Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: Noitraitim trong 29 Tháng Tám, 2013, 09:43:40 am



Tiêu đề: Luật sư Phan Anh và nhật ký hội nghị Genève
Gửi bởi: Noitraitim trong 29 Tháng Tám, 2013, 09:43:40 am
Luật sư Phan Anh - Bộ trưởng Quốc phòng một thời
Ngọc Phúc
Nguồn: vanhoanghean.vn

(http://vanhoanghean.com.vn/images/stories/phan%20anh.jpg)

Việt Nam những ngày đầu Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đứng trước những khó khăn tưởng chừng như không sao vượt qua nổi. Tình hình thế giới và trong nước đều không thuận lợi. Khó khăn lớn nhất đối với Việt Nam lúc này là cùng một lúc phải đối phó với nhiều thế lực quân sự thù địch của các nước lớn đông và mạnh đang có mặt tại nước ta: 200.000 quân Tưởng Giới Thạch đói khát đầy tham vọng, 26.000 quân Anh - Ấn vào giải giáp quân Nhật nhưng thực chất là mở đường giúp Pháp trở lại xâm lược nước ta.

Chúng đã ký hiệp định giao cho Pháp quyền giải giáp quân đội Nhật, tạo điều kiện cho 1.500 quân Pháp bị giam giữ được thả và vũ trang lại. Ngoài ra còn 60.000 quân Nhật chờ giải giáp cũng là mối nguy cơ tiềm ẩn của chính quyền cách mạng.

Đối phó với thù trong giặc ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng ta đã có nhiều sách lược mềm dẻo, khôn khéo để giữ vững chính quyền cách mạng non trẻ. Chỉ trong vòng hơn một năm, từ ngày 2 - 9 - 1945 đến ngày toàn quốc kháng chiến 19 - 12 - 1946 ta bốn lần thay đổi chính phủ. Luật sư Phan Anh làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong Chính phủ liên hiệp kháng chiến được công bố ngày 2 - 3 - 1946. Nghĩa là sau cuộc tổng tuyển cử tự do đầu tiên trong lịch sử nước ta, vào ngày 6 - 1 - 1946, chính phủ được thành lập để thực hiện chính sách "tạm hoà với Tưởng", Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị Quốc hội thêm 70 ghế nữa không bầu cho hai phái thân Tưởng. Cho đến ngày 3 - 11 - 1946 tại kỳ họp thứ hai Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà khoá 1, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố chính phủ mới - Chính phủ liên hiệp quốc dân được thành lập.

Luật sư Phan Anh làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong tám tháng nhưng đó là một thời kỳ khó khăn trên chính trường, thời kỳ đầu xây dựng Quân đội cách mạng chuẩn bị bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Ông đã có những đóng góp quan trọng cho nền quốc phòng non trẻ những năm đầu cách mạng.
Tại sao vào thời điểm lịch sử ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh và quốc dân giao cho luật sư Phan Anh trọng trách Bộ trưởng Bộ Quốc phòng?
Miền quê "địa linh, nhân kiệt"

Luật sư Phan Anh sinh ra ở đất Hồng Lam xưa nay nổi tiếng "địa linh, nhân kiệt" - một vùng đất linh thiêng sản sinh ra những con người hào kiệt để lại tiếng thơm muôn đời trong lịch sử dân tộc, từ Nguyễn Huệ, người anh hùng "áo vải cờ đào" đến nhà chí sĩ yêu nước chống Pháp Phan Đình Phùng; từ nhà yêu nước vĩ đại Phan Bội Châu đến Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương Trần Phú.

Quê ông làng Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh trong con mắt của vợ ông - "nàng dâu Nghệ Tĩnh" Đỗ Hồng Chỉnh thật là thú vị: "Một làng quê như bao làng quê Việt Nam. Nhà là gắn với vườn cây. Nhà nọ cách nhà kia bằng hàng rào cây. Làng nọ cách làng kia một luỹ tre xanh bao bọc. Địa thế quê anh có sông, có núi, có bãi bồi, có đồng ruộng - đẹp tuyệt vời. Anh thường thích dẫn tôi lên đỉnh đồi gần nhà để ngắm phong cảnh chung, ngắm dòng sông La, ngắm trạm bơm Linh Cảm, ngắm bến Tam Soa…" Không biết bà có quá yêu quê chồng mà viết thế không nhưng quả là miền quê Đức Thọ, Hà Tĩnh đẹp thật. Một không gian thoáng đạt, sơn thuỷ hữu tình và tình người sâu lắng. Hà Tĩnh không phải nơi chôn rau cắt rốn của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý nhưng ông đã nói thay tình cảm của bao nhiều người dân đất Việt về Hà Tĩnh: "Đi mô cũng nhớ về Hà Tĩnh". Không chỉ phong cảnh đẹp mà con người ở đây cũng đẹp và lịch lãm càng tôn thêm sức hấp dẫn của một vùng quê miền Trung. Nghề canh cửi có từ bao đời làm nên vẻ đẹp nên thơ của những cô gái Đức Thọ từ xưa đến nay. Thiếu tướng Hồ Đệ quê ở Nam Đàn khi nói với tôi về con gái Đức Thọ, dù ở tuổi 80 vẫn không quên một kỉ niệm: "Thời trai trẻ, một lần tôi cùng anh bạn qua cánh đồng Đức Thọ nhìn thấy những cô gái mặc váy đen, áo nâu non đang bắt cua. Anh bạn tôi bảo: "Làm đồng thì vậy đấy mà khi đi chợ cậu nhìn mê ngay. Nhớ kỹ nhớ". Đúng là đến phiên chợ, các cô ngồi bán hàng vải trong bộ đồ mới, cũng váy đen áo nâu non nhưng gọn gàng, trang điểm đẹp lắm". Ông nhận xét: "Con gái Nam Đàn quê tôi không có được cái xinh tươi, lịch lãm của con gái Đức Thọ".

Đức Thọ là quê hương của Phan Đình Phùng và Trần Phú đã thành niềm tự hào của người dân nơi đây. Những câu thơ của một người con gái Đức Thọ viết về quê hương mình tặng luật sư Phan Anh ngày Luật sư còn sống, còn đọng mãi trong tôi:

"Quê mẹ ta ơi: quê Đình Phùng, Trần Phú
Đất lửa Anh hùng Xô Viết năm xưa
Đường đấu tranh lồng lộng ánh sao cờ
Theo Đảng ta đi, quê nhà giải phóng.
Ruộng đất về ta, con người, cuộc sống,
Cũng về ta và từng bước đi lên."

Phan Anh sinh ra trong một gia đình khoa bảng, có truyền thống yêu nước. Truyền thống khoa bảng tộc họ Phan được ghi chép trong sách Các nhà khoa bảng Việt Nam và Quốc triều hương khoa lục được bà Hồng Chỉnh ghi chép lại trong hồi ký của luật sư Phan Anh, giúp chúng ta biết thêm về truyền thống hiếu học của ông cha xưa: "Phan Phúc Cẩn sinh năm 1458 đến năm 1475 đỗ đồng Tiến sĩ thời Hồng Đức thứ 6. Phan Dư Khánh sinh năm 1461 đến năm 1481 đỗ đồng Tiến sĩ đời Hồng Đức thứ 12. Phan Khiêm Thụ sinh năm 1722 đến năm 1757 đỗ đồng Tiến sĩ đời Cảnh Hưng thứ 18… Anh Phan là trực hệ của cụ Phan Dư Khánh…".

Ông nội luật sư Phan Anh là cụ Phan Văn Tao tham gia nghĩa quân của cụ Phan Đình Phùng khởi nghĩa chống Pháp những năm cuối thế kỉ XIX. Bà nội của Luật sư là cháu cụ Phan Đình Phùng bị bọn cường hào trả thù nên lâm vào cảnh nghèo khó, cả gia đình lưu lạc nơi đất Bắc kiếm sống.

Cụ Phan Điện thân sinh của Luật sư là một nhà nho yêu nước đồng thời là một nhà thơ trào phúng đầu thế kỉ XX. Thời kỳ ở Hà Đông, cụ Phan Điện thường đến quê cụ Nguyễn Thượng Hiền dạy học, khi cụ Nguyễn Thượng Hiền theo phong trào Đông du chống Pháp, cụ Phan Điện đưa các em cụ Hiền về Tùng Ảnh. Sự việc bị phát giác, Tổng đốc Hoàng Trọng Phu bắt giam cụ một thời gian mới tha. Cụ làm thơ trào phúng phê phán, tố cáo bọn quan lại tay sai cho Pháp làm khổ dân ta. Thơ cụ cũng là tiếng nói phủ nhận một xã hội đầy rẫy bất công, ý thức nỗi nhục mất nước nhưng không mất niềm tin vào một ngày mai tốt đẹp hơn. Chí khí, tình cảm cùng với thơ văn của cụ đã góp phần làm nên nhân cách của hai người con nổi tiếng - những trí thức lớn của đất nước là Phan Anh và Phan Mỹ. Đó cũng là lý do vì sao nhân kỷ niệm 120 năm ngày sinh của cụ Phan Điện (1874 - 1994) tại xã Tùng Ảnh quê hương, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và các ban ngành tỉnh Hà Tĩnh đã tổ chức trọng thể ngày sinh của cụ. Diễn văn tại buổi lễ có đoạn: "Sinh thời, cụ Phan Điện là người học rộng, tài cao nhưng lận đận chốn khoa trường, điều đó làm cụ day dứt mãi đến già. Là người yêu nước, luôn luôn muốn giữ phẩm chất nhà nho trước thời buổi Tây - Tàu nhố nhăng, cụ bước vào nghề dạy học và làm thơ châm biếm những bất công của xã hội, tố cáo đả kích những kẻ bán bước cầu vinh nên được truyền tụng từ Bắc vào Nam. Cụ đã sinh ra những người con yêu nước, thông minh, làm những chức vụ lớn của Đảng và Nhà nước là hai ông: Phan Anh, Phan Mỹ".

Đôi câu đối cụ viết tặng hai người con trai của mình từ hồi Phan Anh, Phan Mỹ còn nhỏ, được luật sư Phan Anh gìn giữ coi như một phương châm hành xử cho mình:

Trung tín hành man mạch
Nhân nhượng hưng quốc gia.
(Nghĩa là: Đối với người nước ngoài thì giữ chữ trung chữ tín.
Phải thương yêu nhường nhịn thì quốc gia mới hưng thịnh.)

Đôi câu đối ấy xưa được khắc vào miếng xương mỹ nghệ treo ở số nhà 74 phố Hàng Bạc. Nay được sơn son thếp vàng treo trang trọng trên tường bàn thờ gia đình - hai chữ cuối vế đầu "man mạch" đổi thành "thiên hạ" là theo ý luật sư Phan Anh khi còn sống cho hợp, nhưng không làm thay đổi ý nghĩa đôi câu đối của cụ Phan Điện.


Tiêu đề: Re: Luật sư Phan Anh và nhật ký hội nghị Genève
Gửi bởi: Noitraitim trong 29 Tháng Tám, 2013, 09:46:14 am
Luật sư Phan Anh - Bộ trưởng Quốc phòng một thời (tiếp)

Lớn lên trong gian khó

Những năm cuối thế kỉ XIX, phong trào Cần Vương chống Pháp của vua Hàm Nghi được sự hưởng ứng của văn thân và nhân dân cả nước. Khi vua chạy ra Quỳ Hợp bị bắt thì Phan Đình Phùng là linh hồn của phong trào được nhân dân Đức Thọ nói riêng, Hà Tĩnh - Nghệ An nói chung tham gia rất đông. Thực dân Pháp và tay sai ra sức đàn áp dã man, Đức Thọ trở thành mục tiêu tiêu diệt của chúng vì thế mà đời sống nhân dân ngày càng cơ cực. Gia đình luật sư Phan Anh cũng khốn khổ không kém. Nhất là từ năm 1921, Phan Anh, Phan Mỹ mất mẹ đột ngột thì gia đình càng khó khăn hơn phải theo cha bỏ quê hương bản xứ mà đi. Những kỉ niệm về tuổi thơ nghèo khó lang thang nơi đất khách quê người không bao giờ phai trong tâm trí ông. Ông kể rằng:

"Trước đó, việc nuôi con nhỏ chủ yếu dựa vào sự nỗ lực lao động hàng xay hàng xáo của mẹ. Nay mẹ mất đột ngột, gánh nặng nuôi con chuyển sang vai thầy đồ. Bị nhà chủ đuổi, ba cha con dắt díu nhau đi tìm chỗ ở khác. Ba cha con đang đi trên đê thuộc xã Đại Từ, huyện Thanh Oai. Anh im lặng, Mỹ thì hỏi: "Tối nay ta ăn cơm ở đâu, ngủ ở đâu hở thầy?" Cha không trả lời được. Ba cha con còn đang ủ rũ thì gặp một bà ở làng bên. Bà này lên tiếng hỏi một câu vô tâm: "Hai chú đi đâu mà thất thểu như kẻ ăn mày thế kia!".

Từ đó thầy cho ra đời bài thơ "Hai chú":

"Hai chú đi đâu giống kẻ mày?
Vì chưng dân nước gặp hồi Tây.
Mắt trần nào kẻ người không biết.
Óc trẻ còn mong học mọi hay,
Trời đất năm châu dầu sóng gió.
Anh em một bụng giữ tin ngay
Ai ơi chớ vội khinh hai chú
Xoay xoả non sông cũng một tay."

Đến thị trấn Ứng Hoà, thầy để Anh ở tạm nhà bà phán Chí, và tiếp tục dắt Phan Mỹ lên đường đi tìm chỗ dạy học. Bà Phán cho Anh ở trọ tại một chái lợp gianh. Nhà đun rơm, Anh để lửa cháy to. Bà Phán sợ cháy nhà nên mắng Anh. Anh liền bỏ đi tìm cha, mặc dầu không biết là đi đâu… Gặp con, thầy lại tiếp tục đưa Anh ra Thanh Oai, vào ở nhà bà thông Hiên để chăn trâu. Công việc hàng ngày của Anh là vừa chăn trâu, vừa chuẩn bị rau lợn, vừa rửa những xảo bát đũa cơm thợ ở cầu ao. Đổi lại Anh được ăn, được ở, tối đến được học chữ quốc ngữ với Phan Quế là con bà chủ nhà".

Được cha giúp sức, từ trong gian khó Phan Anh, Phan Mỹ nuôi ý chí vươn lên bằng con đường học vấn. Để có điều kiện cho các con học tập, cụ Phan Điện cùng các con lang bạt qua nhiều nơi như Hà Đông, Kiến An, Hải Phòng… Phan Anh vào lớp học tư buổi tối ở thị xã Hà Đông thì gặp thầy giáo Cán. Thấy Phan Anh thông minh, ham học nên thầy nhận cho vào học lớp chính do mình phụ trách. Sau này khi Phan Anh làm luật sư, thầy giáo đã nhờ Phan Anh bào chữa khi thầy bị vu tội bán thuốc Đagénan. Từ năm 1923 đến 1925, Phan Anh, Phan Mỹ sống nhờ ở chùa Lũng Tiên, học lớp Nhì, lớp Nhất tại trường tiểu học Kiến An. Năm 1926, ông được tuyển vào trường Bưởi có học bổng ăn ở nội trú. Vào dịp nghỉ hè ông lại về Hà Đông tổ chức các lớp học tư để có tiền chi tiêu cho năm học tới. Kết thúc chương trình trung học, Phan Anh học tiếp bằng tú tài. Phan Anh nổi tiếng học giỏi, trong kỳ thi tốt nghiệp ông đạt thành tích hiếm có: đậu cả ba bằng tú tài - tú tài bản xứ, tú tài toán và tú tài triết học! Ra trường Phan Anh dạy ở trường Gia Long sau chuyển qua trường Thăng Long và theo học luật ở trường Đại học Đông Dương. Tốt nghiệp Đại học Luật năm 1937, ông được chính quyền cấp học bổng sang Pháp du học.

Lớn lên trong gian khó, ông ý thức sâu sắc nỗi khổ của người dân một nước thuộc địa. Luật sư cũng đặt cho mình trách nhiệm của kẻ sĩ là giúp dân giúp nước thoát khỏi ách thực dân, nô lệ. Trong bài xã luận đăng trên báo Thanh Nghị mà ông là một trong những người sáng lập, luật sư Phan Anh viết:
"Người ấy phải vì lợi ích dân chúng, là người quan sát không thiên vị và phải thường xuyên có liên hệ với nhân dân. Vì vậy kẻ sĩ có thể ảnh hưởng đến nhân dân và góp phần làm biến đổi xã hội".

Về nước năm 1939, ông từ chối lời khuyên của nhiều giáo sư Pháp nhập quốc tịch Pháp làm nghề thẩm phán. Ông làm nghề luật sư tham gia bào chữa cho đồng bào mình trong đó có các chiến sĩ cộng sản "vì nước quên mình" ở toà đại hình quân sự. Ông bào chữa vụ án xử bà Quang Thái - một chiến sĩ cộng sản kiên cường (vợ trước của Đại tướng Võ Nguyên Giáp), vụ đảng viên hội kín cộng sản Hoàng Minh Chính… Xin đọc bức thư của bà Đặng Thị Bích Hà, nhà sử học, vợ Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi gia đình luật sư Phan Anh:

"Hà Nội, ngày 3 tháng 9 năm 2003

Thời kỳ đầu những năm 40, chính quyền thuộc địa Pháp thực hiện chính sách khủng bố, đàn áp phong trào cách mạng do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo. Năm 1942, nữ đồng chí Nguyễn Thị Quang Thái bị thực dân Pháp bắt giam vì hoạt động chính trị chống Pháp. Một thời gian sau chúng đưa chị ra xử ở toà án thực dân. Lúc đó đồng chí Võ Nguyên Giáp đã thoát ly sang Trung Quốc hoạt động. Ông thân tôi là học giả Đặng Thai Mai theo dõi sát sao vụ án. Anh Giáp là bạn đồng nghiệp, là đồng chí của ông những năm 1929 - 1930. Cả hai anh chị Giáp đều là bạn thân của cha tôi. Theo điều kiện ngặt nghèo hồi ấy chỉ có thể có thông tin qua báo chí của Pháp. Một hôm tôi đã đọc được tờ La volonté indochinoirse (Nguyện vọng Đông Dương) trong đó có tin phiên toà và bài bào chữa cho chị Quang Thái của luật sư Phan Anh. Mặc dù lúc ấy còn rất ít tuổi, tôi đã hiểu được nội dung phong phú của bài bào chữa. Luật sư đã cố gắng chứng minh rằng hoạt động của đồng chí Quang Thái là cao cả, vì lợi ích của nhân dân Việt Nam. Tuy không đạt được mục tiêu cao nhất, bài viết của luật sư Phan Anh đã chứng tỏ sự dũng cảm của ông. Sau sáu thập kỷ, nhớ lại bài báo, tôi càng thấy rõ một sự thật trong chế độ thuộc địa hà khắc: nhiều người trí thức yêu nước đã đứng về phía cách mạng".

Đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng đất nước, phục vụ nhân dân

Lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan, ông luôn có ý thức tìm cách làm "biến đổi xã hội". Ngay những năm học ở trường Bưởi (1926 - 1930), Phan Anh đã nung nấu tinh thần yêu nước, chống thực dân Pháp xâm lược. Học sinh trong trường đã thầm thì với nhau về nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc. Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, luật sư Phan Anh tâm sự cùng đồng nghiệp: "Tôi nhớ mãi một đêm đông ở trường nội trú. Nhà trường không cho phép ai mang sách lên phòng ngủ, nhưng tôi đã nằm trong giường đắp chăn trùm kín, hé một khe nhỏ để đọc cuốn sách cấm. Đó là cuốn Bản án chế độ thực dân Pháp của Nguyễn Ái Quốc. Chính cuốn sách đó đã góp phần quyết định hướng đi của đời tôi là học không chỉ để mưu sinh mà để góp phần vào sự nghiệp giải phóng đất nước, phục vụ nhân dân".
Phan Anh hăng hái tham gia phong trào thanh niên, sinh viên yêu nước trong phong trào bình dân. Ông không chỉ là người tham gia mà còn là người tổ chức phong trào, được bầu là anh cả của phong trào thanh niên, sinh viên đấu tranh đòi tự do, dân chủ những năm 1935 - 1936. Ông đã trở thành hình mẫu lý tưởng cho một lớp thanh niên yêu nước những năm trước Cách mạng Tháng Tám 1945 - người trí thức đem tài đức phụng sự nhân dân, phụng sự đất nước, đấu tranh cho nước Việt Nam tự do, độc lập. Vì mục đích lớn lao đó mà ngay cả việc ông sang Pháp học tập cũng là để hiểu thời cuộc, hiểu thế giới, hiểu chính nước đang thống trị Việt Nam để tìm cách đòi độc lập cho nước nhà. Một đoạn đối thoại giữa Luật sư và bà Đỗ Hồng Chỉnh thể hiện khá rõ về động cơ sang Pháp của ông:

"Anh kể tiếp:
- Anh sang Pháp với hai mục đích: Một là tiếp tục học luật, hai là tìm hiểu xã hội Pháp để hoạt động chính trị, phục vụ sự nghiệp ích nước lợi nhà. Và cụ thể là tìm được con đường giải phóng đất nước. Nhưng Chiến tranh thế giới thứ Hai bùng nổ, những thanh niên Việt Nam ở Pháp như anh rất nóng ruột, vì ai cũng thấy đây là lúc phải hành động. Tháng 9 - 1939, anh cùng cô Đỗ Thị Thao tản cư ra khỏi Paris, lánh sang vùng Bretagne và cùng ở đó mấy tháng để theo dõi thời cuộc. Cuối cùng hai người cùng nhau quyết định trở về nước".

Những năm học cuối ở Pháp, ông chuyên tâm nghiên cứu pháp luật. Điều thu hoạch lớn nhất sau mấy năm sống ở Pháp là ông "đã đánh giá được tình hình quan hệ giữa ta và Pháp". Có lẽ theo binh pháp Tôn Tử - "Biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng" cho nên việc hiểu biết kẻ thù của Việt Nam thời kỳ ấy là rất cần cho những ai đang tìm đường đánh đuổi thực dân giành độc lập, tự do cho đất nước! Về nước, song song với việc tham gia bào chữa cho đồng bào của mình, Phan Anh cùng một số trí thức yêu nước đứng ra lập tạp chí Thanh Nghị không ngoài mục đích hướng thanh niên, học sinh vào con đường phụng sự Tổ quốc. Sau này nhiều người vẫn nhắc đến "Phong trào sinh viên yêu nước Phan Anh" những năm 1941 - 1945 vì có một thời Luật sư là linh hồn của phong trào, là Hội trưởng Tổng hội sinh viên Đông Dương.

