Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tự dịch => Tác giả chủ đề:: ngthi96 trong 01 Tháng Tư, 2014, 03:55:50 PM



Tiêu đề: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 01 Tháng Tư, 2014, 03:55:50 PM



ĐĂK TÔ

 ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam


 (DAKTO. America's Sky Soldiers in South Vietnam's Central Highlands)

TG. Edward F. Murphy
Dịch: ngthi96 ttvnol

 



Giới thiệu




Việc Hoa Kỳ tham chiến 10 năm trên bộ miền nam Việt Nam đã bắt đầu từ 1 trận hải chiến. Đầu giờ chiều ngày 31 tháng 7 năm 1964, khu trục hạm USS Maddox xâm nhập vịnh Bắc Bộ, phía đông của Bắc Việt nam trong sứ mệnh gián điệp điện tử, với mật danh là Desoto. Chiếc Maddox, gắn chi chít các thiết bị tình báo điện tử mưu đồ định vị những radar của đối phương bằng cách lần theo những tín hiệu khi phía Bắc Việt theo dõi nó. Trong khi đó những chuyên viên sẽ nghe lén các cuộc điện đàm qua radio của phía Bắc Việt, còn những người khác sẽ cập nhật những mốc giới trên hải đồ.

Sáng hôm ấy, khi mà Maddox đang tiến vào vị trí ở phía đông nam Thanh Hóa, các thuyền viên của nó phát hiện 4 tàu phóng lôi Swift do Mỹ sản xuất đang phóng rất nhanh phía đường chân trời. Những chiếc tàu phóng lôi PT vỏ bằng nhôm đó đang chạy về phía nam, hướng về Đà Nẵng, nam VN sau khi vừa thực hiện nhiệm vụ đầu tiên trong kế hoạch tiến hành 1 loạt các cuộc đột kích vào các căn cứ quân sự đóng ven biển của miền Bắc.

Dù những tàu Swift này do biệt kích biển nam VN điều khiển, nhưng thực ra chúng hoạt động dưới sự chỉ đạo của đoàn Nghiên cứu và quan sát (SOG), một lực lượng rất bí mật hoạt động chống nổi dậy chịu trách nhiệm trực tiếp của bộ tư lệnh viện trợ quân sự Hoa kỳ tại VN (MACV). Được lính biệt kích Mỹ và các đặc vụ của cục tình báo trung ương (CIA) huấn luyện. Các biệt kích quân này đã thực thi nhiệm vụ của họ từ hồi tháng 3. Tại 1 căn cứ được bảo vệ nghiêm ngặt phía nam Sài Gòn, những lính biệt kích đã thực tập nhuần nhuyễn chiến thuật xâm nhập đường biển và bắn phá vùng duyên hải. Vào cuối tháng 7, các chỉ huy SOG đã quyết định cho họ ra trận và chuẩn bị cho nhiệm vụ đầu tiên. Ngày 31 tháng 7, những kẻ đột kích sẽ tấn công các trạm radar và đài phát sóng ở hòn Mê và hòn Ngư, 2 hòn đảo nằm cách phía bắc khu phi quân sự chia đôi đất nước này, khoảng 180km. Nếu nhiệm vụ thành công thì 3 ngày sau, những chiếc tàu cao tốc sẽ quay lại để bắn phá 1 trạm radar trên đất liền tại mũi Vĩnh Sơn, phía nam của Vinh, Bắc VN.

Trong lần đầu tiên làm nhiệm vụ, những tàu cao tốc Swift đã vấp phải hỏa lực phòng thủ rất mạnh khi gần tới các hòn đảo của đối phương nên ko thể đổ biệt kích lên bờ được. Thay vì thế họ nã hàng chục phát đạn đại bác 40mm vào vị trí quân Bắc Việt. Sau đó những chiếc tàu phóng ra khơi và quay về căn cứ.

Trên tàu Maddox, các chuyên viên tình báo điện tử đã chặn nghe được 1 loạt những cuộc đàm thoại vô tuyến về cuộc đột kích. Rõ ràng là phía Bắc Việt rất bị kích động trước việc này, đây là lần đầu tiên họ bị pháo kích bằng đường biển. Tàu Maddox tuy đã được biết về cái gọi là kế hoạch tập kích A-34, nhưng ko quan tâm lắm vì họ ko phải là thành viên của các chiến dịch vụng trộm kia.

Nhưng sau đó các máy nghe trộm thu thập được ngày càng nhiều các thông điệp của Bắc Việt đề cập đến số hiệu sơn trên thân tàu Maddox: DD -731. Rõ ràng là phía Bắc Việt đang suy đoán về vai trò của chiếc tàu khu trục với cuộc đột kích kia. Trung tá hải quân Herbert L. Ogier có vẻ ko quan tâm lắm nên chỉ ra lệnh nâng cao cảnh giác vẫn tiếp tục thực thi nhiệm vụ.

2 ngày sau, hôm mồng 2 tháng 8, khu trục hạm Maddox chạy ngang qua hòn Mê. Đài quan sát trên tàu phát hiện 3 tàu phóng lôi Bắc Việt đang chạy theo hàng dọc gần hòn đảo. Vài phút sau họ nghe trộm được thông điệp ra lệnh cho mấy con tàu kia tiến công tàu Maddox. Ogier hạ lệnh cho tàu tăng hết tốc lực chạy ra ngoài khơi.

1 lúc sau, radar trên tàu phát hiện 3 tàu phóng lôi đã rời khỏi hòn Mê. Với tốc độ tối đa 50 hải lý/giờ, thì chưa đầy 1 giờ đồng hồ, chúng sẽ đuổi kịp chiếc khu trục hạm. Ogier lệnh cho pháo trên tàu khai hỏa nếu thấy mấy tàu kia xáp lại ở khoảng cách 10 km.
Lúc 15:08 những khẩu pháo cỡ nòng 5 inch (127mm) đã bắn 1 loạt đạn phía trước mũi mấy chiếc tàu phóng lôi. Ít phút sau, khi mấy chiếc tàu kia đã vào tới tầm phóng ngư lôi, Maddox lại khạc đạn. Những chiếc tàu kia vẫn xông đến.

Trong 20 phút sau đó, Maddox bắn cấp tập vào 3 tàu địch, tạo ra những cột nuớc bắn tung tóe lên trời nhưng ko bắn trúng được chiếc nào cả. Tàu Bắc Việt phóng quả ngư lôi đầu tiên từ cự ly 2,7 km. Ogier cho tàu quay ngoắt sang trái, dùng tên lửa đối hải đánh chặn. Một quả ngư lôi khác xé nước lao tới. Tàu Maddox lại né được. Sau rồi, rốt cục, 1 viên đạn pháo của tàu Maddox, đã bắn trúng 1 tàu phóng lôi. Nó khựng lại. Ít giây sau, 1 tàu phóng lôi khác chạy chậm lại do bị bắn trúng. Chiếc thứ 3 quay lại đễ hỗ trợ 2 chiếc kia.

Vài phút sau, 4 máy bay F-8 Crusaders (thập tự quân) từ tàu sân bay Ticonderoga bay tới hiện trường. Chúng oanh tạc những tàu phóng lôi Bắc Việt suốt 5 phút rồi bay đi. Lúc này, Ogier nhận điện từ thượng cấp lệnh cho ông ta phải rời khỏi khu vực. Ông chấp hành.

Tin về vụ tấn công bằng ngư lôi của Bắc VN đã truyền tới Washington. Sau khi tham khảo ý kiến những cố vấn chủ chốt của mình, Lyndon B. Johnson đã tổ chức họp báo. Ông tuyên bố cho thế giới biết ông sẽ tiếp tục cho tuần tra trên vịnh Bắc Bộ. Thêm nữa, còn sẽ bổ sung thêm chiếc khu trục hạm thứ 2 tham gia vào việc tuần tra. Các hạm trưởng tàu khu trục được lệnh đáp trả bất kỳ lực lượng nào tiến công họ.

Ngày 3 tháng 8, tàu Maddox, cùng với tàu Turner Joy tháp tùng, quay trở lại vịnh Bắc Bộ. Mặc dù hôm đó ko xảy ra biến cố nào. Phía Bắc Việt liên tục thông báo qua hệ thống vô tuyến theo dõi hướng đi của mấy chiếc tàu. Cũng chính đêm đó, những tàu cao tốc của SOG phát động cuộc mật tập thứ nhì vào các mục tiêu quân sự trên bờ biển của Bắc VN, chúng pháo kích vào 1 trạm radar trên đất liền 30 phút rồi rút về.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 02 Tháng Tư, 2014, 09:01:48 AM
Cả ngày mồng 4 tháng 8, các kỹ thuật viên trinh sát điện tử trên tàu nghe thấy rất nhiều cuộc đàm thoại qua lại bằng vô tuyến và thấy rằng phía Bắc Việt đang hết sức giận giữ về những cuộc đột kích A-34. Một số thông điệp chặn bắt được có nội dung ra lệnh cho các tàu phóng lôi chuẩn bị cho 1 cuộc tấn công.

Khi đêm xuống, 2 chiếc khu trục hạm rời khỏi vùng ven bờ Bắc Việt đi ra ngoài khơi xa. Một cơn bão bất ngờ đi vào khu vực. Toàn vùng bị mây đen dày đặc bao phủ, sấm sét đì đùng. Gió lớn làm cho biển động dữ dội.

Khi mấy chiến hạm đang chạy về phía đông thì radar trên tàu phát hiện được những đốm sáng tín hiệu. Ogier nghĩ có lẽ tàu phóng lôi địch đang chờ sẵn. Không khí trong trung tâm thông tin tác chiến của tàu rất căng thẳng khi mấy đốm sáng trên màn hình radar cứ xuất hiện rồi lại mất đi. Lúc 21g30, các đốm sáng bắt đầu tăng tốc đến gần mấy khu trục hạm. Hiệu thính viên trên tàu Maddox hét lên: “Ngư lôi!” Một số cảnh giới viên cũng báo cáo đã nhìn thấy có 1 ngư lôi dưới nước.

Chiếc Turner Joy khai hỏa vào 1 đốm sáng. Nó biến mất khỏi màn hình. Tàu Maddox cũng bắn. Đêm tối như mực bỗng chốc sáng bừng bởi những chớp lửa đầu nòng của pháo 127mm. Ngư lôi được báo cáo phóng tới liên tục khiến các tàu phải cơ động né tránh cật lực. Có lúc hiệu thính viên trên tàu Maddox báo rằng nghe thấy có 22 quả ngư lôi trong làn nước. 8 máy bay Crusader của tàu Ticonderoga cũng bay đến, hướng thẳng tới vị trí có tàu phóng lôi Bắc VN, là những đốm sáng trên màn hình radar của tàu Maddox. Những chiếc máy bay bay rất thấp để tìm những kẻ bị diệt. Chúng sục xạo trên mặt biển hồi lâu nhưng ko thấy dấu hiệu gì về sự hiện diện của đối phương.

Mọi thứ đột ngột kết thúc cũng giống như lúc bắt đầu. Âm thanh của ngư lôi đã biến khỏi tai nghe của các hiệu thính viên. Trên màn hình radar những đốm sáng biến mất. các khu trục hạm chuyển hướng và dùng hết tốc lực bỏ chạy về phía nam.

Khi tin về cuộc tấn công thứ 2 tới tai tổng thống Johnson, ông ko hề chần chừ khi ra lệnh 1 cuộc không kích trả đũa – có mật danh là Mũi tên xuyên (Pierce Arrow) – đánh vào các căn cứ tàu phóng lôi của Bắc VN. Ông cũng cùng các phụ tá chuẩn bị 1 dự thảo nghị quyết trình Quốc hội để thông qua cho hành động của mình.

Trong khi đó thì hạm trưởng 2 tàu Maddox và Turner Joy lại cẩn thận xem xét lại cuộc giao chiến. Họ kết luận rằng hầu hết, nếu ko phải là tất cả, những thứ radar đã quét được thực ra là những thứ ko có thật do tín hiệu radar tương tác phản xạ với trần mây thấp. Những tiếp xúc của ngư lôi qua máy định vị siêu âm có thể là do sai lầm khi nghe thấy tiếng chân vịt tàu của chính họ. Các hạm trưởng nhanh chóng điện báo cho thượng cấp của mình rằng: “Nhiều báo cáo về việc tiếp xúc và ngư lôi bắn tới là ko đáng tin cậy.”

Dù cuộc tấn công còn có nhiều điểm đáng ngờ, tổng thống Johnson và bộ trưởng quốc phòng Robert McNamara vẫn cho thực thi chiến dịch tấn công Mũi tên xuyên. Lúc 22g43 ngày 4 tháng 8 (giờ Washington), những chiếc phản lực cơ đầu tiên gầm rú đáp xuống boong chiếc Ticonderoga. Đáng ngạc nhiên là chỉ chưa đầy 1 tiếng sau, lúc 23g37, tổng thống Johnson đã lên truyền hình công bố về quyết định tung ra các cuộc không kích.

Do được cảnh báo trước như thế, phía Bắc VN đã chuẩn bị sẵn sàng khi những chiếc máy bay Crusader đầu tiên xuất hiện trên đầu. Máy bay Mỹ đã đánh trúng mục tiêu, phá hủy khoảng 25 tàu phóng lôi. Các pháo thủ Bắc VN đã bắn trúng 4 trong số 35 máy bay Mỹ, làm 2 chiếc bị rơi.

Ngày 7 tháng 8 năm 1964, thượng viện Mỹ, chỉ có 2 phiếu chống, đã thông qua 1 nghị quyết cho phép: “Tổng thống…
được áp dụng mọi biện pháp cần thiết, đẩy lùi bất cứ một cuộc tiến công vũ trang nào chống lại lực lượng Hoa Kỳ và sẵn sàng tiến hành mọi bước cần thiết, để ngăn chặn những hành động gây hấn" ở nam VN.

Mặc dù đã có nghị quyết này hậu thuẫn. Vì lý do sắp tới kỳ bầu cử, tổng thống Johnson, đã từ chối việc trả đũa tiếp dù cho Việt Cộng gia tăng những hành động gây hấn nam VN và lính Mỹ đóng tại đây. Ngay cả khi ngày 31 tháng 10, VC tiến công căn cứ không quân lớn ở Biên Hòa, cách Sài Gòn 22 km, giết 4 lính và phá hủy 13 oanh tạc cơ Mỹ, Johnson cũng ko cho trả đũa.

3 ngày sau, Johnson trúng cử tổng thống và là ứng cử viên có đa số phiếu ủng hộ lớn nhất trong lịch sử. 61% phiếu bầu được bỏ cho cái người đã cam kết sẽ từ chối việc “cho phép những chàng trai Mỹ đi chiến đấu thay cho dân châu Á.”

Trong suốt tháng 11, Johnson bắt các cố vấn cao cấp của mình tất bật nghiên cứu chính sách của Mỹ ở nam VN. Ngày 1 tháng 12, ông ta chọn khả năng với nội dung chủ yếu là mở rộng các chính sách hiện hành. Hoa Kỳ sẽ tiếp tục hỗ trợ nam VN, bằng cách ném bom trả đũa Bắc Việt cho những sự việc tương tự như vụ “tấn công” vịnh Bắc Bộ hay vụ sân bay Biên Hòa.

Tuy thế, ngay vào đêm Giáng Sinh, VC đã cho nổ 1 xe tải chứa bom tại 1 khách sạn ở trung tâm Sài Gòn, được Mỹ dùng làm chỗ ở cho sĩ quan, khiến hơn 100 người thương vong. Tổng thống Johnson vẫn từ chối trả đũa. Cho tới khi VC tiến công 2 căn cứ quân đội Mỹ gần Pleiku vào sáng sớm ngày 7 tháng 2 năm 1965, giết chết 7 lính Mỹ và làm bị thương 100, tổng thống Johnson mới tiến hành trả đũa Bắc VN. Sau khi VC tấn công 12 giờ, các tàu sân bay Mỹ trong vịnh Bắc bộ đã tiến hành chiến dịch có tên Flaming Dart (mũi tên Lửa. ND), tấn công có giới hạn các mục tiêu ở Bắc VN. Ngày hôm sau, thủ tướng tương lai Nguyễn Cao Kỳ dẫn đầu các máy bay của không lực nam VN tới tấn công 1 trung tâm thông tin liên lạc của Bắc Việt ngay phía trên DMZ (Giới tuyến quân sự tạm thời hay khu phi quân sự. ND)


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 03 Tháng Tư, 2014, 10:04:11 AM
Cuộc ko kích trả đũa đã ko thể ngăn VC dừng lại. Tối ngày 10 tháng 2, họ tiến công 1 doanh trại lính Mỹ tại Qui Nhơn, thị xã ven biển nằm ở trung tâm tỉnh Bình Định, 21 lính Mỹ chết và 22 người khác bị thương khi tòa nhà họ ở bị đánh sập. Ngay khi lực lượng cứu hộ đang kéo các thi thể lính Mỹ ra khỏi đống đổ nát, máy bay của chiến dịch Flaming Dart II đã bay ù ù trên bầu trời Đông Nam Á hướng đến Bắc VN.

Căn cứ trên việc các mục tiêu của Mỹ bị tiến công liên tục. Ngày 13 tháng 2, tổng thống Johnson quyết định “tiến hành 1 chương trình ném bom có hạn chế và giới hạn” chống lại Bắc VN. Các cuộc không kích được lên kế hoạch 1 hoặc 2 lần/tuần. Chiến dịch ném bom dài ngày này được mang tên Sấm Rền (Rolling Thunder).

Do thời tiết ko thuận lợi, các cuộc không kích đầu tiên của Sấm Rền, đến ngày 2 tháng 3 mới được bắt đầu. Một đoàn gồm 104 máy bay của không lực Mỹ - gồm B52, F100,F105 - đã thả 120 tấn bom xuống Xom Bang (?), cách DMZ 15km về phía Bắc. Đối phương phản ứng khá mãnh liệt. 6 máy bay Mỹ bị bắn hạ.

Do phần lớn các máy bay của không lực đóng tại căn cứ không quân Đà Nẵng nên vấn đề an ninh đóng vai trò rất quan trọng với việc thành bại của các cuộc tấn công Sấm Rền tiếp theo. Dù được các đơn vị quân lực VNCH canh gác, tư lệnh MACV, đại tướng William C. Westmoreland rất đỗi nghi ngờ khả năng của họ trong việc bảo vệ hiệu quả những cơ sở phức tạp như vậy. Ngày 22 tháng 2, trung tướng John L. Throckmorton, cấp phó của Westmoreland, đề xuất chuyển giao việc bảo vệ căn cứ sang cho TQLC Mỹ. Ông ta lập luận, không những TQLC có thể bảo vệ tốt hơn, mà còn giúp giải phóng các binh sĩ VNCH để họ thực hiện các chiến dịch chống lại VC.

Westmoreland đã bỏ qua lời khuyên của đại sứ Mỹ Maxwell D. Taylor và đồng tình với đề xuất này. Do đó, ngay trong ngày, ông đã yêu cầu cấp cho 2 tiểu đoàn thủy quân lục chiến. 4 ngày sau Washington gửi điện chấp thuận đòi hỏi này của Westmoreland.

Vào lúc 9g ngày 8 tháng 3 năm 1965, lính thuộc tiểu đoàn 3, trung đoàn 9 TQLC bắt đầu đổ bộ lên bãi biển Đà Nẵng. Chiều hôm đó, các máy bay vận tải C-130 từ Okinawa trở tới tiểu đoàn 1, trung đoàn 3 TQLC. Sự hiện diện trên bộ của quân Mỹ tại VN đã trở thành hiện thực.

Trong những tuần sau, vai trò của TQLC được mở rộng từ phòng thủ tĩnh tại sang tuần tra tích cực cách xa Đà Nẵng vài dặm. Đến lúc đó, tham mưu trưởng lục quân Mỹ, tướng Harold K. Johnson, bắt đầu đưa ra những lý lẽ thuyết phục cho việc gia tăng sự hiện diện của quân Mỹ ở nam VN. Ông ta nhấn mạnh với hội đồng tham mưu trưởng liên quân rằng chỉ có Hoa Kỳ mới có thể gây đủ áp lực cho quân Bắc Việt nhằm ngăn cản họ hỗ trợ VC.

Lập luận của tướng Johnson được củng cố khi ngày 29 tháng 2, VC cho nổ 1 quả xe hơi chứa bom ngay trước đại sứ quán Mỹ. 2 người Mỹ và 18 người Việt bị chết, cùng 160 người khác bị thương trong vụ nổ kinh hoàng này. Tòa sứ quán đã bị phá hủy.

Westmoreland lại đòi hỏi, và được nhận thêm 9 tiểu đoàn bộ binh Mỹ nữa. Ông dùng 1 số đơn vị để lập ra các căn cứ của Mỹ tại Qui Nhơn và Nha Trang, số khác tới khu vực Chu Lai, phía nam Đà Nẵng. Để bảo vệ căn cứ không quân khổng lồ của Mỹ ở Biên Hòa và các cơ sở có tầm quan trọng chiến lược tại Vũng Tàu và cửa sông Sài Gòn; Westmoreland đòi chuyển đích danh từ Okinawa sang lữ đoàn dù 173 ưu tú.





Chương 1
Đến Việt Nam






Chiếc máy bay vận tải chở chuẩn tướng Ellis W. Williamson, lữ đoàn trưởng lữ đoàn dù 173, hạ cánh xuống sân bay Tân Sơn Nhất ở ngoại ô Sài Gòn vào sáng sớm ngày 25 tháng 4 năm 1965. Williamson đến thủ đô nam VN đáp ứng theo yêu cầu trong bức điện tối mật mà ông ta nhận được tại bộ chỉ huy của mình trên đảo Okinawa ngày hôm trước. Lục quân Hoa Kỳ đồng ý với yêu cầu của tướng Westmoreland về việc triển khai lữ đoàn 173 tới nam VN, và lệnh cho đơn vị của Williamson chuẩn bị di chuyển.

Đi cùng ông là các sĩ quan phụ trách hành quân (S-3), tiếp vận (S-4) và người phụ tá. Williamson được hộ tống tới văn phòng của Westmoreland tại bộ tư lệnh MACV ở trung tâm Sài Gòn. Sau câu chào hỏi xã giao, Westmoreland gặng hỏi Williamson.

“Sao anh lại mặc quân phục?”

“Thì lúc nào tôi chả mặc nó ạ.” Williamson hơi ngạc nhiên trả lời.

“Điện của tôi đã nhấn mạnh là phải mặc đồ dân sự mà” Westmoreland nói rõ.

“Tôi có mang theo quần và 1 áo sơ mi rồi ạ.” Williamson đáp.

Westmoreland ra lệnh: “Hãy thay vào ngay rồi mới được rời khỏi tòa nhà này. Tôi ko muốn VC hoặc báo chí biết anh đang ở đây.”

Tướng Williamson bối rối thay đồ dù theo như ông biết thì mình đang giúp chính phủ miền nam VN đang chống lại quân VC nổi dậy - những người được Bắc VN ủng hộ. Xứ mạng quan trọng của Williamson khiến ông có nhận thức rõ ràng về những yếu tố ảnh hưởng tới vai trò của Hoa Kỳ với các nước trong khu vực Đông Nam Á nhưng ko biết chắc họ sẽ đòi hỏi những gì ở ông cùng đơn vị của mình.

Westmoreland phổ biến những nhiệm vụ mà lữ đoàn 173 sẽ gánh vác trong khi Williamson đang chăm chú lắng nghe. Westmoreland giải thích, với việc gia tăng về quy mô của chiến dịch Sấm rền, ông ta ngày càng lo ngại về khả năng bảo vệ an toàn của quân lực VNCH cho các căn cứ của Mỹ đang hỗ trợ chiến dịch không kích. Ngoài ra việc có những đơn vị của Mỹ tới bảo vệ các căn cứ sẽ giúp các đơn vị VNCH rảnh tay để thực hiện các cuộc hành quân chống VC.

Tướng Westmoreland tiết lộ cho Williamson biết rằng dự kiến sẽ có thêm các sư đoàn quân Mỹ nữa tới VN trong vài tháng tới. Lữ đoàn 173 có nhiệm vụ truy quét tiêu diệt các đơn vị địch trong vùng trách nhiệm. Westmoreland nói việc lữ đoàn được triển khai ở nam VN chỉ mang tính tạm thời, có lẽ sẽ ko kéo dài quá 60 ngày. Sau khi bàn bạc thêm 1 số chi tiết về việc triển khai và nhiệm vụ của lữ đoàn, 2 vị tướng kết thúc buổi họp mặt.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 04 Tháng Tư, 2014, 08:43:28 AM
Trong 3 tuần kế tiếp, tướng Williamson cùng tùy tùng làm việc rất tất bật. Họ tới thăm các căn cứ không quân mà lữ đoàn sẽ phải bảo vệ, gặp gỡ rất nhiều cố vấn Mỹ, cũng như các chỉ huy quan trọng của VNCH, bắt tay vào xây dựng kế hoạch cụ thể để triển khai đơn vị. Có 1 núi công việc phải chuẩn bị để lữ đoàn 173 có thể làm nhiệm vụ ở nam VN, tuy nhiên tướng Williamson lại là bậc thầy trong việc khắc phục khó khăn kiểu này.

Ellis W. Williamson sinh ra và lớn lên tại Raleigh, Bắc Carolina. Khi còn niên thiếu, mục tiêu của ông là được chơi kèn trombone trong 1 ban nhạc jazz. Để lấy kinh nghiệm thực tế, ông gia nhập Vệ binh quốc gia Bắc Carolina làm nhạc công năm 1935. Mặc dù dự kiến chỉ ở lại lực lượng Vệ binh quốc gia có 1 năm rồi sẽ tới thử giọng tại 1 ban nhạc lớn, nhưng ông đã ở trung đoàn suốt 10 năm. Suốt thập niên ấy, ông sẽ đi từ cấp binh nhì trong ban nhạc đến cấp trung tá chỉ huy trung đoàn.

Sau kỳ hạn đầu tiên, Williamson nhận ra rằng ông ko những đã nâng cao được kỹ năng chơi kèn trombone mà còn phát triển tình bằng hữu giữa những thành viên trong đơn vị. Những người lính đã phụng sự cùng ông là những người tốt nhất ông từng biết đến. Họ làm nên tình thân hữu, tình đồng đội và tạo cơ hội cho các cá nhân phát triển. Do đó Williamson đăng ký thêm 1 kỳ hạn nữa.

Trước khi tái ngũ, đơn vị của Williamson lên đường làm nhiệm vụ trong kế hoạch tập trung quân lớn của quân đội Mỹ trước chiến tranh TG 2, Ngày 16 tháng 9 năm 1942, đơn vị trở thành 1 phần của trung đoàn 120, sư đoàn 30 bộ binh.

Do nhu cầu của các nhà lãnh đạo, quy mô quân đội gia tăng nhanh chóng. Williamson là 1 kẻ may mắn. Với năng khiếu thiên bẩm cộng với tài lãnh đạo ông được đưa vào nguồn đào tạo sĩ quan. Các cấp trên đã đề bạt trực tiếp ông đi học. Williamson đã tự hào gắn gạch vàng của lon thiếu úy lên quân phục vào đầu năm 1941.

Sư đoàn 30 bộ binh dành 3 năm sau đó để huấn luyện trước khi lên tàu thủy sang Anh tháng 2 năm 1944. Sư đoàn đã tiến vào nước Pháp qua bãi biển Omaha, Normandy ngày 10 tháng 6 năm 1944 để làm nhiệm vụ tại châu Âu. Những dấu vết của cuộc tàn sát 4 ngày trước đó (ngày D) là lời cảnh tỉnh khắc nghiệt của chiến tranh đối với trung úy Williamson và binh sĩ trong trung đoàn 120 bộ binh. Những người lính chưa có kinh nghiệm chiến đấu nghiến răng dấn bước tiến ra chiến trường.

Đơn vị của Williamson đã thử lửa lần đầu trong 1 trận đánh ác liệt để chiếm lấy các giao lộ có tầm quan trọng chiến lược ở thị trấn St.-Lô, Pháp. Sau đó họ tham gia chiến dịch Cobra (Rắn hổ mang), là đòn đột phá lớn của đồng minh từ đầu cầu Normandy. Rồi họ đánh đuổi quân phát xít suốt chiều ngang nước Pháp và tới đầu tháng 9 thì tiến vào Bỉ. Ngay khi Williamson, lúc đó là đại úy chỉ huy 1 đại đội súng trường, mới nghĩ những trận đánh gian lao chắc đã qua, họ lại phải nhảy vào trận đánh đẫm máu để chiếm Aachen, 1 thị trấn Đức trong hệ thống phòng ngự ghê gớm có tên bức tường phía Tây chạy dọc theo biên giới Bỉ. Suốt từ giữa tháng 9 đến giữa tháng 10, những người lính mệt mỏi của sư đoàn 30 bộ binh phải chiến đấu với những tên lính Đức cuồng tín cố thủ Aachen.

Khi Aachen cuối cùng cũng bị thất thủ ngày 16 tháng 10 năm 1944, Williamson cùng trung đoàn 120 tiến vào nước Đức và ở trên tuyến đầu cho đến giữa tháng chạp. Khi Hitler phát động chiến dịch phản công liều lĩnh vào vùng rừng Ardennes ở Bỉ ngày 16 tháng 12 năm 1944, sư đoàn 30 được gửi đến chống giữ cho phòng tuyến đang lung lay của Mỹ. từ 17 tháng 12 năm 1944 đến 26 tháng 1 năm 1945, họ phải chiến đấu để quét sạch quân Đức xung quanh khu vực Malmédy-Stavelot.

Cuối cùng thì trận Bulge cũng kết thúc bằng chiến thắng của quân Đồng minh, Williamson được thưởng lon thiếu tá và trở thành trung đoàn phó trung đoàn 120. Ông đảm nhiệm cương vị đó khi sư đoàn 30 bộ binh tham gia vượt sông Roer tháng 2 năm 1945. Sau đó sư đoàn tiến công ngang qua phần phía Bắc miền Trung nước Đức, và cùng các đoàn quân khác đua nhau tiến về Berlin. Ngày 7 tháng 4 năm 1945, họ chiếm được thành phố Hameln huyền thoại, rồi 1 tuần sau đó thì chiếm các vị trí nằm dọc sông Elbe, cách thủ đô nước Đức chỉ 60km.

Trong khi các chính trị gia dàn xếp và lấy “phần thưởng” Berlin từ tay quân Mỹ chuyển sang cho phía Nga, thiếu tá Williamson và các đơn vị đông đảo của Mỹ đóng quân bên bờ tây sống Elbe và cứ ở đó cho đến tận ngày tuyên bố chiến thắng mùng 8 tháng 5 năm 1945.

Khi chiến tranh vừa kết thúc, Williamson được vinh thăng lên trung tá và về chỉ huy chính cái trung đoàn mà ông đã từng gia nhập 10 năm về trước dưới bộ dạng của 1 chú binh nhì 18 tuổi. Ông và sư đoàn mình đã chứng tỏ được mình trong các trận đánh tàn khốc của cuộc chiến. Sư đoàn 30 bộ binh có 17.000 thương vong, trong đó hy sinh là 3516 người.

Qua chiến tranh, trung tá Williamson nhận ra lẽ sống của chính mình. Ông cảm thấy mình có thể sống và cống hiến nhiều nhất trong môi trường quân đội, làm việc với những con người tài ba, tốt bụng nhất mà thế giới chưa từng biết. Williamson làm đơn gia nhập quân đội thường trực và được chấp nhận.

Trong chiến tranh Triều Tiên, Williamson tham chiến liên tục.
Tháng 9 năm 1950, ông đổ bộ lên Inchon trong vai trò phụ tá phòng hành quân (G-3), quân đoàn X lừng danh của tướng Douglas MacArthur. Sau khi tái chiếm thủ đô Seoul của Nam Triều Tiên thành công. Quân đoàn X di chuyển tới bờ biển phía đông bán đảo Triều Tiên và tiến đến sông Áp Lục để kết thúc chiến tranh.

Sự bất ngờ tham chiến của Cộng quân Trung Quốc tháng 11 năm 1950 đã làm mọi sự lạc quan tắt ngấm. Trước khi các lực lượng Mỹ và Nam triều Tiên nhận ra kẻ thù mới là ai, họ đã phải rút lui hoàn toàn khỏi miền Bắc Triều Tiên.

Đây giống như 1 canh bạc lớn cho Williamson. Toàn bộ sự nghiệp của ông có được là do xông lên tiến công quân thù. Giờ đây ông phải lập kế hoạch triệt thoái cho cả 1 quân đoàn, đang bị tiến đánh.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 07 Tháng Tư, 2014, 09:13:27 AM
Williamson đã làm việc này xuất xắc. Cùng với kế hoạch của các thượng cấp, quân đoàn X đã thoát khỏi 1 tình huống gần như vô vọng. Với mức thương vong và tổn thất về trang bị tối thiểu, quân đoàn X đã rút khỏi Bắc triều Tiên nguyên vẹn và sẵn sàng tái tấn công.

Nỗ lực của Williamson đã được cấp trên ghi nhận. Nhờ làm việc nổi trội, hiệu quả trong các điều kiện khó khăn, Williamson được thăng lên cấp đại tá được chú ý bồi dưỡng lên cấp tướng.

Sau khi phục vụ ở Triều Tiên, ông về làm việc tại Lầu năm góc. Trong thời gian ở đây ông tham gia nghiên cứu chuyên sâu về cách thức tiến hành chiến tranh của quân đội Mỹ, và việc này đã ảnh hưởng rất lớn tới sự nghiệp của ông sau này.

Đầu năm 1952, 1 số nhà tiên phong trong quân đội đã phát hiện tiềm năng của máy bay lên thẳng khi nó sẽ cung cấp cho các đơn vị chiến đấu mặt đất tính linh hoạt và sự cơ động trước đây chưa ai dám nghĩ tới. Trong những năm sau 1 số người đã ra sức bảo vệ ý tưởng mới này của mình trước những giới chức chóp bu trong quân đội. Và cuối cùng, dù là bất đắc dĩ, những giới chức này mới quyết định chịu xem xét thêm về khái niệm Tác chiến cơ động đường không (Airmobile) mới mẻ này.

Ngày 15 tháng 1 năm 1960, Tham mưu trưởng lục quân đã thành lập ra 1 ban đặc biệt để xem xét về nhu cầu hàng không của Lục quân. Sau đó họ đã đề xuất cho khảo sát thêm về sự cần thiết của các thiết bị hàng không trong các đơn vị Lục quân và xin làm nghiên cứu chuyên sâu về tính thực tế của ý tưởng việc có những đơn vị chiến đấu đường không. Từ những đề xuất trên. Lục quân bắt đầu từ từ gia tăng số lượng các thiết bị hàng không của mình.

Cuối tháng 9 năm 1961, Bộ trưởng bộ Quốc phòng McNamara đã xem xét lại kế hoạch hàng không. Về cơ bản, ông kết luận rằng lục quân cơ động quá chậm chạp. Tháng 4 nắm 1962, ông chỉ đạo Lục quân phải có “cách nhìn sâu sắc” về cơ động trong tác chiến trên bộ. Ông kêu gọi sử dụng hết công suất những thí nghiệm cùng thực hành để đánh giá đúng chi phí và hiệu quả của công tác vận tải. McNamara đánh giá rất cao ý tưởng này và hỗ trợ  nhiệt tình cho những nỗ lực của Lục quân.

McNamara cuối cùng đã nhấn mạnh về tầm quan trọng các nghiên cứu về chiến thuật cơ động của Lục quân như sau: “Tôi sẽ rất thất vọng nếu như Lục quân cứ mãi đưa ra các đòi hỏi thêm nữa về các khoản mua sắm hậu cần mà không có các kế hoạch mới mẻ. Có thể khái niệm mới này sẽ làm cho chúng ta tăng đáng kể sức cơ động.”

Một tuần sau khi có sự chỉ đạo của McNamara, trung tướng Hamilton H. Howze, tư lệnh quân đoàn 18 không vận, được bổ nhiệm làm trưởng ban Tác chiến cơ động đường không của Lục quân Hoa Kỳ.

Với quyền hạn rất rộng lớn, ban của Howze ngay lập tức tiến hành công việc. Các hoạt động chính và quan trọng nhất của cơ quan chính là việc nghiên cứu kỹ lưỡng, thử nghiệm, đánh giá việc tổ chức và phương thức hoạt động của tác chiến cơ động đường không. Nhiều nỗ lực được giành cho lĩnh vực thực nghiệm với mục đích so sánh giữa 1 lực lượng được trang bị thông thường với với 1 lực lượng không kỵ có trang bị thêm máy bay.

Trong 4 tháng sau đó, cơ quan này đã thực hiện 40 cuộc thử nghiệm bằng trang thiết bị đường không của sư đoàn dù số 82. Các bài kiểm tra này chú trọng đến các bài bắn đạn thật phức tạp để rèn luyện cách sử dụng những trang bị kỹ thuật mới. Đầu tháng 8 năm 1962, ban của Howze hoàn thành nhiệm vụ và gửi danh sách khuyến nghị lên trên.

Sự đổi mới trong chiến thuật xuất phát từ những thử nghiệm của ban để tạo ra 1 Sư đoàn không vận xung kích thử nghiệm. Thay vì ở các sư đoàn thông thường sử dụng khoảng 100 máy bay, thì sư đoàn không vận xung kích có tới 459 máy bay trong biên chế. Việc cơ động đường không sẽ làm giảm đáng kể số lượng xe cơ giới trên mặt đất. Từ 3452 giảm còn 1100 chiếc. Qua đó các máy bay có thể vận chuyển 1/3 các đơn vị xung kích của sư đoàn chỉ trong 1 chuyến.

Ban của Howze còn đề nghị thành lập ra 1 lữ đoàn kỵ binh không vận. Nó có chức năng như 1 đơn vị kỵ binh kinh điển, như che chắn, trinh sát, chốt chặn. Không như sư đoàn xung kích không vận, được thiết kế để tham gia trận đánh trên bộ, tất cả các thành viên trong lữ đoàn không kỵ đều có khả năng nhảy dù.

Tướng Howze kết thúc bản báo cáo của mình bằng 1 câu ngắn gọn, tuyên bố nhấn mạnh: “Lục quân chấp nhận ý tưởng tác chiến cơ động đường không là cần thiết và đáng thực hiện dù còn nhiều điểm thiếu sót sẽ được chỉ rõ và kiểm chứng trong bản báo cáo này. Việc phải qua nhiều bước chuyển đổi là ko thể tránh khỏi, giống như hồi chuyển từ sức ngựa qua cơ giới vậy.”

Sau đó, lục quân đã thành lập sư đoàn xung kích không vận sô 11, đóng tại căn cứ Fort Benning, Georgia. Hai năm kế tiếp sư đoàn thử nghiệm này đã được đưa vào thực nghiệm tất cả các khía cạnh của ý tưởng cơ động đường không. Một nhân vật thuộc ban tham mưu của Lầu 5 góc đóng vai trò then chốt trong giai đoạn lập kế hoạch cho ý tưởng này chính là đại tá Ellis W. Williamson. Là 1 người đi tiên phong cho việc hình thành sư đoàn cơ động đường không mới mẻ, Williamson đã làm việc tận tụy hết mình cho ý tưởng. Ông biết cách duy nhất để các bài thử nghiệm của ý tưởng cơ động đường không thành công là phải đặt nó đúng người, đúng nơi. Ông vận dụng tất cả khả năng và quan hệ để lôi kéo các sĩ quan sáng giá trẻ tuổi của lục quân tham gia vào các cuộc thử nghiệm.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 08 Tháng Tư, 2014, 09:00:50 AM
Kết quả đã chứng minh cho tầm nhìn xa của ban Tác chiến cơ động đường không của Howze cũng như cho khái niệm tác chiến mới qua việc chỉ 2 năm sau đó sư đoàn xung kích không vận 11 đã được đổi tên thành sư đoàn 1 kỵ binh bay. Nó được tái tổ chức lại rồi vội vã đem triển khai ở nước ngoài tháng 8 năm 1965 để đối phó với tình hình đang xấu đi tại miền nam VN. Trong 6 năm ở nam VN, sư đoàn 1 Kỵ binh bay đã nhiều lần chứng minh giá trị của tác chiến cơ động đường không và đạt nhiều thành tích chiến đấu xuất sắc.

Lục quân cũng thực hiện 1 số sửa đổi trên kế hoạch của Howze để tạo ra 1 lữ đoàn kỵ binh không vận riêng biệt. Lục quân nhận ra rằng ko những tồn tại nhu cầu có 1 đơn vị thử nghiệm mà còn phải có 1 đơn vị không vận trên Thái Bình Dương đóng vai trò làm lực lượng phản ứng nhanh trên chiến trường. Để thực hiện nhiệm vụ kép độc nhất vô nhị này cho Lục quân, đòi hỏi phải có 1 đơn vị đặc biệt có thể đảm đương mọi sứ mạng được giao và 1 vị chỉ huy đặc biệt có khả năng uốn nắn cái đơn vị còn non nớt này thành lực lượng chiến đấu gắn kết.

Thật may mắn là Lục quân đã có cả người chỉ huy cũng như đơn vị cho nhiệm vụ mới mẻ đó. Đây là 1 bước đánh dấu thành công trong sự phát triển của khái niệm cơ động đường không của đại tá Williamson, người có bằng nhảy dù năm 1960, khi ông được nhất trí đề bạt làm chỉ huy của lữ đoàn dù tân lập.

Cương vị chỉ huy đơn vị mới đã đưa Williamson lên cấp chuẩn tướng. Tại lễ thăng cấp ở lầu 5 góc tháng 6 năm 1963. Bộ trưởng lục quân là Elvis J. Stahr, Jr., đã nhận xét khi gắn sao lên quân hàm của Williamson :” Lục quân bây giờ thăng tướng cho các vị sớm hơn nhiều so với hồi xưa.”

“Vâng, thưa sếp” Williamson châm biếm “Đây là lần thăng cấp thứ 2 của tôi trong 19 năm đó ạ.”

Đơn vị mới của tướng Williamson là lữ đoàn 173 dù (độc lập), được xây dựng và trang bị từ ngày 25 tháng 6 năm 1963. Lữ đoàn 173 lần đầu tiên bước vào chiến trận từ hồi chiến tranh thế giới thứ 1, trong thành phần sư đoàn 87 bộ binh. Sau cuộc chiến, lữ 173 được chuyển qua lực lượng quân dự bị. Trong chiến tranh thế giới thứ 2, nó trở thành chiến đoàn trinh sát số 87 (87th Reconnaissance Troop) và tham chiến tại châu Âu. Chiến đoàn trinh sát 87 ngừng hoạt động tháng 9 năm 1945. Ngày 26 tháng 3 năm 1963 đơn vị lại được tái tổ chức và trang bị và đổi tên thành lữ đoàn dù 173.

Khi toàn lữ đoàn được tái lập tháng 6 năm 1963, nó tiếp nhận trang thiết bị của chiến đoàn dù số 2 (2nd Airborne Battle Group), rồi tới đóng quân tại Okinawa, trên quần đảo Ryukyu phía nam Nhật Bản. Các đơn vị cơ hữu của lữ 173 gồm các tiểu đoàn 1 và 2, trung đoàn bộ binh dù số 503; đại đội D, trung đoàn 16 thiết giáp; tiểu đoàn 3, trung đoàn pháo binh 319; đại đội công binh 173; đại đội trợ chiến 173; chi đội E, trung đoàn 17 kỵ binh. Biên chế của lữ đoàn có 133 sĩ quan, 3 chuẩn úy và 3.394 binh sĩ.

Nhiệm vụ mà Williamson phải đối mặt rất chi là nặng nề. Không những đây là đơn vị phản ứng nhanh chủ yếu của chiến trường Thái Bình Dương mà còn là đơn vị phải liên tục thử nghiệm những ý tưởng mới trong quá trình tiến hành chiến tranh. May thay, Williamson cũng có được 1 ít nhân nhượng.

Đầu tiên là lữ 173 sẽ đóng trên đảo Okinawa, tại đây nó được tự do thử nghiệm ý tưởng của mình mà ko có sự can thiệp liên miên của Lầu 5 góc.

Sau đó, với trách nhiệm phải gánh vác, tướng Johnson đã hỏi Williamson có đòi hỏi gì để hoàn thành công việc không? Williamson đã trả lời chỉ bằng 1 từ đóng vai trò quan trọng trong cả sự nghiệp của ông đó là: “con người.”. Nếu được quyền lựa chọn những người giỏi nhất , ông có thể hoàn thành sứ mệnh và đơn vị có sự linh động hơn. Johnson đồng ý ngay.

Williamson bắt tay vào việc. Những sĩ quan mới tốt nghiệp học viện West Point khóa 1962, 1963. Những sĩ quan cùng lính giỏi trong các sư đoàn dù 82 và 101, cũng như các khóa sinh tốt nghiệp hạng ưu trong trường bộ binh tại Fort Benning đều được tuyển vào lữ đoàn 173. Trong vài tuần, Williamson đã tập hợp được 1 đội ngũ sĩ quan và hạ sĩ quan có tài năng, nhiệt huyết nhiều hơn trong bất cứ 1 sư đoàn hoàn chỉnh nào.

Khi mà Williamson đã tập hợp xong cán bộ khung, họ mới bắt đầu công việc vất vả là công tác huấn luyện. Tuy đóng quân trên đảo Okinawa, nhưng lữ đoàn không ở đó nhiều mà giành phần lớn thời gian trên hòn đảo Oromote.

Nằm cách Okinawa 450km về phía nam, đảo Oromote là nơi lý tưởng để lữ đoàn tổ chức huấn luyện. Đảo có cây cối rậm rạp với bề ngang chỉ khoảng 22km. Oromote cho phép lữ đoàn làm những bài huấn luyện khác nhau theo điều kiện thực tế. Các đơn vị có qui mô khác nhau từ trung đội tới tiểu đoàn đầy đủ có thể được triển khai trên đảo mà ko có sự chỉ đạo trược tiếp từ bộ chỉ huy lữ đoàn, điều này cho phép chỉ huy các đơn vị được tự do quyết định.

Phù hợp với mong muốn chung, tướng Williamson cho phép những lính dù dưới quyền rất nhiều cơ hội để phát triển. Bất cứ người lính nào cũng được tự do đưa ra ý tưởng để thử nghiệm. Mọiý tưởng đều được đưa ra thử nghiệm trong điều kiện thực tế rồi Williamson sẽ kết luận xem có dùng được hay là không. Được tự do tránh khỏi những con mắt xét nét của các thượng cấp, Williamson có toàn quyền đánh giá những sáng kiến này. Thực tế ông đã ông đã lập ra 1 “trung tâm ý tưởng” trong bộ chỉ huy nhằm đảm bảo bất cứ ý tưởng nào dù táo bạo hay quyết liệt đến đâu, cũng sẽ được xem xét chi ly, cẩn thận. Chỉ ý tưởng nào có sự coi thường tính mạng con người mới bị chạn chế.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 10 Tháng Tư, 2014, 08:37:56 AM
Với tầm nhìn xa của Williamson, nhiều ý tưởng, sáng kiến của lữ đoàn 173 đã được phổ biến, nhân rộng trong toàn quân. Như là việc sử dụng máy bay trực thăng hiệu chỉnh cho pháo binh vào ban đêm, gắn đại liên cố định trên trực thăng chở quân, dùng trực thăng để bốc hoặc thả các kết cấu của cầu phao, huấn luyện trực thăng vận, các phi đội đại bàng (eagle flights). Đây là các phi đội có nhiệm vụ là xác định và giao chiến với đơn vị đối phương hoặc truy kích khi chúng tháo chạy. Phi đội đại bàng là lực lượng có thể sẵn sàng hoạt động độc lập hay phối hợp với các đơn vị khác.

Ngoài vai trò là đơn vị thử nghiệm, lữ đoàn dù 173 cũng phải hoàn thành sứ mệnh là lực lượng phản ứng nhanh của lục quân trên Thái Bình Dương. Do vậy nó dùng khá nhiều thời gian để huấn luyện không vận trên khắp Thái Bình Dương. Lữ đoàn đã tới huấn luyện ở Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, chú trọng vào nhảy dù, du kích chiến và kỹ năng tác chiến trong rừng rậm nhiệt đới. Chỉ trong 6 tháng đầu tiên sau khi tái lập, lữ đoàn dù 173 đã có 6 cuộc tập trận lớn và lính của nó đã có tổng cộng 10.719 lần nhảy dù.

Do diễn tập nhảy dù rất nhiều ở Đài Loan, nên binh sĩ của lữ đoàn 173 được lính Trung Hoa dân quốc rất ngưỡng mộ. Vì quá ấn tượng nên quân Trung Quốc đã đặt cho các thành viên của lữ đoàn biệt danh là Thiên Binh hay “lính nhà trời - Sky Soldiers”. Biệt danh này đã được tướng Williamson chấp nhận và giữ lại.

Với những nỗ lực ko mệt mỏi của tướng Williamson, lữ đoàn dù 173 đã nhanh chóng trở thành 1 trong những đơn vị hàng đầu trong lục quân Hoa kỳ. Tinh thần lên rất cao và lữ đoàn thường xuyên có tỉ lệ tái ngũ lên đến 100%, đây là 1 thành tích chưa từng có. Có những sĩ quan được đưa đi học với cơ hội thăng tiến cao cũng từ bỏ để ở lại lữ đoàn. Trong thực tế điều này phổ biến đến nỗi tướng Williamson phải hứa với những sĩ quan đó là sẽ vẫn giữ chỗ cho họ sau khi hoàn tất khóa học.

Đầu năm 1964, các đơn vị trực thuộc lữ đoàn đều đã được huấn luyện đầy đủ, đã qua thử thách và sẵn sàng làm nhiệm vụ. Đến giữa năm lữ đoàn tiến hành huấn luyện với những khoa mục rất đa dạng phần lớn là dựa trên kịch bản đối phó với những tình huống khẩn cấp giả định trên chiến trường. “Lính nhà trời - thiên binh” tiếp tục chứng tỏ được họ là những lính nhảy dù thực thụ với 26.339 lần nhảy trong năm. Ngoài việc huấn luyện nhảy dù thuần túy, lữ đoàn cũng ko ngừng nâng cao chiến thuật cơ động đường không, phát triển chiến thuật đổ quân từ máy bay xuống rồi đánh bọc hậu, thọc sườn quân địch…

Với tình trạng luôn sẵn sàng chiến đấu cao độ khiến cho lữ đoàn dù 173 trở thành sự lựa chọn hợp lý, thực ra là duy nhất, cho việc triển khai tới nam VN. Bảo vệ các căn cứ không quân quan trọng và càn quét vùng rừng rậm có VC cho các sư đoàn Mỹ đang tới, theo quan điểm của tướng Williamson, là công việc lý tưởng của cái đơn vị di chuyển chớp nhoáng, khó bị tấn công của mình. Vì khả năng đặc biệt này, và trên thực tế tướng Westmoreland đã từng nói đơn vị của ông sẽ ở lại VN ko quá 60 ngày, Williamson cảm thấy rất tự tin rằng lữ đoàn 173 sẽ vẫn hoàn thành nhiệm vụ trong vai trò 1 đơn vị phản ứng nhanh của chiến trường Thái Bình Dương.

Sau 3 ngày ở Sài Gòn để nghiên cứu khu vực tác chiến mới, tướng Williamson quay về Okinawa chủ yếu để thay đổi và tổ chức lại lữ đoàn cho phù hợp yêu cầu của nhiệm vụ mới. Thay đổi quan trọng nhất liên quan đến việc cắt giảm các trang bị nặng của đơn vị. Williamson nhanh chóng nhận ra rằng địa hình miền nam VN sẽ ko cần nhiều đến xe tải. Ông cho loại 1 nửa số chúng ra khỏi trang bị của lữ đoàn. Toàn đơn vị, dẫu đều có bằng nhảy dù, sẽ cơ động chủ yếu ở VN bằng máy bay trực thăng, nên những xe tăng của trung đoàn 16 thiết giáp là ko cần thiết. Williamson loại chúng ra luôn. Thay vào đó ông yêu cầu xe bọc thép chở quân (APC). Được trang bị đại liên cal 50 và khả năng chở theo người cùng đồ tiếp tế, những chiếc APC này là 1 sự kết hợp giữa hỏa lực và tính cơ động.

Để giữ bí mật, tới ngày 3 tháng 5 năm 1963 Williamson mới công bố việc triển khai quân. Ngày hôm đó ông gửi lệnh cho lính dù báo cho họ biết rằng họ sẽ đến VN trong 3 ngày nữa. Sau gần 2 năm vất vả huấn luyện chuyên sâu, lữ đoàn rốt cục cũng được tham gia lần thử nghiệm cuối cùng. Trong 72 giờ trước khi triển khai các lính dù làm việc như điên. Có hàng tỉ việc cần phải làm, ai cũng bận bịu 24 giờ 1 ngày để chuẩn bị sẵn sàng mọi thứ. 'Thiên binh" sẽ được tham chiến, và họ muốn chuẩn bị càng nhanh càng tốt.

Dù đang cực kỳ gấp rút, tướng Williamson vẫn giữ thái độ điềm tĩnh. Mục tiêu chính của ông trong cương vị lữ đoàn trưởng là tạo điều kiện với sự can thiệp ít nhất và để cho cấp dưới có thể tự xử lý công việc. Về bản chất, là ông lùi lại để cho lính tráng làm theo chính xác những gì ông đã huấn luyện cho họ.

Vì kỳ hạn của nhiệm vụ này của lữ 173 chỉ mang tính tạm thời, nên tướng Williamson vẫn giữ thói quen thường lệ. Tối ngày 4 tháng 5 năm 1965, ông và vợ tới dự bữa tiệc do tư lệnh quân đội trên đảo Okinawa là tướng Al Watson mời. Đó là 1 bữa dạ tiệc linh đình, và phải đến 22g00, 2 vợ chồng Williamson mới được cho về. Họ trở về nơi ở, tại đây viên tướng thay bộ lễ phục ra, mặc bộ quân phục dã chiến. Ông cầm lấy túi xách, hôn chào tạm biệt vợ mà ko hề biết rằng nhiệm vụ 60 ngày của mình sẽ kéo dài 10 tháng.

Mờ sáng ngày 5 tháng 5 năm 1965, những máy bay vận tải C-130 chở các đơn vị của lữ đoàn dù số 173 bắt đầu hạ cánh xuống căn cứ không quân Biên Hòa. Những chiếc máy bay gầm rú nối nhau đáp xuống, nhả xuống những anh lính dù vừa háo hức vừa sợ hãi, rồi lại bay về Okinawa để chở thêm những toán lính khác.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 11 Tháng Tư, 2014, 08:57:12 AM
Việc lữ đoàn 173 được triển khai tới nam VN giờ ko còn là bí mật nữa. Các phóng viên đã có mặt ở sân bay ghi hình sự xuất hiện của đơn vị chiến đấu trên bộ đầu tiên thuộc lục quân Mỹ tại nam VN. Đại tướng Westmoreland đã tới đó để đón mừng tướng Williamson cùng những lính dù của ông này. Westmoreland cam đoan với các nhà báo là lữ đoàn chỉ làm nhiệm vụ tạm thời, nhằm bảo vệ an ninh cho 2 căn cứ quan trọng phục vụ chiến dịch Sấm Rền.

Trong 2 ngày kế tiếp, phần còn lại của lữ đoàn đổ hết quân xuống Biên Hòa. Lính dù nhanh chóng bắt tay vào việc xây dựng doanh trại và tập thích nghi dần với cái nóng ngột ngạt, ẩm thấp của miền nam VN. Họ cũng bắt đầu tuần tiễu xung quanh căn cứ không quân, quét sạch quân nổi dậy ra khỏi khu vực và tiếp tục công tác huấn luyện.

Tướng Williamson cũng chấp nhận thực tế rằng, tuy đây là đơn vị dù, nhưng hầu như sẽ phải cơ động khắp vùng trách nhiệm bằng máy bay trực thăng. Tiểu đoàn trực thăng 145 (145th Aviation Battalion) sẽ đáp ứng nhu cầu đường không cơ bản cho lữ đoàn.

Williamson buộc phải công nhận những bài huấn luyện cơ động không vận mà lữ đoàn đã thực hiện suốt 2 năm qua là rất bổ ích nhưng ko có giá trị thực tế. Ông nhanh chóng thực hiện tập luyện cơ động đường không ngay trong điều kiện thực tế chiến đấu mới.

Đơn vị vừa tới VN 2 tuần, Williamson đã ghi chú: “Chúng tôi bắt đầu huấn luyện trực thăng vận. Thoạt đầu chúng tôi chỉ tập kỹ thuật “bay vào và thoát ra”. Theo những người liên quan thì đây là hành động quan trọng. Bay vào và bay ra 1 cách nhanh chóng, vận động càng nhanh càng tốt đúng hướng ra khỏi bãi đáp. Những hoạt động này sẽ được thực hiện sau khi hỏa lực quân ta oanh tạc dọn bãi.”

Thực tế chiến trường đã giội cho lữ đoàn 1 gáo nước lạnh ngay khi họ vừa tới nam VN. Ngày 22 tháng 5 năm 1965, 1 tiểu đội “Thiên Binh” đang cắt rừng khi đi tuần tiễu gần ngay căn cứ không quân Biên Hòa thì vướng vào mìn bẫy VC. Vụ nổ khiến cho 1 lính dù bị mảnh găm vào cổ. Anh này đã trở thành nhân vật đặc biệt khi được vinh hạnh là thương vong đầu tiên của lữ đoàn trong chiến tranh VN.

Buổi chiều cùng ngày, 1 lính dù khác thuộc tiểu đoàn 1, trung đoàn 503 đã bị thương do viên đạn M79 anh ta bắn nổ quá gần.

2 người lính trẻ tuổi này đã nối dài danh sách những lính nhảy dù đã đổ máu cho tổ quốc khi phục vụ trong trung đoàn 503 bộ binh dù là tiền thân của nó.


 





Chương 2
Những năm đầu tiên





Tướng Williamson sử dụng những ngày còn lại của tháng 5 để lữ đoàn thích nghi với miền nam VN. Dù cho các “Thiên Binh” đã trải qua 2 năm huấn luyện với đủ kiểu khí hậu ở Tây và Tây Nam Thái Bình Dương, nhưng họ chưa được chuẩn bị gì để đối phó với VN. Thời tiết ở đây chỉ dao động 2 kiểu như 1 câu nói đùa sau: “Từ nóng, ẩm để rồi chuyển sang nóng, ẩm hơn nữa.” Nhiệt độ ban ngày dao động quanh khoảng 33 độ, độ ẩm trên 90%. Có 1 mùa khô và 1 mùa mưa.

Địa hình xung quanh Biên Hòa, nơi lữ đoàn 173 không vận hoạt động, là 1 sự kết hợp của những cánh đồng lúa và rừng rậm. Những cánh đồng lúa trải dài đến hàng dặm ở 1 số khu vực chỉ bị chia cắt bởi những đám cây bụi mọc lộn xộn. Trong những khu vực khác thì lại là rừng già rậm rạp hầu như ko thể đi qua được. Tầm nhìn ở trong đó bị giới hạn giảm xuống còn vài mét. Rừng chính là nơi lý tưởng để VC tổ chức phục kích.

Suốt tháng 5, các tiểu đội, trung đội, đại đội của lữ 173 tiến hành tuần tiễu ngày càng xa hơn, đi sâu vào những khu rừng xung quanh căn cứ không quân. Những thứ họ được huấn luyện mấy năm trước tuy vô giá những vẫn ko thể so với kinh nghiệm thu lượm được trong thực tế chiến đấu. Lúc này, sai lầm đều phải trả giá bằng mạng sống. Lính trong các đơn vị bộ binh thì muốn càng ít phạm sai lầm càng tốt.

Trong hầu hết các đơn vị của lữ 173, các tiểu đội trưởng và binh sĩ đều đang ở lứa tuổi 18, 19. Vì nhiều lý do cá nhân, họ đã tình nguyện tham gia khóa huấn luyện lính dù gian khổ dài 3 tuần ở căn cứ Fort Benning, nhưng đều thừa nhận rằng điều cốt lõi đã thúc đẩy họ là máu phiêu lưu và mong muốn được phục vụ cùng những người giỏi nhất.

Cấp bậc cao hơn lính thường, là các hạ sĩ quan cấp trung đội, đại đội. Bọn họ là những lính dù chuyên nghiệp, và cũng mong mỏi được đi chiến đấu như những chàng trai trẻ mà mình phụ trách. Nhiều hạ sĩ quan thâm niên cao đã từng tham chiến trong cả chiến tranh TG thứ 2 lẫn Triều Tiên. Đây là những người lính cỡ tuổi khoảng ba mấy bốn mươi, họ chính là xương sống của các đơn vị quân đội. Khả năng lãnh đạo kết hợp với am hiểu về quân sự đã truyền cảm hứng và mang lại danh tiếng cho đơn vị. Những người phục vụ trong lữ 173 chính là những binh sĩ giỏi nhất mà lục quân đã chọn lựa.

Những sĩ quan cấp cơ sở, ở các trung đội, đại đội chính là những con người sắc xảo nhất trong quân ngũ. Họ khỏe mạnh, thông minh, được giáo dục tốt, rất tự hào khi là lính dù. Các trung úy, đại úy trong lữ đoàn 173, phần lớn chỉ nhiều hơn lính tráng vài tuổi, là những người chỉ huy xuất sắc hiếm thấy trong 1 đơn vị quân đội. Việc ganh đua để giành quyền chỉ huy trung đội, đại đội diễn ra rất khốc liệt trong khi hạn mức chỉ huy của 1 sĩ quan cấp thấp chỉ có 6 tháng. (Cơ hội thăng tiến.ND)

(Dù nhằm mục tiêu tốt, nhưng cả với sĩ quan cấp tiểu đoàn, chính sách này gây ra nhiều vấn đề khi kết hợp với chính sách của MACV, là cho lính trở về Mỹ sau kỳ hạn 12 tháng phục vụ tại VN. [ giả sử người đó ko bị sơ tán về trước do bị thương nặng]. Chính sách chỉ huy trong 6 tháng khiến cho hiếm có đơn vị nào có được sĩ quan được nắm quyền chỉ huy lâu hơn. Chính vào lúc người sĩ quan vừa tích lũy được kinh nghiệm và chỉ huy hiệu quả, thì anh ta lại bị đổi đi. Sau đó sẽ là 1 sĩ quan mới non kinh nghiệm đến thay. Việc thay đổi này đã làm đảo lộn những thứ lính tráng được rèn luyện 6 tháng trước đó. Đây cũng là vấn đề rắc rối của các đơn vị tham mưu ở nam VN. Khi mà 1 sĩ quan tham mưu bắt đầu làm việc hiệu quả thì anh ta lại chuyển đi. Ở mọi cấp chỉ huy, từ tiểu đội súng trường cho đến lữ đoàn trưởng, các bài học bổ ích trong chiến đấu sẽ cứ phải học đi học lại, và lính Mỹ sẽ phải đổ máu vô ích bởi quá trình này.)


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 14 Tháng Tư, 2014, 09:53:03 AM
Các sĩ quan trung cấp trong lữ đoàn 173, các trung tá, thiếu tá, cũng là những người xuất sắc. Tận tụy phục vụ binh chủng nhảy dù, những người này đã nhiều lần chứng tỏ họ ko những là những vị chỉ huy đơn vị toàn tài mà còn là các sĩ quan tham mưu tuyệt vời.

Khi tướng Williamson cảm thấy lữ đoàn của mình đã sẵn sang, ông tung ra cuộc hành quân lớn đầu tiên. Dù sứ mạng bảo vệ căn cứ không quân có nghĩa là phòng ngự. Ông ko chịu được việc cứ phải ngồi 1 chỗ chờ VC tập kích. Williamson đã chuyển sang tiến công, với sự hậu thuẫn nhiệt tình của tướng Westmoreland. Ông lý luận rằng nếu đánh cho đối phương điên đảo, thì khả năng tấn công của chúng sẽ ít đi.

Ngày cuối cùng của tháng 5, Williamson phát động 1 cuộc hành quân kéo dài 4 ngày. Lính dù đáp trực thăng tấn công 3 mục tiêu 1 lúc. Họ chỉ gặp kháng cự nhẹ và có mức thương vong thấp. Dù lính dù chưa trải qua kinh nghiệm giao tranh ác liệt, chiến dịch đầu tiên tại nam VN này cũng đã khiến những “Thiên binh” trở nên tự tin hơn.

Lữ đoàn 173 lúc này được tăng cường sức mạnh bằng 1 tiểu đoàn cơ động thứ 3. Tướng Westmoreland đã phối thuộc cho nó tiểu đoàn 1, trung đoàn Hoàng gia Úc ((1/RAR) khi đơn vị này đến VN ngày 10 tháng 6 năm 1965. Thành phần chủ yếu của nó là các cựu binh vừa chiến đấu ở Malaysia về. Tiểu đoàn 1/RAR mang theo cả công binh, xe bọc thép chở quân, máy bay trực thăng và pháo binh cơ hữu. Việc quân Úc tới bổ sung đã khiến cho tướng Williamson có thêm 1 cú đấm mà ông đang rất cần để truy kích VC.

Lữ đoàn 173 cùng 1 trung đoàn bộ binh và 2 tiểu đoàn dù VNCH đã tấn công vào chiến khu D khét tiếng bằng đường không cuối tháng 6. Đây là lần đầu tiên trong suốt hơn 1 năm lực lượng đồng minh mới mạo hiểm tiến vào khu vực do VC kiểm soát này ngay phía bắc Sài gòn. Ngay khi trực thăng đáp xuống, hầu hết các lính dù kinh nghiệm đều tỏ ra rất bình tĩnh. Suốt cả ngày các “Thiên binh” tích cực càn quét và phát hiện rất nhiều hàng tiếp tế của địch. VC chỉ tới đánh thăm dò chu vi phòng thủ của lính dù khi đêm xuống.

Tới đầu tháng 7, lữ đoàn hoạt động ở đầu phía nam chiến khu D, trong khi trung đoàn 48 bộ binh VNCH đóng vai trò chốt chặn. Lính dù bắt đầu đụng độ với VC có quân số đông hơn những lần gặp trước. Những đại đội lính VC mặc quân phục lần này quyết tâm bảo vệ khu căn cứ của họ. Họ chiến đấu rất quyết liệt cho đến khi buộc phải rút lui do hỏa lực áp đảo của quân Mỹ.

Ngày thứ 4 của chiến dịch, tiểu đoàn 1, trung đoàn 503 tràn ngập 1 căn cứ lớn của VC, có thể chứa tới 2000 người. căn cứ được xây dựng khá kỳ công, có cả hội trường và lớp học. Lính dù thu được hơn 1 tấn tài liệu của đối phương, cùng hàng chục vũ khí, hàng tấn gạo và bắt được 28 tù binh.

Tháng 8 năm 1965, lần đầu tiên lữ 173 tiến hành càn quét bên ngoài khu vực Biên Hòa. Ở tỉnh Kom Tum, cách Sài Gòn khoảng 300km, tiếp giáp biên giới Lào và Campuchia, biệt kích Mỹ đã thiết lập ra 1 loạt các trại biệt lập. Các trại này gồm có lính địa phương đồn trú và hoạt động dưới sự chỉ huy của 1 số lính mũ nồi xanh. Các trại này đóng vai trò như những vọng tiêu cảnh báo sớm nhằm phát hiện sự xâm nhập của VC và quân chính quy Bắc Việt từ đường mòn Hồ Chí Minh xuống. Lính biệt kích cùng và những lính Dân sự chiến đấu (CIDG) đã hoạt động rất hiệu quả ở vùng Cao nguyên trung phần thuộc tỉnh Kon Tum, và vòa lúc này, quân địch đang gia tăng áp lực lên những cái trại đó.

Một trong số những trại ấy là Đức Cơ, nằm lẻ loi phía tây Pleiku, đã bị đánh mạnh. 1 trung đoàn quân tiếp viện của VNCH đã được điều tới đó. Chưa tới được Đức Cơ thì đơn vị này đã lập tức phải giao tranh ác liệt với Quân Bắc Việt, Bộ chỉ huy VNCH muốn gửi thêm quân đến nhưng cũng biết rồi sẽ mất nốt họ trừ phi đường rút quân là đèo Thanh Binh (?) được giữ vững.

Lữ đoàn 173 được giao nhiệm vụ giữ con đèo quan trọng này. Hầu hết lữ đoàn đã chuyển lên phía bắc vào đầu tháng 8. Ngày 17-18/8 , trong tuần đầu tiên của chiến dịch, lính dù đã tiến hành rất nhiều cuộc tấn công trực thăng vận để ngăn chặn quân địch. Đến khi quân VNCH đã rút được về thì lữ 173 di chuyển tới Pleiku. Những ngày còn lại của tháng lữ đoàn tiến hành công tác tìm và diệt trong khu vực.

Về lại Biên Hòa,  nhưng lữ đoàn chỉ được nghỉ ngơi chút ít rồi lại phải quay lại chiến khu D. Tình báo của MACV đã xác quyết rằng có một số tiểu đoàn địch đang hoạt động trong khu vực, nhưng trong thực tế thì xảy ra rất ít đụng độ. Dù vậy, chiến dịch vẫn được đánh giá là thành công. Trong khi càn quét, lính dù đã phát hiện 1 số lượng lớn vũ khí, đồ tiếp tế và các tài liệu có giá trị. Chỉ riêng đại đội Charlie, tiểu đoàn 1, trung đoàn 503 đã tìm thấy 62 súng trường có trang bị kính ngắm bắn tỉa, 450 lựu đạn, 3 chục điện đài.

Công việc tiếp theo của lữ 173 là khu Tam giác sắt, 1 nơi ghê gớm và huyền bí. Nằm cách Sài Gòn 30km về phía Bắc. Vùng Tam giác sắt ở vào phía Tây Bến Cát, chắn ngang quốc lộ 13. Nhiệm vụ của lữ đoàn là càn quét, ko cho địch hiện diện ở khu vực lân cận với căn cứ tương lai của sư đoàn 1 bộ binh trước khi đơn vị này từ Mỹ qua.

Đây là 1 nhiệm vụ gần như bất khả thi với lữ đoàn. Tam giác sắt là lãnh thổ kiên cố của VC trong suốt nhiều năm qua. Trong thời gian đó quân nổi dậy đã biến khu rừng rậm rạp rộng 50 dặm vuông chở nên 1 thành trì vững chắc bậc nhất toàn miền nam VN. Do rừng quá dày khiến VC ko thể xây dựng những doanh trại lớn nên họ đã phải đào 1 hệ thống địa đạo hết sức tinh vi, phức tạp trong vùng tam giác sắt. Trong hệ thống địa đạo, VC có đủ trạm xá, phòng học, kho tàng, cơ quan. Quân địch đã gài hàng ngàn mìn bẫy để ngăn lính VNCH và quân Mỹ đánh vào vùng tam giác sắt. Điều đáng sợ là tiếng dữ của vùng Tam giác sắt đã khiến cho trong suốt hơn 3 năm trời ko có 1 đơn vị VNCH dám bén mảng tới.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 15 Tháng Tư, 2014, 09:28:39 AM
Trận càn của lữ đoàn 173 vào vùng Tam giác sắt bắt đầu ngày 8 tháng 10 năm 1965. Sau các đợt oanh kích dữ dội của pháo binh, máy bay B-52, những đợt không kích của máy bay phản lực chiến đấu, các đơn vị của lữ đoàn bắt đầu tiến công vào vùng Tam giác sắt. Tiểu đoàn 1, trung đoàn Hoàng gia Úc đổ quân xuống bãi đáp ở cạnh phía bắc vùng này, ở giữa Bến Cát và Bến Súc, cách phía tây sông Sài Gòn  khoảng 12km. Họ tiến xuống phía nam, hội quân với cả tiểu đoàn 1/503 và tiểu đoàn 2/503 từ các bãi đáp phía nam Bến Súc tiến đến. Sau đó 3 tiểu đoàn bộ binh sẽ tiến sang phía đông và phía nam, quét sạch VC phía trước mặt họ và đuổi quân địch ra khỏi vùng Tam giác sắt.

Ko hề hay biết về chiến thuật của VC, MACV mặc nhiên coi đòn đánh táo bạo vào vùng Tam Giác sắt này là 1 chiến thắng tuyệt vời. Tướng Williamson báo cáo: “Không còn Tam giác sắt nữa. Tam giác sắt giờ… đã bị phá hủy. Thêm 1 cứ điểm nữa của đối phương đã bị loại trừ.”

Theo những gì lữ đoàn đã trải qua trong chiến dịch kéo dài 1 tuần này, thì phát biểu của tướng Williamson là hoàn toàn hợp lý. Thật không may là ông ta đã sai lầm. Sự thật là vùng tam giác sắt sẽ vẫn mãi là cái gai đâm vào sườn quân đồng minh suốt thời gian chiến tranh. Hết chiến dịch này đến chiến dịch khác, họ đã đánh vào vùng Tam giác sắt, nhưng ko sao vô hiệu hóa được nó và nó vẫn là 1 thành trì của VC.

Lữ đoàn 173 không vận được phối thuộc cho sư đoàn 1 bộ binh mới tới ngày 1 tháng 11 năm 1965. 2 đơn vị cùng tiến hành 1 chiến dịch khác trên vùng chiến khu D. Chiến dịch có tên là Hump, 1 thuật ngữ mà lính Mỹ ở miền namVN dùng để miêu tả các cuộc tuần tiễu của họ dưới ánh mặt trời thiêu đốt. Lữ đoàn hoạt động ở phía bắc sông Đồng Nai, cách Biên Hòa khoảng 25km về phía Bắc. Đây là lần ra quân lớn nhất và tai hại nhất của lữ đoàn trong suốt 5 tháng vừa qua ở nam VN.

Chiến dịch Hump bắt đầu từ ngày 5 tháng 11. Gần như các “Thiên Binh” đều thấy ngay rằng chiến dịch lần này đã khác hẳn mọi khi. Ở nhiều chỗ, VC đã trụ lại và chiến đấu. Hiếm thấy đơn vị nào của họ mà lại tránh đụng độ.

Thành quả của các trận giao tranh là đã xác định được 1 lực lượng lớn địch quân nằm cách nơi đặt sở chỉ huy của tiểu đoàn 1, trung đoàn503, 3km về phía tây. Các cuộc thám sát trong khu vực đã xác nhận sự hiện diện của đối phương. Sáng ngày 8 tháng 11, đại đội Charlie, tiểu đoàn 1/503, từ chỗ đóng quân ban đêm tiến ra. Sau đó đến lượt đại đội Bravo. Đại đội Alpha và tiểu đoàn bộ thì ở lại nơi đóng quân dã ngoại. (trận này tài liệu ta gọi là trận Đất Cuốc. ND)

Đại đội Charlie đang di chuyển men theo rìa điểm cao 65, thì bất ngờ hàng tràng súng tự động xé toang đội hình trung đội đi đầu. Trong khi các lính dù đang kêu gào đau đớn do sức công phá kinh hoàng của đạn súng máy đối phương, những người chưa dính đạn vội lao xuống ẩn nấp ở bất cứ chỗ nào có thể. 2 trung đội súng trường kia cố gắng tiến lên để hỗ trợ cho trung đội dẫn đầu. Trung đội hỏa lực đặt cối 60mm, nhưng tán rừng rậm rạp trên đầu khiến đạn dội ngược lại và chúng trở nên vô dụng. Thay vào đó các thành viên của trung đội này lại phải lập ra 1 vị trí phòng thủ để chăm sóc thương binh.

Trong khi ghìm chặt đại đội Charlie, VC bắt đầu thực hiện chiến thuật vận động có hiệu quả cao khi đối phó với quân thù sau đó và trong suốt cuộc chiến của mình. Họ bắt đầu đánh thọc sườn cái đơn vị đang bị cô lập, cố gắng bao vây cắt rời nó khỏi quân tăng viện.

Kế hoạch của đối phương có thể đã thành công nếu ko có sự phản ứng mau lẹ của trung tá John Tyler, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1/503. Ông này lập tức gửi ngay đại đội Bravo đến cứu Charlie. Họ đến vừa kịp để chặn ko cho kẻ địch bao vây đại đội Charlie. Dù vậy, đại đội Bravo cũng nhanh chóng bị cuốn vào 1 trận đánh khốc liệt.

Để tránh bị sát thương do phi, pháo quân Mỹ, VC “bám chặt” các “Thiên Binh”, gần đến nỗi chỉ cách chu vi phòng thủ của họ từ 10 đến 20 mét. Với cự ly gần như thế đạn nhọn của VC nã tới tấp xuống đầu những lính dù đang mắc kẹt.

Trong chốc lát, cả 2 đại đội đều đã phải đánh giáp lá cà với quân địch. Lựu đạn được ném ở khoảng cách rất gần. Lính 2 bên cầm dao găm xông vào nhau. Súng M16 và M60 phải bắn nhiều đến nỗi nòng chúng nóng đỏ và biến dạng. Đây là 1 trận đánh man rợ trong rừng rậm, không bên nào khoan nhượng bên nào.

Trung tá Tyler buộc phải tung đại đội Alpha để cứu 2 đại đội kia khỏi thảm bại. Hai bên đánh nhau suốt cả ngày. Quân địch áp sát lính nhảy dù gần đến nỗi hỏa lực yểm trợ của tiểu đoàn 3, trung đoàn pháo binh 319 đều rớt xuống sau lưng địch. Việc này lại khiến người ta hy vọng sẽ khóa chặt được VC giữa hàng rào pháo binh và lính dù. Quân địch tiến công hết đợt này tới đợt khác vào chu vi phòng thủ của các “Thiên binh”, lính dù gào thét dùng hỏa lực mạnh đáp trả. Những lúc giao tranh tạm lắng xuống, lính dù bố trí lại quân, nhặt nhạnh đạn dược từ những người chết và chuyển thương binh đến trạm sơ cứu.

Đến chiều tối trận đánh mới chùng xuống. Dù cho những lính dù đã chiến đấu rất dũng cảm nhưng giao tranh chỉ chấm dứt khi VC tự rút khỏi chiến trường. Tuy thế suốt đêm lính dù vẫn bị những phát súng lẻ tẻ bắn quấy rối, nhưng địch quân đã đi thoát.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 16 Tháng Tư, 2014, 08:37:03 AM
Cái cưa máy đầu tiên được trực thăng thả xuống chỗ các đại đội đang lo âu khắc khoải lúc trời vừa tảng sáng. Những cái cây cao hàng 60 mét, đường kính gần 2m bị đốn ngã để tạo ra bãi đáp vừa đủ cho 1 chiếc trực thăng. Chiếc đầu tiên chở theo tướng Williamson. Ông ở lại trên mặt đất giám sát việc tản thương, rồi ngày hôm sau hành quân bộ cùng những người sống sót rời khỏi khu vực.

Sau đó tướng Williamson kể lại cho các phóng viên về những xác đối phương mà ông thấy, mặc quân phục màu xám, áo khoác xanh lá, đội mũ sắt, đeo ba lô. Williamson nói “kẻ địch có công sự kiên cố trong rừng, chúng cứ ở trong đó và bắn ra. Chúng tôi đã phải đánh giáp lá cà với chúng. Không nghi ngờ gì nữa, đây chính là 1 đơn vị quân chủ lực.”

Williamson nói đúng. Các thông tin sau đó đã xác nhận đối thủ của lữ 173 là 1 đơn vị Quân Bắc Việt, trung đoàn Q-761 (Ko chính xác! đơn vị này là tiểu đoàn 3, trung đoàn 1, sư đoàn 9. ND). Đây là lần đầu Quân Bắc Việt chiến đấu ở miền nam VN và đó ko phải là lần cuối cùng.

Quân Bắc Việt để lại 110 xác quanh điểm cao 65. 50 “Thiên binh” chết trong trận đánh. 82 người khác bị thương. Lữ 173 phải nếm đòn đau nhưng đã làm tròn bổn phận. 

Các cuộc hành quân tại chiến khu D tiếp diễn cho đến hết năm. Ngày 22 tháng 12 năm 1965, lữ đoàn trở về Biên Hòa để dự lễ Giáng Sinh đầu tiên tại VN.

Tết Dương lịch năm 1966, lữ đoàn lại lên đường truy kích kẻ thù. Lần này họ tiến về phía nam và phía Tây Biên Hòa, hướng đến vùng châu thổ sông Mekong và khu vực đầm lầy giáp giới Campuchia được gọi là vùng đồng Tháp Mười. Họ không gặp khó khăn gì trong việc tìm kiếm VC. Hầu hết mỗi lần lính dù nhảy ra khỏi máy bay trực thăng Huey, là chạm địch ngay. Phần lớn chỉ là những trận đụng độ nhẹ, nhưng cũng có những lần xảy ra giao chiến ác liệt. VC cũng sử dụng chiến thuật giống Quân Bắc Việt đã dùng hồi tháng 11. Họ đánh thọc sườn những đơn vị đang bị cô lập và đến khi quân Mỹ gọi pháo và máy bay đến oanh kích, thì áp sát chu vi phòng thủ của lính dù, khiến cho hỏa lực áp đảo của Mỹ bị giảm tác dụng.

Trong trận càn kéo dài 1 tuần, lữ đoàn 173 đã đánh tan tiểu đoàn 267 và tràn ngập sở chỉ huy tiểu đoàn 506 VC. Lữ đoàn nổi lên là đơn vị quân Mỹ đầu tiên đã từng chiến đấu trên 3 vùng chiến thuật khác nhau của nam VN.

Gần như ngay khi vừa trở lại Biên Hòa, các “thiên binh” lại phải tiến hành các cuộc hành binh khác. Lần này họ truy đuổi bộ chỉ huy của quân khu 4 VC trong rừng Hố Bò, tỉnh Bình Dương. Một lần nữa lữ đoàn 173 lại được đặt dưới quyền chỉ huy của sư đoàn 1 bộ binh. Đơn vị đã đưa cả 3 tiểu đoàn tham gia tấn công bằng đường không. Cả 3 bãi đáp đều ‘nóng’. Họ đụng độ liên tiếp với địch quân ở khoảng cách gần. Các đại đội tỏa ra đi vào các cánh rừng rậm rạp. Lính dù phát hiện 1 căn hầm lớn cùng 1 hệ thống địa đạo tỏa ra khắp khu vực.

Những địa đạo bị những lính tình nguyện đặc biệt gọi là “chuột địa đạo” lục soát. Vũ trang bằng 1 khẩu súng lục và 1 cái đèn bin, những người lính can đảm sẽ dò dẫm trong địa đạo để tìm kiếm quân địch. Khi xong việc, địa đạo sẽ bị thuốc nổ đánh sập.

Khi lính dù rời khỏi rừng Hố Bò ngày 14 tháng giêng, họ tịch thu được hàng trăm vũ khí, trong đó có cả 1 số súng phòng không 12,7mm.

Trong những ngày còn lại của tháng 1 và tháng 2, lữ đoàn hành quân tìm và diệt cấp trung đội, đại đội ở vùng lân cận. Cuối tháng 2 ở lữ đoàn đã diễn ra sự thay đổi lớn về chỉ huy. Tướng Williamson, người thành lập và là tư lệnh đầu tiên của lữ đoàn 173 không vận đã phải bàn giao quyền chỉ huy 1 cách bất đắc dĩ. Trong nhiệm kỳ của mình, Williamson đã xây dựng lữ đoàn thành 1 trong những đơn vị hiệu quả nhất của quân đội Mỹ. Nhưng thời gian của ông đã hết. Chiếc lon thiếu tướng đang chờ ông tại bộ chỉ huy đóng tại căn cứ Fort Polk, Louisiana.

Chuẩn tướng Paul F. Smith tới thay cho Williamson. Smith là  lính dù từ những ngày đầu tiên trong chiến tranh thế giới 2, ông ta đã nhảy xuống Normandy vào ngày D, rồi nhảy dù vượt sông Rhine cùng trung đoàn dù 507 tháng 3 năm 1945. Sau chiến tranh ông làm hiệu trưởng trường nhảy dù tại căn cứ Fort Benning và chỉ huy chiến đoàn dù 504 đóng ở Đức.

Tướng Smith tới nhận quyền chỉ huy ngay lúc lữ đoàn 173 chuẩn bị càn vào chiến khu D 1 lần nữa. Lúc đầu 3 tiểu đoàn tiến tới các khu vực gần các bãi đáp rồi tiến ra các con đường mòn. Trong 4 ngày đầu, các “Thiên binh” thường xuyên đụng độ với các toán quân nhỏ VC. Đôi lúc hai bên có bắn qua bắn lại, còn lúc khác thì VC né tránh lính dù và biến vào trong rừng. Trong chiến dịch, tiểu đoàn 2 trung đoàn 503 đã gặp phải đụng độ nhỏ khi đang thiết lập chu vi phòng thủ chiều tối ngày 15 tháng 3 năm 1966. Các chốt tiền tiêu đã được bố trí để có thể cảnh báo các hoạt động của đối phương.

Một đêm yên tĩnh trôi qua. Vào sáng hôm sau, khi các chốt tiền tiêu quay về chu vi phòng thủ, 1 trung đội thuộc đại đội Bravo, tiểu đoàn 2/503 tiến hành tuần tiễu như mọi khi nhằm tìm kiếm bằng chứng về sự hiện diện của đối phương trước khi tiểu đoàn di chuyển. Cùng lúc đó trực thăng chở đồ tiếp tế cũng đáp xuống chu vi phòng thủ.

Khi chiếc Huey sắp tiếp đất thì từ trong rừng xung quanh hàng tràng đạn súng tự động bắn tới. Chiếc trực thăng rơi ngay vào chu vi phòng thủ. Toán tuần tiễu của đại đội Bravo bị mắc kẹt giữa 2 lằn đạn. Chỉ trong chốc lát hầu hết thành viên của nó đều thương vong.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 17 Tháng Tư, 2014, 08:59:54 AM
VC phát độngcác cuộc tấn công vào các đại đội Alpha và Charlie, đây là điều ít khi thấy quân du kích thực hiện. Giao tranh ác liệt đến nỗi các thương binh cũng được cấp vũ khí và đưa ra lại tuyến phòng thủ. Sau khi đẩy lùi đợt tấn công đầu tiên, lính dù chuyển đến các vị trí có thể chiến đấu tốt hơn. Ngay khi họ vừa mới ổn định vị trí, VC lại từ trong rừng ùa ra.

Trận đánh tiếp tục đến hết ngày. Pháo binh Mỹ dập xuống ngay rìa chu vi phòng thủ, diệt hàng chục lính VC. Nhưng đối phương vẫn đánh mạnh, cố tìm ra 1 điểm yếu nhưng ko thành công. Lính dù vẫn trụ vững cho đến khi đêm xuống và VC rút lui để lại trong rừng hơn 100 xác đồng đội.

Sau trận càn này vào chiến khu D, những tháng sau đó lữ đoàn 173 chuyển tới vùng chiến khu C. Thời gian này có hàng tuần có những đơn vị của lữ 173 ko hề chạm địch, trong khi những đơn vị khác dường như gặp phải VC liên miên. Lính dù có những khi phải đi hành quân dã ngoại hàng tuần. Cũng có khi 1 hay 2 đại đội lên máy bay trực thăng rời Biên Hòa vào sáng sớm, bay tới bãi đáp đã định, nhảy ra, càn quét khu vực rồi về lại Biên Hòa trước khi trời tối. Tại đây họ được ăn nóng, xem phim, ngủ trên giường trong các nhà lính làm bằng gỗ. Nó giống như 1 cuộc chiến “đánh rồi về nghỉ” vậy.

Do quân Úc đã gần kết thúc kỳ hạn 1 năm của mình ở nam VN (Phía Úc luân chuyển toàn bộ đơn vị tới và rút khỏi VN chứ ko phải từng người như Mỹ), cần phải tìm quân thay thế cho bọn họ. Lục quân chẳng cần tìm đâu xa ngoài căn cứ Fort Campbell, Kentucky.

Cái căn cứ trải dài giữa ranh giới 2 bang Kentucky-Tennessee chính là nhà của sư đoàn dù 101 danh tiếng. Một trong số các lữ đoàn của nó đã tới VN ngay sau lữ 173. Sư đoàn 101 lấy ra 1 tiểu đoàn chuyển qua cho lữ 173, từ đó lục quân chỉ còn còn 1 sư đoàn dù làm nhiệm vụ trừ bị trên cả thế giới là sư đoàn 82 dù đóng tại Fort Bragg.

Tiểu đoàn 1, trung đoàn dù 506, được chọn ngày 1 tháng 4 năm 1966. 1 khóa huấn luyện nâng cao lập tức được thực hiện để chuẩn bị cho tiểu đoàn ra chiến trường. Trọng tâm là chiến thuật cho các đơn vị nhỏ, chú ý đến bồi dưỡng huấn luyện nâng cao cho các sĩ quan cấp thấp. Lục quân đã nhận ra rằng giao tranh ở cấp trung đội, đại đội xảy ra chủ yếu  trong cuộc chiến ở nam VN. Những cuộc tập trận lớn với qui mô tiểu đoàn, trung đoàn đã lùi vào dĩ vãng. Những trung úy, đại úy nào không đáp ứng được những tiêu chuẩn khắt khe của trung tá Michael D. Healey, (“Iron Mike” Healey là người sau này sẽ là liên đoàn trưởng liên đoàn 5 biệt kích) chỉ huy tiểu đoàn 1/506 đề ra sẽ lập tức bị thay ngay. Healey đã vét sạch những sĩ quan và hạ sĩ quan ưu tú nhất trong sư đoàn 101. Ông dễ dàng kiếm được những người tình nguyện gia nhập tiểu đoàn mình.

Tiểu đoàn 1/506 được đổi tên thành tiểu đoàn 4/503 trước khi rời Kentucky. Tháng 5 năm 1966, tiểu đoàn lên quân vận hạm sang miền nam VN và chính thức tới Biên Hòa ngày 25/6/1966.

Lữ đoàn 173 không vận mà họ gia nhập giờ đã khác hẳn cái đơn vị rời Okinawa tới đây 13 tháng trước. Dù nó vẫn là 1 đơn vị cứng, đáng tự hào, chỉ còn rất ít những thành viên thủa ban đầu còn ở lại. Những người sống sót sau kỳ hạn phục vụ 1 năm đều đã rút khỏi chiến trường VN. Rất hiếm khi những bài học mà họ thu được trong 12 tháng chiến đấu được truyền cho đám lính mới hay còn gọi là “bọn chíp con - cherries. ND” Các lính dù mới đến sẽ phải học hỏi lại từ đầu.

Suốt hè tới đầu thu năm 1966, lữ đoàn vẫn hoạt động quanh vùng Biên Hòa. Các chiến dịch lớn sau đó đến vào tháng 11 khi các tiểu đoàn 1,2 trung đoàn 503 tham gia cùng sư đoàn 1 bộ binh; lữ đoàn 3, sư đoàn 4 bộ binh; lữ đoàn bộ binh nhẹ 196 tiến hành chiến dịch Attleboro. (tiểu đoàn 4/503 đang hành quân với Thủy quân lục chiến quanh Đà Nẵng trong suốt tháng 10 và tháng 11). Thoạt đầu lữ đoàn 196 đang hành quân trong 1 chiến dịch tìm và diệt hồi tháng 9 trong khu vực VC kiểm soát ở phía đông và bắc Tây Ninh. Khi sức kháng cự của VC gia tăng, thì lính Mỹ được đổ thêm vào để tham chiến.

Đến tháng 11 thì đã có 20.000 quân đồng minh được đưa vào trận chiến, đây là 1 con số kỷ lục. Địch quân được xác định là sư đoàn 9 VC và trung đoàn 101 Quân Bắc Việt, cả 2 đều được xem là những đơn vị giỏi. Họ đang bảo vệ cái mà tình báo Mỹ khẳng định đó là 1 trung tâm đầu não của VC chỉ huy các hoạt động nổi dậy ở nam VN và cơ quan trung ương cục của mặt trận giải phóng dân tộc miền nam VN.

Dù lực lượng đồng minh công bố đã giết được 1.100 địch trong trận càn Attleboro (số lượng do đếm xác và qua chất vấn 1 số thường dân, nhân viên quân sự các cấp), họ đã ko đạt được những mục tiêu đề ra. Đối phương vẫn kiểm soát được khu vực này. Do đó MACV đã lên kế hoạch cho 1 chiến dịch lớn diễn ra ngay đầu năm mới để xác định và tiêu diệt văn phòng trung ương cục.

Trong tháng 11 năm 1966, 1 thay đổi khác đã xảy ra với lữ đoàn 173. Thay đổi này đã tăng sức mạnh cho đơn vị làm nó trở thành 1 lực lượng ghê gớm. Mặc dù đã được huấn luyện nhảy dù và tấn công không vận, lữ đoàn 173 ngày càng được tin cậy trong chiến thuật trực thăng vận. Địa hình miền nam VN cùng với việc kẻ địch mưu mẹo luôn lẩn tránh khiến các cuộc đột kích bằng quân nhảy dù ko còn nữa thay vào đó là tấn công cơ động bằng trực thăng và dần dần nó đã trở thành chiến thuật tác chiến hiện đại.

Kể từ khi đến chiến trường, việc cơ động đường không của các “Thiên binh” đều nhờ tiểu đoàn trực thăng độc lập 145 hỗ trợ. Các phi công trực thăng của tiểu đoàn 145 ở trong số những tay lái dũng cảm và liều lĩnh nhất miền nam VN. Họ luôn làm hết khả năng hỗ trợ lữ đoàn 173 bằng mọi cách có thể. Tuy nhiên có những mối băn khoăn muốn cho lữ đoàn trở thành 1 đơn vị hoàn toàn độc lập, đáp ứng được việc triển khai càng nhanh càng tốt và có thể tự lực hoàn toàn trên chiến trường. Cách duy nhất để đáp ứng đòi hỏi này là cấp cho lữ đoàn 1 đơn vị máy bay trực thăng cơ hữu.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 18 Tháng Tư, 2014, 08:25:58 AM
Vậy nên tháng 11 năm 1966, đại đội trực thăng xung kích 335 (335th Assault Helicopter Company) đã từ căn cứ Fort Bragg tới nam VN và được chuyển giao cho lữ đoàn 173. Từ khi tới Biên Hòa, đại đội 335 ( biệt danh là: những chàng Cao bồi) đã có 1 mối gắn kết đặc biệt với lính dù. Các chàng Cowboy ko chỉ sử dụng những trực thăng Huey chở quân được trang bị nhẹ (slick) mà còn có những chiếc Huey gunship để yểm trợ hỏa lực, những trực thăng tải thương và tiếp tế cho các đại đội lính dù đóng quân dã ngoại khi cần.

Họ ko ngán bãi đáp nào, bất cứ lính dù bị thương nào cũng được coi trọng. Ko có nhiệm vụ nào mà các “cao bồi” ko tận tâm tận lực. Họ thường xuyên bay vào những nơi mà các phi công khác ko dám liều. Suốt thời gian cộng tác chung, lòng quả cảm của các phi công và phi hành đoàn đại đội trực tăng 335 đã cứu tính mạng của hàng trăm lính dù.

Sau lễ Giáng Sinh 3 ngày, lữ đoàn 173 lại thay chỉ huy trưởng lần thứ 3 kể từ khi đơn vị đến nam VN. Tháng 11 năm 1966, tướng Smith được thăng lên thiếu tướng. Smith từ vị trí chuẩn tướng đảm nhiệm chức tư lệnh lữ đoàn 173, được điều về bộ tư lệnh MACV. Tướng Westmoreland  đưa chuẩn tướng John R. Deane, Jr, sư đoàn phó sư đoàn 1 bộ binh tới thay thế.

Tướng Deane gia nhập quân đội từ tháng 7 năm 1937. Được 1 năm thì ông được gửi đi học tại West Poin, và tốt nghiệp năm 1942 với hàm thiếu úy bộ binh. Ông tham chiến cùng sư đoàn 104 bộ binh trên chiến trường châu Âu trong chiến tranh TG 2. Ông đã thăng tiến từ thiếu úy lên trung tá chỉ trong chưa tới 3 năm.

Khi Deane tới VN lần đầu tháng 2 năm 1966, ông là tham mưu trưởng rồi tư lệnh phó lực lượng dã chiến I (I Field Force). Đơn vị này, thực chất là bộ chỉ huy cấp quân đoàn, đóng trụ sở tại Nha Trang, kiểm soát tất cả những hoạt động quân Mỹ và đồng minh trên vùng II chiến thuật, bao gồm cả Tây Nguyên. Tháng 7 năm 1966, Deane trở thành sư đoàn phó sư đoàn 1 bộ binh. Suốt 2 năm rưỡi hoạt động, Deane luôn giữ hình ảnh là 1 cấp chỉ huy giỏi giang, can đảm. Thành tích của Deane trong chiến dịch Attleboro đã giúp ông kiếm được huân chương chữ thập Distinguished Service Cross. (huân chương dũng cảm xếp hạng nhì chỉ sau huân chương danh dự.ND)

Khi tướng Deane tới nhận nhiệm vụ lữ đoàn trưởng lữ 173, bộ chỉ huy cấp trên đang lập kế hoạch cho 1 chiến dịch lớn nhất cuộc chiến tới giờ. Các “thiên binh” sẽ đóng vai trò quan trọng chiến dịch tấn công này.

Trong nỗ lực để tiêu diệt cái mà họ tin là Văn phòng trung ương cục (COSVN)- trung tâm đầu não của VC ở miền nam VN, MACV đã phát động chiến dịch Junction City. Dù chưa có bằng chứng trực tiếp về sự tồn tại của COSVN, MACV, có lẽ do ảnh hưởng từ chính cơ cấu phức tạp của mình, vẫn tin rằng quân nổi dậy ắt cũng phải có 1 hệ thống chỉ huy tương tự. Bộ tư lệnh quân Mỹ đoán COSVN đang nằm đâu đó trong chiến khu C, phía tây và bắc Sài Gòn. Nếu tiêu diệt được COSVN, sẽ là tổn thất rất lớn cho VC và qua đó giúp bảo vệ chính quyền miền nam VN.

Theo kế hoạch, chiến dịch tiêu diệt COSVN, sẽ huy động 5 lữ đoàn quân Mỹ tạo thành 1 hàng rào hình móng ngựa chặn nửa phía tây chiến khu C, bỏ ngỏ phía nam. Lữ đoàn 173 đảm nhiệm 1 phần đông bắc của móng ngựa. Khi móng ngựa đã được thiết lập, các đơn vị đồng minh sẽ tấn công lên phía bắc, dồn các lực lượng VC hay Quân Bắc Việt vào trong móng ngựa, và chặn các đường thoát sang Campuchia. Về bản chất đó là chiến thuật búa và đe cổ điển, nhưng lần này ở quy mô cực lớn.

Từ khi lữ đoàn 173 sang VN, tướng Westmoreland đã tìm kiếm cơ hội để tận dụng khả năng nhảy dù của đơn vị. Dù nó đã được xét tới trong nhiều cuộc hành quân trước, nhưng đến chiến dịch Junction City thì việc nhảy dù mới trở thành hiện thực.

Toàn bộ kế hoạch sẽ cho tiểu đoàn 2, trung đoàn 503, lữ 173, do trung tá Robert H. Sigholtz chỉ huy, nhảy dù xuống Cà Tum, 1 làng nhỏ nằm cách Tây Ninh 60km, gần biên giới Campuchia. Khi tiểu đoàn 2/503 đã xuống đất, các tiểu đoàn 1/503 và 4/503 sẽ được trực thăng vận đổ xuống phía bắc và phía nam tiểu đoàn, khóa chặt đường rút của địch.

Trong khi kế hoạch Junction City còn đang được hoàn thiện, lữ đoàn lại tham gia 1 chiến dịch ở vùng tam giác sắt. Ngày 8 tháng 1 năm 1967, dưới sự chỉ huy của sư đoàn 1 bộ binh, lữ đoàn 173 đã tiến hành chiến dịch Cedar Falls. Họ càn quét vùng tam giác sắt trong 2 tuần. Dù MACV công bố chiến dịch Cedar Falls đã thắng lợi, VC vẫn giữ được quyền kiểm soát vùng tam giác sắt.

Khi trở về Biên Hòa, lính dù bắt tay vào việc xếp dù. Nhảy cùng với tiểu đoàn 2/503 còn có pháo đội A, tiểu đoàn 3, trung đoàn 319 pháo binh, 1 tiểu đội công binh, 1 tiểu đội quân cảnh, 1 tổ tình báo kỹ thuật, thành viên lữ đoàn bộ, 1 số lính của tiểu đoàn trợ chiến 173 – tất cả gồm 845 quân. Đây là  lần đầu tiên lữ đoàn thực hiện tấn công bằng nhảy dù kể từ hồi chiến tranh Triều Tiên. Tất cả đều nhận thức được họ sẽ là tâm điểm của sự chú ý nên ai cũng muốn sẽ nhảy xuống 1 cách hoàn hảo nhất. Ngày D, 22 tháng 2 năm 1967, lúc bình minh, lính dù của tiểu đoàn 2/503 leo lên 1 phi đoàn gồm 16 chiếc C-130. Lúc 8g25, chiếc máy bay dẫn đầu cất cánh. Chẳng mấy chốc 15 chiếc kia cũng đã bay lên trời và trực chỉ hướng tây. Ít phút sau họ đã tới khu vực thả dù. Trực thăng vũ trang vừa mới hoàn tất xong việc bắn phá và rời đi khi thấy những chiếc C-130 xuất hiện phía chân trời. Một sĩ quan điều không tiền tuyến (FAC) thả 1 quả lựu đạn khói để chỉ hướng gió và tốc độ.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 21 Tháng Tư, 2014, 08:24:17 AM
Trên máy bay C-130, lính dù nghe lệnh :”Đứng dậy! Móc vào!”. Các “thiên binh “ móc cái khóa an toàn lên sợi dây cáp chạy dọc thân tàu trên đầu họ rồi tiến hành kiểm tra các thiết bị của người đứng trước. Tất cả cuối cùng đều đã sẵn sàng.

Chỉ huy nhảy hô: “ Ra cửa!”. Các lính nhảy dù dẫn đầu đều đã vào vị trí của mình, chăm chú nhìn cái đèn đỏ gắn trên khung cửa. Khi nó tắt đi và cái đèn màu xanh dưới nó bật lên thì anh ta sẽ phải nhảy ra khỏi cửa.

Đúng 9g00, đèn xanh trên chiếc máy bay dẫn đầu vẫn còn bật sáng. Tướng Deane nhảy ra khỏi cái cửa nằm bên tay phải trong khi cùng lúc, trung tá Sigholtz nhảy ra qua cửa bên trái máy bay. Các lính dù nối nhau nhảy theo. Lúc 9g20, tất cả các lính dù đều đã tiếp đất.

Chuyến nhảy dù diễn ra êm thắm. Ko thấy hỏa lực của địch. Chỉ có 11 người lính bị thương nhẹ trong khi nhảy. Các lính dù thu nhặt trang thiết bị, tìm lại đơn vị rồi nống ra bảo vệ bãi thả dù. Ai cũng cảm thấy tự hào. Họ đã thực hiện việc mà chưa đơn vị nào làm suốt 15 năm nay.

Tuy nhiên vào lúc đó họ ko hề biết rằng, họ vừa hoàn thành xong lần nhảy dù tác chiến độc nhất trong suốt cuộc chiến ở miền nam VN.

Khi tiểu đoàn 2/503 vừa nhảy xuống, trực thăng chở tiểu đoàn 1/503 và 4/503 bay rợp trời. Chúng bay tới 4 bãi đáp nằm ở phía bắc và phía nam bãi nhảy dù của tiểu đoàn 2/503. Họ cũng ko gặp hỏa lực của địch. Phần đông bắc của cái móng ngựa giờ đã xong. Các toán tuần tiễu của cả 3 tiểu đoàn tiến hành lục soát khu vực. Những đơn vị khác tiến vào chiếm lĩnh vị trí dọc theo móng ngựa. Đến 15g thì tất cả các đơn vị đóng vai trò chốt chặn đã sẵn sàng.

Sáng hôm sau, quân tấn công, gồm có trung đoàn 11 kỵ binh thiết giáp; lữ đoàn 3, sư đoàn 25 bộ binh bắt đầu đánh lên phía Bắc. Gần như ngay lập tức, họ phát hiện được các kho tàng của quân địch, nhưng ko thấy 1 lính địch nào hết.

Trận càn quét đầu tiên của chiến dịch Junction City diễn ra theo đúng kế hoạch. Đối thủ hầu như tránh né ko chiến đấu, trừ vài trường hợp ngoại lệ. Chạy trốn khỏi lực lượng từ phía nam đánh lên, đối phương khéo léo luồn qua các đơn vị đang chốt chặn. Thay vì giao chiến với địch, quân Mỹ quay ra tịch thu hàng tấn trang thiết bị, đồ tiếp tế VC bỏ lại. Lữ đoàn 173 tóm được 1 cơ quan tuyên huấn lớn của VC. Ngoài hàng chục bộ phim tuyên truyền và hàng ngàn tấm ảnh còn nguyên vẹn, còn có số lớn máy quay phim, chụp ảnh, máy chiếu cùng các thiết bị hiện đại khác bị phát hiện. Chiến lợi phẩm được phân phối 1 cách công bằng, lữ đoàn sau đó đã tổ chức bán đấu giá cho lính tráng giới hạn từ trung sĩ chở xuống.

Ngày 3 tháng 3, 1 đại đội “thiên binh” đã đụng độ với quân đối phương. Trận đánh ác liệt diễn ra suốt 30 phút trong khu rừng rậm phía đông Cà Tum. Khi VC bỏ lại 39 xác sau khi rời khỏi chiến trường. “Thiên binh” có 20 lính chết và 28 bị thương.

Các lực lượng tham gia chiến dịch Junction City đã ko tìm ra văn phòng trung ương cục miền nam. Nếu như nó có thật hẳn nó đã trốn khỏi tay quân Mỹ chạy sang vùng đất thánh Campuchia. Tối 17 tháng 3, chiến dịch Junction City kết thúc. Quân Mỹ công bố giết được hơn 800 VC, tịch thu hàng trăm vũ khí và hàng trăm tấn hàng hóa.

Chiến dịch Junction City II bắt đầu ngày 18 tháng 3. Được thiết kế tiếp nối chiến dịch Junction City, chiến dịch này tập trung vào vùng chiến khu C ở phía đông Cà Tum. Thoạt đầu lữ đoàn 173 ko thuộc lực lượng tham gia chiến dịch. Tuy nhiên sư đoàn 1 bộ binh đã đòi lực lượng Dã chiến II cho thêm 1 lữ đoàn nữa và lữ đoàn 173 lại phải phối thuộc 1 lần nữa cho “Anh cả đỏ”.

Nhiệm vụ của lữ đoàn là càn quét xung quanh Minh Thanh (?), phía nam và đông Cà Tum. Ngày 20 tháng 3, sau khi đổ quân bằng trực thăng vào các bãi đáp gần Minh Thanh mà ko gặp trở ngại gì, đến ngày 23, lính dù tiến 10 km về hướng tây bắc thiết lập căn cứ pháo binh Parry. Từ 23/3 đến 13/4, lữ đoàn 173 thực hiện 1 loạt các cuộc tấn công trực thăng vận xuống các bãi đáp xung quanh căn cứ Parry. Hầu như ko có ngày nào là ko có đại đội đụng độ với VC. Hầu hết giao tranh diễn ra trong rừng rậm vào ban đêm hay trong sương mù tuy ngắn ngủi nhưng ác liệt. Hiếm khi gặp phải lực lượng địch có số lượng nhiều hơn 30-40 người.

Một ngày điển hình cho lữ đoàn 173 trong chiến dịch Junction City II, cũng giống các chiến dịch trước đó, diễn ra lúc bình minh. Lính dù thức dậy, lặng lẽ chuẩn bị cho ngày mới. Khi trời sáng hơn, các toán tuần thám cấp tiểu đội sẽ tỏa ra càn quét xung quanh nơi đóng quân để tìm kiếm dấu vết quân địch.

Khi các toán quân đã quay về an toàn, nơi đóng quân sẽ được dọn dẹp, hố chiến đấu được lấp lại, rác được đem chôn giấu sao cho ko còn có vật gì trong khu vực, địch có thể tận dụng. Thường thì chỉ huy đơn vị đã phổ biến nhiệm vụ của ngày cho các trung đội trưởng từ đêm trước. Viên chỉ huy sẽ quyết định tuyến đường, tốc độ hành quân và nơi đóng quân tiếp theo.

Vị trí dẫn đầu được các trung đội thay nhau hàng ngày. Trong các trung đội, tiểu đội xích hầu cũng có sự thay đổi luân phiên. Vì rừng quá rậm rạp nên họ thường xuyên phải tổ chức mở đường xuyên qua cây cối. Mỗi người lính đều mang theo dao rựa để phát sạch dây leo và bụi rậm. Trong khu rừng nhiệt đới ẩm ướt, những lính đi đầu có thể phát rừng từ 1 đến 2 giờ. Rồi sẽ có tiểu đội mới tới thay cho những người đã đuối sức.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 22 Tháng Tư, 2014, 10:13:55 AM
Thật vất vả để lính bộ binh có thể tiến lên hoàn tất nhiệm vụ của ngày hôm đó. Rất hiếm khi họ bắt gặp dấu vết của địch quân. Nếu có đụng độ xảy ra, kẻ khai chiến hầu như luôn là địch. Bất chợt có vài tiếng súng nổ. Tiếng kêu gào của những người bị đạn địch bắn trúng khiến những lính dù bên cạnh thấy lạnh toát sống lưng. Trong khi lính cứu thương cố tiến đến chỗ những nạn nhân, những “thiên binh” còn lại mọp sát đất, nã xối xả đạn M16 vào các vị trí nghi ngờ có đối phương.

Sau 2, 3 phút nã đạn, các lính dù sẽ ngưng bắn. Mọi thứ trở lại yên tĩnh. Các toán tuần thám thận trọng rời khỏi khu vực phòng thủ tìm kiếm kẻ địch. Trực thăng tải thương sẽ được gọi đến để lấy thương vong. Trong lúc lính dù làm nhiệm vụ bảo vệ bãi đáp, các toán tuần thám sẽ quay về. Hầu hết đều có những báo cáo giống nhau: “Ko thấy dấu vết Charlie (VC), thưa sếp.” Sau đó trực thăng tới bốc những lính thương vong lên, rồi bay đi. Lính dù về lại các tiểu đội rồi lại đi tiếp.

Các đại đội súng trường của lữ 173 đi hành quân dã ngoại mất hàng tuần lễ. Họ sống thiếu thốn nhất so với những đơn vị Mỹ khác ở nam VN từng trải qua. Dù căn cứ không quân Biên Hòa có cả 1 khu PX cao hai tầng, rất ít “thiên binh” đã từng hưởng thụ ở đó chốc lát. Hiếm khi thấy lính dù nào trong số họ vào đó uống bia lạnh, tắm nước nóng, ăn nhậu, đọc báo hay ăn kẹo…

Họ mặc 1 bộ quân phục, đi 1 đôi giày suốt hàng tuần lễ.  Thường thì quần áo họ trong rừng ẩm ướt đã mục rách te tua trước khi trực thăng chở đồ tiếp tế tới nơi. Trong khi ấy, lính tráng ở hậu cứ có tới 6 đến 8 bộ quần áo, được hồ cứng, có thêu tên, quân hàm, phù hiệu chỉnh chu treo trong tủ. Một lính dù đi hành quân dã ngoại chẳng có gì nhiều hơn những thứ thồ trên lưng. Có thể mỗi tháng 1 lần
trực thăng sẽ tới thả xuống cho lính dù vài bộ quần áo dã chiến mới. Các trung sĩ trung đội phó sẽ phân phát chúng cho những kẻ đang cần nhất.

Những khi hiếm hoi có 1 đại đội súng trường được trở về Biên Hòa nghỉ ngơi vài ngày thì họ tiệc tùng thâu đêm suốt sáng. Sau khi xong nhiệm vụ, lính dù ùa tới những quán bar, nhà thổ ngay ngoài cổng căn cứ. Với vài giờ ở đó, thì chiến tranh, nỗi gian nan, cực khổ hay cái chết đều có thể quên hết. Rồi sau đó họ sẽ lại quay ra chiến trường để chịu đựng 4, 5 tuần lễ thống khổ nữa.

Trong khi các “thiên binh” còn đang len lỏi trong rừng rậm của chiến khu C, 1 sự kiện diễn ra xa về phía bắc, ở Bắc Pleiku, cao nguyên trung phần sẽ làm cuộc đời của những lính dù này thay đổi vĩnh viễn. Trận chiến mà họ tham gia là sẽ 1 trận chiến tàn khốc, mãnh liệt với mức độ ít ai ngờ tới.














Chương 3
Bắc Đắk Tô







Sư đoàn 4 bộ binh tới nam VN tháng 9 năm 1966. Do đã được dự phòng sẽ tham chiến, sư đoàn 4 dành nhiều năm để huấn luyện tác chiến trong những khu rừng thông gần căn cứ của họ tại Fort Lewis, Washington. Quân số của nó đã bị giảm sút nghiêm trọng khi sự dính líu quân sự của Mỹ ngày càng tăng ở nam VN khiến nhu cầu tuyển quân tăng vọt. Tới khi nhận lệnh triển khai, sư đoàn 4 được nhận thêm 8000 lính mới – gồm cả lính tình nguyện lẫn quân dịch. Các tân binh đã được huấn luyện cơ bản và nâng cao tại sư đoàn, việc này đã tạo ra 1 tinh thần đoàn kết, coi nhau như ruột thịt mà hầu hết các sư đoàn khác được điều sang VN ko có.

Khi tàu cập cảng Nha Trang, lữ đoàn 1, sư đoàn 4 được điều đến Tuy Hòa, của tỉnh Phú Yên, 1 tỉnh ven biển thuộc vùng II chiến thuật. Nó hoạt động trên vùng đồng bằng và các ruộng lúa tại đó tới tháng 2 năm 1967. Lữ đoàn 3 của nó đã được chuyển xuống vùng III chiến thuật bao quanh Sài Gòn để hoạt động cùng sư đoàn 25 bộ binh.

Khi sư đoàn 25 lần đầu tiên tới nam VN tháng 12 năm 1965, 2 lữ đoàn của nó được bố trí ở Củ Chi, phía tây Sài Gòn, thuộc vùng III chiến thuật. Lữ đoàn 3 của nó thì lên Pleiku, thuộc cao nguyên trung phần và phục vụ cho vùng II chiến thuật. Lữ đoàn 3, sư đoàn 4 được giao cho sư đoàn 25 đơn giản là vì công tác hậu cần dành cho nó sẽ dễ dàng hơn là hoán chuyển cả 2 lữ đoàn. Lữ đoàn 2, sư đoàn 4 sẽ tới Pleiku để chiến đấu cùng lữ đoàn 3, sư đoàn 25 bộ binh.

Bao gồm các tỉnh Kom Tum, Pleiku và Đắk Lắk, cao nguyên trung phần tọa lạc ngay tại vùng ngã 3 biên giới, giáp với Lào và Campuchia. Với địa hình gồm vô số ngọn núi cao lởm chởm được rừng già 3 tầng rậm rạp bao phủ. Tây Nguyên ko chỉ là điểm kết thúc của tuyến đường xâm nhập chính của Bắc Việt vào miền nam, nổi tiếng với tên gọi là đường mòn Hồ Chí Minh, mà còn cho phép Quân Bắc Việt che giấu những đơn vị lớn tại những khu vực hẻo lánh gần như bất khả xâm phạm. Do đó, nó gây ra nỗi đe dọa nghiêm trọng với sự ổn định của miền nam VN. Nếu bộ đội Bắc Việt kiểm soát được Tây Nguyên, họ có thể đánh xuống phía đông và cắt nam VN ra làm đôi. MACV ko thể để cho điều đó xảy ra.

Để theo dõi sự xâm nhập của các đơn vị bộ đội Bắc Việt vào Tây Nguyên, MACV đã lập ra 1 chuỗi các trại biệt kích chạy men theo biên giới do những toán nhỏ lính mũ nồi xanh chỉ huy quân CIDG (biệt kích thượng do CIA tuyển mộ và trả lương. ND) quản lý. Đây là việc làm khá hiệu quả, lính biệt kích tuần tiễu trong khu vực, tìm kiếm dấu vết của đối phương. Nếu phát hiện được lực lượng địch, quân CIDG cố hết sức tránh đụng độ mà thay vào đó, gọi máy bay ném bom B-52 hay gọi trực thăng chở các lực lượng phản ứng của Mỹ hoặc VNCH tới giao chiến.

Những trại biệt kích được lập ra ở những nơi hoang vu hẻo lánh. Chúng phụ thuộc hoàn toàn vào máy bay trực thăng từ việc tiếp tế cho đến viện binh nếu bị tiến công. Trong khi chờ quân tiếp viện, lính mũ nồi xanh và biệt kích Thượng chỉ được yểm trợ bằng súng cối cỡ nhỏ của chính họ. Đã có nhiều lần, các trại đơn độc này bị tràn ngập trước khi viện binh đến kịp.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 22 Tháng Tư, 2014, 10:22:57 PM
Để hỗ trợ cho các hoạt động của biệt kích, thoạt đầu MACV đã triển khai lữ đoàn 3, sư đoàn 25 bộ binh tới Pleiku. Ngoài ra sư đoàn 1 kỵ binh bay cùng lữ đoàn 1, sư đoàn dù 101 cũng được điều lên Tây Nguyên càn quét nhằm chống lại những nguy cơ có thể xảy ra.

Khi lữ đoàn 2, sư đoàn 4 lên Tây Nguyên, nó xây dựng 1 căn cứ nằm cách phía nam Pleiku 18km. Căn cứ này sau đó được đặt tên là căn cứ Enari. Trong tháng đầu tiên đến nơi, lữ đoàn 2, sư đoàn 4 cùng với sự hỗ trợ của lữ đoàn 3, sư đoàn 25 tiến hành 1 chiến dịch dọc theo biên giới Campuchia. Trận càn này không gặp phải trận đụng độ lớn nào với địch.

Thêm những cuộc hành quân tìm và diệt nữa được thực hiện ở phía bắc Pleiku và phía nam Kom Tum trong thời gian còn lại của năm. Lữ đoàn 2 phải vất vả, gian khổ truy tìm Quân Bắc Việt trên các mỏm núi sắc như dao cạo, hay len lỏi trong những khu rừng mưa đầy rắn rết. Sau hàng loạt những vụ đụng độ ác liệt, lính bộ binh đã hiểu ra rằng họ đang phải đối mặt với 1 đối thủ ghê gớm. Bộ đội Bắc Việt được huấn luyện và trang bị tốt. Họ đã quen với việc đánh nhau liên miên. Bất cứ khi nào xuất hiện mà có thế thượng phong, thì họ đánh ngay. Nếu thấy quân Mỹ có vẻ mạnh hơn dự kiến, Quân Bắc Việt sẽ ngừng giao chiến, biến vào rừng rậm hoặc vượt biên qua các vùng đất thánh ở Campuchia hoặc Lào.

Tháng 1 năm 1967, thiếu tướng William R. (“Ray”) Peers lên nắm quyền chỉ huy sư đoàn 4 bộ binh. Với những kinh nghiệm chống quân Nhật ở Miến Điện trong chiến tranh TG 2, Peers nhanh chóng nhận ra sư đoàn của mình đang phải đối mặt với 1 cuộc chiến trong rừng rậm khó khăn hơn bình thường. Vì thấy ông bắt đầu vạch ra kế hoạch đối phó với sự thách thức của Quân Bắc Việt. Ông cho các tiểu đoàn cơ động ra vùng biên giới tuần tiễu và xông xáo giao chiến với bộ đội Bắc Việt chứ ko chờ họ tấn công nữa. Ông nhấn mạnh là mỗi tiểu đoàn lúc nào cũng phải có ít nhất là 2 trong 3 đại đội súng trường đi hành quân dã ngoại. Ông cũng cho tổ chức những chuyến viễn thám, thường là các toán từ 4 đến 6 người, bí mật luồn rừng để tìm kiếm kẻ thù. Khi các toán viễn thám (LRRP) phát hiện đơn vị địch, họ sẽ gọi không kích, pháo kích hay bộ binh đến đánh.

Ông cũng chỉ đạo cho các đơn vị cách để khỏi bị đánh bất ngờ và bị tràn ngập. Nguyên tắc chính của Peers với các đại đội súng trường đang đóng dã ngoại là họ ko nên tuần tiễu cách các đơn vị khác quá 1km hay hơn 1 giờ đồng hồ hành quân để trong trường hợp xảy ra đụng độ thì viện binh sẽ tới nhanh chóng. Peers tin mục tiêu của quân Quân Bắc Việt là: “Tìm những đơn vị đi lẻ, cố gắng cô lập nó và tiêu diệt. Do đó luôn phải có đơn vị khác gần đó để có thể nhảy vào can thiệp ngay.” Tính toán của Peers là rất thận trọng, nhưng quân Bắc Việt lắm mưu nhiều kế vẫn thỉnh thoảng chia cắt được và tiêu diệt các đơn vị quân Mỹ.

Đầu tháng 2, khi lữ đoàn 1 từ Tuy Hòa về gia nhập với sư đoàn, nó đã cùng lữ đoàn 3, sư 25 đã tiến hành 1 loạt các cuộc hành quân tìm diệt qui mô hùng hậu. Sư đoàn 4 tổ chức chiến dịch Sam Houston đánh vào phía tây nam Kontum. Đến giữa tháng 2 thì sư đoàn đã đụng độ lớn với Quân Bắc Việt ko dưới 10 lần. Sang tháng 3 thì Quân Bắc Việt đã ko chịu nổi nữa và phải rút sang Campuchia để “băng bó các thương tích”. Chiến dịch Sam Houston kết thúc tháng 4 năm 1967. Sư đoàn 4 tuyên bố số quân bị giết của địch là 733 so với 169 bên phía Mỹ.

Sư đoàn 4 về lại căn cứ Enari để thiết lập ra 1 hàng rào ngăn chặn trước khi mùa mưa đến. Lữ đoàn 1 thiết lập căn cứ ở Le Thanh (?), phía bắc Đức Cơ, nằm dọc theo đường 19, cạnh 1 trại biệt kích. Từ căn cứ được đặt tên là Jackson Hole này, lữ đoàn lại lập ra 1 chuỗi các trại nhỏ từ trại biệt kích Plei Djereng, nằm chắn ngang đường 509, phía bắc đường 19, tới tận thung lũng Ia Drăng ở phía nam đường. Từ những vị trí đó, lữ đoàn có thể kiểm soát tuyến đường xâm nhập mọi khi của bộ đội Bắc Việt là men theo đường 19 và thung lũng Ia Drăng.

Nằm phía đông của lữ đoàn – nơi đường 14B nối với đường 509 và đường 19 -  là nơi đặt căn cứ của lữ đoàn 2, ở Thanh An (Oasis). Từ đây lữ đoàn 2 có thể tổ chức các cuộc hành quân tìm và diệt phía sau hàng rào chốt chặn, kiểm soát phần trên của thung lũng Ia Drăng và hỗ trợ lữ đoàn 1. Peers ra lệnh tiến hành chiến dịch mới là chiến dịch Francis Marion.

Trong khi lữ đoàn 1 và 2 đã vào chiếm lĩnh vị trí thì thành tố thứ 3 trong đội hình sư đoàn lại chuyển đi. Ngày 12 tháng 4 năm 1967, lữ đoàn 3, sư đoàn 25 bộ binh rời khỏi Tây Nguyên. Nó đi lên phía Bắc tới các tỉnh Quảng Ngãi và Quảng Tín thuộc vùng I chiến thuật. Nó hợp cùng lữ đoàn 1, sư đoàn dù 101 và lữ đoàn bộ binh 196 tạo thành lực lượng đặc nhiệm Oregon. Dưới sự chỉ huy của thiếu tướng William B. Rosson, lực lượng đặc nhiệm này được tổ chức như 1 sư đoàn lâm thời giúp tạo điều kiện cho 2 sư đoàn TQLC trong vùng I dịch lên phía Bắc đến gần khu phi quân sự để chống lại áp lực của Quân Bắc Việt.

Với 2 lữ đoàn trong tay, ngày 6 tháng 4 năm 1967, Peers  tiến hành chiến dịch Francis Marion. Các đại đội súng trường tỏa ra các vùng đất thù địch để tìm kiếm Quân Bắc Việt. Trong 2 tuần đầu, lính bộ binh chỉ đụng độ lác đác với các đơn vị nhỏ bộ đội Bắc Việt, dù phát hiện được khá nhiều dấu vết của đối phương. Đặc biệt các toán Viễn thám của sư đoàn đã khám phá những khu tập trung nhỏ của Quân Bắc Việt và có thể đó là những đơn vị đi trước của những lực lượng lớn hơn. Tình báo xác định bộ đội Bắc Việt đã xâm nhập vào thung lũng Ia Drăng trước khi hàng rào chốt chặn được lập, ém quân ở đó và đang chuẩn bị tiến đánh 2 trại biệt kích Đức Cơ và Plei Djereng.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 27 Tháng Tư, 2014, 10:03:29 PM
Các đại đội súng trường của sư đoàn 4 bắt đầu đụng nặng với các lực lượng lớn Quân Bắc Việt những ngày cuối tháng 4. Ngày 30 tháng 4, đại đội Alpha, tiểu đoàn 2, trung đoàn 8 bộ binh đã chiến đấu ác liệt với Quân Bắc Việt chỉ cách Oasis vài cây số về phía đông nam. Hôm sau, trong khi đuổi theo Quân Bắc Việt, họ tình cờ bắt gặp 1 nơi đóng quân lớn của địch. Cũng trong ngày 1 tháng 5, đại đội Alpha, tiểu đoàn 3, trung đoàn 12 của lữ đoàn 1 đã bị 1 đại đội Quân Bắc Việt tập kích trong khi đi tuần tiễu ở dãy núi Chu Goungot (?), phía tây đường 14B và phía bắc Đức Cơ.

Do có cuộc đụng độ này mà tiểu đoàn 1, trung đoàn 8, lữ đoàn 1 phải thiết lập 1 căn cứ pháo binh nằm ở tây Đức Cơ, phía bắc đường 19. Dựa trên tin báo của các toán Viễn thám, các oanh tạc cơ B-52 đã tiến hành ném bom với hy vọng diệt được Quân Bắc Việt đang trong vùng giữa dãy Chu Goungot với biên giới Campuchia. Các đại đội của tiểu đoàn 1/8 bắt đầu hành quân lên phía Tây Bắc để đánh giá hiệu quả của trận ném bom.

Ngày 18 tháng 5, đại đội Bravo, tiểu đoàn 1/8 lọt vào 1 ổ phục kích của bộ đội Bắc Việt. Bắt đầu từ 12g30 và kéo dài suốt 7 tiếng đồng hồ, đại đội này đã phải liều mình chiến đấu mong giữ lấy mạng. Một trung đội của họ đã bị cắt rời và nhanh chóng bị Quân Bắc Việt vây bọc. Đến 15g00 thì đã có tới 21 thành viên trong tổng số 29 lính của trung đội này tử trận. Nhiều người đã bị bắn chêt sau khi Quân Bắc Việt làm chủ bãi chiến trường. Chỉ có 1 thành viên của trung đội còn sống mà chưa bị thương. Tới tận ngày hôm sau viện binh của đại đội Alpha, tiểu đoàn 1/8 mới đánh mở đường tới được chỗ đại đội Bravo.

Đêm hôm sau nữa, 20 tháng 5, cả 3 đại đội của tiểu đoàn 1/8 đóng quân lại nghỉ đêm cách chỗ đại đội Bravo đụng trận chừng 1km về phía Tây Bắc. Vào lúc 21g19, bộ đội Bắc Việt đã tấn công dữ dội tiểu đoàn với sự yểm trợ của súng cối và súng máy. 3 cuộc tấn công riêng lẻ đã bị đẩy lùi suốt đêm dài trước khi Quân Bắc Việt rút lui. Địch để lại 37 xác trên sườn cao điểm trong rừng. Tiểu đoàn 1/8 có 16 lính chết, 66 bị thương.

Tiểu đoàn 3, trung đoàn 12 được gửi tới tiếp viện cho tiểu đoàn 1/18 cũng bị tấn công khi vừa ra khỏi chỗ trú quân sáng ngày 22 tháng 5. Giao tranh diễn ra trong 4 giờ, bộ đội Bắc Việt chỉ rút đi sau khi bị phi, pháo đánh quá mạnh. Cái giá phải trả của sư đoàn 4 là 10 chết và 70 lính bị thương. Kết quả đếm xác cho biết số Quân Bắc Việt chết là 61.

