Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: macbupda trong 17 Tháng Bảy, 2014, 08:00:17 PM



Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Bảy, 2014, 08:00:17 PM
Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975
Tập IX: Tính chất, đặc điểm, tầm vóc và bài học lịch sử
Nhà xuất bản: Chính trị quốc gia
Năm xuất bản: 2013
Số hóa: macbupda

HỘI ĐỒNG CHỈ ĐẠO XUẤT BẢN

TS. NGUYỄN DUY HÙNG         - Chủ tịch
Thiếu tướng, PGS. TS. VŨ QUANG ĐẠO   - Phó Chủ tịch
TS. HOÀNG PHONG HÀ            - Ủy viên
Đại tá, PGS. TS. HỒ KHANG         - Ủy viên
TS. LƯU TRẦN LUÂN            - Ủy viên

CHỈ ĐẠO NỘI DUNG

Thiếu tướng, PGS. TS. VŨ QUANG ĐẠO
Đại tá, PGS. TS. NGUYỄN MẠNH HÀ
Đại tá, PGS. TS. HỒ KHANG

CHỦ BIÊN

Đại tá, TS. NGUYỄN HUY THỤC

TÁC GIẢ

GS. TS. NGUYỄN NGỌC CƠ
Đại tá, PGS. TS. HỒ KHANG
Đại tá ĐỖ XUÂN HUY
Đại tá NGUYỄN VĂN MINH
Đại tá, TS. NGUYỄN HUY THỤC
Thiếu tá, ThS. NGUYỄN VĂN QUYỀN
Thiếu tá, ThS. LÊ QUANG LẠNG
Trung úy, ThS. TRẦN HỮU HUY
Cử nhân NGÔ QUANG CHÍNH


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Bảy, 2014, 08:02:28 PM
LỜI NHÀ XUẤT BẢN

Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là kết quả tổng hợp của nhiều nhân tố, phản ánh nỗ lực phi thường của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta trong suốt 21 năm chiến đấu đầu gian khổ, hy sinh, là thiên hùng ca bất hủ của thế kỷ XX. Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng “thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và tính thời đại sâu sắc”. Thắng lợi đó đã mở ra một kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc, chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị hơn một thế kỷ của chủ nghĩa đế quốc trên đất nước ta, làm đảo lộn chiến lược toàn cầu phản cách mạng của đế quốc Mỹ, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên cả nước, xóa bỏ mọi chướng ngại trên con đường thực hiện thống nhất nước nhà, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, đem lại niềm tin cho các dân tộc trên thế giới đang đấu tranh cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Với dã tâm đen tối, ngay sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, đế quốc Mỹ đã nhảy vào miền Nam thay chân Pháp, hòng chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam nước ta thành căn cứ quân sự, nơi thử nghiệm chính sách thực dân mới, phòng tuyến ngăn chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội tràn xuống Đông Nam Á, răn đe phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới.

Để thực hiện được mục tiêu chiến lược đề ra, đế quốc Mỹ đã liên tục thực hiện nhiều chiến lược chiến tranh, huy động đến mức cao nhất tiềm lực kinh tế, quân sự của nước Mỹ, đồng thời ra sức tuyên truyền lừa bịp nhân dân thế giới và lôi kéo các nước phụ thuộc tham gia chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Trước âm mưu và hành động xâm lược của đế quốc Mỹ, Đảng Lao động Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nêu cao tinh thần độc lập tự chủ đã đề ra đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo, huy động sức mạnh của cả dân tộc và thời đại tiến hành cuộc chiến tranh yêu nước vĩ đại vì độc lập, tự do và phẩm giá con người. Kế thừa những kinh nghiệm quý báu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, phát huy truyền thống đánh giặc của tổ tiên, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, quân và dân cả nước đã nêu cao tinh thần quyết chiến quyết thắng, vừa đánh địch vừa xây dựng lực lượng về mọi mặt, vừa ra sức xây dựng và bảo vệ hậu phương miền Bắc, vừa anh dũng chiến đấu giải phóng miền Nam. Trước một kẻ địch lớn mạnh gấp bội, quán triệt tư tưởng tiến công cách mạng, quân và dân ta đã sáng tạo ra nhiều cách đánh hiệu quả, vừa đánh vừa thăm dò, vừa đánh vừa đúc rút kinh nghiệm chiến đấu, đánh địch bằng ba mũi giáp công, trên cả ba vùng chiến lược: rừng núi, nông thôn đồng bằng và đô thị, vừa đánh vừa mài sắc nghệ thuật quân sự, từ khởi nghĩa từng phần tiến lên chiến tranh cách mạng, lần lượt đánh bại từng bước leo thang chiến tranh của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Luận giải, phân tích tính chất, đặc điểm, tầm vóc và những bài học lịch sử của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là nội dung tập cuối cùng của bộ sách.

Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.

Tháng 3 năm 2013
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - SỰ THẬT


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Bảy, 2014, 08:03:51 PM
LỜI NÓI ĐẦU

Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 là mốc lịch sử trọng đại, đánh dấu sự toàn thắng của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta và là một trong những chiến công rực rỡ nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Đó là bản thiên anh hùng ca bất hủ của chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

Thắng lợi đó là thành quả vĩ đại phản ánh những nỗ lực phi thường của một dân tộc nhỏ, một nước nghèo, nhưng biết đồng lòng chung sức, triệu người như một, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam), đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, biết đánh và biết thắng quân xâm lược Mỹ - một siêu cường về kinh tế, quân sự, khoa học - kỹ thuật số một thế giới.

Với nhãn quan sáng suốt, ý thức cảnh giác, đặc biệt là sự giác ngộ chính trị của một dân tộc đã trải qua thực tiễn đấu tranh dựng nước và giữ nước, mà trực tiếp nhất là trong kháng chiến chống thực dân Pháp trước đó, chúng ta đã sớm nhận thức chính xác bản chất xâm lược, hiếu chiến của đế quốc Mỹ và tìm ra những phương sách đối phó hiệu quả, từng bước đánh thắng các chiến lược chiến tranh, tiến tới đánh thắng hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ. Đó chính là nghệ thuật chiến thắng đối phương từng bước.

Ngay sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết (7-1954), đế quốc Mỹ đã nhanh chóng đưa Ngô Đình Diệm về Sài Gòn, thiết lập nên chính quyền tay sai, triển khai chính sách xâm lược thực dân mới ở miền Nam Việt Nam. Trước tình hình mới, dưới sự lãnh đạo ủa Đảng, nhân dân miền Bắc ra sức ổn định, xây dựng và củng cố miền Bắc theo hướng xã hội chủ nghĩa làm căn cứ địa vững chắc cho cách mạng cả nước, nhân dân miền Nam tiến hành đấu tranh chính trị đòi Mỹ - chính quyền Sài Gòn thi hành hiệp định Giơnevơ, chống lại chính sách “tố cộng, diệt cộng”, rồi tiến lên làm cuộc Đồng khởi năm 1960 trên toàn miền Nam, làm thất bại mưu đồ xâm lược giấu mặt, trá hình của Mỹ, buộc chúng phải lộ diện. Bắt đầu từ năm 1961, đế quốc Mỹ thi hành chiến lược chiến tranh đặc biệt - cuộc chiến tranh bằng quân đội Việt Nam Cộng hòa với tiền của, vũ khí và sự chỉ huy của Mỹ - nhằm đè bẹp và tiêu diệt cách mạng miền Nam. Cách mạng miền Nam từ khởi nghĩa từng phần phát triển lên chiến tranh cách mạng, kết hợp đấu tranh quân sự và chính trị song song, đánh đối phương bằng ba mũi giáp công trên cả ba vùng chiến lược, phát huy sức mạnh to lớn của chiến tranh nhân dân, đánh bại các biện pháp chiến thuật cơ bản “trực thăng vận”, “thiết xa vận”... và quốc sách “ấp chiến lược”, làm thất bại hoàn toàn chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ.

 Chưa cam chịu thất bại, từ giữa năm 1965, đế quốc Mỹ tiếp tục leo thang chiến tranh, triển khai chiến lược chiến tranh cục bộ, đưa quân chiến đấu Mỹ và quân đồng minh vào trực tiếp tham chiến trên quy mô lớn ở chiến trường miền Nam; đồng thời đẩy mạnh cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc. Cả nước ta sục sôi đánh Mỹ, đẩy mạnh chiến tranh nhân dân phát triển đến trình độ cao trên cả hai miền: quân và dân miền Nam đánh bại hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965 - 1966, 1966 - 1967, rồi mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968; miền Bắc làm tròn nghĩa vụ của hậu phương phương lớn với tiền tuyến lớn miền Nam và đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, làm thất bại hoàn toàn chiến lược chiến tranh cục bộ, tạo bước ngoặt quyết định trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Thất bại trong chiến lược chiến tranh cục bộ, lại bị nhân dân thế giới và nhân dân chính nước Mỹ phản đối quyết liệt, đế quốc Mỹ thi hành chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh - xuống thang chiến tranh, rút dần quân chiến đấu Mỹ và quân đồng minh ra khỏi miền Nam Việt Nam, đồng thời mở rộng chiến tranh sang Campuchia. Quân và dân ta mở cuộc tiến công chiến lược năm 1972, đồng thời phối hợp với quân và dân hai nước Lào và Campuchia đánh bại một bước quan trọng chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh và[9] “học thuyết Níchxơn” ở Đông Dương. Quân và dân miền Bắc đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai mà đỉnh cao là cuộc tập kích đường không chiến lược bằng B.52 vào Hà Nội và Hải Phòng (12-1972), buộc Nhà Trắng phải ký Hiệp định Pari (1-1973), rút hết quân chiến đấu Mỹ và quân các nước đồng minh của Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam.

Sau Hiệp định Pari, đế quốc Mỹ vẫn tiếp tục tiến hành chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, chỉ huy quân đội và chính quyền Việt Nam Cộng hòa tiến hành “cuộc chiến tranh lấn chiếm và bình định”. Ta tiến hành động viên tổng lực sức mạnh của cả nước, khẩn trương tạo thế, tạo thời cơ, kiên quyết tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Trên cơ sở những sự kiện, tư liệu có tính hệ thống, được khai thác từ nhiều nguồn tin cậy khác nhau, được đối chiếu xử lý một cách khoa học, nguyên nhân chiến tranh và diễn biến cụ thể của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước với những nội dung khái quát trên đây, được tái hiện qua tám tập sách đã xuất bản. tập IX sẽ tiến hành phân tích, đánh giá và chỉ ra những vấn đề có tính quy luật, tính lý luận để nghiên cứu vận dụng sáng tạo vào thực tiễn xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Với nội dung được xác định như vậy, Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), tập IX tập trung luận giải những vấn đề sau:

- Tính chất, đặc điểm, tầm vóc và ý nghĩa thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975).

- Đường lối kháng chiến độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo.

- Phát huy sức mạnh của dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

- Phát triển sáng tạo nghệ thuật quân sự Việt Nam.

- Xây dựng và phát huy vai trò hậu phương - căn cứ địa cách mạng.

- Liên minh đoàn kết chiến đấu với Lào và Campuchia chống đế quốc Mỹ xâm lược.

Mặc dù tập thể tác giả thực hiện tập sách này đã hết sức cố gắng, nhưng đây là những nội dung đòi hỏi tính luận giải, khái quát rất cao, trong khi trình độ nhận thức và lý luận còn hạn chế, nên sự thiếu sót và bất cập về mặt này, mặt khác là khó tránh khỏi.

Rất mong sự đóng góp ý kiến của bạn đọc.

VIỆN LỊCH SỬ QUÂN SỰ IỆT NAM


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Bảy, 2014, 08:05:13 PM
Chương 37

TÍNH CHẤT, ĐẶC ĐIỂM, TẦM VÓC VÀ Ý NGHĨA THẮNG LỢI
CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC
(1954 - 1975)

I - TÍNH CHẤT

Trải qua 21 năm, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam diễn ra với tính chất khác biệt so với nhiều cuộc chiến tranh cách mạng trên thế giới và có những bước phát triển mới so với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trước đó. Những điều kiện ấy quy định tính chất đặc trưng của cuộc kháng chiến của nhân dân ta.

1. Đây là một cuộc đấu tranh chính nghĩa chống lại cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới do đế quốc Mỹ tiến hành

Tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới đối với miền Nam Việt Nam, đế quốc Mỹ âm mưu biến miền Nam Việt Nam thành căn cứ quân sự, dùng miền Nam làm bàn đạp tiến công miền Bắc xã hội chủ nghĩa, ngăn chặn phong trào cách mạng xã hội chủ nghĩa và cách mạng giải phóng dân tộc tại khu vực Đông Nam Á.

Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, đế quốc Mỹ đã triệt để khai thác những điều kiện thuận lợi (về tài nguyên, nguồn nhân lực dồi dào, trình độ khoa học - kỹ thuật cao, bị tổn thất ít hơn so với nhiều nước khác, đồng thời lợi dụng chiến tranh để làm giàu, thu lợi nhuận từ buôn bán vũ khí...) để vươn lên trở thành một đế quốc giàu có và hùng mạnh nhất thế giới. Mỹ tự đứng ra “đảm nhận” vai trò sen đầm quốc tế để bảo vệ và cứu nguy cho cả hệ thống các nước tư bản chủ nghĩa đang suy yếu trước sự lớn mạnh nhanh chóng của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa và những đòn tiến công liên tục của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên khắp thế giới, phong trào công nhân trong các nước tư bản.

Để thực hiện những tham vọng của mình, ngay từ năm 1949, đế quốc Mỹ tăng cường chạy đua vũ trang, lập khối quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO, tháng 9-1949), đẩy mạnh chiến tranh lạnh, tiếp tay cho các thế lực đế quốc khác trong cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa và trực tiếp nhảy vào tham gia cuộc chiến tranh trên bán đảo Triều Tiên (10-1950).

Tháng 5-1950, Tổng thống Mỹ Truman chính thức viện trợ cho Cộng hòa Pháp trong cuộc chiên tranh xâm lược Đông Dương, ủng hộ Chính phủ “quốc gia” Bảo Đại.

Tháng 12-1950, Mỹ và Pháp cùng các chính phủ “quốc gia” Việt, Miên, Lào ký kết bản Hiệp định phòng thủ chung Đông Dương. Theo đó, Mỹ cam kết sẽ viện trợ quân sự cho chính phủ các nước này đối phó với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Tháng 9 và tháng 12-1951, Mỹ trực tiếp ký với Bảo Đại hai bản hiệp ước tay đôi: Hiệp ước hợp tác kinh tế Việt - MỹHiệp ước an ninh chung.

Bên cạnh đó, chính quyền Mỹ không ngừng gia tăng viện trợ quân sự cho thực dân Pháp. Cụ thể, nếu năm 1952 ngân sách viện trợ của Mỹ mới chỉ chiếm 35%, năm 1953 lên 43% thì đến năm 1954 đã tăng vọt đến 73% trong tổng ngân sách dành cho cuộc chiến tranh Đông Dương của Pháp.

Được Mỹ hà hơi tiếp sức, Pháp rắp tâm kéo dài cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương bằng nhiều thủ đoạn chính trị và quân sự; dù vậy, mọi cố gắng cũng không thể xoay ngược được tình thế trên chiến trường, còn các chính phủ “quốc gia” bản xứ do Mỹ hậu thuẫn thì liên tiếp sụp đổ.

Tại Việt Nam, dưới áp lực của Mỹ, ngày 12-1-1954, Bảo Đại buộc phải đưa Bửu Lộc đứng ra lập nội các mới thay thế cho nội các Nguyễn Văn Tâm (lập tháng 6-1952), nhưng nội các Bửu Lộc cũng chỉ tồn tại được sáu tháng.

Với con bài đã chuẩn bị từ lâu, đầu tháng 7-1954, Mỹ đưa Ngô Đình Diệm về miền Nam Việt Nam và gây sức ép với Pháp để cho Ngô Đình Diệm chấp chính. “Quốc trưởng” Bảo Đại lúc đó tuy bất bình, nhưng phản ứng của ông ta không mang lại kết quả. Sự kiện này đánh dấu quan hệ giữa Pháp và Mỹ về vấn đề Việt Nam chuyển sang một thời kỳ mới. Mỹ bắt đầu ra mặt gạt Pháp ra khỏi Đông Dương, đơn phương thao túng thế cờ Việt Nam. Đó cũng là một trong những cột mốc đánh dấu quá trình Mỹ áp đặt chủ nghĩa thực dân kiểu mới ở miền Nam Việt Nam.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Bảy, 2014, 08:07:02 PM
Ngày 23-7-1954, nghĩa là chỉ hai ngày sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, Ngoại trưởng Mỹ Đalét (Dulles) tuyên bố: “Từ nay về sau, vấn đề bức thiết không phải là than tiếc dĩ vãng, mà là lợi dụng thời cơ để việc thất thủ miền Bắc Việt Nam không mở đường cho chủ nghĩa cộng sản bành trướng ở Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương” (1).

Ngày 8-8-1954, Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ họp đưới sự chủ trì của tổng thống Aixenhao (Eisehhower) quyết định thay Pháp “ngăn làn thủy triều đỏ của chủ nghĩa cộng sản” ở Việt Nam.

Các hành động của Mỹ tiếp tay cho Ngô Đình Diệm từ chối hiệp thương tổng tuyến cử (10-1955), tổ chức “trưng cầu dân ý” để phế truất Bảo Đại (23-10-1955), rồi tổ chức bầu cử gian lận để thành lập một quốc gia riêng với tên gọi Việt Nam Cộng hòa ở nam vĩ tuyến 17 do chính Ngô Đình Diệm làm Tổng thống đánh dấu việc Mỹ đã xác lập thành công một bước chủ nghĩa thực dân kiểu mới ở miền Nam Việt Nam.

Mục đích của Mỹ nhằm:

- Biến miền Nam Việt Nam thành căn cứ quân sự, ngăn chặn và đe dọa tiến công các lực lượng cách mạng xã hội chủ nghĩa đang phát triển trong khu vực mà Mỹ cho rằng các lực lượng đó đang đe dọa đến các quyền lợi của Mỹ.

- Xây dựng “con đê” ngăn chặn làn sóng đấu tranh giải phóng dân tộc đang dâng cao ở khu vực Đông Nam Á kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nhất là sau chiến thắng Điện Biên Phủ (5-1954) của Việt Nam.

Những âm mưu trên đây đã chi phối các chính sách cơ bản trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của đế quốc Mỹ, nhằm chống lại các trào lưu cách mạng trên thế giới, đàn áp và phá hoại phong trào độc lập dân tộc, kìm giữ các nước mới trỗi dậy trong quỹ đạo chủ nghĩa tư bản, thực hiện chính sách lũng đoạn của tư bản độc quyền Mỹ và ngăn chặn sự phát triển của chủ nghĩa xã hội, đồng thời tranh giành ảnh hưởng với các nước đế quốc khác. Nếu đánh bại được Việt Nam, đế quốc Mỹ có thể thử nghiệm thành công các chiến lược, chiến thuật chiến tranh “chống cộng”, vừa có thể xóa bỏ được ảnh hưởng của cách mạng Việt Nam - ngọn cờ tiêu biểu cho ý chí độc lập, tự do và cho sự kết hợp giữa các trào lưu cách mạng của thời đại, có xu thế phát triển tất yếu khách quan của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc hướng tới chủ nghĩa xã hội trên thế giới.

Năm đời tổng thống Mỹ (Aixenhao, Kennơđi, Giônxơn, Níchxơn, Pho) đã theo đuổi âm mưu ấy bằng con đường chiến tranh xâm lược, ngoan cố bám lấy chính sách thực dân kiểu mới và lao vào những cuộc phiêu lưu quân sự với bất cứ giá nào.

Như vậy, cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam là một bộ phận quan trọng trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của Mỹ. Mỹ muốn chứng tỏ với nhân dân thế giới rằng lực lượng quân sự và kinh tế khổng lồ của chúng có thể khuất phục được nhân dân Việt Nam, từ đó đè bẹp phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và chặn đứng bước tiến của chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn cầu.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược của toàn thể nhân dân Việt Nam do Đảng Lao động Việt Nam thống nhất lãnh đạo, chỉ đạo, vì vậy không chỉ nhằm “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, mà còn nhằm để bảo vệ những thành quả của Cách mạng Tháng Tám (1945), của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), vì hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, mà còn mang ý nghĩa quốc tế to lớn.

Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa điển hình trong thế kỷ XX, là thắng lợi đầu tiên trong thời đại mới của một dân tộc nhược tiểu đã tự giải phóng khỏi ách thực dân đế quốc.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã đưa tới việc thành lập chính quyền dân chủ nhân dân, lần đầu tiên giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên cầm quyền ở một nước thuộc địa. Cách mạng Tháng Tám đồng thời góp phần vào chiến thắng chủ nghĩa phát xít trong Chiến tranh thế giới thứ hai, chọc thủng khâu yếu nhất trong hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân cũ, góp phần làm suy yếu chủ nghĩa đế quốc và cổ vũ mạnh mẽ tinh thần các dân tộc thuộc địa đứng lên đấu tranh tự giải phóng.

Tiếp theo thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, thắng lợi trong cuộc kháng chiến trường kỳ chín năm chống thực dân Pháp của quân và dân Việt Nam đã giáng đòn quyết định vào dinh lũy của chủ nghĩa thực dân kiểu cũ. Đây là một trong những “cống hiến đặc biệt”, “vô giá”(2) của nhân dân Việt Nam vào sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ của nhân dân toàn thế giới.


(1) Bộ Giáo dục và Đào tạo: Lịch sử Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2003, 6.3, tr.118.
(2) Lời Chủ tịch Bumêđiên trong dịp sang thăm Việt Nam tháng 3-1974, báo Nhân dân, số ra ngày 7-3-1974.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Bảy, 2014, 08:08:14 PM
Mặc dù kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta giành được thắng lợi vẻ vang nhưng ta mới chỉ giải phóng được một nửa đất nước. Ở miền Nam, nhân dân vẫn còn phải sống dưới ách thống trị của chủ nghĩa thực dân kiểu mới do Mỹ dựng lên. Toàn thể dân tộc ta tiếp tục bước vào cuộc đấu tranh mới, chống lại một kẻ thù lớn mạnh hơn gấp bội đó là đế quốc Mỹ. Cách mạng Việt Nam đồng thời thực hiện hai chiến lược cách mạng: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, nhằm hướng tới mục tiêu chung hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên cả nước, tiến tới thống nhất nước nhà. Mục tiêu độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng cuộc sống hòa bình, ấm no, hạnh phúc và phồn vinh trở thành nguyện vọng thiêng liêng, là sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân Việt Nam và cũng là mục tiêu cơ bản, lâu dài của cách mạng cả nước. Sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam vì vậy, bên cạnh thực hiện các mục tiêu độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc còn góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì những mục tiêu cách mạng của thời đại là: hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.

Như vậy, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam là sự kế tục của cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954) bằng chiến tranh và trong chiến tranh. Đáng lẽ sau thắng lợi của Cách mạng Tháng tám và của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, nhân dân ta đã có hòa bình, có thể “an cư lạc nghiệp”, tập trung xây dựng đất nước theo con đường mà Đảng Lao động Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và dân tộc Việt Nam đã lựa chọn. Nhưng đế quốc Mỹ - kẻ thù của nhân loại tiến bộ - quyết tâm đặt ách thống trị thực dân mới đối với đất nước ta. Vì mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; vì sự tiến bộ của nhân loại, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta quyết tâm đánh Mỹ đến ngày thắng lợi hoàn toàn.

Việt Nam khởi đầu kháng chiến chống Mỹ xâm lược trong bối cảnh Hiệp định Giơnevơ (21-7-1954) - một văn bản mang tính pháp lý quốc tế, công nhận chủ quyền, độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào, Campuchia đã được ký kết và có hiệu lực: miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, tiến lên chủ nghĩa xã hội; miền Nam tiếp tục tiến hành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.

Trong tình hình đó, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nêu cao thiện chí hòa bình, sẵn sàng hiệp thương với chính quyền Việt Nam Cộng hòa để thực hiện tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nhiệm vụ chung của chúng ta hiện nay là: Thi hành đúng đắn hiệp định đình chiến, đấu tranh để giữ gìn và củng cố hòa bình, để thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong toàn quốc(1).

Nhưng thiện chỉ của Đảng và Chính phủ Việt Nam bị đáp lại bằng hành động thù địch tàn bạo của Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Chúng trắng trợn phá hoại Hiệp định Giơnevơ, phá hoại cuộc tổng tuyển cử, liên tiếp mở các chiến dịch “tố cộng, diệt cộng” dùng mọi thủ đoạn chiến tranh nhằm tiêu diệt các lực lượng cách mạng và những người yêu nước miền Nam.

Trước những âm mưu và hành động của Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa, nhân dân ta không còn con đường nào khác là phải tiếp tục đứng lên tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ chống lại đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai nhằm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Suốt quá trình kháng chiến, Đảng và Chính phủ Việt Nam đã nhiều lần muốn chấm dứt chiến tranh bằng thương lượng hòa bình. Nhưng thực tế đã chỉ rõ, phá hoại hòa bình là bản chất của chủ nghĩa đế quốc. Muốn có hòa bình thực sự, nhân dân ta chỉ có một con đường duy nhất là tiếp tục tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng - tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, chống lại cuộc chiến tranh xâm lược dã man, tàn khốc nhất của đế quốc Mỹ trong thế kỷ XX.

Trong 21 năm (1954 - 1975) trên chiến trường miền Nam, nhân dân Việt Nam đã phải liên tục chiến đấu chống lại các lực lượng đế quốc, bọn phản động trong nước và quốc tế để hoàn thành những mục tiêu nói trên. Cho dù có lúc, có nơi không có sự tham gia trực tiếp của quân đội viễn chinh Mỹ trên chiến trường, chỉ có quân đội Việt Nam Cộng hòa mang chiêu bài quốc gia, dân tộc, như trong những năm trước Đồng khởi (1960), hoặc khi Mỹ thực hiện chính sách “dùng người Việt đánh người Việt” - “thay màu da trên xác chết (chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh) nhưng chúng vẫn không thể che đậy được bản chất của một cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới do Mỹ gây nên ở miền Nam Việt Nam.


(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, t.7, tr.339.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Bảy, 2014, 08:09:38 PM
2. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam mang tính chất một cuộc đấu tranh giai cấp sâu sắc

Tính chất nổi bật của các chiến lược chiến tranh thực dân kiểu mới mà Mỹ áp đặt ở miền Nam Việt Nam là tổ chức một cơ chế thống trị gián tiếp, thông qua hệ thống chính quyền do một người đứng đầu, đồng thời tiến hành xây dựng một lực lượng quân sự người bản xứ, sẵn sàng thi hành mệnh lệnh và thực hiện các ý đồ chiến lược của hệ thống cố vấn quân sự ở các cấp, các ngành của Mỹ.

Ngay sau khi được Mỹ dựng lên, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã gấp rút tìm đủ mọi cách để xây dựng miền Nam Việt Nam thành một “quốc gia mạnh” của “thế giới tự do”, với bộ máy quân đội, cảnh sát có số lượng lớn, được trang bị vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại, được đầu tư huấn luyện thuần thục để chống lại phong trào cách mạng và những người yêu nước miền Nam.

Để tạo chỗ dựa về chính trị, Ngô Đình Diệm cho thành lập hệ thống tổ chức Đảng Cần lao nhân vị, phong trào Cách mạng quốc gia, Thanh niên cộng hòa, Phụ nữ liên đới từ trung ương xuống tận xã, ấp, nhằm tập hợp mọi lực lượng phản cách mạng trong giai cấp tư sản, địa chủ, tổ chức Thiên Chúa giáo và những phần tử có mối hận thù với cách mạng làm hậu thuẫn cho hệ thống chính quyền các cấp của chúng. Đồng thời, chúng tuyên bố xóa bỏ các khu hành chính chịu ảnh hưởng lớn của cách mạng. Bên cạnh đó, dưới sự chỉ huy của hệ thống cố vấn quân sự Mỹ, chính quyền Việt Nam Cộng hòa nhanh chóng đôn quân, bắt lính, xây dựng và huấn luyện hàng chục sư đoàn bộ binh, nhiều đơn vị pháo binh và xe tăng; tiến hành xây dựng hệ thống sân bay, quân cảng, đường giao thông chiến lược nhằm biến miền Nam Việt Nam thành một căn cứ quân sự khổng lồ, sẵn sàng thực thi các chiến lược chiến tranh của Mỹ.

Với một hệ thống cố vấn được tổ chức chặt chẽ từ Phủ Tổng thống, Bộ Tổng tham mưu, Tổng nha Cảnh sát, các bộ máy của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đến các đơn vị quân đội, cảnh sát, các địa phương và dựa vào sức mạnh của vũ khí, đôla viện trợ, Mỹ can thiệp ngày càng sâu vào miền Nam Việt Nam về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa - xã hội, ngoại giao…

Về kinh tế, từ năm 1955 - 1958, viện trợ của Mỹ cho chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng hòa lên tới 965 triệu đôla (trong đó, 626 triệu đôla là viện trợ quân sự). Được Mỹ dung dưỡng, chính quyền Việt Nam Cộng hòa khẩn trương ban bố nhiều chính sách kinh tế mới.

Tháng 1-1955, chính quyền Ngô Đình Diệm ban bố chương trình Cải cách điền địa với các luận điệu: “chia ruộng đất cho dân”, “hữu sản hóa vô sản”, “đả thực, bài phong”…, nhưng thực chất là chúng tiến hành cướp lại ruộng đất mà cách mạng đã chia cho nông dân trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và khôi phục, củng cố giai cấp địa chủ, tư sản dân tộc ở miền Nam.

Thông qua Dụ số 2 (8-1-1955), Dụ số 7 (3-2-1955) và Dụ số 57 (22-10-1056), chính quyền Ngô Đình Diệm đã câu kết với giai cấp địa chủ, tư sản trong nước để chiếm đoạt ruộng đất tư nhân, tăng tô thuế tràn lan, từng bước xóa bỏ những thành quả mà cách mạng đã đem lại cho nông dân trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Trong suốt thời gian có mặt ở miền Nam Việt Nam, đế quốc Mỹ đã thiết lập được sự câu kết chặt chẽ giữa bọn đế quốc bên ngoài và bộ phận tư sản mại bản, địa chủ phong kiến phản động trong nước, nhằm duy trì ách thống trị thực dân mới với những hình thức và phương pháp phong phú, đa dạng; đồng thời, ngăn cản và chống phá phong trào giải phóng dân tộc, cũng như ảnh hưởng của hệ thống xã hội chủ nghĩa. Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai chẳng những xâm chiếm, ngăn cản sự phát triển xã hội ở miền Nam Việt Nam mà còn âm mưu xâm chiếm cả nước Việt Nam, thủ tiêu toàn bộ thành quả cách mạng mà nhân dân ta đã giành được. Vì vậy, chúng chẳng những là kẻ thù trực tiếp của nhân dân miền Nam, mà còn là kẻ thù của cả dân tộc Việt Nam. Đúng như nhận định, đánh giá của Đảng Lao động Việt Nam về hai mâu thuẫn cơ bản đòi hỏi cách mạng Việt Nam phải giải quyết trong cuộc đối đầu lịch sử với Mỹ. Đó là:

“1. Mâu thuẫn giữa một bên là chủ nghĩa đế quốc xâm lược, giai cấp địa chủ phong kiến, và bọn tư sản mại bản quan liêu thống trị ở miền Nam và một bên là dân tộc Việt Nam, nhân dân cả nước Việt Nam, bao gồm nhân dân miền Bắc và nhân dân miền Nam.

2. Mâu thuẫn giữa con đường xã hội chủ nghĩa và con đường tư bản chủ nghĩa ở miền Bắc”(1).

Như vậy, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam trong những năm 1954 - 1975 vừa mang tính chất của một cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, vừa mang nội dung đấu tranh giai cấp rõ rệt; song đây nhất định không phải là một cuộc nội chiến.

Chính sách của đế quốc Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa lành chính sách xâm lược và phản động. Cuộc chiến tranh do chúng tiến hành ở miền Nam Việt Nam từ sau tháng 7-1954, với các chiến lược chiến tranh kế tiếp nhau, lúc leo thang, lúc xuống thang, suy cho cùng đều nhằm thực hiện ho được mục tiêu là đàn áp phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam, nô dịch nhân dân Việt Nam, biến miền Nam thành căn cứ quân sự và thuộc địa kiểu mới. Rõ ràng đó là một cuộc chiến tranh phi nghĩa, một cuộc chiến tranh xâm lược chống lại một quốc gia có chủ quyền. Cho nên về mục tiêu chính trị và về bản chất của cuộc chiến tranh do đế quốc Mỹ, chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng hòa tiến hành ở Việt Nam không có gì khác với cuộc chiến tranh xâm lược mà thực dân Pháp đã gây ra trước đây, hòng cướp nước ta, bắt nhân dân ta làm nô lệ.

Đương đầu với cuộc chiến tranh xâm lược do đế quốc Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa - đại diện cho giai cấp tư sản và địa chủ ở miền Nam Việt Nam gây ra, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam không đơn thuần chỉ mang ý nghĩa của một cuộc đấu tranh chống xâm lược, giành độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc, mà còn là nhằm giải quyết vấn đề “ai thắng ai” giữa cách mạng và phản cách mạng, giữa một bên muốn đưa miền Nam Việt Nam tiến theo con đường chủ nghĩa xã hội còn bên kia thì lại muốn miền Nam đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Là một bộ phận của cuộc đấu tranh giai cấp giữa hai trận tuyến trên phạm vi toàn cầu, cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống đế quốc Mỹ xâm lược, vì vậy trở thành một bộ phận của cách mạng giải phóng dân tộc trên thế giới và mang ý nghĩa quốc tế sâu sắc.


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gian, Hà Nội, 2002, t.20, tr.60.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Bảy, 2014, 08:11:46 PM
3. Tiến hành đồng thời chiến tranh giải phóng dân tộc và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc

Năm 1954, sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết và có hiệu lực. Bản hiệp định đánh dấu thắng lợi của chín năm kháng chiến đầy gian khổ, hy sinh và của gần một trăm năm đấu tranh giải phóng dân tộc của toàn thể nhân dân Việt Nam. Với thắng lợi đó, quân và dân ta đã bảo vệ được thành quả của Cách mạng Tháng Tám trên miền Bắc, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trở thành nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên ở Đông Nam Á.

Đối với thực dân Pháp và can thiệp Mỹ thì Hiệp định Giơnevơ là một thất bại hết sức thảm hại. Nó kết thúc nền thống trị của Pháp ở Đông Dương, đánh bại âm mưu nhằm kéo dài và mở rộng chiến tranh để từng bước biến các nước Đông Dương thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự lúc bấy giờ của đế quốc Mỹ. Đây là thất bại nặng nề nhất của Mỹ ở châu Á sau thất bại ở lục địa Trung Quốc và trên bán đảo Triều Tiên.

Hiệp định Giơnevơ ký chưa ráo mực, đế quốc Mỹ đã lập khối quân sự Đông Nam Á (SEATO), ngang nhiên đặt miền Nam Việt Nam vào “khu vực bảo hộ” của khối này. Âm mưu của Mỹ là ra sức củng cố những vị trí chiến lược trong khu vực, đồng thời sử dụng khối liên minh quân sự này làm công cụ thực hiện chính sách gây chiến và xâm lược của chúng. Ý đồ đen tối và thâm độc đó đã biểu lộ rõ rệt trong lời tuyên bố của giới cầm quyền Nhà Trắng, rằng an ninh của Mỹ quyết định ở dọc vĩ tuyến 17 và biên giới Việt - Lào.

Trong kế hoạch chiến lược quân sự toàn cầu phản cách mạng của đế quốc Mỹ, miền Nam Việt Nam có một vị trí chính trị, quân sự, kinh tế cực kỳ quan trọng không chỉ đối với Mỹ mà còn đối với toàn bộ hệ thống tư bản chủ nghĩa. Chính vì vậy, chẳng bao lâu sau ngày đình chiến, đế quốc Mỹ đã tìm cách hất cẳng Pháp, lập nên chính quyền bản xứ Ngô Đình Diệm và thông qua chính quyền đó để phá hoại sự nghiệp cách mạng, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước Việt Nam.

Đế quốc Mỹ đã chà đạp lên mọi điều khoản của Hiệp định Giơnevơ, ngang nhiên đưa vũ khí, đạn dược và phương tiện chiến tranh vào miền Nam Việt Nam với nhịp độ ngày càng tăng.

Miền Nam Việt Nam từ sau năm 1954 đã thực sự chuyển từ thuộc địa của Pháp thành thuộc địa của Mỹ. Cách mạng Việt Nam từ nay chuyển sang một giai đoạn mới với nhiệm vụ củng cố và xây dựng miền Bắc ngày càng vững mạnh về mọi mặt, cùng với miền Nam chống lại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh.

Điểm nổi bật của cách mạng Việt Nam những năm 1954 - 1975 là hai miền thực hiện hai chiến lược cách mạng khác nhau, nhưng đều nhằm vào một mục tiêu chung là hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Có đấu tranh giải phóng được miền Nam chúng ta mới bảo vệ được miền Bắc và có bảo vệ được miền Bắc một cách vững chắc, chúng ta mới có điều kiện về mọi mặt để giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Tháng 3-1955, Đảng Lao động Việt Nam khẳng định: Củng cố miền Bắc về mọi mặt là một nhiệm vụ rất quan trọng, vì miền Bắc có được củng cố, ta mới có đủ lực lượng để củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước.

Theo quan điểm của Đảng Lao động Việt Nam, hai chiến lược cách mạng(*) khác nhau được tiến hành đồng thời trong cùng một thời gian, về lý luận cũng như về thực tiễn không có gì mâu thuẫn, ngược lại còn hỗ trợ, bổ sung cho nhau để cùng phát triển. Điều đó phản ánh sự kết hợp biện chứng giữa hai chiến lược của cách mạng nước ta. Mỗi miền thông qua nhiệm vụ cách mạng của mình mà góp phần thực hiện nhiệm vụ chung của cả dân tộc.

Bất cứ một hành động cách mạng nào của nhân dân ta ở miền Bắc cũng có hai tác dụng: một mặt củng cố miền Bắc, cải thiện đời sống nhân dân, mặt khác làm tăng thêm lực lượng, làm hậu thuẫn và chi viện cho sự nghiệp giải phóng miền Nam.

Bất kỳ một hành động cách mạng nào của nhân dân ta ở miền Nam cũng có hai tác dụng; phá tan chính sách xâm lược và nô dịch của đế quốc Mỹ, làm suy yếu đối phương, giữ gìn và phát triển lực lượng cách mạng, tiến tới giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai, đồng thời tích cực bảo vệ miền Bắc, bảo vệ căn cứ địa chung của cả nước, tạo điều kiện cho miền Bắc thực hiện thành công nhiệm vụ hàn gắn vết thương chiến tranh, cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Trong khi sớm xác định vai trò quyết định của miền Bắc đối với toàn bộ tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam, đối với sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng Lao động Việt Nam đồng thời cũng chỉ rõ vai trò quyết định trực tiếp của cách mạng miền Nam trong việc đánh đổ nền thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai, giải phóng hoàn toàn miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hòa bình, thống nhất đất nước(1).

Mối quan hệ hữu cơ giữa cách mạng hai miền Nam - Bắc không phải chỉ riêng phía ta nhận thức được mà ngay cả kẻ thù của cách mạng, cụ thể là đế quốc Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa cũng sớm nhận ra theo lập trường quan điểm của chúng.

Quá trình xâm lược miền Nam cũng là quá trình đế quốc Mỹ thực hiện mưu đồ phá hoại miền Bắc bằng nhiều thủ đoạn như: tung gián điệp, biệt kích, gây chiến tranh tâm lý, và cao nhất là đánh phá miền Bắc bằng không quân và hai quân, nhằm ngăn chặn sự chi viện của hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn. Cứ mỗi lần kế hoạch chiến tranh của Mỹ bị quân và dân ta ở miền Nam đánh bại, chúng lại leo thang đánh phá miền Bắc, bởi chúng biết rằng, chính nhờ miền Bắc nên cách mạng miền Nam mới có điều kiện phát triển, quân và dân ta mới có đủ thế và lực để đứng vững và tiến công.

Như vậy, trong thực tế, quân và dân miền Bắc vừa phải tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hiện nghĩa vụ của hậu phương đối với tiền tuyến, vừa phải trực tiếp chiến đấu chống lại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ do đó, cũng chính là một loại hình chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hậu phương chiến lược, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân.


(*) Lúc bấy giờ Đảng Lao động Việt Nam xác định là hai nhiệm vụ chiến lược.
(1) Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, t.21, t.508-512.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Bảy, 2014, 08:13:19 PM
4. Là biểu hiện đặc sắc về liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung giữa nhân dân ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia trong thời đại mới

Việt Nam, Lào, Campuchia là ba quốc gia có quan hệ láng giềng thân thiện. Do nằm ở vị trí địa lý đặc biệt nên ngay từ xa xưa trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, nhân dân ba nước đã có mối quan hệ gắn bó khăng khít với nhau và có nhiều nét tương đồng về mặt kinh tế, văn hóa...

Trong thế kỷ XX, cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam và cả bán đảo Đông Dương là một bộ phận trọng yếu của chiến lược toàn cầu phản cách mạng của đế quốc Mỹ. Năm 1954, trong Báo cáo của Ủy ban đặc biệt về Đông Dương, chính quyền Mỹ đã “cảnh báo” về nguy cơ “đe dọa” của chủ nghĩa cộng sản ở khu vực này và nêu rõ “chính sách của Mỹ là không chấp nhận điều gì khác ngoài sự thắng lợi quân sự ở Đông Dương”.

Để chống lại âm mưu và thủ đoạn xâm lược của đế quốc Mỹ, nhân dân ba nước Đông Dương đã tăng cường đoàn kết chiến đấu, trong đó cuộc chiến tranh của nhân dân Việt Nam đã trở thành điểm xuất phát, trung tâm của toàn bộ cuộc chiến tranh giải phóng khu vực. Từ đây, liên minh kháng chiến chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ xâm lược của nhân dân ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia chính thức hình thành. Trong suốt những năm chiến tranh, tình đoàn kết chiến đấu keo sơn giữa ba dân tộc ngày càng trở nên bền chặt và không ngừng phát triển(1).

Sau khi thất bại trong chiến lược chiến tranh đặc biệt, đế quốc Mỹ tiến hành chiến lược chiến tranh cục bộ ở miền Nam Việt Nam, dùng không quân và hải quân đánh phá miền Bắc Việt Nam, đồng thời tăng cường các hoạt động đánh phá bằng không quân trên khắp chiến trường Đông Dương: Bắc Việt nam, tuyến vận tải quân sự chiến lược Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh, Bắc Lào và Campuchia. Tháng 3-1965, Hội nghị nhân dân ba nước Đông Dương được tiến hành trọng thể tại Thủ đô Phnôm Pênh (Campuchia) đánh dấu bước phát triển mới của liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung của nhân dân ba nước.

Trước mưu đồ mở rộng chiến tranh xâm lược Đông Dương với những mức độ, biện pháp khác nhau của đế quốc Mỹ, Đảng Lao động Việt Nam đã xác định rõ: “Do tình hình cụ thể của mỗi nước, cho nên về hình thức tiến lên (của cách mạng - TG) có khác nhau, nhưng có những vấn đề khách quan ràng buộc ba nước với nhau, không thể tách rời được”(2).

Cùng với việc đập tan những cuộc phản kích của quân viễn chinh Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hòa trong các mùa khô 1965 - 1966 và 1966 - 1967, đường Hồ Chí Minh - tuyến vận tải quân sự chiến lược Trường Sơn, cung cấp sức người, sức của từ hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam đánh Mỹ, trong đó có nhiều đoạn xuyên qua nước bạn, ngày càng được nối dài, mở rộng và có ảnh hưởng đáng kể đối với toàn bộ tiến trình phát triển của cuộc kháng chiến.

Năm 1968, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân của quân và dân ta ở miền Nam cùng với chiến thắng Nậm Bạc (Thượng Lào) của liên quân chiến đấu Lào - Việt đã làm đảo lộn thế chiến lược chiến tranh và làm lung lay tận gốc ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, làm phá sản chiến lược chiến tranh cục bộ của chúng, buộc chúng ngừng ném bom đánh phá miền Bắc Việt Nam và ngồi đàm phán với ta tại Pari.

Từ năm 1969, với mưu đồ kéo dài chiến tranh xâm lược, dọn đường để từng bước rút quân Mỹ ra khỏi chiến trường Đông Dương trong danh dự, đế quốc Mỹ triển khai chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, thực chất là “thay màu da trên xác chết”, quân chiến đấu Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hòa liên tiếp mở các cuộc hành quân quy mô lớn sang Campuchia và Lào. Từ chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, Mỹ phát triển thành Khmer hóa chiến tranh, Lào hóa chiến tranh và Đông Dương hóa chiến tranh. Hàng chục nghìn phi vụ đánh phá của máy bay B.52 đã được thực hiện từ tháng 2 đến tháng 5-1969 nhằm vào những địa bàn trọng điểm, nơi mà chúng cho là “đất thánh của Việt cộng”, tức là những khu vực đóng quân, kho tàng hậu cần, những căn cứ xuất phát tiến công của các đơn vị lực lượng vũ trang Việt Nam trên đất bạn. Bên cạnh đó, chúng còn tìm mọi cách chặn phá hoạt động của cảng Cômpông Xom, nơi mà Bộ chỉ huy quân sự Mỹ ở Sài Gòn ước tính đã có khoảng 10.000 tấn vũ khí từ hậu phương miền Bắc được chuyển qua đây để tiếp tế cho Quân giải phóng miền Nam Việt Nam từ tháng 10-1967 đến tháng 9-1968(3).

Sau sự kiện giật dây cho Lon Non làm cuộc đảo chính ở Campuchia (3-1970), đế quốc Mỹ đã áp đặt toàn bộ quyền kiểm soát đối với Campuchia, thì hơn lúc nào hết, nhân dân ba nước Đông Dương càng nhận thức sâu sắc hơn về sự cần thiết phải đoàn kết chiến đấu trong một chiến lược chung nhằm đánh bại mọi mưu đồ và biện pháp chiến tranh mới của kẻ thù.


(1) Với tinh thần “giúp bạn là tự giúp mình”, chỉ riêng trong các năm từ 1954 đến năm 1957, miền Bắc Việt Nam đã viện trợ cho Mặt trận Neo Lào Hắc Xạt 36.437 tấn thóc, 53.612 đồng bạc trắng, 109.457 nông cụ, 179.374 mét vải, 4.332 tấn xăng dầu, 280 tấn vũ khí, 93 tấn quân trang, 72 tấn thuốc men, 21 tấn máy móc và nhiều loại hàng hóa khác. Theo Tài liệu tra cứu những sự kiện Lào, Thư viện Trung ương Quân đội, Hà Nội, 1980, t.III, tr.39-40.
(2) Phát biểu của đồng chí Lê Duẩn trong cuộc hội đàm giữa Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào tại Hà Nội (từ ngày 22 đến ngày 29-6-1965). Xem Tài liệu tra cứu các sự kiện Lào, Sđd, t.IV, tr.57.
(3) Xem Henry Kissinger: The White House years (Những năm tháng ở Nhà Trắng), bản dịch tiếng Việt, tr.31-32.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Bảy, 2014, 08:14:41 PM
Từ ngày 24 đến ngày 25-4-1970, Hội nghị cấp cao nhân dân ba nước Đông Dương đã diễn ra và thành công tốt đẹp. Đây thực sự là “Hội nghị tăng cường đoàn kết, siết chặt hàng ngũ của nhân dân Campuchia, nhân dân Lào và nhân dân Việt Nam để kiên trì đẩy mạnh chiến đấu, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn. Đồng thời, đây là hội nghị đánh dấu một bước phát triển mới của tình hữu nghị thắm thiết và sự hợp tác lâu dài trong tương lai giữa nhân dân ba nước”(1). Cũng từ đây, cách mạng Đông Dương đã có những bước phát triển nhảy vọt. Trên chiến trường Campuchia, các cuộc hành quân quy mô lớn mang tên “Thần lửa” (6-1970), Chenla 1 (12-1970), “Toàn thắng” (1-1971), Chenla 2 (12-1971) của quân viễn chinh Mỹ, quân đội Việt Nam Cộng hòa và quân Lon Non lần lượt bị đánh bại.

Phối hợp nhịp nhàng với chiến trường Campuchia, sau chiến thắng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (2-1970), liên quân chiến đấu Lào - Việt liên tiếp chủ động tiến công địch, giải phóng Atôpơ và Saravan (6-1970), đánh bại cuộc hành quân “Lam Sơn 719” tại khu vực đường 9 - Nam Lào (1-1971), mở ra một vùng căn cứ rộng lớn, vững chắc, liên hoàn cho cách mạng ba nước Đông Dương, kéo dài từ Nam Lào, Tây Trị - Thiên, Đông Nam Bộ (Việt Nam) đến Biển Hồ (Campuchia).

Thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược năm 1972 ở miền Nam Việt Nam, cùng với thắng lợi trên các chiến trường Lào và Campuchia, đặc biệt là trận thắng giòn giã của quân và dân miền Bắc Việt Nam, đập tan cuộc tập kích bằng máy bay chiến lược B.52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng buộc đế quốc Mỹ phải ký kết Hiệp định Pari, chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam và đơn phương rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam.

Hiệp định Pari (27-1-1973) được ký kết và có hiệu lực đã làm thay đổi cơ bản so sánh lực lượng trên chiến trường miền Nam Việt Nam và tạo điều kiện có lợi cho cách mạng các nước Đông Dương phát triển.

Tiếp sau Hiệp định Pari về Việt Nam, đế quốc Mỹ và chính quyền phái hữu hở Lào cũng đã phải ký kết Hiệp định Viên Chăn về việc lập lại hòa bình, thực hiện hòa hợp dân tộc ở Lào (22-2-1973).

Những thắng lợi trên đây đã tạo thời cơ thuận lợi cho quân đội cách mạng và nhân dân Campuchia đẩy mạnh tiến công và nổi dậy. Ngày 15-8-1973, đế quốc Mỹ buộc phải chấm dứt chiến dịch ném bom bằng không quân trên đất Campuchia. Đến cuối năm 1973, 90% lãnh thổ và hơn 5 triệu dân Campuchia được giải phóng.

Trong các năm 1974 - 1975, sự nghiệp đấu tranh cách mạng của nhân dân ba nước Đông Dương bước sang giai đoạn cuối. Cán cân lực lượng nghiêng hẳn về phía cách mạng.

Mùa Xuân 1975, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên khắp miền Nam Việt Nam đã tạo thời cơ lớn chưa từng có cho cách mạng Campuchia và Lào tiến lên giành thắng lợi quyết định. Trên đà thắng lợi to lớn trong các đòn tiến công chiến lược Tây Nguyên, Huế - Đà Nẵng ở miền Nam Việt Nam, quân và dân Campuchia đã chọc thủng tuyến phòng ngự của quân đội Lon Non ở ngoại vi Phmôm Pênh và ngày 10-4-1975, đã siết chặt vòng vây thành phố này.

Thế và lực của cách mạng Campuchia càng được nhân lên nhanh chóng khi tiếp tục nhận được sự hỗ trợ về nhân lực và vật lực của cách mạng Việt Nam. Ngày 17-4-1975, quân và dân Campuchia đã thực hiện trận quyết chiến quyết định, giải phóng Thủ đô Phnôm Pênh, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược. Thắng lợi này đã góp phần cổ vũ tinh thần cho quân và dân Việt Nam cũng như quân và dân Lào anh em đẩy mạnh tiến công và nổi dậy giải phóng đất nước mình, kết thúc thắng lợi sự nghiệp kháng chiến chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ.

Nhờ liên minh đoàn kết chiến đấu, hỗ trợ lẫn nhau của nhân dân ba nước Đông Dương, quân và dân Việt Nam càng đánh càng mạnh, tổ chức những đợt tiến công quân sự dồn dập và cuối cùng mở chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng vào ngày 30-4-1975, hoàn thành nhiệm vụ chiến lược giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Nắm chắc và kịp thời chớp thời cơ lịch sử sau đại thắng mùa Xuân 1975 của cách mạng Việt Nam và Campuchia, dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng Lào, quân và dân Lào đã chủ động tiến công và nổi dậy trên cả nước. Ngày 2-12-1975, nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào được thành lập. đến đây, sự nghiệp đấu tranh chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ba nước Đông Dương đã đã giành toàn thắng.

Thắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), không những là thắng lợi tất yếu của quá trình phát triển của chiến tranh cách mạng Việt Nam vì độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, mà còn là biểu hiện sức mạnh và hiệu quả to lớn của liên minh đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung của nhân dân ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia.


(1) Phát biểu của Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong buổi khai mạc Hội nghị cấp cao nhân dân Đông Dương, tháng 4-1970.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Bảy, 2014, 08:15:38 PM
5. Kháng chiến chống Mỹ là một cuộc chiến tranh mang tính thời đại sâu sắc

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động lớn. Đó là sự lớn mạnh của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa - nhân tố quyết định sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới và xã hội loài người. Đó là thời kỳ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và phong trào đấu tranh vì tiến bộ, hòa bình thế giới dâng cao mạnh mẽ. Chủ nghĩa tư bản, đứng đầu là đế quốc Mỹ ngày càng lâm vào khủng hoảng và thoái trào, tìm mọi cách chống đỡ quyết liệt, hòng ngăn chặn và đẩy lùi phong trào cách mạng thế giới, thực hiện mưu đồ xâm lược và làm bá chủ trong tình thế so sánh lực lượng cách mạng và phản cách mạng đang phát triển không có lợi cho chúng.

Thực hiện sự mệnh lịch sử là tiền đồn của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở khu vực Đông Nam Á, đang trong quá trình tiến hành chiến tranh giải phóng dân tộc, Việt Nam thực sự trở thành ngọn cờ tiên phong của phong trào cách mạng thế giới, ngọn cờ dẫn đầu phong trào đấu tranh vì độc lập và giải phóng dân tộc, vì an ninh chủ nghĩa xã hội, vì tiến bộ, hòa bình và hữu nghị giữa các quốc gia, dân tộc chống lại chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động. Do vậy mà cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam sớm trở thành điểm nóng, nơi tập trung các mâu thuẫn, các lực lượng tiến bộ và phản tiến bộ, thu hút sự quan tâm chú ý của cộng đồng quốc tế; đồng thời, có những tác động và ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình thế giới, vượt ra khỏi khuôn khổ của một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc thông thường, mang tầm vóc và tính chất thời đại sâu sắc trong thế kỷ XX.

Để đối phó với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và những ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội trên thế giới đang ngày càng lan rộng, các nước tư bản chủ nghĩa do Mỹ đứng đầu ra sức tập trung lực lượng, nghĩ ra trăm phương ngàn kế, quyết tâm thực hiện ngăn chặn, đàn áp, chống phá, đẩy lùi trên phạm vi từng trọng điểm, từng khu vực nóng và toàn thế giới. Tại khu vực Đông Nam Á, sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, uy tín và ảnh hưởng của Việt nam đối với cộng đồng quốc tế, đặc biệt là đối với phong trào giải phóng dân tộc lên cao khiến cho Mỹ hết sức lo ngại. Mỹ sợ rằng, thắng lợi của cách mạng Việt Nam sẽ thúc đẩy và đưa đến những thắng lợi dây chuyền khác; tạo ra sự sụp đổ từng mảng dẫn đến sụp đổ hoàn toàn nền thống trị thực dân kiểu mới. Vì thế, Mỹ đã nỗ lực cao độ, huy động mọi nguồn lực, kể cả từ phía các nước đồng minh đánh Việt Nam, chẳng những hòng đặt ách thống trị thực dân kiểu mới đối với nhân dân Việt Nam mà còn góp phần răn đe, đẩy lùi phong trào cách mạng của nhân dân các nước khu vực Đông Nam Á. Mỹ đã thực hiện nhiều âm mưu và thủ đoạn thâm độc xảo quyệt nhằm chia rẽ, kiềm chế, phá hoại phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc, phong trào Không liên kết; hạn chế sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế đối với cách mạng Việt Nam.

Đương đầu chống lại cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới do đế quốc Mỹ gây ra, quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh kính mến đã nỗ lực vượt bậc, kiên cường thắng Mỹ từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Thắng lợi của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã mở ra một kỷ nguyên mới vô cùng sôi động; là một cống hiến lớn lao vào sự nghiệp bảo vệ hòa bình thế giới, tăng cường sức mạnh của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, cổ vũ tinh thần chiến đấu của nhân dân các nước đang đấu tranh giành độc lập, tự do trên toàn thế giới. Giành thắng lợi vẻ vang cho dân tộc, Đảng Lao động Việt Nam đã giương cao ngọn cờ bách chiến, bách thắng, thể hiện tính ưu việt của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với chủ nghĩa tư bản trong thời đại mới; sáng tỏ chân lý - một dân tộc đất không rộng, người không đông nhưng biết đoàn kết và quyết tâm một lòng dưới sự lãnh đạo của một đảng chân chính, có đường lối đúng đắn sáng tạo thì nhất định sẽ thắng lợi.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Bảy, 2014, 04:40:05 PM
II - ĐẶC ĐIỂM

1. Đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền Bắc - Nam, thực hiện đồng thời hai chiến lược cách mạng khác nhau, do một đảng thống nhất lãnh đạo

Xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh là mục tiêu to lớn và nguyên vọng tha thiết, lâu đời của nhân dân Việt Nam. Vì mục tiêu đó, Đảng Lao động Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo nhân dân ta kiên cường đấu tranh, làm nên thắng lợi vĩ đại trong Cách mạng Tháng Tám 1945 và kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954). Nhưng, đất nước ta vẫn chưa hoàn toàn có hòa bình, độc lập và thống nhất. Toàn dân ta phải tiếp tục cuộc chiến đấu 21 năm chống Mỹ - một đế quốc giàu mạnh về mọi phương diện, thừa dịp thực dân Pháp thua nặng để can thiếp trắng trợn vào Việt Nam, hòng chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ.

Từ tình hình so sánh lực lượng thay đổi bất lợi trên đây khiến cho Đảng và Chính phủ Việt Nam buộc phải chấp nhận giải pháp Giơnevơ (1954) nhằm lập lại hòa bình ở Đông Dương vì không thể một mình tiếp tục cuộc chiến đấu, nhất là phải sớm trực tiếp đương đầu với đế quốc Mỹ.

Giải pháp Giơnevơ là một biểu hiện cụ thể có tính quy luật của trường hợp một nước nhỏ như nước ta, phải thường xuyên đương đầu với những tên đế quốc xâm lược hùng mạnh, trong bối cảnh các quan hệ quốc tế diễn ra cực kỳ phức tạp (ngay trong quan hệ giữa các nước đồng minh của cách mạng với nhau), khiến cho cuộc chiến đấu giành độc lập, tự do của nhân dân ta phải trải qua những bước quanh co, lâu dài, gian khổ, giành thắng lợi từng bước để tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn. Đó cũng là một vấn đề mang tính quy luật của cách mạng.

Xuất phát từ thực tiễn đất nước và từ xu thế vận động của cách mạng thế giới từ sau năm 1954, khi nước ta còn tạm thời bị chai cắt làm hai miền, Trung ương Đảng đã xác định Cách mạng ở mỗi miền Nam, Bắc Việt Nam thuộc hai chiến lược khác nhau là cách mạng xã hội chủ nghĩa và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Tuy nhiên, hai chiến lược cách mạng đó trước mắt đều có một mục tiêu chung là thực hiện hòa bình, thống nhất Tổ quốc, đều nhằm giải quyết mâu thuẫn chung của cả nước là mâu thuẫn giữa nhân dân ta với đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng.

Xét trên toàn cục, từ sau năm 1954, miền Bắc đã hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, có chính quyền và trở thành căn cứ địa chung của sự nghiệp cách mạng cả nước. Miền Bắc càng tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội thì càng tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, cho sự phát triển của cách mạng cả nước nói riêng và ba nước Đông Dương nói chung, cho việc củng cố hòa bình, an ninh thế giới và hệ thống xã hội chủ nghĩa.

Thực hiện thành công cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, vì vậy, không chỉ nhằm xây dựng đời sống tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân miền Bắc mà còn đặt nền móng để xây dựng một đời sống mới, tự do, hạnh phúc trên cả nước trong tương lại.

Tích cực đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội là tạo điều kiện cho cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam phát triển mạnh mẽ và giành được thắng lợi to lớn, bảo đảm cho sự nghiệp cách mạng cả nước tiến lên, sử dụng các nguồn lực của bản thân cách mạng Việt Nam, kết hợp với sự hậu thuẫn của lực lượng cách mạng xã hội chủ nghĩa, các lực lượng dân chủ, hòa bình và tiến bộ trên toàn thế giới để đánh thắng kẻ thù, thực hiện thống nhất Tổ quốc, xây dựng một nước Việt nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu màu.

Nhiệm vụ cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc rõ ràng là nhiệm vụ có tính chất quyết định nhất đối với toàn bộ sự phát triển của cách mạng nước ta, đối với sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà.

Từ những chủ trương đúng đắn đó, ngay từ đầu, Đảng Lao động Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân ta tích cực đưa miền Bắc phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hoàn thành các kế hoạch khôi phục và hàn gắn vết thương chiến tranh (1955 - 1957), cải tạo và từng bước xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội (1958 - 1960), hoàn thành kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965).

Trong suốt 10 năm đầu (1954 - 1964), Đảng Lao động Việt Nam đã giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa công cuộc xây dựng miền Bắc với nhiệm vụ giải phóng miền Nam, tập trung sức vào củng cố và xây dựng, làm cho miền Bắc trở thành chỗ dựa vững chắc cho sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà.

Trong khi đề ra chính sách cải tạo vì xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Đảng chẳng những căn cứ vào tình miền Bắc, mà còn căn cứ cả vào tình hình miền Nam. Cũng như thế, khi đề ra chính sách và phương pháp cách mạng miền Nam, Đảng không chỉ căn cứ vào tình hình miền Nam, mà còn căn cứ cả vào tình hình miền Bắc.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Bảy, 2014, 04:42:15 PM
Về tư tưởng chỉ đạo, Trung ương Đảng sớm khẳng định: Cách mạng miền Nam giữ vai trò quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ trá hình thông qua chính quyền Sài Gòn, thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước.

Mối quan hệ cách mạng hai miền là mối quan hệ hữu cơ, gắn bó chặt chẽ với nhau, thúc đẩy và hỗ trợ nhau cùng phát triển. Người nhạc trưởng vĩ đại, người lãnh đạo thống nhất và tuyệt đối để phối hợp các mối quan hệ ấy là Đảng Lao động Việt Nam(1).

Trong thực tế lịch sử, khi công cuộc kiến thiết miền Bắc thu được nhiều thắng lợi, một động lực mới của cách mạng đã được tạo ra. Miền Bắc được xây dựng với tốc độ nhanh là do kết quả của việc vận dụng đúng đắn nhiều quy luật kinh tế và chính trị, sự ủng hộ và giúp đỡ của bạn bè quốc tế, phản ánh tính ưu việt của mối quan hệ xã hội chủ nghĩa. Như vậy, miền Bắc không chỉ mạnh ở lý tưởng mà còn mạnh ở chế độ xã hội.

Miền Bắc mạnh và đứng vững trước cuộc chiến tranh phá hoại của không quân, hải quân Mỹ càng khiến cho quân và dân ta ở miền Nam tin tưởng; đồng thời càng có điều kiện để chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến, làm tròn nghĩa vụ quốc tế đối với cách mạng ở hai nước Lào và Campuchia. Ngược lại, cách mạng miền Nam càng giành được thắng lợi, càng tạo điều kiện để bảo vệ vững chắc miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

Trong suốt 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng Lao động Việt Nam là đảng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam thực hiện thắng lợi hai chiến lược cách mạng trên cả hai miền Nam, Bắc.

Ngay trong những năm còn phải tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng Lao động Việt Nam đã sớm nhận ra mưu đồ xâm lược của đế quốc Mỹ đối với nước ta và khẳng định: đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới và đang trở thành kẻ thù trực tiếp của nhân dân Đông Dương.

Tháng 9-1954, khi đế quốc Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa cố tình phá hoại Hiệp định Giơnevơ, Trung ương Đảng đã xác định nhiệm vụ của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới và chủ trương lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh đòi củng cố hòa bình, cải thiện dân sinh, thực hiện thống nhất đất nước trên cơ sở độc lập, dân chủ. Tháng 10-1954, Trung ương Đảng quyết định lập lại Xứ ủy Nam Bộ. Các khu ủy, tỉnh ủy, huyện ủy được tổ chức lại cho phù hợp với tình hình mới.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta ở miền Nam đã anh dũng chống lại sự khủng bố, đàn áp của quân đội và chính quyền Việt Nam Cộng hòa, chống chính sách “tố cộng, diệt cộng”, chống cướp đất, đuổi nhà của chúng, bảo vệ và xây dựng lực lượng cách mạng, xây dựng căn cứ địa, xây dựng và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, đồng thời tích cực nghiên cứu, tìm ra con đường đấu tranh thích hợp để hạn chế tổn thất của ta, đưa cách mạng miền Nam vững bước tiến lên.

Tháng 6-1956, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ra nghị quyết về việc củng cố lực lượng vũ trang, bán vũ trang, xây dựng cơ sở quần chúng cách mạng ở miền Nam và kết hợp giữa đấu tranh chính trị với vũ trang tự vệ trong những hoàn cảnh nhất định để đối phó với kẻ thù. Nghị quyết vạch rõ: Tuy hình thức đấu tranh của ta hiện nay là đấu tranh chính trị, nhưng như thế không có nghĩa là không dùng vũ trang tự vệ trong những hoàn cảnh nhất định.

Tháng 8-1956, đồng chí Lê Duẩn, Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, lúc này là Bí thư Xứ ủy Nam Bộ đã soạn thảo Đường lối cách mạng miền Nam(*), dự kiến nâng cao các hình thức bạo lực cách mạng nhưng do điều kiện thực tế chi phối, dự định này mới chỉ được thực hiện ở mức độ hạn chế.

Trong bối cảnh quốc tế hết sức phức tạp lúc đó, khi một số đảng cộng sản trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa anh em tìm mọi cách ngăn trở cuộc đấu tranh thống nhất hai miền của nhân dân ta, nhưng với lập trường độc lập, tự chủ và kiên định, dựa trên cơ sở những kinh nghiệm được đúc kết từ thực tiễn đấu tranh chống Mỹ hơn bốn năm đầu đầy hy sinh gian khổ của đồng bào, chiến sĩ miền Nam, Đảng Lao động Việt Nam đã tập trung công sức và trí tuệ, vạch đường chỉ lối, đưa ra những chủ trương, giải pháp đúng đắn, sáng tạo và sát hợp với tình hình, đưa sự nghiệp cách mạng nước ta vững bước vượt qua mọi thử thách khó khăn, giành từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.


(1) Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.17, tr. 589, 784-785
(*) Sau khi có Nghị quyết 15 thì gọi là Đề cương cách mạng niềm Nam.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Bảy, 2014, 04:44:05 PM
Tháng 1-1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 15 (mở rộng) dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định con đường tiến lên của cách mạng miền Nam, vạch rõ mục tiêu và phương pháp cách mạng, mối quan hệ hai chiến lược cách mạng ở hai miền, giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới, nhằm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước, ra nghị quyết về cách mạng miền Nam - Nghị quyết 15.

Nghị quyết 15 phản ánh đúng nhu cầu của lịch sử, giải quyết kịp thời yêu cầu phát triển của cách mạng trong tình thế đã chín muồi, đáp ứng nguyện vọng thiết tha của đông đảo cán bộ, chiến sĩ và đồng bào miền Nam, trở thành động lực thúc đẩy nhân dân miền Nam anh dũng đứng lên làm cuộc Đồng khởi vào cuối năm 1959 và đầu năm 1960, làm xoay chuyển tình thế, tạo bước ngoặt quyết định trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Thắng lợi của phong trào Đồng khởi đã đưa cách mạng miền Nam chuyển từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công mạnh mẽ, rộng khắp, liên tục. Nó thực sự là “một đòn bất ngờ giáng vào chiến lược Aixenhao, làm thất bại một hình thức điển hình của chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ”(1).

Thắng lợi của phong trào Đồng khởi đã tạo cơ sở để Đảng Lao động Việt Nam đẩy mạnh cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện chống lại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và tay sai, đẩy bộ máy chính quyền các cấp và quân đội Việt Nam Cộng hòa vào tình trạng khủng hoảng triền miên, không có lối thoát.

Thắng lợi của phong trào Đồng khởi đã đánh dấu bước phát triển nhảy vọt đầu tiên của cách mạng miền Nam.

Từ sau Đồng khởi, Đảng bộ miền Nam được khôi phục. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, nhân dân và các lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam tiếp tục tiến lên, lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh đặc biệt (1961 - 1965), chiến tranh cục bộ (1965 - 1968) và Việt Nam hóa chiến tranh (1969 - 1973) của đế quốc Mỹ.

Sát cánh chiến đấu cùng quân và dân miền Nam, quân và dân miền Bắc đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ hậu phương chiến lược của mình, thực hiện tốt khẩu hiệu do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động: “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt”, tích cực cung cấp sức người sức của cho tiền tuyến.

Tháng 12-1965, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam nhận định: “Trải qua hơn 10 năm thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Bắc đã trở thành căn cứ địa vững chắc cho cách mạng Việt Nam trong cả nước, với chế độ chính trị ưu việt, với lực lượng kinh tế và quốc phòng lớn mạnh(2).

Biết rõ mối quan hệ hữu cơ giữa cách mạng miền Bắc và cách mạng miền Nam nước ta, đế quốc Mỹ tìm mọi cách ngăn chặn sự chi viện của hậu phương miền Bắc đối với cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam và việc chống phá miền Bắc chủ yếu bằng hành động quân sự của đế quốc Mỹ ngày càng trở nên ác liệt và song hành với những diễn biến tác chiến trên chiến trường chính miền Nam Việt Nam.

Sau những thủ đoạn dùng gián điệp, biệt kích trong thời gian đầu không có hiệu quả, đế quốc Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hòa chuyển sang khiêu khích, nã pháo vào các hải đảo và một số vùng bờ biền miền Bắc, bắt ngư dân, dựng lên “Sự kiện vịnh Bắc Bộ” (5-8-1964) rồi từng bước leo thang chiến tranh, dùng không quân và hải quân ồ ạt đánh phá miền Bắc với quy mô lớn trên phạm vi toàn miền Bác kể từ đầu năm 1965.

Phán đoán chính xác âm mưu, thủ đoạn của Mỹ, Đảng và Chính phủ Việt Nam đã lãnh đạo, tổ chức nhân dân kịp thời chuyển nhanh toàn bộ hoạt động từ thời bình sang thời chiến, tiếp tục xây dựng và bảo vệ hậu phương miền Bắc trong điều kiện chiến tranh.

Xuất phát từ quan điểm cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, Đảng Lao động Việt Nam thường xuyên giáo dục tư tưởng chính trị cho nhân dân, củng cố khối đoàn kết nhất trí trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, đồng thời giáo dục tinh thần đoàn kết quốc tế, thực hiện nhiệm vụ giúp đỡ cách mạng Lào và Campuchia, nâng cao quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Đứng trước những yêu cầu và nhiệm vụ mới, Trung ương Đảng quyết định cử thêm nhiều cán bộ cao cấp của Đảng vào bổ sung cho chiến trường miền Nam, đồng thời xác định nhiệm vụ cụ thể cho nhân dân và các lực lượng vũ trang miền Bắc là phải vừa sản xuất, vừa chiến đấu để bảo vệ miền Bắc, đánh bại chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, vừa tích cực hơn nữa việc “động viên sức người, sức của chi viện cho cuộc chiến tranh giải phóng ở miền Nam… ra sức chuẩn bị để đánh bại quân địch trong trường hợp chúng mở rộng chiến tranh cục bộ ra cả nước”(3).


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.34, tr.113.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.26, tr.632.
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.26, tr.635.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Bảy, 2014, 04:44:34 PM
Dưới sự lãnh đạo của Đảng đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân trên cả hai miền Nam - Bắc đã dấy lên nhiều phong trào thi đua sản xuất và chiến đấu, giết giặc lập công với phương châm toàn dân đánh giặc, toàn dân làm công tác quốc phòng, nhanh chóng phát triển các lực lượng vũ trang nhân dân.

Những chiến thắng vang dội trên mặt trận quân sự của quân và dân hai miền Nam - Bắc nước ta đã buộc đế quốc Mỹ phải tuyên bố “ném bom hạn chế” miền Bắc, rồi phải thừa nhận chấm dứt không điều kiện việc ném bom và bắn phá trên toàn lãnh thổ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, phải chấp nhận việc ngồi vào bàn đàm phán với đại diện của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đại diện của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tại Hội nghị bốn bên ở Pari (1-11-1968); cuối cùng phải ký Hiệp định Pari, chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam (27-1-1973).

Ngày 29-3-1973, đơn vị cuối cùng của quân viễn chinh Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam, chấm dứt hoàn toàn sự hiện diện của quân đội nước ngoài trên đất nước ta. Song điều quan trọng nhất là quân viễn chinh Mỹ và quân đội các nước đồng minh của Mỹ phải cuốn cờ ra đi, còn Quân đội nhân dân Việt Nam (mà Mỹ thường gọi là quân đội Bắc Việt) vẫn ở lại hợp pháp tại miền Nam Việt Nam. Điều này đã tạo ra một bước ngoặt quan trọng cả về thế và lực có lợi cho quân và dân ta trong việc “đánh cho ngụy nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Về pháp lý, Mỹ buộc phải rút quân viễn chinh ra khỏi miền Nam Việt Nam theo các điều khoản của Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam, nhưng trên thực tế, Mỹ vẫn để lại đội ngũ cố vấn quân sự khoác áo dân sự và tiếp tục viện trợ cho chế độ Việt Nam Cộng hòa, vì trước sau Mỹ vẫn rắp tâm phá hoại công cuộc thống nhất đất nước Việt Nam. Do vậy, cuộc chiến đấu của quân và dân ta chống lại âm mưu xâm lược hiểm độc của Mỹ, vì vậy vẫn phải tiếp tục dưới hình thức mới.

Để hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, tháng 7-1973, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (khóa III) họp Hội nghị lần thứ 21, xác định nhiệm vụ cách mạng miền Nam sau Hiệp định Pari là: hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, trước mắt phải đoàn kết toàn dân, đấu tranh trên cả ba mặt trận: chính trị, quân sự, ngoại giao... buộc đối phương phải thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Pari về Việt Nam, đồng thời chuẩn bị khả năng tiến lên phản công để giành thắng lợi hoàn toàn. Nghị quyết đặc biệt nhấn mạnh: Bất kể trong tình huống nào, con đường giành thắng lợi của cách mạng miền Nam cũng là con đường bạo lực, do đó phải nắm vững chiến lược tiến công.

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 21 của Trung ương Đảng, nhân dân và các lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam đã giáng trả đích đáng những hành động quân sự hiếu chiến của quân đội và chính quyền Việt Nam Cộng hòa, giành lại nhiều vùng đất bị đối phương lấn chiếm, thu hẹp vùng kiểm soát của chúng, đẩy chúng dần vào thế phòng ngự bị động.

Những diễn biến trên chiến trường miền Nam cuối năm 1974 là cơ sở để Trung ương Đảng khẳng định những điều kiện cho việc giải phóng miền Nam đang chín muồi.

Căn cứ vào diễn biến tình hình trước những mưu mô tìm cách tìm cách ngăn cản nhân dân Việt Nam đấu giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc của các thế lực đế quốc và phản động quốc tế, vào tháng 10-1974 và tháng 1-1975, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã tiến hành nhiều hội nghị quan trọng, có sự tham dự của các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy trực tiếp tại các chiến trường miền Nam. Thông qua việc phân tích, đánh giá thấu đáo tình hình đối phương và ta, nhất là diễn biến tác chiến thực tế trên chiến trường, từ các hội nghị này, một quyết định lịch sử được hình thành. Nội dung quyết định nêu rõ phương châm chiến lược của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là: Động viên nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, trong thời gian 1975-1976, đẩy mạnh đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh ngoại giao, làm thay đổi nhanh chóng và toàn diện lực lượng so sánh trên chiến trường miền Nam theo hướng có lợi cho ta, tiến hành khẩn trương công tác chuẩn bị để tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân đội và chính quyền Việt Nam Cộng hòa từ trung ương đến địa phương, giành chính quyền về tay nhân dân. Bộ Chính trị còn dự kiến: Cả năm 1975 là thời cơ, nhưng nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975, đồng thời khẳng định tổng công kích có ý nghĩa quyết định, phải đi trước một bước.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 của quân và dân ta ở miền Nam đã diễn ra trong vòng gần hai tháng (từ ngày 4-3 đến ngày 2-5-1975) qua ba đòn tiến công chiến lược lớn là Tây Nguyên, Huế - Đà Nẵng và Sài Gòn - Gia Định (Chiến dịch Hồ Chí Minh).

Sau thắng lợi quyết định ở Tây Nguyên (từ ngày 4-3 đến ngày 24-3), Huế - Đà Nẵng 9từ ngày 21-3 đến ngày 29-3), Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khẳng định: “Thời cơ chiến lược đã đến, ta có điều kiện hoàn thành sớm quyết tâm giải phóng miền Nam” từ đó đi đến quyết định “Phải tập trung nhanh nhất lực lượng, binh khí kỹ thuật và vật chất giải phóng miền Nam trước mùa mưa” (trước 5-1975).

Ngày 14-4-1975, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định và sau lấy tên là Chiến dịch Hồ Chí Minh. Chiến dịch diễn ra từ ngày 26-4 đến ngày 30-4-1975 và đã giành toàn thắng.

Sau khi Sài Gòn được giải phóng, các lực lượng vũ trang và nhân dân các tỉnh còn lại ở miền Nam đã thừa thắng xông lên, tiến công và nổi dậy theo phương thức “xã giải phóng xã, huyện giải phóng huyện, tỉnh giải phóng tỉnh”. Đến ngày 2-5-1975, Châu Đốc - tỉnh cuối cùng ở miền Nam đã được giải phóng, sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của toàn thể dân tộc Việt Nam đã hoàn thành thắng lợi, non sông đất nước thu về một mối.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Bảy, 2014, 04:45:59 PM
2. Phải đương đầu chống lại kẻ thù có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh hơn gấp nhiều lần

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), miền Bắc nước ta được giải phóng nhưng miền Nam còn tạm thời phải sống dưới ách thống trị của đế quốc Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa (công cụ để thực hiện chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam), cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân chưa giành được thắng lợi trọn vẹn, dân tộc ta lại phải tiếp tục chiến đấu để thực hiện ước vọng cháy bỏng: độc lập dân tộc và thống nhất quốc gia. Nhưng đương đầu với đế quốc Mỹ và để thắng được Mỹ rõ ràng không phải là điều đơn giản.

Là một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, dân số cả nước chỉ bằng 1/6 dân số nước Mỹ; giá trị tổng sản phẩm hằng năm (của miền Bắc) chỉ bằng 1/1.000 của nước Mỹ; lực lượng so sánh về quân sự giữa ta và Mỹ, nhất là trong những năm đầu chiến tranh hết sức chênh lệch: lực lượng vũ trang tập trung của ta ít hơn đối phương nhiều lần, lại yếu hơn về trang bị vật chất - kỹ thuật, đặc biệt về vũ khí, khí tài, phương tiện chiến tranh… đây quả là một thử thách hết sức cam go đối với quân và dân ta.

Trong khi đó, từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, đế quốc Mỹ đã trở thành một nước tư bản hùng mạnh nhất thế giới, cả về kinh tế và quân sự. Thông qua chiến lược toàn cầu, Mỹ tập trung sức mạnh tài chính, vũ khí, kỹ thuật, phương tiện chiến tranh và quyết tâm thực hiện mưu đồ bá chủ thế giới của mình bằng sức mạnh quân sự, trong đó chiến trường Việt Nam được xác định là tâm điểm, là nơi thử nghiệm chiến lược toàn cầu phản cách mạng đầy tham vọng của đế quốc Mỹ.

Trong thời gian gây chiến ở Việt Nam, đế quốc Mỹ đã đưa những nhà chính trị được coi là lỗi lạc, những tướng lĩnh được xếp vào hạng tài ba, những nhà ngoại giao dày dạn kinh nghiệm để điều hành cuộc chiến tranh. Ngoài ra, còn phải kể đến hàng trăm viện khoa học, hàng ngàn trung tâm nghiên cứu về chiến tranh, một bộ máy khổng lô các phương tiện thông tin truyền thông với hàng ngàn đài phát thanh, truyền thanh, mỗi tuần phát 1 triều giờ suốt 24/24 tiếng/ngày, tung ra một lượng thông tin xuyên tạc tràn ngập khắp hành tinh, lung lạc cả thế giới, hòng làm lay chuyển ý chí chống Mỹ của nhân dân ta và đánh lừa dư luận quốc tế.

Chiến trường Việt Nam vì thế đã trở thành nơi thử nghiệm các loại hinh chiến tranh trong chiến lược toàn cầu, đồng thời là nơi thử nghiệm các loại vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại, các thành tựu khoa học - kỹ thuật quân sự tiên tiến nhất của ngành công nghiệp quốc phòng Mỹ. Trong cuộc chiến tranh này, Mỹ đã động viên tới mức cao nhất các lực lượng vật chất, các phương tiện và vũ khí hiện đại (trừ vũ khí nguyên tử), các trang thiết bị, phương tiện quân sự và nghệ thuật tác chiến để chống lại quân ta.

“Với cuồng vọng nghiền nát lực lượng cách mạng ở miền Nam và “đẩy lùi miền Bắc trở lại thời kỳ đồ đá”, đế quốc Mỹ đã tung vào nước ta một đội quân viễn chinh hơn 60 vạn tên gồm quân Mỹ và quân các nước chư hầu của Mỹ làm nòng cốt cho hơn một triệu quân ngụy (…). Ngoài ra, chúng còn dùng những phát minh khoa học, kỹ thuật mới nhất để gây vô vàn tội ác hủy diệt đối với nhân dân ta”(1).

Trong tình hình so sánh lực lượng như vậy, nên ta phải thực hiện chiến lược đánh lâu dài, lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều về lực lượng vũ trang tập trung, lấy chất lượng cao thắng số lượng đông, lấy yếu chống mạnh về vật chất kỹ thuật.

Đây là một thử thách cam go, quyết liệt chưa từng có, đòi hỏi Đảng và toàn thể nhân dân ta phải có quyết tâm rất cao, có bản lĩnh vững vàng, có trí thông minh, tài sáng tạo, có khoa học và nghệ thuật quân sự phát triển vượt bậc mới có thể chiến đấu và chiến thắng kẻ thù.


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, t.37, tr.483.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Bảy, 2014, 04:47:11 PM
3. Đây là cuộc đọ sức sinh tử, hai bên vừa đánh, vừa thăm dò, tìm hiểu lẫn nhau

Tìm hiểu đối tượng tác chiến là việc làm rất cần thiết của bất cứ bên nào trong mỗi cuộc chiến tranh. Cũng vì vậy, khi thực hiện mưu đồ xâm lược Việt Nam, đế quốc Mỹ đã phải vừa đánh, vừa thăm dò, vừa thí điểm từng bước các chiến lược chiến tranh của chúng.

Những chiến lược chiến tranh mà Mỹ thực hiện ở nước ta không đơn thuần chỉ để thực hiện các mục tiêu xâm lược của chúng, mà còn nhằm vào những mưu đồ to lớn hơn, của cả phe đế quốc do Mỹ cầm đầu, nhằm chống lại phong trào giải phóng dân tộc và sự phát triển mau chóng của hệ thống xã hội chủ nghĩa, răn đe phong trào đấu tranh của công nhân đang dâng cao trong các nước tư bản chủ nghĩa lúc đó.

Với việc tự nhận vai trò “lãnh đạo” của mình trong cái gọi là “bảo vệ thế giới tự do”, ngay từ khi Pháp bị sa lầy trong chiến tranh Đông Dương, một mặt đế quốc Mỹ ra tay giúp Pháp, mặt khác cũng tính sẵn một phương kế thay thế Pháp độc chiếm Đông Dương.

Sau khi thực dân Pháp thảm bại trên chiến trường Điện Biên Phủ, buộc phải ký Hiệp định Giơnevơ (7-1954), đế quốc Mỹ đã nhảy vào miền Nam Việt Nam, hất cẳng Pháp và từ đó biến nước ta thành nơi thí điểm các chiến lược, chiến thuật của Mỹ, hòng đánh bại cách mạng Việt Nam và rút kinh nghiệm để đối phó với phong trào cách mạng ở những nước khác.

Âm mưu cơ bản của Mỹ là tiêu diệt bằng được phong trào yêu nước của nhân dân ta, thôn tính miền Nam Việt Nam, chia cắt lâu dài nước ta, lập phòng tuyến ngăn chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội lan xuống Đông Nam Á, đè bẹp và đẩy lùi chủ nghĩa xã hội ở vùng này, bao vây và uy hiếp các nước xã hội chủ nghĩa khác.

Việt Nam, vì vậy trở thành mảnh đất thử thách sức mạnh và uy tín của đế quốc Mỹ như chính giới cầm quyền ở Nhà Trắng và Lầu Năm Góc từng công khai thừa nhận. Chiến tranh xâm lược Việt Nam là một bộ phận quan trọng trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của đế quốc Mỹ. Mỹ muốn chứng tỏ rằng lực lượng quân sự và kinh tế khổng lồ của chúng có thể đè bẹp mọi phong trào giải phóng dân tộc và chặn đứng bước tiến của chủ nghĩa xã hội ở bất cứ nơi nào trên thế giới.

Tuy nhiên, tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược đối với một quốc gia có chủ quyền, nhân dân có bề dày truyền thống yêu nước, kiên cường bất khuất chống giặc ngoại xâm, chiến trường lại nằm xa nước Mỹ tới hàng vạn dặm như Việt Nam, thì mưu đồ của đế quốc Mỹ không dễ gì mà thực hiện được, nhất là trong bối cảnh quốc tế vào những năm 50 của thế kỷ XX được coi là hoàn toàn bất lợi đối với Mỹ. Vì vậy, trong quá trình tiến hành chiến tranh, đế quốc Mỹ vừa đánh vừa thăm dò, vừa đánh vừa thí nghiệm các chiến lược, chiến thuật chiến tranh mới và thực hành leo thang từng bước.

Trên phạm vi thế giới, sau khi thất bại trong chiến lược “trả đũa ồ ạt” dựa vào vũ khí hạt nhân, từ đầu những năm 60 thế kỷ XX, đế quốc Mỹ chuyển sang thực hành chiến lược “phản ứng linh hoạt”, chĩa mũi nhọn chủ yếu vào các lực lượng xã hội chủ nghĩa và phong trào giải phóng dân tộc ở những vùng có chọn lựa, mà Việt Nam là điểm nóng bỏng nhất theo quan điểm chiến lược của Mỹ.

Trên quy mô khu vực, sau chiến lược “chiến tranh đơn phương” (1954 - 1960), Mỹ chuyển sang tiến hành chiến lược chiến tranh đặc biệt (1961 - 1965) rồi chiến lược chiến tranh cục bộ (1965 - 1968) để chống lại nhân dân ta. Đến khi bị quân và dân Việt Nam đánh đòn quyết định trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) - một đòn tiến công làm “rung chuyển nước Mỹ”, “chấn động cả thế giới”, Mỹ phải xuống thang, chấp nhận đàm phán với Việt Nam ở Pari, rút dần quân chiến đấu Mỹ và quân đồng minh của Mỹ ra khỏi miền Nam. Từ năm 1969, Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh và Đông Dương hóa chiến tranh hòng cứu vãn sự thất bại và giành ưu thế trong cuộc đàm phán với Việt Nam tại Hội nghị Pari.

Tuy nhiên, sau những thắng lợi liên tiếp của quân và dân ta qua các cuộc hành quân Lam Sơn 719 ở đường 9 - Nam Lào (từ ngày 30-1 đến ngày 23-3-1971); Toàn thắng 1-71 ở Đông Nam Bộ - Đông Bắc Campuchia (từ ngày 4-2 đến ngày 31-5-1971); Quang Trung 4 ở Bắc Tây Nguyên - khu vực ngã ba biên giới (từ ngày 27-2 đến ngày 16-4-1971), nhất là cuộc tiến công chiến lược ở miền Nam (từ tháng 3 đến tháng 6-1972) và cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân lần thứ hai của đế quốc Mỹ trên miền Bắc (từ ngày 6-4-1972 đến ngày 15-1-1973)..., chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của đế quốc Mỹ bị phá sản hoàn toàn; buộc chúng phải tuyên bố Mỹ hóa trở lại cuộc chiến tranh.

Ngày 14-12-1972, đế quốc Mỹ tuyên bố ngừng ném bom đánh phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra, nhằm đánh lừa dư luận quốc tế, rồi bất ngờ mở cuộc tập kích chiến lược đường không bằng máy bay B.52 vào Hà Nội và Hải Phòng (từ ngày 18 đến ngày 29-12-1972), nhằm cố giành một thắng lợi quân sự quyết định, buộc ta phải ký một hiệp định có lợi cho Mỹ. Rút cục, cuộc tập kích bằng không quân chiến lược B.52 bị thất bại thảm hại, chính quyền Mỹ buộc phải tuyên bố ngừng hẳn các hoạt động chống phá miền Bắc (15-1-1973) và ký Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (27-1-1973).

Trước mưu đồ đen tối và những thủ đoạn chiến tranh nham hiểm, tàn bạo của đế quốc Mỹ, nhân dân ta, được sự ủng hộ to lớn của lực lượng hòa bình, dân chủ và tiến bộ trên toàn thế giới đã luôn luôn nêu cao bản lĩnh, ý chí quyết tâm đánh giặc và thắng giặc, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất Tổ quốc.

Đối mặt với một kẻ thù có tiềm lực về kinh tế và quân sự như đế quốc Mỹ, mỗi lần chúng tung ra những chiến lược chiến tranh mới, với những thủ đoạn tác chiến và các loại vũ khí mới, hiện đại đã gây cho ta không ít khó khăn, đã có nhiều lúc khiến chúng ta phải trăn trở, nhất là về tư tưởng và tâm lý. Nhưng cuối cùng, chúng ta đã vượt qua. Bằng quyết tâm cao và bằng sự dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, vừa đánh vừa thăm dò, rút kinh nghiệm, tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu của kẻ thù; thông qua thực tiễn chiến đấu và những diễn biến thực tế trong cuộc đọ sức trên chiến trường, chúng ta đã tổng kết, đúc rút ra được những kết luận quan trọng, từng bước phát huy ưu điểm, hạn chế nhược điểm, tiến lên đánh bại kẻ thù.

Hành động một cách nhất quán theo quan điểm tích cực, hợp lý, đó chính là một trong những yếu tố quan trọng dẫn đến thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đúng như Trung ương Đảng đã tổng kết tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV: “trong một cuộc chiến tranh mà đế quốc Mỹ vừa đánh vừa dò, vừa đánh vừa thí nghiệm các chiến lược, chiến thuật của chúng, một cuộc chiến tranh leo thang từng bước, không có tiền lệ trong lịch sử, thì việc hiểu địch, hiểu ta là một quá trình nhận thức ngày càng sâu hơn, sát hơn, rõ ràng hơn, chắc chắn hơn thông qua thực tế chiến đấu và những diễn biến cụ thể của cuộc đọ sức trên chiến trường. Trên cơ sở phương hướng chiến lược đúng, hãy làm đi rồi thực tiễn sẽ cho phép ta hiểu rõ sự vật hơn nữa”(1).


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.37, tr.489.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Bảy, 2014, 04:48:52 PM
4. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam là cuộc chiến tranh có quy mô lớn, dài ngày và ác liệt nhất kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai

Cuộc đụng đầu lịch sử giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc Mỹ thực sự là một thử thách khốc liệt, phức tạp, kéo dài nhất giữa bạo lực cách mạng và phản cách mạng trên thế giới nửa sau thế kỷ XX. Đây là một cuộc chiến tranh có tính chất toàn diện, điển hình về các mặt, về quy mô to lớn, về tính chất cực kỳ hiểm độc. Suốt 21 năm (1954 - 1975), năm đời tổng thống Mỹ đã kế tiếp nhau vạch kế hoạch nhằm thực hiện mưu đồ: “tiêu diệt bằng được phong trào yêu nước của nhân dân ta, thôn tính miền Nam, chia cắt lâu dài đất nước ta biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ, lập phòng tuyến ngăn chặn chủ nghĩa xã hội lan xuống Đông Nam châu Á; đồng thời lấy miền Nam làm căn cứ để tiến công miền Bắc, tiền đồn của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới ở Đông Nam châu Á, hòng đè bẹp và đẩy lùi chủ nghĩa xã hội ở vùng này, bao vây và uy hiếp các nước xã hội chủ nghĩa khác”(1).

Để thực hiện âm mưu trên đây, đế quốc Mỹ đã tung vào chiến trường Việt Nam một đội quân viễn chinh hơn 60 vạn tên, gồm quân Mỹ và quân thuộc năm quốc gia đồng minh của Mỹ (Nam Triều Tiên: 50.000, Thái Lan: 13.000, Ôxtrâylia: 7.000, Philíppin: 2.000, Niu Dilân: 600) làm nòng cốt cho hơn 1 triệu quân của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Riêng với quân chiến đấu Mỹ, chúng đã huy động lúc cao nhất tới 70% lục quân, 60% lính thủy đánh bộ, 40% hải quân, 60% không quân. Nếu tính cả số quân đóng tại các căn cứ quân sự của Mỹ ở Thái Lan, Philíppin… và trên Hạm đội 7 tham chiến trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam thì số lượng lên tới hơn 80 vạn người. Và trong cả cuộc chiến tranh, đế quốc Mỹ đã huy động tới 6.600.000 lượt binh sĩ thay phiên nhau tham chiến, ném xuống chiến trường Đông Dương 7,8 triệu tấn bom, gấp hơn 3 lần số bom Mỹ sử dụng trong Chiến tranh thế giới thứ hai (2,1 triệu tấn); tiêu tốn 676 tỷ đôla (trong khi cuộc chiến tranh Triều Tiên, Mỹ chỉ tiêu tốn 54 tỷ đô la, Chiến tranh thế giới thứ hai cũng chỉ là 341 tỷ đôla). Đồng thời, chính quyền Mỹ còn huy động tới 22.000 xí nghiệp với gần 6 triệu công nhân công nghiệp, hơn 1/3 số nhà khoa học và 260 trường đại học tham gia vào việc nghiên cứu chiến lược chiến tranh, chế tạo, sản xuất các loại vũ khí và phương tiện chiến tranh để phục vụ cho tác chiến trên chiến trường Việt Nam và Đông Dương(2).

Có thể thây, cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam có tính chất toàn diện và điển hình về các mặt về quy mô to lớn, có tính chất dã man, hiểm độc. Riêng về quân sự, Mỹ đã sử dụng một lực lượng khổng lồ vào cuộc chiến tranh lớn nhất kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai; sử dụng tất cả các loại vũ khí, kĩ thuật hiện đại, trừ vũ khí nguyên tử; đã cử những tướng lĩnh và nhà chính khách ngoại giao tài giỏi vào trận. Mỹ đã không từ một thủ đoạn xảo quyệt, độc ác, dã man nào trong cuộc chiến tranh. Nhưng cuối cùng Mỹ đã phải xuống thang chiến tranh, chấp nhận thất bại cay đắng của một siêu cường quốc từ trước thời điểm đó chỉ toàn chiến thắng.

Đương đầu chống lại cuộc chiến tranh xâm lược do đế quốc Mỹ gây ra, gần 30 triệu đồng bào và chiến sĩ cả nước, dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng Lao động Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí minh đứng đầu đã đoàn kết một lòng, nêu cao quyết tâm vì hòa bình, độc lập dân tộc, sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia chiến đấu chống Mỹ đến ngày thắng lợi hoàn toàn.

Hai mươi mốt năm ròng, đã có biết bao thế hệ con em đồng bào các dân tộc khắp mọi vùng, miền cả nước nối tiếp nhau ra trận, khắc sâu trong tâm khảm lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Cả nước rộn rã lên đường. Nhân tài, vật lực được huy động tới mức cao nhất cho chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Lớp này ngã xuống, lớp sau tiếp bước đứng dậy kiên cường, quyết tâm “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Gần 2 triệu tấn vật chất các loại, hàng triệu lượt người của hậu phương miền Bắc được vận chuyển chi viện cho chiến trường miền Nam chiến đấu, chiến thắng quân thù, 175.000 thanh niên xung phong miền Bắc ngày đêm có mặt phục vụ chiến đấu trên các trận tuyến. Để có được thắng lợi vẻ vang trong cuộc chiến tranh ái quốc này, tính chung trong 30 năm (1945 - 1975), đã có 1.100.000 con em của dân tộc Việt Nam ngã xuống vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, 300.000 người mất tích trong chiến đấu, 2.000.000 người dân bị địch giết hại, 2.000.000 người khác bị tàn tật, 2000.000 người bị nhiễm chất độc da cam.

Cũng trong cuộc chiến đấu này, nhân dân Việt Nam đã nhận được sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ thiết thực và hiệu quả của bạn bè quốc tế, đặc biệt là từ phía các nước xã hội chủ nghĩa - một cuộc chiến tranh chính nghĩa đã tập hợp được sự ủng hộ cực kỳ rộng rãi và mạnh mẽ của các lực lượng cách mạng và tiến bộ trên toàn thế giới. Nhân loại tiến bộ đứng hẳn về phía nhân dân Việt Nam, dành cho Việt Nam những tình cảm sâu sắc, sự ủng hộ vật chất và tinh thần to lớn, biểu dương cuộc chiến đấu của dân tộc ta như một thiên anh hùng ca trong thế kỷ XX. Các nước xã hội chủ nghĩa đã chi viện cho cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam tổng cộng 2.362.682 tấn vật chất các loại, trị giá hơn 7 tỉ rúp và 1 tỉ đôla. Bên cạnh sự giúp đỡ về vật chất, trong những năm khói lửa chiến tranh khốc liệt diễn ra khắp hai miền đất nước, nhiều chuyên gia Liên Xô, Trung Quốc, Triều Tiên, Hunggari..., và một số đơn vị bộ đội hậu cầu Trung Quốc và một bộ phận bộ đội không quân Triều Tiên đã từng sát cánh chiến đấu, lao động cùng với quân và dân Việt Nam trên các lĩnh vực. Nhiều đồng chí trong số đó đã để lại một phần thân thể hoặc anh dũng hy sinh trên đất nước Việt Nam vì nghĩa tình quốc tế vô sản. Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam ghi nhận và biết ơn sâu sắc sự đóng góp và hy sinh cao quý đó.

Như vậy, cuộc chiến đấu chống Mỹ của dân tộc Việt Nam là một điển hình trên thế giới nửa cuối thế kỷ XX, đúng như khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước (20-7-1968): “Dân tộc Việt Nam ta đang tiến hành cuộc kháng chiến vĩ đại nhất trong lịch sử của mình. Vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì lợi ích của phe xã hội chủ nghĩa, của các dân tộc bị áp bức và của cả loài người tiến bộ, chúng ta đang chiến đấu và chiến thắng một kẻ thù hung ác nhất toàn thế giới. Trên đất nước ta đang diễn ra cuộc chiến đấu giữa chính nghĩa và phi nghĩa, giữa văn minh và bạo tàn”(3).


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.37, tr.478-479.
(2) Xem Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1954 - 1975 - Thắng lợi và bài học, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.489-508.
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.373-374.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Bảy, 2014, 04:50:04 PM
III - TẦM VÓC VÀ Ý NGHĨA CỦA
CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC

1. Là cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ và ác liệt nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam

Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, nhân dân ta đã phải không ngừng đứng lên cầm vũ khí chiến đấu chống hết kẻ thù xâm lược này đến kẻ thù xâm lược khác để bảo vệ nền độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ.

Do những điều kiện địa lý, lịch sử, kinh tế chi phối, tác động, từ cuối thế kỷ III trước Công nguyên, nhân dân Lạc Việt của nước Văn Lang và nhân dân Tây Âu sống ở phía bắc nước Văn Lang đã phải đứng lên chống quân xâm lược Tần.

Từ đầu thế kỷ II trước Công nguyên, những người dân Việt - Âu Lạc lại đứng trước một thử thách lớn lao và lâu dài, chống lại sự xâm lược và đô hộ trong hơn một nghìn năm của các triều đại phong kiến phương Bắc. Theo ghi chép có phần chưa thật đầy đủ của sử cũ, nhưng cũng đã cho thấy rằng, trong hơn một nghìn năm Bắc thuộc, đã có 22 cuộc nổi dậy với quy mô lớn, trong đó có nhiều cuộc diễn ra trên phạm vi toàn quốc, tiêu biểu nhất là các cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (40), Bà Triệu (248), Lý Bí (542), Mai Thúc Loan (722), Phùng Hưng (khoảng 776), Khúc Thừa Dụ (905)...

Từ thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX, khi đã giành được nền độc lập tự chủ, nhân dân ta lại tiếp tục phải đứng lên chống lại cuộc xâm lược của các đạo quân hùng mạnh như: Tống (thế kỷ X - XI), Mông - Nguyên (thế kỷ XIII), Minh (thế kỷ XV) và Xiêm, Thanh (thế kỷ XVIII).

Cuộc đấu tranh chống xâm lược và ách cai trì của thực dân Pháp, rồi Pháp - Nhật suốt từ năm 1858 đến năm 1945 của nhân dân ta (từ năm 1930 dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam) cuối cùng đã giành được thắng lợi. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (2-9-1945). Tuy nhiên, ngay sau đó, nhân dân ta lại phải bước vào cuộc kháng chiến gian khổ suốt chín năm (1945-1954) chống thực dân Pháp để bảo vệ những thành quả của Cách mạng Tháng Tám.

Tất cả những thế lực ngoại xâm mà nhân dân ta đã từng phải đương đầu chống lại, đều là những đối thủ có sức mạnh vượt trội về quân sự, từng “làm mưa làm gió” ở nhiều quốc gia, châu lục, thậm chí còn chưa từng nếm mùi thất bại, từ các đế chế phong kiến phương Bắc thời cực thịnh (Tần, Hán, Tống, Mông - Nguyên, Minh, Thanh) đến các đế quốc phương Tây (Pháp, Mỹ). Trong đó, đế quốc Mỹ là kẻ thù được xác định mạnh nhất, hung bạo nhất của thời đại. Chúng có tiềm lực kinh tế - quân sự lớn hơn ta rất nhiều lần. Cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược, vì vậy là thử thách lớn nhất đối với dân tộc Việt Nam, đe dọa thủ tiêu hoàn toàn những thành quả cách mạng mà nhân dân ta đã giành được, đưa dân tộc ta trở lại cuộc đời nô lệ dưới hình thức mới. Quân và dân Việt Nam chấp nhận cuộc thử thách này với tinh thần dũng cảm, không sợ Mỹ, dám đánh và quyết thắng Mỹ.

Việt Nam trở thành tâm điểm trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của đế quốc Mỹ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Mất Việt Nam, đế quốc Mỹ có thể bị mất nhiều nơi trên thế giới, trước hết là ở khu vực Đông Nam Á, nơi Mỹ có nhiều lợi ích về chính trị, kinh tế và quân sự.

Đàn áp và đánh bại được Việt Nam, đế quốc Mỹ vừa đánh bại và răn đe được phong trào giải phóng dân tộc, đánh bại được chủ nghĩa xã hội ở khu vực, vừa củng cố được vị thế trong các nước đồng minh của Mỹ.

Việt Nam, vì thế trở thành nơi đụng đầu lịch sử quyết liệt giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, giữa độc lập dân tộc và ách nô dịch của chủ nghĩa đế quốc, giữa cách mạng và phản cách mạng, giữa sức mạnh của bom đạn, sắt thép và bản lĩnh, ý chí con người.

Để thực hiện dã tâm xâm lược của mình, đế quốc Mỹ đã ném vào cuộc chiến tranh Việt Nam tiền bạc, vũ khí, kỹ thuật… nói chung là tất cả các nguồn lực mà Mỹ có thể sử dụng; phát huy đến mức tối đa sức mạnh của lục quân, không quân, hải quân; sử dụng những phương tiện chiến tranh hiện đại nhất, với chất lượng cao nhất (trừ vũ khí hạt nhân); tiêu phí một lượng ngân sách khổng lồ, nhiều hơn cả chi phí trong Chiến tranh thế giới thứ hai, thực hành những chiến lược phản cách mạng hiểm độc nhất (4 chiến lược, qua 5 đời tổng thống, 8 lần đổi bộ trưởng quốc phòng, 4 lần đổi tướng tổng tư lệnh quân chiến đấu Mỹ ở chiến trường miền Nam Việt Nam).


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Bảy, 2014, 04:50:27 PM
Phát huy truyền thống yêu nước và những kinh nghiệm được đúc kết qua các cuộc chiến tranh giải phóng, chiến tranh giữ nước của dân tộc, quân và dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã kiên cường tiến công địch toàn diện, cả về quân sự, chính trị và ngoại giao; kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh quân sự, lấy lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt lần lượt đánh bại cả bốn chiến lược chiến tranh của Mỹ, giành thắng lợi từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.

Vượt qua thời kỳ khó khăn từ năm 1954 đến năm 1959, dưới ánh sáng Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 (5-1959) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (khóa II) và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9-1960), cách mạng miền Nam đã chuyển từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công kể từ phong trào Đồng khởi cuối năm 1959 đầu năm 1960 trên toàn miền Nam, đánh bại chiến lược chiến tranh đơn phương của Mỹ.

Cuối năm 1964, những cuộc khởi nghĩa từng phần diễn ra sau phong trào Đồng khởi, nhất là sau chiến thắng Ấp Bắc (1963), phát triển thành một cuộc chiến tranh cách mạng, vừa đấu tranh quân sự, vừa đấu tranh chính trị, kết hợp đánh địch trên địa bàn rừng núi và nông thôn đồng bằng, cùng với phong trào đấu tranh quyết liệt ở các đô thị trên khắp miền Nam đã đẩy chế độ phát xít Ngô Đình Diệm - công cụ để thực hiện chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ đến bờ vực sụp đổ và làm phá sản chiến lược chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ.

Để cứu vãn tình thế nguy cấp, năm 1965, đế quốc Mỹ tiếp tục leo thêm nấc thang mới - triển khai chiến lược chiến tranh cục bộ ở miền Nam và mở cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc Việt Nam.

Trên cơ sở phân tích một cách khoa học so sánh giữa ta và đối tượng, các lợi thế của cách mạng Việt Nam, Trung ương Đảng đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã động viên toàn dân mà nòng cốt là các lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam tiếp tục giữ vững chiến lược tiến công, nêu cao ý chí tự lực, tự cường, phát huy sức mạnh đại đoàn kết của toàn dân tộc và ra sức tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ cả về tinh thần và vật chất của nhân loại yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới, nhất là các nước xã hội chủ nghĩa anh em và chính cả nhân dân tiến bộ Mỹ, kiên quyết đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng hoàn toàn miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới thống nhất Tổ quốc.

Tháng 1-1968, giữa lúc cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ đang ở nấc thang cao nhất, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị Trung ương lần thứ 14, đề ra chủ trương mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt trên khắp miền Nam, giáng một đòn quyết định vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ. Cuộc Tổng tiến công chiến lược Mậu Thân 1968 của quân và dân ta nổ ra và giành thắng lợi oanh liệt đã làm phá sản chiến lược chiến tranh cục bộ, buộc chính quyền Mỹ phải xuống thang chiến tranh và chấp nhận ngồi vào bàn đàm phá với đại diện Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Pari.

Dù vậy, với bản chất cực kỳ ngoan cố và hiếu chiến, đế quốc Mỹ vẫn chưa cách mạng chịu thất bại. từ năm 1969, chúng chuyển sang thực hiện học thuyết Níchxơn và triển khai chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh ở miền Nam Việt Nam, đồng thời tiến hành “chiến tranh đặc biệt tăng cường” ở Lào và mở rộng chiến tranh sang Campuchia.

Mỹ đã sử dụng tối đa về quân sự kết hợp với những thủ đoạn chính trị và ngoại giao rất xảo quyệt hòng giành thế mạnh, cô lập và bóp nghẹt cuộc kháng chiến của nhân dân ta nói riêng và nhân dân các nước Đông Dương nói chung.

Để chống lại chiến lược chiến tranh mới của đế quốc Mỹ, quân và dân ta đã phối hợp chặt chẽ với quân và dân Lào, quân và dân Campuchia anh em chiến đấu anh dũng, giành thắng lợi oanh liệt trên mặt trận Đường 9 - Nam Lào và Đông Bắc Campuchia (1971). Tiếp đó, Quân giải phóng miền Nam mở cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên khắp chiến trường miền Nam, giáng cho quân đội Việt Nam Cộng hòa những đòn chí tử, phá vỡ nhiều tuyến phòng thủ kiên cố của chúng ở Trị - Thiên, Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ, làm thất bại một phần quan trọng chương trình bình định nông thôn của Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa.