Có một điều, trong đường lối chính trị của Phan Anh không thiên hẳn về phái tả - thiên về tả nhưng ông muốn có một giải pháp ôn hoà hơn mà vẫn đạt được mục đích chính trị. Thực tế thì điều đó không thể có được. Chỉ có dùng bạo lực cách mạng, dùng sức mạnh của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương mới đánh đổ được chế độ cũ thực dân phong kiến, xây dựng một chế độ mới - chế độ Việt Nam dân chủ cộng hoà.
Ông Vũ Đình Hoè kể lại cuộc gặp giữa luật sư Phan Anh và Dương Đức Hiền như sau:

"Phan Anh kể rằng:

Anh Dương Đức Hiền cách đây mấy hôm đến trình bày với anh hướng hoạt động của nhóm sinh viên yêu nước, muốn lao hẳn vào phong trào cách mạng, chiến đấu dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng Cộng sản, trong khi nhiều nhóm sinh viên khác lại muốn đi theo Đảng của ông Cường Để, Đảng Đại Việt quốc gia liên minh của ông Nguyễn Hải Thần, hoặc những phe đảng thân Nhật, thân De Gaulle(1). Số lớn sinh viên còn lại thì kiên trì đến cùng thái độ độc lập. Dương Đức Hiền đã yêu cầu anh Phan vừa lấy tư cách là nguyên Hội trưởng Tổng hội sinh viên vừa tình bạn thân giúp đỡ ý kiến. Đồng thời Dương Đức Hiền hỏi anh Phan: "Tại sao nhóm ta không tỏ xu hướng chính trị gì rõ rệt? Lúc này không hành động mà lại định ngồi viết báo". Và anh Phan trả lời: "Rất hoan nghênh nhiệt tình yêu nước sôi nổi của những nhóm sinh viên trẻ tuổi dám chọn con đường chiến đấu ngay từ bây giờ. Còn mấy cựu sinh viên lớn tuổi đã vào đời rồi thì sao? "Anh Phan kể lại cho Dương Đức Hiền nghe cuộc thảo luận hai tháng trước giữa "năm người bạn nối khố". Cuối cùng nhấn mạnh ý này của riêng anh: "Có lẽ trong hoàn cảnh Việt Nam hiện nay, có nhiều nhóm khác nhau về chính kiến, về phương thức hoạt động là một hiện tượng tốt. Miễn là tất cả đều phải chân thành và hướng vào một mục tiêu: phụng sự Tổ quốc. Tất cả các con sông, to hay nhỏ, dài hay ngắn, đều đổ ra biển, chỉ làm cho sóng biển càng mạnh, nhấn chìm càng sâu bạch tuộc, thuồng luồng, cá mập".

Tư tưởng đại đoàn kết mọi tầng lớp trong xã hội phụng sự Tổ quốc, sau này trong cuộc gặp trí thức Hà Nội của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông có dịp phát biểu và được giới trí thức đồng tình: "Nhân dân ta đang đứng trước một tình thế cần đoàn kết lại. Cách mạng nhờ đoàn kết mà thành công, giành được chính quyền. Nay để bảo vệ chính quyền, xây dựng nền độc lập, chống những âm mưu phá hoại từ bên ngoài và bên trong, đều chủ yếu là phải giữ vững và tăng cường đoàn kết". Sau đó ít lâu Chủ tịch Hồ Chí Minh giao cho luật sư Phan Anh làm Chủ tịch Hội đồng Kiến thiết quốc gia gồm nhiều trí thức tiêu biểu của Hà Nội.
Từ Bộ trưởng Bộ Thanh niên đến Bộ trưởng Bộ Quốc phòng


Tiêu đề: Re: Luật sư Phan Anh và nhật ký hội nghị Genève
Gửi bởi: Noitraitim trong 29 Tháng Tám, 2013, 09:50:44 am
Luật sư Phan Anh - Bộ trưởng Quốc phòng một thời (tiếp)

Những năm 40 của thế kỉ XX trên thế giới có nhiều biến động to lớn. Chiến tranh thế giới lần thứ Hai bùng nổ, phe phát xít đưa nhân loại vào một thảm hoạ diệt chủng đòi hỏi những người yêu chuộng hoà bình phải đoàn kết lại. Phe đồng minh được hình thành trên toàn thế giới để chống lại thế lực tàn bạo nhất trong lịch sử nhân loại.

Việt Nam là hình ảnh thu nhỏ của thế giới rộng lớn đó. Thực dân Pháp đô hộ nước ta hơn 80 năm trong phe đồng minh chống phát xít, nhưng chính phủ phản động lại đầu hàng khi quân đội Hitler tiến vào Paris. Phát xít Nhật nhảy vào Đông Dương với ngọn cờ "Đại Đông Á" ngày một tả tơi. Nhân dân Việt Nam quằn quại dưới hai tầng áp bức bóc lột của cả Pháp và Nhật. Xã hội Việt Nam lúc bấy giờ có nhiều lực lượng chính trị có đường lối khác nhau. Từ năm 1941, Nguyễn Ái Quốc sau 30 năm bôn ba khắp năm châu bốn biển về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Hội nghị Trung ương lần thứ 8, tháng 5 - 1941 xác định "nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ bức thiết nhất của cách mạng Đông Dương". Đảng chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân chuẩn bị giành chính quyền khi thời cơ đến. Nhật đảo chính Pháp hòng độc chiếm Đông Dương ngày 9 - 3 - 1945 tạo ra tình thế chính trị khủng hoảng sâu sắc làm cho những điều kiện tổng khởi nghĩa mau chín muồi. Từ ngày 9 đến 12 - 3 -1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp ra Chỉ thị quan trọng: "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta". Phan Anh và những người trí thức nhìn thấy sớm hay muộn phe phát xít sẽ thất bại, việc Nhật hất cẳng Pháp với thuyết "Đại Đông Á" là mị dân, lừa bịp, nhân dịp này đòi Nhật trao trả độc lập, tham gia thành lập chính phủ "giữ chặt các chức vụ hành pháp để có vai trò trong tương lai" vì ông hiểu "bên cạnh trận địa hành pháp còn trận địa kín nữa chứ". Trong bài trả lời phỏng vấn nhà sử học người Na Uy S. Tonesson tháng 8 - 1989, Phan Anh nói: "Với tư cách là người yêu nước, tôi đã quan sát tình hình ấy.

Chúng tôi không muốn bị cả người Pháp lẫn người Nhật lừa đánh mình. Nhóm trí thức chúng tôi không phải là một đảng mà là một nhóm, chúng tôi nghĩ rằng nhiệm vụ cấp bách là phải đuổi bọn Pháp ra khỏi bộ máy hành chính. Chúng tôi huy động sinh viên, chúng tôi đòi bọn Nhật làm việc đó. Khẩu hiệu thứ hai của chúng tôi là tạm thời ngồi làm việc với người Nhật, nhưng không phải là "đồng tác giả", không phải là kẻ hợp tác với họ; phải giữ thế trung lập". Đó cũng là lý do vì sao luật sư Phan Anh nhận lời tham gia chính phủ Trần Trọng Kim. Thái độ của ông là dứt khoát: "Tình thế đã dứt khoát rồi. Phải là kẻ điên mới đi hợp tác với Nhật. Có những người điên nhưng chúng tôi là trí thức, chúng tôi tham gia chính phủ là để phụng sự. Chính với chính sách ấy mà chúng tôi thành lập chính phủ với khẩu hiệu như vừa nói là:
Đuổi cổ bọn Pháp và nắm lấy độc lập. Trong chính phủ Trần Trọng Kim có một bộ mà chúng tôi phải suy nghĩ nhiều: Bộ "quốc phòng" hoặc bộ "quân lực" hoặc bộ "chiến tranh". Chính vì muốn giữ thế trung lập mà chúng tôi đã quyết định không có Bộ Quốc phòng. Người Nhật muốn có bộ ấy để lôi kéo chúng tôi đi với họ. Thay bộ ấy, chúng tôi lập Bộ Thanh niên. Phong trào Việt Minh đã nổi tiếng và gây được hiệu quả là vì được thanh niên ủng hộ. Chúng tôi xây dựng một phong trào thanh niên là nhằm mục đích quốc gia và mục đích xã hội. Phong trào thanh niên chúng tôi không hề xung đột gì với Việt Minh: Cùng theo đuổi một mục tiêu như nhau mà!".

Nội các Trần Trọng Kim được thành lập, ra mắt tại Huế ngày 8 - 5 - 1945, luật sư Phan Anh làm Bộ trưởng Bộ Thanh niên.

Nói về luật sư Phan Anh, bà Đỗ Hồng Chỉnh - người bạn đời chung thuỷ của ông nhắc đến ba đặc điểm là: 1. Quan điểm hành xử là vì hoà bình, dân chủ. 2. Tính mục đích rõ ràng: chống thực dân Pháp, đế quốc. 3. Tính cách của ông là chủ động trong mọi công việc. Luật sư luôn ý thức về vai trò của người trí thức yêu nước phụng sự nhân dân, phụng sự Tổ quốc. Tham gia chính phủ không phải vì quyền lực. Ông kính phục Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, rất biết về những người cộng sản và phong trào Việt Minh nhưng vẫn không là người cộng sản. Trả lời câu hỏi của S. Tonesson: "Trước khi cộng tác với ông Kim, ông đã theo dõi hoạt động của Việt Minh?". Luật sư trả lời: "Lúc ấy ai mà chả biết tiếng Việt Minh. Tôi có cái may được làm luật sư, có lẽ là luật sư duy nhất cãi cho các chiến sĩ Việt Minh bị bắt đưa ra toà xử từ năm 1940 đến 1945. Làm nhiệm vụ này, tôi biết lắm chuyện. Mà cũng vì thế tôi quý Việt Minh. Ông đã rõ tôi không phải là cộng sản, đến nay vẫn không phải là đảng viên, nhưng tôi cộng tác với Đảng". Tính cách, bản lĩnh Phan Anh thể hiện rõ khi ông vào Huế theo lời mời của vua Bảo Đại thành lập chính phủ mới. Trong hồi ký, Phan Anh kể rằng: "Thời gian vào triệu kiến Bảo Đại còn khoảng một tháng, nên anh tranh thủ nắm thêm tình hình, trước hết là lực lượng tiến bộ, những phần tử yêu nước mà không tin vào Nhật, như bác sĩ Trần Văn Lai, Trần Văn Chương, Trần Duy Hưng… Tuy vậy, còn một tồn tại mà anh chưa cảm nhận đúng, đó là lực lượng to lớn của nhân dân đương tiến lên dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh, của Bác Hồ. Một ví dụ cụ thể: bác sĩ Trần Duy Hưng đồng tình cùng đi vào Huế với anh, hai người hẹn hò với nhau: 5 giờ sáng ngày hôm sau, bác sĩ Trần Duy Hưng đến 74 Hàng Bạc để cùng lên đường. Nhưng buổi chiều trước ngày lên đường, anh Dương Đức Hiền lúc ấy cũng đã rút vào bí mật gửi đến anh một lá thư với lời khuyên: "Anh không nên vào Huế". Sáng hôm sau, anh Trần Duy Hưng cũng không đến. Nhưng anh vẫn quyết định cứ đi". Khi làm Bộ trưởng Bộ Thanh niên, Phan Anh cho tổ chức Trường Thanh niên Tiền tuyến ở Huế cũng vì mục đích ấy. Bởi ông xác định: "Nhưng tôi cũng như Việt Minh là một động cơ. Việt Minh là động cơ lớn! Bộ Thanh niên là một động cơ nhỏ".

Sau khi chúng ta giành chính quyền, Việt Nam có tư thế một nhà nước có chủ quyền để tiếp quân đồng minh giải giáp quân đội Nhật nhưng lại đứng trước một tình hình quốc tế và trong nước cực kỳ phức tạp. Thách thức lớn nhất là phải đối phó với nhiều thế lực thù địch có lực lượng quân sự lớn mạnh đang tìm cách thôn tính nước ta. Nhờ có đường lối đúng đắn với những sách lược tài tình của Đảng Cộng sản Đông Dương đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta đã đuổi cổ được quân Tưởng và bọn tay sai bán nước, tổ chức toàn dân thành một khối để tiến hành cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong tình thế nước sôi lửa bỏng, tháng 11 - 1945, Đảng Cộng sản Đông Dương phải tự giải tán rút vào hoạt động bí mật. Chỉ trong vòng hơn một năm, từ 2 - 9 - 1945 đến ngày Toàn quốc kháng chiến 19 - 12 - 1946 ta bốn lần thay đổi chính phủ. Luật sư Phan Anh được mời làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và nhà yêu nước có uy tín lớn Huỳnh Thúc Kháng được mời làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ - hai bộ quan trọng trong Chính phủ liên hiệp kháng chiến do hai người không đảng phái nắm giữ. Chủ tịch Hồ Chí Minh và quốc dân đồng bào giao cho ông một trọng trách lớn lao trong tình hình đất nước "ngàn cân treo sợi tóc". Việc cử luật sư Phan Anh làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng không chỉ là "cơ cấu" theo yêu cầu của tình hình chính trị mà còn thể hiện niềm tin của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với giới trí thức yêu nước nói chung, với luật sư Phan Anh nói riêng. Giao cho Luật sư chức đồng thời cũng giao cho ông quyền - quyền lựa chọn những người tài đức đảm nhiệm nhiệm vụ của cơ quan Bộ Quốc phòng mà phần lớn là những trí thức yêu nước chưa phải đảng viên cộng sản như: Hoàng Đạo Thuý, Chính trị Cục trưởng; Phan Tử Lăng, Quân chính Cục trưởng; Vũ Văn Cẩn, Quân y Cục trưởng; Vũ Anh, Chế tạo Cục trưởng; Phan Văn Phác(1), Quân huấn Cục trưởng; Lê Văn Chất, Quân pháp Cục trưởng…

Đối thoại sau đây giữa Luật sư và nhà sử học người Na Uy thể hiện rõ hơn về niềm tin tham gia cách mạng, đảm nhiệm trọng trách của đất nước mà ông có được:

" - Trong chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà chúng tôi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cử tôi làm Bộ trưởng Quốc phòng và để cho tôi chủ động tìm lấy những cục trưởng của bảy, tám cục đều là anh em trí thức, trong đó năm 1946 chỉ có một người là đảng viên…

- Nhưng nhiệm vụ chỉ huy Quân đội nhân dân Việt Nam không phải thuộc Bộ ông, mà thuộc Quân sự uỷ viên hội đứng đầu là Đại tướng Võ Nguyên Giáp?

- Vâng, lúc ấy có sự phân công như vậy. Nhưng điều mấu chốt là Chủ tịch Hồ Chí Minh áp dụng chính sách tín nhiệm với trí thức".
Chính phủ liên hiệp kháng chiến thành lập ngày 2 - 3 - 1946, luật sư Phan Anh làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Ngày 22 - 3, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 33 về tổ chức Quân đội quốc gia, Sắc lệnh số 34 quy định tổ chức Bộ Quốc phòng.


Tiêu đề: Re: Luật sư Phan Anh và nhật ký hội nghị Genève
Gửi bởi: Noitraitim trong 29 Tháng Tám, 2013, 09:53:08 am
Luật sư Phan Anh - Bộ trưởng Quốc phòng một thời (tiếp)

Từ Trường Thanh niên Tiền tuyến đến Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/6/66/Phan_Anh.jpg)
Nói đến chính phủ Trần Trọng Kim không ít người thường nghĩ đến một chính phủ thân Nhật. Đúng là chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập khi Nhật hất cẳng Pháp hòng độc chiếm Đông Dương. Chính phủ Trần Trọng Kim gồm khá đông những người yêu nước muốn nước nhà được độc lập. Là người trong cuộc, luật sư Phan Anh ý thức sâu sắc:

"Chính phủ ấy, ngay khi ra đời đã tự coi như một mắt xích lâm thời, tôi có thể nói hẳn ra là, theo tôi nhận định, như là một công cụ phục vụ cho sự nghiệp giành độc lập. Chúng tôi đã tự coi không phải là người lãnh đạo phong trào, lãnh đạo đất nước, mà là những công cụ, những tay chân của công cuộc đấu tranh dân tộc. Và do đó sự chuyển tiếp từ chính phủ Trần Trọng Kim đến nền cộng hoà trong Cách mạng Tháng Tám diễn ra một cách tự nhiên suôn sẻ. Tôi có thể nói với ông rằng, với tư cách Bộ trưởng, chúng tôi trăm phần trăm ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh".

Và sự thực là chính phủ ấy đã làm được nhiều việc có lợi cho dân tộc, cho cách mạng. Đó là những căn cứ pháp lý để xây dựng một đất nước độc lập và được quốc tế công nhận. Vì một nước Việt Nam thống nhất, chính phủ Trần Trọng Kim đòi từ tay Nhật những miền đất bị Pháp chia ra để trị với âm mưu chia nước ta thành ba. Thời thuộc Pháp, Nam Kỳ, Đà Nẵng và Hà Nội là đất nhượng địa. Nghĩa là dân cư ở những địa phương đó là thuộc dân của Pháp - được Pháp bảo hộ. Những đất thuộc địa ấy được chính phủ Trần Trọng Kim đòi lại. Chính phủ Nhật có văn bản chính thức trả lại Hà Nội cho chính phủ Việt Nam. Một buổi lễ long trọng được tổ chức, thị trưởng mới của Hà Nội là bác sĩ Trần Văn Lai và nhiều tượng đài, tên phố thuộc Pháp được xoá bỏ tại Hà Nội. Bác sĩ Trần Văn Lai sau hoà bình 1954 là Phó Chủ tịch Uỷ ban hành chính thành phố Hà Nội. Công việc đòi lại Nam Kỳ được tiến hành và chính phủ Nhật chấp nhận việc cử khâm sứ đại diện cho nhà vua tại Nam Bộ là Nguyễn Văn Sâm…

Nhưng có lẽ, một việc làm có giá trị lịch sử của chính phủ Trần Trọng Kim theo chủ trương của Bộ trưởng Bộ Thanh niên là thành lập Trường Thanh niên Tiền tuyến ở Huế. Phan Anh đã thấy trước, tất nhiên là không nói ra, khả năng chúng ta phải đánh nhau với Pháp và vì thế phải có một trường quân sự đào tạo những cán bộ quân sự cho cách mạng. Trong Trường Thanh niên Tiền tuyến có một tổ chức Việt Minh - Phan Anh và Tạ Quang Bửu đều biết điều đó. Ngày 16 - 6 - 1945, luật sư Phan Anh, Bộ trưởng Bộ Thanh niên và giáo sư Tạ Quang Bửu, Phó Chủ tịch Hội đồng cố vấn thanh niên đứng ra thành lập Trường Thanh niên Tiền tuyến tại Huế.

Giáo sư Nguyễn Phước Hoàng, người trực tiếp giúp giáo sư Tạ Quang Bửu dựng trường nhớ lại:

"Lập luận của anh (Tạ Quang Bửu) thật rõ ràng: Nhật sẽ thua; quân đồng minh có quân Pháp theo đuôi sẽ vào nước ta. Nước ta cần có chính phủ để sẵn sàng giao thiệp với quân đồng minh. Ta cần có quân đội, cần đào tạo gấp sĩ quan, huấn luyện quân sự gấp cho thanh niên. Riêng với Pháp, tướng Đờ Gôn đã tuyên bố sẽ lập lại chế độ thuộc địa ở Đông Dương, ta phải có quân đội để chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp xâm lược nước ta một lần nữa".

Học viên của trường phần lớn là những trí thức trẻ khoẻ có trình độ cử nhân, tú tài được huấn luyện quân sự bài bản. Đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945, học viên Trường Thanh niên Tiền tuyến trở thành lực lượng bảo vệ các cuộc mít tinh, bảo vệ lễ ra mắt Uỷ ban kháng chiến Trung Bộ, tham gia tước vũ khí quân đội Nhật, bảo vệ phái đoàn của Chính phủ từ Hà Nội vào nhận sự thoái vị của vua Bảo Đại rồi trở thành Giải phóng quân lên đường Nam tiến theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc.

Học viên của trường ngày ấy tham gia kháng chiến nhiều người anh dũng hi sinh trên chiến trường ba nước Đông Dương, nhiều người chuyển ngành sang đảm nhiệm nhiều trọng trách về khoa học kỹ thuật. Riêng lĩnh vực quân sự, nhiều học viên trở thành những vị tướng tài giỏi của Quân đội nhân dân Việt Nam như: Trung tướng Cao Văn Khánh, nguyên Phó Tổng Tham mưu trưởng; Thiếu tướng Nguyễn Thế Lâm, nguyên Tư lệnh bộ đội Tăng - Thiết giáp; Thiếu tướng Nguyễn Thế Lương, nguyên Phó tư lệnh bộ đội Đặc công; Thiếu tướng Võ Quang Hồ, nguyên Phó Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Quốc phòng; Thiếu tướng Đoàn Huyên, nguyên Phó tư lệnh bộ đội Phòng không - Không quân; Thiếu tướng Đào Hữu Liêu, nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật; Thiếu tướng Phan Hàm, Thiếu tướng Mai Xuân Tần.
Phan Anh là người hiểu sức mạnh của thế hệ trẻ - những chủ nhân tương lai của đất nước và cũng là người coi trọng công tác đào tạo đội ngũ cán bộ quân sự cho cách mạng, cho quân đội để bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Từ Trường Thanh niên Tiền tuyến Huế đến Trường võ bị Trần Quốc Tuấn cũng từ ý tưởng lớn đó:

"Có một việc của Bộ Quốc phòng mà anh đặc biệt quan tâm, đó là bên cạnh việc ban hành những Sắc lệnh tổ chức quân đội quốc gia có vấn đề đào tạo sĩ quan. Hồ Chủ tịch tán thành đề nghị của anh: thành lập Trường võ bị Trần Quốc Tuấn và bổ nhiệm Giám đốc nhà trường là anh Hoàng Đạo Thuý. Tiêu chuẩn tuyển thanh niên vào trường võ bị này là những thanh niên đã có bằng thành chung".

Bà Đỗ Hồng Chỉnh trong hồi ký viết về Trường võ bị Trần Quốc Tuấn cho biết: "Bác Hoàng Đạo Thuý còn cho em biết rằng: Chương trình đào tạo là do anh em cán bộ nhà trường tự đặt ra, có tham khảo chương trình Trường quân bị của Pháp. Học cả Tôn Tử, cả cách dùng binh của Trần Hưng Đạo. Học sinh võ bị phải học lái xe hơi, học về xe tăng, hòng khi cướp được xe của Pháp thì cũng biết điều khiển. Cuốn "quân quy" và sổ "quân tịch" là tác phẩm của anh Phan Tử Lăng… Biết chính phủ ta không có tiền, nên các anh đó khi xây dựng trường cũng không có chuyện xin tiền trong ngân sách nhà nước mà nhà trường đã tự giải quyết lấy. Điều đó quả là cừ khôi phải không anh, vì chỉ có những tấm lòng yêu nước mới có thể làm được".