Trong 2 tháng đầu tiên của chiến dịch Francis Marion, sư đoàn 4 bộ binh đã phải nếm đòn đau. Sư đoàn phải gánh chịu hơn 300 thương vong, trong số đó có 60 chết trận. Nhằm ngăn ko cho quân đối phương thọc qua khu vực của mình trong chiến dịch, Peers đã phải cho cả 2 lữ đoàn của mình lên vùng lân cận dãy núi Chu Goungot. Hậu quả là sườn phía nam của ông yếu đi. Nếu lữ đoàn thứ 3 của sư đoàn ko tới che chắn cho khu vực đó thì sư đoàn 4 sẽ rất dễ lâm nguy. Peers đã phải khẩn khoản yêu cầu cấp trên giúp đỡ.

Tư lệnh Lực lượng Dã chiến I, trung tướng Stanley R. Larsen (“người Thụy Điển”), đóng trụ sở tại Nha Trang. Tướng Larsen là 1 cựu binh thời chiến tranh TG 2. Ông thăng tiến từ chỉ huy trung đội đến trung đoàn trưởng trong thời gian chiến đấu với quân Nhật trên 1 loạt những hòn đảo với rừng rậm bao phủ trên Thái Bình Dương. Kết quả, ông trở thành người am hiểu về cách thức tiến hành chiến tranh độc đáo ở Tây Nguyên hơn hẳn các chỉ huy cao cấp khác ở miền nam VN. Ông biết sư đoàn của Peers, tuy chưa nguy ngập nhưng đang phải chịu áp lực rất lớn. Peers đang rất cần lữ đoàn thứ 3.

Hoạt động ở tỉnh duyên hải Bình Định, nằm ngay phía đông Pleiku, là sư đoàn 1 kỵ binh bay. Larsen muốn đưa 1 lữ đoàn kỵ binh bay tới Pleiku. Ngày 21 tháng 5, ông ta gọi cho tướng Westmoreland ở Sài Gòn thông báo tình hình. “phải chuyển 1 lữ đoàn nữa lên Tây Nguyên.” Larsen nhấn mạnh. “Tôi sẽ cho 1 lữ kỵ binh bay lên đó.”

Westmoreland trả lời: “Không. Đừng làm vậy. Cứ trông chừng đó. Chúng ta hãy chờ xem có gì xảy ra đã.”

4 ngày sau, khi mà sư đoàn 4 lại nếm đòn đau nữa, Larsen lại gọi cho Westmoreland, lần này ông nói: “Tôi ko còn lựa chọn nào nữa. Phải cứu Ray thôi. Tôi sẽ gửi cho anh ta 1 lữ kỵ binh bay”

“Không.” Westmoreland nói. “Tối ko muốn xé lẻ Kỵ binh bay ở Bình Định. Tôi sẽ chuyển cho Ray thằng 173.”

Tướng Larsen chẳng hào hứng lắm về việc chuyển giao tới vùng của mình lữ đoàn dù 173. Hiểu biết của ông về những “thiên binh” là trong những tháng vừa qua họ hơi thụ động, chỉ mới giao chiến với 1 vài toán VC nhỏ. Ông ta muốn 1 đơn vị có nhiều kinh nghiệm chống lại Quân Bắc Việt chứ ko phải là 173.

Tướng Larsen đã chính xác khi đánh giá khả năng chiến đấu và sự linh hoạt của lữ đoàn 173. Bắt đầu từ ngày 1 tháng 5 năm 1967, tướng Deane, người từng là tham mưu trưởng của Larsen suốt 5 tháng đầu năm 1966, đã đưa lữ đoàn tiến vào tỉnh Long Khánh nằm phía đông Biên Hòa, trong chiến dịch Fort Wayne. Họ chỉ đụng độ nhẹ với quân địch nên thương vong cũng ở mức tối thiểu.

Sau khi về lại Biên Hòa ngày 4 tháng 5. Deane được lệnh cho lữ đoàn tiến vào tỉnh Phước Tuy, phía nam Long Khánh để truy tìm các trung đoàn chủ lực 274 và 275 VC. Chiều ngày 5 tháng 5, Deane triển khai tiểu đoàn 1 và 2, trung đoàn 503 tới Phước Tuy. Trong 12 ngày sau đó, lữ đoàn thường chỉ có đụng độ lẻ tẻ với đối phương. Giao tranh chủ yếu là những trận đụng độ khi các toán nhỏ VC tìm cách quấy rối quân dù. Ko xảy ra đánh lớn, mặc dù các “thiên binh” tìm thấy 1 số lớn nơi đóng quân và hầm bỏ không rải rác trong khu vực hành quân. Ngày 17 tháng 5 thì chiến dịch kết thúc và lữ đoàn lại quay về Biên Hòa.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 28 Tháng Tư, 2014, 01:29:41 PM
Lữ đoàn 173 khi về căn cứ chính bắt đầu tổ chức các cuộc tuần tiễu thường xuyên quanh sân bay để ngăn chặn các cuộc pháo kích bằng súng cối và rocket hay những trận đột kích của VC. Chiều ngày 23 tháng 5, tướng Deane được triệu tập về bộ tư lệnh Lực lượng Dã chiến II tại Biên Hòa. Trung tướng Jonathan O. Seaman đã nói với Deane về việc lữ đoàn của ông được điều lên phía Bắc. Sư đoàn 4 bộ binh sẽ nắm quyền điều động lữ 173. Deane nằm dưới quyền tướng Peers và sẽ thiết lập 1 căn cứ ở phía nam Pleiku và làm lực lượng trừ bị cho Peers. Họ có thể sẽ ở trên đó 3 tháng. Deane vội vã về ngay bộ chỉ huy sau cuộc họp.

Deane hối hả làm việc với S-3 (trưởng phòng hành quân) là thiếu tá James R. Steverson để lập kế hoạch hành động. Một toán tiền trạm do Steverson chỉ huy sẽ lên Pleiku lúc 5g00 sáng ngày hôm sau. Đến trưa thì lữ đoàn sẽ được không vận lên phía Bắc. Deane triệu tập các tiểu đoàn trưởng, chỉ đạo họ việc chuyển quân và ban hành 1 loạt mệnh lệnh. Các tiểu đoàn trưởng lắng nghe rồi nhanh chóng triển khai công việc xuống các đại đội.

Lính tráng vội vã gói ghém ba lô, lau chùi vũ khí, nạp đạn vào các băng đạn. Một “thiên binh” tiêu biểu khi đi trận thồ sau lưng rất nhiều thứ. Hầu hết họ phải mang theo từ 1000 đến 1200 viên đạn M16 chứa trong các băng đạn hay trong các kẹp. Dù 1 băng đạn M16 có thể chứa 20 viên, phần lớn binh sĩ đều chỉ nạp chừng 17,18 viên vào đó. Nạp nhiều hơn có thể làm băng đạn làm hỏng lò xo và gây kẹt đạn.

Đeo khắp nơi trong dây ba chạc, thắt lưng, túi vải là 12 đến 15 trái lựu đạn mảnh và từ 2 đến 4 lựu đạn khói. Mỗi người lính cũng vác theo 2 trái mìn chống người Claymore nữa. Vắt chéo trước ngực là những dây đạn với từ 100 đến 200 viên cho khẩu trung liên M60 của tiểu đội. Tất cả lính tráng được yêu cầu phải mang theo ít nhất là 1 trái đạn cối cho mấy khẩu cối của đại đội. Một cái xẻng to để đào công sự được các thành viên trong tiểu đội thay nhau mang hàng ngày. Đôi khi họ còn phải mang theo máy cưa để đốn cây làm bãi đáp cho trực thăng nữa.

Ngoài ra, lính lác còn phải thu xếp chỗ để nhét đồ trang bị cá nhân. Ngoài thư từ, giấy bút, máy ảnh, sách vở, đài xách tay, đồ đạc linh tinh, các bi đông nước, đồ ăn họ còn mang theo đồ vệ sinh cá nhân nữa. Dù đang hành quân quân dã ngoại, lữ đoàn 173 vẫn duy trì tiêu chuẩn sạch sẽ khá cao. Anh lính nào dù ở căn cứ hay đi trận, đều phải cạo râu hàng ngày.

Tùy vào số lượng trang bị mà mỗi người lính phải mang theo từ 75 đến 90kg. Hầu hết chúng được thồ trong ba lô trên lưng. Không có gì ngạc nhiên khi cái biệt danh “grunts” của họ bắt nguồn từ những lời càm ràm khi họ khoác cái ba lô nặng trịch lên lưng.

Sau 1 đêm cuống quýt lo đóng gói trang thiết bị, sáng sớm ngày 24 tháng 5 năm 1967, lính tráng lữ đoàn 173 tiến ra đường băng sân bay Biên Hòa. Theo đúng tinh thần “Vội và chờ” của các tổ chức quân sự, chiếc C-130 lèn chặt lính dù đầu tiên tới tận mãi chiều mới cất cánh. Suốt 3 ngày sau đó, không quân đã bay 208 lượt C-130, vận chuyển 2239 lính và 2700 tấn trang thiết bị tới Pleiku. Vì mọi người dự kiến sẽ trở về Biên Hòa sau 90 ngày, nên lữ đoàn để lại căn cứ của nó các lính văn phòng và những người phục vụ hậu tuyến. Họ ko thể biết rằng lữ đoàn sẽ ko bao giờ về lại phương nam nữa.

Khi lính dù biết mình được gửi đi để cứu giúp sư đoàn 4, họ lên mặt kênh kiệu ngay, hầu hết đều tỏ thái độ chế nhạo những tay lính “chân đất”, éo phải lính dù. Lữ 173 có nhuệ khí rất cao. Toàn bộ quân của nó đều là lính tình nguyện gia nhập lực lượng nhảy dù và hầu hết đều xung phong sang VN. Nhiều lính dù cứ mường tượng rằng họ chỉ việc lên phía Bắc, ‘đá đít’ Quân Bắc Việt xong, rồi lại trở về Biên Hòa. Họ sẽ cho sư đoàn 4 xem thế nào là chiến đấu.

Thấy được thái độ ấy, đại tá James B. Adamson, chỉ huy lữ đoàn 2, sư đoàn 4 dành ra nhiều thời gian để giải thích về chiến trường Tây Nguyên cho tướng Deane cùng ban tham mưu. Ông ta nói: “Đây sẽ là 1 cuộc chiến khác hẳn những thứ các anh đã từng làm ở miền nam. Thứ nhất các anh phải nhận ra rằng ở trên cao nguyên này, các anh sẽ chiến đấu với Quân Bắc Việt chứ ko phải VC. Chúng là những tay rất thiện chiến. Thứ nhì, ko được để các đại đội ra ngoài 1 mình, vì đó là mục tiêu Quân Bắc Việt thường chọn. Chúng sẽ ‘giũ sổ’ họ ngay.”

Dù đã khuyên nhủ, Adamson vẫn thấy lữ đoàn 173 giữ nguyên thái độ kẻ cả của họ.

Thái độ tương tự cũng đầu độc thiếu tá Steverson, sĩ quan hành quân lữ đoàn 173 (S-3). Khi toán của ông này lên Pleiku trước đó, Steverson đã gặp trưởng phòng hành quân (G-3) của sư 4 là trung tá James R. Lay. Cuộc họp về cơ bản là để trung tá Lay nói với thiếu tá Steverson là ông muốn giúp cho lính dù chở nên quen với hình thái chiến tranh trên Tây Nguyên và học hỏi cách sư đoàn 4 chiến đấu trong rừng rậm.

Steverson từ chối những lời khuyên đó. Ông ta nhắc cho Lay biết lữ 173 là đơn vị chiến đấu trên bộ đầu tiên của lục quân đến nam VN và đã chiến đấu 2 năm với kẻ thù rồi. Theo như cách đề cập của Steverson và hầu hết ban chỉ huy của lữ đoàn thì sư đoàn 4 chẳng có gì để có thể dạy về cách chiến đấu ở nam VN cho lữ 173 hết.

Steverson đã bị hào quang của những kỳ tích mà lữ đoàn 173 đạt được trong chiến tarnh lừa phỉnh. Nó đã chiến đấu hết trận này với trận khác với quân thù và liên tục giành chiến thắng. Nhưng có 1 lỗ hổng chết người trong cái thứ logic của Steverson. Hầu hết những trận đánh của lữ đoàn là diễn ra với quân du kích VC. Rất ít “thiên binh” của lữ 173 có kinh nghiệm giao chiến với bộ đội Bắc Việt vào mùa xuân năm 1967.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 29 Tháng Tư, 2014, 09:23:02 AM
Lữ đoàn 173 thiết lập căn cứ tại Catecka, cách Pleiku 12km về phía nam. Những người từng ở đó đều nhớ Catecka là 1 biển bùn lầy đỏ quạch ngập ngụa mỗi khi có mưa lớn trong mùa mưa. Từ ngày ngày 27 đến 30 tháng 5, lữ đoàn tiến hành mở mang, cải tạo căn cứ và mạng lưới đường xá trong khu vực. Công việc này trở nên cự kỳ gian nan bởi bùn lầy và điều kiện thời tiết khổ ải.

Bắt đầu từ ngày 1 tháng 6, tướng Deane cho triển khai quân mình tới phía nam và tây nam Catecka, nằm về phía trên thung lũng Ia Drăng. Deane cho cảc 2 tiểu đoàn 1 và 2 trung đoàn 503 đi hành quân, giữ tiểu đoàn 4/503 ở lại Catecka để bảo vệ căn cứ và làm lực lượng ứng cứu. Các đại đội dã ngoại chỉ gặp rất ít dấu hiệu của đối phương trong vùng hành quân. Tướng Deane giành phần lớn thời gian ngồi trong trực thăng chỉ huy bay trên vùng hành quân tuy cũng có bị cản trở vì sương mù dày đặc buổi sáng và trần mây thấp buổi chiều. Ông nhìn thấy rất nhiều các vị trí cũ của sư đoàn 1 kỵ binh bay và lữ dù của sư 101 trong những cuộc hành quân mấy năm về trước, nhưng ko hề thấy dấu vết bộ đội Bắc Việt.

Trong khi lữ 173 âm thầm tìm kiếm Quân Bắc Việt trên những cao điểm ẩm ướt phía Tây Nam tỉnh Pleiku, thì ở tỉnh láng giềng Kon Tum ở phía bắc đã xẩy ra sự kiện có ảnh hưởng ‘chết người’ đối với các “Thiên binh”.

Đêm 15 và 16 tháng 6 năm 1967. Một toán quân 10 người gồm 2 lính Mỹ và 8 biệt kích CIDG của trại biệt kích Đắk Tô đã bị trung đoàn 24 Bắc Việt “hốt ổ” cách trại 1400m về phía tây nam. Sáng sớm ngày 17 tháng 6, trại Đắk Tô bị súng cối hạng nặng pháo kích. Cùng lúc đó, sở chỉ huy của trung đoàn 42 VNCH tại Tân Cảnh, phía đông ĐắK TÔ cũng bị trúng đạn cối và hỏa tiễn 122mm.

Khi thấy rõ là Quân Bắc Việt đang chuẩn bị đánh lớn vào trại ĐắK Tô, chỉ huy trại đã yêu cầu được bảo vệ. Tướng Larsen biết rằng lữ 173 chưa phải đụng độ gì trong khi diễn ra chiến dịch Francis Marion, nên đã lệnh cho tướng Peers đưa 2 tiểu đoàn của 173 lên làm nhiệm vụ tại ĐắK Tô.

Tướng Deane lệnh cho lữ đoàn phó là đại tá Claude M. McQuarrie mang tiểu đoàn 1 và 2 trung đoàn503; pháo đội (đại đội pháo binh.ND) Bravo, tiểu đoàn 3, trung đoàn 319 và các đơn vị trợ chiến khác lên ĐắK TÔ, cách 80 km về phía Bắc. Cuộc hành quân này được đặt tên là Greeley.

Chiến đoàn đặc nhiệm McQuarrie lên đường vào sáng sớm ngày 17 tháng 6. Tiểu đoàn 2/503 dưới quyền viên trung tá 37 tuổi Edward A. Partain lên máy bay C-130 bay tới ĐắK Tô đầu tiên. Trung tá Partain quê vùng Arkansas, tốt nghiệp West Point năm 1951. Ông đã ở Triều Tiên 1 năm trong cương vị trung đội trưởng và đại đội trưởng đại đội súng trường, sư đoàn 25 bộ binh. Ông học ở trường nhảy dù năm 1953, khi tốt nghiệp thì được bổ nhiệm sang Liên đoàn 7 biệt kích đóng ở Đức.

Vì phục vụ tại đó, năm 1964 Partain lên đường sang nam VN làm trưởng ban nhảy dù trong Đoàn nghiên cứu và quan sát (SOG) của MACV. Khi kết thúc 1 năm kỳ hạn, ông về học đại học Tham mưu quân lực (Armed Forces Staff College) và về phục vụ ở Lầu 5 góc trước khi quay trở lại nam VN tháng 3 năm 1967. Khi đến nơi, ông nắm quyền chỉ huy tiểu đoàn 2/503.

Trong khi các đại đội súng trường đang được không vận, viên sĩ quan hành quân (S-3) rất có năng lực của Partain là đại úy Kenneth Smith đã tổ chức và dẫn đầu đoàn xe tải chở trang bị nặng của lữ đoàn lên ĐắK Tô. Quê tại Des Moines, Iowa, 26 tuổi, trước là học sinh trường dòng. Smith tốt nghiệp hạng ưu khóa sĩ quan dự bị ROTC của đại học Creighton. Anh phục vụ trong tiểu đoàn 2/503 từ tháng 3 nắm 1967, lúc đầu làm trợ lý cho sĩ quan tình báo tiểu đoàn (S-2), sau đó đến tháng 4 thì lên làm S-3.

Đoàn xe 50 chiếc rời Catecka giữa buổi sáng ngày 17 tháng 6. Nó len lỏi trên con đường 14 qua Pleiku, Kon Tum rồi tới ĐắK Tô lúc 17g00. Mọi người thiết lập 1 sở chỉ huy ngay phía nam sân bay Đắk Tô.

Ngày 18 tháng 6, tiểu đoàn 1/503 cùng cơ quan chỉ huy của đại tá McQuarrie cũng đã tới Đắk Tô. Họ lập bộ chỉ huy ngay cạnh sở chỉ huy của trung tá Partain. Cùng ngày hôm đó, tiểu đoàn 2/503 đưa các đại đội của nó xuống phía nam Đắk Tô. Mục tiêu của họ là cao điểm 1338, khống chế vùng phía nam căn cứ. Việc Mỹ kiểm soát điểm cao này sẽ khiến quân Bắc Việt ko thể lập đài quan sát ở đây để hiệu chỉnh hỏa lực pháo kích vào Đắk Tô.

Đại đội Charlie, tiểu đoàn 1/503, nhận nhiệm vụ tìm kiếm những biệt kích bị mất tích gặp nạn hôm 15-16/6. Họ khám phá 1 việc kinh hoàng. Tất cả đều chết rất thảm khốc.

Đại úy Joseph X. Grosso, bác sĩ phẫu thuật tiểu đoàn, phải làm cái nhiệm vụ ko dễ chịu gì, đó là nhận diện thi hài lính Mỹ. 27 tuổi, người Philadelphia từng là bác sĩ thực tập nội trú của trường y Jefferson, đã tình nguyện nhập ngũ vì ko đủ điều kiện hoãn quân dịch. Anh tình nguyện học nhảy dù khi biết các sĩ quan sẽ kiếm thêm được 110 đô la 1 tháng cho việc “nhảy ra khỏi máy bay”. Anh ta đang mắc nợ ngập đầu và việc có thêm 100 đô la mỗi cuối tháng là điều ngoài sức tưởng tượng.

Đại úy Grosso đến nam VN tháng 4 năm 1967 và gia nhập lữ đoàn 173. Từ khi đó anh đã phải chứng kiến nhiều cái chết. Nhưng anh vẫn sốc khi nhìn thấy xác ko toàn thây của 2 lính mũ nồi xanh.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 05 Tháng Năm, 2014, 09:25:13 AM
Trong khi đại úy Grosso đang thực hiện việc khám nghiệm, thì lính đại đội Alpha, tiểu đoàn 2/503 lại rất ngạc nhiên khi biết ở vùng Đắk Tô này có lính Bắc Việt. Ngày 18 tháng 6, đại đội được trực thăng đổ xuống 1 bãi đáp ở phía bắc cao điểm 1338. Suốt 2 ngày kế đó, họ phải vất vả leo qua sườn bắc của ngọn cao điểm to lớn này để tìm bộ đội Bắc Việt. Họ tìm thấy 1 lối mòn còn mới trên sườn cao điểm và đã tổ chức mai phục men theo nó, nhưng chẳng thấy có lính Bắc Việt nào qua lại cả.

Ngày 20 tháng 6, đại đội Charlie, tiểu đoàn 2/503 tiến lên cao điểm 1338. Họ vượt qua chỗ đại đội Alpha, trực chỉ phía nam leo lên cao điểm.

Sau khi thiết lập vị trí phòng thủ để nghỉ đêm 21 tháng 6 ở lưng chừng cao điểm 1338, cách Đắk Tô 5500m về phía nam. Đại úy David H. Milton cùng lính đại đội Alpha, tiểu đoàn 2/503, đốn cây tạo 1 bãi đáp cho trực thăng đến tiếp tế. Milton 28 tuổi và đã có hơn 11 năm trong quân ngũ. Sinh ra tại Boston nhưng lớn lên ở Dallas, sau khi qua sinh nhật 17 được 2 tháng, anh bỏ học và nhập ngũ. Anh làm lính cho đến năm 1964, khi được cử đi học ở trường đào tạo sĩ quan (OCS). Tháng 12 năm 1964 anh được phong làm sĩ quan. Là thành viên của sư đoàn 82 dù, mùa xuân năm 1966, Milton đã được thử lửa trong cuộc cách mạng ở nước CH Dominican. Anh đã được thưởng huân chương sao bạc vì thành tích dũng cảm khi chiến đấu trong chiến dịch đó.

Tháng 3 năm 1967, Milton đến nam VN và gia nhập đại đội Alpha. Lúc đầu Milton chỉ huy trung đội, sau đó lên nắm quyền chỉ huy Alpha khi đại đội trưởng của nó bị thương nặng và phải sơ tán trong tháng 5. Ít lâu sau Milton được thăng lên đại úy.

Đại úy Milton ko gây được sự tin tưởng cho binh sĩ như người tiền nhiệm là đại úy Kerns. Kerns là người có sức lôi cuốn, xuề xòa với lính tráng, luôn tìm mọi cách để bảo vệ họ. Một số trong đám lính lác coi Milton là 1 người lừng khừng, thiếu quyết đoán. Có vẻ như anh thiếu tự tin vào chính mình. Vài người nghĩ anh ko xuề xòa là vì muốn giữ khoảng cách sĩ quan nhưng vì còn có các hạ sĩ quan đó nên họ vẫn sẽ làm theo những gì anh bảo.

Vào khoảng 17g00, Milton nhận được cuộc gọi điện đài của đại úy Ken Smith. Ngày mai, Milton phải cùng đại đội về lại Đắk Tô, lộ trình phải lên sao cho có thể đến nơi ko muộn hơn 15g00. Sau khi về lại Đắk Tô, Alpha sẽ tiếp quản vị trí của đại đội Bravo, tiểu đoàn 2/503 với vai trò bảo vệ tiểu đoàn bộ. Lính dù gọi đó là “canh gác cung điện”. Binh sĩ đều khoái sự thay đổi này sau khi trải qua 4 ngày giữa núi rừng Đắk Tô. Ở đó hầu như ngày nào cũng có mưa, biến thảm rừng thành 1 bãi lầy lội. Các bụi tre nứa dày đặc cùng cây cối cao chót vót hơn 200m. Thời tiết u ám cộng với những tán lá dày đặc tạo nên bóng tối âm u khiến trong rừng lúc nào cũng tranh tối tranh sáng. Những bụi cây rậm rạp khiến cho tầm nhìn dưới mặt đất giảm xuống chỉ còn 10, 15 m. Đúng là những khu rừng ma quái và đám lính rất khoái nếu được rời khỏi đó.

Ngay sau khi Smith gọi đến, trực thăng tiếp tế ban đêm đáp xuống bãi đáp. Ngoài những hàng hóa thường xuyên như đồ ăn, thư từ hay 1, 2 anh lính vừa đi R&R về (nghỉ xả hơi), chiếc Huey còn chở theo 2 phuy chứa 200 lít tinh thể khí độc CS. Khi dọn dẹp nơi đóng quân và bãi đáp vào sáng hôm sau, đại đội Alpha sẽ đổ CS xuống đất để quân Bắc Việt ko thể sử dụng được vùng đất đó nữa.

Trong đêm 21 tháng 6, Milton phải giải quyết thêm 1 việc nữa. Số là một trong những cha tuyên úy của lữ đoàn là thiếu tá Charles J. Watters, người đã hành quân dã ngoại cùng đại đội Alpha 4 ngày trước, và Milton ko muốn vị linh mục 40 tuổi lại phải vất vả lội bộ 5km trở lại Đắk Tô.

Anh đề xuất cho cha Watters lên chiếc trực thăng bay về.

Nếu có người được toàn thể lữ đoàn 173 yêu mến thì đó chính là tuyên úy Watters. Là người quê New Jersey, ông tốt nghiệp chủng viện Immaculate Conception, New Jersey, tuyên úy Watters được thụ phong năm 1953 và trở thành cha xứ. Là týp người ưa mạo hiểm, Watters tham gia học lái máy bay cuối những năm 50 và có cả 2 chứng chỉ phi công thương mại và instrument rating (bay bằng phi cụ). Vẫn khao khát được phiêu lưu, năm 1962, ông gia nhập lực lượng không quân dự bị tại căn cứ Không quân McGuire. Ông có 4 năm làm tuyên úy dự bị và tới khi chiến tranh VN tăng nhiệt, ông quyết định góp phần mình vào cuộc chiến. tháng 8 năm 1965, ông thuyên chuyển sang Lục quân, đi làm nhiệm vụ, hoàn tất khóa học nhảy dù, và gia nhập lữ đoàn 173 ở nam VN tháng 6 năm 1966.

Cha Watters nhanh chóng nổi danh trong đám lính dù trẻ tuổi như là 1 tuyên úy chiến trường. Ông cảm thấy niềm vui khi ở cùng lính chiến. Đó là nơi ông đi đến. Ông đi với binh lính bất cứ khi nào có thể, đồng cam cộng khổ với bọn họ. Ông ko chỉ chăm sóc về nhu cầu tâm linh mà còn mà còn lắng nghe, giúp đỡ họ trong những vấn đề cá nhân cũng như chỉ bảo, dìu dắt họ.

Cha Watters đã nhảy dù trong chiến dịch Junction City, là 1 trong số 3 tuyên úy làm được như vậy. Vào tháng 6 năm 1967, khi kỳ hạn phục vụ 1 năm ở nam VN kết thúc, ông xin thêm 1 kỳ hạn nữa. Ông cảm thấy, “các con” đang cần mình, và ông sẽ ko để họ thất vọng.

Dù đã giành rất nhiều thời gian trên chiến trường bất cứ khi nào có thể, cha Watters đã nói với phóng viên trong 1 cuộc phỏng vấn hồi tháng 5 năm 1967 rằng ông ko khi nào mang theo súng. Ông nói đùa: “Tôi là người yêu hòa bình. Và nếu chúng bắn tôi thì tôi sẽ dùng máy ảnh ‘bắn’ lại và hét lên: ‘Khách du lịch đây !’. Nói nghiêm túc ra thì súng quá nặng và trên tất thảy, việc của 1 linh mục là chăm lo cho “các con”. Nếu như bị tràn ngập, tôi nghĩ ở xung quanh sẽ có rất nhiều súng đang chờ để được nhặt lên.”


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 06 Tháng Năm, 2014, 09:30:56 PM
Khi cha Watters nghe đại úy Milton đề nghị việc về Đắk Tô bằng chuyến trực thăng đêm, ông đã đồng ý vì nếu bay về ban đêm thì ông có thể hành lễ cho những tín đồ công giáo của đại đội Bravo trước khi họ ra đi. Ông thu gom đồ lễ và đồ dùng cá nhân, chúc lính tráng của Alpha gặp may mắn trong ngày mai rồi leo lên trực thăng.

Sau khi chiếc Huey đi khuất, Milton đi vòng quanh chu vi phòng thủ đại đội. Trong 3 trung đội trưởng của anh, thì có 2 là người mới tinh. Milton muốn chắc là họ đã bố trí trung đội vào các vị trí phù hợp.

Cả 2 trung úy Richard E. Hood, Jr., và Donald R. Judd  đều tốt nghiệp West Point khóa 1966. Cùng với hơn 1 chục bạn đồng khóa, họ tới gia nhập lữ đoàn 173 mấy tháng trước và sau khi trải qua khóa học 1 tuần về tác chiến trong rừng rậm nhiệt đới của lữ đoàn thì về đại đội. Hood, người Florida, 22 tuổi, gia nhập đại đội Alpha khoản 1 tuần trước khi bạn anh là Judd , 24 tuổi, quê New York đến hôm 19 tháng 6.

Tuy mới, nhưng Judd  và Hood rất cẩn trọng và chọn vị trí hợp lý cho trung đội mình. Milton rất hài lòng. Anh biết họ làm được việc, chỉ cần trui rèn ít thời gian nữa là 2 người sẽ trở  thành những trung đội trưởng tuyệt vời và có thể sẽ giỏi ngang tay trung đội trưởng thứ 3 của anh.

Trung úy Jeffrey R. Sexton là 1 lính kỳ cựu trong đại đội Alpha. Trong kỳ hạn đầu tiên, anh đã được cấp trên để ý, sự thông minh, khả năng lãnh đạo của Sexton được đánh giá cao và anh đã được gửi đi học sĩ quan (OCS). Anh chàng quê Phoenix, Arizona đồng ý đi học tại căn cứ Fort Benning với điều kiện: về chỉ huy 1 trung đội của đại đội Alpha sau khi học xong. Mọi chuyện đã được giàn xếp ổn thỏa. Sexton rời Georgia trở lại nam VN sau 4 tháng học và đổi lon chữ V của Specialist 4 (Lính chuyên trách cấp cao hơn binh nhất và dưới hạ sĩ. ND) lên gạch vàng cho cấp thiếu úy. Anh ta trở lại vài tháng sau khi Milton lên nắm đại đội Milton. Sexton là 1 sĩ quan xuất sắc và là người mà Milton thường nhờ tư vấn về những hoạt động hành quân, tác chiến.

Sau khi thấy toàn đại đội đã ở đúng nơi đúng chỗ, Milton rất hài lòng và quay về chỉ huy sở là 1 cái hố nông được đào rộng ra. Anh cùng đám lính đều hăm hở trước nhiệm vụ “cánh gác cung điện” sắp đến.

Cách xa cao điểm 1338 khoảng 1500m, đại đội Charlie, tiểu đoàn 2/503, đang di chuyển vào vị trí đóng quân ban đêm. Đại úy Ronald R. Leonard nắm quyền chỉ huy đại đội Charlie từ đầu tháng 6. Đại úy Thomas Carney, người tiền nhiệm đã dẫn dắt Charlie nhảy dù trong chiến dịch Junction City cùng các chiến dịch kế tiếp trước khi chuyển lên Pleiku. Carney là 1 chỉ huy đại đội rất thương binh lính nên các trung đội trưởng đã tổ chức bữa tiệc rượu cực kỳ hoành tráng tại Pleiku để chia tay Carney. Mất Carney, là 1 đòn nặng với đại đội Charlie. Chính sự tôn sùng Carney như vậy lại gây khó cho đại úy Leonard trong công việc sau này.

Ron Leonard sinh trưởng ở Kansas, là sinh viên đại học Fort Hays State. Anh tốt nghiệp cử nhân sinh học năm 1959. Anh dạy khoa học tự nhiên và môn hóa ở trường trung học trước khi gia nhập Không quân và được phong sĩ quan năm 1963. Do ko hài lòng với công việc, anh đã xin chuyển sang Lục quân và đã chuyển qua đó mùa xuân năm 1966.

Khi chuyển từ Không quân sang Lục quân, Leonard đã tình nguyện vào bộ binh và học nhảy dù. Khi hoàn tất những khóa học, anh chuyển đến căn cứ Fort Hood, Texas. Tháng 9 năm 1966, được thăng cấp đại úy. Tháng 12 thì được lệnh sang nam VN. Để kỳ hạn chiến đấu của mình được chuẩn bị hoàn hảo. Leonard đòi hỏi được tham gia học ở trường Ranger (biệt động quân). Anh hoàn tuấn khóa học gian khổ tháng 4 năm 1967 rồi qua thẳng nam VN.

Sau khi tiếp nhận đại đội Charlie, đại úy Leonard tham giự cuộc họp buổi tối ở sở chỉ huy tiểu đoàn. Tại đây các chỉ huy đại đội nghe đọc tên những sĩ quan sẽ tới thay thế, bổ sung cho họ. Charlie nhận trung úy Judd ; Alpha sẽ có trung úy Matthew C. Harrison.

Leonard xen vào, anh nói có quen Harrison hồi ở căn cứ Fort Hood. Có ai phải đối việc đổi Harrison qua đại đội anh còn  Judd qua Alpha ko? Ko ai nói gì hết nên việc coi như là xong.

Matt Harrison là 1 anh chàng đáng mến, 22 tuổi, tốt nghiệp West Point và đây cũng chính là nơi anh chào đời khi ba của Harrison làm giảng viên ở đó. Khi đang còn là học viên sĩ quan, Harrison đã tình nguyện sang nam VN về lữ đoàn 173 không vận. Anh đã tìm hiểu trước và biết 173 là 1 đơn vị tinh nhuệ. Harrison  rất hăng hái tham gia cuộc chiến mới ở VN, và muốn phục vụ hết mình.

Sau khi Harrison hoàn tất khóa học tác chiến trong rừng của lữ đoàn, anh đáp C-130 lên Đắk Tô. Ngày hôm sau, trực thăng tiếp tế Huey đưa anh lên vị trí của đại đội Charlie trên cao điểm 1338. Hôm đó là ngày 20 tháng 6.

Harrison ko thể tin những gì anh nhìn thấy khi nhảy ra khỏi trực thăng. Những cái cây cao ngút tầm mắt. Tre mọc khắp mọi nơi. Thảm thực vật mọc kín đất. Từ nơi đóng quân của đại đội nhìn ra xung quanh chỉ thấy được ở tầm vài mét rồi rừng già lại nuốt mất. Charlie cắm trại trên triền cao điểm giữa 2 bên đều là dốc đứng. ‘Xin chào chiến tranh’. Harrison tự nhủ.

Ngày hôm sau, 21 tháng 6, đại đội Charlie tiếp tục leo lên cao điểm 1338. Đây thật là công việc gian khổ. Những bụi cây rậm rạp ken dày làm cho tốc độ tiến quân chưa được 100m/ 1 giờ. Các tiểu đội xích hầu phải dùng dao rựa phát quang cành lá, dây leo để mở đường tiến. Thời tiết nóng ẩm khiến cho công việc trở nên khó khăn gấp bội. Những người lính cầm dao rựa phát cây cứ mỗi 15 phút lại phải thay ra vì sợ họ sẽ kiệt sức mà gục ngã.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 07 Tháng Năm, 2014, 08:29:37 AM
Đi cùng đại đội Charlie còn có 1 trung đội CIDG (dân sự chiến đấu – tức biệt kích. ND) của trại biệt kích Đăk Tô. Họ ko chỉ là quân bổ sung mà còn là những hướng dẫn viên trong vùng. Đại úy Leonard ko tin tưởng lắm vào khả năng của họ. Viên trung úy chỉ huy họ biết tiếng Anh nên việc truyền đạt diễn ra dễ dàng. Tay trung úy này nói anh ta cảm thấy có địch trong khu vực và cũng tỏ rõ cho thấy ko ai trong số họ muốn tới đó.

Dẫn đầu đại đội Charlie là trung đội 2 của trung úy Phillip Bodine. Bodine sinh trưởng tại Rock Island, Illinois, và nhập ngũ khi sắp được 19 tuổi. Anh nhanh chóng được gửi đi học OCS và đến tháng 12 năm 1966 thì được phong làm sĩ quan. Tháng 3 năm 1967, Bodine được triển khai tới nam VN cùng 1 tiểu đoàn trực thăng của căn cứ Fort Bragg. Anh ko thích công việc này nên đã xin chỉ huy cho chuyển sang bộ binh. Sau đó 1 tuần thì anh đã tới ghi danh tại lữ đoàn 173 ở Biên Hòa.

Đến giữ buổi chiều ngày 21 tháng 6 thì đại úy Leonard bắt đầu tìm nơi trú quân qua đêm. Anh chọn 1 chỗ sát ngay tuyến đường hành quân. Khi lính tráng tiến vào vị trí và bắt đầu đào công sự chiến đấu ban đêm thì các trung úy Harrison và Bodine lệnh cho mấy tiểu đội trưởng dưới quyền thiết lập chốt cảnh giới khi đêm xuống (LP). Những toán gồm 3 hay 4 binh sĩ sẽ chiếm lĩnh những vị trí cách chu vi phòng thủ chừng 30 đến 50m để có thể cảnh báo từ xa khi có địch tiến công.

1 trong số 2 chốt cảnh giới của trung úy Bodine gồm có 2 lính dù và 3 biệt kích CIDG. Anh muốn tổ này quay lại con đường vửa đi trong ngày để xem họ có bị bộ đội Bắc Việt bám đuôi không. Bodine đi cùng với toán tuần thám nhỏ bé
này để đưa họ vào đúng vị trí.

Họ vừa ra khỏi chu vi phòng thủ, thì 1 lính CIDG ra hiệu cho Bodine. Cậu ta nói “Đây có nhiều VC lắm. Đừng đi!”

“Cậu sẽ đi!” Bodine vừa nói vừa đẩy anh chàng đi tới trước. Phần còn lại của đại đội đang tất bật chuẩn bị nghỉ đêm phía sau lưng anh.

Toán tuần thám nhỏ bé của Bodine di chuyển khoảng 40m xuống chân cao điểm. Bodine đi sau để ngăn lính CIDG bỏ trốn về trại. Cây cối, tre gai trong rừng quá rậm rạp khiến Bodine ko sao nhìn thấy người lính đi đầu chỉ đi cách anh có 10m phía trước.

Bỗng có tiếng súng nổ phá tan màn đêm yên tĩnh, Bodine lập tức nằm phục xuống đất. Sau 1 phút yên lặng, anh ta cố mọp sát đất trườn tới phía trước.

Khi Bodine tới chỗ người lính dẫn đầu, chàng trai trẻ này đang rất kích động và hấp tấp giải thích rằng anh ta chạm mặt với 1 lính địch chỉ cách khoảng 1,5 mét. Trước khi tay lính dù kịp bắn thì tên địch đã nổ súng. Đạn bắn hụt chàng “thiên binh” nhưng lại trúng 1 lính CIDG. Xác người lính Thượng đang nằm sóng soài ngay gần đó. Anh lính Mỹ bắn trả nhưng tên lính Bắc Việt đã biến mất.

Bodine gọi điện đài báo cho Leonard. Leonard gọi toán thám sát của Bodine quay về rồi thắt chặt công tác phòng thủ của đại đội. Anh chắc mẩm và chờ đợi cuộc tập kích sẽ diễn đêm đó.

Xác người lính CIDG được để ngay giữa chu vi phòng thủ. Nếu thời tiết cho phép, 1 máy bay trực thăng sẽ tới nhận cái xác vào sáng hôm sau. Đối với phần lớn lính Mỹ thì đây là thương vong đầu tiên của chiến tranh mà họ được chứng kiến. Nhưng với nhiều người thì đây lần đầu tiên được nhìn thấy người chết. Trung úy Harrison cũng chưa từng nhìn thấy xác người chết, cũng chưa từng dự đám tang nào. Với anh, việc xác người lính Thượng được mang về chính là 1 thực tế chiến tranh sống động hơn bất cứ khóa huấn luyện nào trước đó. Giờ thì anh đã biết rõ cuộc chiến tranh này là có thật.

Lính dù trong đại đội Charlie đã trải qua 1 đêm thấp thỏm lo âu. Các vọng tiêu liên tiếp báo về những động tịnh sát bên mà họ nghe được. Đại úy Leonard ko cho phép nổ súng, anh ko muốn họ làm lộ vị trí. Tuy vậy vẫn có một số thành viên khác của Charlie lại vẫn cứ ngủ ngon.

Đại đội Alpha của đại úy Milton phía dưới họ thì trải qua 1 đêm ngon giấc hơn. Ngày mai họ sẽ được về căn cứ. Họ đã ra ngoài hành quân 4 ngày rồi, ko gặp đối phương và quan trọng nhất là ko có tổn thất. Đó là 1 chuyến tuần tiễu tốt đẹp.

Cả 2 toán quân đều biệt lập với nhau. 1500 mét ngăn cách bọn họ cũng như là 1500 dặm vậy. Mỗi đại đội sống trong thế giới riêng của mình, hầu như bị chẳng biết gì về đơn vị kia và thế giới bên ngoài.

Có lẽ chỉ có ko đến 10 người trong cả 2 đại đội biết được việc Israel xâm chiếm Ai Cập trong 1 cuộc tiến công chớp nhoáng mấy tuần trước đó. Tất cả sẽ rất đỗi ngạc nhiên khi biết đồng minh Israel của chúng ta đã tấn công 1 chiếc tàu do thám của Hải quân Mỹ ở phía đông Địa Trung Hải vào ngày thứ 2 của cuộc chiến, giết chết và làm bị thương hàng chục thủy binh Mỹ vô tội.

Một vài người mới tới thì còn có thể biết nhóm Jefferson Airplane's White Rabbit vừa lại đứng đầu bảng xếp hạng âm nhạc Hoa Kỳ. Ko ai biết được ca sĩ nổi tiếng Cher vừa thông báo cô đang có thai đứa con đầu lòng. Nếu họ biết thì tất cả mọi lính dù sẽ rất hoan nghênh trước tin nhà vô địch quyền anh TG Cassius Clay (tên khai sinh của Muhammad Ali .ND) bị đưa ra xét xử vì từ chối nghĩa vụ quân sự.

Thực tế thì trong lúc đó tổng thống Lyndon B. Johnson đang gặp gỡ chủ tịch hội đồng bộ trưởng Liên Xô Aleksey Kosygin tại Glassboro, New Jersey để thảo luận về tiến trình hòa bình cho Trung Đông nhưng các “thiên binh” lại ko quan tâm mấy đến sự kiện đó.

Chỉ có 2 điều thiết thực với các lính dù trong tháng 6 này là: Họ vẫn còn sống và kỳ hạn phục vụ 365 ngày tại VN đã sắp hết.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 08 Tháng Năm, 2014, 08:55:04 AM
Chương 4
Trận đánh trên sườn dốc.





Bình minh ngày 22 tháng 6 năm 1967 mang theo sương mù dày đặc và những đám mây thấp đến khu vực Đăk Tô. Sẽ ko có chiếc trực thăng nào của lữ 173 có thể cất cánh được cho tới khi mặt trời lên cao xua tan mây mù.

Hai đại đội của tiểu đoàn 2/503 trên cao điểm 1338 sôi nổi hẳn lên. Các tán cây rừng kín mít khiến cho ánh sáng ban mai trở nên mờ mịt, tầm nhìn giảm xuống vài mét. Điều này đã có ảnh hưởng chết người đối với 1 người lính của đại đội Charlie.

1 ‘tay lính mới chết tiệt’ (FNG), binh nhất Jimmy Lee Cook, bước ra ngoài chu vi phòng thủ đại đội để đi tè. Anh chàng ko nói cho ai biết việc mình đi ra. Khi ‘xong việc’ và quay về chu vi phòng thủ thì 1 lính gác đang căng thẳng phát giác bóng anh ta đang di chuyển trong đám cây cối. Tay lính gác lại nghĩ anh này là lính Bắc Việt và xả 1 loạt M16. Khi người lính gác cùng với tiểu đội trưởng tiến ra để xem xét thì họ mới nhận ra sai lầm khủng khiếp này.

Đại úy Leonard rất buồn phiền khi quân của mình chết và điều đó xảy ra là do sự bất cẩn. Giờ thì anh đã có thêm xác chết thứ nhì cần phải giải quyết. Anh chẳng thể biết bao lâu mới có trực thăng tới và mang mấy cái xác đi. Leonard gọi điện đài báo tình hình cho trung tâm hành quân (TOC). Rồi chuẩn bị cho 1 ngày đi tuần tiễu của đại đội.

Tại nơi đóng quân dã ngoại của đại đội Alpha, trung sĩ William Nichols, 21 tuổi, người Long Island, New York thức dậy buổi sáng mà lòng đầy lo lắng bồn chồn. Là 1 lính cũ ‘cứng cựa’ tới nam VN từ hồi tháng 2. Nichols đã nhảy dù cùng đại đội Alpha trong chiến dịch Junction City và cùng đơn vị lên Đăk Tô này. Trong mấy tháng qua, anh là trinh sát hỏa lực (FO) cho mấy khẩu cối 81mm của đại đội đi cùng trung đội 2. Tối hôm trước, trung đội phó trung đội hỏa lực đã gọi anh trờ về lại trung đội. Anh đã đi cùng trung đội 2 quá lâu và cần phải được thay thế.

Vẻ bồn chồn của Nichols buổi sáng đã khiến cho 1 người bạn phải chú ý. Anh này hỏi: “Sao thế, trung sĩ?”

“Tao chẳng biết. Chỉ cảm thấy có gì đó ko ổn.”

“Bình tĩnh nào” anh kia khuyên. “Cậu quá hoảng hốt rồi đó. Chắc là do ở cùng mấy trung đội tuyến đầu quá lâu đây.”

Nichols quay lại chuẩn bị trang bị, cố nén căng thẳng lại.

Cách đó 1 quãng ngắn, 1 thành viên khác trong trung đội hỏa lực cũng đang gói ghém ba lô. Binh nhất John Steer, 1 gã ba gai 19 tuổi quê ở Minneapolis. Khi còn bé anh ta luôn gây rắc rối, năm 15 tuổi thì thôi học bỏ nhà đi hoang, rồi tới ở California. Anh ta làm những việc linh tinh ở đó 1 thời gian rồi lại về nhà. Rốt cục anh lại gây ra rắc rối nhưng lần này thì phải đối mặt với nhà tù. Vị thẩm phán hứa sẽ tha tội cho Steer nếu anh chịu nhập ngũ. Anh đã đồng ý. Tháng 3 năm 1967 anh tới nam VN và về đại đội Alpha.

Một số thành viên trong trung đội hỏa lực nhận xét Steer là 1 anh chàng ranh mãnh. Anh ta cũng vậy. Anh ko khoái súng cối và muốn sang 1 trung đội súng trường, Steer cũng ko hề giấu diếm mọi người về ý định đó.

Đêm trước, khi được nghe họ sẽ về lại Đăk Tô theo đúng tuyến đường đã đi qua mấy bữa trước, Steer ko sao tin được. Đám lính lác đều tin rằng ko nên sử dụng lại các lối mòn. Kẻ thù xảo quyệt thường hay cài mìn bẫy hay tổ chức phục kích dọc theo chúng. Steer và bạn bè đã trải qua 1 đêm tệ hại khi cứ lo nghĩ tới những khổ ải sẽ phải chịu ngày hôm sau.

Thực ra thì đại úy Milton chỉ có ít sự lựa chọn về tuyến đường hành quân cho đại đội. Triền cao điểm họ đang đóng quân có 2 bên toàn là dốc, bị cây cối rậm rịt bao phủ. Bất cứ con đường nào khác cũng sẽ phải mất nhiều ngày mới vượt qua được.

Milton giao vị trí xích hầu cho trung đội 2 của trung úy Judd . Tiếp theo đó là trung đội 3 của trung úy Hood, đại đội bộ của Milton sẽ theo sau. Sau họ là trung đội hỏa lực. Trung đội 1 của trung úy Sexton được giao nhiệm vụ rải CS lên chỗ đóng quân và bãi đáp, rồi sẽ đi đoạn hậu.

Trung úy Judd xuất phát lúc 6g25. Khi phần đuôi trung đội của anh ta đã xuống cao điểm và mất dạng trong rừng, Hood mới cho trung đội đi tới. Lính của trung đội hỏa lực, cả thảy 18 người, ngồi dọc theo đường mòn đợi tới lượt mình di chuyển. Trung đội của trung úy Sexton đã đeo mặt nạ phòng độc vào và bắt tay vào rải chất CS quanh bãi đáp.

Khi trung sĩ Nichols vừa mới đứng dậy thì nghe có tiếng súng trường nổ đanh phá tan sự yên tĩnh buổi sáng. Tiếng súng nổ vẫn tiếp tục hơn 10 giây nữa rồi mới chịu ngưng. Lúc đó là 6g58.

Đại úy Milton lấy điện đài gọi Judd . Viên trung úy trẻ báo cáo tiểu đội dẫn đầu của anh đã vấp phải từ 10 đến 15 lính Bắc Việt đang theo đường mòn tiến thẳng tới chỗ bọn họ. Bộ đội bắn trước và đã bắn trúng 1 số lính của Judd . Anh ta ko nắm được có bao nhiêu người bị dính đạn, có ai bị thương nặng hay ko? Judd  cùng những lính còn lại đang thiết lập chu vi phòng thủ.

Khi binh nhất Steer nghe ai đó bảo tiếng súng chỉ là của toán trinh sát trung đội 2 mà thôi, anh liền đốp lại ngay “Vớ vỉn. AK-47 bắn đó”. Tiếng nổ đặc trưng của súng M16 cũng có thể nghe thấy, vậy là trung đội 2 đang bắn trả.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 09 Tháng Năm, 2014, 08:32:46 AM
Sau khi ngắt cuộc gọi với Judd , Milton điện báo về trung tâm hành quân tiểu đoàn. Anh báo cáo việc đụng độ cho đại úy Ken Smith, trung tá Partain và cấp phó của ông này là thiếu tá H. Glenn Watson đang cùng có mặt tại trung tâm. Trong khi Partain và Smith chấm tọa độ để gọi pháo binh yểm trợ, thì Watson duy trì liên lạc với Milton.

Thiếu tá Watson cũng ko phải quá lo âu, dường như đại đội Alpha đã kiểm soát được tình hình. Ông khuyên đại úy Milton “cứ đánh mạnh lên và thường xuyên báo cáo về.”

Trên cao điểm 1338, đại úy Milton quay sang trưởng toán cứu thương của mình là Sp5 (Spercialist) Richard E. Patterson. Anh nói: “ Doc, dưới kia đang cần lính cứu thương đó.”

Thoạt đầu Patterson định điều 1 lính cứu thương khác đi, nhưng rồi lại thôi. Chết tiệt! Anh tự nhủ. Mình sẽ tự đi vậy.

Patterson bắt đầu chạy xuống con đường mòn trơn nhẫy. Anh đã có gần 2 năm trong quân ngũ dù mới chỉ 18 tuổi. Sinh ra trong 1 khu phố nghèo khổ của Boston, anh thấy môi trường quân đội là cơ hội để đổi đời. Tháng 9 năm 1965, khi vừa 17 tuổi , anh nhập ngũ với thời gian là 4 năm, hy vọng có thể học lấy 1 nghề trước khi trở về đời sống dân sự.

Giờ anh đang chạy lắt léo trên 1 con đường rừng lầy lội, hướng về phía tiếng súng bắn. Anh mau chóng vấp phải 1 lính cứu thương khác, đang nằm dọc đường, cả 2 tay đều trúng đạn. Một “thiên binh” khác đang chăm sóc cho người lính cứu thương nên Patterson càng trở nên vội vã.

Lúc này thì trung úy Judd  đã theo đường mòn lùi lại khoảng 75m tới 1 chỗ rừng trống và hội quân với trung úy Hood. Cả 2 cùng thiết lập 1 trận địa phòng thủ hình chữ V. Quân của Judd  bên trái, của Hood bên phải. Các lính dù tìm chỗ ẩn nấp và bắn trả vào những kẻ địch vô hình.

Patterson nhào vào cái vị trí chỉ rộng khoảng 15m bề ngang. Lính tráng nằm rải rác khắp nơi, 1 số thì bắn, những người khác điên cuồng căng mắt tìm kiếm trên bức tường cây rậm rạp trước mặt những dấu hiệu bộ đội Bắc Việt đang tiếp cận.

Ngay sau đó có 1 tiếng thét khủng khiếp từ chỗ đường mòn lan xuống. Patterson sợ cứng người lại. Ít giây sau, 1 lính dù hoảng loạn, ko có súng lao vào khoảng rừng trống, trong mắt anh lộ rõ vẻ khiếp hãi tột cùng. Anh ta vừa la hét vừa tiến tới chỗ trung úy Hood, nước mắt lăn dài trên má.

Anh ta gào lên: “Tao giết mày! Dis mẹ mày! Tao sẽ giết mày!”

Hood đứng lặng, chẳng biết xử trí ra sao nữa. Rồi 1 hạ sĩ quan tóm lấy gã trai trẻ đã hóa dại và vật ngã anh ta xuống đất.

Cái quái gì đang xảy ra vậy? Patterson tự hỏi. Trước khi anh có thể hiểu được nguyên nhân gây ra sự bột phát của người lính, thì cả khoảng rừng trống nhỏ bé tràn ngập tiếng lựu đạn nổ, tiếng súng bắn tứ tung. Patterson và những người khác vội mọp xuống sát đất.

Cách đó quãng ngắn, có 1 lính dù bị bắn trúng bụng, ruột đổ xuống đất thành đống bốc hơi nghi ngút. Patterson cùng 1 lính cứu thương nữa bò đến chỗ nạn nhân. Hai người quỳ bên cạnh, liều lĩnh cố nhét ruột vô lại và băng bó vết thương cho người lính.

Tiếng súng cá nhân gia tăng cường độ. Đạn Ak-47 bay viu víu qua đầu 2 anh lính cứu thương. Patterson đang nghiêng người nói thì ngưởi lính cứu thương kia bỗng giật nảy lên. Patterson thấy mắt bạn cứ chằm chằm nhìn mình trong khi 1 tia máu dài phun ra từ cổ. 1 viên đạn AK-47 đã bắn trúng cổ người lính cứu thương. Trong khi Patterson vẫn đang kinh hoàng giương mắt nhìn, người lính đổ về phía trước, máu phun thành vòi, rồi chết. Patterson đẩy xác bạn qua bên, và quay lại cứu chữa người thương binh kia.

Tại sở chỉ huy đại đội ở phía sau, đại úy Milton báo cho trung tâm hành quân biết tọa độ của mấy trung đội đang bị ghìm chặt. Anh muốn pháo binh dập ngay xuống phía trước mặt các trung đội đó. Chỉ ít phút sau những trái đạn pháo 105mm của tiểu đoàn 3, trung đoàn 319 pháo binh đã rời khỏi nòng.

Trong rừng rậm nhiệt đới, pháo binh có vẻ ko được hiệu quả cho lắm. Hầu như ko thể hiệu chỉnh đường đạn chính xác do tầm nhìn hạn chế mà còn do đạn pháo có xu hướng nổ trên ngọn cây cao, làm mảnh đạn tản mác và trở nên vô hại.

Ngoài ra bộ đội Bắc Việt biết đại bác ko thể bắn quá gần quân của nó. Địch lợi dụng ngay sự thận trọng này bằng cách di chuyển vào gần lính dù nhất có thể, “bám chặt” lấy tuyến phòng thủ của quân Mỹ. Và thế là pháo binh Mỹ rót xuống vô ích phía sau lưng quân địch.

Khi nghe thấy có tiếng đụng độ, trung úy Sexton liền đưa trung đội mình xuống tới vị trí của Milton. Thấy cường độ đọ súng dưới chân cao điểm tăng lên, Milton lệnh cho Sexton điều 1 tiểu đội, mang theo thật nhiều đạn tiến xuống đó. Sexton đã gửi đi 4 lính và 1 xạ thủ M60. Ko thấy họ quay về.

Trong khoảng rừng trống, Specialist Patterson, làm việc tất bật ko ngơi tay với số thương binh tử sĩ. Chỉ có anh và 1 lính cứu thương nữa là còn làm việc được. cả 2 cùng bò sát đất hết mức có thể, di chuyển từ ca thương vong này tới ca thương vong khác. Những tiếng kêu “cứu thương!” ai oán xen lẫn với tiếng ầm ầm của súng M16, AK-47 và đạn pháo.

Để áp sát mặt đất càng nhiều càng tốt, Patterson đẩy cái túi y tế ra phía trước mặt khi di chuyển. Bỗng nhiên mu bàn tay phải đau nhói khiến anh phải dừng lại. Một viên đạn địch đã xé toạc tay anh, sâu đến tận xương.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 12 Tháng Năm, 2014, 09:12:00 AM
Anh ko kịp có thời gian để xem xét vết thương vì bất ngờ có 1 tiếng nổ “ầm” phía sau lưng. Một quả lựu đạn phát nổ ngay cạnh chân phải của anh, mảnh của nó ghim vào mắt cá và cắt đứt gân gót chân phải của Patterson. Anh cảm thấy chân mình như đã bay mất. Anh đành nằm yên, cắn răng chịu đau.

Tại trung tâm hành quân tiểu đoàn, các báo cáo của Milton làm ban chỉ huy càng lúc càng lo lắng. Sự gia tăng nhanh chóng hỏa lực của đối phương khiến Partain và Watson bị thuyết phục đây ko phải là đụng độ bình thường. Từ trung tâm hành quân cũng có thể nghe thấy tiếng súng bắn tuy ko rõ lắm. Rõ ràng có 1 cái gì đó lớn lao sắp xảy ra.

Trung tá Partain lôi đại úy Smith và thượng sĩ nhất Vincent Rogiers tới chỗ trực thăng đậu. Ông muốn bay trên khu chiến ngay khi thời tiết cho phép để phối hợp pháo binh và không kích đang kêu tới. Thiếu tá Watson ở lại trung tâm hành quân trực điện đài.

Trở lại cao điểm 1338, 2 trung đội đang bị ghìm chặt vẫn cầm cự. Hỏa lực đối phương đã chùng xuống bớt, và lính dù có thể nghỉ ngơi chút ít. Sau đó, lúc 8g10, Specialist Patterson nghe ai đó phía trước thét lên : “Chúng nó tới!”

Vừa nghe xong thì đạn lại bắn ầm ầm ngay.

Quân địch tiến lên cao điểm thực hiện tấn công vỗ mặt vào chu vi phòng thủ. Rừng rậm rạp khiến các “thiên binh” chỉ nhìn thấy loáng thoáng những kẻ tấn công. Nhưng các chớp lửa của súng Ak-47 thì thấy rất rõ. Những khẩu M16 và M60 khạc ra cơn mưa đạn dữ dội đáp trả.

Lính dù chặn quân tiến công lại, theo như ước lượng của Hood báo cho đại úy Milton thì đối phương có qui mô trung đội. 30 phút sau cuộc tấn công lại được nối lại.

Trung tá Partain cùng với các tùy tùng lúc này đã bay trên đầu khu chiến. Chỉ mất vài giây Partain đã học được 1 bài học về thực tiễn chiến đấu ở Tây Nguyên. Những tán cây rừng rậm rạp khiến cho viên chỉ huy dù ko thể nhìn thấy bất cứ thứ gì trên mặt đất. Ông ko làm sao biết được quân của Milton đang ở đâu và lính Bắc Việt ở chỗ nào. Chỉ còn biết căn cứ vào tọa độ do Judd  hoặc là Hood cung cấp qua lời đại úy Milton.

Dựa trên nhưng thông tin trên, Partain gọi 1 phi vụ không kích. Để gọi máy bay phản lực, pháo binh sẽ phải chuyển làn vào lúc máy bay tới trên khu vực. Ko ai nghĩ tới việc liệu có nên sử dụng tới không kích hay là ko?. Bởi vì không kích thì ko chính xác bằng pháo kích và bộ đội Bắc Việt lại biết rằng nếu càng áp sát 1 đơn vị quân đồng minh, thì sẽ càng an toàn hơn.

Thiếu tá Watson hiểu điều này. Khi lệnh điều máy bay tới tai, ông nghĩ đây là 1 sai lầm. Thế nên khi có lệnh cho pháo chuyển làn, ông liền cự tuyệt.

Tướng Deane, lúc này đã tới khu vực, nhảy vào tần số của tiểu đoàn. Deane nghiêm lệnh cho Watson: “Cho pháo chuyển làn ngay.”

Từ 8g00 đến 8g25, các máy bay phản lực thả bom xuống phía đông triền cao điểm. Mười phút sau trực thăng vũ trang Huey tới hiện trường. Để đánh dấu vị trí chu vi phòng thủ của các trung đội cho hỏa lực yểm trợ tầm gần của máy bay trực thăng, các trung úy Judd  và Hood cho quân ném lựu đạn khói hay “pop smoke”-theo cách gọi của đám lính lác.

Một thực tiễn khác khi tác chiến ở Tây nguyên lại lộ rõ. Rừng rậm khiến cho khói bị phân tán quá mức nên trực thăng vũ trang ko thể định vị chính xác vị trí của lính dù.

Tác động trên mặt đất thì thật là thảm hại. Các cột khói đã báo cho bộ đội Bắc Việt biết vị trí của quân Mỹ. Specialist Patterson nhận thấy hỏa lực súng cá nhân ngay lập tức gia tăng cường độ. Ít giây sau, đạn cối Bắc Việt bắt đầu rót xuống chu vi phòng thủ, gây cho phía Mỹ thương vong nặng. Lẫn giữa những tiếng kêu la “Cứu thương!”, Patterson còn nghe thấy đám lính dù gào lên “Đừng ném khói nữa, Đừng ném khói.” Nhưng đã quá trễ. Quân Bắc Việt đã định vị chính xác vị trí của họ.

Trong khi trực thăng vũ trang vẫn đang bắn bừa vào rừng cây quanh đó. Bộ đội Bắc Việt tổ chức tấn công với số lượng đông đảo. Vào lúc đó trung úy Judd  gọi về cho Milton: “Six, chúng tôi đang phải chống đỡ 1 cuộc tiến công từ nhiều hướng. Bọn tôi chẳng có gì che chắn cả. Phải có tới hơn 100 thằng ‘mọi’ đang ùa đến.”

Milton chưa kịp đáp lời thì đã nghe thấy tiếng súng M16 nổ vang trong tai nghe. Anh bắt đầu tự hỏi liệu 2 trung đội kia có chống nổi ko? Họ đã đụng độ gần 2 tiếng đồng hồ và việc này vẫn chưa có dấu hiệu sẽ kết thúc. Lỡ kẻ thù kéo tới đông hơn thì sao? Milton sẽ phải làm 1 cái gì đó.

Anh quay sang trung úy Sexton đang ngồi xổm cạnh đó.

“Jeff, gom hết đạn dược có thể kiếm rồi xuống cao điểm. Cậu phải giúp họ cố thủ.”

Trung úy Sexton gật đầu quả quyết. Rồi truyền lệnh cho trung đội phó. Sau đó trung đội nhanh chóng mất dạng xuống chỗ đường mòn.

Ít phút sau trung đội Sexton tới được chỗ những người đang bị mắc kẹt. Những người lính sung sức tiến nhanh lên phía trước, phân phát đạn dược và bi đông nước. Ngay khi họ vừa chiếm lĩnh vị trí thì hỏa lực địch lại rộ lên.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 13 Tháng Năm, 2014, 09:23:35 AM
Những vết thương đau đớn khiến cho Specialist Patterson ko thể di chuyển được như trước nữa. Thay vào đó, anh ném bông băng và đồ dùng y tế khác xa khỏi chỗ mình. Một số thương binh bò lại gần Patterson để anh có thể cứu chữa.

Một lính dù đến bên Patterson trong trạng thái bị kích động. Anh ta bị bắn vào má trái. Viên đạn địch đã phá tan xương gò má, khiến cho tròng mắt anh này ko còn chỗ bám và cứ đu đưa. Patterson cố làm mọi điều có thể cho người lính rồi bảo anh quay lên cao điểm. Kể từ lúc đó, những thương binh thoát khỏi vòng vây  của chu vi phòng thủ bắt đầu leo dốc về chỗ của Milton. Lính trung đội hỏa lực cũng chạy xuống dốc để giúp đỡ họ.

Binh nhất Steer đã thực hiện 1 số chuyến đi như thế. Có lần anh vác 1 thương binh lên vai và bắt đầu leo trở lên. Mới leo được gần nửa chặng đường, họ đã bị 1 tay bắn tỉa đối phương bắn. Người thương binh thét lên rồi oặt xuống. Steer đành vác cái xác về sở chỉ huy của Milton rồi lại phóng xuống dốc.

Thượng sĩ Deeb kéo trung sĩ Nichols và 1 người lính khác chạy xuống dốc. Mới xuống được chừng vài chục mét họ đã gặp 1 thương binh đang nằm gục bên đường mòn. Deeb nói với Nichols. “Yểm trợ cho bọn tôi!” rồi anh cùng người lính kia đỡ thương binh lên. Trong lúc họ vất vả vật lộn, trượt ngã lên ngã xuống trong bùn thì Nichols, súng M16 kẹp hông đi giật lùi phía sau họ, mắt thì láo liên tìm kiếm dấu hiệu của quân địch. Họ về sở chỉ huy của Milton an toàn.

Trong chuyến kế tiếp, trung sĩ Nichols lại yểm trợ cho Deeb cùng người lính khác khiêng 1 lính dù đã bất tỉnh về nới an toàn. Đột nhiên anh phát hiện có 3 người châu Á có vũ trang đang mỉm cười với anh gần 1 chỗ rừng trống. Vì biết có biệt kích CIDG đang hoạt động trong khu vực, nên Nichols ko bắn.

“Ê ku” anh gọi Deeb “Trong vùng này ta có quân bạn là ‘mọi’ (gook) ko nhỉ?”

Câu trả lời là: “Không”

“Chó chết!” anh quay lại chỗ rừng trống. Những tên địch đã biến mất. Nichols lạnh toát cả sống lưng. Bên dưới tiếng súng vẫn nổ đều đều.

Đại úy Leonard của đại đội Charlie cũng thức dậy lúc bình minh. Bên cạnh công việc dỡ lều trại, ăn uống, chuẩn bị hành quân, họ còn phải bọc 2 cái xác chết vào poncho nữa. Rừng quá dày nên trực thăng tải thương ko thể xuống được thế nên họ phải khiêng xác theo cho đến khi gặp được 1 nơi thích hợp.

Đến 7g00 thì họ nghe thấy tiếng súng nổ. Cả Leonard cùng 2 trung úy Bodine và Harrison đều nghe được. Tất cả đều chuyển điện đài PRC-25 sang tần số tiểu đoàn để theo dõi tình hình.

Ít lâu sau, trung tá Partain gọi cho đại úy Leonard: “Charlie Six, giữ nguyên vị trí hiện tại.” Rồi sau đó Partain ra lệnh tiếp “Hãy chuẩn bị vận động tới hỗ trợ cho Alpha.”

Lúc đó tại trung tâm hành quân, thời tiết đã tốt nên Partain và những người khác đã có thể lên trực thăng. Trước khi đi Partain bảo thiếu tá Watson điều đại đội Charlie tới cứu Milton. Lúc đó là 9g00.

Watson điện cho Leonard: “Charlie Six. Xuống chỗ Alpha ngay. Họ đang gặp nguy và cần trợ giúp.”

Đại úy Leonard chuẩn bị cho đại đội di chuyển. Căn cứ và trận đụng độ đêm trước và tình hình của Alpha, Leonard tin quân Bắc Việt đang hiện diện trong khu vực này với số lượng lớn. Anh tin rằng địch sẽ gài bẫy đại đội nào tới cứu viện. Anh ko thể để đại đội của mình rơi vào cái bẫy đó mà bị tiêu diệt.

Leonard chỉ đạo cho các trung đội trưởng phải tiến quân cẩn trọng. Các tiểu đội xích hầu sẽ càn quét phía trước đại đội từ 50 đến 60m theo chiến thuật “cloverleaf – lá chuồn” ( là cách tiến quân khi lính đi trước sẽ tỏa rộng ra 2 bên và phía trước lục soát, sau khi thấy an toàn sẽ quay về đội hình và cả đơn vị sẽ đi tiếp, cứ 50-100m lại lập lại qui trình này. Chiến thuật này có hình dáng tựa như con chuồn trong bài tây. ND). Khi họ trở lại báo cáo khu vực đã an toàn, thì phần còn lại của đại đội mới tiến lên. Rồi việc phát quang lại tiếp tục. Bằng cách này đại đội sẽ xuống dốc theo kiểu sâu đo.

Trung đội 3 của trung úy Peter Kretso đi đầu tiên. Trung úy Harrison theo sau. Rồi tới trung đội hỏa lực và đại đội bộ của Leonard. Vì trung đội 2 của Bodine đã đi dẫn đầu ngày hôm qua nên giờ nó sẽ đi đoạn hậu.

Trung úy Bodine ko vừa ý về việc này. Anh nghĩ mình là trung đội trưởng nhiều kinh nghiệm nhất và thông thuộc địa hình hơn cả vì đã dẫn đầu đơn vị suốt cái ngày vất vả hôm qua. Lẽ ra anh phải đi đầu. Nhưng Leonard sẽ ko mất thời giờ để làm việc hoán đổi vị trí các trung đội.

Đại đội Charlie bắt đầu tiến xuống khoảng 9g30. Nếu có địch trong khu vực thì chắc chắn họ đã có dư thời gian đặt mìn bẫy hay tổ chức mai phục. Vì thế Leonard ko cho đại đội đi theo con đường đã sử dụng mấy hôm trước. Thay vào đó các tiểu đội đi đầu phải mở 1 con đường mới. Họ di chuyển từ từ, thận trọng dè chừng quân Bắc Việt. Chậm nhưng mà an toàn.

Nhiều lần trong khi di chuyển như thế, người lính đi đầu báo về những sự động tịnh mà anh ta nghe thấy ở 2 bên sườn. Đích thân Leonard tiến lên trước để điều tra. Đôi lần anh gọi pháo bắn vào những chỗ khả nghi còn thì đa số là bỏ ngoài tai mấy cái âm thanh linh tinh đó.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 14 Tháng Năm, 2014, 02:17:41 PM
Vì rừng quá rậm rạp, nên việc xoay tua những tiểu đội mở đường là cần thiết vì e rằng nỗi mỏi mệt sẽ làm lính tráng lơ là mất cảnh giác. Leonard ko hề muốn lọt ổ phục kích chỉ vì 1 binh sĩ quá mệt mỏi. Khi quân của Kretso đã đuối sức, anh đẩy trung đội của Matt Harrison lên để họ tiếp nhận vị trí dẫn đầu.

Sự chậm chạp của đại đội Charlie lại khiến thiếu tá Watson bực mình. Ông nghĩ đại úy Leonard di chuyển ko đủ nhanh. Watson liền gọi điện đài: “Charlie Six, các cậu phải đi nhanh hơn nữa, xuống cao điểm nhanh đi!”

Leonard tuân lệnh, nhưng tốc độ vẫn ko tăng. Thực ra thì muốn đi nhanh cũng ko được. Đơn giản là địa hình phức tạp rất khó đi chứ ko chỉ là nguy cơ lo lính tráng kiệt sức hay sợ lọt ổ phục kích. Anh quyết định đi với tốc độ còn cẩn trọng hơn nữa.

Watson tiếp tục hối thúc Leonard tăng tốc. Ông gọi: “Chó chết! Charlie Six, tôi muốn các cậu xuống dưới đó ngay! Khẩn trương!”

Leonard trả lời qua điện đài với Watson là anh đã đi nhanh hết mức có thể. Các trung đội của anh đang phải vật lộn với địa hình phức tạp, với 2 xác chết trĩu nặng và cả mối đe dọa rất thực về 1 cuộc phục kích nữa. Những điều đó đã ngăn anh tiến nhanh hơn.

Trung tá Partain nghe được cuộc trao đổi. Ông ta nhảy vào tần số: “Charlie Six, tôi muốn cậu xuống đó ngay lập tức! Đi mau!”

Đại úy Leonard vẫn tiếp tục tiến quân 1 cách thận trọng.

Ở chỗ trận đánh, Specialist Patterson có thể nghe tiếng trực thăng của Partain bay trên đầu. Anh nghĩ, ít ra thì chúng mình vẫn chưa bị lãng quên. Có mấy lần anh thoáng nhìn thấy bóng dáng của chiếc trực thăng qua những ngọn cây cao.

Thật ko may là nếu như Patterson có thể nhìn thấy chiếc trực thăng thì quân Bắc Việt cũng nhìn thấy. Quân địch bắt đầu bắn chiếc Huey. Phi công hét lên “Ta bị trúng đạn rồi!” Đành phải quay về Đắk Tô, chiếc trực thăng kéo theo 1 đám khói.

Tại sân bay, trung tá Partain và thượng sĩ nhất Rogiers nhào tới chiếc trực thăng khác trong khi đại úy Smith chạy về phía trung tâm hành quân tiểu đoàn. Vì đã nhìn thấy địa thế khu vực, anh có thể giúp phối hợp hỏa lực yểm trợ.

Tình thế của đại đội Alpha trên cao điểm 1338 vẫn chưa được cải thiện. Việc trung đội của trung úy Sexton tới chiến trường cũng ko ngăn việc bộ đội Bắc Việt tiếp tục các cuộc tiến công. Trong thực tế Specialist Patterson nghĩ rằng đối thủ càng lúc càng đánh rát hơn.

Lúc gần 10g00, trung úy Sexton gọi điện đài cho Milton :” Six, chúng nó đang chuẩn bị đánh nữa. Tôi nghĩ ta vẫn có thể cầm cự được.”

Milton gọi lại để động viên. Anh ta cũng chẳng còn biết làm gì hơn nữa.

1 đợt cối bắn chuẩn bị cho cuộc tiến công mới của bộ đội Bắc Việt. Patterson đang nằm cạnh 1 trung đội phó ( chức platoon sergeant, thường là cấp thượng sĩ – First sergeant .ND) thì 1 quả đạn cối rơi xuống phía sau. Mảnh cối xé nát lưng người lính cứu thương, làm bắp đùi phải của anh thủng 1 lỗ lớn. Tiếng nổ thứ 2 xé toạc mông bên trái của anh. Những vết thương làm chàng trai trẻ mê đi, thậm chí anh còn ko biết là mới bị thương cho đến khi lấy tay sờ để tìm hiểu tại sao lưng mình lại ướt. Khi xòe tay xem anh ta thấy nó đầy máu.

Cuộc tấn công của quân Bắc Việt được dự đoán từ trước đã tới sau đó. Patterson có thể nghe thấy các loại súng bắn ầm ầm, tiếng những người bị thương la hét. Anh ko hề biết rằng vào lúc đó cả 3 trung úy Hood, Judd , và Sexton đều đã chết hoặc bị thương nặng.

Milton tại sở chỉ huy cũng nghe thấy tiếng súng gia tăng cường độ. Trong lúc giao tranh đang ác liệt, thương binh vẫn tiếp tục đổ về chỉ huy sở. Milton lệnh cho trung sĩ Nichols cùng 1 người khác mang theo cưa máy leo lên trên cao điểm theo 1 lối nhỏ để đốn cây tạo bãi đáp cho trực thăng tải thương.

Nichols cùng anh bạn vừa mới hạ được vài cái cây thì họ nhận ra đạn địch đang ghim vào những cái cây xung quanh. Nichols nghĩ tiếng cưa máy rõ mồn một có thể khiến lính bắn tỉa Bắc Việt bắn nữa, vậy là quá đủ. Anh và cậu lính kia ném cưa sang bên, chộp lấy súng M16 và chiếm lĩnh vị trí xạ kích chung quanh chỉ huy sở.

Phía dưới cao điểm, Specialist Patterson kinh hãi nhìn 1 xạ thủ M60 thay cái nòng súng đã biến dạng, nóng đỏ của mình bằng tay trần. Người lính hoảng loạn đến mức ko nhận ra da tay đang bị bỏng rộp.

Patterson vẫn còn có thể băng bó cho những thương binh nào bò tới gần, nhưng rồi nhận ra xung quanh chỉ còn rất ít lính dù đang di chuyển. Lúc này anh nghe thấy lính tráng kêu gào: “Đạn, chúng tôi cần đạn!” Anh lấy đạn từ những xác chết và ném chúng cho mọi người.

Khi ấy trung tá Partain đã trở lại bầu trời. Ông vẫn gọi máy bay tới không kích và điều phối trực thăng vũ trang. Đột ngột, chiếc trực thăng bị trúng 1 loạt súng máy, khiến nó rung lắc mạnh. Một viên đạn bay qua giữa 2 chân Partain, xuyên qua ghế bố rồi trúng vào thượng sĩ nhất Rogiers, khiến ông này bị thương rồi mới bay ra cửa mở.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 15 Tháng Năm, 2014, 11:30:06 AM
Phi công thông báo máy bay đang bị mất điều khiển thủy lực. Họ sẽ phải bay về. Partain đã chuẩn bị tinh thần trong trường hợp máy bay bị rơi.

Ko biết bằng cách nào mà viên chuẩn úy trẻ tuổi có thể đưa chiếc máy bay bị thương lết về Đắk Tô được. Tuy nhiên dù người phi công đã trổ hết tài năng, chiếc trực thăng vẫn rơi mạnh xuống phi đạo. Mọi người thoát ra ngoài, nhưng trung tá Partain bị trẹo quai hàm, thương tích này gây phiền hà cho ông mấy tháng. Rồi rốt cục tới tháng 12, ông cũng phải đi nằm viện.

Sau khi rời khỏi chiếc trực thăng, Partain nén cơn đau chạy vội tới trung tâm hành quân. Lúc ông tới đó là vào khoảng 10g35. Đại úy Milton báo cáo anh ta đã mất liên lạc với 3 trung đội trưởng dưới quyền. Điên tiết vì tin trên, thiếu tá Watson và đại úy Smith quay sang quát mắng đại úy Leonard, bắt anh này mặc kệ những sự chuyển động 2 bên sườn để tiến gấp đến chỗ đại đội Alpha.

Lúc này thì tướng Deane cũng tới trung tâm hành quân lữ đoàn. Căn cứ vào báo cáo của Milton và những gì Partain quan sát được từ trên không. Tướng Deane phán đoán đại đội Alpha ko phải bị lọt vào ổ phục kích mà là tao ngộ với 1 đơn vị bộ đội Bắc Việt có qui mô chưa xác định. Deane tính toán rằng phần chủ yếu của đơn vị Bắc Việt sẽ tiếp tục vận động trong khi số còn lại kìm chân đại đội Alpha tại nơi giao chiến. Ông nghiên cứu bản đồ, xác định tuyến đường đối phương có thể di chuyển rồi chấm tọa độ cho sĩ quan liên lạc pháo binh. Người này chuyển số liệu cho trung tâm hướng dẫn hỏa lực (fire direction center) tiểu đoàn 3, trung đoàn 319 pháo binh. Lựu pháo 105mm bắn như đổ đạn vào khu vực, hy vọng tiêu diệt được quân Bắc Việt đang thoát khỏi khu vực.

Trung tá Partain báo cho tướng Deane về những phát hiện của mình. Khi Deane biết rằng 2 trực thăng của Partain bị bắn, ông trao cho Partain chiếc trực thăng của mình cùng phi hành đoàn và bảo ông ta bay lên lại. Trước khi bay đi, Partain lệnh cho đại đội còn lại của mình là Bravo rời vị trí bảo vệ căn cứ đáp trực thăng tới bãi đáp phía bắc, nơi 3 trung đội của đại đội Alpha đang phải chiến đấu để giữ lấy mạng.

Đại úy Roger Willoughby, nhanh chóng chuẩn bị cho đại đội Bravo của mình. Anh cũng đã biết tình hình qua sóng điện đài. Willoughby, là 1 người nhanh nhẹn, quyết đoán, với mái tóc vàng húi sát đầu, miệng luôn phì phèo xì gà đã sẵn sàng cùng lính lên đường. Họ mang theo trang bị nhẹ, chỉ gồm súng, đạn, nước uống và 1 ít đồ hộp. Khi Partain lệnh đi, chỉ mất vài phút là Willoughby cùng đại đội Bravo đã ra tới bãi đỗ trực thăng.

Trung úy C. Allen McDevitt xem bảng tên trung đội gắn trên các trực thăng. Tốt nghiệp đại học bang Arizona, 24 tuổi, McDevitt đã có kinh nghiệm hồi còn là lính biệt kích trong 1 đơn vị dự bị ở quê nhà Wilmington, Bắc Carolina rồi sau mới tới Arizona. 1 giảng viên khóa đào tạo sĩ quan dự bị ở đại học Arizona đã khuyến khích anh tham dự. McDevitt nghe theo và tới tháng 5 năm 1967 thì sang miền nam VN.

Trên chuyến bay đó, người ngồi cạnh anh chính là Don Judd . Họ khá giống tính nhau, cả 2 đều vui khi được về cùng tiểu đoàn. Họ đã lên kế hoạch để nghỉ xả hơi cùng nhau. Giờ thì trực thăng của anh đang bay về hướng nam và McDevitt đang tự hỏi bạn của mình lúc này đang ra sao?

Những chiếc trực thăng chở đầy lính đáp xuống bãi đáp, chỉ tiếp nhận được mỗi lần 1 chiếc, cách vị trí gần nhất của đại đội Alpha khoảng 1200m. Trung đội của McDevitt xuống đầu tiên. Anh cho lính tiến vào những rặng rừng tre ken đặc, cách vài mét là ko thể nhìn thấy gì. Anh ko tiến được xa vì đạn súng cá nhân bộ đội Bắc Việt đã khiến trung đội của anh phải nằm rạp xuống đất để nấp. Hỏa lực quân địch tới quá nhanh và dữ dội khiến họ ko sao tiến lên được.

Sau anh, 1 quả lựu đạn khói dùng để đánh dấu hướng gió trên bãi đáp đã khiến đám cỏ voi bắt lửa. Do vậy mà việc đổ số quân còn lại của đại đội phải hoãn lại. McDevitt bắt đầu phải gọi pháo bắn vào vùng trước mặt. Nỗ lực đi tiếp cứu của đại đội Bravo đã bị tạt 1 gáo nước lạnh.

Trên khu chiến, Specialist Patterson đang yếu dần đi vì bị mất nhiều máu. Anh lờ mờ nhận thức được có 1 trung đội phó, có lẽ cũng đang bị thương, vẫn bò giữa những người còn sống. Gặp ai anh ta cũng nói: “Ta sắp hết đạn rồi. Bọn ‘mọi’ sẽ còn trở lại. Ai đi được thì hãy rút ra, và quay về sở chỉ huy đại đội”

Patterson đã bị sốc. Vậy là những người bị thương, trong đó có cả mình, sẽ bị bỏ rơi. Không thể tin nổi. Đây là lần đầu tiên, Patterson cảm thấy mình sẽ phải chết. Anh sẽ ko bao giờ còn nhìn thấy lại người vợ đang mang thai đứa con đầu lòng của mình nữa.

Những thương binh còn di chuyển được gần anh đã bò vào rừng cây quanh đó. Patterson cũng quyết định đi cùng họ. Anh phải gặp mặt đứa con đầu lòng.

Anh cố gắng bò vào rừng và nhập hội với, người trung đội phó đã kêu mọi người rút ra. Khi vừa đến chỗ người này, có 1 loạt đạn bắn ngay giữa họ. 1 viên đạn bắn trúng hông phải Patterson. Người trung sĩ hứng gần hết những viên đạn còn lại. Anh ta đổ vật về phía trước.

“Cố lên ,trung sĩ.” Patterson gọi “Chúng mình đã ra đến tận đây, ta có thể thoát.”

Anh trung sĩ thở hắt ra: “Tôi ko thể đi thêm nữa đâu. Hết rồi. Vĩnh biệt.”

Dù Patterson năn nỉ, nhưng trung sĩ vẫn nằm đó. Patterson đành bò một mình.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 16 Tháng Năm, 2014, 10:04:36 AM
Xung quanh anh đạn cày xuống đất, bay viu víu trên đầu. Anh nghe tiếng những lính dù khác rào rào chạy xuyên qua tán lá để vượt thoát. Patterson điên cuống dùng 2 tay cố rướn mình lết đi. Khi rúc vào rừng anh ngoái đầu qua vai nhìn lại đằng sau. Đây là lần đâu tiên trong ngày anh nhìn thấy lính Bắc Việt. Địch quân nhô ra từ khoảng rừng phía bên kia chu vi phòng thủ, súng AK-47 kẹp ngang hông. Patterson cố hết sức lủi ngay vào bụi rậm.

Chỉ 1 lúc sau, Patterson nhận ra rằng mình ko thể đi xa hơn được nữa. Anh cứ nằm đó trong vô vọng. Rồi có 1 trung sĩ bò bằng tứ chi ngang qua chỗ anh. Patterson gọi anh ta tới giúp. Người trung sĩ quay đầu dừng lại, và nhìn Patterson chằm chằm 1 lúc lâu. Rồi anh ta gọi 2 lính dù gần đó đến giúp. Họ cố đỡ anh đứng dậy. Nhưng chân phải cứ trực kéo anh đổ xuống. Đến khi ấy Patterson mới nhận ra mình đã bị gãy hông phải.

Cuối cùng, 1 lính dù vác Patterson lên vai và bắt đầu leo lên cao điểm. Nằm trên lưng anh ta, Patterson còn nghe thấy tiếng những lính dù bị thương kêu thét xin tha mạng khi quân Bắc Việt đi tới.

Toán lính nhỏ đã leo gần tới nơi thì đạn quân Bắc Việt đuổi kịp họ. Patterson bị bỏ xuống đất trong khi mấy người kia lao đi tìm chỗ nấp. 1 người lính đi cùng Patterson quay lại, lấy súng M16 bắn xuống cao điểm. Anh này bị trúng 1 loạt Ak-47 vào háng, mất 1 bên tinh hoàn.

Trong khi người lính đau đớn quằn quại, bất ngờ có 4 lính từ sở chỉ huy xuất hiện bên trên họ. Patterson năn nỉ họ cứu: “Xin đừng để bọn tôi lại đây. Nếu dính đạn thêm nữa thì chết mất.”

Một lính dù là Sp4 William L. Reynolds, trượt xuống chỗ Patterson trong khi những người khác cứu chữa anh lính kia. Reynolds nằm chắn giữa Patterson và quân Bắc Việt. “Tôi sẽ đưa cậu ra khỏi đây” anh nói, rồi giật nảy người khi bị 1 viên đạn AK-47 bắn trúng hông. Kỳ diệu thay, viên đạn lại trúng vào quyển Kinh Thánh mà Reynolds mang trong túi áo. Lực tác động của viên đạn gây ra 1 vết bầm lớn và làm chân anh nhức nhối nhưng ko chảy máu.

Bên trên, ai đó có 1 sợi dây thừng. Một đầu dây được ném xuống cho Reynolds. Anh buộc nó dưới nách Patterson, và họ kéo anh lên. Patterson ko hề cảm thấy đau mà trái lại còn mừng khấp khởi vì đã thoát khỏi khu vực chết chóc. Có người khiêng anh đến sở chỉ huy của Milton và đặt anh xuống cạnh những thương binh khác.

Trung sĩ Nichols và binh nhất Steer bận bịu lo giúp đỡ thương binh và những người bị tụt lại. Ko ai biết chính xác số người thoát được ra khỏi khu chiến. Hầu hết các ước tính nằm đều trong khoảng từ 12 đến 15 người.

Trong khi đó đại úy Milton bảo trung sĩ Nichols kiếm vài người rồi tiến xuống cao điểm. Nichols nhìn quanh. Còn anh và 15 lính dù khác vẫn chưa bị thương. Thương binh thì có khoảng 35 người, hầu hết ko đi lại được, nằm xung quanh chỉ huy sở và đang đau đớn kêu rên. Nichols nói với Milton: “Chẳng còn ai mà gửi đi nữa đâu”. Milton gật đầu rồi từ từ đi lại chỗ điện đài viên (RTO) của mình.

Lúc này đã 11g30. 10 phút sau đó, đại úy Milton lệnh pháo kích lên phía tây bắc. Dưới sự yểm trợ đó, Milton cùng phần còn lại của đại đội lùi lên cao điểm khoảng 50-75m nữa. Trên đó có gò đất nhỏ có thể dùng làm vị trí phòng thủ tốt hơn. Ngoài ra nó còn có khoảng trống, có thể dễ dàng mở rộng tạo thành bãi đáp vừa cho 1 chiếc trực thăng đáp xuống.

Trong khi các thành viên trong trung đội hỏa lực bắt đầu làm việc. Milton gọi điện đài cho Partain để hỏi cái câu hỏi mà các thượng cấp của anh cũng đang rất quan tâm: “Đại đội Charlie ở đâu?”

Đại đội của Leonard vẫn đang thận trọng tiến xuống cao điểm. Dù cho cả trung tá Partain, thiếu tá Watson, lẫn đại úy Smith đều khẩn nài Leonard hãy bỏ qua những chuyển động ở 2 bên sườn mà mau mau tới cứu Alpha, anh này vẫn từ chối đẩy nhanh cái việc di chuyển liều lĩnh kia. Anh vẫn cho những toán mở đường tiếp tục công việc. Leonard tin rằng bộ đội Bắc Việt đang nằm phục đâu đó.

Trong khi đại đội tiếp tục tiến xuống, trung úy Bodine đã lưu ý rằng trung đội dẫn đầu đã đi lạc khỏi đường sống núi mà họ đã leo lên mấy hôm trước.

“Six,” Bodine gọi cho Leonard “Ta đã lạc khỏi đường sống núi dẫn xuống chỗ Alpha. Anh có muốn tôi lên đi đầu từ chỗ này ko?”

Leonard nói không. Anh ko muốn đảo lộn thứ tự các trung đội. Anh xem bản đồ rồi nói với Bodine: “ta sẽ đi ở đường sống núi bên cạnh, nó cũng sẽ dẫn ta xuống đó.”

Bodine rất bực. Anh cảm thấy mình di chuyển quá chậm. Tiếng súng bên dưới giờ đã khó nghe hơn.

Trong khi ấy, tất cả đại đội Bravo của đại úy Willoughby cũng đã đổ quân xuống hết. Họ bắt đầu tiến lên cao điểm. Cũng như lúc trước, súng cá nhân bộ đội Bắc Việt lại bắn ra ào ào trước khi họ kịp tìm chỗ nấp. Lần này thì Willoughby đã phát hiện lính Bắc Việt đang vận động vòng qua bên trái, tức bên sườn phía đông. Anh liền gọi máy bay tới không kích.

Từ 13g35 đến 14g00, những chiếc máy bay A-1E Skyraider (giặc trời.ND) đã thả những quả bom 500 cân Anh và naplalm xuống tạo thành 1 vòng cung bảo vệ cho đại đội Bravo. Dù vậy họ vẫn ko thể tiến lên được.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 19 Tháng Năm, 2014, 09:00:10 AM
Vào lúc bắt đầu các cuộc không kích cho Bravo, thì đại đội Charlie đã tới được bãi đáp lúc trước của đại đội Alpha. Khí độc CS mà trung đội của Sexton rải đã ảnh hưởng tai hại đến lính dù của Leonard. Họ đã đeo mặt nạ phòng độc, nhưng hầu hết đều phát hiện miếng lọc trong mặt nạ đã bị ướt do những cơn mưa lớn và bị mất tác dụng. Cả nửa đại đội nhanh chóng, quị xuống, nôn khan, nước mắt, nước mũi chảy ròng ròng.

Rồi đến lượt biệt kích CIDG trù trừ. Họ ko muốn đi qua vùng bị nhiễm độc. Đại úy Leonard muốn bỏ họ lại nhưng ko thể. Thay vì thế, anh cho 1 lính CIDG đu trên lưng rồi bằng cách đó cõng anh ta băng qua. Những lính dù khác cũng bắt chước. Chỉ trong chốc lát, tất cả lính CIDG đều đã qua khỏi vùng có khí độc.

Do những lộn xộn đó mà trung đội của Bodine lên đi đầu. Được 1 số binh sĩ do Milton gửi lên hướng dẫn, Bodine là người đầu tiên tới được vị trí của đại đội Alpha. Bodine nghĩ đại úy Milton, người mà anh quen ở văn cứ Fort Bragg, đang hết sức căng thẳng. Có vẻ như anh ấy vẫn kiềm chế được, nhưng nhìn vào mắt anh thì thấy khác hẳn. Nó đầy vẻ hãi hùng. Bodine bắt đầu cho trung đội tới chiếm lĩnh các vị trí phòng thủ quanh những người còn lại trong cái đại đội 130 người của Milton. Việc kết hợp này diễn ra lúc 14g20.

Đại úy Leonard và phần còn lại của đại đội Charlie cũng tới vài phút sau đó. Leonard ngay lập tức cho lính cứu thương lên cứu chữa thương binh và lệnh những người khác lên mở rộng bãi đáp, trong khi anh nói chuyện với Milton. Khi biết được tình hình, anh quyết định cố tiến xuống phần đang bị cô lập của đại đội Alpha.

1 tiểu đội thuộc trung đội của Bodine được chỉ định tiến xuống cao điểm. Bodine cảm thấy đó là việc của mình và muốn cùng đi với họ. Nhưng Leonard ko tán thành.

Tiểu đội bắt đầu tiến xuống. Chẳng mấy chốc họ đã mất dạng. Ít phút sau người tiểu đội trưởng gọi điện đài về báo họ gặp 1 xác lính Mỹ. Leonard bảo họ cứ đi tiếp. Thêm nhiều xác chết nữa được phát hiện. Sau đó tiểu đội lãnh 1 cơn mưa đạn súng cá nhân. Leonard ra lệnh cho họ tháo lui. Thời gian lúc này đã quá muộn để giao chiến với 1 kẻ địch ko biết số lượng bao nhiêu.

Ở trung tâm hành quân tiểu đoàn, các sĩ quan trong ban tham mưu cảm thấy vô cùng nhẹ nhõm khi rốt cục đại đội Charlie cũng đã đến nơi. trung tá Partain lệnh cho máy bay trực thăng tải thương bay tới đưa thương binh của Milton ra. Trong số những người được bốc lên đầu tiên có Specialist Patterson.

Sau khi sơ tán xong thương binh, Partain gọi trực thăng Chinooks đến để bốc những người còn lại của đại đội Milton. Trung úy Harrison rất ngạc nhiên khi thấy Milton cũng đi theo. Trung úy Bodine cũng vậy. Đại úy Leonard thì nghĩ thật là kỳ cục khi mà Milton tự cho phép mình dời khỏi chiến trường trong khi hơn nửa đại đội còn đang mất tích. Nhưng Milton đã đi khỏi. Trong khi tiến hành công tác di tản, Leonard cùng các trung đội trưởng chuẩn bị, tăng cường công tác phòng thủ. Anh nghĩ quân Bắc Việt sẽ tiến công họ đêm ấy.

Tại Đắk Tô trung sĩ Nichols thấy rất ngạc nhiên khi nhảy ra khỏi trực thăng. Thay vì tới giúp đỡ, mọi người ở căn cứ vẫn tiếp tục công việc của mình như chẳng có gì xảy ra cả. Trong khi Nichols đang đứng, 1 hạ sĩ quan đến bên và phân công anh đi gác đêm. Nichols ko hề muốn như vậy, anh chỉ muốn được ăn nóng rồi quay lại cao điểm 1338. Bạn bè của anh vẫn còn ở đó. Ngoài ấy mới là chỗ của anh. Nhưng ko thể được nữa rồi.

Binh nhất thì Steer từ chối ko làm nhiệm vụ canh gác. Thay vì thế anh kiếm được 1 ít rượu và uống say mềm. Anh muốn quên hết mọi điều đã xảy ra.

Chiều hôm đó, trên cao điểm 1338, đại úy Leonard phải đón khách tới thị sát. Trung tá Partain đã phái thiếu tá Watson và thượng sĩ nhất Rogiers tới bãi đáp. Watson vẫn còn điên tiết vì chuyện Leonard đã tỏ ra lề mề khi xuống chỗ Alpha.

Khi trực thăng của Watson đáp xuống, thì đó cũng là lần đầu tiên ông ta thực sự được đứng trong những khu rừng xung quanh Đắk Tô. Ông ko thể tin được trước độ rậm rịt của cây cối cùng sự phức tạp của địa hình đang phô bày trước mắt và bắt đầu hiểu rõ hơn những gì Leonard đã phải đối mặt. Tuy nhiên vì muốn trả đũa nên ông vẫn xạc cho Leonard 1 trận. Ông bảo với Leonard là ko có gì biện minh được cho sự di chuyển chậm trễ đó.

Sau khi nghe thiếu tá Watson chửi xong, Leonard để ý thấy ông thượng sĩ nhất cũng đang xạc anh trung sĩ nhất của mình. Leonard ko chấp nhận như thế. Mọi quyết định đều do 1 mình anh thực hiện, và anh sẽ chịu trách nhiệm hết. Anh lệnh cho thượng sĩ nhất Rogiers buông tha người trung sĩ nhất.

Lát sau Watson và Rogiers bỏ đi. Sau khi hỏi han Milton cùng những người còn sống sót của đại đội và xem xét những thông tin liên quan đến trận đụng độ, cả 2 đều nhận ra rằng mình đã quá khắc nghiệt khi chỉ trích đại úy Leonard. Ko ai có thể đánh gía đầy đủ những khó khăn mà Leonard đã phải vượt qua. Mọi dấu hiệu đều cho thấy trận đánh của đại đội Alpha về cơ bản đã kết thúc từ lúc 10g30. Đằng nào thì đại đội Charlie cũng ko thể nào tới kịp lúc đó. Và Leonard cũng sẽ chẳng thể làm gì để có thể thay đổi kết quả.

Đại đội Charlie đã trải qua 1 đêm ko ngủ trên cao điểm 1338. Họ có 1 vành đai pháo binh rót xuống bảo vệ suốt đêm. Đại đội Bravo đóng dưới họ vài km cũng có 1 đêm ồn ào như thế. Họ cũng được bảo vệ bằng bức tường lửa của đạn pháo.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 20 Tháng Năm, 2014, 09:23:16 AM
7 giờ sáng ngày 23 tháng 6 năm 1967. Đại úy Willoughby bắt đầu cho Bravo tiến về  phía nam. Các bụi cây rậm rịt cứ như 1 mớ bòng bong, khiến tốc độ tiến quân mỗi giờ chỉ được vài mét. Việc di chuyển của Willoughby cũng bị cản trở thường xuyên bởi đạn từ những toán quân hậu vệ Bắc Việt bắn tới. Tuy bộ đội ko hạ được người nào, nhưng chắc chắn đã khiến Bravo phải chậm lại.

Đại úy Leonard chỉ định trung đội trưởng nhiều kinh nghiệm nhất của mình, là trung úy Bodine đi dẫn đầu khi tiến quân xuống cao điểm để tìm kiếm những người còn sống sót trong trận đánh tuyệt vọng của đại đội Alpha. Đến 8g00 thì Bodine đã sẵn sàng để di chuyển. Anh cho những lính giỏi nhất lên trước, rồi mới ra hiệu tiến xuống.

Lính của Bodine thận trọng di chuyển, cẩn thận kiểm tra từng vị trí có thể có phục kích. Bodine ko muốn bị bất ngờ. Anh đặc biệt trú tâm tới những bụi tre cao chót vót chắn ngang đường. “Coi chừng chỗ mấy cây tre đó” Anh nhiều lần nhắc nhở quân của mình. Bodine cũng rất e ngại đường sống núi phía tay phải. Nếu ở trên đó, lính Bắc Việt có thể thấy trung đội anh tiến quân rõ mồn một.

Không thấy gì xảy ra.

Khi tới gần hơn chỗ đại đội Alpha chiến đấu, họ bắt gặp nhiều tàn tích của trận đánh. Mũ sắt, ba lô, bi đông, hộp tiếp đạn, súng M16 nằm rải rác khắp khu vực. Tim Bodine thắt lại. Cạnh đường mòn chỗ nào anh cũng thấy có 1-2 xác lính nằm dúm dó.

Sau đó Bodine tới 1 nơi tương đối trống trải dài khoảng 20m giữa những cái cây to. Bodine nghĩ nơi này chính là chỗ lý tưởng để phục kích. Anh gọi điện đài cho Leonard. “Six, tôi muốn trinh sát bằng hỏa lực.”

Leonard đồng ý.

Bodine cho mấy tiểu đội dàn hàng ngang, mỗi người lính xả 1 băng đạn vào khu vực đó. Không trung rung chuyển bởi tiếng súng.
Khi đã bắn hết các băng đạn. Bodine nghe có ai đó hét lên: “Rawhide! Rawhide!”

1 lính dù bẩn thỉu nhô ra từ những cái cây bên kia khu đất trống. Người lính đã bị thương từ hôm trước và đang trốn quân Bắc Việt. Trong khi lính cứu thương cứu chữa, Bodine hỏi anh ta những người còn lại của đại đội Alpha ở đâu?

“Xuống dưới đường mòn chút nữa” chàng trai trẻ run run trả lời.

Bodine cho trung đội tiến tới. Mới được 1 quãng, anh phát hiện rất nhiều xác chết dưới các lùm cây. Bodine bỏ qua chỗ đó, di chuyển tới và thiết lập 1 tuyến phòng thủ. Rồi anh gọi điện đài bảo Leonard đến.

Ít phút sau đại úy Leonard dẫn phần còn lại của đại đội xuống.

Ko ai có thể cầm lòng trước cảnh tượng khủng khiếp này. Hàng chục, hàng chục xác lính Mỹ nằm chết đủ mọi tư thế kỳ quái. Hàng đàn ruồi nhặng bu đầy trên những cái xác trương phình và các vũng máu me. Mùi hôi thối từ những xác chết khiến nhiều lính dù của đại đội Charlie ko chịu nổi. Họ loạng choạng bước ra sau mấy cái cây để nôn mửa.
Cảnh tượng này khiến cho Harrison ko biết xử trí thế nào. Anh chưa hề dự tính được tính huống này sau 3 hôm hành quân. Ko thể chịu đựng nổi. Anh đã gắn bó với bọn họ kể từ hồi còn huấn luyện 5 năm trước. Harrison cố lờ đi cảnh tàn sát để có thể đi tìm 2 người bạn cùng khóa là Judd  và Hood. Anh đã tìm thấy bọn họ ít phút sau đó.
Máy bay trực thăng chở tới những túi đựng xác. Lính đại đội Charlie bắt đầu làm cái việc kinh khủng là cho thi thể đồng đội vào những cái túi vải màu xanh lá cây.

Có 3 thành viên của đại đội Alpha đã sống sót 1 cách kỳ diệu trong cuộc tàn sát. Một người là anh lính đã dùng tay trần thay nòng súng M60 mà Specialist Patterson đã chứng kiến. Một người khác bị bắn 3 phát vào sau lưng nhưng vẫn ko chết. Trung úy Harrison tìm thấy 1 người, đã bị lính Bắc Việt dùng rựa chặt đứt ngón tay mang nhẫn trong khi đang giả vờ chết. Sau khi quân Bắc Việt rút đi, anh này cố gắng gắn mẩu bị đứt vào tay bằng dải băng quấn quanh lựu đạn khói trong cơn mê sảng rồi nhét tay vào cái túi vải đựng bi đông.

Đại đội Bravo cuối cùng cũng đã đến nơi lúc 15g00. Họ ngay lập tức tiến vào dọn dẹp khu vực. Trung úy McDevitt đã được nghe tin về anh bạn Don Judd  của mình ít phút sau đó. Thật ko thể tin nổi, mới 2 tuần trước họ còn lên kế hoạch đi xả hơi cùng nhau, vậy mà sao Judd  lại có thể chết cơ chứ?

Tại Đắk Tô, đại úy Milton cũng đang phải làm công việc đau xót là xác định danh tính các xác chết. Với sự giúp sức của thượng sĩ Deeb và trung sĩ Nichols, những người quen biết lính trung đội 2, Milton phải mất tới 2 ngày mới nhận diện được hết quân của mình do thẻ bài bị xáo trộn.

Con số tổn thất của đại đội Alpha thật ghê gớm. Trong tổng số 137 lính vào ngày 22 tháng 6 năm 1967 của Alpha, có 76 người chết và 23 bị thương. Trong số tử trận, có 43 trường hợp là do bị bắn vào đầu từ khoảng cách gần.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 21 Tháng Năm, 2014, 09:13:12 AM
Đại đội Bravo và Charlie cũng dành ra mấy ngày để tìm kiếm bằng chứng về tổn thất của bộ đội Bắc Việt. Trung đội của trung úy McDevitt, đại đội Bravo ko tìm thấy xác lính Bắc Việt nào cả. Ở 1 trung đội khác của đại đội Bravo, binh nhất Steven F. Varoli, 19 tuổi, người Deerfield Beach, Florida đã tham gia vào việc khai quật 1 số ngôi mộ chôn những cái xác còn mới của lính Bắc Việt. Quân của trung úy Bodine tìm được khoảng 1 chục xác bộ đội. Trung đội của Harrison tìm thêm được vài cái nữa. Kết quả là ko nhiều lắm so với thảm họa của đại đội Alpha.

Tướng Westmoreland, theo lệ thường của mình cứ sau mỗi trận đánh ác liệt, đã bay tới nói chuyện với những người sống sót. Tại Đắk Tô, ngày 23 tháng 6 năm 1967, ông đứng trên mui 1 chiếc xe jeep trước khoảng 2 chục thành viên còn lại của đại đội Alpha. Ông ra dấu cho các binh sĩ vây quanh mình. Trung sĩ Nichols nhìn quanh quất rồi nhận xét với 1 người bạn “Bọn ta chẳng còn lại mấy mống nhỉ?”

Westmoreland bắt đầu bài phát biểu bằng những lời ca ngợi những người lính dũng cảm sau đó nói : “Các anh đã gặp phải 1 đơn vị quân Bắc Việt hung hãn và đã quất vào đít chúng nó!”

Trung sĩ Nichols biết trách nhiệm của Westmoreland là phải nâng cao sỹ khí, nhưng nói kiểu đó thì thật là lố bịch. Đại đội Alpha mới là bị quất đít, chứ ko phải quân Bắc Việt. Nichols cúi xuống nói nhỏ với anh bạn “Cha này ‘nổ’ thiệt nhỉ?”

Westmoreland tiếp tục thao thao cổ vũ thêm ít phút nữa rồi mới đi hội đàm với các tướng Larsen, Peers, và Deane.

Dựa trên những chứng cứ thu thập được trên xác lính Bắc Việt, tình báo xác định rằng đại đội Alpha đã tao ngộ với 1 tiểu đoàn thuộc trung đoàn 24 QĐND VN. Trung đoàn này được cho là tác nhân gây nên các cuộc đụng độ quanh Đắk Tô từ mấy tuần qua. Ắt hẳn là lúc đó họ đang đi ngang qua cao điểm 1338 để về Campuchia dưỡng quân. Điều đó giải thích lý do vì sao họ không ở lại chiến đấu sau khi đã nghiền nát đại đội Alpha.

MACV ko cho công bố trận đánh từ thứ 5 cho đến tận thứ 2 tuần sau. Điều thật khó tin là khi MACV giải thích sự chậm trễ của là do ko muốn quân địch biết được cuộc đụng độ đã kết thúc.

Trong thực tế, lữ đoàn 173 đã thổi phồng thông tin về số lượng xác quân địch. Thước đo cho những chiến tích của quân Mỹ ở miền nam VN chính là số lượng xác chết của đối phương. Vào năm 1967, việc này đã bị lạm dụng vì các cấp chỉ huy quân sự có thói quen nâng số thương vong địch để tăng uy tín đơn vị mình. Trong trường hợp của ‘Trận đánh trên sườn dốc’, như lính dù gọi, thì việc tính toán số lượng thương vong của địch đã làm những người còn sống bị sốc.

Trong thông cáo báo chí thì MACV nói đại đội Alpha đã tiêu diệt hơn 475 lính Bắc Việt. Báo cáo trận liệt của lữ đoàn 173 thì nêu số quân Bắc Việt bị giết là 513. Bản báo cáo công bố có 106 bộ đội chết qua đếm xác. Số 407 còn lại là do hỏa lực pháo binh mà tướng Deane đã gọi đến bắn xuống những tuyến đường địch có thể dùng để vận động, dù ko tìm thấy cái xác nào trong vùng đó.

Các binh sĩ trên cao điểm 1338 đã bị sốc khi nghe những con số đó. Căn cứ vào những thi thể họ trục lên từ những ngôi mộ lấp vội. Ước tính lạc quan nhất là số quân Bắc Việt bị giết dao động từ 50 đến 75.

Ngay cả tướng Larsen cũng ngạc nhiên về kết quà đếm xác cao như thế. Ông gọi cho đại tướng Westmoreland ở Sài Gòn yêu cầu khoan hãy công bố những số liệu đó. Westmoreland đã bảo Larsen rằng: “Quá muộn, đã gửi đi hết cả rồi.”

Mấy ngày sau đại đội Alpha được tái xây dựng lại, nó nhận hơn 100 người mới trong chưa đầy 1 tuần. Rồi sau đó lại phải quay ra chiến trường. Khi hành quân, các lính cựu trở nên rất thận trọng vì toàn đại đội giờ hầu hết đều là sĩ quan và lính mới. Trung sĩ Nichols cùng nhiều người khác đã tới thỉnh cầu đại úy Milton lập ra 1 tiểu đội xích hầu đặc biệt, trong đó có họ. Họ ko muốn trao mạng sống vào tay đám lính mới, Milton đã đồng ý. Vậy là tiểu đội chuyên để đi đầu đã trở thành hiện thực.

Ngày 9 tháng 7 năm 1963, đại đội Alpha, tiểu đoàn 2, trung đoàn 503 đang chuẩn bị đóng quân nghỉ đêm. Họ đang ở trên đỉnh 1 quả cao điểm lớn nhìn xuống thung lũng sông Dakrong, cách Đắk Tô khoảng 16km về phía tây nam. Vào lúc đại úy Milton gọi pháo binh bắn tới để lập bức tường phòng thủ bao quanh, thì sai sót đã xảy ra. 1 trái đạn 105mm hụt tầm rới xuống những ngọn cây trên đầu đại đội Alpha, mảnh đạn chụp xuống các binh sĩ làm 3 người chết, 6 bị thương.

Một trong những người bị thương chính là đại úy Milton. Anh bị mảnh pháo xuyên thủng bụng gây ra những thương tích nghiêm trọng, nên rốt cuộc quân đội đã buộc phải cho cho giải ngũ.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 21 Tháng Năm, 2014, 09:19:47 AM
Qua đây ta có thể thấy 1 ví dụ về độ "chính xác, tin cậy" của những con số thống kê do 'đếm xác' của Mỹ trong chiến tranh VN...Tiếc là tài liệu của quân ta về trận đánh này hầu như ko thấy (kiểu như chiến lệ, hay biên bản tổng kết, báo cáo ...)...có bác nào tìm được ko ạ? Thanks.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 22 Tháng Năm, 2014, 08:52:21 AM
Đêm đó tại Đắk Tô, đại úy Ken Smith đang ngồi cạnh đường băng để đợi máy bay bay về Biên Hòa. Vì đã có 1 thiếu tá tới tiểu đoàn 2 đảm nhận vị trí sĩ quan hành quân, Smith sẽ được đưa về hậu phương đảm nhiệm chức trưởng phòng hành chính của lữ đoàn bộ (brigade's administrative Headquarters Company).

Bỗng có 1 chiếc xe jeep phanh gấp ngay trước mặt Smith. Người lính lái xe mời Smith quay về sở chỉ huy tiểu đoàn ngay. Trung tá Partain báo cho anh biết việc bất hạnh xảy đến cho Milton. Sau đó Smith được lệnh lên máy bay trực thăng tới tiếp nhận quyền chỉ huy đại đội Alpha. Anh tuân lệnh.

Lục quân ko thể để cho việc 1 đại đội bị tổn thất nặng như đại đội Alpha, tiểu đoàn 2/503 xảy ra mà ko có người chịu trách nhiệm. Búa rìu đã ko rơi xuống đầu các vị lữ đoàn trưởng hay tiểu đoàn trưởng, là những người đã đưa các đại đội của mình vào vùng nguy hiểm. Trong thực tế việc này rất là tế nhị nên đại tá Adamson đã đề nghị tướng Peers làm nhẹ trách nhiệm của tướng Deane đi. Búa rìu cũng ko chĩa vào đại úy Milton, người đã lùa quân vào miệng cọp. Thay vì thế, các thượng cấp lại dồn hết trách nhiệm lên đầu đại đội Charlie và chỉ huy của nó là đại úy Ron Leonard.

Partain cho rằng vào ngày 22 tháng 6, Leonard đã thiếu quyết đoán và cố tình tiến quân chậm trễ. Kết quả là ông ta bắt Leonard sẽ phải chịu trách nhiệm về tấn thảm kịch. Partain quyết định Leonard sẽ phải ra đi.

Cuối tháng 7, đại úy Leonard bị thuyên chuyển sang tiểu đoàn 4/503. Trung úy Harrison rất giận dữ khi thấy Leonard bị tước mất đại đội. Anh thấy việc này ko hề hợp lý và thiếu công bằng. Đi xa hơn anh đã lên giãi bày nỗi băn khoăn trực tiếp với trung tá Partain, 1 hành động chưa từng xảy ra đối với 1 trung úy. Cố gắng của anh ko có kết quả.

Cùng với Harrison, nhiều người khác cũng tỏ thái độ ngạc nhiên trước việc Leonard bị thay đi. Thượng sĩ nhất Rogiers cũng rất hoài nghi trước việc thuyên chuyển Leonard. Ngay cả thiếu tá Watson cũng nghĩ Leonard đã bị đối xử ko công bằng. Cả 2 người đều đã nhận thức được những khó khăn mà Leonard phải đối mặt hôm 22 tháng 6 sau khi tới thị sát khu vực. Trung tá Partain thì chưa bao giờ đến cao điểm 1338 nên ko thể nhận biết địa hình ở đó khó khăn đến mức nào.

Sau khi Leonard ra đi, là tới bước thanh trừng các sĩ quan nào của đại đội Charlie đã từng tham dự sự kiện ngày 22 tháng 6. Trung úy Harrison bị chuyển qua đại đội Alpha, trung úy Bodine sang đại đội Bravo, trung úy Kretso về tiểu đoàn làm việc.

Lúc đại úy Leonard đến sở chỉ huy tiểu đoàn 4/503, anh gặp trung tá James Johnson, người tiểu đoàn trưởng mới. Johnson đã hỏi Leonard về lý do chuyển sang tiểu đoàn mình. Leonard giải trình về tình cảnh. Trung tá Johnson đã tiến hành điều tra kín đáo sự kiện ngày 22 tháng 6. Rồi ông cũng bị thuyết phục rằng Leonard chính là “vật tế thần”. Ông giữ Leonard lại tiểu đoàn, đảm nhận vị trí sĩ quan tình báo (S-2).










   
 
Chương 5
Cao điểm 830






Với việc đại đội Alpha, tiểu đoàn 2/503 bị tiêu diệt, tướng Westmoreland đã chuyển giao cho tướng Larsen những tiểu đoàn cơ động mà ông đã yêu cầu xin thêm. Ngày 23 tháng 6 năm 1967, tiểu đoàn 1, trung đoàn 12 kỵ binh của lữ đoàn 1, sư đoàn 1 Kỵ binh bay tới Đắk Tô và đặt dưới quyền điều động của tướng Deane. Deane đưa tiểu đoàn 1, trung đoàn 12 xuống phía nam Đắk Tô 15km để tiến hành các cuộc hành quân tìm và diệt.

Hôm sau, chiến đoàn dù số 1 VNCH (ARVN 1st Airborne Task Force) và lữ đoàn 3, sư đoàn 1 kỵ binh bay Hoa Kỳ từ Sài Gòn và Bình Dương tới Kon Tum. Các đơn vị này được điều lên phía bắc và đông bắc Kon Tum và cũng để tiến hành các nhiệm vụ tìm diệt.

Deane tung các tiểu đoàn của mình sang phía tây và tây nam Đắk Tô khoảng 20km. Ông ta muốn lính dù truy lùng trung đoàn 24 bộ đội Bắc Việt nếu họ vẫn còn trong khu vực.

Ngày 4 tháng 7, tiểu đoàn 4, trung đoàn 503 của trung tá Lawrence Jackley thiết lập căn cứ pháo binh cho pháo đội B, tiểu đoàn 3, trung đoàn 319 pháo binh. Căn cứ pháo binh này đóng trên cao điểm 664, nằm cách phía tây và nam Đắk Tô 11km. Những đại đội súng trường sẽ luân phiên bảo vệ cho các pháo thủ.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: Vanphuhh08b trong 22 Tháng Năm, 2014, 11:06:01 PM
Đúng ra phần này người khác không được trả lời. Nhưng bác đã hỏi thì em xin trả lời bác những gì em biết. Vào năm 2007, em có thời gian sống tại đồi Sạc Ly có biết chút ít là năm đó ta có quy tập 14 mộ chiến sĩ ta hy sinh trong thời kỳ đó. Thật sự với các bác, lần đầu tiên em leo lên đồi mà người dân quanh đó gọi là đồi hai vú nhìn xuống mà thấy khiếp với những hố bom thẳng hàng tăm tắp kéo dài dường như vô tận. Đi vào các khe núi  càng rợn người với những tàn tích của chiến tranh dù chiến tranh đã đi qua rất lâu. Bom mìn còn hiện đầy trên các sườn đồi. Có cả các phuy chứa chất độc màu da cam.   


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 26 Tháng Năm, 2014, 09:11:43 AM
Trung tá Jackley, 1 người cao ráo quê vùng Des Moines, Iowa, sinh ngày 27 tháng 3 năm 1928. Ông tốt nghiệp West Point năm 1950. 4 năm sau đó ông có bằng nhảy dù rồi tham gia học tại trường Chiến tranh đặc biệt ở Fort Bragg. Trước khi sang nam VN tháng 8 năm 1966, ông làm 1 tiểu đoàn phó trong sư đoàn dù 82 tại căn cứ Fort Bragg. Jackley làm sĩ quan tham mưu của lực lượng dã chiến I ở Nha Trang trong 6 tháng rồi về tiếp nhận quyền chỉ huy tiểu đoàn 4/503 từ “Iron Mike” Healey vào tháng 2 năm 1967.

Jackley là 1 chỉ huy mạnh mẽ, nhiều sáng kiến. 1 trong số những thay đổi đầu tiên của tiểu đoàn là tạo ra đại đội chiến đấu thứ 4. Ông sử dụng các trung đội chống tăng và trinh sát tạo thành các hạt nhân của đại đội Dog. Sau đó ông yêu cầu 3 đại đội kia chuyển 1 số hạ sĩ quan và binh sĩ sang cho Dog và cảnh báo việc điều chuyển này ko phải để cho họ trốn việc hay trở thành bất mãn và gây rối. Tuy đại đội Dog ko bao giờ có nhiều hơn 65-70 lính, vì chỉ có 2 trung đội súng trường cơ hữu, nhưng nó cũng đã cung cấp thêm cho Jackley 1 đơn vị cơ động thứ 4 rất cần thiết.

Một sáng kiến nữa của Jackley được gọi là LZ commandos. Sau khi 1 số đại đội dưới quyền ông bị phục kích trong các chiến dịch Junction City và Junction City II ngay trên những bãi đáp đã được cho là ko có địch, Jackley đã đưa ra ý tưởng trên. Những LZ commandos, tất cả đều là lính tình nguyện, là những binh sĩ đầu tiên xuống bãi đáp. Với sự yểm trợ của các trực thăng vũ trang, lính LZ commandos sẽ quét sạch quân thù ra khỏi bãi đáp rồi mới gọi máy bay chở quân tới sau. Từ khi Jackley lập ra LZ commandos, ông ko còn bị mất lính do bị phục kích trên bãi đáp nữa.

Jackley được hậu thuẫn bởi 4 viên đại đội trưởng gan lì, dày dạn kinh nghiệm. 3 người trong số họ đã tốt nghiệp West Point. Đại úy Alan Phillips, 1 người cao ráo, tóc đen, 29 tuổi là con trai của 1 sĩ quan hải quân chuyên nghiệp. Anh tốt nghiệp West Point năm 1959 và chọn theo nghiệp bộ binh. Đại úy Phillips đã phục vụ kỳ hạn đầu tiên tại nam VN năm 1963 với vai trò cố vấn của 1 tiểu đoàn dù VNCH tại Biên Hòa. Tháng 11 năm 1966 anh trở lại VN làm chỉ huy trung đội viễn thám (LRRP) của lữ đoàn dù 173. Anh giữ vị trí này cho đến tháng 5 năm 1967 thì sang nắm quyền chỉ huy đại đội Alpha.

Đại đội trưởng đại đội Bravo là đại úy Daniel Severson, 25 tuổi. Đó là 1 người vai u thịt bắp, từng thi đấu điền kinh cho trường đại học Maine. Qua chương trình đào tạo sĩ quan dự bị mà Severson nhập ngũ. Ban đầu anh làm đại đội phó đại đội Charlie, tiểu đoàn 4/503 khi trung tá Healey đưa tiểu đoàn từ căn cứ Fort Campbell đến nam VN tháng 6 năm 1966. Khi qua làm đại đội phó của đại đội Bravo, Severson đã bị thương nặng trong khi giao tranh với VC gần Bến Cát ngày 16 tháng 1 năm 1967. Hôm đó anh chỉ huy 1 trung đội sau khi trung đội trưởng của nó bị thương trong 1 trận phục kích của VC. Severson dù rất đau đớn vẫn tấn công và tiêu diệt được 1 vị trí địch. Anh được tặng thưởng huân chương Distinguished Service Cross (loại huân chương anh dũng xếp thứ 2 chỉ sau huân chương danh dự. ND) của quân đội.

Khi kỳ hạn 1 năm phục vụ chấm dứt, Severson tình nguyện kéo dài thêm 6 tháng nữa. Anh cảm thấy mình đã có nhiều kinh nghiệm nên sẽ làm việc hiệu quả hơn sĩ quan mới. Với những lính mới trong đại đội do chính sách luân chuyển sau 1 năm của MACV, anh cho rằng sẽ rất liều lĩnh khi đưa họ vào chiến đấu dưới sự chỉ huy của sĩ quan chưa có kinh nghiệm.

Một số lính dưới quyền nghĩ rằng anh hơi liều lĩnh. Họ nhìn thấy đó là 1 người quyết liệt, dốc sức đạt mục tiêu bất chấp mọi trở ngại. Anh còn thích đánh cận chiến với đối phương.

Cả 2 chỉ huy của các đại đội Charlie và Dog đều tốt nghiệp West Point khóa 1965. Trung úy William J. Connolly và trung úy John M. (“Mike”) Deems tới làm trung đội trưởng trong tiểu đoàn 4/503 tháng 6 năm 1966. Khi kỳ hạn phục vụ của họ kết thúc, trung tá Jackley đã hứa sẽ cho họ chỉ huy đại đội nếu chịu kéo dài thêm thời gian phục vụ. Cơ hội được chỉ huy 1 đại đội súng trường đi chiến đấu chỉ 2 năm sau khi tốt nghiệp West Point là 1 cám dỗ lớn lao đối với những chàng trai 22 tuổi. Và họ đều đồng ý.

2 sĩ quan trẻ được cho về phép thăm nhà 30 ngày. Connolly về Boston còn Deems về Nevada. Khi trở lại nam VN cả 2 đã đến trình diện trung tá Jackley. 2 trung úy trẻ tuổi đã lo rằng Jackley có thể nuốt lời vì họ biết rằng trong lữ đoàn có đầy nhóc đại úy vẫn chưa được làm đại đội trưởng. Nhưng bất chấp sức ép từ lữ đoàn, trung tá Jackley vẫn giữ lời hứa. Cuộc gặp gỡ diễn ra ngắn ngủi và dễ chịu. “Connolly sẽ nhận Charlie và Deems lãnh Dog. Hãy làm cho tốt vào. Đừng làm tôi thất vọng. Giải tán.”

Connolly, là người nhã nhặn, điềm tĩnh với chất giọng Boston đặc sệt đã nhanh chóng được lính đại đội Charlie chấp nhận. Bằng nhiệt huyết và tài năng, anh nhanh chóng đưa Charlie thành 1 trong những đại đội khá nhất toàn lữ đoàn.

Deems, cũng giống như Connolly, được binh sĩ đánh giá là sĩ quan rất quan tâm, chăm lo cho lính. Anh ko bao giờ bắt họ làm những thứ bản thân anh ko làm được. Và xa hơn nữa, họ nghĩ nếu có ai dẫn dắt họ vượt qua 365 ngày mà vẫn an toàn thì người đó chính là Deems.

Sau khi để Bravo lại bảo vệ cho căn cứ pháo binh, các đại đội Alpha, Charlie, và Dog thiết lập chu vi phòng thủ tiểu đoàn cách vài km về phía nam. Họ dành 3 ngày sau đó tung ra các cuộc tuần tiễu trên phạm vi rộng, tổ chức tập trận bắn đạn thật để huấn luyện các thành viên mới.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 27 Tháng Năm, 2014, 08:40:34 AM
Ngày 7 tháng 7, đại đội Charlie quay về làm nhiệm vụ bảo vệ căn cứ pháo binh để đại đội Bravo của đại úy Severson đi hành quân. Cũng trong hôm đó, tiểu đoàn nhận được nhiệm vụ cụ thể. Họ sẽ di chuyển về phía tây nam khoảng 2500 mét nhằm xác định vị trí rồi khóa chặt và tiến đánh 1 trung đoàn bộ đội Bắc Việt bị nghi ngờ là đang hoạt động gần đó.

Theo như đại úy Phillips được biết có nhiệm vụ này là do tình báo chặn dược tìn hiệu điện đài địch. Thông tin trên được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau đã được phân loại. Sau đó nó được phổ biến cho các sĩ quan tham mưu lữ đoàn để tiếp tục phân tích. Các thông in hữu ích sẽ được dùng để lên kế hoạch nhiệm vụ cụ thể hàng ngày cho các tiểu đoàn. Khi được giao 1 nhiệm vụ như thế, các sĩ quan tham mưu tiểu đoàn sẽ tiến hành chuẩn bị hoạt động. Sau đó lệnh lạc sẽ được chuyển xuống các đại đội có liên quan.

Đại úy Phillips cùng với mọi người trong đại đội, hay ở cấp thấp hơn nữa chưa bao giờ cảm thấy có đủ thông tin liên quan đến 1 nhiệm vụ cụ thể nào. Vào mỗi đêm, viên trung sĩ truyền tin sẽ được nhận 1 bức điện được mã hóa. Giải mã nó ,mới đọc được lệnh hành quân ngày hôm sau. Hiếm khi người ta nói cho họ biết lý do cụ thể vì sao phải đến 1 mục tiêu hay những thứ họ sẽ gặp khi tới đó. Điều này gây ra rất nhiều sự ức chế.

Vì đây là 1 động thái bất thường, trung tá Jackley báo cho các đại đội trưởng biết là sĩ quan phụ trách thành quân tiểu đoànn sẽ cùng đi với bọn họ. Thiếu tá Walter D. (“Doug”) Williams sẽ ko chỉ lập sở chỉ huy tiền phương mà còn đóng vai trò chỉ huy trên thực địa. Thiếu tá Williams là 1 sĩ quan dễ mến người Maryland, tốt nghiệp West Point khóa 1956. Mới đến nam VN và tiểu đoàn 4/503, Williams liền đề nghị trung tá Jackley cho đi hành quân cùng với 3 đại đội. Ông thấy trong cương vị sĩ quan hành quân của tiểu đoàn, việc tham gia vào 1 cuộc hành quân trên mặt đất sẽ mang lại nhiều trải nghiệm quí báu. Jackley miễn cưỡng đồng ý.

Thiếu tá Williams cùng 1 toán tùy tùng nhỏ được trực thăng đưa đến khu vực đóng quân của tiểu đoàn lúc 17g25 ngày 7 tháng 7. Ít phút sau có mấy trực thăng chở theo 11 lính CIDG từ trại biệt kích Đắk Tô bay tới. Trong cuộc hành quân này lính CIDG được sử dụng để tìm dấu vết và dẫn đường.

3 đại đội bắt đầu đi về hướng nam vào lúc 6g40 ngày 8 tháng 7. Hành trình ngày đầu tiên đi qua 1 thung lũng sông diễn ra tương đối dễ dàng. Những cao điểm phủ đầy cây cối rậm rịt quanh thung lũng khiến cho trung úy Robert Allen của đại đội Dog cảm thấy lo lắng. Là người thành phố Oklahoma, 21 tuổi, Allen mới tới đại đội Dog mấy tuần trước. Mặc dù anh đã đi hành quân vài lần quanh Pleiku, việc đại đội Alpha, tiểu đoàn 2/503 bị tập kích đã khiến anh trở nên cực kỳ thận trọng và cảnh giác. Anh luôn để mắt quan sát những cao điểm xung quanh. Allen tin chắc bộ đội Bắc Việt đang từ trên đó theo dõi bọn họ.

