở với Quí nhiều năm rồi tôi biết. Quí hơn tôi một tuổi, quê ở Liên Am,Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Chính tôi là người giới thiệu cậu ta vào Đảng. Quí vốn là người dũng cảm. Nhưng không hiểu sao đến lúc đó lại vậy. Con người ta lạ thế. Có người trận trước chiến đấu gan dạ, trận sau lại chần chừ, thoái thác. Chúng tôi lao vào đánh nhau thì chẳng có ai việc gì. Nhưng khi lùi về phía sau, cách trận địa chừng 200 mét, Quí bị thương vào mắt do pháo địch. Trong chiến đấu, kinh nghiệm cho thấy, cứ bám sát vào địch trong một cự ly thật gần, thì phi pháo của chúng không phát huy được hiệu quả.
Phải chăng, từ thực tiễn ở chiến trường Miền Nam trong những ngày đầu chạm trán với quân viễn chinh Mỹ, một đội quân có vũ khí, trang bị kỹ thuật rất hiện đại, huấn luyện chính qui, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Bí thư Trung ương Cục, Chính ủy Quân giải phóng đã khái quát thành khẩu hiệu chỉ đạo hành động cho Lực lượng vũ trang cách mạng: “ Hãy nắm thắt lưng Mỹ mà đánh”. Điều đó, tôi cho rằng, hoàn toàn đúng cả ở ba cấp độ (ba tầm): Chiến thuật, Chiến dịch và Chiến lược.
Mai Sĩ Thanh quê ỏ thành phố Thanh Hóa, đã nghỉ hưu ở Chí Linh - Hải Dương, nhà ở gần Côn Sơn - Kiếp Bạc, có mấy đứa cháu nội rồi. Có lần, Thanh cùng mấy anh em bạn chiến đấu đến nhà tôi chơi. Lúc đang ăn cơm, chuyện trò rôm rả, Thanh say sưa kể lại trận đó với mọi người, rồi đi đến kết luận:
- Bây giờ đã qua mấy chục năm rồi, tôi vẫn nhớ như in. Bữa đó,  nhìn ông Đẩu vào trận, mặt đỏ bừng. Bởi thế, tôi bị cái vía, cái uy của ông Đẩu lấn át. Cứ nhận nhiệm vụ và xông vào đánh đại đi. Sống chết có số. Chứ chần chừ là không xong đâu.
Nghe xong, cả bọn chúng tôi cùng cười. Mặc dù hơn tôi ba tuổi, nhưng trong tiếp xúc Thanh luôn gọi tôi bằng anh và xưng em. Nghe không hợp lý, nhiều lần tôi đề nghị sửa lại cách xưng hô.Thanh cười hồn nhiên bảo rằng:
- Cứ gọi thế thôi. Quen rồi, chẳng sao cả. Vấn đề là, cách xưng hô phải phù hợp với mối quan hệ cụ thể. Tôi quí trọng ông Đẩu thì tôi gọi thế. Có bà con họ hàng gì với nhau đâu mà phải gọi cho đúng ngôi thứ.
 Sau khi đánh thắng quân địch trong trận “tao ngộ chiến”, Trung đoàn giao cho Đại đội chúng tôi phối hợp với Trung đoàn 1 của Sư đoàn chặn đánh quân địch đang hành quân từ Sê-pôn về phía Đông. Phương án tác chiến được xác định là : Dựa vào công sự sẵn có ở Trạm 19, Đại đội chúng tôi tổ chức thành một trận  địa phòng ngự chốt, chặn đứng cuộc hành quân của quân địch. Đồng thời, Sư doàn dùng Tiểu đoàn 1 của Trung đoàn 1 do anh Võ Chót trung đoàn phó chỉ huy cơ động đánh thốc từ phía sau để tiêu diệt địch. Nôm na được hiểu là, Đại đội chúng tôi chốt chặn như một cái  “đe”. Tiểu đoàn 1 của Trung đoàn 1 cơ động đánh lên như một cái “búa”. Hai bên dồn ép quân địch lại để tiêu diệt. Yêu cầu đặt ra là, đối với Đại đội chúng tôi là phải bám trụ kiên cường, trong mọi trường hợp không được lùi trận địa. Tiểu đoàn 1 phải cơ động trên mặt đất dũng mạnh tấn công.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:35:31 PM
 Bắt đầu khai hỏa, toàn bộ trận địa của chúng tôi bị chìm trong hỏa lực cối 60 ly, cối 82ly và ĐKZ 75 ly của Trung đoàn 1. Có mấy đồng chí trực cảnh giới ở cửa hầm bị thương vong. Lạ thế, lúc đánh nhau với địch thì thấy sức công phá của hỏa lực chi viện của ta chưa đủ mạnh; vậy mà khi hỏa lực đó giáng trúng đội hình mình thì nghe dữ dội, đanh rát đến khủng khiếp. Chúng tôi phải bẹp dí xuống hầm, không thể ngóc đầu lên được. Tình hình này nếu kéo dài là rất nguy hiểm. Vì khi quân địch rút lui sẽ tràn qua trận địa ta. Bí quá, tôi bảo cậu điện đài 2 oát gọi ngay cho Trung đoàn 1 yêu cầu lùi tầm bắn lại khoảng 200 mét mới trúng được đội hình địch mà không rơi sang trận địa ta. Cậu điện đài loay hoay mãi chưa liên lạc được. Trong khi đó, các loại đạn pháo cứ cấp tập nện chát chúa vào công sự trận địa của đơn vị .Tôi sốt ruột vô cùng. Điện báo viên thì bền bỉ gọi:
- Sông Hồng gọi Sông Lô. Nghe tốt, nghe rõ, trả lời.
Khi điện đài thông thoại được, tôi giật phắt lấy ống nói, không dùng mật khẩu nữa, hết toáng lên:
- Ông Chót ơi, tôi là Đẩu đây, cối 82 và ĐKZ của các ông bắn trúng vào trận địa của chúng tôi rồi. Không thể ngóc đầu lên được. Hướng bắn thì đúng rồi đấy, nhưng phải cho tầm bắn lùi lại 200 mét thì mới trúng vào đội hình quân địch.
Cáu quá, tôi còn chửi thề mấy câu nữa. Tức thì, đầu bên kia nhận được thông tin, anh Võ Chót cho pháo bắn lùi ngay. Trận đó, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 1 phối hợp cùng đại đội chúng tôi đánh thắng giòn dã, tiêu diệt và bắt sống gần trăm tên tù binh ngụy.
Mãi tới sau này, năm 1993, anh Võ Chót là Thiếu tướng, Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân khu 4 có lần cùng dự cơm ở làng Lệ Mật, Gia Lâm, Hà Nội với chúng tôi. Ôn lại kỷ niệm xưa, anh Chót kể lại trận đó và nói vui:
- Các ông ạ! Bây giờ ông Đẩu là Cục trưởng Cục Chính sách  trông hiền thế thôi. Chứ trước đây, lúc đánh nhau ở trận tiền, là cán bộ chính trị nhưng ông ấy nóng nẩy, quyết liệt và thậm chí là ngoa ngôn đấy!
 Tôi cười vui, nói lại:
- Mọi hoàn cảnh có thứ ngôn ngữ riêng. Cách biểu đạt cũng vậy. Giữa lúc bom rơi đạn nổ ngút trời, sự sống chết của mình và đồng đội là mong manh, thời khắc diễn ra tình huống chóng vánh, phải hoàn thành nhiệm vụ là mệnh lệnh tối thượng. Vì vậy, người chỉ huy phải xử lý nhanh chóng, chính xác và hiệu quả nhất. Có phải như bây giờ đâu mà tế nhị, ngọt ngào, nhẹ nhàng, thưa với gửi!
 Nghe xong, mọi người cùng cười.

Đường 9 - Nam Lào từ lâu vốn là hậu phương của ta. Khi địch bắt đầu cuộc hành quân Lam Sơn 719, theo chủ trương của trên, nhân dân trong vùng và một vài đơn vị bảo đảm hậu cần – kỹ thuật ở Đoàn 559 đều sơ tán hết về phía sau.Vì rút vội, trong các bản làng còn bỏ lại nhiều trâu, bò, lợn, gà thả rông. Có cơ sở hậu cần  của Đoàn 559 còn ngổn ngang lương thực, thực phẩm: Gạo, lương khô, thịt hộp, đường, sữa.
Đơn vị vừa hành quân từ tây Thừa Thiên ra, vốn từ lâu rồi thiếu thốn mọi thứ. Chỉ huy cấp dưới đề nghị tôi cho anh em dùng những thứ mà đồng bào và các đơn vị bỏ lại. Mọi người lập luận rằng, những thứ đó rồi cũng sẽ mất hết thôi. Hoặc là, bị bom đạn tàn phá. Hoặc là, khi mình rút đi, quân ngụy đến đây nó sẽ vơ vét hết. Chi bằng, cho bộ đội ăn, chẳng phương hại gì mà còn góp phần bồi dưỡng sức khỏe để chiến đấu. Nghe ra có lý, tôi đồng ý cho phép các mũi (trung đội), tổ (tiểu đội) được mổ lợn, gà ăn thịt tại chỗ và được lấy thịt hộp, lương khô, đường, sữa mang theo khi hành quân chiến đấu. Nào ngờ, không biết có ai đó “phản ánh kịp thời”, Thủ trưởng Trung đoàn biết hết mọi việc. Hôm tôi về dự họp Đảng ủy Tham - Chính để sơ kết đợt 1 của Chiến dịch. Trong chương trình Hội nghị, anh Trần Đình Vàng, Phó chính ủy Trung đoàn, Bí thư Đảng ủy, yêu cầu phải kiểm điểm tôi về việc đó. Anh Vàng và một vài anh Đảng ủy viên phát biểu lập luận chặt chẽ, thái độ và lý lẽ gay gắt. Họ cho rằng, trong chiến đấu, tôi đã để đơn vị vi phạm chính sách dân vận – một chính sách lớn của Đảng, quân đội - và tự động lấy lương thực, thực phẩm trong kho dự trữ chiến lược của Đoàn 559. Nghe phân tích mãi, ù cả tai, nóng mặt, tôi xẵng giọng:
 - Ừ thì, bây giờ ngồi đây, các anh tiếc mấy con gà, con lợn bỏ hoang và mấy trăm cân đường sữa, lương khô, thịt hộp vương vãi do đơn vị bạn vứt lại, rồi qui kết nọ kia. Các anh có biết rằng, ở dưới đơn vị, cơ động chiến đấu liên tục, anh em thiếu đói, ốm yếu thế nào không? Lãnh đạo cấp nào thì bao giờ cũng phải quan tâm đến đời sống của anh em chứ! Hôm nay, tôi còn sống về đây, các anh đè ra kiểm điểm. Chứ hôm qua, tôi chết rồi thì kiểm điểm ai?
Tôi vừa dứt lời, anh Vàng nói như quát lên, giọng Quảng Ngãi nghe quyết liệt, chát chúa:
- A, đồng chí Đẩu dám nói thế à? Đồng chí cậy đánh được một số trận, thì kiêu binh hử? Quân đội ta khen thưởng, kỷ luật nghiêm minh. Chúng tôi biết chứ. Đồng chí chỉ huy chiến đấu giỏi, dũng cảm thì tùy theo thành tích để đề nghị trên khen thưởng Huân chương các loại - kể cả việc tuyên dương là Anh hùng đi nữa. Nhưng, không vì thế mà buông tha khuyết điểm. Vi phạm chính sách, thì phải thi hành kỷ luật thật nghiêm để làm gương. Bất kể là ai đi nữa!
 Tự biết mình sai, nhưng tôi phát hiện ra trong lời phát biểu của anh Vàng có một chỗ hớ, có thể lách được. Tôi đứng dậy, từ tốn phát biểu:
- Kính thưa đồng chí Bí thư Đảng ủy, kính thưa các đồng chí! Tôi nhất trí ý kiến của đồng chí Bí thư Đảng ủy. Có công thì thưởng. Có tội thì phạt. Nhưng thưởng hay phạt đều phải công minh, chính xác, kịp thời và phải thực hiện đúng nguyên tắc, qui trình, thủ tục. Có như thế mới có tác dụng giáo dục sâu sắc. Bởi thế, tôi đề nghị, trước khi kỷ luật tôi, Đảng ủy cần cho người xác minh để có kết luận chính xác, cụ thể.
Tôi nói xong, mọi người nhất trí. Hôm sau Trung đoàn cho mấy anh cán bộ xuống điều tra, xác minh. Khi gặp gỡ tiếp xúc với cán bộ chiến sĩ trong đơn vị, mọi người đều nói rằng, có việc đó thật, nhưng đây là do anh em tự động làm. Thủ trưởng Đại đội không có chủ trương và cũng không biết. Thế là, mấy ngày sau, Trung đoàn có quyết định kỷ luật khiển trách Ban chỉ huy Đại đội 20 đặc công vì đã để cho đơn vị vi phạm chính sách. Như vậy là kỷ luật tập thể. Vì thế, trong lý lịch cán bộ của từng chúng tôi, chẳng ai ghi điều này.
19 năm sau, năm 2000, trong lần tôi vào công tác ở Nha Trang, tìm đến nhà thăm anh Trần Đình Vàng. Anh ghì chặt vào người, cà bộ râu lốm đốm bạc lên mặt tôi. Anh quay sang nói với gia đình và mấy người cùng đi:
- Thằng này trưởng thành thế này là phải. Nó chiến đấu được lắm. Mưu trí, dũng cảm, lại sôi nổi hăng hái nữa. Nhưng nó cũng bướng, lại hay cãi cấp trên. Nó thế đấy, mà ở đơn vị ngày đó, ai cũng quí nó.
Nói rồi, anh bắt tôi đứng ra giữa nhà, vạch áo lên cho mọi người xem vết thương. Anh nói:
- Đây này, thấy không, nó bị thương nặng thế này. Hồi đó, cả đơn vị, ai cũng nghĩ rằng, nó sẽ không thể qua được.
 Anh Vàng vừa mất năm 2009, thọ 83 tuổi. Mấy ngày sau khi anh mất, tôi đọc báo Quân đội nhân dân mới biết tin. Không vào Nha Trang dự lễ tang anh được, tôi gọi điện chia buồn với con trai anh là Đại tá, Tiến sĩ Trần Đình Việt, phó Giám đốc Học viện Hải quân.
Ngày 20 tháng 3 năm 1971, tôi với anh Xuân đại đội trưởng lên Trung đoàn nhận nhiệm vụ. Cùng dự với chúng tôi có chỉ huy Tiểu đoàn 9 gồm anh Hồ Hữu Lạn, tiểu đoàn trưởng và anh Lê Hồng Hải, chính trị viên. Nhiệm vụ Trung đoàn giao cho Đại đội đặc công chúng tôi phối hợp với Tiểu đoàn 9 bộ binh cùng với Trung đoàn 1 đánh vào cao điểm 550 nhằm tiêu diệt Lữ đoàn 147 của địch. Sau khi nghe anh Hoàng Trọng Thế trung đoàn trưởng cùng anh Lê Văn Dánh chính ủy phổ biến tình hình và giao nhiệm vụ, chúng tôi bàn phương án tác chiến. Theo đó, mục tiêu tấn công là Tiểu đoàn Thủy quân lục chiến ngụy đang chiếm giữ điểm cao 550. Hướng tấn công chủ yếu sẽ tiến hành từ phía đông lên. Vì ở hướng đó có độ dốc rất cao, chắc địch cho là ta không thể lên được nên ít đề phòng hơn. Khi ta đã lên được, từ trên cao đánh xuống, địch sẽ bị bất ngờ, khó đối phó. Đặc công sẽ là mũi đột kích chủ yếu. Đại đội 11 bộ binh tiếp ứng với đặc công. Đại đội 12 hỏa lực sẽ dùng cối 82ly và ĐKZ chi viện trong quá trình tác chiến.
Chiều ngày 21 tháng 3 năm 1971, chúng tôi bắt đầu tiếp cận vào vị trí tập kết ở chân cao điểm 550. Đến 7 giờ tối, trút bỏ lại những thứ không cần thiết, chúng tôi bắt đầu tiềm nhập vào cứ điểm địch. Độ dốc rất cao, gần như thẳng đứng, cây cối lúp xúp, lại có nhiều phiến đá lớn, chúng tôi phải dùng giây làm thang, rồi từng người bám vào leo dần lên. Đến 12 giờ đêm, khi cả đội hình đã lên gọn ở đỉnh dốc, bố trí xong đội hình, tôi mừng lắm. Tôi và anh Xuân trao đổi với nhau, giữ được bí mật bất ngờ, tạo được thế đánh thuận lợi thế này, trận này chắc chắn thắng to. Khi tiếp cận cách quân địch chừng 30 mét, chúng tôi  phát lệnh nổ súng.
Sau khi dùng B40, B41 bắn sập hai lô cốt đầu cầu, từng tổ, theo phạm vi được phân công, lao lên ném thủ pháo, lựu đạn vào công sự địch. Tiếp đó, anh em dùng súng tiểu liên AK lia từng loạt vào dẫy nhà bạt phía trong. Ban đầu do bị bất ngờ, địch choáng váng, chưa kịp phản ứng gì. Nhưng gần 10 phút sau, khi phát hiện được hướng đánh của ta, chúng co cụm chống trả quyết liệt. Địch bắn pháo sáng rực trời. Cả trận địa sáng choang như ban ngày. Từ ụ súng gần đó, một khẩu đại liên bắn xối xả cản bước phát triển của ta. Tôi chỉ thị cho cậu Bình xạ thủ B41 ngắm bắn vào khẩu đại liên. Quả B41 phóng đi, một quầng lửa sáng đi liền một tiếng nổ rất to. Khẩu đại liên địch bị câm họng. Bất ngờ từ phía bên phải, một tên địch phát hiện ra tôi, nó bắn một loạt tiểu liên AR15. Tôi trúng đạn người đổ xuống tại chỗ. Tức thì, cậu Tấn liên lạc bắn trả một loạt AK diệt ngay tên địch. Tôi thấy đau nhói ở lưng, tức ngực, không thở được. Máu ở lưng trào ra. Đồng thời, cả mũi và miệng tôi đều ộc máu, lại phì phò thành bọt theo nhịp thở. Tôi cũng không hiểu tại sao. Chắc viên đạn cắm phập vào phổi, thủng phế quản, máu và hơi thở quyện vào nhau. Mặc dù đau lắm, nhưng tôi vẫn tỉnh táo. Bằng kinh nghiệm chiến đấu nhiều năm, tôi biết những người bị thương nặng mà còn rất tỉnh thì khó qua khỏi.
Từ phía trong, các loại hỏa lực của địch vẫn bắn ra xối xả. Cậu Tấn liên lạc bế xốc lên và cố dìu tôi vào sau một mô đất gần đó để tránh đạn và cấp cứu. Cậu Đỉnh y tá cầm cả cuộn băng ép chặt vào miệng vết thương và dùng mấy cuộn băng khác quấn chặt mấy vòng quanh ngực, máu mới cầm  và tôi thấy dễ thở hơn. Đau nhức và mệt nữa nhưng tôi vẫn biết diễn biến xung quanh. Chẳng hiểu sao, tôi lại nghe, cách đó dăm mét, cậu Dũng điện đài 2 oát - lúc này đàm thoại với nhau không dùng mật khẩu nữa -  gọi về Trung đoàn và Sư đoàn là:
- Báo cáo các Thủ trưởng, anh Đẩu đã hy sinh tại trận địa!
 Tôi lặng người đi. Nghĩ mình không thể qua được, trong phút chốc, tôi nói với cậu Tấn liên lạc mời anh Xuân đại đội trưởng Đại đội 20 và anh Hứa Tiểu Liên đại đội trưởng Đại đội 11 đang ở cách đó khoảng 10m đến. Khi nhìn thấy tôi, anh Xuân, anh Liên như cùng một lúc thốt lên:
- Trời ơi! Anh bị thương nặng thế này à?!
Tôi gật đầu, thều thào nói trong sự ngắt quãng vì hình như bị trống hơi:
- Các anh ơi! Tôi bị nặng thế này, chắc không qua được.
 Tôi ngẹn lại mất mấy giây, giọng thều  thào:
- Anh em ta đã thương vong khá nhiều… Các anh xốc lại đội hình, dùng hỏa lực chi viện, chỉ huy đơn vị nhanh chóng đánh thốc lên… Bằng mọi giá, phải dứt điểm sớm… Chập chờn, ngập ngừng ở lưng chừng thế này là chết cả đấy.
 Chắc là do hụt hơi, tôi nói quá nhỏ, đứt đoạn. Anh Xuân, anh Liên phải ghé tai thật sát vào tôi đế lắng nghe. Ngừng một chút để lấy hơi, chợt nghĩ về gia đình, tôi kéo anh Liên vào sát miệng mình, dồn hết sức:
- Liên ơi, nhà ông cách nhà mình khoảng hai chục cây số thôi… Ngày toàn thắng, nếu còn sống trở về, ông nhớ đến nhà mình nhé… Nhờ Liên kể với cha mình là,  mình đã hy sinh ở nơi đây, trong trường hợp này.
Con chim sắp chết tiếng kêu thảm thiết. Con người sắp chết lời nói thống thiết. Quả đúng là vậy.
Tôi vừa dứt lời, anh Liên vừa ghì chặt vào tôi vừa ngậm ngùi:
- Vâng! Anh yên tâm, ngày trở về quê, tôi sẽ thưa chuyện lại với ông.
 Anh Xuân cầm chặt tay tôi, giàn giũa nước mắt, giọng nghẹn ngào:
-  Chúng  tôi sẽ trả thù cho anh. Thôi ! đưa anh về phía sau ngay để còn kịp cứu chữa. Cầu mong anh qua được, Anh Đẩu ơi!
 Vừa nói xong,  anh Xuân cho cậu Đỉnh y tá và cậu Tấn liên lạc cõng tôi về phía sau. Trước lúc đi, tôi chẳng nói được gì nữa, chỉ còn đặt bàn tay lên cánh tay anh Xuân, anh Liên. Toàn trận địa sáng trưng, cuộn băng quấn quanh người tôi thì trắng lốp. Bởi thế, quân địch phát hiện được nó bắn đuổi theo, đạn cày xới xung quanh. May không ai trúng đạn.
 Tôi có ngờ đâu đó là lần tôi chia tay anh Xuân vĩnh viễn. Sau Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, anh Xuân được bổ nhiệm tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 9 và đã hy sinh năm 1972 tại Động Tranh, Thừa Thiên. Còn anh Liên quê ở xã Hưng Lộc, huyện Hưng Nguyên, tỉnh  Nghệ An  công tác trong quân đội đến Ngày Giải phòng hoàn toàn Miền Nam, là cán bộ ở Bộ Tham mưu Quân đoàn 2. Hiện nay anh đã nghỉ hưu ở quê.
Khi Đỉnh vừa cõng đến mép dốc, tôi thấy anh Trương Anh Dung đã chờ sẵn. Chắc là anh ấy biết trước qua điện đài báo về. Anh Dung ghé vai cõng tôi, bám giây tụt dần xuống. Xung quanh đó đạn pháo địch bắn liên hồi. Có quả nổ rất gần. Quả thật, anh Dung khỏe vô cùng. Lúc đó tôi nặng 62 kg, anh còn to hơn, nặng  hơn. Tôi đã kiệt sức chỉ còn bám được vào cổ anh. Thế mà chỉ bằng đôi tay trần, anh bám giây guồng xuống tận chân cao điểm. Nếu anh tuột tay, cả hai anh em sẽ lao xuống vực sâu thẳm mà chết. Khi tụt xuống đến chân cao điểm, anh Dung đưa tôi vào hầm. Anh Nguyễn Văn Toàn trung đoàn phó ôm choàng lấy, ghì mặt vào người tôi. Rồi anh rút túi lấy ra nhét vào miệng tôi một miếng sâm Cao Ly. Tôi hồi tỉnh lại có lẽ nhờ miếng sâm đó.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:35:54 PM
 Hồi ấy, ở chiến trường chỉ có cán bộ cấp Trung đoàn trở lên, lâu lâu, mới được cấp một củ sâm để bồi dưỡng sức khỏe. Có thể, đó là miếng sâm cuối cùng còn lại, anh Toàn dành cho tôi trong lúc nguy kịch. Tôi cảm động lắm, không bao giờ quên việc này. Anh Toàn quê ở xã Hòa Bình, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, vốn là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 7 đặc công được điều động sang giữ chức Trung đoàn phó Trung đoàn tôi. Anh đã hy sinh năm 1972 ở tây Thừa Thiên.
Đến rạng sáng hôm sau, các anh cho người cáng tôi lên Sư đoàn. Trên đường đi, máy bay và pháo địch bắn phá ác liệt. Có lần bị một quả pháo nổ cách chúng tôi một đoạn ngắn. Cáng đứt giây rơi phựt xuống, tôi bị bật ra ngoài. Tôi nằm trên cáng thì không sao. Nhưng có một người đang cáng tôi, bị trúng mảnh đạn hy sinh. Dừng lại bên đường, an táng xong người vừa mất, anh em lại đặt tôi lên cáng đi tiếp. (Tôi ân hận là mãi đến bây giờ, tôi cũng không biết được tên người hy sinh đó là ai. Sau này nhiều lần tôi hỏi thăm một vài người mà không ai nhớ nổi).
Khoảng 10 giờ trưa ngày 23 tháng 2 năm 1971, anh em cáng tôi về đến Sở chỉ huy Sư đoàn. Biết tin, các anh: Chu Phương Đới tư lệnh Sư đoàn, Nguyễn Xuân Trà chính ủy Sư đoàn; anh Ma Vĩnh Lan tư lệnh phó Sư đoàn và cả anh Lê Văn Dánh chính ủy Trung đoàn đều đến thăm tôi. Chắc các anh cũng thấy lạ. Đêm qua, nhận được báo cáo qua điện đài là tôi đã hy sinh, nhưng bây giờ tôi còn sống trở về. Các anh cầm tay tôi, chăm chú xem vết thương rồi hỏi han tôi và tình hình trên Cao điểm 550. Mặc dù đã yếu lắm rồi, nằm bất động trên võng, tôi cố gượng sức mình, thều thào nói vắt tắt với các anh về diễn biến trận đánh tính đến thời điểm tôi bị thương. Chưa yên tâm, tôi đề nghị các tăng thêm lực lượng để nhanh chóng dứt điểm. Càng để lâu, bộ đội sẽ thương vong nhiều hơn. Chắc giọng nói của tôi nhỏ lắm và lại đứt đoạn nữa, bởi thấy các anh ghé thật sát vào người tôi vừa chăm chú nghe vừa gật gật đầu.
 Nghe tôi nói xong, các anh biểu dương và tỏ ra tán thành với đề nghị của tôi. Mọi người chia tay tôi, trở về Sở chỉ huy. Riêng anh Dánh nán lại lâu hơn. Ghé thật sát, nhìn kỹ vết thương tôi lần nữa, anh rơm rớm nước mắt và xúc động nói:
- Đẩu ơi! Chúng ta chiến đấu với nhau bao nhiêu năm rồi. Em là người được anh em trong đơn vị ta  tin tưởng và quí mến. Trung đoàn, Sư đoàn ghi nhận thành tích của em và sẽ đề nghị lên trên khen thưởng em xứng đáng. Anh mong em qua khỏi!
Nghe anh Dánh nói, tôi nấc lên, nghẹn lòng, không đáp được lời nào. Tôi coi những lời biểu dương ngắn gọn, chân thành của anh là phần thưởng đích thực đối với tôi. Anh ôm chặt lấy tôi, rồi quay mặt đi gạt nước mắt trước lúc chia tay. Chắc anh nghĩ rằng, với tình trạng vết thương như thế, tôi không thể qua được, đây là lần anh em gặp nhau cuối cùng, chia xa vĩnh viễn.
 Sau này khi bình xét khen thưởng, tôi được đơn vị đề nghị và được trên quyết định tặng thưởng Huân chương Chiến công Giải phóng Hạng Nhì vì đã trực tiếp chỉ huy chiến đấu dũng cảm, lập thành tích xuất sắc. Bị thương nặng vẫn vững vàng, tỏ rõ quyết tâm, động viên đơn vị tiếp tục chiến đấu.
Rời Sư đoàn, anh em không cáng tôi xuôi ra Miền Bắc mà lại ngược vào phía Nam, vào Viện 68 của Quân khu Trị Thiên Huế. Thương binh trong Chiến dịch Đường 9-Nam Lào đưa vào đây khá nhiều. Đủ các loại vết thương, không phân biệt nặng nhẹ và bị thương vào đâu, chúng tôi nằm xếp thành dài trên sạp nứa  trong các lán. Hàng ngày, các y tá, y sĩ  lần lượt thay băng, tiêm thuốc cho thương binh. Các vết thương nặng đều phải phẫu thuật. Phòng mổ làm việc liên tục suốt ngày đêm mà vẫn không kịp. Nhiều thương binh nặng, do không đủ phương tiện và khả năng chữa trị, đã hy sinh. Ngay sau bệnh viện là một nghĩa trang khá lớn.
Khi khám cho tôi, các bác sĩ kết luận là, tôi bị đạn bắn gãy xương sườn, xuyên thấu phổi, thủng phế quản, gây tràn dịch màng phổi. Sau này tôi mới biết, với loại vết thương này, nếu có điều kiện như ở những bệnh viện bây giờ, thì chỉ cần mổ ra, gắp viên đạn, khâu lại lỗ rò phế quản, thì không thành thương tật nặng. Nhưng thuở đó, điều kiện chiến trường, thiếu thốn mọi thứ. Thầy thuốc chuyên khoa, thuốc men và phương tiện đều thiếu. Mổ phổi là đại phẫu thuật. Viện 68 không đủ khả năng tiến hành. Chỉ còn cách tiêm kháng sinh liều cao, chọc dò hút dịch. Hàng ngày, các bác sĩ đến dựng tôi dậy, cởi áo ra, dùng cồn i-ốt sát trùng khắp cả một lượt, tiêm thuốc giảm đau rồi dùng một cái xi lanh to gần bằng cổ tay, cắm phập một cái kim dài hơn  10 cm vào ngực, vào lưng để chọc hút dịch, máu mủ. Có bữa hút được một cốc đầy dịch, nhìn như máu cá. Khi chưa hút thì tức ngực, khó thở. Khi hút được rồi thấy dễ chịu hơn.
Ban đầu mỗi ngày hút một lần. Sau đó mỗi ngày phải hút hai lần tôi mới chịu được. Nhưng vết thương của tôi ngày một nặng lên. Đau nhức, tức ngực, khó thở và luôn sốt về chiều tối. Mấy ngày sau,  dùng kim loại to cũng không hút được nữa, vì dịch trong phổi đã thành mủ đặc quánh. Tôi càng đau nhức và khó thở hơn. Phải đặt tôi nửa nằm, nửa ngồi mới thở được. Sốt cao, li bì, liên miên - nhất là về buổi chiều và tối. Mỗi ngày tôi một yếu lả đi. Có mấy thương binh nằm cạnh đã ra nghĩa trang. Tôi nghĩ mình sắp đến lượt.
Sau chiến thắng của Chiến dịch Đường 9-Nam Lào, cấp trên khao quân. Ở bệnh viện, cứ hai thương binh được cấp một hộp thịt hộp. Lúc chiều tối, chị y tá mang đi cấp phát và nói như vậy. Tôi và một thương binh tên là Thanh, cỡ tuổi tôi,  bị thương vào đầu, nằm cạnh. Khi nhận rồi, với ánh nhìn hiền hậu, chân thành, Thanh nói với tôi:
- Thôi! ông giữ lấy mà ăn bồi dưỡng sức khỏe để còn mổ. Mình nặng lắm, chắc không sống được nữa đâu. Ăn chẳng để làm gì!
 Tôi nhìn anh đau đớn, vì tin đó là sự thật. Và đến khuya, anh ấy kêu đau thảm thiết quá, bác sĩ chạy đến cấp cứu tại chỗ, thấy anh giãy dụa một lúc rồi tắt thở. Nhân viên bệnh viện chuyển anh ra nghĩa trang ngay trong đêm. Cảnh này diễn ra nhiều lần, anh em thương binh chúng tôi chỉ buồn thương đồng đội, chứ không bất ngờ. Sáng ngày nhìn sang cái dằm nằm trống trếnh bên cạnh và nhìn lại hộp thịt chỏng chơ, tôi ngao ngán, ngậm ngùi và thương xót Thanh vô cùng. Rồi, giống như Thanh, tôi cũng chuyển hộp thịt đó cho người khác, không tài nào ăn được.
Mấy ngày sau, khi khám cho tôi, bác sĩ cho rằng, mủ trong lồng ngực nhiều hơn, đặc hơn, dùng kim không hút ra được nữa, chèn ép phổi, gây tức thở . Xét thấy, cứ đà đó tôi ngày một yếu đi và sẽ không qua khỏi, bác sĩ Sùng, chủ nhiệm Khoa ngoại quyết định mổ đặt ống dẫn lưu vào thẳng trong lồng ngực để thoát mủ ra ngoài. Tôi được đưa lên bàn mổ vào lúc chập tối một ngày cuối tháng 3 năm 1971, tôi không nhớ ngày cụ thể.
Phòng mổ đặt trong một căn hầm lộ thiên. Không có điện, phải dùng đèn Đi-a-mô. Tức là, có một người đạp như đạp xe đạp để quay phát điện làm sáng đèn. Đạp có nhanh đèn mới sáng. Dừng lại thì đèn tắt. Bác sĩ cầm dao mổ dưới ánh đèn phập phù đó. Khi mổ chỉ dùng thuốc tê, nên tôi nghe và biết hết. Các anh ấy banh cái xương sườn đã bị gãy của tôi lên, cầm một ống xông cao su  bằng con lươn nhỏ, có đầu mà trên đó có nhiều lỗ, đẩy sâu vào lồng ngực tôi, tức thì mủ ở trong chảy trào ra. Dẫu đau lắm, nhưng tôi mừng vì thấy dễ thở hơn. Hơi thở dài, sâu hơn; không ngắn và gấp gáp như trước đó. Các anh đưa tôi về lán kèm theo sợi dây dẫn lưu từ ngực tôi ra một bình thủy tinh – hình như vốn là bình đựng thanh huyết. Cứ thế, mủ trong người tôi cứ chảy thoát tự nhiên ra ngoài.
Điều trị tiếp ở Viện 68 mấy ngày nữa, tôi được chuyển ra Miền Bắc theo tuyến giao liên 559. Theo qui định, thương binh nặng thì chuyển ra Bắc, thương binh vừa và thương binh nhẹ thì để lại điều trị đến khi khỏi, trở về đơn vị chiến đấu. Ai được đưa ra Bắc tức là đã bị loại khỏi vòng chiến đấu. Có thể, có người vui vì được trở về Miền Bắc. Với tôi, biết chắc rằng, nếu để lại chiến trường, thì tôi sẽ chết vì vết thương quá nặng. Nhưng ngày đó, vừa bước sang tuổi 23, còn say mê lý tưởng, dạt dào khát vọng mà đã thuộc diện bị loại ra khỏi cuộc chiến đang hào hùng, sôi động, tôi tủi thân và buồn lắm. Chẳng huyễn hoặc, chẳng lên gân lên cốt gì đâu. Tuổi trẻ chúng tôi lớp lứa đó là vậy.
Ngày đầu cáng tôi  lên đường, đi qua gần chỗ đơn vị đóng quân. Vì đã biết trước, cả đại đội đặc công, lúc đó còn lại khoảng hơn 50 người, ra đón đường chia tay tôi. Hơn một tháng sau bị thương, sức khỏe tôi yếu lắm, người gầy rộc đi. Cáng dừng lại. Tôi cứ nằm bất động trên cáng. Lần lượt từng anh em đến cầm tay tôi ngậm ngùi xúc động. Hầu như người nào cũng khóc. Mấy cậu liên lạc Đại đội khóc rất to, thảm thiết. Nước mắt tôi cứ thế chảy ra, chẳng còn sức mà khóc nữa, tôi nấc lên ngẹn ngào. Chúng tôi biết rằng, đây là lần chia tay cuối cùng. Mà quả thật, kể từ ngày đó đến hết cuộc chiến,  số anh em bạn bè tôi thuở ấy ở lại chiến đấu nhiều người đã hy sinh. Số còn lại đến bây giờ mà chúng tôi thỉnh thoảng vẫn họp mặt nhau, khi Thái Bình, lúc Nam Định, Thanh Hóa, chỉ còn chưa đến chục người. Đúng là những hạt gạo trên sàng. Khi chia tay, lo cho tôi vết thương nặng, sức yếu, đường xa, dẫu chẳng có gì, anh em gom góp lại vài cân đường, dăm hộp sữa để tôi bồi dưỡng và mấy vật chiến lợi phẩm của Mỹ như đèn pin, bi đông, ka uống nước, võng dù,… tặng tôi làm kỷ niệm. Tất cả dồn lại đựng vào một cái gùi, giao cho người cáng mang theo tôi.
Thường xuyên có ba người thay nhau cáng tôi và mang ba lô đi cùng. Đường đi khi lên núi, xuống đèo, lúc nắng gay gắt, lúc mưa dầm dề, đương gồ ghề trơn trượt, anh em vất vả. Mỗi ngày qua một cung trạm. Cứ tối đến, quân y của trạm dùng xi lanh hút mủ từ trong lồng ngực tôi qua ống dẫn lưu ra ngoài. Rồi thay băng, tiếp tục tiêm thuốc kháng sinh.
Cáng bộ được hơn 10 hôm, tức là qua được 10 trạm giao liên. Đến một ngày các anh chuyển tôi từ trạm giao liên ra đường cái để đưa lên  xe ô tô vận tải. Tôi được đưa lên ô tô cùng với mấy thương binh nữa. Khi nhìn thấy tôi, các anh phụ trách vận chuyển bằng ô tô ái ngai, lo lắng. Họ cho rằng, đường chiến lược trong rừng rất xấu, xe xóc rất mạnh, mà vết thương của tôi thì quá nặng. Đắn đo hồi lâu, các anh quyết định để tôi ở lại để cáng bộ. Nhưng lúc gọi mấy chiến sĩ tải thương của trạm giao liên để trả tôi lại, thì họ đã quay về trước đó, không còn ai nữa. Tải thương trên ô tô chỉ có hai người phải lo cho mấy thương binh. Vì vậy, sau một hồi suy xét, không còn cách nào  khác, các anh đành để tôi lại và cho rằng trên đường giao liên với nhiều người qua lại, chắc chắn sẽ có người gặp và chuyển tôi về trạm. Chứ nếu chuyển bằng ô tô, tôi không chịu nổi mà sẽ hy sinh trên đường.
Vậy là, một mình tôi bơ vơ nằm trên cánh võng, giữa rừng, cạnh chỗ giao nhau của đường giao liên bộ với đường ô tô. Ban đầu, với vết thương đau nhức, khó thở, sức đuối lắm, tôi  hoang mang, lo lắng vô cùng. Nằm trên võng, tôi chăm chú nghe ngóng và khát khao có ai đi trên đường giao liên không. Tôi mong manh chờ mãi… chờ mãi…chẳng thấy gì. Thời gian dần trôi, bốn bề vắng lặng, tôi khắc khoải vô vọng. Nghĩ rằng, với vết thương nặng thế này, mình sẽ bị chết ở đây. Nhưng ngay sau đó, giữa lúc vô vọng nhất, tôi trấn tĩnh lại, trong cuộc chiến đấu  quyết liệt với quân thù, cùng trang lứa đã có bao người  hy sinh, nay đến lượt mình vì vết thương quá nặng, âu cũng là tất yếu. Nắng chiều nhạt dần, trời sắp tối. Tôi đưa tay lấy tập giấy tờ để trên võng, ra đọc. Trong đó có ba loại giấy: Giấy giới thiệu sinh hoạt Đảng, Giấy chứng nhận bị thương, Giấy chuyển thương. Ở Giấy chuyển thương, tôi thấy trong mục khi cần báo tin cho ai, ai đó đã viết nhầm tên cha tôi là Nguyễn Văn Hòa. Sợ nếu mình hy sinh, báo tử nhầm địa chỉ, tôi lấy bút bi đang cài ở túi ngực chữa lại chữ Hòa thành chữ Hòe bằng chữ in hoa hẳn hòi, cho đúng. Tiếp theo, ở ô trống còn lại, tôi viết thêm lời nhắn nhủ: “Các đồng chí ơi, tôi đã hy sinh ở đây!”. Viết xong, vuốt lại tờ giấy cho thẳng hơn, tôi cho vào túi. Rồi mệt quá đến kiệt sức, hình như vết thương không còn đau nhức nữa,  tôi lịm đi, thiếp dần, mơ màng, bồng bềnh như vào giấc ngủ…
  Vậy rồi, đến khi từ từ khi mở mắt ra, tôi lạ lùng thấy mình đang nằm trên một cái lán nứa dưới mái nhà tranh. Nghĩ là, mình đang nằm mơ, đưa tay cấu vào chân thấy đau, tôi mới cho là thật. Tôi đưa mắt nhìn xung quanh. Phía trên thấy có một chai thanh huyết đang truyền vào người tôi. Ghé nhìn sang cạnh đó, một chị chắc là y tá đang ngồi chăm chú nhìn tôi. Ngoài kia ánh sáng ban mai chói lòa. Thấy tôi động đậy, ú ớ, chị y tá nói như reo lên:
- Ồ! tỉnh lại rồi hả. May quá!
Khi đã tỉnh hẳn, hỏi chị y tá, tôi mới biết, tối qua có Đoàn cán bộ Dân Chính từ phía Nam ra. Trên đường bất chợt nhìn thấy tôi đang mê man bất động trên chiếc võng ở gốc cây bên vệ đường. Họ thay nhau cáng tôi đi và hỏi thăm tìm đường đến Đội Điều trị. Họ tìm được Đội Điều trị lúc khoảng 2 giờ sáng. Cáng tôi vào đây bàn giao cho quân y rồi họ đi tiếp.
Khi tiếp nhận tôi trong tình trạng đang hôn mê, các bác sĩ đã kịp thời tiến hành hồi sức cấp cứu. Sau đó, họ căn cứ vào những giấy tờ hiện có của tôi, kết hợp với khám xét vết thương thực thể để lập bệnh án bổ sung.  Mấy hôm sau tỉnh hơn, tôi được biết, đây là Đội Điều trị 59 của Đoàn 559. Bác sĩ Lợi là Đội trưởng Đội Điều trị. Trong Đội Điều trị còn có anh Thơm quân y sĩ quê ở xã Nghi Hải, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, cũng thường xuyên chăm sóc tôi. Chị y tá trực bên tôi ngày mới đưa vào cấp cứu tên là Nguyễn Thị Huệ, quê ở Chương Mỹ -Hà Tây. Sau này, năm 1977, khi tôi tái phát vết thương vào điều trị ở Viện 108, có gặp lại chị  Huệ lúc đó là y tá trung cấp của Khoa B5 – phẫu thuật lồng ngực.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:36:26 PM
 Thời gian điều trị ở Đội Điều trị 59, do vết thương ngày càng nặng hơn, có lúc nguy kịch, tôi phải cấp cứu mấy lần. Tôi nhớ một lần tôi không thở được, có bác sĩ đề nghị mổ nới nội khí quản đưa ra ngoài để thở. Với ánh nhìn đăm chiêu suy nghĩ lung lắm, sau một lúc xem xét kỹ vết thương và đọc lại bệnh án của tôi, bác sĩ Lợi đội trưởng quyết định không mở nội khí quản. Ông vừa chăm chú nhìn tôi một cách thương cảm, vừa từ tốn rành rọt nói với mọi người:
- Cậu này còn trẻ quá. Mổ ra, mở nội khí quản để thở là giải pháp tình thế bất đắc dĩ. Có thể giải quyết qua cơn cấp cứu. Nhưng khi lắp lại khí quản, ngộ nhỡ chạm đến giây thanh quản mà gây ra câm, thì tội vô cùng. Thôi! Cứ cấp cứu bằng nội khoa. Tiêm Lu-ba-lin trợ hô hấp và tiêm u-a-ba-in trợ tim, cần thiết thì tiêm moc-phin giảm đau đi đã.
 Thế rồi, dưới sự chỉ đạo và trực tiếp điều trị của bác sĩ Lợi, tôi qua được và khỏe dần lên. Lúc đó, vì rất lo lắng đến tính mạng, nên mặc dù trong trường hợp nguy kịch, tôi vẫn còn tỉnh, chăm chú nghe. Trọn đời, tôi chịu ơn của của bác sĩ Lợi. Ngày đó, nếu không có kinh nghiệm và sự quyết đoán của ông, không biết tôi sẽ là thế nào. Tiếc là, sau ngần ấy năm trời, tôi chưa có dịp nào gặp lại bác sĩ Lợi.
 Điều trị ở Đội Điều trị 59 khoảng hơn 10 ngày, tôi lại được tiếp tục đưa ra Bắc theo tuyến chuyển thương. Lại nằm trên cáng lênh đênh dọc tuyến giao liên. Tôi nằm trên đôi vai của các chiến sĩ tải thương khi lên núi, lúc băng đèo, lội suối với biết bao vất vả, gian truân và có khi còn bị máy bay oanh kích nữa. Tôi cảm kích và mãi mãi chịu ơn của những đồng đội mà tôi không hề biết tên đó.

  Ngày 9 tháng 5 năm 1971, khi đến đất Quảng Bình, tôi được chuyển  bằng  ô tô cứu thương đưa đến Viện 559 ở phía tây huyện Bố Trạch. Dừng lại hai hôm rồi đi tiếp ra Bắc. Tối ngày 12 tháng 5 năm 1971, xe  dừng lại ở một thị trấn để bác sĩ, nhân viên và lái xe xuống ăn cơm. Tôi nằm nguyên trên cáng, hỏi mọi người đây là đâu. Mọi người trả lời là Thị trấn Quán Hành. Tôi bồi hồi khôn tả. Ôi! đây là huyện lỵ huyện Nghi Lộc. Dưới kia về phía đông khoảng 7 cây số là  làng Đại Xá quê tôi. Chính từ nơi đây, 7 năm về trước, tôi, một chàng trai 16 tuổi lên đường nhập ngũ. 7 năm rồi, trong điều kiện chiến tranh, biết bao nhiêu điều xẩy ra, tôi chưa một lần trở lại. Chính trong khoảng thời gian đó, mẹ tôi đã vĩnh viễn đi xa. Từ khi mẹ tôi mất đến lúc đó, tôi chưa hề được thắp một thẻ hương lên phần mộ, cũng như bàn thờ của bà. Tôi ngậm ngùi hồi tưởng về mẹ. Tôi nhớ nhà, nhớ quê kinh khủng mà chẳng biết làm sao. Ngoài kia, khách bộ hành kẻ ngược người xuôi, biết có ai quen để nhắn nhủ đôi điều!
Sau khi dừng lại mấy ngày điều trị ở Viện 111 ở huyện Triệu Sơn – Thanh Hóa, ngày 19 tháng 5 năm 1971, tôi được đưa vào Khoa B5-Viện 108 ở Hà Nội. Ngày đầu tiên nhập viện, qua kiểm tra, tôi chỉ còn cân nặng 36 kg, hồng cầu chỉ còn 1,6 triệu. Da bọc xương, chân tay khăng khiu, teo tóp lại. Tôi nằm bẹp dí và không tự phục vụ được. Mọi việc đều phải có các hộ lý giúp cho. Bác sĩ kết luận là, ở tôi do vết thương để quá lâu, gây mủ phế mạc, tràn dịch màng phổi, dày dính phế mạc, phế quản bị thủng gây rò hơi thở. Phương án mổ được xác định là : cắt mấy cung sườn ở bên phải, phía sau lưng, lấy viên đạn ra,  bóc toàn bộ ổ mủ, trám cơ lỗ rò phế quản. Đây là ca đại phẫu thuật. Sức khỏe hiện tại tôi quá yếu, không đảm bảo cho việc mổ. Vì vậy, phải  vừa tiêm kháng sinh liều cao, vừa bồi dưỡng cho tôi hồi phục sức khỏe.
Hơn 1 tháng sau, ngày 25 tháng 6 năm  1971, cán bộ nhân viên Khoa B5 đưa tôi lên bàn mổ. Kíp mổ cho tôi lúc đó gồm bác sĩ Nguyễn Văn Thọ, Chủ nhiệm khoa trực tiếp đảm nhiệm, bác sĩ Trần Văn Yến và bác sĩ Phan Thị Ngọc Bích phụ mổ. Ca mổ kéo dài từ 8 giờ sáng đến hơn 10 giờ ngày 25 tháng 6 năm 1971. Mãi tới 3 giờ chiều tôi mới tỉnh lại. Thuốc mê đã tan hết. Miệng đắng ngắt, khô khát.Vết mổ đau nhức lắm. Băng quấn quanh ngực trắng lốp. Có một dây dẫn lưu từ ngực xuống cái lọ đặt ở mép giường. Có một dây truyền thanh huyết. Ba ngày sau mổ, tôi đã có thể đứng dậy được. Tôi hỏi lại thì được biết, kết quả mổ là tốt nhưng vẫn không lấy được viên đạn. Vì nó nằm trong phổi, gần tim. Trên phim X quang thì nhìn rõ nhưng khi mổ ra, máu lênh láng, viên đạn di chuyển sang chỗ khác, không lấy được. Tôi hỏi các bác sĩ, để viên đạn như thế có việc gì không, thì được biết không sao cả. Lâu dần, viên đạn sẽ được mỡ trong cơ thể bọc lại, nằm ổn định trong cơ thể. Vậy là, đến trọn đời, tôi mang một viên đạn trong phổi.
 Sau mổ, tôi hồi phục thể lực rất nhanh. Lợi thế của tuổi trẻ là vậy. Hai tháng sau tôi đã lên được 58 kg. Hàng ngày ngủ dậy tôi đã chạy được mấy vòng quanh viện. Vết thương lành sẹo, thuốc men và ăn uống đầy đủ, sức khỏe hồi phục, tinh thần sảng khoái, tôi mừng vô cùng. Tập thể Khoa B5 Viện 108, đứng đầu là bác sĩ Chủ nhiệm Nguyễn Văn Thọ, bằng tài năng, trách nhiệm và tình cảm của mình đã cứu sống tôi – điều làm cho nhiều người mừng rỡ, ngỡ ngàng. Có thể nói, chính các anh, các chị đã cải tử hoàn sinh cho tôi. Tôi không bao giờ quên.
Ngày đó, tình cảm giữa cán bộ nhân viên quân y với thương, bệnh binh sâu nặng, gắn bó. Không hiểu sao, suốt mấy chục năm, có đến hàng ngàn thương, bệnh binh qua điều trị ở đây, thế mà nhiều  năm sau gặp lại các anh chị vẫn nhận ra tôi. Trong số đó có chị Phan Thị Ngọc Bích, vợ của giáo sư Trần Ngọc Ân. Là người tham gia mổ và trực tiếp điều trị cho tôi, chị thương tôi như em trai vậy.
 Thời gian tôi điều trị ở Viện 108, có cha tôi, chị Hòe, anh Thắng, anh Tần ở quê ra và chị Nam cùng nhiều người bà con ở Hà Nội đến thăm. Tình cảm thân thương quí mến của gia đình, họ hàng lúc đó đã góp phần tiếp thêm nghị lực và sinh khí cho tôi vượt qua sự hiểm nguy của thương tật để từng bước gượng dậy và vươn lên.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:37:14 PM
Chương năm: Về cơ quan Tổng cục Chính trị


Cầm tờ giấy ra viện, từ Quân y viện 108, tôi  ra ga Hàng Cỏ đi tầu hỏa về ga Thường Tín, tìm đến Trạm CT 14 đóng ở đình làng Ngọc Hồi. Đây là Trạm thu dung của Bộ Quốc phòng có nhiệm vụ đón tiếp thu dung thương, bệnh binh ở các chiến trường ra. Căn cứ vào quê quán, cấp bậc, chức vụ, đơn vị chiến trường của từng người, cơ quan cán bộ ở Trạm đề nghị cấp trên phân bổ về an dưỡng tại các Đoàn điều dưỡng thương, bệnh binh ở các tỉnh, quân khu. Tôi được biết, hồi đó thương, bệnh binh ở các chiến trường Miền Nam ra an dưỡng và giải quyết chính sách với số lượng rất đông. Những thương, bệnh binh là hạ sĩ quan thì được đưa về an dưỡng ở các đoàn an dưỡng của các tỉnh, nơi quê quán của họ. Với thương, bệnh binh là sĩ quan thì đưa về các đoàn an dưỡng của các quân khu.
 Đình Ngọc Hồi khá rộng, cách  thị trấn Thường Tín khoảng 2 km, về phía đông nam. Chúng tôi, số thì ngủ trong mấy cái nhà lợp tranh cạnh đình, phần đông trải chiếu ngủ trong đình. Trong khi cấp trên đang xem xét phân tuyến và chờ quân số cho đủ các chuyến xe về các Đoàn điều dưỡng, chúng tôi phải đợi mất mấy ngày. Hàng ngày, chúng tôi,  mấy thương binh mới quen biết, rủ nhau lang thang đi chơi ở ngoài thị trấn Thường Tín và trong các xóm làng lân cận. Với tôi đây là lần đầu tiên ra đất Bắc nên cái gì cũng muốn biết.

Ngày 15 thàgs 9 năm 1971, tôi lên xe về Đoàn 251- Quân khu Tả ngạn, được phân về Đội 4 ở trong nhà dân tại xã Toàn Thắng, huyện Kim Động, tỉnh Hải Hưng, cách Trương Xá gần 2 km. Nhân dân ở đây, mặc dù đời sống còn khó khăn, nhà cửa chật hẹp, lại mới qua trận lụt nặng nề, nhưng đón tiếp chúng tôi rất niềm nở, tận tình. Các gia đình đã co lại phần sinh hoạt của mình, dành giường chiếu cho thương binh.  Hồi đó, hình như bất cứ ở đâu trên Miền Bắc, tình cảm nhân dân ở hậu phương đối với thương binh ở chiến trường ra rất chu đáo, mặn nồng. Trong nhiều gia đình cũng có con đi chiến đấu ở chiến trường B. Họ coi chúng tôi như những người thân trở về. Tuy đời sống vật chất còn nghèo nhưng vui, cùng nhau chia sẻ khó khăn, thiếu thốn.
Theo qui định, mọi thương binh ở chiến trường ra được an dưỡng 3 tháng. Trong thời gian an dưỡng, giải quyết đầy đủ mọi quyền lợi như: Cấp giấy sinh hoạt Đảng; phiên quân hàm; giám định thương tật; và sau đó giải quyết chính sách tùy theo điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng người.
Khi ở chiến trường ra, mọi Đảng viên chỉ có một giấy sinh hoạt Đảng tạm thời do đơn vị cũ cấp, nay đổi lại thành giấy sinh hoạt Đảng chính thức.
Trong chiến đấu ở chiến trường B dài, dưới danh nghĩa là Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam, việc phong thăng quân hàm không gọi theo các bậc của cấp úy, cấp tá như ở Miền Bắc mà gọi là: trung đội bậc phó, trung đội bậc trưởng, đại đội bậc phó, đại đội bậc trưởng,…cho tới cấp cao nhất là sư đoàn bậc trưởng. Khi ra Miền Bắc, căn cứ vào đó để phiên sang các bậc quân hàm tương ứng. Thực ra, việc phiên quân hàm này cũng có đôi điều bất hợp lý. Ví dụ: cấp đại đội bậc phó những năm trước ra Miền Bắc được phiên quân hàm trung úy. Nhưng sau đó, cả đại đội bậc phó và đại đội bậc trưởng đều phiên trung úy. Mà ở chiến trường, từ đại đội bậc phó lên đại đội bậc trưởng là cả một sự phấn đấu, rèn luyện trong chiến đấu. Lại có người đã là trung úy ở Miền Bắc rồi vào chiến đấu ở Miền Nam được phiên sang đại đội bậc phó. Sau mấy năm chiến đấu, bị thương ra Miền Bắc an dưỡng lại phiên sang trung úy. Thật buồn! Đã không thăng quân hàm thì chớ, mà lại trồi lên trụt xuống cứ như bị kỷ luật ấy,…Chẳng biết ai sáng tác ra qui định lạ lùng ấy.
Khi bị thương trong chiến đấu ở chiến trường, cán bộ chiến sĩ được đơn vị cơ sở cấp trung đoàn hoặc tương đương trở lên cấp một giấy chứng nhận bị thương. Giấy này là căn cứ pháp lý để sau khi điều trị ổn định vết thương, tiến hành giám định thương tật ở các đoàn an dưỡng. Kết quả giám định những người mất sức lao động từ 21% trở lên thì được xác nhận là thương binh các hạng, hàng tháng được hưởng trợ cấp thương tật và các chính sách đãi ngộ khác. Những người bị thương nhẹ hơn, tỷ lệ mất sức lao động từ 5% đến 20%, thì được trợ cấp một lần bằng một số tháng lương theo cấp bậc quân hàm của mỗi người – nôm na gọi là tiền xương máu.
 Sau khi hết thời gian an dưỡng, việc giải quyết chính sách là căn cứ vào điều kiện cụ thể về sức khỏe, năng lực và điều kiện cụ thể của mỗi người. Một số tuổi còn trẻ, thương tật nhẹ, được điều động trở lại các đơn vị thường trực. Một số khác được cử đi học ở trường quản lý kinh tế hoặc các trường đào tạo nghề. Số vốn là công nhân viên chức Nhà nước được trở về cơ quan xí nghiệp cũ. Một số có trình độ chuyên môn phù hợp, thì được chuyển ngành sang các cơ quan dân chính đảng. Ngày đó, Chính phủ qui định các cơ quan, xí nghiệp Nhà nước phải tiếp nhận trong biên chế có tỷ lệ 5% là thương binh. Sau khi đã giải quyết cho thương binh thuộc diện đi học nghề, học văn hóa và chuyển ngành sang cơ quan xí nghiệp Nhà nước, số còn lại phần đông là phục viên về địa phương.
Tôi không vui vì là đại đội bậc trưởng mấy năm rồi cũng chỉ được phiên quân hàm trung úy. So với thực tế, tôi bị thiệt thòi hơn. Bởi lẽ, tôi đã được thăng đại đội bậc phó từ tháng 12 năm 1968 - nếu ở thời điểm đó ra Bắc, tôi đã được phiên thượng úy. Tính từ khi thăng đại đội bậc phó đến khi ra Miền Bắc đã có 3 năm ở chiến trường, chiến đấu nhiều trận, được tặng thưởng Huân chương Chiến công hẳn hòi, rồi đã được thăng đại đội bậc trưởng từ tháng 10/1969. Vậy mà cũng chỉ được phiên quân hàm trung úy bằng những người công tác ở các đơn vị phía sau, vừa được thăng đại đội bậc phó trước khi ra Bắc.
Kết quả giám định thương tật vết thương ở phổi cộng với các vết thương ở chân và tay, tôi mất sức lao động vĩnh viễn 37%, xếp thương binh hạng 2/8. Thực tình, lúc đó vì muốn ở lại tiếp tục phục vụ quân đội lâu dài, tôi không muốn Hội đồng Giám định y khoa xếp tôi ở hạng thương tật cao hơn.
Vậy đấy, giống như nhiều cán bộ trẻ lúc bấy giờ, cũng là quyền lợi, nhưng tôi muốn quân hàm thì được phiên ở bậc cao mà thương tật lại chỉ muốn được xếp ở hạng thấp.
Trong thời gian an dưỡng ở Đoàn 251, điều quan tâm, băn khoăn nhất lớn nhất đối với tôi là công việc. Nhiều đêm tôi trăn trở thao thức, không tài nào ngủ được. Tương lai còn mờ mịt. Sự nghiệp cuộc đời là gì đây, khi tôi mới 23 tuổi. Đời còn phơi phới vậy mà đã phải đặt ra bên lề sự nghiệp, loại ra khỏi con đường danh vọng. Với tình trạng thương tật mất sức 37%, văn hóa mới học dở lớp 9, chắc chả cơ quan nào tiếp nhận. Như nhiều thanh niên hồi đó, ngoài việc cầm súng đánh giặc, tôi chưa được đào tạo một nghề nghiệp chuyên môn gì. Gọi là nông dân thứ thiệt, sinh ra lớn lên ở một vùng nông thôn thuần túy, nhưng lúc đó nhiều việc sơ đẳng của nhà nông như cày, bừa, cấy, gặt,..tôi cũng chưa biết làm. Tôi lo lắng, thậm chí bi quan, cho tiền đồ của mình.
Tự xét thấy, vì sức khỏe, thương tật, tôi nghĩ mình khó có điều kiện trở lại đội ngũ chiến đấu như một số bạn bè lúc đó. Chính vì vậy, khi nhận được thư của Ban Cán bộ Phòng Chính trị của Bộ Tư lệnh Đặc công mời đến để xem xét nghiên cứu có thể xếp một công việc thích hợp, tôi đã từ chối, bằng cách coi như không nhận được thư nên không đến.
Nguyện vọng của tôi lúc bấy giờ là được cấp trên cho đi học văn hóa cho hết  cấp III, sau đó thi vào Đại học. Nghĩ rằng, dẫu đã muộn, nhưng cổng trường Đại học vẫn rộng mở đối với lớp lứa chúng tôi. Ở tôi, chí tiến thủ trong học tập vẫn còn, trí nhớ còn tốt, lại được ưu tiên là thương binh trong thi tuyển theo chính sách hiện hành, tôi tự tin là đỗ. Bất quá, trường hợp không đỗ đại học, thì xin đi học trung cấp chuyên nghiệp để kiếm lấy một nghề cho cuộc sống lâu dài. Tôi đề đạt nguyện vọng với Thủ trưởng đơn vị, nhưng chờ mãi không thấy có quyết định. Trong khi đó, nhiều anh em khác cùng về an dưỡng một đợt, đã lần lượt lên đường đi theo nhiều hướng khác nhau, tôi sốt ruột lắm.
Trong khi chờ quyết định của trên, tôi xin phép đơn vị, mượn một chiếc xe đạp đi sang Thái Bình thăm các gia đình của nhiều đồng đội, hoặc đã hy sinh, hoặc còn chiến đấu ở chiến trường. Vậy là, chỉ bằng một chiếc xe đạp cà tàng, tôi một mình rong ruổi từ Kim Động – Hưng Yên vượt phà Triều Dương theo Đường 39 sang các huyện Vũ Tiên, Kiến Xương, Tiền Hải – Thái Bình. Trong thời gian hơn 10 ngày, cứ sáng lên đường hỏi thăm tìm đến một nhà theo trí nhớ. Tối ngủ lại gia đình của đồng đội cũ, sáng dậy lại đi tiếp. Cứ thế, tôi đã đi hàng mấy chục, thậm chí cả trăm cây số, qua từng ngõ ngách thôn xóm xa lạ ở miền quê Thái Bình, đến hầu hết gia đình của anh em thuộc Đại đội 20 đặc công. Dẫu chưa quen biết, nhưng khi nghe tôi nói là bạn cùng chiến đấu với con em mình, các gia đình đã vồ vập, đón tiếp tôi rất thịnh tình, chu đáo. Tôi có đến một vài gia đình của những anh em đã hy sinh. Khi biết rằng, địa phương chưa báo tử, tôi đến thăm nhìn lại gia cảnh bố mẹ già, nhà cửa dột nát, con thơ, vợ trẻ của đồng đội, lòng ngẹn ngào, ái ngại nhưng không giám nói gì. Nhiều gia đình lâu rồi không nhận được tin con, trong sâu thẳm đáy lòng đã linh cảm thấy điều bất ổn. Mọi gia đình đều coi tôi như con em họ đi chiến đấu trở về. Thật cảm động vô cùng. Khi tôi ra đi, nhiều bà mẹ, ông bố đã ôm lấy tôi mà khóc. Tôi biết, bao năm trường, trong cõi lòng họ ngày đêm nhớ mong con đến da diết.