Ngày 26 - 5 - 1946 đến thăm và tặng Trường võ bị Trần Quốc Tuấn ở Sơn Tây sáu chữ vàng: "Trung với Nước, Hiếu với Dân", Đại tá Phạm Chí Nhân, nguyên Phó cục trưởng Cục Tuyên huấn (nay là Cục Tư tưởng - Văn hoá), cựu học viên khóa I của trường nhớ lại: "Tháng 12 - 1946, khoá I Trường võ bị Trần Quốc Tuấn khẩn trương bế giảng. Xếp thứ 5 trong gần 300 học viên tốt nghiệp, cùng với 15 người đỗ cao và 1 đồng chí xếp cuối cùng, tôi được nhận phần thưởng của Bác Hồ. Một huy hiệu rất đẹp mang hình cờ đỏ sao vàng do bà con Việt kiều ở Pháp vừa biếu Người… Trong số học viên ra trường, mấy chục anh em được điều về Bộ Tổng tham mưu hồi ấy đóng ở ấp Thái Hà, chuẩn bị cho việc xây dựng bộ đội chủ lực của Bộ".

Trường võ bị Trần Quốc Tuấn, nay là Trường Sĩ quan Lục quân I là một trong những trường đào tạo sĩ quan quân đội đầu tiên ra đời đến nay đã hơn 60 năm. Trường đã đào tạo, cung cấp cho các đơn vị trong toàn quân 8 vạn cán bộ trong suốt những năm chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc, trong đó có 160 đồng chí cấp tướng, 26 đồng chí được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân… Trường vinh dự được Đảng và Nhà nước tuyên dương "Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân" và nhiều phần thưởng cao quý khác.


Tiêu đề: Re: Luật sư Phan Anh và nhật ký hội nghị Genève
Gửi bởi: Noitraitim trong 29 Tháng Tám, 2013, 09:54:25 am
Luật sư Phan Anh - Bộ trưởng Quốc phòng một thời (tiếp)

Từ Hội nghị Fontainebleau đến Hội nghị Genève

Sớm nhận rõ âm mưu Pháp không từ bỏ Đông Dương, Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch chủ trương tranh thủ hoà bình để tổ chức lực lượng kháng chiến. Trong tháng 10, Bác Hồ gặp Sanhtơny - đại diện chính phủ Pháp ở Đông Dương mở ra cuộc đối thoại kéo dài trong 6 tháng. Hiệp định sơ bộ ngày 6 - 3 - 1946 giữa đại diện Chính phủ Việt Nam là Chủ tịch Hồ Chí Minh và đại diện chính phủ Pháp là Sanhtơny được ký kết tại Hà Nội. Hiệp định sơ bộ giúp chúng ta loại bớt một kẻ thù nguy hiểm là 20 vạn quân Tưởng, tạo điều kiện kéo dài thời gian chuẩn bị kháng chiến. Từ hiệp định sơ bộ giúp chúng ta cùng với Pháp mở hội nghị trù bị ở Đà Lạt (từ ngày 19 - 4 đến ngày 11 - 5 - 1946) sau đó là Hội nghị Fontainebleau tại Pháp (từ ngày 6 - 7 đến ngày 12 - 9 -1946).

Ngày 22 - 5 - 1946, Hội đồng Chính phủ quyết định thành lập một Uỷ ban nghiên cứu đặc biệt các vấn đề sẽ đàm phán ở Paris gồm 6 người: Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Tường Tam, Phan Anh, Võ Nguyên Giáp và Vũ Hồng Khanh. Ngày 29 - 5 - 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 82 về việc uỷ nhiệm cụ Huỳnh Thúc Kháng thay Chủ tịch Chính phủ đi vắng, ông Võ Nguyên Giáp, Chủ tịch quân sự uỷ viên Hội thay Phan Anh - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đi vắng… 6 giờ sáng ngày 31 - 5 - 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng phái đoàn của Chính phủ do ông Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn đi dự Hội nghị Fontainebleau. Luật sư Phan Anh cùng đi với cương vị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng thuyết trình viên, chuyên về mặt pháp luật. Hội nghị nhằm đàm phán về địa vị của Việt Nam trong khối liên hiệp Pháp và mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước, vấn đề thống nhất ba kỳ và việc trưng cầu dân ý ở Nam Bộ… Luật sư Phan Anh đánh giá về kết quả Hội nghị Fontainebleau như sau: "Ở Hội nghị Fontainebleau, từng người trong phái đoàn nói chung, Bác Hồ nói riêng, đàm phán với chính phủ Pháp về Hiệp ước công nhận nền độc lập của ta từ cuối tháng 5 đến cuối tháng 9 đem lại một thắng lợi to lớn cho nhân dân ta trong dư luận Pháp và thế giới, làm cho vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế càng mạnh. Đàm phán ở Fontainebleau bế tắc, phái đoàn về nước. Một mình Bác ở lại Pháp chừng một tháng để cùng ông Mutet - Bộ trưởng Bộ Pháp quốc hải ngoại cố hàn gắn tình hình, bằng một hiệp định tạm sống với nhau ngày 14 - 9 là "hoãn binh chi kế". Cái đó đúng nhưng chưa nhiều người biết cái lớn của Hội nghị Fontainebleau và cái "tạm ước" này về mặt ngoại giao. Đó là ngoại giao không chỉ trên bàn giấy, để ra một văn kiện gì đó, mà cái hay, cái lớn hơn, cái cơ bản hơn đó là dịp để chúng ta tuyên truyền cái chính nghĩa của nhân dân ta trong nhân dân nước đối phương. "Ta đã đàm phán với toàn dân của nước đối phương" - đó là kết quả lớn của Hội nghị. Tại đây Bác Hồ đã tranh thủ được dư luận thế giới ủng hộ quyền độc lập dân tộc, thống nhất của đất nước Việt Nam".

Ngày 3 - 11 - 1946, tại kỳ họp thứ hai của Quốc hội khoá I Chính phủ liên hiệp quốc dân, luật sư Phan Anh thôi giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Đến toàn quốc kháng chiến, ông Phạm Văn Đồng, Bộ trưởng Bộ Kinh tế được cử đi vào Nam làm đặc phái viên của Chính phủ, luật sư Phan Anh được Bác giao nhiệm vụ làm Bộ trưởng Bộ Kinh tế rồi Bộ trưởng Bộ Công thương. Luật sư đã cùng chính phủ kháng chiến phát triển kinh tế góp phần làm nên chiến thắng trên khắp các chiến trường, buộc thực dân Pháp phải ngồi vào bàn đàm phán kết thúc chiến tranh ở Đông Dương.

Sau chiến thắng hoàn toàn ở mặt trận Điện Biên Phủ, luật sư Phan Anh, Bộ trưởng Bộ Công thương lại tham gia Đoàn đàm phán tại Hội nghị Genève do Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Văn Đồng dẫn đầu. Hiệp định được ký kết vào ngày 21 - 7 - 1954 đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, Lào, Campuchia. Lần đầu tiên trên thế giới, một hiệp định quốc tế có sự tham gia của nhiều nước lớn trên thế giới đã công nhận các quyền cơ bản của ba nước trên bán đảo Đông Dương, chấm dứt gần một trăm năm xâm lược của thực dân Pháp trên đất nước ta.

Tại Hội nghị Genève, tuy hết sức bận rộn nhưng luật sư Phan Anh cũng đã dành thời gian ghi chép nhật ký quá trình diễn biến cuộc hội nghị quan trọng này. Tập nhật ký dày khoảng gần một trăm trang viết tay hiện lưu giữ tại gia đình luật sư là một tài liệu quý giá giúp chúng ta không những hiểu diễn biến của Hội nghị mà còn lưu giữ những kỉ niệm về tình đoàn kết, sự ủng hộ của các nước trong phe XHCN và nhân dân Pháp, nhân dân các nước yêu chuộng hoà bình trên khắp hành tinh.
Luật sư Phan Anh là một nhà cách mạng, một trí thức lớn của nước ta trong thế kỉ XX. Cả cuộc đời ông đã chiến đấu, hi sinh vì nền độc lập, tự do của dân tộc cũng như vì nền hoà bình của các nước trên thế giới. Tên tuổi của Luật sư gắn liền với thế hệ thanh niên mang tên ông - "Thanh niên Phan Anh" những năm trước Cách mạng Tháng Tám và là một trong những người đầu tiên đặt nền móng xây dựng cơ quan Bộ Quốc phòng, Quân đội nhân dân Việt Nam.

Ghi nhận những đóng góp to lớn của luật sư Phan Anh đối với sự nghiệp cách mạng, Đảng và Nhà nước đã trao tặng ông Huân chương Hồ Chí Minh.

Sách Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam do Bộ Quốc phòng chủ biên "khắc bia" về ông:

"Phan Anh (1911 - 1990), Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Chính phủ liên hiệp kháng chiến Việt Nam dân chủ cộng hoà (3 - 11 - 1946). Quê Tùng Ảnh, Đức Thọ, Hà Tĩnh. Trước năm 1945, Chủ tịch Tổng hội sinh viên Đông Dương… Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hội đồng Kiến thiết quốc gia, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng thư ký phái đoàn Chính phủ đi Pháp dự Hội nghị Fontainebleau. Năm 1947 - 1976, Bộ trưởng Bộ Kinh tế, Bộ Công thương, Bộ Thương nghiệp, Bộ Ngoại thương, Uỷ viên Đoàn chủ tịch rồi Phó chủ tịch Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam (1977 - 1990), Chủ tịch Hội Luật gia Việt Nam và Uỷ viên thường vụ Hội Luật gia dân chủ quốc tế (1950 - 1990), Chủ tịch Uỷ ban Bảo vệ hoà bình Việt Nam (1978 - 1990), đại biểu Quốc hội khoá II - VII, Phó chủ tịch Quốc hội khoá VII. Huân chương Độc lập hạng Nhất. Kỷ niệm chương Bảo vệ hoà bình của Liên hợp quốc. Huân chương vàng Giôliô Quyri của Hội đồng Hoà bình thế giới".

------------------------------------

(1) De Gaulle trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939 - 1945) từ Pháp sang Anh lập “Phong trào kháng chiến Pháp”; là Tổng thống Pháp sau 1945.

(1) Còn được gọi là Phan Phác.


Tiêu đề: Re: Luật sư Phan Anh và nhật ký hội nghị Genève
Gửi bởi: Noitraitim trong 29 Tháng Tám, 2013, 10:04:54 am
Nhật ký hội nghị Genève (Từ 10.4.1954 - 24.8.1954) [Kỳ 1]
Theo hồi ký của luật sư: Phan Anh.

…10/4

Đương họp Hội nghị thuế xuất nhập khẩu thì nhận được thư hoả tốc ở cơ quan gửi đến. Bóc xem thì có điện của Phan Mỹ (trong văn phòng của Bác) gọi về cơ quan, để "cấp trên" giao công tác.

14/4

Gặp Phan Mỹ và lên đường đi Genève cùng với hai người nữa bằng ô tô.

15/4/54

Từ Thái Nguyên lên Lạng Sơn.

- "2 giờ đêm tới Bắc Sơn: trái phá địch vẫn bắn đều vào quãng đường này, 15 phút một quả. Anh lái xe rụt rè, nhưng mình quyết tâm vượt. Lúc ấy 3 giờ, thấy bên kia đèo cũng có một đoàn xe sang. Việc này làm cho anh cầm lái mạnh dạn hơn. 4 giờ xe bắt đầu vượt chỗ nguy hiểm: giữa một luồng khói, bụi mù mịt do một trái pháo vừa nổ tung ngay bên đường. Thấy khói bụi, lại có mùi thuốc súng, anh tài xế hơi hoảng hốt, sợ trái pháo sau tiếp luôn nên mở ga thật nhanh.

Mình bảo anh lái nên đi thong thả. Mình không lo quả trái phá mới, nhưng chỉ lo anh loạng choạng không tránh kịp những hố bom bên đường, đưa xe xuống hố thì mới là nguy. Xe chạy qua chỗ nguy hiểm hết sức, chừng 10 phút. Chạy thêm một quãng đường, dừng lại, để anh công binh (anh này nhân có xe mình sang, theo sang đèo và cũng để dẫn đường cho xe) xuống. Bắt tay anh công binh. Gửi lời khen đoàn công binh sửa đường này. Anh công binh thích lắm. Nhưng, anh em không phải đợi sự cảm ơn, sự khen ngợi này mới thích, mới vui. Khi xe mình đến chỗ đường bị bắn phá và khi đoàn xe bên kia vừa sang, anh em đã nhảy lên reo:

"Thế chứ lại!".

"Anh em mình gia công chữa cho kịp, cho tối hôm nay xe đi được, thì y như rằng, xe đến!".

"Các anh ạ, các anh cứ đi đi. Đường chữa vừa xong, đi được đấy. Nó bắn mặc kệ nó. Nắm quy luật hoạt động của bọn chúng, cứ rình cho nó bắn một quả, nhẩy ngay lên xe, rồi vượt đèo. Đi đi các anh, vui quá".

Anh em vui như thế, hăng như thế, thì làm gì mà không được. Thằng Tây có biết không? Có biết tinh thần thanh niên Việt Nam không? Mày bắn, mày phá, bắn vào bờ tường, phá vào lỗ hổng. Mày phá thế nào nổi chí quật cường, lòng hăng hái của mấy đồng chí thanh niên đêm ngày bảo vệ đường. Mày càng bắn, càng phá, chúng ta càng hăng hái phục vụ. Mày có biết không? Anh công binh thì hăng hái sửa đường. Anh cán bộ đi xe công tác càng hăng vượt mọi khó khăn, không sờn lòng trước gian nguy! Vượt qua chỗ nguy hiểm, bọn mình mừng lắm. Mừng, đi đúng hành trình đã dự định. Chính vì quyết tâm mà mình đã tranh thủ được thời gian. Nếu không quyết tâm thì đã quay xe đi con đường số 3, mà mất thêm ba ngày. Anh lái xe lúc này cũng sung sướng. Anh hơi ngượng về sự rụt rè của anh lúc tới quãng đường nguy hiểm. Nhưng, anh chỉ hơi rụt rè thôi. Trước sự quyết tâm của ba anh em mình, trước sự phấn khởi của mấy anh công binh, anh đã sốt sắng thi hành ý kiến của đa số và đã mạnh dạn đạp ga! Nay được việc, anh cũng rất hể hả. Quãng đường này lại tốt, trăng lại tỏ, xe chạy càng nhanh.

6 giờ sáng đến Ba Làng. Nghỉ ở đây cả ngày.

7 giờ chiều lên xe.

10 giờ đêm đến Kỳ Lừa, ghé thăm chợ.

11 giờ đêm đến Nam Quan.

Lần đầu tiên mình xuất biên Việt - Hoa.

Xuất biên, qua một cửa ải lịch sử.

Xuất biên với một nhiệm vụ nặng nề.

Xuất biên giữa một phong cảnh tươi vui, hùng tráng, núi khe trùng điệp, trăng sáng như ban ngày, xe bon bon chạy trên đèo Sen Hồ, trên đèo Nam Quan. Tinh thần của mọi người đều sáng như bầu trời xuân lồng lộng ánh trăng. Cảnh nên thơ mà lại nghĩ đến người biết thưởng thức thơ, mình nảy ra mấy câu. Đến Bằng Tường viết gởi về cho nhà:

Trăng xuân

"Trăng xuân đẹp, trăng xuân trong,
Trăng xuân đưa khách, ruổi dong đường dài.
Núi khe hớn hở vui tươi,
Tiễn mừng lữ khách gửi lời nước non.
Gương trăng soi tỏ lòng son,
Ngày về thắng lợi, trăng tròn với xuân."

…12 giờ đêm đến Bằng Tường.

7 giờ sáng ngày 16/4, lên tàu hoả đi Nam Ninh.

19 giờ đến Nam Ninh.

Đồng chí V, ra đón. Mình cảm ơn đồng chí và gửi lời cảm ơn các đồng chí ở Bằng Tường. Lên ô tô, vì chưa tiện nói đến việc hành trình, mình nhắc lại chuyện Thao trước kia sang đã được đồng chí V và V phu nhân tiếp đãi chu đáo.

Đồng chí V hỏi thăm về bệnh trạng của Thao(1). Mình kể lại những ngày cuối cùng của Thao và sự cảm kích của Thao, của mình đối với sự săn sóc ân cần của các đồng chí bạn".


Tiêu đề: Re: Luật sư Phan Anh và nhật ký hội nghị Genève
Gửi bởi: Noitraitim trong 29 Tháng Tám, 2013, 10:08:50 am
Nhật ký hội nghị Genève (Từ 10.4.1954 - 24.8.1954) [Kỳ 1] (tiếp)

21 giờ, đồng chí V đưa ra ga Nam Kinh đi Bắc Kinh.

Ở trên tàu hai ngày, sinh hoạt rất thoải mái. Toa tàu rất sạch sẽ. Sự săn sóc của người phục vụ trên tàu rất chu đáo. Không những đối với mình, mà còn cả đối với bất cứ hành khách nào. Tinh thần, tác phong phục vụ của mọi người làm việc trên tàu thật là đáng khâm phục. Không khí dân chủ trên tàu cũng rất rõ rệt: có một sự thân mật, một tình cảm hồn nhiên giữa mọi người".

18 giờ ngày 18/4 tới V.X

"Đồng chí phụ trách ngoại sự xứ V.X ra đón ở ga. Cùng đi với đồng chí có đồng chí tham mưu không quân. Đến đây, thì mới biết Bắc Kinh được tin mình đến Nam Ninh đã cho máy bay đi đón. Nhưng, khi máy bay đến thì mình đã lên tàu hoả rồi. Đồng chí tham mưu lệnh cho máy bay trở về V.X đợi. Mình rất mừng, nhưng cũng hơi lo. Lo rằng: sở dĩ Bắc Kinh phải cho máy bay đi đón nghĩa là cần kíp. Nhưng không ăn khớp, nên chậm một ngày. Có ảnh hưởng gì không? Mình nghỉ đêm ở một khu ngoại ô. Đồng chí Trần phụ trách ngoại sự xứ giới thiệu: đó là một nơi phong cảnh rất đẹp. Đến nơi, trời đã tối. Ăn cơm xong, cắt tóc, rồi viết thư... Đêm mình nằm trong nhà, ngoài trời gió thổi từng trận, tiếng ào ào. Mình và anh em đều lo thời tiết xấu, máy bay không đi được".

19/4/1954

"Sớm dậy, thấy trời mưa, càng lo. Nhưng khi gặp đồng chí Trần thì biết là không sao. Đồng chí Mã, tham mưu không quân cùng đi với mình. Máy bay cất cánh lượn rất êm. Mình hồi tưởng lại lần đầu tiên mình lên máy bay:

Ngày 31/5/1946, sang đàm phán ở Fontainebleau.

Mình so sánh hai cảm giác:

lần này có một cảm xúc mới. Khi máy bay cất cánh lên, mình cảm thấy như một lực mạnh vô cùng của nhân dân, nhân dân Việt Nam anh dũng chiến đấu, nhân dân các nước bạn ủng hộ, sức mạnh vĩ đại ấy đương đẩy cánh bay lên, bay lên cao, bay một cách vững vàng mạnh mẽ. Mình cảm thấy mình, phi cơ, đồng chí tham mưu và các đồng chí hoa tiêu là một. Khác hẳn với lần trước. Nhất là sự săn sóc đầy nhiệt tình của đồng chí hoa tiêu, một thanh niên tươi vui, làm cho mình cảm thấy sự quan hệ sâu sắc mật thiết giữa nhân dân hai nước. Lúc máy bay sắp tới nơi, đồng chí đưa một tờ giấy để ghi cảm tưởng và ý kiến, mình ghi mấy câu (8 câu bằng chữ Hán, chưa dịch). Vừa viết xong, thì anh Hoan lên máy bay đón. Bắt tay nhau, đưa nhau xuống chào các đồng chí bạn ra đón: đồng chí B.T, B.L.L, các đồng chí B.Ng. B...Ngồi trên xe về nơi nghỉ, anh Hoan cho biết anh Tô đã đi từ ngày 17, mình sẽ đi cùng với anh Hoan và một số anh em khác vào khoảng 22/4. Thế là yên chí không chậm".

20/4/1954

"Nghỉ ngơi, xem tài liệu biết thêm mấy tin mới. Tin trong nước: quân ta mở đợt tấn công lần thứ ba (ngày 17) vào phía tây Điện Biên Phủ, chiếm được khu Bắc sân bay. Tin quốc tế: kế hoạch của Dulles thành lập Hiệp ước Thái Bình Dương. Tin này, các báo bàn luận nhiều. Mình nhận thấy: Một là Mỹ bị động trên trường ngoại giao, sự bị động ấy biểu lộ rõ rệt trong hội nghị Berlin. Mỹ muốn vớt vát, muốn cố xoay lại, giành chủ động trước khi bước vào Hội nghị Genève. Do đó, mà có bài diễn văn ngày 28/3 của Dulles. Nhưng, phản ứng của các nước đồng minh và phản ứng của nhân dân Mỹ làm cho bọn cầm quyền Mỹ lúng túng.

Hàng ngũ đồng minh chia rẽ. Dulees vội vàng sang Anh và Pháp (l3,14/4). Kết quả là phải nhượng bộ Anh, xếp kế hoạch "thống nhất hoạt động" thay vào đó "thống nhất ý chí!". Ý chí gì? Lập Hiệp ước phòng thủ Thái Bình Dương.

Nhưng, nội dung thế nào? Rất lờ mờ, chưa đâu vào đâu cả. Mà trong vấn đề này, Mỹ còn lỗ với Anh: Trước kia, Mỹ không chịu cho Anh tham dự Hiệp ước Anzus; Bây giờ, lại phải mở cho cả Anh, Pháp vào. Thế là tranh thủ chủ động, mà hoá ra càng thêm bị động.".

Nhân đây, cũng muốn xác nhận một tin tức, đó là việc báo chí sau này cho rằng: "Tổng thống Eisenhower đã quyết định không can thiệp vào Việt Nam thời kỳ Điện Biên Phủ. Nhưng chỉ sau đó ít tuần, Dulles đã lái chính sách của Chính phủ Mỹ theo hướng ủng hộ chính quyền Ngô Đình Diệm chống lại Hiệp nghị Genève, để rồi cuối cùng đã bị sa lầy trong cuộc chiến tranh mà chưa biết bao giờ mới ra khỏi ký ức của người Mỹ.")