Ngày vất vả đầu tiên chỉ đi được hơn 1000m 1 chút – vậy đã là tốt nếu xét trên việc trời cứ mưa dầm dề khiến đường đi chở nên bùn lầy chơn trượt khiến cho 1 lính bị gãy chân và phải gọi trực thăng đến sơ tán. 3 đại đội thiết lập 1 chu vi phòng thủ cấp tiểu đoàn lúc 15g00. Những tổ cảnh giới được tung ra trong khi những người khác lo đào công sự.

Trong khu vực của đại đội Bravo, anh điện đài viên trung đội 2 đang cuống cuồng đào hố cá nhân của mình. Dù mặt đất sũng nước mưa, đám rễ cây ngầm rối rắm vẫn khiến công việc trở nên cực kỳ khó khăn. Specialist 4 Phillip Owens, người Arlington Heights, Illinois đến nam VN tháng 2 năm 1967, 3 tháng trước khi anh bước sang tuổi 19. Owens lúc đầu được đưa đến 1 trung đội súng trường, anh đã tỏ ra dũng cảm trong 1 trận đánh ác liệt tại chiến khu C ngày 7 tháng 4 năm 1967 khi ko đếm xỉa đến hỏa lực dày đặc của đối phương kéo trung đội trưởng của mình ra khỏi vùng nguy hiểm. Owens đã được thưởng huân chương vì hành động đó, ít lâu sau anh lãnh việc mang điện đài cho chỉ huy trung đội.

Owens khoái việc mang điện đài, dù cho nó nặng tới gần 12kg, vì qua nó anh có thể biết thêm 1 chút thông tin về những gì đang xảy ra. Trong khi đám lính thường cứ vất vả trèo đèo lội suối mà ko biết mình đang ở chỗ nào hay sẽ đi đâu thì những hiểu biết về cuộc hành quân đang diễn ra lại giúp Owens có thể hiểu vai trò của mình trong cuộc chiến này.

Khi Owens đã đào hố chiến đấu của mình sâu khoảng 1,2m dài 1,8m, anh có vẻ hài lòng và dừng lại. Anh để vài thứ đậy lên nó rồi đi tới chỗ trung đội trưởng của mình.

Chỉ huy trung đội 2 là trung úy Peyton Ligon, thành viên West Point khóa 1966. Sinh ra tại Pleasant Hill, Tennessee, và lớn lên ở Raleigh, North Carolina, Ligon đã hoàn tất khóa huấn luyện Ranger (biệt động quân.ND) và lấy bằng nhảy dù trước khi sang nam VN. Anh thuộc nhóm đông các thành viên của khóa 1966 đã đến đất nước này trong tháng 6. Ngày 23 tháng 6, anh tổ chức sinh nhật lần thứ 24 và được biên chế về lữ đoàn 173. Mặc dù mới tới đại đội Bravo mới được 2 tuần, Ligon được trung đội rất tôn trọng bởi phong thái điềm tĩnh, chuyên nghiệp của mình.

Mưa tiếp tục trút xuống đầu các “thiên binh” trong ngày thứ 2 của chuyến tuần tiễu. Từ khi 3 đại đội tiến sâu vào vùng rừng núi rậm rịt 3 tầng tán, mưa khiến cho họ rất dễ xẩy chân trượt ngã. Có khi phải dùng đến dây thừng để kéo lính dù lên những sườn núi dốc đứng. Rừng ẩm ướt sinh ra vô số muỗi và vắt. Mọi người đều đã cài kín cổ và tay áo nhưng đám ký sinh trùng vẫn chui vào da thịt lính dù. Chỉ có vài binh sĩ tốt số mới có thể giữ mình ko bị vắt cắn cho đến tận cuối ngày.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 28 Tháng Năm, 2014, 08:47:43 AM
Thiếu tá Williams hầu hết mấy ngày qua đi hành quân cùng đại đội Bravo và Dog, trong khi đại đội Alpha đi đầu. Đại úy Phillips đang rất mệt mỏi sau 1 ngày cật lực đảm nhận vị trí dẫn đầu, nhưng thiếu tá Williams lại đến và muốn thảo luận về ngày hành quân kế tiếp. Phillips mời Williams ở lại dùng bữa tối bằng khẩu phần C (đồ hộp). Tuy 2 người chưa quen nhau nhưng họ đã có 1 cuộc trò chuyện vui vẻ suốt buổi tối ướt át trên đỉnh cao điểm. Phillips biết được Williams là bạn học của anh rể mình ở West Point. Họ cũng nói chuyện về kỳ hạn phục vụ của Williams trong dự án trao đổi sĩ quan với quân đội Ấn Độ. Tại đây ông đã học cách chiến đấu cơ động trên lưng voi. Khi sa đà vào chuyện voi, cả 2 viên sĩ quan đều muốn có được con thú nào đó để có thể thồ trang bị của cho mình.

Cuối cùng thiếu tá Williams đi về sở chỉ huy của đại úy Severson để ngủ. Đại úy Phillips kéo tấm poncho trùm kín tấm thân mệt mỏi của mình hy vọng có được giấc ngủ ngon rồi chìm vào giấc ngủ.

Ngày 10 tháng 7, ngay trước lúc các đại đội lên đường, thiếu tá Williams nhận được chỉ thị từ trung tá Jackley tiến đến mục tiêu 49. Không lý do nào được đưa ra dẫn đến việc thay đổi kế hoạch. Lính tiểu đoàn 4/503 chỉ đơn giản là đi tới đó. Đối với bọn họ, mục tiêu 49 chỉ là 1 chấm trên bản đồ cách chỗ họ nghỉ đêm khoảng 1000m về hướng tây bắc. Đại đội Bravo của đại úy Severson đảm trách vị trí dẫn đầu đoàn quân.

Hành trình cực nhọc ngày 10 tháng 7 tiếp tục diễn ra dưới mưa, nhưng diễn ra yên ổn. Trong lúc đại đội Bravo đang tiếp cận mục tiêu 49 từ phía đông nam, thì lúc khoảng 13g20 trung tá Jackley gọi điện đài cho thiếu tá Williams. Tình báo lữ đoàn (S-2) vừa chuyển đến tin tức mới nhất. Giờ họ lại cho rằng bộ đội Bắc Việt đang tiến tới cao điểm 830, cách khoảng 800m về hướng tây nam. Do đó Jackley muốn cả 3 đại đội tiến tới đó ngay bây giờ.

Thiếu tá Williams cho đoàn quân dừng lại để phổ biến lệnh mới. Ko ai có vẻ khó chịu trước thay đổi bất ngờ này. Để cho tiện, Williams lệnh cho 3 đại đội đằng sau quay, đảo ngược thứ tự hành quân. Đại đội Alpha sẽ đi đầu và Bravo đi khóa đuôi. Williams cùng tùy tùng đi trước đại đội Bravo và ngay sau đại đội Dog.

Trời vẫn mưa ko ngớt khi đoàn quân trực chỉ hướng tây nam. Bầu trời u ám khiến cho rừng già trở nên tối hơn. Cây rừng ken dày, rậm rịt cùng những bụi tre gai cao chót vót khiến tầm nhìn giảm xuống dưới 10m. Người lính đi cuối hàng trong trung đội hiếm khi thấy được người dẫn đầu.

Đến 15g30 thì đại úy Phillips bắt đầu nghĩ tới chỗ nghỉ qua đêm. Việc thiết lập chu vi phòng thủ cho 3 đại đội, phối hợp hỏa lực với nhau, đưa tất cả súng cối và các tổ cảnh giới vào vị trí trước khi trời tối phải mất từ 2 đến 3 giờ đồng hồ. Khoảng 18g30 trời sẽ tối, Phillips muốn khi đó mọi thứ đã vào vị trí rồi. Anh gọi cho Williams, trình bày ý kiến và Williams đã chấp thuận cho tìm nơi đóng quân qua đêm trên cao điểm 830.

Vào lúc này, đại đội Alpha bắt đầu leo lên sườn dốc phía đông bắc của cao điểm 830. Trung đội 1 dẫn đầu, theo sau là trung đội 2, rồi đại đội bộ của Phillips và đi cuối là trung đội 3. Ngay sau họ đại đội Dog của trung úy Deems, 1 trung đội của nó đang ở trong 1 yên ngựa thoai thoải, trong khi trung đội thứ nhì đang xuống dốc tây nam của 1 cao điểm nằm ngay phía đông bắc cao điểm 830. Hành quân sau họ là toán chỉ huy của thiếu tá Williams rồi đến đại đội Bravo.

Đại úy Phillips gọi điện bảo trung úy Daniel Jordan, trung đội trưởng trung đội 1, là người rất dễ mến, 23 tuổi, tốt nghiệp đại học Notre Dame, bắt đầu tìm kiếm chỗ đóng quân dã ngoại. Lát sau Jordan gọi về: “Six, tôi vừa đến 1 lối mòn. Có vẻ nó mới được sử dụng gần đây. Tôi nghĩ là mới đây thôi.”

Phillips trả lời từ cách đó 50m. “Cho các tiểu đội chuẩn bị chiến đấu. Từ từ tiến lên cao điểm. Thật cảnh giác.”

Jordan làm theo chỉ thị. Ít phút sau anh ra hiệu cho toàn trung đội tiến lên.

Ở phía sau, chỗ đại đội Bravo, đại úy Severson dừng lại chốc lát để xem bản đồ. “Chết tiệt!” Anh nhận xét với lính điện đài (RTO) và tiền sát viên (FO) của mình. “Chúng mình đến đây rồi. Thế lũ địch đâu? Lẽ ra chúng phải có đây chứ. Lại là tin vớ vẩn của S-2.”

Ngay lúc đó, vang lên tiếng súng máy và súng cá nhân bỗng rộ lên ầm ầm phía đại đội Alpha. Severson và binh sĩ vội nằm dán xuống đất.

Khi trung đội của trung úy Jordan vừa tới lưng chừng cao điểm 830, rừng cây trước mặt họ bỗng nổ tung bởi hỏa lực quân thù. Ít nhất phải có 2 trung liên cùng rất nhiều AK-47 xả đạn xuống dốc bắn về phía cái trung đội có 30 quân này. Jordan và binh sĩ lao đi tìm chỗ nấp. Ít giây sau họ đã dùng súng M16 và M60 nã đạn lên cao điểm bắn trả.

Đại úy Phillips quát om sòm trên điện đài. Anh bảo Jordan dùng hỏa lực để đưa trung đội tiến lên. Anh chỉ thị cho trung đội 2 dưới quyền trung úy David Alligood, vận động qua cánh trái tới chỗ có địa thế cao hơn để lợi dụng địa hình che chắn tiến tới đỉnh cao điểm 830, phía trên trung đội Jordan.

Dưới cơn mưa cành lá bị hỏa lực dữ dội của đối phương phạt đứt, Phillips cố gắng liên lạc điện đài với trung đội trưởng trung đội 3 của mình, là trung úy Warren Denny, nhưng ko thể. Anh quay sang cậu lính liên lạc, 1 tay “lính sữa” (cherry –lính mới ra ràng.ND”

“Quay lại chỗ trung úy Denny,” Phillips nói với chàng trai trẻ đang tỏ vẻ dao động “Bảo anh ta tiến sang phải, nói hắn phải giảm áp lực cho Jordan.”

Cậu binh nhì chạy đi. Mấy phút cậu ta quay lại nói: “Tôi ko tìm thấy trung úy Denny, thưa sếp.”

Phillips biết người lính này đang hoảng sợ nên có thể hắn chạy ko xa. Anh nghiêm khắc ra lệnh cho cậu lính trẻ thực hiện lại.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 29 Tháng Năm, 2014, 06:17:03 PM
Trung úy Jordan ở phía trước đang rất tất bật. Dưới sự chỉ huy can đảm và táo bạo của anh, trung đội đã tiến lên được khoảng 10m trong khoảng cách 20m tới chỗ mấy cái hầm được ngụy trang kín đáo của quân Bắc Việt. Anh dũng cảm di chuyển từ chỗ người lính này qua chỗ người lính khác, thúc họ tiến lên. Noi theo gương can đảm của Jordan, họ cố thử, nhưng hỏa lực của đối phương quá mạnh nên chẳng mấy chốc họ lại bị ghìm chặt.

Trong khi đợi tin của trung úy Denny, đại úy Phillips cùng với thượng sĩ của mình là Owen Schroeder di chuyển tới chỗ đang có giao chiến, bố trí binh sĩ, hướng dẫn xạ kích và động viên khích lệ cho bọn họ.

Phillips bò tới chỗ 1 xạ thủ trung liên M60, người mà anh nghĩ đang bắn bừa bãi. Phillips nói: “Bắn chậm lại, anh lính, cậu đang lãng phí đạn đó.”

Tay xạ thủ đáp lời: “Chó chết!, thưa sếp. Tiếng súng mà anh nghe thấy là của chúng nó bắn tới đấy.”

Phillips nuốt nước bọt và bò sang chỗ khác. Ít phút sau anh kinh hãi khi chứng kiến 1 xạ thủ súng máy khác bị giết. Không hề do dự, xạ thủ số 2 liền đỡ lấy khẩu súng. Vài giây sau, anh ta cũng bị hạ. 1 lính súng trường bò tới chỗ khẩu súng, ngay sau đó khẩu M60 lại nã ào ào lên trên cao điểm. Phillips ko thể tin vào mắt cảnh tượng dũng cảm mà anh được chứng kiến. Anh vô cùng tự hào về những lính dù của mình.

Trong khi đó, trung úy Denny cũng đã bò đến. Phillips sai anh tiến sang phải để thử đánh vào sườn vị trí quân Bắc Việt. Chỗ đó rất là dốc, Phillips cảm thấy lính Bắc Việt đang quá bận tâm vào sự vận động của Jordan và Alligood nên ko thể nào phát hiện được Denny.

Denny vội vã cho quân chuẩn bị xuất kích rồi bắt đầu trèo lên. Mấy phút sau anh báo về cho Phillips rằng vừa bắt gặp nhiều căn hầm bỏ trống. 1 lính của Denny đã ném lựu đạn xuống 1 cái hầm mà anh ta nghĩ làm bằng bao cát. Cứt đái bẩn thỉu hôi thối văng khắp nơi chứng tỏ nó là 1 cái nhà xí của lính Bắc Việt.

Trong khi các trung đội của Phillips đang vận động. Trung đội 2 đi đầu trong đại đội Dog của trung úy Deems đã tới ngay sau đại đội Alpha chiếm lĩnh vị trí để yểm trợ hỏa lực. Deems đi phía trước trung đội 1, đang xuống được nửa dốc của ngọn cao điểm đằng sau thì đụng độ nổ ra. Anh và mọi người lập tức tổ chức chu vi phòng thủ. Đạn định bay viu víu qua những cây cối xung quanh họ, nhưng Deems nhận định chính xác đó là đạn cuối tầm của quân Bắc Việt đang bắn vào đại đội Alpha chứ ko phải là nhằm trực tiếp vào bọn họ.

Sau Deems 1 chút là trung úy Allen. Đây là lần đầu tiên nằm dưới làn đạn. Anh nằm dán xuống đất, kinh hoàng nghe tiếng súng nổ ầm ầm. Tiếng súng bắn của cả 2 phe nghe lớn hơn nhiều so với anh tưởng tượng. Súng nổ ầm ĩ điếc cả tai. Đạn địch bay véo véo trên đầu khiến cho ko ai có thể đứng dậy.

Rồi Allen bắt đầu trở nên điên máu. Anh đang nằm ở đây, trên lối mòn lầy lội, trong khi chỉ cách đó khoảng 100m nhiều binh lính đang phải chiến đấu để mong toàn mạng. Anh quay qua nói với tay trung đội phó: “Tôi muốn xông lên đó ngay bây giờ.”

Viên trung sĩ, 1 lính cũ đã gần hết kết thúc kỳ hạn phục vụ, bình tĩnh đáp: “Muốn cũng ko được đâu, sếp à.”

Không hề nản lòng trước lòi cảnh báo ấy, Allen đứng dậy và lao xuống lối mòn. Mới chạy được mấy mét thì đã bị vấp vào dây leo và ngã sóng xoài trên vũng bùn. Anh nghe thấy tiếng tay trung sĩ cười phía sau. Allen ngượng ngùng quay lại chỗ trung đội.

Giao tranh chỗ đại đội Alpha vẫn ko hề suy giảm, Allen bắt đầu lo ngại bộ đội Bắc Việt sẽ bao vây họ mất giống như đại đội Alpha của tiểu đoàn 2/503. Anh sốt ruột gọi điện báo cho Deems nỗi lo của mình nhiều lần. Rốt cục, Deems phải bảo anh cần tĩnh trí lại.

1 lính dù khác của Deems cũng đang trải qua lần chiến đấu đầu tiên của mình. Specialist 4 James R. (“Jake”) Duffy, 20 tuổi, người Scituate, Massachusetts đến nam VN tháng 5 năm 1967. Là lính súng cối, anh là điện đài viên cho 1 trong số những tiền sát viên súng cối 106,7 ly của tiểu đoàn. Tổ tiền sát viên này được luân chuyển giữa những đại đội chiến đấu khi cần thiết.

Khi trận đánh bắt đầu, Duffy nằm dán xuống đất phía sau tiền sát viên của mình. Nhiệm vụ của anh là gọi điện đài về cho các pháo thủ súng cối, tiền sát viên sẽ đọc số liệu hiệu chỉnh cho anh. Duffy quá sợ hãi nên ko thể thực hiện chức trách. Anh chưa bao giờ nghĩ việc đánh nhau lại đáng sợ tới vậy. Rốt cuộc thì tiền sát viên, 1 lính cũ điềm tĩnh, giật lấy điện đài của Duffy và tự mình gọi điện hiệu chỉnh. Duffy cứ nằm đó và tự hỏi làm cách nào để mình có thể tồn tại trong 10 tháng nữa đây?

Với 3 trung đội dưới quyền và 1 trung đội của đại độ Dog đang phải giao chiến kịch liệt với lính Bắc Việt nấp dưới hầm. Phillips đã gọi trực thăng vũ trang, và cả phi pháo tới yểm trợ. Vài phút sau đạn pháo đã rót ầm ầm xuống rừng cây trên cao điểm trước mặt đại đội Alpha.

Trực thăng vũ trang cũng nhanh chóng có mặt trên đầu. Nhưng chúng đã chứng tỏ sự vô dụng. Tán rừng dày đặc che kín mít khiến trực thăng bắn toàn trật lất.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 30 Tháng Năm, 2014, 10:17:12 AM
Trung tá Jackley lúc đó cũng đang trong chiếc trực thăng chỉ huy bay phía trên. Tuy nhiên, việc nhờ ông hỗ trợ cũng chẳng thành công. Rừng quá dày nên ông ta chả thấy được gì cả. Và Phillips, dù nghe được tiếng trực thăng bay phía trên cũng ko thể nhìn thấy ông. Chốc chốc, Phillips lại báo cho ông biết tình hình nhưng do quá bận rộn nên chỉ có thể báo cáo qua loa chiếu lệ.

Khi nghe tiếng súng, đại úy Severson ngay lập tức lệnh cho đại đội lùi lại vài chục mét tới chỗ có thể dễ dàng phòng thủ hơn ở 1 mô đất nhô lên trên sườn cao điểm. Tiếng súng máy dữ dội của địch khiến Severson cũng đã nghĩ tới đại đội Alpha, tiểu đoàn 2/503. Anh ko muốn đại đội mình sẽ bị bao vây và chia cắt như họ từng bị. Trong khi đại độ Bravo tổ chức phòng ngự thì Severson theo dõi trận đánh qua điện đài. Mọi thứ đang rối tung lên nhưng Severson vẫn nhận định được đại đội Alpha đang bị kẹt vào 1 tình thế khó khăn.

Ít phút sau, thiếu tá Williams, vẫn đi cùng với đại đội Dog, gọi điện đài cho Severson. “Đưa đại đội của anh vòng sang phải. Tôi muốn anh tiến đánh cao điểm từ phía tây bắc. Bọn khốn đang tiến công Alpha từ chỗ đó và chúng ta cần phải bắt chúng câm họng.”

Trong khi Severson lên kế hoạch điều binh, những lời bàn tán về trận tấn công lan ra khắp đại đội. Hầu hết các thành viên của nó còn tương đối mới và đây là lần đụng trận đầu tiên của bọn họ. Họ bắt đầu hoảng sợ. Severson nhanh chóng trấn an đám lính. Sau đó anh nhận định rằng việc tiến quân lúc này là quá ư mạo hiểm khi ko có pháo binh yểm trợ, mà anh lại ko thể gọi pháo tới vì ko biết đích xác vị trí đại đội Alpha.

Ngay sau đó thiếu tá Williams cùng 2 lính điện đài và tổ tiền sát viên của mình bước vào chu vi phòng thủ của đại đội Bravo. “Tôi muốn anh di chuyển sang bên phải” Williams nói quả quyết.

“Tôi nghĩ đó ko phải là ý hay đâu, sếp.” Severson nói. Trước đó anh và Williams hay có bất đồng về chiến thuật và Severson có quan điểm khác hẳn Williams.

“Bọn khốn bảo vệ sườn rắn lắm” Severson tiếp tục “bên cạnh đó, hỏa lực nào yểm trợ cho ta?”

Williams thừa nhận mình ko thể liên lạc vô tuyến với Jackley. Có thể là do điện đài của Jackley bị trục trặc hoặc do địa hình hay trời mưa đã ngăn tín hiệu vô tuyến khiến nó ko nhận được và do đó sẽ ko có hỏa lực yểm trợ.

Nhưng Williams vẫn khăng khăng: “Nếu ta đánh ngay lúc này, chúng sẽ bị bất ngờ. Ta sẽ gọi hỏa lực sau.”

“Tôi muốn nói chuyện với Six” Severson đáp.

Severson cũng ko gặp may khi cố liên lạc với Jackley. Hai người tranh cãi thêm vài phút nữa, rối Williams hỏi: “Sợ hả, đại úy?”

“Vậy anh sẽ ở đâu?” Severson hỏi sấc.

“Tôi sẽ đi ngay cạnh anh.”

“Ok. Vậy thì đi.”

Severson kêu 3 trung đội rồi bắt đầu di chuyển vội vã sang phải. Anh cho viên thượng sĩ nhất cùng với trung đội thứ 4 ở lại để thiết lập 1 bãi đáp. Thượng sĩ trung đội phó, Lawrence Okendo nhanh chóng bố trí lính vào vị trí phòng ngự trong khi anh cùng những người còn lại dùng dao rựa chặt cây.

Thượng sĩ Okendo là 1 quân nhân hay gây gổ đã tham gia 3 cuộc chiến tranh. Ông là thành viên duy nhất của lữ 173 đã từng chiến đấu trong trung đoàn dù 503 hồi thế chiến II. Sinh năm 1922 tại Hawaii, Okendo trải qua 1 tuổi thơ dữ dội, khi ra vào rất nhiều trường giáo dưỡng trước khi 1 vị thẩm phán bắt ông phải lự chọn giữa việc ở tù hoặc đi lính. Và Okendo đã chọn nhập ngũ.

Với bản tính lỳ lợm nên Okendo tình nguyện vào lính dù. Ông gia nhập trung đoàn 503 đúng lúc nó tiến hành nhảy dù xuống New Guinea. Ông đã chiến đấu trong nhiều chiến dịch ở đó mà ko bị thương tích gì. Nhưng đến Noemfoor thì lại ko may mắn như vậy. Ông đã phải nằm viện nhiều tháng để chữa trị các vết thương. Sau đó Okendo gia nhập sư đoàn 7 bộ binh trong chiến dịch khốc liệt trên đảo Okinawa. Ông tiếp tục chinh chiến ở Triều Tiên trong trung đoàn dù 187 danh tiếng do đại tá William C. Westmoreland chỉ huy, và sau đó là sư đoàn 7 bộ binh. Tháng 5 năm 1967, ông gia nhập đại đội Bravo tiểu đoàn 4/503.

Trong khi trung đội của Okendo làm bãi đáp, đạn bắn tỉa của bộ đội Bắc Việt liên tục bay veo véo trên đầu họ. Phần lớn đạn bắn trúng những cây tre quanh đó gây nên những tiếng động lớn. Một viên đạn bắn trúng bàn tay phải 1 lính dù làm anh này bị thương nhẹ. 1 lính khác bị thương ở cánh tay vì bị rựa chém phải. Okendo cùng Specialist 5 Jackson, lính cứu thương của trung đội, đã băng bó cho họ.

Thượng sĩ Okendo cùng với 1 lính khác bỗng nghe thấy có tiếng động trong rừng cây trước mặt họ. Vì ko thể nhìn xuyên qua đám cây rừng rậm rạp nên họ đã không bắn vì nghĩ là đó có thể là lính của Severson quay về báo tin. Rồi từ đám cây nhô ra 1 lính CIDG thuộc đại đội Alpha lưng cõng 1 lính Mỹ bị thương, tay ôm 6 khẩu súng M16. Okendo nhanh chóng tới đỡ cho anh lính. Specialist Jackson bắt đầu cứu chữa thương binh trong khi người lính Thượng biến lại vào trong rừng tới chỗ những người bị thương vong khác của Phillips.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 09 Tháng Sáu, 2014, 09:37:04 AM
Đại úy Severson, cùng 3 trung đội dưới quyền và thiếu tá Williams ko phải di chuyển nhiều trước khi thực hiện cuộc tấn công. Họ lọt vào 1 yên ngựa thoai thoải cách vị trí của Okendo khoảng 100m.

Đằng trước là sườn cao điểm 830 dốc đứng mọc chen chúc các loại tre gai, cây cối và bụi rậm.

Severson dừng lại 1 lát để các trung đội chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu. Trung úy Ligon đi bên phải, cạnh điện đài viên của mình là Specialist Owens. Lính dù bắt đầu leo lên dốc, sườn cao điểm dốc đến độ họ phải dùng tay đu bám trèo lên.

Lên được nửa chừng, Severson lệnh cho Ligon dàn quân theo đội hình bậc thang lệch qua trái. Trong khi anh đang thực hiện và trung đội dẫn đầu đi ở giữa chỉ còn cách khoảng 30 mét nữa là lên tới đỉnh thì bộ đội Bắc Việt khai hỏa.

Hỏa lực tấn công bất ngờ của súng cá nhân và súng máy làm quân đại đội Bravo choáng váng. Họ nằm sát mặt đất và ko sao bắn trả lại được. Binh nhất Jerald Lytle, 1 người Mỹ bản địa (da đỏ.ND) quê ở nam Dakota, quá hốt hoảng nên đã vứt cả súng tháo chạy. Trong khi bò lê bò toài xuống chân cao điểm anh đã làm rơi mất gói thư tình quý giá của người yêu. Khi xuống gần đến chân cao điểm anh mới có thể kìm được cơn hốt hoảng rồi bắt đầu trèo lên cao điểm lại.

Chỉ có vài lính dù của đại đội Bravo là còn bắn trả lại địch. Severson phải quát bảo những người khác nổ súng. Bỗng 1 trung sĩ bên cạnh anh gục xuống, đạn ghim đầy mình. Severson vẫn tiếp tục quát lác thúc lính mình khai hỏa. Từ từ, những người lính mới đụng trận lần đầu mới nhớ lại những gì đã được huấn luyện, cùng với bản năng sinh tồn trỗi dậy và bắt đầu đáp trả hỏa lực đối phương.

Từ chỗ mình, Severson có thể nhận thấy lính Bắc Việt đang nấp trong những căn hầm có vị trí đắc địa gần đỉnh cao điểm. Anh ước đoán lực lượng của đối phương có từ 2 trung đội cho tới 1 đại đội đầy đủ. Địch bắn dữ dội xuống sườn cao điểm, ghìm đầu lính dù xuống đất.

Trung úy Ligon bò tới sau 1 gốc cây. 1 loạt đạn bắn tới khiến anh bất ngờ. Do lóng ngóng mở khóa an toàn nên anh làm tuột cả hộp tiếp đạn. Anh vội vàng lắp hộp đạn khác vào rồi bắn lên trên cao điểm. Xung quanh có rất nhiều binh sĩ bị sốc đến độ tê liệt. Anh cũng phải quát um lên bắt họ khai hỏa. Anh chỉ mục tiêu cho lính ưới quyền bằng cách bắn vào mấy cái hầm. Trung đội của anh bắt đầu phát dương hỏa lực.

Binh nhất Lytle, lúc này đã nhặt được 1 khẩu súng của những binh sĩ bị thương vong và trèo lên cao điểm lại. Anh cảm thấy mình ko thể nào sống sót nổi nên đã chuẩn bị tinh thần đón nhận viên đạn sẽ bắn trúng anh. Vừa di chuyển từ chỗ nấp này qua chỗ nấp khác, anh vừa bắn những loạt ngắn M16. Lytle ko nhìn thấy rõ mục tiêu nào cả, anh chỉ bắn lên mỗi khi nhìn thấy chớp lửa súng của quân Bắc Việt. Anh phục xuống sau 1 gốc cây to, cứ bắn liên hồi cho đến khi hết thì lại nạp băng đạn mới vào bắn tiếp.

Trung úy Ligon, với sự theo sát của Specialist Owens, vẫn di chuyển bất chấp cơn mưa đạn thù, đôn đốc trung đội mình tiến lên. Đó là 1 việc rất khó khăn. Bất cứ cái gì nhúc nhích là đạn bắn tới rào rào ngay. Thương vong tăng cao. Owens nhìn thấy 1 cậu bạn là binh nhất Frazier D. Huggins bị thương nặng, phải chạy lui xuống cao điểm. Anh này đến đêm thì chết. Owens còn chứng kiến 1 người bạn khác là lính cứu thương Sp4 Joel Sabel, bị bắn hạ khi đang tiến về phía 1 thương binh.

Đại úy Severson đã bị thương nhẹ vào cánh tay trái. Vết thương làm anh bực mình còn hơn là đau. “Có vẻ sẽ lại được 1 quả tim tím nữa đây” anh nói với điện đài viên của mình.

Sau khi được 1 lính cứu thương băng bó, anh bắt đầu di chuyển sang trái, đến chỗ trung úy Ligon. Phải đưa các trung đội tiến lên nếu ko họ sẽ chết hết. Anh ko thể rút lui vì làm vậy chỉ tổ khiến binh lính bị bắn nhiều hơn. Nỗi điên tiết cộng với những gì đã được huấn luyện hối thúc anh phải tấn công.

Severson mới di chuyển được chưa đầy 10m thì có 1 tiếng nổ lớn phát ra ngay bên cạnh. Súng cối! Đạn cối 60 và 82 ly Bắc Việt bắt đầu vọt lên rồi rót xuống dốc. Lính dù kêu gào đau đớn khi những mảnh cối nóng bỏng xé toạc da thịt họ. Severson vẫn tiếp tục tiến. Anh mới vận động qua chỗ thiếu tá Williams được 5m thì 1 viên đạn cối nổ ngay giữa bọn họ.

Mảnh đạn nổ ghim vào bên phải Severson làm anh bị thương nặng. Sau khi hoàn hồn anh gào lên: “Cứu thương! Cứu thương!”. Anh cuống cuồng tìm người lính cứu thương rồi nhìn thấy anh này đang ngồi chết lặng, tay ôm cái chân cụt của mình. Phía sau người lính, Severson có thể thấy thân hình nát bấy của thiếu tá Williams cùng mấy người nữa. Severson lại bò tiếp về hướng trung úy Ligon.

Những tiếng đạn cối nổ ban đầu khiến Ligon giật mình hoảng hốt. Anh cứ nghĩ đó là đạn hụt tầm của pháo binh nhà. Ligon chộp lấy ống nói chiếc điện đài PRC-25 của Specialist Owens gào lên gọi trung tâm chỉ huy hỏa lực (FDC): “Check fire! Check fire!” (kiểm tra lại mục tiêu đang bắn.ND), mấy giây sau anh mới nhận ra đó là đạn cối của địch.

Trong lúc những trái đạn cối dập xuống đội hình những lính dù đang co rúm lại, Ligon tìm thấy Severson, người đầy máu. Severson, thở khó nhọc vì đau đớn, bảo Ligon gom lính lại tổ chức 1 chu vi phòng thủ và gọi trung đội dự bị lên.

Trong khi Owens dùng 1 tấm bản đồ bọc plastic để lên vết thương nơi bụng của Severson rồi băng lại, Ligon gọi điện đài về trung đội dự bị.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 10 Tháng Sáu, 2014, 09:45:10 AM
Thượng sĩ Okendo đã nghe được những cuộc điện đàm từ trước và định cho binh lính tiến lên thì trung đội trưởng của anh gọi lại: “Thượng sĩ, anh đi đâu đó?”

“Tới giúp trung úy Ligon ạ, anh ta đang ‘bị’ nặng.”

Tay trung úy đang chen chúc trong hố cá nhân cùng viên thượng sĩ nhất quát lên “Quay về chỗ, ko được đi đâu hết trừ khi tôi ra lệnh!”

Okendo điên tiết kéo lính lui về chu vi phòng thủ.

Lát sau Ligon gọi lại cho tay trung ý cứng đầu kia. “Tôi đang chỉ huy các đơn vị phía trước và cần anh lên đây giúp.”

“Tôi là trung úy có thâm niên hơn nên tôi sẽ nắm quyền chỉ huy.” Gã kia đáp.

Ligon vặn lại “Nghe này, thằng chó, nếu mày muốn chỉ huy thì lên đây mà làm!”

Nhưng gã trung úy và thượng sĩ nhất kia vẫn ko chịu rời hố cá nhân của chúng.

Trung úy Ligon là sĩ quan duy nhất của đại đội Bravo vẫn còn đảm đương nhiệm vụ. 1 trung đội trưởng khác đã bị giết trong khi người còn lại đã nhảy vào trong rừng, la hét điên loạn sau khi bị dính 1 phát đạn vào lưng.

Trong khi Ligon bận cãi vã với tay trung úy lì lợm kia, thì Severson cố gọi điện đài cho trung tá Jackley. Anh giải thích ngắn gọn tình thế của đại đội Bravo và xin cho trực thăng tản thương ngay lập tức. Jackley nói anh ko được phép gọi máy bay tải thương đến khi mà khu vực vẫn chưa an toàn.

Ngồi trên chiếc trực thăng chỉ huy bay lòng vòng trên những tán cây rừng kín mít, Jackley giận sôi sùng sục khi bất lực chẳng thể làm gì giúp đỡ cho mấy đại đội đang bị giết dần của mình. Vì ko biết được đích xác vị trí của họ nên ông ko dám điều phối không kích và pháo kích.

Liên lạc vô tuyến không được thông suốt, nên Jackley thậm chí ko thể biết rằng có bao nhiêu chỉ huy dưới quyền mình còn sống. Tuy nhiên ông biết rằng sẽ ko có quân tăng viện nào có thể đến khi trời tối, ko còn nhiều lựa chọn nữa. Jackley bắt đầu gọi cho đại úy Phillips.

Trên sườn cao điểm 830, đại úy Phillips cũng đang bị mắc kẹt. Súng cối của bộ đội Bắc Việt cũng đang rót xuống đại đội Alpha và gây ra nhiều thương vong. Trung úy Jordan đã chết, anh bị đạn súng máy địch bắn thủng lỗ chỗ khắp người khi đang thúc trung đội mình tiến lên. Phillips biết đại đội Bravo đang bị băm nhỏ và bóng đêm sẽ ngăn cản bất kỳ lực lượng tăng viện tới được chỗ anh.

Rốt cục thì tới lúc này thì trung tá Jackley cũng đã liên lạc được với Phillips. Ông lệnh cho Phillips ko đánh nữa mà tìm về với đại đội Bravo, cùng thiết lập chu vi phòng ngự để cố thủ khi đêm xuống. Pháo binh sẽ lập hàng rào bắn chặn bảo vệ cho họ suốt đêm.

Sau đó Jackley gọi trung úy Deems, bảo anh quay về chỗ đại đội Bravo. Deems lập tức thi hành và cùng trung đội của trung úy Allen quay về trong khi 1 trung đội khác dưới quyền vẫn đang ở chung với đại đội Alpha.

Vào lúc Allen cho trung đội lên đường thì cơn mưa dai dẳng bắt đầu tạnh. Những người lính đi lom khom, tiến chậm nhưng đều đặn. Đi đầu là Specialist 4 Morrell J. Woods, 19 tuổi. Woods sinh trưởng ở 1 thị trấn nhỏ phía bắc Arkansas, nơi thời thơ ấu anh thường hay vào rừng sâu ở đó để đi săn, câu cá và cắm trại. Anh cảm thấy trong rừng cũng như ở nhà và nhiều lính dù đánh giá Woods là tay xích hầu giỏi nhất trong tiểu đoàn.

Với việc đại đội Dog tiến về chỗ Bravo, và đại đội Alpha ngưng chiến. Trung úy Ligon nhận thấy hỏa lực địch trong khu vực của mình cũng đã giảm rõ rệt. Anh đoán quân Bắc Việt đã dùng súng cối bắn chặn để có thể rút lui. Hay có thể địch quân nghĩ lực lượng Mỹ mạnh hơn thực tế, hoặc đang tìm cách hoãn binh. Dù thế nào đi nữa, Ligon cũng cảm thấy dễ chịu khi được ‘giải lao’ tí chút.

Cái điện đài PRC-25 của Owens bỗng vang lên tiếng trung tá Jackley gọi đến: “Bravo Six. Bravo Six.”

Severson đã bị ngất do mất nhiều máu, nên Ligon trả lời: “Bravo Six mới đây ạ.”

Khi Ligon báo cho trung tá Jackley biết tình hình đã ổn định, Jackley bảo anh cứ giữ vị trí, đại đội Dog đang về. Dù gì thì Ligon cũng chẳng thể đi đâu được, những người chết và bị thương đang là gánh nặng đối với anh.

Tại vị trí của mình, thượng sĩ Okendo lắng nghe các cuộc trao đổi vô tuyến, theo sát tình hình. Trung đội trưởng cùng viên thượng sĩ nhất của đại đội vẫn còn co rúm trong hố các nhân, ko cho Okendo đến chỗ Ligon. Thế nên Okendo đành tập trung vào việc chặt, phát cây cối tạo 1 bãi đáp trong rừng. Nhưng họ đã lực bất tòng tâm.

Việc hỏa lực của quân Bắc Việt giảm đi cho phép Ligon sơ tán 1 số thương binh của mình về vị trí Okendo vì nghĩ rằng ông này đã làm xong bãi đáp. Binh nhất Lytle, cõng trên lưng 1 thương binh bị thương nặng vào bụng cùng với 1 số người khác chuyển các nạn nhân về chỗ Okendo.

Trong khi ấy, những lính đi đầu trong trung đội của trung úy Allen đã tới những vị trí gần nhất của đại đội Bravo. Điều đầu tiên mà Specialist Woods nhìn thấy khi tới là hình hài đen đen ướt sũng nước mưa của những lính dù tử trận. Chúng nhiều đến nỗi anh đã nghĩ rằng đại đội Bravo ko còn ai sống sót. Sau đó anh nhìn thấy 1 số lính đang co cụm lại phía sau những gì còn lại của 1 bụi tre dày. Hỏa lực quân Bắc Việt đã tiện đứt các cây tre khiến chúng chỉ còn cao cách mặt đất có 1 mét.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 11 Tháng Sáu, 2014, 09:22:19 AM
Tiếng súng trường địch nổ lác đác lẫn với những tràng súng máy vẫn thỉnh thoảng bắn tới khiến hầu hết binh lính đều phải ẩn nấp. Woods nhìn thấy thiếu tá Williams ở gần đó và bò tới cạnh ông này. Anh nói “Chắc đó là 1 thằng khốn.” Ko thấy Williams trả lời. Sau đó Woods nhìn kỹ hơn mới thấy rằng nửa bên phải của thiếu tá đã biến mất. Woods bò đi và tới núp sau bộ rễ của 1 cái cây đổ.

Tàn tích đầu tiên mà trung úy Allen thấy trong khu vực chiến đấu của đại đội Bravo là xác 1 trung sĩ bị bắn đổ ruột nằm chắn ngang đường. Máu của người lính hòa lẫn với nước mưa chảy tràn xuống bùn. Allen đẩy cái xác qua bên rồi lại tiếp tục bò dích dắc về phía trước.

Sau đó Allen tới chỗ 2 lính dù đang thủ 1 khẩu M60. Cả 2 đều òa khóc. “Ơn Chúa là anh đã tới.” Họ nức nở. Allen an ủi họ rồi lại tiếp tục. Chẳng mấy chốc anh đã tới chỗ trung úy Ligon, trao đổi ngắn gọn với anh này, sau đó tới nhập bọn với trung úy Deems rồi gom các “thiên binh” vào 1 chu vi phòng thủ hình bán nguyệt quay mặt lên trên cao điểm.

Allen nghe thấy tiếng trực thăng của trung tá Jackley bay trên đầu. 1 số lính của anh tỏ vẻ tức giận khi Jackley ko xuống dưới đất với bọn họ. Một người bảo Allen: “Nếu tôi có tầm nhìn thoáng đãng như cái gã khốn đó thì tôi đã cho hắn lộn cổ rồi.” Allen chẳng nói gì hết. Vào lúc đó, khoảng 17g30, trung úy Deems gọi điện đài cho đại úy Phillips. Deems bày tỏ quan ngại về vị trí của Phillips do địa thế trắc chở mà trời thì đang tối rất nhanh. Trung tá Jackley cũng nghe được cuộc điện đàm này và đồng tình với Deems. Ông lệnh cho Phillips di chuyển tới thay vào vị trí của Okendo.

Vẫn đang theo dõi trên điện đài, thượng sĩ Okendo nhận ra đại úy Phillips hình như ko biết đích xác vị trí của ông. Okendo, đã chủ động cùng với Specialist Jackson nhờ thương binh của Phillips chỉ giúp, tiến ra tìm đại đội Alpha để hướng dẫn họ vào chu vi phòng thủ của mình an toàn.

Okendo và Jackson đi xuống cao điểm, chỉ trong chốc lát, họ đã gặp được Phillips. Okendo nhận ra viên đại úy cao ráo, khoác tấm poncho che mưa, tay cầm gậy tre đang đi trên lối mòn. Hai người nói với nhau vài câu rồi Okendo dẫn họ quay về vị trí của mình.

Bãi đáp do Okendo tạo ra quá nhỏ nên trực thăng ko thể đáp xuống đất. Thay vì vậy, trực thăng tải thương phải dùng dây cáp thả cáng xuống. Chỉ có mỗi viên trung úy bị bắn vào lưng được bốc lên trước khi các chuyến bay phải hủy bỏ do thời tiết xấu. Từ lúc tìm đường tới được vị trí của Okendo, viên sĩ quan cứ hoảng loạn nói năng lảm nhảm, làm những người khác sợ hãi. Nên Okendo phải cho viên trung úy di tản bằng được.

Khi việc tản thương bị ngưng, Okendo nói với đại úy Phillips về hành vi đáng xấu hổ của tay trung đội trưởng và thượng sĩ nhất đại đội. Phillips bước đến cái hố cá nhân, nơi 2 người kia vẫn chen chúc bên dưới.

“Đi kiểm tra chu vi phòng thủ chưa?” Phillips hỏi tay trung úy.

“Chưa ạ, thưa sếp.”

“Ra khỏi cái lỗ đó ngay và làm việc đi. Đừng có trở lại đây nữa. Tôi muốn anh lên tuyến đầu.” Phillips ra lệnh.

Gã trung úy ko chịu nhúc nhích, viên thượng sĩ nhất cũng thế. Phillips bỏ đi, để chúng ở lại đó. Anh có quá nhiều việc quan trọng phải lo thay vì kỷ luật chúng ngay lúc này.

Trung úy Deems và Ligon đang đối mặt với các vấn đề của riêng họ. Mặc dù hỏa lực địch hầu như đã lắng xuống, 1 vài phát đạn bắn tỉa vẫn khiến các “thiên binh” phải lo lắng. Họ cũng có nhiều thương binh. Một số người, kể cả đại úy Severson đang cần phải di tản ngay lập tức nếu ko họ sẽ chết trước khi trời sáng. Thương binh nhiều quá khiến cho lính cứu thương của Ligon ko thể xử lý hết, anh gọi thượng sĩ Okendo lên để đem 1 số thương binh về vị trí của mình. Rồi Ligon chỉ dẫn cho trực thăng tải thương tới bốc đi những thương binh nguy kịch nhất.

Vì ở đó ko có bãi đáp cho trực thăng, nên họ cũng phải thả cáng từ trên ngọn cây xuống. Severson, trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê, thấy mình được bó chặt vào cái cáng làm bằng lưới. Anh được kéo lên trong lúc mưa rơi đầy mặt. Khi được ròng rọc kéo lên, cành cây quẹt hết vào ngưởi, anh cố gạt chúng ra nhưng cũng phải bỏ cuộc. Lát sau Severson đã nằm trên sàn chiếc trực thăng. 1 bác sĩ của tiểu đoàn bắt đầu cứu chữa cho anh ngay lập tức.

Cũng chỉ có 2 hay 3 lính từ chỗ của Ligon được bốc ra trước khi thời tiết xấu khiến hoạt động đó phải chấm dứt.

Binh nhất Lytle thực hiện 1 trong những chuyến cuối cùng mang thương binh từ vị trí của Ligon về chu vi phòng thủ của Okendo. Lúc đó anh đang dìu 1 lính bị mù quay về thì trời đã tối. Chuyến đi bình thường trong rừng chỉ mất 15 phút đã kéo dài tới 1 giờ do Lytle cứ vấp ngã liên tục. Anh cố chống lại nỗi sợ hãi, ko muốn rũ bỏ trách nhiệm đang gánh. Cuối cùng anh cũng nghe thấy những tiếng nói. Tiếng lính Mỹ. Anh loạng choạng bước vào nơi trú quân với tâm trạng nhẹ nhõm.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 12 Tháng Sáu, 2014, 09:31:21 AM
Tối hôm ấy, trong khi đang giúp chăm sóc thương binh, Lytle vui mừng gặp lại 1 người bạn từ hồi ở căn cứ Fort Benning là trung sĩ Orville Smith. Smith là 1 fan cuồng nhiệt của loạt phim truyền hình Combat nói về thế chiến II, giờ đang nằm lặng lẽ hút thuốc dưới nền đất rừng ẩm ướt với 2 chân dập nát. Lytle nhắc: “Smitty, đừng hút thuốc.”

“Tớ biết làm gì bây giờ?” anh bạn trả lời.

Sau đó Lytle ngồi chăm chú nghe người bạn tả lại cảnh đường đạn súng máy của quân Bắc Việt cày xuống mặt đất trước mặt rồi trước khi đạn xé nát 2 chân.

“Bây ạ” trung sĩ Smith nói: “cứ y như trong phim Combat vậy.”

Lytle ko thể tin nổi điều cậu ta nói.

Trung úy Allen lập vị trí chỉ huy phía sau 1 bụi tre lớn khoảng 10m. Anh bố trí tiểu đội của trung sĩ William Dunston phía trước bụi tre làm chốt cảnh giới tiền tiêu. Allen chắc mẩm đêm đó đối phương sẽ tấn công. May thay, điều đó đã ko chở thành hiện thực.

Những người còn lại trong cái tiểu đoàn 4/503 bị đánh tả tơi đã trải qua 1 đêm thống khổ. Hầu hết lính tráng đều đã vứt ba lô lại chỗ mà họ chạm địch đầu tiên, chỉ 1 số ít là còn giữ được poncho hay quần áo ấm thì họ cũng đã đem nhường chúng cho thương binh rồi.

Đêm đó người bị thương chính là những người cực khổ nhất. Thuốc men, dụng cụ y tế thì có hạn, lính cứu thương cũng ko thể làm gì nhiều giúp giảm bớt sự đau đớn của bọn họ. Những tiếng la hét, rên rỉ của họ vang lên trong đêm, khiến những người lành lặn bị ám ảnh. Một cậu lính gào lên: “Tôi muốn gặp mẹ. Mẹ ơi! Mẹ đâu rồi! Tôi muốn gặp mẹ.”

Những người khác thì vật nài xin morphine, gọi tên vợ hay khóc lóc.

Sáng sớm ngày 11 tháng 7, trung úy Deems gọi điện bảo trung úy Allen: “Tổ chức tuần tiễu bên ngoài và trinh sát ngọn cao điểm.”

Allen truyền lệnh lại cho trung sĩ Dunston. Dunston trả lời ngay tức thì: “Six, trinh sát ngọn cao điểm mà làm gì? Mình đang ở giữa vị trí của bọn khốn mà.”

Điều này là đúng sự thật. Chỉ cách chỗ tiểu đội của Dunston canh gác suốt đêm vài mét là những cái hầm mà lính Bắc Việt bỏ lại. Allen cho trung đội mình lên lục soát ngay phía trước mặt và mau chóng thấy ngay rằng chỗ đóng quân của 2 đại đội mới bị đập tơi tả kia nằm ngay cạnh 1 khu trú quân của bộ đội Bắc Việt. Lính dù đã đếm được gần 60 hầm chiến đấu và hố cá nhân quanh bao quanh nơi đó. Nhiều cái có nóc làm bằng các súc gỗ và đắp đất dày tới 2m bảo vệ.

Khi trung đội của Allen tiến sâu hơn vào trại địch, họ tìm thấy 1 số dấu vết chứng tỏ sự hiện diện của quân Bắc Việt ở đây là khá lớn.

Specialist Duffy tới 1 khu vực có nhiều bếp nấu ăn, 1 khu nhỏ có các căn hầm chỉ huy nằm ngay trung tâm khu trại. Đó đây là những đồ trang bị, đạn dược bị bỏ lại. Nhưng ko tìm thấy 1 lính Bắc Việt nào cả.

Trung úy Allen báo cáo những điều phát hiện về Deems, anh này chuyển báo cáo tới đại úy Phillips. Deems gọi lại bảo Allen tiếp tục lục soát khu vực và vẽ sơ đồ các vị trí địch trên cao điểm.

Ngay khi sương mù đặc quánh buổi sáng tan đi, máy bay trực thăng đã bay đến thả cưa máy xuống. Mất hơn 2 giờ làm việc vất vả, nhưng cuối cùng thì 1 bãi đáp hoàn chỉnh cũng đã được hoàn thành. Thương binh được đưa lên nững trực thăng tải thương đang treo lơ lửng trên các gốc cây từ 3 đến 4 mét. Thời tiết bất lợi khiến cho những chuyến trực thăng tải thương thường xuyên bị đình trệ. Tới tận 19g00 thì những thương binh cuối cùng mới được đưa lên máy bay.

Đến giữ buổi sáng thì trung tá Jackley đáp xuống bãi đáp của Okendo. Xuống cùng ông có đại úy Grosso; thiếu tá Roy V. Peters – 1 cha tuyên úy và thượng sĩ cố vấn tiểu đoàn Ted G. Arthurs.

Arthurs là 1 hạ sĩ quan cao cấp lo việc giữ gìn kỷ cương trong binh sĩ. Lính lác rất sợ cái cái dáng dấp đường bệ của ông ta. Họ càng khiếp hãi hơn vì ông này cạo đầu nhẵn thín. Arthurs lại khoái cái biệt danh: “đầu c” của mình. Đây là 1 biệt hiệu do 1 tên lính gây rắc rối mà Arthurs đã xử lý kỷ luật hồi ở căn cứ Fort Campbell đặt. Arthurs còn làm tăng thêm dáng vẻ hung bạo của mình bằng cách thỉnh thoảng tru lên như chó sói vào những lúc cần thiết. Các sĩ quan trong tiểu đoàn đặc biệt tôn trọng Arthurs, còn lính tráng thì biết ông tất cả những gì ông làm cũng chỉ để cho bọn họ được tốt hơn.

Đại úy Phillips báo cáo cho trung tá Jackley tình hình của mình mấy bữa qua. Sau đó Jackley và Arthurs đi đến giữa đám lính dù, nghe họ kể chuyện và biểu dương hành động của họ. Jackley đặc biệt khen ngợi trung úy Ligon. Sự can đảm và bình tĩnh của Ligon đã ngăn được thảm họa và giảm thiểu tổn thất đáng ra họ phải gánh chịu.

Khi Jackley và Arthurs đi thăm thú xong. Thượng sĩ  Okendo đi đến chỗ ông bạn thượng sĩ cố vấn của mình. Okendo kể cho Arthurs về hành vi hèn nhát của trung đội trưởng và tên thượng sĩ nhất . Arthurs báo lại đầu đuôi sự việc cho trung tá Jackley. Khi đã hiểu vụ việc, Jackley lệnh 2 tên kia lên chuyến trực thăng sau. (Dù các binh sĩ trên cao điểm 830 đều muốn đưa 2 gã đó ra tòa án binh, chúng rốt cuộc chỉ đơn giản là bị thuyên chuyển khỏi lữ đoàn).

Lúc này trung úy Allen đã hoàn tất việc lục soát chiến trường. Anh tìm thấy 3 xác lính Bắc Việt và 3 khẩu AK-47. Khi mang mấy khẩu súng về chu vi phòng thủ thì nhìn thấy trung tá Jackley. Cảm thấy tự hào vì thành tích của mình, Allen sải bước đi thoăn thoắt đến chỗ vị trung tá và nói: “Thưa sếp, tôi là trung úy Allen. Đây là 3 khẩu súng tôi thu được và đây là sơ đồ vị trí quân Bắc Việt.”


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 13 Tháng Sáu, 2014, 09:16:27 AM

Jackley nhìn anh rồi chỉ tay trả lời: “Tốt hơn cậu hãy đem mấy khẩu súng tới chỗ trực thăng kia, trung úy, nếu ko tôi đá đít cho bây giờ.”

Allen choáng váng trước những lời khiển trách. Anh ko rõ vì sao mà trung tá lại nổi giận nhưng cảm nhận thái độ cay nghiệt đó có lẽ là do ông ta chưa đánh giá đúng những sự việc đã xảy ra trên mặt đất. Sau lần đó anh trở nên ghét Jackley.

Sáng 11 tháng 7, thiếu tá Peters tổ chức thánh lễ. Buổi lễ được rất nhiều người tham dự. Phần còn lại trong ngày và sau đó, 3 đại đội tiến hành lục soát kỹ lưỡng chiến trường tìm kiếm xem có thương vong nào của quân mình còn sót lại, xác quân địch cùng những đồ dùng của bộ đội Bắc Việt có giá trị tình báo. Đại úy Phillips tiến hành 1 chuyến tuần thám tới chỗ anh chạm địch. Những ba lô mà lính của đại đội vứt lại vẫn còn nguyên vẹn.

Gần đỉnh cao điểm 830, trong 1 khu đất trống nhỏ, mà Phillips nghĩ là vị trí chỉ huy của địch, anh đã tìm thấy 1 xác lính quân mình. Thi hài được trân trọng, cẩn thận cuốn vào trong tấm poncho. Phillips dậy lên lòng thương cảm, kính trọng người lính trẻ dũng cảm này.

Trên cao điểm còn tìm thấy thêm 2 khu lán nữa. Tất cả đều được làm rất tốt chứng tỏ địch đã đóng ở đây trong 1 thời gian dài.

Ngày 12 tháng 7, đại đội của trung úy Deems phát hiện 1 lính Bắc Việt bị thương ở sườn tây nam cao điểm 830. Người này rất sợ hãi và nói mình chỉ là quân y sĩ mới ở ngoài Bắc vào. 1 chuyến trực thăng đặc biệt được gọi đến để chở anh ta về Đắk Tô chữa trị và thẩm vấn.

Kết quả cuối cùng của việc lục soát chiến trường là đã tìm thấy 9 xác bộ đội Bắc Việt cùng với 1 lượng nhỏ súng ống, đạn dược và đồ đạc linh tinh khác.

Cùng với thiếu tá Williams và điện đài viên của ông này, tiểu đoàn 4 trung đoàn 503 còn có thêm 22  người chết, 62 người bị thương. (Đại đội Alpha chết 10, bị thương 32; Bravo chết 9, bị thương 24; Dog có 1 chết, 2 bị thương; đại đội chỉ huy có 2 tử trận và 4 bị thương.)

Chiều ngày 12 tháng 7, đại đội Bravo được rút ra thay bằng đại đội Charlie của trung úy Connolly. Để bù đắp cho những tổn thất, thượng sĩ cố vấn Arthurs đã kêu gọi sự tình nguyện của những binh sĩ trợ chiến ở tuyến sau. Kết quả thật là tuyện vời! Lính nấu bếp, quân cảnh, công binh và lính văn phòng đều xung phong ra trợ giúp cho những anh em trên các đại đội ở tiền tuyến.

Dù trung úy Ligon đã chỉ huy xuất sắc đại đội Bravo trên cao điểm 830, anh vẫn chưa đủ thâm niên để có thể chỉ huy tiếp tục. Đại đội phó của đại đội Alpha là trung úy George T. Baldridge đã về nắm Bravo, ít lâu sau Baldridge được thăng lên làm đại úy.

Ngày 13 tháng 7, 3 đại đội tiến về phía nam cao điểm 830, lần theo dấu quân Bắc Việt đang lẩn trốn. Những tiểu đội xích hầu ngay lập tức đi tìm những trang bị địch quân bỏ lại. Họ lần theo những vết máu trên dường mòn. Hầu hết ko có kết quả gì nhưng cũng có một số lần chúng đã dẫn tới nơi chôn những cái xác còn mới.

Hành trình khổ ải xuyên qua những ngọn núi hoang vu lại tiếp diễn ko ngưng nghỉ trong lúc trời mưa như trút. Các “thiên binh” vừa bị ướt, lạnh vừa đói và mệt, lưng còng xuống dưới cái ba lô nặng trĩu vừa phải vật lộn với bùn lầy đặc quánh níu lấy chân. Việc tiến quân diễn ra rất chậm chạp, mỗi ngày chỉ đi được có vài trăm mét.

Cha Peters đã tình nguyện ở lại hành quân với những đại đội chiến đấu. Sinh trưởng ở Sacramento, California; Peters làm linh mục từ năm 1948 và là sĩ quan chính quy lục quân vào năm 1960. Ở tuổi 42 trông ông vẫn rất vạm vỡ. Là cha tuyên úy nhưng điều này ko có nghĩa là ko phải làm việc, thật vậy, ông cũng tham gia vác mìn Claymore. Sức nặng của chúng khiến cho ông khó nhọc hơn khi lội bùn trong rừng, nhưng cha Peters biết rằng việc ông hiện diện đã giúp động viên những lính dù trẻ tuổi. Chừng nào vị linh mục còn nêu gương, thì các lính dù sẽ ko phàn nàn về những nhọc nhằn họ đang phải chịu đựng.

Các đại đội lại phải chịu thêm tổn thất, tiếc thay đây lại ko phải là vì giao chiến với đối phương. Vừa qua buổi trưa ngày 15 tháng 7, thì 1 quả đạn pháo Mỹ rơi xuống ngay giữa tiểu đội đi đầu của đại đội Dog khiến 2 lính chết và 4 lính bị thương nặng.

Cũng hôm đó, tiểu đoàn 4/503 đã bắt tay với 2 đại đội thuộc tiểu đoàn 1/503 ở phía nam cao điểm 830 chừng 2,5km. Các đơn vị tổ chức cuộc tuần tiễu và họ nhanh chóng báo về tin đã tìm thấy thêm nhiều khu đóng quân của địch. Tất cả đều trống không. Có 1 chỗ rất lớn, đủ để chứa cả 1 tiểu đoàn.

Ngày 17 tháng 7, trung tá lệnh cho các đại đội di chuyển đến 1 bãi bốc quân (PZ) để về Đắk Tô. Địa hình khó khăn phức tạp khiến cho đoàn quân ko thể đến PZ kịp giờ được. Cho tới tận 9g45 ngày 18 tháng 7, thì 3 đại đội mới đến PZ và tới chiều thì tất cả được không vận về Đắk Tô.

Tiểu đoàn 4/503 ở lại Đắk Tô vài tuần rồi sẽ lại đi hành quân. Bên cạnh việc ko còn phải mang vác gần 40kg trang bị, những tuần đó có nghĩa là họ sẽ được bơi lội tắm mát trên sông Pô Kô ở phía nam căn cứ, được ăn nóng, uống bia và mua vui vài giờ với đám gái điếm trong cái nhà thổ được lờ đi cho mọc lên trong căn cứ lữ đoàn. Nhưng với 2 tiểu đoàn khác của lữ 173, thì cuộc chiến trên Cao nguyên trung phần vẫn đang tiếp diễn.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 16 Tháng Sáu, 2014, 09:16:26 AM
Chương 6
Tuy Hòa









Trong khi tiểu đoàn 4/503 nhận quân bổ sung và huấn luyện bắn đạn thật cho họ, các tiểu đoàn 1 và 2 trung đoàn 503 vẫn tiếp tục truy tìm cá đơn vị đang lảng tránh của Bắc Việt. Người tù binh mà đại đội Dog, tiểu đoàn 4/503 bắt được đã khai với những thẩm vấn viên rằng anh ta là thành viên của tiểu đoàn K-101D, trung đoàn Độc Lập. Dựa trên thông tin của hắn và từ nhiều nguồn khác, tình báo Mỹ tin rằng các đơn vị đối phương, như trung đoàn 24, trung đoàn 174 bộ đội Bắc Việt cùng nhiều đơn vị nhỏ VC vẫn đang hoạt động trong khu vựa ngã ba biên giới với mục tiêu tiêu diệt các trại biệt kích. Tướng Deane quyết tâm săn đuổi bộ đội Bắc Việt, những kẻ đã đánh bầm dập các đơn vị của ông ta, nên đã tung các đại đội đi hành quân dã ngoại để tiến hành các chiến dịch tìm diệt. Deane hy vọng sẽ giao chiến 1 trận quyết định với đối phương và sẽ khiến cho địch phải từ bỏ nỗ lực kiểm soát vùng tam biên.

Kế hoạch lớn lao của tướng Deane cũng chẳng làm các “thiên binh” quèn quan tâm lắm. Tất cả những gì anh ta biết là cứ phải hành quân nhọc nhằn qua những ngọn núi, những thung lũng tẻ ngắt của Tây Nguyên hết ngày này qua ngày khác. Những người lính còn chịu thêm nỗi khổ cực vì những cơn mưa dầm dề bất tận suốt mùa mưa. Ngày nào cũng mưa suốt với lượng mưa từ 50 đến 80mm, ngâm nước cả ngày khiến những lính dù đang mệt mỏi cùng cực cảm thấy thân thể như bị mục nát. Rừng biến thành vũng lầy làm cho họ phải rất cố gắng mới cất được 1 bước. Có những hôm các “thiên binh” trượt ngã toành toạch nhiều đến nỗi dường như họ mình đang dậm chân tại chỗ.

Binh nhất Michael Nale gia nhập đại đội Bravo, tiểu đoàn 2/503 ngay sau khi nó thất bại trong nỗ lực cứu đơn vị anh em của nó là đại đội Alpha hôm 22 tháng 6. Là 1 anh chàng dễ mến quê Florence, Alabama. Nale đã được huấn luyện làm cả lính cứu thương lẫn lính bộ binh. Trong mấy tháng đầu tiên với đại đội Bravo, Nale khám phá ra rằng mình sử dụng kỹ năng cứu thương tốt hơn là chiến đấu. Do có quá nhiều người bị trượt ngã trong quá trình hành quân vất vả, nên hầu như ko ngày nào ko có những người bị thương.

Có hôm, khi đại đội Bravo đang chật vật cố leo lên sườn 1 cao điểm dốc thì 1 lính dù bị trượt chân ngã sấp. Không kịp hãm lại anh này trượt luôn xuống chân cao điểm và chỉ dừng lại khi mắc vào 1 bụi tre. Cú va chạm quá mạnh 1 khiến đoạn tre dài đâm xuyên qua cánh tay rồi thọc vào nách người lính. Nale đã rút gióng tre ra, khâu và băng bó sơ cho tay “thiên binh” trong lúc chờ máy bay tản thương đến.

Thứ mà lính dù ghét nhất chính là vắt. Chúng là những sinh vật sống đầy trong rừng rậm. Các “thiên binh” phải kiểm tra kỹ càng trong người nhiều lần trong ngày vì cái loại sinh vật ghê tởm này. Hiếm có “thiên binh” nào may mắn thoát khỏi việc bị chúng hút máu. Khi bị phát hiện, người ta phải dùng đầu thuốc lá đang hút hay thuốc chống côn trùng để buộc chúng nhả ra. Nhưng cũng có lúc việc này cũng không thể làm được. Có lính dù trong đại đội của Nale đã phải lên trực thăng đi tản thương sau khi bị 1 con vắt chui vào dương vật. Những “thiên binh” khác thì bị vắt chui vào tai và lỗ mũi trong khi họ đang ngủ. Loại sinh vật này có lẽ là loài kinh tởm nhất sống trong rừng.

Khi tiếp tục truy đuổi quân Bắc Việt, lính dù đã di chuyển xa nữa về phía tây, gần biên giới Campuchia. Vào cuối tháng 7, đại đội Bravo, vẫn do đại úy Willoughby chỉ huy đã tiến hành đi tuần tiễu cách biên giới 7km về phía đông. Trong gần 1 tuần, họ sục sạo ở sườn bắc 1 ngọn cao điểm lớn nằm ở rìa tây thung lũng sông Đắk Krông. Khu vực đồi núi trùng điệp này, với cao điểm 875 là cao nhất, có rất nhiều dấu hiệu cho thấy sự hiện diện của bộ đội Bắc Việt. Họ đã nhiều lần bắt gặp các lán trại bị đối phương bỏ lại. Nale đã thấy những mũi tên chỉ hướng được khắc vào vỏ cây, và đôi khi thấy quân Bắc Việt dùng cả các mũi tên của người Thượng để chỉ lối đi trong khu rừng rậm rạp.

Vào đêm 20 tháng 7, 1 cơn bão rất mạnh đã đổ bộ xuống khu vực này. Suốt đêm trên các mỏm núi sấm sét nổ vang trời. Sau 1 ánh chớp nhoáng nhoàng, Nale nghĩ mình đã nhìn thấy 1 lính Bắc Việt đang đứng ngoài chu vi phòng thủ. Anh la lên cảnh báo cho người đồng đội cùng hầm chiến đấu của mình. Nhưng khi có ánh chớp tiếp theo đánh xuống thì ko nhìn thấy gì nữa. Với Nale cùng các chiến hữu khác thì đêm đó là 1 đêm đầy ma quái.

Bình minh hôm sau đại đội Bravo trở dậy và lên đường. Trung úy McDevitt ngày càng thêm kính trọng đại úy Willoughby sau 1 tháng đến đại đội Bravo. Với McDevitt, Willoughby là 1 chỉ huy xông xáo ko hề ngại giáp chiến với kẻ thù.

Khi đại đội Bravo hướng tới phía bắc cách cao điểm 875 khoảng 500m. Đại úy Willoughby đã chào mừng khu rừng đằng trước bằng cách cho dựng lên 1 bức tường lửa pháo binh dập xuống vài trăm mét phía trước đường hành quân. Như vẫn thường hay xảy ra trong chiến tranh, 1 quả đạn hụt tầm đã rơi xuống rất gần đại đội Bravo.

Trung úy McDevitt cùng lính điện đài của mình vừa đi qua chỗ thượng sĩ nhất của trung đội, 1 tay gầy nhẳng người gốc Tây Ban Nha tên là Gonzales thì nghe thấy tiếng rít ko thể lẫn được quả đạn pháo rơi gần. “Pháo kích!” McDevitt gào lên và cùng với cậu lính điện đài nhào tới 1 hõm đất phía trước mặt. Thượng sĩ nhất Gonzales đã phi tới trước bọn họ. Anh ta lao xuống cái hố. McDevitt cùng điện đài viên chen chúc trên người anh này. Ít giây sau trái đạn ‘thân thiện’ phát nổ nghe lộng óc chỉ cách chỗ đó có mấy mét. McDevitt cố rúc xuống chỗ sâu nhất có thể để đợi quả đạn kế tiếp.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: linh_8_78_88_68 trong 16 Tháng Sáu, 2014, 10:04:56 AM

Đây là Clip về trãn đánh trên Đồi 875 của Lử đoàn Dù 173: lính Mỹ đã bị phục kích và bị bọc hậu, chẳng những thế còn bị bom của đồng đội họ dội nhầm, mất thêm hơn 40 tay súng vào hôm sau:

https://www.youtube.com/watch?v=XJhyMs9b-zU


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 17 Tháng Sáu, 2014, 09:27:28 AM
Willoughby nhảy vào tần số pháo binh và gào lên với trung tâm chỉ huy hỏa lực (FDC): ““Check fire! Check fire! Con mẹ nó! check fire!”

Khi người trong trung tâm chỉ huy hỏa lực hỏi Willoughby cự ly để hiệu chỉnh thì Willoughby bừng bừng nổi giận hét vào ống nói: “Hiệu chỉnh cái con c..!, thằng chó nào còn bắn 1 quả kiểu thế này nữa là tao giết đấy!”

Sau đó Willoughby chỉnh đốn lại đội hình đại đội đang tản mát rồi lại tiến lên.

Vừa qua buổi trưa thì tiểu đội của Nale lên đi dẫn đầu. Lúc này ko có pháo binh yểm trợ nên cứ được vài mét họ lại trinh sát bằng hỏa lực bằng cách bắn phứa vào cây rừng phía trước mặt. Nale được trang bị 1 khẩu súng phóng lựu M79, trong khi những người khác nã hàng tràng đạn M16 thì Nale câu tới vài viên đạn nổ. Họ làm cái ‘bài’ này được vài lần cho đến lúc tiến đến 1 cái gì nhỏ đầy cây cối thì bất ngờ Nale thấy có luồng đạn vạch đường xanh lét bay vụt qua đầu. Chỉ có bộ đội Bắc Việt mới dùng đạn vạch đường màu xanh lá cây.

“Nằm xuống!” có ai đó hét lên.

Trước đó Nale chưa bao giờ phải nằm dưới hỏa lực địch nên anh cứ phục xuống tại chỗ chờ xem mọi người làm gì.

Và người mà anh đang chờ chính là Willoughby. Nale kinh ngạc nhìn đại đội trưởng xông lên phía trước, gào tướng lên trong khi miệng vẫn ngậm mẩu xì gà “Lên chiếm mỏm cao điểm chó chết này đi! Tụi bây.”

McDevitt cũng nghe thấy Willoughby ra lệnh. Anh rất ngạc nhiên “Chó thật!” anh chửi đổng “Nếu anh muốn lấy mỏm cao điểm khốn kiếp ấy đến thế thì tự lấy đi mà lấy.” Nhưng rồi anh cũng đứng dậy và bắt đầu dẫn trung đội tiến lên.

Willoughby dẫn đầu, xả đạn bằng khẩu súng cắp ngang hông trong khi đại đội tản rộng ra xông đến.

Nale và cậu bạn thân là binh nhất Doug Roth tiến lên phía trước. Những trái đạn B-40 lao đến nổ tung xung quanh, ko đếm xỉa tới sự nguy hiểm, cả 2 xông đến gần 1 cái hầm chiến đấu. Trong khi Roth bắn M16 kìm ko cho lính phòng thủ trong đó ngóc đầu lên thì Nale ném lựu đạn. Súng trong hầm liền câm bặt.

Xung quanh họ các lính dù khác cũng đều đều tiến tới, khiến cho kẻ địch phải kinh ngạc trước cuộc tấn công táo bạo. 1 người bạn của Nale là binh nhất Varoli, sử dụng khẩu M60. Anh này nâng khẩu súng nặng nề trên cánh tay trái, kéo theo 1 dây đạn dài phía sau trong khi khoan thai tiến lên trước. Khẩu súng rung lên bần bật khi anh nã đạn, mặc kệ những đường đạn đang nhắm vào mình cùng những trái đạn B-40 nổ gần đó.

Varoli tiêu diệt được mấy căn hầm của quân Bắc Việt thì vận may kết thúc. 1 trái B-40 bắn trúng đám cây rừng ngay trước mặt anh. Sức nổ khiến anh ngã sóng xoài, khẩu M60 văng khỏi tay. Mảnh đạn găm chi chít vào tay, chân. Varoli đã đến nam VN từ tháng 4 và là 1 lính cũ đã trải qua hàng chục trận đụng độ. Anh đã vượt qua hết ko hề bị xây xát gì nên bắt đầu cảm thấy mình là 1 kẻ bất khả chiến bại. Việc bị thương đã làm anh choáng váng. “Xem này, tôi bị rồi!” anh gào lên gọi các bạn. “Lũ khốn đã hạ được tôi,”, sau đó mới đi tìm lính cứu thương.

Cách đó 1 quãng Nale và Roth vẫn đang tiếp tục chiến đấu. Với Nale thì trận đánh có vẻ hỗn loạn, tiếng nổ khắp nơi, những luồng đạn vạch đường xanh lét bay vèo vèo qua đám cây cối và tre trúc, tất cả đều kêu gào bằng đủ thứ tiếng và tuôn ra đủ mọi từ tục tĩu. Anh có thể nghe thấy đằng sau mình tiếng trung sĩ nhất Edward Kitchen chạy đi chạy lại như con thoi, đốc thúc mọi người giữ vững hàng ngũ.

Hầm chiến đấu của bộ đội Bắc Việt được bố trí ở những chỗ khiến rất khó phát hiện ra trong tán lá rậm rịt. Nale và Roth đã nhảy ngay lên 1 cái như thế, ko hề biết đến mối nguy cho đến khi lính dù ở đằng sau hét lên cảnh báo. Chính “thiên binh” này là người đã dùng súng trường diệt 2 hầm Bắc Việt.

Nale và Roth tiếp tục tiến công. Bỗng có 1 thứ gì đó bay vù qua giữ 2 người lính dù. Theo bản năng Nale lăn đi. Mảnh của trái đạn B-40 nổ đã găm vào tay phải, cổ, và hất văng anh xuống 1 cái hố nông. Trong khi rơi xuống 1 phát đạn bắn tỉa của Bắc Việt đã làm xước lưng Nale. Roth nằm ngay cạnh đó, máu chảy ra rất nhiều từ 1 vết thương trên trán.

Nale tìm được khẩu M79 của mình, nhét 1 trái đạn vào và bắn. Anh nghĩ lính bắn tỉa địch núp ở trên đỉnh mấy bụi tre. Những trái đạn của anh đã phá tan chúng ra.

Ít phút sau Nale lại phải sửng sốt khi nhìn thấy 1 lính dù khác. 1 cựu võ sĩ quyền Anh gan lì được mọi người gọi là “Mugsy”, lãnh 1 phát đạn ngay giữa ngực. Nale thấy viên đạn xuyên qua Mugsy, trổ ra sau lưng rồi rớt độp xuống đất. Đây là khoảnh khắc cực kỳ sống động nhưng rất thật khiến cho Nale cứ ngỡ mình đang xem 1 kỹ xảo đặc biệt trên truyền hình.

Khi Mugsy ngã ngửa ra sau, anh ta còn tìm ra tên bắn tỉa, bắn và giết chết hắn trước khi lưng chạm mặt đất. Nale ko thể tin vào mắt mình nữa.

Ít phút sau, trận đánh đột ngột chấm dứt. Hành động táo bạo của đại úy Willoughby đã khiến quân Bắc Việt kho thể chống nổi. Lính dù đại đội Bravo tìm thấy 13 xác lính địch. Có 10 “thiên binh” bị thương, ko ai bị giết.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 18 Tháng Sáu, 2014, 08:46:15 AM
Căn cứ vào những thứ tìm được, trung úy McDevitt đã kết luận rằng đây là cuộc đụng độ với 1 trung đội Bắc Việt có nhiệm vụ chặn hậu trong khi 1 đơn vị lớn hơn đã đi thoát. Khi tiến hành lúc soát gò đất, anh tìm thấy nhiều vị trí dành cho lính bắn tỉa địch ở trên các ngọn cây và bụi tre, làm theo kiểu tổ chim làm từ những thân cây được buộc túm vào nhau. Tài khéo léo của đối phương làm cho McDevitt rất ấn tượng.

Trong khi lữ đoàn dù 173 rình mò quanh những khu rừng phía nam Đắk Tô, thì bộ đội Bắc Việt bắt đầu gây áp lực với 2 trại biệt kích nằm biệt lập xa về phía bắc. Trong nửa cuối tháng 7, hầu như đêm nào cũng vậy, tại Đắk Siêng và Đắk Pék (Đức Phong. ND), cách Đắk Tô 20 và 45km về phía bắc, đều bị pháo kích bằng súng cối, rocket và súng không giật (DKZ). Sáng ngày 3 tháng 8 năm 1967, 1 đại đội biệt kích CIDG đã chạm súng với 2 đại đội Bắc Việt cách tây Đắk Siêng 1km. Quân cứu viện cho họ cũng bị tiến công. Mãi đến đầu giờ chiều thì trận đánh mới kết thúc.

Vì trại có khả năng bị tiến công, tiểu đoàn 1, trung đoàn 42 bộ binh VNCH gấp rút được đưa tới khu vực. Cùng ngày hôm đó các tiểu đoàn nhảy dù số 5 và 8 VNCH cũng được trực thăng vận lên Đắk Siêng.

Khi tiểu đoàn 8 nhảy dù tiến ra phía tây Đắk Siêng sáng hôm sau họ vấp phải 1 lực lượng mạnh quân Bắc Việt cố thủ trong công sự phía ngoài trại. Trận đánh đã kéo dài mấy giờ đồng hồ trước khi phía Bắc Việt rút lui.

Tiểu đoàn 8 dù VNCH trụ lại đó và đẩy lùi các cuộc tiến công nhưng phải chịu thương vong nặng nề. Nhờ vậy mà tiểu đoàn 5 nhảy dù đã vượt qua họ và chiếm được mỏm cao điểm nằm ở phía tây. Họ tìm thấy 1 nơi đóng quân quy mô cấp trung đoàn của quân Bắc Việt với những căn hầm và 1 hầm chỉ huy bên trong có cả sa bàn mô phỏng chi tiết trại biệt kích Đắk Siêng. Những tài liệu để lại sau khi đối phương vội vã triệt thoái cho thấy, chủ nhân của nơi này là trung đoàn 174 Bắc Việt.

Những cuộc đụng độ dữ dội xảy ra ngay gần Đắk Siêng cùng các trận bắn phá ban đêm vào Đắk Pék khiến cho tướng Peers tin rằng đối phương đang chuẩn bị cho 1 cuộc tiến công vào trại biệt kích này. Do đó ông ta cho rút tiểu đoàn 1, trung đoàn 503 đang ở trong rừng gần cao điểm 830 ra và đưa họ đến Đắk Pék. Họ lên tới nơi chiều ngày 4 tháng 8 và tới mùng 9 thì có thêm tiểu đoàn 4/503 tới gia nhập.

Tiểu đoàn 4/503 đã có chỉ huy mới khi lên đường. Đại tá Jackley được trung tá James H. Johnson tới thay hôm mùng 4 tháng 8. Là người Washington, D.C, 38 tuổi, Johnson vào quân ngũ từ khóa đào tạo sĩ quan dự bị ở trường đại học Maryland và được phong sĩ quan tháng 6 năm 1950. Sau khi phục vụ ở Triều Tiên ông tiếp tục chọn theo sự nghiệp quân sự. Trong thời gian đóng quân ở Berlin đầu thập niên 1960, Johnson đã làm việc cùng tướng Deane. Khi Johnson có lệnh sang nam VN, Deane đã xin điều ông về lữ 173.

Lúc nhận quyền chỉ huy tiểu đoàn mới, Johnson đã vội nhận xét ngay là lính tráng nhếch nhác, chỗ ở thì dơ dáy, kỷ luật lỏng lẻo. Ông cảm thấy 1 số sĩ quan tham mưu trong tiểu đoàn có thái độ tiêu cực nên cần phải loại ra ngay. Ông cho rằng những rắc rối và tinh thần chủ bại lan tràn lúc này là do các tổn thất trong trận đánh ngày 10 tháng 7. Johnson lập tức siết chặt sự kiểm soát, chỉnh đốn quân kỷ để khôi phục lại sự tự tin và nhuệ khí trong binh sĩ.

Không phải tất cả các sĩ quan và binh lính trong tiểu đoàn đều đồng tình với những đánh giá của Johnson. Ví dụ như trung úy Connolly, cảm thấy những qui kết cay nghiệt của vị tiểu đoàn trưởng mới là do ông này có hiểu biết hạn chế về tình cảnh chiến đấu của lính dù ở đây. Rất khó khăn, nếu ko thể nói là không thể, để duy trì điều kiện sống tươm tất, chỉnh chu trong mùa mưa ở Tây Nguyên.

Ngày 10 tháng 8, 2 tiểu đoàn dù bắt đầu tổ chức hành quân tìm – diệt ở vùng phía tây và nam Đắk Pék. Mỗi đại đội đều có biệt kích CIDG đi phối thuộc. Các lực lượng đồng minh đã phát hiện 1 số nơi trú quân của đối phương nhưng ko thấy lính Bắc Việt nào. Họ đã hành quân vất vả suốt 10 ngày nhưng ko hề chạm địch. Tướng Peers kết luận là những phản ứng nhanh chóng của ông khi thấy Đắk Pék bị đe dọa đã làm kế hoạch của quân Bắc Việt bị cản trở. Thông tin tình báo cũng xác nhận rằng bộ đội Bắc Việt đã rút sang Lào.

Hai tiểu đoàn dù được trực thăng vận về Đắk Tô ngày 20 và 21 tháng 8. Các tiểu đoàn dù VNCH cũng đã rời khỏi khu vực và trở về doanh trại của họ gần Sài Gòn.

3 tiểu đoàn của lữ 173 còn đi tuần tiễu trong vùng rừng núi quanh Đắk Tô thêm mấy tuần nữa. Dựa trên tin tức tình báo, các đại đội súng trường tiếp tục tìm kiếm kẻ thù. Tuy nhiên cũng khó khăn như việc tìm kiếm, chẳng thấy gì đáng kể để cho họ diệt cả. Rất nhiều “thiên binh” cho rằng bộ đội Bắc Việt đã hoàn toàn rút bỏ vùng này.

1 thành phần quan trọng trong việc tìm kiếm quân Bắc Việt là những toán viễn thám (LRRP) của lữ đoàn. Đó là những lính tình nguyện gan dạ hoạt động theo từng toán nhỏ, tiến xa phía trước các đại đội súng trường. Nhiệm vụ của họ là luồn sâu bí mật trong rừng để tìm kiếm dấu vết kẻ địch. Vì quân số các toán viễn thám thường chỉ có 5 người, nên họ chủ động tránh đụng độ với đối phương. Việc của họ là tìm ra kẻ thù chứ ko phải là giao chiến với chúng.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 19 Tháng Sáu, 2014, 08:18:58 AM
Đại úy Thomas H. Baird chỉ huy các toán viễn thám gần như suốt mùa hè năm 1967. Là 1 quân nhân xuất sắc, tốt nghiệp West Point khóa 1961. Năm 1964 anh đã tình nguyện tham gia khóa huấn luyện biệt kích. Sau khi tốt nghiệp anh mặc sắc áo lính mũ nồi xanh và sang nam VN. Trong 6 tháng từ tháng 11 năm 1964 đến tháng 4 năm 1965, Baird chỉ huy 1 toán A, là đơn vị biệt kích thường phụ trách 1 lực lượng quân CIDG đóng trên các tiền đồn biệt lập như vẫn thấy ở vùng Tây Nguyên này.

Dù đã lập gia đình và có 2 con nhỏ, tháng 3 năm 1967, Baird vẫn quay lại nam VN. Anh đã yêu cầu thuyên chuyển sang lữ 173 vì biết đây là 1 đơn vị danh tiếng lẫy lừng. Anh làm sĩ quan hành quân của tiểu đoàn trợ chiến lữ đoàn trong 3 tháng rồi có cơ hội chỉ huy lực lượng viễn thám khi đại úy Alan Phillips sang nắm đại đội Alpha, tiểu đoàn 4/503.

Gốc biệt kích của Baird khiến anh trở thành 1 chỉ huy viễn thám lý tưởng. Anh biết cách hoạt động lén lút, cách thức sinh tồn, cách theo dõi kẻ thù mà ko để lộ vị trí. Dù việc hành quân của Baird gắn trong phạm vi khu vực tác chiến (AO) và đặt dưới sự chỉ đạo và giám sát của phòng tình báo (S-2), thỉnh thoảng anh vẫn giành quyền tự quyết trên thực địa. Lính dưới quyền yêu quí anh chính vì thế. Baird hết mực bảo vệ lính của mình. Anh ko cho phép họ hành động liều lĩnh hay chiến đấu như bộ binh thường. Để đảm bảo các toán viễn thám được phục vụ bởi những người lính ưu tú nhất, Baird đích thân phỏng vấn những người nộp đơn xin vào đơn vị. Chỉ những ai đáp ứng được hết các tiêu chuẩn anh đưa ra thì mới được chấp nhận.

Có 1 người làm được như vậy đó là Sp4 Irvin Moran. Moran sinh trưởng tại Princeton, New Jersey, là thành viên nổi bật trong đội bóng chày ở đây hồi trung học. Tốt nghiệp tháng 6 năm 1965, anh lập tức nhập ngũ. Moran được huấn luyện làm quân cảnh rồi về sư đoàn dù 82 tại căn cứ Fort Bragg. Sau 1 năm làm nghĩa vụ với các công việc lặt vặt trong các vọng gác ở Mỹ. Moran tình nguyện sang phục vụ ở miền nam VN.

Tháng 2 năm 1967, Moran đặt chân lên vùng đất chiến tranh. Anh nhận nhiệm vụ trong trung đội quân cảnh của lữ 173. Phần lớn thời gian của nhiệm vụ này là hộ tống các đoàn xe và canh gác khiến cho anh cảm thấy mình chỉ đứng ngoài lề cuộc chiến. Khi nghe nói đơn vị viễn thám cần người, anh xin ứng tuyển ngay. Sau khi qua được cuộc phỏng vấn khó khăn của đại úy Baird, Moran chuyển sang viễn thám tháng 7 năm 1967.

Nhiệm vụ cơ bản của Moran và 4 người cùng toán là lên trực thăng chở quân (slick) ở Đắk Tô vào lúc trời chưa sáng. Họ được chở đến khu vực tác chiến cùng với 2 chiếc slick và 2 trực thăng vũ trang nữa đi kèm. Sau nhiều động thái nghi binh đánh lừa đối phương, lính viễn thám sẽ nhảy xuống.

Từ lúc rời khỏi trực thăng, toán quân hoạt động 1 cách thuần thục, nhuần nhuyễn. Họ dùng thủ hiệu để liên lạc với nhau, tránh ko theo các lối mòn mà đi cắt rừng, luôn cảnh giác cao khi thấy dấu vết của quân địch. Họ di chuyển từ từ, tránh gây tiếng động để khỏi bị lộ.

Nếu phát hiện 1 lực lượng quân Bắc Việt, quân viễn thám có thể sẽ gọi máy bay tới không kích hay pháo dập. Vì trận oanh tạc sẽ đánh động kẻ thù nên toán viễn thám sẽ lập tức di chuyển tới khu vực bốc quân để rút về. Sau khi nghỉ ngơi vài hôm, họ sẽ lại lên đường làm nhiệm vụ kế tiếp.

Trong hè và đầu mùa thu năm 1967, mục tiêu là rất hiếm gặp. Moran và toán của mình đã thực hiện hàng chục vụ nhưng cũng chẳng tìm thấy gì đáng kể. Có bữa, 1 toán khác đã phát hiện hàng trăm bộ đội Bắc Việt đang băng rừng gần biên giới Campuchia. Họ gọi máy bay không kích nhưng khi những chiếc phản lực tới nơi thì đoàn quân địch đã vượt qua bên kia biên giới.

Ngày 19 tháng 8, 1 toán viễn thám đã phát hiện 2 chục lính Bắc Việt đang di chuyển trong rừng. Trưởng toán là trung sĩ tiểu đội trưởng (Staff Sergeant) Charles J. Holland đã gọi pháo kích rồi sau đó lệnh cho toán tiến về điểm hẹn. Khi đang di chuyển đến bãi bốc quân thì bị lọt vào lưới lửa của số lính Bắc Việt mà họ ko phát hiện ra lúc trước. 1 cơn mưa đạn đuổi theo toán khi họ tháo chạy đến bãi bốc quân. Tới nơi thì trung sĩ Holland mới phát hiện ra điện đài của toán đã vô ý bị bỏ lại phía sau. Ko muốn điện đài lọt vào tay quân Bắc Việt, Holland đã 1 mình quay lại và ko thấy trở về nữa. Khi trực thăng tới đón, những thành viên còn lại trong toán ko còn cách nào hơn là phải lên máy bay trở về.

Xác của Holland được tìm thấy ngày hôm sau. Anh đã quay lại và lấy được cái điện đài, đeo nó sau lưng. Holland lẩn trốn và chỉ còn 1 quãng ngắn nữa là về đến toán thì bị địch quân bắn hạ.

Ngày 23 tháng 8 năm 1967, tướng Deane chuyển giao quyền tư lệnh lữ đoàn dù 173 cho chuẩn tướng Leo H. Schweiter. Schweiter tới với lữ 173 từ căn cứ Fort Campbell, nơi ông làm tư lệnh phó sư đoàn dù 101. Kinh nghiệm chiến trường đầu tiên của ông với “những đại bàng gầm thét” (Screaming Eagles) là nhảy dù xuống Normandy, nước Pháp trước bình minh ngày D, mùng 6 tháng 6 năm 1944. Hôm đó ông bị địch bắt sống rồi sau đó đã trốn thoát. Tháng 9 ông nhảy dù xuống Hà Lan và đã chiến đấu tại Bastogne, nước Bỉ trong trận Bulge vào tháng 12. Schweiter là 1 người lính rất quả cảm, ông được thưởng huân chương sao bạc vì đã tấn công và diệt 1 chiếc xe tăng của bọn phát xít ở Bastogne.

Trong chiến tranh Triều Tiên, là thành viên của sư đoàn 7 bộ binh, Schweiter đã tham gia cuộc đổ bộ bi tráng lên Inchon tháng 9 năm 1950. Vài tuần sau đó ông đã cùng sư đoàn 7 lại đổ bộ lên bờ biển phía đông của Bắc Triều Tiên. Tháng 11 ông đã tham gia vào cuộc rút lui cuống cuồng khỏi Bắc Triều Tiên và được thưởng huân chương sao bạc vì hành động anh hùng. Sau đó ông lên nắm quyền chỉ huy trung đoàn 32 bộ binh của sư đoàn 7.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 23 Tháng Sáu, 2014, 09:22:07 AM
Trong những năm sau đó ở Triều Tiên, Schweiter ghi dấu ấn như là 1 sĩ quan xuất sắc, đi đầu trong chủ trương cơ động đường không. Schweiter đã phục vụ trong liên đoàn 5 biệt kích (5th Special Forces Group ) ở nam VN ngay trước khi nhận ngôi sao cấp tướng và chuyển đến căn cứ Fort Campbell.

Ko có mấy người hiểu được ông ta. Cá tính và phong cách chỉ huy của tướng Schweiter khó có thể bì kịp phong thái hòa nhã của “chú Jack” Deane. Cộc cằn và ít nói, Schweiter rất dễ nổi nóng khi mọi thứ ko diễn ra theo ý muốn. Vô cảm, khắc kỷ và cầu toàn, ông đòi hỏi cấp dưới phải tuân theo những tiêu chuẩn cao mà mình đặt ra. Khi họ ko làm được thì ông nổi đóa ngay. Có 1 sĩ quan tham mưu tại 1 cuộc họp do ko chuẩn bị trước những câu lục vấn của Schweiter nên đã bị ông mắng nhiếc đến nỗi anh này quá căng thẳng mà ngất xỉu. Schweiter cho thay thế người này ngay.

Trung úy Mike Deems rời đại đội Dog, tiểu đoàn 4/503 lên làm trợ lý cho Schweiter. Anh mau chóng nhận ra đây là cái nhiệm vụ tồi tệ nhất trong sự nghiệp. Khi gặp bất cứ cái gì trục trặc là Schweiter lại trút giận lên đầu Deems. Thậm chí những thứ tưởng như vô thưởng vô phạt như việc điện đài trên chiếc trực thăng chỉ huy bị hỏng cũng khiến Deams hứng trọn cơn thịnh nộ của Schweiter. Thay vì coi việc lên làm trợ lý là 1 sự thăng tiến thì càng ngày Deems càng thấy chán ghét công việc này.

Đại úy Baird thì cho rằng Schweiter là người liều lĩnh. Có lần, ông tướng sai sĩ quan tình báo (S-2) lệnh cho quân viễn thám của Baird phải dùng dây thừng đu xuống từ trên tán rừng cao 50m xuống đất chứ ko cho trực thăng thả họ xuống khu vực tác chiến. Baird rất tức giận trước cái chỉ thị mà anh cho là ngu xuẩn và nguy hiểm đó. Anh không tuân lệnh vì việc này giống như là tự sát. May mắn cho Baird là Schweiter đã đổi ý trước khi việc kháng lệnh đến tai ông tướng.

Trung tá Partain lại coi Schweiter là con người nóng nảy, bạo ngược. Ông nghĩ viên tướng thiếu tự tin vào bản thân và còn có thể là thiếu quyết đoán nữa. Theo Partain thì Schweiter chỉ chú tâm đến bản thân với những thứ nhỏ nhặt như là những đặc quyền giành cho sĩ quan cấp tướng. Partain đã chứng kiến 1 lần Schweiter giành quá nhiều thời giờ để lo tổ chức bữa ăn cấp tướng của mình.

Schweiter tìm cách áp đặt thói quen của mình cho hầu hết những người hoạt động dưới quyền chỉ huy của ông. Nhưng những lề thói này hiếm khi xuống đến chỗ đám lính quèn. Thật ra, Schweiter vẫn là 1 sĩ quan cấp tướng có quan tâm nhiều tới binh sĩ. Ông làm mọi khả năng để cung cấp cho lính dù những tiện nghi có thể. Ông muốn mỗi “thiên binh” khi hành quân dã ngoại đều được ăn nóng ít nhất là 1 bữa trong ngày. Ông cấm các sĩ quan tham mưu ko được xài đồ xa xỉ, như là ăn kem trừ phi anh ta bảo đảm các đại đội chiến đấu đều đã có phần.

3 tuần sau khi tướng Schweiter lên nắm quyền, các đơn vị chính của lữ 173 bắt đầu chuẩn bị rời Đắk Tô. Việc tiếp tục ko gặp địch đã khiến cho tướng Rosson tin rằng bộ đội Bắc Việt ko còn uy hiếp các trại biệt kích trong vùng Pleiku–Kontum–Đắk Tô nữa. Ông cảm thấy sư đoàn 4 bộ binh, lúc này đã có đầy đủ sức mạnh với việc trở lại của lữ đoàn bộ binh thứ ba, có thể tự xử lý được tình hình Tây Nguyên. Do đó tướng Rosson đã giao cho lữ đoàn dù 173 1 nhiệm vụ khác.

Nằm ở phía đông nam Đắk Tô, trên bờ biển của nam VN, là tỉnh Phú Yên. Với vụ thu hoạch lúa mùa thu sắp đến, vựa gạo Phú yên sẽ là 1 mục tiêu hấp dẫn cho những đơn vị VC địa phương. Lữ 173 phải đánh đuổi VC ra khỏi địa bàn này. Lữ đoàn cũng sẽ bảo vệ an ninh cho căn cứ không quân lớn tại Tuy Hòa, thủ phủ của tỉnh. Tướng Rosson gọi nỗ lực này là chiến dịch Bolling.

Không phải tất cả lữ 173 đều sẽ đi Tuy Hòa. Tiểu đoàn 2/503 của trung tá Partain với sự yểm trợ của pháo đội A, tiểu đoàn 3, trung đoàn pháo binh 319 sẽ ở lại Đắk Tô. Họ sẽ là 1 phần của chiến đoàn đặc nhiệm 77 (Task Force 77), cùng với các tiểu đoàn của VNCH là tiểu đoàn 3 dù và tiểu đoàn 1, trung đoàn 42 bộ binh cùng 1 đại đội biệt kích mike force (thuộc biệt kích SOG, các đại đội này đóng vai trò xung kích, tiếp ứng. ND) tiến hành thám kích trong vùng thung lũng Tu Mơ Rông, nằm phía bắc Đắk Tô.

Những đơn vị khác của lữ 173 bắt đầu rời Đắk Tô ngày 17 tháng 9 năm 1967. Những chiếc máy bay C-130 của Không quân chở các “Thiên binh” đến sân bay Tuy Hòa. Sau những cơn mưa như trút cùng những ngọn núi dốc đứng trên Tây Nguyên thì Tuy Hòa là 1 nơi đáng hoan nghênh đối với lính dù. Nhiều đại đội súng trưởng tổ chức tiệc nướng trên các bãi biễn cát trắng phau của Tuy Hòa; ở đó lính dù vui vẻ nô đùa trên sóng nước đại dương. Họ ko còn là những chiến binh gai góc nữa mà đã trở lại là cậu trai trẻ vui vẻ, dễ mến.

Specialist 4 Arturo Ortiz, 1 chàng lính 20 tuổi trong đại đội  Charlie, tiểu đoàn 4/503 của trung úy Connolly, có lúc đã tưởng tượng những bãi biển Tuy Hòa như là bãi biển ở Venice, California, nơi anh sinh trưởng. Anh cũng tỏ vẻ ngạc nhiên khi nhìn bầu trời trong xanh ngày này qua ngày khác ở đây chứ ko phải là tấm màn mây bao phủ các ngọn núi.

1 người bạn thân của Ortiz trong đại đội Charlie là binh nhất Gerhard Tauss, sinh năm 1943 ở Nam Tư là con 1 lính Đức. Đầu những năm 1950, Tauss cùng gia đình di cư đến Los Angele. Sau khi học xong cao đẳng và 4 năm đại học, đến năm 1966 khi ko còn là sinh viên nữa thì anh phải đi quân dịch. Theo lời khuyên của 1 người bạn thuộc sư đoàn dù 82, Tauss tình nguyện học nhảy dù sau khi đã được huấn luyện cơ bản. Đây là 1 quyết định mà anh ko bao giờ thấy hối tiếc. Tauss mê mẩn tình bằng hữu giữa những “thiên binh”. Anh cảm thấy từ trung úy Connolly trở xuống thì ko chỗ nào tốt hơn đơn vị của mình.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 24 Tháng Sáu, 2014, 09:02:07 AM
Tauss nghĩ ở Tuy Hòa cũng giống như ở Hawaii vậy. Anh cùng bạn bè chơi bóng bầu dục và bóng rổ dưới những cơn gió nhẹ làm lá cọ rung rinh. Gần như anh đã quên phắt cả quân đội lẫn cuộc chiến tranh này.

Những thứ còn làm anh gợi nhớ chính là những rắc rối đến từ các sĩ quan hậu phương. Họ luôn làm phiền Tauss cùng những chú lính khác vì những vi phạm rất nhỏ nhặt như: Tóc để dài quá, ko cài nút áo hay áo bỏ ngoài quần. Tauss và hầu hết binh lính đều tỏ vẻ bất cần. Họ nói: “Mẹ nó, bọn họ còn làm gì được ta nào? Gửi bọn mình tới VN chăng?”.

Tất nhiên là ở Tuy Hòa ko phải lúc nào cũng vui cả. Vẫn còn cuộc chiến tranh để mà chiến đấu, nhưng cuộc chiến ở đây khác hẳn trên Tây Nguyên.

Kẻ thù chủ yếu ở Tuy Hòa là quân chủ lực VC. Thường chỉ hoạt động theo những toán nhỏ từ 5 đến 6 người. VC chủ yếu hoạt động vào ban đêm, vận chuyển trang bị, tiếp tế, phục kích các đơn vị đồng minh hay nã vài quả đạn cối xuống vị trí của họ.

Vì thế mà hầu hết các hoạt động của lữ 173 quanh Tuy Hòa đều được diễn ra ở cấp trung đội. Những trung úy trẻ tuổi chỉ huy các trung đội có cơ hội hoạt động độc lập, mà ko bị đại đội trưởng giám sát. Những cuộc hành binh ở Tuy Hòa đã cho các sĩ quan nhiều kinh nghiệm rất quí giá.

1 người thu thập được nhiều kinh nghiệm bổ ích trong thời gian ở Tuy Hòa là trung úy David S. Holland, chỉ huy trung đội thuộc đại đội Alpha, tiểu đoàn 1/503. Holland là 1 sĩ quan bé loắt choắt, đeo kính cận, 24 tuổi, đã tốt nghiệp đại học Virginia, tới nam VN lần đầu tháng 8 năm 1966 làm sĩ quan quân cảnh. Anh đã hoàn tất kỳ hạn phục vụ 1 năm của mình với 1 tiểu đoàn quân cảnh ở Sài Gòn mà vẫn cho rằng mình chưa được nếm mùi chiến tranh. Anh ko muốn 30 năm sau sẽ kể chuyện cho mấy đứa cháu tương lai cái việc cứ phải bắt giam rồi lại thả ra mấy tên say xỉn suốt cuộc chiến. Thế nên khi kết thúc kỳ hạn, Holland đã xin thuyên chuyển sang bộ binh.

Cuối tháng 9, Holland đã tới trình diện trung tá David J. Schumacher, lữ đoàn phó lúc trước và giờ là chỉ huy tiểu đoàn 1/503. Schumacher gửi Holland xuống cho đại đội Alpha, tiểu đoàn 1/503. 1 chiếc trực thăng chổ quân slick đã trưa đó đã chở Holland đến nơi đóng quân dã ngoại của đại đội Alpha. Vừa nhảy ra khỏi 'con chim sắt 'Holland lập tức hối hận vì quyết định của mình. Anh phải giáp mặt với những thằng lính hôi hám, dơ dáy, nhếch nhác nhất có thể tưởng tượng ra được. Holland ko mảy may nghi ngờ rằng chỉ ít tuần nữa thôi là mình cũng sẽ giống bọn họ.

Những tuần lễ sau đó, Holland chỉ huy 25 cậu lính trong trung đội hành quân rất nhiều. Anh đã nâng cao kỹ năng chỉ huy chiến đấu qua hàng chục những cuộc đụng độ nhỏ. Dù lúc trước đã từng nghi ngờ về năng lực tác chiến của mình thì nay Holland đã nhanh chóng lấy lại sự tự tin.

Tác chiến ở Tuy Hòa thường là những cuộc đụng độ chớp nhoáng với những toán VC nhỏ. Các tiểu đội súng trường sẽ tổ chức phục kích dọc theo tuyến đường mà VC có thể di chuyển rồi sau đó họ chỉ đợi xem kẻ nào sẽ lọt vào cái bẫy đã giăng.

Những đại đội súng trường của lữ 173 dùng rất nhiều thời gian để tuần tra trên các dãy núi nằm ven bờ biển tỉnh Phú Yên. Mặc dù núi ở đây không hiểm trở như tại Đắk Tô, nhưng chúng vẫn là nơi ém quân lý tưởng của đối phương. “Thiên binh” phải mò đến nơi để đánh tróc rễ VC. Họ đã có thành công và cũng có cả thất bại.

đại đội Charlie tiểu đoàn 1/503, cho cả 3 trung đội đi truy quét. Một ngày kia họ đến 1 trảng trống. Lính trinh sát thận trọng nhích từng cm để tiến lên trước. Họ nhanh chóng quay lại báo 1 tin tốt lành. Trong khu rừng phía trước có 1 đơn vị VC, đang say ngủ. Lính đại đội Charlie triển khai ra bao vây chỗ đóng quân đó. Chỉ trong phút chốc số địch này đã bị xóa sổ.

Trung úy Charles D. Brown, chỉ huy 1 trung đội của đại đội Charlie. Khác với những sĩ quan khác trong lữ 173, trung úy Brown, chưa học qua đại học. Brown sinh năm 1944 và lớn lên ở Orlando, Florida. Dù có cha là 1 đội trưởng thuộc sở cảnh sát Orlando, Brown lại là 1 gã trai trẻ quậy phá suốt ngày, nhậu nhẹt, học hành lẹt đẹt. Năm 1964, sau 2 năm tốt nghiệp trung học, anh mới nhận ra tương lai vô định của mình. Brown bèn nhập ngũ để định hướng cho cuộc sống.

Sau 2 năm làm lính trơn, Brown xin đi học sĩ quan và được chấp nhận. Năm 1966 Brown được phong sĩ quan. Đến năm sau thì sang nam VN.

Trong quá trình ở Biên Hòa, Brown nghe nói đại đội Charlie, tiểu đoàn 1/504 là đại đội giỏi. Thế nên anh leo lên trực thăng bay tới nơi đóng quân dã ngoại của đơn vị. Anh đánh thức đại úy Kirby Smith khi đó đang ngủ say dậy và đề đạt nguyện vọng muốn làm thành viên của đại đội Charlie. Smith cáu kỉnh gặng hỏi: “Cậu gọi tôi dậy chỉ vì việc ấy thôi sao?”.

Brown quả quyết xác nhận.

Dù rất cáu, đại úy Smith cũng phải ngưỡng mộ sự táo bạo của Brown và cho anh làm đại đội phó. Brown ở cương vị này mấy tháng rồi mới qua nắm trung đội 3 ngay trước lúc rời Đắk Tô.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 25 Tháng Sáu, 2014, 08:39:13 AM
1 hôm trong khi đang cho trung đội đi xuống lối mòn trên miền núi Tuy Hòa, Brown nghe thấy có tiếng chiêng. Sau khi quan sát, Brown thấy tiếng chiêng là do 1 ông già ở ngôi làng gần đó đánh lên để báo cho VC biết sự hiện diện của trung đội. Do sợ sẽ bị phục kích, Brown tì người vào 1 thân cây, đưa khẩu CAR-15 lên vai và giết kẻ báo tin chỉ bằng 1 phát đạn.

“Thấy chưa” Brown nói với đám lính mới trong trung đội. “Nhiều khi ta chỉ cần bắn 1 phát. Đừng có lúc nào cũng sử dụng nấc bắn liên thanh. Phải tiết kiệm đạn, phát nào chắc phát nấy.”

Thật là tàn ác nhưng thực tế chiến tranh rất cần những bài học như thế.

Trung úy Alfred A. Lindseth, đại đội Bravo, tiểu đoàn 4/503 là người mắt thấy tay nghe giá trị của bài học này. Lindseth, 1 anh chàng có tao nhã có vẻ đẹp rất babi, tốt nghiệp West Point khóa 1966 tới gia nhập đại đội Bravo sau trận đánh ngày 10 tháng 7. Trung úy Ligon là bạn cùng khóa với Lindseth hồi còn ở học viện. Được chỉ huy trung đội hỏa lực của đại đội Charlie nhưng ko thích, anh đã xin chuyển qua đại đội Bravo. Từ 1 anh nông dân 23 tuổi cùng Bắc Dakota, Lindseth cảm thấy như cá gặp nước khi làm chỉ huy trung đội súng trường và thực tế anh là 1 trong những trung đội trưởng giỏi nhất toàn lữ. Anh liên tục rèn luyện để nâng cao kỹ năng tác chiến và truyền sự tự tin của mình cho các binh sĩ.

Lindseth và trung đội 1 ngày kia cũng tới vùng núi nơi trung úy Brown đã hạ sát ông lão cơ sở của VC. Lindseth rất tự hào vì quân của mình vì họ đã men theo triền núi rất êm ko 1 tiếng động. Anh còn đang tự mãn về tài năng chỉ huy 1 đơn vị của mình thì 1 loạt đạn kéo anh về với thực tại.

Khi ngưng tiếng súng, Lindseth vội lên chỗ tiểu đội xích hầu. Anh dược cho biết có 4 bộ đội Bắc Việt trang bị đầy đủ cũng đi trên đường hướng về phía trung đội, vừa đi vừa nói chuyện. Khi tiểu đội đi đầu của Lindseth nhìn thấy địch, có 3 lính đã nổ súng, mỗi lính dù bắn hết 1 băng đạn M16.

Thật khó hiểu khi chỉ có 1 lính Bắc Việt bị giết, còn 3 người kia chạy thoát. Lindseth rất bực bội. Thế quái nào mà súng M16 của 3 người lính lại có thể bắn trượt 3 trong 4 mục tiêu chỉ cách xa có mấy mét? Anh liền tuyên bố sẽ tăng cường các bài tập xạ kích.

Trong khi các tiểu đoàn 1/503 và 4/503 vui chơi trên các bãi biển Tuy Hòa và đánh nhau với quân VC địa phương, thì chiến đoàn đặc nhiệm 77 đang tiến vào thung lũng Tu mơ Rông. Khu vực rộng lớn ở phía bắc Đắk Tô này bị tình nghi chứa chấp 1 sở chỉ huy cấp trung đoàn bộ đội Bắc Việt. Chiến đoàn 77 phải tìm ra nó.

Những chiếc Slick chở tiểu đoàn 2/503 tới lối vào phía nam của thung lũng Tu mơ Rông. Pháo đội A, tiểu đoàn 3/319 thiết lập 1 trận địa pháo cách đó không xa trong lúc các đơn vị VNCH và biệt kích mike force chiếm lĩnh vị trí chốt chặn trên phía Bắc. Các đại đội súng trường của tiểu đoàn 2/503 sẽ truy quét lên phía Bắc, lùa quân Bắc Việt đến chỗ quân VNCH.

Tiểu đoàn 2/503 đã sục sạo thung lũng trong gần 3 tuần lễ. Cũng như ở Đắk Tô, các “thiên binh” tìm thấy rất nhiều dấu vết của bộ đội Bắc Việt nhưng ko gặp tên lính nào. Khi thấy rõ là ko có sở chỉ huy cấp trung đoàn nào của quân Bắc Việt trong khu vực, thì chiến đoàn đặc nhiệm 77 được lệnh rút ra.

Đại đội Bravo và đại đội Charlie, tiểu đoàn 2/503 đã được máy bay Chinooks bốc ra. Đại úy Ken Smith thì lại được báo sẽ ko có máy bay nào tới chở đại đội của mình. Anh có thể chọn giữa việc phải trú lại qua đêm rồi sẽ được bốc ra sáng hôm sau hoặc lội bộ ra khỏi thung lũng đến đường 14 và được xe tải chở về.

Smith chẳng khoái lựa chọn nào hết. Cả 2 cách đều rất nguy hiểm. Nhưng vì chẳng muốn phải qua đêm 1 mình trong 1 khu vực thù địch nên Smith đã chọn cách hành quân bộ ra khỏi thung lũng. Anh yêu cầu pháo binh dựng 1 bức tường lửa di động đi phía trước tuyến hành quân. Chỉ khi đó anh mới cảm thấy tự tin về cơ hội đột phá nếu bị quân Bắc Việt kéo tới bao vây.



Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 26 Tháng Sáu, 2014, 08:02:33 AM
Các “thiên binh” của Smith có khoảng 12 cây số cần phải đi. Dù ko tìm thấy dấu hiệu có địch quân hoạt động trong khu vực, Smith vẫn cảm thấy họ có ở đó. Và nếu có địch thì… Smith đau đớn nhớ lại những gì đã xảy ra cho chính đại đội này khi nó bị quân Bắc Việt chộp đượcngày 22 tháng 6 năm 1967 trong lúc đi một mình.

Tất cả mọi người trong đại đội đều cảm thấy sợ hãi khi khởi hành. Thần kinh căng như dây đàn, toàn đại đội đều nhận thức rõ tình thế nguy hiểm của đơn vị. Đại đội của Smith tiến lên, đi song song với con đường mòn với hỏa lực pháo binh bắn chặn rung rinh cả mặt đất đằng trước. Càng hành quân càng thấy căng thẳng. Bỗng 1 lính dù trẻ tuổi hoảng hốt chĩa thẳng súng vào anh và hét: “Chó chết! Anh sẽ giết hết chúng tôi mất thôi!”

Trước khi Smith kịp phản ứng, thì Michael Deeb, người thượng sĩ nhất đáng tin cậy đã giáng cho gã trai 1 báng súng vào đầu. Những lính khác khiêng tay lính trẻ cho đến khi cậu ta tỉnh lại rồi lặng lẽ tham gia hành quân. Smith ko phạt cậu ta vì anh thông cảm nỗi sợ hãi của người lính trẻ.

Đại đội Alpha đã an toàn ra đến chỗ xe tải đang chờ. Tất cả lên xe và chở về Đắk Tô bình an vô sự.

Chiến đoàn đặc nhiệm 77 bị giải tán ngày 11 tháng 10 năm 1967. Cũng trong hôm đó, tiểu đoàn 2/503 và pháo đội A, tiểu đoàn 3/319 ra sân bay Đắk Tô lên máy bay C-130 di chuyển đến Tuy Hòa. Việc họ ra đi đã chính thức chấm dứt chiến dịch Greeley.

Các đại đội súng trường của tiểu đoàn 2/503 giành ra vài ngày vui chơi trên các bãi biển Tuy Hòa trước khi tham gia hành quân dã ngoại với các đại đội anh em. Giống như họ, tiểu đoàn 2 nhanh chóng thường xuyên đụng độ với các đơn vị VC địa phương. Điển hình là vào 1 đêm giữa tháng 10, đại đội Bravo, tiểu đoàn 2/503 đã bố trí 1 loạt ổ phục kích dọc theo con đường mòn nghi ngở là của VC. Binh nhất Mike Nale, người cùng các bạn là các binh nhất Varoli và Roth vừa chở về đại đội sau 6 tuần nằm viện, đang kiên nhẫn cùng tổ chiến đấu nằm đợi xem có ai lọt vào ổ phục kích chết chóc của mình không? Nale đang trong phiên gác thì nghe có tiếng động. Anh mau chóng đánh thức mấy người bạn trong tổ đang ngủ và thì thầm: “Tôi nghe có tiếng động.”

Cả 3 người lính đều nghe thấy tiếng thở phì phò cùng tiếng sột soạt trong bụi cây ven đường chỉ cách họ mấy mét. Tiếng động đến gần rồi đi xa rồi lại đến gần. Cổ họng và miệng Nale khô rát khi anh chờ để nhìn rõ mục tiêu trong cái đêm ko trăng đó. Anh ko rõ ở đó có bao nhiêu VC nhưng chắc mẩm sẽ hạ được vài tên trước khi địch bắn trả.

Đột ngột, tiếng sột soạt tới ngay trước mặt anh. Nale có thể nghe thấy tiếng trống ngực của mình đập liên hồi khi tay vẫn ghìm chặt khẩu M16. Có tiếng kêu ủn ỉn rồi thì Nale nhìn thấy 1 con heo rất lớn… Và đêm đó trung đội Nale được 1 bữa tối rất ngon.

Không phải tất cả các buổi phục kích đều có cái kết hậu như thế. Có đêm 1 trong số bạn thân của Nale bị trọng thương, ko thể làm bãi đáp cho trực thăng tai chỗ nên họ phải vất vả lội bộ ra khỏi khu rừng mang nạn nhân đến bãi bốc quân chờ lính cứu thương đến.

Trong lúc đi từ nơi phục kích về đến bãi bốc quân, Nale khắp người dính đầy máu của thương binh và rất mệt. Trong khi bác sĩ và những lính cứu thương làm việc, cha Watters tiến hành các nghi lễ cuối cùng. Nale rất tôn sùng vị tuyên úy này. Có vẻ như cha Watters luôn có mặt những khi cần thiết.

Lát sau thương binh được đưa lên trực thăng tải thương. Chiếc máy bay biến mất trên bầu trời đêm và Nale ko còn nghe tin gì của anh bạn đó nữa.

Cuối tháng 10 đã xảy ra 1 số thay đổi lớn đối với lữ đoàn 173. Do giờ đây MACV đã bố trí lưu “thiên binh” ở lại vùng II chiến thuật, nên những đơn vị hậu cứ của lữ phải rời Biên Hòa lên xây dựng bộ chỉ huy tại An Khê, tỉnh Bình Định. Chuyến di chuyển này là 1 nỗ lực to lớn của tiểu đoàn trợ chiến 173 và các nhân viên hậu cứ. Tất cả những trang thiết bị mà lữ đoàn chưa đưa lên phía Bắc cùng những đồ đạc cá nhân của lính trên tiền tuyến đều được đóng thùng rồi đưa lên xe tải về Sài Gòn. Từ đó chúng được vận chuyển theo đường biển đến Qui Nhơn. Đoàn xe tải được tổ chức tại đó sẽ chở chúng lên An Khê.

Vào cuối tháng 10, sức mạnh và khả năng cơ động của lữ đoàn dù 173 được tăng lên đáng kể với sự xuất hiện của tiểu đoàn bộ binh thứ tư, là tiểu đoàn 3/503. Được thành lập tại căn cứ Fort Bragg tháng 4 năm 1967, tiểu đoàn mới đã trải qua 6 tháng được huấn luyện tạm cùng sư đoàn dù 82. Những khoa mục huấn luyện thêm về tác chiến trong rừng của lữ đoàn nhanh chóng được tái lập lại ở An Khê và họ bắt tay vào huấn luyện những lính mới đến. Một khi hoàn tất khóa huấn luyện đặc biệt này họ sẽ tham gia cùng các “thiên binh” khác trong chiến dịch Bolling.

Trong tháng 10 các tiểu đoàn 1 và 2 của trung đoàn 503 cũng noi theo tiểu đoàn 4 lập ra đại đội súng trường thứ tư. Mỗi đơn vị kết hợp các trung đội chống tăng và súng trường cơ hữu để lập ra đại đội Dog. Những đại đội mới này ít khi có nhiều hơn 60 quân và có từ 2 đến 3 trung đội.

Ở tiểu đoàn 2, đại úy Ken Smith, 1 đại đội trưởng giàu thâm niên chuyển từ đại đội Alpha sang thành lập đại đội Dog. Anh miễn cưỡng rời đại đội Alpha nhưng xin trung tá Partain 1 điều kiện là được mang theo cấp phó là trung úy Bartholomew O'Leary cùng thượng sĩ nhất Michael Deeb đi cùng. Cả hai ko những đều có nhiều kinh nghiệm chiến đấu mà còn là những chỉ huy xuất sắc. Ngoài ra Smith cũng muốn chuyển qua công việc khác sau khi kết thúc thời gian 6 tháng chỉ huy nên anh muốn đảm bảo đại đội Dog sẽ được 1 sĩ quan có năng lực là trung úy O'Leary nắm giữ.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 27 Tháng Sáu, 2014, 09:16:34 AM
Tháng 10, trung tá Partain rời tiểu đoàn 2 về nhận nhiệm vụ lữ đoàn phó. Quyền chỉ huy tiểu đoàn 2 được bàn giao cho thiếu tá James R. Steverson. Kể từ khi đến lữ đoàn hồi tháng 2, chức trách chủ yếu của Steverson là sĩ quan hành quân lữ đoàn. Cuối cùng sau khi coi như mình đã hoàn thành xuất sắc trong cương vị đó, Steverson muốn được chỉ huy 1 tiểu đoàn tác chiến trong gần 4 tháng còn lại ở nam VN, trước khi kết thúc kỳ hạn phục vụ. Những ngày cuối tháng 10 đang đến gần, lữ đoàn 173 chiến đấu theo kiểu cũng giống như hồi còn ở Biên Hòa. Hầu hết các cuộc đụng độ là với các đơn vị VC nhỏ. Các hoạt động chỉ diễn ra ở cấp trung đội và mang lại cho những sĩ quan cấp cơ sở trong lữ 1 nhiều kinh nghiệm. Các tiểu đội trưởng cũng luôn phải đi phục kích và tuần tra riêng nên cũng nâng cao được kinh nghiệm tác chiến và khả năng chỉ huy.

Trong khi những “thiên binh” trẻ lặn lội trên những cánh đồng lúa ở Tuy Hòa thì nhiều phụ nữ và thanh niên khác, cách đó nửa vòng trái đất, đang làm hết sức để chấm dứt chiến tranh. Tháng 10 năm 1967 diễn ra cuộc biểu tình phản chiến của người Mỹ, khi có hàng chục ngàn người biểu tình tuần hành đến Lầu 5 góc. Các cuộc biểu tình phản chiến còn được tổ chức ở hàng chục trường đại học trên cả nước để hưởng ứng.

Khi tin tức về phong trào phản chiến đến tai “thiên binh”, họ cười cợt chế nhạo. Chỉ có vài lính dù có thể hiểu vì sao sự hy sinh của họ lại được ít người trên “thế giới” ủng hộ đến thế.

Lính chiến Hoa Kỳ đặc biệt khinh bỉ đám híp-pi. Đó là những kẻ để tóc dài, áo quần lòe loẹt, sống nổi loạn đắm chìm trong thế giới của ma túy. Đỉnh cao của họ là ở “Mùa hè yêu đương - Summer of Love” năm 1967, khi mà ca sĩ Scott MacKenzie mời gọi thế giới hãy “cài ít hoa lên tóc” và đi tới San Francisco. Ban nhạc The Beatles thì cứ ngâm nga “Tất cả những gì bạn cần là tình yêu - “All You Need is Love.” Những “thiên binh” ko thể tin nổi khi thấy hình của đám híp-pi hoang đàn đó trên các tạp chí ở quê nhà. Họ tự hỏi, cái đất nước đã gửi chúng ta đi chiến đấu đang làm sao vậy?

Tuy nhiên ko phải tất cả những tin tức ở quê nhà đều đáng ghét. Kiểu váy ngắn mốt năm đó của phụ nữ Mỹ rất là nổi tiếng. Lính tráng cũng rất khoái nó.

Phần lớn người Mỹ chẳng hề quan tâm nhiều đến chiến tranh mà chỉ đơn giản là việc kinh doanh hàng ngày, thỏa mãn với công việc có thu nhập cao trong nền kinh tế đang tăng trưởng mạnh vì những nỗ lực quân sự của Hoa Kỳ tại Đông Nam Á. Khi ra khỏi công việc thì dân Mỹ khoái thưởng thức phim ảnh dạng như phim Camelot và Cool Hand Luke. Hay những tiểu thuyết được ưa chuộng như cuốn ‘William Styron thú nhận’ của Nat Turner hay cuốn ‘Topaz’ của Leon Uris. Với những kỳ nghỉ lễ sắp tới, những người Mỹ bình thường bắt đầu để tâm trí vào kế hoạch cho dịp lễ Tạ Ơn và lễ Giáng Sinh. Tất cả những ý định ăn chơi mà các ‘thiên binh’ có thể hưởng trong mấy ngày lễ đã tan thành mây khói khi họ nhận lệnh phải quay về Đắk Tô ngày 1 tháng 11.







 


Chương 7
Trận đánh trên dãy Ngọc Cam Liệt




Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhà chiến lược quân sự hàng đầu của Bắc Việt Nam, vào giữa năm 1967 đã thông qua sách lược mới được đề ra nhằm đánh đuổi quân Mỹ ra khỏi miền Nam, lật đổ chính phủ bù nhìn Sài Gòn và thống nhất nước nhà. Đây ko còn là chiến lược phòng thủ, tập trung vào lý luận cho rằng nếu kiểm soát được vùng nông thôn thì sẽ bóp nghẹt các thành thị nam VN nữa. Tướng Giáp đã lên kế hoạch cho 1 đợt tổng tiến công mới nhắm vào các vùng đông dân của miền nam VN.

Giáp đã bày mưu tiến hành 1 loạt cuộc đụng độ trên suốt giới tuyến miền nam VN như là bước khởi đầu cho chiến dịch đông – xuân 1967-1968. Ông cẩn thận lập kế hoạch cho từng hoạt động sao cho chúng chỉ giống như các cuộc điều quân bình thường. Tuy nhiên, ý đồ thực sự của ông là lôi kéo quân Mỹ ra khỏi những vùng đông dân cư của nam VN trong khi vẫn che giấu sự thâm nhập của quân Bắc Việt. Khi tất cả các đơn vị đã vào vị trí và quân Mỹ đang bận bịu với các sứ mạng ở xa xôi thì tướng Giáp sẽ phát động đợt tổng tiến công trên qui mô lớn diễn ra trên hầu khắp các thành phố lớn, các căn cứ quân sự, thị xã của nam VN. Tướng Giáp tin rằng một khi nhân dân miền Nam cảm thấy bộ đội Bắc Việt sắp giành thắng lợi thì họ sẽ hưởng ứng và đồng loạt nổi dậy.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 30 Tháng Sáu, 2014, 09:20:00 AM
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy của tướng Giáp được lên kế hoạch sẽ diễn ra đúng vào dịp lễ quan trọng nhất của Việt Nam, đó tức là Tết: lễ mừng năm mới âm lịch trong ngày 30 tháng 1 năm 1968 và được cả 2 miền kỷ niệm.

MACV, tất nhiên là chẳng hay biết gì về kế hoạch của tướng Giáp. Những thứ họ biết đó là việc quân Bắc Việt đã lại xuất hiện tại Kon Tum. Tình báo đồng minh cho hay là bộ đội Bắc Việt đang chuẩn bị tấn công trở lại để nhổ trại biệt kích Đắk Tô. Phản ứng với nguy cơ trên, ngày 28 tháng 10 năm 1967, thiếu tướng Peers bắt đầu đưa những đơn vị thuộc sư đoàn 4 bộ binh của mình quay lại khu vực.

Peers lệnh cho tiểu đoàn 1 dưới quyền đại tá Richard H. Johnson di chuyển từ Jackson Hole gần Pleiku lên Đắk Tô. Đơn vị đầu tiên hoàn tất việc cơ động lên đến nơi ngày 28 tháng 10 là tiểu đoàn 3, trung đoàn 12 bộ binh của trung tá John P. Vollmer. Ngay sau đó là tiểu đoàn 3, trung đoàn 8 dưới quyền trung tá Glen D. Belnap. Vollmer cho các đại đội tiến xuống phía nam Đắk Tô trong khi quân của Belnap tỏa về hướng tây nam.

Vì sư đoàn của mình đã lại phải dàn mỏng với chiến dịch mới, được đặt tên là MacArthur, Peers lại quay qua xin tướng Rosson cho tăng viện. Rosson liền lấy 1 tiểu đoàn của lữ 173.

Gần trưa ngày 31 tháng 10, tướng Rosson đến bộ chỉ huy của tướng Schweiter. Schweiter tất bật chuẩn bị các kế hoạch cần thiết cùng với sĩ quan hành quân là thiếu tá Bartow D. Daniel. Tiểu đoàn trưởng kinh nghiệm nhất của Schweiter là trung tá James H. Johnson sẽ cùng tiểu đoàn 4 lên Đắk Tô cùng với sự hỗ trợ của pháo đội B, tiểu đoàn 3, trung đoàn 319 pháo binh. Họ sẽ phải rời Tuy Hòa trong những ngày kế tiếp. Thiếu tá Daniel lo việc thi hành mệnh lệnh này.

Chiều ngày 31 tháng 10 trung tá Johnson đã nhận được tin phải di chuyển. Ông cùng ban tham mưu ngay lập tức tiến hành các công tác chuẩn bị cần thiết. Thời gian cho các đại đội chiến đấu của ông chuẩn bị ko còn nhiều.

Vào sáng sớm hôm đó, đại đội Alpha, tiểu đoàn 4/503 đã thực hiện đổ quân xuống 1 bãi đáp ở phía tây Tuy Hòa. Họ ko chạm địch nhưng tìm thấy nhiều dấu vết chỉ rõ sự hiện diện của VC. Đại đội trưởng là đại úy James J. Muldoon linh cảm sẽ có đụng độ trước khi cái ngày này kết thúc.

Muldoon nắm quyền chỉ huy đại đội Alpha mới được vài tuần sau khi tới thay đại úy Phillip phải đi sơ tán. Muldoon, 27 tuổi, quê ở Scranton, Pennsylvania tới nam VN tháng 5 năm 1967 với dự định gia nhập liên đoàn 5 biệt kích. Thay vào đó anh lại tới lữ 173. Anh mất 5 tháng làm sĩ quan hành quân cho tiểu đoàn 4 rồi mới xuống đại đội Alpha.

Muldoon rất ngạc nhiên khi vào cuối ngày 31 tháng 10, trung tá Johnson gọi điện đài bảo anh quay về bãi đáp để bốc quân về Tuy Hòa.

“Tôi đang trên 1 lối mòn có địch, Six” Muldoon nói với Johnson, “tôi muốn được tiếp tục lần theo”

“Đi ngay bây giờ, đại úy. 1 giờ nữa tụi Slick sẽ tới đó.”

Muldoon đành lệnh cho các trung đội đằng sau quay và quay về.

Chỉ huy đại đội Charlie là William Connolly, vừa được thăng lên đại úy, cũng nhận được lệnh tương tự. Anh cũng ko cần nhiều lời như Muldoon. Đại úy George Baldridge, chỉ huy đại đội Bravo cùng viên chỉ huy viễn thám cũ là đại úy Thomas Baird, nay nắm đại đội Dog cũng vậy. Cho tới lúc tất cả tập trung tại sân bay Tuy Hòa vào hôm sau để chờ máy bay C-130 thì họ mới hay việc sẽ phải trở lại Đắk Tô.