Trên miền Bắc, với tinh thần chiến đấu ngoan cường, mưu trí, sáng tạo, lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc, chúng ta đã đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ. Thắng lợi to lớn của cuộc tiến công chiến lược năm 1972 và chiến công xuất sắc đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B.52 vào Hà Nội, Hải Phòng cuối năm 1972 đã buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Pari, tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam và rút hết quân chiến đấu Mỹ và quân đồng minh của Mỹ ra khỏi miền Nam.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Bảy, 2014, 04:50:58 PM
Hiệp định Pari được ký kết và có hiệu lực là một thắng lợi rất to lớn của quân và dân Việt Nam, đồng thời khẳng định sự thất bại không thể phủ nhận của Mỹ; nhưng ngay sau đó, đế quốc Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã cố tình tìm mọi cách phá hoại hiệp định một cách có hệ thống. Đánh giá đúng âm mưu của Mỹ, Hội nghị lần thứ 21 của ban Chấp hành Trung ương Đảng (7-1973) đã chủ trương: Trong bất kể tình huống nào, con đường giành thắng lợi của cách mạng miền Nam cũng là con đường bạo lực, do đó phải nắm vững chiến lược tiến công, kiên quyết đấu tranh trên ba mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao nhằm tiến lên thực hành phản công và tiến công để giành toàn thắng.

Trong hai năm 1973-1974, thực hiện quyết tâm của Trung ương Đảng, quân và dân ta ở miền Nam đã đập tan các cuộc hành quân tràn ngập lãnh thổ và hành quân lấn chiếm vùng giải phóng của quân đội Việt Nam Cộng hòa, làm cho cục diện chiến trường miền Nam không ngừng thay đổi theo chiều hướng ngày càng có lợi cho ta.

Kịp thời đánh giá đúng lực lượng so sánh giữa ta và đối phương trong tình hình mới, các hội nghị của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 10 và tháng 12-1974) đã xác định chính xác thời cơ lịch sử, hạ quyết tâm chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975.

Với sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, mà nòng cốt là các binh đoàn chiến lược binh chủng hợp thành của Quân giải phóng miền Nam - Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đã diễn ra với tốc độ “một ngày bằng hai mươi năm” và chỉ trong vòng 55 ngày đêm, quân và dân ta đã giành được toàn thắng.

Đại thắng mùa Xuân năm 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử là thắng lợi của toàn bộ sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh; cũng đồng thời là một chiến thắng vĩ đại và hiển hách nhất trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, là kết quả của quá trình chiến đấu đầy gian khổ, hy sinh mấy chục năm ròng của quân đội ta, là bước phát triển tất yếu ở giai đoạn chín muồi của tất cả các nhân tố làm nên thắng lợi, trong đó nhân tố quyết định nhất là sự lãnh đạo đúng đắn và sáng tạo của Đảng Lao động Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã biết khơi dậy, kế thừa và phát huy đến đỉnh cao các truyền thống và sức mạnh vô địch của con người Việt Nam, của dân tộc Việt Nam trong thời đại mới. Quân và dân ta đã đập tan lực lượng quân sự khổng lồ được Mỹ trang bị hiện đại của quân đội Việt Nam Cộng hòa - một lực lượng được đánh giá là mạnh nhất khu vực Đông Nam Á, loại khỏi vòng chiến đấu hơn một triệu quân gồm đủ mọi quân binh chủng, phá hủy và tịch thu toàn bộ các loại vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại, hệ thống kho tàng, sân bay, bến cảng; quét sạch toàn thể hệ thống bộ máy chính quyền các cấp từ trung ương đến địa phương của chế độ Việt Nam Cộng hòa - chế độ thực dân mới do đế quốc Mỹ đổ biết bao tiền của và công sức dựng nên ở miền Nam Việt Nam; đập tan các đảng phái, tổ chức chính trị phản động ở miền Nam Việt Nam do Mỹ cố công xây dựng và nuôi dưỡng suốt hơn 20 năm; giải phóng hoàn toàn 44 tỉnh, các thành phố, hải đảo, thu non sông về một mối, đưa đất nước ta sang kỷ nguyên mới - kỷ nguyên xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai cùng với các cường quốc năm châu trên thế giới.

Tuy nhiên, để giành được thắng lợi vĩ đại đó, nhân dân ta phải gánh chịu hy sinh tổn thất nặng nề cả về nhân lực, vật lực và tài lực.

Suốt 21 năm tiến hành chiến tranh xâm lược, đế quốc Mỹ đã dội xuống đất nước Việt nam 7,8 triệu tấn bom đạn, lớn hơn số bom đạn của bất kỳ một cuộc chiến tranh nào trước đó. Những cuộc đánh phá của Mỹ nhằm vào tất cả các mục tiêu, kể cả trường học, bệnh viện, chùa chiền, nhà thờ, đê điều và những công trình thủy lợi; vào bất kể đối tượng nào, kể cả phụ nữ và trẻ em. Chúng sử dụng những loại vũ khí giết người hàng loạt và vô cùng tàn khốc bất chấp sự phản đối của dự luận quốc tế, thậm chí của ngay chính nhân dân tiến bộ Mỹ. Hành động man rợ và vô nhân tính của đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam khiến “trời không dung, đất không tha” và cả loài người chắc chắn sẽ còn phải nhắc lại nhiều lần.

Cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ đã làm hàng triệu người Việt Nam bị giết hại và bị thương, hàng triệu hécta rừng bị thiêu trụi, hàng chục vạn người bị tàn phế. Từ cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa này, nhiều thế hệ con cháu của người Việt Nam và của cả những binh sĩ Mỹ, những binh sĩ của các nước đồng minh từng tham chiến ở chiến trường miền Nam Việt Nam đã bị nhiễm chất độc da cam/điôxin, tàn phế, mất sức lao động suốt đời.

Cuộc chiến tranh xâm lược do đế quốc Mỹ gây ra đã kéo lùi sự phát triển của Việt Nam và hậu quả tai hại của nó sẽ phải mất nhiều chục năm sau mới có thể hàn gắn, khắc phục được.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Bảy, 2014, 04:53:26 PM
2. Là thắng lợi vĩ đại và hiển hách nhất trong lịch sử dân tộc và mang ý nghĩa thời đại sâu sắc

Đối với dân tộc Việt Nam, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi đã kết thúc 21 năm chiến đấu chống Mỹ và 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc kể từ sau cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945, chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc và chế độ phong kiến nước ta, rửa sạch nỗi nhục mất nước kéo dài hơn một thế kỷ. Trên cơ sở đó hoàn thành về cơ bản cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, bảo vệ vững chắc và phát huy có hiệu quả những thành tựu cách mạng xã hội chủ nghĩa của miền Bắc, xóa bỏ những chướng ngại trên con đường thực hiện thống nhất nước nhà.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước “mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỹ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”(1).

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã mở ra một kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam - kỷ nguyên đất nước độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội. Đó là một trong những thắng lợi vĩ đại nhất, hiển hách nhất trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.

Thắng lợi vĩ đại của dân tộc ta đồng thời cũng là thất bại quân sự và chính trị của đế quốc Mỹ trong thực hiện âm mưu và những nỗ lực xâm lược Việt Nam. Ách thống trị thực dân kiểu mới ở miền Nam do Mỹ dày công xây dựng, nuôi dưỡng, bảo vệ cuối cùng đã bị sụp đổ hoàn toàn. Thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam - một cuộc chiến tranh hao người tốn của đã trở thành nỗi “buồn thảm và bi đát trên nhiều mặt”(2), gây ra những tác động ảnh hưởng sâu sắc đối với toàn xã hội Mỹ trong thời kỳ “sau Việt Nam”.

Tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, nước Mỹ phải gánh chịu những tổn thất hết sức nặng nề. Tính về người, có tới 58.000 binh sĩ Mỹ đã bị chết trên chiến trường Việt Nam(3). Còn về của, theo tính toán của nhóm giáo sư kinh tế Mỹ do R.W. Stevens đứng đầu thì mọi loại chi phí và tác hại do chiến tranh Việt Nam gây ra với Mỹ lên tới khoảng từ 882 đến 925 tỉ đôla(4). Đây thực sự là những di họa và gánh nặng chiến tranh đè lên nước Mỹ mà theo các nhà khoa học, phải đến năm 2040 mới có thể giải quyết xong hậu quả cuộc chiến tranh này.

Chiến tranh Việt Nam đã làm phá sản một bộ phận quan trọng trong chiến lược toàn cầu của Mỹ. Mỹ bị đánh bật khỏi miền Nam Việt Nam, chỗ đứng chân trước đây để chúng khống chế Đông Nam Á, tìm đường tiến xuống phía nam và vươn lên phía bắc. Phòng tuyến lớn nhằm ngăn chặn phong trào cách mạng thế giới bị phá vỡ. Bốn chiến lược chiến tranh cùng hàng loạt chiến thuật quân sự được đem thi thố trở thành vô dụng. Cả nền tảng xã hội Mỹ vốn được phương Tây ca ngợi là kiểu mẫu của “thế giới tự do” bị rung chuyển. Xã hội bị chia rẽ, “bị rạn nứt thành từng mảng”(5), đồng thời “những tiến bộ đời sống vật chất lẫn lòng tin đối với quốc gia, không còn duy trì được”(6). Uy tín, địa vị quốc tế của Mỹ bị suy sụp. Vai trò chỉ huy của Mỹ đối với các nước đế quốc, tư bản khác đã giảm sút. Như vậy, thất bại ở Việt Nam đã đánh dấu một bước ngoặt đi xuống của Mỹ.

Thắng lợi của dân tộc Việt Nam cũng là thắng lợi to lớn của lực lượng độc lập, tự chủ và chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới. Thắng lợi đó đã làm thức tỉnh lương tri nhân loại, cổ vũ mạnh mẽ tinh thần đấu tranh cách mạng của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới, làm cho nhân dân thế giới không những không còn tâm lý sợ Mỹ, mà còn dám đánh Mỹ, biết đánh và quyết thắng Mỹ kể từ khi Mỹ thu lợi qua hai cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai, trở thành một đế quốc giàu mạnh nhất, nuôi tham vọng bá chủ thế giới, buộc nhân loại phải đi theo quỹ đạo của chúng. Thắng lợi đó chứng tỏ một chân lý, trong thời đại ngày nay, một dân tộc nhỏ bé, lãnh thổ hẹp, dân số ít, kinh tế kém phát triển nhưng biết đoàn kết và quyết tâm, có một đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của mình và được sự ủng hộ giúp đỡ của bạn bè quốc tế thì có thể hoàn toàn đánh bại được những kẻ thù xâm lược mạnh hơn gấp bội lần.


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.37, tr.471.
(2) Dương Hảo: Một chương bi thảm, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1980, tr.283.
(3) GS. Phan Ngọc Liên (chủ biên): Hậu phương lớn, tiền tuyến lớn trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb. Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2005, tr.795.
(4) R.W. Stevens (chủ biên): Hy vọng hão huyền, thực tế phũ phàng - Những hậu quả kinh tế của cuộc chiến tranh Việt Nam, New View poits, New York, London, 1976, tr.112-114.
(5) Tạp chí Lục quân (Mỹ), số tháng 7-1973.
(6) Tạp chí Chiến lược (Mỹ), số mùa đông 1976.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Bảy, 2014, 05:04:49 PM
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Việt Nam giành được thắng lợi trọn vẹn đã chứng minh với nhân dân thế giới về sự phá sản của chủ nghĩa thực dân mới là điều khó tránh khỏi, góp phần thu hẹp hệ thống thuộc địa kiểu mới của chủ nghĩa đế quốc. Cũng như trước đây, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và tiếp theo là thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp năm 1954 đã chứng minh với thế giới về sự sụp đổ hoàn toàn của chủ nghĩa thực dân cũ.

Trong thời gian nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến, phong trào giải phóng dân tộc và bảo vệ nền độc lập đã diễn ra sôi nổi khắp khu vực Á, Phi, Mỹ Latinh. Ở châu Phi, trước Chiến tranh thế giới thứ hai, chỉ có hai nước độc lập trên danh nghĩa, nhưng đến năm 1968, đã có 39 nước giành được độc lập, chiếm 85% lãnh thổ và 95% dân số toàn châu lục này.

Tính đến giữa những năm 60 (thế kỷ XX) đã có 70 nước Á, Phi, Mỹ Latinh giành được độc lập. Nhân dân hai nước láng giềng Lào và Campuchia anh em đã liên tục sát cánh cùng nhân dân Việt Nam chiến đấu cho đến thắng lợi hoàn toàn.

Tại khu vực Mỹ Latinh, cao trào đấu tranh chống đế quốc và chế độ độc tài đã bùng nổ mạnh mẽ trong các thập kỷ 60 - 70 thế kỷ XX, được mệnh danh là “lục địa bùng cháy”. Phong trào lan rộng khắp các nước như Cuba, Vênêduêla, Goatêmala, Côlômbia, Pêru, Nigaragoa, Chilê, En Xanvađo… Kết quả là chính quyền độc tài ở nhiều nước đã bị lật đổ, các chính phủ dân chủ ở nhiều nước được thiết lập.

Vì bị sa lầy trong chiến tranh Việt Nam, Mỹ đã phải rút bỏ một số căn cứ quân sự quan trọng trên đất Thái Lan, sự hiện diện của quân đội Mỹ trên đất Nhật Bản, Philíppin… bị phản đối mạnh mẽ.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta là nguồn cổ vũ vô hạn đối với nhân dân các nước đang đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Tinh thần bất khuất, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tài thao lược của Đảng và những bài học kinh nghiệm của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã trở thành “tấm gương chói lọi cho tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới đang tiến hành cuộc đấu tranh chính nghĩa chống các thế lực áp bức của nước ngoài”(1). Cuộc đấu tranh ấy cũng “tạo ra cho các dân tộc khác những điều kiện bên ngoài thuận lợi hơn cho cuộc đấu tranh cách mạng của họ”(2). Nhiều dân tộc đã nhanh chóng học được các hình thức, phương pháp và những kinh nghiệm đấu tranh của Việt Nam và điều đó đã góp phần giúp họ giành thắng lợi trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước.

*
*   *

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, tuy phải trải qua quá trình chiến đấu lâu dài và gian khổ, “phải hy sinh nhiều của, nhiều người”, nhưng cuối cùng đã giành được thắng lợi vẻ vang.

Thắng lợi này là thành quả vĩ đại nhất của sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội do Đảng Lao động Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo.

Nhân dân ta đã đánh thắng một kẻ thù lớn mạnh và hung hãn nhất thế giới, đã kết thúc oanh liệt cuộc chiến đấu trường kỳ suốt 30 năm, giành độc lập hoàn toàn cho Tổ quốc.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị kéo dài 115 năm của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân cũ và mới trên đất nước ta, gạt bỏ những trở ngại lớn nhất trên con đường phát triển của dân tộc.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đánh dấu bước ngoặt rất cơ bản, quyết định của con đường cách mạng đúng đắn mà Đảng Lao động Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn ngay từ những năm 20 của thế kỷ XX là hòa bình, độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội.

Thắng lợi của nhân dân ta còn là thắng lợi tiêu biểu của lực lượng cách mạng, góp phần thúc đẩy mạnh mẽ cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội, đập tan cuộc phản kích lớn nhất của các thế lực đế quốc, phản động và hiếu chiến vào ba trào lưu cách mạng của thời đại mà mũi nhọn là phong trào giải phóng dân tộc, mở đầu sự phá sản không thể tránh khỏi của chủ nghĩa thực dân kiểu mới trên phạm vi toàn thế giới.

Thắng lợi của nhân dân Việt Nam trong cuộc đụng đầu lịch sử này đã làm sáng tỏ hiện thực, tính phổ biến xu thế phát triển của thời đại. Đó là biểu tượng mới về sức mạnh của sự kết hợp ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Ở Việt Nam, sức mạnh đó đã làm tiêu tan huyền thoại về “sức mạnh không thể tưởng tượng nổi của nước Mỹ”.

Thắng lợi đó khẳng định và làm sáng tỏ một chân lý ở thế kỷ XX: trong thời đại này, một dân tộc nước không rộng, người không đông, kinh tế kém phát triển, song đoàn kết chặt chẽ và đấu tranh kiên quyết dưới sự lãnh đạo của một đảng Mác - Lênin, có đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại thì hoàn toàn có thể đánh bại mọi thế lực xâm lược, dù là một nước đế quốc đầu sỏ.


(1) Lời Tổng thống Cộng hòa Ghinê A. Xêcu Turê. Xem Thế giới ca ngợi thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1977, tr.213.
(2) Lời Tổng thống Môdămbích, X. Masen, Xem: Thế giới ca ngợi thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta, Sđd, 1977, tr.221


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Tám, 2014, 06:45:46 PM
Chương 38

ĐƯỜNG LỐI KHÁNG CHIẾN
ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ, ĐÚNG ĐẮN, SÁNG TẠO

I - QUÁ TÌNH HÌNH THÀNH ĐƯỜNG LỐI

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta diễn ra trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến đổi lớn.

Vào giữa những năm 50 của thế kỷ XX, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa không ngừng lớn mạnh, trở thành đối trọng với hệ thống các nước đế quốc chủ nghĩa. Về công nghiệp, hệ thống xã hội chủ nghĩa chiếm hơn một phần ba tổng sản lượng công nghiệp trên toàn thế giới. Về nông nghiệp, sản lượng lương thực của hệ thống xã hội chủ nghĩa đã chiếm trên 48% tổng sản lượng lương thực toàn thế giới(1).

Tại châu Âu, đến năm 1950, hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô cơ bản khôi phục xong nền kinh tế bị tàn phá trong Chiến tranh thế giới thứ hai, tiếp tục thực hiện các kế hoạch 5 năm nhằm xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội và đạt được những thành tựu to lớn, vị thế trên trường quốc tế được nâng cao. Liên Xô đã vươn lên trở thành cường quốc công nghiệp lớn thứ hai thế giới (sau Mỹ) và có bước phát triển mạnh mẽ về khoa học - kỹ thuật. Năm 1949, Liên Xô chế tạo thành công bom nguyên tử, phá vỡ thế độc quyền vũ khí nguyên tử của Mỹ và ngay năm đó, Liên Xô tuyên bố cấm sử dụng vũ khí nguyên tử một cách vô điều kiện. Năm 1957, Liên Xô phóng thành công vệ tinh nhân tạo đầu tiên của loài người và năm 1961, phóng tàu vũ trụ đưa nhà du hành Gagarin bay vòng quanh trái đất. Với tất cả tiềm lực và sức mạnh của mình, Liên Xô trở thành nước xã hội chủ nghĩa duy nhất có thể đối trọng với Mỹ. Bên cạnh những thành tựu đạt được, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu cũng tồn tại một số hạn chế, ảnh hưởng tới quá trình phát triển của mỗi nước.

Tại châu Á, năm 1949, cách mạng Trung Quốc thành công, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời đã tăng cường lực lượng của hệ thống xã hội chủ nghĩa, có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, đặc biệt là ở Đông Dương. Trong vòng 10 năm đầu xây dựng chế độ mới, tình hình kinh tế, chính trị - xã hội Trung Quốc tương đối ổn định và đạt nhiều thành tựu. Các nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên, Cộng hòa nhân dân Mông Cổ cũng có bước phát triển trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện. Sự lớn mạnh của Liên Xô, Trung Quốc và các nước khác trong hệ thống xã hội chủ nghĩa là nhân tố thúc đẩy sự phát triển của cách mạng thế giới, trở thành chỗ dựa tin cậy cho phong trào giải phóng dân tộc, cho cách mạng Việt Nam. Song, vào những năm cuối của thập niên 50 thế kỷ XX, giữa các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa đã xuất hiện những mâu thuẫn, bất đồng về nhiều vấn đề khác nhau, nhất là về quan điểm chính trị, đặc biệt là mâu thuẫn Liên Xô - Trung Quốc. “Sự phân ly Trung - Xô mới nảy sinh càng làm tồi tệ thêm tình hình bất ổn ở thế giới thứ ba vì những cường quốc đó buộc phải cạnh tranh với nhau để gây ảnh hưởng trong những tình hình cách mạng nhằm duy trì những tiêu chuẩn và tính hợp thức cách mạng của mỗi nước, cả trong nước cũng như ở nước ngoài”(2). Những mâu thuẫn, bất đồng quan điểm ấy chẳng những đã không được khắc phục mà ngày càng trở nên nghiêm trọng, đưa các bên dần đi vào đối đầu, thù địch, dẫn đến sự phân liệt trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Lợi dụng tình hình này, các lực lượng phản cách mạng trên thế giới, đứng đầu là đế quốc Mỹ tìm cách khoét sâu mâu thuẫn, gây thêm chia rẽ, và từ đó, làm suy yếu hệ thống xã hội chủ nghĩa, tác động tiêu cực tới phong trào cách mạng thế giới và phong trào giải phóng dân tộc… Dù vậy, cho đến những năm 50 thế kỷ XX, phong trào giải phóng dân tộc đang trên đà phát triển, làm tan rã từng mảng hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân - đế quốc, đưa nhiều quốc gia bước vào thời kỳ độc lập về chính trị, thoát khỏi tình trạng lệ thuộc về kinh tế. Tháng 4-1955, tại Băngđung (Inđônêxia), 29 nước Á - Phi đã họp và ra Bản tuyên bố gồm 10 nguyên tắc hòa bình, trung lập. Đó là một đóng góp quan trọng vào phong trào chống chủ nghĩa thực dân, củng cố nền độc lập của các nước Á - Phi và bảo vệ hòa bình thế giới. Sau Hội nghị Băngđung, phong trào giải phóng dân tộc phát triển như vũ báo. Từ năm 1954 đến năm 1960, hầu hết các nước Bắc Phi, Tây Phi đều giành được độc lập: Tuynidi (1956), Xuđăng (1956), Marốc (1956), Gana (1957)… Năm 1960, có 17 nước ở châu Phi gianh được độc lập và được gọi là “năm châu Phi”. Ở khu vực Mỹ Latinh, cao trào cách mạng bùng nổ khắp nơi, dưới hình thức các cuộc bãi công của công nhân, đấu tranh giành ruộng đất của nông dân, kinh nghiệm vũ trang của nhân dân. Năm 1959, cách mạng Cuba thắng lợi, mở ra cơn bão táp cách mạng và khu vực Mỹ Latinh trở thành “lục địa bùng cháy”. Nhìn chung, thời kỳ này, cách mạng thế giới đang ở thế tiến công. Tuy nhiên, một số nước sau khi giành được độc lập lại có những khuynh hướng chính trị - xã hội hạn chế, thậm chí ở nhiều nước, giới cầm quyền vẫn tiếp tục đi theo con đường cai trị của thực dân phương Tây. Trước thực tiễn đó, Nhà nước Việt Nam vừa ủng hộ chính sách hòa bình, trung lập để tập hợp lực lượng tiến bộ thế giới, vừa tranh thủ vận động các lực lượng khác nhau cho cuộc đấu tranh của dân tộc. Chính sách tăng cường đoàn kết với các nước Á - Phi đấu tranh vì độc lập dân tộc của Đảng đã từng bước tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của nhiều nước, dẫn đến sự ủng hộ quốc tế rộng lớn. Trong lúc đó, tại các nước tư bản chủ nghĩa, phong trào công nhân, phong trào đấu tranh vì hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội cũng phát triển rộng rãi, thu hút đông đảo quần chúng tham gia. Đó là nhân tố quốc tế hết sức thuận lợi đối với sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam.


(1) Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.21, tr.614.
(2) Thomas J. Mc. Crnick: Nước Mỹ nửa thế kỷ - Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong và sau chiến tranh lạnh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.296-297.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Tám, 2014, 06:46:40 PM
Trước sự lớn mạnh của phong trào cách mạng thế giới, chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quóc Mỹ, tìm mọi cách và sử dụng mọi biện pháp chống phá. Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ là nước có tiềm lực và sức mạnh kinh tế, quân sự lớn nhất thế giới tư bản chủ nghĩa. Khoảng hai thập niên đầu sau chiến tranh, Mỹ là trung tâm kinh tế -tài chính duy nhất trên thế giới, Mỹ giữ vị thế hàng đầu về quấn sự với trên 3.000 căn cứ quân sự lớn nhỏ rải khắp thế giới và nhiều hệ vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại (bom nguyên tử, tên lửa, máy bay ném bom chiến lược tầm xa...). Với ưu thế về sức mạnh kinh tế - quân sự, các nhà lãnh đạo Mỹ đề ra chiến lược toàn cầu nhằm làm bá chủ thế giới với ba mục tiêu cơ bản: ngăn chặn, đẩy lùi, tiến tới tiêu diệt hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, đàn áp phong trào giải phóng dân tộc, phong trào hòa bình dân chủ thế giới, lôi kéo các nước tư bản và tập hợp các lực lượng phản động quốc tế đặt dưới sự chỉ đạo của Mỹ. Từ những năm 50 của thế kỷ XX, Mỹ đẩy mạnh thực hiện chiến lược toàn cầu và xác định Việt Nam là một trong những trọng điểm với quan niệm: Việt Nam là nơi Mỹ phô trương và chứng tỏ ý chí, sức mạnh của mình, qua đó chứng minh cho các nước đồng minh thấy rằng Mỹ đủ khả năng giữ vững cam kết đảm bảo an ninh cho họ(1). Điều đó làm cho đế quốc Mỹ luôn cố gắng với khả năng cao nhất tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, làm cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta diễn ra lâu dài, gian khổ, ác liệt.

Bên cạnh thế giới bị phân chia thành hai cực đối kháng, cũng phải nhìn nhận rằng đã xuất hiện xu thế vừa hợp tác, vừa đấu tranh giữa các cường quốc và xu thế này diễn ra dưới hình hình thức và những nội dung khác nhau, trở thành một trong những nhân tố chi phối quan hệ quốc tế. Trên thực tế, những năm 50 - 60 của thế kỷ XX, giữa các cường quốc trên thế giới như Mỹ, Anh, Pháp, Liên Xô, Trung Quốc… có sự tranh giành ảnh hưởng, đặc biệt là cuộc đấu tranh xóa bỏ ý thức hệ giữa các nước tư bản chủ nghĩa và các nước xã hội chủ nghĩa. Nhưng đồng thời, giữa các nước này cũng có xu hướng hợp tác để giải quyết các vấn đề quốc tế cùng quan tâm nhằm duy trì hòa bình thế giới. Xu thế đó có tác động mạnh đế các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc nói chung, cách mạng Việt Nam nói riêng.

Tình hình chính trị trong khu vực liên quan tới cách mạng Việt Nam cũng có những diến biến phức tạp. Tại Lào, theo Hiệp định Giơnevơ, lực lượng kháng chiến tập kết tại hai tỉnh Sầm Nưa, Phongxalỳ. Sau ngày Hiệp định Giơnevơ được ký kết, Mỹ tìm cách hất cẳng Pháp, tăng cường viện trợ kinh tế và quân sự cho chính phủ phái hữu, âm mưu biến Lào thành thuộc địa kiểu mới. Cuộc đấu tranh giành độc lập ở Lào vì thế diễn ra ngày càng ác liệt. Tại Campuchia, lực lượng kháng chiến không có vùng tập kết nên buộc phải giải tán. Từ năm 1954 đến năm 1970, Chính phủ Campuchia do Quốc vương Xihanúc đứng đầu đã thực hiện đường lối hòa bình, trung lập nhằm đẩy mạnh công cuộc xây dựng kinh tế, văn hóa, giáo dục trong cả nước. Tuy nhiên, nhiều thế lực phản động trong nước được chủ nghĩa đế quốc bên ngoài ủng hộ, nuôi dưỡng vẫn tồn tại và hoạt động ngày càng mạnh nhằm phục vụ cho ý đồ chống phá cách mạng Việt Nam. Một số nước Đông Nam Á khác lại thực hiện đường lối dựa vào viện trợ Mỹ để phát triển đất nước, sẵn sàng hợp tác cùng Mỹ đẩy mạnh cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Ở Việt Nam, cuộc kháng chiến bền bỉ, anh dũng của nhân dân ta mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ đã buộc Chính phủ Pháp phải ký kết Hiệp định Giơnevơ (7-1954), công nhận độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam, rút hết quân viễn chinh về nước. Đây là bước ngoặt quan trọng trong lịch sử đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta. Thắng lợi này mở đường cho cách mạng Việt Nam bước vào một thời kỳ phát triển mới với những điều kiện thuận lợi mới, nhưng cũng đầy những khó khăn, phức tạp. Đất nước tạm thời bị chia cắt thành hai miền với hai chế độ chính trị - xã hội đối lập nhau. Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng; miền Nam vẫn còn dưới sự cai trị của đế quốc thực dân. Đó là đặc điểm lớn nhất của tình hình nước ta từ sau năm 1954, đặt ra cho Đảng Lao động Việt Nam những nhiệm vụ hết sức nặng nề, vừa phải lãnh đạo nhân dân miền Bắc đấu tranh ổn định tình hình, bắt tay xây dựng chế độ mới, vừa lãnh đạo nhân dân miền Nam đấu tranh giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Hòa bình lập lại, miền Bắc phải đối mặt với những khó khăn chồng chất do hậu quả của gần một thế kỷ bị nô dịch và chín năm tàn phá của chiến tranh. 90% dân số miền Bắc vốn sống bàng nghề nông, nhưng nông nghiệp - ngành kinh tế chủ yếu của miền Bắc bị thiệt hại nghiêm trọng: 1.430.000 ha đất bị bỏ hoang, 8 công trình thủy nông lớn và nhiều công trình thủy nông vừa và nhỏ bị phá hủy. Phần lớn ruộng đất chỉ canh tác được một vụ, năng suất thấp, kỹ thuật sản xuất thô sơ, thiên tai liên tiếp. Nông thôn xơ xác, tiêu điều vì địch càn quét, đốt phá. Hòa bình lập lại, nhưng nạn đói vẫn liên tiếp xảy ra. Nền công nghiệp chỉ vẻn vẹn có 20 xí nghiệp công nghiệp với thiết bị cũ kỹ, nhiều thứ đã hư hỏng, những bộ phận còn tốt và tài liệu kỹ thuật quan trọng đều đã bị thực dân Pháp chuyển vào Nam. Tỷ trọng của công nghiệp trong giá trị tổng sản lượng công - nông nghiệp từ 10% năm 1939, tụt xuống còn 1,5% khi miền Bắc được giải phóng. Bên cạnh đó, tình trạng của tiểu - thủ công nghiệp cũng rất sa sút, nhất là không có nguyên liệu sản xuất. Nhiều ngành, nghè thủ công truyền thống bị mai một hoặc mất hẳn. Hệ thống giao thông, bưu điện bị hư hỏng và xuống cấp nghiêm trọng.


(1) Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, đặc biệt từ sau khi cách mạng Trung Quốc thành công, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời (1949) và sau khi cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950 - 1955) kết thúc, vấn đề Việt Nam ngày càng ám ảnh giới lãnh đạo nước Mỹ. Bởi lẽ, là một cường quốc đang theo đuổi chiến lược thống trị toàn cầu, giới lãnh đạo Mỹ quan niệm rằng: “Việc để mất bất cứ một nước nào ở Đông Nam Á vì hành động xâm lược của cộng sản sẽ có một hậu quả tâm lý, chính trị và kinh tế nghiêm trọng. Trong trường hợp thiếu sự phản ứng có hiệu quả và kịp thời, việc mất bất cứ một nước riêng lẻ nào đó chắc chắn sẽ dẫn tới các nước còn lại trong nhóm này quy phục một cách tương đối nhanh chóng hoặc đi theo chủ nghĩa cộng sản”. Trong mắt giới lãnh đạo Mỹ: “ách thống trị của cộng sản... trước mắt sẽ gây nguy hại nghiêm trọng về về lâu dài, nguy hại một cách nguy kích đến lợi ích an ninh quốc gia của Mỹ”. Tuyên bố của Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ về các mục tiêu và đường lối hành động của Mỹ ở Đông Nam Á đầu năm 1952. Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ về chiến tranh xâm lược Việt Nam, Việt Nam Thông tấn xã dịch và phát hành, tháng 8-1971, t.1, tr.39.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Tám, 2014, 06:48:14 PM
Hòa bình lập lại, nhưng tình hình an ninh, chính trị, trật tự và an toàn xã hội trên các địa phương miền Bắc còn rất phức tạp. Trước, trong và sau ngày đình chiến, đối phương cưỡng ép di cư vào Nam hàng chục vạn người, phần lớn là đồng bào theo đạo Thiên Chúa, công chức, nhà buôn, nhà giáo, bác sĩ, nhân viên kỹ thuật… Hàng nghìn gián điệp, mật vụ và tổ chức phản động của nước ngoài cài cắm lại vẫn ngấm ngầm hoạt động. Các toán biệt kích được tung ra miền Bắc phá hoại các cơ sở kinh tế, các công trình công cộng. Ở biên giới phía Bắc, hàng ngàn thổ phỉ được các thế lực phản động tiếp tay hoạt động phá hoại. Sau chiến tranh, nhiều vấn đề xã hội chưa có điều kiện giải quyết. Vấn đề tôn giáo, dân tộc, giai cấp vốn đã phức tạp do chính sách chia rẽ của người Pháp, lúc này càng phức tạp hơn do kẻ thù kích động. Khắc phục hậu quả chiến tranh, ổn định tình hình, xây dựng lại đất nước là sự nghiệp mới mẻ, đầy gian khổ và khó khăn, trong khi hệ thống chính quyền cơ sở còn rất thiếu kinh nghiệm. Trình độ nhận thức và năng lực tổ chức, quản lý kinh tế, quản lý xã hội của cán bộ, đảng viên còn nhiều hạn chế. Đây là những khó khăn to lớn mà miền Bắc phải đối mặt trong những ngày tháng đầu tiên có hòa bình.

Bên cạnh những khó khăn, thách thức, miền Bắc cũng có những thuận lợi cơ bản. Miền Bắc hoàn toàn được giải phóng trở thành hậu phương lớn của cả nước, có quân đội hùng mạnh, chính quyền vững chắc, Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi. Ở miền Nam, nhân dân giác ngộ chính trị cao, đã cùng cả nước làm cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công và kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi. Cách mạng nước ta có một chính đảng vững mạnh, tôi luyện dày dạn và gắn bó máu thịt với nhân dân. Sự nghiệp kháng chiến của Việt Nam được sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân tiến bộ thế giới. Thuận lợi đó, theo thời gian, sẽ ngày càng được nhân lên thành sức mạnh to lớn.

Sau Hiệp định Giơnevơ, miền Nam trở thành chỗ đứng chân của hai tập đoàn tay sai thân Pháp và thân Mỹ, là nơi diễn ra sự tranh giành gay gắt, thậm chí khốc liệt giữa các phe nhóm thân Pháp và thân Mỹ. Do phải lệ thuộc ngày càng nhiều vào Mỹ trong quá trình tiến hành chiến tranh Đông Dương và bị bại trận, bị những khó khăn lớn ở chính quốc Pháp, thực dân Pháp đã dần rút ra khỏi miền Nam nước ta, chuyển giao quyền lực cho đế quốc Mỹ - một cuộc chuyển giao quyền lực “không êm thấm”. Vì thế, ngay từ khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, Mỹ tuyên bố công khai không bị ràng buộc bởi các điều khoản của hiệp định, can thiệp sâu nhằm biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ. Để thực hiện âm mưu cơ bản, lâu dài đó, trước hết Mỹ tập trung nỗ lực giúp chính quyền và quân đội của chế độ Ngô Đình Diệm phá hoại Hiệp định Giơnevơ, loại bỏ các thế lực thân Pháp, nắm trọn quyền thống trị miền Nam. Như vậy, sau ngày Hiệp định Giơnevơ được ký kết, từ chỗ có chính quyền, có quân đội, có vùng giải phóng chúng ta buộc phải tập kết phần lớn cán bộ, bộ đội miền Nam ra miền Bắc, bàn giao vùng giải phóng cho đối phương kiểm soát. Đó là một thay đổi lớn tác động tới tâm tư tình cảm của đồng bào, đồng chí miền Nam, trở thành một trong những khó khăn to lớn mà cách mạng miền Nam phải đối diện. Đi đôi với quá trình hất cẳng Pháp, tiêu diệt các thế lực thân Pháp, Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm đồng thời dồn nỗ lực vào việc đánh phá cơ sở cách mạng, khủng bố nhân dân. Được Mỹ cung cấp viện trợ và cố vấn, chính quyền, quân đội Việt Nam Cộng hòa thẳng tay đàn áp khốc liệt phong trào đấu tranh của nhân dân, trả thù những người tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, những gia đình có người thân đi tập kết; tàn sát cán bộ, đảng viên, ráo riết đánh phá các cơ sở cách mạng. Cách mạng miền Nam tổn thất nặng nề. Từ thành thị tới nông thôn, từ đồng bằng đến rừng núi, từ mũi Cà Mau đến bờ nam sông Bến Hải bao trùm không khí trả thù, khủng bố, ruồng áp căng thẳng. Máu của những đảng viên cộng sản và của đồng bào miền Nam tiếp tục đổ trên đường phố, xóm thôn. Bằng những thủ đoạn dã man, tàn bạo, thâm độc, Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm mưu toan sẽ nhanh chóng tiêu diệt được lực lượng cách mạng và khuất phục được nhân dân ta. Sau chín năm ròng kháng chiến, miền Nam chưa một ngày có hòa bình. Một lần nữa, cách mạng miền Nam lại đứng trước những thử thách vô cùng to lớn, tưởng chừng khó vượt qua.

Như vậy, sau Hiệp định Giơnevơ, tình hình quốc tế và trong nước vừa có thuận lợi vừa có những khó khăn, phức tạp. Đặc điểm lớn nhất, chi phối toàn bộ yêu cầu và nhiệm vụ của cách mạng trong cả nước là đất nước ta tạm thời bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị - xã hội khác nhau. Sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam chưa hoàn thành. Cuộc đấu tranh vì nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, hòa bình chưa kết thúc, mà nó còn phải tiếp tục dưới nhiều hình thức và bằng những phương pháp thích hợp. Cuộc đấu tranh này đặt ra cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta trên cả hai miền Nam - Bắc nhiều vấn đề mới, phức tạp phải giải quyết để đưa sự nghiệp cách mạng tiếp tục tiến lên, đặc biệt phải nhanh chóng đưa ra được đường lối chống Mỹ, cứu nước phù hợp, hiệu quả, phát huy cao độ sức mạnh nội lực, tranh thủ được sự ủng hộ quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại nhằm đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, hoàn thành nhiệm vụ lịch sử đấu tranh giành độc lập, tự do, thống nhất nước nhà.

Khi bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược, chúng ta đã hình thành được một đường lối tương đối hoàn chỉnh: “kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh”. Chính vì thế, ngay từ đầu, toàn dân, toàn quân ta trên mọi miền Tổ quốc bình tĩnh, tự tin kháng chiến dưới ánh sáng của Đảng Lao động Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Còn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, không phải ngay từ đầu, Đảng đã đề ra được đường lối đúng đắn để chỉ đạo kháng chiến, nhất là trong tình hình quốc tế phức tạp, kẻ thù của nhân dân ta là đế quốc Mỹ câu kết chặt chẽ với các thế lực tay sai phản động trong nước theo đuổi chiến lược toàn cầu, đất nước lại bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị - xã hội khác nhau - một đặc điểm chưa có tiền lệ trong lịch sử. Đường lối đúng đắn ấy phải là kết quả của cả một quá trình tính toán, chọn lựa dựa trên cơ sở phân tích, đánh giá đúng toàn bộ những vấn đề liên quan, lường định được khả năng chuyển động của tình hình trong nước, trong khu vực và trên thế giới có tác động tới sự nghiệp kháng chiến của nhân dân ta. Đó còn là kết quả của cả một quá trình đấu tranh gian khổ, trải qua những hạn chế, vấp váp, thậm chí cách mạng miền Nam phải chịu những hy sinh và tổn thất to lớn, vượt qua những tác động tiêu cực từ bên ngoài, đúng như Lênin đã nói: “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết tự vệ, nhưng không phải cách mạng có thể biết ngay được cách tự vệ”(1). Quá trình hình thành đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, vì vậy, quả không hề dễ dàng, đơn giản.


(1) GS, TS. Trung tướng Đ. A. Vôncôgônốp (chủ biên): Học thuyết Mác - Lênin về chiến tranh và quân đội, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1998, tr.66.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Tám, 2014, 06:53:49 PM
Từ tháng 7-1954 đến tháng 7-1956 là khoảng thời gian đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền theo quy định của Hiệp định Giơnevơ. Đảng đề ra nhiệm vụ chung trong thời gian này là: ”đoàn kết và lãnh đạo nhân dân đấu tranh thực hiện Hiệp định đình chiến đề phòng và khắc phục mọi âm mưu phá hoại Hiệp định đình chiến để củng cố hòa bình, ra sức hoàn thành cải cách ruộng đất, phục hồi và nâng cao sản xuất, tăng cường xây dựng quân đội nhân dân để củng cố miền Bắc, giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân miền Nam, đặng củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong toàn quốc” (1). Như vậy, mục đích đấu tranh cuối cùng của nhân dân ta là giành cho được một nước Việt Nam độc lập, hòa bình, thống nhất, dân chủ vẫn luôn luôn là mục tiêu xuyên suốt trong đường lối lãnh đạo cách mạng Việt Nam của Đảng từ khi Đảng ra đời. Thực hiện nhiệm vụ đề ra, nhân dân miền Bắc bắt tay ngay vào công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, ổn định tình hình. Nền kinh tế miền Bắc chủ yếu dựa vào nông nghiệp nên Đảng chủ trương ưu tiên phát triển sản xuất nông nghiệp, vì đó “là vấn đề then chốt, là cơ sở của việc cải thiện, đời sống nhân dân, đảm bảo lương thực cho nhân dân, phồn thịnh kinh tế, mở rộng việc giao lưu hàng hóa”(2). Nhờ các chủ trương, biện pháp kịp thời, hiệu quả mà sản xuất nông nghiệp miền Bắc có tốc độ phục hồi và phát triển nhanh chóng. Các ngành kinh tế khác cũng dần được phục hồi, phát triển. Về ngoại giao, Đảng đề ra những phương hướng lớn(3) làm cơ sở cho quan hệ quốc tế của Đảng và Nhà nước ta, trong đó nhiệm vụ của ngoại giao trước mắt là nhằm xây dựng và đề cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, tranh thủ sự ủng hộ của Việt Nam trên trường quốc tế, tranh thủ sự ủng hộ của các lực lượng hòa bình, tiến bộ trên thế giới đối với sự nghiệp xây dựng ở miền Bắc và đấu tranh thi hành Hiệp định Giơnevơ ở miền Nam(4). Đối với cách mạng Việt Nam ở miền Nam, ngay từ tháng 7-1954, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp Hội nghị lần thứ 6, đánh giá sự chuyển biến tình hình, đề ra nhiệm vụ mới, quyết định chủ trương, phương châm, sách lược đấu tranh của cách mạng. Hội nghị chỉ rõ: “Đế quốc Mỹ là một trở lực chính ngăn cản việc lập lại hòa bình ở Đông Dương. Chúng đang ráo riết xúc tiến việc thành lập khối xâm lược Đông Nam Á, dùng Đông Dương làm bàn đạp để mở rộng chiến tranh xâm lược. Vì vậy, đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới, và hiện đang trở thành kẻ thù chính trực tiếp của nhân dân Đông Dương(5). Từ đó, Hội nghị khẳng định nhiệm vụ trước mắt của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta là: “chĩa mũi nhọn đấu tranh vào đế quốc Mỹ và hiếu chiến Pháp, dựa trên cơ sở những thắng lợi đã đạt được mà phấn đấu để thực hiện hòa bình ở Đông Dương, phá tan âm mưu của đế quốc Mỹ kéo dài và mở rộng chiến tranh Đông Dương, củng cố hòa bình và thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong toàn quốc”(6). Đảng đề ra phương pháp đấu tranh là “dùng phương pháp thương lượng để lập lại hòa bình ở Đông Dương”(7), chuyển từ đấu tranh vũ trang chống Pháp sang đấu tranh chính trị đòi đối phương thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ, cải thiện dân sinh, dân chủ.

Về phía Mỹ, sau khi đưa Ngô Đình Diệm lên nắm quyền, Mỹ đã tiến hành một loạt các biện pháp đi ngược lại Hiệp định Giơnevơ được ký kết (21-7-1954). Ngoại trưởng Mỹ Đalét đã tuyên bố: Từ nay về sau, vấn đề bức thiết không phải là than tiếc dĩ vãng, mà là lợi dụng thời cơ để việc thất thủ miền Bắc Việt Nam không mở đường cho chủ nghĩa cộng sản bành trướng ở Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương. Tháng 9-1954, Mỹ lôi kéo một số nước đồng minh lập ra khối Liên minh quân sự Đông Nam Á (SEATO) và ngang nhiên đặt Nam Việt Nam dưới sự bảo trợ của khối này. Tháng 11-1954, Mỹ cử tướng Côlin sang làm Đại sứ Mỹ ở miền Nam Việt Nam, mang theo bản kế hoạch vạch ra từ Oasinhtơn nhằm đẩy mạnh chiến tranh xâm lược(8). Được sự chỉ đạo của Mỹ, Ngô Đình Diệm tập hợp lực lượng, hình thành một chính quyền độc tài, gia đình trị, thân Mỹ. Tháng 8-1954, Ngô Đình Diệm lập Đảng Cần lao nhân vị do người em trai là Ngô Đình Nhu cầm đầu. Tháng 10-1954, Ngô Đình Diệm tổ chức Phong trào cách mạng quốc gia với mục tiêu hoạt động được xác định là “chống cộng, đả thực, bài phong”, “chống cộng” là tiêu diệt lực lượng cộng sản, lực lượng kháng chiến chống Pháp cũ; “đả thực” là gạt hết lực lượng thân Pháp và ảnh hưởng của Pháp để Mỹ độc chiếm miền Nam, “bài phong” là phế truất Bảo Đại và các thế lực phong kiến để Ngô Đình Diệm nắm quyền. Trên thực tế, sau ngày Hiệp định Giơnevơ được ký kết, Mỹ - Diệm xúc tiến các hành động phá bỏ trắng trợn hiệp định: tháng 10-1955, tổ chức “cuộc trưng cầu dân ý” để phế truất Bảo Đại và suy tôn Ngô Đình Diệm lên làm “thống thống” của “chế độ cộng hòa”; tháng 3-1956, tổ chức bầu cử Quốc hội lập hiến, tháng 10-1956, ban hành bản Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa. Song song với các hành động này, chính quyền Diệm từ chối tiếp xúc với đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để bàn hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Đến thời hạn hai năm, tháng 7-1956, Ngô Đình Diệm thẳng thừng cự tuyệt hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Đồng thời, từ giữa năm 1955, chính quyền Diệm đẩy mạnh đàn áp cách mạng trên toàn miền Nam. Chúng phát động chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” giai đoạn 1 (5-1955 - 5-1956), mở cuộc hành quân càn quét, bắt bớ, giết hại nhiều cán bộ, đảng viên cùng đồng bào vô tội với những hình thức giết người man rợ thời trung cổ (mổ bụng, moi gan, cắt tay chân, móc mắt, chặt đầu…) hòng khuất phục nhân dân ta.


(1), (2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.15, tr.287, 294-295.
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.15, tr.287, 294-295.
(3), (4)  Bao gồm sáu phương hướng lớn: 1 - Đấu tranh thi hành Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương; 2 - Xây dựng quan hệ đoàn kết, hợp tác toàn diện và chặt chẽ giữa Việt Nam với Liên Xô, Trung Quốc và các nước khác trong phe xã hội chủ nghĩa, cũng như góp phần củng cố đoàn kết và hợp tác giữa các nước trong cộng đồng xã hội chủ nghĩa; 3 - Tăng cường đoàn kết và hợp tác trong phòng trào cộng sản và công nhân quốc tế; 4 - Xây dựng quan hệ hữu nghị với hai chính phủ Vương quốc Lào và Campuchia theo nguyên tắc chung sống hòa bình, thúc đẩy quan hệ hợp tác với Chính phủ Pháp, tăng cường quan hệ đoàn kết và hữu nghị với nhân dân Pháp; 5 - Tăng cường tình đoàn kết chiến đấu với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Á - Phi, tăng cường quân hệ hữu nghị và hợp tác với các nước vừa giành được độc lập; 6 - Tích cực tham gia phong trào của các lực lượng tiến bộ trên thế giới, đấu tranh bảo vệ hòa bình thế giới, chống các lực lượng đế quốc thực dân hiếu chiến, ủng hộ cuộc đấu tranh vì các quyền dân sinh, dân chủ và tiến bộ xã hội, Xem Ngoại giao Việt Nam (1945 - 2000), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 168-169.
(5), (6), (7) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.15, tr.225.
(8) Bản kế hoạch gồm sáu điểm chính:
- Tìm cách hất cẳng Pháp và các lực lượng thấp Pháp nhằm độc chiếm miền Nam Việt Nam.
- Tiêu diệt lực lượng cộng sản, lực lượng kháng chiến, phá hoại Hiệp định Giơnevơ, chia cắt lâu dài đất nước Việt Nam.
- Ra sức giúp đỡ Ngô Đình Diệm xây dựng được một chính quyền “hợp pháp”, “hợp hiến”, đứng vững được về mặt chính trị, quân sự, kinh tế.
- Giúp đỡ trang bị, huấn luyện để xây dựng một quân đội của Diệm đủ mạnh nhằm đủ sức đương đầu với thách thức của cộng sản.
- Đẩy mạnh cải cách kinh tế, biến miền Nam Việt Nam thành thị trường tiêu thụ của Mỹ.
- Dành ưu tiên cho hàng hóa Mỹ và thực hiện việc phát triển kinh tế miền Nam Việt Nam.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Tám, 2014, 06:56:04 PM
Trước tình hình đó, Hội nghị Trung ương lần thứ 7 (3-1955) và Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (8-1955) xác định cuộc đấu tranh của nhân dân ta vì hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ là cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, trong cuộc đấu tranh đó, điều cốt lõi là phải ra sức củng cố miền Bắc, vì “Muốn củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong toàn quốc, chúng ta phải có lực lượng. Lực lượng của ta bao gồm toàn quốc, nhưng chủ yếu là ở miền Bắc. Muốn có lực lượng phải ra sức củng cố miền Bắc”(1). Trong khi xác định vai trò, vị trí của miền Bắc, Hội nghị Trung ương 7 và 8 cũng nhấn mạnh nhiệm vụ đồng thời giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam. Từ rất sớm, Đảng đã nhận thức đầy đủ vai trò của miền Bắc, coi miền Bắc là chỗ đứng, là cơ sở, là nền, là gốc của cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. Vì thế, nếu không củng cố miền Bắc, chúng ta sẽ không có lực lượng để đấu tranh buộc đối phương phải tôn trọng những điều khoản của hiệp định và cũng không có lực lượng để ủng hộ miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà. Củng cố miền Bắc tức là bồi dưỡng lực lượng cơ bản của chúng ta. Vấn đề củng cố miền Bắc trở thành một trong những nhiệm vụ chiến lược trọng yếu của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Bên cạnh đó, Trung ương Đảng đồng thời xác định rõ tầm quan trọng của nhiệm vụ đấu tranh ở miền Nam cũng như mối quan hệ giữa nhiệm vụ củng cố miền Bắc và chiếu cố miền Nam: “để lợi cho việc tranh thủ rộng rãi trong toàn quốc đặng thực hiện thống nhất nước nhà, phải luôn luôn chiếu cố miền Nam. Củng cố miền Bắc và chiếu cố miền Nam không thể tách rời”: “Cần khắc phục tư tưởng sai lầm rằng: để chiếu cố miền Nam nên hạ thấp yêu cầu củng cố miền Bắc, hoặc chỉ biết củng cố miền Bắc mà không chú ý chiếu cố miền Nam”(2).

Giữa năm 1956, đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn công khai từ chối hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Chúng triển khai thực hiện giai đoạn II “tố cộng, diệt cộng”, đánh phá có chiều sâu, hòng quét sạch cơ sở đảng với những khẩu hiệu: “Tiêu diệt nội tuyến, diệt trừ nội tâm”, “đạp lên oán thù để thực thi dân chủ, nhân vị quốc gia”. Với sắc lệnh “đặt Đảng Cộng sản ra ngoài vòng pháp luật” (5-1957), nhiều biện pháp quyết liệt được áp dụng: Tổ chức học tập “tố cộng” rộng rãi trong nhân dân, trong chính quyền; phân loại quần chúng để phát hiện cơ sở đảng, tận dụng bọn đầu hàng, đầu thú, bọn gián điệp nằm vùng để chỉ điểm truy lùng cán bộ... Chúng cưỡng bức nhân dân “tố giác tội ác của cộng sản”, gây căm thù đối với cộng sản, cô lập cán bộ, chia rẽ Đảng với quần chúng nhân dân... Ngoài ra, Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm còn tập trung lực lượng mở nhiều đợt càn quét, khủng bố, tàn sát đẫm máu nhân dân. Nhiều chiến dịch dài ngày diễn ra trên diện rộng, có trọng điểm, nhất là các chiến khu của ta như chiến dịch Thoại Ngọc Hầu (6-1956 - 10-1956) ở 18 tỉnh miền Tây Nam Bộ, chiến dịch Trương Tấn Bửu (7-1956 - 12-1956) ở miền Đông Nam Bộ và giáp biên giới Campuchia. Ở vùng miền núi thuộc cực Nam Trung Bộ, chúng thi hành chính sách “lấy người dân tộc trị người dân tộc” với những trận càn quét kéo dài liên miên. Sự khủng bố điên cuồng của Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã làm cho tình hình miền Nam luôn luôn căng thẳng, nhiều cơ sở đảng bị phá vỡ, hàng vạn quần chúng, đảng viên bị giết hại, bị bắt giam. Cách mạng miền Nam chịu tổn thất nặng nề.

Tình hình trên cho thấy rằng: khả năng thực hiện điều khoản chính trị của Hiệp định Giơnevơ không còn tồn tại nữa. Nhân dân miền Nam không thể chỉ sử dụng đấu tranh chính trị trong khi Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm đã dùng bạo lực phản cách mạng để đàn áp phong trào cách mạng. Nhân dân miền Nam phải vũ trang đứng lên chống lại kẻ thù.

Trước tình hình đó, tháng 6-1956, Bộ Chính trị ra nghị quyết xác định tính chất và nhiệm vụ cách mạng miền Nam: “Tính chất cuộc vận động cách mạng của ta ở miền Nam là dân tộc và dân chủ. Nhiệm vụ cách mạng của ta ở miền Nam là phản đế và phản phong kiến”(3). Nghị quyết cũng chỉ rõ rằng, tuy hình thức đấu tranh của chúng ta trong cả nước hiện nay là đấu tranh chính trị, nhưng như thế không có nghĩa là không dùng vũ trang tự vệ trong những hoàn cảnh nhất định. Vì thế, cần “củng cố các lực lượng vũ trang và bán vũ trang hiện có và xây dựng căn cứ làm chỗ dựa. Đồng thời xây dựng cơ sở quần chúng vững mạnh làm điều kiện căn bản để duy trì và phát triển lực lượng vũ trang”(4). Nhấn mạnh đến sự cần thiết phải duy trì, phát triển lực lượng vũ trang. Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 6-1956 thể hiện bước phát triển mới trong đường lối và phương pháp cách mạng miền Nam.


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.16, tr.135.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.16, tr.485.
(3), (4) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.17, tr.224, 228.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Tám, 2014, 07:00:02 PM
Trước hành động của kẻ thù từ chối tổng tuyển cử tự do trong toàn quốc như Hiệp định Giơnevơ đã quy định, ngày 6-7-1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn thể đồng bào quyết tâm đoàn kết rộng rãi và chặt chẽ, ra sức bền bỉ đấu tranh cho một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Người khẳng định: “Đại đoàn kết là một lực lượng tất thắng. Nhờ đại đoàn kết mà cách mạng đã thắng lợi, kháng chiến đã thành công. Nay chúng ta đại đoàn kết thì cuộc đấu tranh chính trị của chúng ta nhất định thắng lợi, nước nhà nhất định thống nhất”(1). Trên cơ sở thực tiễn, cách mạng miền Nam, tháng 8-1956, đồng chí Lê Duẩn - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Xứ ủy Nam Bộ đã soạn thảo Đề cương cách mạng miền Nam. Đề cương cách mạng miền Nam xác định rõ tính chất của xã hội miền Nam, bản chất độc tài phát xít của chế độ Mỹ và chính quyền Sài Gòn, chỉ ra kẻ thù chính của dân tộc ta lúc này là đế quốc Mỹ và bọn tay sai Ngô Đình Diệm. Trên cơ sở đó, Đề cương cách mạng miền Nam đã chỉ rõ ba nhiệm vụ chính làm đường lối chung cho toàn bộ công tác cách mạng của toàn quốc:

“1. Củng cố thật vững chắc miền Bắc,

2. Đẩy mạnh phong trào cách mạng miền Nam,

3. Tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hòa bình, dân chủ, độc lập dân tộc trên thế giới”(2).

Đề cương cách mạng miền Nam nói rõ, sở dĩ phải thực hiện các nhiệm vụ nêu trên, vì củng cố miền Bắc, thật vững mạnh mới đảm đương được nhiệm vụ “làm hậu thuẫn cho phong trào cách mạng giải phóng miền Nam”, còn đẩy mạnh cuộc đấu tranh ở miền Nam, vì đồng bào miền Nam đang rên xiết dưới ách thống trị tàn bạo của chế độ Mỹ và chính quyền Sài Gòn để giải phóng mình, “nhân dân miền Nam chỉ có con đường cứu nước và tự cứu mình, là con đường cách mạng. Ngoài con đường cách mạng không có con đường nào khác”(3). Đề cương cách mạng miền Nam đồng thời khẳng định sự cần thiết phải tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân tiến bộ thế giới, vì đương đầu với thế lực phản động mạnh nhất thời đại, cuộc đấu tranh của nhân dân ta là một bộ phận của phong trào nhân dân tiến bộ trên thế giới, “do đó mà ta được thêm sức mạnh, địch sẽ bị cô lập và yếu thế, ta có thêm điều kiện thuận lợi để thắng địch, để hoàn thành sự nghiệp giải phóng hoàn toàn dân tộc ta” (4). Bên cạnh đó, Đề cương cách mạng miền Nam cũng khẳng định mối liên hệ gắn bó không thể tách rời giữa ba nhiệm vụ: “Ba nhiệm vu ấy không thể tách rời nhau được, ba nhiệm vụ ấy liên quan mật thiết với nhau. Có làm tròn ba nhiệm vụ ấy, cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân ta mới đi đến thành công”(5).

Với những quan điểm, tư tưởng cách mạng đúng đắn, những nội dung, nhiệm vụ cụ thể sát với tình hình thực tiễn, giải quyết những vấn đề nóng bỏng của thực tiễn, đáp ứng yêu cầu cách mạng cả nước và cách mạng miền Nam, Đề cương cách mạng miền Nam đã kịp thời hướng dẫn, chỉ đạo trực tiếp đối với phong trào cách mạng miền Nam đang có nhiều khó khăn, biến động lớn, là cơ sở để Đảng Lao động Việt Nam tiếp tục xác định, cụ thể hóa đường lối và phương pháp cách mạng miền Nam trong thời kỳ mới. Trong khi cuộc đấu tranh của nhân dân ta ở miền Nam đang trải qua những ngày tháng cực kỳ gian khổ, khó khăn, thì tình hình quốc tế liên quan tới sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước diễn biến phức tạp. Liên Xô tiếp tục theo đuổi chính sách hòa hoãn, cùng tồn tại hòa bình và giữ nguyên hiện trạng Việt Nam. Trong khi đó, Trung Quốc kiên trì thuyết phục Việt Nam “trường kỳ mai phục”. Tháng 11-1956, Chủ tịch Mao Trạch Đông nói với các nhà lãnh đạo Việt Nam: “Tình trạng nước Việt Nam bị chia cắt không thể giải quyết được trong một thời gian ngắn mà cần phải trường kỳ… Nếu 10 năm chưa được thì phải 100 năm”(6). Quan điểm của Liên Xô, Trung Quốc đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước vì thế là một trở ngại đối với quá trình hoạch định đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của chúng ta. Vấn đề đặt ra lúc này là phải tìm ra đường lối và phương pháp đúng đắn, phù hợp để vừa đáp ứng được đòi hỏi bức xúc của đồng bào, chiến sĩ miền Nam, bảo vệ vững chắc miền Bắc, giữ vững hòa bình thế giới, vừa tranh thủ được sự đồng tình của dư luận thế giới, sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, trước hết là Liên Xô, Trung Quốc… Đặt trong bối cảnh lúc bấy giờ, đây quả thật là một thách thức lớn, đòi hỏi bộ não chỉ đạo cách mạng Việt Nam phải có những tính toán, cân nhắc rất cẩn trọng “đường đi nước bước” cho sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.17, tr.277.
(2), (3)Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.17, tr.784, 785.
(4), (5) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.17, tr.785-786
(6) Sự thật về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trong 30 năm qua, Nxb. Sự thật, Hà Nôi, 1981, tr.37.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Tám, 2014, 07:06:47 PM
Với những kinh nghiệm thực tiễn phong phú, có những phát hiện liên quan tới đường lối, phương pháp cách mạng Việt Nam ở miền Nam, năm 1957, đồng chí Lê Duẩn được triệu tập ra miền Bắc và được phân công phụ trách những trọng trách cao trong Đảng. Trên cương vị của mình, đồng chí cùng các đồng chí trong Bộ Chính trị tiếp tục quá trình nghiên cứu, xác định đường lối cách mạng miền Nam. Tháng 12-1957, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 13, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “ta đang đồng thời chấp hành hai chiến lược cách mạng: cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa và riêng ở miền Bắc mà nói thì nhiệm vụ dân tộc dân chủ nhân dân đã căn bản hoàn thành, cách mạng đã chuyển sang một giai đoạn mới, giai đoạn xã hội chủ nghĩa”(1). Về mối quan hệ giữa cách mạng hai miền, Người chỉ ra rằng: “Hai nhiệm vụ cách mạng nói trên đều quan trọng; coi nhẹ một nhiệm vụ nào cũng đều sai lầm. Tuy vậy, nhiệm vụ củng cố miền Bắc, đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội có tính chất quyết định cho toàn bộ thắng lợi của cách mạng giai đoạn mới”(2). Việc nâng nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam lên ngang hàng nhiệm vụ cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đặt hai nhiệm vụ chiến lược đó trong quan hệ khăng khít là bước phát triển mới trong quá trình hoạch định đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, độc lập, tự chủ của Đảng Lao động Việt Nam.

Như vậy, trong những năm đầu miền Bắc giải phóng còn bộn bề khó khăn, trước những yêu cầu mới của cách mạng Việt Nam, Đảng đã phân tích điều kiện thực tiễn của đất nước, tình hình thế giới một cách bình tĩnh, khách quan, khoa học, để có đường lối chiến lược, đối sách thích hợp. Lúc này, Đảng chủ trương tạm thời giữ cách mạng miền Nam ở thế giữ gìn lực lượng, đấu tranh đòi Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa thực hiện những điều khoản cơ bản của Hiệp định Giơnevơ, từng bước hiệp thương thống nhất đất nước bằng phương pháp hòa bình. Có thể thấy rằng, không một giây buông lơi quyết tâm thống nhất đất nước, Đảng và Nhà nước Việt Nam ý thức hơn ai hết, lúc này, cuộc đấu tranh ở Việt Nam không đơn thuần chỉ mang ý nghĩa của một cuộc chiến tranh cục bộ, mà ngày càng mang ý nghĩa của sự đối đầu mang tính chất quốc tế. Việt Nam đã và đang trở thành điểm nhạy cảm trong quan hệ của các nước, đặc biệt là của các cường quốc. Muốn đương đầu với đế quốc Mỹ, chiến đấu và chiến thắng chúng, Việt Nam cần nắm bắt các xu hướng vận động của thế giới, của các mối quan hệ quốc tế, đánh giá tình hình trong nước, để trong từng bước đi, trong từng bước phát triển của cách mạng Việt Nam có những quyết sách kịp thời.

Sau năm năm đấu tranh gay go và quyết liệt (1954 - 1959), tình hình miền Nam ngày càng trở nên căng thẳng bởi hành động phá hoại Hiệp định Giơnevơ, cự tuyệt hiệp thương thống nhất Việt Nam của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Những năm tháng ấy, đồng bào miền Nam phải chịu đựng biết bao đau thương và tổn thất, hàng ngàn xóm làng bị đối phương đốt phá, hàng chục vạn cán bộ, đảng viên bị giam cầm, tra tấn và giết hại, nhưng lòng yêu nước và ý chí chiến đấu của đồng bào ta không hề bị giảm sút, phong trào phát triển ngày càng mạnh. Năm 1957, có 2 triệu lượt người tham gia đấu tranh chính trị, đến năm 1958, có 3,7 triệu và sang năm 1959, đã lên tới gần 5 triệu. Trong khi đó, cuộc đấu tranh vũ trang tự vệ, trừ gian, diệt ác cũng được đẩy mạnh và nhiều đơn vị vũ trang cách mạng đã ra đời. Trải qua đấu tranh, cán bộ, đảng viên và đồng bào ta được tôi luyện, phong trào cách mạng tuy phải trải qua những thử thách cực kỳ nghiêm trọng, song vẫn được giữ vững. Lúc này, chế độ thống trị Mỹ - chính quyền Ngô Đình Diệm lâm vào một cuộc khủng hoảng sâu sắc. Đông đảo nhân dân ta ở miền Nam ngày càng thấy rõ không thể nào kéo dài cuộc sống tù ngục dưới chế độ Mỹ - chính quyền Ngô Đình Diệm hơn nữa, quyết tâm vùng lên đấu tranh một mất, một còn với chúng. Điều kiện đã chín muồi để chuyển cách mạng từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công. Bắt mạch được tình hình đó, tháng 1-1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 15 (khóa II) dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh,để xác định đường lối cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới. Hội nghị đã ra nghị quyết lịch sử, chỉ rõ: “Do sự can thiệp của đế quốc Mỹ vào miền Nam, nước ta tạm thời chia làm hai miền: miền Bắc đã được giải phóng và độc lập hoàn toàn, còn miền Nam vẫn là một thuộc địa (kiểu mới) của đế quốc Mỹ”(3). Đế quốc Mỹ thông qua chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm để thực hiện chính sách thực dân của mình. Thành phần cốt cán trong chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm là những phần tử phong kiến, tư sản mại bản phản động nhất và những phần tử lưu manh côn đồ phản bội, quyết tâm làm tay sai cho đế quốc Mỹ, nhằm chia cắt đất nước ta lâu dài. Song, nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, nhân dân Việt Nam quyết không chịu làm nô lệ và đứng lên tranh đấu đến cùng, giải phóng đất nước, thống nhất non sông. Những đặc điểm tình hình trên đây làm nổi bật lên hai mâu thuẫn cơ bản mà cách mạng Việt Nam phải giải quyết:

“1. Mâu thuẫn giữa một bên là chủ nghĩa đế quốc xâm lược, giai cấp địa chủ phong kiến, và bọn tư sản mại bản quan liêu thống trị ở miền Nam và một bên là dân tộc Việt Nam, nhân dân cả nước Việt Nam, bao gồm nhân dân miền Bắc và nhân dân miền Nam.

2. Mâu thuẫn giữa con đường xã hội chủ nghĩa và con đường tư bản chủ nghĩa ở miền Bắc”(4).


(1), (2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.18, tr.771-772, 773
(3), (4) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.20, tr.59, 60.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Tám, 2014, 07:10:33 PM
Nghị quyết cũng chỉ rõ rằng, đó là hai mâu thuẫn mang tính chất khác nhau, nhưng có quan hệ biện chứng với nhau và tác động mạnh mẽ lẫn nhau. Những mâu thuẫn này thể hiện sự đối kháng gay gắt giữa một bên là lực lượng của dân tộc Việt Nam mong muốn hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và một bên là thế lực đế quốc, tay sai gây chiến và chia cắt đất nước ta; đồng thời, thể hiện sự đối kháng gay gắt giữa lực lượng xã hội chủ nghĩa, độc lập dân tộc, hòa bình, dân chủ trên thế giới với thế lực đế quốc hiếu chiến, xâm lược do đế quốc Mỹ cầm đầu ở khu vực Đông Nam Á và Thái Bình Dương.

Căn cứ vào phân tích trên đây, Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhận định rằng, hiện nay, cách mạng Việt Nam do Đảng lãnh đạo, có hai nhiệm vụ chiến lược: “Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Hai nhiệm vụ chiến lược đó tuy tính chất khác nhau, nhưng quan hệ hữu cơ với nhau, nhằm phương hướng chung là giữ hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà, tạo điều kiện thuận lợi để đưa cả nước Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội”(1), trong đó, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là củng cố và phát huy thắng lợi đã giành được, là xây dựng cơ sở vững chắc để thực hiện thống nhất nước nhà, còn tiếp tục cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đánh đổ chế độ đế quốc và nửa phong kiến ở miền Nam là nhằm đáp ứng yêu cầu khách quan của cách mạng Việt Nam ở miền Nam, là giải phóng nhân dân miền Nam, đồng thời cũng là vì yêu cầu của cách mạng cả nước là phải tích cực chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn để bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa - cơ sở vững chắc của công cuộc thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước. Đó chính là “quan hệ biện chứng giữa công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và thực hiện hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước, giữa sự nghiệp hòa bình thống nhất nước nhà và cuộc đấu tranh cách mạng đánh đổ ách thống trị của Mỹ - Diệm ở miền Nam”(2).

Quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về bạo lực cách mạng, đồng thời căn cứ vào thực tiễn cách mạng miền Nam, Nghị quyết 15 đã xác định những vấn đề cơ bản của cách mạng miền Nam. Nghị quyết khẳng định: Miền Nam dưới ách thống trị của Mỹ - chính quyền Ngô Đình Diệm là một chế độ cực kỳ phản động và tàn bạo, cho nên ngoài con đường đấu tranh cách mạng, nhân dân miền Nam không có con đường nào khác để tự giải phóng khỏi xiềng xích nô lệ. Con đường phát triển cơ bản của cách mạng miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Con đường đó là lấy sức mạnh của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang nhân dân đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến. Như vậy, Nghị quyết 15 chủ trương lấy sức mạnh bạo lực cách mạng của quần chúng để đánh đổ ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thành lập chính quyền cách mạng nhân dân; khẳng định cuộc khởi nghĩa của nhân dân miền Nam có khả năng chuyển thành cuộc chiến tranh cách mạng lâu dài, nhưng thắng lợi cuối cùng nhất định sẽ về ta.

Nghị quyết 15 có ý nghĩa lịch sử to lớn, đã chỉ ra một cách toàn diện con đường tiến lên của cách mạng miền Nam, nhằm giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Nghị quyết 15 ra đời với đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, đáp ứng nhu cầu bức thiết của cách mạng miền Nam, làm xoay chuyển tình thế và mở đường cho cách mạng miền Nam tiến lên. Nghị quyết đáp ứng nguyện vọng tha thiết của đồng bào miền Nam, là ngọn cờ tập hợp đông đảo nhân dân miền Nam đứng lên đập tan xiềng xích nô lệ, giành quyền làm chủ. Với nghị quyết 15, cách mạng miền Nam đã có một bước chuyển căn bản về chất. Dưới ánh sáng của nghị quyết, ngọn lửa cách mạng âm ỉ suốt nhiều năm đã bùng lên thành cuộc Đồng khởi trên quy mô rộng lớn, tạo nên một bước chuyển mới có tính chất nhảy vọt của cách mạng miền Nam. Từ cuối năm 1959 đến đầu năm 1960, đồng bào ta đã dùng bạo lực cách mạng bất ngờ tiến công dồn dập và mãnh liệt vào khâu yếu nhất của đối phương là vùng rừng núi miền Trung Trung Bộ. Đặc biệt, làn sóng nổi dậy đồng loạt nhanh chóng lan rộng và dâng cao ở các tỉnh Nam Bộ. Nhân dân vùng lên diệt ác ôn, chính quyền Sài Gòn cùng bộ máy kìm kẹp ở thôn, xã, làm chủ được nhiều khu vực ở rừng núi và nông thôn nằm sâu phía sau lưng đối phương. Đồng bào ở những nơi đó nô nức thành lập chính quyền cách mạng, xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang chống lại các cuộc phản kích của đối phương, tạo nên một hình thức căn cứ địa, có nơi hình thành thế liên hoàn bao gồm các vùng giải phóng và vùng du kích. Phong trào đấu tranh chính trị bền bỉ từ những năm trước được phong trào Đồng khởi cổ vũ càng trở nên mạnh mẽ: năm 1960, có hơn 10 triệu lượt người và năm 1961 đã lên tới 33 triệu lượt người tham gia các cuộc đấu tranh. Trong cao trào cách mạng, ngày 20-12-1960, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ra đời, đánh dấu một thời kỳ mới - thời kỳ cách mạng miền Nam chuyển hẳn sang thế tiến công mạnh mẽ, rộng khắp và liên tục. Phong trào Đồng khởi thực chất là những cuộc khởi nghĩa từng phần của nhân dân để giành quyền làm chủ ở từng địa phương thuộc vùng nông thôn miền núi và đồng bằng, đã giáng cho Mỹ và chính quyền Sài Gòn một đòn nặng, đẩy chúng vào một thời kỳ khủng hoảng nghiêm trọng và triền miên. Đến đây, âm mưu của đế quốc Mỹ muốn nhanh chóng “bình định” miền Nam bằng quốc sách “tố cộng, diệt cộng” đã bị thất bại.


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.20, tr.62.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.20, tr.62.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Tám, 2014, 07:12:26 PM
Tháng 1-1961, G. Kennơđi lên thay Đ. Aixenhao làm Tổng thống Mỹ đã tuyên bố: sẽ trả bất cứ giá nào, đương đầu với bất cứ khó khăn nào để giữ bằng được miền Nam Việt Nam. Ỷ vào sức mạnh quân sự, đế quốc Mỹ đã ngang nhiên tăng cường can thiệp vũ trang, lấy miền Nam Việt Nam làm nơi thí điểm cho cái gọi là chiến trang đặc biệt, một bộ phận quan trọng của chiến lược “phản ứng linh hoạt” - chiến lược quân sự toàn cầu của Mỹ trong những năm 60 của thế kỷ XX. Có thể nói, cuộc chiến tranh xâm lược mà Mỹ đã phát động ở miền Nam nước ta là cuộc phản công lớn nhất của chủ nghĩa đế quốc chĩa vào các lực lượng cách mạng kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Trước sự ngang nhiên, trắng trợn đó của đế quốc Mỹ, trước khả năng chiến tranh lan rộng và ngày càng trở nên khốc liệt, nhiệm vụ cấp bách lúc này đặt ra cho cách mạng Việt Nam, cho bộ não lãnh đạo cách mạng Việt Nam là phải nhanh chóng hoàn thiện đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhằm định hướng, chỉ đạo cách mạng Việt Nam tiến lên hoàn thành mục tiêu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, giành độc lập, tự do, hòa bình một cách thực sự.

Tựu trung lại, trong những năm 1954 - 1959, ngay sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng và đến khi phong trào Đồng khởi bùng nổ và lan rộng mạnh mẽ, Đảng Lao Động Việt Nam đã bám sát tình hình thực tiễn, những diễn biến, sự vận động nội tại của phong trào cách mạng Việt nam và trên thế giới, phân tích âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, phân tích so sánh lực lượng giữa ta và đối phương, để đưa ra những quyết sách lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong điều kiện vừa có những thuận lợi cơ bản, song cũng có những thách thức, khó khăn vô cùng to lớn. Trong từng bước đi lên của cách mạng, Đảng đã kịp thời xác định những vấn đề cơ bản ảnh hưởng đến thành bại của cách mạng, đã xác định mục tiêu, nhiệm vụ, phương hướng chiến lược và sách lược cho cách mạng cả nước, cũng như cách mạng từng miền. Đó là mục tiêu bất di, bất dịch thực hiện hòa bình, dân chủ, độc lập, tự do trong cả nước. Trong chiến lược chung ấy, thực hiện củng cố miền Bắc thành nền tảng vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà được coi là nhiệm vụ quan trọng, phải thực hiện đồng thời với nhiệm vụ đánh đổ Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Đó đồng thời cũng là những nhận thức quan trọng được Đảng đúc rút qua quá trình tìm tòi, tổng kết thực tiễn những năm tháng đấu tranh gian khổ và hy sinh xương máu 1954 - 1959, trở thành cơ sở để Đảng hoạch định đường lối cứu nước độc lập, tự chủ, nhằm hoàn thành mục tiêu thiêng liêng của dân tộc: giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, thực hiện chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

Bước sang năm 1960, về căn bản, miền Bắc nước ta đã hoàn thành nhiệm vụ còn lại của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đánh đổ giai cấp địa chủ, phong kiến, giải phóng và thực hiện các quyền dân chủ về ruộng đất cho người nông dân; tiến hành khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh (1954 - 1957), đẩy mạnh thực hiện kế hoạch ba năm cải tạo xã hội chủ nghĩa, bước đầu phát triển kinh tế - văn hóa (1958 - 1960). Công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp nhỏ và đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh đã hoàn thành. Sản xuất nông nghiệp, công nghiệp trên đà phát triển, sự nghiệp giáo dục, văn hóa phát triển mạnh mẽ, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện đáng kể. Thắng lợi của sự nghiệp củng cố miền Bắc là nguồn động viên to lớn để nhân dân miền Bắc bước vào kế hoạch năm năm lần thứ nhất. Ở miền Nam, dưới ánh sáng Nghị quyết 15 (5-1959), một phong trào Đồng khởi mạnh mẽ bùng dậy. Sau thắng lợi của phong trào Đồng khởi, đặc biệt là sau khi Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ra đời, cuộc đấu tranh của đồng bào miền Nam chống đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm ngày càng phát triển. Nhân dân cả nước một lòng phấn đấu và dưới sự đồng tình ủng hộ rộng rãi của nhân dân thế giới.

Bước vào Nhà trắng, Tổng thống Đảng Dân chủ G. Kennơđi thay đổi chiến lược toàn cầu từ “trả đũa ồ ạt” sang “phản ứng linh hoạt”. Đầu những năm 60 củ thế kỷ XX, để đối phó với sự phát triển của cách mạng Việt Nam, Mỹ đưa thêm lực lượng đặc biệt vào Việt Nam, tăng cường viện trợ quân sự. Từ năm 1961, Mỹ đã lập Bộ chỉ huy viện trợ quân sự (MACV); ngày 15-5-1962, Mỹ đưa quân vào Thái Lan. Số quân của Mỹ ở miền Nam nươc ta đã tăng dần từ 3.000 tên vào tháng 12-1960 lên 23.000 tên vào tháng 12-1964(1). Dùng lực lượng quân đội Việt Nam Cộng hòa với cố vấn và vũ khí hiện đại. chúng tiến hành càn quét, bình định, dồn dân hòng tiêu diệt Quân giải phóng miền Nam. Tuy nhiên, trên chiến trường miền Nam, đấu tranh vũ trang ngày càng phát triển nhanh chóng, vùng giải phóng ngày càng mở rộng, đẩy đế quốc Mỹ và chế độ tay sai vào thế bị động, lúng túng, khủng hoảng triền miên.

Trước những chuyển biến của tình hình, đồng thời, để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9-1960) đã xác định nhiệm vụ cách mạng của nhân dân ta là: “tăng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh giữ vững hòa bình, đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, thiết thực góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hòa bình ở Đông - Nam Á và thế giới”(2). Đại hội chỉ rõ: hiện nay, do đế quốc Mỹ xâm chiếm miền Nam, nước ta đang tạm thời bị chia làm hai miền. Miền Bắc hoàn thành những nhiệm vụ của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đã bước vào thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Miền Nam còn đang bị chủ nghĩa đế quốc và thế lực phong kiến thống trị. Tình hình ấy đã hình thành ở nước ta hai khu vực có chế độ chính trị và xã hội khác nhau; đồng thời, cũng quy định cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay có hai nhiệm vụ thuộc hai chiến lược khác nhau: Một là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc; hai là, giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bọn tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước.


(1) Xem Quan hệ Việt - Xô trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tài liệu lưu tại Viện Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, tr.17.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.21, tr.512.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Tám, 2014, 07:15:11 PM
Một vấn đề mang tính nguyên tắc được Đại hội III chỉ rõ là muốn bảo đảm cho cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta đi tới đích cuối cùng, giành được thắng lợi hoàn toàn, “chúng ta phải nhận rõ bản chất của nhiệm vụ cách mạng ở mỗi miền”(1). Đại hội III xác định: Đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội chính là đáp ứng yêu cầu khách quan của xã hội miền Bắc trên bước đường phát triển, đồng thời cũng đáp ứng nguyện vọng thiết tha của bản thân giai cấp công nhân và nhân dân lao động miền Bắc. Hơn nữa, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội không phải chỉ là yêu cầu cấp bách của xu thế phát triển cách mạng ở miền Bắc, mà còn là yêu cầu cấp bách của phong trào cách mạng trong cả nước. Chỉ có đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội thì mới có thể củng cố và phát triển những thắng lợi cách mạng đã giành được, làm cho miền Bắc vững mạnh về mọi mặt, trở thành nền tảng, gốc rễ, căn cứ địa cách mạng của cả nước, thành hậu phương vững chắc của cách mạng miền Nam. Miền Bắc còn là cơ sở để Đảng và Nhà nước Việt Nam thực hành, mở rộng quan hệ đối ngoại, nhằm tranh thủ rộng rãi sự đoàn kết, đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ quốc tế. Ngoài ra, miền Bắc với chế độ xã hội ưu việt với một nền kinh tế phát triển, một nền văn hóa dân tộc và hiện đại, một nền an ninh - quốc phòng không ngừng lớn mạnh là niềm cổ vũ mạnh mẽ đồng bào ta ở miền Nam, là sức mạnh tập hợp tất cả những người yêu nước, tiến bộ vì một tương lai tươi sáng của dân tộc, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà. “Phương châm của chúng ta trong khi tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là: xây dựng miền Bắc, chiếu cố miền Nam(2). Còn tiến hành cách mạng giải phóng miền Nam tức là giải quyết hai mâu thuẫn cơ bản tồn tại trong xã hội miền Nam. Đó là mâu thuẫn giữa nhân dân miền Nam với bọn đế quốc xâm lược, trước hết là đế quốc Mỹ, cùng bè lũ tay sai và mâu thuẫn giữa nhân dân miền Nam, trước hết là nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến. Những mâu thuẫn này ngày càng trở nên gay gắt, bởi vì chính quyền độc tài phát xít miền Nam dưới sự bảo trợ của đế quốc Mỹ đang hằng ngày, hằng giờ áp bức, bóc lột, khủng bố, tàn sát nhân dân miền Nam. Để bảo vệ sinh mạng và quyền lợi thiết thân của mình, nhân dân miền Nam không có con đường nào khác ngoài con đường đánh đổ chế độ độc tài phát xít của Mỹ - chính quyền Sài Gòn, hoàn toàn giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà, góp phần xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

Không chỉ nắm rõ, nắm vững bản chất nhiệm vụ cách mạng từng miền để có biện pháp, cách thức thực hiện đúng đắn, hiệu quả các nhiệm vụ cách mạng, vấn đề “đồng thời phải nắm vững quan hệ giữa hai nhiệm vụ cách mạng ở hai miền trong quá trình phát triển của cách mạng”(3) là hết sức cần thiết. Bởi vì, hai nhiệm vụ cách mạng ở miền Bắc và ở miền Nam thuộc hai chiến lược khác nhau, mỗi nhiệm vụ nhằm giải quyết yêu cầu cụ thể của mỗi miền trong hoàn cảnh nước nhà tạm bị chia cắt làm hai, song nhiệm vụ trước mắt đều có một mục tiêu chung là thực hiện hòa bình thống nhất Tổ quốc, đều nhằm giải quyết mâu thuẫn chung của cả nước là mâu thuẫn giữa nhân dân ta và đế quốc Mỹ cùng bè lũ tay sai của chúng, thì việc xác định đúng đắn vị trí và trách nhiệm của cách mạng mỗi miền sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thắng lợi của cách mạng chung cả nước. Chỉ có xác định đúng đắn vị trí cách mạng mỗi miền, chúng ta mới có một quan điểm toàn diện về nội dung và nhiệm vụ của cách mạng nước ta trong giai đoạn hiện nay, mới có chủ trương, phương châm, kế hoạch, biện pháp đúng đắn để tiến hành thắng lợi các nhiệm vụ cách mạng đặt ra. Nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của vấn đề, Đại hội III chỉ rõ rằng, hai nhiệm vụ này có mối “quan hệ mất thiết với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển”(4). Về vai trò, vị trí của mỗi nhiệm vụ chiến lược, Đại hội III khẳng định: “Nhiệm vụ cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là nhiệm vụ quyết định đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng nước ta, đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà của nhân dân ta(5), còn cách mạng miền Nam có “tác dụng quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước”(6).

Đại hội cũng xác định cuộc đấu tranh thống nhất đất nước của nhân dân ta là một quá trình đấu tranh cách mạng gay go, lâu dài, gian khổ, phức tạp và là cuộc đấu tranh chính nghĩa, là một bộ phận tích cực của phong trào quốc tế đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc và hòa bình thế giới. Cuộc đấu tranh ấy, một mặt được phong trào chung trên thế giới cổ vũ và giúp đỡ, mặt khác, cũng góp phần thúc đẩy phong trào chung, vì thế, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam là tăng cường đoàn kết quốc tế, tranh thủ mọi sự ủng hộ của các lực lượng hòa bình, dân chủ, tiến bộ trên thế giới cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà, góp phần tích cực đấu tranh bảo vệ và củng cố hòa bình thế giới.

Một cách tổng quát, Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng là một sự kiện chính trị quan trọng, là đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà. Đại diện cho ý chí của toàn Đảng, toàn dân, Đại hội đã phân tích đặc điểm, tình hình và yêu cầu cách mạng Việt Nam, đề ra đường lối chống Mỹ, cứu nước độc lập, tự chủ. Đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước chính là đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Thực hiện thắng lợi đường lối và những nhiệm vụ cách mạng do Đại hội thông qua là trách nhiệm, yêu cầu sống còn trong giai đoạn cách mạng mới; đồng thời cũng là hoàn thành nhiệm vụ xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

Nghiêm chỉnh chấp hành Hiệp định Giơnevơ, Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã làm hết sức mình để đạt được mục tiêu độc lập, hòa bình, thống nhất mà không xảy ra chiến tranh. Song, đế quốc Mỹ đã thông qua bộ máy chính quyền tay sai ở miền Nam, dùng mọi biện pháp, thủ đoạn nham hiểm, để lập đổ, đàn áp, gây chiến tranh một phía, từ giấu mặt đến công khai gây chiến tranh chống lại nhân dân Việt Nam. Chính quyền tay sai ở miền Nam được Mỹ nuôi dưỡng, hỗ trợ, ngang nhiên hô hào “lấp sông Bến Hải”, “Bắc tiến”. Như vậy, nhân dân Việt Nam trước sau như một muốn sống trong hòa bình để xây dựng đất nước, nhưng đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã dùng chiến tranh để chống lại nguyện vọng độc lập, hòa bình, thống nhất Tổ quốc của cả dân tộc, đánh phá dã man phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân ta ở miền Nam. Nhân dân Việt Nam không có con đường nào khác ngoài con đường đấu tranh cách mạng bằng bạo lực chống đế quốc Mỹ, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước, đồng thời góp phần tích cực vào việc thực hiện mục tiêu cách mạng của thời đại. Việc đế quốc Mỹ chọn Việt Nam - một địa bàn chiến lược ở châu Á - Thái Bình Dương làm nơi áp dụng chiến lược toàn cầu “phản ứng linh hoạt”, chống chủ nghĩa xã hội và phong trào cách mạng thế giới, gây chiến tranh quy mô lớn đã thách thức ý chí “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của nhân dân ta. Trong điều kiện đó, đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước được xác định tại Đại hội III của Đảng thể hiện quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ, phản ánh ý chí, nguyện vọng chung của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta kiên trì thực hiện mục tiêu giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.21, tr.505.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.21, tr.507
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.21, tr.505
(4), (5), (6) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.21, tr.512, 510, 511


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Tám, 2014, 09:41:35 PM
II - QUÁ TRÌNH CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI

Sau Đại hội lần thứ III của Đảng, đất nước bước vào giai đoạn triển khai và thực hiện Nghị quyết của Đại hội, thực hiện đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Cuối năm 1960, ở miền Nam Việt Nam, phong trào cách mạng phát triển mạnh, đẩy chính quyền Ngô Đình Diệm vào cuộc khủng hoảng chính trị kéo dài. Đứng trước tình hình đó, ỷ vào sức mạnh của một siêu cường, đồng thời tin tưởng ở chiến lược “phản ứng linh hoạt”, đế quốc Mỹ quyết định chuyển sang chiến lược chiến tranh đặc biệt hòng tiêu diệt lực lượng kháng chiến, đè bẹp phong trào cách mạng miền Nam với lực lượng quân đội Việt Nam Cộng hòa do Mỹ trang bị, huấn luyện và cố vấn Mỹ chỉ huy. Tiến hành chiến tranh đặc biệt, Mỹ tăng thêm viện trợ quân sự, kinh tế và cố vấn cho miền Nam Việt Nam, tăng cường, mở rộng lực lượng vũ trang, bán vũ trang của quân đội Việt Nam Cộng hòa; lập nhóm chuyên viên kinh tế, tài chính, quân sự cao cấp xây dựng kế hoạch hành động chung giữa Chính phủ Mỹ và Chính phủ Việt Nam Cộng hòa; đồng thời, triển khai mạnh mẽ chương trình lập ấp chiến lược với mục tiêu cơ bản “bình định” xong miền Nam Việt Nam trong 18 tháng. Ngày 8-2-1962, phái đoàn cố vấn và viện trợ quân sự Mỹ (MAAG) được chuyển thành Bộ chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ (MACV). Dưới quyền chỉ huy và điều hành của MACV, số lượng cố vấn và các đơn vị yểm trợ Mỹ không ngừng tăng lên. Ngoài số có vấn và các đơn vị yểm trợ chiến đấu Mỹ kể trên, Mỹ còn đưa vào miền Nam một khối lượng lớn vũ khí thiết bị chiến tranh, tăng thêm viện trợ quân sự, viện trợ kinh tế cho quân đội và chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Từ năm 1961 trở đi, số viện trợ quân sự bắt đầu vượt viện trợ kinh tế, chứng tỏ trong việc thực hiện chiến lược chiến tranh đặc biệt, biện pháp quân sự được Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm ưu tiên hàng đầu. Với sự tăng cường viện trợ của Mỹ, quân đội Việt Nam Cộng hòa nhanh chóng phát triển về số lượng, tăng cường về trang bị vũ khí, cải tiến về biên chế, tổ chức, hệ thống chỉ huy, công tác huấn luyện.

Trước những chuyển biến của tình hình, ngày 24-1-1961, Bộ Chính rị ra chỉ thị Về phương hướng và nhiệm vụ công tác trước mắt của cách mạng miền Nam, chỉ rõ những mâu thuẫn và sự bất lực của chính quyền Ngô Đình Diệm, khẳng định rằng: “Thời kỳ tạm ổn định của chế độ Mỹ - Diệm đã qua và thời kỳ khủng hoảng liên tiếp, suy sụp nghiêm trọng đã bắt đầu”(1). Chỉ thị xác định nhiệm vụ cấp bách trước mắt lúc này của cách mạng miền Nam là:

1 – “Ra sức xây dựng mau chóng lực lượng của ta về cả hai mặt chính trị và quân sự, tập hợp đông đảo lực lượng cách mạng Mặt trận dân tộc giải phóng, phát động một phong trào đấu tranh chính trị mạnh mẽ của quần chúng, tích cực tiêu diệt sinh lực địch, bảo tồn và phát triển lực lượng ta, làm tan rã chính quyền và lực lượng địch trên một phạm vi ngày càng rộng lớn”(2).

2 – “Tiến lên làm chủ rừng núi, giành lại toàn bộ đồng bằng, ra sức xây dựng cơ sở và đẩy mạnh đấu tranh chính trị ở đô thị; tạo mọi điều kiện và nắm mọi thời cơ thuận lợi để đánh đổ chính quyền Mỹ - Diệm, giải phóng miền Nam”(3).

Đặc biệt, lúc này tương quan lực lượng đã thay đổi, nên Bộ Chính trị quyết định chuyển từ phương châm “đấu tranh chính trị là chủ yếu, đấu tranh quân sự là để hỗ trợ cho đấu tranh chính trị” sang phương châm “đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh chính trị, đồng thời đẩy mạnh đấu tranh vũ trang lên song song với đấu tranh chính trị, tấn công địch bằng cả hai mặt chính trị và quân sự”(4). Do lực lượng so sánh giữa ta và đối phương ở từng vùng có khác nhau, nên Bộ Chính trị chỉ rõ phải quán triệt, nắm vững phương châm công tác ba vùng, vận dụng phương châm đó phải thích hợp với đặc điểm, yêu cầu, so sánh lực lượng ở từng vùng.

Như vậy, Chỉ thị ngày 24-1-1961 của bộ Chính trị là sự củ thể hóa và phát triển các Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 15, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III trong điều kiện mới, đề ra phương hướng đấu tranh chính trị song song với đấu tranh vũ trang, đánh địch bằng ba mũi giáp công trên ba vùng chiến lược.

Đồng thời với bước chuyển biến trên đây, để đáp ứng đòi hỏi của tình hình về nhiệm vụ trong giai đoạn mới, Trung ương Đảng chủ trương cần phải tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện đối với cách mạng miền Nam. Tháng 1-1961, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) họp Hội nghị lần thứ 3, quyết định thành lập Trung ương Cục miền Nam thay cho Xứ ủy Nam Bộ. Đây là một bộ phận của Ban Chấp hành Trung ương gồm một số đồng chí ủy viên Trung ương được Ban Chấp hành Trung ương cử ra và ủy nhiệm chỉ đạo toàn bộ công tác Đảng ở miền Nam. Tiếp đó, để đảm bảo sự lãnh đạo, chỉ huy tập trung thống nhất đối với lực lượng vũ trang, thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị và chỉ thị của Tổng Quân ủy, ngày 15-2-1961, các lực lượng vũ trang cách mạng được thống nhất thành Quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Hệ thống chỉ đạo, chỉ huy quân sự từ Miền đến xã từng bước được củng cố. Cùng với việc tăng cường hệ thống tổ chức, trong những năm 1961 - 1962, thực hiện chỉ thị của Bộ Chính trị, với tinh thần nỗ lực và sự cố gắng cao độ của toàn Đảng, toàn dân, lực lượng vũ trang ba thứ quân ở miền Nam nhanh chóng được xây dựng. Đến cuối năm 1961, bộ đội chủ lực thuộc các quân khu đã xây dựng được 11 tiểu đoàn; bộ đội địa phương tỉnh, huyện có khoảng 24.500 cán bộ, chiến sĩ; du kích, tự vệ có khoảng 100.000 người. Tháng 7-1961, Trung ương Cục quyết định thành lập trung đoàn chủ lực Miền mang mật danh Q761. Sự kiện này đánh dấu bước phát triển quan trọng của lực lượng chủ lực Quân giải phóng trong năm đầu đối phó với chiến lược chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ. Song song với sự lớn mạnh của cách mạng miền Nam, công cuộc xây dựng miền Bắc, thực hiện kế hoạch năm năm lần thứ nhất (1961 - 1965) thu được những kết quả quan trọng. Chỉ trong một thời gian ngắn, “miền Bắc nước ta đã tiến những bước dài chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc. đất nước, xã hội và con người đều đổi mới”(5). Đây là những điều kiện căn bản cho nhân dân ta củng cố miền Bắc, đẩy mạnh đấu tranh cách mạng ở miền Nam, chống lại những kế hoạch bình định miền Nam đẫm máu, khốc liệt. Các chiến thắng vang dội trên chiến trường miền Nam (chiến thắng Phước Thành, Gò Dầu, Trảng Bàng, Bến Cầu…) phản ánh thế và lực của chúng ta đang đi lên. Sau một năm tiến hành chiến tranh cách mạng, quân và dân miền Nam đã khắc phục khó khăn, vượt qua những thử thách ác liệt, tiến hành đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị trên cả ba vùng chiến lược, từng bước đưa phong trào cách mạng phát triển. Trong năm 1961, bằng tiến công quân sự kết hợp với đấu tranh chính trị và binh vận, quân, dân ta đánh đòn phủ đầu vào kế hoạch Xtalây - Taylo, làm cho Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm bị động về chiến lược.


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.22. tr. 153.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.22. tr. 159.
(3), (4) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.22. tr. 159, 158
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.11, tr.224.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Tám, 2014, 09:45:33 PM
Đứng trước tình thế mới, Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa tăng cường càn quét đánh phá, dồn dân vào ấp chiến lược. Nhằm đánh bại âm mưu của đối phương, ta đẩy mạnh đấu tranh quân sự chống đối phương càn quét, thúc đẩy phong trào nổi dậy của quần chúng phá tan bộ máy kìm kẹp của đối phương, phá vỡ từng mảng ấp chiến lược ở một số vùng nông thôn đồng bằng và miền núi. Song song với đấu tranh quân sự, chính trị, cuộc đấu tranh chống địch gom dân, lập ấp chiến lược của quân và dân các địa phương miền Nam cũng diễn ra quyết liệt. Năm 1961 và năm 1962, đối phương chẳng những không thực hiện được mục tiêu đánh bại chiến tranh du kích, tiêu diệt chủ lực của ta, mà ngược lại, lực lượng vũ trang của ta không ngừng lớn mạnh; mục tiêu dồn 10 triệu nông dân vào 16.000 ấp chiến lược phải rút xuống còn 7.000 ấp vào giữa năm 1962 và cho đến cuối năm 1962, chỉ lập được 3.900 ấp. Đây là một trong những thấp bại nặng nề của Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa.

Trước diễn biến của tình hình chiến trường, tháng 2 và 12-1962, Bộ Chính trị đã họp và nhận định: “Phong trào cách mạng miền Nam đã tiến lên từng bước vững chắc và đến nay đã giành được những thắng lợi to lớn có tính chất chiến lược”(1), dồn Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm vào thế lúng túng bị động. Để cứu vãn tình hình, “Mỹ đã nắm quyền chỉ huy quân sự ở miền Nam, đưa một số lực lượng vũ trang trực tiếp tham gia chiến tranh và tạo ra một hình thế chiến tranh thực sự giữa đế quốc Mỹ và tay sai với nhân dân miền Nam”(2). Tạo ra một cục diện chiến tranh thực sự với quy mô khá lớn ở miền Nam Việt Nam và là một sự kiện hết sức nghiêm trọng trong tình hình thế giới hiện nay. Tuy nhiên, sự can thiệp ngày càng sâu hơn của Mỹ vào miền Nam Việt Nam không làm thay đổi căn bản tương quan lực lượng giữa ta và đối phương. Sự can thiệp ấy chẳng những không ngăn chặn được phong trào cách mạng của nhân dân miền Nam ngày càng phát triển, “mà trái lại càng làm cho mâu thuẫn giữa nhân dân ta với đế quốc Mỹ ngày càng sâu sắc thêm, làm cho tinh thần dân tộc chống đế quốc Mỹ của nhân dân, ngày càng phát triển mạnh mẽ thêm” (3). Dù có nhiều âm mưu và thủ đoạn mới, đối phương vẫn không thực hiện được kế hoạch Xtalây - Taylo nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng miền Nam trong 18 tháng, mà còn bị thiệt hại nhiều hơn năm trước. Nhìn toàn cục, “sự can thiệp vũ trang của đế quốc Mỹ vào miền Nam Việt Nam mang tính chất phòng ngự, nhằm ngăn chặn bước tiến của phong trào cách mạng và củng cố lại phòng tuyến của chúng ở Đông Nam Á sau khi chúng phải lui một bước ở Lào”(4). Sự chuyển hướng chiến lược này đồng thời cũng phản ánh ba sự thất bại to lớn của đế quốc Mỹ ở miền Nam Việt Nam: 1 - Sự thất bại bước đầu về mặt chiến lược; 2- Sự thất bại bước đầu về mặt chiến thuật và kỹ thuật; 3- Sự thất bại lớn về chính trị.

Bộ Chính trị chủ trương hoạt động của ta là tiếp tục giữ vững tư tưởng chiến lược tiến công, đưa chiến tranh vũ trang phát triển lên song song với đấu tranh chính trị; nắm vững phương châm hoạt động ở ba vùng một cách linh hoạt, sáng tạo, tiến công đối phương trên cả ba vùng chiến lược, đánh đối phương bằng ba mũi giáp công, phát động một phong trào đấu tranh chính trị và quân sự rộng khắp, liên tục tiến công làm tiêu hao, tiêu diệt sinh lực đối phương. Dựa trên tình hình thực tiễn của cách mạng Việt Nam, so sánh lực lượng giữa ta và đối phương, Bộ Chính trị xác định phương hướng phát triển cơ bản của cách mạng miền Nam là: “Trường kỳ đấu tranh bằng cả quân sự và chính trị, giữ vững và phát triển phong trào, giành thắng lợi từng phần, đẩy lùi địch từng bước, phát triển và che giấu lực lượng, chuẩn bị điều kiện, tranh thủ thời cơ để tiến lên giành những thắng lợi quyết định, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà(5). Nhiệm vụ cơ bản sắp tới của cách mạng miền Nam là: “hết sức mở rộng lực lượng quân sự và chính trị, phát động du kích chiến tranh rộng khắp tiêu hao tiêu diệt nhiều sinh lực địch, đánh bại kế hoạch lập ấp chiến lược của địch, trước mắt làm thất bại kế hoạch tấn công của địch trong năm 1963, giữ vững và phát triển lực lượng của ta, mở rộng vùng căn cứ và vùng giải phóng”(6). Quá trình phát triển của cuộc chiến tranh yêu nước của nhân dân miền Nam là quá trình phát triển của một cuộc chiến tranh du kích, toàn dân, toàn diện và trường kỳ, chống lại một đế quốc mạnh, tàn bạo và thâm độc; trong quá trình đó, xuất hiện trạng thái giằng co quyết liệt giữa ta và địch. Bộ Chính trị cũng nhấn mạnh rằng, trong cuộc đấu tranh này, nhân dân miền Nam phải dựa vào sức mình là chính, tự lực cánh sinh cao độ, song, “đồng thời phải có sự giúp đỡ tích cực của miền Bắc và sự ủng hộ ngày càng nhiều của phe xã hội chủ nghĩa cũng như của phong trào giải phóng dân tộc và của các lực lượng hòa bình dân chủ khác trên thế giới(7). Trong tình hình lực lượng so sánh giữa ta và đối phương ngày càng biến đổi có lợi cho ta, Bộ Chính trị cho rằng, có thể xuất hiện nhiều khả năng. Trong bất kỳ trường hợp nào, ta cũng phải thắng đối phương. Nhưng ta phải thắng đối phương từng bước, phải có từng giai đoạn quá độ trên bước đường tiến tới chiến thắng hoàn toàn. Như vậy, Hội nghị Bộ Chính trị tháng 2 và tháng 12-1962 đã chỉ ra những phương hướng cơ bản cho việc chỉ đạo cách mạng miền Nam, đưa cuộc kháng chiến tiến lên trong năm 1963 và lường định sự nghiệp kháng chiến của nhân dân ta phải trải qua một quá trình đánh thắng đối phương từng bước trước khi tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.


(1), (2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.23, tr.143, 144.
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.23, tr.145-146.
(4) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.23, tr.812-813.
(5), (6) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.23, tr.821, 822
(7) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.23, tr.819.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Tám, 2014, 09:50:49 PM
Từ nghị quyết Bộ Chính trị, nhờ hình thức, phương thức đấu tranh thích hợp, đúng đắn, tinh thần và sự nỗ lực cao độ của quân, dân miền Nam, năm 1963 đánh dấu một bước tiến mới của cách mạng miền Nam, bắt đầu bằng thắng lợi vang dội Ấp Bắc (1-1963). Đánh giá về thắng lợi này, đồng chí Lê Duẩn viết: “Kể từ trận Ấp Bắc, Mỹ thấy không thể thắng ta được”(1). Sau chiến thắng Ấp Bắc vang[dội, khắp các chiến trường và các địa phương miền Nam, phong trào “Thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công” phát triển mạnh mẽ, trong đó, sự kết hợp chặt chẽ và nhịp nhàng giữa đòn tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng đã phá banh một số lớn ấp chiến lược. Chỉ trong năm 1963, quân dân miền Nam đã loại khỏi vòng chiến đấu một lực lượng khá lớn của đối phương (7,8 vạn tên); bắn rơi, phá hủy, phá hỏng một số lượng lớn vũ khí, khí tài của đối phương, đồng thời phá banh, phá rã 2.895 trong tổng số 6.164 ấp chiến lược, giải phóng hàng nghìn thôn ấp với gần chín triệu dân. Chương trình bình định của đối phương, xương sống của chiến tranh đặc biệt, về cơ bản đã bị ta đánh bại. Thắng lợi của cách mạng miền Nam trong năm 1963 đã đẩy chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng hòa vào thế suy yếu toàn diện, chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ đang từng bước bị phá sản. Trong khi đó, chính sách tôn giáo bất bình đẳng của chính quyền Diệm - Nhu đã làm bùng nổ cuộc đấu tranh của Phật giáo chống chính quyền Diệm, góp phần đẩy chính quyền Việt Nam Cộng hòa vào cơn khủng hoảng, tình hình miền Nam ngày càng mất ổn định một cách nghiêm trọng. Trước tình hình căng thẳng có nguy cơ làm sụp đổ chính quyền Việt Nam Cộng hòa, Mỹ bắt đầu xem xét vai trò của anh em Diệm - Nhu, thực hiện chính sách “thay ngựa giữa đường”, lật đổ chính quyền Diệm (11-1963). Ngày 22-11-1963, Tổng thống Mỹ Kennơđi, người quyết định tiến hành chiến lược chiến tranh đặc biệt ở Việt Nam và Đông Dương cũng bị ám sát. Ngay sau khi Kennơđi bị ám sát, Phó Tổng thống Giônxơn lên thay, quyết định tiếp tục đẩy mạnh chiến tranh Việt Nam. Nhận được sự viện trợ ồ ạt từ Mỹ, chính quyền Việt Nam Cộng hòa khẩn trương vạch kế hoạch, tập trung lực lượng mở nhiều cuộc hành quân càn quét, dồn dân, lập ấp chiến lược, cố gắng giành lại thế chủ động trên chiến trường. Song, mọi cố gắng của đối phương đều bị quân và dân miền Nam kết hợp ba mũi đấu tranh quân sự, chính trị, binh vận trên khắp ba vùng chiến lược đánh trả, gây cho chúng những thiệt hại nghiêm trọng. Trong khi đó, tình hình thế giới tiếp tục chuyển biến, tác động tới sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, đặc biệt là mâu thuẫn Xô - Trung đang trở nên ngầy càng gay gắt(2).

Tình hình mới đặt ra những yêu cầu đỏi hỏi Đảng Lao động Việt Nam phải có những đối sách mới trong quan hệ với quốc tế và đẩy mạnh phong trào cách mạng của nhân dân miền Nam. Vì vậy, tháng 12-1963, Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, thông qua hai nghị quyết quan trọng: Về tình hình thế giới và nhiệm vụ quốc tế của Đảng ta và Ra sức phấn đấu, tiến lên giành những thắng lợi ở miền Nam.

Về tình hình cách mạng miền Nam, hội nghị phân tích kỹ càng mặt mạnh, mặt yếu của cả ta và đối phương, đánh giá cao sự nỗ lực của quân, dân miền Nam anh hùng, đã vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ, tiếp tục phát huy truyền thống đấu tranh anh dũng và bất khuất của dân tộc, sáng tạo ra nhiều hình thức đấu tranh phong phú, làm nên những thắng lợi to lớn. Nhân dân miền Nam đã chứng tỏ khả năng chiến thắng Mỹ trong bất kể hoàn cảnh nào, nhất định có đủ nghị lực, tài năng, lực lượng và chí kiên nhẫn để đánh bại mọi mưu mô, kế hoạch của đế quốc Mỹ, làm cho chúng sa lầy, tiến thoái lưỡng nan và cuối cùng đành chịu thất bại vả rút khỏi miền Nam Việt Nam.