20/4/1954

"Dư luận của nhân dân thế giới (lời tuyên bố của Nerhu) và nhất là của nhân dân Pháp rất lãnh đạm và hơn nữa còn nghi ngờ đối với kế hoạch của Mỹ. Bài diễn văn của Dulles, lời tuyên bố của Ních-xơn (doạ dẫm Pháp: nếu Pháp rút ra khỏi Đông Dương thì Mỹ sẽ cho quân Mỹ thay thế) làm cho dư luận xôn xao, phản ứng thêm mạnh đối với những hành động khiêu khích, phá hoại của Mỹ. Ních-xơn vừa tuyên bố hôm trước thì hôm sau quốc vụ của Mỹ cải chính, cho đó là một lời tuyên bố không có giá trị chính thức. Nhưng, rất có thể, đó chỉ là một kế hoạch "đồng cốt". Chúng tung ra những chủ trương nọ, chủ trương kia, để thăm dò dư luận. Cho nên ta phải cảnh giác, không nên chủ quan. Phải vạch rõ mưu mô thâm độc của chúng, để dư luận thấy rõ và đề phòng."

21/4/1954

- "Bắt đầu kiểm điểm tài liệu của phái đoàn. Tài liệu khá nhiều nhưng hơi cũ. Cần thu thập những tài liệu mới, hiện có tản mạn ở các báo chí, các bản tin tức trong nước, và tin tức quốc tế".

"… Chiều nay, Lý Bộ trưởng Bộ Liên lạc đến ăn cơm, tiễn đoàn mình. Lúc ông đến, không có ai phiên dịch, mình ra chào, và cố nói chuyện. Nói được và thấy câu chuyện rất vui. Nửa giờ sau, anh Hoan đến. Lý Bộ trưởng giới thiệu mình là nói tiếng Trung Hoa rất "phiêu lương"(1). Đồng chí nói thêm: "Đó là một sự kỳ lạ. Vì Phan Bộ trưởng chưa sang Trung Quốc bao giờ." Anh Hoan giới thiệu lại, mình xuất thân nhà nho, trong nhà vốn đã học chữ Hán. Kinh nghiệm cho thấy: Một là nói được, dễ gây cảm tình hơn là dùng phiên dịch. Dùng phiên dịch, hoá ra trịnh trọng, mất vẻ tự nhiên. Hai là, những khi cần nghiêm trang, thì nên để anh em phiên dịch. Phiên dịch tăng vẻ nghiêm trang".

21/4/1954

"Ở Bắc Kinh hai hôm. Khí hậu, thời tiết, ánh sáng mặt trời ấm, da trời xanh mịn không gợn một tý mây. Cho nên những tiếng động: xa xa còi tàu, tiếng xe hơi, lọt qua mấy bức tường, qua những cửa phòng, đóng mấy lần kính, che mấy lần vải, cho đến màu sắc trong phòng ngủ (trắng trẻo, dịu dàng), cho đến màu sắc những mái nhà, những bức tường ngoài sân (xam xám, cũ kỹ...), cho đến hương vị không khí (Không khí trong phòng ngan ngát! Mùi của những căn phòng sạch sẽ khô ráo, có hơi ấm của các ống nước sưởi toả ra) không khí ngoài sân lành lạnh, kích thích, nhắc lại cho ta là mùa xuân đương tới. Sống trong khung cảnh đó mình nhớ lại những ngày sống ở Paris: sống đời học sinh ba năm, sống đời ngoại giao ba tháng. Hình ảnh Thao hiện ra bên mình luôn luôn...Hình ảnh cô nữ sinh viên đương đợi mình ở thư viện, làm mình phải xúc tiến bài vở cho kịp để cho ai khỏi phải mong chờ. Hình ảnh thiếu phụ trong hiệu thuốc, chăm locông việc gia đình, mong mỏi tin tức đàm phán, làm cho mình thêm hăng háithức khuya, dậy sớm, chăm lo công việc phái đoàn, để đến khi về khỏi phụ lòngai mong đợi. Cô nữ sinh viên ấy, thiếu phụ ấy, không tìm thấy đâu nữa:

Tìm đâu cho thấy cố nhân,
Lấy trường chiến đấu khuây dần nhớ thương.


Tiêu đề: Re: Luật sư Phan Anh và nhật ký hội nghị Genève
Gửi bởi: Noitraitim trong 29 Tháng Tám, 2013, 10:11:24 am
Nhật ký hội nghị Genève (Từ 10.4.1954 - 24.8.1954) [Kỳ 1] (tiếp)

Trên con đường chiến đấu, bây giờ có những hình ảnh xán lạn, chen vào những hình ảnh cũ của Thao, làm cho mình nhớ Thao mà không buồn. Nhớ mà lại vui, lại phấn khởi bội phần.

Trước hết là hình ảnh Bác, hình ảnh ngày làm việc của Bác, mà mỗi khi mình làm việc gì là cũng nhớ lấy làm tiêu chuẩn. Hình ảnh của Bác, ngày họp Hội đồng Chính phủ bàn về Hội nghị Genève với nét mặt trang nghiêm, đôi mắt sáng ngời của Bác, lúc Bác nghe mình phát biểu ý kiến, những lúc Bác gật đầu, Bác ghi sổ,…Tất cả những hình ảnh ấy còn in sâu trong tâm trí mình và luôn luôn thúc đẩy tinh thần mình. Rồi đến hình ảnh của em Phan Mỹ đón mình (tối 14).

Anh em mình lệ thường không bắt tay nhau (đối với người ngoài thì bắt tay), nhưng đêm hôm ấy, khi mình lên xe bỗng tự nhiên anh em nắm chặt tay nhau: Cảm động mà im lặng. Phan Mỹ chỉ nói "Thắng lợi". Qua nắm tay nóng sốt, chặt chẽ ấy, mình cảm thấy cả một bầu nhiệt tình anh em, đồng chí. Tình gia đình, tình Đảng không thể nào phân biệt được trong luồng nhiệt tình này. Rồi đến hình ảnh các con Long, Vân(1) đương vui vẻ thi đua học tập trong trường Thiếu nhi của Bác Hồ. Con Tân Hội sống bên bác Lập. Bác Lập săn sóc cháu, săn sóc em, với tình bác, tình chị và tình cách mạng của một đảng viên đối với một người có cảm tình với Đảng. Rồi đến hình ảnh anh công binh trên đường bị bắn phá, nhảy nhót, vui sướng vì đã chữa xong đường và thấy xe đi qua đường.

Rồi đến hình ảnh anh hoa tiêu trên máy bay, chăm nom các đồng chí Việt Nam từng ly, từng tý. Hình ảnh người thân cũng như người mới gặp, người nhà, cũng như người ngoài đều đượm một mối tình chung: mối tình nẩy nở trên một nghĩa cả mênh mông và vĩ đại."

22/4/1954

"Dậy sớm từ 4 giờ, 5 giờ ra sân bay. Các đồng chí Bộ trưởng Liên lạc, Thứ Bộ trưởng Bộ Ngoại giao ra tiễn chân. 6 giờ 15 phút, máy bay cất cánh. Phi cơ do đồng chí hoa tiêu Liên Xô cầm máy. Đây là một chiếc phi cơ của công ty Trung - Xô hàng không. Riêng chuyến máy bay, chỉ có Đoàn mình. Phi cơ bay qua dãy Vạn Thọ, rồi vượt qua một dãy núi cao trên có Vạn Lý Trường Thành. Ngồi trên máy bay, nhìn Vạn Lý Trường Thành như một sợi dây, chăng trên núi cao và rộng. Dãy núi cao, rộng như thế, không đủ làm bức thành ngăn cản ngoại xâm hay sao, mà lại còn cần xây một cái thành, thật không thấm gì với dãy núi? Đó là cảm giác ngạc nhiên của mình, trước cảnh núi vĩ đại ấy. Nhưng nghĩ kỹ, có lẽ tác dụng của Vạn Lý Trường Thành không chỉ ở cái thành, mà ở cái mặt thành dùng làm đường chiến lược để điều quân cho nhanh chóng.

Qua Vạn Lý Trường Thành, đến Nội Mông: Một cao nguyên mênh mông, không có sông ngòi, không có cây cỏ.

Rồi sang Ngoại Mông, vẫn cảnh cao nguyên trơ trọc. Núi không có một ngọn cỏ. Đồi trơ trọi không thấy một bóng nhà, bóng cây. Thỉnh thoảng có một vũng nước phẳng lặng như một cái hồ. Nhưng chung quanh không có một nóc nhà, một bóng cây và trên mặt nước không thấy một bóng thuyền. Phi cơ bay được bốn tiếng thì ở đằng trước xuất hiện thấp thoáng mấy điểm trắng trên mặt đất đỏ: đó là Oulanbator thủ đô nước Cộng hoà nhân dân Mông Cổ.

Phi cơ hạ dần xuống, thấy rõ cảnh cao nguyên, đồi đất trơ trụi, cây không có đã đành mà cỏ cũng không có. Màu đất đỏ (đỏ nâu) mênh mông, nhất nhất như nhau, chỉ điểm thêm những vạch trắng: đó là những mảnh tuyết cuối đông chưa tan hết. Ngồi trong máy bay trông ra ngoài, mặt trời chói lọi, gió thổi bụi đỏ mù mịt, ai cũng tưởng xuống sân bay sẽ nóng nực như ở sa mạc. Nhưng sa mạc thì có thực, mà khí hậu thì rét như cắt. Anh em vừa bước ra ngoài máy bay là bị cóng tay, gió thổi vào mặt, rét như cắt, có thể là 0 độ.

Định chỉ nghỉ ở đây 45 phút, nhưng đài báo tin có bão tuyết, nên phải nghỉ lại. Sau máy bay mình đi, có một máy bay chở mấy phái đoàn kinh tế, phụ nữ Trung Quốc… Ăn cơm xong, đi xem thành phố (do một đồng chí ở Bộ Ngoại giao Ngoại Mông chỉ dẫn).

Đặc điểm thành phố này là toàn nhà mới, mới làm từ cách mạng thành công và nhất là từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Phố xá chỉ gồm công thự nhà ở. Cửa hàng không thấy (có ở khu khác). Nhà dân là những cái lều vải có thể di chuyển được. Các dinh thự, công sở, trường học, y viện, nhà hát, rạp chiếu bóng, thư viện... đều mới xây dựng. Kiến trúc giản dị và xinh xắn. Có hai nhà máy: Nhà máy thuộc da và Nhà máy kéo sợi len. Thổ sản chính: chăn nuôi, lông cừu, sữa bò và da bò. Dân số của thành phố: 9 vạn người, trong đó có 7.000 Hoa kiều. Tổng số cư dân của nước Mông Cổ là 1 triệu. Hiện Oulanbator có đường xe lửa nối với Matxcơva, và đương kiến thiết đường xe lửa nối với Bắc Kinh. Nhìn cảnh vật ở thành phố, mình nhận thấy: Một là, địa lý thiên nhiên rất gay go: đất xấu, trời rét, (có khi xuống âm 40 độ), dân không có điều kiện định cư.

Hai là, chế độ mới đã cải biến điều kiện thiên nhiên mà tạo ra giữa bãi sa mạc một thành phố kiểu mới. Sự giúp đỡ của Liên Xô đã đưa lại những kết quả lớn lao đó. Rồi đây, với sự tương trợ của Trung Quốc, xứ Ngoại Mông ắt còn tiến mạnh hơn nữa. Ba là so sánh với Ngoại Mông, Việt Nam còn có những điều kiện thiên nhiên thuận lợi hơn nhiều, vậy khả năng kiến thiết của Việt Nam sau khi kháng chiến thành công có thể trông đó mà đo được".

23/4/1954

"6 giờ 30 lên máy bay. 11 giờ đến Iercut.

Lần đầu tiên qua biên giới vào nước XHCN đầu tiên trên thế giới. Khách sạn hiện đại, buồng ăn xinh xắn. Trên trần trạm trổ hoa lá, đèn pha lê từng cụm, trên tường những hoạ sơn có giá trị mỹ thuật, ở cửa sổ những màn the lụa, ở cửa ra vào những tấm màn nhung…Trên bàn ăn, đồ sứ, đồ pha lê…Cách tiếp đãi của cô phụ trách niềm nở, tươi cười, nhanh nhẹn, chu đáo, tất thẩy đều nhắc lại cho mình những cảnh tráng lệ nhất của Tây phương. Đây mới chỉ là một thị trấn biên thuỳ, nhưng cảnh tráng lệ hơn hẳn những thị trấn trung bình ở các tỉnh của Pháp.

Đó là cảnh. Còn người, thì lại càng thấy rõ hơn nữa. Khi mới sang Tây phương, bước chân lên Marseille, mình cũng được một gia đình Pháp đón thân mật.

Nhưng những người khác, những người chung quanh đối với mình, nhìn mình bằng một con mắt tò mò…Mình tự thấy xa họ. Có lẽ mình tự nghĩ thế. Nhưng, dầu sao đó cũng là một cảm giác khó chịu. Bây giờ ở đây khác hẳn. Nụ cười của cô phụ trách khách sạn, nụ cười của các anh em hoa tiêu là một nụ cười người anh em. Mình cảm thấy một sự thân mật, một mối tình thắm thiết giữa họ với mình. Mối tình ấy lại làm cho những toà nhà kia, những đồ đạc tráng lệ kia, những chiếc ô tô, những máy bay đời mới kia đối với mình có một cái gì quý hơn là cái đẹp, cái tốt của nó. Giữa nó với mình có một mối quan hệ, cũng như giữa các đồng chí Liên Xô với mình có quan hệ đặc biệt. Phi cơ bay từ Iercut là một phi cơ lớn hơn phi cơ trước, bay rất êm. Êm hơn chiếc Đakôta mà mình đã đi năm 1946. Có phải vì cảm tình với bạn mà mình có cảm giác ấy chăng? Mình tự hỏi như thế. Nhưng, không. Sự thực là thế: Phi cơ này tốt hơn hơn, bay êm hơn. Và nhất là hoa tiêu giỏi hơn, chu đáo hơn.


Tiêu đề: Re: Luật sư Phan Anh và nhật ký hội nghị Genève
Gửi bởi: Noitraitim trong 29 Tháng Tám, 2013, 10:12:53 am
Nhật ký hội nghị Genève (Từ 10.4.1954 - 24.8.1954) [Kỳ 1] (tiếp)

17 giờ đến Novossibirsk…"

24/4/1954

"2 giờ đến Matxcơva.

Mình nhìn ra ngoài qua cửa sổ kính: trước đây một lúc chỉ thấy bầu trời với sao, với trăng. Bây giờ, người ta nói: đã tới Matxcơva. Nhìn ra, cũng chỉ thấy trăng, sao. Nhưng sao nhiều hơn, chi chít hơn, long lanh hơn. Sao trên, sao ở chung quanh, sao cả ở dưới, máy bay bay giữa sao, một hồ sao. Đó là hồ sao của Matxcơva. Sao từng cụm, sao nhiều hơn là sao trên giời, nhưng không thể phân biệt được với sao trên giời. Một chuỗi sao long lanh, chi chít kéo dài, từ chân trời này tới chân trời kia, song song với Ngân hà trên giời, đó là sông Matxcơva, đó là hàng triệu chiếc đèn điện, sao trên bờ sông Matxcơva, sông Ngân hà của hạ giới. Đó là thế giới thiên thai. Đó là thiên thai của nhân loại. Xuống sân bay, có anh Nguyễn Thương ra đón (Đoàn mình còn bí mật) về đến Sứ quán Việt Nam (nhà anh Cả)(1) đúng 3 giờ".

"8 giờ dậy, sang buồng Bửu, gặp Tường(2), Thanh Sơn!

8 giờ 30, định sang chào anh Tô(3),nhưng anh chưa dậy. Thì đúng lúc đó mình đương ngồi viết nhật ký, anh Tô vào. Tay bắt, mặt mừng. Ôm nhau hôn. Ôm nhau ở cả hai tay. Ôm nhau cả ở trong lòng. Cá nhân mến nhau đã đành. Nghĩa vụ, công việc, mà thêm mến nhau, hiểu nhau, kính nhau.

Lần Hội nghị Fontainebleau đã hiểu nhau, mến nhau, lần này, nhất định mối thân tình ấy còn tăng thêm nữa. Huống chi lần này, ngoài quan hệ cá nhân, còn có một điểm mới: về lý tưởng mình đã gần anh Tô hơn trước nhiều".

25/4/1954

"8 giờ họp Đoàn, định thành phần Đoàn và nhiệm vụ của từng đoàn viên. Đại biểu trước định là 6 (5 anh em chỉ định trước và thêm mình), nay lại rút xuống 3, vì các Đoàn đại biểu của các nước bạn cũng ít. Trao đổi qua ý kiến, mọi người đồng ý ngay. Ba đại biểu ấy là: anh Tô, Trần Công Tường và Phan Anh. Giữa Tường và Bửu chọn Tường vì hai lý do: Tường là Nam Bộ, Bửu lại là quân sự, mà quân sự và Đoàn Ngoại giao lại không thích hợp lắm (đó là ý kiến của anh Hoan). Cố vấn: Bửu, Hoan và hai Bộ trưởng Lào, Campuchia. Chuyên viên: Thanh Hà, Thanh Lê, Thanh Sơn. Bí thư trưởng: Bửu và Thanh Hà".

"Một tin mới về Hội nghị Genève: Nehru tuyên bố ông có một kế hoạch đề nghị với các nước tham dự Hội nghị Genève để giải quyết vấn đề Đông Dương. Kế hoạch này gồm 5 điểm: "Gây một không khí êm dịu trước Hội nghị, kêu gọi ngừng bắn, huỷ bỏ chủ quyền của Pháp ở Đông Dương, các đối phương tham chiến thương lượng trực tiếp với nhau, các nước khác cam kết không can thiệp vào Đông Dương và đình chỉ ngay mọi sự viện trợ quân sự". Riêng đối với dự định thành lập tuyến phòng thủ Đông Nam Á, ông cho rằng: đó là một việc mà Ấn Độ không tán thành, vì muốn cho Đông Nam Á được hoà bình thì không nên lôi cuốn Đông Nam Á vào một khối quân sự nào cả". Những ý kiến của Thủ tướng Nehru khá cụ thể. Đề nghị của Nehru có lợi cho ta trong cuộc đàm phán ở Genève. Tối thiểu là những đề nghị ấy chống lại những âm mưu hành động của đế quốc Mỹ."

26/4/1954

"Đoàn họp bàn về hai văn kiện căn bản: bản tuyên bố chung và bản chủ trương cụ thể.

Tin tức hôm nay: ở nhà, quân ta đang thắt chặt thêm vòng bao vây cứ điểm Điện Biên Phủ. Quân địch chỉ còn 3 cây số vuông. Ở Genève Hội nghị bắt đầu họp. Một vấn đề thủ tục khá rắc rối (địa vị cường quốc của Trung Hoa, hai bên Đông - Tây chưa thống nhất, đã được giải quyết bằng một đề nghị rất khôn khéo và xác đáng của ông Môlôtốp(1), chỉ có ba nước cắt phiên chủ toạ Liên Xô, Anh và Pháp.

Việc mình làm hôm nay ngoài sự tham gia vào hai văn kiện căn bản, mình chuẩn bị ý kiến và tài liệu về vấn đề Liên hiệp Pháp, xem lại tài liệu cũ của Hội nghị Fontainebleau, mình nhận thấy lập trường của mình vẫn còn thích hợp, tuy 7 năm đã qua. Như thế, càng thấy bọn thực dân Pháp ngoan cố quá, lạc hậu quá.

Đến bây giờ mà còn khư khư giữ quan niệm cũ rích về Liên hiệp Pháp theo Hiến pháp năm 1946! Sở dĩ nó ngoan cố, chính vì nó yếu. Càng yếu, càng rụt rè, càng phải níu lấy hình thức. Cho nên tất cả là thực lực. Thực lực về quân sự, về chính trị, về kinh tế. Có thực lực thì dám ăn, dám chơi, không câu nệ hình thức. Hình thức có, mà thực lực không có, thì hình thức vô dụng. Hình thức tuy có vẻ hẹp, nhưng nếu thực lực có mạnh, thì hình thức cũng phải mở tung ra. Cốt nhất là tranh thủ điều kiện, phát triển thực lực".
 -------------------------------
(1) Phu nhân Phan Anh.
(1)Tiếng Hán âm Việt là "pheo leng" có nghĩa là đẹp, tốt...
(1) Hai con trai của Phan Anh, Tân Hội là con thứ ba.
(1) Nguyễn Lương Bằng - đại sứ Việt Nam tại Liên Xô.
(2) Tạ Quang Bửu, Trần Công Tường.
(3) Phạm Văn Đồng.
(1)Ngoại trưởng Liên Xô.


Tiêu đề: Re: Luật sư Phan Anh và nhật ký hội nghị Genève
Gửi bởi: Noitraitim trong 29 Tháng Tám, 2013, 11:47:27 am
Nhật ký Hội nghị Genève (Từ 10.4.1954 - 24.8.1954) [Kỳ 2]

27/4/1954

"Buổi chiều đến, anh Cả vào thăm, nói chuyện với anh Hoan và mình. Anh thấy mình làm việc, giục nghỉ ngơi. Mình rất cảm kích cách ăn ở của anh Cả. Từ việc nhỏ đến việc lớn anh rất chu đáo.

Còn nhớ, những thứ thuốc của Thao, anh cho người đưa về giúp, không sai một ly. Khi ở nhà, mỗi khi gặp gỡ, anh thân mật hỏi han tin tức sức khoẻ của Thao khi đang điều trị....Khi đi Liên Xô, anh viết thư lại. Sang đây, từ nơi ăn chốn ở đến những vật dụng hàng ngày, anh rất để ý quan tâm đến anh em phái đoàn. Cả một tác phong hiếm thấy. Mình hiện đương đọc quyển La Moisson(2), trong đó tả một anh Chủ tịch nông trường, anh này rất sốt sắng, rất tích cực. Nhưng có một khuyết điểm lớn: thiếu sự thấu đáo nhân tình. Do đó, trong nhà vợ con xa cách, ở ngoài anh em không hả hê. Kết quả công tác do đó mà kém hiệu suất. Tác phong chu chí, thấu đáo nhân tình, thật là một tác phong của con người có đạo đức cách mạng. Trông thấy anh Cả, lại nhớ đến gương Bác, rồi lại hồi tưởng đến tác phong của Thày ta xưa chu chí, thấu tình trong việc to cũng như trong việc nhỏ".

28, 29, 30/4/1954

"Mấy hôm nay, bận công việc chuẩn bị văn kiện, cả ngày đêm, làm cho kịp, nên không có thì giờ viết nhật ký.

Về công việc: dồn dập. Vấn đề nhiều hơn. Tài liệu cần nghiên cứu cũng khá phong phú, e không đủ thì giờ xem hết.

Về tình hình thời sự: Hội nghị Genève, ngày đầu bàn vấn đề Triều Tiên. Đáng chú ý nhất là bài diễn văn của Ngoại trưởng Chu Ân Lai, thật là đanh thép. Đúng lý. Đúng tình. Đúng mức. Thật là lời nói của một dân tộc lớn mạnh. Không ai là không thể thừa nhận vai trò đại cường quốc của Trung Hoa mới. Qua ngày đầu, các Ngoại trưởng đã bàn đến sự triệu tập Hội nghị bàn về vấn đề Đông Dương.