Nhiều binh sĩ đã từng ở đó hồi mùa hè ngay lập tức cảm thấy lo ngại. Connolly ko khoái chút nào cái ý tưởng sẽ trở lại cái vùng Tây Nguyên núi non hiểm trở ấy. Anh đã nếm trải đủ mọi gian khổ ở đấy rồi. Specialist 4 Ortiz trong đại đội của Connolly cũng có cảm nhận giống thế. Nhưng anh còn ngán bộ đội Bắc Việt nữa. Ortiz biết quân địch là những chiến binh rất giỏi, ko hề sợ lính dù. Trung úy Allen của đại đội Dog cũng cảm thấy sợ đến tê cả người. Anh đã biết lính Bắc Việt thiện chiến như thế nào và cũng đã từng hy vọng sẽ ko bao giờ còn nghe hay nhìn thấy Đắk Tô nữa.

Tất nhiên, các “thiên binh” khác cũng suy nghĩ ko khác biệt là mấy. Sau khi được bảo phải gỡ bỏ phù hiệu lữ đoàn để ko đánh động gián điệp đối phương về việc chuyển quân, lính tiểu đoàn 4/504 chen chúc nhau lên khoang chở hàng của máy bay C-130. Chiếc C-130 đầu tiên cất cánh rời phi đạo Tuy Hòa lúc 11g ngày 1 tháng 11 năm 1967. Máy bay sẽ chở tiểu đoàn 4/503 đến sân bay Kon tum. Xe tải sẽ đảm trách phần còn lại của quãng đường lên Đắk Tô. Ngày 2 tháng 11, việc cơ động lên Đắk Tô hoàn tất. Lính dù được phối thuộc cho lữ đoàn 1, sư đoàn 4 bộ binh của đại tá Richard Johnson.

Trung tá James Johnson được lệnh đưa tiểu đoàn tiến sang phía tây Đắk Tô khoảng 20km, theo tuyến đường 512 đi Bến Hét. Căn cứ pháo binh 12 đang được thiết lập ở đó. Tiểu đoàn của Johnson ko chỉ đảm trách an ninh cho căn cứ này mà còn tổ chức các cuộc hành quân tìm – diệt trong khu vực.

Đại đội của đại úy Connolly đi đầu tiến sang phía tây chiều ngày 2 tháng 11. Phần còn lại của tiểu đoàn cùng pháo đội sẽ đi vào sáng ngày mùng 3.

Hoạt động trong căn cứ pháo binh 12 khá là nhộn nhịp. hàng chục máy bay trực thăng đủ các cỡ bay lượn trên trời. Xe tải, xe xích, xe ủi đất gầm rú vang trời vận chuyển hàng hóa, kéo pháo hay san ủi mặt đất. Đối với binh sĩ tiểu đoàn 4, thì đây rõ ràng là 1 cái gì lớn lao. Nhiều người còn nghĩ có khi họ còn đánh sang Lào nữa.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 01 Tháng Bảy, 2014, 09:40:36 AM
Trong khi “thiên binh” đã ổn định vị trí tại căn cứ pháo binh 12 thì sư đoàn 4 bộ binh lại đang hoang mang với tin về 1 kế hoạch hoàn chỉnh của quân Bắc Việt bị tiết lộ. Vào sáng sớm ngày 2 tháng 11, ở đồn tiền tiêu VNCH tại buôn Bak Ri nằm phía tây Bến Hét xuất hiện 1 hạ sĩ quan Bắc Việt tới đầu hàng. Vu Hong tự nhận là trung sĩ pháo binh trong trung đoàn 66 QĐND VN. Anh ta khai với các thẩm vấn viên việc mình có mặt trong khu vực Đắk Tô mấy tuần vừa rồi là để trinh sát tìm trận địa bắn cho rocket, súng cối, lựu pháo và pháo phòng không. Trung đoàn của anh ta ở trong số 4 trung đoàn bộ binh và 1 trung đoàn pháo binh hợp thành sư đoàn 1 QĐND VN. Theo trung sĩ Hong thì trung đoàn 66 đã lên kế hoạch tiến công Đắk Tô từ phía tây nam. Trung đoàn 32 sẽ chiếm lĩnh vị trí tại nam Đắk Tô và đánh chặn bất cứ đòn phản kích nào nhằm vào trung đoàn 66. Trung đoàn 24 sẽ bám giữ trên các ngọn cao điểm mạn đông bắc Đắk Tô sẵn sàng hốt ổ mọi lực lượng viện binh đồng minh trên hướng đó. Trung đoàn 174 nằm ở tây bắc Đắk Tô làm dự bị và sẵn sàng chuyển sang tấn công khi cần đến. Các đại đội pháo binh của trung đoàn pháo 40 sẽ yểm trợ cho các trung đoàn bộ binh kia.

Lượng thông tin có vẻ là quá nhiều đối với 1 trung sĩ như Hong, nhưng thông tin của anh ta đã được xác nhận và có liên hệ chặt chẽ với những gì mà ban 2 - tình báo của sư đoàn 4 đã thu thập được từ những nguồn khác. Với những tin tức mới này, các sĩ quan hành quân của sư đoàn 4 liền chuẩn bị kế hoạch tác chiến chống lại bộ đội Bắc Việt.

Cuộc đụng độ đầu tiên trong chiến dịch MacArthur là giữa các đơn vị của sư đoàn 4 bộ binh với trung đoàn 32 Bắc Việt. Ngày 3 tháng 11, trong khi đi tuần tiễu trên cao điểm 1338, đại đội Bravo, tiểu đoàn 3, trung đoàn 12 lọt vào lưới lửa dữ dội được bố trí khéo léo của quân đối phương. Trận đánh chỉ cách nơi đại đội Alpha, tiểu đoàn 2/503 bị tàn sát hôm 22 tháng 6 năm 1967 về phía nam 900m. đại đội Bravo, tiểu đoàn 3/12 đã phải chiến đấu ác liệt mấy tiếng đồng hồ trước khi bộ đội Bắc Việt rút đi. đại đội Bravo có 6 thương binh, còn quân Bắc Việt bỏ lại 4 xác.

Hôm sau, ở phía nam Đắk Tô, đại đội Alpha tiểu đoàn 3, trung đoàn 8 đã chạm trán với các đơn vị thuộc trung đoàn 32 Bắc Việt vào lúc 9g50 và 1 lần nữa lúc 11g20. 2 lính Mỹ tử trận, 8 xác lính Bắc Việt được tìm thấy. Vào trưa cùng ngày, đại đội Bravo, tiểu đoàn 3/12 giờ được tăng cường thêm đại đội Alpha cùng tiểu đoàn, lại gặp địch. Lần này là 1 tiểu đoàn thuộc trung đoàn 32 Bắc Việt có công sự cố thủ chắc chắn. Mãi đến khi máy bay dội xuống 2 chục quả bom 1000 pound mang ngòi nổ chậm thì bộ đội Bắc Việt mới chịu rút. đại đội Bravo có 4 lính chết, 6 bị thương. Quân Bắc Việt chết 13.

Những bằng chứng trên cho thấy mối đe dọa của quân Bắc Việt đối với Đắk Tô lớn hơn cả những hình dung ban đầu. Tướng Rosson phải chuyển phần còn lại của lữ đoàn 173 lên cho tướng Peers. Tiểu đoàn 1/503 cùng pháo đội C, tiểu đoàn 3/319 bắt đầu được triển khai lên Đắk Tô qua ngả Kon Tum lúc 7g50 ngày 5 tháng 11. Tiểu đoàn 2/503 cùng pháo đội A, tiểu đoàn 3/319 từ Tuy Hòa sẽ lên thẳng Đắk Tô trong ngày 6 tháng 11.

Trong lúc đó dựa trên những thông tin do trung sĩ Hong cung cấp và các nguồn tin khác. Đại tá Richard Johnson nghi ngờ rằng sở chỉ huy của trung đoàn 66 Bắc Việt đang đặt tại cái thung lũng chạy dài về phía nam của Bến Hét. Ông ta hạ lệnh cho trung tá James Johnson truy tìm và tiêu diệt sở chi huy đó của địch.

Trung tá James Johnson quyết định giữ đại đội Bravo lại bảo vệ căn cứ pháo binh 12, trong khi 3 đại đội súng trường khác tiến xuống phía nam và tây nam Bến Hét. Đại đội Dog đi giữa trong khi đại đội Charlie đi bên phải còn đại đội Alpha đi bên trái. Johnson yêu cầu các đại đội  phải đi gần nhau vì ông ko muốn thảm kịch ngày 22 tháng 6 tái diễn.

Khi Johnson phổ biến chi tiết nhiệm vụ cho các đại đội trưởng, ông nói rằng 1 toán viễn thám đã phát hiện dấu vết  đất bị đào xới trên các triền cao điểm phía nam Bến Hét. Mục tiêu của các đại đội là đến đó và giao chiến với địch. Johnson nói.

Đại úy Connolly bắt đầu lên tiếng phản đối. Anh nói “ Nếu chúng nó đang đào nhiều ngoài đó thì ắt phải có 1 cái gì lớn lao đang diễn ra.” Anh hỏi liệu 3 đại đội ko có đủ sức mạnh có thể đương đầu với cả trung đoàn hay ko? Nếu như nó là thứ mà họ đang đi tìm.

“Các cậu sẽ được phi pháo yểm trợ. Các cậu phải ra ngoài đó và thi hành nhiệm vụ.” Johnson bảo 3 đại đội trưởng.

Nỗi lo ngại của Connolly, cũng như của các đại đội trưởng khác là là số lượng lính ít ỏi trong các đại đội. Đại đội Charlie của anh ta ra trận với 125 quân, đại đội  của Muldoon có khoảng chừng 110 còn đại đội Dog chỉ có 65.

Để tăng cường sức mạnh cho họ, mỗi đại đội sẽ được 1 trung đội biệt kích CIDG do hạ sĩ quan biệt kích VNCH chỉ huy đến tăng phái. Chẳng viên chỉ huy đại đội nào hài lòng với sự giàn xếp này. Cả 3 đều cảm thấy ko tin tưởng vào chất lượng của lính người Thượng. Bọn họ sẽ phản ứng ra sao khi đụng trận? Đại úy Baird định cố gắng giải quyến vấn đề bằng cách chia lính CIDG xuống 2 trung đội của mình. Nhưng sĩ quan hành quân tiểu đoàn bảo Baird phải để trung đội CIDG hoạt động riêng. Baird dù không muốn thế nhưng cũng phải đồng ý.

Lính người Thượng là toán quân khá thú vị. 1 số chỉ khoảng 13, 14 tuổi trong khi những người khác nhìn như đã ngoài 60. Những lính người Thượng lớn tuổi đã chiến đấu với bộ đội Bắc Việt được 5 năm hay còn lâu hơn nữa. Giới chỉ huy biệt kích hay nói xạo rằng là lực lượng Dân sự chiến đấu (CIDG) đánh nhau với quân Bắc Việt vì lòng ái quốc, nhưng nói thẳng ra thì bọn họ chỉ là lính đánh thuê ko hơn ko kém.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 02 Tháng Bảy, 2014, 08:32:23 AM
Sớm tinh mơ ngày 4 tháng 11 năm 1967, xe tải chở các đại đội của tiểu đoàn 4 tới điểm xuất phát. Lúc 8g50 thì họ bắt đầu hành quân bộ. Ngày đầu tiên 3 đại đội đi từ phía nam Bến Hét vượt thung lũng sông ĐắK Hơniêng nằm ở đầu phía bắc 1 vùng núi cây cối rậm rạp mà dân địa phương gọi là Ngọc Cam Liệt. Trong ngày này, cả 3 đại đội đều ko phát hiện được bất kỳ dấu vết gì của bộ đội Bắc Việt. Họ đóng lại nghỉ qua đêm dọc theo rìa phía đông bắc dãy núi này.

Sáng hôm sau, cả 3 đại đội tiến sâu vào vùng Ngọc Cam Liệt hiểm trở. đại đội Charlie đi men theo cánh phía tây, với đại đội Dog đi bên đông và đại đội Alpha bảo vệ bên sườn trái. Các “thiên binh” lập tức lọt vào thứ bóng tối âm u của rừng già Tây Nguyên. Do địa hình hiểm trở bị chia cắt nên các đại đội súng trường tiến quân rất chậm. Ví dụ như nếu muốn đi về phía nam thì đại úy Baird ban đầu phải di chuyển men theo triền núi chạy theo trục đông tây rồi mới có thể xoay qua phía nam.

Tới gần trưa thì đại đội của Connolly phát hiện 1 lán trại bỏ trống của đối phương. Anh báo cáo sự việc cho Johnson, ông này bảo anh tiến sâu vào nữa. Gần 1 tiếng sau đó, đại đội Charlie lại vấp phải 1 khu lán khác cách chỗ thứ nhất chỉ 500m. Khu lán cũng trống rỗng nhưng có nhiều hầm và công sự chiến đấu.

Đại úy Baird và Muldoon cũng theo dõi cuộc đàm thoại giữa Connolly với Johnson. Dù họ ko thấy dấu vết gì của bộ đội Bắc Việt nhưng dường như ai cũng cảm thấy họ đang nằm trong hậu cứ quân địch. Trung úy Allen của đại đội Dog nhìn thấy có dây điện thoại mắc trên cây rừng. Anh cảm thấy vấn đề chỉ còn là địch có muốn đụng độ hay ko mà thôi. Lúc 13g00 hôm đó, trung tá Johnson lệnh Muldoon đưa 1 trung đội tiến lên sục sạo về phía đông 1000m. Muldoon chẳng muốn làm thế. Anh ko muốn đưa 1 trung đội vào tình cảnh nguy hiểm khi nó cứ như miếng mồi nhử đong đưa trước mặt quân Bắc Việt. Muldoon nhắc cho Johnson về mệnh lệnh giữ các đơn vị ở gần nhau của chính ông ta và nói anh muốn giữ toàn đại đội trên 1 tuyến chứ ko gửi đi 1 trung đội lẻ loi. Johnson đồng ý.

Muldoon đã sục sạo về phía đông, nhưng ko tìm thấy gì.

Đến đêm thứ 2 thì cả 3 đại đội đều cần phải được tái tiếp tế. Phải mất nhiều giờ để tạo ra các bãi đáp cần thiết. Tiếng rựa phát cây và tiếng ồn của trực thăng khiến trung úy Allen lo ngại. Bất cứ lính Bắc Việt nào quanh đó vài dặm sẽ biết ngay là họ đang ở đâu. Anh nghĩ tiến hành chiến tranh theo cách này thật là dở.

Sáng mồng 6 tháng 11, trung tá Johnson lệnh cho Muldoon quay lại phía tây tiến xuống lối mòn ở sau lưng đại đội Dog. Ông cũng ra lệnh cho tất cả các đại đội vượt sông Đắk Kal tiến lên cao điểm 823 nằm ở rìa đông nam Ngọc Cam Liệt. Cao điểm 823 sẽ là 1 trận địa pháo mới. 3 đại đội cần phải đảm bảo an ninh cho trận địa này để nó có thể đón các khẩu lựu pháo.

Do phải hoàn tất việc tái tiếp tế sáng hôm đó, tới 9g00 mà Muldoon vẫn chưa cho dọn dẹp nơi trú quân. Nhằm làm bất ngờ những lính Bắc Việt đang bám theo nếu có, Muldoon lệnh cho trung sĩ tiểu đội trưởng David Terrazas cùng 6 lính nằm lại phía sau lập ổ phục kích. Nếu trong vòng 1 giờ mà ko chạm địch, thì Terrazas sẽ rời vị trí phục kích và quay về đại đội.

Tại nơi đóng quân của đại đội Dog, các lính dù đang chuẩn bị hành quân tiếp tục. Những “thiên binh” đã từng chịu gian khổ ở Tây Nguyên hồi mùa hè với những cơn mưa như trút thì nay đều thấy hài lòng với thời tiết mùa thu dễ chịu. Ban ngày bầu trời trong xanh, ấm áp còn ban đêm thì mát mẻ và khô ráo.

Trung đội 1 của trung úy Allen đã dẫn đầu ngày hôm trước nên đến ngày 6 tháng 11, việc này do trung đội 2 nhận lãnh. Trung úy Michael D. Burton tốt nghiệp học viện quân sự Virginia năm 1966. Chàng trai trẻ 23 tuổi này được bổ sung cho đại đội Dog sau trận đánh hôm 10 tháng 7. Burton là người đáng mến và đã nhanh chóng tỏ ra là 1 chỉ huy có khả năng.

Lúc 8g45, đại đội Dog khởi hành. Trung đội của Burton đi đầu, theo sau là biệt kích CIDG, Baird cùng đại đội bộ đi kế tiếp còn trung đội của Allen thì đi đoạn hậu. Họ dùng la bàn tìm đường tiến lên cao điểm 823. Những đám cây bụi rậm rạp cùng địa hình dốc đứng khiến họ thường xuyên phải đi vòng để tránh rủi ro.

Tiểu đội xích hầu của Burton dưới quyền trung sĩ Wertz bắt đầu leo lên 1 sống núi. Đến khoảng 11g30 thì người lính dẫn đầu là Sp4 Emory L. Jorgenson bỗng nhiên đứng khựng lại. 1 sợi dây điện thoại có vỏ bọc màu xám chạy trên mặt đất song song với hướng anh đi. Jorgenson nhanh chóng cắt đoạn dây và báo cáo với Burton. Anh này lại báo tin về cho đại úy Baird. Baird bảo Burton đi lần theo sợi dây.

Trong khi Baird cho đại đội dừng lại thì Burton cho tiểu đội của Wertz tiến lên. Đi được chừng 200m thì họ tìm thấy 1 chiếc mũ cối. Họ liền báo về cho Burton hay.

Đến khi Baird nhận được tin báo mới này, anh liền cho đại đội co lại lập chu vi phòng thủ rồi gọi điện đài báo trung tá Johnson. Baird nói với Johnson rằng anh muốn lần theo sợi dây xem nó dẫn đến đâu. Johnson chấp thuận.

Baird ko muốn chui đầu vào bẫy của quân Bắc Việt. Anh cũng ko biết chắc sợi dây điện thoại đó có phải là mồi nhử hay ko? Để tăng khả năng tự bảo vệ, Baird ra lệnh tiến theo đội hình “lá chuồn – cloverleaf” để càn quét cả phía trước lẫn phía sau đơn vị. Sau khi từng tiểu đội càn quét xong xuôi, Baird mới cho đại đội tiến đến điểm giới hạn trên cùng của lá chuồn. Anh cứ đi tiếp lên theo kiểu sâu đo như thế, hết sức cảnh giác trước mọi dấu hiệu của kẻ thù. Tốc độ tiến quân tuy chậm, nhưng tương đối an toàn.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 03 Tháng Bảy, 2014, 10:04:36 AM
Trung sĩ Morrell Woods cùng trung đội đang tiến hành sục sạo phía sau đội hình đại đội. Tất cả các giác quan đều cảnh giác trước mọi dấu hiệu có quân Bắc Việt. Ko thấy dấu vết nào cả nhưng tới lượt cloverleaf thứ 3, thì anh nghe thấy giọng nói của lính Bắc Việt. Khu rừng cây rậm rạp ken đầy tre gai khiến tầm nhìn giảm xuống còn khoảng 20m khiến anh ko tài nào xác được định vị chí của quân địch. Anh gọi điện đài cho trung úy Allen để báo cáo về sự hiện diện của đối phương.

Trong khi đại đội Dog đang nhích từng chút lên núi, trung tá Johnson nhận định cả 3 đại đội sẽ ko thể tới mục tiêu là cao điểm 823 kịp trong ngày được. Vì vậy ông gọi điện cho đại úy Baldridge phải chuẩn bị đưa đại đội Bravo lên cao điểm 823 ngay. Trong khi Baldridge lo đốc thúc lính dù dưới quyền thì Johnson gọi phi pháo tới oanh tạc cao điểm 823. Ông ko chỉ muốn đập vụn mọi đơn vị Bắc Việt đang ẩn náu trên ngọn cao điểm mà còn hy vọng dùng hỏa lực phát quang cây cối để tạo ra 1 bãi đáp.

Trung úy Burton ở trên sườn Ngọc Cam Liệt cũng nghe thấy các cuộc điện đàm của trung tá Johnson và nghe tiếng những quả đạn pháo 105 và 155mm rít lên bay về phía cao điểm 823, rồi sau đó là những tiếng nổ vang rền. Trong khi cùng Baird đợi làm thêm 1 lượt cloverleaf nữa, Burton nghe thấy đại đội trưởng hỏi viên thượng sĩ nhất đại đội “Anh nghĩ sao hả Top?”

Thượng sĩ nhất William Collin đã có gần 10 tháng kinh nghiệm trên chiến trường nam VN. Khả năng lãnh đạo đã làm anh trở thành 1 hạ sĩ quan có trình độ tác chiến nổi trội. Baird rất tôn trọng ý kiến của Collins.

“Xếp ạ.” Collins trịnh trọng chậm rãi nói. “Tôi nghĩ dù anh lên hay xuống núi hoặc cứ ở đây thì rồi cũng sẽ đụng chúng nó thôi.”

Baird đồng ý, và những người khác cũng có cảm nhận như thế. Bộ đội Bắc Việt đang ở xung quanh họ.

Baird bảo Burton tiến lên. Anh nói chàng trai trẻ phải đảm bảo giãn cách giữa các thành viên trong trung đội. Baird ko muốn họ túm tụm lại hoặc đi cách nhau quá xa.

Burton cho trung đội tiến bước. Họ lần theo 1 lối mòn ẩn hiện chạy men theo rìa phải sống núi. Bên phải lối mòn đất dốc đứng. Khi đi trên lối mòn vượt qua sống núi và lên gần đến đỉnh thì mặt đất và rừng trở nên bằng phẳng và thưa thớt hơn. Ở chỗ lối mòn tiếp xúc với đỉnh vách núi thì mặt đất trải rộng ra lối 30 đến 40m rồi mới lại dốc xuống 2 bên.

Đến gần 13g00 thì người lính đi đầu tiên phát hiện thấy trên mặt đất những dấu chân đi đất, 1 ống tre cuộn dây điện thoại và 1 đống phân còn mới. Burton trở nên lo lắng và ra lệnh cho lính tiến tiếp.

2 lính trinh sát ở vị trí dẫn đầu trung đội Burton đang đi song song với lối mòn. Họ đi qua 1 cái yên ngựa – thực ra là 1 chỗ mà lối mòn dốc trũng xuống – rồi lại đi lên dốc tới chỗ vách núi mở rộng ra. Tại đây Burton cho 1 tiểu đội tiến sâu sang trái, tiểu đội kia thì tiến đến phần giữa đỉnh núi, còn tiểu đội thứ 3 thì ở lại cạnh chỗ lối mòn. Vì khó đi nên các tiểu đội đi giữa và bên phải cứ giữ nguyên vị trí trong khi tiểu đội của trung sĩ Jimmie R. Worley ở bên trái thì tiến lên.

Trong khi tiểu đội của Worley nhích lên từng mét, thì Specialist 4 Hobb đi ở giữa, bỗng thoáng nhìn thấy đầu của 1 lính Bắc Việt nhô lên từ mấy bụi cây cách đó chừng 20m. Trước khi Hobbs kịp phản ứng thì tên lính địch đã biến mất.

Tiểu đội Worley tiếp tục từ từ tiến tới. Binh nhất Anthony Brangaitis, 19 tuổi, sinh trưởng ở Brooklyn, New York, chắc mẩm bộ đội Bắc Việt đã áp sát nên đã lắp lê cho khẩu M16. Brangaitis gia nhập đại đội Dog hồi tháng 7 và đã bị bắn tỉa vài lần ở Tuy Hòa nhưng kinh nghiệm chiến đấu thực thụ thì chưa có. Anh lấy lưỡi liếm đôi môi khô rát và biết chắc chắn chuyện đó rồi sẽ nhanh chóng thay đổi.

1 lính khác của Worley nhìn thấy 1 bộ đội Bắc Việt đang đi trên đầu kia lối mòn thằng tiến về chỗ mình. Anh này kêu khẽ :”Tôi thấy 1 thằng khốn”. Mọi người chưa kịp phản ứng thì người lính Bắc Việt đã biến mất.

Ít giây sau thì Sp4 Charles E. Moss cũng phát giác 1 bộ đội Bắc Việt. Thay vì la lên cảnh báo anh này nổ ngay 1 tràng đạn M16. Loạt đạn khiến cho tên địch lao đánh ào vào rừng.

Khi Burton báo về cho Baird biết việc đã chạm địch, viên đại đội trưởng lệnh cho anh rút các tiểu đội về lập chu vi phòng thủ ngay. Baird cho rằng Burton hơi hăng máu, nên ko muốn anh này bị mắc bẫy. Ý định của Baird là sẽ gọi phi pháo dập xuống khu vực trước mặt khi các tiểu đội của Burton đã quay về.

Burton lệnh cho các tiểu đội quay về chỗ mình. Để yểm trợ cho họ lui quân, Burton bắn 1 băng M16 vào chỗ mà Hobbs đã nhìn thấy người bộ đội Bắc Việt.

Bỗng hàng tràng đạn AK-47 dữ dằn đáp trả. Đạn nhọn địch bắn trúng bụi tre phía bên phải Burton, xuyên qua và xé toác những thân tre to lớn khiến nước trong đó văng tung tóe. Burton vội cho quân tháo chạy xuống chỗ cái yên ngựa.

Binh nhất Brangaitis vừa mới định chạy thì bộ đội Bắc Việt khai hỏa. 1 lính bên cạnh anh gục xuống, đạn ghim đầy ngực . Brangaitis vội nằm rạp xuống đất. Đạn nhọn quân thù bay viu víu nghe lạnh cả người phía trên đầu anh. Cành lá trên cây rơi lả tả xuống. Anh ko thể tin là mình vẫn còn sống khi mà đạn của bộ đội Bắc Việt bay sượt qua đầu chỉ trong gang tấc.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 04 Tháng Bảy, 2014, 10:33:25 AM
Những phút sau đó Burton lo cho trung đội tháo lui. Hầu hết lính của anh giờ đang nằm trong cái yên ngựa mà họ đã đi qua lúc trước. Bản năng mách bảo Burton rằng đây ko phải là 1 vị trí tốt vì quân địch lúc đó đang chiếm lĩnh vị trí trên cao, phía trước mặt. Nhưng vào thời điểm ấy thì đó là việc tốt nhất mà anh có thể làm được.

Phía sau Burton 25 mét, đại úy Baird cùng phần còn lại của đại đội bộ cũng đang nằm rạp xuống đất từ lúc có tiếng súng bắn. Trung úy Allen ở đằng sau anh, chỗ khu đất cao trước khi lối mòn dốc xuống, ngay lập tức phản ứng khi thấy tiếng súng bắn bằng cách cho trung đội phòng thủ vòng tròn. Do không thể liên lạc qua điện đài với Baird, nên anh bắt đầu bò tới chỗ đại đội trưởng.

Burton cũng đang tìm về chỗ Baird, anh bò luồn qua các bụi cây cố làm sao để ko thu hút hỏa lực địch. Lúc này Baird thì cũng bắt đầu bò tới chỗ 1 cái cây lớn. Theo sát anh là trung úy Lawrence L. Clewly, sĩ quan tiền sát của pháo đội B, tiểu đoàn 3/319, cũng là cựu học viên West Point. Mới bò chưa tới 5m, Clewly đã bị đạn địch bắn trúng mông. Đau quá anh ta gào lên rằng mình sắp chết đến nơi rồi. Ai đó đã kéo Clewly đi. Điện đài viên của anh này là Sp4 Ernie L. Fulcher ngay lập tức gọi pháo nện xuống khu vực phía trước mặt trung đội Burton.

Trong lúc đó thì Baird đã bò tới nấp chỗ cái cây to, Burton từ hướng khác cũng vừa tới gần. Ngay sau đó có 1 loạt đạn súng máy địch bắn đến. Burton nhận ra mình đã vô tình làm lộ vị trí chỉ huy của Baird và 1 xạ thủ súng máy Bắc Việt đang cố hạ thủ anh này. Burton vội quay trở về trung đội.

Baird cảm nhận được 1 viên đạn đã xuyên thủng bao đựng đạn anh đang đeo ở thắt lưng, 1 viên khác bật vào báng súng, còn viên thứ 3 thì ghim vào cổ tay trái. Viên đạn đã làm đứt dây thần kinh quay làm anh đau kinh khủng. Một lính cứu thương bò đến, đâm 1 ống morphine vào bắp tay và tiêm thuốc giảm đau cho Baird. Dù vết thương vẫn còn rất đau, nhưng Baird vẫn tiếp tục chỉ huy.

Biệt kích quân CIDG đi giữa Baird và Burton đã vội ẩn nấp ngay sau tiếng súng đầu tiên. Giờ đây khi hỏa lực nhắm vào Burton đã gia tăng cường độ và bắn cả vào chỗ của lính CIDG, thì họ mất tinh thần. Từng người một bật dậy phóng qua vị trí của Baird chạy về chỗ Allen.

Specialist 4th Jake Duffy cũng chứng kiến việc bọn họ tháo chạy về phía sau. Anh này cùng tiền sát viên là Specialist 5th Mattingly vẫn đang chỉ thị mục tiêu cho cối 106,7mm. Từ ngày 10 tháng 7 tới nay, Duffy đã đụng độ mấy trận nên biết mình phải làm gì trong trận đánh. Dù hỏa lực địch ở đây dữ dội hơn hồi ở cao điểm 830, anh vẫn giữ được bình tĩnh, điềm đạm chỉ dẫn cho Mattingly truyền số liệu về cho các khẩu đội cối.

Thượng sĩ nhất Collins chạy đuổi theo đám lính CIDG. Anh biết rằng phải chặn cơn hoảng loạn của bọn này lại trước khi nó lan sang các lính dù. Mặc cho anh hét lớn bắt đứng lại, tất cả bọn họ đều chạy về tới vị trí của trung úy Allen mới chịu dừng vì cũng chẳng còn biết chạy vào đâu nữa. Quay về trung đội sau khi Baird bị dính đạn, Allen đã cho các tiểu đội nống lên phía trước chiếm lĩnh các vị trí quanh vị trí chỉ huy. Anh chỉ còn biết cho đám lính CIDG đang hoảng hốt kia vào giữa các “thiên binh” của mình.

Trung úy Burton vừa về đến trung đội thì đối phương lại bắt đầu bắn. Hỏa lực dữ dội của địch làm cho Burton phải lo sợ. Anh chưa từng thấy thế bao giờ. Thay vì tiếng nổ riêng rẽ của các loại súng thì nay chỉ nghe thấy ầm ầm liên hồi kỳ trận của cả súng máy lẫn súng cá nhân. Tiếng súng địch lớn đến nỗi anh ko thể nghe thấy tiếng súng M16 bắn trả của lính mình quanh đó. Những viên đạn bay vèo vèo xuyên qua các cây tre, nứa làm nước rơi như mưa xuống đầu quân lính tô điểm thêm vào mớ âm thanh hỗn loạn. Đây là lần đầu tiên mà Burton nghĩ tới việc mình sẽ ko sống qua được trận đánh.

Nhưng Burton cũng ko có nhiều thì giờ để mà lo lắng về tuổi thọ của mình. Nhiều lính ở phía trước phát hiện bộ đội Bắc Việt đang chuẩn bị xung phong nên đã la hét cảnh báo. Burton di chuyển như con thoi, chỉ cho lính thấy những lối trong rừng mà địch có khả năng dùng để tiếp cận. Và rồi địch quân đã tới.

Binh nhất Brangaitis nhìn thấy 3,4 bộ đội Bắc Việt lao qua đám cây cối, tre nứa xông đến. Anh nhanh chóng xả hết cả băng đạn của khẩu M16. Số địch gục xuống. Nhiều lính đối phương nữa lại xuất hiện. Brangaitis nhét băng đạn khác vào khẩu M16 và nã về phía địch.

Trung sĩ tiểu đội trưởng James D. Shafer quỳ xuống giương khẩu M16 lên bắn vào khoảng 1 chục lính Bắc Việt đang xông tới chỗ mình. Anh hạ được chừng 3,4 người rồi bị bắn ngã. Trung sĩ tiểu đội trưởng Edward J. Smith lên thế chỗ của Shafer. Anh nhanh chóng được các trung sĩ Michael A. Plank và Sp4 Leroy W. Rothwell tới trợ giúp và cả 3 bình tĩnh chặn đứng số quân Bắc Việt.

Dù cho Specialist Fulcher và Specialist Duffy đã làm rất tốt việc điều chỉnh hỏa lực cho những pháo đội pháo và súng cối, đại úy Baird vẫ cho rằng hỏa lực này ko hiệu quả do những tán cây rừng dày đặc. Anh muốn gọi máy bay tới không kích.

Baird gọi điện đài yêu cầu trung tá Johnson, lúc đó đang bay lơ lửng gần đó trên trực thăng chỉ huy. Johnson đã từ chối. Viên tiểu đoàn trưởng, đang bay phía trên khu rừng 150m, nên có thể đã ko lường được mức độ của thứ hỏa lực chết chóc đang nhằm vào cái đại đội nhỏ bé của Baird. Ông ta nghĩ những thứ mà đại đội Dog đang phải đối mặt chưa đủ để thay đổi nhiệm vụ quét sạch ngọn cao điểm 823 cho đại đội Bravo của những chiếc F-100 khi đó.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 07 Tháng Bảy, 2014, 09:21:02 AM
Baird ko sao tin được điều này. Cái đại đội có chưa đến 60 quân của anh đang phải đối mặt với khả năng bị tiêu diệt hết nếu như ko được trợ giúp. Anh giật lấy ống nói của chiếc PRC25 từ điện đài viên của mình.

“Đm ông, Six” Anh gào lên trong tiếng súng inh ỏi “Tốt hơn là ông nên rút cái đầu l.. của ông ra khỏi mông đi. Dưới này đang gay go lắm. Nếu ko có ko yểm thì bọn tôi sẽ bị tràn ngập mất.”

Âm sắc đầy tuyệt vọng của Baird khiến Johnson phải cho chuyển hướng khỏi cao điểm 823, 1 số chiếc F-100. Ông cho rằng việc Baird nổi điên như thế là vì bị vết thương hành hạ cộng với ảnh hưởng của morphine. Johnson cho rằng Baird đã bị mất kiểm soát và gần như hoảng loạn.

Nhưng Baird đâu có hoảng loạn. Anh vẫn kiểm soát tốt mọi việc. Anh chỉ nhận thấy đại đội đang bị ghìm đầu xuống có thể sẽ bị lực lượng vượt trội của Bắc Việt tràn ngập nếu như ko được chi viện.

Ít phút sau, những chiếc máy bay phản lực đầu tiên đã gầm rú trên đỉnh các ngọn cây của dãy Ngọc Cam Liệt. Trong lượt đầu tiên, chúng thả những trái bom 250 pound trúng ngay phía trước vị trí của trung đội Burton. Trung sĩ Smith nghe tiếng bom rơi xuống liền lăn xuống sau 1 cái cây đổ. Bom nổ gần đến nỗi Smith nghĩ mình đã tiêu tùng nếu như ko được thân cây kia che chở. Mảnh của 1 quả bom rơi gần đã ghim trúng 1 lính cứu thương của Burton khi anh này đang lấy thân mình che cho thương binh.

Dù bom đã thả trúng mục tiêu, nhưng khi những chiếc F-100 vừa xong việc thì bộ đội Bắc Việt đã lại xông tới chỗ trung đội Burton ngay. Những lính địch được trang bị tốt, mặc quân phục vừa bắn vừa xông thẳng xuống cao điểm. Quân của Burton cố bắn hạ địch. Lính bắn tỉa đối phương cũng nã đạn xuống lính dù. Khi phát hiện được mục tiêu, binh nhất Brangaitis đã cố gắng hạ tay bắn tỉa, nhưng ko may mắn lắm.

Sau cuộc xung phong ko thành, hoạt động của đối phương bắt đầu giảm xuống chỉ còn là những tiếng súng bắn lác đác. Lính của Burton vẫn giữ vững vị trí. Những ai có thể thì tới giúp đưa thương binh về trạm cứu thương được lập ra ở vị trí  giữa Baird và Allen. Thời gian tạm lắng kéo dài chừng 20 phút rồi lại bùng lên trong khoảng 5 phút trước khi trùng xuống. Việc này cứ thế tiếp diễn suốt mấy tiếng sau đó.

Vị trí của trung úy Allen ko bị hỏa lực trực tiếp của địch bắn đến trong 90 phút đầu tiên của trận đánh. Thỉnh thoảng cũng có đạn địch cắm vào các thân cây, nhưng chúng chỉ đơn giản là đạn lạc từ chỗ Burton đang giao tranh bắn đến. Hầu hết thời gian Allen lo việc bố trí quân lính, động viên họ chuẩn bị cho việc phải đối mặt với 1 đợt xung phong mà anh biết rồi sẽ đến.

Tới khoảng 15g thì lượng đạn bay trên đầu gia tăng đáng kể. Ít phút sau Allen nghe thấy tiếng nổ đặc trưng của súng AK-47. Quân địch đang đến gần. Anh biết bộ đội Bắc Việt đang đến chỗ mình. Allen hô gọi quân lính, hối thúc họ sẵn sàng.

Rồi thì có người hét lên “Chúng đến!”. Súng M16 và M60 khai hỏa. Cành lá rậm rịt ken dày ngăn ko cho lính của Allen nhìn rõ bộ đội Bắc Việt. Họ phải bắn vào bất cứ cái gì chuyển động hay những chớp lửa của nòng súng phía trước mặt. Hầu hết hỏa lực địch là từ trên núi bắn xuống. Allen biết đại đội Dog đã bị bao vây và đang bị ép mạnh cả 2 đầu. Rõ rang là quân Bắc Việt đã bám theo từ lúc họ leo lên sống núi và chỉ chờ thời cơ tiêu diệt lính dù.

Trung sĩ Woods nằm bên cạnh 1 cái cây, nằm phía bên kia là 1 lính Thượng 15 tuổi. Khi đạn địch bắt đầu găm xuống đất xung quanh họ thì thằng lính Thượng bật dậy định chạy trốn. Woods giúi cậu ta xuống. Anh phải làm việc này mấy lần trước khi bị những tiếng động chỗ 1 đám cây gần đó thu hút. Khi Woods quạt 1 loạt M16 vào chỗ địch thì tên lính Thượng lại nhảy lên. Woods nắm lấy thắt lưng và kéo nó ngã xuống đất vừa hay 1 loạt AK-47 ghim vào thân cây chỗ đầu tên lính Thượng vừa ở đó. “Thấy chưa!” Woods nói với chú lính đang run lẩy bẩy. “Ở yên đó.”

Trung úy Allen ném lựu đạn khói để đánh dấu vị trí cho các máy bay phản lực và trực thăng vũ trang. Trung úy Clewly, ở cách đó 1 quãng ngắn, nơi đặt các thương binh, nhìn thấy khói và la lên “Dừng lại! Anh sẽ làm lộ vị trí mình mất. Ngừng ngay đi! Anh sẽ làm tất cả chết hết đó!”

Clewly cứ la hét cho đến khi Allen bảo im mồm ngay nếu ko anh sẽ giết. Clewly mới chịu thôi.

Đạn pháo đang dập trúng phía trước vị trí Allen, nhưng anh ko biết ai gọi pháo tới. Ko có tiền sát viên nào ở cùng anh. Anh hy vọng cái người đang hiệu chỉnh pháo làm tốt việc của mình. Vì rừng quá dày Allen ko thễ nhìn thấy phần lớn nơi đạn pháo nổ. Anh ko biết chúng hiệu quả ra sao nhưng cũng ko hề muốn chúng dừng lại.

Giao tranh vẫn tiếp diễn quanh chỗ đại đội Dog. Một đợt đánh thăm dò nữa của địch vào chu vi phòng thủ nhưng đã bị đẩy lùi dễ dàng. Máy bay F-100, trực thăng vũ trang và pháo binh đã thiết lập 1 vành đai bảo vệ quanh đại đội, nhưng nó vẫn cần tiếp viện.

Khi mà trung tá Johnson đã nhận rõ việc việc đại đội Dog ko thể tự mình thoát ra được, ông liền ra lệnh cho cả 2 đại đội Alpha và đại đội Charlie tới cứu.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 08 Tháng Bảy, 2014, 08:33:02 AM
Sáng sớm hôm đó, những lính CIDG đi đầu đội hình của đại úy Muldoon. Đám lính Thượng đã nổ súng và báo là phát hiện khoảng 1 chục bộ đội Bắc Việt đang tiến tới chỗ họ từ trong rừng. Muldoon ngay lập tức cho đại đội lập chu vi phòng thủ. Anh lệnh cho chỉ huy trung đội hỏa lực là trung sĩ trung đội phó Thomas W. Thornton bắn đạn cối 60 ly ra xung quanh đại đội. Quân tuần tiễu tìm ra 1 vệt máu cùng với 2 khẩu Ak-47 nhưng ko thấy lính Bắc Việt. Muldoon tiếp tục cho quân đi tuần tiễu.

Đến 14g00 thì Muldoon nhận điện của trung tá Johnson bảo tới cứu Baird. đại đội Alpha đang ở cách chỗ của Baird 1500m về phía đông, gần cao điểm 729. đại đội Alpha sẽ phải đi xuống cao điểm, vượt qua 1 thung lũng sông nhỏ rồi mới leo tới vị trí của Baird.

Chuẩn bị vận động, Muldoon quyết định để lính CIDG dẫn đầu tiếp. Từ trước tới giờ họ làm việc này khá ổn nhưng Muldoon vẫn chưa tin họ hoàn toàn. Anh nói với tay hạ sĩ quan của họ: “Chắc quân của anh thông thạo vùng này. Hãy dẫn tôi tới chỗ đại đội Dog và đừng có chui đầu vào rọ của Bắc Việt. Nếu các cậu dẫn tôi vào 1 ổ phục kích thì người lãnh đủ đầu tiên là các cậu đó. Giờ thì dẫn chúng tôi tới đó và đi cho nhanh vào.”

Tay hạ sĩ quan CIDG gật đầu hứa rồi quay về chỗ lính dưới quyền.

Sau đó Muldoon gọi điện kêu trung sĩ Terrazas cho quân lên gần. Cuộc đàm thoại sau đó cho thấy rằng Terrazas ko biết Muldoon đang ở đâu, dù có nghe thấy tiếng súng bắn. Muldoon kêu anh này cứ vận động về phía tiếng súng, đó chắc là chỗ đại đội Dog và Terrazas cũng sẽ gặp đại đội Alpha tại đó. Rồi Muldoon hạ lệnh lên đường.

Thoạt đầu thì lính CIDG vận động khá nhanh, nhưng đến lúc đại đội Alpha tiến gần đến khu chiến của đại đội Dog và tiếng ồn của trận đánh giờ trở nên lớn hơn thì lính Thượng bắt đầu đi chậm lại. Ngay sau đó họ bắt đầu đi lòng vòng và cứ đâm quàng vào bụi rậm. Chẳng bao lâu sau thì tốc độ tiến quân của đại đội Alpha đã chậm như rùa bò.

Muldoon liên tục hối thúc đám biệt kích CIDG di chuyển nhanh hơn nhưng ko có kết quả. Cuối cùng Muldoon nổi giận lệnh đám CIDG tránh qua 1 bên. Anh đưa trung đội 2 dưới quyền trung úy Denny lên dẫn đầu. Để tăng tốc độ di chuyển của đại đội, Muldoon ra lệnh bỏ ba lô lại. Sau đó tiểu đội xích hầu của Denny bắt đầu mở đường, cắt rừng và làm mọi cách để có thể đi nhanh nhất.

Trong khi ấy, vào lúc 15g30, trung sĩ Terrazas và 6 lính dưới quyền đã tới khu vực phòng thủ của đại đội Dog an toàn. Trung úy Allen lập tức bố trí họ vào giữa đám quân của mình.

Khoảng 30 phút sau, những chiếc F-100 lại thả bom và napalm xuống các vị trí nghi ngờ có bộ đội Bắc Việt. Sĩ quan điều không tiền tuyến (FAC) hướng dẫn 1 chiếc phản lực ném napalm xuống trước mặt trung đội Burton. Ko hiểu có sai sót gì đó mà thay vì ném những qua bom cháy xuống trước vị trí của Burton ở đầu phía tây chu vi phòng thủ của đại đội Dog, viên phi công lại thả xuống ngay bên ngoài vị trí của Allen ở đầu đông nam.

Allen nghe thấy tiếng bom rít lên rơi xuống và đang chờ vụ nổ sẽ xảy ra ở cách dó 100m. Thế nhưng nó lại nổ ngay phía bên kia 1 bụi tre lớn cách đó chỉ có 20m, khói đen và lửa đỏ từ trái bom phun ra tung tóe. Thứ vũ khí đáng sợ đã làm rừng rậm quang hẳn đi, Allen ko dám chắc bom napalm có làm đối phương thiệt hại gì ko nhưng anh thấy rõ là đòn không kích vừa rồi gần đến mức kinh khủng.

Thượng sĩ nhất Collins gọi điện cho Baird phàn nàn. “Chúa ơi, Six, mẹ cha nó sao mà gần thế.”

Baird cũng chẳng hiểu Collins nói về cái gì nữa.

Đại úy Connolly cũng được lệnh của trung tá Johnson vận động đến cứu Baird. đại đội Charlie đang ở phía tây đại đội Dog khoảng 1km, ở vị trí cao hơn trên dãy Ngọc Cam Liệt. Connolly sẽ càn quét khu đất phía trên khu vực phòng thủ của Baird, nhằm giảm sức ép của quân địch từ hướng tây xuống.

Connolly cứ cắt thẳng tới chỗ của Baird và đã đụng phải 1 vách núi cắt ngang. Anh ra những chỉ thị cần thiết để lính dưới quyền chuẩn bị vượt qua. Khi leo gần tới đỉnh thì trung đội CIDG, đơn vị đi đầu của Connolly bỗng lọt vào lưới lửa của bộ đội Bắc Việt nấp trong công sự. Được trung liên M60 của “thiên binh “ yểm trợ phía sau, lính Thượng đã diệt được 1 số hầm của quân địch. Khi họ lại leo tiếp lên thì tuyến công sự thứ nhì của Bắc Việt lại nổ súng. Lần này thì quân CIDG tháo lui. Connolly lệnh cho họ quay lại vị trí nhưng họ ko chịu nghe. Đối với họ ngày hôm nay như thế là đã quá đủ. Nếu lính Mỹ muốn chiếm cao điểm, thì cứ tự đi mà chiếm lấy.

Connolly giận điên lên. Anh lệnh cho trung đội dưới quyền trung úy Paul S. Jones, 22 tuổi, lên tiến công. Kết cục là Jones bị thương và đợt tiến công bị chặn lại. Connolly bảo tiền sát pháo của mình gọi pháo dập nhưng ko có khẩu đội nào đang rảnh cả. Họ đều đang bận yểm trợ cho đại đội Dog và đại đội Bravo cũng bị rơi vào cảnh khó khăn trên cao điểm 823.

Connolly la ó với trung tâm điều khiển hỏa lực (FDC) và cuối cùng họ cũng bắn cho vài quả đạn. Nhưng như vậy ko thể đủ. đại đội Charlie sẽ phải thanh toán bộ đội Bắc Việt mà thiếu đi cái ô pháo binh bảo vệ. Connolly phải thúc quân tiến lên dùng hỏa lực và các chiến thuật vận động; từ từ lấn vào tuyến phòng ngự của quân Bắc Việt, tiêu diệt từng căn hầm một.



Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 09 Tháng Bảy, 2014, 08:19:07 AM
Cách đó mấy km về phía đông, đại đội Alpha của đại úy Muldoon lọt vào 1 thung lũng sông và tìm được lối đi dễ dàng hơn tới chân dãy núi Ngọc Cam Liệt. Sau đó họ bắt đầu cắt rừng, lính đi đầu là 2 SP4 Slaybaugh và Dennis T. Ridders phát hiện ra 3 bộ đội Bắc Việt đang đi. 2 anh chàng bắt đầu bám theo 3 lính địch này. Trung úy Denny đi phía sau ko nhìn thấy sự việc nên gọi điện đài cho Ridders để xem tại sao lại đi chậm lại. Khi thấy họ ko trả lời, Denny bèn gọi lớn.

Tiếng gọi đã đánh động lính Bắc Việt và làm địch bỏ chạy. Slaybaugh và Ridders lập tức nổ súng nhưng chỉ hạ được có 1.

Trung úy Allen và trung sĩ Terrazas ở trên sườn núi đã nghe thấy tiếng súng của đại đội Alpha. Họ dùng la bàn xác định phương hướng chỗ tiếng súng nổ rồi gọi điện cho Muldoon.

Muldoon hối hả tiến lên. Slaybaugh đã sớm nhìn thấy sợi dây điện thoại màu xám và lần theo nó lên sống núi. Khi đại đội Alpha lên gần tới khu chiến, các “thiên binh” bắt đầu nghe thấy những tiếng kêu rên của thương binh Bắc Việt văng vẳng trong rừng quanh đó. Đây đó là những khoảnh rừng bị bom napalm thiêu rụi vẫn còn âm ỉ cháy. Rồi đại đội Alpha tìm thấy 15 xác lính Bắc Việt cháy đen ở chỗ chỉ cách vị trí của trung úy Allen có 20m. Những lính đối phương đã bị cháy thành than vẫn nằm trong vị trí chiến đấu ôm chặt súng trong tay. Trái napalm thả lạc địa chỉ đã vô tình cứu trung đội Allen thoát khỏi 1 đợt xung mãnh liệt.

Trung đội của trung úy Denny đã tiến vào vị trí của trung úy Allen lúc 17g00. Muldoon cho phần còn lại của đại đội dừng lại phía ngoài phòng tuyến của Allen còn mình thì đi vào gặp Baird.

Trung úy Burton đã giao chiến cả buổi chiều với những đợt đánh thăm dò của bộ đội Bắc Việt. Trong 1 đợt tấn công như thế, Specialist 4 Jorgenson đã bị giết khi đang bảo vệ vị trí. Một hạ sĩ quan cũng bị thương nặng trong nỗ lực lấy xác anh về.

Bộ đội Bắc Việt triển khai thêm nhiều súng máy tới các vị trí có thể xạ kích vào quân của Burton. Mỗi khi có “thiên binh” nào chuyển động là hỏa lực địch lại bùng lên dữ dội. Có lúc súng máy nã xuống quanh chỗ Burton chỉ để nhắc nhở anh rằng chúng vẫn còn ở đó. Burton và quân lính rất chán nản vì ko làm cách nào khắc chế được chúng.

Những giờ chiều trôi đi chậm chạp. Burton cứ lo quân tăng viện sẽ ko đến kịp trước khi trời tối. Nếu việc đó xảy ra thì chắc chắc bộ đội Bắc Việt sẽ hốt ổ bọn họ trong đêm. Ko cách gì để tăng cường cho 20 lính của Burton khiến họ đủ sức giữ vững trước nguy cơ sẽ phải đối mặt.

Đại úy Muldoon nhận thấy tình thế của đại đội Dog nghiêm trọng hơn tưởng tượng khi anh tới vị trí của đại úy Baird. Anh vội lệnh cho các lính cứu thương của mình lên chăm sóc cho số thương binh đông đảo rồi sau đó kéo các trung đội lên tăng cường cho tuyến phòng ngự của đại đội Dog. Trong khi quân mới đến đang vào chu vi phòng thủ thì những loạt đạn của bộ đội Bắc Việt trên những sườn núi ở xa thỉnh thoảng lại bắn đến khiến cho bọn họ phải chạy chối chết.

Thêm 1 đợt ko kích nữa được gọi đến. Thấy phía đối phương có vẻ đã im tiếng. Muldoon, người lúc này đã tiếp nhận quyền chỉ huy đại đội Dog từ Baird, lệnh cho trung úy Denny vượt lên vị trí của Burton tiến hành truy quét khu vực có địch.

Khi mà Denny chuẩn bị tiến ra, Burton cảnh báo :”Đừng có đi, súng máy ở cả trên đó đó.”

Denny cười vào mặt anh rồi lấy thêm 1 tổ trung liên M60 của Burton bắt đi cùng trung đội mình. Rồi thì anh ta hạ lệnh tiến ra. Số quân này tiến được chưa tới 5m thì súng máy của bộ đội Bắc Việt đã nhả đạn. Xạ thủ số 1 khẩu M60 của Burton bị bắn chết ngay lập tức còn xạ thủ số 2 thì bị thương nặng. Burton giận điên lên. Anh đã bị mất 2 người chỉ vì hành động hung hăng của 1 sĩ quan khác.

2 trung đội giữ nguyên vị trí. Khi thấy trời tối và hỏa lực đối phương đã dịu bớt, Muldoon mới cho gọi trực thăng tải thương. Cố gắng tản thương lúc trước đã bị hỏa lực của quân địch đẩy lui. Giờ thì trực thăng tải thương đã đáp xuống 1 bãi đáp do trung đội hỏa lực của đại đội Alpha phát quang vội vã. Các ca bị thương nặng được chuyển đi trong khoảng từ 18g00 đến 22g. Đại úy Baird cố vật nài để đi cuối cùng.

Khi việc tải thương kết thúc, Muldoon lệnh cho Burton, Allen, và Denny co cụm vào trung tâm chu vi phòng thủ. Anh muốn siết chặt hàng ngũ. Địch thỉnh thoảng ném lựu đạn và bắn súng cối quấy rối các ‘thiên binh’ suốt đêm. Muldoon cũng mấy lần gọi Spooky, máy bay C-47 được trang bị đại liên 6 nòng minigun, bay tới tưới những làn đạn chết chóc xuống. Anh cũng xin pháo binh lập hàng rào bắn chặn xung quanh 2 đại đội để chống Bắc Việt cho quân thăm dò.

đại đội Bravo đã qua đêm cách vị trí của Muldoon khoảng 1 cây số. Sau khi quét sạch quân Bắc Việt, đại úy Connolly nhận thấy mình sẽ chẳng thể tới chỗ đại đội Dog kịp khi trời tối. Connolly đã cho quân dừng lại vì ko hề muốn vấp phải quân địch ban đêm trong 1 vùng thù nghịch và 1 phần cũng do nghe tin Muldoon đã tới được với Baird. Đêm ấy đã trôi qua mà ko có sự cố gì.

Khi bình minh ngày 7 tháng 11 lên người ta thấy rõ là bộ đội Bắc Việt đã rời khỏi chiến trường. Đại úy Muldoon tung ra vài toán thám sát. Sau khi lục soát họ xác nhận rằng quân đối phương đã rời đi hết. Nguy hiểm đã được loại trừ và giờ Muldoon có thể tập trung nỗ lực lo cho những ca thương vong còn lại.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 10 Tháng Bảy, 2014, 08:24:21 AM
Tuy nhiên, trung tá Johnson đã có kế hoạch khác dành cho đại đội Alpha. Ông lệnh cho Muldoon kết hợp với đại đội Charlie rồi cùng tiến lên cao điểm 823, nơi đại đội Bravo đã chiến đấu suốt đêm. Sau khi thấy việc này khó thực hiện vì còn phải lo tải thương và tái tiếp tế, trung tá Johnson đã thay đổi mệnh lệnh: đại đội Charlie giờ sẽ di chuyển đến chỗ đại đội Alpha và đại đội Dog. Khi đã bắt tay được với nhau, thì đại đội Alpha sẽ thu hồi lại ba lô của mình rồi cả 3 đại đội sẽ di chuyển về phía đông nam của cao điểm 823.

Trong lúc chờ đại đội Charlie đến nơi, Muldoon cho 1 số quân đi tảo thanh chiến trường. Trung úy Burton tìm thấy 8 xác địch cùng 1 số súng ống ở phía trước mặt trung đội. Anh rất ấn tượng trước những trang bị, quân phục, vũ khí mới toanh của địch. Rõ ràng anh vừa chiến đấu với những tân binh, nhưng có kỷ luật cao.

Sau đó, trong khi khám xét những xác lính Bắc Việt bị bom napalm thiêu cháy, Burton lấy được 1 khẩu súng lục từ thắt lưng xác sĩ quan địch. Anh đưa cho thượng sĩ nhất Collins và bảo anh này chuyển nó cho đại úy Baird để làm kỷ niệm. Collins bắt đầu quyên tiền của lính để thuê khắc chữ lên khẩu súng lục tặng cho Baird. Rồi Collins đưa súng và tiền cho thượng sĩ cố vấn Arthurs, đang chuẩn bị sang Hawaii nghỉ xả hơi. Arthurs sẽ cho khắc chữ vào súng rồi chuyển đến vợ của Baird.

Quá trình lục soát chiến trường tìm thấy tổng cộng 28 xác bộ đội Bắc Việt, 34 khẩu súng trong đó có 6 súng máy và 2 B-40. đại đội Dog có 5 lính chết, 18 lính bị thương; đại đội Alpha thiệt mạng 1 và bị thương 2.

Khi trung úy Allen và Burton xem xét lại trận đánh, họ phát hiện quân Bắc Việt đã chiếm lĩnh các vị trí dọc theo sống núi và nằm đó đợi đại đội Dog đi qua là sập bẫy lại. Bộ đội Bắc Việt biết rõ đang họ ở đó vì các hoạt động tiếp tế hồi đêm mùng 5 tháng 11 đã tiết lộ sự có mặt của lính dù.

Thông tin tình báo thu thập được từ xác đối phương cho thấy đại đội Dog đang di chuyển về hướng sở chỉ huy của tiểu đoàn 2, trung đoàn 66 Bắc Việt. Có lẽ quân Bắc Việt đã nghĩ đại đội Dog sẽ ko phát hiện được nơi họ đóng quân và có thể bỏ qua nó. Thế nhưng số phận của đại đội Dog đã định khi họ tìm thấy sợi dây điện thoại. Hầu hết lực lượng địch đã kéo ra, đại đội nhỏ bé của Baird liền bị ép chặt giữa 2 gọng kìm đại đội Connolly thì bị và 1 lực lượng chốt chặn cản đường.

Allen cùng Burton cũng cho rằng, bọn họ thoát nạn là do đại úy Baird đã tiến quân theo lối mòn 1 cách cẩn trọng và đã kiên quyết đòi máy bay tới không kích lúc giao tranh mới bắt đầu. Hai sĩ quan đều cảm thấy nếu như Baird ko làm gián đoạn kế hoạch của quân địch bằng cách cứ một mực đòi trung tá Johnson phải điều máy bay phản lực tới thì bộ đội Bắc Việt đã tràn qua dễ dàng như chuyện xảy ra cho đại đội Alpha, trung đoàn 503 hồi tháng 6.

Hai người sĩ quan trẻ cũng rất tự hào về những lính dù hầu hết còn thiếu kinh nghiệm của mình. Những người lính đã tuân theo mệnh lệnh 1 cách răm rắp chẳng hề do dự. Họ đã giữ vững vị trí ko hề chùn bước dưới cơn mưa đạn và các đợt tiến công lặp đi lặp của của đối phương.

Đại đội Charlie của đại úy Connolly đã tới chỗ Muldoon vào buổi trưa. Trong khi họ bảo vệ chu vi phòng thủ và giúp tái tiếp tế, đại đội Alpha quay trở lại đường đi hôm trước để thu hồi ba lô. Trung đội 3 đi đầu, đơn vị biệt kích CIDG được đưa xuống cuối. Khi gần tới chỗ để ba lô thì 1 lính CIDG bất ngờ nổ súng.

Đại úy Muldoon lập tức cho đại đội dừng lại. Anh gọi tên lính CIDG phạm lỗi cùng trung sĩ của hắn ta lên trước. Anh giận giữ nói: “Giờ hai thằng mày đi đầu, nếu phát súng đó đánh động VC, thì tụi bay sẽ lãnh đòn trước. Giờ thì đi đi!”

Ít phút sau, đại đội Alpha tìm thấy ba lô ở đúng nơi họ đã bỏ chúng, còn nguyên xi. Đại đội quay lại chỗ Connolly mà ko gặp thêm sự cố gì.

Dù trung tá Johnson đã lên kế hoạch cho cả 4 đại đội hội quân trên điểm cao 823 vào chiều ngày 7 tháng 11, nhưng việc đó đã ko xảy ra. 1 máy bay trực thăng tiếp tế đã bị rơi trong khi cất cánh từ dãy Ngọc Cam Liệt. Chiếc trực thăng rơi xuống ngay phía trước hố cá nhân của binh nhất Brangaitis. Anh nghĩ nó rơi vì bị đối phương bắn nên lập tức chuẩn bị đón tiếp 1 đợt tiến công. Nhưng hóa ra chiếc Huey rơi là do máy móc bị trục trặc.

Thế nên việc cấp thiết là phải tháo gỡ điện đài, súng máy cùng các khí tài trên chiếc Huey và lính dù phải ở lại thêm 1 đêm nữa để hoàn thành công việc. Đến sáng khi đã xác định rằng ko thể gỡ hết được, các lính dù đã phá hủy nó.

Cuối cùng thì đến chiều hôm đó, 3 đại đội đã tới chân cao điểm 823. Họ tiến hành tuần tiễu quanh điểm cao đến hết ngày rồi rút quân về Bến Hét và căn cứ pháo binh 12. Trung tá Johnson còn định truy kích quân Bắc Việt về hướng tây nữa nhưng các thượng cấp đã quyết định rằng các đơn vị cơ động của ông này cần nghỉ ngơi vài ngày để hồi phục và bổ sung.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: nkp trong 11 Tháng Bảy, 2014, 10:57:18 PM
[Trả lời #55]
“Tôi đang trên 1 lối mòn có địch, Six” Muldoon nói với Johnson, “tôi muốn được tiếp tục lần theo”

“Đi ngay bây giờ, đại úy. 1 giờ nữa tụi Slick sẽ tới đó.”

"Đi ngay bây giờ đại úy. 1 giờ nữa trực thăng võ trang sẽ tới đó." ("Slick" là tiếng long chỉ truc thăng võ trang."


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 14 Tháng Bảy, 2014, 09:23:05 AM
[Trả lời #55]
“Tôi đang trên 1 lối mòn có địch, Six” Muldoon nói với Johnson, “tôi muốn được tiếp tục lần theo”

“Đi ngay bây giờ, đại úy. 1 giờ nữa tụi Slick sẽ tới đó.”

"Đi ngay bây giờ đại úy. 1 giờ nữa trực thăng võ trang sẽ tới đó." ("Slick" là tiếng long chỉ truc thăng võ trang."

Slick là từ lóng chi Trực thăng chở quân...còn trực thăng vũ trang là Shark hay Gun ship


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 14 Tháng Bảy, 2014, 09:23:42 AM
Chương 8
Trận đánh trên cao điểm 823








Đại tá Richard H. Johnson, lữ đoàn trưởng lữ đoàn 1, sư đoàn 4 bộ binh đã ra lệnh thiết lập 1 trận địa pháo trên đỉnh điểm cao 823. Với việc quân cơ hữu của lữ cùng tiểu đoàn 4/503 đi phối thuộc đang tiến hành tuần tiễu sắp vượt ra khỏi tầm yểm trợ của pháo trên căn cứ pháo binh 12 thì đại tá Johnson nhận thấy sự cần thiết của 1 trận địa pháo mới gần vùng hành quân hơn. Và cao điểm 823 được chọn để thiết lập căn cứ pháo binh 15.

Ngay khi trung tá James Johnson nhận định 3 đại đội của mình sẽ ko thể lên cao điểm 823 đúng theo kế hoạch, ông liền lệnh cho đại đội Bravo, tiểu đoàn 4/503 lên tấn công. Thay thế cho đại đội Bravo, lúc này làm nhiệm vụ bảo vệ căn cứ pháo binh 12 có thể sẽ là tiểu đoàn 1/503 từ Tuy Hòa lên. Cả 4 đại đội của tiểu đoàn 1/503 sẽ được triển khai lên căn cứ pháo binh 12 ngay khi họ đến Đắk Tô. Trung tá Johnson đã nói đại đội trưởng đại đội Bravo sẵn sàng lên cao điểm 823 vào 9g sáng ngày 6 tháng 11.

Đại đội Bravo đã có 1 số thay đổi sau trận đánh trên cao điểm 830 hồi 10 tháng 7 năm 1967. Trung úy George T. Baldridge đã chuyển từ đại đội Alpha sang nắm quyền chỉ huy đại đội Bravo từ ngày 13 tháng 7. Hai tuần sau đó anh được thăng cấp lên đại úy.

Baldridge là 1 người cao ráo, tóc sẫm màu, 30 tuổi đã tới nam VN hồi tháng 2 năm 1967. Anh sinh tại Boise, Idaho, là con của 1 quân nhân chuyên nghiệp nên khi lớn lên Baldridge đã trải qua hàng loạt cái trại lính trên khắp thế giới. Anh nhập ngũ năm 1959 và phục vụ trong 6 năm rồi mới đi học sĩ quan. Anh được phong sĩ quan năm 1965 và đã học xong các khóa huấn luyện nhảy dù và biệt động quân.

Khi anh tới nắm quyền, nhiều lính của đại đội Bravo vẫn còn chưa hết kinh hoàng sau trận đánh trên cao điểm 830. Họ cho rằng đã xáp chiến quá vội vã và kết quả là đã phải trả giá đắt. Baldridge khẳng định với các lính dù rằng anh ko là mẫu người liều lĩnh, khinh suất. Anh sẽ chỉ huy đại đội 1 cách thận trọng, tiết kiệm sinh mạng binh sĩ. Những tuần sau đó, Baldridge đã chứng tỏ những cam đoan của mình. Anh ko chấp nhận việc liều lĩnh ko cần thiết.

Giữ vai trò thượng sĩ nhất của đại đội Bravo là thượng sĩ Jerry M. Babb, 30 tuổi , 1 cựu chiến binh có 15 tuổi quân, người Memphis, Tennessee. Sau khi thượng sĩ nhất tiền nhiệm mất tinh thần, đại đội Bravo cần 1 hạ sĩ quan cấp cao dũng cảm, chỉ huy tốt để làm chỗ dựa và tấm gương cho cánh lính trẻ. Babb dư sức đáp ứng được điều đó.

Khi Babb tới đại đội Bravo thì thượng sĩ Okendo đang đảm nhiệm cương vị thượng sĩ nhất. Okendo quay về vị trí cũ của mình. Đến tháng 10, vì đã đánh nhau quá lâu cùng với thính giác kém, Okendo được chuyển về tuyến sau để phụ giúp trong việc thu dung những tên lính trốn tránh chiến đấu.

Tháng 10, trung úy Peyton Ligon rời đại đội Bravo lên ban tham mưu tiểu đoàn làm sĩ quan hành quân. Trung úy Al Lindseth vẫn ở lại đại đội Bravo nhưng đã lên làm đại đội phó. 2 ngày sau khi tiểu đoàn 4/503 về lại Đắk Tô, Lindseth được cho đi nghỉ xả hơi 1 cách xứng đáng.

Đơn vị cũ của Lindseth, trung đội 2, giờ do thiếu úy Hugh M. Proffitt chỉ huy. Cũng giống như Baldridge, Proffitt, sinh trưởng trong 1 gia đình quân nhân, sống tại các căn cứ không quân khắp thế giới. Năm 1963, sau khi tốt nghiệp trung học, thì Proffitt sống cùng gia đình tại Hutchinson, Kansas. Anh học ở trường cao đẵng địa phương mấy năm gia nhập khóa đào tạo chuẩn úy lái máy bay trực thăng. Khi việc này ko thành, anh xin đi học sĩ quan và được chấp thuận. Anh được phong sĩ quan tháng 10 năm 1966.

Proffitt đến nam VN hồi đầu tháng 10 năm 1967. Anh chỉ kịp tiến hành vài cuộc hành quân cùng trung đội ở Tuy Hòa trước khi bị gọi đi Đắk Tô. Kết quả là hầu hết ‘thiên binh” trong trung đội 2 vẫn chưa tin tưởng lắm về người thiếu úy của mình. Thay vì vậy họ trông mong cả vào trung sĩ trung đội phó, Lawrence J. Wiggins, 1 cấp chỉ huy có kinh nghiệm.

Phụ trách trung đội 1 là trung úy Larry R. Moore. Anh này cũng là người tương đối mới, gia nhập đại đội Bravo hồi cuối tháng 9. Moore đã gây ân tượng cho Babb khi là 1 tay sĩ quan dám thừa nhận mình còn non yếu và luôn sẵn sàng học hỏi. Moore cũng cậy nhờ trung sĩ trung đội phó của mình là trung sĩ John L. Ponting để anh này hướng dẫn trong chiến đấu.

Trung đội trưởng có kinh nghiệm nhất của đại đội Bravo là trung úy Robert H. Darling, phụ trách trung đội 3. Anh tới nam VN hồi tháng 8. Là 1 cựu giáo viên đáng mến, 24 tuổi quê ở Pennsylvania, Darling đang có ý định kiếm huân chương. Anh thường nói với trung sĩ trung đội phó của mình là trung sĩ Joaquin P. Cabrera việc anh mong kiếm được huân chương sao bạc ra sao. Thượng sĩ Babb cảm thấy Darling có tiềm năng trở thành 1 trung đội trưởng giỏi nếu như họ có thể giữ anh ta sống sót qua mấy tháng đầu tiên.

Trung sĩ Phil Owens giờ mang điện đài cho đại úy Baldridge. Khi trung úy Ligon chuyển lên ban tham mưu tiểu đoàn, anh đã đề nghị với Baldridge hãy lấy Owens về làm điện đài viên của mình ngay. Không phụ lòng Ligon, Owens ko chỉ vận hành điện đài giỏi mà còn là điện đài viên cừ. Anh đeo theo sĩ quan của mình ko hề quản ngại mọi lúc, mọi nơi.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 15 Tháng Bảy, 2014, 08:20:02 AM
Vào đêm trước trận tấn công, Owen kháo chuyện cùng với mấy người bạn thân trước khi đi ngủ. 1 người tình cờ hỏi Owens rằng: “Nếu ngày mai cậu trúng đạn thì cậu muốn bị vào đâu?”

Câu hỏi khiến Owens bối rối. Giống như các chiến binh từng trải, anh luôn tránh nghĩ đến cái chết hay khoe khoang thương tích. Trong cuộc đấu tranh sinh tồn hàng ngày của bận rộn của lính tráng, anh đã đẩy suy nghĩ kiểu vậy ra khỏi đầu óc. Thay vào đó anh chỉ việc giao phó hết cho số mệnh. Trời kêu ai nấy dạ thôi. Anh chẳng muốn bị thương nên tránh ko trả lời thẳng vào câu hỏi. Nhưng cậu kia vẫn hỏi dồn, cứ liến thoắng nói về những vị trí trên cơ thể có khả năng sẽ bị dính đạn. Chắc chắn Owens ko muốn bị thương vào đầu hay bụng hay dính 1 viên đạn vào ngực. Cũng như những binh sĩ khác anh cũng sợ bị bắn trúng bi. Anh nghĩ mình sẽ chẳng thể chịu đựng nổi nếu mất đi 1 hoặc 2 chân. Chắc chắn anh cũng ko muốn bị mất đi bất cứ tay hay chân nào, nhưng cuối cùng, để làm cậu kia im mồm, anh trả lời: “Tay trái. Tôi nghĩ ta vẫn có thể làm việc mà ko cần tay trái.”

Chuyện vãn còn kéo thêm mấy phút trước khi Owens chui vào túi ngủ.

Trung tá Johnson đã khảo sát điểm cao 823 từ trên không hôm mồng 5 tháng 11. Ông ta nhìn thấy 1 đỉnh đồi rộng được cây cối, tre nứa, bụi rậm dày đặc bao phủ rất dễ phòng thủ. Phía nam và phần lớn phía đông của cao điểm dốc đứng khiến cho quân đối phương ko thể tiếp cận. Theo đôi mắt lão luyện của Johnson thì đường tiếp cận dễ đi nhất khi địch phản kích là tiến theo sống đồi chạy từ chóp phía tây và tây bắc. đại đội Bravo sẽ phải bảo vệ hướng đó thật cẩn mật chống lại đòn tiến công của bộ đội Bắc Việt.

Với lệnh tiến công được dự kiến lúc 9g, Johnson đã ra lệnh cho máy bay đến không kích vào sáng sớm nhằm dọn 1 bãi đáp trên đỉnh cao điểm 823. Do trong chuyến bay hôm trước ông ko thấy dấu hiệu nào về sự hiện diện của bộ đội Bắc Việt nên Johnson cho hạn chỉ cho không kích 5 đợt. Như vậy là đã đủ để tạo ra 1 bãi đáp.

Ngay trước 9g, Johnson lại lên trực thăng chỉ huy bay lơ lửng phía trên cao điểm 823. Sự thật hiển nhiên hiện ra là bom đã ko đủ để phát quang đỉnh đồi tạo ra 1 bãi đáp. Ông ta ra lệnh tăng cường không kích với nhiều bom đạn hơn nữa.

Trong khi diễn ra các cuộc oanh tạc, quân của đại úy Baldridge kiên nhẫn ngồi cạnh bãi đáp trực thăng của căn cứ pháo binh 12. Cạnh đó là những chiếc Huey của đại đội 'Cao bồi' đang tắt máy để tiết kiệm nhiên liệu. Đối với đám lính tráng ác nghiệt thì đây lại là 1 điểm hình cho những thứ vớ vẩn trong đời quân ngũ: Vội vã rồi chờ đợi.

Họ ngồi đợi đến tận quá trưa khi trung tá Johnson lại lên điểm cao 823 khảo sát. Ông ta thấy tán rừng rậm rạp đã làm hiệu quả của những trái bom 500 pound giảm nhiều. Thay vì phát quang 1 vùng các vụ nổ chỉ phạt đứt tre nứa, cây cối rồi rải chúng thành mớ bòng bong trên điểm cao. Johnson đã nghĩ sẽ phải cần nhiều đợt không kích hơn nữa mới có thể tạo nổi thứ giống như bãi đáp. Ra khỏi đầu mút phía đông nam, đi xuống khoảng 20, 30m, có chỗ cây cối bị đốn ngã đủ để có thể tiếp nhận mỗi lần 1 chiếc Huey. Johnson chỉ định bãi đáp ở đấy và lệnh đại đội Bravo lên đường.

13g30, chiếc Huey đầu tiên cất cánh khỏi căn cứ pháo binh 12. Chiếc Slick chở theo lính của trung đội Darling. Baldridge muốn trung đội trưởng nhiều thâm niên nhất của mình đổ quân trước rồi vượt lên đỉnh cao điểm chiếm lĩnh vị trí phòng thủ dọc theo đường tiếp cận dễ bị tấn công ở hướng tây. Một thành viên trong trung đội là trung sĩ 19 tuổi, tóc đỏ, Leo E. Hill. Quê ở Cleveland, Ohio, đã bỏ học trung học, anh tới đại đội Bravo hồi tháng 6 năm 1967. Vì ở tuyến sau để trả lời phỏng vấn về người lính tiêu biểu của tiểu đoàn trong tháng nên anh đã bỏ lỡ trận đánh hôm 10 tháng 7 trên cao điểm 830. Thay vì thế anh được kêu từ phòng phỏng vấn ra đường băng gần trạm sơ cứu để khiêng tử sĩ. Dù Hill đã từng thấy người chết rồi, mức độ thương vong trong trận đánh đó đã khiến anh phải bàng hoàng trước thực tế chiến tranh khắc nghiệt.

Những tháng sau đó Hill nổi lên là 1 lính xích hầu giỏi nhất. Giác quan thứ 6 bẩm sinh trong việc đánh hơi hiểm nguy của anh càng trở nên sắc bén trong thời gian 18 tháng với sư đoàn dù 82. Hầu hết thời gian đó anh được huấn luyện ở sâu trong vùng đầm lầy hoang vắng miền quê Georgia. Hill đã học được rất nhiều về cách sống trong thiên nhiên những tháng ở đó.

Lúc này, trung sĩ Hill liếc nhìn qua cửa mở khi chiếc trực thăng đang lượn trên cao điểm 823. Anh nhìn thấy trên đỉnh đồi có 2 lính địch đang ngồi xổm. Trong lúc anh đang nhìn thì họ bật dậy và chạy xuống phía tây.

Ít phút sau, chiếc Slick đã ở treo lơ lửng trên bãi đáp trong khi 1 cặp trực thăng vũ trang bay bảo vệ phía trên. Chiếc Slick ko đáp hẳn xuống đất được vì có rất nhiều gốc cây cụt. Vì thế, Hill cùng những người khác phải nhảy xuống từ khoảng cách gần 2m rồi tản ra chiếm lĩnh vị trí phòng thủ quanh bãi đáp trong lúc trực thăng của họ bốc lên để có chỗ cho chiếc khác xuống.

Hill cùng 5 ‘thiên binh’ nữa thấy rằng đường đi đã bị tắc vì mớ hỗn độn cây cối ngã đổ. Cành cây và thân tre nằm lổng chổng cứ như trong chò trơi xếp que vậy. Có nhiều chỗ chúng chất cao đến đầu gối khiến cho việc vận động trở nên rất khó khăn.

Phía sau tiểu đội đang phải đi chật vật này chiếc Huey khác cũng đang đổ lính xuống. Rồi nó cũng mau chóng được những chiếc khác thay thế, hết chiếc này đến chiếc khác. Tới 14g30 thì tất cả 120 lính của đại đội Bravo đều đã xuống đất.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 16 Tháng Bảy, 2014, 08:50:06 AM
Đại úy Baldridge đến trên chiếc Slick thứ 3. Anh rất ngạc nhiên khi thấy bom đã khiến cho cao điểm lộn tùng phèo với cây cối đủ cỡ ngã đổ lổng chổng. Anh thấy lính dù phải vận động vất vả như thế nào trong quãng đường ngắn từ bãi đáp lên tới đỉnh cao điểm 823. Trong khi chờ số còn lại của đại đội xuống đất, Baldridge bảo trung sĩ gọi điện đài về cho trung tá Johnson xin cưa máy. Khi quân lính đã đào xong công sự, Baldridge sẽ cho dọn dẹp và mở rộng bãi đáp để công tác tái tiếp tế được dễ dàng hơn.

Baldridge và Owens đã lên tới đỉnh cao điểm, cả 2 đều rất ngạc nhiên trước số lượng lớn trang bị của đối phương bỏ lại trên đó. Rải rác khắp nơi là ba lô, bi đông, nồi niêu xoong chảo và 1 vài khẩu súng gãy. Hai người cũng tìm thấy 1 số căn hầm chắc chắn. Rõ ràng là trước đó đã có 1 số lớn bộ đội Bắc Việt đang đóng quân trên cao điểm và đã bỏ chạy trước các đợt không kích. Baldridge lo lắng ko biết đối phương chạy về đâu và khi nào thì quay trở lại?

Theo như kế hoạch mà Baldridge đã bàn với các trung đội trưởng, các trung đội sẽ bố trí phòng ngự vòng tròn xung quanh đỉnh cao điểm theo thứ tự sau: Giả sử mặt đồng hồ với kim 12 giờ chỉ về hướng bắc thì trung đội Darling đảm nhận khu vực từ 8g đến 12g, trung đội Moore sẽ dàn ra từ ô 12g đến 4g và trung đội Proffitt sẽ giữ vị trí phòng thủ từ ô 4 đến 8g. Các thành viên trung đội hỏa lực, do trung sĩ trung đội phó Johnnie R. Riley chỉ huy sẽ lắp đặt các khẩu cối 60mm và 81mm trong 1 hố bom gần vị trí 4g. Hố bom này nằm ngay dưới chóp cao điểm nhằm chống lại bất kỳ thứ hỏa lực nào của địch có thể bắn lên đỉnh cao điểm.

Baldridge lập vị trí chỉ huy ngay phía đông nam chu vi phòng thủ của đại đội Bravo. Anh cùng Owens và số còn lại trong đại đội bộ tất bật tự đào công sự cho mình. Khi trực thăng mang cưa máy đến. Thượng sĩ Babb chỉ định 1 số lính trong đại đội bộ cùng với vài thành viên trung đội hỏa lực ra làm việc trên bãi đáp. Babb dùng 1 cái cưa máy và bắt đầu dọn dẹp 1 bụi tre.

Gần 3g, đại úy Baldridge với trung sĩ Owens theo sau bắt đầu đi 1 vòng quanh chu vi phòng thủ. Mọi thứ đều tốt cho tới khi đến vị trí chỉ huy của trung úy Darling. Baldridge yêu cầu Darling chỉ cho anh xem vị trí các chốt cảnh giới. Darling đứng hình rồi mới ấp úng nói với Baldridge: “Tôi đã quên đưa họ ra, thưa đại đội trưởng.”

Baldridge đã bị sốc trước sự bất cẩn của Darling. Anh gay gắt ra lệnh: “Trung úy, cậu phải lập tổ cảnh giới và phải làm việc đó ngay bây giờ.” Rồi cùng Owens quay về sở chỉ huy.

Darling chọn ra 2 người là Sp4 Louis C. Miller và binh nhất Robert J. Bickel đi lập chốt cảnh giới. Họ thận trọng di chuyển xuống dốc, đại khái là trực chỉ hướng tây bắc.

Khi tiến ra khỏi chu vi phòng thủ chừng 60m, thì bất ngờ 1 loạt AK-47 dữ dội rộ lên từ những cái cây trước mặt. Miller chết ngay lập tức; Bickel gục xuống và bị thương nặng.

Darling ngay lập tức tham gia tình huống và đi cứu lính. Theo sau anh có điện đài viên Sp4 James L. Ellis; binh nhất Clarence A. Miller; Sp4 Linwood C. Corbett; và binh nhất Rufus.

J. Dowdy, Darling hấp tấp lao xuống dốc. Toán lính nhỏ đi được nửa đường tới chỗ Bickel thì bị khoảng 30 bộ đội Bắc Việt đang nấp trong rừng cây phía bên phải bắn. Cả 5 đều bị hạ, khắp người bị bắn thủng lỗ chỗ.

Hỏa lực quân địch bùng lên nhanh chóng sau khi vừa ra lệnh cho Darling chưa tới 10 phút, khiến Baldridge giật nảy người. Anh nằm rạp xuống đất, Owens nằm bên trái. Anh gọi điện cho Darling. Người trả lời là Specialist 4 Ellis lúc đó đang hấp hối : “November bị nặng rồi” rồi thở hổn hển. Sau đó chiếc điện đài câm tịt.

Từ trên vị trí trung đội 3, các ‘thiên binh’ có thể nghe thấy tiếng quân Bắc Việt reo cười phía dưới. Tuy nhiên họ ko thể nhìn thấy vì lá rừng quá là dày.

Nhưng họ có thể nhìn thấy binh nhất Bickel, vẫn còn sống dù đã bị thương nặng. Bickel đang bò ngược lên dốc, miệng gào tướng lên kêu cứu: “Cứu với! Xin hãy cứu tôi! Có ai cứu tôi đi! Tôi sắp chết rồi!”

Một số lính dù đã chuẩn bị xuống chỗ Bickel, nhưng ý định này đã ko thành khi 1 bộ đội Bắc Việt người cắm đầy lá ngụy trang tựa vào cái cây và giết chết Bickel bằng 1 phát đạn bắn trúng lưng.

Baldridge vẫn tiếp tục gọi điện xem tình hình thế nào vì chỗ anh chẳng nhìn thấy gì cả. Trung sĩ Cabrera ở vị trí trung đội Darling đã thuật lại cho viên đại úy những gì xảy ra.

Baldridge hành động ngay tức khắc. Anh chỉ định trung sĩ Ponting thuộc trung đội 1 của Moore lên nắm trung đội 3. Sau đó anh lệnh cho trung sĩ trung đội phó Riley cho cối bắn. Baldridge muốn đạn cối 81 ly sẽ rơi xuống phía trước trung đội 3 khoảng 250m, trong khi đạn cối 60mm thì cách  chừng 100m. Viên đại úy cũng bảo Riley lấy 1 ít quân trong trung đội hỏa lực tiến ra trám chỗ cho những người thương vong trên phòng tuyến trung đội 3. Baldridge cũng cho tiền sát pháo binh gọi pháo từ căn cứ pháo binh 12 dập xuống phía trước trung đội đang bị đe dọa.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 17 Tháng Bảy, 2014, 08:57:26 AM
Diễn tiến trận đánh phát triển nhanh 1 cách đáng kinh ngạc. Chỉ ít phút sau cái chết của Darling, hỏa lực súng cá nhân của bộ đội Bắc Việt đã quất ào ào lên đỉnh cao điểm.

Chỉ sau Baldridge và ban chỉ huy đại đội mấy mét, Babb vẫn đang làm việc với cưa máy, tiếng cưa ầm ĩ đã át đi cả tiếng ồn của trận đánh vừa mới nổ ra.

Baldridge cùng 1 số lính bên cạnh bắt đầu ném đất đá về phía Babb để báo động. Rốt cục thì 1 hòn đất cũng ném trúng Babb khiến anh này phải quay lại. Babb phản ứng ngay khi nhìn thấy những người khác đang nằm trên mặt đất, anh ném cưa sang bên rồi phóng đi tìm chỗ nấp.

Baldridge nhìn thấy cái cưa bay trên không trung và nghĩ hẳn Babb sẽ phải lập được kỷ lục thế giới về bộ môn quăng cưa máy.

Trong khu vực tiếp giáp giữa trung đội của Proffitt với trung đội 3, có khoảng 15 lính Bắc Việt bất ngờ tấn công lên. Proffitt đang kiểm tra ở đầu bên kia khu vực trách nhiệm thì trận đánh nổ ra. Anh lăn xuống đất và bò thấp về chỗ đang có đụng độ. Trung đội của anh đã nổ súng và đánh bật được quân Bắc Việt nhưng chỉ sau khi 1 xạ thủ súng phóng lựu M79 của Proffitt bị giết và 1 lính khác bị thương nhẹ.

Thời gian tạm lắng ngắn ngủi sau đó lính đại đội Bravo lo việc củng cố. Những lính dù chưa đào xong công sự vội cuống cuồng đào cho xong. Đại úy Baldridge há hốc mồm khi thấy 1 lính trẻ gần bên đào hố cá nhân nhanh đến nỗi ko thể nhìn rõ được động tác.

Vào khoảng 15g15 quân Bắc Việt lại xung phong. Lần này có khoảng 30 bộ đội ùa ra từ những bụi tre nứa. Địch được đón chào bằng đạn M16, M60 và M79. Những ‘thiên binh’ khác ném lựu đạn cũng nhanh như rút chốt an toàn vậy. Cối 60 ly của Riley rót vào giữa đội hình quân Bắc Việt với sự chính xác không ngờ. Đạn cối nổ tung, kéo theo nó tiếng kêu la cũa những lính địch bị thương hay hấp hối khiến cho cho lính dù cảm thấy yên tâm hơn về thế trận.

1 số ‘thiên binh’ đã đặt 1 khẩu trung liên M60 cùng 1 khẩu súng không giật 90mm trên miệng 1 hố bom tại điểm tiếp giáp giữa trung đội 2 và trung đội 3. Từ vị trí này họ có thể dội bão lửa vào quân xung kích Bắc Việt. Nhằm đối phó với hỏa điểm này, 1 số bộ đội lén bò lên và ném lựu đạn vào hố bom. Lính dù cũng kéo ra chỗ miệng hố và từ đó họ cũng cố dùng lựu đạn đánh bật lính Bắc Việt, nhưng ko thành công. 2 bên cứ tiếp tục ném lựu đạn qua lại cho đến gần hết đêm.

Khi đợt tiến công kết thúc, bộ đội Bắc Việt bắt đầu cấp tập bằng súng cối và súng B-40 vào lính Mỹ. Tiếng nổ của chúng trên đỉnh cao điểm cứ nối nhau liên hồi kỳ trận.

Thượng sĩ Babb cố hết sức nằm dán xuống đất để tránh những mảnh kim loại sắc lẻm bay vèo vèo chỉ cách đầu anh vài cm. Thậm chí anh ta còn tháo cả khóa dây lưng để dịch bao đựng đạn ra sau. Có chúng nằm trên khiến cho anh cảm thấy lưng mình bớt trống trải.

Trung tá Johnson nhìn thấy những vụ nổ từ trên không. Chiều nay đúng thật chẳng ra gì. Cả 4 đại đội của ông đều đang hành quân và chỉ trong vòng có mấy giờ, 3 trong số đó đã chạm trán với quân Bắc Việt. Cả 3 đại đội trưởng đều xin hỗ trợ, nhưng ko đủ phương tiện để chi viện cho tất cả.

Căn cứ vào báo cáo của các đại đội trưởng, Johnson nhận định đại đội Dog của đại úy Baird đang nguy ngập hơn cả. Ông bắt đầu chuyển hướng dành chi viện nhiều hơn cho Ngọc Cam Liệt.

Đại úy Baldridge đang hướng dẫn cho 2 máy bay phản lực F-100 bắn phá. Đạn đại bác 20ly của chúng cày xới vùng đất quanh đỉnh cao điểm. Có những lần chúng bắn gần đến nỗi mảnh đạn đã làm cho 1 số lính dù bị xây xát.

Khoảng 15g30, trung tá Johnson bất lực chứng kiến 1 chuỗi đạn cối nổ tung đang dịch dần về phía nhóm chỉ huy của Baldridge.

Trung sĩ Owens nằm bên trái Baldridge, tay trái nắm chặt khẩu M16, tay phải giữ ống nói của điện đài. Anh chuyển các thông điệp qua lại giữa Baldridge và Johnson trên tần số tiểu đoàn trong khi Baldridge chỉ đạo trên mạng đại đội cho các trung đội trưởng qua 1 điện đài viên khác nằm bên phải.

Bỗng Owens nghe thấy tiếng ai đó hét lên: “Đạn hụt tầm”. Anh hụp đầu xuống. Vụ nổ rất gần. Chấn động dữ dội khiến Owens bị rung lắc mạnh. Khi bụi lắng xuống anh mới ngóc đầu lên và vớ lấy ống nói. Sau nhiều lần cố gọi cho Johnson mà ko được, Owens mới vụt nhận ra sợi dây nối với ống nói đã bị cắt đứt. Có điều gì đó ko ổn đã xảy ra nhưng anh ko thể nhận biết. Tai anh ù lên rồi sau đó là những cơn đau nhói. Anh ko biết tại sao lại như vậy rồi ngất đi.

Quả đạn cối phát nổ gần như ngay giữa ban chỉ huy đại đội. Những mảnh sắt sắc nhọn bay vù vù trong không trung. Một mảnh lớn xuyên vào nách trái Owens, xe toạc cơ và làm đứt động mạch. Một mảnh đạn nóng đỏ găm trúng chân trái Baldridge, nó xuyên mạnh đên nỗi anh nghĩ cứ như mình bị ai đó đánh bằng gậy bóng chày vậy.

Nỗ lực che chắn phía sau của Babb đã vô ích. Mảnh đạn cối đã ghim trúng mông anh. Anh cảm thấy như bị 1 cú đá trời giáng, khiến người nâng lên cao khỏi mặt đất mấy mét rồi mới rớt xuống lại. Anh nằm choáng váng ở đó hết mấy phút cho tai hết ù và đầu óc hết mụ mị.

Khi ngước mắt lên anh thấy trung sĩ Owens đang nhìn mình chằm chằm. Owens nói” “Sếp ơi, tôi mất tay trái rồi.”


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 18 Tháng Bảy, 2014, 08:41:48 AM
Babb nghĩ rằng Owens đang bị sốc. Anh bò tới trong khi Owens cố ngồi dậy. Babb tới vừa kịp đẩy Owens ngã xuống rồi lấy thân mình che cho anh này khi làn đạn súng cá nhân vừa bắn sượt qua. Rồi Babb xem xét vết thương toang hoác bên trái của Owens. Động mạch bị cắt đứt đẩy dòng máu tím thẫm tuôn đầy mặt đất cứ sau mỗi nhịp tim Owens đập. Babb hét to: “Cứu thương! Cứu thương!”. Nhưng Doc Richardson đang bận xử lý 1 ca bị thương nặng khác. Vì vậy Babb đành thọc tay vào vết thương của Owens và kẹp chặt lấy động mạch.

Owens vẫn tiếp tục lúc mê lúc tỉnh. Trong 1 khoảnh khắc tỉnh táo anh nghe thấy giọng Johnson oang oang trên điện đài. “Bravo Kilo đâu? Bravo Kilo sao vậy?”

Trong cơn đau mụ mị, Owens nghe có người trả lời. “Nó Whiskey rồi”, có nghĩa là anh đã bị thương. Nghe vậy Owens bắt đầu chú ý.

Lát sau anh nghe giọng của y tá Richardson: “Cậu ta sắp chết rồi. Tôi sẽ tiêm morphine để cậu ta ra đi thanh thản.” Owens tự nhủ ko biết người lính cứu thương đang nói về ai rồi lại ngất đi mà ko biết có mũi kim đang xuyên vào tay.

Đại úy Baldridge nhanh chóng nhẩm tính và thấy ngoài mình ra còn có 7 người nữa bị thương vì quả đạn cối. Anh gọi điện cho trung úy Moore, chỉ huy trung đội có thâm niên cao nhất hiện còn sống và báo cho anh này biết việc mình đã bị thương “Chuẩn bị lên nắm quyền chỉ huy nhé.” Baldridge nói.

Sau đó Baldridge gọi điện báo cáo thiệt hại cho trung tá Johnson. Anh nói: “Tôi dính chấu rồi, thưa sếp, nên sẽ ko thể chỉ huy lâu hơn được nữa. Lima Six đang chờ thay quyền nhưng tôi nghĩ anh ta chưa được sẵn sàng lắm.”

Johnson đồng ý. Ông gọi điện cho đại đội trưởng đại đội chỉ huy của mình ở Bến Hét là đại úy Ron Leonard, chuẩn bị sẵn sàng lên tiếp nhận đại đội Bravo. Tiếp đó ông lệnh cho chiếc trực thăng của mình đáp xuống bãi đáp trên cao điểm. 3 người trong đó nhảy ra để hoạt động như 1 ban chỉ huy lâm thời. Lúc mà thiếu tá Richard M. Scott, tiểu đoàn phó tiểu đoàn 4/503; Đại úy Shirley W. Draper, sĩ quan liên lạc của tiểu đoàn 3/319 pháo binh; và thượng sĩ cố vấn Ted Arthurs chạy dưới làn đạn địch lên đỉnh cao điểm thì các ‘thiên binh’ khác khiêng 1 số thương binh nặng xuống chỗ chiếc máy bay đang chờ.

Trung sĩ Owens bị ném bừa lên trên chiếc trực thăng chỉ huy. Sàn máy bay bằng kim loại mát lạnh tiếp xúc với lưng làm anh cảm thấy yên tâm. Johnson cúi xuống và nói: “Cậu sẽ ổn thôi, con trai ạ.” Owens lại ngất đi.

Ngay sau đó, chiếc trực thăng bốc lên giữa 1 cơn mưa đạn súng trường và súng máy địch, rồi chuyển hướng và bay về Bến Hét.

Thượng sĩ Okendo đang theo dõi làn sóng điện đài tại căn cứ hành quân (TOC) ở Bến Hét. Khi nghe Babb đã bị thương anh biết ngay điều gì sẽ xảy ra sau đó. Okendo tự nhủ: “Chó chết! Vậy là đi tong mất kỳ nghỉ rồi.”

Anh đã đúng. Ít phút sau trung tá Johnson lệnh cho Okendo và Leonard chuẩn bị đợi máy bay bốc lên ngay. Họ sẽ đến đại đội Bravo. Okendo chạy đi tìm Leonard.

Đại úy Leonard mới lên làm đại đội trưởng đại đội chỉ huy tiểu đoàn được mấy ngày. Từ khi sang tiểu đoàn 4 hồi cuối tháng 7, Leonard vẫn đảm nhận vị trí sĩ quan tình báo (S-2).

Okendo tìm thấy Leonard trong sở chỉ huy. Anh nói với Leonard :“Tôi sẽ bám đít anh, thưa sếp. Ta sẽ ra trận.”

Hai người nhanh chóng ra ngoài đường băng. Leonard và Okend leo lên chiếc trực thăng của Johnson sau khi thương binh trên được chuyển xuống hết. Trong chuyến bay ngắn tới cao điểm 823 Johnson phổ biến tình hình cho Leonard. Viên đại úy gật đầu quả quyết khi đã hiểu rõ nhiệm vụ.

Khi trực thăng của Johnson lại đáp xuống thì giao tranh đã giảm bớt. Sau khi Leonard và Okendo nhảy ra thì những thương binh còn lại, bao gồm cả Baldridge và Babb đã được chuyển lên tàu đi sơ tán.

Đại úy Leonard nhận thấy tình hình đang dần ổn định. Thiếu tá Scott đang tổ chức lại các trung đội. Chuyển quân từ trung đội Moore tới tăng cường cho phần đang bị đe dọa của chu vi phòng thủ. Đại úy Draper đã gọi pháo binh dựng lên 1 hàng rào lửa bảo vệ.

Thượng sĩ cố vấn Arthurs cùng thượng sĩ Okendo đi vòng quanh chu vi phòng thủ. Họ bảo lính dù gia cố lại công sự ở những nơi cần thiết. Cả 2 biết bộ đội Bắc Việt sẽ trở lại vào ban đêm và muốn tất cả các binh sĩ phải sẵn sàng.

Sau đó Okendo gọi về xin tiếp tế đạn và lựu đạn. Lúc 18g30, trực thăng chở chúng lên đến. Okendo trông coi việc phân phối đạn dược cùng đồ tiếp tế rồi tất cả cùng bình tĩnh chờ đợi cuộc tiến công sẽ xảy ra. Gần 20g, lính ở phía tây chu vi phòng thủ báo nghe thấy tiếng động phía dưới. 1 ‘thiên binh’ thận trọng thò đầu ra lén nhìn xuống từ miệng 1 hố bom và thấy 1 lính Bắc Việt đang cách đó chưa đầy 5m. Tay lính dù nâng súng lên hạ ngay người lính địch.

Ngay sau đó là hàng loạt lựu đạn cùng đạn B-40 và 1 vài trái đạn cối bắn lên đỉnh cao điểm. Bộ đội Bắc Việt dùng hỏa tiễn bắn quấy rối đại đội Bravo suốt đêm. Địch quân đã nhiều lần thậm chí dùng cả đất đá ném vào chỗ lính dù tìm cách bắt họ bộc lộ vị trí, nhưng các thành viên đại đội Bravo rất tuyệt vời trong việc tuân thủ kỷ luật khai hỏa.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 21 Tháng Bảy, 2014, 09:33:14 AM
Trung sĩ Leo Hill chiếm lĩnh vị trí cùng với người bạn thân là Specialist 4th Diaz và 1 lính công binh. Suốt đêm dài Hill đã nhiều lần nghe thấy tiếng quân Bắc Việt lén lút di chuyển trên sườn dốc phía dưới. Để đáp lại, Diaz giương khẩu M79 thẳng lên trời rót đạn xuống và tất cả lại hụp xuống mỗi khi có hỏa tiễn bắn tới rồi phát nổ cách đó chỉ từ 15 đến 20m.

Cậu lính công binh, mà Hill chưa bao giờ biết tên, có lúc đã bò về chỉ huy sở để lấy thêm lựu đạn. Cậu ta mang về 50 quả và cùng Hill sử dụng hết trước khi trời sáng.

Bảo vệ trên trời cho lính dù là những máy bay Hỏa Long với dàn minigun kinh khiếp của nó. Những phi tuần C-47 yểm trợ hỏa lực cho đại đội Bravo cũng hiệu quả như với đại đội Dog. Đám lính tráng ở cả 2 nơi đều cảm thấy dễ chịu khi thấy ánh sáng của những viên đạn vạch đường do các khẩu minigun tưới xuống. Mỗi phút có tới hàng ngàn viện đạn cày xới mặt đất xung quanh chân cao điểm 823. Thỉnh thoảng chúng bắn gần các ‘thiên binh’ đến nỗi họ phải lo ngại. Trung sĩ Hill đã mấy lần bị đất đá văng trúng khi đạn cày ngay phía trước hầm chiến đấu. Anh lo sợ bị chính đạn quân nhà 'xơi' phải khi đang ở trong công sự.

Máy bay thả pháo sáng Spooky cũng lượn vè vè trên đầu cả đêm. Những quả pháo sáng có độ sáng bằng 1 triệu ngọn nến cộng lại được thả xuống cứ mỗi 15 phút, nhuộm lên cảnh vật xung quanh tràn ngập 1 thứ anh sáng kỳ ảo.

Ngay khi trận đánh nổ ra chiều hôm ấy, tiền sát viên của trung sĩ Riley là trung sĩ John (“Mike”) Jeakle, đã tìm cách bò ra tận rìa tây chu vi phòng thủ. Từ cái vị trí trơ trụi đó, anh lính 21 tuổi quê Detroit, người từng bỏ học để đăng lính dù hướng dẫn cho đạn cối rót đều đều xuống đầu quân Bắc Việt.

Lúc tối Jeakle vẫn ở vị trí đó. Anh cũng nghe thấy tiếng quân địch di chuyển bên dưới. Anh ước lượng vị trí quân Bắc Việt rồi báo phần tử cho Riley. Tiếng la hét của lính địch bị thương báo cho anh biết những gì mình ngắm trong đêm tối là chính xác.

Có 1 lính địch đặc biệt quấy rối Jeakle. Lính tráng gán cho hắn ta biệt hiệu “cao bồi” vì hắn hay xông ra chỗ trống hét “Yahoo!” ném lựu đạn lên trên đồi rồi lại mất dạng trong bụi tre. Jeakle đã mấy lần định hạ hắn bằng đạn cối 60mm nhưng người lính địch phiền toái toàn thoát được. Bằng cách cẩn thận tính toáng cự ly tiếng hét của ‘cao bồi’, cuối cùng có thể Jeakle đã hạ được anh ta bằng 2 quả đạn hay ít nhất sau đó cũng ko còn nghe thấy tiếng hét “Yahoo!” nữa.

Suốt đêm lính dù trên tuyến đầu cứ gọi cho Jeakle bảo anh “Rót gần hơn nữa”. Anh hiệu chỉnh qua điện đài cho Riley bắn và rót đạn sát phòng tuyến nhất có thể. Chính Jeakle cũng bị những vụ nổ làm xây sát nhưng đây là điều cần thiết để ghìm chặt quân Bắc Việt. Những trái đạn cối đạt hiệu quả cao của Riley cùng với sự hiệu chỉnh chính xác của Jeakle đã góp phần quan trọng cho sự sống còn trên cao điểm 823.

Dù có sự hiện diện đông đảo của các loại hỏa lực chi viện, 1 số bộ đội Bắc Việt vẫn bò vào gần được để tấn công lính dù. Vào khoảng 5g sáng, có 10 lính địch từ 1 cái rãnh xông thẳng điểm tiếp giáp giữa trung đội 1 và trung đội 3.

Được súng RPG yểm trợ, quân Bắc Việt xung phong lên đồi sau khi ném 1 loạt lựu đạn. Suýt chút nữa thì địch đã chọc thủng chu vi phòng thủ. Chỉ có tinh thần điềm tĩnh can đảm của các thiên binh mới ngăn ko cho việc đó xảy ra. Trung sĩ tiểu đội trưởng Cabrera đã tử trận trong khi chỉ huy lính dưới quyền đẩy lùi cuộc tiến công khi lãnh nguyên 1 quả RPG bắn đến.

Sáng ra, đại úy Leonard cho đánh dấu vị trí đại đội bằng lựu đạn khói. Máy bay phản lực của không quân nhanh chóng nã rocket, thả bom oanh kích xuống cách đại đội tầm 200m. Tiếp đó, những chiếc phản lực khác ném nalpam xuống các sườn đồi xa hơn. Sau đó trực thăng vũ trang của đại đội Cao Bồi cũng đến tưới thêm hỏa lực xuống cao điểm.

Trong khi máy bay phản lực đang ném bom, 1 số bộ đội Bắc Việt đã tìm cách leo lên rìa ngoài của hố bom bên đầu tây chu vi phòng thủ. Thượng sĩ Okendo vừa nằm xuống cạnh binh nhất Wilbanks ở bờ bên kia hố bom bên phía đại đội Bravo thì quân Bắc Việt nhảy vào định tấn công lên. Okendo gan dạ nhô ra và dùng súng M16 bắn chết người lính đối phương đi đầu. Những lính địch khác bỏ chạy. Okendo và Wilbank xông tới rìa hố bom bên kia, ném lựu đạn truy kích.

Khi trực thăng vũ trang hoàn tất phi vụ, Leonard lệnh cho Proffitt cho quân xuống thám sát đường sống núi dẫn sang phía tây. Họ sẽ lục soát và thu súng đem về nếu tìm thấy xác địch.

Proffitt dẫn 1 toán lính dù rời chu vi phòng thủ. Họ thận trọng luồn qua đám cây cố gãy đổ và bụi rậm rồi di chuyển xuống dốc. Chỉ trong 15m đầu tiên họ đã tìm thấy từ 15 đến 20 xác lính Bắc Việt, nhiều xác trong số đó nằm trong tầm lựu đạn của Hill và Diaz. Hầu hết xác địch đều đã nát bấy do hiệu quả chết người vì mấy khẩu cối của trung sĩ Riley.

Đi xuống được nửa chừng thì toán thám sát bị súng cá nhân địch bắt đầu bắn. Sau khi tất cả đã ẩn nấp, Proffitt gọi súng cối. Trung sĩ Riley thuần thục rót 15 quả đạn cối xuống khu vực nghi có quân Bắc Việt. Súng địch thôi bắn. Toán thám sát lại tiến tiếp.

Thượng sĩ cố vấn Arthurs và thượng sĩ Okendo cũng ra khỏi chu vi phòng thủ sau toán thám sát của Proffitt. Khi toán thám sát đi xuống Okendo nghe thấy tiếng kêu của 1 thương binh Bắc Việt. Nếu như anh ta còn sống thì Okendo muốn bắt sống. Họ tìm thấy nhưng người này có vẻ ko sống được. Tuy thế anh ta vẫn cố giương súng về phía 2 hạ sĩ quan. Trước khi Okendo hay Arthur kịp phản ứng thì 1 lính dù cạnh đó đã nổ súng bắn chết người lính Bắc Việt.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 22 Tháng Bảy, 2014, 12:11:50 PM
Okendo tháo cái máy ảnh luôn đeo trên cổ ra và đưa nó cho tay lính dù. Anh bảo người lính “Chụp đê.” Rồi Okendo và Arthurs tới ngồi xổm sau cái xác để cho người lính chụp ảnh.

Toán thám sát của Proffitt đã tiến tới cuối sống đồi và đi sâu vào những bụi tre nứa quanh đó thêm 100m. Gần chân cao điểm họ thấy 1 cây cao có thang dây. Proffitt bảo Specialist 4 Ramirez leo lên thang. Khi leo tới nơi anh lính trẻ reo lên là từ trên này có thể nhìn thấy căn cứ pháo binh 12 rõ mồn một.

Xung quanh khu vực này, lính dù tìm thấy 1 lượng lớn đồ trang bị còn mới của đối phương, từ súng ống cho đến mặt nạ phòng độc. Các ‘thiên binh’ rất đỗi ngạc nhiên trước chất lượng của những đồ trang bị này. Hiển nhiên là quân Bắc Việt cũng được trang bị tốt như họ.(?)

Lúc 8g toán thám sát của Proffitt lên dốc lại, họ cẩn thận càn quét 2 bên đường sống đồi. Thêm những bằng chứng nữa phơi bày mức độ tàn phá khủng kiếp của hỏa lực quân Mỹ khi họ tìm thấy thêm nhiều xác chết ko toàn vẹn nữa.

1 lính của Proffitt phát hiện 1 cái hầm chiến đấu lớn có nắp che nằm rất kín. Ngay lối vào hầm có 1 xác bộ đội Bắc Việt. Trung sĩ Wiggins liền xuống lục soát cái xác để tìm tài liệu cho tình báo. Khi anh này vừa nhảy xuống thì bị 1 lính Bắc Việt khác ở trong hầm dùng súng lục bắn. Wiggins, ko hề hấn gì, vội tìm chỗ nấp. Lính dù vây quanh hầm hét lớn gọi người lính Bắc Việt ‘chiêu hồi’ nhưng anh ta chỉ trả lời bằng 1 phát súng nữa.

Okendo kêu đưa lựu đạn lân tinh đến (white phosphorous grenade). Wiggins đưa cho anh 1 quả và Okendo thảy nó vào hầm. Đúng lúc đang thảy thì người lính địch bắn thêm 1 phát súng lục nữa, viên đạn găm trúng cổ tay Okendo.

Khi trái lựu đạn lân tinh đốt hết khí oxy trong hầm thì người lính Bắc Việt chỉ có 2 lựa chọn: Chết ngạt hoặc chạy. Anh ta từ trong hầm lao ra, khẩu súng lục điên cuồng nhả đạn. Specialist 4 Worrel, xạ thủ M60, đốn ngã tay lính địch bằng 1 loạt đạn. Dù đã bị trúng 5, 6 phát đạn trung liên, người lính Bắc Việt vẫn còn thở. Okendo bước đến về kết thúc cho anh này bằng 1 phát đạn vào đầu. Người lính địch được xác nhận là sĩ quan, trên người có mang 1 số tài liệu và lính dù đã tịch thu để lấy thông tin tình báo. Trung sĩ Wiggin lấy khẩu súng lục của người lính Bắc Việt, 1 lính khác thì lấy cái mặt khóa thắt lưng.

Toán thám sát của Proffitt kết thúc cuộc càn quét mà ko thấy 1 lính địch còn sống nào. Dường như đối phương đã rút lui do ngán sợ hỏa lực áp đảo của Mỹ. Khi thiếu úy Proffitt về tới chu vi phòng thủ, đại úy Leonard gọi các sĩ quan đến để bàn kế hoạch kế tiếp. Cùng lúc đó, thượng sĩ Okendo tổ chức đi thu dọn xác quân địch. Cả thảy có hơn 100 xác lính Bắc Việt được thu nhặt và ném xuống hố bom ở đầu tây cao điểm. Sau đó mới tính toán đến con số thương vong của đại đội Bravo. Okendo gọi điện báo cho trợ lý tiểu đoàn rằng đại đội Bravo có 9 tử trận và 28 bị thương.

Cao điểm 823 cũng cho 1 số toán quân nhỏ ra tuần tiễu cho đến hết ngày. Thêm 1 ít xác địch nữa được phát hiện. Những thứ tìm thấy trên các xác chỉ ra đối phương thuộc 1 bộ phận của trung đoàn 66.

Vào cuối buổi sáng, trung tá Johnson với điện đài viên là Sp4 Stanley Jones tháp tùng, đã đáp xuống cao điểm 823. Mặc dù cao điểm vẫn thỉnh thoảng bị đạn cối địch bắn phá, Johnson vẫn tới lui, nói chuyện với lính dù, tuyên dương bọn họ. Trong khi chờ phần còn lại của tiểu đoàn lên đến cao điểm 823, thì trung tá Johnson nhận được quân tăng viện. Tướng Schweiter đã điều đại đội Charlie, tiểu đoàn 1/503 sang cho tiểu đoàn 4. Vào khoảng 13g, trực thăng chở quân đã bắt đầu đưa họ lên cao điểm 823, và từ giờ là căn cứ pháo binh 15.

Chiều ngày 8 tháng 11, đại đội Bravo được rút khỏi cao điểm 823. Trung tá Johnson vẫn còn muốn truy kích kẻ thù nhưng tướng Schweiter lại muốn cho tiểu đoàn nghỉ ngơi ít hôm. Trong khi các đại đội khác của tiểu đoàn 1/503 tiến lên cao điểm 823. Thì tiểu đoàn của Johnson về chiếm lĩnh vị trí quanh Bến Hét. Những ngày kế tiếp họ sẽ làm nhiệm vụ đảm bảo đường giao thông và tuần tiễu ở mạn tây và bắc căn cứ pháo binh 12.

Nhiều đoàn khách tham quan toàn các vị tai to mặt lớn đã bay đến Bến Hét để nghe báo cáo về các trận đánh vừa xảy ra gần đây. Trong số đó có cả thủ tướng VNCH Nguyễn Cao Kỳ và tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Có lần trung tá Johnson vừa ra khỏi chiếc trược thăng chỉ huy thì đã thấy tư lệnh phó MACV là tướng Creighton W. Abrams đã đợi sẵn tại căn cứ pháo binh 12.

“Hãy nói cho tôi biết cái gì đã diễn ra ở đây nào, trung tá.” Abrams hỏi Johnson.

Johnson  đáp:“Tôi ko thể kể cho sếp nghe chuyện của lữ đoàn, nhưng tôi sẽ rất vui khi được kể về tiểu đoàn mình.”

Abrams chấp thuận và được Johnson dẫn vào trung tâm hành quân. Ở đó ông cùng với viên sĩ quan hành quân đang há hốc mồm vì ngạc nhiên ứng biến ngay 1 bài báo cáo cho vị thượng cấp. Ít lâu sau 1 nhóm sĩ quan tham mưu đầu não lữ đoàn đi xuống trung tâm hành quân và hộ tống Abrams về bộ chỉ huy lữ đoàn.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 23 Tháng Bảy, 2014, 08:39:58 AM
Chiều ngày 9 tháng 11, thượng sĩ Okendo nhận được tin nhắn của trung tá Johnson bảo ra trình diện tại bãi đỗ trực thăng. Anh có khách tới thăm. Okendo tự hỏi ko biết tên quái nào mà lại đến thăm mình nhỉ?

Tại bãi đỗ trực thăng, Okendo được đại tá William J. Livsey, trưởng ban 3 (hành quân) sư đoàn 4 bộ binh chào đón nhiệt tình cùng với cả thiếu tướng Peers tư lệnh sư 4. 15 năm về trước, khi còn là thiếu úy mới toe ở Triều Tiên, Livsey là trung đội trưởng của Okendo. Hai người cựu binh vui vẻ hàn huyên với nhau 1 lúc rồi sau đó tướng Peers lắng nghe Okendo trả lời các câu hỏi của Livsey về trận đánh trên cao điểm 823.

Livsey chuyển đến sư đoàn 4 bộ binh cuối tháng 6. Ông lập tức bắt tay vào nghiên cứu các chiến dịch của sư đoàn 4 ở chiến trường Tây Nguyên, trong đó có cả trận đánh của tiểu đoàn 2/503 ngày 22 tháng 6 và đã rút ra được 1 số kết luận. Tác chiến trên Tây Nguyên phải dùng chiến thuật khác hẳn. Bất kỳ đơn vị nào hành quân trong rừng, kể cả cấp tiểu đoàn, đều phải nằm trong cự ly mà các đơn vị có thể khác dễ dàng tăng viện. Không được phép đưa các đơn vị nhỏ riêng lẻ ra chiến trường vì quân Bắc Việt sẽ nhanh chóng cô lập, bao vây và tiêu diệt chúng ngay.

Thêm nữa, ông cho rằng các đơn vị mặt đất của Mỹ ko nên để bị lôi kéo vào chiến đấu với các lực lượng Bắc Việt trong công sự. Họ cũng có thể nhanh chóng bị mất đi ưu thế hỏa lực nếu sa vào lối đánh cận chiến. Livsey kết luận rằng lữ 173 sử dụng hỏa lực pháo binh yểm trợ quá ít. Ông cũng cho rằng pháo binh của họ hay ngừng lại để trực thăng vũ trang và máy bay phản lực vào oanh tạc, thả bom. Trực thăng vũ trang và máy bay phản lực thì thường ko đạt hiệu quả khi đánh xuống những tán cây rừng rậm rạp. Hơn nữa, ông tin rằng việc pháo binh ngưng bắn sẽ cho phép quân Bắc Việt áp sát chu vi phòng thủ của lính Mỹ, và lại càng làm giảm thêm hiệu quả của phi pháo.

Livsey ưu tiên cho việc tung ra các đơn vị trinh sát nhỏ để tìm kiếm những nơi tập trung quân Bắc Việt. 1 khi đã phát hiện thấy thì sẽ dùng hỏa lực pháo binh với số lượng lớn, cùng không quân chiến thuật đánh cho đến khi quân Bắc Việt bị tiêu diệt rồi sau đó mới cho bộ binh lên hành quân càn quét.

Livsey đã thử truyền đạt những kết luận của mình cho các sĩ quan hành quân, cũng như các tiểu đoàn trưởng của lữ đoàn 173, nhưng ko có kết quả. Bọn họ chẳng mảy may quan tâm. Ông cảm thấy dường như đám lính dù ko muốn nghe bộ binh dạy họ cách chiến đấu.

Vài tuần nữa sẽ tới và khi đó Livsey sẽ ước rằng phải chi đám dù chịu nghe lời mình.


 







Chương 9
Task Force Black






Lực lượng tăng viện của đồng minh vẫn đang được đổ vào Đắk Tô ngay cả sau khi tướng Rosson đã đưa lên đó 2 tiểu đoàn cuối cùng của lữ 173 (tướng Schweiter lý luận rằng tiểu đoàn 3 quá mới để có thể cho lên Tây Nguyên nên vẫn để họ lại Tuy Hòa thực hiện tiếp chiến dịch Bolling). Tướng Peers cũng điều động tiểu đoàn 1, trung đoàn 8 thuộc lữ đoàn 2 của mình từ Đắc Lắc lên Đắk Tô tăng phái cho lữ đoàn 1. Trong mấy ngày nữa, tướng Rosson sẽ chuyển thêm cho Peers 2 tiểu đoàn của sư đoàn 1 kỵ binh bay nữa là tiểu đoàn 1, trung đoàn 12 kỵ binh và tiểu đoàn 2, trung đoàn 8 kỵ binh.

Ngoài ra, tiểu đoàn 9 nhảy dù VNCH cũng từ Sài Gòn bay lên Đắk Tô trong lúc họ đang tham gia vào việc xây dựng lực lượng tổng trừ bị của nam VN. Tướng Peers đặt họ ở phía đông nam Đắk Tô để đối phó với trung đoàn 24 Bắc Việt. Tiểu đoàn 2, trung đoàn 42 VNCH sẽ đảm nhiệm việc bảo vệ khu vực đầu não của Đắk Tô, mà lúc này đã bao gồm bộ chỉ huy tiền phương sư đoàn 4 bộ binh cũng như bộ chỉ huy của tướng Schweiter. Tiểu đoàn 2, trung đoàn 42 cũng tiến hành tuần tra đường 512 cắt ngang Đắk Tô và Bến Hét , đường này đi sang phía tây nhập vào quốc lộ 14 ở Tân Cảnh rồi chạy sang Lào.

Bộ tổng tham mưu quân lực VNCH sẽ sớm cho thay tiểu đoàn 9 nhảy dù bằng tiều đoàn 3 dù. Rồi thì tiểu đoàn 2 nhảy dù và tiểu đoàn 3, trung đoàn 42 VNCH cũng lên tham gia. Cả 3 tiểu đoàn VNCH này sẽ tập trung nỗ lực đối phó với trung đoàn 24 Bắc Việt.

Tướng Rosson tăng thêm các tiểu đoàn cơ động vì những trận đụng độ với quân địch ngày càng nhiều lên. Gần như tất cả các lực lượng đang tuần tiễu quanh Đắk Tô đều chạm trán với các đơn vị Bắc Việt mà họ đã xác định từ trước. Ngày 7 tháng 11, chỉ cách cao điểm 830 về phía đông 3km, đại đội Alpha và đại đội Dog, tiểu đoàn 3, trung đoàn 8 đã bị tập kích, thiệt hại gồm có 10 chết, 35 bị thương. Sáng sớm hôm sau có thêm 8 lính cũng thuộc các đại đội này bị thương do 1 trận pháo kích bằng súng cối. Đến 18g30 cũng tại nơi này, diễn ra 1 trận tiến công dữ dội kéo dài 3 giờ đồng hồ của bộ đội Bắc Việt nhằm vào đại đội Alpha và đại đội Dog. Lại có thêm 11 lính Mỹ tử trận và 38 bị thương sau khi trận đánh kết thúc.

Trên sườn tây của cao điểm 1338, đại đội Charlie và đại đội Dog, tiểu đoàn 3, trung đoàn 12 cứ đi mỗi 1500 đến 2000m là phát hiện thấy những vị trí của đối phương có công sự tốt. 1 trận giao tranh ngắn ngủi sẽ nổ ra sau đó, pháo binh sẽ dập xuống đầu quân Bắc Việt, rồi lính Mỹ mới tiến lên đếm xác. Thường thì lại có hơn 1 chục xác địch và 2 đại đội sẽ bị mất từ 4 đến 5 người.

Đại đội thứ 3, đại đội Bravo, gia nhập với đại đội Alpha và Dog tiểu đoàn 3/8 ngày 9 tháng 11. Ngày kế tiếp, trong khi các đại đội đang di chuyển theo 1 sống núi chạy tới cao điểm 724, bộ đội Bắc Việt lại đột kích. Trận đánh khốc liệt diễn ra cho tới tận ngày hôm sau. Chỉ đến khi có sự tham gia với qui mô hùng hậu của phi pháo thì cuộc tiến công của địch mới bị bẻ gãy. Quân Bắc Việt để lại 92 xác đồng đội trên chiến trường. 18 lính bộ binh Mỹ tử trận, gần 120 bị thương. Mức độ thương vong cao đã khiến cho các đơn vị này kiệt sức, quân số của 1 đại đội chỉ còn 44, đại đội khác là 59; đại đội đông nhất thì cũng chỉ còn 79 quân.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 24 Tháng Bảy, 2014, 08:59:34 AM
Dù hiển nhiên với tướng Rosson và Peers là việc quân đồng minh ùn ùn đổ vào Đắk Tô đã khiến nguy cơ quân Bắc Việt tràn ngập căn cứ giảm đi nhiều, nhưng cũng họ cũng đã thấy đối phương ko hề có ý định từ bỏ vùng này cho Mỹ.

Để duy trì sức ép lên quân Bắc Việt, tướng Schweiter lệnh tăng cường cho trận địa pháo trên cao điểm 823. Căn cứ pháo binh 15 sẽ ko chỉ là nhà của pháo đội Charlie, tiểu đoàn 3/319 mà còn là sở chỉ huy của tiểu đoàn 1/503 khi nó lên tuần tiễu trong vùng hành quân được tiểu đoàn 4/503 bàn giao lại.

Đại tá John J. Powers, tư lệnh phó lữ đoàn từ hôm 1 tháng 11 cũng đặt sở chỉ huy tiền phương của lữ trên căn cứ pháo binh 15. Powers, 44 tuổi, tốt nghiệp học viện West Point năm 1945 đã công tác trong bộ tham mưu của quân đội Mỹ ở nam VN đóng tại Long Bình trong 6 tháng trước khi tới thay cho đại tá McQuarrie. Tuy thế ông cũng chẳng lạ gì những trận đánh khốc liệt. Ở Triều Tiên ông là 1 đại đội trưởng của sư đoàn 3 bộ binh và đã được thưởng huân chương chữ thập bội tinh vì lòng dũng cảm.

Tướng Schweiter lệnh cho tiểu đoàn 1/503 của trung tá David J. Schumacher truy kích đơn vị Bắc Việt đã chiến đấu với đại đội Bravo tiểu đoàn 4/503 hôm mồng 6 tháng 11 và ngăn ko cho bất cứ đơn vị Bắc Việt nào khác bén mảng gần Đắk Tô.

Trung tá Schumacher chỉ còn gần 3 tháng là kết thúc kỳ hạn phục vụ khi đưa tiểu đoàn 1/503 của mình lên căn cứ pháo binh 15 vào ngày mồng 9 tháng 11 năm 1967. 6 tháng đầu tiên trong kỳ hạn phục vụ ông là lữ đoàn phó (brigade's executive officer), xử lý thường vụ. Dù đây là 1 công việc vô thưởng vô phạt nhưng ông vẫn bị mang tiếng là sĩ quan hãnh tiến ít quan tâm, đồng cảm với cấp dưới.

Không được như Powers, Schumacher chỉ đơn giản là 1 sĩ quan muốn kiếm thêm cơ hộ thăng tiến sau khi đã tìm cách được chỉ huy 1 tiểu đoàn chiến đấu trước khi về Mỹ để nhận công việc nhàn nhã rồi thăng lên đại tá. Schumacher là 1 tiểu đoàn trưởng hợp chuẩn, đúng thế, nhưng ko bao giờ tạo dựng được sự trung thành của cấp dưới hay sự ủng hộ của cấp trên như thường vẫn tồn tại giữa các chiến hữu cùng binh chủng dù.

Để thực hiện sứ mệnh được giao, trung tá Schumacher lập ra 2 đội đặc nhiệm (task forces). Task forces Black bao gồm đại đội Charlie và 2 trung đội của đại đội Dog. Task forces Blue có đại đội Alpha và trung đội còn lại của Dog. Đại đội súng trường thứ 4 của Schumacher, đại đội Bravo, do đại úy Jerry Draper chỉ huy sẽ ở lại bảo vệ căn cứ pháo binh 15.

Chỉ huy đại đội Charlie là đại úy Thomas McElwain, 26 tuổi. McElwain sinh trưởng tại Logan, Tây Virginia, đã bỏ học để nhập ngũ từ năm 17 tuổi. Anh đã có 6 năm làm chuyên viên sử dụng chất nổ, và lấy bằng trung học vào những giờ rảnh rỗi. Năm 1963 vì muốn gầy dựng sự nghiệp trong quân ngũ nên xin đi học sĩ quan. Đến tháng 10 năm đó thì anh được gắn lon vàng thiếu úy.

Tháng 8 năm 1967, McElwain đến nam VN sau 1 kỳ hạn phục vụ với cương vị chỉ huy 1 đội danh dự của LHQ tại Nam Triều Tiên. Tháng 9, anh nhận quyền chỉ huy đại đội Charlie từ đại úy Kirby Smith. Vì đại đội Charlie những tháng gần đây ít đụng độ với kẻ thù, nên McElwain muốn xây dựng 1 số bài ôn luyện để cho lính dù ko bị trì trệ, nhưng việc này ko cần thiết. Nhiệm vụ đầu tiên trong cương vị đại đội trưởng đại đội Charlie là đi vào 1 bãi đáp ‘nóng’ ở phía tây Tuy Hòa. Khi trực thăng Huey đang đổ lính dù xuống đất thì đạn VC đã bay vèo vèo trong ko trung và McElwain thấy quân của mình lại trở nên hoạt bát như những chiến binh dù tinh nhuệ ngày nào.

Dù cho ban đầu bị các lính cựu trong đại đội Charlie đánh giá là quá hung hăng khi ham đánh nhau với kẻ địch, McElwain vẫn nhanh chóng được binh sĩ quí mến. Điều này càng trở nên rõ rệt hơn khi trái với địa vị của mình, anh lại thích lính tráng trong đại đội hơn là các sĩ quan. Anh nhậu nhẹt, đánh bạc và nói chuyện gái gú với bọn họ. Anh chơi đàn ghi ta và hát cứ như Glen Campbell (ca sĩ nhạc đồng quê nổi tiếng của Mỹ.ND) vậy. Lính tráng tôn sùng anh và sẵn sàng xông đến tận Hà Nội nếu anh yêu cầu.

McElwain nổi tiếng đến nỗi có cả ‘lính hầu’ riêng (batman). Specialist 4 Darryl Fitch, lái xe và lính liên lạc cũ của đại úy Smith giờ chuyển qua chăm sóc McElwain. Khi đi hành quân thì Fitch đào hầm, căng lều và nấu ăn cho McElwain. Viên đại úy đặc biệt khoái khẩu món đào và bánh bông lan, những thứ rất hiếm khi có trong khẩu phần C (khẩu phần ăn dã chiến. ND). Fitch đã dành nhiều thời gian kỳ kèo thương lượng với những lính khác nhằm lấy đào hộp và bánh về cho sếp. Theo ý kiến của Fitch thì McElwain ko những là sĩ quan giỏi nhất mà còn là con người tốt nhất mà anh từng biết.

Đại úy McElwain ngay lập tức thấy ko ưa trung tá Schumacher. Anh cũng cảm thấy Schumacher là điển hình của bộ phận sĩ quan háo danh trong quân ngũ. Anh coi viên tiểu đoàn trưởng là 1 kẻ cơ hội, chỉ biết lo thăng tiến, tìm kiếm vinh quang cho bản thân hơn là lo cho binh sĩ. Ví dụ như sau 1 cuộc hành quân thông thường ở Tuy Hòa, Schumacher đã lệnh ban tham mưu chuẩn bị đề xuất khen thưởng huân chương sao bạc cho mình.

McElwain biết đây là thành tích xạo và công khai tỏ vẻ hài lòng khi thấy trên lữ đoàn đã từ chối đề xuất đó.