Về âm mưu và hành động của đế quốc Mỹ, trong chiến lược chiến tranh đặc biệt, hội nghị nhận đinh: “Khả năng thứ nhất: Mỹ tham gia với mức độ như hiện nay, hoặc hơn một chút; Khả năng thứ hai: Mỹ tham gia mạnh hơn, đưa quân vào gấp mấy lần hoặc cả quân Mỹ và quân đội của khối xâm lược Đông - Nam Á cùng can thiệp vào”(3). Hội nghị cũng dự kiến khả năng cách mạng miền Nam phải thông qua một bước quá độ với những hình thức và phương pháp đấu tranh phức tạp mới đạt được thắng lợi hoàn toàn. Trong những điều kiện đó, hội nghị chủ trương: “Đưa cách mạng miền Nam phát triển theo hướng giành thắng lợi từng phần, đẩy lui địch từng bước, tiến tới tổng công kích, tổng khởi nghĩa để đi đến toàn thắng”(4). Quá trình tiến tới tổng công kích và tổng khởi nghĩa cũng là một quá trình tổng công kích cục bộ, khởi nghĩa từng phần, giằng co và phức tạp, đánh lui địch từng bước, giành thắng lợi từng phần, tiến tới giành thắng lợi toàn bộ. Vì thế, hội nghị chỉ rõ: “Phương châm chiến lược chung của cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân miền Nam là chiến đấu lâu dài, dựa vào sức mình là chính; về phương châm đấu tranh thì kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang một cách linh hoạt tùy theo từng vùng và từng thời kỳ khác nhau”(5). Xác định rõ vị trí, vai trò của đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang, hội nghị cho rằng: “Đấu tranh chính trị đóng vai trò rất cơ bản và rất quyết định”, “Đấu tranh vũ trang cũng đóng một vai trò rất cơ bản và rất quyết định”, nhưng “đóng vai trò quyết định trực tiếp”(6). Phương châm kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang không phải chỉ áp dụng tạm thời mà phải áp dụng lâu dài, được vận dụng ở cả ba vùng khác nhau (vùng rừng núi, vùng đồng bằng nông thôn và vùng đô thị và phải được thực hiện một cách linh hoạt, tùy theo từng vùng và từng thời kỳ khác nhau; đồng thời, “phải phối hợp đánh địch bằng ba mũi: đánh địch bằng chính trị, đánh địch bằng quân sự và đánh địch bằng binh vận(7). Đồng thời, hội nghị cũng chỉ rõ yêu cầu, phương hướng lãnh đạo. Trong bất kỳ trường hợp nào, phải kiên quyết loại trừ mọi thái độ lừng chừng, muốn dừng lại ở bước quá độ, phải có quyết tâm động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân giành cho được thắng lợi tối đa.

Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đề ra, tranh thủ giành thắng lợi ở mức cao nhất, không những Đảng bộ và nhân dân miền Nam phải cố gắng vượt bậc mà nhân dân miền Bắc cũng phải nỗ lực rất cao. Hội nghị khẳng định “Vị trí của hai miền trong sự nghiệp cách mạng của cả nước do Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng đã đề ra vẫn không thay đổi, nhưng đã đến lúc miền Bắc phải tăng cường chi viện cho miền Nam hơn nữa; miền Bắc phải phát huy hơn nữa vai trò căn cứ địa cách mạng toàn quốc của mình”(8); và “do sự chi viện đó mà cũng cần phải có sự điều chỉnh và kế hoạch xây dựng một Bắc một cách thích đáng”(9).


(1) Lê Duẩn: Thư vào Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1985, tr.69
(2) Từ những năm đầu thập kỷ 60 của thế kỷ XX, mâu thuẫn giữa Liên Xô, Trung Quốc bộc lộ công khai, ngày càng gay gắt, làm nảy sinh “chủ nghĩa biệt phái” trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Tình trạng bè phái đó “biểu hiện ở chỗ khi xảy ra bất đồng ý kiến trong phong trào cộng sản quốc tế, một số người ở một số đảng đã kéo bè kéo cánh để công kích và cô lập đảng anh em và những người mácxít - lêninnít có ý kiến khác mình, gây nên bất hòa nghiêm trọng và tạo ra nguy cơ chia rẽ trong phong trào cộng sản quốc tế; biến sự bất đồng ý kiến giữa các đảng trong phe xã hội chủ nghĩa thành sự xích mích trong quan hệ nhà nước, gây bè phái trong các đảng anh em, vận động quần chúng để cô lập đảng anh em và nước anh em kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin”. - Theo Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.24, tr.773-774
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.24, tr.820.
(4), (5), (6) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.24, tr.823, 827, 830-831.
(7), (8), (9) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.24, tr.836, 860, 861.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Tám, 2014, 09:52:22 PM
Trong Nghị quyết Về tình hình thế giới và nhiệm vụ quốc tế của Đảng ta, Hội nghị Trung ương đã phân tích đặc điểm tình hình thế giới, nội dung và tính chất của thời đại, chỉ ra rằng, so sánh lực lượng trên thế giới ngày càng thay đổi có lợi cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội; trên cơ sở đó, đề ra những chủ trương và nhiệm vụ quốc tế của Đảng: Góp phần khôi phục và tăng cường đoàn kết nhất trí trong phe xã hội chủ nghĩa và phong trào cộng sản quốc tế; tích cực ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh; tích cực ủng hộ phong trào đấu tranh vì dân chủ và chủ nghĩa xã hội của giai cấp công nhân và nhân dân các nước tư bản chủ nghĩa; ra sức xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh chống đế quốc Mỹ cùng bè lũ tay sai ở miền Nam nhằm góp phần bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và thế giới(1).

Một cách tổng quát, Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (11-1963) đã phân tích một cách thấu đáo tình hình, chỉ ra con đường chiến thắng đối phương. Đó là con đường chiến đấu lâu dài, dựa vào sức mình là chính, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang; vận dụng linh hoạt phương châm hoạt động ở ba vùng, đánh địch bằng ba mũi chính trị, quân sự và binh vận. Đó là cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, tiếp nối truyền thống và phát huy kinh nghiệm của cuộc kháng chiến chống Pháp trong những điều kiện mới, với một trình độ cao hơn, phong phú hơn. Với nội dung thiết thực, kịp thời, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 9 đã bổ sung, hoàn chỉnh một bước đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước do Hội nghị Trung ương 15 (khóa II), Đại hội III và các nghị quyết của Bộ Chính trị tiếp sau đó đề ra; cụ thể hóa những nhiệm vụ mà cách mạng miền Nam phải tiến hành để đánh bại chiến lược chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương đánh dấu bước trưởng thành về lý luận của Đảng Lao động Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Sau Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 9, Đảng nhận định rằng; Thất bại liên tiếp ở miền Nam và Lào, Mỹ và bè lũ tay sai lúng túng và nhất định sẽ điên cuồng đối phó, trước sau gì cũng sẽ tập kích bằng đường biển và đường không vào miền Bắc nước ta; do vậy, miền Bắc cần tăng cường sẵn sàng chiến đấu. Ngày 27-3-1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập Hội nghị chính trị đặc biệt nhằm động viên ý chí, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược của quân và dân ta trên miền Bắc, chuẩn bị cho miền Bắc đương đầu có hiệu quả với những thách thức mới. Ở miền Nam, quán triệt tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 và các nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị, việc xây dựng quân chủ lực, xây dựng căn cứ địa - chỗ đứng chân được đẩy mạnh. Năm 1964, trên chiến trường miền Nam đã xây dựng được hai khối chủ lực cơ động với hệ thống căn cứ địa liên hoàn. Quân, dân miền Nam đẩy mạnh tiến công quân sự và chính trị, đánh bại các cuộc hành quân càn quét, làm chuyển biến cục diện chiến trường có lợi cho ta. Tại nông thôn đồng bằng, với sự hỗ trợ của bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương, nhân dân nổi dậy phá tan từng mảng hệ thống ấp chiến lược, giành quyền làm chủ ở nhiều mức độ khác nhau. Cùng lúc, phong trào đấu tranh chính trị của các tầng lớp nhân dân cùng với những trận đánh táo bạo của đặc công và biệt động ở vùng đô thị càng đẩy đối phương vào thế rối ren. Chương trình bình định của Mỹ - xương sống của cuộc chiến tranh đặc biệt, về cơ bản bị thất bại trên nhiều bình diện, trong đó kế hoạch Giônxơn - Mắc Namara bị đổ vỡ, đã làm cho tình hình chính trị, quân sự vào những tháng cuối năm 1964 có bước chuyển biến mới có lợi cho cách mạng. Lực lượng chính trị, quân sự của ta phá triển lớn mạnh hơn trước, đặc biệt là khối chủ lực cơ động đã đủ sức tạo ra những quả đấm hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng.

Thất bại và thua đau trên chiến trường miền Nam, Mỹ dựng lên cái gọi là “sự kiện Vinh Bắc Bộ”, và ngay sau đó, sử dụng không quân mở cuộc tiến công miền Bắc Việt Nam (5-8-1964), Đồng thời, Chính phủ Mỹ trình Quốc hội thông qua “Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ” mở đường cho nỗ lực quân sự mới của Mỹ ở Việt Nam. Trong khí đó, ở Lào, Mỹ tăng cường chiến tranh đặc biệt nhằm cắt đứt chi viện của hậu phương lớn miền Bắc đối với tiền tuyến lớn miền Nam, củng cố vị trí Mỹ và phái hữu ở Lào, cô lập cách mạng miền Nam. Song âm mưu của Mỹ ở Lào cũng từng bước bị phá sản. Trong năm 1964, địch chẳng những không đạt được mục tiêu đề ra, ngược lại, chúng vấp phải sự kháng cự mạnh mẽ của lực lượng lượng cách mạng miền Nam và sự đánh trả quyết liệt của quân, dân miền Bắc. Chiến thắng Bình Giã (12-1964), An Lão (12-1964) đánh dấu bước phát triển mới của cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam. Quyền chủ động chiến lược của cách mạng được củng cố và phát huy mạnh mẽ trên khắp ba vùng chiến lược. Với chiến thắng Bình Giã, An Lão, quân và dân miền Nam đã đánh bại về cơ bản chiến lược chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ. Nhận định về bước phát triển của chiến trường miền Nam được mở ra bởi chiến thắng Bình Giã, An Lão, đồng chí Lê Duẩn viết: “Kể từ trận Ấp Bắc, Mỹ thấy không thể thắng ta được, đến trận Bình Giã, thì Mỹ thấy sẽ thua ta trong chiến tranh đặc biệt”(2). Trong năm 1964, quân và dân ta mở miền Nam đã đẩy mạnh đấu tranh quân sự và chính trị trên cả ba vùng chiến lược, giáng cho quân đội Việt Nam Cộng hòa những đòn nặng nề, phá rã, phá banh 3.659 ấp chiến lược; mở rộng vùng giải phóng, vùng làm chủ trên 2/3 đất đai toàn miền và với 10 triệu dân, làm thất bại về cơ bản “quốc sách” ấp chiến lược của đối phương. Chiến tranh nhân dân miền Nam đang ngày càng phát triển mạnh mẽ, vững chắc; mọi nỗ lực của Mỹ trong chiến tranh đặc biệt bị phá sản về căn bản. Ở miền Bắc, với tinh thần cảnh giác cao, các lực lượng phòng không, không quân và nhân dân ta đã giáng trả thích đáng sự xâm phạm của quân địch trên bầu trời, tăng cường lực lượng phòng không, không quân, tích cực bảo vệ các thành phố trọng điểm như: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định...


(1) Chủ trương và nhiệm vụ quốc tế mà Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng đề ra thể hiện sự độc lập, tự chủ và bản lĩnh chính trị vững vàng của Đảng ta trước những nảy sinh phức tạp trong quan hệ quốc tế. Nhà sử học Ilya V. Gaiduk trong cuốn sách Liên bang Xôviết và chiến tranh Việt Nam, đã viết: “Khi cuộc ganh đua giữa Mátxcơva và Bắc Kinh trở nên quyết liệt, các nhà lãnh đạo Bắc Việt Nam đã có đủ khả năng khai thác sự mâu thuẫn giữa hai ủng hộ viên cộng sản hùng mạnh và mong muốn giành được một chỗ đứng ở Đông Dương của họ. Khôn khéo vận động giữa Trung Quốc và Liên Xô, Hà Nội đã giữ được vị trí độc lập trong các mục tiêu chính trị, trong khi càng ngày càng phụ thuộc hơn vào các nguồn viện trợ vạt chất của các đồng minh”. Ilya V. Gaiduk: Liên bang Xôviết và chiến tranh Việt Nam, Ivan R. Dee Publisher Chicago, 1996, Tổng cục V - Bội Nội vụ sao lục, tháng 1-1998, tr.72.
(2) Lê Duẩn: Về chiến tranh nhân dân Việt Nam, Nxb. Chinh trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr.185.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Tám, 2014, 09:55:10 PM
Từ năm 1964 đến những tháng đầu năm 1965, cuộc đấu tranh cách mạng của đồng bào miền Nam phát triển mạnh mẽ trên cả ba vùng chiến lược, chiến tranh đặc biệt mà Mỹ triển khai thực hiện ở miền Nam Việt Nam ngày càng bị thất bại nghiêm trọng. Thắng lợi của quân, dân ta trên hai miền Nam, Bắc đẩy chính quyền Việt Nam Cộng hòa lún sâu vào khủng hoảng, mâu thuẫn nội bộ bộ lộ gay gắt, các cuộc đảo chính và âm mưu đảo chính gạt bỏ lẫn nhau, tranh giành quyền lực diễn ra liên tục. Đầu năm 1965, chúng ta đẩy mạnh tiến công đối phương trên khắp các chiến trường. Đối phó lại, Mỹ mở rộng hoạt động không quân, ném bom bắn phá miền Bắc, đưa những đơn vị chiến đấu đầu tiên vào miền Nam.

Trong điều kiện chiến tranh đang lan rộng ra cả nước, trước diễn biến mới của tình hình trong nước cũng như quốc tế, Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp (3-1965) ra Nghị quyết Về tình hình và nhiệm vụ cấp bách trước mắt, quyết định chuyển toàn bộ miền Bắc từ thời bình sang thời chiến trên tất cả các lĩnh vực tư tưởng, tổ chức, kinh tế, tài chính, quốc phòng và đối ngoại; đảm bảo cho miền Bắc có đầy đủ sức mạnh đánh thắng không quân, hải quân Mỹ; duy trì và giữ vững sản xuất, tăng sức chi viện cho chiến trường miền Nam. Từ sau Hội nghị Trung ương lần thứ 11, cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ tiếp tục leo thang trên cả hai miền Nam, Bắc Việt Nam. Từ mùa hè năm 1965, quân Mỹ và quân đội một số nước đồng minh của Mỹ ồ ạt đổ quân vào miền Nam, tiến hành chiến lược chiến tranh cục bộ. Tháng 7-1965, Tổng thống Mỹ Giônxơn chấp thuận kế hoạch “tìm và diệt” của Đại tướng Oétmolen - Tư lệnh Bộ chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ tại Nam Việt Nam. Theo đó, Mỹ sẽ hoàn tất các mục tiêu chiến lược của cuộc chiến tranh cục bộ trong vòng hai năm hoặc hai năm sáu tháng. Thế nhưng ngay từ đầu, quân và dân trên cả hai miền Nam, Bắc đã nêu cao quyết tâm, giữ vững quyền chủ động chiến trường, mở các cuộc tiến công quân Mỹ ở miền Nam và giáng trả mạnh mẽ không quân hải quân Mỹ trên vùng trời, vùng biển miền Bắc. Tháng 12-1965, từ thực tiễn chống Mỹ, cứu nước trên cả hai miền và trên cơ sở đánh giá có liên quan, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 12 (khóa III) khai mạc dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh và ra Nghị quyết Về tình hình và nhiệm vụ mới cho cách mạng hai miền.

Hội nghị cho rằng, trước việc Mỹ đưa quân chiến đấu Mỹ vào chiến trường miền Nam, leo thang đánh phá miền Bắc, vấn đề lớn đặt ra cho toàn Đảng, toàn dân ta là phải đánh giá đúng lực lượng và khả năng của kẻ địch; đồng thời đánh giá đúng lực lượng và khả năng to lớn của nhân dân ta trên cả hai miền. Với tầm nhìn chiến lược, phân tích, đánh giá đúng lực lượng so sánh những mặt mạnh tạm thời và những chỗ yếu cơ bản của đối phương, những hạn chế tạm thời và những thế mạnh cơ bản của ta, hội nghị chỉ rõ: “Ngày nay mặc dầu đế quốc Mỹ đưa vào miền Nam hàng chục vạn quân đội viễn chinh, lực lượng so sánh giữa ta và địch vẫn không thay đổi lớn. Tuy cuộc chiến tranh ngày càng trở nên gay go, ác liệt nhưng nhân dân ta đã có cơ sở chắc chắn để giữ vững và tiếp tục giành thế chủ động trên chiến trường, có lực lượng và điều kiện để đánh bại âm mưu trước mắt và lâu dài của địch(1). Hội nghị hạ quyết tâm chiến lược: “Động viên lực lượng của cả nước, kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất cứ tình huống nào, để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thực hiện hòa bình, thống nhất nước nhà”(2).

Trong tình hình một nửa nước có chiến tranh, một nửa nước có hòa bình đã biến thành tình hình cả nước có chiến tranh với hình thức và mức độ khác nhau ở mỗi miền, để thực hiện nhiệm vụ chung đó, Trung ương Đảng chỉ rõ cần phải thấu suốt những vấn đề cụ thể sau:

Thứ nhất, phải nhận thức đầy đủ, đúng đắn mối quan hệ khăng khít giữa hai nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc và giải phóng miền Nam; Bảo vệ miền Bắc là nhiệm vụ cách mạng của cả nước ta, vì miền Bắc là căn cứ địa vững chắc của cách mạng cả nước; đánh bại đế quốc Mỹ trên chiến trường chính ở miền Nam không chỉ là nhằm giải phóng miền Nam, mà còn là biện pháp tích cực nhất để bảo vệ miền Bắc, tiến lên thống nhất nước nhà.

Thứ hai, nắm vững phương châm chiến lược chung của chúng ta trong cuộc chiến tranh giải phóng chống Mỹ, cứu nước là đánh lâu dài, dựa vào sức mình là chính, song “cần phải cố gắng đến cao độ, tập trung lực lượng của cả hai miền để tranh thủ thời cơ giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn trên chiến trường miền Nam(3).

Thứ ba, kiên trì phương châm đấu tranh quân sự kết hợp với đấu tranh chính trị, triệt để vận dụng ba mũi giáp công: trong đó, “đấu tranh quân sự có tác dụng quyết định trực tiếp và giữ một vị trí ngày càng quan trọng”(4), nhưng phải được kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chính trị, để thu được kết quả lớn nhất.

Thứ tư, đối với quốc tế, trên cơ sở dựa vào sức mình là chính, cần kết hợp tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và viện trợ quốc tế, đẩy mạnh đấu tranh chính trị và ngoại giao.


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.26, tr.633
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.26, tr.634
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.26, tr.637-638.
(4) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.26, tr.633.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Tám, 2014, 09:58:05 PM
Trung ương Đảng xác định nhiệm vụ cụ thể của cách mạng miền Bắc: “Miền Bắc vẫn là hậu phương lớn, nhưng nhiệm vụ của miền Bắc là vừa xây dựng, vừa trực tiếp chiến đấu, vừa chi viện cho tiền tuyến miền Nam”(1). Miền Bắc “vừa sản xuất, vừa chiến đấu để bảo vệ miền Bắc, đánh bại chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, động viên sức người, sức của tăng cường chi viện miền Nam, ra sức giúp đỡ cách mạng Lào, đồng thời tích cực chuẩn bị đánh thắng địch nếu chúng mở rộng chiến tranh cục bộ ra cả nước ta”(2). Trung ương Đảng quyết định chuyển hướng nền kinh tế miền Bắc sang thời chiến để phù hợp với tình hình đối phương đánh phá; đồng thời đáp ứng yêu cầu xây dựng chủ nghĩa xã hội, cải thiện đời sống nhân dân. Cùng với việc chuyển hướng nền kinh tế và tăng cường quốc phòng của miền Bắc, cần phải kịp thời chuyển hướng tư tưởng và tổ chức cho phù hợp với tình hình mới.

Trung ương Đảng cũng nhận mạnh sự cần thiết phải đẩy mạnh công tác đấu tranh ngoại giao, nhằm làm rõ chính sách và hành động xâm lược phi nghĩa của đế quốc Mỹ, cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta. Đảng chỉ rõ: “Căn cứ vào yêu cầu nói trên, cần phải tùy theo thái độ chính trị của chính phủ và nhân dân từng nước, từng khu vực mà miền Bắc và miền Nam đề ra yêu cầu giúp đỡ và ủng hộ tích cực”(3).

Với việc phân tích một cách khoa học so sánh lực lượng giữa ta và đối phương, khẳng định thất bại tất yếu của đế quốc Mỹ, vạch rõ nhiệm vụ cụ thể của cách mạng hai miền, động viên quân đội và nhân dân cả nước giữ vững chiến lược tiến công, nêu cao ý chí tự lực tự cường và ra sức tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế, tiến lên đánh thắng hoàn toàn đế quốc Mỹ xâm lược, Hội nghị lần thứ 11 và 12 Ban Chấp hành Trung ương Đảng có ý nghĩa lịch sử quan trọng đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 11 và 12 là kết tinh giữa thực tiễn sáng tạo của quần chúng với trí tuệ của Đảng, trở thành văn kiện lịch sử củng cố lòng tin, chỉ đạo quân và dân ta ở hai miền Nam - Bắc vững bước vượt qua gian lao, thử thách để tiến lên thắng lợi cuối cùng trong cuộc đọ sức cam go với kẻ thù có tiềm lực quân sự, kinh tế mạnh hơn ta gấp nhiều lần.

Việc Mỹ ồ ạt đưa quân Mỹ và quân các nước đồng minh của Mỹ vào miền Nam Việt Nam và sử dụng không quân, hải quân Mỹ đánh phá miền Bắc tuy đã phần nào cứu vãn được sự sụp đổ và tan rã nhanh chóng của chính quyền, quân đội Việt Nam Cộng hòa, song, quân Mỹ không thể ngăn chặn được sự chi viện của hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam, không tránh được các đòn tiến công như vũ bão của Quân giải phóng và không thể giành được quyền chủ động chiến trường như mục tiêu đề ra. Điều đó chững tỏ rằng, dù quân Mỹ vào miền Nam, nhưng chúng không thể đảo ngược được chiều hướng thua của quân đội Việt Nam Cộng hòa. Cả quân Mỹ lẫn quân đội Việt Nam Cộng hòa đều bị mắc kẹt trong thế trận chiến tranh nhân dân của chúng ta, chúng luôn bị động về chiến lược, lúng túng về chiến thuật đối phó.

Tuy nhiên, đế quốc Mỹ vẫn ngoan cố, tiếp tục tăng cường lực lượng và phương tiện chiến tranh, hòng đánh mạnh, thắng nhanh về mặt quân sự; đồng thời, tăng cường những thủ đoạn ngoại giao xảo quyệt, gọi là để giải quyết vấn đề Việt Nam, nhưng lại đòi Việt Nam thương lượng không điều kiện. Lúc này, một mặt, Đảng nhấn mạnh quyết tâm chiến đấu chống Mỹ xâm lược của nhân dân Việt Nam, đập lại mọi luận điệu hòa bình giả hiệu, đòi thương lượng không điều kiện của Mỹ; mặt khác, Đảng cũng tính đến việc đưa Mỹ vào cục diện vừa đánh, vừa đàm. Đến đầu năm 1967, những thắng lợi của nhân dân ta ở trên cả hai miền đất nước đã tạo ra những khả năng mới để đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân thế giới và nhân dân tiến bộ Mỹ, cô lập hơn nữa đế quốc Mỹ. Vì thế, Bộ Chính trị quyết định mở mặt trận ngoại giao, vận dụng sách lược vừa đánh vừa đàm trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Hội nghị lần thứ 13 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1-1967) được tổ chức để đẩy mạnh cuộc đấu tranh ngoại giao, chủ động tiến công đố phương, phục vụ sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.

Sau khi phân tích tình hình trên chiến trường, Hội nghị nhận định năm 1967 - 1968, đặc biệt là năm 1967, cuộc chiến đấu giữa ta và đối phương sẽ diễn ra rất gay go, quyết liệt. Âm mưu của Mỹ là cố gắng giành thắng lợi quân sự, tạo thế vững vàng làm hậu thuẫn cho một giải pháp chính trị để kết thúc chiến tranh có lợi cho chúng, đồng thời chuẩn bị điều kiện để khi cần - tức là khi chưa đạt được giải pháp chính trị có lợi, thì kéo dài chiến tranh. Lúc này, quyết tâm chiến lược của ta là trên cơ sở nắm vững phương châm đánh lâu dài, “động viên và tập trung lực lượng của cả nước, cố gắng cao độ, đập tan âm mưu của địch, giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn; đồng thời tích cực chuẩn bị sẵn sàng đánh thắng địch trong trường hợp chiến tranh kéo dài hoặc mở rộng ra cả nước”(4). Để thực hiện quyết tâm chiến lược đó, phải tiếp tục phát huy những thắng lợi đã giành được, ra sức đẩy mạnh đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam. Đi đôi với đấu tranh quân sự và chính trị ở miền Nam, cần tiến công địch về mặt ngoại giao, phối hợp với hai mặt trận đấu tranh đó để giành thắng lợi to lớn hơn nữa.


(1), (2), (3) 5 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.26, tr.108, 643-644, 117.
(4) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.28, tr.174.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Tám, 2014, 10:00:06 PM
Về mối quan hệ giữa đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao, nghị quyết chỉ rõ: “Đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam là nhân tố chủ yếu quyết định thắng lợi trên chiến trường, làm cơ sở cho thắng lợi trên mặt trận ngoại giao. Chúng ta chỉ có thể giành được trên bàn hội nghị những cái mà chúng ta đã giành được trên chiến trường”(1). Hội nghị cũng cho rằng, trong tình hình quốc tế hiện nay, với tính chất cuộc chiến tranh giữa ta và đối phương, đấu tranh ngoại giao không chỉ đơn thuần phản ánh đấu tranh trên chiến trường, mà còn giữ một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động.

Hội nghị cho rằng, thời gian qua, chúng ta chưa có thời cơ vận dụng sách lược vừa đánh, vừa đàm, vì phía Mỹ còn cho rằng đưa quân chiến đấu Mỹ ồ ạt tham chiến ở miền Nam thì có thể giành được thắng lợi. Trải qua gần hai năm đương đầu với quân Mỹ trên chiến trường miền Nam, với không quân, hải quân Mỹ trên vùng trời, vùng biển miền Bắc, thực tế chứng minh bây giờ chúng ta tiến công địch về ngoại giao là đúng lúc, vì ta đã và đang thắng địch, thế của ta là thế mạnh. Mục đích cuộc tiến công ngoại giao lúc này là phát huy tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, thế tất thắng của ta, tranh thủ mọi sự ủng hộ của các lực lượng hòa bình, tiến bộ trên thế giới; từ đó, lập một mặt trận thống nhất của nhân dân thế giới chống đế quốc Mỹ xâm lược. Để thực hiện những mục tiêu ngoại giao quan trọng nêu tên, phải nắm vững phương châm ngoại giao: “Phát huy thế mạnh, thế thắng của ta; Chủ động tiến công địch; Giữ vững tính độc lập; đồng thời phối hợp chặt chẽ với các nước xã hội chủ nghĩa anh em”(2). Kiên định nguyên tắc “kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ”, chúng ta cần vận dụng sách lược ngoại giao một cách linh hoạt, khôn khéo. Khẳng định vai trò to lớn của đấu tranh ngoại giao, hội nghị cũng đồng thời khẳng định một vấn đề có tính mấu chốt: “Thắng lợi trên chiến trường là quyết định, cho nên, trong bất cứ trường hợp nào, dù đế quốc Mỹ ngừng ném bom hoặc không ngừng ném bom miền Bắc, chúng cũng phải kiên quyết đẩy mạnh đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam và đẩy mạnh cuộc chiến đấu bảo vệ miền Bắc(3).

Hội nghị tính đến hai khả năng trong tiến công ngoại giao; 1- Nếu Mỹ buộc phải chấm dứt ném bom và các hành động chiến tranh khác thì ta có thể nói chuyện với chúng; 2- Nếu Mỹ ngoan cố không chịu ngừng ném bom thì chúng sẽ lộ rõ bộ mặt hiến chiến và những thủ đoạn hòa bình giả hiệu trước dư luận thế giới trong khi chúng ta lại có cơ hội nêu cao ngọn cờ độc lập, hòa bình và do đó cuộc đấu tranh ngoại giao của ta sẽ giành được thắng lợi về chính trị. Trong bất cứ trường hợp nào chúng ta cũng phải giữ vững thế chủ động tiến công đối phương.

Hội nghị thảo luận về sự khác nhau trong đường lối đấu tranh ngoại giao của ta và các nước anh em, khẳng định tính độc lập, tự chủ trong việc thực hiện đường lối của mình và quyết tâm đóng góp sức mình cho sự thống nhất trong hệ thống xã hội chủ nghĩa.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 13 là cương lĩnh về đấu tranh ngoại giao của Đảng trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước. Tinh thần cơ bản nhất của hội nghị được thể hiện trong nghị quyết là đường lối độc lập, tự chủ và sự chủ động, tích cực tiến công địch về ngoại giao. Lần đầu tiên trong một văn kiện chính thức, Đảng coi đấu tranh ngoại giao là một mặt trận. Điều đó không chỉ được thể hiện ở câu chữ mà còn ở từng nội dung của đường lối, chủ trương, phương châm, nhiệm vụ và những biện pháp thể hiện trong nghị quyết của hội nghị. Vì vậy, Hội nghị Trung ương lần thứ 13 được coi là hội nghị mở đầu mặt trận ngoại giao chống Mỹ, cứu nước.

Đến cuối năm 1967, cách mạng miền Nam đã giành được thắng lợi quan trọng cả về chính trị, quân sự. Quân và dân ta vẫn giữ vững và phát huy mạnh mẽ thế chủ động trên chiến trường. Về phía Mỹ, đưa chiến tranh cục bộ trong phạm vi miền Nam đến đỉnh cao, chúng đã bị tổn thất nặng nề về quân sự và chính trị, chiến lược và chiến thuật. Trên cơ sở phân tích tình hình mọi mặt có liên quan và theo dõi sát diễn biến thực tế chiến trường, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam nhận thấy một tình thế mới có lợi cho ta, bất lợi cho đối phương đã xuất hiện. Tháng 12-1967, Bộ Chính trị họp và quyết định mở cuộc tổng công kích và tổng khởi nghĩa nhằm giáng một đòn sấm sét vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ. Hội nghị của Bộ Chính trị đã được Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1-1968) thông qua và trở thành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đây là nghị quyết cố vũ tinh thần và quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân anh dũng tiến lên, thực hiện tổng công kích và tổng khởi nghĩa, giành thắng lợi quyết định cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước.

Nhận định về những chuyển biến của tình hình từ giữa năm 1965 đến đầu năm 1968, hội nghị cho rằng: Đế quốc Mỹ đã thất bại một bước rất cơ bản trong chiến lược chiến tranh cục bộ. Chúng đang lúng túng, bị động về chiến lược, chiến thuật, phải chuyển sang thực hiện chiến lược hai gọng kìm, nhằm “vừa tìm diệt, vừa bình định”, để đề phòng ta đánh lớn ngay trong mùa mưa năm 1967, nhưng đó là “sự chuyển hướng từ thế phản công chiến lược sang thế bị động phòng ngự về chiến lược; đó cũng là một bước thụt lùi về chiến lược của đế quốc Mỹ trên chiến trường miền Nam”(4), thể hiện một thất bại lớn về chiến lược của đế quốc Mỹ trong toàn bộ cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Đưa những cố gắng chiến tranh ở Việt Nam lên mức cao nhất, đế quốc Mỹ vẫn rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan về chiến lược, còn “chúng ta đã thắng lợi cả về chiến lược lẫn chiến thuật và thế lực của ta phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Lực lượng quân sự và chính trị của ta ở miền Nam đã lớn mạnh hơn bất cứ thời kỳ nào trong lịch sử chiến tranh giải phóng của ta. Chúng ta đang nắm quyền chủ động trên toàn bộ chiến trường”(5). Về tổng thể, so sánh lực lượng có lợi cho ta, con đối với Mỹ, một thất bại về quân sự đối với Mỹ lúc này sẽ có tác động mạnh đến tình hình chính trị nước Mỹ, vì đây là năm bầu cử Tổng thống Mỹ (11-1968). Các phe phái ở Mỹ đang bận rộn dồn sức vận động cho ứng cử viên tổng thống của đảng mình. Ra tranh cử chức Tổng thống Mỹ lần này, các ứng cử viên đều lấy việc “chấm dứt chiến tranh Việt Nam” là một trong những vấn đề chính để vận động tranh cử.


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.28, tr.174.
(2), (3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.28, tr.174, 176
(4), (5) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.29, tr.42, 48-49.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Tám, 2014, 10:03:12 PM
Trên cơ sở phân tích toàn diện tình hình ta và đối phương, Trung ương Đảng quyết định “đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên bước phát triển cao nhất, dùng phương pháp tổng công kích và tổng kinh nghiệm để giành thắng lợi quyết định”(1), nhằm thực hiện những nhiệm vụ chiến lược. 1- Tiêu diệt một phần quan trọng sinh lực và phương tiện chiến tranh của Mỹ, làm cho quân Mỹ không thể triển khai được âm mưu chính trị và quân sự của chúng ở Việt Nam; 2- Đập tan ý chí xâm lược của Mỹ, buộc Mỹ phải chịu thua ở miền Nam, chấm dứt mọi hành động chiến tranh đối với miền Bắc, tiến tới thống nhất nước nhà.

Hội nghị cũng lường định sự phức tạp, khốc liệt của cuộc tổng công kích và tổng khởi nghĩa sắp tới: Đó sẽ là “một giai đoạn, một quá trình tiến công chiến lược rất mãnh liệt và phức tạp”(2) “là một quá trình ta liên tục tiến công, truy kích, tiêu diệt và đánh đổ địch cả về quân sự và chính trị”(3). Đây là một đòn giáng mạnh vào lực lượng quân sự của Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa, vì thế, chắc chắn đối phương sẽ phản kích ác liệt để giành giật và chiếm lại những vị trí chiến lược quan trọng đã mất. Do vậy, trong quá trình tổng công kích và tổng khởi nghĩa, chúng ta phải “kết hợp tiến công quân sự với tiến công chính trị, thực hành ba mũi giáp công trên cả ba vùng chiến lược và phối hợp với tiến công ngoại giao”(4), trong đó, cuộc tiến công của các lực lượng vũ trang trên các chiến trường chính và sự nổi dậy của nhân dân ở các thành thị lớn là hai mũi tiến công chính kết hợp chặt chẽ với nhau, trợ lực lẫn nhau và thúc đẩy toàn bộ cuộc tổng công kích và tổng khởi nghĩa khắp cả ba vùng thành thị, nông thôn đồng bằng và rừng núi. Hội nghị cũng lưu ý rằng, “cuộc tiến công của các lực lượng vũ trang và sự nổi dậy của quần chúng nhân dân ở các thành thị lớn là mũi nhọn thọc vào yết hầu của địch, có tầm quan trọng quyết định đối với toàn bộ chiến trường và toàn bộ cuộc chiến tranh”(5). Vì vậy, tất cả những cuộc công kích và khởi nghĩa ở các vùng khác trên chiến trường miền Nam đều có nhiệm vụ phối hợp chặt chẽ với các thành thị và trợ lực đầy đủ cho các cuộc công kích và khởi nghĩa ở các thành thị lớn. Cần nắm vững nguyên tắc cơ bản là: “Tập trung lực lượng quân sự và lực lượng chính trị đến mức cao nhất, một cách hợp lý nhất, tiến công mãnh liệt vào những hướng chiến lược chính; kiên quyết tiến công, liên tục tiến công, nhằm đúng vào những nơi xung yếu của địch mà đánh những đòn quyết định, giành cho kỳ được thắng lợi ở những nơi quyết định, phải tuyệt đối giữ cho được nhân tố bất ngờ; phải biết giành thắng lợi từng giờ, từng phút và không ngừng mở rộng thắng lợi; kiên quyết chống trả và bẻ gãy các cuộc phản kích của địch và truy kích địch đến cùng để giành thắng lợi cao nhất”(6). Hội nghị đã dự kiến ba khả năng phát triển của tình hình:

Thứ nhất, ta giành được thắng lợi to lớn ở các chiến trường quan trọng, những cuộc công kích và khởi nghĩa của ta cuối cùng thành công ở các đô thị lớn. Đế quốc Mỹ bị thất bại đến mức không còn gượng dậy được, ý chí xâm lược của chúng bị đè bẹp, phải chịu thua, buộc chúng phải thương lượng và phải kết thúc chiến tranh theo những mục tiêu và yêu cầu của ta.

Thứ hai, ta tuy giành được thắng lợi quan trọng ở nhiều nơi, nhưng đối phương tập trung và tăng thêm lực lượng từ ngoài vào, giành lại và giữ được những vị trí quan trọng, ổn định được các thành thị lớn, nhất là Sài Gòn - Gia Định, dựa vào các căn cứ lớn để tiếp tục chiến đấu với ta.

Thứ ba, Mỹ động viên và tăng thêm nhiều lực lượng, mở rộng chiến tranh cục bộ ra miền Bắc, sang Campuchia và Lào, hòng xoay chuyển cục diện chiến tranh và gỡ thế thua của chúng.

Trong ba khả năng đó, hội nghị nhấn mạnh đến khả năng thứ nhất, cần tập trung mọi nỗ lực phi thường, đem hết tinh thần và lực lượng để giành thắng lợi theo khả năng này; đồng thời, sẵn sàng đối phó với khả năng thứ hai và cảnh giác, đề phòng để chủ động đối phó với khả năng thứ ba, mặc dù khả năng này ít xảy ra.

Nhận định đúng tình hình này, đưa ra chủ trương chiến lược táo bạo, Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Thực hiện tư tưởng chỉ đạo của hội nghị, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) đã diễn ra và giành thắng lợi hết sức to lớn, góp phần quyết định làm phá sản chiến lược chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ ở miền Nam. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) của quân và dân ta ở miền Nam đã gây chấn động, làm bàng hoàng nước Mỹ, tạo ra bước ngoặt lớn buộc đế quốc Mỹ phải thay đổi chiến lược, xuống thang chiến tranh.

Choáng váng trước đòn tiến công chiến lược của quân và dân ta, chính quyền Mỹ hiểu ra rằng không thể thắng nổi một dân tộc có tầm cao văn hóa, giàu trí tuệ, đẩy bản lĩnh, gan góc chiến đấu vì độc lập tự do và thống nhất Tổ quốc. Vì vậy, bước vào Nhà Trắng (1-1969), Níchxơn đề ra học thuyết và chiến lược quân sự toàn cầu mới “răn đe thực tế” thay thế cho chiến lược “phản ứng linh hoạt” đã bị phá sản. Đối với cuộc chiến ở Việt Nam, Mỹ chuyển từ phi Mỹ hóa chiến tranh sang chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh mà thực chất là “dùng người Việt Nam đánh người Việt Nam” với sự chi viện hỏa lực, hậu cần của Mỹ nhằm tiếp tục duy trì chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở miền Nam. Từ năm 1969, đế quốc Mỹ tiến hành bước phiêu lưu quân sự mới, mở rộng chiến tranh sang Lào và Campuchia, bến Đông Dương thành một chiến trường. Đồng thời, chúng tiến hành những chiến dịch ngoại giao xảo quyệt: thỏa hiệp với các nước lớn là Trung Quốc, Liên Xô để gây sức ép và cô lập cách mạng Việt Nam. Đứng trước những thử thách nghiêm trọng của tình hình, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trên cả hai miền Nam - Bắc đoàn kết một lòng, triệu người như một, kiên quyết tiến hành cuộc chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Quân và dân ta ở miền Nam đẩy mạnh phản công và tiến công đối phương, từng bước khôi phục vùng giải phóng, khôi phục phong trào cả ở ba vùng chiến lược, sát cánh cùng quân, dân Lào và quân, dân Campuchia anh em đánh thắng các bước phiêu lưu quân sự mới của địch. Ở miền Bắc, sau khi đế quốc Mỹ buộc phải ngừng ném bom đánh phá, quân, dân ta đã nỗ lực cao độ, phục hồi và đẩy mạnh sản xuất, củng cố miền Bắc về mọi mặt, tăng cường tiềm lực kinh tế, quốc phòng, chi viện mạnh mẽ cho cách mạng miền Nam và các nước Đông Dương anh em.


(1), (2), (3), (4) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.29, tr.50, 51, 52, 51.
(5) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.29, tr.51.
(6) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.29, tr.55.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Tám, 2014, 10:07:22 PM
Trong những năm 1969 - 1972, chúng ta đã giành được những chiến thắng to lớn, toàn diện (Cánh Đồng Chum, Đường 9 - Nam Lào, cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên toàn chiến trường miền Nam...). Ở miền Bắc, mặc dù đế quốc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai bằng không quân và hải quân, đánh phá miền Bắc ở mức độ khốc liệt, kể cả đánh thẳng vào Thủ đô Hà Nội và phong tỏa cảng Hải Phòng, nhưng những cố gắng cao độ của không quân, hải quân Mỹ, đặc biệt là cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B.52 vào Hà Nội, Hải Phòng đã bị đập tan. Những thắng lợi đó đã buộc Chính phủ Mỹ phải ký Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (27-1-1973), công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; chấm dứt mọi sự dính líu quân sự, rút hết quân Mỹ và quân các nước đồng minh của Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam, chấp nhận lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam vẫn ở nguyên tại miền Nam... Hiệp định Pari là cột mốc đánh dấu bước ngoặt căn bản cho cách mạng Việt Nam, đưa sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bước sang giai đoạn phát triển mới.

Sau ngày Hiệp định Pari được ký kết, những tháng đầu năm 1973, địch đẩy mạnh tiến công lấn chiếm vùng giải phóng. Trong khi đó, ở nhiều địa phương và một số đơn vị, do tin tưởng vào khả năng hòa bình, không lường hết âm mưu và thủ đoạn của đối phương, nên lơ là mất cảnh giác. Trên thực tế, đối phương đã tiến công lấn chiếm được nhiều địa bàn, chiếm giữ được một số trục đường giao thông huyết mạch có ý nghĩa chiến lược. Trước tình hình mới, tháng 10-1973, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 21 được triệu tập. Tại hội nghị quan trọng này, các vấn đề lớn, có tính cấp thiết đã được đặt ra thảo luận nhằm đưa sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tiếp tục phát triển.

Hội nghị khẳng định: cuộc kháng chiến đã “trở thành cuộc đọ sức điển hình, thành tiêu điểm của cuộc đấu tranh vô cùng quyết liệt giữa cách mạng và phản cách mạng trên thế giới, là cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc mang tính chất thời đại rất sâu sắc(1). Hội nghị cũng chỉ rõ rằng, cách mạng Việt Nam đã chuyển sang một giai đoạn mới - một giai đoạn rất vẻ vang của dân tộc, “hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và thực hiện hòa bình, thống nhất nước nhà”(2).

Hội nghị chỉ rõ: “Chính sách cơ bản của đế quốc Mỹ ở Việt Nam vẫn là thực hiện “học thuyết Níchxơn”, áp đặt chủ nghĩa thực dân mới kiểu Mỹ ở miền Nam, chia cắt lâu dài đất nước ta”(3). Để thực hiện mục tiêu đó, đế quốc Mỹ tiếp tục hỗ trợ chính quyền Việt Nam Cộng hòa tăng cường lực lượng, dùng bạo lực phản cách mạng để duy trì ách thống trị. Đồng thời, Mỹ sẽ triệt để lợi dụng xu thế hòa hoãn trên thế giới, lợi dụng mâu thuẫn trong phe xã hội chủ nghĩa, sử dụng mọi thủ đoạn ngoại giao, kinh tế và chính sách cân bằng lực lượng giữa các nước lớn để ngăn chặn sự phát triển của cách mạng Việt Nam. Trên cơ sở phân tích âm mưu, hành động của đối phương, đánh giá lực lượng so sánh giữa đối phương và ta, lường định diễn biến của tình hình chiến trường trong nước và trên thế giới, hội nghị khẳng định: “Con đường của cách mạng miền Nam là con đường bạo lực cách mạng. Bất kể trong tình hình nào, ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công và chỉ đạo linh hoạtđể đưa cách mạng miền Nam tiến lên”(4).

Về so sánh lực lượng giữa ta và đối phương, Hội nghị phân tích:

Về phía đối phương, chính quyền Sài Gòn có những mặt yếu rất cơ bản về chính trị mà chỗ mạnh tạm thời về quân sự của chúng không thể bù đắp được. Quá trình phát triển của tình hình đối phương ở miền Nam là quá trình đi xuống. Mỹ và chính quyền Sài Gòn không thể khắc phục được những mâu thuẫn sâu sắc và trầm trọng trong chế độ thực dân mới.

Về phía ta, tuy có một vài điểm yếu, lực lượng vũ trang của ta phát triển chưa cân đối giữa ba thứ quân, các mũi tấn công chính trị, quân sự, binh vận ở nhiều nơi chưa đủ mạnh, hữu khuynh trong chủ trương đối phó với địch trên những bước chuyển lớn của tình hình...), nhưng “thế và lực của cách mạng miền Nam hiện nay mạnh hơn bất cứ thời kỳ nào từ năm 1954 đến nay”(5) trên cả phương diện chính trị lẫn quân sự.

Hội nghị đề ra nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam là tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh trên cả ba mặt trận: chính trị, quân sự, ngoại giao, nhiệm vụ của miền Bắc là tiếp tục làm tròn nhiệm vụ hậu phương lớn đối với cách mạng miền Nam và tích cực đấu tranh để Hiệp định Pari về Việt Nam được thi hành nghiêm chỉnh. Hội nghị tiếp tục đẩy mạnh cần tăng cường đoàn kết giữa nhân dân ba nước Đông Dương; đồng thời, tăng cường đoàn kết trong phe xã hội chủ nghĩa, trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế và đoàn kết các phong trào đấu tranh của nhân dân thế giới chống chủ nghĩa đế quốc.

Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương là hội nghị quan trọng nhất kết từ sau Hiệp định Pari. Trên cơ sở tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước sau 18 năm, một mặt, hội nghị rút ra những kinh nghiệm chủ yếu cho cách mạng miền Nam; mặt khác, đề ra chủ trương biện pháp cơ bản để đưa cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam tiến lên giai đoạn mới - giai đoạn cuối cùng của sự nghiệp giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Sau Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, các cơ quan chiến lược tập trung giúp Quân ủy Trung ương chuẩn bị chủ trương và những giải pháp lớn về quân sự mà trọng tâm là xây dựng Kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam. Trong vòng một năm (4.1973 - 5.1974), kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam được soạn thảo, chỉnh lý, bổ sung qua nhiều lần. Đó là cả một quá trình nắm bắt kịp thời mọi diễn biến chiến trường, trong nước và trên thế giới trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan tới cuộc chiến tranh; là quá trình bàn bạc, tính toán, cân nhắc, chọn lựa các giải pháp giữa cơ quan chỉ đạo chiến lược với lãnh đạo, chỉ huy các chiến trường. Trong suốt quá trình đó, nhiều vấn đề lớn đặt ra yêu cầu phải được phân tích, đánh giá đầy đủ, toàn diện: “Làm thế nào để tạo được thời cơ? Cần làm gì để chớp thời cơ không được để lỡ? Hướng chiến lược là đâu? Đánh như thế nào để tiêu diệt được chiến đoàn và sư đoàn quân ngụy?... Khả năng can thiệp của Mỹ nếu ta đánh lớn?”(6)... Sau nhiều cuộc trao đổi, thảo luận, bản dự thảo kế hoạch chiến lược với tên gọi Kế hoạch giành thắng lợi ở miền Nam sau vài ba năm làm thay đổi so sánh lực lượng ở miền Nam, mang số 133/TG1, hoàn thành vào ngày 16-5-1974.


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.34, tr.213.
(2), (3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.34, tr.226, 227, 232.
(4) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.34, tr.232.
(5) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.34, tr.229.
(6) Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.109.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Tám, 2014, 10:09:49 PM
Theo dõi sát sao tình hình chiến trường, Bộ Chính trị tiếp tục ra những quyết định quan trọng về giải phóng miền Nam. Tháng 9-194, Bộ Chính trị họp và nhận định: “Nhìn chung, ta đã chuyển lên tấn công, ngày càng giành được quyền chủ động”; “Thế và lực của ta phát triển vững chắc, mạnh hơn bất cứ thời kỳ nào trước đây. Đã xuất hiện tấn công và nổi dậy từng phần ở nông thôn; ta đang ở thế thắng, thế đi lên(1). Bộ Chính trị quyết tâm hoàn thành sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, “phải tiến hành mọi công việc chuẩn bị thật khẩn trương, tạo điều kiện và cơ sở vật chất đầy đủ nhất để đánh mạnh, đánh nhanh, thắng gọn và thắng triệt để trong hai năm 1975 - 1976”(2) với kế hoạch chiến lược gồm hai bước: Bước 1 (1975): tranh thủ yếu tố bất ngờ, tập trung lực lượng, phương tiện, vũ khí đánh đối phương trên phạm vi lớn toàn miền Nam; Bước 2, (1976): thực hiện tổng công kích - tổng khởi nghĩa, giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Đây là một quyết định rất dũng cảm, có thể nói là táo bạo, là kết quả trí tuệ tập thể Bộ Chính trị, là kết quả của những suy nghĩ đã nung nấu từ lâu, của sự cân nhắc chín chắn xuất phát từ kinh nghiêm được tích lũy qua mấy mươi năm chiến đấu, xuất phát từ thực tiễn cách mạng trên chiến trường, từ lực lượng so sánh trong nước và trên thế giới.

Thực hiện chủ trương chiến lược của Hội nghị Bộ Chính trị tháng 10-1974, quân và dân ta trên cả hai miền Nam - Bắc bước vào giai đoạn chuẩn bị mới với nhịp độ khẩn trương hơn và quy mô cũng lớn hơn, nhằm đáp ứng đòi hỏi của tình hình chiến trường miền Nam đang diễn biến rất mau lẹ.

Sau chiến thắng Phước Long - chiến thắng có ý nghĩa chiến lược, đánh dấu bước suy sụp mới của quân đội Việt Nam Cộng hòa, Hội nghị Bộ Chính trị đợt 2 (18-12-1974) thông qua kế hoạch kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh cứu nước trong hai năm 1975 - 1976. Ngoài kế hoạch chiến lược cơ bản hai năm, Bộ Chính trị còn dự kiến phương án nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975, thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975.

Thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh lập tức triển khai kế hoạch chuẩn bị cho cuộc tiến công chiến lược năm 1975. Bám sát diễn biến và dự đoán chính xác xu thế chuyển động của tình hình chiến trường, ngày 18-3-1975, Bộ Chính trị họp và quyết định giải phóng miền Nam trong năm 1975. Tiếp đó, tại phiên họp ngày 25-3-1975, Bộ Chính trị quyết định giải phóng miền Nam trước mùa mưa 1975 và đến ngày 31-3-1975, Bộ Chính trị quyết định giải phóng miền Nam trong tháng 4-1975. Những quyết định đó dựa trên thế tiến công như vũ bão và thắng lợi dồn dập của ta từ sau chiến thắng Buôn Ma Thuột (10-3-1975), chiến dịch Tây Nguyên, Trị - Thiên và Khu V, giải phóng ven biển miền Trung. Quân đội Việt Nam Cộng hòa tan rã từng mảng, hoang mang và hỗn loạn, lâm vào thế thất bại hoàn toàn không thể cứu vãn nổi. Ngày 26-4-1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh đánh vào Sài Gòn - Gia Định bắt đầu và kết thúc thắng lợi vào trưa ngày 30-4-1975. Ngày 2-5-1975, toàn bộ đồng bằng sông Cửu Long và các hải đảo (trừ Hoàng Sa) được giải phóng. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 21 năm của nhân dân ta đã toàn thắng.

*
*   *

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là kết quả hợp thành của những nhân tố cơ bản tạo ra và nhân lên sức mạnh tổng hợp to lớn của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam, trong đó, đường lối chính trị, đường lối quân sự độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo mà Đảng Lao động Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đề ra và chỉ đạo thực hiện, có tính quyết định. Quá trình Đảng đề ra và thực hiên đường lối chiến lược, phương thức tiến hành chiến tranh trong từng giai đoạn của cuộc kháng chiến đều xuất phát từ mục tiêu chiến lược nhất quán là vì nền độc lập, tự do, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Quá trình đó luôn chịu sự tác động của những nhân tố trong nước, trong khu vực và trên tường quốc tế, trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan tới sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta. Trung thành vô hạn với Tổ quốc, với nhân dân; kiên định lập trường cách mạng, trên cơ sở lường định đúng chuyển biến của tình hình, đánh giá dúng âm mưu và thủ đoạn của kẻ thù cũng như đánh giá đúng tương quan lực lượng so sánh đôi bên với quan điểm cách mạng và khoa học, Đảng Lao động Việt Nam đã đề ra đường lối kháng chiến độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo để lãnh đạo, chỉ đạo toàn dân, toàn quân ta trên cả hai miền trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Từ những đường hướng cơ bản đầu tiên, đường lối kháng chiến của Đảng không ngừng được bổ sung, hoàn chỉnh, hình thành giải pháp tối ưu, là nhân tố quyết định sự phát triển của cuộc kháng chiến, đánh thắng các chiến lược chiến tranh của kẻ thù xâm lược. Nói một cách khái quát, đó là thắng lợi của chiến lược giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, kết hợp chặt chẽ và nhịp nhàng trong mối tương quan biện chứng giữa hai chiến lược cách mạng; đó là thắng lợi của sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, kết hợp nghĩa vụ dân tộc và nghĩa vụ quốc tế cao cả, trong sáng; thắng lợi của đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, của nghệ thuật chỉ đạo chiến lược tài tình, của bộ não chỉ đạo cách mạng Việt Nam.


(1), (2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.35, tr.370, 185.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Tám, 2014, 08:29:35 PM
Chương 39

PHÁT HUY SỨC MẠNH CỦA DÂN TỘC,
KẾT HỢP SỨC MẠNH DÂN TỘC VỚI SỨC MẠNH THỜI ĐẠI

I - SỨC MẠNH CỦA DÂN TỘC ĐƯỢC PHÁT HUY LÊN TẦM CAO MỚI

1. Truyền thống yêu nước - cội nguồn sức mạnh dân tộc

Lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam đã chứng tỏ, thời nào cũng vậy, sức mạnh dân tộc luôn là nguồn nội lực quan trọng có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của các cuộc kháng chiến. Tuy nhiên, sức mạnh dân tộc chỉ được khơi dậy, phát huy khi có đường lối kháng chiến đúng đắn do lực lượng lãnh đạo kháng chiến đề ra. Với ý nghĩa đó, sức mạnh của dân tộc có thể được hiểu như là điều kiện “cần” và đường lối kháng chiến đúng đắn như là điều kiện “đủ”. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đường lối chiến lược giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội do Đảng Lao động Việt Nam đề xướng đã đáp ứng yêu cầu của mục tiêu đường lối chống xâm lược, thống nhất đất nước. Chính vì có đường lối chiến lược đúng đắn, phù hợp, nên Đảng đã tổ chức, động viên được sức mạnh toàn dân và nâng sức mạnh ấy lên tầm cao mới, với lượng mới, chất mới và với những biểu hiện hết sức sáng tạo, phong phú.

Ngược dòng lịch sử, có thể thấy rằng sức mạnh dân tộc Việt Nam được tạo dựng, hun đúc qua mấy nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, được biểu hiện bằng truyền thống yêu nước nồng nàn, tinh thần đoàn kết, ý chí bất khuất, quật cường trong đấu tranh chống ngoại xâm.

Từ buổi bình minh của lịch sử dân tộc, trước những đòi hỏi chế ngự thiên nhiên, duy trì và bảo vệ cuộc sống cộng đồng, các tộc người Việt đã liên kết lại thành cộng đồng lớn và đó là cơ sở cho việc hình thành nhà nước Văn Lang - Âu Lạc. Sự cố kết ban đầu mang tính đơn lẻ, giữa làng này với làng khác (tục kết chạ), phát triển dần thành tình cảm rộng lớn - yêu nước, thương nòi.

Thời kỳ Bắc thuộc và chống Bắc thuộc hơn 1.000 năm, tinh thần yêu nước của người Việt vẫn được hun đúc trước nhiều thủ đoạn thâm độc của thế lực đô hộ (đồng hóa văn hóa và nhân chủng - chính sách đồng văn, đồng chủng). Các cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bôn (Lý Nam Đế, Triệu Quang Phục (Triệu Việt Vương), Mai Thúc Loan (Mai Hắc Đế), Phùng Hưng, Ngô Quyền tiêu biểu cho tinh thần yêu nước nồng nàn và ý chí đấu tranh quật cường của người Việt. Trong thời kỳ này, tinh thần yêu nước đã tạo ra sức mạnh to lớn, nhấn chìm dã tâm thâm độc của thế lực phong kiến phương Bắc, đồng thời là biểu hiện sinh động cho ý chí độc lập, tự chủ, tự cường của dân tộc, và đó chính là cơ sở để hình thành truyền thống yêu nước.

Bước vào kỷ nguyên Đại Việt (thế kỷ X), truyền thống yêu nước đã được phát huy mạnh mẽ: ý chí độc lập, tự cường được nhân lên gấp bội.

Sau thắng lợi oanh liệt của nhân dân ta chống quân Nam Hán (938), nhà nước phong kiến Việt Nam độc lập, phát triển với những thành tựu rực rỡ trên nhiều lĩnh vực kinh tế - chính trị - xã hội - văn hóa- giáo dục. Trong quá trình xây dựng đất nước, các triều đại phong kiến Việt Nam phải tổ chức nhiều cuộc kháng chiến chống xâm lược: nhà Tiền Lê (Lê Hoàn) đánh thắng quân xâm lược lần thứ nhất (981); nhà Lý đánh thắng quân xâm lược Tống lần thứ hai (1077); nhà Trần ba lần đánh thắng quân Mông - Nguyên (1258, 1285, 1288); nhà Hồ thất bại trước quân Minh xâm lược (1407); Lê Lợi tổ chức kháng chiến chống xâm lược Minh giành thắng lợi (1418 - 1427); Quang Trung đại phá quân Thanh (1789); nhà Nguyễn thất bại trước quân xâm lược Pháp (giữa thế kỷ XIX). Qua những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm dưới các triều đại phong kiến, một đặc điểm dễ nhận thấy, triều đại nào biết chăm lo sức dân, tổ chức động viên được sức mạnh của toàn dân cho công cuộc cứu nước thì triều đại đó chống ngoại xâm thắng lợi; ngược lại, triều đại nào không thu phục được nhân tâm, khả năng tổ chức, điều hành đất nước kém cỏi khiến lòng dân ly tán, thì cuộc kháng chiến chống xâm lược do triều đại ấy tiến hành trước sau đều thất bại, và nhân dân phải chịu cảnh nô lệ,, nước mất, nhà tan. Chính vì vậy, các cuộc kháng chiến chống xâm lược chỉ có thể giành được thắng lợi khi và chỉ khi:

- Quan quân triều đình và nhân dân hợp thành một khối thống nhất, luôn nêu cao quyết tâm giữ vững nền độc lập, có nhà nước tập quyền mạnh, có thiết chế xã hội chặt chẽ, có quân đội được tổ chức tốt và một nền văn hóa mang bản sắc riêng biệt, thì dù thế lực xâm lược mạnh đến đâu cũng khó lòng đánh bại được ý chí, quyết tâm kháng chiến.

- Tinh thần đoàn kết để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc bộc lộ thành hành động tự giác trên nền tảng của lòng yêu nước thẳm sâu trong tâm hồn mỗi người dân, của mọi người dân và của mọi thành phần dân tộc.

- Lòng tự hào dân tộc, biết ơn các thế hệ đi trước trở thành ý thức thường trực trong các thế hệ người dân đất Việt.

- Ý thức vì dân tộc, vì nghĩa lớn của giai cấp thống trị tiến bộ được bộc lộ thành yêu nước gắn với thương dân - mang yếu tố nhân dân.

Các nhân tố nói trên là biểu hiện rõ nét của truyền thống yêu nước; của tinh thần đoàn kết gắn với ý thức sâu sắc về quốc gia - dân tộc (nhiệm vụ cứu nước là của toàn dân - kháng chiến toàn dân, toàn diện), của lòng tự hào, tự tôn dân tộc đã được hun đúc trong trường kỳ lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc. Đó chính là nền tảng tinh thần để mỗi thế hệ người Việt Nam chăm lo, bồi đắp, phát huy.

Với nền tảng của lòng yêu nước, của truyền thống đấu tranh quật cường thấm sâu vào tận máu thịt, nhân dân ta dưới ngọn cờ đoàn kết của Đảng Lao động Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, đã phát huy sức mạnh chưa từng có của lòng yêu nước, khối đoàn kết thống nhất muôn người như một, cả nước chung sức, toàn dân đánh giặc, quyết chiến, quyết thắng trong cuộc chiến tranh giải phóng đất nước và bảo vệ Tổ quốc vĩ đại.

Như vậy là, trải qua lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước trong những điều kiện vô cùng khốc liệt, dân tộc ta đã sớm hình thành ý thức, tinh thần tự lực, tự cường, luôn dựa vào bản thân mình là chính. Đây là một truyền thống quý báu của dân tộc, góp phần làm nên nguồn cội của sức mạnh Việt Nam. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, quan điểm của Đảng là luôn luôn phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, phát huy nội lực, và tinh thần sáng tạo của toàn thể dân tộc, đồng thời tranh thủ được ngày càng rộng rãi sự ủng hộ, giúp đỡ của nhân loại tiến bộ và bạn bè quốc tế, nhất là chính phủ và nhân dân các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa anh em, Đảng Lao động Việt Nam khẳng định: “Việc giải phóng dân tộc luôn luôn là việc của bản thân ta”(1), và “Không nên[ỷ lại vào ai hết. Tự do, hạnh phúc của dân ta phải tự dân ta vun trồng lấy”(2). Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhắc nhở: “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”(3), phải “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”, kháng chiến khó khăn, gian khổ, là sự thử thách đối với tinh thần yêu nước, ý thức tự lực tự cường của dân tộc. Hơn bao giờ hết, phải tự lực cánh sinh, phải dựa vào sức mình, dựa vào sức mạnh nội lực là chính, chủ động ứng phó với mọi biến đổi của tình hình.


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.8, tr.44.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.7, tr.570.
(3) Hồ Chí Minh: [/i]Toàn tập[/i], Sđd, t.6, tr522.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Tám, 2014, 08:30:57 PM
2. Hình thành Mặt trận dân tộc thống nhất chống Mỹ, cứu nước

Từ lúc nắm giữ ngọn cờ cách mạng Việt Nam, Đảng Lao động Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thấu suốt quan điểm, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng; đoàn kết dân tộc là khâu then chốt đưa đến thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc. Chính vì vậy, bằng các hình thức tổ chức mặt trận như: Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Liên Việt và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thích hợp với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng và kháng chiến trong từng giai đoạn cụ thể, Đảng Lao động Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo toàn dân tộc] Việt Nam, đứng lên tổng khởi nghĩa, giành lại độc lập, tự do vào tháng 8-1945, rồi 9 năm sau, lập nên chiến công lừng lẫy Điện Biên năm 1954, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Thành quả to lớn đó, một mặt biểu hiện thành công trong chiến lược đoàn kết dân tộc của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, mặt khấc, nó mang lại nhiều bài học có giá trị lý luận và thực tiễn, đặc biệt, khi nhân dân ta phải đương đầu với cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới do Mỹ tiến hành.

Ngay từ khi khởi sự cuộc kháng chiến chống Mỹ, trong điều kiện đất nước bị chia làm hai miền, Trung ương Đảng sóm xác định cách mạng Việt Nam thực hiện cùng lúc hai chiến lược cách mạng. Hai chiến lược - hai nhiệm vụ cùng chung mục tiêu hoàn thành giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Trên cơ sở hai nhiệm vụ chiến lược, Đảng đồng thời xác định vai trò, vị trí của từng miền trong quá trình thực hiện mục tiêu chung, từ đó đề ra chủ trương, đường lối, sách lược phù hợp nhằm đoàn kết toàn dân, tổ chức toàn dân vào mặt trận chống Mỹ, cứu nước.

Tổ chức và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong những điều kiện mới - nửa nước hòa bình và nửa nước có chiến tranh, Đảng nhận thức rõ những thuận lợi và khó khăn của quá trình ấy.

Thuận lợi cơ bản là miền Bắc hoàn toàn giải phóng, Đảng và chính quyền nhân dân được tổ chức, củng cố vững chắc từ trung ương tới cơ sở, nhân dân miền Bắc nêu cao tinh thần đoàn kết xung quanh Đảng và Bác Hồ, ra sức thi đua xây dựng cuộc sống mới và phấn đấu cho hòa bình, thống nhất đất nước.

Tuy nhiên, miền Bắc bước ra khỏi cuộc kháng chiến chống Pháp với bao bộn bề khó khăn. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thấp kém, lạc hậu. Đó là hậu quả do Pháp để lại hơn 80 năm đô hộ và 9 năm quay lại xâm lược nước ta (1945 - 1954). Do vậy, nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trên miền Bắc là phải khôi phục lại sản xuất, ổn định xã hội.

Trên miền Bắc những tháng năm đầu sau giải phóng, cuộc cải cách ruộng đất tiếp diễn (đợt 2 và 3), đưa lại tư liệu sản xuất chính cho một bộ phận lớn nông dân. Cuộc cải cách ruộng đất đem lại quyền lợi thiết thực và niềm phấn khỏi cho nông dân, nhưng quá trình thực hiện, Đảng đã mắc phải sai lầm trong phương pháp tiến hành. Kịp thời phát hiện sai lầm, Đảng đã tự phê bình nghiêm khắc, đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận sai lầm trước toàn Đảng, toàn dân(1).

Những năm đầu xây dựng miền Bắc trong hòa bình cũng chính là quãng thời gian Đảng, Nhà nước Việt Nam xây dựng, củng cố bộ máy tổ chức, phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị từ trung ương đến các địa phương. Sự ổn định về chính trị là điều kiện tiên quyết để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tập trung sức cho nhiệm vụ thiêng liêng - đấu tranh thống nhất nước nhà.

Sức mạnh chính trị được thể hiện qua hệ thống chính trị với sự lãnh đao tập trung thống nhất của Đảng và hoạt động hiệu quả của Nhà nước, vì đây là những nhân tố có liên quan tới đường lối chính trị, xây dựng lực lượng chính trị, tập hợp, đoàn kết toàn dân tộc. Đảng có vai trò quyết định trong quá trình tập hợp, phát huy hiệu lực của khối đại đoàn kết toàn dân, hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị, trước hết là Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể quần chúng cơ bản. Hiệu lực hoạt động của các tổ chức này gắn liền với quá trình xây dựng, phát huy tính ưu việt của chế độ mới, với việc phát huy quyền làm chủ thực sự của nhân dân. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mọi chính sách, chế độ, quy định của Đảng và Nhà nước đều phải thực hiện trên cơ sở vận động, giáo dục để trở thành hoạt động tự giác của đông đảo quần chúng. Mặt trận, các đoàn thể vừa là nơi tập hợp, vừa nơi quần chúng thực hiện quyền làm chủ của mình.


(1) Xem Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.219.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Tám, 2014, 08:33:04 PM
Trong những điều kiện đó, tại Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II đã xác định: “Cuộc đấu tranh để thống nhất nước nhà là một cuộc đấu tranh rất gian khổ và phức tạp. Ta chủ trương thực hiện thống nhất dần từng bước, nhưng cần nhận rõ rằng mỗi bước là một quá trình đấu tranh gay go. Muốn giành thắng lợi, cần phải mở rộng và củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất trong toàn quốc, tập hợp mọi lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình, từ Bắc đến Nam, tranh thủ bất cứ người nào ta có thể tranh thủ, trung lập bất cứ người nào ta có thể trung lập, phân hóa Mỹ - Pháp, phân hóa bọn thân Mỹ và bọn thân Pháp, cô lập đế quốc Mỹ và bọn thân Mỹ ngoan cố, khắc phục mọi trở lực trong nước và ngoài nước. Do đó, trên cơ sở thỏa mãn yêu cầu cơ bản của nhân dân lao động và đảm bảo độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn của nước nhà, ta cần chiếu cố một cách thích đáng đến quyền lợi của các tầng lớn trên ở miền Nam, quyền lợi của Pháp, của bọn thân Pháp sau khi thống nhất, và ngay cả quyền lợi của những phần tử tuy hiện nay thân Mỹ, nhưng sau này tán thành hòa bình, thống nhất(1).

Trên cơ sở chủ trương lập Mặt trận dân tộc thống nhất, hội nghị thông qua bản Dự thảo Cương lĩnh của Mặt trận. Hội nghị nêu rõ: “Sau khi bản dự thảo đã chính thức thành Cương lĩnh chung của Mặt trận, nó sẽ là cơ sở tập họp mọi lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình trong cả nước để đấu tranh chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng, giành thống nhất nước nhà, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”(2).

“Bản cương lĩnh chung thể hiện rõ rệt lập trường của ta đối với vấn đề thống nhất Tổ quốc. Nó xuất phát từ thực tế khách quan của nước ta lúc này: nước ta tạm thời chia làm hai miền. Nó dựa trên phương châm chung của nước ta là củng cố miền Bắc, chiếu cố miền Nam. Một mặt, nó không hạn chế ta trong công tác củng cố miền Bắc, hoàn thành cải cách ruộng đất, đẩy mạnh việc khôi phục và phát triển kinh tế, thực hiện những cải cách dân chủ cần thiết, củng cố quốc phòng, v.v. Nó chẳng những không hạ thấp yêu cầu cơ bản của nhân dân miền Nam và hạn chế nhân dân miền Nam trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng, mà còn cung cấp cho nhân dân miền Nam cũng như nhân dân toàn quốc một vũ khí để củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước. Mặt khác, nó chiếu cố thích đáng đến quyền lợi của mọi tầng lớp ở miền Nam và làm cho tầng lớp trên ở miền Nam thấy rằng sau khi nước nhà thống nhất, họ vẫn có quyền lợi và địa vị nhất định của họ. Như thế ta sẽ tranh thủ được sự đồng tình của nhiều tầng lớp trong cả nước, cô lập được đế quốc Mỹ và bọn thân Mỹ, bọn chia rẽ, bọn ngoan cố và làm thất bại mọi kế hoạch thâm độc của chúng.

Về mặt quốc tế, bản cương lĩnh chung sẽ giúp ta không những tranh thủ được sự đồng tình và ủng hộ tích cực của nhân dân Pháp và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, mà còn có thể tranh thủ được sự đồng tình của chính phủ một số nước, cô lập đế quốc Mỹ, tranh thủ được những điều kiện thuận lợi ở ngoài nước cho sự nghiệp thống nhất Tổ quốc.

Trung ương kêu gọi toàn Đảng phấn dấu cho bản cương lĩnh chung được phổ biến rộng khắp, để tập hợp nhân dân toàn quốc xung quanh Hồ Chủ tịch và Đảng đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ”(3).

Để thực hiện thống nhất nước nhà, phải mở rộng và củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất, đoàn kết và lãnh đạo nhân dân toàn quốc đấu tranh kiên quyết, bền bỉ và khôn khéo, phá tan mọi âm mưu của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng, đòi đương cục miền Nam phải hiệp thương với Chính phủ Việt Nam, tiến tới thực hiện tổng tuyển cử tự do trong toàn quốc.

Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng nhất định sẽ tìm mọi cách ngăn cản và phá hoại sự nghiệp thống nhất nước ta. Nhưng nếu trên cơ sở miền Bắc được củng cố, ta tập hợp được các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình trong cả nước, tranh thủ được sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới, thì nhất định ta sẽ giành được thắng lợi. Cần triệu tập Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất để thông qua Cương lĩnh và Điều lệ mới của Mặt trận. Sau đại hội, cần tuyên truyền sâu rộng Cương lĩnh của Mặt trận làm cho nó thật sự trở thành cương lĩnh chung của toàn dân, do đó mà thiết thực củng cố đoàn kết giữa các tầng lớn nhân dân, đẩy mạnh mọi công tác trước mắt.


(1), (2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.16, tr.573-574.
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.16, tr.574-575.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Tám, 2014, 08:36:11 PM
“Ở miền Bắc, cần động viên quần chúng nhân dân kết hợp cuộc đấu tranh đòi mở hội nghị hiệp thương, tiến tới thống nhất nước nhà, với mọi công tác củng cố miền Bắc, làm cho mọi người đều lấy thành tích lao động và công tác trước mắt mà ủng hộ bản cương linh chung một cách tích cực.

Ở miền Nam, cần vận động quần chúng nhân dân dùng những hình thức đấu tranh thích hợp đòi thi hành đúng đắn Hiệp định Giơnevơ, đòi hiệp thương và tổng tuyển cử, đòi đảm bảo an ninh, trật tự và sinh mệnh, tài sản của nhân dân, đòi các quyền tự do dân chủ, chống khủng bố, chống báo thù những người trước đây đã tham gia kháng chiến, phản đối Mỹ lôi kéo miền Nam Việt Nam vào khối liên minh quân sự của Mỹ, v.v. Các cuộc đấu tranh đó phải theo đúng phương châm có lý, có lợi, có mức, tránh bộc lộ lực lượng. Kết hợp phong tào đấu tranh của quần chúng với những hoạt động và đấu tranh của ta ở Ủy ban liên hợp đình chiến và Ủy ban quốc tế. Trong quá trình đấu tranh của quần chúng ở miền Nam, dần dần phải hình thành một Mặt trận rộng rãi tập hợp mọi lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình, đòi thực hiện tổng tuyển cử tự do trong toàn quốc.

Đối với ngoài nước, cần ra sức tuyên truyền tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ tích cực của nhân dân Pháp, nhân dân và chính phủ các nước Đông Nam Á và nhân dân yêu chuộng hòa bình toàn thế giới với bản cương lĩnh chung của ta”(1).

Ngay sau Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 8, từ ngày 5 đến ngày 10-9-1955, tại Hà Nội, Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất toàn quốc được triệu tập. Tham dự Đại hội có 361(2) đại biểu thay mặt các tầng lớp nhân dân, các chính đảng, các đoàn thể, các dân tộc, các tôn giáo, các hội nghề nghiệp, đại biểu lực lượng vũ trang và kiều bào ở nước ngoài. Đại hội ra quyết nghị thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trên cơ sở kế thừa tổ chức của Mặt trận Liên Việt thời kỳ kháng chiến chống Pháp, thông qua Tuyên ngôn, Cương lĩnh(2) và Điều lệ mới, bầu Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gồm 98 vị thuộc đủ các chính đảng, đoàn thể nhân dân, tôn giáo, dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh được suy tôn là Chủ tịch danh dự, đồng chí Tôn Đức Thắng được cử làm Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Bản Tuyên ngôn của Đại hội nêu rõ: “Tha thiết kêu gọi các tầng lớp nhân dân, kêu gọi mọi người Việt Nam không phân biệt gái trai, già trẻ, không phân biệt dân tộc, thành phần xã hội, khuynh hướng chính trị và tín ngưỡng tôn giáo, không phân biệt trước đây đã từng về phe nào nhưng ngày nay tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ hãy siết chặt hàng ngũ trong Mặt trận để cùng nhau thực hiện bản Cương lĩnh của Mặt trận”(4).

Tại phiên bế mạc của Đại hội (10-9-1955), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát biểu ý kiến, trong đó nhấn mạnh:Cương lĩnh này là một cương lĩnh đại đoàn kết... Ai cũng phải nhận thấy rằng: Cương lĩnh của Mặt trận rất vững chắc, rất rộng rãi và rất thiết thực.

Phân tích tính chất thiết thực, rộng rãi, vững chắc của Cương lĩnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định thắng lợi tất yếu của chính sách Mặt trận: “Lịch sử trong những năm qua đã tỏ rõ lực lượng đoàn kết của nhân dân ta là vô địch và Mặt trận dân tộc thống nhất đã nhiều lần thắng lợi. Mặt trận Việt Minh đã giúp Cách mạng Tháng Tám thành công. Mặt trận thống nhất Việt Minh - Liên Việt đã giúp kháng chiến thắng lợi. Chúng ta có thể tin chắc rằng: Mặt trận Tổ quốc sẽ làm trọn nhiệm vụ vẻ vang là giúp xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”(5).

Sự kiện thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và công bố cương lĩnh đã có ảnh hưởng chính trị rộng lớn, đánh mạnh vào âm mưu chia rẽ của Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm, đoàn kết thêm nhiều tầng lớp xã hội ở cả hai miền, đồng thời tranh thủ những điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp thống nhất Tổ quốc. Những tiền đó đó cho phép chúng ta thực hiện chủ trương của Đảng, hình thành một mặt trận rộng rãi nhằm tập hợp, lôi kéo mọi lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình ở miền Nam.

Ở miền Nam, từ đầu năm 1959 đến cuối năm 1960, dưới ánh sáng của Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 154 và với tinh thần chủ động, sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo của các đảng bộ miền Nam, phong trào Đồng khởi của nhân dân ta đã giành được thắng lợi to lớn, đồng thời, tạo ra bước phát triển nhảy vọt của lực lượng cách mạng cả về quân sự và chính trị. Phong trào nổi dậy mạnh mẽ, rộng khắp của nhân dân ta đã đẩy chính quyền Ngô Đình Diệm vào thời kỳ khủng hoảng triền miên. Trên đà phát triển của cách mạng miền Nam, ngày 20-12-1960, tại chiến khu C (vùng giải phóng Đông Nam Bộ thuộc xã Tân Lập, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh), Xứ ủy Nam Bộ trực tiếp chỉ đạo Đại hội đại biểu các giai cấp, các đảng phái, các tôn giáo, các giới toàn miền Nam… Qua quá trình thảo luận tình hình miền Nam và bước phát triển mới của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, đa số đại biểu thống nhất nhận định: lúc này cách mạng miền Nam đã hội đủ các điều kiện thuận lợi để tổ chức một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi theo chủ trương của Đảng. Trên tinh thần đó, Đại hội quyết định thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và bầu ra Ủy ban Trung ương của Mặt trận gồm những nhân vật tiêu biểu có khả năng tập hợp khối đoàn kết toàn dân dưới ngọn cờ của Mặt trận, do Luật sư Nguyễn Hữu Thọ - một trí thức yêu nước nổi tiếng ở miền Nam lúc này đang bị đối phương giám giữ tại Phú Yên, làm Chủ tịch.


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.16, tr.576.
(2) 361 đại biểu gồm: 117 đại biểu chưa từng tham gia Mặt trận Liên Việt, 56 đại biểu thay mặt nhân dân miền Nam, 60 đại biểu các tôn giáo, 8 đại biểu kiều bào ở nước ngoài.
(3) Cương lĩnh gồm 10 điều: hoàn thành độc lập dân tộc, thực hiện thống nhất nước nhà; xây dựng chế độ dân chủ, phát triển kinh tế, nâng cao sản xuất, cải cách ruộng đất, thi hành chính sách xã hội hợp lý; phát triển văn hóa - giáo dục; củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; thi hành chính sách ngoại giao hòa bình, độc lập và đoàn kết quốc tế.
(4) Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Lược sử Mặt trận dân tộc thống nhất trong cách mạng Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.97.
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.8, tr.68.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Tám, 2014, 08:38:30 PM
Tuyên ngôn của Mặt trận nêu rõ: Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam chủ trương đoàn kết tất cả các tầng lớp nhân dân, các giai cấp, các dân tộc, các đảng phái, các đoàn thể, các tôn giáo và thân sĩ yêu nước, không phân biệt xu hướng chính trị, để đấu tranh đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ, thực hiện độc lập dân tộc, dân chủ, hòa bình, trung lập, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc. Mặt trận cũng đề ra Chương trình hoạt động gồm 10 điểm(1), trong đó nêu rõ nhiệm vụ cơ bản, xuyên suốt của cách mạng miền Nam là đánh đổ chế độ thuộc địa trá hình của đế quốc Mỹ và chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm, tay sai của Mỹ…

Tuyên ngôn và Chương trình của Mặt trận khẳng định nhiệm vụ và mục tiêu của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và nêu rõ đường lối đoàn kết toàn dân, cô lập cao độ đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai của chúng.

Ra đời giữa lúc cách mạng miền Nam phát triển với thế chiến lược tiến công mạnh mẽ, vùng giải phóng ngày càng mở rộng, lực lượng vũ trang được củng cố, xây dựng, trưởng thành nhanh chóng, chỗ dựa hậu phương lớn miền Bắc không ngừng lớn mạnh, chính quyền Ngô Đình Diệm khủng hoảng ngày càng sâu sắc, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam phát triển nhanh chóng, lôi cuốn được đông đảo quần chúng tham gia. Mặt trận tập hợp được các tổ chức chính trị, tổ chức tôn giáo, tổ chức quần chúng tham gia ngày càng rộng rãi: Hội Liên hiệp Phụ nữ giải phóng, Hội Liên hiệp Thanh niên giải phóng, Hội Nhà giáo yêu nước, Đảng Dân chủ miền Nam Việt Nam, Hội những người kính Chúa yêu nước, Hội lúc hóa Phật tử, Đảng xã hội cấp tiến... Mặt trận cũng sớm được các lực lượng tiến bộ, chính phủ nhiều nước toàn thế giới đồng tình, ủng hộ.

Đánh giá về sự kiện thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Một mặt trận của nhân dân đoàn kết chặt chẽ và tổ chức là một lực lượng tất thắng. Hiện nay, trong cuộc đấu tranh anh dũng chống chế độ tàn bạo Mỹ - Diệm, đồng bào ta ở miền Nam cũng có “Mặt trận dân tộc giải phóng” với chương trình hoạt động thiết thực và phù hợp với nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Do đó, có thể đoán rằng đồng bào miền Nam nhất định sẽ thắng lợi, nước nhà nhất định sẽ thống nhất, Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà”(2).

Có thể nói, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ra đời chính là ngọn cờ tập hợp lực lượng yêu nước ở miền Nam và là tổ chức thực hiện nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở miền Nam.

Trong khi chủ trương xây dựng một mặt trận riêng cho miền Nam, Đảng luôn nhấn mạnh: tuy là riêng cho miền Nam, không nằm trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhưng phải cùng thực hiện mục tiêu chung với Mặt trận Tổ quốc là nhằm xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, do Đảng lãnh đạo. Đây là chủ trương hết sức sáng tạo và linh hoạt về tổ chức xây dựng khối đoàn kết dân tộc của Đảng Lao động Việt Nam trong điều kiện mới của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Ngay từ khi mới được thành lập, Mặt trận luôn khẳng định: Sức mạnh đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước là đại đoàn kết dân tộc. Vì thế, Mặt trận thực hiện nhất quán chủ trương đoàn kết tất cả các giai cấp, tầng lớp trong nhân dân, các dân tộc, các đảng phái, các đoàn thể, các tôn giáo, các nhân sĩ yêu nước và tiến bộ, không phân biệt xu hướng chính trị, để cùng nhau chống đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai, giành lại quyền dân tộc thiêng liêng và xây dựng lại Tổ quốc. Để tập trung tối đa, đông đảo và rộng rãi mọi lực lượng dưới ngọn cờ của Mặt trận, Mặt trận đưa ra chính sách: Đối với lực lượng nào, vì lẽ này hay lẽ khác, không tham gia Mặt trận, có thể liên hiệp hành động chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ xâm lược và bọn tay sai của chúng.

Mặt trận ra lời kêu gọi: “Tất cả hãy đứng lên, tất cả hãy đoàn kết lại! Hãy siết chặt hàng ngũ chiến đấu dưới ngọn cờ của Mặt trận dân tộc giải phóng, đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và Ngô Đình Diệm”(3); kêu gọi đồng bào miền Nam hãy kề vai sát cánh cùng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cùng khối đoàn kết các dân tộc Đông Dương và tranh thủ sự đồng tình và giúp đỡ của nhân dân thế giới, chống Mỹ và tay sai, giành lấy độc lập, dân chủ, hòa bình và toàn vẹn lãnh thổ. Đặc biệt, Mặt trận khẳng định thi hành chính sách ngoại giao hòa bình, trung lập, đặt quan hệ ngoại giao với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội, theo nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau; tăng cường quan hệ hữu nghị với tất cả các nước đồng tình ủng hộ và giúp dỡ sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam. Như vậy, không chỉ tập hợp lực lượng ở miền Nam, Mặt trận còn là cầu nối và tham gia tích cực quá trình vận động, tập hợp lực lượng tiến bộ, hòa bình trên thế giới cho cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam.

Để tập hợp và động viên rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân miền Nam, Mặt trận nhanh chóng xây dựng và phát triển hệ thống tổ chức từ trung ương đến các khu, tỉnh, quận, xã với mục đích tổ chức và lãnh đạo các tầng lớp quần chúng vào phong trào đấu tranh cách mạng. Sau khi ra đời không lâu, phạm vi và ảnh hưởng hoạt động của Mặt trận ngày càng mở rộng. Mặt trận đã tổ chức lãnh đạo nhân dân miền Nam kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và làm công tác binh vận cả nông thôn và thành thị, mở rộng vùng giải phóng Mặt trận đã đưa ra một chủ trương rất sáng suốt là thành lập một chính quyền liên minh dân tộc, dân chủ rộng rãi ở miền Nam đặt mục tiêu thực hiện độc lập dân tộc, dân chủ, tự do, cải thiện dân sinh, giữ vững hòa bình, thi hành chính sách trung lập, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc - một mục tiêu chân chính, có sự lan tỏa và quy tụ mọi tầng lớp, không ngừng tăng cường sức mạnh của Mặt trận, của khối đại đoàn kết toàn dân.


(1) Chương trình hoạt động của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, gồm 10 điểm: Đánh đổ chế độ thuộc địa trá hình của xâm lược Mỹ và chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm, thành lập chính quyền liên minh, dân tộc, dân chủ, thực hiện chế độ dân chủ rộng rãi, tiến bộ; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, cải thiện dân sinh; thực hiện giảm tô, tiến tới giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân, làm cho người cày có ruộng; xây dựng nền văn hóa giáo dục dân tộc, dân chủ; xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân; thực hiện dân tộc bình đẳng, nam nữ bình quyền, bảo vệ quyền lợi chính đáng của ngoại kiều và kiều bào; thực hiện chính sách ngoại giao hòa bình, trung lập; lập quan hệ bình thường giữa hai miền, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc; chống chiến tranh xâm lược, bảo vệ hòa bình thế giới.
(2) Hồ Chí Minh: Về Mặt trận dân tộc thống nhất, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1972, tr.92.
(3) Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Lược sử Mặt trận dân tộc thống nhất trong cách mạng Việt Nam, Sđd, tr.126.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Tám, 2014, 08:41:17 PM
Nhằm tạo điều kiện đoàn kết rộng rãi nhất, sẵn sàng bắt tay với tất cả những ai, dù chưa tán thành Cương lĩnh của Mặt trận, nhưng tán thành chống Mỹ, cứu nước, Mặt trận công bố Bốn chủ trương cứu nước khẩn cấp(1) (1962). Với bốn chủ trương này, lực lượng của Mặt trận trở nên đông đảo hơn bao giờ hết. Khi Mỹ đưa quân viễn chinh vào miền Nam, mở rộng chiến tranh bằng không quân và hải quân ra miền Bắc (1965), Mặt trận công bố Cương lĩnh - ngọn cờ đoàn kết toàn thể nhân dân miền Nam, với mục tiêu mở rộng hơn nữa khối đại đoàn kết toàn dân, tranh thủ thủ tất cả những lực lượng có thể tranh thủ, thu hút rộng rãi hơn nữa những tầng lớp và cá nhân có khuynh hướng hòa bình, trung lập, cô lập triệt để Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Đảng đã chủ trương: “Thành lập một mặt trận thứ hai bên cạnh Mặt trận dân tộc giải phóng”(2).

Mặt trận thứ hai chính là Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hòa bình Việt Nam. Ra đời vào tháng 4-1968 khi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân giành thắng lợi vang dội, Liên minh thực hiện mục tiêu đoàn kết và tranh thủ thêm một số tầng lớp trí thức, tư sản dân tộc tiến bộ ở các thành thị và một số người có xu hướng chính trị hòa bình, trung lập, nhưng chưa tham gia Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam. Đó rõ ràng “là một thắng lợi rực rỡ của lòng yêu nước và sức mạnh toàn dân đoàn kết chống Mỹ, cứu nước”(3). Liên minh sát cánh cùng với Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam làm cho khối đoàn kết dân tộc ở miền Nam ngày càng mở rộng, lực lượng cách mạng ngày càng đông đảo, góp phần đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta đến thắng lợi hoàn toàn.

Trước khi Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra đời, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam tồn tại và phát triển với tư cách là chính quyền cách mạng, là người đại điện chân chính duy nhất của nhân dân miền Nam.

Mặt trận đoàn kết toàn dân chống Mỹ, cứu nước của nhân dân miền Nam qua một quá trình rèn luyện, phát triển và trưởng thành đã trở nên vững chắc và rộng rãi hơn bao giờ hết. Mặt trận đã “tập hợp đông đảo các đảng phái, các đoàn thể, các nhân sĩ đại diện cho mọi khuynh hướng chính trị, tôn giáo, dân tộc và các tầng lớp nhân dân ta”(4). Như vậy, lực lượng của Mặt trận bao gồm đủ mọi tầng lớp nhân dân, mọi lứa tuổi, mọi giới, mọi dân tộc, tôn giáo. Hàng chục vạn kiều bào ta ở nước ngoài tuy sống xa Tổ quốc vẫn hướng về Mặt trận, hướng về ngọn cờ cứu nước. Mặt trận thực sự là người đại diện chân chính, duy nhất cho nhân dân miền Nam, có uy tín và ảnh hưởng quốc tế ngày càng lớn. Với lực lượng đông đảo, Mặt trận ngày càng được củng cố vững chắc, thực sự lãnh đạo phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam.

Mặt trận đã kiểm soát được một vùng giải phóng rộng lớn bàn đạp tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam. Thắng lợi to lớn của quân và dân miền Nam đã dẫn đến sự hình thành những vùng giải phóng rộng lớn từ bờ nam sông Bến Hải đến tận mũi Cà Mau, tạo một thế đứng mạnh mẽ cho quân và dân ta đánh địch khắp mọi nơi. Năm 1962, vùng giải phóng có 5 triệu dân, năm 1963 có 7 triệu dân, năm 1964 có 9 triệu dân, năm 1965 có 10 triệu dân, đến năm 1967 thì vùng giải phóng “chiếm 4/5 đất đai với 2/3 dân số miền Nam”(5). Trong vùng giải phóng, Mặt trận có đủ tư cách là một chính phủ, Mặt trận kiểm soát được nhiều dân ở nông thôn hơn chế độ Việt Nam Công hòa và có uy tín rộng lớn ở các thành thị. Đến năm 1968, Mặt trận đã kiểm soát 11 triệu dân trong số 14 triệu dân ở miền Nam Việt Nam. Ở các vùng giải phóng, nhân dân thực sự được sống tự do, được làm chủ cuộc đời mình. Đồng bào ở vùng giải phóng đã hăng hái đóng góp nhân tài, vật lực cho kháng chiến chống Mỹ. Khả năng tiềm tàng về chính trị, vật chất và tinh thần của cách mạng miền Nam trong vùng giải phóng là một nhân tố then chốt quan trọng đóng góp phần không nhỏ cho thắng lợi của các phong trào đấu tranh chính trị và vũ trang. Vùng giải phóng thực sự là hậu phương vững chắc của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước. Có thể thấy, Mặt trận không chỉ làm chủ một vùng giải phóng rộng lớn, mà còn biến vùng giải phóng thành căn cứ cách mạng - hậu phương tại chỗ vững chắc của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Đây là một trong những kết quả to lớn, có ý nghĩa chiến lược của cách mạng miền Nam.

Mặt trận đoàn kết toàn dân chống Mỹ ở miền Nam không chỉ có lực lượng chính trị rộng lớn được tổ chức khoa học, mà còn có lực lượng vũ trang giải phóng với ba thứ quân.

Không thể nào đánh bại được quân Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hòa với hàng triệu tên, được vũ trang đủ loại vũ khí tối tân, hiện đại nhất, nếu không có một lực lượng cách mạng hùng hậu bao gồm các lực lượng vũ trang nhân dân có tổ chức thống nhất và chặt chẽ, các lực lượng chính trị của hàng triệu quần chúng được giác ngộ. Thực tiễn cách mạng miền Nam trước khi Mặt trận ra đời đã cho thấy rằng, chỉ có trên cơ sở của một phong trào chính trị rộng rãi và một lực lượng vũ trang hùng hậu, cách mạng mới có thể thắng lợi.

Trên thực tế, nêu cao tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến, tinh thần đoàn kết vì lợi ích tối cao của dân tộc, đảng đã xây dựng và phát huy sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân, của Mặt trận dân tộc thống nhất và các đoàn thể quần chúng. Xây dựng và phát triển Mặt trận dân tộc thống nhất trên hai miền đất nước là một thành công điển hình của Đảng về tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, là cơ sở vững chắc để tổ chức, huy động lực lượng toàn dân đánh giặc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, khối đoàn kết dân tộc chống Mỹ, cứu nước ở miền Nam Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và trở thành một trong những nhân tố quan trọng quyết định thắng lợi của sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Trong đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cùng với việc hình thành hai chiến lược cách mạng, Đảng Lao động Việt Nam đã tổ chức hai hình thức Mặt trận dân tộc thống nhất, thực hiện nhiệm vụ đoàn kết những người yêu nước Việt Nam trên hai miền Nam Bắc. Tuy tên gọi, tổ chức, cương lĩnh, chương trình hành động có khác nhau nhưng về cơ bản đều thể hiện tinh thần đoàn kết toàn dân vào mặt trận chống Mỹ, cứu nước.


(1) Bốn chủ trương cứu nước khẩn cấp do Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam đề ra tháng 7-1962:
- Chính phủ Mỹ phải đình chỉ chính sách và hành vi xâm lược vũ trang vào miền Nam Việt Nam.
- Các phái hữu đình chỉ chiên tranh, lập lại hòa bình.
- Tổ chức tổng tuyển cử tự do để bầu Quốc hội.
- Thi hành chính sách hòa bình, trung lập.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.29, tr.60.
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.448.
(4) Năm năm chiến đấu anh dũng thắng lợi vẻ vang của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Nxb.Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1966, tr.40.
(5) Những văn kiện chủ yếu của Mặt trận dân tộc giải phóng, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1968, tr.59.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Tám, 2014, 08:43:51 PM
3. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong quá trình kháng chiến

Ngày 27-3-1964, tại Hà Nội, diễn ra một sự kiện quan trọng - dấu mốc biểu hiện ý chí mạnh mẽ, tinh thần đoàn kết và thống nhất hành động của toàn thể nhân dân trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, đó là Hội nghị Chính trị đặc biệt - được ví như là Hội nghị Diên Hồng trong thời đại Hồ Chí Minh. Các đại biểu của hội nghị gồm các bậc lão thành cách mạng, nhân sĩ yêu nước, đại diện cho các ngành, các giới, đại biểu cho những người Việt Nam ở nước ngoài... đã nhất trí, đồng lòng khẳng định quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ. Những làn sóng thi đua mạnh mẽ, mang lại hiệu quả thiết thực được Mặt trận Tổ quốc Việt Nam động viên, tổ chức. Với rất nhiều tên gọi khác nhau, các phong trào thi đua yêu nước phong phú, sôi nổi diễn ra rộng khắp, động viên và quy tụ lực lượng đông đảo trên nhiều lĩnh vực, ở mọi lứa tuổi và ngành nghề. Nắm bắt, chỉ đạo những phong trào ấy, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã làm tròn sứ mệnh của mình, thực sự phát huy được sức mạnh của nhân dân, của dân tộc, phát huy vai trò quyết định của miền Bắc đối với công cuộc giải phóng miền Nam.

Trên miền Bắc, các phong trào thi đua yêu nước trong các ngành, các giới, các tổ chức đoàn thể có sức lôi cuốn, tập hợp lực lượng mau chóng, mạnh mẽ phục vụ công cuộc xây dựng, củng cố hậu phương, tổ chức hoạt động chi viện và thực hiện nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ vùng trời, vùng biển.

Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thi đua là yêu nước. Yêu nước thì phải thi đua”, đồng thời tiếp nối tinh thần “thi đua ái quốc”(1) những năm kháng chiến chống Pháp, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, toàn Đảng, toàn quân ta đã vượt lên mọi khó khăn, gian khổ, ác liệt của lửa đạn chiến tranh, tích cực tham gia lao động sản xuất, chiến đấu, phục vụ chiến đấu với khí thế thi đua sôi nổi chưa từng có. Như tiếng kèn xung trận, các phong trào thi đua lôi cuốn, thúc giục mọi người từ hậu phương đến tiền tuyến cũng ra sức “chống Mỹ, cứu nước”.

Những năm tháng “cả nước ra trận”, đâu đâu cũng bắt gặp các khẩu hiệu: “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”, “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược”, “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, “Mỗi người làm việc bằng hai”, “Tay cày tay súng, tay búa tay súng”… Các khẩu hiệu đó đã biến thành những hành động cách mạng thiết thực và được biểu hiện bằng cao trào thi đua có tính chất quần chúng rộng rãi: Sóng Duyên Hải trong công nghiệp, Gió Đại Phong trong nông nghiệp, Ba nhất trong quân đội, Trống Bắc Lý trong giáo dục...

Từ giữa năm 1965, khi đế quốc Mỹ thực hiện bước leo thang chiến tranh, đưa quân chiến đấu vào chiến trường miền Nam, mở rộng đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân cũng là lúc quân và dân hậu phương phải tập trung mọi nguồn lực để vừa trực tiếp đương đầu với quân Mỹ, vừa làm tròn nhiệm vụ hậu phương - căn cứ địa cách mạng của cả nước. Kể từ đây, chống Mỹ, cứu nước “là nhiệm vụ thiêng liêng nhất của mọi người Việt Nam yêu nước”(2).

Trong chiến tranh ác liệt, miền Bắc vẫn đảm đương một cách xuất sắc vai trò của hậu phương lớn. “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. Với các kế hoạch kinh tế - văn hóa: 1955 - 1957, 1958 - 1960, 1961 - 1965, miền Bắc tiếp tục đạt được những thành tích đáng tự hào. Từ đầu năm 1965, cả nước bước vào chiến tranh. Ngay trong chiến tranh, miền Bắc vừa chiến đấu, vừa xây dựng, luôn luôn tăng cường tiềm lực về mọi mặt, để có đủ sức người, sức của chi viện cho miền Nam, đưa kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng. Càng về sau, vào những giai đoạn quyết liệt của cuộc chiến tranh, nền kinh tế của miền Bắc ngày càng được xây dựng và phát triển. Cơ sở vật chất ban đầu của chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng và trên đà phát triển. Nền kinh tế trong nước đã có thể cung cấp phần quan trọng cho nhu cầu phát triển sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân và nhu cầu cầu quốc phòng. Khi cần thiết, chúng ta có thể động viên nhanh chóng nhân tài, vật lực cho chiến trường miền Nam.

Tình thế mới của cuộc kháng chiến làm nảy nở thêm những nhân tố thi đua. Bên cạnh các ngọn cờ thi đua Sóng Duyên Hải, Gió Đại Phong, Trống Bắc Lỹ, Ba nhất, xuất hiện thêm các phong trào cách mạng sục sôi: Ba sẵn sáng, Năm xung phong của tuổi trẻ và Ba đảm đang của phụ nữ.

Ba sẵn sàng (sẵn sàng chiến đấu; sẵn sàng nhập ngũ; sẵn sàng đi bất cứ nơi nào Tổ quốc cần đến) ban đầu là phong trào thi đua do Ban Chấp hành Thành đoàn Hà Nội phát động vào ngày 9 -8-1964 - bốn ngày sau “Sự kiện vịnh Bắc Bộ” do Mỹ dựng lên nhằm tạo cớ cho việc huy động không quân, hải quân đánh phá miền Bắc. Chỉ trong một thời gian ngắn, phong trào Ba sẵn sàng của tuổi trẻ Thủ đô đã thu hút được 26 vạn thanh niên tham gia. Những nội dung thi đua thiết thực của phong trào Ba sẵn sàng đã đáp ứng được nguyện vọng thiết tha của tuổi trẻ hậu phương là được dâng hiến sức trẻ cho sự nghiệp kháng chiến chống xâm lược Mỹ. Phong trào Ba sẵn sàng đã được tuổi trẻ của nhiều địa phương trên miền Bắc hưởng ứng, tham gia, tiêu biểu là Hải Phòng, Quảng Ninh, Nghệ An... Sau một tháng phát động đã có một triệu rưỡi đoàn viên thanh niên đăng ký Ba sẵn sàng. Đặc biệt, Sơn La - tỉnh miền núi Tây Bắc, đó có 40 nghìn đoàn viên thanh niên dăng ký, trong đó có 19 nghìn thanh niên đăng ký tình nguyên gia nhập quân đội...


(1) Ngày 11-6-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc, phát động phong trào thi đua yêu nước trong toàn quân, toàn dân, trên mọi mặt trận với mục tiêu là động viên đồng bào và chiến sĩ cả nước vượt mọi khó khăn gian khổ để không chỉ chiến thắng giặc đói, giặc dốt, mà còn chiến thắng cả những hủ tục lạc hậu để xây dựng đời sống mới, để kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công.
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.11, tr.434.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Tám, 2014, 08:45:57 PM
Nhằm phát huy hơn nữa khí thế thi đua sục sôi của tuổi trẻ, tháng 2-1965, Ban Chấp hành Trung ương Đoàn Thanh niên Lao động Việt nam đã phát động thế hệ trẻ miền Bắc hưởng ứng phong tào Ba sẵn sàng của thanh niên Hà Nội, đồng thời bổ sung nội dung thi đua để thể hiện đầy đủ hơn nhiệm vụ của đoàn viên, thanh niên trước yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới: 1 - Sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu dũng cảm và sẵn sàng nhập ngũ (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ); 2- Sẵn sàng khắc phục khó khăn, đẩy mạnh sản xuất, công tác và học tập trong bất kỳ tình huống nào; 3- Sẵn sàng đi bất cứ đâu, làm bất cứ việc gì khi Tổ quốc cần đến(1).

Trên miền Bắc, các buổi mít tinh, các buổi tổng duyệt lực lượng “Ba sẵn sàng”, “trao gậy Trường Sơn” được tổ chức long trọng tại nhiều địa điểm lịch sử gắn với những chiến công chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Cách thức tổ chức đó đã có tác dụng giáo dục sâu sắc và là nguồn động viên tinh thần to lớn đối với thanh niên. Nhiều thanh niên đã viết đơn tình nguyện bằng máu, khai tăng tuổi, mặc thêm quần áo cho đủ cân; nhiều cán bộ chuyên môn kỹ thuật giỏi, thầy thuốc đã tình nguyện vào phục vụ chiến trường; nhiều thầy giáo, sinh viên các trường đại học tạm gác bút nghiên, rời giảng đường và miền Nam tham gia đánh Mỹ. Đó là một thế hệ lên đường với ngọn lửa cháy bỏng trong tim, “ra đi theo ánh lửa từ trái tim mình” như ca từ một bài hát thời đánh Mỹ. Đó là những tấm gương tiêu biểu như nhà văn - nhà báo Dương Thị Xuân Quý, sinh viên Nguyễn Văn Thạc, bác sĩ Đặng Thùy Trâm và trăm nghìn tấm gương tiêu biểu khác nữa.

Theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, từ hậu phương lớn miền Bắc, lớp lớp thanh niên trong đội hình của những đoàn quân nối tiếp nhau “vượt Trường Sơn” ra chiến trường. Đây Trường Sơn hùng vĩ, nơi con đường vận chuyển chiến lược nối liền Bắc - Nam đi qua cũng chính là nơi thử lửa đầu tiên đối với mỗi con người mang trên mình sứ mệnh lịch sử “chống Mỹ, cứu nước”. Những đoàn quân đi vào chiến trường ngày ấy phải xuyên qua rừng già, vượt bao thác ghềnh, bao núi cao, suối sâu, vực thẳm, qua những cung đường, trọng điểm đánh phá ngăn chặn quyết liệt của địch. Nhưng thiên nhiên khắc nghiệt và bom đạn địch đã không thể ngăn được bước chân của những đoàn quân ra trận. Trong suốt chiều dài của cuộc chiến tranh, từ hậu phương miền Bắc, hơn 1.300.000 cán bộ, chiến sĩ cùng với hàng chục triệu tấn vũ khí, trang bị, kỹ thuật đã vượt Trường Sơn, vượt biển Đông vào tới các chiến trường. Để làm nên thắng lợi của công tác chi viện sức người, sức của từ hậu phương miền Bắc, cho tiền tuyến lớn miền Nam, các lực lượng thực hiện nhiệm vụ chiến đấu, phục vụ chiến đấu, bảo đảm giao thông trên tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh đã vượt qua mưa bom, bão đạn, không quản ngại gian khổ, hy sinh, nêu cao quyết tâm giữ vững mạch máu giao thông thông suốt.

Trên trận tuyến nóng bỏng này, ở mỗi cung đường, mỗi trọng điểm các đơn vị quân đội và ngành giao thông luôn có sự sát cánh của lực lượng Thanh niên xung phong chống Mỹ, cứu nước(2). Đây là lực lượng lao động quân sự đặc biệt, có nhiệm vụ xây dựng các công trình cấp thiết quốc phòng và kinh tế; xây dựng và sửa chữa các cầu, phà, đường bị địch phá hoại, bằng cách khôi phục giao thông nhanh nhất ở những trọng điểm, những đoạn khó khăn. Từ đội thanh niên xung phong đầu tiên của Thanh Hóa, gồm 1.200 đội viên nam, làm nhiệm vụ thồ hàng trên tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn, thuộc khu vực miền tây Quảng Bình, đến cuối năm 1965, lực lượng Thanh niên xung phong phát triển lên tới 5 vạn người, biên chế thành 41 đội, trong đó 24 đội làm nhiệm vụ đảm bảo giao thông. Các đội thanh niên xung phong này được tăng cường cho cách ngành đường sắt, đường bộ, Đoàn 559 và các tỉnh thuộc địa bàn Quân khu 4. Bằng tinh thần “Ba sẵn sàng”, với sức trẻ, trí thông minh và óc sáng tạo, lực lượng Thanh niên xung phong ngày đêm trụ bám các trọng điểm đánh phá, các vị trí trọng yếu, sát cánh cùng bộ đội chiến đấu, kịp thời sửa chữa cầu đường, phá bom nổ chậm, làm thêm các cung đường mới, làm hầm hào, công sự, cứu người, cứu tài sản, bảo vệ trật tự trị an… Trong ba năm đầu hoạt động (1965 - 1968), lực lượng Thanh niên xung phong đã mở mới 15 tuyến đường, 200 đoạn đường tránh, xây dựng hơn 500 công trình, phụ trách đảm bảo giao thông trên những quãng đường có tổng chiều dài hơn 1.300km. Đây là những thành tích gắn liền với các địa danh Hàm Rồng, Phà Ghép, Hoàng Mai, Truông Bồn, Linh Cảm, Cao Lộc… nằm trên các con đường 1, đường 15, đường 12, đường 20 - Quyết thắng, đường 128… thuộc địa bàn các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình. Mỗi địa danh, mỗi con đường đều thấm đẫm mồ hôi, xương máu, gắn liền với những chiến công của các tập thể, cá nhân tiêu biểu của lực lượng Thanh niên xung phong. Đó là Tiểu đội thanh niên xung phong làm nhiệm vụ tại Truông Bồn - điểm nối của đường 15A với đường 15B, với 15 đội viên, đã trụ bám thực hiện nhiệm vụ khi cảnh giới máy bay, đếm bom, phá bom, sửa chữa đường, lúc làm “cọc tiêu sống” dẫn lối cho xe đi qua trong suốt 300 ngày đêm của năm 1968 và đã hy sinh đến người cuối cùng. Đó là Tiểu đội gồm 10 nữ thanh niên xung phong tại Ngã ba Đồng Lộc - điểm đầu của đường 15A, dưới sự chỉ huy của Tiểu đội trưởng Võ Thị Tần, đã kiên cường trụ bám địa bàn, với tinh thần quyết tâm rất cao: “Bom đạn chúng có thể làm nát ngã ba, nhưng không thể làm một xe mất lối” và đã anh dũng hy sinh trong trận bom của Mỹ vào ngày 24-7-1968. Đội viên La Thị Tám, dưới mưa bom bão đạn vẫn bình tĩnh đếm và đánh dấu từng vị trí bom rơi, 23 lần bị bom vùi vẫn không rời trọng điểm. Trên con đường 20 - Quyết thắng, đội viên Nguyễn Thị Liễu có sáng kiến dùng mìn phá bom, bảo đảm an toàn cho người và hạn chế sức công phá của bom. Đội 51 thanh niên xung phong Hà Nội làm nhiệm vụ bảo đảm giao thông đường sắt khu vực Yên Viên, Gia Lâm ứng trực ngay tại tọa độ ném bom của máy bay địch, kịp thời khôi phục nhà ga, đường ray…


(1) Xem Lịch sử Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và phong trào thanh niên Việt Nam, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2001, tr.349.
(2) Thành lập theo Chỉ thị số 71/TTg, ngày 21-6-1965 của Thủ tướng Chính phủ.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Tám, 2014, 08:47:02 PM
Khi cuộc chiến tranh bước vào giai đoạn cuối, hơn vạn thanh niên của 8 tỉnh (Vĩnh Phú, Hải Phòng, Hải Hưng, Thái Bình, Nam Hà, Hà Bắc, Hà Nội, Thanh Hóa) đã được huy động cho lực lượng Thanh niên xung phong chỉ trong thời gian tháng cuối năm 1972. Số đội viên Thanh niên xung phong này ngay lập tức được bổ sung cho lực lượng đảm bảo giao thông. Lực lượng Thanh niên xung phong hùng hậu đã cùng với các lực lượng khác lập nên nhiều thành tích trong thực hiện nhiệm vụ đảm bảo giao thông thời kỳ này: chỉ trong 24 giờ sau khi Mỹ tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc vào đầu năm 1973, tuyến đường bộ và toàn bộ cầu phà trên tuyến đường 1A đã được khai thông từ Hà Nội vào đến Vĩnh Linh; ba ngày sau, trên tuyến đường sắt Hà Nội - Vinh, ôtô ray đã kéo 10 tấn hàng đến ga Vinh an toàn. Bước vào giai đoạn cả nước dồn sức cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, lực lượng Thanh niên xung phong đã phối hợp với bộ đội công binh, công nhân ngành giao thông vận tải khôi phục gần 370km đường; sửa 59 lượt cầu phao (5.100m), 61 lượt cầu liên hợp (1.896m), 4 lượt cầu cáp (400m).