Ai cũng mong đợi Hội nghị này, các báo đều đồng thanh về điểm đó. Vấn đề thành phần: Mỹ, Pháp "làm bộ" về vấn đề mời Việt Nam dân chủ cộng hoà. Thực sự không có Việt Nam dân chủ cộng hoà thì thương lượng với ai? Ai cũng thấy thế và các báo đều nói thế. Tin hôm nay cho biết: Vấn đề ấy đã được giải quyết. Chỉ còn cần biết xem các nước Đông Nam Á có dự không? Có thì càng tốt. Hiện các nước Ấn Độ, Miến Điện (Myanmar), Tích Lan (Sri Lanka), Đại Hồi và Nam Dương đương họp Hội nghị ở Colombo bàn vấn đề Đông Dương, bàn về những đề nghị của Thủ tướng Nehru. Tin cuối cùng cho biết, Hội nghị đã thoả hiệp tán thành hai điểm: ngừng bắn và đôi bên trực tiếp thương lượng. Dư luận thế giới càng ngày càng phản đối chủ trương kéo dài và mở rộng chiến tranh của Mỹ, đến cả trong nội bộ của Mỹ cũng có người phản kháng lời tuyên bố của Thượng nghị sĩ Johnson, thật hay.

Tình hình ở nhà: Mặt trận Điện Biên Phủ bị quân ta bao vây ngày một thêm chặt. Pháp nhờ Anh, Mỹ lên tiếng yêu cầu cho chở thương binh đi. Thật là một việc kỳ lạ, lần đầu tiên xảy ra trong lịch sử chiến tranh".

1/5/1954

Dự lễ 1/5/1954 tại Hồng trường, mình có thơ:

"Nghiêm trang lời nhật lệnh
Hùng tráng nhạc quốc ca
Vang lừng tiếng súng nổ
Súng cùng nhạc chan hoà
 
Chan hoà ý nghĩa,
Ngày Tết của ta,
Tháng Năm mồng một,
Người gần người xa,
Con người lao động,
Bốn bể một nhà."
 
"Hướng về Thủ đô xã hội
Thấy tương lai rực rỡ nguy nga
Cùng chung một niềm tin sắt đá
Cùng chung một mối tình mặn mà
Sức lao động xoay trời chuyển đất
Tình lao động bay khắp hải hà
Mạnh, vui, sáng, đẹp, Hồng quân dượt
Mở nguồn vô tận ảnh, cờ, hoa
Trông quang cảnh Hồng trường trước mắt
Thấy Đại đồng thế giới không xa."
"Mấy lời ghi tặng, ai tri kỷ
Những niềm tươi đẹp của lòng ta".
1, 2/5/1954

"Hai ngày này là hai ngày Tết Lao động. Cảm xúc, thu hoạch thật là xúc tích. Những cái trông thấy, nghe thấy, vừa vĩ đại mà lại vừa xinh đẹp, vừa hùng tráng mà lại vừa thuần giản. Tứ thơ, hứng thơ rất nhiều. Thơ ở đáy lòng. Thơ ở chung quanh mình, thơ trong không khí. Thơ ở tiếng súng nổ ran. Tiếng vỗ tay chấm dứt bài diễn văn của ông Bulganine(1). Thơ trong tiếng nhạc Quốc ca hoà theo nhịp súng. Thơ theo nhịp bước đều đặn của những đoàn bộ binh, thuỷ binh. Thơ bay lượn với những hàng máy bay phản lực vùn vụt trên Hồng trường. Thơ ở nụ cười hớn hở của bà cụ già, ở em bé, ở cô thiếu nữ, ở cậu thanh niên bên cạnh mình, cùng mình vỗ tay hoan hô những đoàn biểu diễn. Thơ trên làn sóng người, ở con sông hoa dào dạt, chảy trước khán đài. Thơ nảy ra trên hàng nghìn đoá hoa, mọc từ hàng nghìn thiếu nữ, thanh niên, xếp hàng đều thành những hình vuông, kết thúc cuộc biểu diễn.

Thơ hùng hồn trong lời lãnh tụ
Thơ trang nghiêm trong nhạc quốc ca
Thơ mãnh liệt trong nhịp súng nổ
Thơ tươi vui trong làn sóng hoa người.

Thơ ấm áp, mặn mà, cảm động, kích thích trong lòng người, trong lòng ta, hoà ta với người thành một niềm vui sướng, tin tưởng, không bến không bờ, dào dạt theo sóng người đi mãi, toả khắp các phố, các đường, toả xa mãi đến chân trời… bay vút theo những làn máy bay phản lực, nẩy nở thêm, thêm mãi, đẹp mãi và tươi mãi với bể hoa trăm sắc, hoa trên cờ, hoa trên tay, hoa trên nụ cười của những đoá hoa người! Người tiến bộ,người trong trẻo, người hiênngang, người vui tươi, người hùng mạnh với lý tưởng tiến bộ, trong trẻo, hiên ngang, vui tươi và hùng mạnh. Cuộc biểu diễn ngày 1/5 bắt đầu bằng diễn văn, chấm dứt theo bản nhạc Quốc ca và tiếng đại bác. Cảm xúc hùng tráng. Tiếng súng dứt, Quốc ca dứt, lục quân tiến lên, thuỷ quân tiến lên. Cảm xúc trang nghiêm. Trên trời, một chiếc phi cơ khổng lồ, kèm theo bốn chiếc con, năm chiếc bay mà như một chiếc. Đó là, chiếc máy bay oanh tạc lớn nhất, lần đầu ra mắt thế giới. Theo sau đó, vùn vụt hàng mấy chục làn máy bay phản lực nhỏ hơn đủ các kiểu. Dưới đất, xe tăng, xe cơ giới. Anh Thao Ma (Lào) kể lại "Muốn nhìn tầu bay thì lại mất tầu bò, nhiều quá không biết nhìn cái gì!". Cảm xúc khoẻ và mới. Sau quân đội, tiếp theo những đoàn xếp thành hình vuông: áo trắng quần xanh, hoặc áo đỏ quần xám; thanh niên trai gái không mang súng nhưng cũng đều và cũng mạnh như bộ đội. Cảm xúc khoẻ và trẻ. Đi theo nhau, hay nói đúng hơn, không phải là đi, nhưng "chảy" theo làn sóng người, hay nói đúng hơn là làn sóng hoa, làn sóng cờ, làn sóng ảnh lãnh tụ, ảnh, cờ, hoa, như một con sông chảy trước khán đài. Cảm xúc đẹp, đẹp mặn mà, đẹp xinh xắn, đẹp hồn nhiên, đẹp đơn giản, đẹp của trời xuân tưng bừng, đẹp của cuộc đời xán lạn.


Tiêu đề: Re: Luật sư Phan Anh và nhật ký hội nghị Genève
Gửi bởi: Noitraitim trong 29 Tháng Tám, 2013, 11:51:26 am
Nhật ký Hội nghị Genève (Từ 10.4.1954 - 24.8.1954) [Kỳ 2] – Tiếp theo.
Tối mùng 1 và mùng 2 đi xem Matxcơva trong ban đêm, huy hoàng, rực rỡ.So với Paris những ngày rực rỡ nhất (như cuộc đón tiếp Nữ hoàng Anh năm 1938) thì đây còn rực rỡ huy hoàng hơn. Công chúng rất đông, nhất là ở Hồng trường.

Có hai điểm đáng chú ý:

Một là, công chúng đơn thuần, không thấy kẻ sang người nghèo. Ai cũng một mức sống (nhìn qua quần áo). Riêng về cách ăn mặc có duyên (có "gu").

Hai là, ai cũng vui tươi, một niềm vui tươi trong sạch, không phải lo lắng cho ngày mai. Tối mùng 2, về nhà đã 11 giờ. Anh Cả có việc gấp, đi đến Bộ Ngoại giao. Mình đoán: “có tin về Hội nghị Genève. Thì quả đúng như thế. Mình và anh Hoan vừa lên giường chợp mắt thì anh Tô gõ cửa vào. Họp anh em và cho anh em biết ngày hôm sau phải lên máy bay đi Genève”.

"13 giờ khởi hành từ Sứ quán, 14 giờ đến sân bay. Có Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Liên Xô, Trưởng ban Đông Nam Á và các Đại sứ Trung Hoa và Triều Tiên ra tiễn. Đó là ngày đầu tiên Phái đoàn ra mắt công khai. Đoàn chia làm hai tốp: tốp đi hôm nay có 12 người (còn tốp sau, ngày mai khởi hành), 12 người chia ngồi hai máy bay. Chiếc đầu có anh Tô, Hoan, Bửu, hai đồng chí Lào và mình. Chiếc máy bay này đặc biệt, có giường nằm, có bàn làm việc. Đặc biệt nhất lại là sự chăm nom săn sóc lúc đi đường, riêng có một đồng chí Liên Xô phụ trách việc này, trông nom mọi việc ăn uống, nghỉ ngơi của những người đi trên máy bay. Đồ ăn, đủ các thứ, toàn là các thức ăn cao cấp. Qua đó, bật lên hai điểm: sự chu đáo, tinh thần quốc tế cao cả của Liên Xô; mức sống cao của Liên Xô (qua những thức ăn, thấy mức sống ấy)."

"21 giờ đến Berlin. Ra đón có: ông Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, ông đại biểu của Đảng (công nhân thống nhất Đức), ông Thị trưởng Berlin, các đại sứ Liên Xô, Trung Quốc, Triều Tiên và tất cả các nước dân chủ. Trên sân bay hai lá cờ to ở cửa vào, cờ Đông Đức và cờ Việt Nam. Bên cạnh, 8 lá cờ các nước Bạn. Vào khách sạn ở ngay sân bay (khách sạn của Nhà nước).

Ăn tiệc: có 12 người trong Đoàn mình và bên Bạn cũng từng ấy (đó là những người ra đón). Bên Bạn mấy lần nâng cốc chúc rượu.

Ông Bộ trưởng Bộ Ngoại giao chủ toạ:

"Chúc phái đoàn thành công, chúc nhân dân Việt Nam thắng lợi, chúc Hồ Chủ tịch mạnh khoẻ". Sau đó, anh Tô chúc nước Đức thắng lợi trong sự nghiệp tranh đấu giành thống nhất và trong công cuộc kiến thiết. Chúc lần thứ hai: mừng anh Đồng khoẻ mạnh. Chúc lần thứ ba: mừng Phan Anh khoẻ mạnh. Chúc lần thứ tư: mừng Đại sứ Liên Xô. Ông đại biểu Đảng: chúc Đảng Lao động. Ông thị trưởng: chúc mừng Đại sứ Trung Quốc. Chén rượu chúc sau cùng là do ông Bộ trưởng Bộ Ngoại giao chúc nước Pathét - Lào thắng lợi".

"Qua cuộc đón tiếp này, mình nhận thấy mấy điểm: Một là, tình nồng nhiệt của bạn đối với ta. Cả một sự đoàn kết chiến đấu. Cái đó, mình vốn đã biết. Nhưng, đứng trước mặt tất cả các bạn Đông Đức, các Đại sứ 9 nước, mình càng cảm thấy một cách cụ thể và sâu sắc tình đoàn kết anh em giữa ta và bạn. Hai là, vai trò lãnh đạo của Liên Xô. Sở dĩ có được cuộc đón tiếp này cũng là do tin của Matxcơva báo đi. Anh em biết trước, biết tỉ mỉ có những ai trong Đoàn. Vai trò đó, mình lại thấy biểu lộ một cách cụ thể trong bữa tiệc. Sự săn sóc, sự đằm thắm của ông Đại sứ Liên Xô, trong khi nói chuyện. Nhớ khi anh Tô kể chuyện cà phê Việt Nam phải bỏ hoang vì không có thị trường, thì đồng chí Đại sứ Liên Xô quay về mình:

"Các đồng chí không ngại. Các đồng chí có đồng chí Bộ trưởng Kinh tế trẻ như thế này thì nhất định sẽ phát triển kinh tế, sẽ có Uỷ ban kinh tế, có kế hoạch kinh tế, và nhất định các đồng chí sẽ thắng lợi. Phải không đồng chí Bộ trưởng."

Mình thấy cả một sự ân cần, cả một sự khuyến khích thân mật qua những lời nói hồn nhiên (không có chút gì là tính cách ngoại giao).

Mình cảm thấy cả một nhiệm vụ lớn mà đồng chí đã nhắc cho mình, và cả một tin tưởng vững chắc mà đồng chí đã nhấn mạnh thêm cho mình. Rồi đến khi lên máy bay đi Thuỵ Sĩ, đồng chí Đại sứ Liên Xô lại ra chỗ mình bắt tay, niềm nở, rất chặt. Mình không quên được cái bắt tay ấy. Đó không phải là bắt tay ngoại giao. Đó là bắt tay anh em, khuyến khích nhau làm công việc, để phụng sự một lý tưởng chung".

4/5/1954

"Bay từ Berlin lúc 6 giờ, thì 11 giờ đến Genève. Tầu bay bay qua hồ Leman. Lượn quanh thành phố. Trông ở trên xuống đã thấy phong cảnh đẹp. Lúc sắp xuống, anh em chuẩn bị đối phó với các nhà báo. Nhưng đến nơi thì gặp mọi sự may mắn. Tầu bay vừa đậu thì Đại sứ Liên Xô ở Thuỵ Sĩ lên tận tầu bay dặn dò: Lời tuyên bố có thể đọc hoặc trao bản viết cũng được. Sẽ gặp lại. Như thế là yên tâm. Anh Tô xuống. Đại biểu Chính phủ Thuỵ Sĩ ra chào. Đáp lễ xong, quay ra với anh em nhà, Thủ tướng Chu Ân Lai, Thứ trưởng Ngoại giao Liên Xô, và nhiều Đại sứ khác (đại sứ các nước bạn). Anh em nhà xoay quanh mình, thành ra các nhà báo cũng không có dịp đến gần được".

"Rồi lên xe. Đi trước xe có hai cảnh binh Thuỵ Sĩ đi mô tô dẫn đường. Như thế là từ chỗ đại biểu chính phủ đón, cho đến chỗ bố trí đường, chính phủ Thuỵ Sĩ đã có một thái độ tiếp đón tân khách chính thức. Đó là một điều tất nhiên, vì Đoàn đại biểu mình đã do Hội nghị Ngũ Cường chính thức mời. Nhưng, đó cũng là một thái độ đúng mực của chính phủ địa phương, đã công nhận một thực tế quốc tế. Thế là bước đầu sang một nơi xa lạ (không phải là đất anh em), mà được may mắn. Nhưng cứu cánh sự may mắn ấy cũng là sự tranh đấu chuẩn bị, sự bố trí của nước bạn anh em Liên Xô, Trung Quốc".

"Hôm nay về đây nghỉ ngơi được mấy giờ. Mai lại bắt đầu làm việc nhiều, vì ngày kia Hội nghị sẽ chính thức khai mạc về Đông Dương. Nhanh chóng thế là vì anh em ở nhà đánh mạnh ở Điện Biên Phủ và các nơi. Nhanh chóng thế cũng là nhờ sự tranh đấu ở Hội nghị của các bạn. Một tuần tranh đấu, làm cho hàng ngũ đối phương lung tung. Dulles huênh hoang doạ nạt, nay tiu nghỉu trở về Mỹ không trống, không kèn. Các báo đều đồng thanh nêu sự thất bại của Mỹ, bị cô thế trên trường quốc tế, vì chủ quan, vì huênh hoang. Thậm chí Chủ tịch Đảng Dân chủ Mỹ phê bình Dulles: "Đảng Cộng hoà đã làm ma Dulles ở Genève". Báo Anh viết: "Dulles đáng thương chứ không đáng tức!". Có báo đưa tin: "Có lẽ phen này về, Dulles phải từ chức!". Trong khihàng ngũ đối phương lung tung như thế, thì hàng ngũ ta càng chặt chẽ. Sự tiếpđón chu đáo nói trên đây chứng tỏ vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế đãđược xác định. Nhưng, đáng chú ý nhất là sự nhất trí của ta ở chủ trương tranhthủ hoà bình. Hôm qua, ông Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Đức có nói một câu rấtđáng ghi: "Thắng lợi của các bạn là thắng lợi của chúng tôi". Tình đoàn kết vìchính nghĩa, đó là sức mạnh của ta, một sức mạnh vô địch. Ta nhất định thắng."


Tiêu đề: Re: Luật sư Phan Anh và nhật ký hội nghị Genève
Gửi bởi: Noitraitim trong 29 Tháng Tám, 2013, 11:53:37 am
Nhật ký Hội nghị Genève (Từ 10.4.1954 - 24.8.1954) [Kỳ 2] – Tiếp theo.

5, 6, 7/5/1954

"Mấy hôm nay bận quá. Việc gấp, vì Hội nghị sắp họp. Đáng lẽ Hội nghị họp hôm qua. Đoàn Pháp đã đề nghị như vậy. Sau hoãn lại hôm nay. Nhưng, hôm qua lại được tin chúng xin hoãn lại đến mai, hoặc thứ hai. Việc của Đoàn nhiều, gấp. Nhưng, việc ở nhà cũng thật là khẩn trương và vĩ đại, tình hình Điện Biên Phủ anh em theo dõi hàng ngày, hàng buổi, hồi hộp. Mà không những ta theo dõi, bọn Pháp cũng theo dõi. Nó cũng kết hợp tình hình Điện Biên Phủ với hoạt động ở Hội nghị Genève. Mấy hôm nay, từ đầu tháng, khi Đoàn mình còn ở Matxcơva, đoàn Pháp tỏ vẻ nóng ruột về vấn đề Điện Biên Phủ. Nó muốn đình chiến ở Điện Biên Phủ để cứu vãn tình thế tuyệt vọng. Tối thiểu, nó cũng muốn lấy cớ vận chuyển thương binh, xin mình ngừng bắn để có thì giờ thở, hòng kéo thêm phút sống ngắc ngoải. Vì thế, nó vội vàng trong việc giải quyết vấn đề thành phần Hội nghị. Việc giải quyết vấn đề một cách mau lẹ làm cho nhiều giới ngạc nhiên, cũng vì Điện Biên Phủ. Chúng nóng ruột đưa vấn đề thương binh ra.

Chúng đã thăm dò ý kiến đoàn Liên Xô và đoàn Trung Quốc. Nhưng đời nào người ta lại giải quyết với nó. Cố nhiên là anh em bảo nó phải gặp ta. Mà trực tiếp gặp ta thì khốn khổ cho nó, vì sĩ diện, vì ngại Mỹ, nó không dám. Nó tuyên bố nói dối dư luận là nó muốn gặp ta mà không gặp được. Nhưng, thực sự thì nó có tìm ta đâu. Thế là trong những ngày 5, 6, nó biết tin Điện Biên Phủ nguy khốn đến nơi, nó đề nghị với các bạn Liên Xô và Trung Quốc họp Hội nghị bàn về vấn đề Đông Dương để bàn về vấn đề Điện Biên Phủ cho kịp. Do đó, mà nó đề nghị họp từ hôm qua: 6/5 hoặc chậm là 7/5. Tối hôm qua, Đoàn ta ăn tiệc ở bên đoàn Liên Xô. Đương ăn, Ngoại trưởng Môlôtốp nhận được thư của Eden(1) báo: xin trao đổi ý kiến về cuộc họp về vấn đề Đông Dương - xin hoãn đến thứ bảy 8/5, hoặc thứ hai 10/5. Hơi lạ, sao nóng thế, mà rồi hoãn lại? Khi ăn tiệc xong ra về, mình nói với anh Hoan và anh Tô: có thể ở Điện Biên Phủ có sự thay đổi lớn, thì Bidault(1) mới thay đổi ý kiến như thế. Anh em cho là vì lý do khác: vì chiều 6/5, chính phủ Pháp đã được bỏ phiếu tín nhiệm rồi. Nhưng, mình nghĩ: việc Quốc hội Pháp bỏ phiếu tín nhiệm không có ảnh hưởng gì. Vì, ai cũng đoán là thế nào cũng bỏ phiếu tín nhiệm. Không ai lật đổ chính phủ lúc sắp bước vào một cuộc tranh đấu ngoại giao quan trọng như thế này. Vậy quyết không phải vì lý do ấy mà đoàn Pháp đã thay đổi ý kiến, xin hoãn."

"Sáng hôm nay, nghe tin là tối hôm qua có cuộc đánh mạnh ở Điện Biên Phủ. Rồi chiều nay, hồi 5 giờ, một anh em phòng báo chí vào báo cáo: có nhà báo đến hỏi rằng: "Thủ tướng Pháp vừa tuyên bố Điện Biên Phủ thất thủ. Vậy, ý kiến các ông thế nào?". Một lúc nữa, thì tin các đài đều cho biết là Điện Biên Phủ đã được giải phóng. Đài B.B.C báo: Khu trung tâm đã bị quân ta chiếm tối 6 và ngày 7 thì hết tin tức của Điện Biên Phủ. Anh em vỗ tay ran. Vỗ tay nhiều, lâu. Anh Tô rủ anh em xuống phòng ăn uống rượu mừng. Nâng chén, ai cũng hồi hộp. Anh em đề nghị mình có thơ. Mình nhớ mấy câu đã làm về trận thắng lợi đợt hai. Nay, chữa thêm cho hợp với trận thắng này:

"Ngày xuân con én đưa thoi,
Hôm nay, ta chiếm hết đồi Điện Biên.
Ta thì mừng, Pháp thì điên,
Đấu tranh quân sự, gắn liền ngoại giao."

Anh em vỗ tay ran!Thật là sung sướng. Thật là vĩ đại. Quân ta thật là anh dũng. Lúc này, ở nhà - Bác, anh em như thế nào? Trần Công Tường (vốn thích rượu, vừa ngồi viết văn kiện với mình vừa nói: Chắc ở nhà, thế nào Bác cũng mở một chai Sâm banh!Mình kể lại cho Tường nghe chuyện hôm qua ở bữa tiệc, Ngoại trưởng Môlôtốp nhận được thư của Eden xin hoãn Hội nghị. Tường nói: "Đúng rồi, anh ạ. Vì, Bidault nó biết tin Điện Biên Phủ, nên nó thấy chậm quá rồi. Nó không có hy vọng gì nữa, nên nó không nóng đòi họp sớm nữa". Tường cười nói tiếp: "Thế là chuyện nó biết tin thắng trận của mình trước chúng mình. Nó nắm tình hình nhanh hơnmình". Mình trả lời: "Nó nắmtìnhhình, nhưng mình nắm chính nghĩa". Anh em nhìn nhau, cùng cười. Vừa phải gấp rút chữa văn kiện (bản tuyên bố của đoàn), vừa nghe thêm tin về cuộc thắng trận Điện Biên Phủ. Thật là bận rộn. Thật là sung sướng. Không sao nói hết."