Việc McElwain ghét Schumacher là việc lính tráng trong đại đội Charlie ai cũng biết. Mọi lần khi thấy Schumacher bay trực thăng lên sở chỉ huy của mình là McElwain lại bảo lính ném trái khói để báo cho phi công biết hướng gió. Lúc đó thế nào cũng sẽ có người đáp “Khói mà làm đếch giề. Ném 1 trái nổ cho rồi” và McElwain lại cười phe phé.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 25 Tháng Bảy, 2014, 09:07:23 AM
Ngày 8 tháng 11, trước khi rút khỏi cao điểm 823, thấy McElwain trả lời cuộc gọi của sĩ quan tiếp vận (S-4) về danh sách đồ tiếp tế anh cần là nước. Schumacher chen vào và bảo McElwain rằng: “Charlie Six, người ta ko dùng nước để thắng trận, chúng ta ko lãng phí trực thăng để chở nước. Dưới chân cao điểm có suối đó, cho quân tuần tiễu xuống đó mà lấy.”

McElwain miễn cưỡng lệnh cho trung úy Charles Brown chỉ định quân đi lấy nước. Anh kia tuân lệnh và tiểu đội này đã vấp phải quân Bắc Việt. Hậu quả của cuộc đọ súng là binh nhất John M. Kapeluck bị chết. Đó là 1 bi kịch, cái chết lãng nhách của Kapeluck khiến cho lính đại đội Charlie càng ghét Schumacher hơn.

Chỉ huy đại đội Alpha và cũng là chỉ huy trưởng Task Force Blue (đội đặc nhiệm Xanh. ND) là đại úy David Jesmer, 31 tuổi. Anh là 1 người to con cao tới 1m90 nặng gần 100 cân. Sau khi tốt nghiệp cao đẳng năm 1959, anh nỗ lực để tới chơi bóng cho đội New York Giants và San Francisco 49ers nhưng ko thành nên đã tham gia khóa đào tạo sĩ quan dự bị ROTC để vào phục vụ trong quân đội. Anh được tướng Westmoreland tuyển về chơi cho đội tuyển bóng bầu dục của sư đoàn dù 101 tại căn cứ Fort Campbell. Jesmer phục vụ được 2 năm rồi giải ngũ về quê ở Sacramento, California và làm việc cho 1 ngân hàng ở địa phương.

2 năm sau đó, tháng 1 năm 1965, sau khi chán làm việc trong ngân hàng, Jesmer lại nhập ngũ. Tháng 5 năm 1967, Jesmer sang nam VN. Sau 1 thời gian làm sĩ quan hành quân của tiểu đoàn 1/503, đến tháng 7 thì anh tới nắm đại đội Alpha. Jesmer được trực thăng vượt mưa bão chở tới nhiệm sở. Anh đáp xuống cao điểm 882, cách Bến Hét về phía nam 10km.

Jesmer đã bị sốc trước nhưng gì mình nhìn thấy. Dù trên danh sách đại đội có đông hơn, nhưng ngoài này chỉ có khoảng 85 lính. Anh gọi điện cho đại đội phó thu dung tất cả những người ko quan trọng ở tuyến sau đưa ra tiền tuyến ngay lập tức. 24 giờ sau đó, có thêm 50 người nữa góp mặt. Từ lúc này đại đội Alpha ko còn tên trốn việc nào nữa.

Trong mấy tuần kế tiếp, Jesmer chỉ huy đại đội tuần tiễu rộng khắp trên khu vực. Họ tìm được rất ít dấu vết của quân Bắc Việt. Thỉnh thoảng, trong đêm tối họ có nghe tiếng lính địch nhưng ko bao giờ nhìn thấy ai cả. Có lần Jesmer lần theo 1 lối mòn mới lên trên cao điểm 875 nhưng cũng ko thể tiếp cận được đối phương. Anh có cảm giác bộ đội Bắc Việt được lệnh né tránh quân Mỹ. Mãi đến khi đại đội Alpha chuyển đến Tuy Hòa thì họ mới đụng độ với quân địch. Trong cuộc chạm súng ngắn ngủi này, 1 số VC đã bị giết.

Để chuẩn bị cho lính đón nhận những trận tấn công ác liệt chắc chắn sẽ xảy ra, Jesmer tập trung vào công tác huấn luyện. Nguyên tắc chủ yếu của anh nếu khi trung đội xích hầu đụng địch, thì nó phải tổ chức phòng ngự theo hình mũi của móng ngựa ngay lập tức. 2 đại đội súng trường kia sẽ làm thành 2 chân của móng ngựa, trong khi trung đội hỏa lực sẽ bảo vệ phía sau. Sở chỉ huy đại đội sẽ nằm giữa chu vi phòng thủ. Với đội hình thế này Jesmer nghĩ đại đội mình sẽ là 1 chướng ngại lớn mà kẻ thù khó lòng đè bẹp.

Không như McElwain, đại úy Jesmer có quan hệ tốt với trung tá Schumacher hơn. Jesmer cho rằng Schumacher là 1 tiểu đoàn trưởng rất cừ với việc ra lệnh và hướng dẫn họ thực thi 1 cách chuyên nghiệp. Jesmer nghĩ ko thể đòi hỏi nhiều hơn thế nữa ở 1 sĩ quan lục quân.

Đại úy Abraham Lincoln Hardy chỉ huy đại đội Dog. Hardy, 25 tuổi, 1 dân Texas to lớn vạm vỡ, tới nam VN vào tháng 2 năm 1967. Chức vụ gần đây nhất của anh là sĩ quan cơ giới của tiểu đoàn. Đến tháng 9, khi Schumacher thành lập đại đội Dog, Hardy đã được chấp nhận về chỉ huy nó. Trung tá Schumacher chỉ đạo đại úy McElwain dẫn TF Black về phía tây căn cứ pháo binh 15, 2 cây số rồi rẽ xuống hướng nam tiến về cao điểm 889. Cùng thời gian đó, TF Blue sẽ rời căn cứ pháo binh 15 đi sang phía đông nam, rồi quay về phía tây, đi song song với tuyến đường của TF Black ở khoảng cách 1000m. 2 đơn vị sẽ hội quân trên cao điểm 889.

Sáng sớm ngày 15 tháng 11, 2 Task Force rời khỏi căn cứ pháo binh 15. Tiến độ hành quân chậm do các bụi cây rậm rạp ken lẫn với tre gai. Lính dù còng lưng dưới sức nặng của ba lô đi ngoằn ngoèo xuống sườn dốc của cao điểm 823, mạo hiểm dấn bước vào cõi hư vô.

Trung úy David Holland của đại đội Alpha, đánh vật với đồ đạc mang theo khi dẫn đắt trung đội hỏa lực tiến bước. Holland không thích chút nào khi bị đại úy Jesmer chuyển sang trung đội hỏa lực trước khi rời khỏi Tuy Hòa. Trung đội chỉ có 15 lính với 1 khẩu cối 81mm thế nên Holland cảm thấy mình giống tiểu đội trưởng hơn là 1 trung đội trưởng. Để phản ứng, khi dừng chân ở Kon Tum anh đã cùng mấy cậu lính trong trung đội mới đến 1 trong những quán bar nằm dọc phi đạo để nhậu nhẹt, đập phá.

Khi máy bay C-130 chở anh tới sân bay Đắk Tô vào hôm sau Holland thấy nhức đầu kinh khủng. Tuy nhiên anh nhanh chóng tỉnh rụi khi thấy trực thăng chở thương vong từ phía nam lên Đắk Tô. Anh nhìn những chiếc Huey bay ra từ những mỏm đồi màu xanh thẫm qua thung lũng rộng lớn mang theo những chấm nhỏ màu đen dưới bụng. Khi trực thăng đến gần hơn Holland mới nhận ra những chấm đen hóa ra là các xác lính tử trận. Lần đầu tiên, Holland phải đối mặt với thực tế là mình có thể bị giết trong chiến đấu. Thật kỳ diệu khi việc coi đây là vấn đề số mệnh đã khiến anh bình tĩnh trở lại và có thể thực hiện nhiệm vụ mà ko cần lo lắng nữa.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 28 Tháng Bảy, 2014, 09:57:18 AM
Khi 2 Task force đi gần đến chân điểm cao 823, những lính đi đầu bắt đầu tìm kiếm dấu vết về sự hiện diện của đối phương. Nhiều vết máu khô đã chứng minh hiệu quả chết chóc của hỏa lực bắn phá vào đêm trước. Task Force Black cũng phát hiện 1 số bậc cấp gia cố bằng tre được xẻ vào sườn dốc dưới chân cao điểm. Đồ trang bị do quân Bắc Việt bỏ lại nằm rải rác khắp nơi. Binh sĩ trong 2 task force, từ lính cựu cho đến lính mới, đều biết rằng mình đang mạo hiểm tiến sâu vào lãnh thổ quân Bắc Việt. Nếu giao tranh xảy ra thì sẽ là do đối phương chủ động muốn đánh chứ ko phải lính dù.

Task Force Blue đóng quân nghỉ đêm đầu tiên cách cao điểm 823 chừng 1000m về phía tây nam. Đại úy Jesmer thiết lập 1 chu vi phòng thủ chặt chẽ, tung ra các tổ cảnh giới, xin hỏa lực pháo binh chi viện. Đêm yên bình trôi qua với TF Blue dù trong nhiều lúc, 1 số tổ cảnh giới có báo về là nghe thấy tiếng động.

Quân của đại úy McElwain suốt ngày hôm đó khi đi trên lối mòn của bộ đội Bắc Việt đều cảm thấy căng thẳng. Cứ vài trăm mét các lính xích hầu lại bắt gặp các dấu vết. Có lần họ còn vướng cả vào dây điện thoại. McElwain bảo trung sĩ truyền tin của mình nối máy vào dây. Ít lâu sau họ được phản hồi. Đường dây vẫn đang hoạt động.

McElwain báo về cho đại úy Edward Sills, sĩ quan hành quân tiểu đoàn. Sills, người vùng Georgia, 28 tuổi đã cảnh báo McElwain.: “Cẩn thận nhé Tom, bọn ‘nhỏ con’ đều ở quanh đó đấy.”

McElwain đồng ý.

Task Force Black chuẩn bị nghỉ đêm trên 1 quả đồi nhỏ ko có số cách cao điểm 823 về phía tây 2000m. Đại úy Hardy đưa các trung đội vào chiếm lĩnh vị trí quanh chu vi phòng thủ trong khi McElwain lo bố trí các tổ cảnh giới.

Trung úy Edward Kelley, trung đội trưởng trung đội 1, đại đội Charlie, lấy 5 trong số 23 lính của trung đội quay lại đường tiến quân tổ chức phục kích phòng địch bám theo. Kelley, 26 tuổi người ở Dothan, Alabama, nhập ngũ khi còn là lính trơn cũng như McElwain. Năm 1962 sau khi kết thúc 3 năm phục vụ, Kelley vào đại học Auburn rồi ko chỉ tham gia khóa huấn luyện sĩ quan dự bị mà còn phục vụ trong lực lượng vệ binh quốc gia địa phương. Anh được phong thiếu úy sau khi tốt nghiệp vào năm 1966. 1 năm sau thì anh sang nam VN.

Kelly được của lính dưới quyền đánh giá là 1 sĩ quan có tác phong làm việc lạnh lùng nhưng hiệu quả đã cẩn thận cho các tổ vào vị trí, rồi nghỉ đêm tại chỗ với quân số trực gác là 50%. Một lúc sau trời đổ mưa. Mưa lớn ko chỉ hạn chế tầm nhìn khiến cho không có thể phát hiện cái gì trong rừng ban đêm mà còn át hết cả các tiếng động. Bộ đội Bắc Việt có thể tới sát bên Kelly và lính dưới quyền mà họ chẳng hề hay biết. Thế nhưng anh ko hiểu vì sao địch lại ko đến và đêm ấy trôi qua yên ổn.

Đại úy Sills, người được các đại đội trưởng đánh giá là 1 sĩ quan hành quân xuất sắc, truyền lệnh hành quân trong ngày 11 tháng 11 của trung tá Schumacher cho đại úy Jesmer. TF Blue sẽ tạt sang phía tây tiến về TF Black, bắt tay với họ ngay trong ngày hoặc vào ngày kế tiếp. Lực lượng kết hợp này sẽ tiến về phía tây nam song song với sống núi dẫn lên cao điểm 889. Dự kiến những dấu vết của trung đoàn 66 Bắc Việt sẽ được tìm thấy đâu đó trong khu vực.

Jesmer cho quân sẵn sàng đi lúc 8g00. 1 lính dắt chó trinh sát đi cùng với toán xích hầu. Jesmer ko tin con chó này lắm. Ngày hôm trước cứ đi được khoảng 100m là nó lại cảnh báo, khiến tốc độ hành quân của task force bị chậm. Jesmer tin tưởng vào bản năng của lính xích hầu dưới quyền hơn.

Thiếu úy  Ed Robertson, dẫn trung đội 2 rời chu vi phòng thủ đầu tiên. Theo sau anh là trung đội 1 của trung úy John Robinson, ban chỉ huy đại đội của Jesmer, trung đội hỏa lực của trung úy Holland và trung đội 3 của trung úy Larry Kennemer. Kennemer, 22 tuổi, tốt ngiệp đại học Texas, tới nam VN hồi tháng 6 năm 1967. Vì khi đó chưa có chức trung đội trưởng nào khuyết nên phần lớn 3 tháng đầu tiên anh làm ‘tà lọt’ cho trung tá Schumacher. Tháng 9 anh gia nhập đại đội Alpha.

Mới xuất phát chưa được 200m thì con chó trinh sát lại cảnh báo. Jesmer vừa mới định nghĩ đó là báo động giả thì đám rừng trước mặt Robertson bùng nổ. Lính tráng phản ứng ngay; họ lăn xuống đất tìm chỗ nấp. Các trung đội khác vội vã chiếm lĩnh vị trí tạo ra 1 chu vi phòng thủ hình móng ngựa mà Jesmer đã huấn luyện cho họ. Lúc đó là 8g28 phút.

Jesmer lập tức gọi về trung tâm hành quân báo cáo đã chạm địch. Schumacher đang ở tại đó vì sương mù buổi sáng làm ông ko thể lên trực thăng bay chỉ huy. Jesmer báo cho Schumacher biết: “Tôi đụng khoảng 1 trung đội địch.”

Ở phía trước, lính của Robertson đang đọ súng với đối phương. Cũng như mọi khi, rất ít khi nhìn rõ bộ đội Bắc Việt trong đám cây lá rậm rạp, nên ‘thiên binh’ chỉ có thể bắn trả vào những chớp lửa đầu súng và những cái bóng thấy loáng thoáng. Lựu đạn nổ tung bắn ra những mảnh sắt sắc lẻm găm vào da thịt con người.

Như mọi lần, Jesmer cho các trung đội của mình vừa đánh vừa lùi rồi cho các tiền sát viên pháo binh và cối 106,7 gọi về trung tâm chỉ huy hỏa lực của mình xin chi viện. Chỉ vài phút sau khi rút, đạn pháo 105mm đã dập xuống đầu quân địch. Ở khoảng cách gần hơn nữa, đạn cối 106,7 ly xuyên qua tán cây và nổ tung trong các vị trí của địch. Rủi thay, 1 trái đạn cối hụt tầm đã giết chết 1 lính của Jesmer và làm bị thương mấy người khác.

Lúc trận đánh nổ ra, trung đội hỏa lực của trung úy Holland thậm chí còn chưa rời khỏi chỗ đóng quân. Holland lập tức đặt súng cối. Do ko bị đạn địch bắn tới anh cùng binh sĩ dưới quyền rót đạn ngay xuống phía trước trung đội Robertson.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 29 Tháng Bảy, 2014, 09:47:03 AM
Trung đội của Kennemer, chỉ có 22 quân, đang nã đạn M16 và M60 vào rừng nhưng sự thực là họ có mục tiêu. Hầu hết hỏa lực của bộ đội Bắc Việt đang tập trung vào lính của Robertson.

Đáp lại yêu cầu của Jesmer, máy bay phản lực đã kéo tới lập khu chờ trên không. 1 tiền sát viên truyền những hướng dẫn của Jesmer để chúng cắt bom. Chỉ sau vài phút gầm rú trên cao, những trái bom 500 cân Anh của mấy chiếc F-100 đã xé toạc tán rừng già.

Lúc này đã quá 11g. Pháo vẫn giã thêm xuống các vị trí địch trong khi máy bay phản lực đã kết thúc phi vụ. 30 phút sau đó, Jesmer cho 1 tiểu đội thám sát cùng với con chó trinh sát tiến ra để tiến hành xem xét khu vực.

Quân Bắc Việt đã bỏ đi. Những gì còn lại chỉ là vài xác bộ đội bị phi pháo tiêu diệt. Jesmer kiểm tra các xác chết và rất ấn tượng trước đồ trang bị cùng súng ống mới toanh của địch. Dường như quân địch mới ra chiến trường chưa lâu.

Jesmer cũng lấy làm lạ là địch quân đều đeo ba lô và chưa chuẩn bị công sự. Anh nhận định đối thủ vừa rồi là quân chặn hậu với nhiệm vụ kìm chân quân Mỹ. Và rồi anh đã biết lý do vì sao địch muốn ngăn cản mình: Trong những cuộc đàm thoại nghe được qua điện đài giữa Schumacher với McElwain, thì rõ ràng TF Black đang lâm nguy. Jesmer liền cho quân mình di chuyển để tới cứu TF Black.

Nhật lệnh của trung tá Schumacher trong ngày 11 tháng 11 cho đại úy McElwain là lần theo sợi dây điện thoại. Tuy nhiên Schumacher cũng ko muốn anh này di chuyển quá xa vì còn  muốn TF Black ở lại khu vực ngày hôm sau, để tìm kiếm bộ đội Bắc Việt trong khi chờ hội quân với TF Blue.

McElwain và đại úy Hardy đồng ý cho lần theo sợi dây mỗi hướng 1 trung đội. Các trung đội khác thì tiến hành tuần thám khu vực.

Trung úy Brown lấy ra 1 tiểu đội cho đi càn quét quanh khu vực đóng quân rồi mới quyết định di chuyển. Toán phục kích của Kelley đã quay về chu vi phòng thủ mà ko tìm thấy dấu vết gì của quân Bắc Việt. Sau 8g00 thì Brown rời khỏi nơi đóng quân.

Đi chưa được 50m, lính xích hầu của Brown phát hiện 1 lính cảnh giới Bắc Việt cách đó chừng 20m. Lính dù nổ súng bắn bị thương người lính địch. Brown ra hiệu cho toán thám sát đuổi theo trong khi anh gọi điện báo cáo đại úy McElwain. Chưa kịp gọi thì McElwain đã lên máy.

McElwain gọi Brown: “November Six, cái quái gì xảy ra vậy?”

Brown kể lại sự việc rồi nói thêm: “Chúng tôi đang lần theo vết máu. Tôi sẽ đuổi theo nó.”

“Không” McElwain hạ lệnh. Anh mới được lệnh của Schumacher tới hỗ trợ cho Jesmer. McElwain ko muốn 1 đơn vị đi lẻ ra ngoài vì như vậy rất nguy hiểm.

“Ko có thì giờ mà lãng phí đâu” McElwain ngắt lời. “Tôi sẽ cho người khác ra ngoài đó.”

Brown cố nài nhưng ko có kết quả.

Trung đội 2 của trung úy Gerald Cecil được chỉ định lần theo sợi dây điện thoại nên đã sẵn sàng xuất phát. Trung đội đã được hưởng 1 buổi sáng tương đối thoải mái. Trung sĩ Philip H. Scharf, 20 tuổi quê Fond du Lac, Wisconsin thậm chí sau bữa sáng còn có thời giờ viết thư về nhà nữa. Sau đó có lệnh phải lên đường.

Scharf bắt cặp với anh bạn thân là trung sĩ Robert E. Wooldridge. Hầu hết lính đại đội Charlie, tiểu đoàn 1/503 đều gọi Wooldridge là trung sĩ Opie vì anh giống ngôi sao thiếu nhi Ronnie Howard trên tiết mục Andy Griffith Show nổi tiếng trên truyền hình 1 cách kỳ quái. Wooldridge, vừa mới bước sang tuổi 20 hồi tháng 10, là 1 phần huyền thoại của đại đội Charlie. Anh đến đại đội lần đầu tháng 5 năm 1966. Trong lần kỳ phục vụ đó 1 phóng viên ảnh đã chụp ảnh Wooldridge. Bức ảnh, với Wooldridge trong trang bị đầy đủ lệ bộ chiến đấu, được lưu hành rộng rãi ở quê nhà, làm anh chở nên nổi tiếng tí chút.

Khi kỳ hạn phục vụ đầu tiên kết thúc, Wooldridge tình nguyện phục vụ thêm 1 năm nữa ở nam VN, với điều kiện được ở lại đại đội Charlie. Sau khi được chấp nhận, Wooldridge được cho đi phép 30 ngày về quê nhà tại Newton, Iowa. Về nhà, anh đã gặp gỡ và kết hôn với 1 thiếu nữ rồi quay lại cuộc chiến.

Lúc này anh đang là tiền sát viên cho trung đội súng cối 81 ly. Anh đi cùng Scharf khi trung đội của Cecil xuất phát.

Nếu trung sĩ Opie là 1 huyền thoại, thì trung úy Cecil là ngôi sao của của đại đội Charlie. Anh là 1 trong 10 học viên West Point từng được tạp chí Newsweek chọn trong ấn bản đặc biệt viết về sinh viên tốt nghiệp năm 1966. Các phóng viên theo sát 10 sv này trong suốt 1 năm từ lễ tốt nghiệp, lễ cưới hay những khóa đào tạo thêm. Kết quả là bài viết đã xuất hiện trên tạp chí ngày 10 tháng 7 năm 1967, kết thúc là hình ảnh Cecil đã vượt qua khóa huấn luyện biệt động quân khắc nghiệt như thế nào. Anh đã qua nam VN được mấy tháng trước khi bài báo được phát hành.

Cecil ko những được các sĩ quan trong đại đội Charlie mà còn được lính trong trung đội mình tôn trọng nữa. Là người năng nổ, quyết đoán, Cecil dạy cho binh sĩ các thủ thuật tác chiến trong rừng già mà anh được học hồi ở trường biệt động quân. Kết quả là anh tin chắc 20 lính trong trung đội mình hoàn toàn có thể chiến đấu hiệu quả nếu xảy ra đụng độ.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 30 Tháng Bảy, 2014, 09:21:35 AM
Binh nhất John Rolfe, lính xích hầu của trung đội 2, dẫn trung đội rời chu vi phòng thủ. Cecil là người đi thứ 3 trong đội hình. Họ nhanh chóng vượt qua toán lính nhỏ của Brown, lúc đó đang quay về chu vi phòng thủ đại đội.

Trung đội Cecil tiến xuống 1 sống núi rộng 50m đại để dẫn về phía nam chu vi phòng thủ. Càng đi xuống tán rừng càng dày hơn, đổ 1 thứ ánh sáng kỳ ảo xuống mặt đất. Bụi rậm cao ngang ngực. Tầm nhìn trong thứ ánh sáng nhập nhoạng này hiếm khi vượt quá 5m.

Trung đội âm thầm nhích dần xuống sống núi. Rồi Rolfe bỗng giơ tay ra dấu cho mọi người dừng lại. Trong lúc Cecil đang lo lắng nhìn thì Rolfe từ từ quay đầu, đưa ngón tay trỏ lên môi ra 1 dấu hiệu cổ điển bảo mọi người im lặng. Sau đó, ko nói 1 câu anh quay lên và bắn hạ người lính cảnh giới khác của địch.

Sau đó là sự tĩnh lặng, đại úy McElwain đi xuống sống núi và cùng Cecil kiểm tra xác người lính địch. Cecil nói: “Nhìn này, tên này mới vừa vào nam. Quần áo, súng ống của nó còn mới cứng.”

McElwain đồng ý. Anh bỗng cảm thấy sống lưng ớn lạnh. Có cảm giác như trong rừng có những cặp mắt đang nhìn mình.

“Chúng ở đây đó, Jerry” McElwain nói: “Tôi cảm thấy thế. Hãy cẩn thận.”

McElwain quay về vị trí chỉ huy. Cecil ra dấu cho trung đội tiến tiếp. Càng xuống thấp sống núi càng hẹp, và 2 bên sườn ngày càng dốc. Đi thêm 100m nữa thì đường bắt đầu dốc hơn.

Cecil cho trung đội đi từ từ, tung ra những toán gồm 2 lính thực hiện cloverleaf dọc theo 2 bên sống núi. Người ngậm tăm, tất cả những gì cần liên lạc thì đều dùng thủ hiệu.

Trung đội 2 đi đến đầu mút sống núi thì thấy nó tạo thành 1 yên ngựa rồi đi lên mỏm bên cạnh. Giác quan thứ 6 báo cho Cecil biết sắp đánh nhau đến nơi rồi. Anh vội ra hiệu cho mấy toán cloverleaf rút về, rồi cho các tiểu đội lập tuyến phòng thủ. Tuyến này hơi cong về phía sau.

Cecil thì thầm với những người xung quanh: “Các cậu. Tôi biết bọn khốn đang ở đây đó. Khi tôi ra hiệu thì tất cả cùng bắn nhé.”

Ít giây sau Cecil quạt 1 loạt CAR-15.

Trước khi những người xung quanh kịp khai hỏa, rừng rậm phía trước bùng nổ với cơn bão lửa của đối phương. Những luồng đạn AK-47, RPD, rocket B-40 lao về phía các ‘thiên binh’. Lính dù nằm rạp xuống đất, bắn trả mãnh liệt.

Lúc đó Cecil chưa biết gì về việc mình vừa khai mào 1 trận phục kích lớn kiểu móng ngựa. Nếu anh tiến nhanh hơn thì hẳn cả trung đội đã bị chia cắt bởi hỏa lực bắn cánh sẻ dữ dội ấy. Và lúc đó, theo như Cecil ước tính, họ sẽ phải đối mặt với lưới lửa của nhiều tiểu đội quân Bắc Việt.

Các trung sĩ Wooldridge và Scharf đi đằng sau đội hình của Cecil nên ko bị hỏa lực trực tiếp của bộ đội Bắc Việt nhắm tới. Dù vậy, họ vẫn tích cực xông lên trước. Người lính ở cách phía trước họ 2m bị 1 phát đạn của quân Bắc Việt bắn trúng mặt. Thật là kinh dị khi thấy phía sau đầu anh lính này nổ toác, máu đỏ li ti văng tung tóe như bụi.

Sau đó mấy giây, 1 ‘thiên binh’ khác từ trên đầu hàng quân chạy về. Anh bị bắn vào ngực. Tuy nhiên có vẻ viên đạn AK-47 bị sao đó mà nó chỉ xuyên ngập có 1 nửa vào xương ức người lính. Wooldridge và Scharf lập tức đặt cho anh này biệt hiệu ‘trung sĩ Ricochet – trung sĩ đạn bật ra.ND’

2 người nằm rạp xuống rồi bắt đầu bò tới trước đến chỗ đang bắn nhau. Phía trước họ, tiếng súng M16 và M60 đang giận giữ đáp trả tiếng AK-47. 2 người lính có thể nhìn thấy bộ đội Bắc Việt chạy như tên bắn giữa các thân cây bên dưới sườn dốc sống núi. Họ bắn vào những cái bóng nhanh vun vút đó.

Sau đó cả 2 nghe thấ tiếng nổ đầu nòng đặc trưng của súng cối quân Bắc Việt. Wooldridge biết chúng ở rất gần và dựng nòng bắn gần như thẳng đứng. Anh gào “Chết rồi, Phil. Bọn ta tiêu mất“

Vậy là đủ, 1 quả đạn cối Bắc Việt từ trên tán lá rít lên rơi xuống ngay phía trước mấy người lính chưa đến 2 mét. Một trái đạn thối. Cả bọn chưa kịp mừng rỡ trước may mắn ấy thì 1 trái đạn cối khác đã nổ tung với ánh sáng chói lòa gần như ở đúng vị trí trái thứ nhất.

Sau tiếng nổ, Wooldridge nghe thấy Scharf kêu: “Opie, cậu dính chấu rồi. Cậu sẽ được thưởng huân chương cho coi.’’ Những mảnh thép sắc lẻm vừa mới găm vào tay phải của Wooldridge.

Wooldridge bảo: “Chó chết! Còn nói nữa hả. Nhìn lại mình đi !”. Cẳng tay của Scharf cũng bị mảnh cối cắm chi chít.

Thay vì chúc mừng huân chương trái tim tím (huân chương chiến thương. ND) bộ đôi dũng cảm lại tiếp tục tiến tới chỗ giao tranh. Ko đếm xỉa đến thương tích của mình, họ kéo thương binh rời xa tuyến lửa và chuyển đạn dược lên. Ở đằng sau trên đỉnh đồi, đại úy McElwain dựa vào báo cáo của Cecil gọi về báo cho trung tá Schumacher đang ở trung tâm hành quân biết việc Cecil đã chạm trán với 1 tiểu đội Bắc Việt. Lúc đó là 9g50 phút.

Mấy phút sau, khi thấy tiếng súng phía trước Cecil vẫn tiếp tục ko thuyên giảm. McElwain điều trung úy Brown dẫn trung đội xuống cứu viện. Khi Brown vừa xuống sống núi, thì Cecil gọi lại cho McElwain báo rằng anh cảm thấy đang phải đối mặt với 1 trung đội đầy đủ của đối phương. Súng địch bắn quá rát nên ko thể chỉ có duy nhất 1 tiểu đội được.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 31 Tháng Bảy, 2014, 08:31:47 AM
Quân của Brown cố tiến nhanh nhất có thể tới chỗ Cecil. Tiếng súng bắn ầm ầm rộ lên khi họ gần đến chỗ yên ngựa. Rồi thì đạn địch mau chóng bắn đến. Họ phải tìm chỗ nấp. Trung đội Brown đã bị hỏa lực mạnh mẽ của địch quân chặn lại khi chỉ cách vị trí của Cecil chừng chục mét.

Hai trung đội trưởng có thể hét lên gọi nhau qua lại nhưng ko sao hội quân được. Brown báo tình hình cho McElwain, và nói thêm lực lượng địch có tầm 1 đại đội hoặc hơn thế nữa. McElwain lại nghiêm túc báo cáo chuyển biến mới này cho Schumacher.

McElwain quyết định đích thân xuống chỗ giao tranh. Anh để trung đội của Kelley cùng trung đội hỏa lực dưới quyền trung úy Ray Flynn ở lại chỗ trú quân, rồi tập hợp đại đội bộ tiến xuống chỗ Cecil và Brown.

Khi tới nơi McElwain tìm chỗ đặt sở chỉ huy rồi nắm quyền chỉ đạo. Mức dữ dội của trận đánh làm cho McElwain bị sốc. Đạn súng nhỏ, súng lớn thi nhau bay vun vút khắp rừng. Cứ chốc chốc lại có tiếng nổ vang rền của lựu đạn, B-40, hay đạn cối. Tiếng la hét inh ỏi của thương binh khiến mọi thứ càng thêm hỗn loạn. McElwain nhận thấy tình thế kinh khủng hơn anh tưởng. Rõ ràng là bộ đội Bắc Việt có quân số đông hơn số lượng mà đại đội anh có thể đương đầu. Anh siết chặt chu vi phòng thủ để tập trung hỏa lực nhằm hạn chế khả năng bị địch quân chọc thủng. Từ sau 1 cái cây lớn, McElwain gọi điện bảo Cecil lùi về chỗ Brown.

Dù trận đánh chỉ mới bùng lên chừng 30 phút, Cecil đã có 3 lính chết và khoảng 1 chục bị thương, 1 số ca rất nặng hầu như ko thể di chuyển được. Để bảo vệ công tác rút quân, Cecil và lính cài mìn Claymore lại, vừa bò lui vừa rải dây điện rồi cho nổ loại vũ khí hiệu quả kinh khiếp này. Bằng cách đó, số quân tơi tả còn lại của trung đội 2 lùi gần về vị trí của Brown.

Có 2 lính của Cecil do bị thương quá nặng nên ko thể tự rút về. Vì ko muốn bắt ai phải liều mạng, nên Cecil đã 2 lần bò lên đưới làn đạn địch để mang thương binh về.

Có 1 số lính dù vẫn chưa thực sự nhìn thấy bộ đội Bắc Việt. Sau này họ được biết lính đối phương dùng lá cây ngụy trang cài khắp người. Địch ẩn nấp rất giỏi và chỉ có tia lửa đầu nòng khi bắn mới có thể làm họ lộ vị trí.

Ngoài hỏa lực súng cá nhân, súng cối cũng tiếp tục rót xuống đầu ‘thiên binh’. Khi trung sĩ Scharf vừa kéo 1 thương binh đến nơi an toàn, thì 1 quả đạn cối nổ tung ngay phía sau. Mảnh đạn cối nóng đỏ đã xuyên và xé toạc bắp đùi phải, khiến Scharf cảm thấy như bị ăn 1 cú đá trời giáng. Lính cứu thương vừa kịp tới thì 1 quả đạn cối nữa lại phát nổ, mảnh đạn bay tung tóe khắp nơi. Người lính cứu thương gục xuống, bị thương nặng. Scharf cũng bị mảnh cối cắm vào ngực và mặt. Mảnh đạn xé rách môi dưới của anh, làm gãy 3 cái răng rồi mới chui vào nằm dưới lưỡi. Máu nóng chảy tràn cuống họng khi cái lưỡi sưng lên làm cho anh khó thở. Scharf lật người, chống tay và quì bằng đầu gối, khạc ra bọt khí. Giờ thì bỏ mẹ rồi, anh nghĩ.

Người lính cứu thương thứ 2 nhanh chóng đến bên, băng bó vội vã cho anh rồi di chuyển qua chỗ khác. Sau đó có người kéo anh tới chỗ tập trung thương binh. 1 lính cứu thương định phẫu thuật mở khí quản, nhưng Scharf từ chối. Anh chẳng muốn cho ai mổ cuống họng mình ra cả.

Trận đánh vẫn ko hề thuyên giảm. Khi McElwain nhận thấy bộ đội Bắc Việt đi vòng men theo sườn dốc của sống đồi, anh gọi điện bảo Kelley cho quân lên tham gia. Đồng thời McElwain cũng gọi điện cho đại úy Hardy.

Sáng hôm đó Hardy đang dẫn 2 trung đội lần theo sợi dây điện thoại theo hướng ngược lại. Khi thấy McElwain báo mình đang gặp rắc rối thì Hardy lập tức quay lại.

Đằng trước Hardy, Kelley cũng đang cho trung đội tiến xuống phía có tiếng súng. Họ chưa đi được nửa đường, thì đã bị quân Bắc Việt bắn. 1 tay súng Bắc Việt ở gần đến nỗi Kelley thấy lá cây rụng lả tả từ miệng súng đang khạc lửa.

Lính của Kelley định tìm chỗ nấp, nhưng anh ra lệnh bảo họ đứng dậy vận động. Bằng cách lom khom rồi phóng chạy từ chỗ nấp này qua chỗ nấp khác, trung đội cũng tới được khu chiến và chiếm lĩnh vị trí bên sườn bỏ trống của chu vi phòng thủ.

Kelley ko thể tin rằng mọi thứ lại hỗn loạn đến thế. Súng bắn khắp nơi, đạn B-40 bay vù vù trên chiến trường, đạn cối phát nổ đinh tai nhức óc, lính tráng thét gào khi bị mảnh đạn găm vào cơ thể. Hỗn loạn kinh khủng.

Trong ít phút mà nhiều lính của Kelley đã bị trúng đạn. Lính cứu thương của anh bị trúng 6 phát đạn vào chân và đang nằm bất động. Chỉ mấy giây mà có tới 3 xạ thủ M60 bị giết khi bị đạn trung liên RPD xăm trúng vị trí.

Kelley vừa tham chiến thì đại úy Hardy cũng đưa quân đại đội Dog đến được chu vi phòng thủ. Cúng lúc ấy, trung úy Flynn ở chỗ đóng quân báo cho McElwain biết việc mình đang bị súng trường bắn.

McElwainko muốn để cho hơn chục lính của trung đội hỏa lực bị cô lập và tiêu diệt nên đã lệnh cho Flynn chôn súng cối rồi chạy xuống chỗ mình.

Flynn ném 2 khẩu cối xuống 2 hố cá nhân, dùng poncho phủ lên và lấp đất rồi xuống đồi. Đường đi rất ’nóng’. Trong quá trình chạy về chu vi phòng thủ, anh bị quân Bắc Việt bắn tứ phía. 170 lính dù của TF Black đã hoàn toàn bị bao vây.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 01 Tháng Tám, 2014, 08:55:36 AM
Lúc 10g30, trời đã quang mây đủ để cho trung tá Schumacher lên trực thăng chỉ huy rời căn cứ pháo binh 15 tới lượn vòng vòng trên khu chiến. Ông cũng phải giáp mặt với vấn đề tương tự như của trung tá Johnson cùng tiểu đoàn 4/503 5 hôm trước. 3 trong số 4 đại đội của ông đang đụng nặng mà rừng già rậm rạp lại ngăn trở ko cho ông nhìn thấy gì cả.

Căn cứ vào báo cáo của Jesmer và McElwain. Schumacher nhanh chóng nhận định tình thế của TF Blue ít nghiêm trọng hơn. Sau khi cho phi pháo dập xuống phía trước Jesmer, Schumacher chuyển mối quan tâm tới TF Black.

McElwain hầu như luôn duy trì liên lạc với đại úy Sills ở trung tâm hành quân và với trung tá Schumacher. Đến khoảng 11g sau khi đại úy Hardy và trung úy Flynn tới gia nhập, McElwain báo với Schumacher rằng mình đã phải đối đầu với cả 1 tiểu đoàn Bắc Việt và đang rất cần trợ giúp.

Schumacher nổi đóa : “Charlie Six, cậu chả biết mình đang đối mặt với cái gì hết ! Đầu tiên thì cậu bảo là 1 tiểu đội, rồi 1 trung đội, rồi lại 1 đại đội. Giờ thì cả tiểu đoàn. Đứng dậy và đuổi chúng nó đi chứ !’’

McElwain giận điên lên : “Mẹ nó chứ, Six. Nếu ông đéo chịu cứu thì ông sẽ chẳng còn đại đội Charlie nữa đâu. Nghe tôi và hỗ trợ ngay đi.’’

Schumacher quát lại McElwain : “Cậu dám chửi tôi à, đại úy. Tôi sẽ ko bỏ qua chuyện này đâu. Giờ thì tự đi mà cố thủ.’’

Đại úy Sills ở trung tâm hành quân ko tin ở tai mình khi nghe lỏm được câu chuyện trên sóng điện đài. Anh đã liên lạc với McElwain hơn 1 giờ đồng hồ và nghe thấy cả tiếng súng bắn ầm ầm liên hồi ngoài đó. Đây chẳng thể là 1 trận đánh nhỏ. Sills nghĩ McElwain có thể sẽ bị tràn ngập nếu ko được trợ giúp. Anh cảm thấy thất vọng ko những vì mình chẳng  thể làm gì để giúp mà còn thấy rằng Schumacher đã tỏ ra chẳng hiểu gì về tình thế nghiêm trọng của McElwain.

Tuy thế, đã có người nhận ra tình thế nguy ngập của TF Black. Trong khi Sills đang nghe, tướng Schweiter nhảy vào mạng điện dài. Schweiter gọi : “Tốt hơn anh nên nghe lính của mình bên dưới, trung tá. Nếu cậu ta bảo rằng đang phải đối mặt với 1 tiểu đoàn, thì là đúng vậy đó. ”

Tướng Schweiter biết Schumacher đã hết cửa chọn lựa. TF Blue của Jesmer vẫn còn kẹt trong trận đánh của mình nên ko thể tới giúp McElwain được. đại đội Bravo, tiểu đoàn 1/503 thì đang phải bảo vệ căn cứ pháo binh 15. Nếu điều họ đi cứu TF Black thì trong khi đợi có đại đội khác tới thay, căn cứ pháo binh trên cao điểm 823 sẽ thành mồi ngon cho địch quân tập kích.

Schweiter gọi điện cho trung tá Johnson, tiểu đoàn 4/504, đang ở sở chỉ huy tại Bến Hét. “Thằng Charlie của tiểu đoàn 1 đang gặp nguy. Hãy chuẩn bị sẵn sàng 1 lực lượng phản ứng và đi cứu họ” Schweiter nói ngắn gọn.

Johnson bắt đầu tổ chức 1 đơn vị ứng cứu.

Sau khi tướng Schweiter bảo đại úy Sills tìm 1 bãi đáp để đổ quân cứu viện, Sills đã gọi điện báo tin cho trung tá Schumacher. Ông này ngắt lời : “Biết rồi. Xúc tiến đi”

Sau đó Sills gọi điện báo tin mừng cho McElwain. Trong khi anh đang báo, thì Schumacher gắt gỏng chen vào: “Đại úy, tôi đang điều hành trận đánh. Cút khỏi mạng ngay.”

Ù cả tai vì những lời mắng mỏ, Sills chạy ra chỗ trực thăng đang đợi. Lát sau anh đã bay vòng vòng trên trời gần vị trí của TF Black tuyệt vọng cố tìm ra 1 bãi đáp trong tán cây rừng kín mít.

Sau hơn 15 phút căng thẳng lục lạo, Sills đã thấy thứ cần tìm. Cách vị trí của McElwain gần 1000m về phía tây, có 1 trảng trống vừa đủ chứa 1 chiếc trực thăng. Anh đánh dấu trên bản đồ, rồi ra hiệu cho phi công quay về căn cứ pháo binh 15. Ở đó anh gọi điện báo tin mừng cho tướng Schweiter, trung tá Schumacher và Johnson, cùng đại úy McElwai.

Tin sẽ có quân cứu viện đến được chỗ McElwain vào lúc 11g15. Tin đến rất kịp thời. Trận đánh vẫn tiếp diễn với cường độ ko giảm. Thương vong đã ở mức đáng báo động. Những thương binh nặng đã được chuyển về phía sau chu vi phòng thủ nơi có rãnh đất nông có thể bảo vệ họ trước đạn nhọn đang nhằm vào lính dù. Những thương binh nhẹ hơn thì vẫn phải chiến đấu. TF Black cần mọi tay súng còn có thể chiến đấu được.

Trong hơn 1 chục ca tử trận có cả đại úy Abe Hardy. Từ lúc vào chu vi phòng thủ, anh đã liều mình chạy qua chạy lại giữa các lính dù, chỉ đạo động viên bọn họ.

Có lúc anh đến gần trung úy Brown: “Mọi việc ở đây thế nào rồi, trung úy?” Anh này phát hoảng khi thấy viên đại úy đang đứng cạnh, dường như ko thèm đếm xỉa đến những viên đạn nhọn đang bay víu víu cũng như đạn cối và rocket đang nổ tung. Brown trả lời : “Thưa sếp, ổn. Có lẽ anh nên cúi xuống thì hơn ạ”

Hardy chỉ gật đầu rồi lại chuyển qua chỗ khác. Sau đó McElwain thấy Hardy di chuyển từ chỗ nấp này qua chỗ nấp khác, vừa bắn súng vừa chửi rủa kẻ thù. Khi thấy Hardy gần tới chỗ mình nằm, McElwain gọi: “Cứ từ từ, Abe. Ko thể đánh chúng 1 mình được đâu.”

Hardy chỉ cười rồi đi tiếp. Cuối cùng anh đến gần vị trí của Kelley.

Hỏa lực AK-47 và RPD đang bắn rất mãnh liệt vào trung đội Kelley. 1 cậu lính trẻ, ko thể chịu được áp lực lâu hơn nữa, đã nhảy dựng dậy và chửi quân Bắc Việt những lời tục tĩu. Kelley cản cậu ta lại rồi kéo xuống chỗ nấp. Anh thấy 1 thành viên khác trong trung đội, đã mấy lần bị thương, đang bắt đầu bị choáng. Anh cũng đưa anh này xuống luôn. Có 1 lính dù khác bị thương nặng nằm gần đó đang la hét hoảng loạn, càng ngày càng to hơn: “Tôi ko muốn chết!”


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 04 Tháng Tám, 2014, 09:16:19 AM
Kelley theo dõi thấy đại úy Hardy, đang phóng sang vị trí mới. Trong lúc nhìn theo, anh thấy Hardy lãnh nguyên 1 loạt đạn súng trường vào ngực. Anh này chết ngay tức khắc. Kelley gọi điện báo tin cho McElwain biết. đại đội Dog chỉ còn có 1 sĩ quan nữa là trung úy George L. Brown, giờ lên làm đại đội trưởng.

Trung úy Cecil là tấm gương cho những người chứng kiến hành động của mình ngày hôm ấy. Anh chiến đấu táo bạo, thông minh. Cecil di chuyển giữa trung đội, tái bố trí binh sĩ, phân phát đạn dược, động viên họ bằng việc làm cụ thể. Cecil đã bị 1 vết thương nặng ở hông phải, do lính bắn tỉa Bắc Việt, treo mình trên ngọn cây và ném 1 quả lựu đạn xuống ngay giữa chỗ anh cùng những người khác. Dù rất đau nhưng anh ko hề chậm lại. Khi khẩu M79 của 1 người lính bị hóc, Cecil đưa cho anh này khẩu CAR-15 của mình rồi trườn về phía trước nhặt khẩu AK-47 cùng đạn của 1 lính Bắc Việt tử trận. Sau đó anh dùng khẩu súng này hạ sát 3 địch quân đang tiến công trung đội. Rồi lại bắn hạ ít nhất là 6 người nữa cách vị trí của mình trong khoảng 10m.

Do trung đội bị đã thương vong nặng –4 chết và chỉ còn có 1 người là chưa bị thương - Cecil bò về chỗ trung úy Brown nhiều lần để yêu cầu giúp đỡ.

Brown chẳng khoái việc phải chọn ra lính điều xuống chỗ Cecil tí nào, nhưng ko còn cách nào khác. Khi liếc nhìn các thành viên trong trung đội, anh thấy họ cũng nhìn lại mình. Đôi mắt của họ như đang cầu xin anh hãy chọn người khác. Dù vậy, Brown vẫn phải chỉ định và các ‘thiên binh’ được chọn sẽ phải nhỏm ngay dậy bò xuống chỗ Cecil. Brown chưa bao giờ tự hào về những người lính dù bằng niềm tự hào của mình ngày hôm đó.

1 lính của Brown được gửi xuống chỗ Cecil là binh nhất John A. Barnes, 22 tuổi, người Dedham, Massachusetts. Barnesđã hoàn tất kỳ hạn 1 năm phục vụ từ hồi tháng 5 trong đại đội công binh lữ đoàn 173 và đã tình nguyện phục vụ thêm 1 kỳ nữa với điều kiện: Làm xạ thủ trung liên M60 trong 1 đại đội súng trường và điều kiện này đã được đáp ứng.

Trung úy rất mừng khi có thêm hỏa lực M60 trong trung đội, nhưng cũng có mấy chú lính ko thích thế. Binh nhất Don Martindale, tiếp đạn viên, ko khoái vậy vì như thế có nghĩa là anh sẽ phải vác thêm nhiều đạn hơn nữa. Martindale thấy mến Barnes dù anh ko thể hiểu tại sao lại có người lại tình nguyện đi làm lính chiến. Việc khao khát được đánh nhau đã đem lại cho Barnes cái biệt hiệu “Chiến đấu”.

Barnes là 1 chàng trai trẻ đáng mến, luôn xốc vác nhận làm mọi việc khiến mọi người rất hài lòng. Nhưng anh cũng là 1 người lo xa, thồ theo rất nhiều đồ đạc và trông luộm thuộm nhất trung đội. Biết bao nhiêu lần Brown hết ngọt rồi sẵng mà Barnes vẫn ko kịp thu xếp đồ đạc mỗi buổi sáng.

Brown đã nhiều lần phải cho tổ hỏa lực ở lại để hối Barnes đóng đồ vào ba lô. Sau đó tất cả lại phải chạy đuổi theo trung đội. Dường như Barnes ko bao giờ thu xếp đồ đạc gọn gàng được và là cội nguồn của nhiều câu chuyện tiếu lâm trong trung đội, thế nhưng anh ko bao giờ phàn nàn hay cáu kỉnh.

Anh cũng ko hề càm ràm khi Brown bảo anh xuống tăng cường cho trung đội Cecil mà chỉ cầm lấy súng và bò đi.

Ở chỗ Cecil, Barnes nã hết băng đạn M60 này tới băng đạn khác vào các vị trí của quân Bắc Việt. Hỏa lực của anh ngày càng hiệu quả khiến bộ đội Bắc Việt nhanh chóng coi anh như là 1 mối nguy lớn. Đạn của nhiều khẩu AK-47 bắn tới tấp vào vị trí của Barnes và bắn anh văng ra khỏi khẩu M60. Có người kéo anh cựu công binh đã bị trọng thương ra khỏi lằn đạn. Barnes nhanh chóng được 1 lính cứu thương chăm sóc ở trạm sơ cứu.

Một tấm gương điềm tĩnh dưới lửa đạn ngày đó chính là sĩ quan tiền sát pháo binh của pháo đội Charlie, tiểu đoàn 3/319. Richard A. Elrod, người Texas, đã ko hề sợ hãi di chuyển khắp chu vi phòng thủ bình tĩnh chấm mục tiêu cho trung tâm chỉ huy hỏa lực. Anh đã cho pháo 105mm bắn gần hết mức có thể nhằm đập tan tuyến quân đối phương.

Đạn pháo dập xuống phá nát khu rừng cách phía trước khu vực của trung úy Kelley chỉ chừng 25m. Một số lính trung đội anh cũng đã bị trúng mảnh pháo của quân nhà nhưng Kelley biết pháo cũng ko thể giúp được nhiều. Anh nhận thấy nhiều bộ đội Bắc Việt đã lọt được vào giữa hàng rào pháo binh với vị trí của anh do đó gần như ko hề hấn gì khi bị pháo kích.

Tới 11g20, ngay sau khi đại úy Hardy bị giết, hỏa lực của đối phương có giảm bớt đủ cho những lính dù đang bị vây có thời gian nghỉ tí chút. Trong quãng thời gian tạm lắng này, lính dùng dao găm, lưỡi lê và cả mũ sắt để đào vội những công sự. Chỉ cần sâu xuống đất khoảng 10cm là cũng đủ mang lại cho họ cảm giác an toàn hơn.

Vì hầu hết lính dù đều đã để ba lô lại chỗ đóng quân vì dự đoán sẽ nghỉ thêm 1 đêm tại đó cùng với tốc độ tiêu thụ đạn đáng kinh ngạc trong mấy giờ qua nên tới lúc này đạn dược của họ đã gần cạn. Trung úy Kelley đã phải nhắc lính dưới quyền: “ko được bắn nếu ko nhìn rõ mục tiêu.”

Nước và đạn được thu nhặt lại từ những người đã chết, thương binh cũng gom hết các băng đạn của mình rồi chuyển cho đồng đội. Có 1 số lính dù còn liều lĩnh ra ngoài chu vi phòng thủ để lấy súng, đạn từ xác bộ đội Bắc Việt.

Trung sĩ Wooldridge vừa hạ sát 1 lính địch khi anh này nhô ra từ sau 1 cái cây cách anh có 5m ngay trước lúc súng tạm lắng. Từ đầu tới giờ anh đã bắn hết 500 viên đạn mang theo. Tận dụng thời gian tạm yên, Wooldridge bò ra khỏi vị trí nhặt lấy khẩu súng của người lính địch này để thay thế.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 05 Tháng Tám, 2014, 08:59:19 AM
Đại úy McElwain gọi báo cho đại úy Sills về tình trạng đạn dược đang thiếu hụt trầm trọng (sau khi bị Schumacher mắng, cả 2 đã chuyển sang tần số khác rồi tiếp tục duy trì liên lạc). Sills nhanh chóng chuẩn bị 1 chiếc Huey móc theo dây để tải đạn. Chuẩn úy Gary Bass, 1 chàng ‘cao bồi’, tình nguyện thực hiện phi vụ tiếp tế nguy hiểm này.

Tới 11g20 thì Bass đã bay vòng vòng trên sườn quả đồi khổng lồ này. Lá rừng rập rạp khiến anh ko sao định vị được vị trí của TF Black. Đại úy McElwain ở dưới đất cũng chỉ thỉnh thoảng thoáng nhìn thấy chiếc slick qua các ngọn cây ken dày. Anh đã gọi điện đài để hướng dẫn cho Bass nhưng rồi bộ đội Bắc Việt bắt đầu bắn lên chiếc trực thăng.

Lính dù có thể nghe tiếng đạn bắn trúng vỏ bọc bằng nhôm của chiếc trực thăng. Đạn bắn rát đến độ khó tin.

Chiếc tàu rung lắc vì bị trúng đạn, Bass phải vật lộn để điều khiển chiếc trực thăng bị thương. Ở phía sau, tay cơ phi (crew chief) lo thả đạn xuống trong khi Bass vòng về Đắk Tô.

Quân của TF Black bất lực nhìn theo cái sọt lăn lông lốc xuống dốc, ngoài tầm với của họ. Thêm nhiều cố gắng tái tiếp tế đạn dược nữa cũng đã được thực hiện nhưng hỏa lực dữ dằn của quân địch khiến chúng bị mất sạch.

Việc chiếc trực thăng của Bass xuất hiện đã khiến hỏa lực đối phương bùng lên lại. Đạn B-40 từ trong rừng vọt ra rồi nổ tung giữa quân dù, lựu đạn bay vòng cầu và nổ trên các cành cây cao, tưới mảnh xuống đám lính bên dưới. Tiếng nổ đanh của súng AK-47 làm mọi người ù cả tai.

Trung sĩ Wooldridge đang bò tới chỗ 1 lính dù tử trận để lấy đạn thì nghe thấy tiếng AK-47 nổ vang. Cơn đau đột ngột khiến anh tê liệt. 2 phát đạn đã xuyên qua ống chân anh, viên thứ 3 thì găm vào xương bánh chè đầu gối trái. Wooldridge  được 1 lính cứu thương băng bó rồi chuyển về nhập hội cùng với những thương binh khác.

Đợt công kích ác liệt của quân thù diễn ra tới tận 13g, rồi lại dịu đi. Một lần nữa các ‘thiên binh’ lại dùng khoảng thời gian tạm lắng để củng cố vị trí, di chuyển thương binh về nơi an toàn và đợi đại đội Charlie, tiểu đoàn 4/503, của đại úy William Connolly vừa về căn cứ pháo binh 12, đến cứu. Sau khi đi tuần tiễu ở bắc Bến Hét về lúc 7g ngày 11 tháng 11, Connolly đã dành ra mấy tiếng cho để đại đội ăn uống và tái tiếp tế rồi anh mới bò vào hầm ngủ. Chưa kịp yên giấc thì có tin trung tá Johnson muốn gặp. Đại đội Connolly sẽ phải đi cứu TF Black.

Khi biết mình sẽ đi cứu 1 đại đội anh em, lính đại đội Charlie rất phấn khích. Sau khi bị kẻ thù tiến công mấy tuần trước đó, giờ thì họ đã có cơ hội đánh trả và cứu giúp các ‘thiên binh’ đồng đội.

Đến trưa, đại đội Charlie ra xếp hàng ở bãi đáp đợi trực thăng tới đón. Tới gần 13g thì phi đội slicks đã tới. Những lính dù trang bị đầy mình, thồ theo rất nhiều đạn dược, nước uống mà mình có thể mang nổi cho TF Black, leo lên tàu bay.

Trên chiếc trực thăng thứ nhất có trung sĩ Ray Bull, 24 tuổi, người thành phố Yuba, California. Là thành viên của đại đội Charlie từ hồi tháng 7, Bull thuộc toán xích hầu đặc biệt do chính tay Connolly tuyển lựa để luồn rừng. Khi trực thăng vừa đáp xuống bãi đất trống nhỏ hẹp, Bull và Sp4 David Atkin nhảy ngay ra khỏi cửa. Một khi chắc chắn rằng bãi đáp ko có địch, họ sẽ cắt rừng đến chỗ TF Black.

Những chiếc trực thăng đi sau chở phần còn lại của đại đội Charlie tiểu đoàn 4/503, bốc hết trong 1 lần, cũng đã cất cánh.

Lúc 13g30, quân địch lại tiến hành tiến công TF Black. Sau 1 chốc im lặng, đạn cối đối phương lại bắt đầu giáng xuống rồi sau đó là hỏa lực súng cá nhân bùng lên dữ dội. McElwain, lúc này đã bị thương ở lưng vì mảnh đạn cối, từ sở chỉ huy bò tới chỗ đang bị đe dọa nhất chu vi phòng thủ. Anh cũng góp phần đánh lui 1 đợt tiến công đã được dự đoán từ trước, hạ sát mấy bộ đội Bắc Việt với khẩu súng trường của mình.

McElwain báo cho binh sĩ biết tin quân tăng viện sẽ đến. Thoạt đầu tin này khiến lính dù đang bị vây lên tinh thần. Nhưng rồi trận đánh cứ vẫn tiếp tục mà ko thấy tăm hơi quân cứu viện đâu hết thì họ lại trở nên tuyệt vọng.

Trung úy Kelley đoan chắc mình rồi sẽ chết. Với sự điềm tĩnh của những người đã biết được kết cục của mình, Kelley chỉ hy vọng mình sẽ chết ko đau đớn. Anh muốn mình sẽ ra đi nhanh chóng. Để cho chắc ăn, anh lấy 1 viên đạn ra khỏi băng rồi nhét nó vào túi áo. Làm vậy anh có thể để dành 1 viên cho mình khi bị bộ đội Bắc Việt tràn ngập.

Trong lúc đang túm tụm quanh 1 gốc cây, binh nhất Bruce Linton, lính điện đài của trung úy Brown quay sang hỏi anh này. “Sếp ơi, anh thấy liệu ta có thoát được ko?”

“Cậu muốn tôi nói thật chứ?”

“Vâng”

“Không. Tôi nghĩ ko thoát được đâu.”

Linton vỗ nhẹ vào túi áo: “Tôi có thư gửi cho vợ ở trong này. Nếu anh thoát được thì đưa giúp nó cho cô ấy nhé?”

Brown hứa với anh.

“Tôi có thể làm cho anh điều gì ko, trung úy?”

“Khỏi” Brown đáp.

“Còn 1 việc nữa”. Linton nói: “Anh ko phiền nếu tôi gọi anh là Charlie chứ ạ ?”

Brown cười lớn : “ko sao, cứ gọi tôi là Charlie đi”.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 07 Tháng Tám, 2014, 08:24:07 AM
Trung sĩ Wooldridge cũng nghĩ sẽ bị tràn ngập. Trong lúc thương binh vẫn đang đổ về trạm sơ cứu anh tự hỏi liệu ko biết còn bao nhiêu người lành lặn để cố thủ chu vi. Thương binh nằm khắp nơi, 1 số vết thương nhìn rất kinh khủng. Anh thấy ruột lòi ra từ những ca bị thủng bụng, những trường hợp mất quai hàm, tay chân gãy nát. 1 lính cứu thương là Sp5 Ennis Elliot, bị thương tới 5 lần, 2 tay cũng bị nhưng vẫn cố vật lộn cứu giúp những người khác.

Binh nhất Barnes đang nằm chung với mấy thươngbinh khác
cách chỗ Wooldridge 4m. Bỗng có 1 người trong bọn hét lên: “Lựu đạn!”. Mọi người tranh nhau chạy trốn, nhưng Barnes ‘chiến đấu’ thì ko thế. Thay vì vậy, anh nhổm người dậy rồi ngửa người nằm đè lên quả lựu đạn, lấy thân mình đè lên nó.

Vụ nổ khiến Barnes văng xa 5m. Anh nằm khóc,1 lỗ thủng ngay giữ thân người. “Chúa ơi! Tôi sắp chết! Tôi sắp chết! Bảo mẹ tôi rằng tôi yêu mẹ lắm.” Sau đó anh từ trần.

Dù cho Wooldridge cùng nhiều người khác vẫn bị mảnh lựu đạn làm xây sát, hành động anh dũng quên mình của Barnes đã cứ họ khỏi cái chết mười mươi.

TF Blue của đại úy Jesmer sau khi nhận lệnh của trung tá Schumacher liền vội vã di chuyển đến cứu McElwain. Jesmer cố thúc quân tiến nhanh nhưng bị rừng già ngăn trở. Thêm nữa con chó trinh sát cứ sủa liên tục, báo hiệu sự hiện diện của đối phương.

Khi TF Blue lên gần tới đỉnh 1 con dốc được cây cối phủ kín, thì đối phương nổ súng. Jesmer lập tức triển khai quân bắn trả lại.

Jesmer ra lệnh cho quân lính lùi lại để gọi pháo chi viện. Sau đạn pháo đã dập xuống vị trí địch, TF Blue lại bò lên phía trước. Ko còn dấu hiệu gì nữa của quân Bắc Việt.

Ngay sau đó trung tá Schumacher lệnh cho Jesmer tìm chỗ nghỉ đêm. Trời sắp tối và TF Blue chẳng có cách nào đến được chỗ McElwain kịp, vả lại Schumacher cũng ko hề muốn quân Jesmer phải lang thang trong đêm tối. Thêm nữa, đại úy Connolly cũng đã đến gần được TF Black rồi.

Đại đội của đại úy Connolly đã vượt qua đám cây rậm nhanh hết sức có thể. Trung sĩ Bull cùng Specialist Atkins đi xích hầu đã có thể nghe thấy tiếng súng bắn khi họ đi gần hơn tới khu chiến. Họ định hướng bằng la bàn nhưng tiếng súng cá nhân bắn liên hồi đã khiến việc này ko còn cần thiết nữa.
Đi sau đó 1 quãng ngắn, Sp4 Jake Duffy, trinh sát hỏa lực cối 106,7mm cùng với điện đài viên là binh nhất Darryl Haymes cũng còng lưng dấn bước dưới sức nặng của số đạn 'khủng' mà họ vận chuyển cho TF Black. Họ đi với tinh thần phấn chấn, nghĩ rằng hành động này chắc sẽ cứu được đồng đội càng khiến họ thêm phần phấn khởi. Cả 2 người lính đều biết là đã đi xa khỏi tầm súng cối của mình nên giờ họ đều trở thành những tay súng trường. Họ hồi hộp đổi chỗ khẩu M16 từ tay này qua tay kia trong lúc bám theo Bull và Atkins.

Binh nhất Gerhard Tauss luôn duy trì liên lạc với đại úy Sills ở trung tâm hành quân tiểu đoàn 1/503. Sills thấy thích cái giọng điềm tĩnh của Tauss trên điện đài. Do Connolly bận điều hành quá trình vận động của đại đội nên Sills chuyển tin tức cho anh này qua Tauss. Sills ko thấy Tauss lo lắng hay rối trí lần nào hết. Anh chuyển thông tin qua lại giữa 2 người sĩ quan 1 cách nhanh chóng và chuẩn xác.

Hạ sĩ quan trợ lý hành quân của Sills là trung sĩ nhất Thomas A. Kelly thì đang lo âu lắng nghe mấy cái điện đài. Từ tháng 5 đến tháng 9, Kelly là trung sĩ trung đội phó của đại đội Charlie, tiểu đoàn 1/503. Anh quen hết mọi người trong đại đội. Tin tức về số thương vong lớn khiến anh rất lo lắng. Nếu được thì anh đã nhảy lên trực thăng tới cứu bạn bè rồi. Nhưng lại ko được phép. Bị bắt phải ngồi trong trung tâm hành quân anh ngày càng thất vọng khi phải lắng nghe tin tức của trận đánh tàn khốc.

Đại úy McElwain cũng liên lạc điện đài thường xuyên với Connolly. Khi Connolly báo đi được đến đâu, McElwain chuyển tin đó ngay cho binh sĩ. Việc này đã cổ vũ lính dù vì họ biết nếu đại đội Charlie, tiểu đoàn 4/503 có thể thọc qua vòng vây quân Bắc Việt, thì họ sẽ sống sót.

Trung sĩ Bull và Specialist Atkins là những người đầu tiên đến được gần chỗ TF Black. Họ vừa vào tới khu vực này thì quân Bắc Việt nổ súng từ cự ly 20m. Cả 2 lập tức nằm rạp xuống, mỗi người ném 1 quả lựu đạn, tất cả đều ko nổ. Do quá kích động nên cả 2 đều quên tháo chốt an toàn.

Trước khi họ ném tiếp quả khác, 2 trái lựu đạn Chicom (lựu đạn chày do TQ sản xuất. ND) đã rơi bịch xuống đất cách họ có mấy mét. Chúng nổ tung. Cả 2 người lính đều bị dính miểng. Đáp lại, họ dùng M16 bắn ào ào vào đám cây rừng phía trước.

Cách đó ko xa, 1 lính khác trong tiểu đội xích hầu đã bắt được 2 lính Bắc Việt đang mải thu chiến lợi phẩm trong các ba lô lính Mỹ bỏ lại. Địch còn rất trẻ và tỏ vẻ khiếp hãi.

120 quân của Connolly nhanh chóng có mặt ở khu chiến. Bên dưới, tiếng súng ầm ĩ đã chứng minh cho tình thế nguy nan của TF Black. Connolly ra dấu cho binh sĩ tiến về phía đang giao tranh. Lính dù bắt đầu theo sống đồi thận trọng đi xuống, vận động từ cây này sang cây khác.

Khi đại đội Connolly đến TF Black gần hơn, đạn bắt đầu bắn đến dữ dội. 1 số lính bị trúng đạn gục xuống. Cuộc tiến quân của Connolly đã bị chặn lại khi còn cách McElwain chỉ chừng 100m.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 07 Tháng Tám, 2014, 08:25:00 AM
Đại đội của Connolly đã mấy lần cố tiến lên, nhưng lần nào cũng bị cơn mưa đạn súng cá nhân đánh bật. Sau những có gắng lặp đi lặp lại để tiến lên đều ko thành, Connolly mới nhận ra rằng hầu hết những viên đạn vừa rồi đều do đám lính đang căng thẳng của TF Black bắn tới. Anh gọi điện cho McElwain. 2 viên đại úy cùng thống nhất để cho quân của Connolly tiến vào. McElwain sẽ lệnh cho lính dù của mình ngưng bắn trong 1 thời điểm nhất định. Rồi sau đó quân của Connolly sẽ chạy xuống dốc vào chu vi phòng thủ của McElwain.

Khi biết được, lính đại đội Charlie, tiểu đoàn 4/503 bật dậy và chạy tới trước. Họ vừa la hét, vừa bắn những loạt đạn ngắn và nhào về phía các đồng đội. Tiếng reo hò “Geronimo! Lính dù đây! Tiểu đoàn 1 ơi, tiểu đoàn 4 đây này! Đi nào! Đi, đi!” tràn ngập ko gian.

Trong mấy phút, 2 đơn vị đã hội quân với nhau. Quân bị vây la hét vui sướng. Trung sĩ Bull hỏi người lính đầu tiên mình gặp xem có cần đạn ko. Tay lính dù đang mệt lả đáp lời : “ko cần bằng mấy cậu phía trước kia, đem cho bọn nó đi!”

Tiếp tục đà của đại đội, Connolly cho họ tiến ra phía sau chu vi phòng thủ của TF Black. Những ‘thiên binh’ còn sung sức táo bạo xông lên, bắn M16 và M60 xối xả vào rừng cây trước mặt. Bộ đội Bắc Việt bắt đầu vừa bắn vừa rút.

Trung úy Brown thấy thành viên đầu tiên của đại đội Charlie, tiểu đoàn 4/503, là 1 hạ sĩ quan người Mỹ gốc Á. Tay trung sĩ hỏi : “Ai chỉ huy ở đây?”

“Tôi,” Brown nói với anh ta

“Okay, có thêm ít quân đây. Hãy bố trí cho họ.”

Brown cùng người hạ sĩ quan tiến hành tăng cường vị trí của mình trong chu vi phòng thủ. Specialist Linton, lính điện đài của anh nói với vẻ nhẹ nhõm: “Có lẽ ta thoát được đấy, Charlie ạ.”

Brown ôn tồn chỉnh lại: “Nè, trung úy Brown chứ.”

Khi binh sĩ đã vào hết vị trí, Connolly cố tìm cho được McElwain. Connolly bò sát đất dưới hỏa lực súng cá nhân địch, khắp xung quanh là những tàn tích của trận đánh. Đây đó là các xác chết với đủ tư thế kỳ quặc. Hầu hết lính của TF Black còn chiến đấu được cũng đều đã bị thương ít nhất 1 lần. Nhưng thương binh nặng hơn thì nằm chen chúc ở trạm sơ cứu khiến ở đây thành 1 đống hổ lốn băng gạc máu me và chân tay què quặt.

McElwain nói sơ qua tình hình cho Connolly rồi bàn giao quyền chỉ huy chung lại. Họ đồng ý đánh vào hậu quân của đối phương bằng cách dùng pháo binh cấp tập. Trung úy Michael Raymond, sĩ quan tiền sát của Connolly đã hợp tác với trung úy Elrod để cùng điều phối hỏa lực pháo binh. Specialist 4 Duffy cùng binh nhất Class Haymes cũng phụ họ trong việc gọi điện đài chỉnh pháo.

Đến 15g30, khi hỏa lực quân Bắc Việt đã lắng xuống, trực thăng tiếp tế mới có thể bay đến thả xuống đạn dược, nước uống và thức ăn đang hết sứ cần thiết. Dù cho hỏa lực súng cá nhân của địch đã giảm đáng kể - McElwain đoán rằng bộ đội Bắc Việt cũng đang sắp hết đạn – nhưng đạn cối vẫn còn rơi xuống. Cứ chốc chốc lại nghe thấy tiếng đạn cối bay ra khỏi nòng và trước khi quả đạn rớt xuống nổ tung trong chu vi phòng thủ thì tất cả lại cuống cuồng xô đi tìm chỗ nấp.

Thượng sĩ nhất của Connolly là Edward Crook, 38 tuổi, 1 võ sĩ quyền anh từng đoạt huy chương vàng Olympic năm 1960, nhanh chóng đào xong 1 hố nông cạnh chỉ huy sở. Khi anh vừa yên vị trong hố thì 1 quả đạn cối xuyên qua tán cây rơi xuống. Connolly lao người nằm rạp xuống đất gần chỗ Crook ngay trước khi quả đạn phát nổ. Mảnh đạn phang trúng bụi tre khiến nước rải đầy xuống Connolly làm anh tưởng mình đã bị thương chảy máu. Khi nhận ra mình ko hề hấn gì, anh mới bò lại chỗ điện đài của mình.

Mảnh của quả đạn cối ấy cũng đã găm vào bàn tay phải của Crook. Anh ngạc nhiên nhìn vết thương và phàn nàn với đại úy Connolly khi đó đang ngồi xổm cách đó mấy bước. “Hừm, đại úy à. Thật chẳng công bằng tí nào. Tôi nấp trong hố thì lại dính chấu còn anh ở ngoài lại ko sao. Thật ko công bằng quá đi!”

Lúc 15g45, tiếng súng địch đã giảm đến mức Connolly quyết định kéo quân lùi vể chỗ có thể tổ chức phòng thủ thuận tiện hơn. Khi anh ra hiệu, tất cả mọi người theo nhau trồi lên rồi đi lên đồi, chu vi phòng thủ cũng tịnh tiến theo. Lính dù trên tuyến đầu sẽ vận động theo kiểu nhảy cóc, với 1 lính bắn yểm trợ để những người khác lùi về. Và khi những người này  lùi được chừng 20m, họ sẽ lại yểm trợ cho những người kia rút.

Trung đội của trung úy Cecil là rút khó khăn nhất. Họ vẫn còn đang bắn nhau với quân Bắc Việt, bị quân địch bám theo bắn đuổi mọi lúc. Lính của Cecil phải bò, rúc vào các bụi cây, kéo theo thương binh và bắn trả lúc nào có thể.

McElwain và Connolly rất khó khăn mới có thể quyết định để tử sĩ nằm lại. Nếu đem họ theo thì chỉ làm chậm việc vận động và gây nguy hiểm ko cần thiết cho những người khác.

Thương binh của TF Black cũng làm hết sức để giúp đỡ nhau. Trung sĩ Wooldridge với xương bánh chè đầu gối trái vỡ đã kết hợp với 1 lính dù khác bị cụt bàn chân phải. Họ nương tựa lẫn nhau, đi cà nhắc leo dốc, mặc kệ những viên đạn đối phương cứ thỉnh thoảng lại cắm vào các thân cây gần đó.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 08 Tháng Tám, 2014, 08:59:57 AM
Trung sĩ Scharf nằm trong 1 tấm poncho và được 4 ‘thiên binh’ của tiểu đoàn 4 khiêng đi. Họ cứ nhắc đi nhắc lại rằng anh sẽ ổn.

Các tiền sát pháo binh đã dựng nên 1 bức tường lửa hỏa pháo đằng sau họ khi chu vi phòng thủ di chuyển để ngăn ko cho quân Bắc Việt bám theo. Nó tỏ ra có hiệu lực. Vào lúc số quân còn lại của cả 3 đại đội về tới nơi đóng quân cũ, thì súng địch đã im tiếng. Những ‘thiên binh’ còn lành lặn cùng các thương binh nhẹ liền chiếm lĩnh vị trí xạ kích quanh chu vi phòng thủ mới và chờ đón 1 cuộc tiến công tiếp theo. Nó ko bao giờ xảy ra cả.

Những binh sĩ khác cuống cuồng lo tạo ra 1 bãi đáp để trực thăng tải thương có thể xuống lấy thương binh. Chiếc trực thăng đầu tiên chính là của trung tá Schumacher. Ông cũng lao xuống đưa lên tàu những ca bị thương nặng nhất rồi bay về Đắk Tô. Chỉ được vài chuyến tải thương thì trời tối thế là mọi việc phải dừng lại. Trung sĩ Scharf được đưa ra đêm hôm đó còn trung sĩ Wooldridge thì ko. Anh cùng mấy chục người khác đã phải 1 đêm đau đớn khổ sở trên đồi. Đại úy McElwain cùng 2 trung úy Brown và Cecil cũng đã được đeo thẻ sơ tán nhưng tất cả đều ko chịu đi.

Một chiếc trực thăng đã chở tới đại úy Thomas Needham, sĩ quan tình báo tiểu đoàn 1/503. Anh sẽ nắm quyền chỉ huy đại đội Dog, tiểu đoàn 1/503 và vì có thâm niên nhiều hơn nên cũng sẽ chỉ huy cả TF Black. McElwain cũng vui vẻ giao lại trách nhiệm để lo việc tái tổ chức đại đội của mình.

Needham mang theo chỉ thị của trung tá Schumacher liên quan đến 2 tù binh. Họ phải được an toàn. Đây là chỉ thị kịp thời vì khi lính tráng yên vị rồi đã có 1 số tay nói đến việc giết tù binh để trả thù cho những đồng đội ngã xuống. Chỉ với sự can thiệp trực tiếp của các sĩ quan, hạ sĩ quan thì việc này mới bị ngăn chặn. Needham đã giao tù binh cho 1 sĩ quan phụ trách ko quên cảnh báo sẽ ‘cạo đầu’ anh này nếu để tù binh bị hại.

Những lính dù mệt mỏi đã trải qua 1 đêm ko ngủ, vì lo sợ  địch tập kích nữa và âm thanh ầm ĩ của hỏa lực pháo binh, súng cối cùng máy bay Spooky vũ trang luôn bay vòng vòng trên vị trí các ‘thiên binh’ để lập 1 bức tường hỏa lực bảo vệ cho họ.

Sáng sớm ngày 12 tháng 11, trung tá Schumacher lệnh cho McElwain đi thu nhặt tử sĩ, tảo thanh chiến trường và đếm xác địch. Đầu tiên McElwain báo cho Schumacher số thương vong mà anh được biết. TF Black có 20 người chết, 154 bị thương và 2 mất tích. Đại đội của Connolly thì có 30 lính bị thương, ko có ai chết.

Việc thu dọn chiến trường diễn ra từ lúc đó đến hết ngày. Với McElwain, chu vi phòng thủ do anh tạo ra nhìn như 1 đống rác. Đồ trang bị nằm lăn lóc khắp nơi. Hỏa lực bắn chặn ban đêm của pháo binh ko những làm cảnh vật tan hoang mà còn xé nát tử thi của cả lính Mỹ lẫn quân Bắc Việt. Lính dù mất cả ngày để nhặt nhạnh những mảnh xác đồng đội, thu hồi đồ trang bị bị bỏ rơi và đi tìm xác bộ đội Bắc Việt.

Trung tá Schumacher cùng đại úy Sills cũng tới hiện trường đầu buổi sáng. Với Sills, những lính còn sống sót của TF Black nhìn có vẻ mệt mỏi và mất tinh thần. Anh cũng thấy rõ là đại úy McElwain rất tức giận Schumacher vì cho rằng ông này chậm trễ trong việc nhận ra tình thế nguy ngập của mình. 2 người đã trao đổi ngắn gọn, cộc lốc rồi Schumacher bỏ đi, mang Sills theo cùng.

Đến cuối cái ngày ghê rợn đó, McElwain gọi báo cho Schumache ở trung tâm hành quân về kết quả việc đếm xác địch. Theo tính toán của anh dựa trên số xác chết và những mảnh thi thể thì số quân Bắc Việt tử vong trong trận đánh là vào tầm 70 đến 80 người.

Khi nghe con số đó Schumacher liền nổi điên “Chó chết! đại úy. Cậu mất 20 mạng và giờ mong tôi chịu cái con số đếm xác là 70 à! Ngày mai cậu phải quay xuống đó và tìm cho tôi thêm 1 số nữa.”

Ngày hôm sau, lính của TF Black và TF Blue, số lính này đã hội quân với họ từ chiều hôm trước, tản rộng ra lục soát chiến trường để tìm thêm xác địch. Phạm vi càn quét rộng hơn 500m ngoài phạm vi thực tế của trận đánh. ‘Thiên binh’ tìm thấy nhiều vệt máu, có những vệt dẫn tới những nấm mộ lấp tạm. Sau đó lính dù phải thực hiện cái việc kinh hãi là khai quật và bốc lên khỏi mộ những thi thể đang phân hủy.

Tối hôm đó McElwain báo cáo với Schumacher rằng đã tìm thêm được 20 xác nữa, thế nhưng ông trung tá vẫn chưa hài lòng. Sau khi hứng chịu những lời nhiếc móc của ông ta 1 hồi, McElwai cuối cùng cũng phải đốp lại: “Lạy chúa, trung tá. Ông muốn cái đéo gì đây? Lính của tôi đã ra ngoài đó quật mấy ngôi mộ chó chết ấy rồi mà. Vậy ông còn muốn gì nữa?.Ông muốn con số nào đây? Muốn bao nhiêu thì tôi cũng chiều.”

Hai người cãi vã hồi lâu rồi sau cùng đồng ý kết quả đếm xác dừng ở số 175. ( Mấy tuần sau McElwain lại va chạm tiếp với Schumacher khi đề xuất vinh thưởng huân chương cho sự hy sinh của binh nhất John Barnes. Schumacher đã từ chối đề nghị trên và bảo McElwain cùng những người khác rằng ông ta ko muốn trao huân chương cho những người “có hành động tự sát”)


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 11 Tháng Tám, 2014, 09:01:06 AM
Cung từ của 2 tù binh cho biết TF Black đã phải chiến đấu với tiểu đoàn 8 và 1 phần tiểu đoàn 9 thuộc trung đoàn 66 Bắc Việt. Đây cũng là đơn vị đã đánh tiêu hao tiểu đoàn 4/503 mấy tuần trước đó. Dù cho các ‘thiên binh’ có thể gây cho kẻ thù thiệt hại nhiều hơn số xác tìm thấy, thì lữ đoàn 173 cũng đã phải trả giá đắt để đổi lấy những thiệt hại đó.

Ngày 13 tháng 11, đại đội Charlie, tiểu đoàn 4/503 được bốc khỏi đỉnh đồi về lại Bến Hét làm nhiệm vụ bảo vệ căn cứ pháo binh 12 và bảo vệ đường giao thông. Theo kế hoạch tổng thể do tướng Schweiter và đại tá Powers soạn thảo thì tiểu đoàn của trung tá Schumacher sẽ vẫn tiếp tục đi tuần tiễu. Vì đại đội Charlie giờ chỉ còn 40 quân có thể chiến đấu, đại đội Dog thì còn 50, nên đại úy Jesmer, cùng với 110 lính của đại đội Alpha sẽ nắm quyền chỉ huy tiểu đoàn 1/503 trên thực địa. Trung tá Schumacher lệnh cho Jesmer tiến quân về phía tây nam, theo đường rút của trung đoàn 66 Bắc Việt. Jesmer sẽ đi theo dãy núi Ngọc Kring, vượt cao điểm 889 và tiến đến cao điểm 882, cách đó khoảng 3km.

Trong khi tiểu đoàn 1/503 còn đang tảo thanh chiến trường, thì tiểu đoàn 2/503 đã tìm thấy 1 trung đoàn quân Bắc Việt khác cách TF Black chừng 4km về phía nam – tây nam. Trong 2 ngày giao chiến, tiểu đoàn 2/503 đã trải qua trận đụng độ lớn đầu tiên kể từ ngày 22 tháng 6 và rốt cục cũng bị bầm dập y như 2 tiểu đoàn anh em của nó.
 




Chương 10
Trận đánh tại căn cứ pháo binh 16





Những trận đánh ác liệt vẫn tiếp tục nổ ra trên toàn vùng Đắk Tô. Trong khi TF Black của McElwain đang phải chiến đấu để toàn mạng thì 3 đại đội thuộc tiểu đoàn 3, trung đoàn 8, sư đoàn 4 bộ binh lại bị pháo kích nặng nề bằng súng cối vào nơi đóng quân trên sườn cao điểm 724. Trận pháo kích này bắt đầu lúc 13g07 và kéo dài gần 30 phút. Đạn cối quân địch rót như mưa xuống đầu những lính bộ binh kém may mắn. Rồi trong khi lính Mỹ còn rúc đầu trong công sự thì quân Bắc Việt từ những cánh rừng xung quanh ùa ra tiến công. Đến 19g30 khi trận đánh kết thúc đã có 18 lính Mỹ tử trận, 118 bị thương. Sư đoàn 4 thông báo là phía Bắc Việt bị chết 92 người.

Cũng trong ngày 11 tháng 11, ở bắc Đắk Tô, 1 toán công binh được sự bảo vệ của đại đội C, tiểu đoàn 2, sư đoàn 1 kỵ binh bay (Troop C, 2d Squadron, 1st Cavalry) cũng bị bộ đội Bắc Việt tấn công. Tổn thất của lính công binh là chết 2, bị thương 8.

Nhằm xác định vị trí quân Bắc Việt, các toán viễn thám của lữ 173 đã thực hiện hàng chục nhiệm vụ xuất phát từ phi đạo của Đắk Tô. Ngày nào cũng có những toán viễn thám đi đi về về. Toán của Specialist 4 Moran đến Đắk Tô ngày 7 tháng 11 ngay sau trận đánh trên cao điểm 823. Trong suốt 24 tiếng đồng hồ họ ém quân trong 1 trảng nhỏ đâu đó gần Đắk Tô. Chuyến thám sát diễn ra trong 2 ngày mà ko tìm thấy dấu vết gì của bộ đội Bắc Việt.

Dù cho những toán viễn thám ko tìm ra địch quân, các nguồn tin tình báo khác của tướng Peers vẫn tiếp tục báo cáo về việc điều binh của các đơn vị Bắc Việt trong khu vực.
Trung đoàn 32 Bắc Việt tiến sang phía tây đánh vận động chiến với sư đoàn 4 bộ binh Mỹ. Trung đoàn 24 Bắc Việt thì dường như đang đóng chốt ở đông bắc Đắk Tô và thường xuyên đụng độ với quân VNCH tại đó.

Tuy thế, điều mà tướng Peers lo ngại nhất là việc di chuyển của trung đoàn 174 Bắc Việt từ vị trí của nó ở tây bắc Đắk Tô về khu vực phía nam Bến Hét. Vì rõ ràng là trung đoàn 66 Bắc Việt đã bị thiệt hại nặng sau chuỗi trận đánh với lữ 173 quanh cao điểm 823, nên Peers đoan chắc là trung đoàn 174 chuyển xuống phía nam là để bọc lót cho trung đoàn 66 rút sang Cambuchia và thay phiên cho trung đoàn này trên chiến trường. Để ngăn chặn việc này và chặn đường rút của trung đoàn 66, tướng Peers đã chỉ đạo cho tướng Schweiter cho quân nống sâu vào vùng đất của đối phương.

Tướng Schweiter cùng đại tá Powers bay khảo sát vùng hành quân trên trực thăng chỉ huy nhằm tìm nơi thích hợp để đưa quân đến. Việc chọn tìm rất khó khăn vì khu này có rất nhiều  núi non, rừng già rậm rạp bao phủ. Sau quá trình cân nhắc họ chọn 1 trận địa pháo cũ từng được sử dụng trong chiến dịch Greeley. Căn cứ pháo binh mới số 16 tọa lạc trên 1 cao điểm có 2 mỏm nằm cách phía tây nam điểm cao 823 5km và nằm cách đông nam cao điểm 882, mục tiêu của tiểu đoàn 1/503,  chỉ 2km. Căn cứ pháo binh 16 nằm trên rìa tây thung lũng sông Đắc Long (Dak Klong) và cách biên giới Campuchia về phía đông chỉ có 7km. Việc chiếm được cao điểm này sẽ cho phép lữ đoàn 173 kiểm soát 1 vùng rộng lớn ở phía tây và phía nam.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 12 Tháng Tám, 2014, 08:17:22 AM
Máy bay F-100, F-4, và B-52 của không quân đã tiến hành oanh tạc khu vực xung quanh căn cứ pháo binh mới trong suốt ngày 10 và đầu buổi sáng ngày 11 tháng 11. Cuộc tiến công được lên kế hoạch vào lúc 9g00 ngày 11 tháng 11 nhưng đã bị chậm trễ do những ‘cao bồi’ của đại đội trực thăng xung kích 335 đang bận bịu lo hỗ trợ TF Black. Đến 11g30, các đơn vị của thiếu tá James R. Steverson thuộc tiểu đoàn 2/503 bắt đầu đáp xuống. Các đại đội Bravo và Dog, ban chỉ huy chung, 1 khẩu đội cối 81mm cùng 1 trung đội thuộc đại đội công binh lữ 173 đã được đổ xuống trong vòng 30 phút. Tất cả đều hài lòng vì bãi đáp bình yên ko thấy có địch phòng thủ.

Lính công binh bắt đầu mở rộng bãi đáp để đón phần còn còn lại của tiểu đoàn sẽ đến vào ngày hôm sau. Họ vừa làm xong thì bộ đội Bắc Việt đang nấp trên các cao điểm cạnh đó bắt đầu bắn rocket và súng cối xuống bãi đáp. ‘Thiên binh’ phải rúc xuống đất suốt đêm.

Sáng hôm sau lúc 8g50, đại đội Alpha bắt đầu đổ xuống căn cứ pháo binh. Đến 9g20 thì toàn bộ đại đội đều đã ở trên mặt đất. Trong khi trực thăng bay đi để chở các đại đội Bravo và Charlie đến thì công binh bắt đầu kiến tạo trận địa pháo để đón pháo đội A, tiểu đoàn 3/319. Trong khi công binh làm việc thì đại đội Alpha sẽ bung ra ngoài căn cứ pháo binh tiến hành càn lên khu đất cao phía tây nhằm quét sạch quân đối phương.

Chỉ huy đại đội Alpha là đại úy Michael J. Kiley, tốt nghiệp West Point năm 1964, 1 cựu binh đã phục vụ kỳ hạn trước trong sư đoàn 1 Kỵ binh bay. Kiley mới về chỉ huy đại đội Alpha chưa đầy 2 tuần nhưng đã tạo được ấn tượng tốt trước các trung đội trưởng và binh sĩ về khả năng lãnh đạo. Kiley là 1 sĩ quan xông xáo nhưng ko hề liều lĩnh, có thể ứng phó với mọi tình huống. Anh cũng là 1 chỉ huy có nhiều uy tín.

Trung úy Matt Harrison đã mến Kiley ngay từ lần đầu gặp gỡ. Khi Kiley đến thì Harrison cũng từ trung đội trưởng lên làm đại đội phó. Tuy thế Kiley vẫn hỏi: “Cậu có phiền nếu ở lại với lính trong chiến dịch tiếp theo ko? Họ biết cậu và điều này sẽ giúp họ làm quen với tôi.”

Harrison vừa cảm thấy thất vọng vừa thấy hãnh diện. Trong cương vị đại đội phó, hầu hết thời gian anh sẽ ở tuyến sau lo xử lý chu toàn thường vụ đại đội. Nhưng Kiley lại yêu cầu anh giúp đỡ rồi lại có tin đồn rằng họ sắp đụng trận lớn, nên kinh nghiệm thực tế của Harrison sẽ rất có giá trị.

“Tất nhiên là tôi sẽ ở lại, thưa đại úy” Harrison đáp.

Harrison sẽ tiếp tục chỉ huy trung đội vừa làm 1 số công việc của đại đội phó cho tới khi chiến dịch đang diễn ra kết thúc.

Đại đội Alpha rời căn cứ pháo binh 16 lúc 9g30 ngày 12 tháng 11. Tiểu đội chuyên đi xích hầu của đại đội đi trước, sau đó là trung đội 1 của trung úy Harrison. Rồi tiếp đến là trung đội 2 dưới quyền trung úy Thomas Remington, ban chỉ huy của Kiley, trung đội hỏa lực và trung đội 3 của trung úy Joseph Sheridan.

1 lính dắt chó trinh sát đi cùng tiểu đội xích hầu. Harrison ko khoái mấy con chó này lắm. Cũng như đại úy Jesmer, bên tiểu đoàn 1/503, anh cảm thấy chúng quá bồn chồn và rất hay cảnh báo sai.

Đến 10g kém, ở phía tây căn cứ pháo binh 16 chừng 400m, trong khi leo dần lên 1 sống núi hẹp cây cối phủ kín, thì con chó trinh sát sủa. Trung sĩ Lance D. Peeples, tiểu đội trưởng tiểu đội xích hầu, lệnh thả con chó ra. Khi người lính dắt chó cúi xuống tháo khóa xích thì bất ngờ quân Bắc Việt khai hỏa. Từ cự ly 20m bên trái, hỏa lực súng cá nhân – súng máy nã tới tấp về phía tiểu đội xích hầu. Tiểu đội này vội lao đi tìm chỗ nấp và bắn trả lại quân Bắc Việt.

Nghe Peeples kêu cứu, Harrison cho trung đội xuống sườn dốc phía nam sống núi, cứ đi cho đến khi gặp tiểu đội của Peeples, Harrison ra hiệu cho Peeples vận động tới 1 chỗ đất cao hơn.

Tiểu đội xích hầu mới vận động trong rừng rậm được chưa đầy 5m thì từ phía tay phải, tiếng súng AK-47 rộ lên bắn tới. Peeples bị thương nặng ngã xuống.

Trung úy Harrison cố tiến lên sang phải để bắt tay với tiểu đội xích hầu, nhưng hàng tràng đạn súng cá nhân từ rừng cây bên tay trái cũng nã tới. 4 lính của Harrison gục xuống bị thương. Số còn lại phải ẩn nấp trong khi thương binh được cứu chữa.

Trước tình cảnh của Harrison, đại úy Kiley lệnh cho trung úy Remington tiến lên về phía bên phải.

Remington là dân vùng trung tâm Florida, 24 tuổi. Anh nhập ngũ tháng 6 năm 1966 từ khóa đào tạo sĩ quan dự bị của đại học nam Florida. Anh đến bổ sung cho đại đội Alpha, tiểu đoàn 2 ngay sau ‘trận đánh trên sườn dốc’ . Anh đã từng chạm súng ngắn ngủi vài lần khi đi tuần tiễu ở Tuy Hòa nhưng những thứ đó chả là gì nếu so với lần này.

Khi Kiley lệnh cho Remington tiến ra tổ chức hỏa lực chi viện tại chỗ, anh lập tức thi hành. Trung đội có 30 quân của anh xông lên, từ cây này tiến sang cây khác. Remington càng tiến xa bao nhiêu thì đạn địch bắn càng dữ dội bấy nhiêu. 1 số lính của anh thét lên khi bị trúng đạn của quân Bắc Việt. Remington chẳng có thì giờ để nghĩ đến bọn họ vì đó là việc của lính cứu thương. Anh chỉ mong tới chiếm lĩnh vị trí có thể chi viện cho Harrison và Peeples.

Trong khi Remington tiến lên, Kiley gọi trung đội 3 của trung úy Sheridan lên bố trí phía sau chu vi phòng thủ của mình. Trung đội hỏa lực thì tới chiếm lĩnh vị trí quanh ban chỉ huy của Kiley.

Khi 2 trung đội phía trước đã ổn định vị trí, họ liền tổ chức chi viện mạnh mẽ bằng hỏa lực tại chỗ tạo điều kiện cho tiểu đội xích hầu lùi lại  được chừng chục mét. Khi thấy họ đã an toàn, Harrison ra dấu cho ngừng bắn. Rừng rậm yên ắng trở lại.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 13 Tháng Tám, 2014, 08:15:52 AM
Kiley, lúc này vẫn muốn tiến tới mục tiêu, bảo trung úy Sheridan cho trung đội 3 tiếp tục tiến lên trong khi 2 trung đội kia lo yểm trợ. Sheridan, 24 tuổi, quê ở Orlando, Florida, mới làm trung đội trưởng được mấy tuần, bắt đầu cho quân rời chu vi phòng thủ.

Họ đi chưa được mươi mét thì rừng rậm lại ầm ầm tiếng súng. Lúc này, bên cạnh súng cá nhân còn có cả hỏa lực của súng máy, lựu đạn, súng chống tăng RPG và súng không giật khiến cho cả bầu trời như muốn nổ tung. 2 lính của Sheridan chết ngay tức khắc khi 1 quả đạn súng không giật nổ tung chỗ cái cây đằng sau họ. Thêm 6 người nữa cũng đã bị trúng đạn nhọn và mảnh lựu đạn.

Hỏa lực của đối phương cũng đang áp đảo 2 trung đội kia. Lựu đạn và đạn RPG nổ ùng oàng inh tai tại trung đội của trung úy Harrison và đã làm cho 1 số lính thương vong. Đạn súng cá nhân cũng khiến trung đội của Remington bị thương thêm 1 số nữa.

Binh nhất Manuel Orona, lính súng trường của Remington, xả đạn nhanh cũng như khi nạp chúng vào khẩu M16. Có vẻ như đạn của bộ đội Bắc Việt bay đến từ khắp nơi. Orona, 21 tuổi, người Tucson, Arizona đã tới nam VN hồi tháng 8. Khi biết anh tới đại đội Alpha, những lính dù khác đã trêu chọc, họ cứ nói “Alpha ko qua về”. Anh đã ko hiểu rõ câu nói trên có ý gì cho đến khi biêt lịch sử gần đây của đại đội. Tới khi đó anh mới biết những người tới gia nhập đại đội Alpha đều chẳng mong gì tới ngày về. (ám chỉ 'trận đánh trên sườn dốc' cao điểm 1338 ngày 22/6/1967 nơi đại đội Alpha bị tiêu diệt. ND)

Nằm nấp sau 1 cái cây, vừa bắn vừa nghe tiếng đạn địch rít veo véo liên hồi trên đầu, Orona bắt đầu cảm thấy dao động. Khi trận đánh gia tăng cường độ thì anh bắt đầu thấy bấn loạn. Orona tự nhủ mình phải bình tĩnh. Không thể bỏ rơi bạn bè được. Và thế là anh trở lại chiến tiếp.

Trong lúc trung úy Harrison chỉ huy trung đội chống lại những bộ đội Bắc Việt vô hình vô ảnh, thì đại úy Kiley bò lên chỗ của anh. Harrison cũng ko bất ngờ gì khi thấy đại đội trưởng. Kiley là như thế, anh muốn lên tận nơi giao tranh chứ ko muốn ngồi ở sở chỉ huy để chỉ đạo. Kiley hỏi: “Chuyện gì vậy?”

Sau khi nghe Harrison báo cáo tình hình, Kiley bảo “Lui về”.

Harrison bắt đầu ra lệnh cho trung đội lùi lại trong khi Kiley bò tiếp đi truyền lệnh tương tự cho Sheridan và Remington. Sheridan cho lính rút trước còn mình thì ở lại lo việc lấy 2 thương binh về. Sau khi chắc chắn thương binh đã được đưa về hết thì lúc ấy Sheridan mới rút.

Remington cũng ở lại chặn hậu cho trung đội thoái lui. Trong lúc đó, những lính lành lặn của trung đội lo việc cứu thương binh. Binh nhất Orona đỡ lấy 1 thương binh và mang anh này xuống sườn núi.

Đến 10g30, trong khi đại đội Alpha đang chiến đấu tìm cách thoát khỏi cuộc phục kích. Thiếu tá Steverson lệnh cho đại đội Bravo lấy ra 1 trung đội điều đi cứu đại đội Alpha. Đại đội trưởng đại đội Bravo, đại úy James P. Rogan đã chọn trung đội 2 của trung úy Bodine.

Bodine cùng với trung sĩ trung đội phó của mình là Edward E. Kitchen khẩn trương cho quân di chuyển. Đến 11g thì họ đã thu ngắn được 200m khoảng cách giữa 2 đơn vị. Lúc này thì đại úy Kiley đã lập lại chu vi phòng thủ ở đúng chỗ ban đầu. Khi trung đội Bodine tới nơi Kiley cho họ trám vào phía sau chu vi phòng thủ.

Trung úy Bodine vừa cho lính vào vị trí xong thì các chốt cảnh giới của đại đội Alpha báo về là bộ đội Bắc Việt đang vận động 2 bên sườn sống núi. Để tránh việc bị bao vây, chia cắt, Kiley lập tức lệnh cho mọi người lui lại khoảng 150m nữa. Họ đã an toàn lùi về quanh 1 cái hố bom lớn. Khi Kiley lo bố trí các trung đội thì trung đội hỏa lực tiến hành phát quang 1 bãi đáp để trực thăng đến tải thương.

Khi đại đội Kiley đã ổn định xong vị trí thì lính cảnh giới ở khu vực của đại đội Bravo, cách đó chừng 100m đã nổ súng vì thấy có những chuyển động trong khoảng 20m phía trước. Nghe tiếng súng bắn, Rogan vội lao tới chỗ đó.

Anh la lớn: “Bắn nhầm rồi! Ngừng bắn ngay!”

Rogan nghĩ rằng có lẽ quân mình đang bắn lính của đại đội Alpha, những người đang tìm cách rút sang vị trí của anh. Tất cả im ắng được mấy phút rồi bỗng từ 1 bụi tre cách đó chỉ 15m, 1 loạt đạn SKS (súng cạc bin của LX ta gọi là CKC. ND) bắn tới. Rogan chưa kịp ra lệnh thì lính xung quanh đã nổ súng. Địch cũng phát dương hỏa lực. Rogan ko thể tin nổi – bộ đội Bắc Việt lại lọt được vào giữa anh với đại đội Alpha!

Chỉ có 2 trung đội, với quân số chưa tới 60 người, lại ko thể gọi pháo kích hay không kích vì ko biết chính xác vị trí của đại đội Alpha. Rogan rơi vào thế bất lợi. Anh vừa mới nghĩ tới khả năng bị tràn ngập thì những thành phần đi đầu của đại đội Charlie đã tới được phía sau.

Thiếu tá Steverson đã rất sáng suốt khi lệnh cho đại đội Charlie của đại úy Harold J. Kaufman tới tăng cường cho 2 đại đội kia. đại đội Charlie và đại đội Bravo đã hội quân với nhau lúc 11g38 phút. 2 đại đội này cùng nhau tạo ra 1 thứ hỏa lực dữ dội. Đáp trả, quân Bắc Việt dùng RGP chống lại những ‘thiên binh’. Những trái đạn B-40 bay vù vù ra khỏi các bụi tre và nổ tung trong vị trí quân Mỹ.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 14 Tháng Tám, 2014, 08:46:10 AM
1 quả đạn B-40 đã làm Enrique Salas, thượng sĩ nhất của đại đội Bravo bị thương. Là 1 hạ sĩ quan sắt đá, đang phục vụ kỳ hạn thứ 2 trong lữ đoàn 173. Salas mới tới đại đội Bravo mất tuần nay. Còn trước đó, ông là trung sĩ trung đội phó của trung úy Remington, đại đội Alpha. Dù có khổ người thấp bé, Salas điều hành trung đội với bàn tay sắt. Đến cả Remington cũng phải kính nhi viễn chi. Nhiều lính dù trẻ thấy việc phải đối mặt với 1 trung đội Bắc Việt một mình còn hơn là nằm trong bản ‘phong thần’ của Salas. Ông này là 1 lính dù cực kỳ cứng rắn.

Khi súng bắt đầu nổ ở phía trước đại đội Bravo, Salas mới bắt đầu lấy khẩu phần C ra ăn sáng. Ông ném đồ ăn qua 1 bên rồi chạy theo đại úy Rogan. Quả B-40 đầu tiên nổ ngay bên cạnh, mảnh đã găm trúng tay trái, đầu gối trái và cằm ông. Dù bị mất rất nhiều máu, Salas vẫn ở lại, từ chối đi sơ tán cho đến hết ngày.

đại đội Alpha đã có gần 30 phút nghỉ ngơi, rồi thì quân Bắc Việt lại khai hỏa. Lần này chỉ có đạn súng cá nhân bắn sang các vị trí của đại đội – tuy ko có gì nghiêm trọng với lính dù nhưng cũng khiến cho trực thăng tải thương phải tránh xa.

Quá trưa thì có 2 chiếc F-100 đến. Kiley hướng dẫn chúng thả bom 500 cân Anh và napalm lên trên cao điểm. Sau khi máy bay hoàn thành công việc thì Kiley gọi pháo dập xuống rừng cây xung quanh.

Địch chỉ còn bắn lẻ tẻ cho đến sau 14g. Đến 14g10 thì thiếu tá Steverson lệnh cho đại đội Bravo tiến đến vị trí của đại đội Alpha trong khi đại đội Charlie của đại úy Kaufman rút về căn cứ pháo binh.

Khi Rogan hội quân với Kiley lúc 15g30, vấn đề ưu tiên hàng đầu của họ là thương binh. Những lính dù chưa bị thương cật lực dọn dẹp, phát quang cây cối để trực thăng cứu hộ có thể đáp xuống. Đến 15g50 thì chiếc trực thăng tải thương đầu tiên đã đến nơi. Sau đó suốt gần 90 phút tới tận khi trời tối là các chuyến tiếp theo.

Tổn thất của đại đội Alpha là 3 tử trận, 24 bị thương, trong số bị thương có cả Kiley và trung úy Harrison. 2 người đều ko chịu đi sơ tán. đại đội Bravo có 1 lính chết, 7 bị thương. Còn đại đội Charlie của đại úy Kaufman thì có 8 thương binh.

Đến 16g, Kaufman cho 1 trung đội ra tảo thanh khu vực họ đã chiến đấu cùng với đại đội Bravo. Họ phát hiện ra 5 xác lính Bắc Việt cùng 5 khẩu súng bị bỏ lại.

Vì thấy tiếng súng đã im hết, lúc 16g hơn, trung úy Harrison điều 1 tiểu đội làm nhiệm vụ xuống lấy nước ở con suối gần đó. Chỉ khoảng 10 phút sau họ đã chạy về lại trận địa phòng thủ qua đêm của đại đội Alpha, hò hét đầy phấn khích: “Xem bọn tôi có gì này! Xem bọn tôi có gì này!”

2 lính trong tiểu đội đang lôi theo 1 bộ đội Bắc Việt. Harrison báo tin này ngay cho đại úy Kiley rồi cũng len vào đám đông vây quanh người tù binh. Với Harrison thì người lính địch trông còn trẻ hơn cả mấy cậu lính tuổi teen của anh. Anh ta có vẽ rất khiếp hãi, có lẽ vì sợ bị quân Mỹ hành quyết. Ấn tượng nhất với Harrison là bộ quân phục cùng súng ống của tù binh còn rất mới, trên súng vẫn còn chưa sạch hết vết dầu niêm cất(Cosmoline). Harrison nhận thấy bộ đội Bắc Việt có 1 hệ thống tiếp vận mạnh hơn nhiều so với những gì từng nghĩ. Anh tự nhủ vậy thì nguy rồi.

Trung đội của trung úy Bodine được chỉ định áp giải tù binh về căn cứ pháo binh để trực thăng chở đi. Khi tới căn cứ pháo binh 16, Bodine đã bàn giao tù binh cho đại úy Kaufman. Kaufman có biết một chút tiếng Việt nên đã nói chuyện với người tù binh. Trong chốc lát, Kaufman biết người lính kia 20 tuổi, đã nhập ngũ được 2 năm, đang thuộc 1 đại đội của tiểu đoàn 4, trung đoàn 174 Bắc Việt. Đại đội của anh ta cùng 1 đại đội nữa đã tham chiến ngày hôm ấy. Kaufmanchưa kịp hỏi thêm thì người của ban quân lực (S-1) đã tới đem tù binh về Đắk Tô.

Đối với các đại đội súng trường của tiểu đoàn 2/503
thì suốt đêm hôm đó mọi thứ đều yên tĩnh. Cho đến 4g30 thì có khoảng 1 chục quả đạn cối được bắn xuống gần 2 chu vi phòng thủ. Vì không rót trúng chu vi phòng thủ nên chúng chẳng gây ra thiệt hại gì ngoại trừ việc quấy rầy giấc ngủ của các ‘thiên binh’.

Sau khi cho quân đi thám sát vào buổi sáng, 2 đại đội Alpha và Bravo trở về căn cứ pháo binh 16 và về đến nơi lúc 8g45. Trong khi các binh sĩ lo bổ sung đạn dược, đồ ăn, nước uống thì đại úy Kaufman và đại úy Rogan hội đàm cùng thiếu tá Steverson và sĩ quan hành quân tiểu đoàn.

Steverson lệnh cho 2 đại đội rời căn cứ pháo binh tiến lên phía bắc, vượt 1 thung lũng nhỏ, rồi chiếm mỏm núi cách đó chừng 300m. Sau đó các đại đội sẽ rẽ trái rồi tiến sang phía tây. Vận động như thế sẽ cho phép họ tiến đến mục tiêu của mình là 1 ngọn đồi ko đánh số cách đó hơn 1km. Ý định của Steverson là né tránh các vị trí của bộ đội Bắc Việt nằm ở phía tây căn cứ pháo binh (nếu có). Khi đã tới nơi thì 2 đại đội sẽ đóng vai trò chốt chặn để tiểu đoàn 1/503 từ khu vực lân cận điểm cao 823 tiến xuống phía nam. Steverson bảo 2 đại đội trưởng sẽ phải tiến ra ngay sau khi phi pháo (từ căn cứ pháo binh 15, do căn cứ 16 quá gần với mục tiêu) hoàn tất việc oanh kích chuẩn bị trên khu vực. Các trung đội hỏa lực của các đại đội này sẽ ở lại căn cứ pháo binh. Thay vì súng cối, các đại đội sẽ đem theo 1 súng không giật 90mm, vì hỏa lực bắn thẳng của chúng chống lại các vị trí của quân Bắc Việt có hiệu quả hơn là súng cối. Ngoài những hỏa lực có sẵn, họ còn được yểm trợ bằng 2 đại liên 50 cal, 5 cối 81mm và 4 cối 106,7mm đặt tại căn cứ pháo binh 16.

Trong khi Alpha và Bravo ra đi, đại đội Charlie sẽ lo bảo vệ căn cứ pháo binh. Còn đại đội Dog sẽ tiến hành tuần tiễu quanh khu vực lân cận căn cứ.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 15 Tháng Tám, 2014, 09:00:10 AM
2 đại đội rời căn cứ pháo binh lúc 13g30. Đại đội của Rogan đi trước với trung đội 3 của trung úy McDevitt dẫn đầu. Phía sau McDevitt là ban chỉ huy của Rogan rồi đến 2 trung đội súng trường. đại đội Alpha theo sau đại đội Bravo, lo việc đoạn hậu.

Đến 14g50 sau khi rẽ qua hướng tây thì McDevitt đã trèo lên sống núi được gần 300m. Cho đến lúc này thì anh cũng như lính dưới quyền vẫn chưa thấy bất kỳ 1 dấu hiệu nào của quân Bắc Việt. Rồi người lính xích hầu báo về là anh ta vấp phải 1 cái gì đó. McDevitt bèn đi lên trước. Ngay sau đó anh dùng điện đài báo cho Rogan là trung đội mình đã thấy 5 cái thùng loại 1 gallon do Mỹ sản xuất chứa khí độc CS cùng 1 số tương đương quả bom chùm chưa nổ (cluster bombs). (mấy quả này được chứa trong quả bom mẹ là bom khai quang CBU. ND)

Ít phút sau Rogan gọi lại truyền lệnh của Steverson cho McDevitt đeo mặt nạ phòng độc vào và hủy mấy thùng CS đi. Trong lúc tiến hành công việc, 1 số quân của McDevit đã bị trúng độc do mặt nạ bị lỗi. Rogan lệnh cho trung đội của trung úy Bodine lên đi đầu.

Khi Bodine tiếp tục trèo lênh đỉnh núi, thì giác quan thứ 6 mách bảo anh rằng quân Bắc Việt đang ở rất gần. Đôi mắt lọc lõi của anh rà soát khắp rừng để tìm dấu vết đối phương, nhưng anh ko tìm thấy gì hết. Trên đầu hàng quân, anh lính Brutus cùng con chó béc dê Đức, tiến bước 1 cách tự tin. Suốt 1 dặm ko hề có dấu hiệu gì của bộ đội Bắc Việt.

Đi giữa Bodine và tay lính xích hầu là binh nhất Mike Nale. Anh dường như ko thể tập trung vào việc tìm kiếm lính Bắc Việt. Sáng hôm đó ở căn cứ 16, anh vừa ký tên vào tờ giấy phép cho chuyến nghỉ xả hơi tại Úc. Chỉ mấy hôm nữa thôi là anh đã 'tếch' xa khỏi cái chốn khổ ải này những 1 tuần.

Hai người bạn thân của Nale là Sp4 Steve Varoli và binh nhất Doug Roth cũng đang đi cạnh đó. Mắt họ cũng đang rà soát địa hình địa vật, đề cao cảnh giác trước mọi dấu vết của quân Bắc Việt.

Đến 15g45 thì Rogan bảo Bodine dừng lại. Anh muốn tìm chỗ đóng quân nghỉ đêm. Sau khi tìm kiếm trong khu vực, Rogan nhận thấy ko thể có 1 chỗ đủ rộng cho cả 2 đại đội nên nói Bodine tiếp tục đi rồi gọi Kaufman kéo đại đội Bravo lên gần.

Bodine tiến thêm lên 200m nữa thì mới tìm được chỗ đóng quân thích hợp. Anh cho trung đội tản ra tổ chức thám thính khu vực. Đang tiến hành thì người lính xích hầu báo anh ta nhìn thấy 2 căn hầm trên sườn bắc mỏm núi. Bodine tiến đến chỗ đó. Trước khi đến được chỗ người lính xích hầu thì 2 tiếng súng AK-47 đã phá tan sự yên tĩnh của khu rừng. Trung đội 2 vội vàng ẩn nấp.

“Coi chừng lính bắn tỉa trong đám cây.” Bodine hô. Trong khi lính dù đang rà soát đám cây cối, Bodine gọi điện cho Rogan. Anh xin đại đội trưởng cho bắn súng không giật 90mm vào chỗ mấy cái hầm. Rogan chấp thuận đồng thời bảo Bodine lo rìa bắc khu vực, anh sẽ cho trung đội 3 của trung úy McDevitt tiến lên bao rìa nam. Trung đội 1, dưới quyền trung úy Paul Gillenwater (West Point khóa 1966) sẽ bảo vệ phía sau và liên kết với đại đội Alpha. Cả đại úy Rogan cũng như đại úy Kaufman đều ko muốn cho bộ đội Bắc Việt cơ hội len vào giữa và chia cắt bọn họ.

Trở lại trung đội Bodine, binh nhất Charles A. Marshall, xạ thủ khẩu 90mm đã bắn 1 phát vào căn hầm nghi có quân Bắc Việt. Ngay khi trái đạn phát nổ, địch quân đã khai hỏa. Đạn súng cá nhân và súng máy từ hàng chục vị trí ko phát hiện được lao vun vút vào trung đội.

Trong lúc Marshall ngắm bắn cái hầm thứ nhì, Sp4 Jimmy Tice nhét viên đạn khác vào khóa nòng khẩu súng. Trước khi báo hiệu cho Marshall biết mình đã xong việc. Tice thét lên mắng Sp4 Robert L. Ross do anh này đang chắn ngay luồng phụt của khẩu súng (backblast - khi súng bắn sẽ tạo ra luồng lửa phản lực phụt về phía sau rất nguy hiểm. ND) Ross nhìn Tice rồi bỗng bật ngửa ra sau vì bị 1 lính bắn tỉa địch bắn trúng đầu. Marshall chưa kịp hoàn hồn sau khi chứng kiến cái chết của người bạn thì 1 loạt lựu đạn địch đã nổ tung xung quanh khẩu súng. Marshall quay mũi súng về phía mà anh nghĩ lựu đạn được ném ra và bóp cò. Sau đó anh bò tới chỗ Ross. Chưa tới được chỗ anh bạn thì đạn súng cá nhân đã cày khắp xung quanh. Lần này thì là đạn Ak-47 bắn ra từ phía sau Marshal! Marshall lăn đến phái sau xác Ross, dùng súng M16 nã vào những ngọn tre ở phía đông nam. Anh nghĩ hình như khắp nơi đều có 'bọn khốn' chết tiệt ấy.

Trong lúc bắn nhau, trung úy Bodine cùng điện đài viên của mình bò dích dắc đến chỗ ban đầu, nơi người lính xích hầu phát hiện ra mấy cái hầm. Sau khi 2 phát súng đầu tiên nổ thì ko ai còn thấy anh lính dù kia đâu nữa. Nếu anh ta bị thương nằm đó thì Bodine sẽ tới đưa về. 2 người bò về phía đó được chừng chục mét thì mấy loạt RPD dữ dội đã khiến cho họ phải lùi lại tìm chỗ nấp.

Bodine cảm thấy có 1 chất lỏng nóng chảy xuống mặt. Anh sờ tay lên trán và thấy nó dính đầy máu. Anh ko biết lúc nào hay vì sao mình lại bị thương. 1 lính cứu thương băng bó vết thương cho anh.

Sau đó Bodine hô lệnh ngừng bắn. Anh ko thể biết được bao có nhiêu đạn bắn đến cũng như số đã bắn đi. Phải mất mấy phút thì lệnh trên mới đến được tất cả các thành viên của trung đội, nhưng tất cả nhanh chóng ngừng bắn ngay. Trong lúc tạm lắng, Bodine quyết định tới xem người lính xích hầu thế nào.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 18 Tháng Tám, 2014, 09:31:50 AM
Vừa đến chỗ ban nãy, thì súng lại nổ, nhưng có vẻ còn dữ dội hơn trước. Bodine tới nấp sau 1 cây. Anh tóm lấy ống nói từ điện đài viên. Khi vừa mới gọi cho Rogan thì bỗng thấy dây nối ống nói với điện đài căng ra.

“Thôi nào, chùng dây lại coi” anh quát người lính điện đài.

Khi ko nghe tiếng đáp anh mới nhìn sang. Người lính điện đài đang nằm ngửa, máu đang phun có vòi từ 1 lỗ đạn ngay trên cổ. Ko chấp nhận sự thật rằng anh này đã chết, Bodine bắt đầu lôi anh ta vào chỗ nấp, miệng thì thét gọi cứu thương.

Có vật gì khiến anh phải ngước lên nhìn. Trong cái cảnh sẽ ám ảnh anh suốt nhiều năm này, Bodine nhìn thấy 3 quả lựu đạn Trung Quốc sản xuất từ trên bầu trời xanh ngắt rơi thẳng tới chỗ mình. Chúng như 1 đoạn phim quay chậm, rõ nét rồi 3 trái nổ chết chóc cứ tuần tự rơi xuống đất. Bodine ôm chặt cái mũ sắt trên đầu và dùng hết khả năng cố co mình lại.

Tiếng lựu đạn nổ lộng óc. Bodine thấy chân trái đau kinh khủng. Chẳng có thời gian để xem xét thương tích, anh bò về giữa trung đội, hét lên lệnh mọi người siết chặt hàng ngũ.

Bộ đội Bắc Việt bám sát gót Bodine. Anh bắn CAR-15 vào địch. Mới được 4 phát thì súng bị hóc. Bodine có thể nhìn thấy lính Bắc Việt chạy thoăn thoắt từ cây này sang cây khác cách đó chỉ 20m. Chẳng biết nhặt đâu được 1 khẩu M16 và anh xả ngay 1 băng về phía kẻ thù. Tràng đạn đã làm đối phương chậm lại đủ để Bodine nhoài đến chỗ nấp cùng với Marshall, Tice và nhiều lính khác sau 1 đống cây.

1 người lính, là Sp4 Wayne P. Murray, đã đặt khẩu M60 lên trên đống cây. Nó nổ hàng tràng đạn giận giữ lên đỉnh núi. Binh nhất Willie J. Simmons ở bên cạnh thì đang ném lựu đạn. Sau 1 tiếng nổ, bất ngờ Simmons nhô lên, khẩu M16 sẵn sàng nhả đạn. Anh này chưa kịp bóp cò thì đã bị trúng 1 viên đạn vào giữa 2 mắt. Murray với qua anh thì bị 1 viên đạn Bắc Việt bắn trúng ngay ngực. Marshall định băng bó cho bạn, nhưng Murray đã chết trước khi anh kịp mở túi cứu thương ra.

Binh nhất Nale đã tìm thấy chố nấp ở phía trước, bên trái Bodine, sau 1 đống gỗ tếch. Chỉ có 1 mình, trong khi phần còn lại của đại đội ở phía sau, Nale gác khẩu M16 lên trên đống gỗ và xả đạn ào ào vào rừng cây trước mặt. Anh bắt hết mấy băng đạn thì nghe tiếng người gọi cứu thương. Khi ngoái đầu lại xem thử ai trúng đạn thì 1 trái đạn B-40 nổ tung ngay phía sau Nale.

Sức nổ đã nhấc bổng Nale lên khỏi đống gỗ, rồi ném ra sau 1 tổ mối lớn. Từ mấy lỗ thủng lớn trên tay phải, máu phun ra. Anh đang cố bò lùi về chỗ đống gỗ thì 1 phát đạn bắn tỉa đã cắm xuống ngay bên cạnh. Thế nên anh đành rúc vào sau 1 mô đất dưới chân tổ mối. Mấy viên đạn bắn tỉa rít lên bay đến rồi sượt qua chân anh. Ko thể nhìn thấy tên bắn tỉa nếu ko nhô mình ra ngoài 1 cách nguy hiểm. Và cũng chẳng thể nào nhảy lại nấp sau đống gỗ được nữa. Nale đã bị mắc kẹt.

Sp4 Steve Varoli cách đó ko xa đã thấy cảnh Nale bị vụ nổ hất văng ra khỏi đống gỗ. Anh ko nghĩ rằng bạn mình còn có thể sống sót sau vụ nổ như vậy. Khi Varoli quay qua báo cho binh nhất Doug Roth biết Nale đã chết thì bỗng cảm thấy bị 1 cú trời giáng vào đầu và ngất đi.

Đạn B-40 tiếp tục nã vào cái chu vi phòng thủ nhỏ bé. Tiếng hú đặc trưng khi chúng phóng xuống dốc đã báo hiệu cho lính dù biết ngay. Thế nhưng nhiều ‘thiên binh’ vẫn cứ là nạn nhân khi chúng phát nổ.

Trong khi đó trung úy McDevitt cùng trung đội đang ở trong vị trí nằm dọc rìa nam của mỏm núi. Đạn B-40 cứ thỉnh thoảng lại từ trong rừng lao xuống rồi nổ tung giữa các binh sĩ của McDevitt. Có 1 quả đã bắn trúng bụi tre rậm cạnh McDevitt. Mạnh vỡ sắc lẻm văng trúng anh khiến cho máu chảy ròng ròng trên mặt và cánh tay của McDevitt. Hàng chục vết cắt khiến anh đau kinh khủng, nhưng ko gì có thể ngăn nổi McDevitt. Anh thúc lính “Tiến lên!”

Rogan liên tục gọi điện nhắc McDevitt “Coi chừng lính bắn tỉa trên cây”. McDevitt cho lính xả ào ào đạn M60 bắn từ ngọn tre xuống tới gốc. Các xạ thủ đã được tưởng thưởng khi 1 số lính bắn tỉa địch bị bắn rơi từ tổ của họ xuống.

Ở chỗ Bodine, nhiều trái B-40 đã phát nổ ngay đằng trước đống cây anh nấp. Chắc mẩm những quả đạn vừa rồi đã diệt hết quân Mỹ, lính Bắc Việt vội vã ùa đến. Bất ngờ, Bodine, Tice, cùng Marshall nhô lên từ sau đống cây, súng M16 quạt ngang hạ gục tất cả.

Trong lúc đó đại úy Rogan đã tới gần cách chỗ Bodine 20m. Rừng quá rậm nên anh ko thể nhìn thấy người lính nào của Bodine cả. Anh đã cố mấy lần liên lạc bằng điện đài với Bodine, nhưng đều ko thành công. Anh đâu biết rằng lính điện đài của Bodine đã chết còn điện đài dự phòng thì bị thủng lỗ chỗ. Vì cần phải biết thêm về tình hình nên Rogan thét bảo Bodine lên nghe điện đài. Thay vì thế Bodine cho 1 lính liên lạc chạy xuống chỗ Rogan.

Tới lúc này thì Specialist Varoli đã tỉnh lại. Anh bị 1 viên đạn của lính Bắc Việt bắn trúng ngay mũ sắt. Viên đạn vỡ tan, nhưng mảnh của nó đã xuyên vào đầu anh. Thế nhưng anh cũng chẳng có thời giờ để quan tâm đến bản thân. Binh nhất thì Roth bị 6 vết thương ở 2 chân. Varoli đã băng bó giúp Roth rồi nạp đạn lại cho khẩu M60. Sau đó Roth chỉ thị mục tiêu cho Varoli thì tưới đạn về phía quân địch.

Có thời điểm, hơn chục lính Bắc Việt xông ra khỏi chỗ nấp để tấn công thẳng tới chỗ Varoli và Roth. Mặc kệ đạn bay véo véo bên cạnh, Varoli xổng lưng quỳ, tay ôm khẩu M60, dây đạn kéo lê trên mặt đất. Với điếu thuốc trên môi, Varoli quạt súng lia lịa, mồm thì gào tướng “Nhào vô! Mẹ chúng mày! Tao chờ đây này! Nhào vô!”.

Varoli cứ phơi mình ra, ko đếm xỉa hiểm nguy và bắn hạ bất cứ lính Bắc Việt nào anh nhìn thấy.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 19 Tháng Tám, 2014, 09:14:15 AM
Cách đó ko xa, binh nhất Nale vẫn đang bị ghìm chặt. Anh lấy ra lựu đạn ra khỏi bao, đặt chúng đúng tầm tay. Nếu quân Bắc Việt nhào đến, anh sẽ chơi tất tay luôn. Địch sẽ phải trả giá đắt.

Tuy nhiên Nale đã ko phải làm vậy. 1 số lính thuộc trung đội McDevitt đã đến tới được chỗ anh. Trong khi họ bắn chi viện, 2 lính khác kéo Nale qua hõm đất về dưới đống gỗ. Nale vẫn ở lại tuyến đầu, chứ ko chịu đi sơ tán vì thương tích. Lát sau 1 hạ sĩ quan trong trung đội anh, là trung sĩ Funderburk, cuối cùng cũng đã giết được tay bắn tỉa đã gây cho Nale quá nhiều rắc rối.

Trận đánh giằng co đã diễn ra gần 1 tiếng đồng hồ mà chưa có dấu hiệu thuyên giảm. Đại úy Rogan đã phối hợp với phi pháo nhằm chống lại quân Bắc Việt. Nhưng đối phương đã áp sát trung đội Bodine, nên thật khó mà oanh kích hiệu quả nếu ko gây nguy hiểm cho quân Mỹ. Đến 17g00 thì thiếu tá Steverson cùng sĩ quan liên lạc pháo binh tiểu đoàn phải lên trực thăng bay tới khu chiến với hy vọng đưa hỏa lực pháo chi viện vào gần hơn. Thế nhưng, cũng như thường lệ ở Tây Nguyên , tán rừng rậm rạp đã khiến cho họ hiếm khi nhìn rõ những gì đang xảy ra bên dưới.

Những khẩu pháo 105mm của pháo đội A ở căn cứ pháo binh 16 đã hạ nòng hết cỡ có thể bắn thẳng vào sườn núi với cự ly chưa đến 400m. Mấy khẩu đại liên 50 cal cũng tuôn những luồng đạn chết chóc vào trận đánh, nhưng vì ko sao xác định chính xác vị trí đại đội Bravo, nên các loại hỏa khí ghê gớm này cũng coi như vô dụng.

Quân Bắc Việt tiếp tục gia tăng áp lực lên các vị trí tiền tiêu của trung đội Bodine. Từ khoảng cách chưa đến 20m, địch nã đạn dữ dội về phía lính dù. Có nhiều lính bắn tỉa địch nên bất kỳ sự di chuyển nào cũng trở thành 1 cuộc phiêu lưu nguy hiểm. Cứ vài phút lại có 1 quả đạn B-40 từ sáng lòe từ trong rừng bắn ra rồi nổ tung khi bắn trúng cây cối hay thân thể con người.

Bodine biết mình ko thể giữ những vị trí tiền tiêu lâu hơn được nữa. Anh đã có quá nhiều thương vong, cần phải lùi về nhập với phần còn lại của đại đội. Bodine truyền lệnh: “Rút về! Đem theo hết thương binh.” Từ lúc mấy cái điện đài bị phá hủy trong trận đánh, Bodine rất muốn gặp Rogan, để có thể tư vấn cũng như xin chỉ thị.

Từ chỗ nấp Bodine đứng dậy. Khi anh mới vừa xoay người thì bị 1 viên đạn bắn tỉa của bộ đội Bắc Việt bắn trúng mông phải. Lúc này anh mới nhận ra là quân Bắc Việt đã vận động ra phía sau rồi. Những ký ức đau xót về cái trận mà đại đội Alpha bị thảm sát hồi tháng 6 chợt lóe lên trong đầu Bodine và anh chẳng hề muốn phải chịu 1 kết cục như thế chút nào hết.

Mặc kệ cơn đau, Bodine tập tễnh luồn rừng đi tìm Rogan và rất đỗi ngạc nhiên khi thấy đại đội trưởng ở phía sau chỉ cách có 20m. Anh đâu biết là Rogan đã lên gần đến thế.

Sau khi nghe báo cáo tình hình, Rogan đồng ý cho Bodine rút. Anh gọi điện cho McDevitt và được anh này cam đoan sẽ rút lui an toàn. Khi anh quay sang Bodine thì 1 quả B-40 nổ tung ở cái cây sát cạnh.

Bodine ngã vật xuống đất. Bị mảnh vỡ găm trúng lưng và tay phải. Tuy rất đau nhưng vẫn còn tỉnh, Bodine còn nhìn thấy 2 lính điện đài của Rogan cùng với y tá trưởng đại đội Bravo đã bị vụ nổ giết chết. Rogan cũng bị thương vì nhiều mảnh nhỏ nhưng vẫn chỉ huy được.

Thoạt đầu Bodine còn định trở về trận tuyến trung đội mình, nhưng vết thương nặng đã khiến anh ko thể làm vậy. Người ta cứ kéo anh về trạm sơ cứu dù anh cố chống lại.

Đại úy Rogan gỡ điện đài từ xác điện đài viên của mình. Anh gọi cho McDevitt “November Six, rút về chỗ tôi”. Anh chưa kịp lập lại mệnh lệnh cho trung đội của Bodine thì McDevitt đã gọi về báo rằng anh ta ko thể nhúc nhích gì được. 2 bên đang đấu súng rất dữ và quân Bắc Việt đang ở quá gần.

Do Bodine  vắng mặt nên trung sĩ nhất Kitchen tạm nắm quyền chỉ huy trung đội. Anh này bò tới chỗ binh nhất Nale và hỏi: “Cậu biết bọn khốn ở chỗ nào ko?.”

“Chó chết! Biết chứ trung sĩ. Đâu đâu cũng có chúng nó.” Nale đáp.

Thật vậy. Họ đang ở cạnh 1 chỗ có 6 lính dù nằm chết bên cạnh đống gỗ. Phía bên kia lại là 6 xác địch quân, trong đó có 1 sĩ quan còn ôm chặt khẩu M16 mà hắn giật được của lính Mỹ phía bên kia đống gỗ.

Kitchen báo cho Rogan biết tất cả lính trung đội 2 đều đã chết hoặc bị thương.  Sẽ ko thể trụ nổi nếu ko có cứu viện.