Có thể nói, ở mọi miền quê trên khắp các nẻo đường của Tổ quốc, ở đâu đối phương đánh phá khốc liệt, ở đâu công việc khó khăn, nặng nhọc, ở đó có lực lượng Thanh niên xung phong. Những khẩu hiệu hành động “Sống bám cầu đường, chết kiên cường dũng cảm”, “Máu có thể đổ, nhưng đường không thể tắc”, “Đường chưa thông, Thanh niên xung phong chưa thể nghỉ”, “Địch phá, ta sửa, ta đi”, “Địch phá, ta cứ đi” luôn thôi thúc, giục giã bước chân của nhiều thế hệ thanh niên miền Bắc và chính trong khói lửa đạn bom, lớp thanh niên ấy đã được tôi rèn và trưởng thành vượt bậc.

Cho đến ngày nước nhà thống nhất, lực lượng Thanh niên xung phong tham gia phục vụ kháng chiến lên tới 15 vạn người, trong đó 10 vạn người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ đảm bảo giao thông. Thanh niên xung phong đã dâng hiến tuổi thanh xuân của mình cho Tổ quốc và thực sự là độ quân chủ lực trên mặt trận đảm bảo giao thông, góp phần quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chi viện chiến trường của hậu phương lớn miền Bắc.

Lớp thanh niên Việt Nam những năm chống Mỹ, cứu nước đã sát cánh cùng với quân và dân cả nước, phát huy ý chí - quyết tâm “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, đạp bằng mọi khó khăn gian khổ, hoàn thành vẻ vang nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Cùng với phong trào Ba sẵn sàng của tuổi trẻ miền Bắc, tuổi trẻ miền Nam thành đồng tích cực tham gia phong trào Năm xung phong (1- Xung phong tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch; 2- Xung phong tòng quân và tham gia du kích chiến tranh; 3- Xung phong đi dân công và thanh niên xung phong phục vụ tiền tuyến; 4- Xung phong đấu tranh chính trị và chống bắt lính; 5- Xung phong sản xuất nông nghiệp trong Nông hội) do Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng phát động vào tháng 3-1965. Trong điều kiện trực tiếp đương đầu với quân Mỹ và quân Việt Nam Cộng hòa, thì việc thực hiện tốt phong trào Năm xung phong chính là hành động thiết thực nhất nhằm tập hợp, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp thanh niên miền Nam tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Để đẩy mạnh phong trào Năm xung phong, tháng 6-1966, Ban Thường vụ Trung ương Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng miền Nam ra nghị quyết, trong đó nêu rõ: Phải xung phong tiêu hao, tiêu diệt nhiều hơn nữa sinh lực đối phương bao gồm quân quân Mỹ, quân đội Sài Gòn, chư hầu và mọi phương tiện chiến tranh của chúng. Đó là nhiệm vụ vinh quang trước nhất của thanh niên trong các lực lượng vũ trang, đồng thời đó cũng chính là nhiệm vụ của người thanh niên bất cứ ở đâu. Khi trên đất nước thân yêu còn một căn cứ của đối phương, còn một bóng giặc xâm lăng thì thanh niên ta còn phải phát huy sáng kiến tiêu hao, tiêu diệt chúng, từ những hình thức đơn sơ thông thường nhất cho đến những hình thức cao là trực tiếp cầm vũ khí. Bằng lòng yêu nước nhiệt thành, một bộ phận thanh niên miền nam đã tự nguyện tham gia du kích, gia nhập quân chủ lực. Chỉ tính riêng trong hai năm (1967 - 1968), tại Mỹ Tho đã có hơn 13 nghìn thanh niên lên đường tòng quân, có xã 80% thanh niên trở thành lực lượng chiến đấu chống Mỹ. Tuổi trẻ Khu 5 đã thực hiện hai khóa (1965, 1966) tòng quân tập trung mang tên Nguyễn Văn Trỗi, với 28.000 đoàn viên thanh niên tham gia quân ngũ, góp phần lập nên hai sư đoàn quân chủ lực: Sư đoàn 3 (9-1965) và Sư đoàn 2 (11-1965)...
   
Bước vào thời kỳ chiến tranh cục bộ, quân và dân miền Nam lại đẩy mạnh các phong trào thi đua Tìm Mỹ mà đánh, gặp Mỹ là diệt; thi đua phấn đấu trở thành Dũng sĩ diệt Mỹ, Dũng sĩ diệt xe cơ giới, Dũng sĩ diệt máy bay,Đơn vị anh dũng diệt Mỹ trong các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam. Quân khu 5 còn phát động phong trào thi đua Xé xác Rồng Xanh, phanh thây giặc Mỹ để trả thù cho đồng bào xã Bình Hòa và thôn Sơn Mỹ (xã Tịnh Khê) bị quân Nam Triều Tiên và quân Mỹ tàn sát tập thể. Mặt trận Tây Nguyên bị phát động phong trào thi đua Trường Sơn chuyển mình, Pôcô dậy sóng, quét sạch quân thù, giải phóng Tây Nguyên trong cuộc tiến công chiến lược Xuân - Hè 1975. Những phong trào thi đua cứu nước đã tỏ rõ sức mạnh và ý chí Việt Nam quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Sức mạnh và ý chí của quân và dân ta ở miền Nam được phát huy cao độ đánh thắng hai cuộc phản công chiến lược mùa khô của quân Mỹ, tiến lên làm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) chưa từng có trong lịch sử các cuộc chiến tranh trước đó, khiến cho Mỹ, chính quyền Việt Nam Cộng hòa choáng váng, run sợ, thế giới kinh ngạc. Sức mạnh và ý chí Việt Nam đã bắt Mỹ xuống thang chiến tranh, rút dần quân Mỹ về nước. Chính sức mạnh và ý chí Việt Nam, bốn năm sau ta đã đánh cho Mỹ cút và hai năm bốn tháng sau ta đã đánh cho ngụy nhào, giải phóng hoàn toàn miền Nam, tiến tới thống nhất đất nước, Nam - Bắc sum họp một nhà.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Tám, 2014, 08:49:50 PM
Không đâu như ở nước ta, người phụ nữ trong chiến tranh có vị trí rất quan trọng. Người phụ nữ Việt nam, trong điều kiện chiến tranh ác liệt chẳng những là trụ cột trong gia đình và xã hội, mà còn là chỗ dựa tinh thần và tình cảm, là nguồn cổ vũ, động viên to lớn đối với chồng, con em mình yên tâm tham gia quân đội, Thanh niên xung phong. Tinh thần và tình cảm, trách nhiệm và nghĩa vụ đối với gia đình và Tổ quốc đã tạo ra những người phụ nữ Việt Nam vừa đảm đang sản xuất và công tác, thay thế cho chồng, con, anh em đi chiến đấu; vừa đảm đang việc gia đình cho chồng, con, anh em yên tâm chiến đấu; khuyến khích chồng, con, anh em tòng quân và phục vụ lâu dài trong quân đội; lại vừa đảm đang phục vụ chiến đấu, tham gia dân quân tự vệ, tập luyện quân sự để sẵn sàng chiến đấu, phục vụ bộ đội, công an, dân quân tự vệ khi chiến đấu. Những nhiệm vụ nặng nề ấy chính là nội dung của phong trào Ba đảm đang do Ban Chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phát động vào ngày 19-3-1965. Ba đảm đang (ban đầu gọi là Ba đảm nhiệm) là một phong trào cách mạng quần chúng sâu rộng, lôi cuốn hàng triệu phụ nữ ở hậu phương miền Bắc tham gia. Chỉ hai tháng sau khi phát động thi đua (5-1965), hơn 1,7 triệu phụ nữ ghi tên phấn đấu đạt danh hiệu phụ nữ Ba đảm đang.

Ý thức sâu sắc nghĩa vụ thay chồng, con và cùng chồng, con chống Mỹ, cứu nước, người phụ nữ những năm chiến tranh vừa gánh vác công việc gia đình, thay thế chồng, con sản xuất, vừa phục vụ chiến đấu và trực tiếp chiến đấu. Ban ngày các mẹ, các chị tay cày, tay súng, tối về lo việc nhà, dạy dỗ con thơ... Nêu những tấm gương sáng trong phong trào Ba đảm đang có các trung đội nữ dân quân bắn rơi máy bay Mỹ ở huyện Hậu Lộc, huyện Tĩnh Gia, huyện Hoằng Hóa, huyện Hà Trung (Thanh Hóa), huyện Quảng Ninh (Quảng Bình) hay Đại đội pháo binh bờ biển Ngư Thủy (Quảng Bình) nhiều lần lập công đánh đuổi tàu chiến địch... Đó là chị La Thị Tám - người con gái sông La (Hà Tĩnh) - hơn 80 ngày đêm trụ bám trọng điểm giao thông huyết mạch, bình tĩnh quan sát, dũng cảm cắm tiêu hàng trăm quả bom nổ châm; chị Nguyễn Thị Thứ, nữ dân quân ở Hậu Lộc, Thanh Hóa cùng chị em bắn rơi ba máy bay Mỹ; chị Nguyễn Thị Hoa - công nhân Nhà máy Cơ khí Hà Nội, với khẩu súng trường trong tay, đã bắn rơi máy bay ném bom hiện đại của Mỹ... Có biết bao tấm gương bà má, người chị, người em miền Nam bất chấp hiểm nguy rình rập, đã giúp đỡ, che chở, đùm bọc, nuôi giấu những người con của cách mạng trong những thời điểm gian nguy.

Thật khó để có thể nói hết về những tấm gương “trung hậu, đảm đang”, về sự hy sinh to lớn của những người phụ nữ trên cả hai miền Nam - Bắc cho thắng lợi hoàn toàn của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Công lao đóng góp của phụ nữ cho sự nghiệp kháng chiến đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên dương, khen ngợi tại lễ kỷ niệm ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (19-10-1966); phong trào Năm tốt của phụ nữ miền Nam, phong trào Ba đảm đang của phụ nữ miền Bắc là phong trào yêu nước nồng nàn và rộng khắp, lôi cuốn đông đảo phụ nữ hai miền thi đua sản xuất, phục vụ chiến đấu và trực tiếp chiến đấu, góp phần to lớn vào sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của toàn dân… như thế là từ xưa đến nay, từ Nam đến Bắc, từ trẻ đến già, phụ nữ Việt Nam ta thật anh hùng…

Ba sẵn sàng, Năm xung phong, Ba đảm đang và nhiều phong trào thi đua yêu nước khác nữa đã đi vào lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước như một biểu tượng chói sáng cho sức sống, sức vươn dậy của một dân tộc sẵn lòng yêu nước, có ý thức giác ngộ cách mạng cao độ, có ý chí, niềm tin và quyết tâm phấn đấu hy sinh tất thảy cho độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc. Sức mạnh của tinh thần đoàn kết thi đua đã tạo ra và nhân lên sức mạnh vô địch của cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện và đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tới thắng lợi hoàn toàn.

Có thể nói, thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước có sự đóng góp to lớn của các phong trào thi đua yêu nước diễn ra liên tục trong cả nước. Phong trào thi đua yêu nước thực sự trở thành hành động cách mạng tự giác của mọi tầng lớp nhân dân. Hàng triệu gương người tốt, việc tốt, anh hùng, chiến sĩ thi đua, dũng sĩ diệt Mỹ, chiến sĩ quyết thắng… ở mọi lứa tuổi, mọi ngành, mọi lĩnh vực hoạt động đã xuất hiện và trưởng thành từ phong trào quần chúng sâu rộng đó. Các phong trào thi đua yêu nước trên thực tế đã phát huy được sức mạnh của toàn dân tộc, trở thành động lực trong cuộc kháng chiến. Việc khơi dậy, phát huy sức mạnh nội lực của dân tộc chính là khơi dậy, phát huy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, của ý thức dân tộc, của ý chí đấu tranh anh dũng, của truyền thống đoàn kết, phát huy sức mạnh chính trị, kinh tế, văn hóa - tư tưởng. Đây là một trong những nhiệm vụ chiến lược quan trọng, mà trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hơn mười ngàn ngày, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn coi trọng, luôn chăm lo, giáo dục bồi đắp. Sức mạnh dân tộc trở thành nguồn lực chủ yếu mang tính quyết định đối với thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Chín, 2014, 09:52:04 PM
II - KẾT HỢP SỨC MẠNH DÂN TỘC VỚI SỨC MẠNH THỜI ĐẠI

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn chăm lo tăng cường đoàn kết quốc tế, phát huy tối đa sức mạnh thời đại, coi đó là một bộ phận hợp thành của đường lối kháng chiến và đặt hoạt động đối ngoại, đấu tranh ngoại giao thành một mặt trận có tầm quan trọng chiến lược, góp phần phát triển thế và lực của ta để đánh thắng kẻ thù xâm lược.

Sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại đã tạo ra sức mạnh tổng hợp to lớn, đủ sức đương đầu và đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược.

1. Kiên trì đoàn kết quốc tế, giữ vững tinh thần độc lập tự chủ

Độc lập tự chủ và đoàn kết quốc tế là hai mặt của việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lê nin và thực hành chủ nghĩa quốc tế vô sản. Hai mặt đó kết hợp chặt chẽ thì việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại đem lại thành quả to lớn và tốt đẹp.

Đảng Lao động Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, bằng nhãn quan chính trị sâu rộng, luôn nhận thức đầy đủ và sâu sắc mối quan hệ khăng khít của cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới; nhận thức rõ sự tác động to lớn của phong trào cách mạng quốc tế đối với cách mạng Việt Nam nói chung và sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam nói riêng. Vì thế, Đảng luôn chủ trương trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải thực hiện cho được sự đoàn kết liên minh với các lực lượng cách mạng của thời đại, phải chăm lo vun đắp và phát triển sự đoàn kết giữa Việt Nam và các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, trước hết với Liên Xô, Trung Quốc, lấy đó làm cơ sở, làm hạt nhân để mở rộng đoàn kết với tất cả những người cộng sản, những lực lượng cách mạng hòa bình, dân chủ và tiến bộ khác trên thế giới.

Đồng thời, Đảng Lao động Việt Nam cũng nhận rõ rằng “cách mạng không thể nhập cảng”, sự nghiệp cách mạng của nước nào phải do chính nhân dân nước ấy tiến hành, và Đảng Cộng sản mỗi nước trước hết phải chịu trách nhiệm đối với vận mệnh của dân tộc mình. Đảng phải tự mình suy nghĩ tìm tòi để định ra đường lối, chính sách sát, đúng nhằm giải quyết những vấn đề do cách mạng mỗi nước đặt ra cho phù hợp với đặc điểm, điều kiện, khả năng của từng nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh xem “tự lực cánh sinh là cái gốc, điểm mấu chốt về chính trị, quân sự, kinh tế, nội chính, ngoại giao của ta”(1). Nhưng độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, không phải là biệt lập với thế giới bên ngoài, mà ngược lại, trên cơ sở phát huy độc lập, tự chủ, chúng ta luôn chủ trương mở rộng đoàn kết với các dân tộc, mở rộng hợp tác quốc tế, xứ lý đúng đắn các vấn đề liên quan đến quan hệ giữa các dân tộc và thời đại, giữa Việt Nam và thế giới. Các yếu tố quốc tế được chuyển hóa thông qua vai trò quyết định của nhân tố bên trong, đó là phát huy sức mạnh dân tộc và tự lực, tự cường, Thực lực được bồi đắp thì việc tranh thủ quốc tế càng thuận lợi.

Chính sự kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ cùng cách ứng xử các mối quan hệ quốc tế đúng đắn, tinh tế, nhạy cảm, phong phú, kết hợp nguyên tắc cứng rắn và sách lược mềm dẻo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng và Nhà nước Việt Nam là nguyên nhân chủ yếu thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại. Bởi vậy, trong quá trình tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, chúng ta đã đoàn kết, tranh thủ được Liên Xô, Trung Quốc ngay trong thời điểm giữa hai nước đang có những mâu thuẫn với nhau trầm trọng và Mỹ cũng ra sức lôi kéo hai nước này, đó thực sự là một thắng lợi ngoại giao có ý nghĩa chiến lược.

Trong một thế trận quanh co, phức tạp, Việt Nam đứng vững trên lập trường độc lập, tự chủ, đoàn kết quốc tế, chọn cách ứng xử khôn khéo, tế nhị để tranh thủ được cả hai nước. Chúng ta chân thành đoàn kết quốc tế với cả hai, tôn trọng lợi ích của hai nước, cố gắng giữ thế và quan hệ cân bằng. Không ngả về bên này chống bên kia, không để mất lòng bên này hoặc bên kia.

Sau năm 1954, Mỹ dựng lên chính quyền Ngô Đình Diệm, dùng bạo lực phản cách mạng đàn áp, khủng bố dã man nhân dân yêu nước miền Nam, quyết biến miền Nam thành thuộc địa của chủ nghĩa thực dân kiểu mới. Trong lúc đó cả Liên Xô và Trung Quốc đều ngại chiến tranh, với nhận thức và ý định khác nhau, nhưng đều muốn giữ nguyên trạng hai miền Nam, Bắc, không muốn Việt Nam đẩy mạnh đấu tranh cách mạng ở miền Nam. Đại hội lần thứ XX của Đảng Cộng sản Liên Xô đề ra đường lối cùng tồn tại hòa bình và quá độ hòa bình. Trung Quốc khuyên ta “trường kỳ mai phục” ở miền Nam. Trong bối cảnh quốc tế lúc đó, Đảng Lao động Việt Nam đã đưa ra được hình thức mở đầu kháng chiến chống Mỹ là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân bằng Nghị quyết Trung ương 15 (1959). Đó là “lấy sức mạnh quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân”(2). Nghị quyết 15 đã mở đầu cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước một cách hết sức thông minh, khéo léo làm yên lòng bạn bè quốc tế và nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới. Đồng thời phương thức tiến hành cuộc kháng chiến cũng đã thể hiện tính độc lập, tự chủ trong việc quyết định vận mệnh của dân tộc ta.


(1) Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện tại Hội nghị ngoại giao ngày 14-1-1964, tài liệu lưu trữ tại Bộ Ngoại giao.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.20, tr.82.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Chín, 2014, 09:53:17 PM
Với tinh thần độc lập, tự chủ và đoàn kết quốc tế, Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (12-1963) đã ra nghị quyết thống nhất chủ trương chiến lược. Kiên quyết bảo vệ sự đoàn kết nhất trí trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và hướng mọi hoạt động quốc tế của Đảng vào việc tranh thủ sự đồng tình của thế giới nhằm mục đích giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Việt Nam không tham gia Hội nghị 75 Đảng Cộng sản và Công nhân quốc tế do Liên Xô triệu tập mà không có Đảng Cộng sản Trung Quốc. Trung Quốc yêu cầu Việt Nam ủng hộ “đại cách mạng văn hóa”, Việt Nam coi đó là công việc nội bộ của Trung Quốc. Việt Nam không nhận các đơn vị bộ đội công binh Trung Quốc tham gia làm đường vào miền Nam và cũng không nhận quân tình nguyện và bộ đội phòng không Liên Xô sang giúp Việt Nam đánh Mỹ. Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không muốn để “chiến tranh lan rộng khỏi Việt Nam” và tôn trọng lợi ích chính đáng của Liên Xô, Trung Quốc là hòa bình xây dựng đất nước, không để các nước này trực tiếp đưa lực lượng sang tham gia giúp nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Chúng ta luôn biểu thị tôn trọng vai trò và tiếng nói của Liên Xô, Trung Quốc. Việt Nam thường có các cuộc trao đổi, thông báo với lãnh đạo hai nước về những vấn đề lớn của chiến tranh: Tháng 2-1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có cuộc làm việc trực tiếp với đồng chí Kôxưghin - Thủ tướng Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviết. Tháng 5-1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh đích thân sang Trường Sa(1) làm việc với đồng chí Mao Trạch Đông - chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Với Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviết, trong 7 năm tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1965 - 1972), Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tiến hành 51 cuộc gặp cấp cao. Với Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, số lần gặp cũng xấp xỉ như vậy. Nội dung cốt yếu trong các lần gặp gỡ là các nhà lãnh đạo Việt Nam đều thông báo cho các nhà lãnh đạo Liên Xô cũng như Trung Quốc về kết quả chủ trương chiến lược phối hợp ba mặt trận đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao, giành thắng lợi từng bước, cố gắng kiềm chế và thắng Mỹ trong phạm vi Việt Nam và Đông Dương, không để chiến tranh lan rộng đe dọa hòa bình thế giới. Khi Việt Nam trao cho đoàn đàm phán Chính phủ Hoa Kỳ bản “Dự thảo Hiệp định Pari” để sớm kết thúc chiến tranh, thì cũng đồng thời trao cho ban lãnh đạo hai nước Liên Xô và Trung Quốc để tranh thủ ý kiến. Bản dự thảo hiệp định đã được cả Liên Xô, Trung Quốc tỏ rõ sự đồng tình và hứa quyết tâm ủng hộ sự nỗ lực của Việt Nam.

Khi Níchxơn lên cầm quyền, về đối ngoại, lợi dụng mâu thuẫn Xô - Trung, Níchxơn đẩy mạnh “ngoại giao ba bên”, hay còn gọi là “tam giác chiến lược Mỹ - Xô - Trung” mà bước đột phá là cải thiện quan hệ với Trung Quốc làm đối trọng với Liên Xô. Nichxơn toan tính rằng qua việc cải thiện quan hệ với hai nước lớn xã hội chủ nghĩa - đồng minh chiến lược của Việt Nam sẽ tạo sức ép “đủ nặng” đối với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tác động tiêu cực của cuộc thương thảo giữa ba nước lớn đối với kết cục cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam lên tới đỉnh điểm đánh dấu bằng các sự kiện Tổng thống Mỹ Níchxơn lần lượt đi thăm chính thức nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và ký kết bản Thông cáo Thượng Hải (2-1972), tiếp đến là thăm Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviết và ký kết bản Thông cáo Mátxcơva (5-1972).

Tuy nhiên, về cơ bản, trong suốt quá trình kháng chiến, bằng đường lối độc lập tự chủ của mình, Việt Nam đã đoàn kết được với cả Liên Xô, Trung Quốc và các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa anh em, và sử dụng có hiệu quả sự ủng hộ, giúp đỡ về tinh thần và vật chất to lớn đó để kiềm chế, đánh và từng bước đánh thắng quân xâm lược Mỹ và tay sai của chúng là chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng hòa. Cũng cần phải khẳng định rằng, sự giúp đỡ quốc tế quý báu ấy là một trong những nhân tố quan trọng dẫn đến thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Thật vậy, về chính trị, tinh thần, nhân dân ta luôn được các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa đồng tình, ủng hộ lập trường chính nghĩa, cổ vũ mọi thắng lợi của ta và lên án mạnh mẽ đế quốc Mỹ xâm lược. Cùng với các cuộc míttinh, biểu tình ủng hộ nhân dân ta, phong trào ghi tên tình nguyện sang Việt Nam sát cánh chiến đấu cùng quân, dân ta chống đế quốc Mỹ ngày càng mở rộng ở nhiều nước. Các đoàn thể thanh niên đã tổ chức nhiều đợt hoạt động quyên tiền để ủng hộ nhân dân Việt Nam kháng chiến chống Mỹ. Nhiều cơ quan, đoàn thể đã tổ chức lấy chữ ký và kiến nghị phản đối chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ. Nhiều quân nhân và thanh niên nam, nữ thuộc nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ khắp các châu lục đã tình nguyện hiến máu gửi tặng nhân dân ta. Các nước tham gia khối Hiệp ước Vácxava, gồm Liên Xô, Bungari, Hunggari, Cộng hòa Dân chủ Đức, Ba Lan, Rumani và Tiệp Khắc đã nhóm họp tại Bucarét (4-6 - 7-1966), ra bản tuyên bố quan trọng: căm phẫn lên án tội ác của bè lũ Giônxơn, nhất trí tăng cường ủng hộ và giúp đỡ Việt Nam về mọi mặt, sẵn sàng gửi người tình nguyện sang giúp nhân dan Việt Nam đánh Mỹ.


(1) Một địa phương thuộc tỉnh Hồ Nam.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Chín, 2014, 10:05:15 PM
Từ cách xa nửa vòng trái đất, Cuba là nước xã hội chủ nghĩa duy nhất ở Tây bán cầu đã tiếp nhận đoàn đại biểu thường trực của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam và là nước đầu tiên đã nâng đoàn lên thành cơ quan đại diện ngoại giao chính thức. Đầu năm 1966, Chủ tịch Phiđen Cáxtrô tuyên bố: “Vì Việt Nam, chúng tô sẵn sàng hiến dâng cả dòng máu của mình”(1). Năm 1973, Phiđen đã sang thăm vùng giải phóng miền Nam Việt Nam tại tỉnh Quảng Trị. Đây là lần đầu tiên và duy nhất một nguyên thủ quốc gia đến miền Nam Việt Nam khi mà cuộc chiến tranh còn đang tiếp diễn. Sự kiện đầy tình nghĩa thủy chung son sắt này có sức động viên, cổ vũ tinh thần vô cùng to lớn đối với quân và dân ta ở miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, giành độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc.

Đi đôi với việc ủng hộ về chính trị, tinh thần, nhân dân ta còn nhận được sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô, Trung Quốc và các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa về vật chất và cố vấn, chuyên gia kỹ thuật Liên Xô, nước có nền công nghiệp quốc phòng hùng mạnh đã viện trợ cho Việt Nam ngoài một số vũ khí thông thường còn phần lớn là những vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại như máy bay, xe tăng, xe bọc thép, tên lửa, pháo... Trung Quốc viện trợ cho ta chủ yếu là vũ khí bộ binh, quân trang, quân dụng, lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, một phần nhiên liệu, phương tiện vận tải và một số xe quân sự, pháo và đạn pháo.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tổng khối lượng viện trợ quốc tế cho quân và dân ta ước tính khoảng 2.362.682 tấn, trị giá khoảng 7 tỷ rúp thì phần lớn là từ Liên Xô và Trung Quốc. Và một điều quan trọng là Trung Quốc đã đồng ý cho ta quá cảnh một khối lượng lớn hàng quân sự của Liên Xô viện trợ qua biên giới Xô - Trung và vận chuyển bằng đường sắt qua lãnh thổ Trung Quốc vào Việt Nam. Trung Quốc còn giúp ta nâng cấp sửa chữa, mở rộng thêm và bảo vệ các tuyến đường giao thông trên bộ thuộc các tỉnh biên giới giáp Trung Quốc. Trong thời kỳ chiến đấu chống lại cuộc chiến tranh phá hoại và phong tỏa lần thứ hai của đế quốc Mỹ, Trung Quốc giúp Việt Nam xây dựng các khu chứa xăng dầu ở Đồng Đăng (Lạng Sơn), Quảng Ninh và chi viện cho Việt Nam hàng trăm kilômét thiết bị đường ống dẫn xăng dầu dã chiến, cùng một số máy móc chuyên dùng khác. Nhờ đó, Việt Nam đã xây dựng, lắp đắt tuyến ống T72A từ Đồng Đăng về Nhân Vực (Hà Nội) và tuyến ống T.72B từ Móng Cái (Quảng Ninh) về bắc Hải Dương, góp phần đánh bại chiến lược bao vây, phong tỏa của đế quốc Mỹ. Đặc biệt, năm 1972, đế quốc Mỹ tiến hành thả thủy lôi phong tỏa các cảng sông, biển, ngăn không cho tàu thuyền các nước chuyên chở hàng hóa giúp Việt Nam, các thủy thủ Trung Quốc đã dùng tàu vận tải Hồng Kỳ neo đậu ở phao số O, lợi dụng nước thủy triều lên, xuống để thả hàng hóa, giải quyết nhu cầu cấp thiết của Việt Nam. Cũng cần phải nói thêm rằng, trong quá trình bộ đội Hải quân nhân dân Việt Nam mở tuyến vận tải quân sự chiến lược 759 - đường Hồ Chí Minh trên biển để chuyển vũ khí và hàng hóa quân sự cho chiến trường miền Nam, chúng ta đã nhận được sự giúp đỡ về một phần bến bãi và phương tiện vận tải của nhân dân Trung Quốc. Cuba đã nhiệt tình giúp đỡ ta về thiết bị xây dựng đường sá. Được sự thỏa thuận giữa Chính phủ hai nước Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên, năm 1967, một số phi công của Quân giải phóng nhân dân Triều Tiên đã được cử sang Việt Nam để giúp đỡ việc huấn luyện, học tập kinh nghiệm và trực tiếp tham gia cùng với các phi công Quân đội nhân dân Việt Nam tác chiến bảo vệ hậu phương miền Bắc. Chúng ta còn nhận được những mặt hàng viện trợ quý báu về hậu cần, kỹ thuật của các nước Hunggari, Ba Lan, Rumani, Bungari, Tiệp Khác, Cộng hòa Dân chủ Đức.

Tất cả sự giúp đỡ quốc tế to lớn và quý báu đó đã được nhân dân và quân đội ta khai thác và sử dụng hiệu quả trong quá trình kháng chiến, song chúng ta cũng luôn tự chủ điều tiết và có kế hoạch tích trữ “để dành” cho những thời điểm quyết định. Và điều quan trọng là những vũ khí, phương tiện quân sự đó đã được khối óc và bàn tay của cán bộ, chiến sĩ ta cải tiến kỹ thuật, vận dụng sáng tạo trong quá trình chiến đấu mang lại hiệu suất chiến đấu rất cao, từng gây nên những bất ngờ lớn cho đối phương. Đây là sự phản ánh trung thực khả năng tư duy năng động, nhạy bén lường định một cách chính xác được những diễn biến phức tạp của tình hình quốc tế, nhất là khi Trung Quốc, Liên Xô chấp nhận tạm hòa hoãn với chính quyền Mỹ, giảm sự giúp đỡ cho Việt Nam xuống mức thấp nhất(2), hòng ngăn chặn sức tiến công quân dân ta ở chiến trường chính miền Nam và trong các cuộc chiến đấu chống lại chiến tranh phá hoại của không quân, hải quân Mỹ ở miền Bắc nước ta.


(1) Báo Quân đội nhân dân, số ra ngày 2-11-1966.
(2) Viện trợ quốc tế cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong kháng chiến chống Mỹ:
(Đơn vị tính: tấn)
(https://fbcdn-sphotos-c-a.akamaihd.net/hphotos-ak-xfa1/v/t1.0-9/10603548_531983713613709_5693804116355074670_n.jpg?oh=454da7ce064fb44d3bbb9c1ce5cf9b5f&oe=54CFFC29&__gda__=1421843999_a945c745bf7c9a680febbda3c5c0df2e)
Tổng khối lượng: 2.362.682 tấn
Thành tiền: hơn 7 tỷ rúp
Nguồn dẫn: Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 - 1975 - Thắng lợi và bài học, Sđd, t.601.
Những năm cuối của cuộc kháng chiến, nguồn viện trợ của hai nước Liên Xô, Trung Quốc dành cho Việt Nam gần như không đán kể. Nếu như năm 1972, viện trợ của Liên Xô cho Việt Nam trị giá 332 triệu rúp thì năm 1973 chỉ còn 248 triệu rúp, sang năm 1974 tụt giảm còn 98 triệu rúp và năm 1975 chỉ còn 76 triệu rúp. Tương tự, viện trợ của Trung Quốc cho Việt Nam cũng không ngừng giảm, năm 1972 là 1.200 triệu tệ, năm 1973 trị giá 1.410 triệu tệ nhưng năm 1974 chỉ còn 450 triệu tệ và năm 1975 là 190 triệu tệ. Xem Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945 - 1975), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1997.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Chín, 2014, 10:08:32 PM
Nhờ có những vũ khí, đạn dược, xe cơ giới, trang bị kỹ thuật tích trữ chiến lược từ nguồn viện trợ quốc tế trước đó đã giúp ta chủ động bảo đảm vật chất kỹ thuật cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Chỉ nói riêng về mặt hậu cần, kỹ thuật, ta đã vận chuyển hàng vạn tấn từ hậu phương miền Bắc vào chiến trường miền Nam với khoảng một vạn xe tải các loại được huy động. Đồng thời đảm bảo cơ động lực lượng cho ba quân đoàn và các binh chủng kỹ thuật mang theo đủ cơ số đạn dược và lương thực hành quân gấp vào chiến trường, đến được điểm tập kết đúng thời gian để thực hành cuộc tổng tiến công chiến lược quyết định cuối cùng, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc(1).

Như vậy, theo đường lỗi đối ngoại của Đảng Lao động Việt Nam, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã từng bước xây dựng và phát triển ngày càng vền vững, tình đoàn kết, hữu nghị, hợp tác tương trợ, giúp đỡ, tin cậy lẫn nhau theo tinh thần quốc tế xã hội chủ nghĩa với Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Sự ủng hộ, giúp đỡ quý báu và có hiệu lực về mọi mặt, nhất là về quân sự và kinh tế đã trở thành một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của nhân dân Việt Nam. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (12-1976), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã “bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đối với Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em khác, đã vì tình nghĩa quốc tế vô sản, dành cho nhân dân ta sự ủng hộ và giúp đỡ toàn diện, to lớn và quý báu”(2).

Bên cạnh sự ủng hộ, giúp đỡ chí nghĩa, chí tình của Đảng, Chính phủ và nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa anh em, đứng đầu là Liên Xô và Trung quốc, cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta còn được phong trào giải phóng dân tộc trên khắp hành tinh ủng hộ, phối hợp đấu tranh, giúp đỡ. Đây là một lực lượng rất đông đảo và rất quan trọng của sức mạnh thời đại đã tiếp thêm sức mạnh cho cách mạng và chiến tranh cách mạng Việt Nam hoàn thành sứ mạng lịch sử khai thông con đường giải phóng các dân tộc bị áp bức trên hành tinh.

Đảng và Nhà nước chủ trương mở rộng quan hệ với các nước vừa giành được độc lập dân tộc, thiết lập quan hệ ngoại giao, nâng cao vị thế của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của các nước đó đối với công cuộc đấu tranh thống nhất đất nước của nhân dân ta.

Tháng 4-1955, Đoàn đại biểu Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Văn Đồng dẫn đầu, tham dự Hội nghị các nước Á - Phi lần thứ nhất họp ở Băngđung (Inđônêxia). Việt Nam tuyên bố rõ lập trường ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân các nước Á - Phi chống chủ nghĩa thực dân, bảo đảm độc lập dân tộc, ủng hộ 10 nguyên tắc Băngđung, 5 nguyên tắc chung sống hòa bình. Trong Thông cáo chung hội nghị yêu cầu Hội đồng bảo an Liên hợp quốc kết nạp một số nước, trong đó có Việt Nam làm thành viên Liên hợp quốc. Mười nguyên tắc Băngđung là cương lĩnh sơ khởi của phong trào Không liên kết sau này. Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Việt Nam thường vận dụng 10 nguyên tắc Băngđung và 5 nguyên tắc chung sống hòa bình để xử lý thành công nhiều vấn đề đối ngoại phức tạp giữa Việt Nam và các đối tượng khác nhau.

Tháng 2-1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm hữu nghị các nước Ấn Độ và Mianma; tháng 2-1959, thăm Inđônêxia; đồng thời Việt Nam cũng đón tiếp trọng thể các nguyên thủ, người đứng đầu chính phủ các nước Á - Phi đến thăm Việt Nam. Bằng uy tin to lớn của mình đối với phong trào giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của các nước đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.

Phong trào độc lập dân tộc tiếp tục phát triển mạnh mẽ ở châu Á và châu Phi. Đến năm 1960 đã có 40 nước giành được độc lập. Năm 1961, phong trào Không liên kết ra đời, góp phần đoàn kết rộng rãi nhân dân ba châu lục cũng nhằm mục tiêu chống chủ nghĩa đế quốc, thực dân. Năm 1963, tổ chức Thống nhất châu Phi ra đời.

Tại các hội nghị đoàn kết Á - Phi, tiến đến là đoàn kết Á - Phi - Mỹ Latinh, các nước đều đồng tâm nhất trí ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, lên án mạnh mẽ hành động cướp nước và bán nước của Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Tiêng nói của Đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam đều được hầu hết các nước đồng tình, ủng hộ.


(1) Từ tháng 3-1968 đến đầu năm 1975, bộ đội xăng dầu Việt Nam đã xây dựng được một hệ thống đường ống dẫn nhiên liệu dài gần 5.00 km từ Đồng Đăng (Lạng Sơn) đến Bù Gia Mập (Thủ Dầu Một) trong đó, có hơn 500 km đường ống do Trung Quốc chi viện, gần 4.500km còn lại là đường ống dã chiến của Liên Xô. Riêng tuyến đường ống xăng dầu thuộc tuyến chi viện chiến lược 559 dài 1.400km, gồm 50 kho lớn, nhỏ có sức chứa 270.000m3, 114 trạm bơm đẩy. Xem Sự thật về những lần xuất quân của Trung Quốc và quan hệ Việt - Trung, Nxb. Đà Nẵng, Hà Nội, 1996, tr.64.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.37, tr.475-476.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Chín, 2014, 10:11:12 PM
Ngày 30-11-1966, tại buổi tiếp các đại biểu dự Hội nghị quốc tế đoàn kết với nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Với sự ủng hộ nhiệt tình của nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa, nhân dân các nước châu Á, châu Phi, Mỹ Latinh…, đồng bào miền Nam chúng tôi sẽ chiến đấu mạnh mẽ hơn nữa chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, miền Nam Việt Nam nhất định sẽ được giải phóng”(1).

Hội nghị Ủy ban công đoàn quốc tế đoàn kết với Việt Nam họp tại Hà Nội (6-1965) gồm 31 nước Á, Phi, Mỹ Latinh, châu Âu và châu Đại Dương đã quyết định lấy ngày thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam (20-12-1960) làm Ngày quốc tế đoàn kết với lao động và nhân dân miền Nam Việt Nam.

Hội nghị đoàn kết nhân dân Á, Phi, Mỹ Latinh họp từ ngày 3 đến ngày 5-1-1966 tại Cuba, bàn về mục tiêu đấu tranh vì hòa bình, trung lập của phong trào Không liên kết và ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Hội nghị đã ủng hộ mãnh mẽ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược. Hội nghi nhất trí nhận định rằng: “Bản thân cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam là một sự ủng hộ trực tiếp và góp phần mạnh mẽ vào phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân các nước ở khắp ba châu, đồng thời là một tấm gương chói lọi cổ vũ mạnh mẽ toàn thể loài người tiến bộ”(2). Hội nghị “coi việc đoàn kết với Việt Nam, bảo vệ sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân Việt Nam là nhiệm vụ trung tâm của chiến lược cách mạng của các dân tộc Á, Phi, Mỹ Latinh”(2). Kết quả của hội nghị đánh dấu sự hình thành trên thực tế của Mặt trận nhân dân ba châu chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân do Mỹ cầm đầu, một biểu hiện sinh động của tình đoàn kết nhân dân ba châu đối với nhân dân Việt nam, một sự cổ vũ quý báu đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.

Cùng với phong trào giải phóng dân tộc, Đảng Lao động Việt Nam và Nhà nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa còn tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ của phong trào hòa bình, dân chủ thế giới, của các tổ chức chính trị - xã hội, của nhiều nhân sĩ, trí thức, nghị sĩ, nhà văn, nhà báo... đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta, lên án mạnh mẽ tội ác chiến tranh do đế quốc Mỹ gây ra, đòi hòa bình cho Việt Nam.

Công tác đối ngoại và đấu tranh ngoại giao của ta không những có nhiệm vụ vạch rõ bộ mặt xâm lược của đế quốc Mỹ mà còn thuyết phục dư luận thế giới, làm cho nhân dân các nước thấy rõ cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam là cuộc đấu tranh tiểu biểu cho chính nghĩa thắng phi nghĩa, văn minh chống bạo tàn. Đế quốc Mỹ không chỉ là kẻ thù của nhân dân Việt Nam mà còn chính là kẻ thù chung của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới. Ủng hộ Việt Nam là ủng hộ những người chiến đấu bảo vệ những giá trị nhân văn của loài người, bảo vệ những tư tưởng tiến bộ của thời đại.

Cùng với việc tuyên truyền vạch mặt kẻ thù, nêu cao thiện chí hòa bình và hữu nghị, bằng những thắng lợi to lớn trên chiến trường, nhân dân ta còn khẳng định có thể đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược để tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân thế giới.

Để đoàn kết và ủng hộ Việt Nam chống Mỹ, hơn 200 tổ chức, ủy ban, phong trào đoàn kết được lập ra ở hầu hết các nước trên thế giới với nhiều hoạt động tích cực. Các hình thức ủng hộ rất đa dạng, phong phú. Hàng triệu người thuộc nhiều nước ghi tên tình nguyện sang giúp nhân dân Việt Nam đánh Mỹ; 16 nước có phong trào hiến máu; trên 50 nước có phong trào quyền góp tiền của, vật chất ủng hộ Việt Nam.

Tại hầu hết các nước, các tầng lớp nhân dân yêu chuộng hòa bình tiến hành mít tinh ủng hộ Việt Nam và biểu tình, bãi công phản đối đế quốc Mỹ xâm lược. Nổi bật là cuộc tổng bãi công của 5,5 triệu công nhân thuộc 91 tổ chức công đoàn Nhật Bản trong năm 1965, Hội Liên hiệp Phụ nữ Pháp tổ chức “Đêm thức vì hòa bình ở Việt Nam”. Cuộc đấu tranh của công đoàn thủy thủ Ổxtrâylia. Chiều ngày 4-7-1966, tại thành phố Hămbuốc (Cộng hòa Liên bang Đức), khoảng 2.000 sinh viên và nhân dân thuộc các giới đã họp mít tinh và kéo đến biểu tình trước lãnh sự quán Mỹ giương khẩu hiệu: “bọn Mỹ cút đi”, “Rút bàn tay can thiệp khỏi Việt Nam”. Giữa lòng Thủ đô Xtốckhôm của Thụy Điển đã từng xuất hiện các “chiến khu giải phóng” của thanh niên. Nổi bật là cuộc diễu hành chống Mỹ mà nhân dân Thủy Điển tổ chức ở Xtốckhôm giữa năm 1967, do Thủ tướng Ôlốp Pammơ cùng với Đại sứ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dẫn đầu Hội nghị quốc tế tháng 7-1967 tại Thủ đô Xtốckhôm, quy tụ hàng trăm nhà khoa học, học giả có tên tuổi đại diện cho hơn 300 tổ chức đoàn kết với Việt Nam tham dự thực sự là hình ảnh tiêu biểu cho việc liên kết rộng rãi các xu hướng chính trị - xã hội khắp các châu lục đoàn kết lại ủng hộ Việt Nam kháng chiến chống Mỹ xâm lược. Một hoạt động khác có ý nghĩa nhân văn và chính trị to lớn là việc lập Tòa án quốc tế Béctơrăng Rútxen để phản xét tội ác trong chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam theo thủ tục, trình tự pháp lý của một tòa án quốc tế. Tòa án do nhà triết học Anh - Huân tước Béctơrăng Rútxen vận động thành lập. Tòa án họp hai phiên: phiên đầu ở Xtốckhôm (5-1967), phiên cuối ở Rétkenđen (Đan Mạch, tháng 11, 12-1967), và tòa ra kết luận: đế quốc Mỹ đã phạm tội ác chiến tranh, tội ác diệt chủng, diệt sinh, diệt môi trường sống ở Việt Nam. Những kết luận của tòa án là lời phán xét của lương tri nhân loại đối với tội ác chiến tranh của đế quốc Mỹ. Nó tạo thêm sức mạnh và chỗ dựa chính trị, tinh thần cho phong trào nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược, đồng thời cũng là một trong những nguồn cổ vũ to lớn đối với nhân dân Việt Nam.


(1) Bộ Ngoại giao - Viện Quan hệ quốc tế: Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác ngoại giao, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1990, tr.196.
(2), (3) Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975 - Những sự kiện quân sự, Hà Nội, 1988, tr.153.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Chín, 2014, 10:14:39 PM
Về chính sách đối với nước Mỹ, Đảng Lao động Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân biệt rõ những thế lực đế quốc xâm lược là kẻ thù, còn nhân dân Mỹ là bè bạn của nhân dân ta. Họ luôn phản đối cuộc chiến tranh xâm lược bẩn thỉu và tích cực ủng hộ cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.

Khi đế quốc Mỹ đưa quân xâm lược miền Nam Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳn định rõ thái độ trước sau không đổi của Đảng, Chính phủ và toàn thể dân tộc Việt Nam là: “Chúng ta kịch liệt chống bọn đế quốc Mỹ dã man đang dùng bom đạn và thuốc độc giết hại đồng bào ta ở miền Nam. Đồng thời chúng ta cũng kính trọng những người Mỹ tiến bộ, họ chống lại đế quốc Mỹ, thủ phạm trong cuộc chiến tranh xâm lược đó”(1).

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn phân biệt rõ rệt bạn và thù, không coi nhân dân các nước đã đưa quân xâm lược Việt Nam là kẻ thù, tranh thủ sự ủng hộ của họ đối với sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân ta. Xuất phát từ tinh thần yêu chuộng hòa bình, mong muốn chấm dứt chiến tranh, Người chia sẻ nỗi đau thương, mất mát với nhân dân Mỹ, nạn nhân của cuộc chiến tranh phi nghĩa do chính quyền Mỹ gây ra. Trong thư ngày 23-12-1966, gửi nhân dân Mỹ, Người viết: “Nhân dân Việt Nam và nhân dân Mỹ đáng lẽ cùng sống trong hòa bình và hữu nghị. Song Chính phủ Mỹ đã ngang nhiên phái hơn 40 vạn quân với hàng nghìn máy bay, hàng trăm tàu chiến đến xâm lược Việt Nam… Ngày càng nhiều người Mỹ dũng cảm đứng lên đấu tranh mạnh mẽ đòi Chính phủ Mỹ phải tôn trọng hiến pháp và danh dự nước Mỹ, phải chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam và rút quân đội Mỹ về nước”(2). Như vậy, Người rất chú trọng đến việc tác động vào hậu phương của Mỹ. Với mũi tiến công đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tích cực góp phần thúc đẩy phong trào quần chúng Mỹ chống chiến tranh ở Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gọi “Mặt trận số 1 chống đế quốc Mỹ là Việt Nam. Mặt trận số 2 ở ngay tại nước Mỹ”. Mặt trận số hai này gồm cuộc đấu tranh của người da đen Mỹ chống “phân biệt chủng tộc”, chống chiến tranh xâm lược Việt Nam kết hợp với phong trào nhân dân Mỹ da trắng chống chiến tranh(3). Vào thời điểm chính quyền Mỹ bắt đầu thực hiện chiến lược chiến tranh cục bộ ở miền Nam và leo thang chiến tranh phá hoại miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận xét: “Về tinh thần, Mặt trận thống nhất phản đế đã hình thành giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Mỹ... Nhân dân Mỹ đánh từ trong ra, nhân dân ta đánh từ ngoài vào. Hai bên giáp công mạnh mẽ, thì đế quốc Mỹ nhất định sẽ thua, nhân dân Việt - Mỹ nhất định sẽ thắng”(4).

Chính vì công lý và chính nghĩa, phong trào nhân dân Mỹ chống chiến tranh cũng phát triển nhanh và mạnh, sớm nổ ra quy mô toàn quốc và thống nhất hành động. Ngày mùa thu 1965, lúc Mỹ vừa đưa một số đơn vị quân chiến đấu đầu tiên vào miền Nam, các tổ chức chống chiến tranh đã thành lập Ủy ban phối hợp toàn quốc đòi chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Ủy ban này liên tiếp phát động hai đợt đấu tranh lớn, đợt thứ nhất từ ngày 15 đến ngày 17-10-1965, đợt thứ hai từ ngày 15 đến ngày 25-3-1966. Hai đợt mở đầu này lôi cuốn trên nửa triệu người Mỹ ở hơn 100 thành phố tham gia. Trong phong trào này, vai trò trung tâm và nổi bật là các giáo sư, các nhà khoa học, các nhà tu hành và sinh viên. Cuối năm 1965, những cuộc tự thiêu của một vài người Mỹ chống chiến tranh như của chiến sĩ hòa bình Nôman Môrixơn trước cửa sổ Lầu Năm Góc, của Rôgơ Lapotơ, Gian Caoxki đã gây chấn động sâu sắc trong xã hội Mỹ và có tiếng vang trên thế giới. Đế quốc Mỹ càng thất bại và sa lầy ở Việt Nam, phong trào phản chiến, đốt thẻ quân dịch của thanh niên, sinh viên, vứt bỏ huân chương của cựu binh càng phát triển mạnh.

Đợt đấu tranh mùa xuân năm 1967 lôi cuốn hàng triệu người. Đợt đấu tranh mùa thu huy động tới 3,7 triệu người tại hàng trăm thành phố tham gia. Trong các năm 1967 - 1968 diễn ra các đợt hoạt động mang tên “Mùa hè nóng bóng” với các cuộc biểu tình, diễu hành cùng một lúc tại 120 thành phố, với sự tham gia của 2.000 trường học, hàng trăm tờ báo phản chiến và hơn 200 tổ chức quần chúng, tổ chức phi chính phủ làm rung động Nhà Trắng và Lầu Năm góc. Oantơ Lípman - nhà bình luận chính trị nổi tiếng nước Mỹ hồi đó nhận xét: Lương tâm của người Mỹ nổi dậy... cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam là cuộc chiến tranh không được lòng dân nhất trong lịch sử Hoa Kỳ.

Phong trào đấu tranh của nhân dân Hoa Kỳ những năm về sau còn phát triển khi đế quốc Mỹ tiếp tục gây thêm nhiều tội ác ở Việt Nam. Đánh giá về ảnh hưởng của người dân Hoa Kỳ, H. A. Kítxinhgiơ - nguyên Cố vấn an nhinh quốc gia, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ nhớ lại: “Các thế hệ tương lai có thể khó hình dung được cơn biến động trong nước (Hoa Kỳ) mà chiến tranh Việt Nam gây ra... Chính cơ cấu của Chính phủ đã bị tan rã. Ngành hành pháp bị choáng váng. Cuối cùng con em của họ và con em bạn bè của họ đã tham gia các cuộc biểu tình... Sự kiệt sức là dấu ấn của tất cả chúng tôi Tôi phải đi từ nhà tôi, vây quanh là đám người phản đối, đến tầng dưới của Nhà Trắng để ngủ đôi chút”(5).

Trong lịch sử, hiếm có cuộc chiến đâu của dân tộc nào thực hiện được sự tập hợp rộng rãi và ủng hộ mạnh mẽ của các lực lượng cách mạng và tiến bộ trên thế giới như cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam. Loài người tiến bộ đứng hẳn về phía Việt Nam, dành cho nhân dân ta những tình cảm sâu sắc, sự ủng hộ vật chất và tinh thần thật là to lớn. Sự hình thành”ba tầng mặt trận” (Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam, mặt trận ba nước Đông Dương, mặt trận nhân dân thế giới) cùng bao vây tiến công đế quốc Mỹ là một trong những nét nổi bật của chiến lược cách mạng Việt Nam, một sáng tạo trong sự kết hợp chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế. Với truyền thống uống nước nhớ nguồn, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc thắng lợi, thực hiện lời căn dặn của Bác Hồ, đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn đã thay mặt nhân dân Việt Nam bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc “đối với Liên Xô, Trung Quốc, các nước xã hội chủ nghĩa anh em khác, đối với các Đảng cộng sản và công nhân, đã vì tình nghĩa quốc tế vô sản cao cả, dành cho nhân dân ta sự ủng hộ và sự giúp đỡ hết sức to lớn và quý báu. Chúng ta chân thành cảm ơn giai cấp công nhân các nước trên thế giới, các nước dân tộc chủ nghĩa, các tổ chức dân chủ quốc tế và loài người tiến bộ đã cổ vũ và ủng hộ mạnh mẽ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta. Chúng ta gửi đến nhân dân tiến bộ Mỹ đã vì hòa bình và công lý mà đồng tình, ủng hộ cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân ta, lời chào hữu nghị”(6).


(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.11, tr.46.
(2) Bộ Ngoại giao - Viện quan hệ quốc tế: Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác ngoại giao, Sđd, tr.46.
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.123-125.
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.11, tr.522-524.
(5) Henry Kisinger: The White House years (Những năm tháng ở Nhà Trắng), Tlđd, tr.190.
(6) Sức mạnh Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nôi, 1976, tr.394.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Chín, 2014, 10:17:04 PM
2. Kết hợp chặt chẽ đấu tranh ngoại giao với đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị, kết hợp chặt chẽ cuộc chiến đấu trên chiến trường và cuộc đấu tranh trên bàn đàm phán

Một trong những quy luật của đấu tranh vũ trang của chiến tranh cách mạng, chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện là đấu tranh vũ trang kết hợp chặt chẽ với các hình thức khác như đấu tranh chính trị, đấu tranh ngoại giao... Sự kết hợp đã tạo nên sức mạnh ưu thế của đấu tranh vũ trang trên chiến trường, trước hết là trên những hướng chiến lược chủ yếu.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, đấu tranh chính trị đã được nâng lên thành một nghệ thuật trong việc chống chính sách xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ. Khi khởi nghĩa từng phần phát triển thành chiến tranh cách mạng, chiến tranh và khởi nghĩa gắn quyên với nhau thì đấu tranh chính trị mà hình thức cao là sự nổi dậy của quần chúng luôn luôn kết hợp chặt chẽ và nhịp nhàng với đấu tranh quân sự, tạo thế và trợ giúp đắc lực cho đấu tranh quân sự. Thắng lợi của đấu tranh quân sự, chính trị trên chiến trường và ở trong nước đã tạo thế cho dấu tranh ngoại giao. Thắng lợi quân sự trên chiến trường là cơ sở để giành thắng lợi ngoại giao trên bàn đàm phán. Thắng lợi của đấu tranh ngoại giao lại tạo điều kiện cho đấu tranh quân sự và chính trị giành thắng lợi lớn hơn. Trong mối quan hệ giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao thì đấu tranh quân sự là đạc trưng cơ bản, vì không có nó không còn là chiến tranh. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói cơ sở của ngoại giao là thực lực: “thực lực như cái chiêng, ngoại giao như cái tiếng chiêng, chiêng có to, tiếng mới lớn”(1). Do đó, sức mạnh của ngoại giao cũng tùy thuộc vào sức mạnh của dân tộc (nội lực). Đảng Lao động Việt Nam coi việc xây dựng thực lực chính trị, quân sự, kinh tế bên trong là nhân tố quyết định, tạo thế mạnh cho sức mạnh đối ngoại.

Với những thắng lợi trên chiến trường, tháng 11-1966, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Tung ương Đảng Lao động Việt Nam đã họp, ra Nghị quyết về Đẩy mạnh đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam. Nghị quyết chỉ rõ: Để phục vụ cho đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị, cần tích cực chủ động và tích cực tạo điều kiện bận dụng sách lược vừa đánh vừa đàm, vừa đàm vừa đánh, nhằm tranh thủ dư luận thế giới, cô lập đế quốc Mỹ, gây thêm khó khăn cho địch, làm cho chúng bị động, lúng túng và nội bộ mâu thuẫn hơn nữa... Tiếp đó, tháng 1-1967, tại Hội nghị lần thứ 13 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, với chuyên đề về Chỉ đạo đấu tranh ngoại giao được thông qua đã mở ra một giai đoạn mới trong cuộc đấu tranh của nhân dân ta; vừa tiếp tục chiến đấu, vừa chuẩn bị điều kiện đi vào đàm phán hòa bình.

Một thành công lớn của đấu tranh ngoại giao trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là vận dụng phương thức “vừa đánh, vừa đàm” để phối hợp với chiến trường, giành thắng lợi từng bước, buộc chính quyền Mỹ phải ký kết Hiệp định Pari, kết thúc chiến tranh.

Cuộc đàm phán Pari là đỉnh cao của phối hợp ngoại giao với quân sự chính trị, cũng là đỉnh cao của mặt trận đấu tranh ngoại giao. Từng thời kỳ, căn cứ vào yêu cầu của chiến trường và dư luận quốc tế, ta phát huy thiện chí hòa bình, đưa ra những đề nghị, giải pháp. những đòn tán công trên bàn đàm phán. Đây là cuộc đấu trí, đấu lý quyết liệt kéo dài suốt năm năm.

Khi chuẩn bị mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968), tháng 12-1976, ta tuyên bố “sẽ nói chuyện với Mỹ”, tháng 5-1968, sắp mở đợt tiến công đợt 2, qua kênh ngoại giao, ta thỏa thuận với phía Mỹ bắt đầu họp Hội nghị Pari. Cuối năm 1968, kết thúc đàm phán hai bên Việt - Mỹ, mở hội nghị bốn bên là đúng lúc. Sắp mở đợt tiến công lớn mùa hè 1969 (tháng 5), ta đưa ra đề nghị hòa bình 10 điểm. Suốt ba năm (1969 - 1971), ta có khó khăn trên chiến trường, ngoại giao hỗ trợ bằng những đề nghị cứng rắn như đòi thay Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu, đòi chính quyền Mỹ định thời hạn rút hết quân hoặc dùng các biện pháp khéo kéo như nói rộng quy chế với phi công Mỹ bị bắt trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam.

Cuộc tiến công chiến lược năm 1972 của quân và dân ta làm cho đế quốc Mỹ và chính quyền, quân đội Việt Nam Cộng hòa hoàn toàn bất ngờ, bị sụp đổ từng mảng, suy yếu nghiêm trọng. Để đỡ đòn, đế quốc Mỹ buộc phải dùng không quân, hải quân đánh phá trở lại miền Bắc, kết hợp với các hoạt động xảo quyệt - thực hiện “hành động quân sự quyết định” của Tổng thống Níchxơn, tiến hành cuộc tập kích chiến lược đường không bằng máy bay B.52 vào Hà Nội và Hải Phòng... hòng hạn chế thắng lợi của ta, buộc ta phải chấp nhận điều kiện của Mỹ trong đàm phán, đi đến kết thúc chiến tranh có lợi cho Mỹ.

Như vậy, trải qua 4 năm, 9 tháng với 202 phiên họp công khai và 24 cuộc họp riêng, nội dung của dự thảo Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam đã hoàn tất thì đế quốc Mỹ lại lật lọng. Tuy nhiên, bằng tài năng và lòng dũng cảm, quân và dân ta đã kiên cường đánh trả, bắn rơi nhiều máy bay hiện đại, bắt sống nhiều giặc lái. Chung cuộc, Mỹ chẳng những không đạt được mục tiêu của cuộc tập kích chiến lược mà trái lại còn phải chuốc lấy thất bại nặng nề - một thất bại lịch sử của lực lượng không quân chiến lược Hoa Kỳ.

Thắng lợi to lớn của cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên chiến trường miền Nam cùng với việc đập tan cuộc tập kích chiến lược đường không bằng B.52 của đế quốc Mỹ ở miền Bắc đã làm cho cục diện chiến tranh Việt Nam chuyển biến nhanh chóng. Chính quyền Mỹ phải ký Hiệp định Pari, chấp nhận chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Thắng lợi quan trọng nhất là quân Mỹ và quân các nước đồng minh của Mỹ buộc phải rút hết khỏi miền Nam Việt Nam, còn quân chủ lực của ta (đối phương thường gọi là quân đội Bắc Việt) vẫn ở nguyên tại chỗ, làm cho lực lượng so sánh trên chiến trường thay đổi hẳn theo chiều hướng hoàn toàn có lợi cho ta, mở ra điều kiện thuận lợi để ta tiến lên giành thắng lợi cuối cùng. Giôn Nêgrôpôn - chuyên viên của Kítxinhgiơ về chiến tranh của Việt Nam đã phải cay đắng thốt lên: “Chúng ta ném bom Bắc Việt Nam để rồi chúng ta lại chấp nhận nhượng bộ”(2).

Ông Kítxinhgiơ trong cuốn sách Thuật ngoại giao (Diplomacy) xuất bản năm 1994 đã thừa nhận: “Hòa bình lập lại ở châu Âu từ lâu, nhưng hai thế hệ quân nhân Mỹ còn đóng lại đó. Còn để bảo đảm các điều khoản của Hiệp định đình chiến Triều Tiên, hàng trăm ngàn quân Mỹ còn đồn trú tại đó trong hơn 40 năm qua (tính đến 1995). Chỉ riêng ở Việt Nam, Mỹ đã ký một hiệp định mà không để lại lực lượng bảo đảm thi hành hiệp định. Do đó cuộc tháo chạy tháng 4-1975 là không thể tránh khỏi”(3).


(1) Bộ Ngoại giao - Viện quan hệ quốc tế: Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác ngoại giao, Sđd, tr.294.
(2) Nguyễn Tiến Hưng và Jerold L.Scheeter: Từ tòa Bạch Ốc đến dinh Độc Lập, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1990, tr.214.
(3) Bộ Quốc phòng Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương - Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh: Đại thắng mùa Xuân 1975 - Bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr.819-820.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Chín, 2014, 10:18:15 PM
3. Huy động, phối hợp mọi lực lượng đẩy mạnh hoạt động đối ngoại và đấu tranh ngoại giao

Xuất phát từ chủ trương chiến lược kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, ta đã chủ động, tích cực, linh hoạt sử dụng nhiều hình thức tổ chức, nhiều phương thức đấu tranh huy động nhiều lực lượng tham gia, phối hợp chặt chẽ các hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Về mặt Đảng, những vấn đề lớn về đường lối độc lập, tự chủ, đoàn kết quốc tế, đoàn kết các Đảng Cộng sản, đoàn kết Xô - Trung, đoàn kết ba nước Đông Dương, đường lối tiến công, kiềm chế, kéo Mỹ xuống thang, mở đường cho Mỹ ra khỏi miền Nam… do Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị và Trung ương Đảng trực tiếp chỉ đạo, qua thực tế kiểm nghiêm đã khẳng định là kịp thời, đúng đắn, sáng tạo và sắc bén. Vào những thời điểm bước ngoặt, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã có những quyết sách kịp thời, ở tầm trí tuệ cao thể hiện tư duy và nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh, rất chủ động, kịp thời đạt hiệu quả cao như: Miền Nam hòa bình và trung lập (1960), lập trường bốn điểm (1965), Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc mới nói chuyện (1967), dự thảo hiệp định để kết thúc đàm phán (10-1972)…

Trong quá trình nhân dân Việt Nam tiến hành kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã xuất hiện sự bất đồng, mất đoàn kết nghiêm trọng trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế ngay từ những năm đầu thập niên 60 thế kỷ XX và mức độ ngày càng gia tăng. Dù vậy, Đảng Lao động Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn trước sau kiên định chủ trương bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, chống những biểu hiện của chủ nghĩa xét lại và chủ nghĩa giáo điều. Trong khi đấu tranh với những khuynh hướng sai trái, phương châm của ta là: Không khoan nhượng về nguyên tắc, nhưng xuất phát từ đoàn kết mà đấu tranh để tăng cường đoàn kết; cần có thái độ có lý, có tình, tùy tình hình cụ thể và đối tượng cụ thể mà dùng phương pháp và hình thức đấu tranh thích hợp.

Tại Hội nghị 81 Đảng Cộng sản và Công nhân quốc tế họp ở Mátxcơva (11-1960), đoàn đại biểu Đảng Lao động Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu đã tích cực và chủ động giải quyết bất đồng giữa Liên Xô và Trung Quốc, góp phần quan trọng vào việc ký kết bản tuyên bố chung của Hội nghị. Bên cạnh những hoạt động trực tiếp thuyết phục Liên Xô và Trung Quốc tiến hành đàm phán, thương lượng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã nhiều lần kêu gọi các đảng anh em chấm dứt tranh luận công khai, họp hội nghị quốc tế các đảng để giải quyết bất đồng. Nhưng khi thấy việc họp hội nghị các đảng đã bị các bên tranh chấp sử dụng để tập hợp chống phá lẫn nhau, gây thêm chia rẽ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã hết sức tránh những việc có thể đào sâu thêm hố ngăn cách và luôn luôn cảnh giác đối với âm mưu chia rẽ của kẻ thù.

Những quan điểm và phương pháp hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Lao động Việt Nam tại Hội nghị 81 Đảng Cộng sản và Công nhân quốc tế và trong đối thoại quốc tế trong những năm 60 và 70 thế kỷ XX thực sự là những cống hiến quan trọng cho việc bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, góp phần làm chậm quá trình phân liệt và giảm bớt các tác động tiêu cực đối với phong trào cộng sản quốc tế và đối với cả nước ta.

Về mặt nhà nước, ta đã tăng cường mối quan hệ nhà nước với chính phủ các nước xã hội chủ nghĩa, các nước trong phong trào Không liên kết và các nước khác có quan hệ nại giao chính thức hoặc bán chính thức với ta. Để tạo điều kiện thuận lợi và hợp pháp cho hoạt động đối ngoại ở miền Nam Việt Nam, tháng 12-1960, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ra đời, và tháng 6-1969, Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam chính thức được thành lập. Về hình thức ngoại giao, trên thực tế có khi ở trên cùng một quốc gia nào đó trên thế giới đồng thời tồn tại hai cơ quan ngoại giao đại diện (một của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam). Song, tựu trung, công tác ngoại giao của hai miền đều do một đảng - Đảng Lao động Việt Nam trực tiếp lãnh đạo, cùng thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược chung của cách mạng Việt Nam, cùng đại diện cho một dân tộc quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Nói chuyện tại Hội nghị cán bộ ngoại giao lần thứ 5, ngày 16-3-1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ nét đặc thù và mối quan hệ phối hợp giữa ngoại giao miền Nam và miền Bắc: “Bây giờ ngoại giao của ta vừa là một mà vừa là hai; vừa là hai mà lại là một. Ta vừa có ngoại giao của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, vừa có ngoại giao của Mặt trận Dân tộc giải phóng. Hai cái vừa là hai lại vừa là một, vừa là một lại vừa là hai. Hai khối đó phải kết hợp chặt chẽ với nhau. Có khi Mặt trận nói chứ Việt Nam Dân chủ cộng hòa nói thì không đúng. Có khi cả hai đều nói. Phải đoàn kết chặt chẽ với nhau, cùng bàn bạc với nhau”(1).

Thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí minh, cơ quan ngoại giao hai miền đã cùng nhau bàn bạc, phát huy vai trò chủ động, độc lập theo đặc thù của ngoại giao mỗi miền để bổ sung cho nhau, phối hợp chặt chẽ và nhịp nhàng nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của nền ngoại giao Việt Nam.

Ngoại giao miền Bắc đã làm hết sức mình giúp đỡ ngoại giao miền Nam về chủ trương, bộ máy tổ chức cán bộ; giới thiệu Mặt trận với các nước mà Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã có quan hệ ngoại giao từ trước.


(1) Bộ Ngoại giao Việt Nam: Ngoại giao Việt Nam 1945 - 2000, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.282.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Chín, 2014, 10:18:34 PM
Từ lúc mới ra đời, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam đã giương cao ngọn cờ hòa bình, trung lập, khẳng định quyết tâm cùng nhân dân các nước chặn tay bọn hiếu chiến, giữ gìn hòa bình. Khẩu hiệu “hòa bình” tranh thủ được sự ủng hộ của tất cả những ai muốn hòa bình, phản đối chiến tranh. Khẩu hiệu “trung lập” nhằm mở rộng mặt trận đoàn kết quốc tế, không phân biệt chính kiến, đảng phái, tôn giáo. Do đó, trên thế giới có những lực lượng không tán thành chủ nghĩa xã hội, nhưng lại nhiệt tình ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân miền Nam Việt Nam.

Chủ trương miền Nam hòa bình, trung lập góp phần gắn cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam với phong trào bảo vệ hòa bình thế giới, với phong trào các nước Không liên kết, tranh thủ được sự ủng hộ quốc tế rộng rãi, đồng thời đóng góp tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập, dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, chống chủ nghĩa đế quốc hiếu chiến và xâm lược.

Nhờ kết hợp hoạt động ngoại giao nhà nước ở cả hai miền, ta đã phát huy mạnh mẽ được thanh thế của lực lượng kháng chiến. Uy tín của Mặt trận và Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam ngày càng được nâng cao, các nước trên thế giới ngày càng hiểu rõ đường lối, chính sách của ta, càng đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ cuộc chiến đấu của nhân dân ta ở hai miền Nam, bắc.

Đi đôi với hoạt động ngoại giao của Đảng, Nhà nước, ta đã đẩy mạnh hoạt động ngoại giao nhân dân, hình thành phương thức ngoại giao rất đa dạng và phong phú. Thông qua các phương tiện báo chí, phát thanh, các cơ quan đại diện ngoại giao, các hội nghị, hội thảo quốc tế, các đoàn cán bộ của Bộ Ngoại giao, các tổ chức công đoàn, nhà báo, thanh niên, phụ nữ, tổ chức hòa bình… được cử đi công tác nước ngoài đều làm tốt nhiệm vụ tuyên truyền tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến, đồng thời vạch mặt kẻ thù xâm lược, làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ và cảm thông sâu sắc với cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam, đoàn kết với Việt Nam chống lại quân xâm lược Mỹ. Ở miền Nam, các đoàn thể trong Mặt trận như thanh niên, phụ nữ, công đoàn, hội Lục hòa (tức đại diện Phật giáo), Công giáo kháng chiến, Hội nhà báo, Hội nhà văn kháng chiến… đều tranh thủ tham gia các hoạt động quốc tế lớn và triển khai các hoạt động ngoại giao rất có hiệu quả, góp phần thúc đẩy sự hình thành phong trào các nước đoàn kết với Việt Nam.

Để có được những kết quả to lớn về công tác hoạt động đối ngoại và đấu tranh ngoại giao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, ngoài việc định ra đường lối, chủ trương đúng, Đảng và Nhà nước ta còn chăm lo đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ đối ngoại và ngoại giao. Trong cuộc đụng đầu lịch sử này, ngoại giao Việt Nam vừa chiến đấu vừa xây dựng, từng bước trưởng thành. Ngoại giao đã tham mưu cho Đảng và Nhà nước về đánh giá đối phương, phân tích thời cuộc, tìm hiểu bạn bè; quan trọng là tham mưu đúng và trúng về các chủ trương, biện pháp hoặc khi có tình thế mới xuất hiện.

Đặc biệt trong lĩnh vực này, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước đã trực tiếp chỉ đạo và đích thân tiến hành hoạt động đối ngoại và đấu tranh ngoại giao, bảo đảm cho mặt trận đấu tranh này có được tầm cao trí tuệ, uy tín sâu rộng, sức thuyết phục to lớn và bản lĩnh vững vàng. Với tư tưởng “cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới”, “giúp bạn là tự giúp mình”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gắn đất nước với quốc tế, dân tộc với thời đại. Đã tiến hành những hoạt động ngoại giao hết sức sắc bén và có hiệu quả, tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa và của lực lượng yêu chuộng hòa bình và tiến bộ trên toàn thế giới, kể cả ở những nước tư bản, đế quốc. Chính là từ Chủ tịch Hồ Chí Minh mà sức mạnh của thời đại được kết hợp với sức mạnh của dân tộc và đã tạo nên sức mạnh tổng hợp đánh thắng kẻ thù xâm lược, tăng cường tình đoàn kết giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân thế giới và nâng cao vị thế của dân tộc ta, đất nước ta.

*
*   *

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, được sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng Lao động Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân tố trong nước và quốc tế, nội lực và ngoại lực đã được kết hợp chặt chẽ và phát huy lên tầm cao mới, tạo nên sức mạnh tổng hợp ưu trội hơn đối phương trong từng giai đoạn và trong toàn bộ quá trình chiến tranh. Nội dung cơ bản và xuyên suốt của sự kết hợp này nói rõ đặc điểm của cách mạng Việt Nam là chỉ có nêu cao độc lập dân tộc, phát huy độc lập tự chủ mới thực hiện được đoàn kết quốc tế, phát huy được sức mạnh của thời đại trong việc thực hiện nhiệm vụ dân tộc. Mặt khác, thực hiện tốt đoàn kết quốc tế và tăng cường được sức mạnh dân tộc.

Sức mạnh dân tộc được phát huy trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, suy cho cùng, là biểu hiện tập trung của tinh thần đoàn kết, nhất trí cao độ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta; của ý chí thống nhất Bắc - Nam. Đồng thời, lần đần tiên trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, sức mạnh dân tộc được sự hỗ trợ to lớn và có hiệu quả của sức mạnh thời đại; và thực sự, sức mạnh dân tộc càng được củng cố khi nó bắt gặp và kết hợp với sức mạnh do thời đại đưa lại.

Thực tiễn của quá trình tổ chức, phát huy sức mạnh dân tộc trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thực sự là bài học lịch sử còn nguyên giá trị đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Mười, 2014, 09:21:18 PM
Chương 40

PHÁT TRIỂN SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ VIỆT NAM

I - TIẾP NỐI TRUYỀN THỐNG QUÂN SỰ DÂN TỘC TRONG THỜI ĐẠI MỚI

1. Truyền thống quân sự dân tộc

Lịch sử dân tộc ta từ thời Hùng Vương dựng nước Văn Lang đến nhà nước cách mạng ra đời là lịch sử của quá trình xây dựng gắn liền với những cuộc kháng chiến chống xâm lược để bảo vệ nền độc lập, tự do, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Trải qua biến thiên của lịch sử, nhà nước Văn Lang, Âu Lạc ngày càng được mở rộng và hoàn thiện dần cương vực lãnh thổ thành nước Vạn Xuân, Đại Cồ Việt, Đại Việt, Đại Nam đến Việt Nam, nhân dân ta đã phải chiến đấu quyết liệt, giành giật từng tấc đất giang sơn với các cuộc chiến tranh xâm lược tàn bạo của các tập đoàn phong kiến phương Bắc đế quốc Pháp, phát xít Nhật, rồi đế quốc Mỹ. Suốt hơn 30 thế kỷ, lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử của những cuộc khởi nghĩa và chiến tranh yêu nước, chiến tranh cách mạng chống sự xâm lược của ngoại bang, mà mở đầu là cuộc kháng chiến chống Tần của quân dân Âu Lạc thế kỷ thứ III (TCN) và cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng năm 40 lật đổ ách thống trị của nhà Đông Hán, giành độc lập dân tộc. Những chiến thắng đầu tiên này chẳng những thể hiện ý chí, khát vọng độc lập dân tộc, tinh thần chiến đấu kiên cường của nhân dân Âu Lạc, mà còn mở đầu truyền thống chiến tranh nhân dân “cả nước đánh giặc”, “trăm họ là binh”, đồng thời đặt viên gạch đầu tiên cho nền nghệ thuật quân sự “lấy ít đánh nhiều, “lấy nhỏ thắng lớn” của dân tộc ta. Tuy cuộc chiến tranh nhân dân thời An Dương Vương, Hai Bà Trưng mới manh nha nhưng nó là cái vốn quý đầu tiên dựng nền độc lập của tổ tiên “con Lạc cháu Hồng”, là tiền đề cho sự phát triển nghệ thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam những thế kỷ sau phong phú hơn.

Nền độc lập, tự chủ của nước Âu Lạc do Hai Bà Trưng lãnh đạo chỉ tồn tại được ba năm. Năm 44, Nhà Đông Hán lại xâm lược nước ta một lần nữa. Từ đây, nhân dân Âu Lạc rơi vào ách thống trị của các triều đại phong kiến phương Bắc suốt hơn 1.000 năm.

Quãng thời gian hơn 10 thế kỷ chống các tập đoàn phong kiến phương Bắc (nhà Tần, Đông Hán, Nam Hán...) xâm lược để giành và giữ nền độc lập, tự chủ, nhân dân ta đã sáng tạo ra các cách thức tiến hành khởi nghĩa và chiến tranh mưu trí, đạt hiệu quả cao và được các thế hệ kế tiếp[256] vận dung, phát triển dần dần trở thành truyền thống quân sự tốt đẹp của dân tộc Việt Nam và biểu hiện của nó là:

1- Khởi nghĩa đi liền với chiến tranh giải phóng

Việt Nam là một nước nhỏ, người ít. Vì thế, các thế lực xâm lược phương Bắc cũng như phương Tây, Bắc Mỹ qua các thời đại, đều ngoan cố, nham hiểm, “thua keo này chúng bày keo khác” quyết liệt tàn bạo hơn, không bao giờ chúng chịu rút lui khi chưa bị đánh bại. Những người lãnh đạo tiến bộ và nhân dân ta từ thời Thục Phán, Hai Bà Trưng khởi nghiệp đến ngày nay đều thấy rõ âm mưu, bản chất của kẻ thù, nên khi chuẩn bị khởi nghĩa cùng đồng thời chuẩn bị lực lượng, ý chí quyết tâm sẵn sàng kháng chiến. Nhờ đó, nhân dân ta bước vào cuộc kháng chiến một cách chủ động; không bị bất ngờ. Khởi nghĩa đi liền với chiến tranh giải phóng và kháng chiến toàn dân trở thành truyền thống quý báu, một trong những quy luật giành và giữ nền độc lập, thống nhất của dân tộc ta. Từ quy luật của lịch sử ngàn năm dựng nước của cha ông, Đảng Lao động Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng, phát triển, dự kiến các tình huống sẽ diễn ra trong thời kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Trong chống Pháp, Đảng lãnh đạo nhân dân chuẩn bị mọi mặt để làm cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945, đồng thời cũng chuẩn bị trước về lực lượng, tư tưởng, quyết tâm sẵn sàng tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược. Trong cuộc đấu tranh chống Mỹ và tay sai cai trị miền Nam bằng chủ nghĩa thực dân mới, Đảng chủ trương “khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân” và chuẩn bị trước về tổ chức, lực lượng, quyết tâm bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, nếu chúng gây ra. Nhờ dự kiến đúng các tình huống chiến tranh xảy ra, nhân dân ta ở hai miền bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ một cách chủ động, bình tĩnh, tự tin và đã giành thắng lợi cuối cùng.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Mười, 2014, 09:21:42 PM
2- Khởi nghĩa toàn dân và chiến tranh nhân dân

Những cuộc khởi nghĩa và chiến tranh chống xâm lược thời An Dương Vương, Hai Bà Trưng, Lý Bí, Triệu Quang Phục, Dương Đình Nghệ, Ngô Quyền là những cuộc khởi nghĩa và chiến tranh chính nghĩa. Mục đích là nhằm giải phóng nhân dân, giành độc lập, tự chủ, nên được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân và dân tộc. Những người lãnh đạo khởi nghĩa và kháng chiến có quan điểm tư tưởng tiến bộ, biết dựa vào dân, có phẩm chất, năng lực tổ chức tốt, thu phục được lòng dân, được dân tin, nghe theo lời kêu gọi của những người lãnh đạo đã đứng lên kháng chiến anh dũng. Trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng năm 40, sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép rằng: Quân Hai Bà đi đến đâu như gió lướt đến đấy. Các tộc Nam Di ở Cửu Châu, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng theo, lấy lại và dẹp yên được 65 thành ở đất Lĩnh Nam. Đây là một minh chứng cho tính toàn dân của các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng không chỉ thời An Dương Vương, Hai Bà Trưng, mà xuyên suốt cả các cuộc đấu tranh của nhân dân ta trong hơn 1.000 năm Bắc thuộc. Tuy tính nhân dân hồi đó còn hạn chế nhiều mặt, sức mạnh dân tộc chưa bộc lộ hết, nhưng nó đã đặt nền móng đầu tiên xây nên truyền thống khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng của dân tộc ta.

3- Đánh lâu dài, thực hiện cách đánh du kích, “lấy nhỏ thắng lớn”, “lấy ít địch nhiều”

Khi người xưa lựa chọn phương châm đánh lâu dài là đã căn cứ vào tình hình đất nước, căn cứ vào so sánh lực lượng giữa ta và đối phương, từ đó đề ra phương pháp tác chiến du kích “lấy nhỏ thắng lớn”, “lấy ít địch nhiều”. Đây là tư tưởng quân sự lớn, đặc sắc của tổ tiên ta và dần qua năm tháng chống xâm lược trở thành nghệ thuật đánh giặc độc đáo của dân tộc Việt Nam. Bởi vì, “lấy nhỏ thắng lớn”, “lấy ít địch nhiều” là phương pháp đánh giặc khó thành công, thậm chí không có tính khả thi, nên ít quốc gia lựa chọn. Song, đối với dân tộc Việt Nam “lấy nhỏ thắng lớn”, “lấy ít địch nhiều” là một quan điểm, tư tưởng quân sự, nghệ thuật quân sự căn bản, một cách đánh giặc độc đáo mà tính hiệu quả của nó đã được khẳng định trong quá trình lịch sử các cuộc chiến tranh giải phóng, cứu nước của nhân dân ta. “Lấy nhỏ thắng lớn”, “lấy ít địch nhiều” là so sánh trên bình diện chiến lược về đất đai, dân số, về tiềm lực chiến tranh, khả năng huy động lực lượng và sử dụng lực lượng đó trong chiến tranh của đối phương so với ta. Nhưng trong phạm vi chiến dịch, chiến thuật mặc dù bị chiến lược tác động, chi phối, nhưng dân tộc ta đã biết phát huy tính độc lập tương đối của chiến thuật, tìm ra các cách đánh “thiên biến vạn hóa” mà kẻ thù không tài nào chống đỡ nổi. Vì vậy, “lấy ít địch nhiều”, “lấy nhỏ thắng lớn” trở thành truyền thống quân sự, nghệ thuật quân sự đặc sắc của dân tộc ta. Nhân dân ta đã biến một cái “khó có khả năng” hoặc “không có khả năng” thành một cái “có khả năng” to lớn để chiến thắng kẻ thù trong cuộc chiến tranh giải phóng và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, là một trong những sáng tạo “độc nhất vô nhị” không những ở phạm vi chiến thuật, mà còn ở phạm vi chiến lược góp phần làm phong phú kho tàng nghệ thuật quân sự nước nhà.

Lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta đã ghi rõ, dưới sự lãnh đạo, chỉ huy của vua hiền, tướng giỏi từ An Dương Vương, Hai Bà Trưng tiến hành đấu tranh giành nền độc lập, tự chủ đến các cuộc kháng chiến anh dũng của Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Quang Trung, nhân dân ta chẳng những xây nên truyền thống yêu nước và khát vọng độc lập, tự do, mà còn sáng tạo ra truyền thống chiến tranh nhân dân thần kỳ. Bằng nghệ thuật đánh giặc “trì cửu chiến” của ba thứ quân, đồng thời tạo thời cơ mở cuộc tiến công thần tốc giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn, với phương thức tác chiến tổ chức phòng ngự tích cực, đánh du kích, kết hợp với tiến công trận địa kiên quyết đã đưa cuộc chiến tranh nhân dân hình thành từ buổi bình minh dựng nước, phát triển phong phú, đa dạng về nội dung và hình thức, thành cuộc chiến tranh nhân dân “cả nước một lòng, chung sức đánh giặc”, “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Đó là truyền thống nghệ thuật quân sự đánh giặc, cứu nước của quân, dân Âu Lạc, Vạn Xuân, Đại Cồ Việt, Đại Việt được khái quát: “Bất kể so sánh lực lượng như thế nào, quy mô tác chiến như thế nào, đều biết kếp hợp tinh thần dũng cảm với trí thông minh sáng tạo, tạo nên sức mạnh áp đảo tiêu diệt quân địch, giành thắng lợi lớn”(1). Đó là nghệ thuật đánh địch trên thế mạnh của chiến tranh nhân dân Việt Nam.

Chiến tranh nhân dân ra đời là đóng góp của tổ tiên đối với việc hình thành, phát triển nền nghệ thuật quân sự và tư tưởng quân sự nước nhà. Tuy vận, chiến tranh nhân dân ngày trước còn hạn chế nhiều mặt, người dân không có điều kiện phát triển hết sức mạnh của mình, vì họ là “bầy tôi” của các đấng quân vương đang thống trị họ. Phải đợi đến thời đại Hồ Chí Minh, chiến tranh nhân dân mới phát triển lên tầm cao mới toàn dân, toàn diện, sức mạnh của mọi tầng lớp trong xã hội được phát huy đầy đủ, vì họ đã được giải phóng khỏi ách nô lệ, trở thành người chủ của đất nước độc lập, tự do, bình đẳng.


(1) Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới, Tạp chí Cộng sản, tháng 5-1979.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Mười, 2014, 09:24:06 PM
2. Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh

Quá trình đi tìm đường cứu dân, cứ nước, Nguyễn] Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, đỉnh cao của trí tuệ loài người. Sự tìm tòi, khảo nghiệm qua quá trình tìm đường cứu nước và vai trò là người lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã đúc rút thành hệ thống những luận điểm về cách mạng dân tộc, cách mạng dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa quyện chặt nhau, thành cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa; luận điểm về sự kết hợp nhiệm vụ giải phóng dân tộc với nghĩa vụ quốc tế; về sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về đảng cầm quyền; về vai trò của nhân dân trong các cuộc cách mạng đó, v.v. Đó chính là tư tưởng cách mạng Hồ Chí Minh, mà tư tưởng quân sự là một bộ phận hợp thành. Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh được hiểu là những vấn đề có tính quy luật của khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng, về quốc phòng và quân đội Việt Nam trong thời đại mới, nhằm thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; là sản phẩm tổng hợp của quá trình vận dụng đúng đắn, sáng tạo lý luận quân sự của chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng và chiến tranh cách mạng Việt Nam, kế thừa và phát triển truyền thống quân sự của dân tộc Việt Nam, tiếp thu tinh hoa quân sự cổ, kim, đông, tây của nhân loại. Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là một bộ phận hợp thành tư tưởng quân sự cách mạng đó của Người. Với tầm nhìn sâu rộng và trí tuệ uyên bác, Hồ Chí Minh đã nâng tư tưởng quân sự Việt Nam truyền thống lên tầm cao khoa học và hiện đại, phù hợp với xu thế phát triển của phong trào cách mạng và kháng chiến của Việt Nam. Để tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, là những đế quốc giàu mạnh, hiện đại hơn ta gấp nhiều lần, ta phải động viên nhân dân tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”(1). Tin tưởng vào nhân dân, nhìn thấy sức mạnh to lớn của nhân dân, trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói:

“…Hỡi đồng bào!

Chúng ta phải đứng lên

Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gương dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân, cứu nước”(2). Đó là đường lối chiến tranh nhân dân do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra, được Người khái quát bằng ngôn ngữ mộc mạc để dân ta dễ đọc, dễ nhớ và hiểu mà thực hiện. Qua cuộc kháng chiến chống Pháp đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, chiến tranh nhân dân Việt Nam phát triển rất cao, toàn diện, mà nội dung của đường lối đó được Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam khái quát cô đọng: Cả nước một lòng, toàn dân đánh giặc dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, phát huy sức mạnh chiến đấu của toàn dân tộc, tiến hành khởi nghĩa toàn dân và chiến tranh nhân dân để đánh thắng quân đội của chủ nghĩa đế quốc. Đường lối này là sự kế thừa và phát triển truyền thống quân sự dân tộc “cả nước đánh giặc”, “trăm họ là binh” của tổ tiên, kết hợp với sự vận dụng sáng tạo những quan điểm của Mác - Lênin về vai trò của nhân dân trong chiến tranh cách mạng. V.I. Lênin đã từng nói: Để tiến hành chiến tranh phải động viên toàn bộ lực lượng trong nhân dân. Phải biến cả nước thành một dinh lũy cách mạng. Tất cả hãy chi viện cho chiến tranh.

Chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thời đại mới là cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, với tư tưởng chiến lược tiến công. Nó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong khi tiến hành các loại hình tác chiến: chiến lược, chiến dịch, chiến đấu tiến công, phản công và phòng ngự. Tư duy quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện rõ trong bài thơ Học đánh cờ của Người:

            “Tấn công, thoái thủ nên thần tốc,
            Chân lẹ, tài cao ắt thắng người”.
            “Phải nhìn cho rộng, suy cho kỹ,
            Kiên quyết, không ngừng thế tấn công;
            Lạc nước, hai xe đành bỏ phí,
            Gặp thời, một tốt cũng thành công”.
            “Tấn công, phòng thủ không sơ hở,
            Đại tướng anh hùng mới xứng danh”(3).


(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.171.
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.480.
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.287.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Mười, 2014, 09:25:59 PM
Trong tác chiến chiến lược, chiến dịch, chiến thuật, tiến công hoặc rút lui, theo tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh đều phải nhanh chóng, không được chần chừ, do dự, phải tiến công liên tục và kiên quyết, kết hợp chặt chẽ giữa tiến công và phòng ngự. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn dạy trong đấu tranh cách mạng và kháng chiến phải nắm vững thời cơ và hành động đúng thời cơ thì dù lược lượng ít cũng tạo được sức mạnh áp đảo, giành thắng lợi nhanh chóng. Thời cơ là yếu tố quan trọng đầu tiên của nghệ thuật khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng. Lênin nói khi phát động quân chúng vào cuộc tiến công cách mạng không được sớm một phút, vì như vậy là nổi dậy non, cũng không được muộn một phút sẽ bỏ lỡ thời cơ giành thắng lợi. Ở đây, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh bắt gặp tư tưởng lớn của Lênin. Đúng như Hồ Chí Minh đã viết: “Lạc nước hai xe đành bỏ phi, gặp thời, một tốt cũng thành công”. Mùa đông năm 1944, phong trào cách mạng ở Cao Bằng phát triển mạnh, quần chúng sẵn sàng nổi dậy khởi nghĩa, tiến hành chiến tranh du kích. Liên Tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng chuẩn bị họp, quyết định phát động cuộc khởi nghĩa. Lúc này, lãnh tụ Hồ Chí Minh trở lại Cao Bằng, sau khi nắm lại tình hình, Người chỉ thị cho Liên Tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng hoãn cuộc khởi nghĩa. Người cho rằng: bây giờ thời kỳ hòa bình phát triển đã qua, nhưng thời kỳ toàn dân khởi nghĩa chưa đến, nếu khởi nghĩa, quân thù đối phó sẽ gây tổn thất cho ta. Mùa thu 1945, phát xít Nhật đầu hàng quân Đồng minh, Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc; ở trong nước, Nhật - Pháp bắn nhau. Thời cơ giải phóng Tổ quốc xuất hiện, Đảng Cộng sản Đông Dương lập tức phát động phong trào đấu tranh toàn quốc “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945 bùng nổ đúng thời cơ đã thành công rực rỡ. Cuộc Đồng khởi ở miền Nam 1959 - 1960 thắng lợi oanh liệt cũng nhờ nhân dân ta hành động đúng thời cơ. Chiến dịch tiến công Điện Biên Phủ 1954, Chiến dịch Tây Nguyên, Chiến dịch Huế - Đà Nẵng, Chiến dịch Hồ Chí Minh 1975 được khởi sự đúng thời cơ, nên quân và dân ta đã giành thắng lợi nhanh chóng, kết thúc 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ thắng lợi vẻ vang, mang ý nghĩa quốc tế và thời đại sâu sắc. Như vậy, thời cơ là lực lượng, sức mạnh được nhân đôi, không nắm vững thời cơ và hành động không đúng thời cơ sẽ gặp rất nhiều khó khăn, tổn thất, dẽ dẫn đến thất bại. Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là sự kết tinh giữa truyền thống quân sự ngàn năm của dân tộc với những tinh hoa quân sự thế giới, mang tính cách mạng triệt để kiên quyết nhất và tính khoa học sâu sắc, nhằm đánh thắng kẻ thù bằng sức mạnh dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người khỏi cảnh bị áp bức, bóc lột. Do đó, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh mang tính nhân văn cao cả. Hồ Chí Minh đã phát triển cuộc chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện, đánh địch bằng cả quân sự, chính trị, binh vận, kinh tế, tư tưởng. Phương thức tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân là bằng các cách đánh du kích, dần dần phát triển lên khi lực lượng ta mạnh, có vũ khí trang bị kỹ thuật, quân sự tốt, thì kết hợp chặt chẽ chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, nghĩa là “áp dụng vận động chiến song song với du kích chiến”. Người chỉ ra rằng: “du kích là một cách chiến tranh của dân chúng dùng khí giới ít và kém chống với đế quốc có khí giới tốt và nhiều”. Người còn nói: “du kích là cách đánh giặc của dân tộc bị áp bức chống đế quốc”; còn vận động chiến “có mục đích trừ diệt một số lớn quân địch”. Nguyên tắc chỉ đạo tác chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhanh chóng, bí mật, bất ngờ, kiên quyết và chủ động, đánh tiêu diệt. Người đề ra nguyên tắc cách đánh du kích là “giữ quyền chủ động”, “bao giờ cũng giữ thế công”, “hết sức nhanh chóng” và dùng những thủ đoạn “tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu của địch”, “đánh địch lúc chúng đang vận động, hoặc lúc chúng mỏi mệt, mất cảnh giác, chủ quan”, v.v. Trong các tác phẩm Con đường giải phóngCách đánh du kích, Nguyễn Ái Quốc chỉ ra rằng, để cho chiến tranh du kích phát triển lên cao, điều quan trọng là phải xây dựng căn cứ du kích làm chỗ đứng chân, tích trữ lực lượng và xây dựng chính quyền cách mạng cơ sở vững mạnh: “Có chính quyền cách mạng ở địa phương, có căn cứ địa vững mạnh, đội du kích nhờ đó mà phát triển lực lượng và hóa ra quân chính quy”(1). Những nội dung Nguyễn Ái Quốc nêu ra trong hai tác phẩm quan trọng trên đã thể hiện rõ tư tưởng quân sự của Người về chiến tranh du kích trong khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng rất sâu sắc và toàn diện. Người vạch ra quy luật của chiến tranh du kích và cách đánh du kích, vạch ra cơ sở căn bản để chiến tranh du kích tồn tại, phát triển đi lên và xây dựng quân đội thường trực, tác chiến chính quy, làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc. Tháng 12-1944, lãnh tụ Hồ Chí Minh Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, nêu rõ phương thức hoạt động của Đội là kết hợp quân sự với chính trị, quân sự phải phục tùng chính trị là một minh chứng cho sự sáng suốt, nhìn xa trông rộng của Người. Trong bài Chiến lược của quân ta và quân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Chiến lược của chúng ta là chiến lược tiến công... Phương pháp tác chiến của chúng ta áp dụng vận động chiến song song với du kích chiến. Vận động chiến có mục đích trừ diệt một số lớn quân địch. Còn du kích chiến là huy động dân quân ở địa phương vừa quấy rối, vừa làm hao mòn lực lượng của chúng... Chúng ta nhất định không bị thất bại, nếu chúng ta còn bảo toàn được lực lượng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nói: “Một cuộc kháng chiến lâu dài để giữ vững chủ quyền đất nước... không thể không chú ý đến vấn đề động viên kinh tế... Chúng ta phải tập trung hết thảy nhân lực, vật lực, tài lực vào công cuộc kháng chiến thì lực lượng kháng chiến của ta mới được đầy đủ, mạnh mẽ để đạt đến thắng lợi cuối cùng”(2). Tất cả mọi lực lượng, mọi tài nguyên của quốc gia đều phải dùng vào công cuộc bảo vệ cách mạng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã phát triển hoàn chỉnh lý luận chiến tranh nhân dân trong thời đại mới với tư tưởng quân sự chiến tranh du kích kết hợp chặt chẽ với chiến tranh chính quy và đấu tranh quân sự phải song song với đấu tranh chính trị trong khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng đúng đắn, sáng tạo. Người còn dạy trong chiến tranh muốn giành thắng lợi, bên cạnh đấu tranh chính trị và chiến tranh du kích, ta phải cố gắng cao độ đánh tiêu diệt. Dưới ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh, năm 1945 nhân dân ta đã tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám thành công và kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi. Bằng các chiến dịch tiến công và phản công: Việt Bắc (1947), Cao - Bắc - Lạng (1949), Biên giới (1950), v.v., đặc biệt là Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954) “chấn động địa cầu”, Quân đội nhân dân Việt Nam đã tiêu diệt chiến lược quân viễn chinh Pháp, buộc chúng phải chấm dứt chiến tranh. Chiến tranh nhân dân và đánh tiêu diệt trở thành truyền thống và tư tưởng quân sự lớn của dân tộc ta. Ngày nay, tư tưởng đánh tiêu diệt đã ăn sâu vào tiềm thức của các tướng lĩnh, những người chỉ huy chiến đấu, chiến dịch và những người Việt Nam yêu nước…


(1) Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr.266.
(2) Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Sđd, tr.297.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Mười, 2014, 09:30:09 PM
II - PHÁT HUY NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ DÂN TỘC, TỔ CHỨC VÀ THỰC HIỆN
CUỘC CHIẾN TRANH NHÂN DÂN, TOÀN DÂN, TOÀN DIỆN

1. Nắm vững tư tưởng chiến lược tiến công, sử dụng bạo lực cách mạng, tiến hành khởi nghĩa toàn dân và chiến tranh nhân dân

Đảng Lao động Việt Nam chỉ ra rằng sử dụng bạo lực cách mạng, trước tiên phải dùng lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu để “khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân”. Mỹ là đế quốc giàu mạnh nhất thế giới, lại rất ngoan cố và xảo quyệt, nên khi cuộc khởi nghĩa nổ ra, chúng sẽ tập trung sức mạnh và mọi thủ đoạn đánh phá quyết liệt, vì vậy, ta phải sử dụng vũ trang tuyên truyền, vũ trang tự vệ để bảo vệ nhân dân, hỗ trợ cho cuộc đấu tranh chính trị. Trước hết, phải động viên toàn dân và tổ chức cho họ tham gia kháng chiến. Nhân dân là người xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, xây dựng căn cứ, tổ chức đấu tranh chính trị, binh vận. Điều quan trọng là các đảng bộ miền Nam khi phát động toàn dân khởi nghĩa phải chọn đúng “điểm hành động” và “thời cơ hành động” sao cho phù hợp với tình hình ở từng địa phương, trong nước và quốc tế thì nhất định thành công. Bằng chủ trương này, Đảng Lao động Việt Nam đã vận dụng và phát triển truyền thống “khởi nghĩa toàn dân” và “chiến tranh nhân dân” lên tầm cao mới, đáp ứng với yêu cầu của thời đại mới có nhiều đổi thay. Thực hiện chủ trương của Đản, các cấp ủy đảng và nhân dân ác địa phương miền Nam đã linh hoạt, sáng tạo chọn “điểm hành động”: vùng rừng núi Khu 5 và Tây Nguyên, các tỉnh miền Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long, liền kề hoặc nối thông với các căn cứ cách mạng miền Tây các tỉnh Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, chiến khu Đ, chiến khu Dương Minh Châu, căn cứ địa U Minh, Đồng Tháp Mười đã có từ thời chống Pháp và được củng cố trong những năm đấu tranh chống địch “tố cộng, diệt cộng”, lại xa hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Nơi đây, lực lượng của đối phương yếu và sơ hở, chính quyền cơ sở của đối phương ở nhiều nơi bị ta vô hiệu hóa, lực lượng cách mạng đang lên, khí thế vùng dậy của quần chúng sục sôi, đang nóng lòng chờ “ý kiến”(1) của Đảng. Tình thế cách mạng trực tiếp ở những nơi này đã chín muồi(2). Mùa xuân năm 1959, những cuộc khởi nghĩa từng phần ở miền núi các tỉnh Khu 5 và Tây Nguyên bùng nổ, trong đó cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi là điển hình, đã đập vỡ một mắt xích trọng yếu trong hệ thống cai trị chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm ở Nam Việt Nam. Cuộc khởi nghĩa này đã mở đầu cho những cuộc khởi nghĩa từng phần không chỉ ở Khu 5, mà cả miền Nam Việt Nam. Và, một năm sau đó, vào mùa xuân 1960, Bến Tre và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, miền Đông Nam Bộ làm cuộc Đồng khởi thắng lợi vang dội, đưa phong trào cách mạng miền Nam từ thế bị động lên thế chủ động tiến công. Đây là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược quan trọng đầu tiên trong tiến trình cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện chống cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ. Đồng khởi thắng lợi minh chứng một chủ trương đúng đắn, sáng tạo của Đảng Lao động Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh về “khởi nghĩa toàn dân”. Chúng ta tránh được đưa bộ đội từ miền Bắc vào miền Nam, dùng lực lượng quân sự lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm; nên sau Đồng khởi, dự luận trong nước và quốc tế đều lên tiếng ủng hộ Việt Nam, phản đối chế độ độc tài, phát xít Mỹ - Diệm. Mặc dù Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa cố tình xuyên tạc sự thật, lên tiếng vu cáo “cộng sản miền Bắc” xúi giục lật đổ, nhưng tình báo Bộ Quốc phòng Mỹ khẳng định: “Chiến tranh nói chung bắt đầu như một cuộc nổi loạn ở Nam Việt Nam chống lại chế độ thối nát và ngày càng có tính chất đàn áp của chế độ Diệm..., hầu hết những người đứng lên cầm vũ khí đều là người Nam Việt Nam và những lý do khiến họ chiến đấu không hề được sắp đặt ở Bắc Việt Nam”(3). Sự thừa nhận này của tình báo Mỹ là một thắng lợi nữa về chính trị của Đồng khởi đã góp phần làm phân hóa nội bộ Mỹ, tạo thêm điều kiện thuận lợi cho ta tập hợp lực lượng kháng chiến. Đây là thắng lợi của nghệ thuật sử dụng bạo lực cách mạng, dùng lực lượng chính trị của quần chúng kết hợp với lực lượng vũ trang tiến hành khởi nghĩa từng phần đánh đổ chính quyền địch, rồi từ khởi nghĩa từng phần phát triển thành chiến tranh cách mạng. Đảng Lao động Việt Nam dự kiến cuộc khởi nghĩa của nhân dân miền Nam cũng có thể chuyển thành cuộc đấu tranh vũ trang trường kỳ giữa ta và đối phương. Dự kiến này là một lời tiên đoán đúng, cuộc chiến tranh giữa ta và đối phương diễn ra liền sau Đồng khởi. Quân và dân ta đã chủ động sẵn sàng bước vào cuộc kháng chiến.


(1) Hồi đó những chỉ thị, nghị quyết của Đảng và cấp trên đều gọi là “ý kiến”.
(2) Những điều kiện chủ quan, khách quan về địch, về ta và địa hình thuận lợi cho cách mạng gọi là tình thế cách mạng trực tiếp.
(3) Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh Việt Nam, in rônêô, Việt Nam Thông tấn xã dịch và phát hành, 1971, t.1, tr.72.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Mười, 2014, 09:32:39 PM
2. Nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện

Tháng 11-1960, Kennơđi trúng cử Tổng thống nắm quyền lãnh đạo nước Mỹ thay Aixenhao. Song lúc này chiến lược toàn cầu “trả đũa ồ ạt” đã bị phá sản, vì không ngăn chặn được các cuộc nổi dậy giành độc lập của nhân dân Á - Phi - Mỹ Latinh, điển hình là Việt Nam. Kennơđi chấp nhận chiến lược quân sự toàn cầu mới “Phản ứng linh hoạt” do Mácxoen Taylo đề xướng. Chiến lược này gồm hai bộ phận: chiến tranh tổng lực (chiến tranh hạt nhân) và chiến tranh hạn chế. Chiến tranh hạn chế bao gồm hai chiến lược chiến tranh: chiến tranh đặc biệt và chiến tranh cục bộ. Đây là hai loại hình chiến tranh mà Bộ Quốc phòng Mỹ cho là thích hợp nhất, có khả năng chống các cuộc chiến tranh nổi dậy có hiệu quả nhất, là “lưỡi kiếm tiến công” sắc bén, đối phó kịp thời với phong trào cách mạng không chỉ ở Việt Nam, mà ở các nước thuộc địa và phụ thuộc khác trên thế giới. Trước mắt, Mỹ áp dụng chiến lược chiến tranh đặc biệt, sử dụng 10 sư đoàn chính quy quân đội Việt Nam Cộng hòa mở hàng ngàn cuộc hành quân càn quét nhằm tiêu diệt lực lượng vũ trang, đàn áp phong trào đấu tranh chính trị, quyết dồn 14 triệu đồng bào miền Nam vào 160.000 ấp chiến lược, kết thúc cuộc chiến tranh đặc biệt. Tướng Háckin - Tư lệnh viện trợ quân sự Mỹ ở miền Nam Việt Nam (MACV) nói với Kennơđi: có khả năng kết thúc cuộc chiến tranh vào dịp lễ Giáng sinh năm 1963. Lúc đó, Mỹ sẽ rút 22.300 cố vấn và chuyên gia Mỹ về nước. Nào ngờ, quân đội Việt Nam Cộng hòa - công cụ bạo lực chủ yếu để thực hiện chiến tranh đặc biệt, được Mỹ trang bị những vũ khí tối tân có đủ các quần chúng hải, lục, không quân, được mệnh danh mạnh nhất nhì Đông Nam Á lại càng đánh càng thua. Chiến tranh đặc biệt phá sản, hai “đầu lĩnh” thực thi cuộc chiến tranh đặc biệt là Ngô Đình Diệm - Tổng thống chính quyền Việt Nam Cộng hòa và Kennơđi - Tổng thống Hoa Kỳ lần lượt bị ám sát. Đúng là “họa vô đơn chí” đối với kẻ xâm lược và bán nước. Tình hình chính trị, quân sự, xã hội miền Nam “rối như tơ vò”, trong khi cách mạng miền Nam phát triển mạnh, nhất là lực lượng quân sự. Để cứu vãn tình hình Nam Việt Nam, ngay sau khi lên thay Kennơđi làm Tổng thống Mỹ, Giônxơn quyết định triển khai chiến lược chiến tranh cục bộ thay cho chiến tranh đặc biệt. Theo đó, quân chiến đấu Mỹ và quân đội các nước đồng minh của Mỹ nhanh chóng được đưa vào miền nam Việt Nam: từ 22.300 cố vấn và lực lượng yểm trợ Mỹ năm 1963, đột ngột tăng lên 184.314 người vào năm 1965, tới 389.000 người vào năm 1966, rồi 480.000 người vào năm 1967, đạt đến 535.000 người vào năm 1968 và quân các nước đồng minh của Mỹ tới 68.800 người, đến tháng 5-1969, quân chiến đấu Mỹ ở miền Nam đạt tới đỉnh 638.000 người(1). Với lực lượng ưu thế này, giới cầm quyền Nhà Trắng và Lầu Năm Góc tin rằng sẽ nhanh chóng “đưa cuộc chiến đến tận xứ sở của kẻ địch (lực lượng cách mạng miền Nam), làm cho kẻ địch không thể đi lại ở bất cứ nơi nào trên đất nước… và giáng cho kẻ địch những đòn thật nặng nề”(2). “Cùng lắm trong vòng 18 tháng, Mỹ sẽ chiến thắng, lúc đó Việt cộng và Hà Nội phải chịu thua, chấm dứt kháng chiến. Và, trên bình diện thế giới, chúng ta (Mỹ) sẽ chứng minh được cho các dân tộc thấy rằng chiến tranh cách mạng không đem lại kết quả gì, cuộc khởi nghĩa nào cũng có thể bị tiêu diệt”(3). Uylơ - Chủ tịch Hội đồng Tham mưu liên quân Mỹ còn bảo đảm với Tổng thống và Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ rằng: “Không có lý do gì chúng ta không thể thắng nếu đó là quyết tâm của chúng ta”(4). Với lực lượng hơn hẳn Quân giải phóng miền Nam Việt Nam về mọi mặt, các tướng lĩnh quân đội Hoa Kỳ cho rằng nếu “quân đội chọi với quân đội” thì Mỹ sẽ chiến thắng, cùng lắm đến năm 1967 chúng sẽ rút quân về nước và “hát khúc ca khải hoàn”.