"Chiều tối ăn cơm xong, anh Hoan lại bảo mình: "Anh văn hay chữ tốt, hay làm thơ, thì phải làm việc này: Thảo bứcđiện mừng về nhà trong dịp này". Chữa xong bản văn kiện, mình thảo ngay bức điện. Thảo một mạch, không ngập ngừng, không xoá, không chữa, vì tấm nhiệt tình nó ở trong lòng tuôn ra: gọn gàng, rành rọt. Sự vui sướng hôm nay, đi theo sự vui thú tối qua ở nhà ông Môlôtốp. Có anh Tô, Hoan, Nouhack Keo May(1) và mình đến dự. Có Ngoại trưởng Chu Ân Lai, các Thứ trưởng Ngoại giao trong đoàn Trung Quốc, có tướng Nam Nhật.... Đoàn mình là khách chính."

"Bữa tiệc tối qua vui vẻ, thân mật, nghiêm trang. Khi chúc rượu, Ngoại trưởng Môlôtốp nhớ tên từng người. Tên anh Tô, mình, anh Hoan đã đành, tên các đại biểu Miên, Lào khó nhớ mà ông cũng nhớ. Thật là chu chí!Khi nhận được thư Eden, ông mở ra đọc cho mọi người nghe, và nói: "Bọn tư bản lúng túng về điều gì đây nên nó xin hoãn buổi họp. Nếu nó biết mình họp hôm nay ở đây, thì nó còn lúng túng nữa". Khi ăn xong, ra uống cà phê, ông Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Liên Xô Kuznetsov hỏi chuyện mình rất nhiều về vấn đề quản lý xuất nhập khẩu. Câu chuyện làm cho mối tình hữu nghị càng thêm thắt chặt. Khi tiệc xong ra về, đến chỗ mắc áo mũ, xẩy ra một chuyện vừa buồn cười, vừa hay, vì mũ giống nhau, áo giống nhau không ai nhận ra mũ, áo của mình, vì áo mũ này đều mới sắm một loạt ở Bắc Kinh. Các đồng chí hỏi nhau, mọi người cả cười tình thân mật càng thêm thân mật. Đoàn khách chính của bữa tiệc hôm nay càng nổi bật lên: nổi bật vì cảnh ngộ kháng chiến gian khổ. Hay quá, cảm động quá!Chỉ có ở trong gia đình anh em với nhau, mới có những sự vui thú, sự cảm động như thế này. Lịch sử ngoại giao có những chuyện như thế này là lần đầu! Đáng nên thơ quá. Ngày hôm nay, tin Điện Biên Phủ cũng đáng nên thơ quá. Sẽ thành thơ!".

"Chiều 8/5, 16 giờ 30, Hội nghị Genève họp, khai mạc về vấn đề Đông Dương. Họp ở Palais des Nations, phòng V.

16 giờ 10 ở nhà ra đi - Xe đoàn ta cắm cờ đỏ sao vàng.

16 giờ 20 đến nơi. Xe vào thẳng trong sân, qua các đường nhỏ trong vườn, rồi đến nơi hội họp. Xuống xe, đã có anh Nguyễn Thanh Hà (thư ký của phái đoàn) ra đón anh em vào buồng riêng để đợi. Buồng này nhìn ra hồ Leman. Trên bờ hồ là vườn của lâu đài Liên hiệp quốc: Cỏ xanh mởn bằng phẳng như nệm. Cây xanh mầu lục non, cắt rất đều. Nước hồ xanh, in da trời. Bên kia bờ hồ, một quả đồi, nhà chồng chất mấy tầng. Sau bóng đồi là bóng núi, núi xanh chàm: Trên sườn núi cao còn những vệt tuyết trắng chưa tan hết dưới ánh nắng xuân.
Anh em đương mải nhìn cảnh hồ (anh Tô, mình, Bửu, Tường, Hoan) thì ông Chu Ân Lai đi qua buồng bắt tay anh em.

Năm phút sau đến giờ họp. Người từ các buồng đi ra phòng họp khá đông. Đến hàng trăm. Qua cửa phòng họp, trình giấy. Vào phòng họp, ai vào bàn nấy, không bắt tay nhau. Có 9 bàn bày thành hình bầu dục, theo thứ tự A, B, C, Cambodge, Etats... Etat Việt Nam(1), France, Laos, République Démocratique du Việt Nam(2), République Populaire de Chine(3), UR.SS(4). Mỗi bàn có ba ghế hàng đầu, hàng sau bốn ghế, còn sau ghế nhỏ. Anh Tô ngồi giữa, mình bên phải, Bửu bên trái. Anh Hoan và Tường và một đồng chí phiên dịch ngồi hàng sau.

Nhìn ra, ngay bên phải, đoàn Trung Quốc: ông Chu Ân Lai, ông Trương Văn Thiên, Vương Gia Tường. Đoàn Liên Xô: ông Môlôtốp... Đó là bạn. Còn đối phương: Đoàn Anh: Eden là trưởng đoàn. Đoàn Mỹ: Bedell Smith. Đoàn Pháp: Bidault. "Chính phủ Việt Nam bù nhìn": Nguyễn Quốc Định, Nguỵ Đắc Khê,... Buổi này, Eden chủ toạ (với kinh nghiệm ngót 30 năm trên trường ngoại giao). Mở đầu, Eden trao lời ngay cho Bidault. Bidault nói, như người say rượu, mình có cảm tưởng là Bidault không tin vào những câu tự mình nói ra. Bidault nói xong đến lượt đoàn ta, cả cử toạ chăm chú. Ai cũng đeo máy nghe vào để nghe, nhưng thất vọng. Anh Tô nói tiếng Việt (đế quốc tưởng ta nói tiếng Pháp), Hoàng Nguyên dịch ra tiếng Pháp. Thế là lần đầu tiên tiếng Việt Nam vang trong Hội nghị quốc tế.

Buổi họp này chia làm hai đoạn: Đoạn thứ nhất - Đoàn Pháp tranh nói trước, trình bày vấn đề Đông Dương và đưa ra đề nghị. Sở dĩ Pháp được nói trước, vì nó đã thoả thuận với đoàn Anh, mà Anh làm Chủ tịch Hội nghị. Còn bên ta yên chí vào là bàn về thành phần Hội nghị, nên khi thấy Pháp đề ngay vấn đề nội dung ra, thì hơi lạ. Đoàn ta cho người sang hỏi ý kiến đoàn bạn (Trung Quốc).

Đoạn thứ hai - Sau khi nghỉ 15 phút, lại họp. Đoàn ta chủ trương cứ đưa vấn đề thành phần ra và chỉ đưa vấn đề ấy thôi. Mặc Pháp đưa vấn đề nội dung ta chưa đưa nội dung vội. Phải chủ động. Vào, anh Tô đưa đề nghị mời đại biểu Khơme và Pathet Lào. Anh Tô nói xong, đến đoàn Mỹ, rồi đoàn Liên Xô, Pháp, Khơme, Trung Quốc, đoàn ta, đoàn Lào. Trong cuộc thảo luận sôi nổi này, vai trò đoàn ta nổi bật lên. Bidault đòi bác đề nghị của đoàn ta và gọi chính phủ Khơme và Pathet Lào là chính phủ ma. Anh Tô trả lời: "Có hai hạng người, tuy còn sống, nhưng cũng là ma, vì họ hết thời rồi (ám chỉ Bidault và chính phủ phản động Pháp, mà vừa đây ở Quốc hội Pháp bị chất vấn, suýt đổ). Và, sở dĩ còn được giữ lại chỉ vì còn có Hội nghị (một chính phủ hưởng án treo). Còn chính phủ kháng chiến Khơme và Lào, có phải là ma không? Chúng tôi còn nhớ, trước kia ở Liên hiệp quốc, đại biểu Pháp cũng gọi chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà là chính phủ ma. Sao các ông phải mang hàng vạn quân đi đánh ma? Và, bị thiệt mạng hàng vạn quân vì ma? Bây giờ, chính phủ ma ấy đã đến đây, ngồi trước mặt các ông. Các ông muốn biết chính phủ Khơme và Pathet Lào là thật hay ma, cứ việc mời họ đến đây". Cả Hội nghị, không những bạn, mà cả đối phương cũng hoan nghênh những câu trả lời đích đáng đó. Nhiều người cười. Eden cũng cười. Cả Bidault tuy mặt xám đi, mà cũng phải cười gượng. Khi ra, ông Môlôtốp, ông Chu Ân Lai, đều ra bắt tay ta, khen ngợi đó là một thắng lợi.

Riêng phần mình, thích quá. Trước khi anh Tô nói, anh em có trao đổi ý kiến: có nên "đập" Bidault không? Mình trả lời: Cứ đập đi, đập thật mạnh. Anh Tô nhắc lại chuyện ma ở Liên hiệp quốc, mình nghe đã muốn cười. Rồi đến khi dịch ra, cử toạ hưởng ứng, mình lại buồn cười hơn. Khi thấy Bidault mặt xạm đi, mình lại càng buồn cười nữa. Lúc ấy trong lòng mình có một tâm lý đặc biệt: Nghĩ đến thắng lợi Điện Biên Phủ, thấm thía những câu đanh thép của anh Tô, mình có cảm giác của người thắng trận.



________________________________________
(2) Mùa gặt.
(1) Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô.
(1) Ngoại trưởng Anh.
(1) Ngoại trưởng Pháp.
(1) Đại biểu Lào.
(1)Việt Nam (ngụy quyền).
(2)Việt Nam dân chủ cộng hòa.
(3)Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.
(4)Liên Xô.


Tiêu đề: Re: Luật sư Phan Anh và nhật ký hội nghị Genève
Gửi bởi: Noitraitim trong 29 Tháng Tám, 2013, 11:56:34 am
Nhật ký Hội nghị Genève (Từ 10.4.1954 - 24.8.1954)[Kỳ 3]

Tối mùng 8/5, đến dự tiệc ở trụ sở phái đoàn Trung Quốc. Vui và thân mật. Vì cùng là người Đông phương với nhau nên món ăn, cách uống rất hợp khẩu vị và thoải mái đặc biệt. Đáng chú ý nhất là ông Chu, rất hoạt động, rất niềm nở, chu đáo. Mỗi một món ăn, ông đều đứng dậy gắp cho khách và luôn luôn chúc rượu, luôn luôn mời mọi người ăn. Mình không uống rượu, không hút thuốc, lại làm mọi người trở lại câu "nhà kinh tế". Tuổi của mình lại có người hỏi nữa (ông Chu). Có lẽ họ tưởng mình còn trẻ".

9/5/1954

"Ở nhà làm việc. Toà đại sứ Tiệp ở Berne có mời đoàn ta đi dự lễ Quốc khánh. Nhưng đoàn bận, chỉ có anh Hoan đi dự".

10, 11/5/1954

"15 giờ ngày 10/5, Hội nghị họp buổi thứ hai.

Ba điểm đáng chú ý:

+ Một là phải giành thế chủ động. Ta tránh được vấn đề thương binh Điện Biên Phủ. Trước kia, khi Điện Biên Phủ chưa giải phóng, còn bị bao vây, Bidault đề cao vấn đề thương binh và gây nên một không khí khẩn trương, lấy cớ nhân đạo, nhưng kỳ thực để hoãn chiến phần nào, và củng cố lại vị trí chiến đấu. Đến khi Điện Biên Phủ bị thất thủ, Bidault bỏ rơi vấn đề thương binh. Hôm 8/5, Bidault không hề đả động đến vấn đề này. Hội nghị báo chí của các đồng chí Trung Quốc đã nêu thái độ ấy của đoàn Pháp. Nay, ta lại chính thức đưa vấn đề ra: thực sự là vì nhân đạo, nếu Pháp không chuyển đi thì hoàn cảnh vật chất của ta, dù cố gắng đến đâu cũng khó chu toàn cho số người bị thương nhiều như thế. Chính ở nhà, phía ta cũng đã đặt vấn đề. Hôm bắt đầu họp Hội nghị, đoàn ta đặt vấn đề ra làm Pháp mất chủ động. Pháp xui bù nhìn đưa vấn đề khác nhưng đã quá chậm.

+ Hai là ảnh hưởng của bản đề nghị của ta đối với các đoàn đại biểu dự Hội nghị làm cho phe đối phương ngạc nhiên, bối rối. Mấy hôm nay, báo chí của đối phương bàn tán: Có lẽ Việt Minh nhân thắng lợi Điện Biên Phủ sẽ đưa ra yêu cầu cao, sẽ lên giọng. Lên giọng kết án thực dân Pháp, can thiệp Mỹ thì có thật, mà cũng phải đợi Điện Biên Phủ mới lên án. Lên án một cách khắt khe nghiêm nghị. Lúc anh Tô đọc, mình nhìn đoàn Pháp, nhất là đoàn Mỹ, mình rất thú vị. Được dịp chửi thẳng vào mặt đối phương mà chúng cứ phải ngồi mà nghe chửi. Còn yêu cầu thì không phải là vấn đề cao thấp, vấn đề là làm sao cho đúng với thực tế. Vì đề nghị của đoàn ta đúng với thực tế, xuất phát từ thực tế, nên khi đưa ra gây được tiếng vang lớn. Hàng ngũ đối phương bối rối.

+ Ba là thái độ của Eden rất khôn ngoan. Nói ít, nhưng nói một cách ráo riết: vừa bênh Mỹ, nhưng cũng đá Mỹ, vừa bênh Pháp nhưng cũng vừa đá Pháp. Đối với mình, Eden lại tỏ vẻ hiểu biết. Thật là một nhà ngoại giao lão luyện!".
"23 giờ 30 phút, mình gặp A.Denis và Gallard - hai người Pháp muốn được gặp phái đoàn ta. Anh Tô cử mình đi gặp. Cảm tưởng: hai anh này, một mặt muốn nhắc lại thái độ bênh vực chủ trương chấm dứt chiến tranh trước đó của họ, một mặt cũng muốn dò biết ý kiến của mình. Nhưng, kết quả ngược lại họ đưa ý kiến của họ cho mình mà không dò được ý kiến mình. Họ thắc mắc bốn điểm: Đảm bảo Quốc tế. Miên - Lào. Địa vị nguỵ quyền, nguỵ quân. Tổng tuyển cử. Những thắc mắc của họ có chỗ có căn cứ (điểm một). Nhưng, cũng có chỗ (những điểm khác) chứng tỏ họ không hiểu gì về vấn đề, tự nghĩ ra thắc mắc viển vông, vô căn cứ".

"Hôm nay 10/5, nhận được thư của anh Hoàng Xuân Hãn từ Rôma gửi sang. Thư rất cảm động. Hỏi thăm mình, hỏi thăm tin Thao mất.Tỏ mối quan tâm đến việc nước. Và tỏ ý "sẵn sàng làm được phần nào công việc, không ngại ngùng gì". Như thế là anh Hoàng Xuân Hãn đã tỏ thái độ. Thật là một điều hay. Mình không lấy làm lạ. Tư cách, tính tình của Hoàng Xuân Hãn mình biết lắm: Không may, xa kháng chiến thành ra thiệt thòi. Nếu sống trong kháng chiến, tất cũng phải thay đổi quan niệm cũ. Nhưng nay, đã đến lúc có dịp để anh bắt tay vào việc. Hễ làm việc nhất định sẽ biến chuyển. Anh Bửu cũng mừng. Anh Tô, biết có thư của anh Hãn gửi cho mình cũng cho là việc hay. Anh Tô đặt với mình vấn đề liên lạc với Hoàng Xuân Hãn và cho rằng những người như Hoàng Xuân Hãn cần phải tranh thủ. Mình vừa viết thư cho Hoàng Xuân Hãn hẹn Hoàng Xuân Hãn sang bên này".

"Ở Genève, ngoài bức thư: một của anh Hoàng Xuân Hãn, còn một của anh Hồ Tá Khanh (một bác sĩ người miền Nam, giữ chức Bộ trưởng Bộ Kinh tế trong chính phủ Trần Trọng Kim, anh Hồ Tá Khanh lúc đó không ở Paris như anh Hoàng Xuân Hãn, mà đang sinh sống tại một thuộc địa của Pháp). Trong thư, anh Hồ Tá Khanh tỏ ý kiến mừng nhân dân ta chiến thắng và hy vọng rằng: đất nước tuy sẽ chia thành hai vùng, nhưng thi đua phát triển kinh tế với nhau sẽ đem lại hạnh phúc cho nhân dân và đất nước."

"Một điều đáng chú ý là thư của anh Hoàng Xuân Hãn viết bằng chữ Nôm, ý là không để cho một người ngoại quốc nào đọc được, kể cả người Trung Quốc".
12/5/1954

"Buổi họp Hội nghị hôm nay, có một việc làm cho mọi người ôm bụng cười. Đó là bức điện của đoàn Campuchia đưa ra để vu cáo quân đội Việt Nam xâm nhập Campuchia và giết hại thường dân, đánh vào một chuyến xe. Ông Môlôtốp chế giễu (chế giễu Bidault) về bức điện này. Cử toạ, kể cả Anh, Mỹ đều cười làm cho Bidault phát khùng. Thái độ Bidault thật là hớ. Hớ lúc đưa bức điện!Đã thế, đến khi cử toạ đều đã cho việc đó là trò đùa rồi, mà Bidault lại phát khùng, thì lại càng hớ nữa! Thế là về thái độ ngoại giao trong lúc thảo luận, Bidault hôm trước bị một vố (anh Tô đập), hôm nay lại bị một vố nữa."

13/5/1954

"Chiều nay, ăn cơm với phái đoàn Triều Tiên. Có một cảm giác đặc biệt: đồng cảnh, đồng tình. Anh em ngang với nhau, nói chuyện thoải mái cởi mở, từ chuyện chính trị đến những chuyện thiên nhiên: chuyện voi, chuyện cọp, chuyện trâu, chuyện rắn…từ 7 giờ đến 11 giờ mà không dứt. Lúc ra về, tưởng còn sớm. Đặc biệt là có những đĩa hát Triều Tiên: nghe như là hát chèo của ta. Các anh em Triều Tiên cố ý đưa những bản hát cổ điển ấy ra để gây cho anh em một mối cảm tình sâu sắc với nền văn hoá dân tộc của một nước đồng văn. Thật là buổi họp ấm cúng".

"Cài răng lược", đó là một danh từ ở nhà đã dùng quen, sang đây càng thấy hình thái đó sâu sắc và phổ biến. Được tin đoàn Việt Nam đến Genève, Đảng Cộng sản Pháp hiệu triệu các đoàn thể nhân dân đến Genève để yêu cầu các phái đoàn, nhất là phái đoàn Pháp phải nỗ lực chấm dứt chiến tranh. Các đoàn thể nhân dân đều đến gặp đoàn ta và tỏ một tấm tình nồng nhiệt ủng hộ đối với nhân dân ta, cũng như cuộc kháng chiến của ta. Có những bà cụ già, những anh công nhân, những chị giáo viên, những anh y sĩ, luật sư, thuộc nhiều tầng lớp, ai ai cũng biểu lộ sự cảm động khi gặp đoàn ta. Hình thái chiến tranh "cài răng lược" không phải chỉ có ở địch hậu, ở nhà, mà hiện đương phát triển trong nước Pháp, trên thế giới. Hai phe: Chính nghĩa, phi nghĩa, nằm trong mỗi nước, mỗi nhà".
14/5/1954

"Hôm nay là buổi họp thứ tư.

Ông Môlôtốp phát biểu ý kiến. Trong bài diễn văn dài 24 trang đánh máy, ông lên án thực dân Pháp và can thiệp Mỹ một cách đích đáng. Ông đưa ra những đề nghị làm cho đối phương lúng túng. Đúng như mình đoán, báo chí hôm nay đều nêu bật điểm ấy lên: chiến thuật đập mạnh, rồi đưa ra những ý kiến xây dựng. Đó là tác phong của người Cách mạng. Nghe Ngoại trưởng Môlôtốp đập Mỹ, Pháp, cũng như khi nghe Ngoại trưởng Chu Ân Lai, mình cảm thấy có một lực lượng hùng hậu ở bên cạnh mình, bên đoàn mình. Việc đó cố nhiên cũng là dĩ nhiên. Ngồi dự họp, mình càng cảm thấy cái quý giá của tình hữu nghị của các nước anh em Liên Xô - Trung Quốc. Hồi tưởng lại mấy năm trước ở Fontainebleau, ngồi tầu bay của Pháp, ở khách sạn của Pháp, bỡ ngỡ một mình trước mặt những người thuộc lực lượng đối phương! Lực lượng của chúng ta nay đã tăng lên, lại thêm lực lượng đồng minh hùng hậu như Liên Xô và Trung Quốc lòng tin vào sự chiến thắng thật vô biên".


Tiêu đề: Re: Luật sư Phan Anh và nhật ký hội nghị Genève
Gửi bởi: Noitraitim trong 29 Tháng Tám, 2013, 11:57:51 am
Nhật ký Hội nghị Genève (Từ 10.4.1954 - 24.8.1954)[Kỳ 3] – Tiếp

14 đến 20/5/1954

"Mấy hôm nay, họp hẹp. Đến bây giờ là được 3 phiên họp. Chiến đấu nhiều kết quả. Giải quyết được vấn đề chương trình nghị sự: Bàn cả vấn đề chính trị và quân sự. Bàn vấn đề quân sự trước. Hai phiên sau, bàn vấn đề: "có nên bàn riêng vấn đề Lào - Campuchia" không? Ý Pháp chủ trương tách riêng, để yêu cầu giải quyết vấn đề Campuchia - Lào bằng cách giản đơn là: Ta rút quân đội khỏi Campuchia, Lào. Cố nhiên đoàn ta không chịu. Đến đó là tắc. Hôm 20/5 nghỉ, để đôi bên gặp riêng".

21/5/1954

"Ngày 21, họp phiên thứ 8, gay go. Lúc đầu khai mạc thì hầu như bế tắc. Cuộc thảo luận kéo dài, không khí chán nản, mỏi mệt. Nhưng, nhờ sự điều khiển của ông Môlôtốp mà đi tới kết quả. Những lúc này, thấy rõ vai trò của người ngoại giao biết nắm thời cơ.Thường thường những sự đồng tình như thế này đều đã quyết định từ trước khi vào thảo luận. Nhưng, có những trường hợp đặc biệt. Lập trường đôi bên đương biến chuyển lại gần nhau. Nếu nắm đúng thời cơ, tiến lên một bước, là tới thắng lợi. Trái lại, nếu bỏ lỡ thời cơ thì lập trường lại xa nhau. Đây, hôm nay, chính là trường hợp này. Lập trường Pháp đương giao động, Mỹ muốn lái đi, Anh thì ngập ngừng. Liên Xô lái mạnh vào, thế là Anh vun vào, Pháp bằng lòng, Mỹ cô thế phải im lặng. Mỹ bực tức. Hôm sau, ra tuyên bố: "Không có gì mới". Pháp, Anh trái lại, công nhận là có một bước tiến bộ."

22/5/1954

"Được nghỉ, cùng anh Tô, Tường đi chơi vườn hoa, bên cạnh hồ Leman. Cảnh hồ đẹp, êm đềm, tươi sáng...".

23/5/1954

"Hôm nay Chủ nhật, dậy sớm, 4 giờ 30… Đương viết thì anh Tô ở phòng bên cạnh đưa sang cho mình cốc sữa. Thật là cảm động. Trong giờ phút này, cả trong nhà, chỉ có hai người thức. Anh Tô biết mình đã dậy. Cốc sữa anh đưa là cả một tấm tình. Hiu quạnh sao được! Có mối tình của bạn bè, của đồng chí. Có nhiệm vụ mà nhân dân giao cho. Có lòng tin cậy mà "nhân dân gửi gắm cho cán bộ", bao nhiêu hình ảnh trong trẻo khác, trên hết là hình ảnh của Bác luôn luôn trước mắt mình, hiu quạnh sao được!".

Đêm 24/5/1954

"Đêm 24: một đêm ghi nhớ. Đêm vui vẻ, gia đình. Gia đình dân chủ ở Genève. Đoàn ta mời đoàn bạn. Nhà ta nhỏ, bàn ghế, đũa bát ít, ít mà hoá vuinhiều. Vui nhiều, vì thân mật, ấm áp. Ấm áp quá, khi nghe ông Môlôtốp nhắc tới Hồ Chủ tịch "mà ai là người yêu hoà bình, yêu chính nghĩa cũng phải quý mến" (lời ông Môlôtốp). Ấm áp quá, khi ông nói với ta một cách hồn nhiên, giản dị, như lời khen ngợi và cũng như kích thích: "Nước Việt Nam bây giờ là tâm điểm của hoàn cầu". Ấm áp quá, khi ông trả lời anh Tô: "Ở Hội nghị Genève, các anh có bạn. Nhưng, ở Hội nghị Fontainebleau, các anh cũng không phải cô đơn đâu. Các anh cũng có bạn. Tuy hoàn cảnh có khác!". Ấm áp quá, khi ông mời mình lại (vì ông cho là mình trẻ nhất trong đoàn) ngồi bên cạnh ông, ở ghế chính giữa. Mình từ chối, nhưng rồi sau cũng phải ngồi. Những lời nói hồn nhiên, nhưng đậm đà tình, nghĩa. Những cử chỉ giản dị, nhưng có tác dụng sâu sắc. Một nhà chính trị quắc thước, một nhà ngoại giao sắc sảo, khiến bọn tư bản nể sợ. Thế mà bên ta, trước mặt ta, là một người anh hiền hậu, từ lời nói, nụ cười, thẩy thẩy đều một tấm tình âu yếm gia đình, đại gia đình của những người con cách mạng, nghĩa là những con người thực là Người. Trong tiệc, ông luôn trêu anhTô: "Kìa anh không ăn à". "Theo lệ, khách của anh có được nói không?". Nóichuyện về rượu bia, ông Chu nói: "Rượu bia ngon, có khi vì nước tốt". Mọingười đồng ý. Một người nhân đó nói: "Rượu cũng thế, có khi vì nước tốt, màrượu tốt". Ông Môlôtốp trả lời một cách hóm hỉnh: "Uống rượu bia, thì còn cảmthấy là có nước, nhưng uống rượu, nhất là rượu mạnh như là rượu đây, thì khôngcó nước nữa".

Sự lanh lợi, hoạt bát, vui tính ấy, ở Hội nghị cũng bật lên. Hôm qua, khi thảo luận bốn điểm của Eden, rút lại chỉ còn một điểm, ông nói: "Bây giờ ta chỉ lấy cái tối thiểu của cái tối thiểu của ông Eden", cả Hội nghị trong không khí đương găng, đều cười ầm lên.

Phái đoàn Trung Quốc đưa máy chiếu bóng sang bên ta chiếu phim cho anh em ta xem."


Tiêu đề: Re: Luật sư Phan Anh và nhật ký hội nghị Genève
Gửi bởi: Noitraitim trong 29 Tháng Tám, 2013, 12:00:07 pm
Nhật ký Hội nghi Genève (Từ 10.4.1954 - 24.8.1954)[Kỳ 4]

"Đêm 25: Đoàn ta tiếp các nhà báo: có tới 300 người. Mình tiếp mệt nhoài.
Về việc tiếp đoàn đại biểu nhân dân Angiêri: Từ Angiêri sang đây thăm các phái đoàn! Một công nhân bốc hàng, một ký giả, một công chức bưu điện, một công nhân hoả xa - trưởng đoàn…".

"Anh em kể tấm nhiệt tình của nhân dân Angiêri đối với Việt Nam: Ngày 8/5 là một ngày say sưa, hơn cả ngày Tết. Anh công nhân bến tầu nói một cách cảm động: Gọi là ngày Tết chưa đủ, phải gọi là ngày "cứ ngồi chơi", để tỏ sự sung sướng của nhân dân khi được tin Điện Biên Phủ. Anh hội viên thành phố nói: Đúng, ngày 8/5 là ngày kỉ niệm một ngày đau thương của nhân dân Angiêri: thực dân Pháp năm 1945 đã giết 45.000 người Angiêri cả đàn bà, trẻ con. Tin Điện Biên Phủ đưa tới đã biến đau thương thành sung sướng. Ai gặp nhau cũng ôm nhau hôn. Công nhân bến tầu dùng một danh từ đặc biệt để tẩy chay tầu Pháp đi Việt Nam: tầu đen. Nhân dân Angiêri yêu quý Hồ Chủ tịch và gọi người là "Shira" (Cha Già). Anh em kể lại sự tàn ác của Pháp trong khi bắt lính: Vào các làng mạc, đánh trống, thổi kèn dụ dỗ những người nghèo khó đi "làm việc". Bắc cân, mỗi "kilô người" trả 1000 Fr!Có những người đi tới kênh đào Suez biết mắc mưu: nó chở sang Đông Dương. Không chịu đi, nhẩy xuống bể. Ra về, anh em tỏ lòng tin tưởng vào thắng lợi của Việt Nam, của người anh em! Cuộc gặp gỡ thật là cảm động".

25, 26/5/1954

"Công việc Hội nghị hai hôm nay tiến một bước khá. Tình hình đối phương biến chuyển, thêm khó khăn. Mỹ mâu thuẫn với Đồng minh, ngày càng bị cô lập. Âm mưu gây chiến, gặp nhiều phản ứng khắp nơi. Ta đoàn kết một lòng, chủ động tiến bước. Càng tiến, càng cảm thấy lực lượng đoàn kết của phe ta, càng cảm rõ lực lượng vô địch của chính nghĩa!Chính nghĩa thẳng đường tiến lên. Phi nghĩa quanh co gian ác, càng phải quanh co bối rối. Không khí trong phái đoàn ta là: vui vẻ, tin tưởng".

30/5/1954

"Mấy hôm nay mình nảy ra ý kiến dùng cách viết thư, tả lại những nét sinh hoạt của Hội nghị. Nội dung của Hội nghị đã có những bản báo cáo riêng và tài liệu riêng gửi về nhà. Tin tức cũng thế. Còn có những cái mà không nằm trong tài liệu chính thức, mà cũng không nằm trong tin tức của bộ phận báo chí tuyên truyền: đó là những nét sinh hoạt trong Hội nghị, ngoài Hội nghị. Những cái cụ thể đượm ý, đượm tình, phải tả bằng ngòi bút nhà văn hơn bằng ngòi bút hành chính. Làm được như thế, cũng là một cách phục vụ: anh em Chính phủ đọc, sẽ cảm thấy một phần nào cái vinh dự, cái sung sướng của người dân Việt Nam trong những ngày vinh quang, như giải phóng Điện Biên Phủ, hoặc trong những lúc sát cánh tranh đấu với các đồng chí bạn, giáng cho phe địch những vố đích đáng, mà ngoài anh em trong Chính phủ, anh em ngoài cũng được đọc...".
"Phái đoàn Trung Quốc mời xem phim" Lương Sơn Bá - Chúc Anh Đài, một chuyện tình có một không hai. Một đôi trai gái yêu nhau, mà không toại nguyện, chết - hoá thành đôi bướm liền cánh cùng bay. Trong rừng hoa, đôi bướm kia bỗng hoá người, đôi trai gái chết đi, nay sống lại, lại dắt tay nhau múa lượn, tiến bước trên một con đường mới, đầy ánh sáng huy hoàng.

Chuyện thơ ngây,
Chuyện thần thoại.
Màu sắc lộng lẫy,
Ca nhạc xênh xang,
Ai cũng tấm tắc khen ngợi.

Ghi đến đây mình bỗng nhớ đến một bài báo về ông Chu Ân Lai.Bài báo viết có lộ chi tiết: Sau khi chiếu cuốn phim thứ nhất Lễ Quốc khánh năm 1952, thì đến cuốn phim thứ hai Lương Sơn Bá - Chúc Anh Đài với lời mời: "mời quý ông quý bà thưởng thức bộ phim màu Roméo và Juliet của Trung Quốc. Mọi người háo hức xem và thái độ đều bị cuốn hút bởi bộ phim. Phim đến đoạn "nứt" mộ "hoá bướm" và kết thúc. Đèn bật sáng, khán giả vẫn còn đắm đuối, đồng cảm. Và, phải một lúc sau mới rộ lên tiếng vỗ tay sấm dậy. "Ôi đẹp quá, còn cảm động hơn cả Shakespeare!".

17/6/1954

"Đã lâu không viết nhật ký tâm sự, không phải không có gì đáng viết. Trái lại, nhưng bận quá. Vả lại, đã có nhật ký về công việc: ở quyển riêng.(1) Việc với ý với tình: lẫn lộn, tách thế nào được! Hôm nay, tương đối đỡ bận, viết vài dòng ghi mấy câu cảm xúc... Mấy hôm gần đây, họp xong, hay đi chơi ra ngoài thành phố. Cánh rừng, hoa, cỏ. Mỗi bước đi là một trang ký ức. Người cũ, cảnh cũ hiện ra trước mắt: trên tấm cỏ xanh, điểm trăm màu sắc trên ngọn đồi thoai thoải xuống cánh đồng. Cỏ mơn mởn màu xuân, hình ảnh Thao luôn luôn bên mình. Chạnh buồn nhưng phấn khởi".

25/6/1954

"Hôm nay dọn nhà đến một nơi có vườn rộng, có hồ. Cảnh đẹp. Nhưng cảnh càng đẹp, càng nhớ nhà, "nhớ rừng Việt Bắc, nhớ đồng ruộng trung châu, nhớ cán bộ, nhớ nhân dân vất vả nhưng lành mạnh, cặm cụi nhưng hiên ngang, đương cùng nhau xây dựng một xã hội mới". Đó là đoạn trích trong bức thư mình gửi về nhà, về các anh em trong Chính phủ, trong cơ quan, cho chị Lập, cho anh Ngọc, mà có kết luận bằng mấy câu:

Yêu nhau thêm nhớ lời nhau,
Càng cao ý chí, càng sâu nghĩa tình,
Xa xôi giữ một tấc thành,
Con đường tranh đấu có mình bên ta,
Người đây, lòng vẫn ở nhà
Ngày về hạnh phúc, có ta bên mình.

Ta và mình là anh em ở đây và anh em ở nhà. Ta và mình là một: một đồng bào, một dân tộc, một đồng chí, một lý tưởng. Ta và mình phân công mỗi người một nơi, một việc. Nhưng, ta với mình vẫn là một."

"Mấy hôm gần đây, bận công việc (làm báo cáo tổng kết), bận viết thư về nhà, nên không ghi nhật ký riêng. Nhưng, nhật ký công việc vẫn ghi đều: rút cục chỉ có mình ghi nhật ký công việc, anh em phải mượn. Nhưng, những bức thư viết về, những bài nét sinh hoạt gửi về, đều là những trang viết của tập nhật ký này".
"Tối hôm qua, đi xem buổi múa hát của Đoàn văn nghệ Liên Xô. Trước khi đi, mình không lấy gì làm náo nức lắm. Vì từ trước đến nay, mình vẫn hững hờ với môn nghệ thuật này. Một phần vì mình không thạo, một phần nữa khi ở Paris, mình đi xem các rạp có tiếng, mình đều chán. Nhưng, đến buổi ca vũ này, mình có một cảm xúc rất mới. Đẹp! vui! trẻ! mạnh! Mình xem những điệu múa giản dị và hồn nhiên, những điệu hát trong trẻo, cả giọng cười ngây thơ, đầy nhiệt tình, đầy tin tưởng vào công việc mình làm, vào tấm lòng hăng hái của các em. Hôm nay, mình lại cảm thấy qua những bản ca vũ của Đoàn văn nghệ Liên Xô: buổi ca vũ này đã truyền cho khán giả một nguồn cảm xúc lành mạnh".

7/7/1954

"Mấy hôm gần đây, tin bên nhà, dồn dập tới, các báo đăng trang nhất những tin tức Điện Biên Phủ. Một lần nữa, dư luận (cả dư luận ở Genève) tập trung vào Việt Nam, vào phái đoàn của ta. Thậm chí nhà chức trách ở Genève phải tăng thêm cảnh binh để bảo vệ đoàn ta!Xe ta đi ra, cắm cờ. Thiên hạ nhìn với nét mặt thiện cảm, hoan hỉ. Cảnh binh, chào răm rắp: chào vì lễ nghi ngoại giao, nhưng qua cái chào đó, ta cũng cảm thấy một tấm tình cảm phục. Tờ báo Thuỵ Sĩ (không phải là một tờ tiến bộ), mà khi đăng tin Điện Biên Phủ đã nói rằng: Điện Biên Phủ là một bài học phấn khởi cho những nước nhỏ, như nước Thuỵ Sĩ ta".

"Một tin hay và đến đúng lúc: Quânđội Pháp rút khỏi Vân Đình, nơi để mộ Mẹ, đúng ngày giỗ Mẹ Võ Thị Cưu, mà tin này lại do báo L´ Humanité đăng, báo của phe ta...(8/6/AL). Thật là ăn khớp".


Tiêu đề: Re: Luật sư Phan Anh và nhật ký hội nghị Genève
Gửi bởi: Noitraitim trong 29 Tháng Tám, 2013, 12:01:15 pm
Nhật ký Hội nghi Genève (Từ 10.4.1954 - 24.8.1954)[Kỳ 4] – Tiếp theo

"Hôm nọ, ngày 1/7 kỉ niệm thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc, đoàn Trung Quốc thết tiệc. Cảm xúc mạnh nhất là khi ngồi nói chuyện với hai nhà quân sự Liên Xô. Sao mà hồn hậu thế. Sao mà đáng yêu thế. Từ lời nói, nụ cười từ nét mặt, cử chỉ, thẩy thẩy đều từ tốn, thản nhiên, chất phác. Cả một tấm gương nhân bản, nhân bản của con người mới, một xã hội mới, xã hội của con người. Xã hội ấy xuất hiện ở Liên Xô, đã xuất hiện ở Trung Quốc, đương xuất hiện ở Việt Nam. Ngày kỉ niệm của Đảng Trung Quốc, ghi ký ức này để càng thấm thía nhiệm vụ của ta, trong việc xây dựng nhân sinh quan mới.

Nhân sinh quan ấy đã xây dựng, đã thể hiện trong những bạn trong Đảng. Nó cũng đã xuất hiện trong nhân dân."

"Hôm nọ, khi anh Hoan về, anh Tạ Quang Bửu nói đùa với mình: "Chúng tôi ai cũng có thư riêng. Còn anh thì viết thư chung, anh viết thư cho tất cả mọi người, và thay mặt cho mọi người". Đúng như thế. Hôm ấy, mình viết thư cho anh em ở nhà, mà thay mặt cho anh em bên này. Nhưng Tạ Quang Bửu chưa biết là mình cũng có thư cho ai. Cho ai, trong bài thơ vịnh Hồng trường ngày 1/5. Không có thư, nhưng có thơ, cho ai, ai? Nghĩa là, cho tất cả mọi người, nhưng cũng là cho một người thân quý, thân quý vì tình cảm gia đình, cảm tình cách mạng. Vậy, đó là một thư riêng. Nhưng, riêng mà hoá chung, vì quý ai đây là quý hình ảnh con người vui tươi, trong sáng của xã hội mới, là quý tinh thần gan góc, mạnh mẽ của thế hệ thanh niên mới.

Yêu quý một cá nhân không đủ, trừ phi cá nhân đó tiêu biểu cho một tập thể rộng rãi. Rất đúng. Yêu quý một cá nhân, vì cá nhân ấy tiêu biểu cho cả một nhân sinh quan mới".

10/7/1954

"Vừa đọc xong quyển Mùa gặt."

11/7/1954

"Đọc Mùa gặt lại có một đoạn lý thú: Valentina, vì ham mê công việc nông trường mà quên mất việc nội trợ. Hai vợ chồng Andrei và Valentina rất yêu nhau, yêu nhau vì tình, yêu nhau vì nết, vì công việc, vì lý tưởng. Nhất là vì hai bên cùng một tinh thần phục vụ rất cao, say mê công việc. Đã nhiều lần, vì nhiệm vụ mà tự nguyện xa cách nhau, không chút ân hận. Nhưng lần này, hai vợ chồng vừa thu xếp được công việc để cùng nhau làm việc một nơi, bõ bao năm xa cách. Nhưng, vừa sum họp được mấy hôm, thì Valetina say mê một công việc mới, xin phép chồng cho đi 15 km. Trong quyết định này, Valetina cũng tự tranh đấu rất nhiều. Chị rất thương chồng, biết mình đi làm xa, nhất định hạnh phúc gia đình bị tổn thất. Đã định từ chối công việc mới, nhưng rút cục ham mê công việc, tích cực làm việc nên đành gác lại hạnh phúc gia đình để thoả chí phụng sự. Andrei vốn là một người rất tích cực, để nhiệm vụ lên trên hết. Đã nhiều lần, chính bản thân Andrei khuyến khích vợ gạt bỏ thắc mắc gia đình. Nhưng lần này, khi Valentina cho chồng biết ý định của mình thì Andrei không đồng ý.

Nhưng, Valentina là người cương quyết, cứ thi hành ý kiến đã định. Một hôm, cách đó ít lâu, Valentina nửa đêm thức dậy, không thấy chồng đâu nhìn sang phòng bếp, có ánh sáng, nàng rón rén lại thấy: Andrei áo quần xộc xệch đương hì hục nhóm lửa, đun nước. "Tội nghiệp quá, vì mình mà chồng mình tội nghiệp thế này". Valentina nhìn chồng, lòng se lại và cảm thấy lầm lỗi của mình. Từ đó Valentina đã bổ khuyết được một điểm thiếu sót, ra sức làm việc, và đồng thời không coi nhẹ nhiệm vụ đối với chồng. Mình đọc đoạn này, nhớ lại Thao trước.

Rất đúng mực… Nhiệm vụ xã hội, nhiệm vụ gia đình không mâu thuẫn, mà còn kết hợp mật thiết. Nhưng, nghĩ đến khuyết điểm của Valentina, thì không thể không thấy khuyết điểm của Andrei. Andrei như thế là chưa gương mẫu. Mình lại nghĩ đến mình. Đối với Thao, mình vốn rất kính trọng quyền tự chủ. Lúc mở hiệu thuốc, lúc viết báo, mình luôn luôn khuyến khích Thao hoạt động riêng, độc lập. Nhưng, trong thờigian kháng chiến, mình có khuyết điểm: không khuyến khích Thao hoạt động.Phải chăng, vì ích kỉ như Andrei? Không. Nhưng chính vì mình, tư tưởngchính trị còn chưa được thấm nhuần, chưa tôi luyện trong hoạt động cách mạngtheo tư tưởng mới. Do đó, mà cũng không truyền sang Thao được sự phấn khởi,sự hăng hái để hoạt động, để chủ động tham gia cách mạng. Tiếc quá, nếu Thaocòn, thì bây giờ khác hẳn. Nhưng, tiếc làm sao được. Hối hận, chi bằng nhìn vàotương lai."

25/7/1954

"Đã lâu, mình không viết nhật ký. Vì bận. Và, cũng vì công việc đều ghi vào "Nhật ký Hội nghị Genève". Sổ Hội nghị vừa hết, Hội nghị bế mạc. Từ hôm nay, trên đường về, lại ghi ký ức vào quyển này.

Hôm qua đến Berlin, buổi trưa nghỉ. Ăn cơm trưa có các ông Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Bộ trưởng Bộ Mậu dịch đối ngoại đón tiếp. Anh Tô nghỉ, mình thay mặt đoàn ta phát biểu đáp từ.

Hôm nay dự lễ trao bằng tiến sĩ danh dự trường Luật cho ông Chu (tại trường Đại học Hambourg là nơi Karl Marx đã học). Đi xem thành phố, nhất là đến vườn trẻ. Vui, tươi, sáng, đẹp, các em chào đón đoàn. Dâng hoa...".

________________________________________
(1) Nhật ký Hội nghị Genève. Bắt đầu 8/5/54 đến bế mạc 21/7/54.


Tiêu đề: Re: Luật sư Phan Anh và nhật ký hội nghị Genève
Gửi bởi: Noitraitim trong 29 Tháng Tám, 2013, 12:03:55 pm
Nhật ký Hội nghị Genève (Từ 10.4.1954 - 24.8.1954) [Kỳ 5]

26/7/1954

"8 giờ ông Chu lên máy bay. Chủ tịch Grotewohl(1), các ông Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, và Bộ Mậu dịch đối ngoại ra tiễn.

9 giờ. Đoàn ta rời Berlin. Cũng các ông ấy tiễn đưa. 20 giờ 30 (tức là 4 giờ 30 Matxcơva) đến sân bay Matxcơva. Cảnh trời sáng sủa, nắng ấm. Trông từ máy bay xuống rõ từng mái nhà, từng con đường, từng chiếc thuyền. Cảnh trong trẻo. Người khoan khoái. Đoàn ta xuống sân bay, có ông Môlôtốp, ông Navikôp, Lavrishev và ba công chức ở Bộ Ngoại giao và ba chuyên viên quân sự đến đón. Bên ta có anh Cả, Thương và Cầm cùng ra đón. Anh em trong đoàn về nghỉ ở một biệt thự riêng của chính phủ Liên Xô".

27/7/1954

"Anh Tô, Phan Anh, Hoan, Bửu, Tường kiểm điểm kết quả Hội nghị.

A. Kết quả.

1.Đối với Việt Nam và Campuchia, Lào.

a. Âm mưu của địch (chính là Mỹ).

Một là, kéo dài và mở rộng chiến tranh. Diễn văn 29/3/54 của Dulles.

(Ba nước Đông Dương là nút chai của Đông Nam Á, nếu nút chai ấy nổ, thì cả Đông Nam Á sẽ mất).

+ Việc Pháp xin máy bay Mỹ đánh Điện Biên Phủ. Quân đội và hạm đội Mỹ vào Vịnh Bắc Bộ 24/4/54. Sự do dự của Anh. Sự do dự của Mỹ.

+ Dulles bỏ Hội nghị Genève. Chỉ để lại Smith.

+ Thái độ phá hoại của Smith.

+ Thái độ nước đôi của Bidault.

- Hai là, dùng kế hoà hoãn, tạm ngừng bắn, để:

Cứu thoát quân đội Pháp, đương lâm vào bước đường nguy khốn.
Đợi tuyển cử ở Mỹ xong, sẽ tiếp tục chiến tranh chiếm lấy Đông Dương.

+ Đề cương của Pháp ở Hội nghị.

+ Đề cương của nguỵ.

+ Thái độ của Mỹ.

+ Thái độ của Bidault.

b. Chủ trương của đoàn ta:

- Tranh thủ hoà bình.

- Giữ vững độc lập, thống nhất, dân chủ.

c. Kết quả của Hội nghị:

+ Ta tranh thủ được hoà bình.

+ Vấn đề độc lập, thống nhất, dân chủ ở Việt Nam.

+ Giới tuyến quân sự tạm thời.

+ Thời hạn tổng tuyển cử đã định dứt khoát.

+ Vấn đề rút quân ngoại quốc khỏi Đông Dương.

+ Vấn đề cấm đưa thêm quân đội và vũ khí đạn dược vào Đông Dương.

+ Cấm căn cứ quân sự ngoại quốc đặt tại Đông Dương.

+ Bảo đảm thi hành tự do dân chủ.

+ Campuchia, Lào: độc lập như Việt Nam.

+ Thống nhất, dân chủ, đối với kháng chiến Lào, Campuchia.

2. Kết quả chung trên thế giới.

a. Làm dịu bớt tình hình căng thẳng trên thế giới. Chứng tỏ phương châm dùng thương lượng để giải quyết mọi vấn đề quốc tế là đúng đắn.

Mỹ bị cô lập. Các lực lượng gây chiến trên thế giới bị cô lập, bọn chủ chiến ở
Mỹ bị dư luận đả đảo. Ở Pháp, Bidault và Laniel bị đổ. Ở Việt Nam là Bảo Đại bị lên án.

Liên Xô, Trung Quốc nêu cao ngọn cờ hoà bình: tranh thủ được sự đồng tình của đa số các nước, quan hệ với Anh, quan hệ với Ấn Độ và Đông Nam Á, quan hệ với Đông Dương.

b. Mở đường giải quyết cho những vấn đề quan trọng đương đặt ra.

Vấn đề hoà bình ở Đông Nam Á: phá âm mưu lập căn cứ quân sự và liên minh quân sự Đông Nam Á của Mỹ. Tạo đường cho sự thực hiện chính sách an ninh quốc tế. 5 điểm tuyên bố của ông Chu Ân Lai đối với các nước Đông Nam Á.
Vấn đề hoà bình ở Tây Âu: phá âm mưu lập khối quân sự ở Âu Châu của Mỹ. Mở đường cho sự thực hiện chính sách an ninh tập thể (đề nghị mới của Liên Xô).

Vấn đề mở mang giao dịch giữa Đông và Tây: chú trọng quan hệ mới qua các nước Tây Âu (nhất là Anh), với Trung Quốc.

Vấn đề thống nhất Triều Tiên và thống nhất nước Đức.

B. Nhân tố thắng lợi.

1. Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, Campuchia, Lào.

2. Cuộc đấu tranh của nhân dân tiến bộ Pháp.

3. Cuộc tranh đấu của phong trào hoà bình.

4. Chiến lược và sách lược đấu tranh của đoàn ta và các đoàn bạn trong Hội nghị.

- Vai trò của ta: đưa lập trường phải chăng, đúng mực và kiên quyết bảo vệ những quyền lợi căn bản.

- Vai trò của Liên Xô, của Trung Quốc. Sự đoàn kết nhất trí của phía ta.

- Mâu thuẫn trong hàng ngũ đối phương: giữa Mỹ, Anh và Pháp. Giữa các phái trong nội bộ nước Pháp. Giữa Pháp và bọn bù nhìn...".


Tiêu đề: Re: Luật sư Phan Anh và nhật ký hội nghị Genève
Gửi bởi: Noitraitim trong 29 Tháng Tám, 2013, 12:05:27 pm
Nhật ký Hội nghị Genève (Từ 10.4.1954 - 24.8.1954) [Kỳ 5] – Tiếp theo.

28/7/1954

"Buổi sớm nói chuyện với anh em sinh viên Việt Nam đang học ở Liên Xô.

- 15 giờ tiếp đón ông Chu Ân Lai.

- 16 giờ thăm Hồng trường và vào viếng lăng Lênin, Staline.

- 21 giờ dự chiêu đãi ở Bộ Ngoại giao Liên Xô".

29/7/1954

"Xem triển lãm nông nghiệp. Cuộc triển lãm này đã chuẩn bị mấy năm nay, đến 1/8 sẽ khai mạc. Vì đoàn ta vội về, nên được đặc biệt đi xem trước".

"Trong triển lãm có nhiều kiểu máy tối tân mới để tăng năng suất.

Nhiều giống mới, do các nông trường tạo ra. Khu triển lãm như một thành phố mới dựng lên giữa một khu đất mới rộng mênh mông, mỗi toà nhà là một kiểu kiến trúc dân tộc trong Liên Xô.

Cũng ngày này, đoàn ta dự tiệc chiêu đãi của đại sứ quán Trung Quốc, tham dự có ông Malenkốp, các ông Bộ trưởng và Đại sứ các nước".

30/7/1954

- Tiễn ông Chu Ân Lai về Trung Quốc.

- Tiễn anh Hoan đi Ba Lan.

- Đoàn ta thết tiệc chiêu đãi, tới dự phía Liên Xô có Chủ tịch Malenkốp, Ngoại trưởng Môlôtốp, Thống soái và nhiều vị Bộ trưởng khác. Phía Trung Quốc có ông Trương Văn Thiên. Cùng các vị đại sứ các nước: Ấn Độ, Miến Điện, Nam Dương, Pháp.

Trong buổi tiệc anh Tô chúc: Liên Xô, ông Malenkốp, ông Bulganine, ông Môlôtốp, và các vị trong Đảng và chính phủ Liên Xô.

Chúc Trung Quốc, Mao Chủ tịch và Chu Tổng lý.

Chúc các nước Đông Nam Á.

Chúc Eden và Mendès Franỗe.

Chúc Việt Nam thống nhất và hoà bình thế giới.

Ông Malenkốp chúc nhân dân Việt Nam và Hồ Chủ tịch.

Ông Môlôtốp chúc anh Tô và đoàn Việt Nam".

"Chính phủ và Đảng Cộng sản Liên Xô chú ý đề cao vai trò của Việt Nam. Các vị lãnh tụ đến đủ mặt. Và dành riêng một hôm cho Việt Nam để dự chiêu đãi.

Chủ tịch Malenkốp là con người rất nhẫn nại và giản dị.

Ngoại trưởng Môlôtốp là con người luôn luôn hoạt động. Ông hỏi anh Tô có mời đại sứ Anh không? Ông khuyên nên có lời chúc Eden và Mendès Franỗe. Khi nâng cốc chúc mừng, ông giới hiệu mình (là Phan Anh) với các vị trong chính phủ Liên Xô và chạm cốc.

Mình có nhiệm vụ nói chuyện với Đại sứ Pháp.

Mình gặp các đại sứ các nước dân chủ, và ông Ngân hàng trưởng Ngân hàng Châu Âu (thuộc Ngân hàng Liên Xô) và nói chuyện về giao dịch thương mại. Ông Ngân hàng trưởng muốn đặt vấn đề cụ thể với mình. Mình hẹn khi về nước sẽ viết thư sang về các vấn đề cần thiết.

Khi anh Tô và anh em phái đoàn ta ở khách sạn ra về, dân chúng tụ tập ở cửa hoan hô. Thật là cảm động!

Cuộc chiêu đãi gọn gàng, rất tốt".

31/7/1954

"8 giờ lên máy bay. Các bạn đã đến sẵn để tiễn đưa, cả các ông Môlôtốp, Zorine, Novikov... Ông Trương Văn Thiên, Đại sứ các nước dân chủ. Ông Môlôtốp chúc đoàn ta sức khoẻ. Ông nhắn lời chúc sức khoẻ Bác Hồ và anh Giáp.

Anh Tô tỏ lòng mong đợi Đoàn đại biểu Liên Xô sớm đến thăm Việt Nam. Anh nhắc đến đồng chí Lavrishew(1). Ông Môlôtốp giới thiệu ngay, ông Lavrishew lại gần bắt tay tiễn biệt. Những người bạn cùng dự Hội nghị Genève, là người bạn của Việt Nam - nước tiền đồn dân chủ ở Đông Nam Á.

Anh em đoàn ta lên máy bay rồi, ông Môlôtốp còn theo lên kiểm tra chỗ ngồi và thân mật bắt tay từng người một lần nữa. Cử chỉ của ông Môlôtốp làm cho mọi người rất cảm động. Một phong thái nghiêm chỉnh mà thân mật. Lễ nghi ngoại giao dân chủ thật khác lễ nghi ngoại giao tư bản. Một đằng thì ấm áp, đầy ý nghĩa, đầy tình cảm. Một đằng thì hình thức, lễ mạo suông".

14 giờ đến Svéclốp.

18 giờ đến Ômxcơ - Cách tiếp đón của bạn cũng thân mật giản dị, nói chuyện hồn nhiên, ấm áp, đầy tình, đầy nghĩa. Anh Tô nói một câu đáng ghi nhớ:

"Chúng tôi là em út trong gia đình dân chủ, mà Liên Xô là anh cả". Đồng chí phụ trách ở Ômxcơ: "Liên Xô chỉ là anh cả về kinh nghiệm thôi. Còn Việt Nam là em út thì lại cần được yêu quý đặc biệt". Anh Tô: "Chúng tôi sang đây được săn sóc đầy đủ nên ai cũng lên cân. Nhưng về, sẽ lại sút cân". Đồng chí Ômxcơ: "Sút cân, nhưng lực lượng tăng thêm". Quả vậy, mình đi phen này về, cân tăng đã đành, mà tinh thần tăng gấp bội. Cân cơ thể có thể bị giảm, nhưng cân tinh thần nhất định tăng mãi. Công cuộc kiến thiết đất nước tiến lên, thì vật chất sẽ tăng: nhân dân tăng, cán bộ tăng".

1/8/1954

"Sáng 6 giờ lên máy bay. Chiều đến Iercut, nghỉ ở Iercut, gặp ông Lý Kế Nông(1) phụ trách Công an tình báo".
________________________________________
(1) Chủ tịch Đông Đức.
(1) Đại sứ Liên Xô đầu tiên ở Việt Nam.
(1) Cán bộ Trung Quốc cùng làm việc với Bác ở Hoa Nam những năm 1939 - 1940.



Tiêu đề: Re: Luật sư Phan Anh và nhật ký hội nghị Genève
Gửi bởi: Noitraitim trong 29 Tháng Tám, 2013, 12:09:01 pm
Nhật ký Hội nghị Genève (Từ 10.4.1954 - 24.8.1954)[Kỳ cuối]

2/8/1954

"6 giờ 30 lại lên máy bay.

9 giờ 30 đến Oulanbator. Ông Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và các Đại sứ đến chào mừng, đoàn ta lưu lại sân bay một giờ, 10 giờ 30 lại tiếp tục đi.

16 giờ đến Bắc Kinh. Đoàn ta được tiếp đón rất trọng thể. Duyệt bộ đội danh dự. Ông Chu, các vị Bộ trưởng, các nhân vật cao cấp, các Đại sứ, các đại biểu đoàn thể nhân dân. Bốn em thiếu niên đến tặng hoa cho đoàn. Anh Tô đọc lời chào mừng và cảm tạ nhân dân và chính phủ Trung Quốc.

17 giờ 30, đoàn ta đến chào chính phủ Trung Quốc ở nhà khách Chính phủ. Có các ông: Chu Đức, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, Quách Mạt Nhược và nhiều vị Bộ trưởng khác. Ông Chu Đức nói: "Thật là thắng lợi lớn!". Anh Tô đáp: "Cũng nhờ sự giúp đỡ của các phái đoàn Liên Xô, Trung Quốc và nhất là Chu Tổng lý". Ông Lưu nói: "Chủ yếu là do nhân dân Việt Nam đã anh dũng đấu tranh trong mấy năm kháng chiến". Anh Tô nói: "Chúng tôi thừa lệnh Hồ Chủ tịch và Chính phủ Việt Nam, sau thắng lợi ở Hội nghị Genève đến tỏ lòng cảm tạ nhân dân và chính phủ Trung Quốc, Mao Chủ tịch". ÔngLưu nói: "Bây giờ cần về củng cố và phát triển kết quả ấy". Anh Tô nói: "Chúng tôi mấy năm nay có tiến bộ về quân sự, chính trị, đó cũng là nhờ kinh nghiệm của Trung Quốc, của các đồng chí cố vấn. Chúng tôi học, nhưng chưa được đầy đủ". Ông Chu Đức nói: "Các anh học nhanh lắm". Ông Lưu nói thêm: "Đúng vậy, không kể những trận đánh ác liệt của quân đội Triều Tiên, bộ đội Việt Nam thắng trận Điện Biên Phủ là một kỳ công mà nhiều đơn vị bộ đội Trung Quốc chưa chắc đã làm được".

Câu chuyện chuyển sang vấn đề giới tuyến và tuyển cử. Ông Chu Ân Lai nói: "Giới tuyến phía Bắc: 13 triệu, phía Nam: 9 triệu. Như thế là so với Triều Tiên, Việt Nam giành được kết quả tốt hơn. Tuyển cử cũng vậy. Định được ngày là một thắng lợi lớn, tuy vẫn còn phải đấu tranh gay go". Ông Lưu nói: "Dĩ nhiên, sự ước mong của chúng ta còn nhiều hơn. Nhưng cũng phải nhìn thấy sự cam chịu thất bại của đế quốc. Nó phải chịu như thế là một thắng lợi lớn của chúng ta".

Câu chuyện đến đúng 18 giờ thì đoàn ta cáo từ ra về.

18 giờ 30, đoàn ta đến sứ quán. Bắt tay anh em (có Lợi, Phương,...). Tiếp ông Đặng Tiểu Bình và một ông nữa...
19 giờ chính phủ Trung Quốc mở tiệc chiêu đãi, có khoảng 400 khách mời. Ông Chu Ân Lai đọc diễn văn chào mừng, trong đó nêu lên tình hữu nghị Việt - Hoa và chủ trương của Trung Quốc tận lực giúp đỡ Việt Nam: củng cố hoà bình, đảm bảo cùng với các nước dự Hội nghị Genève về việc nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định đình chiến.

21 giờ đoàn ta dự dạ hội. Ca, vũ, kịch. Đặc biệt nhất là múa lụa, Kinh kịch hát và Kinh kịch múa và một bài ca vũ dân tộc thiểu số gọi là múa đĩa".

Sau này, mình có được đọc một tài liệu của Trung Quốc, trong đó nói đến Hội nghị Genève 1954, có mấy ý chính mà mình muốn nhắc lại ở đây:

Lần đầu tiên sau ngày thành lập nhà nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa, Trung Quốc tham gia Hội nghị quốc tế Genève. Ông Chu Ân Lai đã rất tích cực vận động thế giới cho sự tham dự của Trung Quốc tại Hội nghị này. Trong cuộc bàn bạc với Liên Xô, ông Chu nói với Khroutchev (Bí thư thứ nhất ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô): "...Trung Quốc, Triều Tiên, Việt Nam, ba nước chúng tôi được tham dự Hội nghị quốc tế lần này rất có ý nghĩa và sẽ quyết tâm giành thắng lợi". Sau phản ứng hoan hỉ của Khroutchev, ông Chu lại nói tiếp: "Nếu Hội nghị lần này giải quyết được một số vấn đề nào đó thì thật là quý hoá và có ích cho sau này. Các đoàn chúng tôi muốn cố gắng để giành được thắng lợi". Khi ông Môlôtốp nói với ông Chu: "Hội nghị Genève lần này, hai chúng ta sẽ kề vai sát cánh chiến đấu bên nhau, vậy ta hãy cạn cốc vì tình hữu nghị giữa chúng ta", ông Chu cũng đáp lại với đại ý: "Tình hữu nghị chúng ta đã có từ lâu, năm 1928 khi sang Matxcơva dự Đại hội VI của Đảng, chúng tôi đã được gặp đồng chí và nghe đồng chí đọc lời chào mừng. Liên Xô là người anh cả, chúng tôi phải học tập các đồng chí. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc tham gia Hội nghị quốc tế, chưa có kinh nghiệm và cả tri thức nữa, nên cần tiếp tục học tập các đồng chí."

3/8/1954

"Buổi sớm, đi thăm Cố cung.

15 giờ, mình nói chuyện với bà con kiều bào ở Đại sứ quán: ngoài nhân viên sứ quán, còn có các học sinh, sinh viên, các đoàn đại biểu trong nước mới sang. Câu chuyện gồm hai phần:

Phần một là nội dung, kết quả và quá trình Hội nghị Genève.

Phần hai là giải đáp câu hỏi.

Việc giải đáp các câu hỏi, mình có nhận xét:

Có một số thắc mắc về tình hình và tiền đồ của miền Nam Việt Nam và ít nhiều thắc mắc về Campuchia. Qua thắc mắc, ta thấy rõ một điểm: Anh em vẫn còn đi vào những khía cạnh vụn vặt (ví dụ: kiểm soát quốc tế có hiệuquả không?, vấn đề hành chính tạm thời như thế nào?,…) mà không nắm nhữngvấn đề căn bản là phải dựa vào nhân dân để đấu tranh cho đến lúc cùng thựchiện hoàn toàn thống nhất, độc lập, dân chủ cho cả Việt Nam, Campuchia và Lào.

19 giờ đến 21 giờ, đoàn ta thết tiệc ở Đại sứ quán, có đủ các vị lãnh đạo trong chính phủ và Đảng Cộng sản Trung Quốc, đại diện ngoại giao cácnước Đông Nam Á, Ấn, Hồi, Diến, Indonêxia.

22 giờ tổ chức dạ hội ở Đại sứ quán. Mình đọc thơ Genève cho anh em nghe. Anh em yêu cầu đọc thêm một số bài thơ nữa, nhưng mình phải để lại một số bài, chưa tiện đọc. Nhận xét: anh em tán thành vấn đề cảm xúc với những lối văn ca dân tộc (Kiều, Chinh phụ) và lối văn giản dị, vui đùa khôi hài, giễu cợt những thói xấu của đế quốc."

4/8/1954

"Đáng lẽ, sớm nay lên đường trở về, nhưng trời mưa (máy bay không bay được). Cả buổi sớm nghỉ, xem chiếu bóng. Buổi trưa ông Vương và ông Phương lại nói chuyện về những vấn đề cấp thiết cần đề cập tới trong tình hình mới, như khôi phục đô thị, kiến thiết cơ sở kinh tế, tiền tệ, xí nghiệp của Pháp, quan hệ kinh tế với Pháp và vấn đề miền Nam. Những vấn đề này cần giải quyết, mình cũng đã có nêu trong bản thảo báo cáo tổng kết Hội nghị.

17 giờ 30: thăm cụ Đinh Trương Dương(1) ở Hoà Bình y viện. Cụ tỉnh táo hỏi chuyện Genève và gửi lời chúc sức khoẻ Hồ Chủ tịch.

18 giờ: tiếp các Đại sứ Ấn Độ, Diến Điện, Nam Dương trong tình cảm thân thiện. Đại sứ Nam Dương nói một câu rất đáng chú ý: "Phải làm thế nào cho mưu mô dùng người Châu Á đánh người Châu Á thất bại". Ông ta trước kia có học ở Pháp, ông ta nói: "Chính phủ Nam Dương muốn đặt đoàn đại diện ngoại giao ở nước ta".

22 giờ lên tầu. Lễ tiễn đưa cũng trọng thể như lễ đón tiếp. Có Chu Tổng lý và các vị trong Chính phủ, các Đại sứ. Chính phủ Trung Quốc bố trí cho ta một đoàn xe đặc biệt, do chính ông Bộ trưởng Bộ Giao thông sắp xếp kế hoạch. Thật là sự chu đáo của nước bạn, không sao tưởng tượng hết được."

5/8/1954

"Buổi trưa đến Tế Nam. Có đoàn đại biểu tỉnh ra đón đoàn ta ở ga xe lửa, trong đó có ông Bí thư Trình Sơn Đông và ông Phó Chủ tịch tỉnh…".

9/8/1954

"Đến Nam Ninh. Ông Chủ tịch Trần và các ông Phó Chủ tịch, ông Vương sư trưởng giao tế xứ, các đại biểu chính quyền, đoàn thể ra đón...".
"Các nhà chức trách tỉnh Quảng Tây đưa đoàn ta tới tận Mục Nam Quan...".

10/8/1954

"6 giờ đến Thái Nguyên, về trụ sở tiếp tân. Có Phan Mỹ, Hoàng Tùng đón tiếp sau đó anh em trong Chính phủ, Quốc hội, Quân đội đến đón mừng".

11/8/1954

"7 giờ 30 phút tổ chức mít tinh. Anh Tô nói chuyện. Các đại biểu Chính phủ (anh Lê Văn Hiến), Quốc hội (anh Tôn Quang Phiệt), Mặt trận (cụ Vũ Xuân Kỷ), Quân đội (anh Hoàng Văn Thái), khu Việt Bắc (anh Chu Văn Tấn) đọc diễn văn chúc mừng".

12/8/1954

"11 giờ gặp và làm việc với anh Hoàng Minh Giám.

17 giờ kể chuyện về Hội nghị Genève với anh em trong cơ quan."

13/8/1954

"14 giờ. Giải đáp thắc mắc cho anh em."

14/8/1954

"Dự cuộc họp Hội đồng Chính phủ.

Có hai việc: Báo cáo tổng kết Hội nghị Genève. Hồ Chủ tịch kết luận. Việc thi hành Hiệp định, chuẩn bị gặp Ban giám sát quốc tế".

24/8/1954

"Hôm nay, bắt đầu một quyển Nhật ký mới, để ghi những ý định mới, những niềm tâm sự mới… Anh Tô giao nhiệm vụ đi thăm đồng bào, bộ đội Khu III, chuẩn bị tiếp quản Hà Nội.

Giao trách nhiệm mới này cho mình, anh Tô hỏi: "Có hứng thú không?". Mình trả lời: "Bất cứ công tác gì đều có hứng thú". Anh Tô cười, cho là mình nói đùa. Nhưng, sự thực mình cảm thấy bất cứ cái gì bây giờ đối với mình cũng có một hứng thú, dầu nó có trở ngại ý định riêng một phần nào".
________________________________________
(1) Người Thanh Hóa, nhà yêu nước tham gia chống Pháp từ trước năm 1945.