 Tháng Giêng năm 1972, tôi được về nghỉ phép trong dịp Tết Nguyên đán. Đây là lần nghỉ phép đầu tiên trong cuộc đời bộ đội của tôi. Gần 8 năm xa quê hương và gia đình đi chiến đấu, bị thương, nay được trở về, tôi bồi hồi xao xuyến. Chuyến tàu tốc hành chuyển bánh từ Hà Nội lúc 2 giờ chiều ngày hôm trước đến ga Vinh lúc đã gần 3 giờ sáng ngày hôm sau. Tôi xuống tàu rồi mua vé chuyến tàu chợ sáng mai đi ngược ra ga Quán Hành. Giữa đêm đông giá rét, trời mưa phùn lất phất,  tôi choàng tấm áo bạt, ôm chiếc ba lô ngồi thu lu trên chiếc ghế đá lạnh lẽo ở sân ga tàu hỏa thời chiến. Phố xá không ánh đèn. Xung quanh sân ga, những hàng quán bán vặt, lờ mờ ánh đèn dầu hỏa đỏ hoe, vàng quạch, không tỏ mặt người. Tôi cố hình dung quang cảnh ngày mai - ngày trở về nhà. Lòng ngậm ngùi xót thương nhớ đến những người bạn, những đồng đội cùng nhập ngũ, cùng đi chiến đấu mà nay không trở về sum họp gia đình.
Khoảng 9 giờ sáng, tàu dừng lại ga Quán Hành, tôi khoác chiếc ba lô rảo bước về quê, lòng lâng lâng vui buồn khôn tả. Vui vì được về nhà sau 8 năm xa cách. Buồn vì ngày trở về không còn mẹ. Khi tôi đang đi trên con đường qua Đồng Nạy, cách nhà còn khoảng hơn 200 mét, cả đội xã viên đang cấy lúa ở vạt ruộng ven đường. Có người ngẩng lên, phát hiện ra tôi, ai đó có kêu to lên :
- Ôi bà con ơi! Làng nước ơi! Nhìn kìa, đúng không? Thằng Đẩu con ông Hòe đi bộ đội về kia kìa.
Tức thì cả đội xã viên bỏ lại nắm mạ đang cấy giở, nhảy vội lên bờ, chân tay còn lấm lem bùn đất, vây quanh tôi. Mự Nghi vợ chú Lời ôm choàng lấy tôi ghì chặt:
- Trời ơi, may quá, cháu còn sống trở về.
Rồi cứ thế mọi người dẫn tôi về nhà. Khi rẽ vào ngõ, gặp một người phụ nữ trạc ngoài 40 tuổi, mọi người hỏi tôi có biết ai không. Tôi vừa lắc đầu, vừa nhoẻn miệng cười ầm ừ.
Mự Nghi nói:
- Nó không biết là phải, Mự Phượng đấy cháu ạ.
Thì ra đó là bà mẹ kế của tôi mà tôi chưa bao giờ gặp. Tôi chào bà và cùng đi về nhà. Sau khi gặp cha tôi và bà con ở cái sân gạch, tôi lẳng lặng vào gian bếp bé nhỏ và khóc òa lên hồi lâu. Tôi lặng người ở đây. Chính tại chỗ này, mẹ tôi đã ôm tôi vào lòng khóc nức nở trước giờ tôi lên đường nhập ngũ. Nay về đây cảnh vật còn nguyên, mà không còn mẹ nữa. Tám năm qua, dù ở đâu, nhất là trong những hoàn cảnh ngặt nghèo nhất, tôi luôn luôn nhớ về hình ảnh thân thương của mẹ, mà ấn tượng đọng lại sau cùng là bóng hình của mẹ ngồi bên bếp lửa lúc chia tay. Thấy tôi khóc, các bác, các cô chú cũng động lòng thương cảm. Nhiều người ngẹn ngào, đưa tay dụi mắt.
Được một lúc thì các em  Đào, Loan, Phượng đi chăn trâu, cắt cỏ mới về. Mọi người dẫn các em vào nhà bảo rằng anh chúng mày đấy. Các em ngơ ngác nhìn, chẳng nhận ra tôi. Và tôi cũng thế. Nhìn các em chân không giày dép, ăn mặc phong phanh rách rưới, nhếch nhác, người xanh xạm, gầy yếu, tôi thương vô cùng, nước mắt cứ thế lại trào ra. Các em tôi phải mồ côi mẹ từ khi còn rất bé.
 Những ngày mới về, bà con nội ngoại và lối xóm đến chơi và hỏi thăm rất nhiều, có lúc chật cả nhà, đến tận khuya.  Hồi đó quê tôi hầu như gia đình nào cũng có người thân đi chiến đấu ở chiến trường Miền Nam. Nhiều gia đình đã nhiều năm bặt tin con. Có trường hợp biết chắc là đã hy sinh nhưng chưa báo tử. Việc tôi đi chiến đấu trở về, dẫu trên mình mang đầy thương tích, nhưng là chuyện may, chuyện hiếm. Mọi người đến thăm như thăm người ruột thịt từ nơi ác liệt trở về. Mấy ngày sau, tôi lần lượt đi thăm bà con nội ngoại. Quê tôi hồi đó phần đông trai tráng đã gia nhập quân đội hoặc đi thanh niên xung phong phục vụ các chiến trường, còn lại chỉ còn các ông bà già, trung niên và trẻ em.
 Là trưởng nam, lại đã 24 tuổi, cha tôi và bà con muốn tôi sớm lập gia đình trong kỳ nghỉ phép. Bạn bè cùng trang lứa đều vậy. Ở quê tôi, những năm trong chiến tranh, việc chọn vợ gả chồng gấp gáp và đơn giản. Có thể có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân là các gia đình cố giữ lấy giọt máu của người đi vào nơi khói lửa chiến tranh, sống chết chẳng biết thế nào. Có người trúng tuyển bộ đội hoặc ở bộ đội về tranh thủ, gia đình lo liệu việc cưới hỏi ngay. Cả tìm hiểu và cưới diễn ra trong vòng một tuần lễ, mà trước đó chưa hề quen biết nhau, chứ chưa nói đến chuyện yêu. Ấy vậy mà, những cặp vợ chồng đó vẫn ăn ở với nhau trọn đời chung thủy. Ở đó, cùng với tình yêu đến sau hôn nhân, phần đông họ sống với nhau bằng nghĩa, bằng sự cảm thông chia sẻ và lo lắng cho nhau trong hoàn cảnh ngặt nghèo của chiến tranh.  Nhiều gia đình có đến mấy mặt con, nhưng thời gian vợ chồng gần gũi chỉ tính được bằng số ngày người chồng tranh thủ tạt qua  nhà. Cưới xong, người chồng đi chiến đấu, biền biệt không tin tức, người vợ ở nhà một mình đêm ngày vò võ chờ chồng, lo nuôi dưỡng bố mẹ già, chăm sóc con thơ, qua một thời xuân sắc. Và biết bao người, sau nhiều năm đợi chờ khắc khoải, đến một ngày đớn đau nhận được tờ giấy báo tử lạnh lùng, lờ mờ nhạt nhòa trong nước mắt. Thế là hết một đời làm vợ, đơn chiếc, vô vọng.
 Quả thật, trên mọi miền quê của đất nước chúng ta, suốt mấy chục năm chiến tranh, cùng với sự hy sinh oanh liệt ở trận tiền của lớp lớp trai tráng, thì biết bao thế hệ phụ nữ thầm lặng chịu đựng ở hậu phương, lo việc nước đảm việc nhà, mòn mỏi tuổi xuân trong sự đợi chờ khắc khoải. Đây là sự hy sinh lớn lao, không thể đo đếm được bằng một tiêu chí, một con số cụ thể.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:38:10 PM
 Thời gian nghỉ phép ngắn, tâm trí tôi còn dành sự lo lắng cho tương lai công ăn, việc làm; tự xét thấy mình cũng không việc gì phải vội; vả lại, “cái gu” gấp gáp trong việc trăm năm nghe ra không hợp với tôi. Vì vậy, khi trả phép về đơn vị, tình cảm trong tôi chưa định hình, trái tim tôi chưa neo đậu về một người con gái nào cả.
Sau khi trả phép được mấy hôm, một buổi trưa tôi đang đi tắm ngoài kênh, thì Ban chỉ huy Đội an dưỡng cho người ra gọi về. Anh Lộc chính trị viên Đội, vốn là người cùng đơn vị với tôi ở chiến trường, thông báo với tôi là có một anh cán bộ của Cục Chính sách - Tổng cục Chính trị đi chọn người về đơn vị. Anh hỏi tôi nguyện vọng có đồng ý về Cục Chính sách không? Dẫu chưa biết về Cục Chính sách thì làm gì, ở đâu, nhưng chờ mãi không thấy trên giải quyết theo nguyện vọng của mình, sốt ruột, tôi nhận lời vì cho rằng đây cũng là một thời cơ hiếm.
Tôi không ngờ đó là quyết định bước ngoặt trong cuộc đời tôi. Cục Chính sách – bến đậu lâu nhất trong cuộc đời quân ngũ của tôi. Cộng cả hai giai đoạn, từ tháng 4 năm 1972 đến tháng 3 năm 1988 và từ tháng 3 năm 1992 đến tháng 10 năm 2000, vị chi tôi công tác ở Cục Chính sách đến 25 năm trên tổng số 45 năm tuổi quân.
Ngày 12 tháng 4 năm 1972, cầm tờ quyết định điều động của Bộ Quốc phòng, từ Hưng Yên tôi về Hà Nội nhận công tác. Theo hướng dẫn của cơ quan cán bộ, tôi đến Trạm Thường trực của Tổng cục Chính trị ở số nhà 61, Phố Cửa Đông,  Hà Nội. Anh Hồ Giang, Đại úy, Trưởng ban Hành chính Cục Chính sách ra tiếp tôi. Anh Giang cho biết, trong điều kiện chiến tranh phá hoại, máy bay của giặc Mỹ đang oanh tạc vào Thủ đô Hà Nội,  hiện nay cơ quan Cục đã sơ tán về các địa phương. Anh Giang hướng dẫn tôi đi về làng Cống Xuyên,  huyện Thường Tín gặp các anh phụ trách để kịp dự lớp tập huấn chính sách. Chia tay anh Giang, tôi lên đường đi về ga Tía, rồi từ ga Tía tôi đi bộ vào làng Cống Xuyên khoảng 2 km.
 Khi tiếp xúc với các anh phụ trách lớp tập huấn, tôi được biết:  Cục Chính sách - Tổng cục Chính trị là cơ quan đầu ngành về chính sách của quân đội, có nhiệm vụ giúp trên nghiên cứu đề đạt và chỉ đạo hướng dẫn việc thực hiện chính sách trong toàn quân. Chính sách đối với gia đình quân nhân đi chiến đấu ở các chiến trường B,C,K; chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sỹ, chính sách tuyển quân,…bao gồm nhiều nội dung, với một khối lượng rất lớn, trên diện rộng. Những kết quả đạt được trong công tác chính sách rất lớn, đáng  khích lệ, có tác dụng củng cố, ổn định hậu phương, góp phần yên lòng, cổ vũ, động viên bộ đội đang chiến đấu trên các chiến trường. Tuy nhiên, ở các địa phương, qua phản ánh của nhân dân, cũng xuất hiện sự sai sót, chậm trễ chiếm một tỷ lệ đáng kể. Những sai sót trong chỉ đạo và thực hiện chính sách tạo nên sự mất công bằng, gây bất bình trong nhân dân, làm ảnh hưởng đến tính tích cực của chính sách. Đồng thời, có nơi đã làm thất thoát ngân sách, kinh phí của Nhà nước trong điều kiện còn có nhiều khó khăn.
 Trước tình hình có những sai sót trong khâu quản lý và thực hiện chính sách, Cục Chính sách đề nghị và đã dược Thủ trưởng Tổng cục Chính trị đồng ý, ngoài biên chế chính thức, Cục Chính sách được lâm thời tăng cường một số lượng lớn cán bộ làm công tác kiểm tra việc thực hiện chính sách ở các địa phương Miền Bắc. Cán bộ được điều động về làm công tác kiểm tra chính sách phần đông là sĩ quan cấp úy, một số ít là sĩ quan cấp tá, đều được lựa chọn trong số thương binh ở các chiến trường ra sau khi đã chữa lành vết thương và qua an dưỡng ở các đoàn an dưỡng thương  binh: Đoàn 251, Đoàn 253, Đoàn 564 thuộc Quân khu Tả ngạn; Đoàn 581 thuộc Quân khu Hữu ngạn; Đoàn 235 thuộc Quân khu Việt Bắc,…
 Theo quan điểm của ông Lê Tiến Phục Cục trưởng Cục Chính sách lúc bấy giờ là: Cần chọn lựa những cán bộ là thương binh, đã qua chiến đấu ở chiến trường, hiểu được thực tiễn, nắm bắt được nhu cầu, tâm tư nguyện vọng của cán bộ đang chiến đấu, có trách nhiệm chính trị cao và tình cảm sâu nặng với đồng chí, đồng đội. Số cán bộ này được tổ chức tập huấn về nội dung và phương thức tiến hành công tác chính sách. Thực tiễn chứng minh quan điểm đó là hoàn toàn đúng. Chọn những người là đối tượng chính sách đi làm công tác chính sách  là một cách làm hay, đạt được nhiều kết quả tốt.
Lớp tập huấn chính sách được tổ chức ở trong đình làng Cống Xuyên, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây. Các đồng chí thủ trưởng Cục, thủ trưởng các phòng nghiệp vụ đã thay nhau giới thiệu rất bài bản cho chúng tôi nghiên cứu, học tập từ những vấn đề lý luận cơ bản đến tình hình thực tiễn, từ nội dung chính sách cụ thể đến cơ chế tổ chức, phương pháp và kinh nghiệm triển khai thực hiện chính sách ở các cấp. Những bài học đó trở thành kiến thức gần như là cẩm nang của tôi trong suốt thời gian công tác lâu dài ở Cục Chính sách sau này. Dĩ nhiên, nội dung chính sách thì luôn thay đổi, phát triển cho phù hợp với tình hình thực tiễn. Không có một chính sách nào luôn luôn đúng trong mọi điều kiện, hoàn cảnh. Nhưng những vấn đề cơ bản thuộc về quan điểm, về thế giới quan, phương pháp luận trong nghiên cứu đề đạt chính sách cũng như trong chỉ đạo tổ chức thực hiện chính sách thì có tính bền vững lâu dài.
 Thời gian tập huấn không dài, nhưng đọng mãi trong tôi những ấn tượng sâu sắc. Những điều thu hoạch được đối với tôi lúc bấy giờ là rất  bổ ích. Có thể nói, đây là khối kiến thức ban đầu, là chuẩn bị hành trang cho tôi trong suốt mấy chục năm trời trong ngành chính sách quân đội.
Qua giới thiệu của Thủ trưởng và cán bộ Cục, tôi nhận thức được rằng, xây dựng quân đội về mặt chính trị  là cơ sở để  nâng cao chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu của quân đội ta. Đây là một vấn đề thuộc về bản chất, nguyên tắc của quân đội cách mạng. Trong tổng hợp các yếu tố để xây dựng quân đội về chính trị, thì chính sách giữ một vai trò quan trọng, có mối quan hệ biện chứng với công tác tổ chức, công tác tư tưởng và các lĩnh vực công tác khác. Chính sach đối với quân đội và hậu phương quân đội vừa là quan điểm xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng của Đảng; thể hiện bản chất ưu việt của chế độ; đồng thời, là sự kế thừa truyền thống lịch sử dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm của dân tộc. Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ trên một lĩnh vực cụ thể. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…Muốn định ra chính sách đúng, trên cơ sở nắm vững chủ trương đường lối,  phải căn cứ vào tình hình thực tiễn trong từng lĩnh vực, từng giai đoạn và từng nhiệm vụ. Chính sách phải vừa giữ vững mục tiêu, phương hướng được xác định trong đường lối, nhiệm vụ chung, vừa linh hoạt vận dụng trong từng hoàn cảnh và điều kiện cụ thể. Chính sách là sản phẩm của đường lối, đồng thời có tác động trở lại đường lối.
Chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội là một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách của Đảng và Nhà nước. Đó là hệ thống quan điểm, thái độ và trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta được pháp luật hóa và xã hội hóa về bảo đảm đời sống vật chất,  tinh thần đối với cán bộ, chiến sỹ đang phục vụ trong quân đội và hậu phương gia đình họ, nhằm phát huy nhân tố con người – nhân tố giữ vai trò quyết định trong hoạt động quân sự. Chính sách góp phần tạo động lực trực tiếp đẩy mạnh sự nghiệp cách mạng giải phóng Miền Nam, bảo vệ Miền Bắc, tiến tới thống nhất Tổ quốc.
 Mục tiêu cơ bản của chính sách là hướng tới sự công bằng và tiến bộ xã hội. Bảo đảm cho mọi thành viên trong cộng đồng được thực hiện các quyền xã hội cơ bản, phù hợp với trình độ phát triển của xã hội. Chính sách coi con người là trung tâm. Trên cơ sở giải quyết hài hôa mối quan hệ giữa cống hiến với hưởng thụ; giữa nghĩa vụ, trách nhiệm với quyền lợi, bảo đảm sự công bằng trong xã hội. Bằng nội dung đãi ngộ, chính sách góp phần xác định vị thế, chuẩn mực giá trị của đối tượng chính sách . Đối tượng chính sách là quân nhân, công nhân viên quốc phòng và các đối tượng chính sách hậu phương quân đội ( bao gồm: gia đình quân nhân, công nhân viên quốc phòng tại ngũ, lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ và những người trực tiếp phục vụ quân đội nay trở về hậu phương – hưu trí, xuất ngũ, thương bệnh binh, thân nhân gia đình liệt sỹ). Sự ổn định, phát triển bền vững trong đời sống vật chất, tinh thần của các đối tượng chính sách hậu phương quân đội có tác động mạnh mẽ đến việc xây dựng nhân tố chính trị tinh thần của quân nhân đang tại ngũ. Chính sách đối với quân đội và chính sách đối với hậu phương quân đội có mối quan hệ chặt chẽ, khăng khít.
Nội dung chính sách đãi ngộ có phạm vi rộng lớn. Đó là các chế độ bảo đảm về ăn, mặc, ở; chính sách, chế độ về tiền lương, phụ cấp; các chế độ khuyến khích đặc thù; chính sách bảo hiểm xã hội, chính sách ưu đãi đối với thương binh, thân nhân gia đình liệt sỹ,…Trong mỗi giai đoạn nhất định, bao giờ cũng tồn tại đan xen những nội dung chính sách tồn đọng của giai đoạn trước chưa giải quyết xong và những chính sách mới ban hành. Đồng thời, cũng xuất hiện dưới dạng dự báo định hướng những vấn đề chính sách của giai đoạn tiếp theo, tạo thành quá trình hình thành chính sách liên tục, đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Hình thức tồn tại của chính sách rất phong phú, đa dạng và  không ngừng bổ sung những hình thức mới. Những hình thức cơ bản, chủ yếu thể hiện trên ba hệ thống:
 Hệ thống những quan điểm định hướng cụ thể được thể hiện trong chủ trương, đường lối, các Nghị quyết của Đảng.
 Hệ thống các qui phạm pháp luật cụ thể hóa các chủ trương nghị quyết thành các chế độ qui định tiêu chuẩn, xác lập quyền, trách nhiệm của đối tượng, và các yếu tố bảo đảm thực thi quyền, trách nhiệm đó . Đây là hình thức tồn tại phổ biến nhất trong xây dựng Nhà nước pháp quyền.
 Hệ thống kết quả các hoạt động xã hội (xã hội hóa) với tư cách là biểu hiện trên thực tế phong trào của toàn dân và các tổ chức chính trị xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước. Hình thức này chứa đựng nội dung rất phong phú, linh hoạt, sáng tạo.
Nói gọn lại, chính sách tồn tại dưới ba hình thức : Quan điểm - Pháp luật hóa - Xã hội hóa. Ba hình thức đó có quan hệ chặt chẽ gắn bó với nhau, cùng tác động đến đối tượng chính sách.
Sau khi nội dung chính sách được cấp có thẩm quyền ban hành, thì việc tổ chức thực hiện chính sách có vai trò rất quan trọng. Cán bộ chính sách các cấp là cầu nối đưa nội dung chính sách của Đảng, Nhà nước đến đối tượng chính sách. Thực tiễn chỉ rõ, nhiều chính sách ban hành rất kịp thời, phù hợp với ý Đảng, lòng dân, nhưng do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó chủ yếu là do cán bộ chính sách chưa phát huy đầy đủ trách nhiệm, tổ chức thực hiện không đúng, nên đã hạn chế đến vai trò, ý nghĩa của chính sách. Từ đó, có tác động không tốt đến tư tưởng, tình cảm của đối tượng chính sách. Tổ chức thực hiện chính sách phải bảo đảm chính xác, kịp thời, chu đáo. Thông qua hoạt động chính sách làm cho đối tượng hiểu được mục đích, ý nghĩa của việc ban hành chính sách, từ đó có thái độ đúng, nâng cao nhiệt tình cách mạng trong hành động. Đồng thời, thông qua tổ chức thực hiện chính sách, phát hiện những vấn đề bất hợp lý trong nội dung cũng như cơ chế tổ chức chỉ đạo thực hiện chính sách hiện hành , đề xuất bổ sung sửa đổi phù hợp với điều kiện mới.
 Thường xuyên đẩy mạnh các hoạt động kiểm tra về chính sách. Từ khi Nhà nước ban hành hàng loạt văn bản chính sách đến quá trình tổ chức thực hiện chính sách ở các cấp, đưa chính sách vào cuộc sống, là một quá trình khó khăn, phức tạp, đa dạng, khó tránh khỏi những sai sót, thậm chí những sai lầm, tiêu cực. Kiểm tra để phát hiện những sai sót đó là một khâu tất yếu, một việc làm thường xuyên, rất quan trọng của mọi cấp. Trên tất cả mọi lĩnh vực, lãnh đạo mà không kiểm tra, coi như không lãnh đạo. Công tác chính sách cũng không thoát ra khỏi yêu cầu đó.
Chúng tôi được giới thiệu về quá trình hình thành và phát triển của cơ quan chính sách trong quân đội. Tổ chức cơ quan chính sách hình thành và phát triển theo yêu cầu nhiệm vụ xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của quân đội.
 Trong kháng chiến chống Pháp, ngày 26 tháng 2 năm 1947, Chính phủ đã ban hành Nghị định thành lập Phòng Thương binh thuộc Chính trị Cục và Ban Thương binh thuộc Phòng Chính trị Khu để chuyên trách theo dõi, chỉ đạo công tác thương binh - liệt sỹ trong quân đội. Đây là sự kiện đánh dấu về mặt tổ chức, sự ra đời hệ thống Ngành chính sách quân đội. Ngay từ khi mới ra đời, Phòng Thương binh thuộc Chính trị Cục đã chủ động chỉ đạo làm tốt công tác thương binh-liệt sỹ; gây được phong trào rầm rộ trong cả nước; đề xuất và tổ chức tốt cuộc mít tinh phát động toàn dân chăm sóc thương binh và gia dình liệt sĩ vào ngày 27-7-1947 (được Chủ tịch Hồ Chí Minh lấy ngày này hàng năm làm Ngày Thương binh-Liệt sĩ). Ngay từ hồi đó, hoạt động chính sách hậu phương quân đội đã được hình thành và phát triển. Nhiều cuộc vận động ủng hộ kháng chiến đạt được nhiều kết quả tốt đẹp như: Quỹ Độc lập, Quỹ Đảm phụ quốc phòng, Mùa đông binh sĩ, Hội mẹ chiến sĩ, Đón thương binh về làng,..và công tác vận động thanh niên tòng quân giết giặc. Từ Phòng Thương binh thuộc Chính trị Cục – Bộ Quốc phòng, cuối năm 1947, nhiều đồng chí được cử làm nòng cốt để hình thành Bộ Thương binh- Cựu binh.
 


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:38:47 PM
Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, công tác chính sách có những bước phát triển mới, cả trong nghiên cứu xây dựng chính sách và chỉ đạo, tổ  chức thực hiện chính sách. Ngày 21 tháng 11 năm 1967, Bộ Quốc phòng ra Quyết đinh thành lập Cục Chính sách trực thuộc Tổng cục Chính trị với chức năng nhiệm vụ nghiên cứu đề xuất các chính sách đối với các lực lượng vũ trang; theo dõi, phối hợp với các ngành có liên quan trong và ngoài quân đội để thực hiện các chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội. Hệ thống cơ quan chính sách từ Bộ Quốc phòng đến các quân khu, đơn vị, cơ quan quân sự địa phương được thành lập, từng  bước được củng cố cả về chất lượng, số lượng, đáp ứng kịp thời yêu cầu triển khai có hiệu quả những hoạt động rộng lớn, phong phú, phức tạp của công tác chính sách.
Công tác chính sách  những năm đầu kháng chiến chống Mỹ đã được triển khai đồng bộ trên tất cả các mặt với một khối lượng rất lớn, với tính chất đầy khó khăn, phức tạp. Công tác khen thưởng được tiến hành tích cực. Đã kịp thời nghiên cứu đề nghị Nhà nước ban hành các hình thức, nội dung, tiêu chuẩn khen thưởng nhằm tuyên dương công trạng, khen thưởng những người, những gia đình, những tập thể có công, góp phần cổ vũ, động viên phong trào thi đua yêu nước, cả ở tiền tuyến và hậu phương. Chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác thương binh-liệt sĩ trong chiến đấu trên các chiến trường. Đặt việc chấp hành chính sách thương binh –liệt sĩ là một tiêu chí quan trọng đánh giá mức độ hoàn thành nhệm vụ của các đơn vị và là kỷ luật chiến trường. Thực hiện tổ chức cứu thương và chuyển thương binh từ tiền tuyến về hậu phương điều dưỡng và giải quyết chính sách. Chỉ đạo, tổ chức thực hiện việc xác minh, kết luận và phối hợp với các địa phương báo tử liệt sĩ về gia đình. Chỉ đạo, tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách  chăm sóc thương binh và gia đình liệt sĩ ở các địa phương theo các qui định  hiện hành. Tham mưu đề xuất Trung uơng Đảng, Chính phủ, các bộ, ngành ban hành các chính sách đối với gia đình quân nhân đi chiến đấu ở các chiến trường B,C. Đồng thời, trực tiếp quản lý, chỉ đạo, phối hợp thực hiện chính sách đó với nhiều nội dung phong phú, thiết thực như: Gia đình có quân nhân đi B,C được hưởng trợ cấp hàng tháng “tận tay, đủ số, đúng kỳ”, được chăm sóc giúp đỡ trong lao động sản xuất, điều hòa lương thực, khám chữa bệnh, bảo đảm học hành cho con cái, trợ cấp khi gặp khó khăn đột xuất,…Các chính sách đó có tác dụng  to lớn trong việc cổ vũ động viên tiền tuyến và ổn định củng cố hậu phương.

 Sau khi kết thúc lớp tập huấn chính sách, Cục Chính sách tổ chức thành năm đoàn cán bộ đi kiểm tra ở 5 tỉnh : Hà Bắc, Hà Tây, Hải Hưng, Nam Hà, Vĩnh Phú. Phụ trách chung cả 5 đoàn là ông Lê Thanh Hà Cục phó. Người trực tiếp giúp ông Lê Thanh Hà điều hành công việc thường xuyên là ông Vũ Quang Đàm (vốn là Trưởng phòng Khen thưởng của Cục). Đồng thời, Cục tổ chức một bộ phận cơ quan giúp việc gồm : Tổ phái viên công tác chuyên môn; Tổ công tác chính trị ; Tổ hậu cần- tài chính.
Tôi không được phân xuống các đoàn kiểm tra mà được các Thủ trưởng Cục giữ lại làm trợ lý trong Tổ công tác chính trị. Tổ công tác chính trị lúc bấy giờ gồm các anh : Đặng Minh, Nguyễn Đỗ Phương, Chu Nên, Đặng Quí Lĩnh, Nguyễn Ưu, Nguyễn Đình Liêu, Đỗ Công Chiêu và tôi. Cơ quan đóng quân trong nhà dân ở làng Trần Đăng thuộc huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây.
Chính trong thời gian này, tôi thường được cử đi nắm tình hình hoạt động của các đoàn trên các địa phương và có nhiều dịp tiếp xúc với cán bộ các phòng nghiệp vụ của Cục và các thủ trưởng Cục.
 Trong điều kiện chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, chỉ bằng xe đạp, chúng tôi có thể đi công tác từ tỉnh này sang tỉnh khác, nhiều lúc phải qua nhiều trọng điểm đánh phá của máy bay Mỹ. Có lần, tôi được cử lên Đoàn 564 đóng ở Lục Ngạn, Bắc Giang. Từ sáng tinh mơ, tôi đạp xe từ Vân Đình về Hà Nội rồi đi theo Đường 1 khoảng 10 giờ tới bến đò Sông Cầu, cách cầu Thị Cầu khoảng 1 km về phía hạ lưu. Khi con đò mới ra đến giữa sông thì bất thần 2 chiếc máy bay phản lực Mỹ ập đến nhào lượn mấy vòng. Mọi người nhốn nháo. Trong đò chỉ có tôi và một anh bộ đội nữa. Mọi người  rất lo lắng. Có mấy chị mang quang gánh, chắc là đi chợ về, kêu toáng lên, làm sao bây giờ đây hai chú bộ đội ơi?! Dẫu chẳng quen biết nhau, nhưng trong hoàn cảnh đó, là quân nhân xét thấy phải có trách nhiệm,  tôi hô thật to:
- Bà con ta đừng sợ, phải hết sức bình tĩnh để đò sang sông.
Thú thực, bằng kinh nghiệm và cách lập luận may rủi, tôi nghĩ rằng, máy bay trên cao chưa chắc đã phát hiện được; mà có phát hiện chưa chắc đã bắn; bắn chưa chắc đã trúng. Chứ nếu nhốn nháo, hốt hoảng làm lật đò là rất nguy hiểm, dễ có nguy cơ dìm nhau mà chết. Thế rồi, trong trật tự, đò qua sông cập bến,  mọi người nhìn nhau vui vẻ thở phào.
Có lần, tôi và anh Đỗ Công Chiêu từ làng Trần Đăng, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây về Hà Nội báo cáo tình hình với Ban Cán bộ Tổng cục Chính trị, lúc đó đang đóng ở số nhà 34 Lý Nam đế. Sau khi làm việc xong ra về, đúng vào lúc máy bay Mỹ oanh tạc ở phía ga Hàng Cỏ. Phố xá không đèn, trong âm thanh hỗn tạp liên hồi: còi hú,  máy bay gầm rú,  bom nổ, tiếng pháo cao xạ. Bằng kinh nghiệm của mình, tôi bàn với anh Chiêu  tìm vào một  công viên gần nhất, vì ở đó thường có hầm trú ẩn. Hơn nữa, khi máy bay oanh tạc các nhà cao tầng có sập đổ xuống thì cũng không bị vùi dập. Hết báo động, bụng đói meo, hai anh em đạp xe vòng vèo qua mấy dãy phố tìm một hàng phở mà không có. Đành nhịn đói ra về trên quãng đường hơn 40 cây số trong đêm. Sau này, anh Chiêu làm Trưởng phòng Chính sách Quân khu Thủ đô, mỗi lần gặp nhau chúng tôi thường ôn lại chuyện này.
Thời điểm cao nhất số lượng cán bộ kiểm tra chính sách lên tới 350 người. Mỗi đoàn kiểm tra biên chế khoảng 70 cán bộ. Khi đến các tỉnh, chỉ huy đoàn trực tiếp báo cáo với Tỉnh ủy, Uỷ ban nhân dân tỉnh về chủ trương, nội dung, phương pháp và thời gian kiểm tra. Làm việc với Sở Thương binh xã hội, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh để được cung cấp tình hình, số liệu và có sự phối hợp. Cán bộ được phân chia về các huyện, thị; rồi từ huyện, thị lại phân chia về các xã, mỗi xã khoảng 5 cán bộ. Cán bộ về xã cũng tiến hành gặp lãnh đạo địa phương và các ngành có liên quan để nắm tình hình. Sau đó tỏa xuống từng gia đình gặp gỡ đối tượng chính sách để tìm hiểu hoàn cảnh cụ thể và các chính sách đã được hưởng. Đối chiếu giữa sổ sách quản lý với tình hình thực tế, phát hiện sai sót uốn nắn kịp thời. Sau khi kiểm tra xong, rút kinh nghiệm chỉ đạo chung, rồi tiến hành cuốn chiếu kiểm tra sang các địa phương khác.
Qua thực tiễn tiếp xúc với các đối tượng chính sách, cán bộ kiểm tra càng hiểu thêm tình hình hậu phương quân đội, nắm được ý nghĩa, giá trị đích thực của nội dung chính sách. Đến địa phương nào, cán bộ kiểm tra cũng được cấp ủy, chính quyền, nhân dân và bản thân các đối tượng chính sách đón tiếp niềm nở ân cần; được các cơ quan hữu quan phối hợp tích cực nhịp nhàng, nhờ đó đã đạt được những kết quả tốt, góp phần chỉ đạo chung trên phạm vi toàn Miền Bắc.
Tổ chức biên chế Cục Chính sách ở thời điểm đó là:
Thủ trưởng Cục:  Ông Lê Tiến Phục là Cục trưởng . Cục phó là các ông : Lê Thanh Hà, Trần Hiếu, Ngô Phương.
Phòng Nghiên cứu chính sách: Ông Huỳnh An là Trưởng phòng.Ông Nguyến Hữu Quyền là Phó phòng.
 Phòng Công tác Thương binh: Ông Nguyễn Tám là Trưởng phòng, hai Phó phòng là ông Nguyễn Thành Lựu và ông Tống Trần Lập. Sau đó, Phòng  Công tác Thương binh tách làm hai phòng: Phòng Thương binh và Phòng chỉ đạo sản xuất của thương binh.
 Phòng Quản lý gia đình quân nhân: Ông Nguyễn Công là Trưởng phòng, hai Phó phòng là ông Vũ Hiền và bà Hồ Thị Bi.
 Phòng Khen thưởng: Ông Vũ Quang Đàm là Trưởng phòng. Ông Nguyễn Đức Chiêm là Phó phòng. ( Khi thành lập Đoàn kiểm tra chính sách, ông Vũ Quang Đàm được cử làm Trưởng Đoàn. Ông Nguyễn Đức Chiêm được bổ nhiệm làm Trưởng phòng).
Ban Hành chính: Anh Hồ Giang là Trưởng ban.
Từ những ngày đầu ở lớp tập huấn và nhất là nhiều năm sau này được công tác dưới quyền của các thủ trưởng Cục cũng như thủ trưởng các phòng, tôi cho rằng, đó là thế hệ cán bộ mẫu mực toàn diện, vừa có năng lực vừa có nhân cách tốt. Họ vừa có tâm vừa có tầm, xứng đáng với sự tin cậy của cấp trên, là chỗ dựa của đối tượng chính sách. Chúng tôi may mắn được công tác dưới sự lãnh đạo, chỉ huy của những cán bộ đó.
 Nhân đây, tôi cũng xin được nói đôi điều về ba cán bộ của Cục Chính sách ngày đó là ông Lê Tiến Phục, ông Nguyễn Công và ông Nguyễn Hữu Quyền. Mỗi người, trên từng cương vị, đã có những dấu ấn sâu sắc trong nhận thức và tình cảm của tôi.
Ông Lê Tiến Phục - Cục trưởng đầu tiên của Cục Chính sách - ông thật sự xứng đáng là Người Anh Cả của ngành chính sách quân đội. Ông quê ở Mỹ Thuận, Mỹ Lộc, Nam Định; là cán bộ lão thành cách mạng. Ấn tượng đầu tiên tôi được tiếp xúc với ông khi ông đến trực tiếp giảng bài “ Đạo đức người cán bộ chính sách” tại lớp tập huấn, cũng như suốt nhiều năm sau này được công tác dưới quyền ông, là nhất quán. Ông là một người cán bộ có đạo đức trong sáng, thanh liêm, gương mẫu, mô phạm toàn diện. Phần đông lớp cán bộ cùng thời với ông là những người luôn toàn tâm, toàn ý vì nhiệm vụ, đúng theo nghĩa: dĩ công vi thượng. Trong lãnh đạo, chỉ huy cũng như trong đời sống sinh hoạt, ông luôn chân thành, thẳng thắn. Sự liêm khiết, mô phạm của ông có lúc hơi thái quá. Tôi được biết, ông không bao giờ nhận tiền công tác phí. Bởi ông cho rằng, chế độ tiền lương cấp phát cho cán bộ là nhằm bảo đảm phục vụ nhu cầu công tác rồi, nếu ngoài lương còn hưởng tiền công tác phí là trùng hưởng trong cùng một thời gian. Lớp chúng tôi đáng bậc con cháu, ông luôn dành sự quan tâm giúp đỡ để không ngừng trưởng thành. Chúng tôi luôn luôn kính phục và tin tưởng ông.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:39:20 PM
 Ông Nguyễn Công quê ở xã Quỳnh Diễn, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Trước khi Cục Chính sách thành lập (năm 1967), ông công tác ở Phòng Chính sách   Cục Tổ chức - Tổng cục Chính trị. Ông là người có nhiều kinh nghiệm trong nghiên cứu đề xuất cũng như trong chỉ đạo tổ chức thực hiện chính sách. Nghiêm túc, chặt chẽ trong công tác, đồng thời ông là người rất tận tình, chu đáo với mọi người, nhất là với đối tượng chính sách.  Nhiều năm ông được bầu làm Bí thư Đảng ủy Cục Chính sách. Ông là người phát hiện và nhận tôi về công tác ở Cục. Trong nhiều năm, tôi được ông giúp đỡ, bồi dưỡng về nhiều mặt. Tôi coi đó như một ân huệ.
Ông Nguyễn Hữu Quyền quê ở phường Lê Mao, thành phố Vinh, Nghệ An; thời kỳ đầu ông làm Phó phòng rồi Trưởng phòng Nghiên cứu chính sách. Khi tái lập Cục Chính sách năm 1982, ông được bổ nhiệm làm Cục phó. Ông là người có năng lực toàn diện, vừa có tầm nhìn bao quát chung, vừa có phương pháp làm việc cụ thể, khoa học. Có thể nói rằng, ông là người phát hiện đúng những vấn đề từ nhu cầu thực tiễn và nắm bắt trúng ý định của cấp trên để khởi thủy chắp bút, thực hành các công nghệ trong quá trình nghiên cứu đề nghị để có sản phẩm cuối cùng là các văn bản pháp qui về chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội trong một thời gian khá dài. Tôi cho rằng, nếu như ở các lĩnh vực khoa học xã hội khác, chắc chắn ông là bậc chuyên gia đầu ngành. Công bằng mà nói, ông Nguyễn Hữu Quyền là bậc thầy của lớp chúng tôi.
                                                   
Sau mấy năm tiến hành kiểm tra công tác chính sách ở một số địa phương, Đoàn công tác kiểm tra chính sách đã phát hiện được những bất cập trong chỉ đạo cũng như trong tổ chức thực hiện chính sách hậu phương quân đội. Từ khâu tuyên truyền phổ cập chính sách đến tổ chức quản lý, chỉ đạo, theo dõi việc chi trả trợ cấp B, trợ cấp đối với thương binh, gia đình liệt sĩ và thực hiện các chính sách khác ở cơ sở còn có nhiều sai sót; cá biệt có trường hợp tiêu cực. Qua kiểm tra,  rút ra được những vấn đề giúp cho lãnh đạo và cơ quan nghiệp vụ các cấp, nhất là cấp cơ sở, cần tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện. Đồng thời, kết quả đó có giá trị giúp Cục Chính sách, Tổng cục Chính trị chỉ đạo chung trong phạm vi toàn quốc.
Đến giữa năm 1974, xét thấy việc kiểm tra công tác chính sách ở các cấp là thuộc về nhiệm vụ thường xuyên của cấp ủy, chính quyền và cơ quan chức năng các địa phương. Cơ quan nghiệp vụ Bộ không thể làm xuể, càng không nên làm thay cho cấp dưới. Theo đề nghị của Cục Chính sách, Thủ trưởng Tổng cục Chính trị  quyết định kết thúc nhiệm vụ của  Đoàn kiểm tra công tác chính sách. Số cán bộ trong Đoàn kiểm tra được điều động đi nhận  nhiệm vụ mới theo điều kiện và khả năng của từng người. Phần đông trong số đó được điều động về các Quân khu hoặc Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh. Một số nghỉ hưu theo chế độ. Một số ít cán bộ trẻ, có năng lực tương đối tốt được điều về các phòng nghiệp vụ của Cục Chính sách như: Nguyễn Đình Liêu, Nguyễn Ưu, Đỗ Công Chiêu, Vũ Ngọc Hiển, Phạm Danh Dự, Nguyễn Hữu Tỵ, Phạm Kiệu, Trần An, Đỗ Văn Hinh, Mai Xuân Bính…
 Tháng 1 năm 1973, từ khi chưa giải thể Đoàn kiểm tra, tôi đã được điều động về cơ quan Cục Chính sách. Ngày tôi đến nhận nhiệm vụ, ông Lê Tiến Phục, Cục trưởng đã dành thời gian làm việc buổi chiều, giảng giải rất cụ thể về những yêu cầu cần thực hiện khi đảm nhiệm công tác ở cơ quan cấp chiến lược. Tựu trung lại, ông phân tích rành rọt thể hiện trên ba điều: phẩm chất phải trong sáng, tận nghĩa, tận tình, chu đáo đối với các đối tượng chính sách;  năng lực phải chuyên sâu đồng thời phải có trình độ tổng hợp chung ; có tác phong công tác xông xáo, sâu sát, cụ thể. Về nhiệm vụ, ông nói rằng, cháu còn trẻ, đã trải qua chiến đấu, có nhiều triển vọng, bởi thế cần phải lần lượt luân chuyển qua các phòng nghiệp vụ trong Cục nhằm nắm bắt được mọi mặt công tác. Sau này, nếu phát triển lên cán bộ chủ trì, thì sẽ có kiến thức toàn diện, điều hành được thuận lợi hơn. Trước hết, hãy về Phòng Quản lý gia đình quân nhân của Cục. Cuối cùng, vừa như tâm sự vừa như dặn dò ký thác, với giọng nói chân thành ấm áp như một người cha đối với con, ông khuyên tôi hai việc lớn : Một là, phải không ngừng học tập, phấn đấu để có bằng đại học, rồi phải qua trường chính trị - quân sự của quân đội. Hai là, đã đến tuổi xây dựng gia đình, lấy ai thì tùy, nhưng phải là người tốt, bởi đó là chỗ dựa, là hậu phương vững chắc cho quá trình công tác, nói rộng hơn là cả một đời người. Vừa là cán bộ cấp dưới vừa đáng bậc con cháu, tôi xúc động, cảm kích về những lời căn dặn, dạy bảo chí tình, chí nghĩa của ông. Trong đời tôi không bao giờ quên.
Phòng Quản lý gia đình quân nhân, với biên chế gần 20 người, do ông Nguyễn Công làm Trưởng phòng, hai Phó phòng là ông Vũ Hiền và bà Hồ Thị Bi. Cán bộ, nhân viên trong Phòng gồm có: Nguyến Mạnh Kiêu, Lê Mạnh Bổng, Nguyến Đức Uẩn, Lê Đức Phận, Lê Đình Nhượng, Trần Thực, Nguyễn Đình Hường, Vũ Ngọc Hiển, Phạm Danh Dự, Bùi Thị Minh Trực, Lê Thị Lý, Đặng Thị Loan, Đào Thị Quỳ, Nguyễn Văn Cần, Ngô Mạnh Đề, Khoa Đăng Loạt.
 Khi về nhận công tác ở Phòng, ông Nguyễn Công giao cho tôi nhiệm vụ làm trợ lý tổng hợp, quản lý các thông tin về số liệu, danh sách gia đình có quân nhân đi B của các địa phương; số liệu, danh sách quân nhân hy sinh, mất tích trên các chiến trường.
Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, việc tổ chức quản lý và chăm sóc gia đình cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ ở chiến trường B,C do Tổng cục Chính trị chịu trách nhiệm giúp Trung ương Đảng và Chính phủ chỉ đạo thực hiện. Cục Chính sách được Tổng cục Chính trị giao nhiệm vụ phối hợp với các cơ quan chức năng hữu quan trong quân đội, các cơ quan của Nhà nước ở Trung ương và địa phương triển khai thực hiện cụ thể. Hệ thống cơ quan và cán bộ làm công tác chính sách ở các cấp được củng cố và kiện toàn bảo đảm nhiệm vụ theo dõi, quản lý, tổ chức thực hiện chế độ trợ cấp B đến “ tận tay, đủ số, đúng kỳ” cho gia đình có quân nhân đi chiến đấu ở chiến trường B, C.
Về phân cấp quản lý cụ thể, Tổng cục Chính trị chỉ thị : Cán bộ cấp quân khu và tương đương trở lên do Bộ quản lý (Cục Chính sách đảm nhiệm); cán bộ cao cấp cư trú ở địa phương quân khu nào do quân khu trực tiếp theo dõi, quản lý (Phòng Chính sách quân khu đảm nhiệm); cán bộ trung cấp, sơ cấp và hạ sĩ quan , chiến sĩ do cấp tỉnh, huyện trực tiếp theo dõi, quản lý (Ban Chính sách tỉnh đội đảm nhiệm). Các đơn vị có cán bộ, chiến sĩ đi chiến đấu ở chiến trường có nhiệm vụ bàn giao danh sách nhân sự và liên hệ phối hợp với cơ quan chính sách  cơ quan quân sự địa phương bảo đảm tổ chức thực hiện.
Phòng Quản lý gia đình quân nhân thuộc Cục Chính sách vừa làm chức năng theo dõi, chỉ đạo, hướng dẫn cơ quan quân sự các địa phương thực hiện chính sách quản lý và chăm sóc gia đình quân nhân của toàn quân đang công tác ở chiến trường; vừa trực tiếp quản lý gia đình quân nhân B,C theo phân cấp ( gia đình cán bộ cấp tổng cục, quân khu và tương đương) ở địa bàn Hà Nội. Đối với tôi, thời gian làm việc ở cơ quan Cục là chủ yếu. Thỉnh thoảng tôi được cử tham gia đoàn công tác của Cục đến nắm tình hình ở các đơn vị, quân khu, tỉnh đội.
Theo số liệu đăng ký, đến đầu năm 1973, trên toàn Miền Bắc, tổng số gia đình có quân nhân đi B,C do Cục Chính sách quản lý là hơn 53 vạn hộ, với 1,6 triệu thân nhân hưởng trợ cấp. Với một khối lượng rất lớn, trong điều kiện chiến tranh, nhưng công tác bàn giao, tiếp nhận quản lý, cấp phát trợ cấp B.C và thực hiện các chế độ chính sách đã có nhiều cố gắng, từng bước đi vào nền nếp, đạt được nhiều kết quả tốt. Tuy nhiên, việc quản lý, theo dõi thực hiện chính sách có rất nhiều khó khăn, phức tạp, công tác hồ sơ lưu trữ cũng còn nhiều bất cập, hơn nữa đối tượng chính sách (gia đình và quân nhân) lại luôn biến động, nên việc một tỷ lệ sai sót trong chi trả trợ cấp như cấp trùng, cấp sót, cấp sai đối tượng, sai mức trợ cấp, sai thời gian,…là khó tránh khỏi. Vì vậy, đòi hỏi cơ quan phải thường xuyên cập nhật thông tin để có sự điều chỉnh thích hợp.
Đối với một số lượng rất lớn quân nhân hy sinh trên các chiến trường, các đơn vị do có những khó khăn cụ thể, việc lập danh sách báo cáo về Bộ thường không kịp thời, không chính xác, thiếu nhiều yếu tố. Vì vậy, việc xác minh từng trường hợp cụ thể để hoàn chỉnh hồ sơ trước khi báo tử về gia đình phải tiến hành rất công phu, tốn nhiều thời gian. Ở các địa phương, công tác báo tử chưa được chỉ đạo chặt chẽ cả về tư tưởng và chưa có tổ chức tiến hành chu đáo, nhanh gọn. Nhiều gia đình biết tin chồng, con, em hy sinh từ lâu mà vẫn chưa được báo tử. Thủ tục báo tử  còn phức tạp, qua nhiều khâu, nhiều cấp nên chậm trễ. Nhiều địa phương ngại báo tử, sợ ảnh hưởng đến nhiệm vụ và phong trào chung nên để lùi lại, làm cho báo tử càng chậm. Báo tử chậm dẫn đến tình hình càng thêm phức tạp, gia đình chậm được hưởng quyền lợi của thân nhân liệt sỹ. Quyền lợi gia đình liệt sĩ sau khi báo tử ở nhiều nơi chưa được giải quyết kịp thời, chu đáo.
Để khắc phục tình hình trên, Cục Chính sách đã cử nhiều cán bộ đi chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc trên các các chiến trường Miền Nam và các địa phương ở Miền Bắc. Các đoàn cán bộ kiểm tra tình hình công tác chính sách do Cục Chính sách cử vào chiến trường vừa làm nhiệm vụ theo chức năng được giao, vừa giúp chiến trường xây dựng qui cách tổ chức quản lý nhân sự, thu thập danh sách quân nhân hy sinh qua các thời kỳ, danh sách quân nhân đi chiến đấu mà gia đình chưa được hưởng quyền lợi chính sách. Nhờ đó, tình hình chung đã có những chuyển biến, từng bước đi dần vào nền nếp.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:39:53 PM
 Với chức năng nhiệm vụ là cán bộ tổng hợp của Phòng, tôi được nhận  nhiều thông tin về các mặt hoạt động của công tác chính sách qua báo cáo của các đơn vị.
Thời kỳ 1973-1975 là thời kỳ cả nước tập trung nhân tài vật lực để giải phóng Miền Nam.
Về chính sách động viên tuyển quân, tháng 12 năm 1972, Hội đồng Chính phủ ban hành chỉ thị về công tác tuyển quân năm 1973 nêu rõ:” Đối tượng động viên tuyển quân năm 1973 sẽ bao gồm tất cả trai tráng ở độ tuổi từ 18 đến 32, có sức khỏe loại A và B1, không phân biệt nguồn gốc gia đình, thành phần xã hội, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp, trình độ văn hóa,…trừ những người bị tước quyền công dân”. Đến năm  1975, Hội đồng Chính phủ chỉ thị tiếp : “ Tất cả nam công dân từ 18 tuổi trở lên trong tuổi nghĩa vụ quân sự, có đủ sức khỏe, không phân biệt tôn giáo, thành phần xã hội, dân tộc, nguồn gốc gia đình,…đều có vinh dự làm nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc…Những trường hợp tạm hoãn trước đây, năm 1975 không tạm hoãn nữa,…”.  Chấp hành chủ trương và chính sách động viên của Chính phủ trong thời điểm lịch sử có ý nghĩa quyết định đó, Bộ Quốc phòng đã chỉ đạo các quân khu, đơn vị triển khai nghiêm túc, chặt chẽ, kịp thời. Trong 3 năm (1973- 1975), Miền Bắc đã hoàn thành cơ bản chỉ tiêu tuyển quân, trong đó năm 1975 có số lượng lớn nhất, thời gian hoàn thành ngắn nhất. Tính riêng tỉnh Thái Bình, với khẩu hiệu “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, trong 3 nắm (1973-1975), toàn tỉnh đã  động viên đủ 30 tiểu đoàn vào chiến trường.
Đặc biệt trong tháng 2 năm 1975, cả Miền Bắc đã động viên tuyển quân được gần 60% chỉ tiêu cả năm . Có 68 huyện thị, 14 tỉnh đã hoàn thành chỉ tiêu cả năm trong 1 đợt. Đánh giá công tác động viên tuyển quân trong 3 năm cuối cuộc chiến tranh, trong Thông báo tháng 6 năm 1975 của Phủ Thủ tướng đã khẳng định :” Với tinh thần cách mạng tiến công, tất cả vì Miền Nam ruột thịt, vì thống nhất Tổ quốc, nhân dân ta đã phát huy cao độ tinh thần yêu nước nồng nàn, hết lòng hết sức chi viện cho tiền tuyến nên đã đạt và vượt mức yêu cầu, đó là thắng lợi rất lớn của quân và dân ta; thắng lợi này vừa có ý nghĩa chính trị, ý nghĩa quân sự, góp phần rất quan trọng trong sự nghiệp cách mạng giành toàn thắng của dân tộc ta “.
Công tác khen thưởng đã động viên phong trào thi đua giết giặc lập công, đã bám sát nhiệm vụ chính trị của lực lượng vũ trang trong cả nước, bảo đảm đúng hướng, cổ vũ kịp thời, tạo được hiệu quả lớn trong phong trào thi đua quyết tâm đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược. Nhân dịp kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập quân đội (22/12/1944 – 22/12/1974), Đảng , Nhà nước đã tuyên dương công trạng các lực lượng vũ trang nhân dân và tặng thưởng Huân chương Sao vàng- huân chương cao quí nhất của Nhà nước ta cho quân đội.
Cơ quan chính sách các cấp đã hoạt động tích cực, tổng hợp báo cáo về Cục Chính sách nghiên cứu xem xét trình lên Nhà nước khen thưởng 20 vạn Huân chương Quân công và Chiến công các hạng cho 60 nghìn đơn vị và 140 nghìn cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang và nhân dân lập công xuất sắc.
Về tổ chức, chỉ đạo thực hiện chính sách đối với thương binh - tử sĩ, từ năm 1973 trở đi, các đơn vị trên các chiến trường đã có điều kiện tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và bảo đảm những điều kiện cần thiết cho công tác thương binh, tử sĩ trong chiến đấu, chiến dịch. Mạng lưới cứu chữa thương binh tại chiến trường đã tổ chức thành một hệ thống mạnh. Việc chuyển thương binh bằng cơ giới đã được thực hiện ngay từ tuyến quân y cấp sư đoàn về các đội điều trị, các viên quân y.
Từ năm 1973 đến cuối năm 1975, trên tuyến vận tải chiến lược 559, bình quân hàng năm chuyển ra Bắc được 3 vạn thương, bệnh binh. Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị giao cho Cục Chính sách chỉ đạo hệ thống cơ quan chính sách các cấp quản lý, theo dõi việc thực hiện chính sách đối với thương binh, bệnh binh trong chiến đấu, trên tuyến chuyển thương,chăm sóc thương binh, bệnh binh tại các đoàn an dưỡng ở hậu phương. Thời kỳ này, trong cơ quan chỉ huy chuyển thương của Bộ Quốc phòng có Chỉ huy Cục Chính sách và phái viên Phòng Công tác thương binh của Cục, cùng các cơ quan chức năng, nắm tình hình, báo cáo Bộ và Tổng cục Chính trị xử lý kịp thời những tình huống khó khăn, phức tạp. Về cơ bản, mặc dù có nhiếu khó khăn trong điều kiện chiến tranh, nhưng việc chuyển thương từ tuyến trước về tuyến sau đã bảo đảm an toàn cao hơn trước.
Việc thực hiện chính sách điều trị, an dưỡng cho thương binh, bệnh binh ở các đoàn an dưỡng ở Miền Bắc đã được Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị tập trung chỉ đạo, bảo đảm với khả năng cao nhất. Hệ thống điều trị quân y trên Miền Bắc đến cuối năm 1972 có 15 viện và 14 đội điều trị với 9.000 giường. Trang, thiết bị ở các cơ sở điều trị được đổi mới. Đội ngũ cán bộ, nhân viên quân y được bổ sung về số lượng, nâng cao về trình độ chuyên môn. Nhờ đó, đã kịp thời phục vụ yêu cầu cứu chữa thương binh từ các chiến trường chuyển về đạt chất lượng cao, sớm hồi phục sức khỏe, nhanh chóng trả quân số về đơn vị chiến đấu và giải quyết di chứng vết thương cho những người không còn đủ điều kiện phục vụ quân đội.
Thương binh sau khi đã điều trị lành vết thương chuyển sang các đoàn an dưỡng với số lượng tăng hơn trước. Số chuyển ra ngoài quân đội được ưu tiên tuyển chọn đi học các trường chuyên nghiệp để xây dựng một lực lượng lao động kỹ thuật vững mạnh, trung thành với cách mạng, với chế độ. Thương binh, bệnh binh chuyển ngành sang cơ quan, xí nghiệp Nhà nước bằng 25% tổng số chuyển ra. Thương binh, bệnh binh phục viên về gia đình chiếm hơn 52% tổng số chuyển ra. Các trại thương binh của Bộ Nội vụ ( sau này là Bộ Thương binh - Xã hội ) và các tỉnh đã tiếp nhận hàng vạn người do quân đội chuyển sang, bao gồm thương binh, bệnh binh nặng, thương binh có vết thương đặc biệt và những thương binh không có điều kiện về sinh sống ở gia đình.
Từ năm 1973, được sự giúp đỡ của các nước bạn, Cục Chính sách đã giúp Bộ Quốc phòng đã chỉ đạo tổ chức 22 xí nghiệp, 6 trường dạy nghề cho thương binh ở các quân khu và tỉnh đội. Đến cuối năm 1974, toàn quân đã xây dựng và đưa được 16 cơ sở vào sản xuất và đào tạo nghề, sắp xếp cho 3.000 thương binh có việc làm ổn định. Một số xí nghiệp được tổ chức quản lý khá tốt, bước đầu đã có lãi, dần dần tự bảo đảm sinh hoạt phí; có trường dạy nghề đã kết hợp chặt chẽ đào tạo với lao động sản xuất, tăng thêm thu nhập. Cục Chính sách có Phòng chỉ đạo tổ chức sản xuất của thương binh.
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác chính sách thương binh- liệt sĩ của thời kỳ này cũng còn có nhiều hạn chế, khuyết điểm.
 Trong chiến đấu, một số đơn vị không kịp thời cấp cứu thương binh để vết thương nhiễm trùng, dẫn đến tình trạng thương binh nhẹ thành nặng, nặng thành tử vong. Tình trạng bỏ thương binh-tử sĩ ở trận địa khi lui quân vẫn còn. Một tình hình khá phổ biến, chậm được khắc phục là nhiều đơn vị trong quá trình chiến đấu không lập đủ và lưu giữ được hồ sơ của thương binh, liệt sĩ, gây rất nhiều khó khăn cho việc xác minh, kết luận và thực hiện các chính sách. Bởi vậy, khi kết thúc chiến tranh tồn đọng phải giải quyết trong nhiều năm, với một khối lượng rất lớn, phải tốn nhiều thời gian, lực lượng và kinh phí, ảnh hưởng lớn đến hậu phương quân đội, đến tình cảm quân dân.
Tổ chức quản lý thương, bệnh binh tại các đoàn an dưỡng để tình trạng kéo dài sự thiếu kết hợp trong giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng với việc thực hiện các chế độ, chính sách, nên  hiện tượng tiêu cực trong thương, bệnh binh phát sinh, phát triển đến mức nghiêm trọng như: gây rối, làm mất trật tự trị an xã hội, thậm chí có hành động phạm pháp, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín quân đội, tác động không tốt về chính trị.
Sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, chấp hành Chỉ thị của trên, Cục Chính sách phối hợp với các cơ quan chức năng thực hiện chính sách đối với cán bộ, chiến sĩ bị địch bắt được trao trả. Hồi đó, trong tổ chức của Cục Chính sách có thêm một phòng chuyên trách nhiệm vụ này.
Cán bộ, chiến sĩ bị địch bắt nay được trở về là những người trải qua chiến đấu, công tác đã có những đóng góp nhất định vào sự nghiệp cách mạng, phải được đón tiếp, nuôi dưỡng và chăm sóc hồi phục sức khỏe. Giáo dục cho mọi người nhận rõ tình hình nhiệm vụ mới. Củng cố lập trường giai cấp, khắc phục những nhận thức mơ hồ, tư tưởng lệch lạc do ảnh hưởng của chiến tranh tâm lý của địch trong quá trình bị chúng giam giữ. Các đoàn an dưỡng được phân công, đã phát huy trách nhiệm thực hiện chu đáo việc tiếp đón nuôi dưỡng. Sau khi an dưỡng hồi phục sức khỏe, cán bộ, chiến sĩ được giải quyết các quyền lợi chính sách. Với chính sách đúng đắn của Đảng và sự chỉ đạo đón tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng tận tình chu đáo của quân đội, anh em bị địch bắt sau khi trở về được phân công giao nhiệm vụ hoặc chuyển ra ngoài quân đội đều tin tưởng, yên tâm, tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp của quân đội trên cương vị mới. Đến cuối năm 1975, các đoàn an dưỡng đã cơ bản hoàn thành nhiệm vụ tiếp nhận, nuôi dưỡng và giải quyết chính sách đối với cán bộ, chiến sĩ bị địch bắt trở về.

Sau tháng 4 năm 1975 là thời kỳ tập trung giải quyết những vấn đề cấp thiết về chính sách sau chiến tranh giải phóng, đồng thời đáp ứng yêu cầu của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế.
   Miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, cả nước thực hiện nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Vừa thoát ra khỏi cuộc chiến tranh tàn khốc do thực dân, đế quốc gây ra suốt 30 năm, hậu quả công tác chính sách rất nặng nề, phức tạp chưa kịp giải quyết xong, thì các thế lực thù địch lại gây ra chiến tranh ở hai đầu biên giới.  Đất nước ta lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, toàn diện, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn thiếu thốn. Nhiều vấn đề tồn đọng và mới phát sinh về chính sách không được giải quyết kịp thời gây ra tâm lý, tư tưởng nặng nề cả trong quân đội và hậu phương quân đội.
Thiết thực đền ơn đáp nghĩa đối với những người, những gia đình đã hy sinh cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc; từ đó góp phần ổn định tình hình chính trị xã hội của đất nước, Ban Bí thư Trung ương Đảng và Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ thị cho các cấp, các ngành, các địa phương  cần  tập trung giải quyết nhanh gọn những tồn đọng cấp thiết về chính sách sau chiến tranh, như:  Xác minh kết luận xong số quân nhân hy sinh, mất tin, mất tích trong chiến tranh; báo tin hy sinh và  thực hiện chính sách đối với gia đình ở địa phương. Tìm kiếm, cất bốc mộ liệt sĩ trên các chiến trường, qui tập về các khu vực tập trung hoặc về các nghĩa trang của các địa phương. Tập trung thu dung, điều trị nuôi dưỡng thương binh, bệnh binh, ổn định vết thương, hồi phục sức khỏe, thực hiện chính sách sử dụng trong quân đội hoặc chuyển ra ngoài quân đội. Khen thưởng thành tích chống Mỹ đối với các tập thể, cá nhân, gia đình theo các hình thức Nhà nước đã qui định trong chiến tranh mà chưa triển khai thực hiện được.
Tính đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, số quân nhân hy sinh, mất tin, mất tích cần phải xác minh kết luận để báo tin về gia đình là 300.000 người. Hậu quả này có nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan. Về khách quan, cuộc chiến tranh ác liệt, lâu dài, địa bàn trải rộng, chia cắt, việc quản lý quân nhân hy sinh, mất tích trong chiến đấu của các đơn vị có nhiều khó khăn, phức tạp. Về chủ quan, trong chiến đấu, cơ quan và thủ trưởng đơn vị các cấp chưa quan tâm đầy đủ và chưa có nhiều biện pháp trong quản lý danh sách quân nhân hy sinh, mất tích. Thêm vào đó, việc thường xuyên biến động về  nhân sự cả ở cơ quan và thủ trưởng đơn vị cũng làm cho việc theo dõi, quản lý không liền mạch, dẫn đến thất lạc danh sách, hồ sơ.
Để giải quyết tồn đọng nói trên, dưới sự chỉ đạo của Tổng cục Chính trị, Cục Chính sách đã hướng dẫn các các đơn vị trong toàn quân phối hợp rà soát lại toàn bộ danh sách, thẩm tra, xác minh bổ sung các yếu tố cần thiết, thông báo về Cục Chính sách và cơ quan quân sự địa phương để tiến hành báo tin nhằm thực hiện kịp thời chính sách đối với gia đình. Đối với những trường hợp đã hy sinh trong chiến đấu nhưng do những hoàn cảnh khó khăn đặc biệt ở chiến tường mà chưa có tên trong danh sách quản lý được của các đơn vị, thì động viên những cán bộ, chiến sĩ cùng chiến đấu phát hiện báo cáo với tổ chức để xác minh kết luận. Đồng thời, cơ quan quân sự địa phương các cấp đã phối hợp với Ủy ban nhân dân địa phương tổ chức cho mọi công dân phát hiện, lập danh sách quân nhân hy sinh, mất tích để chuyển về Cục Chính sách thẩm tra, đối chiếu và kết luận. Bằng mọi biện pháp đã tiến hành và kết quả thu thập được, Cục Chính sách đã chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị, cơ quan quân sự địa phương lập hồ sơ báo tin về gia đình để kịp thời thực hiện chính sách theo qui định hiện hành.
Đồng thời với việc chỉ đạo giải quyết những tồn đọng về quân nhân hy sinh, mất tin, mất tích trong chiến tranh chống Mỹ, Cục Chính sách còn phải kịp thời triển khai chỉ đạo việc giải quyết chính sách đối với số quân nhân hy sinh trong chiến tranh biên giới Phía Bắc, biên giới Tây Nam  và làm nghĩa vụ quốc tế ở Lào , Cămpuchia với số lượng lớn.
Tính đến cuối năm 1985, theo báo cáo của các địa phương và kiểm tra của Cục Chính sách, về cơ bản, số quân nhân hy sinh, mất tin, mất tích trrong chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ đã được xác minh và kết luận xong, đạt 91% trong tổng số danh sách quản lý được và số qua điều tra, phát hiện bổ sung. Số quân nhân hy sinh, mất tích trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế đã báo tin về gia đình đạt 70%. Số còn lại  là do các đơn vị tiến hành chậm, chưa thành nền nếp, sau từng  trận chiến đấu, từng chiến dịch, các đơn vị làn nhiệm vụ ở phía trước đều phải triển khai nhiều công việc, chưa quan tâm đúng mức đến công tác báo tử về phía sau, việc phân công trách nhiệm giữa các cơ quan quân lực, cán bộ, tài chính, chính sách chưa rõ ràng, hồ sơ thủ tục không bảo đảm đủ theo qui định.
Việc tìm kiếm, cất bốc qui tập mộ liệt sĩ sau chiến tranh là một công tác lớn, với yêu cầu rất cao.  Đây là một việc làm thể hiện truyền thống đạo lý, văn hóa, tín ngưỡng tâm linh của dân tộc; đáp ứng nguyện vọng tình cảm bức xúc, lòng mong mỏi của thân nhân liệt sĩ và nhân dân các địa phương. Ngay sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, Ban Bí thư Trung ương Đảng, Hội đồng Chính phủ và Bộ Quốc phòng đã có nhiều chỉ thị đặt công tác tìm kiếm, cất bốc, qui tập mộ liệt sĩ trên các chiến trường thành một mặt trọng yếu của công tác chính sách. Xác định đó là trách nhiệm chung của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, mà trước hết là của các đơn vị trực tiếp tham gia chiến đấu và của các địa phương nơi thường xuyên có chiến sự diễn ra ác liệt.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:40:44 PM
Chấp hành chỉ thị của trên, các quân khu, đơn vị đã có sự phối hợp với ngành Thương binh -  xã hội, cùng các địa phương tập trung cất bốc qui tập số mộ liệt sĩ chôn rải rác ở các địa bàn vùng đồng bằng về từng khu vực và đưa vào các nghĩa trang liệt sĩ. Bộ Quốc phòng giao cho các quân khu, đơn vị tổ chức cất bốc qui tập mộ liệt sĩ ở vùng sâu, vùng xa, vùng rừng núi trong nước và trên đất Lào, Cămpuchia đưa về bàn giao cho ngành Thương binh - xã hội các địa phương quản lý. Từ năm 1976 đến cuối năm 1985, cả nước đã qui tập được trên 54 vạn mộ liệt sĩ. Ta phối hợp với bạn xây dựng Nghĩa trang Liệt sĩ quân tình nguyện Việt Nam ở một số nơi trên đất Cămpuchia và Lào. Đồng thời đã tiến hành xây dựng một số công trình bia kỷ niệm các trận chiến đấu, chiến dịch tiêu biểu, có ý nghĩa lịch sử ở một số địa phương trong nước.
Tuy đã có rất nhiều cố gắng, nhưng do điều kiện chiến tranh ác liệt, kéo dài, chiến trường rộng lớn, đầy khó khăn phức tạp, nên hài cốt liệt sĩ chôn cất hết sức rải rác, phân tán, xa dân, xa các trục giao thông, nhiều vùng đã bị cây rừng mọc kín, vì thế việc tìm kiếm rất nhiều khó khăn. Nhiều nơi số mộ vô danh chiếm  hơn 60% số mộ qui tập được. Tính đến đầu năm 1986, tổng số mộ liệt sĩ chưa cất bốc qui tập còn khoảng 52 vạn mộ, bao gồm cả trong nước và trên nước bạn Lào, Campuchia.

 Giải quyết chính sách đối với thương binh sau các cuộc chiến tranh là một công tác hệ trọng, với nhiều khó khăn, phức tạp. Tổng số thương binh, bệnh binh trong kháng chiến chống Mỹ về điều dưỡng tại các đoàn an dưỡng của quân đội qua các thời kỳ là 49 vạn người. Trong đó có 30 vạn thương binh và 19 vạn bệnh binh. Đến cuối năm 1980, về cơ bản quân đội đã bảo đảm giải quyết xong chính sách đối với thương binh, bệnh binh trong kháng chiến chống Mỹ.
Trong khi tập trung giải quyết số thương binh, bệnh binh chống Mỹ, thì từ năm 1977 lại phải giải quyết chính sách cho thương binh, bệnh binh trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế với số lượng lớn.
Yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu, phục vụ chiến đấu trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nghiã vụ quốc tế  đòi hỏi công tác chính sách phải đáp ứng kịp thời cả trong nghiên cứu đề đạt cũng như trong chỉ đạo tổ chức thực hiện. Cục Chính sách đã phối hợp với các cơ quan có liên quan nghiên cứu đề nghị Bộ Quốc phòng và Chính phủ ban hành chính sách đối với bộ đội làm nhiệm vụ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới, biển đảo đảo xa và làm nghĩa vụ quốc tế ở Lào, Cămpuchia. Bao gồm : các qui định về chế  độ tiền lương, phụ cấp, tiêu chuẩn ăn mặc, thuốc phòng bệnh, chữa bệnh, nhu yếu phẩm, bồi dưỡng sức khỏe khi làm nhiệm vụ và khi hoàn thành nhiệm vụ trở về ; chế độ khi bị thương, hy sinh ; chính sách đối với gia đình ; chế độ khen thưởng , nghỉ phép ; chế độ bảo đảm sinh hoạt văn hóa tinh thần.

Ở Cục Chính sách hồi ấy, trừ mấy anh nhân viên hồ sơ, còn lại cán bộ đều là những người lớn tuổi, đã từng công tác trong quân đội từ thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Tôi thuộc diện cán bộ trẻ, lại chưa lập gia đình. Bởi vậy, ngay từ khi bước chân về Cục, các cô, các chú trong cơ quan từ Cục trưởng Lê Tiến Phục trở xuống, đều có ý định giới thiệu cho tôi nơi này, nơi khác. Chân ướt chân ráo mới được điều động về cơ quan Cục, lại là một chàng trai học sinh nông thôn đi chiến đấu gần chục năm ở chiến trường trở về, tôi lớ ngớ chưa biết gì.
Thế rồi, qua giới thiệu của bạn bè, tôi gặp và làm quen với Trần Thanh Liễu là bác sĩ đang công tác ở Khoa nội 2 Viện quân y 354. Sau nhiều lần tiếp xúc, từ chỗ có cảm tình rồi chúng tôi yêu thương nhau. Liễu sinh ngày 2 tháng 9 năm 1948, lúc đó tròn 25 tuổi. Liễu là con gái đầu của ông Trần Sâm và bà Lê Thị Lý quê ở xã Hải Xuân, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Ông bà có năm  người con đều được học hành đầy đủ. Sau Liễu có một em trai và ba em gái : Trần Hùng đang học ở Trường Đại học Kỹ thuật quân sự; Trần Thanh Lan đang học Đại học Hóa tinh vi Lômônôxốp; Trần Thanh Hòa đang học ở Đại học Tổng hợp Humbom, Cộng hòa dân chủ Đức và cô út là Trần Thanh Hà đang học Trường cấp III Chu Văn An, Hà Nội. Cả gia đình ra Miền Bắc từ trong kháng chiến chống Pháp.
Sớm tham gia cuộc sống tập thể, lúc bé học ở Trường Học sinh Miền Nam, lớn lên học ở Trường Đại học Quân y, nhưng thông thường thì Liễu là người kiệm lời, khép kín, ít thể hiện trong quan hệ giao tiếp. Song, qua nhiều lần gặp gỡ, tôi nhận ra đó là một người có nhân cách tốt, sâu lắng, sống bình dị, hiền hậu, khiêm nhường. Trong đời sống tập thể - kể cả trong gia đình lớn - Liễu không bao giờ ganh đua, bon chen với ai, vì bất cứ điều gì. Là con cái cán bộ cao cấp, lại được học hành cơ bản, nghề nghiệp ổn định, nhưng Liễu sống chan hòa với mọi người, không bao giờ tỏ ra khác thường. Từ chỗ đồng cảm với nhau, lại được các cô, các chú trong cơ quan tạo điều kiện tác thành, được hai gia đình đồng ý, sau một thời gian tìm hiểu, chúng tôi yêu thương nhau rồi nên vợ nên chồng. Lễ thành hôn được tổ chức vào ngày 24 tháng 11 năm 1973.
 Hồi mới cưới, trong lúc chưa được phân nhà, chúng tôi ở chung với bố mẹ vợ một thời gian. Chính ngay từ hồi đó và trong suốt thời gian sau này, tôi càng hiểu hơn về gia đình bên vợ.
 Qua học tập, rèn luyện và sự trải nghiệm trong cuộc đời phong phú, sôi động, ở ông Trần Sâm toát lên một con người trong sáng mẫu mực, vừa có năng lực vừa có đức độ. Trên từng cương vị công tác, ông là một cán bộ cương trực, trầm tĩnh, khiêm tốn và thanh liêm, được mọi người quí mến. Trong gia đình, ông  thưòng xuyên khuyên dạy con cháu phải không ngừng học tập. Bất cứ ở đâu, làm việc gì cũng phải tìm hiểu, học tập nghiên cứu đến nơi, đến chốn. Học để nâng cao kiến thức thực sự để làm việc cho tốt chứ không phải học để kiếm tấm bằng trang trí cho oai. Đối với tôi, cùng với cương vị là bố vợ, ông còn là người thầy trên nhiều phương diện – đặc biệt là phương pháp xem xét và giải quyết các vấn đề trong công tác và trong cuộc sống.
Bà Lê Thị Lý là người nhiệt tình hăng hái trong công việc. Tính cách bà  bộc trực, có lúc nóng nẩy. Xuất thân từ thành phần lao động, bà cảm thông và rất thương người, nhất là những người bình dân có hoàn cảnh khó khăn. Trong gia đình, bà yêu cầu con cái phải lao động và không được cậy thế đua đòi . Mặc dù rất gay gắt, nhưng bà lại chăm chút lo lắng cho con cháu từ việc nhỏ đến việc lớn. Bà thương con cháu với tất cả tấm lòng thơm thảo của một người mẹ, người bà.
 Mấy chị em trong gia đình được thụ hưởng những tố chất của cha mẹ, lớn lên trong sự môi trường nuôi dạy vừa tình cảm vừa nghiêm khắc. Vào đời, mỗi người một nghề nghiệp, một cương vị. Nhưng có thể khái quát nét chung nhất của mọi người con trong gia đình là: sự nỗ lực phấn đấu trong học tập, làm việc; sự khiêm nhường, hòa đồng trong quan hệ; và sự kiệm cần, thanh đạm trong đời sống, sinh hoạt.
 4 giờ sáng ngày 28 tháng 8 năm 1974, nhà tôi sinh con trai đầu lòng ở Viện 108, Hà Nội. Chúng tôi và cả gia đình hai bên nội ngoại đều rất mừng. Vợ chồng tôi đặt tên cháu là Nguyễn Quảng An. Ý muốn nói lên rằng, quê ngoại cháu là Quảng Trị và quê nội cháu là Nghệ An. Nhưng niềm vui quá ngắn ngủi. Chỉ được ba ngày điều bất hạnh đã ập đến. Đang trong tiết trời cuối hạ đầu thu nóng bức, thì đêm đó bất chợt gió mùa đông bắc tràn về, cháu bị cảm lạnh đột ngột gây viêm phổi cấp tính, mặc dù bác sĩ Khoa sản phát hiện và cấp cứu kịp thời nhưng vì nặng quá không qua được, cháu mất lúc 5 giờ sáng ngày 31 tháng 8 năm 1974. Chúng tôi bàng hoàng tiếc thương cháu vô cùng. Liễu khóc mất mấy ngày, sưng húp cả hai mắt, không ăn uống gì. Do bị cú sốc quá bất ngờ, đau đớn, hẫng hụt, mất nhiều ngày không ngủ, ăn uống qua quýt, sức khỏe suy sụp rất nhanh. Sự đảo lộn tâm, sinh lý sau khi sinh làm cho Liễu bị mất sữa hoàn toàn. Tôi ngẹn lòng thương con xót vợ.
Sau này khi sinh hai con là Nguyễn Trần Quang, ngày 28 tháng 11 năm 1975 và Nguyễn Trần Thùy Vinh, ngày 18 tháng 1 năm 1980, nhà tôi đều bị mất sữa, phải nuôi bằng sữa ngoài hoàn toàn, khá vất vả. Trong hoàn cảnh khó khăn chung của thời bao cấp, chúng tôi vừa phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ công tác của mình, vừa cùng nhau chia sẻ  khó khăn, chắt chiu lo toan việc gia đình, nuôi dạy con cái trong đạm bạc, nghèo túng. Ngay từ khi còn rất bé, các cháu Quang, Vinh cũng đã được nếm trải ít nhiều về sự thiếu thốn. Cùng với thời gian, các cháu từng bước khôn lớn, khỏe mạnh, học hành thành đạt. Nối bước cha mẹ, hai cháu đều là sĩ quan quân đội. Hiện nay hai cháu đã xây dựng gia đình. Con dâu chúng tôi là Nguyễn Kim Thoa, công tác ở Đài Truyền hình Việt Nam. Hai cháu nội là Nguyễn Quang Minh và Nguyễn Phúc Hưng. Con rể chúng tôi là Đặng Ngọc Thùy, công tác trong quân đội. Hai cháu ngoại là Đặng Nguyễn Thái và Đặng Nguyễn Thùy Anh. Sự trưởng thành của các con, sự lớn khôn của bốn đứa cháu là niềm hạnh phúc lớn lao đối với vợ chồng tôi.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:41:03 PM
 Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, hàng ngày thông qua công việc. tôi luôn luôn có ý thức tự học để nâng cao trình độ công tác chuyên môn. Trên thực tế, tôi nghiệm ra rằng, cách tốt nhất là thông qua công tác, chú ý nghiên cứu học hỏi các thủ trưởng và các anh, các cô chú lớp trước về phương pháp nghiên cứu phát hiện vấn đề, thể hiện văn bản và cách tổ chức theo dõi, quản lý nắm tình hình, chỉ đạo, hướng dẫn cấp dưới tổ chức thực hiện nhiệm vụ trên từng cương vị phụ trách. Tôi học được ở mỗi người một cách làm hay. Mỗi lần được giao xuống đơn vị, thì chú ý nghe ngóng, quan sát từ khâu đặt vấn đề, khêu gợi, nắm bắt, phân tích, tổng hợp, khái quát, rút ra những vấn đề then chốt nhất cần phản ánh lên trên chỉ đạo kịp thời. Học từ cách tiếp cận, ghi chép trở đi. Khi được giao chuẩn bị một văn bản, tôi cố gắng nghiên cứu thật kỹ chủ trương của cấp trên, các tài liệu có liên quan và thực tiễn tình hình ở cơ sở, để  từ đó trình bày đủ nội dung, cách hành văn chính xác, chặt chẽ, rõ ràng mạch lạc. Lúc được thông qua, tôi cố lưu giữ lại các bản thảo đã có ý kiến sửa chữa của cấp trên, nghiền ngẫm thật kỹ, tự nêu câu hỏi tại sao thế này, tại sao thế kia và tự tìm lấy câu trả lời. Tôi coi việc sửa chữa văn bản của các thủ trưởng là những bài học căn bản, bổ ích, kịp thời đối với cấp dưới. Kinh nghiệm cho thấy, bản thảo nào của người viết được cấp trên sửa chữa, thậm chí sửa chữa nhiều lần, bị gạch xóa be bét, thì đó là một bản thảo được chuẩn bị tốt, được cấp trên chấp thuận. Đáng ngại nhất là khi thông qua, cấp trên trả lại bản thảo còn trắng tinh, không sửa chữa gì. Thực chất đó là bản thảo của cấp dưới chuẩn bị trệch ý, chưa đạt yêu cầu.
Tôi đã chứng kiến một chuyện ở một cơ quan: Có người trợ lý thông qua một bản thảo tài liệu, đã được thủ trưởng trực tiếp sửa. Và theo bản sửa đó, người trợ lý đánh máy sạch, xin thủ trưởng ký ban hành. Nhưng khi đưa lên, thủ trưởng chưa ký mà lại sửa tiếp. Người trợ lý tự ái, cho rằng, thủ trưởng gây khó dễ cho mình. Anh ta quay về mang bản thảo lần trước đã có bút tích sửa chữa của thủ trưởng lên như thể đối chất. Người thủ trưởng nổi đóa lên, xạc cho một trận : “Ai cho phép đồng chí cố chấp, bảo thủ như vậy. Đúng là tôi đã sửa của đồng chí rồi đấy, nhưng đó là chuyện của ngày hôm qua. Hôm nay xem lại, tôi sửa tiếp để hoàn chỉnh hơn. Có sao đâu! Nhận thức là một quá trình chứ. Ban hành một văn bản là phải thận trọng cân nhắc kỹ. Khi văn bản chưa hoàn chỉnh mà người lãnh đạo vẫn đặt bút ký là một việc làm ẩu, tắc trách, sẽ gây hậu quả xấu. Mà văn bản đã sai thì cấp ban hành càng cao, gây hậu quả càng lớn, việc khắc phục càng khó khăn, phức tạp”.
Đồng thời với việc học tập chuyên môn, tôi xin vào học bổ túc văn hóa ở Trường cấp 3 Chu Văn An. Cùng học với tôi hồi đó, có anh Nguyễn Đình Liêu là cán bộ trong Cục Chính sách, chị Cao Minh Châu, cán bộ Nhà máy dệt 10 Tháng 10. Anh Liêu sau này là Tiến sĩ, Thứ trưởng Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội. Chị Châu sau này là Ủy viên Thường vụ Thành ủy, Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Hà Nội. Dù là học bổ túc nhưng việc tổ chức của Phòng Giáo dục Khu phố Ba Đình và nhà trường ngày đó chặt chẽ qui củ. Thầy Khiêm hiệu trưởng, thầy Chỉnh hiệu phó và các thầy khác có trách nhiệm rất cao trong việc giảng dạy. Chúng tôi học hành rất nghiêm túc, tích cực và thực chất. Ngày đó một bộ phận của Cục Chính sách đóng ở gần cầu Mai Lĩnh, cách trung tâm Hà Nội gần 20 km. Hàng ngày, sau giờ làm việc buổi chiều, tôi đạp xe về Trường Chu Văn An để học. Học xong hơn 10 giờ đêm về nhà ăn cơm tối. Đến 5 giờ sáng lại đạp xe lên đơn vị cho kịp giờ làm việc buổi sáng. Cứ thế, diễn ra hàng năm trời, việc đạp xe cả đi lẫn về trong ngày hơn 40 km. Cực nhất là những ngày mưa gió, rét mướt. Anh Liêu ngày đó gia đình còn ở thành phố Nam Định. Nhiều lần anh về thăm nhà tối thứ 7, mà vẫn nhảy ô tô khách lên Hà Nội cho kịp học vào tối chủ nhật. Có bữa kẹt xe lên muộn anh vẫn vào học.
Mặc dù rời trang sách học trò đã nhiều năm, lại trong điều kiện chiến tranh, nhưng nhờ say mê và chịu khó nên kết quả học tập của tôi vẫn còn tốt. Khi thi tốt nghiệp tôi đạt 29,5 điểm trên 3 môn toán, lý, hóa. Trong giấy chứng nhận tốt nghiệp, có đóng dấu đỏ : Tốt nghiệp thuộc loại xuất sắc. Tôi nhớ, khi học cuối  lớp 10 trên 10 tôi được nhà trường chọn đi thi học sinh giỏi toán (chương trình bổ túc) của Khu phố (Quận) Ba Đình, tôi đạt giải nhất. Rồi được Khu phố (Quận) cử đi thi tiếp cấp Thành phố, tôi đạt giải nhì. Nhân ngày Nhà giáo Việt Nam, Sở Giáo dục trao thưởng cho những học sinh đạt giải tại Nhà hát lớn Hà Nội, tôi được mời lên nhận giải.
Khi vừa ra khỏi sảnh Nhà hát lớn, có người đập vào lưng tôi mà hét lên:
- Trời ơi! Đúng thật là mày, Đẩu ơi!
Tôi nhìn lại thì ra đó là anh Lê Văn Ban người cùng đơn vị cũ. Hai anh em ôm chầm lấy nhau. Anh Ban nói:
- Khi ngồi ở dãy ghế dưới, nghe đọc tên Nguyễn Mạnh Đẩu và nhìn cậu lên nhận giải, tớ không tin vào tai và mắt mình nữa. Ở đời thiếu gì trường hợp trùng tên. Bao nhiêu năm nay rồi, mình và nhiều người nghĩ là cậu đã hy sinh từ trong chiến trường, làm gì còn chuyện này nữa. Vậy là khi tan buổi lễ, mình không ra ngay, cố nán lại xem có đúng là cậu thật không.
Khi học xong chương trình cấp 3 bổ túc văn hóa, tôi xin thi vào hệ đào tạo tại chức Khóa 9 của Trường Đại học Kinh tế Kế hoạch (nay là Đại học Kinh tế Quốc Dân). Trúng tuyển, tôi xin đăng ký vào học lớp Kế hoạch hóa nền kinh tế quốc dân. Trải qua 5 năm học tại chức, đến năm 1981, tôi tốt nghiệp Đại học với tấm bằng tại chức dài hạn. Cùng học với tôi hồi đó, nhiều người sau này thành đạt trên nhiều cương vị. Trong đó có anh Đỗ Quang Trung, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Nội vụ, chị Nguyễn Anh Thục, nguyên Giám đốc Công ty Vật tư bưu điện Tổng cục Bưu điện và nhiều anh chị khác nữa. Trước Tết năm Canh Dần chúng tôi họp mặt tổ học tập cũ tại nhà anh Nguyễn Văn Việt. Có cả chị Thục từ Sài Gòn ra. Đã thành ông, thành bà và đã rời nhiệm sở về nghỉ hưu cả rồi, chúng tôi gặp nhau vui vẻ trong tình cảm bỗ bã, thân thương trìu mến. Ôn lại một thời vừa làm việc vừa đi học trong điều kiện còn rất khó khăn đã để lại nhiều kỷ niệm ấm áp. Dẫu là ai, bao nhiêu tuổi, khi đi học vẫn là học trò với đầy đủ sự tinh nghịch, tếu táo vốn có của nó.