Khi đế quốc Mỹ phát động cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Đảng Lao động Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương động viên quân, dân cả nước tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện. Mỹ là tên đế quốc giàu mạnh, rất ngoan cố và[276] tàn bạo. So sánh lực lượng, lúc đầu, ta yếu hơn đối phương phải “lấy yếu thắng mạnh”, “lấy ít địch nhiều”. cho nên, cuộc kháng chiến của nhân dân ta từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc, để giành được độc lập, tự do cho dân tộc, thống nhất Tổ quốc sẽ phải là một quá trình đấu tranh lâu dài, gian khổ, chứ không thể một sớm, một chiều. Trên cơ sở đó, Đảng ta đề ra phương châm “đánh lâu dài”. Diễn biến cuộc kháng chiến chứng minh phương châm đánh lâu dài là đúng đắn, sáng tạo. Nắm bắt chiều hướng thất bại của chiến lược chiến tranh đặc biệt do đế quốc Mỹ tiến hành nhất định là không tránh khỏi, Đảng Lao động Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh bổ sung vào phương châm chiến lược: Trên cơ sở đánh lâu dài, chúng ta cần cố gắng cao độ, tập trung lực lượng ở cả hai miền để tranh thủ thời gian giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn trên chiến trường miền Nam. Đề ra phương châm này, Đảng đặt yêu cầu giành một bước thắng lợi căn bản, đánh bại quân đội và chính quyền Việt Nam Cộng hòa trước khi quân chiến đấu Mỹ vào miền Nam, làm mất chỗ dựa để tiến hành chiến tranh xâm lược cục bộ của chúng. Nhờ đường lối và phương châm đúng, cuộc chiến tranh nhân dân của ta phát triển rất cao, phong phú, đa dạng về cách thức đánh giặc, không chỉ toàn dân đánh Mỹ, mà đánh Mỹ toàn diện, đánh bằng quân sự, chính trị, binh vận, ngoại giao, nhiều người cũng đánh, một người cũng đánh, đánh ở mọi lúc, mọi nơi có địch: rừng núi, đồng bằng, đô thị… Quân viễn chinh Mỹ và quân đồng minh của chúng vào miền Nam tiến hành chiến tranh cục bộ, không chỉ đánh nhau với chủ lực Quân giải phóng, mà chúng phải đương đầu với cuộc chiến tranh nhân dân trên đất nước Việt Nam, gồm hai lực lượng, ba thứ quân. Việt Nam đánh Mỹ không chỉ có bộ đội chủ lực mà còn có bộ đội địa phương và dân quân, du kích, tự vệ, không chỉ có đấu tranh quân sự, mà cả đấu tranh chính trị, binh vận - lối đánh đã từng chiến thắng đế quốc Mông - Nguyên mạnh nhất hành tinh ở thế kỷ XIII và đánh bại cuộc chủ trương xâm lược lần thứ hai của thực dân Pháp những thập niên 40-50 thế kỷ XX. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ Mắc Namara đã thừa nhận sức mạnh của cuộc chiến tranh nhân dân, chứ không phải cuộc chiến tranh xâm lược của Bắc Việt Nam như chính quyền Oasinhtơn tung hô để lừa bịp thế giới - Một cuộc chiến tranh “không có trận tuyến” rõ ràng và cũng “không có hành quân” đích thực. Ở đó, ta và đối phương luôn ở thế trận xen kẽ “cài răng lược”. Ở thế trận này, lúc đầu quân Mỹ còn hung hăng mở các cuộc hành quân “tìm diệt”, tìm cách giao chiến với chủ lực Quân giải phóng, nhưng đi đến đâu, chúng cũng chỉ “đấm vào không gian” như báo chí Mỹ và phương Tây từng mô tả; đến lúc mệt mỏi, chán nản, trên đường rút về căn cứ thì bất thình lình chúng bị Quân giải phóng tiến công, làm cho cả quân Mỹ lẫn quân đội Việt Nam Cộng hòa thương vong nặng nề. Số binh lính sống sót cũng hoang mang, dao động. Một thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp, sâu hiểm, biến hóa khôn lường như vậy, quân Mỹ, quân Việt Nam Cộng hòa càng đánh càng thua, suy yếu và bị động, cuối cùng thất bại là tất yếu. Chiến tranh nhân dân chỉ có ở những dân tộc tiến hành cuộc đấu tranh chính nghĩa giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, chống quân xâm lược. Những kẻ đi xâm lược không bao giờ làm được cuộc chiến tranh nhân dân, chúng chỉ sử dụng quân đội chính quy, vì cuộc chiến tranh phi nghĩa mà chúng tiến hành luôn bị nhân dân chính quốc và thế giới phản đối. Việt Nam chống Mỹ xâm lược Tổ quốc mình, nên quá trình tiến hành cuộc kháng chiến đã huy động được sức mạnh của toàn dân, toàn diện vào cuộc đấu tranh. Do đó, quân và dân ta đã sáng tạo ra nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân mưu lược, thích hợp với hoàn cảnh cuộc chiến tranh về so sánh lực lượng đôi bên, về tình hình trong nước và quốc tế. Những nét đặc trưng cơ bản của nghệ thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là: Nghệ thuật sử dụng bạo lực cách mạng, tiến hành chiến tranh toàn dân, toàn diện, đánh địch bằng cả hai lực lượng, ba thứ quân, trên cả ba vùng chiến lược; nghệ thuật của sự kết hợp chặt chẽ giữa tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công, thực hiện tiêu diệt địch để giành quyền làm chủ, làm chủ để tiêu diệt địch, nghệ thuật kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, binh vận và ngoại giao; nghệ thuật biết thắng địch từng bước, kết hợp giữa khởi nghĩa với chiến tranh cách mạng, v.v.


(1) Theo số liệu do Chính phủ Mỹ công bố.
(2) Marchel Guiglares: Việt Nam ngày đầu leo thang, NQF 1961, tr.238.
(3), (4) Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh Việt Nam, Tlđd, t.II, tr.136.153.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Mười, 2014, 09:35:54 PM
3. Nghệ thuật thắng địch từng bước

Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ là một bộ phận của phong trào cách mạng thế giới. Nhiệm vụ của nhân dân ta là phải kết hợp cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc với nghĩa vụ quốc tế. Nhưng tình hình quốc tế trong những năm dân tộc ta tiến hành kháng chiến chống Mỹ xâm lược là rất phức tạp. Đế quốc Mỹ đang ráo riết thực hiện chiến lược quân sự toàn cầu “trả đũa ồ ạt” nhằm đàn áp phong trào đấu tranh giành độc lập của nhân dân Á - Phi - Mỹ Latinh và ngăn chặn, tiến tới đẩy lùi chủ nghĩa cộng sản mà trực tiếp là các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa. Cho nên, nhiệm vụ cách mạng trên thế giới là phải “giữ gìn hòa bình, ngăn chặn đế quốc gây chiến tranh, bảo đảm an ninh cho nhân dân các nước, đồng thời phải đẩy mạnh đấu tranh, đẩy lùi từng bước, đánh đổ từng bộ phận của chủ nghĩa đế quốc(1). Thắng địch từng bước không chỉ phù hợp với phương châm đấu tranh của phong trào cộng sản quốc tế đề ra năm 160, mà còn là nghệ thuật quân sự phù hợp với phương châm “đánh lâu dài” do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra khi bắt đẩu cuộc kháng chiến, nó biểu hiện ý chí quyết tâm kháng chiến của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; là tính cách mạng triệt để của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của một Đảng Cộng sản chân chính. Dù kháng chiến có lâu dài, gian khổ, hy sinh, nhưng “không có gì quý hơn độc lập, tự do”, nhân dân ta cũng cương quyết chiến đấu, giành cho được độc lập, tự do và thống nhất, toàn vẹn Tổ quốc. Đó là mục tiêu cách mạng và lý tưởng sống của toàn dân tộc Việt Nam. Tính chất cách mạng triệt để này dựa trên cơ sở khoa học đánh giá đúng so sánh lực lượng giữa ta và đối phương trong sự phát triển biện chứng. Chúng ta hiểu sâu sắc bản chất của đế quốc Mỹ, biết được điểm mạnh, điểm yếu của chúng, nên không run sợ, e dè trước sức mạnh của Mỹ mà lùi bước không dám chống lại, cũng không chủ quan, liều lĩnh không tính đến kết quả thắng, thua. Đảng Lao động Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh hạ quyết tâm “đánh” là đúng đắn, chính xác. Xem xét toàn diện, phân tích khoa học, Chủ tịch Hồ Chí Minh kết luận: Mỹ giàu, nhưng không mạnh. Kết luận sáng suốt này làm cho quân và dân ta yên tâm, tin tưởng bước vào cuộc kháng chiến. Đế quốc Mỹ không mạnh, vì chúng tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa, đi ngược lại quyền lợi của nhân dân chúng, vi phạm nhân quyền, nên chúng rất yếu về mặt chính trị, không được nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới ủng hộ. Đế quốc Mỹ giàu có lắm tiền của và súng đạn với hơn 250 triệu dân, nhưng chúng không thể mang cả nước Mỹ sang Việt Nam để tiến hành chiến tranh xâm lược, lại bị cuộc chiến đấu kiên cường và mưu trí của quân, dân ta tác động, chi phối, nên Mỹ không bao giờ vạch được một đường lối, một chiến lược thích hợp với cuộc chiến tranh. Chính Bộ Quốc phòng Mỹ cũng thừa nhận “Đường lối, chiến lược quân sự của Mỹ không khôn khéo, chắp vá, rời rạc, nặng về vật chất kỹ thuật”(2). Đó là cái giàu, nhưng không mạnh của Mỹ. Với phương châm “đánh lâu dài” và nghệ thuật quân sự thắng địch từng bước, quân và dân Việt Nam có điều kiện xây dựng, phát triển lực lượng mạnh lên, đồng thời khoét sâu được mâu thuẫn nội bộ địch, đẩy chúng vào chỗ lúng túng, bị động về chiến lược, chiến dịch và cách đánh. Trên thực tế quân ta đã buộc quân Mỹ phải đánh theo cách đánh của ta trong các trận giao tranh. Mặt khác, do sự tác động của văn hóa và ý thức Mỹ, làm cho binh lính Mỹ không chịu đựng được một cuộc chiến tranh lâu dài, mà kết quả như “chui vào đường hầm không lối ra”, tương lai mờ mịt, nên càng đánh, tinh thần chiến đấu của chúng càng sút kém. Bộ Quốc phòng Mỹ, trong “Tổng kết cuộc chiến tranh Việt Nam” đã kết luận; “Mỹ kém khả năng chịu đựng một cuộc chiến tranh hạn chế, quy mô lớn, tốn kém, không phân thắng bại, kéo dài, đặc biệt trước một đối thủ có quyết tâm bền bì, khôn ngoan và có khả năng lợi dụng những điểm yếu hoặc mâu thuẫn nội bộ hay quốc tế của chúng ta”(3). Trong khi đó, nhân dân Việt Nam đánh Mỹ trên đất nước mình, có đầy đủ khả năng huy động và phát huy mọi tiềm lực của dân tộc và đất nước, bao gồm cả truyền thống yêu nước và kinh nghiệm chống ngoại xâm được tích lũy, đắp bồi qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, lại có chính nghĩa, được bạn bè trên thế giới và các nước xã hội chủ nghĩa đồng tình ủng hộ, giúp đỡ về tinh thần, vật chất, kỹ thuật quân sự, không ngừng băng cường sức mạnh cho Việt Nam. Việt Nam đã sử dụng có hiệu quả và phát huy tốt sức mạnh của dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại và quốc tế thành sức mạnh tổng hợp trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Bằng sức mạnh tổng hợp, quân và dân Việt Nam đã từng bước đánh thắng quân xâm lược Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hòa - công cụ thực hiện chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ, tạo thời cơ tiến lên đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ. Khi chủ trương “đánh lâu dài” và “thắng địch từng bước” là ta đã lượng được sức mình trước một đối tượng tác chiến mạnh nhất thế giới là đế quốc Mỹ. Sức lực chúng ta những năm đầu chiến tranh không thể “tốc chiến tốc thắng” như Quang Trung - Nguyễn Huệ chỉ mấy ngày tiến công thần tốc đánh bại 29 vạn quân Thanh, giải phóng đất nước ở thế kỷ XVIII. Đánh lâu dài với nghệ thuật thắng địch từng bước là một trong những biện pháp chiến lược khôn khéo và mưu trí, sáng tạo của quân dân ta ở miền Nam. Trong chiến lược chiến tranh đặc biệt, quân chủ lực Sài Gòn và ấp chiến lược là hai thành phần cơ bản, chủ yếu. Quân chủ lực Việt Nam Cộng hòa dùng biện pháp chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận”, “phượng hoàng vồ mồi”, “trên đe dưới búa”, mở các cuộc hành quân thần càn quét nhằm tiêu diệt Quân giải phóng và du kích miền Nam, yểu trợ cho lực lượng bình định dồn dân, lập ấp chiến lược. Muốn đánh thắng chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ, trước hết ta phải đánh bại các biện pháp chiến lược, chiến thuật của đối phương, tiêu diệt từng đơn vị quân đội Việt Nam Cộng hòa, làm cho chúng hao hụt quân số, ý chí chiến đấu sa sút, không làm được nhiệm vụ “nòng cốt” của cuộc chiến tranh, đồng thời phải phá tan quốc sách ấp chiến lược, giải phóng nhân dân, giải phóng đất đai, thu hẹp vùng chiếm đóng của đối phương. Thực hiện phương pháp thắng địch từng bước, mùa thu năm 1962, bộ đội tỉnh Quảng Ngãi đánh bại chiến thuật “trực thăng vận”, “phượng hoàng vồ mồi”, bắn rơi 12 máy bay lên thẳng khi chúng chở một tiểu đoàn biệt kích dù đổ bộ xuống Nà Nịu, thuộc huyện Trà Bồng. Năm tháng sau, ngày 2-1-1963, quân và dân Khu 8 cũng đã đánh bại chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận” khi chúng tiến hành càn quét vào Ấp Bắc, thôn Tân Phú Trung, quận Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho (nay là Tiền Giang). Phát huy thành quả của việc đánh bại các biện pháp chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận” của lực lượng vũ trang, nhân dân ta đã thừa cơ nổi dậy, phá 1.875 ấp chiến lược, giải phóng hoàn toàn 12.000 thôn, 9 triệu dân giành được quyền làm chủ. Với chiến thắng này, ta đã đẩy đối phương vào thế bị động, lúng túng về chiến lược, chiến thuật, mở ra khả năng hiện thực cho quân và dân miền Nam tiến lên đánh bại chiến lược chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ. Nếu coi đây là bước một của kế hoạch “thắng địch từng bước”, thì đợt hoạt động quân sự toàn miền Nam trong Đông - Xuân 1964 - 1965, trong đó nổi lên các chiến dịch tiến công Bình Giã (2-12-1964 - 3-1-1965) và chiến dịch tiến công An Lão - Dương Liễu - Đèo Nhông (7-12-1964 - 7-2-1965) là bước hai, ta đã đánh một đòn chí mạng đối với đội quân chủ lực của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, báo hiệu sự thất bại của chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ là không tránh khỏi. Sau khi cuộc tiến công Đông - Xuân kết thúc, thừa thắng, ta mở tiếp cuộc tiến công Hè - Thu 1965, trong đó nổi lên hai chiến dịch lớn Đồng Xoài (10-5 - 22-7-1965) và Ba Gia (28-5 - 20-7-1965), ta tiêu diệt 8 tiểu đoàn chủ lực quân đội Việt Nam Cộng hòa. Bộ Quốc phòng Mỹ thú nhận: “Trận này kết thúc bằng sự thất bại hoàn toàn của quân đội Việt Nam Cộng hòa”(4), chiến tranh đặc biệt hoàn toàn bị phá sản. Với bản chất hiếu chiến và hung bạo, giới cầm quyền Nhà Trắng và Lầu Năm Góc tiếp tục leo thang chiến tranh, chuyển từ chiến lược chiến tranh đặc biệt sang thực hiện chiến lược chiến tranh cục bộ. Từ đây phạm vị chiến tranh nhanh chóng lan ra cả nước Việt Nam với hai hình thức chiến tranh khác nhau ở hai miền Nam - Bắc với tính chất vô cùng ác liệt, tàn bạo. Và trên lãnh thổ đất nước Việt Nam giờ đây có ba loại quân xâm lược và tay sai: quân chiến đấu Mỹ, quân đội Việt Nam Cộng hòa và quân đội các nước đồng minh của Mỹ; trong đó, quân Mỹ và quân Việt Nam Cộng hòa là hai lực lượng chủ yếu “gánh vác sứ mệnh chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ”. Nghệ thuật thắng địch từng bước phải chuyển sang thực hiện phương châm chiến lược “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Điều đó có ý nghĩa là quân và dân ta phải phấn đấu đánh bại ý chí xâm lược của Mỹ, làm cho đế quốc Mỹ thấy rằng: tiếp tục chiến tranh là chúng có thể phải chuốc lấy thất bại thảm hại hơn và nhất định phải rút quân khỏi Việt Nam.

Thực hiện phương châm chiến lược đó, ở chiến trường chính miền Nam, quân và dân ta nỗ lực cao độ, giữ vững thế chủ động chiến trường, lần lượt đánh bại hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965 - 1966 và 1966 - 1967 của quân viễn chinh Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hòa, tiến lên mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, đánh bại ý chí xâm lược của Mỹ. Trên miền Bắc, quân và dân ta đập tan cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất (5-8-1964 - cuối 1968), bắn rơi 3.343 máy bay, bắt nhiều giặc lái, góp phần quan trọng cùng quân và dân miền Nam buộc đế quốc Mỹ xuống thang chiến tranh, rút dần quân Mỹ về nước và chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán kết thúc chiến tranh với ta tại Pari. Có thể khẳng định rằng, với nghệ thuật thắng đối phương từng bước, quân và dân ta đã giải quyết tốt và đối phó kịp thời với các tình huống chiến tranh diễn ra một cách thắng lợi, như tình huống Mỹ đưa quân và dân Mỹ vào miền Nam ồ ạt, nhanh chóng, tình huống Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc và cả việc mở rộng phạm vi chiến tranh sang Campuchia và Lào, v.v.

Bằng nghệ thuật thắng địch từng bước, nhân dân Việt Nam không chỉ đánh thắng lần lượt các chiến lược chiến tranh, các thủ đoạn tác chiến của quân, binh chủng của quân đội Mỹ, quân đội Việt Nam Cộng hòa và quân đồng minh của Mỹ; đẩy đổi phương vào tình thế bị động về chiến lược, phải leo thang từng bước, để ta có đủ thời gian củng cố, xây dựng lực lượng đánh thắng các bước leo thang của chúng. Đến thời kỳ cuối của cuộc chiến tranh, quân và dân ta thực hiện việc chuyển phương châm tác chiến từ “thắng địch từng bước” sang nỗ lực giành thắng lợi quyết định rồi tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn. Trên tinh thần đó, năm 1972, ta mở cuộc tiến công Quảng Trị, Đắc Tô - Tân Cảnh, bắc Bình định, Bình Long - Phước Long kết hợp với nổi dậy của quần chúng toàn miền; đồng thời, ở miền Bắc, quân và dân ta đập tan cuộc tập kích chiến lược đường không bằng máy bay B.52 vào Hà Nội, Hải Phòng, làm nên trận “Điện Biên Phủ trên không”, buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Pari, chấm dứt chiến tranh, rút quân về nước, công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam. Như vậy là “Mỹ đã phải cút” khỏi miền Nam, thời cơ để quân và dân ta “đánh cho ngụy nhào” đã được mở ra. Và bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, quân và dân ta đã nhanh chóng tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân đội và hệ thống chính quyền các cấp của chế độ độc tài Việt Nam Cộng hòa, giải phóng hoàn toàn miền Nam, kết thúc thắng lợi 30 năm chiến tranh giải phóng, thu giang sơn về một mối.


(1) Lê Duẩn: Thư vào Nam, Sđd, tr.53.
(2), (3) Tóm tắt Tổng kết chiến tranh Việt Nam của Bộ Quốc phòng Mỹ, bản đánh máy, lưu Thư viện Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, số VL.1266/83, t.IV, tr. 6, 8.
(4) Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh Việt Nam, Tlđd, t.II, tr.88.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Mười, 2014, 09:37:20 PM
4. Đánh địch bằng hai lực lượng, ba thứ quân trên ba vùng chiến lược

Lực lượng chính trị là lực lượng chủ yếu làm nên cuộc Đồng khởi, nó bổ sung vào nghệ thuật của chiến tranh nhân dân một thành tố mới và cùng với lực lượng vũ trang ba thứ quân đấu tranh giữ vững thành quả cuộc nổi dậy và không ngừng phát triển thế tiến công đối phương trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Như vậy, trong cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam, ta không chỉ có lực lượng vũ trang và đấu tranh vũ trang, mà còn có lực lượng chính trị và đấu tranh chính trị. Đó là hai hình thức bạo lực cơ bản nhất của khởi nghĩa toàn dân và chiến tranh nhân dân chống lại chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Mỹ và bọn tay sai, là hai mũi tiến công sắc bén của phong trào cách mạng Việt Nam ở miền Nam. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của ta là chính nghĩa, đó là cuộc đấu tranh vừa quân sự, vừa chính trị do toàn dân tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đặc điểm cuộc chiến tranh ở miền Nam là chiến trường không phân tuyến, ta và địch ở thế trận “cài răng lược” đối chọi, giành giật nhau từng tấc đất, từng người dân. Đối phương càn quét, khủng bố lấn đất, dồn dân. Ta đấu tranh giành lại, giằng co quyết liệt. Do đó, ở miền Nam hình thành nên ba vùng rõ rệt: vùng đối phương kiểm soát, vùng cách mạng, vùng tranh chấp. Ba vùng này phân bố cả ở nông thôn đồng bằng, rừng núi và đô thị. Lực lượng ta và đối phương luôn luôn ở thế trận xen kẽ trên cả ba vùng. Mỗi vùng lại có đặc điểm riêng về địa hình, dân cư, về bố trí lực lượng giữa ta và đối phương không ngang nhau. Phong trào cách mạng ở các vùng đó phát triển không đều. Năm 1961, Bộ Chính trị ban Chấp hành Trung ương Đảng đề ra phương châm đấu tranh ba vùng: vùng rừng núi, vùng nông thôn đồng bằng, vùng đô thị là nhằm sử dụng lực lượng quân sự, chính trị và phương pháp đấu tranh thích hợp với từng vùng để không ngừng nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh; đồng thời đẩy mạnh đấu tranh quân sự, chính trị ngang nhau. Phương hướng chiến lược của ta là bằng mọi cách phải làm chủ vùng rừng núi và đồng bằng để đánh đối phương, bám trụ giữ đất, giữ dân. Ở vùng rừng núi, quân và dân ta sử dụng phương pháp đấu tranh quân sự là chủ yếu, nhằm đánh tiêu diệt lực lượng chủ lực cơ động của quân Mỹ, quân đội Việt Nam Cộng hòa và quân các nước đồng minh của Mỹ, quân đội Việt Nam Cộng hòa và quân các nước đồng minh của Mỹ, thực hiện khẩu hiệu “Ép địch lấn đất giành dân, tạo thế chiến trường”, mở rộng vùng giải phóng, tạo thế liên hoàn; xây dựng khối chủ lực Quân giải phóng vững mạnh toàn diện, biến vùng rừng núi thành chiến trường đánh tiêu diệt lớn; đồng thời, thu hút lực lượng đối phương lên rừng núi, tạo điều kiện cho chiến trường đồng bằng và đô thị tiến công và nổi dậy. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ta mở hàng chục chiến dịch tiến công quy mô vừa và lớn trên chiến trường rừng núi miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, miền tây các tỉnh Thừa Thiên, Quảng Trị, thu hút một bộ phận lớn chủ lực Mỹ và quân Việt Nam Cộng hòa (3 sư đoàn thủy quân lục chiến My bị ta kéo lên vùng rừng núi Trị - Thiên và bị giam chân ở đây cho đến khi rút về nước). Ở Tây Nguyên, Sư đoàn 1 kỵ binh không vận, Sư đoàn 4 bộ binh, Lữ đoàn 1 Sư đoàn 25 bộ binh, Lữ đoàn dù 101 và Lữ đoàn 173 Mỹ thường xuyên phải đối đầu với lực lượng vũ trang Tây Nguyên. Sư đoàn 1 bộ binh mang danh “Anh cả đỏ”, Sư đoàn 25 bộ binh mang danh “Tia chớp nhiệt đới”, Lữ đoàn 173 dù, Trung đoàn 11 thiết giáp Mỹ bị hút lên chiến trường rừng núi miền Đông Nam Bộ. Những chiến dịch tiến công của Quân giải phóng miền Nam diễn ra trên vùng rừng núi, có nhiều chiến dịch mà thắng lợi của nó đã cắm những cột mốc quan trọng đánh dấu sự chuyển biến chiến lược hoặc làm thay đổi cục diện chiến tranh có lợi cho ta. Chiến dịch Đồng Xoài năm 1965, tiêu diệt 2 tiểu đoàn quân Việt Nam Cộng hòa cùng với Chiến dịch Ba Gia… thực sự là những sự kiện quân sự đánh dấu sự thất bại hoàn toàn chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ; Chiến dịch Plây Me (Tây Nguyên) năm 1965, diệt 2 tiểu đoàn kỵ binh bay Mỹ, phía Mỹ gọi là trận đánh thay đổi cuộc chiến tranh Việt Nam; Chiến dịch phản công Tây Ninh, đánh bại cuộc hành quân của 45 ngàn quân Mỹ vào chiến khu Dương Minh Châu, chấm dứt về cơ bản chiến lược “tìm và diệt” của Mỹ; Chiến dịch Đắc Tô mùa đông (Tây Nguyên) năm 1976, đánh thiệt hại lữ đoàn Mỹ (Lữ đoàn 173 và Lữ đoàn 1 Sư đoàn 4), góp phần buộc đối phương phải bỏ cuộc phản công lần thứ ba; lùi dần vào thế phòng ngự chiến lược; Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Đắc Tô - Tân Cảnh, tiêu diệt một sư đoàn và nhiều trung đoàn bộ binh, thiết giáp quân đội Việt Nam Cộng hòa, đánh bại một bước quan trọng chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh và học thuyết Níchxơn; Chiến dịch Trị - Thiên năm 1972, đánh quỵ nhiều sư đoàn chủ lực quân đội Việt Nam Cộng hòa, giải phóng tỉnh Quảng Trị góp phần rất quan trọng cùng với chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”, đánh bại cuộc tập kích không quân chiến lược bằng máy bay B.52 vào Hà Nội, Hải Phòng…, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pari, rút hết quân về nước; Chiến dịch Đường 14 - Phước Long cuối năm 1974 đầu năm 1975, tạo cơ sở thực tiễn để Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng thông qua kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam năm 1975 - 1976, và kế hoạch thời cơ giải phóng miền Nam năm 1975; Chiến dịch Tây Nguyên tháng 3-1975, mở đầu cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn miền Nam, kết thúc chiến tranh v.v. Tất cả những sự kiện quân sự có tính dấu mốc chuyển biến cục diện chiến trường này đã chứng minh sống động cho chủ trương xây dựng vùng rừng núi thành chiến trường đánh tiêu diệt lớn và đấu tranh vũ trang là chủ yếu, là chủ trương đúng đắn, sáng tạo của đường lối chiến tranh nhân dân, nghệ thuật quân sự cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.

Mặt khác, ở vùng đồng bằng đông dân có tầm quan trọng chiến lược đặc biệt, thường xuyên diễn ra những cuộc lấn chiếm và chống lấn chiếm giành đất, giành quyền làm chủ quyết liệt. Đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị được đẩy mạnh song song và ngang nhau. Bộ đội địa phương tỉnh, huyện và dân quân, du kích, tự vệ phối hợp với lực lượng chính trị đánh tiêu hao lực lượng chủ lực, địa phương của đối phương (bao gồm lực lượng cảnh sát và cán bộ bình định), kiềm chế chúng, mở rộng vùng giải phóng, giữ và bảo vệ nguồn dự trữ về người, vật chất cho cách mạng, nắm vững thời cơ tiến hành những cuộc khởi nghĩa cục bộ, giải phóng nhân dân, thu hẹp vùng chiếm đóng của đối phương, tạo điều kiện cho bộ đội chủ lực đánh tiêu diệt chiến dịch, chiến lược quân chủ lực của đối phương ở các hướng khác nhau. Vùng đô thị, nhân dân đông đúc, phố xá sầm uất, nhân dân bị địch kìm kẹp, khống chế gắt gao. Lực lượng quân sự và cơ quan đầu não chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng hòa, bộ máy điều hành chiến tranh của bộ chỉ huy viện trợ quân đội Mỹ ở miền Nam Việt Nam đều tập trung ở đô thị và được bảo vệ nghiêm ngặt. Lực lượng cách mạng cả vũ trang và chính trị phải hoạt động bí mật, đơn tuyến, nên lấy đấu tranh chính trị là chủ yếu. Nhiệm vụ của vùng đo thị là tuyên truyền, vận động, tổ chức cho nhân dân vào các đoàn thể quần chúng cách mạng, xây dựng căn cứ lõm, đồng thời tạo thời cơ dùng đặc công, tự vệ, an ninh mật, biệt động tập kích vào căn cứ, hoặc cơ quan đầu não của đối phương, gây thôi động chính trị nội bộ chúng, hỗ trợ cho hoạt động của lực lượng vũ trang ở các vùng khác. Đấu tranh chính trị ở thành thị còn “tập hợp quần chúng, tập hợp mọi tầng lớp nhân dân, lôi kéo cả những người tiến bộ trong hàng ngũ ngụy quân, ngụy quyền vào một mặt trận kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân thật rộng rãi, chĩa mũi nhọn đấu tranh vào đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai bán nước”(1). Vậy là, đấu tranh chính trị ở đô thị chính là mũi tiến công rất quan trọng đánh trực diện vào hệ thống cơ quan đầu não chế độ thực dân kiểu mới của Mỹ, vào khâu hiểm yếu nhất của chúng. Thực hiện phương châm đấu tranh trên cả ba vùng, quân và dân ta ở miền Nam luôn nắm vững thế chủ động chiến trường, kết hợp chặt chẽ tiến công quân sự của ba thứ quân với đấu tranh chính trị của quần chúng, ta đã giành được những thắng lợi to lớn, toàn diện, thắng lợi sau lớn hơn thắng lợi trước, buộc địch phải lùi từng bước. Nghệ thuật đánh đối phương bằng hai lực lượng, ba thứ quân trên ba vùng chiến lược là một trong nhữsng sáng tạo đặc biệt của đường lối chiến tranh nhân dân của ta trong kháng chiến chống Mỹ xâm lược, là nội dung mới có hiệu lực trong tác chiến chiến lược, chiến dịch, chiến thuật để đánh bại đối phương mạnh hơn ta, nó trở thành quy luật giành thắng lợi trong khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng Việt Nam.


(1) Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh Việt Nam, Tlđd, t.II, tr.88.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Mười, 2014, 09:38:40 PM
Nhờ vận dụng tốt phương thức đấu tranh quân sự, chính trị phù hợp với đặc điểm và so sánh lực lượng trên từng vùng chiến lược, quân và dân ta ở miền Nam giữ vững được thế tiến công cách mạng liên tục, buộc đối phương phải phân tán lực lượng trên nhiều hướng chiến lược. Mỗi khi sức mạnh bị phân tán, lực lượng bị co kéo, dàn mỏng, thì quân Mỹ, quân đội Việt Nam Cộng hòa càng đánh càng thua và suy yếu. Ta giữ vững được quyền chủ động chiến trường, chủ động về chiến dịch, chiến đấu. Do đó, lực lượng quân sự, chính trị của ta càng đánh càng trưởng thành cả về lực lượng, ý chí quyết tâm và kinh nghiệm. Có điều đặc biệt là đế quốc Mỹ ngoan cố leo thang chiến tranh với quy mô ngày càng rộng, cường độ ngày thêm ác liệt, thì phong trào nhân dân thế giới càng ủng hộ Việt Nam, không chỉ vì cuộc chiến đấu của Việt Nam chính nghĩa, mà còn trong quá trình đấu tranh, nhân dân ta đã sáng tạo ra phương châm đánh Mỹ bằng hai lực lượng, ba thứ quân trên ba vùng chiến lược đã kiêm chế Mỹ, không cho chiến tranh lan rộng thành chiến tranh thế giới, khiến họ yên tâm được sống trong hòa bình.

Quán triệt phương châm đánh đối phương bằng hai lực lượng, ba thứ quân trên ba vùng chiến lược, quân và dân ta ở miền Nam không chỉ áp dụng phương châm này trong hoạt động chiến đấu riêng từng vùng, mà là trên phạm vị toàn miền Nam. Sự kết hợp đó đã đem lại hiệu quả cao cho các chiến dịch, các đợt hoạt động quân sự của ta. Năm 1964, ở Nam Bộ ta mở chiến dịch tiến công Bình Giã. Chiến dịch diễn ra trên bốn tỉnh Bà Rịa, Long Khánh, Biên Hòa, Bình Thuận. Phối hợp với cuộc tiến công của lực lượng ba thứ quân, lực lượng chính trị của quần chúng trong bốn tỉnh đấu tranh chính trị yêu cầu đối phương không bắn pháo, càn quét vào các xóm làng, gây thương vong cho dân, phá hoại mùa màng, khiến cho đối phương lúng túng trong việc xử lý các tình huống, tạo điều kiện cho bộ đội tiến công giành thắng lợi. Được lực lượng vũ trang hỗ trợ, nhân dân nổi dậy phá từng mảng ấp chiến lược dọc tỉnh lộ 2, vùng đất đỏ, Long Thành, Nhơn Trạch, quận Hoài Đức, nối căn cứ Hát Dịch với chiến khu Đ. Cuối tháng 5-1965, Quân khu 5 mở chiến dịch tây Sơn Tịnh, tiến công cứ điểm Gò Cao (Ba Gia). Tiếng súng tiến công của Trung đoàn 1 và đặc công vừa dứt, các đảng bộ địa phương huy động hàng ngàn quần chúng kéo vào thị xã Quảng Ngãi đấu tranh chính trị với đối phương, đòi chồng con và bồi thường cho những binh sĩ bị thiệt mạng, gây xáo động toàn thị xã. Nhân cơ hội này, nhân dân các huyện Sơn Tịnh, Sơn Hà, Tư Nghĩa, Nghĩa Hành… nổi dậy phá hơn 100 ấp chiến lược, giải phóng hoàn toàn 27 xã với 20 vạn dân. Kết quả này chứng tỏ hiệu quả to lớn của sự kết hợp đấu tranh quân sự và chính trị, kết hợp đánh đối phương của ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích, tự vệ.

Chiến tranh đặc biệt thất bại, đế quốc Mỹ đưa quân chiến đấu và quân các nước đồng minh của Mỹ vào miền Nam và chính thức triển khai chiến lược chiến tranh cục bộ. Theo điều lệnh tác chiến của quân đội Mỹ, lực lượng chủ yếu để thực hiện chiến lược chiến tranh cục bộ là quân chiến đấu Mỹ và quân các nước đồng minh của chúng. Lực lượng Mỹ sung sức, hung hăng, lại giàu bom đạn, tiền của, nên chúng đánh phá miền Nam rất ác liệt. Một câu hỏi đặt ra là đối với quân Mỹ ngôn ngữ bất đồng, tâm lý, phong tục cũng khác, phương pháp đấu tranh chính trị - một trong hai thành phần bạo lực cơ bản của cách mạng miền Nam có còn thực hiện được nữa không? Đảng Lao động Việt Nam cho rằng: quân Mỹ vào miền Nam tiến hành chiến tranh, nhưng chúng phải dựa vào chính quyền Việt Nam Cộng hòa, phải tiếp tục thực hiện chủ nghĩa thực dân kiểu mới, nghĩa là chúng phải “mỵ dân” và “lừa bịp” nhân dân miền Nam, nhân dân Mỹ và thế giới, chúng phải giấu mặt, trá hình. Đây là điểm yếu chí mạng của đế quốc Mỹ. Đồng chí Lê Duẩn đã chỉ rõ:

- Quân Mỹ vào miền Nam càng đông, càng mở rộng phạm vi chiếm đóng, tăng cường hành quân “tìm diệt”, dùng máy bay B.52 ném bom rải thảm, rải chất độc phát quang…, thì chúng càng làm gay gắt thêm mâu thuẫn giữa nhân dân ta với đế quốc Mỹ, càng làm tăng thêm lòng căm thù của đồng bào ta đối với chúng.

- Tuy Mỹ đẩy mạnh chiến tranh ngày càng ác liệt, nhưng chúng vẫn phải theo đuổi thực hiện chính sách thực dân kiểu mới. Nhưng nhân dân ta có trình độ giác ngộ chính trị cao, dạn dày kinh nghiệm đấu tranh, sẽ không bị chúng lừa bịp, mà còn biết cách khoét sâu những nhược điểm về chính trị của Mỹ, vạch trần những thủ đoạn xảo trá của chủ nghĩa thực dân mới. Qua đó đẩy mạnh đấu tranh chính trị và tập hợp quần chúng về phía cách mạng.

- Quân Mỹ vào miền Nam càng đông, làm cho giới chức cầm đầu quân đội và chính quyền Việt Nam Cộng hòa thêm mâu thuẫn với nhau sâu sắc, kinh tế - tài chính thêm thâm hụt, đời sống nhân dân vùng chúng kiểm soát thêm khó khăn. Điều đó càng thúc đẩy quần chúng nổi dậy chống lại chúng ngày càng quyết liệt thêm.

- Quân Mỹ vào miền Nam với mục đích dựng đỡ quân đội và chính quyền Việt Nam Cộng hòa, đánh bại lực lượng cách mạng, bình định miền Nam, nhưng chính quân Mỹ bị thua trong các cuộc hành quân tiêu diệt, thương vong ngày càng cao, phải sớm rút vào phòng ngự chiến lược, do đó mâu thuẫn giữa Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa ngày càng tăng, quân đội Việt Nam Cộng hòa mất lòng tin vào quân chiến đấu Mỹ, tinh thần hoang mang(1). Vì vậy, Đảng Lao động Việt Nam vẫn chủ trương tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang. Đó là một chủ trương hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với nghệ thuật của chiến tranh nhân dân Việt Nam.


(1) Lê Duẩn: Thư vào Nam, Sđd, tr.151, 152.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Mười, 2014, 09:40:33 PM
Quân Mỹ vào miền Nam tiến hành chiến tranh cục bộ, nhiệm vụ của nó là hành quân “tìm diệt” lực lượng vũ trang, chính trị của cách mạng, bắn giết nhân dân, hỗ trợ cho quân đội Việt Nam Cộng hòa làm nhiệm vụ bình định. Tuy nhiên, để mỵ dân, một bộ phận quân Mỹ đã đích thân xuống các làng xã, thôn bản “ba cùng” với dân, cắt tóc cho trẻ em, làm vệ sinh môi trường, kết hợp với tuyên truyền “chính sách của Mỹ giúp đỡ Chính phủ Việt Nam Cộng hòa”, nói xấu cách mạng, vu cáo miền Bắc xâm lược miền Nam, v.v. Đây thực sự là một trong những thủ đoạn rất nham hiểm thuộc lĩnh vực chiến tranh tâm lý xảo quyệt của đế quốc Mỹ. Dù vậy, nhân dân miền Nam từ người Kinh đến người Thượng đã trải qua cuộc kháng chiến chống Pháp chín năm, có tinh thần yên nước và giác ngộ cách mạng rất cao, họ đã lật tẩy những điều giả dối mà quân Mỹ tuyên truyền; đồng thời giải thích cho chúng rõ cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam là chính nghĩa. Bằng mọi cách nhân dân tìm cách tiếp xúc với quân Mỹ và rải truyền đơn (tất nhiên là truyền đơn phải viết bằng tiếng Anh) kêu gọi chúng không được bắn giết nhân dân, vạch trần tội ác của đế quốc Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Cuộc đấu tranh chính trị được nhân dân ta tiến hành bằng nhiều phương pháp một cách kiên trì và liên tục, như “mưa dầm thấm lâu” dần dần nhiều lính và sĩ quan Mỹ đã nhận ra lẽ phải. Kết hợp với đấu tranh chính trị, lực lượng vũ trang ba thứ quân của ta chủ động tiến công quân Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hòa ở cả trong căn cứ cũng như những lúc chúng tiến hành càn quét, gây cho chúng những thiệt hại lớn về sinh lực và vũ khí, phương tiện chính trị, từ đó góp phần làm cho tinh thần, ý chí của binh sĩ Mỹ ngày thêm sa sút, hoảng loạn. Nhiều lính Mỹ tự đặt ra câu hỏi: Quân “Việt cộng” chiến đấu vì cái gì mà họ kiên cường như vậy? Còn quân Mỹ chiến đấu vì cái gì, mục đích không rõ ràng và càng không như Chính phủ Mỹ và sĩ quan tâm lý chí chiến của chúng tuyên truyền. Dần theo thời gian, nhiều binh sĩ Mỹ nhận ra là Chính phủ Mỹ đã lừa dối họ; họ chiến đấu không vì cái gì cả, hành động của binh lĩnh Mỹ ở miền Nam là phi nghĩa, vô nhân đạo. Cảnh lính Mỹ thần sắc mỏi mệt ủ rũ, thậm chí ôm mặt khóc rưng rức khi thực hiện nhiệm vụ canh gác căn cứ trong rừng sâu thẳm ở miền Nam Việt Nam diễn ra ngày càng nhiều. Khi bị chỉ huy đốc thúc đi hành quân, nhiều lính Mỹ chĩa súng bắn lên trời hoặc tìm cách lui về phía sau. Ở trong căn cứ, thời gian giữa các cuộc hành quân, nhiều binh sĩ Mỹ sa vào hút sách, cờ bạc, hoặc cầu nguyện sớm được kết thúc thời hạn quân địch “phục vụ” ở chiến trường miền Nam Việt Nam. Binh sĩ chống lệnh sĩ quan, thoái thác nhiệm vụ chiến đấu ngày càng đông và trở thành phong trào. Theo Bộ Quốc phòng Mỹ công bố thì chỉ tính trong 3 năm (1968 - 1970) số vụ lính Mỹ đào, rã ngũ lên tới 161 - 165 vụ. Từ năm 1969 đến năm 1972, trong các đơn vị quân đội Mỹ tham chiến ở miền Nam Việt Nam có tới 788 vụ lính bắt giết sĩ quan. Có thể thấy rằng đây là một hiện tượng tất yếu diễn ra trong một đội quân đi xâm lược, chiến đấu không có lý tượng bị tác động mạnh bởi tinh thần đấu tranh ngoan cường, bền bỉ và không quản gian khổ, hy sinh của toàn thể dân tộc Việt Nam. Đó là ý nghĩa thực tiễn của nghệ thuật đấu tranh quân sự kết hợp với đấu tranh chính trị, binh vận bằng hai lực lượng, ba thứ quân trên ba vùng chiến lược của chiến tranh nhân dân Việt Nam. Chính phương châm đấu tranh cách mạng này và nghệ thuật sử dụng nó đã góp phần quan trọng đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới của Mỹ.

Sau khi quân Mỹ rút khỏi miền Nam, phương châm đấu tranh quân sự, chính trị, binh vận kết hợp trên ba vùng chiến lược của ta vẫn tiếp tục được thực hiện và phát huy hiệu quả cao. Lúc này vùng bị đối phương chiếm đóng đã bị thu hẹp nhiều so với vùng giải phóng. Đây là một thuận lợi để nghệ thuật đấu tranh kết hợp quân sự, chính trị, binh vận phát triển. Những năm cuối của cuộc kháng chiến, ngoài những cuộc tiến công quy mô vừa và lớn của bộ đội chủ lực cơ động như các chiến dịch Nông Sơn - Thượng Đức, Đường 14 - Phước Long…, trên những hướng chiến lược nhất định, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 còn mở chiến dịch tổng hợp bắc Bình Định, Bộ Tư lệnh Quân khu 8 mở chiến dịch tổng hợp trên địa bàn năm tỉnh Mỹ Tho, Kiến Tường, Kiến Phong, Gò Công, Bến Tre. Trong các chiến dịch này có hai sư đoàn chủ lực (Sư đoàn 3 và Sư đoàn 5) cùng lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân sáu tỉnh tham gia. Một cuộc chiến tranh nhân dân diễn ra rộng khắp, đồng thời, trên một không gian rộng. Với nghệ thuật đánh địch bằng “hai chân, ba mũi” trên cả ba vùng chiến lược, ở Bình Định, ta đã phá tan 20 khu dồn, 40 ấp chiến lược, kêu gọi được 6 trung đội cộng hòa, 2 tiểu đội bảo an, dân phản chiến, ly khai, ở Quân khu 8 ta bức địch rút khỏi 376 đồn, bốt, đánh thiệt hại 2 chi khu, giải phóng 27 xã, 240 ấp chiến lược… Kết quả đó chứng tỏ hiệu quả to lớn của nghệ thuật đánh địch bằng hai lực lượng, ba thứ quân trên ba vùng chiến lược của cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện Việt Nam trong thời đại đối phương dùng vũ khí công nghệ cao. Đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị luôn luôn được kết hợp chặt chẽ đã tác động lẫn nhau, hỗ trợ nhau đã góp phần không ngừng nâng cao hiệu lực của các cuộc tiến công, hiệu quả chiến đấu của lực lượng vũ trang ba thứ quân, lực lượng chính trị của ta ở miền Nam Việt Nam. Rõ ràng “Sự kết hợp hai mặt đấu tranh đó trở thành quy luật giành thắng lợi của chiến tranh cách mạng miền Nam”(1).


(1) Lê Duẩn: Thư vào Nam, Sđd. tr.16.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Mười, 2014, 09:42:06 PM
5. Nghệ thuật tiến công và nổi dậy, nổ dậy và tiến công để tiêu diệt địch và giành quyền làm chủ, giành quyền làm chủ và tiêu diệt địch

Cuộc chiến tranh giữa Việt Nam với đế quốc Mỹ ở miền Nam từ năm 1954 đến năm 1975, thực chất là cuộc chiến tranh giành dân, đồng thời là cuộc chiến tranh ý thức hệ vô sản và tư sản. Đối với đế quốc Mỹ, đó là cuộc chiến tranh xâm lược, nhằm chiếm đóng Nam Việt Nam, lập căn cứ quân sự “chống cộng sản”, ngăn chặn chủ nghĩa xã hội và “cộng sản” Liên Xô, Trung Quốc bành trướng xuống vùng Đông Nam Á, chuẩn bị điều kiện xâm chiếm miền Bắc Việt Nam. Đối với nhân dân Việt Nam, đó là cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, nghĩa là cuộc chiến tranh cách mạng giành lại phần đất phía nam vĩ tuyến 17 đến mũi Cà Mau mà đế quốc Mỹ đã chiếm đóng trái phép, giải phóng nhân dân khỏi xiềng xích nô lệ. Bằng các biện pháp quân sự mạnh, đế quốc Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa - công cụ để thực hiện chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Mỹ từ thời Ngô Đình Diệm đến thời Nguyễn Văn Thiệu là tổng thống đều rắp tâm đánh phá quyết liệt phong trào cách mạng miền Nam, đàn áp dã man những người yêu nước, chiếm đất đai, xây dựng căn cứ quân sự, lập khu dinh điền, khu trù mật, ấp chiến lược, dồn dân vào đó để khống chế, kìm kẹp, biến những nơi này thành những trại giam trá hình khổng lồ. để giải phóng miền Nam, nhân dân ta đã tiến hành cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện với phương pháp cách mạng đánh đối phương bằng hai lực lượng (quân sự, chính trị), ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân, du, tự vệ) trên ba vùng chiến lược (miền núi, nông thôn đồng bằng và đô thị); đồng thời kết hợp chặt chẽ giữa tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công để tiêu diệt địch và giành quyền làm chủ, làm chủ để tiêu diệt địch. Đây là những cặp phạm trù của nghệ thuật đấu tranh của chiến lược chiến tranh nhân dân “thời đánh Mỹ, diệt ngụy”, nó quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau, tạo những điều kiện để ta phát triển tiến công diệt đối phương và làm chủ đất đai, dân cư. Tiến công quân sự đóng vai trò quyết định tiêu diệt lực lượng quân sự, chính trị của đối phương và phá hủy cơ sở vật chất, phương tiện chiến tranh của chúng, hỗ trợ tích cực cho nhân dân đấu tranh chính trị, phá thế kìm kẹp của đối phương. Đòn tiến công quân sự của ta càng mạnh mẽ, thắng lợi càng lớn, thì hiệu quả bảo vệ dân, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân càng cao, hạ uy thế của địch, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân đấu tranh mở rộng vùng làm chủ. Ngược lại, nhân dân ta giữ vững và mở rộng quyền làm chủ, cách mạng sẽ có thêm lực lượng về nhân tài, vật lực, có địa bàn để lực lượng vũ trang, chính trị đứng chân xây dựng, phát triển thế tiến công địch, thu hẹp vùng chiếm đóng của Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Năm 1960, lực lượng vũ trang cách mạng tiến công căn cứ Tua Hai (Tây Ninh), tiêu diệt 500 tên địch, gây nỗi kinh hoàng cho binh sĩ quân đội và giới chức chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Đòn tiến công này đã khơi ngòi cho nhân dân các tỉnh Tây Ninh, Thủ Dầu Một (Bình Dương), Long An, Bà Rịa… nổi dậy xóa bỏ chính quyền cơ sở của đối phương, giành quyền làm chủ, đồng thời kích thích và hỗ trợ cho quân và dân các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long tiến hành Đồng khởi đợt 2 giành thắng lợi (trước cuộc tiến công Tua Hai 8 ngày, nhân dân Bến Tre và các tỉnh miền Trung và miền Tây Nam Bộ đã tổ chức Đồng khởi đợt 1 thành công, giành quyền làm chủ một vùng đất rộng lớn ở nông thôn đồng bằng). Chính từ thực tế Đồng khởi đã đúc kết nên phương pháp cách mạng tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công, tiêu diệt địch để giành quyền làm chủ, giành quyền làm chủ để tiêu diệt địch. Khi toàn dân tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, ta luôn áp dụng phương pháp này để diệt địch và mở rộng quyền làm chủ, nó đã trở thành một trong những nét tiêu biểu của nghệ thuật tác chiến của chiến tranh nhân dân. Lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam ra đời trước Đồng khởi, số lượng không nhiều, tổ chức biên chế đại đội, tổ, đội, nhiều nơi có tiểu đoàn, qua chiến đấu đã phát triển thành lực lượng vũ trang ba thứ quân, mang tên lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam, mà Quân giải phóng là nòng cốt. Nhưng do thời gian đầu, đối sánh lực lượng trên chiến trường ta vẫn yếu hơn đối phương nên mặc dù lực lượng vũ trang giải phóng chiến đấu rất dũng cảm, mưu trí, sáng tạo,… nhưng chưa đủ sức hỗ trợ cho nhân dân giữ vững quyền làm chủ ở tất cả các vùng mà ta đã giải phóng được trong phong trào Đồng khởi. Ở miền Tây Nam Bộ, trong Đồng khởi. ta làm chủ 2.543 ấp, nhưng sau đó bị đối phương tái chiếm 1.023 ấp; ở Trung Nam Bộ, ta làm chủ 73 xã, đối phương chiếm lại 10 xã. Vùng làm chủ của nhân dân bị thu hẹp, cơ sở cách mạng, cán bộ, đảng viên phải phân tán sang các vùng khác hoạt động. Vùng đồng bằng Khu 5, ta chỉ còn giữ được 904 thôn trong tổng số 3.829 thôn, lực lượng vũ trang địa phương yếu, thiếu kinh nghiệm, bị tổn thất trong chống địch càn quét, nên địch dồn dân, lập các khu tập trung dễ dàng. Nhiều địa phương miền Nam tiến công quân sự với đấu tranh chính trị, binh vận còn rời rạc, không ăn ý nhau, nên chưa tạo được sức mạnh hỗ trợ cho bộ đội chủ lực bám trụ địa bàn, tiến công địch để nhân dân củng cố vùng làm chủ. Nhiều vùng bộ đội chủ lực về giải phóng và sau đó rút đi nơi khác, lực lượng vũ trang địa phương không giữ được, lập tức bị đối phương líp lại, kìm kẹp quần chúng nghiệt ngã hơn. Vả lại, khi đó bộ đội chủ lực còn nhỏ yếu, trang bị vũ khí, kỹ thuật thông thường nên đòn tiến công của chủ lực chưa hỗ trợ được cho phong trào đấu tranh chính trị để giữ vững quyền làm chủ của quần chúng. Chỉ sau trận thắng Ấp Bắc (2-1-1963) và phong trào Thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công được phát động thì đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị, binh vận mới kết hợp được tương đối chặt chẽ. Bộ đội chủ lực được tăng cường về số lượng và trang bị từ miền Bắc vào, dân quân, du kích, tự vệ phát triển. Những trận đánh tiêu diệt từng đơn vị, đồn bốt của đối phương trong các chiến dịch tiến công, các đợt hoạt động quân sự của lực lượng vũ trang giải phóng đã làm cho quân đội Việt Nam Cộng hòa giảm sút ý chí, tạo điều kiện cho quần chúng nhân dân nổi dậy phá ấp, giành dân, giành quyền làm chủ ở nông thôn đồng bằng. Tiêu biểu cho việc thực hiện nghệ thuật tiêu diệt đối phương để giành quyền làm chủ là những chiến dịch tiến công Bình Giã, Dương Liễu - Đèo Nhông - An Lão. Cuộc tiến công của bộ đội chủ lực Quân giải phóng đã hỗ trợ tích cực cho lực lượng vũ trang các địa phương cùng nhân dân nổi dậy giành quyền làm chủ ở một số vùng có điều kiện, đồng thời phá lỏng kiềm ở những vùng khác của nông thôn đồng bằng; còn ở vùng rừng núi nhân dân các dân tộc phá khu dồn, bung dân ra lập làng mới về với cách mạng. Để giữ vững quyền làm chủ của mình, nhân dân miền Nam về nhiều huyện, tỉnh đồng bằng xây dựng vùng làm chủ thành những làng, xã chiến đấu và phát triển lực lượng vũ trang địa phương nhưng chưa nhiều, chưa mạnh, song đã đánh địch càn quét có kết quả, tạo điều kiện cho chủ lực tiêu diệt địch. Sự kết hợp giữa tiến công tiêu diệt đối phương và nổi dậy giành quyền làm chủ đã tạo cho cách mạng miền Nam một sức mạnh mới, củng cố và mở rộng vùng giải phóng liên hoàn, tiêu diệt được những đơn vị lớn của đối phương và những cứ điểm, cụm cứ điểm của chúng. Trong chiến tranh đặc biệt, mặc dù nghệ thuật chiến tranh nhân dân tiến công tiêu diệt đối phương kết hợp giữ vững quyền làm chủ của nhân dân phát triển tiến bộ vượt bậc so với thời kỳ đầu chiến tranh, nhưng so với yêu cầu thì phong trào đấu tranh quân sự, chính trị giữa các khu, tỉnh phát triển không đều, nhiều nơi còn lúng túng về vận dụng phương pháp đấu tranh dẫn đến mất đất, mất dân. Để khắc phục tình trạng này, Đảng bộ và nhân dân Nam Bộ sáng tạo ra Phương châm ba bám: cán bộ, đảng viên bám dân để lãnh đạo; dân bám đất, bám làng xã để chiến đấu, sản xuất; du kích bám địch để đánh. Còn ở khu 5, Đảng bộ và nhân dân lại sáng tạo ra Phương châm bốn bám: đảng viên, cán bộ bám dân; cấp trên bám cấp dưới; dân bám đất; du kích bám địch. Đây là phương châm được đúc kết từ thực tiễn đấu tranh cam go, quyết liệt của đảng viên, cán bộ, lực lượng vũ trang và nhân dân ta ở miền Nam chống địch càn quét, dồn dân, lập ấp chiến lược, khu dồn. Các phương châm đấu tranh này mang tính khoa học và cách mạng cao, nó không chỉ có giá trị chiến thuật, mà còn có ý nghĩa chiến lược và thực tiễn to lớn.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Mười, 2014, 09:44:57 PM
Khi chiến lược chiến tranh đặc biệt bị phá sản, đế quốc Mỹ nhanh chóng đưa quân viễn chinh Mỹ và quân đồng minh của Mỹ vào trực tiếp tham chiến trên chiến trường miền Nam. Quân Mỹ vào miền Nam tham chiến nhằm giữ cho quân đội Việt Nam Cộng hòa không bị tan rã và nâng đỡ chính quyền Việt Nam Cộng hòa khỏi sụp đổ - tức là giữ chỗ dựa trực tiếp để quân Mỹ mở các cuộc phản công giành lại quyền chủ động, tiến tới tiêu diệt lực lượng vũ trang cách mạng, chiếm lại những vùng đã mất, bình định miền Nam. Quân Mỹ vào miền Nam, tính chất cuộc chiến tranh đã thay đổi - vừa “cục bộ” vừa “đặc biệt”. Tính chất “cục bộ” ngày càng tăng lên đồng thời với số lượng quân Mỹ và quân đồng minh của Mỹ gia tăng ở miền Nam, nhưng tính chất “đặc biệt” vẫn còn hiện hữu, bởi nó gắn liền với chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Mỹ ở miền Nam. Để đối phó với đối tượng tác chiến mới, đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam điện chỉ đạo cho quân và dân ta ở miền Nam: “nhất thiết phải giành và giữ thế chủ động chiến trường, luôn luôn tiến công cho mạnh, đồng thời tự vệ cho tốt, không ngừng mở rộng quyền làm chủ rừng núi, nông thôn, đồng bằng, tiến tới làm chủ một số vùng chung quanh thành thị và trong thành thị”(1). Tiếp đó, ngày 27-4-1965, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh chỉ thị cho các chiến trường miền Nam: Đẩy mạnh tác chiến của bộ đội chủ lực, có những đợt hoạt động về chiến dịch cùng một lúc trên nhiều hướng, kết hợp tiến công quân sự với khởi nghĩa của quần chúng ở từng khu vực, đẩy mạnh quá trình sụp đổ của quân đội và chính quyền Sài Gòn… để chuẩn bị điều kiện đối phó và quyết thắng địch nếu chúng mở rộng thành chiến tranh cục bộ. Thực hiện sự chỉ đạo của đồng chí Lê Duẩn và chỉ thị của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, Trung ương Cục miền Nam và Khu ủy Khu 5 đã động viên quân và dân khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh, kiên quyết thực hiện phương châm “ba bám”, “bốn bám”, tăng cường các cuộc tiến công tiêu diệt đối phương, cố gắng đánh bại quân đội Việt Nam Cộng hòa, làm mất chỗ dựa để tiến hành chiến tranh của Mỹ, đồng thời tích cực xây dựng vùng giải phóng thành những làng, xã chiến đấu liên hoàn, sẵn sàng đón đánh quân Mỹ. Trên tinh thần đó, ta mở cuộc tiến công Hè Thu 1965 trên toàn miền Nam.Quân giải phóng miền Đông Nam Bộ tiến công địch trong thị xã Phước Long và chi khu quân sự Phước Bình (11-5). Phía Mỹ thú nhận “Việt cộng đã chiếm được thị xã và khu cố vấn Mỹ, gây thương vong nặng nề”, “cơn bão đã nổi lên thật sự”(2). Cùng với Nam Bộ, ngày 26-5-1965, Quân giải phóng mặt trận Tây Nguyên tiêu diệt cứ điểm Pôcô và Trại lực lượng đặc biệt Tumơrông (Kon Tum); ngày 31-5, mở trận tiến công tiêu diệt quận lỵ Lệ Thanh (Gia Lai). Ở Khu 5, Trung đoàn 1 chủ lực quân khu tiến công cứ điểm Gò Cao (Ba Gia) lần thứ nhất. Ngày 7-6, Sư đoàn 3 (Sao Vàng) trở lại địa bàn huyện Sơn Tịnh, tiến công cứ điểm Gò Cao lần thứ hai và đánh quân tiếp viện. Đồng thời với đòn tiến công tiêu diệt quân đội Việt Nam Cộng hòa, lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam chủ động mở loạt trận đánh phủ đầu quân viễn chinh Mỹ ở Núi Thành, Vạn Tường, Plây Me, Bầu Bàng, Dầu Tiếng; gây cho chúng những thiệt hại đầu tiên - đặc biệt trong trận chiến ở Thung lũng Ia Đrăng, quân ta tiêu diệt và đánh thiệt hại hai tiểu đoàn kỵ bị bay Mỹ (Tiểu đoàn 1 và 2). Đây là tiểu đoàn Mỹ bị tiêu diệt đầu tiên trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Ngày 9-6, Quân giải phóng Đông Nam Bộ mở chiến dịch tiến công quân địch ở Đồng Xoài… Những đòn tiến công quân sự mạnh mẽ này đã tạo điều kiện cho nhân dân các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long nổi dậy phá rã 1.500 ấp chiến lược, khu dồn, hàng triệu quần chúng giành được quyền làm chủ. Ở miền Đông Nam Bộ, ta tạo thêm được một số căn cứ lõm ở Hóc Môn, Gò Vấp, Dĩ An, Thủ Đức…, hình thành vành đai du kích quanh Sài Gòn - Gia Định. Ở Khu 5, ta giải phóng hoàn toàn 123 xã, đưa 1 triệu 500 ngàn dân lên làm chủ vững chắc, v.v. Nhờ đòn tiến công quân sự mạnh, tiêu diệt nhiều cứ điểm, quận lỵ, đơn vị quân đội Việt Nam Cộng hòa cũng như quân Mỹ trong Hè - Thu 1965 đã hỗ trợ cho nhân dân giữ vững quyền làm chủ, xây dựng thành những làng xã chiến đấu vững chắc, đủ sức chống lại các cuộc càn quét quy mô đại đội, tiểu đoàn địch. Bên cạnh làng xã chiến đấu, nhân dân ta ở miền Nam còn sáng tạo xây dựng các vành đai du kích diệt Mỹ bao quanh các căn cứ Mỹ. Mỗi vành đai du kích du kích diệt Mỹ gồm một hệ thống từ 5 đến 10 xã liên hoàn(3). Dựa vào vành đai, lực lượng vũ trang địa phương và bộ đội đặc công, trinh sát thường xuyên đánh nhỏ, lẻ vào căn cứ Mỹ, tiêu hao sinh lực, phá hủy phương tiện chiến tranh của chúng. Làng xã chiến đấu và vành đai diệt Mỹ hợp thành một hệ thống vùng làm chủ liên hoàn vững chắc của nhân dân, nó góp phần rất quan trọng đưa cuộc chiến tranh nhân dân phát triển cao, tạo điều kiện cho ta phát huy cách đánh kết hợp hai phương thức tác chiến của chiến tranh nhân dân trên ba vùng chiến lược đạt hiệu quả ngày càng cao. Bị bao vây bởi các làng xã chiến đấu và những vành đai du kích, quân Mỹ cũng như quân Việt Nam Cộng hòa không thể tung hết lực lượng vào các cuộc hành quân “tìm diệt”, chúng phải để lại 1/3 quân số phòng giữ căn cứ. Số quân tham gia cuộc hành quân bị chiến tranh du kích của ta đánh chặn, tiêu hao, cắt đường tiếp tế, chúng phải để lại một bộ phận nữa đối phó với ta để bảo vệ hành lang cơ động và tiếp tế, không tập trung được lực lượng mạnh vào hướng chính và trận then chốt. Do đó, trong những thời điểm nhất định ở những điểm quyết chiến, so sánh lực lượng của đối phương không mạnh hơn ta. Trong cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất (1965 - 1966) và cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai (1966 - 1967), quân Mỹ bị chủ lực Quân giải phóng đánh tiêu diệt hàng ngàn tên, chúng phải chấm dứt các cuộc hành quân “tìm diệt” mà không đạt được mục đích hành quân đặt ra. Thừa thắng, mùa đông 1967, Quân giải phóng Tây Nguyên mở chiến dịch tiến công Đắc Tô (Kon Tum) đánh thiệt hại nặng hai lữ đoàn Mỹ (Lữ đoàn 173 và Lữ đoàn 1 Sư đoàn 4) góp phần rất quan trọng buộc quân Mỹ từ chủ động tiến công phải lui vào phòng ngự chiến lược. Đòn tiến công tiêu diệt lớn quân địch của Quân giải phóng đã tạo điều kiện cho quân và dân Khu 8, Khu 9, Khu 7, Khu 5, Tây Nguyên và Trị - Thiên nổi dậy giành và mở rộng các vùng làm chủ. Đến cuối năm 1967, vùng làm chủ của ta đã áp sát vào tận các vùng ven đô Sài Gòn - Gia Định, Đà Nẵng, Huế, Cần Thơ và nhiều thị xã, thị trấn khác trên toàn miền Nam, tạo nên một địa bàn quan trọng để lực lượng vũ trang ta ém quân, cất giấu lương thực, vũ khí, chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968. Trong chiến tranh, có lực lượng đông, mạnh chưa đủ để giành thắng lợi trong tất cả các trận giao chiến, mà còn phải có nghệ thuật bố trí thế trận, sắp xếp và sử dụng lực lượng hợp lý trên các địa bàn, tạo thế trận liên hoàn, sâu hiểm, hỗ trợ nhau, làm cho ta luôn ở thế có lợi vừa có lực lượng tại chỗ mạnh, vừa có lực lượng cơ động mạnh và chủ động hơn địch. Ở thế có lợi thì sức một thành mười, sức mười thành trăm. Kết hợp tiến công tiêu diệt đối phương với giữ vững quyền làm chủ của nhân dân trong suốt hai mùa khô 1965 - 1966, 1966 - 1976, đã tạo cho cách mạng miền Nam nói chung, lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam nói riêng thế trận chiến tranh nhân dân “thiên la địa võng”, cài xen với địch. Nhờ nhân dân giữ vững được những vùng làm chủ rộng lớn, thế trận chiến tranh nhân dân được xây dựng, củng cố ngày thêm vững chắc và sâu hiểm, các binh đoàn chủ lực binh chủng hợp thành, lực lượng đặc công, biệt động, pháo chuyên trách của Quân giải phóng được bố trí hợp lý trên các hướng tiến công và trụ vững ở vùng căn cứ và cả vùng ven đô. Thế trận này đã tạo cho cách mạng miền Nam một lợi thế rất lớn để quân và dân miền Nam chủ động mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 đánh đồng loạt, đánh trúng vào 4/5 thành phố, 37/44 thị xã, thị trấn và hàng trăm căn cứ quân sự, sở chỉ huy của đối phương trên toàn miền Nam. Cuộc tổng tiến công và nổi dậy là đòn quyết định đánh vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh. Phối hợp chặt chẽ với đòn tiến công tiêu diệt đối phương trên phạm vi rộng lớn của lực lượng vũ trang, bộ đội địa phương, dân quân du kích, tự vệ đánh địch, trực tiếp hỗ trợ cho nhân dân nổi dậy đều khắp, giải phóng thêm 1,6 triệu dân, 100 xã, 600 ấp chiến lược và khu dồn dân. Chương trình bình định của Mỹ bị thất bại nặng nề, tướng Uylơ - Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ thừa nhận: “Trên một phạm vi rộng lớn, hiện nay, Việt cộng nắm quyền kiểm soát nông thôn"(4). Đây là thành quả to lớn của sự kết hợp tiến công tiêu diệt địch với giữ và giành quyền làm chủ của nhân dân. Có vùng làm chủ vững chắc, mặc dù sau đợt Tết Mậu Thân, thời cơ để tiếp tục mở cuộc tiến công không còn, nhưng ta vẫn tạo được yếu tố bí mật, bất ngờ, tiếp tục mở các đợt tiến công tháng 5 và tháng 8 vào các thành thị trên toàn miền Nam. Tuy ta có giành thêm được một số thắng lợi góp thêm áp lực buộc đế quốc Mỹ phải xuống thang chiến tranh và ngừng ném bom toàn miền Bắc Việt Nam, nhưng lực lượng quân sự, chính trị của ta bị tổn thất nặng nề, đối phương lập lại quyền kiểm soát của chúng ở nhiều vùng, lực lượng ta phải rút khỏi các đô thị, bộ phận lớn cơ sở bị vỡ. Dù vậy, bằng sự nỗ lực vượt bậc của quân và dân ta, sang năm 1969, 1970, cách mạng miền Nam đã dần giành lại thế chiến trường, làm chủ 3/4 đất đai và 2/3 dân số miền Nam. Đó là điều kiện cơ bản để quân và dân ta ở miền Nam giữ vững quyền chủ động chiến lược, chủ động chiến trường, tiếp tục thực hiện nghệ thuật tiêu diệt địch để làm chủ, làm chủ để tiêu diệt địch trong suốt quá trình Mỹ xuống thang chiến tranh và thực hiện chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh.


(1) Lê Duẩn: Thư vào Nam, Sđd tr.147.
(2) Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh Việt Nam, Tlđd, t.II, tr.88.
(3) Làng xã chiến đấu: Xã An Trường (tỉnh Trà Vinh); Long Tân, Long Điền, Đất Đỏ (tỉnh Bà Rịa); xã An Phú, Phú Mỹ Hưng, An Nhơn Tây, Trung Lập Thượng (Củ Chi), xã A1, xã Bắc (An Khê - Plâyku); Khuê Ngọc Điền (Đắk Lắk), Đắk Uy (Kon Tum); xã Bình Hòa, làng Vạn Tường, Đức Phong (Quảng Ngãi), xã Anh Dũng, Hòa Hải (Quảng Nam).
Vành đai du kích diệt Mỹ: Đà Nẵng (Quảng Đà), Chu Lai (Quảng Nam); An Khê (Gia Lai), Đồng Dù còn gọi là Bắc Hà (Củ Chi), Rạch Kiến (Long An), Châu Thành (Tây Ninh), Bến Cát, Lái Thiêu (Bình Dương), Công Xanh, Lai Khê (Thủ Dầu Một), Đông Hà, Ái Tử (Quảng Trị), Đồng Lâm (Thừa Thiên), Bình Đức (Mỹ Tho), Núi Tô (An Giang)…
(4) Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh Việt Nam, Tlđd, t.II, tr.267.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Mười, 2014, 09:45:53 PM
Năm 1971, được Mỹ chỉ đạo và yểm trợ bằng không quân, pháo binh, quân đội Việt Nam Cộng hòa huy động 3 sư đoàn bộ binh, dù, thủy quân lục chiến và 3 lữ đoàn tăng, thiết giáp, lính thủy đánh bộ, 17 tiểu đoàn pháo binh, mở cuộc hành quân Lam Sơn 719 đánh vào khu vực đường 9 - Nam Lào, nhằm cắt đứt tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh, phá căn cứ hậu cần chiến lược của ta. Đây là đòn thử sức quân đội Việt Nam Cộng hòa - công cụ chủ yếu để thực hiện chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của đế quốc Mỹ. Nhưng kết cục, cuộc hành quân Lam Sơn 719 nhanh chóng bị chủ lực Quân giải phóng miền Nam, có sự phối hợp của Quân giải phóng nhân dân Lào đánh bại. Sau đòn chí mạng này, quân đội Việt Nam Cộng hòa bắt đầu co vào phòng ngự bị động, đẩy Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ đến bờ vực của sự phá sản. Chính cố vấn Henri Kítxinhgiơ coi đây là cột mốc đánh dấu cuộc hành quân cuối cùng mà quân đội Mỹ còn tham gia ở Đông Dương, kể cả trong vai trò hỗ trợ đã thất bại.

Đòn tiến công mạnh mẽ của Quân giải phóng tiêu diệt một số lượng lớn quân địch ở đường 9 - Nam Lào, đường 7 - Đông Bắc Campuchia và Ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia ở tỉnh Kon Tum đã tạo điều kiện cho các lực lượng vũ trang các quân khu, tỉnh và huyện đẩy mạnh tiến công hỗ trợ cho nhân dân nổi dậy, đập tan kế hoạch bình định của địch, giành quyền làm chủ thêm nhiều vùng nông thôn đồng bằng, nhất là những vùng ven các đô thị. Có vùng giải phóng rộng, nối thông giữa các khu, tỉnh, thành từ rừng núi đến đồng bằng. Thế trận chiến tranh nhân dân được khôi phục và củng cố vững chắc. Các sư đoàn chủ lực và các đơn vị binh chủng, kỹ thuật của Quân giải phóng về đóng quân, hoạt động trên những địa bàn quan trọng này. Ở những vùng làm chủ, ta xây dựng hệ thống các cụm kho dự trữ chiến lược, chiến dịch, cất giấu vật chất cho cuộc kháng chiến. Giữ vững quyền làm chủ của nhân dân, chẳng những ta đã tạo ra một địa bàn đứng chân, xây dựng, phát triển lực lượng cách mạng, mà còn tạo ra hai vùng kiểm soát giữa ta và đối phương song song tồn tại. Điều này về mặt chính trị làm cho Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa hết sức bối rối, vì chúng luôn luôn phủ nhận ở miền Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát giữa ta và chúng đang tồn tại. Để giữ được quyền làm chủ, nhân dân ta ở miền Nam, phải chịu bao gian khổ, hy sinh bao xương máu, phải có “gan vàng dạ dắt” và trí tuệ thông minh, mưu lược mới trụ vững trên mảnh đất của mình. Cho nên, giữ vững quyền làm chủ để tiêu diệt địch và tiêu diệt địch để giữ vững quyền làm chủ không chỉ là phương pháp cách mạng, mà còn là một trong những nghệ thuật đánh giặc của chiến tranh nhân dân Việt Nam. Nhờ có vùng làm chủ rộng, liên hoàn, từ sau chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, khối chủ lực cơ động Quân giải phóng có điều kiện mở những chiến dịch tiến công đánh tiêu diệt lớn quân đội Việt Nam Cộng hòa. Đó là các Chiến dịch Trị - Thiên, Chiến dịch Đắc Tô - Tân Cảnh, Chiến dịch Bình Long - Phước Long (còn gọi là Chiến dịch Nguyễn Huệ)… Trong các chiến dịch này, ta tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng Sư đoàn 22, Tiểu đoàn dù 11 và một lữ đoàn thủy quân lục chiến, hai liên đoàn biệt động, năm chiến đoàn bộ binh, hàng chục tiểu đoàn xe tăng, thiết giáp, pháo binh, giải phóng tỉnh Quảng Trị, Đắc Tô - Tân Cảnh (Kon Tum), Lộc Ninh (Bình Long), v.v. Vùng làm chủ của ta không chỉ là những vùng xen kẽ với vùng địch mà là những vùng rộng lớn cả một tỉnh, một huyện hoặc nhiều huyện. Đó là kết quả của nghệ thuật kết hợp chặt chẽ giữa tiêu diệt địch để giành quyền làm chủ, làm chủ để tiêu diệt địch. Tiêu diệt địch càng nhiều, càng lớn, thì vùng làm chủ càng rộng, ngược lại vùng làm chủ càng rộng thì nhân tài, vật lực cách mạng càng đông, càng mạnh, đánh tiêu diệt càng cao. Như vậy, tiêu diệt địch để làm chủ, làm chủ để tiêu diệt địch luôn luôn tỷ lệ thuận với nhau, nên nó luôn thúc đẩy, tác động lẫn nhau và hỗ trợ nhau để đạt hiệu quả chiến đấu và giành dân ngày càng cao trong quá trình kháng chiến. Trên nền tảng chiến tranh nhân dân đã có, những năm tháng cuối của cuộc kháng chiến, nghệ thuật chiến tranh này tiếp tục được mở rộng và phát triển lên quy mô chiến dịch, chiến lược tạo điều kiện cho ta đánh tiêu diệt lớn đối phương, không ngừng củng cố, mở rộng vùng làm chủ ở miền núi và đồng bằng, một số vùng xung quanh đô thị và trong đô thị. Ở những vùng ta làm chủ, lực lượng quân sự, chính trị của quần chúng nhân dân được xây dựng, bố trí với số lượng thích hợp, bảo đảm giữ vững được những vùng giải phóng, tạo nên thế bao vây, chia cắt đối phương. Dựa trên thế trận này, năm 1974, khối chủ lực cơ động cua Quân giải phóng miền Nam mở chiến dịch tiến công Nông Sơn - Thượng Đức và Chiến dịch Đường 14 - Phước Long. Với Chiến dịch Nông Sơn - Thượng Đức, ta đã đánh bại lực lượng trù bị chiến lược của quân đội Việt Nam Cộng hòa, giải phóng một vùng rộng lớn phía tây Tam Kỳ, Đà Nẵng, tạo thêm cơ sở để Bộ Tổng tham mưu nghiên cứu soạn thảo kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam trong hai năm. Chiến dịch Đường 14 - Phước Long, bộ đội chủ lực ta đánh chiếm thị xã Phước Long và đánh bại hoàn toàn những cuộc phản kích của quân đội Việt Nam Cộng hòa, giải phóng tỉnh Phước Long - một địa bàn chiến lược án ngữ cửa ngõ phía tây bắc Sài Gòn, chứng tỏ bộ đội giải phóng có khả năng đánh chiếm, làm chủ thành phố và quân chủ lực Việt Nam Cộng hòa không có khả năng chiếm lại, đế quốc Mỹ cùng không có khả năng can thiệp trở lại bằng lục quân. Chiến thắng này là cơ sở để Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định mở cuộc Tổng tiến công chiến lược Xuân 1975, mở đầu là Chiến dịch Tây Nguyên. Tháng 3-1975, ta giải phóng Tây Nguyên, Huế, Đà Nẵng, nhưng Mỹ và giới lãnh đạo chóp bu bu quân đội Việt Nam Cộng hòa vẫn nhận định rằng “Việt cộng” còn phải lo củng cố, không thể tiến công tiếp, nên chúng tập trung lập tuyến phòng thủ Phan Rang để ngăn chặn ta, chờ đến mùa mưa sẽ phản công, lấy lại những vùng đã mất. Song, đối phương không thể hiểu được vùng làm chủ của cách mạng bây giờ là cả dải đất miền Trung rộng lớn. Ở đó, lực lượng vũ trang địa phương và lực lượng chính trị cùng quần chúng nhân dân sẽ bảo vệ trật tự an ninh, củng cố vùng mới giải phóng để lực lượng chủ lực binh chủng hợp thành “rảnh tay” thần tốc tiến vào mặt trận Sài Gòn - Gia Định. Nhờ đó, chỉ sau 10 ngày giải phóng Đà Nẵng, Quân đoàn 4 đã nổ súng đánh Xuân Lộc và sau 16 ngày, Quân đoàn 2 tiến công tuyến phòng thủ Phan Rang, giải phóng thị xã Phan Rang, tỉnh Ninh Thuận và ngày 19-4, giải phóng thị xã Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, thần tốc tiến vào Long Khánh phối hợp với Quân đoàn 4 đánh chiếm Xuân Lộc và toàn tỉnh Long Khánh. Chín ngày sau khi giải phóng Long Khánh, năm cánh quân của ta trên bốn hướng đồng loạt đánh chiếm năm mục tiêu quan trọng của địch trong nội đô Sài Gòn - Gia Định, bắt Tổng thống Dương Văn Minh và nội các Vũ Văn Mẫu tuyên bố đầu hàng cách mạng không điều kiện. Chiến tranh kết thúc nhanh chóng, Mỹ và một bộ phận quan trọng cấp cao chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng hòa kinh hoàng, vội vã rút chạy khỏi Sài Gòn, còn nhân dân tiến bộ trên thế giới thì vui mừng, nhưng không tránh khỏi bàng hoàng vì xúc động, vui sướng trước một sự kiện lịch sử có tầm cỡ quốc tế đến nhanh như vậy, ngoài sức tưởng tượng của hàng triệu người. Thành công này một phần nhờ vào sự mưu trí, dũng cảm của quân và dân ta, vận dụng sáng tạo nghệ thuật chiến tranh nhân dân kết hợp chặt chẽ giữa tiến công tiêu diệt để giành quyền làm chủ, làm chủ để tiêu diệt đối phương trong trường kỳ kháng chiến chống Mỹ xâm lược. Đây là “một quá trình đấu tranh chính trị và quân sự, quân sự và chính trị; khởi nghĩa của quần chúng và chiến tranh cách mạng; chiến tranh cách mạng và khởi nghĩa của quần chúng, giành thắng lợi từng bước, đi đến giành thắng lợi hoàn toàn. Đó là quy luật không những trên chiến trường Việt Nam, mà cả toàn bộ trên chiến trường Đông Dương”(1).


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.31, tr.243.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Mười, 2014, 09:47:01 PM
6. Nghệ thuật kết hợp đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao

Cuộc đấu tranh của đế quốc Mỹ chống nhân dân Việt Nam là cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới, nghĩa là cuộc chiến tranh do Mỹ tiến hành, nhưng lấy chính quyền, quân đội Việt Nam Cộng hòa do chúng dựng lên làm chỗ dựa để lừa bịp thế giới. Cuộc đấu tranh của nhân dân yêu nước miền Nam đã làm lộ rõ nguyên hình chính quyền và quân đội Việt nam Cộng hòa là kẻ bán nước, đối lập với nhân dân. Cuộc Đồng khởi của nhân dân miền Nam đã bóc trần lớp sơn hào nhoáng của chủ nghĩa thực dân mới Mỹ để lộ ra bản chất xâm lược của đế quốc Mỹ, khiến cho nhân dân Việt Nam và nhân loại tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới căm ghét. Để duy trì ách thống trị chủ nghĩa thực dân kiểu mới, đế quốc Mỹ phải “giấu mặt, trá hình”, tiếp tục tiến hành các chiến lược chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ và Việt Nam hóa chiến tranh. Bởi vậy cuộc đấu tranh của nhân dân ta ở miền Nam không đơn thuần là cuộc đấu tranh quân sự, mà phải kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chính trị. Đấu tranh quân sự là để tiêu diệt lực lượng quân sự, phương tiện chiến tranh của đối phương, đánh bại cuộc xâm lược của Mỹ, thực hiện mục đích chính trị đã đề ra là độc lập dân tộc, tự do, dân chủ, hòa bình, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đấu tranh chính trị là để vạch mặt các thủ đoạn “giấu mặt, trá hình” của chủ nghĩa thực dân mới Mỹ, phơi trần trước toàn thế giới bộ mặt thật của đế quốc Mỹ là kẻ đi xâm lược, góp phần cùng đấu tranh quân sự thực hiện mục đích chính trị của cách mạng. Đồng thời qua đó, phân hóa kẻ thù, tập hợp lực lượng chống lại đế quốc Mỹ. để đạt mục tiêu của cách mạng, quân và dân miền Nam luôn luôn kiêm trì kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, để tạo sức mạnh đánh thắng từng bước các kế hoạch chiến lược và chiến đấu của quân Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hòa. Đấu tranh quân sự kết hợp với đấu tranh chính trị là “nội dung mới, hình thức mới của chiến tranh cách mạng miền Nam, là biện pháp mới để đương đầu với kẻ địch rất mạnh và xảo quyệt”(1).

Cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam - cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - diễn ra khi thế giới đã chia thành hai phe: xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa; phong trao đấu tranh giành độc lập của nhân dân thế giới lên cao. Các cuộc chiến tranh xâm lược và chống xâm lược đều mang tính chất liên minh. Đế quốc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, chúng đã vận động 34 nước đồng minh, phụ thuộc Mỹ cung cấp hàng tiêu dùng, vũ khí và phương tiện chiến tranh cho quân đội Mỹ ở Việt Nam; đồng thời sử dụng lãnh thổ của các nước đồng minh như Nhật Bản, Philíppin, Thái Lan để lập căn cứ quân sự tiến công Việt Nam. Đặc biệt nhất là bằng tiền của mua chuộc, đế quốc Mỹ đã vận động năm nước đồng minh, gồm: Nam Triều Tiên, Philíppin, Thái Lan, Ôtxtrâylia, Niu Dilân đưa quân chiến đấu sang Việt Nam giúp Mỹ tiến hành chiến tranh. Đây là biểu hiện cụ thể tính chất liên minh của phe đế quốc chủ nghĩa. Để đánh bại chúng, quân và dân ta đã kiên trì và giữ vững chiến lược kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và ngoại giao, kết hợp khởi nghĩa của quần chúng với chiến tranh cách mạng. Trong khi quân và dân ta ở miền Nam tích cực đấu tranh quân sự kết hợp với đấu tranh chính trị để tiêu diệt đối phương và giành quyền làm chủ, thì Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam cử những đoàn đại biểu đi thăm hữu nghị các nước trong phong trào Không liên kết để tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè và dư luận quốc tế. Thông qua các diễn đàn quốc tế như Hội nghị hòa bình thế giới, Hội nghị Công đoàn thế giới, Đại hội thanh niên thế giới, Hội nghị luật gia Á - Phi - Mỹ Latinh v,v. ta đã dần làm cho bạn bè quốc tế hiểu đúng, hiểu rõ bản chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam. Sự đồng tình, ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân ta từ các nước xã hội chủ nghĩa lan dần ra các nước Á - Phi - Mỹ Latinh, các nước Tây Âu, Bắc Âu, Bắc Mỹ và vào tận cả trong lòng nước Mỹ. Phong trào nhân dân Mỹ phản đối chiến tranh Việt Nam của chính quyền Oasinhtơn bùng nổ ở 1.200 thành phố, thị xã, thị trấn trên toàn nước Mỹ. Lực lượng tham gia xuống đường đấu tranh, ngoài các tầng lớp nhân dân Mỹ, còn có nhiều thượng nghị sĩ, hạ nghị sĩ trong lưỡng viện Quốc hội Hoa Kỳ và hơn 30 vạn viên chức, trí thức, học sinh, sinh viên cùng hàng trăm lính Mỹ đã từng tham chiến ở Việt Nam trở về. Họ cầm cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, đeo băng tang để phản đối chính quyền, đòi chấm dứt chiến tranh Việt Nam, rút quân Mỹ về nước. Nhiều học giả Mỹ nhận xét: Chiến tranh Việt Nam đã làm tan nát quân đội Mỹ và là cuộc chiến tranh duy nhất Mỹ tham gia với một quân đội mạnh, rút ra với một quân đội yếu đi nhiều lần. Hệ quả đó dẫn đến “trong số 27 triệu thanh niên Mỹ đến tuổi quân dịch từ 1964 đến 1974 có gần 17 triệu hoặc trên 60% đã trốn quân dịch. Các nước Á - Phi - Mỹ Latinh, qua việc tuyên truyền, tố cáo tội ác của đế quốc Mỹ và quân đội Mỹ đối với nhân dân Việt Nam và giới thiệu cuộc chiến đấu kiên cường của quân, dân ta, từ việc họ lên án đế quốc Mỹ, đến công nhận vai trò Mặt trận dân tộc giải phóng, kết nạp Mặt trận làm thành viên chính thức của các tổ chức quốc tế Á - Phi và Á - Phi - Mỹ Latinh dễ dàng, nhanh chóng. Khi quân và dân miền Nam đánh bại hai cuộc hai cuộc phản công chiến lược mùa khô của quân Mỹ, nhất là cuộc hành quân Gianxơn Xiti thì vai trò, uy tín của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam càng được đề cao trên các diễn đàn, hội nghị quốc tế. Chính quyền Mỹ và Việt Nam Cộng hòa ngày càng bị cô lập, bị nhân dân thế giới, nhân dân Mỹ phản đối, lên án.


(1) Lê Duẩn: Thư vào Nam, Sđd, tr.57.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Mười, 2014, 09:49:15 PM
Bị thất bại nặng nề trên mặt trận quân sự, đế quốc Mỹ tìm mọi cách tiếp xúc với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đề nghị thương lượng hòa bình. Thực chất hành động ngoại giao của Mỹ là để ngăn chặn miền Bắc chi viện cho miền Nam, hạn chế các cuộc tiến công của lực lượng vũ trang giải phóng, xoa dịu sự phản đối chiến tranh của nhân dân Mỹ và thế giới. Đáp lại âm mưu xảo quyệt của đế quốc Mỹ, quân và dân ta ở miền Nam tăng cường mở các đợt hoạt động quân sự kết hợp với đấu tranh chính trị, tiến công vào quân Mỹ, quân Việt Nam Cộng hòa, gây cho địch thương vong nặng nề, phá rã từng mảng ấp chiến lược. Phối hợp chiến đấu với miền Nam, quân và dân miền Bắc đánh thắng các bước leo thang chiến tranh bằng không quân, hải quân của Mỹ, bắn rơi nhiều máy bay, bắt sống nhiều giặc lái. Đồng thời với cuộc tiến công quân sự và đấu tranh chính trị, đánh địch trên cả hai miền Nam - Bắc, trên mặt trận ngoại giao, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa ra lập trường bốn điểm và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ra tuyên bố năm điều đều nhằm làm rõ lập trường kiên định của ta giải quyết vấn đề hòa bình ở Việt Nam. Lập trường của ta chính nghĩa, rõ ràng, đầy thiện chí được thế giới đồng tình, ủng hộ. Tại Đan Mạch, từ ngày 20-11 đến ngày 1-12-1967, Tòa án quốc tế Béctơrăng Rútxen đã họp và kết luận: Chính phủ Mỹ đã phạm tội ác xâm lược chống nước Việt Nam. Các chính phủ Ôxtrâylia, Niu Dilân, Nam Triều Tiên là những nước đồng lõa đã phạm tội ác man rợ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế. Chính quyền Oasinhtơn rất lúng túng, bị động đối phó trước đòn tiến công của ta và sự lên án kết tội Mỹ của Tòa án quốc tế. Càng lúng túng bị động, Mỹ càng leo thang chiến tranh trong thế cùng quẫn. Đây là thời cơ thuận lợi để quân và dân ta cố gắng cao độ đẩy mạnh đấu tranh quân sự và chính trị, giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn trên chiến trường miền Nam. Trên tinh thần đó, đêm 30 rạng sáng 31-1-1968, quân và dân ta mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, đánh trúng vào hầu hết các mục tiêu quan trọng của đối phương trong các thành phố, thị xã, quận lỵ trên toàn miền Nam, làm thôi động toàn nước Mỹ. Bị đòn choáng váng, Tổng thống Níchxơn phải tuyên bố đình chỉ các hoạt động không quân, hải quân chống Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 20 trở ra, xuống thang chiến tranh, rút dần quân Mỹ về nước và tỏ ý sẵn sàng thương lượng với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của ta đang đi vào bước ngoặt có lợi cho cách mạng. Đảng Lao động Việt Nam chủ trương mở mặt trận đấu tranh ngoại giao và chỉ rõ: “Đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam là nhân tố chủ yếu quyết định thắng lợi trên chiến trường, làm cơ sở cho thắng lợi trên mặt trận ngoại giao. Chúng ta chỉ có thể giành được thắng lợi trên bàn hội nghị những cái mà chúng ta đã giành được trên chiến trường. Tuy nhiên, đấu tranh ngoại giao không chỉ đơn thuần phản ánh cuộc đấu tranh trên chiến trường, mà trong tình hình quốc tế hiện nay với tính chất cuộc chiến tranh giữa ta và địch, đấu tranh ngoại giao giữ một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động”(1). Mặc dù đế quốc Mỹ đã xuống thang chiến tranh, nhưng chúng vẫn ngoan cố, ngừng đánh phá miền Bắc từ bắc Thanh Hóa trở ra, còn phần đất Khu 4 vẫn tiếp tục sử dụng không quân đánh phá với cường độ hủy diệt. Ngày 3-4-1968, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố: “Sẵn sàng cử đại diện của mình tiếp xúc với đại diện Mỹ nhằm xác định với phía Mỹ việc Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để có thể bắt đầu cuộc nói chuyện”(2). Đồng thời với tuyên bố của chính phủ, quân và dân miền Nam mở cuộc Tổng tiến công tháng 5 và tháng 8, đánh vào hầu hết các thành phố, thị xã, căn cứ địch trên toàn miền Nam. Cũng trong tháng 5, Hội nghị Pari giữa đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ bắt đầu, nhưng không kết quả. Chiến tranh vẫn tiếp diễn ác liệt. Ta đòi phía Mỹ phải chấm dứt toàn bộ và vô điều kiện ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống miền Bắc Việt Nam thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới bắt đầu cuộc nói chuyện với Mỹ. Ngoan cố mãi, nhưng cuối cũng bị sức ép từ nhiều phía, bị thua trên chiến trường, ngày 31-10-1968, Tổng thống Mỹ L. Giônxơn mới tuyên bố chấm dứt hoàn toàn vô điều kiện ném bom miền Bắc và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với ta ở Pari. Tướng Oétmolen bình luận sự kiện này rằng: Họ đã đạt được mục tiêu là làm cho phía Mỹ phải đơn phương xuống thang, ngừng ném bom, đình chỉ tăng quân và làm hỏng một chiến lược đánh mạnh; làm cho người Mỹ phải đến bàn hội nghị trong khi đó có nhiều người Mỹ cứ tưởng Chính phủ Mỹ đã bắt buộc đối phương đến hội nghị.

Ngày 25-1-1969, phiên họp bốn bên chính thức đầu tiên bắt đầu tại Pari. Đây là một trong những thời kỳ tiêu biểu của việc vận dụng nghệ thuật phối hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao, thành công lớn của quân và dân ta, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào thời kỳ “vừa đánh vừa đàm”, tạo điều kiện và thời cơ mới để “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Cuộc đấu tranh ngoại giao thời kỳ này chủ yếu là ở Hội nghị Pari. Ta biết những gì ta giành được trên bàn hội nghị sẽ trên cơ sở thắng lợi ở chiến trường. Tháng 9-1970, ta đưa ra lập trường tám điểm, đòi Mỹ rút quân trước ngày 30-6-1971; gạt bỏ Thiệu - Kỳ - Khiêm; lập chính phủ liên hiệp ba thành phẩn, v.v. Để đối lại lập trường của ta, phía Mỹ đưa ra kế hoạch hòa bình năm điểm với nội dung chính ngừng bắn trên toàn Đông Dương và giữ nguyên trạng các vùng đóng quân của hai bên; thương lượng một lịch rút quân Mỹ; họp hội nghị hòa bình về Đông Dương… Cuộc đấu tranh giằng co qua lại nhiều phiên họp, nhưng không đi đến kết quả. Mỹ vẫn rút quân nhỏ giọt, giữ Thiệu và thúc quân đội Việt Nam Cộng hòa tăng cường hành quân đánh sang Campuchia và Lào. Đến khi Quân giải phóng miền Nam mở chiến dịch phản công quy mô lớn đánh bại quân đội Việt Nam Cộng hòa có Mỹ yểm trợ ở đường 9 - Nam Lào, Đông Bắc Campuchia, Ngã ba biên giới Kon Tum, thì Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa bắt đầu xuống giọng. Khả năng ta buộc Mỹ đi đến giải pháp chấm dứt chiến tranh trước ngày bầu cử Tổng thống Mỹ năm 1972 sẽ trở thành hiện thực. Kết hợp và hỗ trợ cho đấu tranh ngoại giao, Xuân - Hè 1972, quân và dân miền Nam mở chiến dịch tiến công lớn đánh Quảng Trị, Đắc Tô - Tân Cảnh, Lộc Ninh - chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh và học thuyết Níchxơn đứng trước nguy cơ phá sản hoàn toàn. Bị thua trên mặt trận quân sự, chính trị ở miền Nam, phía Mỹ mới thỏa thuận nội dung bản Dự thảo Hiệp định Pari do ta đưa ra ngày 8-10-1972 và hai bên thống nhất ngày ký Hiệp định chính thức vào ngày 31-10-1972. Nhưng rồi phía Mỹ lật lọng, nêu ra lý do khó khăn từ phía chính quyền Việt Nam Cộng hòa và đề nghị ta sửa đổi một số điều khoản của bản dự thảo đã thỏa thuận, nhưng bị phái đoàn ta bác bỏ. Hội nghị Pari bế tắc. Ngày 18-12, Tổng thống Mỹ Níchxơn ra lệnh cho không quân dùng máy bay B.52 ném bom Hà Nội, Hải Phòng và các vùng phụ cận, mang mật danh Lainơ Bếchcơ 2 để ép ta và làm “yên lòng” Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu. Quân dân miền Bắc vượt qua thử thách hy sinh khốc liệt, kiên quyết chiến đấu, đánh thắng cuộc tập kích đường không của Mỹ, bắn rơi 34 chiếc B.52 (trong tổng số 81 máy bay các loại), bắt nhiều giặc lái. Phối hợp với miền Bắc, quân và dân miền Nam mở cuộc tiến công đập vỡ các tuyến phòng ngự cơ bản của quân đội Việt Nam Cộng hòa ở Quảng Trị, Thừa Thiên, Tây Nguyên, Bình Định, Đông Nam Bộ, hỗ trợ quần chúng các địa phương nổi dậy diệt ác, phá kìm, giải phóng hơn một triệu dân. Đòn tiến công quân sự, đấu tranh chính trị này đã hỗ trợ đắc lực cho phía đoàn ta giành thắng lợi quyết định tại Hội nghị Pari. Ngày 30-12-1972, Chính phủ Mỹ buộc phải đơn phương tuyên bố ngừng ném bom và chấm dứt mọi hành động quân sự khác chống Việt Nam Cộng hòa vô điều kiện và đề nghị ta nối lại cuộc hòa đàm Pari. Ngày 27-1-1973, Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, với nội dung cơ bản của dự thảo ta đưa ra hồi tháng 10. Kết quả này là thành công lớn của quân và dân ta ở hai miền Nam - Bắc kiên trì và sáng tạo thực hiện đường lối, chiến lược chiến tranh nhân dân và phương pháp cách mạng đánh địch bằng hai lực lượng, ba thứ quân trên ba vùng chiến lược, trong đó đã kết hợp chặt chẽ, nhuần nhuyễn nghệthuật đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao.


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.28, tr.174.
(2) Báo Nhân dân, số ra ngày 4-4-1968.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Mười, 2014, 09:51:08 PM
7. Chiến tranh nhân dân đất đối không - nghệ thuật tác chiến đường không sáng tạo, mưu lược của quân và dân miền Bắc

Khác với cuộc chiến tranh trên bộ mở miền Nam, cuộc chiến tranh ở miền Bắc là cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ. Để chống lại cuộc chiến tranh phá hoại của đối phương, ta không thể dùng nghệ thuật đánh giặc trên bộ như ở miền Nam, mà phải tiến hành một cuộc chiến tranh nhân dân đất đối không, đất đối hải. Trong những năm miền Bắc hòa bình, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân đã chỉ đạo cho toàn quân, toàn dân tích cực xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, trong đó tập trung xây dựng lực lượng phòng không và phòng thủ bở biển vững mạnh toàn diện. Từ các đơn vị bộ binh, pháo phòng không, chủ yếu là pháo cao xạ, súng máy phòng không sau chiến thắng Điện Biên Phủ, phát triển thành Quân chủng Phòng không - Không quân, Quân chủng Hải quân, Quân chủng Lục quân và các binh chủng Pháo binh, Cao xạ, Tên lửa, Không quân, Rađa, Thông tin, Công binh chính quy và tương đối hiện đại. Lực lượng phòng không và phòng thủ bở biển từ Móng Cái đến Vĩnh Linh gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ được xây dựng tương đối mạnh cả về tư tưởng, chính trị và trang bị vũ khí hiện đại. Đặc biệt, lực lượng không quân tiêm kích, tên lửa, pháo cao xạ, rađa phát triển mạnh đáp ứng kịp nhu cầu đối phó với đế quốc Mỹ leo thang chiến tranh phá hoại ra miền Bắc. Đồng thời với xây dựng, phát triển lực lượng, Bộ Tổng tham mưu chỉ đạo, đôn đốc xây dựng các khu vực phòng thủ nội địa, biên giới và hải đảo, trong đó xây dựng huyện thành những pháo đài chiến đấu đủ sức đánh thắng các cuộc tiến công của địch (gọi là pháo đài huyện). Hệ thống công sự, trận địa phòng thủ dọc bờ biển và hầm hảo để ẩn nấp, cơ động, chiến đấu ở làng, xã khắp miền Bắc được xây dựng, sẵn sàng đối phó kịp thời với những tình huống xảy ra. Lực lượng phòng không miền Bắc được bố trí thành thế trận liên hoàn, đủ các tầm hỏa lực, vừa bảo đảm đánh đối phương ở các độ cao khác nhau, đánh đối phương rộng khắp ở mọi nơi, vừa có lực lượng tập trung tác chiến quy mô chiến dịch phòng không bảo vệ các mục tiêu trọng điểm trên các tuyến giao thông quan trọng và những khu yếu địa quốc gia. Những lúc đối phương tăng cường đánh phá vào thành phố, thị xã, các nút giao thông quan trọng, kho tàng, tập trung tới 50% số đơn vị cao xạ, tên lửa và không quân để bảo vệ, nhưng các nơi khác vẫn bảo đảm đánh có hiệu quả. Hệ thống phòng không và phòng thủ bờ biển trên miền Bắc mạnh gồm Quần chúng Phòng không - Không quân, Quần chúng Hải quân, pháo bờ biển của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ. Lực lượng cao xạ từ chỗ có một trung đoàn pháo cao xạ 37mm phát triển lên 11 trung đoàn pháo cao xạ các cỡ từ 37mm đến 100mm. Ta bố trí 75% số đại đội pháo cao xạ cỡ 88mm và 100mm, 34% số đại đội pháo cao xạ 57mm bảo vệ Hà Nội và Hải Phòng, 42% số đại đội pháo cao xạ 37mm miền Bắc hiện có được bố trí bảo vệ Thái Nguyên, Việt Trì, Nội Bài, Hòn Gai, Nam Định, Vinh. Hai trung đoàn pháo cao xạ 57mm dự bị của Quần chúng Phòng không - Không quân bố trí ở tả ngạn và hữu ngạn sông Hồng. Lực lượng cao xạ của hải quân trên các tàu tuần tiễu ở các bến cảng, cửa sông, cùng lực lượng súng máy phòng không, súng trường của bộ đội địa phương, dân quân, tự vệ miền Bắc sẵn sàng chiến đấu phối hợp với chủ lực. Ngoài ra, các tiểu đoàn súng máy cao xạ 14,5mm, 20mm bốn nòng đặt trên xe bọc thép cơ động trên các trục đường giao thông, phối hợp với các trận địa pháo cố định. Về Binh chủng Rađa có 3 trung đoàn: Trung đoàn Rađa 291 bố trí cảnh giới bảo vệ yếu khu Hà Nội, Hải Phòng; Trung đoàn Rađa 290 bố trí cảnh giới, phục vụ cho các đơn vị hỏa lực bảo vệ thành phố Vinh và Quân khu 4; Trung đoàn Rađa 292 cảnh giới hướng Tây Bắc, nơi máy bay địch thường từ hướng tây bay vào nội địa ném bom. Lực lượng phòng không - không quân còn được mạng rađa cảnh giới của hải quân và những trạm quan sát của bộ đội địa phương và dân quân, tự vệ phối hợp cảnh giới vùng trời, vùng biển, phát hiện địch, kịp thời báo động cho lực lượng phòng không - không quân. Bên cạnh lực lượng phòng không - không quân, hải quân, lực lượng pháo binh phòng thủ bờ biển của ta được bố trí: Quân khu 4 có Trung đoàn pháo chủ lực 164 và 3 trung đoàn pháo thuộc các sư đoàn 341, 325, 324 và 3 đại đội pháo 105mm nòng dài của hải quân. Quân khu 3 có Trung đoàn pháo binh 154 chủ lực quân khu, sẵn sàng cơ động dọc ven biển các tỉnh thuộc quân khu; tiểu đoàn pháo 85mm bố trí bờ biển Thanh Hóa. Noài ra, có Trung đoàn pháo 84 thuộc lực lượng dự bị của quân khu, sử dụng pháo 85mm nòng dài bố trí 6 trận địa trên bờ biển hai huyện Quảng Xương và Tĩnh Gia (Thanh Hóa), nơi dự kiến trọng điểm hải quân địch gây tội ác. Vĩnh Linh có 2 đại đội pháo 85mm nòng dài và dân quân các xã được trang bị súng ĐKZ, cối. Quảng Bình có 5 đại đội pháo địa phương từ pháo 85mm đến 100mm và 6 đơn vị pháo dân quân Ngư Thủy, Đông Hải, Nhật Lệ, Lý Hòa; Hà Tĩnh có 5 đại đội pháo từ 85mm đến 105mm và 6 đơn vị pháo binh dân quân. Ngoài ra còn có các đại đội đánh nước của dân quân Vĩnh Linh, Quảng Đại, Quảng Cư, Quảng Trường, Nga Trường, Hải Thanh, Hoàng Thanh… bí mật đưa thuyền ra khơi phục kích tàu địch, dùng ĐKZ, thủ pháo, bộc phá đánh địch, phối hợp với pháo binh trên bờ. Mạng hỏa lực phòng thủ bờ biển mạnh đã bắn chìm 21 tàu biệt kích, 4 thủy phi cơ, bắn cháy 122 lần chiếc tàu biệt kích, tuần dương hạm, khu trục hạm khác của đối phương (tính từ ngày 5-8-1964 đến tháng 10-1968), bảo vệ vững chắc nội địa ven biển.

Cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, bảo vệ miền Bắc là một bộ phận hợp thành chiến lược chiến tranh nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Song, phương pháp đấu tranh hai miền Nam - Bắc không giống nhau. Miền Nam đánh đối phương trên mặt đất. Miền Bắc đánh đối phương từ trên không và trên biển. Do đặc điểm cuộc chiến tranh phá hoại của đối phương, để bảo đảm an toàn cho người và cơ sở sản xuất, Đảng và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chủ trương sơ tán triệt để người già, trẻ em, học sinh, sinh viên và các nhà máy, xưởng sản xuất ra khỏi thành phố, thị xã và những nơi trọng điểm địch đánh phá, về các vùng nông thôn ở trung du, miền núi tiếp tục học tập, công tác, sản xuất. Lực lượng thanh niên và lứa tuổi trung niên khỏe mạnh ở lại chiến đấu và phục vụ chiến đấu, cùng với Công an nhân dân giữ trật tự an ninh. Quân và dân miền Bắc đã tiến hành một cuộc chiến tranh nhân dân đất đối không và đất đối hải vô cùng oanh liệt, mưu trí đánh bại các bước leo thang chiến tranh của giặc Mỹ, bảo đảm giao thông, chi viện kịp thời sức người, sức của cho tiền tuyến. Trong tác chiến phòng không và phòng thủ bờ biển, lực lượng vũ trang ba thứ quân của ta đã sáng tạo ra phương pháp đánh giặc của chiến tranh nhân dân đất đối không và đất đối hải đạt hiệu quả cao và trở thành nghệ thuật tác chiến phòng không và phòng thủ bờ biển, góp phần bổ sung, làm phong phú thêm nền nghệ thuật quân sự nước nhà:

1- Phương pháp tác chiến “nhằm thẳng quân thù bắn!”.


Đây vừa là phương pháp tác chiến phòng không, vừa là khẩu hiệu hành động của quân và dân miền Bắc “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”. Đối phương rất xảo quyệt, để đánh các mục tiêu trong đất liền, chúng sử dụng[334] các loại máy bay quần đảo nghi binh và trinh sát các mục tiêu, làm những động tác giả để đánh lừa sự phán đoán của ta. Từng tốp máy bay phản lực bay thấp trên biển, dọc các triền sông, lợi dụng các khe núi và vật che khuất để tránh rađa phát hiện, rồi bất ngờ lao vào mục tiêu, bổ nhào, ném bom. Đối phương thường từ hướng tây bay vào công kích mục tiêu rồi thoát ra hướng đông để tránh rađa phát hiện. Vì vậy, việc bố trí các trận địa pháo phòng không, tên lửa sao cho thích hợp với mục tiêu bảo vệ và đón được các đường bay vào của máy bay địch là quá trình nghiên cứu công phu và khoa học. Các trận địa pháo cao xạ, tên lửa được bố trí ở thế có lợi, phát huy được hỏa lực tập trung, không phân tán, lại phải phối hợp được với các trận địa khác, các đơn vị phòng không xung quanh và rađa phát hiện sớm. Nếu bố trí trận địa mà khoảng cách giữa mục tiêu bảo vệ với trận địa phòng không xa nhau, lại không đúng hướng công kích của máy bay địch, chẳng những không hỗ trợ, chi viện được cho nhau giữa các khẩu đội, các trận địa để bảo đảm hỏa lực tập trung, mà còn bị bất ngờ hướng công kích của đối phương, dẫn đến hiệu quả chiến đấu thấp. Do vậy, bố trí, sắp xếp lực lượng hợp lý, bảo đảm tầm bao quát cảnh giới bầu trời, phát huy được các loại hỏa lực, bảo vệ tốt các mục tiêu là một khoa học và là nghệ thuật tác chiến của chiến tranh nhân dân trong tác chiến phòng không, tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng vũ trang thực hiện khẩu hiệu “Nhằm thẳng quân thù bắn!”. Khi máy bay địch bổ nhào xuống trận địa đối diện với người lính là lúc sự sống và cái chết cách nhau sợi tóc, thần kinh con người căng thẳng tột độ. Tình huống để “nhằm thẳng quân thù bắn” chỉ diễn ra trong tích tắc, đòi hỏi người chiến sĩ phòng không bảnh lĩnh chiến đấu thật vững vàng, kiên định, nhìn thẳng vào mục tiêu, bình tĩnh, sáng suốt, quyết đoán, nổ súng đúng thời cơ, đúng mục tiêu. Phương pháp tác chiến này đã đem lại hiệu quả cao, bắn rơi 4.181 máy bay Mỹ trong cuộc chiến tranh phá hoại 1964 - 1973.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Mười, 2014, 09:51:45 PM
2- Kết hợp chặt chẽ giữa tác chiến tập trung bảo vệ những khu vực trọng điểm với tác chiến cơ động phục kích đối phương trên các hướng, kết hợp giữa các binh chủng, đánh đối phương bằng nhiều tầng hỏa lực.

Trong những năm chống chiến tranh phá hoại, mặc dù lực lượng ta có hạn, nhưng ta đã biết bố trí lực lượng bảo vệ các mục tiêu điểm và diện hợp lý, kết hợp chặt chẽ giữa tập trung bảo vệ các khu yếu địa quốc gia với cơ động phục kích đối phương và chốt ở những nơi xung yếu, máy bay cường kích Mỹ bay qua. Nhờ đó, chẳng những ta tập trung được mật độ hỏa lực cao bảo vệ các mục tiêu trọng điểm, mà còn có đủ hỏa lực bảo vệ những mục tiêu diện dọc các tuyến giao thông, bến cảng, kho tàng, cửa khẩu quan trọng, v.v. Không quân Mỹ chủ động đánh phá các mục tiêu do chúng lựa chọn với mọi thời gian, không gian, nhưng quân và dân miền Bắc không bất ngờ. Điển hình như, ngày 5-8-1864, không quân Mỹ huy động hơn 50 chiếc máy bay phản lực, bất ngờ đánh phá Cửa Hội (Vinh), cảng sông Gianh (Quảng Bình), Lạch Trường (Thanh Hóa), Hòn Gai, Bãi Cháy (Quảng Ninh). Mạng rađa cảnh giới của ta phát hiện kịp thời các tốp máy bay Mỹ trên các hướng, báo động cho lực lượng phòng không, hải quân và dân quân, tự vệ ta nổ súng, bắn rơi 8 máy bay Mỹ. Đây là minh chứng đầu tiên cho thành công của sự kết hợp chặt chẽ giữa tác chiến tập trung với đóng chốt, cơ động phục kích, giữa các lực lượng phòng không, hải quân và dân quân tự vệ. Trong khi ta tập trung lực lượng bảo vệ những mục tiêu trọng điểm ngày đầu đối phương đánh phá, thì Đại đội 3, Tiểu đoàn 14 pháo cao xạ do Đại đội trưởng Lê Hữu Mai và Chính trị viên Nguyễn Viết Xuân chỉ huy bố trí trận địa phục kích ở Cha Lo, miền tây Khu 4, bất ngờ bắn rơi 3 máy bay Mỹ trong trận chiến đấu (18-11-1964). Việc kết hợp tác chiến tập trung với cơ động, đóng chốt ở những nơi dự kiến địch sẽ bắn phá đã làm cho không quân Mỹ luôn bị bất ngờ, đi đến đâu cũng gặp hỏa lực của ta, nên tinh thần giặc lái Mỹ rất hoang mang.