Sau đó Rogan gọi cho đại úy Kiley. Anh ko cần cả đại đội Alpha kéo lên trên này nhưng cần nó chi viện 1 trung đội. Kiley điều trung đội của trung úy Remington tiến lên chỗ Rogan.

Khi Remington lên tới đại đội Bravo, Rogan nói anh hợp lực cùng trung đội của trung úy Gillenwater, đánh sang phải để khôi phục cánh này. Nếu việc này thành công thì thương vong của trung đội 2 sẽ được đem về.

Dù chưa từng phối hợp cùng nhau trước đây, Gillenwater và Remington vẫn phản kích thành công vào các vị trí tiền tiêu của đại đội Bravo. Đòn tấn công táo bạo khiến quân Bắc Việt bị bất ngờ và phải lùi lên đỉnh cao điểm. Trong lúc tạm lắng, trung đội 3 của McDevitt cùng trung đội 2 của Bodine đã rút về chỗ Rogan. Hầu hết thương binh đã được mang ra nhưng do cây cỏ quá rậm rạp nên cũng vẫn có 1 số ca bị bỏ sót.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 20 Tháng Tám, 2014, 08:58:25 AM
Binh nhất Nale là 1 trong số đó. Anh ở nằm sau đống gỗ suốt đêm, ném lựu đạn về phía quân Bắc Việt đang mò tới chứ ko dám bắn vì sợ lộ vị trí.

Dù quân đại đội Alpha đã kết hợp với đại đội Bravo, bộ đội Bắc Việt vẫn cố gắng tràn ngập quân Mỹ. Lợi dụng việc quân Mỹ thiếu yểm trợ của phi pháo, bộ đội Bắc Việt bò xuống 2 bên sống núi dùng súng cá nhân, trung liên từ nhiều hướng bắn quấy rối. Lính dù ném lựu đạn đáp trả. Tuy nhiên đạn dược mau chóng cạn dần.

Đại úy Rogan gọi điện xin tiếp tế gấp đạn. Lúc 18g45, trời đã gần tối hẳn thì 2 trực thăng Huey bay đến trên cao. Rogan can đảm đi ra chỗ trống để ra hiệu cho trực thăng thả đạn xuống. Khi chiếc trực thăng thứ nhất vừa làm xong thì 1 loạt trung liên Bắc Việt bắn lên. Chất lỏng thủy lực phun ra (Hydraulic fluid) từ những chỗ dây bị đứt. 2 thành viên phi hành đoàn cũng trúng đạn. Phi công đành phải quay về Đắk Tô dưới sự bảo vệ của chiếc trực thăng thứ hai.

May mắn là số đạn đã rơi đúng chỗ. Mọi người hăm hở nhặt lấy đạn, lựu đạn rồi mang về phòng tuyến.

Với 2 chục thương binh đang chen chúc trong chu vi phòng thủ, Rogan biết cần phải cho họ ra ngoài để chữa trị. Anh yêu cầu trực thăng tải thương. Tới 20g00, 1 chiếc trực thăng xuất hiện trên chu vi phòng thủ. Khi nó vừa mới hạ độ cao súng tự động Bắc Việt trong rừng cây quanh đó rộ lên ầm ầm. Chiếc trực thăng bị hư hại nặng và phải ì ạch lết về Đắk Tô.

Thương binh sẽ phải nằm lại trên mặt đất hết đêm. Dù lính cứu thương đã làm hết khả năng nhưng có 1 số ca vẫn chết trước khi trời sáng.

Suốt đêm quân Bắc Việt tổ chức đánh thăm dò chu vi phòng thủ. Đến rạng sáng, Rogan cho 1 số toán nhỏ ra ngoài thám sát để tìm lính Mỹ mất tích. Họ đã tìm được 1 số.

Binh nhất Nale cũng được cứu thoát khi 2 lính dù cầm súng M60 bỗng đến ngay cạnh. Họ đã bắn yểm trợ cho anh chạy ào về chu vi phòng thủ.

Specialist Varoli, đang nằm giữa đám thương binh, rất đỗi kinh ngạc khi nhìn thấy Nale. Anh reo lên “Cậu chưa chết sao?”

“Tất nhiên là chưa rồi, cái thằng ngốc này. Trông tao giống ma lắm sao?” Nale mắng cậu bạn.

Nale thấy rất phấn khởi vì mình vẫn còn sống sau trận đánh khốc liệt. Anh không thể tin rằng đã thoát nạn sau những gì phải chứng kiến suốt 18 giờ qua. Anh đã quên bẵng kỳ nghỉ xả hơi tại Úc và chỉ còn niềm hoan hỉ khi thấy mình còn sống.

Sau khi chắc chắn đã lấy được hết thương binh, đại úy Rogan và Kiley cho 2 đại đội di chuyển sang phía đông gần 300m. Từ vị trí mới, thương binh được tập trung vào 1 hố bom lớn, để bắt đầu đợt di tản cuối cùng.

Từ 9g sáng và kéo dài suốt mấy tiếng sau đó, trực thăng tải thương đáp xuống hố bom rồi lại bốc lên mang thương binh về 1 nơi an toàn, tiện nghi đó là trạm cứu thương tiểu đoàn.

Cha Watters đã ra khu chiến trên chuyến trực thăng tải thương đầu tiên. Ông biết lính dù ngoài đó mới bị đòn đau và mình có thể an ủi họ. Ko phải ai cũng thấy việc đi của ông là cần thiết. Cả cha Peters lẫn thượng sĩ cố vấn Rogiers đều ngăn cản khi thấy cha Watters trèo lên trực thăng.

“Đừng ra đó, Charlie”. Cha Peters nài nỉ. “Ngoài đó vẫn còn bắn nhau, mà ta chẳng biết quân Bắc Việt ở chỗ nào hết.”

Watters ko nghe, ông nói với 2 bạn. “Các con của tôi đang bị tổn thương. Bọn nó cần tôi. Tôi ko thể ở lại nếu biết chúng cần. Nhất định phải ra ngoài đó.”

Nói xong, Watters ra hiệu cho phi công sẵn sàng. Khi Peters cùng Rogiers bước lui, động cơ chiếc Huey nổ giòn, cánh quạt quay nhanh dần. Ít phút sau chiếc trực thăng đã cất cánh và Peters sẽ chẳng còn gặp lại người bạn của mình nữa.

Specialist Varoli ko muốn đi sơ tán, nhưng đại úy Rogan tới xem và lệnh cho anh phải về ngay căn cứ pháo binh 16 để chữa trị. Trong khi chờ máy bay tải thương đến, Varoli nhìn thấy cha Watters đang vỗ về các thương binh. Vị linh mục tự tin đi lại giữa đám lính dù tơi tả, an ủi họ bằng những lời lẽ khúc chiết. Nếu ai đó có thể làm cho các ‘thiên binh’ lên tinh thần, Varoli nghĩ, thì người ấy chính là cha Watters.

đại đội Bravo đã bị thiệt hại nặng trong trận đánh. 21 thành viên của nó đã tử trận, 17 bị thương. Hầu hết thương vong đều thuộc trung đội của trung úy Bodine.

Trong khi việc tải thương vẫn tiếp tục, đại đội Dog rời căn cứ pháo binh 16 tới hội quân với đại đội Alpha và Bravo. đại đội Charlie, đã giao tranh 3 trận nhỏ với bộ đội Bắc Việt ở ngay ngoài căn cứ đêm ấy giờ lại di chuyển về làm nhiệm vụ bảo vệ căn cứ pháo binh.

Suốt buổi sáng ngày 14 tháng 11, đại úy Rogan hướng dẫn máy bay, pháo và cối 106,7 ly oanh kích xuống các vị trí nghi ngờ có quân Bắc Việt. Đến 13g00 thì cả 3 đại đội tiến lên càn quét sườn cao điểm. đại đội Bravo đi giữa, đại đội Alpha đi bên trái còn đại đội Dog bên phải. Họ tiến tới khu vực giao chiến ngày hôm trước rồi đi thêm mấy trăm mét nữa rồi mới quay lại lập vị trí phòng ngự để nghỉ đêm.

Trong lúc càn quét, lính dù tìm thấy 34 xác bộ đội và hơn 2 chục vũ khí địch. Ngày hôm sau, đại đội Alpha và đại đội Bravo tiếp tục lục soát khu vực trong khi đại đội Dog lo kiến tạo bãi đáp để chở số vũ khí đi. đại đội Alpha nổ súng vào mấy toán lính Bắc Việt khi thấy họ chạy cắt rừng. đại đội Bravo thì bắt được 1 bộ đội Bắc Việt đang bị thương nặng.

Ngày 16 tháng 11, đại đội Bravo trở về căn cứ pháo binh 16 để đại đội Charlie tới thay phiên. 3 đại đội tiếp tục đi hành quân tìm diệt trong khu vực cách căn cứ pháo binh 16 khoảng 1500m về phía tây nam và nằm về phía bắc cao điểm 875 1km.

Trên hướng bắc cách đó 3 cây số, các đơn vị thuộc tiểu đoàn 1/503 tiếp tục nống xuống phía nam, để vòng đến mục tiêu của mình là cao điểm 882.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 21 Tháng Tám, 2014, 09:13:37 AM
Chương 11
Giao tranh trên cao điểm 882












Phóng viên chiến trường đổ tới Đắk Tô với số lượng đông chưa từng thấy. Chắc hẳn những tin tức về những trận đánh khốc liệt của sư đoàn 4 bộ binh cùng lữ đoàn dù 173 trên Tây Nguyên đã lan truyền nhanh chóng trong đội ngũ cánh nhà báo và phóng viên ảnh. Có 90 phóng viên, cả nam lẫn nữ, từ Anh, Pháp, Nhật, Đức, nam VN, Mỹ đã tìm đường tới được Đắk Tô bằng máy bay C-130 và trực thăng chở hàng tiếp tế. Tại đây họ đến văn phòng thông tin công cộng (Public Information Office) của sư đoàn 4 rồi đòi theo cùng các đơn vị đi hành quân để viết bài.

Và ở ngoài đó thì có vô khối chuyện để mà viết.

1 số phóng viên ít mạo hiểm ở lại sân bay Đắk Tô thì lại nhận được cái nhìn cận cảnh hơn cả những gì họ mong muốn về cuộc chiến. Đêm 12 tháng 11, lần đầu tiên quân Bắc Việt đã phóng nhiều rocket vào phi đạo. Họ đã bắn 44 quả tên lửa từ những vị trí kín đáo bố trí trên các ngọn đồi quanh đó xuống vùng đất Mỹ đóng quân. May mắn là chỉ có 2 lính Mỹ bị thương nhẹ cùng 3 xe cơ giới bị hỏng. Những đêm kế tiếp, đạn cối và rocket cũng thỉnh thoảng được nã xuống căn cứ, nhưng chỉ gây ra những thiệt hại nhỏ.

8g45 ngày 15 tháng 11, quân Bắc Việt đã bắn xuống đường băng 1 chục trái đạn cối. Và lần này thì họ đã gặp may hơn. Đạn cối đã rót trúng 3 chiếc máy bay C-130. 1 chiếc bị hỏng nhẹ nhưng 2 chiếc kia thì nổ tan tành. Khoang nhiên liệu đầy ắp trên 2 phi cơ vận tải đã bốc cháy dữ dội suốt nhiều giờ. Sức nóng kinh khủng khiến chẳng ai dám tới gần để dập lửa. Rốt cục thì người ta đành mặc kệ để cho chúng cháy.

Đến 15g45 chiều hôm đó, và tiếp tục trong 2 tiếng đồng hồ sau, 78 quả đạn cối cùng rocket đã được nã xuống phi đạo. Lần này quân Bắc Việt còn may mắn hơn nữa. 1 số quả đã rót trung khu vực chứa đạn. Lửa bốc cao, đồ tiếp liệu bắt đầu phát nổ. Rồi khu kho chứa đạn nhanh chóng chìm trong lửa đỏ. Những tiếng nổ liên tiếp như sấm trên khắp căn cứ. Lính tráng cuồng cuồng tìm chỗ nấp trong khi mảnh đạn bay vèo vèo khắp không trung. Những người trốn trong chiến hào giờ phải đối mặt với mối nguy khi những mảnh đạn cháy bỏng từ trên trời phóng xuống. Đến 17g15, chỗ chứa 700 pound thuốc nổ TNT phát nổ với âm thanh kinh thiên động địa. Trung úy Fred Drysen, người chứng kiến vụ nổ nói: “Tôi đã nghĩ! Chúa ơi! Cứ như là Charlie (VC) đã có vũ khí hạt nhân vậy.” Lửa bốc cao vút suốt đêm, tỏa sáng lung linh cho cả căn cứ. Đối với những ai ko sợ bị mảnh vỡ rơi xuống đầu thì 1 bức rèm pháo hoa tuyệt đẹp – của pháo sáng và pháo hiệu -  càng làm cho khung cảnh thêm hoành tráng. Kỳ diệu thay, sáng hôm sau khi lửa tắt, chỉ thấy có 3 lính Mỹ cùng 3 lính VNCH bị thương. Tuy nhiên hơn 1100 tấn quân nhu, đạn dược đã bị phá hủy. Việc tái bổ sung đạn dược sẽ là nỗi đau đầu lớn nhất về hậu cần của tướng Rosson trong cuộc chiến. Người ta phải lùng vét đạn thừa trên khắp các kho hậu cần trên toàn miền nam VN. Ưu tiên hàng đầu cho các chuyến bay chở đạn là chuyển hướng tới Đắk Tô. Những tuần sau đó việc chừa sẵn đạn dược trở thành vấn đề cốt tử, nhưng khả năng phi thường của tướng Rosson đã hoàn tất mọi việc khiến cho binh sĩ ko bị lâm vào cảnh thiếu đạn. Với việc phải đụng độ gần như thường xuyên với địch quân của lữ đoàn 173, thì bất kỳ sự thiếu hụt nào trong nguồn cung cấp đạn cũng sẽ trở thành 1 thảm họa nghiêm trọng.

Sáng ngày 15 tháng 11 năm 1967, đại úy David Jesmer dẫn đại đội Alpha, tiểu đoàn 1/503 từ chỗ mà TF Black đã giao tranh tiến sang phía tây nam, mạo hiểm tiến sâu hơn vào vùng đồi núi bí hiểm. Từ lúc tới khu chiến của đại úy McElwain, đại đội Alpha đã tiến hành sục xạo quanh khắp khu vực, nhằm tìm bất kỳ ca thương vong bị bỏ sót nào của lính Mỹ cũng như xác hay thương binh Bắc Việt. Khi trung tá Khi thấy rõ là chẳng còn gì để tìm nữa và với sự hối thúc của lữ đoàn phó là đại tá John J. Powers, thì Schumacher mới lệnh cho Jesmer tiến đến cao điểm 882, cách đó khoảng 3km về phía tây nam. Tình báo cho biết quân Bắc Việt đang hoạt động quanh khu vực này. Ngoài ra, trận đánh của tiểu đoàn 2/503 trong ngày 12-13 tháng 11 khiến cho tướng Schweiter tin rằng sắp dồn được quân Bắc Việt vào rọ.

Đi sau đại đội Alpha là đại đội Dog của đại úy Needham với khoảng 50 quân. Ở vị trí nối tiếp là đại đội Charlie của đại úy McElwain chỉ còn chưa đến 40 lính. Hôm đầu tiên hành quân tình hình yên ổn, dù vẫn thường xuyên phát hiện ra dấu vết đối phương. Jesmer cảm thấy chắc chắn là mình đang lần theo dấu những kẻ địch còn sống sót sau cuộc đụng độ với TF Black.

Sáng hôm sau Jesmer lệnh cho trung đội của trung úy Ed Robertson đi đầu trong quá trình vượt cao điểm 889. Việc tiến quân trong rừng rậm trở nên chậm chạp do lính của Robertson di chuyển rất thận trọng theo chiến thuật cloverleaf. Con chó trinh sát đã sủa mấy bận nhưng ko phát hiện thấy quân Bắc Việt. Cả Jesmer lẫn Robertson đều bắt đầu nghi ngờ vào hiệu năng của con chó.
 
Đến 11g45, lính xích hầu của Robertson phát giác 1 lính Bắc Việt vừa nấp vào phía sau bụi tre dày cách 1 quãng đằng trước. Anh này lập tức nổ 1 loạt M16. Khiến cho bộ đội Bắc Việt bắn trả làm mọi người phải nhào đi tìm chỗ nấp. Súng AK-47, SKS, RPD thi nhau nã vào sườn cao điểm.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 25 Tháng Tám, 2014, 09:40:44 AM
Theo 'bài' thông thường của Jesmer, trung đội Robertson tản sang cánh phải, trong khi trung đội 1 của trung úy John Robinson chiếm lĩnh vị trí chiến đấu bên trái. Trung đội 3 của trung úy Larry C. Kennemer làm nhiệm vụ hậu vệ, còn trung đội hỏa lực của trung úy David Holland thì vội đặt mấy súng cối 60 ly.

Mức độ hỏa lực của đối phương khiến Holland bất ngờ. Đạn bay vèo vèo bắn trúng các thân cây, khiến cho lính tráng ko dám ngẩng đầu lên. Tuy thế, đạn cối của anh cũng đã nhanh chóng bay ra khỏi nòng và rơi xuống nổ tung phía sau quân Bắc Việt.

Đại úy Jesmer lập tức báo tin đụng độ cho Schumacher và xin phi pháo bắn chế áp xuống quân Bắc Việt. Chỉ mấy phút sau, đã nghe thấy tiếng nổ ầm ầm dữ dội của đạn pháo 105mm ở rừng cây trước mặt đại đội Alpha. Rồi sau đó 1 lát máy bay phản lực đã bay đến và ném như mưa những quả bom napalm, bom 500 cân Anh chết chóc xuống đầu quân địch.

Trong khi đợi máy bay làm việc, trung đội Robertson vẫn phải hứng chịu đạn súng cá nhân cùng lựu đạn địch. Dù chưa có binh sĩ nào bị dính đạn, Robertson vẫn thấy thất vọng vì mình ko đủ sức đánh lui bộ đội Bắc Việt.

Có lúc anh đã gọi về cho Jesmer: "Chó quá! Đại úy ạ. Bọn khốn có công sự và ta chẳng làm gì được chúng."

Thoạt tiên, Jesmer ko tin những lời Robertson nói về mấy công sự. Rồi sau đó, thượng sĩ nhất Samuel Duckett, khều anh rồi chỉ lên trên. Thấp thoáng qua đám cây cối, tre nứa, họ nhìn thấy 1 lính địch nhảy từ chiến hào lên ném quả lựu đạn xuống chỗ 4 lính của Robinson đang nằm sau đống cây.

"Khổ rồi!" Jesmer thốt lên.

Đại úy McElwain ở phía sau đang tự hỏi vì sao mà tất cả đều dừng lại. Qua điện đài, anh đã nghe Jesmer báo cáo với Schumacher việc đang bị hỏa lực đối phương, có cả B-40, chặn đứng, nhưng McElwain ko nghe thấy tiếng bắn. Anh gọi điện hỏi Jesmer: "Sao ta ko tấn công?"

"Chúng bắn dữ lắm!" Jesmer đáp: "Phải đợi phi pháo làm xong việc đã rồi mới đánh được."

McElwain không nghĩ quân địch bắn mạnh đến vậy, nhưng cũng chẳng thể dẹp Jesmer qua được.

Dưới sự oanh kích dữ dội của pháo binh và bom, tới 14g thì bộ đội Bắc Việt đã rút lui khỏi chiến trường. Sau khi tiếng súng đã ngưng, Robertson thận trọng cho quân tiến lên. Họ tìm thấy những chiến hào đầu tiên của Bắc Việt chỉ cách vị trí mình khoảng chừng 15m.

Khi tiến sâu hơn vào vị trí quân Bắc Việt bỏ lại, Jesmer rất đỗi ngạc nhiên trước những gì anh tìm thấy. Ít nhất là có 3 cái hầm chỉ huy được đào sâu xuống đất 5m, có bậc được gia cố bằng tre nơi lối vào. Chúng vững chắc và ko bị hư hại gì trước sức nổ của bom và napalm. Lính của Jesmer cũng tìm thấy 1 số bệ phóng rocket 122mm làm bằng tre. Giờ thì anh đã biết những quả rocket đã bắn xuống cao điểm 823 được bắn đi từ chỗ nào.

Lính dù cũng phát hiện 1 số vũng máu, vết máu nhưng ko thấy xác chết. Khi Jesmer đang gọi báo những thứ phát hiện được cho trung tá Schumacher, thì 1 người lính ào đến nói: "Đại úy! Tới xem bọn tôi tìm thấy gì này."

Jesmer đi theo cậu lính đang phấn khởi đến 1 vị trí ở ngay ngoài cái trại. Ở đó có nhóm lính dù đang xăm soi 1 khẩu súng phòng không 12 ly 8.

1 trung sĩ nói: "Đại úy. Bọn tôi tìm được nó dưới cái cây bị bom làm gãy này." "Và cả thằng này nữa" Tay trung sĩ chỉ vào xác người lính Bắc Việt bị vướng trong đám cành cây.

"Tôi đoán nó là  tên bắn tỉa đã bị chết khi quả bom đánh gãy cây." Trung sĩ nói tiếp.

Jesmer đồng ý. Thật may là cái cây đã đổ vào khẩu súng và vô hiệu hóa nó. Nếu nó được dùng để bắn vào quân của anh, thì có thể sẽ gây ra thiệt hại rất lớn. Jesmer gọi 1 chiếc trực thăng tới lấy khẩu súng trước khi trời tối.

Trung sĩ Joseph S. Mescan, y tá trưởng của đại đội Bravo, chẳng có việc gì để làm vì đơn vị chưa bị thương vong gì nên anh đến chụp ảnh khẩu súng phòng không cùng đám lính đang túm tụm quanh nó. 22 tuổi, nhỏ con nhưng dẻo dai, quê vùng Columbia Station, Ohio. Mescan từng là vô địch vật ở trường trung học và tới nay vẫn còn phong độ. Chàng trai trẻ hăng máu này đã nhập ngũ năm 1965 với hy vọng sẽ được gửi sang nam VN ngay lập tức nhưng ko được. Anh phải đóng ở căn cứ Fort Bragg 2 năm rồi mới nhận lệnh tham chiến. Mescan được giao về đại đội chỉ huy, tiểu đoàn 1/503. Anh được biệt phái sang các đại đội trên tuyến đầu cứ mỗi khi họ có như cầu cần lính cứu thương vì các lý do như tổn thất trong chiến đấu, đi phép, hay luân phiên. Rốt cục là anh đã ở cùng nhiều đại đội nhưng chẳng quen biết được mấy người. Anh đến đại đội Alpha từ khi nó lên lại Đắk Tô và chỉ quen đại úy Jesmer cùng 1 số hạ sĩ quan cao cấp. Sau khi chụp ảnh xong, anh đi cùng lính thuộc đại đội bộ của Jesmer để lo chuẩn bị vị trí đóng quân đêm.

Lúc này Jesmer được sở chỉ huy tiểu đoàn báo đơn vị anh sẽ có thêm người tới nhập bọn là 1 số phóng viên chiến trường, đi theo trực thăng tiếp tế. Jesmer ko phản đội sự hiện diện của đám phóng viên dân sự nhưng cũng chẳng muốn gánh thêm trách nhiệm phải chăm lo cho họ khi sắp xảy ra đụng độ.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 26 Tháng Tám, 2014, 09:33:01 AM
Trực thăng chở đến đồ ăn, nước uống, đạn dược cùng những đồ tiếp tế khác từ tiểu đoàn 1/503 đã tới trước lúc trời tối. Jesmer ngỡ ngàng khi thấy có gần 1 chục phóng viên chen nhau nhảy ra khỏi mấy chiếc Huey. Gồm có 1 nhóm phóng viên ảnh của NBC, mấy phóng viên báo chí, 1 toán quay phim chụp ảnh gồm 5 người thuộc Văn phòng dự án đặc biệt quân đội (Department of the Army Special Projects Office), 1 phóng viên ảnh cùng 1 phỏng vấn viên thuộc văn phòng thông tin công cộng của quân đội Mỹ tại VN ( U.S. Army, Vietnam, Public Information Office) và 1 nữ phóng viên tự do.

Jesmer từ chối ko cho Jack Laurence, 1 phóng viên của CBS, gia nhập. Anh cho rằng những bài báo của Laurence về nỗ lực của quân Mỹ tại nam VN đã ko phản ánh chính xác sự thật. Thế nên khi nhận ra Laurence trong đám phóng viên, Jesmer liền ra lệnh cho anh này lên trực thăng quay về.

Jurate Kazickas, 1 cựu giáo viên 24 tuổi ở New Rochelle, New York đã từ bỏ công việc yên bình tại quê nhà để sang viết bài về cuộc chiến VN. Kể từ khi tới đây mùa xuân năm 1967, cô đã dành hầu hết thời gian đi cùng TQLC trong các trận đánh gần khu phi quân sự. Khi giao tranh ở đó lắng xuống đầu tháng 11, thì cô lại trực chỉ tới Đắk Tô.

Kazickas là người phụ nữ da trắng đầu tiên mà các 'thiên binh' nhìn thấy sau nhiều tháng. Trước khi phong trào nữ quyền lên cao, thì hầu như tất cả đám lính dù đều tin rằng nơi này chẳng thể có chỗ cho phụ nữ. Chiến đấu là việc của đàn ông, chiến tranh ko thuộc về phụ nữ. Vậy mà cô đã tới đây, và chẳng ai có thể cản được. Hầu hết bọn họ đều ngượng nghịu về vẻ ngoài dơ dáy của mình vả cố gắng lờ tịt cô đi.

Sáng sớm hôm sau, ngày 17 tháng 11, 3 đại đội tiếp tục bám đuổi quân Bắc Việt. Jesmer kết luận rằng đối thủ đã giao chiến với anh hôm qua lại vẫn chỉ là lực lượng chặn hậu để kìm chân quân Mỹ trong khi lực lượng chính tìm đường thoát. Như vậy có nghĩa là 1 toán lớn quân Bắc Việt đang ở đâu đó phía trước. Rõ ràng anh đã khiến địch bị thiệt hại và giờ đây thương binh đang là gánh nặng của chúng. Anh dự tính sẽ bám theo cho đến khi tìm ra quân địch.

Suốt ngày hôm đó, đoàn quân của Jesmer liên tục phát hiện các dấu vết chạy trốn của quân Bắc Việt. Họ đã nhiều lần tìm thấy những đám bông băng dính máu. Rõ ràng đối phương chưa thể đi trước quân dù quá 8 tiếng đồng hồ. Jesmer gọi pháo bắn trước tuyến hành quân 500m để quấy rối quân địch.

Để đóng quân nghỉ đêm, Jesmer đã chọn 1 bãi đáp mà họ đã tạo lập hồi tháng 7 khi đi hành quân cũng tại vùng này. Trước mặt họ là cao điểm 882. Cao điểm này cũng rất quen thuộc với Jesmer vì đó là nơi đại đội Alpha đóng quân khi anh tới nhận quyền chỉ huy. Giờ thì ko còn thấy dấu vết quân Bắc Việt nữa, nhưng Jesmer vẫn cảm thấy có gì đó chưa ổn.

7g30 sáng 18 tháng 11, đại đội Alpha bắt đầu rời chỗ đóng quân. đại đội Dog và đại đội Charlie đi tiếp sau đó. Trung đội 1 của trung úy Robinson đi đầu, sau đó tới trung đội 2, rồi tới ban chỉ huy đại đội của Jesmer, trung đội 3 của trung úy Kennemer, trung đội hỏa lực của trung úy Holland đi cuối. Đi sau chưa đầy 50m là tiểu đội đi đầu của đại úy Needham (đại đội Dog).

Do nguy cơ có thể chạm địch, trung đội Robinson đi theo chiến thuật cloverleaf , tiến lên trước chừng 100m rồi lại cuộn về phía sau, sục xạo sang 2 bên sườn. Sau khi đã chắc rằng khu vực an toàn, Robinson mới gọi điện cho phần còn lại của đại đội tiến bước. Cách di chuyển kiểu sâu đo này tuy chậm nhưng an toàn.

Cách khu đóng quân chừng 500m, tiểu đội xích hầu vượt qua 1 cái hào hẹp. Đáy hào đầy bông băng thấm máu vẫn còn chưa khô. Ước chừng đối phương đã dừng ở đây chỉ 2-3 giờ trước. Đã tới gần chỗ địch quân.

Quá trưa, đoàn quân đi thêm được 500m tới chân 1 sống núi dẫn lên đỉnh điểm cao 882. Jesmer cho quân lập 1 chu vi phòng thủ rộng rồi gọi Robinson đến. "Dẫn trung đội của cậu lên trinh sát đỉnh cao điểm." Jesmer nói với anh này "Nếu có rắc rối thì rút về chỗ các đơn vị còn lại ngay."

Trung đội Robinson bắt đầu leo lên sống núi lúc 13g15. Bụi rậm và tre gai dày đặc cản đường họ. Trong khi Jesmer đang bồn chồn lo lắng đợi Robinson báo về, thì Jurate Kazickas đến gần.

Cô hỏi: "Hôm nay ta sẽ gặp địch chứ?"

Anh nói với cô là rất có khả năng xảy ra điều đó. Sau đó thượng sĩ nhất Duckett cũng đến. 1 chàng trai trẻ tên Sandstrom, trung sĩ truyền tin của trung đội, đã làm 1 bài thơ về đại đội Alpha. Anh này đã bắt đầu viết hồi mùa hè khi họ đóng quân trên cao điểm 882 và mới hoàn tất đêm qua. Anh muốn đại úy đọc. Jesmer đọc vội rồi đưa lại cho Duckett với lời bình luận."Hay lắm"

Sau đó Duckett kể cho Jesmer nghe về giấc mơ kỳ lạ của mình đêm hôm trước khi mơ thấy 1 trái đạn B-40 lóe sáng từ trên 1 quả đồi lao thẳng tới. Đó là những gì anh có thể nhớ.

Lúc này là 14g, trung đội Robinson đã lên tới đỉnh cao điểm 882. Họ phát hiện ra ngay 1 số sợi dây điện thoại chạy ngang qua. Robinson lệnh trung đội tổ chức phòng ngự vòng tròn và đồng thời cho tiểu đội xích hầu tiến lên sục xạo.

Binh nhất Steven Suth, xạ thủ M60 cùng với 2 trợ thủ là các binh nhất Brown và Hale lần mò trong đám rừng rậm. Bỗng Suth phát giác 1 lính Bắc Việt đi lẻ cách đó mấy mét trên con đường mòn phía nam cao điểm. Brown bắn 1 loạt M16. Địch nhảy vào phía sau 1 bụi tre rậm. Suth tiến đến. Anh bắn 1 tràng dài M60 phá tan bụi tre. Tay lính Bắc Việt ngã lộn xuống  khe núi.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 27 Tháng Tám, 2014, 08:48:03 AM
Jesmer vừa nghe thấy tiếng súng, thì Robinson gọi về báo: "Tôi thấy dây điện thoại và 1 thằng khốn"

Giác quan thứ 6 báo cho Jesmer biết sắp có đánh lớn. Anh đưa ra quyết định. "Lên nào" Jesmer hô: "Chúng ta sẽ tiến lên."

đại đội Alpha, đi sau nó là đại đội Dog rồi đại đội Charlie khẩn trương tiến lên cao điểm. Đường đi lên thoạt dầu đi xuống 1 hẻm núi sâu rồi lại chạy lên cao. Trong lúc chạy lên, Jesmer giật mình khi nhìn thấy những bậc thang gia cố bằng tre được khoét vào núi. Anh nghĩ: Chúa ơi, ở đây có cái gì vậy?

Trong khi số quân còn lại tiến lên chỗ mình, Robinson cử 3 người lính đi tìm xác tên địch. Họ ko thấy cái xác nhưng tìm được 1 số căn hầm, hầm nào cũng có dây điện thoại chạy vào rồi đi ra. Họ lần theo 1 sợi dây dẫn sang phía tây.

Trong chốc lát, họ phát hiện 1 tiểu đội quân Bắc Việt cách đó chưa đến 30m. Lính Mỹ liền quay lui và chạy về chu vi phòng thủ.

Robinson đang báo cáo tình hình cho Jesmer vừa mới đến thì toán thám sát chạy vào chu vi phòng thủ và hét lên: "Chúng tôi đã thấy chúng! bọn khốn!"

Mọi người túa đi tìm chỗ nấp, 1 số 'thiên binh' nhảy vào những hố cá nhân còn sót lại từ hồi mùa hè. Trung đội Robinson giữ mặt tây cao điểm. Hầu hết lính của anh đang ở cách phần còn lại của đại đội 50m. Quân của Kenneme thì chiếm lĩnh vị trí dọc theo cạnh tây nam cao điểm. Trung đội của Robertson thì đảm trách mặt đông nam. Holland bố trí súng cối ở phía bắc, tại bãi đáp cũ. Đối diện với anh, ở phía bên kia bãi đáp là đại đội Charlie cùng đại đội Dog.

Thế là vừa kịp.

Khi mọi người đã vào chỗ nấp chỉ chừng 1 phút, có 1 tiếng súng vang lên. Người lính dù cách Suth có 2m lăn ra chết do bị bắn trúng đầu.

"Lính bắn tỉa trên cây!" có người la lên.

Rừng cây quanh đại đội Alpha bùng nổ với đủ loại âm thanh hỗn tạp. Đạn súng cá nhân, trung liên trút xuống lính dù. Trung úy Robinson đếm được cả chục khẩu súng máy đang nhằm vào mình. Đạn cối của bộ đội Bắc Việt vọt lên xuyên qua tán cây rồi lao xuống, nổ tung giữa quân dù. Giữa những tiếng nổ còn có thể ngay tiếng trầm trầm của 1 khẩu đại liên 50 calib.

Trong vị trí dưới 1 gốc cây to, Jesmer liếc nhìn thượng sĩ nhất Duckett đang bò lom khom nấp sau 1 cái cây khác cách đó chỉ chừng chục mét. Ngay lúc đó 1 trái đạn B-40 lóe sáng giữa 2 người và nổ tung chỗ cái cây xa về phía sau. Jesmer ko thể tin được rằng giấc mơ của Duckett đã thành sự thật.

1 trong những thương vong đầu tiên của trung đội Robinson là lính cứu thương của anh. Lượng thương binh tăng vọt, tiếng kêu ai oán "Cứu thương!" dậy lên khắp nơi.

Trung sĩ Mescan ở gần chỗ Jesmer đã nghe thấy những tiếng gọi. Ko hề nghĩ đến sự an nguy của bản thân, người lính cứu thương can đảm vụt đứng dậy chạy lên rừng cây phía trước. Khi đến chỗ trung đội Robinson, 1 lính súng trường ko quen đã chỉ cho Mescan thấy 1 người đang nằm trên cỏ dưới gốc cây. Tay 'thiên binh' đã trúng 1 viên đạn bắn tỉa vào đầu. Mảnh xương sọ to của anh ta nằm cạnh tai chỉ còn dính vào đầu bởi 1 lớp da mỏng. Mescan có thể nhìn rõ bộ óc của anh này qua lỗ thủng trên đầu.

Biết ko thể cứu chữa cho anh ta dưới hỏa lực dữ dội của đối phương. Mescan xốc nạn nhân lên vai đưa về vị trí cũ của mình. Chỉ cao chừng 1m62, nặng 60 cân, Mescan phải đánh vật dưới sức nặng của người cao hơn mình 13cm và nặng hơn tới 20 cân. Anh loạng choạng băng rừng, nơm nớp lo quân mình bắn nhầm. Nhưng việc này ko xảy ra và Mescan nhanh chóng tới được chỗ ban chỉ huy, nơi những lính cứu thương khác đang thiết lập trạm sơ cứu.

Mescan nhẹ nhàng đặt mảnh sọ vào chỗ cũ rồi dùng băng quấn quanh đầu người lính. Thêm nhiều thương binh nữa được đưa về trạm sơ cứu trong lúc giao tranh vẫn ko thuyên giảm. Mescan phải tất bật lo cứu chữa thương binh.

Trên tuyến đầu, trung úy Kennemer ngỡ ngành trước sự gan dạ của bộ đội Bắc Việt. Những toán lớn có khoảng 30 quân xông lên con dốc thoải, lợi dụng địa hình địa vật để ẩn nấp. Khi địch nằm xuống thì kiểu ngụy trang tài tình - bằng cành lá cài trên quân phục và mũ cối - khiến cho gần như ko thể phát hiện. Chỉ những chớp lóe đầu nòng súng mới khiến địch quân bộc lộ vị trí. Trung đội 3, dưới sự chỉ huy dũng cảm của Kennemer, đã đánh bật đợi xung phong đầu tiên của địch.

Lính bắn tỉa đối phương tiếp tục gây nên nỗi kinh hoàng cho lính dù. Từ những cái tổ bố trí trên ngọn cây, địch nhìn thẳng xuống đầu các 'thiên binh'. Dường như chẳng còn chỗ nào an toàn cả.

Hầu hết các binh sĩ quanh vị trí Jesmer đều đang bắn lên trời cố bắn hạ 1 tay bắn tỉa địch, kẻ đã gây cho họ nhiều tổn thất. Thậm chí sĩ quan tiền sát pháo binh là trung úy Sherman E. Watson còn tì người lên thân cây dùng khẩu shotgun cỡ nòng 12 bắn tóe loe.

"Thôi sủa đê! Watson,” Jesmer ra lệnh "Ra lấy điện đài và gọi pháo tới"

Rồi Jesmer hô mọi người xung quanh ngừng bắn. "Bắn vậy chỉ tổ phí đạn thôi. Ko được bắn khi chưa thấy mục tiêu."


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 28 Tháng Tám, 2014, 03:10:18 PM

Tay bắn tỉa lại nổ súng. Trung sĩ Mescan nhìn kỹ các ngọn cây. Anh thấy có gì động đậy  và bắn liền vài phát đạn. Ko trúng. Tay bắn tỉa lại bắn tiếp viên nữa trúng vào 1 thương binh. Lần này thì Mescan đã nhìn thấy chớp lửa đầu nòng. Anh xả hết số đạn còn lại trong băng vào ngọn cây cách đó 25m. Mescan đã ngắm trúng và cực kỳ thỏa mãn khi chứng kiến xác tay bắn tỉa ngã lộn xuống đất. Cái xác rơi thẳng ngay trước mũi khẩu M60 của 1 xạ thủ ("tí nữa thì làm tao ỉa cả ra quần" tay xạ thủ đã kể lại cho Mescan nghe sau đó)

Những lính súng cối ở chỗ trung úy Holland cũng đang bận rộn bắn trả lính bắn tỉa địch. Holland chưa bắn cối vì 2 hôm trước đại úy Jesmer đã rầy anh là đã dùng chúng trước được phép. Do đó bây giờ Holland bận rộn lo xác định vị trí lính bắn tỉa địch cho binh sĩ dưới quyền. Anh đã chạy đi chạy lại mấy lần tới chỗ của đại úy Needham và McElwain báo cho họ biết vị trí của anh để khỏi vô tình bắn lầm.

Ở vị trí phía sau đại đội Alpha, đại đội Dog của đại úy Needham hầu như chỉ đụng với lính bắn tỉa. Needham đã gọi điện mấy lần cho Jesmer, đề nghị tiến lên hỗ trợ, nhưng đều bị Jesmer cự tuyệt. Thực ra là vì di chuyển lúc này rất nguy hiểm vì hỏa lực địch rất dữ. Needham cũng đang lo ngại cho nhóm phóng viên NBC đi cùng đơn vị. Anh đang phải chịu trách nhiệm về sự an toàn của họ nên ko hề muốn họ dính đạn. Anh bò đi kiểm tra cả nhóm và rất đỗi kinh ngạc khi thấy họ lấy khẩu M60 của 1 'thiên binh' bị thương. 1 phóng viên sử dụng khẩu súng còn người kia thì đào hố cá nhân. Việc họ tham chiến là vi phạm quy tắc, nhưng Needham ko ngại điều đó, anh cần mọi sự giúp đỡ có thể.

Lính bắn tỉa đối phương cũng đang quấy rối đại đội của đại úy McElwain. Trung úy Ed Kelley đã mấy bận bắn đạn vạch đường để đánh dấu các ổ bắn tỉa. Sau đó thì lính súng phóng lựu M79 đảm trách việc tiêu diệt.

Cả 2 đại đội này đều đã có thương vong, tuy nhiên phần lớn hỏa lực đối phương vẫn đang nhắm vào đại đội Alpha.

Trong 1 lúc ngắn ngủi  tiếng súng tạm lắng, trung úy Holland bò tới chỗ lính súng trường thu lại đạn cối họ mang giúp. Khi đã gom được 1 bao bố đầy, Holland quay về mấy khẩu cối của mình, bò ngang qua chỗ Jesmer.

Viên đại úy hỏi "Khi nào thì bắn cối hả?"

"Ngay bây giờ! thưa đại úy" Holland đáp.
 
Ít phút sau, mấy khẩu cối đã khai hỏa. Khoảng cách với trung đội 1 quá gần nên nòng cối dựng gần như thẳng đứng. Những trái đạn nổ tung phía trước lính của Robinson có mấy mét.

Đến lúc này, thì máy bay không kích cũng đã tới. Những trái bom 500 cân Anh cùng nalpam rơi xuống cách vị trí đại đội Alpha chừng 200m, nhưng 1 lần nữa rừng già nhiệt đới lại khiến cho hiệu quả của chúng bị giảm đi rất nhiều. Thêm nữa, bom nổ khiến bụi khói, mảnh vỡ bay mù mịt càng làm giảm thêm tầm nhìn vốn đã rất hạn chế.

Bộ đội Bắc Việt tận dụng ngay điều này. Hết lần này đến lần khác, địch từ trong rừng xông ra bắn dưới sự yểm trợ của B-40, lựu đạn và súng cối. Họ tập trung tiến công vào vị trí trung đội Robinson. Ko đếm xỉa đến đạn đang bắn dữ dội, anh này bò qua bò lại giữ các binh sĩ, tái bố trí và hướng dẫn họ xạ kích. Nhưng những nỗ lực can trường của anh cũng ko cản được quân Bắc Việt lấn sâu vào phòng tuyến của mình cả chục mét. Hỏa lực chết chóc của địch đã bắn trúng thêm nhiều lính Mỹ. Khi những người này tìm đường về chỗ lính cứu thương, đại úy Jesmer điều quân của trung đội Robertson lên trám những chỗ bị khuyết. Trung sĩ Mescan cùng những lính tình nguyện trong đại đội bộ như con thoi bò lên phía trước đưa thương binh về nơi an toàn.

Trung đội của trung úy Kennemer cũng đã đẩy lùi mấy cuộc tấn công của số đông quân đối phương. Khi lính Bắc Việt vào gần trong vòng 20m, các binh sĩ ném lựu đạn vào những toán đông quân địch. 1 xạ thủ súng máy của Kennemer quỳ xuống, phơi hẳn người ra, vừa gào lên: "Nhào vô, Mẹ chúng mày! Tao chờ đây này. Đm" vừa quạt hàng tràng đạn. Kennemer đã phải bắt anh này vào chỗ nấp.

Đến 15g30, trong khi đang đứng bắn sau 1 cái cây, đột nhiên Kennemer thấy 1 luồng sáng bay xẹt qua đầu rồi có 1 tiếng nổ lớn hất anh ngã giúi. Thoạt tiên, anh nghĩ đó là do lính bắn tỉa đối phương từ trên cây ném lựu đạn xuống, sau đó anh mới nhận ra đó là 1 trái RPG bắn trúng cái cây ngay sau lưng. Mảnh đạn đã làm lưng Kennemer toác 1 lỗ lớn. Chưa kịp cảm thấy đau, thì 2 lính của Kennemer đã kéo anh tới nơi an toàn. Họ xé bỏ chiếc áo quân phục dã chiến, lấy băng quân khắp người dìu anh về chỗ cứu thương. Trung sĩ Mescan đảm nhận việc chăm sóc cho người sĩ quan.

Trong khu vực trung đội 1, binh nhất Suth đã nhiều lần liều mình trong đường đạn kè thù để bắn khẩu trung liên M60. Làn đạn dữ dằn của anh xé toang các thân tre và gây nhiều thiệt hại cho bộ đội Bắc Việt. Đến khi khẩu súng máy quá nóng và kẹt đạn, thì 1 xạ thủ khác liền nhanh chóng bước lên tiếp nhận vị trí. Trong lúc đó, Suth giúp  đưa 1 người bạn bị thương về chỗ cứu thương. Khi xong việc, anh nhặt 1 khẩu M79 bị vứt bỏ rồi nã vào những lính bắn tỉa địch vẫn còn đang bám trên các ngọn cây.

Đại úy Jesmer bận túi bụi vừa chỉ huy xạ kích, vừa phối hợp với không kích và pháo kích, vừa điều quân lên bổ sung cho số thương vong của trung đội Robinson nên đã quên bẵng các phóng viên chiến trường. Bỗng có ai đó vỗ vào vai. Jesmer quay nhìn lên và thấy Jurate Kazickas đang đứng ngay đó.

"Đại úy, anh sẽ cho tấn công bây giờ chứ?" cô nàng ngây thơ hỏi.

"Nằm xuống" Jesmer kéo cô xuống đất. "Ra sau giúp thương binh đi."

Cô vâng lời.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 03 Tháng Chín, 2014, 09:02:17 AM
Qua điện đàm, Schumacher báo với Jesmer rằng sẽ ko có quân tiếp viện. Ông ta chỉ có thể cung cấp phi, pháo yểm trợ mà thôi. Jesmer đã bắt đầu lo quân mình ko trụ nổi. Anh đã biết những gì đã xảy đến cho các đơn vị của lữ 173 khi đụng trận quanh Đắk Tô. Anh chẳng muốn đại đội mình bị tràn ngập và sẽ quyết ko để điều đó xảy ra.

Jesmer cùng điện đài viên đang nằm ngoài chỗ trống từ đầu tới giờ, anh lính xin chuyển đến nấp phía sau mấy cái cây, nhưng Jesmer ko đồng ý. Khi đó họ đang ở trong 1 hõm đất tương đối kín đáo có thể tránh được đạn bắn tỉa. Liền sau đó 1 quả B-40 từ trên cao lao xuống. Nó đáp xuống chỗ của 3 người lính ở phía sau Jesmer chừng 7m, gần nơi Mescan đang quỳ cạnh 1 thương binh.

Vụ nổ quật Mescan ngã xuống đất. Khi tai hết ù anh ngồi dậy và cảm thấy toàn bộ phía trái khuôn mặt tê đi. Tay Mescan sờ vào thấy đầy máu, anh đã chợt nghĩ đến việc nửa mặt mình bị bay mất. Bàn tay sau đó sờ thấy còn đủ cả và anh thở phào nhẹ nhõm khi nhận ra vết thương ko trầm trọng như mình tưởng. Chưa kịp băng bó thì có tiếng kêu gào đau đớn phát ra.

Ngay trước mặt, cách chưa tới 5 mét, trung sĩ Sandstrom đang đau đớn quằn quại. Hai chân của anh đã biến mất. Cạnh anh này là cái xác nham nhở của 1 lính dù. Người thứ ba thì văng xa 4m. Bị mất 1 chân.

Mescan lồm cồm bò đến chỗ Sandstrom. Trong lúc buộc ga rô vào chỗ chân cụt, Sandstrom nắm lấy tay anh và hổn hển hỏi: "Liệu tôi còn đi được chứ? còn đi được chứ?". " Đương nhiên." Mescan nói dối. "Cậu sẽ đứng lên được và đi chơi thôi. Nhanh lắm." Rồi anh ấn đầu Sandstrom xuống để người này khỏi nhìn thấy vết thương của mình. Khi buộc ga rô xong, có mấy lính dù tới giúp Mescan đưa Sandstrom về trạm sơ cứu.

Sau 2 giờ giao tranh ác liệt, đại đội Alpha đã bị thương vong 30 quân, gần bằng 1/3 sức mạnh của nó. Trung đội 1 của trung úy Robinson chỉ còn 3 thành viên là chưa bị thương. Dù đại úy Jesmer đã điều lính từ các trung đội khác lên bổ sung cho những tổn thất, nhưng cánh tây chu vi phòng thủ vẫn còn yếu. Anh ko còn đủ người để trám chỗ trống trên tuyến phòng thủ của Robinson nữa. Do đó Jesmer quyết định.

"Lima Six,” anh gọi Robinson; "Lùi lại khoảng 15, 20 mét. Phải thu hẹp chu vi phòng thủ lại."

Robinson lập tức truyền lệnh cho trung đội. Từng nhóm 2 đến 3 'thiên binh' bắt đầu từ từ lùi lại. Khi 1 nhóm di chuyển đến vị trí mới thì những người khác bắn yểm trợ. Rồi đến lượt nhóm đầu tiên bắn che cho nhóm thứ 2. Bằng cách đó trung đội 1 từ từ co lại. Ngoại trừ trường hợp của 1 tiểu đội trưởng là trung sĩ Douglas B. Baum. Anh này đã bị thương nặng và đang bất tỉnh ở vị trí ở xa nhất của trung đội trước khi Robinson nhận được lệnh của Jesmer. Địch bắn quá rát kiến mọi cố gắng đến cứu đều ko thành. Cuối cùng 1 lính cứu thương là Sp4 Joseph F. Dyer tới thử. Anh nhào ra khi thấy súng địch ngưng bắn. Nhưng đó chỉ là trò lừa bịp. Lính bắn tỉa lại bắn khi anh mới tới chỗ Baum được nửa đường. Dyer ngã xụm, với viên đạn địch cắm sâu vào đùi.

Quyết cứu Baum, Dyer nén đau tiếp tục bò tới. Để đến được chỗ Baum anh lết tới phía sau 1 cái cây, rồi dùng khuỷu tay đẩy người tới trước. Tay bắn tỉa lại nổ súng, và Dyer nhanh chóng phải chấm dứt nhiệm vụ nhân đạo này. Người lính cứu thương dũng cảm ngã vật ra trước chết ngay.

Robinson ko chấp nhận bỏ Baum lại. Viên sĩ quan can trường đã 3 lần bò tới chỗ Baum. Lần nào cũng bị quân địch bắn trúng. Thế rồi anh hét gọi Baum.

Cuối cùng người trung sĩ cũng mở mắt. Khi thấy những nỗ lực của Robinson anh thét: "Vì Chúa, trung úy, đừng đến đây. Sau cái cây này có 1 ổ súng máy địch đó." Tay bắn tỉa vẫn nổ súng, hết phát này đến phát khác.

Trung sĩ Douglas Baum, 20 tuổi, 1 trong những thành viên nổi tiếng nhất trong đại đội Alpha, tiểu đoàn 1/503, đã chết trong rừng với tấm thân đầy vết đạn.

Với chu vi phòng thủ thu hẹp lại, đại úy Jesmer đã trở nên dễ thở hơn. Những lính dù chưa bị thương giờ đã ở trong những vị trí có thể yểm trợ cho nhau. Hỏa lực đối phương đã chùng xuống chỉ còn những loạt bắn lẻ tẻ. Đạn dược trở nên dồi dào do 1 phi công trực thăng can đảm đã thả xuống đúng bãi đáp cũ gần chỗ trung úy Holland. Jesmer giờ đã có thể quan tâm đến số thương binh của mình. Anh gọi xin trực thăng tải thương.

Trung tá Schumacher lên sóng và nói rõ: "Từ chối tản thương, Alpha Six, phải cho đám dân sự ra trước đã."

Jesmer ko tin vào những gì mình vừa nghe. Đại úy Ed Sills, đang giám sát trận đánh qua điện đại ở trung tâm hành quân tiểu đoàn trên điểm cao 823 cũng vậy. Đặt đám phóng viên dân sự lên trên thương binh là điều vô lý. Nhưng đó là cách nghĩ điển hình của vị chỉ huy. Việc để phóng viên chết sẽ rất ảnh hưởng đến thành tích của ông ta. Schumacher lặp lại mệnh lệnh.

Đại úy Jesmer giận tím cả mặt, anh hét lớn: "Ko được, Six, nhiều lính của tôi sẽ chết nếu ko được cứu chữa. Tôi phải có trực thăng tản thương. Ngay bây giờ!"

Jesmer từ chối ko cho phép bất cứ phóng viên nào được đi trước lúc những thương binh nặng được sơ tán hết. Schumacher chẳng còn cách nào hơn là phải lệnh điều trực thăng tải thương đến chỗ Jesmer.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 04 Tháng Chín, 2014, 09:29:48 AM
Hỏa lực đối phương tăng mạnh trở lại đã chặn đứng công tác này, thành ra chỉ có 2 chuyến trực thăng kịp hoàn thành trước khi trời tối. Hầu hết thương binh, tử sĩ và tất cả phóng viên đều sẽ phải qua đêm trên cao điểm 882.

Trung sĩ Mescan, được Jurate Kazickas cùng vài người tình nguyện nữa phụ giúp chăm sóc thương binh suốt cả đêm. Có 1 số ca mà anh nghĩ rằng sẽ ko thể sống nổi cho đến khi trời sáng, trong đó có trung sĩ Sandstrom. Mescan duy trì liên lạc thường xuyên với đại úy James R. Griffin, chỉ huy trung đội quân y. Griffin hướng dẫn cho Mescan phương pháp giữ cho Sandstrom sống đến sáng nên rốt cục anh này cuối cùng cũng thoát chết.

Bên cạnh việc phải chăm lo cho thương binh, Mescan cũng sợ việc sẽ bị quân Bắc Việt tràn ngập trong đêm. Đêm tối như mực khiến anh chẳng biết được phòng tuyến của đại đội ở đâu mà lần. Từ số thương binh đang phải chăm sóc anh suy ra số quân của đại đội Alpha còn lại khoảng 60 người. đại đội Charlie và đại đội Dog thì còn 90 người nữa, nhưng Mescan ko biết họ đang ở chỗ nào cả.

Đại úy Jesmer cũng rất lo lắng. Trước đó anh đã gom đạn, lựu đạn từ những ca thương vong và chuyển qua cho lính trên phòng tuyến. Anh nhắc nhở bọn họ phải hết sức tinh tường vì đoan chắc bộ đội Bắc Việt sẽ tấn công trong đêm. Nếu địch mà biết 3 đại đội đang yếu như thế này, họ sẽ quay lại ngay.

May mắn cho các 'thiên binh' là quân Bắc Việt ko biết điều đó. Đêm đó đã có vài lính địch vấp phải phòng tuyến của Mỹ - Jesmer nghĩ có lẽ do đi lạc - nhưng ko hề có cuộc tấn công lớn nào. Có lẽ hỏa lực pháo binh 'giã gạo' kết hợp với những luồng đạn miniguns của "Hỏa long" vần vũ cả đêm trên trời đã khiến quân Bắc Việt thoái chí.

Bình minh chủ nhật ngày 19 tháng 11, công tác tản thương lại tiếp tục. Những người được đưa ra có cả các trung úy Robinson và Kennemer, trung sĩ Sandstrom, cùng binh nhất Suth. Toàn thể, đại đội Alpha, tiểu đoàn 1/503 có 6 lính bị giết, 29 bị thương. Các đại đội Charlie và Dog chỉ có 5 thương binh tuy có 1 lính dù thuộc đại đội Dog chết trong ngày chủ nhật vì lựu đạn nổ ngay chân do vô ý để thắt lưng mang nó vướng vào cành cây.

Tảo thanh chiến trường phát hiện ra 51 xác lính Bắc Việt. Hơn chục khẩu súng trong đó có 3 khẩu B-40 cũng bị tịch thu. Qua những bằng chứng thu được trên xác đối phương cho biết đối thủ của Jesmer trên cao điểm 882 chính là lính trung đoàn 66 Bắc Việt.

Sáng hôm đó các phóng viên cũng rời khỏi cao điểm 882. Vài lính dù cũng cảm thấy tiếc khi thấy bọn họ đi hết.

Trung tá Schumacher cùng đại úy Sills đã tới bãi đáp vào cuối buổi sáng. Schumacher lệnh cho bọn họ tiếp tục ngay việc tuần tiễu khu vực rồi ông ta về lại căn cứ pháo binh 12. Cả thảy ông ta ở dưới đất được 15 phút.

Gần như đúng vào lúc đại đội Alpha, tiểu đoàn 1/503 bắt đầu giao chiến với quân địch thì đại đội Dog, tiểu đoàn 4/503 cũng phải chịu tổn thất lớn. Thật xui xẻo, như vẫn thường xảy ra trước đó, những thương vong này lại là do quân ta bắn quân mình.

Sau trận đánh hôm mùng 6 tháng 11, đại đội Dog được cho về làm nhiệm vụ ít nguy hiểm là bảo vệ đường giao thông quanh khu vực Bến Hét. Lúc này, đại úy Crabtree tới nắm quyền chỉ huy đại đội. Là học viên West Point khóa 1964, Crabtree đã từng phục vụ 1 kỳ hạn ở nam VN trước đó. Anh sang lại VN ngày 28 tháng 10 và vừa làm xong thủ tục đến lữ đoàn 173 hôm 6 tháng 11 thì cũng là ngày đại đội Dog, tiểu đoàn 4/503 nếm đòn. Là 1 đại úy giàu kinh nghiệm nên Crabtree đã được trung tá Johnson chọn ngay về nắm đại đội Dog.

Các trung úy Allen và Burton nhanh chóng thấy mến Crabtree ngay. Là người thoải mái, dễ gần Crabtree đã khiến 2 người kia ấn tượng với vẻ điềm tĩnh, tự tin và tài lãnh đạo bẩm sinh. Trong kỳ hạn phục vụ trước, Crabtree đã được tặng huân chương Quả tim tím nên càng được đại đội kính nể. Với kiểu hài hước của những người lính luôn phải đối mặt với cái chết hàng ngày, Allen và Burton đã đùa rằng họ mong cho viên đại úy: "Kỳ này sẽ may mắn hơn."

10g35 sáng ngày 18 tháng 11 năm 1967, trung tá Johnson lệnh cho đại úy Crabtree cho đại đội Dog kết hợp với 1 đơn vị mike force (Mike Force là ám danh của chữ Mobile Strike Force, dịch sang tiếng Việt là "Lực Lượng Đột-Kích Lưu Động" (có tài liệu dịch là "lực lượng viễn-thám đặc biệt"). Đây là những đơn vị được thành lập từ năm 1965 với đa số là lính biệt kích được tuyển mộ từ những bộ-tộc người Thượng (CIDG). Nhiệm vụ chính là yểm trợ cho các trại Biệt kích gần biên giới. Trong trường hợp một trại nào đó bị tấn công, lực lượng Mike Force sẽ được huy động để ứng cứu, giải tỏa, truy kích. Từ năm 1965, các lực lượng Mike Force đều do Mỹ điều hành. Năm 1970 lực lượng Mike Force được chuyển giao cho quân VNCH. Tất cả đều được sát nhập vào binh chủng Biệt Động Quân, và thường được gọi là Biệt Động Quân Biên-Phòng. ND) ở phía tây Bản Hét và cách đường 512 1km về hướng bắc. Sáng sớm hôm đó, đơn vị biệt kích CIDG này đã phát hiện 1 tiểu đội quân Bắc Việt. Các cố vấn biệt kích lập tức xin tăng viện để lần theo dấu quân địch.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 05 Tháng Chín, 2014, 08:02:09 AM
Đại úy Crabtree gặp quân Mike force trên đỉnh 1 ngọn đồi nhỏ. Các thành viên của nó đang nằm rải rác chỗ những cái cây bao quanh 1 trảng trống phủ đầy cỏ voi. Trung đội của trung úy Burton lên tới nơi đầu tiên. Rồi anh cùng với Crabtree, thượng sĩ nhất Collins và 1 số hạ sĩ quan biệt kích ra ngoài trảng trống bàn bạc cách thức tiến hành truy quét.

Trung úy Allen, lúc này vẫn đang cùng trung đội leo lên đồi, được lệnh phải đi nhanh lên trước tham gia cuộc họp. Anh cũng đã lên tới nhập bọn và đứng bên phải Burton. Đại úy Crabtree tay cầm bản đồ và Collins thì đứng đối diện. Viên đại úy nói với cả nhóm rằng trung đội Allen sẽ dẫn đầu đi xuống theo đường sống đồi từ trên đỉnh dẫn về hường đông bắc.

Đứng sau Crabtree 1 quãng ngắn, thiếu úy Douglas G. Magruder, sĩ quan tiền sát pháo binh của pháo đội A, tiểu đoàn 3/319 đang gọi pháo bắn. Ít phút sau những quả đạn pháo 105mm đã dập xuống sống đồi, cách đó chưa đến 100m.

Những loạt pháo nổ gần làm Allen lo ngại. Anh từng có mặt trong vụ quân ta bắn quân mình hôm 15 tháng 7. Anh dỏng tai lên theo dõi Magruder trong khi vẫn đang nghe Crabtree chỉ đạo.

Trung sĩ Morrell Woods  ở trong hàng cây cũng đang nghe Magruder gọi pháo. Anh nghĩ đạn pháo đang rơi quá gần vì họ đang gọi pháo là để bắn chế áp những lính bắn tỉa mà quân CIDG than phiền.

Magruder yêu cầu thượng sĩ nhất Collins hiệu chỉnh đường bắn. Collins nói: "Qua phải 100m"

Nhưng Woods lại nghe thấy Magruder gọi: "Qua trái 100m". Biết là đã có nhầm lẫn, anh liền nhảy xuống 1 cái hố. Sau đó nghe Magruder hét vào điện đài: “Check fire! Check fire!”, Woods lại quay về vị trí ngồi dưới gốc cây.

Allen thì ko nghe thấy Magruder gọi điện báo bắn nhầm. Anh vẫn đang chú tâm vào thông số hiệu chỉnh 100m của người sĩ quan tiền sát. Dường như cự ly đó quá lớn.

Trung úy Burton cũng cảm thấy có gì đó ko ổn. 1 cảm giác kỳ lạ dâng lên trong anh. Anh thấy như thể mình bất lực.

Liền sau đó trung úy Allen nắm lấy vai và xô anh ngã xuống đất. "Chó chết! nằm xuống!" Allen thét.

Trong chớp mắt, 2 quả đạn pháo nã trúng ngay phía sau Crabtree và Collins. Đạn nổ hất Crabtree văng lên cao. Anh đã chết trước khi rơi xuống người Allen. Mảnh pháo cũng làm Magruder và Collins bị thương nặng.

Sau khi đẩy xác Crabtree qua bên và nhặt kính đeo mắt, Allen chộp lấy điện đài gọi về trung tâm chỉ huy hỏa lực, gào lên: “Check fire, pháo binh! Check fire!”

"Xảy ra chuyện gì vậy?" Có người hỏi lại.

"Đạn hụt tầm! Bọn tôi cần trực thăng tới."

"Mấy cái?"

"Tới hết cả đi" Allen đáp: "Có nhiều người bị thương lắm."

Sau đó anh cùng với Burton cùng những người khác đi xem xét thương vong. Cả Magruder lẫn Collins đều đã tử thương. Trung sĩ Woods thì lãnh nhiều mảnh pháo trúng vào bụng. Cả thảy có 6 lính Mỹ và 3 lính CIDG bị chết. Số bị thương là 15 lính dù cùng 13 lính CIDG. Ngày hôm đó 2 quả đạn pháo bắn lầm của quân Mỹ chỉ trong chốc lát đã gây ra số thương vong còn cao hơn khi chiến đấu với quân Bắc Việt nhiều giờ.

Khi tất cả thương binh, tử sĩ đã được mang đi hết, trung tá Johnson đáp xuống trảng trống. Ông hỏi: "Chuyện gì đã xảy ra?". 2 sĩ quan trẻ trình bày lại sự việc.

Johnson lệnh cho hành quân tiếp tục. Burton từ chối. Lý do đưa ra là đại đội Dog đã kiệt quệ. Đại đội giờ chỉ còn có 40 quân, còn thua sức mạnh của 1 trung đội. Rốt cục trung tá Johnson cũng phải chấp thuận và chỉ thị cho họ quay về căn cứ pháo binh 12. Họ sẽ làm nhiệm vụ bảo vệ căn cứ cho đến khi có đại đội trưởng mới và quân bổ sung.

Đêm đó 2 người sĩ quan trẻ nói chuyện với nhau: "Cậu biết đấy, cứ thế này, tôi nghĩ sẽ ko qua nổi."

"Tôi cũng nghĩ vậy." Người kia đồng tình "toi mạng quá nhiều rồi."


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 08 Tháng Chín, 2014, 09:11:23 AM
Chương 12
Cao điểm 875: Ngày đầu tiên







Trong lúc tiểu đoàn 1/503 đang phải giao chiến trên điểm cao 882, thì ở cách đó 3km về phía nam, đại đội xung kích cơ động số 26 (Mobile Strike Force - MSF), được tăng phái cho lữ 173, cũng chạm trán bộ đội Bắc Việt. Đơn vị biệt kích CIDG này đã bị súng tự động địch quất dữ dội. 6 lính CIDG cùng 1 hạ sĩ quan biệt kích VNCH đã bị thương trong cuộc đọ súng ngắn ngủi.

Do khả năng hạn chế của đại đội CIDG, cố vấn biệt kích Mỹ của nó đã rất sáng suốt khi quyết định ko kéo dài cuộc đụng độ. Thay vì thế anh ta rút về phía nam và gọi điện đài báo cáo về Đắk Tô.

Khi tướng Schweiter nghe tin về trận tao ngộ này, ông lập tức cho ban tham mưu chuẩn bị phương án hành quân để khai thác hoàn cảnh này. Từ các thông tin có được, Schweiter nhận định rằng lực lượng địch trên cao điểm 875 có thể là quân của trung đoàn 66 Bắc Việt. 2 tiểu đoàn cơ động của ông đã giao chiến với trung đoàn này suốt gần 2 tuần nay. Các 'Thiên binh" đã bị tổn thất nặng nề nhưng trung đoàn 66 cũng vậy. Nếu vây được đối phương trên cao điểm 875, thì Schweiter có thể tiêu diệt trung đoàn 66 Bắc Việt, ko cho nó thoát kịp sang nơi ẩn náu bên Campuchia.

Quân Mỹ và Schweiter ko hề biết rằng quân phòng ngự trên cao điểm 875 lại thuộc trung đoàn bộ binh 174 Bắc Việt còn đang sung sức. Từ vị trí lúc trước ở tây bắc Bến Hét, trung đoàn 174 đã luồn xuống phía nam mà ko bị phát hiện. Từ vị trí mới này, trung đoàn 174 có thể ngăn chặn quân tiến công Mỹ để cho các đơn vị còn lại của các trung đoàn bộ binh 66, 32 cùng với trung đoàn pháo binh 40 còn tương đối nguyên vẹn rút sang biên giới Campuchia. Sau khi xong nhiệm vụ, trung đoàn 174 và phần còn lại của sư đoàn 1 cũng sẽ rút về vùng 'đất thánh'.

Tướng Schweiter đang có 1 đơn vị nằm cách cao điểm 875 1 ngày hành quân bộ. Sau trận đụng độ ngày 12-13 tháng 11, tiểu đoàn 2/503 đang trên đường hành quân truy kích những lực lượng địch đã đánh quỵ đại đội Bravo của mình. 3 đại đội Alpha, Charlie, và Dog nhằm hướng tây nam di chuyển để tìm kiếm dấu vết kẻ địch. Họ ko những tìm ra 1 số xác lính địch mà còn thu được nhiều vũ khí và trang bị.

Ngày 17 tháng 11, đoàn quân đã có 1 phát hiện lớn. Họ đã phát hiện 1 khu trại bị đối phương bỏ lại cách khoảng nửa đường từ căn cứ pháo binh 16 đến điểm cao 875. Nó đủ chỗ chứa cho cả 1 tiểu đoàn đầy đủ sức mạnh với 1000 quân. Cái trại to lớn này được thiết trí trên sườn cao điểm, ẩn dưới tán cây rừng rậm rạp. Ở cạnh khu đóng quân ngoài trời, lính dù cũng tìm thấy 1 số hang động được dùng làm bệnh viện. Những mảnh bông băng dính máu, những chai thuốc rỗng còn nằm rải rác trên mặt đất. Rõ ràng là mới đây cái trại này đã có quân trú đóng. Các chuyên viên tình báo được trực thăng đưa đến để để xem xét thật kỹ càng khu trại.

Đêm đó 3 đại đội đóng quân nghỉ lại. Những thứ phát hiện được đã làm cho các 'thiên binh' rất lo ngại. Ngay cả những chú lính mới non tơ nhất cũng biết điều đó nghĩa là có rất nhiều bộ đội Bắc Việt trong vùng này. Trung úy Thomas Remington, đại đội Alpha, tiểu đoàn 2/503, có thể thấy nỗi hoảng hốt trên khuôn mặt đám lính dù dưới quyền. Họ đang sợ; và anh cũng vậy.

Thứ 7, ngày 18 tháng 11, 3 đại đội tiến hành sục xạo vào rừng cây gần đó để tìm kiếm thêm các dấu vết của đối phương. Nhưng ko phát hiện được gì lớn.

Đến đầu buổi chiều, thì thiếu tá Steverson bay đến để hội ý với các đại đội trưởng. Ông nói cho họ biết việc biệt kích Mike Force đã đụng địch ở phía nam cao điểm 875 và ra lệnh cho 3 đại đội của mình tiến lên sườn phía bắc của cao điểm. Họ sẽ dồn bất kỳ lực lượng quân Bắc Việt nào nếu gặp vào chỗ mà lực lượng CIDG đang chờ sẵn.

Steverson bảo 3 viên sĩ quan: "Nếu như đụng nặng quá, thì cứ rút lui. Rồi ta sẽ ném bom cho chúng nó vọt cứt ra."

Với trung úy Bart O'Leary thì như vậy là rất hay. Ko những là sĩ quan có cấp bậc thấp nhất trong 3 đại đội trưởng mà anh còn là người ít tuổi nhất, 24 tuổi. Quê quán ở vùng Portsmouth, New Hampshire. Anh đã học tại trường dòng Notre Dame 1 năm trước khi nhập ngũ đầu năm 1964. 2 năm sau đó anh xin đi học sĩ quan, được chấp thuận và rồi đã được phong hàm sĩ quan tháng 4 năm 1966.

Anh đến miền nam VN tháng 1 năm 1967 vừa kịp để nhảy dù trong chiến dịch Junction City với cương vị trung đội trưởng của đại đội Alpha, tiểu đoàn 2/503. Anh bị thương vào chân ngày 9 tháng 3 và phải đi viện mất mấy tuần lễ. Qua 1 thời gian ngắn làm trợ lý cho sĩ quan quân lực tiểu đoàn (S-1), anh về làm đại đội phó đại đội Alpha sau trận đánh ngày 22 tháng 6. Lúc đại úy Milton bị thương và phải đi sơ tán, O'Leary ở lại làm phó cho đại úy Ken Smith. Rồi đến khi Smith phải chuyển sang đại đội Dog mới thành lập, thì anh đã kéo O'Leary đi cùng. Và sau đó lúc Smith lên ban tham mưu lữ đoàn thì O'Leary lên nắm quyền chỉ huy đại đội. Hôm đó là ngày 22 tháng 10 năm 1967.

O'Leary đã từng giao chiến với quân Bắc Việt quanh căn cứ pháo binh 16 và biết khả năng của địch. Trong thực tế anh cùng đại úy Rogan, đại đội Bravo, tiểu đoàn 2/503 đã thảo luận về cái chiến thuật nhanh chóng đánh sang bên sườn 1 đơn vị rồi cô lập để tiêu diệt, thường thấy của đối phương. Chỉ thị của Steverson cho phép rút rồi dùng phi pháo tiêu diệt quân Bắc Việt làm họ cảm thấy yên tâm.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 09 Tháng Chín, 2014, 08:14:01 AM
đại đội Alpha sẽ dẫn đầu trên đường tiến quân lên cao điểm 875. Sau khi bị thương ngày 12 tháng 11, đại úy Mike Kiley đã ở vài ngày tại căn cứ pháo binh 16 rồi lại quay về đại đội. Đến lúc này anh lại cho cấp phó là trung úy Matt Harrison về căn cứ 16 để cho anh này, bị thương nhẹ hôm 12 tháng 11, đi chữa trị vết thương đã bắt đầu bị nhiễm trùng. Harrison sau đó sẽ ở lại căn cứ lo việc tiếp vận và xử lý thường vụ.

3 đại đội đã tới cách cao điểm 875 chừng 750m về phía bắc vào lúc mặt trời lặn. Họ hăng hái đào công sự thiết lập chỗ đóng quân và bố trí các chốt cảnh giới. Đêm trôi qua 1 cách yên bình. Trung úy O'Leary đã đánh 1 giấc thoải mái trên tấm nệm hơi của mình.

Lúc này ở nước Mỹ mọi người đang chờ đón Lễ Tạ ơn, chỉ còn 4 ngày nữa là đến nơi. Đây là ngày lễ duy nhất để người dân Mỹ có cơ hội bày tỏ lòng biết ơn vì những phước lành được ban và đi thăm nom người thân, bạn bè. Ngày lễ cũng là điểm khởi đầu cho mùa mua sắm Giáng Sinh theo truyền thống. 1 người Mỹ bình thường khi thức dậy vào sáng ngày 19 tháng 11 sẽ nghĩ tới việc chỉ còn phải đi làm 3 ngày nữa và món gà tây ngon lành sẽ được thưởng thức vào hôm thứ 5.

Sáng chủ nhật ấy, khi các lính dù thức dậy họ nghe thấy tiếng gầm rú của những chiếc F-100 trên bầu trời, khi chúng tiến hành oanh kích cao điểm 875. Những tiếng nổ ầm ầm vang vọng khắp thung lũng. Sau khi máy bay ném bom xong thì lại đến những tiếng rít chói tai của pháo binh rồi lập tức cơn bão lửa của đạn pháo lại dập xuống sườn cao điểm.

Trong khi các đại đội chuẩn bị đi hành quân, đức cha Watters cần mẫn bày bộ đồ lễ trên cái bàn thờ di động của mình. Vị linh mục đã "đồng cam cộng khổ" với đám 'con cái' từ ngày 13 tháng 11. Khi chứng kiến ông già 40 tuổi trèo đèo lội suối ko biết mệt, đám trẻ tuổi 20 lại vững bước hành quân mà ko còn kêu ca nữa.

Buổi hành lễ sáng hôm đó có đông người tham gia. Hầu như tất cả lính trong 3 đại đội đều nghĩ rằng sẽ có đụng độ trong ngày. Binh nhất Manuel Orona, đại đội Alpha, cũng đoán chắc như thế. Anh có nghe 1 số người nói chuyện về lễ Tạ ơn, nhưng hầu hết, cũng như anh, đều đang suy tư lặng lẽ. Anh là lính truyền tin và lúc này, sau buổi lễ, đang kiểm tra kỹ lại máy móc thiết bị.

Trung sĩ Steve Welch, bên đại đội Charlie, cũng giữ nhiệm vụ truyền tin là người ko theo tôn giáo nào, kể cả Thiên Chúa giáo. Chỉ cố sao tận dụng mọi sự giúp đỡ có thể. Anh là người vùng Santa Cruz, California, 20 tuổi, tới nam VN từ hồi tháng 1 năm 1967. Welch biết cách thu xếp sao cho có lợi nhất cho bản thân. Từ khi nhảy dù trong chiến dịch Junction City, anh chỉ chiến đấu ở mỗi đại đội Charlie, tiểu đoàn 2/503. Welch là thành viên của toán quân do trung úy Bodine điều đi tuần phục ngày 21 tháng 6 năm 1967. Khi tay lính CIDG bị bắn, Welch lăn mình tránh khỏi đường đạn. Anh cùng những lính dù khác cố gắng cứu người lính kia nhưng đạn quân địch đã gây cho họ bị thiệt hại nặng. Hôm sau anh đã tham gia dẫn đường đưa đại đội Charlie tới chỗ đại đội Alpha. Ngày 23 tháng 6, anh là 1 trong số những người đầu tiên đến nơi xảy ra thảm sát. Hình ảnh những những cái xác lính Mỹ rách nát, trương phềnh luôn đeo đẳng theo Welch. Những thứ đã chứng kiến khiến anh tin rằng bộ đội Bắc Việt là 1 đối thủ đáng gờm hơn nhiều so với quân VC mà họ vẫn thường giao chiến ở phía nam. Kể từ lúc đó Welch tìm mọi cách để bảo toàn mạng sống trong thời gian còn lại của kỳ hạn phục vụ.

Có 1 người theo đạo Công giáo nhưng ko tham dự buổi lễ, Secialist 4 Raymond Zaccone, là bạn thân nhất của Welch. Là xạ thủ trung liên M60, anh này vừa bước qua tuổi 19 mới 3 tuần trước đó. Zaccone sinh trưởng ở Hagerman, Idaho và đã tốt nghiệp trung học năm 1966. 3 tháng sau đó, tiếp bước của anh trai, Zaccone đã nhập ngũ rồi tình nguyện vào nhảy dù. Tháng 3 năm 1967 thì anh sang miền nam VN.

Zaccone vừa gặp Welch là lập tức trở nên đôi bạn thân ngay. Thực tế là thân đến mức Zaccone cảm thấy Welch, tiểu đội trưởng của mình, đã bảo bọc mình quá mức. Thế nên Zaccone mới tình nguyện chuyển sang tiểu đội khác để tránh dị nghị, nhưng họ vẫn thân thiết với nhau. Đó chính là lý do để Zaccone giải thích khi Welch hỏi anh vì sao ko tham dự buổi lễ.

Zaccone nói: "Tớ cảm thấy chuyện này có vẻ buồn cười. Giống như tới nhà thờ để được ban phước lần cuối ấy. Sống chết có số rồi."

Welch cũng đồng ý. Rừng già tĩnh lặng 1 cách kỳ quái. Sự tĩnh lặng chỉ bị phá vỡ bởi tiếng gầm rú của máy bay phản lực cùng những tiếng nổ ầm ầm của bom và đạn pháo. Tất cả lính tráng đều có vẻ bồn chồn lo lắng, căng thẳng tột độ. Welch mong trận đánh sẽ ko kéo dài và muốn thoát khỏi nó càng sớm càng hay.

Các đại đội tập trung quân lúc 9g để chuẩn bị tiến lên cao điểm. Trên đầu, chiếc máy bay phản lực cuối cùng đang nhào xuống cắt bom và bắn đại bác. 1 cái vỏ đạn rơi xuống, xuyên qua tán cây và đập trúng mũ sắt của Welch khiến tay trung sĩ trẻ hết hồn hết vía. Đến khi nhận ra sự việc anh mới phì cười nhẹ nhõm. Anh nghe thấy tiếng rít chói tai của những quả bom khai quang CBU ném xuống đỉnh điểm cao phía trước. Những tiếng nổ ầm ầm khiến anh thấy yên tâm hơn.

Theo kế hoạch tác chiến của đại úy Harold J. Kaufman, đại đội trưởng đại đội Charlie và là sĩ quan cấp cao nhất trên mặt đất, thì đại đội của anh cùng đại đội Dog sẽ dẫn đầu trận tấn công. đại đội Dog tiến theo sống núi về bên trái. đại đội Charlie tiến bên phải. 2 đơn vị cách nhau 1 con đường mòn cũ. Mỗi đại đội sẽ tấn công lên với 2 trung đội, 1 trung đội ở lại. Các trung đội tiến theo đội hình 2 hàng dọc. Như vậy lính dù tiến sẽ lên cao điểm theo 8 mũi.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 10 Tháng Chín, 2014, 08:06:27 AM
đại đội Alpha của đại úy Kiley đảm trách vai trò hậu vệ. 2 trung đội của anh sẽ tiến sau các đại đội chủ công. Họ ko chỉ bám sát mà còn sẵn sàng cho việc chuyển thương binh từ phía trên về bãi đáp mà các trung đội hỏa lực đã phát quang. Trung đội còn lại của Kiley sẽ lo bảo vệ phía sau.

Đội hình này là chiến thuật tấn công cổ điển 2 trước 1 sau đã được giảng dạy trong trường bộ binh ở căn cứ Fort Benning hồi trước chiến tranh TG thứ 2. Thật ko may là về cơ bản nó trở nên vô dụng khi dùng để chống lại bộ đội Bắc Việt chiến đấu trong vùng rừng núi Tây Nguyên nam VN. Việc dùng các đơn vị bộ binh nhỏ, có tính cơ động cao được huấn luyện đặc biệt để phát hiện các vị trí phòng thủ mạnh của địch đã được con người thực tế là đại tá William Livsey, trưởng phòng hành quân sư đoàn 4 nhiệt tình cổ xúy. Là người có bề dày kính nghiệm trong chiến tranh Triều Tiên, nơi mà ông đã chứng kiến quân Mỹ đã thiệt hại vô lý như thế nào khi tấn công trực diện vào những vị trí mà quân địch được chuẩn bị tốt. 1 khi lính bộ binh đã định vị được đối phương, họ phải rút lui và dành việc tiêu diệt địch quân cho phi pháo. Cách này sẽ gây nhiều thương vong cho quân Bắc Việt trong khi lính Mỹ chỉ tổn thất rất ít.

Chỉ 1 số ít trong số các sĩ quan chỉ huy lữ đoàn 173 là ủng hộ chiến thuật mới này. Tâm lý tiến công kiểu "xông lên đánh vỗ mặt" giáo điều của nhảy dù đã thấm sâu và ngăn họ tiếp cận điều mới mẻ này. Những đại đội bộ binh cửa lữ 173 sẽ truy quét đối phương theo đúng kiểu đội hình đã dùng hồi chiến tranh thế giới thứ nhất. Cũng cùng chiến thuật tấn công đã từng thất bại thảm hại trước đó trên Tây Nguyên.

Sáng Chủ nhật hôm đó đại đội Alpha có 110 quân. Số quân của đại đội Charlie cũng tương tự. đại đội Dog ra trận chỉ khoảng 80 người. Mỗi đại đội được thêm chừng 9-10 lính nữa đi phối thuộc gồm: 1 đội chó trinh sát; 1 tổ quân y; sĩ quan tiền sát pháo binh với điện đài viên của anh này; 1 tiền sát súng cối 106,7mm và lính điện đài cùng 1 đội công binh.

Đường sống núi mà họ chuẩn bị tiến theo rộng trung bình khoảng 100m và dốc dần khi đến đỉnh cao điểm 875. Sườn đông sống núi dốc cao, còn sườn tây thì thoải hơn. 2 bên sườn cao điểm được bao phủ bởi cây cao, tre nứa cùng bụi rậm dày đặc. Phía trên đỉnh, cuộc oanh tạc đã tàn phá rừng cây lỗ chỗ và tạo ra các hố bẫy chết người.

Các đại đội bắt đầu tiến lên cao điểm lúc 9g43. Mọi người đều ngậm tăm. Chỉ có tiếng của hàng trăm chiếc giày trận đạp trên mặt đất, tiếng lách cách của đồ trang bị, và thỉnh thoảng là âm thanh léo nhéo của điện đài PRC-25.

Trung sĩ Welch chỉ huy tiểu đội xích hầu của đại đội Charlie. Đi đầu tiên là binh nhất Quinn. Lính điện đài của Welch là binh nhất Harmon. Phía sau tiểu đội của Welch 5m là Specialist Zaccone cùng xạ thủ số 2 là binh nhất Neal Best.

Cách 20m về phía bên trái Welch là tiểu đội xích hầu của đại đội Dog. Specialist 4 Kenneth Jacobson đi đầu tiên. Sau anh này là Sp4 Charles Hinton rồi đến trung sĩ Frederick Shipman tiểu đội trưởng. Jacobson đi ngang với Zaccone, cho nên tiểu đội của Welch coi như là tiểu đội xích hầu cho toàn tiểu đoàn.

Ngay khi máy bay phản lực ngừng cắt bom, 1 tiểu đội trinh sát đã tiến gấp lên cao điểm. Sau khi xem xét nhanh chóng họ quay xuống và gặp tiểu đội Welch. Lúc Zaccone đi qua, tay trung sĩ ở tiểu đội trinh sát chỉ vào khẩu M60 của Zaccone nói: "Coi chừng đấy Zack, bọn khốn đang ở trên đó và chúng nó sẽ 'săn sóc kỹ' cậu."

Zaccone gật đầu và vượt qua tay trung sĩ trinh sát. Đi thêm 1 quãng ngắn anh thấy trên mặt đấy có rất nhiều truyền đơn. Anh cúi nhặt 1 tờ. Bằng thứ tiếng Anh thô thiển, quân Bắc Việt viết trong tờ giấy những câu kiểu như: "Chính phủ đế quốc bắt anh đến đây. Hãy ngồi xuống nâng súng lên trên đầu thì sẽ ko bị bắn."

Sự hiện diện của những tờ truyền đơn khiến Zaccone sợ hơn những thứ viết trên đó. Chúng ở đó nghĩa là bộ đội Bắc Việt đang ở rất gần. Zaccone cảm thấy lính Bắc Việt đang theo dõi mình. Anh nhét tờ truyền đơn vào túi áo. Để tự trấn an, anh lẩm nhẩm hát 1 bài hát ngắn quen thuộc của lính bộ binh ở nam VN: "Khi đi qua thung lũng Tử thần, lũ khốn trong thung lũng còn sợ quỉ quái hơn tôi."

Welch quay đầu lại hỏi: "Cậu nói gì?"

Zaccone ko nhận ra mình hát to. Những lời câu hát của anh đã làm Welch sợ. "Ko có gì. Ko có gì đâu." Anh trấn an Welch.

Trong khi tiến tiếp lên Specialist Jacobson đã vượt lên phía trước Welch. Welch phải ra hiệu cho anh này đi chậm lại. Thật khó để 2 toán xích hầu giữ đều khoảng cách khi phải vượt qua rừng cây bị bom pháo tàn phá. Binh nhất Quinn bước đến gần 1 chỗ rộng trống trải do bom mổ tạo ra cách đỉnh cao điểm 875 khoảng 300m. Có hàng đống đất cùng cây cối đổ ngổn ngang. Welch cảm thấy lo lắng. Anh dừng 2 đại đội lại. Liền sau đó binh nhất Harmon đưa cho anh ống nói của điện đài.

“Charlie Six,” Welch gọi Kaufman, cách phía sau anh 30m." Những thứ tôi thấy ở đây làm tôi lo quá. Xin cho trinh sát bằng hỏa lực."

Kaufman đáp ngay: "Không được. Đi tiếp đi."

Welch ko thể tin nổi. Anh cố nài: " Six, đám hổ lốn trên này khiến tôi lo lắm. Tôi thực sự muốn trinh sát bằng hỏa lực ạ."

"Tôi đã bảo là ko được. Cho quân của cậu tiến ngay."

Zaccone nhìn sang Welch nói: "Thật là ngu ngốc. Điên mẹ nó rồi."


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 11 Tháng Chín, 2014, 08:12:18 AM
Welch gật đầu đồng ý rồi ra dấu cho tiểu đội xích hầu đại đội Dog tiến lên trong khi binh nhất đã Quinn bước ra chỗ đất trống. Lúc này là 10g30 đúng.

Khi Specialist Jacobson vừa đi ra chỗ trống chừng 10 bước. thì có 3 tiếng súng nổ. Anh này bị ít nhất là 1 viên bắn trúng ngay đầu. Welch từ cách đó 10m có thể thấy óc và máu văng ra. Zaccone cũng nhìn thấy, trước khi nằm rạp xuống đất. Anh cùng những người xung quanh bắt đầu xả đạn. Vì chẳng ai thấy gì nên họ cứ bẳn bừa vào những nơi nghi ngờ có quân Bắc Việt.

Trung sĩ Shipman và Specialist Hinton gọi lính cứu thương. Specialist 4 James C. Farley bò lên. Khi tới được chỗ Jacobson thì anh này cũng bị 1 phát súng trường giết chết. Shipman và Hinton vẫn ko phát hiện được phát súng bắn ra từ đâu nên chỉ biết dùng khẩu M16 của mình xả đạn ào ào về phía bên kia bãi trống.

Trong khu vực của đại đội Charlie, Zaccone quỳ 1 gối lên cố xem việc gì đang diễn ra. Anh nhìn qua bên trái và giật nảy mình khi thấy đám bụi rậm bỗng nằm rạp xuống như bị cắt bởi 1 lưỡi hái vô hình. Lập tức anh dán mình sát đất. 1 loạt đạn địch bay vù qua đầu, bắn hụt anh trong gang tấc.

Từ vị trí nằm của mình Welch ko nhìn thấy thứ gì cả, nhưng đạn AK-47 đang găm chiu chíu khắp xung quanh. Anh kinh ngạc trước cường độ hỏa lực quân địch. Trong 11 tháng trước đó trên cái đất nước này anh chưa từng chứng kiến lần nào dữ như thế cả. Đạn địch cứ ầm ầm bắn liên hồi ko ngớt.

Lúc này thì Quinn đã bị trúng đạn. Harmon phải bò nhích từng cm lên để kéo anh ra khỏi đường đạn địch. 1 lính cứu thương của đại đội Charlie, Sp4 William T. Hagerty, trườn đến cạnh Welch. Welch bảo anh này ra chỗ khác. Hình như Hagerty ko hiểu ý nên cứ tiến lên trước. Anh này chỉ mới đi được mấy bước thì đã bị bắn chết.

Binh nhất Best, ở cạnh Zaccone, bị 1 viên đạn bắn trúng vai. Anh này cuộn tròn người lại cố gắng chống chọi với cơn đau dữ dội.

Zaccone bảo: "Xuống dưới đi. Quân y sẽ băng bó cho cậu."

Best thốt ra câu đồng ý qua hàm răng nghiến chặt. Sau khi tháo bỏ dây đeo đạn, anh bò xuống cao điểm. Trong chốc lát đã có lính bên đại đội Alpha tới giúp anh đứng dậy. Best được đưa về điểm tập trung thương binh do đại đội Alpha thiết lập.

Các lính dù khác lúc này cũng đã lên được chỗ giao tranh và chiếm lĩnh vị trí để chống trả cuộc đột kích sắc bén của bộ đội Bắc Việt. Đạn Ak-47 nổ ran bay veo véo trên đầu bọn họ. Các 'thiên binh' vẫn chưa nhìn thấy hầm chiến đấu nào của quân địch. Bộ đội Bắc Việt có công sự rất kín đáo.

Từ vị trí của mình ở phía sau đại đội Dog, trung úy O'Leary ko thể thấy được những gì đang diễn ra. Bản năng của người trung đội trưởng khi trước trỗi dậy. Cần phải tìm hiểu tình hình. Chỉ lấy 1 điện đài viên theo cùng, anh thận trọng tiến lên trước. Khi lên gần đến chỗ tiểu đội của Shipman thì tiếng súng trở nên to hơn. Lúc này ngoài tiếng súng cá nhân, súng máy còn có thêm tiếng nổ của lựu đạn chày và đạn B-40 của bộ đội Bắc Việt. Thương binh cố chịu đau lũ lượt đi qua chỗ O'Leary, để tìm đường về tuyến sau.

Khi lên gần chỗ bắn nhau. O'Leary nghe tiếng đại úy Kaufman báo cáo qua điện đài cho thiếu tá Steverson, đang bay trên trực thăng chỉ huy về việc đụng độ. O'Leary nghe thấy tiểu đoàn trưởng ra lệnh cho Kaufman "tiến lên cao điểm."

O'Leary thấy vô cùng bối rối. Anh chen vào làn sóng: " Six, ông đã bảo cho chúng tôi lùi lại khi có đụng độ mà."

Steverson đáp lại: "Tiến lên!"

Hỏa lực quân Bắc Việt sau đó lắng xuống. O'Leary dùng khoảng lặng này thúc trung đội đi đầu của mình tiến lên. Họ tiến thêm chừng 5m thì từ rừng cây cơn mưa đạn lại tuôn ra. Việc tiến quân đã bị chặn lại.

Thành phần đi đầu của đại đội Charlie đã bò lên trước được mấy mét, nhưng đạn địch quất họ cũng rất dữ dội. Đã có 6 đến 8 quả lựu đạn Chicom đáp xuống quanh Harmon. Kỳ diệu thay chúng đều ko nổ. Zaccone tiếp tục nã đạn M60 về phía quân Bắc Việt, nhưng anh vẫn chưa nhìn thấy gì hết nên cứ phải bắn mò vào chỗ nghi ngờ là có địch. Welch nhặt lấy 1 khẩu M79 và đã bắn cả chục trái đạn nhưng dường như chúng vô tích sự trong việc làm cho hỏa lực đối phương thuyên giảm.

Khi những đơn vị đi đầu bị ghìm chặt, đại úy Kaufman lại yêu cầu pháo binh hỗ trợ. Lần này thì Steverson chấp thuận. Chỉ sau ít phút những quả đạn pháo đầu tiên đã dập xuống vị trí đối phương. Thật ko may là 1 số đạn pháo rơi hụt tầm, bắn trúng cả vào các đơn vị trên đầu của cả đại đội Charlie lẫn đại đội Dog. Lúc 11g17 có lệnh check-fire gọi đến tất cả các pháo đội đang yểm trợ. Trong khi lính dù đang gọi về các trung tâm chỉ huy hỏa lực để hiệu chỉnh thì bộ đội Bắc Việt lại dùng súng không giật 57mm cùng B-40 nã xuống chỗ họ. Lựu đạn chày vẫn tiếp tục rơi như mưa xuống các 'thiên binh' ko có ai giúp đỡ.

Sau đó pháo binh lại bắn đến, lần này thì rót trúng vị trí đối phương, lính dù lại cố gắng tiến lên. 1 số toán quân đã tiến được gần 30m trước khi buộc phải nằm dán xuống đất vì hỏa lực bắn trả của địch quá dữ dội.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 12 Tháng Chín, 2014, 08:13:22 AM
Đến 12g58, 4 chiếc F-100 bắt đầu mang bom dập xuống đỉnh cao điểm 875. Trong gần 1 tiếng đồng hồ, máy bay phản lực bay tầm thấp đã ném bom và bắn phá cao điểm. 1 số bom 500 pound đã rơi xuống chỉ cách lính dù 50m. Bom nổ gần làm cho bụi đất, cành cây rơi lả tả xuống đầu các 'thiên binh'.

Nhằm đánh lừa quân Bắc Việt, Zaccone cùng những người quanh đó vẫn cứ ngểnh cổ lên khi máy bay phản lực gào rú bay qua. Chỉ khi nhìn thấy rõ những quả bom từ bụng máy bay rơi ra và sắp sửa đáp xuống đất thì họ mới chúi đầu xuống. Bằng cách đó họ hy vọng quân đối phương sẽ ko kịp tránh né nhưng cũng chẳng chắc việc này có đem lại kết quả gì ko.

Lúc 14g, khi các máy bay phản lực hoàn tất nhiệm vụ, thì lại có lệnh tấn công lên cao điểm. Thượng sĩ nhất Michael Deeb, ở phía trước đại đội Dog, cuối cùng cũng xác định được vị trí căn hầm đã bắn ra những phát đạn giết chết Jacobson. Cùng với những người khác, ông diệt căn hầm bằng lựu đạn. Rồi họ dùng các kỹ thuật vận động và xạ kích để tiến lên. Nhưng bất ngờ lại có đạn súng trường từ phía sau bắn tới, chặn họ lại.

Lính dù ko hề biết rằng, rất nhiều vị trí quân địch được kết nối với nhau bằng những đường hầm. Những hầm chiến đấu mà họ nghĩ đã diệt xong bỗng chốc hồi sinh với hỏa lực mới. 1 số 'thiên binh' còn bị bắn từ 3 phía.

Bên đại đội Charlie, trung đội trưởng của Welch và Zaccone là trung úy Peter J. Lantz đã tới nhập bọn với họ trong lúc máy bay không kích. Cả 2 đều quý mên và tôn trọng anh. Lantz cũng tốt nghiệp học viện West Point năm 1966 và được tuyên dương trên tạp chí Newsweek cùng nhóm với trung úy Gerald Cecil. Lantz đã kết hôn trong thời gian đó nên ảnh đám cưới của anh cũng được đưa lên tạp chí. Các thành viên trong trung đội 2 đã tổ chức ăn mừng sự ra đời đứa con đầu lòng của người cha 24 tuổi này vào tháng 9, tại Tuy Hòa.

Lúc này ,Lantz đang lệnh cho trung đội chuẩn bị tấn công. 15 lính còn lại dưới quyền anh theo hiệu lệnh bắt đầu tiến lên phía trước. Bên trái họ, trung đội 3 cũng bắt đầu vận động.

Đạn địch bắn quá rát nên chỉ tiến được chừng 10m thì tất cả phải dừng lại. Trung úy bên trung đội 3 bị giết. Thương binh thì đau đớn kêu gào. Những người sống sót phài trườn đi tìm chỗ nấp và chẳng ai còn nghĩ tới tấn công nữa.

Trung úy Lantz và trung sĩ Welch thấy mình đã vượt lên trước đại đội Charlie và giờ trở thành đơn độc. Đạn từ cả 2 phía bay vèo vèo trên đầu. Ko ai bảo ai cả 2 người đầu quay lại và phóng về phía hàng cây để nấp. Họ gào tướng: "Quân ta đây!" rồi chui ào vào 1 bụi cây an toàn.

Trong khi đó, Zaccone ,đã bị tách rời khỏi anh bạn thân Welch trong lúc vận động bảo vệ sườn phải bằng khẩu M60, bỗng nghe thấy tiếng kèn. Dường như tiếng kèn phát ra chỗ sườn dốc phía tây của sống núi, ở chỗ quân Bắc Việt.

Trung đội 3, đại đội Alpha của trung úy Joseph Sheridan theo chân đại đội Dog lên cao điểm 875. Còn trung đội 2 dưới quyền trung úy Thomas Remington thì triển khai phía sau đại đội Charlie. Đại úy Kiley bố trí trung đội 1 quanh ban chỉ huy của mình và trung đội hỏa lực.

Khi giao tranh nổ ra, cường độ của nó khiến cho Remington và binh nhất Orona phải kinh ngạc. Cả 2 đều ngạc nhiên  ko biết làm sao đối phương có thể nhanh chóng triển khai hỏa lực mạnh đến thế. Từ vị trí của mình phía sau đại đội Charlie khoảng 100m, họ chẳng thể nhìn thấy gì hết. Tuy không bị nhắm bắn, nhưng đạn vẫn bay viu víu trên đầu, găm phầm phập vào những thân cây, bụi tre quanh đó.

Chỉ sau đó vài phút, thương binh đầu tiên của đại đội Charlie đã xuất hiện trong rừng cây trước mặt Orona. Anh cùng các binh sĩ khác lập tức đến giúp. Trong những giờ sau đó Orona tất bật thu gom thương binh, giúp đưa họ về trạm sơ cứu của đại đội Alpha rồi lại quay lên đón thêm nữa. Anh ko ngờ thương vong lại cao đến thế. Cứ mỗi lần anh quay lên trên cao điểm thì lại thấy thương binh nằm ngổn ngang trên con đường mòn đang đau đớn khóc lóc, rên rỉ.

Thương vong tăng cao khiến đại úy Kiley phải chỉ thị cho trung đội hỏa lực của mình chặt cây làm 1 bãi đáp. Ngày càng thấy rõ là thương binh sẽ còn tăng thêm nữa vượt quá khả năng chăm sóc của lính cứu thương. Trung đội hỏa lực bắt đầu phát quang bụi rậm, cây cối phí sau đại đội bộ của Kiley chừng 75m.

Công việc chăm sóc thương binh của các trung đội của Sheridan và Remington vẫn đang rất tất bật. Tiếng kêu la vì đau của thương binh đại đội Charlie nghe còn lớn hơn cả tiếng đạn pháo nổ ầm ầm trên dỉnh cao điểm. Chỉ có tiếng rít chói tai của những chiếc F-100 mới át được tiếng của bọn họ. Tiếng kêu cứu khiến cho cả lính cứu thương của Remington là Sp4 Olis R. Rigby cũng ko chịu nổi. Khi anh này định xông lên, Remington đã gọi giật lại "Ko được đi. Tôi cần cậu ở đây!"

Rigby cứ lờ tịt. Anh ta đã khuất vào trong tán cây rừng đi lên chỗ giao tranh. Remington rất tức giận. Lính cứu thương phải ở cùng đơn vị mình! Lúc này trung đội 2 trở thành ko có lính cứu thương. Remington ko còn gặp lại Rigby nữa.

Việc phát quang bãi đáp diễn ra chậm chạp vì rừng già quá rậm rạp. Lúc 13g Kiley đã gọi về trung tâm hành quân xin dụng cụ kiến tạo bãi đáp (cưa máy và dao phát) cùng với 50 pound thuốc nổ C4. Chỉ lát sau đã có trực thăng tới thả chúng xuống.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 15 Tháng Chín, 2014, 02:57:52 PM
Kiley đã triển khai trung đội 1 quanh bãi đáp để bảo vệ lính trung đội hỏa lực. Phía sau lưng anh, về hướng 3 đại đội đã đóng quân nghỉ đêm hôm trước, thì vẫn chưa có quân bảo vệ. Kiley gọi điện bảo Remington đưa xuống 1 tiểu đội để bảo vệ khu vực dễ bị tiến công này.

Remington nhìn quanh. Hầu hết lính của anh đang bận chăm sóc thương binh, nhưng tiểu đội của Kelley gần chỗ Remington vẫn còn đang thủ thế sau những gốc cây.

"Kelley, đưa tiểu đội xuống chỗ Six!"

Ko nói năng gì, Kelley dẫn 3 lính quay xuống sống núi. Kiley chỉ thị cho anh này thiết lập 1 chốt cảnh giới dưới con đường mòn.

Đi cùng Kelley là Sp4 John Steer, binh nhất Anthony Romano, và binh nhất Carlos J. Lozada. Steer chơi thân và rất quý Lozada. Lozada, 21 tuổi, sinh trưởng trên khu phố Bronx nghèo nàn của New York. Cũng giống Steer, 1 tay Puerto Rico với tính tình phóng túng. Anh thường hay chống đối nhà chức trách và chuốc rắc rối cho chính mình.

Trung sĩ nhất Enrique Salas khi còn là trung sĩ trung đội phó của Remington, đã từng nghĩ xấu về Lozada. Hình như tiểu đội trưởng của Lozada cũng nghĩ vậy. Một hôm, viên trung sĩ kia đã tới phàn nàn với Salas rằng Lozada luôn khiến anh ta khó xử, luôn chất vấn các lệnh lạc. Phải làm sao đây?

Salas đã nói: "Rồi. Tôi sẽ làm ngơ cho cậu 'đục' thằng đó."

Viên tiểu đội trưởng quay lại chỗ Lozada và khiến anh đo đất bằng 1 cú đấm móc. Từ đó ko thấy Lozada gây rối gì nữa.

Một người nữa kết bạn với Lozada là cha Watters. Tháng 5 năm 1967, Lozada có con gái, chỉ 1 tháng trước khi anh sang nam VN. Anh kể cho bạn bè những thứ anh sẽ làm cho con sau khi xuất ngũ. Anh lên cả kế hoạch cho tương lai của đứa con mình. Rủi thay mức lương binh nhất chẳng cho phép anh để dành nhiều tiền cho nó. Thực tế là có lúc anh anh ko kiếm nổi tiền để mua giường cũi cho bé. Cha Watters đã nghe kể về hoàn cảnh của Lozada. 1 hôm ông kéo Lozada ra rồi cho anh vay số tiền đang cần. Lozada ko dám tin vào điều đó. Chẳng có ai, trừ vị linh mục - sĩ quan này, từng đối xử tốt với anh như thế. Lozada đón nhận lòng rộng lượng của cha Watters và gửi món tiền về cho vợ.

Lúc này, khi tiểu đội dã di chuyển xuống dưới đường mòn, Lozada tranh cãi với Kelley về việc nên bố trí khẩu M60 của mình ở đâu. Rốt cục, Kelley cùng với Romano chuyển sang bên phải, Steer và Lozada thì ở lại bên trái con đường mòn. Steer sẽ là xạ thủ số 2 của Lozada.

Mới được vài phút thì Romano trở nên lo sợ. Anh này cứ đi tới đi lui trên đường luôn miệng chửi rủa: "Thật là ngu xuẩn, đây là cái nhiệm vụ tự sát."

Lozada mắng: "Im cha cái mồm đi. Cậu làm lộ vị trí bây giờ." Romano mất dạng. Từ đó Steer ko nhìn thấy anh ta nữa.

Ít phút sau có 3 tiếng nổ đanh gần chỗ phần bãi đáp vừa phát xong, có thể là của súng cối quân Bắc Việt. 3 người lính lo lắng nắm chặt lấy súng. Họ có thể nghe thấy tiếng động rào rào trong đám bụi cây dưới con đường mòn lẫn trong tiếng ồn của trận đánh ở sau lưng.

Đột nhiên, họ nhìn thấy những bóng người đeo lá ngụy trang chỉ cách chưa đến 20m đang lợi dụng các thân cây lao nhanh lên chỗ mình. Lozada hô: "Kelley, chúng nó đến!" rồi khai hỏa khẩu trung liên.

Khẩu súng giật nảy khi anh lính trẻ xiết cò bắn ra những loạt đạn ngắn, đều đặn. Steer dùng 1 tay nâng dây đạn trong khi tay kia bắn M16. Bên kia đường mòn, hơi chếch về phía sau, Kelley cũng đã nổ súng.

Lính Bắc Việt đã lên quá gần. Lozada quét những luồng đạn quất vào đội hình quân địch. Nhưng 3 người lính ko sao kham nổi số quân địch quá đông. Quân Bắc Việt nhanh chóng áp sát cái tiểu đội nhỏ bé.

Mấy lính dù thuộc trung đội 1 gần đó kêu 3 ngưởi lính bỏ chạy thoát thân. Steer hét lại: "Ko được. Bọn tôi bị kẹt rồi."

Ba, bốn lính trung đội 1 cố xuống cứu toán cảnh giới. Nhưng họ vấp ngay vào một bức tường đạn của bộ đội Bắc Việt. 1 lính bị trúng đạn, những người kia thì bị ghìm chặt.

Khi Steer đang thay băng đạn mới cho khẩu M16, bỗng Lozada hét lớn: "Súng tớ kẹt rồi!". Cùng lúc đó Steer nhìn thấy 1 lính Bắc Việt, mặt bôi nhọ, khẩu AK-47 bọc trong vải bố đang nấp sau 1 cái cây cách đó có 7m. Anh bắn 1 loạt dài vào tên địch nhưng ko trúng.

Lozada đang làm sạch khẩu M60, hét lên bảo Steer: "Rút lui!". Steer bắt đầu lùi lại, đạn địch bay sát xạt trên đầu. Anh vừa nấp vào sau cái cây đổ thì 1 tràng đạn AK-47 găm phầm phập vào cái cây phía sau.

Lozada đi giật lùi trên đường mòn, liều lĩnh kẹp khẩu M60 ở hông nhả đạn, mặc kệ đạn địch đang châu đến. Xả vào rừng cây trước mặt những tràng đạn chết chóc. Anh chàng mảnh khảnh người New York di chuyển tới chỗ Steer rồi quỳ xuống bên cạnh bắn liên hồi ko ngớt.

Steer nhìn sang bên phải. Anh thấy toán lính Bắc Việt đang vận động vượt qua chỗ mình trong đám cây rừng rậm rịt. "Carlos! nằm xuống!" anh gào lên đúng lúc lưng và tay bị 1 loạt đạn quân địch bắn trúng. Steer ngã lộn nhào xuống đất ngay trước mặt Lozada. Anh ngước lên vừa kịp thấy người bạn bị lãnh 1 viên vào đầu. Lozada đổ người về phía trước ngã đè lên khẩu súng.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 16 Tháng Chín, 2014, 09:02:34 AM
Trong lúc Steer còn chưa kịp hoàn hồn thì bỗng thấy Kelley xuất hiện bên cạnh. "Cố lên đi, John, ta phải ra khỏi chỗ này."

Kelley thúc dục Steer đang bị thương khá nặng cố luồn qua đám cây cối chạy lên trên. Phía sau 2 người, quân Bắc Việt ngày càng gần. Kelley giật lựu đạn ra khỏi thắt lưng, vụt chúng về phía sau để chặn địch lại.

Cả 2 tới được chỗ của trung đội hỏa lực trên bãi đáp. Steer thởi hổn hển nói: "Bọn khốn đang theo chúng tôi sát nút. Phải lo cuốn gói đi, ở lại đây là chết đó."

Steer và Kelley chỉ dừng lại đủ lâu để báo tin, rồi lại tiếp tục phi lên cao điểm. Rốt cục thì họ cũng đến được 1 nơi tương đối an toàn. Trong khi 1 lính cứu thương chăm sóc vết thương dài 40cm trên lưng, Steer nghe thấy tiếng súng rộ lên chỗ vị trí chỉ huy đại đội của Kiley.

Khoảng 14g30, cùng thời gian mà Steer và Lozada bắt đầu chạm địch. Ban chỉ huy đại đội của Kiley cùng với trung đội 1 cũng bị tiến công liên tục từ 2 hướng. Những bộ đội Bắc Việt ngụy trang tài tình dường như từ hư không xuất hiện nã đạn thẳng về phía lính dù. 1 đại đội quân Bắc Việt đánh tập hậu đại đội Alpha trong khi đại đội khác theo sườn núi phía tây ép xuống.

Trung úy Remington nghe thấy tiếng súng bắn phía dưới, ở chỗ đại đội bộ của Kiley. Những phát súng đơn lẻ nhanh chóng chìm trong tiếng ầm ầm của các loại súng cá nhân, súng máy. Lựu đạn theo nhau nổ liên hồi làm cho Remington ko còn có thể phân biệt được của ta hay địch nữa.

Giọng Kiley, tuy có vẻ hoảng sợ nhưng cũng chưa đến nỗi nào vang lên trong điện đài của Remington: " Mike Six. Mang tất cả quân cậu có xuống đây ngay. Tôi cần hỗ trợ."

Remington lấy 1 nửa trong số 20 người còn lại theo sườn cao điểm xuống chỗ Kiley, cách đó chừng 100m. Nhưng chẳng bao giờ có thể tới nơi.

Đi được nửa đường đến chỗ Kiley thì Remington vấp phải hỏa lực địch dữ dội bắn đến từ bên trái. 1 đại đội Bắc Việt đủ quân số đã mai phục trên sườn dốc phía tây sống núi. Trung sĩ Aaron Herva bắn điên cuồng hạ được 1 số lính địch trước khi bị 1 loạt AK-47 đốn ngã. Specialist 4 Frank Stokes cùng binh nhất Ernesto Villareal vận động đến cứu anh này nhưng cũng bị hạ sát. Specialist 4 Bruce M. Benzene quăng người nấp sau 1 cái cây và giết được mấy lính địch bằng 1 băng đạn M16 rồi mới bị bắn hạ.

Remington bị 1 viên đạn AK-47 bắn trúng vai phải. Ngay khi anh vừa nằm rạp xuống đất thì 1 quả đạn B-40 bắn trúng cái cây bên cạnh nổ tung. Mảnh vỡ nóng bỏng đã xuyên vào chân trái của anh. Dù cực kỳ đau đớn, viên sĩ quan gan góc vẫn tiếp tục chiến đấu. Bộ đội Bắc Việt chỉ cách anh có mấy mét. Cứ thấy ló ra tên địch nào là Remington bắn ngay. Dù ko biết có trúng không nhưng anh vẫn bắn thả ga.

Trong khi đó 1 số quân thuộc trung đội 3 của trung úy Sheridan đã mở đường xuống được chỗ ban chỉ huy của Kiley. Họ thấy viên đại úy cùng 5 người khác, bao gồm cả điện đài viên và y tá trưởng đại đội, đều nằm chết dưới 1 hõm đất sâu. Việc này cho thấy bộ đội Bắc Việt đã tràn ngập ban chỉ huy và hạ sát những lính dù này bằng đạn bắn thẳng.

Họ phát hiện ở gần đó có xác của nhóm thương binh đang chờ được sơ tán. Số này ko có cơ hội sống sót. Tất cả đều chết vì nhiều vết thương do đạn bắn. Trong đó có cả binh nhất Neal Best.

Khi quân của Sheridan quay trở lên tiến về chỗ đại đội Dog thì trung úy Remington lệnh cho những người còn sống sót quanh đó mở đường đi lên chỗ đại đội Charlie. Remington nhích từng chút một, quay súng nã xuống cây cối phía sau lưng và leo lên cao điểm. Rốt cục, đến khoảng 15g, thì anh bắt tay được với đại đội Charlie. Tuy cô cùng đau đớn, anh vẫn cố chỉ thị cho 1 chục lính dưới quyền còn lại đào công sự. Vì đã bỏ ba lô lại khu vực lúc này đang lúc nhúc lính Bắc Việt, nên giờ các 'Thiên binh" phải tận dụng mọi thứ có trong tay như lưỡi lê, mũ sắt, tay không... để đào đất.

Trong lúc đại đội Alpha đang bị đánh nhừ tử, hỏa lực địch bắn vào các đại đội Charlie và Dog vẫn ko hề suy giảm. Tiếng súng bắn từ phía sau khiến cho các lính dù ở nơi xa nhất cũng phải rút lên trên. Bản năng mách bảo rằng họ đã bị bao vây.

Ko có mục tiêu nên trung sĩ Welch lăn vào kéo thương binh vào nơi trú ẩn. 1 cậu trai trẻ to con gốc Ba Lan, vốn có biệt danh là "ván trượt" bị đạn bắn trúng tinh hoàn và chân phải. Dòng máu tím sẫm cứ trào ra sau mỗi nhịp thở. Welch khom người kéo cậu ta ra sau cái cây thì 1 viên đạn lại bắn trúng bàn chân của "ván trượt". Viên đạn sau đó xuyên qua tay áo của Welch rồi cắm vào ngực 1 lính dù cạnh đó. Đạn đi xuyên qua thân người lính trổ ra sau và làm dạ dày anh này bị thủng.

Welch băng bó vết thương cho anh lính rồi quay lại với "ván trượt". Anh quay lại quá trễ, cậu bé to con đã chết mất rồi.

Welch làm việc lăn xả suốt cả buổi chiều. Lính chết khắp xung quanh nhưng anh vẫn chưa hề hấn gì. Một lần, anh đang bò lên giữa 2 người lính khác thì đột nhiên người lính bên trái hét lên vì bị trúng đạn vào cổ. Khi Welch đang cúi xuống tránh dòng máu phun ra từ cái cổ họng bị xe toạc thì tay lính dù bên phải đã bị bắn thủng trán. Welch bèn bò sang chỗ khác.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 17 Tháng Chín, 2014, 09:01:36 AM
Specialist 4 Zaccone ngày hôm đó cũng đã nhiều lần thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Một lần, khi anh đang từ sau thân cây dùng khẩu M60 đọ súng với 1 tay súng bắn tỉa thì 1 quả đạn B-40 lao đến trúng vào cái cây phía trên. Sức nổ hất anh văng ra ngoài chỗ trống. Lúc đang nằm anh nghe thấy có tiếng người la hét. Rồi thì Zaccone nhận ra đó là tiếng hét của chính mình. Anh bò về nấp sau 1 cái cây. Vì thấy chân bị đau, anh nhờ 1 lính dù gần đó xem thử. Người lính bảo chân anh bị trúng nhiều mảnh đạn. Từ lúc đó Zaccone ko dám đi đâu nữa vì sợ ảnh hưởng đến vết thương.

Lát sau, có 1 lính cứu thương bò lên tìm thương binh. Zaccone bảo: "Tốt hơn anh nên ra khỏi đây đi Doc. Bọn nó đang nhằm cả vào chỗ này đấy."

Anh lính cứu thương gật đầu và bò đi, nhưng mới được mấy mét thì đã bị bắn gục.

Vào 1 thời điểm trong cái buổi chiều dài dằng dặc ấy, khi Zaccone tình cờ nhìn vào rừng cây phía sau thì thấy cha Watters đang ngồi xổm chăm sóc cho 1 thương binh. Khi Watters bắt gặp cái nhìn của Zaccone, mặt vị linh mục thoáng nét cười và nói với anh rằng ông vẫn bình an. Watters vẫy tay chào Zaccone. Anh này vẫy lại, cử chỉ đó đã tiếp thêm cho anh sức mạnh và anh trở lại tiếp tục chiến đấu.

Đối với những người đã nhìn thấy ông ngày hôm ấy. Cha Watters là 1 minh chứng cho tinh thần ko ngán ngại hiểm nguy. Ông di chuyển khắp chiến trường, chẳng hề đếm xỉa đến đạn thù để chăm sóc cho những thân xác nham nhở, què cụt, và làm lễ cho những người đang hấp hối. Hết lần này đến lần khác ông xông lên tuyến đầu, kéo thương binh qua nơi an toàn, đưa họ tới nơi băng bó và mang tử sĩ về.

Tại nơi sơ cứu, Specialist 4 Steer cũng thấy cha tuyên úy làm việc giữa những hàng thương binh. Vị linh mục tới an ủi từng người lính. Ông nắm lấy tay 1 số người khi họ khóc vì đau đớn. Ông ghì chặt những người đang hấp hối như thể ko muốn họ rời bỏ thế giới này trong đơn độc.

Sau khi bộ đội Bắc Việt đã tràn ngập đại đội Alpha, đại úy Kaufman nhận ra cuộc tiến công của mình rồi sẽ chẳng đem lại kết quả gì. Anh ra lệnh cho tiền quân của cả 2 đại đội co lại, để tổ chức khép chặt phòng ngự. Điều đó có nghĩa là phải từ bỏ 30m đất mà họ phải vất vả lắm mới giành được. Nhưng Kaufman cũng chẳng còn cách nào hơn. Sau khi co lại, Kaufman gọi điện xin Steverson không kích đồng thời cũng báo rằng họ đang bị 300 bộ đội Bắc Việt vây chặt. Đến 15g03 thì các máy bay phản lực đã bay vù vù qua đầu họ.

Vì 3 đại đội đã phải chiến đấu liên tục suốt gần 5 tiếng đồng hồ, nên đạn dược của họ sắp cạn sạch. Thiếu tá Steverson lệnh cho đại đội trực thăng xung kích 335 cố gắng thả đạn xuống. Lúc 15g39 chiếc trực thăng đầu tiên đã cất cánh từ căn cứ pháo binh 16. Đến 15g52 thì nó quay về, vẫn chưa thả được đạn mà còn bị bắn thủng lỗ chỗ. Khi phi công vừa mới bay đến gần chu vi phòng thủ, thì đạn đối phương thi nhau từ rừng cây bâu tới. Chiếc Huey bị trúng đạn nhiều đến nỗi ko đếm xuể. Nó rung lắc dữ dội và viên phi công đành phải vòng về căn cứ pháo binh.

Đến 16g17, chiếc trực thăng chở đạn thứ nhì lại lên đường. Lần này thì cơ phi đã cố đạp xuống 1 thùng đạn trước khi hỏa lực giữ dội buộc chiếc trực thăng phải bay đi. Giỏ đạn rơi xuống rừng cây trước mặt tuyến phòng thủ của đại đội Charlie chừng 20m rồi lăn lông lốc xuống dốc.

Lính dù rất cần số đạn ấy nên trung úy Lantz tổ chức 1 đội đi thu nhặt. Anh dẫn họ tiến xuống. Khi các binh sĩ lôi thùng đạn nặng trịch về phòng tuyến thì Lantz bắn yểm hộ. Anh đi giật lùi, bắn sang 2 bên, tưới đạn vào những ngọn cây gần đó. Sắp về đến nơi thì Lantz bị 1 lính bắn tỉa địch bắn chết tươi chỉ bằng 1 phát đạn.

Suốt buổi chiều, quân Bắc Việt tiếp tục nã súng vào các 'thiên binh' đang bị vây. Cùng với súng cá nhân, địch còn dùng B-40, B-41 và súng cối nện lính dù tới tấp. Dù cũng có lúc giao tranh lắng xuống theo chu kỳ, nhưng điều này ko kéo dài. Ngay khi lính dù vừa nghĩ rằng mình đã an toàn, thì lại nghe thấy tiếng đề pa đặc trưng của đạn cối khi chúng bay ra khỏi nòng. Mọi người lại ùa đi tìm chỗ nấp vì biết rằng chỉ trong giây lát nữa thôi, đạn cối sẽ chụp xuống reo giắc hủy diệt, chết chóc.

Tướng Schweiter đã theo dõi trận đánh trên cao điểm 875 trong cả buổi chiều và thấy rõ ràng rằng tiểu đoàn 2/503 đang ở trong 1 tình thế tuyệt vọng. Ngay lập tức ông giành cho họ quyền ưu tiên được nhận tất cả các hoạt động không kích.

Hẳn là thiếu tá Steverson cũng nhận ra điều đó khi bay trên khu chiến. Đến 15g41, ông bảo tiểu đoàn phó là thiếu tá William Kelly gọi về xin lữ đoàn cho tiểu đoàn 1 đến giúp. Dù đang ở gần đó, các đại đội của trung tá Schumacher lại ko ở trong tình trạng tốt để có thể đi cứu viện. Do vậy, tướng Schweiter đưa tiểu đoàn 4 đáng tin cậy của mình ra.

Khoảng 16g, Schweiter bay đến sở chỉ huy của trung tá Johnson đóng tại căn cứ pháo binh 12. Viên tướng nói sơ qua về tình thế nguy ngập của tiểu đoàn 2/503. Schweiter cho Johnson thấy ông rất lo lắng về những việc đang diễn ra trên cao điểm 875. Ông bảo Johnson chuẩn bị cho 1 đại đội dưới quyền triển khai ngay đến căn cứ pháo binh 16. Sau đó Schweiter quay lại trung tâm hành quân của Steverson.

đại đội Bravo, tiểu đoàn 4/503 của đại úy Ron Leonard vừa về đến căn cứ pháo binh 12 lúc 11g25 sáng hôm ấy sau khi được thay phiên (các đại đội luân phiên nhau đi hành quân dã ngoại.) Thế nên, giờ đây đại đội Bravo phải nhận lệnh chuẩn bị lên đường.




Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 18 Tháng Chín, 2014, 08:15:01 AM
Leonard vừa mới tắm 1 chầu nước nóng, thay quần áo sạch, đánh giày thì bị trung tá Johnson gọi lên gặp. Ở trung tâm hành quân, Leonard được cho biết về tình thế của tiểu đoàn 2/503. Johnson lệnh anh phải cho đại đội sẵn sàng lên đường trong vòng 5 phút.

Leonard hối hả quay về đại đội và ra 1 loạt chỉ thị cho kịp thời hạn. Lát sau Johnson nhắn đại đội Bravo phải tới căn cứ pháo binh 16 ngay khi các trực thăng Chinook đến nơi. Đêm đó họ sẽ làm nhiệm vụ bảo vệ căn cứ và phải chuẩn bị tiến lên cao điểm 875 ngày hôm sau.

Toàn thể đại đội Bravo, tiểu đoàn 4/503 đã có mặt tại căn cứ pháo binh 16 vào lúc 17g15.

Trên điểm cao 875, nước uống và thức ăn đang cạn kiệt. Hầu hết các 'thiên binh' đều đã bỏ lại ba lô tại nơi ban đầu họ chạm trán với bộ đội Bắc Việt. Những chỗ đó giờ đây đều nằm bên ngoài chu vi phòng thủ. 1 số trực thăng cố bay đến thả xuống đồ tiếp tế nhưng hỏa lực dữ dội của đối phương khiến cho chúng phải dạt ra mà ko thể bay tới trên đầu lính dù. Tổng cộng đã có 6 chiếc Huey của đại dội trực thăng xung kích 335 bị bắn rụng hoặc bị thương nặng trong quá trình bay đến tiểu đoàn 2/503.

Specialist Zaccone cùng 1 cậu bạn, bị thôi thúc vì nhu cầu cần nước uống cho thương binh, đã tình nguyện đi lấy ba lô ,lúc này đang nằm cách chu vi phòng thủ 50m. Cả 2 lén lút trườn trên mặt đất, thận trọng bò qua những cái hố. Họ an toàn đến được chỗ có ba lô và nhanh chóng gỡ lấy 1 số lớn bi đông nước.

Về lại chu vi phòng thủ, Zaccone đem số bi đông tới trạm sơ cứu. Gặp cha Watters anh nói: "Thưa cha, đây là ít nước cho các thương binh". Vị tuyên úy chỉ cười và đáp: "Cảm ơn nhé, con trai."

Một lần nữa Zaccone lại thấy khâm phục sự điềm tĩnh của vị linh mục. Dù trạm sơ cứu đông đến vài chục người bị thương, số thì khóc lóc, số khác lại đang la hét, cha Watters vẫn tỏ ra điềm đạm, tiếp tục dùng lời cầu nguyện giúp tăng sức mạnh cho những con người đang tuyệt vọng. Chỉ có sự hiện diện của ông mới làm Zaccone nguôi ngoai được phần nào.

Zaccone chuyển ra rìa tây nam chu vi phòng thủ. Tại đây anh cùng 3 người khác đào 1 cái hố lớn dưới gốc cây ngay cạnh sườn dốc.

Phía sau Zaccone mấy chục mét, trung úy Remington tin chắc bộ đội Bắc Việt sẽ tung ra 1 trận đột kích đêm nhằm vào những đại đội đã bị suy yếu. Anh đã lập kế hoạch bắt quân địch phải đổi mạng với giá đắt nếu như việc đó xảy ra. Anh nhắc nhở các binh sĩ xung quanh: "Ko cho địch dễ dàng xông đến. Phải dội bão lửa lên đầu chúng. Bắt bọn khốn chịu tổn thất nặng. Mỗi viên đạn 1 quân thù."

Những người chưa đào xong công sự vẫn đang cố cật lực khoét những cái hốc trong lòng đất. Rễ cây quá nhiều trong lòng đất khiến việc đào xới rất khó khăn, nhưng những người lính tuyệt vọng vẫn gắng sức để có thể hoàn thành công việc.

Đạn cối, rocket, B-40, B-41 của bộ đội Bắc Việt vẫn tiếp tục nã đều đều vào chu vi phòng thủ. Cứ mỗi lần có ai dám nhô lên khỏi mặt đất là gặp ngay đạn súng cá nhân địch bắn đến.

Đạn pháo của pháo đội A, tiểu đoàn 3/319 vẫn tiếp tục nổ trên tán rừng cao điểm 875. Hết trái đạn này đến quả đạn khác lao xuống, đốn ngã cây cối và, trong khi các lính dù thì kỳ vọng chúng hạ sát quân Bắc Việt. 1 bức màn khói, bụi đặc quánh bay lơ lửng trên đỉnh khiến ko thể nhìn rõ cao điểm.

Đôi lúc, pháo ngừng bắn để cho các máy bay phản lực ném bom và napalm xuống đầu quân địch. Những chiếc máy bay chiến đầu thường gầm rú bay sát đất từ đông sang tây theo 1 trục vuông góc với tuyến tấn công của tiểu đoàn 2/503. Có những trái bom napalm rơi quá gần thiêu cháy hết cả oxy khiến trung sĩ Welch cảm thấy không khí trong phổi như bị hút ngược ra ngoài.

Bên cạnh máy bay phản lực, những con "rồng lửa" (máy bay Hỏa long) cũng tưới đạn minigun xuống các vị trí của quân Bắc Việt. Những luồng đạn rực rỡ của chúng là nguồn động viên lớn cho quân dù. Khi màn đêm buông xuống, những chiếc máy bay Spooky tới thả pháo sáng lên trên cao điểm. Thứ ánh sáng có công suất bằng hàng triệu ngọn nến ko chỉ giúp quân trên mặt đất phát giác động tĩnh của lính Bắc Việt mà còn soi mục tiêu cho máy bay phản lực.

Vào khoảng 18g30, đại úy Kaufman kêu các trung đội trưởng cùng trung đội phó đến họp tại sở chỉ huy của mình, giáp với trạm sơ cứu. Anh đã lên kế hoạch tiến công lên đỉnh cao điểm vào sáng sớm hôm sau nên muốn tất cả mọi người phải hiểu tường tận nhiệm vụ.

Chiều hôm đó từ nhiều địa điểm khác nhau quanh Đắk Tô, rất nhiều thành viên trong lữ đoàn dù 173 cũng quan tâm theo dõi trận đánh của tiểu đoàn 2/503 trên cao điểm 875. Trung úy Harrison cùng người bạn là trung úy Robert J. Philbin, đại đội phó đại đội Charlie ngồi túm tụm quanh chiếc điện đài trong trung tâm hành quân tại căn cứ pháo binh 16. Bạn bè của họ ngoài kia đang bị đánh tơi tả. Họ cùng chung đơn vị với những người đó. Cả 2 đều cảm thấy có lỗi vì mình thì được an toàn trong khi bạn bè phải chết.

Trên cao điểm 882, cách cao điểm 875 2 km về phía bắc, đại úy Jesmer cùng với ban chỉ huy đại đội Alpha, tiểu đoàn 1/503 cũng đang theo dõi trận đánh trên sóng điện đài. Tiếng ồn trận đánh của tiểu đoàn 2/503 xuyên rừng bay đến chỗ quân của Jesmer suốt cả ngày. Rõ ràng là đang diễn ra 1 trận chiến khóc liệt. Sau những gì tiểu đoàn 1/503 đã phải nếm trải mấy tuần qua, Jesmer cầu mong tiểu đoàn 2 sẽ đánh được 1 trận mang tính quyết định với quân Bắc Việt.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 19 Tháng Chín, 2014, 08:16:22 AM
Ở căn cứ pháo binh 15 trên cao điểm 823, đại úy Ed Sills cũng đang theo dõi trận đánh của tiểu đoàn 2. Anh nghe thấy sĩ quan điều không tiền tuyến trên chiếc máy bay(FAC) hướng dẫn không kích báo hết nhiên liệu. Lát sau 1 FAC khác đến hiện trường để thay thế. Viên phi công thứ nhất truyền đạt lại cho anh này tuyến không kích đang được tiến hành. Sills nghe thấy viên phi công chỉ dẫn tay sĩ quan điều không tiền tuyến mới đến hãy cho máy bay oanh kích xuống đám lửa cháy gần mỏm cao điểm. Ít lâu sau đó 1 máy bay phản lực của Thủy quân lục chiến báo cáo đã đến chờ trên khu vực. Anh ta báo còn mấy trái bom 500 pound và sĩ quan điều không tiền tuyến có muốn sử dụng chúng ko?

Vậy là làm. Viên sĩ quan điều không tiền tuyến bắt đầu hướng dẫn viên phi công ném bom xuống đám cháy gần đỉnh cao điểm 875. Chiếc phản lực bắt đầu ngóc lên, lượn vòng rồi sà xuống.

Không biết vì sao, tay phi công lại hiểu sai chỉ dẫn của sĩ quan điều không tiền tuyến. Thay vì tiếp cận theo hướng đông bắc sang tây nam, viên phi công lại lao xuống cao điểm từ phía bắc, ngay phía sau trận địa của 'thiên binh'. Khi gần đến điểm cắt bom thì anh ta phát hiện 1 vệt lửa đang lan ra trên cao điểm.

Nhiều lính dù dưới mặt đất cũng nhìn thấy vệt lửa này. Nó cháy len lét ngay trên vị trí của họ. Đột nhiên, tiếng rít chói tai ngày càng gần của máy bay phản lực làm họ chú ý.

Khi đến điểm cắt bom, viên phi công bật công tắc quân giới. 2 quả bom 500 pound dưới mỗi cánh máy bay lao nhanh xuống cao điểm 875. Phi công kéo mạnh cần lái, chiếc máy bay ngóc cao lên. Vài giây sau đó anh ta cải bằng rồi quay về căn cứ của mình ở Đà Nẵng, về với câu lạc bộ sĩ quan có gắn máy điều hòa nhiệt độ để dùng bia với đá lạnh, tắm nước nóng, ra trải giường sạch sẽ.

Vào lúc 18g50, những người đang theo dõi tiểu đoàn 2/503 trên điện đài nghe thấy 1 tiếng nổ lớn. Rồi các điện đài đều  trở nên im bặt.
 









Chương 13
Giải vây cho cao điểm 875






Trung sĩ Steve Welch cùng người bạn vừa mới dùng mũ sắt đào xong 1 hố chiến đấu trên nền đất thì nghe thấy tiếng gầm rú của máy bay phản lực đang đến gần. Theo phản xạ, Welch ngoảnh qua trái. Bóng chiếc máy bay rất lớn và Welch thấy những quả bom từ cánh của nó rơi ra. Anh nhận thấy có điều gì đó ko ổn. Bom đang rơi thẳng xuống chỗ anh.

Anh hét: "Bỏ mẹ rồi!" và đẩy cậu bạn xuống hố rồi lao xuống nằm đè lên anh này.

Vài giây sau 1 tiếng nổ lớn làm rung chuyển cả chu vi phòng thủ. Sóng xung kích hất văng mũ sắt ra khỏi đầu Welch và làm anh bất tỉnh.

Khi hồi tỉnh và tai hết ù đặc, Welch nghe thấy dậy lên khắp nơi kêu gào đau đớn của những ngưởi bị thương. Tiếng người lính ở phía sau anh khóc nghe càng ngày càng to hơn: "Tôi mất chân rồi! Tôi mất chân rồi!"

Lạy Chúa tôi, Welch tự hỏi, điều gì đã xảy ra vậy?

Quả bom thứ nhất đáp xuống ngay ngoài chu vi phòng thủ. Nó nổ tung ngay chỗ 1 toán lính Bắc Việt đang chuẩn bị đột kích quân dù. Ít nhất 25 tên trong số địch này đã bị giết. Số còn lại chạy tán loạn.

Quả bom 500 pound thứ nhì rơi trúng vào giữa trạm sơ cứu. Đại úy Kaufman lúc đó đang ngồi xổm họp với các trung đội trưởng ở rìa tây của trạm. Sức nổ kinh hoàng đã giết hết tất cả. Trong số tử sĩ của đại đội Charlie có 1 cựu học viên West Point, tốt nghiệp khóa 1966, là trung úy Richard W. Thompson. “Buck” Thompson là thành viên nổi tiếng nhất trong khóa học, dù đã bị trúng đạn 3 lần trong khi lăn lộn trên tuyến đầu suốt ngày hôm đó, anh vẫn ko chịu sơ tán và chỉ chịu về chỉ huy sở sau khi đại úy Kaufman ra lệnh phải về chữa trị các vết thương.

Ở rìa đông trạm sơ cứu, trung úy O'Leary đang ngồi dựa lưng vào 1 thân cây cao, to cách vị trí chỉ huy của Kaufman chỉ 20m. Ngồi xổm cạnh anh là thượng sĩ nhất Michael Deeb. Hai người đang thống kê số thương vong của đại đội Dog. O'Leary vừa mở mồm nói thì 1 anh chớp lóe sáng kèm theo 1 tiếng nổ lớn.

Điều tiếp theo mà O'Leary biết là mình đang nằm ngửa, tay chân quặt quẹo. Có cái gì đó đè nặng lên ngực. Anh gạt nó ra và thất kinh khi thấy đó là 1 cánh tay cùng 1 mảng vai lớn.

Thượng sĩ Deeb đang đau đớn rên rỉ cạnh đó: "Tôi bị thương rồi, trung úy ơi. Tôi bị rồi."

O'Leary bò đến chỗ người thượng sĩ nhất. Qua ánh sáng mờ mờ anh thấy đầu Deeb bị toác 1 lỗ lớn. O'Leary làm hết sức mình để băng bó cho viên hạ sĩ quan.

Trong lúc làm việc O'Leary thấy 1 người lính loạng choạng bước qua, tay phải giữ chặt mẩu tay trái bị cụt mồm thì liên tục nói lảm nhảm: "Ai buộc giúp tay cho tôi với?"


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 22 Tháng Chín, 2014, 08:36:13 AM
Người lính đi về phía sau O'Leary mất dạng, và anh ko còn nhìn thấy anh ta nữa.

Khi O'Leary băng cho Deeb xong, anh mới xem xét đến thương tích của mình. Lúc đầu O'Leary nhận ra mình bị thương nặng ở ngực. Để bịt lỗ thủng lại, anh dùng miếng nhựa bảo vệ thẻ chứng minh trong ví đặt nó lên vết thương rồi buộc lại. Vẫn còn choáng váng sau chấn động dữ dội, nên O'Leary chưa thể hiểu hết những gì đã xảy ra. Anh cứ nghĩ có 1 viên đạn súng cối đã rơi xuống gần chỗ mình.

Specialist Steer, sau khi được chăm sóc vết thương, đã dành hết thời gian cuối buổi chiều giúp đỡ lính cứu thương và cha Watters ở trạm sơ cứu. Steer nhiều lần chứng kiến vị linh mục quay trở về trạm từ tuyến đầu, lặc lè vác theo 1 lính dù đã chết hay đang bất tỉnh, phớt lờ những viên đạn đối phương đang cắm phầm phập vào cây cối xung quanh. Vẻ điềm tĩnh của vị tuyên úy trong khi băng bó cho những ca bị những vết thương khủng khiếp làm Steer rất cảm phục. Steer nhìn thấy vị linh mục ôm những chàng trai trẻ đang nức nở trong vòng tay, giữ họ cho đến khi mũi tiêm giảm đau của lính cứu thương phát huy tác dụng. Anh tự hỏi bắt nguồn từ đâu mà cha Watters lại có được sức mạnh nội tâm để đối phó trước nghịch cảnh như vậy.

Quả bom rơi xuống gần như ngay cạnh vị linh mục dũng cảm, làm ông chết ngay tức khắc.

Vào lúc 18g00 thì Specialist Steer đang bắt đầu lục lọi xác chết để tìm nước uống đạn dược. Anh chuyển đạn cho những người lính còn khỏe mạnh, còn nước thì đem về chỗ thương binh. Nước uống và thức ăn Steer tìm thấy đều được chia cẩn thận theo khẩu phần. Mọi người đều đã cạn sạch cả 2 thứ này rồi. Anh hy vọng 1 chiếc trực thăng chở đồ tiếp tế có thể bay đến được trước khi trời tối mịt.

Ít lâu sau, 1 quả B-41 bắn trúng cái cây gần chỗ Steer nghỉ và nổ tung. Nhiều mảnh vỡ sắc nhọn găm trúng bàn chân của Steer. Anh bò đi tìm lính cứu thương. Đang bò thì 1 quả pháo sáng làm toàn khu vực bỗng bừng sáng. Trong ánh sáng rực rỡ đó, đạn bắn tỉa của lính Bắc Việt thi nhau bay vun vút vào khu vực. Steer chui xuống nấp dưới 1 tấm poncho, cố gắng để ko bị phát hiện. Vài giây sau đó thì bom nổ.

Việc đầu tiên Steer cảm nhận sau khi hồi tỉnh là đầu đau như muốn nổ tung. Máu trào ra từ cả mắt, tai và miệng. Chân phải thì ngoặt ra đằng sau. Anh lơ mơ nhận ra phần cẳng tay phải của mình đã biến đâu mất. Từ chỗ tay cụt máu chảy thành dòng. Anh nuốt nước bọt nhiều lần nhưng đều uống phải máu mặn chát, và lại nôn khan khi gắng sức thở. Anh rên lên: "Chúa ơi. Đừng bắt con xuống địa ngục" rồi lại ngất đi.

Trước đó, trong khu vực của đại đội Alpha, binh nhất Manuel Orona cùng với 1 người lính lạ mặt hợp lực đào 1 cái hố trên mặt đất. Họ thay phiên nhau khoét đất bằng dao găm rồi xúc đất bằng gà mèn và mũ sắt. Đến lượt Orona quỳ xuống đào thì quả bom nổ hất anh văng ra phía trước.

Khi tỉnh lại, điều anh thấy trước tiên là tiếng ong ong trong tai và 1 bức màn khói dày đặc. Anh hỏi: "Chuyện gì xảy ra thế?"

Không thấy tiếng trả lời anh quay qua người bạn cùng công sự và giật nảy mình thất kinh hồn vía. Toàn bộ phần bên phải của người lính đã biến mất. Chúa ơi, anh nhận ra rằng lẽ ra điều đó cũng có thể xảy tới cho mình.

Orona rất kinh ngạc khi thấy chu vi phòng thủ yên tĩnh đến kỳ quặc. Anh cực kỳ khiếp hãi với ý nghĩ rằng có lẽ chỉ có mình còn sống. Rồi trước khi kịp thích nghi với hoàn cảnh mới, sự tĩnh lặng bị phá vỡ bởi tiếng khóc than, rên rỉ của thương binh. Biết tai họa đã giáng xuống tiểu đoàn mình, nhưng ko biết đích xác là gì, Orona nhặt lấy khẩu súng và bò đến giúp đỡ những người bị thương.

Người lính đầu tiên anh gặp đang ngồi dựa lưng vào 1 cái cây, với đôi mắt vô hồn. Hai chân của anh ta đã biến mất. Orona hỏi: "Anh ko sao chứ?"

Anh lính yếu ớt trả lời: "Đi đi. Tôi ko sống nổi đâu. Đi mà giúp những người khác."

Tiếp đó Orona tìm thấy 1 cậu trẻ tuổi với cái lưng bị mảnh bom làm rách toác. Cậu này hỏi: "Anh có nước ko?". Orona đáp rằng ko có.

"Thế thì để tôi yên. Tôi muốn uống nước."

Suốt cả giờ đồng hồ sau đó, Orona bò từ thương binh này qua thương binh khác, cố làm mọi cách để họ bớt đau. Do 1 số người bị thương quá nặng chẳng còn làm gì được nữa nên Orona bỏ qua để giúp những người khác. Tất cả những người anh gặp đều hỏi xin nước uống, thế nhưng anh chẳng có để cho bất cứ ai nên chỉ biết hứa sẽ mang đến nếu tìm thấy.

1 lính dù khác có phản ứng nhanh chóng với vết thương và tấn thảm kịch là trung úy Remington. Dù đứng ko vững sau khi được lính cứu thương tiêm morphine, nhưng anh vẫn xoay xở giúp các thành viên còn lại trong trung đội đảm trách 1 phần trong chu vi phòng thủ cả buổi chiều. Khi trúng bom, Remington lại bị thêm mảnh bom găm vào tay và chân bên trái. Chấn động cũng khiến anh bị thủng màng nhĩ.

Sau khi hết cơn sốc. Bản năng giúp Remington nhận biết cái gì đã xảy ra và cũng biết rằng mình phải ngăn những vụ ném bom tiếp nữa. Dù đau đớn anh vẫn cố bò qua mặt đất bị cày xới tan hoang để đến chỉ huy sở. Càng đến gần hố bom, thì càng thấy nhiều xác người và những bộ phận cơ thể rải rác khắp nơi. Remington bò qua họ để cố tìm cho được 1 điện đài chưa bị hỏng. Tại vị trí chỉ huy của đại đội Charlie, xác lính nằm chồng chất khiến anh phải lôi kéo gạt họ ra để tìm điện đài. Hai cái điện đài đầu tiên moi lên được đều nát bét. Sau cùng anh mới tìm thấy 1 cái còn dùng được.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 23 Tháng Chín, 2014, 09:47:59 AM
"Đừng cho thêm máy bay chết tiệt nào đến nữa. Xin đừng cho thêm nữa." anh năn nỉ nói vào ống nói "Các người giết hết chúng tôi rồi. Dừng lại đi."

Remington vừa gọi cho trung úy Mike Coffas, sĩ quan pháo binh của trung tâm chỉ huy hỏa lực vì cái điện đài mà anh tìm thấy chính là của 1 sĩ quan tiền sát pháo. Bằng giọng nói ngắt quãng Remington kể cho Coffas nghe về thảm họa trên cao điểm 875. Cuộc gọi của anh là tin đầu tiên báo về việc bị bom đánh nhầm về trung tâm hành quân tiểu đoàn 2/503. Coffas mau chóng chuyển tin báo tai họa cho ban tham mưu tiểu đoàn.

Thiếu tá Steverson suýt chút nữa thì ngã quỵ khi nghe tin. Trong vòng chưa đầy 1 tuần mà tiểu đoàn của ông đã gần như bị tiêu diệt. Ông lập tức ra lệnh ngừng ngay các cuộc không kích. Sau đó ông mới gọi điện báo tin xấu cho tướng Schweiter.

Đại tá Johnson ở căn cứ pháo binh 12 nhận được tin tướng Schweiter sẽ đến gặp mình lần thứ 3 trong ngày. Sau chuyến thăm đầu tiên để phổ biến cho Johnson về sự cần kíp điều quân tiếp cứu tiểu đoàn 2/503, ông tướng lại quay trở lại sau đó 90 phút và nói tình hình hiện đã lắng xuống. Schweiter bảo Johnson rằng có lẽ sẽ ko cần tiểu đoàn 4 nữa và có thể cho quân rút về.

Đến lúc này, vào khoảng 19g45, trực thăng của Schweiter lại vừa hạ xuống bãi đáp của căn cứ. Rõ ràng là ông tướng đang rất buồn. Schweiter giọng đầy xúc động kể cho Johnson biết những gì vừa xảy ra. Sau đó ông bảo: “Jim, cậu phải đưa quân lên cao điểm đó. Lên càng nhanh càng tốt."

Rồi Schweiter trở lại chỗ trực thăng và bay đi.

Johnson lập tức cùng ban tham mưu tổ chức kế hoạch điều quân. đại đội Bravo của đại úy Leonard đã sẵn sàng ở căn cứ pháo binh 16. Họ sẽ là những người đầu tiên lên cao điểm 875. đại đội Alpha của đại úy Muldoon sẽ được bốc khỏi căn cứ pháo binh 12 ngay khi trời sáng. Ngay sau khi tập trung ở căn cứ 16 xong, họ sẽ theo đại đội Bravo lên cao điểm 875. Tiếp đó sẽ là đại đội Charlie.

Viên đại tá ban ra 1 loạt chỉ thị. Máy bay Chinook được gọi đến để bốc các đại đội. Vì việc tái tiếp tế bằng trực thăng cho tiểu đoàn 2/503 gặp khó khăn, Johnson lệnh cho trưởng ban tiếp vận (S-4) gom thêm rất nhiều đạn dược, thuốc men, đồ ăn, nước uống. Mỗi người lính trong 3 đại đội đi giải vây sẽ phải thồ gấp đôi để tiếp tế cho tiểu đoàn 2. Vì các đại đội của ông sẽ phải di chuyển qua rừng rậm có rất đông quân Bắc Việt mà lại hành quân riêng lẻ, nên Johnson đã lệnh cho sĩ quan liên lạc pháo binh thiết lập 1 bức tường hỏa lực pháo bao quanh mỗi đại đội trong quá trình họ tiến lên cao điểm 875.

Sau khi nghiên cứu bản đồ, Johnson nhận ra tuyến đường bộ khả dĩ duy nhất để các đại đội của mình sử dụng cũng chính là con đường tiểu đoàn 2 đã dùng. Ông triệu tập Connolly và Muldoon về trung tâm hành quân rồi phổ biến kế hoạch hành quân cho họ cực kỳ chi tiết. Ông muốn chắc chắn là họ đều đã thấu hiểu từng giai đoạn của quá trình vận động. Sau khi phổ biến xong ông mới cho họ giải tán về để chuẩn bị cho các đại đội.

Tại căn cứ pháo binh 16, đại úy Leonard nghe thông tin về nỗ lực giải vây qua sóng điện đài. Tất cả lính của đại đội Bravo đều hăng hái đi cứu những lính dù đồng đội, nhưng đã quá muộn để bắt đầu hành quân. Bên cạnh đó còn có nguy cơ hiện hữu là căn cứ có thể bị tiến đánh trong đêm. Tiểu đoàn 2 cần đại đội Bravo tới nơi an toàn. Đại úy Leonard cho các trung đội vào vị trí rồi cùng các trung đội trưởng hội ý về nhiệm vụ sẽ thực hiện ngày hôm sau.

Trên cao điểm 875, có thêm nhiều lính dù tiểu đoàn 2 nữa đã hoàn hồn lại sau cú sốc. Theo từng nhóm nhỏ hay cũng có khi chỉ 1,2 người; các 'thiên binh' tổ chức lại chu vi phòng thủ để chống trả cuộc tiến công của đối phương mà họ nghĩ sẽ xảy ra. Và đó là vừa kịp lúc. Binh nhất Orona đang chăm sóc cho 1 thương binh thì nghe thấy có tiếng hô: "Chúng nó lại đến!"

Orona phóng ra tuyến đầu, phối hợp cùng 1 người lính khác bố trí khẩu M60. Trong khi Orona đỡ dây đạn, người xạ thủ nã súng vào rừng cây quanh đó. Những quả đạn B-40, B-41 từ trong đám lá cây lóe sáng lao đến rồi nổ sau lưng họ. Orona nhìn thấy chớp lửa đầu nòng của súng AK-47 khi bộ đội Bắc Việt xông đến chỗ mình. Cứ khi nào có thể là Orona ném lựu đạn ra đằng trước vị trí ngay. Qua ánh chớp lựu đạn nổ, anh có thể thấy bóng dáng địch lẫn trong đám cây rừng.

Orona đã mấy lền phải luồn đi tìm thêm đạn. Anh gỡ dây đạn M60 từ các xác chết rồi chuyển cho người xạ thủ. Họ chiến đấu liên tục suốt 15 phút cho đến khi quân Bắc Việt rút lui. Orona cùng người xạ thủ ở trong vị trí suốt đêm, luôn cảnh giác trước các đợt tiến công thăm dò khác. Nhưng ko thấy còn đợt nào nữa.

Suốt đêm dài Specialist Steer cứ lúc mê lúc tỉnh. Quanh anh toàn là tiếng kêu gào, rên rỉ vì đau. Anh gọi lính cứu thương, nhưng ko thấy ai đến cả. Quả bom đã giết gần hết số lính cứu thương. Cuối cùng, trong 1 khoảnh khắc tỉnh táo, Steer đã bò vào lùm cây. Tin rằng bộ đội Bắc Việt sẽ sớm tràn ngập khu vực, anh kéo 2 xác chết đắp lên người để nấp trốn. Thật may mắn là trên thắt lưng của 1 cái xác vẫn còn cái bi đông đầy nước. Steer tháo nó ra uống ừng ực thứ chất lỏng lờ lợ rồi lại ngất đi.

Cùng với 3 binh sĩ khác ở đại đội Charlie, Specialist Zaccone đào 1 cái công sự trên sườn dốc phía tây sống núi. Dù họ chỉ ở cách sở chỉ huy có 30m, nhưng ko ai bị thương do độ dốc của vị trí này. Tuy thế chấn động cũng khiến họ bị choáng và phải mất 1 lúc các giác quan mới trở lại bình thường.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 24 Tháng Chín, 2014, 08:46:02 AM
Điều đầu tiên mà Zaccone nghe thấy chính là tiếng gào thét mà Welch đã nghe. Đâu đó phía sau anh là tiếng gào điên dại: "Tôi mất chân rồi! Tôi mất chân rồi! Mẹ ơi, chân của con!"

Zaccone ko biết gì hết ngoại trừ việc mình còn sống. Do cũng nghĩ rằng quân Bắc Việt sẽ xông lên vị trí của mình, nên anh lấy lựu đạn ra đặt ở chỗ dể lấy, và kiểm tra xem khẩu M16 đã nạp đạn hay chưa rồi chuẩn bị đón chờ đợt tiến công. Sau đó thì cậu bạn cùng công sự nói nhỏ là anh ta đang có rắc rối. Có 1 tử thi ko quần áo bị mắc vào các cành lá đang treo ở trên cái cây trên đầu anh này. Họ cùng nhau kéo cái xác xuống nhưng ko được. Vì ko muốn gây ra quá nhiều tiếng động do sợ làm lộ vị trí trước lính Bắc Việt đang nấp xung quanh nên rốt cục họ quyết định cứ để xác chết ở đó chờ trời sáng. Và cậu lính dù kia phải qua đêm với đôi chân xác chết cứ đung đưa 2 bên đầu.

Sau khi quay lại vị trí của mình, Zaccone vẫn tiếp tục nghe thấy tiếng kêu khóc của thương binh. Anh tự hỏi ko biết liệu còn bao nhiêu người còn sống ngoài nhóm nhỏ của mình? Anh nghĩ cậu bạn thân Steve Welch đã chết. Họ đã mất nhau. Welch là chàng trai tuyệt vời. Zaccone chỉ biết hy vọng là bạn mình ko phải chết trong đau đớn.

Cách đó ko quá 30m, trung sĩ Welch cũng đang buồn rầu vì mất Ray Zaccone. Zaccone làm anh nhớ tới cậu em trai, cũng tên là Ray, nên Welch rất thân thiết với hắn. Giờ thì hình như Zaccone đã mất và Welch thề sẽ ko bao giờ thân thiết với 1 thằng lính nào khác nữa.

Lúc này Welch đã sẵn sàng đón nhận cái chết. Không còn nghi ngờ gì nữa, quân Bắc Việt từ đêm tối sẽ xông ra giết hết những lính tiểu đoàn còn sống sót giống như họ đã từng làm với đại đội Alpha hồi tháng 6. Nhưng trong tâm khảm Welch vẫn chưa yên lòng với kết cục sắp xảy ra với mình. Anh lo nhất là cha mẹ mình liệu sẽ phản ứng ra sao khi biết con mình tử trận. Hy vọng rằng 2 người sẽ biết anh chết anh dũng trong chiến đấu vì Welch đã dự định đổi mạng với thật nhiều quân địch.

Sau đó 1 lát có tiếng bộ đội Bắc Việt đang vận động trong rừng cây ở chân con dốc bên dưới đại đội Charlie. Ko muốn bắn vì sợ lộ vị trí, Zaccone cùng những người khác ném lựu đạn xuống chỗ có tiếng động. Sau các tiếng nổ, Zaccone nghe thấy tiếng kêu la của 1 lính địch. Rồi 1 giọng Việt Nam hô lên câu gì đó, có lẽ là nhắc nhở phải giữ im lặng. Vẫn nghe thấy tiếng kêu la. Zaccone ném trái lựu đạn nữa. Tiếng kêu im bặt.

Trung sĩ Welch cũng nghe thấy tiếng quân Bắc Việt di chuyển quanh đó. Anh lấy lựu đạn ném xuống dốc. Có tiếng 1 lính Bắc Việt thét lên: "Chiêu hồi - Hàng đi!". Welch cùng những người khác ném thêm nhiều quả lựu đạn nữa. Cuối cùng thì những tiếng động chấm dứt.

Trong số 16 sĩ quan của các đại đội đã tiến lên cao điểm 875, lúc này đã có 8 tử trận và 8 bị thương, hầu hết là thương nặng. Trung úy Joseph Sheridan của đại đội Alpha là 1 trong số mấy người bị thương nhẹ. Vị trí chỉ huy trung đội của anh ko bị ảnh hưởng nặng khi bom nổ. Anh nắm quyền chỉ huy đại đội Alpha từ vị trí của mình cách chỗ Remington bên kia sống núi.

Trung sĩ trung đội phó Peter Krawtzow là người có cấp bậc cao nhất còn sống trong đại đội Charlie. Anh lập tức bắt tay vào việc tái tổ chức những gì còn lại của đại đội. Krawtzow đi khắp khu vực của mình trong chu vi phòng thủ, xem những ai thuộc đại đội Charlie còn sống sót. Số tên trong danh sách anh thu thập được chẳng còn lại bao nhiêu.

Phải mất 1 lúc các giác quan của trung úy O'Leary mới trở lại bình thường. Đến khi đó, mức độ tổn thất do bom nổ gây ra mới trở nên rõ ràng hơn. Tất cả những gì anh nhìn thấy là hàng đống tử thi và những mảnh xác người. Vài lính dù có thể bước được thì loạng choạng, lảo đảo đi trong vô thức như thể xác chết hồi sinh (zombie) vậy. O'Leary ko thể nghe thấy tiếng la hét của thương binh, vì đã bị điếc đặc do bị sức nổ của quả bom làm thủng màng nhĩ.

Dần già, O'Leary mới xâu chuỗi lại được những gì đã xảy ra. Ngay khi biết đại úy Kaufman đã chết, O'Leary nhận ra mình là sĩ quan nắm chức vụ cao nhất còn sót lại. Dù đang bị thương, O'Leary vẫn lập tức lên nắm quyền lãnh đạo. Sau khi giao lại quyền chỉ huy đại đội Dog cho sĩ quan khác còn lại của nó, là trung úy Bryan McDonough. O'Leary lên đảm nhận việc chỉ huy toàn bộ các đơn vị. Những ưu tiên đầu tiên của anh là đảm bảo việc phòng thủ chu vi an toàn, chăm sóc thương binh, và nối lại liên lạc với sở chỉ huy. O'Leary giao quyền cho 1 số hạ sĩ quan rồi bảo họ đi kiểm tra chu vi phòng thủ. Khi quay về báo cáo, họ phải hét thẳng vào tai O'Leary thì anh mới có thể nghe thấy. Để bảo vệ phần còn lại của tiểu đoàn 2, O'Lear gọi pháo bắn chế áp vào sườn cao điểm phía trên họ và dọc theo sống núi. Đạn 105 ly nhanh chóng dập xuống rừng cây xung quanh tiểu đoàn.

Rủi thay, 1 khẩu pháo rót đạn quá gần. Nhiều quả đạn của nó đã phạt cụt các ngọn cây trên đầu trung sĩ Welch rồi mới nổ. Trung sĩ Krawtzow liên tục hét "Check fire!" vào cái điện đài, nhưng chẳng thấy ai nghe lời cảnh báo.

Rồi thì 1 quả đạn pháo đã rót trúng số quân phía trước của đại đội Dog. Ít nhất đã có thêm 1 lính dù chết và 4 người khác bị thương vì quân ta bắn quân mình. O'Leary phải gọi điện năn nỉ: "Đêm nay bọn tôi được yểm trợ thế là đủ rồi. Rót đạn xa chúng tôi ra. Nếu cần bắn gần thì tôi sẽ gọi."

Cuối cùng thì người trong trung tâm chỉ huy hỏa lực cũng nhận được tin báo. Đạn pháo bắn đầu nổ xa hơn trên đỉnh cao điểm, rót xuống đầu quân Bắc Việt chứ ko phải lính Mỹ nữa.



Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 25 Tháng Chín, 2014, 08:48:51 AM
Đáng ngạc nhiên là quân Bắc Việt lại ko cố gắng đánh mạnh hơn để tràn ngập chu vi phòng thủ của tiểu đoàn. Tất cả những 'thiên binh' còn sống đều chờ đợi quân địch sẽ đến trong đêm. Nhưng ko thấy đối phương đến. Đây là 1 bí ẩn khó giải thích được. Có lẽ quân địch ko biết mức độ thương vong và tiểu đoàn đang yếu đến thế nào. Chẳng còn nghi ngờ gì nữa, lính Bắc Việt đang cố thủ trên cao điểm 875, dù có có công sự tốt cũng đã bị thiệt hại nặng do sự oanh kích hầu như ko ngừng của phi pháo. Thêm nữa, chiến thuật quen thuộc được quân Bắc Việt thường hay sử dụng là khóa chặt 1 đơn vị, lấy họ làm mồi để thu hút thêm quân Mỹ đến.

Mới sáng sớm tinh mơ ngày 20 tháng 11, nhiều hoạt động nhộn nhịp diễn ra trên căn cứ pháo binh 16 chứng kiến. Đến 7g thì đại úy Leonard, 3 trung đội trưởng cùng với 96 binh sĩ đại đội Bravo đã sẵn sàng lên đường. Mỗi 'thiên binh' mang theo tối thiểu là 600 viên đạn M16, từ 5 đến 10 quả lựu đạn mảnh, 2 lựu đạn khói, 1 viên đạn cối 60 mm và nhiều bi đông dự phòng. Xạ thủ M60 thì mang đến 2000 viên đạn quấn khắp mình. Lính súng phóng lựu mang ít nhất 50 trái đạn vừa đạn trái phá (HE) lẫn đạn nổ mảnh sát thương (shotgun) cho khẩu M79. Lính cứu thương thì khuân theo đồ y tế dự phòng nhiều nhất có thể. Trung đội hỏa lực của trung sĩ Riley mang theo 2 khẩu cối 60 ly cùng 70 viên đạn.

Đến 7g45, đại úy Leonard tung mấy toán tuần thám ra khỏi căn cứ để kiểm tra xem có quân Bắc Việt ẩn nấp ngoài đó ko. Trong khi đó trung tá Johnson từ căn cứ 12 đến để chỉ dẫn tường tận cho Leonard trước khi lên đường đến cao điểm 875.

Johnson nói với Leonard "Qua những gì đã xảy ra ta có thể khẳng định cao điểm 875 có hàng trăm quân địch cố thủ. Sĩ quan tình báo còn nghĩ rằng số địch đợi cậu ngoài đó có khi còn nhiều hơn thế nữa. Tôi sẽ duy trì hỏa lực pháo binh bắn chặn xung quanh cậu khi cậu di chuyển, nhưng vẫn phải đề phòng bị phục kích."

“Muldoon sẽ sớm đến đây và tôi sẽ cho anh ta lên đường đi theo cậu nhanh nhất có thể. Connolly cũng sẽ đến ngay khi có trực thăng chuyên chở. Nếu cậu bị đánh, thì quân cứu viện sẽ đến mau thôi."

Johnson sau đó về lại căn cứ 12 đợi các đại đội khác đến.

Căn cứ theo những điều biết được Leonard quyết định đánh 1 vòng rộng và tiến lên cao điểm 875 từ hướng tây bắc. Có lẽ bộ đội Bắc Việt đang đợi quân giải tỏa sẽ đi thẳng từ căn cứ đến. Việc Leonard đi vòng có thể giúp tránh khỏi ổ phục kích.

đại đội Bravo sẽ di chuyển theo đội hình hình thoi. Leonard bố trí trung đội 3 của trung úy Lindseth đi đầu. Trung đội 1 của trung úy Larry Moore đi cánh phải còn trung đội 2 dưới quyền trung úy Proffitt đi bên trái. Trung đội hỏa lực của trung sĩ Riley sẽ đi đoạn hậu. Ban chỉ huy của Leonard đi giữa đội hình.

Lúc 9g37, trung sĩ Leo Hill dẫn đại đội Bravo rời căn cứ 16. Vẫn được coi là lính xích hầu giỏi nhất đại đội, Hill lấy Specialist 4 Diaz đi bên trái và binh nhất Quillen đi bên phải của mình. Di chuyển theo đội hình mũi tên, Hill ở cách phần còn lại của trung đội chừng 100m. Khi họp trung đội, Lindseth đã nói với Hill rằng, tổ xích hầu có thể bị hy sinh; nếu như họ bị dính đạn thì ko mong gì được cứu. Việc tiến lên cao điểm quan trọng hơn sự an toàn của tổ xích hầu. Hill cùng mấy cậu kia chẳng ai vui vẻ khi nghe vậy, nhưng họ cũng đâu thể làm gì hơn.

Hill đi hướng về phía tây căn cứ 16. Thoạt đầu anh đi theo con đường mòn còn sử dụng được chạy qua 1 bãi cỏ có xen lẫn những bụi tre và bụi rậm. Đôi lúc, cỏ cao quá khiến anh ko thể nhìn thấy Diaz hay Quillen nhưng mỗi khi ra chỗ quang thì họ lại thấy nhau. Cứ đi được vài trăm mét thì Hill lại dừng. Sau khi kiểm tra la bàn anh mới quay lại ra dấu cho trung sĩ trung đội phó là trung sĩ nhất William L. Cates. Khi Cates vẫy tay báo yên thì Hill mới đi tiếp.

Thi thoảng, trung úy Lindseth cũng lên chỗ Hill. Họ trao đổi với nhau vài phút sau đó Lindseth sẽ trở về trung đội gọi điện báo cáo tiến trình di chuyển cho Leonard.

Hỏa lực pháo binh như đã hứa tạo ra 1 bức tường lửa bao quanh lực lượng nhỏ bé. Đạn pháo nổ ở cự ly cách đại đội Bravo vài trăm mét hiển nhiên sẽ làm cho số quân Bắc Việt định quấy rối lực lượng cứu viện phải chùn bước.

đại đội Bravo tiếp tục tiến quân nhanh và thận trọng nhất có thể lên gần cao điểm 875. Đến 11g15 họ đã ở cách căn cứ 16 hơn 1km. Đến đây Hill mới quay về phía tây nam rồi tiến thẳng lên cao điểm.

Trước lúc bình minh, ở trên điểm cao 875, nhiều quả đạn B-40 từ cây cối xung quanh bắn ra nổ tung chỗ phòng tuyến của đại đội Charlie. 15 phút sau đó, đại đội Dog báo cáo có động trong rừng cây ở sườn dốc bên trên. Họ gọi pháo dập xuống và tất cả lại yên ắng.

6g38, trung úy O'Leary gọi điện về trung tâm hành quân xin thả xuống dụng cụ để phát quang 1 bãi đáp. Nhiệm vụ hàng đầu của anh bây giờ là đưa thương binh ra. Anh giao việc phát quang tạo bãi đáp cho 1 số lính còn lành lặn. Họ làm việc ở khoảng đất giữa chu vi phòng thủ tiểu đoàn và nơi đại đội Alpha bắt đầu làm bãi đáp bữa trước. Thế đất ở đây giúp cho bọn họ tránh được đạn bắn thẳng của bộ đội Bắc Việt. Tuy nhiên đạn súng cối thì vẫn có thể và chúng đã bắn tới thật. Ngoài ra bất kỳ chiếc trực thăng tiếp cận bãi đáp cũng nằm đưới tầm quan sát của quân Bắc Việt và phải hứng chịu hỏa lực của mọi cỡ súng.

Sau đợt B-40 bắn vào khu vực của đại đội Charlie sáng hôm ấy thì chỉ còn có đạn bắn tỉa thỉnh thoảng còn quấy nhiễu lính dù. Trung sĩ Welch phán đoán tình hình đã đủ yên để mình có thể đi tìm xác Zaccone. Anh quay lại chỗ rặng cây và bắt đầu tìm kiếm.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 26 Tháng Chín, 2014, 08:40:19 AM
Cùng lúc đó Zaccone cũng đang đi tìm Welch. Trước đó trung sĩ Krawtzow đã nói với anh rằng Welch đã chết. Anh bò ra khỏi hố chiến đấu đi tìm xác bạn.

Sau đó 1 lát thì 2 anh lính đã đã tìm thấy nhau. Họ ôm lấy nhau mừng đến phát điên.

"Tớ cứ nghĩ cậu chết rồi."

"Ko đâu. Thằng chó ạ. Tớ cũng là nghĩ cậu 'ngỏm' rồi."

"Còn khuya nhé. Chẳng thằng khốn nào giết nổi tớ đâu."

Hai người bạn giành thời gian còn lại trong ngày cùng nhau đưa thương binh về trạm sơ cứu mới được bố trí ngay sau chỗ cũ và chờ đội cuộc tấn công chẳng bao giờ xảy ra.

Ánh sáng ban ngày đã phơi bày toàn cảnh những thiệt hại do trái bom Mỹ đi lạc. Nơi đại úy Kaufman lập vị trí chỉ huy giờ chỉ còn là 1 hố bom sâu hoắm. Các mảnh xác người nằm vương vãi khắp nơi. Đầu, chân, tay rải đầy mặt đất. Binh nhất Orona kinh hãi khi phát hiện 1 cái xác ko có tay chân mắc trên cây trên đầu mình. Trung úy O'Leary và các 'tiên binh' bắt tay vào làm cái kinh tởm là tìm kiếm người còn sống lẫn trong đám xác chết. Thương binh được tập trung tại 1 điểm thu gom mới ngay bên dưới chỗ cũ. Công tác sơ cứu rất sơ xài, những dụng cụ, bông băng thu lại từ những người chết cũng ko thể đủ. Có hơn 80 lính bị thương nặng cần phải mang đến trạm. Trong số đó có 48 ca cần phải sơ tán ngay lập tức. Thế nhưng trực thăng vẫn chưa tài nào vào được.

Số lượng người chết chính xác vẫn chưa biết rõ. Dựa vào thông tin ban đầu do các đại đội trưởng báo cáo. O'Leary ước tính có gần 80 'thiên binh' đã thiệt mạng trong quá trình tác chiến trên cao điểm và trong vụ nổ bom.

Thiếu tá Steverson, dù đã bay trên cao điểm 875 nhiều lượt và thường xuyên liên lạc với trung úy O'Leary, vẫn chưa hiểu rõ tình cảnh đang bi đát đến thế nào. Thậm chí trong khi đại đội Bravo, tiểu đoàn 4/503 đang tiến đến cứu tiểu đoàn mình, Steverson vẫn gọi cho O'Leary để hỏi anh có thể cho pháo bắn vào gần nữa không?

O'Leary trả lời dứt khoát: "Ko được."

Sau đó Steverson lại muốn oanh kích rừng cây quanh chu vi phòng thủ bằng hỏa lực súng máy của trực thăng vũ trang. 1 lần nữa O'Leary lại cự  tuyệt. Máy bay trực thăng chẳng thể nào lai vãng đến cao điểm 875 mà ko phải hứng chịu hỏa lực quyết liệt của đối phương. Lính dù chính là mồi nhử để tiêu diệt quân giải tỏa.

Nhưng rồi rốt cục, O'Leary cũng phải chịu sau khi Steverson nói mãi là trực thăng vũ trang bay có thể tới hỗ trợ nếu để chúng đến theo trục đông tây (anh ko muốn bất cứ loại máy bay nào đến từ phía sau mình nữa). Đến 9g40, 1 số trực thăng vũ trang tới tiếp cận cao điểm 875, và ko còn nghi ngờ gì nữa, chúng liền hứng chịu ngay hỏa lực mãnh liệt của đối phương. Đạn ko chỉ đến từ cao điểm 875 mà còn đến từ những mỏm núi quanh đó nữa. Các trực thăng vũ trang đành phải bay đi, với những lỗ đạn khoan đầy thân tàu.

Sáng sớm hôm đó, Steverson tổ chức 1 ban chỉ huy lâm thời dưới quyền cấp phó của mình là thiếu tá William H. Kelly. Nhóm này gồm có đại đội phó của các đại đội Alpha và Charlie là trung úy Matt Harrison và trung úy Robert J. Philbin. Ban chỉ huy này sẽ lên trên cao điểm 875, tái tổ chức các đơn vị, di tản thương binh và "xử lý tình huống chiến thuật."

Thoạt đầu Steverson muốn nhóm này lên cao điểm 875 bằng đường bộ nhưng viên sĩ quan tình báo lữ đoàn ko cho phép. Sau đó Steverson phải cho 3 người kia lên 1 chiếc trực thăng Huey, có 2 trực thăng vũ trang đi kèm, để đánh mở đường đáp xuống cao điểm.

Khi Harrison vừa yên vị trên trực thăng, tay phi công nói cho anh biết tình hình trên cao điểm 875 "ko được tốt lắm." Theo người phi công thì nhiều trực thăng của đại đội Cao bồi sáng hôm đó đã bị đạn quân địch làm cho hỏng nặng ko thể sửa chữa.

Chiếc Huey của Harrison tiếp cận cao điểm vài phút sau đó. 2 chiếc gunship bay sát ngọn cây ngay phía trước chiếc slick. Một chiếc bắn bên trái, 1 chiếc bắn bên phải, chúng mở 1 con đường hướng đến bãi đáp đầu tiên. Người xạ thủ hét lên nhắc nhở mấy vị khách: "Bọn tôi ko dừng lại lâu được đâu!"

Ngay sau đó chiếc trực thăng chở quân bỗng rung bần bật khi lãnh 1 loạt súng máy của bộ đội Bắc Việt vào chong chóng đuôi. Ko chần trừ lâu, viên phi công ngoặt gấp sang phải và quay về căn cứ pháo binh 16.
 
Vẫn quyết tâm đưa nhóm chỉ huy kia lên cao điểm 875 để giành quyền kiểm soát tình hình, Steverson đưa ra 1 kế hoạch khác. Sau khi được nghe chi tiết, trung úy Harrison cảm thấy xây xẩm ko tin vào tai mình nữa. Anh cùng với Philbin sẽ bị đưa vào chỗ chết. Nhưng đúng là như thế: Harrison cùng Philbin sẽ được thả xuống bãi đáp khi trực thăng vẫn còn lơ lửng trên đó.

Vì là 1 quân nhân phục tùng, tận tụy đến cùng, nên Harrison vẫn trèo lên trực thăng. Anh chắc mẩm 15 phút sau mình sẽ toi mạng. Harrison ko thể cắt nghĩa nổi là làm sao 2 viên sĩ quan có thể sống sót khi cứ ngờ ngờ từ từ tụt xuống bằng dây an toàn trong khi những chiếc gunship bay nhanh đến thế còn dính đạn khắp thân tàu.

Trong khi quàng dây đai quanh thân, Harrison thấy 1 nhóm phóng viên ảnh gần đó đang chụp hình mình. Anh tự nhủ, đó chắc là tấm ảnh cuối cùng của mình mà ba mẹ được xem và chỉ hy vọng mình ko làm gì khiến họ phải hổ thẹn.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 29 Tháng Chín, 2014, 08:55:59 AM
Harrison thẫn thờ ngồi cạnh rìa cửa máy bay, chân đặt trên càng đáp. Rất ngạc nhiên là anh lại trở nên bình tĩnh và sẵn sàng đón nhận cái chết. Món nợ mà đời lính phải trả chính là: Hy sinh vì tổ quốc và giờ thì đã đến lượt anh.

Ngay trước khi trực thăng cất cánh, bỗng thiếu tá Kelly bước đến nói: " Chúng ta sẽ ko đi kiểu này. Rời khỏi trực thăng đi." Harrison gần như vỡ òa vì nhẹ nhõm.

Đối với những lính dù bị kẹt trên cao điểm 875, ngày 20 tháng 11 trôi qua 1 cách chậm chạp, khổ sở. Tiết trời ngày càng nóng và dường như càng tồi tệ hơn vì thiếu nước. Chẳng ai có thức ăn cả. Tất cả 'thiên binh' đều đang đói khát. Nhưng thương binh mới là những kẻ thống khổ nhất. Suốt cả ngày tiếng kêu gào điên loạn đòi nước uống vang lên khắp cao điểm. Khi thuốc giảm đau được tiêm hôm trước đã tan đi, lính tráng bắt đầu khóc lóc, la hét, van vỉ xin làm cho họ bớt đau, bớt khổ. Thế nhưng thuốc men cũng đã hết sạch.

Ngoài những phát đạn bắn tỉa thỉnh thoảng bắn ra thì hầu hết hỏa lực đối phương nhắm vào tiểu đoàn 2 trong ngày là súng cối. Những 'thiên binh' mệt mỏi có thể nghe rõ tiếng đề pa đặc trưng khi đạn cối bay ra khỏi nòng. Họ sẽ chỉ có vài giây để ẩn nấp trước khi nó nổ tung. Đã có nhiều trường hợp ko núp kịp.

Binh nhất Orona đã dành cả ngày thứ hai để ngẫm nghĩ về viễn cảnh bị trúng đạn. Với đủ loại đạn bắn đến xung quanh mình, anh biết ko chóng thì chầy mình cũng sẽ bị dính chấu. Nếu phải chết, thì anh mong mình sẽ ra đi nhanh chóng. Nhưng trước khi bị thì Orona phải làm vài phát đã.

Anh nhặt 1 khẩu phóng lựu M79 bị vứt bỏ, nẫng 1 bao đầy đạn rồi len lên tăng cường cho chu vi phòng thủ. Lúc lên đến nơi, có 1 lính dù chỉ mục tiêu cho anh bắn. Orona nói: "Tôi chả thấy gì sất."

"Tiên sư, bây. Chúng ở đó đó. Cứ bắn đi."

Orona nghe theo. Anh câu hết trái đạn này đến trái đạn khác lên mà chẳng biết liệu mình có bắn trúng gì khác không ngoài cây cối, nhưng cũng cảm thấy yên tâm hơn..

Trong khi ấy, công việc của những binh sĩ trên bãi đáp đã tiến triển nhanh hơn những gì mà O'Leary kỳ vọng. Số cưa máy bị trung đội hỏa lực của đại đội Alpha vứt bỏ trong đợt tấn công đầu tiên đã được thu hồi và sử dụng khá hiệu quả. Dù lính trên bãi đáp thường xuyên phải tránh đạn cối và đạn bắn tỉa, đến 14g thì bãi đáp đủ cho 1 chiếc trực thăng đáp xuống đã gần hoàn tất.

Vào lúc 13g, đại đội Bravo, thì tiểu đoàn 4/503 còn cách cao điểm 875 1.700m. Dù trên đường đi họ ko bị quấy nhiễu, nhưng vẫn xảy ra mấy việc. Đoàn quân đã đi qua 1 số trại bị quân Bắc Việt rút bỏ. Ở 1 cái trại họ phát hiện ra 4 xác lính Bắc Việt vẫn còn mới. Cùng 1 số bộ phận cơ thể lẫn trong đống bông băng đẫm máu là bằng chứng về thương vong mà quân Bắc Việt phải chịu. Họ còn tìm thấy hơn chục quả đạn cối vứt trên nền đất tại 1 cái trại khác. Đại úy Leonard cho đại đội dừng lại 1 lát để tiêu hủy mấy quả đạn rồi mới ra dấu cho Lindseth dẫn trung đội đi tiếp.

Sau khi đại đội Bravo, tiểu đoàn 4/503 lên đường thì trên căn cứ pháo binh 16 cũng diễn ra những hoạt động lớn. đại đội Alpha, tiểu đoàn 4/503 của đại úy Muldoon được máy bay Chinook chở tới nơi sau khi Leonard đi 2 tiếng đồng hồ. Chỉ chậm 1 chút, Muldoon đã sắp xếp 110 lính của đại đội vào đội hình hành quân rồi tiến ra theo sau đại đội Bravo. đại đội Charlie của đại úy Connolly tới nơi ngay sau đại đội Alpha. Anh này cũng nhanh chóng cho 100 quân xếp hàng rồi lên đường lên cao điểm 875.

Tướng Schweiter chuyển quyền chỉ huy căn cứ 16 cho trung tá Johnson sau khi 3 đại đội của tiểu đoàn 4 đến nơi. Ngoài ra, để quân cứu viện thêm an lòng, Johnson cũng sẽ nắm quyền chỉ huy quân của mình từ trên cao điểm này. Tướng Schweiter lệnh cho thiếu tá Steverson, ban tham mưu và hầu hết quân còn lại của tiểu đoàn 2/503 rời căn cứ 16 lúc 15g38 rồi di chuyển sang căn cứ 12. Trong số lính tiểu đoàn 2/503 còn ở lại căn cứ 16 có thiếu tá Kelly cùng 2 trung úy Harrison và Philbin. Cả 3 đều đã được chỉ định lên cao điểm 875.

đại đội Bravo, tiểu đoàn 4, đã liên lạc điện đài với O'Leary lúc 14g20. Đại úy Leonard báo cho O'Leary biết là anh dự kiến sẽ hội quân sau 2 tiếng nữa.

Cái tin tiểu đoàn 4/503 sắp đến mau chóng lan truyền trong đám lính dù tiểu đoàn 2. Tất cả đều cảm thấy nhẹ nhõm. Họ sẽ ko phải chết trên cái cao điểm hoang vu này nữa. Trung úy Remington suýt chút nữa thì òa khóc khi có người rỉ tai cho biết cái tin tốt lành. Anh có thể nghe râm ran xung quanh sự phấn khởi của các 'thiên binh' khi biết những thử thách sắp sửa kết thúc. Vậy là mình đã vượt qua được hết và sống sót, Remington tự nhủ. Thốt nhiên, Remington nghĩ cho tương lai của mình sau này và hất mũ sắt ra rồi lấy nó úp vào hạ bộ. Anh lý luận, nếu thoát được, có thể sau này mình sẽ có con nên cần phải bảo vệ kỹ cái của 'gia bảo' này.

Trung sĩ Hill đã tới chân cao điểm 875 sau lúc hơn 16g. Anh dừng lại 1 lát cho đến khi trung sĩ Cates hiện ra trong tầm nhìn rồi mới bắt đầu tiến lên cao điểm.

Chưa tới 20 phút sau đó, Hill đã đặt chân lên những bậc thang gia cố bằng tre được khoét vào sườn cao điểm. Anh nghĩ đây là dấu hiệu ko hay. Chưa được bao xa, anh bắt gặp xác của 1 lính Mỹ. Đó là 1 lính dù trẻ tuổi nằm cạnh khẩu M60 cùng 1 đống vỏ đạn rỗng. Hill ko quen cậu lính này, nhưng anh vừa mới tìm thấy thi hài của Carlos Lozada.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 30 Tháng Chín, 2014, 02:40:17 PM
Nhanh chóng có thêm nhiều tử thi của cả lính Mỹ lẫn bộ đội Bắc Việt được phát hiện. Có vẻ như họ đều chết trong nỗi kinh hoàng tột độ. Trung úy Lindseth, lúc này đi cùng với Hill, ước lượng là có ít nhất 20 xác lính dù nằm rải rác trên nền rừng. Chúa ơi, anh tự hỏi, có ai còn sống ko vậy?

Đường lên đi cao điểm 875 khá là dốc. Thêm nữa hậu quả của những trận oanh kích trở nên rõ ràng khi lính dù phải leo qua các thân cây đổ và nhảy qua những hố bom sâu trên nên rừng.

Càng lên cao, trung sĩ Hill càng cảm thấy lo lắng hơn. Anh sợ những lính cảnh giới đang căng thẳng của tiểu đoàn 2/503 có thể nhầm anh là quân Bắc Việt. Giá mà anh biết vị trí phòng tuyến của bọn họ. Sau đó anh ngửi thấy mùi thuốc súng. Những tán lá rậm rịt kế đó khiến anh phải bò bằng 4 chân và rồi bất ngờ lộ ra 1 bãi trống rộng. Hill gọi khẽ: "Tiểu đoàn 4 tới đây."

Từ 1 cái hố ở phía trước Hill mấy mét, nhô lên 3 cái mũ sắt. Những khuôn mặt cáu bẩn nhìn anh sững sờ.

Hill hỏi: "Đại đội của mấy cậu đâu?"

"Chả còn cái đại đội nào sất." 1 người lính đáp.

Hill bò tới và phân phát cho họ rất nhiều đồ ăn, nước uống. 1 tay lính dù nói: "Thấy anh bọn tôi mừng quá. Cứ tưởng là mình sắp tiêu đời rồi."

Hill hỏi: "Vị trí chỉ huy của mấy cậu ở chỗ nào?"

Cậu trai trẻ chỉ ra phía sau. "Trên kia. Nhưng cẩn thận đấy, đường lên đó đầy nhóc bọn khốn."

Hill hướng về phía vị tri chỉ huy. Cảnh hủy diệt tan hoang khiến anh ko thể tin vào mắt mình. Xác chết nằm khắp nơi. Hầu hết đều ko còn nguyên vẹn. Anh nhìn thấy 1 đôi giày trận, với dây buộc nghiêm chỉnh, đứng sát vào nhau, bên trong hoàn toàn trống rỗng. Đến cạnh 1 thương binh, với nửa bên mông đã bay mất, Hill quỳ xuống đưa nước cho anh này. "Đừng lo" anh cam đoan với người lính "Cả tiểu đoàn 4 đang tiến sau tôi đó. Rồi cậu sẽ ổn thôi."

Khi Hill vượt qua chu vi phòng thủ thì các thành viên của đại đội Bravo cũng nối gót. Trung úy Lindseth đi sau Hill chỉ 1 quãng ngắn. Anh chỉ thị cho các lính cứu thương chăm sóc thương binh rồi sau đó đi qua đầu bên kia của chu vi phòng thủ. Tại đó anh chiếm lĩnh vị trí đằng sau 1 đống gỗ lớn. Lính Bắc Việt đang từ trong hầm chỉ cách phía trước anh chưa đầy 40m bắn ra. Ko thể leo lên đống gỗ để bắn trả thế nên Lindseth đành mặc kệ.

Khi lính thuộc trung đội Lindseth tới chiếm lĩnh vị trí trên đầu của phòng tuyến thì trung đội của Proffitt bố trí sát về bên trái còn trung đội Moore thì ở bên phải.

Cảnh chết chóc làm cho Proffitt bị sốc. Cây cối gãy đổ khắp nơi. Xác lính dù nằm rải rác. Binh sĩ sống sót của tiểu đoàn 2 thì có vẻ như vẫn còn choáng váng, đờ đẫn chưa hồi tỉnh. Cảnh tượng đó gợi cho Proffitt về hình ảnh các chiến binh bị chấn thương tâm lý (shell-shocked) trong chiến tranh TG thứ 2 và cuộc chiến Triều Tiên. 1 cảnh tượng kinh khủng.

Khi đại úy Leonard lên tới tiểu đoàn 2, anh lập tức nhập cùng trung úy O'Leary. Lúc 17g thì tin tức về cuộc hội quân đến tai trung tá Johnson. Dù quân tiếp viện đã giúp O'Leary bớt căng thẳng nhiều nhưng anh vẫn tự hỏi liệu cả bọn có lại chui vào tình trạng tuyệt vọng nữa hay ko đây? Gạt mối bận tâm qua bên, O'Leary nói cho Leonard biết cách tiểu đoàn 2 bố trí quân như thế nào rồi bàn giao lại quyền chỉ huy cho Leonard.

Khi tiểu đoàn 4/503 lên đến cao điểm 875 rồi, thì thiếu tá Kelly quyết định đã đến lúc để toán chỉ huy của mình lên trên đó. Ông lấy 1 chiếc Huey, cho Harrison và Philbin lên cùng rồi cất cánh trước 18g.

Ít phút sau thì chiếc Huey đã bay lơ lửng cách 3m phía trên bãi đáp. Phi công ko thể xuống thấp hơn nữa do sợ hỏa lực đối phương bắn trúng chỗ hiểm. Harrison nhìn ra ngoài cửa và kinh hãi khi thấy bên dưới có hàng chục gốc cây lởm chởm đang chĩa thẳng về phía mình.

Harrison quay lại vừa mới nói với Kelly rằng: "Em ko nghĩ..." thì bỗng cảm thấy bị 1 cánh tay đẩy vào lưng. Anh rơi xuống, may mắn là ko trúng vào cái gốc cây nào. Tay xạ thủ súng máy trên trực thăng đã xô anh ra. Kelly cùng Philbin cũng nhảy xuống đất ngay sau đó.

Trong khi Harrison và Philbin đi tìm những người còn lại trong đại đội thì Kelly lệnh cho chiếc trực thăng chờ đó. 1 số lính tiểu đoàn 2/503 khiêng thương binh tới bãi đáp. Vì lúc này ko thấy đạn địch bắn, nên viên phi công đã cho trực thăng hạ hẳn xuống ngay trên mấy gốc cây. 5 lính dù bị thương nặng được đưa lên tàu rồi chiếc trực thăng mới cất cánh.

Khi đi quanh chu vi phòng thủ Harrison nhận thấy phần lớn các đơn vị đều có vẻ rời rạc. Lính dù trong các vị trí chẳng quan tâm, nỗ lực phối hợp với nhau. Anh nhận thấy hầu hết đều có vẻ như ko thể lĩnh hội các mệnh lệnh dù đơn giản nhất. Hiệu quả chiến đấu của họ đã bị suy giảm mạnh.




Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 01 Tháng Mười, 2014, 07:59:16 AM
“Matt, khỏe không?”. Khi nghe 1 thân hình tả tơi hỏi bằng giọng quen thuộc thì Harrison mới nhận ra là mình gặp Tom Remington.

Harrison đáp cho qua chuyện. Anh ko thể hiểu tại sao mà Remington có thể sống được. Máu khô đóng thành bánh quanh tai, người thì rách tướp, lẽ ra Remington đã phải toi mạng rồi.

"Cậu có nước ko, Matt?" Remington yếu ớt hỏi.

"Có chứ, Tommy, cần bao nhiêu cũng có."

Trong khi Remington uống nước thì thiếu tá Kelly chạy qua. Ông này chạy tới chạy lui hét lác gọi đám lính dù đứng dậy. Hầu hết chỉ giương mắt nhìn lại làm cho Kelly phát điên. Ông bèn quát 1 toán lính nhỏ "Nào, Lũ chết tiệt! Dậy đi ra phòng tuyến."

1 số binh sĩ nghe lời - tuy chậm chạp - nhưng cũng chịu đi. Thấy 1 lính dù ko chịu di chuyển, Kelly mắng "Cậu sao vậy hả? Quá giỏi ko cần chiến đấu hay là quá sợ?"

Không thấy phản ứng gì, Kelly cúi xuống lắc vai anh lính. Ông bật lùi lại. Người lính đã chết. Kelly bỏ đi tiếp tục la hét, chửi rủa những lính dù nào tỏ vẻ lừng khừng.

Harrison giành khoảng thời gian trước khi trời tối cố thống kê xem đại đội Alpha còn lại bao nhiêu mạng. Đây là 1 công việc khó khăn. Cứ thấy động tĩnh là đạn súng máy hoặc đạn AK-47 của quân Bắc Việt lại bắn tới. Harrison nhìn thấy rõ những chớp lửa đầu nòng xa hơn bên trên cao điểm. Sau đó nhiều viên đạn cối địch rơi xuống chu vi phòng thủ. Ngay sau những tiếng nổ chát chúa là những tiếng kêu gào đau đớn. Anh tự hỏi, Chúa ơi, cái địa ngục này còn tiếp diễn đến khi nào đây?

Sau khi thống kê, Harrison đã xác định rằng đại đội Alpha chỉ còn 25 thành viên còn có thể chiến đấu. Trong số đó có 2 là hạ sĩ quan.

Đến 21g thì đại đội Alpha, tiểu đoàn 4/503 lên đến cao điểm. Họ hành quân yên ổn. Đại úy Muldoon cứ chắc mẩm sẽ bị tiến công khi trời tối, thế nhưng ko hề thấy dấu hiệu gì của đối phương. Thực ra, dấu vết đầu tiên mà Muldoon thấy về trận đánh trên cao điểm 875 lại là lúc anh bắt gặp xác đại úy Kiley cùng ban chỉ huy. Sau đó anh còn tìm thấy thêm vài cái xác nữa rồi mới vào đến chu vi phòng thủ. Muldoon cho quân vượt qua các vị trí của tiểu đoàn 2/503 bên sườn trái, hay phía đông cao điểm.

Sau khi Muldoon đến được 1 tiếng 20 phút, đại đội Charlie của đại úy Connolly cũng lên tới cao điểm 875. Hầu hết quá trình di chuyển của đại đội Charlie diễn ra khi trời tối, khiến cho lính dù rất lo sợ. Cứ chốc chốc binh nhất Tauss lại phải đưa ống nói cho Connolly để viên đại úy xin trung tá Johnson cho đào công sự nghỉ đêm ở vị trí hiện tại. Đề nghị đã bị Johnson từ chối. Ông bảo Connolly: "Cậu phải lên đến cao điểm 875 đêm nay." Dù rất lo khi phải di chuyển qua vùng đất địch trong đêm tối, Connolly vẫn dấn bước.

Trung sĩ Ray Bull phải nắm lấy dây lưng của người lính đi trước cho khỏi bị lạc trong đêm tối. Specialist 4 Jake Duffy cũng phải bám chặt vào cậu lính trước mặt. Anh ko hiểu nổi người lính xích hầu làm thế nào để có thể biết đường đi trong màn đêm đen kịt. Cuối cùng Duffy đoán chắc là anh ta phải dùng giác quan thứ 6. Khi họ lên gần đến cao điểm thì quân dù của tiểu đoàn 4 ở trên đó đã bắn súng để chỉ đường cho đại đội Charlie.

Vào lúc đại đội Charlie đến chân cao điểm 875, máy bay Spooky bay đến và thả pháo sáng xuống gần mỏm để cho họ thấy đường đi. Đột nhiên Duffy vấp phải 1 xác chết. "Chết tiệt!" Anh chửi đổng.

Điện đài viên của anh là binh nhất Darryl Haymes nói: "Chúa ơi, chỗ này toàn xác bọn khốn."

Duffy chăm chú nhìn vào đám cây đang được ánh pháo sáng chiếu vào và nói: "Tôi e là chúng ko phải là quân khốn đâu."

Anh nói đúng. Xác lính Mỹ nằm khắp nơi. Lần này còn tệ hơn những gì anh đã chứng kiến trong trận đánh hôm 11 tháng 11. Duffy tự nhủ đây ắt hẳn là 1 trận đánh cực kỳ tàn khốc.

Ít phút sau, đại đội Charlie, tiểu đoàn 4/503 đã bước vào chu vi phong thủ mới thiết lập. Connolly cho quân chiếm lĩnh vị trí dọc sườn tây cao điểm. Duffy và Haymes cùng nhau đào 1 cái hào hẹp, dài vừa đủ xài trên mặt đất rồi chui vào trong nằm. Cách đó ko xa, binh nhất Tauss đang lùng kiếm chỗ ngủ. Với anh, thì đào làm gì cho mất công. Cuối cùng anh cũng tìm ra 1 khúc gỗ và tới nằm đằng sau, dùng nó chắn đạn đối phương.

Đến nửa đêm thì viện binh đã đứng vững chân trên cao điểm 875. Ko thấy có thêm hỏa lực nào của địch bắn xuống quân dù trong phần còn lại của đêm nữa. Trong khu rừng tĩnh mịch chỉ còn lại tiếng la hét, rên rỉ của các thương binh.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 02 Tháng Mười, 2014, 09:42:53 AM
Chương 14
Cao điểm 875: Những ngày cuối cùng











Trong khi những tiểu đoàn cơ động của lữ 173 đang phải quần thảo với các trung đoàn 66 và 174 Bắc Việt ờ vùng phía nam Bến Hét và phía tây sông Đắk Krông thì các đơn vị khác thuộc Lực lượng dã chiến I (I Field Force) cũng ko hề thảnh thơi. Ngày 18 tháng 11, trên cao điểm 1416, 1 mỏm núi cao nằm ở phía đông bắc Tân Cảnh, tiểu đoàn 3, trung đoàn 42 VNCH đã chạm trán với trung đoàn 24 Bắc Việt có công sự vững chắc. Ko đủ sức đánh bật quân đối phương, tiểu đoàn 3/42 phải gọi các tiểu đoàn 2 và 3 nhảy dù VNCH kéo tới tăng viện. 1 pháo đội lựu pháo 155 ly của sư đoàn 4 bộ binh Mỹ đã hợp sức cùng 2 pháo đội 105mm bắn phá cao điểm 1416 trong suốt buổi sáng ngày 19 tháng 11.

Với lính bộ binh của tiểu đoàn 3, trung đoàn 42 chốt chặn trên hướng tây; 2 tiểu đoàn dù VNCH tiến lên cao điểm theo hướng nam và hướng bắc. Trận cận chiến dữ dội, tàn khốc diễn ra suốt ngày và cả trong đêm tối. Ngày 20 tháng 11, sau khi chịu tổn thất nặng nề, lính dù VNCH đã đánh bật được quân Bắc Việt ra khỏi cao điểm 1416. Quân nam VN có 66 lính chết và hơn 290 bị thương. Phía VNCH báo cáo đếm được 248 xác địch. Hậu quả sau trận đánh là trung đoàn 24 Bắc Việt bị mất sức chiến đấu. Tàn quân của nó trốn lên phía bắc rồi rẽ sang hướng tây sang ẩn náu bên Lào.

Khu vực xung quanh cao điểm 1338, phía nam Đắk Tô cũng đang có giao tranh quyết liệt. Đã có 15 lính của tiểu đoàn 3, trung đoàn 12 bộ binh, sư đoàn 4 Mỹ bị thương trong 1 trận đánh ngắn ngủi ở phía tây cao điểm vào ngày 18 tháng 11. Pháo binh Mỹ, được gọi đến oanh kích các vị trí của bộ đội Bắc Việt, lại gây ra thêm 2 ca thương vong nữa do bắn nhầm.

Xa về phía nam, gần điểm cao 530, phía đông Đắk Krông. Ngày 19 tháng 11, đại đội Dog, tiểu đoàn 1, trung đoàn 8 bộ binh đã tao ngộ chiến với lực lượng quân Bắc Việt khá đông suốt hơn 1 tiếng đồng hồ. Họ bị chết 4, bị thương 5 và giết được 4 lính Bắc Việt.

Cùng ngày, cách cao điểm 1338 khoảng 4km, quân tiểu đoàn 3, trung đoàn 12 bộ binh cũng bị đối phương tập kích. Sau khi đẩy lui quân địch, lính bộ binh lại phải hứng chịu 1 trận pháo kích dữ dội bằng súng cối khi họ đang nghỉ đêm trong công sự. Tổn thất của họ cả thảy có 4 chết, 7 bị thương và đếm được 18 xác bộ đội Bắc Việt tại trận.

Dù ở nhiều nơi đang có giao tranh ác liệt, mối quan tâm chính của các tướng Rosson, Peers, và Schweiter vẫn là 2 tiểu đoàn của lữ dù 173 đang bị kẹt trong 1 trận đánh sinh tử trên cái cao điểm đầy bụi bặm chỉ cách biên giới Campuchia có 6km.

Buổi bình minh của thứ 3, ngày 21 tháng 11, làm lộ ra 1 cảnh tượng trên cao điểm 875 mà những người sống sót sau trận đánh ko thể nào quên. Hỏa lực vô tội vạ đã biến khu rừng nhiệt đới tươi tốt trở thành khung cảnh hoang tàn. Hầu hết cây cối đã ko còn cành lá. Chúng rụng đầy mặt đất thành những đống dày đến gần 1m. Những thân cây ngã đổ nằm lềnh khênh trên khắp cao điểm trở thành những chỗ để ẩn nấp, chiến đấu của cả lính Mỹ và bộ đội Bắc Việt. Những cái cây chưa bị đốn ngã chĩa thẳng lên trời xanh như minh chứng cho sức mạnh hủy diệt của con người.

Chu vi phòng thủ của lính dù nhìn như 1 bãi rác. Súng ống, mũ sắt, ba lô, quần áo, bi đông cùng vỏ đồ hộp bị vứt bỏ nằm khắp mọi nơi. Mỗi tấc đất đều phủ đầy toàn mảnh vụn. Một thứ mùi kinh khủng: mùi tử khí cứ luẩn quẩn trên khắp chu vi. Mùi khăm khẳm của thịt thối rữa trộn lẫn với mùi của máu, phân, nước tiểu, những bãi nôn, của thuốc súng, napalm đã mãi mãi khắc sâu trong ký ức những con người đã từng chiến đấu trên cao điểm 875.

Nơi nơi là những tử thi và những mảnh xác người ko toàn vẹn. Bom 500 pound đã rải xác chết ra khắp cao điểm. Dù đã có 1 số cố gắng để thu thập, thế nhưng nhiều xác lính dù chết cùng thương binh vẫn còn nằm nguyên nơi họ gục xuống. Cảnh tượng này khiến cho những cựu binh can trường nhất cũng ko sao chịu nổi.

Sáng hôm đó, khi tỉnh dậy, binh nhất Tauss mới phát hiện thấy khúc gỗ mà anh dùng để nấp tối qua thực ra lại là 1 xác lính dù. Anh bỏ đi người run lên vì sợ.

Trung úy Lindseth cũng có 1 trải nghiệm tương tự. Anh chiếm vị trí đằng sau 1 khúc gỗ lớn. Kế bên anh là 1 lính dù thuộc tiểu đoàn 2 đang nằm đắp poncho. Người lính cứ ho khan suốt cả đêm. Lindseth cho là vì tiết trời ban đêm lạnh. Đến khi trời sáng mà vẫn thấy anh này ho, Lindseth mới gọi lính cứu thương đến. Tay lính cứu thương kéo tấm poncho ra thì thấy rằng người 'thiên binh' này ko còn chân nữa. Một lúc sau thì anh ta chết.

Ngay khi trời vừa sáng rõ, đại úy Connolly tung tiểu đội của trung sĩ Bull đi thám thính. Bull tiến ra ngoài chu vi được chừng 30m, khi đang thận trọng bước qua những xác chết và đồ trang bị, thì nghe thấy tiếng thét ghê rợn: "Pháo kích!". Anh và lính dưới quyền vội nằm rạp xuống đất.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 03 Tháng Mười, 2014, 08:28:39 AM
Viên đạn cối đầu tiên của bộ đội Bắc Việt rót trúng cái chu vi phòng thủ đang đông lúc nhúc đúng 6g55. Những viên đạn cối 60 và 82 ly cứ ào ào rót xuống đầu lính dù trong khi họ cuống cuồng xô đi tìm chỗ nấp. Suốt 2 tiếng sau đó, cứ cách khoảng 15-20 phút là lại có 1 loạt cối chừng 5-6 viên rót xuống sườn cao điểm. Với những công sự lính lèn chặt như nêm, thì mỗi tiếng nổ đều gây ra nhiều thương vong, chết chóc.

Sau khi đợt nã cối đầu tiên dứt, trung sĩ Bull và lính trong tiểu đội phóng ngay về chu vi phòng thủ. Bull thấy người nhẹ nhõm hẳn. Chuyến đi ngắn ngủi ra ngoài chu vi làm anh sợ chết đi được. Anh cảm thấy quân Bắc Việt đang ở gần đó trong các vị trí được ngụy trang tài tình và chỉ chờ cho anh đi xa khỏi chu vi phòng thủ thêm chút nữa. Theo cách khác, Bull nhận định, đợt nã cối của địch quân đã cứu mạng cho anh.

Specialist 4 Duffy cùng binh nhất Haymes đang rúc sau mấy thân cây đổ, cố gắng định vị mấy ổ súng cối. Họ có thể nghe rõ tiếng đề pa của đạn cối khi chúng bay ra khỏi nòng. Dường như chúng được bố trí trên 1 cao điểm phía tây. Duffy dùng la bàn đo phương vị rồi cung cấp tọa độ cho Haymes. Tuy nhiên, đến khi đạn cối 106,7 ly dập xuống đó, thì cối Bắc Việt đã rời đi mất. Rồi ko lâu sau đó, đạn cối địch từ vị trí mới lại bắn đến và Duffy sẽ phải làm lại từ đầu.

Những loạt pháo kích bằng súng cối của địch quân ngày hôm ấy đã làm 5 lính Mỹ thiệt mạng, 47 bị thương.

Dù có đạn cối bắn xuống, công tác di tản thương binh vẫn được ưu tiên hàng đầu. Trung tá Johnson, giờ là tổng chỉ huy của tất cả các lực lượng trên cao điểm 875, đã ra lệnh làm 1 bãi đáp mới rộng hơn. Đại úy Leonard kiếm được 1 chỗ ở xa hơn về phía dưới cao điểm. Sau khi rút tàn quân của tiểu đoàn 2 ra khỏi tuyến đầu, Leonard, hoạt động như chỉ huy chung trên thực địa, lấy 1 số người đi phát quang bãi đáp, trong khi những người khác thì lo việc thu gom, chăm sóc thương binh.

1 lính cứu thương tiểu đoàn 4 đã tìm thấy Sp4 John Steer vào giữa buổi sáng. Anh lính an ủi Steer: "Đừng lo, cậu sẽ ổn thôi. Họ sẽ nối lại tay cho cậu."

Dù biết đó là nhảm nhí, Steer vẫn thấy cảm động. Sau khi được băng bó, anh được khiêng đi bằng poncho tới nơi để chờ được sơ tán.

Trung úy Remington đã được 1 lính cứu thương tiểu đoàn 4 tiêm morphine hồi tối hôm thứ 2. Anh cứ nằm lơ mơ suốt đêm và cả buổi sáng sau đó nhưng ít nhất cũng nhận thấy rằng mình bây giờ đã sống rồi.

Trung úy O'Leary cũng được lính cứu thương tiểu đoàn 4 chăm sóc. Sau khi báo cáo tình hình cho đại úy Leonard, anh được chuyển đến trạm sơ cứu. Thượng sĩ nhất Mike Deeb nằm bên cạnh anh, đầu quấn đầy băng. O'Leary nằm đó cầu nguyện mong cho mình thoát nạn.

Nhiệm vụ thống kê số quân tiểu đoàn 2/503 đã tử trận giờ là của các đại đội phó. Cả 2 trung úy Philbin và Harrison đều có mang theo danh sách đại đội. Khi hỏa lực đối phương tạm lắng, họ đi quanh chu vi phòng thủ, lật từng cái xác lên, kiểm tra thẻ bài rồi ghi chú vào danh sách.

Harrison đã tìm cách xuống được chỗ mà đại đội Alpha bị tràn ngập. Chẳng có gì mà anh từng chứng kiến suốt cuộc chiến, kể cả cuộc thảm sát ngày 22 tháng 6, sánh được những thứ anh nhìn thấy. Khắp nơi toàn là xác chết. Anh tìm thấy nơi đại úy Kiley cùng ban chỉ huy bị quân Bắc Việt tràn ngập và bắn chết ở khoảng cách gần. Rõ ràng là Kiley đã cố vội vã tổ chức phòng ngự, nhưng đơn giản là quân Bắc Việt quá đông.

Harrison thấy xác các thành viên trung đội hỏa lực cũng bị tràn ngập ở gần đó. Anh tìm ra xác Lozada ở xa hơn phía dưới cao điểm. Người lính can trường trẻ tuổi vẫn nằm ở nơi đã gục ngã, với khẩu M60 kế bên. Harrison cũng đã nghe kể về sự can đảm đặc biệt của Lozada trong việc chặn đà tiến của bộ đội Bắc Việt và cảnh báo cho những người khác về mối nguy đang đến gần.

Dù bãi đáp mới tránh được đạn thẳng của đối phương bắn đến, thì máy bay trực thăng vẫn có thể bị bắn nổ tung trong quá trình đáp xuống hoặc bay lên. Để chế áp hỏa lực địch, đại úy Leonard đã phối hợp dùng pháo binh và máy bay không kích dập lên đỉnh và những điểm cao gần đó.

Trung tá Johnson liên lạc thường xuyên qua điện đài với đại úy Leonard trong suốt quá trình này. Đến 9g thì Johnson bảo Leonard chuẩn bị để đến 11g thì tiến công lên cao điểm 875. đại đội Alpha sẽ xuôi xuống dưới đường sống núi chạy bên sườn cao điểm và sẽ tấn công từ chỗ đó. đại đội Charlie của đại úy Connolly sẽ tiến lên dốc theo nửa bên trái sống núi, trong lúc đại đội Bravo sẽ tấn công trên nửa bên phải. Trong 2 tiếng đồng hồ cho đến lúc ấy, cao điểm 875 sẽ tiếp tục bị oanh kích bằng máy bay phản lực và pháo binh.

Khoảng 10g, có 1 số trực thăng bay tới trên đầu chu vi phòng thủ và thả xuống những đồ tiếp tế đang rất cần thiết. Trong khi hỏa lực của đối phường bâu lấy đám trực thăng, những phi hành đoàn dũng cảm đạp xuống dưới đất đồ ăn, nước uống ( được đựng trong các phuy cao su mà lính dù gọi là "voi cao su"), vũ khí, đạn dược. Cùng với súng cối 81 ly và đạn, còn có cả súng phun lửa và súng chống tăng LAWW nữa. Các đại đội trưởng phân phối chúng cho các hạ sĩ quan. Ko thể dùng được súng phun lửa vì thiếu mất bộ phận mồi lửa cho nhiên liệu. Leonard nghĩ rằng có lẽ sẽ phải phun nhiên liệu vào hầm chiến đấu của địch rồi sau đó kích hỏa bằng lựu đạn.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 06 Tháng Mười, 2014, 10:20:58 AM
Thế rồi, trong khi tất cả đang lo lắng chờ lệnh xuất phát thì cuộc tiến công bị hoãn lại vì bãi đáp vẫn chưa làm xong. Do muốn sơ tán tất cả thương binh bị thương lúc trước xong xuôi rồi mới bắt đầu đánh, nên trung tá Johnson đã lệnh Leonard chờ thêm. Tuy nhiên khoảng thời gian chờ vẫn được tận dụng triệt để. 10 chiếc F-100 cùng 2 chiếc F-4C đã thả xuống đỉnh cao điểm 875 thêm được hơn 15 tấn bom phá và nhiều tấn napalm. 1 số 'thiên binh' đã cho rằng ko bộ đội Bắc Việt nào có thể sống qua nổi trận oanh kích suốt buổi sáng kinh hoàng này.

Những đợt pháo kích lẻ tẻ bằng súng cối đã trì hoãn việc hoàn thành bãi đáp tới tận 14g15. Chuyến trực thăng tải thương đầu tiên đến nơi lúc 14g30. Nó đón nhận 7 ca thương nặng nhất rồi bay đi. Thêm nhiều chuyến nữa cũng tới nơi và chuyển hết thương binh tới nơi an toàn.

Đến 15g05 thì đại úy Leonard phát lệnh:"Tấn công!"

Quân dù buộc phải xổng lưng xung phong qua những đám thân cây đổ ngổn ngang, bóng họ in rõ trên nền trời và chở thành mục tiêu ngon ăn cho lính Bắc Việt. Bộ đội đáp trả bằng lưới lửa dữ dội của súng cá nhân, súng máy, lựu đạn chày, B-40 và súng cối.

Trung đội 2 của trung úy Proffitt, với quân số 20 người, bảo vệ sườn trái tuyến tấn công đại đội Bravo. Mới tiến được vài bước thì đạn cối địch đã nổ tung và giết mất 2 người của bọn họ. Địa hình chỗ trung đội 2 có vẻ ít vướng víu hơn nơi khác nên họ có thể vừa dùng kỹ thuật vận động vừa bắn và tiến gần đến tuyến công sự đầu tiên của địch. Khi quân của Proffitt đang tìm cách nấp sau những thân cây chưa bị đổ thì lính bắn tỉa địch ở phía xa trên dốc đưa họ vào vòng ngắm và đã bắn trúng được 1 số. Đạn nhọn của địch cứ bay vù vù trong không trung làm cho Proffitt cứ lo chúng sẽ xuyên được qua thân cây anh đang nấp. Anh cúi đầu thấp hơn nữa, những mong có cái lỗ nào để chui xuống.

Đi giữa tuyến tiến công của đại đội Bravo là trung úy Lindseth cùng 18 lính thuộc trung đội 3. Trung sĩ Hill đi đằng trước đội hình trung đội, 1 lính cứu thương đi bên tay trái và đi bên phải là  1 công binh. Họ xông lên được chừng 6,7m thì vấp phải cơn mưa đạn từ những hầm chiến đấu bên trên của địch. Loạt đạn đã giết chết 2 tay lính đi sau Hill. Anh cùng 2 người lính bên cạnh vừa lăn lê bò toài tiến thêm được 3m nữa qua các thân cây đổ vừa nã đạn về phía những kẻ địch vô hình.

Hill quay qua hét gọi những người lính bên phải chậm lại. Anh nghĩ rằng bọn họ đã tiến quá nhanh và đã vượt lên trước những người khác. Nhưng súng nỗ ầm ầm khiến họ ko nghe thấy tiếng gọi. Hill lại định hét lên gọi tiếp thì vừa lúc 1 quả đạn cối nổ tung ngay trước mặt người lính công binh. Vụ nổ quật cả 3 người ngã xuống. Khi tỉnh lại, Hill thấy máu từ cổ và chân chảy ra. Anh lôi cuộn băng ra quấn quanh vết thương trên cổ để cầm máu. Cách đó mấy bước là cậu lính công binh đang nằm sấp rên la. Người lính cứu thương bên trái Hill từ từ ngồi dậy, 2 chân anh này ở trong tư thế rất kỳ cục.

Hill gọi: "Doc, cậu ko sao chứ?"

"Tôi gãy 2 chân rồi" anh kia trả lời.

Hill bò dích dắc đến chỗ người công binh và lật anh này lại. Từ trong lỗ thủng ở quần anh ta 1 vật gì đó lăn ra và rơi xuống đất. Hill kinh hãi khi nhận ra đó chính là dương vật của người lính kia. Hill ko muốn nạn nhân nhìn thấy nó vì sợ anh ta sẽ trở nên điên loạn và mong sao có ông bác sĩ nào ở bệnh viện tuyến sau có thể gắn lại nó vào chỗ cũ. Anh bèn lăn người công binh nằm sấp lại rồi bò sang chỗ cậu lính cứu thương.

Hill lấy băng băng cho cậu lính cứu thương, rồi anh này lại băng cho Hill lỗ thủng to bằng đồng 25 xu sau cổ và vết thương nơi chân. Hill nói sau khi được anh này băng xong: "Tôi sẽ bò xuống dưới dốc nhờ trợ giúp."

Xuống được 1 quãng ngắn thì Hill gặp đại úy Leonard: "Sếp ơi, tôi có 2 người bị thương ở trên kia và cần phải cứu gấp."

Leonard trả lời: "Sẽ gửi lính cứu thương lên. Giờ thì dậy đi liệu mà tìm đường thoát khỏi chỗ này."

Trung úy Lindseth cũng tới nấp sau 1 thân cây đổ. Đạn địch vẫn đều đặn găm phầm phập vào nó. Quanh anh là những quả đạn B-40 bay sát sạt mặt đất rồi nổ tung gây ra những thiệt hại nặng nề cho đám 'thiên binh' đông đúc đang túm tụm. Anh phát hiện được 1 hầm chiến đấu của quân Bắc Việt được ngụy trang kín bằng cành lá. Bất chấp hỏa lực bắn rát, anh rời vị trí bò tới gần. Lỗ châu mai của căn hầm chỉ rộng khoảng hơn 30cm, Lindseth thảy vào đó 4 quả lực đạn. Chúng nổ inh tai. Thốt nhiên, 3 quả lựu đạn chày từ trong hầm bay ra và đáp xuống ngay trước mặt Lindseth. Anh lăn mình tránh khỏi. Ko thấy quả lựu đạn địch nào nổ cả.

Chưa kịp mừng rỡ trước sự may mắn, thì lại có thêm 2 quả lựu đạn nữa đáp xuống gần bên. Lindseth cuộn tròn người lại. Hai quả lựu đạn chày nổ liên tiếp nhưng kỳ diệu thay, Lindseth lại thoát nạn.

Điên lên vì giận, Lindseth phóng xuống dốc, lấy 1 ôm ống hỏa tiễn chống tăng LAWW và quay lên lại chỗ căn hầm. Anh nã liền 6 phát đạn chống tăng vào chỗ cái hầm. Nhưng trước vị trí được làm quá chắc chắn như thế chúng đã tỏ ra vô tích sự.

Do trung đội ko thể tiến lên, Lindseth phải ở sau 1 đống cây đổ cho đến hết buổi chiều để hiệu chỉnh đường đạn cho pháo binh rót xuống hầm chiến đấu địch. Lính xung quanh anh cũng cố bắn trả nhưng hỏa lực địch bắn rát quá khiến cho họ ko có thời gian để mà ngắm cho chính xác.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 07 Tháng Mười, 2014, 08:58:56 AM
Có 1 trung úy ở bên đại đội khác mà Lindseth ko quen tới nằm phục bên cạnh.

"Bọn ta phải tấn công." Người mới đến nói.

Lindseth cản: "Đừng có cố! Cậu sẽ bị giết đấy!"

Viên trung úy bỏ ngoài tai lời khuyên của Lindseth, nhảy qua đống cây đổ, vừa tiến vừa nã súng M16. Anh ta mới đi được vài mét thì bị 1 loạt đạn súng cá nhân bắn hạ.

Trung đội 1 của trung úy Larry Moore đi bên cánh phải của đại đội Bravo, có 36 lính, vấp phải làn đạn bắn rất rát của lính bắn tỉa đối phương ở xa phía trên dốc. Họ càng tiến lên thì sức kháng cự từ các hầm chiến đấu địch cũng càng dữ dội. Trung đội nhanh chóng bị áp đảo bởi hỏa lực súng máy của bộ đội Bắc Việt. Quân của Moore phải tìm mọi chỗ có thể để ẩn nấp từ: cây cối, thân cây đổ đến các mô đất. Khi Moore cuối cùng cũng phát hiện ra căn hầm chiến đấu địch, anh ngoái lại kêu trung đội mình lên hỗ trợ thì thật ngỡ ngàng khi thấy chỉ còn chừng chục lính dù tiến đến chỗ mình.

Đang tiến hành xạ kích, thì địch quân từ trong các vị trí kín đáo quanh đó bắn B-40 vào trung đội 1. Moore gọi lính điện đài của mình lên nhưng cậu trai trẻ này đã lãnh nguyên 1 loạt RPD trong lúc chạy đến chỗ anh. Ngay sau đó Moore nghe thấy tiếng hú đặc trưng của 1 quả đạn B-40 đang phóng đến. Anh tuyệt vọng cố né tránh nhưng ko kịp. Quả đạn nổ tung làm cho Moore và nhiều người nữa bị thương. Mũi tiến công của trung đội 1 đã bị chặn đứng.

đại đội Charlie tiến bên cánh phải hay sườn phía tây của đại đội Bravo. Khi đại úy Connolly đưa quân vào vị trí, anh đã lo lắng vì đường sống núi rất hẹp. Rõ ràng là nó ko đủ chỗ cho 2 đại đội hoạt động hiệu quả. Trong thực tế, thì trung đội đi bên sườn phải của anh đã phải vận động trên sườn dốc của sống núi. Không những họ phải hứng chịu hỏa lực của bộ đội Bắc Việt từ những điểm cao quanh đó bắn đến mà còn chẳng thể được các trung đội khác hỗ trợ trong trường hợp gặp trục trặc.

Và rồi họ gặp trục trặc thật. Các vị trí của đối phương đều có thể yểm trợ lẫn nhau chống lại mọi cú đánh thọc sườn. Chỉ có thể chiếm được những vị trí trên bằng cách đánh trực diện. Lính đại đội Charlie và đại đội Bravo nhận thấy cây cối ngổn ngang chính là trở ngại chủ yếu khi tiến lên phía trước. Ko thể vượt qua đám thân cây gãy đổ trong khi đạn địch cứ bắn vèo vèo sát sạt trên đầu, lính đại đội Charlie đã ném rất nhiều lựu đạn vào những chỗ nghi ngờ có quân đối phương. Lựu đạn nổ nghe thì sướng tai đấy nhưng có rất ít tác dụng trước các các căn hầm được làm rất chắc chắn của địch.

Binh nhất Tauss đi cùng Connolly trong suốt cuộc tấn công. Khi người đại úy can đảm nhiều lần xông pha trong lửa đạn đến với các trung đội, động viên binh sĩ tiến công thì Tauss cũng bám sát, thường hay nhắc nhở Connolly đừng quá liều lĩnh. Để thực hiện yêu cầu giữ liên lạc của trung tá Johnson, thì Tauss vừa chạy kiểu chữ chi để tránh đạn, vừa thông báo cho ông biết về tình hình tiến quân của đại đội Charlie.

Connolly thì muốn Johnson xuống dưới đất và ở đó chỉ huy cuộc tiến công chứ ko phải là từ trong chiếc Huey, bay trên cao điểm cả mấy trăm mét. Connolly lo là ông tiểu đoàn trưởng sẽ ko nắm sát được hết diễn biến của trận đánh nếu cứ chẳng chịu xuống dưới đất.

Dù đạn địch bắn rát, quân của Connolly vẫn tiếp tục tiến lên. Trung úy Tracy Murrey, 1 trung đội trưởng của đại đội Charlie, đã phát hiện 1 ổ súng máy của quân Bắc Việt. Hô tiểu đội gần đó bắn yểm trợ, Murrey giật chốt 1 quả lựu đạn. Cầm trong tay cái vật chết người đó cùng 1 khẩu súng lục cỡ nòng 45 caliber ở tay kia, Murrey xông thẳng đến. Anh chỉ đi được nửa chặng đường thì bị 1 loạt đạn địch quật ngã. Trung đội bị mất chỉ huy đã chùn bước và phải bỏ dở cuộc tấn công.

Cách đó ko xa, trung sĩ Bull đang lao đi tìm chỗ nấp khi thấy những quả đạn B-40 bay sát mặt đất. Dường như chúng được bắn đến từ mọi hướng nên thật khó có thể né tránh quả này mà ko lao đầu vào quả khác. Rốt cục thì Bull chịu thua. Anh rúc xuống mấy bụi cây còi cọc và cầu mong sao cho đạn địch đừng tìm đến.

Specialist 4 Duffy đã gọi hàng chục loạt cối 106,7 ly bắn đến, để cố gắng áp chế hỏa lực của bộ đội Bắc Việt nhưng ko thành công. Hầu hết hầm chiến đấu của địch đều được đắp đất dày hàng chục cm trên nóc và chung quanh. Đạn cối cũng ko xuyên qua nổi những lớp bảo vệ dày đến thế. Những chỗ khác thì lại có đất quá tơi mềm vì bị hàng tấn thuốc nổ quân Mỹ xới tung khiến cho đạn cối khi rơi xuống ko chạm nổ được. Tuy thế Duffy vẫn gọi súng cối rót đạn trần tới trần lui trước mặt đại đội Charlie với hy vọng có thể gây ra chút thiệt hại nào đó cho bộ đội Bắc Việt.

Vì lối đi lên đỉnh cao điểm 875 quá hẹp nên đại đội Alpha đã phải di chuyển xuống sườn đông của sống núi tiến về phía nam rồi mới chuyển hướng leo lên mặt dốc phía đông cao điểm. Đại đội đã bị thiệt hại nhiều sau trận pháo kích bằng súng cối hồi sáng, với 1 số lính chết cùng 15 bị thương, trong đó có cả trung úy Rudolph Bejarano, chỉ huy trung đội 1. Trung úy Mercer O. Vandenberg từ trung đội hỏa lực đã qua thay cho Bejarano và để trung sĩ nhất Thomas W. Thornton ở lại chỉ huy mấy khẩu đội cối.

Đại úy Muldoon bố trí trung đội 3 của trung úy Denny đi bên trái. Trung đội 2 của trung úy Wolfe đi giữa còn trung đội dưới quyền trung úy Vandenberg thì tiến bên phải. Khi Muldoon nhận được lệnh xuất phát của trung tá Johnson, anh liền truyền ngay đến cho các trung đội trưởng.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 08 Tháng Mười, 2014, 08:05:28 AM
Thoạt đầu, đại đội Alpha tiến quân khá nhanh. Bộ đội Bắc Việt ko nghĩ có quân tiến công từ hướng này vì địa hình ở đây rất dốc. Đến khi địch phát hiện ra quân dù thì đạn đổ xô đến như châu chấu. Đầu tiến là hỏa lực súng cá nhân từ trên cao chiu chíu bắn xuống. Lát sau ngoài tiếng súng ầm ĩ lại có thêm tiếng tạch tạch của trung liên RPD. Rồi tiếp đến là quân Bắc Việt tung lựu đạn xuống dốc. Sau đó thì tới đạn cối từ trên trời rơi xuống như mưa, mỗi lần cả chục quả.

Hầu hết đạn cối đều rót trúng trung đội 1 với độ chính xác kinh hồn. Trung úy Vandenberg bị thương nặng ở bụng ngã quị. Gần chục binh sĩ quanh anh cũng gục xuống. Ngay khi biết Vandenberg bị thương, Muldoon điều ngay 1 lính cứu thương cùng với đại đội phó là trung úy Thomas J. Tarpley sang trung đội 1. Trong khi người lính cứu thương băng bó cho thương binh thì Tarpley tái tổ chức khoảng 6 đến 8 người lính còn lại.

Trong khi đó, các trung đội của Denny và Wolfe đã vượt qua được các ổ kháng cự quyết liệt và tiến lên quá lưng chừng cao điểm. Ở trung đội 3, trung sĩ trung đội phó Joseph F. Decanto cùng với xạ thủ M60 là Sp4 John H. Deatherage đã bò tới 1 căn hầm và diệt được nó. Nhưng bất ngờ hỏa lực súng máy địch bắn đến rất dữ dội khiến cho bọn họ phải nằm dán xuống đất. Những người khác cũng phải lo ẩn nấp. Mũi đột kích của đại đội Alpha cũng đã bị chặn đứng.

Sau đó thượng sĩ nhất Irwin Frazier bật dậy hô: "theo tôi!" rồi chạy bọc phía sau 1 hầm chiến đấu trọng yếu của địch đang bắn chéo vào trước mặt đại đội Alpha trong lúc binh nhất Dennis Adams, xạ thủ súng máy, nã đạn vào lỗ châu mai nhỏ hẹp của cái hầm. Cuộc tiến công lại tiếp tục sau khi căn hầm bị diệt.

Đi phía sau trung đội 3, Muldoon kinh ngạc khi thấy bộ đội Bắc Việt ném quá nhiều lựu đạn về phía mình. Lựu đạn chày đáp xuống khắp xung quanh ban chỉ huy nhưng hầu hết đều lăn xa xuống dốc rồi mới phát nổ. Một số quả còn lăn trúng người anh cùng với mấy tay điện đài viên cùng những người quanh đó rồi mới văng ra. Nhưng vận may của họ cũng nhanh chóng kết thúc. Cả 2 lính điện đài đều bị thương vì mảnh lựu đạn tuy nhiên kỳ diệu thay Muldoon lại ko bị làm sao hết.

Tới 17g thì trung đội của trung úy Denny sau bao gian nan vất vả, mất mát đã lên tới gần đỉnh cao điểm. Denny nhảy xuống 1 chiến hào của đối phương vừa chiếm được, và ném lựu đạn qua lại với lính Bắc Việt ở tuyến chiến hào kế tiếp. Trung đội Wolfe cũng đã lên gần ngay phía sau Denny và Tarpley, cùng với sự tham gia của thượng sĩ nhất Frazier cũng đã đưa số quân còn lại trong trung đội lên ngang với Denny.

Muldoo bắt đầu nghĩ tới việc làm cách nào để đánh lên đỉnh cao điểm. Họ đã có thể chiếm được nó nếu như ko bị mất quá nhiều quân.

Rồi thì Muldoon nhận được thông điệp qua điện đài của trung tá Johnson. Johnson ra lệnh: "Rút về"

Muldoon ko thể tin nổi. Họ đã chiến đấu gần 2 tiếng đồng hồ và tới giờ, lúc sắp đạt được mục tiêu thì lại bị rút về. Ko thể được. Anh gọi điện đài cho Johnson bảo ông ta rằng anh muốn đánh tiếp.

Johnson khước từ. Mũi đột kích của đại đội Bravo đã bị hỏa lực dữ dội của bộ đội Bắc Việt chặn đứng. đại đội Charlie dù gặp sức kháng cự yếu hơn nhưng vì ko có quân bảo vệ bên sườn trái nên cũng chẳng thể tiến lên. Do đó Johnson mới hạ lệnh kéo cả 3 đại đồi lùi lại vị trí xuất phát.

Muldoon thì vẫn ko muốn rút. Việc bỏ lại những thước đất mà lính của mình đã đổi mạng mới chiếm được trong thời điểm đang rất gần với chiến thắng là 1 sự bất công. Anh cảm thấy nếu như Johnson có mặt dưới đất thì ông ta có thể thấy anh đã lấn sâu như thế nào vào phòng tuyến quân Bắc Việt và hẳn đã ko hạ lệnh rút lui. (đại úy Connolly cũng vậy, tin rằng họ đã lên đến gần và Johnson trên trực thăng thì ko nắm được điều đó.). Tuy nhiên Muldoon cũng chẳng biết làm gì hơn. Chỉ thị của Johnson rất rõ ràng và Muldoon đành truyền đạt lại cho các trung đội trưởng.

Trung úy Denny cũng ko đồng tình với lệnh thu quân. Tarpley cũng thế. Họ chỉ còn cách đỉnh cao điểm 875 có vài chục mét.

Muldoon bảo họ: "Lệnh là lệnh. Chuẩn bị ngưng chiến. Kiểm điểm quân số. Ko được bỏ sót trên này 1 thương binh nào hết."

Denny, Tarpley, cùng Wolfe bắt đầu miễn cưỡng lui quân về phía sau. Các đại đội Bravo và Charlie bên sườn dốc phía bắc cao điểm 875 cũng đang từ từ lùi lại. Đến 18g thì cả 3 đại đội hội quân với nhau ở vị trí ban đầu và thiết lập chu vi phòng thủ.

Cuộc tấn công bị hủy bỏ với 1 cái giá rất đắt đỏ. Trung đội 1 của trung úy Moore, đại đội Bravo, thiệt mạng 7, bị thương 15, quân số giảm xuống chỉ còn 14 tay súng. Trung đội của Lindseth chỉ còn 9 binh sĩ là còn có thể chiến đấu. Trung đội Proffitt thì còn ít hơn nữa. Tổn thất của đại đội Alpha là 7 lính chết và 57 lính bị thương còn đại đội Charlie thì bị mất khoảng 25 quân.

Những binh sĩ của tiểu đoàn 2 ko phải làm nhiệm vụ bảo vệ bãi đáp thì đi theo 3 đại đội chủ công để hỗ trợ việc sơ tán thương binh. Trung sĩ Welch và Specialist Zaccone ở trong số những người giúp vận chuyển thương binh, tử sĩ cho tiểu đoàn 4. Vừa tránh né đạn nhọn vừa mặc kệ đạn cối cùng lựu đạn nổ tung tóe, cả 2 cứ tiến lên phía trước tới chỗ các thương binh, kéo họ ra khỏi tuyến lửa rồi mang họ tới chỗ lính cứu thương đang chờ. Họ đã thực hiện được cả chục chuyến trước khi trận tấn công chấm dứt. Những ca bị thương nặng quá ko thể quay lại chiến đấu sau khi băng bó thì sẽ được đưa về trạm sơ cứu mới lập ra tiếp giáp bãi đáp.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 13 Tháng Mười, 2014, 07:53:52 AM
Sau khi trời tối có 1 số trực thăng bay đến để sơ tán cho những trường hợp bị thương nghiêm trọng. Tuy nhiên hầu hết thương binh đều phải qua 1 đêm dài lạnh lẽo trên cao điểm 875. Tiếng khóc lóc rên rỉ của bọn họ át cả những âm thanh khác.

Thứ 4, ngày 22 tháng 11 trên cao điểm 875 là 1 ngày của những khẩu súng cối. Bắt đầu vào lúc trời vừa hửng sáng là đạn cối của bộ đội Bắc Việt rót xuống chu vi phòng thủ của 'thiên binh' với độ chính xác đáng báo động. Cũng như trước đó, những pháo thủ Bắc Việt chỉ bắn 1 loạt chừng 5, 6 quả rồi lại chuyển vị trí đặt súng, để có khi chừng 1 tiếng đồng hồ trôi qua sẽ lại có tiếng gào kinh hãi "pháo kích!" vang lên khắp trên chu vi phòng thủ. Những người may mắn chưa bị 'chụp' lại vội nháo nhào xô đi tìm chỗ nấp.

Hầu hết binh lính đều chen chúc ẩn nấp trong các công sự cả ngày. Họ ăn ngay trong hố rồi ném vỏ đồ hộp ra ngoài góp phần làm gia tăng thêm đống rác rưởi. Lính Mỹ ỉa, đái đầy phè vào mũ sắt khiến cho chúng tràn cả ra. Chỉ 1 số 'thiên binh' táo gan lắm mới dám thực hiện chức năng bài tiết này ở bên ngoài. Nhưng cũng có khi, nấp trong hố vẫn chẳng được an toàn.

Binh nhất Orona đang bò sang 1 vị trí mới thì nghe thấy tiếng ai gọi tên mình. Anh ngoái lại và chạm mặt với 1 anh bạn cũ hồi còn ở trại huấn luyện cơ bản và trường nhảy dù. Họ nói chuyện với nhau 1 lát, báo tin cho nhau biết những cậu bạn nào đã chết hay bị thương rồi thì lại có người hét: "Pháo kích!" nên Orona vội phải bò sát đất về hố của mình.

Khi hết loạt cối Orona lại trườn về phía hố của anh bạn để nói nốt câu chuyện thì thấy anh này đã chết mất rồi. 1 quả đạn cối đã rót trúng ngay cái hố khiến anh này chẳng có cơ hội để biết mình chết vì cái gì nữa.

Trung úy Proffitt thì giành thời gian lui tới các vị trí của trung đội, làm hết sức để đảm bảo an toàn cho mọi người. Anh vừa mới hội ý với trung sĩ nhất Wiggins thì nghe thấy tiếng hô cảnh báo có đạn cối bắn đến. Proffitt vội lao về hố của mình. Vừa chui được vào hố thì đạn cối dập xuống. Anh thoát trận cối mà chẳng hề hấn gì, nhưng cái điện đài PRC-25 của anh thì ko 'gặp may' như thế. Anh đã để nó ngay trên rìa miệng hố của mình. Khi loạt cối dứt anh thấy chiếc điện đài bị trúng mảnh thủng lỗ chỗ. Proffitt tự nhủ, thật may phước là mình đã dùng nó để che chắn.

Specialist Duffy ở đại đội Charlie, cũng làm như những ngày trước đó, cố gắng định vị các khẩu cối của địch qua qua tiếng đề pa, nhưng ko gặp may cho lắm. Bằng cách chấm các vị trí giả định của súng cối Bắc Việt trên bản đồ, Duffy cùng binh nhất Haymes cố gắng phán đoán vị trí sẽ di chuyển tiếp theo của đối phương, nhưng ko thành công.  Với 2 tiền sát viên súng cối thì đây là 1 thử thách rất chi là ức chế.

Đại úy Muldoon trơ mắt nhìn bất lực, và càng ngày càng điên máu khi thấy đạn cối gây ra thêm nhiều thương vong cho đám quân đã bầm dập tả tơi của mình. Cả 3 sĩ quan còn lại dưới quyền anh đều đã bị trúng mảnh cối và hiếm có chú lính nào mà chưa phải xơi ít nhất 1 lần món ' sắt bay' này.

Bản thân Muldoon cũng dính vài mảnh vào ngực khi 1 quả đạn cối phát nổ. Chấn động khiến người anh văng 1 nẻo còn mũ sắt, súng trường, điện đài thì văng ra chỗ khác. Những vết thương chỉ khiến cho Muldoon cáu tiết chứ ko đau. Anh chạy vòng vòng để nhặt lại đồ trang bị của mình. Xong việc anh nhào về phía rừng cây, suýt chút nữa thì vượt ra ngoài chu vi phòng thủ nếu như ko bị các binh sĩ ngăn lại.

"Sếp đi đâu thế ạ?", 1 chàng trai trẻ lo lắng hỏi.

"Tao chán cái đống phân này lắm rồi. Tao sẽ ra đó làm thịt vài thằng khốn." Muldoon vung súng về phía rừng cây tuyên bố.

"Sếp, anh thật sự muốn làm vậy hay chứ?"

Muldoon nhìn quanh. Một số binh sĩ gần đó đang nhìn anh căm chú. Anh nói sau 1 thoáng suy nghĩ "Không. Chắc là ko đâu."

Rồi anh quay trở về căn hầm của mình, tuy vẫn còn giận nhưng đã kìm được nó lại.

1 số 'thiên binh' buộc phải ở trên mặt đất hầu hết thời gian. Trong số rất nhiều đạn,lựu đạn được phung phí trong quá trình giao chiến có cả những cái chưa nổ. Những thứ này cần phải phá hủy vì chúng dễ gây thương vong cho quân mình. Nhiệm vụ nguy hiểm này giành cho những lính công binh được phối thuộc theo mỗi đại đội.

Sp4 James Coleman, 19 tuổi, vừa gia nhập đại đội Charlie, tiểu đoàn 4/503 hồi tháng 10. Dù ban đầu được huấn luyện chuyên môn công binh, nhưng Coleman đã trải qua 18 tháng làm lính kỹ thuật dù (tức là chuyên gấp dù. ND) ở căn cứ Fort Campbell. Anh rất ngạc nhiên khi thấy mình được giao nhiệm vụ xử lý bom mìn. Anh đã gắng trình bày với chỉ huy đại đội công binh lữ đoàn 173 nhưng ko có kết quả. Tay đại úy thô lỗ đã bảo anh "cút ra chiến trường".

Như 1 lính mới tò te, Coleman hoàn toàn chưa được chuẩn bị trước sự khốc liệt trên cao điểm 875. Anh tưởng chỉ có 1 trung đội bị cô lập chứ ko phải là những 3 đại đội. Anh cảm thấy choáng trước số thương vong quá cao. Ko thể tin được cùng 1 nơi mà lại có nhiều người chết và bị thương đến thế.

1 phần trong sứ mệnh của Coleman là thu thập tất tật những thiết bị nổ chưa nổ và tiêu hủy chúng. Anh phải tìm chúng trong từng xác chết. Thật là 1 công việc khủng khiếp. Thu được cả đống lựu đạn chưa nổ, anh phân phát lại cho binh sĩ. Lựu đạn địch tìm ra được thì anh chất vào 1 gốc cây rồi kích nổ bằng thuốc nổ C4.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 27 Tháng Mười, 2014, 08:51:36 AM
Ngày 22 tháng 11 có rất nhiều đạn cối Bắc Việt ko nổ. Có thể do ở cả lỗi kỹ thuật cũng như rơi phải chỗ đất quá nhão. Cứ nghe có người gọi: "Công binh lên." Thế là Coleman phải rời khỏi hố, bò tới chỗ đạn rơi, vô hiệu hóa hoặc mang nó đi nơi khác. Suốt cả ngày anh chỉ loay hoay chúi đầu vao việc xử lý bom, đạn đủ loại.

Ban đầu, tiểu đoàn 4/503 lên kế hoạch cho 1 cuộc tiến công nữa lên cao điểm 875 vào 10g sáng thứ 4. Sáng sớm hôm đó, tướng Schweiter đáp trực thăng tới căn cứ pháo binh 16 để bàn với trung tá Johnson về tình hình trên cao điểm 875. Hai người mới nói chuyện vài phút thì có mấy quả rocket của Bắc Việt bắn trúng gần chỗ máy bay đậu khiến Schweiter phải rời đi. Khi bước lên chiếc trực thăng chỉ huy của mình ông nói với Johnson: "Tấn công hay ko là tùy cậu." rồi bay đi mất.

Johnson về trung tâm hành quân gập ban tham mưu. Sau khi cùng vạch kế tấn công, viên tiểu đoàn trưởng bay đến cao điểm 875. Johnson hội kiến với Muldoon, Leonard, và Connolly tại 1 chỗ đất trũng gần tuyến đầu.

Johnson nói với 3 viên đại úy rằng tướng Schweiter đã giao cho họ quyền quyến định có đánh chiếm cao điểm 875 hay không? Ông bảo là cao điểm phải bị chiếm dù người đánh chiếm có là họ hay quân sư đoàn 4. Và vì họ đã đến đây nên Johnson nghĩ rằng người chiếm nó thì tốt hơn nên là họ rồi hỏi xem ai có ý kiến gì khác biệt.

Ko ai nói gì. (Thực ra thì Connolly cũng ngạc nhiên khi thấy Johnson lại cho phép họ chọn lựa). Họ quyết định hoặc chiếm được cao điểm hoặc sẽ chết hết trong nỗ lực. Johnson gật đầu chấp thuận cái quyết định mà ông hằng mong đợi rồi cả 4 bắt đầu vạch kế hoạch phối hợp tiến công.

Tất cả đều đồng ý là cuộc tiến công sẽ bắt đầu vào hôm sau. Thời gian còn lại là để tiến hành 1 trong những trận oanh kích lớn nhất chưa từng thấy trong cuộc chiến lên đỉnh cao điểm 875.

Mọi khẩu pháo, mọi máy bay phản lực đang rảnh rỗi đều sẽ quay sang nã đạn lên cao điểm. Đạn pháo sẽ bắn ko ngừng nghỉ. Những trái bom 500, 750 pound, những thùng napalm nện liên hồi xuống đầu quân phòng ngự. Cuộc oanh kích sẽ diễn ra liên tục cho đến tận giờ H, 11g ngày 23 tháng 11.

đại đội Bravo sẽ tiến bên nửa trái của đường sống núi. đại đội Charlie đi bên phải. đại đội Alpha bị suy yếu nhiều sẽ tiến quân phía sau họ, sẵn sàng đi đến chỗ nào cần kíp nhất. Lính tiểu đoàn 2 sẽ đi tiếp sau đó và lại đảm trách việc cứu trợ thương binh.

Johnson nói đã chuẩn bị sẵn quân tăng viện. 2 đại đội của sư đoàn 4 bộ binh sẽ đánh lên sườn dốc phía bắc cao điểm. Vị tiểu đoàn trưởng tính toán là các mũi tấn công phối hợp sẽ dồn được quân Bắc Việt vào trong gọng kìm và tiêu diệt.

Các anh còn cần gì nữa ko? Johnson hỏi lại trước khi đi khỏi.

Đại úy Leonard đáp có. Anh xin thêm đạn cối 60mm. Thêm nữa anh muốn thiếu tá Richard M. Scott, tiểu đoàn phó lên cao điểm. Tiểu đoàn phó tiểu đoàn 2, thiếu tá Kelly, vẫn đang quanh quẩn trên cao điểm với vết thương vào mông. Liệu Johnson có muốn tống ông ta đi ko? Johnson đồng ý.

Khi tiểu đoàn trưởng đi khỏi, 3 viên đại úy quay về với đơn vị mình. Đại úy Leonard tình nguyện ra vị trí đầu chu vi phòng thủ. Từ cái vị trí lộ liễu nhô cao này anh sẽ điều phối pháo binh bắn phá và máy bay không kích suốt thời gian còn lại trong ngày.

Suốt buổi sáng ngày 22 tháng 11, bãi đáp được mở rộng để có thể tiếp nhận 2 trực thăng đáp xuống 1 lúc. Đến giữa ngày thì bắt đầu sơ tán tất cả số thương binh còn lại của cả 2 tiểu đoàn. Việc này đến đầu giờ chiều thì xong. Rồi đến khi ko còn phải sơ tán thêm trường hợp nào mới bị thương vì đạn cối địch nữa thì mới tới việc lấy xác. Tử sĩ nhiều đến nỗi nỗi lữ 173 phải tận thu 1 số lớn túi đựng xác từ quân nhu sư đoàn 4.

Do có quá nhiều trực thăng hạ tới rồi đi trên bãi đáp nên cần phải có sự điều phối để tranh bị ách tắc. Trung tá Johnson lệnh cho trung úy Peyton Ligon, sĩ quan hành quân phụ trách điều không cùng trung sĩ tham mưu William Chenault lên cao điểm 875 để chỉ huy bãi đáp.

Chuyến đi của Ligon lên cao điểm 875 diễn ra ko êm ả. Khi chiếc trực thăng chở anh đang bay thì chiếc Huey bay gần ngay phía trước bỗng ngoặt gấp vì bị hỏa lực địch bắn mạnh. Do phản xạ để tránh va chạm, viên phi công trên máy bay của Ligon đã cơ động quá giới hạn cho phép của động cơ (overtorque). Chiếc máy bay rơi xuống cách cao điểm 875 chừng 1 cây số.

Ko hề bị thương, Ligon cùng phi hành đoàn lập tức chiếm lĩnh vị trí phòng thủ xung quanh chiếc Huey rơi. Được 1 lát thì chiếc trực thăng của trung tá Johnson sà xuống bốc hết lên rồi chở họ đến Đắk Tô. Ligon leo lên chiếc trực thăng khác và rốt cục cũng hoàn tất được chuyến hành trình.

Vừa xuống đất, Ligon và Chenault bắt tay vào việc lập thứ tự ưu tiên chuyên chở. Ưu tiên hàng đầu là cho thương binh ra trước, rồi cho hàng tiếp tế vào và cuối cùng mới là lấy xác.

Chức trách của Ligon giống như nhân viên điều khiển không lưu, đưa ra chính xác chỉ dẫn hạ cánh cho những trực thăng đang bay đến khi chúng ở cách đó 2km. Những quả đạn cối lẻ tẻ được rót xuống bãi đáp cả ngày làm hư hại máy bay, gây thương vong cho binh sĩ. Hầu như mọi chiếc trực thăng khi đáp xuống hay lúc bốc lên đều bị đạn súng cá nhân của bộ đội Bắc Việt trên đỉnh cao điểm hoặc các điểm cao lân cận nhắm bắn. Ligon đã bố trí quân dù quanh bãi đáp tổ chức bắn chế áp nhưng ko có hiệu quả nhiều vì họ chẳng biết vị trí địch ở đâu cả.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 28 Tháng Mười, 2014, 11:12:25 AM
Hàng chục phóng viên chiến trường đang kêu gào đòi được lên cao điểm 875. Đắk Tô là câu chuyện hay ho nhất tại nam VN trong mùa thu này và đám phóng viên muốn tới nơi đang có giao tranh. Sĩ quan thông tấn xã của lữ 173 cùng nhân viên đã cố thu xếp đáp ứng cho số lượng phóng viên quá đông, nhưng nhiều nhà báo vẫn ko chịu chờ đợi cho đến khi được phép mới lên trực thăng.

Ở căn cứ pháo binh 16, thượng sĩ Larry Okendo thay chỗ cho thượng sĩ cố vấn Ted Arthurs vì ông này đi nghỉ phép, giám sát việc chuyển đồ tiếp tế lên máy bay chở đến cao điểm. Khi thấy 2 phóng viên leo lên 1 chiếc Huey mà ko được phép, Okendo đến giải thích lý do về việc họ phải xuống ngay. Khi thấy bọn họ từ chối, Okendo chĩa khẩu M16 vào 2 chú dân sự, dọa bắn nếu họ ko biết điều. Đến lúc này thì họ đã hiểu.

Cùng lúc đó tại bãi đáp trên cao điểm 875, trung sĩ Chenault gọi điện đài cho đại úy Muldoon (là sĩ quan hành quân phụ trách điều không khi trước): Chenault nói "Thưa sếp, tôi gặp rắc rối. Anh có thể tới giúp tôi ko ạ?"

Khi Muldoon xuống bãi đáp anh thấy Chenault đang gặp rắc rối với 3 tay phóng viên. Họ tới trong chuyến trực thăng đầu tin, đã viết bài lấy tin xong và giờ muốn trở về. Chenaul từ chối ko cho họ lên trực thăng vì việc chuyển thương binh vẫn chưa xong còn đám nhà báo thì cứ nằng nặc đòi chỗ.

Muldoon nhìn 3 tay dân sự. Rõ ràng là họ đang sợ hãi. Anh kiên trì giải thích rằng họ sẽ ko được bay khỏi cao điểm nếu thương binh chưa được sơ tán hết. Rồi anh quay qua Chenault và lớn tiếng bảo anh này: "Nếu tay phóng viên nào cố lên máy bay khi chưa được phép thì cậu cứ bắn vào chân hắn ta trước rồi sau đó mới được cho lên tàu."

Ngay cả trung tá Partain cũng gặp rắc rối với cánh nhà báo. 1 nhóm phóng viên cứ quấy rầy ông trên đường băng Đắk Tô đòi lên cao điểm 875. Partain nói với họ rằng đồ ăn, đạn dược là những thứ được ưu tiên hàng đầu nên ko có dư chỗ cho phóng viên và hứa sẽ cho họ lên đó ngay khi có thể.

Sau đó khi đã có chỗ trên chiếc Hue, Partain mời các phóng viên leo lên. Ông nói: "Nhưng, các trực thăng sẽ phải trở thương binh trong chuyến về nên bất cứ ai lên đó sẽ phải ở lại qua đêm." Không thấy ai hưởng ứng lời mời của Partain hết.

Đại úy Ken Smith quá giang lên cao điểm 875 vào thứ 4. Anh vừa trở về sau chuyến nghỉ phép ở Hawaii trong lúc tiểu đoàn cũ tiến lên cao điểm. Các báo cáo thiệt hại khiến anh phát hoảng. Anh quen rất nhiều người trong số họ. Từ cha Watters cho đến Bart O'Leary. Giờ thì người đã chết, người thì bị thương nặng. Dù biết việc mất bạn trong đời lính là chuyện bình thường, anh vẫn ko thể cầm lòng được.

Smith đặc biệt lo lắng về tin tức bạn mình là thượng sĩ nhất Mike Deeb. Nghe nói Deeb đang bị thương nặng nhưng ko có thêm thông tin gì về ông cả. Smith kiểm tra danh sách lính dù đã qua trạm cứu thương đại đội nhưng ko thấy tên của Deeb. Rồi sau đó Smith lại nghe Deeb vẫn còn ở trên cao điểm vì địch quân bắn rát quá nên ko thể chuyển ra.

Mình sẽ đưa anh ấy ra, Smith tự nhủ. Ko thể để Deeb cứ mòn mỏi chịu đựng đau đớn như thế nên anh đã xin quá giang trên 1 chiếc Huey. Khi đặt chân lên đến cao điểm, Smith ngỡ ngàng trước những cảnh tượng mình thấy. Quang cảnh như ở dưới địa ngục. Sự hoang tàn đổ nát ngự trị khắp nơi. Trực thăng bay vè vè trên đầu. Những thương binh vẫn còn choáng váng đang đi tìm lính cứu thương hay trực thăng tải thương. Quân trang, quân dụng rải đầy mặt đất. Các phóng viên chiến trường đi lang thang cố tìm những người đã tham chiến để phóng vấn. Thỉnh thoảng xen giữa sự hối hả bát nháo đó là những quả đạn cối hay những loạt súng máy của bộ đội Bắc Việt.

Smith giành nhiều thời gian trong ngày để tìm kiếm Deeb. Anh ko chỉ tìm trong số thương binh mà còn trong cả những đống xác người nữa. Khi đã hầu như mất hết hy vọng tìm ra bạn mình thì anh gặp 1 người khẳng định với anh rằng Deeb đã được tản thương rồi. Nghe vậy Smith mới chịu quay về ban tham mưu lữ đoàn ở Đắk Tô.

Vào hôm thứ 4, đại úy Joseph Grosso, bác sĩ tiểu đoàn đã tình nguyện lập 1 trạm sơ cứu trên cao điểm 875.

Grosso đi cùng 1 lính quân y có biệt danh là Pee Wee đã mang theo lên trực thăng huyết tương, albumin, cùng nhiều thuốc men, dụng cụ y tế khác. Khi đáp xuống, Grosso và Pee Wee nhảy ra, bốc hàng hóa xuống rồi thiết lập 1 trạm sơ cứu tiếp giáp ngay với bãi đáp.
 
Thời gian trôi rất nhanh lúc Grosso mổ cho thương binh, may vết thương và chuẩn bị cho họ chuyển tiếp về tuyến sau. Anh cho để những ca vô phương cứu chữa qua bên để có thể cứu chữa cho những người có hy vọng sống cao hơn.

Khi chăm sóc cho thương binh xong xuôi, Grosso tham gia thu nhặt người chết. Với anh thì hình như đâu đâu cũng có xác lính. Anh tìm thấy có những lính dù chết tay vẫn nắm chặt súng, tay chân cứng cả lại. Grosso cũng tới thu nhặt những mảnh xác người quanh chỗ bị bom đánh trúng. Cái công việc thu thập chân tay phèo phổi rồi gom lại để nhận dạng thật là ghớm ghiếc, kinh sợ nhưng vẫn phải cố làm xong.

Cha Peters từ căn cứ 16 đáp trực thăng đến cao điểm 875 ngay khi vừa có chỗ. Cũng như những người khác, trận tàn sát trên cao điểm khiến cho vị linh mục bị sốc. Ông ko thể chịu đựng nổi những cảnh như thế nhưng có rất nhiều đang người cần ông giúp đỡ. Cha Peters kề vai sát cánh làm việc cùng cánh lính quân y, ông giúp đưa thương binh đến trạm, khiếng cáng ra trực thăng và quan trọng nhất là tiến hành an ủi tinh thần cho đám 'thiên binh'.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 29 Tháng Mười, 2014, 11:11:35 AM
Khi thương binh đã được sơ tán hết, cha Peters liền quay sang những người chết. Ko phân biệt vào những tôn giáo được khắc trên thẻ bài vị linh mục lại bận rộn ban thánh lễ Công giáo La mã lần cuối cho tất cả những người chết.

Khi thiếu tá Scott đi lên cao điểm, thượng sĩ Okendo theo cùng ông với vai trò của thượng sĩ cố vấn tiểu đoàn. Cảnh tan hoang trên cao điểm 875 gợi nhớ đến những quả đồi bị pháo kích tan nát ở Triều Tiên. Đối với ông thì đó cũng chưa có gì là lạ. Nhưng điều gây sốc chính là tổn thất về nhân mạng. Okendo kinh ngạc khi nhìn thấy xác lính chất thành đống thành tới 4,5 lớp nằm đợi đến khi sơ tán xong thương binh mới được chở về nhà xác tại Đắk Tô. Trong số những lính tiểu đoàn 2 sống sót, Okendo thấy nhiều người vẫn còn bị sốc. Có những người cứ khóc nức nở mãi ko thôi. Suốt 20 năm làm lính dù ông chưa bao giờ chứng kiến điều gì tương tự như thế.

Trong khi thiếu tá Scott đang bận ngập đầu trong việc giám sát sự chuẩn bị cho trận đánh ngày mai thì Okendo đi thăm nom lính tráng.Thái độ bình tĩnh của ông giúp các binh sĩ yên tâm hơn, khiến cho họ tự tin hơn vào chiến thắng. Ông giúp họ xắp xếp trang thiết bị, đảm bảo việc có đầy đủ đạn dược, nước uống, đồ ăn cho trận đánh ngày mai. Okendo  với vốn kinh nghiệm chiến đấu phong phú đã chỉ dẫn cho các tiểu đội trưởng chiến thuật tác chiến cho ngày hôm sau.

Lúc bình minh ngày thứ 5, 23 tháng 11 hứa hẹn nhiều việc sôi nổi và hứng thú. 'Thiên binh' biết ngày hôm đó họ sẽ phải tiến lên cao điểm. Họ phải chiếm nó bằng được, ko còn cách nào khác. Đối với phần lớn bọn họ, cao điểm giờ đây mang đầy đủ đặc tính riêng của con người. Hắc ám, ảm đạm và xấu tính, bản thân cao điểm 875 cũng chính là 1 kẻ thù ghê gớm. Nhưng dù nó có nguy hiểm, đáng sợ đến đâu các lính dù đều tin tưởng sẽ đánh bại được nó. Tuy nhiên đó sẽ là trận đánh một mất một còn.

Specialist 4 Duffy cũng chẳng hy vọng là mình sẽ sống sót. Đối với anh đó như 1 canh bạc được ăn cả ngã về không. Anh nhìn quanh và thấy lính dù chẳng còn lại nhiều. Nếu như cố gắng lần này vẫn ko chiếm được cao điểm, thì họ cũng chẳng còn sức lực đâu để làm lại lần nữa. Và quân Bắc Việt chắc chắn sẽ diệt sạch bọn họ.

Giống như hôm thứ 3, những giờ đầu của buổi sáng đỉnh cao điểm 875 lại 1 lần nữa chìm trong trận oanh kích của phi pháo. Từ vị trí của mình trên đầu chu vi phòng thủ, đại úy Leonard lại làm nhiệm vụ điều phối hỏa lực bắn phá. Từ 9g39 đến 10g15, 5 chiếc F-100 đã ném 4 tấn bom phá, 3 tấn napalm và nã 2400 viên đạn đại bác 20ly xuống cao điểm. Leonard thông báo rằng bom đã đánh trúng mục tiêu.

Ở phía sau chu vi phòng thủ, cha Peters đã lập bàn thờ trên 1 đống hộp đựng khẩu phần C rỗng. 'Thiên binh' thuộc đủ các tôn giáo đang tụ tập xung quanh để nghe lễ. Cha Peters ban phép cho tất cả những ai có nhu cầu. Rất nhiều người ko phải là tín đồ công giáo cũng tham gia buổi lễ. Sau đó vị linh mục lên vị trí của những lính dù trên tuyến đầu để ban lễ cho họ.

Đến 11g thì đại úy gọi điện đài. 1 đợt bắn chuẩn bị do khẩu cối 81 ly của các trung đội hỏa lực của 3 đại đội rót xuống vùng đất trước mặt đại đội Charlie và đại đội Bravo. Khi cối dứt, Leonard nhìn trung úy Lindseth rồi nói: "Đi nào."

Lindseth truyền lệnh lại cho trung đội. Rồi bật dậy khỏi vị trí và xông lên dốc. Hỏa lực đón chào rời rạc của đối phương khiến anh bất ngờ. Anh tự hỏi: "Bọn khốn đang làm định gì đây?"

Lindseth nhìn thấy căn hầm chiến đấu đầu tiên cách chỗ mình vừa nhảy lên 30m. Ko hề lưỡng lự, viên sĩ quan nhảy vào trong hố. Dưới đáy hố là 1 thương binh Bắc Việt đang nằm co quắp. Lindseth lấy mũi súng chọc vào người lính đối phương. Người lính Bắc Việt đã bất tỉnh. Lindseth nhảy ra khỏi hầm và tiếp tục xông lên.

Quanh anh các lính dù khác của đại đội Bravo cũng đang ùa qua vùng đất tan hoang. Họ gào thét hết cỡ, xông thẳng về phía đối phương.

“Geronimo!”

"Nhảy dù đây"

"Chết đi, thằng khốn!"

Những tiếng chửi thề tục tĩu vang lên dậy đất gần như át cả tiếng những loạt M16 hay M60 mà đám lính dù bắn ra.

Đại úy Connolly đi bên phải đang phải hô lính mình cố giữ cự ly sát với đại đội Bravo. Anh ko muốn 2 đại đội cách nhau xa quá mà để hở sườn và phía sau cho hỏa lực địch. Cứ mỗi lúc thấy trung đội nào dưới quyền bị tụt lại, anh lại phải quát họ giữ đúng cự ly.

Đi ngay phía sau 2 đại đội chủ công là đại đội Alpha của đại úy Muldroon. Nhằm đề phòng những lính địch bị bỏ sót có thể bắn vào lưng các đại đội Bravo và Charlie, quân dù của đại đội Alpha cẩn thận lục soát từng công sự, từng căn hầm. Giờ tất cả đều đã biết là hầm của bộ đội Bắc Việt được nối với nhau bằng địa đạo, thế nên dù cái hầm đã bị diệt họ vẫn phải tiếp cận 1 cách thận trọng vì sợ lính Bắc Việt lại lẻn trở lại.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 30 Tháng Mười, 2014, 09:26:00 AM
Tiến sau đại đội Alpha là quân của tiểu đoàn 2, những người đảm nhận nhiệm vụ đưa thương binh về tuyến sau. Trung úy Harrison chỉ huy chừng 2 chục lính thuộc đại đội Alpha, tiểu đoàn 2/503. Ban đầu thì tiểu đoàn 2 ko có trong kế hoạch cho lần công kích quyết định này, nhưng Harrison đã nỗ lực thuyết phục để cho tiểu đoàn được quyền góp phần tham gia.

Đại úy Grosso đi cùng Harrison. Do ko có thêm thương binh đưa về bãi đáp để cứu chữa nên người bác sĩ cho rằng tốt nhất là mình nên theo cùng binh sĩ.

Đến lúc này thì lính dù đã tiến được 50m đầu tiên. Đạn cối Bắc Việt bắt đầu rơi xuống chỗ bọn họ. Những mảnh kim loại nóng bỏng bay vèo vèo trên sườn cao điểm.

1 quả đạn đáp xuống ngay sau lưng Connolly. Anh ngã quị, tai ù đặc vì tiếng nổ. Máu tuôn ra từ những vết thương do mảnh đạn cối. Mặc kệ, Connolly bật dậy hô lớn: "Tiến lên! Tiến!". Những lính dù đang định tìm chỗ nấp lại tiến ra và tiếp tục công kích.

1 quả đạn cối khác rơi ngay giữ trung sĩ Bull cùng 3 người lính. Bull bị hất bổng lên trời rồi rơi xuống nằm 1 đống. Khi hồi tỉnh anh thấy cả 2 chân, tay phải và cằm đã bị trúng mảnh cối. Một lính cứu thương bò đến nhìn Bull rồi bắt đầu khóc. Bull rất ngạc nhiên khi thấy mình ko đau lắm, bò qua chỗ mấy cậu bạn. 1 người đã chết, 2 cậu kia thì bị thương. Bull băng bó cho họ rồi cả 3 cùng nhau xuống dốc. 1 lính tiểu đoàn 2 hướng dẫn họ xuống chỗ có lính cứu thương đang chờ.

Đại úy Grosso cũng lãnh nhiều mảnh vào lưng vì 1 loạt cối khác. Tuy mảnh đạn ko trúng phải các mạch máu quan trọng nhưng cũng đã làm đứt 1 số dây thần kinh. Grosso quằn quại trên mặt đất, kêu gào đau đớn. Trung úy Harrison gọi lính mang cáng lên và chuyển viên bác sĩ về tuyến sau.

Trung úy Proffitt, ở phía trước Grosso và Harrison 75m, đang thúc số lính dưới quyền còn lại tiến lên. Proffitt lợi dụng địa hình địa vật, nấp sau những đống cây đổ bắn hàng loạt dài M16 và tiến gần đến mỏm cao điểm. Tới lúc nàythì anh đã vượt được nửa chặng đường. Proffitt bắt đầu nhận ra hỏa lực địch quân cản bước mình vẫn chỉ là những phát súng trường rời rạc, những quả đạn cối lẻ tẻ. Anh tự hỏi lẽ nào quân Bắc Việt đã rút mất? Hay đơn giả là địch đang kìm súng để dụ quân dù lọt vào 1 cái bẫy dàn xếp công phu nào đó?

Trung tá Johnson cũng nghĩ tương tự. Từ trên chiếc trực thăng đang lượn vòng vòng trên cao điểm, Johnson có thể nhìn thấy hình dáng những người lính của tiểu đoàn mặc quân phục màu xanh sẫm đang tiến lên sườn cao điểm. Ông rất đỗi ngạc nhiên khi thấy sự kháng cự của đối phương tỏ ra yếu ớt. Có vẻ như chỉ có vài quả đạn cối là còn thỉnh thoảng cầm chân bọn họ. Báo cáo của các đại đội trưởng báo về cũng đã xác nhận điều ông nghĩ.

Đại úy Leonard cũng ngỡ ngàng khi thấy đại đội Bravo phát triển nhanh như thế. Lúc bắt đầu tấn công, lính của anh tiến lên 1 cách rất thận trọng bằng các kỹ thuận vận động và xạ kích bài bản. Đến khi nhận thấy sức kháng cự của đối phương hầu như ko có thì họ trở nên táo bạo hơn, cứ xông bừa lên trước vừa chạy vừa gào thét. 1 cậu lính trẻ hét lên trong lúc chạy ngang qua Leonard :"Nào, bọn khốn. Chui ra chiến đấu đi chứ!"

Leonard hô lính mình thận trọng vì lo rằng họ sẽ trở nên bất cẩn. Anh ra lệnh: "Thảy lựu đạn vào mọi cái hầm. Có thể bọn chúng còn nấp trong đó đó."
Anh cảnh báo những cậu khác: "Ko được nhảy xuống hố. Chúng có thể bị gài bẫy. Cứ quăng lựu đạn vào thôi."

Bên trên tuyến đầu, trung úy Lindseth đã tới gần mỏm cao điểm. Mọi việc đều rất tốt. Anh ko thể tin rằng mình đã lên gần tới đỉnh cao điểm đến vậy. Mặc kệ đạn cối đối phương, anh xốc tới, nhảy qua thân cây đổ và thế là đã lên tới đỉnh cao điểm 875. Lindseth chỉ mất có 20 phút để hoàn tất cuộc tấn công đã kìm chân 2 tiểu đoàn suốt 4 ngày ròng. Các thành viên khác của đại đội Bravo phía sau anh cũng đã lên tới nơi và tản rộng ra. Dù đã thấy nhẹ nhõm hơn hẳn trước vận may của mình, Lindseth vẫn còn lo bị pháo kích bằng súng cối nên anh tìm 1 cái hố sâu nhất rồi nhảy xuống.

Cách đó ko xa, trung sĩ nhất Cates, trung sĩ trung đội phó của Lindseth cũng nhìn thấy người sĩ quan cùng 1 số người khác tiến lên đỉnh cao điểm. Khi thấy thượng sĩ Okendo và thiếu tá Scott tiến qua, Cates liền cười toe toét và vỗ nhẹ vào lưng Okendo. "Có vẻ chúng ta làm được rồi, Okie ạ"

"Ừa. Ta đã lên tới đỉnh." Okendo đáp.

“Chó chết, chúng ta đã chiếm được cái cao điểm khốn nạn này!” Scott kêu lên.

Okendo cùng Scott đi tiếp tới gia nhập cùng những người khác trên đỉnh. Cates, mang theo 1 túi bộc phá nặng tới 10kg đeo chéo sau lưng, cũng nhập nhóm cùng 6 binh sĩ khác.

Khi Okendo đi qua chỗ Cates chừng 15 bước, ông bỗng nghe thấy âm thanh rất đặc trưng khi đạn bay ra khỏi nòng của súng cối Bắc Việt. Ông cùng Scott vội chúi đầu xuống ngay cái 1 hầm gần đó. Tiếp sau là 2 tiếng nổ lớn làm rung chuyển cả sườn cao điểm.

Viên đạn cối địch đã đáp xuống ngay chỗ Cates và kích hỏa luôn túi bộc phá anh này đang đeo. Vụ nổ khiến Cates chết mất xác, 5 người ở lính cạnh anh cũng bị giết, người thứ 6 thì bị hất văng lên trời rồi rơi xuống cạnh Okendo, bị thương nặng.

Okendo ngay lập tức phản ứng, kéo người thương binh xuống hố rồi hét lớn "Cứu thương! Cứu thương lên đây!". 1 lính cứu thương xuất hiện, băng bó rồi nhờ vài người nữa phụ giúp đưa thương binh xuống dốc.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 31 Tháng Mười, 2014, 08:39:54 AM
Ít phút sau đó, 1 viên đạn súng trường đã bắn trúng chân trái đại úy Leonard, trổ ra phía bên kia, làm anh ngã quay. Leonard vẫn ko muốn bỏ lỡ chiến thắng anh gạt người lính cứu thương đang cố băng bó cho mình ra rồi chồm dậy khập khiễng đi tiếp. Anh nhanh chóng lên tới đỉnh, nhập nhóm cùng Lindseth và những người đến trước. Sau anh là những ngưởi khác nữa đang reo hò trước thành công của mình.

Ngay sau đại đội Bravo, những lính dù đầu tiên của đại đội Charlie cũng đã lên đến đỉnh cao điểm. Họ reo hò, vỗ vào lưng nhau bộp bộp và cả khóc nữa. Specialist 4 Duffy đã gọi cối bắn khi đang hành tiến. Anh cho đạn cối bắn xuống cách hàng quân đi đầu chừng 30m. Giờ khi đã lên đến đỉnh anh vui mừng gọi báo về trung tâm chỉ huy hỏa lực: "Chúng tôi đã lên được rồi! Chúng tôi đã ở trên này."

Binh nhất Tauss ngỡ ngàng khi thấy mình bỗng chốc đã lên đến đỉnh cao điểm 875. Do quá chú tâm trong việc vận hành điện đài cho Connolly nên anh thực sự cũng ko để ý mình đã lên được đến chỗ nào nữa. Lúc này khi đang đứng cạnh bên Connolly, Tauss mới lần đầu tiên trong ngày cảm thấy hài lòng. Quang cảnh trọc lóc của mỏm cao điểm quanh anh là minh chứng sống động nhất cho hiệu quả của các cuộc oanh kích. Đó chính là cảnh tượng ở chốn âm ty.

Việc ăn mừng chiến thắng diễn ra ko lâu. Lo ngại bị đối phương phản kích, 3 viên đại úy cho lính vào vị trí phòng thủ. Khi đang tiến hành thì trực thăng của Johnson đáp xuống. Viên trung tá cùng Specialist 4 Jones nhảy ra. Johnson đi xuống giữa đám lính dù đang hân hoan vui sướng, chúc mừng, tuyên dương bọn họ. Sau đó viên trung tá xuống dốc đi thăm thú những vị trí của đối phương.

Hệ thống hầm hào của địch gây cho Johnson ấn tượng mạnh. Các chiến hào sâu đủ để cho 1 binh sĩ đứng thẳng mà ko bị dính đạn. Ở vách hào sau, có các hầm hàm ếch đào cách đều nhau để bộ đội có thể chui vào đó nấp khi bị oanh tạc. Hầm chiến đấu vào chiến hào được liên kết với nhau bằng các địa đạo. 1 số hầm có đắp nắp dày đến gần 2m. Nhiều cái lại được đào giữa bộ rễ của các cây cổ thụ nên vừa được bảo vệ chắc chắn lại vừa khó bị phát hiện.

Nhưng thứ quan trọng nhất đã bốc hơi trên cao điểm chính là xác quân địch. Chỉ có vài chục xác được tìm thấy ở cả bên trên và xung quanh cao điểm. 1 lần nữa quân Bắc Việt lại tránh né thành công trước trận đánh quyết định. Ko biết bằng cách nào, dù bị phi pháo oanh kích liên miên , bộ đội Bắc Việt lại có thể rút khỏi cao điểm 873 mang theo thương binh và phần lớn tử sĩ. Quân dù chẳng hề thấy phấn khởi khi chứng kiến chiến quả của mình nghèo nàn như vậy.

Thông tin tình báo thu thập trên các xác chết và các tài liệu bị vứt bỏ đã xác nhận đối thủ của quân dù là tiểu đoàn 2, trung đoàn bộ binh 174 QĐNDVN. Trấn giữ trên những cao điểm gần đó cũng là bộ đội thuộc tiểu đoàn 3 thuộc trung đoàn này.

Ngay sau khi trung tá Johnson hạ cánh, toán xích hầu của các đại đội thuộc tiểu đoàn 1, trung đoàn 12 bộ binh cũng đã lên đến đỉnh cao điểm 873. Quá trình vận động của 2 đại đội lên phía mặt bắc cao điểm đã ko gặp phải trắc trở gì. Thực ra thì các trường hợp thương vong của họ lại diễn ra từ hôm trước khi 1 chiếc trực thăng Huey bay nhầm hướng đã nã súng xuống đội hình và làm bị thương 9 binh sĩ. Khi tiến vào phòng tuyến của quân dù thì đám bộ binh cũng bắt đầu chiếm lĩnh vị trí phòng thủ.

1 bãi đáp được phát quang bằng mìn trên đỉnh cao điểm. Các ca thương vong giờ đã có thể sơ tán ngay từ mỏm núi. Giữa những chuyến tản thương là các trực thăng chỉ huy chở theo các chỉ huy chóp bu. Tướng Schweiter đến, cùng với Johnson làm 1 chuyến tham quan ngắn rồi lại bay đi. Thượng sĩ cố vấn Rogiers cũng đã tới trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu. Ông ta hỏi Okendo: "Anh cần tôi đến chỗ nào đây?"

"Cứ tìm 1 cái hố đi, thượng sĩ." Okendo đáp.

Thế nhưng trận phản kích ko bao giờ xảy ra cả.

Khi đã thấy rõ rằng đối phương đã từ bỏ quyền kiểm soát cao điểm 875. Quân dù bắt đầu tiến hành việc kiểm tra, thu dọn chiến trường. Trong khi 1 số nỗ lực mở rộng bãi đáp trên đỉnh thì những người khác tỏa ra khắp cao điểm để tìm kiếm tử thi lính Mỹ. Họ tìm thấy rất nhiều xác lính bị giết trong ngày giao chiến đầu tiên. Trung úy Harrison qui tập được cái xác cháy thành than của người bạn cùng khóa là Peter Lantz. Binh nhất Tauss tìm thấy phần đầu và vai của 1 'thiên binh' bị đạn pháo bắn tan xác. Những người khác cũng tìm thấy các tử thi ở trong tình trạng kinh khủng tương tự. 1 số xác đã nát bấy nên họ phải dùng tới xẻng để hót bỏ vào túi đựng xác.

Thêm nhiều bác sĩ cùng lính cứu thương nữa được gọi tới. Khi cao điểm đã an toàn, các toán quân y đã thiết lập 1 trạm điều phối ngay gần bãi đáp mới. Họ chăm sóc, cứu chữa thương binh tại đây. Trong số thương binh có đại úy Leonard, anh sớm được đưa đến Pleiku để chữa vết thương nơi chân. Trung úy Lindseth lên nắm quyền chỉ huy đại đội Bravo.

Đại úy Connolly cũng sớm rời khỏi cao điểm 875 chiều hôm ấy nhưng ko phải là đi chữa trị. Anh là ứng viên cho vị trí sĩ quan phụ tá của tướng Rosson và đi để cho các sĩ quan cấp trên phỏng vấn. Connolly ko hề muốn nhận chức vụ đó nên cũng chẳng cảm thấy thất vọng khi bị loại.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 03 Tháng Mười Một, 2014, 09:36:14 AM
Tới 16g30 thì trực thăng Chinook bắt đầu đáp xuống cao điểm 875 để sơ tán những thành viên tiểu đoàn 2/503 còn lại. Công việc đã được hoàn tất mà ko cần tốn nhiều trực thăng. Chỉ còn chưa đến 18 thành viên của đại đội Charlie, tiểu đoàn 2/503 đến nhập cùng trung sĩ Welch và Specialist Zaccone leo lên máy bay. Bên đại đội Alpha, trung úy Harrison cũng chỉ còn chỉ huy chừng 20 chục mạng. Trung úy McDonough của đại đội Dog cũng vậy.

Mấy chiếc Chinook đưa các 'thiên binh' tiểu đoàn 2 về căn cứ pháo binh 12. Khi đáp xuống, nhiều lính dù đã tỏ ra bối rối vì những biểu hiện dửng dưng, thờ ơ trước những thứ khốc liệt mình đã trải qua. 1 thượng sĩ cố vấn xáp lại gần binh nhất Orona rồi mời anh ra xếp hàng chờ phát bữa ăn lễ Tạ ơn.

Hừ, Lễ Tạ Ơn, Orona nghĩ. Anh đã quên béng nó. Nhưng Orona chẳng còn bụng dạ nào để thưởng thức món gà tây nữa. Anh cứ lang thang cho đến khi tìm thấy căn hầm nơi anh cùng các bạn đã từng ngủ đêm trong căn cứ. Giờ thì chỉ còn lại có mình anh. Chẳng hiểu vì sao mà anh cảm thấy 1 nỗi cô đơn và sự buồn đau vô hạn.

Trung tá Johnson đã bay đến cao điểm 875 dùng bữa Tạ Ơn. Trong thứ ánh sáng chập choạng ngày 23 tháng 11, những lính dù tiểu đoàn 4/503 mệt mỏi đứng xếp hàng trước dãy thùng bốc hơi nghi ngút nhận xuất gà tây và rau củ bỏ vào khay đồ ăn của mình. Hầu hết các binh sĩ đều hăm hở đánh chén nhưng cũng có nhiều người không ăn, dù rất xứng đáng để được nhận sự cảm kích vì họ ko còn tâm trạng nào để tham dự 1 bữa tiệc lễ hội bình thường được nữa.

Những cuộc tuần thám được tung ra quanh cao điểm 875 vào hôm sau. Thêm 1 số xác quân địch nữa bị phát hiện nhưng ko quá con số 100. Chúng được chôn trong 1 hố chôn tập thể trên chính cao điểm.

Phải mất mấy ngày thì con số thương vong trên cao điểm 875 mới được xác định. Sau khi kiểm điểm quân số, lữ đoàn dù 173 đưa ra những thống kê sau: Tiểu đoàn 2/503 có 87 lính tử trận, 130 bị thương, 3 mất tích. Tiểu đoàn 4/503 tổn thất 28 mạng, 123 bị thương, 4 mất tích.

Ngày 25 tháng 11 năm 1967, tiểu đoàn 4/503 được trưng thăng bốc khỏi cao điểm 875 trong khi tiểu đoàn 1, trung đoàn 12 bộ binh vẫn duy trì sự hiện diện xung quanh cao điểm. "Thiên binh" sẽ được đưa về Đắk Tô để tái tổ chức.
 
Chương 15
Hậu quả





Đại tướng Westmoreland ko ở tại nam VN trong hầu hết thời gian diễn ra các trận đánh tranh quanh vùng Đắk Tô. Ông được tổng thống  triệu về từ hôm 15 tháng 11 để nói chuyện về cuộc chiến tranh với công chúng và báo giới Mỹ. Sự bất đồng chính kiến với những chính sách của Johnson tại Đông Nam Á ngày càng dâng cao với đỉnh điểm là cuộc biểu tình của 35.000 người diễn ra tháng 10 tại Lầu 5 góc càng thúc đẩy việc triệu hồi. Johnson muốn Westmoreland tán dương những khía cạnh tích cực của cuộc chiến với nhiều khán thính giả nhất có thể. Chuyến đi bỏ lại những trận đánh khốc liệt quanh Cồn Tiên và Lộc Ninh ở phía sau. Trong khi cuộc tàn sát lính dù vẫn đang diễn ra trên cao điểm 875 thì chuyến đi của Westmoreland lại cố nhằm làm dịu đi phần nào mối quan tâm của nhiều người Mỹ.

Trong lần xuất hiện quan trọng nhất của mình, tại hội nhà báo quốc gia vào ngày 21 tháng 11, Washington đã đưa ra 1 đánh giá rất lạc quan về cuộc chiến. Đề cập trực tiếp đến các trận đánh tại Đắk Tô, Westmorelan nói với những người dự khán:"...kẻ thù tiến hành chiến dịch là do ảo tưởng rằng những sức ép chính trị (tại Mỹ) kết hợp với sự thất bại chiến thuật của 1 đơn vị lớn sẽ đẩy được nước Mỹ vào tình thế khó khăn."

Westmoreland tiếp tục nói cuộc chiến tranh ở namVN đang ở trong cái mà ông ta gọi là "giai đoạn 3". Trong giai đoạn này, theo Westmoreland, Hoa Kỳ ko những tiếp tục tiêu diệt quân thù mà còn tăng cường những nỗ lực xây dựng quân đội nam VN. Sau đó, khi mà quân lực VNCH đã có khả năng đảm trách vai trò lớn hơn trong chiến tranh thì quân Mỹ, trong giai đoạn 4, có thể bắt đầu hồi hương.

Westmoreland luôn cẩn thận tránh tiết lộ cho phía truyền thông những dự kiến chính xác khi nào thì sẽ bắt đầu giai đoạn 4. Tuy nhiên lần này ông ước tính quân Mỹ sẽ có thể rút trong "2 năm hoặc sớm hơn". Dù những ước tính này sau này đã được chứng minh là rất chính xác, nhưng lý do rút quân thì lại khác xa với hình dung của Westmoreland.

Có phóng viên đã hỏi Westmoreland trong cuộc họp báo rằng liệu ông có nghĩ là: "...trận đánh tại Đắk Tô có phải là điểm khởi đầu hay kết thúc đặc biệt gì dành cho đối phương ko?"

Ông tướng trả lời 1 cách rất tự tin: "Tôi nghĩ đây là khởi đầu cho 1 thất bại nặng nề nhất của quân thù."

Khi trở lại nam VN vào ngày 29 tháng 11, Westmoreland đã được các tướng Rosson, Peers, và Schweiter báo cáo sơ lược về trận đánh ở vùng Đắk Tô. Dù đồng ý cho rằng sư đoàn 4 bộ binh, lữ đoàn dù 173 và các đơn vị phối thuộc đã phá vỡ được ý đồ tiêu diệt 1 đơn vị lớn quân Mỹ của tướng Giáp, Westmoreland cũng bị sốc trước mức thương vong mà quân Mỹ đã phải chịu để làm được điều này.

Cả thảy có 376 lính Mỹ chết trận hoặc được liệt kê là mất tích và coi như đã chết, trong chiến cuộc tại Đắk Tô. 1.441 người khác bị thương.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 04 Tháng Mười Một, 2014, 09:56:11 AM
Tổn thất của lữ đoàn dù 173 là 208 tử trận, 645 bị thương trong các trận đánh. Ngày 1 tháng 11 năm 1967, có 5228 sĩ quan và binh lính được ồ ạt bàn giao về cho cho lữ đoàn. Khoảng 3200 trong số đó được điều lên Đắk Tô. 27% số này bị thương vong trong các trận đánh. Thậm chí mức thiệt hại trong các đại đội súng trường còn nặng nề hơn nữa.

12 đại đội súng trường được triển khai đến Đắk Tô khi bắt đầu hành quân có trung bình khoảng 125 sĩ quan và binh lính mỗi đại đội. 90% thương vong của lữ đoàn là nằm trong các đơn vị này. Các đơn vị súng trường đã bị tổn thất 51% chỉ trong vòng có 1 tháng! Có chừng 60 lính dù bị chết - chiếm 21% - là do bị quân mình bắn lầm. Vậy thì làm sao mà tướng Westmoreland chẳng bị sốc?

Westmoreland cật vấn tướng Rosson tại sao ko thể tránh được việc bị thương vong kinh khủng như vậy? Rosson trả lời là vì do pháo binh và không quân chi viện chưa đủ.

Con số bộ đội Bắc Việt tử trận được báo cáo qua đếm xác là 1644. Vì đơn vị nào đếm được càng nhiều xác thì chỉ huy đơn vị sẽ càng được đánh giá cao nên con số này là rất đáng ngờ. Westmoreland cũng viết trong hồi ký của mình là quân địch bị chết 1400 nhưng ko đưa ra nguồn của con số này. Tướng Rosson lại rất nghi ngờ với con số thống kê đó. Theo ước tính của ông thì quân Bắc Việt ở toàn vùng Đắk Tô tổn thất ko quá 1000 quân.

Chẳng biết độ chính xác của những con số này ra sao, nhưng ko thể phủ nhận rằng quân Bắc Việt cũng đã bị giáng 1 đòn nặng. 3 trung đoàn 32, 66,174 thuộc sư đoàn 1 bộ binh của nó đã phải về lại Campuchia để hồi sức, bổ sung quân mà ko tham dự chiến dịch đông xuân. Chỉ có trung đoàn 24 Bắc Việt là còn có thể ra trận trong chiến dịch tiến công tháng 1 năm 1968.

Lúc này khi các trận đánh ở Đắk Tô đã ngưng, tướng Westmoreland chuyển mối quan tâm lên phía bắc. Tình  báo cho biết quân Bắc Việt đang toan tính tràn ngập căn cứ TQLC đã bị cô lập tại Khe Sanh. Họ hy vọng điều này sẽ gây cho Mỹ 1 thất bại mang tính quyết định, tương tự như chiến thắng của họ ở Điện Biên Phủ trước quân Pháp năm 1954. Westmoreland lên kế hoạch tiếp chiến với đối phương trên những cao điểm xung quanh Khe Sanh và giáng cho địch 1 đòn quyết định, chấm dứt các hoạt động quân sự của họ tại miền nam VN và khiến cho lãnh đạo của họ, cuối cùng cũng phải đi tới thỏa thuận ngừng bắn.

Trận đánh chiếm cao điểm 875 đã kết thúc và thực tế cũng đã chấm dứt các trận đánh của lữ đoàn 173 ở vùng Đắk Tô. Tuy vẫn còn những cuộc đụng độ nhỏ với các toán lính Bắc Việt đang thoát ra, nhưng chúng chỉ là những cuộc chạm súng ngắn ngủi. Tiểu đoàn 1/503 tiếp tục tuần tra trong vùng lân cận cao điểm 882 để tìm kiếm dấu vết quân thù nhưng ko có đụng độ lớn nào cả.

Tiểu đoàn 2 và tiểu đoàn 4/503 dành những ngày cuối cùng của tháng 11 để bổ sung quân và huấn luyện cho họ bằng cách cho đi tuần tra quanh các căn cứ pháo binh. Quân dù rất thất vọng và tức giận vì những lính mới đến chẳng biết gì về nhảy dù. Do quá thiếu lính dù nên đành phải sử dụng cả bộ binh thường. Việc họ gia nhập chỉ là biện pháp tạm thời và chỉ kéo dài đến khi có quân dù mới huấn luyện tới thay thế. Nhiều "thiên binh" lúc đầu đã đối xử nhạo báng khinh bỉ đám lính bộ. Họ ko những coi mình là cao cấp hơn mà còn thấy việc dùng bộ binh thay thế là điều xúc phạm với các chiến hữu dù đã nằm xuống. Nhưng đến khi quân dù đã quen dần với lính bộ binh thì sự thù địch đã giảm bớt và nhường chỗ cho tình bạn hữu.

Cuộc giao tranh trên mặt đất cuối cùng trong trận chiến Đắk Tô diễn ra ngày 30 tháng 11. Vào tối hôm trước, toán viễn thám của Sp4 Irvin Moran đã được thả xuống khu rừng gần ngã 3 biên giới Lào, nam VN, Campuchia. Họ qua đêm an toàn. Sáng hôm sau toán bắt đầu đi thám thính. Họ đi qua rất nhiều lối mòn nhưng ko thấy quân địch. Đến khoảng 9g30 thì Moran và trưởng toán là Sp4 Nick Brook đã đi men theo 1 lối mòn còn mới cách số lính còn lại 20m. Linh cảm thấy có cái gì đó, cả 2 nhẹ nhàng lần đến sát đường mòn. Bỗng sự yên tĩnh bị phá vỡ bởi 1 tràng M16.

Có 3 bộ đội đối phương - 1 lính già cài lá ngụy trang khắp người dẫn đầu 2 bộ đội có vẻ mới đến - đang đi trên đường. Phát giác 1 lính viễn thám, tay lính già nâng khẩu AK-47 lên nhưng chưa kịp bóp cò thì Sp4 Robert Noel, quê Colorado Spring đã bật dậy và quạt 1 tràng M16. Cả 3 lính Bắc Việt đều bị hạ.

Moran cùng Brooks vội lao bổ về phía tiếng súng. Khi thấy 1 địch quân còn động đậy, Brooks nã bồi 1 loạt M16. Ko còn thấy động cựa gì nữa.

Brooks giục: "Thu súng rồi đi thôi. Có lẽ bọn khác đang gần đây đó."

Trong vòng mấy phút, 5 người phóng xuống 1 con dốc đua về phía điểm bốc quân. Điện đài viên liên tục gọi vào điện đài từ “Timber!", đây là mật hiệu xin rút ra ngay lập tức. Khi đến nơi, họ phát hiện có nhiều chuyển động 2 bên sườn. Brooks gọi trực thăng vũ trang đến đến oanh kích xung quanh. Sau đó 1 chiếc trực thăng chở quân xuất hiện, bay lơ lửng trên không và thả dây xuống. Moran cùng 2 người khác bám chặt vào sợi dây thừng và được kéo lên, lắc lư xoay vòng vòng dưới bụng chiếc trực thăng. Từ trên đó Moran có thể nhìn thấy bộ đội Bắc Việt đang tiến sát đến vị trí của Brooks.

Nhưng Brooks cùng điện đài viên nhận thấy đối phương ko biết đích xác nơi họ đang nấp nên đã khôn khéo ghìm súng ko bắn. Ít phút sau chiếc slick thứ 2 đến với dây đã được thả sẵn. Hai lính viễn thám bám ngay vào dây rồi ra hiệu cho kéo lên.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 05 Tháng Mười Một, 2014, 02:05:03 PM
Sau đó Brooks  kể lại: "Bọn tôi rời mặt đất chừng chục mét thì đạn địch ập đến. Tôi bắn vào quân Bắc Việt trong khi vẫn còn lơ lửng trên sợi dây thừng. Mấy chiếc trực thăng vũ trang đã cứu mạng bọn tôi. Chúng làm việc thật xuất sắc."

Ít phút sau thì Brooks cùng điện đài viên đã tái ngộ với 3 đồng đội gần 1 căn cứ pháo binh của sư đoàn 4 bộ binh.

Đêm hôm đó, trong 1 động thái rõ ràng là khiêu khích, bộ đội Bắc Việt dùng cối 82mm và đạn rocket 122mm pháo kích căn cứ pháo binh 12. Từ 18g35 đến 19g45 gần 25 quả đạn đã được rót xuống căn cứ. Kết quả cuộc trận bắn phá là 1 lính dù thiệt mạng, 9 người khác bị thương.

Vào nửa đêm ngày 1 tháng 12, tướng Rosson thông báo trận Đắk Tô đã kết thúc. Bộ chỉ huy quân Mỹ MACV đã phát hành thông cáo báo chí ca ngợi chiến thắng vĩ đại ở Đắk Tô nhưng tướng Rosson cùng những người đã tham chiến còn sống trở về thì ko nghĩ vậy. Chắc chắn quân Mỹ đã đầy lùi được bộ đội Bắc Việt ra khỏi khu vực, nhưng đối phương vẫn chưa bị đánh bại và 1 ngày nào đó sẽ quay trở lại. Tuy Mỹ hiện đang kiểm soát 1 số cao điểm chiến lược nhưng họ rồi cũng sẽ sớm rời khỏi đó và trả chúng lại cho núi rừng và địch thủ.

 Và tướng Rosson cũng hiểu rằng lữ đoàn 3 đã bị thiệt hại nặng. Trong cuộc hội thảo với Westmoreland, Rosson đã khuyến cáo rằng lữ đoàn, đặc biệt là tiểu đoàn 2 cùng tiểu đoàn 4/503, cần phải có thời gian để chỉnh đốn, bổ sung, tái tổ chức và huấn luyện. Westmoreland đã đồng ý. 3 tiểu đoàn lúc này được chỉ thị chỉ tiến hành các cuộc tuần tiễu nhẹ nhàng quanh căn cứ của họ. Đến giữa tháng 12 thì cả 3 tiểu đoàn được rút khỏi Đắk Tô: Tiểu đoàn 1 và tiểu đoàn 2/503 được chuyển đến Kon Tum đến chiến đoàn dưới quyền đại tá Powers còn tiểu đoàn 4/503 cùng lữ đoàn bộ sẽ quay về lại Tuy Hòa hỗ trợ tiểu đoàn 3 trong chiến dịch Bolling. Đầu tháng Giêng, các lực lượng của tiểu đoàn 2/503 tới Buôn Ma Thuột để tăng cường cho quân đồn trú chống lại các cuộc tấn công đã được dự kiến của VC.

Trước khi rời Đắk Tô, 'thiên binh' tổ chức lễ mặc niệm "giày ống" theo truyền thống. Với lòng tiếc thương vô hạn những đồng đội đã bỏ mình, lính dù sếpnhững đôi giày trận thành nhiều hàng mỗi 1 đôi tượng trưng cho 1 lính dù ngã xuống. Đa số "thiên binh" đều tỏ vẻ xúc động khi nhìn thấy hàng trăm đôi giày được xếp thành hàng thẳng tắp. Đó là 1 buổi lễ ko thể nào quên.

Để ghi nhận lòng dũng cảm xuất sắc mà các thành viên lữ đoàn dù 173 (độc lập) đã thể hiện, Bộ trưởng lục quân (Secretary of the Army) Clifford Alexander đã trao tặng lữ đoàn bằng khen của Tổng thống (Presidential Unit Citation) về những trận đánh ở Đắk Tô. Phần thưởng này cũng tương đương như khi người lính được tặng huân chương Thập tự  Distinguished Service Cross vậy.

Sau trận Đắk Tô, lữ đoàn 173 ko còn hoạt động như 1 đơn vị hoàn chỉnh nữa. 4 tiểu đoàn cơ động của nó chia ra phục vụ ở các vùng khác nhau tại nam VN trong 6 tháng đầu năm 1968. Tiểu đoàn 4/503 vẫn ở Truy Hòa khi cuộc Tổng tiến công Tết diễn ra, các đại đội của nó, đặc biệt là đại đội Dog đã chiến đấu nhiều trận rất ác liệt với quân Bắc Việt và VC. Cũng trong dịp Tết này tiểu đoàn 2/503 đã phải tham dự nhiều trận đáng gay go trên vùng Buôn Ma Thuột.

Khi tướng Westmoreland rời miền nam VN tháng 6 năm 1968 về làm Tham mưu trưởng Lục quân, thì người kế nhiệm là tướng Creighton Abrams nhanh chóng tiến hành cuộc chiến theo 1 chiến lược khác. Các cuộc hành quân ko còn ở quy mô tiểu đoàn nữa mà xuống thành các cuộc truy quét cấp đại đội. Khi các đơn vị VNCH đã có thể đảm đương trách nhiệm chiến đấu nặng nề hơn thì quân Mỹ rút về các căn cứ pháo binh lớn và từ đó tiến hành các chuyến tuần tiễu ban ngày, phục kích ban đêm.

Lữ đoàn dù 173 hoạt động ở tỉnh Bình Định trong thời gian còn lại của chiến tranh. Đây là 1 vựa gạo lớn nằm dưới sự kiểm soát của VC. Nhiệm vụ chính của 'Thiên binh" là bảo vệ 1 số thôn làng tiêu biểu, nâng cao sức chiến đấu cho lực lượng địa phương quân. Để làm việc này, lính dù đã tổ chức ra các toán cố vấn nhỏ tới huấn luyện kỹ năng tác chiến cho địa phương quân.

Đến mùa xuân năm 1971 thì Mỹ đã rút gần hết quân ra khỏi miền nam VN. Bắt đầu từ tháng 4 năm 1971, lữ đoàn 173 được tái triển khai ở căn cứ Fort Campbell, Kentucky. Đến ngày 25 tháng 8 thì việc chuyển quân đã hoàn tất. Qua 6 năm tham chiến, lữ đoàn dù 173 giữ kỷ lục về thời gian phục vụ tại nam VN. Trong thời gian ấy, có 1.748 'thiên binh' đã bỏ mình, hơn 8.700 bị thương để phục vụ cho chính sách của Mỹ tại miền nam VN.

Trong 1 buổi lễ tại căn cứ Fort Campbell ngày 14 tháng 1 năm 1972, lữ đoàn dù 173 đã bị giải thể.

Tháng 6 năm 2000, đáp ứng đòi hỏi phải có lực lượng phản ứng nhanh, lữ đoàn 173 lại được tái lập tại Vicenzo, Ý. Lữ đoàn 1 lần nữa lại được đón những lính nhảy dù mới ra tốt nghiệp cùng các cựu binh dạn dày kinh nghiệm và tất cả đều sẵn sàng đón nhận mọi thách thức phức tạp trong thế giới hiện đại.

3 năm sau đó, vào ngày 26/3/2003 sau khi Mỹ xâm lược Irắc. Hơn 1000 thành viên của lữ đoàn đã nhảy dù xuống Kirkuk, Irắc trong 1 cuộc nhảy dù lớn nhất kề từ hồi chiến tranh TG thứ 2. Số quân còn lại của lữ tới sau đó bằng máy bay vận tải. Lữ đoàn được triển khai ở Irắc cho đến mùa thu năm 2003.

1 năm rưỡi sau đó, tháng 2 năm 2005, toàn thể lữ đoàn lại được triển khai đến Afghanistan phục vụ 14 tháng.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 06 Tháng Mười Một, 2014, 08:19:08 AM
Sau khi trở về Ý cuối mùa xuân năm 2006, bộ Lục quân đổi tên lữ đoàn thành Lữ đoàn tác chiến dù 173 (173d Airborne Brigade Combat Team) với 6 tiểu đoàn đóng quân trên các địa điểm khác nhau ở Đức và Ý. Từ những căn cứ trên, các đơn vị của lữ đoàn sẽ sẵn sàng cho việc triển khai đến bất kỳ nơi nào mà cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu cần đến.

Sau trận đánh gay go, khốc liệt kéo dài trên cao điểm 875, câu hỏi đặt ra là trận đánh có cần thiết hay ko? Lợi ích của việc chiến đấu giành cao điểm này là gì?

Chiến lược cơ bản để đánh bại kẻ thù của tướng Westmoreland ở nam VN là đánh tiêu hao. Rất đơn giản, dễ hiểu. Đó là tiêu diệt với số lượng sao cho quân thù ko kịp bù đắp tổn thất dẫn đến cuối cùng chúng phải bỏ cuộc. Vì thế Westmoreland tung ra rất nhiều cuộc hành quân tìm diệt với quy mô nhiều tiểu đoàn nhằm mục tiêu là "tìm kiếm, gom lại rồi tiêu diệt" quân thù.

Ko như các cuộc chiến tranh trước đó, khi mà giao tranh là để giành những truyến giao thông quan trọng, những cây cầu, thành phố, cảng biển và v..v. Ở nam VN lại ko tồn tại những mục tiêu như vậy. Thay vào đó quân Mỹ lại được điều đến những nơi mà người ta tin rằng có địch để họ tiến hành lùng sục và tiêu diệt. Đến khi giao tranh chấm dứt thì quân Mỹ sẽ lại rút đi.

Ko phải ai cũng đồng tình với chiến lược "tiêu hao". Đại tá John Powers, lữ đoàn phó, biết rõ gì sẽ tiếp diễn sau khi trận đánh kết thúc. Ông biết bộ đội Bắc Việt sẽ sớm giành lại cao điểm 875 và quân Mỹ rồi sẽ lại phải đi tái chiếm và hy vọng rằng quân đi tái chiếm lần này ko phải là 'thiên binh' nữa.

Trung tá Johnson cũng thấy giống như thế. Ông rất vui khi thấy trận đánh đã kết thúc và quân Mỹ thắng trận, nhưng rồi lại tự hỏi. Giờ thì sao đây? Giờ thì chỉ còn việc là cuốc bộ rời khỏi cái điểm cao chết tiệt ấy. Tiểu đoàn của ông đã tổn thất nhiều trong trận đánh Đắk Tô này. Mỗi người lính mất đi Johnson đều cảm thấy đau lòng, nhưng đau hơn cả là tổn thất trong hàng ngũ hạ sĩ quan. Việc mất đi những cựu binh giàu kinh nghiệm, với hơn chục năm phục vụ, khiến cho đội ngũ còn lâu mới gượng dậy nổi.

Thậm chí 1 quân nhân tuyệt đối trung thành như thượng sĩ nhất Crook cũng phải hoài nghi về giá trị của cao điểm 875. Rồi ông tự trả lời là chẳng có ý nghĩa gì cả. Và hơn nữa đáng ra phải dùng tất cả máy bay trên toàn cõi nam VN để xóa tên nó ra khỏi bản đồ.

Khi rời khỏi điểm cao 875, thượng sĩ Okendo cảm thấy hoàn toàn trống rỗng. Có quá nhiều người chết và bị thương. Nhưng dù có tâm trạng như thế, ông vẫn ngạc nhiên khi thấy nhiều lính dù trẻ, đã trải qua trận đánh tàn khốc kinh hoàng, vẫn còn giữ được ý chí chiến đấu. Số lớn bọn họ còn muốn truy kích bộ đội Bắc Việt, cho dù việc đó có nghĩa là phải tiến sang Campuchia. Họ rất thất vọng khi ko được cho phép đuổi theo để kết liễu quân địch.

Trung úy Al Lindseth thì nghĩ trận đánh là 1 sự phung phí về nhân mạng. Anh đồng ý với thượng sĩ nhất Crook về lý do đánh chiếm cao điểm. Lindseth cũng ko tin trước mọi số liệu đếm xác trên cao điểm 875 đã được báo cáo. Anh là người đầu tiên mở được đường lên và chỉ bắt gặp chưa đến 10 xác đối phương. Nhưng ấn tượng sâu đậm nhất của trận đánh đối với anh chính là lòng can đảm phi thường mà các 'thiên binh' đã thể hiện trên cao điểm trong suốt 3 ngày. Trừ vài trường hợp ngoại lệ, còn thì tất cả đều dũng cảm thi hành nhiệm vụ ko chút do dự. Đó chính là tính chất của 1 quân đội có kỷ luật cao.

Hầu hết 'thiên binh' đều chấp nhận thực tế họ chiến đấu trên cao điểm là vì trên đó có quân thù. Thậm chí khi được lệnh rút khỏi đó thì chỉ có ít người trong số họ muốn tuân theo. Trên cao điểm này có quá nhiều bạn bè của họ đã bị giết hay thương tật. Việc rút khỏi cao điểm theo đường bộ sẽ làm sự hy sinh của họ giảm giá trị đi nhiều. Lòng tự hào của cá nhân, của binh chủng nhảy dù ko cho phép họ làm điều đó.

Nhưng xét về chiến lược của Westmoreland thì trận đánh trên cao điểm 875, với những tổn thất đi kèm, là xứng đáng. Ko có vấn đề chiếm giữ 1 cao điểm khi mà quân đối phương đã bị đánh đuổi. Đó chỉ là 1 nơi trong nhiều chỗ mà người ta dùng để đánh tiêu diệt quân thù.






Phụ lục A

James B. Adamson (sư đoàn 4 bộ binh) rời quân đội nghỉ hưu trên cương vị tướng 3 sao (trung tướng). Ông qua đời ở Jupiter, Florida tháng 1 năm 2003.

Robert Allen (đại đội D/tiểu đoàn 4/503) rời nam VN tháng 5 năm 1968. Sau khi tốt nghiệp đại học Oklahoma, anh lập gia đình, có 5 đứa con và điều hành công ty sx ván sàn. Hiện anh đang sống ở thành phố  Oklahoma. Anh được tặng thưởng huân chương Army Commendation Medal cả hạng chữ V và thông thường (loại huân chương tưởng thưởng vì lòng dũng cảm xếp hạng 5 trong hệ thống huân chương anh dũng của quân đội Mỹ sau huân chương sao đồng. ND)

Ted Arthurs (tiểu đoàn 4/503) giải ngũ năm 1973. Sau đó ông đến làm việc ở Ả rập Saudi 10 năm. Hiện ông đã nghỉ hưu và sống với vợ ở Destin, Florida. Anh được thưởng 1 huân chương sao bạc (xếp hạng 3.ND) trong trận cao điểm 823 và thêm 1 cái nữa trong trận đánh ở đồi nghĩa địa tại Tuy Hòa ngày 31 tháng 1 năm 1968. Ông là tác giả 1 cuốn truyện ngắn nói về kinh nghiệm đã trải qua và những con người đã được gặp gỡ trong quân ngũ.

Jerry M. Babb (đại đội B/tiểu đoàn 4/503), sau làm thượng sĩ cố vấn cho tiểu đoàn 2/503 trước khi rời nam VN tháng 8 năm 1968. Năm 1969, ông trở lại VN phục vụ kỳ hạn thứ 2 trong tiểu đoàn 2, trung đoàn 505 bộ binh dù. Giải ngũ tháng 9 năm 1972 với 748 lần nhảy dù trong 20 năm sự nghiệp. Ông qua đời tháng 10 năm 2005. Được tặng thưởng 2 huân chương sao đồng, 1 huân chương Air Medal với 8 cành sồi, 1 quả tim tím, 1 huân chương Army Commendation Medal.

Thomas H. Baird (đại đội D,tiểu đoàn 4/503) mất 8 tháng trị thương ở bệnh viện Walter Reed. Năm 1971, anh trở lại nam VN làm cố vấn cho quân lực VNCH. Về sau anh học lấy bằng thạc sĩ của đại học bang Kansas rồi về chỉ huy 1 tiểu đoàn cơ giới ở căn cứ Fort Polk, Louisiana. Anh phục viên năm 1981 với hàm trung tá. Sau đó anh về làm cho 1 công ty xây dựng tại New Jersey. Đến khi nghỉ hưu thì về sống với vợ tại Hađại đội onfield, New Jersey. Được thưởng huân chương sao đồng, huân chương Army Commendation Medal và huân chương quả tim tím. Hiện anh vẫn giữ khẩu súng lục mà trung úy Burton lấy từ xác viên sĩ quan bv.

George Baldridge (đại đội A & B, tiểu đoàn 4/503) nối dài kỳ hạn phục vụ và ở lại nam VN đến tháng 10 năm 1968. Anh ở lại quân ngũ cho đến năm 1979 thì phục viên vì chứng đa xơ cứng (multiple sclerosis). Chết năm 1997.

John Barnes (đại đội C, tiểu đoàn 1/503) được truy tặng huân chương danh dự bất chấp sự phản đối của trung tá Schumacher ngày 4 tháng 11 năm 1969. An táng tại ngĩa trang Brookdale, Dedham, Massachusetts.

Phillip Bodine (đại đội B & C/tiểu đoàn 2/503), nằm viện chữa trị những vết thương vẫn hành hạ anh trong 2 tháng. Tốt nghiệp trường đào tạo phi công lái trực thăng rồi trở lại nam VN làm phi công máy bay trực thăng vũ trang Cobra tháng 7 năm 1969. Tháng 9 năm 1981, bị thương khi quân khủng bố bắn hỏa tiễn chống tăng RPG-7 vào chiếc xe hơi chở tướng Frederick J. Kroesen, lúc làm phụ tá cho ông này. Nghỉ hưu năm 1986 với hàm trung tá. Lấy vợ và làm quản lý cho 1 công ty luật lớn ở Atlanta. Cư trú ở Fayetteville, Georgia. Được thưởng 1 huân chương sao bạc, 2 huân chương sao đồng, 1 trái tim tím, 1 chữ thập bội tinh, 1 huân chương Air Medal và 1 Army Commendation Medal.

Anthony Brangaitis (đại đội D/tiểu đoàn 4/503), được cho ra quân sớm tháng 3 năm 1968 vì bố mất. Là sĩ quan phòng cảnh sát phòng chống ma túy thành phố  New York đã nghỉ hưu. Hiện đang sống cùng vợ ở Massapequa, New York. Được thưởng huân chương trái tim tím.

Charles D. Brown (đại đội C/tiểu đoàn 1/503) trở lại VN năm 1970 làm phi công trực thăng. Giải ngũ năm 1985 với hàm trung tá sau đó về làm việc trong ngành công nghiệp hàng không vũ trụ. Được tặng thưởng 2 huân chương sao đồng, 1 trái tim tím và 1 Air Medal .

Ray Bull (đại đội C/tiểu đoàn 4/503) Nằm viện mấy tuần rồi trở lại đại đội. Phục viên năm 1969 về làm việc cho ngành bưu điện. Nghỉ hưu năm 2004 và hiện sống cùng vợ ở thành phố  Yuba, California. được tặng huân chương sao đồng và  huân chương trái tim tím.

Michael D. Burton (đại đội D/tiểu đoàn 4/503). Tham gia chiến đấu ở đồi nghĩa trang Tuy Hòa tháng 1 năm 1968. Rời nam VN tháng 5 năm 1968. Đến tháng 1 năm 1970 thì trở lại VN làm đại đội trưởng thuộc sư đoàn Americal. Bị thương mù mắt vì mìn bẫy năm 1971 trong 1 chuyến tuần tiễu. Sau đó làm giám đốc chi nhánh cho hội khiếm thị bang Virginia. Hiện nay đã nghỉ hưu và sống cùng vợ ở Buchanan, Virginia. Được thưởng huân chương sao bạc, sao đồng, Army Commendation Medal và trái tim tím.

Gerald Cecil (đại đội C/tiểu đoàn 1/503) được thưởng huân chương chữ thập vì đã dũng cảm phi thường trong ngày 11/11/1967. và Tại ngũ đến năm 1984 rồi chuyển sang ngạch dự bị. Phục viên năm 1996 với hàm đại tá. Lập gia đình có 3 con và 4 cháu. Đi dạy lịch sử nước Mỹ tại trường cao đẳng Lexington Community ở Lexington, Kentucky . Làm trợ lý dân sự cho bộ trưởng Lục quân và quản lý trang trại gia đình ở Winchester, Kentucky. Ngoài huân chương chữ thập ra, anh còn được tặng huân chương Legion of Merit, Meritorious Service, ngôi sao đồng, trái tim tím, Army Commendation Medal  và Air Medal.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 07 Tháng Mười Một, 2014, 07:57:24 AM
James Coleman (đại đội C/tiểu đoàn 4/503) ở lại nam VN cho đến khi bị thương tháng 11 năm 1968. Giải ngũ sau đó mấy tháng rồi lại tái ngũ tháng 4 năm 1970, quay lại nam VN phục vụ kỳ hạn thứ 2 và ở đó đến tháng 12 năm 1971. Được tặng huân chương sao bạc, sao đồng và trái tim tím.

William J. Connolly (đại đội C/tiểu đoàn 4/503) Được thay phiên rời nam VN tháng 12 năm 1967. Ở lại quân đội rồi giải ngũ năm 1993 với hàm đại tá. Làm việc ở Uỷ ban kênh đào Panama (Panama Canal Commission) 8 năm. Hiện nay làm phó chủ tịch 1 công ty khế ước lớn của chính phủ. Trong những phần thưởng được trao có huân chương sao bạc, sao đồng, trái tim tím và Army Commendation Medal.

Edward Crook (đại đội C/tiểu đoàn 4/503) rời nam VN tháng 6 năm 1968. Giải ngũ với hàm thượng sĩ cố vấn năm 1980. Sau đó làm nhân viên bưu điện tại Columbus, Georgia. Mất tháng 8 năm 2005. Được tặng thưởng huân chương sao bạc, sao đồng và trái tim tím.

John R. Deane, Jr. (lữ trưởng lữ đoàn dù 173). Sau về làm sư đoàn trưởng sư đoàn dù 82 và Cục trưởng cục Quân trang Lục quân. Về hưu với cấp bậc đại tướng tháng năm 1977. Hiện sống ở Nam Carolina và Maine.

Michael J. Deeb (đại đội A & D/tiểu đoàn 2/503) xuất ngũ về sinh sống ở Macon, Georgia.

John M. Deems (đại đội D/tiểu đoàn 4/503), được thay phiên rời nam VN tháng 12 năm 1967. Trở lại phục vụ kỳ hạn thứ 2 với chức vụ cao trong Đoàn Nghiên cứu và Quan sát (biệt kích SOG. ND). Giải ngũ năm 1986 với hàm trung tá rồi về làm việc trong ngành công nghiệp vũ trụ. Được tặng thưởng huân chương sao đồng và huân chương Army Commendation Medal.

Jerry Draper (đại đội B/tiểu đoàn 1/503) ở lại quân đội rồi về hưu với hàm đại tá năm 1993. Làm kiểm toán viên cho Commonwealth of Pennsylvania 5 năm. Giờ đã nghỉ hẳn và hiện cư ngụ tại Mechanicsburg, Pennsylvania.

James R. Duffy (đại đội C & D/tiểu đoàn 4/503) gia hạn kỳ hạn phục vụ tại nam VN với lữ đoàn 173 tới tháng 12 năm 1968. Ra riêng về bán ống nước và sống ở Scituate, Massachusetts. Nghỉ hưu với hàm đại úy trong lực lượng Vệ binh quốc gia Massachusetts. Được tặng thưởng huân chương sao đồng, Army Commendation Medal và Air Medal.

Darryl Fitch (đại đội C/tiểu đoàn 1/503), xuất ngũ tháng 5 năm 1968. Hiện cư ngụ tại Sun City West, Arizona.

Joseph X. Grosso (tiểu đoàn trợ chiến lữ đoàn 173). Nằm viện Walter Reed 2 tháng rồi phục viên ở Philadelphia sau khi xuất viện tháng 7/1968. Hiện sống tại Woodcliff Lake, New Jersey và là bác sĩ tâm thần. Được tặng huân chương sao bạc, sao đồng và trái tim tím.

Matthew C. Harrison (đại đội A & C/tiểu đoàn 2/503) trở lại nam VN tháng 11 năm 1968, phục vụ trong sư đoàn 25 bộ binh và có lúc làm trợ lý cho cho thiếu tướng Williamson. Phục viên năm 1986 với hàm trung tá. Hiện đang làm tư vấn về kinh doanh, giúp đỡ các công ty đang gặp phải khó khăn có lợi nhuận. Đang sống cùng vợ ở Greenwich, Connecticut. Được tặng huân chương sao bạc, sao đồng, Air Medal và trái tim tím.

Darryl Haymes (đại đội C/tiểu đoàn 4/503) gia hạn kỳ hạn phục vụ thêm 6 tháng ở đại đội D, tiểu đoàn 4/503. Giải ngũ tháng 9 năm 1969. Hành nghề thợ lặn, sống tại Fort Bragg, California. Được thưởng huân chương Army Commendation Medal.

Leo E. Hill (đại đội B/tiểu đoàn 4/503) nằm viện 2 tháng rồi trở lại đại đội. Kết thúc kỳ hạn phục vụ và phục viên năm 1968. Làm việc trong nhà máy đúc của Ford ở Brookpark, Ohio. Nghỉ hưu năm 2002. Sống cùng vợ ở 2 nơi, Westlake, Ohio, và Myrtle Beach, South Carolina. Được tặng 2 huân chương sao đồng, 1 trái tim tím và 1 Air Medal.

Charles J. Holland (viễn thám) được truy tặng huân chương chữ thập.

David S. Holland (đại đội A/tiểu đoàn 1/503) phục vụ ở nam VN đến tháng 4 năm 1969. Sau đó có bằng Luật, bằng thạc sĩ Quản trị kinh doanh và tiến sĩ thương mại. Sống với gia đình ở Alexandria, Virginia. Là đại tá trong quân dự bị, và đã từng phục vụ trong chiến tranh vùng vịnh. Từng viết 2 cuốn sách về những trải nghiệm của mình tại nam VN. Được tặng thưởng huân chương sao đồng.

Lawrence Jackley (tiểu đoàn 4/503) giải ngũ năm 1980 với hàm đại tá. Sau đó lấy bằng thạc sĩ quản trị doanh nghiệp. Cư trú tại Alexandria, Virginia và làm việc cho các dự án của dộng đồng và nhà thờ. Được thưởng huân chương sao bạc, sao đồng và Air Medal.

John (“Mike”) Jeakle (đại đội B/tiểu đoàn 4/503) rời nam VN tháng 6 năm 1968. Vừa học đại học vừa làm việc trong 1 công ty máy tính lớn. Sau đó thánh lập 1 số công ty, rồi sang nhượng lại và về hưu non. Hiện trú ở Ohio. được tặng huân chương sao đồng và Army Commendation Medal.

David G. Jesmer (đại đội A/tiểu đoàn 1/503), được tặng huân chương sao bạc vì hành động dũng cảm trong trận đánh trên điểm cao 882. Phục vụ kỳ hạn thứ 2 tại nam VN trong cương vị cố vấn và làm việc cùng huyền thoại John Paul Vann. Nghỉ hưu với hàm trung tá. Được tặng thêm huân chương sao đồng.

James H. Johnson (chỉ huy tiểu đoàn 4/503) được thương huân chương chữ thập trong trận đánh tại đồi nghĩa trang Tuy Hòa ngày 30-31 tháng 1 năm 1968. Sau đó 1 tháng thì lên làm lữ đoàn phó lữ 173. Sau đó đượ thay phiên và rời nam VN tháng 7/1968. Tháng 11 năm 1972 được đề bạt lên chuẩn tướng. Năm 1980 lên thiếu tướng và làm tư lệnh sư đoàn 2 bộ binh ở Hàn Quốc từ tháng 7 năm 1981 đến tháng 8 năm 1983. Về hưu năm 1985 và sống tại Murrells Inlet, Nam Carolina. Được tặng thưởng huân chương chữ thập, Distinguished Service Medal, Defense Superior Service medal, huân chương sao bạc, Legion of Merit medal, sao đồng và Air Medal.

Stanley Jones (tiểu đoàn 4/503) rời nam VN tháng 4 năm 1968. Sau đó ra nhập quân dự bị và trở thành phi công lái trực thăng. Ở lực lượng dự bị đến năm 1975. Hiện sống tại Phoenix, Arizona, điều hành 1 công ty chuyên cứu hộ ô tô. Qua đời năm 2004.

Daniel Jordan (đại đội A/tiểu đoàn 4/503). Được truy tặng huân chương chữ thập.

Edward Kelley (đại đội C/tiểu đoàn 1/503). Bị thương tháng 3 năm 1968 khi chỉ huy 1 trung đội cối 106,7 ly. Sau khi ra viện ở Mỹ, thì qua học lái trực thăng. Quay lại nam VN năm 1971 làm phi công máy bay trực thăng vũ trang Cobra. Giải ngũ năm 1983. Hiện là giáo viên sống ở Fernandina Beach, Florida.

Thomas A. Kelly (tiểu đoàn 1/503). Giải ngũ tháng 5 năm 1978 với hàm thượng sĩ. Là nhân viên bưu điện đã nghỉ hưu về sống tại Lakeland, Florida. Được thưởng huân chương sao đồng và Air Medal.

Larry Kennemer (đại đội A/tiểu đoàn 1/503) nằm viện 3 tuần rồi được điều sang sư đoàn dù 101. Anh đã chiến đấu cùng đơn vị này tại Huế trong tổng tiến công năm tết 1968. Sau đó phục vụ 30 tháng trong lực lượng biệt kích  SOG. Xuất ngũ năm 1971. Hành nghề xây dựng sống tại San Antonio, Texas, đã góa vợ. Được tặng huân chương sao đồng và trái tim tím.

Stanley R. Larsen (tư lệnh Lực lượng Dã chiến I) về hưu năm 1972 với hàm trung tướng sau khi phải ra hầu tòa án quân sự vì có liên quan đến cuộc binh biến của những người phản chiến ở Presidio, San Francisco, California. Chết vì tai nạn xe hơi tháng 11 năm 2000. Được thưởng huân chương chữ thập vì thành tích anh dũng trong chiến tranh TG 2.

Ronald R. Leonard (chỉ huy đại đội C/tiểu đoàn 2/503 và đại đội B/tiểu đoàn 4/503) Được tặng huân chương chữ thập vì lòng quả cảm và tài chỉ huy xuất sắc trong trận đánh trên cao điểm 875. Quay lại nam VN năm 1971 làm cố vấn tại quân khu II. Giải ngũ tháng 8 năm 1991 với hàm đại tá. Hiện đang cư trú ở Fairfax Station, Virginia. Cũng được thưởng huân chương sao bạc, sao đồng và trái tim tím.

Peyton Ligon (đại đội B/tiểu đoàn 4/503) Nhận huân chương sao bạc vì gương anh dũng trong trận đánh ngày 10/7/1967. Rời nam VN tháng 6 năm 1968, rồi quay lại phục vụ kỳ hạn khác 3 năm sau đó. Lập gia đình có 2 con gái. Giải ngũ với hàm đại tá tháng 7 năm 1983. Hiện đang ở tại Hoover, Alabama, làm giám đốc kinh doanh. Ngoài huân chương sao bạc, anh còn được tặng huân chương Legion of Merit, 2 huân chương sao đồng và huân chương trái tim tím.

Alfred A. Lindseth (đại đội B/tiểu đoàn 4/503) nhận huân chương sao bạc vì lòng quả cảm trong trận chiến trên cao điểm 875. Hoàn tất kỳ hạn phục vụ tháng 4 năm 1968 rồi rời quân ngũ 2 năm sau đó. Sau khi tốt nghiệp trường Luật Harvard thì tới làm cho 1 công ty luật ở Atlanta. Hiện đang là thành viên cao cấp chuyên giảng dạy Luật. Cùng vợ cư trú tại Atlanta.

William J. Livsey (Sư đoàn 4 bộ binh) nghỉ hưu với hàm đại tướng. Hiện sống ở Fayetteville, Georgia.

Carlos Lozada (đại đội A/tiểu đoàn 2/503) được truy tặng huân chương danh dự ngày 18 tháng 11 năm 1969. An táng tại nghĩa trang quốc gia Long Island, New York.

Jerald Lytle (đại đội B/tiểu đoàn 4/503) rời nam VN và xuất ngũ tháng 4 năm 1968. Tháng 11 năm 1969 thì tái ngũ và lại về lữ đoàn dù 173 ở VN. Sau khi ra viện lần 2, thì lấy bằng luật hình sự. Hiện đang làm điều tra viên cho thổ dân da đỏ Sioux Crow Creek ở nam Dakota.

C. Allen McDevitt (đại đội B/tiểu đoàn 2/503) hoàn thành nghĩa vụ và xuất ngũ tháng 7 năm 1968. Đi học lại và có 2 bằng đại học. Cưới vợ, có 4 con hiện là 1 giám đốc điều hành trong ngành lâm nghiệp. Đang sống ở Lake Oswego, Oregon. Được thưởng 1 huân chương sao bạc, 2 huân chương sao đồng, 1 huân chương Air medal và 1 Army Commendation Medal.

Thomas McElwain (chỉ huy đại đội C/tiểu đoàn 1/503) được thưởng huân chương sao bạc vì sự dũng cảm trong chiến đấu ngày 11/11/1967. Phục vụ kỳ hạn thứ 2 tại VN với vai trò cố vấn. Phục viên năm 1978 với cấp hàm thiếu tá. Sau đó học 2 bằng thạc sĩ, đi dạy và và làm nhà thầu ở El Paso, Texas. Hiện đã nghỉ hưu và sống ở Henderson, Nevada. Ngoài huân chương sao bạc, anh còn được tặng huân chương sao đồng, quả tim tím, Air Medal và Army Commendation Medal.

Don Martindale (đại đội C & D/tiểu đoàn 1/503). Bị thương ngày 10/11/1967. Mất 2 tháng nằm viện rồi được chuyển về Mỹ. sau khi xảy ra tổng tấn công Tết, tháng 1/1968 thì được lệnh chở lại nam VN và là thành viên của sư đoàn dù 82. Được cho xuất ngũ tháng 5/1968, sau đó làm việc cho hãng General Motors ở Warren, Michigan.

Joseph S. Mescan (đại đội A/tiểu đoàn 1/503) được thưởng huân chương sao đồng vì thành tích cứu thương binh trên cao điểm 882. Hoàn tất kỳ hạn phục vụ tháng 7 năm 1968. Hiện làm nhà môi giới và bán đấu giá ở Columbia Station, Ohio.

David H. Milton (đại đội A/tiểu đoàn 2/503) Mất 15 tháng nằm viện với 15 lần phẫu thuật. Dù người đầy thương tích, anh vẫn quay lại nam VN tháng 9 năm 1968 làm sĩ quan tình báo của sư đoàn 1 Kỵ binh bay. Phục viên năm 1982 với hàm trung tá do vết thương bị biến chứng. Sau đó thành lập công ty thuộc da ở Hilton Head, South Carolina. Được thưởng các huân chương sao bạc, sao đồng, Legion of Merit, Air Medal và trái tim tím.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 11 Tháng Mười Một, 2014, 02:44:18 PM
Irvin W. Moran (viễn thám) gia hạn kỳ hạn phục vụ ở VN thêm 2 tháng đến tháng 4 năm 1968. Sau đó lấy bằng luật hình sự và về làm việc cho Cục Thuốc lá, rượu và súng (Bureau of Alcohol, Tobacco, and Firearms).

James J. Muldoon (chỉ huy đại đội A/tiểu đoàn 4/503) phục vụ kỳ hạn thứ nhì ở nam VN năm 1971-1972. Nghỉ hưu với hàm đại tá năm 1990. Được tặng thưởng huân chương sao đồng, trái tim tím, Air Medal.

Michael Nale (đại đội B/tiểu đoàn 2/503) Chẳng bao giờ được đi nghỉ xả hơi. Thay vì thế anh nằm viện 1 tháng rồi trở lại đại đội. Chiến đấu trong giai đoạn đầu Tổng tấn công Tết 1968 và cuối cùng rời nam VN tháng 1/1968. Được ra viện tháng 10 năm 1968 sau khi phẫu thuật vết thương. Làm bưu tá, có 2 con và sống ở Florence, Alabama. Được tặng huân chương trái tim tím và Army Commendation Medal.

Thomas Needham (sĩ quan tình báo, tiểu đoàn 1/503 & đại đội D/tiểu đoàn 1/503) bị thương tháng 3 năm 1968. Trở lại lữ 173 và VN tháng 5 năm 1968 cho đến khi đơn vị về Hoa Kỳ tháng 8/1971. Được thăng lên chuẩn tướng năm 1990. Tổ chức và chỉ huy Joint Task Force Full Accounting tại Hawaii, chịu trách nhiệm xác định số phận tù binh Mỹ mất tích ở Đông nam Á. Về hưu với hàm thiếu tướng và về ở tại Exeter, New Hampshire. Được thưởng huân chương huân chương sao đồng và trái tim tím trong thời gian phục vụ tại lữ đoàn 173.

William Nichols (đại đội A/tiểu đoàn 2/503) Rời nam VN tháng 2/1968. Sau đó về điều hành 1 đại lý công ty sx công cụ, dụng cụ Snap-On Tool tại Pennsylvania.

Lawrence Okendo (đại đội B/tiểu đoàn 4/503) rời quân ngũ trong năm 1968. Sau đó phục vụ trong lực lượng quân dự bị rồi cuối cùng giải ngũ với hàm thượng sĩ cố vấn. Sau đó còn phục vụ với vai trò thượng sĩ cố vấn danh dự của trung đoàn 503 rồi 1 phần của sư đoàn 2 bộ binh đóng tại Hàn Quốc. Hiện đang sống ở Payson, Arizona. Từng được thưởng huân chương sao bạc, sao đồng, trái tim tím, Air Medal và Army Commendation Medal. Okendo là 1 trong 281 quân nhân được tặng huy hiệu chiến đấu bộ binh trong cả 3 cuộc chiến tranh. Đây là thành tích được nhiều người thèm muốn.

Bartholomew O'Leary (đại đội A & D/tiểu đoàn 2/503) mất 16 tháng nằm viện điều trị thương tích. Anh kết hôn với người nữ y tá chăm sóc mình và có 1 con trai. O'Leary ở lại quân đội rồi phục viên năm 1989 với quân hàm trung tá. Hiện đang sống ở Orange Park, Florida. O'Leary đã được thưởng huân chương sao bạc trong trận đánh cao điểm 875 và còn có thêm 1 huân chương sao đồng cùng 1 huân chương quả tim tím.

Manuel Orona (đại đội A/tiểu đoàn 2/503). Kết thúc kỳ hạn phục vụ tháng 8 năm 1968. 1 năm sau đó thì trở lại nam VN phục vụ kỳ hạn thứ 2 ở đại đội B/tiểu đoàn 2/503. Bị thương tháng 8 năm 1969 và phải đi viện mất 4 tháng. Phục viên tháng 1/1970 sau đó về làm việc cho công ty đường sắt nam Thái Bình Dương và sống ở Tucson, Arizona. Được thưởng 2 huân chương sao đồng, 1 trái tim tím, 2 Army Commendation Medal và 1 Air Medal.

Arturo Ortiz (đại đội C/tiểu đoàn 4/503) rời nam VN tháng 4 rồi xuất ngũ trong tháng 5/1968. Sau đó làm việc ở Bưu điện và hiện sống tại Venice, California.

Phillip Owens (đại đội B/tiểu đoàn 4/503) mất 2 năm nằm tại các quân y viện để phục hồi thương tích. Dù ko bị cưa tay nhưng chỉ còn cử động được có 2/10. Được thưởng huân chương sao đồng, trái tim tím và Army Commendation Medal.

Edward A. Partain (tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2/503 và lữ trưởng lữ dù 173) Rời nam VN tháng 12/1967 do hậu quả của việc bị chấn thương do tai nạn trực thăng ngày 22 tháng 6 năm 1967. Sau khi được thăng cấp đại tá năm 1968, thì tham gia học tại trường Chiến tranh. Lên chuẩn tướng tháng 6 năm 1973 và học lái máy bay trực thăng. Làm sư đoàn trưởng sư đoàn 1 bộ binh sau khi được thăng cấp thiếu tướng năm 1977. Là trung tướng tư lệnh tập đoàn quân số 5 rồi nghỉ hưu năm 1985. Trong số rất nhiều phần thưởng được trao tặng có các huân chương Distinguished Service Medal, huân chương sao bạc, Defense Superior Service medal, Legion of Merit, Distinguished Flying Cross, trái tim tím, Air Medal và Army Commendation Medal.

Richard E. Patterson (đại đội A/tiểu đoàn 2/503) mất 1 năm nằm viện để hồi phục rồi giải ngũ tháng 6 năm 1968. Tàn phế vĩnh viễn và về làm việc cho tổ chức thương phế binh Hoa kỳ. Được thưởng huân chương sao đồng vì lòng quả cảm trong trận ngày 22/6/1967 và 1 huân chương trái tim tím.

Roy V. Peters (tiểu đoàn trợ chiến lữ 173). Phục vụ kỳ hạn thứ nhì ở nam VN năm 1969-1970 với cương vị tuyên úy trưởng trong sư đoàn 25 bộ binh. Nghỉ hưu với cấp hàm đại tá năm 1986. Là mục sư của nhà thờ thánh Peter và xứ đạo Paul ở Honolulu, Hawaii. Được thưởng các huân chương Legion of Merit, sao đồng, trái tim tím, Air Medal và Army Commendation Medal.

Alan Phillips (đại đội A/tiểu đoàn 4/503), được tặng thưởng huân chương sao bạc trong trận đánh ngày 22/6/1767 (chính xác vào 24 năm trước đó, cha của anh cũng được thưởng huân chương chữ thập Hải quân trong khi đổ bộ lên đảo Sicily). Là cha của 4 đứa con, Phillips cùng vợ hiện đang sống tại Brussels, nước Bỉ. Được thưởng các huân chương Legion of Merit, sao đồng, trái tim tím, Air Medal và Army Commendation Medal.

John J. Powers (lữ đoàn phó lữ dù 173), rời quân ngũ năm 1975. Ngoài huân chương chữ thập được tặng trong chiến tranh Triều Tiên, ông còn được thưởng các huân chương Legion of Merit, sao đồng, trái tim tím, và Air Medal. Hiện đang sống ở Ponte Vedra Beach, Florida.

Hugh M. Proffitt (đại đội B/tiểu đoàn 4/503). Bị thương tháng 3 năm 1968. Được tặng huân chương sao bạc và quả tim tím. Sau khi nằm viện ở Mỹ thì quay lại nam VN làm cố vấn cho sư đoàn 1 bộ binh VNCH trong chiến dịch đánh sang Lào năm 1971. Rời quân ngũ năm 1972. Hiện sống tại Hutchinson, Kansas. Ngoài ra anh còn được thưởng 1 huân chương sao đồng nữa.

Thomas Remington (đại đội A/tiểu đoàn 2/503). Mất 8 tháng nằm viện rồi được phân về căn cứ Fort Belvoir, Virginia. Tại đây anh được cho xuất ngũ sớm và tới học tại trường luật của đại học bang Florida. Tốt nghiệp năm 1970 và hiện làm thẩm phán ở Fort Walton Beach, Florida. Được thưởng các huân chương sao bạc, sao đồng, trái tim tím và Air Medal.

James P. Rogan (đại đội B/tiểu đoàn 2/503). Tử trận tháng 2 năm 1968.

Vincent Rogiers (tiểu đoàn 2/503 & lữ đoàn dù 173). Rời nam VN tháng 6 năm 1968. Sau đó làm thượng sĩ cố vấn của học viện quân sự Hoa kỳ. Giải ngũ năm 1979 rồi về làm việc ở thành phố  Columbus, Georgia và nghỉ hưu 10 năm sau đó. Được thưởng các huân chương sao đồng, Air Medal và Army Commendation Medal.

William B. Rosson (Lực lượng Dã chiến I). Từng được thưởng huân chương chữ thập vì lòng dũng cảm trong chiến tranh TG 2. Rời quân ngũ nghỉ hưu với cấp hàm đại tướng. Sống ở Salem, Virginia cho đến khi qua đời tháng 12/2004.

Enrique Salas (đại đội A & B/tiểu đoàn 2/503). Trở lại đại đội B/tiểu đoàn 2/503 sau nhiều tuần nằm viện. Rời nam VN tháng 6 năm 1968. Đến năm 1972 thì giải ngũ với hàm thượng sĩ nhất. Lập gia đình, có 6 con, 10 cháu và 1 chắt. Hiện sống tại Columbus, Georgia. Được tặng 2 huân chương sao đồng, 1 trái tim tím, Air Medal và Army Commendation Medal.

Philip H. Scharf (đại đội C/tiểu đoàn 1/503) Trở lại đơn vị sau 3 tháng nằm viện. Được thăng lên làm trung sĩ tiểu đội trưởng rồi trung sĩ trung đội phó. Phục viên năm 1968. Sống tại Wisconsin và là nhà thầu xây dựng hồ bơi thương mại.

David Schumacher (tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1/503). Không xác định được nơi sinh sống.

Leo H. Schweiter (lữ trưởng lữ 173). Chết vì bệnh ung thư phổi năm 1972.

Daniel Severson (đại đội B/tiểu đoàn 4/503). Đi viện trị thương mất 1 năm. Giải ngũ năm 1988 với cấp hàm trung tá. Làm hiệu trưởng 1 trường trung học và huấn luyện viên bóng bầu dục ở Shushan, New York. Đến năm 2004 thì được đề cử vào đại học bảo tàng bóng đá Football Hall of Fame với danh hiệu Distinguished American. Ngoài huân chương chữ thập ra, Severson còn được tặng thưởng huân chương sao đồng, trái tim tím, Air Medal và Army Commendation Medal.

Edward Sills (Sĩ quan hành quân tiểu đoàn 1/503). Kết thúc kỳ hạn phục vụ tại nam VN tháng 6/1968. Tiếp tục tại ngũ rồi phục viên với hàm đại tá năm 1988.

Kenneth Smith (đại đội A & D/tiểu đoàn 2/503, Sĩ quan hành quân tiểu đoàn 2/503) Rời nam VN tháng 3 năm 1968. Quay lại phục vụ ở VN năm 1971 trong sư đoàn Americal, đại đơn vị cuối cùng của Mỹ rút khỏi nam VN. Tại ngũ cho đến khi phục viên năm 2003 với hàm đại tá. Hiện nay công tác tại ban an ninh ngoại giao của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ. Được tặng huân chương sao đồng trong thời gian phục vụ ở lữ đoàn 173.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 12 Tháng Mười Một, 2014, 09:02:54 AM
John Steer (đại đội A/tiểu đoàn 2/503) Mất 7 tháng trong bệnh viện để chữa trị các vết thương. Xuất ngũ tháng 7/1968. Chìm ngập trong thế giới của rượu và ma túy để chống chọi với nỗi đau cả về thể xác lẫn tâm hồn. Trở thành tín đồ born-again Christian ( 1 nhánh của dòng Tin lành Evangelical. ND) Hiện Steer là giáo sĩ thuộc dòng Cơ đốc liên phái. Người ta nói ban đầu Steer và Carlos Lozada đã được đề nghị thưởng huân chương chữ thập nhưng vì thiếu nhân chứng chứng kiến nên sau bị hạ xuống thành huân chương sao bạc. Ngoài ra Steer còn được thưởng huân các chương sao đồng, trái tim tím và Army Commendation Medal.

James R. Steverson (Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2/503). Rời quân ngũ nghỉ hưu với cấp bậc đại tá. Ông từ chối trả lời phỏng vấn cho cuốn sách này.

Steven E. Suth (đại đội A/tiểu đoàn 1/503). Hiện vẫn đang tại ngũ.

Gerhard Tauss (đại đội C/tiểu đoàn 4/503). Gia hạn kỳ hạn phục vụ tại VN cho đến khi xuất ngũ tháng 6/1968. Lấy bằng kỹ sư và làm quản lý dự án. Được tặng thưởng huân chương sao đồng, Air Medal và Army Commendation Medal.

Steven F. Varoli (đại đội B/tiểu đoàn 2/503) Được thay phiên rời nam VN tháng 4/1968. Xuất ngũ tháng 9/1969. Được tặng thưởng huân chương sao đồng, trái tim tím, Air Medal và Army Commendation Medal. Hiện làm nghề kinh doanh máy điều hòa nhiệt độ.

H. Glenn Watson (tiểu đoàn 2/503). Bị thương tháng 7/1967 và được sơ tán khỏi VN. Giải ngũ năm 1984 với hàm chuẩn tướng. Hiện sống ở Belington, Tây Virginia.

Charles J. Watters (tiểu đoàn trợ chiến lữ 173). Được truy tặng huân chương danh dự ngày 4/11/1969. An táng tại nghĩa trang quốc gia Arlington.

Steven Welch (đại đội C/tiểu đoàn 2/503) Sống sót qua trận Đắk Tô mà ko bị thương nhưng lại bị 1 lính mới vô ý bắn vào lưng tháng 1/1968 - ngay vào đêm trước khi anh được rời VN về Mỹ. Thực ra là bị bắn ngay lúc đang bắt tay cậu bạn chí thân Ray Zaccone. Nằm 1 tháng tại bệnh viện Letterman rồi chuyển đến căn cứ Fort Ord, California. Phục viên tháng 6 năm 1969. Lấy vợ có 2 con gái, 2 cháu và hiện đang ở Santa Cruz, California. Được tặng thưởng huân chương sao đồng.

William C. Westmoreland (tư lệnh MACV) làm Tham mưu trưởng Lục quân trong 4 năm rồi về nghỉ hưu năm 1972 tại Charleston, South Carolina. Qua đời tháng 7 năm 2005.

Ellis W. Williamson (tư lệnh lữ dù 173) trở lại nam VN năm 1968 sau khi trải qua các chức tư lệnh các căn cứ Fort Polk, Louisiana, và Fort Benning, Georgia, tư lệnh sư đoàn 25 bộ binh. Sau đó trở thành cố vấn cho quốc vương Iran. Nghỉ hưu tháng 1 năm 1971 với hàm thiếu tướng. Hiện đang sống ở Arlington, Virginia.

Morrell J. Woods (đại đội D/tiểu đoàn 4/503) Nằm viện 3 tuần rồi trở về đại đội. Lại bị thương vào ngày 30 tháng 1 năm 1968 tại trận đánh ở đồi Nghĩa trang. Tháng 8 năm 1969 thì xuất ngũ  và về Arkansas điều hành 1 khu du lịch sinh thái cho đến lúc nghỉ hưu. Được thưởng huân chương sao đồng và huân chương quả tim tím.

Robert E. Wooldridge (đại đội C/tiểu đoàn 1/503) Đi viện 1 tháng rồi trở về đại đội. Rời VN tháng 12/1967. Nhận giấy xuất ngũ 1 năm sau đó. Về Newton, Iowa làm việc tại nhà máy của hãng Maytag cho đến lúc về hưu. Sống cùng vợ nuôi dạy 2 con. Được tặng huân 2 chương sao đồng và 1 trái tim tím. “Trung sĩ Opie” mất tháng 4 năm 2004.

Raymond Zaccone (đại đội C/tiểu đoàn 2/503) Hoàn tất kỳ hạn phục vụ đầu tiên ở VN tháng 3 năm 1968. 1 năm sau thì quay lại và lại về lữ 173. Hiện là công nhân cơ khí của công ty điện lực Idaho. Đã có gia đình và sống ở Halfway, Oregon. Được tặng huân chương sao đồng, Army Commendation Medal và trái tim tím.














 
Phụ lục B
Trung đoàn 503 trong chiến tranh TG thứ II





Trung đoàn bộ binh dù số 503 ra đời ngày 24 tháng 2 năm 1942 ở căn cứ Fort Benning, Georgia. Ban đầu đơn vị được đặt tên là tiểu đoàn dù 503, là 1 trong 3 đơn vị lính dù đầu tiên được tổ chức trong quân đội Hoa Kỳ.

Trong thời gian đầu chiến tranh, giới chức lãnh đạo quân sự Mỹ cũng đã phải công nhận sự cần thiết của hình thức tác chiến mới mẻ này. Nhà độc tài Adolf Hitler của Đức đã sử dụng nhiều phương pháp tác chiến mới và đã thành công trong việc chinh phục châu Âu lục địa. 1 trong số những sáng kiến này chính là việc tung các đơn vị xung kích tinh nhuệ ra sau phòng tuyến địch bằng cách nhảy dù.

Chiến thuật đột kích táo bạo này đã chiếm được sự quan tâm của những tướng lĩnh Hoa Kỳ có tầm nhìn xa trông rộng và giàu trí tưởng tượng. Dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn của họ mà lục quân đã hình thành 1 trung đội dù thử nghiệm, tại căn cứ Fort Benning do trung úy William T. Ryde chỉ huy với thành phần là lính tình nguyện của trung đoàn 29 bộ binh vào tháng 7 năm 1940. Sau 7 tuần huấn luyện cơ bản, trung đội thực hiện chuyến nhảy dù đầu tiên vào ngày 19 tháng 8 năm 1941. Mặc dù còn 1 số điểm hạn chế cần khắc phục, nhưng họ đã nhảy dù thành công và lục quân hiểu rằng mình đang nắm trong tay 1 thứ vũ khí lợi hại có thể giúp Hoa Kỳ giành thắng lợi trên chiến trường. Theo đó, tháng 11 năm 1941, tại căn cứ Fort Benning, tiểu đoàn dù 501 được thành lập. Rồi ngay sau đó có thêm những tiểu đoàn dù nữa, bao gồm cả tiểu đoàn 503.

Cuối cùng thì đã có 16 trung đoàn dù được thành lập trong chiến tranh TG thứ II. Sư đoàn dù đầy đủ đầu tiên, sư đoàn 82, được tổ chức ngày 15 tháng 8 năm 1942 tại căn cứ Fort Bragg, Bắc Carolina. Chỉ trong vòng có 2 năm mà binh chủng nhảy dù của quân đội đã phát triển từ 1 trung đội nhảy dù thử nghiệm duy nhất thành 1 sư đoàn dù đầy đủ và sau đó còn có thêm 4 sư đoàn nữa. Đây thực sự là 1 sự 'thay da đổi thịt' lớn trong quân đội Hoa Kỳ.

1 tháng sau khi thành lập, trung đoàn dù 503 di chuyển đến căn cứ Fort Bragg để tiến hành huấn luyện nâng cao. Sau khi được đánh giá là đã sẵn sàng chiến đấu, trung đoàn lại lên tàu hỏa và đổ xuống căn cứ Stoneman, California. Tại đây trung đoàn tiến hành các bước chuẩn bị cuối cùng để lên đường đi viễn chinh. Ngày 19 tháng 10 năm 1942, thì trung đoàn, thiếu tiểu đoàn 2 (trở thành tiểu đoàn 2, trung đoàn dù 509, chiến đấu trên chiến trường châu Âu trong sư đoàn dù 82) lên quân vận hạm thực hiện 1 chuyến đi dài đến Úc. Chiếc tàu Paula Laut lúc đầu khởi hành từ San Francisco đi đến Panama, tiểu đoàn dù 501 lên tàu tại đó rồi sau đó đến lượt tiểu đoàn 2 tân lập, trung đoàn dù 503.

42 ngày sau khi rời Panama, chiếc tàu Paula Laut cập cảng ở phía bắc Queensland, Úc. Lính dù háo hức rời khỏi con tàu chở hàng Hà Lan cũ kỹ han gỉ và cảm thấy bối rối khi đôi chân lại được đứng trên mặt đất vững chãi, khô ráo. Trong 8 tháng sau đó, trung đoàn 503 lại tiếp tục huấn luyện để chuẩn bị nhận nhiệm vụ tác chiến đầu tiên.

Trong khi trung đoàn 503 còn huấn luyện ở Úc, thì các đơn vị lục quân khác cùng TQLC Hoa Kỳ đang quần nhau với các lực lượng Nhật Bản trên quần đảo Solomon, nằm ở phía tây và bắc của nước này. Đồng thời, tướng Douglas MacArthur cũng đang thực hiện công cuộc tái chiếm quần đảo Philippine của mình. Tuyến tiến công chính của ông ta nằm vắt ngang qua đảo New Guinea. Chiến thuật mà MacArthur đang theo đuổi là nhảy cóc theo bờ biển New Guinea  bỏ qua những nơi quân Nhật phòng thủ mạnh và đổ bộ vào những nơi mà địch yếu nhất.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 13 Tháng Mười Một, 2014, 08:27:21 AM
Đầu tháng 5 năm 1943, MacArthur quyết định tấn công vào vùng Lae-Salamaua ở New Guinea, phần dưới cùng của bán đảo Huon. Việc chiếm được Lae sẽ giúp kiểm soát được cái bán đảo có tầm quan trọng chiến lược ở phần đông của New Guinea này.

MacArthur lên kế hoạch dùng quân đổ bộ đường biển, quân dù và không vận để cô lập Lae. Ông sẽ cho quân đổ bộ lên bờ biển phía đông Lae rồi xoay về phía tây tấn công quân trú phòng Nhật. Đồng thời 1 trung đoàn dù Mỹ sẽ nhảy xuống Nadzab, phía tây Lae rồi chiếm sân bay tại đó. Khi đã kiểm soát được sân bay thì họ sẽ cố giữ nó đợi 1 sư đoàn bộ binh Úc đến bằng máy bay vận tải. Sau đó quân Úc sẽ tiến sang phía đông để đánh Lae từ hướng tây. Trung đoàn dù Mỹ được chọn sẽ nhảy xuống sân bay Nadzab chính là trung đoàn 503.

3 tuần trước khi chuyến nhảy dù được dự kiến sẽ xảy ra vào ngày 5 tháng 9 năm 1943, trung đoàn 503 đáp máy bay từ Úc sang cảng Moresby, tên bờ biển miền nam của New Guinea. 2 tuần sau đó, đại tá Kenneth H. Kinsler, chỉ huy trung đoàn, tiến hành phổ biến nhiệm vụ của từng tiểu đoàn trưởng. Tiểu đoàn 1/503 của trung tá John W. Britton sẽ nhảy ngay xuống sân bay và quét sạch lính địch trên đó. Tiểu đoàn 2 dưới quyền trung tá George M. Jones sẽ được thả xuống phía bắc sân bay để bảo vệ sườn cho tiểu đoàn Britton. Tiểu đoàn 3 của trung tá John J. Tolson sẽ nhảy xuống phía đông Nadzab để chặn quân Nhật từ Lae, cách đó 22 dặm, đánh tới.

Chuyến cất cánh dự định lúc tờ mờ sáng ngày 5 tháng 9 đã bị hoãn lại vì sương mù dày đặc và mưa. Mãi đến 8g30 thì lính dù mới có thể lên máy bay, hoàn tất chặng cuối cùng của quá trình đi vào chiến đấu.

Vào lúc 10g20, những lính dù trung đoàn 503 đầu bắt đầu nhảy ra khỏi máy bay vận tải C-47 từ độ cao chỉ chừng 120m xuống sân bay Nadzabt. 4 phút 30 giây sau đó thì toàn trung đoàn đã tiếp đất nhưng đội hình bị thất lạc. Hầu hết lính dù đều bị lạc lối trong đám cỏ kunai cao tới gần 4m sắc như dao cạo. May mắn là do lính Nhật đang phải chống chọi với sức ép của quân đồng minh đổ bộ lên phía đông Lea, nên đã rút khỏi khu vực và ko chở thành mối nguy đối với quân dù. Tới đầu giờ chiều thì phần lớn bọn họ mới tới tập kết ở sân bay. Đến khi ấy quân dù mới cùng 1 toán công binh Úc phối thuộc bắt đầu chuẩn bị sân bãi cho lực lượng tiếp viện. Những giờ còn lại ngày hôm đó và buổi sáng ngày 6 tháng 9 là giành cho việc tu sửa phi đạo để đón sư đoàn 7 bộ binh Úc. Quân bạn đã đến nơi an toàn. Ngay sau khi hạ cánh, quân Úc liền trực chỉ hướng đông tiến về phía Lae và quân Nhật.

Trong trận đánh cuối cùng tại Lae vào ngày 15 tháng 9, 1 số đơn vị quân Nhật trong lúc tháo chạy đã đâm đầu vào tiểu đoàn 3 của trung tá Tolson, lúc này vẫn đang phòng thủ ở phía đông Nadzab. Trận đấu súng ngắn ngủi diễn ra với 8 lính dù thiệt mạng, 12 người khác bị thương. Quân Nhật buộc phải đi đường vòng rồi rút vào những cao điểm nằm ở phía bắc Lae và mất dạng.

2 ngày sau, trung đoàn 503 rời Nadzab quay về cảng Moresby. Mặc dù chỉ có 1 số ít lính dù đã được đụng trận, trung đoàn vẫn thấy rất phấn khởi. Đơn vị tự hào vì đã thành công cả khi nhảy dù lẫn khi hành quân hoàn thành nhiệm vụ.

Sau khi trở về cảng Moresby mấy tuần, 1 thảm kịch cá nhân đã giáng xuống đầu trung đoàn 503. Hôm ấy, ko hiểu vì lý do gì, đại tá Kinsler đã đi vào khu rừng tiếp giáp với nơi đóng quân dã ngoại của trung đoàn rồi tự sát. Trung tá Jones, mới được đề bạt từ tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2/503 lên trung đoàn phó giờ nắm quyền chỉ huy trung đoàn.

Đến tháng 1 năm 1944, trung đoàn 503 trở về căn cứ của mình ở Queensland. Tại đây các thành viên của trung đoàn được huấn luyện tác chiến thêm xen lẫn với những kỳ nghỉ cuối tuần ở thành phố thân hữu Brisbane. Họ ở Úc cho tới tháng 4 thì lại quay lại New Guinea và thiết lập căn cứ mới ở Dobodura. Quân dù ở “Dobo” 5 tuần rồi được chuyển đến  Hollandia nằm ở trung tâm bờ biển miền bắc New Guinea. Nhiệm vụ của họ ở đó là truy quét các cụm quân Nhật bị cắt rời và tụt lại phía sau được sau những chiến dịch đổ bộ đường biển nhảy cóc của tướng MacArthur dọc theo bờ biển phía bắc hòn đảo.

 Giữa tháng 5 năm 1944 MacArthur tiến hành bước nhảy xa hơn nữa theo bờ biển New Guinea, đổ bộ lên đảo Wakde ngoài khơi. Mục tiêu kế tiếp trong danh sách là đảo Biak. Nằm cách đảo Wakde 180 dặm về phía bắc, ko những Biak có 3 sân bay cực tốt của Nhật mà còn kiểm soát vịnh Geelvink là nơi hải quân Mỹ dùng làm nơi xuất phát cho cuộc tiến công sắp tới vào phía tây bán đảo Vogelkop của New Guinea.

Ngày 27 tháng 5 năm 1944, 2 trung đoàn bộ binh đổ bộ lên Biak. Dù quân Mỹ đã chiếm được sân bay vào ngày 7/6, nhưng việc đánh chiếm đảo tiến triển rất chậm vì lính Nhật kháng cự mạnh. Đến khi trung đoàn bộ binh thứ 3 được tung vào tham chiến thì Biak mới thất thủ. Sự chiến đấu ngoan cường và dai dẳng của quân Nhật trên đảo Biak đã khiến cho phía Mỹ ko thể hiểu nổi cho đến khi họ khám phá qua 1 tù binh Nhật là quân địch hàng đêm đều từ đảo Noemfoor cách đó 128 km về hướng tây nam lẻn sang. MacArthur liền quyết định đánh chiếm đảo Noemfoor.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 14 Tháng Mười Một, 2014, 08:11:46 AM
Đảo Noemfoor có hình dáng giống quả trứng, bề dài chừng 22,5km, bề ngang gần 18 km. Địa hình ở phía bắc đảo tương đối bằng phẳng. Nửa phía nam đảo rải rác nhiều quả đồi có độ cao lên đến gần 300m so với mực nước biển. Rừng rậm bao phủ hầu hết hòn đảo ngoại trừ 1 số địa đoạn trên bãi biển phía bắc. Phòng tình báo của MacArthur ước tính có khoảng 3250 tay súng Nhật đang trú phòng trên hòn đảo.

Quân xung kích của trung đoàn bộ binh 158 cập bờ trên những bãi biển phía tây bắc Noemfoor lúc 8g ngày 2 tháng 7. Thoạt đầu, sức đề kháng của địch ko đáng kể. Các binh sĩ đã chiếm được sân bay Kamirir cùng dãy đồi có vị trí chiến lược đằng sau nó ngay trong giờ đầu tiên. Lát sau, 1 lính Nhật bị bắt trong cuộc chạm súng nhỏ đã khai với người hỏi cung rằng thật ra hắn ta còn tới hơn 6000 đồng đội đồn trú trên đảo.

Lo ngại khi thấy binh lực của đối phương đã tăng lên đáng kể, chỉ huy trung đoàn 158 xin tăng viện ngay lập tức. Trung đoàn 503, với vai trỏ là lực lượng dự trữ của MacArthur, được thông báo sẽ phải nhảy dù xuống Kamiri. Họ sẽ xuất phát ngay ngày hôm sau. Ngày mùng 3 tháng 7.

Đại tá Jones chọn tiểu đoàn 1/503, dưới quyền thiếu tá Cameron Knox sẽ nhảy đợt đầu. Đại tá Jones cùng với tiểu đoàn lên máy bay C-47 ở Hollandia rạng sáng ngày mùng 3 tháng 7. Đến 10g thì đội hình hàng đôi máy bay C-47 đã xuất hiện trên bầu trời Kamiri. Tới độ cao định trước là 130m thì lính dù rời máy bay, đại tá Jones nhảy đầu tiên.

Rủi thay, do máy đo cao độ bị sai, máy bay của Jone cùng 1 chiếc nữa thật ra chỉ cách mặt đất có hơn 50m. Dù của Jone mở vừa kịp lúc ông ngã đập xuống phi đạo làm bằng san hô nghiền vụn. Nhờ mũ sắt nên ko bị vỡ sọ nhưng cú ngã cũng khiến ông nhức đầu kinh khủng cả tuần sau đó. Xung quanh vị chỉ huy đang còn choáng váng, những lính dủ khác cũng ngã quay xuống đường băng.

Một số lính dù tuy nhảy đúng độ cao vãn gặp phải rắc rối. 1 số xe lội nước đã vô ý đỗ ở lề bên trái đường băng. Jones kinh hãi chứng kiến hàng chục lính dù của mình rớt trúng những cái xe đang đỗ. Cả thảy có 72 binh sĩ trên tổng quân số 739 của tiểu đoàn đã bị trọng thương phải đưa đi sơ tán trong đó có cả thiếu tá Knox.

9g55 sáng ngày mùng 4 tháng 6, tiểu đoàn 3/503 của thiếu tá John Erickson bắt đầu nhảy xuống Kamiri. Lần này thì đám xe lội nước đã được dời vào trong rừng. Tuy nhiên vẫn có tới 56 lính dù bị thương khi đáp xuống phi đạo - tỉ lệ thiệt hại là 8%. Trong số người bị thương có cả nhiều cán bộ chủ chốt. Ngoài thiếu tá Knox, trung đoàn còn mất 3 đại đội trưởng, sĩ quan thông tin trung đoàn, 1 số chỉ huy trung đội cùng nhiều hạ sĩ quan cấp cao.

Để phòng ngừa nguy cơ bị thương lãng nhách tăng thêm nữa, đại tá Jones đã xin cho tiểu đoàn còn lại, tiểu đoàn 2/503, dưới quyền trung tá John Britton, vào theo đường biển. Đề nghị này được chấp thuận. Ngày 10 tháng 7, đơn vị của Britton đã đổ bộ an toàn.

Tiếc thay, sau này mới phát hiện ra từ của tên tù binh Nhật là ko chính xác hoặc do hắn cố tình nói dối. Thực ra số đồng đội của hắn trên đảo Noemfoor có chưa đến 2500. Tình thế cấp bách khiến trung đoàn 503 được phái đi, và nhận tổn thất cao, lại chỉ là những lo lắng thái quá..

Đến ngày 11 tháng 7, đại tá Jones được biết trung đoàn mình sẽ chịu trách nhiệm quét sạch quân địch ở nửa phía nam Noemfoor. Trong thời gian còn lại của tháng 7 và cả trong tháng 8 lính dù truy đuổi quân Nhật trong các cánh rừng rậm. Tiểu biểu cho việc tác chiến trên 1 địa hình rừng có rậm bao phủ là hàng loạt những trận chạm súng ngắn ngủi nhưng ác liệt giữa các đơn vị cấp trung đội. Đây cũng là điềm báo cho những trận chiến mà trung đoàn 503 sẽ phải tham gia ở nam VN 23 năm sau đó.

Trong cuộc đụng độ diễn ra vào ngày 23 tháng 7, đại đội D, tiểu đoàn 2/503 đã chạm trán 1 đơn vị quân Nhật gần ngôi làng nhỏ nằm ven bờ biển phía nam. 1 trung đội của nó bị chia cắt và có nguy cơ bị tràn ngập. Trung sĩ Roy E. Eubanks được lệnh đưa tiểu đội lên cứu. Dẫn đầu binh sĩ, anh đã tiến được nhiều mét rồi tiểu đội mới bị hỏa lực mạnh mẽ của địch quân buộc phải nằm dán xuống đất. Sau đó Eubanks lấy 2 binh sĩ rồi bò tiến lên 15m nữa. Đạn súng máy bắn rát lại 1 lần nữa chặn họ lại. Eubanks lấy khẩu trung liên BAR của 1 lính dưới quyền, đứng bật dậy xông ra, đơn thương độc mã đánh thẳng vào vị trí của chúng.

Được nửa đường thì anh bị 1 loạt đạn quật ngã và bắn hỏng luôn khẩu BAR. Ko sờn lòng, Eubanks lại gượng dậy, đầm đìa máu tiếp tục xông lên. Vung khẩu trung liên như 1 cây gậy, Eubanks giết chết 4 lính Nhật rồi mới bị đạn địch bâu tới hạ sát.

Pha đột kích phi thường của Eubanks ko những đánh tập hậu lính Nhật, giúp trung đội bị mắc kẹt thoát ra mà còn đem lại vinh dự là thành viên đầu tiên của trung đoàn 503 được tặng thưởng huân chương danh dự.

Dù chiến đấu dũng cảm nhưng phải đến tận ngày 17 tháng 8 thì quân dù mới quét sạch được lính Nhật ra khỏi nửa phía nam đảo Noemfoor. Hòn đảo được tuyên bố chính thức là an toàn 2 tuần sau  đó. Thiệt hại của trung đoàn 503 trong trận đánh trên đảo Noemfoor là 60 người chết và 303 bị thương.

Trong khi trú quân ở Kamiri trong tháng 9, trung đoàn 503 được 2 đơn vị tới tăng cường. Đó là tiểu đoàn pháo binh dù 462 và tiểu đoàn công binh dù 161. Với lực lượng tăng cường này trung đoàn đổi tên thành trung đoàn dù tác chiến 503 (Parachute Regimental Combat Team) và sử dụng tên này cho đến hết cuộc chiến. Trung đoàn 503 ở lại Noemfoor đến giữa tháng 11 thì lên tàu đến Leyte, 1 lần nữa làm lực lượng trừ bị cho MacArthur.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 17 Tháng Mười Một, 2014, 08:03:37 AM
Ngày 20 tháng 10 năm 1944, quân Mỹ đã đổ bộ lên bờ biển phía bắc Leyte và tướng MacArthur trở lại quần đảo Philippine như dự định sau 1 hành trình dài kể từ khi ông ta buộc phải rút lui hồi tháng 4 năm 1942. Đã diễn ra những tuần chiến đấu rất ác liệt cho đến khi hòn đảo thất thủ ngày 25 tháng 12 năm 1944.

Nhằm thít chặt yết hầu số quân Nhật trên phần còn lại của Philippines, ngày 9 tháng 1 năm 1945, MacArthur lại đổ bộ lên bờ biển phía bắc đảo Luzon. Chiến lợi phẩm lớn nhất tại Philippines, chính là thủ đô Manila, nằm cách đó ở phía nam 177km.

Sự kháng cự của đối phương yếu 1 cách ko ngờ, và các sư đoàn của MacArthur đã vượt qua được vùng đồng bằng phía bắc đảo Luzon dẫn đến Manila. Thế nhưng trận Manila sẽ chứng tỏ rằng đó là 1 trong những trận đánh hao tổn sinh mạng nhất đệ nhị thế chiến. Quân cố thủ Nhật ngoan cường chống cự quyết liệt những binh sĩ tiến công đầy can đảm Mỹ từ khu phố này sang khu phố khác. Ko ít hơn 4 sư đoàn bộ binh đầy đủ đã được tung vào trận chiến giành lại Manila từ tay quân Nhật.

Các trận đánh trên đường phố ác liệt vẫn còn diễn ra cho đến tận ngày 16 tháng 2 năm 1945, khi trung đoàn 503 xuất phát từ đảo Mindoro để tung ra 1 đòn tấn công nhảy dù táo bạo, vô tiền khoán hậu trong chiến tranh TG thứ 2 - nhảy dù chiến đấu xuống hòn đảo nhỏ tí Corregidor.

Nằm trên vịnh Manila, đảo Corregidor vừa có tính chiến lược lại vừa mang tính biểu tượng. Đám quân Nhật ngoan cố phòng thủ trên đảo Corregidor nã đạn pháo vào bất kỳ chiếc tàu nào của hải quân Mỹ ra vào vịnh. Trước khi số pháo trên hòn đảo đá này bị bắt phải câm họng thì mọi tàu bè hải quân đều chưa thể được an toàn.

Ước chừng 4000 lính Mỹ can trường đã cố thủ tại Corregidor vào lúc tổng thống Franklin D. Roosevelt hạ lệnh cho MacArthur thoát thân đến Úc. Ông miễn cưỡng tuân lệnh và giao lại quyền chỉ huy cho tướng Jonathan M. Wainwright. Với tinh thần bất khuất của Wainwright mà quân trú phòng trụ được thêm 1 tháng nữa. Ngày 6 tháng 5 năm 1942 sau trận oanh kích dã man suốt 24 tiếng đồng hồ chôn sống trong đống đất đá nhiều lính phòng thủ, Wainwright đã phải tuân theo lời gọi hàng của tư lệnh quân Nhật.

Và bây giờ, sau 3 năm, tướng MacArthur đang chuẩn bị tái diễn lại sự kiện đó với quân thù. Ban tham mưu của ông đã lên kế hoạch tiến công vào "chốt chặn" ngày 16 tháng 2 bằng 3 tiểu đoàn. 2 trong số đó lấy từ trung đoàn 503 của đại tá Jones. Sau khi 2 tiểu đoàn dù đã được thả xuống Corregidor thì tiểu đoàn 3, trung đoàn 34, sư đoàn 24 bộ binh sẽ đổ bộ đường biển vào tại chân đồi Malinta, phía nam Corregidor. Hai lực lượng này sau đó sẽ hội quân để hoàn tất việc đánh chiếm pháo đài.

Đại tá Jones rất hoan nghênh cơ hội nhảy dù này. Ban đầu trung đoàn của ông được điều đến Leyte để làm trừ bị và đã bỏ lỡ tất cả những trận đánh trong chiến dịch này. Ngày 15 tháng 12 năm 1944 họ tiến hành đổ bộ đường biển lên đảo Mindoro nhưng ko gặp đối thủ. Từ lúc đó họ toàn phải nằm ở Mindoro để chờ lệnh chiến đấu.

Sau khi nhận nhiệm vụ, Jones bắt tay ngay vào việc nghiên cứu hòn đảo nhỏ và lên kế hoạch cho đợt nhảy dù cùng với hoạt động tấn công dưới mặt đất diễn ra sau đó. Qua không ảnh và trinh sát đường không đảo Corregidor thì đây là 1 hòn đảo dài 5,6km với hình củ hành đầu to, đuôi dài và hẹp. Nơi rộng nhất trên đầu đảo Corregidor là khoảng 2,4km.

Ở đầu hòn đảo, hay phía tây, có chỗ cao đến 167m so với mực nước biển. Lính Mỹ trước chiến tranh đã gọi chỗ này là Topside của Corregidor. Có 1 số doanh trại lớn nằm ngay gần giữa Topside. Từ mấy trại lính đi thẳng xuống phía nam là 1 sân duyệt binh lớn (rộng 325 dài 250m). Tiếp giáp với rìa đông của sân duyệt binh là 1 sân đánh golf 9 lỗ.

Corregidor tiếp tục dốc xuống phía đông đến 1 cao nguyên nhỏ tên là Middleside. Từ đây mặt đất dốc đứng đến gần 100m cho tới tận chỗ hẹp nhất của hòn đảo, gọi là Bottomside. Tại đây bề ngang của đảo chỉ còn có 300m.

Phía đông Bottomside là quả đồi Malinta cao 118m, qua khỏi quả đồi, cái đuôi nòng nòng tiếp tục kéo dài về phía đông rồi bẻ quặt ở Mũi con Khỉ và đi thêm chừng 800m nữa. Tại Mũi con Khỉ, trước chiến tranh TG thứ 2, công binh Mỹ đã xây 1 sân bay trên đá. Một số đường hầm để cất trữ hàng hóa cũng đi qua khu vực này.

Sau khi cân nhắc, đại tá Jones, người được chỉ định làm tổng chỉ huy lực lượng chiếm đảo đã đưa ra kế hoạch tiến công. Sáng ngày 16 tháng 2 năm 1945, tiểu đoàn 3/503, do trung tá mới được thăng cấp John Erickson chỉ huy sẽ nhảy xuống Topside. Bãi thả quân sẽ là sân duyệt binh và sân golf. Đi cùng bộ binh dù có đại đội C, tiểu đoàn công binh dù 161 và pháo đội D, tiểu đoàn pháo dù 462.

Erickson có 2 nhiệm vụ: Chiếm lĩnh, giữ vững cả 2 bãi thả dù để cho tiểu đoàn 2/503 của thiếu tá Lawson B. Caskey cùng những lính dù trợ chiến khác sử dụng chiều hôm đó và chiếm phần Topside nhìn xuống những bãi đổ bộ của tiểu đoàn 3, trung đoàn 34.

Đến ngày 17 tháng 2 thì tiểu đoàn còn lại của Jones là tiểu đoàn 1/503 do thiếu tá Robert Woods chỉ huy, và pháo đội cuối cùng cũng sẽ nhảy xuống Topside. Khi tất cả lính dù đã ở dưới đất, họ sẽ tiến sang phía đông đến đồi Malinta, bắt tay với tiểu đoàn 3/34 rồi lính dù cùng bộ binh sẽ tiến công tiếp tục về hướng đông cho đến khi quét hết lính Nhật ra khỏi hòn đảo.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 18 Tháng Mười Một, 2014, 09:39:19 AM
8g30 ngày D, những máy bay C-47 chở đại tá Jones và tiểu đoàn của trung tá Erickson từ phía nam bay đến Corregidor. Do bãi thả dù rất nhỏ, nên mỗi máy bay chỉ bay qua chúng trong 6 giây - đủ thời gian cho 6 lính dù nhảy ra. Đoàn máy bay sau đó sẽ vòng lại và bay các lượt tiếp theo qua đảo cho đến lính dù nhảy hết.

Trung tá Erickson nhảy đầu tiên. Từ độ cao 150m, ông cùng các lính dù khác bắt đầu nhảy xuống đảo Corregidor. Ngoài 1 số lính dù dạt quá về phía nam và rơi xuống các mỏm đá của Topside, còn thì hầu hết đều tiếp đất an toàn. Người ko may ở đây lại chính là đại tá Jones. Ông đâm sầm vào 1 cái cây bị đạn pháo làm cho trơ trụi. 1 nhánh cây dài đã đâm xuyên vào đùi Jones. Dù rất đau đớn, Jones vẫn rút được cành cây ra, băng bó vế thương rồi đi cà nhắc về nơi đặt chỉ huy sở.

Quân Nhật, dù rất kinh ngạc trước đòn đột kích đường không, đã ko để phí nhiều thời gian.  Địch quân bắn vào những lính dù đang nhảy xuống và tập kích ngay những người vừa tiếp đất. Giao tranh dữ dội đã nổ ra tại nhiều chỗ trong khi lính dù vẫn còn đang lơ lửng. Đợt nhảy dù đầu tiên vừa bị thiệt hại trong khi nhảy vừa phải chịu thương vong do đụng độ đã tổn thất tới 25%.

Khi mà quân dù vẫn từ trên trời rơi xuống như mưa, lực lượng đổ bộ đường biển rời điểm xuất phát ở Bataan. Do địch đang bị lính dù nhảy xuống Topside thu hút, 4 đợt bộ binh đầu tiên cập bờ đã ko gặp phải sự kháng cự nào. Đến đợt thứ 5 thì bị đạn của 1 ổ súng máy Nhật vẫn im lìm trước đó bắn đến nhưng kỳ diệu thay chẳng có thiệt hại gì. Cũng đột ngột như lúc đầu, khẩu súng máy địch ngừng bắn. Đợt 5 cũng lên bờ mà ko gặp thêm sự cố gì nữa rồi nhập cùng mấy đợt đổ quân trước. Họ đã chiếm được đồi Malinta với mức thương vong tối thiểu.

Đợt lính dù thứ 2 của đại tá Jones bắt đầu nhảy khỏi máy bay lúc 12g40. Jones đã định hủy bỏ cuộc đột kích đường không của tiểu đoàn 2/503 nhưng vì lo quân Nhật phản kích nên ông vẫn quyết định tiếp tục theo kế hoạch.

Do quân trú phòng đã được báo động về trận đột kích pháo đài, tiểu đoàn của thiếu tá Caskey bị địch bắn mạnh hơn đợt đầu tiên. Dù thế đến khi thành viên cuối cùng của tiểu đoàn 2/503 tiếp đất, Jones đã có hơn 2000 quân trong tay. 50 binh sĩ đã bị bắn chết trong khi nhảy dù. 8 người khác tử nạn vì dù đẩy họ sang phía bên kia Topside và quật vào những tảng đá bên dưới 150m. 210 lính dù nữa bị loại khỏi vòng chiến do bị thương hoặc gặp tai nạn khi nhảy. Dù sức chiến đấu đã giảm sút, Jones mới phải chịu 50% tổn thất đã tiên liệu trước trong kế hoạch.

Hơn thế cuộc đổ bộ đường không và đường biển lên Corregidor đã thành công vượt xa cả dự đoán. Đại tá Jones rất hài lòng trước màn trình diễn của cả lính dù lẫn lính bộ binh, thương vong nhẹ hơn dự định và quân Mỹ đã đứng vững tại nơi đã từng đóng bộ tư lệnh của tướng MacArthur. Tuy nhiên, đây mới chỉ là bước khởi đầu. Hơn 5000 lính Nhật vẫn đang kiểm soát hệ thống địa đạo của Corregidor và quyết tâm hoặc đánh bật quân Mỹ ra khỏi hòn đảo hoặc là chết.

Trong thời gian còn lại của ngày D, lính dù lo việc quét sạch quân Nhật ra khỏi Topside. Tiểu đoàn 3/503 của trung tá Erickson tập trung càn quét nửa phía bắc Topside, trong khi tiểu đoàn 2/503 của thiếu tá Caskey đảm trách nửa phía nam. Phát hiện được 1 số ít lính Nhật nhưng chúng nhanh chóng bị bị hỏa lực chết chóc của quân dù bắn hạ ngay. Vào lúc ngày D sắp kết thúc, thì đại tá Jones cho rằng mình đã kiểm soát được Topside. Ông báo tin cho thiếu tá Robert Woods, chỉ huy tiểu đoàn 1/503 để hủy kế hoạch nhảy dù ngày 17 tháng 2 của tiểu đoàn Woods, và pháo đội cuối cùng của tiểu đoàn pháo 462. Thay vào đó, bộ phận này sẽ bay đến sân bay gần vịnh Subic rồi chuyển sang tàu đổ bộ rồi đổ quân lên bãi biển mà tiểu đoàn 3/34 đã lên bờ.

Quyết định thay đổi lệnh cho thiếu tá Woods là dựa vào việc cho rằng những bãi biển đã an toàn. Tuy thế, ngày 17 tháng 2, khi tiểu đoàn 1/503 áp sát những bãi biển phía nam đồi Malinta, thì tàu đổ bộ đã bị 2 khẩu súng máy Nhật xạ kích. Dù địch quân chỉ bắn có 1 lúc nhưng cũng có 6 lính dù thiệt mạng. Ngoài việc đó ra ko còn thấy hoạt động nào ngăn cản việc đổ bộ nữa. Lính tiểu đoàn 1/503 leo lên những con đường mòn đi về Topside và đảm nhiệm vị trí dự bị cho trung đoàn.

Hành động chống trả có tổ chức đầu tiên của quân Nhật ở Corregidor diễn ra gần nửa đêm ngày 17 tháng 2. Tiếng reo hò kêu thét của chừng 50 lính Nhật dậy lên trong đêm tối. Địch lao ngay vào vị trí của đại đội K, tiểu đoàn 3/34 đóng trên đỉnh đồi Malinta. Vì tiến công trên địa hình dốc đứng, trống trải nên quân Nhật bị những binh sĩ có công sự vững chắc mau chóng đánh bật.

Một lực lượng mạnh khác của Nhật tiến đánh đồi Malinta vào 3 giờ sáng ngày 18 tháng 2. Giao tranh kéo dài cho đến tận đầu giờ chiều. Có lúc tưởng chừng những cố gắng của quân Nhật đã thành công. Chỉ có hỏa lực dày đặc của các đại đội súng trường Mỹ mới có thể ngăn được điều đó. Có 68 lính Mỹ bị thương vong trong trận đánh. Phía Nhật bỏ lại rải rác trên sườn đồi 150 xác.

Tại Topside, lính dù trung đoàn 503 lo lắng nghe ngóng âm thanh trận đánh phía dưới. Phần lớn đều thấy mình may mắn khi ko phải thu mình trên đồi Malinta để chống trả quân Nhật. Đến lúc này thì họ đã qua được 1 ngày nhưng rồi trong đám lính dù kia cũng có nhiều người sắp phải chết. Trong hệ thống địa đạo nằm sâu bên dưới Topside, có 600 lính Nhật đang chuẩn bị tấn công banzai (tấn công tự sát.ND).

Lúc 6g sáng 19 tháng 2, lính dù trung đoàn 503 vừa mới cạo râu, ăn sáng xong và đang chuẩn bị đón 1 ngày yên ả trên Topside. Thình lình, tiếng hát đáng sợ của hàng trăm lính Nhật từ khu rừng rậm nằm ngay phía tây sân duyệt binh vọng đến. Trong khi quân dù còn đang sửng sốt thì tiếng hát đã chuyển thành tiếng thét “Banzai! Banzai! Banzai!”, rồi 1 rừng lính Nhật vừa gào thét vừa xông ra khoảng đất trống phía sau những khối nhà của Topside. Nhiều lính dù còn chưa kịp phản ứng thì quân Nhật đã ập đến dùng đao kiếm xả họ ra từng mảnh.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 19 Tháng Mười Một, 2014, 10:51:24 AM
Trung đội lính dù ở gần đợt tấn công nhất đã biến mất trước số lượng áp đảo quân Nhật. Những lính dù còn lại vội chộp lấy súng và nhảy xuống công sự. Trong phút chốc, không trung ngập tràn tiếng nổ đùng đoàng của súng trường M1 cùng trung liên BAR. Quân Nhật bắt đầu gục xuống, nhưng số sống sót vẫn ùa lên.

Giao tranh chuyển thành đánh giáp lá cà khi lính Nhật cuồng tín áp sát những lính dù còn đang quờ quạng. Ở cự ly sát sạt này thì súng trường, súng máy đã được thay bằng lưỡi lê và súng lục. Những đám nhỏ chiến binh đánh nhau chí chết trong khi lính Nhật thì vẫn ùa tới.

Chẳng hiểu bằng cách nào mà số lính dù bị bao vây lại có thể chặn cuộc đột kích banzai lại. Binh lính Mỹ can trường liều mạng đã chặn đứng được quân Nhật. Trận đánh cuối cùng cũng đã chấm dứt. Gần 500 xác lính Nhật nằm rải đầy trên sân duyệt binh. Ngạc nhiên thay, thương vong của trung đoàn 503 lại tương đối nhẹ: 33 tử trận, 75 bị thương.

Những lính Nhật còn sống sót sau cuộc đột kích banzai điên cuồng tiếp tục chạy về phía đông. Quân dù tổ chức những đội ứng chiến tiến hành săn đuổi chúng. Thay vì đầu hàng, hầu hết lính Nhật đều chiến đấu đến cùng. Quân Nhật nấp trong các hang nhỏ, các hẻm núi và chiến đấu với quân truy kích. Lính địch vẫn ngoan cố đánh tiếp cho đến khi bị quân dù tiêu diệt. Phải mất hơn 2 ngày mời trừ khử được hết số lính Nhật.

Trong khi diễn ra các cuộc truy quét, binh sĩ trung đoàn 503 đã tình cờ được chứng kiến 1 cố gắng tuyệt vọng của quân Nhật nhằm đánh bật phía Mỹ ra khỏi hòn đảo. Những thành viên tiểu đoàn 3/34 trên đỉnh đồi Malinta ko hề hay biết có 2000 lính Nhật đang bị mắc kẹt trong địa đạo dưới mặt đất. Những trận oanh kích quá dữ dội đã khiến cho đất sụt lở và bít kín các lối ra vào của địa đạo. Cùng mắc kẹt với lính Nhật dưới địa đạo là hàng tấn đạn dược, bom mìn cùng đủ loại pháo hiệu.

Các chỉ huy của số quân Nhật bị mắc kẹt đã trù tính 1 kế hoạch ko những mang đến cho họ cái chết vinh quang mà còn giết được nhiều tên Mỹ mà họ căm thù. Họ sẽ dùng hàng trăm pound thuốc nổ TNT phá bung 1 cửa ra bị bít kín rồi vội vã tung ra cuộc đột kích banzai lớn, giết hết mọi lính Mỹ bắt gặp.

Vào lúc 22g30 ngày 20 tháng 2, bên trong đồi Malinta phát ra 1 tiếng nổ cực lớn. Vụ nổ lớn đến nỗi rất nhiều lính Mỹ thấy như ngọn đồi rung rinh dịch chuyển. Khối lửa lớn phụt ra khỏi cửa địa đạo. Đất, đá, cây cối, mảnh vụn bay tới tấp. Đồi Malinta bị nứt nhiều chỗ lớn gây ra nhiều vụ lở đất.

Quân dù đóng trên Topside hoảng hốt nhìn xuống lối vào địa đạo, lúc này vẫn bị lửa khói vây kín. Chuyện gì đã xảy ra vậy?

Phía Nhật đã tính sai hiệu quả của khối thuốc nổ. Sức nổ đã dội ngược sâu vào đường hầm và kích nổ hàng tấn thuốc nổ đang cất trữ bên trong. Vụ nổ đã giết chết gần 1500 lính Nhật đang tập trung ở đó. Chỉ có khoảng 500 ở đường hầm bên cạnh là còn sống sót sau hỏa ngục. Khi khói tan, phần lớn bọn họ đã lẻn ra khỏi địa đạo tìm đường về 'cái đuôi' của đảo và ở đó chờ quân Mỹ tiến đến.

Quân dù cũng bám sát phía sau. Tới ngày D+8, thì đại tá Jones cho rằng tình hình trên phần chính của Corregidor đã đủ ổn định để bắt đầu tiến đánh phần đuôi đào. Ngày 24 tháng 2, tiểu đoàn 1/503 của thiếu tá Woods dẫn đầu tiến công sang phía đông.

Cuộc tiến công tiến triển tốt. Đến chiều thì đã có 100 lính Nhật bị tiêu diệt. Đến đêm thì sức đề kháng mạnh lên và lính dù đã phải đào công sự phòng thủ. Chỉ lát sau 1 cuộc tấn công banzai ngắn ngủi nhưng rất dữ dội đã đánh vào tiểu đoàn Woods. Lính dù đánh bại đợt tấn công với tổn thất 3 người chết, 21 bị thương. Trong số chết có cả thiếu tá Woods.

Lính dù đã đẩy quân Nhật về phía đông đến 1 vùng đất rất nhỏ 2 ngày sau đó. Diễn ra những trận giáp chiến ác liệt khi quân địch chiến đấu từ mọi tảng đá, từng gốc cây, hẻm núi, hang hốc và bất kỳ chỗ nào có thể ẩn nấp. Phải trục từng lính Nhật 1 khi chúng quyết đánh đến cùng. Cũng như lúc ở Noemfoor, lính dù trung đoàn 503 phải dấn thân vào 1 trận chiến man rợ bất chấp luật lệ với những kẻ thù cuồng tín.

Thiếu tá John N. Davis lên nắm quyền chỉ tiểu đoàn 1/503 sau cái chết của Woods. Tiểu đoàn của ông vẫn tiếp tục đi đầu tiến về hướng đông. Sáng ngày 26 tháng 2 họ đến Mũi con Khỉ nhìn xuống sân bay. Họ ko hề hay biết mạng lưới rông lớn đường hầm chằng chịt ở đây và cũng ko biết bên trong đó cũng cất trữ hàng tấn thuốc nổ.

Trưa ngày 26 tháng 2, quân Nhật cho nổ tung Mũi con Khỉ. Vụ nổ này có khi còn lớn hơn cả vụ nổ đã làm rung chuyển quả đối Malinta. Thiếu tá Davis bị hất tung lên trời, nhưng rất may khi rơi xuống ko bị thương tích gì nghiêm trọng. 1 chiếc xe tăng Sherman nặng 35 tấn bị ném văng đi như thứ đồ chơi của trẻ con. Những người trong xe đều chết. Đá tảng cùng mảnh xác người bay tung tóe lên ko trung, 1 số hòn đá tưởng chừng văng xa cho đến tận Topside.

Tổn thất của quân Mỹ khá là lớn: Có 52 lính dù mất mạng, 140 bị thương. Ước tính có khoảng 150 lính Nhật chết bên trong địa đạo.


Tiêu đề: Re: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam
Gửi bởi: ngthi96 trong 20 Tháng Mười Một, 2014, 07:28:06 AM
Đại tá Jones vội điều lính cứu thương từ những tiểu đoàn khác lên cứu giúp thương binh. Ngay khi tình hình đã được kiểm soát ông thúc tiểu đoàn của trung tá Erickson vượt lên tiến qua tiểu đoàn 1/503 đã mất sức chiến đấu và tiếp tục truy kích địch.

Quân dù tiến từ từ, thận trọng xuống phần đuôi của đảo Corregidor. Các binh sĩ dùng lựu đạn và súng cá nhân tiêu diệt lính Nhật ở bất kỳ chỗ nào họ phát hiện được. Giao tranh còn tiếp diễn mấy hôm nữa nhưng đại tá Jones vào ngày 27 tháng 2 đã tuyên bố là sự kháng cự có tổ chức đã chấm dứt.

Tổn thất của phía Nhật, dựa trên con số thống kê xác chết thực tế là 4500 thiệt mạng, chỉ có 20 bị bắt làm tù binh. Số còn lại được phỏng đoán là đã mất xác trong 2 vụ nổ lớn.

Tổng thiệt hại của Mỹ 1005, trong đó có 455 tử trận.

Ngày 2 tháng 3 năm 1945, tướng MacArthur trở lại đảo Corregidor. Để cho ấn tượng, MacArthur đến theo cùng 1 cách mà ông đã dùng để đi 3 năm về trước -  là bằng tàu phóng lôi (PT boat). Jones tháp tùng MacArthur đi thăm thú Topside, chỉ cho ông ta thấy nơi diễn ra trận giao tranh ác liệt. Sau đó 2 người đi về phía sân duyệt binh.

Đứng trước hàng ngũ những binh sĩ còn lại của trung đoàn dù 503 và tiểu đoàn 3/34, đại tá Jones nghiêm chào vị tư lệnh rồi nói: "Thưa sếp, tôi xin dâng tặng pháo đài Corregidor cho ngài."

MacArthur chào đáp lễ rồi nói chuyện với những binh sĩ đang tập hợp. Ông biểu dương tinh thần anh dũng và chúc mừng chiến thắng của bọn họ. Sau đó với giọng xúc động, MacArthur nhận xét: "Tôi thấy cây cột cờ khi xưa vẫn còn đứng đó. Hãy cho binh sĩ kéo cờ lên và đừng bao giờ để kẻ thù kéo nó xuống." Đến lúc đó, 1 lính danh dự liền nhanh chóng kéo lá cờ sao và vạch tung bay lên đỉnh cột.

1 tuần sau đó, trung đoàn dù 503 rời đảo Corregidor. Họ trở về đảo Mindoro để nghỉ ngơi, huấn luyện và bổ sung quân số.

Ngày 25 tháng 3 năm 1945, trung đoàn được báo động chuẩn bị nhảy dù chiến đấu lần thứ 4 trong đệ nhị thế chiến. Sư đoàn 40 bộ binh được dự định sẽ đổ bộ lên đảo Negros, nam trung bộ Philippines vào ngày 28 tháng 3. Tính báo Mỹ ước tính có 40.000 quân Nhật đang cố thủ trên đảo. Hầu hết đều là cựu thành viên của lực lượng không quân Nhật, tuy chưa được huấn luyện kỹ thuật tác chiến bộ binh, nhưng vẫn là 1 đối thủ đáng gờm. Nếu quân địch quá áp đảo sư đoàn 40, thì lính dù sẽ phải lập tức nhảy dù xuống chi viện.

Sư đoàn 40 bộ binh đã đổ bộ thành công và nhanh chóng đẩy quân Nhật vào trung tâm đảo. Khi đã thấy rõ là 1 đòn đột kích đường không sẽ ko còn cần thiết nữa, trung đoàn 503 của đại tá Jones được cho đổ bộ lên bờ bằng xe lội nước. Được tăng phái cho sư đoàn 40, trung đoàn 503 chiến đấu như lính bộ binh thường qua những dãy núi cây rừng rậm rịt bao phủ trên đảo Negros.

Quân nhảy dù phải trục những lính phòng thủ ngoan cố bằng chiến thuật sử dụng các đơn vị nhỏ, như rất nhiều lần trước đó. Cũng những chiến thuật này sẽ lại được lớp con cái của những cựu binh chiến tranh TG thứ 2 sử dụng chống lại quân giải phóng ở nam VN 20 năm sau đó.

Nhưng đó là chuyện tương lai. Suốt tháng 4, tháng 5 và tháng 6 lính dù truy đuổi quân Nhật khắp đảo Negros. Ngày 10 tháng 6 năm 1945, sự kháng cự có tổ chức trên đảo được tuyên bố là đã chấm dứt. Từ thời điểm đó quân dù tiến hành các cuộc truy quét hàng ngày để săn lùng những toán nhỏ lính Nhật.

Việc lùng sục vẫn tiếp diễn cho đến khi chiến tranh kết thúc vào tháng 8. Trong những tháng sau đó, trước sự sửng sốt của lính dù, có tới 6000 lính Nhật chui ra khỏi vùng núi trên đảo Negros để đầu hàng và trở về quê hương.

Đầu tháng 12 năm 1945, trung đoàn dù 503 đáp tàu từ Philippines về Mỹ. Vào lễ Giáng sinh năm 1945, tại căn cứ Anza, California, trung đoàn dù 503 bị giải thể.

Trung đoàn được tái lập lại sau 13 năm. Sau đó trung đoàn bộ binh dù 503 được bàn giao cho Chiến đoàn 2 nhảy dù(Airborne Battle Group) trên đảo Okinawa.
 





HẾT




Tèn tén ten...chuyện lính dù Mỹ đến đây kết thúc..Các bác trên forum có thể in ra đọc cũng được nhưng xin không sử dụng cho mục đích thương mại...Cảm ơn mọi người