Khi cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc xảy ra, tôi đang công tác ở Phòng Chính sách - Cục Tổ chức. Từ tháng 10 năm 1978, Cục Chính sách đã sáp nhập vào Cục Tổ chức chỉ còn một phòng do ông Nguyễn Hữu Quyền làm Trưởng phòng.
Chiều ngày 23 tháng 2 năm 1979, tôi cùng một số cán bộ cơ quan được Thủ trưởng Tổng cục Chính trị giao nhiệm vụ đi làm phái viên nắm tình hình các đơn vị đang trực tiếp chiến đấu ở biên giới thuộc Quân khu 1, Quân khu 2 và Đặc khu Quảng Ninh. Theo phân công, tôi cùng anh Đào Thắng cán bộ Cục Tuyên huấn xuống Trung đoàn 567 Quân khu 1 đang chiến đấu ở mặt trận Cao Bằng.
Từ Hà Nội, chúng tôi đi ô tô lên Thái Nguyên, rồi đi về Cao Bằng. Tiết xuân đang lúc gió mùa đông bắc mưa phùn lất phất, trời se lạnh, đường đi qua nhiều đèo cao. Trên đường đi khá tấp nập xe cộ người ra mặt trận, người về phía sau. Lúc này quân địch đã chiếm được thị xã Cao Bằng. Tỉnh đội Cao Bằng đã lùi về Ngân Sơn, Bằng Khẩu. Vai khoác ba lô, lưng đeo khẩu súng ngắn K59, ngày 25 tháng 2 năm 1979, từ Ngân Sơn chúng tôi đi cắt đường rừng vào Trung đoàn 567 đang hoạt động chiến đấu ở Đường số 4.
 Trung đoàn 567 là trung đoàn độc lập trực thuộc Quân khu 1. Trung đoàn trưởng là anh Hứa Văn Kính, chính ủy trung đoàn là anh Nông Văn Nhung. Khi chiến tranh xảy ra, trung đoàn đã chiến đấu nhiều trận ở Thạch An, Hà Quảng. Lúc này quân số và vũ khí trang bị của trung đoàn đã bị tiêu hao, lương thực thực phẩm khó khăn. Với chức năng phái viên của Tổng cục Chính trị, nhiệm vụ của chúng tôi lúc này là nắm tình hình mọi mặt của đơn vị, giúp lãnh đạo chỉ huy trung đoàn xử lý tình huống. Qua nắm tình hình, chúng tôi nhận thấy, cán bộ, chiến sĩ nhận thức khá đầy đủ về âm mưu, thủ đoạn của địch và nhiệm vụ của đơn vị, xác định được quyết tâm chiến đấu. Cùng với việc nắm tình hình chung, tôi còn đi sâu nắm về tình hình chấp hành công tác chính sách của đơn vị trong chiến đấu, nhất là khâu giải quyết giấy tờ cho thương binh về phía sau và việc bình bầu đề nghị khen thưởng những tập thể, cá nhân có thành tích trong chiến đấu.
Là nhà văn quân đội đang tác nghiệp như một  phóng viên chiến trường, anh Đào Thắng đi sâu gặp gỡ các điển hình tiên tiến trong chiến đấu, kịp viết bài đăng trên Tạp chí Văn nghệ quân đội và Báo quân đội nhân dân. Hàng ngày, chúng tôi cùng ăn ở với bộ đội ở trận địa. Bằng vốn sống thực tế nhiều năm ở chiến trường, tôi khá quen với mọi việc, được anh em từ lãnh đạo chỉ huy đến chiến sĩ thân thiết gần gũi, công việc thuận lợi. Anh Đào Thắng cũng vậy. Trong chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, anh là bộ đội pháo cao xạ nhiều năm trên các địa bàn trọng điểm ác liệt ở Khu 4.
Ở trung đoàn được hơn một tuần, có điện của trên gọi chúng tôi về Bộ tư lệnh Mặt trận Cao Bằng báo cáo tình hình. Chúng tôi lại cắt đường trở ra. Lúc này Bộ Tư lệnh Mặt trận Cao Bằng đóng ở Bằng Khẩu. Ông Đàm Văn Ngụy làm Tư lệnh, ông Ngô Bằng Khê làm Chính ủy Mặt trận. Khi tôi ra đến Bộ Tư lệnh thì gặp và báo cáo với thủ trưởng trực tiếp là ông Hùng Phong, Thiếu tướng, Cục trưởng Cục Tổ chức - Tổng cục Chính trị mới từ Hà Nội lên đang làm phái viên của Bộ ở Mặt trận. (Một thời gian sau, ông Hùng Phong được điều động làm Bí thư Đảng ủy Quân khu, Phó Tư lệnh về Chính trị Quân khu 1).
Khi chúng tôi chuẩn bị ra về thì có một việc đột xuất : Mặt trận dùng trực thăng Mi 6 để tiếp tế vũ khí đạn dược, lương thực thực phẩm cho Trung đoàn 567 nhưng tổ lái không xác định được địa điểm, tọa độ đóng quân của Trung đoàn. Vậy là, tôi và anh Đào Thắng được giao nhiệm vụ ngồi lên máy bay để dẫn đường. Dù biết chắc vị trí đóng quân của Trung đoàn 567 nhưng vì đìa hình rừng núi, trời mây mù dày đặc, bay cao thì nhìn xuống dưới không thấy gì, bay  thấp thì sợ đâm vào núi, hơn nữa hồi đó có pháo cao xạ của quân địch đã đưa sang đất ta. Chúng tôi ngồi vào buồng lái để dẫn đường, nhưng loay hoay cả mấy lần đều không tìm được, đành phải bay trở ra căn cứ.
Mấy hôm sau, có điện yêu cầu chúng tôi về Hà Nội gấp để tổng hợp tình hình, kịp xét đề nghị khen thưởng. Nhân có máy bay trực thăng Mi 6 chở hàng lên Mặt trận quay về Hà Nội, chúng tôi được phép cho ô tô vào máy bay để cùng về.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:41:32 PM
Trước yêu cầu của công tác chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội, việc hình thành một cơ quan cấp cục đủ mạnh giữ vị trí trung tâm giúp Bộ Quốc phòng  trong việc nghiên cứu, phối hợp nghiên cứu đề nghị Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng ban hành chính sách và chỉ đạo hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các cấp, ngành, đơn vị và địa phương tổ chức thực hiện chính  sách trở thành một nhu cầu tất yếu, khách quan. Cơ quan đó vừa phải kịp thời đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ quân đội trong tình hình mới;  đồng thời lo chỉ đạo giải quyết những hậu quả còn đọng lại về chính sách sau mấy chục năm chiến tranh.
Ngày 19 tháng 3 năm 1982, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Quyết định thành lập lại Cục Chính sách trực thuộc Bộ Quốc phòng. Cục Chính sách có các nhiệm vụ chủ yếu:
Giúp Bộ Quốc phòng nghiên cứu các chế độ, chính sách của Nhà nước có liên quan đén các lực lượng vũ trang để áp dụng vào quân đội, công nhan viên chức quốc phòng và các lực lượng vũ trang nói chung.
Giúp Bộ nghiên cứu các vấn đề cụ thể trong quân đội, công nhân viên chức quốc phòng và các lưc lượng vũ trang nói chung cần phải qui định thành chế độ, chính sách để đề nghị Nhà nước ban hành hoặc Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra quyết định theo phạm vi và quyền hạn.
          Giúp Bộ chỉ đạo các cơ quan và đơn vị tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách đã được ban hành đối với quân đội, công nhân viên quốc phòng và các lực lượng vũ trang; tổng hợp tình hình thực hiện chế độ, chính sách đó.
          Giúp Bộ quan hệ với các cơ quan, các ngành của Đảng và Nhà nước trong việc nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi và tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách đối với quân đội, hậu phương quân đội, công nhân viên chức quóc phòng và các lực lượng vũ trang nói chung.
          Dự trù và cung cấp các loại Huân chương, các bằng khen, giấy khen… cho các đơn vị trong toàn quân.
          Đối với các chế độ có lên quan đến nhiều ngành, Cục Chính sách có trách nhiệm giúp Bộ phân công, hướng dẫn cho từng ngành nghiên cứu phần nội dung phụ trách và Cục tổng hợp lại thành Dự thảo chế độ chính sách chung để báo cáo Bộ Quốc phòng xét duyệt.
          Bộ Tổng Tham mưu ra Quyết đinh về tổ chức biên chế của Cục Chính sách gồm : Phòng Nghiên cứu - Tổng hợp, Phòng Thương binh - Liệt sĩ, Phòng Hậu phương quân đội, Phòng Hưu trí và Ban Hành chính. Sau đó một thời gian ngắn, Bộ Tổng Tham mưu có quyết định điều động Phòng Khen thưởng ở Cục Cán bộ trên cơ sở giữ nguyên chức năng nhiệm vụ, tổ chức biên chế, trang thiết bị và cán bộ nhân viên hiện có trở lại đội hình của Cục Chính sách.
Khi tái lập Cục Chính sách, ông Lê Tiến Phục đang là Phó Tư lệnh Chính trị Bộ Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam tại Lào trở về làm Cục trưởng. Ông Nguyễn Hữu Quyền, nguyên Trưởng phòng Chính sách Cục Tổ chức – Tổng cục Chính trị và ông Lê Văn Phiệt, nguyên Trưởng phòng Chính sách Cục Quân lực – Bộ Tổng Tham mưu được bổ nhiệm làm Cục phó (ông Phiệt đã nhận quyết định nhưng sau đó chưa kịp về Cục bị ốm nặng rồi từ trần). Sau đó, ông Đặng Hữu Lộc, nguyên Phó Tư lệnh Chính trị Quân đoàn 29 được điều động về làm Cục phó. Ông Lộc làm Cục phó được khoảng một năm thì Bộ Quốc phòng lại điều đi làm Phó Đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam tại Bộ Quốc phòng Lào. Ông Đoàn Ngọc Luận, nguyên Cục phó Cục Cán bộ Chính trị được điều động làm Cục phó. Phòng Nghiên cứu - Tổng hợp do ông Nguyễn Khắc Chuẩn, nguyên Trưởng phòng Cán bộ Quân chủng phòng không, làm Trưởng phòng; tôi được bổ nhiệm làm Phó phòng. Phòng Thương binh-Liệt sĩ do ông Nguyễn Công Hoan làm Trưởng phòng, ông Trần Giáng làm Phó phòng. Phòng Hậu phương quân đội do ông Nguyễn Liệu,  nguyên Trưởng phòng Cán bộ Tổng cục Hàng không dân dụng làm Trưởng phòng. Phòng Hưu trí do ông Trần Lưu Quang, nguyên Chánh Văn phòng Bộ Tư lệnh  Quân tình nguyện Việt Nam tại Lào, làm Trưởng phòng, ông Phạm Thái làm Phó phòng. Phòng Khen thưởng do ông Nguyễn Đức Chiêm làm Trưởng phòng, có hai Phó phòng là ông Phạm Lam và ông Phạm Gia Thiết.( Ban đầu với tên gọi là Phòng Khen thưởng và Kỷ luật. Sau đó chức năng kỷ luật chuyển về Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy quân sự Trung ương. Ông Phạm Gia Thiết cùng chuyển về Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Quân sự Trung ương, còn một Phó phòng là ông Phạm Lam).
 Cán bộ của Cục Chính sách thời kỳ đó hình thành từ nhiều nguồn: một số là cán bộ cũ của Cục đã điều đi đơn vị khác lúc Cục sáp nhập vào Cục Tổ chức, nay trở lại; một số khác chọn ở các đơn vị về; nhiều hơn cả là số cán bộ vừa tốt nghiệp khóa bổ túc ở Học viện Chính trị. Chính số cán bộ này đều là cán bộ chủ chốt của Cục, như các ông : Đinh Mạnh Toan, Đỗ Quang Bích, Đinh Công Cử, Phạm Thái, Nguyễn Khắc Chuẩn, Nguyễn Liệu.
Phòng Nghiên cứu - Tổng hợp lúc đó có: Nguyễn Khắc Chuẩn, Nguyễn Mạnh Đẩu, Đinh Công Cử, Đinh Mạnh Toan, Đỗ Quang Bích, Lê Sĩ Toàn, Hoàng Đức Cân, Nguyễn Bá Bồng, Hồ Ngọc Vận, sau này thêm Hồ Thủy. Chức năng nhiệm vụ của Phòng là: Nghiên cứu đề đạt các chế độ, chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội. Xây dựng kế hoạch công tác chính sách, cả nghiên cứu cũng như tổ chức thực hiện chính sách. Tổng hợp tình hình thực hiện chính sách trong toàn quân ở từng thời kỳ. Ngoài ra, còn có nhiệm vụ hệ thống các văn bản chính sách nhằm phổ cập trong toàn ngành.
Thời kỳ này, ông Trần Văn Quang, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, ngoài việc chỉ đạo các mặt công tác khác, còn trực tiếp phụ trách chỉ đạo Cục chính sách. Với cương vị Phó phòng Nghiên cứu- Tổng hợp, tôi được Thủ trưởng Cục giao nhiệm vụ nhiều lần trực tiếp báo cáo tình hình với ông Quang và nhiều lần “cắp cặp” theo ông đi dự các cuộc họp về chính sách do các bộ, ngành mời hoặc Chính phủ triệu tập.
Lúc mới tái lập, cùng với việc kịp thời triển khai chỉ đạo hướng dẫn, kiểm tra đôn đốc các mặt công tác chuyên môn với một khối lượng lớn, trên diện rộng, có nhiều khó khăn phức tạp, Cục Chính sách còn phải đồng thời tập trung kiện toàn tổ chức biên chế, xác định chức năng nhiệm vụ cụ thể và các mối quan hệ, xây dựng chế độ làm việc.
Do hậu quả của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, thời kỳ này cả nước  lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng và toàn diện. Sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, chi phí vật chất cao và không ngừng tăng lên. Sản xuất trong nước không đáp ứng được nhu cầu tối thiểu. Làm không đủ ăn và phải dựa vào nguồn bên ngoài ngày càng lớn. Siêu lạm phát hoành hành trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội và giá cả tăng đến chóng mặt. Đời sống nhân dân, cán bộ công nhân viên chức và cán bộ, chiến sĩ quân đội hết sức khó khăn. Các cơ quan, đơn vị ngoài việc thực hành chức năng nhiệm vụ, còn phải bung ra đôn đáo xoay xở lo cải thiện đời sống cho anh em. Hễ ở đâu mua được hàng hóa giá thấp như:  vải, nước mắm, mỳ chính, dầu hỏa, thịt, cá, phụ tùng xe đạp,…đều tìm mua về nhượng cho anh em dùng hoặc đem bán kiếm tiền chênh lệch giá.
Ngày đó đi họp chưa có chế độ phong bì như bây giờ hoặc nếu có thì cũng  rất ít. Ở những cuộc họp lớn, kể cả Đại hội Đảng các cấp, trong kế hoạch bao giờ cũng vậy, bộ phận tổ chức phải xoay xở mua hàng về bán cho đại biểu. Khi họp xong ra về, cùng với tài liệu, mỗi người cầm lủng lẳng mấy thứ đồ lặt vặt. Ngoài giờ đi làm, mọi người đều xoay xở làm thêm nghề phụ để kiếm tiền. Rất nhiều gia đình cố thu hẹp diện tích sinh hoạt vốn đã chật hẹp để nuôi lợn. Người người nuôi lợn. Nhà nhà nuôi lợn. Cả thành phố nuôi lợn. Khách đến thăm nhà, việc đầu tiên là vào thăm chuồng lợn. Chủ nhà cũng thật sự khoe lợn đẹp, hay ăn, chóng lớn.
Để xoay xở lo toan cuộc sống, cán bộ công nhân viên chức Nhà nước xoay xở đủ kiểu. Ngoài nuôi lợn, cá trê phi, chó cảnh, vẹt, làm bánh kẹo, kem, nước đá, đan áo, đan mũ để bán, đi buôn vặt, nhiều gia đình còn sắm máy khâu để may hàng gia công hoặc quấn vỏ pháo, dán hộp các loại. Có thể nói, chưa lúc nào, lao động xã hội được khai thác triệt để như thời kỳ đó. Khi đồng lương không đủ lấp kín được các nhu cầu tối thiểu trong đời sống đạm bạc, thì con nguời ta sẵn sàng làm bất cứ việc gì, miễn là không vi phạm pháp luật, kiếm thêm được tiền để trang trải.  Kể ra, những đồng tiền kiếm được là rất chính đáng. Chỉ có điều, trong nhiều trường hợp không phù hợp với chức năng, sở trường, nên nhếch nhác, cơ cực quá.
Trải nghiệm qua những tháng ngày tuổi thơ ở một miền quê  nghèo khó, rồi những năm tháng đi chiến đấu trong hoàn cảnh đầy ác liệt, khó khăn, gian khổ ở chiến trường, cộng với những chuỗi dài thiếu thốn, vất vả của thời kỳ cơ chế bao cấp, là những chất liệu đã hun đúc nên ở thế hệ chúng tôi một bản lĩnh chịu đựng dạn dày. Lắm lúc tôi nghĩ rằng, đó là những cái đáy khó khăn trong cuộc đời. Không biết, phần đời còn lại có gì khó hơn.


Một buổi chiều giữa tháng 3 năm 1983, sau giờ làm việc, ông Lê Tiến Phục gọi tôi lên phòng của ông. Sau khi hỏi han về sức khỏe, về tình hình gia đình, ông nói với tôi:
- Thủ trưởng Cục giao cho đồng chí sang Cămpuchia làm việc trong Tổ đại diện của Cục Chính sách tại Bộ Tư lệnh 719 ở PhnômPênh. Tổ đại diện có nhiệm vụ giúp Cục Chính sách và Cục Chính trị Bộ Tư lệnh 719 nghiên cứu đề đạt và theo dõi, chỉ đạo, hướng dẫn việc tổ chức thực hiện công tác chính sách đối với quân tình nguyện và chuyên gia quan sự Việt Nam ở chiến trường Cămpuchia. Thời gian công tác ở Cămpuchia ít nhất là 1 năm, sau đó sẽ Cục sẽ cử người khác sang thay.
Nghe xong, tôi hoàn toàn nhất trí và biểu thị quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Sau này, tôi được biết, việc cử tôi lên biên giới phía Bắc khi chiến sự mới nổ ra và cử sang trực ở Cămpuchia là nằm trong ý định qui hoạch rèn luyện, bồi dưỡng tôi của các Thủ trưởng.
Ngày 23 tháng 3 năm 1983, tôi cùng anh Nguyễn Bá Chước cán bộ Phòng Thương binh - Liệt sĩ đi máy bay vào thành phố Hồ Chí Minh để sang PhnômPênh.
Trong lúc chờ sang Cămpuhia, chúng tôi nghỉ lại mấy ngày tại Nhà khách C59B - Bộ Tổng Tham mưu trong sân bay Tân Sơn Nhất, Thành phố Hồ Chí Minh. Hồi đó từ thành phố Hồ Chí Minh sang PhnômPênh cũng thuận tiện. Việc qua lại biên giới không cần hộ chiếu mà chỉ cần có giấy giới thiệu công tác. Về phương tiện thì, hoặc là đi máy bay quân sự loại cánh quạt An 26, hoặc đi máy bay trực thăng Mi 8, hoặc là đi ô tô của đơn vị theo đường bộ với cự ly chỉ hơn 300 km.
Ngày 26 tháng 3 năm 1983, chúng tôi từ thành phố Hồ Chí Minh đi lên Tây Ninh qua Cửa khẩu Mộc Bài, sang tỉnh Công Phông Chàm rồi qua phà Niếc Lương vào PhnômPênh. Đang giữa mùa khô, tiết trời nóng bức, trên trục đường, xe chúng tôi chạy qua những làng mạc, thị trấn, thị tứ sầm uất, những cánh đồng rộng mênh mông đã qua mùa thu hoạch, trơ lên cuống rạ khô khốc. Đây là lần đầu tiên tôi đặt chân đến Cămpuchia. Đường phố PhnômPênh khang trang, thoáng đãng. Những hàng phượng vĩ cao to rợp hoa đỏ rực hai bên đường trông rất đẹp - nhất là đoạn qua cầu Mônêvông, đại lộ Xihanúc. Trên ô tô tôi nhìn ra xung quanh, thấy người dân đi lại tấp nập. Cuộc sống thành phố khá đô hội, thanh bình, không có dấu hiệu gì là chiến tranh.
 Khi xe chạy qua một khu nhà rất đẹp, tôi hỏi, người lái xe nói đó là Điện Chămcammon, xe ngoặt trái, qua ba-ri-e cổng gác doanh trại bộ đội. Đây là Cơ quan Bộ Tư lệnh 719 (Bộ Tư lệnh Quân Tình nguyện Việt Nam tại Cămpuchia). Đại diện Cục Chính sách được bố trí  ba căn phòng trong một tòa nhà vốn là Trụ sở Trường Đảng của Khơ me đỏ. Trên khuôn viên rộng, ở giữa là một tòa  nhà 5 tầng đẹp, kéo dài. Phía sau tòa nhà là hội trường rộng, khá đẹp. Trước hội trường, đi qua hai cây đa to là sân bóng đá và một sân tennis. Cơ quan Bộ Tư lệnh chọn đây làm Nhà khách. Các cơ quan khác của Bộ Tư lệnh hầu như mỗi cơ quan ở trong một tòa biệt thự xung quanh đó. Nhà khách chỉ dành cho những đoàn cán bộ ở trong nước sang công tác ngắn ngày và lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị trên các Mặt trận về Bộ Tư lệnh họp hành, công tác. Đồng thời, tại đây còn dành ra một số phòng bố trí làm chỗ ở và làm việc của Đại diện các cơ quan như: Cục Chính sách, Cục Nhà trường - Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Tư lệnh Hóa học, Cục Khoa học Quân sự -Bộ Tổng Tham mưu.
Đại diện Cục Chính sách tại Bộ Tư lệnh 719 có ba người: Anh Phạm Lam  Phó phòng Khen thưởng, anh Nguyễn Bá Chước trợ lý Phòng Thương binh-Liệt sỹ và tôi (Nguyễn Mạnh Đẩu) Phó phòng Nghiên cứu-Tổng hợp. Về mặt chính quyền, anh Phạm Lam được cử làm Tổ trưởng chịu trách nhiệm chung trước Cục Chính sách ở Hà Nội và Cục Chính trị Bộ Tư lệnh 719 ở PhnômPênh. Đồng thời, về tổ chức Đảng, Đảng ủy Cục Chính sách giao cho tôi làm Bí thư chi bộ. Trên cơ sở xây dựng kế hoạch công tác chung của cả tổ,  mỗi người chúng tôi triển khai công việc theo chức năng, nhiệm vụ của từng Phòng. Anh Pham Lam chuyên về công tác Khen thưởng. Anh Nguyễn Bá Chước chuyên về công tác Thương binh - Liệt sỹ. Còn tôi thì chuyên  về công tác nghiên cứu phát hiện đề đạt chế độ, chính sách đối với quân tình nguyện, chuyên gia quân sự Việt Nam ở Cămpuchia và tổng hợp tình hình thực hiện các chính sách đã ban hành của các đơn vị ở chiến trường.
Anh Phạm Lam quê ở Yên Mô, Ninh Bình; là người gắn bó với công tác khen thưởng ở chiến trường Nam Bộ (B2) trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ. Vốn có trí nhớ tốt và thường xuyên bám sát địa bàn, lăn lộn với các đơn vị chiến đấu, nên anh nắm rất chắc tình hình tổ chức biên chế, chức năng nhiệm vụ, tính chất đặc thù, cơ cấu tổ chức, sự phát triển qua các giai đoạn của từng đơn vị, từng địa phương. Anh vừa nắm chắc nội dung, hình thức khen thưởng, có kinh nghiệm nắm bắt phát hiện các gương điển hình trong chiến đấu, cả tập thể và cá nhân, vừa thành thạo trong triển khai các bước của qui trình khen thưởng nên khi nắm tình hình ở cơ quan hoặc khi xuống đơn vị anh đều được thủ trưởng cấp trên và anh em tin tưởng. Nhờ đó, công tác khen thưởng có vai trò, tác động rất cao trong việc cổ vũ động viên bộ đội ở chiến trường. Trong sinh hoạt, anh chân thành, thắng thắn, có tính nguyên tắc cao, lại thường quan tâm đến mọi người, nhất là trong những hoàn cảnh khó khăn, nên được mọi người quí mến.
Tôi nhớ, có lần tôi cùng Tổ công tác vận động quần chúng (có cả cán bộ của ta và cán bộ của bạn) thâm nhập nắm tình hình mấy cơ sở ở các phum, sóc ngoại thành PhnômPênh, cách chỗ đóng quân hơn 30 km. Ngày đó, quân địch thường xuyên hoạt động đánh lén kiểu du kích, nhất là vào ban đêm, kể cả trong thành phố PhnômPênh. Cá biệt có trường hợp chính quyền cơ sở hai mặt, nên rất khó lường. Có thời điểm Bộ Tư lệnh 719 qui định: “Để bảo đảm an ninh, từ 7 giờ tối trở đi, mọi cán bộ, chiến sĩ thuộc các đơn vị ở PhnômPênh phải ở trong doanh trại, không được ra ngoài”. Đến hơn 10 giờ đêm vẫn không thấy tôi về, hỏi sang một số cơ quan vẫn không ai biết, anh Lam lo lắng, đi ra đi vào, đứng lên ngồi xuống không yên. Nhưng, vì sợ ảnh hưởng, anh cũng không giám báo cáo lên cấp trên về việc tôi chưa về. Còn tôi, do mải công chuyện không chú ý đến giờ giấc, khi lên tới trục đường chính để trở về thì đã khuya rồi. Mãi tới hơn 12 giờ đêm tôi mới về đến cơ quan Bộ Tư lệnh. Thấy tôi về, anh Lam mừng lắm, nhưng ngay lập tức anh mắng tôi một trận khá gay gắt. Anh cho rằng, tôi chủ quan, coi thường địch, không am hiểu tình hình, không tuân thủ qui định của trên. Tôi phân trần lý do, anh vẫn không chịu. Tôi nghĩ, vì anh thương và lo lắng cho sự an nguy của tôi. Anh coi tôi như một đứa em, do đó, tôi chỉ biết nhận thiếu sót về mình.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:41:50 PM
Anh Phạm Lam hơn tôi 13 tuổi, nhập ngũ trước tôi 11 năm, trưởng thành sớm, lại kinh qua thực tiễn chiến đấu nhiều năm ở chiến trường, có thời gian phụ trách tôi. Vậy mà, sau này khi cấp trên bổ nhiệm tôi làm Cục trưởng, anh làm Cục phó, anh không bao giờ có tư tưởng kèn cựa, hẹp hòi, ghen tức, đố kỵ.  Trong công việc, anh thực hành đúng theo Điều lệnh quân đội, trong sinh hoạt anh thân thiện cởi mở. Tôi luôn tôn trọng anh và cố gắng khai thác, phát huy những điểm mạnh của anh. Giữa chúng tôi luôn luôn có tiếng nói chung trong điều hành công tác chuyên môn và xây dựng cơ quan vững mạnh.
Anh Nguyễn Bá Chước sinh năm 1932, quê ở Hòa Vang, Quảng Nam. Suốt mấy chục năm, từ hồi kháng chiến chống Pháp rồi kháng chiến chống Mỹ và đến tận sau này, anh đã lăn lộn, từng trải trên nhiều cương vị công tác. Khi về Cục Chính sách, anh được giao nhiệm vụ theo dõi công tác thương binh-liệt sĩ ở các đơn vị chiến đấu ở biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tế ở Cămpuchía. Anh Chước là con người có ý thức tổ chức kỷ luật rất chặt chẽ, nghiêm túc. Anh toàn tâm, toàn ý với nhiệm vụ được giao, miệng nói tay làm. Trong công việc anh không thích dài dòng văn tự. Thời kỳ công tác ở Cămpuchia, anh xông xáo xuống các đơn vị đang chiến đấu theo dõi hướng dẫn công tác thương binh - liệt sĩ trong chiến đấu, chiến dịch. Đến kiểm tra việc thực hiện chính sách đối với thương binh tại các đội điều trị, viện quân y và trên tuyến chuyển thương từ chiến trường về phía sau. Có lần, anh đến Viện 16 đóng ở ngoại thành PhnômPênh, đang giữa mùa khô, nước sinh hoạt đối với thương binh vô cùng khó khăn. Bình thường thiếu nước đã khó. Ở bệnh viện dã chiến, thiếu nước càng khó hơn nhiều trong điều trị, chăm sóc thương binh cũng như trong sinh hoạt hàng ngày. Bằng nhiều cách, anh đã đề đạt lên và được cấp trên giải quyết kịp thời tăng cường xe téc chở nước đến.
Tôi nhớ, để chuẩn bị kỉ niệm Ngày Thương binh – liệt sỹ 27/7 năm 1983, anh đã đề nghị Cục Chính trị Bộ Tư lệnh 719 điều động một trung đội ra Nghĩa trang Liệt sỹ ở sân bay Pô-chen-tông để tu sửa mộ chí, chuẩn bị cho các đoàn đại biểu của ta và bạn đến viếng. Hôm đó buổi sáng trời mưa rào to, buổi chiều trời nắng gay gắt, oi nồng. Giữa buổi chiều chúng tôi ra kiểm tra trước. Xuống xe, từ xa đi vào, tôi nhìn thấy một ông già cởi trần, mồ hôi đầm đìa, người đen nhẻm, lấm lem bùn đất, mặc quần xà lỏn, đầu quấn khăn rằn, tay cầm xẻng đang vừa đào đất vừa chỉ trỏ hướng dẫn cho mấy chiến sĩ trẻ. Ngỡ rằng, anh em ở đây đã nhờ một người dân trong địa phương cùng làm giúp. Tới nơi nhìn lại thấy ông già nhoẻn miệng cười, thì hóa ra là anh Chước.
Anh Chước là vậy. Nhiều lần, tôi cùng anh đến các mặt trận rồi từ mặt trận xuống các đơn vị cơ sở. Ở đâu và  bao giờ,  anh cũng có tác phong sâu sát, cụ thể, tỉ mỉ, từ đó đã giải quyết được nhiều vấn đề thực tế đặt ra.

Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam ở Cămpuchia lúc này được tổ chức theo yêu cầu nhiệm vụ giúp Bạn. Cấp lãnh đạo, chỉ huy cao nhất trên toàn chiến trường là Bộ Tư lệnh 719 do ông Lê Đức Anh, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Tổng tham mưu trưởng làm Tư lệnh. Ông Lê Hai, Trung tướng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Phó tư lệnh Chính trị. Ông Hồ Quang Hóa, Thiếu tướng, làm Phó tư lệnh - Tham mưu trưởng. Ông Lê Khả Phiêu, Thiếu tướng, Chủ nhiệm Chính trị. Ông Nguyễn Văn Dương, Thiếu tướng, Phó tham mưu trưởng Tổng cục Kỹ thuật làm Chủ nhiệm Kỹ thuật. Ông Lê Khôi, Thiếu tướng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần làm Chủ nhiệm Hậu cần. Các ông Phó Cục trưởng các cục : Tác chiến, Quân lực, Quân huấn trong thời gian thường trực ở Bộ Tư lệnh 719 đều là Tham mưu phó Bộ Tư lệnh. Đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam tại  Bộ Quốc phòng Cămpuchia ( Đoàn 478 ) do ông Mai Xuân Tần, Thiếu tướng làm Đoàn trưởng; ông Vũ Hải, Thiếu tướng, ông Nguyễn Như Ngà ,Thiếu tướng và ông Nguyễn Văn Viễn, Đại tá làm Đoàn phó.
Cùng với cương vị là Tư lệnh Bộ Tư lệnh 719 - người chỉ huy cao nhất của Quân tình nguyện và Chuyên gia quân sự Việt Nam tại Cămpuchia, ông Lê Đức Anh còn được Bộ Chính trị giao nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ đạo chung toàn bộ công tác chuyên gia ở Cămpuchia - cả chuyên gia về công tác xây dựng Đảng (B 68) và chuyên gia về kinh tế (A 40).
Ngoài Quân đoàn 4 là đơn vị chủ lực cơ động trực thuộc Bộ, còn lại toàn bộ lực lượng quân tình nguyện và chuyên gia quân sự trên chiến trường Cămpuchia được tổ chức thành các mặt trận. Mặt trận 479 ở đóng ở Xiêm Riệp. Mặt trận 579 đóng ở StungTreng. Mặt trận 779 đóng ở Công Phông Thơm. Mặt trận 979 đóng ở Công Pông Chư Pư. Dưới các Mặt trận là các sư đoàn chủ lực và các Đoàn quân sự làm chuyên gia ở các tỉnh đội của bạn. Về triển khai thực hiện nhiệm vụ tác chiến và xây dựng địa bàn, thì tất cả các đơn vị trên chiến trường chịu sự  lãnh đạo chỉ huy của Bộ Tư lệnh 719. Về hành chính quân sự và các mặt bảo đảm, thì : Mặt trận 579 trực thuộc Quân khu 5, Mặt trận 479 và Mặt trận 779 trực thuộc Quân khu 7, Mặt trận 979 trực thuộc Quân khu 9. Tư lệnh các Mặt trận đều là Phó Tư lệnh của các Quân khu.

Bộ đội ta ở Cămpuchia bao gồm nhiều lực lượng với nhiều loại hình hoạt động khác nhau. Đại bộ phận là lực lượng là Quân tình nguyên, một số lực lượng làm Chuyên gia quân sự trong các lực lượng của bạn ( cả chủ lực và  địa phương, cả cơ quan và đơn vị ), một số khác cùng tham gia với bạn trong lực lượng Vận động quần chúng xây dựng cơ sở chính trị trên các địa bàn. Cùng là một đối tượng nhưng địa bàn đóng quân có đơn vị phía trước, đơn vị phía sau, khác nhau về môi trường, điều kiện sinh hoạt và an ninh. Vì vậy, để bảo đảm sự công bằng trong đãi ngộ, đòi hỏi các chế độ, chính sách bảo đảm đời sống, tiền lương, phụ cấp phải phù hợp với yêu cầu về tính chất và nhiệm vụ của từng đối tượng phục vụ.
Tháng 4 năm 1983, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra Nghị quyết về tăng cường hợp tác toàn diện với Lào và Cămpuchia trong giai đoạn mới. Về nhiệm vụ quốc phòng và an ninh, Nghị quyết xác định: Đối với quân tình nguyện của ta ở Cămpuchia, cần tiếp tục quán triệt nhiệm vụ, phương hướng hoạt động và chăm lo bảo đảm tốt đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ nhằm nâng cao hiệu suất chiến đấu và công tác…Cải tiến bổ sung các chính sách, chế độ đối với quân tình nguyện…Cả chính sách tại chỗ và chính sách ở hậu phương, với những ưu tiên thích đáng, phù hợp với khả năng của bạn và ta.
 Căn cứ vào Nghị quyết của Bộ Chính trị, dưới sự chỉ đạo của Tổng cục Chính trị, Bộ Quốc phòng, Cục Chính sách đã phối hợp với các cơ quan có liên quan triển khai nghiên cứu đề đạt lên trên ban hành chính sách. Theo đề nghị của Bộ Quốc phòng, ngày 2 tháng 12 năm 1983, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Chỉ thị  bổ sung một số điểm về chính sách, chế độ đối với LLVT làm nhiệm vụ ở Cămpuchia. Cụ thể là :
Quân nhân nếu hoạt động ở miến núi thực sự có khó khăn hoặc vùng thiếu an ninh thì được hưởng phụ cấp đặc biệt bằng 60% lương chính hoặc sinh hoạt phí. Nếu ở vùn khác thì vẫn áp dụng phụ cấp đặc biệt 45% lương chính hoặc sinh hoạt phí như hiện hành. Bộ Quốc phòng căn cứ vào tình hình chung, qui định cụ thể những vùng coi là vùng núi có khó khăn, vùng thiếu an ninh, theo tinh thần bảo đảm quan hệ hợp lý giữa các vùng và phù hợp với tình hình an ninh từng nơi, từng lúc.
Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp,công nhân viên chức quốc phòng được để lại tem phiếu thực phẩm (hoặc sổ mua hàng) cho gia đình sử dụng để mua hàng theo định lượng qui định của Nhà nước.
Thời gian công tác dài hạn (từ 3 năm trở lên) ở Cămpuchia, được tính hệ số bằng 1,5 lần khi tính thời gian công tác để xét điều kiện về hưu, mất sức, khen thưởng.
Những hạ sĩ quan, binh sĩ đã đủ 3 năm hoạt động ở Cămpuchia, sau khi hoàn thành nhiệm vụ trở về, được thực hiện chính sách phục viên, chuyển ngành như những quân nhân đã có 5 năm làm nhiệm vụ ở trong nước.
Sau khi làm nhiệm vụ dài hạn ( 3 năm trở lên ) ở Cămphchia trở về, được ưu tiên xét, sắp xếp công tác, học tập theo ché độ hiện hành.
Những sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên chức quốc phòng, hạ sĩ quan binh sĩ kéo dài thời gian hoạt động ở Cămpuchia được nghỉ phép một tháng ( không kể thời gian đi, về ); những ngày đi đường được thanh toán như khi đi công tác trong nước.
 Cuối năm 1984, Bộ Quốc phòng có qui định: Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên chức quốc phòng ở các đơn vị quân tình nguyện từ sư đoàn trở xuống, trong thời gian làm nhiệm vụ giúp bạn ở các đảo và các xã có đường biên giới với Thái Lan, ngoài các khoản phụ cấp hiện có, hàng tháng được hưởng thêm khoản phụ cấp khuyến khích bằng 40% tính trên lương chính; hạ sĩ quan và binh sĩ thuộc các đơn vị trên được hưởng thêm khoản phụ cấp khuyến khích bằng 40% tính trên tiền ăn và phụ cấp tiêu vặt.
Về chấp hành công tác thương binh - tử sĩ của các đơn vị làm nhiệm vụ quốc tế ở Cămpuchia; để đáp ứng yêu cầu cấp cứu, điều trị thương binh, Bộ Quốc phòng đã cho phát triển các đội điều trị, củng cố mở rộng các bệnh viện hiện có, tăng số giường điều trị lên gấp đôi ( toàn  tuyến phía Nam có 14 bệnh viện, 4 bệnh viện dã chiến và 14 đội điều trị).  Đã  sử dụng 135 xe cứu thương chuyên dùng, 30 ca nô và một số máy bay của Sư đoàn không quân 372 phục vụ vận chuyển thương binh. Điều kiện hoạt động của quân tình nguyện thời kỳ này phân tán trên nhiều tuyến, chủ yếu là các vùng rừng núi xa hậu phương, xa dân bạn; đường vận chuyển khó khăn, nhất là những đơn vị đóng ở các điểm chốt tiền tiêu trên núi cao biên giới Cămpuchia-Thái Lan. Trước hoàn cảnh đó, lãnh đạo chỉ huy và cơ quan các cấp đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, khắc phục khó khăn, nên việc chỉ đạo chuyển thương từ hỏa tuyến về hậu phương được tổ chưc tốt. Nhiều trường hợp hoạt động truy kích trong rừng sâu ( khu vực Pai-lin,Am- lay, Prây- veng,…) ở tuyến trước do chuyển thương bằng đường bộ về phía sau không an toàn, Bộ đã cho phép chuyển bằng máy bay trực thăng hoặc dùng xe bọc thép M113 hộ tống đưa thương binh về. Bộ tổ chức 6 đoàn an dưỡng với 3.600 giường. Đồng thời, các quân khu phía Nam có tổ chức các tiểu đoàn an dưỡng. Suốt trong quá trình chiến đấu, công tác tử sĩ được tiến hành chu đáo. Phần đông, các đơn vị đưa thi thể anh em về an táng ở khu vực các khu vực tập trung. Những năm sau này mới có điều kiện cất bốc hài cốt liệt sĩ về nước.
Khuyết điểm xảy ra là, không ít trường hợp hy sinh, do quá trình cơ động khẩn trương, đơn vị đã không nắm được danh sách khi chôn cất, không lưu giữ được sơ đồ mộ chí, làm cho việc tìm kiếm qui tập mộ liệt sĩ gặp rất nhiều khó khăn.

Thời gian công tác ở cơ quan Bộ Tư lệnh 719 tại PhnômPênh, theo phạm vi chức năng nhiệm vụ, tôi có điều kiện nghiên cứu các loại tài liệu, trực tiếp tiếp xúc với cán bộ lãnh đạo các cấp của ta và của bạn - nhất là trong các cuộc hội nghị chuyên đề và hàng tuần được dự giao ban ở Cục Chính trị và ở Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện. Rồi lại nhiều lần được cử đi công tác đến nhiều đơn vị quân tình nguyện, đoàn chuyên gia đóng quân trên đất Cămpuchia, gặp gỡ cán bộ, chiến sĩ ta; một số lần tham gia cùng Đội công tác vận động quần chúng thâm nhập vào trong dân;  xuống gặp gỡ tiếp xúc với cán bộ ta làm chuyên gia trong một vài đơn vị bạn,... Nhờ đó, tôi có dịp nhận thức tương đối đầy đủ hơn về cuộc chiến tranh biên giới Việt Nam - Cămpuchia và nhiệm vụ quốc tế cao cả mà Quân tình nguyện Việt Nam tiến hành trên đất Cămpuchia.
Ngay trong khi chúng ta đang tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, tập đoàn cầm quyền PônPốt - Iêng Xari đã có những việc làm phản phúc thực hiện chính sách ngấm ngầm chống Việt Nam. Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Cămpuchia thắng lợi, tập đoàn cầm quyền Khơ me đỏ đã gây ra nạn diệt chủng tàn bạo chưa từng có trong lịch sử ở Cămpuchia. Chúng chủ trương xây dựng đất nước Cămpuchia không tiền, không chợ, không trí thức, không trường học, không tôn giáo. Mọi người dân đều ở chung, ăn chung, làm chung trong các trại tập trung. Bè lũ Pôn Pốt đã biến đất nước Cămpuchia thành một trại tập trung khổ sai khổng lồ đầy những hố chôn người. Theo thống kê của Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nứu Cămpuchia, bọn diệt chủng Pôn Pốt đã giết hại hơn 2,7 triệu người, trong đó có hàng vạn người là trí thức, văn nghệ sĩ và sinh viên. Chúng đã phá hủy hàng ngàn trường học, bệnh viện, nhà thờ, chùa chiền. Đồng thời với nạn diệt chủng ở trong nước, với tham vọng đất đai và ý đồ làm cho đất nước chúng ta mất ổn định, tập đoàn phản động Khơ me đỏ đã kích động hận thù dân tộc chống Việt Nam. Chúng đã  tiến hành các hoạt động đánh phá biên giới ngày càng tăng, từ thâm nhập, pháo kích, tiến tới lấn chiếm và đến ngày 30 tháng 4 năm 1977 thì phát động chiến tranh xâm lược.
Mùa khô năm 1978, tập đoàn Pôn Pốt đã huy động 19 trong tổng số 23 sư đoàn bộ binh tiến công xâm nhập lãnh thổ Việt Nam trên hướng tây nam, tàn sát nhân dân ta ở các địa phương trên tuyến biên giới. Tính từ tháng 5 năm 1975 đến tháng 12 năm 1978, bè lũ Pôn Pốt đã gây ra những tội ác vô cùng dã man đối với nhân dân Việt Nam. Chúng đã giết hại hơn 5.000 dân thường và làm bị thương gần 5.000 người. Hàng nghìn trâu bò bị cướp, giết, hàng ngàn héc- ta lúa mùa bị phá hoại, hạng vạn héc- ta ruộng đất và đồn điền cao su ở vùng biên giới phía Tây Nam bị bỏ hoang, nửa triệu dân ở biên giới phải bỏ đất, bỏ ruộng để chạy dạt về phia sau. Trên thực tế lúc bấy giờ, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta không thể nghĩ tới sự phản phúc, phản động với một qui mô to lớn và ác liệt đến như vậy. Mặc dù chúng ta đã hết sức kiềm chế, kiên trì thương lượng thuyết phục bằng con đường ngoại giao nhưng sau nhiều cố gằng không đạt được kết quả. Để thực hiện quyền tự vệ chính đáng, chúng ta buộc phải đánh trả, đẩy quân Khơme đỏ ra khỏi biên giới. Đồng thời, thể theo yêu cầu của Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Cămpuchia, quân tình nguyện đã cùng Lực lượng vũ trang của Mặt trận tiến hành phản công, tiếp đến là tiến công giải phóng thủ đô Phnôm Pênh và toàn bộ đất nước Cămpuchia. Đây là một cuộc chiến tranh chính nghĩa, cứu một dân tộc khỏi họa diệt chủng, từng bước hồi sinh và phát triển. Đồng thời, tạo được thế ổn định trong sự nghiệp xây dựng đất nước chúng ta.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:42:16 PM
 Trong hơn 10 năm, kể từ mùa Xuân 1979, lực lượng vũ trang ta đã chiến đấu liên tục, không ngừng. Từ những trận đánh mở đầu cuộc phản công chiến lược quyết liệt, chuyển sang cuộc tiến công như vũ bão, lực lượng vũ trang ta đã đập tan chế độ diệt chủng Pôn Pốt -  Iêng Sary, giải phóng đất nước Cămpuchia. Sau khi chính quyền Khơ me đỏ các cấp từ trung ương đến cơ sở bị đánh dập đánh sập,  quân của chúng đã bị tan rã từng mảng, dạt vào bưng biền, rừng núi. Nhưng sau đó, bọn chúng đã tập hợp lại lực lượng, được sự viện trợ, hà hơi tiếp sức và điều khiển của các thế lực phản động từ bên ngoài, hòng khôi phục chính quyền, giành lại những gì đã mất. Cuộc chiến đấu quyết liệt, phức tạp, kéo dài, căng thẳng, trên một không gian rộng lớn.
Theo yêu cầu của Mặt trận dân tộc cứu nước Cămpuchia, tiếp sau đó là thực hiện Hiệp định đã được ký kết giữa hai Nhà nước; để giúp chính quyền và nhân dân Cămpuchia giữ vững thành quả cách mạng, giúp bạn xây dựng chính quyền các cấp còn non trẻ, xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng Cămpuchia từng bước vững mạnh, đủ sức đánh trả quân địch, bảo vệ nhân dân nước Bạn, quân tình nguyện Việt Nam đã ở lại tiếp tục chiến đấu truy quét quân Pôn-Pốt trong những điền kiện đầy khó khăn, gian khổ, hi sinh.
Từ cuộc phản công chiến lược trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới tây nam, đến tiến công giúp bạn giải phóng dân tộc Cămpuchia khỏi họa diệt chủng và 10 năm bền bỉ làm nghĩa vụ quốc tế trên đất bạn là một quá trình liên tục tiếp nối giữa các giai đoạn trong mối liên hệ chặt chẽ mật thiết với nhau. Đó là một cuộc chiến tranh do tình thế bắt buộc, khi không còn cách nào khác. Cuộc chiến tranh chính nghĩa lâu dài, quyết liệt buộc chúng ta đã phải trả giá bằng hàng vạn sinh mạng cán bộ, chiến sĩ.


Tháng 10 năm 1984, tôi được gọi về Hà Nội để nhập học ở Học viện Chính trị. Đây là lớp học bổ túc cán bộ chính trị trung, cao cấp khóa 34. Lớp học được tổ chức tại cơ sở 2 của Học viên Chính trị đóng ở làng Xuân La, huyện Từ Liêm – Hà Nội. Tổng số lớp học có 125 học viên. Là lớp bổ túc trung, cao cấp nên học viên cũng không đồng đều. Về quân hàm thì từ đại úy đến đại tá. Về chức vụ thì có cán bộ lãnh đạo, chỉ huy cấp trung đoàn, sư đoàn và cán bộ cơ quan các cấp.
 Đã 20 năm tuổi quân, cấp bậc Trung tá, mãi đến lúc đó tôi mới bước chân đến một học viện chính qui của quân đội, mà cũng chỉ thuộc diện học bổ túc. Thế hệ cán bộ chúng tôi phần đông đều vậy. Thực tiễn quân đội là trường học lớn. Phẩm chất, năng lực và phong cách công tác của cán bộ lớp trước là những trang giáo án sống động, thiết thực, hiệu quả đối với lớp sau. Chương trình học lúc đó là: Lý luận Chủ nghĩa Mác- Lê nin, bao gồm chương trình trung, cao cấp về : triết học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học, lịch sử Đảng, đường lối quân sự, nghệ thuật quân sự. Nội dung, phương thức tiến hành công tác đảng, công tác chính trị cấp chiến dịch, trong các hình thức tác chiến, các trạng thái và các nhiệm vụ. Thời gian học là 6 tháng. Bằng kiến thức thu hoạch được qua từng môn học, đối chiếu với thực tiễn sống động đa dạng ở các đơn vị, lớp học chúng tôi vừa nghiêm túc vừa sôi nổi trong những giờ lên lớp và những buổi ximêna. Đặc biệt, hồi đó lớp chúng tôi tranh luận khá rôm rả, thậm chí gay gắt xoay quanh chủ đề có tính thời sự lúc bấy giờ là :” Cơ chế thực hiện chế độ một người chỉ huy trong quân đội “ theo Nghị quyết 07/BCT, rồi Nghị quyết 27/BCT của Bộ Chính trị Khóa V. Các ý kiến tranh luận đặt ra đặt ra trên nhiều khía cạnh nhưng tựu trung là, tiến hành công tác chính trị trong quân đội là một vấn đề thuộc về nguyên tắc và bản chất của quân đội cách mạng, là truyền thống của quân đội ta trong suốt mấy chục năm chiến tranh, đồng thời là nhu cầu của việc xây dựng quân đội về chính trị trong giai đoạn mới. Thực tế cho thấy, cơ chế chính ủy, chính trị viên trong quân đội  không hề gây trở ngại cho người chỉ huy thực hành nhiệm vụ. Đưa người cán bộ chủ trì công tác chính trị của đơn vị xuống làm cấp phó về chính trị cho người chỉ huy các cấp là hạ thấp vai trò, vị trí và hiệu quả của công tác chính trị…Những vướng mắc, băn khoăn, trăn trở về những vấn đề đặt ra đó mãi tới hơn 20 năm sau mới được giải quyết sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 51/NQ-TW ngày 20 tháng 7 năm 2005.
Cùng học với tôi một khóa, sau này có nhiều người thành đạt trên nhiều cương vị, tiêu biểu như: Anh Phạm Văn Long lúc đó là Đại tá, Phó sư đoàn trưởng về Chính trị Sư đoàn 324 - Quân khu 4; sau này là Ủy viên Trung ương, Trung tướng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Anh Bùi Văn Huấn (Út Lê) lúc đó là Trung tá, Chủ nhiệm Chính trị Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh An Giang; sau này là Ủy viên Trung ương Đảng, Thượng tướng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Anh Nguyễn Đức Sơn lúc đó là Trung tá, Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 312 - Quân đoàn 1; sau này là Trung tướng, Bí thư Đảng ủy Bộ Tổng Tham mưu, Chủ nhiệm Chính trị Bộ Tổng Tham mưu. Anh Vũ Tần, lúc đó là Thiếu tá, cán bộ Cục Đối ngoại - Bộ Quốc phòng; sau này là Thiếu tướng, Cục trưởng Cục Đối ngoại - Bộ Quốc phòng. Anh Lê Công Đoàn lúc đó là Thiếu tá, cán bộ cơ quan Ủy ban Kiểm tr Đảng ủy Quân sự Trung ương; sau này là Thiếu tướng, Ủy viên thường trực Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Quân sự Trung ương. Và nhiều anh em khác nữa.


Ngày 1 tháng 6 năm 1986, tôi được Thủ trưởng Bộ Quốc phòng bổ nhiệm Trưởng phòng Phòng Nghiên cứu - Tổng hợp thay anh Nguyễn Khắc Chuẩn được trên điều động sang Cămpuchia làm chuyên gia chính sách cho Bạn. Thời gian đó Cục Chính sách đang trực thuộc Bộ Quốc phòng, nên bổ nhiệm chức vụ trưởng phòng cũng do Thủ trưởng Bộ ký quyết định. Lúc này ông Doãn Sửu, Thiếu tướng, Cục phó Cục Cán bộ được bổ nhiệm làm Cục trưởng Cục Chính sách thay ông Lê Tiến Phục nghỉ chữa bệnh lâu dài.
Từ khi ông Lê Tiến Phục bị ốm nặng, tai biến mạch máu não, chúng tôi nghe phong phanh là cơ quan cán bộ đang nghiên cứu lựa chọn người thay thế. Đến khi Bộ Quốc phòng quyết định bổ nhiệm ông Doãn Sửu làm Cục trưởng Chính sách thì nhiều người phấn khởi. Vì biết rằng, ông Sửu là một con người nhân hậu, đức độ, toàn tâm toàn ý với công việc. Là người quen biết cùng chiến trường cũ lại là đồng hương Nghệ An nên ngay từ đầu ông Sửu đã chỉ đạo công việc đối với tôi khá ăn ý, nhịp nhàng.
Tôi quen biết ông Doãn Sửu từ hồi còn ở chiến trường Trị Thiên vào đầu năm 1968. Lúc đó, sau Tết Mậu Thân, ông Sửu là Cục phó Cục Chính trị Quân khu Trị Thiên Huế đi kiểm tra chỉ đạo đôn đốc việc chuyển thương binh từ đồng bằng lên miền núi tây Thừa Thiên. Còn tôi là trợ lý quân lực của Trung đoàn 8 đi theo anh Nguyễn Hoán tham mưu trưởng trung đoàn đang chỉ huy bộ đội làm nhiệm vụ chuyển thương. Chúng tôi không bao giờ quên giữa cái ngày mưa rét khi tổ chức đưa thương binh qua Sông Bồ bị máy bay trực thăng Mỹ phát hiện bắn phá rất ác liệt, anh em thương vong nhiều, máu lênh láng mặt nước.

Đại hội Đảng toàn quốc làn thứ VI là Đại hội đề ra đường lối đổi mới toàn diện, mở ra bước ngoặt trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Ý nghĩa lịch sử của Đại hội VI là đã phân tích đúng đắn nguyên nhân của tình hình khủng hoảng kinh tế-xã hội từ nhiều năm trước, đề ra các định hướng lớn để từng bước thoát khỏi tình trạng đó. Bước vào thời kỳ đổi mới, chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội, một mặt, chịu sự tác động trực tiếp của các chính sách xã hội, chính sách kinh tế, mặt khác, phải đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân trước tình hình mới.
Cùng với đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, sau các cuộc chiến tranh biên giới và làm nhiệm vụ quốc tế, đứng trước bối cảnh tình hình mới, quân đội thực hiện chấn chỉnh tổ chức lực lượng, giảm tổ chức biên chế với số lượng rất lớn. Đi đôi với việc xây dựng lực lượng thường trực chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, việc xây dựng lực lượng dự bị động viên được coi trọng. Trong thế trận chiến tranh nhân dân, quân đội không ngừng được củng cố, làm nòng cốt chống chiến tranh xâm lược từ bên ngoài, chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ Đảng và các thành quả cách mạng, tạo môi trường ổn định để phát triển. Trong khi đó, các tồn đọng về chính sách sau các cuộc chiến tranh còn rất lớn.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:42:54 PM
 Theo tinh thần Nghị quyết Đại hội VI : ” Bổ sung và thực hiện tốt chính sách đối với lao động đặc thù của quân đội”; để đáp ứng với yêu cầu mới, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ Quốc phòng, và Tổng cục Chính trị, Cục Chính sách đã nghiên cứu xây dựng và đề xuất Đảng, Nhà nước ban hành nhiều chính sách đãi ngộ đối với quân nhân phục viên, chuyển ngành, về hưu, mất sức.
Nét nổi bật trong thời kỳ này là, Nghị quyết 47/NQ về “ Thực hiện chính sách đối với cán bộ cao cấp nghỉ hưu và cán bộ dư biên chế” của Đảng ủy Quân sự Trung ương đã đi vào cuộc sống đạt được nhiều kết quả. So với bây giờ thì quả thật chính sách hỗ trợ đối với cán bộ nghỉ hưu lúc đó là không đáng kể. Mỗi người được cấp mấy tạ xi măng, mấy tạ sắt, mấy nghìn viên gạch, mấy tấn than...Nhưng đặt nó trong bối cảnh đất nước đang giữa thời kỳ khủng hoảng kinh tế, chất chồng khó khăn, việc giải quyết được như thế đã là một sự cố gắng rất lớn của Bộ Quốc phòng và các cơ quan, đơn vị. Phần vật chất nhỏ bé đó, đối với cán bộ về hưu lúc bấy giờ là rất quí trong việc sửa chữa lại mấy gian nhà đã cũ nát, sớm ổn định cuộc sống khi trở về sau nhiều năm xa cách. Đồng thời, thời kỳ này Chính phủ đã kịp thời có chủ trương đúng đắn trong việc ưu  tiên dành cho quân đội 40% chỉ tiêu đi lao động hợp tác quốc tế.
Với việc thực hiện đầy đủ, kịp thời, chu đáo các chính sách của Đảng, Nhà nước và Bộ Quốc phòng, mặc dù trong một thời gian ngắn, toàn quân đã giảm quân số biên chế với một số lượng rất lớn, nhưng không gây sự xáo động lớn cả về tổ chức và  tư tưởng, bảo đảm đời sống cho quân nhân chuyển ra, giữ được ổn định ở hậu phương.
Cục Chính sách đã đề xuất lên trên chủ trương khen thưởng nhân kỷ niệm 45 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, khen thưởng thành tích của quân và dân cả nước trong thực hiện nhiệm vụ củng cố quốc phòng, giữ gìn an ninh chính rị và trật tự an toàn xã hội với số lượng lớn. Đổi mới công tác khen thưởng theo hướng nâng cao chất lượng, có tác động viện phong trào thi đua quyết thắng của quân đội.
Dưới sự chỉ đạo của trên, hệ thống cơ quan chính sách các cấp đã tập trung giải quyết hậu quả chính sách sau chiến tranh với khối lượng lớn, có ý nghĩa chính trị, xã hội, nhân văn sâu sắc. Nhờ đó, đã tạo cơ sở pháp lý để  các đối tượng được thực hiện chính sách theo qui định của Nhà nước, góp phần ổn định hậu phương quan đội.
Tuy nhiên, quá trình bước đầu đổi mới, trong điều kiện kinh tế-xã hội đất nước chưa thoát khỏi khủng hoảng, còn nhiều khó khăn, chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội chưa thật sự có những bước chuyển cơ bản. Tính chất bao cấp còn lớn, bình quân cao; đối với những lưc lượng làm nhiệm vụ đặc thù chưa được quan tâm đúng mức. Các tồn đọng về chính sách vẫn còn với một khối lượng lớn, phức tạp, gây bức xúc lớn trong xã hội.

Một ngày cuối tháng 4 năm 1988, sau khi dự cuộc họp ở Bộ Quốc phòng, trên đường về cơ quan, tôi cùng đi với ông Đặng Vũ Hiệp, Thượng tướng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Bất ngờ ông Hiệp hỏi tôi:
- Tình hình công tác ở Cục Chính sách thế nào, ổn chứ. Cậu có muốn chuyển sang Văn phòng Tổng cục Chính trị không?  Bọn mình thấy cậu có khả năng làm việc ở Văn phòng đấy!
Thoạt nghe tưởng như tình cờ, nhưng qua cách nói và ánh mắt của ông, tôi có cảm tưởng là ông Hiệp và các thủ trưởng đã có chủ tâm từ trước. Câu hỏi của ông đối với tôi là khá bất ngờ. Nhưng tự xét thấy cũng muốn thay đổi môi trường công tác, tôi trả lời là :
-  Nếu có thể được,  xin Thủ trưởng cho tôi về bên Văn phòng công tác. Tôi ở Cục Chính sách lâu quá rồi. Phàm là, công tác lâu dài ở một cơ quan, thì cùng với việc tích lũy được kinh nghiệm, sẽ kèm theo đó là sự bảo thủ trì trệ theo đường mòn lỗi cũ.
 Ông Hiệp cười :
- Thôi được rồi. Nói như vậy là cậu đồng ý. Mình sẽ bàn bạc với các anh thủ trưởng Tổng cục. Cậu chuẩn bị tâm thế về Văn phòng Tổng cục!
 Mặc dù chỉ là mấy câu nói tưởng chừng như tình cờ, bất chợt, nhưng được tiếp xúc và làm việc nhiều năm với ông Đặng Vũ Hiệp, tôi biết rằng, đó đã là quyết định.
Ông Đặng Vũ Hiệp là một cán bộ lãnh đạo có trình độ văn hóa cao, được đào tạo cơ bản, lại được kinh qua các cương vị, nhất là hơn 10 năm ở chiến trường Tây Nguyên. Sau giải phóng Miền Nam ông được bổ nhiệm là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Là một cán bộ lãnh đạo vừa có năng lực, vừa có cương vị và lại có tính quyết đoán cao, nên thông thường ông Đặng Vũ Hiệp giải quyết công việc nhanh chóng, chất lượng và hiệu quả. Được làm việc trong nhiều năm dưới sự chỉ đạo trực tiếp của ông Đặng Vũ Hiệp, đối với tôi là một điều may mắn.
 Khoảng hơn một tuần sau, tôi có quyết định của Thủ trưởng Tổng cục Chính trị điều động về Văn phòng Tổng cục Chính trị nhận công tác. Khi tôi đến nhận công tác ở Văn phòng, anh Chu Tự Di, Thiếu tướng, Chánh Văn phòng gặp và giao nhiệm vụ. Sau khi giới thiệu sơ bộ về truyền thống, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức biên chế, các mối quan hệ phối hợp, chế độ làm việc và nhất là những yêu cầu cần có trong phong cách công tác ở Văn phòng Tổng cục Chính trị nói chung và Phòng Kế hoạch Tổng hợp nói riêng, anh Chu Tự Di nói với tôi:
- Mặc dù đồng chí đã được bổ nhiệm chức vụ Trưởng phòng Nghiên cứu-Tổng hợp của Cục Chính sách hơn hai năm rồi. Nhưng, hiện tại ở Phòng Kế hoạnh Tổng hợp của Văn phòng có đồng chí Phạm Ngân, Đại tá, đã giữ chức Phó phòng mấy năm, lại là người cũ ở đây, có kinh nghiệm về công tác kế hoạch tổng hợp ở Văn phòng. Hơn nữa, mỗi chức danh, mỗi tổ chức có tiêu chuẩn và có yêu cầu riêng. Do đó, sau khi cân nhắc và xin ý kiến của Thủ trưởng Tổng cục Chính trị, lãnh đạo Văn phòng quyết định giao cho đồng chí đảm nhiệm chức vụ Phó phòng. Đồng chí Phạm Ngân là Phó phòng phụ trách Trưởng phòng. Đồng chí có ý kiến gì không?
 Không để anh Chu Tự Di chờ đợi lâu, tôi từ tốn rành rọt trả lời:
- Báo cáo Chánh Văn phòng, tôi là người của tổ chức. Tổ chức phân công tôi làm gì thì tôi làm nấy. Tôi xin hứa sẽ cố gắng học hỏi, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ được giao. Các thủ trưởng cứ yên tâm, tôi không hề có sự suy bì, thắc mắc.
Thực ra, lúc đó việc trao đổi với nhau bằng miệng, chứ trong giấy tờ không hề viết như vậy. Ở đây có sự tế nhị. Thực tế là, anh Phạm Ngân mặc dù đã làm Phó phòng mấy năm, nhưng lãnh đạo Văn phòng không có kế hoạch bổ nhiệm làm Trưởng phòng. Trong qui hoạch cán bộ của Văn phòng, anh Ngân sẽ được giải quyết nghỉ hưu trong một hai năm tới. Trong thời gian đó, lãnh đạo Văn phòng không muốn có điều gì tác động đến tư tưởng. Còn tôi, trên thực tế đã được trao quyết định bổ nhiệm chức vụ Trưởng phòng do Thủ trưởng Bộ Quốc phòng ký. Nay không có lý do gì lại hạ xuống Phó phòng.
Tôi biết là vậy nhưng không có ý kiến gì, càng không có thái độ biểu hiện khác. Trong quan hệ công tác và trong sinh hoạt giữa tôi và anh Ngân đều tôn trọng nhau, mọi việc đều suôn sẻ. Xét đến cùng, chức vụ là phương tiện trong một thời kỳ công tác. Sau một thời gian, khi anh Ngân nghỉ chuẩn bị hưu theo chế độ, tôi mặc nhiên thành Trưởng phòng.
Từ những ngày đầu tiên đặt chân đến cơ quan và trong suốt cả quá trình công tác, tôi cố gắng đi sâu nghiên cứu tìm hiểu về Văn phòng Tổng cục Chính trị.
Tôi được biết, khi xác định Ngày Truyền thống của Tổng cục Chính trị, có mấy ý kiến khác nhau. Có ý  kiến lấy ngày 25 tháng 3 năm 1946 - ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh về tổ chức Bộ Quốc phòng. Trong đó, Chính trị Cục thuộc Bộ Quốc phòng có nhiệm vụ  “đào tạo các chính trị viên phái đi các bộ đội để giữ vững và nâng cao tinh thần chiến đấu, tinh thần ái quốc và sự tôn trọng kỷ luật trong quân đội”. Có ý kiến lấy ngày  11 tháng 11 năm 1950 -  ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh thành lập Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội quốc gia và dân quân Việt Nam  gồm:  Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị và Tổng cục Cung cấp. Nhưng cuối cùng, với quan điểm phản ánh đúng nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội; thể hiện đúng một sự thật lịch sử : có quân đội là có ngay sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội ; công tác chính trị là một nhân tố thuộc về bản chất của quân đội cách mạng, Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương đã lấy ngày 22 tháng 12 năm 1944 - Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, làm Ngày Truyền thống của Tổng cục Chính trị.
Ngày 11 tháng 5 năm 1946, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành Nghị định về tổ chức Chính trị Cục để chỉ đạo và tiến hành công tác chính trị trong quân đội. Trong tổ chức biên chế của Chính trị Cục có Văn phòng. Từ đó, ngày 11 tháng 5 năm 1946 được xác định là Ngày Truyền thống của Văn phòng Tổng cục Chính trị.
Trải qua nhiều thời kỳ có những thay đổi cụ thể, nhưng tựu trung lại, chức năng nhiệm vụ của Văn phòng Tổng cục Chính trị là : Thường xuyên theo dõi nắm tình hình, giúp Thủ trưởng Tổng cục Chính trị tổng hợp kết quả hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong toàn quân để báo cáo lên Đảng ủy Quân sự Trung ương và Ban Bí thư Trung ương Đảng; đồng thời thông báo cho cấp dưới. Xây dựng kế hoạch công tác đảng, công tác chính trị và theo dõi đôn đốc thực hiện. Giúp Thủ trưởng Tổng cục Chính trị quản lý kinh phí, vật tư công tác đảng, công tác chính trị; công tác tác chiến, huấn luyện quân sự,  quân lực, điều tra hình sự và thanh tra quốc phòng trong cơ quan Tổng cục Chính trị; công tác nghiên cứu tổng kết lý luận - thực tiễn.
Biên chế tổ chức của Văn phòng Tổng cục Chính trị gồm Thủ trưởng Văn phòng, Phòng Kế hoạch Tổng hợp, Phòng Hành chính, Phòng Quân lực-Tác huấn, Phòng Tài chính, Phòng Vật tư, Phòng Khoa học – công nghệ và môi trường, Phòng Điều tra hình sự. Thủ trưởng Văn phòng Tổng cục Chính trị  hồi đó có anh Chu Tự Di  chánh Văn phòng, phó Văn phòng gồm có các anh : Hoàng Xuân Lượng, Việt Hà, Nguyễn Tiến Quân;  tiếp theo là Võ Thịnh, Nguyễn Ngọc Cầm.
Phòng Kế hoạch Tổng hợp như tên gọi của nó, có hai chức năng cơ bản là giúp Văn phòng xây dựng kế hoạch và tổng hợp tình hình công tác đảng, công tác chính trị của toàn quân thông qua hệ thống báo cáo trực tiếp hoặc bằng văn bản của các cơ quan, đơn vị và việc nắm tình hình của cán bộ trong các đợt công tác. Tổ chức của Phòng có hai bộ phận. Bộ phận cán bộ làm kế hoạch tổng hợp chung và bộ phận thư ký trực tiếp giúp việc các Thủ trưởng Tổng cục. Cán bộ của Phòng Kế hoạch Tổng hợp lúc đó có: Phạm Ngân, Nguyễn Mạnh Đẩu, Lê Bá Lục, Lê Văn Kích, Lê Văn Lai, Ngô Quí Vân, Đặng Ngọc Tỉnh, Nguyễn Cao Thế, Nguyễn Xuân Định, Nguyễn Công Lý, Trần Thanh Hải, Nguyễn Xuân Long, Nguyễn Trung Lạc. Một thời gian sau, bổ sung chức năng đối ngoại vào Phòng và tăng thêm nhân sự gồm : Trần Việt, Lại Vĩnh Mùi, Hà Mạnh Tường.
 Cán bộ công tác ở Phòng Kế hoạch Tổng hợp đều được lựa chọn từ các đơn vị. Mỗi người có một thế mạnh riêng, nhưng nhìn chung, đó là những người đã được rèn luyện trong chiến đấu, công tác, học tập, có phẩm chất, năng lực và phong cách công tác tốt.
 Phạm vi theo dõi quản lý rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực, yêu cầu cao, cả về thời gian cũng như chất lượng, đòi hỏi mọi cán bộ của  Phòng Kế hoạch Tổng hợp phải không ngừng phấn đấu học tập nâng cao trình độ mọi mặt, vừa thành thạo chức năng theo phân công lại vừa am hiểu các lĩnh vực khác để sẵn sàng thay thế nhau khi cần thiết. Nét chung nhất của cán bộ Văn phòng là, có năng lực tốt, có bản lĩnh vững vàng và có phương pháp thái độ khiêm tốn, lịch lãm. Phòng Kế hoạch Tổng hợp là một tập thể mạnh của Văn phòng Tổng cục Chính trị lúc bấy giờ.
Trong thời kỳ này, Phòng Kế hoạch Tổng hợp đã tham mưu đề xuất với  Văn phòng giúp Thủ trưởng Tổng cục Chính trị xây dựng các kế hoạch và chỉ thị công tác đảng, công tác chính trị trong lực lượng vũ trang. Bao gồm kế hoạch hàng năm, kế hoạch 5 năm và các văn kiện công tác đảng, công tác chính trị trong các trạng thái, trong các nhiệm vụ của quân đội. Đồng thời, thực hiện tốt vai trò tổ chức theo dõi tiếp nhận thông tin, nắm tình hình kết quả hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong lực lượng vũ trang để tổng hợp báo cáo lên Đảng ủy Quân sự Trung ương, Ban Bí thư Trung ương Đảng. Gồm có báo cáo tổng hợp theo định kỳ và  báo cáo theo chuyên đề.
Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, Văn phòng Tổng cục Chính trị tổ chức chế độ trực ban nắm tình hình rất nghiêm túc, chặt chẽ, chính qui. Trực ban Văn phòng đồng thời là trực ban Tổng cục Chính trị. Hằng ngày, qua các kênh thông tin, qua chế độ báo cáo, trực ban có trách nhiệm theo dõi tổng hợp báo cáo tình hình chung trong cả nước, tình hình quân đội, tình hình hoạt động công tác đảng, công tác chính trị. Phải nắm bắt kịp thời những vấn đề đột xuất, những diễn biến bất thường, cả trong quân đội và ngoài xã hội,…Hằng ngày, bất luận trong hoàn cảnh nào,Văn phòng cũng tiến hành giao ban vào lúc 7 giờ sáng để đến 7 giờ 30 phút đã có báo cáo tình hình trên bàn làm việc của các Thủ trưởng Tổng cục. Tôi được biết chế độ này đã thành nền nếp mấy chục năm. Sau này, khi đã rời khỏi Văn phòng đi đảm nhiệm cương vị công tác khác, tôi vẫn giữ được nếp: cứ đúng 7 giờ sáng đã ngồi vào bàn làm việc ở cơ quan. Xem xét lại chương trình công tác, đọc lại các loại tài liệu có liên quan,…Bằng cách đó, tôi có một khoảng thời gian hữu ích cần thiết chuẩn bị cho công việc của một ngày mới, trong một tâm thế chủ động, sảng khoái, tập trung, không bị vội vã, cập rập, sơ suất.
Công tác ở Văn phòng Tổng cục Chính trị  4 năm là thời gian rất có ý nghĩa đối với tôi. Đây là thời kỳ tôi được tiếp xúc với công việc khá phong phú sôi động, được cộng tác với những cán bộ tốt. Hơn nữa, lại được thường xuyên tiếp cận các Thủ trưởng Tổng cục Chính trị như các ông: Chu Huy Mân, Nguyễn Quyết, Đặng Vũ Hiệp, Nguyễn Nam Khánh, Lê Hai, Lê Khả Phiêu, Phạm Hồng Cư – đó là những nhân cách lớn, nên tôi đã học hỏi được nhiều. Ngày đó, đảng viên Phòng Kế hoạch Tổng hợp và Thủ trưởng Tổng cục Chính trị sinh hoạt trong một chi bộ. Tôi được bầu làm Đảng ủy viên Văn phòng, Bí thư chi bộ. Qua công tác, tôi được bồi dưỡng kiến  thức toàn diện về nội dung cũng như phương thức hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trên các mặt: tổ chức, tuyên huấn, cán bộ, bảo vệ, dân vận, chính sách, các cơ quan báo chí, văn nghệ, các tổ chức quần chúng trong quân đội. Tôi tự thấy mình trưởng thành lên nhiều hơn. Đó là những điều có giá trị rất lớn mà trước đó tôi chưa hề có. Những kiến thức đó đã từng bước hoàn thiện và nâng cao trình độ, giúp tôi có thêm vốn liếng, cẩm nang thuận lợi trong triển khai công tác sau này trên các cương vị mới.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:43:06 PM
 Thời kỳ công tác ở Văn phòng Tổng cục Chính trị đã giúp tôi nâng cao trình độ tổng hợp khái quát, khả năng diễn đạt và thể hiện văn bản. Điều may mắn đối với tôi là, thủ trưởng Tổng cục Tổng cục Chính trị và  thủ trưởng Văn phòng Tổng cục Chính trị ngày đó, đều là những người có độ dày cống hiến trong nhiều năm và hiện tại vừa giỏi vừa tốt. Trên cương vị lãnh đạo chỉ đạo, các Thủ trưởng thật sự là những người thầy của tôi trong thực hành nhiệm vụ. Trong số đó, ngoài các thủ trưởng Tổng cục, tôi học được nhiều điều ở anh Chu Tự Di sau này là Trung tướng, Chánh Văn phòng Tổng cục Chính trị.
Tôi nhớ, có lần Văn phòng chuẩn bị dự thảo báo cáo tổng kết công tác đảng, công tác chính trị 5 năm 1985-1990 và kế hoạch 5 năm 1990-2000. Sau khi đã tổng hợp báo cáo của các quân khu, quân chủng, quân đoàn, binh chủng, học viện, nhà trường, các tổng cục, và ý kiên đề xuất của các Cục chức năng trong Tổng cục Chính trị, Phòng Kế hoạch Tổng hợp xây dựng một bản dự thảo khá dài, khoảng 25 trang. Chánh Văn phòng Chu Tự Di sau khi trao đổi với các Phó Văn phòng, đã trực tiếp viết lại bản dự thảo và cho in rô-nê-ô mấy bản để lấy ý kiến tham gia. Một hôm cuối giờ làm việc buổi chiều, anh Di gọi tôi lên đưa cho một bản thảo và dặn là về nghiên cứu và tham gia ý kiến. Yêu cầu trong vòng 5 ngày phải nộp lại.
Mang bản thảo về nhà, tôi đọc rất kỹ đến tận khuya. Qua nghiên cứu, tôi nhận thấy, bản dự thảo được chuẩn bị khá công phu, có nội dung tốt, đầy đủ , toàn diện, phản ánh đúng thực trạng tình hình các đơn vị trong toàn quân, dự báo kế hoạch theo đúng theo yêu cầu chung và  tư tưởng chỉ đạo của Thủ trưởng Tổng cục Chính trị. Tuy nhiên, một số chỗ nội dung dự thảo còn dàn trải, tính khái quát chưa thật cao, đánh giá nhận xét chưa trực diện, đôi chỗ còn sa vào một số vấn đề quá cụ thể, hành văn có chỗ còn hơi dài. Bởi vậy, tự cho mình có trách nhiệm tham gia, lại được Chánh Văn phòng cho phép, thế là tôi dùng bút đỏ sửa chữa trực tiếp vào văn bản. Có chỗ tôi gạch xóa bớt đi cả một đoạn, rút gọn lại thành mấy câu.
Sáng sớm hôm sau, sau giờ giao ban, với thái độ tự tin, hăng hái, tôi xin gặp Chánh Văn phòng để nộp lại. Anh Di cầm bản thảo, hỏi tôi làm sao nhanh thế. Thế rồi anh mở ra đọc ngay. Đọc khá kỹ, thi thoảng ông dừng lại suy nghĩ đăm chiêu ở những chỗ tham gia của tôi. Ngồi đối diện nhìn sang, tôi thấy gương mặt chăm chú, có lúc chau mày, nhưng không hề đổi sắc.
Cuối cùng ngẩng lên nhìn tôi, anh từ tốn, ân cần nói với tôi rằng, thế là tốt. Mặc dù chỉ trong một đêm, vượt trước thời gian theo hẹn, nhưng với trách nhiệm và khả năng của mình, cậu đã có những ý kiến tham gia khá xác đáng. Đặc biệt là, đã thẳng thắn mạnh dạn sữa chữa những chỗ xét thấy cần thiết. Những ý kiến tham gia này, mình sẽ cân nhắc xem xét thêm.
Việc này, nhiều lúc sau này khi đã là cán bộ chủ trì đơn vị, nghĩ lại, tôi vừa cảm phục thái độ nhẫn nại, phục thiện của anh Di, lại vừa tự thấy ngượng ngùng xấu hổ cho sự vội vã, hấp tấp của mình.
Hồi đó, do yêu cầu nhiệm vụ, nhiều đêm chúng tôi phải làm việc trong cơ quan. Có bữa làm đến tận khuya, đói quá, trong túi cũng chẳng có nhiều tiền, tôi chạy ra phố Cửa Đông mua vội hai cái bánh mỳ chay. Cứ thế, hai thầy trò, mỗi người một cái bánh mỳ vừa cầm ăn vừa sửa tài liệu.
Lại có lần họp Tổ Đảng để kiểm điểm đảng viên cuối năm. Tổ chúng tôi có bốn người : Đặng Vũ Hiệp, Chu Tự Di, Nguyễn Xuân Long ( lúc đó là thư ký cho ông Hiệp, sau này là Thiếu tướng, Chánh Văn phòng Tổng cục Chính trị ) và tôi. Lần lượt kiểm điểm từng người. Bắt đầu là ông Hiệp, tiếp đến là anh Di, anh Long và sau cùng là tôi. Khi tôi tự kiểm điểm xong, các đảng viên đóng góp ý kiến. Ông Hiệp đóng góp cho tôi, đại ý là:  Sau một vài ý kiến biểu dương về nhiệt tình trách nhiệm, khả năng công tác và phẩm chất của tôi, ông nói rằng, từ ngày ông về nhận nhiệm vụ Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị đến nay, tính ra đã hơn 13 năm, trong điều hành chưa lúc nào cán bộ cấp dưới ở cơ quan có ý kiến trái với ý kiến của ông. Thế nhưng gần đây, khi trao đổi một vài việc cụ thể, thấy tôi có ý kiến khác. Theo ông, như thế là tốt, là thẳng thắn, cần phát huy. Ông  thích tuýp cán bộ cấp dưới có phương pháp tư duy độc lập và dám nói thẳng. Ý kiến trái chiều, có tính phản biện, nhiều khi làm cho quyết định của cấp trên chính xác hơn. Cấp trên, bất cứ là ai, cần phải biết lắng nghe ý kiến của cấp dưới, nhất là những ý kiến khác với ý kiến của mình. Nếu không, sẽ bị huyễn hoặc bởi những lời tán dương của cấp dưới. Nghe ý kiến thuận chiều lâu ngày tạo thành thói quen, rồi từ đó ngộ nhận ở khả năng của mình, từng bước dẫn đến sai lầm mà không biết.
Kiểm điểm xong, tôi phát biểu ý kiến cám ơn. Trên đường về Phòng làm việc, anh Di nói với tôi:
- Việc góp ý của ông Hiệp đối với cậu hôm nay là thể hiện sự chân thành thẳng thắn, cậu cần phát huy những mặt mạnh, đồng thời cần chú ý  phương pháp công tác cần phải cẩn trọng hơn.
Tôi cho rằng, những điều tâm sự của  của anh Di đối với tôi là chân tình, là hoàn toàn đúng. Thực ra, tôi thuộc loại người trực tính, nghĩ sao nói vậy, lại đang còn trẻ, kinh nghiệm cuộc sống, nhất là kinh nghiệm ở cơ quan còn ít.
Phẩm chất, năng lực, trách nhiệm, kinh nghiệm và  phong cách làm việc của cán bộ Phòng Kế hoạch Tổng hợp cũng như tập thể cán bộ, nhân viên Văn phòng Tổng cục Chính trị  thời kỳ đó đã cho tôi những bài học rất quí giá, bổ ích. Nhiều năm sau này, nhất là khi đã là cán bộ chủ trì đơn vị, tôi vẫn coi đó như những chuẩn mực.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:45:52 PM
Chương sáu: Trở lại  Cục Chính sách trên cương vị mới


Sau bốn năm công tác ở Văn phòng Tổng cục Chính trị, ngày 22 tháng 2 năm 1992, tôi có quyết định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng bổ nhiệm giữ chức Phó Cục trưởng Cục Chính sách. Tôi được biết trước đó, vào tháng 7 năm 1991, nhân chuẩn bị kỷ niệm Ngày Thương binh-Liệt sỹ, Cục Chính sách phối hợp với Tạp chí Văn nghệ quân đội viết bài phỏng vấn anh Lê Tiến, Cục trưởng nhằm quảng bá thông tin về những kết quả đạt được trong hoạt động công tác chính sách và những vấn đề đặt ra trong nghiên cứu cũng như trong tổ chức thực hiện chính sách. Bài đăng ở số tháng 7-1991 của Tạp chí Văn nghệ quân đội. Khi còn công tác ở Văn phòng Tổng cục Chính trị, tôi đã đọc kỹ nội dung bài báo. Theo cá nhân tôi, bài báo về cơ bản là đúng, phản ánh khách quan, trung thực đời sống bộ đội và tình hình công tác chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội. Nhưng tôi được biết, hình như có một vài chi tiết nhạy cảm, gây phản ứng trong một số cán bộ. Có ý kiến gay gắt phản ánh lên Thủ trưởng Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị. Thủ trưởng Bộ và Tổng cục yêu cầu Cục Chính sách phải kiểm điểm về trách nhiệm phát ngôn của Cục trưởng và một số anh em liên quan. Mãi đến bây giờ sau hàng chục năm, tôi vẫn phân vân. Thứ nhất, động cơ đưa tin là tốt, nội dung đưa tin không có gì sai phạm lớn; Thứ hai là, nếu có điều gì sai, thì anh Lê Tiến không phải là người chịu hoàn toàn. Thế mà, lợi bất cập hại. Việc phát ngôn trên báo chí hay phát biểu trên bục hội nghị mà không kiểm soát được chỉ cần sơ sẩy một chút là điều không hay sẽ xảy ra. Một thời gian ngắn sau đó, anh Lê Tiến có ý kiến về kết luận của trên và anh chính thức xin nghỉ hưu. Khi anh Lê Tiến xin nghỉ, cấp trên có lựa chọn xem xét một số phương án nhân sự, trong đó có tôi. Là cán bộ cũ của Cục Chính sách, nên tôi được cấp trên đưa về làm Cục phó và là nguồn kế cận Cục trưởng.  

Ngày giao nhiệm vụ cho tôi, mà thực ra là giao nhiệm vụ cho tập thể Cục Chính sách, anh Lê Khả Phiêu, lúc đó là Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm TCCT nói đại ý rằng : Thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc, các Nghị quyết của Trung ương, trong thời gian tới, Nhà nước tiến hành cải cách sửa đổi toàn bộ hệ thống chính sách tiền lương, phụ cấp, trợ cấp và các chính sách xã hội. Những chính sách đó đều có tác động trực tiếp đến  quân đội và hậu phương quân đội. Theo chủ trương của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương -  Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị, theo tiến trình chung của Nhà nước, trong Bộ Quốc phòng cũng phải xúc tiến việc nghiên cứu đề nghị các chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội, như: Chính sách đối với quân đội trước yêu cầu xây dựng chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Cụ thể hơn là, chính sách, chế độ đối với bộ đội làm nhiệm vụ ở những địa bàn khó khăn gian khổ, biên giới, hải đảo; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên chức quốc phòng công tác trong các thành phần chuyên môn kỹ thuật trọng yếu của lực lượng không quân, hải quân,…Chính sách bảo hiểm xã hội đối với quân nhân, công nhân viên chức quốc phòng. Chính sách đối với hậu phương quân đội trong nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo theo cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa. Yêu cầu tập trung giải quyết những tồn đọng về chính sách ( thương binh, liệt sỹ, mất tin, mất tích, mộ liệt sỹ, khen thưởng,…) sau mấy chục năm chiến tranh với khối lượng lớn, tính chất càng về sau càng khó khăn, phức tạp, bức xúc. Tất cả những vấn đề đó đòi hỏi Cục Chính sách phải là cơ quan tham mưu đắc lực cho Tổng cục Chính trị và Bộ Quốc phòng trong việc nghiên cứu và phối hợp nghiên cứu đề nghị chính sách cũng như chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức thực hiện những chính sách đã được ban hành. Cục Chính sách là cơ quan trung tâm giúp Bộ Quốc phòng trong việc phối hợp nghiên cứu chính sách với Bộ Lao động Thương binh Xã hội và các bộ, ngành khác ở Trung ương.
Tham dự buổi giao nhiệm vụ cho tôi còn có Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Bí thư Đảng ủy cơ quan Tổng cục Chính trị; anh Phạm Lam, Cục phó Cục Chính sách, Bí thư Đảng ủy Cục Chính sách và anh Phạm Văn Lê, Trưởng phòng Cán bộ Tổng cục Chính trị.
Sau khi anh giao nhiệm vụ và căn dặn tôi một số điều cần chú ý trong lãnh đạo chỉ huy khi về lại Cục Chính sách, anh Lê Khả Phiêu hỏi tôi có ý kiến gì không. Tôi không đề đạt gì, chỉ cảm ơn và hứa quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ trên giao, mong Thủ trưởng Tổng cục Chính trị và Bộ Quốc phòng cũng như các cơ quan hữu quan tạo điều kiện giúp đỡ, phối hợp trong quá trình triển khai nhiệm vụ.
Về cương vị công tác thì giữa anh Lê Khả Phiêu với tôi là một khoảng cách rất lớn. Nhưng về phương diện tình cảm cá nhân với nhau thì anh rất chân thành gần gũi – kể cả sau này anh là Tổng Bí thư BCHTW Đảng. Tôi biết anh Phiêu từ nhiều năm trước. Hồi chiến đấu ở Lào thì mới nghe tên chứ chưa gặp. Tôi tiếp xúc và được làm việc với anh Phiêu hồi ở chiến trường Trị Thiên. Sau kết thúc chiến dịch Tết Mậu Thân, khi đang là Trung đoàn trưởng kiêm Chính ủy Trung đoàn 9,  anh Phiêu được bổ nhiệm làm Trưởng phòng Tổ chức Cục Chính trị Quân khu. Tôi làm trợ lý thanh niên Trung đoàn 8 nên có một số lần lên dự tập huấn, hội nghị ở Quân khu đã được nghe anh giảng bài trong tập huấn hoặc chủ trì trong hội nghị. Hồi tôi công tác trong Tổ đại diện Cục Chính sách tại Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam ở Cămpuchia thì dưới quyền lãnh đạo chỉ đạo trực tiếp của  anh Phiêu lúc đó là Chủ nhiệm Chính trị, rồi Phó Tư lệnh về Chính trị. Khi anh Phiêu làm Phó Chủ nhiệm rồi Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, thì tôi công tác ở Phòng Kế hoạch Tổng hợp Văn phòng Tổng cục Chính trị.
Tôi nhận nhiệm vụ trong tâm trạng vừa phấn khởi vừa lo lắng. Phấn khởi vì được cấp trên tin tưởng giao nhiệm vụ. Lo lắng vì hình dung ra khối lượng công việc quá lớn, lại  hệ trọng, đều là cấp thiết, phải làm sao phấn đấu hoàn thành được yêu cầu nhiệm vụ trong thời gian tới.  
Tổ chức biên chế của Cục Chính sách lúc này gồm: Thủ trưởng Cục có anh Lê Tiến, Cục trưởng; anh Phạm Lam, Cục phó. Anh Lê Tiến nguyên là Cục phó Cục Cán bộ được bổ nhiệm làm Cục trưởng Cục Chính sách thay anh Doãn Sửu từ tháng 8 năm 1988. Anh Phạm Lam nguyên Trưởng phòng Khen thưởng được bổ nhiệm Cục phó từ tháng 7 năm 1991. Tháng 7-1992, anh Lê Tiến nghỉ chờ hưu theo chế độ, Thủ trưởng Tổng cục Chính trị giao cho tôi đảm nhiệm Quyền Cục trưởng. Đến tháng 12-1993, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ký Quyết định bổ nhiệm tôi giữ chức Cục trưởng.
 Tổ chức, biên chế của Cục lúc bấy giờ là:
  Phòng Nghiên cứu Tổng hợp do anh Đỗ Quang Bích làm Trưởng phòng. Cán bộ trong phòng là các anh, chị:  Đinh Mạnh Toan, Lê Sĩ Toàn, Lê Minh Khuê, Hàn Đức Chiến, Đỗ Quốc Công, Nguyễn Bá Bồng, Hồ Thủy, Hồ Ngọc Vận, Trần Minh, sau đó có thêm Đặng Việt Tiến được điều động từ Học viện Chính trị về.
  Phòng Thương binh - Liệt sĩ do anh Đỗ Minh Nguyệt làm Trưởng phòng, anh Nguyễn Tuấn Năng làm Phó phòng. Cán bộ trong Phòng là các anh, chị: Hoàng Đức Cân, Phan Mạnh Hùng, Lê Quang, Ngô Hữu Quyền, sau đó có thêm Hoàng Thị Dung.
Phòng Hậu phương do anh Đinh Công Cử làm Trưởng phòng. Cán bộ trong  Phòng là các anh, chị: Vũ Thược, Nguyễn Xuân Duyệt, Trần Hữu Đạt, Lê Thúy Vân, Nguyễn Thị Huê.
Phòng Khen thưởng do anh Nguyễn Văn Tinh làm Trưởng phòng. Cán bộ  trong Phòng là các anh: Lê Thế Hải, Lê Đại Hiệp, Lê Kim Ánh, Phạm Văn Bần, Ngô Mạnh Đề, Vũ Minh Tiến, Trần Tiến và chị Nguyễn Thị Sâm. Sau đó anh Lê Thế Hải được bổ nhiệm Trưởng phòng thay anh Nguyễn Văn Tinh nghỉ hưu, cán bộ Phòng được bổ sung thêm Tạ Đình Đại và Phạm Văn Chung ở Học viện Chính trị về.
 Ban Hành chính do anh Nguyễn Văn Hoãn làm Trưởng ban. Cán bộ, nhân viên trong Ban là: Đỗ thị Hòa, Trần Thị Vui, Nguyễn Thi Luân. Sau này bổ sung thêm Phạm Vinh Trí làm trợ lý tài chính.
Anh Nguyễn Hữu Quyền đã thôi giữ chức vụ Cục phó từ tháng 1 năm 1992 để chuyên trách công tác tổng kết. Anh Nguyễn Đức Chiêm  thôi giũ chức Trưởng phòng Khen thưởng, chuyển sang phụ trách biên soạn Anh hùng lực lượng vũ trang trong mục từ Nhân vật quân sự của Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam.
          Như mọi cán bộ đến nhận nhiệm vụ ở đơn vị mới, việc đầu tiên là tìm hiểu về chức năng nhiệm vụ, tổ chức biên chế, tình hình nhân sự, chế độ công tác, tình hình chung của toàn ngành…Là cán bộ cũ, sau bốn năm trở lại, vẫn những gương mặt thân quen, những cán bộ đã cộng tác với nhau nhiều năm trước, tình hình nhân sự, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức biên chế, qui chế công tác của Cục Chính sách không có gì thay đổi lớn. Vì vậy,  tôi tập trung vào nắm công tác chuyên môn, nắm lại thực trạng công tác chính sách, cả nội dung và kết quả tổ chức thực hiện của các cấp, các ngành, các địa phương, đơn vị;  nghiên cứu các văn bản chính sách mới ban hành và tình hình hoạt động của hệ  thống chính sách toàn quân. Chính sách là một lĩnh vực không thể chung chung, trừu tượng mà là những vấn đề cụ thể, thiết thực, đo đếm được, lại thường xuyên có sự phát triển, cho nên việc tìm hiểu nghiên cứu phải thật sự nghiêm túc, chính xác.
Sau một thời gian nghiên cứu tìm hiểu toàn bộ hệ thống tài liệu về nội dung chính sách, chế độ đối với quân đội, hậu phương quân đội và các nội dung chính sách, chế độ khác có liên quan; nghiên cứu các loại báo cáo của các đơn vị, địa phương cũng như tổng hợp ý kiến đề đạt, phản ánh của các cấp, các cơ quan, các ngành, cho tôi thấy được một bức tranh toàn cảnh về thực trạng chính sách, chế độ đối với quân đội, hậu phương quân đội của thời kỳ đó. Bước đầu tôi nhận thấy rằng, sau hơn 5 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, cùng với cơ chế và các chính sách kinh tế-xã hội, chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội, so với trước, đã có sự đổi mới về nội dung và tổ chức thực hiện đã đạt được những kết quả tốt.
Giữa tháng 4 năm 1992, tôi tham gia Đoàn cán bộ của Tổng cục Chính trị do anh Lê Khả Phiêu dẫn đầu đi thăm Trường Sa. Đây là chuyến công tác đầu tiên của tôi trên cương vị Cục phó Cục Chính sách.
Trước khi bắt đầu thực thi một nhiệm vụ, tôi có một phương pháp đã thành thói quen là dành thời gian nghiên cứu tìm hiểu trước tình hình đặc điểm nơi sẽ tới, những việc phải làm và những điều cần chuẩn bị.
Về Trường Sa, đây là một quần đảo lớn, gồm trên 100 đảo, bãi đá ngầm, bãi san hô,…nằm rải rác trên một vùng biển rộng cách Cam Ranh- Khánh Hòa khoảng gần 500 cây số về hướng đông nam. Từ tây sang đông dài khoảng 650 km, từ bắc xuống nam khoảng 620 km. Tổng diện tích phần nổi của các đảo là 10 km2. Độ cao trung bình các đảo là 3- 5 m. Bao quanh các đảo là một vành đai san hô. Đây là một vùng đánh cá trù phú và giàu có về tài nguyên dầu mỏ và khí đốt. Do lịch sử để lại, quần đảo Trường Sa là một vùng chồng lấn của nhiều quốc gia: Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Bru-nei, Malaysia, Philippines. Mỗi nước tuyên bố chủ quyền một khu vực. Từ năm 1968, khi phát hiện dầu mỏ với một trữ lượng rất lớn, đồng thời nhận ra vị trí chiến lược có ý nghĩa về chính trị, kinh tế, quân sự, dẫn đến tình hình tranh chấp chủ quyền ở khu vực quần đảo Trường Sa càng thêm căng thẳng, quyết liệt.
Việt Nam đã khẳng định chủ quyền ở Trường Sa từ rất sớm. Từ xa xưa ông cha chúng ta bằng những con thuyền nhỏ vượt trùng dương bão tố ra đây, đã hiện diện và tuyên bố chủ quyền ở khu vực này. Đầu thế kỷ thứ 17, nhà bác học Lê Quí Đôn (1726-1784) đã viết về Trường Sa và Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi trong cuốn Phủ biên tạp lục.
Từ ngày 14 tháng 4 năm 1975 đến 29 tháng 4 năm 1975, đồng thời với việc giải phóng hoàn toàn Miền Nam trong đất liền, lực lượng vũ trang ta đã tấn công giải phóng từ tay quân ngụy Sài Gòn 6 hòn đảo trong quần đảo Trường Sa . Bao gồm : giải phóng Song Tử Tây (ngày 14 ngày 4 tháng 4 năm 1975), Sơn Ca (25 tháng 4 năm 1975), Nam Yết, Sinh Tồn , An Bang (28 tháng 4 năm 1975), Trường Sa (29 tháng 4 năm 1975). Sau đó chúng ta đã chiếm giữ 21 đảo lớn nhỏ. Trong đó Trường Sa là đảo lớn nhất với chiều dài là 750 mét, chiều rộng là 400 mét, cao 2 mét, khi triều lên. Đến năm 1982, Nhà nước ta quyết định thành lập đơn vị hành chính huyện Trường Sa thuộc tỉnh Phú Khánh ( nay thuộc tỉnh Khánh Hòa ).
Quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là : Kiên quyết khẳng định chủ quyền Trường Sa, Hoàng Sa. Đây là nhiệm vụ lâu dài, toàn diện, phức tạp, đấu tranh trên nhiều lĩnh vực: pháp lý, ngoại giao, kinh tế, quân sự, nhằm giữ vững hòa bình để phát triển kinh tế.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:47:11 PM
 Hàng năm, Bộ Quốc phòng thường tổ chức các đoàn cán bộ ra thăm Trường Sa. Nhằm góp phần chăm sóc động viên cán bộ, chiến sĩ thuộc các đơn vị hải quân đang ngày đêm sẵn sàng chiến đấu bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc, từ nhiều năm, các ngành các cấp và các địa phương đã có phong trào “Cả nước hướng về Trường Sa thân yêu”. Phong trào đó có ý nghĩa rất lớn cả về tinh thần và vật chất, tiếp thêm sức mạnh cho cán bộ, chiến sĩ nơi đầu sóng, ngọn gió.
Thành phần Đoàn cán bộ Tổng cục Chính trị đi thăm và làm việc ở Trường Sa hồi đó còn có : Anh Nguyễn Xuân Hòe, Cục trưởng Cục Tổ chức; anh Trần Danh Bích, Cục phó Cục Cán bộ; anh Đào Ngô Minh, Cục phó Cục Tuyên huấn; anh Phan Khắc Hải, Tổng biên tập Báo Quân đội nhân dân; anh Nguyễn Ngọc Cầm, Phó Văn phòng Tổng cục Chính trị, cùng mấy anh cán bộ Văn phòng Tổng cục Chính trị. Cùng đi với Đoàn, có anh Nguyễn Văn Khoái, Chủ nhiệm chính trị Quân chủng Hải quân; anh Trần Văn Cảnh, Phó chỉ trưởng về chính trị Vùng 4 Hải quân; anh Bạ , Phó lữ đoàn trưởng về chính trị Lữ đoàn 146. Mục đích chuyến đi là thăm và làm việc với lãnh đạo, chỉ huy cùng cán bộ, chiến sĩ đang công tác trên một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Qua đó, nắm tình hình đời sống sinh hoạt, tình hình triển khai và kết quả hoàn thành nhiệm vụ, tình hình và kết quả công tác đảng, công tác chính trị. Theo phạm vi chức năng, các cơ quan có trách nhệm chỉ đạo, hướng dẫn đơn vị giải quyết một số vấn đề vướng mắc nổi cộm, đồng thời tổng hợp các ý kiến đề đạt. Ý kiến gì thuộc phạm vi quyền hạn của mình thì trực tiếp có ý kiến giải quyết tại chỗ. Những vấn đề thuộc phạm vi quyền hạn của cấp trên thì tổng hợp nghiên cứu đề đạt.
Đúng 6 giờ 30 phút ngày 12 tháng 4 năm 1992, tầu Titan mang số hiệu HQ 957 kéo một hồi còi dài tạm biệt Quân cảng thành phố Hồ Chí Minh bắt đầu hành trình ra Trường Sa. Kế hoạch đặt ra là, với tốc độ bình quân 10 hải lý /giờ, điểm đến đầu tiên của Đoàn chúng tôi là đảo Phúc Nguyên. Từ Phúc Nguyên lần lượt đi Quế Đường, Huyền Trân, Đá Lát, Trường Sa Đông, Đá Tây, Trường Sa. Tổng số là 7 đảo. Từ Trường Sa tầu sẽ trở về đất liền, cập quân cảng Cam Ranh vào ngày 22-4-1992.
Những nơi chúng tôi đặt chân đến, cán bộ chiến sĩ thuộc các đơn vị canh giữ đảo tay bắt mặt mừng đón tiếp trong niềm hân hoan phấn khởi. Chúng tôi gặp gỡ những người lính tóc đỏ quạch, da đen cháy, người chắc nịch rắn rỏi, với giọng nói, tiếng cười hồn nhiên sảng khoái. Anh em cho chúng tôi biết cụ thể về tình hình đơn vị, nhiệm vụ được giao, đời sống vật chất, tinh thần trên đảo, chế độ tiêu chuẩn được hưởng, hoàn cảnh gia đình và  những đề đạt nguyện vọng. Những lời nói mộc mạc chân thành thẳng thắn được phát ra từ những cán bộ, chiến sĩ đang ngày đêm sát cánh bên nhau, vượt qua mọi thử thách, sẵn sàng hy sinh, kiên cường, kiên quyết, kiên trì phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ vững chắc từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc nơi quần đảo bão tố. Dù đã ở Trường Sơn ngót 10 năm trong chiến tranh chống Mỹ nếm trải nhiều khó khăn gian khổ, nhưng khi ra đây tôi nhận thấy rằng, anh em hoạt động ở Trường Sa còn có những điều vất vả hơn.
13 giờ 45 phút ngày 19 tháng 4 năm 1992, Đoàn cán bộ làm việc với Ban chỉ huy đảo Trường Sa. Sau khi nghe ý kiến phát biểu của đơn vị và các cơ quan, anh Lê Khả Phiêu kết luận. Mở đầu, anh Phiêu nhận xét : Đơn vị có nhiều cố gắng trong thực hiện nhiệm vụ, tạo được cơ sở vật chất nhất định, cơ sở hạ tầng,…từ đó tạo điều kiện để tiếp tục hoàn chỉnh thêm từng bước. Cán bộ, chiến sĩ có  trách nhiệm cao trong lao động, cường độ vất vả trong điều kiện khí hậu thời tiết khắc nghiệt. Đơn vị đã chủ động tích cực thực hiện các kế hoạch do trên xác định. Từng bước xây dựng được nền nếp trên nhiều mặt. Đã có nhiều cố gắng trong việc tăng gia góp phần cải thiện đời sống bộ đội. Có cố gắng trong việc bảo quản vũ khí, trang bị kỹ thuật. Tư tưởng bộ đội ổn định, thể hiện rõ trong việc quán triệt nhiệm vụ, xác định chủ quyền, xác định đối tượng tác chiến. Sinh hoạt Đảng, Đoàn được giữ vững. Làm tốt công tác phát triển đảng, chú ý đến chất lượng. Có phong trào thi đua sôi nổi. Biết khai thác các phương tiện công tác chính trị. Đoàn kết nội bộ và các đơn vị phối thuộc tốt. Tóm lại, đã tạo được sức mạnh để giữ vững chủ quyền, tạo được lực lượng chiến đấu tại chỗ. Tuy nhiên, đó mới chỉ là kết quả bước đầu. Bước đầu của tất cả các cấp. Với cả nước cũng là bước đầu. Yêu cầu nhận thức nhiệm vụ phải sâu hơn. Giữ vững độc lập chủ quyền ở Trường Sa có ý nghĩa chính trị, quân sự, kinh tế, cả trước mắt và lâu dài. Sự hiện diện của lực lượng vũ trang ở đây là vấn đề có ý nghĩa chiến lược. Phải giữ vững về quân sự để từ đó phát triển kinh tế. Kinh tế, quân sự, đối ngoại phối hợp chặt chẽ với nhau vì một mục tiêu chung là giữ vững chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Sứ mệnh lịch sử này, Tổ quốc và nhân dân giao phó lực lượng vũ trang chúng ta.
Khi về đến quân cảng Cam Ranh, 14 giờ ngày 21 tháng 4 năm  1992, Đoàn tổ chưc họp đánh giá tình hình chung ở những nơi đã đến thăm và rút kinh nghiệm cho chuyến đi thăm Trường Sa. Chuyến công tác Trường Sa đã thu được nhiều kết quả tốt đẹp. Sau khi nghe phản ánh của đơn vị, kết hợp với việc thâm nhập trực tiếp nắm tình hình ở đảo, Đoàn đã có những ý kiến chỉ đạo hướng dẫn kịp thời về công tác giáo dục chính trị lãnh đạo tư tưởng, về tổ chức cán bộ, về bảo đảm đời sống vật chất tinh thần, nghiên cứu tiếp tục hoàn chỉnh nội dung và phương thức thực hiện chế độ, chính sách đối với bộ đội Trường Sa. Nội dung chính sách đối với bộ đội Trường Sa qua nhiều lần bổ sung sửa đổi đã từng bước hoàn thiện theo hướng thực hiện chế độ luân lưu cán bộ, thời gian phục vụ có hạn định; thực hiện các chế độ ưu đãi về tiền lương,  phụ cấp, bảo hiểm xã hội,…Các chính sách đó có ý nghĩa tích cực bảo đảm công bằng, góp phần cùng với công tác tư tưởng và công tác tổ chức, động viên khuyến khích cán bộ yên tâm phấn khởi hoàn thành nhiệm vụ.

Đầu năm 1992, Bộ Quốc phòng ra Quyết định thành lập Ban Chỉ đạo triển khai thực hiện đề án cải cách chế độ tiền lương do ông Nguyễn Trọng Xuyên, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng làm Trưởng ban, tôi được chỉ định là Ủy viên. Ban Chỉ đạo có nhiệm vụ giúp Đảng ủy Quân sự Trung ương – Bộ Quốc phòng nghiên cứu, xây dựng đề án chính sách tiền lương, chính sách đối với người có công và chính sách bảo hiểm xã hội phù hợp với tổ chức và hoạt đọng đặc thù của quân đội.
Để tham khảo kinh nghiệm của quân đội một số nước trong việc nghiên cứu chế độ tiền lương, phụ cấp và các chế độ bảo hiểm xã hội đối với quân nhân, chính sách đối với gia đình quân nhân tại ngũ, Bộ Quốc phòng quyết định cử một Đoàn cán bộ sang nghiên cứu tại Bộ Quốc phòng các nước Inđônêxia, Ấn Độ, Thái Lan trong một thời gian ngắn.
Thành phần của Đoàn gồm có Anh Lê Khoa,Trung tướng, Cục trưởng Cục Tài chính - Bộ Quốc phòng (Trưởng đoàn), anh Trần Đức Long, Thiếu tướng, Cục phó Cục Cán bộ - Tổng cục Chính trị, tôi, và hai anh cán bộ Cục Tài chính là Nguyễn Anh Hoàng, Võ Văn Phương. Đây cũng là các thành viên trong Ban chỉ đạo nghiên cứu chính sách của Bộ Quốc phòng.
Đoàn chúng tôi có năm người nhưng với hai độ tuổi. Anh Lê Khoa và anh Trần Đức Long là lớp cán bộ từ thời chống Pháp. Tôi , anh Hoàng và anh Phương thuộc lớp sau.
Anh Lê Khoa là một người có đức độ thanh liêm, có năng lực giỏi, đặc biệt là trí nhớ rất tốt. Anh không là cán bộ tài chính đơn thuần mà là cán bộ lãnh đạo trên lĩnh vực tài chính. Nói cách khác, anh nhìn tài chính dưới con mắt của người lãnh đạo. Trong làm việc anh rất nghiêm khắc, trong sinh hoạt anh rất thân tình. Giữa chúng tôi với anh có một khoảng cách lớn về tuổi tác và sự cống hiến, từng trải. Nhưng trong cư xử anh rất chan hòa, vui vẻ. Là trưởng đoàn, anh Khoa chịu trách nhiệm chủ trì trong quan hệ giao tiếp đối ngoại và làm việc với bạn. Theo thủ tục đối ngoại, nhiều lúc anh Khoa phải lặp đi lặp lại một cách giới thiệu khi giao tiếp với nhiều cơ quan bạn trong cùng một ngày. Đối với từng cơ quan tiếp xúc một lần thì không sao. Nhưng đối với chúng tôi nghe mãi thấy buồn cười. Mỗi lần anh Khoa chuẩn bị giới thiệu là chúng tôi phải tập trung thật nghiêm túc.
Là người làm công tác cán bộ lâu năm, lại có kinh nghiệm trong công tác đối ngoại quân sự, nhiều năm công tác ở Liên Xô (cũ), anh Trần Đức Long đã  hướng dẫn cho chúng tôi từ những việc nhỏ đến việc lớn. Anh Long là người có tín nhiệm cao. Anh rất cẩn trọng trong công việc và rất chu đáo trong tình cảm. Tôi nhớ, hồi đó, trước khi đi công tác, tôi mới ở viện ra, sức khỏe không được tốt. Nhiều lúc trên đường đi, anh Long giúp đỡ tôi nhiều việc. Tôi cảm động lắm.
Anh Nguyễn Anh Hoàng là Tiến sĩ về kinh tế, đã từng học ở Ấn Độ. Vừa giỏi tiếng Anh, vừa thạo nghiệp vụ tài chính kinh tế, nên trong suốt quá trình nghiên cứu học hỏi ở các nước, anh Hoàng đóng vai trò phiên dịch rất hiệu quả.
 Anh Võ Văn Phương là cán bộ trẻ nhất trong Đoàn. Phương tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân được điều vào bộ đội; lúc đó giữ chức Trưởng phòng Chính sách Cục Tài chính- Bộ Quốc phòng. Là đồng hương huyện Nghi Lộc, chúng tôi thân quí nhau từ lâu rồi.
Đối với tôi, trừ việc đi chiến đấu, công tác ở Lào, Cămpuchia trong những năm chiến tranh, đây là lần đầu tiên được cử đi ra nước ngoài theo con đường ngoại giao. Theo chức trách của mình, tôi cố gắng tranh thủ nghiên cứu tìm hiểu các chế độ, chính sách của quân đội bạn.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:47:52 PM
Ở cả ba nước chúng tôi đến, khi tiếp đón cũng như khi làm việc, phía bạn từ các vị tướng, các vị chỉ huy đến các chuyên gia, nhân viên đều rất nồng hậu, thân thiện và tôn trọng bộ đội Việt Nam. Những người được phân công làm việc đã thuyết trình vừa có tính khái quát cao vừa rất cụ thể, tỉ mỉ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy là:
Về chính sách, chế độ trong quân đội Inđônêxia : Trong hệ thống lương được chia làm 2 phần : lương cơ bản và phụ cấp. Lương cơ bản tính theo cấp bậc quân hàm từ Binh nhì đến Đại tướng có 15 bậc. Trong mỗi bậc lại có nhiều mức thể hiện thâm niên phục vụ trong quân đội. Phục vụ lâu năm trong quân đội nếu không có khả năng và nhu cầu đề bạt lên bậc quân hàm cao hơn, thì lương phát triển theo chiều ngang. Lương cơ bản của quân nhân cao hơn lương cơ bản của công nhân viên chức Nhà nước có cùng ngàng nghề.  Trong quân đội Inđônêxia, có nhiều khoản khoản phụ cấp ngoài lương là : Phụ cấp gia đình hay còn gọi là Phụ cấp phụ thuộc ( bao gồm phụ cấp cho vợ bằng 10 % lương cơ bản ; phụ cấp cho con bằng 7 % lương cơ bản, tối đa là 3 con ); Phụ cấp chức vụ: được thực hiện đối với những người giữ chức vụ chỉ huy của một tổ chức nào đó hoặc đối với người có chức vụ đặc biệt. Khoản phụ cấp này không phụ thuộc vào quân hàm mà được định ra bằng một mức tiền tuyệt đối ổn định cho từng chức vụ trong bảng lương; Phụ cấp đặc biệt : áp dụng cho những người có học vị, học hàm; Phụ cấp nữ quân nhân; Phụ cấp tai nạn trong khi thi hành công vụ; Phụ cấp do cấm mở phòng mạch tư đối với bác sĩ quân y; Phụ cấp đối với người đã đến tuổi nghỉ hưu mà quân đội giữ lại tiếp tục phục vụ; Phụ cấp chi tiêu công vụ hoặc di chuyển; Phụ cấp tàu thuyền; Phụ cấp kỹ xảo; Phụ cấp thực phẩm; Phụ cấp học nghề; Phụ cấp về lương thực cho vợ, con quân nhân (thực chất là được cấp gạo hàng tháng); Phụ cấp xa gia đình. Ngoài các khoản phụ cấp, quân nhân còn được hưởng các khoản thù lao như : thù lao cho công vụ, thù lao nghiên cứu, thù lao về dạy học,…Nhà nước qui định những khoản trừ lương bắt buộc để tính vào bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo đảm về nhà ở. Quân đội thực hiên trả lương qua máy tính điện tử.  Ngoài tiền lương, hàng tháng, quân nhân được bảo đảm ăn không phải trả tiền, gồm cung cấp lương thực ( 18kg/người) và tiền ăn theo khẩu phần; được bảo đảm quân trang (gồm quân phục chiến đấu, quân phục thường dùng và quân phục ngày lễ). Gia đình quân nhân được chăm sóc về sức khỏe, về lương thực (10 kg/ người/tháng), được mua nhà trả góp qua hệ thống Bảo hiểm quân đội.  Khi quân nhân xuất ngũ, thì : nếu có 20 năm tuổi quân trở lên thì được hưởng chế độ hưu trí; nếu phục vụ tại ngũ dưới 20 năm thì được trợ cấp một lần,  theo cách cứ mỗi năm phục vụ được hưởng một tháng lương cuối cùng. Điều kiện nghỉ hưu của sĩ quan là có 20 năm phục vụ tại ngũ trở lên và có 55 tuổi đời trở lên. Hạ sĩ quan có 42 tuổi đời trở lên được nghỉ hưu. Cơ quan Bảo hiểm xã hội Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm quản lý và chi trả lương hưu cho quân nhân, công nhân viên quốc phòng. Quân nhân bị thương tật trong chiến đấu hoặc trong công vụ, khi chuyển ra ngoài quân đội, cùng với lương hưu còn được hưởng trợ cấp tùy theo mức độ nặng nhẹ và số năm phục vụ tại ngũ. Quân nhân chết do chiến đấu hay công vụ, thì gia đình được hưởng tiền phúng điếu, tiền mai táng ; cha mẹ, vợ  (nếu chưa tái giá), con được hưởng trợ cấp.  Mức trợ cấp được tính là lấy số năm phục vụ của quân nhân nhân với 2,5% tổng số tiên  lương được hưởng tháng cuối cùng . Người thân là bố , mẹ, vợ thì được hưởng đến khi chết, con thì được hưởng đến năm 21 tuổi. Sĩ quan được mua nhà trả góp, ngay từ đầu trả 10%, sau đó trả hàng tháng và phải trả xong trong vòng 15 năm.
Về chính sách, chế độ trong quân đội Ấn Độ : Theo giới thiệu của các cơ quan hữu quan của Bộ Quốc phòng Ấn Độ thì hệ thống lương của quân đội Ấn Độ được bố trí theo cấp bậc quân hàm từ Thiếu úy đến Đại tướng. Hạ sĩ quan binh sĩ được chia theo ba loại và năm hạng để trả lương. Loại là tính theo thời gian phục vụ dài hay ngắn. Hạng là căn cứ vào trình độ chuyên môn kỹ thuật nghiệp vụ cao hay thấp. Chế độ phụ cấp được áp dụng cho mọi quân nhân, bao gồm nhiều loại: phụ cấp hải quân; phụ cấp cho lính dù; phụ cấp cho người phục vụ nhảy dù; phụ cấp cho thợ lặn, phụ cấp cho những người phục vụ ở những vùng khó khăn gian khổ và đặc biệt (chiến trường), vùng cao đặc biệt (quanh năm nước đóng băng), phụ cấp ở những vùng hẻo lánh, thung lũng, đồi núi và thành phố đắt đỏ; phụ cấp đi lại và nghỉ phép; phụ cấp về giặt quân phục và giữ các trang bị; phụ cấp về nuôi con (tối đa là 3 con),; phụ cấp ở nhà trọ, khách sạn; phụ cấp đi nước ngoài; phụ cấp về ăn (lương thực thực phẩm, thực chất là mọi quân nhân ăn không phải trả tiền)… Những khoản phụ cấp chỉ áp dụng cho sĩ quan là: Phụ cấp kỹ thuật đặc biệt; Phụ cấp không được hành nghề tư nhân (như bác sĩ quân y không được mở phòng mạch tư,…); Phụ cấp cho phi công; Phụ cấp xa gia đình. Những khoản phụ cấp chỉ áp dụng cho hạ sĩ quan-binh sĩ là: Phụ cấp mang gia đình đi theo; Phụ cấp cắt tóc, giặt là; Phụ cấp về mai táng; Phụ cấp công trình ; Phụ cấp cho những người phục vụ trên máy bay; Phụ cấp cho những người giữ chức vụ của sĩ quan. Tính chung lại, thu nhập của quân nhân bằng 2,5 lần thu nhập của dân sự có cùng trình độ đào tạo. Thủ tục trả lương trong quân đội Ấn Độ là: Mỗi sĩ quan được cấp một phiếu trong đó có đầy đủ các chỉ số đăng ký ở Trung tâm tính toán ở gần Bombay, bảo đảm chính xác. Cuối tháng trung tâm tính toàn thông báo cho ngân hàng nơi sĩ quan đóng quân. Hàng tháng sĩ quan đến ngân hàng lĩnh lương sau khi đã khấu trừ các phần chi phí (thuê nhà ở, thuê xe,…). Đối với những sĩ quan đóng quân ở những nơi xa các ngân hàng, thì cơ quan tài chính của đơn vị đảm nhiệm việc đến ngân hàng lĩnh về để cấp. Đối với hạ sĩ quan – binh sĩ do cơ quan tài chính của đơn vị cấp phát. Mức lương chính của quân nhân cao hơn công nhân viên chức Nhà nước. Ngoài ra còn có các khoản phụ cấp và ăn không phải trả tiền. Điều kiện nghỉ hưu có hai yếu tố: năm phục vụ và tuổi đời. Mọi người có 20 năm phục vụ trở lên mà đủ tuổi nghỉ hưu theo qui định đối với từng bậc quân hàm (Thiếu tá, Trung tá : 50 tuổi; Đại tá : 52 tuổi; Chuẩn tướng : 54 tuổi; …Đại tướng : 60 tuổi). Hạ sĩ quan có từ 20 năm phục vụ tại ngũ trở lên và có 45 tuổi đời trở lên cũng được nghỉ hưu. Về lương hưu và các khoản trợ cấp bảo hiểm xãc hội có 3 loại cơ bản: Lương hưu; Trợ cấp thương tật; Trợ cấp tiền tuất. Ngoài ra còn có chế độ trợ cấp một lần đối với người không đủ điều kiện hưởng lương hưu hàng tháng. Và các chế độ trợ cấp bảo đảm khi ốm đau, tai nạn. Quân nhân nghỉ hưu được thông báo trước 1 năm để lập hồ sơ. Các tư liệu của quân nhân được đơn vị gửi về Cơ quan Bảo hiểm xã hội thuộc Bộ Quốc phòng để tính toán và lập hồ sơ. Sau đó gửi cho quân nhân một sổ lĩnh lương hưu ở ngân hàng hoặc bưu điện. Tương tự, khi quân nhân đang phục vụ tại ngũ mà chết, cũng do Cơ quan Bảo hiểm xã hội Bộ Quốc phòng tính toán và lập hồ sơ chi trả trợ cấp tiền tuất. Lương hưu của quân nhân được tính tỷ lệ trên lương cơ bản và số năm phục vụ tại ngũ. Người vừa là hưu trí vừa là thương binh thì được hưởng cả hai khoản. Người nghỉ hưu mà chết thì gia đình được tiếp tục hưởng lương hưu trong một thời gian nhất định.

 Về chế độ, chính sách trong quân đội Thái Lan:  Hệ thống tiền lương tính theo cấp bậc quân hàm thống nhất áp dụng cho toàn bộ sĩ quan trong hải, lục, không quân. Ngoài ra, các đối tượng lao động đặc biệt hơn thì có các khoản phụ cấp tăng thêm , như phi công, nhảy dù, rà phá mìn, phá vật cản dưới nước, hoạt động xa bờ, hoạt động ở biên giới, hải đảo, vùng có chiến sự,…Các khoản phụ cấp này được tính tỷ lệ trên nền lương chính. Mức tiền lương đối với quân nhân trong quân đội Thái Lan thực hiện như tiền lương dân sự có cùng trình độ. Ngoài ra có các khoản ưu đãi khác. Sĩ quan và người hưởng lương trong quân đội đều phải nộp tiền ăn. Mọi quân nhân khi ốm đau đi điều trị ở bệnh viện được hưởng 100% tiền lương, phụ cấp. Điều kiện nghỉ hưu là đủ 60 tuổi áp dụng cho tất cả các cấp. Khi nghỉ hưu quân nhân có quyền lựa chọn nhận trọn một lần cả gói hoặc nhận hàng tháng. Nếu nhận một lần cả gói thì lấy số năm phục vụ tại ngũ nhân với tháng lương cuối cùng hiện hưởng. Nhận lương hưu hàng tháng thì lấy tháng lương cuối cùng nhân với số năm phục vụ tại ngũ rồi chia cho 50 (50 là thâm niên tối đa trong quân đội Thái). Quân nhân chết trong chiến đấu thì thân nhân được hưởng hai khoản một lần và hàng tháng. Cách tính trợ cấp tuất hàng tháng như cách tính đối với người nghỉ hưu. Quân nhân chết do ốm đau, tai nạn thông thường thì thân nhân được hưởng trợ cấp tuất một lần, không có trợ cấp hàng tháng. Cách tính trợ cấp tuất một lần  như cách tính lương hưu một cục trọn gói. Quân dự bị khi tập trung được bảo đảm ăn và trợ cấp con, không có lương. Sĩ quan được mua nhà trả góp.

Các chế độ, chính sách đối với quân đội các nước trên đây, cùng với tài liệu một số nước khác do Tùy viên quân sự của ta chuyển về, có giá trị giúp Ban Chỉ đạo Bộ Quốc phòng tham khảo trong quá trình nghiên cứu xây dựng các chế độ, chính sách tiền lương, phụ cấp và bảo hiểm xã hội đối với quân đội.
Thực hiện quan điểm, nguyên tắc đã được xác định trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, và các Nghị quyết của Trung ương, Quốc hội về phương hướng biện pháp giải quyết chính sách tiền lương và bảo hiểm xã hội; thực hiện ý kiến chỉ đạo của trên, Ban Chỉ đạo đã nghiên cứu xây dựng đề án báo cáo Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương - Bộ Quốc phòng xem xét trình lên Chính phủ ban hành Nghị định về chế độ tiền lương, phụ cấp đối với quân đội và Nghị định về chế độ bảo hiểm xã hội đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan binh sĩ trong lực lượng vũ trang.
 Chính sách tiền lương, phụ cấp là nội dung chính của chính sách đối với lực lượng phục vụ tại ngũ. Từ năm 1992 trở về trước, trong một thời gian khá dài, chế độ tiền lương đối với quân đội thực hiện theo thang, bảng lương của cán bộ công nhân viên chức Nhà nước có cùng ngành nghề, đồng thời được hưởng phụ cấp thâm niên và phụ cấp ưu đãi 20% (phần mềm). Từ năm 1993 trở đi, cùng với quá trình đổi mới chính sách kinh tế xã hội; để phù hợp với tính chất đặc thù của quân đội; quán triệt và thực hiện phương hướng mục tiêu về chính sách xã hội đã được xác định trong các Nghị quyết của Đảng và Quốc hội,  Nghị định của Chính phủ đã qui định hệ thống bảng lương riêng đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, tách ra khỏi hệ thống thang, bảng lương của công nhân viên chức Nhà nước. Tiền lương của sĩ quan gồm : lương chính được bố trí theo cấp bậc quân hàm, với tỷ lệ ưu đãi được xác định chung bằng 1,8 lần so với tiền lương của công nhân viên chức có cùng trình độ. Ngoài ra, quân nhân còn được hưởng phụ cấp thâm niên tính theo thời gian phục vụ tại ngũ cứ mỗi năm được 1 % lương chính và không hạn chế mức tối đa ( trước đây hạn chế mức tối đa phụ cấp thâm niên là 25% tính trên lương chính ). Tiền lương của quân nhân chuyên nghiệp được xây dựng tương ứng theo ba trình độ đào tạo : sơ cấp, trung cấp, cao cấp và phân ra theo nhóm (gồm 9 nhóm, 94 bậc), tỷ lệ ưu đãi chung là 1,7 lần so với công nhân viên chức Nhà nước có cùng ngành nghề. Công nhân viên chức quốc phòng thực hiện chế độ tiền lương theo thang, bảng lương của công nhân viên chức Nhà nước có cùng ngành nghề, trình độ đào tạo. Ngoài ra, được hưởng khoản phụ cấp quốc phòng – an ninh với 2 mức 30% và 50%, nhưng chỉ tính là phần mềm, không được tính để hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội.
Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên chức quốc phòng được hưởng các chế độ phụ cấp: thâm niên, chức vụ, trách nhiệm, khu vực,…theo qui định của Nhà nước. Ngoài ra, để bảo đảm công bằng trong chính sách đãi ngộ,  quân nhân, công nhân viên chức quốc phòng làm nhiệm vụ ở những ngành nghề kỹ thuật trọng yếu, những lĩnh vực đặc thù và trên những vùng có nhiều khó khăn gian khổ, còn được hưởng các khoản phụ cấp đặc thù  như: chế độ phụ cấp đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp phục vụ trên tàu thuộc Quân chủng Hải quân; phụ cấp và một số chế độ chính sách đối với phi công, các thành viên của tổ bay thuộc Quân chủng Không quân; phụ cấp và một số chế độ khác đối với quân nhân làm nhiệm vụ ở biên giới, hải đảo xa; quân nhân, công nhân viên chức quốc phòng công tác ở các ngành nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm,...Các chế độ phụ cấp đặc thù đã thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, quân đội; góp phần động viên khuyến khích quân nhân, công nhân viên chức quốc phòng hoàn thành nhiệm vụ. Nghiên cứu xây dựng đề đạt cấp trên theo thẩm quyền ban hành các chế độ đặc thù trong quân đội là trách nhiệm của các cơ quan hữu quan trong và ngoài quân đội, trong đó Cục Chính sách – Tổng cục Chính trị giữ vai trò chủ trì phối hợp.
Đối với hạ sĩ quan - binh sĩ, cùng với chế độ ăn được bảo đảm theo định lượng, phu cấp tiêu vặt được cải thiện hơn so với trước. Khi phục vụ từ tháng 25 trở đi, hạ sĩ quan binh sĩ được hưởng thêm mức 200% phụ cấp quân hàm cơ bản; từ tháng 37 trở đi, còn được hưởng thêm 50% mức phụ cấp quân hàm của mỗi cấp.
Chế độ tiền lương, phụ cấp đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên chức quốc phòng, hạ sĩ quan binh sĩ thực hiện từ năm 1993 đã thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với lực lượng vũ trang. Đời sống của cán bộ, chiến sĩ được cải thiện một bước, hậu phương gia đình cán bộ ổn định hơn, góp phần tạo tâm lý phấn khởi cho người đang phục vụ tại ngũ cũng như động viên thanh nhiên hăng hái tham gia xây dựng quân đội.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:48:30 PM
Tuy vậy, chính sách tiền lương phụ cấp đối với quân nhân, công nhân viên chức quốc phòng còn có một số điểm chưa hợp lý. Nổi lên là : Mặt bằng quan hệ tiền lương của lực lượng vũ trang với các ngành kinh tế - xã hội đã từng bước bị phá vỡ. Quá trình điều chỉnh sau đó, nhiều ngành đã có mức lương cơ bản vượt qua mức lương công nhân viên chức quốc phòng có cùng ngành nghề. Mặt khác, trong khu vực sản xuất kinh doanh, dịch vụ,…nhiều ngành có thu nhập lớn hơn nhiều. Trong lúc đó, yêu cầu bảo đảm phù hợp tính chất nhiệm vụ về quân sự ngày càng bức bách hơn. Trong nội bộ quân đội chế độ tiền lương còn thể hiện tính bình quân, chưa phản ánh được quan hệ phân phối theo lao động : Cùng một bậc quân hàm như nhau nhưng giữ các chức vụ hoặc cương vị công tác rất khác nhau ( nghĩa là khác nhau về trình độ đào tạo, phạm vi trách nhiệm, cường lực và trí lực,…) nhưng hưởng mức lương như nhau; hoặc cùng giữ một chức vụ như nhau nhưng có bậc quân hàm khác nhau dẫn đến mức lương khác nhau. Tuy có chế độ phụ cấp chức vụ nhưng mức quá thấp. Các chế độ phụ cấp vừa thiếu, vừa thấp, chưa phản ánh đầy đủ tính chất đặc thù của các loại hình lao động quân sự; chưa khuyến khích các ngành mũi nhọn trọng yếu. Một số chế độ phụ cấp của một số ngành nghề Nhà nước chưa được vận dụng thực hiện hợp lý trong quân đội, ngày càng tạo nên mất cân đối cả bên trong, vừa mất cân đối với bên ngoài trên một mặt bằng hợp lý đã được xác định từ trước. Một số chế độ phụ cấp đã hình thành trong các thời kỳ trước, khi cải cách chính sách tiền lương chưa được nghiên cứu kế thừa dẫn đến bình quân hóa, không phản ánh được tính chất đa dạng, phức tạp của các nhiệm vụ, lĩnh vực hoạt động quân sự.

Về chế độ bảo hiểm xã hội, dưới sự chỉ đạo của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương-Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị; trên cơ sở vận dụng những qui định trong Bộ Luật lao động phù hợp với lao động quân sự; được sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan hữu quan trong và ngoài quân đội, Cục Chính sách chủ trì nghiên cứu xây dựng giúp Bộ Quốc phòng trình lên Chính phủ ban hành Điều lệ Bảo hiểm xã hội kèm theo Nghị định 45/CP ngày 15 tháng 7 năm 1995 qui định các chế độ bảo hiểm xã hội đối với quân nhân.
Tôi nhớ, ngày Bộ Quốc phòng báo cáo Thủ tưởng Chính phủ Võ Văn Kiệt thông qua các chế độ bảo hiểm xã hội đối với quân nhân, cùng dự có Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, lãnh đạo các bộ, ngành : Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính, Bộ Y tế, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam,…Về phía Bộ Quốc phòng có Đại tướng Đoàn Khuê, Bộ trưởng; Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Đại tá  Hồ Sĩ Ngận, Phó Văn phòng Bộ Quốc phòng và tôi . Sau phần giới thiệu và được Đại tướng Đoàn Khuê ủy quyền, tôi được phép trình bày Tờ trình và các nội dung đề nghị của Bộ Quốc phòng với Thủ tướng cùng toàn thể hội nghị. Do quá trình nghiên cứu xây dựng nội dung chính sách kèm theo tờ trình và dự thảo Nghị định được chuẩn bị công phu, tổ chức hội thảo nhiều lần, khảo sát, xin ý kiến của các đơn vị và đã được các bộ, ngành tham gia trước, nên buổi thông qua được Thủ tướng Chính phủ diễn ra đạt kết quả rất tốt.

 Những nội dung Bộ Quốc phòng trình lên đều được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận và ban hành Nghị định kèm theo Điều lệ Bảo hiểm xã hội đối với quân nhân. Theo đó, Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp được áp dụng cả 5 chế độ Bảo hiểm xã hội: chế độ trợ cấp ốm đau; chế độ trợ cấp thai sản; chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; chế độ hưu trí ; chế độ tử tuất. Hạ sĩ quan, binh sĩ được hưởng 2 chế độ : chế độ tai nạn lao đọng, bệnh nghề nghiệp; chế độ tử tuất. Công nhân viên chức quốc phòng thực hiện chế độ Bảo hiểm xã hội  theo như công nhân viên chức Nhà nước. Nhìn chung, các chế độ Bảo hiểm xã hội đối với các đối tượng phục vụ trong quân đội đã có sự ưu đãi, phản ảnh được hoạt động và tính chất lao động đặc thù của quân đội. Phân biệt rõ trách nhiệm, quyền hạn của quỹ Bảo hiểm xã hội, sự độc lập giữa quĩ Bảo hiểm xã hội với ngân sách Nhà nước, ngân sách quốc phòng, góp phần giảm chi ngân sách, bảo đảm đời sống đối với quân nhân, công nhân viên chức quốc phòng; khuyến khích họ tích cực công tác.
Các chế độ bảo hiểm xã hội được Chính phủ ban hành đã thực sự góp phần hỗ trợ đời sống đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên chức quốc phòng, hạ sĩ quan-binh sĩ khi họ giảm hoặc ngừng lao động, hưu trí, xuất ngũ hoặc chết. Các điều kiện nghỉ hưu đối với quân nhân và công nhân viên chức quốc phòng được mở rộng linh hoạt và phù hợp hơn, góp phần thực hiện giảm quân số, có tác động tốt về tư tưởng, tổ chức của quân đội trước tình hình mới.
Cùng với việc đổi mới nội dung, cơ chế tổ chức thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội trong quân đội cũng có sự thay đổi. Ngày 9 tháng 3 năm 1996, Phòng Bảo hiểm xã hội trực thuộc Cục Chính sách được thành lập, với nhiệm vụ tổ chức quản lý, thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội đối với quân nhân, công nhân viên chức quốc phòng khi phục vụ tại ngũ và khi chuyển ra ngoài. Từ đó, việc lập sổ hưu và các hồ sơ bảo hiểm khác đối với quân nhân, công nhân viên chức quốc phòng đều do Bảo hiểm xã hội quân đội đảm nhiệm. Theo qui định của Nhà nước, để có căn cứ pháp lý cho thực hiện chế độ, chính sách, việc lập Sổ bảo hiểm xã hội đối với hàng mấy chục vạn người (bao gồm: sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên chức quốc phòng và người lao động có tham gia đóng bảo hiểm) là rất công phu, với khối lượng công việc rất lớn, trải ra trên diện rộng. Cục Chính sách mà trực tiếp là Phòng Bảo hiểm xã hội đã tích cực triển khai tổ chức thực hiện xong trong một thời gian. Phòng Bảo hiểm khi mới thành lập do anh Nguyễn Bá Bồng phụ trách, sau đó anh Đỗ Văn Sử  làm Trưởng phòng, chị Hồ Thủy làm Phó phòng. Khi anh Đỗ Văn Sử được bổ nhiệm Cục phó Cục Chính sách, chị Hồ Thủy được bổ nhiệm làm Trưởng phòng. Cán bộ, nhân viên viên thời kỳ đầu là: Đặng Văn Duy, Lê Quang, Nguyễn Văn Đức, Đặng Văn Thế, Phạm Thị Hồng Hà, Lương Thị Hạnh, Nguyễn Thị Oanh. Với cương vị Cục trưởng, theo qui định tôi đồng thời kiêm nhiệm là Giám đốc Bảo hiểm xã hội quân đội. Năm 2006, nhân kỷ niệm  ngày thành lập Bảo hiểm xã hội quân đội, tôi được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen. Sau này, từ ngày 29 tháng 5 năm 2008, theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Phòng Bảo hiểm xã hội đã tách ra khỏi Cục Chính sách thành Bảo hiểm xã hội Bộ Quốc phòng - tương đương cấp Cục trực thuộc Bộ,  Đại tá Hồ Thủy được bổ nhiệm làm Giám đốc. Phó Giám đốc là Đại tá Đặng Văn Duy và Đại tá Nguyễn Văn Quê.
Các chế độ Bảo hiểm xã hội đối với quân nhân, công nhân viên chức quốc phòng sau một thời gian thực hiện, tính đến năm 1998, vẫn còn có những điểm bất hợp lý cần được xem xét kiến nghị sửa đổi bổ sung cho phù hợp hơn. Điều kiện nghỉ hưu đối với sĩ quan theo Điều 42 - Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam năm 1982 là không hợp lý (người có tuổi đời, tuổi quân và cấp bậc quân hàm cao thì không được nghỉ hưu, trong khi đó người có các điều kiện thấp hơn lại được nghỉ hưu,…). Trợ cấp một lần đối với người có thời gian đóng Bảo hiểm xã hội từ 31 năm trở lên khống chế bằng 5 tháng lương; trợ cấp tuất một lần khống chế tối đa bằng 12 tháng lương  bình quân 5 năm cuối là mang tính bình quân, chưa phản ánh được tính lịch sử cả các thành phần phục vụ trong quân đội, thiếu can đối từ bên trong.
Số quân nhân đã có trên 20 năm tuổi quân, sau chuyển ngành, nhưng vì một lý do nào đó, không thể bảo đảm công tác đến tuổi nghỉ hưu theo qui định chung đối với công nhân viên chức Nhà nước (nam 60, nữ 55 tuổi trở lên), chưa có sự vận dụng để giảm bớt tuổi đời. Công nhân viên chức quốc phòng chỉ được hưởng phụ cấp quốc phòng -  an ninh trong thời gian công tác, không được tính hưởng khi nghỉ hưu, gây hẫng hụt, thiệt thòi cho người lao động.

Trong công cuộc đổi mới, chính sách ưu đãi đối với thương binh- liệt sĩ và người có công được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm, thực sự đã có bước đổi mới quan trọng. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của trên mà trực tiếp là Tổng cục Chính trị, Cục Chính sách đóng vai trò chủ trì phối hợp với Cục Cán bộ - Tổng cục Chính trị, Cục Quân lực - Bộ Tổng Tham mưu, Cục Tài chính - Bộ Quốc phòng, Cục Quân y - Tổng cục Hậu cần và các cơ quan hữu quan khác trong Bộ Quốc phòng nghiên cứu phần trách nhiệm của quân đội; đồng thời đã tích cực  tham gia với Bộ Lao động Thương binh và Xã hội nghiên cứu xây dựng, trình Quốc hội ban hành Pháp lệnh ưu đãi người có công; nghiên cứu xây dựng trình Chính phủ ban hành Nghị định hướng dẫn thi hành Pháp lệnh của Quốc hội. Pháp lệnh ưu đãi người có công đã khẳng định :” Tổ quốc và nhân dân đời đời nhớ ơn những người đã hy sinh cống hiến cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Việc quan tâm chăm sóc đời sống vật chất, tinh thần người có công với nước và gia đình họ là trách nhiệm của Nhà nước và toàn xã hội”. Đối tượng ưu đãi trong Pháp lệnh bao gồm : Người hoạt động cách mạng trước Tháng 8 năm 1945; liệt sĩ và gia đình liệt sĩ; anh hùng lực lượng vũ trang, Bà mẹ Việt Nam Anh hùng và anh hùng lao động; thương binh, bệnh binh, người hưởng chính sách như thương binh; người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù đày; người hoạt dộng kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế; người có công giúp đỡ cách mạng.
 Như vậy là, so với trước đối tượng được mở rộng và được hệ thống lại trong một văn bản pháp qui trên tinh thần trân trọng sự cống hiến của những người đã tham gia kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế. Các chế độ cụ thể đã được điều chỉnh, cải thiện toàn diện và khoa học hơn. Trước đây trợ cấp thương tật đối với thương binh là căn cứ hạng thương tật và cấp bậc quân hàm của thương binh khi bị thương. Điều đó dẫn đến một tình hình không công bằng là: cùng hạng thương tật như nhau nhưng vì cấp bậc khi bị thương khác nhau mà trợ cấp thương tật khác nhau. Bởi vậy mới có câu là “máu cán bộ đắt hơn máu chiến sĩ”. Lần này sửa đổi lại trợ cấp thương tật của thương binh là căn cứ vào tỷ lệ thương tật. Cùng với việc đổi mới nội dung chính sách, nguồn chi trả và phương thức quản lý cũng đã được thay đổi nhằm phù hợp với cơ chế mới.
Năm 1994, toàn Đảng, toàn dân  và toàn quân ta tiến hành kỷ niệm trọng thể 40 năm Chiến thắng lịch sử Điên Biên Phủ (7/5/1954- 7/5/1994). Để xứng đáng với tầm vóc lịch sử của Chiến thắng Điên Biên Phủ, Nhà nước đã chỉ đạo làm nhiều việc có ý nghĩa lớn như tôn tạo lại các nghĩa trang liệt sĩ, nhất là Nghĩa trang A1, bảo tàng Điện Biên Phủ, tôn tạo lại Sở chỉ huy Mường Phăng,… Điều đáng chú ý là, do nhiều nguyên nhân, đến thời điểm đó, sau 40 năm chúng ta chưa có đầy đủ bản Danh sách Liệt sĩ hy sinh trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:49:22 PM
 Toàn bộ hồ sơ danh sách liệt sĩ hy sinh trong kháng chiến chống Pháp do Cục Quân lực - Bộ Tổng Tham mưu quản lý, lưu trữ. Trong đó không phân ra trường hợp nào là liệt sỹ hy sinh trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Bởi vậy, muốn biết được những người hy sinh ở chiến dịch Điên Biên Phủ, Cục Chính sách đã nghiên cứu đề đạt và được trên chấp thuận xác định các tiêu chí về phạm vi: không gian của chiến dịch, thời gian diễn ra chiến dịch, đơn vị tham gia chiến dịch. Dựa vào các tiêu chí đó, Cục Chính sách đã tổ chức một lực lương hơn mười người, dành thời gian hàng mấy tháng trời để đọc lại toàn bộ Danh sách hàng chục vạn cán bộ, chiến sĩ hy sinh trong kháng chiến chống Pháp để lọc ra lập được đầy đủ Danh sách Liệt sĩ hy sinh trong Chiến dich Điện Biên Phủ. Làm được điều đó trong điều kiện đăng ký Danh sách đăng ký liệt sĩ trước đây để lại còn thủ công, cũng là một kỳ công. Danh sách Liệt sỹ được lập ra theo từng địa phương đã bàn giao cho Bộ Lao động Thương binh Xã hội. Bộ Lao động Thương binh Xã hội đã tiến hành chỉ đạo gắn toàn bộ Danh sách Liệt sĩ ( đúc chữ bằng đồng) lên các bức tường của Nghĩa trang A1 kịp phục vụ Kỷ niệm 40 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ.
Nhân kỷ niệm 50 năm Ngày Truyền thống ngành Chính sách quân đội (26/2/1947 – 26/2/1997), dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy Quân sự Trung ương – Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị, Cục Chính sách đã đẩy mạnh các hoạt động thi đua sôi nổi, rộng khắp trong toàn ngành, toàn Cục thu được nhiều kết quả tốt đẹp. Cục Chính sách đã tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày Truyền thống ngành Chính sách quân đội và đón nhận Huân chương Quân công Hạng Ba tại Hội trường Bảo tàng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Dự Lễ kỷ niệm có Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Văn Tiến Dũng, Đại tướng Chu Huy Mân, Đại tướng Nguyễn Quyết, Đại tướng Đoàn Khuê - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và các đồng chí Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương, Thủ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, các tổng cục, các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng, lãnh đạo Bộ Lao động Thương binh xã hội, Bộ Tài chính và các bộ ngành ở Trung ương.
Trước không khí trang nghiêm, đầm ấm của buổi Lễ và đặc biệt sự xuất hiện của nhiều cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước, quân đội, nhà báo Bùi Đình Nguyên, Báo Cựu chiến binh Việt Nam, ghé sát tôi hỏi nhỏ: “Ông có cách gì mà mời được cùng một lúc năm Đại tướng - các bậc nguyên lão đến dự. Điều này ít có đối với  Lễ kỷ niệm cấp Cục!”. Tôi niềm nở nói với anh Nguyên: “ Anh ạ, theo tôi đây chính là biểu thị của sự quan tâm đến công tác chính sách của các Thủ trưởng lãnh đạo cao cấp, nhất là các Đại tướng lão thành”.
 Tại buổi lễ, sau bài Diễn văn kỷ niệm của Cục Chính sách do tôi trình bày, Đại tướng Đoàn Khuê, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và đồng chí Trần Đình Hoan, Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh Xã hội đã có các bài phát biểu rất quan trọng, sâu sắc.
Sau khi gắn tấm Huân chương Quân công Hạng Ba lên Quân kỳ của Cục Chính sách,  Đại tướng Đoàn Khuê đã phát biểu, trong đó có đoạn: “ Phát huy vai trò động lực cua công tác chính sách góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng quân đội trong thời kỳ mới”.
Với cương vị là Tổng Tư lệnh quân đội qua nhiều thời kỳ lịch sử - Người Anh Cả của lực lượng vũ trang nhân dân, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhấn mạnh: “ Ngành Chính sách cần cố gắng thật lớn không những với tinh thần trách nhiệm mà với cả tấm lòng thương yêu đối với đồng đội, với toàn thể các gia đình hậu phương quân đội”.
Đồng chí Trần Đình Hoan chúc mừng : “Ngành Chính sách quân đội tiếp tục truyền thống tốt đẹp trong công tác nghiên cứu và tổ chức thực hiện chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội trong giai đoạn mới”.
Nhân dịp này, Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã gửi thư thăm hỏi và chúc mừng đến cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên chức quốc phòng, các đồng chí thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, các đồng chí cựu chiến binh Ngành chính sách quân đội. Ngành Chính sách quân đội:
…”Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và Bác Hồ kính yêu, được sự chỉ đạo trực tiếp của Đảng ủy Quân sự Trung ương va Bộ Quốc phòng, kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp cả dân tộc Việt Nam “Uống nước nhớ nguồn”, 50 năm  qua, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Ngành Chính sách quân đội đã đoàn kết chặt chẽ, tận tụy công tác, chủ động sáng tạo vượt qua thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Cùng với toàn dân, toàn quân, các cấp, các ngành tích cực thực hiện các chủ trương chính sách cả Đảng và Nhà nước đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và chính sách hậu phương quân đội, góp phần tạo nên sức mạnh to lớn của dân tộc ta đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, làm tròn nghĩa vụ quốc tế vẻ vang.
Nhân dịp này, thay mặt Đảng và Nhà nước, tôi nhiệt liệt biểu dương, khen ngợi những công lao, thành tích của Ngành Chính sách quân đội trong 50 năm qua. Mong các đồng chí tiếp tục phát huy truyền thống anh hùng của Quân đội nhân dân Việt Nam, ra sức xây dựng Ngành chính sách quân đội vững mạnh góp phần xây dựng quân đội ta chính qui, tinh nhuệ, tùng bước hiện đại, cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII”…
Trước Lễ kỷ niệm, ngày 13 tháng 2 năm 1997, tôi đã cùng các anh Đỗ Quang Bích, Cục phó; Đinh Công Cử, Trưởng phòng và Trần Minh cán bộ Phòng Nghiên cứu Tổng hợp - Cục Chính sách đến thăm tại nhà riêng và xin ý kiến huấn thị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Văn Tiến Dũng và Đại tướng Chu Huy Mân. Các Thủ trưởng đã tiếp chúng tôi một cách thân tình. Sau khi nghe chúng tôi báo cáo những việc đã làm được, chưa làm được trong công tác chính sách cả ở Cục Chính sách và trong toàn quân, các Thủ trưởng đã có những nhận xét đánh giá sâu sắc về vai trò, vị trí, tầm quan trọng cũng như những công lao đóng góp và những hạn chế thiếu sót cần khắc phục của Cục, của Ngành trong những năm qua; đồng thời đã huấn thị chúng tôi về nhận định tình hình và những vấn đề cần tập trung nghiên cứu, tổ chức thực hiện chính sách trong thời gian tới. Chúng tôi chân thành biết ơn và trân trọng trước những lời huấn thị, dạy bảo ân tình sâu sắc của những người lãnh đạo cao nhất của quân đội trong nhiều thời kỳ lịch sử.
Cục Chính sách có mời Đại tá Hồ Thị Bi - Anh hùng Lực lượng vũ trang, đang nghỉ hưu ở thành phố Hồ Chí Minh và  Đại tá Huỳnh An đang nghỉ hưu ở Đà Nẵng, nguyên là cán bộ của Cục ra dự lễ.
Nhân kỷ niệm 50 năm Ngày Thương binh liệt sĩ (27/7/1947-27-71997), chấp hành chỉ thị của Ban Bí thư, Đảng ủy Quân sự Trung ương- Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị đã lãnh đạo, chỉ đạo toàn quân có nhiều hoạt động phong phú, sôi động  trong các cơ quan , đơn vị đem lại những kết quả thiết thực. Trong dịp này, thực hiện sự chỉ đạo của trên, Cục Chính sách đã hướng dẫn các đơn vị địa phương xét duyệt khen thưởng những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác thương binh – liệt sĩ và hậu phương quân đội.  Theo đề nghị của Bộ Quốc phòng, cùng với tập thể Cục Chính sách, tập thể Phòng Hậu phương - Cục Chính sách, bản thân tôi được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công Hạng Ba.  
 Sau một thời gian thực hiện, chính sách chế độ đối với người có công theo Pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Nghị định của chính phủ còn có một số nội dung cần nghiên cứu bổ sung cho phù hợp. Đó là : Theo qui định thì những người làm nhiệm vụ quốc phòng - an ninh ở những vùng đặc biệt khó khăn gian khổ, nơi có phụ cấp lương đặc biệt mức 100%, thì được xác nhận là thương binh, nếu bị thương; xác nhận là liệt sĩ, nếu bị chết, là chưa phù hợp với đặc điểm hoạt động của quân đội. Trên thực tế, nhiều vùng tuy có phụ cấp đặc biệt dưới mức 100%  nhưng hết sức khó khăn gian khổ, hầu hết các trường hợp bị thương, bị chết đều xảy ra trong điều kiện bất khả kháng. Trước đây, Thủ tướng Chính phủ có ban hành Quyết định 301/CP qui định những người công tác ở những nơi có phụ cấp khu vực 25%  khi bị thương được xác nhận là thương binh, khi chết được xác nhận là liệt sĩ. Nay theo Nghị định  mới, những trường đó không được xem xét trở lại để xác nhận thương binh - liệt sĩ. Thực tế, có nhiều người có cùng điều kiện như nhau, người làm thủ tục trước thì được xác nhận, người làm thủ tục sau lại không được, là không thỏa đáng. Theo qui định, những trường hợp bị thương, bị chết do luyện tập quân sự không được xác nhận là thương binh, liệt sĩ. Điều đó là chưa phản ảnh được những yếu tố rất nguy hiểm, bất khả kháng, đòi hỏi tinh thần dũng cảm. Điều kiện qui định bệnh binh còn lẫn với các chế độ bảo hiểm xã hội. Những gia đình có người mẹ đã được truy tặng Bà mẹ Việt Nam anh hùng, song bà mẹ mất sớm, người bố trực tiếp nuôi dạy các con và nay còn sống, nếu không có hình thức gì để khen thưởng xứng đáng thì họ rất thiệt thòi; đồng thời những người này cũng nên được hưởng phụ cấp như Bà mẹ Việt Nam anh hùng.
  Trước yêu cầu xây dựng quân đội, chính sách khen thưởng đã được đổi mới một bước quan trọng theo hướng nâng cao chất lượng. Đổi mới hình thức, tiêu chuẩn, đối tượng xét khen, bám sát nhiệm vụ chính trị của quân đội trong thời kỳ mới; kết hợp động viên về mặt tinh thần với khuyến khích về mặt vật chất, làm cho tác dụng khen thưởng hấp dẫn hơn. Đã chủ động giải quyết một khối lượng lớn tồn đọng về khen thưởng; thực hiện khen thưởng bậc cao, khen tổng kết đạt kết quả tốt. Từ năm 1990 đến tháng 6/2000, đã trình Nhà nước khen thưởng 1.859.000 Huân chương, Huy chương, cờ thưởng các loại; Tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang cho 2.069 đơn vị, cá nhân.Việc khen thưởng của các cấp, nhìn chung, bảo đảm chính xác kịp thời, đúng nguyên tắc thu tục, bình xét dân chủ công khai; có tác dụng thiết thực trong việc động viên nêu gương tốt; xây dựng truyền thống của đơn vị, giáo dục tinh thần yêu nước, lý tưởng cách mạng cho bộ đội. Trình lên trên chủ trương tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ ttrang để tặng cho các đơn vị, cho quân và dân các địa phương có thành tích xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mỹ, đã góp phần tạo ra một động lực chính trị tinh thần to lớn, củng cố và phát huy truyền thống lịch sử, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đẩy mạnh công cuộc đổi mới đất nước.
 Đặc biệt là, theo tờ trình của Đảng ủy Quân sự Trung ương - Bộ Quốc phòng, Ban Bí thư đã họp xem xét đề nghị, ngày 29 tháng 8 năm 1994 Ủy ban Thường vụ Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh quy định Danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam Anh hùng.
Ngày 10 tháng 9 năm 1994, Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã ký Lệnh công bố Pháp lệnh quy định Danh hiệu vinh dự Nhà nước “ Bà mẹ Việt Nam Anh hùng” để tặng hoặc truy tặng những bà mẹ có nhiều cống hiến, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo về Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế.
Danh hiệu cao quí “Bà mẹ Việt Nam Anh hùng” là góp phần tôn vinh những giá trị thiêng liêng, truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Không có Bà mẹ Việt Nam Anh hùng thì không thể có chiến thắng huy hoàng của các thế hệ người Việt Nam. Chân lý đơn giản ấy ngời sáng trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, nhất là trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Suy tôn, tri ân những Bà mẹ Việt Nam Anh hùng là biểu thị lòng thủy chung, sự biết ơn của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đối với những Bà mẹ đã có những hy sinh thầm lặng, cao cả, đã cống hiến cho Tổ quốc những người con ưu tú. Ngay sau khi Nhà nước ban hành Pháp lệnh, các địa phương, các ngành trong cả nước đã trân trọng đón nhận và kịp thời triển khai tổ chức thực hiện.
Ngày 17 tháng 12 năm 1994, Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã ký quyết định tặng và truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam Anh hùng” đợt 1 cho 19.879 bà mẹ thuộc các tỉnh, thành phố trong cả nước. Một số Bà mẹ Việt Nam tiêu biểu :  Mẹ Nguyễn Thị Thứ ở Điện Thắng, Điện  Bàn, Quảng Nam có chín con, một rể, hai cháu ngoại là liệt sỹ. Mẹ Phạm Thị Ngư ở Hàm Hiệp, Hàm Thuận, Bình Thuận có tám con là liệt sĩ; bản thân là Anh hùng lực lượng vũ trang. Mẹ Trần thị Mít ở ở Hải Phú, Hải Lăng, quảng Trị có chín con là liệt sĩ. Mẹ Nguyến Thị Rành ở Phước Hiệp, Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh, có tám con là liệt sĩ; bản thân là Anh hùng lực lượng vũ trang. Mẹ Nguyễn Thị Dương ở Triệu Thành, Triệu Phong, Quảng Trị, có tám con thì năm con là liệt sĩ ( ba người khác của Mẹ là Đại tướng Đoàn Khuê Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Trung tướng Đoàn Chương Viện trưởng Viện Chiến lược quân sự Bộ Quốc phòng và Đại tá Đoàn Thúy Giám đốc một nhà máy của Tổng cục Kỹ thuật).
Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 50 Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và Ngày Hội quốc phòng toàn dân, ngày 19 tháng 12 năm 1994, Đảng, Nhà nước tổ chức trọng thể Lễ tuyên dương danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng lần thứ nhất tại Phủ Chủ tịch. 59 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng tiêu biểu của mọi miền đất nước, đại diện cho gần 2 vạn Bà mẹ được phong tặng đã được mời về dự. Tổng Bí thư Đỗ Mười, các đồng chí Cố vấn Phạm Văn Đồng, Võ Chí Công, Chủ tịch nước Lê Đức Anh, Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh, Chủ tịch Đoàn Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Lê Quang Đạo, đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội, các đoàn thể ở Trung ương và Hà Nội đã dự Lễ.
Lễ đón các mẹ được tổ chức trọng thể, theo nghi thức Nhà nước tại Phủ Chủ tịch. Chủ tịch nước Lê Đức Anh ra tận xe mời các mẹ bước lên thảm đỏ duyệt Đội Danh dự Quân đội nhân dân Việt Nam, cùng các đồng chí lãnh đạo hướng dẫn các mẹ lên Phòng Đại lễ của Phủ Chủ tịch.
Sau khi Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước long trọng đọc quyết định phong tặng các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, các đồng chí: Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Võ Văn Kiệt, Nông Đức Mạnh đã tặng hoa và trao Huy chương Bà mẹ Việt Nam Anh hùng đến từng bà mẹ.
Thay mặt Đảng, Nhà nước, Chủ tịch Lê Đức Anh đã đọc lời tuyên dương công trạng lớn lao của Phụ nữ Việt Nam, của các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng mà công lao gắn liền với những trang sử vẻ vang của dân tộc, được nhân dân đời đời ghi nhớ.
Thay mặt các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, mẹ Thái Thị Thịnh (Hà Nội) chân thành cảm ơn sự quan tâm về danh hiệu cao quí mà Đảng, Nhà nước đã dành cho những người mẹ, người vợ liệt sĩ vì đã có sự hy sinh cống hiến vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc.
Những Bà mẹ Việt Nam Anh hùng và các đại biểu vô cùng xúc động khi các chiến sĩ Trường Cao đẳng nghệ thuật quân đội hát tặng những bài hát ca ngợi tình yêu Tổ quốc, đặc biệt là bài “Hát về những người mẹ Việt Nam” do nhạc sĩ An Thuyên mới sáng tác ca ngợi sự hy sinh thầm lặng mà vĩ đại của các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Hình ảnh diễn ra tại Phủ Chủ tịch ngày hôm đó thật cảm động. Đây là biểu tượng cao quí, đẹp đẽ, hiếm có của sự hy sinh và lòng thủy chung nhân nghĩa.
 


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:49:57 PM
Sau khi Nhà nước phong tặng, các địa phương, các đoàn thể, các ngành trong cả nước đã dấy lên một phong trào “Phụng dưỡng các Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng”.  Phong trào được sự hưởng ứng mạnh mẽ, khơi dậy tiềm năng to lớn, thể hiện lòng yêu nước và tinh thần đền ơn đáp nghĩa của các tầng lớp nhân dân đối với Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng. Cùng với việc vinh thăng và chế độ chính sách của Nhà nước, phong trào tự nguyện “Phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam Anh hùng” có ý nghĩa chính trị và tình cảm sâu sắc, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của các mẹ. Có thể nói, đây là một sự kiện chính trị lớn.
Sau này, có nhiều người hỏi tôi, trên thực tế, ai là người đề xuất việc đề nghị Nhà nước phong tặng danh hiệu vinh dự Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Tôi đã trả lời  rằng: Tác giả đích thực của Danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng là chính các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Sự cống hiến, hy sinh của các mẹ là vô cùng cao quí, là đỉnh cao của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, là tài sản vô giá trường tồn cùng lịch sử dân tộc. Trân trọng tri ân và suy tôn những người đã cống hiến hy sinh vì Tổ quốc là quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta, được thể hiện bằng các chính sách cụ thể, trong đó có chính sách phong tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam Anh hùng”. Tôi được biết, trong các cuộc họp bàn về chính sách của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Chính phủ mà tôi được dự, các đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước lúc bấy giờ đã có ý tưởng nêu lên là:  Đến thời điểm đó, trong chính sách hiện hành của Đảng và Nhà nước ta chưa có sự đãi ngộ thỏa đáng cả về tinh thần và vật chất đối với những người mẹ đã hiến dâng cho Tổ quốc những người con yêu quí nhất; các mẹ là những người có công lớn nhất trong chiến tranh cách mạng. Ý tưởng đó trở thành chủ trương hiện thực. Đây là một chủ trương đúng đắn, hợp lòng dân, rất nhân văn, có ý nghĩa chính trị - xã hội sâu sắc. Cục Chính sách lúc bấy giờ, với vai trò là cơ quan chức năng, được Tổng cục Chính trị và Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ phối hợp với các cơ quan trong và ngoài quân đội nghiên cứu xây dựng đề án. Lúc đó, tôi với cương vị Cục trưởng, anh Phạm Lam, Cục phó, anh Lê Thế Hải, Trưởng phòng và một số anh em khác trong Phòng Khen thưởng Cục Chính sách giữ vai trò điều tra khảo sát, phản ánh và là “người chắp bút”, “biên tập” cho một chủ trương  lớn, thể hiện được ý Đảng, lòng dân.
Tôi được biết, đến nay cả nước đã tặng và truy tặng hơn 50.000 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Những Bà mẹ Việt Nam còn sống đều có cuộc sống vật chất, tinh thần ổn định trên cơ sở chế độ trợ cấp của Nhà nước cùng với sự phụng dưỡng chăm sóc của cơ quan đoàn thể các cấp, các đơn vị quân đội và bà con nơi cư trú, ấm áp tình làng nghĩa xóm.

 Thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị về đổi mới công tác thi đua - khen thưởng trong giai đoạn mới và chủ trương của Hội đồng Thi đua – Khen thưởng Trung ương; của Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương ; của Tổng cục Chính trị, năm 2000, Nhà Xuất bản Quân đội nhân dân và Nhà Xuất bản Lao động, trên cơ sở  phối hợp chặt chẽ của Cục Chính sách- Tổng cục Chính trị, đã tổ chức biên soạn và xuất bản bộ sách “Chân dung Anh hùng thời đại Hồ Chí Minh”.
Đây là một công trình xuất bản có ý nghĩa quốc gia, góp phần khẳng định những cống hiến lớn lao của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, mà tiêu biểu là những anh hùng. Bộ sách quí này được coi như một tượng đài bằng ấn phẩm, dựng lên chân dung và chiến công đặc biệt xuất sắc của 1.779 Anh hùng được tuyên dương hơn nửa thế kỷ qua – Chân dung Anh hùng thời đại Hồ Chí Minh.
Trong Lời tựa bộ sách của đồng chí  Lê Khả Phiêu, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã viết: “Dân tộc Việt Nam là dân tộc Anh hùng. Lịch sử đấu tranh oanh liệt qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã sản sinh ra biết bao người con anh hùng. Qua những người anh hùng mà lịch sử của dân tộc ta lưu truyền mãi mãi cho đến ngày nay…Có được những người anh hùng là nhờ nhân dân, Tổ quốc, đồng bào, đồng chí, đồng đội, và trước hết là những Bà mẹ Việt Nam đã sinh ra và nuôi dưỡng những người con yêu quí của mình…”.
Biên soạn xuất bản được bộ sách “Chân dung Anh hùng thời đại Hồ Chí Minh” là rất công phu. Tôi đã tham gia biên soạn bộ sách cùng với các anh Phạm Gia Đức, Đại tá, Tiến sĩ, Giám đốc - Tổng biên tập Nhà Xuất bản Quân đội nhân dân, anh Lê Hải Triều, Đại tá, cán bộ Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, anh Lê Thế Hải, Đại tá, Trưởng phòng Khen thưởng Cục Chính sách và một số anh em khác. Về cơ bản, quá trình nghiên cứu biên soạn đã dựa vào cơ sở các tư liệu, tài liệu lưu trữ hồ sơ khen thưởng đầy đủ của Cục Chính sách; kế thừa và phát triển một số tập sách viết về Anh hùng do Cục Chính sách phối hợp với Nhà xuất bản Quân đội nhân dân đã xuất bản những năm trước. Trong đó phải kể đến công lao của các anh chị: Nguyễn Đức Chiêm, Vũ Cởi, Phạm Lam, Phạm Kiệu, Nguyễn Nguyên Bình, Lê Đại Hiệp,…ở Phòng Khen thưởng Cục Chính sách qua các thời kỳ.
Bên cạnh những kết quả đạt được, chính sách khen thưởng còn có một số vấn đề bất cập cần được tiếp tục nghiên cứu, bổ sung sửa đổi. Một số hình thức ban hành trước đây có tác dụng tích cực trong việc biểu dương, ghi công động viên trong các cuộc chiến tranh, nay vẫn còn sử dụng chư có hình thức mới mới phù hợp để khen thưởng trong giai đoạn mới (vẫn dùng huân chương Chiến công, Quân công để khen thưởng thành tích trong xây dựng kinh tế, huấn luyện và các nhiệm vụ khác). Đối tượng khen thưởng chưa được xác định lại cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Vẫn khen các tập thể lớn, khen ngành, khen phong trào chung không có địa chỉ cụ thể. Xu hướng khen chạy theo số lượng, các ngày lễ lớn, các năm kỷ niệm, chưa chú trọng đúng mức đến chất lượng, hiệu quả. Hình thức biểu dương chưa chú ý đúng mức. Việc thưởng kèm theo khen đã được đặt ra, nhưng ngân sách còn hạn hẹp, được tương xứng. Công tác nghiên cứu xây dựng các văn bản pháp qui về khen thưởng và công tác tham mưu ở cấp chiến lược còn chậm.Việc giải quyết tồn đọng về khen thưởng sau các cuộc chiến tranh còn khối lượng lớn, thiếu sự quan tâm đầu tư của các cấp nên chậm dứt điểm. Qui trình khen thưởng còn phiền phức, chưa được cải tiến kịp thời theo yêu cầu cải cách hành chính. Ở nhiều địa phương, việc đón nhận các hình thức khen thưởng còn nặng nề, phô trương, hình thức, gây tốn kém, ảnh hưởng đến giá trị và ý nghĩa của khen thưởng. Công tác lưu trữ hồ sơ và quản lý khen thưởng ở các cấp còn thủ công, đơn giản, thiếu chặt chẽ, gây khó khăn cho việc tra cứu, xem xét khi cần thiết.
     
Từ năm 1993, chính sách đối với quân nhân xuất ngũ đã có sự bổ sung mới. Trước đó, việc giải quyết chính sách đối với quân nhân xuất ngũ áp dụng tương tự công nhân viên chức Nhà nước thôi việc, được bảo đảm chế độ trợ cấp bằng một khoản tiền theo thời gian phục vụ quân đội. Đối với những quân nhân có trình độ chuyên môn, kỹ thuật nghiệp vụ được chuyển ngành sang cơ quan xí nghiệp Nhà nước được chuyển xếp lương theo cương vị mới. Trong trường hợp nếu tiền lương mới được xếp thấp hơn tiền lương khi tại ngũ thì được bảo lưu lương như khi tại ngũ trong vòng 18 tháng. Thời gian phục vụ tại ngũ được tính là thời gian công tác liên tục để tính hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội. Thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự, phần đông khi rời khỏi quân đội, quân nhân xuất ngũ có tuổi đời còn trẻ, sức khỏe tốt, lại được rèn luyện trong quân đội, nhưng chưa được đào tạo nghề, nên có nhiều khó khăn trong đời sống. Với số anh em này, nếu đào tạo tốt sẽ trở thành lực lượng lao động đông đảo trong các thành phần kinh tế quốc dân. Giải quyết việc làm đối với quân nhân xuất ngũ là một vấn đề rất quan trọng, có tác động trực tiếp đến quân đội, hậu phương quân đội, đến công tác động viên tuyển quân. Với quan điểm cho rằng: “đưa một cần câu hơn cho một xâu cá”, nhu cầu của bộ đội xuất ngũ là cần có một khoản trợ cấp học nghề và được đào tạo nghề trước khi chuyển về địa phương. Từ cách đặt vấn đề đó, các cơ quan Cục Quân lực - Bộ Tổng Tham mưu, Cục Tài Chính – Bộ Quốc phòng và Cục Chính sách đã nghiên cứu đề đạt Bộ Quốc phòng trình lên Chính phủ ban hành chế độ phụ cấp học nghề đối với quân nhân xuất ngũ. Đồng thời, các cơ quan đã đề nghị Bộ Quốc phòng tổ chức xây dựng nhiều Trung tâm dạy nghề và xúc tiến việc làm ở các quân khu và một số đơn vị. Đối tượng nhập học là quân nhân xuất ngũ, trong đó ưu tiên cho số quân nhân hoàn thành nhiệm vụ ở biên giới hải đảo; con em các đối tượng chính sách. Chương trình, nội dung dạy nghề đối với quân nhân xuất ngũ và các đối tượng chính sách là dạy cả về lý thuyết và thực hành, chủ yếu là thực hành, các nghề phổ thông theo thị trường lao động như: vi tính văn phòng, lái xe, y tá, thợ cơ khí, điện gia dụng, may mặc, vệ sĩ,…Thời gian đào tạo khoảng từ ba đến sáu tháng. Khi tốt nghiệp được cơ quan có thẩm quyền tổ chức thi, cấp chứng chỉ để hành nghề. Các Trung tâm tiến hành khảo sát, điều tra nhu cầu của thị trường lao động trên các địa bàn để tiến hành dịch vụ giới thiệu việc làm cho những người đã qua đào tạo. Bộ Quốc phòng thành lập Ban Chỉ đạo để giúp triển khai tổ chức thực hiện việc xây dựng các Trung tâm dạy nghề và xúc tiến việc làm, do một đồng chí Phó Tổng Tham mưu trưởng phụ trách, Cục Chính sách và Cục Quân lực là cơ quan thường trực. Với vai trò thường trực Ban Chỉ đạo, chúng tôi đã dành nhiều thời gian đến các Trung tâm thuộc Quan khu 3, Quân khu Thủ đô, Quân khu 4, Quân khu 5, Quân khu 7, Quân khu 9, Trường Cao đẳng Kỹ thuật Vin-hem-pích, Trường Sĩ quan Lục quân 2 ( hiện nay là Trường Cao đẳng nghề số 8 thuộc Bộ Tổng Tham mưu) để nắm tình hình và phối hợp chỉ đạo hướng dẫn việc triển khai tổ chức thực hiện. Ngày đó, ở các Trung tâm đội ngũ cán bộ, giáo viên còn rất mỏng; hệ thống trường học, lớp học, nhà xưởng, bãi tập, cơ sở trang thiết bị dạy nghề còn rất đơn sơ, ít ỏi. Các đơn vị đã kịp thời kiện toàn bộ máy, lựa chọn những cán bộ có trình độ nghiệp vụ và tâm huyết với công tác dạy nghề. Trên cơ sở đề nghị của các cơ quan Bộ Quốc phòng, Bộ Lao động Thương binh Xã hội đã hỗ trợ một khoàn ngân sách tương đối lớn giúp các Trung tâm của quân đội xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và mua sắm trang thiết bị chuyên dùng. Từ thuở ban đầu sơ khai đến khi hình thành nên những Trung tâm dạy nghề và giải quyết việc làm có qui mô lớn, chất lượng cao, có uy tín lớn trên các khu vực là cả một sự nỗ lực phấn đấu liên tục bền bỉ của cả cơ quan và cơ sở. Hệ thống các Trung tâm dạy nghề và giới thiệu việc làm hình thành trong quân đội mở ra một hướng mới trong việc giải quyết chính sách đối với quân nhân xuất ngũ, được cán bộ chiến sĩ quan tâm.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:50:36 PM
 Chính sách đối với các đối tượng chuyển ra đã góp phần tích cực thực hiện chủ trương điều chính lực lượng, giảm quân số của quân đội trong những năm vừa qua. Đời sống của quân nhân sau khi chuyển ra bớt hẫng hụt, từng bước được cải thiện. Tuy nhiên, việc dạy nghề và giải quyết việc làm đối với quân nhân chuyển ra đang là vấn đề khó khăn. Trợ cấp học nghề quá thấp, không đủ chi phí. Lưu lượng dạy nghề và giới thiệu việc làm của các trung tâm xúc tiến việc làm quá hạn hẹp, mới chiếm một tỷ lệ thấp trong tổng số quân nhân xuất ngũ hàng năm. Chế độ đối với quân nhân chuyển ngành chưa được xác định cụ thể và chưa có cơ chế phù hợp, tính khả thi rất thấp, nhất là trong cơ chế kinh tế thị trường.

Về chính sách đối với lực lượng dự bị, dân quân dự bị, Hiến pháp năm 1992 đã xác định : “ Nhà nước xây dựng quân đội nhân dân cách mạng , chính qui, từng bước hiện đại, xây dựng lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ hùng hậu”. Việc xây dựng lực lượng dự bị, dân quân tự vệ hùng hậu không những đáp ứng yêu cầu xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh mà còn góp phần vào việc giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên phạm vi cả nước cũng như ở từng địa phương. Trên cơ sở đổi mới nhận thức về tổ chức lực lượng, Nhà nước đã từng bước thể chế hóa tương đối đồng bộ chế độ chính sách đối với lực lượng dự bị động viên,  dân quân tự vệ, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trong tình hình mới. Nam 1994, Chính phủ đã qui định :  Trong thời gian tập trung huấn luyện, kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu, quân nhân dự bị hạng 1, được hưởng trợ cấp một khoản tiền. Trong thời gian hoạt động cán bộ, chiến sĩ dân quân tự vệ được hoãn nghĩa vụ lao động công ích hàng năm; trong thời gian làm nhiệm vụ huấn luyện quân sự, thường trực sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu, phục vụ chiến đấu, phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, địch họa và các sự cố nghiêm trọng, dân quân được hưởng một khoàn tiền tương đương giá trị một ngày công lao động ở địa phương; tự vệ được hưởng nguyên lương và các phụ cấp khác (nếu có). Trường hợp bị tai nạn, ốm đau hoặc bị chết thì được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hôi như đối với công nhân viên chức Nhà nước. Khi bị thương, hy sinh trong lúc làm nhiệm vụ chiến đấu, phục vụ chiến đấu, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toang xã hội, dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân thì bản thân và gia đình được hưởng các chế độ ưu đãi xã hội.
Các chế độ ưu đãi nói trên tuy còn hạn hẹp nhưng cũng đã thể hiện được sự quan tâm chăm lo của Nhà nước đối với lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ trong điều kiên đát nước còn nhiều khó khăn. Việc giao cho ngân sách quốc phòng của địa phương chi trả các khoản kinh phí hoạt động của quân dự bị động viên, dân quân, tự vệ cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết chính sách.
          Cùng với quá trình đổi mới chính sách xã hội nói chung, chính sách hậu phương quân đội đã được Nhà nước pháp luật hóa tương đối toàn diện, khá đồng bộ. Đồng thời, những giá trị truyền thống tốt đẹp “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn” được phát huy trong việc xã hội hóa thông qua hoạt động của các tổ chức chính trị xã hội.
Với trách nhiệm chính trị và tình nghĩa thủy chung sắt son đối với đồng đội, Đảng ủy Quân sự Trung ương- Bộ Quốc phòng luôn luôn chủ động, kịp thời lãnh đạo chỉ đạo các đơn vị trong toàn quân tham gia tích cực, có hiệu quả các hoạt động chính sách hậu phương quân đội. Phong trào xây dựng nhà tình nghĩa, tặng sổ tiết kiệm tình nghĩa, đỡ đầu chăm sóc con thương binh - liệt sĩ; phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam Anh hùng đạt kết quả thiết thực, góp phần cải thiện một bước đời sống vật chất tinh thần các đối tượng có công, có tác dụng giáo dục đối với cán bộ, chiến sĩ. Việc chăm sóc cán bộ quân đội nghỉ hưu đã có nhiều cố gắng. Trong điều kiện khả năng ngân sách còn hạn hẹp, đã tập trung vào các hoạt động chủ yếu như : chăm sóc cán bộ mắc bệnh hiểm nghèo; tổ chức mời đi nghỉ dưỡng súc, tham quan, thăm hỏi ngày lễ tết và những trường hợp có khó khăn đặc biệt. Nhiều đơn vị đã dành một khoản ngân sách hoặc động viên sự sự hưởng ứng đóng góp của cán bộ chiến sĩ để hỗ trợ cho gia đình quân nhân tại ngũcos khó khăn đột xuất trong thiên tai.
Tuy vậy, bước vào thời kỳ đổi mới, chính sách đối với hậu phương quân đội mà trực tiếp là chính sách đối với gia đình quân nhân tại ngũ còn lúng túng, chưa được đề cập đúng mức, nhất là đối với gia đình sĩ quan. Phần lớn sĩ quan sống xa gia đình. Mọi vấn đề sinh hoạt và đời sống của gia đình đều dồn lên vai người vợ. Trong khi đó, đồng lương sĩ quan còn hạn hẹp, sự giúp đỡ gia đình là không đáng kể. Số cán bộ có điều kiện hợp lý hóa gia đình phần lớn cũng hết sức  khó khăn về nhà ở, về sinh hoạt, cuộc sống, về đăng ký hộ khẩu,…tác động đến sự an tâm rèn luyện phấn đáu cua sĩ quan. Việc chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công ở một số địa phương chưa thường xuyên, chưa kết hợp chặt chẽ giữa việc chăm lo đời sống vật chất tinh thần với đối tượng chính sách  với việc tuyên truyền giáo dục truyền thống ở địa phương, nhất là đối với thế hệ trẻ.

 Đã 20 năm kết thúc chiến tranh, những tồn đọng về chính sách chưa giải quyết còn rất lớn, tính chất vô cùng phức tạp, khó khăn đang là vấn đề bức xúc, nhức nhối trong đối tượng chính sách và nhân dân các địa phương. Hàng vạn quân nhân mất tin, mất tích trong chiến tranh chống Mỹ vẫn chưa xác minh kết luận để báo tin cho gia đình. Vào buổi hoàng hôn cuộc đời, biết bao cụ ông, cụ bà thấp thỏm ngày đêm mong ngóng tin con trai mình, đó là chỗ dựa, nguồn nối dõi lúc cuối đời, đi chiến đấu nay ở đâu, thế nào. Hàng vạn người vợ suốt hàng chục năm trời từ thuở xuân xanh đến lúc bạc đầu, mòn mỏi trông mong tin chồng biền biệt. Biết bao trẻ thơ đến tuổi cắp sách tới trường cần được ưu tiên hưởng những quyền lợi thích đáng. Hàng chục vạn hài cốt liệt sĩ hi sinh trên các chiến trường chưa tìm kiếm, cất bốc, qui tập về các nghĩa trang. Hàng vạn quân nhân chiến đấu bị thương đã chuyển ra ngoài nhưng chưa được kết luận, giám định thương tật để hưởng quyền lợi. Hàng chục vạn trường hợp có thành tích trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu nhưng chưa được khen thưởng. Và nhiều vấn đề khác nữa như những người bị nhiễm chất độc hóa học của Mỹ trong chiến tranh, những người tham gia kháng chiến nhưng chưa được hưởng chế độ chính sách tương xứng,... Chừng nào tồn đọng chính sách chưa giải quyết hết, chừng đó đối tượng chính sách vẫn còn chịu thiệt thòi về quyền lợi tinh thần vật chất, yêu cầu giải quyết các vấn đề đó vẫn đặt ra thường trực, bức xúc.
Chấp hành Chỉ thị của Chính phủ và Chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng, các ngành, các địa phương đã tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác giải quyết tồn đọng chính sách, đạt được kết quả khá tốt. Trong quân đội,  với tinh thần chủ động, sáng tạo và trách nhiệm chính trị, Cục Chính sách đã phối hợp với các cơ quan chức năng giúp Bộ Quốc phòng trình lên Đảng và Nhà nước ban hành các văn bản về chủ trương, phương hướng, giải pháp lớn và hướng dẫn tổ chức thực hiện giải quyết tồn đọng chính sách. Các đơn vị, địa phương đã thực sự chủ động đẩy mạnh các hoạt động điều tra, khảo sát, xác minh và kết luận các trường hợp quân nhân mất tin, mất tích; thương binh chuyển ra chưa được giám định về thương tật; chuyển thương binh nặng về gia đình hoặc sang ngành lao động thương binh xã hội. Đã tổ chức nhiều đội qui tập mộ liệt sĩ chuyên trách, đầu tư một khối lượng lớn vật tư, ngân sách và phương tiện tiến hành khảo sát tìm kiếm cất bốc qui tập hàng vạn mộ liệt sĩ ở trong nước và ở Lào, Cămpuchia. Đã giải quyết hàng vạn trường hợp khen thưởng.
Nhìn chung, kết quả đạt được là rất lớn, thực sự giải quyết những yêu cầu bức bách, xác lập căn cứ pháp lý để đối tượng hưởng các quyền lợi theo theo qui định. Kết quả đó góp phần tăng thêm lòng tin của nhân dân đối với quân đội, góp phần tích cực vào việc ổn định tình hình chính trị, xã hội ở từng địa phương và trong cả nước.
Theo phạm vi được phân công, quân đội đảm nhiệm tìm kiếm cất bốc mộ liệt sĩ ở vùng rừng núi trong nước và ở hai nước bạn Lào, Cămpuchia. Chúng tôi đã cùng với các đơn vị trở lại chiến trường xưa tiến hành khảo sát những địa bàn đã diễn ra nhiều chiến dịch lớn, các trận chiến đấu có qui mô quyết liệt, số lượng cán bộ, chiến sĩ ta hy sinh nhiều như: Đường 9, Khe Sanh , Hướng Hóa, Cam Lộ tỉnh Quảng Trị, các tỉnh trên địa bàn Tây Nguyên, các tỉnh Nam Bộ: Tây Ninh, Đồng Nai, Tiền Giang, An Giang, Kiên Giang…Sau khi nắm tình hình mộ liệt sĩ còn lại trên các chiến trường, Cục Chính sách đã xây dựng kế hoạch và phối hợp với các cơ quan hữu quan đề đạt lên  Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị ban hành các Quyết định về tổ chức lực lượng, trang bị phương tiện, bảo đảm các điều kiện vật tư, ngân sách, xăng dầu và các chế độ chính sách đối với lực lượng khảo sát, tìm kiếm, cất bốc, qui tập mộ liệt sĩ thuộc các quân khu, đơn vị. Có thể nói, trong việc giải quyết hậu quả chính sách sau chiến tranh, thì việc tìm kiếm, cất bốc, qui tập mộ liệt sĩ là khó khăn, phức tạp nhất. Có khó khăn do hoàn cảnh chiến tranh quyết liệt lâu dài, địa bàn chia cắt, việc quản lý hồ sơ mộ chí của các đơn vị trong chiến đấu trước đây bị mất mát thất lạc; nhiều nhân chứng là người quản lý hồ sơ, đồng đội cùng chiến đấu, hoặc trực tiếp đi mai táng liệt sĩ, thì nhiều người đã hy sinh, từ trần, hoặc còn sống nhưng đã già yếu không còn nhớ được; trong chiến tranh bom đạn cày xới nhiều lần; thời gian đã quá lâu, mưa lũ xói mòn; nhiều nơi trước đây trong chiến tranh cây rừng bị tàn phá trơ trụi nay tái sinh um tùm rậm rạp; hoặc nhiều công trình giao thông, thủy lợi, nhà máy, khu dân cư mọc lên làm xóa đi dấu tích cũ. Thêm vào đó, trong nhận thức quan điểm và tình cảm của một số ít cán bộ chưa thấy hết qui mô, tính chất khó khăn, phức tạp và ý nghĩa tâm linh, tình cảm trong đời sống xã hội, nên chưa quan tâm đầy đủ, thậm chí có người có lúc còn coi nhẹ vấn đề này.
Tôi nhớ, có một lần vào tháng 7 năm 1994, tôi cùng với anh Đỗ Minh Nguyệt, Trưởng phòng Thương binh Liệt sỹ - Cục Chính sách và anh Út Song, Trưởng phòng Chính sách Quân khu 7 đến làm việc ở Tỉnh đội Tây Ninh. Anh Ba Hồng, Trưởng ban chính sách báo cáo có phần mộ 21 liệt sĩ của một đợn vị thuộc Sư đoàn 7 Quân đoàn 4,  hy sinh trong Chiến dịch Mậu Thân năm 1968 ở xã Thanh Điền, đến nay vẫn chưa được bốc lên. Nằm trên phần mộ là một con đường bê tông kiên cố đã trải nhựa. Nghe xong, tôi đề nghị mọi người dừng lại lên ô tô chạy thẳng ra xem xét tại chỗ. Đến nơi, giữa dòng xe ngược xuôi hối hả, dưới nắng gắt đầu giờ chiều, khi nghe cán bộ trình bày, tôi vừa xúc động, vừa bức xúc nói với mọi người cùng đi: “Vậy là chiến tranh đã kết thúc mấy chục năm rồi, đồng đội chúng ta ở đây vẫn chưa được đưa về an nghỉ trong Nghĩa trang Liệt sĩ. Các anh nằm đó dưới những bánh xe đủ loại đêm ngày lăn qua. Nhức nhối quá! Trong số chúng ta ở đây, nếu ai có cha mẹ mình nằm dưới đó, chắc chắn là không chịu nổi. Hoặc giả sử có thông tin nói rằng, ở dưới đó có một lượng vàng bạc châu báu có giá trị lớn, chắc người ta đã giành nhau khai quật lên từ lâu rồi, dẫu tốn kém đến bao nhiêu. Tôi khẩn thiết đề nghị, nếu không biết thì đành phải chịu; nhưng biết rồi thì nhất thiết phải đưa các anh ấy về Nghĩa trang Liệt sỹ càng sớm càng tốt”. Mấy tháng sau, khi nhận được báo cáo là 21 hài cốt liệt sĩ ở xã Thanh Điền đã được cất bốc đưa về Nghĩa trang Liệt sỹ ở Thành phố Hồ Chí Minh, lòng tôi thanh thản.

Ngày 10 tháng 5 năm 1996, nhận lời mời của Tổng cục Chính trị Quân đội giải phóng nhân dân Lào, được sự đồng ý của Thủ tưởng Tổng cục Chính trị ta, Đoàn Cán bộ Cục Chính sách sang thăm và làm việc với Cục Chính sách Lào. Đoàn có các anh:  Đinh Công Cử, Đỗ Minh Nguyệt, Đinh Mạnh Toan, Nguyễn Văn Tinh, do tôi làm Đoàn trưởng. Chuyến đi này là nhằm trao đổi thông tin về công tác chính sách giữa hai quân đội. Các đồng chí lãnh đạo Tổng cục Chính trị  Lào đề nghị chúng tôi giới thiệu về công tác chính sách trong quân đội Việt Nam cho cán bộ các cơ quan tại Hội trường Bộ Quốc phòng Lào. Đồng thời, chúng tôi cùng phối hợp với Cục Chính sách Lào bàn bạc giải quyết các tồn đọng về chính sách như cung cấp cho bạn danh sách những cán bộ, chiến sĩ ta đã tham gia chiến đấu vì nghĩa vụ quốc tế trên đất Lào trong thời kỳ chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ để trình lên Nhà nước Lào khen thưởng các loại Huân chương theo chế độ; tiến hành khảo sát mộ liệt sĩ Quân tình nguyện Việt Nam trên đất Lào; bàn biện pháp xây dựng một số Nghĩa trang Liệt sĩ và Bia Tưởng niệm Liệt sĩ Quân tình nguyện Việt Nam ở những nơi diễn ra các chiến dịch lớn trong Liên minh chiến đấu Việt – Lào chống kẻ thù chung.
 


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:51:01 PM
Ngày 15 tháng 5 năm 1996, chúng tôi đi máy bay từ Viêng Chăn đến tỉnh Xiêng Khoảng để khảo sát mộ liệt sĩ và xây dựng Nghĩa trang Liệt sĩ ở Cánh Đồng Chum. Máy bay cất cánh lúc 8 giờ. Bay được khoảng một tiếng đồng hồ, tôi thấy anh Xỉ Thoong Chay, Cục phó Cục Chính sách Lào phụ trách tổ công tác cùng đi với chúng tôi, từ trong phòng tổ lái máy bay bước ra, ghé sát tôi nói nhỏ:
- Báo cáo anh Đẩu: Sau khi bay qua mấy dãy núi cao để vào Xiêng Khoảng, máy bay của chúng ta đang bay vào khu vực thời tiết xấu, mây mù dày đặc, không thể hạ cánh được. Máy bay trước ta đã bị mất liên lạc. Tổ lái sẽ cho máy bay quay về hạ cánh ở sân bay Viêng Chăn. Anh có ý kiến gì không?
Khá bất ngờ, nhìn qua cửa kính máy bay thấy mịt mùng mây trắng xóa như bông, tôi chợt nghĩ và nói:
-  Này anh! Liệu lượng xăng dầu có vấn đề gì không?
Anh Xỉ Thoong Chay trả lời:
-  Anh yên tâm. Bao giờ xăng dầu máy bay cũng đảm bảo đủ cho các trường hợp như thế này.
Tôi nói tiếp:
- Không hạ cánh được thì đương nhiên phải quay về. Tôi không có ý kiến gì về mặt chuyên môn. Nhưng để bảo đảm mọi người có cảm giác bình thường, tôi đề nghị anh chưa báo cho ai biết việc này. Khi xuống sân bay Viêng Chăn rồi thông báo cũng được.
Gần một tiếng sau, máy bay chuẩn bị hạ cánh ở sân bay Viêng Chăn, ngồi trên máy bay nhìn xuống, ai đó hỏi tôi rằng, tại sao Xiêng Khoảng cũng to như Viêng Chăn vậy. Tôi mỉm cười mà chẳng nói gì. Khi mọi người đã yên vị ở phòng đợi ở sân ga, tôi mới nói lại tình hình, đề nghị cả Đoàn nghỉ tại chỗ đến khi nào sân bay Xiêng Khoảng đồng ý tiếp nhận, thì lại bay tiếp. Chờ đến khoảng 11 giờ chúng tôi lên máy bay. Một tiếng sau, máy bay chúng tôi hạ cánh xuống sân bay Xiêng Khoảng. Ngồi trong máy bay tôi được anh Xỉ Thoong Chay chỉ xuống đường băng và nói với tôi rằng: “Ra đón Đoàn ở dưới đó, người mặc bộ đồ ký giả đứng đầu hàng là anh Phu Mi, Ủy viên Trung ương, Bí thư Tỉnh ủy kiêm Tỉnh trưởng; tiếp theo là các anh Xỉ Phon, Phó Bí thư Tỉnh ủy; Kẹo Phăn, Đại tá, Tỉnh đội trưởng và mấy anh em khác. Đồng chí Phu Mi đã ra tận cầu thang máy bay ôm lấy tôi nồng ấm. Trưa hôm đó Tỉnh ủy và Ủy ban tỉnh đã tổ chức chiêu đãi Đoàn chúng tôi ở nhà khách Tỉnh ủy. Tại đây, chúng tôi được đồng chí Phu Mi thông báo chính thức là chiếc máy bay bay trước chúng tôi mấy phút, do một phi công rất giỏi đã lái xuyên mây để hạ cánh, nhưng không may đã đâm vào núi và tử nạn hết. Toàn bộ hành khách, chủ yếu là Lào kiều, thuộc dân tộc HMông ở Mỹ về thăm gia đình. Nghe xong, chúng tôi thật hú vía và thương cảm những người không may đó. Mấy ngày sau về lại Viêng Chăn, anh Khăm Xẩy, Cục trưởng Cục Chính sách Lào nói với tôi là: “ Bữa đó, khi nghe tin máy bay rơi ở Xiêng Khoảng, ở cơ quan chúng tôi mọi người nghĩ là máy bay chở Đoàn các anh, các gia đình của mấy anh cán bộ Cục Chính sách Lào đã khóc và lập bàn thờ cầu siêu cho tất cả cán bộ trong Đoàn công tác, cả Lào và Việt Nam “. 

 Sau đó một thời gian không lâu, Đoàn cán bộ cao cấp của quân đội ta do anh Đào Trọng Lịch, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Tham mưu trưởng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng dẫn đầu sang công tác ở Lào, trên đường bay từ Viêng Chăn đi Xiêng Khoảng đã lâm nạn. Toàn bộ Phi hành đoàn và 14 thành viên của Đoàn cán bộ đều hy sinh, trong đó có 5 cán bộ cấp tướng. Đây là một tổn thất to lớn - điều mà cả hai cuộc chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ chưa hề xẩy ra.
Nghe nói đã lâu những đến lúc đó tôi mới đặt chân đến Cánh Đồng Chum. Gọi là Cánh Đồng Chum vì trên các dãy đồi giữa một cao nguyên rộng lớn, có hàng trăm, hàng ngàn cái chum bằng đá cẩm thạch như được những bàn tay của người khổng lồ hoặc một siêu nhiên huyền bí đẽo gọt, với đường kính trên dưới một mét, cao xấp xỉ bằng đầu người, có chiếc còn nguyên nhưng cũng có chiếc bị vỡ, bị sứt mẻ. Tôi được các bạn Lào kể rằng, người đầu tiên tìm phát hiện ra những chiếc chum đó là nữ khảo cổ học Madeleine Colani, người Pháp làm việc ở Viện Viễn đông Bác cổ, khai quật từ năm 1930. Nguồn gốc của những chiếc chum này vẫn còn hai giả thuyết có tính huyền thoại: Một là, những chiếc chum đó là do một vị vua từ thời cổ đại tạo ra và dùng để ủ rượu khao quân; Hai là, những chiếc chum đó là những chiếc quách đựng di cốt trong một nghĩa trang khổng lồ. Đến nay, cùng với thời gian, bí mật về những chiếc chum đó vẫn là điều bí ẩn, thách thức nhân loại. Giữa một chiều hè, nắng vàng, gió lộng, chúng tôi trèo lên những cái chum to giữa thảo nguyên mênh mông. Anh Phu Mi Bí thư Tỉnh ủy kiêm Tỉnh trưởng Xiêng Khoảng và các anh em cán bộ Lào đã cùng chúng tôi thắp hương Nghĩa trang Liệt sĩ Quân tình nguyện Việt Nam tại Cánh Đồng Chum. Sau đó, chúng tôi đã cùng với các anh ở Tỉnh đội Xiêng Khoảng khảo sát nắm lại tình hình mộ liệt sĩ còn nằm rải rác ở các khu vực.
Cánh Đồng Chum là một cao nguyên rộng lớn, địa thế núi non hùng vĩ,  nằm ở cuối phía bắc dãy Trường Sơn. Đây là một địa bàn chiến lược quan trọng. Tôi nghe nói, trước đây có nhà quân sự Pháp đã chỉ ra rằng, ai chiếm được Cánh Đồng Chum thì khống chế được cả Đông Dương. Chính vì vị trí chiến lược đó, mà trong chiến tranh, kẻ địch thường cho quân nhiều lần đánh chiếm Cánh Đồng Chum. Nơi đây, trong kháng chiến chống Mỹ, các đơn vị chủ lực của ta như Sư đoàn 335, Sư đoàn 312, Sư đoàn 316 và nhiều đơn vị khác đã sát cánh với bộ đội Pa thét Lào, liên tục chiến đấu chống kẻ thù chung, lập nên những chiến công to lớn. Với tinh thần giúp bạn là tự giúp mình, suốt mấy chục năm chiến tranh, trong nhiều chiến dịch lớn và các trận chiến đấu quyết liệt, nhiều cán bộ, chiến sĩ ta đã anh dũng hy sinh vì nghĩa vụ quốc tế cao cả, mà đến nay nhiều trường hợp vẫn chưa tìm thấy mộ.

Tôi đã nhiều lần trực tiếp đến thăm và làm việc với các đội qui tập mộ liệt sĩ của các tỉnh thuộc Quân khu 4, Đội qui tập mộ liệt sĩ của Quân khu 2, Quân khu 5, Quân khu 7, Quân khu 9. Toàn quân có đến 20 đội. Có người gắn bó lâu năm với nhiệm vụ này như đồng chí Hồ Văn Bình, quê ở xã Nghi Diên, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An làm Đội trưởng Đội qui tập mộ liệt sĩ Tỉnh đội Nghệ An. Anh em các đội qui tập đã lăn lộn hàng chục năm trời, băng qua rừng sâu, núi thẳm, vượt thác ghềnh, khí hậu thời tiết khắc nghiệt, giữa mùa đông giá lạnh, trong mùa khô đi cả ngày đường không tìm được một giọt nước, rồi thổ phỉ, thú rừng rình rập, trải qua biết bao khó khăn, gian khổ, nguy hiểm, đã tìm kiếm, cất bốc qui tập mộ hàng nghìn mộ liệt sỹ Quân tình nguyện Việt Nam trên đất Lào. Đồng chí Phạm Viết Hòa ở Đội qui tập Tỉnh đội Nghệ An đã hy sinh trong khi đang làm nhiệm vụ ngày 8 tháng 3 năm 1998 tại sông Xê Băng Hiêng, tỉnh Savanakhet. Đồng chí Đặng Văn Phúc, quê ở xã Cẩm Hưng, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà tĩnh, Đội trưởng Đội qui tập mộ liệt sĩ Tỉnh đội Đồng Nai có thành tích đặc biệt xuất sắc được tuyên dương Anh hùng. Các đội qui tập mộ liệt sĩ thuộc các tỉnh đội:  Nghệ An, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế được tuyên dương là Đơn vị Anh hùng. Phần đông cán bộ, chiến sĩ thuộc các đội qui tập mộ liệt sĩ đều được khen thưởng.
Nhiều lần tôi tham gia đón hài cốt liệt sĩ về an táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ Tây Trang (Điện Biên), Nghĩa trang Quốc tế Việt - Lào (Anh Sơn, Nghệ An), Nghĩa trang Liệt sĩ Hàm Rồng (Thanh Hóa), Nghĩa trang Liệt sĩ ở Nầm (Hương Sơn, Hà tĩnh), Nghĩa trang Liệt sĩ Đường 9 (Quảng Trị),…Khi nhìn những hài cốt liệt sĩ được chuyển về, nhiều hài cốt không còn nguyên vẹn, tôi ngậm ngùi xúc động đến nghẹn lòng. Hình ảnh những gương mặt thân thương quí mến của những người bạn chiến đấu năm xưa hiện về trong tôi. Họ là đồng đội cùng trang lứa với tôi trong những tháng ngày chiến tranh ác liệt. Họ hy sinh cho Tổ quốc khi tuổi đời còn rất trẻ. Hầu hết mới rời ghế học trò, chưa lập gia đình, tự nguyện ra đi chiến đấu vì tình yêu quê hương, Đất nước.
Tôi đã theo bước chân các anh em chiến sĩ còn độ tuổi thanh xuân vượt núi, leo rừng trở về chiến trường xưa để tìm kiếm mộ liệt sĩ trong những điều kiện vô cùng khó khăn, gian khổ. Nhiều đồng chí đã hy sinh tính mạng hoặc đã bị thương trong khi làm nhiệm vụ tìm kiếm, cất bốc, qui tập mộ trên các chiến trường.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:51:42 PM
 Bằng những suy tư, tình cảm sâu lắng, được chắt ra từ con tim, tự đáy lòng mình, cảm xúc dâng trào, với tiếng lòng nhắn nhủ anh linh những đồng đội đã hy sinh và sẻ chia với những người không quản ngại gian khổ, hy sinh trở về chiến trường xưa đi tìm đồng đội, tôi đã viết bài thơ:
             
               
LỜI NGƯỜI ĐI TÌM ĐỒNG ĐỘI

Chúng tôi trở về những cánh rừng xưa
Nơi cháy bỏng một thời chinh chiến
Nơi chất chứa vui buồn kỷ niệm
Đồng đội ơi!
                    Các anh nằm đâu?
Các anh nằm đâu giữa rừng rậm núi cao
Khi đất nước từng ngày đổi mới
Khi xuân sang thắm sắc hoa đào.
Trụi lá, rừng xưa nay đã xanh màu
Phía trước, phía sau
Miệng hố bom thù đã khép.
Vẹn nguyên tuổi xuân các anh
Quyện hòa cùng đất nước
Bao đêm trường mẹ thức
Khói hương nguyện các anh về
Mấy mươi năm từng hẻm phố, đường quê
Những vành môi đợi chờ héo úa
Những ánh mắt võ vàng khát khao ngày đoàn tụ
Mẹ già mái tóc bạc phơ.
Chúng tôi trở về những cánh rừng xưa
Thắp sáng niềm tin, chúng tôi tìm đồng đội
Trong thăm thẳm có người không trở lại
Sốt rét, đạn bom, thác lũ, thú rừng
Giữa thanh bình hiến trọn tuổi thanh xuân.
Lại trở về những cánh rừng xưa
Thắp sáng niềm tin, chúng tôi tìm đồng đội
Vai áo bạc, dép mòn đá núi
Đồng đội ơi! Các anh nằm đâu
                                    Đồng đội ơi !
                                                    Các anh nằm đâu?!


Trong một số lần đến thăm các đội qui tập mộ liệt sĩ, có lúc bên cạnh những hài cốt mới được qui tập về, tôi đã đọc bài thơ đó cho anh em cùng nghe. Nhiều lần, cả người đọc và người nghe đều ngẹn ngào, rưng rưng nước mắt.
Bài thơ này đã được Cục Chính sách dựng thành hoạt cảnh thơ trong lần Hội diễn văn nghệ quần chúng cơ quan Tổng cục Chính trị. Nhạc sĩ Minh Quang đã phổ nhạc và Đoàn Ca múa Tổng cục Chính trị đã trình diễn nhân kỷ niệm 60 năm Ngày Thương binh- Liệt sĩ (27/7/1947- 27/7/2007). Hôm Đoàn Ca múa Tổng cục Chính trị trình diễn ở Nhà hát lớn Hà Nội, tôi được mời lên sân khấu để nhận hoa của khán giả trong niềm vui xen lẫn sự ngẹn ngào.
 Bên cạnh những kết quả đạt được là rất lớn, số lượng tồn đọng chính sách chưa được giải quyết vẫn còn nhiều. Trong nhận thức của các cấp chưa thấy hết, chưa lường được đầy đủ qui mô khối lượng, tính chất khó khăn, phức tạp, đa dạng, nan giải của các vấn đề tồn đọng về chính sách sau chiến tranh; chưa lường hết những tác động nhiều chiều về chính trị, tư tưởng, tâm lý, kinh tế  - xã hội của vấn đề này. Còn có tư tưởng đơn giản, nóng vội trong việc đề ra chỉ tiêu, biện pháp giải quyết.Việc đầu tư lực lượng, ngân sách, vật tư, phương tiện, mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng chưa tương xứng với nhu cầu. Trong tổ chức thực hiện ở một số đơn vị, địa phương chưa quan tâm đúng mức nên chỉ đạo không kịp thời. Thêm vào đó, một số hiện tượng tiêu cực phát sinh trong tổ chức thực hiện làm cho tình hình phức tạp thêm.
Cũng là tồn đọng về chính sách sau chiến tranh, có mấy vấn đề nổi cộm lên, khá bức xúc trong nhiều năm, thì đến thời kỳ này đã giải quyết được một cách tốt đẹp. Đó là : chính sách đối với hàng vạn quân nhân phục viên ở Miền Bắc sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 ; chính sách đối với anh em “B trọc”, “ B trụ” trong kháng chiến chống Mỹ; việc tính toán để trả lại tiền gửi tiết kiệm của quân nhân trước khi đi B.
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, quân đội đã giải quyết cho 8 vạn quân nhân chuyển ra ngoài theo chế độ phục viên ( quân số thực tế sau này thực hiện chính sách còn cao hơn ). Đây là lớp người có nhiều cống hiến hy sinh trong suốt chín năm trường kỳ kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta. Nhưng vì điều kiện kinh tế tài chính của đất nước lúc bấy giờ vừa mới thoát ra khỏi chiến tranh còn muôn vàn khó khăn, nên chế độ quyền lợi đối với quân nhân phục viên là rất ít ỏi, hầu như không có gì đáng kể. Đến nay, lớp người đó đã già yếu, đời sống rất khó khăn. Vấn đề giải quyết chính sách đặt ra từ hàng chục năm rồi vẫn không triển khai được, vì có hai nguyên nhân cơ bản: về quan điểm, nhận thức và về khả năng ngân sách của Nhà nước. Về quan điểm, nhận thức, có ý kiến không đồng ý giải quyết lại, với lập luận cho rằng, đây là vấn đề của lịch sử, hãy giải quyết theo quan điểm lịch sử cụ thể. Nghĩa là, thuở đó tòng quân tham gia chiến đấu xuất phát từ lòng yêu nước, có giặc là đi đánh giặc, giặc tan thì trở về; cả bộ máy quân dân chính đảng lúc đó đều thực hiện chế độ bảo đảm cung cấp, chưa có chế độ tiền lương, phụ cấp. Nay đem ra giải quyết thì vô hình dung là cấp lương cho người đi đánh giặc- điều mà từ xưa ông cha ta chưa bao giờ làm. Về ngân sách Nhà nước bảo đảm thực hiện chế độ đối với đối tượng này với một số lượng rất lớn là chưa có khả năng.
Để bảo đảm sự công bằng của chính sách; góp phần hỗ trợ một phần đời sống của những quân nhân có cống hiến hy sinh nay tuổi cao sức yếu đời sống khó khăn; sau nhiều năm khảo sát nghiên cứu, Cục Chính sách đã chủ trì phối hợp với các cơ quan trong và ngoài quân đội giúp Bộ Quốc phòng trình Chính phủ ban hành chế độ đới với quân nhân tham gia kháng chiến chống Pháp, phục viên trong khoảng thời gian từ tháng 7-1954 đến tháng 12- 1960. Mức trợ cấp một lần được tính theo thời gian phục vụ quân đội của mỗi người. Chính sách này đã đem lại quyền lợi cho hơn 20 vạn người, giải quyết gọn trong mấy năm, được nhân dân và đối tượng chính sách hoan nghênh.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Nhà nước ban hành chế độ trợ cấp B cho những người có thân nhân ở hậu phương, bao gồm: cha mẹ đã hết tuổi lao động và con chưa đến tuổi lao động. Chế độ trợ cấp B cùng với các chính sách ưu đãi khác được thực hiện ở địa phương đã góp phần động viên quân nhân yên tâm chiến đấu ở chiến trường; đồng thời góp phần ổn định hậu phương trong chiến tranh. Trên thực tế có một tình hình là : nhiều quân nhân đi chiến đấu ở chiến trường B,C,K  mà không có thân nhân được hưởng trợ cấp B ( gọi nôm na là “B trọc”); và những quân nhân được quân đội giao nhiệm vụ ở lại Miền Nam bám trụ tiếp tục hoạt động cách mạng sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 (gọi nôm na là “B trụ”). Cả hai loại đối tượng này không được hưởng quyền lợi về tiền lương, phụ cấp, trợ cấp trong suốt thời gian tham gia chiến đấu ở chiến trường. Trong khi đó, nếu họ ở Miền Bắc thì được hưởng đầy đủ chế độ quyền lợi theo qui định. Đó là một điều không công bằng trong chính sách đãi ngộ, gây nên nhiều bức xúc, trong nhiều năm chưa giải quyết được.
 Sau một thời gia dài nghiên cứu khảo sát, Cục Chính sách đã giúp Bộ Quốc phòng trình Chính phủ ban hành chính sách, chế độ đối với quân nhân, cán bộ đi chiến trường B,C,K trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước không có thân nhân phải trực tiếp nuôi dưỡng ở Miền Bắc và quân nhân, cán bộ ở lại  hoạt động ở Miền Nam sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954. Chế độ được hưởng là tính theo thời công tác, chiến đấu tại chiến trường của mỗi người. Chế độ này đã đem lại quyền lợi cho hơn 16 vạn cán bộ. Với số tiền mỗi người được hưởng không lớn nhưng về ý nghĩa chính trị tinh thần là bảo đảm sự công bằng tương đối nên được mọi người hoan nghênh.
Trước đây, có nhiều quân nhân đi chiến đấu ở chiến trường B,C,K không có gia đình ở Miền Bắc đã gửi số tiền còn lại trước ngày lên đường vào Quỹ tiết kiệm. Các Sổ tiết kiệm đó do Cục Chính sách quản lý và trao lại anh em khi ra Bắc. Trong thời gian chiến tranh và sau khi giải phóng Miền Nam, nhiều người đã đến Cục Chính sách để lấy lại Sổ để nhận tiền ở các Quầy Tiết kiệm. Tuy nhiên, sự mất giá của đồng tiền và mức lãi suất tiết kiệm quá thấp, không tương thích với giá trị của đồng tiền khi gửi, thậm chi không bù đắp được các chi phí đi lại. Do đó, nhiều trường hợp không đến nhận. Thật là một sự thiệt thòi lớn đối với anh em.
Trước tình hình đó, chúng tôi đã bàn bạc trao đổi với cơ quan Ngân hàng, cơ quan Bộ Tài chính, thống nhất cách tính là: lấy số tiền lúc gửi của anh em qui ra gạo ở thời điểm đó ( tức là chia cho giá gạo trước đây 0,4 đồng/kg) rồi nhân với giá gạo theo thị trường hiện nay thành tiền gốc và tính lãi suất ngân hàng hiện nay trên số tiền đã được tính lại. Cách tính đó sau khi được lãnh đạo Ngân hàng Trung ương chấp thuận, tôi đã báo cáo và được anh Nguyễn Sinh Hùng Bộ trưởng Bộ Tài chính đồng ý. Cục Chính sách đã thông báo cho những quân nhân gửi tiền trước đây đến nhận lại Sổ tiết kiệm để nhận tiền.
Hồi ấy, nhũng cán bộ trực tiếp giúp Cục nghiên cứu đề nghị các nội dung chính sách trên đây là các anh Đỗ Quang Bích, Lê Sĩ Toàn, Đinh Công Cử, Đinh Mạnh Toan, Hàn Đức Chiến, Trần Minh và chị Hồ Thủy.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:52:52 PM
 Có một trường hợp cụ thể về giải quyết tồn đọng chính sách sau chiến tranh nhưng có ý nghĩa rất lớn. Đó là việc tìm kiếm, cất bốc mộ liệt sĩ Trung tướng Nguyễn Bình.
Nhiều năm sau giải phóng Miền Nam, gia đình Trung tướng Nguyễn Bình có nguyện vọng tha thiết tìm được mộ của ông. Đây là một việc rất khó vì Nguyễn Bình hy sinh từ giữa những năm kháng chiến chống Pháp trên đất Cămpuchia. Việc tìm kiếm cất bốc mộ Nguyễn Bình trở thành một vấn đề có ý nghĩa chính trị lớn. Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị giao cho Cục Chính sách đảm nhiệm.
Sau khi được giao nhiệm vụ, tôi đã trực tiếp nghiên cứu kỹ các tài liệu nói về cuộc đời, sự nghiệp của Nguyễn Bình, tìm gặp những nhân chứng từng tham gia chiến đấu, công tác - nhất là những người biết cụ thể về trường hợp hy sinh của Nguyễn Bình gần nửa thế kỷ trước. Nguyễn Bình là con người của lịch sử. Viết về Trung tướng Nguyễn Bình đã có nhiều sách báo. Ông sinh năm 1908 tại xã Giai Phạm, huyện Mỹ Văn, tỉnh Hưng Yên, hoạt động cách mạng từ năm 17 tuổi. Thời kỳ ban đầu với tên gọi là Nguyễn Phương Thảo, đảng viên Quốc Dân Đảng, ông hoạt động cách mạng ở Sài Gòn. Sau đó, ông bị địch bắt giam ở Côn Đảo. Trong  nhà tù thực dân đế quốc, do giác ngộ, ông đã cùng với Trần Huy Liệu, Mai Đắc Bân,…ly khai Quốc Dân Đảng, chuyển hướng hoạt động theo những người Cộng sản. Chính sự ly khai đó, ông bị những người Quốc Dân Đảng trả thù bằng cách móc một mắt bên trái. Ra tù, ông tiếp tục hoạt động cách mạng. Giữa năm 1945, ông là Tư lệnh Đệ tứ chiến khu Đông Triều. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, ông chỉ huy nghĩa quân và nhân dân giành chính quyền ở thị xã Quảng Yên  ngày 19 tháng 7 năm 1945. Đây là tỉnh lỵ được giải phóng đầu tiên trong cả nước. Sau Cách mạnh Tháng Tám 1945, ông được cử giữ chức Khu trưởng Khu Duyên hải Đông bắc (nay là Quân khu 3).
Tháng 10 tháng 1945, ông được Bác Hồ trực tiếp cử vào Nam Bộ với nhiệm vụ thống nhất các lực lượng vũ trang để chống Pháp. Hồi đó, ở Nam Bộ lực lượng vũ trang bị phân tán cát cứ manh mún tranh giành ảnh hưởng trong các đảng phái, tôn giáo. Bằng tài năng và uy tín của mình, Nguyễn Bình đã góp công lớn trong việc thống nhất được lực lượng vũ trang ở Nam Bộ thời kỳ đầu chiến tranh. Với cương vị được giao là Khu bộ trưởng Khu 7 rồi Tư lệnh Nam Bộ, Nguyễn Bình đã chỉ huy chiến đấu nhiều trận giành thắng lợi.
Ngày 20 tháng 1 năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Quyết định phong quân hàm cấp tướng đợt đầu tiên của quân đội ta gồm Đại tướng Võ Nguyên Giáp, một Trung tướng là Nguyễn Bình và 11 Thiếu tướng.
 Tháng 6 năm 1951, Nguyễn Bình được Trung ương triệu tập ra Bắc dự hội nghị. Đoàn tùy tùng có một số cán bộ và 22 chiến sĩ bảo vệ, xuất phát từ Tân Uyên xuyên qua vùng Đông Bắc Cămpuchia đi ra Bắc. Chiều ngày 29-9-1951, khi Đoàn dừng chân tại phum Kpal- RôMia, xã Sô-rê-pốc, tỉnh Stung-Treng, Nguyễn Bình  bị địch phục kích, hy sinh. Năm 1952, Nguyễn Bình được truy tặng Huân chương Quân công Hạng Nhất.
Được sự đồng ý của Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh quân đội Hoàng gia Cămpuchia; theo đề nghị của Cục Chính sách, ngày 24 tháng 2 năm 2000, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã ký quyết định cử Đoàn Công tác đặc biệt sang Cămpuchia để tìm mộ Trung tướng Nguyễn Bình. Đoàn có 14 người do Đại tá Đỗ Minh Nguyệt, Trưởng phòng Hậu phương Cục Chính sách dẫn đầu. Trong đoàn còn có Trung tá Hồ Ngọc Vận cán bộ Phòng Hậu phương Cục Chính sách,  Thiếu tướng Phùng Đình Ấm (Ba Cung) nguyên Đoàn phó Đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam tại Cămpuchia cùng một số cán bộ vốn là chiến sĩ trong Đoàn hộ tống Nguyễn Bình năm xưa. Bộ Quốc phòng còn điều một máy bay trực thăng cùng tổ lái thuộc Sư đoàn 372 - Quân chủng PKKQ làm nhiệm vụ chuyên chở. Được sự giúp đỡ của bộ đội, nhân dân Bạn, đặc biệt là nhân dân phum Kpal-RôMia, sau mấy ngày tìm kiếm, Đoàn công tác đặc biệt đã phát hiện được phần mộ Nguyễn Bình tại phum Kpal-Mia. Có người dân đi an táng Nguyễn Bình từ lúc còn rất trẻ nay đã là một cụ già nhưng họ vẫn nhớ khá cụ thể. Bởi vì từ đó đến nay nhân dân ở đây vẫn gọi ngôi mộ đó là mộ của lục-thum (ông lớn) và chăm sóc, không bị thất lạc.
Khi được anh Đỗ Minh Nguyệt và anh Hồ Ngọc Vận từ Cămpuchia điện về báo cáo kết quả đã tìm được mộ, chúng tôi lập kế hoạch báo cáo Tổng cục Chính trị và Bộ Quốc phòng tổ chức đón tiếp, lễ truy điệu, lễ an táng hài cốt Nguyễn Bình theo nghi thức cấp Nhà nước. Anh Phạm Thanh Ngân Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị giao cho Cục Chính sách viết dự thảo Lời Điếu thông qua Thủ trưởng Tổng cục Chính trị để báo cáo lên Bộ Quốc phòng.
Nghiên cứu lý lịch, đọc lại những quyển sách viết về Nguyễn Bình và nhất là tiếp xúc với những nhân chứng lịch sử, chúng tôi đã thể hiện Lời Điếu toát lên chân dung của Trung tướng Nguyễn Bình là một người cộng sản kiên trung, một tướng lĩnh quả cảm, nghĩa hiệp, giàu đức hy sinh, lòng dũng cảm và tài thao lược. Công lao và tên tuổi Trung tướng Nguyễn Bình mãi ngời sáng.
Ngày 11 tháng 3 năm 2000, Đảng ủy Quân sự Trung ương - Bộ Quốc phòng; Đảng ủy- Bộ Tư lệnh Quân khu 7; Thành ủy, HĐND, UBND thành phố Hồ Chí Minh đã trọng thể tổ chức lễ viếng và lễ an táng hài cốt Trung tướng Nguyễn Bình ở Nghĩa trang Liệt sĩ thành phố Hồ Chí Minh. Trong không khí trang nghiêm của buổi lễ, Thượng tướng Phạm Văn Trà Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã long trọng đọc lời điếu. Với tấm lòng cảm phục và biết ơn Trung tướng Nguyễn Bình, đại diện cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể, ban ngành, đồng chí đồng đội và tầng lớp nhân dân thành phố Hồ Chí Minh cùng các địa phương Nam Bộ đến dự lễ viếng. Sau gần nửa thế kỷ yên nghỉ trên đất Bạn, do hoàn cảnh lịch sử, đến lúc đó Nguyễn Bình mới về trong lòng đất mẹ Tổ quốc.
Một thời gian ngắn sau đó, Trung tướng Nguyễn Bình đã được Nhà nước truy tặng các phần thưởng cao quí : Huân chương Hồ Chí Minh và Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Bao giờ cũng vậy, biến quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước thành nội dung chính sách cụ thể và đưa nội dung chính sách đó vào cuộc sống, thành quyền lợi thiết thực trực tiếp của đối tượng chính sách, phải thông qua vai trò của những tập thể và những con người cụ thể - đó là đội ngũ cán bộ làm công tác chính sách. Việc xây dựng Cục Chính sách và ngành chính sách trong quân đội thời kỳ này đạt được những kết quả tốt. Công tác chính sách bao gồm hoạt động nghiên cứu đề đạt ban hành chính sách; hoạt động tổ chức thực hiện chính sách; hoạt động quản lý, kiểm tra chấp hành chính sách. Cục Chính sách với tư cách là cơ quan chức năng đầu ngành về công tác chính sách trong quân đội, có ba chức năng cơ bản: Một là, tham mưu cho Tổng cục Chính trị và Bộ Quốc phòng nghiên cứu, tham gia nghiên cứu đề đạt chính sách, chế độ đối với quân đội, hậu phương quân đội và các chính  sách khác có liên quan; Hai là, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra các đơn vị triển khai tổ chức thực hiện các nội dung chính sách đã ban hành; Xây dựng Cục vững mạnh toàn diện, đồng thời trực tiếp một số khâu trong tổ chức thực hiện nội dung chính sách theo phân công, phân cấp.
Trước hết, với vai trò là Cục trưởng, tôi và các anh Cục phó Phạm Lam, Đỗ Quang Bích cùng tập thể Đảng ủy Cục đã tập trung lãnh đạo nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác nghiên cứu xây dựng chính sách. Thực tiễn cho thấy, vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu đề đạt nội dung chính sách là rất quan trọng. Trên cơ sở quán triệt đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng, Nhà nước; nắm vững tình hình thực tiễn, những vấn đề đặt ra về mặt chính sách đối với yêu cầu xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng và ổn đinh hậu phương quân đội; công tác nghiên cứu đã có nhiều cố gắng trong việc biên soạn xây dựng các nội dung chính sách đề nghị trên ban hành. Việc nghiên cứu xây dựng chính sách được đặt trong một kế hoạch cơ bản và thống nhất. Kết hợp những vấn đề cơ bản lâu dài với những vấn đề cấp bách trước mắt. Vừa xử lý những vấn đề tồn đọng do hậu quả chiến tranh hơn ba chục năm để lại, vừa triển khai nghiên cứu những vấn đề mới theo yêu cầu xây dựng quân đội cách mạng, chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại trong tình hình mới. Theo phạm vi đảm nhiệm, Cục Chính sách chủ trì nghiên cứu chế độ, chính sách đãi ngộ đối với quân đội, hậu phương quân đội; đồng thời đã tích cực tham gia nghiên cứu các chính sách có liên quan do các Bộ, ban ngành của Nhà nước hoặc các cơ quan trong quân đội nghiên cứu ban hành, do đó, bảo đảm các chế độ chính sách đó giữ được trong mối quan hệ cân đối chung, nhất quán và công bằng. Yêu cầu đối với cán bộ đảm nhiệm công tác nghiên cứu chính sách là phải có trình độ chính trị - quân sự theo yêu cầu trong quân đội; có trình độ hiểu biết tương đối rộng về khoa học xã hội, nhân văn, về các chính sách kinh tế - xã hội; có phương pháp nghiên cứu khoa học thực tiễn, tích lũy được kinh nghiệm; có khả năng biên soạn các văn kiện về các nội dung chính sách. Đồng thời với năng lực thông qua tích lũy học tập, qua báo cáo của cơ quan chính sách cấp dưới, ý kiến đề đạt của của các cơ quan chức năng, muốn nắm thật chắc, đề đạt đúng và trúng nội dung, cán bộ nghiên cứu chính sách phải thâm nhập thực tế, khảo sát tình hình để hiểu được điều kiện môi trường hoạt động và những nhu cầu bức thiết của đối tượng chính sách.
Hồi đó tôi đã cùng với nhiều cán bộ nghiên cứu chính sách đi nhiều nơi, trực tiếp đến các lực lượng thuộc Quân chủng Hải quân (cả ven bờ, trên tàu và ngoài đảo); hầu hết các căn cứ sân bay quân sự từ Bắc vào Nam để khảo sát nhiệm vụ đặc thù và những nhu cầu của phi công và thợ kỹ thuật đối với các loại máy bay chiến đấu thuộc Quân chủng Phòng không - Không quân; một số nhà máy thuộc Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng và một số kho cất chứa vũ khí đạn dược thuộc Cục Quân khí-Tổng cục Kỹ thuật; đến một số đơn vị xe tăng- thiết giáp, đến các đơn vị công binh xây dựng các công trình quốc phòng; một số đồn biên phòng và một số đơn vị đóng quân trên biên giới, hải đảo xa. Đó cũng là sự trải nghiiệm cần thiết để tăng thêm chất liệu, vốn sống của cán bộ nghiên cứu chính sách chúng tôi.
Thời kỳ này, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy, Thủ trưởng Cục; bằng sự nỗ lực phấn đấu học tập rèn luyên trong thực tế công tác của mỗi người, Cục Chính sách đã có được một đội ngũ cán bộ có phẩm chất tốt, trách nhiệm chính trị cao và có khả năng tương đối toàn diện như: Đinh Công Cử, Đinh Mạnh Toan, Đỗ Minh Nguyệt, Lê Sĩ Toàn, Hàn Đức Chiến, Lê Thế Hải, Đỗ Văn Sử, Hoàng Đức Cân, Trần Văn Minh, Hồ Ngọc Vận, Hồ Thủy, Nguyễn Bá Bồng, Vũ Minh Tiến, Đặng Việt Tiến, Trần Quốc Dũng,…
Chính sách là một lĩnh vực công tác liên quan đến nhiều ngành, nhiều cơ quan. Trong suốt quá trình nghiên cứu đề đạt chính sách, Cục Chính sách chúng tôi đã nhận được sự phối hợp, giúp đỡ tích cực, có hiệu quả của lãnh đạo và cán bộ chuyên trách của các cơ quan hữu quan trong, ngoài quân đội. Trong quân đội thì có Cục Cán bộ, Cục Quân lực, Cục Tài chính, Cục Quân y, Văn phòng Tổng cục Chính trị, Văn phòng Bộ Quốc phòng và nhiều cơ quan khác. Ngoài quân đội thì có Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Ban Thi đua khen thưởng Trung ương, Văn phòng Chính phủ, Ban Tổ chức Trung ương,…
Sau khi đã có nội dung chính sách, việc tổ chức thực hiện giữ vai trò rất quan trọng có ý nghĩa quyết định thắng lợi của chính sách. Kinh nghiệm cho thấy, có lúc có một số chế độ chính sách được ban hành chính xác, nhưng do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan tổ chức thực hiện không đúng, không kịp thời đã hạn chế vai trò ý nghĩa của chính sách, tác động không tốt đến tình cảm, tư tưởng của đối tượng chính sách và nhân dân. Dưới sự lãnh đạo của trên, Cục Chính sách đã triển khai chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức thực hiện chính sách được chính xác kịp thời, đưa các nội dung chính sách vào thực tiễn, biến các chế độ qui định trên văn bản của Nhà nước và quân đội thành quyền lợi cụ thể của đối tượng chính sách. Cán bộ, nhân viên trong Cục đã không ngừng nâng cao trách nhiệm chính trị và tình cảm trong chỉ đạo hướng dẫn tổ chức thực hiện cũng như trực tiếp tổ chức thực hiện chính sách.
Trong chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra đôn đốc việc tổ chức thực hiện chính sách, có nhiều cán bộ xông xáo nhiệt tình, có chất lượng và hiệu quả công tác tốt như: Đỗ Minh Nguyệt, Nguyễn Xuân Duyệt, Trần Hữu Đạt, Vũ Thược, Lê Minh Khuê, Nguyễn Tuấn Năng, Nguyễn Văn Tinh, Lê Đại Hiệp, Hoàng Đức Cân, Phan Mạnh Hùng, Đỗ Quốc Công, Lê Quang, Hồ Ngọc Vận, Tạ Đình Đại, Phạm Văn Chung, Trần Tiến, Hoàng Thị Dung,…
Thông qua việc tổ chức thực hiện, trực tiếp tiếp xúc với đối tượng chính sách, cán bộ càng hiểu đầy đủ hơn ý nghĩa đích thực của chính sách; đồng thời phát hiện được những vấn đề bất hợp lý cả về nội dung cũng như qui trình, thủ tục triển khai của các chế độ đã ban hành để tiếp tục nghiên cứu đề nghị bổ sung sửa đổi trong điều kiện mới. Việc nghiên cứu xây dựng nội dung chính sách bao giờ cũng phải lường hết mọi vấn đề trong tổ chức thực hiện. Thời kỳ này những cán bộ chủ chốt trong các phòng nghiệp vụ vừa đảm nhiệm công tác nghiên cứu vừa chịu trách nhiệm hướng dẫn theo dõi việc tổ chức thực hiện chính sách theo từng chuyên đề.
Nhờ có chính sách đúng, tổ chức thực hiện kịp thời, đúng đủ, chu đáo, công tác chính sách đã phát huy hiệu quả tích cực, góp phần xứng đáng vào yêu nhiệm vụ xậy dựng quân đội, củng cố quốc phòng, ổn định hậu phương quân đội.
Trong thời kỳ đổi mới, nhiều nội dung chính sách được ban hành, đòi hỏi cán bộ chính sách các cấp phải nắm vững để tổ chức thực hiện. Với tinh thần kịp thời phổ cập nội dung chính sách, bắt đầu từ năm 1992 trở đi, cứ hai năm một lần, Cục Chính sách đã tiến hành tập huấn cán bộ chính sách toàn quân. Năm 1992 tập huấn ở Đoàn 295 Đồ Sơn- Hải Phòng. Năm 1994 tập huấn ở T67 thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1996 tập huấn ở Đoàn 296 Sầm Sơn - Thanh Hóa. Năm 1998 tập huấn ở Đoàn 40B- Huế. Năm 2000 tập huấn ở Nha Trang - Khánh Hòa. Trước mỗi lần tập huấn, từng Phòng nghiệp vụ phân công cán bộ chuẩn bị kỹ đề cương; với yêu cầu đúng, đủ, hấp dẫn, có liên hệ với thực tế phong phú, sinh động; các trưởng phòng rồi Thủ trưởng Cục thông qua theo phạm vi phụ trách. Sau đó, tổ chức giới thiệu cho anh em trong Cục nghe trước để  anh em bình giảng, góp ý bổ sung hoàn thiện đề cương. Với cách làm đó, nội dung giới thiệu đạt chất lượng tốt.
Kết quả thu được qua các lần tập huấn phổ cập nội dung chính sách là nâng cao trình độ nghiệp vụ; đồng thời  giao lưu nghiên cứu trao đổi kinh nghiệm trong tổ chức thực hiện chính sách giữa các đơn vị. Thông qua đó, xây dựng ngành chính sách trong mối quan hệ chặt chẽ cả về nghiệp vụ chuyên môn, cả về tình cảm gắn bó.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:53:35 PM
Tháng 9 năm 1994, tôi được triệu tập về học lớp đào tạo ngắn hạn tại Học viện Quốc phòng. Thời gian học sáu  tháng. Chương trình học là khối kiến thức chỉ huy tham mưu binh chủng hợp thành cấp chiến dịch - chiến lược. Giám đốc Học viện là Trung tướng Nguyễn Hải Bằng, Phó Giám đốc về Chính trị là Thiếu tướng Lê Văn Dương. Ngoài thời gian học tại Học viện, chúng tôi còn được đi tập bài trên thực địa ở các khu vực xa. Cùng khóa học với tôi ngày đó, sau này có nhiều người trở thành cấp tướng: Phó Đô đốc Nguyễn Văn Hiến, Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân chủng Hải quân; Thiếu trưởng Trịnh Ngọc Huyền, Tư lệnh Bộ đội Biên phòng; Trung tướng Trần Nam Phi, Tổng cục phó Tổng cục 2; Trung tướng Nguyễn Phúc Hoài, Cục trưởng Cục Bảo vệ An ninh quân đội; Trung tướng Chu Tiến Cường, Cục trưởng Cục Quân y; Thiếu tướng Nguyễn Vĩnh Phú, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần; Thiếu tướng Nguyễn Minh Đức, Phó chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật; Thiếu tướng Nguyễn Văn Dũng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần…
Mười năm sau, năm 2005, tôi trở lại Học viện Quốc phòng dự lớp Bồi dưỡng kiến thức quốc phòng an ninh dành cho cán bộ cao cấp trong và ngoài quân đội, trong một thời gian ngắn. Lớp bồi dưỡng đó có đến mười Ủy viên Trung ương Đảng, mười Bộ trưởng, mười Bí thư tỉnh ủy và hai mươi sĩ quan cấp tướng thuộc Bộ Quốc phòng và Bộ Công an.
Cùng với việc triển khai tổ chức thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, những năm 90 của thế kỷ trước, hệ thống cơ quan chính sách được kiện toàn, củng cố cả về số lượng, chất lượng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới (thành lập Phòng Bảo hiểm xã hội - Cục Chính sách; phòng chính sách ở các tổng cục, ban chính sách ở các đơn vị trực thuộc Bộ). Thường xuyên quán triệt và vận dụng sáng tạo đường lối chủ trương của  Đảng, Nhà nước mà trực tiếp là Nghị quyết của Đảng ủy Quân sự Trung ương, chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị về nhiệm vụ quân sự và quốc phòng, lãnh đạo, chỉ huy Cục Chính sách đã triển khai thực hiện công tác chính sách đạt được nhiều kết quả tốt.
Trong điều kiện mới, tình hình kinh tế - xã hội tiếp tục có những biến đổi; yêu cầu xây dựng quân đội; đặc điểm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đặt ra những vấn đề mới. Do đó, cần phải tìm ra những yêu cầu và giải pháp cơ bản để tiếp tục đổi mới chính sách đãi ngộ đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng trong tình hình mới. Xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ cả về trước mắt và cơ bản lâu dài, năm 1996, Cục Chính sách được Tổng cục Chính trị giao triển khai nghiên cứu đề tài cấp Bộ Quốc phòng: “Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chính sách đãi ngộ đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng trong thời kỳ mới”, mang mã số KXB-96-08, thuộc Chương rình Nhà nước KXB-96. Tôi vinh dự được phân công làm Chủ nhiệm đề tài, anh Trần Minh làm thư ký đề tài. Thành viên Ban đề tài còn có các anh : Đinh Công Cử,  Hàn Đức Chiến, Lê Thế Hải. Từ năm 1996 đến năm 1998, đề tài đã được triển khai nghiên cứu công  phu. Ban đề tài chúng tôi đã trải qua rất nhiều trăn trở, suy nghĩ từ nghiên cứu lý luận xây dựng đề cương đến biên tập, khảo sát nghiên cứu tình hình thực tiễn; đã cố gắng tranh thủ ý kiến tham gia của nhiều chuyên gia là các nhà quản lý, các nhà khoa học và đội ngũ cộng tác viên trong và ngoài quân đội; tiến hành điều tra xã hội học trên diện rộng. Nội dung đề tài đã tiếp thu và gắn kết với kết quả nghiên cứu của Chương trình KXB-96. Trên cơ sở kế thừa những công trình khoa học hiện có, với phương pháp kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn, đề tài đã luận giải trên phương diện lý luận và thực tiễn về vai trò, vị trí của chính sách trong việc đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng ; Phân tích thực trạng chính sách và mối quan hệ của chính sách đối với các lĩnh vực khác, dự báo xu hướng vận động của nó trong thời gian tới; Xác định nội dung và giải pháp tiếp tục đổi mới, hoàn thiện nội dung chính sách trong tình hình mới.
Tháng  12 năm 1998, Hội đồng khoa học Bộ Quốc phòng đã nghiệm thu và đánh giá đề tài có chất lượng cao, đạt loại xuất sắc. Sau khi được nghiệm thu, kết quả của đề tài đã góp phần rất quan trọng trong việc nghiên cứu xây dựng đề đạt nội dung chính sách  cũng như chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác chính sách.
Thời kỳ đó, trong chỉ huy Cục phân công: Tôi với cương vị Cục trưởng chịu trách nhiệm điều hành chung, đồng thời trực tiếp phụ trách công tác nghiên cứu. Anh Phạm Lam, Cục phó phụ trách công tác khen thưởng, vật tư và nội bộ. Anh Đỗ Quang Bích, Cục phó phụ trách công tác thương binh- liệt sĩ và hậu phương quân đội. Sau đó, tháng 2 năm 1996, anh Phạm Lam nghỉ hưu theo chế độ. Đến tháng 12 năm 1997, Bộ Quốc phòng điều động anh Đồng Quốc Sự, Chủ nhiệm chính trị Quân đoàn 2 về giữ chức Cục phó.

 Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Thủ trưởng Tổng cục Chính trị và Đảng ủy cơ quan Tổng cục Chính trị, Cục Chính sách đã thường xuyên giữ vững đoàn kết, xây dựng đảng bộ trong sạch vững mạnh, xây dựng cơ quan vững mạnh toàn diện; quan hệ chặt chẽ với các ngành hữu quan; tranh thủ sự lãnh đạo của cấp ủy , chính quyền các cấp; tăng cường công tác kiểm tra, bám sát cơ sở; xây dựng tinh thần trách nhiệm; tu dưỡng phẩm chất đạo đức, không ngừng nâng cao trình độ nghiệp vụ, quan điểm, phương pháp, tác phong công tác cho đội ngũ cán bộ làm công tác chính sách. Trong một thời gian dài, nội bộ Cục đoàn kết thống nhất, hoàn thành tốt nhiệm vụ - có nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc. Liên tục trong nhiều năm liền, Cục được Chính phủ, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị,…khen thưởng với nhiều hình thức.
Đây cũng là thời kỳ Cục có phong trào văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao sôi nổi. Những hoạt động đó đã góp phần tạo nên bầu không  khí làm việc, học tập, sinh hoạt của toàn Cục vui vẻ đoàn kết phấn khởi. Là Cục trưởng lại là Bí thư Đảng ủy Cục (một nhiệm kỳ), công việc khá bận, nhưng để góp phần lôi cuốn đẩy mạnh phong trào chung, tôi trực tiếp tham gia cả thể thao lẫn văn nghệ. Nhiều anh em cũng vậy. Hồi đó, Cục Chính sách thành lập một đội bóng đá, thi đấu tốt, năm 1996 được giải nhì trong giải bóng đá cơ quan Tổng cục Chính trị. Trong các lần hội diễn văn nghệ quần chúng cơ quan Tổng cục Chính trị, các tiết mục thơ, hát, kịch tự biên, tự diễn của Cục đều được giải. Với ý định  vừa nói lên chiến thắng và những hy sinh to lớn để giành chiến thắng của nhân dân ta, đồng thời qua đó phản ánh những mặt công tác của Cục Chính sách, tôi đã viết bài thơ:


                     
ĐẤT NƯỚC TA

Đất nước ta bao năm ròng binh lửa
“Ai đếm nổi khăn tang
Ai đong máu chiến trường”*
Ai tính hết số làng quê chìm dưới đạn bom
Chiến thắng - hy sinh quyện hòa cùng
                                                             lịch sử.

Bao mẹ già đau đáu ngóng tin con
Người vợ trẻ trông mong chồng mòn mỏi
Biết bao người ra đi, xiết bao người chờ đợi
Chiến thắng rồi… ngày đoàn tụ lùi xa!
Đất nước ta bao năm ròng binh lửa
Chiến thắng quang vinh ra ngõ gặp
                                                        Anh hùng
Pháo đài đó từng làng quê góc phố
Bình dị đơn sơ mà miển hách chiến công.

Đất nước ta nay dẫu đã thanh bình
Kẻ thù đó vẫn rập rình trong nhà ngoài ngõ
Chắc tay súng giữ biển trời, biên cương
                                                     và vững bền chế độ
Khúc quân hành vang mãi
                                        TIẾN QUÂN CA.


*Thơ Viễn Phương.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:54:08 PM
Trong các tiết mục tự biên, tự diễn của Cục Chính sách, có bài hát “Bài ca người lính nghĩa tình”  nhạc An Thuyên, ý thơ của tôi. Ca từ là:

 Chúng tôi là những người lính nghĩa tình
 Luôn chung vui chiến công đồng đội
 Ngàn dặm xa từ Bắc vô Nam
Gian khó đâu nào ngại chi
 Bởi chúng tôi là người lính nghĩa tình.
 Ai chiến đấu sa trường
 Về hậu phương áo chăn chưa ấm
 Chiến tranh đã lùi xa mà cuộc đời vết thương chưa lành
 Tay ta thắp ngọn đèn rọi niềm tin đất nước
 Có chúng tôi bên người, chia bớt đi nỗi buồn, Mẹ ơi!

Chúng tôi vì một lẽ công bằng
 Không nguôi quên khúc ca một thời
 Người người ơi Tổ quốc ghi công
 Để con cháu mình ngày mai
 Được sống trong tình và nghĩa ta dựng xây.
Khi tới các chiến trường, cùng đồng đội tiến lên phía trước
 Nay trở về hậu phương,  làm phần việc các anh trao lại
 Dân với nước chung hòa vì ngày mai tươi sáng
 Có chúng tôi góp phần
 Khúc quân ca trong ngần… nghĩa tình.

 Hầu như mọi cán bộ, nhân viên trong Cục Chính sách ở thời kỳ ấy đều thuộc bài hát này. Anh chị em nói vui với nhau rằng, đó là bài “Cục ca”. Tiết mục này được Cục Chính sách lựa chọn qua nhiều mùa Hội diễn văn nghệ quần chúng cơ quan Tổng cục Chính trị.

Nhìn chung lại, trong hơn mười năm Đổi Mới, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy Quân sự Trung ương - Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị, Cục Chính sách đã nghiên cứu, tham gia nghiên cứu xây dựng tương đối toàn diện các chính sách chế độ đối với quân đội, hậu phương quân đội theo đúng đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước. Quan điểm, nguyên tắc, phương pháp nghiên cứu xây dựng nội dung và tổ chức thực hiện chính sách từng bước được hoàn thiện phù hợp với cơ cấu và cơ chế kinh tế mới, chú trọng động viên nhân tố chính trị tinh thần với khuyến khích lợi ích vật chất. Các chính sách về tiền lương, phụ cấp, so với trước đã được cải tiến hợp lý hơn, cải thiện một bước đời sống của sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên chức quốc phòng, từ đó góp phần tạo động lực yên tâm phục vụ quân đội; đồng thời khuyến khích thanh niên hăng hái vào phục vụ quân đội. Các chính sách về ưu đãi xã hội, bảo hiếm xã hội được luật pháp hóa khá đồng bộ, cơ bản và có nhiều ưu điểm hơn. Chính sách hậu phương quân đội từng bước được kết hợp giữa pháp luật hóa với xã hội hóa. Các vấn đề tồn đọng về chính sách sau chiến tranh được các cơ quan, ngành, địa phương triển khai giải quyết tích cực, giải quyết được một khối lượng rất lớn. Kết quả đó tạo ra cơ sở pháp lý để thực hiện chính sách ở các địa phương, đem lại quyền lợi tinh thần ,vật chất cho hàng chục vạn đối tượng chính sách, đã góp phần làm vơi đi, dịu đi nỗi đau, sự mất mát hy sinh của biết bao gia đình. Cơ quan và đội ngũ cán bộ làm công tác chính sách được kiện toàn, củng cố một bước quan trọng. Công tác nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn về chính sách đối với quân đội, hậu phương quân đội được chú trọng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Sau khi hai Nhà nước bình thường hóa quan hệ, Hội Cựu Chiến binh Mỹ tham gia chiến  tranh Việt Nam (VVA) đã tổ chức nhiều đoàn sang thăm nước ta.  Nhằm khai thác thêm các kênh thông tin góp phần giải quyết những tồn đọng về chính sách sau chiến tranh chống Mỹ, lãnh đạo Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị đã giao cho Cục Chính sách nhiều lần gặp gỡ tiếp xúc với các đoàn Đại biểu Cựu chiến binh Mỹ tham gia chiến tranh Việt Nam (VVA) để tiếp nhận các tài liệu, hiện vật có liên quan đến bộ đội ta hy sinh mà các cựu chiến binh Mỹ tham chiến Việt Nam nắm được.
Trong các lần tiếp xúc với phía Mỹ (VVA), cùng với việc trao đổi cung cấp thông tin, có lúc giữa hai bên cũng tranh luận với nhau trên một số điểm trong cách nhìn nhận các vấn đề thuộc về quan điểm, nhận thức. Đó cũng là điều dễ hiểu.
Tôi nhớ, ngày 18 tháng 5 năm 1994, lần tiếp xúc làm việc đầu tiên giữa Cục Chính sách với Đoàn VVA  tại nhà khách Bộ Quốc phòng, 33- Phạm Ngũ Lão- Hà Nội. Phía VVA có ông Jimbradi trưởng đoàn và 14 thành viên khác. Về phía ta, cùng phối hợp với Cục Chính sách, còn có anh Vũ Xuân Hồng, Phó Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị của Việt Nam, cán bộ Cục Đối ngoại – Bộ Quốc phòng và cán bộ một số cơ quan khác có liên quan.
Bước vào buổi tiếp xúc, sau lời chào mừng có tính chất xã giao của cả hai bên, ông Jimbradi trưởng đoàn VVA của Mỹ trịnh trọng tuyên bố:
- Thưa ông Nguyễn Mạnh Đẩu, Cục trưởng Cục Chính sách - Bộ Quốc phòng Việt Nam!  Trong chiến tranh, chúng ta là kẻ thù của nhau. Còn bây giờ, khi hai bên đã bình thường hóa quan hệ, mong các ông đừng coi chúng tôi là kẻ thù nữa. Trước đây, khi là người lính trên chiến trường, tôi nghĩ, chúng ta chỉ là tay sai làm bia đỡ đạn của các thế lực chính trị từ hai phía.
Tôi đứng dậy nghiêm giọng trả lời:
- Thưa ông Jimbradi ! Thưa các ông trong đoàn! Từ ngàn xưa đến nay, dân tộc chúng tôi không bao giờ tự nhận mình là kẻ thù của ai cả. Một thế lực nào đó, khi họ xâm lược, can thiệp và reo rắc đau thương lên đất nước Việt Nam, thì họ là kẻ thù  của chúng tôi. Nhưng khi họ đã thất bại, đầu hàng, không còn là mối nguy hại trực tiếp đến chúng tôi nữa, thì nhân dân chúng tôi không còn coi họ là kẻ thù. Lịch sử của dân tộc chúng tôi đã chứng minh điều đó.
Ông nói đúng. Quân nhân Mỹ trong chiến tranh là vật hy sinh cho bộ máy chiến tranh xâm lược. Còn chúng tôi, người lính đi chiến đấu là tự nguyện. Mục tiêu chiến đấu rất rõ ràng là chống xâm lược, giải phóng quê hương đất nước, giành và giữ độc lập cho Tổ quốc,  bảo vệ cuộc sống của nhân dân. Họ không phải là tay sai của bất cứ thế lực chính trị nào cả.
Tôi vừa dứt lời, Jimbradi nói:
- Thưa ông Nguyễn Mạnh Đẩu, chúng ta không luận bàn về nguyên nhân, tiến trình và kết cục của chiến tranh nữa. Giờ đây hai nước đã bình thường hóa quan hệ. Chúng ta hãy cùng nhau khép lại quá khứ, hướng tới tương lai.
Tôi trả lời:
- Chiến tranh kết thúc, bình thường hóa quan hệ giữa hai nước và hướng tới tương lai là nhu cầu tất yếu, khách quan. Nhưng cũng phải hiểu đúng vấn đề khép lại quá khứ. Với dân tộc Việt Nam chúng tôi, trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm, có một quá khứ hào hùng luôn luôn tỏa sáng. Quá khứ đó được đắp bồi bằng xương máu, công tích qua bao thế hệ người Việt Nam. Đó là truyền thống oanh liệt, niềm tự hào, là bài học vô giá, là điểm tựa muôn đời cho con cháu, bây giờ và mai sau. Với ý nghĩa đó, chúng tôi không bao giờ khép lại quá khứ. Nhưng đó là chuyện đại sự. Còn bây giờ, gặp nhau ở đây, trên cương vị mới, trong khung cảnh khác, chúng ta cần trao đổi cung cấp thông tin cho nhau từ hai phía để tìm hài cốt đã mất trong chiến tranh của đồng đội các ông, đồng đội chúng tôi. Tôi cho rằng, đây không chỉ là vấn đề chính trị, mà còn là vấn đề nhân đạo, nhân văn.
Tôi nói xong, cả hai bên chuyển sang bàn bạc, trao đổi các vấn đề cụ thể.
Trong nhiều lần tiếp xúc, phía Mỹ (VVA) đã cung cấp cho Cục Chính sách một khối lượng lớn hồ sơ mà họ nắm được có liên quan đến sự hy sinh của bộ đội ta trong chiến tranh trên các chiến trường. Cục Chính sách đã triển khai khai nghiên cứu khai thác và đạt được một số kết quả nhất định trong công tác tìm kiếm cất bốc qui tập mộ liệt sĩ.

Nhận lời mời của Phó Trợ lý Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ R.Jones (trong quân đội Mỹ, Trợ lý Bộ trưởng là Thứ trưởng); chấp hành Chỉ thị của Thủ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Đoàn công tác nghiên cứu hồ sơ liên quan đến việc tìm kiếm chiến sĩ ta hy sinh, mất tích trong chiến tranh đã sang làm việc tại Mỹ từ ngày 20 tháng 8 năm 1999 đến ngày 29 tháng 8 năm 1999. Đoàn có các thành viên: Tôi; Huỳnh Trọng Tuấn, Thiếu tá, cán bộ Cục Bảo vệ An ninh- Tổng cục Chính trị; Nguyễn Thế Công, Trung tá, Trưởng phòng, Cục A35 - Bộ Công an; Vũ Việt Dũng, cán bộ Vụ Châu Mỹ - Bộ Ngoại giao. Thủ trưởng Bộ Quốc phòng chỉ định tôi làm Đoàn trưởng.
Từ khi bình thường quan hệ giữa hai nước đến lúc đó, Bộ Quốc phòng nước ta đã cử hai đoàn sang Mỹ công tác: Đoàn của Trung tướng Trần Hanh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng và của Đại tá Vũ Tần, Cục trưởng Cục Đối ngoại - Bộ Quốc phòng. Như vậy, chúng tôi là đoàn thứ ba.
 Chiều 18 tháng 8 năm 1999, chúng tôi gặp Trung tá Miller, Tùy viên Quân sự Mỹ thuộc Đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam ở 33A Phạm Ngũ Lão- Hà Nội để xác định chương trình nội dung công tác ở Mỹ.
11giờ 45 phút ngày 20 tháng 8 năm 1999, Đoàn rời Hà Nội đi Mỹ. Sau các chặng dừng ở Băng Cốc - Thái Lan; Tokyo-Nhật Bản; Chicago-Mỹ, 21 giờ ngày 21 tháng 8 năm 1999, Đoàn tới sân bay Washington / Reagan. Ra đón chúng tôi có anh Đỗ Văn Nghị, Trung tá, Phó phòng tùy viên quân sự Việt Nam tại Mỹ. Tôi đã quen biết anh Nghị từ năm 1993, khi tôi sang công tác ở Ấn Độ. Anh Nghị giới thiệu với tôi, phía Mỹ ra đón có ông DesTas đại diện cho Văn phòng người Mỹ mất tích (DPMO) và Huy Tuấn, Đại úy, là Việt kiều phục vụ trong quân đội Mỹ. Chúng tôi về nghỉ tại khách sạn Embassy Suite. Khi vừa đặt chân tới khách sạn, ông DesTas thông báo với tôi:
- Đề nghị bổ sung vào chương trình là bố trí 9 giờ sáng 22 tháng 8, việc đầu tiên là Đoàn sẽ đến viếng Bia Tưởng niệm ghi tên những quân nhân Mỹ tử trận trong chiến tranh Việt Nam; việc này phía Mỹ đã thông báo cho các hãng thông tin của Mỹ và quốc tế sẽ tiến hành ghi hình, viết bài để đưa tin.
Tôi nghĩ rằng, đây là một vấn đề nhạy cảm và tế nhị, lại nằm ngoài kế hoạch đã thống nhất giữa hai bên từ Hà Nội. Vì vậy, tôi nói rằng:
- Trong thời gian công tác tại Mỹ, chúng tôi nhất định sẽ đến tham quan Bia Tưởng niệm. Nhưng căn cứ vào mục đích chuyến công tác, thì đó không phải là việc đầu tiên sang Mỹ.
Sau một lúc ý kiến qua lại, phía Mỹ chấp thuận.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:54:26 PM
 Mặc dù trải qua một chặng hành trình dài khá mệt mỏi, được bố trí nghỉ trong một khách sạn đầy đủ tiện nghi, rất yên tĩnh, nhưng đêm đầu tiên ở nước Mỹ, tôi khó ngủ, lòng ngổn ngang nhiều cảm xúc. Vì trách nhiệm với công việc, trước anh linh của những đồng đội đã khuất, chúng tôi được cử đến tận nơi đây, một thời là trung tâm phát động cuộc chiến tranh xâm lược; sẽ tiếp xúc làm việc với những tổ chức, những con người vốn là đối địch trong chiến tranh, để tìm hiểu thông tin về các trường hợp cán bộ, chiến sĩ ta đã hy sinh trong các nhà tù, trong các trận chiến đấu trên chiến trường.
 6 giờ sáng ngày 22 tháng 8 năm 1999, tôi bách bộ ra ngoài khách sạn. Ban mai trời dịu mát, nhìn ra xung quanh tôi thấy những đường phố thoáng rộng, những hàng cây cao to và những thảm cỏ bao quanh những tòa nhà đồ sộ, chọc trời. Nhìn chếch sang phía bên kia, một tòa nhà sừng sững, đó Lầu Năm Góc - trụ sở Bộ Quốc phòng Mỹ - trung tâm đầu não của bộ máy chiến tranh. Chính từ nơi đây, suốt mấy chục năm trời, các chiến lược gia quân sự Mỹ đã hoạch định và chỉ đạo cuộc chiến tranh xâm lược tàn khốc, gây ra bao đau thương tang tóc cho nhân dân ta trên cả hai miền Nam Bắc.
Chiều ngày 22 tháng 8 năm 1999, theo thông lệ ngoại giao, ông Robert Jones, Phó Trợ lý Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ đặc trách người Mỹ mất tích trong chiến tranh (DPMO) đã tổ chức mời cơm Đoàn. Cùng dự còn có Đại sứ Lê Văn Bàng và Đại tá Võ Đình Quang, Trưởng phòng tùy viên quân sự Việt Nam tại Mỹ.
Trong suốt thời gian Đoàn chúng tôi công tác ở Wasington, các anh ở Phòng Tùy viên quân sự Việt Nam đều tham gia các hoạt động và tạo điều kiện giúp đỡ. Phía Mỹ bố trí hai người thạo tiếng Việt thường xuyên đi cùng để tiện việc trao đổi đó là DesTas chuyên viên cao cấp của Văn phòng tìm kiếm người Mỹ mất tích và Huy Tuấn, Đại úy, Việt kiều trong quân đội Mỹ. DesTas từng ở Việt Nam lâu, có vợ tên là Nguyệt, quê ở Bến Tre. Huy Tuấn quê ở Huế, di tản theo gia đình sang định cư ở Mỹ sau tháng 4 năm 1975.
 Sáng 23 tháng 8 năm 1999, chúng tôi vào Bộ Quốc phòng Mỹ. Để đảm bảo an ninh, mọi người ra vào ở đây đều phải qua kiểm tra rất kỹ trên nhiều đoạn. Trước khi vào đây, chúng tôi đã chuẩn bị máy ảnh, camêra, máy ghi âm để ghi lại các thông tin trong buổi làm việc. Nhưng đều phải bỏ lại ở ngoài, mỗi người chỉ được cầm theo một quyển sổ tay.
Tại Văn phòng tìm kiếm người mất tích của Mỹ (DPMO), chúng tôi đã nghe thuyết trình về việc tìm kiếm quân nhân Mỹ mất tích trong các cuộc chiến tranh. Sau đó, gặp và làm việc với ông Robert Jones, Phó Trợ lý Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ. Robert Jones nói rằng, trên cương vị đương nhiệm, ông sẽ đề nghị Bộ Quốc phòng Mỹ hợp tác với Bộ Quốc phòng Việt Nam trong việc cung cấp thông tin và cung cấp trang, thiết bị tìm kiếm chiến sĩ ta mất tích, hy sinh trong chiến tranh. Tham gia buổi làm việc cùng chúng tôi có anh Đỗ Văn Nghị, Trung tá, Phó phòng Tùy viên quân sự Việt Nam tại Mỹ. (Sau này anh Nghị là Thiếu tướng, Cục trưởng Cục 25- Tổng cục 2).
Chiều ngày 23 tháng 8 năm 1999, Đoàn làm việc với Trung tâm lưu trữ Quốc gia của Mỹ (NA RA). Trung tâm này ở trên một khu đồi, được bao quanh những cánh rừng cây cối rậm rạp, cách Lầu Năm Góc khá xa. Đường tốt xe chạy nhanh cũng mất vài tiếng đồng hồ. Khi đến, ông Thống đốc Trung tâm J.Carlin đã tiếp và thông báo chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm và những vấn đề mà Trung tâm có thể cung cấp cho phía Việt Nam trong khai thác hồ sơ lưu trữ. Ngày 24, 25 và sáng 27 tháng 8 năm 1999, Đoàn nghiên cứu hồ sơ tại Trung tâm lưu trữ hồ sơ NARA.
 Hồ sơ về chiến tranh ở Việt Nam được lưu trữ ở Trung tâm NARA dưới nhiều dạng : Dạng nguyên bản như nhật ký tác chiến, hồ sơ tù binh chết ở bệnh viện,…Dạng phim ảnh tư liệu chiến trường; dạng đưa vào phần mềm vi tính,…Tất cả hồ sơ mà Đoàn đã tiếp xúc đều bằng tiếng Anh. Số lượng hồ sơ ở NARA là rất lớn, bao gồm:
 Dạng nhật ký chiến trường, báo cáo tổng kết, bài học kinh nghiệm sau từng trận đánh, ghi lại đầy đủ chi tiết hoạt động của quân đội Mỹ từ cấp tiểu đoàn trở lên tới Bộ Chỉ huy (MACV). Với tổng số khoảng 32 triệu đến 40 triệu trang. Các thông tin liên quan đến bộ đội ta hy sinh trong chiến tranh nằm rải rác trong các loại hồ sơ với tỷ lệ không nhiều lai không có tên tuổi cụ thể. Đây thuộc loại tài liệu tác chiến. Đoàn đã sao chụp một tài liệu về trận ABia Tây Thừa Thiên trong hai ngày 21 và 22 tháng 5 năm 1969 để làm ví dụ cụ thể và hiểu rõ cách truy cập hồ sơ tài liệu ở dạng này.
Dạng hồ sơ nguyên bản về báo cáo tử vong các trường hợp tù binh (cán bộ, chiến sĩ ta bị địch bắt) ở các bệnh viện quân đội Mỹ (chủ yếu là Tổng y viện Cộng hòa cũ). Hồ sơ ở dạng này có danh sách tên tuổi cụ thể cán bộ, chiến sĩ ta bị chết bao gồm các thông tin về: tên, tuổi, quê quán, ngày vào viện, ngày chết, nguyên nhân chết. Một số danh sách có đề cập đơn vị Mỹ, ngụy bắt, cấp bậc hoặc chức vụ của bộ đội ta và đặc biệt có một số đề cập tới vị trí chôn cất như Tân Sơn Nhất, Biên Hòa,…Đoàn đã sao chụp được 578 trang để tiếp tục nghiên cứu sử dụng.
 Hồ sơ ở dạng phim tư liệu, ảnh chụp đề cập tới hoạt động của bộ đội ta ở chiến trường; ảnh chụp hoạt động ở các trại tù binh chiến tranh của Mỹ, ngụy.
 Những trang hồ sơ tài liệu, những thước phim tư liệu của Trung tâm NARA đã đưa chúng tôi trở về những hình ảnh chiến đấu trên chiến trường Miền Nam; đồng thời cho chúng tôi hiểu thêm qui mô, tính chất quyết liệt của cuộc chiến và những hy sinh to lớn của quân và dân ta trong cuộc chiến tranh quyết liệt lâu dài.
 Đoàn đã nhận và chuyển về Văn phòng DPMO 10 hộp thư mục hồ sơ để thông qua con đường ngoại giao chuyển về Việt Nam tiếp tục nghiên cứu sau. Số hồ sơ sao chụp được 578 trang, Đoàn mang trực tiếp về Việt Nam.
 Chiều ngày 25 tháng 8 năm 1999, Đoàn nghe Bà tiến sĩ Susan Mather đại diện cho Bộ Cựu binh Mỹ giới thiệu về chất độc màu da cam. Cùng dự có Đại tá Võ Đình Quang, Trưởng phòng Tùy viên quân sự Việt Nam tại Mỹ. Buổi làm việc xoay quanh chủ đề những căn bệnh do tác hại của Điôxin gây ra đối với binh lính Mỹ trong chiến tranh Việt Nam.
Sau khi nghe tôi nêu lên mấy câu hỏi: Trong chiến tranh Việt Nam, người Mỹ đã sử dụng chất độc Điôsin từ bao giờ? Số lượng bao nhiêu? Khi dùng chất độc này, người Mỹ đã lường đến tính chất cực kỳ nguy hiểm của nó? Quân nhân Mỹ tham chiến ở Việt Nam bị nhiễm độc Điôsin khoảng bao nhiêu người, thường bị những căn bệnh gì? Chính sách của Chính phủ Mỹ đối với những quân nhân Mỹ bị nhiễm chất độc?,…Bà Sunan Mather đã thông báo với chúng tôi: Từ năm 1961 đến năm 1971, Mỹ đã dùng chất độc hủy diệt cây cỏ ở chiến trường Việt Nam. Sau khi tham gia chiến tranh Việt Nam, nhiều quân nhân Mỹ đã nhiễm chất độc Điôxin, gây ra nhiều căn bệnh như chứng phát ban Clo, bệnh hodgkins (một dạng ung thư hạch ác tính), đau tủy, ung thư tiền liệt tuyến, ung thư đường hô hấp, đái tháo đường,…Thời kỳ đầu, Bộ Cựu Chiến binh Mỹ kiện các nhà sản xuất hóa chất. Sau đó, Quốc hội Mỹ thông qua Luật trợ cấp cho những người tham gia chiến tranh Việt Nam bị bệnh do nhiễm chất độc Điôxin. Đã tiến hành tổ chức khám cho 300.000 người, thì có đến 10% quân nhân bị nhiễm, trong đó có 7.000 nữ quân nhân bị các bệnh về sinh đẻ (sảy thai, đẻ non, chết lưu), 800 quái thai. Mức trợ cấp cho mỗi người tùy theo mức độ ảnh hưởng, cao nhất là 25.000 USD/năm.
Nghe xong, tôi nói với bà Sunan Mather và những người Mỹ có mặt hôm đó rằng: Trước khi sang Mỹ, tôi đã nghiên cứu tìm hiểu về tình hình và hậu quả về chất độc Điôsin do Mỹ gây ra đối với Việt Nam. Trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, Mỹ đã huy động và sử dụng nhiều phương tiện chiến tranh hiện đại, những loại vũ khí tối tân có sức công phá và sát thương lớn, gây đau thương tang tóc cho hàng triệu con người. Đồng thời, Mỹ còn sử dụng nhiều loại chất độc hóa học hủy diệt môi trường sinh thái làm cho hàng triệu héc ta rừng bị tàn lụi khó phục hồi, nhiều vùng đất đai bị nhiễm độc. Trong mười năm (1961 – 1971), Mỹ đã rải xuống Việt Nam 72 triệu lít chất độc hóa học gồm 15 loại khác nhau, trong đó có 42 triệu lít chất độc màu da cam chứa khoảng 170 kg Điôsin, gây nhiều hậu quả nghiêm trọng đối với môi trường sinh thái và con người. Đến tháng 9 năm 1999, ước tính ở Việt Nam có khoảng 4 vạn người tham gia chiến tranh bị nhiễm độc, gây ra các bệnh tất rất nặng nề cho bản thân. Và hơn thế, còn gây biến đổi gien di truyền qua con cái. Ước tính trong cả nước có khoảng 76.000 cháu sinh ra bị ảnh hưởng do chất độc da cam. Đến thời điểm đó, qua báo cáo chưa đầy đủ của 21 tỉnh đã có 16.445 người tham gia chiến tranh sinh ra 20.766 trẻ dị tật, dị dạng (trong đó có 3.562 cháu bị liệt hoàn toàn; 4.579 cháu bị tâm thần; 5.549 cháu bị dị dạng; 1.185 cháu bị mù, và cac dạng khác). Đây là nỗi đau nhức nhối lâu dài. Mặc dù Chính phủ Mỹ đã có chính sách đối với binh lính Mỹ và các nước chư hầu tham gia chiến tranh Việt Nam bị nhiễm chất độc da cam do chính Mỹ gây ra, nhưng chưa có trách nhiệm đối với nạn nhân chất độc da cam là người Việt Nam. Cuộc đấu tranh vì công lý và lương tâm còn tiếp diễn.
 Ngày 26 tháng 8 năm 1999, Đoàn làm tại Viện Lịch sử Thủy quân lục chiến Mỹ (USMC) và Viện Lưu trữ hồ sơ Hải quân Mỹ. Tại Viện Lịch sử Thủy quân lục chiến, Đoàn đã xem xét cách thức lưu trữ và số lượng hồ sơ ; đã nhận 42 đĩa mềm vi tính sao chụp 65.000 trang tài liệu về hoạt động của lực lượng Thủy quân lục chiến Mỹ ở Việt Nam. Đây là dạng hồ sơ tác chiến, không có chi tiết cụ thể về bộ đội ta mất tích  trong chiến tranh.
 Tại Viện lưu trữ hồ sơ Hải quân, Đoàn đã xem kho lưu trữ, nói chung cũng là dạng hồ sơ tác chiến, nhật ký tác chiến, điện báo cáo giữa các đơn vị Hải quân Mỹ, Ngụy. Đoàn không sao chụp hồ sơ vì xét thấy rất ít giá trị đối với mục đích của chuyến công tác.
Ngày 27 tháng 8 năm 1999, Đoàn tới thăm và làm việc với Trung tâm nhận dạng gien ADN của Bộ Quốc phòng Mỹ. Ông James Canik, Giám đốc, tiếp đón chúng tôi rất nhiệt tình. Ông nói với tôi rằng, 30 năm trước, ông là phi công lái may bay trực thăng cấp cứu thương binh Mỹ trong chiến tranh Việt Nam.
Đoàn đã tham quan quá trình kỹ thuật nhận dạng AND. Trong quân đội Mỹ, việc nhận dạng người chết đã được quan tâm từ rất sớm, ngay trong thời kỳ nội chiến ở Mỹ, năm 1868. Hiện, Trung tâm có trách nhiệm giám sát kiểm tra tất cả mọi trường hợp chết trong quân đội Mỹ (số lượng ước tính có 3.500 quân nhân chết/năm). Trung tâm lưu mẫu máu, tóc, vân tay, răng của mọi quân nhân trong quân đội Mỹ, kết hợp với thẻ môn bài của từng người, nên việc nhận dạng người chết rất hữu hiệu. Trong chiến tranh Vùng Vịnh năm 1991, số quân nhân Mỹ bị chết khoảng 15.000, trong đó nhận dạng bằng vân tay được 13%, răng được 18%, 63% cả răng và vân tay, còn 6% là không xác định được, phải dùng đến mẫu máu.
Ông James Canik, Giám đốc Trung tâm nhận dạng gien AND gợi ý sẵn sàng giúp đỡ đào tạo về mặt kỹ thuật cho ta, nếu có yêu cầu.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:54:57 PM
 Từ trong kháng chiến chống Pháp rồi tiếp đến kháng chiến chống Mỹ, quân đội ta đều chưa có điều kiện kỹ thuật về lưu giữ mẫu máu, răng, tóc và thực nghiệm AND đối với mọi quân nhân. Do đó, dẫn đến một tình trạng là rất nhiều quân nhân chiến đấu hy sinh an táng tại các chiến trường, sau đó do nhiều nguyên nhân bị thất lạc mộ chí. Đến nay tìm kiếm, cất bốc hài cốt qui tập về các Nghĩa trang Liệt sĩ, tỷ lệ mộ liệt sĩ vô danh là rất lớn. Đây là một vấn đề thực sự xót xa đối với mọi người.
Chị Nguyễn Thị Tiến cán bộ ở Viện Bảo tàng Quân khu 4 đã có nhiều đóng góp trong việc nghiên cứu xác minh danh tính liệt sĩ bằng các thông tin còn lại ở hài cốt liệt sỹ. Trong mấy năm liền, chị đã lăn lộn trên nhiều địa bàn cùng các chiến sĩ thuộc các đội qui tập mộ liệt sĩ của các Tỉnh đội: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, sang cả một số địa phương của Lào, để thu thập những di vật còn sót lại cùng hài cốt liệt sĩ. Những di vật được tìm thấy bên cạnh hài cốt liệt sĩ như: chiếc cối giã trầu được làm từ vỏ đạn để mang về tặng mẹ, chiếc lược đuya ra được giũa gọt từ xác máy bay để tặng người yêu, chiếc khăn thêu, trang giấy học trò, bức thư viết giở, cái bút máy, tấm ảnh người thân, …tất cả đã hoen rỉ, đang mục nát theo thời gian. Chị Tiến đã khai thác xác minh giải mã các thông tin ít ỏi, mong manh ở các di vật đó một cách rất công phu, thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, đến các đơn vị đã từng chiến đấu trên từng địa bàn, gặp gỡ các cựu chiến binh, tìm hiểu gia đình liệt sĩ,... rồi khớp nối, lắp ghép các thông tin. Mỗi di vật hàm chứa thông tin nói lên đặc trưng một mẫu người, một thế hệ, rồi phiên hiệu đơn vị lúc hy sinh, quê quán, thân nhân… Có thông tin đến với chị một cách tình cờ ngẫu nhiên như sự mách bảo của linh hồn các liệt sĩ, của thế giới người âm, khó giải thích, nhưng đó là sự thật. Bằng tâm huyết và năng lực của mình, chị Tiến đã thu được những kết quả rất đáng trân trọng. Đã trả lại tên cho nhiều liệt sĩ vô danh và đưa anh em về an táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ quê nhà trong sự mừng rỡ khôn tả của người thân. Đem lại niềm vui cho nhiều gia đình sau nhiều năm trời không ngơi nghỉ trong sự kiếm tìm vô vọng. Bằng kết quả thực nghiệm đó, chị Tiến đã triển khai nghiên cứu thành công một đề tài khoa học: “ Xác minh lý lịch liệt sĩ chưa biết tên qua di vật nằm cùng phần mộ”. Đã mấy lần chị lên Truyền hình Việt Nam trong chuyên mục “Người đương thời” để trình bày về vấn đề này; đồng thời, chị đã viết quyển sách dưới dạng ký “Chuyện kể của người đi tìm liệt sĩ”, thật cảm động. Quê chị Tiến ở xã Nghi Trung, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An; chị là em ruột anh Nguyễn Đường Dần, Đại tá, nguyên Trưởng phòng Chính sách Quân khu 4.
 Nhiều năm qua, trên cương vị công tác của mình, tôi cho rằng, vấn đề mộ liệt sĩ vô danh là nỗi đau, sự nhức nhối, là một khuyết điểm rất lớn đối với vong linh liệt sĩ và gia đình liệt sĩ cũng như đối với nhân dân. Có nhà thơ đã viết:

“Xin đừng gọi anh là liệt sĩ vô danh!
Anh từng có tên như bao khuôn mặt khác
Mẹ sinh anh tròn ngày chẵn tháng
Cha đặt tên anh chọn  tuổi chọn mùa…
Xin đừng gọi anh là liệt sĩ vô danh!
Anh từng có tên như bao khuôn mặt khác
Ngày lên đường bờ vai mặn chát
Mắt ai níu vít hàng quân…
Bình yên sau cuộc chiến tranh
Anh trở về không tên tuổi
Trắng hàng bia những ngôi sao không nói
Rưng rưng cỏ mọc dưới chân
Tổ quốc không đánh mất tên anh
Nhìn mẹ nhận về mình nỗi đau xanh rì năm tháng…”.

Tôi cho rằng, hậu quả gây nên mộ liệt sĩ vô danh có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân bất khả kháng. Trong chiến tranh, hầu như mọi quân nhân đều không có giấy tờ tùy thân và hầu như cũng chẳng có một thông tin nào đi theo. Khi an táng quân nhân hy sinh, các đơn vị cắm một tấm bia bằng gỗ hoặc đá núi, hoặc bằng kim loại để làm mộ chí. Trên các tấm bia đó chỉ khắc được những thông tin ít ỏi. Những tấm bia mộ liệt sĩ theo thời gian bị mất mát do mối xông , bị hoen rỉ do thời tiết, bị thất lạc do bom đạn. Cũng có đơn vị viết họ tên, quê quán, đơn vị, ngày hy sinh của liệt sĩ vào một miếng giấy nhỏ bỏ cái vào lọ peneciline bọc túi ni lông thật kỹ rồi để cùng thi thể liệt sĩ. Nay có cái còn, có cái bị phân hủy. Hơn nữa, điều kiện chiến tranh không phải lúc nào cũng có lọ peniciline. Nhiều khu mộ bị bom đạn cày xới nhiều lần. Hài cốt bị hất tung lên, an táng lại, rồi lại bị bom đạn cày xới lần khác nữa. Người đi an táng liệt sĩ nay phần đông không còn, hoặc có còn cũng không nhớ nổi do tuổi tác đã cao, thời gian quá lâu. Một số trường hợp khi di chuyển từ chỗ này sang chỗ khác đã bị thất lạc tên tuổi trở thành vô danh.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:55:25 PM
Tôi có một suy nghĩ, trong khi chưa có điều kiện để đăng kiểm các loại mẫu về quân nhân, lưu giữ ở một Trung tâm (Ngân hàng), để khai thác khi cần thiết, thì  quân đội nên triển khai một chủ trương qui định: Cấp cho mỗi quân nhân một tấm thẻ nhỏ cỡ bằng cái huy hiệu, được làm bằng kim loại không rỉ, trên đó chỉ cần ghi số hiệu quân nhân và bắt buộc mọi quân nhân phải mang theo mình như một vật bất ly thân. Khi quân nhân bị tai nạn bất thường mà không có giấy tờ tùy thân, hoặc bị hy sinh trong chiến đấu trên chiến trường, thì chỉ cần số hiệu quân nhân ghi trên tấm thẻ đó là có thể tra cứu rất nhanh để có được đầy đủ các thông tin về họ. Nếu làm được điều đó, thì chắc chắn là sẽ không còn tình trạng mộ vô danh nữa.
Ngày nay, để xác định được danh tính của mộ liệt sí vô danh là một việc làm vô cùng khó khăn, nan giải, thậm chí đối với một số trường hợp là không thể. Kinh nghiệm lưu giữ các loại mẫu và kỹ thuật AND của Mỹ đặt ra những vấn đề cho chúng ta phải suy nghĩ.

Trong mấy ngày công tác ở Oa-sinh-tơn, nhận lời mời của phía Mỹ, đoàn chúng tôi đã đến thăm Bia Tưởng niệm ghi tên 58.317 quân nhân Mỹ tử trận  trong chiến tranh Việt Nam. Đó là mấy bức tường bằng đá đen khá dài trong Công viên Oa-sinh-tơn rộng lớn. Hàng ngày nhiều người Mỹ đến đây tưởng niệm những người ra đi không trở về. Những hàng tên nối dài như một bức thông điệp cho hậu thế với lời nhắn nhủ đừng bao giờ lặp lại việc này. Khi cùng xem với những người Mỹ cùng đi, tôi quay sang hỏi ông DesTas: “ Này ông, tại sao bức tường làm bằng đá cẩm thạch màu đen và lại thấp thế”. DesTas trả lời với tôi: “Ông Đẩu ơi, sở dĩ chúng tôi làm như thế là xuất phát từ ý tưởng: màu đen là màu tang để tưởng nhớ những người chết trận. Tường được làm thấp thôi, vì thực ra, có vẻ vang gì đâu mà phải cao”.
 Đọc những dòng tên lính Mỹ tử trận ở Việt Nam nối tiếp nhau phủ kín các bức tường vừa rộng vừa dài, từ người đầu tiên chết năm 1958 đến người sau cùng chết năm 1975, tôi nghĩ rằng, tất cả họ cũng đều là nạn nhân của cuộc chiến tranh xâm lược Việt nam do Mỹ gây ra. Đau thương tang tóc đã ập đến ngần ấy gia đình Mỹ có con em sang tham chiến tại Việt Nam. Hơn thế, hội chứng Việt Nam sẽ còn kéo dài trong lòng xã hội Mỹ. Lịch sử các cuộc chiến  tranh bao giờ cũng để lại hậu quả nặng nề về mọi mặt. Trong đó sự hy sinh, mất mát của người lính và gia đình họ là to lớn nhất, không có gì bù đắp được. Chiến tranh thế giới lần thứ hai làm mất tích hơn 40.000 lính Mỹ. Chiến tranh Triều Tiên (1951-1953) để lại gần 8.000 lính Mỹ mất tích. Mãi đến nay việc tìm kiếm vẫn chưa kết thúc. Vấn đề người Mỹ mất tích trong chiến tranh Việt Nam là hậu quả do cuộc chiến tranh do Mỹ gây ra. Theo thông báo của phía Mỹ, số lính Mỹ mất tích trong chiến tranh Việt Nam là 1.774 người. Sau chiến tranh, chính quyền Mỹ phải đương đầu với sức ép rất lớn từ nhiều phía của nhân dân Mỹ. Công luận Mỹ cho rằng, chính quyền Mỹ đã mắc sai lầm to lớn khi đem quân xâm lược Việt Nam.
Trong một thời gian dài, xuất phát từ tinh thần nhân đạo, thiện chí và thực hiện những cam kết trong Hiệp định Pa ri về Việt Nam, chúng ta hoặc đã nỗ lực đơn phương tìm kiếm, hoặc đã phối hợp với phía Mỹ tìm kiếm thu hồi và trao trả cho Mỹ nhiều đợt, với hàng trăm bộ hài cốt quân nhân Mỹ.
Chiến tranh đã lùi xa nhưng còn để lại những hậu quả to lớn, phức tạp, khó khăn về giải quyết chính sách. Bằng nhiều cách, nhiều kênh thông tin chúng ta phải tận dụng khai thác, xác minh kết luận các trường hợp quân nhân ta mất tích trong chiến tranh. Đây là chuyến đi đầu tiên sang Mỹ để tìm hiểu nghiên cứu hồ sơ chiến tranh mà phía Mỹ quản lý được. Đoàn chúng tôi đã thu được một số kết quả góp phần nhỏ vào việc giải quyết tồn đọng chính sách sau chiến tranh.
Trong nhiều năm Cục Chính sách đã hoàn thành được một khối lượng công tác lớn, cả trong nghiên cứu đề đạt cấp trên ban hành và chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc tổ chức thực hiện chính sách trong toàn quân. Kết quả đó do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan. Tôi cho rằng, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương - Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị là nguyên nhân đầu tiên và chủ yếu tạo nên thành công của Cục Chính sách suốt mấy chục năm qua. Công tác chính sách là một mặt hoạt động của công tác đảng, công tác chính trị. Tổng cục Chính trị là cấp trên trực tiếp, thường xuyên chỉ đạo toàn bộ lĩnh vực hoạt động của Cục Chính sách từ định hướng tư tưởng chỉ đạo cũng như đi sâu vào từng nội dung chính sách cụ thể. Đồng thời, Tổng cục Chính trị lãnh đạo, chỉ đạo các ngành, các cấp trong toàn quân trong việc phối hợp triển khai nghiên cứu và tổ chức thực hiện chính sách. Công tác chính sách có sự phối hợp chặt chẽ với công tác tư tưởng, công tác cán bộ và các mặt công tác khác. Chính sách là những chế tài qui định cụ thể, được lượng hóa về mặt đãi ngộ vật chất, tinh thần. Bộ Quốc phòng có quyền hạn, trách nhiệm trình lên Chính phủ ban hành các chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội. Đồng thời, với tư cách là cơ quan quản lý Nhà nước, Bộ Quốc phòng ban hành các chế độ, chính sách cụ thể theo phạm vi quyền hạn đối với quân nhân, công nhân viên chức quốc phòng, dân quân dự bị, lực lượng dự bị động viên và một số lực lượng khác tham gia nhiệm vụ quân sự, quốc phòng.

Nhân đây, tôi xin được nói đôi điều cảm nhận của mình về Thủ trưởng Tổng cụ Chính trị và Thủ trưởng Bộ Quốc phòng. Với cương vị và tính chất công việc, tôi may mắn, vinh dự có nhiều điều kiện tiếp xúc, làm việc với Thủ trưởng Tổng cục Chính trị và Thủ trưởng Bộ Quốc phòng qua nhiều thời kỳ. Họ đều là những người rất đáng kính. Tôi cảm nhận được rằng, các Thủ trưởng có nhân cách mẫu mực trong sáng, có tầm trí tuệ cao và kinh nghiệm phong phú, trách nhiệm chính trị và tinh cảm sâu nặng đối với công tác chính sách. Các Thủ trưởng đánh giá đúng vai trò, vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác chính sách;  luôn luôn quan tâm chỉ đạo công tác chính sách một cách đầy đủ, chu đáo, đem lại hiệu quả thiết thực. Họ đều là những người được tôi luyện trong phong trào cách mạng, trải qua các cuộc chiến tranh quyết liệt gian khổ, trong nhận thức và tình cảm thấm đẫm sự cống hiến hy sinh lơn lao của đồng bào, đồng chí.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:55:38 PM
Khi tôi làm Cục trưởng thì Đại tướng Chu Huy Mân, Đại tướng Lê Đức Anh và Đại tướng Nguyễn Quyết đã rời cương vị trong quân đội. Nhưng với tinh cảm sâu sắc, các ông vẫn thường xuyên quan tâm đến công tác chính sách. Thỉnh thoảng các ông vẫn cho mời tôi đến nhà để nghe tôi thông báo tình hình chung của công tác chính sách. Trong nhiều lần tôi được tiếp kiến với các ông, tôi đã nhận được những ý kiến sâu sắc, tâm huyết chỉ ra những vấn đề cần được quan tâm trong chỉ đạo công tác chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội. Các ông thường nêu lên những câu hỏi:
- Đời sống bộ đội ở biên giới, hải đảo thế nào, có chế độ gì động viên anh em yên tâm làm nhiệm vụ nơi xa xôi, đầu sóng ngọn gió? Các đơn vị tổ chức bảo đảm Tết Nguyên đán cho anh em thế nào?
- Quân nhân mất tin, mất tích trong chiến tranh chống Mỹ đã xác minh kết luận xong chưa? Gia đình anh em đã được hưởng quyền lợi chính sách chưa?
- Mộ liệt sĩ ở địa bàn rừng núi và ở Lào, Cămpuchia còn nhiều không, đến bao giờ thì đưa hết anh em về nước? những khó khăn, trở ngại trong việc triển khai?
- Đời sống các gia đình chính sách? Phong trào chấp hành chính sách hậu phương quân đội ở các địa phương có nét gì mới, nhất là trong cơ chế kinh tế thị trường? 
- Những anh em được cấp đất làm nhà, chuyển vợ con đến sinh sống, làm việc ở các địa phương, nhất là ở các thành phố, các khu công nghiệp, đã được đăng ký hộ khẩu chưa? Việc học hành của các cháu có ổn không?
- Những người có thành tích trong chiến đấu, nhất là những cán bộ lăn lộn qua mấy chục năm trên các chiến trường trong chiến tranh, đã được khen thưởng xứng đáng chưa?
- Trước các hiện tượng tiêu cực xã hội, cán bộ chính sách các cấp có giữ được sự tận tụy, nghĩa tình, công bằng và thanh liêm không?
.v.v..
Tôi biết rằng, các câu hỏi đó là những điều trăn trở thường trực trong suy tư, tình cảm của các ông, những người mà cả cuộc đời hoạt động cách mạng phong phú, sôi động trên nhiều trọng trách.
Tại gia đình, trên nhiều phương diện, chúng tôi kính trọng các ông vừa là Thủ trưởng vừa là bậc cha chú; đối lại, các ông coi chúng tôi vừa là cấp dưới vừa như con cháu, nên việc chỉ bảo rất sâu sắc và ân cần.
Khi làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị cũng như sau đó là Thường trực Ban Bí thư rồi đến cương vị cao nhất là Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, anh Lê Khả Phiêu luôn luôn quan tâm đến công tác chính sách, từ chỉ đạo vĩ mô ở  tầm chiến lược đối với toàn quân toàn quốc, đến những việc làm thiết thực, giải quyết các trường hợp cụ thể. Nhiều lần anh gọi tôi đến để anh nắm tình hình và chỉ thị những vấn đề cần triển khai nghiên cứu và những việc phải làm ngay. Nhân kỷ niệm 50 năm Ngày Truyền thống Ngành chính sách quân đội (26/2/1947-26/2/1997), tại Cục Chính sách, anh Lê Khả Phiêu lúc đó với cương vị là Thường trực Ban Bí thư đã chủ trì một buổi làm việc với các Bộ, ngành có liên quan ở Trung ương, các cơ quan hữu quan trong quân đội, cán bộ Cục Chính sách và các cán bộ chủ trì công tác chính sách các đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng. Sau khi nghe tôi thay mặt Cục Chính sách báo cáo tình hình chung và kiến nghị một số vấn đề, chị Nguyễn Minh Hồng (Chín Hồng) Phó Ban Tổ chức Trung ương, Anh Lê Duy Đồng, Thứ trưởng Bộ Lao động- Thương binh Xã hội và đại diện một số cơ quan phát biểu ý kiến. Nghe xong, anh Lê Khả Phiêu đã có bài phát biểu quan trọng với nhiều nội dung chỉ đạo sâu sắc, cả trước mắt và lâu dài, không chỉ  đối với quân đội mà đối với toàn Đảng, toàn dân.
Anh Phạm Thanh Ngân, Thượng tướng, Anh hùng không quân trong chiến tranh chống Mỹ. Thời kỳ làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị và là Ủy viên Bộ Chính trị, anh Ngân có nhiều ý kiến chỉ đạo đối với Cục Chính sách rất sâu sát, sắc sảo. Ở anh Ngân có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính nguyên tắc chặt chẽ trong công việc với tình cảm chân thành, chu đáo đối với đồng chí, đồng đội và các đối tượng chính sách.
Đại tướng Đoàn Khuê, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng là người thường xuyên quan tâm đến công tác chính sách, cả trong nghiên cứu nội dung và chỉ đạo tổ chức thực hiện. Trong một số  lần, trước khi họp Chính phủ để bàn và quyết nghị về nội dung chính sách, ông thường cho gọi tôi đến để nghe tôi trình bày ý kiến đề nghị của cơ quan trong quá trình nghiên cứu. Những vấn đề đặt ra, những ý kiến khác nhau, những phương án khả thi. Cũng có lần, ông đưa tôi đi cùng để báo cáo, cung cấp thêm thông tin khi cần thiết. Tôi nhớ, trước khi cải cách chế độ tiền lương, chế độ bảo hiểm xã hội đối với quân đội, có lần lãnh đạo Bộ Quốc phòng do ông chủ trì làm việc với lãnh đạo Bộ Lao động -  Thương binh Xã hội và Bộ Tài chính tại 20 - Cửa Đông, Hà Nội. Trước đó, ông gọi tôi sang báo cáo tình hình. Tôi mang theo tài liệu đã chuẩn bị kỹ để báo cáo với ông. Thế rồi, trong buổi làm việc đó, không cần nhìn giấy tờ, ông trình bày chặt chẽ, chắc chắn, có tính thuyết phục cao những vấn đề về quan điểm, nguyên tắc và cách thiết kế thang bảng lương, các chế độ bảo hiểm xã hội,…một cách đầy đủ vừa có tính khái quát, vừa đi vào những vấn đề có tính chất kỹ thuật nghiệp vụ cụ thể rất chính xác. Mọi người đều cảm phục ông. Bữa đó, phía Bộ Quốc phòng có các ông:  Nguyễn Trọng Xuyên, Thứ trưởng; Đặng Vũ Hiệp, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Lê Khoa, Cục trưởng Tài chính, tôi và một số cán bộ khác. Các cơ quan ngoài quân đội có các ông: Trần Đình Hoan, Bộ trưởng, Lê Duy Đồng, Thứ trưởng, Đặng Như Lợi, Vụ trưởng Vụ Tiền lương Bộ Lao động - Thương binh Xã hội; Nguyễn Sinh Hùng, Bộ trưởng Bộ Tài chính cùng một số chuyên viên.   Để làm được điều đó, tôi cho rằng, ở ông Đoàn Khuê ngoài khả năng tư duy, khả năng ghi nhớ, còn phải là sự tâm huyết cao độ đối với công việc. Khi mới tiếp xúc, có người cảm thấy ông nghiêm khắc, khó gần. Nhưng được làm việc với ông nhiều lần, mọi người đều nhận ra ở ông là một người rất nghiêm túc, giữ vững nguyên tắc, có tính quyết đoán cao, đồng thời có  tình cảm rất sâu đậm. Một số lần ông gọi điện thoại về nhà riêng cho tôi. Bằng chất giọng Quảng Trị trầm ấm thân tình, câu đầu tiên ông thường hỏi là đã ăn cơm chưa, khỏe không, các cháu thế nào? Tôi cảm phục ông từ những từ câu hỏi đó. Cùng với nhận thức thấu đáo do sự từng trải trong cuộc đời cách mạng, theo tôi, ông quan tâm đến đối tượng chính sách bằng cả tình cảm máu thịt. Ông sinh ra trong một gia đình cách mạng, tham gia hoạt động, bị địch bắt, trải qua lao tù thực dân đế quốc từ khi còn rất trẻ; chỉ huy chiến đấu ở chiến trường Khu 5 từ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, rồi suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; nhiều năm làm nhiệm vụ quốc tế ở Cămpuchia; rồi cuối cùng là trên cương vị Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Mẹ ông và dì ruột của ông là hai Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Ông có năm chị em ruột là liệt sĩ.
 Tại một số lần được cử vào Ban tổ chức Lễ mít tinh, buổi họp mặt hoặc tiếp đón các đối tượng chính sách đến thăm Bộ Quốc phòng, khi được phân công đảm nhiệm việc tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu, tôi thường lần lượt giới thiệu các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng trước rồi mới giới thiệu các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội. Tôi cho như thế  là hợp lý, hợp tình.
Trong thời gian làm Cục trưởng Cục Chính sách, tôi đã thường xuyên được tiếp nhận sự chỉ đạo sâu sắc, nhiệt tình, và hiệu quả của Đại tướng Phạm Văn Trà, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp và Trung tướng Lê Văn Hân, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Trên cương vị của mình theo chức trách được giao, các ông vừa có tầm vừa có tâm đối với công tác chính sách. Đó là chỗ dựa trí tuệ tinh thần vững chắc cho chúng tôi khi triển khai thực hiện nhiệm vụ. Trong nhiều năm, ông Đặng Vũ hiệp đối với chúng tôi như một người thầy trên nhiều phương diện; chúng tôi kính trọng phẩm chất, năng lực và phong cách làm việc của ông. Và ông cũng rất tin tưởng chúng tôi.
Ngày 6 tháng 10 năm 2000, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ký quyết định điều động tôi về giữ chức Phó Hiệu trưởng về Chính trị Trường Sĩ quan Lục quân 1, thay anh Bạch Quang Triệu chuẩn bị nghỉ hưu theo chế độ. Tôi được biết, trong vòng một hai năm trước đó, cấp trên đã dự kiến, thậm chí đã quyết nghị điều động, bổ nhiệm tôi vào một số vị trí nhưng không thực hiện. Lần này để kiện toàn cán bộ chủ trì một số đơn vị chuẩn bị cho Đại hội Đảng nhiệm kỳ mới, Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương - Bộ Quốc phòng đã quyết định điều động thuyên chuyển một số trường hợp. Cùng nhận quyết định một lần với tôi có Anh Trần Danh Bích, Thiếu tướng, Cục trưởng Cục Cán bộ về Học viện Chính trị giữ chức Phó Giám đốc về Chính trị thay anh Bùi Sĩ Vui, Thiếu tướng, được bổ nhiệm làm Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Quân sự Trung ương; anh Nguyễn Tiến Ngùng, Đại tá, Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân khu Thủ đô giữ chức Phó Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 1. Và nhiều đồng chí khác nữa.
Sau khi được Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phạm Văn Trà trao Quyết định và giao nhiệm vụ, tôi về Cục Chính sách bàn giao công việc để sớm lên đường nhận nhiệm vụ mới. Thời điểm đó, Đảng bộ các cấp trong quân đội đang khẩn trương chuẩn bị đại hội tiến tới Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ VII và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX.
Ngày 30 tháng 10 năm 2000, tôi chia tay với anh chị em Cục Chính sách trong cảm xúc bùi ngùi lưu luyến. Hai mươi lăm năm, một phần tư thế kỷ, với biết bao kỷ niệm. Thời gian đó trong một đời người quả thật là dài. Cục Chính sách là bến đậu lâu nhất trong cuộc đời quân ngũ của tôi. Nơi đây là chiếc nôi, là môi trường đào luyện tôi về nhiều mặt. Tôi hồi tưởng lại từ những ngày đầu mới ở chiến trường ra, khi chập chững bước vào ngành được các chú, các cô, các anh dìu dắt, được bạn bè đồng đội phối hợp, giúp đỡ tôi từng bước trưởng thành. Tôi may mắn được sống và cộng tác giữa những con người nghĩa tình thuộc mấy thế hệ, để lại trong tôi những tình cảm quí, những ấn tượng sâu sắc. Đời tôi không bao giờ quên. Ngần ấy năm trời công tác, nhất là tám năm trên vai trò Cục trưởng, tôi đã cùng với tập thể cán bộ, nhân viên trong Cục làm được nhiều việc tạo nên thành tích chung, góp phần bồi đắp vào truyền thống của Cục Chính sách.
Khi tôi rời Cục Chính sách, Bộ Quốc phòng quyết định bổ nhiệm anh Ngô Xuân Lịch, Đại tá, Cục phó Cục Tổ chức- Tổng cục Chính trị làm Cục trưởng Cục Chính sách. Anh Lịch quê ở xã Yên Bắc, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Chúng tôi quen thân nhau từ nhiều năm trước. Năm 2004, Cục Chính sách vinh dự được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang trong Thời kỳ Đổi Mới. Đây là phần thưởng xứng đáng, là niềm tự hào lớn lao của mọi cán bộ nhân viên Cục Chính sách qua nhiều thế hệ. Hiện nay, anh Ngô Xuân Lịch là Trung tướng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Cục trưởng Cục Chính sách là anh Vũ Hữu Luận, Thiếu tướng.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:56:29 PM
Chương bảy: Về Trường Sĩ quan Lục quân 1


         Trước ngày tôi lên đường về Trường Sĩ quan Lục quân 1, anh Phạm Văn Trà, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và anh Phạm Thanh Ngân, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị đều đã gặp tôi vừa giao nhiệm vụ vừa dặn dò một số điểm cần chú ý khi về công tác ở Trường. Các anh đều nói với tôi đại ý rằng: Trường Sĩ quan Lục quân 1 là một trường có truyền thống vào bậc nhất trong hệ thống nhà trường quân đội; là trung tâm lớn đào tạo sĩ quan chỉ huy cấp phân đội, bậc đại học của quân đội. Có thể ví đây là cỗ máy cái. Từ những cán bộ do Trường đào tạo sẽ từng bước trưởng thành lên cán bộ lãnh đạo chỉ huy - tham mưu các cấp trong quân đội. Thời gian tới, khi Quân đội triển khai Nghị quyết 07/BCT của Bộ Chính trị về tổ chức lực lượng quân đội, có khả năng qui mô tổ chức và nhiệm vụ của Trường sẽ còn lớn hơn, nặng hơn. Tất cả những điều đó đặt ra yêu cầu rất lớn đối với người cán bộ chủ trì Công tác đảng, Công tác chính trị. Vì vậy, cần phải nỗ lực phấn đấu không ngừng về mọi mặt để cùng với Hiệu trưởng và tập thể Đảng ủy đoàn kết lãnh đạo Nhà trường hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Tôi chân thành cám ơn các anh, hứa quyết tâm, đồng thời đề nghị các anh quan tâm theo dõi giúp đỡ.
Để có sự hiểu biết ban đầu, trước khi lên đường nhận nhiệm vụ mới tôi dành thời gian nghiên cứu tìm hiểu về Trường Sĩ quan Lục quân 1. Qua nghiên cứu lịch sử Trường Sĩ quan Lục quân 1 tôi được biết rằng:  Ngày 15 tháng 4 năm 1945, tại xóm Khuổi Kịch, xã Tân Trào, châu Tự do (nay là huyện Sơn Dương), tỉnh Tuyên Quang, Trường Quân Chính kháng Nhật, nay là Trường Sĩ quan Lục quân 1 được thành lập theo Nghị quyết của Hội nghị quân sự cách mạng Bắc kỳ và Chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sự ra đời của Nhà trường đánh dấu một bước chuyển biến mới của cách mạng, đáp ứng kịp thời yêu cầu đào tạo cán bộ quân sự, chính trị làm nòng cốt cho lực lượng vũ trang nhân dân chuẩn bị Tổng Khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

 Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước mà trực tiếp là Quân ủy Trung ương - Bộ Quốc phòng, trải qua gần 60 năm xây dựng, đào tạo, chiến đấu và trưởng thành, Trường Sĩ quan Lục quân 1 đã góp phần rất xứng đáng vào thắng lợi vẻ vang của quân và dân ta trong Tổng Khởi nghĩa giành chính quyền, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, làm Nghĩa vụ quốc tế và trong Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đây nhà trường đầu tiên của quân đội ta và cũng có thể nói là nhà trường đầu tiên dưới chế độ ta, có bề dày lịch sử truyền thống lâu năm nhất. Gần 60 năm qua, với niềm tin và lời thề son sắt “Trung với nước, hiếu với dân”, lớp lớp cán bộ, học viên, công nhân viên, chiến sĩ nhà trường đã không ngừng phấn đấu nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ cho quân đội. Lớp lớp thanh niên thuộc nhiều thế hệ đã lần lượt được trường giáo dục, rèn luyện thành sĩ quan. Hàng vạn đồng chí đã trở thành cán bộ trung cấp, cao cấp của Đảng, Nhà nước và quân đội. Hàng trăm đồng chí trở thành tướng lĩnh, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Nhiều đồng chí giữ những chức vụ rất quan trọng ở Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, các tổng cục, các bộ tư lệnh quân khu, quân chủng, binh chủng, quân đoàn, sư đoàn, học viện, nhà trường. Nhiều cán bộ lãnh đạo, chi huy cấp cao vốn là cán bộ, giáo viên, học viên của Trường. Tiêu biểu như các ông: Hoàng Văn Thái, Trần Tử Bình, Trương Văn Lĩnh, Hoàng Đạo Thúy, Lê Thiết Hùng, Lê Trọng Tấn, Lê Quang Hòa, Nguyễn Sơn, Cao Văn Khánh, Lê Tự Đồng, Hoàng Minh Thi, Nguyễn Chơn, Phan Thu, Đào Trọng Lịch, Phùng Quang Thanh, Nguyễn Quốc Thước, Nguyễn Thế Trị,…Cùng với nhiệm vụ đào tạo hàng chục vạn sĩ quan quân đội ta, Nhà trường cũng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đào tạo cán bộ quân sự cho một số nước anh em. Trường sĩ quan Lục quân 1 là nhà trường đầu tiên trong hệ thống nhà trường quân đội được tuyên dương danh hiệu Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang. Trường đã được tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh và nhiều huân chương, phần thưởng cao quí khác. Đặc biệt là, sinh thời Bác Hồ đã 9 lần đến thăm và rất nhiều lần gửi thư động viên giáo dục cán bộ, giáo viên, học viên Nhà trường. Trung ương Đảng, Chính phủ, các cơ quan Trung ương và các địa phương thường xuyên quan tâm tạo điều kiện thuận lợi cho Nhà trường hoàn thành nhiệm vụ.
 Kể từ ngày thành lập đến năm 2000, Trường Sĩ quan Lục quân 1 đã có 16 người đảm nhiệm chức vụ Hiệu trưởng:  Hoàng Văn Thái, Nguyễn Thanh Phong, Nguyễn An ( tức Trương Văn Lĩnh ), Trần Tử Bình, Hoàng Đạo Thúy, Nguyễn Sơn, Lê Thiết Hùng, Lê Trọng Tấn, Cao Văn Khánh, Nguyễn Bằng Giang, Nguyễn Thái Dũng, Vũ Yên, Lưu Bá Xảo, Nguyễn Ân, Khuất Duy Tiến, Nguyễn Khắc Viện. Chức danh Chính ủy ( Phó Hiệu trưởng Chính trị ) của Nhà trường đã qua 11 người đảm nhiệm: Trần Tử Bình, Lê Đình (tức Trịnh Đình Cửu), Lê Quang Hòa, Đoàn Quang Thìn, Lê Tự Đồng, Hoàng Minh Thi, Lê Chiêu, Lã Ngọc Châu, Nguyễn Ngọc Tiến, Lương Văn Cửu, Bạch Quang Triệu. Được về công tác ở Trường Sĩ quan Lục quân 1 là một vinh dự lớn đồng thời là một thử thách mới đối với tôi trong cuộc đời binh nghiệp.
Được cấp trên điều động về làm cán bộ chủ trì tham gia lãnh đạo chỉ huy Nhà trường, nhưng tôi lại chưa được may mắn trải qua đào tạo ở Trường Sĩ quan Lục quân 1. Trước đây tôi có hai lần về làm việc và tập huấn ở Trường. Lần thứ nhất, đầu năm 1995, tôi đi cùng ông Nguyễn Nam Khánh, Thượng tướng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị về thăm và làm việc với Trường. Cùng lên Trường hôm đó còn có anh Ngô Quí Vân, cán bộ Văn phòng Tổng cục Chính trị. Anh Nguyễn Ân, Trung tướng, Hiệu trưởng và anh Lương Văn Cửu, Đại tá, Bí thư Đảng ủy, Phó Hiệu trưởng về Chính trị đã tiếp và làm việc với chúng tôi. Anh Cửu là người cùng học với tôi một khóa ở Học viện Chính trị. Nội dung làm việc là nghe Ban Giám hiệu Nhà trường báo cáo về tình hình giáo dục đào tạo nói chung và tình hình công tác đảng, công tác chính trị - đi sâu vào việc bảo đảm chính sách đối với cán bộ, giáo viên, học viên. Lần thứ hai, đầu tháng 8 năm 1999, tôi được triệu tập về Trường dự lớp tập huấn Điều lệnh toàn quân. Hồi đó, để bảo đảm rèn luyện chính qui Điều lệnh đội ngũ thống nhất trong toàn quân, Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng Tham mưu chủ trương tập huấn cán bộ chủ trì lãnh đạo chỉ huy các đơn vị từ cấp Sư đoàn, cấp Cục trở lên trong toàn quân. Trường Sĩ quan Lục quân 1 được chọn là đơn vị đăng cai. Giáo viên Điều lệnh đội ngũ của Trường đảm nhiệm giới thiệu và hướng dẫn cho các lớp học. Cán bộ chủ trì các đơn vị lần lượt thay nhau đi tập huấn. Anh Đỗ Quang Bích, Cục phó dự lớp thứ nhất. Tôi dự lớp thứ hai. Tiểu đội trưởng tiểu đội tập huấn của tôi là anh Phạm Xuân Thệ, Thiếu tướng, Tư lệnh Quân đoàn 2. Trung đội trưởng là anh Nguyễn Văn Được, Thiếu tướng, Tư lệnh Quân khu 5. Thực hiện yêu cầu đặt ra của Bộ đối với lớp tập huấn, đồng thời là Tư lệnh các đơn vị, các anh chỉ huy lớp học ngày đó thực hành rèn luyện nghiêm lắm. Mấy anh em quen tác phong ở cơ quan Bộ phải cố gắng nhiều. Dưới trời nắng chói chang, trên đường xi măng sân băng nóng nực, chúng tôi miệt mài, chăm chỉ tập luyện, mồ hôi chảy ướt đẫm cả áo. Thời gian tập huấn không nhiều nhưng thật bổ ích. Tôi không ngờ kết quả đợt tập huấn đó đã giúp tôi dễ làm quen với môi trường huấn luyện ở trường sau này.

Ngày 2 tháng 11 năm 2000, tôi đi lên Sơn Tây. Với địa thế thuận lợi, trong mấy chục năm qua, Sơn Tây được chọn là nơi đóng quân của nhiều trường sĩ quan và trường trung cấp của quân đội. Chú Lê Văn Đát, người lái xe đã cùng tôi đi qua hàng vạn cây số trên mọi nẻo đường công tác trong tám năm trời (từ đầu năm 1992 đến cuối năm 2000) với biết bao kỷ niệm, nay đưa tôi rời Hà Nội về xứ Đoài. Chúng tôi đi trên đường Láng - Hòa Lạc, con đường rất đỗi quen thuộc với tôi hơn bốn năm sau đó. Tiễn tôi về đơn vị mới có chú Đặng Việt Tiến, cán bộ Phòng Nghiên cứu - Tổng hợp, người gắn bó thân thiết với tôi trong nhiều năm công tác. Sau khoảng một tiếng đồng hồ, chúng tôi đến Trường. Anh Nguyễn Đức Huy, Phó chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Đảng ủy Nhà trường đón tôi ở phòng giao ban của Nhà trường. Anh Huy thông báo với tôi rằng, Đảng ủy Nhà trường đang tổ chức hội nghị công tác kiểm tra phiên cuối nhiệm kỳ và mời tôi vào Hội trường để dự luôn.

Những ngày đầu mới về Trường, tôi dành thời gian tập trung nghiên cứu chức năng nhiệm vụ, tổ chức biên chế, cơ chế hoạt động của Nhà trường, nắm tình hình của các cơ quan, khoa giáo viên, đơn vị trong trường, đi thăm chỗ ăn ở các đơn vị, các giảng đường, thao trường, bãi tập và sau đó là đi thăm cấp ủy, chính quyền các địa phương nơi Trường đóng quân.
 Chức năng, nhiệm vụ của Trường Sĩ quan 1 được Bộ Quốc phòng giao lúc bấy giờ là: Đào tạo sĩ quan chỉ huy-tham mưu lục quân cấp phân đội, bậc đại học, với các chuyên ngành: bộ binh (binh chủng hợp thành), bộ binh cơ giới, trinh sát bộ đội, trinh sát đặc nhiệm, hỏa khí đi cùng. Học viên là học sinh tốt nghiệp Phổ thông trung học, có sức khỏe tốt, trúng tuyển trong kỳ thi tuyển sinh đại học. Thời gian đào tạo 5 năm. Khi tốt nghiệp ra trường, sĩ quan đảm nhiệm được chức vụ ban đầu là trung đội trưởng có thể phát triển đến tiểu đoàn trưởng (sau đó phát triển cao hơn phải học lên Học viện Lục quân và Học viện Quốc phòng). Nhà trường được giao nhiệm vụ đào tạo cán bộ cho một số nước anh em. Cùng với nhiệm vụ đào tạo cơ bản, Nhà trường còn đảm nhiệm đào tạo hoàn thiện đối với những sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp mới qua đào tạo ngắn hạn chưa có bằng cử nhân quân sự. Nhà trường còn là trung tâm nghiên cứu khoa học nghệ thuật về các hình thức chiến thuật của lục quân. Đồng thời, Trường còn được Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ đăng cai tổ chức nhiều lớp tập huấn cán bộ của toàn quân và một số nhiệm vụ khác.
Tổ chức của Nhà trường có:  Ban Giám hiệu; Các cơ quan:  Phòng Huấn luyện (sau đó đổi tên là Phòng Đào tạo), Phòng Chính trị, Phòng Khoa học - công nghệ và môi trường, Phòng Hậu cần, Phòng Kỹ thuật, Phòng Hành chính (sau đó đổi tên là Văn phòng), Ban Tài chính, Ban Quản lý công trình (sau đó đổi tên là Ban Quản lý dự án trực thuộc Phòng Hậu cần); 12 khoa giáo viên: Khoa Chiến thuật, Khoa Bắn súng, Khoa Trinh sát, Khoa Binh chủng, Khoa Quân sự chung, Khoa Thể thao, Khoa Ngoại ngữ-tiếng Việt, Khoa Khoa học Tự nhiên, Khoa Công tác đảng, công tác chính trị, Khoa Lý luận Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ chí Minh, Khoa quân sự Đại học Sư phạm Hà Nội, Khoa quân sự Đại học sư phạm ngoại ngữ Hà Nội. Học viên được tổ chức thành 14 tiểu đoàn, trong đó có 1 tiểu đoàn quản lý học viên quốc tế và một tiểu đoàn quản lý thao trường. Một thời gian sau, khi được Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ Trường Sĩ quan Lục quân 1 đào tạo huấn luyện quân sự thời gian đầu cho học viên năm thứ nhất các trường sĩ quan, học viện của quân đội ở phía Bắc, thì số tiểu đoàn quản lý học viên tăng hơn.
Ban Giám hiệu Nhà trường có anh Nguyễn Khắc Viện, Hiệu trưởng; anh Nguyễn Trọng Thắng và anh Nguyễn Tiến Ngùng là Hiệu phó. Anh Nguyễn Khắc Viện và anh Nguyễn Trọng Thắng khi về trường tôi mới gặp. Sau này cùng công tác tôi được biết anh Nguyễn Khắc Viện là người đã trải qua chiến đấu nhiều năm, được đào tạo cơ bản, học vị thạc sĩ khoa học quân sự, có trách nhiệm và có kinh nghiệm trong công tác đào tạo; anh được thăng quân hàm Thiếu tướng năm 1994. Anh Nguyễn Trọng Thắng là cán bộ trưởng thành trong chiến đấu từ chiến sĩ trở lên ở chiến trường Lào và chiến trường Quảng Trị; trước khi về Trường, anh đã làm Sư đoàn trưởng Sư đoàn 312 rồi Hiệu trưởng Trường Quân sự Quân đoàn 1. Anh Thắng được đào tạo cơ bản, đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ khoa học quân sự tại Học viện Quốc phòng năm 1996. Cuối năm 2002, anh Thắng được Bộ Quốc phòng bổ nhiệm làm Cục phó Cục Nhà trường - Bộ Tổng Tham mưu; hiện nay anh  là Trung tướng, Cục trưởng Cục Nhà trường. Trong công tác và cuộc sống anh Thắng luôn chân thành thẳng thắn. Với anh Nguyễn Tiến Ngùng tôi đã quen biết từ trước. Trước khi được điều động về Trường, anh Ngùng là Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân khu Thủ đô. Anh trưởng thành trong chiến đấu ở chiến trường Quân khu 5. Được phân công phụ trách công tác hậu cần, xây dựng cơ bản, quản lý đất quốc phòng, anh Ngùng luôn trăn trở xông xáo nhiệt tình, quan hệ tốt với các cơ quan từ Trung ương đến địa phương, đem lại hiệu quả cao. Anh Ngùng được thăng quân hàm Thiếu tướng năm 2004. Đồng trang lứa lại cùng là lớp cán bộ xuất thân từ học sinh nông thôn ra đi chiến đấu và trưởng thành trong lò lửa chiến tranh chống Mỹ, giữa tôi và anh Thắng, anh Ngùng luôn thân thiết nhau trong công việc cũng như trong đời sống sinh hoạt.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:57:10 PM
 Trong thời gian tôi công tác ở Trường Sĩ quan Lục quân 1, Ban Giám hiệu có một số thay đổi. Ngày 1 tháng 2 năm 2002, theo sự điều động của Bộ Quốc phòng, anh Nguyễn Hữu Hạ, Tư lệnh Quân đoàn 3 về trường nhậm chức Hiệu trưởng thay anh Nguyễn Khắc Viện nghỉ chờ hưu theo chế độ. Sau đó, Đảng ủy Quân sự Trung ương quyết định chỉ định anh Hạ vào Đảng ủy Nhà trường, giữ chức Phó Bí thư Đảng ủy. Anh Hạ là cán bộ trưởng thành trong chiến đấu từ chiến trường Tây Nguyên trong đánh Mỹ, biên giới phía Bắc và ở Cămpuchia. Trong lãnh đạo chỉ huy giữa tôi và anh Hạ luôn có sự bàn bạc thống nhất, tạo điều kiện thuận lợi cho cấp dưới triển khai thực hiện nhiệm vụ. Ngày 6 tháng 12 năm 2002, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định bổ nhiệm anh Nguyễn Đình Chức, Đại tá, Chủ nhiệm Khoa Quân sự chung và anh Nguyễn Văn Pha, Thượng tá, Phó Phòng Đào tạo giữ chức Hiệu phó. Anh Chức và anh Pha đều được đào tạo cơ bản, có học vị thạc sĩ khoa học quân sự, có nhiều kinh nghiệm trong công tác đào tạo giáo dục nhiều năm ở Trường.
Sau khi nghiên cứu tìm hiểu về chức năng nhiệm vụ, tổ chức biên chề, cơ chế hoạt động của Nhà trường, bước đầu nắm tình hình của các cơ quan, khoa giáo viên và đơn vị quản lý học viên. Để kịp thời cập nhật những kiến thức về  công tác giáo dục-đào tạo, tôi tìm đọc một số tài liệu, giáo trình của Nhà trường. Xuất phát từ mục tiêu đào tạo của Nhà trường là đào tạo sĩ quan chỉ huy cấp phân đội, bậc đại học, do đó, kết cấu chương trình, nội dung, qui trình và phương pháp giáo dục - đào tạo của Trường phải đáp ứng được hai phần: Trước hết, khi tốt nghiệp ra trường sĩ quan có đủ trình độ năng lực, bản lĩnh đảm nhiệm chức vụ ban đầu là trung đội trưởng, có tiềm năng phát triển cao hơn. Hai là, học viên tốt nghiệp ra trường phải có mặt bằng kiến thức trình độ học vấn bậc đại học. Về mặt pháp lý, từ năm 1998, Chính phủ đã quyết định Trường Sĩ quan 1 là một trường đại học nằm trong hệ thống giáo dục đại học của đất nước. Hai khối kiến thức đó đều giữ vai trò quan trọng và có mối quan hệ biện chứng với nhau. Nhưng xét theo yêu cầu của đơn vị và khả năng thực tế của học viên khi ra trường, thì đào tạo theo yêu cầu chức vụ là chính.
Chương trình, nội dung giáo dục đào tạo sĩ quan chỉ huy-tham mưu cấp phân đội bao gồm nhiều môn học. Môn học nào cũng quan trọng. Thời gian không cho phép, tôi tập trung đi sâu nghiên cứu giáo trình công tác đảng, công tác chính trị và giáo trình chiến thuật.
Giáo trình công tác đảng, công tác chính trị đối với học viên sĩ quan chỉ huy cấp phân đội có ba phần: Lý luận, nguyên tắc chung về xây dựng đảng; về công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội. Lý luận, thực tiễn các mặt hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội. Công tác đảng, công tácchính trị trong các nhiệm vụ chủ yếu. Trên cơ sở vốn liếng về trình độ năng lực tích lũy qua học tập ở các học viện và thực tế công tác trong nhiều năm, cộng với kiến thức, kinh nghiệm trong thực tiễn chiến đấu ở chiến trường trước đây và lần này nghiên cứu giáo trình công tác đảng, công tác chính trị ở Trường đã giúp tôi hệ thống lại một cách cơ bản, đồng bộ cả về lý luận và thực tiễn công tác đảng, công tác chính trị.
Chiến thuật là bộ phận hợp thành nghệ thuật quân sự, gồm lý luận và thực tiễn về chuẩn bị và thực hành các trận chiến đấu của đơn vị cơ sở. Chiến thuật chịu sự chỉ đạo của chiến lược quân sự và nghệ thuật chiến dịch. Trong chiến tranh, thành công của chiến thuật là cơ sở để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của chiến dịch và chiến lược, đồng thời có tác động thúc đẩy nghệ thuật chiến dịch và chiến lược phát triển. Có thể nói, chiến thuật là “đặc sản” trong giáo dục đào tạo ở Trường Sĩ quan Lục quân. Trong chiến đấu ở chiến trường trước đây, chúng tôi dù đã trải qua một số loại hình chiến thuật nhưng đó là kết quả từ việc tập huấn ở đơn vị, học hỏi các bậc đàn anh đi trước và trải qua thực tiễn tự rút ra những kinh nghiệm, chứ chưa được học hành một cách cơ bản. Vì vậy, tôi đã dành thời gian nghiên cứu tài liệu bài giảng về chiến thuật như:  Những yếu tố tác động chính và quá trình hình thành phát triển chiến thuật trong chiến tranh. Các hình thức chiến thuật: Chiến thuật tiến công địch phòng ngự trong công sự vững chắc (công kiên), Chiến thuật tập kích, Chiến thuật phục kích, Chiến thuật vận động tiến công; Chiến thuật phòng ngự. Một số hình thức chiến thuật khác: Chiến thuật vây lấn; Chiến thuật tiến công trong hành tiến; Chiến thuật đánh quân địch đổ bộ đường không, Chiến thuật truy kích. Sự hình thành và phát triển của chiến thuật có cội nguồn từ cách đánh giặc giữ nước của tổ tiên ta trong suốt chiều dài lịch sử chống ngoại xâm. Chiến thuật là sự kế thừa những tinh hoa trí tuệ đã được đúc kết bằng xương máu của nhiều thế hệ trong mấy chục năm chiến tranh, có giá trị như những nguyên tắc, tư tưởng chỉ đạo lớn trong thực hành tác chiến. Tài liệu, giáo trình chiến thuật đã giúp tôi nắm khá vững nguyên tắc lý luận của các loại hình chiến thuật. Cùng với nghiên cứu môn chiến thuật, sau đó tôi còn ôn lại việc sử dụng  một số vũ khí trong biên chế.
Ngoài ra, tôi cố gắng nghiên cứu các các môn học khác - dĩ nhiên là không có điều kiện đi sâu vào từng chi tiết - mà là nắm và hiểu được phần rường cột nhất. Nhờ kinh nghiệm và những nội dung nghiên cứu qua giáo trình, tài liệu đã giúp tôi trong việc chỉ đạo công tác giáo dục - đào tạo và kiểm tra huấn luyện, diễn tập, thi tốt nghiệp tại thao trường hay trên giảng đường. Tôi cho rằng, cán bộ chủ trì về chính trị phải nắm vững các mặt hoạt động công tác đảng, công tác chính trị - đó là yêu cầu bắt buộc; đồng thời, phải nghiên cứu để nắm được công tác chuyên môn, nhất là những lĩnh vực chuyên môn chính yếu có tác động trực tiếp đến kết quả hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị. Trên cơ sở học tập nghiên cứu, bám sát hoạt động của đơn vị và nắm được những vấn đề mấu chốt thuộc về nguyên lý, bản chất, xu hướng phát triển của công tác chuyên môn, chắc chắn sẽ  giúp cho cán bộ chủ trì về chính trị ( chính ủy, chính trị viên ) có thêm điều kiện đạt được hiệu quả cao trong lãnh đạo, chỉ đạo đơn vị. 

    Khi tôi về Trường Sĩ quan Lục quân 1, thì Trường đang khẩn trương chuẩn bị mọi mặt để tiến hành Đại hội Đảng nhiệm kỳ 13 tiến tới Đại hội Đảng bộ quân đội lần thứ VII, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX. Mãi tới khi về đây tôi mới có dịp quen biết đội ngũ cán bộ, giáo viên. Nhưng với trách nhiệm chung cộng với tình cảm, phong cách của những người cán bộ quân đội, nên giữa chúng tôi từ Ban Giám hiệu Nhà trường đến các cơ quan, khoa giáo viên và các đơn vị quản lý học viên nhanh chóng hòa nhập, đồng thuận, có cùng tiếng nói chung. Tôi đã dành thời gian nghe các đồng chí chỉ huy và bí thư đảng ủy các cơ quan, khoa, tiểu đoàn báo cáo tình hình khá kỹ. Riêng đối với các khoa giáo viên, tôi coi đây cũng là dịp bổ túc thêm kiến thức cho mình trên các lĩnh vực giáo dục - đào tạo của trường.
Thời kỳ đó, Trường Sĩ quan Lục quân 1 có một đội ngũ cán bộ chủ trì tốt ở các cơ quan, khoa giáo viên và đơn vị quản lý học viên. Họ đều là những cán bộ được lựa chọn qua nhiều thời kỳ, có tâm huyết với sự nghiệp giáo dục-đào tạo, có phẩm chất, năng lực tốt, đặc biệt là có bề dày kinh nghiệm nhiều năm ở Nhà trường trên từng cương vị. Ở cơ quan gồm các anh: Trần Minh Quang rồi tiếp đó là Đoàn Minh Sơn làm Trưởng phòng Đào tạo; Nguyễn Văn Soạn, Chủ nhiệm chính trị; Nguyễn Đăng Thanh, Trưởng phòng Khoa học-công nghệ và môi trường; Nguyễn Đắc Hưng, Trưởng phòng Hậu cần, Nguyễn Văn Ngọ rồi tiếp đó là Trịnh Quốc Hòa làm Trưởng phòng Kỹ thuật; Nguyến Văn Bình rồi tiếp đến Lê Văn Cải làm Trưởng ban Tài chính. Ở khoa giáo viên gồm các anh: Đỗ Hùng Vĩ, Chủ nhiệm Khoa Chiến thuật; Trần Hùng Phức rồi tiếp đó là Phạm Hồng Sơn làm Chủ nhiệm Khoa Bắn súng; Trần Kim Chung, Chủ nhiệm Khoa Binh chủng; Trần Văn Thuyết, Chủ nhiệm Khoa Trinh sát; Hà Văn Dũng, Chủ nhiệm Khoa Quân sự chung; Bùi Việt Dũng rồi tiếp đó là Mai Văn Nhuần làm Chủ nhiệm Khoa Công tác đảng, công tác chính trị; Lê Văn Nhuần rồi tiếp đó là Hồ Trọng Thụ làm Chủ nhiệm Khoa lý luận Mác Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; Vũ Đình Lưu rồi tiếp đó là Nguyễn Cảnh Ứng làm Chủ nhiệm Khoa Khoa học tự nhiên; Lê Văn Trao rồi tiếp đó là Đặng Thai Trân làm Chủ nhiệm Khoa Ngoại ngữ- tiếng Việt; Lê Văn Thắng làm Chủ nhiệm Khoa Thể thao.
Đội ngũ giáo viên của Trường được hình thành nhiều lớp lứa. Đó là những người miệng nói tay làm, luôn mô phạm đối với học viên. Trong điều kiện khó khăn, nhất là những giáo viên các bộ môn, các khoa quân sự, giữa thao trường nắng chói chang hay những đêm hành quân vượt sông, leo núi, xuyên rừng trong các cuộc diễn tập tổng hợp, luôn đem hết nhiệt tình trách nhiệm đối với nhiệm vụ. Đông đảo cán bộ lãnh đạo chỉ huy các hệ, các tiểu đoàn quản lý học viên cũng đều vậy. Với yêu cầu nhiệm vụ giáo dục - đào tạo của một nhà trường chính qui, mẫu mực, mọi cán bộ, giáo viên luôn luôn có tính tổ chức, tính kỷ luật nghiêm minh. Đó là “đặc sản”, là một trong những truyền thống của Nhà trường. Có lẽ xuất phát từ sự rèn luyện chính qui chặt chẽ nghiêm minh mà trong bao năm nhiều người đã gọi trệch đi bằng một tên dân dã đáng quí là “Trường Luộc quân”.

Để tiến tới Đại hội đại biểu Đảng bộ Nhà trường lần thứ 13, lãnh đạo, chỉ huy Nhà trường đã chủ trương phát động phong trào thi đua quyết thắng lập thành tích chào mừng Đại hội. Mục tiêu thi đua là tập trung xây dựng ý chí quyết tâm chuẩn bị mọi mặt cho năm học mới, nâng cao một bước nền nếp xây dựng chính qui, chấp hành kỷ luật, thực hiện có hiệu quả cuộc vân động theo chỉ thị 50 của Bộ Quốc phòng, bảo đảm vật chất tinh thần cho bộ đội. Nhà trường đang tập trung chỉ đạo diễn tập chiến thuật tổng hợp Khóa 64 diễn ra vào cuối tháng 11 năm 2000. Các hoạt động thực hiện chỉ thị của trên về xây dựng “Quĩ đền ơn đáp nghĩa”, cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”…thu được nhiều kết quả tốt. Cuộc hội thao quân sự cuối năm về thi đấu bóng đá, cầu lông, bóng bàn, vượt vật cản, chạy vũ trang; các cuộc thi hát đồng ca, đơn ca, các ca khúc truyền thống theo băng hình…diễn ra sôi nổi, hào hứng, thu hút mọi người tham gia. Một không khí phấn khởi, tin tưởng hướng về Đại hội diễn ra ở các cơ quan, đơn vị.
Sau một thời gian chuẩn bị công phu, tích cực, Đại hội đại biểu Đảng bộ Trường Sĩ quan Lục quân 1 lần thứ 13 được tiến hành từ ngày 21 đến ngày 23 tháng 11 năm 2000. Tham dự Đại hội có 150 đại biểu được bầu chọn qua Đại hội các cấp từ cơ sở đại diện cho 1.958 đảng viên của 30 tổ chức đảng trực thuộc. Theo thủ tục nguyên tắc, tôi được Đảng ủy Quân sự Trung ương giới thiệu về dự Đại hội Đảng bộ Nhà trường và được đề cử để bầu cử Ban chấp hành khóa mới. Anh Bạch Quang Triệu, Bí thư Đảng ủy, Phó Hiệu trưởng về chính trị tham gia Đoàn Chủ tịch điều hành Đại hội.
Được sự ủy nhiệm của Đảng ủy Quân sự Trung ương, anh Phùng Khắc Đăng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị và các đồng chí phái viên của Đảng ủy Quân sự Trung ương về dự và chỉ đạo Đại hội.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:57:42 PM
 Đây là lần đầu tiên tôi xuất hiện trước đông đủ cán bộ, giáo viên chủ chốt của Nhà trường. Phần đông trong số đại biểu dự Đại hội Đảng bộ, tôi mới gặp lần đầu. Qua tiếp xúc với những gương mặt rắn rỏi, trẻ trung, chất phác, cương nghị, tạo nên trong tôi một ấn tượng chân thành, gần gũi. Bước đầu tôi cảm thấy thân thiện và tự tin trong môi trường công tác mới.
Được dự Đại hội Đảng khi mới về Trường, đối với tôi là một điều may mắn,  thuận lợi. Bởi đây là dịp tốt nhất để tôi nắm được tình hình đã qua, hiện nay và xu thế phát triển của Trường trong thời gian tới. Vì vậy, tôi tập trung chăm chú theo dõi mọi chương trình nội dung của Đại hội, từ Báo cáo chính trị được chuẩn bị công phu, toàn diện của Đảng ủy đến các ý kiến phát biểu tham luận sôi nổi, nghiêm túc trong Đại hội.
Với tinh thần dân chủ, trí tuệ, đoàn kết, đổi mới và ý chí trách nhiệm cao, Đại hội đã đóng góp nhiều ý kiến vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội IX của Đảng; vào dự thảo Báo cáo chính trị của Đảng ủy Quân sự Trung ương trình Đại hội Đảng bộ quân đội lần thứ VII; vào Báo cáo chính trị của Đảng ủy Nhà trường nhiệm kỳ 12 trình Đại hội..
Các ý kiến phát biểu tại Đại hội đều thẳng thắn, khách quan, trung thực trong đánh giá kết quả lãnh đạo nhiệm vụ đào tạo cán bộ, xây dựng Nhà trường trong nhiệm kỳ qua. Tựu trung là: Đảng bộ Trường Sĩ quan Lục quân 1 đã nhận thức và quán triệt sâu sắc đặc điểm tình hình nhiệm vụ, đề ra Nghị quyết lãnh đạo đúng; xác định được bước đi phù hợp, tập trung vào nhiệm vụ trọng tâm, vào khâu yếu, mặt yếu, phát huy dân chủ, đề cao tinh thần chủ động sáng tạo, dám nghĩ dám làm; phát huy được sức mạnh tổng hợp của mọi tổ chức, lực lượng, nỗ lực phấn đấu khắc phục mọi khó khăn, toàn trường đã hoàn thành  nhiệm vụ chính trị trung tâm, hoàn thành tốt nhiệm vụ đột xuất. Đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, giáo viên toàn diện về bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, kinh nghiệm tổ chức thực tiễn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới; xây dựng nhà trường chính qui mẫu mực; bảo đảm tốt đời sống; giữ vững sự ổn định về chính trị, tư tưởng trong toàn trường; đoàn kết quân dân tốt. tạo được cơ sở, tiền đề vững chắc để thực hiện nhiệm vụ trong nhiệm kỳ mới.  Trong công tác xây dựng Đảng đã tạo được chuyển biến rõ rệt về năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, chi bộ, vai trò tiền phong gương mẫu của đội ngũ đảng viên, giữ vững vai trò là hạt nhân chính trị lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ, xây dựng đơn vị.
 Với tinh thần phê bình và tự phê bình, Đại hội đã chỉ ra những khuyết, nhược điểm về công tác giáo dục chính trị, quản lý kỷ luật, tổ chức thực hiện phương châm đào tạo, hoạt động phương pháp, nghiên cứu khoa học, xây dựng tổ chức cơ sở đảng, quản lý rèn luyện và sử dụng đội ngũ cán bộ đảng viên. Đại hội đã thống nhất đánh giá về nguyên nhân ưu, khuyết điểm, cùng với các bài học kinh nghiệm trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ và công tác xây dựng Đảng.
Đại hội nhận định, trong những năm tới, sự nghiệp giáo dục đào tạo của Nhả trường tiếp tục thực hiện trong điều kiện tình hình đất nước có nhiều thuận lợi rất cơ bản, nhưng cũng đang phải đối mặt với những khó khăn thách thức lớn. Quân đội ta cùng với quá trình đổi mới tiến lên của đất nước, có những điều kiện thuận lợi  hơn để xây dựng quân đội cách mạng, chính qui, từng bước hiện đại, trước mắt là tập trung đào tạo cán bộ và huấn luyện bộ đội. Hệ thống nhà trường quân đội tiếp tục được điều chỉnh theo hướng gọn, hợp lý, chất lượng cao. Đối với Trường Sĩ quan Lục quân 1, đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục đã và đang được đào tạo và đào tạo lại. Trường sở đã và đang được xây dựng khang trang, thao trường, bãi tập đang được đầu tư,…Tuy nhiên, chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên so với yêu cầu còn phải tiếp tục phấn đấu. Tỷ lệ giáo viên có trình độ sau đại học còn ít. Trong 5 năm tới, nhiệm vụ Nhà trường có bước phát triển, đối tượng đào tạo đa dạng, nhiều chuyên ngành, nhiều chương trình nội dung khác nhau. Những đặc điểm đó phản ánh cả thuận lợi và khó khăn trong nhiệm kỳ lãnh đạo của Đảng bộ.
Đại hội đã thảo luận sôi nổi đi đến thống nhất cao phương hướng nhiệm vụ và mục tiêu tổng quát trong nhiệm kỳ tới là: Quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo quan điểm giáo dục đào tạo của Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 2 khóa 8, Nghị quyết 93, 94 của Đảng ủy Quân sự Trung ương và các quan điểm tư tưởng quân sự của Đảng vào quá trình giáo dục đào tạo. Không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ, xây dựng Nhà trường chính qui, góp phần thực hiện mục tiêu đại học hóa trình độ học vấn đối với đội ngũ sĩ quan quân đội. Tăng cường sự lãnh đạo vững chắc của cấp ủy và tổ chức đảng, phát huy vai trò trách nhiệm của người chỉ huy. Động viên tinh thần sức mạnh đoàn kết, tính năng động sáng tạo của đội ngũ cán bộ cán bộ, đảng viên và quần chúng hướng vào thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, xây dựng Nhà trường vững mạnh toàn diện, xứng đáng là trung tâm đào tạo cán bộ phân đội mạnh của quân đội.
Thường xuyên giữ vững sự ổn định về chính trị, tư tưởng; tiếp tục đổi mới toàn diện, tạo sự chuyển biến căn bản về chất lượng dạy học, quản lý rèn luyện kỷ luật. Đảm bảo sĩ quan tốt nghiệp ra trường có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ đại học, có năng lực hoàn thành chức vụ ban đầu và có tiềm năng phát triển lâu dài; sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Tập trung nâng cao trình độ sau đại học, đặc biệt là học vị tiến sĩ cho giáo viên đầu ngành để cuối nhiệm kỳ có đủ điều kiện đào tạo sau đại học. Kết hợp chặt chẽ việc việc hoàn thành tốt nhiệm vu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ với xây dựng Nhà trường chính qui vững mạnh toàn diện”
Các đại biểu đều thống nhất về các mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể : Hoàn thành chương trình, nội dung, qui trình huấn luyện giáo dục, tổ chức phương pháp dạy học đại học; Xây dựng đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên chuyên môn kỹ thuật đủ về số lượng, có chất lượng tốt; Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục đào tạo với nghiên cứu khoa học, ứng dụng các kết quả vào thực tiễn; Xây dựng Nhà trường chính qui, môi trường văn hóa lành mạnh; Thường xuyên bảo đảm ổn định và từng bước cải thiện đời sống vật chất tinh thần cho bộ đội; Hoàn thành phê duyệt chương trình xây dựng cơ bản giai đoạn 2 và các hạng mục công trình khác với chất lượng, hiệu quả cao.
Để thực hiện có hiệu quả phương hướng nhiệm vụ và mục tiêu đề ra, Đại hội đã xác định một số giải pháp chính:
Phấn đấu nâng cao chất lượng chính trị của toàn trường lên một bước mới. Thường xuyên nâng cao chất lượng giáo dục chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tình hình nhiệm vụ; đổi mới nội dung , hình thức, phương pháp công tác tư tưởng; thực hiện tốt qui chế dân chủ ở cơ sở; đẩy mạnh phong trào thi đua quyết thắng.
Nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ. Quán triệt sâu sắc quan điểm giáo dục của Đảng. Nắm vững ý nghĩa của chủ trương đào tạo bồi dưỡng cán bộ theo chức vụ với trình độ học vấn bậc đại học, nâng cao bản lĩnh chính trị và năng lực thực hành cho người học. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học và hoạt động phương pháp hướng vào việc nâng cao chất lượng dạy và học.
Tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng Nhà trường chính qui, vững mạnh toàn diện; coi trọng xây dựng môi trường văn hóa, môi trường giáo dục lành mạnh, phong phú. Đảm bảo sự ổn định thường xuyên về đời sống của bộ đội.
Đại hội đã đề ra phương hướng nhiệm vụ xây dựng Đảng bộ Nhà trường trong nhiệm kỳ mới: Toàn Đảng bộ tiếp tục thực hiện Cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng với quyết tâm và nỗ lực cao hơn, tạo sự chuyển biến cơ bản trên cả ba mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức. Nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện và sức chiến đấu của tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên đáp ứng yêu cầu lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ giáo dục đào tạo và xây dựng Nhà trường trong giai đoạn mới.
Đại hội đã tiến hành bầu cử Ban Chấp hành Đảng bộ Nhà trường nhiệm kỳ 13 ( 2001- 2005) và đại biểu đi dự Đại hội Đảng bộ quân đội lần thứ VII.
Ban Chấp hành Đảng bộ gồm 13 người:  Nguyễn Mạnh Đẩu, Đỗ Hùng Vĩ, Nguyễn Đăng Thanh, Nguyễn Trọng Thắng, Nguyễn Đắc Hưng, Doãn Văn Hãn, Nguyễn Hưng Tân, Vũ Minh Tiến, Nguyễn Văn Soạn, Lê Văn Nhuần, Nguyễn Khắc Viện, Bùi Việt Dũng, Nguyễn Văn Pha.
Trong phiên họp đầu, Đảng ủy đã bầu Thường vụ Đảng ủy gồm 4 người: Nguyễn Mạnh Đẩu, Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Trọng Thắng, Nguyễn Văn Soạn. Tôi vinh dự được bầu làm Bí thư Đảng ủy Nhà trường.
Toàn thể Ban Chấp hành Đảng bộ đã ra mắt Đại hội. Thay mặt Ban Chấp hành, tôi phát biểu bày tỏ lòng cảm ơn đại biểu Đại hội đã tin tưởng bầu chúng tôi vào Ban Chấp hành. Chúng tôi xác định đây là một vinh dự lớn đồng thời là trách nhiệm nặng nề mà 150 đại biểu đại diện cho 1.958 đảng viên đã ký thác giao phó cho chúng tôi. Chúng tôi hứa quyết tâm phát huy dân chủ, tập trung trí tuệ, nguyện đoàn kết một lòng, xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh đủ sức lãnh đạo Nhà trường hoàn thành nhiệm vụ trong thời gian tới. Mong Đại hội cũng như toàn thể cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ ra sức phấn đấu cùng Ban chấp hành biến Nghị quyết của Đại hội thành hiện thực.
Đại hội đại biểu Đảng bộ Trường Sĩ quan Lục quân 1 lần thứ 13 đã diễn ra và kết thúc thắng lợi vào thời điểm rất quan trọng, đánh dấu bước phát triển, đưa sự nghiệp giáo dục đào tạo của Nhà trường tiến lên trong thời kỳ mới.
Sau một thời gian nghiên cứu nắm tình hình của Trường và các cơ quan, khoa, đơn vị quản lý học viên, tôi bắt tay vào công việc. Căn cứ vào tinh hình nhiệm vụ của Nhà trường; trên cơ sở chức trách nhiệm vụ;  tôi xác định mục tiêu phấn đấu để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Mục tiêu bao trùm xuyên suốt của tôi lúc này là:  Cùng tập thể Đảng ủy- Ban Giám hiệu xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, Nhà trường vững mạnh toàn diện đủ sức hoàn thành nhiệm vụ giáo dục-đào tạo và các nhiệm vụ khác mà Bộ Quốc phòng giao cho. Để thực hiện được mục tiêu đó, khâu đầu tiên là xây dựng bầu không khí đoàn kết dân chủ từ Thường vụ Đảng ủy- Ban Giám hiệu đến tất cả cơ quan, khoa giáo viên và đơn vị quản lý học viên. Coi đoàn kết dân chủ vừa là mục tiêu vừa là động lực, là môi trường tạo nên sức mạnh của sự phát triển. Đoàn kết còn là thước đo năng lực của cán bộ chính trị các cấp. Trên cơ sở có sự đoàn kết thực sự vững chắc, phát huy dân chủ, xây dựng tính tổ chức kỷ luật nghiêm minh tự giác, tiến hành kiện toàn tổ chức, hoàn chỉnh qui chế hoạt động, đổi mới phong cách, phương pháp công tác nhằm tạo ra sự vận hành đồng bộ, nhịp nhàng, có hiệu quả. Phát huy vai trò của các cơ quan chức năng trong việc làm tham mưu cho Đảng ủy-Ban Giám hiệu và chỉ đạo hướng dẫn các đơn vị cơ sở trong trường. Xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là cán bộ chủ trì các cấp, có phẩm chất, năng lực và phong cách công tác tốt, thực sự là nòng cốt giữ vai trò quyết định trong việc triển khai thực hiện nhiệm vụ. Kết quả hoàn thành nhiệm vụ theo chức trách là thước đo phẩm chất, năng lực của mọi cán bộ, giáo viên.

Trên cương vị là người chủ trì Công tác đảng, Công tác chính trị, sau Đại hội tôi đã cùng các anh trong Thường vụ Đảng ủy, Đảng ủy và Ban Giám hiệu Nhà trường kịp thời triển khai quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ VII và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Nhà trường lần thứ 13 đến toàn thể cán bộ, đảng viên và quần chúng trong toàn trường. Biến những chủ trương, giải pháp lãnh đạo của Đảng thành niềm tin, ý chí quyết tâm, hành động cách mạng của mọi người. Gắn việc học tập Nghị quyết vào việc thực hiện nhiệm vụ cụ thể của mọi cơ quan, đơn vị. Nhờ đó, tạo được sự chuyển biến tích cực cả về nhận thức, tư tưởng và hành động trong toàn Trường. Các cơ quan: Phòng Đào tạo, Phòng Chính trị, Phòng Khoa học - công nghệ, Phòng Hậu cần, Phòng Kỹ thuật đã phối hợp giúp Thường vụ Đảng ủy -Ban Giám hiệu xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết của Nhà trường. Thường vụ Đảng ủy đã chỉ đạo việc xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết của các cơ quan, khoa giáo viên và đơn vị quản lý học viên. Chương trình hành động của các cấp đều phản ảnh quán triệt sâu sắc Nghị quyết, dựa chắc vào tình hình nhiệm vụ của đơn vị, xác định mục tiêu cụ thể,  nội dung giải pháp có tính khả thi cao.
Trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực và trong nước tiếp tục diễn biến phức tạp. Tình hình kinh tế-xã hội của đất nước cơ bản ổn định, kinh tế tiếp tục tăng trưởng khá, thế và lực của đất nước ngày càng phát triển, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Tuy nhiên, đất nước đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn: Kinh tế phát triển chưa cao và chưa bền vững; những diễn biến bất thường về thiên tai, dịch bệnh, biến động giá cả thị trường; nhiều vấn đề xã hội bức xúc chưa được giải quyết. Chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là Mỹ và các thế lực thù địch tiếp tục chiến lược “ Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, chống phá cách mạng nước ta, nhất là trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa; thúc đẩy tự diễn biến để chuyển hóa ta, ra sức lợi dụng các vấn đề “tôn giáo”, “dân tộc”, “dân chủ”, “nhân quyền” để kích động, chống đối  Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.
Trường Sĩ quan Lục quân 1 có bước phát triển trong nhiệm vụ đào tạo sĩ quan chỉ huy phân đội bậc đại học với số lượng cao hơn, trên các chuyên ngành:  bộ binh, bộ binh cơ giới, trinh sát bộ đội, trinh sát đặc nhiệm, hỏa khí đi cùng; đào tạo hoàn thiện đại học, hoàn thiện phân đội, sĩ quan dự bị, dự bị đại học, sĩ quan Quân đội nhân dân Lào. Đặc biệt là, từ năm học 2001-2002, Nhà trường được Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ đào tạo dự bị sĩ quan cho các Học viện, Trường Sĩ quan khu vực phía Bắc với số lượng lớn, thời gian chuẩn bị gấp, cán bộ, giáo viên, nhân viên phục vụ thiếu, giảng đường, thao trường, bãi tập, cơ sở vật chất kỹ thuật bảo đảm dạy-học và đời sống có nhiều khó khăn.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:58:12 PM
Được sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy Quân sự Trung ương - Bộ Quốc phòng, sự hướng dẫn, giúp đỡ của các cơ quan cấp trên, Đảng ủy- Ban Giám hiệu Nhà trường đã quán triệt sâu sắc Nghị quyết của trên và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Nhà trường lần thứ 13, lãnh đạo toàn Trường nỗ lực phấn đấu, khắc phục khó khăn, đoàn kết, thống nhất, chủ động , sáng tạo hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, có nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc. Nổi lên một số kết quả chính là:
Đã lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan, đơn vị trong toàn trường phát huy tinh thần chủ động, tích cực, sáng tạo hoàn thành tốt nhiệm vụ giáo dục - đào tạo cán bộ. Trên cơ sở quán triệt sâu sắc quan điểm, tư tưởng quân sự, nguyên lý giáo dục của Đảng, xây dựng chương trình, nội dung đào tạo cho các đối tượng theo phương châm:” Cơ bản, hệ thống, thống nhất, chuyên sâu” vừa bảo đảm học vấn bậc đại học, vừa nâng cao năng lực thực hành cho học viên. Thực hiện theo mục tiêu, yêu cầu đào tạo, sát với từng đối tượng học viên, phù hợp với truyền thống và yêu cầu tác chiến trong tình hình mới. Coi trọng day - học thực hành, truyền thụ kinh nghiệm thực tiễn, kinh nghiệm chiến đấu; kết hợp giữa lý thuyết với thực hành; giữa trang bị kiến thức kinh nghiệm với bồi dưỡng rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, động tác thực hành. Làm cho người học có kiến thức, năng lực tổ chức chỉ huy, huấn luyện quản lý bộ đội; đồng thời biết tiến hành công tác đảng, công tác chính trị theo chức trách, nhiệm vụ của người sĩ quan chỉ huy cấp phân đội. Đã kịp thời điều chỉnh chương trình kế hoạch huấn luyện khi nhận nhiệm vụ đào tạo dự bị sĩ quan. Các tiểu đoàn quản lý học viên năm thứ nhất đã phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo trong xây dựng kế hoạch và điều hành huấn luyện. Công tác quản lý, điều hành, tổ chức dạy-học đi vào nền nếp chính qui, có chất lượng tốt. Nghiên cứu đổi mới hình thức thi các môn học và thi tốt nghiệp. Vì vậy, chất lượng học viên tốt nghiệp được nâng lên, nhất là khả năng thực hành. Công tác kiểm tra huấn luyện được duy trì thường xuyên, có nền nếp, kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm vào những khâu yếu, mặt yếu, nội dung mới, nên đã kịp thời rút kinh nghiệm, phát hiện chấn chỉnh những sai sót, khuyết điểm trong quá trình dạy - học. Tuyệt đại đa số cán bộ, giáo viên, học viên chấp hành nghiêm qui chế huấn luyện. Việc chấp hành kỷ luật trong thi, kiểm tra có nhiều chuyển biến tiến bộ.
 Các cuộc diễn tập tổng hợp từ Khóa 64 đến Khóa 68 được các cơ quan, khoa, đơn vị làm tốt công tác chuẩn bị, điều hành chặt chẽ, thống nhất, đúng phương án, kế hoạch. Cán bộ, giáo viên, học viên tham gia diễn tập đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, kỷ luật nghiêm, đạt được mục đích yêu cầu đề ra, đặc biệt là bảo đảm an toàn tuyệt đối.
Tôi nhớ lần diễn tập tổng hợp cuối khóa của Khóa 66, tiến hành vào cuối  tháng 11 năm 2003. Sau một vòng hành quân hơn mười ngày, vượt sông, leo núi, xuyên rừng với chặng đường khoảng hơn 200 km, tình huống cuối cùng là tổ chức một trận chiến đấu có hợp đồng binh chủng: Một đại đội bộ binh có xe tăng, pháo binh yểm trợ, tấn công tiêu diệt quân địch phòng ngự trong công sự vững chắc, có ba lớp rào kẽm gai ở Cao điểm 61A, 61B- Đồng Doi. Dự kiến là 5 giờ sáng nổ súng. Lúc 4 giờ 45 phút, Thủ tưởng Nhà trường và các phòng, khoa trong Ban Chỉ đạo diễn tập đã ngồi vào đài quan sát để theo dõi kiểm tra. Lúc này các đơn vị đã vào vị trí xuất phát xung phong;  mấy giá mìn đinh hướng đã đặt ở trước hàng rào để phá cửa mở, mỗi giá cài đặt từ 3 đến 5 quả mìn định hướng loại lớn (ĐH35)  chuẩn bị bấm điện để xe tăng và bộ binh vượt qua;  cối 82 ly, ĐKZ 75 ly đã lấy xong phân tử xạ kích, chuẩn bị bắn.  Để cuộc diễn tập sát với thực tế chiến đấu, hơn nữa để bảo đảm an toàn tuyệt đối, tôi đề nghị anh Hạ cho kiểm tra lại toàn bộ trước khi bắt đầu nổ súng. Tôi vào tận hàng rào xem lại các giá mìn định hướng; đồng thời kiểm tra lại các lực lượng tham gia diễn tập. Sau một vòng kiểm tra, tôi phát hiện một số điểm không đúng với yêu cầu chiến thuật và không sát với thực tế chiến đấu: Một là, bộ binh vào triển khai công sự ở vị trí xuất phát tiến công cách vị trí tiền tiêu của địch quá gần. Điều này không cho phép vì đưa bộ đội vào quá gần địch khi chưa nổ súng thì rất dễ bị lộ và  khi pháo binh cấp trên cùng hỏa lực của đơn vị bắn chuẩn bị thì độ tản mát của đạn sẽ rơi vào đội hình ta, gây thương vong khi chưa chiến đấu. Hai là, việc bố trí cối 82 ly và ĐKZ 75 ly quá sát nhau, trái với yêu cầu chiến thuật là: hỏa khí phân tán, hỏa lực tập trung. Sau khi nghe tôi trình bày, anh Hạ thống nhất và lệnh cho bộ binh lùi ra cách trận địa địch khoảng 200m; trận địa cối 82 ly và ĐKZ 75 ly phải bố trí lại. Một giờ sau, khi điều chỉnh xong đội hình, cuộc diễn tập bắt đầu nổ súng.   
Quá trình dạy - học, các đơn vị thực hiện nghiêm qui trình đào tạo nên các nội dung huấn luyện quân sự, diễn tập, thực tập, giáo dục khoa học xã hội nhân văn, giáo dục công tác đảng, công tác chính trị đều có chuyển biến tốt. Trong điều kiện quân số đông, yêu cầu về giảng đường, thao trường, vật chất kỹ thuật lớn, nhưng Nhà trường đã tích cực chủ động khắc phục khó khăn, đề ra giải pháp hợp lý, tranh thủ sự giúp đỡ của trên và khai thác các nguồn lực tại chỗ, đáp ứng tương đối tốt các yêu cầu vật chất kỹ thuật cho nhiệm vụ dạy-học.
Hội thi giáo viên dạy giỏi được tổ chức chặt chẽ từ cơ sở đến cấp Nhả trường, góp phần thúc đẩy tinh thần tự học, vươn lên của đội ngũ cán bộ, giáo viên. Qua hội thi lựa chọn được các đồng chí tiêu biểu tham gia đội tuyển của Nhà trường dự thi toàn quân. Tập huấn hè hàng năm cho cán bộ, giáo viên được tổ chức chặt chẽ với chương trình, nội dung phù hợp, thiết thực. Do đó, năng lực quản lý, chỉ huy của cán bộ và năng lực sư phạm của giáo viên ngày càng được nâng cao, đáp ứng yêu cầu giáo dục- đào tạo, xây dựng Nhà trường chính qui.
Nhờ chỉ đạo chặt chẽ, quan tâm dúng mức, động viên kịp thời, Đoàn vận động viên Nhà trường xếp thứ ba trong Đại hội TDTT Quốc phòng lần thứ V, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Tham gia Hội thi Olympic các môn khoa học Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh đạt giải nhất toàn quân, giải khuyến khích toàn quốc. Thi báo cáo viên tư tưởng Hồ Chí Minh đạt giải ba toàn quân.
Bên cạnh những kết quả đạt được, nghiêm khắc kiểm điểm một cách khách quan, trung thực thì quá trình giáo dục đào tạo của Nhà trường trong thời kỳ này cũng bộc lộ những hạn chế, khuyết điểm cần khắc phục: Việc vi phạm qui chế thi, kiểm tra chưa được khắc phục triệt để - Trách nhiệm này thuộc về cả ba bên : giáo viên, học viên và cán bộ quản lý giáo dục. Trong giảng dạy, tính chiến đấu, tính phê phán, sức thuyết phục của một số giáo viên còn hạn chế. Nhiều giáo viên chưa nhuần nhuyễn trong việc gắn lý luận với thực tiễn. Phương pháp giảng dạy còn nặng về thông báo một chiều, thầy đọc trò ghi là chính. Ít nêu vấn đề gợi mở theo phương pháp dạy học tích cực. Việc cập nhật thông tin liên quan đến công tác giảng dạy còn một số vấn đề chưa nhanh, nhạy dẫn đến tính thời sự, sức sống, sự hấp dẫn của bài giảng còn hạn chế. Bố trí lịch giáo dục của cơ quan, khoa có lúc chưa logic, chưa phù hợp tính kế thừa và qui luật nhận thức.

Từ ngày 3 đến ngày 19 tháng 7 nam 2001, được sự đồng ý của Bộ Quốc phòng, Đoàn đại biểu Trường Sĩ quan Lục quân 1 đi thăm Trung Quốc. Đoàn do tôi dẫn đầu cùng các anh: Nguyễn Trọng Thắng, Hiệu phó; Trần Minh Quang, Trưởng phòng Đào tạo; Nguyễn Đăng Thanh, Trưởng phòng Khoa học-công nghệ; Đỗ Hùng Vĩ, Chủ nhiệm Khoa chiến thuật. Tham gia Đoàn còn có anh Dương Văn Hào, cán bộ cơ quan Tổng cục Chính trị, giữ vai trò phiên dịch. Đoàn đã đến thăm và làm việc với Bộ Quân huấn- Bộ Tổng tham mưu Quân Giải phóng nhân dân Trung quốc, Quân khu Nam Ninh, Sư đoàn Thiết giáp số 6, Học viện Lục quân Quế Lâm. Đoàn đã đến thăm những danh lam thắng cảnh ở Bắc Kinh, Thượng Hải, Quế Lâm. Thay mặt nhà trường, Đoàn đã tiến hành trao đổi kinh nghiệm về công tác giáo dục-đào tạo; đồng thời cám ơn Đảng, quân đội và nhân dân Trung Quốc đã tận tình giúp đỡ nhà trường trong những năm nhà trường đóng tại  Côn Minh, Quế Lâm- Trung Quốc. Những nơi Đoàn chúng tôi đến thăm đều được bạn nồng nhiệt đón tiếp.
Với tôi đây là lần thứ hai đi thăm Trung Quốc. Lần thứ nhất là khi còn làm Cục trưởng Cục Chính sách tôi được tham gia Đoàn đại biểu của Tổng cục Chính trị sang thăm và làm việc với Tổng cục Chính trị Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc, từ ngày 10 đến ngày 17 tháng 6 năm 1997. Đoàn do Trung tướng Lê Hai, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị dẫn đầu. Thành phần Đoàn đại biểu còn có các anh: Nguyễn Văn Phiệt, Phó tư lệnh về Chính trị Quân chủng Phòng không-Không quân; Lê Thành Tâm, Phó tư lệnh về Chính trị Quân khu 7; Phạm Hồng Thanh, Cục trưởng Cục Tư tưởng Văn hóa (sau này là Trung tướng, Phó chủ nhiệm TCCT); Nguyễn Xuân Long, Phó Văn phòng TCCT, Nguyễn Xuân Mai, cán bộ Văn phòng TCCT. Ngày 11 tháng 6 năm 1997, Đoàn đại biểu Tổng cục Chính trị ta đã hội đàm với Đoàn đại biểu Tổng cục Chính trị Quân Giải phóng nhân dân Trung quốc do Trung  tướng Đường Thiên Tiêu, Phó Chủ nhiệm làm Trưởng đoàn. Sau đó, Thượng tướng Vu Vĩnh Ba, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm TCCT Trung Quốc tiếp kiến và chiêu đãi Đoàn tại Điếu Ngư Đài; Thượng tướng Trương Vạn Niên, Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương tiếp kiến Đoàn tại Đại Lễ đường nhân dân Trung Quốc. Hồi đó, Chủ tịch Quân ủy Trung ương là Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch nước Giang Trạch Dân và có bốn Phó Chủ tịch là : Trương Chấn, Lưu Hoa Thanh, Thượng tướng Trì Hạo Điền, Thượng tướng Trương Vạn Niên. Sau cách mạng văn hóa, khi thực hiện lại chế độ quân hàm, trong Quân đội Trung Quốc bậc quân hàm cao nhất là Thượng tướng. Thượng tướng Trương Vạn Niên kể với Đoàn chúng tôi rằng, ông đã sang Việt Nam, vào tận tuyến lửa, trong thời kỳ Việt Nam chống Mỹ. Trong thời gian thăm Trung Quốc, chúng tôi đã tham quan Thiên An Môn, Tử Cấm Thành, Vạn lý trường thành, Thượng Hải, Chiết Giang, Hàng Châu, Quảng Châu. Tại Quảng Châu, ngày 16 tháng 6 năm 1997, Đoàn chúng tôi đã đến tham quan khu nhà lưu niệm Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội ở số nhà 248 và 250 đường Văn Minh, nơi Bác Hồ đã mở lớp đào tạo cán bộ từ năm 1925; đến viếng mộ liệt sỹ Phạm Hồng Thái ở Công viên Hoàng Hoa Cương.
Nhân dịp chuẩn bị kỷ niệm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam-Ngày Hội quốc phòng toàn dân; thể theo nguyện vọng của cán bộ, giáo viên, học viên, công nhân viên và chiến sĩ toàn trường, ngày 19-12-2002, Đoàn cán bộ nhà trường do anh Nguyễn Hữu Hạ và tôi dẫn đầu về Thủ đô Hà Nội thăm và chúc mừng Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Trong không khí vui mừng, xúc động và đầm ấm, thay mặt Đảng ủy- Ban Giám hiệu Nhà trường, tôi đã phát biểu bày tỏ sự vui mừng phấn khởi của cán bộ nhà trường được đến thăm, chúc mừng Đại tướng;  đồng thời báo cáo tóm tắt với Đại tướng về thành tích của Trường trong những năm qua; bày tỏ lòng biết ơn đối với Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội đối với quá trình xây dựng và trưởng thành của Trường Sĩ quan Lục quân 1; kính chúc Đại tướng luôn mạnh khỏe, sống lâu, tiếp tục đóng góp trí tuệ cho đất nước, cho quân đội. Kết thúc phần báo cáo, thay mặt Nhà trường, tôi đã kính tặng Đại tướng bức ảnh Bác Hồ trao lá cờ thêu sáu chữ vàng cho học viên Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn nhân ngày khai giảng Khóa 1- tháng 5 năm 1946 và lẵng hoa tươi thắm. Đại tướng đã dành thời gian nói chuyện thân mật với đoàn cán bộ nhà trường. Đại tướng vui mừng, phấn khởi về thành tich đạt được và sự trưởng thành mọi mặt của nhà trường; Mong  nhà trường tiếp tục phấn đấu giữ vững và phát huy thống anh hùng trong giai đoạn mới. Tiếp đó, sau khi nhận định, phân tích tinh hình thế giới, khu vực và trong nước, nhiệm vụ của lực lượng vũ trang nhân dân, Đại tướng đã ân cần căn dăn: “ Trường sĩ quan Lục quân 1 là nhà trường đầu tiên của quân đội ta. Trong tình hình hiện nay, công tác giáo dục-đào tạo cán bộ càng phải chú trọng và nâng cao, đặc biệt là giáo dục chính trị tư tưởng, xây dựng lập trường cách mạng lên hàng đầu, để học viên tốt nghiệp ra trường đủ sức lãnh đạo,chỉ huy đơn vị cơ sở và sẵn sàng chiến đấu cao. Trong huấn luyện, nhà trường phải coi trọng huấn luyện sát thực tế chiens đấu và xây dựng đợn vị, nhất là huấn luyện phai tiếp cận với sự phát triển của khoa học, công nghệ tiên tiến, hiện đại của thế giới. Sĩ quan ra trường phải biết sử dụng vi tính, có kiến thức khoa học công nghệ, khoa học quân sự, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ được giao”. Chúng tôi vô cùng cảm kích về những lời dạy bảo ân tình của Đại tướng. Tôi may mắn vinh dự một số lần được tiếp kiến Đại tướng, bao giờ cũng để lại trong lòng tôi những ấn tượng sâu sắc, không thể nào quên.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:58:54 PM
 Nhân dịp chuẩn bị kỷ niệm 50 năm Chiến thắng lịch sử Điên Biên Phủ, từ ngày 25 đến ngày 28 tháng 3 năm 2004, Nhà trường tổ chức một Đoàn cán bộ, giáo viên do tôi dẫn đầu lên thăm Điên Biên Phủ để được tận mắt nhìn và nghe trình bày về các trận chiến đấu cũng như toàn chiến dịch. Đây là lần thứ hai tôi lên Điên Biên Phủ. Lần thứ nhất vào cuối tháng 4 năm 1994, tôi đi cùng Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị lên Điên Biên với nhiệm vụ kiểm tra các công việc chuẩn bị phục vụ Lễ kỷ niệm 40 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ phần quân đội phụ trách như tham gia tu sửa Nghĩa trang liệt sỹ, Tượng đài, Bia kỷ niệm, Bảo tàng Điện Biên Phủ. Và ngày đó, Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ cho một trung đoàn công binh làm đường và tu sửa lại Chỉ huy Sở Mường Phăng, cách Trung tâm Điện Biên Phủ 38 km. Tôi được biết, trước đó, có lần, Đại tướng Võ Nguyên Giáp có ý kiến: Chỉ huy Sở Mường Thanh của tướng Đờ Cát bại trận đã được phục chế một cách kiên cố. Còn Chỉ huy Sở ở Mường Phăng của bên thắng trận đang bị lãng quên, nếu để lâu sẽ trở thành phế tích. Vì vậy, phải làm lại để tương xứng với tầm vóc của chiến thắng, của lịch sử.
Lần này, Đoàn cán bộ chúng tôi xuất phát ở Trường từ 5 giờ sáng ngày 25 tháng 4 theo đường Sơn Tây qua Sơn La lên Điên Biên Phủ. Tối hôm đó cả Đoàn ngủ ở doanh trại của Tiểu đoàn 1 thuộc Tỉnh đội Điên Biên. Đêm đến tôi bồi hồi xúc động khi được trở lại mảnh đất lịch sử mà chẵn 50 năm trước đây cha tôi đã cùng đồng đội - những người chiến binh bình dị - đã vượt qua muôn vàn gian khổ hy sinh để làm nên chiến thắng huy hoàng. Chiến thắng này là một cột mốc sáng ngời trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta và tỏa sáng đến muôn đời sau.  Chiến thắng Điên Biên Phủ còn được bạn bè thế giới khâm phục, để rồi từ đó tạo nên một cụm từ mới trong quan hệ quốc tế: Việt Nam - Hồ Chí Minh - Điện Biên Phủ. Trong niềm cảm xúc dâng trào, tôi đã viết liền một mạch bài thơ CON VỀ ĐIÊN BIÊN. Chờ đến lúc trời rạng sáng, tôi sang phòng bên đọc cho anh Bạch Quang Triệu và anh Nguyễn Đình Chức cùng nghe. Sau đó, lúc 8 giờ sáng khi Đoàn vào viếng Nghĩa trang Liệt sĩ  Đồi A1, tôi đã xúc động đọc bài thơ này trước hàng quân.

       CON VỀ ĐIỆN BIÊN

                  (Kính tặng Cha và các đồng đội)



Con về Điện Biên tròn phần hai thế kỷ
Từ thuở Cha đánh Pháp trận cuối cùng
Ôi! Điện Biên chiến thắng lẫy lừng
Tỏa sáng ngàn năm bất hủ
Những chiến binh băng mình trong máu lửa
Đã tạc vào lịch sử đóa hoa cương
Con đã vào Chỉ huy Sở Mường Phăng
Nơi Đại tướng cùng Bộ Tham mưu chiến dịch
Ôi! Trí tuệ tuyệt vời, quyết tâm bằng thép
Vạch trúng con đường xuyên thẳng tới trung tâm.
Con đã vào A1, Hồng Cúm, Him Lam
Những chiến tích vô cùng oanh liệt
Giành giật đêm ngày máu thấm từng thước đất
Có chiến công nào chẳng đổi những hy sinh!
Con vào đây từ dốc ấy,  Pha Đin
Nhớ thuở ông cha bàn chân trần khứa máu
Từ muôn ngả non sông về đây hội tụ
Vực thẳm đèo cao in dấu những đoàn quân.
Chúng tôi về đây xin dâng nén hương thơm
Kính cẩn tâm linh những hàng bia thẳng lối
Di tích trầm hùng chất chứa điều nhắn gửi
Hãy từ Điện Biên luôn vươn tới tương lai ./.


Tối ngày 25 tháng 3 năm 2004, từ Điện Biên tôi đã đọc bài thơ qua điện thoại di động cho người bạn thân thiết ở Hà Nội. Bạn tôi đã chuyển đến Tòa soạn Báo Quân đội nhân dân đăng nhân kỷ niệm Ngày Thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh – 26/ 3 /2004. Tôi mừng lắm vì đây là một kỷ niệm đẹp.
Từ sau Đại hội Đảng bộ Nhà trường lần thứ 13, nhất là từ khi Đảng ủy Nhà trường có Nghị quyết chuyên đề lãnh đạo công tác khoa học, công nghệ và môi trường, lãnh đạo chỉ huy Nhà trường, Phòng Khoa học - công nghệ và các đơn vị đã có sự nhận thức sâu sắc hơn về vị trí của công tác nghiên cứu khoa học; đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện kế hoạch nghiên cứu, tạo bước chuyển biến về chất lượng và hiệu quả. Tập trung nghiên cứu đổi mới chương trình, nội dung, qui trình, phương pháp huấn luyện cấp phân đội sát với thực tế chiến đấu và đối tượng tác chiến. Đổi mới nội dung, hình thức tổ chức, phương pháp diễn tập chiến thuật, thi tốt nghiệp quốc gia; phương pháp thi, kiểm tra đánh giá kết quả dạy- học, bảo đảm khách quan chính xác, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục- đào tạo. Ban Giám hiệu và Phòng Khoa học - công nghệ đã chỉ đạo, hướng dẫn các khoa đẩy mạnh các hoạt động phương pháp. Thông qua đó, trình độ kiến thức, năng lực sư phạm, kinh nghiệm thực tiễn của đội ngũ giảng viên được nâng lên. Phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến đồ dùng dạy học, hoạt động thông tin tư liệu,…đi vào nền nếp, bước đầu động viên được đông đảo đội ngũ cán bộ, giáo viên, học viên tham gia. Tập trung sự chỉ đạo việc biên soạn giáo trình các môn học; đã hoàn thành việc biên soạn, biên tập nhiều giáo trình, tài liệu; hoàn thành nhiều đề tài khoa học cấp Bộ, cấp Trường. Các đề tai, tài liệu, giáo trình đều thiết thực phục vụ nhiệm vụ dạy - học, nâng cao chất lượng giáo dục- đào tạo.
Tuy nhiên, ở một số khoa giáo viên việc đầu tư thời gian, trí tuệ cho công tác khoa học và hoạt động phương pháp, chưa thật ngang tầm là một trung tâm giáo dục đào tạo sĩ quan  bậc đại học. Việc bồi dưỡng của khoa, của bộ môn và của từng giáo viên để nâng cao trình độ chuyên ngành và phương pháp sư phạm chưa được đề cao.
Theo chức trách, tôi trực tiếp phụ trách Khoa Lý luận chủ nghĩa Mác Lê nin, tư tưởng Hồ chí Minh và Khoa Công tác đảng, công tác chính trị. Tôi đã có sự gắn bó mật thiết với các anh chỉ huy cũng như giáo viên hai khoa đó trong việc tham gia xây dựng chương trình, nội dung; biên tập tài liệu giáo trình; đổi mới phương pháp day-học và nghiên cứu khoa học. Năm 2002, theo sự chỉ đạo của Tổng cục Chính trị, Nhà trường triển khai nghiên cứu đề tài “ Đào tạo, bồi dưỡng năng lực tiến hành công tác đảng, công tác chính trị cho học viên sĩ quan chỉ huy cấp phân đội trong tình hình hiện nay”. Tôi được phân công làm Chủ nhiệm, anh Nguyễn Trọng Hân làm Thư ký đề tài. Tham gia biên soạn có các anh Mai Nhuần, Hồ Trọng Thụ, Cấn Văn Phong. Tiến hành công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội là một nguyên tắc nhằm tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội. Cán bộ chỉ huy cấp phân đội đồng thời là người lãnh đạo đơn vị. Việc đào tạo, bồi dưỡng năng lực tiến hành công tác đảng, công tác chính trị đối với học viên đào tạo sĩ quan chỉ huy cấp phân đội trở thành một vấn đề vừa cơ bản vừa cấp thiết. Đến thời điểm đó đã có một số tác giả nghiên cứu về nâng cao năng lực tiến hành công tác đảng, công tác chính trị cho cán bộ, sĩ quan các cấp. Nhưng chưa có một công trình nghiên cứu độc lập, cơ bản, hệ thống về lý luận và thực tiễn đào tạo, bồi dưỡng năng lực tiến hành công tác đảng, công tác chính trị cho học viên sĩ quan chỉ huy cấp phân đội có trình độ đại học trong tình hình mới. Vì vậy, đề tài có ý nghĩa lý luận và thực tiễn. Trên cơ sở luận giải năng lực tiến hành công tác đảng, công tác chính trị của học viên sĩ quan chỉ huy cấp phân đội; đánh giá thực trạng; đề tài đã xác định những yêu cầu cơ bản và đề xuất những giải pháp chủ yếu, những kiến nghị cần thiết để đào tạo, bồi dưỡng năng lực tiến hành công tác đảng, công tác chính trị cho học viên sĩ quan chỉ huy cấp phân đội trong tình hình mới. Ngày 7 tháng 3 năm 2003, Tổng cục Chính trị đã tổ chức nghiệm thu. Anh Phùng Khắc Đăng, Trung tướng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Chủ tich Hội đồng Khoa học TCCT chủ trì hội nghị. Đề tài được Hội đồng khoa học đánh giá thuộc loại xuất sắc. Sau khi nghiệm thu, kết quả của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo giảng dạy bộ môn công tác đảng, công tác chính trị trong các trường sĩ quan, các trường quân sự quân khu, quân đoàn; tham khảo vận dụng vào quá trình chỉ đạo hoạt động công tác đảng, công tác chính trị ở phân đội và bồi dưỡng đội ngũ sĩ quan cấp phân đội trong quân đội.
Năm 2004, theo chỉ đạo của Bộ Tổng Tham mưu, Nhà trường triển khai nghiên cứu đề tài “Xây dựng, bồi dưỡng xu hướng nghề nghiệp quân sự cho học viên đào tạo sĩ quan chỉ huy tham mưu lục quân cấp phân đội trong giai đoạn hiện nay”. Tôi được phân công làm Chủ nhiệm, anh Lê Viết Anh làm Thư ký đề tài. Tham gia biên soạn có các anh: Nguyễn Văn Soạn, Trần Hùng Phức, Hồ Trọng Thụ, Nguyễn Tiến Phúc, Đoàn Văn Hoàn, Kim Ngọc Đại, Đậu Văn Luận. Những biến đổi kinh tế-xã hội, bên cạnh những mặt tích cực, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với động lực là lợi ích, trước hết là lợi ích kinh tế, đã có những tác động nhất định đến mọi thành viên xã hội; dễ tạo ra sự phát triển cá nhân con người một cách phiến diện, nhiều giá trị văn hóa, giá trị đạo đức bị phai nhạt, bị hủy hoại; xuất hiện lối sống thực dụng “gậm nhấm” những giá trị đạo đức truyền thống. Vì vậy, xu hướng nghề nghiệp quân sự của học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội cũng đặt ra nhiều vấn đề phải quan tâm nghiên cứu giải quyết: nhận thức giá trị, ý nghĩa chính trị-xã hội của nghề nghiệp quân sự; yêu cầu, tính chất của hoạt động nghề nghiệp quân sự; tâm trạng băn khoăn trong việc xác định động cơ, mục đích hoạt động nghề nghiệp,…Những vấn đề đó tác dộng đến kết quả và chất lượng đào tạo tại trường cũng như đến phẩm chất năng lực của người sĩ quan chỉ huy tham mưu lục quân cấp phân đội khi tốt nghiệp ra trường. Xây dựng, bồi dưỡng xu hướng nghề nghiệp quân sự cho học viên đào tạo sĩ quan chỉ huy tham mưu cấp phân đội là việc làm có ý nghĩa quan trọng, thiết thực góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục đào tạo, rèn luyện phẩm chất nhân cách, phẩm chất nghề nghiệp quân sự cho học viên, bảo đảm cho họ có đủ khả  năng hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ theo mục tiêu yêu cầu đào tạo. Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn; điều tra khảo sát, tổng kết rút kinh nghiệm; đề tài xác định yêu cầu và đề xuất những giải pháp khoa học để nâng cao chất lượng, hiệu quả xây dựng, bồi dưỡng xu hướng nghề nghiệp quân sự cho học viên đào tạo sĩ quan chi huy tham mưu cấp phân đội. Đây là vấn đề cấp thiết có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo trong các nhà trường quân đội và xây dựng đội ngũ sĩ quan trong giai đoạn mới. Cuối năm 2004, đề tài đã được nghiệm thu đạt loại xuất sắc. Kết quả của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy các bộ môn: Tâm lý học quân sự, Giáo dục học quân sự trong các trường sĩ quan lục quân, các trường quân sự Quân khi, Quân đoàn; tham khảo vận dụng trong chỉ đạo giáo dục quốc phòng, bồi dưỡng đội ngũ sĩ quan chỉ huy tham mưu cấp phân đội.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:59:30 PM
 Nhận rõ vai trò xây đựng Nhà trường vững mạnh về chính trị làm cơ sở nâng cao chất lượng toàn diện, Đảng ủy- Ban Giám hiệu nhà trường đã lãnh đạo chặt chẽ nghiêm túc việc học tập quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của trên, các chuyên đề giáo dục chính trị của Tổng cục Chính trị; đã chủ động định hướng tư tưởng, xây dựng và củng cố niềm tin, ý chí, quyết tâm, trách nhiệm chính trị cho mọi cán bộ, đảng viên, quần chúng.
Trên cương vị Bí thư Đảng ủy, Phó Hiệu trưởng Chính trị, đồng thời với vai trò chung, tôi trực tiếp phụ trách Phòng Chính trị và cán bộ chính trị các cấp. Trong mấy năm liền, tôi đã cùng với lãnh đạo chỉ huy và anh em trong Phòng Chính trị chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan đơn vị của trường đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp giáo dục chính trị, tư tưởng. Chú trọng gắn học tập quán triệt nghị quyết với xây dựng chương trình hành động; thực hiện qui chế dân chủ ở cơ sở, tăng cường đối thoại trực tiếp giữa lãnh đạo chỉ huy các cấp với quân chúng; thực hiện cuộc vận động xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phong phú; tổ chức nhiều hoạt động giáo dục trước các sự kiện chính trị quan trọng. Các đợt sinh hoạt chính trị được tổ chức chặt chẽ, phát huy được tự do tư tưởng, tạo được sự thống nhất về nhận thức, từ đó chuyển biến tích cực về tư tưởng, tình cảm và hành động trong thực hiện nhiệm vụ. Đẩy mạnh phong trào văn hóa văn nghệ, hội thi, hội thao, hướng về cơ sở, tạo môi trường giáo dục tốt, khơi dậy tinh thần tự giác trong học tập, rèn luyện phấn đấu của mọi cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ. Công tác thi đua và phong trào thi đua quyết thắng bám sát nhiệm vụ chính trị của Nhà trường, của các cơ quan, đơn vị. Kết hợp thi đua thường xuyên với thi đua đột kích, có tác dụng giáo dục, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm cho bộ đội, tạo ra động lực mới, khí thế mới trong dạy- học, nghiên cứu khoa học và rèn luyện kỷ luật. Các hoạt động công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng được triển khai tích cực, đạt được kết quả tốt. 100% học viên tốt nghiệp các khóa đều phấn khởi lên đường nhận nhiệm vụ. Hoàn thành các mặt công tác qui hoạch, đề bạt, bổ nhiệm, điều động, đào tạo, bồi dưỡng, nhận xét cán bộ. Chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên có chiều hướng phát triển tích cực. Đã tổ chức nhiều đợt sinh hoạt truyền thống, giao lưu gặp gỡ giữa các thế hệ thầy trò đạt kết quả tốt. Hoạt động kết nghĩa giữa các đơn vị và địa phương được duy trì có nền nếp, đạt hiệu quả cao. Tổ chức Hội trại thanh niên, giao lưu văn hóa văn nghệ với các địa phương, các trường đại học kết nghĩa nhân các ngày lễ kỷ niệm của đất nước, quân đội, Nhà trường, tạo môi trường văn hóa tốt đẹp cho sự nghiệp giáo dục-đào tạo, góp phần xây dựng địa bàn, xây dựng đoàn kết quân dân, tuyên truyền hình ảnh Nhà trường trong thời kỳ mới. Tình hình chính trị tư tưởng của toàn trường ổn định, là nền tảng vững chắc cho việc hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Đạt được những kết quả về công tác đảng, công tác chính trị ở Trường phải kể đến vai trò của Phòng Chính trị trong việc làm tham mưu cho Đảng ủy-Ban Giám hiệu nhà trường và chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan đơn vị trong toàn Trường. Phòng Chính trị hồi ấy là một tập thể mạnh bao gồm những cán bộ có phẩm chất, năng lực tốt, có trách nhiệm và kinh nghiệm công tác, như các anh: Nguyễn Văn Soạn, Mai Nhuần, Nguyễn Đức Huy, Trương Đình Quí, Lê Viết Anh, Nguyễn Tiến Phúc, Nguyễn Trọng Hiền, Trịnh Văn Mạnh, Phạm Chí Thiện, Trần Trọng Nhọn, và nhiều anh em khác nữa. Trong số cán bộ đó có anh Trương Đình Quí là người phát triển nhanh nhất. Ngày tôi mới về Trường, anh Quí còn là Trung tá, Trưởng ban Cán bộ rồi lên Phó Chủ nhiệm chính trị ; đến năm 2009, anh Quí đã là Thiếu tướng, Phó Chính ủy Quân khu 4.
Bám sát định hướng chỉ đạo của trên và đặc điểm tình hình trong điều kiện quân số biến động, Đảng ủy- Ban Giám hiệu đã kịp thời chấn chỉnh tổ chức biên chế theo hướng “Tinh gọn, hợp lý, hiệu quả”, đáp ứng yêu cầu phát triển nhiệm vụ của Nhà trường. Việc thực hiện chính sách đối với quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng, chiến sĩ đảm bảo đúng nguyên tắc, chế độ qui định của Nhà nước, tạo được sự đoàn kết thống nhất trong đơn vị. Công tác xây dựng chính qui, rèn luyện kỷ luật, sẵn sàng chiến đấu được coi trọng và tổ chức thực hiện có nền nếp. Nhà trường đã chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng và các địa phương giải quyết những vụ việc lấn chiếm đất quốc phòng ở khu vực  Đồng Doi, Đồng Lác bảo đảm đúng luật, gắn với công tác dân vận, đạt được nhiều kết quả, góp phần ổn định tình hình trên địa bàn đóng quân.
Trong điều kiện nhiệm vụ phát triển, quân số đông, đầu mối đơn vị tăng hơn những năm trước, địa bàn hoạt động rộng, dưới sự lãnh đạo, chỉ huy của Đảng ủy- Ban Giám hiệu và vai trò tham mưu hướng dẫn của cơ quan, các đơn vị trong toàn trường đã tổ chức thực hiện tốt công tác hậu cần, kỹ thuật, tài chính, bảo đảm đời sống bộ đội và đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ giáo dục – đào tạo.
 Trước yêu cầu “An cư, lạc nghiệp”, để đảm bảo chính sách, góp phần động viên cán bộ, giáo viên yên tâm công tác, trong thời kỳ này, Thường vụ Đảng ủy- Ban Giám hiệu đã có nhiều biện pháp tích cực trong việc giải quyết đất ở, nhà ở đối với gia đình sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp. Lãnh đạo chỉ huy Nhà trường đã giao cho các cơ quan: Chính trị, Tác chiến, Hậu cần quan hệ chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng trong việc tạo điều kiện hợp thức hóa, khai thác quĩ đất. Việc giải quyết cấp đất ở, nhà ở của Nhà trường được tiến hành đúng luật, đúng chính sách, theo phương châm: “Dân chủ, Công khai, Công bằng” đảm bảo tinh thần đoàn kết, phấn khởi. Đây là một chủ trương hợp pháp, hợp lý, hợp tình, đem lại quyền lợi thiết thực cho hàng mấy trăm gia đình cán bộ, không chỉ trước mắt mà còn lâu dài.
   Thực hiện chủ trương của Đảng ủy Quân sự Trung ương là xây dựng Trường Sĩ quan Lục quân 1 thành trung tâm mạnh, có đủ phương tiện dạy-học cần thiết, trường sở khang trang và môi trường chính qui lành mạnh; tiếp theo kết quả xây dựng cơ bản giai đoạn 1 (1991-2001), Nhà trường triển khai thực hiện xây dựng cơ bản với ba dự án lớn: dự án đầu tư xây dựng cơ bản giai đoạn 2; dự án thao trường, trường bắn; dự án hạ tầng cơ sở “Làng quân nhân Đồng Tâm”, với khối lượng kinh phí lớn, nhiều hạng mục công trình quan trọng: Hội trường lớn, khán đài, Tượng đài Trần Quốc Tuấn, khu thể thao, thao trường, trường bắn,…thời gian thực hiện dự án ngắn.
Sau khi đã được Bộ Quốc phòng phê duyệt ngân sách, việc bố trí địa điểm và lựa chọn qui mô, kiểu dáng của Hội trường lớn, khán đài cũng có sự tranh luận bằng nhiều ý kiến khác nhau, có lúc khá gay gắt. Điều đó là bình thường. Có ý kiến đề nghị tách Hội trường lớn và khán đài thành hai khu vực. Địa điểm đặt Hội trường lớn cách xa khán đài. Tôi lập luận rằng: Hội trường lớn và khán đài là địa điểm tổ chức hội nghị, tập trung sinh hoạt chính trị, tập huấn quân sự, hậu cần kỹ thuật; là nơi diễn ra các hoạt động giao lưu văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao với qui mô, số lượng lớn. Hội trường, khán đài phải được thiết kế với qui mô tương xứng, chất liệu bền, kiểu dáng đẹp, kết hợp giữa truyền thống và hiện đại. Vì vậy, tôi kiên trì và kiên quyết giữ ý kiến đề nghị xây dựng Hội trường, khán đài trong mối liên kết các tiện ích hợp lý thuận lợi và đặt tại vị trí trung tâm của Trường. Ý kiến đó  được mọi người chấp thuận sau khi có sự  thảo luận kỹ giữa lãnh đạo chỉ huy Nhà trường, các cơ quan, đơn vị trong Trường và đơn vị tư vấn thiết kế. Mãi đến sau này, mỗi khi có dịp về Trường, với tôi Hội trường lớn, khán đài là một dấu ấn trong những kỷ niệm đẹp.
Quốc công tiết chế - Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn là danh tướng kiệt xuất vào bậc nhất trong lịch sử vẻ vang chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Ngay từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945, Trường Sĩ quan Lục quân đã được mang tên là Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn. Đây là niềm vinh dự tự hào của lớp lớp cán bộ, giáo viên, học viên, công nhân viên, chiến sĩ Nhà trường. Thể theo nguyện vọng của nhiều thế hệ, được sự đồng ý của trên, tiếp theo kết quả chuẩn bị từ nhiều năm trước, tôi cùng anh Nguyễn Hữu Hạ Hiệu trưởng thống nhất với các anh trong Ban Giám hiệu Nhà trường hạ quyết tâm xây dựng xong Tượng đài Trần Quốc Tuấn trong năm 2004 để chào mừng 60 năm Ngày thành lập Quân đội  (ngày 22 tháng 12 năm 2004) và 60 năm Ngày thành Trường (ngày 15 tháng 4 năm 2005). Trước khi phê duyệt, mẫu tượng đài được chuẩn bị thiết kế công phu, thảo luận nhiều lần, xin ý kiến tham gia tư vấn của các nhà điêu khắc, mỹ học và các nhà sử học. Khi san lát xong phần nền, xây xong phần chân đế và các bức phù điêu phía sau, tôi cùng anh Nguyễn Tiến Ngùng, anh Nguyễn Văn Soạn, anh Doãn Văn Hãn và một số anh em vào Ninh Bình đến cơ sở sản xuất để kiểm tra kỹ về chất lượng đá và kỹ thuật, mỹ thuật. Đêm trước ngày khánh thành Tượng đài Trần Quốc Tuấn, chúng tôi đã mời các nhà sư đức cao vọng trọng ở Hà Nội, Sơn Tây đến cúng tế hô thần nhập tượng theo đúng tín ngưỡng tâm linh. Đêm ấy giữa tiết trời mưa bụi se lạnh, trong không khí trang nghiêm, chúng tôi đã kính cẩn tế lễ, dâng những nén hương thơm lên Tượng đài. Ngày khánh thành Tượng đài Trần Quốc Tuấn, Ban Giám hiệu đã mời các đồng chí lãnh đạo chỉ huy Nhà trường qua các thời kỳ, lãnh đạo cấp trên và lãnh đạo địa phương về dự. Với qui mô bề thế, hoành tráng, uy nghiêm, vĩnh cửu, đặt giữa trung tâm Nhà trường, Tượng đài Trần Quốc Tuấn là nơi thể hiện đời sống tâm linh, lòng tôn kính của mọi thế hệ đối với người Anh hùng dân tộc, nhà quân sự lỗi lạc mà Trường được vinh hạnh mang tên. Dựng Tượng đài Trần Quốc Tuấn còn nhằm tôn vinh truyền thống Nhà trường để mọi cán bộ, giáo viên, học viên tiếp tục phát huy trong mọi thời kỳ.
Trong cuộc sống, nhiều khi một chủ trương đúng đem đến những kết quả tốt có khi buổi ban đầu được hình thành, được khởi thủy từ những ý tưởng vụt đến như một sự ngẫu nhiên. Nhưng xét đến tận cùng thì đó là kết quả tất yếu của sự suy tư trăn trở. Công viên Thanh niên ở cổng Trường, Dự án “Làng quân nhân Đồng Tâm” và Dự án hồ chứa nước ở trường bắn Đồng Doi của Trường Sĩ quan Lục quân 1 là vậy.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 01:59:40 PM
Có lần, tôi và anh Nguyễn Hữu Hạ đi thao trường về, dưới trời nắng chói chang, nhiều người túm tụm ngồi vật vã, nhếch nhác bên vệ đường hoặc trong mấy quán nhỏ phía ngoài cổng Trường. Hỏi ra mới biết đó là người nhà của học viên lên thăm. Tôi và anh Hạ trao đổi với nhau cần tạo điều kiện cho học viên đón tiếp gia đình và bạn bè đến thăm một cách đàng hoàng, lịch sự, đồng thời đây còn là bộ mặt của Nhà trường. Chúng tôi bàn với nhau là khoanh hai vạt cây cao khá rộng ở sát bên trong cổng Trường, đầu tư xây dựng có nhà nghỉ mát, có căng tin, quầy giải khát, có chỗ cắt tóc gội đầu, có ghế đá dựng ở các khu vực và lối đi giữa những khóm cây,…Cảnh quan đẹp như một công viên để học viên tiếp người thân lên thăm và để giao lưu với thanh niên địa phương, với học sinh, sinh viên các trường bên ngoài. Chúng tôi đặt tên là Công viên Thanh niên. Từ ngày có Công viên Thanh niên, môi trường văn hóa của Nhà trường được cải thiện một bước. Cán bộ, giáo viên, nhất là học viên rất phấn khởi. Sau giờ nghỉ hàng ngày và chủ yếu là vào ngày nghỉ cuối tuần, Công viên Thanh niên trở thành nơi vui chơi và đón tiếp khách của học viên. Nhìn những cử chỉ văn minh, lịch sự với gương mặt tươi trẻ rạng ngời của học viên bên bạn bè, người thân, chúng tôi thật vui mừng.
Hồi mới về Trường, khi ra thăm nhà anh Mai Nhuần, anh Lê Viết Anh và một số gia đình cán bộ ở khu tập thể Đồng Tâm (còn gọi là Đồng Lác), nhìn thấy  cái cầu sắt đã quá cũ, một con đường gồ ghề ổ gà, ổ trâu, lầy lội ngập bùn khi trời mưa và phủ chìm bụi đỏ khi trời nắng, trong khi oi bức nhiều gia đình không thể mở cửa khi có ô tô chạy qua, tôi cám cảnh và thực sự áy náy. Về Hà Nội gặp anh Hồ Sĩ Hậu, Cục trưởng Cục Kinh tế - Bộ Quốc phòng, tôi đề đạt là để góp phần cải thiện điều kiện cho khu gia đình cán bộ Trường Sĩ quan Lục quân 1, đề nghị Cục Kinh tế phối hợp với các cơ quan có liên quan đề đạt lên Bộ Quốc phòng giúp Trường một khoản kinh phí từ Chương trình dự án Làng quân nhân để làm lại cầu và một đoạn đường chừng một cây số. Anh Hậu nhất trí và trao đổi với anh em trong Cục, đồng thời bàn bạc với các cơ quan hữu quan đồng tình ủng hộ. Ban Giám hiệu giao cho Ban Quản lý dự án - Phòng Hậu cần lập dự án báo cáo lên trên. Sau mấy tháng triển khai dự án, một chiếc cầu bằng sắt khá kiên cố bắc qua sông Hòa Lạc và đoạn đường trải nhựa nối từ Đường 21 ra hết khu gia đình quân nhân Đồng Tâm rất thuận tiện cho việc đi lại, không chỉ đối với cán bộ của Trường mà cả đối với nhân dân trong khu vực.
Một thời gian sau, tôi và anh Nguyễn Tiến Ngùng thay mặt Ban Giám hiệu Nhà trường mời anh Hồ Sĩ Hậu và anh Trần Trung Tín, Trưởng phòng Kế hoạch Cục Kinh tế lên thăm Trường (hiện nay anh Tín đã là Cục trưởng Cục Kinh tế) để các anh nghiên cứu tư vấn giúp Trường xây dựng đề án tăng gia chăn nuôi tập trung, góp phần cải thiện đời sống bộ đội. Khi đi từ Trường bắn Đồng Doi về Trường, mặt trời đã gác núi, men theo một con đường bé, lội qua một con suối nhỏ, ai đó bất chợt nói rằng, con suối này nếu chắn lại, thì phía trên sẽ thành một cái hồ lớn. Tất cả chúng tôi dừng lại xem xét bàn bạc. Nhìn ra xung quanh một con suối nhỏ nằm giữa những vạt ruộng hai bên là triền núi cao. Mọi người đều thống nhất rằng: Nếu làm một cái đập ngăn con suối lại thì chắc chắn sẽ có cái hồ đẹp cả về cảnh quan, môi trường sinh thái, thủy lợi và nuôi cá. Về Trường chúng tôi giao cho cơ quan triển khai nghiên cứu, mời các chuyên gia tư vấn xây dựng đề án, Ban Giám hiệu thông qua và trình lên Bộ Quốc phòng. Vậy là, được sự giúp đỡ của các cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng, Trường Sĩ quan Lục quân 1 lập và triển khai dự án.  Sau một thời gian không lâu, được Công ty 36 - Binh đoàn 11 thi công, Nhà trường đã hoàn thành một cái đập bề thế vững chãi, phía trên là một cái hồ đẹp, nước sâu, rộng hơn 20 héc ta, nằm giữa một vùng đồi núi cách Hòa Lạc không xa. Mấy năm sau, nhân dịp đến tham quan Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam, tôi và anh Hậu ra Trường bắn Đồng Doi, nhìn lại con đập và hồ nước, chúng tôi thật sự vui mừng.
Nhân đây, tôi xin được viết đôi dòng về anh Hồ Sĩ Hậu – người bạn thân nhất của tôi. Anh Hậu từng là Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tổng cục Công nghiệp quốc phòng và kinh tế, rồi làm Phó Văn phòng Quân ủy Trung ương-Bộ Quốc phòng và sau này là Thiếu tướng, Cục trưởng Cục Kinh tế- Bộ Quốc phòng. Anh sinh ra trong một gia đình cách mạng ở một miền quê khá nổi tiếng - đó là làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Tôi được biết, ở miền Bắc có làng Hành Thiện (Nam Định) ở miền Trung có làng Quỳnh Đôi (Nghệ An) là hai làng từ xưa đến nay có nhiều người thành đạt trên các lĩnh vực. Năm 1996, khi còn là Cục trưởng Cục Chính sách -  TCCT, tôi được mời về dự Lễ đón nhận danh hiệu Đơn vị Anh hùng LLVT của xã Quỳnh Đôi, nhân thể được về thăm nhà thờ họ Hồ, thăm nhà anh Hậu, tôi càng thấm thía điều đó. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, sau khi tốt nghiệp Đại học Mỏ - Địa chất, anh Hậu nhập ngũ vào chiến trường với vai trò là kỹ sư tham gia làm đường ống xăng dầu của Bộ Tư lệnh Trường Sơn. Có người nói, chiến công vĩ đại của Bộ đội Trường Sơn như một huyền thoại, thì rõ ràng là chiến công của bộ đội đường ống xăng dầu là huyền thoại trong huyền thoại đó. Đọc lịch sử Bộ đội đường ống xăng dầu Trường Sơn trong những năm đánh Mỹ quả thật là phi thường. Các anh đã lắp đặt và vận hành gần 5.000 km đường ống dưới sự đánh phá ác liệt của máy bay Mỹ. Đồng đội anh bao người đã hy sinh. Ở chiến trường anh Hậu đã dũng cảm, mưu trí vượt qua mọi hiểm nguy, hoàn thành mọi nhiệm vụ. Anh có tư chất thông minh, trải nghiệm nhiều, vốn kiến thức phong phú. Ngoài đời, anh là người nhân nghĩa, sâu sắc, khiêm nhường. Anh Hậu hơn tôi hai tuổi, là đồng hương, hơn thế là đồng cảm trên nhiều phương diện, bởi thế, chúng tôi thân quí nhau đã mấy chục năm. Chúng tôi thường cùng nhau đàm đạo, sẻ chia mọi điều trong cuộc sống.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 02:00:21 PM
Chương tám: Về Tổng cục Kỹ thuật



 Ngày 20 tháng 12 năm 2004, tôi nhận được điện triệu tập về Bộ Quốc phòng nhận nhiệm vụ mới. Hôm đó, Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng tổ chức trao quyết định thăng quân hàm cấp tướng và quyết định bổ nhiệm chức vụ đối với một số cán bộ cao cấp. Tôi được trao quyết định của Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm giữ chức Phó Chủ nhệm Tổng cục Kỹ thuật về Chính trị. Cùng nhận quyết định bổ nhiệm cùng đợt với tôi có anh Đàm Trại, Phó Tư lệnh về Chính trị Quân khu 1 nay giữ chức Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; anh Nguyễn Đình Hậu, Phó Tư lệnh về Chính trị Binh chủng Thông tin nay giữ chức Phó Chủ nhiệm Tổng cục Công nghiệp quốc phòng về Chính trị và nhiều anh khác nữa.
 Sau khi nhận quyết định ở Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương - Bộ Quốc phòng, tôi được anh Lê Văn Dũng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị mời lên giao nhiệm vụ cụ thể. Anh Dũng nói khát quát về vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Tổng cục Kỹ thuật, cả trong chỉ đạo ngành kỹ thuật toàn quân và trong quản lý lãnh đạo, chỉ huy nội bộ Tổng cục.  Đồng thời, anh nêu lên  một số vấn đề về tình hình của Tổng cục Kỹ thuật cần chú ý khi mới về trên cương vị chủ trì công tác đảng, công tác chính trị. Cùng tham gia  buổi làm việc hôm đó có anh Nguyễn Đăng Sáp, Cục trưởng Cục Cán bộ và anh Nguyễn Văn Việt, Phó Hiệu trưởng về Chính trị Trường Sĩ quan Lục Quân 1.

Thực ra, đến lúc đó việc thuyên chuyển khỏi Trường Sĩ quan Luc quân 1, không còn bất ngờ đối với tôi. Bởi lẽ, ngày 27 tháng 5 năm 2004, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã ký quyết định bổ nhiệm anh Nguyễn Văn Việt, Đại tá, Chủ nhiệm chính trị Học viện Chính trị quân sự về giữ chức Phó Hiệu trường về Chính trị Trường Sĩ quan Lục quân 1. Trước khi anh Việt về Trường, anh Phạm Văn Long, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị và anh Nguyễn Đăng Sáp, Cục trưởng Cục Cán bộ đã trao đổi, thông báo với tôi về dự báo ý kiến đề xuất của cơ quan và ý định của thủ trưởng cấp trên về công tác của tôi trong thời gian tới. Anh Việt về Trường từ tháng 6 nhưng mãi đến cuối tháng 12 năm 2004 mới nhận bàn giao công việc. Trong khoảng thời gian đó, mặc dù chưa điều hành công việc theo cương vị chủ trì, nhưng anh đã dành thời gian nắm tình hình Nhà trường và tham gia công tác trong Đảng ủy và Ban Giám hiệu. Tôi với anh Việt quen biết nhau từ mấy năm trước. Anh tham gia chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên trong chiến tranh chống Mỹ rồi về học ở Học viện Chính trị, được giữ lại làm giáo viên và cán bộ chính trị ở Học viện. Anh Việt là người có năng lực, kinh nghiệm trong chỉ đạo công tác đảng, công tác chính trị, nhất là ở nhà trường.
Từ Bộ Quốc phòng tôi trở về Trường để bàn giao công việc và chia tay với anh em. Hôm tổ chức chia tay tôi, Ban Giám hiệu có mời đại diện lãnh đạo các địa phương trên địa bàn đóng quân như Thị ủy, Ủy ban nhân thị xã Sơn Tây; Huyện ủy, Ủy ban nhân dân các huyện Phúc Thọ, Thạch Thất,…(Hà Tây), Thị ủy, Ủy ban nhân dân thị xã Hòa Bình, các xã trong vùng và các đơn vị bạn. Hơn bốn năm công tác ở Trường, trên cương vị của mình, tôi đã cùng với tập thể Đảng ủy và Ban Giám hiệu lãnh đạo,chỉ huy thực hiện nhiệm vụ giáo dục-đào tạo và một số nhiệm vụ khác đạt được một số kết quả. Tôi phấn khởi và có phần tự hào về quãng thời gian công tác ở Trường Sĩ quan Lục quân 1. Đây là kỷ niệm đẹp về một thời quân ngũ.
Phút chia tay, nhìn lại căn nhà nhỏ tĩnh lặng mấy năm trời khuya sớm vào ra; nhìn lại những giảng đường, hội trường, thao trường, bãi tập, một thời sôi động gắn bó; đặc biệt là nhìn lại anh em đồng đội, những gương mặt thân quí đã cùng nhau chia ngọt sẻ bùi, đồng tâm hiệp lực xây dựng Nhà trường trong mấy năm trời, lòng tôi bồi hồi xúc động. Tôi lưu luyến những kỷ niệm trên mảnh đất này - mảnh đất Xứ Đoài với núi Tản, sông Đà đã để lại ấn tượng đặc biệt sâu sắc trong tâm hồn tôi; lưu luyến những tình cảm chân thành quí mến mà mọi người đã dành cho tôi.
 Nhiều năm sau này, mỗi dịp được anh Nguyễn Quốc Khánh rồi anh Trần Quốc Phú, Hiệu trưởng, Nguyễn Văn Việt, Chính ủy và các anh trong Ban Giám hiệu mời về Trường dự các ngày lễ ( ngày Khai giảng năm học, ngày Thành lập trường, ngày Nhà giáo Việt Nam,…), tôi rất mừng và có cảm giác như về lại đại gia đình mình vậy.
Ngày 10 tháng 1 năm 2004, tôi có mặt ở Tổng cục Kỹ thuật. Tiễn tôi từ Trường Lục quân về Tổng cục Kỹ thuật có anh Lê Viết Anh, Phó Chủ nhiệm chính trị; anh Nguyễn Tiến Phúc, Trưởng ban Cán bộ và Nguyễn Văn Hoàn lái xe. Xe bon bon trên con đường Láng – Hòa Lạc quen thuộc với cự ly gần 40 km, thời gian đi trên dưới 45 phút mà mỗi tuần hai lần tôi qua lại trước và sau ngày nghỉ, trong vòng hơn 4 năm trời. Trong đời biết bao lần chia tay, vậy mà khi anh em lên xe quay về Trường Sĩ quan Lục quân 1, lòng tôi không khỏi bịn rịn, bùi ngùi trước những con người suốt mấy năm trời gắn bó.

***

Như mọi cán bộ khi đến nhận nhiệm vụ ở một đợn vị mới, việc đầu tiên là phải tìm hiểu về lịch sử hình thành, chức năng nhiệm vụ, tổ chức biên chế, tình hình đơn vị và những đặc điểm lớn chi phối. Nôm na là cần có sự hiểu biết ban đầu về công tác và những người cộng tác trên cương vị mới. Hơn nữa, đối với tôi ngành kỹ thuật là một địa hạt mới, một lĩnh vực mới mà trước đây tôi chưa bao giờ trải qua.
Vũ khí, trang bị kỹ thuật là nhân tố đặc biệt quan trọng tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội và tiềm lực quốc phòng của đất nước. Thời nào cũng vậy, có quân đội là có vũ khí và trang bị kỹ thuật. Có vũ khí, trang bị kỹ thuật thì tất yếu phải có công tác bảo đảm kỹ thuật. Sự phát triển của công tác kỹ thuật luôn luôn gắn liền với sự phát triển lực lượng của quân đội. Vũ khí, trang bị kỹ thuật càng hiện đại, đòi hỏi công tác kỹ thuật càng tinh vi, càng lớn. Công tác kỹ thuật là một mặt của công tác quân sự, là một trong những nhân tố quan trọng bảo đảm cho quân đội xây dựng và chiến đấu thắng lợi.
 Theo lịch sử, ngành kỹ thuật của quân đội ta lần lượt được hình thành và phát triển từ nhỏ lẻ, phân tán trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, dần dần lớn mạnh đủ sức đảm nhiệm chuyên trách từng lĩnh vực hoạt động kỹ thuật và trở thành những chuyên ngành như Quân giới, Quân khí, Xe- Máy...Trong kháng chiến chống Pháp và gần hết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cơ quan cấp chiến lược của ngành kỹ thuật đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ huy trực tiếp của  Bộ Quốc phòng-Tổng Quân ủy; sau đó là Tổng cục Cung cấp (từ năm 1955 trở đi đổi tên là Tổng cục Hậu cần).
Bước vào thời kỳ cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, do yêu cầu nhiệm vụ xây dựng quân đội chính qui hiện đại, do trang bị quân đội ta ngày càng phát triển về số lượng và phức tạp về kỹ thuật, từ tháng 7 năm 1973, Quân ủy Trung ương đã quyết nghị phải tiến tới thành lập một cơ quan chuyên trách công tác trang bị kỹ thuật và sản xuất quốc phòng. Trên cơ sở đó, ngày 5 tháng 4 năm 1974, Quân ủy Trung ương đã ra Nghị quyết về việc đề nghị thành lập Tổng cục Kỹ thuật trực thuộc Bộ Quốc phòng để đáp ứng yêu cầu bảo đảm trang bị, bảo đảm kỹ thuật cho quân đội trong tình hình mới. Nghị quyết Quân ủy Trung ương đã xác định chức năng, nhiệm vụ: ” Tổng cục Kỹ thuật là cơ quan giúp Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng chỉ đạo công tác quản lý và bảo đảm trang bị, bảo đảm kỹ thuật cho các lực lượng vũ trang, nghiên cứu khoa học kỹ thuật quân sự và trực tiếp quản lý các xí nghiệp quốc phòng. Tổng cục Kỹ thuật căn cứ vào đường lối chủ trương của Trung ương  về nhiệm vụ chiến đấu và xây dựng của lực lượng vũ trang, căn cứ vào nghị quyết của Quân ủy Trung ương, yêu cầu cụ thể của kế hoạch tác chiến và xây dựng lực lượng vũ trang của Bộ Tổng Tham mưu mà thực hiện nhiệm vụ của mình”.
 Sau khi có Nghị quyết của Quân ủy Trung ương, được sự đồng ý của Bộ Quốc phòng, Tổng cục Hậu cần đã chuyển dần một bộ phận thuộc Bộ Tham mưu, Cục Chính trị, Cục Quân giới, Cục Quân khí, Cục Quản lý xe máy,…để hình thành cơ quan Tổng cục Kỹ thuật hoạt dộng theo chức năng nhiệm vụ mới. Theo đề nghị của Quân ủy Trung ương, ngày 18 tháng 7 năm 1974, Bộ Chính trị ra Nghị quyết thành lập Đảng bộ Tổng cục Kỹ thuật gồm các đảng bộ cơ quan, đơn vị tiếp nhận từ Tổng cục Hậu cần ( Bộ Tham mưu, Cục Chính trị, Văn phòng và các cục: Quân giới, Quân khí, Quản lý xe máy, Vật tư, các trường, viện, nhà máy, xí nghiệp…) và đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương. Sau đó, ngày 10 tháng 9 năm 1974, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 211/CP thành lập Tổng cục Kỹ thuật. Tổng cục Kỹ thuật có nhiệm vụ giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chỉ đạo công tác quản lý trang bị và bảo đảm kỹ thuật trong toàn quân, nghiên cứu kỹ thuật quân sự và trực tiếp quản lý các xí nghiệp quốc phòng.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 02:00:59 PM
 Tổng cục Kỹ thuật ra đời đáp ứng những kịp thời những yêu cầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đánh dấu bước phát triển mới quan trọng của quân đội ta trong việc chỉ đạo tập trung thống nhất công tác kỹ thuật trong tình hình mới. Ngay sau khi thành lập, Tổng cục đã chủ động bảo đảm trang bị, bảo đảm kỹ thuật cho chiến trường Miền Nam, góp phần xứng đáng vào thắng lợi vẻ vang của quân và dân ta- giải phóng hoàn toàn Miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Bước vào thời kỳ xây dựng và bảo về Tổ quốc, Tổng cục nhanh chóng xây dựng lực lượng, hình thành hệ thống quản lý kỹ thuật theo ba cấp: chiến thuật, chiến dịch, chiến lược và hoạt động có hiệu quả.
Tháng 12 năm 1987, thực hiện chủ trương quản lý và bảo đảm kỹ thuật theo chuyên ngành của Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng, Tổng cục Kỹ thuật đã từng bước chuyển giao các đơn vị trực thuộc Tổng cục về trực thuộc Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng tham mưu. Theo đó, Cục Ô tô-máy kéo-trạm nguồn, Cục Vũ khí, Viện Kỹ thuật quân sự về trực thuộc Bộ Quốc phòng; Cục Quản lý kỹ thuật về trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu. Các chức năng nhiệm vụ của Tổng cục Kỹ thuật trước đây được chuyển về Tổng cục Công nghiệp quốc phòng và các cục chuyên ngành trực thuộc Bộ Quốc phòng đảm nhiệm. Trên thực tế, Tổng cục Kỹ thuật đã giải thể, chỉ còn một cơ quan đảm nhiệm công tác kế hoạch bảo đảm kỹ thuật, khoảng hơn mười cán bộ do anh Phan Thanh Liêu phụ trách.
Sau hơn một năm thực hiện quản lý và bảo đảm kỹ thuật theo 10 chuyên ngành kỹ thuật, Bộ Quốc phòng nhận thấy cơ chế này sớm bộc lộ nhiều hạn chế, không phát huy được vai trò của các cấp trong công tác kỹ thuật. Để kiện toàn hệ thống quản lý, chỉ huy, chỉ đạo bảo đảm kỹ thuật toàn quân, ngày 24 tháng 4 năm 1989, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành quyết định qui định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức mới của Tổng cục Kỹ thuật. Tiếp đó, ngày 16 tháng 4 năm 1993, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra quyết định chấn chỉnh tổ chức Tổng cục Kỹ thuật: Cục Quân khí, Cục Quản lý xe máy, Cục Tiêu chuẩn-Đo lường- Chất lượng  thuộc Bộ Quốc phòng được chuyển về trực thuộc Tổng cục Kỹ thuật. Đến năm 1999, thực hiện Nghị quyết 07/BCT của Bộ Chính trị và Nghị quyết 33/ĐUQSTW của Dảng ủy quân sự Truan ương về chấn chỉnh tổ chức lực lượng quân đội, Cục Kỹ thuật binh chủng trực thuộc Tổng cục Kỹ thuật được thành lập. Từ đó, Tổng cục Kỹ thuật bước vào giai đoạn phát triển mới.
 Như vậy là, trong mọi thời kỳ, bảo đảm kỹ thuật là một nhu cầu tất yếu khách quan; công tác kỹ thuật là một lĩnh vực không thể thiếu trong việc xây dựng và duy trì sức mạnh chiến đấu của quân đội và tiềm lực quốc phòng của đất nước. Nhưng loại hình, qui mô, cơ cấu tổ chức, cơ chế hoạt động và mối quan hệ phối hợp của cơ quan chỉ đạo cấp chiến lược lại có sự phát triển trong từng giai đoạn.

Đến thời điểm tôi được điều về, thì Tổng cục Kỹ thuật là cơ quan đầu ngành về công tác kỹ thuật của Quân đội. Tổng cục Kỹ thuật có ba chức năng cơ bản: Một là, tham mưu cho Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ quốc phòng về công tác bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật cho quân đội; Hai là, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra công tác bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật đối với các đơn vị trong toàn quân; Ba là, lãnh đạo, chỉ huy toàn diện các đơn vị thuộc Tổng cục trong công tác quản lý và bảo đảm kỹ thuật theo phân công, phân cấp. Ba chức năng đó có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong mối tác động qua lại.
Tổ chức của Tổng cục thời kỳ này có thể chia thành bốn khối: Khối cơ quan; Khối kỹ thuật chuyên ngành; Khối trường, viện nghiên cứu; Khối doanh nghiệp quốc phòng. Khối cơ quan có Văn phòng Tổng cục,  Bộ Tham mưu, Cục Chính trị, Cục Hậu cần, và một số cơ quan trực thuộc (như Thanh tra, Điều tra hình sự, Tài chính, Tạp chí Kỹ thuật và Trang bị, Ban Biên soạn lịch sử-Tổng kết,…). Khối kỹ thuật chuyên ngành có bốn cục: Quân khí, Xe-Máy, Kỹ thuật binh chủng và Tiêu chuẩn-Đo lường-Chất lượng. Khối trường, viện có; Trường Cao đẳng kỹ thuật Vin-hem-pich; Trường Kỹ thuật miền Trung; Viện Kỹ thuật cơ giới quân sự. Khối nhà máy xí nghiệp quốc phòng có: Z133, Z153, Z151 và Xí nghiệp liên hợp Z751. Quân số đông, với nhiều loại hình tổ chức, địa bàn đóng quân trải rộng trên nhiều địa phương trong cả nước -  nhiều đơn vị đóng quân ở vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi.
Lãnh đạo, chỉ huy Tổng cục Kỹ thuật hồi đó có anh Đỗ Đức Pháp, Chủ nhiệm; Phó Chủ nhiệm là các anh:  Đinh Danh Nghiêm, Võ Minh Cẩm, Nghiêm Sĩ Chúng, Bế Quốc Hùng. Qua công việc, tôi đã quen biết các anh từ trước, sau này khi cùng công tác với nhau càng gắn bó hơn. Anh Đỗ Đức Pháp quê ở Đức Phổ, Quảng Ngãi; là Cục trưởng Cục Quân khí, ngày 28 tháng 10 năm 1994 anh được bổ nhiệm Phó Chủ nhiệm TCKT và ngày 1 tháng 2 năm 2002 anh được bổ nhiệm giữ chức Chủ nhiệm TCKT thay anh Nguyễn Hoa Thịnh. Anh Đinh Danh Nghiêm quê ở xã Gia Thủy, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình; là sinh viên khóa 1 của Trường Đại học Kỹ thuật quân sự (nay là Học viện kỹ thuật quân sự) khi tốt nghiệp anh đi B vào tận chiến trường Nam Bộ; sau giải phóng Miền Nam anh được điều đến một đơn vị cơ sơ ở gần biên giới phía Bắc rồi về cơ quan Cục Quân khí; ngày 17 tháng 11 năm 2000 anh được bổ nhiệm từ Cục trưởng Cục Quân khí lên Phó chủ nhiệm TCKT. Anh Võ Minh Cẩm, tiến sĩ ngành kỹ thuật động cơ máy bay, quê ở huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi; trước khi được bổ nhiệm Phó Chủ nhiệm TCKT ( ngày 17 tháng 11 năm 2000), anh là Phó Chủ nhiệm Kỹ thuật Quân chủng Phòng không - Không quân. Anh Nghiêm Sĩ Chúng được bổ nhiệm Phó Chủ nhiệm kiêm Tham mưu trưởng TCKT từ ngày 1 tháng 2 năm 2002. Trước đó, anh đã có hơn 22 năm công tác ở Việt Bắc, nhiều năm làm Chủ nhiệm Kỹ thuật Quân khu 1; quê gốc ở xã Đức Yên, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh nhưng anh lại sinh ra ở Đà Lạt. Tôi đều đã về cả hai nơi đó. Anh Bế Quốc Hùng quê ở Cao Bằng nhưng suốt mấy chục năm quân ngũ lại gắn bó với biển cả, trưởng thành  từ cơ sở lên lên Thuyền trưởng tàu chiến đấu, rồi đến Phó Tư lệnh Quân chủng Hải quân. Sau hơn một năm kể từ ngày tôi về Tổng cục, Bộ Quốc phòng điều động anh Nguyễn Hữu Thìn, Phó Tư lệnh về Chính trị Quân khu 2 về làm Phó Chính ủy Tổng cục. Hiện nay anh Thìn là Trung tướng, Chỉnh ủy Tổng cục Kỹ thuật.
Ngày 10 tháng 1 năm 2005, tôi về Tổng cục Kỹ thuật thì ba ngày sau được Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương triệu tập dự hội nghị quán triệt triển khai thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị  về tổ chức Đại hội Đảng các cấp trong quân đội tiến tới Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ VII, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X. Ở thời điểm ấy, anh Hoàng Anh Tuấn, Bí thư Đảng ủy Tổng cục đi công tác ở phía Nam chưa về; mà tôi thì chưa nhận bàn giao, chưa bổ sung vào Đảng ủy, do đó chưa đủ tư cách điều hành việc triển khai. Nhưng nếu đi họp về mà không triển khai sớm thì không kịp tiến độ theo qui định của trên. Vì vậy, để giữ nguyên tắc, tôi xin ý kiến của anh Đỗ Đức Pháp, Phó Bí thư Đảng ủy Tổng cục.
Anh Pháp nói với tôi rằng:
-  Nguyên tắc thủ tục là vậy. Nhưng theo quyết định của trên, thì anh là người chủ trì triển khai chuẩn bị đại hội đảng các cấp trong Tổng cục. Cho nên, trong khi anh Tuấn chưa về, anh cứ triệu tập Cục Chính trị và các cơ quan lên trao đổi trước và phân công việc chuẩn bị.
Sau khi xin ý kiến của anh Pháp, tôi mời anh Lê Văn Lai, Cục trưởng Cục Chính trị, anh Quách Dũng, Phó chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Đảng ủy và mấy anh em ở Cục Chính trị  bước đầu trao đổi việc chuẩn bị để khi anh Tuấn đi công tác về kịp triển khai. Bước đầu nêu lên mấy việc phải làm: Chuẩn bị Chỉ thị của Thường vụ Đảng ủy Tổng cục về việc quán triệt và thực hiện chỉ thị của trên; Kế hoạch của Thường vụ Đảng ủy; Hướng dẫn của Cục Chính trị, của Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy,…Dự kiến chọn đảng bộ làm điểm để rút kinh nghiệm ở cả  cấp cơ sở và cấp trên cơ sở. Bàn việc tuyên truyền cổ động, văn hóa văn nghệ chuẩn bị chào mừng đại hội.
  Những ngày tôi mới về, anh Đỗ Đức Pháp bố trí thời gian trực tiếp dẫn tôi đến thăm - thực chất là ra mắt các cơ quan, đơn vị của Tổng cục Kỹ thuật đóng quân ở các khu vực nội ngoại thành Hà Nội. Khi đến các cơ quan đơn vị, anh Pháp vắn tắt giới thiệu tôi với anh em; sau đó lãnh đạo, chỉ huy đơn vị báo cáo một số nét chính về tình hình đơn vị rồi dẫn tôi đi thăm các cơ sở, chỗ ăn, ở, sinh hoạt, nơi làm việc. Nhiều anh lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan, đơn vị biết tôi từ khi tôi còn làm Cục trưởng Cục Chính sách – Tổng cục Chính trị. Từ cách đặt vấn đề của anh Pháp và qua tiếp xúc trao đổi bước đầu với mọi người từ lãnh đạo, chỉ huy đến cán bộ, nhân viên những nơi đến thăm, tôi nhận thấy ở họ đều toát lên một thái độ chân thành, cởi mở, thân thiện, nghiêm túc và có năng lực, phong cách làm việc tốt. Điều đó bước đầu làm tôi tự tin, yên tâm phấn khởi trên cương vị công tác mới.
Từ ngày 19 đến 22 tháng 1 năm 2005, theo kế hoạch đã xác định, tập thể Thủ trưởng Tổng cục nghe lãnh đạo, chỉ huy các nhà máy Z153, Z133, Z551 (sau này gọi là Z 151), Z 751 báo cáo kế hoạch sản xuất - kinh tế - tài chính - xã hội năm 2005. Nhà máy Z153 do anh Phú làm Giám đốc, anh Long làm Bí thư Đảng ủy; Nhà máy X133 do anh Lâm Thanh làm Giám đốc, anh Thiện Lưỡng làm Bí thư Đảng ủy; Nhà máy Z551 do anh Sơn làm Giám đốc, anh Chất làm Bí thư Đảng ủy; Liên hợp xí nghiệp Z751 do anh Đặng Quốc Dũng là Tổng Giám đốc, anh Phạm Ngọc Kha làm Bí thư Đảng ủy.
Mới về Tổng cục mà được nghe các nhà máy bảo vệ kế hoạch, đối với tôi là một dịp may. Qua mấy ngày nghe lãnh đạo, chỉ huy các nhà máy báo cáo, đại diện các cơ quan có liên quan của Tổng cục trình bày ý kiến thẩm định, các Thủ trưởng Tổng cục tham gia ý kiến và Chủ nhiệm Tổng cục kết luận, tôi hiểu được đặc điểm, tính chất, tình hình nhiệm vụ, những khó khăn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ và kết quả đạt được của khối nhà máy quốc phòng thuộc Tổng cục Kỹ thuật.
Các nhà máy quốc phòng của Tổng cục thuộc loại doanh nghiệp công ích, thực hiên chế độ hạch toán hoàn toàn. Có nhiệm vụ sửa chữa vừa (trung tu) và sửa chữa lớn (đại tu) các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật trong quân đội từ toàn bộ vũ khí, đạn dược bộ binh đến các loại pháo mặt đất, pháo phòng không, ô tô, máy phát điện, xe tăng, thiết giáp.
   Nhìn chung, các trang, thiết bị và dây chuyền công nghệ của các nhà máy được hình thành từ nhiều năm trong chiến tranh giải phóng, riêng Xí nghiệp liên hợp Z751 là tiếp thu từ Lục quân công xưởng của quân đội ngụy. Đồng thời mấy năm gần đây, Nhà nước và Bộ Quốc phòng đã đầu tư chiều sâu về  khả năng công nghệ nhằm tăng thêm năng lực, chất lượng sửa chữa vũ khí, trang bị kỹ thuật và sản xuất vật tư kỹ thuật cho các nhà máy.
Vũ khí, trang bị kỹ thuật đưa vào sửa chữa phần nhiều đều bị hư hỏng nặng; mất đồng bộ nghiêm trọng; vật tư kỹ thuật, phụ tùng thay thế rất khó khăn, vì phần đông các nước sản xuất đã thôi sản xuất các loại vũ khí, trang bị đó. Tổ chức biên chế các phân xưởng, xí nghiệp của các nhà máy theo qui trình công nghệ của dây chuyền sản xuất. Đội ngũ sĩ quan được đào tạo theo chuyên ngành được bố trí làm cán bộ quản lý các cấp và các cơ quan chuyên môn. Công nhân sản xuất thuộc diện biên chế là quân nhân chuyên nghiệp hoặc công nhân quốc phòng. Phần đông là thợ cơ khí và điện lực, đều được đào tạo cơ bản, sử dụng đúng ngành nghề. Tuổi đời và tuổi nghề cao. Công nhân trực tiếp sản xuất thì bình quân bậc thợ là 6,3/7. Trong khi đó, với điều kiện công nghệ và yêu cầu của mặt hàng sửa chữa chỉ đòi hỏi công nhân bình quân bậc thợ là 4,5/7. Quân số hiện có của các nhà máy cao hơn quân số định biên; tỷ lệ gián tiếp cao (bình quân khoảng 20%) vì có những chức danh ở các nhà máy bên ngoài dân sự không có. Là nhà máy sửa chữa, không làm hàng loạt đại trà mà là sửa chữa đơn chiếc. Có khi một khẩu pháo, một chiếc xe tăng không hoạt động được đưa từ đơn vị về sửa chữa. Đến nhà máy tháo dỡ ra kiểm tra thì phát hiện chỉ vì hỏng hóc một vài chi tiết máy móc. Mà chi tiết máy móc đó không có trong dự trữ, không bán trên thị trường, do đó Nhà máy phải nghiên cứu thiết kế gia công đơn chiếc. Tất cả những điều đó làm cho giá thành sản phẩm cao lên.
Trong điều kiện ngân sách quốc phòng hạn hẹp, số lượng vũ khí, trang bị kỹ thuật đưa vào sửa chữa không nhiều, chưa dùng hết công suất nhà máy (thông thường được khoảng 60%). Để tận dụng công suất thiết bị, máy móc và lực lượng lao động hiện có, lãnh đạo chỉ huy các nhà máy đã xoay xở tìm các đơn hàng sản xuất theo thế mạnh của mình để góp phần tham gia xây dựng kinh tế đât nước, tăng sản phảm xã hội; đồng thời tăng thu nhập, cải thiện đời sống cán bộ, công nhân viên nhà máy trong điều kiện không còn áp dụng chế độ cung cấp. Một số mặt hàng kinh tế của các nhà máy có uy tín với khách hàng, đã thành thương hiệu trên thị trường.


Tiêu đề: Re: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".
Gửi bởi: quangcan trong 07 Tháng Một, 2015, 02:01:40 PM
Là nhà máy sửa chữa vũ khí, trang bị kỹ thuật đáp ứng yêu cầu huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu của quân đội, nên yêu cầu đặt ra trước hết, trên hết là phải bảo đảm chất lượng, giảm tối thiểu sản phẩm đã qua sửa chữa phải sửa chữa lại nhiều lần (hồi tu). Giải quyết việc làm, tiền lương, thu nhập đối với công nhân viên là mục tiêu hàng đầu trong lãnh đạo của cấp ủy đảng các nhà máy. Để góp phần nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao đời sống của công nhân viên chức, đòi hỏi lãnh đạo phải không ngừng đổi mới qui trình công nghệ, chấp hành kỷ luật lao động, sắp xếp lại lực lượng lao động theo hướng giảm lực lượng gián tiếp, giảm biên chế dôi dư; động viên mọi người trong biên chế hăng hái lao động sản xuất nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả; thực hiện đầy đủ các qui định về Luật Doanh nghiệp. Công tác đảng, công tác chính trị đối với các nhà máy quốc phòng vừa phải thực hiện yêu cầu như đối với một đơn vị thường trực của quân đội, vừa phải phù hợp với đặc điểm, tính chất của một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Với những đặc điểm đó, có thể nói, lãnh đạo chỉ huy các nhà máy sửa chữa thuộc Tổng cục kỹ thuật khá vất vả; phải không ngừng vươn lên, năng động, sáng tạo mới có thể đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ.
Qua một thời gian ngắn tìm hiểu công việc bước đầu, ngày 31 tháng 1 năm 2005, tôi chính thức nhận bàn giao từ người tiền nhiệm là Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn. Chúng tôi quen biết nhau đã khá lâu. Khi tôi công tác ở Văn phòng Tổng cục Chính trị rồi Cục Chính sách, thì anh Hoàng Anh Tuấn là Bí thư Đảng ủy, Phó Cục trưởng về chính trị Cục Xe máy, Chủ nhiệm Chính trị rồi Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật về Chính trị. Trong chiến tranh chống Mỹ, anh Tuấn hoạt động ở tuyến lửa Đoàn 559 từ rất sớm tận đến ngày toàn thắng. Anh là người trưởng thành qua nhiều cương vị, có nhiều kinh nghiệm về công tác chính trị đối với ngành kỹ thuật. Cuộc bàn giao giữa anh Tuấn và tôi diễn ra nghiêm túc mà tình cảm dưới sự chứng kiến của Thủ trưởng và các cơ quan Tổng cục.
Sau khi nhận bàn giao, Đảng ủy Tổng cục đề nghị và được Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương ra quyết định chỉ định tôi vào Đảng ủy Tổng cục Kỹ thuật, tham gia Thường vụ, giữ chức Bí thư Đảng ủy. Kể từ ngày 1 tháng 2 năm 2005, tôi bắt tay vào công việc theo chức trách nhiệm vụ.
Trên cương vị mới, cùng với Đảng ủy và Thủ trưởng Tổng cục, tôi có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo toàn bộ các hoạt động của Tổng cục và Đảng bộ Tổng cục, trong đó chủ trì về công tác đảng, công tác chính trị. Trước mắt, trong thời gian mới nhận nhiệm vụ, tôi xác định chương trình công tác là: Đồng thời với việc tham gia cùng tập thể Đảng ủy- Thủ trưởng Tổng cục lãnh đạo, chỉ huy các mặt công tác thường xuyên theo phạm vi chức trách nhiệm vụ, phải tranh thủ mọi điều kiện để nắm thật chắc tình hình toàn diện các cơ quan, đơn vị trong toàn Tổng cục Kỹ thuật. Không nắm vững tình hình đơn vị thì không thể lãnh đạo, chỉ đạo có hiệu quả được.
Từ đầu tháng 2 đến hết tháng 5 năm 2005, tôi đã bố trí thời gian lần lượt nghe các cơ quan Bộ Tham mưu, Cục Chính trị, Cục Hậu cần, Cục Quân khí, Cục Xe –Máy, Cục Kỹ thuật binh chủng, Cục Tiêu chuẩn-Đo lường-Chất lượng, Văn phòng, Viện Kỹ thuật cơ giới quân sự và một số cơ quan khác thuộc Tổng cục báo cáo. Nội dung báo cáo của các cơ quan, đơn vị là xoay quanh về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức biên chế, kết quả hoàn thành nhiệm vụ, những vấn đề nổi cộm cần tập trung giải quyết. Bộ Tham mưu do anh Nghiêm Sĩ Chúng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục kiêm Tham mưu trưởng, Tham mưu phó là các anh:Nguyễn Đình Thắng, Hoàng Định, một thời gian có thêm anh Cao Sơn Hải; Cục Chính trị do anh Lê Văn Lai, một thời gian sau anh Thái Xuân Dương làm Cục trưởng, anh Nguyễn Xuân Sản và anh Bùi Văn Tuất làm Cục phó; Cục Hậu cần do anh Trần Trung Cộng làm Cục trưởng, anh Nguyễn Quang Ngọc làm cục phó, một thời gian sau Anh Trương Khắc Trung làm Cục trưởng, anh Trần Minh Quang làm Cục phó;  Cục Quân khí do anh Nguyễn Minh Đức làm Cục trưởng, anh Ngữ làm Cục phó về Chính trị, anh Nho, anh Thành làm Cục phó; Cục Xe - máy do anh Hà Hữu Diên, một thời gian sau là anh Lê Hữu Thục làm Cục trưởng, anh Nguyễn Văn Thoa làm Cục phó về Chính trị, anh Hoàng Dũng và anh Trần Văn Tường làm Cục phó; Cục Kỹ thuật binh chủng do anh Phạm Dũng Tiến làm Cục trưởng, anh Thái Xuân Dương, một thời gian sau anh Trương Công Lượng làm Cục phó về Chính trị, anh Lưu Thụ và anh Bùi Quang Giới làm Cục phó; Cục Tiêu chuẩn-Đo lường- Chất lượng do anh Nguyễn Văn Tách làm Cục trưởng, anh Vũ Chính Nghĩa, anh Trần Văn Đạt, anh Lê Quang Vinh và anh Nguyễn Đức Quang làm Cục phó; Văn phòng Tổng cục do anh Ngô Lê Tư làm Chánh Văn phòng, anh Nguyễn Văn Lân làm Phó Văn phòng. Viện Kỹ thuật cơ giới quân sự do anh Trần Hùng Nam sau đó là anh Lê Hồng Phương làm Viện trưởng, các anh Trần Hoài Nam, Lê Hồng Phương, sau đó là Đặng Văn Minh và Mai Khoa làm Viện phó.

 Nghe xong các đơn vị phía Bắc, tôi cùng một vài anh em vào miền Trung  nghe Trường Dạy nghề số 6 vào miền Nam nghe Trường Cao đẳng Kỹ thuật Vin-hem-pích và Xí nghiệp liên hợp Z751 báo cáo. Trường Dạy nghề số 6 đóng ở Nha Trang do anh Dương Văn Dền làm Hiệu trưởng, anh Nguyễn Đăng Bảy làm Bí thư Đảng ủy. Trường Cao đẳng kỹ thuật Vin-hem-pích ( sau này đổi tên là Trường Sĩ quan Kỹ thuật quân sự ) do anh Lê Sĩ Đào làm Hiệu trưởng, anh Bùi Quang Lại sau đó là anh Trần Ngọc Lan làm Bí thư Đảng ủy. Xí nghiếp liên hợp Z751 do anh Đặng Quốc Dũng làm Tổng Giám đốc, anh Phạm Ngọc Kha làm Bí thư Đảng ủy (Sau này là anh Nguyễn Khắc Thắng, Tổng Giám đốc; anh Nguyến Đăng Khắc làm Bí thư Đảng ủy, Chính ủy). Khi làm việc với lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị, đồng thời với việc nghe báo cáo tình hình chung, theo phạm vi thẩm quyền và điều kiện cho phép, tôi còn trực tiếp giải quyết một số đề nghị của các đơn vị.
  Tại các buổi làm việc với các đơn vị, sau khi nghe báo cáo bằng văn bản của lãnh đạo chỉ huy, ý kiến bổ sung của các cơ quan hữu quan, bao giờ tôi cũng dành nhiều thời gian đề nghị các thành viên tham gia tọa đàm trao đổi. Tôi thường nêu lên các câu hỏi có tính then chốt để cùng nhau nghiên cứu thảo luận, có khi lật đi lật lại, thậm chí đặt ngược lại vấn đề, tạo được không khí tranh luận sôi nổi trên một số vấn đề trọng tâm chí cốt. Bằng cách trực diện đó, tôi cho rằng, thông tin đa dạng hơn, nhận thức thu được thường nhiều hơn, ấn tượng khắc dấu sâu hơn, thực chất hơn, động viên được tự do tư tưởng, làm cho tư duy khoáng đạt hơn, không bị gò bó vào sự xơ cứng hành chính hóa, quan liêu hóa trong quá trình làm việc. Cũng chính vì vậy, trong nhiều trường hợp đã thành thói quen, tôi thường đề nghị người lãnh đạo, chỉ huy khi báo cáo những vấn đề cơ bản của đơn vị thì không cần phải dùng giấy tờ tài liệu. Vì đó là những kiến thức, những thông tin thường trực mà người lãnh đạo, chỉ huy phải trực tiếp nắm thật chắc như cơm ăn nước uống hằng ngày. Dựa vào cơ quan chức năng là đúng, nhưng người lãnh đạo, chỉ huy phải quản lý chắc tình hình, không nhất thiết cái gì cũng cứ phải hỏi cơ quan. Càng ở cơ sở, việc nắm tình hình càng phải thật chắc, thật cụ thể, tỉ mỉ, không thể chung chung.
Qua làm việc với các cơ quan chức năng của Tổng cục và các cục kỹ thuật chuyên ngành, bước đầu cho tôi một bức tranh toàn cảnh về Tổng cục Kỹ thuật nói riêng và việc bảo đảm kỹ thuật trong toàn ngành nói chung.
Vũ khí, trang bị kỹ thuật trong biên chế của quân đội ta là một tài sản có giá trị cao, một lực lượng vật chất rất lớn và quí hiếm, được hình thành từ nhiều nguồn, đa hệ, nhiều nhãn mác. Có loại do ta thu được từ chiến lợi phẩm trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ; có loại do nền công nghiệp quốc phòng của ta sản xuất, chế tạo hoặc cải tiến; có loại mới mua sắm thêm sau này để từng bước hiện đại hóa quân đội trước yêu cầu của tình hình mới;  còn lại đại bộ phận là do nguồn của Liên Xô, Trung quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em viện trợ trong những năm ta đánh Mỹ. Cùng với thời gian, do quá trình khai thác sử dụng, do tác động của môi trường,…nên các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật đều khó tránh khỏi mất đồng bộ, xuống cấp theo một mức độ nhất định. Trong khi đó, điều kiện nền công nhiệp quốc phòng của đất nước chưa phát triển, còn nhỏ bé, phân tán, công nhệ chưa hiện đại, khả năng sản xuất vũ khí mới và phụ tùng thay thế rất hạn chế; nguồn ngân sách quốc phòng hạn hẹp chưa đáp ứng được yêu cầu nghiên cứu cải tiến, sửa chữa, đồng bộ và mua sắm vũ khí, trang bị kỹ thuật.
 Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu - cả tình huống chiến tranh thông thường và chiến tranh đchj sử dụng vũ khí công nghệ cao -  huấn luyện chiến thuật, kỹ thuật, hợp đòng quân binh chủng và các nhiệm vụ khác của Quân đội, đòi hỏi Nhà nước và Bộ Quốc phòng phải có sự đầu tư rất lớn về ngân sách, vật tư, lực lượng cho công tác kỹ thuật.
Việc bảo quản, bảo dưỡng, niêm cất, khai thác, sửa chữa, cải tiến vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện có phải được tiến hành một cách khoa học theo một qui trình công nghệ chặt chẽ. Vũ khí, trang bị kỹ thuật càng hiện đại, phức tạp thì đòi hỏi công tác kỹ thuật càng cao hơn. Tôi được biết, quân đội ở các nước phát triển có vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại, ngân sách quốc phòng vốn đã rất lớn mà tỷ lệ ngân sách quốc phòng dành cho công tác kỹ thuật rất cao (có nước ngân sách bảo đảm kỹ thuật chiếm tới 20% trong ngân sách quốc phòng). Đối với nước ta, do điều kiện nền kinh tế tài chính của đất nước còn khó khăn, ngân sách quốc phòng đã  hạn hẹp lại phải lo bảo đảm đời sống bộ đội, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và nhiều nhiệm vụ quan trọng khác, nên mặc dù đã có rất nhiều cố gắng so với trước nhưng ngân sách bảo đảm kỹ thuật của quân đội vẫn còn hạn chế, so với nhu cầu còn là khoảng cách khá lớn. Vấn đề đặt ra là tiếp tục động viên cán bộ, nhân viên ngành kỹ thuật phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo, tự lực, tự cường, khắc phục mọi khó khăn, bảo đảm quản lý, khai thác vũ khí, trang bị kỹ thuật tốt, bền, tiết kiệm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Đội ngũ cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật ở các cơ sở quản lý, bảo quản, sửa chữa vũ khí, trang bị kỹ thuật được đào tạo cơ bản, có phẩm chất chính trị, trách nhiệm chính trị và năng lực chuyên môn đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ. Đáp ứng yêu cầu của thế bố trí chiến lược; đồng thời nhằm bảo đảm an toàn, chống cháy nổ, các kho vũ khí, đạn dược cấp chiến lược với một trữ lượng tương đối lớn, đều phải bố trí ở vùng sâu, vùng núi, xa các khu dân cư, các trung tâm văn hóa xã hội, các khu công nghiệp. Vì vậy, đời sống sinh hoạt và công tác của cán bộ, nhân viên ngành quân khí có rất nhiều khó khăn như: xa các trung tâm y tế, chợ búa, trường học, môi trường văn hóa xã hội,…Cùng với công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, cần có chính sách và sự động viên kịp thời để mọi người an tâm công tác lâu dài.
Về công tác cán bộ, thời gian tôi mới về Tổng cục, bước vào năm 2005,  nổi lên hai vấn đề lớn đặt ra phải giải quyết: Một là, đánh giá lại toàn bộ đội ngũ cán bộ để Thường vụ Đảng ủy Tổng cục xem xét quyết định giữ lại hay chuyển ra theo Quyết định 77/QP ngày 4 tháng 4 năm 2004 của Bộ Quốc phòng  thực hiện Luật Sĩ quan năm 1999. Hai là, chuẩn bị sắp xếp cán bộ chủ trì các cấp để chuẩn bị Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ VIII và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X. Đó là hai vấn đề then chốt có mối quan hệ với nhau và đều có tác động lớn đến tổ chức lãnh đạo, chỉ huy của các cơ quan, đơn vị trong toàn Tổng cục.
Đây là năm đầu tiên thực hiện Quyết định 77/QP của Bộ Quốc phòng. Tinh thần chung của quyết định là những cán bộ đã hết tuổi phục vụ tại ngũ theo qui định của Luật sĩ quan năm 1999 thì thực hiện chế độ nghỉ hưu. Đối với những cán bộ sức khỏe và năng lực còn tốt, đơn vị  chưa có người thay thế, thì giữ lại phục vụ tại ngũ ở tuổi dự bị hạng một. Đối với cán bộ khoa học kỹ thuật đầu ngành, thì giữ lại phục vụ tại ngũ ở tuổi dự bị hạng hai.
Là năm triển khai đại h