3- Kết hợp chặt chẽ tác chiến phòng không của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân, tự vệ, giữa các quân, binh chủng Pháo cao xạ, Tên lửa, Không quân, Hải quân, đánh đối phương bằng nhiều tầng hỏa lực

Chiến tranh nhân dân đất đối không là loại hình tác chiến mới, toàn dân tham gia với lực lượng vũ trang ba thứ quân, bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân, tự vệ đánh địch toàn diện. từ cảnh giới, trinh sát phát hiện máy bay của đối phương từ xa bằng mạng rađa hiện đại đến những trạm quan sát của bộ đội địa phương, dân quân tự vệ và nhân dân bằng các phương tiện thô sơ và mắt thường, đến trực tiếp chiến đấu bắn máy bay Mỹ, các lực lượng vũ trang và nhân dân miền Bắc đều phối hợp nhịp nhàng, chặt chẽ. Mọi hành động của đối phương đều bị ta phát hiện sớm và đón đánh kịp thời. Nhân dân và lực lượng vũ trang ba thứ quân miền Bắc, qua chiến đấu đã phát triển những trận chiến đấu phòng không thông thường lên thành nghệ thuật chiến dịch chiến tranh nhân dân đất đối không với mọi quy mô, biết thắng đối phương từng bước, buộc đối phương cũng phải leo thang chiến tranh từng bước. Đầu mùa hè 1965, không quân Mỹ tập trung đánh khu vực Hàm Rồng, Đò Lèn, Ghép (Thanh Hóa) và các mục tiêu giao thông từ Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An đến Thanh Hóa rất ác liệt. Các binh chủng Pháo cao xạ, Hải quân, Không quân Việt Nam đã phối hợp chặt chẽ với lưới lửa tầm thấp của dân quân Nam Ngạn, Yên Vực, Hoàng Long, Hoàng Lý… bắn rơi 57 máy bay Mỹ, bắt sống 3 giặc lái, trong đó Không quân nhân dân Việt Nam lần đầu xuất kích bắt rơi 4 chiếc F8 và F105. Ngày 24-4-1965, Binh chủng Tên lửa bắn rơi 1F4C, bắt sống tên giặc lái tại Hàm Rồng và nửa tháng sau, tên lửa ta diệt gọn cả tốp máy bay Mỹ vào đánh lén ban đêm ở Ninh Bình.

Chiến công nối tiếp chiến công, trận sau thắng to hơn trận trước. Điều này gần như quy luật, ta càng đánh càng có nhiều kinh nghiệm, bắt mục tiêu, lấy đường ngắm nhanh chóng, chính xác hơn. Mùa thu năm 1966 - thời kỳ cao điểm, không quân Mỹ tập trung đánh phá miền Bắc ác liệt của ngày lẫn đêm và chính trong những ngày này đế quốc Mỹ bị thiệt hại nặng nhất. Lực lượng phòng không nhân dân miền Bắc đã bắn rơi 232 máy bay Mỹ, bắt nhiều giặc lái. Ngày 2-12-1966, quân và dân ta bắn rơi 12 máy bay Mỹ, bắt sống 7 giặc lái, đạt kỷ lục cao nhất về bắt sống phi công Mỹ trong một ngày. Điều này chứng tỏ hiệu quả to lớn của lưới lửa phòng không nhiều tầng của miền Bắc Việt Nam. Những tên phi công Mỹ mỗi khi đi đánh miền Bắc đều hoảng sợ khi phải qua các “tọa độ lửa” Hà Nội, Hải Phòng, Hàm Rồng, Vinh, Bến Thủy. Đặc biệt, cuộc chiến đấu 12 ngày đêm ở Hà Nội, Hải Phòng năm 1972 thể hiện nổi bật sự phát triển cao của nghệ thuật tác chiến chiến dịch phòng không đất đối không. Trong chiến dịch này, đối phương tập trung máy bay B.52 đánh liên tục từng đợt vào ban đêm, còn lực lượng không quân chiến thuật, không quân hải quân làm nhiệm vụ hộ tống B.52, chèn kích máy bay ta và chế áp các trận địa phòng không của ta, đồng thời đánh xen kẽ giữa hai đợt B.52, đánh bổ sung hòng làm cho lực lượng phòng không miền Bắc thiệt hại, rã rời, không phát huy được hỏa lực. Song, lực lượng phòng không nhân dân miền Bắc cảnh giác, không mắc mưu địch, đã tìm ra cách đánh chiến dịch hiệu quả nhất. Ta để dành tên lửa và không quân tập trung đánh máy bay B.52, còn lực lượng không quân chiến thuật Mỹ hộ tống B.52 do pháo cao xạ các cỡ và dân quân, tự vệ đảm trách. Sự phân công và phối hợp tác chiến chặt chẽ giữa các lực lượng phòng không và tên lửa, không quân, đảm nhiệm đánh diệt từng mục tiêu cụ thể, làm cho pháo cao xạ các loại, tên lửa, không quân ta không bị cuốn vào các đánh của đối phương, mà chủ động, bình tĩnh chiến đấu liên tục cả ngày lẫn đêm. Trong chiến dịch phòng không này, quân và dân ta đã bắn rơi 81 máy bay Mỹ, trong đó có 34 máy bay B.52 (16 chiếc rơi tại chỗ), bắt sống nhiều giặc lái Mỹ. Đây là con số kỷ lục về bắn rơi máy bay chiến lược B.52 Mỹ, buộc Chính phủ Mỹ phải chấm dứt ném bom và mọi hành động quân sự khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vô điều kiện và phải ký Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam. Chiến thắng oanh liệt 12 ngày đêm của chiến dịch phòng không tháng 12-1972 là bản anh hùng ca bất diệt của quân dân Việt Nam, đi vào lịch sử chiến tranh thế giới như một trong những chiến thắng vĩ đại nhất của nhân loại trong thế kỷ XX. Qua cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của Mỹ, nhân dân ta đã sáng tạo ra cuộc chiến tranh nhân dân đất đối không đạt đến đỉnh cao của trí tuệ Việt Nam về mưu lược và phương pháp đánh địch trên không và trở thành nghệ thuật tác chiến phòng không nhân dân có một không hai trên thế giới.

*
*   *

Trải qua mấy nghìn năm lịch sử, để tồn tại và phát triển, nhân dân ta đã cố kết thành một khối thống nhất vững bền, ngoan cường, cần cù và nhẫn nại vượt qua những thử thách khắc nghiệt của thiên nhiên, đồng thời không ngừng chống lại những cuộc xâm lăng của nước ngoài. Cuộc xâm lược này của các đế quốc cũng rất ác liệt, tàn bạo, tường chừng Việt Nam không thể đứng vững và đi lên. Song, vượt qua những thử thách cực kỳ cam go của chiến tranh, nhân dân Việt Nam bằng lòng yêu nước, thương nòi, tinh thần dũng cảm và tài năng, trí tuệ của mình đã sáng tạo ra chiến tranh nhân dân kỳ diệu. Chiến tranh nhân dân Việt Nam xuất hiện từ thời Hùng Vương dựng nước đến Hai Bà Trưng khởi nghiệp gây nền độc lập, tự chủ còn ở trình độ thấp, sức mạnh của toàn dân chưa được phát huy đầy đủ, nhưng nó đã tỏ rõ tính ưu việt của sức mạnh Việt Nam, không một kẻ thù nào địch nổi. Qua năm tháng đấu tranh chống kẻ thù xâm lược để giữ nền độc lập, nhân dân Việt Nam không ngừng tích lũy kinh nghiệm, bổ sung, phát triển chiến tranh nhân dân lên trình độ ngày càng cao và hoàn thiện. Đặc biệt, đến thời đại Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam tiến hành hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược thì sức mạnh toàn dân tộc được phát huy cao độ, mọi sáng kiến về phương pháp đánh địch toàn diện “thiên biến vạn hóa” xuất hiện ngày càng nhiều, đa dạng và phong phú, hiệu quả chiến đấu ngày càng cao, được đúc kết thành nghệ thuật đánh giặc của chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện thần kỳ. Chẳng những ta đã kế thừa, phát triển cuộc chiến tranh nhân dân truyền thống lên tầm cao mới, đánh thắng mọi kẻ thù trên bộ, mà còn sáng tạo cuộc chiến tranh nhân dân đất đối không có một không hai trong lịch sử chiến tranh thế giới. Cuộc kháng chiến toàn dân của Việt Nam đã đánh bại tất cả bọn xâm lược thực dân cũ và mới, đem lại chiến thắng vinh quang cho nhân dân và dân tộc Việt Nam: Tổ quốc được độc lập, thống nhất, dân tộc được tự do, bình đẳng, sánh vai cùng các dân tộc trên thế giới đấu tranh cho một nền hòa bình bền vững, xã hội công bằng và ấm no, hạnh phúc. Do đó, nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân Việt Nam mang bản chất sáng ngời chính nghĩa và tinh thần nhân văn sâu sắc.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Mười Một, 2014, 06:08:05 AM
Chương 41

XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY VAI TRÒ
HẬU PHƯƠNG - CĂN CỨ ĐỊA CÁCH MẠNG

I - KHÔNG NGỪNG XÂY DỰNG, CỦNG CỐ
VÀ BẢO VỆ HẬU PHƯƠNG MIỀN BẮC

1. Hậu phương - một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của khởi nghĩa và chiến tranh

Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thực sự là một trang chói ngời nhất trên mọi phương diện. Chỉ xét riêng và cách thức tiến hành huy động nhân tài, vật lực - nhân tố quyết định để làm nên thắng lợi của kháng chiến, đã trở thành hình mẫu đặc sắc, nét nghệ thuật quân sự độc đáo trong tổ chức và điều hành kháng chiến của Đảng Cộng sản và sự sáng tạo, linh hoạt, nỗ lực hết mình của toàn dân tộc Việt Nam trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chiến lược. Và để đảm bảo cho việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chiến lược chính là hậu phương - căn cứ địa cách mạng.

Quy luật của chiến tranh là mạnh được, yếu thua; bởi vậy, bên nào tạo được sức mạnh áp đảo, bên đó sẽ chiến thắng. Để có sức mạnh chiến thắng trong chiến tranh, phải huy động sức mạnh tổng hợp của nhiều yếu tố; trong đó, hậu phương là nhân tố cơ bản, thường xuyên quyết định thắng lợi của chiến tranh. Lênin từng khẳng định “muốn tiến hành chiến tranh một cách thực sự, phải có một hậu phương được tổ chức vững chắc”(1).

Hậu phương là “vùng lãnh thổ và dân cư của một bên tham chiến, không có, hoặc ít có chiến sự, tương đối an toàn và ổn định trong chiến tranh; nơi có điều kiện duy trì sinh hoạt về mọi mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa… và huy động các nguồn lực cho tiền tuyến, cùng với tiền tuyến tạo thành không gian chiến tranh”(2). Theo cấp độ, hậu phương chiến tranh được phân chia thành: hậu phương chiến lược, hậu phương tại chỗ và các căn cứ du kích. Song, trên thực tế của chiến tranh giải phóng dân tộc, có những thời điểm tuy lực lượng cách mạng chưa có được một vùng lãnh thổ và dân cư để làm căn cứ, nhưng có một hậu phương vững chắc đó là lòng dân. Chính nhờ nhân dân đùm bọc, chở che, nuôi dưỡng mà lực lượng cách mạng không ngừng phát triển, từng bước tiến công đối phương, giành đất, giành dân, tạo lập nên những căn cứ hậu phương cho chiến tranh.

Khẳng định vai trò quyết định của hậu phương trong chiến tranh, J.Stalin chỉ ra rằng: “Không có một quân đội nào trên thế giới không có hậu phương vững chắc mà lại có thể chiến thắng được. Hậu phương có một tầm quan trọng bậc nhất đối với tiền tuyến. Chính là vì hậu phương, và chỉ có hậu phương mới cung cấp cho tiền tuyến chẳng những các yêu cầu đủ mọi mặt, mà còn cả binh sĩ, cả tình cảm lẫn tư tưởng nữa. Hậu phương không vững chắc, nhất định sẽ biến những đội quân ưu tú nhất và cố kết nhất thành một nhóm quần chúng không vững vàng và hèn yếu”(3).

Thật vậy, tất cả mọi nhu cầu thuộc về vật chất của quân đội và chiến tranh đều do hậu phương cung cấp. Quân đội là công cụ bạo lực của một quốc gia, với nhiệm vụ chủ yếu là sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu chống quân xâm lược, giải phóng đất nước và bảo vệ Tổ quốc, nên quân đội không phải là lực lượng sản xuất ra của cải cho xã hội và nuôi sống họ. Đây là thành phần xã hội được nhà nước bao cấp toàn bộ. Theo cách luận giải của Ph. Ăngghen: Quân đội tuy không làm ra tiền, song lại tiêu tốn vô số tiền. Tiền ở đây chính là lương thực, thực phẩm, quần áo, giày dép, thuốc chữa bệnh, dụng cụ y tế...; tiền là súng đạn và các phương tiện, thiết bị kỹ thuật quân sự...; đó là chưa kể tới lương cho sĩ quan và phụ cấp cho hạ sĩ quan, chiến sĩ... Hết thảy những loại vật chất này đều phải do nhân dân, hậu phương cung cấp thông qua nhà nước. Thật đúng như Ph. Ăngghen từng khẳng định: không có một quân đội nào do thường dân tổ chức lại có thể tồn tại được trong thực tế, chừng nào nó chưa có một nguồn vật chất to lớn mà một quân đội chính quy hùng mạnh cần có. Tuy vậy, trong thời bình, trong một chừng mực nhất định, quân đội có tiến hành tăng gia sản xuất để cải thiện đời sống cho cán bộ, chiến sĩ, phần nào đó giảm chi phí cho ngân sách nhà nước.

Công tác bảo đảm vật chất của hậu phương cho tiền tuyến nói chung, cho quân đội nói riêng rất quan trọng, bởi có cung cấp đủ cơ sở vật chất cho quân đội mới duy trì được lực lượng này. Đặc biệt hơn, trong điều kiện chiến tranh, công tác bảo đảm vật chất lại càng đóng vai trò quyết định hơn, vì đây chính là cơ sở tạo sức mạnh cho quân đội giành thắng lợi trên chiến trường.

Ở hậu phương, nhân dân đã không quản nắng mưa, nóng rét, ngày đêm lao động quên mình để làm ra lương thực, thực phẩm, của cải và mọi nhu cầu vật chất khác để cung cấp cho quân đội và chiến trường. Đó là nguồn sức mạnh, là nguyên nhân quan trọng của những thắng lợi trên chiến trường. Từ thực tế lãnh đạo đất nước Xôviết tiến hành thắng lợi cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, J. Stalin đã khẳng định rằng: “Thắng lợi của Hồng quân không thể nảo có được nếu không có sự chi viện của nhân dân, không có tinh thần làm việc quên mình của những người Xôviết trong các nhà máy và công xưởng, trong các giếng than và các hầm mỏ, trong vận tải và nông nghiệp”(4). Vậy là, đã “có đủ lý do để nói rằng tinh thần lao động quên mình của những người Xôviết ở hậu phương sẽ được ghi vào lịch sử cùng với cuộc đấu tranh anh dũng của Hồng quân như là một chiến công chưa từng có của nhân dân trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc”(5).

Bên cạnh việc cung cấp về vật chất và tiền của, hậu phương còn là nơi cung cấp nguồn nhân lực thường xuyên cho quân đội và chiến tranh. Để xây dựng và phát triển quân đội cần phải có con người, mà những con người này là con em của nhân dân từ hậu phương cung cấp. Tuy tiêu chí đánh giá một quân đội mạnh không đồng nhất với số lượng quân đông; song thực tế chiến tranh đã khẳng định rằng: nguồn nhân lực hùng hậu là vô cùng quan trọng. Chính V.I. Lênin đã chỉ ra rằng: Trong chiến tranh, ai có nhiều lực lượng hậu bị hơn, ai có nhiều nguồn lực hơn..., thì người đó sẽ thu được thắng lợi; bởi chiến tranh sẽ đồng hành với thương vong, mất mát, nên phải có nguồn lực dự trữ từ hậu phương bổ sung kịp thời để quân đội luôn có đủ sức chiến đấu.

Mặt khác, hậu phương cũng chính là địa bàn đứng chân quan trọng của quân đội. Từ đây, những thanh niên ưu tú từ các thôn, xóm theo lệnh gọi nhập ngũ của nhà nước nhanh chóng tập trung lại ở một địa điểm thích hợp, rồi được biên chế vào đội ngũ, được huấn luyện chuyên môn, kỹ chiến thuật..., được giáo dục tinh thần yêu nước và bảo vệ Tổ quốc - những hành trang cần thiết nhất đảm bảo bản lĩnh và trí tuệ cho từng người lính trước khi ra trận. như vậy, hậu phương là xuất phát điểm đầu tiên của quân đội. Hơn nữa, trong quá trình chiến tranh, không phải khi nào trận nào cũng giành được chiến thắng; vì vậy, sau những trận không thành công, hoặc khi thực hiện kế hoạch tạm lui quân để bố sung lực lượng, vũ khí, thậm chí là huấn luyện bổ sung về kỹ chiến thuật... thì hậu phương - căn cứ địa vẫn là nơi đứng chân, che chở an toàn nhất của các đơn vị sau mỗi mùa chiến dịch.


(1) V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t.35, tr.497.
(2) Bộ Quốc phòng - Trung tâm từ điển bách khoa quân sự: Tử điển bách khoa quân sự Việt Nam, Sđd, tr.453.
(3) J. Stalin: Toàn tập, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, t.4, tr.369.
(4), (5) J. Stalin: Về cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của Liên Xô, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1965, tr.114, 115.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Mười Một, 2014, 06:12:11 AM
Không chỉ đáp ứng lực lượng trực tiếp cầm súng chiến đấu trên chiến trường, mà lực lượng phục vụ chiến đấu cũng chính từ hậu phương cung cấp. Đây là thành phần có vai trò cực kỳ quan trọng, đảm trách việc vận chuyển, chăm sóc thương binh, tải đạn, bảo đảm giao thông... nếu thiếu nó bộ đội khó có thể giành thắng lợi trên chiến trường.

Trong chiến tranh, việc thắng hay bại tất nhiên là phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có chính trị và tinh thần. Lênin từng nói: “Trong mọi cuộc chiến tranh thì thắng lợi, nói cho cùng, là tùy thuộc vào tâm trạng của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường. Lòng tin tưởng rằng chiến tranh mà họ tiến hành là chính nghĩa, sự giác ngộ rằng cần phải hy sinh thân mình vì hạnh phúc của anh em mình, làm cho tinh thần của binh sĩ lên cao và làm cho họ chịu đựng được những khó khăn chưa từng thấy”(1). Chiến tranh là sự hiểm nguy, khốc liệt, là đổ máu, hy sinh; ở đó, ranh giới giữa sự sống và cái chết trở nên vô cùng mỏng manh...; bởi vậy, đòi hỏi người chiến sĩ phải có ý chí và bản lĩnh rất vững vàng. Yếu tố tinh thần sẽ tác động trực tiếp đến kỹ năng chiến đấu của người lính tăng lên hoặc giảm xuống và do đó ảnh hưởng đến thành quả tác chiến trên chiến trường. Như vậy, chính trị và tinh thần thực sự là nhân tố góp phần tạo nên sức mạnh của quân đội, và nguồn sức mạnh này được cung cấp bởi chính hậu phương - nơi sinh ra và lớn lên của người lính. Hậu phương đối với người lính là gia đình, là quê hương, là Tổ quốc. Chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, quê hương và gia đình là nghĩa vụ thiêng liêng, mục đích cao cả của người lính, và cũng chính từ nơi đây đã tiếp thêm sức mạnh tinh thần cho người lính quên mình xông pha chiến đấu lập công.

Nguồn sức mạnh của hậu phương đối với quân đội trước nhất chính là tình thương yêu của quần chúng nhân dân dành cho người lính ngoài mặt trận. Đây là loại tình cảm cao quý và vô cùng đặc biệt; bởi từ tình thương đó mà nhân dân hết lòng chi viện sức người, sức của cho quân đội, cho tiền tuyến. Điều đó chứng tỏ rằng “quân đội đó sẽ có một hậu phương cực kỳ vững chắc, quân đội đó là vô địch”(2).

Nguồn sức mạnh của hậu phương có ý nghĩa chiến lược như vậy, nên trong quá trình chiến tranh, đối phương cũng thường tìm mọi thủ đoạn, cách thức đánh vào hậu phương, nhằm không chỉ đơn thuần là phá hoại về cơ sở vật chất, mà đặc biệt là gây hoang mang dao động về tinh thần đối với người dân, dần dần làm phai nhạt ý chí, làm rạn vỡ sự đoàn kết, thống nhất, thậm chí là làm giảm lòng tin của quần chúng. Điều đó sẽ ngay lập tức gây tác động trực tiếp đến sức chiến đấu của người chiến sĩ trên chiến trường.

Như vậy, có hậu phương vững mạnh tức là có nguồn cung cấp sức người, sức của dồi dào cho tiền tuyến; có nguồn sức mạnh tinh thần to lớn cổ vũ cho người lính chiến đấu trên chiến trường. Ngược lại, nếu hậu phương không vững chắc sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tinh thần và khả năng chiến đấu của quân đội. Thực tế lịch sử chiến tranh đã chứng minh rằng: “một quân đội không có hậu phương vững chắc thì quân đội ấy là cái gì? Chẳng là cái gì cả. Những đội quân lớn nhất, được trang bị tốt nhất, đều đã bị tan rã và biến thành tro bụi, vì không có hậu phương vững chắc, không có sự đồng tình và ủng hộ của hậu phương, của nhân dân lao động”(3).

Thấm nhuần sâu sắc luận điểm hậu phương - nhân tố cơ bản thường xuyên quyết định thắng lợi của khởi nghĩa và chiến tranh của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng luôn thường xuyên coi trọng việc xây dựng hậu phương chiến lược, mà buổi sơ khai ban đầu là những cơ sở cách mạng trong nhân dân. Chính bởi vậy, dù địch tiến hành khủng bố gắt gao, các tổ chức đảng vẫn tồn tại, trụ vững trong lòng dân, không ngừng phát triển về mọi mặt và lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành được những thắng lợi quan trọng.

Để chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, đầu năm 1941, Đảng Cộng sản Đông Dương và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã quyết định chọn Cao Bằng làm nơi đứng chân và xây dựng nơi đây thành căn cứ địa cách mạng Việt Nam. Người khẳng định: Căn cứ Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng nước ta. Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại kề sát biên giới lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi. Nhưng từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được. Có nối được phong trào với Thái Nguyên, với toàn quốc thì khi phát động đấu tranh vũ trang, lúc thuận lợi có thể tiến công, lúc khó khăn có thể giữ. Theo đó, cùng với thời gian, từ Cao Bằng, căn cứ địa được mở rộng ra Bắc Sơn, Đình Cả, Tân Trào rồi phát triển thành khu giải phóng rộng lớn bao gồm nhiều tỉnh Việt Bắc. Tại đây, lực lượng chính trị và vũ trang được xây dựng, những yếu tố của một nhà nước dân chủ nhân dân được hình thành. Và cũng chính từ đây, Đảng và Quốc dân đại hội đã quyết định nhiều vấn đề trọng đại của quốc gia, dân tộc, là nơi phát lệnh Tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8-1945, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Bên cạnh căn cứ địa chiến lược Việt Bắc, hệ thống căn cứ địa cũng khẩn trương được xây dựng ở hầu khắp các khu, tỉnh trên khắp cả nước. Đây chính là tiền đề quan trọng góp phần làm nên thắng lợi nhanh chóng của cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 trên phạm vi toàn quốc.

Tháng 12-1946, khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, chúng ta đã có một hậu phương trải rộng khắp cả nước ở Bắc và Trung Bộ là các khu du kích, các vùng giải phóng của Khu 3, Khu 4, Khu 5...; ở Nam Bộ là các chiến khu - căn cứ hậu phương kháng chiến: chiến khu Đ, chiến khu Dương Minh Châu (Đông Nam Bộ), chiến khu Đồng Tháp Mười, U Minh (Tây Nam Bộ); và đặc biệt, căn cứ địa chiến lược Việt Bắc vẫn là Thủ đô kháng chiến của cả nước. Từ đây, nguồn nhân lực, vật lực - nhân tố quyết định của mọi cuộc khởi nghĩa và chiến tranh, được căn cứ - hậu phương trên toàn quốc cung cấp đã góp phần đưa cuộc kháng chiến chống Pháp từng bước đi đến thắng lợi hoàn toàn. Đặc biệt nhất là chỉ với lực lượng của bốn đại đoàn bộ binh, một đại đoàn công pháo và 22.126 tấn gạo, 992 tấn thịt, 800 tấn rau, 268 tấn muối, 62,7 tấn đường, 917 tấn thực phẩm khác, thêm vào đó là 261.541 dân công, 20.000 xe đạp thổ, 917 ngựa thồ và hàng ngàn thuyền mảng...(4) (lượng vật chất này chủ yếu là từ các vùng căn cứ - hậu phương Tây Bắc, Việt Bắc, Liên khu 3, Thanh Hóa) được huy động cho Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, để đánh đòn chiến lược quyết định, đuổi quân xâm lược Pháp ra khỏi bờ cõi quốc gia là thêm một minh chứng sống động nữa khẳng định quy luật “thực túc binh cường” - nhân tố đảm bảo bằng vàng cho thắng lợi của khởi nghĩa và chiến tranh, chỉ có được khi căn cứ - hậu phưng được thường xuyên xây dựng, củng cố một cách vững chắc. Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; những thành tựu, lý luận và kinh nghiệm được đúc kết từ thực tiễn xây dựng hậu phương trong Cách mạng Tháng Tám 1945, trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, thực sự là cơ sở vững chắc cho công cuộc xây dựng căn cứ - hậu phương chiến lược trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.


(1) V.I. Lênin và J. Stalin: Tầm quan trọng của hậu phương trong chiến tranh cách mạng, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1966, tr.24.
(2) J. Stalin: Sức mạnh của quân đội ta, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nôi, 1975, tr.38.
(3) J. Stalin: Toàn tập, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1965, t.11, tr.33, 34.
(4) Tổng cục Hậu cần; Lịch sử hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, t.1, tr.290.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Mười Một, 2014, 06:17:41 AM
2. Xây dựng hậu phương miền Bắc vững mạnh toàn diện - điều kiện tiên quyết của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Với thắng lợi Điện Biên Phủ, chúng ta đã buộc Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ, chấm dứt chiến tranh. Theo hiệp định, nước ta tạm thời chia làm hai miền, vĩ tuyến 17 là giới tuyến và sau hai năm sẽ tiến hành tổng tuyển cứ thống nhất đất nước. Song, với mưu đồ xâm lược Việt Nam, giới cầm quyền Mỹ tuyên bố không bị ràng buộc bởi Hiệp định Giơnevơ (Mỹ không ký vào văn bản hiệp định), nhanh chóng nhảy vào miền Nam Việt Nam, hất cẳng Pháp, đưa Ngô Đình Diệm về Sài Gòn dựng lên cái gọi là chính quyền Việt Nam Cộng hòa, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, căn cứ quân sự trọng yếu ở khu vực Đông Nam Á, nhằm ngăn chặn và tiến công chủ nghĩa xã hội, phong trào giải phóng dân tộc đang trào dâng trên thế giới.

Như vậy, trên thực tế tại hai miền Nam, Bắc nước ta lúc này tồn tại hai thể chế chính trị - xã hội khác nhau; đồng thời đây cũng là sự đối đầu giữa lực lượng cách mạng với lực lượng phản cách mạng, giữa phong trào giải phóng dân tộc với chủ nghĩa đế quốc. Việt Nam tiếp tục trở thành tâm điểm chú ý của thế giới và nhiệm vụ cách mạng mới cũng đặt ra hết sức khó khăn, nặng nề. Đó là miền Bắc bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện sản lượng công nghiệp (1954) chỉ chiếm 15% tổng sản lượng kinh tế quốc dân. Hầu hết nhà máy, xí nghiệp, bến cảng, cầu cống, đường sắt... bị quân Pháp phá hủy trước khi rút khỏi miền Bắc. Nông nghiệp giữ vai trò chính, nhưng kỹ thuật canh tác vốn lạc hậu, vì chiến tranh nên đã có 143 ngàn hécta đất canh tác bị bỏ hoang, thêm vào đó là hàng chục ngàn hécta nữa không trồng cấy do gần 1 triệu người Công giáo di cư vào Nam bỏ lại đã đẩy nền kinh tế miền Bắc vào tình trạng cực kỳ nghiêm trọng. Mặt khác, các hủ tục, tệ nạn xã hội của chế độ cũ để lại rất trầm trọng; bộ phận lớn dân số đủ mọi lứa tuổi bị mù chữ, nhiều căn bệnh xã hội chưa có khả năng thanh toán, loại trừ do hệ thống y tế nhỏ yếu, lạc hậu(1). Tất thảy thực trạng trên là một thách thức hết sức nghiêm trọng đối với nhân dân miền Bắc trong công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương chiến lược cho cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Tại miền Nam, dưới sự chỉ đạo của Mỹ, tập đoàn cầm quyền Ngô Đình Diệm ngang nhiên vi phạm Hiệp định Giơnevơ, tổ chức tổng tuyển cử riêng rẽ, lập quốc hội, biến miền Nam thành một quốc gia riêng, đồng thời, khẩn trương bắt lính, xây dựng quân đội Việt Nam Cộng hòa, với ngân sách, vũ khí, phương tiện quân sự của Mỹ và trực tiếp do các chuyên gia, cố vấn quân sự Mỹ huân luyện, chỉ huy. Cùng với thời gian, nhiều căn cứ quân sự, hải cảng, kho tàng, căn cứ huấn luyện... nhanh chóng được đầu tư xây dựng trên khắp miền Nam.

Đơn phương tiến hành cuộc chiến tranh chống lại nhân dân miền Nam, bằng chính sách “tố cộng, diệt cộng”, chính quyền Ngô Đình Diệm sử dụng quân đội, cảnh sát mở liên tiếp các cuộc hành quân càn quét, nhằm thanh sát địa bàn, truy sát bắt bớ, thẳng tay chém giết, tù đày những đảng viên cộng sản, người kháng chiến cũ. Hệ thống nhà tù, chuồng cọp, trại cải huấn... của Mỹ - Diệm mọc lên khắp thành thị và nông thôn miền Nam. Máu của các giới đồng bào yêu nước vẫn tiếp tục đổ trên các địa phương từ Quảng Trị, Thừa thiên đến mũi Cà Mau, trên khắp các đường phố đô thị miền Nam và cả ở thành phố Sài Gòn - Gia Định. Cách mạng miền Nam phải từng ngày, từng giờ đối mặt với thử thách cam go và thảm khốc.

Trên thế giới, hệ thống xã hội chủ nghĩa mà Liên Xô là trụ cột giữ vai trò là chỗ dựa tin cậy và vững chắc cho sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta (tuy có những bất đồng nhất định). Phong trào cộng sản quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc chống chủ nghĩa đế quốc, phong trào công nhân và nông dân lao động các nước tư bản chủ nghĩa đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ đang phát triển mạnh mẽ và sâu rộng trở thành hậu thuẫn rất quan trọng cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của ta.

Nhận thức sâu sắc tình hình cách mạng trong nước và quốc tế liên quan, Ban Chấp hành Trung ương Đảng xác định: “Mỹ không những là kẻ thù của nhân dân thế giới, mà Mỹ đang biến thành kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Việt, Miên, Lào(2); muốn chống đế quốc Mỹ và tay sai, củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, thực hiện độc lập dân chủ “điều cốt yếu là phải ra sức củng cố miền Bắc, đồng thời giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam”; và “Củng cố miền Bắc tức là bồi dưỡng lực lượng cơ bản của ta, xây dựng chỗ dựa vững chắc cho nhân dân toàn quốc giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất”(3). Mỹ là đế quốc hiếu chiến, có tiềm lực kinh tế, quân sự hàng đầu thế giới; để đánh bại chúng, không có con đường nào khác là phải huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, mà như Lênin đã nói là phải có một hậu phương được tổ chức vững chắc - hậu phương đó chính là miền Bắc xã hội chủ nghĩa. “Miền Bắc là nền tảng, là gốc rễ của lực lượng đấu tranh của nhân dân ta. Nền có vững, nhà mới chắc. Gốc có mạnh, cây mới tốt”(4). “Củng cố miền Bác phải luôn luôn chiếu cố miền Nam. Củng cố miền Bắc và chiếu cố miền Nam không thể tách rời... Miền Bắc là chỗ đứng của ta. Bất kể trong tình thế nào, miền Bắc cũng phải được củng cố”(5). “Miền Bắc là căn cứ địa chung của cách mạng cả nước... Nhiệm vụ cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc rõ ràng là nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng nước ta, đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà của nhân dân ta(6). Và “Hai nhiệm vụ cách mạng ở miền Bắc và miền Nam thuộc hai chiến lược khác nhau, mỗi nhiệm vụ nhằm giải quyết yêu cầu cụ thể của mỗi miền trong hoàn cảnh nước nhà tạm bị chia cắt làm hai. Song hai nhiệm vụ đó trước mắt đều có một mục tiêu chung là thực hiện hòa bình, thống nhất Tổ quốc, đều nhằm giải quyết mâu thuẫn chung của cả nước là mâu thuẫn giữa nhân dân ta và đế quốc Mỹ cùng bè lũ tay sai của chúng(7).


(1)  Năm 1955, tổng dân số miền Bắc có hơn 13 triệu, nhưng chỉ có 78 cơ sở điều trị với 115 bác sĩ, 3.796 y sĩ và y tá.
(2) Hồ Chính Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.314.
(3), (5) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.16, tr. 577.
(4) Hồ Chính Minh: Toàn tập, Sđd, t.8, tr.67.
(6), (7) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.21, tr. 509-510, 508.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Mười Một, 2014, 06:23:06 AM
Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa - xây dựng hậu phương chiến lược miền Bắc, trước hết phải nhanh chóng ổn định tình hình chính trị và xã hội vốn đang tồn tại nhiều vấn đề phức tạp, đặc biệt là những vùng do đối phương kiểm soát nhiều năm, đẩy mạnh tuyên truyền và giáo dục các tầng lớp nhân dân kiên quyết chống lại những âm mưu và luận điện phá hoại của kẻ địch. Thực hiện Điều 21 của Hiệp định Giơnevơ, nhân dân ta đã đấu tranh buộc Pháp nghiêm chỉnh thi hành việc trao trả tù binh và thường dân bị giam giữ trong chiến tranh(1). Đặc biệt, ta đã tổ chức tiếp quản các khu vực quân Pháp rút đi, nhanh chóng thiết lập và củng cố chính quyền dân chủ nhân dân các cấp trên toàn miền Bắc; từng bước ổn định đời sống cho các tầng lớp nhân dân. Đồng thời, nhân dân các địa phương tổ chức đón tiếp hàng chục vạn cán bộ, chiến sĩ, đồng bào miền Nam tập kết ra Bắc. Đây chính là nguồn nhân lực chiến lược để Đảng Lao động Việt Nam bồi dưỡng và đào tạo thành đội ngũ cán bộ cốt cán trực tiếp chuẩn bị cho công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Cùng với củng cố chính trị và xã hội, công cuộc cải tạo nền kinh tế miền Bắc từ hình thức sở hữu tư nhân sang sở hữu tập thể, sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất; từ nền sản xuất nhỏ lẻ, phân tán, kỹ thuật lạc hậu, tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa... khẩn trương được tiến hành. Miền Bắc đã hoàn toàn giải phóng là điều kiện thuận lợi để toàn Đảng, toàn dân ta hoàn thành việc cải cách ruộng đất, xóa bỏ vĩnh viễn chế độ chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ phong kiến đã tồn tại trong nhiều thế kỷ(2), 810.000 héc ta ruộng đất và nhiều trâu bò cày kéo và nông cụ sản xuất được chia cho 2.104.000 hộ nông dân, sản xuất nông nghiệp được đẩy mạnh, những vùng đất hoang hóa nhanh chóng được khai phá đưa vào trồng cấy. Dù vậy, trong quá trình thực hiện cuộc cải cách ruộng đất, Đảng Lao động Việt Nam cũng mắc phải sai lầm về phương pháp tiến hành. Trong thư gửi đồng bào nông thôn và cán bô ngày 18-8-1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Cải cách ruộng đất là thắng lợi to lớn, nhưng chúng ta đã mắc những khuyết điểm, sai lầm nghiêm trọng. “Chúng ta cần phải phát huy những thắng lợi đã thu được, đồng thời chúng ta phải kiên quyết sửa chữa những sai lầm”; “Việc sửa chữa phải kiên quyết và có kế hoạch. Việc gì sửa được ngay thì phải làm ngay. Việc gì chưa sửa được ngay thì phải kết hợp trong kiểm tra lại mà làm”(3). Việc làm này không chỉ mang lại quyền lợi thiết thực - thỏa niềm mơ ước ước bao đời của người nông dân, mà còn góp phần khôi phục và củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, với cách mạng. Và, sản lượng lương thực ở miền bắc năm 1956 đã đạt 4 triệu tấn (1939 chỉ là 2 triệu tấn).

Đi đôi với nông nghiệp, các ngành nghề sản xuất tiểu thủ công nghiệp được khuyến khích mở rộng; các cơ sở công nghiệp còn lại khẩn trương được khôi phục và nâng dần quy mô sản xuất. Các tổ đổi công, hợp tác xã mua bán, hợp tác xã tín dụng được thành lập. Đặc biệt, những cơ sở công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng trực tiếp phục vụ đời sống nhân dân được tập trung xây dựng và đi vào sản xuất đạt hiệu quả cao. Đến năm 1956, ta đã khôi phục được 29 xí nghiệp cũ, xây dựng thêm 55 xí nghiệp mới; hệ thống giao thông thủy bộ và đường sắt cơ bản được khôi phục. Kinh tế quốc doanh đã nắm chắc phần lớn các ngành then chốt và giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân.

Bên cạnh đó, các ngành giáo dục, y tế và văn hóa có bước phát triển mới và thu được những thành tựu bước đầu. Về giáo dục, nạn mù chữ đã cơ bản được thanh toán, hệ thống giáo dục phổ thông với chương trình 10 năm được xác lập, giáo dục đại học và trung học chuyên nghiệp từng bước phát triển(4) cả về số lượng, chất lượng và phạm vi ngành nghề. Về y tế, các cơ sở khám chữa bệnh được khẩn trương củng cố và phát triển(5), phong trào vệ sinh dịch tễ được tăng cường, các bệnh truyền nhiễm, bệnh xã hội dần được đẩy lùi. Về văn hóa - xã hội, phong trào văn nghệ quần chúng, thể dục thể thao, phim ảnh, sách báo... hoạt động sôi nổi và rộng khắp thành thị và nông thôn đã góp phần quan trọng vào việc đẩy lùi từng bước tàn dư hủ bại của chế độ phong kiến thực dân còn tồn tại trong nhân dân.

Như vậy, chỉ sau ba năm khôi phục kinh tế, thu nhập quốc dân đã đạt rồi vượt mức so với thời kỳ trước chiến tranh. Đời sống của nhân dân miền Bắc đi vào ổn định. Đây thực sự là bước chuẩn bị đầu tiên cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội - xây dựng hậu phương miền Bắc, tạo hậu thuẫn vững chắc cho sự nghiệp giải phóng miền Nam.

Tiếp đà thắng lợi của những năm đầu khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, miền Bắc bước vào thực hiện kế hoạch cải tạo và phát triển kinh tế, văn hóa (1958 - 1960). Với nhận thức sâu sắc rằng: “Phát triển kinh tế và văn hóa tức là dần dần xây dựng chủ nghĩa xã hội. Xây dựng chủ nghĩa xã hội là một cuộc đấu tranh cách mạng phức tạp, gian khổ và lâu dài”(6), Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) đã họp, ra Nghị quyết 14 về phát triển kinh tế và phát triển văn hóa trong 3 năm (1958 - 1960) và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với kinh tế cá thể của nông dân, thợ thủ công, người buôn bán nhỏ và kinh tế tư bản tư doanh; Nghị quyết về vấn đề hợp tác hóa nông nghiệp và Nghị quyết về cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, để định hướng chỉ đạo cụ thể đối với các cấp, các ngành, địa phương trên toàn miền Bắc.


(1) Ta đã trao trả cho Pháp 6.800 tù binh Âu - Phi, 2.360 tù binh người Việt. Đổi lại, phía Pháp đã trao trả cho ta 7.350 tù binh, 18.350 tù chính trị và 37.900 thường dân bị giam giữ.
(2) Đến tháng 7-1956, đợt 5 cải cách ruộng đất đã kết thúc ở toàn bộ vùng đồng bằng, trung du và 280 xã miền núi, với kết quả là: chia 344.000 hécta ruộng đất cho nông dân, hoàn thành việc xóa bỏ giai cấp địa chủ và tàn dư chế độ phong kiến ở miền Bắc.
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.8, tr.236
(4) Năm học 1956 - 1957, toàn miền Bắc có 606.000 học sinh mầm non, 925.000 học sinh phổ thông, 7.783 học sinh trung học chuyên nghiệp, 3.664 sinh viên đại học.
(5) Năm 1967, miền Bắc đã có 55 bệnh viện, 13 viện điều dưỡng, 85 bệnh xá với tổng số 19.700 giường bệnh, 362 nhà hộ sinh và 5.130 ban phòng bệnh.
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.9, tr.2.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Mười Một, 2014, 06:23:55 AM
Thắng lợi của kế hoạch ba năm khôi phục kinh tế và hàn gắn vết thương chiến tranh (1955 - 1957) thực sự là nguồn lực thúc đẩy toàn dân nỗ lực hết mình trong việc thực hiện kế hoạch cải tạo và phát triển kinh tế, văn hóa (1958 - 1960). Kết quả là, nếu giữa năm 1958, ở nông thôn miền Bắc, số hộ nông dân tham gia tổ đổi công đạt 41% và có 134 hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, đến giữa năm 1959, số hộ nông dân tham gia tổ đổi công đã lên tới 70% (gồm 246.965 tổ) và 7.000 hợp tác xã sản xuất nông nghiệp (chiếm 8% tổng số nông hộ), trong đó có 119 hợp tác xã bậc cao, thì đến hết năm 1960 đã có 84,8% tổng số hô nông dân miền Bắc gia nhập hợp tác xã, với 41.000 hợp tác xã, trong đó có 4.346 hợp tác xã bậc cao (chiếm 12% tổng số hợp tác xã), tập trung được 76% tổng diện tích đất đai canh tác. Cơ cấu cây trồng và vật nuôi phát triển có kế hoạch hợp lý, các thành tựu khoa học - kỹ thuật được áp dụng, công cụ lao động được cải tiến… đã tạo ra mức tăng trưởng hằng năm đạt 5,6%. Với thành quả này, nông nghiệp đã góp phần quan trọng để phát triển công nghiệp chế biển nông sản - thực phẩm, xuất khẩu và cải thiện đời sống nhân dân. Ngoài ra, với nghề cá có 520 hợp tác xã (chiếm 77,2%), nghề muối có 269 hợp tác xã (chiếm 85%). Điều quan trọng là, với hình thức hợp tác xã nông nghiệp được thành lập, không chỉ tạo thuận lợi để áp dụng các biện pháp khoa học, cải tiến kỹ thuật sản xuất, khắc phục khó khăn về thiên tai, tư liệu sản xuất… mà, chính đây là nơi gắn kết quan hệ cộng đồng, làng xóm trong lao động sản xuất và đời sống thường nhật ngày thêm chặt chẽ, nhân cách sống “mình vì mọi người và mọi người vì mình” được phát huy đến đỉnh cao - một vấn đề có tính quyết định để động viên nhân lực, vật lực cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội - xây dựng hậu phương chiến lược của cả nước cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.

Đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh ở miền Bắc, Đảng và Chính phủ chủ trương thực hiện chính sách cải tạo hòa bình. Bởi, chúng ta đã có nhà nước dân chủ nhân dân, do giai cấp công nhân lãnh đạo, dựa trên nền tảng liên minh công - nông vững chắc, có lực lượng kinh tế quốc doanh đóng vai trò chủ đạo. Giai cấp tư sản miền Bắc rất nhỏ, yếu, số lượng ít và chỉ thuộc loại vừa và nhỏ, vốn là “bạn đồng minh” của giai cấp công nhân trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân; sau hòa bình lập lại, đại bộ phận tán thành Cương lĩnh của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tán thành chế độ mới và chấp nhận chủ trương cải tạo xã hội chủ nghĩa theo phương pháp hòa bình. Điểm mấu chốt về kinh tế trong chính sách cải tạo hòa bình công thương nghiệp tư bản tư doanh là chuộc lại tư liệu sản xuất và trả dần tiền chuộc cho nhà tư sản. Song cùng với nó là sắp xếp công ăn việc làm cho họ trong nhà máy, xí nghiệp; từng bước cải tạo họ thành người lao động. Xí nghiệp tư bản tư doanh cải tạo theo hình thức công tư hợp doanh hoặc xí nghiệp hợp tác (chủ yếu là công tư hợp doanh). Công nhân là những người trực tiếp tham gia cải tạo người tư sản với nguyên tắc: đoàn kết - đấu tranh - đoàn kết.

Với đường lối, chủ trương, chính sách hợp lý, thuận lòng người trong công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, nên đến cuối năm 1960, 100% số cơ sở công thương nghiệp tư bản tư doanh thuộc diện cải tạo đã được tổ chức thành xí nghiệp công tư hợp doanh, xí nghiệp hợp tác. Gần một vạn công nhân được giải phóng khỏi ách áp bức của tư bản, 1.533 tư sản được cải tạo thành người lao động, gần 90% tổng số thợ thủ công thuộc diện cải tạo đã tham gia các hợp tác xã thủ công nghiệp vừa và nhỏ, hơn 70.000 thợ thủ công chuyển sang sản xuất nông nghiệp; đồng thời, 60% tổng số người buôn bán nhỏ, làm dịch vụ và kinh doanh thuộc diện cải tạo đã tham gia hợp tác xã, tổ mua bán, làm đại lý cho thương nghiệp quốc doanh và trên 10.000 người đã chuyển sang lao động sản xuất.

Cùng với kết quả của công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, thành phần kinh tế quốc doanh có bước phát triển mạnh mẽ; nông trường quốc doanh từ 16 nông trường (1957) đã phát triển lên 59 nông trường (1960). Đến năm 1960, công nghiệp quốc doanh chiếm 89,9% tổng giá trị sản lượng công nghiệp; vận tải quốc doanh chiếm 79,7% tổng khối lượng vận tải hàng hóa; thương nghiệp quốc doanh chiếm 49,5%. Công nghiệp nhẹ và công nghiệp thực phẩm năm 1960 so với 1957 tăng 60,4%. Công nghiệp địa phương có bước phát triển vượt bậc, năm 1960 tăng gấp 10 lần so với năm 1957.

Đến đây, chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa dưới hình thức toàn dân và tập thể, cùng với nó là quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa đã được xác lập trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Thu nhập quốc dân tính theo đầu người năm 1960 tăng gấp đôi so với năm 1955, sức mua của xã hội tăng 70%. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân lao động được nâng cao một bước.

Cùng với thành tựu về cải tạo và phát triển về kinh tế, văn hóa, giáo dục và y tế qua 3 năm (1958 - 1960) cũng thu được kết quả rất đáng tự hào. Về giáo dục và đào tạo; so với năm 1957, năm 1960, số học sinh phổ thông tăng gấp 2 lần, học sinh trung cấp chuyên nghiệp tăng 4 lần, sinh viên đại học tăng 4 lần. Riêng niên học 1960 - 1961, miền Bắc có 1.900.000 học sinh phổ thông, 30.700 học sinh trung cấp chuyên nghiệp, 13.800 sinh viên đại học. Về văn hóa: năm 1960 đã xuất bản 27.500.000 cuốn sách, 68.000.000 tờ báo và tạp chí, 101 bộ phim, phát triển được 190 đội chiếu bóng, 54 đoàn nghệ thuật sân khấu, 2.965 nhà văn hóa, 211 trạm truyền thanh... Về y tế: năm 1960 có 203 bệnh viện và trạm y tế; các bệnh truyền nhiễm và bệnh xã hội cơ bản được thanh toán...


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Mười Một, 2014, 06:26:26 AM
Đặc biệt, đối với nhiệm vụ quân sự, ngay từ tháng 9-1954, Bộ Chính trị đã xác định: “Bất cứ tư tưởng và hành động nào cho là đình chiến rồi thì mọi việc đều tốt đẹp rồi bỏ rơi việc chuẩn bị chiến đấu, để cho tinh thần đấu tranh uể oải, lơ là việc xây dựng lực lượng vũ trang, đều là sai lầm nguy hiểm... Cho nên tăng cường Quân đội nhân dân là nhiệm vụ rất quan trọng của Đảng, Chính phủ và của toàn thể nhân dân ta”(1).

Để bảo vệ thành quả cách mạng ở miền Bắc và sẵn sàng chi viện chiến trường miền Nam đánh Mỹ, Quân đội nhân dân Việt Nam được đầu tư xây dựng theo hướng từng bước tiến lên chính quy, hiện đại. Các binh chủng và quân chủng được thành lập. Quân số được duy trì ở mức độ thích hợp, vũ khí và trang bị kỹ thuật được tăng cường, được huấn luyện một cách bài bản và được bố trí theo phương án phòng thủ chiến lược quốc gia. Đối với quân thường trực, số lượng được tinh giảm. Một số đơn vị được chuyển sang xây dựng các nông trường làm kinh tế tại những địa bàn chiến lược trọng điểm - thực hiện nhiệm vụ kết hợp làm kinh tế với quốc phòng. Đặc biệt tháng 3-1959, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thông qua Luật nghĩa vụ quân sự, nhằm chủ động chuẩn bị trực tiếp lực lượng hậu bị cho chiến trường miền Nam đánh Mỹ. 330.000 cán bộ, chiến sĩ từ miền Nam, Lào và Campuchia tập kết ra miền Bắc và các đại đoàn chủ lực, lực lượng vũ trang liên khu, tỉnh được nhanh chóng chấn chỉnh, biên chế thành các sư đoàn, trung đoàn bộ binh. Các đơn vị phòng thủ bờ biển, biên phòng, bảo vệ giới tuyến được thành lập. Các đơn vị binh chủng, viện quân y, hệ thống cơ xưởng và kho tàng được biên chế, bố trí, sắp xếp theo phương án phòng thủ miền Bắc.

Thực hiện nhiệm vụ 5 năm xây dựng quân đội tiến lên chính quy và tương đối hiện đại (Hội nghị Trung ương 12 thông qua), tổng quân số bộ đội thường trực giảm xuống còn 160.000, biên chế thành 7 sư đoàn, 6 lữ đoàn và 12 trung đoàn độc lập và một số đơn vị binh chủng khác. Cơ cấu tổ chức và biên chế được điều chỉnh căn bản, từ chỗ bộ binh chiếm ưu thế tuyệt đối, đến năm 1960, tỷ lệ bộ binh và binh chủng kỹ thuật đã tương xứng với nhau; 51%/49%. Vũ khí, trang bị (nhất là hỏa lực và sức cơ động) từng bước được đổi mới nhờ sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Đặc biệt hơn, 37.250 cán bộ quân sự, chính trị, hậu cần - kỹ thuật từ cấp trung đội trở lên hoặc được bổ túc, hoặc được đào tạo chính quy tại các trường quân sự trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, hệ thống điều lệnh, điều lệ được khẩn trương biên soạn và đưa vào vận dụng trong toàn quân, nhằm đưa bộ đội vào nền nếp chính quy, tăng cường sức mạnh và khả năng chiến đấu cho quân đội. Việc huấn luyện quân sự ở các đơn vị đi vào nền nếp, nội dung sát thực, phương pháp luôn được cải tiến phù hợp. Qua thực tế huấn luyện, bản lĩnh chiến đấu, trình độ kỹ chiến thuật và chỉ huy của cán bộ được nâng cao. Phương án tác chiến hiệp đồng quân binh chủng quy mô cấp trung đoàn, sư đoàn được dự tính và từng bước triển khai huấn luyện.

Được xác định là nhân tố quyết định bản lĩnh và sức mạnh của quân đội, công tác đảng - công tác chính trị luôn được các cấp lãnh đạo, chỉ huy đơn vị toàn quân thường xuyên đặc biệt coi trọng. Bắt đầu từ năm 1957, đại hội đảng bộ từ cấp tiểu đoàn trở lên được tiến hành thường xuyên theo nhiệm kỳ. Tháng 1-1958, Hội nghị chính ủy và chủ nhiệm chính trị toàn quân đã họp, bàn bạc và quyết nghị về tính chất, nhiệm vụ và nội dung công tác đảng, công tác chính trị; chức trách và quyền hạn của các cơ quan chính trị trong các đơn vị toàn quân. Thêm vào đó, theo chỉ đạo của Tổng cục Chính trị, các đơn vị toàn quân đã mở nhiều đợt nghiên cứu, học tập lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, thường xuyên quán triệt các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, tích cực tham gia các cuộc vận động lớn, nhằm “rèn luyện lập trường quan điểm giai cấp vô sản cho đảng viên”, “xây dựng chi bộ vững mạnh”... Thông qua những việc làm thực tế này đã lôi cuốn, thúc giục toàn thể cán bộ, đảng viên nỗ lực phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được gia. Cũng từ đây, hàng chục ngàn đoàn viên, thanh niên đã nỗ lực phấn đấu gia nhập Đảng. Và đến năm 1960, tỷ lệ đảng viên trong toàn quân đã chiếm gần 40% tổng quân số. Đây thực sự là nhân cốt của sức mạnh để bảo vệ hậu phương miền Bắc và để sẵn sàng chi viện miền Nam đánh Mỹ xâm lược.

Những bước tiến toàn diện, vững chắc của hậu phương miền Bắc hơn 5 năm đầu sau hòa bình lập lại đã góp phần quan trọng, tạo thế vững chắc cho Đảng và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mở rộng quan hệ quốc tế. Các đoàn đại biểu đảng và chính phủ các nước xã hội chủ nghĩa và nhiều quốc gia dân chủ đến thăm và hội đàm với Đảng và Chính phủ Việt Nam; ngược lại, nhiều đoàn đại biểu Đảng và Nhà nước Việt Nam đi thăm và hội đàm với lãnh đạo các nước trong khu vực và trên thế giới đã tạo sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau ngày thêm sâu sắc hơn. Cũng từ đây, nhân dân Việt Nam nhận được sự đồng tình và giúp đỡ cả về vật chất và tinh thần của chính phủ và nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa và nhiều quốc gia khác dành cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam.

Những thành tựu giành được cả trong đối nội và đối ngoại của những năm đầu tiên này đã góp phần làm cho hậu phương miền Bắc ngày càng ổn định vững chắc. Khẳng định giá trị vô địch của hậu phương miền Bắc, Báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu Đảng Lao động Việt Nam lần thứ III (9-1960) chỉ rõ: “Miền Bắc là căn cứ địa chung của cách mạng cả nước, sự lớn mạnh không ngừng của miền Bắc không những nâng cao lòng tin tưởng và cổ vũ tinh thần hăng hái cách mạng của đồng bào yêu nước ở miền Nam, mà còn làm cho lực lượng so sánh giữa cách mạng và phản cách mạng trên phạm vi cả nước ta càng nghiêng về phía cách mạng, tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng miền Nam phát triển mạnh mẽ và giành thắng lợi cuối cùng”(2). Báo cáo còn nhấn mạnh; “Tích cực đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội thì có thể tạo điều kiện cho cách mạng miền Nam phát triển mạnh mẽ và giành được thắng lợi”(3). Theo đó, miền Bắc bước vào giai đoạn cách mạng mới - với nhiệm vụ đẩy mạnh xây dựng chủ nghĩa xã hội, trọng tâm là thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965), tăng cường chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến miền Nam đánh thắng chiến lược chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ.


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.15, tr.305-306.
(2), (3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.21, tr.509, 510.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Mười Một, 2014, 06:27:51 AM
Tuy đã giành được những kết quả to lớn và đúc rút được nhiều kinh nghiệm xương máu trong 5 năm đầu đặt nền móng cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhưng khi triển khai thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, miền Bắc thực sự còn phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng. Đó là quan hệ sản xuất mới vừa mới được xác lập, trình độ sản xuất còn lạc hậu, nền kinh tế nông nghiệp nhỏ lẻ, manh mún, kỹ thuật lạc hậu, năng suất thấp và bấp bênh; công nghiệp nhỏ bé và lạc hậu, thiếu những ngành mũi nhọn, chưa đáp ứng được nhu cầu về tư liệu sản xuất… đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật và công nhân lành nghề số lượng ít ỏi, không đồng bộ; trình độ giác ngộ xã hội chủ nghĩa của một bộ phận lớn cán bộ, công nhân viên còn hạn chế. Chính do vậy, Đảng và nhân dân miền Bắc xác định: tiến hành xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội phải song song với tiếp tục củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa.

Nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ và mục tiêu kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, Đảng Lao động Việt Nam tập trung lãnh đạo việc xây dựng bước đầu cơ sở vật chất - kỹ thuật và coi đây là nhân tố quyết định nhất trong giai đoạn quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, nhằm phát triển sức sản xuất và tăng cường quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, mở mang kinh tế quốc doanh - lực lượng chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân và giúp đỡ các hợp tác xã nông nghiệp, thủ công nghiệp, đẩy mạnh cải tiến kỹ thuật, cải tiến công cụ sản xuất,. Cải tạo quan hệ sản xuất là một khâu quan trọng, cần phải giải quyết dứt điểm việc đưa quần chúng lao động vào các hợp tác xã, chuyển hợp tác xã bậc thấp lên bậc cao, tăng cường công tác củng cố và quản lý các hợp tác xã cho phù hợp với yêu cầu phát triển của sức sản xuất. Đồng thời với phát triển nông nghiệp và công nghiệp, Đảng Lao động Việt Nam còn chủ trương thực hiện một bước việc ưu tiên phát triển công nghiệp nặng cùng với ra sức phát triển nông nghiệp toàn diện và công nghiệp nhẹ; xây dựng cơ cấu công nghiệp hiện đại với các ngành công nghiệp điện lực, gang thép, chế tạo cơ khí… tạo tiền đề cho việc đổi mới kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động. Với đặc thù kinh tế truyền thống của ta, phải dựa vào nông nghiệp mà tiến lên, giải quyết vững chắc vấn đề lương thực là chủ yếu. Phát triển nông nghiệp để tạo chỗ dựa cho việc thực hiện từng bước công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa. Công nghiệp nặng, nông nghiệp và công nghiệp nhẹ có quan hệ mật thiết với nhau, thúc đẩy nhau phát triển.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương có rồi, phải có biện pháp làm tốt, chủ nghĩa xã hội là phải có biện pháp - kế hoạch một phần, biện pháp phải hai phần và quốc tế phải ba phần; và muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa. Thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Người, toàn Đảng, toàn dân tiến hành đợt chỉnh huấn mùa Xuân 1961 - đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, nhằm xây dựng nên hình tượng con người mới Việt Nam xã hội chủ nghĩa, có nhận thức sâu sắc quan điểm: tất cả phục vụ sản xuất, cần kiệm xây dựng đất nước, tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, làm cơ sở tiên quyết cho việc thực hiện thắng lợi nghĩa vụ của hậu phương lớn miền Bắc đối với tiền tuyến lớn miền Nam. Riêng với công tác xây dựng Đảng, Trung ương đề ra chủ trương cải tiến công tác giáo dục lý luận và chính trị (3-1962) và mở cuộc vận động “xây dựng chi bộ và đảng bộ bốn tốt (6-1962), nhằm bồi dưỡng tư tưởng vô sản, chống ảnh hưởng của tư tưởng tư sản, tiểu tư sản, tiếp tục xóa bỏ tàn tích của tư tưởng phong kiến, xây dựng ý thức làm chủ nhà nước và tinh thần tập thể xã hội chủ nghĩa, quan điểm phục vụ sản xuất, cần kiệm, chống quan liêu, tham ô, lãng phí, nâng cao hiểu biết cho toàn Đảng về kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật, quản lý, tiến hành kiện toàn tổ chức và cải tiến lề lối làm việc từ trung ương đến cơ sở… Từ đây, nhận thức của đảng viên và các cấp bộ đảng về đặc điểm của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, tính chất khó khăn và lâu dài của nó, quan hệ máu thịt của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc với sự nghiệp chống Mỹ ở miền Nam đã được nâng lên một bước. Tiếp đó, Tổng Công đoàn Việt Nam phát động phong trào thi đua phấn đấu trở thành tổ, đội lao động xã hội chủ nghĩa trong tất cả các bộ ngành toàn miền Bắc. Đó là, trong nông nghiệp, có phong trào “Thi đua học tập, đuổi kịp và vượt hợp tác xã Đại Phong”; trong công nghiệp có phát triển “học tập Duyên Hải, thi đua với Duyên Hải”; trong quân đội có phong trào thi đua “Ba nhất”; trong ngành giáo dục có phong trào thi đua “Hai tốt”… Đặc biệt hơn, từ đây hàng ngàn đội thanh niên xung kích ra đời, thu hút hàng triệu thanh niên ưu tú, hăng hái tiến quân vào mặt trận khoa học - kỹ thuật, giữ vai trò nòng cốt trong các phong trào xung phong tình nguyện phấn đấu vượt kế hoạch 5 năm. Kết quả cụ thể là:

Về nông nghiệp, tổng sản lượng lương thực đạt 5,8 triệu tấn (tăng 8,8% so với năm 1960), khai hoang thêm 30 vạn hécta đất canh tác của năm 1961 tạo đà, miền Bắc bước vào thực hiện cuộc vận động do Bộ Chính trị (11-1960) và Nghị quyết Hội nghị quản lý hợp tác xã của Ban Bí thư Trung ương (12-1961) về “Cải tiến quản lý hợp tác xã, cải tiến kỹ thuật nhằm phát triển nông nghiệp toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc”. Sau kết quả và những kinh nghiệm rút ra từ đợt thí điểm cải tiến công tác quản lý tại 1.052 hợp tác xã và đưa 33,7% hợp tác xã lên bậc cao vào năm 1962, toàn miền Bắc đã triển khai đại trà cuộc vận động và nhanh chóng thu được những kết quả tốt. Đến năm 1965, số hội nông dân vào hợp tác xã nông nghiệp đã lên tới 88,8%, trong đó hợp tác xã bậc cao đạt 71,7%. Nền nông nghiệp hợp tác hóa cùng với giai cấp nông dân tập thể đã hình thành và không ngừng lớn mạnh; sự đồng thuận về chính trị và tinh thần trong các tầng lớp nhân dân ngày càng cao. Đây chính là động lực thúc đẩy nông nghiệp có những bước chuyển về chất: tổng sản lượng nông nghiệp hằng năm tăng 4,1%, năm 1965 có 9 huyện và 125 hợp tác xã đạt năng suất bình quân năm đạt từ 5 tấn/hécta gieo trồng trở lên. Song hành với những thành quả đạt được, khối lượng cơ sở vật chất kỹ thuật của các hợp tác xã cũng tăng nhanh. Đến năm 1965, đã có 3.139 điểm cơ khí nhỏ, 7 trạm và 32 đội máy cày, kéo được xây dựng, 33 công trình thủy lợi lớn, 1.500 công trình vừa và nhỏ được khôi phục và xây dựng bảo đảm việc chủ động tưới tiêu cho hơn 500.000 hécta canh tác. Như vậy, nông nghiệp miền Bắc đã từ lạc hậu, độc canh, năng suất thấp, mang tính tự cấp, tự túc dần trở thành nền nông nghiệp phát triển tương đối toàn diện và có tỷ suất hàng hóa từng bước được nâng lên. Nông nghiệp đã góp phần giải quyết được phần lớn nhu cầu lương thực cho nhân dân, đáp ứng một phần nguyên liệu cho công nghiệp và xuất khẩu. Tuy nhiên, về trình độ quản lý, cơ sở vật chất, nhất là công cụ sản xuất… vẫn chưa tương xứng với yêu cầu, vẫn cần phải tiếp tục đầu tư nâng cấp và phát triển.

Đối với công nghiệp, bên cạnh việc cải tiến, nâng cấp các cơ sở sản xuất công nghiệp nhỏ bé chủ yếu là khai thác nguyên liệu và sửa chữa nhỏ thành cơ sở sản xuất một phần tư liệu sản xuất và những vật phẩm tiêu dùng thiết yếu cho nhân dân; những khu công nghiệp mới được khẩn trương đầu tư xây dựng như: gang thép Thái Nguyên, nhiệt điện Uông Bí, thủy điện Thác Bà, sứ Hải Dương, pin Văn Điển, dệt 8-3 và dệt kim Đông Xuân… Dù vậy, công nghiệp chưa thể đáp ứng được nhu cầu thiết yếu đặt ra của nền kinh tế cũng như đời sống của nhân dân.

Để khắc phục tình trạng này, Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương mở rộng (4-1962) bàn việc xây dựng và phát triển công nghiệp trong kế hoạch 5 năm lần thứ hai: “Xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cân đối và hiện đại, kết hợp nông nghiệp với công nghiệp, lấy công nghiệp làm nền tảng, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ”. Tiếp đó, Bộ Chính trị phát động cuộc vận động “Nâng cao tinh thần trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế - tài chính, cải tiến kỹ thuật, chống tham ô, lãng phí, quan liêu” trong ngành công nghiệp (7-1963). Với đường hướng, chủ trương, biện pháp kịp thời, sát thực; biết khích lệ tinh thần quần chúng đúng lúc đã tạo nên một “cú hích” mạnh đối với ngành công nghiệp miền Bắc để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho các ngành mũi nhọn như: điện lực, cơ khí. Luyện kim, hóa chất, vật liệu xây dựng... Do vậy, năm 1965, công suất điện năng miền Bắc đã tăng gấp 10 lần so với năm 1955; cơ khí tăng 30% năm. Cũng đến năm 1965, miền Bắc đã xây dựng 1.132 xí nghiệp công nghiệp quốc doanh. Đặc biệt, đội ngũ cán bộ có bước phát triển vượt bậc cả về số lượng và chất lượng. Đến năm 1965, toàn miền Bắc đã có 650.000 cán bộ và công nhân công nghiệp và thủ công nghiệp, trong đó có 2.615 người có trình độ đại học, 11.603 người có trình độ trung cấp. Và kết quả là, giá trị tổng sản lượng công nghiệp tăng từ 1.248 triệu đồng (1960) lên 2.365 triệu đồng (1965).


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Mười Một, 2014, 06:31:27 AM
Thành quả quan trọng nhất của công nghiệp trong 5 năm (1961 - 1965) chính là trực tiếp phục vụ hiệu quả cho nông nghiệp trong các khâu thủy lợi, nông cụ, thiết bị kỹ thuật nông nghiệp, phân bón, thuốc trừ sâu… Cụ thể, tư liệu sản xuất cho nông nghiệp đã tăng trung bình 25% năm, so với năm 1960, năm 1965, cải tiến tăng 3,7 lần, bơm thuốc trừ sâu tăng 4,5 lần, máy bơm nước tăng 10 lần, điện tăng 7,5 lần, phân hóa học tăng 2,8 lần, thuốc trừ sâu tăng 8,1 lần… Đây là yếu tố quan trọng để các hợp tác xã mở rộng quy mô, cải tiến quản lý, tiếp tục xây dựng và cải tiến cơ sở vật chất - kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu thâm canh tăng năng suất cây trồng theo hướng toàn diện, vững chắc.

Đời sống vật chất được cải thiện đã tạo cho ngành giáo dục và đào tạo có điều kiện phát triển tốt. Hầu hết các xã vùng đồng bằng và nhiều xã miền núi có trường phổ thông cấp 1 và cấp 2, huyện có trường cấp 3. So với năm 1960 thì năm 1965, số trường phổ thông các cấp tăng từ 7.066 lên 10.294, số lượng học sinh từ 1.889.600 lên 2.934.900, trong đó, học sinh cấp 3 tăng từ 26.000 lên 78.000; về đào tạo đại học và trung học chuyên nghiệp, từ 9 trường đại học với 8.100 sinh viên lên 18 trường với 34.000 sinh viên và hàng chục trường trung cấp chuyên nghiệp với hơn 6 vạn học sinh. Đến năm 1965, trong tổng dân số 16 triệu người miền Bắc đã có tới 4,5 triệu người đi học.

Cùng với giáo dục và đào tạo, hệ thống mạng lưới y tế được hình thành từ thành thị đến nông thôn. Cũng đến năm 1965, 70% số huyện đã có bệnh viện, 90% số xã ở đồng bằng, 70% số xã miền núi có bệnh xá, với tổng số 1.525 bác sĩ, 8.043 y sĩ… Bên cạnh đó, đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện; mỗi năm có khoảng 2.000 đầu sách được xuất bản, số thư viện năm 1965 tăng 3 lần so với 1960. Năm 1965, miền Bắc đã có hơn 100 đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp và phim ảnh…

Đối với nhiệm vụ chiến lược xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, mà nòng cốt là Quân đội nhân dân - công cụ bạo lực để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế giúp cách mạng Lào và Campuchia anh em, Đảng Lao động Việt Nam chủ trương đẩy mạnh phát triển cả về lượng lẫn về chất tất cả các thành phần lực lượng. Ngoài những đơn vị từ miền Nam tập kết được tổ chức thành các lữ đoàn bộ binh, được trang bị hỏa lực mạnh, huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật bài bản, sẵn sàng trở lại chiến trường miền Nam chiến đấu khi có lệnh; năm 1963, số quân thường trực miền Bắc có khoảng 173.500 cán bộ, chiến sĩ (chiếm khoảng 1% dân số); gồm các sư đoàn binh chủng hợp thành của Bộ được biên chế đầy đủ về quân số, trang bị, vũ khí, được đào luyện cơ bản về kỹ thuật, chiến thuật, có thể lực tốt và khả năng chịu đựng gian khổ, sẵn sàng lên đường vào Nam chiến đấu; đồng thời một số các khung sư đoàn thời bình được chuẩn bị chu đáo (khung cán bộ và quân rút gọn), khi có lệnh là bổ sung đủ quân số, vũ khí, trang bị là lên đường được ngay. Cũng năm 1965, bộ đội địa phương được xây dựng lại với quân số 4,6 vạn người. Bên cạnh đó là 1,4 triệu dân quân, tự vệ (với 1/5 quân số được trang bị vũ khí) và 1,2 triệu quân dự bị, trong đó có 18 vạn thuộc dự bị loại 1 được quản lý chặt chẽ theo kiểu “ngụ binh ư nông” truyền thống, sẵn sàng chấp hành lệnh động viên để tăng cường cho quân thường trực khi cần thiết.

Mặt khác, tháng 10-1962, lực lượng phòng không và không quân được hợp nhất lại và tổ chức thành quần chúng Phòng không - Không quân, với biên chế 12 trung đoàn, 17 tiểu đoàn; mạng lưới rađa cảnh giới phòng không được triển khai rộng khắp, hệ thống sân bay được phục hồi, đầu tư nâng cấp và xây dựng mới… Lực lượng hải quân xây dựng 4 tiểu đoàn tàu làm nhiệm vụ tuần tiễu, vận tải, săn ngầm. Lực lượng phòng thủ bờ biển tổ chức thành những đơn vị binh chủng hợp thành, chốt giữ tại các trọng điểm. Đồng thời, theo địa bàn lãnh tổ các quân khu được thành lập, Bộ tư lệnh quân khu là cơ quan quân sự cao nhất chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo công tác quân sự - quốc phòng trên địa bàn quân khu.

Cùng với xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt cho sự nghiệp bảo vệ hậu phương miền Bắc và sẵn sàng chi viện chiến trường miền Nam, để tạo thế “sâu rễ, bền gốc”, Đảng và Chính phủ thường xuyên triển khai nhiều biện pháp chiến lược để không ngừng củng cố nền quốc phòng toàn dân ngày thêm vững chắc.

Xuất phát từ nhận thức sâu sắc rằng sức mạnh của nền quốc phòng miền Bắc là sức mạnh của quần chúng nhân dân có giác ngộ về chính trị và được tổ chức chặt chẽ, nên chủ trương nhất quán của Đảng Lao động Việt Nam là thường xuyên chăm lo giáo dục, nâng cao trình độ giác ngộ chính trị, ý thức quốc phòng cho tất cả các tầng lớp nhân dân, nhất là thanh thiếu niên. Nhà trường các cấp gắn chặt chức năng giáo dục kiến thức với bồi đắp lòng yêu quê hương đất nước, yêu thương đồng bào, đồng chí, yêu chế độ, sống có trách nhiệm với vận mệnh quốc gia dân tộc cho các thế hệ học sinh, sinh viện. Đồng thời, nhiều phong trào thi đua, nhiều cuộc vận động lớn gắn liền với sinh hoạt chính trị để tuyên truyền chủ trương, đường lối và chính sách của Đảng và Nhà nước thường xuyên được tổ chức nên sự đồng thuận về chính trị, tinh thần trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ngày càng được củng cố vững chắc. Nhờ vậy, toàn dân đã tích cực đóng góp sức người sức của cho việc xây dựng những công trình quân sự, hệ thống phòng thủ bờ biển, giới tuyến và mạng lưới giao thông chiến lược phục vụ kinh tế và quốc phòng.

Cũng nhằm củng cố nền quốc phòng, các nông trường, lâm trường quốc doanh và quân đội, các tập đoàn sản xuất của cán bộ tập kết được xây dựng trên những địa bàn chiến lược có ý nghĩa chính trị, kinh tế và quân sự. Đây chính là chủ trương chiến lược kết hợp giữa kinh tế và quốc phòng, quốc phòng với kinh tế của Đảng và Nhà nước ta. Trên thực tế, từ năm 1965, nhiều nông lâm trường đã trở thành nơi đóng quân, điểm dừng chân bổ sung vũ khí, lương thực của các đơn vị chủ lực trước khi hành quân vào chiến trường miền Nam chiến đấu. Bên cạnh đó, trên toàn miền Bắc, hệ thống đường giao thông liên xã, liên huyện, liên tỉnh không ngừng được tu bổ và mở mới, nhằm không chỉ phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa, mà còn đảm bảo cho việc vận chuyển nhân lực, vật lực chi viện cho tiền tuyến miền Nam đánh Mỹ. đặc biệt, dù cho kinh tế sau khi hòa bình lập lại còn rất khó khăn, nhưng Đảng và Nhà nước ta luôn dành sự ưu tiên ngân sách cho chi tiêu quốc phòng, bảo đảm chế độ lương ưu đãi đối với những người có công: 36.916 thương binh, hàng chục ngàn gia đình liên sĩ, hàng vạn bệnh binh, đồng thời công tác hậu phương quân đội luôn được các cấp, các ngành, các địa phương chăm lo tận tình chu đáo… Những chính sách cụ thể, thiết thực, kịp thời này đã thực sự làm cho mọi người tin yêu nhau, tin yêu Đảng và Chính phủ, chung sức, chung lòng xây dựng, bảo vệ miền Bắc thành hậu phương chiến lược của cách mạng miền Nam.

Như vậy, với sự nỗ lực cao độ của toàn Đảng, toàn dân, miền Bắc đã thực hiện thắng lợi hai kế hoạch chiến lược mở đầu cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, tạo tiền đề vững chắc cho một hậu phương chiến lược của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Thật đúng như đánh giá của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Trong mười năm qua, miền Bắc nước ta đã tiến những bước dài chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc. Đất nước, xã hội và con người đều đổi mới”. “Miền Bắc đã trở thành căn cứ địa vững chắc cho cách mạng Việt Nam trong cả nước, với chế độ chính trị ưu việt, với lực lượng kinh tế và quốc phòng vững mạnh(1). Đây chính là cơ sở vững chắc để toàn Đảng và toàn dân ta tiếp tục củng cố và nâng cao sức mạnh chiến đấu, quyết tâm đánh bại quân xâm lược Mỹ, giải phóng miền Nam, thu non sông đất nước về một mối.


(1) Một số văn kiện của Đảng về chống Mỹ, cứu nước, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1986, t.II, tr.15.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Một, 2014, 06:06:48 AM
3. Tiếp tục xây dựng và bảo vệ vững chắc miền Bắc xã hội chủ nghĩa - sự bảo đảm thường xuyên sức người, sức của từ hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn miền Nam

Tiến hành cuộc xâm lược thực dân kiểu mới ở miền Nam, ngay từ những ngày đầu tiên của cuộc chiến tranh, giới chức quân sự Mỹ đã toan tính và sử dụng những biện pháp cứng rắn, nhằm ngăn chặn “từ gốc” nguồn sống của phong trào cách mạng miền Nam - đó chính là hậu phương chiến lược miền Bắc. Hành động của chúng “chủ yếu là bằng biện pháp quân sự và ngày càng trở nên ác liệt theo mức độ gia tăng của chiến tranh trên chiến trường chính miền Nam”(1). Đối phương tiến hành chiến tranh tâm lý, tung biệt kích, thám báo ra miền Bắc để móc nối với bọn phản động, gián điệp nằm vùng phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và ngăn chặn sự chi viện của hậu phương miền Bắc cho tiền tuyến miền Nam. Chính cơ quan tình báo Mỹ (CIA) đã chỉ đạo bọn phản động bí mật phá hoại cơ sở máy móc, thiết bị ở các xí nghiệp, hầm mỏ…; dụ dỗ, cưỡng ép đồng bào Công giáo di cư vào Nam ngay từ khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết; phao tin xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta; kích động các phần tử chống đối sử dụng con bài tôn giáo, tín ngưỡng nổi dậy gây bạo loạn… Và theo thời gian, cường độ và quy mô phá hoại của đối phương tăng dần; trong đó, cuộc tuần tiễu DESOTO của Hạm đội 7 Mỹ dọc theo bờ biển miền Bắc Việt Nam và dàn dựng kế hoạch 34A là những hành động trực tiếp tạo cớ, để rồi “có được” sự kiện ngày 5-8-1964, 65 máy bay Mỹ chính thức mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại quy mô lớn và ác liệt đối với miền Bắc nước ta.

Với mục tiêu chiến lược được xác định là bẻ gãy ý chí kháng chiến, hủy hoại tiềm lực về mọi mặt của miền Bắc, ngăn chặn sự chi viện của hậu phương miền Bắc cho tiền tuyến miền Nam, đồng thời với việc đưa quân viễn chinh Mỹ và quân đồng minh vào trực tiếp tham chiến ở miền Nam, đế quốc Mỹ đã tập trung sức mạnh không quân và hải quân tiến hành hai cuộc chiến tranh phá hoại 1965 - 1968 và 1972(2) vô cùng khốc liệt đối với miền Bắc nước ta. Đây chính là một trong những biện pháp chiến lược có tính quyết định nhằm đỡ đòn và góp phần “cải thiện” tình thế của quân Mỹ và quân đội Sài Gòn ở chiến trường Nam Việt Nam.

Sớm dự kiến được âm mưu, nắm bắt kịp thời hành động của Mỹ, toàn Đảng, toàn dân miền Bắc thống nhất quan điểm: xây dựng và bảo vệ miền Bắc là sự nghiệp của toàn dân; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, củng cố nền quốc phòng toàn dân phải luôn được toàn thể các tầng lớp nhân dân đồng thuận. Chính bởi vậy, khi Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, nhân dân ta đã nhanh chóng chuyển toàn bộ hoạt động xã hội từ thời bình sang thời chiến - vừa chiến đấu vừa đẩy mạnh công cuộc xây dựng hậu phương. Đặc biệt, đầu năm 1964, Hội nghị phòng không nhân dân toàn miền Bắc được tiến hành để bàn định kế hoạch sơ tán nhân dân và các cơ sở kinh tế ra khỏi những trọng điểm đánh phá của địch, triển khai hệ thống phòng không ba thứ quân tác chiến với không quân Mỹ. Tiếp đến tháng 6-1964, Bộ Chính trị ra chỉ thị, nêu rõ: phương châm đối phó cơ bản của ta đối với không quân Mỹ là: “kết hợp mọi biện pháp đánh địch và biện pháp phòng tránh; lấy bộ đội phòng không làm nòng cốt, kết hợp với việc phát động một phong trào rộng rãi bắn máy bay địch bằng mọi thứ súng của bộ binh và các lực lượng dân quân tự vệ”(3). Theo đó, quân và dân miền Bắc khẩn trương bắt tay làm công tác chuẩn bị về mọi phương tiện. Lực lượng vũ trang các cấp toàn miền Bắc gấp rút chấn chỉnh tổ chức, biên chế, tăng cường quân số, vũ khí và trang bị, tích cực hoàn thiện phương án tác chiến theo chức năng và nhiệm vụ phân công. Cụ thể, Quân chung Phòng không - Không quân hoàn chỉnh phương án tác chiến và triển khai lực lượng theo hướng ưu tiên tập trung cho những mục tiêu trọng yếu. Quân chủng Hải quân tổ chức Bộ Tư lệnh tiền phương đứng chân ở vùng biển Quân khu 4, tăng cường độ tuần tiễu dọc bờ biển. Các binh chủng khác cũng nhanh chóng xây dựng phương án tác chiến của mình. Các địa phương tiến hành huấn luyện, tập dượt các phương án chiến đấu, phục vụ chiến đấu, phân tán tài sản và sơ tán nhân dân… Riêng đối với vùng giới tuyến, ven biển và biên giới phía tây, lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân được phổ biến kế hoạch phóng chống thâm nhập, chống bom, pháo địch; còn bộ đội chủ lực ém sẵn trong nội địa, sẵn sàng cơ động chiến đấu khi có lệnh.

Với sự chuẩn bị như vậy, nên quân và dân miền Bắc đã phát hiện kịp thời và chủ động đánh thắng ngay từ trận đầu ngày 5-8-1964, bắn rơi 8 máy bay và bắt giặc lái Mỹ. Bài học và kinh nghiệm của trận thắng ngày 5-8-1964 nhanh chóng được tổng kết và phổ biến cho lực lượng phòng không nhân dân miền Bắc học tập, vận dụng vào thực tiễn chiến đấu. Và cũng từ thời điểm này, cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ đối với miền Bắc gia tăng nhanh chóng cả về quy mô và cường độ.


(1)  Bộ Giải phóng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1997, tr.144.
(2) Qua hai cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, bom đạn Mỹ đã tàn phá nặng nề 4.000/5.708 xã, 28/30 thành phố, thị xã, thị trấn, 350 bệnh viện, 1.300 trường học và nhiều công trình giao thông, thủy lợi, xí nghiệp, nhà máy và cơ sở kinh tế chủ chốt của miền Bắc; gây thương vong cho hàng trăm nghìn người dân…
(3) Những sự kiện Lịch sử Đảng, Nxb. Thông tin lý luận, Hà Nội, 1982, tr.209-210.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Một, 2014, 06:09:34 AM
Để định hướng cho quân và dân miền Bắc đối phó với âm mưu và hành động mới của địch, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra các Nghị quyết 11 (3-1965) và 12 (12-1965), chuyển toàn bộ hoạt động của miền Bắc từ thời bình sang thời chiến. Nghị quyết xác định: “Nhiệm vụ của miền Bắc hiện nay vừa là sản xuất, vừa là chiến đấu. Sản xuất phải phục vụ chiến đấu và chiến đấu phải nhằm bản vệ sản xuất”(1); bảo đảm cho miền Bắc tiếp tục sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, có đủ sức mạnh đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của không quân và hải quân Mỹ, làm tròn trách nhiệm và nghĩa vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn. Thực hiện nhiệm vụ nặng nề này, từ tư tưởng đến tổ chức, hành động cụ thể của mỗi người ở các cấp, các ngành đều có sự chuyển biến về chất.

Lề lối làm việc của các cơ quan Đảng và Nhà nước từ trung ương đến địa phương đều được chấn chỉnh. Cán bộ, công nhân viên ở các bộ, ngành được cơ cấu, sắp xếp phù hợp với nhiệm vụ chuyển hướng nền kinh tế. Một bộ phận cán bộ được động viên vào phục vụ trong lực lượng vũ trang và mặt trận giao thông vận tải. Các cơ quan đảng, nhà nước, trường học, nhà máy, xí nghiệp… nhanh chóng được sơ tán, phân tán khỏi thành phố, thị xã và các trọng điểm đánh phá của đối phương. Khắp nơi trên miền Bắc, phong trào thi đua chống Mỹ, cứu nước như: phong trào “Mỗi người làm việc bằng hai”, “Tay búa, tay súng”, “Tay cày, tay súng”… được dấy lên với khí thế sôi nổi, mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Chỉ với phong trào “Thanh niên ba sẵn sàng” và phong trào “Phụ nữ ba đảm đảng” đã thu hút hàng chục triệu người tham gia. Mặt trận Tổ quốc không ngừng được củng cố, mở rộng trên cơ sở khối liên minh công nông vững chắc. Các tổ chức quần chúng: đoàn thanh niên, công đoàn, hội phụ nữ, hội phụ lão, hội mẹ chiến sĩ… phát triển mạnh mẽ, thu hút nhiều tầng lớp nhân dân và thành phần xã hội tham gia, có tác dụng thiết thực trong việc tập hợp, động viên quần chúng thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, hăng hái thi đua trong sản xuất, chiến đấu và công tác, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, sinh hoạt thường ngày, góp phần ổn định tình hình hậu phương, động viên tư tưởng những người cầm súng chiến đấu trên chiến trường. Sự chuyển hướng kịp thời về tư tưởng, tổ chức, phương thức lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương là cơ sở, tiền đề cho việc chuyển hướng kinh tế miền Bắc trong điều kiện có chiến tranh.

Về kinh tế nông nghiệp, hai ngành sản xuất chính là trồng trọt và chăn nuôi tiếp tục được đẩy mạnh, đặc biệt là với vùng trung du và miền núi, nhằm giải quyết vấn đề lương thực, thực phẩm, đáp ứng nhu cầu đời sống của nhân dân. Theo chỉ đạo thống nhất của Chính phủ, các địa phương phân bổ lại lực lượng lao động, dành số vốn thích đáng để đầu tư cho trồng trọt và chăn nuôi. Do vậy, tuy hàng triệu trai trẻ phải lên đường đi cứu nước, nhưng sản xuất nông nghiệp miền Bắc vẫn không ngừng được củng cố và phát triển về mọi mặt. Số hộ nông dân vào hợp tác xã sản xuất nông nghiệp từ 84,7% (1964) tăng lên 94,5% (1968) và thành phần kinh tế tập thể trong nông nghiệp chiếm 94,4%; từ năm 1965 đến năm 1968, có thêm 60 công trình thủy nông quy mô lớn, hàng trăm công trình quy mô vừa với hệ thống kênh, mương tưới tiêu trải rộng khắp ruộng đồng các địa phương; sản lượng lương thực và chăn nuôi hằng năm duy trì xấp xỉ bằng năm 1964. Riêng về năng suất cây lương thực, đến năm 1967 đã có hơn 30 huyện, 2.551 hợp tác xã dạt 5 tấn/hécta gieo trồng (năm 1964 chỉ có 5 huyện và một số hợp tác xã đạt thành tích trên)(2).

Về công nghiệp và thủ công nghiệp, sau khi khẩn trương sơ tán, phân tán đến những địa điểm tương đối an toàn, các nhà máy, xí nghiệp nhanh chóng ổn định mọi mặt và đi vào sản xuất. Trong hoàn cảnh chiến tranh phá hoại, Nhà nước chủ trương đầu tư phát triển công nghiệp địa phương, tập trung xây dựng những xí nghiệp quy mô vừa và nhỏ để sản xuất tư liệu sản xuất phục vụ nông nghiệp và hàng hóa tiêu dùng thiết yếu cho nhân dân các địa phương. Theo đó, trong những năm 1965 - 1967, số vốn đầu tư vào khu vực này tăng gấp 33 lần so với 3 năm trước đó. Hơn 600 cơ sở công nghiệp quốc doanh địa phương được bổ sung thiết bị, hoặc xây dựng mới(3). Kết quả của sự chuyển hướng cơ cấu sản xuất này là: với cơ khí, giá trị sản lượng toàn ngành (cả trung ương và địa phương) năm 1967 tăng 40% so với năm1964. Rất nhiều sản phẩm của ngành cơ khí đã đáp ứng rất kịp thời và hiệu quả cao cho sản xuất nông nghiệp và giao thông vận tải. Với ngành điện, mặc dù không quân Mỹ tập trung đánh phá dữ dội các nhà máy điện, nhưng nhờ sự chủ động xây dựng các công trình điện dự phòng, tăng cường trang bị các máy phát điện cho các xí nghiệp, công nhân ngành điện kiên cường bám nhà máy, xí nghiệp, nên nguồn điện phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt vẫn được bảo đảm. Ngành khai thác than vẫn giữ được sản lượng khai thác, đảm bảo cho nhu cầu sản xuất công nghiệp và xuất khẩu. Các mỏ than địa phương được mở rộng và tăng cường thiết bị, máy móc, nâng công suất khai thác gấp ba lần so với trước chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Bên cạnh đó, các ngành tài chính, ngân hàng, nội thương, ngoại thương đều tập trung nỗ lực phục vụ yêu cầu củng cố và phát triển sản xuất, ổn định đời sống cho nhân dân, phục vụ chiến đấu và chi viện cho chiến trường.


(1) Một số văn kiện của Đảng về chống Mỹ, cứu nước, Sđd, t.II, tr.28.
(2) TS. Nguyễn Xuân Tú: Hậu phương miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr.124.
(3) Nếu năm 1965 mới có 1.132 xí nghiệp (gồm 200 xí nghiệp trung ương và 927 xí nghiệp địa phương), thì đến năm 1869 đã phát triển lên 1.352 xí nghiệp (gồm 277 xí nghiệp trung ương và 1.075 xí nghiệp địa phương); bên cạnh đó, số hợp tác xã thủ công tăng từ 817 lên 1.028.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Một, 2014, 06:11:08 AM
Cùng với chuyển hướng nền kinh tế, sự nghiệp giáo dục và văn hóa cũng vượt qua thử thách khốc liệt của chiến tranh phá hoại để tiếp tục vươn lên giành những thành tựu hết sức to lớn. Hàng vạn lớp học với hàng chục vạn học sinh các cấp được khẩn trương sơ tán ra khỏi những trọng điểm đánh phá của địch để tiếp tục học tập. Cùng với cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của Mỹ, số lượng học sinh và sinh viên và các trường phổ thông, đại học và trung học chuyên nghiệp không ngừng gia tăng mỗi năm(1) (tỷ lệ thuận với gia tăng dân số và chính sách giáo dục ưu việt của Đảng và Nhà nước). Chương trình giáo dục và đào tạo được cải tiến cho phù hợp với tình hình mới. Việc bồi dưỡng tư tưởng chính trị, lòng yêu que hương đất nước, yêu chế độ xã hội chủ nghĩa cho các thế hệ học sinh, sinh viên và thanh thiếu niên được đặc biệt chú trọng, nhằm chuẩn bị cho thế hệ trẻ củ đủ tri thức, nhân cách, có giác ngộ sâu sắc về lý tưởng trước khi bước vào cuộc sống xây dựng, chiến đấu bảo vệ miền Bắc và sẵn sàng lên đường vào chiến trường miền Nam đánh Mỹ xâm lược. Đặc biệt, để đáp ứng trực tiếp theo yêu cầu của kháng chiến, tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, phân khoa Đại học Kỹ thuật quân sự - tiền thân của Trường Đại học Bách Kỹ thuật quân sự (Hiện nay là Học viện Kỹ thuật quân sự) được thành lập. Đồng thời với đào tạo ở trong nước, nhiều thanh niên ưu tú miên Bắc có vinh dự được cử đi đào tạo tại các trường đại học kỹ thuật và học viện kỹ thuật quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Từ đây, một bộ phận quan trọng kỹ sư thuộc các chuyên ngành kỹ thuật quân sự được bổ sung cho chiến trường miền Nam. Chính đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật này đã góp công lớn trong việc nghiên cứu đối phó hiệu quả với các loại vũ khí, phương tiện chiến tranh tối tân của Mỹ sử dụng trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam và khai thác, sử dụng những vũ khí, phương tiện thu được của Mỹ để đánh Mỹ. Đây chính là bài học rất độc đáo chỉ có được từ chiến lược xây dựng hậu phương miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Đảng Lao động Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Công tác văn hóa văn nghệ có bước phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, góp phần phục vụ trực tiếp cho đời sống, sản xuất và chiến đấu của nhân dân. Từ năm 1965 đến năm 1968, số sách xuất bản từ 22 triệu bản lên 30 triệu bản; số lượng thư viện từ 77 (1964) lên 176 (1967), đáp ứng cho hàng vạn bạn đọc hằng năm. Nhiều tác phẩm văn học đã thể hiện sinh động hình tượng con người Việt Nam hăng say sáng tạo trong lao động sản xuất, anh hùng trong chiến đấu, thủy chung, trong sáng trong tình yêu, tình bạn, tình đồng chí anh em… Mặt khác, nhiều tác phẩm văn học nước ngoài đặc sắc cũng được lựa chọn dịch và xuất bản để giới thiệu cho bạn đọc ở cả hậu phương miền Bắc và vùng giải phóng miền Nam; ngược lại, nhiều tác phẩm văn học của ta cũng được quảng báo cho bạn bè quốc tế. Qua đó giúp bạn bè quốc tế ngày càng hiểu thêm đất nước, con người Việt Nam, hiểu rõ cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam và đồng tình, ủng hộ sự nghiệp xây dựng và chiến đấu giải phóng đất nước của ta. Đồng thời với các đoàn, đội văn nghệ chuyên nghiệp và bán chuyên nghiệp không ngừng tăng theo mỗi năm, phong trào văn nghệ quần chúng cũng diễn ra sôi nổi và đều khắp ở các địa phương, đơn vị dân, chính, đảng và lực lượng vũ trang, góp phần động viên tinh thần, tạo thêm niềm lạc quan, hăng say lao động sản xuất và chiến đấu cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.

Chủ động chuyển mình cùng đất nước, ngành y tế khẩn trương tăng cường trang thiết bị, dụng cụ, thuốc men và phát triển nhanh mạng lưới cơ sở khám chữa bệnh từ trung ương đến địa phương. Nếu năm 1964, toàn miền Bắc có 457 bệnh viện, 7 viện điều dưỡng và 5.289 trạm y tế xã phường, thì đến năm 1968 đã phát triển lên 981 bệnh viện, 50 viện điều dưỡng và 6.043 trạm y tế xã phường. Riêng đối với đội ngũ cán bộ y tế, đến năm 1967, toàn miền Bắc có 6 vạn bác sĩ, y sĩ, y tá, hộ sinh và 9.435 dược sĩ đại học và trung cấp. Chính các cơ sở y tế và đội ngũ cán bộ y tế này là nhân cốt cho công tác cấp cứu phòng chống chiến tranh phá hoại trên khắp các địa bàn, sẵn sàng ứng phó hiệu quả với chiến tranh phá hoại miền Bắc của Mỹ.

Đặc biệt nhằm tăng cường sức mạnh quốc phòng, mà nòng cốt là lực lượng vũ trang nhân dân, ngày 5-5-1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký lệnh động viên cục bộ, huy động một bộ phận sĩ quan, hạ sĩ quan và quân dự bị vào phục vụ trong các đơn vị lực lượng vũ trang. Tiếp đó, ngày 25-5-1965, Người ký tiếp sắc lệnh sửa đổi Luật nghĩa vụ quân sự, kéo dài thời gian phục vụ đối với hạ sĩ quan, chiến sĩ tại ngũ. Với tình cảm và trách nhiệm máu thịt với non sông, đất nước và quân lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chỉ sau thời gian ngắn, toàn miền Bắc đã có 68.874 thanh niên nhập ngũ hoặc tái ngũ vào phục vụ trong quân đội. Chỉ tính khối chủ lực, từ 195.000 người đến năm 1965 tăng lên 400.000 người vào cuối năm 1965, trong đó lực lượng quân binh chủng, nhất là Quân chủng Phòng không - Không quân tăng gấp 3 lần so với năm 1964; bộ đội địa phương lên 28.000 người; riêng dân quân, tự vệ từ 1,4 triệu người lên 2 triệu người (tổng số dân quân, tự vệ năm 1964 chiếm 8% đến năm 1965 lên tới 10% dân số miền Bắc). Đây không chỉ là lực lượng nòng cốt của phòng trào phòng không nhân dân chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, bảo vệ trị an xã hội, mà còn là đội quân xung kích trong lao động sản xuất và xây dựng ở các địa bàn cơ sở, đồng thời cũng là đội quân dự bị sẵn sàng bổ sung cho chiến trường khi cần thiết. Đặc biệt nhất là vào năm 1965, lực lượng phòng không và phòng thủ bờ biển ba thứ quân miền Bắc có bước phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng(2), vũ khí, khí tài kỹ thuật không ngừng được bổ sung và hiện đại hóa.


(1) Trên toàn miền Bắc, nếu niên học 1964 - 1965, có 4.500.000 học sinh, với 9.285 trường phổ thông, có 29.800 sinh viên, với 16 trường đại học và 42.000 học sinh trung học chuyên nghiệp, thì đến niên học 1967 - 1968, đã phát triển lên tới 6.000.000 học sinh, với 11.497 trường phổ thông các loại; 58.200 sinh viên, với 35 trường đại học và 118.500 học sinh trung học chuyên nghiệp. Riêng về giáo dục phổ thông, hai phần ba trên tổng số 6.000 xã toàn miền Bắc có trường phổ thông cấp 1, hầu hết các huyện có trường phổ thông cấp III.
(2) Để đối phó với chiến tranh phá hoại của Mỹ, chỉ trong một thời gian ngắn, lực lượng phòng không miền Bắc đã có bước đột phá cả về số lượng và chất lượng: từ 15 trung đoàn, 14 tiểu đoàn pháo phòng không, 1 trung đoàn không quân, 2 trung đoàn rađa... (1964), phát triển lên 33 trung đoàn, 66 tiểu đoàn pháo khòng không, 10 trung đoàn tên lửa, 2 trung đoàn không quân, 4 trung đoàn và 1 tiểu đoàn rađa (1965); đến năm 1966, các sư đoàn phòng không hỗn hợp - binh đoàn chiến thuật cơ bản của Quân chủng Phòng không - Không quân được thành lập...; bên cạnh đó là hàng nghìn tiểu đoàn, đại đội pháo và súng máy phòng không bộ đội địa phương và hơn 2.000 đơn vị trực chiến phòng không của dân quân tự vệ làng xã, cơ quan, nhà máy, xí nghiệp được tổ chức thành mạng lưới phòng không khá hoàn chỉnh, gồm cả tầm cao, tầm trung và tầm thấp, bảo đảm tác chiến hiệu quả với các thủ đoạn chiến thuật đánh phá của không quân Mỹ. Cũng đến năm 1972, lực lượng phòng thủ bờ biển đã có 12 trung đoàn, 1 tiểu đoàn và 4 đại đội của bộ đội chủ lực; 500 đơn vị pháo binh của bộ đội địa phương và dân quân tự vệ (tăng gấp 17 lần so với năm 1964).


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Một, 2014, 06:12:23 AM
Như vậy, thế trận chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ được thiết lập thành hệ thống hoàn chỉnh bởi lực lượng phòng không và phòng thủ bờ biển gồm đủ ba thứ quân với hậu thuẫn vững chắc của toàn dân - nhân tố quyết định bảo đảm cho quân và dân miền Bắc phát huy tính sáng tạo trong cách đánh sử dụng hiệu quả những vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện có trong biên chế để đánh thắng mọi thủ đoạn đánh phá, mọi thứ vũ khí, khí tài hiện đại của không quân và hải quân Mỹ.

Đồng thời với thế trận phòng không nhân dân, thế trận giao thông vận tải cũng được bảo đảm bởi các lực lượng công binh, vận tải quân sự, vận tải nhà nước, vận tải nhân dân... không ngừng gia tăng vả về số lượng và chất lượng. Từ năm 1965 đến năm 1968, về công bình, số trung đoàn tăng 1,2 lần, tiểu đoàn tăng 2 lần, đại đội tăng 16 lần; bên cạnh đó là hàng ngàn tổ đội công binh địa phương ở khắp miền Bắc, nhất là những địa bàn có những tuyến giao thông huyết mạch xuyên qua. Cùng với lực lượng, các phương tiện và thiết bị bảo đảm cho bắc cầu, vượt sông tăng 2,6 lần. Cũng khoảng thời gian trên, lực lượng vận tải quân sự của Bộ Quốc phòng, các quân khu tăng từ 4 đến 5 lần. Đặc biệt, vào những thời điểm quyết định của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước như các năm 1968, 1972, 1975, hầu như toàn bộ lực lượng và phương tiện vận tải của nhà nước và nhân dân được huy động phục vụ chiến trường. Thêm vào đó là khoảng 92.000 công lao động mỗi ngày (chiếm 10,5% tổng số nhân khẩu đang ở độ tuổi lao động miền Bắc - 8.692.100 người) phục vụ chiến đấu: tiếp đạn, kéo pháo, đào đắp công sự trận địa, cứu chữa và chăm sóc thương binh, bệnh binh... là những bằng chứng sống động phản ánh tinh thần chiến đấu quên mình vì sự nghiệp đấu tranh cho độc lập, tự do của quân và dân ta trên hậu phương miền Bắc trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Với ý chí và nghị lực phi thường của cả dân tộc, nên dù cho chiến tranh ngày càng khốc liệt, tổn thất về người và vật chất ngày càng lớn nhưng miền Bắc vẫn trụ vững và ổn định, hoạt động sản xuất cơ bản được giữ vững, trong đó năng suất cây trồng, vật nuôi, kinh tế địa phương... có bước phát triển so với những năm trước chiến tranh phá hoại của Mỹ. Đời sống của nhân dân miền Bắc, kể cả ở tuyến lửa Quân khu 4 cơ bản không bị xáo trộn lớn. Những nhu cầu thiết yếu về đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân vẫn được đảm bảo. Tuy hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, nhất là cầu cống, bến phà, cảng sông biển... thường xuyên bị không quân và hải quân Mỹ tập trung đánh phá ác liệt, song chúng không thể ngăn được sức vận chuyển nhân lực, vật lực đáp ứng cho cuộc chiến đấu của lực lượng vũ trang ta ở cả miền Bắc, miền Nam cũng như sự giúp đỡ của cách mạng Lào và Campuchia anh em.

Ngay từ buổi đầu xâm lược Việt Nam, Mỹ đã xác định mục tiêu của cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc là đánh quỵ tinh thần và ý chí kháng chiến của nhân dân ta. Song, chúng đã thua cuộc. Trong cả hai lần chống chiến tranh phá hoại của không quân và hải quân Mỹ, quân và dân miền Bắc đã bắn rơi 4.181 máy bay tiêm kích, cường kích các loại hiện đại vào bậc nhất thời bấy giờ, kể cả pháo đài bay chiến lược B.52, bắn chìm, bắn cháy hàng trăm tàu chiến các loại. Với tổn thất nặng nề này, ý chí và nỗ lực chiến tranh của chính người Mỹ đã suy giảm nghiêm trọng, thậm chí cả với việc việc mở cuộc tập kích không quân chiến lược quy mô lớn vào Hà Nội - Thủ đô của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để thực hiện mưu đồ đàm phán trên thế mạnh, rút quân khỏi Việt Nam trong danh dự của giới lãnh đạo chóp bu Nhà Trắng và Lầu Năm Góc không thực hiện được. Như vậy, “ném bom miền Bắc Việt Nam chẳng những không làm cho xương sống của Hà Nội mềm đi mà còn làm cho nó cứng thêm lên”(1).

Trên phương diện chiến lược, hành động đánh phá miền Bắc là một bộ phận quan trọng của chiến lược chiến tranh cục bộ và chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của đế quốc Mỹ ở miền Nam. Bởi vậy, chính việc đánh bại các bước leo thang chiến tranh của không quân và hải quân - hai lực lượng chiến lược trọng yếu nhất của quân đội Mỹ, quân và dân ta không những đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ hậu phương, làm suy giảm nặng nề uy tín và sức mạnh của quân đội Mỹ, mà còn thực sự là đòn quân sự quan trọng cùng quân và dân ta trên chiến trường miền Nam đánh bại các chiến lược chiến tranh cục bộ, Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ. Đặc biệt hơn, với việc đánh bại cuộc tập kích không quân chiến lược của Mỹ vào cuối tháng 12-1972 trên bầu trời Hà Nội và Hải Phòng, quân và dân miền Bắc đã tạo nên một thắng lợi có tính quyết định để chính quyền Mỹ phải ký Hiệp định Pari, rút quân chiến đấu Mỹ ra khỏi miền Nam, chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam. Chính cựu Ngoại trưởng Mỹ Đin Raxcơ (Dean Rusk) đã thú nhận; “Đúng là người Bắc Việt nam có thể đương đầu với mọi loại vũ khí có trong kho vũ khí của Mỹ, trừ vũ khí nguyên tử, khối lượng bom Mỹ ném xuống miền Bắc Việt Nam đã lớn gấp bảy lần khối lượng chất nổ ném trong Chiến tranh thế giới thứ hai, thế mà họ đã chiến đấu trong suốt 30 năm không hề có dấu hiệu bỏ cuộc”(2).

Chiến thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại của không quân và hải quân Mỹ, đồng thời ra sức xây dựng, củng cố và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế... tiếp tục làm cho đất nước và con người không ngừng đổi mới, hậu phương miền Bắc đã chứng tỏ được sức mạnh phi thường và bản lĩnh kiên định của mình. Đây là thành quả của khối đại đoàn kết toàn dân, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam - yếu tố nền tảng tiên quyết tạo nên sức mạnh bảo vệ miền Bắc và đảm bảo cho miền Bắc phát huy đầy đủ và thường xuyên vai trò quyết định của hậu phương chiến lược đối với sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.


(1) Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh Việt Nam, Tlđd, t.II, tr.70.
(2) Hồi ức chiến tranh Việt Nam: Con trai cựu Ngoại trưởng Dean Rusk nói thay lời cha “Không thể đánh bại được một dân tộc như thế” - Quang Doãn (giới thiệu và biên dịch), Báo Quân đội nhân dân, số 17892, ngày 6-2-2011, tr.7.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Một, 2014, 06:16:14 AM
Trên cơ sở nền tảng chế độ mới được xây dựng trong một thập kỷ sau hòa bình (1954 -1964), tiếp tục được củng cố, phát triển và bảo vệ vững chắc trong một thập kỷ kế tiếp (1965 - 1975), đồng thời với việc thường xuyên chăm lo công tác giáo dục chính trị, tư tưởng để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân thấu triệt tính chất chính nghĩa, mức độ quyết liệt, lâu dài, gian khổ của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, vai trò và trách nhiệm nặng nề, vinh quang của hập phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước đã củng cố được niềm tin và quyết tâm kháng chiến; huy động kịp thời và hiệu quả sức người, sức của phù hợp với thực tế của từng địa phương trong từng thời kỳ cụ thể đáp ứng cho kháng chiến.

Một trong những biện pháp chiến lược được tiến hành có tính chất xuyên suốt trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ trên hậu phương miền Bắc của Đảng và Nhà nước ta là chăm lo, bồi dưỡng sức dân. Dưới sự chỉ đạo thống nhất của Trung ương, các ngành, các địa phương không ngừng củng cố, hoàn thiện quan hệ sản xuất mới, nhất là hợp tác xã sản xuất nông nghiệp - thành phần sản xuất lớn nhất trong cơ cấu kinh tế đất nước. Đây là điểm mấu chốt để hậu phương miền Bắc chi viện sức người, sức của ngày càng cao cho tiền tuyến miền Nam. Đặc biệt để duy trì và ổn định đời sống cho toàn dân, cùng với thời gian, Nhà nước ban hành và tổ chức thực hiện tốt nhiều chính sách về kinh tế, văn hóa - xã hội, về chế độ tiền lương, phân phối thu nhập, thuế nghĩa vụ...

Đối với cán bộ, công nhân viên chức thuộc biên chế nhà nước, bên cạnh chế độ lương còn được hưởng chính sách cung cấp lương thực, thực phẩm, chất đốt, nhu yếu phẩm theo định lượng xác định theo từng đối tượng cụ thể thông qua tem phiếu với mức giá thống nhất, rẻ và ổn định. Với bộ phận cư dân thành thị cũng được mua định lượng lương thực, thực phẩm và các nhu yếu phẩm thiết yếu theo quy định, với giá cả thống nhất và thấp hơn với thị thị trường tự do. Với nông dân nông thôn, hợp tác xác nông nghiệp thực hiện việc phân phối lương thực cho hộ gia đình xã viên thông qua công điểm, kết hợp với việc phân phối lương thực theo nhu cầu thiết yếu theo định mức suất ăn cho từng nhân khẩu (tính theo độ tuổi). Mặt khác, việc học hành, khám chữa bệnh cho cán bộ, công chức và nhân dân được Nhà nước bao cấp phần lớn kinh phí... Trong bối cảnh miền Bắc vừa phải tiến hành chống chiến tranh phá hoại khốc liệt của Mỹ vừa phải đáp ứng nhu cầu sức người, sức của ngày một tăng cho tiền tuyến miền Nam, thì những chính sách đảm bảo lương thực, thực phẩm và nhu yếu phẩm thiết yếu cho các thành phần xã hội miền Bắc lúc bầy giờ thực sự là những quyết sách chiến lược kịp thời, rất cần thiết của Đảng và Nhà nước trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Các cấp bộ đảng, chính quyền, mặt trận và các tổ chức quần chúng từ thành thị đến nông thôn đã khơi dậy và phát huy mạnh mẽ truyền thống tương thân, tương ái của dân tộc thông qua những hành động cụ thể, thiết thực như: giúp đỡ lẫn nhau trong đời sống, làm ăn hằng ngày, hoặc giữa những vùng ít bị đánh phá với những vùng trọng điểm đánh phá của không quân Mỹ; rồi đến việc chăm sóc, giúp đỡ những gia đình thương binh, liệt sĩ, gia đình bộ đội về mọi mặt đã trở thành việc làm thường nhật, tự nguyện đầy trách nhiệm của các cấp chính quyền, đoàn thể xã hội và mỗi gia đình. Đó là chưa kể tới những chính sách của Đảng, Nhà nước và từng địa phương, bộ ngành với những đối tượng ưu tiến. Đây chính là nguyên nhân cắt nghĩa vì sao hầu hết nam giới từ nông thôn đến thành thị, từ miền xuôi đến miền núi, từ người Kinh đến người Thượng đến tuổi trưởng thành đều hăng hái gia nhập lực lượng vũ trang, cầm súng chiến đấu chống quân xâm lược Mỹ; đồng thời, toàn dân đã dốc lòng, dốc sức sản xuất và tiết kiệm để dồn của cải cho tiền tuyến miền Nam đánh thắng quân thù. Theo tiến trình của cuộc kháng chiến chống Mỹ, số lượng nhân lực và khối lượng vật lực từ miền Bắc chi viện cho miền Nam không ngừng tăng lên theo từng năm, nhất là vào những thời điểm quyết định của cuộc chiến.

Về sức người, năm 1959, miền Bắc bắt đầu thực hiện nghĩa vụ chi viện cho miền Nam, với 542 cán bộ, chiến sĩ thì đến năm 1964 đã lên tới 17.475 người. Khi quân và dân ta ở miền Nam thực hiện những đòn tiến công chiến lược quyết định thì số lượng nhân lực huy động từ hậu phương miền Bắc tăng cường cho các hướng chiến trường ở miền Nam là 141.081 người (1968), 152.974 người (1972) và đến năm 1975 - năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, tổng số người huy động cho quốc phòng chiếm 30% lực lượng lao động xã hội ở miền Bắc, trong đó 60 - 65% phục vụ trong lực lượng vũ trang. Chỉ 4 tháng đầu năm 1975, số lượng cán bộ, chiến sĩ được lệnh hành quân thần tốc vào miền Nam đã lên tới 110.000 người. Giai đoạn 1973 - 1975, 50% quân số chủ lực Quân giải phóng miền Nam là từ hậu phương miền Bắc tăng cường vào(1). “Đối với nhiều quan sát viên thế giới và ngay cả đối với những người Mỹ đã từng tham chiến, “Quân đội chính quy Bắc Việt Nam là những bộ binh tài giỏi nhất mà trước đây chưa từng thấy trên thế giới”. Chiến công của quân đội Bắc Việt Nam đánh thắng một siêu cường là một trong những sự kiện mang tính anh hùng ca trong lịch sử loài người; chiến công của họ là chiến công của cả một dân tộc, có sự đóng góp của otàn dân tộc. Trừ phi làm nổ tung họ ra khỏi mặt đất này, làm sao chúng ta có thể đánh bại được một dân tộc như thế!”(2). Đó là chưa kể hàng chục vạn người khác phục vụ trên các lĩnh vực vận tải, mở đường, đảm bảo giao thông và nhiều hoạt động khác cũng được huy động từ miền Bắc vào.

Bên cạnh nguồn nhân lực, phần lớn vũ khí, đạn, trang thiết bị quân sự, thuốc và dụng cụ y tế, đến lương thực, thực phẩm… đáp ứng cho nhu cầu tác chiến ở chiến trường miền Nam đều từ hậu phương miền Bắc chuyển vào (gồm cả những vũ khí, phương tiện, thiết bị quân sự của các nước viện trợ cho nhân dân ta đánh Mỹ xâm lược cũng được hậu phương miền Bắc tiếp nhận, nghiên cứu khai thác sử dụng, cải tiến cho phù hợp với cách đánh của ta rồi chuyển vào miền Nam) với khối lượng không ngừng tăng lên mỗi năm. Nếu như trong 5 năm đầu 1959 - 1964 mới chuyển vào Khu 5 được hơn 2.500 tấn, thì chỉ 7 tháng mùa khô 1967 - 1968 đã chuyển 63.024 tấn vật chất giao cho các chiến trường bảo đảm cho Tổng tiến công và nổi dậy toàn miền Nam Mậu Thân 1968; bảo đảm vật chất cho bộ đội hành quân đạt 31.054 tấn(3). Đến mùa khô 1971 - 1972, vận chuyển cho các chiến trường và bảo đảm hành quân là 64.785 tấn hàng, đạt 145% chỉ tiêu kế hoạch; mặt khác còn khai thác được 15.483 tấn từ Đông Bắc Campuchia(4). Trong hơn 2 năm chuẩn bị cho Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, toàn tuyến 559 đã vận chuyển bàn giao cho các chiến trường 413.450 tấn vũ khí, hàng hóa các loại, trong đó có nhiều vũ khí hạng nặng như pháo cơ giới tầm xa, xe tăng… Tổng cộng trong 16 năm (1959 - 1975), tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh đã vận chuyển 1.349.060 tấn hàng hóa các loại (gồm cả số hàng giao cho các chiến trường, bảo đảm hành quân và sử dụng, vả cả tổn thất dọc đường)(5). Khi nói tới sự vận chuyển sức mạnh của hậu phương miền Bắc vào chiến trường miền Nam chúng ta không thể không nhắc đến đường Hồ Chí Minh trên biển - tuyến vận tải quân sự chiến lược từng được ghi nhận như một huyền thoại. Với khối lượng vũ khí và hàng hóa quân sự vận chuyển từ tháng 10-1962 đến tháng 3-1975 là 97.596 tấn và khoảng 300 cán bộ chi viện cho chiến trường; và trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, vận chuyển được 8.721 tấn vũ khí và 17.475 cán bộ, chiến sĩ hành quân thần tốc vào giải phóng miền Nam(6), nếu chỉ đơn thuần về số lượng thì không lớn; nhưng số vũ khí này được chuyển đến những khu vực chiến trường mà đường Hồ Chí Minh trên bộ chưa vươn tới được (chiến trường Nam Bộ, ven biển Khu 5). Như vậy, đường Hồ Chí Minh trên biển thực sự là một hình ảnh sống động nữa phản ánh bản lĩnh, ý chí và sức sáng tạo của con người Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Theo số liệu thống kê của tổng kết 30 chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc: trên 80% quân số, 81% vũ khí, 60% nhiên liệu, 65% thuốc và dụng cụ y tế, 85% phương tiện vận tải đáp ứng cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 là được huy động từ miền Bắc, khẳng định vai trò quyết định của hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa đối với thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Xây dựng hậu phương chiến lược miền Bắc đã và sẽ là bài học lịch sử quý giá và thiết thực đối với sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng bảo vệ Tổ quốc hôm nay và ngày mai.


(1) Xem Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945 - 1975), Sđd, tr.174.
(2) Hồi ức chiến tranh Việt Nam: Con trai cựu Ngoại trưởng Dean Rusk nói thay lời cha “Không thể đánh bại được một dân tộc như thế”, Quang Doãn (giới thiệu và biên dịch), Tlđd, tr.7.
(3), (4) Xem Lịch sử Đoàn 559 Bộ đội Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tr.287, 497.
(5) Xem Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học, Sđd, tr.318.
(6) Xem Quân chủng Hải quân: Lịch sử đường Hồ Chí Minh trên biển (1961 - 2011), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2011, tr.556.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Một, 2014, 06:19:51 AM
II - XÂY DỰNG HẬU PHƯƠNG TẠI CHỖ
CĂN CỨ CÁCH MẠNG MIỀN NAM - NHÂN TỐ TRỰC TIẾP BẢO ĐẢM
THẮNG LỢI CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cùng với việc xây dựng hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa, Đảng Lao động Việt Nam còn chăm lo xây dựng và mở rộng những căn cứ, vùng giải phóng ngay tại chiến trường. Đó là hậu phương tại chỗ có tác dụng rất lớn trong việc duy trì và phát triển chiến tranh nhân dân địa phương, tạo thế đứng chân vững chắc cho các lực lượng cách mạng, chuẩn bị thời cơ cho những đòn đánh lớn của bộ đội chủ lực phối hợp với bộ đội địa phương khi thời cơ đến.

1. Xây dựng và bảo vệ hậu phương tại chỗ

Ở miền Nam, sau Hiệp định Giơnevơ, các lực lượng vũ trang tập kết ra Bắc, các vùng tự do, căn cứ kháng chiến trở thành những vùng bị chính quyền Sài Gòn kiểm soát. Các cơ sở cách mạng bị tổn thất nghiêm trọng. Quần chúng cách mạng bị kìm kẹp, khống chế gắt gao. Nhiều cán bộ kháng chiến, gia đình cách mạng bị địch trả thù, khủng bố.

Trước tình hình đó, tháng 6-1956, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ra Nghị quyết chỉ rõ: “Cần củng cố các lực lượng vũ trang hiện có và xây dựng căn cứ làm chỗ dựa”(1). Thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị, ở nhiều nơi, cán bộ, đảng viên và quần chúng cách mạng chuyển vào các căn cứ kháng chiến cũ ở rừng núi, bưng biền tổ chức sản xuất để tự túc và tự vệ. Do điều kiện liên lạc rất khó khăn, nghị quyết không được truyền đạt tới khắp các địa phương miền Nam, nhưng trước sự khủng bố của đối phương, một số địa phương đã tổ chức lại lực lượng vũ trang tự vệ, xây dựng căn cứ địa cách mạng(2). Từ giữa năm 1958, các “làng rừng” ở U Minh, các căn cứ kháng chiến trong kháng chiến chống Pháp (như chiến khu Đ, Dương Minh Châu, Đồng Tháp Mười, Rừng Sác...) với các “làng chiến đấu”, “làng thoát ly”, “làng độc lập”, “túi dân tản cư”, các “khu bất hợp pháp”, “trại bí mật” ở vùng rừng núi Liên khu 5 được tổ chức, xây dựng lại thành các căn cứ chiến đấu, căn cứ địa cách mạng.

Sở dĩ những căn cứ chiến đấu, căn cứ địa cách mạng được phục hồi, xây dựng một cách nhanh chóng như vậy là bởi nhân dân miền Nam luôn tin yêu Đảng, Chính phủ, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, tin tưởng vào thắng lợi của cách mạng. Tình cảm đó không những không một thế lực nào, không một thủ đoạn nào dù tàn bạo và thâm độc đến đâu có thể dập xóa mà còn luôn luôn được bồi đắp, trở thành nhân tố cốt lõi, thành nền móng cho việc xây dựng, mở rộng hậu phương tại chỗ trong chiến tranh cách mạng miền Nam(3).

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, truyền thống đoàn kết chống ngoại xâm và lòng yêu nước của mỗi người dân Việt Nam nói chung, mỗi người dân miền Nam - thành đồng Tổ quốc nói riêng, được phát huy cao độ. Chính lòng yêu nước, thương nòi, căm thù giặc đã làm dấy lên quyết tâm không đội trời chung với giặc, không hợp tác với giặc. Những người thoát ly đã rút vào rừng núi, bưng biền khôi phục, xây dựng các căn cứ để chiến đấu lâu dài với đối phương. Những người ở lại âm thầm ủng hộ cách mạng, xây dựng các cơ sở cách mạng, các căn cứ “lõm” nuôi giấu cán bộ và tàng trữ vũ khí, quân trang, quân dụng. Nhân dân tìm mọi cách ủng hộ về vật chất, thậm chí cho con em mình mang cả tiền bạc, vũ khí ra vùng căn cứ để tham gia cách mạng.

Hậu phương tại chỗ miền Nam được xây dựng khi mà hậu phương chiến lược miền Bắc xã hội chủ nghĩa được bảo vệ vững chắc. Hậu phương lớn miền Bắc không chỉ cung cấp sức người, sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam mà còn là chỗ dựa tinh thần cho đồng bào và chiến sĩ miền Nam suốt 21 năm kháng chiến chống Mỹ. Miền Bắc đã dành những hạt gạo thơm ngon nhất, gửi những người con ưu tú nhất cho miền Nam. Trong khó khăn, gian khổ, đồng bào và chiến sĩ miền Nam vẫn trông về miền Bắc - một chế độ xã hội mới, chế độ xã hội chủ nghĩa dân chủ, công bằng, tốt đẹp đang trở thành hiện thực “mà nuôi chí bền”(4). Sự chi viện to lớn, toàn diện, liên tục về vật chất và tinh thần ấy đã tạo điều kiện cho cách mạng miền Nam ngày càng phát triển, vùng giải phóng không ngừng mở rộng.

Thực hiện Hiệp định Giơnevơ, ở miền Nam, ngoài lực lượng tập kết ra Bắc, chúng ta đã sắp xếp, bố trí lực lượng ở lại và tiến hành cất giấu vũ khí, với tinh thần “ra đi là hắng lợi, ở lại là vinh quang”. Những cán bộ, đảng viên, chiến sĩ dày dạn kinh nghiệm được bố trí ở lại là lực lượng nòng cốt trong việc tổ chức và phát động quần chúng đấu tranh đòi địch thi hành hiệp định. Ở nhiều địa phương (Bạc Liêu, Rạch Giá, Vĩnh Long, Long An, Sóc Trăng, Kiến Tường...), việc cất giấu vũ khí(5), muối và một số vật chất cần thiết cho hoạt động sau này được bí mật xúc tiến. Ngoài vật chất, vũ khí, một số thợ cơ khí, công nhân quân giới được bố trí ở lại để có thể nhanh chóng tổ chức lực lượng sửa chữa, chế tạo các loại vũ khí thô sơ. Dù số lượng không nhiều và phân bố rải rác nhưng vũ khí, lực lượng để lại theo kế hoạch “ém người chôn súng” là một trong những điều kiện thiết yếu cho việc xây dựng căn cứ kháng chiến ban đầu.


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.17, tr.228.
(2) Xem Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học, Sđd, tr.216.
(3) Xem Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945 - 1975), Sđd, tr.182.
(4) Mượn ý thơ trong bài Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu: “Ở đâu đau đớn giống nòi. Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền”.
(5) Xem Nguyễn Đông Tảo: Những mẩu chuyện về chôn súng đào súng, Thông tin Lịch sử quân sự, số 7-1991, tr.22-23.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Một, 2014, 06:21:10 AM
Bên cạnh đó, ngay sau hiệp định Giơnevơ, Xứ ủy Nam bộ và Khu ủy Khu 5 đã chỉ đạo việc mở các “đường giao liên bí mật”, thành lập các Ban miền Tây, Ban căn cứ để duy trì sự liên hệ về mặt tổ chức đảng giữa các vùng nhằm xây dựng các địa bàn đứng chân của lực lượng cách mạng. Nhờ chủ trương đó, ở nhiều địa phương, sự liên hệ giữa các cơ sở đảng vẫn được duy trì. Đường giao liên bí mật hình thành và ngày càng phát triển tạo điều kiện cho việc xây dựng tuyến hành lang, hệ thống căn cứ địa - hậu phương tại chỗ ở miền rừng núi và vùng giáp ranh những năm 1955 - 1956. Ở Khu 5, đến cuối năm 1955, đường dây liên lạc bắt đầu hình thành từ Bắc vào Nam, qua Quảng Trị, Thừa Thiên đến Quảng Nam, Quảng Ngãi, Kon Tum..., vào tận các tỉnh Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ. Ở Nam Bộ, các tuyến liên lạc cũng được thiết lập, kết nối giữa các vùng rừng núi, đồng bằng và các đô thị.

Từ cuối năm 1956, Xứ ủy Nam Bộ chủ trương thành lập các đội vũ trang tuyên truyền để hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng. Đồng chí Nguyễn Hữu Xuyến - Ủy viên quân sự Xứ ủy Nam Bộ, đã từ U Minh về miền Đông để chỉ đạo việc xây dựng căn cứ địa và tổ chức các đơn vị vũ trang tập trung. Từ năm 1967 trở đi, các đơn vị vũ trang tập trung xuất hiện ngày càng nhiều, bao gồm của Xứ ủy, các tỉnh và lực lượng du kích mật của các địa phương.

Cùng với quá trình hình thành và phát triển của lực lượng vũ trang tập trung, yêu cầu xây dựng, củng cố và mở rộng các vùng căn cứ thành hậu phương tại chỗ cho lực lượng cách mạng, cho các đơn vị vũ trang được đặt ra và giải quyết.

Đầu năm 1957, Xứ ủy Nam Bộ quyết định thành lập khu căn cứ miền Đông trên cơ sở các căn cứ đã có từ thời kháng chiến chống Pháp, gồm hai khu: Khu A (Đông Bắc) là chiến khu Đ cũ được mở rộng ra Bình Long, Phước Long, Quảng Đức giáp biên giới Việt Nam - Campuchia và mở rộng lên phía bắc, tới tận ranh giới miền Trung; Khu B (Tây Bắc) là chiến khu Dương Minh Châu (bắc Tây Ninh) mở rộng lên sát biên giới Việt Nam - Campuchia, chuẩn bị địa bàn đứng chân cho Xứ ủy và nhiều cơ quan trọng yếu của cách mạng miền Nam; được gọi là căn cứ Đông Bắc và Tây Bắc miền Đông Nam Bộ. Khu căn cứ này nằm ở vị trí đầu mối giao thông chiến lược từ miền Bắc vào Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, tiện liên lạc với các quân khu 7, 8, 9 và Sài Gòn - Gia Định. Các đội tự vệ, du kích của các cơ quan trong căn cứ được thành lập, trở thành lực lượng tại chỗ phối hợp với lực lượng chủ lực cơ động ở ngoài căn cứ, đánh bại nhiều cuộc hành quân càn quét lớn của quân Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hòa.

Giữa năm 1958, Liên khu ủy Khu 5 họp hội nghị mở rộng quyết định xây dựng miền tây các tỉnh đồng bằng và khu vực Tây Nguyên thành căn cứ địa cách mạng, gọi là căn cứ Tây Nguyên và Tây Trung Bộ. Hội nghị quyết định tổ chức lực lượng vũ trang và bán vũ trang để bảo vệ căn cứ, bảo vệ cán bộ và nhân dân. Sau hội nghị, việc xây dựng căn cứ, xây dựng lực lượng được xúc tiến mạnh mẽ. Các đơn vị vũ trang tập trung, các đội tự vệ và du kích mật đẩy mạnh hoạt động diệt ác, trừ gian, làm trong sạch địa bàn vùng căn cứ và khu vực tiếp giáp với vùng đối phương kiểm soát. Các dân tộc Tây Nguyên tích cực rào làng, cắm chông, canh phòng. Ngoài nhiệm vụ bảo vệ căn cứ, các đội tự vệ vũ trang còn tổ chức sản xuất để tự túc lương thực, thực phẩm và có một phần dự trữ. Các đội nông binh được thành lập ở nhiều địa phương, tiêu biểu nhất là ở Quảng Ngãi. Ngoài chức năng làm nòng cốt trong việc bảo vệ và sản xuất ở các vùng căn cứ, các đội nông binh còn tổ chức tiếp nhận một số lương thực, thuốc men, muối được bí mật chuyển từ vùng đồng bằng lên, đồng thời tiến hành tích trữ gạo, muối, thuốc men… Các ban tự quản và ban cám sự được thành lập ở Gia Lai, Kon Tum, tây Quảng Ngãi nhằm quản lý mọi mặt vùng căn cứ, vùng làm chủ.

Đến cuối năm 1958, bên cạnh một số căn cứ có từ thời chống Pháp tiếp tục được duy trì, củng cố sau Hiệp định Giơnevơ, nhiều vùng căn cứ mới xuất hiện dọc những miền rừng núi nối với nhau bằng các đường dây liên lạc bí mật. Các vùng căn cứ này được thiết lập ở các tỉnh Tây Nguyên, miền tây các tỉnh đồng bằng Khu 5, khu vực Đông Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ, tạo thành thế đứng mới của cách mạng miền Nam.

Ở các vùng căn cứ, việc tăng gia sản xuất được tiến hành khẩn trương và tích cực để có thể tự túc được lương thực. Nhiều trại nông binh đã được thành lập rải rác khắp các vùng căn cứ để sản xuất tự túc và xây dựng, mở rộng căn cứ vững chắc. Nhân dân tích cực sản xuất để có lương thực ủng hộ cách mạng, hoặc tham gia phát rẫy trữ lúa cho cách mạng(1), đã giải quyết một phần khó khăn cho công cuộc kháng chiến cứu nước.


(1) Đồng bào các dân tộc thiểu số gọi là “rẫy cách mạng”.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Một, 2014, 06:21:57 AM
Từ khi có Nghị quyết 15 soi đường, các đơn vị vũ trang tăng cường các hoạt động diệt ác, phá tề, trừ gian, tiến công, bao vây, bức rút đồn bốt địch; hỗ trợ cho quần chúng đồng loạt nổi dậy giành quyền làm chủ, mở ra vùng giải phóng rộng lớn ở đồng bằng và rừng núi miền Nam: 800 xã trong số 1.202 xã ở Nam Bộ, 3.200 thôn, bản ở Tây Nguyên và miền tây các tỉnh đồng bằng Khu 5. Tại đây, chính quyền cách mạng được thành lập. Chính quyền cách mạng đã tịch thu ruộng đất của bọn phản động chia cho dân nghèo, tổ chức lực lượng tự vệ, vũ trang, vận động nhân dân khôi phục sản xuất, ổn định đời sống, tham gia bảo vệ vùng giải phóng.

Sau năm 1959, cùng với sự phát triển của cách mạng miền Nam, hậu phương tại chỗ ngày càng mở rộng và được củng cố vững chắc trên cả ba vùng chiến lược: rừng núi, nông thôn đồng bằng và đô thị.

Căn cứ địa, vùng giải phóng phát triển thành hậu phương gắn liền với khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng, xây dựng chế độ mới, là nơi tiếp nhận sự chi viện từ miền Bắc, đứng chân xây dựng lực lượng cách mạng, bàn đạp tiến công của lực lượng vũ trang, giành thắng lợi trong kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam(1). Trong suốt quá trình này, tùy điều kiện và tình hình cụ thể, quân và dân các địa phương miền Nam đã vận dụng nhiều biện pháp, sáng tạo nhiều hình thức, kết hợp chặt chẽ các mặt đấu tranh, tạo nên sức mạnh bảo vệ và mở rộng hậu phương tại chỗ của các lực lượng cách mạng miền Nam.

Xây dựng và bảo vệ hậu phương tại chỗ vững mạnh về chính trị - quân sự là nhiệm vụ hàng đầu vì sự tồn tại và phát triển của các khu căn cứ, vùng giải phóng, địa bàn chiến lược...

Ở các vùng giải phóng, vùng căn cứ, chúng ta thường xuyên chăm lo xây dựng lực lượng dân quân, du kích, bộ đội địa phương làm nòng cốt cho toàn dân tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu; xây dựng làng chiến đấu vừa sản xuất, vừa sẵn sàng đánh đối phương kịp thời, hiệu quả bằng mọi vũ khí sẵn có, bảo vệ, mở rộng vùng giải phóng tạo thành thế liên hoàn, hỗ trợ cho nhau; đồng thời, chăm lo xây dựng và củng cố chính quyền vững mạnh là những nhiệm vụ quan trọng đảm bảo cho hậu phương tại chỗ không ngừng mở rộng và phát huy vai trò, tác dụng đối với cuộc kháng chiến.

Năm 1960, toàn miền Nam có khoảng 12.000 bộ đội địa phương và 10.000 dân quân, du kích cùng hàng chục vạn dân quân tự vệ. Lực lượng này tiếp tục được tăng cường trong quá trình mở rộng vùng giải phóng. Đến năm 1965, ở miền Nam đã có 68.000 bộ đội địa phương và 137.000 dân quân du kích. Đây là lực lượng chính yếu cho việc phát động toàn dân tham gia phong trào đấu tranh chống phá âm mưu bình định của địch mở rộng vùng giải phóng, góp phần làm thất bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ

Bên cạnh dân quân, du kích, bộ đội địa phương, lực lượng chính trị của quần chúng được chú trọng phát triển. Thực tiễn cách mạng đã chứng minh sự tương hỗ giữa nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị, xây dựng cơ sở cách mạng với việc bảo vệ hậu phương tại chỗ. Khi nào và ở đâu, nhiệm vụ này được chú trọng thực hiện tốt thì khi ấy và ở đó, hậu phương tại chỗ được bảo vệ và mở rộng, thế trận chiến tranh được củng cố và phát triển.

Nòng cốt của lực lượng chính trị ở khắp miền Nam là những tổ chức chính trị của quần chúng do các cấp ủy đảng ở cơ sở lãnh đạo. Các tổ chức chính trị của quần chúng (Hội Nông dân giải phóng, Hội Lao động giải phóng, Hội Liên hiệp phụ nữ giải phóng, Hội Nhà giáo yêu nước…) tập hợp nhân dân theo nghề nghiệp, lứa tuổi, giới tính và động viên mọi người thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và chính quyền, đóng góp tích cực vào nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ hậu phương tại chỗ. Bên cạnh đó, ở một vài tỉnh miền Đông, Tỉnh ủy thành lập Ban Dân tộc thiểu số nhằm tập hợp lực lượng chính trị là đồng bào dân tộc, vận động đồng bào các dân tộc tham gia hoạt động cách mạng, làm cơ sở để lập thêm những căn cứ mới.

Ở nông thôn đồng bằng vùng đối phương chiếm, cán bộ, đảng viên và chiến sĩ ta bền bỉ thực hiện “ba bám”, “bốn bám” tập hợp các tầng lớp nhân dân đấu tranh chính trị với đối phương thông qua các hoạt động có ý nghĩa thiết thực với quần chúng như đấu tranh chóng đối phương tịch thu ruộng đất xây căn cứ quân sự, bắn phá, cào ủi xóm làng, ruộng vườn, gom dân vào các trại tập trung, bắt lính, buộc đối phương phải bồi thường thiệt hại về tài sản và tính mạng cho nhân dân; tiến tới vận động thanh niên trốn lính, che giấu, bảo vệ lính trốn; rồi bao vây, bức rút đồn bốt đối phương. Qua đấu tranh, sự giác ngộ chính trị của quần chúng nhân dân vùng đối phương kiểm soát được nâng cao, tạo điều kiện để xây dựng, củng cố và phát triển cơ sở cách mạng trong các vùng bị đối phương chiếm đóng.


(1) Xem Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học, Sđd, tr.218.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Một, 2014, 06:22:31 AM
Một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu bảo đảm sức mạnh của hậu phương tại chỗ là việc xây dựng và củng cố chính quyền vững mạnh. Hệ thống chính quyền ở các vùng giải phóng, vùng tranh chấp và vùng tạm chiếm đều được các cấp ủy đảng chăm lo xây dựng và củng cố. Trong việc tổ chức lực lượng dân quân, du kích, bộ đội địa phương, xây dựng làng chiến đấu, thành lập các thành công chính trị của quần chúng… đều có vai trò to lớn của chính quyền cách mạng các cấp.

Trong quá trình Đồng khởi, ở nhiều khu vực đồng bằng và miền núi miền Nam, các cấp ủy nhân dân tự quản của xã, ấp được hình thành thay thế cho bộ máy chính quyền Sài Gòn bị tan rã hoặc bỏ chạy. Những ủy ban này đã tổ chức nhân dân diệt trừ các ổ nhóm phản động, các phần tử tay sai của đối phương còn sót lại, làm trong sạch địa bàn; ổn định sản xuất, xây dựng cuộc sống mới; đồng thời chuẩn bị điều kiện sẵn sàng đối phó với những cuộc càn quét, đánh phá của đối phương. Tuy nhiên, ủy ban nhân dân tự quản chỉ là hình thức chính quyền cách mạng sơ khai, mới ở cấp cơ sở và chưa thành một hệ thống. Từ khi Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ra đời (20-12-1960), ủy ban mặt trận được thành lập ở các địa phương,. Sau thắng lợi Tết Mậu Thân 1968, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam tổ chức tuyển cử bầu ra ủy ban nhân dân cách mạng các cấp. Tháng 6-1969, Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập. Từ đó, hệ thống chính quyền từ trung ương tới cơ sở được củng cố, kiện toàn. Hệ thống chính quyền đó đã phát huy mạnh mẽ vai trò to lớn trong việc vận động và tổ chức quần chúng tích cực tham gia nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ hậu phương tại chỗ.

Ở các địa bàn trọng điểm, một bộ phận chỉ đạo gồm đại diện các cấp ủy đảng, cán bộ chính trị, quân sự được lập ra để chỉ đạo nhân dân và lực lượng vũ trang địa phương đấu tranh quân sự, chính trị, binh vận nhằm tạo nên sức mạnh phá rã các tổ chức kìm kẹp của đối phương, giành quyền làm chủ trên từng vùng, từng mảng, từng khu vực ngày càng rộng lớn, xây dựng các vùng này thành căn cứ, khu du kích, vùng giải phóng liên hoàn, thành hậu phương tại chỗ của lực lượng cách mạng miền Nam.

Đồng thời với việc xây dựng lực lượng quân sự và chính trị, nhân dân hầu khắp các địa phương miền Nam đã xây dựng hệ thống làng, xã, ấp chiến đấu vững chắc, liên hoàn. Làng chiến đấu là làng, xã được xây dựng và chuẩn bị mọi mặt để nhân dân và lực lượng vũ trang địa phương vừa sinh sống, sản xuất, vừa bám trụ đánh đối phương và đấu tranh chống đối phương kịp thời, hiệu quả bằng mọi loại vũ khí sẵn có. Kế thừa những kinh nghiệm trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, làng chiến đấu được xây dựng vững mạnh toàn diện: tổ chức đảng, chính quyền, các ngành, đoàn thể nhân dân được tổ chức và giáo dục chu đáo; thế trận, công sự, vật cản và các cơ sở vật chất khác được chuẩn bị trước và trong quá trình chống đối phương. Dựa vào hệ thống công sự, trận địa được bố trí, tổ chức phù hợp với điều kiện địa hình và phương án chiến đấu cụ thể từng địa phương, từng thời điểm, quân và dân ta đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị và binh vận, bảo vệ, mở rộng vùng làm chủ, vùng giải phóng, tạo thành thế liên hoàn, hỗ trợ cho nhau. Làng chiến đấu đã phát huy tốt vai trò cơ sở của chiến tranh nhân dân. Làng chiến đấu tiêu biểu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước phải kể đến như làng chiến đấu: Sơn Mỹ, Hòa Bình, Phổ Minh (Quảng Ngãi), Hòa Hải, Anh Dũng (Quảng Nam - Đà Nẵng), Long Tân, Long Điền, Đất Đỏ (Bà Rịa), Đắc Uy (Kon Tum), An Trường (Trà Vinh)... Quân và dân ta trong các làng chiến đấu đã xây dựng hệ thống canh phòng, các bãi mìn, bãi chông, địa đạo, hầm trú ẩn và cất giấu lương thực, công sự chiến đấu, hệ thống hào giao thông nối liền các xóm, thôn. Bằng vũ khí thô sơ, vũ khi thu được của đối phương, lực lượng du kích và nhân dân địa phương đã bẻ gẫy nhiều cuộc càn của đối phương. Đây thực sự là những pháo đài vững chắc chống phá có hiệu quả các cuộc hành quân càn quét và bình định của Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa.

Tại các vùng tranh chấp, vùng nằm sâu trong hậu phương, địa bàn xung yếu uy hiếp mạnh các mục tiêu chiến lược của Mỹ, ngoài hệ thống công sự, trận địa, quân và dân ta còn xây dựng hầm bí mật, đào địa đạo để ém giấu lực lượng, tài sản, chống các cuộc càn quét của Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Ở những nơi thường xuyên bị đối phương đánh phá như Củ Chi, Bến Cát, Vĩnh Linh và những làng mạc xung quanh căn cứ quân sự Mỹ, quân và dân ta đã đào hệ thống địa đạo sâu trong lòng đất với nhiều tầng, nhiều lớp kiên cố, tổ chức các tuyến giao thông, giao liên bí mật liên kết các làng xã giải phóng với nhau, hình thành các tuyến trước, tuyến sau, bố trí lực lượng quân sự, chính trị phù hợp trên từng tuyến, tạo thành thế trận vững chắc bảo vệ vùng giải phóng. Dựa vào địa đạo để ém giấu quân, công sự và trận địa chiến đấu đã bố trí sẵn, quân và dân ta ở vùng Tam giác sắt (Củ Chi - Bến Cát - Trảng Bàng) đã kiên cường bám trụ, khôn khéo luồn lách, giáng cho cả quân chủ lực Việt Nam Cộng hòa lẫn quân viễn chinh Mỹ những đón đích đáng, làm thất bại những cuộc hành quân tìm diệt và bình định của chúng.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Một, 2014, 06:23:00 AM
Ngay sau khi các căn cứ quân sự của Mỹ mọc lên, một hình thức tiến công kiểu mới của chiến tranh nhân dân ra đời, đó là các vành đai diệt Mỹ. có thể nói, ở đâu có quân Mỹ đóng, ở đó có vành đai diệt Mỹ. Đó là hệ thống các ấp, xã chiến đấu liên hoàn bao quanh, áp sát các căn cứ quân sự Mỹ nhằm vây hãm, tiêu hao, tiêu diệt đối phương. Nó kế thừa và phát triển lên một trình độ mới của làng, xã chiến đấu và phương thức tác chiến của chiến tranh nhân dân địa phương từng có từ thời kháng chiến chống Pháp. Vành đai diệt Mỹ xuất hiện ở Đà Nẵng (4-1965), tiếp đến ở Chu Lai, An Khê, Đồng Dù, Rạch Kiến, Bình Đức, Bến Cát... Ngoài các trận địa nổi (công sự kết hợp với vật cản...), có nơi còn có hệ thống trận địa ngàm trong lòng đất. Tùy tình hình và điều kiện của từng địa phương, vành đai diệt Mỹ được tổ chức thành nhiều tầng, nhiều lớp. Dựa vào vành đai diệt Mỹ, nhân dân và du kích trong vành đai kiên cường bám trụ, tiến hành đánh đối phương bằng ba mũi giáp công, vận dụng nhiều cách đánh (bắn tỉa, phục kích, tập kích). Các vành đai diệt Mỹ đã thực sự tạo sức mạnh kìm giữ, giam chân một bộ phận lực lượng cơ động Mỹ, đánh Mỹ dài ngày, tiêu hao, tiêu diệt đối phương và giữ vững quyền làm chủ, giữ vững thế trận chiến tranh nhân dân, tạo thời cơ và địa bàn thuận lợi cho các đơn vị bộ đội chủ lực thực hiện các trận đánh lớn vào sâu trong các căn cứ của đối phương. Đây là một phương thức đánh đối phương độc đáo, thể hiện tư tưởng làm chủ và tiến công, một điển hình của thế trận chiến tranh nhân dân Việt Nam và hình thức toàn dân đánh giặc trong kháng chiến chống Mỹ ở các địa phương miền Nam.

Tại vùng rừng núi và khu vực giáp ranh, nơi đứng chân của bộ độ chủ lực và các cơ quan chỉ đạo kháng chiến, địa bàn tập kết lực lượng và vật chất chi viện từ hậu phương chiến lược miền Bắc vào, bên cạnh việc bố phòng, ngụy trang, phòng gian, tuần tra canh gác..., quân và dân ta đã tích cực và chủ động tiến công đối phương, bẻ gãy các cuộc hành quân của chúng đánh lên các vùng căn cứ để bảo vệ vững chắc các căn cứ, kho tàng, mạng đường sá và khu vực tập kết lực lượng. Để bảo vệ căn cứ đầu não B2, tạo thế chiến tranh nhân dân ở chiến khu Dương Minh Châu - một địa bàn hầu như không có dân, từ giữa năm 1966, Bộ chỉ huy Miền đã triển khai xây dựng thế trận phòng thủ căn cứ theo phương châm chiến đấu tại chỗ bằng lực lượng tại chỗ, khắc phục tình trạng ít dân bằng cách tổ chức các đôi tự vệ, du kích của cơ quan trong căn cứ (cán bộ, nhân viên cơ quan dân, chính, đảng, bộ đội ở các đơn vị bảo vệ, vận tải, cơ sở kho tàng, bệnh viện, xưởng sửa chữa... được biên chế thành từng tiểu đội, trung đội du kích, đại đội, tiểu đoàn địa phương huyện); đồng thời, trên cơ sở vị trí đóng quân của các cơ quan, đơn vị mà tổ chức ra các “huyện”, “xã”, “cụm” chiến đấu (gồm 6 “huyện” khu vực dân, chính, đảng và 7 “huyện” khu vực Bộ Chỉ huy Miền), được trang bị đầy đủ vũ khí, đạn dược, nhất là súng chống tăng B40 và súng máy cao xạ 12,7mm mới từ hậu phương miền Bắc chuyển vào, có hệ thống tổ chức chỉ huy hiệp đồng chặt chẽ, hình thành lực lượng tại chỗ bao gồm du kích cơ quan và bộ đội địa phương bám trụ đánh Mỹ tại chỗ bảo vệ căn cứ và cơ động trong phạm vi đóng quân (huyện) đánh tiêu hao sinh lực đối phương, chia cắt chúng, phối hợp với lực lượng chủ lực cơ động ở ngoài căn cứ hình thành trên thực tế ba thứ quân và được bố trí thành thế trận liên hoàn, có chiều sâu, bảo đảm thế kiềm, thế cắt và tấn vững chắc, chi viện và hỗ trợ cho nhau thuận lợi, đánh bại nhiều cuộc hành quân càn quét lớn như hành quân Áttơnborơ (14-9 – 25-11-1966), hành quân Gianxơn Xiti (22-2 – 15-4-1967)...

Trong các thành thị và vùng bị đối phương tạm chiếm, chúng ta ra sức xây dựng các tổ chức bí mật, cơ sở ngầm, căn cứ lõm... Để chiếm được cảm tình của các tầng lớp thị dân, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam và các thành viên của mình không ngừng tuyên truyền, giáo dục quần chúng về đường lối, chủ trương cách mạng của ta, tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa; đồng thời, lên án những tội ác, âm mưu phản cách mạng của chính quyền và quân đội Sài Gòn. Để mở rộng Mặt trận, chúng ta dựa vào những tổ chức nghiệp đoàn, tôn giáo, chính trị và các đảng phái đối lập với chính quyền Sài Gòn; từ đó, các cán bộ, đảng viên hoạt động ở thành thị tập hợp, tổ chức quần chúng, phát triển lực lượng trong các ngành, các giới, không ngừng củng cố và mở rộng cơ sở chính trị bí mật tạo thành những căn cứ lõm ngay trong lòng đối phương. Những căn cứ lõm này là nơi đứng chân của cơ quan lãnh đạo và của cơ sở hậu cần. Ở Quảng Nam - Đà Nẵng, “lõm căn cứ” Đá Mặn ở sát sân bay Nước Mặn của lính thủy đánh bộ Mỹ, có chi bộ hợp pháp lãnh đạo, có đủ hầm bí mật cất giấu cán bộ. Các lõm căn cứ chỉ huy, bảo đảm cho các vành đai diệt Mỹ như Chu Lai, Củ Chi, Bình Đức... đều ở gần các căn cứ lớn của Mỹ. Đây thực sự là một chiêu thức biến hậu cứ an toàn của Mỹ thành hậu phương tại chỗ của ta. Một trong những yếu tố quan trọng góp phần làm nên thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Ở ngay trong các đô thị lớn, thậm chí cả ở Sài Gòn - Gia Định, cũng tồn tại những cơ sở cách mạng. Bề ngoài có vỏ bọc làm ăn hợp pháp, nhưng thực chất là cơ sở đứng chân của lãnh đạo, chỉ huy, là nơi giấu cán bộ, giấu quân, là nơi chuẩn bị và dữ trữ vũ khí đạn dược cho các trận đánh trong thành phố, lại làm cả nhiệm vụ khai thác một số lượng quan trọng vật chất, kỹ thuật cấp thiết cho khách chiến điển hình như hãng xe đạp Nam Long, hãng sơn Bạch Tuyết... Nếu không dựa vào những cơ sở này, chúng ta khó có thể xây dựng được lực lượng chiến đấu tại chỗ và không thể bảo đảm hậu cần cho các trận đánh trong nội đô, mà chính cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 ở Sài Gòn và nhiều thành phố, thị xã trên khắp miền Nam là những minh chứng sinh động.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Một, 2014, 06:23:56 AM
Bên cạnh đó, chúng ta tìm cách thâm nhập vào các tổ chức chính trị, tôn giáo, cơ quan, đoàn thể của đối phương, vận động và giác ngộ một số nhân viên thuộc các công sở của chính quyền và một số binh lính sĩ quan quân đội Sài Gòn, qua đó, gây dựng cơ sở cách mạng ngay trong lòng các tổ chức của đối phương, tạo nên lõm chính trị, ổ an toàn cho các cán bộ, đảng viên bám sát địa bàn, thu thập tin tức, bắt mạch kịp thời các động thái chính trị, quân sự của đối phương, từ đó có biện pháp tổ chức tập hợp quần chúng đấu tranh công khai và bán công khai kịp thời và hiệu quả đối với kẻ thù.

Song song với nhiệm vụ xây dựng hậu phương tại chỗ vững mạnh về chính trị - quân sự thì xây dựng và bảo vệ hậu phương tại chỗ vững mạnh về kinh tế cũng là nhiệm vụ quan trọng được các cấp ủy đảng và chính quyền thường xuyên thực hiện.

Thông qua các tổ chức chính trị của quần chúng, các cấp ủy đảng và chính quyền cách mạng đã lãnh đạo và tổ chức nhân dân đấu tranh chính trị với Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa; đấu tranh chống chiếm ruột đất lập căn cứ quân sự, kiên quyết bám đất, giữ làng, không cho chúng phá hoại mùa màng, phá hoại kinh tế, buộc đối phương bồi thường những thiệt hại mà chúng gây ra; chống gom dân vào các khu tập trung, phá thế kìm kẹp, bỏ khu tập trung, bung về làng cũ sản xuất; phối hợp chặt chẽ giữa đấu tranh kinh tế với đấu tranh chống bình định, lấn chiếm. Phong trào quần chúng bung ra ngày càng nhiều góp phần phục hồi sản xuất, lấp dần vào các khu trắng, tạo điều kiện xây dựng và mở rộng hậu phương tại chỗ.

Ở các vùng giải phóng, vùng ven, vùng tranh chấp, quân và dân ta đã kết hợp nhiệm vụ vừa sản xuất vừa chiến đấu, sản xuất để chiến đấu và chiến đấu để bảo vệ sản xuất, bảo vệ xóm làng. Chính quyền cách mạng tổ chức lực lượng tuần tra, canh phòng để bảo vệ xóm làng, bảo vệ sản xuất. Có những nơi nhân dân đào công sự, hầm hào, địa đạo ngay trên cánh đồng để có thể chiến đấu ngay trong lúc sản xuất.

Song song với cuộc đấu tranh chống đối phương phá hoại kinh tế, bảo vệ sản xuất, quân và dân vùng giải phóng, vùng căn cứ thường xuyên chú trọng tăng gia sản xuất. Thực tế những năm đánh Mỹ trên chiến trường miền Nam cho thấy, nếu chỉ dựa vào nguồn chi viện từ hậu phương miền Bắc, mà coi nhẹ nhiệm vụ sản xuất tự túc thì mỗi khi bị đối phương ngăn chặn quyết liệt tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn hay các vùng căn cứ, vùng giải phóng bị thu hẹp, đời sống quân và dân ở đó sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Vả lại, tuy hậu cần đã đề ra tiêu chuẩn ăn, nhưng không phải lúc nào cũng có để mua, mà có mua được chưa chắc đã vận chuyển được về sử dụng(1). Việc đẩy mạnh tăng gia sản xuất đã là đáp án thích hợp nhất cho bài toán “lấy gì ra nuôi quân đánh giặc” trong những thời điểm tình thế cách mạng cam go nhất, chẳng hạn như giai đoạn 1968 - 1970 trên các chiến trường miền Nam.

Với khẩu hiệu “Sản xuất như đánh giặc”, hầu hết cán bộ, chiến sĩ Quân khu 5 đều thực hiện “ngày sản xuất, đêm chiến đấu và công tác”, “ngày sản xuất làm ăn, tối hoạt động”. Quân khu Trị - Thiên phát động phong trào trồng 5 triệu gốc sắn. Đảng bộ, Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết định dành 10% quân số làm nhiệm vụ tăng gia sản xuất, hình thành nên hệ thống nương rẫy dọc hai bờ sông Pôcô, Sa Thầy, khu vực các trục đường 14, 19... Quân khu miền Đông Nam Bộ dành ba đại đội (C140, C116 và C108) quân số mỗi đại đội hơn 100 người sản xuất lương thực - thực phẩm từ bắc suối Mã Đà, suối Vắt qua lộ Út đến suối Ràng. Các đơn vị vũ trang ở chiến khu Đ, chiến khu Dương Minh Châu thường xuyên tổ chức trồng tỉa cây lương thực, săn bắn thú rừng, đánh bắt cá, tôm, hái lượm rau củ quả trong rừng để cải thiện đời sống cho bộ đội. Việc tăng gia sản xuất chủ yếu là trồng trọt theo lối đa canh kết hợp với chăn nuôi. Cây - con chủ yếu là mì (sắn), lúa, bắp, khoai, rau sanh, các loại đậu, gà, lợn (heo). Ngoài trồng trọt, chăn nuôi, ta còn xây dựng các cơ sở chế biến lương khô, xay xát và tổ chức các đôi khai thác nguồn lợi tự nhiên (chủ yếu là lâm thổ sản).

Bên cạnh việc tăng gia sản xuất tự túc lương thực - thực phẩm, sản xuất vũ khí thô sơ, thuốc men, ta còn tổ chức huy động thu mua lương thực vừa bảo đảm thường xuyên vừa có lượng dự trữ. Chẳng hạn năm 1957, khu căn cứ Bắc Tây Ninh đã dự trữ được 4.000 giạ lúa, năm 1960, khu vực Trà Vông đã dự trữ được hàng vạn giạ lúa.

Có thể nói, cùng với thu mua vật chất, việc duy trì và đẩy mạnh sản xuất trong các vùng giải phóng, vùng căn cứ không chỉ giải quyết vấn đề kinh tế và hậu cần tại chỗ mà còn có ý nghĩa đối với việc xây dựng, củng cố hậu phương tại chỗ về mặt quân sự, chính trị. Bởi vì những khó khăn về kinh tế, đời sống sẽ tác động đến các mặt quân sự, chính trị, tư tưởng. Điều đó sẽ là cái cớ cho đối phương lợi dụng và tăng cường chiến tranh tâm lý nhằm lấn đất, giành dân, thu hẹp hậu phương tại chỗ của cách mạng miền Nam.

Tại những vùng vừa giành được quyền làm chủ, những vùng căn cứ và vùng giải phóng, cùng với việc đẩy mạnh sản xuất, chính quyền cách mạng thực hiện chia ruột đất cho nông dân, xóa bỏ các thứ tô do chính quyền Sài Gòn đặt ra trước đó; động viên, đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân, cổ vũ họ trong cuộc đấu tranh chống phá bình định của đối phương, hăng hái tham gia xây dựng và bảo vệ vùng giải phóng, phát triển sản xuất, xây dựng và bảo vệ vùng giải phóng, phát triển sản xuất, xây dựng cuộc sống mới. Tính đến năm 1965, chính quyền cách mạng đã chia 2,1 triệu ha ruộng đất cho nông dân. Đến năm 1968, nông dân miền Nam lại được chia hàng vạn hécta ruộng đất. Việc ruộng đất về tay nông dân là sự xác lập quyền làm chủ của người nông dân trong các vùng giải phóng đối với loại tư liệu sản xuất cơ bản đã tạo ra sự gắn bó chặt chẽ giữa quyền lợi kinh tế của người lao động với chế độ chính trị - xã hội mới hình thành ở vùng giải phóng.


(1) Xem Bộ Tư lệnh Quân khu 7: Lịch sử hậu cần Quân khu 7 (1945 - 2000), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000, tr.298.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Một, 2014, 06:24:19 AM
Các tổ vần công, đổi công - một hình thức giúp đỡ tương trợ nhau trong sản xuất và cuộc sống ra đời từ cuộc kháng chiến chống Pháp, được duy trì và phát triển trong kháng chiến chống Mỹ. trong các tổ vần công, đổi công, các tổ viên luân phiên làm công tác cảnh giới để những người còn lại cày cấy, thu hoạch kịp thời vụ, lần lượt hỗ trợ nhau làm công sự chống bom, pháo, giúp nhau cất giấu trâu bò, dụng cụ, lương thực mỗi lần đối phương càn quét… Hình thức này làm tăng tinh thần cố kết cộng đồng, tăng năng suất lao động, là chỗ dựa nửa hợp pháp cho cán bộ, đảng viên ta hoạt động. Ngoài ra, các thành viên trong tổ còn động viên nhau trong cuộc sống hằng ngày, trong việc đóng góp sức người, sức của cho kháng chiến, cho việc xây dựng và mở rộng hậu phương tại chỗ.

Xây dựng hậu phương tại chỗ vững mạnh về văn hóa - giáo dục cũng là nhiệm vụ quan trọng được các cấp ủy đảng và chính quyền quan tâm, chú trọng.

Cùng với sự phát triển của cách mạng, sự ra đời của các tổ chức văn hóa giải phóng như Hội Văn học - Nghệ thuật giải phóng, Hội Nhà báo giải phóng, Nhà xuất bản giải phóng, Đài Phát thanh giải phóng, Xưởng phim giải phóng, các đội văn công chuyên và không chuyên, với đội ngũ cán bộ văn hóa, văn nghệ trưởng thành trong thực tiễn đấu tranh cách mạng, đã góp phần quan trọng vào việc tuyên truyền, vận động quần chúng thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, của Mặt trận, xây dựng và nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần ở các vùng giải phóng. Đặc biệt sự ra đời của Thông tấn xã giải phóng (9-1960) đã góp phần quan trọng trong việc giác ngộ, tập hợp lực lượng yêu nước từ vĩ tuyến 17, qua miền Trung, Tây Nguyên vào tận mũi Cà Mau.

Chính quyền cách mạng và các đoàn thể quần chúng như công hội, nông hội, đoàn thanh niên, hội phụ nữ.. đã vận động nhân dân tham gia bài trừ văn hóa thực dân, bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc để xây dựng đời sống văn hóa mới.

Nhằm đào tạo thế hệ trẻ có kiến thức, đạo đức, sức khỏe, lòng yêu quê hương, đất nước, căm thù giặc, góp phần vào cuộc đấu tranh chống văn hóa - giáo dục nô dịch của Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa, góp phần nâng cao trình độ chính trị, văn hóa cho cán bộ các ngành, các cấp thuộc khối quân - dân - chính, đảng và nhân dân vùng giải phóng, ngành giáo dục giải phóng được thành lập. Được sự chi viện của miền Bắc, ngành giáo dục giải phóng nhanh chóng phát triển vươn lên đáp ứng yêu cầu “giải phóng tới đâu, mở đường tới đấy”. Đến năm 1966, trên các vùng giải phóng toàn miền Nam đã có gần 6.000 trường trung học phổ thông với 500.000 học sinh. Năm 1967, các trường sư phạm giải phóng đào tạo giáo viên cấp I, cấp II được thành lập. Bên cạnh giáo dục phổ thông, phong trào bổ túc văn hóa đã bồi dưỡng, nâng cao trình độ văn hóa cho hàng trăm nghìn cán bộ các cấp của mặt trận, của chính quyền cách mạng và đoàn thể quần chúng. Không chỉ ở vùng giải phóng, vùng căn cứ, ngành giáo dục giải phóng cũng đã mở rộng ảnh hưởng vào các trường học ở các vùng tranh chấp. Tại đây, cán bộ giáo dục giải phóng khắc phục gian khổ, không quản hy sinh đã bám trụ địa bàn, mở lớp học cho con em nhân dân lao động.

Từ sau Đồng khởi, mạng lưới y tế phát triển mạnh mẽ ở cả vùng giải phóng, vùng giáp ranh và vùng tranh chấp. Cùng với hệ thống bệnh viện, các cơ sở nghiên cứ, cơ sở bào chế..., các ban y tế giải phóng của các khu, tỉnh, huyện, xã lần lượt được thành lập, tạo thành mạng lưới y tế điều trị, khám chữa bệnh rộng khắp. Ngay tại chiến khu Đ, Ban quân dân y được thành lập, do một liên tỉnh ủy viên làm trưởng ban, có nhiệm vụ tổ chức các cơ sở quân dân y các tỉnh trên địa bàn miền Đông. Mạng lưới này ngày càng phát triển đáp ứng yêu cầu bảo vệ sức khỏe cho cán bộ, chiến sĩ, nhân dân và tham gia cứu chữa thương bệnh binh từ tuyến trước chuyển về. Bên cạnh số cán bộ y tế từ miền Bắc vào (từ năm 1961 đến năm 1975 có 1.641 người), ngành y tế giải phóng đã thành lập hệ thống các trường trung cấp, sơ cấp y, dược, mở các lớp chuyên tu, bổ túc; đào tạo được đội ngũ những người thầy thuốc và nhân viên y tế tận tụy trong công việc, có năng lực chuyên môn vững vàng, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của cuộc kháng chiến, của các vùng giải phóng ngày càng rộng.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhờ các chủ trương, biện pháp đúng đắn, sáng tạo, Đảng đã động viên và phát huy được sức mạnh của lòng yêu nước, ý thức dân tộc, truyền thống đoàn kết, bất khuất trong mỗi người dân miền Nam, biến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ hậu phương tại chỗ thực sự thành sự nghiệp của quần chúng nhân dân, dựa trên sự giác ngộ của quần chúng nhân dân. Hậu phương tại chỗ của cách mạng miền Nam không chỉ được xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc mà còn ngày càng được mở rộng và củng cố trên khắp ba vùng chiến lược, với nhiều hình thức đa dạng, ngày càng phát huy đầy đủ vai trò, tác dụng đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Hai, 2014, 09:43:12 PM
2. Phát huy vai trò của hậu phương tại chỗ

Trong 21 năm kháng chiến chống Mỹ, việc xây dựng hậu phương tại chỗ rộng khắp là yêu cầu có tính chất chiến lược của chiến tranh nhân dân Việt Nam, nhằm khai thác, động viên, phát huy cao độ mọi tiềm lực của từng địa phương, từng chiến trường, bảo đảm cho lực lượng tại chỗ thực hiện bám trụ, đánh đối phương liên tục và lâu dài; khắc phục khó khăn về giao thông vận tải trong điều kiện địa thế đất nước dài và hẹp, chiến trường dễ bị chia cắt.

Trước hết, hậu phương tại chỗ là nguồn trực tiếp cung cấp sức người, sức của cho các chiến trường. Vùng làm chủ, vùng giải phóng được xây dựng vững mạnh, toàn diện và ngày càng mở rộng đã tạo điều kiện cho việc huy động sức người, sức của phục vụ kháng chiến, thực hiện hậu cần tại chỗ. Dựa vào sự giác ngộ chính trị của nhân dân, chúng ta đã phát huy mạnh mẽ sự tham gia đóng góp của nhân dân vào nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ hậu phương tại chỗ suốt 21 năm kháng chiến chống Mỹ, dù ở vùng giải phóng, vùng tranh chấp hay vùng bị đối phương kiểm soát; phần lớn các tầng lớp nhân dân miền Nam từ em nhỏ đến cụ già đều tự nguyện tham gia, ủng hộ cách mạng bằng nhiều hành động như: liên lạc, dẫn đường, vận chuyển vũ khí, nuôi giấu cán bộ, đấu tranh chính trị chống đối phương phá hoại nhà cửa, mùa màng... Hàng triệu lượt người được huy động phục vụ chiến đấu. hàng chục vạn thanh niên nam nữ đã gia nhập lực lượng vũ trang ba thứ quân. Từ đô thị và nông thôn bị đối phương tạm chiếm, nhiều người đã tìm đến với cơ sở cách mạng hoặc vùng giải phóng, vùng căn cứ gia nhập lực lượng vũ trang. Ngay từ những ngày đầu kháng chiến, nhiều quần chúng đã “vô cứ, ra bưng” nuôi ý chí, đợi thời cơ về giải phóng quê hương. Không chỉ có nông dân, công nhân, tiểu thương, nhiều nhân sĩ, trí thức đã rời Sài Gòn và các thành phố khác của miền Nam vào căn cứ, như bác sĩ Phùng Văn Cung(1), giáo sư Nguyễn Ngọc Thưởng, nhà soạn kịch Trần Hữu Trang...

Khoảng 15 năm (1960 - 1975), hậu phương tại chỗ đã đảm bảo 22,5% nhu cầu vật chất của lực lượng vũ trang nhân dân miền Nam. Nếu tính cả số chiến lợi phẩm thu được và số lương thực, thực phẩm do bộ đội tập trung sản xuất thì trong 21 năm chiến tranh, hậu cần tại chỗ đáp ứng được khoảng 35% nhu cầu của các chiến trường. Tỷ lệ 35% đó có ý nghĩa to lớn trong điều kiện Mỹ và chính quyền Sài Gòn thường xuyên sử dụng các biện pháp quân sự, kinh tế, chính trị để ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc, phá hoại và bao vây kinh tế đối với vùng giải phóng, đánh phá kho tàng, căn cứ, dự trữ chiến lược của ta. Đặc biệt, tỷ lệ 35% mà hậu cần tại chỗ đáp ứng nhu cầu của các chiến trường càng trở nên quan trọng vào những thời điểm sự chi viện từ miền Bắc gặp khó khăn và nguồn thu mua từ thị trường Campuchia gặp trắc trở(2).

Trong những năm chiến tranh, mặc dù đối phương kiểm soát chặt chẽ, cộng với sự càn quét và đánh phá liên tục ruộng vườn, cơ sở sản xuất nhằm hạn chế sự đóng góp, giúp đỡ của nhân dân đối với cách mạng, nhưng dựa vào sự giúp đỡ, ủng hộ của nhân dân vùng nông thôn bị đối phương chiếm và dựa vào các cơ sở cách mạng ở đô thị, các thành công hậu cần của ta đã tổ chức thu mua và vận chuyển được một số thuốc chữa bệnh và vật chất thiết yếu khác. Các má, các chị mua từng cân muối, đôi đèn, viên thuốc rồi chuyển lên căn cứ. Khi được cán bộ cách mạng vận động, nhân dân vùng giải phóng sẵn sàng tiếp tế gạo, muối chuyển vào căn cứ cho lực lượng vũ trang. Nhân dân mang xe thồ, xuồng ghe, xe bò, xe trâu vận tải hàng hóa cho bộ đội. Ở chiến khu Dương Minh Châu, bộ đội đi đến đâu cũng được đồng bào thương yêu như ruột thịt. Có những gia đình nuôi cả tiểu đội trong nhà, nấu cơm cho ăn hàng tháng trời, nhà này hết gạo lại giao cho nhà khác nuôi(3).

Để động viên nhân lực, vật lực phục vụ kháng chiến, phục vụ các chiến dịch tiến công của bộ đội, tổ chức hậu cần của ta được thành lập, bao gồm hậu cần Miền, hậu cần quân khu, hậu cần các địa phương và hậu cần nhân dân, đã bám trụ lại vùng giáp ranh, vùng tranh chấp, vươn sâu vào vùng bị đối phương kiểm soát, tới tận vùng nông thôn đồng bằng đông dân, nhiều của và vùng đô thị để khai thác nguồn hậu cần ngay trong hậu cần chiến lược của địch. Một số cán bộ được giao nhiệm vụ giả danh các nhà tư sản(4) thu mua lương thực, thuốc men, vũ khí, trang bị, xăng dầu và các hàng hóa nhu yếu phẩm khác từ vùng địch tạm chiếm để cung cấp cho các lực lượng ta ở chiến khu. Từ năm 1969, trước những khó khăn của cách mạng miền Nam, chúng ta đã mở rộng phạm vi hoạt động hậu cần sang Campuchia. Do đó, ta đã tạo được nguồn vật chất rất quan trọng, đủ đảm bảo nhu cầu cho các đơn vị vũ trang đang đứng chân trên đất Campuchia, đồng thời chi viện cho các đơn vị đang chiến đấu trên chiến trường Nam Bộ và chi viện một phần quan trọng ra chiến trường Tây Nguyên.

Hậu phương tại chỗ là cơ sở để xây dựng, duy trì và phát triển lực lượng cách mạng trong mọi tình huống chiến tranh; là địa bàn đứng chân vững chắc và bàn đạp tiến công của các binh đoàn. Giai đoạn 1954 - 1959, được sự đùm bọc, che chở, nuôi giấu của nhân dân nên cán bộ, đảng viên nằm vùng mặc dù bị tổn thất nặng nề nhưng vẫn duy trì được lực lượng. Bên cạnh đó, tại vùng rừng núi, bưng biền, một số căn cứ kháng chiến cũ được duy trì, một số khác mới hình thành là nơi xây dựng các đơn vị vũ trang, bán vũ trang; là bàn đạp thực hiện một số hoạt động tiến công quân sự vào chi khu, đồn bốt của đối phương. Sau Đồng khởi, vùng làm chủ, vùng giải phóng rộng lớn được mở ra tạo điều kiện cho việc xây dựng lực lượng và phát triển thế trận chiến tranh nhân dân. Thời điểm cách mạng miền Nam gặp những khó khăn, thử thách nặng nề như những năm 1969-1970 vai trò của hậu phương tại chỗ càng trở nên quan trọng. Trước sự đánh phá ác liệt và những biện pháp tàn bạo của Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa, cơ sở cách mạng ở đô thị, vùn giải phóng rộng lớn và các căn cứ du kích ở đồng bằng bị thu hẹp. Mất chỗ đứng chân và bàn đạp tiến công ở vùng ven và đồng bằng, bộ đội ta phải lui dần về căn cứ rừng núi dọc miền biên giới Việt - Lào, Việt - Campuchia. Tại đây, quân dân vùng căn cứ phải trải qua những tháng ngày đầy gian khổ, thiếu thốn, khó khăn. Dù vậy, một lần nữa, dựa vào căn cứ rừng núi, dựa vào sự che chở, đùm bọc của nhân dân, lực lượng vũ trang ba thứ quân khắc phục khó khăn, vừa đẩy mạnh sản xuất tự túc, tích cực đánh địch bảo vệ căn cứ rừng núi, vừa bám đất, vừa bám dân, bám địch ở đồng bằng; từng bước khôi phục vùng làm chủ, vùng giải phóng, phục hồi thế trận chiến tranh nhân dân ở ba vùng chiến lược. Nhờ đó, cách mạng miền Nam vượt qua thời kỳ đầy thử thách, tiếp tục phát triển.

Giai đoạn trước, trong và sau các trận đánh của các lực lượng vũ trang đều gắn liền với vai trò của hậu phương tại chỗ. Đối với lực lượng vũ trang, các căn cứ, vùng giải phóng là điểm đứng chân, nơi xuất và và địa bàn củng cố lực lượng. Trong chiến dịch Bình Giã (2-12-1964 – 3-1-1965), chiến khu Đ vừa bảo đảm hậu cần cho bộ đội tập trung huấn luyện vừa chuẩn bị hậu cần cho bộ đội hành quân đến chiến trường. Mục tiêu đặt ra đối với mỗi chiến dịch hành quân đến vị trí tập kết lực lượng chiến dịch phải còn đủ 5 ngày gạo để giảm bớt khó khăn cho hậu cần chiến dịch.


(1) Ngày 18-10-1960, ông đã cùng vợ và hai con gái từ bỏ hết gia sản và chức vụ trong bộ máy của chính quyền Việt nam Cộng hòa để đi theo cách mạng.
(2) Xem Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945 - 1975), Sđd, tr.222.
(3) Xem Bộ Tư lệnh Quân khu 7: Lịch sử hậu cần Quân khu 7 (1945 - 2000), Sđd, tr.298.
(4) Ví như nhà tư sản Nguyễn Đức Phương “nhập vai ông chủ lớn” trên đất Lào và Campuchia trong thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ. Xem Nguyễn Đức Phương: Trong vai ông chủ lớn, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 1 và 3-1986.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Hai, 2014, 09:46:28 PM
Đến những năm cuối chiến tranh, vùng giải phóng được mở rộng, nối liền các căn cứ địa, vùng giải phóng ở rừng núi từ Trị - Thiên tới Khu 5, Tây Nguyên vào tới miền Đông Nam Bộ, vây quanh thành phố Sài Gòn, có tuyến nối liền với đồng bằng sông Cửu Long, trở thành hậu phương chiến lược tại chỗ vững chắc của cách mạng miền Nam(1) nói chung và hậu phương trực tiếp của các binh đoàn chủ lực nói riêng. Dựa vào đó, sau khi củng cố và tăng cường lực lượng, chuẩn bị thế trận, các binh đoàn chủ lực mở cuộc tiến công mãnh liệt giải phóng Tây Nguyên, tiến nhanh xuống đồng bằng, cùng quân và dân cả nước mở cuộc tiến công thần tốc giải phóng Huế, Đà Nẵng và các tỉnh ven biển miền Trung, góp phần tạo nên tính thần tốc của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, tạo nên thế và lực áp đảo đối phương trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Hậu phương tại chỗ còn là một trong những nhân tố cơ bản để xây dựng thế chiến lược của chiến tranh nhân dân. Đó là thế trận xen cài giữa vùng ta và vùng bị đối phương tạm thời kiểm soát, bao gồm những cơ sở cách mạng, căn cứ lõm, khu du kích, vùng làm chủ, vùng căn cứ, vùng giải phóng được xây dựng thành hậu phương tại chỗ của cách mạng miền Nam, thành địa bàn triển khai các lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị một cách tương đối hợp lý trên khắp các vùng chiến lược. Trên các địa bàn chiến lược, lực lượng vũ trang ba thứ quân được bố trí thành thế trận liên hoàn, có chiều sâu, chi viện và hỗ trợ cho nhau thuận lợi, bảo đảm việc kiềm tỏa, bao vây, chia cắt và tiêu diệt đối phương. Ở các căn cứ địa, vùng giải phóng, các đại đội vũ trang được xây dựng làm nòng cốt trong việc phát triển chiến tranh du kích, hợp đồng với các đơn vị đóng trong khu vực và du kích tự vệ tác chiến tại chỗ bảo vệ căn cứ, bảo vệ nhân dân. Ở các vành đai diệt Mỹ, phong trào chiến tranh du kích đã đưa quân Mỹ vào “ma trận”, ở trong căn cứ thì không yên, ra khỏi căn cứ không vấp phải mìn, thì cũng bị bắn tỉa, đêm đến co cụm ở chỗ nào cũng bị tập kích; đi đến đâu cũng vấp phải những lối đánh mưu trí, kỳ lạ của cuộc chiến tranh nhân dân thiên biến vạn hóa, mỗi xóm làng, mỗi gò đồi đều trở thành một thế trận thiên la địa võng chụp bắt, tiêu diệt quân thù. Thế trận chiến tranh nhân dân đã làm cho Mỹ và Việt Nam Cộng hòa, suốt cuộc chiến tranh, luôn lâm vào thế tình thế giằng co, mâu thuẫn giữa chiếm đóng và cơ động, giữa phân tán và tập trung, giữa phòng ngự và tiến công, giữa bình định và tìm diệt, rồi cuối cùng chúng buộc phải thua.

Hậu phương tại chỗ là nơi tiếp nhận, bảo quản, phân phối vũ khí, phương tiện chiến tranh và các vật phẩm khác tư hậu phương miền Bắc chuyên vào. Hầu hết mạng đường chiến lược Trường Sơn chạy qua các khu vực hậu phương của chiến trường Trị - Thiên, Khu 5, Tây Nguyên, vào tới Lộc Ninh của chiến trường miền Đông Nam Bộ. Hệ thống căn cứ hậu cần, kho chứa, trạm sửa chữa, khu vực tập kết bộ đội... cũng được bố trí ở các vùng giải phóng, vùng căn cứ men theo trục dọc, trục ngang và mạng đường nhánh chiến dịch thuộc tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn và hệ thống các đường trục trong khu vực căn cứ, vùng giải phóng. Ở vùng ven biển miền Nam, dựa vào sự che chở của nhân dân, sự giúp đỡ của chính quyền và đoàn thể cách mạng vùng giải phóng, một số bến bãi, kho chứa tiếp nhận vũ khí do miền Bắc chi viện bằng đường Hồ Chí Minh trên biển đã được xây dựng ở Cà Mau, Trà Vinh, Bến Tre, Phú Yên, Bình Định, Quảng Nam, Quảng Ngãi... Các đơn vị vũ trang, binh chủng kỹ thuật, lực lượng đặc biệt (giáo viên, cán bộ y tế, cán bộ dân, chính, đảng...) từ miền Bắc vào được hậu phương tại chỗ tiếp nhận, bố trí sử dụng(2).

Trong chiến tranh cách mạng Việt Nam, việc xây dựng và giữ vững căn cứ địa, mở rộng thành vùng giải phóng, dựa lưng được vào căn cứ, vùng giải phóng của cách mạng Lào và Campuchia, tạo thành hậu phương tại chỗ trên chiến trường miền Nam, là một nhân tố quan trọng quyết định trực tiếp thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam Việt Nam(3). Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ta giúp cách mạng Lào về xây dựng lực lượng cách mạng về vật chất, về xây dựng và giữ vững căn cứ địa, vùng giải phóng. Ta giúp bạn mở rộng và củng cố các căn cứ, tạo thành thế hai bên cùng có thể đứng vững, dựa lưng vào nhau. Trên cơ sở này, ta xây dựng tuyến vận tải quân sự chiến lược đông - tây Trường Sơn nối liền căn cứ địa - hậu phương lớn miền Bắc với hậu phương tại chỗ miền Nam và căn cứ cách mạng của hai nước Lào, Campuchia, tạo thành một hệ thống căn cứ địa - hậu phương liên hoàn, ngày càng rộng lớn, vững mạnh. Với Campuchia, ta đã tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của chính quyền trung lập của Vương quốc, thu mua được một số vật chất, nhất là lương thực, thực phẩm để cung cấp cho chiến trường Nam Bộ và Tây Nguyên, sử dụng được cảng Xihanúcvin để tiếp nhận một số hàng viện trợ theo đường biển quốc tế. Ta chi viện về vật chất, trợ giúp về kỹ thuật và phối hợp cùng lực lượng cách mạng Campuchia đánh bại các cuộc hành quân của Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hòa, quân của Lon Non, mở rộng vùng giải phóng gồm nhiều tỉnh. Vì vậy, liên minh chiến đấu giữa ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia dần dần được hình thành. Căn cứ địa, vùng giải phóng miền Nam và các căn cứ, vùng giải phóng của cách mạng Lào và Campuchia đã dựa lưng được vào nhau, tạo nên thế trận hậu phương vững chắc của chiến tranh cách mạng cả ba nước Đông Dương.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, hậu phương tại chỗ của cách mạng miền Nam là một trong những nhân tố cơ bản để xây dựng và tăng cường tiềm lực, sức mạnh của cách mạng, góp phần to lớn vào công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Vì vậy, cuộc kháng chiến giằng co quyết liệt, liên tục với đối phương để bảo vệ, giữ vững và mở rộng căn cứ địa - hậu phương tại chỗ là nhiệm vụ thường xuyên của đảng bộ, của lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương.

Việc xây dựng căn cứ địa, vùng giải phóng trên các chiến trường được tiến hành từng bước, với quy mô, hình thức phù hợp tùy thuộc vào so sánh lực lượng giữa ta và đối phương trên từng vùng, từng địa bàn(4): vùng rừng núi, vùng giải phóng, vùng nông thôn đồng bằng đông dân nhiều của. Nhưng, điều cốt yếu mà chúng ta đã rút ra được là phải biết tin vào nhân dân, dựa vào “thế trận lòng dân”, cùng đồng cam cộng khổ với nhân dân, xuất phát từ quyền lợi, nguyện vọng và ý chí của nhân dân mà tìm ra các hình thức và biện pháp xây dựng, phát triển cơ sở cách mạng trong nhân dân, phát động nhân dân đẩy mạnh đấu tranh, đẩy mạnh sản xuất, xây dựng và bảo vệ hậu phương tại chỗ ngày càng lớn mạnh.

Thực tiễn cách mạng miền Nam cho thấy, khi nào và ở đâu mà công tác xây dựng, bảo vệ và mở rộng hậu phương tại chỗ được chú trọng thực hiện tốt thì khi ấy và ở đó, các nhiệm vụ chiến đấu và xây dựng lực lượng sẽ đạt kết quả rõ rệt, to lớn. Ngược lại, nếu nơi nào, lúc nào, việc chỉ đạo xây dựng và bảo vệ hậu phương tại chỗ bị buông lỏng, để cho đối phương lấn đất, giành dân, thu hẹp hậu phương tại chỗ thì nơi đó, lúc đó, lực lượng cách mạng ắt bị tổn thất, thế trận chiến tranh nhân dân bị sa sút, cách mạng miền Nam bị uy hiếp nặng nề. Đây là một trong những bài học luôn và mãi còn giá trị khi chúng ta tiến hành các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc nếu xảy ra trong tương lai.


(1) Xem Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học, Sđd, tr.217.
(2) Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, hậu phương tại chỗ đã tiếp nhận 10 lượt sư đoàn, 3 quân đoàn, 90 đoàn binh khí kỹ thuật (1959 - 1975), 1.647 cán bộ dân y (1961 - 1975) do miền Bắc chi viện, chủ yếu qua tuyến vận tải quân sự chiến lược Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh.
(3) Xem Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học, Sđd, tr.222.
(4) Xem Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học, Sđd, tr.218.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Hai, 2014, 09:48:47 PM
III - MỞ CÁC TUYẾN VẬN TẢI CHIẾN LƯỢC CHI VIỆN NHÂN LỰC, VẬT LỰC
TỪ HẬU PHƯƠNG LỚN MIỀN BẮC CHO TIỀN TUYẾN LỚN MIỀN NAM

Đồng thời với xây dựng lực lượng chiến lược miền Bắc, đáp ứng nhu cầu nhân lực và vật lực - yếu tố quyết định nhất bảo đảm thắng lợi cho sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ngay từ rất sớm Đảng và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã quyết định xây dựng hệ thống đường vận tải chiến lược để chuyên chở nguồn lực đó đến hầu khắp các địa bàn chiến trường miền Nam.

Ngay từ Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) mở rộng, đã khẳng định: Con đường phát triển cơ bản của cách mạng miền Nam là con đường sử dụng bạo lực cách mạng để giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Để hoàn thành nhiệm vụ đó, miền Bắc phải đẩy mạnh chi viện cho miền Nam. Trong điều kiện đó, đường dây thống nhất Bắc - Nam không còn phù hợp. Hậu phương miền Bắc và hậu phương tại chỗ ở miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ chỉ có thể huy động đầy đủ vai trò, tác dụng và sức mạnh khi nó được nối liền bằng hệ thống giao thông thông suốt. Đất nước ta dài và hẹp, nhân dân miền Bắc còn nghèo, Mỹ là nước giàu và có tiềm lực kinh tế, quân sự và nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại… Vì vậy, việc mở tuyến vận tải nối liền miền Bắc với chiến trường miền Nam là cấp thiết và rất khẩn trương, song cũng đầy khó khăn, thử thách cam go và ác liệt.

Theo đó, Quân ủy Trung ương ra quyết định thành lập Đoàn 559 (5-1959), với nhiệm vụ cùng với đường dây của Ủy ban Thống nhất, tạo nên tuyến vận chuyển bộ đầu tiên, nối liền Bắc - Nam, tổ chức đưa người và vũ khí chi viện cho cách mạng miền Nam, trước mắt là cho Liên khu 5; tiếp đó, thành lập Đoàn 759(1), với trọng trách mở tuyến vận tải quân sự chiến lược trên biển - đường Hồ Chí Minh trên biển, đưa vũ khí, đạn dược và trang bị quân sự cho chiến trường miền Nam. Thời gian đầu, tuyến vận tải đường bộ chủ yếu làm nhiệm vụ giao liên và sử dụng phương thức gùi thồ vận chuyển được một số hàng hóa đưa vào chiến trường an toàn. Nhưng đối với tuyến vận tải trên biển hoạt động rất khó khăn, do hải quân Mỹ và hải quân Việt Nam Cộng hòa tuần tiễu, kiểm soát trên biển rất ngặt nghèo. Tuy niên, bằng nhiều biện pháp, mở nhiều tuyến ven biển, thậm chí đi vòng qua tây hoặc đông quần đảo Trường Sa, một số chuyến đi có tính trinh sát, “thám hiểm” của Đoàn 759 đã vào được Nam Bộ. Tiếp đó, theo chỉ thị của Bô Chính trị, từ giữa năm 1961, các thuyền gắn máy có trọng tải 4 đến 5 tấn của các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh… lần lượt ra miền Bắc để tiếp nhận vũ khí vận chuyển vào địa phương mình.

Sau một thời gian chuẩn bị, ngày 11-10-1962, tàu Phương Đông 1 của Đoàn 759 được lệnh rời bến Vạn Sét (thị xã Đồ Sơn, Hải Phòng) chở 30 tấn vũ khí vào Nam Bộ. Đến ngày 19-10-1962, tàu Phương Đông 1 đã cấp bến Vàm Lũng (xóm Rạch Gốc, xã Tân An, huyện Năm Căn, Cà Mau) an toàn. Tính từ tháng 10-1962 đến tháng 5-1975, tuyến vận tải quân sự chiến lược trên biển mang tên Hồ Chí Minh đã vận chuyển được 106.317 tấn vũ khí, hàng hóa quân sự và 17.700 cán bộ, chiến sĩ chi viện cho chiến trường miền Nam. Dù còn rất khiêm tốt về số lượng, song đây là những vũ khí được chuyển đến những chiến trường trọng điểm mà tuyến vận tải Trường Sơn chưa vươn tới được (Nam Bộ, chiến trường ven biển Nam Trung Bộ và Khu 5), vào những thời điểm cam go nhất của phong trào cách mạng miền Nam - thời điểm trước và sau cuộc Đồng khởi. Đồng chí Nguyễn Văn Hiến - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tư lệnh Quân chủng Hải quân đã đánh giá: “Có thể nói, quyết định mở tuyến vận tải chi viện chiến trường bằng đường biển, là thể hiện sự quan tâm trực tiếp, sâu sát và tài thao lược của Đảng ta. Đó vừa là sự kế thừa kinh nghiệm truyền thống lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, đồng thời là sự sáng tạo mẫu mực, tạo nên nét độc đáo giá trị của nghệ thuật quân sự trong giai đoạn rất khó khăn, gian khổ, ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại, giữa lúc các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đang đòi hỏi vũ khí đạn dược để đánh giặc rất cấp bách, có tính chất sống còn của phong trào Đồng khởi, mà ở đó vận tải đường Trường Sơn chưa có khả năng vươn tới được”(2).

Như vậy, sức mạnh của hậu phương miền Bắc đã bước đầu trực tiếp góp phần rất quan trọng cho thắng lợi của phong trào Đồng khởi trên toàn miền Nam (1960). Đây cũng chính là cơ sở thực tiễn để Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đề ra nhiệm vụ đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh chính trị, đưa đấu tranh vũ trang lên song song với đấu tranh chính trị (1-1961). Nhu cầu tăng cường cán bộ, đẩy mạnh tiếp tế vũ khí, tài chính cho cách mạng miền Nam được đặt ra một cách cấp bách hơn nữa.

Nhận thấy những khó khăn rất lớn của tuyến vận tải quân sự trên biển, Quân ủy Trung ương chủ trương nhanh chóng tăng cường lực lượng cho Đoàn 559, mở rộng tuyến vận tải quân sự Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh theo hướng: kiên trì giữ vững hành lang phía đông, đồng thời khẩn trương mở thêm hành lang phía tây Trường Sơn, về phương thức vận tải: mạnh dạn kết hợp vận tải cơ giới với vận tải thô sơ (xe đạp thồ, gùi) và khai thác vận chuyển bằng bè mảng trên sông suối.

Với lực lượng được tăng cường là những đơn vị từng có ít nhiều kinh nghiệm trong việc mở đường lên Tây Bắc, Điện Biên thời kháng chiến chống Pháp, tuy dụng cụ và phương tiện mở đường lúc đó mới chỉ là những cuốc xẻng, xà beng, quang sọt là chủ yếu, nhưng với ý chí quyết tâm cao nhất, tinh thần thi đua lao động sáng tạo, đến giữa năm 1964, Đoàn 559 đã tạo dựng được địa bàn hoạt động từ tây Quảng Bình đến Ngã ba biên giới, mở được một số tuyến, thành lập một số cung trạm, hình thành nên tuyến hành lang vận tải nối liền hậu phương miền Bắc với chiến trường miền Nam. Đồng thời, cũng từ năm 1961 đến năm 1964, Đoàn 559 đã vận chuyển được gần 3.000 tấn vật chất các loại và bảo đảm hành quân cho 12.000 lượt cán bộ quân - dân - chính - đảng qua lại đường Trường Sơn.


(1) Theo Quyết định số 97/QP của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ngày 23-10-1961.
(2) Bộ Quốc phòng - Bộ Tư lệnh Binh đoàn 12 - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Đường Hồ Chí Minh - Khát vọng độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2010, tr.263.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Hai, 2014, 09:50:40 PM
Bước sang năm 1965, đế quốc Mỹ triển khai thực hiện chiến lược chiến tranh cục bộ, đưa quân chiến đấu Mỹ và quân các nước đồng minh của Mỹ vào tham chiến trên chiến trường miền Nam, đồng thời tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân. Từ đây, hậu phương miền Bắc vừa chiến đấu, vừa sản xuất và vừa phải tăng cường chi viện sức người, sức của cho miền Nam. Hơn bao giờ hết, hệ thống đường sá giao thông và lực lượng vận tải trở thành vấn đề ưu tiên hàng đầu. Với phương châm hành động “Tất cả vì miền Nam ruột thịt, vì thống nhất Tổ quốc”, Đảng và Nhà nước huy động cả lực lượng vận tải dân sự trên miền Bắc phối hợp cùng lực lượng vận tải quân sự đẩy nhanh tốc độ vận chuyển, tạo chân hàng cho tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn. Đồng thời, Đoàn 559 nhanh chóng được Bộ Quốc phòng tăng cường về quân sự, phương tiện và vũ khí, hình thành nên một binh đoàn binh chủng hợp thành; được tổ chức thành thế trận đánh đối phương, đảm bảo giao thông và vận tải quân sự trên toàn tuyến theo phương châm vừa có lực lượng tại chỗ vừa có lực lượng cơ động mạnh. Từ đây, nhiều cán bộ và nhân viên kỹ thuật thuộc các quân binh chủng, trong đó có cả những cán bộ có trình độ cao về vũ khí, kỹ thuật quân sự thuộc Viện Kỹ thuật quân sự (nay là Viện Khoa học và Công nghệ quân sự) của quân đội và cả một bộ phận cán bộ ưu tú thuộc các cơ quan khoa học của Nhà nước được huy động vào chiến đấu, công tác trên tuyến vận tải chiến lược này. Bởi vậy, hầu như tất cả những vũ khí và phương tiện quân sự hiện đại nhất của Mỹ sử dụng để đánh phá hủy diệt trên tuyến vận tải này (Trường Sơn là nơi thử nghiệm tất cả những vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại của Mỹ trong suốt thời gian chiến tranh Việt Nam) đều được ta nghiên cứu đối phó kịp thời, hiệu quả. Đây là một bài học rất sâu sắc và không thể thiếu đối với bất cứ một cuộc chiến tranh nào - kể cả chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của chúng ta hiện nay, và chúng ta đã tiến hành rất thành công.

Vượt qua bao khó khăn, gian khổ, hy sinh, toàn thể cán bộ, chiến sĩ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến trên tuyến vận tải chiến lược 559 không quản thời tiết khắc nghiệt của rừng núi Trường Sơn, ngày đêm bền gan, mưu trí đánh bại các thủ đoạn đánh phá của đối phương, vừa mở tuyến vừa sửa đường, bảo đảm thắng lợi cho việc thực hiện nhiệm vụ tiếp nhận và vận chuyển hàng từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em) và nguồn hàng thu mua từ Campuchia chi viện cho chiến trường miền Nam và Lào. Cụ thể là, từ năm 1965 đến năm 1968, Đoàn 559 đã tiếp nhận và chuyển gần 100.000 tấn hàng hóa đáp ứng cho chiến trường miền Nam và Lào; đồng thời đảm bảo cho hơn 200.000 lượt bộ đội và cán bộ dân - chính - đảng qua lại trên đường Trường Sơn, góp phần rất quan trọng vào việc đánh bại chiến lược chiến tranh cục bộ ở miền Nam Việt Nam, chiến lược chiến tranh đặc biệt ở Lào của đế quốc Mỹ.

Ngay từ năm 1964, đế quốc Mỹ đã chủ trương tiến hành chiến tranh không quân ngăn chặn đối với tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn. Các đời tổng thống Mỹ đều phê chuẩn lấy Trường Sơn làm “phòng thí nghiệm dã chiến” của chiến tranh điện tử và các loại kỹ thuật, hóa học, tạo ra sức hủy diệt môi trường sống rộng lớn, sát thương hàng loạt.

Khối lượng bom đạn, chất độc hóa học và các thiết bị điện tử của Mỹ thời kỳ 1969 - 1972 tăng gấp 4 lần thời kỳ 1965 - 1968, gấp 20 lần thời kỳ 1960 - 1964. Chỉ tính riêng năm 1970 và 1971, ngoài khoảng 4.959.489 quả bom, hàng chục vạn quả mìn, nhiều thiết bị điện tử quân sự tinh vi được ném xuống các cung đường ngang dọc Trường Sơn(1), quân Mỹ và quân Việt Nam Cộng hòa còn tập trung lực lượng và phương tiện, vũ khí ưu thế, liên tục mở những cuộc hành quân mang tên Chenla 1, Chenla 2 quy mô 25.000 quân đánh vào vùng Ngã ba biên giới; Lam Sơn 719 với 45.000 quân Việt Nam Cộng hòa và 9.000 quân Mỹ, hàng ngàn máy bay và xe quân sự các loại đánh ra khu vực đường 9 - Nam Lào... Như vậy, tuyến vận tải chiến lược 559 đã thực sự trở thành một chiến trường đầy máu lửa - chiến trường Trường Sơn.

Không chịu khuất phục trước sức mạnh của quân thù, được hậu phương miền Bắc nhanh chóng tăng cường lực lượng, phương tiện, vũ khí, bộ đội Trường Sơn tổ chức lại đội hình, thế trận, điều chỉnh lại giới tuyến chiến đấu, hiệp đồng tác chiến giữa các quân binh chủng, từng binh trạm, bố trí lại hệ thống chỉ huy, nhất là đối với những trọng điểm..., chủ động đối phó hiệu quả với các thủ đoạn đánh phá và các loại vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại của Mỹ, không những đảm bảo cho tuyến vận tải chiến lược 559 luôn thông suốt, mà còn không ngừng được nối dài với các hướng chiến trường. Nếu năm 1968, mới chỉ mở thông được trục đường 20 với trục dọc chiến lược thuộc tây Trường Sơn, thì đến năm 1972, bộ đội 559 đã mở thêm được 4 trục ngang (gồm các đường 18, 16, 10 và 12) thông đông Trường Sơn với tây Trường Sơn; nâng tổng chiều dài tuyến vận tải chiên lược 559 từ 2.930 km (1968) lên tới gần 11.000km (1972), đó là chưa tính khoảng 6.500km đường giao liên, gùi thồ. Đây là yếu tố quyết định để tuyến vận tải 559 thực hiện xuất sắc nhiệm vụ vận chuyển hàng hóa chi viện của hậu phương miền Bắc cho quân và dân miền Nam đánh bại chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ. So với kế hoạch giao: từ năm 1969 đến năm 1972, tuyến vận tải 559 vận chuyển 114.820 tấn vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm nhưng thực tế đạt 118%, đảm bảo hành quân cho 598.000 lượt người, thực tế đạt gần 190%. Cụ thể là, trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào (29-1 – 23-3-1971), một số binh trạm, trạm quân y, thông tin, vận tải, công binh của 559 đã góp phần tích cực cho công tác chuẩn bị và thực hành chiến đấu của 5 sư đoàn (308, 304, 324, 320 và 2), 4 tiểu đoàn tăng thiết giáp, 4 trung đoàn pháo binh, 4 trung đoàn pháo phòng không và một số tiểu đoàn đặc công tham gia chiến dịch. Bên cạnh đó, các đơn vị phòng không và nhiều đơn vị khác của 559 còn thực hiện xuất sắc vai trò lực lượng tại chỗ kìm chân, tiêu hao, tiêu diệt từng bộ phận đối phương, tạo điều kiện cho các đơn vị chiến dịch đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719 của đối phương. Đặc biệt, để chuẩn bị cho cuộc tiến công chiến lược năm 1972, đến cuối tháng 2-1972, Bộ Tư lệnh 559 đã đảm bảo đủ khối lượng hàng cho các hướng chiến trường, đảm bảo vật chất và tổ chức hành quân cho 55.000 cán bộ, chiến sĩ, gồm 1 sư đoàn và 3 trung đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn xe tăng, 20 tiểu đoàn và 44 đại đội bộ đội địa phương cùng hàng ngàn cán bộ cao cấp, trung cấp thuộc các ngành từ miền Bắc vượt Trường Sơn vào tăng cường cho các chiến trường. Đặc biệt là đã bảo đảm cơ động cho nhiều đơn vị cấp trung đoàn, tiểu đoàn binh chủng kỹ thuật hành quân vào tăng cường cho chiến trường Nam Bộ, tao sự chuyển biến mạnh mẽ về tương quan lực lượng trên chiến trường, gây bất ngờ lớn đối với đối phương(2).


(1) Trong 16 năm (1959 - 1975), Mỹ đã huy động 80 vạn lần phi vụ cường kích, 33.460 phi vụ B.52, ném hơn 20 vạn tấn bom các loại và hàng trăm tấn thuốc diệt cỏ (điôxin) xuống Trường Sơn. Không quân Mỹ mở liên tiếp các chiến dịch “cắt cổ”, “khoét đáy”... hòng chặn đứng, hủy diệt mọi tiềm lực hậu phương miền Bắc chi viện cho chiến trường.
(2) Xem Lịch sử Đoàn 559 Bộ đội Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tr.489, 490.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Hai, 2014, 09:52:19 PM
Thắng lợi chiến lược năm 1972 trên chiến trường miền Nam đánh bại cuộc tập kích không quân chiến lược của Mỹ trên bầu trời Hà Nội và Hải Phòng, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pari, chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam, thời cơ lớn để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước đã mở ra. Để chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược này, cả nước cùng dốc sức vào trận. Theo đó, tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh phải chạy đua với thời gian, “thực hiện nhiệm vụ vận chuyển chi viện cho các chiến trường, chủ yếu là vận chuyển chiến lược, nhưng phải làm cả nhiệm vụ vận chuyển chiến dịch. Vừa chở bộ đội và bảo đảm hành quân cho các binh chủng, vừa vận chuyển hàng quân sự và hàng dân sinh cho vùng giải phóng miền Nam, cho các căn cứ Lào và Campuchia. Trong nhiệm vụ vận chuyển phải bảo đảm một lực lượng dự trữ cần thiết về vũ khí, đạn dược, nhiên liệu cũng như lương thực để cho ta chủ động trong bất cứ tình huống nào”(1).

Để tạo điều kiện đưa nhanh chóng nhân lực, vật lực cho chiến trường, tháng 11-1973, Hội đồng Chính phủ phê duyệt kế hoạch mở rộng tuyến vận tải quân sự chiến lược Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh. Theo đó, một số lượng nhân lực và phương tiện mở đường, đảm bảo giao thông rất lớn được nhanh chóng huy động vào Trường Sơn, nâng lực lượng bộ đội 559 lên tới 100.595 người, gồm 8 sư đoàn, 14 trung đoàn và đơn vị tương đương (lực lượng thuộc các kho hàng, trạm quân y, xưởng sửa chữa). Riêng công binh từ 8 trung đoàn, 65 tiểu đoàn (1972) đã tăng lên 1 sư đoàn, 17 trung đoàn và 40 tiểu đoàn, với tổng quân số biên chế là 36.341 người. Ngoài ra, còn có 2.741 thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến… Nhà nước và quân đội cũng tập trung đầu tư hàng ngàn xe ủi, xe lu, máy ép hơi, máy nghiền đá, xe tải phục vụ cho nhiệm vụ mở đường Trường Sơn.

Nhằm đảm bảo cho việc vận chuyển nguồn nhân vật lực đạt hiệu quả cao nhất và kịp thời nhất cho chiến trường, toàn bộ lực lượng này được tổ chức thành hai bộ phận: lực lượng cơ động và lực lượng tại chỗ. Lực lượng cơ động bao gồm các đơn vị hợp thành, đơn vị chuyên môn binh chủng, chuyên thực hiện các chiến dịch vận chuyển và đánh đối phương trên từng hướng, hoặc những thời điểm xác định, nhằm phục vụ cho ý đồ chiến lược chung. Lực lượng tại chỗ gồm các binh trạm, với các đơn vị binh chủng và đơn vị phục vụ, thực hiện nhiệm vụ chiến đấu, vận tải, bảo vệ giao thông, bảo đảm hành quân… trên từng cung, từng chặng được phân công. Trong quá trình hoạt động, các lực lượng luôn có sự hỗ trợ, phối hợp chặt chẽ với nhau, nhằm hoàn thành thắng lợi mục tiêu chiến lược cuối cùng được Đảng, Nhà nước và quân đội giao phó là vận chuyển nguồn lực chi viện của hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Sức mạnh của dân tộc hội tụ ở Trường Sơn còn tiếp tục được nhân lên gấp bội bởi chính những chiến thắng liên tiếp từ chiến trường dội đến đã hối thúc tinh thần hăng say lao động không quản mưa nắng, ngày đêm của hết thảy những người tham gia mở đường, đảm bảo giao thông trên tuyến vận tải chiến lược 559, chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng miền Nam. Bộ đội Trường Sơn phối hợp với các đơn vị bạn đẩy mạnh tiến công tiêu diệt và bức rút các đơn vị khống chế phía đông của đối phương, mở rộng tuyến hành lang đông Trường Sơn, nối thông đường 9 qua các khu vực hậu phương tại chỗ của chiến trường Trị - Thiên, Khu 5, Tây Nguyên đến Lộc Ninh (Đông Nam Bộ). Tính đến cuối năm 1974, Đoàn 559 đã mở thêm được 3.480km đường cơ giới với các trục dọc cả bên đông và tây Trường Sơn. Mặt khác, gần 5.000km đường ống dẫn xăng dầu với đầy đủ hệ thống trạm bơm đẩy, kho bể chứa cố định hoặc dã chiến tương đối hiện đại từ hậu phương miền Bắc, chạy theo các trục dọc của tuyến vận tải Trường Sơn rồi tỏa đến các khu căn cứ dự trữ chiến lược của Bộ, các khu căn cứ hậu cần của quân khu, mặt trận trên các hướng chiến trường, trực tiếp phục vụ cho từng chiến dịch và kế hoạch tác chiến chiến lược. Tính đến trước cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, tuyến vận tải Trường Sơn - 559 có tổng chiều dài gần 20.000km, gồm 4 trục dọc, với độ dài 6.810km, 13 trục ngang, với chiều dài 4.980km, 5 hệ thống (ngầm) vượt khẩu dài 700km, một hệ thống đường vòng tránh có chiều dài 4.700km và hệ thống đường ống dẫn xăng dầu 1.300km, đó là chưa kể tới hệ thống vận tải bằng đường sông, suối dọc ngang Trường Sơn(2); vận chuyển được khối lượng vật chất dự trữ 240.000 tấn trong tổng khối lượng vật chất dự trữ chiến lược 255.000 tấn trước khi Chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu(3). Cũng trong thời gian này, các chiến trường khác cũng tích cực tác chiến mở rộng địa bàn, xây dựng và củng cố mạng đường chiến dịch, nối các trục của tuyến vận tải 559 tới các vùng giáp ranh, áp sát hậu phương và vùng kiểm soát của đối phương.


(1) Nhiệm vụ do Thường vụ Quân ủy Trung ương giao cho Bộ Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn - 559, ngày 5-2-1973 (đây cũng là nội dung Nghị quyết 81/QUTW của Quân ủy Trung ương ngày 5-5-1973).
(2) Xem Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945 - 1975), Sđd, tr.238.
(3) Trong 16 năm, kể từ khi ra đời (1959 - 1975), Đoàn 559 đã vận chuyển giao cho các chiến trường 1.500.000 tấn hàng hóa quân sự, 5.500.000 mét khối xăng dầu; đưa đón, vận chuyển và đảm bảo hành quân cho trên 2 triệu lượt người qua lại trên đường Trường Sơn.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Hai, 2014, 09:53:38 PM
Như vậy, đến thời gian cuối của cuộc kháng chiến, Trường Sơn đã thực sự trở thành căn cứ chiến lược rộng lớn, nối thông hậu phương chiến lược miền Bắc với hậu phương tại chỗ miền Nam; gắn Nam Lào, Đông Bắc Campuchia, Nam Tây Nguyên, Đông Nam Bộ thành thế trận hậu phương trực tiếp vững chắc cho tác chiến của các binh đoàn chủ lực cơ động. Từ đây, nhiều binh đoàn chủ lực đã cơ động xuống phối hợp với lực lượng tại chỗ giải phóng Huế, Đà Nẵng và nhiều tỉnh ven biển miền Trung, rồi tham gia vào đội hình tiến quân vào giải phóng Sài Gòn - Gia Định.

Cùng với việc không ngừng nối dài tuyến vận tải, hệ thống các binh trạm để điều hành kế hoạch vận tải, việc đảm bảo giao thông, giao liên, cấp phát hàng hóa, bảo đảm hành quân, đưa đón và điều trị thương bệnh binh, xây dựng hệ thống kho bãi chứa hàng hóa, bố trí các trận địa phòng không, các trạm bảo dưỡng và sửa chữa xe pháo nhanh chóng được củng cố và hoàn thiện, đảm bảo cho tuyến đường luôn thông suốt, mọi phương tiện vận tải và xe pháo được đảm bảo kỹ thuật tốt nhất đáp ứng kịp thời yêu cầu của chiến trường.

Đi đôi với hoàn thiện thế trận giao thông vận tải, ngay từ rất sớm, bộ đội Trường Sơn đã chủ động phối hợp với lực lượng vũ trang yêu nước Lào đẩy mạnh tác chiến ở khu vực hành lang phía tây Trường Sơn, điển hình như giải phóng Mường Phìn, Bản Đông (1961 - 1962), đường 12 từ Mụ Giạ đến đường 9 (1962 - 1963), Pha Lan - Đồng Hến (1964 - 1965), Atôpư, Bôlôven, Saravan... (1971 - 1972). Địa bàn được giải phóng đến đâu, ta nhanh chóng triển khai các đơn vị công binh, giao liên, kho tàng, trạm sửa chữa, cơ sở sản xuất ngay tời đó. Đây là lực lượng vừa thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, vừa làm chức năng của lực lượng vũ trang địa phương chiến đấu bảo vệ địa bàn (khắc phục tình trạng thiếu vắng dân cư); mặt khác, tích cực giúp đỡ nhân dân các bản làng của bạn Lào xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang chiến đấu bảo vệ dân làng, bảo vệ hành lang tuyến vận tải chiến lược(1). Với thắng lợi này, vùng giải phóng dọc tuyến hành lang không ngừng được mở rộng, tạo ra sự liên hoàn giữa vận tải chiến lược với các chiến trường ngày thêm vững chắc.

Tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh cũng chính là “hình ảnh nối dài” liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung của nhân dân ba nước Đông Dương, nhất là tinh thần đoàn kết chiến đấu đặc biệt Việt - Lào. Qua 16 năm xây dựng và phát triển, tuyến vận tải quân sự chiến lược Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh đã trở thành hậu phương tại chỗ - căn cứ vững chắc của chiến trường ba nước Đông Dương; nối hậu phương tại chỗ này với hậu phương lớn miền Bắc. Nhờ vậy, nguồn chi viện của hậu phương miền Bắc Việt Nam và bạn bè quốc tế giúp cho cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Lào và Campuchia luôn được giữ vững và không ngừng tăng lên cùng với sự vươn dài của tuyến đường. Trong những năm 1959 - 1964, tuyên vận tải 559 đã vận chuyển 10.136 tấn hàng háo của miền Bắc cho chiến trường miền Nam và Lào, đồng thời chuyển hàng ngàn tấn vật chất của các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ cho cách mạng Lào. Năm 1970, tuyến vận tải Trường Sơn - 559 đã vận chuyển hơn 5.000 tấn vũ khí, đạn dược và trang bị quân sự cho lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia và Quân giải phóng Campuchia và Quân giải phóng miền Nam hiệp đồng chiến đấu đập tan cuộc hành quân mang mật danh Chenla của đối phương. Từ khi Mỹ và Lon Non tiến hành đảo chính ở Campuchia, đường vào cảng Xihanúcvin bị cắt đứt, Đoàn 559 đã đảm trách toàn bộ nhiệm vụ vận chuyển hàng hóa, vũ khí quân sự chi viện cho quân đội cách mạng Campuchia. Sau khi Hiệp định Pari được ký kết, khối lượng vật chất Đoàn 559 vận chuyển chi viện cho chiến trường Lào, Campuchia và Nam Việt Nam gấp 3,8 lần so với thời gian 1969 - 1972, bằng 65,5% tổng khối lượng hàng hóa vận chuyển đáp ứng cho chiến trường ba nước trong suốt 17 năm ròng (1955 - 1972) - yếu tố bảo đảm có tính quyết định để quân và dân nước bạn mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn đất nước.

Như vậy, thực tế lịch sử đã minh chứng rằng, việc mở tuyến vận tải quân sự chiến lược 559 - đường Hồ Chí Minh trên bộ và tuyến vận tải quân sự chiến lược 759 - đường Hồ Chí Minh trên biển là quyết định vô cùng sáng suốt - một trong những thành công rất lớn trong chỉ đạo kháng chiến cứu nước của Đảng và Nhà nước; là biểu tượng sáng ngời về ý chí, sức mạnh, trí thông minh và lòng dũng cảm của toàn thể dân tộc Việt Nam; đồng thời cũng là một trong những hình ảnh sáng ngời về tình đoàn kết chiến đấu và giúp đỡ lẫn nhau chí nghĩa, chí tình của nhân dân ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Và như thế, tuyến vận tải quân sự chiến lược - chiến trường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh trên bộ và tuyến vận tải quân sự chiến lược mang tên Hồ Chí Minh trên biển đã góp phần rất lớn lao cùng hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa thực hiện nghĩa vụ chi viện nhân lực, vật lực - nhân tố quyết định để làm nên thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc; góp phần cùng nhân dân Lào và Campuchia giành toàn thắng trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đúng như đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khẳng định: miền Bắc là một hậu phương có tiềm lực kinh tế và quốc phòng hùng hậu, có một nguồn dự trữ dồi dạo để cung cấp lương thực, súng đạn, sức người, sức của đầy đủ cho tiền tuyến đánh bại quân xâm lược Mỹ - một quân đội xâm lược hùng mạnh hàng đầu thế giới ở thế kỷ XX(2).


(1) Trong 16 năm (1959 - 1975), bộ đội 559 đã góp phần giúp đỡ và ổn định đời sống và sinh hoạt cho khoảng 25 vạn đồng bào các dân tộc trên địa bàn hoạt động của mình.
(2) Xem Lê Duẩn: Ta nhất định thắng, địch nhất định thua, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1965, tr.28.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Hai, 2014, 09:54:49 PM
*
*   *

Kế thừa những bài học lịch sử và kinh nghiệm từ thực tiến xây dựng căn cứ địa thời kỳ tiền khởi nghĩa, căn cứ địa và hậu phương kháng chiến thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, dưới sự lãnh đạo của Đảng, điều hành của Nhà nước, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, toàn thể nhân dân Việt Nam từ miền Bắc đến miền Nam, tùy theo điều kiện thực tiễn của mình đã tạo dựng nên một hậu phương kháng chiến rộng khắp vững chắc, gồm: hậu phương chiến lược miền Bắc xã hội chủ nghĩa, căn cứ cách mạng - chiến khu - hậu phương tại chỗ trên chiến trường miền Nam để cung cấp nhân lực, vật lực không chỉ cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, mà còn làm nghĩa vụ quốc tế đối với cách mạng Lào và Campuchia anh em. Và, công cụ vận chuyển nguồn bảo đảm ấy đến từng chiến trường, cho từng đơn vị, cho mỗi chiến dịch, trận đánh là tuyến vận tải quân sự chiến lược 559 - đường Hồ Chí Minh trên bộ và tuyến vận tải quân sự chiến lược 759 - đường Hồ Chí Minh trên biển - những “trận đồ bát quái” xuyên rừng rậm Trường Sơn và xuyên biển Đông được hình thành và phát triển song cùng với tiến trình chiến đấu và chiến thắng của công cuộc kháng chiến thần thánh đó.

Hậu phương và căn cứ địa cách mạng ở đây có mỗi quan hệ hữu cơ bền chặt và biện chứng. Cách mạng phát triển đến một mức nào đó và trong những điều kiện cụ thể nhất định đã chuyển hóa thành chiến tranh cách mạng; căn cứ địa của cách mạng đã chuyển hóa thành hậu phương của chiến tranh cách mạng. Và trong quá trình chiến tranh, hậu phương được xây dựng và củng cố đã tác động trở lại, thúc đẩy các căn cứ địa hình thành và phát triển(1).

Tiến hành cuộc kháng chiến chính nghĩa, dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng Lao động Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh kính mến, với đường lối chính trị, quân sự, đối nội, đối ngoại đúng đắn, sáng tạo, độc lập, tự chủ, phù hợp với thực tiễn chiến tranh, thực tế chiến trường, truyền thống đấu tranh bảo tồn sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, dân tộc và cốt cách của con người Việt Nam, nên cùng với năm tháng kháng chiến đầy gian khổ, ác liệt và hy sinh, hậu phương kháng chiến của ta ngày càng phát triển, từng bước áp sát và đẩy lùi vùng kiểm soát, căn cứ và hậu phương của đối phương. Nhân cốt trong hậu phương kháng chiến của ta chính là lòng dân. Không chỉ lòng người hậu phương miền Bắc luôn một lòng, một dạ phấn đấu “Tất cả vì miền Nam ruột thịt, vì thống nhất Tổ quốc”, mà từ vùng bị kiểm soát vô cùng hà khắc của Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa, lòng đồng bào miền Nam vẫn nhất mực thủy chung với cách mạng, với Bác Hồ, ngày đêm đau đáu hướng về miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Vị thế và uy tín của hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa đã tạo cho nhân loại tiến bộ, nhất là nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa niềm tin yêu và dành sự ủng hộ, giúp đỡ cả tinh thần và vật chất rất hiệu quả cho cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta; ngược lại, uy thế và phạm vi ảnh hưởng của chính quyền Mỹ mỗi ngày thêm suy giảm, gây áp lực mạnh đối với quá trình điều hành chiến tranh của giới lãnh đạo Nhà Trắng và Lầu Năm Góc, trực tiếp nhất là Bộ Tư lệnh viện trợ quân sự Mỹ tại Sài Gòn (MAAV)…

Không chỉ có căn cứ kháng chiến - hậu phương tại chỗ ở chiến trường miền Nam phải thường xuyên đối phó với các thủ đoạn đánh phá quyết liệt của quân thù, mà ngay tại hậu phương miền Bắc, trong suốt chiều dài của cuộc kháng chiến cũng phải liên tục chống chọi với các âm mưu và hình thức phá hoại hiểm độc của không quân, hải quân và gián điệp của Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa, mà đỉnh cao nhất là cuộc tập kích không quân chiến lược B.52 vào Hà Nội, Hải Phòng và phong tỏa thủ lôi đối với các cửa sông biển, luồng lạch miền Bắc. Tuy có gây cho hậu phương miền Bắc những thiệt hại rất nghiêm trọng về người và cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, song, bom đạn Mỹ không khuất phục được quân và dân miền Bắc: kinh tế vẫn phát triển mạnh, chính trị ổn định, văn hóa, giáo dục và y tế đạt được những thành tựu ngày càng cao. Đặc biệt, hậu phương miền Bắc đã đáp ứng đầy đủ, kịp thời và hiệu quả sức người và sức của cho tiền tuyến miền Nam lần lượt đánh thắng các chiến lược chiến tranh xâm lược thực dân mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam (chiến tranh đơn phương, chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ, Việt Nam hóa chiến tranh), rồi tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, kết thúc toàn thắng cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đồng thời cũng góp phần quan trọng vào thắng lợi của cách mạng Lào và Campuchia trong kháng chiến chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ xâm lược. Như vậy, hậu phương của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn 1954 - 1975, gồm cả hậu phương miền Bắc, căn cứ của địa - chiến khu - hậu phương tại chỗ ở miền Nam; trong đó hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa là quan trọng nhất, thực sự là một trong những nhân tố quyết định tạo nên thắng lợi vĩ đại của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thu non sông đất nước về một mối.

Trong cuốn sách Thành phố Hồ Chí Minh giờ khắc số 0 - Những phóng sự về kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm, nhà báo Đức Bôrít Galát viết: “Tướng Giáp đã nói nhiều đến ý nghĩa xây dựng căn cứ - hậu phương quân sự hùng mạnh. Căn cứ hậu phương lớn là miền Bắc. Hậu phương có đường biên giới dài trên bộ giáp với một nước bạn thân hữu bảo đảm tiếp tế hậu cần chiến tranh. Các cuộc đánh phá của không quân Mỹ không sao phá hủy tiềm năng của hậu phương lớn.

Một hậu phương còn nguyên vẹn đặc biệt có một ý nghĩa to lớn trong cuộc chiến tranh giải phóng khi kẻ thù xâm lược là một cường quốc, sử dụng hậu cần trên các tàu sân bay hay căn cứ không quân ở những nước lân cận”(2).

Những chủ trương, đường lối, biện pháp cụ thể trong quá trình xây dựng, chiến đấu bảo vệ hậu phương, những thành tựu và những hạn chế, thậm chí kể cả những sai lầm, thất bại trong thực hiện một số mặt này hay mặt khác… đều trở thành bài học kinh nghiệm vô cùng quý giá để chúng ta nghiên cứu, vận dụng trong công cuộc xây dựng thế trận quốc phòng bảo vệ Tổ quốc; trong đó, hậu phương - căn cứ địa vẫn mãi là khâu quyết định đảm bảo thắng lợi cho công cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh, chủ quyền quốc gia dân tộc hôm nay và ngày mai.


(1) Xem Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 - 1975 - Thắng lợi và bài học, Sđd, tr.396.
(2) Borriies Gallasch: Thành phố Hồ Chí Minh giờ khắc số 0 - Những phóng sự về kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm, Nxb. Thời đại, 2010, tr.179-180.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Hai, 2014, 09:57:17 PM
Chương 42

LIÊN MINH ĐOÀN KẾT CHIẾN ĐẤU VỚI LÀO VÀ CAMPUCHIA
CHỐNG ĐẾ QUỐC MỸ XÂM LƯỢC

I - LIÊN MINH ĐOÀN KẾT CHIẾN ĐẤU
BA NƯỚC ĐÔNG DƯƠNG - MỘT TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỦA LỊCH SỬ

Trong lịch sử các cuộc chiến tranh trên thế giới, vấn đề đoàn kết, liên minh chiến đấu giữa quốc gia, dân tộc này với quốc gia, dân tộc khác vẫn thường diễn ra; đặc biệt, trong lịch sử thế giới hiện đại, khi mà chủ nghĩa tư bản phát triển thành chủ nghĩa đế quốc tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược trên phạm vi toàn cầu và trở thành kẻ thù chung của nhân loại. Để chống xâm lược, nhân dân các nước bị áp bức không có con đường nào khác là phải đoàn kết nhau lại, tạo nên sức mạnh để chiến đấu, giành độc lập, tự do. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Tình đoàn kết và liên minh chiến đấu ba nước Đông Dương là điểm nhấn đặc biệt - một trong những nguyên nhân cơ bản đưa đến thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam nói riêng, của nhân dân ba nước Đông Dương nói chung. Thực tế lịch sử đã khẳng định: “Sự nghiệp liên minh chiến đấu lâu dài của nhân dân ba nước dưới sự lãnh đạo của các chính đảng cộng sản đã trở thành một nội dung chủ đạo của lịch sử hiện đại Việt Nam, Lào, Campuchia”(1).

Ba nước Việt Nam, Lào, Campcuhia có nhiều nét tương đồng về điều kiện tự nhiên và lịch sử - văn hóa. Đây là ba quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương, trong đó mỗi quốc gia đều có biên giới chung với hai nước còn lại. Từ mỗi nước đều có thể dễ dàng đi theo đường bộ (qua các cửa khẩu) hoặc đi theo đường thủy (các con sông lớn) để đến hai nước khác. Do có mối quan hệ chặt chẽ về vị trí địa lý nên nếu một quốc gia nào đó bị thực dân, đế quốc xâm lược, bị mất độc lập thì hai quốc gia còn lại sớm muộn cũng sẽ bị thôn tính. Thực tế lịch sử đã chứng minh rõ điều đó. Trong cuộc xâm lược Đông Dương, từ thực dân Pháp đến đế quốc Mỹ đều tiến hành chiến tranh từng nước cho đến cả ba nước và luôn coi bán đảo Đông Dương là một đơn vị địa lý thống nhất. Và chính vị trí địa lý là một trong những yếu tố quan trọng tạo dựng nên mối quan hệ đoàn kết ba nước.

Bán đảo Đông Dương là nơi gặp cỡ của nhiều luồng di cư khác nhau, tạo nên sự đa dạng về thành phần tộc người đại diện cho ngữ hệ Nam Á (gồm nhiều nhóm ngôn ngữ Việt - Mường, Tày - Thái, Môn - Khmer, Mông - Dao) và ngữ hệ Nam Đảo. Đây là những ngữ hệ của cư dân bản địa đã sinh sống lâu đời. Ngoài ra còn có ngữ hệ Hán - Tạng và ngoại kiều gia nhập “đại gia đình Đông Dương” khá muộn và chịu sự chi phối của các tộc người bản địa. Do nằm gọn trong vành đai nhiệt đới bắc bán cầu, có hoàn lưu gió mùa, điều kiện đất đai màu mỡ và nguồn nước thuận lợi (nhiều sông lớn) nên từ rất sớm, nơi đây đã xuất hiện nhiều nền văn minh rực rỡ, kết hợp với quá trình tiếp xúc, giao thoa văn hóa với hai nền văn minh lớn (Ấn Độ, Trung Hoa) đã tạo nên nền văn hóa đa dạng. Mặc dù mỗi dân tộc, mỗi quốc gia hình thành nên nền văn minh mang những bản sắc riêng, nhưng nhìn chung, do môi trường tự nhiên tương đối đồng nhất (có đất đai và khí hậu thuận lợi trồng lúa) nên cơ tầng văn hóa nông nghiệp trồng lúa là yếu tố chính quy định sinh hoạt, văn hóa của các cư dân trên lãnh thổ. Điều đó giải thích vì sao đến tận ngày nay, giữa ba nước Đông Dương có nhiều yếu tố văn hóa, xã hội giống nhau, mang tính bạn địa sâu sắc như tín ngưỡng vạn vật hữu linh, tục thờ cúng, tư duy biện chứng nguyên thủy, các tập tục và sinh hoạt văn hóa dân gian đi kèm hội mùa nông nghiệp, sự xuất hiện rộng khắp loại hình nhà sàn, vai trò của phụ nữ và người già trong đời sống xã hội, tục ăn trầu và hình ảnh trầu cau từ xa xưa đã đi vào kho tàng văn học dân gian của các dân tộc Đông Dương như một biểu tượng của tình yêu đôi lứa, tình cảm cộng đồng(2)… Đó thực sự là “mẫu số chung” về văn hóa của cư dân Đông Dương, tạo nên sự giao hòa gần gũi giữa nhân dân ba nước.

Để đủ sức chinh phục thiên nhiên, các tộc người trên toàn Đông Dương đã có sự hợp tác, giúp đỡ cùng nhau, không ngừng mở rộng khu vực địa lý sinh sống. Khi đã hình thành nên ba quốc gia trên bán đảo Đông Dương, quan hệ hữu nghị giữa nhân dân ba nước vẫn tiếp tục phát triển mà biểu hiện rõ nét nhất là nhân dân Việt Nam ở Đàng Trong cùng với nhân dân Khmer chung tay, chung sức khai thác vùng châu thổ hạ lưu sông Mê Kông, hình thành một vùng kinh tế mới đem lại cuộc sống mới tốt đẹp cho nhân dân hai nước khu vực này. Trên thực tế, nhiều tộc người ở cả Việt Nam, Lào, Campuchia đều có chung nguồn gốc. Trải qua sự biến thiên của lịch sử, họ bị phân tách và định cư trên các vùng đất khác nhau. Đến đầu thế kỷ XX, khi thực dân Pháp thôn tính thành lập Liên bang Đông Dương, có nhiều tộc người (nhất là vùng biên giới) vẫn sống theo hình thành du canh, du cư và họ không có sự phân biệt về biên giới quốc gia. Sự giao lưu, giúp đỡ lẫn nhau trong quá trình chinh phục thiên nhiên, mở rộng địa bàn cư trú đã tạo nên tình cảm thân thiên trong lòng nhân dân ba nước.


(1) Nguyễn Hào Hùng: Lịch sử một thế kỷ liên minh đoàn kết chiến đấu và toàn thắng của nhân dân ba nước Đông Dương. Dẫn theo Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam - Viện Đông Nam Á: Những vấn đề lịch sử - văn hóa Đông Nam Á - Về lịch sử - văn hóa ba nước Đông Dương, Viện Đông Nam Á xuất bản, 1983, tr.12.
(2) Xem Viện Đông Nam Á: Văn hóa ba nước Đông Dương, Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1992.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Hai, 2014, 10:02:27 PM
Đông Dương là khu vực có vị trí chiến lược rất quan trọng (bao lơn nhô ra biển Đông, tiếp giáp với các tuyến hàng hải quốc tế giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, là cầu nỗi giữa Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo, nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú…) nên từ rất sớm, Đông Dương đã trở thành đối tượng xâm lược của các thế lực ngoại bang (chủ yếu đến từ phía bắc và phía tây). Cuộc đấu tranh kiên cường, bất khuất chống xâm lược của nhân dân mỗi nước trong suốt dặm dài lịch sử đã tạo nên tinh thần yêu nước nồng nàn, sự cảm thông, chia sẻ hiểm họa xâm lăng cũng như sự ủng hộ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc(1). Đây chính là một trong những nền tảng, đóng góp to lớn cho “mẫu số chung” để đoàn kết nhân dân Đông Dương trong cuộc đụng đầu lịch sử chống thực dân, đế quốc xâm lược.

Sự cấu thành chặt chẽ về vị trí địa lý, nét tương đồng về lịch sử - văn hóa, mối quan hệ qua lại mật thiết gắn bó cùng với sự giúp đỡ lẫn nhau trong suốt chiều dài dựng nước và giữ nước đã được lịch sử ghi nhận như những tiền đề cho truyền thống đoàn kết, hữu nghị lâu dài giữa nhân dân ba nước Đông Dương, trước khi chủ nghĩa thực dân đế quốc phương Tây đặt chân đến vùng đất này. Khi bị thực dân Pháp xâm lược và thống trị, mối quan hệ giữa nhân dân ba nước càng trở nên mật thiết hơn trong công cuộc chống kẻ thù chung. Để phục vụ cho chính sách cai trị, khai thác nguồn tài nguyên khắp lãnh thổ Đông Dương, thực dân Pháp cưỡng bức nhiều trí thức, lao động người Việt Nam sang Lào, Campuchia tham gia vào bộ máy cai trị hay làm việc trong các đồn điền, hầm mỏ. Nhiều thế hệ người Việt Nam đã gắn bó chặt chẽ với cộng đồng người bản xứ, coi Lào, Campuchia như quê hương thứ hai của mình. Thực dân, đế quốc chủ trương xây dựng quan hệ buôn bán giữa các khu vực, xây dựng nhiều tuyến đường xuyên Đông Dương tạo ra sự giao lưu khá rộng mở giữa nhân dân ba nước, tăng cường mối quan hệ vốn có trong lịch sử(2). Trong khi các triều đình phong kiến Việt Nam, Lào, Campuchia lần lượt đầu hàng, cam chịu làm tay sai cho thực dân, đế quốc thì nhân dân ba nước vẫn kiên quyết đứng lên đấu tranh giải phóng dân tộc. Xu hướng liên kết đấu tranh của nhân dân ba nước nhằm đánh đuổi kẻ thù chung, giành độc lập dân tộc ngày càng được tăng cường. Nhiều cuộc đấu tranh, nhiều phong trào khởi nghĩa chống thực dân Pháp đã có sự tham gia, ủng hộ, phối hợp giúp đỡ lẫn nhau của nhân dân ba nước(3).

Năm 1930, Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời đánh dấu bước ngoặt phát triển trong quan hệ đoàn kết của nhân dân ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia. Từ đây, nhân dân mỗi nước có điều kiện thuận lợi để tham gia tích cực trào lưu cách mạng của thời đại, kết hợp giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội, mở đường cho những quan hệ tốt đẹp chưa từng có trong lịch sử ba nước. “Từ đây, tình đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân ba nước không chỉ còn đóng khung trong tình đoàn kết giữa các dân tộc láng giềng với nhau nữa, mà đã mang nội dung giai cấp của tình đoàn kết chiến đấu rộng lớn hơn giữa giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới”(4). Với chủ trương, đường lối đúng đắn, Đảng Cộng sản Đông Dương đã tổ chức, lãnh đạo nhân dân ba nước đấu tranh giành độc lập. Nhiều cán bộ, chiến sĩ đảng viên cộng sản Việt Nam được điều động sang hoạt động ở Lào, Campuchia nhằm xây dựng các thành công đảng ở hai nước bạn, góp phần làm cho phong trào cách mạng Đông Dương thêm gắn bó. Thời cơ cách mạng đến, tháng 8-1945, nhân dân Đông Dương đứng lên đấu tranh lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật, giành độc lập. Tuy nhiên, ngay sau đó, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Đông Dương. Kiên định chủ trương “Đông Dương là một chiến trường, chiến đấu theo một chiến lược chung”, trong khi tổ chức lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống thực dân Pháp trở lại xâm lược, Đảng Cộng sản Đông Dương và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không ngừng vun đắp tình đoàn kết, quan hệ chiến lược giữa nhân dân ba nước ngày càng bền chặt thông qua việc ký kết các hiệp ước liên minh và dành sự ủng hộ, giúp đỡ hết lòng về nhân lực, vật lực cho các nước bạn. Đến năm 1951, xuất phát từ đặc điểm tình hình cách mạng chung ở Đông Dương và tình hình cách mạng mỗi nước, Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ II quyết định thành lập ở mỗi nước một chính đảng vô sản(5). Tiếp đó, Hội nghị đại biểu liên minh nhân dân Việt - Miên - Lào, bao gồm đại biểu các mặt trận dân tộc thống nhất ba nước, đã họp (11-3-1951) và quyết định thành lập khối liên minh nhân dân Việt - Miên - Lào dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tương trợ.

Sau khi mặt trận liên minh được thành lập, cán bộ và chiến sĩ tình nguyện Việt Nam làm nhiệm vụ ở Lào và Campuchia đã không quản ngại khó khăn, gian khổ, hy sinh giúp đỡ bạn xây dựng cơ sở chính trị, phát triển lực lượng vũ trang, phát động chiến tranh du kích rộng khắp. Nhiều đơn vị chủ lực Việt Nam phối hợp với bạn mở nhiêu chiến dịch và giành thắng lợi to lớn. Trong muôn vàn gian khó, sự giúp đỡ, ủng hộ lẫn nhau của nhân dân ba nước chính là một trong những nguyên nhân cơ bản làm nên thắng lợi vẻ vang của cách mạng mỗi nước và cũng là của sự nghiệp chống kẻ thù chung, buộc thực dân Pháp phải ký kết Hiệp định Giơnevơ (7-1954) công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Đông Dương. Đây là một bước ngoặt lớn trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của nhân dân mỗi nước. Sức mạnh đoàn kết liên minh chiến đấu của nhân dân ba nước Đông Dương được xây dựng, phát triển và thử thách qua máu lửa đấu tranh chống quân xâm lược và xây dựng đất nước của ba dân tộc thực sự là biểu tượng sinh động, chói ngời của chủ nghĩa quốc tế vô sản.


(1) Trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đầu thế kỷ XV, Lê Lợi từng nhờ đất Ai Lao (Lào) làm chỗ đứng chân buổi ban đầu; triều Tây Sơn có mối quan hệ thông hiếu với triều đình Viêng Chăn, tiếp đó giúp một số bộ tộc Lào đánh đuổi quân xâm lược Xiêm (Thái Lan); các chúa Nguyễn ở Đàng Trong từng giúp đỡ nhân dân Campuchia và Lào chống xâm lược Xiêm.
(2) Trao đổi hàng hóa thương mại trong nội bộ giữa ba nước Đông Dương có sự phát triển đa dạng. Nền kinh tế cả ba nước chủ yếu là nông nghiệp có tính bố sung cho nhau và có khuynh hướng chuyên môn hóa rõ rệt. Đến năm 1954, Campuchia đứng hàng thứ ba trong số các nước cung cấp hàng hóa cho Việt Nam (đứng sau Pháp và Hoa Kỳ).
(3) Tiêu biểu cho sự phối hợp giữa nghĩa quân Acha Soa với nghĩa quân của Đề đốc Huân trên địa bàn Châu Đốc, Vĩnh Long, Đồng Tháp Mười (1862); liên quân chiến đấu giữa nghĩa binh Pôkumbô và nghĩa quân của Trương Quyền, Võ Duy Dương tại các vùng dọc biên giới hai nước Việt Nam - Campuchia (1866); sự phối hợp giữa quân lính (bị thực dân Pháp cưỡng bức) Việt - Lào chống Pháp tại hai vùng Bôlôven và Tây Nguyên (1901); sự đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân các bộ tộc Lào đối với các nghĩa binh, sĩ phu trong phong trào Cần Vương (1885 - 1896)…
(4) Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam - Viện Đông Nam Á: Những vấn đề lịch sử - văn hóa Đông Nam Á - Về lịch sử - văn hóa ba nước Đông Dương, Viện Đông Nam Á xuất bản, Hà Nội, 1983, tr.64.
(5) Từ một Đảng Cộng sản Đông Dương đã tách ra thành ba đảng cách mạng: Đảng Lao động Việt Nam, Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia (thành lập ngày 28-6-1951), Đảng Nhân dân Lào (thành lập ngày 22-3-1955).


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Hai, 2014, 10:05:42 PM
Như vậy, những điều kiện tương đồng, gần gũi về lịch sử - văn hóa, sự gắn bó chặt chẽ về phương diện địa - chính trị cùng sự giao lưu, ủng hộ, giúp đỡ lẫn nhau giữa nhân dân ba nước Đông Dương trong lịch sử xây dựng chiến đấu giải phóng đất nước và bảo vệ Tổ quốc là những tiền đề thuận lợi, định hướng cho liên minh đoàn kết chiến đấu của nhân dân ba nước. Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng và hành động đã đánh dấu bước phát triển về chất lượng quan hệ giữa nhân dân ba nước liên minh đoàn kết chiến đấu nhân dân Đông Dương ra đời. Thực tiễn đấu tranh cách mạng của nhân dân Đông Dương trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã khẳng định: “xây dựng, củng cố, không ngừng phát triển sự nghiệp đoàn kết liên minh chiến đấu giữa ba nước thực sự là một yêu cầu khách quan, thực sự là một nhân tốt giành thắng lợi của cách mạng và chiến tranh giải phóng của mỗi nước và của cả ba nước”(1). Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, vấn đề tăng cường tình đoàn kết và liên minh chiến đấu ấy đã trở thành một nhu cầu bức thiết hơn trước rất nhiều, bởi kẻ thù của nhân dân Đông Dương lúc này là đế quốc Mỹ cùng các thế lực phản động tay sai trong nước câu kết chặt chẽ với nhau; chúng có sức mạnh kinh tế; quân sự hơn ta gấp nhiều lần, sử dụng nhiều âm mưu, thủ đoạn hết sức nham hiểm, xảo quyệt được rút ra từ chính những thất bại của thực dân Pháp trước đó nhằm áp đặt chủ nghĩa thực dân mới ở Đông Dương - một bộ phận của chiến lược toàn cầu hòng làm bá chủ thế giới của chúng. Chính bởi vậy, “với nhân dân ta và nhân dân ba nước Đông Dương, cuộc chiến đấu chống Mỹ xâm lược đã gắn chặt tình đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân ba nước”(2).

Đông Dương từ lâu đã được các công ty tư bản Mỹ quan tâm, là một trong những thị trường hấp dẫn mang lại lợi ích kinh tế trực tiếp đối với Mỹ. Đây vốn là một trong những thuộc địa giàu có nhất của tư bản Pháp, trong đó có những tài nguyên và sản phẩm quan trọng để xuất khẩu như thiếc, than đá, gỗ, gạo, cao su, dừa, hồ tiêu... Đó là những sản phẩm rất cần thiết đối với Mỹ, đồng minh của Mỹ (đặc biệt là Nhật Bản ở Đông Bắc Á) và còn là yếu tố góp phần giúp Mỹ chi phối thị trường thế giới. Ngay từ trước Chiến tranh thế giới thứ hai, thông qua tư bản Pháp, Mỹ đã mau nhiều sản phẩm có nguồn gốc từ Đông Dương(3). Tuy nhiên, mối quan tâm của Mỹ đối với bán đảo này chỉ thực sự được đẩy mạnh từ thập niên 50 của thế kỷ XX. Đó là, lợi dụng việc thực dân Pháp sa lầy ngày càng nghiêm trọng trong cuộc xâm lược Đông Dương lần hai, thông qua viện trợ quân sự cho Pháp, đế quốc Mỹ ngày càng can thiệp sâu vào cuộc chiến Đông Dương nhằm phục vụ cho chiến lược toàn cầu phản cách mạng của chúng. Năm 1950, đế quốc Mỹ chinh thức viện trợ cho Pháp nhằm duy trì và đẩy mạnh chiến tranh xâm lược. Đến năm 1954, Mỹ đã gánh 78% phí tổn cuộc chiến Đông Dương. Điều đó có nghĩa là: “Chiến tranh Đông Dương thực tế đã trở thành chiến tranh của đế quốc Mỹ và quân đội viễn chinh Pháp chỉ là quân đội đánh thuê cho Mỹ”(4).

Với đế quốc Mỹ, Việt Nam và Đông Dương không chỉ là miếng mồi béo bở, với nguồn nguyên liệu chiến lược giàu có, nguồn nhân lực rẻ mạt, mà hơn hết đây chính là một địa bàn chiến lược quan trọng, án ngữ đường giao thông xung yếu trên biển giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Mặt khác, nơi đây, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đang diễn mạnh mẽ, đều khắp, trong đó Việt Nam là tâm điểm và đang trở thành ngọn cờ cổ vũ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên phạm vi toàn thế giới - một trào lưu cách mạng mới của thời đại. Chính bởi căn nguyên chiến lược đó, đế quốc Mỹ luôn sẵn sàng hất cẳng, thay chân Pháp bất cứ khi nào có thời cơ. Theo cách nhìn nhận của nhà sử học Mỹ Gabrien Côncô, thì: “Về nguyên tắc mà nói, trong khi giúp đỡ Mỹ chiến đấu cho một sự nghiệp lớn hơn mà Mỹ coi như của chính mình, các nhà lãnh đạo Oasinhtơn vẫn chuẩn bị cho sự can thiệp sâu hơn khi họ thấy là cần thiết để ủng hộ con đôminô hàng đầu là Đông Dương”(5).

Ngày 7-5-1954, quân Pháp bị đại bại tại Điện Biên Phủ, chính phủ mới thành lập ở Pháp muốn thương lượng đi đến ký kết hiệp định đình chiến, rút quân khỏi Đông Dương. Để chống lại “sự đầu hàng” của đồng minh Pháp, Tổng thống Mỹ Aixenhao một lần nữa khẳng định: Tầm quan trọng chiến lược của Đông Dương, gồm ba quốc gia liên kết Việt Nam, Lào, Campuchia là điều rõ ràng (…). Mất toàn bộ Việt Nam, cùng với Lào ở phía tây và Campuchia ở phía tây nam, sẽ có nghĩa là để hàng triệu người vào vòng nô dịch của cộng sản; về mặt vật chất, điều đó có nghĩa là sẽ mất đi những mỏ thiếc giá trị và những nguồn cung cấp cao su và gạo khổng lồ. Điều đó cũng có nghĩa là Thái Lan, với Đông Dương là khu đệm giữa nó với Trung cộng, sẽ bị hở hoàn toàn biên giới phía đông trước nguy cơ xâm nhập hay tấn công, và nếu Đông Dương sụp đổ thì không những Thái Lan mà cả Miến Điện và Mã Lai sẽ bị đe dọa, lại còn thêm những nguy cơ đối với Đông Pakistan và Nam Á cũng như toàn bộ Inđônêxia. Và chính Tổng thống Aixenhao đã công khai tuyên bố: “Chiến trận ở Đông Dương hãy còn tiếp tục, tuy có khác trước”(6).


(1) Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp - Thắng lợi và bài học, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1986, tr.368.
(2) Đại tướng Văn Tiến Dũng: Về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (in lần thứ hai, có bổ sung), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr.285.
(3) Từ năm 1930 đến năm 1939, Mỹ đã mua khoảng 30% tổng số cao su xuất khẩu ở Đông Dương. Từ năm 1946 đến 1950, cao su chiếm 98% giá trị hàng hóa của Đông Dương bán cho Mỹ. Dẫn theo Đặng Phong: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam, Viện Nghiên cứu khoa học thị trường - giá cả xuất bản, Hà Nội, 1991, tr.9.
(4)Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.15, tr.174.
(5) Gabrel Kolko: Giải phẫu một cuộc chiến tranh, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003, tr.116.
(6) Hồi ký Dwight D. Eisenhower: Mandate for change (1953 - 1956), Doubleday and Company, New York, 1963, Lê Thế Mỹ trích dịch chương 14: Thời kỳ lộn xộn ở Đông Dương, Viện Khoa học quân sự, 1976, tr.39, tài liệu Viện Lịch sử quân sự, ký hiệu VL-2736.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Hai, 2014, 10:10:44 PM
Sau khi không thành công trong việc ngăn cản việc ký kết Hiệp định Giơnevơ, đế quốc Mỹ tìm mọi cách thực hiện kế hoạch vạch ra từ trước, tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới ở bán đảo Đông Dương. Chỉ một ngày sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, Tổng thống Mỹ Aixenhao đã tuyên bố: “Hoa Kỳ không tham dự vào những quyết định của Hội nghị Giơnevơ và không bị ràng buộc vào những quyết định ấy”(1). Ngày 23-7-1954, tức là chỉ vài ngày sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, Ngoại trưởng Mỹ Đalét tuyên bố: “Từ nay về sau, vấn đề bức thiết không phải là than tiếc dĩ vãng, mà là lợi dụng thời cơ để việc thất thủ ở miền Bắc Việt Nam không mở đường cho chủ nghĩa cộng sản bành trướng ở Đông Nam Á và Tây Nam Thái Bình Dương”(2). Như vậy, đế quốc Mỹ chính thức tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược kéo dài 21 năm, sau thất bại năm 1954 của thực dân Pháp, hòng ngăn chặn sự phát triển cách mạng ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia, biến Đông Dương thành căn cứ quân sự và thuộc địa kiểu mới.

Tuy nhiên, sau Hiệp định Giơnevơ, do tính chất, đặc điểm tình hình và tương quan lực lượng giữa cách mạng và phản cách mạng ở mỗi nước là khác nhau, bởi vậy, ở mỗi nước, đế quốc Mỹ triển khai những chính sách, biện pháp quân sự, chính trị khác nhau.

Việt Nam nằm ở phía đông bán đảo Đông Dương, là ngọn cờ tiêu biểu của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc khu vực Đông Nam Á. Do vậy, đế quốc Mỹ xem cuộc chiến tranh xâm luộc Việt Nam là một trọng điểm gắn với “thuyết đôminô về châu Á”. Theo Hiệp định Giơnevơ, Việt Nam tạm thời bị chia làm hai miền (lấy vĩ tuyến 17 - dọc sông Bến Hải làm giới tuyến quân sự tạm thời), sau hai năm (7-1956) sẽ tiến hành hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Lợi dụng tình hình đó, đế quốc Mỹ nhanh chóng đưa Ngô Đình Diệm về Sài Gòn, dựng lên chính quyền tay sai ở miền Nam Việt Nam, tiến hành đàn áp dã man lực lượng kháng chiến(3), quyết chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, căn cứ quân sự của chúng. Từ năm 1954 đến năm 1975, năm đời tổng thống Mỹ đề ra bốn chiến lược chiến tranh xâm lược nối tiếp nhau. Đặc biệt, trong chiến lược chiến tranh cục bộ (1965 - 1968) - nỗ lực chiến tranh xâm lược Việt Nam cao nhất, Mỹ đã huy động gần 55 vạn quân viễn chinh và quân một số nước đồng minh cùng nhiều loại vũ khí, phương tiện chiến tranh vào miền Nam trực tiếp tham chiến và làm nòng cốt cho hơn 1 triệu quân đội Sài Gòn. Phối hợp với chiến tranh xâm lược miền Nam, Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại bằng hải quân và không quân đối với miền Bắc, mở rộng chiến tranh xâm lược ra cả nước. Mỹ đã ném tổng số khoảng 7,8 triệu tấn bom đạn xuống hai miền Nam, Bắc Việt Nam, một khối lượng bom đạn lớn hơn bất cứ khối lượng bom đạn nào mà Mỹ đã sử dụng trước đó.

Đối với Lào một quốc gia nằm ở phía tây bán đảo Đông Dương, có vị trí địa lý đặc biệt, biên giới tiếp giáp với các nước Trung Quốc, Việt Nam, Mianma, Thái Lan, Campuchia - những quốc gia có chế độ chính trị - xã hội khách nhau, nên đế quốc Mỹ muốn biến Lào thành thuộc địa kiểu mới, một căn cứ quân sự, dùng Lào làm chiến trường phối hợp quan trọng với chiến trường chính Nam Việt Nam để thực hiện âm mưu chiến lược thôn tính toàn Đông Dương; đồng thời, “đối với Mỹ, việc kiểm soát nửa phía tây của Lào là tối quan trọng cho việc phòng thủ Thái Lan, một đồng minh mạnh nhất của Mỹ trên đất liền Đông Nam Á”(4). Sau Hiệp định Giơnevơ, lực lượng kháng chiến Lào tập kết về hai tỉnh Sầm Nưa và Phongxalỳ. Chính quyền Viêng Chăng vẫn giành quyền kiểm soát đại bộ phận lãnh thổ Lào (10 tỉnh). Thực hiện âm mưu tiêu diệt lực lượng kháng chiến Lào, Mỹ ồ ạt viện trợ kinh tế, quân sự(5) cho chính quyền, quân đội tay sai Viêng Chăn(6) (phái hữu), từng bước chi phối mọi mặt hoạt động ở Lào. Giữa năm 1955, Mỹ hậu thuẫn cho quân đội tay sai Viêng Chăn mở các cuộc tiến công vào hai tỉnh tập kết của lực lượng cách mạng Lào ở Sầm Nưa và Phongxalỳ; đồng thời tiến hành các cuộc hành quân càn quét, đàn áp lực lượng kháng chiến cũ trên phạm vi cả nước, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới ở Lào. Từ năm 1954 đến năm 1963, đế quốc Mỹ tiến hành chiến lược hai mặt: “diễn biến hòa bình” kết hợp bạo lực phản cách mạng, nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng Lào, củng cố chính quyền và quân đội phái hữu. Bước sang năm 1964, đế quốc Mỹ triển khai thực hiện chiến lược chiến tranh đặc biệt, bắt đầu sử dụng không quân ném bom tàn phá khốc liệt vùng giải phóng, các khu căn cứ cách mạng, phái hàng ngàn cố vấn quân sự Mỹ sang trực tiếp điều khiển cuộc chiến và đưa nhiều đơn vị lính đánh thuê Thái Lan sang tham chiến trên chiến trường Lào. Đến năm 1969, đế quốc Mỹ đưa cuộc chiến tranh xâm lược Lào lên đỉnh cao nhất dưới hình thái “chiến tranh đặc biệt tăng cường”. Không quân Mỹ đã dội khoảng 3 triệu trấn bom, đạn xuống lãnh thổ Lào (tính trung bình mỗi người dân Lào chịu đựng 1 tấn bom), liên tiếp mở các cuộc hành quân vào vùng giải phóng, tiêu diệt lực lượng kháng chiến Lào. Trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương, đặc biệt đối với Lào, đế quốc Mỹ đã sử dụng lãnh thổ Thái Lan làm căn cứ quân sự - hậu cần, làm bàn đạp xuất phát các cuộc tiến công sang đất Lào, và sử dụng lính đánh thuê Thái Lan trực tiếp tham chiến trên chiến trường Lào và Việt Nam với quy mô lớn.


(1) Nguyễn Hùng Phi - TS. Buasi Chalơnsúc: Lịch sử Lào hiện đại, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t.II, tr.24.
(2) Bộ Giáo dục và Đào tạo: Lịch sử Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2003, t.2, tr.118.
(3) Chỉ trong vòng 4 năm (1954 - 1958), cả miền Nam tổn thất 9/10 số cán bộ, đảng viên. Ở Nam Bộ; khoảng 7 vạn cán bộ, đảng viên ta bị đối phương giết; gần 90 vạn cán bộ, nhân dân bị bắt, bị tù đày; gần 20 vạn bị tra tấn thành tàn tật, chỉ còn khoảng 5.000 đảng viên. Bến Tre còn 162 đảng viên, Tiền Giang còn 92, Gia Định, Biên Hòa mỗi nơi chỉ còn 1 chi bộ đảng. Riêng ở Khu 5 (lúc đó gồm cả Trị - Thiên và cực Nam Trung Bộ) khoảng 40% tỉnh ủy viên, 60% huyện ủy viên, 70% chi ủy viên bị bắt, bị giết, có tỉnh chỉ còn 2-3 chi bộ, 12 huyện đồng bằng không còn cơ sở đảng. Trị - Thiên chỉ còn 160/23.400 đảng viên trước đó. Dẫn theo Ban chỉ đạo tổng kế chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học, Sđd, tr.310.
(4) Pitơ A. Pulơ: Nước Mỹ và Đông Dương từ Rudơven đến Níchxơn, Nxb. Thông tin lý luận, Hà Nội, 1986, tr.78.
(5) Trong 20 năm (1955 - 1975), Mỹ đã viện trợ cho Lào gần 4 tỷ đôla, trong đó viện trợ quân sự chiếm 3 tỷ đôla. Giai đoạn 1955 - 1961, viện trợ bình quân mỗi năm 230 triệu đôla. Dẫn theo Nguyễn Hùng Phi - TS. Buasi Chalơnsúc: Lịch sử Lào hiện đại, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t.II, tr.28-29.
(6) Sau Hiệp định Giơnevơ, quân đội Viêng Chăn (còn được gọi là “quân đội quốc gia Lào”) do Pháp xây dựng còn khoảng 10.000 quân có trang bị vũ khí kém và phụ thuộc nặng nề vào Pháp. Đế quốc Mỹ đã tổ chức, xây dựng, huấn luyện và phát triển đội quân này nhanh chóng nhằm phục vụ cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới của Mỹ bởi như chính các nhà chính trị, quân sự Mỹ đã nói: ”Quân đội Hoàng gia Lào đã ra đời với sự trả giá của những người nộp thuế của nước Mỹ”, dẫn theo Pitơ A. Pulơ: Nước Mỹ và Đông Dương từ Rudơven đến Níchxơn, Nxb. Thông tin lý luận, Hà Nội, 1986, tr.79. Đến năm 1955, quân số đạt 25.000, cuối năm 160 lên 44.000 người và cuối năm 1965 lên 70.000 người.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Hai, 2014, 10:15:07 PM
Đối với Campuchia, một quốc gia nằm phía tây nam bán đảo Đông Dương, có đường biên giới chung với Thái Lan, Lào, Nam Việt Nam và Vịnh Thái Lan, đế quốc Mỹ coi Campuchia là địa bàn phối hợp quan trọng với chiến trường Việt Nam và chiến trường Lào, đồng thời nằm trong ý đồ xây dựng tuyến phòng thủ chiến lược Thái Lan - Campuchia - Nam Việt Nam.

Ngay tại Hội nghị Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Đông Dương (1954), do tương quan lực lượng giữa các bên ở Campuchia, nhưng quan trọng hơn chính là sự tính toán của một số cường quốc nhằm hạn chế thắng lợi của cách mạng Đông Dương, nên Hiệp định Giơnevơ không có điều khoản về vùng tập kết cho lực lượng kháng chiến Campuchia, buộc họ phải giải tán, sống hòa nhập với cộng đồng xã hội, mặt khác, công nhận Chính phủ Vương quốc Campuchia, do Quốc vương Xihanúc(1) đứng đầu là chính phủ hợp pháp.

Dựa vào Hiệp định Giơnevơ và uy tín của mình, Xihanúc thực thi đường lối hòa bình, trung lập, ủng hộ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân các nước thuộc địa, hữu nghị với tất cả các nước tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Campuchia, không tham gia bất cứ khối liên minh quân sự - chính trị nào, tiếp nhận viện trợ từ mọi phía miến là không có điều kiện ràng buộc. Nhờ đường lối đó, Campuchia đã trả qua một thời kỳ tương đối ổn định, có điều kiện đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, uy tín trên trường quốc tế được nâng cao(2).

Tuy nhiên, đường lối hòa bình, trung lập của chính quyền Xihanúc đã đi ngược lại lợi ích và ý đồ xâm lược Đông Dương của đế quốc Mỹ, do vậy, Mỹ đã tiến hành chính sách hai mặt với Campuchia. Một mặt, chúng ve vãn, lôi kéo Chính phủ Vương quốc bằng con bài viện trợ - Hiệp ước quân sự Mỹ - Campuchia được ký kết (16-5-1955). Theo đó, từ năm 1956 đến năm 1962, Mỹ đã viện trợ cho Chính phủ Xihanúc 336 triệu đôla(3) cả về quân sự và dân sự. Mục đích của Mỹ là dùng con bài viện trợ để gạt bỏ ảnh hưởng của Pháp, lôi kéo Xihanúc “đi” với Diệm. Đồng thời, theo lệnh của Mỹ, năm 1956, Ngô Đình Diệm cử Cố vấn Ngô Đình Nhu sang thăm Campuchia và vài tháng sau Xihanúc đáp từ sang thăm Nam Việt Nam. Hai bên đã đặt quan hệ ngoại giao cấp đại sứ. Dù vậy, trong một kế hoạch chiến lược lâu dài của mình, đế quốc Mỹ đã khẩn trương tập hợp, nuôi dưỡng các thế lực phản động, thù địch ở cả trong, ngoài nước nhằm thông qua lực lượng này tăng cường sức ép chính trị, quân sự lật đổ chính quyền Xihanúc, xóa bỏ nền hòa bình, trung lập ở Campuchia; tiêu biểu nhất là các kế hoạch đảo chính (không thành công) cuối năm 1958, đầu năm 1959 và cuộc ám sát Xihanúc cuối năm 1959.

Phối hợp với các hoạt động phá hoại từ bên trong, đế quốc Mỹ chỉ đạo chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng hòa, Thái Lan gây ra hàng ngàn vụ khiêu khích vũ trang dọc biên giới Nam Việt Nam - Campuchia, Thái Lan - Campuchia, trắng trợn đưa quân tiến sâu vào lãnh thổ Campuchia phá hoại kinh tế, giết hại dân thường, tuyên bố đóng cửa biên giới, phong tỏa kinh tế… hòng gây sức ép. Trên diễn đàn quốc tế, đế quốc Mỹ liên tục mở các chiến dịch tuyên truyền, phê pháp chính quyền Campuchia vi phạm quyền dân chủ, đả kích đường lối hòa bình, trung lập và vu cáo Chính phủ Vương quốc Campuchia là “đồng minh của cộng sản”… Tất cả những hành động trên thực chất đều nhằm từng bước áp đặt ách thống trị thực dân kiểu mới của Mỹ đối với Campuchia dưới hình thức diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ. Minh chứng là, ngày 18-3-1970, đế quốc Mỹ đã hậu thuẫn thế lực phản động do Lon Non cầm đầu, tiến hành cuộc đảo chính lật đổ Quốc trưởng Xihanúc, xóa bỏ đường lối hòa bình, trung lập, đưa Campuchia vào quỹ đạo chiến tranh Đông Dương. Đây là một dấu mốc quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân các nước Đông Đương, đúng như nhận định của cố đại tướng Văn Tiến Dũng: “Với cuộc kháng chiến chống Mỹ của ta và phong trào cách mạng ba nước Đông Dương, cuộc biến động lớn ở Campuchia đầu năm 1970 là một tình huống chiến lược rất quan trọng, đánh đấu một bước phát triển mới trong sự nghiệp cách mạng và chiến tranh cách mạng chống Mỹ của nhân dân ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia”(4). Chính phủ Lon Non thực chất là chính quyền tay sai của Mỹ, đại diện quyền lợi cho lực lượng phong kiến, quan liêu quân phiệt và tư sản mại bản nhằm chống lại, đàn áp, bóc lột nhân dân Campuchia. Sau khi Lon Non lên nắm quyền, trong vòng hai tuần, viện trợ của Mỹ cho Lon Non lên đến 500 triệu đôla(5). Từ năm 1970 đến năm 1975, cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới của đế quốc Mỹ đã gây ra những hậu quả hết sức nặng nề cho nhân dân và đất nước Chùa Tháp(6), mà nhiều nhà sử học phương Tây đã gọi đây là cuộc diệt chủng lần thứ nhất.

Như vậy, ngay từ năm 1954, đế quốc Mỹ cùng một lúc trực tiếp tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược trên cả hai nước Việt Nam và Lào; đồng thời, biến Campuchia là địa bàn nuôi dưỡng bọn phản động để tiến hành phá hoại đường lối hòa bình, trung lập, chia rẽ khối đoàn kết nhân dân Đông Dương và cuối cùng là trực tiếp mở rộng chiến tranh sang Campuchia. Đế quốc Mỹ trở thành kẻ thù chung của nhân dân Đông Dương.


(1) Nôrôđôm Xihanúc sinh ngày 31-10-1922, là cháu nội của vua Nôrôđôm và là cháu ngoại của vua Sisowath. Năm 1941, ông lên ngôi hoàng đế Campuchia trong khuôn khổ chế độ bảo hộ của thực dân Pháp.
(2) Tháng 12-1955, Campuchia được công nhận là thành viên của Liên hợp quốc.
(3) Xem Phạm Đức Thành: Lịch sử Campuchia, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1995, tr.250.
(4) Đại tướng Văn Tiến Dũng: Về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (in lần thứ hai, có bổ sung), Sđd, tr.277.
(5) Maicơn Máclia: Việt Nam - Cuộc chiến tranh mười nghìn ngày, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1990, tr.189.
(6) Cuộc chiến tranh đã giết hại khoảng 600.000 người (chiếm 1/10 dân số), nhiều công trình giao thông, trường học, văn hóa… bị phá hủy. Tại vùng do chính quyền Lon Non kiểm soát, chúng tiến hành nhiều cuộc hành quân đàn áp, khủng bố dã man tàn bạo hơn 400.000 Việt kiều sinh sống ở Campuchia.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười Hai, 2014, 08:57:36 PM
Việt Nam, Lào và Campuchia, mỗi nước có một vị trí, vai trò khác nhau trong kế hoạch chiến lược của đế quốc Mỹ. Việt Nam là quốc gia nằm ở phía đông, có diện tích và dân số lớn nhất Đông Dương, lại là trung tâm phong trào cách mạng kháng chiến, là trở lực chính cho âm mưu xâm lược Đông Dương. Lào và Campuchia cùng tựa lưng vào Việt Nam, là phên dậu bảo vệ hành lang phía tây Đông Dương. Do đó, đế quốc Mỹ luôn coi Việt Nam là chiến trường chính, nơi tập trung mọi nỗ lực chiến tranh cao nhất, song đối với chiến trường Lào và Campuchia chúng cũng chưa bao giờ xem nhẹ. Và, mặc dù biện pháp cụ thể thực hiện ở mỗi nước có khác nhau, nhưng đế quốc Mỹ luôn xem Việt Nam, Lào, Campuchia là một thể thống nhất - chiến trường Đông Dương. Đây phải chăng chính là căn nguyên để cắt nghĩa vì sao giới sử học phương Tây gọi cuộc chiến tranh xâm lược này của đế quốc Mỹ là cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai (cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp trước đó là cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất).

Để hậu thuẫn cho cuộc chiến tranh này, tháng 9-1954, đế quốc Mỹ đã lôi kéo một số đồng minh của mình lập ra khối SEATO(1) và ngang nhiên đặt miền Nam Việt Nam, Lào, Campuchia dưới sự bảo trợ của khối này. Đây là hành động trắng trợn vi phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Đông Dương đã được công nhận trong Hiệp định Giơnevơ. Từ năm 1954 đến năm 1970, Mỹ tập trung nỗ lực vào đàn áp cách mạng Việt Nam, Lào và tìm cách lôi kéo, phá hoại nền hòa bình, trung lập của Campuchia. Năm 1970, Mỹ mở rộng cuộc chiến tranh trên bộ ra toàn Đông Dương, biến Đông Dương thành một chiến trường thống nhất trong một kế hoạch chiến lược chung: “Đông Dương hóa chiến tranh”, trong đó “Việt Nam hóa là nguyên tắc cơ bản trong chính sách của Tổng thống Níchxơn ở Đông Dương”(2). Trong hai năm 1970 - 1971, Không quân Mỹ đã thực hiện trên 10.000 phi vụ mỗi tháng ở Campuchia và 25.000 phi vụ mỗi tháng ở Lào, ném gần 5 triệu tấn bom xuống Đông Dương, hơn gấp 2 lần tổng số bom Mỹ sử dụng trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Chỉ tính 5 tháng đầu năm 1970, Mỹ ném 600.000 tấn ở Việt Nam, riêng các cuộc ném bom bằng máy bay chiến lược B.52 đã tốn kém 1 triệu đôla một ngày(3). Chỉ tính riêng năm 1970 đã có khoảng 400.000 người Đông Dương bị thương vong, phần lớn số này là dân thường vô tội.

Xác định Đông Dương là một chiến trường, nên trong suốt cuộc chiến tranh xâm lược, đế quốc Mỹ đã tiến hành “một chiến lược khu vực”, với những chủ trương và biện pháp chiến lược nhất quán và có mối liên quan chặt chẽ với nhau;

Thứ nhất, tìm cách gạt Pháp và các lực lượng thân Pháp, loại bỏ tư tưởng thân Pháp, thiết lập chính quyền và quân đội tay sai hòng độc chiếm Đông Dương. Trải qua gần một thế kỷ xâm lược và thống trị, thực dân Pháp đã có những tác động, ảnh hưởng (cá tích cực và tiêu cực) trên mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội ở Đông Dương, trong đó bộ máy chính quyền quan liêu bản xứ và các thế lực phản động thân Pháp chịu ảnh hưởng lớn nhất. Đế quốc Mỹ cho rằng, muốn độc chiếm Đông Dương thì trước hết phải gạt hết các thế lực thân Pháp, loi kéo và xây dựng lại lực lượng làm tay sai phục vụ cho “chế độ mới”. Hoạt động gạt Pháp được đế quốc Mỹ thực hiện triệt để trên cả ba nước Đông Dương. Thực tế cho thấy những hoạt động, chiến dịch lớn đầu tiên của Mỹ ở miền Nam Việt Nam và ở Lào là nhằm “thu phục” và tiêu diệt các lực lượng thân Pháp. Tại miền Nam Việt Nam, dưới sự chỉ đạo của Mỹ, Ngô Đình Diệm liên tiếp mở những chiến dịch quân sự lớn nhằm tiêu diệt các giáo pháp chống đối và có tư tưởng thân Pháp như Cao Đài, Hào Hảo, Bình Xuyên… Ở Lào, cuối năm 1954, Mỹ đưa Cà Tày Đônxaxôlít, tay sai mới của Mỹ lên làm thủ tướng. “Việc thành lập Chính phủ Cà Tày là biểu hiện trắng trợn của Mỹ trong việc gạt Pháp ra khỏi Đông Dương, mở đầu việc phá hoại Hiệp định Giơnevơ 1954 một cách có hệ thống”(4). Tại Campuchia, do lực lượng phản động còn hạn chế, Mỹ chưa thiết lập được chính quyền tay sai nên giai đoạn đầu, Mỹ tìm cách gây dựng lực lượng tay sai phản động, dùng con bài viện trợ để gây dựng ảnh hưởng của mình, hạn chế tiến tới gạt ảnh hưởng của Pháp(5) và tiến hành các hoạt động đảo chính, lật đổ chính quyền thân Pháp, lập chính quyền thân Mỹ. Dù vậy, cũng phải đến năm 1970, đế quốc Mỹ mới thiết lập được chính quyền tay sai ở Phnôm Pênh, hoàn thành hệ thống chính quyền tay sai bản xứ trên toàn Đông Dương.


(1) “Tổ chức hiệp ước Đông Nam Á - Khối SEATO” (viết tắt mục từ tiếng Anh: South East Asia Treaty Organiztion) bao gồm các nước: Mỹ, Anh, Pháp, Ôxtrâylia, Niu Dilân, Thái Lan, Philíppin, Pakixtan (năm 1973 rút khỏi SEATO). Do thất bại của Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương, tháng 9-1975 SEATO tuyên bố giải thể, tháng 6-1977 chấm dứt sự tồn tại.
(2) Nguyễn Cao Kỳ (hồi ký): Chúng ta đã thua trận ở Việt Nam như thế nào?, Nxb. Thông tin lý luận, Hà Nội, 1990, tr.241.
(3) Xem Giôdép A. Amtơ: Lời phán quyết về Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1985, tr.260.
(4) Nguyễn Hùng Phi - TS. Buasi Chalơnsúc: Lịch sử Lào hiện đại, Sđd, t.II, tr.43.
(5) Từ năm 1956 đến năm 1962, Mỹ viện trợ cho Campuchia tới 366 triệu đôla, trong khi đó, Pháp muốn duy trì ảnh hưởng ở Campuchia nhưng chỉ viện trợ nhỏ là 25 triệu đôla (1956 - 1962), tức là chỉ bằng 1/14 viện trợ của Mỹ.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười Hai, 2014, 08:58:45 PM
Thứ hai, để chống phá lực lượng cách mạng mỗi nước cũng như lực lượng cách mạng chung trên bán đảo Đông Dương, các đại sứ quán Mỹ đặt tại Nam Việt Nam, Lào, Campuchia chỉ đạo chặt chẽ hoạt động của các thế lực phản động và chính quyền tay sai ở Đông Dương theo một chương trình hành động thống nhất. Dưới sự chỉ đạo của Mỹ, các liên minh giữa các lực lượng, chính quyền tay sai trên bán đảo Đông Dương được thành lập như liên minh Sài Gòn - Viêng Chăng, Sài Gòn - Phnôm Pênh, Viêng Chăn - Phnôm Pênh. Trong quá trình đó, hoạt động chống phá cách mạng của chính quyền tay sai các nước này đều được chính quyền tay sai các nước kia ủng hộ, phối hợp, giúp đỡ (thậm chí cả việc cho phép lực lượng liên minh tiến sâu vào lãnh thổ của mình). Ngay từ cuối năm 1954, đại diện chính quyền tay sai của Mỹ ở Lào, Nam Việt Nam cùng với chính quyền Thái Lan đã nhóm họp để bàn biện pháp chống phá cách mạng ba nước Đông Dương. Tại đây, chúng đã đi đến thống nhất cùng nhau xây dựng các tuyến đường chiến lược xuyên quốc gia nhằm dễ dàng hỗ trợ quân sự cho nhau, gồm các tuyến đường từ Uđon (Thái Lan) đến Noọng Khai (Lào) và từ Atôpư (Lào) đến Quy Nhơn (Nam Việt Nam). Chính phủ Thái Lan đã ký với Chính phủ Cà Tày Hiệp định phòng thủ chung kiểm soát chặt chẽ biên giới Lào - Thái Lan, đồng ý cho quân đội Thái Lan tiến sâu vào lãnh thổ Lào, dọn đường cho quân Thái Lan sẵn sàng can thiệp vào Lào khi có lệnh của Mỹ. Đầu năm 1956, theo sự chỉ đạo của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, gồm Cố vấn Ngô Đình Nhu, Bộ trưởng Phủ Tổng thống Nguyễn Hữu Châu, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Trần Văn Đỗ… sang viếng thăm Phnôm Pênh, nhằm tìm kiếm sự ủng hộ của Quốc trưởng Xihanúc. Ngay sau đó, chính quyền Việt Nam Cộng hòa và chính quyền Phnôm Pênh đã thiết lập quan hệ ngoại giao cấp đại sứ. Ngô Trọng Hiếu được Ngô Đình Diệm cử sang làm đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Phnôm Pênh. Dưới sự điều hành của cơ quan tình báo Mỹ tại Sài Gòn, Ngô Trọng Hiếu đã tổ chức một mạng lưới ngầm liên kết với những phần tử phản động ở Campuchia như Đáp Chuôn, Sơn Ngọc Thành, Sam Sari tiến hành hoạt động chống phá nền hòa bình, trung lập của Chính phủ Phnôm Pênh, chuẩn bị kế hoạch đào chỉnh lật đổ chính quyền Xihanúc. Tháng 10-1958, Cố vấn Ngô Đình Nhu dẫn đầu phái đoàn quan chức cấp cao Chính phủ Việt Nam Cộng hòa sang thăm Lào. Tháng 5-1959, Khămphăn Pămha - Bộ trưởng Ngoại giao Viêng Chăn dẫn đầu phái đoàn quan chức Chính phủ phái hữu Lào sang thăm Việt Nam Cộng hòa. Tại những cuộc thăm viếng này, hai bên đã ký kết nhiều hiệp định ủng hộ, giúp đỡ và phối hợp cùng chống phá cách mạng các nước Đông Dương, Đáng chú ý nhất là Nghị định thư về “quyền truy nã lực lượng chống đối chính phủ” được ký kết tại Viêng Chăn (11-6-1959) giữa Khămphăn Pămnha và Vũ Văn Mẫu (Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Việt Nam Cộng hòa). “Thực chất đây là âm mưu của Mỹ để chuẩn bị phối hợp giữa quân đội tay sai các nước nhằm đàn áp cách mạng Lào và Việt Nam”(1). Tháng 9-1960, Mỹ chỉ đạo Chính phủ Thái Lan và Chính phủ Việt Nam Cộng hòa viện trợ cấp tốc cho thế lực tay sai tại Lào nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh nhằm chống lại cách mạng Lào; đồng thời, dàn xếp Phumi Nôxavẳn (đứng đầu lực lượng phái hữu trong Chính phủ liên hiệp ba phái ở Lào) ký với Nguyễn Khánh (Tổng Thư ký - Bộ Quốc phòng Việt Nam Cộng hòa) một hiệp ước cho phép quân đội Việt Nam Cộng hòa được quyền “truy kích cộng sản” sang đất Lào. Khi cuộc đảo chính lật đổ chính quyền trung lập của Xihanúc diễn ra, Mỹ đứng ra dàn xếp mâu thuẫn vốn có giữa Lon Non với các thế lực phản động khác ở trong và ngoài nước Campuchia, và móc nối liên kết với chính quyền Việt Nam Cộng hòa, Viêng Chăn và Băng Cốc, trên cơ sở đó củng cố bộ máy thống trị tập trung quyền lực vào tay Lon Non, tập hợp thêm lực lượng chính trị hậu thuẫn trực tiếp cho chính quyền Lon Non, thực hiện cái gọi là “chế độ Cộng hòa Campuchia”, lừa bịp dư luận trong và ngoài nước. Về đối ngoại, chính quyền Lon Non câu kết chặt chẽ với Mỹ và các chính quyền tay sai, phụ thuộc Mỹ ở Đông Dương. Vì thế, các nước này đã lần lượt ra tuyên bố công nhận chính quyền mới của Lon Non, đặt quan hệ ngoại giao với Campuchia, đặt phái bộ thường trực giữa hai bên, tổ chức các đoàn quan chức cao cấp chính phủ qua lại thăm viếng lẫn nhau giữa đại diện các chính phủ Mỹ, Thái Lan, Việt Nam Cộng hòa và Campuchia, cùng ký kết các hiệp định phối hợp để chống phá cách mạng của các nước Đông Dương. Riêng với chính quyền Việt Nam Cộng hòa, tháng 5-1970, ngay sau khi thực hiện thành công cuộc đảo chính lật đổ Chính quyền Xihanúc, Chính phủ Lon Non đã tổ chức phái đoàn cấp cao do Bộ trưởng Ngoại giao cầm đầu sang thăm viếng chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Hai bên nhất trí nối lại quan hệ cấp đại sứ (bị gián đoàn từ năm 1963).

Như vậy, đến năm 1970, đế quốc Mỹ đã thực hiện được mưu đồ mở rộng cuộc chiến tranh trên bộ ra toàn cõi Đông Dương, đẩy mạnh liên kết, phối hợp giữa các chính quyền tay sai, thân Mỹ: Sài Gòn - Phnôm Pênh - Viêng Chăn - Băng Cốc thành một “liên minh ma quỷ”, một công cụ đắc lực cho việc thực hiện chính sách “dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương”, “dùng người châu Á đánh người châu Á” của đế quốc Mỹ, gây nên tình hình mất ổn định rất nghiêm trọng trong khu vực, đe dọa hòa bình Đông Nam Á và thế giới.


(1) Nguyễn Hùng Phi - TS. Buasi Chalơnsúc: Lịch sử Lào hiện đại, Sđd, t.II, tr.69.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười Hai, 2014, 09:00:02 PM
Thứ ba, đế quốc Mỹ triệt để lợi dụng vấn đề khác biệt dân tộc, vấn đề tôn giáo, các mối quan hệ lịch sử cũ để lại phục vụ cho mưu đồ chia rẽ, cô lập từng nước, gây sự xung đột giữa các nước khác nhau. Đây là mưu kế vô cùng hiểm độc, đã có từ thời Pháp(1), nhưng được Mỹ nhân rộng với nhiều thủ đoạn tinh vi, nhằm chia rẽ sự đoàn kết của nhân dân ba nước Đông Dương. Mặt khác, đế quốc Mỹ triệt để khai thác những hạn chế của Hiệp định Giơnevơ để vu cáo Đảng Lao động Việt Nam chỉ tính đến lợi ích của mình mà bỏ rơi đồng chí, đồng đội khiến cho lực lượng kháng chiến Campuchia không có vùng tập kết, buộc phải giải tán; còn lực lượng kháng chiến Lào chỉ giành được quyền kiểm soát hai tỉnh…, kích động một số phần tử phản động ẩn náu trong đảng tuyên truyền gây tâm lý hoang mang, hận thù đối với cách mạng trong một bộ phận quần chúng nhân dân; đồng thời, lợi dụng những vấn đề do lịch sử để lại để gây hận thù giữa các dân tộc Đông Dương. Luận điệu của chúng đưa ra là: Việt Nam có dân số đông, nằm bên cạnh Lào và Campuchia, trước đây từng xâm lược, nay muốn biến Lào, Campuchia thành nước cộng sản phụ thuộc…, hoặc: Việt Nam muốn xâm lược hai nước còn lại để thành lập Liên bang Đông Dương. Trái lại, để ngụy biện cho âm mưu xâm lược của đế quốc Mỹ, chúng cho rằng: Lào và Campuchia là hai quốc gia có chủ quyền, có đại sứ ở các nước, được quốc tế công nhận, Mỹ đến giúp các nước xây dựng đất nước và đánh đuổi Việt Nam xâm lược, bảo vệ độc lập cho Lào, Campuchia… Bằng những luận điệu phản động này cùng với sự viện trợ kinh tế - quân sự, đế quốc Mỹ đã lôi kéo được tầng lớp tư sản, phong kiến, một số tù trưởng, tộc trưởng của hai nước cùng một số cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất, một bộ phận nhân dân nhẹ dạ, cả tin của các nước bạn. Năm 1970, sau khi lật đổ Chính phủ Xihanúc, thiết lập chính thể cộng hòa, dưới sự thao túng của Mỹ, Lon Non đã đưa ra cái gọi là “chủ nghĩa Khmer mới” (Le Néo - Khmerisme) - đề cao chủ nghĩa dân tộc Khmer (coi người Khmer là dân tộc thượng đẳng) và cần phải khôi phục lại “vương quốc” hùng mạnh Ăngco, vận động nhân dân chống lại cộng sản, chia rẽ dân tộc Khmer với dân tộc Việt Nam, xuyên tạc và khoét sâu cái mà chúng gọi là “hận thù truyền kiếp với người Việt Nam”, tiến hành đàn áp, khủng bố giết hại hàng ngàn Việt kiều vô tội, thực hiện đóng cửa biên giới Việt Nam - Campuchia, đóng cửa các sân bay, hải cảng. Thực chất đó là hành động nhằm kích động tâm lý dân tộc cực đoan, gây thù hằn dân tộc, chia rẽ sự đoàn kết nhân dân Đông Dương. Tệ hại hơn, Mỹ và các thế lực phản động còn đặt điều vu cáo: Việt Nam dân số đông, lại đói nên đưa người tràn sang Lào, Campuchia lấy thóc gạo, hoặc, nếu không có người Việt Nam, nhân dân Lào và Campuchia sẽ không bị đói. Chúng sử dụng máy bay ném bom giết hại nhiều người dân vô tội, song lại bao biện rằng: Mỹ chỉ đánh người Việt Nam! Người Việt Nam sang Lào, Campuchia mang lại tai họa cho nhân dân bản xứ… Do bị lôi kéo, trên thực tế, một bộ phận quan trọng người Mông và Khmer đã nổi dậy chống phá cách mạng trong nước và chống phá Việt Nam, gây những tổn hại to lớn cho liên minh đoàn kết chiến đấu của nhân dân ba nước. đặc biệt khi chính quyền trung lập của Xihanúc bị lật đổ, một số phần tử phản động chui vào hàng ngũ Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia, tìm cách khước từ sự ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân Việt Nam: không nhận sự giúp đỡ của Việt Nam về cán bộ các ngành, về lương thực, vô hiệu hóa các tổ chức chính trị, quần chúng mà ta giúp xây dựng. Đối với các tổ chức vũ trang ta giúp xây dựng, trang bị vũ khí và huấn luyện, sau khi nhận bàn giao họ đã tiến hành thao túng, rồi giải tán; hoặc chỉ lựa chọn một số người rồi tổ chức lại, nhưng vũ khí trang bị rất hạn chế. Họ tìm mọi cách né tránh các cuộc gặp gỡ trực tiếp với ta, thậm chí có nơi còn bí mật ra lệnh cấm nhân dân bán gạo cho ta, không cho cán bộ, chiến sĩ ta ở trong nhà dân… “Tóm lại, bạn không muốn cho ta biết các việc bạn làm và cũng không muốn ta tham gia làm với bạn. Phản ánh với bạn, bạn chỉ nói là bạn không có chủ trương, mà đó chỉ là tự phát của địa phương, của cơ sở”(2). Đến khi Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, các phần tử phản động tuyên truyền xuyên tạc, rằng: Cộng sản Bắc Việt chủ trương ngưng chiến tranh với Mỹ để Mỹ có điều kiện tập trung đánh phá cách mạng Campuchia và cách mạng Lào…


(1)  Đầu thế kỷ XX, khi thực dân Pháp hoàn thành công cuộc xâm lược và bình định Đông Dương, chúng chia Đông Dương thành năm xứ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Cao Miên, Ai Lao) để dễ bề cai trị. Phục vụ cho chính sách khai thác thuộc địa trên phạm vi toàn Đông Dương, thực dân Pháp đưa một số viên chức người Việt Nam đã qua đào tạo, có chuyên môn, trình độ cùng công nhân lao động sang Lào và Campuchia làm việc, thậm chí chúng còn cưỡng ép, đưa cả binh lính người Việt sang Lào và Campuchia, tiến hành các cuộc đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân và làm bia đỡ đạn trong các cuộc sung đột với các nước khu vực. Nhiều người Việt Nam sinh sống và làm ăn trên đất Lào, Campuchia đã coi đó là quê hương thứ hai gắn bó máu thịt của mình, có sự đóng góp quan trọng trong tiến trình lịch sử chung của nước bạn. Tuy niên, sau khi thất bại trong công cuộc cai trị, nhất là trong cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai đối với Đông Dương, thực dân Pháp lại tuyên truyền xuyên tạc với khẩu hiệu “Việt Nam người đông lấn át Lào, lấn át Campcuhia” khiến cho một bộ phận nhân dân Lào, Campuchia có sự nghi kị đối với Việt Nam. Chúng tìm cách đề cao vị trí của vua Lào, của quốc vương Campuchia, phát động chiến dịch “tẩy chay người Việt, trục xuất người Việt”, coi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là xâm lược, sử dụng quân viễn chinh Pháp câu kết với quân phản động Lào, Campuchia đánh Việt Nam với khẩu hiệu “Pháp giúp Lào và Campuchia đánh cộng sản Việt Nam để bảo vệ độc lập của Lào, Campuchia”.
(2) Tổng kết sự thực hiện nghĩa vụ quốc tế của Đảng ta về mặt quân sự đối với Campuchia, tài liệu lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, số TK-5441, tr.153.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười Hai, 2014, 09:01:23 PM
Thứ tư, trong quá trình tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Lào và Campuchia, đế quốc Mỹ sử dụng chiêu bài dùng lãnh thổ nước này làm bàn đạp để uy hiếp, tiến công nước kia, ngăn cản sự chi viện, hỗ trợ, phối hợp lẫn nhau của nhân dân Đông Dương, quyết ngăn chặn tuyến vận tải quân sự chiến lược Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh - xương sống của chiến trường Đông Dương; cắt đứt nguồn chi viện chiến lược của hậu phương lớn miền Bắc Việt Nam cho chiến trường ba nước, biểu tượng sáng ngời của liên minh đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung của các dân tộc Đông Dương. Đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn câu kết chặt chẽ với chính quyền phản động Lào và Campuchia tập trung lực lượng, liên tục tiến hành các hoạt động phá hoại đường Trường Sơn. Ngay từ tháng 11-1961, Mỹ lệnh cho quân đội Sài Gòn tập trung hàng ngàn quân, có không quân yểm trợ mở các cuộc hành quân càn quét đánh ra khu vực đường 9 (Khu vực Ngược Nước), đồng thời phối hợp quân đội phái hữu ở Lào đóng thêm đồn bốt tại các vị trí hiểm yếu: Tà Rụt, Tà Lương, Cô Ca Va, A So, A Lưới… Cuối năm 1962, chính quyền Việt Nam Cộng hòa và chính quyền phái hữu Lào tung gián điệp, biệt kích nống ra khu vực đường 9, từ Huội San trở xuống dọc biên giới Việt - Lào, hỗ trợ, chỉ đạo bọn tay sai hoạt động ngầm phá hoại phong trào cách mạng vùng Xiêng Hom, Sê Pôn, Mường Noòng… Dọc theo biên giới Việt Nam - Lào, Việt Nam - Campuchia, đối phương tổ chức xây dựng các cứ điểm mạnh (như Khâm Đức, Ke Sanh, Hướng Hóa ở Việt Nam, Huội San ở Lào…) làm bàn đạp cho các cuộc hành quân thâm nhập bên kia biên giới đánh phá vùng giải phóng, phá hoại hành lang tuyến vận chuyển chiến lược 559 của ta. Mỹ đã ném trên 4 triệu tấn bom đạn xuống đường Trương Sơn. Không quân Mỹ và Việt Nam Cộng hòa đã tiến hành rải chất độc hóa học xuống 7 làng Khmer ở Đuông Pích, tỉnh Ratanakiri (7-1964), ném bom xã Anlong Cres, tỉnh Côngpông Chàm và bắn phá đồn Dak Đam, tỉnh Mondokiri (10-1964); trắng trợn công bố lệnh cho phép quân Mỹ được vào đất Campuchia truy kích Việt cộng khi cần; dùng không quân, pháo binh, biệt kích bắn phá trên phạm vi 20km qua biên giới vào Campuchia (12-1965)… Tính đến đầu năm 1964, Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã tiến hành đến 255 vụ vi phạm lãnh thổ Campuchia trên đất liền, 24 vụ vi phạm hải phận, 412 vụ vi phạm không phận, gây thương vong cho hàng trăm người dân Campuchia. Ngay sau khi bước vào Nhà Trắng, Níchxơn đã ra lệnh mở cuộc ném bom vùng Đông Bắc Campuchia, khu vực mà chúng nghi nờ là nơi đứng chân của chủ lực Quân giải phóng miền Nam. Từ ngày 18-3-1969, các cuộc ném bom của không quân Mỹ nhằm vào khu căn cứ 352 (khu vực Móc Câu, Mỏ Vẹt thuộc biên giới Việt Nam - Campuchia) bắt đầu diễn ra. Theo Níchxơn, đây chính là “điểm ngoặt đầu tiên trong cách tiến hành chiến tranh Việt Nam của chính quyền tôi”.

Đến năm 1970, khi các chính quyền tay sai bản xứ được thiết lập trên toàn Đông Dương, việc sử dụng lãnh thổ nước này làm bàn đạp tiến công nước kia được đế quốc Mỹ đẩy lên nấc thao cao nhất, bởi theo Níchxơn: “không thể có vấn đề nơi ẩn giấu lực lượng trên đất Campuchia để kẻ thù có thể tiếp tục đe dọa sự an toàn của những người Mỹ còn ở Nam Việt Nam và chuẩn bị tràn ngập lãnh thổ Nam Việt Nam khi chúng tôi rút hết quân”(1). Níchxơn coi bất kỳ một cuộc tiến công nào từ lãnh thổ nước này sang nước kia ở Đông Dương đều nhằm tiêu diệt một “kẻ thù chung” là “cộng sản”. Từ ngày 27-3 đến 6-4-1970, Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa tổ chức nhiều toán biệt kích liên tiếp xâm nhập sâu vào lãnh thổ Campuchia từ 10 đến 15km. Từ ngày 13-4 đến ngày 23-4-1970, Quân đoàn 3 Quân đội Việt Nam Cộng hòa tiến hành cuộc hành quân mang tên Toàn thắng 41 nhằm giải tỏa vùng Xoài Riêng - Gò Dầu Hạ; Quân đoàn 4 tiến hành cuộc hành quân Cửu Long, đánh vào vùng biên giới Hồng Ngự. Tháng 4-1970, 10 vạn quân Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hòa mở cuộc hành quân đánh sang Campuchia(2). Tiếp đó, từ ngày 7-9 đến ngày 30-12-1970, quân Việt Nam Cộng hòa có sự phối hợp của 45 tiểu đoàn quân Lon Non, có không quân Mỹ yểm trợ, mở cuộc hành quân Chenla 1, nhằm giải tỏa lộ 6, lộ 7 (thị xã Côngpông Chàm) phát triển lên hướng đông bắc, đánh sâu vào vùng giải phóng, buộc các đơn vị vũ trang ta phải lui về đối phó. Ngày 30-1-1971, Mỹ và Việt Nam Cộng hòa tập trung 55.000 quân (gồm 40.000 quân Việt Nam Cộng hòa và 15.000 quân Mỹ), mở cuộc hành quân Lam Sơn 719, nhằm phá cơ sở hậu cần, cắt đứt hành lang tuyến chi viện chiến lược của cách mạng Đông Dương. Ngày 20-8-1971, Mỹ chỉ huy 70 tiểu đoàn bộ binh và một số đơn vị pháo binh, xe bọc thép, tàu chiến, được sự yểm trợ của không quân Mỹ và Việt Nam Cộng hòa mở cuộc hành quân Chenla đánh lên hướng Côngpông Thom, nhằm nối lại đường 6, cắt đứt hành lang tiếp tế của ta, chiếm lại khu vực đông dân, nhiều lúa để triệt nguồn lương thực của ta, đồng thời tạo bàn đạp chuẩn bị cho bước tiến công chiếm đường 7, rồi đánh sâu vào căn cứ hậu phương của ta. Tất cả những cuộc hành quân lớn này đều nhằm mục đích chung: tiêu diệt cơ quan đầu não cách mạng miền Nam, tiêu diệt, đẩy lùi chủ lực ta ra xa hơn nữa, phá việc chuẩn bị đánh lớn của ta, phá hủy kho tàng, cơ sở hậu cần, phá tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn, chia cắt chiến trường Đông Dương, cô lập từng nước tiến lên tiêu diệt lực lượng cách mạng cả ba nước, kiểm nghiệm và rèn luyện khả năng đánh quy mô lớn của quân đội Việt Nam Cộng hòa.


(1) Hồi ký Richard Nixon, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2004, tr.539.
(2) Kítxinhgiơ tuyên bố: “Về chiến lược mà nói, Campuchia không thể được xem như một nước tách khỏi Việt Nam… Kẻ địch ở cả hai nước chỉ là một. Bất kỳ lực lượng nào chúng ta đã đánh ở Campuchia, chúng ta sẽ phải đánh ở Việt Nam và ngược lại”.Theo Níchxơn thì “một cuộc tiến công quân sự đã được tiến hành, không phải vì mục đích mở rộng chiến tranh vào Campuchia, mà vì mục đích chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam”. Dẫn theo A. Amtơ: Lời phán quyết về Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1985, tr.288, 291.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười Hai, 2014, 09:02:49 PM
Thứ năm, đế quốc Mỹ dùng chính sách ngoại giao nước lớn, tìm cách bắt tay các cường quốc nhằm hạn chế thắng lợi cách mạng Đông Dương. Xét một cách khách quan, cuộc đấu tranh chống xâm lược của nhân dân Đông Dương không chỉ giải quyết mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân Đông Dương với đế quốc Mỹ, mà hơn thế là còn nhằm giải quyết cả mâu thuẫn giữa hai hệ thống xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa trong thời kỳ chiến tranh lạnh. Quy mô của cuộc chiến tranh Đông Dương không chỉ tùy thuộc vào âm mưu và hành động của Mỹ, mà còn chịu sự tác động bởi sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới, chịu sự tác động của các cường quốc, trong đó có Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviết và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Do vậy, nhiệm vụ cách mạng Đông Dương vừa là trực tiếp chống Mỹ xâm lược, đồng thời cũng phải đấu tranh với những thủ đoạn ngoại giao nước lớn của đế quốc Mỹ. Cụ thể là: ngày 7-9-1959, Mỹ gây sức ép Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc thông qua nghị quyết (do Mỹ soạn thảo) về việc thành lập một tiểu ban điều tra “tình hình Lào”, gồm đại biểu bốn nước (Áchentina, Italia, Nhật Bản, Tuynidi), bất chấp sự phản đối của Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nhiều nước khác. Sau khi chỉ đạo lật đổ Quốc vương Xihanúc, đế quốc Mỹ vội vàng ra tuyên bố công nhận chính phủ mới ở Phnôm Pênh, nhanh chóng tìm cách khôi phục lại hoạt động của Ủy ban quốc tế ở Campuchia, dùng bàn tay của Liên hợp quốc để can thiệp vào Campuchia nhằm hợp pháp hóa chính quyền Lon Non, thúc đẩy một số nước đồng minh phụ thuộc ở Đông Nam Á xúc tiến mở hội nghị Giacácta (Inđônêxia) để bàn định kế sách hành động và chuẩn bị dư luận can thiệp vào Campuchia. Trên thực tế “các sự kiện ở Đông Dương đã thu hút sự chú ý của các đoàn ngoại giao ở Oasinhtơn. Các đại sứ đã trao đổi với nhau một cách sôi nổi xung quanh vấn đề đó”(1). Năm 1970, Níchxơn đã tỏ ý muốn bắt tay với các nước lớn như Liên Xô và Trung Quốc, nhằm kiềm chế thắng lợi của nhân dân ba nước Đông Dương, cô lập cách mạng mỗi nước và cách mạng chung ba nước trên trường quốc tế, hòng giải quyết cuộc chiến này.

Như vậy, những biện pháp chiến lược của đế quốc Mỹ thực thi trên toàn Đông Dương cũng như những biện pháp cụ thể Mỹ thi hành hòng đạt mục đích cuối cùng là thống trị, nô dịch các dân tộc trên bán đảo Đông Dương, coi Việt Nam, Lào, Campuchia là một “thực thể thống nhất” và một chiến trường chung. Với tiềm lực kinh tế, quân sự khổng lồ, đế quốc Mỹ rút ra những bài học từ sự thất bại của người Pháp, nỗ lực không ngừng nghỉ cho cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương với những thủ đoạn, biện pháp rất thâm độc. Vì vậy, cách mạng ba nước đứng trước muôn vàn khó khăn, nhân dân Đông Dương chịu những hy sinh, tổn thất nặng nề. Tuy có những đặc điểm khác nhau, nhưng trước sự xâm lược của đế quốc Mỹ, nhân dân ba nước đều có nguyện vọng, yêu cầu chung là cùng nhau bảo vệ độc lập, chủ quyền của đất nước chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ và các thế lực phản động tay sai. Muốn đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược, nhân dân ba nước Đông Dương nhất định phải đoàn kết liên minh cùng chiến đấu. Đó là một quy luật khách quan, tất yếu của lịch sử bởi chỉ có vậy, mới phát huy được sức mạnh trong nước, kết hợp được sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, tạo ra sức mạnh tổng hợp đánh bại quân thù, giành lại độc lập, tự do, hòa bình cho mỗi dân tộc. Tính chất chính nghĩa, sự tương đồng về lịch sử, văn hóa, sự gắn bó chặt chẽ về địa - chính trị còn làm cho sức mạnh đoàn kết nhân dân ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia được phát huy và nhân lên gấp bội. Quy luật đấu tranh cách mạng của nhân dân ba nước Đông Dương cũng khẳng định một điều là: ở đâu và khi nào có sự đoàn kết chiến đấu thù cách mạng giành được thắng lợi, ngược lại, ở đâu và khi nào mất đoàn kết, bị chia rẽ thì cách mạng sẽ bị thất bại và phải gánh chịu những tổn thất hết sức nặng nề. Trách nhiệm của mỗi nước, mỗi dân tộc đối với liên minh đoàn kết chiến đấu là phải tự nguyện, bình đẳng, nêu cao tinh thần thủy chung, chịu đựng gian khổ, hy sinh chiến đấu hoàn thành nhiệm vụ cách mạng của nước mình, dân tộc mình, đồng thời góp hết sức mình cho sự nghiệp cách mạng chung các nước anh em; sẵn sàng đảm nhận, chia sẽ khó khăn về phía mình, tạo những điều kiện thuận lợi để giúp cách mạng nước bạn phát triển, coi thắng lợi giành được ở mỗi nước cũng đồng thời là thắng lợi chung của cách mạng ba nước. Rõ ràng, trước cuộc xâm lược của đế quốc Mỹ, “hơn lúc nào hết, nhân dân Đông Dương cần đề cao cảnh giác, siết chặt hàng ngũ, tăng cường đoàn kết, ủng hộ lẫn nhau, quyết đem hết tinh thần và nghị lực, tài năng sáng tạo và ý chí kiên cường của mình đánh bại kẻ thù chung là đế quốc Mỹ xâm lược và tay sai. Chỉ có như vậy, nhân dân Đông Dương chúng ta mới giành được độc lập và hòa bình thật sự, vĩnh viễn thoát khỏi ách thống trị của nước ngoài, mới phát huy được quyền làm chủ và xây dựng đất nước theo đường lối riêng của mình”(2).

Trong khối đoàn kết liên minh chiến đấu giữa ba nước Đông Dương, Việt Nam là nước có diện tích lớn nhất, dân số đông nhất, lại có vị trí thuận lợi thông thương với quốc tế, tiếp nhận sự giúp đỡ quốc tế lớn hơn, có lực lượng cách mạng mạnh, lực lượng vũ trang mạnh hơn hai nước bạn, do đó, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn nhận thức rõ trách nhiệm “là trụ cột của cách mạng bán đảo Đông Dương và giữ vai trò nòng cốt của tình đoàn kết chiến đấu bền vững không thể có gì phá vỡ nổi giữa Lào, Việt Nam, Campuchia”(3).


(1) Anatôli Đôbrưnhin: Đặc biệt tin cậy - Vị đại sứ ở Oasinhtơn qua sáu đời tổng thống Mỹ, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.225.
(2) Phát biểu của Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ tại Hội nghị cấp cao Đông Dương (24-4-1970). Dẫn theo Thắng lợi to lớn của tình đoàn kết chiến đấu của nhân dân ba nước Đông Dương, Nxb. Ngoại văn, Bắc Kinh, 1970, tr.45.
(3) Diễn văn khai mạc của đồng chí Cayxỏn Phômvihản, Tổng Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào tại Hội nghị cấp cao Lào - Campuchia - Việt Nam, ngay 23-3-1983. Dẫn theo Hội nghị cấp cao Lào - Campuchia - Việt Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1983, tr.18.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười Hai, 2014, 09:03:55 PM
II - LIÊN MINH CHIẾN ĐẤU VỚI QUÂN VÀ DÂN LÀO, CAMPUCHIA
TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ

Trước những âm mưu và thủ đoạn, biện pháp chiến lược mới của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, cùng với tiến trình kháng chiến cứu nước, tình đoàn kết, chiến đấu của quân và dân ba nước Đông Dương ngày thêm gắn bó, thủy chung. Đây là một tất yếu lịch sử khách quan. Tuy rằng được kế thừa truyền thống đoàn kết, liên minh chiến đấu chống thực dân Pháp thành công của ba dân tộc và có chung một số điều kiện khách quan, nhưng, do sự chi phối, tác động của các nước lớn trong khu vực và trên thế giới, những vấn đề lịch sử để lại, khiến cho tình hình chính trị vùng bán đảo Đông Dương trở nên phức tạp khi bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Tại Việt Nam, miền Bắc được giải phóng, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội và thực sự trở thành hậu phương, căn cứ địa vững chắc cho miền Nam và ba nước Đông Dương anh em đánh Mỹ. Đây không chỉ là nơi huy động nguồn nhân lực và của cải cho kháng chiến, mà còn là nơi tiếp nhận nguồn viện trợ vật chất của nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa anh em trên thế giới để vận chuyển vào chiến trường phục vụ kháng chiến. Sự hậu thuẫn về mọi mặt của miền Bắc (Việt Nam) chính là tiền đề, là gốc rễ cho mọi thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Miền Nam tiếp tục kháng chiến, nhằm “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Ở Lào, theo Hiệp nghị Giơnevơ, lực lượng kháng chiến Pathét Lào có vùng tập kết là hai tỉnh Sầm Nưa và Phongxalỳ; Đảng nhân dân cách mạng Lào, lực lượng vũ trang và các tổ chức cách mạng được quốc tế thừa nhận là một thực thể chính trị độc lập, hợp pháp, chuẩn bị tiến tới tổng tuyển cử, thành lập chính phủ liên hiệp. Còn với Campuchia mặc dù được công nhận độc lập, nhưng đảng, các tổ chức kháng chiến và lực lượng vũ trang cách mạng không có vùng tập kết, không được thừa nhận là một thực thể chính trị tồn tại độc lập, hợp pháp. Đây thực sự là nguyên nhân chủ yếu khiến cho tình hình chính trị ở Campuchia trở nên cực kỳ phức tạp và tiềm ẩn nhiều khó khăn lớn trong quá trình vận động cách mạng. Thực tiễn lịch sử này cho thấy rằng, tình hình các nước trên bán đảo Đông Dương khi bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ diễn biến phức tạp hơn gấp bội phần so với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trước đó. Tuy nhiên, trước hiểm họa xâm lược của đế quốc Mỹ, nhân dân ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia đều có chung nguyện vọng thiết tha là đoàn kết, liên minh với nhau cùng đánh đuổi kẻ thù chung, giành hòa bình, độc lập, chủ quyền cho dân tộc mình, đất nước mình.

Nêu cao tinh thần chủ động, sáng tạo và trách nhiệm với sự nghiệp cách mạng chung của nhân dân Việt Nam, Lào và Campuchia, Đảng Lao động Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm xác định: để chiến thắng đế quốc Mỹ mạnh hơn ta gấp bội, chúng ta phải luôn luôn giương cao ngọn cờ quốc tế vô sản; kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủng, đúng đắn và sáng tạo; chủ động đề ra và nhất quán thực hiện những quyết sách về đoàn kết, liên minh với hai nước láng giềng là Lào và Campuchia nhằm tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ giúp đỡ của bạn bè quốc tế; bồi dưỡng mạnh mẽ thực lực kháng chiến của ta; đồng thời, ra sức giúp đỡ các nước bạn xây dựng, củng cố và tăng cường thực lực cách mạng; thực hiện đoàn kết thành một khối thống nhất vững chắc chống quân xâm lược Mỹ và bè lũ tay sai. Những quyết sách này bắt nguồn từ tinh thần vì nghĩa lớn, vì sự sống còn của quốc gia dân tộc mình và các dân tộc anh em, luôn luôn tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng, tự nguyện, cùng có lợi; từ sự phân tích lường định tình hình để tùy theo đối tượng, lực lượng, thời gian, không gian mà Đảng Lao động Việt Nam quyết định lựa chọn nhiệm vụ, hình thức, nội dung đoàn kết, liên minh cho phù hợp.

Nhất quán thực hiện chủ trương này, Đảng Lao động Việt Nam kiên quyết giương cao ngọn cờ yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phát huy cao độ truyền thống đoàn kết, liên minh chiến đấu vốn có trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của ba dân tộc Việt, Miên, Lào vào sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trên cơ sở nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, lợi ích và nguyện vọng chính đáng của mỗi dân tộc; đồng thời, giữ vững được tinh thần độc lập, tự chủ của mình, cùng đoàn kết chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ, giành độc lập, chủ quyền quốc gia.

Để tạo sự thống nhất cao trong nhận thức và hành động, Đảng và Chính phủ Việt Nam đã chủ động trao đổi, bàn bạc với Lào và Campuchia trên tinh thần mỗi nước tự quyết định vận mệnh của dân tộc mình, nhưng cần thấy rõ việc ủng hộ, đoàn kết, liên minh, giúp đỡ lẫn nhau, cùng chống kẻ thù chung cũng cực kỳ quan trọng và là nhu cầu bức thiết của ba dân tộc anh em vì đây là một nhân tố căn cốt, bảo đảm cho sự nghiệp cách mạng mỗi nước giành được thắng lợi.

Sớm ý thức sâu sắc được điều này, nên trong suốt quá trình kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mặc dù quan hệ giữa Việt Nam với hai nước láng giềng Lào và Campuchia gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại, đặc biệt là đối với Campuchia, vì Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia có quan điểm đường lối chiến lược khác Đảng Lao động Việt Nam nhưng Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiên trì thuyết phục, chân thành góp ý với Trung ương Đảng bạn; thực hiện chính sách ngoại giao thân thiện với Đảng, Chính phủ Vương quốc và nhân dân Campuchia trên tinh thần lấy lợi ích chính đáng của dân tộc Campuchia làm hạt nhân đoàn kết, tập hợp lực lượng, xây dựng đồng minh chiến lược. Nhờ vậy, Việt Nam đã giữ vững được quan hệ bang giao láng giềng, hữu nghị với cả Chính phủ Vương quốc Campuchia lẫn Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia và nhân dân Campuchia. Có thể nói, những năm tháng cùng đánh đuổi giặc Mỹ xâm lược, Đảng, Chính phủ, quân đội và nhân dân Việt Nam đã nêu cao tinh thần chủ động, nỗ lực cao độ, tận dụng mọi thời cơ, lực lượng và khả năng có thể để thực hiện đoàn kết, liên minh cùng với quân và dân hai nước Lào, Campuchia đánh bại từng bước, tiến lên đánh bại hoàn toàn mọi âm mưu, thủ đoạn thôn tính và chia rẽ của đế quốc Mỹ và bà lũ tay sai, giành hòa bình, độc lập, tự do cho mỗi dân tộc.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười Hai, 2014, 09:06:21 PM
Đối với Campuchia, Việt Nam nhận thức sâu sắc rằng Chính phủ Vương quốc do Xihanúc đứng đầu là một chính phủ có đường lối đối ngoại trung lập, không liên kết, có lợi cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam. Đường lối này xuất phát từ sự ý thức về bối cảnh tình hình cực kỳ phức tạp ở Campuchia, trên thế giới và trong khu vực của Xihanúc(1). Chính Mỹ đã tìm mọi cách thúc ép Xihanúc kết đồng minh với chế độ Sài Gòn, thiết lập liên minh chống cộng sản với Ngô Đình Diệm. Nhiều chính phủ thân Mỹ ở khu vực Đông Nam Á cũng phụ họa theo Mỹ thực thi nhiều chính sách chống cộng, chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong thời gian Xhianúc nắm vương quyền (1954 - 1970), Mỹ và một số nước trong khu vực đã nhiều lần tổ chức ám sát Xihanúc, nhưng không thành công. Trong khi Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam luôn thể hiện sự tôn trọng độc lập, chủ quyền, trung lập của Campuchia. Nhận thức được một cách rõ nét mưu đồ thâm hiểm của Mỹ và các đồng minh của Mỹ; hiểu rõ được tình cảm, sự chân thanh và trách nhiệm láng giềng hữu nghị của Việt Nam, Xihanúc đã từng bước thiết lập quan hệ hợp tác hữu nghị với Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta; đồng thời, kiên quyết cắt đứt quan hệ ngoại giao với chính quyền Sài Gòn năm 1964, với chính quyền Mỹ năm 1965.

Như vậy, từ những phân tích, đánh giá lường định bối cảnh tình hình Campuchia, trong khu vực và quốc tế liên quan, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Quân ủy Trung ương đã sớm đề ra những chính sách đối ngoại chủ động và sáng tạo, xứ lý thỏa đáng trong quan hệ với Chính phủ Vương quốc Campuchia từ tháng 3-1970 về trước và Chính phủ đoàn kết dân tộc từ tháng 4-1970 về sau. Mặc dù Trung ương Đảng ta hiểu rất rõ những hạn chế của Chính phủ Vương quốc Campuchia là muốn triệt để khai thác sự thống nhất về một số quan điểm đường lối cách mạng giữa Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia để gây khó khăn cho Đảng bạn, nhưng Đảng Lao động Việt Nam đã tìm ra cách ứng xử phù hợp để những bất đồng lớn không xảy ra giữa hai đảng, tranh thủ tối đa sự ủng hộ, giúp đỡ từ phía Chính phủ Vương quốc Campuchia và nhân dân Campuchia đối với sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.

Ngay sau năm 1954, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã xác định rõ: “mối quan hệ giữa ba nước Việt Nam, Lào, Cao Miên đã thay đổi. Trước đây lúc chiến tranh ta và địch đều không phân biệt ranh giới giữa ba nước trong hành động quân sự. Ngày nay trong hoàn cảnh hòa bình, mối quan hệ giữa ta và hai nước Lào, Cao Miên cần đặt trên cơ sở mới”(2). Để mối quan hệ đó ngày thêm bền chặt và không ngừng phát triển, theo Trung ương Đảng, trong quá trình liên minh, đoàn kết phải tuân thủ nguyên tắc cơ bản nhất, đó là: “tôn trọng lãnh thổ và chủ quyền của nhau, không xâm lấn nhau, không can thiệp nội chính của nhau, bình đẳng và cùng có lợi, sống chung trong hòa bình”(3).

Năm 1960, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ra tuyên bố: “Chúng ta hoan nghênh đường lối hòa bình trung lập hiện nay của Campuchia và sẽ tăng cường hơn nữa quan hệ hữu nghị với Vương quốc Campuchia”(4). Cuối năm 1962, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra tuyên bố ủng hộ đề nghị ngày 20-8-1962 của Quốc trưởng Nôrôđôm Xihanúc về triệu tập một hội nghị quốc tế công nhận và bảo đảm nền trung lập và toàn vẹn lãnh thổ của Campuchia. Việt Nam là nước lên tiếng sớm nhất về vấn đề này, đồng thời cam kết không can thiệp vào công việc nội bộ của Campuchia. Năm 1967, Chính phủ Vương quốc Campuchia ra tuyên bố về nguyên tắc xác định đường biên giới quốc gia. Tuyên bố này đã được Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ủng hộ. Ngày 5-6-1970, thay mặt toàn thể nhân dân Việt Nam, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố kiên quyết ủng hộ bản Tuyên cáo năm điểm của Quốc trưởng Nôrôđôm Xihanúc, nhiệt liệt hoan nghênh việc thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc Campuchia và Cương lĩnh chính trị của Mặt trận.

Những chủ trương, đường lối, giải pháp đối ngoại mềm dẻo, khôn khéo đó của Đảng và Chính phủ Việt nam đã gây được niềm tin tốt đẹp đối với nhân dân và chính phủ Campuchia. Do vậy, nhân dân Việt Nam đã được Chính phủ Vương quốc và nhân dân Campuchia tạo nhiều điều kiện thuận lợi và giúp đỡ nhiều mặt trong quá trình khác chiến chống Mỹ, cứu nước.


(1) Xihanúc cho rằng: “Campuchia như con kiến giữa một bầy voi khổng lồ, kiến muốn tồn tại phải có cách của mình”, hoặc ông cho rằng Thái Lan là kẻ thù, Việt Nam là đối thủ của Campuchia. Nước Pháp của Đờ Gôn tuy thừa nhận và ủng hộ ông nhưng họ ở quá xa. Người Nga không thích ông. Người Mỹ lại muốn ép Campuchia vào quỹ đạo của mình. Ngay trong nội bộ nhóm chính trị theo ông cũng có những ý kiến trái ngược ủng hộ theo Mỹ và phản đối Mỹ. Do đó, chọn con đường hòa bình, trung lập là thích hợp với Campuchia. Xem thêm Phạm Đức Thành: Lịch sử Campuchia, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1995, tr.228.
(2), (3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.15, tr.286, 305.
(4) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.21, tr.626.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười Hai, 2014, 09:08:49 PM
Tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Lào và Campuchia, đế quốc Mỹ đã huy động đến mức cao nhất khả năng quân sự, nhất là vũ khí và phương tiện chiến tranh, tìm trăm phương ngàn kế để quyết ngăn chặn, cắt đứt đường chi viện nhân tài, vật lực từ hậu phương lớn miền Bắc cho chiến trường miền Nam và chiến trường các nước Lào, Campuchia. Bởi chúng xác định, chỉ có chặn, cắt được nguồn chi viện từ miền Bắc (Việt Nam) thì mới có thể đè bẹp tận gốc được cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam nói riêng và nhân dân toàn Đông Dương nói chung. Trong điều kiện giao thông cực kỳ khó khăn và phức tạp, lại bị đối phương thường xuyên ngăn chặn, đánh phá khốc liệt, để mang sức mạnh của hậu phương lớn miền Bắc tới các chiến trường, với chiều dài vạn dặm, chúng ta đã được Chính phủ Vương quốc và nhân dân Campuchia đồng ý cho phép “mượn đất”, “nhờ đường” để các loại phương tiện xe máy, tàu, thuyền, vận chuyển vũ khí, lương thực, thực phẩm, thuốc men được ra vào cảng Xihanúcvin - một hải cảng quan trọng bậc nhất của Campuchia(1). Tuyến đường vận tải này đã phát huy vai trò và tác dụng vô cùng quan trọng đối với các chiến trường Đông, Tây, Trung Nam Bộ của Việt Nam khi mà tuyến vận tải Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh trên bộ chưa vươn tới được.

Suốt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trường kỳ, Việt Nam chủ yếu khai thác và sử dụng ba tuyến đường giao thông chính để vận chuyển người, phương tiện chiến tranh, lương thực, thực phẩm, thuốc men, y cụ từ hậu phương miền Bắc vào chiến trường miền Nam và hai nước bạn. Tuyến đường bộ Trường Sơn chủ yếu là đưa người và phương tiện chiến tranh vào miền Nam và Lào; tuyến đường trên biển chủ yếu chuyên chở các loại vũ khí, đạn dược nhưng thời gian hoạt động hạn chế bởi sự chống phá, ngăn chặn của kè thù;riêng tuyến vận chuyển biển đặc biệt vào cảng Xihanúcvin được duy trì tương đối lâu và an toàn(2). Nguồn vật chất chi viện từ hậu phương lớn miền Bắc vào và thu mua tại nội địa Campuchia là nguồn bảo đảm vô cùng quan trọng và kịp thời cho hoạt động tác chiến của các lực lượng vũ trang miền Nam(3). Bên cạnh việc đồng ý cho phép các loại phương tiện vận chuyển vũ khí, vật tư hậu cần, đưa đón người ra vào cảng Xihanúcvin, Chính phủ Vương quốc Campuchia cũng cho phép các lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam được đứng chân trên các vùng biên giới Campuchia giáp ranh với Việt Nam. Các vùng này - theo cách gọi của Mỹ là “đất thánh cộng sản” có chiều dài suốt dọc biên giới hai nước và chiều sâu vào nội địa Campuchia khoảng trên 30 km. Chính các vùng đất này đã từng là nơi đứng chân của các cơ quan đầu não kháng chiến, cơ sở hậu cần, các căn cứ chiến lược, nơi góp phần duy trì, bào tồn thực lực cách mạng cho cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam; địa bàn của nhiều nhánh đường vận tải quân sự chiến lược Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh đi qua. Nhân dân Campuchia trên dọc tuyến biên giới Việt Nam - Campuchia đã từng nhường cơm, sẻ áo, hết lòng ủng hộ và tích cực giúp đỡ các lực lượng cách mạng miền Nam trong những thời điểm nguy cấp của kháng chiến. Sau ngày Lon Non làm đảm chính lật đổ Chính phủ Xihanúc, thiết lập chính phủ thân Mỹ, tình hình chính trị Campuchia diễn biến phức tạp hơn. Chính phủ Lon Non đã thực thi nhiều chính sách phản động như: khủng bố người Việt sinh sống ở Campuchia, chống Việt Nam, phối hợp cùng với Mỹ và chính quyền Sài Gòn mở hàng loạt chiến dịch càn quét, đánh phá các căn cứ, cơ sở hậu cần, tiêu diệt các lực lượng kháng chiến của hai nước Việt Nam - Campuchia. Những hoạt động này đã gây khó khăn nghiêm trọng đối với sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam và nước bạn.


(1) Trong hồi ký của mình, Tổng thống Mỹ Níchxơn đánh giá: “Trước khi cuộc hành quân sang Campuchia thắng lợi năm 1970, người ta biết rõ 95% súng đạn của những người cộng sản dùng ở Nam Việt Nam là đi qua cảng Xihanúcvin”. Xem Hồi kỳ Richars Nixon, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2004, tr.600. Tuy đánh giá đó vẫn chưa chính xác, nhưng rõ ràng phía Mỹ đánh giá rất cao tầm quan trọng của cảng Xihanúcvin đối với cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam.
(2) Riêng Trung Quốc dùng tàu vận chuyển giúp Việt Nam qua cảng Xihanúcvin tổng cộng 27.103 tấn, trong đó 21.247 tấn vũ khí, đạn, 605 tấn khí tài, 4.213 tấn thực phẩm, 388 tấn quân trang, 626 tấn thuốc, dụng cụ quân y. Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc Phòng, Phòng Quân ủy Trung ương, hồ sơ 623, tờ 14.
(3) Tổng trọng lượng hàng hóa do Đoàn hậu cần 17 khai thác và vận chuyển được tại nội địa Campuchia từ năm 1966 đến năm 1969 là 88.282 tấn, trong đó gồm có: 57.376 tấn lương thực, 7.908 tấn thực phẩm, muối ăn, 612 tấn quân trang, bách hóa, 744 tấn quân y, 17.882 tấn vũ khí, đạn, 166 tấn vật liệu quân giới, 2.490 tấn xăng dầu, 339 tấn phương tiện vận tải, 665 tấn hàng chính trị, tác chiến, công binh, 203 xe ôtô.
Tổng trọng lượng hàng hóa do Đoàn hậu cần 500 khai thác và vận chuyển được tại nội địa Campuchia từ năm 1970 đến năm 1975 như sau: tiếp nhận 52.565 tấn hàng hóa, trong đó gồm có 46.403 tấn lương thực, 4.510 tấn thức phẩm, 60,2 tấn quân trang, 1.590,6 tấn xăng dầu, 3,6 triệu riel thuốc quân y; tự sản xuất được 762, 6 tấn vận chuyển, trong đó gồm 243 tấn lương thực, 381,3 tấn thực phẩm, 75,4 tấn quân trang, 62,9 tấn vũ khí.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười Hai, 2014, 09:12:19 PM
Trong quan hệ với Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia, mặc dù sau ngày Hiệp định Giơnevơ ký kết, quan hệ giữa Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia có những vướng mắc nhất định do Đảng bạn hiểu lầm đảng ta, thậm chí có những quan điểm, đường lối, giải pháp đấu tranh cách mạng khác với Đảng ta, nhưng Trung ương Đảng Lao động Việt Nam vẫn chủ trương hết lòng giúp đỡ Đảng bạn, cử cán bộ sang giúp Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia chuyển đối phương thức hoạt động cho phù hợp với tình hình mới; phát triển thực lực cách mạng; tổ chức tiếp nhận hàng nghìn đảng viên đến miền Bắc Việt Nam công tác và học tập; xúc tiến thành lập cơ quan đại diện của Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia bên cạnh Trung ương Cục miền Nam để cùng phối hợp hành động(1). Tuy vậy, do thực lực Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia còn nhiều hạn chế; đặc biệt là do những nhận thức khác nhau về chủ trương chiến lược chung(2) giữa Trung ương hai đảng, do vậy hiệu quả phối hợp không cao. Năm 1966, Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia chủ động rút cơ quan đại diện của mình bên cạnh Trung ương Cục miền Nam về nước. Năm 1967, Trung ương Đảng nhân dân cách mạng Campuchia phát động một đợt đấu tranh vũ trang quy mô lớn, nhằm lật đổ Chính phủ Vương quốc do Quốc trưởng Xihanúc đứng đầu, nhưng bị thất bại và bị tổn thất nặng nề. Từ đó, quan hệ giữa Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia, cũng như một số hoạt động khác trên thực tế ngày càng gặp nhiều khó khăn, trắc trở. Trước tình hình đó, Đảng Lao động Việt Nam đã giương cao ngọn cờ yêu nước, tinh thần quốc tế chân chính, lấy lợi ích chính đáng của nhân dân hai nước làm nền tảng để đoàn kết, tập hợp lực lượng và giải quyết thỏa đáng mọi mâu thuẫn, bất đồng với Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia; kiên trì nêu rõ cho Trung ương Đảng bạn hiểu những chủ trương, đường lối, quan điểm chiến lược đúng đắn của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung của hai dân tộc là đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Trước sau như một, chủ trương nhất quán của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam trong quan hệ với Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia là: “Chúng ta cần tìm mọi cách tăng cường quan hệ, từng bước tạo ra sự nhất trí về đường lối, chủ trương, đồng thời ra sức giúp bạn đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Trên bước đường tiến lên của cách mạng, không tránh khỏi có những sự khác nhau giữa ta và bạn. Nhưng với đường lối đúng đắn, với tinh thần quốc tế chân chính, với thái độ chân thành, tôn trọng bạn, chúng ta tin chắc sẽ xây dựng được tình đoàn kết nhất trí ngày càng sâu sắc giữa hai đảng, sẽ tăng cường tình hữu nghị chiến đấu ngày càng bền vững giữa nhân dân hai nước”(3). Từ năm 1970 trở đi, khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh sang Campuchia, Đảng Lao động Việt Nam chủ động mời Đảng bạn sang Việt Nam hội đàm để thống nhất nhận thức và cùng phối hợp hành động(4). Sau cuộc hội đàm này, hai bên nhất trí thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ lên tầm cao mới như: tổ chức cơ quan đại diện của Trung ương Đảng nhân dân cách mạng Campuchia bên cạnh Trung ương Cục miền Nam và Trung ương Đảng Lao động Việt Nam tại Hà Nội; Việt Nam tăng cường giúp đỡ cách mạng Campuchia phát triển nhanh lực lượng vũ trang và xây dựng các căn cứ địa kháng chiến; phối hợp chặt chẽ vớ các lực lượng yêu nước Campuchia cùng mở các chiến dịch phản công, tiến công tiêu diệt đối phương(5), giải phóng nhiều vùng đất đai và dân cư rộng lớn, nối thông các vùng giải phóng với nhau, tạo một cục diện mới, hoàn toàn thuận lợi đối với sự nghiệp đấu tranh cách mạng hai nước Việt Nam - Campuchia, buộc Mỹ và bè lũ tay sai phải đối phó hết sức lúng túng trên khắp các chiến trường.

Thực hiện chủ trương của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ chỉ huy Miền quyết định khẩn trương điều động một bộ phận lực lượng sang giúp cách mạng Campuchia xây dựng hệ thống căn cứ địa: C.10 (thuộc Krachiê và Mônđônkiri), C.20 (thuộc Côngpông Chàm), C.30 (Xvây Riêng, Prây Veng), C.40 (thuộc Xiêm Riệp và Báttambăng). Bộ đội Việt Nam được giao nhiệm vụ tập trung giúp bạn xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố và mở rộng các vùn giải phóng, biến các vùng này thành căn cứ và địa bàn đứng chân vững chắc của lực lượng vũ trang cách mạng. Khi quân đội giải phóng dân tộc Campuchia ra đời (4-5-1970), Việt Nam tiếp tục tăng cường cố vấn quân sự sang giúp quân đội bạn xây dựng và huấn luyện lực lượng. Từ các đơn vị nhỏ, lẻ, đến cuối năm 1970, chúng ta đã giúp bạn xây dựng được 27 trung đội, 53 đại đội và 9 tiểu đoàn với tổng quân số 10.000 người.

Trên cơ sở thực lực cách mạng do Việt Nam giúp xây dựng, lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia đã phối hợp nhịp nhàng với các lực lượng Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đóng vai trò nòng cốt, chủ động đập tan các cuộc hành quân lớn của liên quân Mỹ và Việt Nam Cộng hòa trên lãnh thổ Campuchia, lần lượt giải phóng hoàn toàn năm tỉnh vùng phía đông giáp với Việt nam, tạo thế trận liên hoàn giữa chiến trường hai nước. Tính đến cuối năm 1972, đã có 13/17 tỉnh của Campuchia được giải phóng.

Như vậy, trong quan hệ với Đảng, Chính phủ Vương quốc Campuchia, Đảng và Chính phủ Việt Nam đã chủ động đề ra đường lối, chủ trương và những giải pháp, bước đi đúng đắn, sáng tạo, linh hoạt, phù hợp với diễn biến tình hình phức tạp ở Campuchia. Các đường lối, chủ trương và biện pháp đúng đắn đó đã góp phần tạo ra sự đồng thuận tương đối giữa hai bên, thúc đẩy quan hệ láng giềng hữu nghị, đoàn kết, liên minh giúp đỡ lẫn nhau phát triển, giúp cho lực lượng cách mạng Campuchia từ chỗ không có chỗ đứng, tiến lên có thế đứng chân vững chắc, có căn cứ địa và lực lượng vũ trang đủ sức đưa cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc đến thắng lợi hoàn toàn. Ngược lại, cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam cũng nhận được sự đồng tình ủng hộ, giúp đỡ của Chính phủ và nhân dân Campcuhia trong cả những thời điểm đối phương tìm mọi cách phong tỏa, cô lập, chia cắt chiến tranh cách mạng miền Nam dưới thời Xihanúc nắm vương quyền cũng như giai đoạn sau này.


(1) Trong điều kiện thực lực Ítxarắc phải giải tán tại chỗ, không có vùng tập kết như lực lượng yêu nước Lào, Đảng, Chính phủ Việt Nam đã chủ trương cố gắng bảo vệ lực lượng yêu nước Campuchia. Hơn 1.000 cán bộ, trong đó có gần 200 đảng viên Campuchia được tập kết về miền Bắc. Bí thư Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia và hầu hết các đồng chí trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng bạn đã đến miền Bắc an toàn. Đồng thời, Việt Nam còn giúp bạn lựa chọn ra số cán bộ, bố trí ở lại Campuchia hoạt động. Tháng 10-1954, Xứ ủy Nam Bộ được thành lập, đồng chí Nguyễn Đức Thuận, Ủy viên Xứ ủy được Trung ương giao nhiệm vụ chuyên trách giúp Campuchia. Được sự giúp đỡ của Việt Nam, những đảng viên ở Campuchia đã tổ chức ra nhóm Prachiachuôn nhằm tiếp tục duy trì hoạt động của các cơ sở trong nước. Tổ chức Prachiachuôn đã phát động một số cuộc đấu tranh đòi tự do, dân chủ. Năm 1957, đồng chí Nguyễn Đức Thuận, Ủy viên Xứ ủy, Trưởng ban cán sự toàn Miền bị địch bắt, liên lạc giữa hai Đảng Việt Nam, Campuchia bị gián đoạn. Năm 1960, được sự giúp đỡ của Việt Nam, lực lượng cách mạng Campuchia tổ chức Đại hội Đảng thành công…
(2) Sau năm 1963, Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia do Pôn Pốt nằm quyền chủ trương đánh đổ Chính phủ Vương quốc do Xihanúc đứng đầu, dùng “vũ trang làm cách mạng vô sản”. Chủ trương này không phù hợp với lợi ích của nhân dân Campuchia cũng không phù hợp với chiến lược chung ba nước Đông Dương. Trước tình thế này, Trung ương Đảng Việt Nam thể hiện rõ quan điểm của mình là không đồng tình với chủ trương của Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia,