Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thảo luận Lịch sử bảo vệ Tổ quốc => Cha ông ta đánh giặc => Tác giả chủ đề:: Noitraitim trong 22 Tháng Tám, 2013, 10:18:18 pm



Tiêu đề: Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép về Nguyễn Công Trứ
Gửi bởi: Noitraitim trong 22 Tháng Tám, 2013, 10:18:18 pm
Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép về Nguyễn Công Trứ

Quốc sử quán triều Nguyễn.
Nguồn: Vanhoanghean.com.vn

(http://2.bp.blogspot.com/-fj381_zGfMM/UgvLwFyp3_I/AAAAAAAAAEE/esZRxNTjLwg/s400/3.JPG)

Mở đầu

Nguyễn Công Trứ người huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, thuở nhỏ phóng túng không câu nệ, có khí tiết. Gia Long năm thứ 2, vua đi tuần ra miền Bắc, Công Trứ là người thường, nhân đến dinh hành tại dâng kế sách. Năm thứ 18, Trứ đỗ Giải nguyên (thủ khoa). Đầu năm Minh Mạng sung làm Biên tu ở Sử quán.

Năm thứ 4, bổ thụ Huyện doãn huyện Mĩ Hào; nhiều lần thăng đến tham biện tỉnh Thanh Hoá; rồi vì có tang cha bỏ chức. Vua nghĩ Trứ là người thanh liêm, giản dị, sai mang cho Trứ 100 lạng bạc. Khi hết tang, đổi làm Tham tán quân vụ ở Bắc Thành; bỗng lại thăng lên Thị lang bộ Hình, quyền làm Hình tào Bắc Thành.

Năm thứ 8, vua xuống chiếu cho Trứ cùng viên Thông ngoại quản Tiền quân là Phạm Văn Lí hội quân tiến đánh tên giặc thổ trước ở Nam Định là Phan Bá Vành. Trước đây tên giặc ấy lẻn lút chiếm nơi bãi biển, tựa chỗ hiểm rủ nhau tụ họp. Công Trứ đặt mưu lược, thường đánh phá được. Vua bảo là: Nguyễn Công Trứ, gặp việc hết lòng làm không cẩu thả, thực không thẹn với sự uỷ dùng. Rồi sau Trứ bắt được Bá Vành. Vua xuống chiếu thư khen ngợi, và thưởng cho Trứ một hình núi bằng ngọc trắng, một hình con ngựa bằng mã não, một cái khánh vàng và triệu về triều.

Khoảng năm Minh Mạng, Trứ lấy hàm Tả Thị lang bộ Hình, Lĩnh Doanh điền sứ ở Nam Định. Trước đây, Công Trứ dâng thư kín nói việc 3 điều: 1- Pháp cấm phải nghiêm ngặt, để trừ tuyệt bọn giặc; 2- Thưởng phạt phải công minh, để khuyên răn quan lại; 3- Khai khẩn ruộng hoang, để cho dân nghèo có nghề nghiệp. Vua giao xuống cho đình thần bàn để thi hành. Rồi sai Công Trứ sung làm chức Doanh điền sứ. Công Trứ vào từ biệt trước mặt vua xin đi. Vua dụ rằng: Thuộc hạt Bắc Thành đã tiện yên, nên xua dân về làm ruộng. Phàm việc gì có thể dựng việc lợi, trừ việc hại cho trăm họ được thì cho phép tiện nghi thi hành. Công Trứ nên trình bày các công việc nên sửa làm, xin đem số dân một phẩm, chia làm ấp, làng, trại, giáp có thứ bậc khác nhau. Khi ông đến nơi, xem đạc đất hoang ở một dải Tiền Châu phủ Kiến Xương, tỉnh Nam Định, chia cấp cho dân cùng, gồm được 14 làng, 27 ấp, 20 trại, 10 giáp, đinh hơn 2.350 người, ruộng hơn 18.970 mẫu. Xin lập làm một huyện, gọi tên là huyện Tiền Hải. Lại ở hai xã Ninh Cường, Hải Cát, được 4 làng, 4 ấp, 1 trại, lập làm 1 tổng, lệ thuộc vào huyện Nam Chân. Tổng Hoành Nha, được 5 ấp, 2 trại, 3 giáp, cũng lập làm 1 tổng, lệ thuộc vào huyện Giao Thuỷ. Còn về nhà cửa, trâu cầy, đồ làm ruộng, thì lượng lấy tiền của công tri cấp cho.

Lại xin đo đạc chia khẩn đất ở ven biển ngoài núi Hồng Lĩnh phủ Yên Khánh tỉnh Ninh Bình, được 3 làng, 22 ấp, 24 trại, 4 giáp, đinh hơn 1.260 người, ruộng hơn 14.600 mẫu, lập làm một huyện, gọi tên là huyện Kim Sơn. Về khoản nhu cấp (cho huyện ấy), hết thảy như lệ huyện Tiền Hải. Nơi nào đã thành điền, thì cho thu nộp tự năm nay, còn thì đợi ba năm sẽ bắt đầu thu thuế. Vua y lời tâu là phải.

Công Trứ lại nói: hai huyện mới lập ra và các ấp, làng đều là dân phiêu lưu di đến họp lại. Chưa có liên thuộc với nhau, xin định làm quy ước: 1. Sở đặt ruộng của nhà học; 2. Đặt kho của xã; 3. Cần việc dạy bảo; 4 Cẩn thận việc phòng giữ; 5 Gắng sức khuyên răn. Đình nghị cho là các điều ấy chưa thể vội làm được, bèn thôi không làm nữa. Tháng 4 năm thứ 10, ông về kinh tâu trả lời vua biết.

Năm thứ 11, ông được Thự Hữu Tham tri bộ Công, tạm giữ ấn triện bộ Hình; bỗng lại giáng làm Hữu Thị lang, sung làm công việc Nội các. Lại nhân việc bị tội giáng bổ Kinh huyện, rồi thăng Lang trung phủ Nội vụ.

Năm thứ 13, Thự Bố chính sứ Hải Dương. Vua lại cho 200 lạng bạc, là tỏ ý khuyên bảo gắng sức liêm tiết. Rồi lại thăng lên Tuần phủ, Thự lí quan phòng Tổng đốc Hải An. Trong bộ hạt ấy có bọn nghịch, lập tức sai quân dẹp bắt, trong hạt được yên. Trứ lại lưu ý đến việc khai khẩn đồn điền, nghiêm ngặt việc do thám mặt biển, thường dâng sớ xin thi hành.

Năm thứ 14, bọn đầu sỏ giặc là lũ Trương Nghiêm họp bọn lũ cướp nhiều huyện Tứ Kì, ông thân hành đốc quân đánh ở Thiết Tranh, phá được. Vua xuống dụ khen thưởng. Rồi sau có chỉ sai đi Tuyên Quang, cùng với Tổng đốc Sơn Hưng Tuyên là Lê Văn Đức tiến đánh tên đầu sỏ phản nghịch là Nông Văn Vân; do hai bên tả hữu sông Lô chia đường đều tiến thẳng đánh vào tổ giặc ở Vân Trung. Quân đi đến đâu, giặc đều trông thấy bóng là chạy trốn, Trứ bèn dẫn quân về.

Năm thứ 14, Vân lại dựa chỗ hiểm rủ nhau tụ tập. Vua bèn cho Văn Đức sung chức Tổng đốc quân vụ Tuyên Quang, Công Trứ sung chức Tham tán, do đường Côn Lôn tiến quân, cùng Văn Đức hội họp thì Vân ngầm trốn. Có dụ sai mang quân về. Rồi sau giặc lại xâm lấn sát đồn Cao Bằng. Vua lại sai hội quân tiến đánh. Sau gặp quân ta đã lấy lại tỉnh thành Cao Bằng, Công Trứ xin chuyển đi Thái Nguyên, cùng với Tổng đốc Ninh Thái là Nguyễn Đình Phổ bàn tính việc quân định đến trung tuần tháng 9 hội đánh một loạt. Vua y cho. Lại sai Công Trứ sung chức Tham tán đạo Thái Nguyên. Đình Phổ, Công Trứ giữ đạo Thái Nguyên, hiệp cùng đạo Cao Bằng là Tạ Quang Cự, Nguyễn Tiến Lâm, Hồ Hựu; đạo Tuyên Quang là Phạm Văn Điển, Lê Văn Đức, tiến đến Vân Trung, thì giặc Vân lẩn vào hang núi. Đạo Tuyên Quang dùng kế hoả công, Vân bị chết cháy. Tin thắng trận tâu lên. Vua hạ lệnh cho quân ba đạo hát khúc thắng trận về kinh.
Trứ vào trước thềm ra mắt vua. Vua thân rót rượu ban cho để tỏ lòng yêu qúy đáp công. Lại thưởng cho các đồ chơi quý báu; và ấm thự cho một người con Trứ làm Hiệu uý vệ Cẩm y. Rồi lại sai Trứ về nơi lị sở trước.

Công Trứ coi giữ lâu ngày ở một địa phương lớn, chấn hưng, kiến thiết được nhiều. Lại thấy hình thể tiện lợi của tỉnh thành Quảng Yên, xin sửa đắp thêm, vua y lời xin.

Năm thứ 19, Trứ thân hành đem quân, thuyền từ Quảng Yên ra biển thẳng đến Tràng Sơn vây bắt bọn giặc ở mặt trước, cả phá được. Nhân thể, xin đóng quân nơi ấy, cấp cho đồ làm ruộng để khai khẩn. Năm sau, Trứ lại đi Tràng Sơn, tìm được tên đầu sỏ giặc ghép vào hình pháp. Ngoài ra còn chiêu dụ được hơn 180 người, lập làm Hương Hoá, biên vào sổ chịu thuế. Sau được triệu về kinh, thăng Hữu Tham tri; lại kiêm Tả phó Đô ngự sử.

Năm thứ 21, Trứ thấy Trấn Tây mãi chưa thành công, dâng sớ xin đi. Vua khen là giỏi và y cho. Sai Trứ sung làm Tán lí việc quân cơ ở Trấn Tây. Trứ vào từ biệt trước thềm xin đi. Vua dụ rằng: Phạm Văn Điển, Nguyễn Tiến Lâm, không lo gì họ không có sức mạnh, chỉ lo họ không có mưu thôi. Khanh là nho tướng, việc quân vẫn đã quen, cần phải xem xét cơ hội nên làm, để sớm lập công lớn, cho xứng với trách nhiệm ta uỷ cho.

Thiệu Trị năm thứ 1, Trứ cùng tướng quân là Trương Minh Giảng đánh phá 12 sở đồn luỹ cuả giặc, được gia một cấp quân công. Rồi sau quan quân chuyển về An Giang, định tội lỗi với các tướng biền Trấn Tây, tước hết quan chức của Công Trứ, lại sai Trứ cùng Phạm Văn Điển đi ngay quân thứ Lạc Hoá để hội đánh giặc. Mùa đông năm ấy, quan quân đánh phá được Lâm Sâm, giết được nhà sư người Phiên, Lạc Hoá được bình hết. Trứ được khởi phục chức Thị lang bộ Binh, Lĩnh Tuần phủ An Giang, ngăn giữ các đường trước sau.
Năm thứ 4, Trứ bị tội, phải phát đi làm binh ở miền ven biên giới Quảng Ngãi. Năm sau Trứ được khởi phục chức Chủ sự, Thự Viên ngoại lang bộ Hình, và quyền Thự Án sát sứ Quảng Ngãi, kế đến Thự Phủ thừa phủ Thừa Thiên.

Năm thứ 7, được thăng Thự Phủ doãn, lấy cớ là tuổi đến 70, xin nghỉ không được.

Tự Đức năm thứ 1, Trứ lại tâu nhắc lại lời xin trước, được vua ân chuẩn cho là lấy hàm Phủ doãn Thừa Thiên về nghỉ việc. Khi đã về nghỉ, làm nhà bên cạnh ngôi chùa trên núi để ở.

Năm thứ 12, có chỉ cho khởi phục, Trứ lại ra làm việc đánh giặc. Nhưng Trứ tự trình bầy là tuổi già suy yếu không làm nổi việc. Vua y cho. Rồi sau Trứ chết thọ 82 tuổi.

Công Trứ là người trác lạc, có tài khí, có tài làm văn càng giỏi về quốc âm, làm ra thi ca rất nhiều, khí hào mại, phổ đầy ở trong âm luật; đến nay hãy còn truyền tụng. Trứ làm quan thường bị bãi cách rồi lại được cất nhắc lên ngay; tỏ sức ở chiến trường nhiều lần lập công được chiến trận. Buổi đầu Trứ lĩnh chức Danh điền, sửa sang mới có trong một năm mà các việc đều có đầu mối, mở mang ruộng đất, tụ họp lưu dân, thành ra mối lợi vĩnh viễn. Khi tuổi già về nghỉ, tức thì bỏ qua việc đời, chơi thú sơn thuỷ, trải hơn mười năm có cái hứng thú phớt thoảng ra ngoài sự vật. Đến nay người ta, phần nhiều tưởng đến phong độ khí khái của ông. Sau khi Trứ mất, các huyện ấp do ông lập ra đều dựng đền để thờ.

-------------------------------------------

(*) Khảo theo Đại Nam chính biên liệt truyệncủaQuốc sử quán triều Nguyễn (Tổng tài Cao Xuân Dục; Toản tu: Lưu Đức Xứng, Trần Xán), quyển 20, bản dịch của Đỗ Mộng Khương, Ngô Hữu Tạo, Nguyễn Mạnh Duân, Huy Giu, Trương Văn Chinh, Nguyễn Danh Chiến,Nxb. Văn học, Hà Nội 2002, tr. 410 - 415.


Tiêu đề: Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép về Nguyễn Công Trứ
Gửi bởi: Noitraitim trong 23 Tháng Tám, 2013, 12:40:55 am
Sách Đại Nam thực lục chính biên chép về Nguyễn Công Trứ (Phần I)

Tiểu dẫn: Đại Nam thực lục chính biên là bộ biên niên sử Việt Nam (gồm 587 quyển) được biên soạn bởi tập thể các sử quan, trong nhiều thời kì của Quốc sử quán triều Nguyễn, ghi chép các sự kiện lịch sử nhà Nguyễn từ khi Nguyễn Ánh làm chúa (1778) đến đời Đồng Khánh (1887), và sau này được viết thêm đến đời vua Khải Định (1925). Bản dịch sang tiếng Việt do Tổ Phiên dịch Viện Sử học thực hiện được công bố lần đầu từ năm 1962 đến năm 1978, Nxb. Giáo dục tái bản năm 2002-2007. Phần khảo Nguyễn Công Trứ qua Đại Nam thực lục chính biên sau đây do ông Đinh Văn Niêm thực hiện gồm các thao tác.

1. Chọn trích toàn bộ những sự kiện có liên quan trực tiếp đến Nguyễn Công Trứ, ghép nối lại với nhau thành một “tiểu sử” Nguyễn Công Trứ trong “Quốc sử”. Phần văn bản trích được chúng tôi giữ nguyên lời văn, in bằng chữ đứng thường.

2. Người khảo đưa thêm lời dẫn, chú để giúp bạn đọc hiểu bối cảnh của văn bản đoạn trích, như ngày tháng năm sự kiện diễn ra, tóm lược những sự kiện liên quan, v.v… Phần này được in bằng chữ nghiêng (italic).

3. Để thuận lợi cho việc tìm kiếm các bản tấu sớ với tư cách là tác phẩm của nguyễn Công Trứ, chúng tôi cho in nghiêng, đậm các văn bản đó.

4. Những thông tin cần thiết khác được đưa vào chú thích ở cuối trang.

Trước đây đã có một số nhà nghiên cứu khảo về Nguyễn Công Trứ qua bộ sử này nhưng văn bản công bố chưa đầy đủ: Mai Khắc Ứng trong Tư liệu về Nguyễn Công Trứ (Sở VHTT Hà Tĩnh, 2001) đưa ra 200 sự kiện; Trần Nho Thìn trong Nguyễn Công Trứ - tác gia và tác phẩm (Nxb Giáo dục, 2003) đưa ra 40 sự kiện. Lần này, ông Đinh Văn Niêm đã khảo lục hết toàn bộ các sự kiện liên quan đến Nguyễn Công Trứ trong Đại Nam thực lục chính biên (10 tập tái bản của Nxb. Giáo dục) và đưa ra 261 sự kiện.

Quý Hợi Gia Long năm thứ 2, 1803.

[Tháng 8, vua Gia Long ra Bắc Hà nhận lễ tấn phong của nhà Thanh, ngày Bính Tuất, trú tại hành cung Nghệ An] Người huyện Nghi Xuân là Nguyễn Công Trứ điều trần mười việc. [Vua] sai bộ Lại duyệt kĩ để tâu(1). (Trang 570, tập I).
Kỉ Mão, Gia Long năm thứ 18, 1819

[Tháng 3] Sai Tham tri Hình bộ là Võ Đức Thông sung Đề điệu trường thi Nghệ An; Kí lục Quảng Bình là Hoàng Kim Hoán sung Giám thí. Lấy đỗ Hương cống 30 người (Trường Nghệ An Nguyễn Công Trứ, Đặng Huy Thuật, Hồ Minh Tĩnh, Nguyễn Năng Tĩnh, Hồ Sĩ Lâm, Lê Sĩ Thường, Nguyễn Chương Đạt, Bùi Văn Tán, Nguyễn Huy Triêm, Nguyễn Hữu Tố, Lê Hữu Tuệ, Nguyễn Đức Hiền, Phan Bá Đạt, Nguyễn Bùi Nhã) cộng 14 người (…). (Trang 985, tập I).

Canh Thìn, Minh Mệnh năm thứ nhất, 1820.

[Tháng 5] Triệu các Hương Cống khoa Kỉ Mão về Kinh, phái làm hành tẩu ở 6 bộ để học tập chính sự, cấp lương tháng cho mỗi người tiền 2 quan, gạo 2 phương (…)(1). (Trang 61, tập II).

Giáp Thân, Minh Mệnh năm thứ 5, 1824.

[Mùa hạ, tháng 5] Lấy Lang trung Lại bộ là Nguyễn Công Trứ, Lang trung Lễ bộ là Thân Văn Quyền đều Thự Tư nghiệp Quốc Tử Giám. Hoàng Kim Hoán tâu rằng hai người ấy một người là khoa mục xuất sắc, một người thì quan thân quyền quí đều biết tiếng, có thể làm khuôn mẫu cho học trò, xin cử sung chức ấy, nên có mệnh này. (Trang 356, tập II).

Giáp Thân, Minh Mệnh năm thứ 5, 1824.

[Mùa đông, tháng 10] Lấy Thượng bảo Thiếu khanh Hoàng Quýnh thăng Thự Thượng bảo khanh. Lang trung Lại bộ là Đoàn Khiêm Quang và Thự Tư nghiệp Quốc Tử Giám là Nguyễn Công Trứ đều làm Thiêm sự Hình bộ. (Trang 383, tập II).

Ất Dậu, Minh Mệnh năm thứ 6, 1825.

[Tháng 7] Giáng Thự Phủ doãn Thừa Thiên là Bùi Tăng Huy làm Lang trung Lại bộ, Phủ thừa Vũ Doãn Đạo làm Lang trung Lễ bộ. Trước đây ở Thừa Thiên xảy ra việc trộm cướp, đã có nghiêm chỉ khiến nã bắt, chưa bắt được hết mà người bắt được lại để lâu không tra xét kết tội. Vua giận là lười biếng coi thường, giao xuống bộ Hình bàn xử. Bọn Huy bị giáng đổi đi. Lấy Kí lục Quảng Nam là Ngô Phúc Hội làm Phủ doãn Thừa Thiên. Thiêm sự Hình bộ là Nguyễn Công Trứ làm Phủ thừa Thừa Thiên. (Trang 442, tập II).
[Tháng 11] Chuyển bổ Phủ thừa Thừa Thiên là Nguyễn Công Trứ làm Tham hiệp Thanh Hoa. Tham hiệp Thanh Hoa là Đặng Văn Nghiêm làm
Phủ thừa Thừa Thiên. (Trang 460, tập II).

Bính Tuất, Minh Mệnh năm thứ 7, 1826.

[Tháng Giêng] Tham hiệp Thanh Hoa là Nguyễn Công Trứ tâu xin thân đem thủ hạ đi đánh bắt thổ phỉ. Vua y cho.

Trước đây vua nghe Thanh Hoa có tên tướng giặc là Lê Duy Nhiên chứa nuôi đứa con nghịch phạm Lê Duy Hoán tên là Lê Duy Lương, họp đảng ở địa hạt Ngọc Sơn và Nông Cống, mưu làm loạn, dụ trấn rằng: “Hạt ngươi có bọn tiểu nhân ấy lẩn lút mà người điềm nhiên không biết, thì trách nhiệm giữ ngoài khổn ở đâu? Hiện nay bốn cõi vô sự, trong nước lặng yên, sao có thể dung cho chúng phiến động lừa dối làm hại dân ta? Phải nên tra bắt ngay, chớ để lan rộng”. Thế là Công Trứ xin đi. Bèn sai Án trấn là Nguyễn Văn Hiến lượng phái biền binh lệ theo để sai khiến. (Trang 476, tập II).

[Tháng 2] Tướng giặc ở Thanh Nghệ nguỵ xưng Tiền bộ là Ninh Đăng Tạo tụ họp đồ đảng ở miền thượng đạo Diễn Châu cướp bóc giữ hiểm ở núi Cưa, thường quấy nhiễu cướp bóc các hạt Đông Thành, Quỳnh Lưu (thuộc Nghệ An), Ngọc Sơn, Nông Cống (thuộc Thanh Hoá) dân không được yên. Trấn thủ Nghệ An là Trương Văn Minh dâng sớ xin thân đem quân lớn đánh thẳng vào sào huyệt. Vua sai truyền dụ cho Án trấn Thanh Hoa là Nguyễn Văn Hiến cùng đi đánh dẹp. Quân của Minh đóng ở đồn Quán Cháo, quân của Hiến đóng ở đồn Đồng Loan, hẹn kì đều tiến. Tham hiệp Nghệ An là Nguyễn Đức Nhuận, Tham hiệp Thanh Hoa là Nguyễn Công Trứ cũng đều đem binh chia đường chặn bắt. (Trang 486, tập II).

Tháng 6, dẹp xong thổ phỉ ở Thanh Nghệ. Trước đây Trấn thần Thanh Hoa là Nguyễn Văn Hiến, Nguyễn Công Trứ và Trấn thần Nghệ An là Trương Văn Minh, Nguyễn Đức Nhuận hội nhau đánh tướng giặc là Ninh Đăng Tạo ở núi Cưa, giặc nghe tin tan vỡ, sào huyệt đã hết, lương thực lại không, quan quân chia đi lùng bắt, trước sau săn bắt được đầu mục và đầu thú đến hơn nghìn người. Tạo trốn đi xa, địa phương yên lặng, quan hai trấn đem sự trạng tâu lên.

Vua sai rút binh về, ban thư khen ngợi. Trước tiên phát the trừu và quạt trúc vân, khăn tay đem đến cấp cho; biền binh đi trận thì giao cho hai bộ Lại, Binh, xét công trạng lập danh sách, bàn khen thưởng, nhân dân thì giao cho bộ Hình bàn thưởng. Lại thấy số kẻ phạm bắt được rất nhiều sợ hoặc có lạm đến người vô tội, dụ sai kíp xét ngay, nếu có dân lương thiện bị giặc đà luỵ thì tha ngay. (Trang 512, tập II).

Tham hiệp Thanh Hoa là Nguyễn Công Trứ có tang mẹ, xin đưa tang về quê chôn cất. Vua y cho, ban cho 100 lạng bạc. (Trang 514, tập II).

[Tháng 10] Lại lấy Nguyễn Công Trứ làm Tham hiệp Thanh Hoa. Trước đây Trứ ở Thanh Hoa, có tang nghỉ, đến nay hết hạn, lại bổ dùng. Trứ vào bệ từ. Vua dụ rằng: “Trước kia hai trấn Thanh Nghệ trộm cướp nổi nhiều, vì trấn thần vỗ về chống giữ có phương pháp, dân nhiều người ra sức, bắt được 8, 9 phần 10 kẻ phạm, như thế thì dân ta có phụ gì triều đình đâu. Nay ngươi đến bảo rõ đức ý của triều đình, chiêu tập những dân xiêu tán, tiễu trừ những đảng giặc sót để cho biên phương yên lặng lâu dài, ấy là điều trẫm mong đợi”. Nhân triệu vào Đông các cho ăn. (Trang 546, tập lI).

[Tháng 12] Cho Tham hiệp Thanh Hoa là Nguyễn Công Trứ gia hàm Thị lang quyền biện Hình tào Bắc Thành. (Trang 559, tập II).


Tiêu đề: Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép về Nguyễn Công Trứ
Gửi bởi: Noitraitim trong 23 Tháng Tám, 2013, 12:48:16 am
Sách Đại Nam thực lục chính biên chép về Nguyễn Công Trứ (Phần I) – Tiếp

Đinh Hợi, Minh Mệnh năm thứ 8, 1827.

[Tháng Giêng] Đảng giặc ở Nam Định 5000 người cướp phủ Kiến Xương. Phó Thống thập cơ Oai thắng của Hậu quân là Phan Bá Hùng đánh nhiều trận, phá tan giặc; Phó Thống thập cơ Hùng dũng của Hữu quân là Phan Đình Bảo và Tham tán Nguyễn Công Trứ cũng đều đem quân chia đường tiến đánh. Bọn giặc bị quân ta giết chết và đánh bị thương nhiều, bèn vỡ chạy cả. Quan Bắc Thành đem việc tâu lên. Vua sai thưởng Bá Hùng gia một cấp quân công, Đình Bảo và Công Trứ đều hai thứ kỉ lục quân công, thưởng biền binh 15.000 quan tiền. (Trang 573, tập II).

[Tháng 2] Tướng giặc Nam Định là Phan Bá Vành chia phái đồ đảng ngăn chặn các đường thuỷ bộ ở huyện Thư Trì. Phạm Văn Lí đem thuỷ binh đánh tan giặc ở sông Bổng Điền. Vành đem quân vây Phạm Đình Bảo ở Chợ Quán. Lí bèn cùng Nguyễn Công Trứ chia quân ba đường đến cứu. Ngoài đánh vào, trong đánh ra, đảng giặc tan vỡ. Vành chạy đóng ở xã Trà Lũ (thuộc huyện Giao Thuỷ). Đảng giặc còn hơn 2.000 người đắp luỹ, đào hào, làm kế cố giữ đến chết.

Vua nghe tin, dụ Phạm Văn Lí rằng: “Ngươi gần đây nhiều lần báo tin thắng trận, trẫm khen người giỏi. Duy nay bọn giặc còn dám liên kết liều chết để chống quân ta, tưởng lòng căm thù của ngươi đáng phải giết giặc rồi mới ăn cơm, làm sao đã lâu dẫu thắng trận mà đầu tướng giặc vẫn chưa có đầu nào bêu lên, nhiều kẻ yếu phạm vẫn chưa trị tội. Hết đông sang xuân, để chậm chưa giết được thì lấy gì mà nêu rõ phép nước. Ngươi nên lập tức cùng với các đại viên cầm quân chia đường vây đánh. Bọn kia như du hồn đáy hũ, có khó gì mà không đánh một trận bắt hết! Trẫm vốn biết ngươi đủ làm xong việc, cho nên chuyên trách ở ngươi. Cố gắng lên! Cố gắng lên! Nếu chậm chờ trông ngóng, sợ công to từ trước không đủ bù với lỗi nặng đâu”.

Lại dụ Nguyễn Công Trứ rằng: “Ngươi trải làm quan trong ngoài, trẫm vốn đã biết. Mùa đông năm ngoái, Bắc Thành nhiều việc, sai ngươi gấp rút đi giúp đỡ việc quân. Vừa rồi cứ tâu báo thì ngươi cùng Phạm Đình Bảo cầm quân trước sau giết giặc rất nhiều, đã xuống chỉ ưu thưởng rồi. Duy bọn giặc nhiều lần thua mà quan quân chưa bắt giết hết được, khiến ta không khỏi ghì cổ tay mà tức giận. Hiện nay tình hình đánh giặc thế nào, ngươi nên cứ thực tâu lên. Sau này có việc gì khẩn yếu, cho được làm tờ nói thực, niêm phong tâu thẳng”. (Trang 579, tập II).

[Tháng 3] Cho Nguyễn Công Trứ làm Tả Thị lang Hình bộ, vẫn quyền lĩnh Hình tào Bắc Thành, Nguyễn Đức Nhuận làm Tả Thị lang Binh bộ, vẫn quyền lĩnh Binh tào Bắc Thành, Nguyễn Văn Mưu làm Thiêm sự Hộ bộ vẫn theo Hộ tào Bắc Thành làm việc. (Trang 595, tập II).

[Tháng 4] Triệu Thống chế lĩnh thập cơ Kính tiệp của Tiền quân là Phạm Văn Lí và Tả Thị lang Hình bộ quyền lĩnh Hình tào Bắc Thành là Nguyễn Công Trứ cùng Tả Thị lang bộ Binh quyền lĩnh Binh tào Bắc Thành là Nguyễn Đức Nhuận về kinh. (Trang 608, tập II).

[Tháng 5] Bọn Phạm Văn Lí, Nguyễn Công Trứ và Nguyễn Đức Nhuận vào bệ từ để về Bắc Thành làm việc. Vua thấy thổ phỉ ở Bắc Thành dư đảng còn nhiều đứa ẩn nấp, dụ cho thành thần phái thêm biền binh theo bọn Lí sai bắt, hẹn trong 3 tháng dẹp hết giặc nấp để cho nhân dân được yên ổn, rồi đều về thành làm việc. (Trang 615, tập II).

[Tháng 7] Cho Quốc trưởng Vạn Tượng là A Nỗ đến ở Nghệ An.

A Nỗ ở Ba Động khẩn thiết xin nương tựa triều đình, bọn Phan Văn Thuý đề đạt lên.

Vua bảo bầy tôi rằng: “A Nỗ trú ngụ ở ngoài, ăn sương nằm gió, tình cũng đáng thương; vậy truyền lệnh cho Nghệ An, làm công quán ở ngoài trấn thành cho A Nỗ ở. Lại cho một đạo sắc dụ, 1000 lạng bạc, sai Nguyễn Công Tiệp mang đến nơi và đưa A Nỗ về trấn. Ngày A Nỗ đến trấn, cho chọn một người con hay cháu đến kinh chiêm cận.

Khi trước, A Nỗ bỏ nước chạy, em là Ấp Ma Hạt không chịu theo, A Nỗ đem mẹ và 4 con của Ấp Ma Hạt cùng đi. Đến bấy giờ Ấp Ma Hạt gửi thư cho con A Nỗ là Hạt Xà Bông mời A Nỗ về nước, lại xin mẹ con nó về để khỏi xiêu dạt. Tướng Xiêm là Xú Pha Hoạ Di cũng gửi thư cho A Nỗ nói đã xin lỗi vua Xiêm, vua Xiêm đã xá lỗi cho, đừng ngờ nữa. Phan Văn Thuý đem việc tâu lên.

Vua bảo bầy tôi rằng: “Thư ấy lời lẽ hư thực dẫu chưa biết rõ, nhưng A Nỗ đã về với ta, xử trí thế nào cũng nên định sớm. Nay Ấp Ma Hạt đã có thư ấy, nhân cơ hội ấy mà làm thì là trúng khớp. Vả mẹ con nó đã bị A Nỗ bắt giữ, có người khuyên trẫm bảo A Nỗ tha ra thì thế nào?”.

Tống Phước Lương tâu rằng: “Di địch cũng như cầm thú, không lấy nhân nghĩa bảo được; Ấp Ma Hạt đang ghét anh nó, thì thương gì mẹ con, giữ lại cũng chẳng ích gì”.

Phan Huy Thực nói rằng: “Đế vương chế ngự Di địch, vẫn cẩn thận cái thuật ràng buộc; chẳng bằng giữ lại một nửa để cho họ còn lòng quyến luyến để ngày sau có chỗ khu xử”.

Vua hỏi Lê Văn Đức và Nguyễn Công Trứ, đều nói như lời của Thực. (Trang 644, tập II).

[Cũng tháng 7] Triệu Tả Thị lang Hình bộ quyền lĩnh Hình tào Bắc Thành là Nguyễn Công Trứ về kinh bổ dùng. (Trang 649, tập II).

[Tháng 9] Tả Thị lang Hình bộ là Nguyễn Công Trứ từ Bắc Thành về, vào yết kiến. Vua hỏi: “Gần đây giặc cướp hơi im đám, dân ta có thể yên ổn lâu được không?”.

Tâu rằng:

“Sau khi đại quân đi đánh dẹp, các đám giặc tuy đã tan, nhưng kẻ đầu sỏ chưa bắt được hết. Cứ thần xem thì chỉ tạm yên thôi”.

Bèn điệu bổ làm Hữu Thị lang Lễ bộ. (Trang 669, tập II).

[Tháng 10] Sai quan biên soạn sách Bách ty chức chế, lấy Hiệp biện đại học sĩ Nguyễn Hữu Thận làm Tổng tài, Thị lang Thân Văn Quyền, Nguyễn Công Trứ, Lê Văn Đức, Lí Văn Phức, sung chức Toản tu, chọn thuộc ty các viện 12 người sung Biên tu, 4 người làm Khảo hiệu hiệu san, 15 người Đằng lục, sai đặt cục ở Sử quán mà làm. Trước đây vua muốn sửa đặt chức chế, sai quan sáu bộ họp bàn. Đến nay tâu rằng: “Đặt quan chia chức là phép tốt đời thái bình. Tên quan đã định, chức chế thực phải nên làm. Huống chi bây giờ nhà nước nhàn rỗi, chính là lúc càng nên sửa sang trau dồi để làm phép tắc lâu dài, khiến cho các quan lớn nhỏ trong ngoài đều biết chức phận của mình mà cố gắng làm cho hết sức, thì mọi công việc mới mở rộng được. Vả lại chức chế là để tỏ rõ pháp điển sẵn có tất phải châm chước xưa nay, so đi xét lại. Xin đặt quan chuyên coi việc ấy mới có thể chóng xong”. Vì thế mà có mệnh này.

Dụ rằng: “Chức chế là quan hệ đến điển chương của nhà nước, nếu mỗi người đều giữ ý kiến riêng thì cũng như làm nhà ở cạnh đường, không bao giờ xong được. Các khanh nên chia việc mà chuyên làm để cho việc có thống thuộc, mới đến xong được”. (Trang 671-672, tập II).


Tiêu đề: Re: Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép về Nguyễn Công Trứ
Gửi bởi: Noitraitim trong 23 Tháng Tám, 2013, 12:50:01 am
Sách Đại Nam thực lục chính biên chép về Nguyễn Công Trứ (Phần I) – Tiếp

Mậu Tý, Minh Mệnh năm thứ 9, 1828.

[Tháng 2] Lấy thự Hữu Thị lang Lễ bộ là Nguyễn Công Trứ làm Tả Thị lang Hình bộ, vẫn sung chức Toản tu chức chế. (Trang 708, tập II).

[Tháng 3] Lấy Tả Thị lang Hình bộ là Nguyễn Công Trứ lĩnh chức Dinh điền sứ. Nguyên trước Nguyễn Công Trứ dâng sớ nói 3 việc.

1. Lập phép nghiêm cấm để trừ dứt trộm cướp (Bắc Thành sau loạn Tây Sơn, tập tục kiêu ngoa, những bọn gian giảo, thấy lợi quên nghĩa, bắt cóc người, đào mồ mả để đòi tiền chuộc, tụ tập đồ đảng doạ nạt dân làng, tù trốn thì lấy nhà cường hào làm sào huyệt, tổng lí cũng lấy kẻ hung ác làm chân tay, để xưng hùng với nhau. Phàm gọi là làm loạn, không phải cứ đánh thành, cướp đất mới là làm loạn; người không ở yên thuận lẽ cũng là loạn. Ngạn ngữ nói: “Loạn thì chém” không dùng phép nặng không ngăn được loạn. Xin đặt thêm hương trưởng mỗi làng 2 người, để coi sóc nhân dân, khiến họ yên nghiệp làm ăn, ai du đãng trộm cướp thì báo quan ngay, nếu dung túng chứa chấp, việc phát giác thì tổng trưởng, hương trưởng, xã trưởng đều phải chém cả. Phàm cha anh không ngăn cấn được con em thì cho tự thú cáo trước, nếu giấu giếm đến lúc phát giác thì đồng tội. Như thế thì không ai dám phạm, mà trộm cướp yên tắt được).

2. Minh việc thưởng phạt để khuyến khích quan lại (Nay lại dịch tham ô thường làm hại cho dân là bởi chưa có cách khuyên răn. Xin phàm các địa phương, nên thải bỏ những người hèn kém bớt đi một nửa, và cho thêm lương, để giữ thanh liêm; định lệ 3 năm, xét một lần, ai liêm cần thì được cất nhắc, ai khinh nhờn pháp luật thì không cứ việc lớn hay nhỏ, tang nhiều hay ít, đều trị tội cả, khiến ai ai cũng biết giữ mình. Như thế thì tham chuyển thành liêm cả).

3. Vỡ ruộng hoang cho dân nghèo (Đời làm ăn xưa chia ruộng định của, dân có nghiệp thường cho nên ở yên nơi làng mạc không có gian tà. Ngày nay những dân nghèo túng, ăn dưng chơi không, khi cùng thì họp nhau trộm cướp, cái tệ không ngăn cấm được. Trước thần đến Nam Định thấy ruộng bỏ hoang ở các huyện Giao Thuỷ, Chân Định mênh mông bát ngát. Ngoài ra còn không biết mấy nghìn trăm mẫu, hỏi ra thì dân địa phương muốn khai khẩn, nhưng phí tổn nhiều, không đủ sức làm. Nếu cấp cho tiền công thì có thể nhóm họp dân nghèo mà khai khẩn, nhà nước phí tổn không mấy, mà mối lợi tự nhiên sẽ đến vô cùng. Vả lại bãi Tiền Châu ở huyện Chân Định hoang rậm, trộm cướp thường tụ họp ở đấy làm sào huyệt, nay khai phá ra, không những có thể cho dân nghèo làm ăn, lại còn dứt được đảng ác. Xin sai trấn thần khám xét, phàm những đất hoang có thể khai khẩn được, cho những địa phương giàu có chia nhau trông coi công làm, mộ những dân nghèo các hạt đến khai khẩn, như mộ được 50 người thì lập làm một làng, cho làm lí trưởng, mộ được 30 người thì lập làm một ấp, cho làm ấp trưởng; đều tính đất chia cho. Cấp cho tiền công để làm cửa nhà, mua trâu bò nông cụ, lại lượng cấp tiền gạo lương tháng trong hạn 6 tháng, ngoài hạn ấy thì làm lấy mà ăn, 3 năm thành ruộng, đến chiếu lệ tư điền mà đánh thuế. Quan phủ huyện sở tại lập kho chứa thóc để phòng năm mất mùa cho dân vay. Những làng ấp mới lập ra gọi là “Quân lực bản”. Phàm các hạt xét thấy những dân du đãng không bấu víu vào đâu, đều đưa cả về đấy. Như thế thì đất không bỏ hoang, dân đều làm ruộng, phong tục kiêu bạc lại thành thuần hậu).

Đưa sớ xuống đình thần bàn thì đều cho là: “Điều nghiêm phép cấm cũng là biến thông, duy nói việc phạt thì Tổng lí, Hương trưởng đều phải chém thì chưa được phân biệt. Huống chi nói hình phạt mà không nói thưởng khuyên là thiên về một bên. Xin chước định rằng nếu có việc gian phi phát ra ở chỗ Tổng trưởng ở thì Tổng trưởng cùng với Xã trưởng, Hương trưởng đều xử tội nặng, nếu việc phát ở xã, thôn khác, chỉ bắt tội Xã trưởng, Hương trưởng, còn Tổng trưởng thì nên bắt tội trượng và cách chức. Trong 3 năm, Tổng lí giữ được ninh thiếp, thì do thành thần tâu xin khen thưởng, cho họ phấn khởi. Còn chức Hương trưởng thì cho mỗi làng chỉ đặt một người, cho khỏi bừa bãi. Đến việc cha anh không ngăn cấm được con em, trong ấy nếu biết tình thì nên bắt tội nặng, nếu không biết tình thì xét xử như luật, không nên cũng xử đồng tội. Điều minh thưởng phạt xin bớt lại dịch mà thêm lương bổng, thì lại dịch đã có định ngạch, người nào việc ấy, sao lại bỏ đi một nửa được? Lương bổng cũng đã có lệ, mà chỉ thêm lương cho lại dịch thì còn các chức việc khác thì sao? Duy trước kia chia ban, nay xin để cả mà phát lương dưỡng liêm cũng được rồi. Việc hạn 3 năm xét để thăng truất cũng có thể làm được. Điều khai khẩn ruộng hoang thì thực được ý nghĩa chăm nghề nông làm gốc. Nhưng nói phủ huyện đặt kho thóc thì lại gây thêm cái tệ của người giữ kho xin đem nộp vào kho ở trấn là tiện. Phàm làng ấp mới lập, đều cho thuộc vào huyện như lệ thường, không cần lập thêm danh sắc “quân lực bản” làm gì. Ngày nay Bắc Thành chứa tệ mà hạt Nam Định là nhất, ba điều trên xin đem thi hành ở Nam Định ba năm để xem thành hiệu thế nào”.

Vua nói: “Việc ấy nửa năm cũng đủ, cần gì phải đến 3 năm”. Bèn sai Nguyễn Công Trứ lĩnh chức Dinh điền sứ, hạn 6 tháng tâu lại. Nguyễn Công Trứ bệ từ. Vua dụ rằng: “Nay các hạt Bắc Thành dần yên, nhân dân hơi biết hướng theo giáo hoá có thể nhân cơ hội này, đưa dân về ruộng đất, khiến yên nghiệp làm ăn, dân có của thường thì có lòng thương, bọn trộm cướp tất phải tan đi mà ngầm hoá. Vả lại triều đình khai hoá không cái gì trước việc dạy dân chăm nghề gốc. Nay việc dinh điền đã giao cho khanh phàm việc có thể làm lợi trừ hại cho dân, cho tuỳ tiện mà làm, nên hết lòng xếp đặt sớm báo thành công, để yên ủi lòng trẫm mong đợi”. Hạ lệnh chọn một viên tư vụ, 10 người bát cửu phẩm và vị nhập lưu thư lại đi theo để sai phái.

Công Trứ lại tâu rằng:

“Bình dân Bắc Thành, trước vì giặc bắt hiếp đi theo có đến hàng nghìn sợ hãi trốn biệt không có đường về, không khỏi đi theo những tướng giặc còn trốn. Xin phàm kẻ nào hối quá hoàn lương, thì cho đến sở Dinh điền thú tội, theo sức mà cấp ruộng cho làm. Những chỗ ruộng đất rải rác có thể lập thành làng trại, đủ cho 15 người ở trở lên thì xin lập làm một trại, 18 người trở lên thì lập làm một giáp, đều đặt tên trại trưởng và giáp trưởng trông coi, thế thì đất sẽ không có chỗ bỏ không”. Vua đều y cho. (Trang 719-721, tập II).

[Tháng 9] Lĩnh Dinh điền sứ là Nguyễn Công Trứ dâng sớ xin trừ cái tệ cường hào.

Lời tâu rằng: “Từ lúc Hoàng thượng ta lên ngôi đến giờ, yêu nuôi dân chúng, ơn đức khắp tràn, nhưng mà thiên hạ vẫn chưa được đội ơn thái bình hết. Từ trước đến nay, những người bàn việc đều đổ lỗi cho quan lại mà không biết phần nhiều là tại hào cường. Cái hại quan lại là 1, 2 phần 10, cái hại cường hào đến 8, 9 phần 10, bởi vì quan lại là chẳng qua kiếm lợi nhỏ ở giấy tờ, đòi tiền ngoài lệ ở thuế khoá, cái hại gần và nhỏ, việc đã phát lộ, thì giáng cách ngay, rồi cũng biết hối. Còn cái hại hào cường, nó làm con người ta thành mồ côi, vợ người ta thành goá bụa, giết cả tính mạng của người ta, hết cả gia tài của người ta, mà việc không lộ, cho nên cứ công nhiên không kiêng sợ gì. Chỗ nào chúng cũng cùng nhau anh chị, chuyên lợi làm giàu, dối cợt quan lại, để thoả lòng riêng. Có công điền công thổ thì chúng thường thường bày việc thuê mướn làm béo mình, những dân nghèo cùng không kêu vào đâu được. Giáo hoá không thấm xuống dưới, đức trạch không đến khắp nơi, chưa hẳn là không bởi đó. Thậm chí còn ẩn lậu đinh điền, ruộng đến nghìn mẫu không nộp thuế, chỉ đầy túi của hào cường, đinh đến trăm suất không đăng sổ chỉ phục dịch riêng cho hào cường. Nay xin trích lấy một vài người đưa ra pháp luật và bãi lệ thuê mướn ruộng đất công”.

Sớ giao xuống cho đình thần bàn, đều cho rằng: “Cái tích tệ của hào cường, trăm khoé gian dối, trị tội để răn không có gì không nên. Duy ruộng đất công lệ được thuê mướn là để giúp việc khẩn cấp cho nhân dân, mà chỉ dùng về việc công mà định hạn chỉ 3 năm. Lúc mới dựng nước đặt ra lệ ấy, thông biến để tiện cho dân đủ làm phép thường, mà bọn hào cường chuyên lợi riêng cho mình là tệ do người chứ không phải pháp luật không tốt. Huống chi Bắc Thành to rộng như thế, sao lại không có một vài người bây thiếu. Nếu cấm chỉ hẳn việc thuê mướn ruộng đất công, thì người giàu xoay xở chẳng khó gì, mà người nghèo thì chẳng khỏi lúng túng, thực sự muốn cứu tệ mà làm quá đáng. Nay xin theo lệ cũ mà làm, mà nêu rõ điều cấm để trừ cái tệ gian dối lằng nhằng thì cũng được rồi”. Vua theo lời bàn.


Tiêu đề: Re: Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép về Nguyễn Công Trứ
Gửi bởi: Noitraitim trong 23 Tháng Tám, 2013, 12:51:42 am
Sách Đại Nam thực lục chính biên chép về Nguyễn Công Trứ (Phần I) – Tiếp

Lại vì việc dinh điền là việc mới bắt đầu làm, cho Nguyễn Công Trứ vẫn ở lại làm việc, đợi đến cuối năm về kinh phục mệnh. (Trang 766-767, tập II).

[Tháng 10] Lấy Thự Thượng thư Lễ bộ là Nguyễn Khoa Hào làm Thự Thượng thư Binh bộ, Hữu Tham tri Lễ bộ là Nguyễn Đăng Tuân làm Tả Tham tri Lễ bộ vẫn quyền lĩnh Khâm thiên giám. Thự Hữu Tham tri Hộ bộ là Lí Văn Phức làm Thự tả Tham tri, Hữu Thị lang là Thân Văn Quyền làm Thự Hữu Tham tri, Tả Thị lang Hình bộ là Nguyễn Công Trứ làm Thự Hữu Tham tri, Tả Thị lang Binh bộ là Trương Minh Giảng làm Tả Thị lang Hình bộ, Hiệp trấn Hà Tiên là Vũ Du làm Hữu Thị lang Công bộ. (Trang 777, tập II).

[Tiếp đó, cũng trong tháng 10] Bắt đầu đặt huyện Tiền Hải thuộc phủ Kiến Xương, Nam Định. Một dải Tiền Châu liên tiếp bãi biển. Trước kia cây cỏ rậm rạp, bọn cướp hay tụ họp ở đấy, không ai dám đến gần; Đã có câu nói: “Ai dám đến đùa quấy ổ giặc mà chơi”. Lĩnh Dinh Điền sứ Nguyễn Công Trứ đến nơi, chiêu tập phủ dụ lòng người mới yên. Bèn đem đất Tiền Châu cùng đất đối ngạn bên tả, bên hữu đo đạc đất hoang chia cấp cho dân nghèo, thành 14 lí, 27 ấp, 20 trại, 10 giáp, số đinh được hơn 2.350 người, số ruộng được hơn 18.960 (lí 600 mẫu, ấp 400 mẫu, trại 200 mẫu, giáp 120 mẫu. Cứ 100 mẫu, trừ đình chùa, thổ trạch đất mạ, đất già 30 mẫu, còn thành điền 70 mẫu. Trong số 15 mẫu thì định làm nhất đẳng một mẫu, nhị đẳng 2 mẫu, tam đẳng 12 mẫu).

Nhân thể đất liền lạc mà chia thành 7 tổng, tâu xin lập riêng một huyện gọi là huyện Tiền Hải, chọn lấy người nào hợp với người và đất bổ làm Tri huyện để vỗ về chăn nuôi. Lại được 4 lí, 4 ấp, 1 trại ở hai xã Ninh Cường, Hải Cát. Xin biệt lập làm 1 tổng thuộc huyện Nam Châu, được 5 ấp, 2 trại, 3 giáp ở tổng Hoành Nha, cũng biệt lập một tổng thuộc huyện Giao Thuỷ. Còn các ấp trại linh tinh đều theo tổng sở tại mà lệ thuộc. Về nhà cửa cùng trâu cày nông cụ của dân thì xin lấy tiền nhà nước chi cấp để dân được yên nghiệp làm ăn. (Tiền nhà cửa mỗi lí cấp 100 quan, mỗi ấp 60 quan, mỗi trại 30 quan, mỗi giáp 20 quan. Tiền trâu cày mỗi lí cấp 300 quan, mỗi ấp 180 quan, mỗi trại 90 quan, mỗi giáp 60 quan. Tiền nông cụ mỗi lí cấp 40 quan, mỗi ấp 24 quan, mỗi trại 12 quan, mỗi giáp 8 quan).

Vua y lời tâu. Bèn lấy Tri huyện Quỳnh Lưu là Vũ Danh Dương (người Sơn Nam) làm Tri huyện Tiền Hải. Sai Trấn thần chọn đất đặt huyện lỵ, tạm phái 5 người trấn lại, 20 người lính lệ theo để sai phái, hạn trong một năm, mộ đặt lại lệ đủ ngạch. Lại đặt một đồn, do thành thần phái quản cơ hay phó quản cơ đem 100 lính đóng giữ địa hạt để tuần phòng.

Trứ lại tâu rằng:

“Dân nghèo còn hơn 1000 người xin lĩnh ruộng hoang để khai khẩn. Trộm thấy ở các huyện Yên Khánh, Yên Mô thuộc Ninh Bình, cùng chỗ đối ngạn với huyện Nam Châu thuộc Nam Định, một dải bãi biển còn nhiều đất hoang rậm, đất cấy lúa được chẳng kém gì Tiền Hải. Xin đến đo đạc để lập thành ấp lí”.

Vua sai Trứ cùng với đạo thần hội làm. Trứ thấy lại dịch cùng với hào cường có nhiều kẻ thông đồng gian giấu, bèn tâu xin đưa ra xử trị. Phàm ruộng đất lậu đều đem đạc hết.

Vua dụ rằng: “Cái thói điêu gian vẫn là đáng ghét. Nhưng lập pháp nên làm thế nào để tốt về sau, không nên hà khắc tỉ mỉ. Cần xem trong đó mà châm chước, khiến kẻ điêu gian sợ phép mà đổi mới, dân nghèo được nhờ lợi, mới hợp với đại thể của triều đình”. (Trang 778-779, tập II).

Kỉ Sửu, Minh Mệnh năm thứ 10, 1829.

[Tháng 3] Bắt đầu đặt huyện Kim Sơn, lệ vào phủ Yên Khánh, Ninh Bình. Lĩnh Dinh điền sứ là Nguyễn Công Trứ, ở phía ngoài đê Hồng Lĩnh đo được số ruộng hoang là 14.620 mẫu, chia cấp cho dân nghèo hơn 1.260 người. Lập thành 3 làng, 22 ấp, 24 trại và 4 giáp chia làm 5 tổng, tâu xin đặt riêng một huyện gọi là Kim Sơn, chọn người hợp với địa phương làm Tri huyện để phủ dụ khuyên bảo. Nhà ở, lương tháng, trâu cày và điền khí của dân thì do quan cấp cũng như lệ huyện Tiền Hải. Ruộng thực canh và ruộng khẩn thành điền thì bắt đầu từ năm nay đánh thuế; ruộng lưu hoang thì năm Minh Mệnh thứ 13, bắt đầu thu thuế.

Vua cho là được. Bèn sai chọn đặt Tri huyện, chế ấn triện cấp cho, dựng huyện lỵ ở làng Quy Hậu, mộ lập lại và lệ đủ số (Đề lại 2 người, thông lại 8 người thuộc lệ 50 người), hàng năm cấp tiền công nhu 50 quan.

Công Trứ lại dâng sớ nói:

“Những làng ấp mới lập của các huyện Tiền Hải, Kim Sơn đều là nhóm họp dân phiêu lưu chưa có liên hệ với nhau. Xin định qui ước khiến họ biết sự kiềm thúc, lâu sẽ thành quen:

1. Đặt trường học:

Mỗi ấp, mỗi làng đều dựng nhà học, đón một thầy học, làng thì lấy ruộng 10 mẫu, ấp thì 8 mẫu làm học điền, miễn đánh thuế. Ruộng học điền ấy, phải góp sức cùng làm, đầy năm thu hoạch, lưu làm học bổng. Người đến 8 tuổi thì cho vào trường học, dạy cho các việc quét rửa, ứng đối, tới lui, các phép hiếu, trung, tín, kính, nhường rồi sau mới dạy văn hữu. Đến khi 16 tuổi đã hơi thành tựu thì theo thứ tự mà cho lên trường huyện, phủ, trấn. Nếu học không được thì cho đổi nghề khác. Đến như trại giáp thì mỗi trại lấy 5 mẫu, giáp lấy 3 mẫu mà phụ vào ấp hay làng.

2. Đặt xã thương: (Kho thóc ở xã)

Ấp và làng đều đặt xã thương chọn người tin cẩn để giữ, phàm ruộng khai khẩn thành điền, 3 năm về trước còn được miễn thuế, thì mỗi mẫu lấy 30 uyển thóc, đến sau đã thu thuế thì mỗi mẫu lấy 20 uyển, nộp vào kho. Khi thóc kém thì bán ra, khi hơn thì đong vào. Gặp thuỷ hại bất thường thì chiếu khẩu phần mà cấp cho, năm được mùa thì lại thu chứa y số.

3. Siêng dạy bảo:

Ấp, làng đều có Ấp trưởng, Lí trưởng. Lại lấy 25 nhà làm một tư có Tư trưởng, làng đặt thêm 2 Tư trưởng, ấp đặt thêm 1 Tư trưởng, do quan địa phương cấp bằng, theo các Ấp trưởng, Lí trưởng mà trông nom dân. Trong hạt mình cai quản, như có kẻ bất hiếu, bất đễ, bất thuận, bất kính cùng là du thủ du thực, giao kết với côn đồ thì phải nghiêm ngặt răn cấm, ví còn quen giữ nết xấu thì phải trình với Hữu ty xét xử. Nếu dụng tình giấu giếm thì Ấp trưởng và Tư trưởng cũng phải tội.

4. Cẩn phòng thư:

Phàm trong tổng có giặc cướp, phát ở chỗ nào, ở lí thì Lí trưởng cùng Tư trưởng, đem dân phu 30 người, ở ấp thì Ấp trưởng đem dân phu 26 người, theo Tổng trưởng, đến cứu gấp. Nếu thế lực không địch nổi, thì phải lẻn theo phía sau cho kì cùng dò xem giặc ẩn nấp ở đâu thì phải phi báo quan sở tại cùng các nơi lân tiếp cùng đến vây bắt cho được, để xử án. Nếu theo bắt bất lực, để bọn giặc chạy xa thì chiếu số của cải sự chủ mất thì bắt các Ấp, Lí trưởng trong tổng bồi thường.
Cai tổng, Lí trưởng, Ấp trưởng, Tư trưởng, đều theo luật trị tội.

5. Chăm khuyên răn:

Dân thường ở ấp, lí, có kẻ không theo phép thường, không chịu làm ăn, đã chuẩn cho Ấp, Lí trưởng được sát hạch, quan địa phương thì phải thời thường đi tuần xem xét, vào nơi nào, thấy phong tục thuần hậu, ruộng đồng mở mang, nhà không có người ăn chơi, đất không có nơi bỏ hoang, trong 3 năm, người cai quản không can án, thì cứ thực đề đạt mà chờ nêu thưởng. Nếu nhân dân lười biếng, đồng ruộng bỏ rậm, tập tục gian dâm, cùng nhau kiện tụng, thì Ấp trưởng, Lí trưởng đều bị chiếu luật trừng trị, chọn người cẩn tín nhanh, giỏi làm thay”.


Tiêu đề: Re: Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép về Nguyễn Công Trứ
Gửi bởi: Noitraitim trong 23 Tháng Tám, 2013, 12:56:18 am
Sách Đại Nam thực lục chính biên chép về Nguyễn Công Trứ (Phần I) – Tiếp

Vua giao xuống đình thần bàn. Cho rằng: “Việc dạy dân hoá tục, cố nhiên quan hệ ở khi đầu, mà thi hành phép trị phải có thứ tự, cũng nên cân nhắc việc hoãn, việc gấp. Trong lời xin của Công Trứ việc mở trường học vốn là một việc trong vương chính, nhưng làm ở khi dân đã đông lại giàu thì tốt, nếu làm ở khi dân lưu tán, mới nhóm thì chưa phải là việc cần kíp. Việc đặt xã thương, cũng là một mối chính trị hay. Song làm xã thương trước hết phải có của công, rồi sau tuỳ năm thu vào hoặc tán ra. Như hai huyện mới khai khẩn, số thu vào một năm chỉ đủ chi một năm, mà hạn mỗi mẫu lấy 30 uyển nộp kho, thì bữa ăn hàng ngày ở trước mắt cũng không đủ, còn đâu mà để dành phòng cứu đói khi khác, cũng chằng là việc hoãn làm trước việc gấp làm sau đấy ư! Điều này đợi sau sẽ thi hành, ngày nay chưa thể làm vội. Việc đặt Tư trưởng để chăm dạy bảo, thì làng đã có Lí trưởng chịu trách nhiệm hết việc trong làng; huống chi làng to đinh từ 50 người đến 150 người thì có lệ đặt một phó Lí trưởng, từ 150 người trở lên thì đặt thêm 2 phó Lí trưởng, sao đến nỗi làm việc không khắp mà phải đặt Tư trưởng thêm nhiều danh sắc như thế. Đến việc cẩn phòng thư và chăm khuyên răn thì đại ước việc đuổi bắt trộm cướp là trách nhiệm ở Tổng, Lí trưởng. Vả lại năm ngoái bàn định điều lệ đặt Lí trưởng và chương trình bầu Cai tổng, trong đó đã trách việc xét bắt kẻ oa trữ và giặc cướp, khuyên răn kẻ gian điêu, mong cho lầm lỗi thì răn bảo nhau, xóm giềng giữ nhau, ai làm xứng chức thì có thưởng, không xứng chức thì phạt, các qui điều thiết lập rành rành có thể căn cứ, xin do trấn thần Nam Định, đạo thần Ninh Bình sao lục nghị định trước mà gửi khắp cho bọn tổng lí vâng theo là được rồi”.

Vua cho là phải. (Trang 843-845, tập II).

[Tháng 4] Lĩnh Dinh điền sứ Nguyễn Công Trứ dâng sớ rằng:

“Trước ở Nam Định lượng đo số ruộng bỏ không ở các xã huyện Giao Thuỷ mà chia lập làng ấp. Có dân xã Liêu Đông là Phạm Nguyên Trung đem 70 lạng bạc nhờ người theo hầu là Lê Đình Thọ kêu xin, lại có dân xã An Đạo là Ngô Huy Phác đem 90 lạng bạc đến nơi ngụ sở kêu xin, đã đem người và tang đến Nam Định giam giữ để đợi án”.

Sớ giao xuống quan Bắc Thành tra bàn, cho rằng Công Trứ vâng mệnh đi dinh điền, có trách nhiệm vỗ về khuyên bảo. Nếu biết tự mình trong sạch mà giữ công bằng lấy uy tín dạy người thì ai còn dám tư túi. Bọn Phạm Nguyên Trung kia đem của đi van, ấy là dân hèn dùng kế trốn tránh; Lê Đình Thọ, nhận lời người nhờ cậy, chẳng qua là một người thuộc tòng, sao nên quá trách. Về phần Công Trứ thì nên tự xét và bảo cự tuyệt đi mà răn là phải. Nay lại bắt số bạc tang mà bày tỏ ở chương sớ, làm rác tai vua, thế là tự trị không nghiêm mà lại khép người vào pháp luật để cầu mua tiếng ngay thẳng cho mình đều là không phải việc nên làm của người quân tử. Xin giáng 3 cấp đổi nơi khác. Còn bọn Phạm Nguyên Trung thì phạt xuy, trượng rồi tha.

Vua bảo bầy tôi rằng: “Xét án thì phải tình lí thích đáng mới có thể phục được người. Nguyễn Công Trứ trù biện việc dinh điền, quả thật giữ được trong sạch công bằng thì cũng chỉ ở chỗ hết lòng mình thôi. Còn như Phạm Nguyên Trung và Lê Đình Thọ manh tâm trong tối, cầu cạnh, xin xỏ, thì làm sao biết trước được mà ngăn ngừa, bọn Nguyên Trung là đáng tội mà lại bảo không nên quá trách, sao thấy lí mờ tối thế? Vả trong án xét không có sự trạng rõ ràng sách nhiễu lấy tiền, thế là Công Trứ trị tội không phải không nghiêm. Duy nhận hối lộ có bạc tang ở đó mà người nhận, chúc thác lại là người nhà, nếu chỉ cự tuyệt và răn như lời thành thần nói, thì người nhà sách nhiễu mà bản quan tự tha, như thế có được không? Công Trứ không dám ẩn giấu, rõ ràng tâu lên, mà lại cho là làm nhàm tai là thế nào? Huống chi bọn Nguyên Trung tự phạm pháp luật chứ ai đặt vào? Công Trứ đi theo đường thẳng, tại sao lại cho là mua tiếng ngay thẳng. Đó chẳng qua là ý kiến sai lầm cho nên bất giác đã bàn quá đáng. Vậy truyền chỉ nghiêm trách thành thần mà Công Trứ thì miễn nghị”. (Trang 853-854, tập II).

[Tháng 5] Thự Hữu Tham tri Lĩnh Dinh điền sứ Nguyễn Công Trứ về Kinh phục mệnh, nhân tâu rằng:

“Khi trước đo đạc số ruộng hoang ở Ninh Bình, có khu ruộng, đất hoang ở xã Bồng Hải, khi bắt đầu phái đạc thì trội ra hơn 720 mẫu, dân không chịu kí nhận. Lại phái đạc lại chỉ trội lên có hơn 300 mẫu, ấy đều là do tệ lại dịch hào cường thông đồng giấu bớt. Muốn cứu xét lại thì địa thế xứ ấy là rộng, không phải 1, 2 tháng mà làm xong được nên không dám lưu lại để làm. Nay xin sắc cho đạo thần đạc lại, lấy số ruộng trội chia lập làng ấp, để gây nghiệp cho dân nghèo, mà trị tội kẻ gian giấu”.

Sớ giao xuống đình thần duyệt bàn. Cho là: “Ruộng đất rộng hẹp, nhất định không di dịch, sao lại có lí mới đạc thì trội nhiều, mà đạc lại lại ít đi. Nay nếu cứ địa giới Bồng Hải mà đạc hết cả, đem số ruộng hiện tại trừ vào ngạch hiện treo, thì đất chia rõ như bàn tay. Kẻ điêu xảo không thò ngón được, mà ruộng lậu có thể trích phát được. Duy nghĩ rằng, chính sách của vương giả, trước là dạy bảo, sau là hình phạt, mà người nhân đức đối với dân nên tỏ lượng rộng rãi dung thứ. Vậy việc khám đạc xin tạm đình hoãn. Nhưng dụ sai đạo thần, đòi họp bọn hào trưởng của dân đến tại công đường mà dẫn bảo khiến tự biết sợ hãi, hối cải. Xứ nào ẩn lậu bày thú cho hết, thì tội đáng bị cùng lệ thuế đáng thoái thu đều được khoan miễn. Nếu cứ một mực mờ ám ngoan ngạnh, cố ý gian lậu, đến khi phái viên khám đạc xét ra thì ẩn lậu tự 1 mẫu trở lên sẽ gia bậc trừng trị. Như thế thì kẻ ngu bướng được có đường đổi mới, mà ruộng hoang lậu không phải phiền về đo đạc nữa, mà dân mọn đều được hưởng lợi”.

Vua cho là phải. Rồi sau dân ấy thú nhận ruộng lậu hơn 630 mẫu và số ruộng hoang đã khai khẩn mà lậu thuế hơn 400 mẫu. Đạo thần tâu lên, vua đặc ân sai làm sổ đánh thuế mà tha tội. (Trang 857-858, tập II).

[Tháng 7] Hạt phủ Thừa Thiên có thuyền buôn chở thuê cho người Thanh đi đong gạo. Việc phát, phủ thần khinh suất nghị xử người mua trộm cùng người chở gian đều tội trượng, người biết chuyện (mà không tố cáo), tội xuy. Hình bộ duyệt lại, không trích ra việc ấy. Lang trung Vũ Đức Mẫn dâng bài lục đầu (Thẻ bài ghi chép đầu mục các án) lại không dâng bản án, chỉ đem phiếu nghị án tiến trình thôi. Vua chiểu nghị phê điểm. Sau liền nhớ ra, sai tìm bản án; thấy án ấy nghị xử có nhiều chỗ buông nhẹ, giao xuống bộ Lại bàn. Bộ xin xử tội quan đường bộ Hình giáng 2 cấp và đổi đi. Vũ Đức Mẫn cùng phủ thần Thừa Thiên giáng 3 cấp đổi đi.

Vua gia ân cho bộ thần Hoàng Kim Xán, Nguyễn Công Trứ và Nguyễn Danh Giáp, đổi giáng 1 cấp lưu. (Trang 877, tập II).

[Tháng 8] Dời đặt đồn Liêu Lạc ở Nam Định. Trước kia Lĩnh Dinh điền sứ Nguyễn Công Trứ tâu rằng:

“Cửa biển Liêu Lạc ở Nam Định, thuyền bè công tư từ Gia Định ra Bắc đều do đường ấy mà đến Bắc Thành, giặc biển tất cũng rình chờ ở đó, thật là quan yếu. Từ trước đến nay, thủ sở đặt ở xã Quần Liêu, cách biển đã xa, binh giữ lại ít. Nếu thấy giặc biển, tất phải phi báo, đợi được thuỷ binh thành trấn tới nơi thì bọn giặc đã lảng đi về đông rồi. Thế là nơi quan yếu chỉ là đặt khống, giặc biển không yên được là vì đó. Thần từng đi qua nơi ấy, từ đồn Liêu Lạc trở xuống ước hai dặm, có một giải phù sa gọi là Đột Châu có thể đóng đồn được. Từ đấy đến biển chỉ chốc lát, ở chòi canh trông bốn bề xa đến đâu cũng thấy. Xin dời đồn Liêu Lạc đến đặt ở đấy.

Lại phái quản vệ 2 người, quản cơ 1 người, chiến thuyền 10 chiếc, đóng giữ đồn sở. Như thấy thuyền giặc qua lại trên biển, đem binh thuyền đóng thú đuổi bắt ngay, thì việc binh không đến nỗi chậm trễ nhỡ việc. Không những trừ tuyệt được bọn giặc biển nhỏ mọn ấy, mà bọn người Thanh vô lại cũng không dám dòm ngó hải phận ta nữa. Lại từ Nam ra Bắc, đường bộ do núi Tam Điệp, đã có đồn Bỉm Sơn (thuộc Thanh Hoá) lại có đồn Lí Nhân (thuộc Ninh Bình) đủ để hỏi xét, còn đồn Bồng Hải ở đối ngạn với đồn Liêu Lạc không phải đường chính thì nên bỏ đi”.

Vua sai quan Bắc Thành họp bàn với quan các Tào để tâu. Đến nay lời bàn tâu lên, cho là chỗ mà Công Trứ xin dời đặt đồn Liêu Lạc, 3 mặt Đông, Tây, Bắc đều là sông lớn, phía Nam giáp biển lớn, không phải là nơi dụng võ. Từ đấy qua sông Lạch Ngang, có một bãi cát, địa thế cao ráo, phía đông, tây, nam có sông lớn quanh, bắc giáp đồng ruộng, cách cửa Liêu hơn l.800 trượng, cửa Lạc hơn 1.600 trượng, mà đến biển cũng hơi gần, phàm thuyền ghe ra vào hai cửa biển ấy tất phải qua đấy. Nay xin bỏ hai đồn Liêu Lạc, hợp làm một đồn ở đấy, phái Quản cơ các quân một người lấy bản chức mà lĩnh chức án bảo kiêm việc thủ ngự, giản binh 1 Cai đội, 50 binh, mộ binh 1 Suất đội, 50 binh, thủy quân 1 Đội trưởng, 20 binh, cùng 4 chiếc ô thuyền cho lệ theo để đóng giữ. Phàm thuyền buôn đi lại thì xét hỏi, thuyền công ra vào thì hướng dẫn hộ vệ, khi vô sự thì theo hạt của mình mà tuấn xét, hữu sự thì tuỳ cơ đuổi bắt. Như thế mới nghiêm được việc phòng bị mà cương giới mặt biển mới yên ổn. Đến như đồn Bồng Hải thì thuộc riêng hạt Ninh Bình, từ Thanh Hoa ra Bắc, do đường quan lộ thì có đồn Bỉm Sơn, đồn Lí Nhân, theo dọc biển thì có đồn Chính Đại, đồn Càn và đồn Bồng Hải, cũng làm môi và răng giữ gìn nhau. Nay đồn Liêu Lạc đã dời xuống hạ lưu, mà đồn ấy lại bỏ thì nơi hai trấn giáp nhau, ví thử có kẻ gian tà thông đồng đi lại, hội họp nhau, thì ai hỏi xét. Vậy đồn Bồng Hải xin chớ bỏ. Vua theo lời bàn. Khi đồn làm xong, đặt tên là đồn Bình Hải. (Trang 889-890, tập II).

(1) Khảo theo Đại Nam thực lục chính biên, Quốc sử quán Triều Nguyễn, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2002.

(1) Lúc này Nguyễn Công Trứ 26 tuổi; 4 năm sau ông dự khoa thi Hương đầu tiên dưới triều Gia Long nhưng trượt; năm 1813 ông đi thi lần 2, đậu sinh đồ; năm 1819 ông đi thi lần 3 đậu Giải nguyên.

(1) Trong số đó có Nguyễn Công Trứ.


Tiêu đề: Re: Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép về Nguyễn Công Trứ
Gửi bởi: Noitraitim trong 23 Tháng Tám, 2013, 12:57:57 am
Sách Đại Nam thực lục chính biên chép về Nguyễn Công Trứ (Phần II)

Canh Dần, Minh Mệnh năm thứ 11, 1830.

Bọn sung luật lệ Tổng tài Hoàng Kim Xán, Phó Tổng tài là Lương Tiến Tường và Toản tu là Bùi Phổ, Biên tu là Lê Nguyên Trung đều tạm nghỉ việc ở bộ để chuyên làm việc hiệu chính luật lệ. Sai Thự Hữu Tham tri Hộ bộ là Ngô Phúc Hội, Tả Thị lang Hoàng Quýnh quyền giữ ấn triện Hộ bộ. Thự Tả Tham tri Hình bộ là Trương Minh Giảng, Thự Hữu Tham tri là Nguyễn Công Trứ quyền giữ ấn triện Hình bộ, phàm việc thường thì cho được tự làm, như có việc quan yếu thì phải nói với Kim Xán với Tiến Tường rồi mới được làm. Bọn Kim Xán thấy công việc luật lệ điều khoản nhiều lắm, tâu xin cho rộng thêm kì hạn. (Trang 44, tập III).

[Tháng 5] Thự Tham tri Hình bộ là Nguyễn Công Trứ tâu rằng:

“Từ Vĩnh Thanh trở về Nam đến Hà Tiên, đất rất màu mỡ, mà những ruộng cấy lúa được chưa khai khẩn hết. Xin đem các tù phạm an tháp ở đấy”.

Vua nói rằng: “Ngươi mới biết một, chưa biết được hai. Hà Tiên là chỗ biên thuỳ, tiếp giáp nước Xiêm, nếu thả cả bọn tù phạm ra đấy, quan sở tại quản thúc có chỗ không chu đáo, một khi chúng trốn đi, ở nước ta thì chúng là người có tội, đến nước khác thì chúng lại là người có công, tệ hại sẽ không nói xiết”. (Trang 62, tập III).

Tân Mão, Minh Mệnh năm thứ 12, 1831.

[Tháng Giêng] Thự Hữu Tham tri Hình bộ là Nguyễn Công Trứ và Thự Hiệp trấn Nam Định là Nguyễn Nhược Sơn đều bị phạt giáng chức. Trứ trước đi doanh điền ở Nam Định có tên quyền sai đội trưởng ở trấn là Phí Quý Trại có tiếng là hào phú, từng được theo đi để sai phái, đến nay Nhược Sơn vào chầu, Trại theo đi. Trứ với Nhược Sơn cùng bảo cử Trại làm Huyện thừa huyện Tiền Hải, Tả Thị lang Hộ bộ là Hoàng Quýnh trước đã làm việc ở Nam Định biết Trại không có tài năng gì khác, chỉ lo lợi riêng mà cầu cạnh, bèn dâng sớ hặc, đại lược nói rằng: “Trại chỉ là một kẻ hào phú ở Nam Định, ruộng đất công tư bị nó bao chiếm, dân nghèo vô sản nghiệp bị nó sai khiến, nếu việc cất nhắc này mà đắt, không những bọn sĩ phu khoa mục cống cử làm phủ huyện ở ngoài xấu hổ phải đứng cùng hàng mà một huyện Tiền Hải, tất lại sẽ là một nơi sào huyệt những kẻ trốn tránh. Huống chi quan tước là do các Tiên đế cùng Thế tổ Cao hoàng đế để lại cho hoàng thượng để đãi kẻ hiền tài trong thiên hạ, cho nhà nước dùng, cho nên dù một tự hay nửa cấp hoàng thượng cũng chưa từng lấy tình thân ái mà cho riêng ai. Hai gã kia nghĩ thế nào, mà dám lấy quan tước của triều đình làm cái quà của mình để thù đáp riêng. Xin trị tội để ngăn chặn con đường cầu cạnh, mà răn những kẻ bề tôi dối vua làm riêng”. Vua xuống chỉ khiến bọn Trứ tâu trả lời và giao cho đình thần đối chất nghị xử. Khi lời nghị tâu lên xin đều xử cách chức. Vua đặc ân đổi giáng bổ Trứ làm Tri huyện Kinh huyện, giáng bổ Nhược Sơn làm Tri huyện Tiền Hải. Phạt Quý Trại 100 trượng và truy thu lại văn bằng của thành, bắt phải về dân. (Trang 129-130, tập III).

Nhâm Thìn, Minh Mệnh năm thứ 13, 1832.

[Tháng Giêng] Dùng Nguyễn Công Trứ, người đã có chỉ giáng bổ Kinh huyện, làm Viên ngoại lang Nội vụ phủ. (Trang 273, tập III).

Sai Nội vụ phủ Viên ngoại lang Nguyễn Công Trứ và Bạch Xuân Nguyên hiệp cùng Thị lang Trần Chấn làm hộ lí ấn quan phòng của Nội vụ phủ, hễ có tấu sớ chuẩn cho cùng kí tên tâu lên. (Trang 274, tập III).

[Tháng 3] Thăng Nội vụ Viên ngoại lang Nguyễn Công Trứ lên Thự Lang trung cùng với Viên ngoại lang là Bạch Xuân Nguyên quyền giữ ấn quan phòng của Nội vụ phủ. (Trang 294, tập III).

[Tháng 5] Thự Bố chính Hải Dương là Hoàng Tế Mĩ vì bị lỗi, giáng luôn nhiều cấp, bèn ra lệnh cách chức, phải theo bộ Lễ ra sức làm việc để chuộc tội. Cho Nguyễn Công Trứ Lang trung Nội vụ, thăng Thự Bố chính Hải Dương. Điều Nguyễn Đình Tân Thự Lang trung bộ Công đi làm Thự Lang trung Nội vụ phủ. (Trang 314, tập III).

[Tháng 8] Cho Nguyễn Công Trứ làm Bố chính Hải Dương. (Trang 354, tập III).

[Tháng 9] Đổi bổ Tổng đốc Hải - Yên là Nguyễn Kim Bảng làm Tổng đốc Hà - Ninh, Lê Đại Cương lại về cung chức ở Sơn - Hưng - Tuyên.

Dùng Bố chính Hải Dương là Nguyễn Công Trứ làm Tuần phủ Hải Dương tạm giữ ấn quan phòng Tổng đốc Hải - Yên. (Trang 365, tập III).

[Nguyễn Bảo, tên phỉ trốn ở Quảng Yên, tụ họp hơn 10 chiếc thuyền của Thanh phỉ vào quấy phá, quan binh không dẹp được]. Vua dụ: “Vậy sai Lê Đạo Quảng tức khắc họp nhiều binh thuyền, hương dõng thượng khẩn đi nã bắt. Lại truyền dụ cho Thự Tổng đốc Nguyễn Công Trứ chọn ngay một viên lãnh binh được việc và 300 biền binh đầy sinh lực, chia nhau ngồi thuyền đi hội tiễu, không được trì hoãn một khắc nào”. Bây giờ vừa gặp tờ sớ xin đi trận của Công Trứ dâng đến. Vua dụ rằng: “Chí ngươi đáng khen, nhưng công việc ở tỉnh bề bộn, ta đã sai lựa một viên lãnh binh được việc có thể tin cậy để sai phái, ngươi hãy lưu lại ở tỉnh làm việc. Nếu bất chợt được tin báo về tình hình quan trọng khẩn yếu thì cho chuẩn một mặt tâu lên, một mặt thân hành đốc suất binh thuyền kíp đi, liệu cơ đánh dẹp”. (Trang 367-368, tập III).

[Tháng 9] Thự Tổng đốc Hải - Yên là Nguyễn Công Trứ tâu nói:

“Tỉnh Quảng Yên nhiều đất bỏ hoang, những chỗ có thể khai khẩn được hàng nghìn mẫu, duy có điều, dân ở đấy quen nghề đánh cá đi buôn, không thích làm ruộng. Vậy xin phỏng theo cách làm đồn điền xưa liệu phái lính thú, do nhà nước cấp lương ăn đồ dùng, sai đi khai khẩn cày cấy, chỗ nào nên phải đắp đê thì cho đắp lên. Đến lúc thu hoạch cứ số thóc làm được chia làm 3 phần, lấy 2 phần để vào kho, còn 1 phần cấp cho người vỡ ruộng. Sau khi thành ruộng, mộ dân lĩnh cấy, đánh thuế theo lệ công điền”.

Vua dụ sai Nguyễn Công Trứ phải thân đến tận nơi xem xét. Công Trứ liền hội đồng với Thự Tuần phủ là Lê Đạo Quảng chọn chỗ đất khoảng khoát có thể cày cấy được ở ba xã Lưu Khê, Vị Dương (thuộc huyện Yên Hưng) và An Phong (thuộc huyện Hoa Phong) cộng 3.500 mẫu. Nghĩ xin đắp đê chống nước mặn, dài hơn 2740 trượng, lấy lính thú Quảng Yên và phái thêm lính cơ Hải Dương góp sức cùng làm. Khi đê đắp xong liệu cho lưu lại khai khẩn. Vua ưng thuận. (Trang 383, tập III).

Thự Tổng đốc Hải - Yên Nguyễn Công Trứ, tâu nói:

“Trong tỉnh hạt, sông chia nhiều ngả quanh co khúc khuỷu, một dải biển đông có những 4 cửa biển (Ngải Am, Văn Úc, Đồ Sơn, Trực Cát) mà cửa Đồ Sơn rất là xung yếu, cách tỉnh thành ước một ngày đường. Năm trước có đặt đồn bảo Minh Liễn ở phía Bắc cửa biển ấy, cắt quân canh giữ, nhưng không có thuyền đi biển. Gặp khi có giặc biển, tất phải chờ báo tỉnh phái bắt, thì chậm trễ không kịp việc. Vả lại, về phía đông đồn bảo, gần ngã ba sông, trên bờ có một quả đồi khoảng khoát có thể đặt xưởng đóng thuyền. Sau có một gò đất cao, có thể đóng thuỷ quân sự. Vậy xin liệu phát cho 3 chiếc vừa thuyền ô vừa thuyền lê đặt xưởng ở đấy, rồi chọn lấy một quản cơ hoặc phó quản, 6 suất đội, 200 lính tả quân, 100 thuỷ quân đến đóng đồn ở đó. Nếu thấy thuyền giặc thấp thoáng ngoài khơi tức thì một mặt phi báo, một mặt đuổi đánh mới có thể khỏi sự chậm trễ, lỡ việc”.

Vua y theo. (Trang 384-385, tập III).

[Tháng 10] Tổng đốc Hải - An là Nguyễn Công Trứ, Tuần phủ Lạng Bình là Hoàng Văn Quyền và Tuần phủ Hưng Yên là Nguyễn Đức Nhuận đều thăng Thự hàm Tham tri bộ Binh, vẫn làm chức cũ. (Trang 391, tập III).

[Trong tháng ấy] Thự Tổng đốc Hải - Yên Nguyễn Công Trứ tâu nói:

“Gần về phía Bắc núi Đông Tràng ở hải phận Vân Đồn thuộc Quảng Yên, có núi Tây Hiền. Từ bên tả núi này đến Bạch Long Vĩ là Vụng Ba Làng. Năm trước, đã hỏi những người thủ hạ lão luyện về đường biển, đều nói những nơi ấy nhà ở đông đúc, không khác trung châu, phong tục hơi giống thời cố Lê; duy từ xưa đến nay, không nộp thuế, tiền cống. Giặc biển thường lấy đó làm chỗ đóng. Xét ra quan quân 2 tỉnh trước sau đánh lấy hơn 10 chiếc thuyền giặc. Chúng đã bị thua rồi lại kết đảng kéo đến ngay. Nếu không có chỗ tụ tập, sao nhanh chóng được thế? Vả lại xưa, giặc biển lén lút ló ra phần nhiều ở Hải phận Đồ Sơn thuộc tỉnh hạt. Nay chỉ có kế là dụ cho nó đến. Xin chọn lấy 200 người thủ hạ khá giỏi lội nước và 15 chiếc thuyền đánh cá nhanh nhẹn để làm kì binh, lại chọn lấy những nhân viên được việc trong tỉnh, cùng những biền binh đầy sức sống, tài bơi lội, chuẩn bị khí giới để đợi sẵn. Rồi mật sai các binh thuyền tuần dương rút về. Quân giặc thấy không có quân phòng bị, tất sẽ lại đến. Khi được tin báo, quan quân ta sẽ lập tức đi ngay, tuỳ cơ chặn bắt, sẽ có thể được toàn thắng. Nếu không thế thì xin cho thần thân đem thuỷ sư, cưỡi gió, rẽ sóng, đánh khắp sào huyệt giặc, đến tận Tây Hiền và Ba Làng, tuỳ tiện vỗ yên, đánh dẹp”.

Vua dụ rằng: “Ngươi là chức quan to ở biên cương, mắt trông thấy lũ giặc chưa yên e nỗi tro tàn lại bén, cho nên để ý mưu toan, muốn cho biên giới miền biển được yên lặng. Triều đình há có lẽ nào lại không ưu thuận nghe lời xin của ngươi. Nhưng vì Lê Đạo Quảng mới xin gia hạn để quyết diệt phỉ ấy, nếu đang còn trong hạn, đã vội sai rút về, thì Đạo Quảng há chẳng mượn cớ đó để nói cho tắc trách hay sao? Vậy hãy đợi hết hạn Đạo Quảng xin có được thanh thoả hay không sẽ xuống chỉ cho ngươi làm, chưa muộn”.

Trứ lại tâu nói: “Tỉnh Hải Dương còn nhiều tội nhân can án trốn đi. Đối với những chính thứ yếu phạm và tòng phạm, xin làm theo chỉ dụ năm Minh Mệnh thứ 11 [1830]. Đến như những kẻ phạm tội giết người hoặc đốt nhà mà lại bắt được, chém được hay tố cáo để bắt những tên phạm tội giết người hoặc đốt nhà, cũng xin được cho ra thú theo lệ chính, thứ yếu phạm”.

Vua sai bộ Hình bàn định, chuẩn cho hạn từ tháng 11 năm nay đến cuối tháng 4 sang năm, phàm tất cả những người can án trốn đi, luật trước không cho thú, nay nếu biết hối tội quay đầu về tình nguyện ra thú, thì không cứ có kẻ bắt được hay không đều cho cứ thực, làm thành danh sách tâu lên đợi chỉ. (Trang 407-408, tập III).

[Tháng 11] Thự Tổng đốc Hải - Yên là Nguyễn Công Trứ tâu nói:

“Từ trước đến nay, nguyên toàn hạt Bắc Thành hạng giản binh quen thói hư lậu, có khi 5 năm 1 lần đổi, có khi có 3 năm hay 1 năm 1 lần đổi mà trong đó phần nhiều lại thuê mướn người thay trong vòng 1 năm, thay đổi chia phiên ở hàng ngũ không được mấy ngày mới thuộc tiết mục chiêng trống, lại đổi một lũ buôn đay, bán rau đến, động có việc điều khiển, thì những phép tiến, lùi, đi đứng, đâm, đánh đều lờ mờ cả nên thường đến nỗi hỏng việc! Ngô Tử có nói: “Sở dĩ bị thua vì ở chỗ bất tiện, chính là thế”. Vậy xin: từ nay, phàm những người dân đi lính nếu muốn đưa người thay thế thì phải chọn con nhà đa đinh, giàu mạnh sức lực, tuổi đến 50 mới được thải về. Nếu còn theo thói thuê mượn như cũ, có tên không thực, hoặc làm khoán ước riêng, tự ý thay đổi cho nhau thì lí trưởng, hương mục đương thứ đều phải tội nặng. Người lính vin vào khoán ước tự tiện bỏ về, sẽ bị xử tội theo luật đào ngũ”.

Vua dụ bộ Binh rằng: “Lời tâu của Công Trứ rất phải. Nay, binh lính là để giữ nước. Những người đã lệ thuộc vào quân lính, tất phải ở lâu trong hàng ngũ để luyện tập thông thạo, gặp việc mới mong làm được đắc lực. Vả lại, những thói tệ hại ấy, từ trước đã nhiều lần nghiêm cấm, thế mà đến nay vẫn chưa bỏ được cái thói quen ấy. Ta tưởng chắc những riêng một hạt ấy như thế, mà các địa phương khác chắc cũng không ít. Đó đều bởi lũ quân và dân lâu ngày quen thói, nói theo lẫn nhau mà quan địa phương và viên quản suất không chịu để tâm xem đó thôi. Vậy truyền chỉ cho Tổng đốc và Tuần phủ các tỉnh ra cáo thị cho quân và dân trong hạt từ nay nên sửa bỏ vết xấu, nếu không chừa sẽ nghiêm trị cả”. (Trang 418, tập III).

[Tháng 12] Hải phận Đồ Sơn thuộc Hải Dương, có thuyền giặc biển đi qua thẳng về phía Đông. Thự Tổng đốc Nguyễn Công Trứ tâu xin chọn lấy 10 chiếc thuyền chài cho các thủ hạ mang theo khí giới, giả làm thuyền buôn, kéo cả ra biển. Giặc thấy đường biển không có phòng bị, tất đến cướp bóc. Nhân đó góp sức đánh bắt, cũng dễ thành công. Nếu chưa được toàn thắng thì chính thần xin thân hành đến thẳng sào huyệt Tây Hiền, Ba Làng diệt hết mầm ác. Vả lại thủ hạ ấy quá nửa là người Nam Định, xin theo sổ đinh, đòi đến, để điều khiển.

Vua dụ rằng: “Ngươi có chức trách coi giữ bờ cõi 2 tỉnh Hải Dương, Quảng Yên là thuộc hạt người, quân và dân ở đó đều thuộc hạ, há lại tuyệt nhiên không có người nào có thể sai khiển mà lấy người tỉnh khác mới là người sai phái được việc hay sao? Vả lại, ngươi đã là viên quan to, lại còn dùng một hạng người dùng làm thủ hạ đã là vô lí, huống chi trong đám ấy, chắc đâu không có kẻ lí lịch không rõ ràng và những đồ vô lại trà trộn mập mờ đề cầu may kiếm chác hay sao? Vậy các việc xin lấy thủ hạ không cho làm. Nếu ngươi biết tìm cách dẹp giặc để biển được yên, đó là chức phận của ngươi, thì không kể thuyền công, thuyền tư, cốt ngươi điều khiển được đúng để thành công, ta cũng chẳng ở xa mà ngăn cản. Có điều là ngươi không nên thỉnh cầu những việc chẳng hợp lẽ như thế, sẽ bị giao cho đinh thần nghị xét đấy”. (Trang 433-434, tập III).

[Cũng trong tháng 12] Tên giặc trốn là Trần Hữu Thường ở tỉnh Hưng Yên, năm ngoái, cùng với tên giặc biển là Nguyễn Bảo họp nhau ở Đồ Sơn (thuộc tỉnh Hải Dương) đem đồ đảng đến chùa Bi (thuộc tỉnh Quảng Yên) cùng nhau suy tôn tên tướng giặc Lê Duy Độ làm Minh Chủ: đúc ấn nguỵ, đặt quan chức nguỵ, tên Độ tự xưng là Lê hoàng, tên Thường xưng là Trung quân, tên Bảo xưng là Hậu quân, mưu toan làm việc trái phép. Đến bây giờ, tên Thường bị bộ biền Hưng Yên bắt được giết chết. Việc đó tâu lên. Vua bảo bộ Hình rằng: “Cứ như lời tâu, thì lũ tướng giặc này rõ ràng có người mà đi lại tụ họp, lại có đất, nên sớm dập tắt đi, chớ để lan tràn rộng ra. Vậy truyền chỉ cho Thự Tổng đốc Hải - Yên là Nguyễn Công Trứ tìm cách dò bắt cho kì được lũ Lê Duy Độ, chớ để lọt lưới; còn những quan quân lính tráng Hưng Yên, thưởng cho 50 lạng bạc”. (Trang 449, tập III).


Tiêu đề: Re: Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép về Nguyễn Công Trứ
Gửi bởi: Noitraitim trong 23 Tháng Tám, 2013, 01:00:15 am
Sách Đại Nam thực lục chính biên chép về Nguyễn Công Trứ (Phần II) - tiếp

Quý Tỵ, Minh Mệnh năm thứ 14, 1833.

[Tháng Giêng] Thự Tổng đốc Hải Dương là Nguyễn Công Trứ tâu nói:
“Kẻ đứng nguyên đơn tố giác về việc lậu đinh ít có xác thực, còn những dân bị tố có khi vì thế mà sợ hãi trốn tránh, dần dần trở thành xiêu dạt. Nay gần đến kì tuyển lính, xin thông sức khẩn các hạt: ai có muốn tố giác việc lậu đinh thì cho đưa đơn trong hạn tuyển lính tra xét; nếu tuyển xong mới tố cáo, thì không xét nữa và chiếu luật trái lệnh trị tội”.

Vua bảo bộ Hộ rằng: “Cái tội lậu đinh, trong luật đã nói rõ. Trước giờ chưa từng cấm người tố giác bao giờ. Duy lũ côn đồ hư hỏng, trả thù, báo oán, thường lấy sự đó để đe doạ làng xóm, cho nên ít được thực mà phần nhiều là vu. Văn án hãy còn nhan nhản ra đó. Thói ấy thật đáng ghét! Này các tỉnh Bắc Kì đương kì tuyển lính, nên truyền cho các Tổng đốc, Tuần phủ: sức khắp hạt mình, làng nào có ẩn lậu, cho cứ thực bầy tỏ; rồi Tổng đốc và Tuần phủ hội đồng với các quan khâm mạng tuyển lính làm việc tra xét, hễ kẻ nào tố cáo không thực thì kết tội nặng hơn. Nếu kì tuyển duyệt đã xong, trong số lính, số ngạch đã ổn định, nội một năm không được khiếu nại nữa, để lũ điêu ngoa không còn chỗ khua múa, mà dân ta mới được sống yên”. (Trang 464, tập III).

[Tháng 2] Thự Tổng đốc Hải - Yên là Nguyễn Công Trứ tâu nói:

“Từ tháng chạp năm ngoái đến nay, dân đói ở các tỉnh Hà Nội, Hưng Yên và Nam Định, đến kiếm ăn ở tỉnh Hải Dương có đến hơn 3.000 người, nên giá gạo ngày càng cao”.

Vua dụ bảo rằng: “Trước đây, các tỉnh luôn bị bão, lụt, lúa má thiệt hại khá nhiều. Ta xuống dụ thăm hỏi, lại đem thóc kho hàng mấy vạn, để phát chẩn, bán rẻ và cho vay, tưởng những dân nghèo túng cũng đã tạm sống yên mà làm ăn rồi. Nay hạt ngươi lại có nhiều người xiêu dạt đến kiếm ăn như thế, há nên yên lặng ngồi nhìn? Vậy hãy lấy 1000 quan tiền, 2.000 phương gạo để phân phát cho ngay!”…

Thự Tổng đốc Hải Dương là Nguyễn Công Trứ lại tâu nói:

“Thuộc hạt có các đồn Ngải Am, Văn Úc, Đồ Sơn, Phương Chử và Đồn Sơn, năm trước tạm quyền cho phó tổng và thổ hào sở tại đóng giữ, đem theo ước 30, 40 thủ hạ không chừng. Hằng năm, làm sổ danh sách, chỉ ghi tên suông thôi. Nay xin xét xem đồn nào xung yếu, thì liệu sai biền binh đóng giữ, mà bỏ hết các tên thủ hạ và chức sắc của họ đi”.

Vua chuẩn y. (Trang 472, tập III).

[Tháng 3] Tả phó Đô ngự sử viện Đô sát Hà Duy Phiên tâu nói: “Trước kia, Nguyễn Công Trứ dâng sớ kín tâu xin: Phàm trong tổng, xã nào, có kẻ chứa chấp giặc trốn, bắt người đòi chuộc mà các Tổng trưởng, Lí trưởng và Hương trưởng biết rõ nhưng không tố giác thì đều phải xử tử. Việc đó đã được bàn xét và đã chuẩn cho thử làm ở tỉnh Nam Định 3 năm nay. Đến bây giờ đã 6 năm rồi, thế mà quan sở tại và quan bộ Hình vẫn không phúc tâu, còn cứ theo thế xử đoán, thực e quá nặng”. (Trang 487, tập III).

[Tháng 3] Thự Tổng đốc Hải Dương là Nguyễn Công Trứ tâu báo giá gạo xuống chóng và nói gần đây, dân đói kém đến kiếm ăn ngày càng nhiều, có đến hơn 27.000 người, chọn hơn 3.000 người gầy yếu mà phát chẩn cho. Tiền và gạo hiện đã gần hết, mà ngày lúa chín đợi hãy còn lâu, e khó khỏi chết rấp nơi ngòi lạch.
Vua nói: “Cứ xem sớ tấu, giá gạo đã hạ, ta hơi hả lòng. Duy dân ta, nạn đói chưa khỏi, ta rất áy náy, đã từng xuống dụ cho lấy việc làm để thay phát chẩn rồi. Những kẻ mạnh khoẻ, chắc chắn đã có sự giúp đỡ, còn lũ gầy yếu thì nên phát thêm cho tiền l.000 quan, gạo 2.000 phương, theo nhân khẩu mà phát chẩn cho. Sau đó, vì ngày gặt lúa mới hãy còn lâu, nên lại dụ sai liệu thêm tiền và gạo để tiếp tục phát chẩn”. (Trang 489, tập III).

[Tháng 4] Thự Tổng đốc Hải - Yên là Nguyễn Công Trứ tâu nói:
“Những phạm nhân đi trốn đã ra thú, hiện được hơn 200 người, mà hạn cho ra thú đã hết. Lũ giặc nhân ở các hạt khác, hễ có ai cũng muốn xin đến thú thì xin nên chuẩn cho”.

Vua dụ rằng: “Trước đây, cứ theo lời ngươi xin, ta thực muốn mở ba mặt lưới để cho kẻ phạm tội được đổi mới. Nay đã quá hạn mà số người ra thú hãy còn chưa hết thì lại cho triển một hạn nữa, cũng chẳng sao. Duy ở trong cũng nên phân biệt ngõ hầu mới không có tình trạng là buông tha kẻ ác để hại lương dân. Ngươi nên xét những kẻ phạm đó: hoặc vì lầm lỗi, hoặc bị thù hằn tiêu xưng, một khi xét nghiệm tình lí được xác thực thì chuẩn cho tha ngay. Ngoài ra, kẻ tội nhẹ, nếu dân xã muốn bảo quản thì cho; nếu không thì phải quản thúc, không nên bắt ép, rồi làm thành danh sách tấu lên, đợi chỉ. Nếu như các tội phạm ở hạt khác muốn ra thú thì đã có sở tại, sao lại xin phiếm làm gì?”. (Trang 548, tập III).

[Tháng 5] Thự Tổng đốc Hải - Yên, Nguyễn Công Trứ, dâng sớ nói:

“Theo lệ trước, mỗi đội ở các vệ, cơ đặt 4 suất thập. Năm Minh Mệnh thứ 12 [1831] bàn định việc san bổ cơ binh Bắc Thành, hễ đội nào nguyên có suất thập thực thụ hoặc thí sai khoá lệ rồi thì liệt vào hàng trên các binh lính, chứ không phải chia làm 4 thập; nếu không có [suất thập] thì không được đặt thêm. Vậy thiết nghĩ: xét mưu kế định việc đánh, liệu thế giặc, quyết đánh thắng, là do ông tướng. Khi ra quân kì, khi dùng chính binh dọc, ngang, biến hoá mà không rối loạn: đó là hình thức. Hình thức đó là cờ xí. Cho nên mỗi thập phải có trưởng thập giữ cờ làm hiệu cho quân, để làm chừng mực cho khi chia, khi hợp, hoặc trước, hoặc sau, hoặc tả, hoặc hữu..., cho nên hàng ngũ không rối loạn. Nếu trong một thập mà không có trưởng thập, không ai cai quản, thì khi thao diễn, khi đánh dẹp, tề chỉnh làm sao được?

“Nay xin cho trong các cơ, nguyên có suất thập thực thụ hoặc thí sai khoá lệ nếu có thiếu khuyết thì được chọn bổ mỗi thập một người trưởng, chuyển giữ cờ xí, nếu có ai trái quân luật, thì chỉ trách cứ vào thập trưởng.

“Lại nữa, từ trước đến nay, ở Bắc Kì, cái tệ doạ nạt bắt binh lính đóng góp đều ở Suất thập. Đó có lẽ vì dùng người cùng làng để cai quản lính cùng làng, ở quân ngũ thì là đội trưởng, ở làng là quan viên. Đối với những khoản phụ cấp theo lệ làng và những món chi dùng trong quân ngũ, chúng cứ tự ý làm cao lên hoặc hạ thấp xuống để bóc lột binh lính! Nay xin chọn người làng khác, đội khác để làm thì có thể bỏ được cái tệ ấy”.

Vua giao sớ ấy xuống cho bộ Binh bàn xét.

 Bộ Binh cho rằng: “Chủ chốt của việc dụng binh quí ở chọn tướng, tướng được người giỏi, thì huấn luyện có phương pháp, lính biết kỉ luật. Ra trận, đánh giặc, khi ngồi, khi làm, khi tiến, khi lui, ba quân đều như một người, không lo gì không tề chỉnh.

“Nay mỗi đội, đặt 1 suất đội, 2 đội trưởng, 2 ngoại uỷ, như thế tin rằng đã đủ coi quản gìn giữ lẫn nhau rồi, chứ sao còn phải chia thập, đặt trưởng, chỉ câu nệ theo phép cổ làm gì? Đến như trong một đội, có nhiều người cùng quê lệ thuộc vào, cũng là vì rằng lúc bình thường, họ đã là chỗ bà con, làng xóm với nhau, khi có việc thì họ chống đỡ bảo vệ lẫn nhau lại càng đắc lực. Nếu có hạng quan võ hèn kém, sinh ra những tệ doạ nạt, bóc lột, thì nên nghiêm hặc trừng trị, thì tự có thể răn bảo được người khác. Nếu cứ phải dùng người làng khác, chưa chắc ngày sau đã hết được mối tệ hại, mà các cơ trong 5 quân ở Bắc Kì, cứ rút chỗ kia bổ vào chỗ này, kể có hàng hơn nghìn, mà sổ sách rối bời, ngay trước mắt cũng đã bộn lên không sao kể xiết! Lời bàn của Công Trứ không thể làm được”. Vua cho là phải. (Trang 561-562, tập III).

[Tháng 5] Nguyễn Công Trứ, Thự Tổng đốc Hải - Yên thấy vùng Sơn, Hưng có động, làm sớ tâu xin thân hành đi đánh giặc, trong tập tâu có nói xin cho thần cầm cờ tiết để trấn thủ.

Vua bảo Nội các rằng: “Nước nhà khi mới chia đặt các tỉnh hạt, văn võ đều dùng cả, như lũ Đoàn Văn Trường, Nguyễn Đình Phổ đều là võ biền. Đó là dùng người tuỳ theo tài năng, thực là sự lo xa để trị nước, chứ đâu phải như người Tống chuyên dùng nho thần, gây nên cái hại là không mạnh lên được? Công Trứ lấy mình là quan văn, vâng chịu trọng trách ở trấn ngoài, cho nên lấy thế làm cảm khích mà xin đi, chứ vốn không phải có ý nghĩ gì, chỉ vì dẫn lời cổ ngữ, không ngờ lời và ý có sự thiên lệch, làm kinh động người nghe, thành ra không hợp đó thôi. Vậy sai bộ Lễ truyền chỉ ban quở”. (Trang 578, tập III).

[Tháng 6] Tướng giặc Hải Dương: ngụy xưng Thống lãnh là Trương Nghiêm, nguỵ xưng Tiền quân là Trịnh Bá Dao kết bè đảng hơn l.000 người, cướp bóc quấy nhiễu huyện lỵ Tứ Kì. Thự Tổng đốc Nguyễn Công Trứ trước phái Phó Lãnh binh Đồng Bá Huyên cùng Vũ Văn Khôi, Quản thủ Ninh Giang đem quân đi tiễu. Trứ lại thân đi điều khiển bọn Huyên, đánh nhau với giặc ở xã Thiết Tranh: giặc thua chạy. Quan quân đuổi giặc đến xã Nho Lâm chém được nguỵ Nghiêm, nguỵ Dao và 4 tên đồng đảng, bắt sống mười mấy tên. Trứ đem việc tâu lên.

Vua phê bảo: “Ta đương lúc sớm hôm chẳng yên lòng, được ngươi tâu báo bắt và chém được nhiều tên giặc, cũng được vui mừng, yên ủi đôi chút. Liền dụ thưởng cho Đồng Bá Huyên và Vũ Văn Khôi: Quân công kỉ lục, mỗi người một thứ, kim tiền Phi long hạng nhỏ mỗi người một đồng. Người chém được 2 đầu tướng giặc được thưởng 60 lạng bạc. Thưởng chung cho biền binh đi trận 500 quan tiền.

Trứ khéo biết điều khiển thưởng cho được kỉ lục một thứ, dưới tên còn ghi bị giáng 2 cấp trước kia, nay cho được khai phục cả”. (Trang 592, tập III).

[Cùng trong tháng] Án sát Hải Dương, Đỗ Tuấn Đại lạm dụng triện công để làm việc riêng, bị Thự Tổng đốc Nguyễn Công Trứ chỉ tên tham hặc, phải cách chức. (Trang 597, tập III).

[Tháng 6] Định rõ số lượng và màu sắc cờ hiệu cho các chiến thuyền và các quân cơ của 5 tỉnh lớn ở Bắc Kì.

Thự Tổng đốc Hải - Yên Nguyễn Công Trứ tâu nói:

“Cơ Chính võ và 2 cơ: Tả thuỷ, Hữu thuỷ thuộc tỉnh cùng các hạng thuyền Điện hải, Hải đạo, Ô, Lê, Sam bản do Nhà nước cấp đều chưa có cờ hiệu. Xin chi của kho chế cờ để cấp cho”.

Vua dụ bộ Binh rằng: “Quân đội có cờ, là để làm hiệu lệnh chỉ huy mà nghiêm chỉnh hàng ngũ. Đó là thứ rất cần dùng cho quân đội. Năm trước, đã từng chuẩn định: Ngũ quân Bắc Thành trước, mỗi cơ 1 lá cờ vuông, 40 lá cờ đuôi nheo. Sau đó chia đặt các tỉnh hạt, thì 5 quân ấy chia ra lệ thuộc vào 5 tỉnh lớn, số cờ hiệu đã cấp cũng đều mang theo. Nay, Nguyễn Công Trứ đem việc cờ hiệu của các quan quân chưa từng chế cấp, kêu xin cấp thêm. Nhân đó ta nghĩ: Các tỉnh Hà Nội, Nam Định, Sơn Tây cũng có việc giống như vậy, theo lời bàn trước, mỗi cơ 40 cờ đuôi nheo, nay đổi định lại mỗi cơ 20 lá…”. (Trang 624, tập III).

[Tháng 7] Sai Thự Tổng đốc Hải - Yên, Nguyễn Công Trứ, phái 2 quản cơ thuộc tỉnh, đều đem 4, 5 trăm biền binh đến Hưng Yên và Bắc Ninh, theo các Tổng đốc, Tuần phủ chia phái đi hộ đê, đợi đến tháng 8, nước sông yên lặng thì rút về hàng ngũ. (Trang 659, tập III).

[Tháng 8] Thự Tổng đốc Hải - An, Nguyễn Công Trứ tâu nói:

“Các hạt trong tỉnh bị thuỷ tai, dân tuy đã được chẩn cấp, nhưng thế nước lên to gấp hai, nhà cửa không còn một tí gì cả. Vậy xin phát chẩn thêm cho một lần nữa. Vả lại, dân xiêu dạt, nhiều người phải đổ đi kiếm ăn. Vậy, xin cứ cách 3 ngày 1 lần chẩn cấp cho tiền và gạo”.

Vua ưng cho như lời đã xin. Vua lại cho rằng tỉnh có nhiều việc, sai rút một nửa biền binh do tỉnh phái đi hộ đê ở Bắc Ninh và Hưng Yên; sau đó mười ngày, đê điều đã giữ được vững rồi, thì rút về hết”. (Trang 698, tập III).

[Cùng trong tháng 8] Thự Tổng đốc tỉnh Hải Dương Nguyễn Công Trứ, tâu nói:
“Dân bị thuỷ tai ở trong hạt đã nhiều lần được chẩn cấp, ăn dùng hơi khá; duy có dân xiêu dạt phải đi kiếm ăn đến hơn 13.000 người, xin tính từng ngày cấp thêm cho”.

Vua dụ rằng: “Về việc chẩn cấp, lòng ta không hề ngại tốn, nhưng nghĩ: lúc mới lụt, nhân dân sở tại không kịp trở tay, nên vén xống áo để cứu cấp vẫn là phải; nhưng nay nước đã rút bớt rồi, chính là lúc họ nên tuỳ tiện làm ăn sinh sống, hoạ chăng có thể không đói được; nếu cứ oe oe đợi mớm, chẳng lo sinh nhai, thì đối với sự giúp đỡ nuôi dưỡng hiện nay ra sao! Ngươi nên tức thì phát tiền và gạo, theo khẩu phần, hậu cấp cho một lần nữa (người lớn: tiền 5 tiền, gạo 15 uyển; người nhỏ: tiền 2 tiền, gạo 10 uyển). Rồi, ngay trước mặt họ nên hiểu dụ cho họ về làng làm ăn, nếu đến kì cuối thu đầu đông này còn có tình hình vất vả túng thiếu thì cứ thực tâu lên, sẽ lại ban chỉ để quyết định”. (Trang 717, tập III).

[Nông Văn Vân ở Tuyên Quang tụ tập bè đảng làm phản].

 Ra lệnh cho Thự Tổng đốc Hải - Yên là Nguyễn Công Trứ mang theo Lãnh binh Hải Dương là Đồng Bá Huyên và dăm ba trăm biền binh được việc mau đến Tuyên Quang, hội đồng với Tổng đốc Sơn - Hưng - Tuyên là Lê Văn Đức đánh giặc. Còn ấn quan phòng Tổng đốc Hải - Yên giao cho Bố chính Trần Văn Tuân quyền giữ.
Vua dụ rằng: “Nghịch phạm ở Tuyên Quang Nông Văn Vân chẳng qua là hạng tiểu yêu, tự đặt mình ra ngoài vòng sinh thành, chỉ vì quan địa phương không khéo xử trí, điều khiển lỡ làng, đến nỗi gây nên to chuyện! Đã có chỉ dụ cho Tổng đốc Lê Văn Đức tiến đến đánh dẹp. Hiện nay các quan quân được điều động đi đánh chắc đã tập hợp đông đủ rồi. Lại nghĩ: chỗ ấy đường sá nhiều ngả, tất phải phái thêm đại binh mới có thể sớm xong việc được.

“Ngươi nên ra đi, cùng với Lê Văn Đức đem quân các đạo nhất tề tiến lên, sớm bắt sống lấy tên giặc đầu sỏ Nông Văn Vân và bè đảng nó đem chém sạch đi để phép nước được tỏ sáng”. (Trang 738, tập III).

Nghịch phạm Nông Văn Vân ở tỉnh Tuyên Quang đốc suất vài nghìn đồ đảng chia ra đường thuỷ, đường bộ tiến sát tỉnh thành. Quan quân trong thành bắn đại bác ra, giặc đều lả lướt. Lãnh binh Trần Hữu Án đem binh và voi ra đánh, giặc bị thương và chết nhiều, vừa đánh vừa lùi. Án bị thương, bèn thu quân về thành để giữ…

Vua dụ Nội các rằng: “Nghịch Vân kéo đồ đảng quấy rối tỉnh thành Tuyên Quang, trên thành vừa bắn 1 phát đại bác, giặc liền kinh sợ tan vỡ kéo nhau chực trốn. Thế đủ biết chúng cũng chẳng làm được trò trống gì...

“Vậy truyền chỉ cho Thự Tổng đốc Hải - Yên là Nguyễn Công Trứ, nếu đã lên ngựa đi rồi, gấp đến hội với Lê Văn Đức tiến đánh cho kịp công việc thì càng tốt, nhược bằng chưa đi, thì nên lựa tính xem: nếu Trần Văn Tuân giữ việc trong tỉnh được thanh thoả, thì lập tức tuân theo lời dụ trước mà tiến đi; nếu tình hình hiện tại buộc phải ở lại mới giữ được, không lo ngại gì, thì chuẩn cho phái Đồng Bá Huyên đem quân hội tiễu cũng được, nhưng phải đi gấp tiến mau để khỏi đến nỗi chỉ uổng nhọc mệt mà chẳng nên công trạng gì”. (Trang 746-747, tập III).

Thự Tổng đốc tỉnh Hải Dương Nguyễn Công Trứ tâu nói:

“Đối với những dân xiêu dạt ở trong tỉnh, đã vâng lệnh chẩn cấp hậu cho một lần rồi, nhưng trong đó có nhiều người gầy yếu, không thể đi được; vậy xin hằng ngày nấu cơm để chẩn cấp cho”.

Vua y cho. (Trang 768, tập III).


Tiêu đề: Re: Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép về Nguyễn Công Trứ
Gửi bởi: Noitraitim trong 23 Tháng Tám, 2013, 01:00:46 am
Sách Đại Nam thực lục chính biên chép về Nguyễn Công Trứ (Phần II) tiếp


[Tháng 9] Đức đem tin được trận tâu lên và nói: “… Vả nay, lũ giặc đang bị dồn dập tan vỡ, đáng nên thừa thắng, đuổi riết, nhưng đường núi nhiều ngả, cách trở sông ngòi, đã phái người theo hút do thám, thì ra giặc luôn mấy đêm đã xa chạy rồi. Đại binh dù có đi gấp đường, đuổi riết cũng không kịp được. Huống chi, từ tỉnh Tuyên Quang đến phố Vân Trung, châu Bảo Lạc, quân đi đến 14, 15 ngày đường, lương thực quân nhu, không tiện vận đi đường bộ, mà vận bằng đường thuỷ cũng chậm chạp khó khăn. Vậy xin tạm đình lại vài ngày cho quân nghỉ để dưỡng sức. Và phái quân hộ tống thuyền lương đi ngược lên trước, đợi Nguyễn Công Trứ tiến đến, tức thì cùng nhau bàn bạc chia đường đều tiến, trước hết đánh tan tổ giặc ở phố Vân Trung, rồi đánh rất dữ vào các châu Đại Man, Vị Xuyên và Lục Yên”.

Vua dụ rằng: “…Nay, quân quan được thắng lợi luôn, lũ giặc sợ bóng phải chạy tan. Nhưng các ngươi chưa bắt chém được tên đầu sỏ, còn chưa làm được hả lòng người. Lê Văn Đức và Nguyễn Công Trứ thì nên nhân đà thắng này, tiến quân mau chóng, đánh thẳng vào tổ giặc ở phố Vân Trung, bắt chém tên giặc đầu sỏ là Nông Văn Vân và bọn tòng đảng là Ma Sĩ Huỳnh làm cho ra án mới là xong việc. Ta thể nào cũng hậu thưởng to hơn, ra ơn không tiếc…

Cho Lê Văn Đức làm Tổng đốc tiễu bộ Tuyên Quang thổ phỉ quân vụ, cấp cho ấn quan phòng “Tổng đốc tiễu bộ quân vụ; Nguyễn Công Trứ làm Tham tán quân vụ”. (Trang 775, tập III).

Tổng đốc đạo Tuyên Quang là Lê Văn Đức, Tham tán là Nguyễn Công Trứ từ tỉnh thành Tuyên Quang chia đường tiến đánh nghịch Vân.
Trước kia, nghịch Vân đã thua, sai đồ đảng họp đóng ở đồn Phúc Nghi, châu Đại Man và hai bên bờ sông Gâm, mưu toan dàn quân để chống cự.

Lũ Đức trước hết sai Lãnh binh Tuyên Quang là Trần Hữu Án đốc suất hơn 200 biền binh, 3 chiếc thuyền lê, 3 chiếc bản thuyền trang bị làm thuyền chiến và 3 chiếc thuyền chở lương, đi từ sông Gâm đến đồn Phúc Nghi. Quản cơ cơ Trung định là Vũ Tiến Mâu, Quản cơ cơ Hữu định là Nguyễn Văn Huấn và nguyên Án sát bị cách, đi đua sức làm việc ở trong quân là Lê Bỉnh Trung đốc suất 300 lính dõng, 2 chiếc thuyền lê, 3 chiếc bản thuyền trang bị làm thuyền chiến, 17 chiếc thuyền chở lương, đi riêng từ sông Lô đến đồn Ninh Biên.
Đức thân đem lính dõng và tuỳ tùng thuộc hạ hơn 2500 người, các hạng súng du sơn, đại luân xa, thần công, quá sơn 24 cỗ, voi chiến 10 con, từ sông Lô theo bờ bên tả sông Gâm tiến lên.

Trứ thân đem lính dõng và thuộc hạ 2400 người, các loại súng đại luân xa, quá sơn 19 cỗ qua sông Lô, theo bờ hữu bên sông Gâm tiến đi. Định ngày giáp lại đánh đồn Phúc Nghi để lấy đường đánh thẳng vào giữa sào huyệt ở Vân Trung.

Tờ sớ tâu vào, vua dụ rằng: “Lũ các ngươi nên đồng lòng làm việc nước, bày nhiều mưu hay, sớm báo tin thắng trận, tất có trọng thưởng”. (Trang 781-782, tập III).

Quân hai đạo của đạo Tuyên Quang, Tổng đốc Lê Văn Đức và Tham tán Nguyễn Công Trứ đã tiến đến đồn Phúc Nghi. Trước kia quân ta chia đường theo hai bên bờ sông Gâm tiến lên, đi đến đâu, giặc đều bỏ đồn trốn trước. Thổ dân ở gần quanh đấy đem nhau đến chỗ quân đóng xin đầu thú. (Trang 797, tập III).

[Tháng 10, Tuần phủ Lạng Bình là Hoàng Văn Quyền bị giặc bắt, quân quan bị thương và chết nhiều].

Vua bảo bộ Binh: “… Vậy, truyền dụ cho Tổng đốc Ninh - Thái là Nguyễn Đình Phổ liệu tính số quân và voi để lại, đủ để ngăn chặn trong hạt của mình, tức thì thống lĩnh quân và voi của Thanh, Nghệ và các tỉnh, đi ngay đến Lạng Sơn để đánh dẹp; Bố chính Hải Dương là Trần Văn Tuân lượng phái quân của tỉnh ấy năm trăm hoặc bảy trăm và voi trận hiện có, đi theo Đình Phổ để bắt giặc. Lại truyền dụ cho Tổng đốc quân vụ Lê Văn Đức và Tham tán Nguyễn Công Trứ: hiện nay giặc Vân đã đi đến thế tan vỡ, thì việc đuổi bắt cũng dễ dàng. Một mình Lê Văn Đức có thể đương được mặt đó; còn Nguyễn Công Trứ lập tức chia lĩnh 2000 hoặc một nghìn vài trăm biền binh, đi đường tắt, gấp đến Cao Bằng để tiếp viện, dẹp giặc. Vả lại, về mặt Lạng Sơn, đã phái Nguyễn Đình Phổ tiến quân đến đánh, Nguyễn Công Trứ nếu từ thượng du đánh ập lại, một mặt để tiếp viện cho Cao Bằng, một mặt để cắt đứt đường sau của bọn giặc ấy, thì càng được việc lắm. Nhưng việc quân khó lòng ở xa mà tính, nếu tình thế hiện nay chưa tiện chia quân thì cứ thực tâu lên để đợi chỉ, cũng không nên miễn cưỡng”. (Trang 805-805, tập III).

Vua sai đình thần truyền dụ cho Tổng đốc quân vụ đạo Tuyên Quang Lê Văn Đức, Tham tán Nguyễn Công Trứ rằng: “Tháng trước bọn người đem đại binh đi dẹp giặc ở Vân Trung, đến đâu không ai dám chống, bọn giặc sợ bóng gió, chạy trốn rồi. Nay hai tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng hiện bị bọn giặc bao vây. Về mặt Lạng Sơn, lần lượt đã trưng điệu biền binh ở các tỉnh hợp lại để dẹp, tin rằng có thể hẹn ngày thành công được. Duy ở Cao Bằng, đã lâu không có tin tức gì; nay bọn ngươi đem đại đội binh dõng, đã đến Vân Trung, nếu bắt được tên nghịch Vân, đóng cũi đưa về Kinh sư, càng tốt; nếu hắn đã trốn tránh trước rồi thì ta cũng không phải truy lùng khắp rừng, chỉ nên phá tan sào huyệt là đủ. Rồi, theo như chỉ dụ trước, sức cho thổ dân đem nộp súng điểu sang: cái còn tốt thì để dùng, cái đã hỏng thì huỷ bỏ đi, để cho chúng sợ oai quân của ta mãi mãi, thế là xong việc. Nhưng cũng tuỳ tiện mà làm việc, chớ nên để chậm. Cần phải gấp đường đi chóng đến Cao Bằng, đánh giải vây cho đồn núi Ninh Lạc, thì biền binh sẽ khỏi phải xông pha lâu ngày ở nơi sơn lam chướng khí, mà tỉnh thành Cao Bằng cũng chóng lấy lại được, mà việc đánh dẹp ở Lạng Sơn cũng được dễ dàng. Thực là kế hay nhất. (Trang 811, tập III).

Tổng đốc quân vụ đạo Tuyên Quang là Lê Văn Đức, Tham tán Nguyễn Công Trứ, tiến đến đồn Ninh Biên, đem tình hình trong quân tâu lên:
“Quãng đường đi qua Đại Man và Vị Xuyên, giặc sợ bóng gió, đều chạy trốn. Quân ta đuổi bắt sống và chém được hơn vài mươi đứa, thu được nhiều súng ống và khí giới. Có Thổ ty huyện Vị Xuyên là Ma Tường Huy (trước đã can án, giáng làm lính), tự đem thủ hạ, thổ dõng chém được tên đầu sỏ phỉ là Ma Tường Thường, và em nó là Mà Tường Ngân đem đầu đến nộp. Lại có con và cháu thúc bá của Thổ ty chết trận Hoàng Kim Thuận, là bọn Hoàng Kim Toan 5 người, tình nguyện đi tòng chinh, để báo thù cho cha. Còn các dân thổ Man ở tổng, lí, trại, động sở tại phần nhiều đến thú và xin quy phục trước cửa quân. Bọn thần đã vỗ về, yên uỷ rồi thả cho về. Duy bọn nguyên Thổ ty Vị Xuyên là Ma Trọng Đại và Thổ ty Đại Man là Ma Doãn Dưỡng nhiều lần ra thú và nói rằng: “Trước kia tên nghịch Vân nổi loạn, ra oai chết chóc, vì sợ ngọn lửa tàn ngược của nó nên không theo không được; nay tự biết hối, tội chết có thừa, xin trói mình ra thú và hàng phục. Nếu được khỏi tội chết, thì xin tập hợp thổ dân, đem đi gắng sức tòng chinh chuộc tội”. Vả lại, bọn này toàn là kẻ thứ yếu phạm trong bọn giặc, cố nhiên không được ở vào lệ chuẩn cho ra thú. Nhưng nay bọn thần đem quân đi sâu vào châu Bảo Lạc, đường núi vận lương, không khỏi nỗi lo về phía sau lưng. Tưởng nên nhân đó, dùng lối quyền nghi ngoài lệ thường, cho chúng tòng quân đánh giặc; cũng là kế cũ dùng người Man đánh người Man. Mà con đường phía sau Đại Man và Vị Xuyên, ta cũng có thể yên tâm”.

Vua dụ bọn Đức rằng: “Quan quân tiến đánh, đến đâu không ai địch nổi, xa gần đều phục. Ta xem lời tâu, rất khen ngợi, hả lòng. Nhưng về việc chém được và bắt sống được các phạm nhân không thấy nói khen thưởng, có lẽ vì trong quân không đem theo bạc lạng chăng?

“Vậy, truyền chỉ cho bọn Trần Ngọc Lâm và Hồ Sĩ Lâm: chỉ phát vài trăm lạng bạc kho, vài trăm đồng ngân tiền Phi long lớn và nhỏ đem đến quân thứ, lập tức thưởng cho ai có công trạng. Ma Tường Huy chém được những tên đầu sỏ phỉ là anh em Ma Tường Thường thật là hăng hái cố gắng, tự biết đổi mới, chuẩn cho thưởng thêm chức làm Đội trưởng và cho theo đi bắt giặc. Người con và cháu thúc bá của Hoàng Kim Thuận là bọn Hoàng Kim Toan, trước sau vì nước, nay lại thân hành đốc suất thổ dõng đi tòng chinh để báo thù cho cha. Vậy trước hết hãy truyền chỉ khen thưởng, lại thưởng cho người con làm Đội trưởng, đợi có công trạng, sẽ liệu bổ dụng. Bọn thổ ty Ma Trọng Đại, Ma Doãn Tường, trước bị cưỡng ép theo giặc, nay biết quay đầu quy thuận, cũng chuẩn cho tòng chinh...”. (Trang 832-833, tập III).


Tiêu đề: Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép về Nguyễn Công Trứ
Gửi bởi: Noitraitim trong 23 Tháng Tám, 2013, 01:03:50 am
Sách Đại Nam thực lục chính biên chép về Nguyễn Công Trứ (Phần II) tiếp

 
[Tháng 10] Tuyên Quang đạo Tổng đốc quân vụ Lê Văn Đức và Tham tán Nguyễn Công Trứ từ đồn Ninh Biên đem binh và voi do hai bên tả hữu sông Lô, chia đường đều tiến hẹn kì hội tiễu ổ giặc ở Vân Trung. Họ làm tập tâu, vua biết và nói: Thỉnh thoảng căn cứ vào lời bọn Thổ ty Hoàng Kim Toan và nguyên Thổ tri châu Ma Trọng Đại đi lùng bắt bọn giặc trốn thì đã chém được 1 đầu và bắt sống được hơn 20 tên phạm. Lại nữa, thí sai Chánh đội trưởng Suất đội cơ tuyên hùng là Ma Doãn Bồi, từ sau khi Ninh Biên thất thủ, vẫn cố giữ đồn Tụ Long, không chịu theo giặc. Đến đây, Doãn Bồi sai cháu là Ma Doãn Đẩu đem thổ dõng theo đi quân thứ. Lại xét ra, từ Ninh Biên đến Vân Trung, đường sông có ghềnh thác nguy hiểm, thuyền lương khó tiến. Bọn Đức này đã trích lấy Quản cơ Nguyễn Văn Huấn đem hơn 50 lính lưu lại ở đấy canh giữ.

Vua dụ: …Sai thị vệ mang ban cho Lê Văn Đức một áo mổ bụng bằng đoạn tơ, màu quan lục, có thêu tám hoa mẫu đơn năm vẻ; và Nguyễn Công Trứ cũng một áo mổ bụng bằng đoạn tơ, màu lam, có thêu tám hoa mẫu đơn năm vẻ. (Trang 847, tập III).
Vua sai mật dụ Tổng đốc quân vụ đạo Tuyên Quang là Lê Văn Đức và Tham tán Nguyễn Công Trứ trước đã dụ bảo: Sau khi đánh phá tổ giặc ở Vân Trung, tiện đường kíp đi Cao Bằng, đánh giải vây đồn Sơn Bảo, lại chuyển về Lạng Sơn ngay, đánh dẹp dư đảng giặc, rồi do đường lớn Bắc Ninh khải hoàn…

Vua lại bảo đình thần: “… Nhân nghĩ đến các đạo binh đi đường Tuyên Quang, là nơi có nhiều sơn lam chướng khí. Quân ta đi trận lâu ngày, chẳng khỏi bị cảm mạo. Vậy truyền dụ bọn Lê Văn Đức, Nguyễn Công Trứ: Nếu nay đã lên đường đi Cao Bằng thì theo dụ trước, chuyển đến Lạng Sơn do đường Bắc Ninh, kéo quân khải hoàn, cũng rất hay. Nếu hiện đến Vân Trung, mà tên nghịch Vân còn đang trốn tránh, quan quân còn phải dừng lại ở đấy, thì tất phải phá tổ, đào hang của chúng đập tan quét sạch, không để lại tí gì, khiến chúng sợ mãi oai trời, mới là xong việc. Một mặt, các ngươi phải chia phái thổ ty, thổ dõng hết sức lùng bắt, còn bắt được tên đích phạm là nghịch Vân, giải về nghiêm trị; một mặt khác, lập tức thống lãnh tướng biền, quân sĩ do đường cũ Tuyên Quang khải hoàn, rồi chuyển về Sơn Tây, Hải Dương nghỉ ngơi, không nên lại đi Cao Bằng làm gì nữa”. (Trang 849, tập III).

[Tháng 11] Vua dụ rằng: “Tổng đốc Lê Văn Đức và Tham tán Nguyễn Công Trứ đem đại binh đi đánh đến đâu không ai địch nổi chắc nay cũng đã phá tan được sào huyệt giặc ở Vân Trung rồi. Còn kẻ xuẩn động ở đồn Trinh ấy, chẳng qua là dư đảng đã bị thua đã tàn rạc đấy thôi. Nay ở tỉnh, số binh hiện tại không có mấy, thì không nên chia phái đi nhiều ngả, sợ càng tỏ ra ít và yếu. Bọn ngươi nên tuỳ cơ liệu tính: nếu bọn giặc ấy dễ đánh thì lập tức phái binh đi dập tắt ngay, chớ để lan tràn thêm ra; nếu đường xa khơi, thể cách trở, có sự bất tiện, thì rút binh về đóng giữ ở tỉnh thành. Nên đánh thì đánh, nên giữ thì giữ, phải cẩn thận xem xét tình hình mà làm”. (Trang 866, tập III).

Bọn phỉ Tuyên Quang tụ họp ở bến đò Bắc Nhự, xã An Định (thuộc châu Bảo Lạc) đón cướp lương thực của thổ dõng. Việc quân báo cũng bị ngăn trở. Viên thủ bảo ở Ninh Biên báo lên tỉnh. Thự Bố chính Trần Ngọc Lâm vì thấy số binh ở tỉnh có ít nên lập tức tư đến Sơn Tây cho điều biền binh đi đánh và uỷ người lên đường chuyển báo quân thứ Lê Văn Đức.

Việc đến vua biết. Vua dụ: “Đại đội binh dõng của Lê Văn Đức, Nguyễn Công Trứ thẳng đến Vân Trung chắc nay cũng đã đánh phá được sào huyệt bọn giặc. Còn bọn ngăn trở ở đấy chẳng qua là những tên phỉ lẻ tẻ nhân kẽ hở, sinh sự đấy thôi. Nhưng chốn ấy là đường quân báo phải đi qua, trước đây, đại binh kéo đến, các thổ mục đều ra thú và qui phục cả. Một đường yên ổn phẳng lặng sao nay còn có việc cướp lương thực và ngăn chặn quân báo! Ngươi, Trần Ngọc Lâm, phải lập tức tới gần, truyền hịch điều động các thổ ty đã từng qui phục kíp đi trừ diệt, chớ để đến nỗi nảy sinh lan ra. Đến như những khi chuyển đệ văn thư chạy qua trạm đến quân thứ, nên nghĩ cách làm thế nào để hộ tống sớm đến quân thứ. Còn một giải ven đường từ tỉnh thành đến thứ quân, nên trách cứ thổ ty sở tại chia nhau đi tuần phòng hộ vệ...”. (Trang 872, tập III).

[Tháng 11] Tổng đốc quân vụ đạo Tuyên Quang Lê Văn Đức, Tham tán Nguyễn Công Trứ tiến đánh tổ giặc ở Vân Trung. Trước kia quân ta từ đồn Ninh Biên chia đường tiến lên, đạo quân Lê Văn Đức đi bên hữu sông Lô: qua nơi nào cũng có đồn giặc dựa chỗ hiểm, đón phục kích. Quan quân hăng hái tiến đánh, hoặc bắt, hoặc chém, giặc đều bỏ đồn chạy. Duy có một dải núi xã Văn Lãng vốn có tiếng rất hiểm (nơi núi ấy, vách đã đứng sững, cao vút, cây cối um tùm. Phía tả dòm xuống sông Gâm, sâu dường không đáy. Đường đi, quanh sườn núi lượn bờ sông, ngoằn ngoèo như ruột dê, hun hút như chim bay, quân tiến rất khó. Khoảng đời nguỵ Tây, người cha tên nghịch Vân là Nông Văn Liêm và bác ruột là Nông Văn Khoan, ẩn phục ở đấy bắn súng và dùng cả máy đá đánh sụt đá xuống, biền binh của nguỵ Tây đi đến đấy bị giết hại không kể xiết). Bọn giặc ước 500 tên tụ ở đỉnh núi, còn thì rải rác dăm ba tên chia ra mai phục ở bụi cây, chân núi rình kẽ sơ hở bắn súng và ở sườn núi vần đá ném xuống. Đức đốc suất đem súng đại luân xa và súng quá sơn nhằm vào bụi rậm bắn phá. Lãnh binh Nguyễn Văn Quyền đem binh dõng xông lên trước gắng sức đánh dẹp, giết giặc rất nhiều. Quân ta cũng bị thương, bị chết. Giặc lùi một bước, quân ta tiến một bước. Từ giờ Thìn đến giờ Mùi, mới có thể đi qua được chỗ hiểm. Giặc tan vào rừng, ở phía sau phố này có 1 đồn lớn. Khi quân ta mới đến, giặc bắn vài phát súng rồi chạy. Quân ta đuổi bắt được một tên, mới biết tên nghịch Vân từ sau trận thua ở Tuyên Quang lại từ Thái Nguyên đi Cao Bằng gây sự, còn sào huyệt chúng vẫn ở Vân Trung chỉ giao cho đồ đảng giữ đó thôi...

Đạo binh Nguyễn Công Trứ do phía bên tả sông Lô tiến đi; đến đâu thì phía trước, giặc cũng đã trốn đi rồi. Duy đến miền núi xã Mậu Duệ, gặp giặc, giao chiến, bắt sống và chém được vài tên, còn thì chạy trốn cả. Tổng lí sở tại phần nhiều đến cửa quân xin thú và quy phục. Man trưởng Mèo Trắng là Chúc Văn Đồng cùng đốc suất 100 người dân Man, lệ thuộc theo đi, gắng sức làm việc; cách vài ngày đạo quân Công Trứ cũng đến Vân Trung, hội quân với Lê Văn Đức, rồi liệu lực lượng để Phó Lãnh binh là Tổng Văn Uyển và nguyên Án sát được đi trổ sức làm việc để chuộc tội là Lê Bỉnh Trung, coi quản 300 binh dõng đóng lại ở Vân Trung hẹn ngày cùng tiến đến núi Ngọc Mạo dẹp giặc. Bọn Đức làm sớ tâu lên.

Vua bảo bộ Binh: “Trước đây, bọn Lê Văn Đức thống lĩnh đại đội binh dõng, tiến đi giải vây Tuyên Quang, đánh 1 trận thành công, thế mà không thừa thắng đuổi riết, lại từ tỉnh thành đến đồn Ninh Biên, việc hành quân có chậm trễ nhiều. Lại từ Ninh Biên đến Vân Trung, tính đường đi chỉ 6, 7 ngày, vậy mà quân đi kéo dài đến hơn 1 tuần. Cho nên nghịch Vân có đủ thì giờ qua Thái Nguyên đi Cao Bằng để gây sự. Đến nỗi Cao Bằng vì đó mà thất thủ, còn gia quyến bọn chúng cũng trốn trước, quân ta không bắt được 1 tên nào. Bọn Lê Văn Đức không thể chối lỗi được.

“Nhưng nghĩ: cuộc hành quân này, núi khe hiểm trở, đường sá lặn lội, khó nhọc rất nhiều, thế mà đốc suất được binh dõng mạo hiểm, xung phong, đi đến đâu giặc đều tan rã. Công nhiều, lỗi ít, cũng không thể xoá mất được công lao. Vậy thưởng cho Lê Văn Đức gia quân công 1 cấp, Nguyễn Công Trứ gia quân công kỉ lục 2 thứ. Cùng đi trận này, Lãnh binh Nguyễn Văn Quyền rất đắc lực, cũng gia quân công 1 cấp. Còn từ Lãnh binh trở xuống đến Suất đội đều thưởng gia quân công kỉ lục 1 thứ. Binh dõng và thủ hạ đợi sau khi kéo quân về, sẽ hậu thưởng: người nào chém được 1 đầu nguỵ tham tán, thưởng 20 lạng, bắt sống được một tên nguỵ tham luận, thưởng 5 lạng; còn đều 2 lạng.

Vả lại, nay đại binh đã đến tận tổ giặc, oai danh lẫy lừng khắp cả, tên thủ nghịch Nông Văn Vân hiện trốn ở miền núi Ngọc Mạo, ngươi nên truyền dụ cho Lê Văn Đức, Nguyễn Công Trứ phải đốc thúc binh dõng hết sức lùng bắt”. (Trang 880-881, tập III).
Thự Bố chính Tuyên Quang là Trần Ngọc Lâm và Án sát Hồ Sĩ Lâm tâu lên… Vua dụ: “Bọn phỉ ấy chẳng qua là giặc tàn lẻ tẻ, thừa cơ nổi lên. Bọn ngươi lập tức nên lượng lưu biền binh để đủ để phòng giữ, còn thì cho theo Lãnh binh Trần Hữu Án mang kíp đi, hiệp với quân đã phái đi trước, hết sức đánh dẹp, cho sớm dập tắt. Và, nay đã xuống dụ cho bọn Lê Văn Đức, Nguyễn Công Trứ đem quân về; các ngươi nên tìm cách thế nào, đem các bản dụ văn này và những ống trạm từ trước ấy, cốt chuyển đạt đến được quân thứ, cho biết mà tuân theo và khải hoàn được sớm”.

[Vua] Lại dụ bộ Binh: “Ngày nọ, thổ phỉ xuẩn động, nhiều lần đã phái quan quân chia đường tiến đánh - Nay bọn phỉ Thái Nguyên tan vỡ, đã sắp thanh bình. Đạo binh bọn Tạ Quang Cự ở Lạng Sơn cũng có thể hẹn ngày thu phục được Cao Bằng, quét sạch dư đảng. Còn bọn Lê Văn Đức, Nguyễn Công Trứ ở Tuyên Quang, gần nay cứ lời tâu báo, cũng đã đánh phá được sào huyệt Vân Trung, hiện đang lùng bắt tên giặc Nông Văn Vân ở núi Ngọc Mạo, tin rằng rồi đây việc có thể xong. Vậy truyền dụ: Bọn Lê Văn Đức nếu đã bắt được hoặc chém Nông Văn Vân làm cho ra án thì tâu khúc khải ca, đem quân về cố nhiên là tốt. Ví bằng chưa giết được nghịch Vân, thì lập tức nên liệu để thổ dõng lưu lại chia đường lùng bắt…”. (Trang 895, tập III).

[Tháng 12] Vua lại truyền dụ cho bọn Lê Văn Đức và Nguyễn Công Trứ: “Nếu đã bắt hoặc chém được Nông Văn Vân, thì theo dụ trước do đường cũ Tuyên Quang, mà khải hoàn, thì đã đành là hay rồi. Nếu quan quân còn ở địa phận núi Ngọc Mạo chia đường đi lùng bắt, thì khi tiếp được dụ này, cũng chuẩn cho liệu để ít nhiều thổ binh ở đấy tầm nã phỉ rồi lập tức theo chỗ gần, do đường Cao Bằng đem quân về, hoặc theo đường cũ, tuỳ tiện đấy”. (Trang 902, tập III).

Vua lại truyền chỉ cho bọn Lê Văn Đức, Nguyễn Công Trứ: “Nếu đại binh đã đi đường cũ về đến Tuyên Quang, hoặc do đường Cao Bằng về tới Lạng Sơn thì lập tức trích trước lấy Trần Văn Lộc quyền sung Lãnh binh đang đi trận ấy và chuyển tờ tư cho Hoàng Văn Trạm quyền sung Lãnh binh Sơn Tây, đều do đường trạm, về kinh đợi chỉ lựa dùng. Lê Văn Đức và Nguyễn Công Trứ đều về tỉnh cung chức”. (Trang 906, tập III).

Tổng đốc quân vụ đạo Tuyên Quang là Lê Văn Đức và Tham tán là Nguyễn Công Trứ tiến quân đến Ngọc Mạo thì giặc Vân đã chạy trốn rồi, nên không bắt được, bèn đem tình hình đánh dẹp và cơ nghi trù biện phi tấu về triều, nói:

“Đại quân từ Vân Trung tiến lên, qua xã Vân Quang đến núi Khúc Lĩnh, đường núi gập ghềnh rất là hiểm trở, bọn giặc hoặc mai phục ở nơi bụi rậm mà bắn súng ra, hoặc xếp đá làm luỹ ở sườn núi. Quân ta hò reo xông lên, giặc đều tan vỡ. Khi tiến vào trang Ngọc Mạo là nơi sào huyệt riêng của giặc Vân, bốn bề chung quanh đều là vách núi, giữa thì rộng rãi và có cánh đồng phẳng ước đến 2000 mẫu, số dân cư hoặc 3 nhà một hoặc 5 nhà một, ở thành thôn xóm, có hơn 50 nóc nhà ngói, hơn 100 nóc nhà tranh. Nhưng tìm khắp cả, không thấy một bóng người! Đã cho lùng tìm thì bắt sống được một tên nguỵ quản cơ và 20 tên đồ đảng, hỏi ra chúng đều nói giặc Vân đã gióc tóc và mang vợ con trốn sang địa phận nhà Thanh. Nay biết trời sang đông đã lâu, khí lam chướng rất nặng, binh dõng nhiều người bị bệnh mà chết. Mà từ trước đến nay, về quân lương vẫn cứ tiện đâu lấy đó, bây giờ cũng sắp cạn rồi! Phương chi bọn Lưu Trọng Chương, Hoàng Trinh Tuyên ở Lục An và bọn Nguyễn Quảng Khải, Hà Đức Tần ở Đại Man, hiện còn lọt lưới, cần phải một phen nã bắt, cho nên bọn thần đã thông cáo cho thổ dân ở Bảo Lạc, nếu ai bắt hay chém được giặc Vân đem nộp thì sẽ trọng thưởng. Vả lại ở 2 nơi xung yếu là tổng Đông Quang và tổng An Phú đều đã đặt đồn lớn và cắt lượt thổ mục cùng thổ dõng đóng giữ để thừa cơ vây bắt. Còn nhà cửa ở Ngọc Mạo và Vân Trung đều cho thiêu đốt hết cả. Rồi ấn định ngày, chia làm 2 đạo: một đạo đi Lục An, một đạo đi Đại Man, để lùng bắt bọn trùm phỉ và chiêu an dân chúng. Đến bấy giờ, nếu giặc Vân còn trốn tránh, chưa làm được thành án thì xin vát hết dân tráng 3 châu trong một huyện mà săn bắt khắp cả trong rừng, một tấc cỏ cũng không để sót, tưởng cũng không tốn công sức gì lắm!”.

Vua dụ rằng: “Chuyến hành quân này phá tổ, đào hang, tiến đi đến đâu không ai dám chống cự, tuy chưa bắt được tên đầu sỏ giặc, lòng người còn chưa thấy khoái lắm, nhưng trải qua biết bao gian hiểm, bắt được nhiều tù binh, thì công lao ấy kể cũng đáng thưởng. Vậy từ Tổng đốc, Tham tán xuống đến Suất đội đều thưởng gia quân công, cấp kỉ có khác nhau. Các binh dõng thưởng chung 1000 quan tiền...
“Vả, nay bọn giặc để tìm đường sống, hiện đã chạy trốn đi bốn ngả, tin rằng công việc cũng có thể xong xuôi. Bọn Lê Văn Đức nên theo mấy chỉ dụ lần trước, sớm rút quân về, nhưng chuẩn y cho lời tấu thỉnh của các ngươi được tiện đường trẩy qua 2 châu Lục An và Đại Man để đàn áp bọn phỉ một phen, rồi liền trở về”. (Trang 942-943, tập III).

[Tiếp đó] Vua dụ bộ Binh rằng: “Bọn giặc ở Vân Trung, trước đây, đã bị đại binh của Lê Văn Đức và Nguyễn Công Trứ tiến đánh, sào huyệt tan tành, tướng giặc đã phải cạo đầu, chạy trốn, cầu sinh. Nay còn một vài đám lén lút tụ tập, đó chẳng qua chỉ là bọn lẻ tẻ tàn rạc mà thôi... Lại truyền dụ cho Bắc Ninh và Hải Dương liệu phái biền binh tiến đến chỗ tiếp giáp bọn giặc quần tụ, hợp sức hội tiễu, cốt chém hoặc bắt cho kì hết sạch bọn phỉ, đừng để sót lại một mống”. (Trang 971, tập III).

Vua sai truyền dụ cho Tổng đốc Ninh Thái là Nguyễn Đình Phổ rằng: “… Lại nữa, châu Đại Man thuộc Tuyên Quang còn có dư đảng quân giặc lén lút ló lên. Vậy, nên liệu sai 1 Quản cơ, 3, 4 trăm biền binh tiện đường tiến đi hội tiễu. Nếu đại quân Nguyễn Công Trứ về đến đấy đã đánh tan giặc rồi thì không cần sai phái nữa, khỏi phải lặn lội vất vả”.


Tiêu đề: Re: Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép về Nguyễn Công Trứ
Gửi bởi: Noitraitim trong 23 Tháng Tám, 2013, 01:08:58 am
Sách Đại nam thực lục chính biên chép về Nguyễn Công Trứ (Phần III)
Giáp Ngọ, Minh Mệnh năm thứ 15, 1834.
[Tháng Giêng] Toán giặc Tuyên Quang lén lút nổi lên ở địa hạt tổng Thổ Hoàng, châu Đại Man, người giữ đồn Phúc Nghi là Thổ ti Ma Doãn Thản đem thổ dõng đi đánh chém được 3 tên. Giặc rút lui, rồi lại kéo hàng đàn đến hơn 400 người. Thản thấy quân mình ít, rút về đồn, canh giữ. Quan tỉnh là Trần Ngọc Lâm và Hồ Sĩ Lâm nghe tin, lập tức tư ngay cho Lãnh binh Trần Hữu Án đem quân và voi trước đã phái đi, tiện đường hội tiễu.
Việc lên đến vua, vua dụ sai tư cho bọn Lê Văn Đức và Nguyễn Công Trứ khi đại quân khải hoàn trở về, nên tiện đường qua đấy, liệu sớm dập tắt ngay đi! (Trang 15, tập IV).
Tổng đốc quân vụ đạo Tuyên Quang là Lê Văn Đức, Tham tán Nguyễn Công Trứ, từ Vân Trung rút về đến tỉnh thành Tuyên Quang. Khi bọn Đức mới tiến đến Vân Trung, giặc Vân bèn đem hết gia quyến trốn sang thung rừng thuộc địa giới nhà Thanh, bọn Đức chia phái lùng bắt, không được một tên nào. Gặp ngay lúc bọn giặc 600, 700 tên từ phần rừng Cao Bằng - Thái Nguyên đến đóng giữ Vân Trung; phía trước, phía sau, từ trên núi cao bắn súng xuống. Ở mặt trước Lãnh binh Nguyễn Văn Quyền thừa thắng, khinh địch, tiến lên bị địch cướp mất 5 cỗ súng quá sơn; kịp lúc viện binh kéo đến thì giặc trốn vào núi sâu, ta chỉ chém được 1 đầu và thu được vài khẩu súng điểu sang mà thôi.
Lê Văn Đức bèn để Vệ uý Hữu vệ Tuyển phong dinh thần sách là Tô Huệ Vân ở lại, hiệp cùng Lãnh binh Sơn Tây là Đoàn Văn Cải đã phái đi trước quản lĩnh 900 biền binh và 5 thớt voi chiến, coi giữ tỉnh thành Tuyên Quang, rồi do đường thuỷ về Sơn Tây. Nguyễn Công Trứ về đến Hải Dương, Trần Văn Tuân lại về cung chứcBố chính. (Trang 21, tập IV).
Nông Văn Sĩ, đồ đảng giặc Tuyên Quang lại tụ họp hơn 1000 quân chúng, từ làng Thông Sơn đến đồn Trung Thảng, chống cự với quan quân đạo Cao Bằng…
Vua dụ rằng: “Nông Văn Vân, thổ phỉ ở Vân Trung, đã từng bị đạo quân Tuyên Quang đánh phá sào huyệt tan vỡ trốn hết, nay còn dám họp tập quân tàn chực mong chống cự, thực rất đáng ghét! Trước đây, đã chuẩn cho Tổng đốc Ninh - Thái là Nguyễn Đình Phổ phái binh gấp đến Bàng Thành, Cổ Đạo, tiếp giáp Ngọc Mạo, định kì vây đánh. Nay lại phái Lê Văn Đức và Nguyễn Công Trứ đem đại đội binh dõng, lại do đường cũ Tuyên Quang thẳng đến Vân Trung, chắc rằng quân giặc, sau cuộc thua vỡ tan tành, chẳng sớm thì muộn sẽ bị bắt hết... Nếu còn phải chờ đợi, tức thì tư cho bọn Lê Văn Đức, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Văn Ưng và Nguyễn Mưu định ngày giáp công, cốt sao thẳng đến Ngọc Mạo, Vân Trung san phẳng sào huyệt, đem giặc Vân, giặc Huyền và giặc Cận là những tên yếu phạm, chém hoặc bắt đến làm án, rồi lập tức kéo quân khải hoàn, mới là xong việc. Còn mọi thứ quân nhu, thuốc đạn vẫn do 2 tỉnh Lạng Sơn, Bắc Ninh chuyên chở cung cấp”.
Lại sai Tổng đốc Sơn - Hưng - Tuyên Lê Văn Đức làm Tuyên Quang đạo Tổng đốc tiễu bộ quân vụ, Thự Tổng đốc Hải Dương Nguyễn Công Trứ làm Tham tán quân vụ, tiến đánh Vân Trung. Vua sai đình thần truyền dụ họ rằng: “Đầu đảng giặc là Nông Văn Vân ngấm ngầm manh tâm làm phản, trước đây nó dựa vào địa thế hiểm trở mà gây sự, ta đã phái bọn giết người tiến đến đánh dẹp, đào hang đốt tổ. Nó bèn cạo tóc trốn chết. Triều đình cũng đã đặt nó ra ngoài ý nghĩ, dụ sai các ngươi kéo quân khải hoàn. Chẳng ngờ nó vẫn thói nào tật ấy, nhen lại tro lửa đã tàn, chống cự quan quân lần nữa! Chính nên đem nhiều quân lính đánh mạnh một phen. Nay Tạ Quang Cự, Vũ Văn Từ hiện ở trên đất Cao Bằng, liệu cơ chặn đánh Thái Nguyên, Nguyễn Văn Ưng và Nguyễn Mưu cũng đã đến Bằng Thành, Cổ Đạo để hội tiễu. Chuẩn cho Lê Văn Đức, ngươi lấy 1000 biền binh sinh lực thuộc Hữu quân ở tỉnh, lại điều 500 biền binh ở hai vệ Trung nhất, Trung nhị dinh Vũ Lâm là thú binh ở Hà Nội, và 1500 thổ dõng Sơn - Hưng - Tuyên; Nguyễn Công Trứ ngươi lấy 1000 biền binh sinh lực thuộc Tả quân ở tỉnh và 1000 thú đinh với thủ hạ trong tỉnh, nhằm trung tuần tháng 2, hội ở Tuyên Quang để khởi hành. Lê Văn Đức vẫn do đường Đại Miện, Nguyễn Công Trứ vẫn do đường Cồn Luân mau chóng tiến quân… Lại sai phái bộ Binh lấy ra 2 cỗ súng du sơn đồng pháo, mỗi cỗ kèm theo 150 viên đạn, phái 4 pháo thủ, đem đến giao cho Lê Văn Đức và Nguyễn Công Trứ mỗi người một khẩu… Lại sai Tổng đốc Lê Văn Đức, Tham tán Nguyễn Công Trứ đem đại đội quan quân đến Vân Trung hội quân đánh dẹp”. (Trang 41-43, tập IV).
[Tháng 2] Thự Tổng đốc Hải - Yên sung Tham tán đạo Tuyên Quang là Nguyễn Công Trứ, chỉnh đốn các tướng sĩ thuộc quyền, nhằm ngày 12 khởi hành đi Sơn Tây, hội cùng Tổng đốc Lê Văn Đức để bàn định việc dẹp giặc. Nhân đó, Trứ tâu xin phát tiền và lương cho những thú đinh và thủ hạ mang theo để họ chi dùng. Vua chuẩn y cho. (Trang 69, tập IV).
Vua dụ bộ Binh rằng: “Bọn giặc ấy đã từng thất bại tan tành, còn dám manh tâm sinh sự, đó là chúng tự đi đến chỗ chết. Vậy nên, truyền dụ cho Lê Văn Đức và Nguyễn Công Trứ phải tức tốc tiến quân. Trước hãy tiễu trừ lần lượt cho hết lũ giặc mới lan xuống Vị Xuyên, rồi lại kéo thẳng tới Vân Trung, Ngọc Mạo, hội với 2 đạo quân Cao Bằng, Thái Nguyên, chém hoặc bắt lũ phạm nghịch Nông Văn Vân và tên Huyền, tên Cận để trị tội. Không được để chúng thoát khỏi. Nếu tự mình để chậm trễ, thì gương trước không xa”. (Trang 74, tập IV).
Bọn giặc ở Tuyên Quang hơn 3000 tên vây đánh đồn Ninh Biên. Quyền Lãnh binh Nguyễn Văn Quyền tự liệu sức khó chống nổi, bèn trước sai Thổ tri huyện hàm Thổ tri phủ ở Hàm Yên là Nguyễn Văn Biểu, do đường thuỷ về tỉnh, rồi mình tự đem binh dõng tìm đường bộ, rút lui để chờ đại binh. Bọn Bố chính Trần Ngọc Lâm và Án sát Hồ Sĩ Lâm liền phi sức cho mấy quan võ phái đi lớp trước là Lãnh binh Trần Hữu Án và Vệ uý Tô Huệ Vân cùng tiến đi tiễu trừ. Lại phi tư cho Tổng đốc Lê Văn Đức khẩn cấp đốc thúc biền binh gấp đường đến mau. Rồi làm sớ tâu lên.
Vua bảo bộ Binh rằng: “Cứ tờ tâu nói Nguyễn Văn Quyền do đường bộ rút lui chưa được rõ ràng; nhưng một đạo cô quân, tất khó làm trò gì được. Vậy truyền dụ cho bọn Tổng đốc Lê Văn Đức và Tham tán Nguyễn Công Trứ lập tức thống lĩnh đạo quân đến tiếp viện tiễu trừ”…
Tổng đốc đạo Tuyên Quang Lê Văn Đức và Tham tán Nguyễn Công Trứ, mang hơn 4000 binh dõng xuất phát từ tỉnh thành Sơn Tây, làm sớ tâu rằng: “Vừa rồi, tiếp được tờ phi tư của Tuyên Quang báo đồn Ninh Biên có giặc, bọn thần đã phái ngay biền binh đến cứu sống trước. Lại ở huyện Đan Phượng và Phù Ninh cũng báo có giặc ẩn hiện. Bọn thần cũng đã phái quân đến đóng giữ. Nhưng sợ khi đại binh kéo đi rồi, ở Sơn Tây chỉ còn có hơn 100 lính, lỡ lúc cần cấp, thì không đủ quân để điều khiển”.
Vua phê rằng: “Các người cứ yên tâm tiến quân, lập công lớn để chuộc lỗi trước. Còn tỉnh Sơn Tây, ta đã tiếp phái quân đi rồi”. (Trang 76-77, tập IV).
Tổng đốc Lê Văn Đức và Tham tán Nguyễn Công Trứ, đạo Tuyên Quang, tiến đến tỉnh thành Tuyên Quang, được tin báo Lãnh binh Nguyễn Văn Quyền ở đồn An Biên, qua sông Lô, lui về Ba Phố (thuộc xã Bình Sa, châu Vị Xuyên), họp với Lãnh binh Trần Hữu Án và Vệ uý Tô Huệ Vân, liền trước phái phó Quản cơ Nguyễn Đức Chung, Trần Văn Lục gấp đến tiếp ứng, rồi mang đại quân kế đến sau. Làm sớ tâu lên và nói: “Bọn giặc đã lấn quá Vị Xuyên. Phàm các đường lối qua lại đều bị ngăn chặn. Lương thực, quân nhu rất khó chuyển vận trước được. Đã bắt thổ dân các châu Hàm Yên, Thu Châu, chỉ được có 800 người cho đài tải đi theo quân, nhưng đường sá hiểm trở, mỗi lần chỉ tải được 400 phương, e tiếp tế không đủ, rất lấy làm lo ngại”.
Vua dụ rằng: “Các ngươi vâng mệnh đi đánh kẻ có tội, quân thì ròng, tướng thì mạnh, mà giặc thì sau khi thua trận, tan tác, có gì khó khăn?… Cần phải tìm cách chuyên chở để tiếp tế được, chứ đừng mượn cớ xa xôi, hiểm trở mà làm lỡ công việc”. (Trang 84-85, tập IV).
[Tháng 3] Thự Tổng đốc Hải - Yên là Nguyễn Công Trứ có nói trong tập thỉnh an rằng: “Tỉnh lị Tuyên Quang tiếp giáp với huyện Hùng Quan thuộc phủ Đoan Hùng, tỉnh Sơn Tây. Từ tỉnh lị đến đồn An Biên hết 8 ngày đường; từ đồn An Biên do đường An Định, Bắc Nhự đến Vân Trung, hết 5 ngày; nếu do đường Đại Miện, Tiểu Miện đi Vân Trung thì hết 8 ngày. Tính suốt ra, từ tỉnh thành [Tuyên Quang] đến châu Bảo Lạc, đi được yên lành cũng đã hơn nửa tháng. Núi sông hiểm trở, đều thuộc đất của thổ ti, khi có việc xảy ra, chờ được tin báo phần nhiều quá chậm không kịp việc. Phương chi những việc quan trọng đều do tỉnh Sơn Tây điều khiển, sự đi lại và điều động phải hàng tuần hàng tháng mới xong. Công việc có khi bị trở ngại và lầm lỡ cũng vì hình thế cách trở xui nên thế. Vả lại, hai tỉnh Tuyên Quang, Thái Nguyên tiếp giáp với nhau, nên hợp làm một đạo, dời tỉnh thành đến An Biên, thống trị cả Thái Nguyên và đặt Tổng đốc để yên lòng mong mỏi của dân chúng. Hạt này việc thuế khoá ít, chính sự đơn giản, cho Tổng đốc kiêm luôn cả công việc bố chính.
“Hơn nữa, An Biên là nơi trung độ nhất của Tuyên Quang, mặt trước có dòng sông ngăn chặn, ba mặt có núi đá ôm quanh, quãng giữa rộng rãi, chứa được vài vạn người, có thể lập tỉnh thành. Tòng Tạo ở bên hữu và Lạp Lĩnh ở bên tả đều có thể xây quan ải; phía Nam con sông có núi đất, xây pháo đài để việc phòng thủ được nghiêm. Như thế, tự thành một nơi hiểm trở có thể ở được. Ngoài ra, các nơi xung yếu như Đại Miện, Tiểu Miện, mỏ son Bách Đích và An Định, đều đắp đồn để ngăn chặn; những chỗ bị nghẽn lấp, quanh co, chật hẹp thì cho khai đào, sửa phẳng để dễ đi lại. Như vậy thì mặt Tây có thể chống giữ Bảo Lạc, Lục Yên, mặt Đông có thể trấn áp Đại Man, Vị Xuyên, mặt Nam có thể khống chế Hưng Hoá, mặt Bắc có thể thông với Thái Nguyên; thực được cái thế ở chỗ trọng mà trị chỗ khinh, chẳng khác gì thân người sai khiến chân tay vậy. Vận động đã nhanh, tin tức lại nhậy, có thể ngăn chặn được những cái chưa nảy mầm, tiêu trừ được những cái không yên tĩnh. Rồi thay đặt những kẻ đầu trưởng để cai trị vỗ về dân, khiến chúng noi khuôn, theo phép, tai thấm, mắt nhuần, thì không quá ba năm rất có thể biến đổi thói man thành phong tục người Kinh, lâu dài tuyệt được mối lo biên giới.
“Có điều là dời đổi tỉnh thành là việc người ta lấy làm ngại, có hai cớ: Một là ở An Biên, lam chướng rất nặng; hai là đường chuyển vận lương thực khó khăn. Thần đã hai ba lần trù tính: An Biên đối ngạn với Hà Giang, ở đây chợ phố liên tiếp, người Kinh, người Thanh ở lẫn với nhau được phồn thịnh. Vả lại, từ An Biên đến Tuyên Quang cùng ăn một con sông, đã cho cân nghiệm thì nước hai nơi không nặng nhẹ hơn nhau bao nhiêu. Nay cho là lam chướng, chẳng qua là người ta thích gần, ngại xa đó thôi.
“Nói về việc nhu phí: Hạt này chất đất màu mỡ; núi, chỗ nào cũng gieo trồng được. Vừa rồi những chỗ thần đã đi qua thấy thóc lúa để lộ ở trong rừng, trong gò. Hơn 4000 binh dõng đi trận chuyến ấy, suốt từ tháng mười đến tháng chạp, mà một xã Vân Quang cung cấp, không thiếu thốn, thì đủ biết những nơi khác. Xét ra, ruộng ở đây không có sổ điền và cũng không nộp thuế. Những đất có thể gieo trồng được còn bỏ hoang nhiều. Vậy thì chỉ phải chuyển vận lương thực một lần đủ dùng nửa năm. Sau này, chiêu mộ những dân xiêu ở các xã khai khẩn, rồi chiếu những đất thực đã trồng cấy được, châm chước thu lấy thuế, chứa lại để chi dùng, có thể đầy đủ, không sợ thiếu thốn.
“Lại nữa, các sở mỏ vàng, mỗi năm nộp thuế từ 1 đến 4 lạng, mỗi lạng tính 80 quan tiền. Những người nhà Thanh làm mỏ, mỗi nơi tụ tập để kiếm ăn đến trên dưới 700, 800 người, đều là những kẻ du đãng trốn tránh. Chúng đào xẻ mạch đất, quấy nhiễu dân địa phương thường thường gây ra xích mích. Ngày nọ, giặc Vân đi đến đâu, chém giết bừa bãi đến đấy, đều do bọn này hùa đảng, giúp nó làm bậy cả. Số thuế vàng thu nhập ấy, có hay không, đều không đáng kể. Nay hãy xin tạm bắt các mỏ vàng đóng cửa. Đuổi hết về nước những bọn người Thanh tụ tập kiếm ăn ở đấy. Sau này, có ai xin trưng, cứ quan địa phương xét thực, sẽ chiểu theo cái lệ “Hộ làm vàng” ở Quảng Nam mà đánh thuế. Rồi thường cho kiểm soát, không để chúng tự giấu bới như trước. Như vậy, đã dứt được cái lo bất ngờ, mà lại làm dồi dào thêm việc tiêu dùng của nhà nước.
“Hơn nữa, trước giờ, số biền binh thuộc tỉnh được phái đi các tỉnh nã giặc đến gần một nửa, số hiện còn tại ngũ, sợ điều khiển không đủ. Những thổ mục trong tỉnh và những thủ hạ của thần, gặp khi có việc quân, kể cũng đắc lực. Nay xin cho mộ người lập làm hai cơ binh, mỗi cơ 600 người. Kẻ nào mộ được 60 người, thì cho làm Suất đội, kẻ nào mộ được 10 đội cho làm Quản cơ. Số lính mộ trong đám lậu đinh này không những có thể dùng để sai phái, mà những kẻ không có căn cước ghi sổ sách cũng có sự quản thúc. Như vậy cũng là một cách tăng thêm quân và dẹp yên giặc”.
Vua dụ rằng: “Tỉnh Tuyên Quang tiếp giáp Thái Nguyên, mà An Biên lại là nơi trung độ, hiểm trở có thể làm căn cứ được. Việc xin dời tỉnh thành Tuyên Quang về An Biên, cho thống trị cả Thái Nguyên và đặt Tổng đốc để yên lòng mong muốn của dân, dường cũng có lí. Nhưng, việc làm dần dần thì có thể dựa nhau mà dễ thành công. Chỗ này, đất nhiều rừng rậm, người, vật còn thưa thớt. Nếu nay dựng tỉnh thành ở đấy thì thực có nhiều điều chưa tiện. Hãy chờ sau này biên giới yên tĩnh, sẽ bàn chưa muộn.
“Còn việc xin đuổi hết người Thanh làm mỏ về nước, để tiệt cái mầm làm bậy. Xét cái mối lợi nhỏ mọn về mỏ vàng, cố nhiên triều đình cũng chẳng cần. Có điều rằng những người cùng dân ngoại quốc đã nhờ đấy để nuôi bố mẹ, vợ con, nếu chúng dám manh tâm làm bậy, đã có pháp luật, há nên quá phòng xa mà vội đuổi chúng nó đi ư?
“Lại nữa, binh lính quý tinh, chẳng quý nhiều. Nếu khéo dụng binh thì số lính thuộc tỉnh cũng đủ dùng vào việc tiễu trừ giặc cướp, hà tất phải mộ nhiều những kẻ du đãng đi uổng phí lương, tiền làm gì? Vậy việc xin mộ lính làm hai cơ, không bàn đến nữa”. (Trang 92-94, tập IV).


Tiêu đề: Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép về Nguyễn Công Trứ
Gửi bởi: Noitraitim trong 23 Tháng Tám, 2013, 07:09:29 pm
Sách Đại nam thực lục chính biên chép về Nguyễn Công Trứ (Phần III) tiếp

[Tháng 3] Tổng đốc Lê Văn Đức và Tham tán Nguyễn Công Trứ đạo Tuyên Quang tiến đến đầu hạt Vị Xuyên. Thám thính biết được đảng giặc từ khi An Biên thất thủ, ngày một lan dần xuống mặt trước châu Vị Xuyên và địa phận châu Đại Man. Chúng chia đóng đồn trại, mưu đồ chống cự. Bọn Đức liền bàn nhau, chia làm hai đạo: Đức do đường Vị Xuyên, Trứ chuyển đi lối Đại Man, đều mang theo vài ba ngày lương, tiến quân lên đường.
Quân Đức qua Hoàng Mai (tên xã), được tin thuyền lương đã đến bến Phù Loan (tên xã), bèn để Lãnh binh Trần Hữu Án ở lại đồn, hộ tống lương theo quân. Khi đến Bằng Hành và Ngọc Liễu (đều tên xã), giặc ở trong rừng chỗ 500, chỗ 300, chia nhau nấp bắn súng ra. Nguyễn Văn Quyền trong toán quân đi trước đốc quân sấn đánh, chém được một thủ cấp, còn thì chúng trốn cả. Thổ ti Ma Tường Huy cũng bắn chết được một tướng giặc và đoạt được khí giới, nghi trượng. Bấy giờ tiếp được thư Nguyễn Công Trứ nói quân của Trứ đến đồn Phúc Nghi, theo tả ngạn sông Ngâm (tức là Gâm), thẳng tiến. Khi qua Kim Tương, Năng Khả (đều tên xã) đều có giặc mai phục chặn đường. Thổ dõng ở đạo quân đi trước đánh chém được 1 thủ cấp, giặc liền tan chạy. Ở Như Hương (tên đất) bên kia bờ sông, báo có phó tướng giặc là Nguyễn Đình Chu từ phía Thái Nguyên, hợp với Nguyễn Quang Thiêm là em Thống chế giặc Nguyễn Quang Khải, lập ra 3 đồn và có đồ đảng hơn nghìn tên. Bọn thần hiện đang cho làm bè sang sông đánh phá đảng giặc này, rồi xông thẳng đến Côn Lôn (tên xã), san phẳng sào huyệt của Quang Khải thì mới có thể hội quân được.
Đức đem mọi tình hình tâu lên và nói: “Hai đạo tiến quân, cần phải liệu chừng độ đường, thông báo lẫn với nhau để tiến dần, lần lượt tiễu trừ rồi cùng hội quân lấy lại đồn An Biên. Rồi lại chia đường thẳng đến Vân Trung hợp sức tiễu giặc. Như vậy e không khỏi mất nhiều ngày giờ”.
Vua dụ bộ Binh rằng: “... Năm ngoái hành quân phần nhiều chậm trễ để giặc được rảnh rang, thành ra vô công, ngày nay lại đến, cần phải kiêng răn điều đó. Huống nay đạo quân Cao Bằng đánh giặc thắng luôn, hiện đương quay lại chờ ngày quây bắt. Cơ hội ấy không nên bỏ lỡ, vậy cho phép Lê Văn Đức, Nguyễn Công Trứ đốc sức binh dõng trừ diệt cho sớm những dư đảng giặc ở lân cận, rồi thừa thắng ruổi dài, cùng các đạo hội quân, xông thẳng tới Vân Trung, bắt chém đầu đảng giặc để chuộc tội trước...”. (Trang 122-123, tập IV).
Vua dụ Nội các rằng: “Trước kia, ở Tuyên Quang, tên thủ nghịch Nông Văn Vân khởi biến, lan đến các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng và Thái Nguyên. Sau, bị quan quân đánh bại, nó đã gọt đầu trốn tránh. Gần đây, nó lại họp đảng quấy rối. Nay quan quân ba đạo tiến đánh, giặc lại dám ẩn chỗ này, hiện chỗ khác, chống bên đông, đỡ bên tây. Há phải một mình tên Vân phân thân ra để chống cự được các nơi như vậy? Tựu trung mỗi nơi tất phải có một đầu đảng chủ mưu và độc lập tác chiến! Vậy truyền dụ cho Tổng đốc Tạ Quang Cự, Tham tán Vũ Văn Từ đạo Cao Bằng; Tổng đốc Lê Văn Đức, Tham tán Nguyễn Công Trứ đạo Tuyên Quang và Tổng đốc đạo Thái Nguyên Nguyễn Đình Phổ: ai nấy phải xem từ trước đến nay, nếu như có bắt sống được tên giặc nào, thì phải hỏi rõ tình hình của giặc, hay là phái nhiều người Thổ đi bí mật do thám, xem ngoài tên Nông Văn Vân ra, còn lũ Nguyễn Quang Khải, Lưu Trọng Chương, Bế Văn Cận, Bế Văn Huyền, Nông Văn Sĩ, Nông Văn Thạc, tất cả có bao nhiêu tên, tên nào ở đạo quân nào, cho chí những việc tiếp ứng, hiệu lệnh, người ta hưởng ứng ra sao, đạn dược quân nhu tìm lấy ở đâu... Cần hỏi cho đích xác rồi tâu rõ cho biết nguyên uỷ. Lại phải sai phái nhiều người Thổ trước, đi khắp nơi truyền bảo: Trừ tên nghịch Vân tội ác quá nặng, pháp luật không thể tha ra, còn từ Nguyễn Quang Khải trở xuống, nếu sớm biết hối cải, bắt hoặc giết tên Vân đem nộp, sẽ được tha hết tội trước; nếu còn mê muội, cố sức giúp nhau làm bậy, thì cái tội hùa đảng làm ác khó lọt khỏi lưới trời. Chẳng những chết đến thân mà thể nào cũng vạ lây đến vợ con, ăn năn sao kịp…”.
Lại dụ Lê Văn Đức và Nguyễn Công Trứ rằng: “Những tên nghịch phạm ở Tuyên Quang, lâu nay còn trốn tránh, chưa bị giết, tức là công việc của các ngươi chưa xong. Lần này lại vâng mệnh đi đánh dẹp, nhận sự kí thác về quân lữ. Cơ mưu việc quân, ta tuy trù liệu nhiều phương lược, nhưng việc ở xa hàng mấy ngàn dặm, tình hình mỗi lúc thay đổi một khác, há có thể nhất nhất dự tính mà chỉ bảo trước được đâu? Nay đặc cách cho phép các ngươi được tuỳ tiện làm việc: có cách đánh dẹp, cố vỗ về, lúc tiến lên, lúc nên ngừng, cần phải trù tính kĩ và châm chước thế nào cho được đúng khớp, chủ yếu là phải mang về cho ta bốn chữ “Cập tảo thành công” thì mới khỏi phụ lòng ta uỷ thác. Lại nữa, việc binh quý ở mau chóng. Phải sớm làm kịp thời cơ, tư ngay cho hai đạo Cao Bằng, Thái Nguyên đồng thời cùng tiến. Nếu làm được cho vang dậy oai quân, đánh tan được đảng giặc, khiến chúng hoảng sợ, lẩn trốn không dám trở lại chống cự nữa, thì cũng đã là thuyết phục được lòng kẻ gian, tỏ rõ được sự trừng phạt của nhà trời. Còn tên nghịch phạm Nông Văn Vân lén sống trong rừng rú, bất tất đợi nó đã bị bắt để làm án hay chưa, cũng chuẩn cho cả 3 đạo quân được rút về hát khải ca, không nên dùng dằng ở lâu mà nhiễm lam chướng”. (Trang 128-129, tập IV).
… Lê Văn Đức - Tổng đốc đạo Tuyên Quang, tiến quân đến thôn Mã Lang, tâu về tình hình quân thứ: “… Lại nữa, đạo quân của Nguyễn Công Trứ trước hẹn do đường châu Đại Man vòng ra phía trên An Biên để chặn đường chạy của giặc. Nay Nguyễn Công Trứ bận việc mãi ở Côn Lôn, không tiện chờ mãi, nên thần đã ấn định ngày giờ chia đường tiến lên đánh lấy An Biên. Duy có việc quân lương, chuyển vận đường thuỷ, đường bộ đều khó khăn... rất lấy làm lo ngại”.
… Lại dụ Nội các rằng: “Từ khi đại binh đạo Tuyên Quang xuất phát đến nay, Tổng đốc Lê Văn Đức đã tâu báo 2 lần, còn đạo quân của Tham tán Nguyễn Công Trứ đã lâu chưa thấy tin gì, khiến ta trông ngóng phải truyền dụ cho Nguyễn Công Trứ lập tức tìm rõ tình hình để đốc thúc binh dõng sớm trừ cho xong đảng giặc ở một dải Côn Lôn, rồi tìm đường hội binh với Lê Văn Đức. Bọn Lê Văn Đức, Nguyễn Công Trứ cần phải lưu tâm hơn nữa đến việc hộ vệ quân lương, và tìm mọi cách làm cho có nhiều lương thực, hoặc mang theo nhiều tiền bạc, bất cứ đắt rẻ, tiện đâu mua đấy, đừng để đến nỗi thiếu thốn. Thế là mưu chước hay nhất”. (Trang 135-136, tập IV).
[Tháng 4] Tham tán Nguyễn Công Trứ đạo Tuyên Quang kéo quân đến núi Bột Lĩnh, xã Vĩnh Ninh làm sớ sai người dâng lên tâu rõ tình hình gần nay lúc tiến, lúc dừng: “Từ tổng Thổ Hoàng, châu Đại Man xuất phát, đường qua Kim Tương, Năng Khả (đều tên xã) chỗ nào cũng có quân giặc ngăn trở, đã lần lượt đánh tan. Duy về hữu ngạn sông Gâm, giặc đông đến hơn nghìn tên, lập 3 đồn ở núi đất thuộc Nhự Hương, cách sông trông ngắm, thì ra bọn chúng có đến hơn nghìn người. Thần đã ngầm phái Thổ hào Bùi Đình Đặng đến đồn Đài Mãn, hiệp lực cùng Thổ ti Ma Doãn Khê mang thủ hạ thổ dõng, theo đường bộ, thẳng tiến. Rồi lại cho làm nhiều bè nứa, ở ven sông bên rừng để chờ đợi. Giặc thấy quân của Đặng vụt đến, bèn bắn súng giao chiến. Đại binh bên tả đều vượt sông, tiếp ứng. Giặc bị thương và chết nhiều, vứt cờ trống, bỏ đồn không mà chạy. Khi tiến đến núi Bột Lĩnh, giặc cũng đóng chỗ hiểm chống cự; quan quân phải chia đường đánh úp lâu mới tan, đuổi bắt được 4 tên, đã lập tức đem chém ở trước quân. Rồi phái thổ, man đi khắp mọi nơi chiêu dụ, nhưng không có một người nào ló ra. Thóc gạo thì chúng mang giấu đi hết; chỗ nào không kíp tải đi thì chúng đốt trước. Vả lại, một dải hữu ngạn, năm ngoái, quan quân chưa đi đến nơi, chỗ nào cũng có bố trí phòng bị của giặc. Trong rừng rậm đều mở lối tắt và đào hố thả chông. Ở đây, phong tục độc ác, núi sông hiểm trở còn ghê gớm hơn Bảo Lạc. Hiện nay chúng xây dựng đồn bằng đá ở núi Mã Thai và thôn Bán Dạ làm kế cố thủ. Vì gặp kì này mưa luôn, nên chưa kịp tấn công.
“Lại nữa, quân lương từ tỉnh Tuyên Quang vận theo đường bộ đến nơi quân thứ hết 19 ngày. Mỗi chuyến nhiều thì được 160, 170 phương, ít thì trên dưới 100 phương, nửa tháng đi lại đài tải không đủ ăn 3 ngày. Quân càng đi xa thì lương càng chậm trễ. Đường bộ vận tải đã khó khăn, đường thuỷ lại càng có nhiều điều bất tiện. Tất phải chia đóng làm từng đồn mà chứa dần lương lại thì mới có thể tiếp tế. Nhưng binh dõng tòng chinh, nếu cho đi giữ lương nhiều quá thì lại không đủ người, cho nên cứ phải chờ đợi dằng dai, không phải thấy đường sá hiểm trở xa xôi mà dám thoái thác”.
Vua dụ: “Giặc ấy sau khi thua vỡ tan tành, còn dám nương nơi rừng rậm, chống cự lại, thật rất đáng ghét! Nay quan quân tiến đánh được tan, bắt được tội phạm, thì rất đáng khen. Vậy thưởng thụ cho Bùi Đình Đặng, Ma Doãn Khê đều được chức Đội trưởng thuộc tỉnh, và thưởng thêm mỗi người 5 đồng ngân tiền Phi long hạng lớn. Duy về tình hình quân lương, ta đã sai bộ Binh gạn hỏi người được phái về, thì trong quân đã có vẻ thiếu ăn 2 ngày rồi, mà lương ở tỉnh tải đi còn độ 7, 8 ngày nữa mới tới nơi quân thứ. Nghe nói khiến người phải sửng sốt lo ngại. Nếu quá như lời người đó nói, thì sự thể rất là khẩn cấp! Sao không chịu tìm mọi cách, hoặc lùi lại chút ít để hộ tống lương, chờ được tiếp tế rồi hãy tiến quân? Vả chăng, lương thực trong quân là việc quan trọng biết chừng nào, thế mà sao không trình bày rõ ràng vào trong tập tấu mà phái người từ nghìn dặm về đưa tin, tựa hồ coi làm trò đùa vậy? Chẳng biết Nguyễn Công Trứ, ngươi nghĩ ra làm sao! Bây giờ ngươi phải liệu làm thế nào để cho đường tiếp lương chắc chắn không bị ngăn trở. Phải cùng với Lê Văn Đức hai bên tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau. Còn việc tuỳ cơ lúc tiến, lúc ngừng, khi đánh dẹp, khi phủ dụ, thì ta cũng không hạn định là trong tuần trong tháng phải xong, miễn là làm thế nào mang về cho ta hai chữ “thành công” để thoả lòng trông mong mà thôi”.
Vua lại cho rằng Trứ hành quân ở đạo khác, mỗi khi có đệ tập tấu, lại phải tự mượn ấn triện của Thự Bố chính Tuyên Quang, không khỏi chậm trễ. Vậy sắc sai quan phần việc chế cho Trứ cái ấn quan phòng “Tham tán tiễu bộ quân vụ” để khi có tập tấu riêng thì dùng. Còn khi đệ sớ hội hàm với Lê Văn Đức thì dùng một ấn quan phòng “Tổng đốc quân vụ”.(Trang 142-143, tập IV).
[Tổng đốc Lê Văn Đức thu phục được đồn An Biên].
Vua dụ: “Quan quân đi lần này, hăng hái giết được giặc, thu phục được đồn An Biên, rất đáng khen…
“Về đạo quân của Tham tán Nguyễn Công Trứ, đã có dụ sai tìm đường hội quân với nhau. Vậy ngươi phải trù tính thế nào, làm cho đúng khớp để chiến công được mau chóng hoàn thành. Thảng hoặc sự thế có cần rộng thêm ngày tháng, thì ta cũng không giục giã đốc trách. Không để vua cha phải lo lắng, đó là tấm lòng thành thực của ngươi là tôi con”. (Trang 145, tập IV).
Đạo quân của Tham tán Nguyễn Công Trứ thuộc đạo Tuyên Quang tiến đóng ở xã Vĩnh Khánh, được tin quân giặc mưu chặn đường tiếp lương, Trứ đang đêm sai người đi tuần thám, thấy một toán từ thôn Bắc Mân lẻn ra phía sau quân ta, bèn lập tức sai thuộc hạ là lũ Nguyễn Quang Diệu mang 200 thủ hạ dõi theo. Giặc nấp chỗ rậm, bắn súng ra. Diệu sấn đến, chém được một thủ cấp và bắt được một tên. Giặc bèn trốn chạy.
Trứ làm trạng tâu nói:
“Từ chỗ quân thứ đến Côn Lôn, quân đi hết 4 ngày đường mà lương quân thì đã hết. Lương ở tỉnh tải đến bằng đường bộ, một chuyến chỉ ăn được một ngày, hôm sau lại hết. Đã cho đi tìm kiếm đổi mua, đều không được. Vả lại, giặc vẫn ỷ vào thế hiểm của Côn Giang, ta nên phải đề phòng. Nếu vội tiến sang qua sông mà đường tiếp lương bị nghẽn thì lầm lỡ không phải nhỏ. Hiện đương sức Thổ ti là bọn Ma Doãn Dưỡng, Ma Doãn Thản, đến các động Man, hễ thấy có chứa thóc, thì liệu lấy mà trả tiền. Nếu tìm được đủ 5 ngày lương, thì quân mới có thể tiến được. Vì thế còn nán lại để chờ”.
Vua dụ: “Đảng giặc âm mưu triệt đường tiếp lương của ta, mà quan quân vào sâu nơi hiểm, ra sức đánh lui được giặc, cũng là đáng khen. Nay thưởng thụ Nguyễn Quang Diệu làm Đội trưởng thuộc tỉnh và cấp cho tấm “Thưởng công ngân bài”. Còn việc lương quân, ta trước đã đốc sức làm khẩn cấp rồi. Ngươi nên nghĩ cách khi tiến, khi ngừng, thế nào cho trúng cơ nghi là được”. (Trang 147-148, tập IV).


Tiêu đề: Re: Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép về Nguyễn Công Trứ
Gửi bởi: Noitraitim trong 23 Tháng Tám, 2013, 07:10:21 pm
Sách Đại nam thực lục chính biên chép về Nguyễn Công Trứ (Phần III) tiếp

Vua phê: “…Vả, nay đảng giặc luôn bị thua đau, là lúc ta có thể thừa thế. Hơn nữa, đạo Tuyên Quang, quân Lê Văn Đức đã đến An Biên, quân Nguyễn Công Trứ đương tiến thẳng vào Côn Lôn; Trần Đình Di, Nguyễn Văn Ưng ở Thái Nguyên đều được phép tìm đường, hợp quân với Nguyễn Công Trứ để làm thanh thế cứu viện và ấn định nhật kì, xông vào sào huyệt Vân Trung. Các ngươi: Tạ Quang Cự, Vũ Văn Từ và Lê Đạo Quảng cần nên khích lệ tướng sĩ thừa dịp thắng, trừ diệt cho sớm hết ngay những dư đảng giặc ở lân cận, rồi tư cho bọn Lê Văn Đức, Nguyễn Công Trứ hẹn nhau ba đạo quân cùng tấn công cốt sao vạn toàn và tất thắng, nếu phải kéo dài đến hàng tuần, hàng tháng ta cũng không trách”. (Trang 151, tập IV).
Lê Văn Đức, Tổng đốc đạo Tuyên Quang, đóng quân ở đồn An Biên, đem tình hình giặc và việc quân nhu thiếu thốn làm sớ tâu nói:
“…Tham tán Nguyễn Công Trứ báo rằng đạo quân ấy cũng thiếu lương, đã phải ăn khoai rừng, rau núi, và bất đắc dĩ sắp phải chuyển sang tả ngạn để tìm lương ở vùng ven sông. Thần đã khẩn cấp tư cho Công Trứ phải gấp đến An Biên, hội họp trù tính cho khỏi lỡ việc. Thiết nghĩ hai đạo tiến quân chỉ vì lương thực không kế tiếp, đến nỗi phải chậm lại, chẳng khác nào cứ phải dừng quân lại chờ từng miếng cơm, thực rất lấy làm lo sợ”.
Vua dụ bộ Binh rằng: “Việc hành binh thì lương thực là món rất quan trọng. Nay chuyên chở khó khăn như vậy thì có lí nào quan quân đói bụng mà giết được giặc? Vậy truyền dụ cho Lê Văn Đức, Nguyễn Công Trứ khi tiếp được dụ này phải xét ngay số quân lương hiện tại, nếu tỉnh đã vận đến tạm được đủ dùng, có thể tính bước tiến thủ được, cho phép tuỳ tiện làm việc, một mặt tâu rõ, một mặt tiến quân. Lại tư cho các đạo quân Cao Bằng, ấn định ngày hội tiễu. Nếu quân nhu còn thiếu thốn, chưa tiện tiến hành được, thì đều cho rút quân hiện mang theo về tỉnh thành Tuyên Quang nghỉ ngơi, chờ chỉ sẽ tính đến cuộc tiến sau...”. (Trang 153, tập IV).
[Tháng 4] Phát thuốc men cho quan quân các đạo Nam Kì, Bắc Kì. Quân thứ Gia Định: 1 lọ thuốc tây trị sốt rét, 6 lọ dầu thuốc tây chữa vết thương, 3 thỏi thuốc cao tây chữa vết thương. Quân thứ Trấn Tĩnh, quân thứ Lê Văn Đức, quân thứ Nguyễn Công Trứ ở Tuyên Quang và quân thứ Thái Nguyên: mỗi nơi được 1 lọ thuốc tây trị sốt rét, 2 lọ dầu thuốc tây chữa vết thương và 1 thỏi cao thuốc tây chữa vết thương. Quân thứ Cao Bằng: 1 lọ thuốc tây trị sốt rét, 3 lọ dầu thuốc tây chữa vết thương, 1 thỏi cao thuốc tây chữa vết thương. (Trang 158, tập IV).
Nguyễn Công Trứ, Tham tán đạo Tuyên Quang, đóng quân ở hữu ngạn sông Côn Lôn dâng sớ nói: “Quân đi chậm trễ, chỉ vì cớ thiếu lương. Nay lại gặp nắng dữ, trong quân theo nhau mà ốm; lại sắp đến tiết tiểu mãn, kì mưa, sông ngòi nước lớn không tiện đi lại, thực sợ chưa xong được việc. Thiết nghĩ: An Biên ở vào khoảng giữa tỉnh Tuyên Quang, là nơi việc công, việc tư, đường thuỷ, đường bộ tất phải đi qua một khi để sa sẩy, thiệt hại không phải là nhỏ. Hơn nữa, giặc Vân có Quang Khải và Trọng Chương làm vây cánh. Đại binh ta thẳng tiến phía mặt, thì hai bên tả, hữu chúng khép lại đánh úp ở phía sau. Lại thêm Trọng Chương ở gần kề ngay An Biên, sẽ thừa lúc sơ hở mà ngăn chặn, làm cho đường sá bị nghẽn. Cân nhắc nặng nhẹ thì An Biên là nơi cần cấp. Nghĩ nên lần lượt trù tính mà làm mới được vạn toàn. Xin trước hết xếp đặt An Biên, chứa lương thực làm kế lâu dài, để cho hạng dân a tòng biết có chỗ dựa, mới chịu ló đầu ra. Rồi phi tư cho Hưng Hoá chiếu theo địa hạt, phòng thủ ngăn chặn. Ma Doãn Bồi ở Tụ Long thì điều nhiều binh dõng, theo lối Hạ Giáp (tên đất) mà đến. Biền binh thì một toán do Thu Châu, một toán do Đường Lâm, hai mặt giáp công. Như vậy, giặc Chương, giặc Tuyên không chạy trốn được, sẽ phải bị bắt. An Biên đã có cái lo ngại ở phía tả thì ta có thể chuyên chú đến Bảo Lạc, rồi sau tuỳ cơ mà đánh dẹp hoặc vỗ về. Nếu cứ một niềm mê muội, phái một toán quân ra trước ở những chỗ gần An Biên, rồi nay ra An Định, mai vào Du Gia, đốt nhà cửa, đuổi nhân dân, khiến họ chạy vạy mệt nhọc, không rỗi cứu cấp lẫn nhau, thì trong đó tất sẽ có kẻ oán trách mà sinh biến.
“Hai đạo quân Cao - Thái cũng xin cho lập đồn và liệu đặt quân lính đóng ngăn chặn ở những nơi xung yếu, còn bao nhiêu quân lính thì cho về nghỉ ngơi. Chờ đến cuối thu, nước cạn, sẽ hẹn nhau nhất tề hội quân, săn bắt đến cùng, tướng giặc Vân không còn trốn đâu được nữa”.
Vua dụ bộ Binh rằng: “Vừa rồi, cứ như Lê Văn Đức, tâu báo quân nhu thiếu thốn thì đã có chỉ cho liệu lượng sự việc và tình thế, có thể tiến được thì tiến, nếu chưa tiện thì cho lập tức rút quân về. Nay lại theo tình hình Nguyễn Công Trứ đã tâu, thì hiện nay việc tiến đánh chắc cũng chưa nắm vững phần thắng. Vậy truyền cho Lê Văn Đức, Nguyễn Công Trứ và hai đạo Cao - Thái lập tức rút quân về tỉnh thành nghỉ ngơi, chờ chỉ. Lê Văn Đức phải liệu lưu thổ ti, thổ dõng ở lại An Biên để đóng giữ và chứa lương thực ở đấy. Còn các đạo quân khác đều phải liệu đặt đồn, phái binh dõng đóng giữ ở những chỗ hiểm yếu”. (Trang 160-161, tập IV).
Cho Thổ tri huyện Hàm Yên, gia làm Thổ tri phủ là Nguyễn Văn Biểu, làm Thổ tri phủ và đổi đi lĩnh châu Đại Man.
Châu Đại Man, từ khi giặc Khải nổi loạn, thổ ti, thổ dân chưa có sự thống thuộc. Biểu khéo vỗ về, khuyên bảo, được nhiều người tin nghe.
Còn châu Hàm Yên ở ngay cạnh tỉnh thành và đã có Huyện thừa làm việc. Vì vậy Tham tán Nguyễn Công Trứ đem cớ này tâu xin. Vua y cho. (Trang 171, tập IV).
Đạo quân Tham tán Nguyễn Công Trứ ở Tuyên Quang chuyển sang tả ngạn sông đến đồn Phúc Nghi, dâng sớ nói:“Được tin giặc Chương, giặc Tuyên ở Lục Yên kéo lũ lớn đến thành Chiêm An, Long Đồ, chặn đường tiếp lương của An Biên; nếu không diệt chúng được sớm, thì đường [tiếp lương] thuỷ và bộ đều nghẽn cả. Cân nhắc việc nên làm trước làm sau thì Lục Yên là cấp, Côn Lôn là hoãn. Thần đã tư khẩn cấp cho Tổng đốc Lê Văn Đức sức ngay cho Lãnh binh Đoàn Văn Cải chuẩn bị sẵn thuyền bè ở chỗ đối ngạn với An Long. Rồi thần đích thân mang quân bản bộ, tiện đường rảo đến Thu Châu, xông thẳng đến sào huyệt giặc Chương, đánh vào chỗ nhất định chúng phải cứu, thì An Long tự khắc giải được nguy. Đoàn Văn Cải nếu thấy giặc ngấm ngầm di chuyển, lập tức vượt mau sang sông, thừa thế mà đánh, có thể thắng lợi hoàn toàn. Lục Yên đã bình, sẽ quay về An Biên, hội nhau làm việc”.
Vua dụ: “Trời hè đến kì nóng dữ, quan quân không tiện ở lâu. Đã có dụ sai các đạo quân rút về tỉnh thành nghỉ ngơi. Vậy cho phép tuân dụ trước mà làm”. (Trang 175, tập IV).
[Tháng 5] Tham tán Nguyễn Công Trứ đạo Tuyên Quang đánh phá đảng giặc ở Lục Yên. Trước đây, Trứ đến châu lị Thu Châu, tiếp giới với châu Lục Yên, nghe biết tướng giặc Hoàng Trinh Tuyên tập hợp 500 đồ đảng đóng ở thôn Mường, dựa chỗ hiểm cố thủ. Trứ bèn phái binh dõng sấn đến đánh phá đồn giặc, chém được 4 thủ cấp, thu được khí giới, đốt kho tàng, doanh trại của giặc. Thổ ti Lương Bá Tư (là con Lương Bá Tuyển) Thổ tri châu Thu Châu, gia hàm Tuyên uý đồng tri, đi tòng chinh rất đắc lực, đã thưởng trước cho 5 đồng ngân tiền Phi long hạng lớn. Vừa đó tiếp được dụ chỉ, Trứ lập tức dẫn quân về Tuyên Quang rồi làm sớ tâu.
Vua phê: “Trong khi đem quân trở về, nhà ngươi còn giết tan được giặc. Khi xem tờ tâu, khiến người nức lòng đôi chút!”. Bèn xuống dụ rằng: “Chuyến hành quân này chỉ vì đường lương không kế tiếp, đã sắp mang quân về mà còn hăng chút sức thừa, giết được giặc, chém được thủ cấp. Tuy chỉ là cuộc thắng nho nhỏ, nhưng cũng đã làm cho giặc hoảng, nức tiếng quan quân. Nay thưởng cho Nguyễn Công Trứ gia quân công kỉ lục một thứ. Lương Bá Tuyển, cha của Lương Bá Tư, trước sau đã xuất lực vì triều đình, nay con là Tư lại giết giặc, lập công, thì ban thưởng cho một tấm áo trận bằng nhung vải.
“Còn đối với những người đã ra thú và các thủ hạ mang theo, nên xử trí cho khéo. Nếu có những kẻ tình nguyện vui lòng tòng quân thì liệu để lại một vài trăm ở tỉnh cấp cho tiền, gạo, để sai phái; còn bao nhiều chia về các đồn, mỗi nơi dăm ba chục tên, có quan quân xen vào để kiềm thúc, khiến cho họ gìn giữ lẫn nhau, ngõ hầu không sinh làm bậy”. (Trang 183, tập IV).
Đảng giặc ở Lục Yên tỉnh Tuyên Quang tràn xuống địa phận xã Bảo Ái thuộc Thu Châu. Thổ tri châu Lương Bá Tuyển xin quân cứu ứng. Bố chính Trần Văn Trung, Án sát Nguyễn Huy Chiểu nói với Tổng đốc Lê Văn Đức, Tham tán Nguyễn Công Trứ, phái 300 biền binh đang trú phòng, đi ngăn chặn, rồi làm sớ tâu.
Vua dụ bộ Binh rằng: “Lũ giặc ấy đã nhiều lần bị quan quân đánh tan, mà bọn ở Lục Yên vừa bị Nguyễn Công Trứ đánh phá một chuyến tưởng chúng đã khiếp oai xa trốn, ẩn tích núi rừng; thế mà, nhân lúc quan binh rút khỏi, lại dám lẻn đến sinh sự, thực rất đáng ghét! Tuyên Quang là một kiêm hạt dưới quyền thống trị của Lê Văn Đức. Hiện nay Đức còn đang ở đó, lại không nhận việc đó là trách nhiệm của mình mà lại tự đệ tập tâu, là thế nào? Phải dụ sai Đức hãy ở lại Tuyên Quang, phái thêm binh dõng sung sức để hiệp lực đánh giết toán giặc ấy, bao giờ cho thực hết mới được tuân dụ trước, về lị sở nhận chức”.
… Vua lại sai bộ Binh truyền dụ cho Lê Văn Đức, Nguyễn Công Trứ rằng: “Toán giặc ấy chưa trừ, cũng là công việc các người chưa xong. Vả, trước đã uỷ cho việc quân, hai lần cầm quân đi đánh dẹp đều không trừ được hết giặc! Nay nhân có việc, mang quân về, hiện còn ở Tuyên Quang thế mà đã phó mặc ngoài tai, không để bụng nghĩ đến, là ý nghĩ thế nào? Giả sử nói rằng vừa mới về đến tỉnh, còn chờ chỉ, chưa dám tự tiện sai phái, nhưng ngày nào chưa rời cái ấn quan phòng tổng đốc, tham tán ra thì ngày ấy vẫn còn trách nhiệm, sao được ngồi nhìn giặc cướp tràn lan, điềm nhiên không lo nghĩ, mơ hồ thực chẳng có định kiến gì.
“Vậy nay cho phép đều kiểm điểm lại số binh dõng thủ hạ của mình, hẵng lưu lại đó mà tuỳ cơ đánh dẹp. Nếu bọn giặc tràn xuống, cách tỉnh thành không xa, thì hoặc nên phái một đạo kì binh ngầm chặn phía sau, rồi đại binh thẳng xông phía trước, làm chúng đầu đuôi không cứu được nhau, không lối thoát chết; hoặc nên làm thế nào mà ra quân kì chiến thắng địch, đánh giết một trận thực dữ. Giả sử chưa đến thẳng được Vân Trung, san phẳng sào huyệt, thì cũng nên hết lòng xử trí, tìm mọi cách chiêu dụ vỗ về những người dân quy thuận với mình ở gần miền và phái binh dõng đi phòng ngự, để bọn chúng không dám trở lại quấy nhiễu. Có như thế mới tạm chuộc được lỗi trước...”. (Trang 194, tập IV).
[Tháng 5] Tổng đốc đạo Tuyên Quang là Lê Văn Đức, Tham tán Nguyễn Công Trứ tâu nói: “Theo sự dò xét nhiều lần, thì thổ phỉ các tỉnh Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng, đều có kẻ hùng trưởng mà lấy nghịch Vân làm chủ, châu Bảo Lạc thì Ma Sĩ Huỳnh, Nguyễn Doãn Cao, Nông Văn Nghiệt, Nông Văn Hải, Nông Đình Bành; Vị Xuyên thì có Nguyễn Thế Nga và con là Nguyễn Thế Khôi, Nguyễn Thế Thọ, Nguyễn Thế Ngũ cùng đồng đảng là Nguyễn Thế Chiến, Nguyễn Thế Nho, Ma Tường Quỳ; Đại Man thì có Nguyễn Quang Khải và em là Nguyễn Quang Thiêm, cùng tên giặc Thái Nguyên đang trốn là Nguyễn Đình Chu; Lục Yên thì có Lưu Trọng Chương, Hoàng Trinh Tuyên, Hoàng Kim Quỹ. Đó là chỉ kể những đứa kiệt hiệt ở trong bọn giặc, còn bọn thổ ti, thổ mục không ra thú để theo đi đánh trận thì đều là vây cánh của chúng. Lại có những người Kinh phải tội, trốn đi các châu, làm chim mồi, chó săn cho giặc. Đã tìm nhiều cách hiểu dụ mà chúng vẫn một mực ngoan ngạnh mê muội, cuối cùng vẫn không tỉnh ngộ hối cải, cho nên những người dân mọn không thể không theo được. Còn những đồ khí giới chúng dùng thì lại do thói quen hung ác của thổ dân: phàm là trai tráng đều có súng điểu sang, diêm tiêu, lưu hoàng, than và chì, những thứ ấy hầu được coi như những vật thường dùng hằng ngày. Đến khi cần, đều tự tay chúng chế lấy, dùng rất dồi dào. Những lương thực cần dùng thì do đất núi các châu đều có thể trồng cấy, thóc lúa do đấy cũng khá phong phú. Chúng đến đâu cũng đe doạ nhân dân người chịu ép theo thì chúng bắt cung ứng để dùng, người nào trốn tránh thì chúng cướp bóc của cải để sung vào quân dụng. Tình hình đảng giặc như thế, mà đường rừng nhiều ngách, lương tải khó khăn, tất phải tập hợp binh dõng cho hùng hậu, đợi đến mùa thu, chia làm 3 đường tiến đánh: 1 đường do Vị Xuyên, 1 đường do Lục Yên, 1 đường do Đại Man, theo thứ tự tiến tiễu. Đến đâu cũng tuỳ theo cơ nghi mà làm, khiến không có sự lo ngại ở sau, mới mong được việc”.
Vua dụ rằng: “Xem tờ tâu, ta đã rõ hết. Duy căn cứ vào lời tâu của tỉnh Tuyên Quang trước đây, thì quân giặc ở Vị Xuyên, Đại Man lén xuống cướp bóc. Ấy là việc cần trước mắt, chớ nên để ngoài lòng. Các ngươi nên một phen đánh mạnh, cho nó kinh sợ. Còn việc xin đến mùa thu, tiến thẳng vào sào huyệt của chúng thì đợi sau sẽ xuống chỉ cho làm”. (Trang 202-203, tập IV).


Tiêu đề: Re: Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép về Nguyễn Công Trứ
Gửi bởi: Noitraitim trong 23 Tháng Tám, 2013, 07:10:48 pm
Sách Đại nam thực lục chính biên chép về Nguyễn Công Trứ (Phần III) tiếp

Bố chính Trần Văn Trung và Án sát Nguyễn Huy Chiểu ở Tuyên Quang tâu nói: “Toán giặc Đại Man ở địa phận xã An Lang và xã Vi Sơn, do Đội trưởng Ma Doãn Đô, Ma Doãn Dưỡng, Ma Doãn Khê cùng Thổ ti là Ma Doãn Thản đem lính dõng chặn đánh. Chúng đều chạy tan. Toán giặc Lục Yên nghe nói quân tỉnh tiến đến, cũng liền lén trốn, không dám quấy nhiễu Thu Châu nữa”.
Vua bảo bộ Binh rằng: “Xem tình hình thế thì đủ biết nó cũng không tài giỏi gì, duy có điều là nay ẩn mai hiện, lén lút bất thường. Đó là thói quen của Man, Lạo! Vậy, truyền dụ cho Lê Văn Đức, Nguyễn Công Trứ liệu tính tình thế, nếu thực quả đã yên lặng, thì nên liệu để binh dõng đóng lại và nghiêm sức cho thổ ti sở tại theo địa hạt, phòng giữ ngăn chặn. Rồi theo dụ trước, đều vệ lị sở cũ, cung chức. Còn Ma Doãn Đô, Ma Doãn Dưỡng, Ma Doãn Khê đều cho thăng thụ Chánh đội trưởng; Ma Doãn Thản thưởng thụ Đội trưởng, cho mỗi người 1 chiếc áo trận bằng bông”. (Trang 204, tập IV).
Nguyễn Công Trứ vừa về đến Hà Nội, tiếp được dụ trước nghiêm quở. Trứ tâu xin về ngay Hải Phòng, đổi vát 3.000 biền binh, tuyển lựa những tay thủ hạ sung sức, tu bổ chiến cụ, độ trong một tuần lại đến Tuyên Quang, hội đồng với Lê Văn Đức, tuỳ cơ đánh giặc.
Vua sai truyền dụ Công Trứ rằng: “Bọn giặc ấy nay đã tan vỡ. Chuẩn cho ngươi ở lại tỉnh, làm việc như cũ: quân nghỉ, dân yên, trong cõi được yên ổn, khiến cho chỗ căn bản được vững vàng trước. Bảo Lạc nhỏ mọn, một trận sẽ dập tắt ngay, không cần đi nữa để làm nhọc quân sĩ”. (Trang 212, tập IV).
[Tháng 6] Sai Thự Tổng đốc Hải - An là Nguyễn Công Trứ hiệp cùng Tổng đốc Ninh - Thái là Nguyễn Đình Phổ đi tiễu thổ phỉ. Trước đây, Phổ được tin báo bộ biền Thái Nguyên bị giặc đánh thua, liền phái quyền sung Phó Lãnh binh Nam Định là Lê Phúc Sơn, Quản cơ cơ Tiền Nhuệ là Tôn Thất Loan đem 500 biến binh và 6 thớt voi trận, cùng Quản phủ phủ Thiên Phúc là Phạm Hữu Cao đốc thúc lính phủ và thổ dõng, chia đi những nơi tiếp giáp giữa Kim Hoa, Yên Lãng, Bình Toàn, góp sức quây đánh. Sau đó lại nghe báo cáo ở Thuận An có một toán giặc hơn 800 tên, nổi lên tại tổng Quỳnh Bội, huyện Gia Bình, lại phái Phó Quản cơ cơ Cự uy là Nguyễn Văn Kim đem quân và voi đi tuần tiễu tầm nã và phi báo cho tỉnh Hải Dương hội quân đánh bắt. Rồi làm sớ đem việc tâu lên.
Vua bảo Nội các rằng: “Gần đây cứ như tin tâu báo của tỉnh Sơn Tây thì trong tỉnh có đến ngót 5000, 6000 giặc quần tụ, sau khi bị quan quân đánh giết một trận, chạy tản ẩn núp ở miền rừng Bắc Ninh, Sơn Tây còn nhiều! Nay Thự Tổng đốc Hải Dương là Nguyễn Công Trứ đã khải hoàn, về đến tỉnh, lại xin đi Tuyên Quang để bắt giặc. Vả, toán thổ phỉ Tuyên Quang đã tản mát, lùi vào rừng sâu, không cần phải đi đánh nữa. Vậy truyền dụ cho Nguyễn Công Trứ đem ngay hơn 1000 binh dõng mang theo đó, tiến gấp đến chỗ giáp giới giữa hai tỉnh Bắc Ninh, Sơn Tây, rồi tham tán quân vụ hiệp với Nguyễn Đình Phổ, tuỳ cơ đánh bắt, cốt sớm dẹp yên. Lại truyền dụ cho Nam Định và Hà Nội phái Quản vệ hay Quản cơ mỗi tỉnh 2 người và 1000 quân đi theo Nguyễn Đình Phổ, Nguyễn Công Trứ điều khiển...”. (Trang 222-223, tập IV).
[Tướng giặc Tuyên Quang là Nông Văn Vân và Bế Văn Cự lại tụ tập quân Thổ cướp lấn địa hạt Thông Nông, Cao Bằng].
[Vua dụ] sai Thự Tổng đốc Nguyễn Công Trứ, đem số binh dõng vẫn quản lãnh tiếp viện Cao Bằng, vẫn sung làm Tham tán quân vụ. Trước Trứ đã có chỉ cho hiệp sức với Nguyễn Đình Phổ đi tiễu toán giặc ở chỗ giáp giới Sơn Tây - Bắc Ninh. Vua cho rằng dư đảng bọn phỉ Thanh Ba đã trốn vào rừng núi, mà tìm báo về biên giới Cao Bằng rất khẩn cấp, cho nên có lệnh sai này. (Trang 249, tập IV).
Tổng đốc Ninh - Thái, Nguyễn Đình Phổ, Tham tán Nguyễn Công Trứ tâu nói: “Trước đây vâng mệnh đem quân và voi đi đến miền rừng giáp giới Sơn Tây, nghe nói lũ giặc đã bị quan quân các đạo đánh tan, bọn thần chẳng tiện ở lại, đều đã về lị sở cung chức. Duy nay, bọn giặc Cao Bằng chắc đã kéo đến Tiêm Lĩnh, dựa hiểm, cố giữ; nếu quân 3 đạo không đồng thời cùng tiến thì chưa dễ thu được công hiệu. Chỉ có điều là nay đang mùa mưa, sông, suối nước lên đầy, nên chưa dám xin”. Vua xuống dụ rằng: “Ngươi, Nguyễn Công Trứ, đã có chỉ đi gấp Cao Bằng để cứu viện. Nay, một đạo đại quân ấy chắc đã tập hợp đông đủ. Quân giặc thể tất chẳng đánh cũng tan, Cao Bằng có thể lấy lại ngay được. Và, kì này nước lũ dẫy lên, 3 đạo tiến quân thấy rất chưa tiện, để đến cuối mùa thu, sẽ lại xuống chỉ cho làm”. (Trang 261, tập IV).
[Tháng 7] Cho: Nguyễn Công Trứ làm Tham tri bộ Binh, Tuần phủ Hải Dương, vẫn thụ lí ấn quan phòng Tổng đốc Hải - Yên…
[Cũng trong tháng 7] Tham tán Nguyễn Công Trứ đem hơn 1500 binh dõng từ Hải Dương tiến lên tiếp viện Cao Bằng. Khi qua Bắc Ninh, nghe tin Thái Nguyên có giặc, Nguyễn Đình Phổ đã đem binh đến đánh, bèn dâng sớ nói: “Toán giặc Cao Bằng, chỉ từ Tiêm Lĩnh trở lên, dựa hiểm cố giữ, đã có Tổng thống Tạ Quang Cự và lũ Lãnh binh Nguyễn Tiến Lâm, Đoàn Văn Cải, đại đội quan quân đủ giúp vào việc đánh dẹp. Duy có địa thế Thái Nguyên, một mặt từ Định Châu rẽ ngang sang Đại Man thuộc Tuyên Quang, một mặt từ Bắc Cạn đi rẻo qua Bạch Thông, Cảm Hoá, thông lên Bảo Lạc thuộc Tuyên Quang, lại có một đường đi từ Linh Quang, Linh Mai giáp đồn Gia Bằng, thông đến Tiêm Lĩnh thuộc Cao Bằng. Đường rừng nhiều ngách, mà biền binh do Nguyễn Đình Phổ đem đi chỉ có hơn 1000 người, nếu nhằm Bắc Cạn mà tiến công thì toán giặc ở Định Châu có thể ập lại ở phía sau; nếu chỉ chẹn giữ các đường ở Định Châu và Gia Bằng, thì giặc Bắc Cạn thế tất lan tràn, mà quan quân ở Lạng Sơn cũng chưa thể vượt Tiêm Lĩnh, lấy lại Cao Bằng được. Cân nhắc sự hoãn, cấp, thì Thái Nguyên lại là khẩn cấp hơn. Vậy xin lấy số binh dõng đương đem theo, đi gấp ngày đêm, đến hội với Nguyễn Đình Phổ, chia đường tiến đến Bắc Cạn; một đạo do Gia Bằng đến Tiêm Lĩnh, đánh phá quân giặc ngăn đường; một đạo do Bạch Thông, Cảm Hoá đến thẳng Bằng Thành, Cổ Đạo tiến vào bức bách giặc. Như vậy, thiết tưởng đạo quân Lạng Sơn cũng dễ đủ sức làm việc mà Cao Bằng sẽ có thể sớm lấy lại được”.
Vua dụ rằng: “Ngươi nghĩ thế cũng có lẽ, nhưng kì này đương độ mưa nhiều, quân đi không tiện, nếu vội tiến thì chưa phải là kế vạn toàn. Chuẩn cho ngươi hãy đến bàn với Nguyễn Đình Phổ, cốt sao đánh giết cho kì hết thổ phỉ Thái Nguyên để làm thanh thế tiếp viện cho đạo quân Cao Bằng. Việc yên rồi, đều cho về tỉnh nghỉ ngơi, đợi đến cuối mùa thu sẽ lại cất quân cũng được”. (Trang 270-272, tập IV).
Tham tán Nguyễn Công Trứ từ Bắc Ninh tiến lên Cao Bằng, làm việc đánh dẹp.
Vua được tin, bảo bộ Binh rằng: “Nguyễn Công Trứ trước đã làm tập tấu xin đi hội tiễu với Nguyễn Đình Phổ, đã được chuẩn y lời xin; thế mà Trứ không cứ ở lại đợi chỉ, đã vội ra đi, há chẳng luống những nhọc nhằn về sự đi lại? Nay, một đạo Lạng Sơn đã có đại binh của Tổng thống Tạ Quang Cự, hiện nay chắc đã đến tỉnh, đủ giúp nên việc. Vậy, nên truyền chỉ cho Nguyễn Công Trứ: nếu tiếp được tờ dụ sau thì quay trở lại Bắc Ninh, xét ngay xem bọn phỉ nổi lên những đâu ở Gia Bình, nếu bọn Đào Văn Nghị và Tôn Thất Loan chưa đánh giết được hết, thì chuẩn cho đem quân đến hội tiễu tại chỗ, trước phải dập tắt lũ ấy, rồi lên đường đến họp với quân Nguyễn Đình Phổ, lại bắt và chém cho hết sạch toán dư đảng Thái Nguyên. Thế thì công Nguyễn Công Trứ không nhỏ vậy”.
Trứ đến Lạng Sơn, lại dâng sớ tâu nói: “Hai tỉnh Cao Bằng, Tuyên Quang sự thế khác nhau. Địa thế Cao Bằng hơi chật hẹp. Những tên còn thuỷ chung với giặc Vân chỉ có tên Cận, tên Huyền mà thôi. Địa thế, Tuyên Quang rộng rãi, núi non đều có thể đóng giữ. Đại Man thì có anh em tên Quang Khải, Vị Xuyên thì có bố con tên Thế Nga, Lục Yên thì có tên Chương, tên Tuyên, đều là hùa nhau làm ác, cậy mạnh vì có thế kiên cố. Trước kia, thổ phỉ Sơn Bắc tụ tập có đến hàng vạn, dẫu đã bị quan quân một phen đánh cho thua đau, nhưng mà những tên đầu sỏ còn nhiều, tản đi Lục Yên. So sánh như thế thì Tuyên Quang còn khó hơn Cao Bằng. Trước đây, chỉ vì đường vận tải lương thực khó khăn, nên mới phải vâng mệnh rút quân về. Ngày đêm toan tính, chỉ có cách lấy lương của giặc mà đánh giặc thì mới được. Vả, hạt ấy đều là ruộng núi, tháng 9 trở đi, chính là lúc lúa mùa đã chín. Thóc lúa đều để ở ngoài đồng, đến đâu cũng có thể lấy lương ở đó mà ăn, không lo thiếu thốn. Tưởng nên nhằm hạ tuần tháng 8, quân 3 tỉnh nhất tề tiến đánh, thì tên giặc Vân ngu dại kia khó lọt lưới được. Tuyên Quang đã yên, thì hai tỉnh Cao Bằng, Thái Nguyên có thể làm được dễ dàng. Lại nghe nói Cao Bằng có người thổ hào là Ma Ngọc Lí đánh nhau với giặc luôn, giặc chẳng dám đóng ở tỉnh thành, phải chia nhau núp ở rừng rú. Nhưng đó là tin nghe đồn, chưa rõ hư thực. Vậy xin lập tức đi đến để xem cơ hội, nếu có thể tiến tiễu thì lấy đường thẳng tiến, nếu phải đợi đến cuối mùa thu sẽ hội tiễu, thì xin để một số binh dõng ở lại đóng giữ, rồi quay về Sơn Tây, hội với Tổng đốc Lê Văn Đức bàn bạc cách làm, để cho công cuộc được trọn và chuộc tội trước”.
Vua phê bảo rằng: “Ngươi đã đến đó nên tìm kế lấy lại Cao Bằng để yên lòng người. Còn việc cuối thu hội tiễu, đợi sau sẽ xuống chiếu chỉ cho làm”. (Trang 274-275, tập IV).
Đạo quân của Tham tán Nguyễn Công Trứ tiến đến quân thứ Lạc Dương. Trước đây, lũ Nguyễn Tiến Lâm đã thua lui về, giặc đem hơn 6000 đồ đảng vây quanh bốn mặt. Chợt thấy Trứ dẫn quân đến, chúng liền lên núi, tìm chỗ hiểm, đóng giữ. Trứ bèn dâng sớ nói: “Số người trong quân có đến ngót 4500, mà gạo lương chỉ có hơn 300 phương, không đủ ăn trong 3 ngày. Còn số lương ở Lạng Sơn để tải theo đường bộ đến quân thứ, đi bình thường cũng phải 4 ngày, nếu gặp mưa lụt thì chẳng có hạn nào! Số gạo mua ở Thất Toàn từ trước đến nay cũng không được mấy. Nay kéo quân thẳng tiến đến, nếu mọi mặt đều được thuận lợi thì việc tiếp tế lương thực cũng còn khó khăn, ví bằng mưa gió ngăn trở càng thấy không tiện. Vả, năm ngoái, 3 tỉnh hội tiễu, quân Thái Nguyên đã đến Vụ Nông, quân Sơn Tây đã đến Ngọc Mạo, cho nên đạo quân Lạng - Bình dễ được thành công. Nay quân hai tỉnh còn đợi đến cuối mùa thu, để cho quân giặc hợp sức lại, chọn chỗ hiểm mà chống đánh. Vả, quân số để lại, xông pha lam chướng đã lâu, lại cảm mạo khí rừng núi, và bị thua trận thì cũng chẳng phải là quân đắc lực. Những tình hình như thế, nghĩ đi nghĩ lại chưa biết nên làm thế nào cho ổn!”.
Vua dụ rằng: “Thế giặc ngày càng lan rộng, quân ta tiến đánh không thể nửa chừng thôi được. Vậy, Nguyễn Công Trứ, ngươi đã được uỷ thác việc quân nặng nề thì bao nhiêu mưu cơ ở trong quân phải nên nhận đúng, nhằm to mà làm. Thế mà một việc lương quân, lại lấy làm khó khăn về sự mua ở dân không được là mấy, quân ta tiến lên, thế khó tiếp tế. Vậy thì giặc có hơn 6000 đồ đảng, chúng có tích trữ gì, mà từ bấy đến nay, chúng lấy ở đâu, sao không thấy thiếu thốn? Thực bởi ngươi không chịu để tâm một chút nào, làm phụ lòng ta uỷ thác nhiều lắm! Muôn một xảy ra lỡ làng điều gì thì đổ lỗi cho ai được? Nay đại binh của Tổng thống Tạ Quang Cự chắc đã đến đông đủ, mà lũ Nguyễn Hữu Đĩnh, Ma Ngọc Lí ở Cao Bằng cũng đã tập hợp thổ dõng để đợi quan quân. Cái cớ tiến thủ cũng dễ. Chuẩn cho ngươi cùng Tạ Quang Cự phải mau đốc thúc quân và voi, mạnh mẽ tiến lên, đánh giết thật dữ một phen, lấy lại Cao Bằng để yên lòng dân. Còn việc lương thực, ta đã nhiều lần dụ sai Lạng Sơn, Bắc Ninh tìm cách tải đến. Song núi khe hiểm trở, vận tải khó khăn. Nay quân đi đến đâu, nên tìm nhiều cách làm lương: hoặc trả thêm giá mà mua một cách thoả thuận, hoặc thu thuế trước, miễn là tuỳ theo từng nơi mà lấy để cấp. Loại ra hết thảy những người tuỳ tùng hầu hạ tạp nhạp, không cho dự vào hạng ăn lương. Còn những bệnh binh thì thả cả cho về hàng ngũ. Các tướng võ, có ai đánh nhau bị thương nặng, đều cho về điều dưỡng ở Lạng Sơn. Những Tri huyện, Giáo thụ, Huấn đạo cùng các lại dịch hai ti bố, án thuộc hạt Cao Bằng được đi tòng quân cũng được đến Lạng Sơn: quan thì cho chia nhau đốc thúc việc tải lương, lai lịch thì cho đi với dân, đội gánh lương hướng. Số người toàn tỉnh Cao Bằng chẳng phải không nhiều, chỉ bởi có ý lừng khừng chẳng chịu đồng lòng chống giữ, cho nên quân giặc mới thừa cơ lấn lướt thôi. Ngày nay lấy lại được thành tỉnh, thì chuẩn cho Tạ Quang Cự sức bảo Thổ ti, Thổ mục tập hợp quần chúng, không kể là quân hay dân, đều cho miễn trừ đi lính và diêu dịch, sai họ đi đến các ngả đường tiếp giáp miền rừng một dải Bảo Lạc mà giặc có thể đến được, chia đồn đóng chặn những chỗ hiểm yếu. Nếu có những ai canh giữ được việc, chuẩn cho cứ thực tâu rõ, sẽ có cất nhắc vượt bậc; nếu không hết sức canh phòng để giặc còn lấn qua được thì lập tức chém đầu để răn dạy kẻ khác. Lại nên liệu xét tình hình, chọn lấy những biền binh tinh nhuệ, để lại ở tỉnh, đủ giúp vào việc đánh giữ; còn bao nhiêu cho về Lạng Sơn, tiếp vận lương thực cốt sao cho tích trữ được đầy đủ. Đợi đến cuối mùa thu, nước rút xuống, bấy giờ 3 đạo quân sẽ hẹn ngày cùng tiến thẳng đến tổ giặc ở Vân Trung bắt chém tên giặc Vân, thì có thể một trận thành công được”. (Trang 284-285, tập IV).


Tiêu đề: Re: Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép về Nguyễn Công Trứ
Gửi bởi: Noitraitim trong 23 Tháng Tám, 2013, 09:19:10 pm
Sách Đại nam thực lục chính biên chép về Nguyễn Công Trứ (Phần III) tiếp

Tổng đốc quân vụ Lạng - Bình là Tạ Quang Cự mới đến Lạc Dương, hội cùng Tham tán Nguyễn Công Trứ, đánh thắng thổ phỉ. Quân giặc chia đặt hơn 20 trại, sách ở vùng núi Lạc Dương, chống cự quân ta. Chúng lại chia đồ đảng lẻn xuống đường giáp xã Hoa Sơn, ngăn chặn, mong cắt đứt đường vận lương của ta. Lũ Quang Cự liền thân đốc biền binh từ Hoa Sơn, Liên Thượng, Lạc Dương đồng thời tiến đánh, chém được 58 thủ cấp giặc, bắt sống được 2 tên. Giặc thua to, tan vỡ chạy trốn vào rừng sâu. Quân ta đến hết các trại và sách giặc, tìm đất đóng giữ. Nguyễn Công Trứ lại mang binh dõng đã đem theo quay về Thái Nguyên, đem việc tâu lên. (Hoa Sơn là tên xã, sau đổi là Cảm Sơn).
Vua dụ bộ Binh rằng: “Quân giặc ấy nhân sau khi quan quân rút về, nhân kẽ sơ hở, xâm nhiễu Cao Bằng, lại dám tràn xuống Tiêm Lĩnh, dựa chỗ hiểm, chống cự lại, thật rất đáng ghét. Quan quân thoạt đến, hăng hái tiến lên, thắng được trận to. Xem tờ tấu, rất đáng khen thưởng. Vậy những biền binh đi trận đó, chuẩn cho hãy thưởng trước 1000 quan tiền, còn các Quản vệ, Quản cơ, Suất đội, đợi danh sách công trạng tâu lên sẽ liệu ban thưởng. Còn như Tạ Quang Cự trước kia xếp đặt không đúng để đến nỗi quân mới rút về, giặc lại gây sự, lẽ ra nên khép vào cái tội đáng phải chịu, nhưng vì lần này trở lại, liền biết đốc thúc tướng sĩ, đánh tan quân giặc nên chuẩn cho miễn tội trước. Nguyễn Công Trứ, trước đã xin đi Thái Nguyên, thế mà không đợi chỉ, cứ đi thẳng, nay ở Lạng Sơn đương lúc đánh dẹp, lại tự dẫn quân về. Lui tới đều không căn cứ lí do nào! Nhưng nghĩ Trứ cũng dự phần vào chiến công này, nên hẵng miễn cho, không xét hỏi kĩ”. (Trang 287-288, tập IV).
Thự phủ Lạng - Bình là Trần Văn Tuân tâu nói: “Thế giặc ở Cao Bằng hãy còn rông rỡ. Trước đây, trận đánh ở Lạng Chỉ, quan quân bị thua, từ khi có đạo quân của Tham tán Nguyễn Công Trứ đến, thì quân mới nổi tiếng, nay rút về Thái Nguyên, số biền binh ở quân thứ chỉ còn hơn 4000 người, e quân giặc nhòm ngó, biết số quân còn ít, lại thêm quấy rối. Vậy xin nên cho ở lại cùng với Tổng thống Tạ Quang Cự bàn tính việc quân, mới mong sớm thành công được”.
Vua dụ rằng: “Ngươi là tuần phủ Lạng - Bình, phàm những cơ mưu quân sự, tình hình thổ phỉ, biết gì cũng nói, chưa hẳn là không phải. Duy có việc đánh dẹp của một đạo quân này, đã có Tạ Quang Cự và Nguyễn Công Trứ chuyên chịu trách nhiệm. Mới đây, sau khi quan quân thắng trận hoặc nên ở lại để đuổi bắt, hoặc nên quay về Thái Nguyên, hai viên ấy đã từng hội bàn với nhau, đều đứng tên cùng tờ sớ tâu lên rồi. Tạ Quang Cự vẫn không nản lòng vì ít quân, thì việc dẹp giặc ấy chắc cũng không khó. Ngươi chỉ nên hết lòng lo làm lương quân để cho đại quân tiến đánh lấy lại Cao Bằng, không thiếu thốn, thế là được, bất tất phải quá bối rối, lo sợ”. (Trang 289, tập IV).
Tham tán Nguyễn Công Trứ về đến Lạng Sơn tiếp được tờ dụ nghiêm quở, Trứ bèn tâu nói: “Đạo quân Lạng Sơn đã có Tổng thống Tạ Quang Cự tính toán xếp đặt, tưởng đã đủ rồi, mà sự thế Thái Nguyên hãy còn vất vả, xin tiện đường quay ngay về Thái Nguyên, hiệp cùng Tổng đốc Nguyễn Đình Phổ bàn bạc việc quân cho được đúng khớp”.
Vua dụ rằng: “Cao Bằng nay đã lấy lại được rồi. Ngươi cùng Nguyễn Đình Phổ hãy nên đóng quân nghỉ ngơi để nuôi sức mạnh. Nếu Thái Nguyên còn có quân giặc lẻ tẻ ẩn núp thì dập tắt cho hết. Rồi phải sắp sửa lương thực quân nhu mọi thứ cho đầy đủ trước, đợi đến cuối thu, ta sẽ xuống dụ cho hội tiễu, thì ngươi lập tức hăng hái tiến lên để được thành công hoàn toàn. Và, 3 đạo hội đánh, Tuyên Quang cũng nên phái 1 viên quan võ to làm Thống soái thì dùng Lê Văn Đức làm Tham tán là đủ. Còn đạo Thái Nguyên đã có Nguyễn Đình Phổ Thống đốc, ngươi là quan văn sung làm Tham tán cũng là hợp lẽ. Phải nên lấy việc nước làm trọng, giữ lòng hoà thuận, cùng giúp đỡ nhau, cố gắng làm cho thành công, chớ có chút ý kiến chọn việc mà làm, sẽ bị đình thần chỉ nghị!”. (Trang 291, tập IV).
Tổng đốc Nguyễn Đình Phổ được tin báo, liền đem việc tâu lên, và nói: “Bắc Cạn dẫu đã lấy lại được, song xứ ấy đường núi nhiều ngách, mà một dải Dương Xuân còn có giặc đóng giữ, địa thế có thể thông đến Chợ Mới, quanh ra phía sau Bắc Cạn được. Nay nếu vội tiến sâu vào trọng địa, e có thể xảy ra mối lo không ngờ ở mặt sau. Thần đã sức Tống Văn Trị hãy đóng ở Bắc Cạn nghiêm cẩn ngăn chặn, đợi Tham tán Nguyễn Công Trứ đem quân đến, tức thì hội quân chia đường tiến đánh”.
Vua dụ rằng: “… Nay quân giặc đã bị thua đau, mà giặc Cận ở Cao Bằng hiện đã bị giết, tỉnh thành cũng lấy lại được, thì lũ giặc kia sợ bóng sợ gió cũng tất tan vỡ. Vậy chuẩn cho các ngươi Nguyễn Đình Phổ, Nguyễn Công Trứ, chuyển sức cho các bộ biền ở trong quân thứ mau mau đánh giết cho hết sạch lũ giặc tàn bại lẻ tẻ ở gần tỉnh Thái Nguyên và chiêu tập nhân dân sở tại đâu đấy trở về yên nghiệp làm ăn rồi cho quân nghỉ ngơi dưỡng sức, đợi đến cuối thu sẽ lại cử sự...”.(Trang 301-302, tập IV).
[Tháng 8] Vua dụ rằng: “Cứ như những tình hình công việc đã tâu bày, kể cũng hợp lí; duy có điều nghĩ xin tháng tám tiến quân thì hơi sớm quá. Và, đương lúc chưa hết mưa lụt, núi khe hiểm trở, việc vận tải lương thực khó được đầy đủ tất cả. Nếu bảo nhân lương của giặc để làm lương mình, thì trong khoảng đó, lúa ruộng núi chưa chín, phỏng lấy vào đâu? Huống chi đại quân đã đi, tất phải thẳng đến tổ giặc, chứ có lí do nào quanh co chờ đợi lúa chín, gặt xong để lấy vào lương của giặc? So với những lời đã nói rất không ăn khớp. Chi bằng đợi đến cuối thu, lên đường thẳng tiến. Bấy giờ thóc lúa chín, lam chướng tiêu, chính là cơ hội tốt. Còn như nói địa thế Tuyên Quang rộng, xa, xin cho phái 3 đạo trọng binh chia đường cùng tiến. Hiện nay Cao Bằng đã lấy lại được rồi, tiếng tăm quân ta lẫy lừng rầm rộ. Thái Nguyên, cũng đã dư phái Nguyễn Đình Phổ, Nguyễn Công Trứ đem đại quân đi hội tiễu thì Cao Bằng đánh ở đầu, Thái Nguyên đâm giữa bụng, Tuyên Quang dẫu là đất rộng rãi, chẳng qua cướp lấy cái đuôi mà thôi... Đó là ý kiến của ta bảo cho biết trước, nhưng đối với sự việc, khó ở xa mà lường trước được. Nếu có mưu kế gì khác thì tâu nói ngay, đợi chỉ tuân làm cho hợp thời cơ…”.
Lại sai truyền dụ cho Nguyễn Đình Phổ, Nguyễn Công Trứ ở đạo Thái Nguyên xét ngay tình hình đánh dẹp hiện nay, nên chăng đợi đến cuối thu, 3 đường đều tiến? Việc này tính kĩ rồi tâu lên, còn việc nghĩ trước về cách đôn đốc hộ vệ tải lương cũng như thế. (Trang 310-311, tập IV).
[Tháng 8] Tham tán Nguyễn Công Trứ từ tỉnh Lạng Sơn về đến Thái Nguyên, hội với Nguyễn Đình Phổ, Tổng đốc Ninh-Thái, bàn tính việc quân. Bỗng được tin bọn giặc Bột từ Tuyên Quang chạy về các châu huyện tiếp giáp Thái Nguyên, họ lập tức phái các biền binh và phi sức cho các Thổ mục, Tổng lí sở tại cứ theo địa hạt mà phòng thủ ngăn chặn. Giặc đến Đại Từ và Văn Lãng thì quan quân bắt được tên giặc Nguyễn Danh Cao là đốc chiến của giặc và 28 tên trong bọn giặc, chém được 2 đầu giặc. Giặc bèn theo miền rừng huyện Đăng Đạo, tỉnh Sơn Tây chạy trốn.
Bọn Phổ lại được tin các huyện Lang Tài, Tiên Du và Yên Thế thuộc tỉnh Bắc Ninh, còn có bọn cướp lén lút ló ra, sợ lũ giặc kia lẩn trốn lén về, thế tất lại tụ họp với nhau, có lẽ lại lan thêm ra chăng, họ cùng bàn nhau: Nguyễn Đình Phổ, cứ lưu lại ở Thái Nguyên để trù tính khí giới và lương thực cho quân; Nguyễn Công Trứ đem số binh dõng đã mang theo trở về tỉnh Bắc Ninh, đàn áp một lượt, đến hạ tuần lại tới Thái Nguyên đợi chỉ tiến đánh. Rồi họ hội nhau dâng sớ lên vua và nói: “Trước giờ, giặc sở sĩ trốn được lâu, chưa bị giết, như thế là bởi các Tổng lí chứa chấp chúng. Nếu không trừng trị nghiêm ngặt hơn nữa thì bọn chúng cứ hùa nhau làm ác, chung quy chỉ gây hại cho dân. Vậy xin chiếu theo lời đình nghị năm trước, đã làm thử ở tỉnh Nam Định: hễ bắt được đầu mục giặc hoặc đồng loã giặc ở xã, thôn nào thì Lí trưởng cũng phải chịu cùng tội như phạm nhân, Cai phó tổng đều bị trị tội nặng. Như thế thì Tổng lí không dám giấu giếm chứa chấp, kẻ phạm không còn ẩn nấp vào đâu, và thường dân mới được yên ổn”. Vua y theo.
Tổng đốc Ninh - Thái Nguyễn Đình Phổ, Tham tán Nguyễn Công Trứ tâu nói về nhật kì tiến binh: “Hiện nay mùa thu, nước đang lớn, sông ngòi đầy tràn, nên đợi đến trung tuần tháng 9 lụt hết, nước cạn hành quân mới được thuận tiện”.
Vua dụ bộ Binh rằng: “Trước đây ta cho rằng tháng 8 đang mùa mưa lụt, nếu quân đi sớm quá, sợ có nhiều điều không tiện, nên đã xuống dụ chuẩn cho trù tính thật kĩ. Nay cứ như lời tâu, chính hợp ý ta. Vậy, truyền dụ cho 2 đạo Cao Bằng và Tuyên Quang, nhằm giờ lành, trung tuần tháng 9, chuẩn cho cùng với đạo quân Thái Nguyên hẹn kì cùng tiến”.
Bộ Hình tâu lên: “Lê Văn Đức và Nguyễn Công Trứ lần trước hành quân chậm trễ, kết án tội xử tử”.
Vua dụ Nội các rằng: “Lê Văn Đức và Nguyễn Công Trứ bấy giờ vâng mệnh chuyên việc đi đánh giặc, kéo dài đến hàng tuần, để quân lính nhiều người bị thương và chết. Súng ống, khí giới thất lạc cũng nhiều, đáng lẽ phải cách bãi mới đáng tội; nhưng nghĩ: châu Bảo Lạc vẫn có tiếng là nơi hiểm trở xa xôi, thuỷ thổ đã xấu, mưa lụt lại nhiều, lam chướng lại nặng, còn có thể tha thứ được. Nay chính là lúc tiến đánh cũng nên tạm rộng khoan thứ, cho họ đới tội lập công. Nếu cứ theo phép thi hành thì họ đã không được dự việc quân, muốn thi thố hết mưu mô và võ dũng cũng không có chỗ! Lòng ta không nỡ. Vậy chuẩn cho, trước hãytước mũ áo, đoạt hết lương bổng - Lê Văn Đức lại bị giáng 4 cấp, Nguyễn Công Trứ giáng 3 cấp, khiến họ thu công về sau để chuộc tội trước.Còn Lãnh binh Nguyễn Văn Quyền, khinh suất tiến quân, để bị thua trận thì lập tức cách chức, giáng làm lính; Vệ uý cùng đi trận ấy là Tô Huệ bị cách lưu, Nguyễn Văn Lực bị giáng 2 cấp. Ngoài ra các quan võ thuộc hạ phái đi đều gia ân khoan miễn. Bộ Hình nghị xử quá nặng, vậy truyền chỉ ban quở”. (Trang 326, tập IV).
[Vua] truyền dụ cho Lê Văn Đức và Phạm Văn Điển đạo Tuyên Quang vào khoảng trên dưới ngày mồng 3 tháng 9, trước hãy lên ngựa từ Sơn Tây, đem binh dõng tiến đến Tuyên Quang, xếp đặt mọi việc binh lương cho được thanh thoả. Đến giờ tốt ngày 9 tháng ấy đều chia đường cùng tiến. Còn Tạ Quang Cự, Nguyễn Tiến Lâm, Hồ Hựu ở Cao Bằng, Nguyễn Đình Phổ, Nguyễn Công Trứ ở Thái Nguyên thì đều đổi nhằm ngày 20 tháng 9, tiến quân hội tiễu. (Trang 341, tập IV).
[Tháng 9] Tổng đốc Nguyễn Đình Phổ cùng Tham tán Nguyễn Công Trứ, cùng đi Thái Nguyên chỉnh đốn lương thực, khí giới, quân nhu để tới kì thì xuất phát. (Trang 368, tập IV).
Tổng đốc Nguyễn Đình Phổ, Tham tán Nguyễn Công Trứ ở đạo Thái Nguyên đem 4000 binh dõng, 9 thớt voi trận từ Thái Nguyên tiến đi: trước hết sai Án sát Doãn Uẩn đến đồn Bắc Cạn, phủ dụ dân ở vùng Bạch Thông, Cảm Hoá để đốc suất vận tải lương hướng và tuỳ tiện đặt mua lương thực với giá thoả thuận. Lại sai riêng Phạm Phi, Phó Lãnh binh Bắc Ninh đem 1000 binh dõng, từ Định Châu chuyển đến Chợ Rã, hội với đại binh. Và lưu Tống Văn Trị, Lãnh binh Thái Nguyên ở lại hợp với Bố chính Lê Trường Danh chuyên làm việc vận lương từ tỉnh Bắc Cạn. Sớ dâng lên. Vua phê bảo: “Hiện nay Lê Văn Đức đã thắng trận. Lũ ngươi nên tiến nhanh cho kịp công việc, binh lương dồi dào, thì cưỡi ngựa đi trận đến đâu tất có thể thành công đến đó”. (Trang 377, tập IV).
[Tháng 10] Thống đốc Nguyễn Đình Phổ, Tham tán Nguyễn Công Trứ đạo binh Thái Nguyên tiến quân đến Chợ Rã. Lũ giặc đã trốn trước. Dò thám biết rằng tên Tổng nhung giặc là Nông Văn Sĩ, còn thủ hiểm ở phố Bắc Nậm. Từ đấy qua Bằng Thành, Cổ Đạo và Kiệu Ca (tên núi) để tới Vân Trung, đường núi hiểm trở, quân đi phải đến 6 ngày đường. Họ bèn bàn nhau, chia đường tiến đánh. (Từ Chợ Rã đến Bắc Nậm có 2 con đường: 1 đường từ xã Na Dụ qua xã Bắc Phấn; 1 đường từ xã Bắc Khoát qua xã Hồng La). Rồi làm sớ tâu lên và nói: “Voi trận đi núi không tiện, đã lưu hơn 200 biền binh ở lại đồn Na Miêu, theo Án sát Doãn Uẩn để coi giữ”.
Vua bảo bộ Binh rằng: “Trước đây, cứ theo tập tâu của Lê Văn Đức ở Tuyên Quang, thì đạo binh đã do tả ngạn sông Lô, tới hội với Phạm Văn Điển, tìm đường cùng tiến. Nay lại tiếp được tập tấu của Nguyễn Đình Phổ và Nguyễn Công Trứ ở Thái Nguyên nói đạo binh của họ hiện tới Chợ Rã; duy đạo binh Cao Bằng chưa thấy tấu báo, ta còn đương để ý ngóng trông. Vả lại, việc binh quý ở nhanh chóng, không nên thận trọng quá để lỡ mất cơ hội; nhưng một đạo một mình tiến trước, e có sự lo cô quân đi lẻ vào sâu, nên chưa tiện thúc giục rồi. Vậy truyền dụ cho các thống binh, đại viên ở các đạo: nên lấy việc nước làm trọng, kẻ tả, người hữu dắt dìu lẫn nhau, hết sức cùng lòng, nhân tiện tư bao với nhau hẹn kì hội đánh, thẳng tới sào huyệt của giặc, bắt chém giặc Vân...”. (Trang 390, tập IV).


Tiêu đề: Re: Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép về Nguyễn Công Trứ
Gửi bởi: Noitraitim trong 23 Tháng Tám, 2013, 09:19:44 pm
Sách Đại nam thực lục chính biên chép về Nguyễn Công Trứ (Phần III) tiếp

Nguyễn Công Trứ, Tham tán đạo Thái Nguyên, từ Chợ Rã tiến đến Hồng La, Điệp Ải. Giặc bỏ trại, lui chạy. Ta đuổi đến Bột Lĩnh thì tối bèn dừng quân. Được tin giặc thủ hiểm ở Phùng Ải (chỗ này đá chót vót, dưới là khe sâu, hai bên bờ núi sừng sững đối nhau, rất khó đi), bèn nghĩ tìm đường để đêm đánh úp thì bỗng được tin báo có một toán giặc đi ra bên hữu Điệp Ải và một toán quân đi ra bên tả phận núi Hồng La, định đánh chặn phía sau quân ta, Trứ lập tức chia quân phòng giữ, rồi tâu lên, và nói: “Ở tỉnh Thái Nguyên nhiều lần bị bất lợi, đều vì sa vào chỗ hiểm, gặp quân phục. Giặc quen dùng thuật ấy càng thêm rông cuồng! Nếu không 10 phần thận trọng thì không khỏi mắc mưu bọn man xấu xa! Huống chi quân đi càng xa thì đường vận lương và đệ công văn càng thấy quan ngại, nên phải tạm đóng ở đây để tuỳ cơ mà tiến”.
Vua dụ rằng: “Từ tỉnh Thái Nguyên đến Bắc Nậm, đường đi chỉ hơn hai ngày, mà quân đi đã quá một tháng. Trùng trình trên đường, dừng quân, hao lương thế sao bằng trước kia cứ tạm lưu lại ở tỉnh thành, gây oai phong, nuôi nhuệ khí, rồi sau một chuyến cất quân đi thẳng cho khỏi đến nỗi giãi gió dầu sương, xông pha lam chướng, có hơn không? Vậy truyền chỉ ban quở. Vả, mấy lần hai đạo binh Cao Bằng và Tuyên Quang luôn được thắng trận, bọn Tạ Quang Cự và Nguyễn Tiến Lâm đã đến Mật Lũng, bọn Lê Văn Đức và Phạm Văn Điển đã đến An Biên, chắc hiện nay đã hội cả lại để đánh thắng vào sào huyệt Vân Trung rồi. Ngươi nên cùng Nguyễn Đình Phổ gấp rút tiến binh để mong sớm báo tin thành công mới được”.
Điều Tả vệ Quảng Trị (đóng giữ Hà Nội) chuyển đi đóng giữ Thái Nguyên. Lại phái 500 biền binh Trung quân Hà Nội cùng với vệ Tráng dũng (đóng giữ Thái Nguyên), chia một nửa theo Nguyễn Đình Phổ, một nửa theo Nguyễn Công Trứ để đi quân thứ. (Trang 399, tập IV).
[Tháng 11] Cho Vệ uý Cẩm y Bùi Công Huyên quyền sung Lãnh binh đạo Thái Nguyên, cùng theo làm việc quân với Tham tán Nguyễn Công Trứ. (Trang 407, tập IV).
Quân của Nguyễn Công Trứ, Tham tán đạo Thái Nguyên đóng ở Hồng La. Giặc vây 4 mặt, từ trên cao bắn xuống. Quân ta chia đường chống đánh, giặc 3 mặt rút chạy; duy mặt sau là Điệp Ải đường núi chạy dài, đá cao chót vót, giặc giữ chỗ hiểm, chống cự, từ giờ Tị đến giờ Thân, không chịu lui. Trứ lại phái thêm binh dõng thủ hạ hết sức đánh dữ. Giặc phần nhiều bị thương và chết, mới tan vỡ. Trứ đem tình hình ấy tâu lên và nói: “Từ khi đạo binh Nguyễn Đình Phổ thua trận, giặc càng rông rỡ ngông cuồng. Nay nghe nói quân Phổ lui về Na Dụ, nên giặc mới tập hợp đồ đảng kéo đến vây cắt đường vận lương. Mà binh dõng đi trận ấy, phần nhiều bị cảm nhiễm. Tả vệ Kinh binh bị bệnh đến quá nửa, lưu lại không tiện, đài tải lại khó, quân đi không khỏi khó khăn, xin chịu tội chậm trễ”.
Vua dụ rằng: “Bọn giặc rông rỡ ngông cuồng như thế, u mê không sợ chết, rất là đáng ghét! Vả lại trước đây được tin báo, ta đã nhiều lần phái thêm tướng biền quan quân còn sung sức đến hơn nghìn người, đủ làm cho mạnh thanh thế rồi. Duy Nguyễn Đình Phổ đã về Na Dụ, thì đạo quân của ngươi một mình cũng không tiện khinh thường mà vào nơi nghiêm trọng, hãy tạm lui về Chợ Rã, cùng với Phổ hội bàn, và nhử giặc lìa chỗ hiểm trở, nhân cơ hội hăng hái đánh nhanh, tất sẽ thắng to. Rồi trù tính cho kĩ: nếu vẫn như trước, chia từng đạo cùng tiến, cũng tốt. Nếu hợp làm một đạo, do đường Hồng La tiến đi, thì đường Na Dụ chỗ nào hình thế có thể phòng giữ được nên liệu chia binh đóng giữ; nếu đi theo đường Na Dụ, thì đường Hồng La cũng làm như thế. Hoặc đặt trại ở Chợ Rã, canh phòng nghiêm ngặt để yên phía sau. Vả, chỗ ấy chứa lương thực, cần nên để tâm bảo vệ, mới giữ được khỏi lo. Như vậy, thì trên đường đi, đại binh có thể tiến nhanh và sẽ làm được việc. Hoặc giả trước khi lời dụ này chưa đến, mà bọn ngươi đã nhân cơ hội, tiến đánh, thẳng tới Bắc Nậm thì là đẹp cả đấy, bất tất trở lại Chợ Rã làm gì nữa”. (Trang 411, tập IV).
[Tháng 11] Nguyễn Công Trứ, Tham tán đạo Thái Nguyên, tâu: “Gần đây, giao chiến với giặc, dẫu chưa được thắng, nhưng binh dõng đều hăng hái cố gắng, bọn giặc rất sợ. Nay quân ta đóng lại bao vây giặc ở núi xa, phàm các đường lối đều chia đặt quân để rình bắn. Vả lại, công việc ở Thái Nguyên so với Tuyên Quang và Cao Bằng có khác, vì dân Tuyên Quang và Cao Bằng theo giặc phần nhiều là bất đắc dĩ, một khi quan quân đến, chúng đều đem nhau ra hàng và đều trổ được thực lực cả. Thái Nguyên từ Bạch Thông trở lên, bị bưng bít đã sâu, chỗ nào cũng là giặc, nếu tróc nã khẩn cấp thì chúng chạy vào rừng rú, rồi lại gọi nhau tụ họp kéo đến. Vậy phải lùng bắt khắp núi, cốt bắt được chúng để bảo cho chúng con đường hoạ phúc. Nếu chúng một mực mờ tối ngang ngạnh, thì sẽ thống trị hết phép để cho biết sợ mà phục. Nhưng vì rừng núi bao la, số quân có ít, chưa thể nhất nhất bắt được. Thần đã phi tư cho Thống đốc Nguyễn Đình Phổ đến hội ở Hồng La, lần lượt tiến đánh, ngõ hầu mới kịp được việc.
“Sau đó tiếp được tờ phúc [của Phổ] nói ở Na Dụ cũng có bọn giặc, đánh giáp chiến, quan quân bắn súng đánh giết: giặc chạy lên giữ núi cao, nên chưa tiện dời quân. Vả, tình thế gặp phải khó khăn như thế, không cần dùng đến binh lực thì khó thu được công hiệu. Vậy xin điều thêm thú binh Hải Dương, toàn vệ võng thành và Trung vệ, Tả vệ lính tỉnh, mỗi vệ 100 người. Phàm những lính ốm yếu thì cho về, đổi cấp ngay cho đủ số gấp đi tòng chinh”.
Vua phê bảo: “Xem tờ tâu, thì quan quân đạo binh của ngươi, không ngại khó khăn nguy hiểm, phấn đấu quên mình, đánh giết được giặc. Ta rất khen ngợi. Về việc điều binh cũng cho y lời tâu”. Bèn sai bộ Binh truyền dụ cho Nguyễn Đình Phổ rằng: “Đạo binh của Nguyễn Công Trứ riêng lẻ vào sâu, nhiều lần đánh nhau với giặc, các biền binh đều hăng hái đánh lui được giặc. Ngươi, thân danh làm Thống đốc đại viên, cầm quân đánh dẹp, mới gặp lũ giặc quèn đã vội thụt lùi, lại không bằng Tham tán (Trứ) là một quan văn. Đã đành tội lỗi khó khoan thứ được, nhưng trông thấy Nguyễn Công Trứ, ngươi có bẽ mặt chút nào không? Nay 2 đạo binh Cao Bằng, Tuyên Quang đánh nhau với giặc, thắng trận liên tiếp. Dạo này chắc đã đánh thắng tới ổ giặc ở Vân Trung. Ngươi nên hăng hái cố gắng tiến lên, để kịp sự cơ, cho khỏi trễ kì hạn, bị lỗi không nhỏ. Vả lại, bọn giặc chỉ trông cậy vào cách ở trên cao bắn súng xuống, quân ta ở dưới thế khó tiến đánh, nên giặc thường thường cho là đắc sách. Nhưng cứ như lời bọn Lê Văn Đức tâu nói, lựa vài mươi người cảm tử, xuyên núi lên chỗ cao nhất, rồi từ trên bắn xuống, giặc liền thua vỡ, thì đó cũng là một cơ mưu để đánh thắng giặc. Vậy, chuẩn cho các ngươi, Nguyễn Đình Phổ và Nguyễn Công Trứ, từ nay, nếu gặp giặc có giở ngón ấy thì lập tức nên lựa lấy dăm ba chục quân cảm tử, mang súng điểu sang, phỏng theo đó mà làm, thì quân ta có thể làm chủ, giặc lại là khách, chúng sẽ không còn chỗ hiểm để nương tựa, tự nhiên phải chạy đến chỗ chết, quân ta thừa thắng, ruổi dài, không việc gì là không xong”...
Nguyễn Đình Phổ, Thống đốc đạo Thái Nguyên tâu nói: “Từ khi rút quân về Na Dụ, bọn giặc ước hơn 800 tên, chia làm 4 chi, tiến đến giao chiến. Quân ta sấn lên dùng súng lớn, súng nhỏ bắn. Giặc bị thương vong nhiều, rút lui, tháo chạy. Bấy giờ tiếp được tờ tư của Tham tán Nguyễn Công Trứ báo chuyển đến Hồng La góp sức tiến đánh... Thần đã trả lời cho Trứ biết rồi. Vả lại, các tướng, biền binh, dõng phần nhiều bị bệnh. Những lính khoẻ mạnh trong Trung vệ Kinh binh chỉ còn hơn 100 người, vì thế nên không tiến quân được sớm”.
Vua dụ bảo: “Gần đây căn cứ vào lời tâu, ta đã dụ bảo, hoặc nên chia làm hai hoặc hợp làm một, chuẩn cho liệu cơ mà làm. Lại phái thêm biền binh sung sức đi đến giúp việc đánh dẹp. Nay được tin báo bọn giặc ở Na Dụ đã bị quan quân đánh lui, mà đạo binh của Tham tán Nguyễn Công Trứ lại đánh dẹp ở Hồng La, giặc đều phải ôm đầu lẩn trốn như chuột, thì danh tiếng quân ta lại lừng lẫy, có thể thừa cơ được đấy. Ngươi nên cùng với Nguyễn Công Trứ một lòng hoà hợp lo toan việc nước, góp sức, đồng lòng, liệu cơ tiến đánh, cốt sớm thành công, chớ đun đẩy lẫn nhau, đến nỗi có sự cản trở, để lỡ cơ mưu, quyết khó nới rộng mà tha thứ được.
“Lại nữa, chuyến đi này, phần nhiều núi khe hiểm trở, không như những nơi bình nguyên, đồng ruộng. Chuẩn cho 2 đạo binh của các ngươi, nếu có bệnh binh về tỉnh điều dưỡng, thì nên giữ lại súng điểu sang mà họ đã cầm, giao cho biền binh đi trận cầm giữ, để được nhiều súng dùng vào việc chiến đấu. Súng đó đã có thể ở xa bắn giặc, mà gặp những nơi trên dưới núi non hiểm trở, dễ bề xoay chuyển, lại càng nhanh nhẹn tiện lợi, chớ lên cầm trường thương, thành ra không tiện”...
Cho Chưởng cơ Lê Văn Thuỵ sung Tham tán quân vụ đạo Thái Nguyên, chuẩn cho đem theo 100 lính tỉnh đi quân thứ. Nếu Nguyễn Đình Phổ và Nguyễn Công Trứ đã hội binh làm 1 đạo, thì cùng hợp lại mà tiến, nếu họ hãy còn chia làm 2 đạo, thì Thuỵ hợp lại với Nguyễn Công Trứ để cho người văn, kẻ võ giúp đỡ lẫn nhau, gặp có tâu báo, thì liên danh cùng kí, nhưng ở dưới quyền Nguyễn Công Trứ...
Nguyễn Công Trứ, Tham tán đạo Thái Nguyên, tâu nói: “Quân đạo Thái Nguyên còn đóng ở Hồng La. Bọn giặc hàng ngày tới vây đánh. Bọn thần phái binh ra bắt thì giặc bèn chạy, rồi lại dựa vào núi cao, thủ hiểm, mưu chặn con đường đi lại. Một hôm, giặc đến gần chỗ quân thứ, hai mặt tả và hậu, hò la bắn súng; có tên đầu mục giặc đương chỉ huy ở trên núi đá. Dương Đình Cẩm, Cai đội tỉnh Thái Nguyên, lấy súng điểu sang bắn một phát, nó chết ngay. Giặc bèn chạy trốn vào rừng sâu, ta đuổi không được. Nay bốn phía Hồng La đều đã yên lặng, từ Chợ Rã đến quân thứ, đi lại được như thường. Còn từ Hồng La trở lên, tiếp giáp Bảo Lạc, đều là chỗ thân đảng của tên nghịch phạm Nông Văn Sĩ cam lòng theo giặc. Nếu không một phen đánh giết thì không làm chúng phải chừa được. Thần đã phái quân đi lùng bắt, men theo mấy lần núi, chỉ thấy một dải rừng bát ngát rũ xanh óng ánh như ngọc trai. Vợ con và đồ đạc của bọn giặc đều ăn ở và chứa để ở trong ấy. Quân ta trông thấy mà không tới gần được. Kịp lúc ta quay về, chúng lại bắn súng theo sau. Phong tục dữ tợn đến thế. Thần đã phi tư cho Thống đốc Nguyễn Đình Phổ đến bàn để cùng nhau tiến đánh”.
Vua dụ rằng: “Vâng mệnh đi đánh giặc, người rất hăng hái cố gắng, trong khi quân đi dù chợt gặp bọn giặc cố chết thủ hiểm, và phải dìu dắt Nguyễn Đình Phổ, chưa thể một mình tiến lên được, đó cũng vì tình thế xui nên. Vả lại, đạo binh của Nguyễn Đình Phổ đang lúc hơi lùi, thế mà ngươi vẫn một mình giữ vững toàn quân, không đến nỗi dao động lại nhân cơ hội, đánh mạnh giết giặc nhiều lần. Đó cũng là đáng khen. Vậy dưới tên ngươi, trước có ghi giáng 3 cấp, nay cho khai phục 1 cấp, và thưởng cho một đồng kim tiền Phi long hạng nhỏ với một nhẫn vàng mặt pha lê của Tây Dương. Nay ta đã xuống dụ cho điều thêm quan quân còn sung sức, ngày đêm đi đến cứu viện đánh dẹp, chắc hiện nay có thể đến quân thứ, nhuệ khí sẽ được tăng thêm. Ngươi nên hết lòng trù tính, sớm đốc sức, khuyên gắng các tướng sĩ giết giặc lập công, ta sẽ khen thưởng ưu hậu”...
Vua dụ tiếp rằng: “Đạo binh của Nguyễn Đình Phổ ở Thái Nguyên, trước dẫu có lùi chút ít nhưng sau đó chấn chỉnh hàng ngũ, lại đánh, giặc liền lùi tan. Đạo binh riêng của Nguyễn Công Trứ cũng từng đánh bại được giặc. Giặc phải chạy trốn vào rừng sâu. Lại có chỉ điều thêm ngót vài nghìn biền binh sung sức, tiếp tục ra đi, thanh thế lại càng lừng lẫy, cũng có thể tính ngày mà đi gấp được...”.
Nguyễn Đình Phổ, Thống đốc đạo Thái Nguyên từ Na Dụ chuyển đi Hồng La, hội với quân của Tham tán Nguyễn Công Trứ. Trước kia tên nghịch phạm Nông Văn Sĩ và Nông Văn Thạc nhiều lần bị quan quân đánh tan, lui về Bảo Lạc. Thổ dân sở tại lục tục đến cửa quân đầu thú. Phổ bèn để Phạm Phi, Phó Lãnh binh Bắc Ninh, ở lại quản lĩnh 500 biện binh, đóng giữ Na Dụ, rồi dời quân đến Hồng La. Đem việc tâu lên.
Vua phê bảo: “Ngươi nên tiến nhanh, để bù lỗi trước, đừng tụt sau người ta, còn mặt mũi nào!”. (Trang 421-427, tập IV).
[Tháng 12] Tổng đốc Nguyễn Đình Phổ, Tham tán Nguyễn Công Trứ đạo Thái Nguyên, kéo quân đến Bắc Nậm. Giặc đã chạy trốn trước. Họ bèn tiến đóng Cổ Đạo (giáp núi Kiệu Ca) chia phái quân đi tuần tiễu thám thính. (Trang 434, tập IV).
Tổng đốc Nguyễn Đình Phổ và Tham tán Nguyễn Công Trứ đạo Thái Nguyên tiến quân đến vùng núi xã Giai Lạc thuộc Để Định (các xã An Lạc, Giai Lạc, An Đức đều thuộc tổng Vân Quang là dân thuộc quyền quản trị của Tổng nhung Nông Văn Sĩ), được tin đảng giặc còn ẩn nấp nhiều trong rừng rậm, bèn chia quân ra lùng, bắt sống được tên thống lĩnh tướng quân giặc là Triệu Văn Triệu (người nhà Thanh ngụ ở xã Nhạn Môn, châu Bạch Thông, kết đảng với giặc Sĩ, quấy nhiễu Thái Nguyên) và 7 tòng đảng, lấy lại được một thớt voi công bị mất lần trước. Bọn Phổ bèn cho đem Triệu Văn Triệu lăng trì xử tử và chém những tên tòng đảng, bêu đầu ở đỉnh núi Kiệu Ca. Rồi đem việc tâu lên và nói: “Một dải Vân Quang, núi khe hiểm trở, đường lối lung tung, cần phải chia đường đón chặn, mới không để giặc lọt thoát được. Có điều là luồn rừng, xuyên núi, chỉ có thổ dõng là đắc lực. Xét ra, đạo Tuyên Quang hiện có 4000 thổ dõng. Vậy xin nên chia cấp cho [đạo quân của thần] một phần ba”.
Vua phê: “Chuyến này bắt được tên thứ yếu phạm là Triệu Văn Triệu, liền đem lăng trì, xẻo ra từng miếng, nghe nói thực khoái lòng người”. Bèn xuống dụ: “Ba đạo đại binh tiến đánh, duy đạo Thái Nguyên chậm lại sau. Nay lại hay ra sức tiễu nã, lấy lại được voi công bị mất, quây bắt được thứ yếu phạm và nhiều đồng đảng, cũng đáng khen! Vậy Nguyễn Đình Phổ, Nguyễn Công Trứ trước bị giáng cấp, nay cho khai phục một cấp. (Trang 444, tập IV).
Thống đốc Nguyễn Đình Phổ, Tham tán Nguyễn Công Trứ và Lê Văn Thuỵ đạo quân Thái Nguyên từ Giai Lạc tiến đến Vân Trung, hội với hai đạo quân Cao Bằng, Tuyên Quang, bàn việc bắt giặc, làm sớ tâu lên.
(Trang 456, tập IV).


Tiêu đề: Re: Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép về Nguyễn Công Trứ
Gửi bởi: Noitraitim trong 23 Tháng Tám, 2013, 09:20:15 pm
Sách Đại Nam thực lục chính biên chép về Nguyễn Công Trứ (Phần IV)

Ất Mùi, Minh Mệnh năm thứ 16, 1835.
[Tháng Giêng] Vua thấy tên đầu sỏ nghịch Nông Văn Vân và giặc Sĩ, giặc Thạc, ở Tuyên Quang lâu chưa bị bắt, bảo bộ Binh rằng: “... Nay đại binh 3 đạo bốn mặt quây đánh, đồ đảng giặc tự khiếp sợ, trốn lủi như đàn cá, lũ chuột. Nếu ta chỉ lùng bắt ở một nơi thì không phải đắc sách. Vậy, phải truyền dụ: bọn Tạ Quang Cự, Phạm Văn Điển, Lê Văn Đức, Nguyễn Tiến Lâm, Hồ Hựu ở 2 đạo Cao Bằng, Tuyên Quang phải lùng bắt tên giặc Vân; bọn Nguyễn Đình Phổ, Nguyễn Công Trứ, Lê Văn Thụy ở đạo Thái Nguyên phải lùng bắt các tên giặc Sĩ, giặc Thạc cùng hết thảy các tướng và đồ đảng giặc ấy để cho có chuyên trách. Họ nên tìm đủ mọi cách như thế nào và lấy bạc công ra treo thưởng hậu, rồi luồn rừng, vượt hiểm mà cố sức tầm nã, cốt bắt cho bằng được bọn nghịch phạm để nghiêm trị, thì không những chuộc được tội lỗi trước mà còn được hậu thưởng”. (Trang 494, tập IV).
Trước đây, quan quân ta dò thám được tên giặc Vân trốn ở Bắc Thán (Trung Quốc) sai người đem công văn đến quan sở tại nhờ bắt giải sang giúp. Bọn Tri phủ, Phân phủ và Đốc phủ ở Trấn An nhà Thanh bèn uỷ người đầu mục cửa ải mời ta sang diện hội. Tổng đốc Tạ Quang Cự, Tổng đốc Lê Văn Đức, Tham tán Nguyễn Công Trứ và Hồ Hựu đem quân đi sang. Bọn họ lấy lễ chủ khách tiếp đãi trong khi đàm thoại, chỉ nói rõ rằng đã tra xét, không thấy tung tích giặc Vân, duy săn bắt được hơn 10 người đàn ông, đàn bà và trẻ con là người. Để định thì nhân tiện giải đến trao trả. Còn việc gửi công văn theo lệ phải do Nam Quan, nếu năng có văn thư đi lại thẳng với nhau e can vào lệ cấm thông giao với ngoại quốc, cho nên mời ta đến nói rõ việc đó. Lũ Quang Cự cho rằng Vân trốn sang đất nhà Thanh là đích xác, có nhiều người nói. Đã vặn bẻ hai ba lần, nhưng họ vẫn một mực từ chối chống chế. Bọn Cự bèn về. Sau đó bắt được một người Nùng thú rằng giặc Vân đã từ Bắc Thán trốn đi núi Xa Đăng, bọn Cự liền mật phái Vệ uý Trình Văn Châu, Thổ mục Hoàng Kim Quỳ, Thông sự Thang Trường Hợp mang theo hơn 100 thổ dõng, ăn mặc giả người nhà Thanh và thuê người nhà Thanh với giá thật hậu để hướng dẫn đi bắt. Khi đến núi Bán Huống thì lùng bắt được con tên nghịch phạm Bế Văn Cận là Bế Văn Đổ cùng vợ và em gái nó đem về nộp (nguyên cùng đi trốn với vợ giặc Vân là Bế Thị Nhị, khi nghe quân nhà Thanh thám bắt, chúng chia nhau chạy trốn, mỗi người một phương. Thị Nhị là em gái giặc Cận)...
Mọi việc trên đây đều được tâu lên. Vua dụ rằng: “Bọn Trình Vân Châu bắt được những tên phạm trốn. Tuy không phải bắt được tại trận, nhưng xuyên núi vượt hiểm mà tầm nã được cũng nên liệu ban khen thưởng... Còn việc các đại viên thống binh 3 đạo quân dẹp bấy lâu, tuy chưa bắt được tên đầu đảng giặc đem làm tội, nhưng đã lặn lội khó nhọc, lại vỗ yên phủ dụ được thổ dân, phần nhiều trở về, thì công trạng cũng đáng ghi. Vậy Tổng thống Tạ Quang Cự, Tổng đốc Lê Văn Đức, Đề đốc Phạm Văn Điển, Tham tán Lê Văn Thuỵ, Nguyễn Tiến Lâm và Hồ Hựu đều gia ân thưởng mỗi người quân công 1 cấp. Thống đốc Nguyễn Đình Phổ hiện bị giáng 4 cấp thì chuẩn cho khai phục 1 cấp; Tham tán Nguyễn Công Trứ hiện bị giáng 1 cấp thì cho khai phục cả.Và nay giặc Vân chạy trốn, lén lút cầu sống, chắc đã cùng quẩn quá lắm, chính nên níu lấy cơ hội này, thượng khẩn lùng bắt tới cùng, tất nhiên nó hết đường chạy trốn”. (Trang 504-505, tập IV).
[Tháng 2]Đã lâu không nghe tin tức đánh bắt. Vậy truyền chỉ sức hỏi: gần đây viên nào thân đến những nơi nào tra bắt và sự thể ra sao, đều phải lập tức tâu về. Nếu Trần Văn Tuân chỉ nghề nói suông mà không chịu thừa hành đắc lực thì chuẩn cho Nguyễn Đình Phổ, Nguyễn Công Trứ và Lê Văn Thuỵ tâu hặc.
Đạo Thái Nguyên bắt được nguỵ đốc lãnh Bế Văn Huyền, đóng cửi, giải về kinh, giết đi.
Huyền, trước kia cùng anh là Bế Văn Cận theo giặc Vân, làm loạn, hai lần đánh bức Cao Bằng, lại xâm lấn quấy nhiễu địa phương Lạng Sơn. Từ khi giặc Cận bị giết, Huyền lẩn trốn vào miền núi Cổ Đạo hạt Thái Nguyên. Thống đốc Nguyễn Đình Phổ, Tham tán Nguyễn Công Trứ và Lê Văn Thụy phân phái biền binh lùng bắt khắp núi, bắt được, đem tình trạng tâu lên. Vua dụ: “Bế Văn Huyền là một tên đầu sỏ có tiếng trong đảng phản nghịch, nhiều lần mang giặc đến quấy nhiễu các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, chống cự quan quân tội ác rất nặng. Nay hết đường trốn chạy...
“Gia ơn cho Nguyễn Đình Phổ trước, dưới tên ghi giáng 2 cấp nay khai phục 1 cấp; Nguyễn Công Trứ, Lê Văn Thuỵ đều thưởng gia quân công 1 cấp và mỗi người một đồng kim tiền Phi long hạng nhỏ(1).Biền binh đi bắt, chuẩn cho tuân dụ trước, thưởng chung 200 lạng bạc”. (Trang 530, tập IV).
Nguyễn Đình Phổ, Nguyễn Công Trứ, Lê Văn Thuỵ tâu:
“Nhiều lần đã phân phái biền binh đi lùng xét vùng Long Lũng, Tống Tinh, Thiên Tốc, dẻo đến địa phận Kim Mã, phàm các nơi núi cao ở Cổ Đạo và Bằng Thành là đường có thể do Kim Mã trốn qua được, không chỗ nào không đóng chặn đều không thấy bọn giặc Sĩ đi lối nào cả... giặc Sĩ, giặc Thạc chỉ còn lại 5,6 tên tuỳ tùng không dám đi xa nơi sào huyệt...”.
Vua dụ: “... Nguyễn Đình Phổ đã có chỉ cho rút về lỵ sở cũ. Nguyễn Công Trứ, Lê Văn Thuỵ các người nên dời ngay đại đội quan quân đến đó chọn đất đóng lại, rồi phái binh dõng mang theo những tên giặc thú, chia vài chục đạo đi lùng bắt...”. (Trang 539, tập IV).
[Tháng 3] Những tội phạm đã ra đầu thú, đều cho miễn tội, rồi tuỳ theo cận tiện chuyển giao cho quân thứ Nguyễn Công Trứ và Lê Văn Thuỵ hoặc Tạ Quang Cự sai phái, làm việc chuộc tội”. (Trang 555, tập IV).
Đạo quân Tuyên Quang đốt giết được tên thủ nghịch Nông Văn Vân. Vân, trước đây trốn sang địa giới nhà Thanh. Tuần phủ Quảng Tây tiếp được tờ tư của nước ta, giục bộ biền ở Trấn An lùng bắt gấp, Vân lẻn về núi Thẩm Bát, xã An Quang. Một tên đã ra thú là Nông Tĩnh Hoà, dò bắt được tên tòng đảng là Nông Văn Lô và một tên đầy tớ của hắn, bèn chạy báo quân thứ. Đề đốc Phạm Văn Điển và Tổng đốc Lê Văn Đức tức thì phái Vệ uý chư quân là Nguyễn Văn Quyền đem hơn 1500 binh dõng gấp đến vây bắt. Quân chưa đến nơi, Vân toan xuyên qua núi, đi nơi khác; Tĩnh Hoà đốc suất thủ hạ và thổ dõng bắn súng đón chặn. Vân lại rút lui ẩn nấp. Tĩnh Hoà đuổi theo bắt được 3 tên đồng đảng của Vân là Lí Đẩu, Lí Uyển và Lí Sinh (đều là người xã An Lạc, cung cấp gạo, muối giúp Vân và đồng mưu dẫn Vân đi trốn). Chỗ này, thế núi cheo leo, cây cỏ rậm rạp bát ngát, khó lùng tìm khắp cả được. Ngày đã về chiều, Quyền sợ Vân chạy thoát mất, bèn phóng lửa đốt cả bốn mặt chỗ ấy. Bấy giờ gió thổi mạnh, lửa cháy dữ, trong chốc lát, cỏ tranh, bụi nứa trở thành tro cả. Vân ở kẽ đá, đột nhiên xông ra, bị lửa đốt chết, rơi xuống sườn núi, bên mình có một đĩnh vàng tốt và một thanh đao trang sức vàng bạc.
Lũ Điển đệ cờ đỏ phi báo tin thắng trận (trong cờ viết những chữ “chém được thủ nghịch Nông Văn Vân”) rồi bỏ đầu Vân vào hòm phi dâng dưới cửa khuyết. [Vua ban thưởng cho những người thắng trận].
[Vua dụ] Ra lệnh cho 3 đạo Cao, Tuyên, Thái rút quân về. Dụ rằng “Đầu sỏ giặc là Nông Văn Vân đã từng được bổ làm Tri châu, lại dám manh tâm làm phản, hai lần vây phá tỉnh thành Cao Bằng, quấy rối Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, mỗi tỉnh một lần, giết hại quan lại, làm khổ dân đen. Tội ác rất lớn... Triều đình đánh kẻ làm phản, cốt để yên dân. Nay đã giết được tội nhân rồi, bờ cõi đã yên ổn, chính là lúc có thể sớm rút quân về, để cùng vui uống rượu thắng trận. Vậy chuẩn cho Thống binh đại thần 3 đạo, là Phạm Văn Điển, Tạ Quang Cự, Lê Văn Đức. Tham tán là lũ Nguyễn Công Trứ, Lê Văn Thuỵ, Nguyễn Tiến Lâm, và Hồ Hựu tức thì kiểm điểm binh dõng, chấn chỉnh hàng ngũ, hát khúc khải hoàn trở về... Các đại thần trải bao nguy hiểm, bày tỏ mưu mô, sớm dâng công lớn, sẽ tiếp tục có ân chỉ xuống hậu ban thưởng để đền đáp công khó nhọc. Chuẩn cho hãy thưởng trước: Đề đốc Phạm Văn Điển, một chiếc nhẫn ngọc mặt 19 hạt kim cương, một tấm bài đeo bằng ngọc trắng có chữ “phúc, thọ” và dây tua rủ xuống xâu ngọc trai và san hô; Tổng đốc Tạ Quang Cự một chiếc nhẫn ngọc trai mặt 11 hạt kim cương, một tấm bài đeo ngọc trắng có chữ “phúc, thọ” và dây tua rũ xuống xâu ngọc trai và san hô. Tổng đốc Lê Văn Đức một chiếc nhẫn mặt ngọc 10 hạt kim cương, một tấm bài đeo bằng ngọc trắng có chữ “phúc, thọ” và dây tua rũ xuống xâu ngọc trai và san hô; Tham tán Nguyễn Công Trứ, Lê Văn Thuỵ Nguyễn Tiến Lâm và Hồ Hựu mỗi người một chiếc nhẫn mặt ngọc kim cương to bằng hạt đậu và một tấm bài đeo bằng ngọc trắng có chữ “song hỷ” và dây tua rủ xuống có xâu san hô. Nay phái 2 viên thị vệ mang đến ban cấp để tỏ ý khen thưởng ưu hậu.
“Lê Văn Đức và Nguyễn Công Trứ trước bị can án hành quân chậm trễ, phải tước bỏ mũ áo, nay cho lập tức trả lại”. (Trang 570, tập IV).
Thủ cấp nghịch Vân đã đóng hòm đưa đến Kinh. Vua dụ cho bộ Hình đem bêu ở chợ đủ 3 ngày. Lại chuyển đi các tỉnh từ Quang Nam vào Nam, Quảng Trị ra Bắc, mỗi tỉnh đều bêu 3 ngày, rồi giã nát ra, ném vào hố xí. (Mộ ông nội Vân là Nông Văn Bật, cha là Nông Văn Liêm và tổ xa đời ở 4 chỗ trên núi đất thuộc An Lạc thì Lê Văn Đức và Nguyễn Công Trứ cứ theo người Thổ chỉ mách, đào lấy hài cốt ném xuống sông). (Trang 574, tập IV).


Tiêu đề: Re: Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép về Nguyễn Công Trứ
Gửi bởi: Noitraitim trong 23 Tháng Tám, 2013, 09:21:01 pm
Sách Đại Nam thực lục chính biên chép về Nguyễn Công Trứ (Phần IV) – tiếp

Nguyễn Công Trứ và Lê Văn Thuỵ, Tham tán đạo Thái Nguyên tâu nói:
“Săn bắt được tên tội phạm oa trữ ở điểm Nậm Lạn, xã An Đức là Hoàng Văn Vàng, tìm ra đồ binh khí và giấy tờ nguỵ, ấn nguỵ của nghịch Sĩ đã giấu. Hỏi ra thì Vàng khai rằng: Tháng trước, nghịch Sĩ, nghịch Thạc cùng vợ lẽ và đầy tớ 6 người, đến trọ ở nhà nó, rồi quan quân tìm bắt. Dân sở tại, có người đưa lương cho, có người dẫn đường do ải Cốc Bàng trốn sang địa giới Na Nhung thuộc Quý Châu nhà Thanh. Bọn thần đã mộ được người Quý Châu, ngụ ở huyện Để Định, cấp trước cho 50 lạng bạc thuê sai đi tìm bắt 2 tên phạm ấy giải nộp lĩnh thưởng. Lại tư báo Tổng đốc Lê Văn Đức trách sai Thổ tri huyện đương thứ và các người ban biện, khẩn cấp buộc dân Nậm Lạn phải dò bắt và giam Lí trưởng Nậm Lạn lại. Nếu không bắt được tội phạm, thì chém đầu Lí trưởng và nhà oa trữ là Hoàng Văn Vàng để làm gương răn”. (Trang 584, tập IV).
[Tháng 4] Vua lại dụ bộ Binh rằng: “Nay quân 3 đạo lên đường khải hoàn, ta đã xuống dụ cho các đại thần là bọn Tạ Quang Cự, Phạm Văn Điển, Lê Văn Đức, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Tiến Lâm, Lê Văn Thuỵ và Hồ Hựu, do đường trạm, về Kinh vào chầu. Nay nghĩ: Khi biền binh đến tỉnh, có cho yến thưởng; vậy các viên Thống soái tất phải ở đấy cùng vui uống rượu thắng trận và xếp đặt công việc, còn phải đến 10 ngày. Mà nay sắp đến tiết Vạn thọ nếu gấp gáp mau thì khi đến nơi cũng khó lòng tề tựu được cả. Huống chi, đương lúc trời hè nóng dữ. Nếu để họ gấp đường đi nhanh, lại phải xông pha nóng dữ, lòng ta có điều không nỡ. Vậy khi tờ dụ này đến, chuyển cho Tạ Quang Cự, Nguyễn Tiến Lâm và Hồ Hựu cứ ở lại Bắc Ninh, Phạm Văn Điển và Lê Văn Đức cứ ở lại Sơn Tây, Nguyễn Công Trứ và Lê Văn Thuỵ cứ ở lại Thái Nguyên: ăn yến, xem chèo hát và làm công việc cho thanh thoả, nghỉ ngơi chút ít. Đợi đến khoảng tháng 5 cho phép thủng thẳng về Kinh, vào chầu, cũng chưa muộn”. (Trang 601-602, tập IV).
Nguyễn Công Trứ và Lê Văn Thuỵ đạo Thái Nguyên tâu nói:
“Trước đây, thuê người Quý Châu đến Na Nhung thám bắt nghịch Sĩ, nghịch Thạc, khi đến nơi thì 2 tên ấy đã theo người quen dẫn về Nam Ninh, đi chỗ khác rồi. Chủ oa trữ là Hoàng Văn Vàng xin để con là Hoàng Văn Lá ngồi tù thay, còn Vàng thì tìm đường sang nhà Thanh thuê bắt 2 tên Sĩ, Thạc để chuộc tội. Bọn thần đã trích 200 biền binh lưu lại ở Lịch Lũng, Cổ Đạo để đợi. Nếu không bắt được phạm nhân mà Hoàng Văn Vàng cũng trốn thì xin đem Hoàng Văn Lá và Lí trưởng xã An Đức là Anh Văn Thành chém đầu bêu cho mọi người biết, khiến những người giúp kẻ ác biết để răn sợ. Lại nữa, tên phạm đã ra thú là Đinh Quang Tiến, bề ngoài thì thuần, nhưng bề trong thì chống đối, để nó lại, sợ nó làm hại dân, vậy xin nên chém đi”. Vua đều y cho. (Trang 621, tập IV).
[Tháng 6] Đại viên thống lĩnh 3 đạo Tuyên, Cao, Thái đến Kinh vào chầu. Vua xuống dụ chuẩn cho Thống soái Phạm Văn Điển, Tạ Quang Cự, Lê Văn Đức, Tham tán Nguyễn Công Trứ đều cùng dự vào ban đình thần chầu hầu, để phòng khi bất kì mới hỏi; Tham tán Lê Văn Thuỵ, Nguyễn Tiến Lâm và Hồ Hựu cũng được theo đình thần đến hầu. (Trang 655, tập IV).
Thự Tổng đốc Hải - Yên Nguyễn Công Trứ, dâng sớ xin đi quân thứ Gia Định tham biện việc quân. Vua phê bảo rằng: “Người đua sức chốn cương trường, lâu đến 3 năm, nay sao nỡ lại sai đi vội. Ngươi hãy yên tâm chầu hầu, phòng khi hỏi han các việc”. (Trang 659, tập IV).
Bắt đầu cho bầy tôi có công được làm lễ ôm đầu gối vua [bão tất lễ]...
“Ngày hôm ấy, lễ ôm đầu gối xong, thì tuyên chỉ cho Tham tán Nguyễn Công Trứ, Lê Văn Thuỵ, Nguyễn Tiến Lâm và Hồ Hựu tiến đến bên cạnh ta cũng sẽ chính tay ban rượu, để đền công khó nhọc”...
Bộ Binh vâng mệnh dẫn Tham tán Nguyễn Công Trứ do gian tả nhị, lên thềm đến bên chỗ vua ngồi, hơi lệch về phía Bắc, quỳ xuống, giắt hốt vào đai, được phụng chỉ khen ngợi. Chính tay vua ban rượu, Trứ kính cẩn lĩnh lấy, uống rồi giao lại chén cho thị vệ đón lấy. Trứ làm lễ khấu đầu một cái, cầm hốt rảo bước đi ra...
Ngày ấy là ngày Quí Mão. Vua ngự cửa Đại Cung, cho Phạm Văn Điển, Tạ Quang Cự và Lê Văn Đức lần lượt làm lễ ôm đầu gối. Làm lễ xong lại tuyên chỉ cho bọn Tham tán Nguyễn Công Trứ, Lê Văn Thuỵ, Nguyễn Tiến Lâm và Hồ Hữu được tiến vào, vua đều chính tay rót rượu ban cho. Thưởng cho: Phạm Văn Điển, 1 con ngựa bằng vàng, để khen công lao đã đổ mồ hôi ngựa; Tạ Quang Cự: 1 con lộc (hươu) bằng vàng, để mong được hưởng lộc lâu dài; Lê Văn Đức, 1 con lạc đà bằng vàng, để khuyến khích mang nặng đi xa. Bọn Nguyễn Công Trứ thưởng cho đồ chơi bằng ngọc trắng và mã não mỗi thứ 1 cái. Lại cho bọn Thống soái, Tham tán ăn yến ở công đường bộ Lễ, quân lính ăn yến ở cửa Chấn Hanh, ăn yến xong, xem hát một ngày.
Vua dụ Nội các rằng: “... Thự Tổng đốc Nguyễn Công Trứ, trước đây, cùng Lê Văn Đức, hai lần đi đánh giặc, lần đầu chỉ tiến được đến Vân Trung, chưa diệt trừ được tên đầu sỏ; lần sau lại không đến thẳng được. Tuy sự thế xui nên như thế, nhưng vẫn là có lỗi; Trứ biết tự thẹn, hăng hái, cố gắng, mưu tính lập công. Trước theo Tạ Quang Cự đi đánh dẹp cứu viện Cao Bằng: trận Lạc Dương rõ ràng có công. Lại cùng Nguyễn Đình Phổ chia đường tiến đánh. Chiến dịch Bắc Phấn xét ra là bởi Nguyễn Đình Phổ điều khiển không đúng, không phải là tội của Trứ. Kịp khi quân tiến đến Vân Trung hơi chậm hơn các đạo. Kể về thành công tuy là một, nhưng đổ đồng công và tội thực ngang nhau. Nay nghĩ Trứ xuất thân từ quan văn, thế mà ngày ngày làm được việc quân, đến nay đã 3 năm, không quản ngại khó nhọc, kể cũng đáng khen. Vậy chuẩn cho một người con được tập ấm làm Hiệu uý vệ Cẩm y. (Trang 662, tập IV).
[Tháng 6] Thự Tổng đốc Hải - Yên Nguyễn Công Trứ, tâu nói:
“Hai đội, Nhất Nhị Tuần thành, mới mộ chưa từng rèn luyện, xin chọn lấy những người tin cẩn ở Trung vệ và Tả vệ Hải Dương, mỗi vệ 1 đội, lập thành 2 đội Nhất, Nhị Tuần thành, rồi lấy 2 đội mới mộ sung điền vào”.
Vua y theo. (Trang 680, tập IV).
Ra lệnh cho Tổng đốc Sơn - Hưng - Tuyên là Lê Văn Đức, Thự Tổng đốc Hải - Yên là Nguyễn Công Trứ đều về lỵ sở để cung chức. (Trang 684, tập IV).
Thự Tổng đốc Hải - Yên Nguyễn Công Trứ tâu nói: “Hải Dương có 18 huyện ít ruộng chiêm, nhiều ruộng mùa. Lúa chiêm vụ này thu hoạch kém, xin cứu giúp cho”. Vua dụ chuẩn cho: số thóc gạo đáng thu vào mùa hạ thì một nửa giảm giá cho chiết nộp bằng tiền, một nửa cho hoãn đến mùa đông mới thu. Còn thóc tô và thóc nợ năm trước còn thiếu, đều cho chiết nộp bằng tiền. (Trang 693, tập IV).
[Tháng 7] Bổ Nguyễn Công Trứ làm Thượng thư bộ Binh, Tổng đốc Hải - Yên. (Trang 711, tập IV).
[Tháng 8] Tổng đốc Hải - Yên Nguyễn Công Trứ dâng tập thỉnh an có nói:
“Xã Minh Liễn, huyện Nghi Dương thuộc tỉnh, có đến hàng nghìn mẫu ruộng hoang. Xem địa thế, khai khẩn cũng dễ. Vậy xin ra lệnh cho mộ binh các vệ chia ban khai khẩn, cấp cho làm ruộng thế nghiệp, rồi theo lệ ruộng tư thu thuế; còn những đồ làm ruộng và trâu cày vẫn chiếu lệ doanh điền, cấp cho”.
Vua dụ rằng: “Thế cũng là cái ý đời xưa, ngụ binh vào việc nông, có thể làm được đấy. Song khi làm, cốt phải có thành hiệu. Ngươi nên thân đến đo đạc, tính rõ từng mẫu, sắp xếp công việc, sao cho không uổng phí của kho, mà quân lính có chỗ nhờ cậy mới được”. (Trang 732, tập IV).
[Tháng 9] Đổi dồn số mộ binh ở các tỉnh Bắc Kì. Trước đây, Tổng đốc Hải - Yên là Nguyễn Công Trứ trong tập thỉnh an có nói:
“Các vệ lính người Nam mới mộ trong tỉnh có lẫn nhiều người Bắc. Dụ sai bộ Binh đem tất cả số bính lính người Nam mới mộ ở các tỉnh Hà Nội, Bắc Ninh, Sơn Tây châm chước sắp xếp phân biệt. Quan bộ tâu xin tư cho các quan tỉnh xét nghiệm làm thành sách đưa đến bộ, để bộ có bằng chứng xét bàn”.
Vua dụ bộ Binh rằng: Nay Nam Bắc một nhà, xe đi và sách học đều nhất trí, đối với tôi con trong ngoài, trẫm coi như một, vốn không kì thị gì cả. Duy theo binh chế, quý ở chỗ có quân thực có ngạch thực. Nếu đã gọi là Nam binh mà lại lẫn lộn như thế thì danh và thực không phù hợp nhau; đến khi sai phái thực có điều chưa tiện. Vậy, thông dụ cho các Đốc, Phủ, Bố, Án và Lãnh binh các tỉnh từ Ninh Bình ra Bắc chiếu số lính các vệ đã mộ và các cơ, các đội tượng binh, tuấn thành và pháo thủ, ở trong hạt mình, không kể cũ hay mới, đều phải kiểm tra xét thực một loạt cho kĩ hơn. Phàm là người miền Nam thì dồn làm Vệ binh và sung bổ vào Tượng binh, Tuấn thành, Pháo thủ; hễ là người miền Bắc thì dồn làm Cơ binh và trên các tên gọi những cơ đó đều lấy chữ tên tỉnh họ ở mà đặt...”. (Trang 767, tập IV).
[Tháng 10] Sai Tổng đốc Hải - Yên Nguyễn Công Trứ, Thự Tổng đốc Định - Yên Trịnh Quang Khanh, hiệp đồng với Tuần phủ Hưng Yên Hà Thúc Lương, phải thân hành đi khám tận nơi những chỗ dòng sông Cửu An chưa khai đào (trước vì lúa chiêm đang chín, nên tạm ngừng việc) và đê bên hai bờ sông, bàn tính cho kĩ rồi tâu lên.



Tiêu đề: Re: Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép về Nguyễn Công Trứ
Gửi bởi: Noitraitim trong 23 Tháng Tám, 2013, 09:21:16 pm
Sách Đại Nam thực lục chính biên chép về Nguyễn Công Trứ (Phần IV) – tiếp

Sau đó, bọn Công Trứ tâu nói:
“Đi khám sông ấy, bọn thần xin đổi cắm nêu 1 đoạn từ chỗ cửa sông Nghi Xuyên (chỗ đê bị bỏ ở lần ngoài) đến đầm sâu Sài Thị (nguyên chỗ đê công bị vỡ) dài 790 trượng, nhân chỗ vỡ mà đào, khiến cho cửa sông hướng xuống để đón lấy nước sông Nhị Hà. Đê đắp ở hai bên bờ sông chân rộng 7 trượng, mặt rộng 3 trượng, thân cao 8 thước. Lại từ sông cũ ở hai làng Mai Viên và Bằng Ngang đến làng Quang Liệt chưa từng khai đào, dòng sông cũ đó gián hoặc có chỗ quanh co, vậy xin nên đào đứt 2 đoạn: 1 đoạn từ làng Động Xá đến thôn Lê Xá, dài 368 trượng; 1 đoạn từ làng Ba Đông đến làng Quang Liệt, dài 865 trượng, chân đê đều rộng 6,7 trượng, mặt rộng 3 trượng thân cao 6 thước. Còn 1 đoạn từ làng Mai Viên đến làng Động Xá dài 575 trượng; 1 đoạn từ thôn Lê Xá đến làng Ba Đông dài 2015 trượng, dòng sông không khuất khúc mấy, xin nên cứ để như cũ, tuỳ thế mở rộng, chân đê rộng từ 2 trượng 5 thước đến 3 trượng, mặt rộng 5,6 thước, thân cao 6 thước. Còn những đoạn sông mới đã đào, bờ sông có chỗ lồi lõm không đều thì theo đúng cách thức mà sửa sang. Lại xét từ cửa sông mới đến làng Quang Liệt chỉ hơn 6000 trượng mà từ Quang Liệt đến cửa biển Thái Bình còn cách hơn 18000 trượng thì một dải sông mới lại là ở vào thượng lưu. Về những đê đắp chống lụt đó, xin bồi đắp cả một loạt”...
Bọn Công Trứ tâu nói:
“Đào sông, đắp đê công việc bề bộn nặng nề xin liệu thuê 20.000 dân phu (Nam Định 6000 người, Hải Dương 4000 người, Hưng Yên 3000 người, các tỉnh láng giềng Hà Nội, Bắc Ninh mỗi tỉnh 3500 người), đến tháng giêng sang năm sẽ tiếp tục khởi công làm”.
Vua ra lệnh cho bộ Công bàn ngay. (Trang 783-784, tập IV).
Tổng đốc Hải - Yên là Nguyễn Công Trứ dâng tập thỉnh an có nói:
“Việc cần nhất hiện nay chỉ là đê điều. Dân Bắc Kì trong một năm phải dùng sức lực vào việc đắp đê hết quá nửa năm, may mà giữ vững thì tốn kém cũng nhiều. Lỡ bị đê vỡ nước ngập thì hại càng dữ. Thần đã từng tham vấn các kì lão, hương thân thì số người xin để đê chỉ có 2, 3 phần 10, mà số người xin bỏ đê đến 7, 8 phần 10. Những người muốn phá bỏ đê đều nói: phàm những chỗ quanh co ngoắt ngoéo nếu khơi vét cho thông cả một loạt thì khi nước lên, thì nước chảy tuột ra biển được dễ dàng. Nếu chỉ đào một vài con sông nhỏ, thì dòng nước to đều đổ dồn vào, dân sở tại lại phải chịu hại. Vả lại, lúc mới khai, chỗ thấp trũng chẳng khỏi ngập lụt. Chỉ bằng di dân đi trước thì hại ít mà được lợi nhiều. Vậy xin phái quan Kinh đi xem xét hình thế, vẽ thành bản đồ dâng trình. Nếu chuẩn cho bỏ đê, thì phàm những chỗ nước xối chảy mạnh, xin đến tháng giêng sang năm đều nhất tề khai đào; còn ở những chỗ hạ lưu: hoặc nhân cũ mà vét sâu thêm, hoặc tuỳ thế mà nắn cho thẳng, để cho thế nước chia đi nhiều ngả, đợi đến sau kì nước lên mùa thu xem nước tiêu đi hoặc ứ lên thế nào, sẽ lại trù tính mọi việc thiện hậu. Nếu chuẩn cho giữ lại đê thì phàm những chỗ xung yếu cũng xin đến tháng giêng sang năm, thuê nhiều dân phu đắp thêm chân đê cho vững chắc; nhược bằng chỉ đào một con sông Cửu An thì e nước sông Cái bắt đầu phân lưu ở đó, tất sẽ chảy xô xói mạnh: mấy huyện ở dưới của tỉnh Hưng Yên và các huyện Đường An, Thanh Miện thuộc Hải Dương, tất cả 6 huyện khó giữ được khỏi nạn úng thuỷ”.
Vua dụ rằng: “Về việc trị hà, để đê và bỏ đê: hai thuyết đều có lí. Chống lại với nước sông, đã đành là sự tính lầm của người trước! Mà các thuyết cho rằng sau khi có đê, không thể bỏ đê được, chưa hẳn đã là không phải. Nay, nếu muốn bỏ đê mà di dân trước, thì sẽ nhốn nháo một phen, chưa thấy có lợi, đã thấy có hại! Ta đã nhiều lần suy nghĩ: đê cũng chưa nên vội bỏ. Huống chi chương trình đê điều đã định, các tỉnh có đê cứ nên tuân làm cho đê được bền vững. Nay lại khai đào sông Cửu An để rút bớt nước sông Cái. Hạ lưu có chỗ để nước tiêu thoát thì đê điều sở tại vẫn cứ đắp giữ như cũ cũng đủ đảm bảo, không có gì đáng lo. Vậy cần gì phải đắp thêm chân đê cho uổng phí nhân công nữa! Có điều sông Cửu An đã khởi công rồi, thì phải nên khai thông dòng nước, liệu đắp hộ đê. Đó là phận sự lũ người, cũng chẳng phải đợi tâu trình nữa”. (Trang 793-794, tập IV).
[Tháng 11] Bộ biền Hải Dương là Thí sai Chánh đội trưởng Nguyễn Văn Thanh bắt được tướng giặc trốn, nguỵ xưng Phó Hậu quân Đoàn Danh Lại. Việc lên đến vua, chuẩn cho Nguyễn Văn Thanh được thực thụ, lại thưởng gia 1 cấp và 300 quan tiền. Sau đó, tên Lại vượt ngục trốn thoát. Tổng đốc Nguyễn Công Trứ dâng sớ, xin nhận tội.
Vua lấy làm lạ, dụ rằng: “Đoàn Danh Lại là giặc trốn đã lâu năm, vừa mới bị bắt để xử án, đồ hình cụ có đủ cũi gỗ, xiềng sắt, chỗ nhà ngục có tường đá bao quanh, thế mà nó dễ dàng cắt được đinh mở được cũi vượt 2 lần tường thành, đeo xiềng trốn đi, mà tất cả quan lại, quân dân trong ngoài một thành đều ngủ mê, không một ai biết! Thế thì việc canh phòng sơ hở lại là dường nào? Việc ấy như thế, đủ biết việc khác cũng bỏ bê trễ. Nguyễn Công Trứ đã từng có lỗi, nhiều lần được cất dùng, uỷ cho trách nhiệm cai trị 2 tỉnh. Hoàng Tế Mĩ cũng là viên bị cách, được khởi phục, cất nhắc đến chức Đề hình, thế mà hiện giam tên trọng phạm, lại không biết nghiêm sức canh phòng, đến nỗi để nó trốn thoát. Lũ ngươi đêm nằm vuốt bụng, nghĩ có xấu hổ không? Vậy, Nguyễn Công Trứ trước giáng 4 cấp, Hoàng Tế Mĩ phải cách chức, đều chuẩn cho lưu dụng, định hạn điều tra lùng bắt (tên lại)...”. (Trang 809, tập IV).
[Tháng 12] Tổng đốc Hải - Yên Nguyễn Công Trứ tâu nói:
“Địa giới xã Nga Hoàng thuộc huyện Cẩm Giàng, giáp địa hạt Lang Tài, Bắc Ninh, đường thuỷ, đường bộ nhiều ngả, bọn giặc thường lén lút tụ họp nổi dậy, dân địa phương nhiều lần bị hại. Vậy xin thiết lập đồn bảo phái 1 Quản vệ hay 1 Quản cơ thuộc tỉnh, 200 biền binh đến đóng giữ, mỗi năm một lần, thay phiên”.
Vua y cho...
[Về dòng sông Cửu An] Tổng đốc Hải - Yên Nguyễn Công Trứ tâu nói:
“Trên từ chỗ đê vỡ Nghi Xuyên dưới đến Văn Khê, hai bên bờ đều có hộ đê, 1 chi sông chảy đến sông Văn Khê thì chia làm hai nhánh: nhiều chỗ nông hẹp và khuất khúc, nên thế nước ở thượng lưu chảy không thuận tiện dễ dàng. Vậy xin tuỳ theo những chỗ nước sông có thể tràn đến, điều động dân 6 huyện (Đường An, Đường Hào, Thanh Miện, Gia Lộc, Tứ Kì, Vĩnh Lại) để làm: chỗ nào nông hẹp thì đào sâu, rộng ra, chỗ nào khuất khúc thì đào cho thẳng lại, tổng cộng là trên 1 vạn 3 ngàn trượng”.
Vua dụ rằng: “Hải Dương với Hưng Yên địa thế liền nhau, sở dĩ xin cho dân ở hạ lưu phải làm, là vì lo rằng nước sông Cái sẽ do sông mới chảy vào, nhưng sao không nghĩ: dòng sông lớn của Nhị Hà có thẳng ra các cửa biển thuộc Nam Định... Nay ngươi nghĩ muốn nắn lại và khơi vét cái đoạn sông dài đến hơn 13.000 trượng, công trình gấp bội! Sức dân 6 huyện sao mà một mình làm nổi! Thực không thể làm xong đâu! Vậy hãy đình chỉ lại!”. (Trang 823-824, tập IV).
[Sau khi triều đình có bản án Lê Chất, sức cho các tỉnh lấy ý kiến tham khảo] Tổng đốc Nguyễn Công Trứ nói:
“Ngày Chất còn ở Bắc Thành, chiêu tập mộ binh hơn 20 cơ, gồm 20.000 người, đặt hiệu các cơ gọi là An bắc, Định bắc... Thế là đích xác gây vây cánh, âm mưu làm điều phi pháp. Vậy xin đem tội này gộp với những tội Bá Tú hặc trước cộng là 17 điều, cũng khép vào tội phản nghịch, bất đạo”. (Trang 831, tập IV).

(1) Sau đó, Nguyễn Đình Phổ vì tuổi già, sức yếu cho về Bắc Ninh để cung chức. Ấn quan phòng của thống đốc về việc đi tiễu giao cho Nguyễn Công Trứ và Lê Văn Thuỵ hiệp đồng tạm giữ.


Tiêu đề: Re: Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép về Nguyễn Công Trứ
Gửi bởi: Noitraitim trong 24 Tháng Tám, 2013, 01:12:46 am
Sách Đại Nam thực lục chép về Nguyễn Công Trứ (Phần V)

Bính Thân, Minh Mệnh năm thứ 17, 1836.

[Tháng 2] Tiếp tục đào sông Cửu An. Tổng đốc Hải - Yên là Nguyễn Công Trứ, Thự Tổng đốc Định - Yên là Trịnh Quang Khanh và Tuần phủ Hưng Yên là Hà Thúc Lương liên danh đứng chung tờ tấu xin: “Hai đoạn dòng sông mới cắm nêu, cứ theo cách thức mà làm. Các đoạn sông cũ thuyền vẫn đi lại được, không cần khơi vét nữa. Các cống không có cửa và cống có cửa đều đình lại không đặt nữa. Rồi liệu đóng cọc và kè ở hai bên đê để phòng nước xói. Lại, về việc tạm đắp đê ngắn, năm ngoái đình thần bàn, sau khi đào sông xong rồi thì bỏ đê ấy đi; nay hỏi ra, ruộng chiêm các huyện còn có lúa muộn, nếu bỏ đê ấy thì đến tiết tiểu mãn nước đẫy, lúa không khỏi bị ngập! Xin đến khoảng tháng tư, tháng năm sau khi thu hoạch, hãy bỏ đê ấy đi”. Vua chuẩn y lời xin. (Trang 881, tập IV).

[Tháng 3] Tổng đốc Hải - Yên Nguyễn Công Trứ, trong tập thỉnh an có nói: “Dân hạt Quảng Yên phần nhiều đóng thuyền đi khắp các tỉnh lân cận mua gạo, chuyển bán cho lái buôn nhà Thanh. Vậy xin ra lệnh cho quan tỉnh xét theo cái số cần mua mà cấp cho quan văn để phòng điều tra xét nghiệm”. Việc được giao xuống bộ Hộ xét bàn. Bộ cho rằng 6 châu huyện Yên Hưng, Hoành Bồ, Tiên Yên, Hoa Phong, Vạn Ninh và Vân Đồn thuộc tỉnh Quảng Yên phần nhiều là đất nước mặn ven biển. Thóc gạo cần dùng thường thường do tỉnh bên cấp cho. Trong đó, Yên Hưng, Hoành Bồ, Tiên Yên và Hoa Phong đều ở phía trong sông, có đi sang tỉnh bên mua gạo thì chỉ chở theo đường cảng. Duy 2 châu Vạn Ninh, Vân Đồn ở hẻo lánh trên hải đảo, thuyền đi phải do đường biển. Một khi đã ra khơi, thì tuỳ ý muốn đi đông, đi tây không ai biết đi đâu nữa. Quan địa phương thực không thể xét hỏi được. Do đấy, những kẻ tiểu nhân tham lợi, chở lậu gạo, lén lút bán cho lái buôn nhà Thanh. Đó là tình thế tất phải có. Cần có luật nghiêm cấm cụ thể... Vua y lời bàn. Lại nghĩ: dân 2 châu hàng năm, cứ phải lĩnh mua ở tận kho tỉnh Hải Dương, nếu việc này thi hành lâu dài thì có điều chưa tiện. Vậy chuẩn cho: hễ đến kì được đong gạo thì tỉnh phái người đem đến chợ ở dân gian mà bán cho đủ số. (Trang 905, tập IV).

[Tháng 4] Tổng đốc Hải - Yên Nguyễn Công Trứ và Tuần phủ Hưng Yên là Hà Thúc Lương hội hàm tâu: "Việc tiếp tục đào sông Cửu An (một đoạn từ Ba Đông đến Quang Liệt, một đoạn từ Nghi Xuyên đến Sài Thị) đã gần xong. Đoạn đê ngắn ở chỗ vỡ chưa kịp mở cho nước thoát, lại gặp mấy ngày mưa liền, nước sông Cái lên hơn mực thường 9 thước, xói vỡ đoạn đê ngắn tràn vào. Phần hộ đê ở hai bờ sông mới có một đoạn vì mới đắp, đất còn mềm chưa hoàn thổ, nên bị vỡ, nước ngập làm hại trên 100 mẫu lúa chiêm. Đoạn đê này thuộc phận đất Hải - Dương. Vậy xin chịu tội vì không chu đáo. Tha thiết xin đợi đến khi nước rút, sẽ lại đắp như cũ. Và tu bổ lại luôn cả hai đoạn hộ đê mới làm khi đào sông, bị mưa lụt, có chỗ lồi lõm không đều. Chờ lúa chiêm thu hoạch xong, sẽ đào bỏ đoạn đê ngăn đi, để dòng nước được chảy thông”.

Vua phê bảo rằng: “Bị ngập trên 100 mẫu, cũng là cái may trong cái không may. Giữ được chỗ còn lại cũng chuộc được tội trước. Kính cẩn, cố gắng lên!”. (Trang 925, tập IV).

[Tháng 5] Lúa chiêm Bắc Kì được mùa to. Các tỉnh đem việc này tâu báo lên. Vua mừng, bảo bộ Công rằng: “Đê quai sông Cửu An vì mùa nước lụt tràn vào trên 100 mẫu ruộng chiêm, Tổng đốc Hải - Yên Nguyễn Công Trứ là Đốc biện xin chịu tội. Nay toàn hạt Hưng Yên lúa ruộng được mùa cả 10 phần, chỉ có hơn 100 mẫu ấy bị hại lụt, tưởng cũng không đến nỗi hại cho dân. Vậy miễn tội [cho Trứ]”. (Trang 941, tập IV).

[Tháng 6] Tổng đốc Hải - Yên Nguyễn Công Trứ, Thự Tổng đốc Định - Yên Trịnh Quang Khanh và Tuần phủ Hưng Yên Hà Thúc Lương cùng kí tên tâu nói: “Công việc đào sông Cửu An đã xong, số tiền chi nhiều, xin phái quan Kinh đến khám nghiệm”. Vua dụ rằng: “Đốc phủ là quan to ở địa phương. Phàm các việc quân, dân, tài chính, phú thuế đều uỷ cho cả. Huống chi việc đào sông tiêu có hơn 90.000 quan, còn việc khác há không có chi tiêu nhiều hơn à? Lũ ngươi là chân tay của ta, những việc đã làm, tự hỏi không thẹn lòng, tức có thể đối với thân mình được, nữa là đối với vua, cha. Các ngươi nên tự kiểm soát, cứ thực biên vào sổ chi tiêu, cần gì phải phái người đến khám. Vả lại, đào sông là việc bận rộn quan trọng, lũ người làm được xong sớm đều thưởng cho gia 1 cấp và kỉ lục 2 thứ; những người theo làm việc từ phủ, huyện trở xuống đều thưởng kỉ lục, tiền lương có thứ bậc”.

Nguyễn Công Trứ lại tâu: “Tháng trước, nước sông Cái dần đã rút xuống. Tỉnh Hưng Yên đã đào bỏ cái đê ngăn, nước theo sông Cửu An đã thuận dòng, tiêu ra biển, không có tràn ngập. Nay nước sông Cái lại lên, mực nước cao hơn mức thường 10 thước. Từ Nghi Xuyên trở vào, một dải sông mới chảy mạnh, rót xuống Bằng Ngang, tiếp liền sông cũ, vì không có đê giữ, nước tràn bốn mặt: các huyện Thiên Thi, Kim Động, Đông An, Phù Dung, Tiên Lữ thuộc Hưng Yên và các huyện Thanh Miện, Đường Hào thuộc Hải Dương, nhà cửa, ruộng nương đều bị chìm ngập! Rất sợ sang năm, lúa chiêm chưa chín, mà nước lụt mùa hè đã đến; lúa mùa chưa gặt, mà nước lụt mùa thu dẫy lên, thì dân sở tại lấy gì sống được? Nay sông mới đã xong, đê ngăn đã bỏ, muốn mưu tốt đẹp về sau phải dự trù trước. Vậy từ Nghi Xuyên đến Bằng Ngang đã có đê giữ nên bồi đắp thêm; còn từ Bằng Ngang đến Ba Đông, cùng những chỗ thế nước tràn đến ở huyện Thanh Miện xin liệu đắp đê thêm cao, thêm rộng, hai bên để trống đều 15 trượng. Duy từ Ba Đông đến Quang Liệt, trót đã khơi đắp, nếu thay đổi thì uổng phí nhân công, vật liệu, nếu cứ để như trước thì trên rộng, dưới hẹp, vậy nên đắp sang một bên cho đủ số 42 trượng, ngõ hầu dòng sông sẽ chảy tuột một loạt. Và xin phái quan Kinh đến trông nom, công việc, bắt đầu thượng tuần tháng chạp năm nay khởi công”. (Trang 964, tập IV).

Vua dụ rằng. “Việc trị hà, trẫm ngày đêm nghĩ ngợi, phàm việc gì có thể bảo vệ nghề nông, làm lợi cho dân đều làm đến nơi đến chốn. Nay khai sông Cửu An, cốt để sẻ bớt nước sông Cái. Gần đây, nước sông thuận dòng, các hạt thượng du đều được lợi, cũng đã có thành hiệu rõ ràng rồi. Duy các vùng hạ lưu không khỏi tràn ngập là bởi năm nay nước lên quá to gấp đôi mực thường. Điều đó không nên đổ cho sông mới. Nhưng một người chưa được ơn, lòng ta vẫn rất thương xót! Nay mấy huyện ấy riêng chịu thiệt hại, há nỡ ngồi trông người đứng khóc thầm? Trẫm đã xét những việc trù tính trong tập tâu, cũng có điều dùng được, nhưng không phải là việc cấp thiết, vậy đợi sau sẽ bàn. Duy có việc gấp hiện nay là theo thế nước, nhân chỗ trũng thấp mà khơi thông cho thuận dòng để tiêu ra biển. Nước úng cạn sớm một ngày, thì ruộng nương khỏi ngập lụt sớm một ngày. Đó là việc cần. Các ngươi, Nguyễn Công Trứ và Hà Thúc Lương, nên hết lòng tính toán, cốt sao nước úng tiêu sớm, việc làm ruộng được thuận lợi để hả lòng ta”. Lại sai Thị vệ đi đường trạm, đến xem xét.
Sau đó, Nguyễn Công Trứ và Hà Thúc Lương tâu nói: “Thế nước sông Cái ngày càng rút xuống, mà nước do sông mới tràn vào đồng ruộng vẫn còn ứ đọng, bởi vì sông cũ ở các huyện hạ lưu phần nhiều quanh co chật hẹp, nước không chảy mạnh. Vậy nghĩ nên khơi cho rộng, nắn cho thẳng, khiến cho nước chảy thông suốt, thì nước sông mới cùng nước sông Cái đều một loạt tiêu thoát. Nhưng nay đương kì mưa lụt chưa tiện làm việc; chỉ nên mở rộng, khơi sâu các đoạn hạ lưu đào trước ở Hưng Yên, khiến thế nước chảy mạnh ra sông, ngõ hầu ruộng nương mới sớm khỏi lo ngập lụt”.

Vua bảo rằng: “Nước lụt chưa tiêu hết, chỉ cần theo thế, khơi đào, thế mà bấy lâu trù tính, nước ở đồng ruộng vẫn còn ứ đọng, chỉ làm thêm lo cho ta thôi. Nay làm thế nào theo thế nước, tìm cách khơi thông, khiến nước lụt sớm rút, thì lũ ngươi mới không thẹn với chức phận làm tôi, cần gì nói nhiều”. (Trang 965, tập IV).

[Tháng 9] Tổng đốc Hải - Yên là Nguyễn Công Trứ tâu nói: “Bấy nay, Giáo thụ, Huấn đạo, phần nhiều không được sĩ tử tin theo; đó vì giáo chức, bổ người chỉ đỗ Tú tài, học thức không có gì trội hơn người, nên không làm thoả được lòng trông mong của sĩ tử. Vậy xin lấy những cử nhân hậu bổ điền vào; còn tú tài làm Giáo huấn trước thì cho về học thêm, để đợi kì thi. Lại xin cấp thêm tiền và gạo dưỡng liêm cho từ Đốc học đến Huấn đạo để họ chuyên tâm dạy dỗ”.


Tiêu đề: Re: Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép về Nguyễn Công Trứ
Gửi bởi: Noitraitim trong 24 Tháng Tám, 2013, 01:13:57 am
Sách Đại Nam thực lục chép về Nguyễn Công Trứ (Phần V) – Tiếp

Vua nói: “Giáo thụ, Huấn đạo không được sĩ tử tin theo, tệ ấy thực có đã lâu duy học thần hay hay dở đã có chương trình phân xử rồi. Nay muốn rút những Tú tài làm Giáo huấn về, mà bổ Cử nhân thay vào, chắc đâu những Cử nhân học thức đã hơn hết cả Tú tài? Sở kiến của ngươi không khỏi có chỗ lệch lạc! Hơn nữa những Cử nhân hậu bổ được sung vào chức Tri huyện, thường thường bổ đến hết ngạch, còn đâu mà sung điều vào giáo chức? Tóm lại, nắn quá hoá hỏng, khó thi hành được. Đến như lệ dưỡng liêm, vì chức phủ huyện gần gụi với dân, nên cấp cho thêm để khuyến khích lòng liêm chính. Còn học quan thì việc ít, không như phủ huyện, nếu cũng tăng bổng dưỡng liêm cả một loạt thì các ti trong Kinh ngoài trấn, đâu đâu cũng có chức sự, sao lại ưu đãi riêng các học thần? Vậy không chuẩn cho những điều đã xin”. (Trang 1021, tập IV).
[Tháng 10] Tổng đốc Hải - Yên Nguyễn Công Trứ trong tập thỉnh an có nói: “Tỉnh thành Quảng Yên đặt ở huyện hạt Yên Hưng. Chỗ ấy trên dựa vào gò cao, dưới gần lòng sông, có thể đặt làm nơi phòng thủ được, chỉ hiềm, quy mô thành còn nhỏ hẹp, vậy xin cho mở rộng thêm”.
Vua đem việc này hỏi tỉnh thần. Hộ phủ Lê Dục Đức tâu nói: “Ngoài tỉnh thành, nước sông mặn, trong thành có 2 cái ao chỉ chứa nước mưa; 2 cái giếng chỉ tới mạch nước sông thôi, còn ở dưới đều đá rắn không thể đào sâu được. Duy huyện Thuỷ Đường ở Hải Dương, cách sông Bạch Đằng không mấy, có hình thế đẹp về núi sông, có sự tiện lợi về ao giếng. Vậy xin dời tỉnh thành ra đó, thì trưng thu thuế 2 huyện Thuỷ Đường và An Dương lại càng tiện hơn”. Vua sai bộ Công bàn lại. Bộ cho rằng: “Xây dựng thành trì, có quan hệ đến sự che chống ở biên cương. Địa thế tỉnh thành Quảng Yên, trong có thể khống chế được cả hạt, ngoài có thể trấn áp được vùng hải cương, thực là nơi hình thế đẹp. Lời của Đốc thần có định kiến đấy. Nay đem dời về huyện Thuỷ Đường đã là hạt khác, lại cách sông lớn, sao bằng cứ để như cũ, tốt hơn. Vả, tỉnh hạt bậc trung, thành trì chẳng cần cao rộng quá. Vậy xin ra lệnh cho tỉnh thần: tuỳ theo địa thế mà sửa sang, bốn mặt thành đều phải hạn định là trên dưới 45 trượng, rồi đào nhiều ao giếng ở trong thành dùng để lấy nước. Bốn góc thành liệu đặt pháo đài, để nghiêm việc phòng bị”. Vua y lời bàn ấy. (Trang 1032, tập IV).
[Tháng 10] Sai Tổng đốc Hải - Yên Nguyễn Công Trứ hội cùng Thự Tổng đốc Định - Yên Trịnh Quang Khanh và Tuần phủ Hưng Yên Hà Thúc Lương đi khám lại sông Cửu An. Vua dụ bộ Công rằng: “Cứ lời bàn tính của Nguyễn Công Trứ trước kia xin liệu đắp hộ đê và mở rộng đường sông. Những lời đó cũng có điều dùng được. Nhưng bấy giờ nước lụt chưa tiện, nên hãy đợi sau sẽ làm. Nay đã qua một mùa nước lên rồi, tình hình có thể đã tỏ rõ, nên theo kế bàn lâu dài, để sự sống của dân được yên. Có điều là chiếu theo lời xin trong nguyên tập, như một đoạn từ Bằng Ngang đến Ba Đông, trước không có đê điều, nay tuỳ theo hình thế cắm nêu để đắp khiến một dòng sông hợp lại chảy thẳng cố nhiên không có gì quan ngại. Còn nếu từ Ba Đông đến Quang Liệt, trước đã thành đê, nay dời đắp một bên thì lòng sông lệch lạc, chưa chắc đã 10 phần xuôi thuận, và trước đây bao nhiêu nhân công vật liệu, há chẳng uổng phí? Nếu không dời đắp thì trên rộng dưới hẹp, sau này không khỏi cái nạn xói mạnh, hai đàng đều khó, không thể không xét kĩ tình hình mới được. Vả, Nguyễn Công Trứ cùng với Trịnh Quang Khanh và Hà Thúc Lương đã từng hội nhau cùng làm, cũng nên buộc họ phải làm cho trọn công việc. Vậy dụ sai [bọn Trứ] thân đến tận nơi khám xét kĩ lại: hoặc từ Ba Đông đến Quang Liệt dời đắp một bên; hoặc từ Bằng Ngang đến đoạn trên Ba Đông, liệu đắp đê mới, cho hai bên ngang nhau với đê cũ ở Ba Đông. Hai đằng ấy đằng nào tiện thì làm, còn các huyện Đường Hào, Đường An, Thanh Miện, những nơi mà nước tràn đến, chỗ nào nên đắp hộ đê, chỗ nào nên nạo vét, khiến cho thông suốt một loạt, thì nên trù tính cho kĩ. Đến như thân đê cao, thấp, thì lấy mực nước to năm nay làm cữ, rồi cho cao thêm 2 thước. Hai bên bờ đê liệu đặt cống có cửa và cống không có cửa để tiện đóng mở, ngõ hầu mới phòng được lụt mùa hè và chống được nước mùa thu, để cho dân không một người nào bị mất nơi ăn, chốn ở. Nếu có một điều gì không chu đáo, thì chỉ trách cứ vào bọn Nguyễn Công Trứ đó!”.
Sau đó, bọn Trứ tâu lại: “Xin tuỳ theo hình thế các đoạn sông cũ, sửa đắp tiểu bối để bảo vệ lúa chiêm đến kì nước lên mùa thu xẻ mở năm ba chỗ, cho nước chảy vào ruộng, để nước ruộng và nước sông ngang nhau, dẫu có tràn qua, cũng không đến nỗi sạt lở nhiều; đến khi nước sông rút rồi sẽ lấp lại như cũ, để ngăn cản đợt nước nhỏ sau mùa thu, thì ruộng mùa cũng được tuỳ tiện cày cấy, mà không mắc cáo lo vỡ đê”.
Vua nói: “Nghĩ như thế cũng chỉ ngăn được nước to vụ hè, còn nước lũ mùa thu lại để cho tràn qua thì chưa phải là toàn thiện. Kể ra một phen tính toán, nếu chống được cả hai vụ nước hạ và thu để làm kế lâu dài, dẫu phí đến hàng nghìn vạn, trẫm cũng không tiếc. Nay chỉ nói riêng về mặt chống nước to vụ hè, sao bằng ở chỗ đê ngăn nước thuộc Sài Thị, Sài Quất, quyền tạm lấp lại đủ giữ lúa chiêm, chẳng còn tốt hơn ở các đoạn sông cũ sửa đắp tiểu bối dài đến hơn vạn trượng mà cũng không thể chống giữ được cả nước to mùa thu hay sao?". Bèn sai Biện lí bộ Công là Bùi Quỹ đi đến hội khám, bàn nhau tâu lên.
Quỹ khi đã đến, xem chỗ đê ngăn, thấy nước sâu đến 20, 30 thước, bờ bên tả đê có chỗ sạt lở, lấp đi cũng không khỏi quan ngại, bèn hội hàm dâng sớ xin vẫn đắp tiểu bối ở chỗ sông cũ. Nguyễn Công Trứ lại bàn riêng, xin cho tạm lấp chỗ đê ngắn để chống nước to mùa thu. Vua dụ rằng: "Đê ngắn là chỗ phải chống với sức xói mạnh của dòng sông, thế rất kịch liệt, quyết không nên lấp lại, là rõ ràng lắm. Ngươi, Nguyễn Công Trứ đã được trẫm uỷ cho thân hành đến khám xét, trước đã xin sửa đắp tiểu bối, sau lại bàn lấp đê ngắn. Thế là mơ hồ trong hai đằng, không có định kiến. Đó chẳng qua thấy chỉ dụ của trẫm nghiêm ngặt dặn rằng cần phải chống cả hai vụ nước về hạ, thu, nên bất đắc dĩ trình bày gượng gạo đó thôi. Chẳng thế, quãng đê ngắn ấy nếu nên hàn lấp lại, thì sao lúc có mặt Bùi Quỹ lại không dám quả quyết là nơi khác không quan ngại? Vả, trẫm phải hỏi rộng dò nhiều là cốt mong làm cho hợp lí. Nếu có điều gì chưa tiện thì cứ đúng lẽ trình bày, chứ quý gì nói suông, mong cho tắc trách! Bùi Quỹ là quan Kinh được phái đi, đã thân đến tận nơi, biết rõ quãng đê ngắn không thể lấp được, sao không bác đi ngay trước mặt, lại đến khi về Kinh, hỏi rõ, mới nói. Nếu mỗi người có ý kiến riêng, thì nên có tập tấu riêng, trình bày thẳng, sao cùng hội hàm tâu lên mà tách làm hai thuyết? Thế là muốn cho ta tự xét đoán lấy, thì sao còn đủ làm tai mắt cho ta nữa? Kẻ làm bề tôi không giúp được cho vua đỡ lo, thì còn trách quá làm gì! Trẫm cũng bất tất phải hỏi các ngươi nữa. Nay xét theo tình lí, thì chỗ đê ngắn phải đương đầu với sức xói mạnh, lấp chỗ này, tất vỡ chỗ kia. Nếu gượng gạo lấp đi, lỡ ra một tí, tai hại không nhỏ! Sao bằng tuỳ theo tình thế, đắp cái tiểu bối để chống giữ nước to mùa hè thì cái ấy còn tốt hơn cái kia. Huống chi lương thực của dân vùng đó rất quan trọng. Việc khẩn cấp ấy, phải nên làm trước. Đợi sau một năm, dần dần liệu xem thế nước, sẽ tính khơi đào ở nơi hạ lưu, rồi nhân chỗ đắp trước, phụ thêm cho cao hơn và dày hơn, ngõ hầu mới chống được cả nước to mùa thu và làm cho dân được ở yên mãi mãi... Công việc chia làm 3 phần, lũ ngươi là Nguyễn Công Trứ, Trịnh Quang Khanh và Hà Thúc Lương mỗi người trông coi một phần cho có chuyên trách; hẹn đến cuối tháng ba thì xong, để phòng nước lụt mùa hạ”. (Trang 1034, tập IV).
[Tháng 11] Tổng đốc Hải - Yên Nguyễn Công Trứ dâng sớ điều trần về tệ xét xử hình ngục, có nói: “Phàm tra xét án kiện, khi phạm nhân mới đến, chưa rõ ý hướng, tức thời vặn hỏi, tình gian sẽ tự thấy. Thế mà bấy nay phủ huyện không chịu đem ra tra xét, nhất nhất giao cho nha lại giam giữ hàng tuần, hàng tháng. Quân xảo trá do đấy mới tìm cách mua chuộc dặn dò, vì thế kẻ phạm tội, người làm chứng mới được đổi lại lời cung ban đầu, kẻ lại viên không tốt lại thay đổi thêm bớt ở trong đó, thành thử bản án mới sinh khó khăn, mà hình ngục phần nhiều còn oan uổng trầm trệ. Lại nữa quan tỉnh xem án, chỉ căn cứ vào bản thảo mà xét xử: bộ Hình cũng dựa vào bản án đệ lên mà duyệt lại; đến như hồ sơ ban đầu đều không biết rõ. Thần đã từng vâng mệnh duyệt kĩ lại những bản án giao cho tra xét, thấy có khi một phạm nhân mà trước sau cung khai khác hẳn, một chứng tá mà chứng nhận trước sau cung cũng khác, rối bời xoắn xuýt, khó phán đoán được. Vậy xin định rõ điều lệ điển chương để được noi theo”.


Tiêu đề: Re: Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép về Nguyễn Công Trứ
Gửi bởi: Noitraitim trong 24 Tháng Tám, 2013, 01:14:38 am
Sách Đại Nam thực lục chép về Nguyễn Công Trứ (Phần V) – Tiếp

Vua bèn chuẩn định cho các địa phương: từ nay các nhân phạm được đưa đến thẩm cứu, phủ huyện phải thân tự đem ra tra xét; khi kết án xong, trong bản án phải kể cả người phạm tội bị đến xử án ngày nào, lấy cung ngày nào, để làm bằng cứ điều tra xét lại. Lời cung rườm rà dẫu không thể nhất nhất biên cả vào bản án, nhưng việc kiện cốt ở lời cung ban đầu, cũng phải tóm tắt đại lược, kể rõ những điều chủ chốt, chớ có hàm hồ chút nào. Nếu ai mượn tay nha lại, hoặc cố tình thêm bớt, đảo lộn lời cung thì phải chịu tội. (Trang 1050, tập IV).
Tổng đốc Hải - Yên là Nguyễn Công Trứ trong tập thỉnh an có nói: “Sáu huyện Đường An, Đường Hào, Thanh Miện, Vĩnh Lại, Gia Lộc, và Tứ Kì ở thuộc hạt, tiền và thóc tô thuế vẫn đóng về Hưng Yên để phòng hằng năm dùng vào việc tào vận. Nhưng sáu huyện ấy nộp cả về Hưng Yên, phải thuê thuyền chuyên chở, mỗi một năm chi phí đến 70.000-80.000 quan. Vậy xin đổi nộp về Hải Dương cho tiện”.
Vua dụ rằng: “Sáu huyện ấy bấy nay phải nộp về Hưng Yên, là vì cớ tào vận. Đáng lẽ không chuẩn y lời xin này, nhưng lại nghĩ gần đây các huyện ấy riêng chịu nạn lụt, không khỏi khó khăn eo hẹp. Ta cần trước phải thấu nỗi uẩn khúc của dân, vậy chuẩn cho sang năm đổi nộp ở Hải Dương, đợi đến khoảng thu đông, ngươi sẽ căn cứ vào tình hình hiện tại, tâu lên đợi chỉ”. (Trang 1053, tập IV).
Đinh Dậu, Minh Mệnh năm thứ 18, 1837.
[Tháng Giêng] Tổng đốc Hải - An là Nguyễn Công Trứ tâu nói: 3 huyện Đường Hào, Đường An, Thanh Miện thuộc hạt ấy, ruộng xấu dân nghèo. Gần đây thường gặp năm mất mùa, ngày càng cùng quẫn thêm. Vua đặc cách cho những tiền thóc thuế thiếu từ năm ngoái trở về trước, đều cho hoãn cả. (Trang 12, tập V).
Tổng đốc Hải - An là Nguyễn Công Trứ, Thự Tổng đốc Định - An là Trịnh Quang Khanh, Tuần phủ Hưng Yên là Hà Thúc Lương hội đồng đốc suất đắp đê sông Cửu An (một đoạn tư Bằng Ngang đến Ba Đông hai bờ dài suốt hơn 5.070 trượng, thuê dân hơn 10.000 người làm việc, còn một đoạn từ Ba Đông đến Duyệt Lễ dài hơn 2.320 trượng, một đoạn từ Bích Chàng đến Văn Nhuệ và chặn ngang sông nhỏ dài hơn 2.120 trượng, một đoạn từ Quang Liệt đến Biện Tân dài hơn 3.170 trượng. Cùng các đoạn sông cũ huyện Thanh Miện, Gia Lộc, Đường An, Đường Hào tỉnh Hải Dương dài suốt hơn 24.300 trượng, sức sai dân sở tại và các dân xã thế nước đến được phải làm). Dâng sớ nói: Trước định đắp thêm một đoạn đê từ Bích Chàng đến Bình Trì để ngăn nước lụt mùa hạ, nhưng xứ ấy địa thế thấp, hàng năm khoảng tháng 4, tháng 5, nước nhiều, nước ứ ở ruộng tự sông Kinh Khương tỉnh Hải Dương (thuộc địa hạt 2 huyện Đường Hào, Đường An) tiêu xuống cả ở đấy, nay đắp đê ngăn lại, thì nước mưa từ hạt Văn Giang tỉnh Bắc Ninh chảy rót xuống không khỏi ứ đọng, xin theo ý dân, đổi đắp từ Bích Chàng đến cầu Văn Nhuệ, chặn ngang sông cũ cho đến đê nhỏ xã Kinh Dương (thuộc huyện Đường Hào) đã giữ được nước lụt mà nước mưa vẫn tiêu ra sông Kinh Khương, khỏi cả được nạn úng thuỷ, lại bớt được nhân công 2.000 trượng.
Vua bảo rằng: "Đúng như lời các ngươi nói thì làm một việc mà lợi hai, ba đường, có gì là không nên, bèn cho phép làm. Vừa ba tháng, đê đắp xong. Vua thưởng lũ Trứ đều gia một cấp, sa màu mỗi người ba tấm; Phi long, đại kim tiền; cát tường, bát bảo, ngũ bảo, tiểu kim tiền mỗi người đều một đồng".(Trang 20, tập V).
[Tháng 5] Vua cho triệu Tổng đốc Hải - Yên là Nguyễn Công Trứ về Kinh chầu. (Trang 101, tập V).
[Tháng 6] Tổng đốc Nguyễn Công Trứ vừa đến Kinh vào chầu vua, vua chuẩn cho lập tức đi ngựa trạm về bàn cách phát thóc cho dân vay(5). (Trang 117, tập V).
[Tháng 7] Trước đây Nguyễn Công Trứ, Tổng đốc Hải - An về Kinh bệ kiến, vua nghĩ năm trước giặc Vân nổi loạn, Trứ từng lĩnh quân đi đánh dẹp, đã thân đến địa hạt ấy, nên triệu tập Trứ hỏi rằng: “Cao Bằng, Tuyên Quang còn có giặc trốn là Nông Văn Sĩ, Nông Văn Thạc ẩn nấp mà Trần Văn Tuân không thể bắt được, ngươi có mưu lược gì, có thể làm tuyệt hết cỗi rễ độc ác ấy không?”. Trứ tâu thưa rằng: “Bọn giặc Sĩ ở hẻo lánh nơi rừng rú, chỗ ấy xa xôi, nhân khi sơ hở, lén lút ra vào bất thường, một khi nghe tin quan quân tiến đến, thì tìm cách trốn, lùng bắt rất khó, chỉ có Quản phủ phủ Thông Hoá ở Thái Nguyên là Dương Đình Cẩm và Đội trưởng ở Tuyên Quang là Nguyễn Văn Cầu đều là người Thổ đã quen biết mặt giặc, mà lại chịu quen thuỷ thổ, giao cho bắt giặc, tưởng cũng được việc”. Vua cho là phải. (Trang 127 - 128, tập V).
[Tháng 11] Trước đây, Tổng đốc Hải - An là Nguyễn Công Trứ dâng sớ xin về Kinh để đến ngày ấy theo triều ban chúc thọ. Vua phê bảo rằng: “Ngươi mới về tỉnh lị, công việc còn nhiều, cố gắng làm hết chức vụ, cũng như được vào yết kiến”.(Trang 171, tập V).
[Tháng 12] Tổng đốc Hải - An là Nguyễn Công Trứ tâu nói: “Việc ngăn giữ nước sông, thần ngày đêm tính kĩ, không dám theo ý một mình, phàm gặp hương thân, kì lão, người hơi biết lẽ phải thì liền hỏi, đều nói: Một dải sông Nhị Hà phải chứa 100 dòng sông mà chảy rót xuống cửa biển tỉnh Nam Định, nay từ huyện Tiền Hải trở ra bãi sông ngày càng bồi, cửa biển ngày càng nông mà các sông Hát Môn, Nhật Đức, Nguyệt Đức, Thiên Đức ở thượng nguồn chia từng ngả chảy xuống, nhiều chỗ đã bị lấp, năm mới rồi, nước lũ lên to, không phải là hơn mức thường, thế mà nước sông tiêu tiết, không được nhanh lắm, nên phải ứ đọng lại, xét kĩ lời ấy, xét rõ tình hình thì các dòng sông ở Bắc Ninh đều qua Hải Dương, rồi chảy đến biển. Sông Hàm Giang là sông lớn thuộc hạt ấy, từ trước đến nay, kì nước lũ mùa hạ, nước sa không đến, nước thuỷ triều vẫn lên xuống như thường, thượng lưu bị úng tắc không thông suốt được đã rõ ràng. Nay cửa biển đã không khai đào được chỉ có chia dòng nước chảy như sông Hát Môn, thông đến Ninh Bình; sông Nhật Đức, Nguyệt Đức, Thiên Đức thông đến Hải Dương, nếu không khơi thông sớm, thì lối nước chảy cũ ngày càng ngăn lấp, nước lũ hàng năm càng ứ thêm bội, một con đê cũ, sợ cũng chống không nổi. Vả lại sông Cửu An là lợi hại của 11 huyện, mà sông Nhị Hà là lợi hại của 6 tỉnh, thực không thể không trù liệu sớm.”
Vua sai bộ Công bàn lại. Bộ Công tâu: Lời thỉnh an là hợp lí, xin cho quan địa phương các vùng khảo sát, thi công. Vua y cho. (Trang 221, tập V).
Mậu Tuất, Minh Mệnh năm thứ 19, 1838.
[Tháng Giêng] Bãi chức Quản phủ ở các phủ, đổi đặt làm Trú phòng. Trước đây, Tổng đốc Hải - An là Nguyễn Công Trứ tâu nói: “Quản phủ có chức vụ là phải coi quân bắt giặc, xin nên chế cấp cho cái ấn, để gặp khi có việc sai phái biền binh do Quản phủ chuyên biện, dùng để làm tin”.
Vua sai hai bộ Lễ, Binh bàn, tâu lên, cho là dựng phép phải cốt về sau, mà xét mối tệ, đặt quan nên xét sự thực cho xứng với danh, khoảng năm Gia Long, các hạt từ Quảng Bình trở vào Nam, không đặt chức Quản phủ, duy từ Hà Tĩnh trở ra Bắc sự thể hơi khác, mỗi phủ đặt một Quản phủ, hoặc lấy Quản vệ, Quản cơ, hoặc lấy Cai đội sung lĩnh chức ấy. Minh Mệnh năm thứ 13 [1832], phủ Diễn Châu ở Nghệ An, phủ Tĩnh Gia ở Thanh Hoá bỏ bớt chức Quản phủ, và phủ Hà Hoa ở Hà Tĩnh cho Quản vệ đem quân đóng giữ, thực là để chính tên quan mà ngăn mối tệ... Nay chuẩn cho bộ Binh đem những viên hiện tại, nguyên là Quản vệ, Quản cơ, Cai đội thuộc tỉnh lĩnh chức Quản phủ, thì chỉ gọi là Quản vệ, Quản cơ, Cai đội, các người chưa có nguyên hàm vệ, cơ, đội, thì trước hết cho chức hàm Quản vệ, Quản cơ, Cai đội thuộc tỉnh, do tỉnh lượng phái biền binh giao cho quản lĩnh, vẫn đóng giữ ở phủ cũ, để cho quen việc”. (Trang 257-258, tập V).
[Tháng 2, dân các hạt Hưng Yên, Hải Dương, Nam Định sửa đắp đê điều, phần nhiều góp tiền thuê người làm, không chịu tự mình đi làm việc. Việc đến tai Vua]. [Vua] chuẩn cho truyền chỉ cho Tổng đốc Hải - An là Nguyễn Công Trứ, Tổng đốc Định - An là Trịnh Quang Khanh, Tuần phủ Hưng Yên là Hà Thúc Lương đều đem việc ấy hiểu thị mà răn bảo, còn dám có thuê riêng thì trị tội nặng”. (Trang 264, tập V).


Tiêu đề: Re: Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép về Nguyễn Công Trứ
Gửi bởi: Noitraitim trong 24 Tháng Tám, 2013, 01:15:35 am
Sách Đại Nam thực lục chép về Nguyễn Công Trứ (Phần V) – Tiếp

[Tháng 3, vùng Quảng Đông nhà Thanh bị đói, một bọn giặc thường đón đường cướp lương, rồi mượn tiếng đóng thuyền đánh cá ở phận biển Quảng Yên mưu trộm cướp thóc gạo, dẫn dụ giặc nhà Thanh mưu đánh tỉnh thành Quảng Yên]. Tổng đốc Hải - An là Nguyễn Công Trứ có trách nhiệm trông coi cả hạt ấy cũng chuẩn cho phái người đi ngay dò xét, nếu thấy giặc Thanh ngầm tụ, thì đem ngay quân thuỷ sư cùng đánh, không được chuyên uỷ cho tỉnh Quảng Yên. (Trang 290, tập V).
[Tháng 4] Đặt thêm huyện Vĩnh Bảo ở Hải Dương. Hai huyện Vĩnh Lại, Tứ Kì thuộc hạt tỉnh ấy, đinh điền gấp bội và địa thế xa rộng, không liên thuộc với nhau, Tổng đốc Nguyễn Công Trứ dâng sớ xin trích 3 tổng ở huyện Vĩnh Lại (Ngải Am, Đông Am, Thượng Am, số đinh 631 người, ruộng 5.795 mẫu 7 sào), 5 tổng ở huyện Tứ Kì (Am Bổ, Đông Tạ, Bắc Tạ, Viên Gia, Vu Trì, số đinh 1200 người, ruộng 11.987 mẫu 9 sào), đặt thêm một huyện, gọi là huyện Vĩnh Bảo. Vua y cho. (Trang 304, tập V).
[Tháng 5] Vua nhân bảo bộ Binh rằng: "Hạt tỉnh Quảng Yên, đất ở bờ biển, giáp với nhà Thanh, có nhiều hòn đảo, dễ làm thung lũng trộm cướp. Gần đây giặc biển ngầm nổi, Tả Kì, Hữu Kì, đều lấy đó làm nơi ẩn nấp, trước đã giáng dụ cho Tổng đốc Hải - An Nguyễn Công Trứ phái đi dò, xếp đặt thế nào, chưa thấy tâu báo, nên truyền chỉ sức phải tâu về, tức thì phái cán viên đắc lực đem theo binh thuyền đến hội họp ở Quảng Yên ngày đêm tuần bắt...”. Nguyễn Công Trứ tâu nói về: “Tự trước đến nay, từ tháng 8, 9 đến tháng 3, 4 người nhà Thanh có 500, 600 chiếc thuyền, tụ họp thành đoàn ở ngoài phận biển Quảng Yên đánh cá, phái thuyền quân ra, liền lại đi xa, mùa xuân năm nay đã phái người được việc ở địa phương ấy đi đến núi Chàng Sơn tra xét, có người phường Khai Vĩ là Lương Bình Tổ nói: “Phường của hắn, nhân khẩu kể có hàng nghìn người, vốn là lương thiện, nếu được đánh cá ở ngoài biển, xin tự ra sức bắt giải bọn ác ở phường đánh lưới tôm”. Xét ra một giải Chàng Sơn, vòng quanh suốt vài dặm, có đất cấy trồng được, có suối uống được, có vụng đậu thuyền được, người nước Thanh, nhiều người làm nhà ở trên núi, cấy trồng lấy hoa lợi, phàm các thuyền bè đều đỗ ở đây, nếu một phen bắt bớ đốt phá, chúng tất tan đi, khi quan quân đã về, thế ắt trở lại, nếu muốn vĩnh viễn cấm tuyệt, thực khó xếp đặt, nghĩ nên theo lòng mong muốn của Bình Tổ, cho tự trông coi, thì chúng được lợi, tự nhiên cũng ngăn cấm nhau, tưởng quan quân không đến tốn sức, mà giặc biển yên được”.
Vua bảo rằng giặc ấy đóng ở biển quấy rối, thường làm lo cho dân ta. Nguyễn Công Trứ đã dò xét được Chàng Sơn là đích nơi giặc ẩn tụ, sao không lập tức phái quân đánh bắt, lại bị lời nói ngọt của Lương Bình Tổ lừa dối được, yêu cầu ở lại tụ họp như trước, há chẳng khiến cho kẻ gian được thoả lòng lừa dối ư? Tâu đối hàm hồ, khó chối được lỗi, chuẩn giao cho bộ Binh nghị xử, các công việc nên xếp đặt cũng bàn tâu một thể. Đến khi nghị dâng lên, xin trước giáng Công Trứ 2 cấp.Lại nói từ trước đến nay thuyền nước Thanh thường đậu ở các hòn đảo thuộc tỉnh Quảng Yên, tụ họp thành đoàn, thế tất tụ họp những giặc trốn cùng là quân lêu lổng, nương tựa nhau làm gian, trước tuy làm đám nhỏ, sau thành bọn to, thực không thể để lớn dần lên được, vả, Chàng Sơn là biên giới của ta, địa lợi có thể nhân theo được, chúng đã chiếm tiện nghi, lại theo mà ăn cướp làm giặc, thế mà quan tỉnh không trông coi đến, nếu bảo ở ngoài biển xa cách, thế không thể ở được thì người nước khác còn có thể từ xa đến ở, há lại nhân dân ta đối với đất cát của ta lại có lí không thể ở được ư? Xin sai Nguyễn Công Trứ thân đến nơi ấy xem xét hình thế, chỗ nào có thể đóng giữ được, liệu đặt đồn ải, pháo đài, phái quân đóng giữ để làm kế lâu dài. Chiêu mộ dân đến ở, lập thành làng ấp, tuỳ tiện sinh nhai, cốt cho tin tức cùng thông, cho để xem xét đối phó; nhưng do Quảng Yên bất kì phái binh thuyền đi tuần tiễu, hiểu bảo bờ cõi rõ ràng. Nếu thuyền nhà Thanh chúng dám có vượt qua địa phận chạy sang, thì không cứ trong thuyền có đồ đánh cá hay đồ ăn cướp hay không. Lập tức đem người và thuyền bắt giải, giết hết không tha, không được nương náu tạm dụng, lại để bị mua chuộc được. Ngoài ra có tình hình gì khác, cũng cho tính kĩ tâu vào. Và xưa nay thuyền buôn mất cướp, phần nhiều là cau khô, tiền kẽm, đều không phải vật chi dụng thông hành của người nhà Thanh, chắc là bọn chúng đem những vật cướp được ấy trao đổi với thổ dân Quảng Yên, nhân đó mà mua trộm gạo, thổ dân cũng có lợi, cho họ đậu ở ngoài biển, im không báo cáo, từ đấy thành thói quen, xin cho Công Trứ chuyển sức cho tỉnh Quảng Yên, nghiêm cấm, răn bảo các Tổng lí sở tại, phàm thấy thổ dân còn dám giao thông, bán trộm gạo cho người Thanh, thì lập tức bắt giải quan, chiểu luật trị tội nặng, Tổng lí dụng tình dung ẩn, cũng bắt tội như người có tội ấy, như thế thì sào huyệt trộm cướp đã trừ, tức là mưu gian xảo của thuyền nhà Thanh không thể thi thố được, mà giặc biển có thể được yên hẳn. Vua theo lời bàn ấy. (Trang 337, tập V).
[Tháng 6, Hộ phủ Quảng Yên là Lê Dục Đức, đem thuyền quân đi bắt giặc biển, gặp giặc đánh nhau ở Đảo Đũa bị thua, thuyền bị đắm, quân chết nhiều. Đức tả tơi dẫn quân về].
Vua nghe tin liền giáng dụ sai Tổng đốc Nguyễn Công Trứ thân đem thuyền quân kíp đi đuổi đánh và nhân tiện xem tình thế núi Chàng Sơn, tính kĩ công việc giữ đánh, bàn định thoả đáng, tiếp tục tâu lên. Lê Dục Đức phải cách chức trói giải về Kinh giao cho bộ Hình nghị xử, sau phải tội trảm giam hậu. (Trang 349, tập V).
[Tháng 7] Tổng đốc Hải Dương Nguyễn Công Trứ thân đem thuyền quân đến phận biển Quảng Yên bắt giặc, dâng sớ tâu lên... Vua bảo Hiệp biện Đại học sĩ Trương Đăng Quế rằng: “Nay 4 phương vô sự, duy còn giặc biển chưa yên, trước đây sai Nguyễn Công Trứ đi bắt giặc biển Quảng Yên, xứ ấy núi khe xa hiểm, sóng gió khôn lường, quân ta không quen mà bọn giặc thì quen, thêm đường biển mông mênh dễ bề trốn tránh, chỉ nên dùng kế thì hơn, nếu chỉ lấy tiếng là tuần tiễu, khi gặp thuyền giặc, đánh trống, giương cờ thì chúng bèn đi xa, thế là cũng chỉ khó nhọc mà thôi”. (Trang 355-356, tập V).
[Tháng 9] Tổng đốc Hải - An Nguyễn Công Trứ đem đại đội binh thuyền chia đường thẳng đến Chàng Sơn vây bắt giặc biển, chém tại trận được một đầu giặc, giặc bỏ thuyền lên bờ chạy, quan quân đuổi theo bắt, chém được nhiều, thu được cả thuyền mành khí giới, xét thấy nhà cửa có hơn 50 nhà, đều có tang vật cướp được, khoảng núi ấy, cấy lúa được hơn 500 mẫu, đều đốt phá hết. Việc ấy tâu lên thưởng cho Quản vệ, Quản cơ đi trận ấy đều kỉ lục hai thứ, Suất đội đều một thứ, binh dõng thưởng chung cho 300 quan tiền. Trứ bèn cùng với Suất đội giám thành Lê Đức Hảo ở Kinh phái đi cùng xem hình thể núi Chàng Sơn vẽ thành đồ bản đệ lên dâng. Sớ nói: Hai bên tả hữu Chàng Sơn có Đông Chàng, Tây Chàng, Nam Chàng, Đàm Chàng giúp đỡ lẫn nhau, một dải phía Đông núi cao, cây rậm, giữa có dòng sông gọi là sông Thông Đồng, một dải Tây Nam núi non thấp phẳng, phía dưới rộng và phẳng, đất cát màu mỡ, người nước Thanh tụ ở đấy thường đến trên 500 nhà, từ trước đến nay Quảng Yên cho là nơi không thể đến được, mới thành sào huyệt của giặc cướp. Nhưng chúng đón cướp tất cả ở các cửa biển lớn nhỏ Vạn Ninh (thuộc xã Vĩnh Thực); đánh cá thì tất ở các phận biển Vậng Thôn và Vân Đồn (thuộc xã Quan Lạn) và U Nang ở Hoa Phong (tên đất, thuộc các xã Chân Châu, Xuân Áng), chặn được đường đi đến, thì không dám vượt biển, canh giữ cho nghiêm, thì không đón cướp được. Nghĩ định ở Chàng Sơn, vụng Đàm Úc ở phía Đông, vụng Thảng Úc ở phía Tây Nam, đều làm một đồn lớn, mỗi đồn đặt một Quản vệ hoặc một Quản cơ, 500 binh, 20 thuyền. Bên tả Thảng Úc, bên hữu Đàm Úc làm một pháo đài, những nơi cao đều đặt lầu canh, chỗ đốt lửa, phía trước là bãi cát thì lập xưởng đóng thuyền, duy ở ngoài biển tin tức khó thông, hai bên tả, hữu hộ ứng, thì mới giữ được không ngại. Còn vụng Cai Úc ở cửa biển lớn, Vậng Thôn ở Vân Đồn đều làm một đồn. Đồn Cai Úc bên tả làm pháo đài, bên hữu làm chỗ đốt lửa, 200 biền binh, 6 chiếc thuyền; đồn Vậng Thôn chỉ làm một chỗ đốt lửa làm hiệu, 2 đồn ấy cũng đốt lửa làm hiệu, một mặt đem binh thuyền ở đồn, một mặt phi tư cho các châu huyện Vạn Ninh, Hoa Phong, Vân Đồn, cho đến tỉnh thành đều đến sách ứng, như thế thì tin tức cũng thông, chiếu cố được nhanh chóng, bờ biển có thể yên hẳn.


Tiêu đề: Re: Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép về Nguyễn Công Trứ
Gửi bởi: Noitraitim trong 24 Tháng Tám, 2013, 01:16:36 am
Sách Đại Nam thực lục chép về Nguyễn Công Trứ (Phần V) – Tiếp

Và ở Chàng Sơn thành điền đã được hơn 500 mẫu. Các lính đóng ở đồn cấp cho điền khí để khai khẩn trồng cấy, không ngoài một năm, chi tiêu thừa thãi, cũng không phải cấp gạo thêm lương. Còn như thổ mục và thủ hạ hắn ở Vạn Ninh, Hoa Phong, Vân Đồn đều là quen chịu sóng gió, có thể chiến đấu được, xin mộ người địa phương ấy 1 cơ 10 đội, mỗi đội 50 người để giúp việc sai phái. Vả lại, nay vào tiết cuối thu, gió mưa không lường, tạm trở về Hoa Phong, đợi hướng gió thuận tiện, lại đến Chàng Sơn liệu việc. Lại chỗ tiếp giáp với Vạn Ninh là núi Trúc Sơn động La Phù thuộc châu Vinh An, vốn là địa giới nước ta, nay cũng nên tính lấy lại.
Sớ tâu vào. Vua bảo rằng: “Từ trước đến nay giặc biển trộm nổi dậy cướp người buôn bán. Trẫm đã liệu biết tất lấy các đảo gần biển làm sào huyệt ẩn nấp. Nay cứ lời tâu, Chàng Sơn quả nhiên có một hoàn đảo quanh co, thuyền có thể đậu lén lút, đất cát phì nhiêu có thể mưu sống được, hiện nay người Thanh tụ tập đấy đến hơn mấy trăm nhà, trồng cấy đến hơn 500 mẫu vả chăng xét thấy có tang vật trộm cướp, sự trạng rõ ràng, nếu không sớm tính đánh đuổi, hằng năm thuyền đánh cá hàng trăm hàng nghìn, tụ họp thành đoàn. Thực là một chằm vực lớn của kẻ trốn tránh, lửa đom đóm, muỗi thành sấm, thế tất ngày càng lớn, hơi độc ở biển bao giờ yên được, đó là trách nhiệm của người chưa xong, tất phải đi nữa làm cho thoả đáng để cho xong việc. Còn nghĩ định chọn đất làm đồn luỹ, pháo đài và mộ dân Thổ, trước xung làm lính đóng đồn rất là hợp lí, nhưng 1 phen sắp đặt nên phải 10 phần chu đáo, đợi sau khi đi khắp xem xét, trù tính kĩ càng, tâu lên, lại giáng chỉ cho thi hành. Còn như địa giới Trúc Sơn động La Phù, châu Vĩnh An là bãi biển xa xôi, việc đã lâu rồi, bản đồ sổ sách khó xét, nay nếu tư đến Quảng Đông, ta lấy được đất làm vinh, thì chúng tất lấy mất đất làm nhục, việc liên quan đến biên giới, tất không khỏi tốn nhiều lời biện chiết, lại thành ra không khéo. Duy dân ở biên giới ở chỗ phần nhiều không căn cứ đích xác, hoặc do tỉnh Quảng Yên phái người đến tận nơi viên đồn Trúc Sơn nói rõ đất ấy nguyên trước thuộc về cương giới triều ta, tự phải giao trả, để đưa tin lặng lẽ là lời nói, không động đến thanh sắc, chúng tự nhiên phải nghe, thế là tốt”. (Trang 382, tập V).
[Tháng 10] Thuyền binh đi tuần bắt giặc của Tổng đốc Hải - Yên Nguyễn Công Trứ ở phận biển Chân Châu (tên xã) thuộc Hoa Phong, gặp thuyền giặc người Thanh trên 60 chiếc, đánh nhau, Quản vệ bọn Nguyễn Văn Ngữ thu được ba chiếc thuyền sam bản nhỏ và khí giới, bỗng gió đông thổi mạnh, lại chạy đến Vân Đồn chờ gió thuận. Việc ấy được tâu lên và nói bọn giặc lảng vảng ngoài biển, khi tụ, khi tan, binh thuyền không tiện ở lâu, xin đến chỗ giặc từ trước tới nay thường đậu, thiết lập đồn luỹ, pháo đài, phòng ngự nghiêm hơn, cần đến vôi rất nhiều, phải do tỉnh Hải Dương thuê bắt binh dân mong để làm.
Vua bảo rằng: “Ngươi thân lĩnh đại đội biền binh ra biển đánh bắt cần phải đến thẳng Chàng Sơn đánh phá sào huyệt giặc... Còn như quan quân đi bắt giặc, đánh nhau với giặc, thu được thuyền bè khí giới cũng là đáng khen”. (Trang 413, tập V).
[Tháng 12] Tổng đốc Hải - Yên Nguyễn Công Trứ ở Vậng Thôn, châu Vân Đồn nghe tin ngoài núi Ỷ Cầm có trên 50 cái thuyền giặc Thanh, lập tức phái binh thuyền hiện đem đi chia làm 5 toán đang đêm tiến đi ngay, gặp gió đông thổi mạnh, sóng đánh trôi gần sáng thuyền giặc đều giương buồm chạy thoát, chỉ có một chiếc chưa kịp nhổ neo, Suất đội toán trước là bọn Nguyễn Công Khuyến đi thuyền nhẹ nhanh, sấn đến chém được một đầu giặc. Còn thì nhảy xuống biển chết cả. Trứ đem việc ấy tâu lên và xin tạm về Quảng Yên, chờ thuận gió lại đến Chàng Sơn.
Vua bảo rằng: “Ngươi đi lần này rất lâu, nhọc quân, tốn lương, giặc biển vẫn còn kết thành bọn lớn, xử theo luật quân còn chối sao được, nhưng gặp phải sự thế hơi khó, chưa nỡ bắt tội ngay. Tạm xử nhẹ giáng một cấp. Vả lại giặc ấy đóng ở biển, rất là ngăn trở việc buôn bán trên đường biển. Nay đã biết rõ đích chỗ giặc lén lút, việc đánh giặc không thể hoãn được,có thể trong tháng này lại đi làm xong cố nhiên là không thể, cũng chuẩn cho đến tháng giêng sang năm lại đi, cốt đem giặc ấy giết hết tất cả cho đến công việc xếp đặt về sau, phải hết lòng sửa sang, không được mượn cớ để chậm trễ”.(Trang 418-419, tập V).
Dựng bia võ công. Trước vua nghĩ các quan vâng mệnh chuyên đi đánh dẹp, nhiều người có công lao, muốn dựng bia ghi công để mãi mãi đời sau, sai bộ Binh bàn. Đến nay quan ở bộ tìm xét năm gần đây, bầy tôi kính theo việc võ như dẹp yên giặc Xiêm, uy dậy biên thuỳ, cùng là đánh dẹp giặc cướp ở Nam Kì, Bắc Kì và thắng trận ở Ba Lan, Đại Đồng, phàm người theo việc đánh bắt, được phong tước và con được tập ấm là 20 người, nghĩ nên ghi vào bia để nêu chiến công: Trương Minh Giảng, Trương Phúc Đĩnh, Phan Văn Thuý, Nguyễn Xuân, Phạm Hữu Tâm, Trần Văn Trí, Hồ Văn Khuê, Nguyễn Công Hoán, Mai Công Ngôn, Phạn Văn Điển, Tạ Quang Cự, Lê Văn Đức, Nguyễn Công Trứ, Vũ Văn Từ, Nguyễn Tiến Lâm, Tôn Thất Bật, Vũ Đình Quang, Lê Văn Thuỵ, Phạm Phi, Phạm Văn Lí(5). (Trang 435, tập V).
Kỉ Hợi, Minh Mệnh năm thứ 20, 1839.
[Tháng Giêng]Tổng đốc Hải - Yên Nguyễn Công Trứ thân lĩnh đại đội binh thuyền lại đến Chàng Sơn tuần bắt giặc biển, dâng sớ xin thôn Vận ở Vân Đồn, xã Vĩnh Thực ở Vạn Ninh (tên xã, tức cửa biển Đại, tiếp gần Bạch Long Vĩ thuộc Trúc Sơn), đều làm một đồn (Thành đồn 4 mặt đều dài 23 trượng, chân sâu 1 thước 5 tấc, thân cao 5 thước, mặt trước xây đá, dày 2 thước, 5 tấc. Cấp giữa đổ đầy đất 3 thước, 5 tấc, cấp trong xây đá 2 thước, 2 cửa sau đều dựng cột gỗ cao 9 thước, tầng trên làm lầu canh, dưới đóng hai cánh cửa, bên tả làm một pháo đài, bên hữu làm chỗ đốt lửa, về pháo đài chiểu theo thế núi, mặt rộng trên dưới 2,3 trượng, cao 4 thước, sâu 1 thước, ngoài xây đá dày 4 thước, giữa đổ đầy đất), uỷ Lãnh binh tỉnh Hải Dương Đồng Bá Huyên trông coi. Xã Xuân Áng thuộc Hoa Phong làm một đồn (4 mặt đều dài 19 trượng 3 thước, cao, dày, và cách thức cửa theo như trước, bên hữu làm 1 chỗ đốt lửa, không có pháo đài) uỷ Phó Lãnh binh tỉnh Quảng Yên Đinh Văn Yên trông coi. Vua y cho. (Trang 447-448, tập V).
Binh thuyền đi tuần bắt của Tổng đốc Hải - An Nguyễn Công Trứ ở phận biển Vân Đồn, thấy hộ thuyền đánh cá người Thanh: hai bang Khai Vĩ, Hà Cổ là bọn Thái Hợp Lợi đem tướng giặc bắt được là Lí Công Tống và bọn chúng 16 tên bắt sống, 50 tên chém giết cắt lấy tai, cả thuyền mành khí giới đem đến dâng nộp ở trại quân. Nói: bọn chúng vốn lấy nghề đánh cá buôn bán mưu sống, gần đây nhân bọn ấy cướp người buôn bị phải liên luỵ, nên góp sức cùng bắt được, xin đem việc ấy chuyển tâu, để được đánh cá ở ngoài biển chịu nộp thuế sản vật. Công Trứ liền đem 100 đồng bạc hoa, 100 phương gạo lương thưởng cho, đều cho về nước. Bọn chúng cầu xin làm dân cùng giống với Minh hương, Trứ đem việc ấy tâu vào.
Vua bảo viện Cơ mật rằng: “Lúc đầu mới được tin báo bắt được giặc Thanh, cho là quan quân giết giặc lập công. Đến khi mở xem thì là nhờ hộ thuyền buôn đánh cá bắt giết đem nộp, nhờ người mà thành công để được việc rất là thẹn cho Nguyễn Công Trứ, nhưng các hộ thuyền ấy biết rõ hoạ phúc, biết cố sức bắt chém bọn giặc, cũng có chút công. Chuẩn cho thưởng thêm 500 quan tiền, Công Trứ đã xuất bạc, gạo, thì chia của kho trả cho, còn như việc bọn chúng xin làm dân nộp thuế, thì giao cho hai bộ Hộ, Binh bàn cho thoả đáng tâu lên". (Trang 475 , tập V).
[Tháng 4] Tổng đốc Hải - An Nguyễn Công Trứ đem binh thuyền lại đến Chàng Sơn tìm bắt được 4 tên giặc chém đi, rồi chiêu dụ dân, tất cả 180 người lập làm làng Hướng Hoá, tuỳ theo chỗ ở, chia làm Đông, Tây, Nam, Bắc, 4 giáp, đặt Lí trưởng, Giáp trưởng để cai quản, lệ thuộc vào châu Vân Đồn để ghi vào sổ chịu thuế. Sớ tâu vào được vua khen. Trứ lại theo dụ, bắt đầu mục 2 bang Khai Vĩ, Hà Cổ, sai cứ hiện số người, số thuyền ghi sổ định thuế (số người: đàn ông, đàn bà trên dưới 760 người, số thuyền: trên 70 chiếc, cứ tháng ba, tháng mười, hai kì đem nộp, thuế lệ...).
Trứ bèn lượng đặt Bang trưởng, Bang mục, còn 2 má đầu thuyền đổi sơn màu xanh, đều cấp cho bài gỗ, cắm cuối thuyền làm dấu(6).(Trang 486 - 487, tập V).
Tổng đốc Hải - Yên Nguyễn Công Trứ từ Chàng Sơn về, nghe tin dân động Liêm Châu cướp bóc ở biên giới châu Vạn Ninh, dân xã An Lương ở đấy đánh nhau với chúng, có người bị thương, bị chết, bèn dâng sớ xin tư cho Tổng đốc hai tỉnh Lưỡng Quảng nghiêm sức tra xét.


Tiêu đề: Re: Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép về Nguyễn Công Trứ
Gửi bởi: Noitraitim trong 24 Tháng Tám, 2013, 01:17:03 am
Sách Đại Nam thực lục chép về Nguyễn Công Trứ (Phần V) – Tiếp

Vua bảo rằng: giặc hèn nhỏ nhặt, việc gì phải tư cho hai tỉnh Quảng thường phải chậm trễ, nên sai tỉnh Quảng Yên tư cho Khâm Châu chuyển báo cho Liêm Châu... tìm cách tra bắt, cốt được cả bọn cướp ấy, kết án trừng trị cho địa hạt được yên.(Trang 492, tập V).
[Tháng 4] Triệu Tổng đốc Hải - An Nguyễn Công Trứ về Kinh. Lấy Tổng đốc Ninh - Thái Tôn Thất Bật quyền lĩnh Tổng đốc Hải - An... Nguyễn Công Trứ đem việc trù nghị phái uỷ đi tuần biển và ấn định biền binh giữ đồn làm tập tâu nói: “Giặc người Thanh, không những chỉ thuyền đánh cá, cũng có thuyền buôn người Thanh lúc cùng túng mà sinh việc. Quan quân thế khó ập bắt. Xin đem thuyền bắt được của người Thanh lấy 8 chiếc dùng được cho sửa chữa ngay rồi chọn biền binh đắc lực cho ngồi. Cứ từ Hà Tĩnh trở về Bắc đến Nam Định, chia nhau đi tuần chặn. Khi gặp lũ giặc thì dùng thuyền người Thanh, chúng tất không thể trốn thoát, các binh thuyền ở Kinh phái đi tuần bắt từ Quảng Bình trở vào Nam, còn thì hãy bãi bỏ. Và ven tỉnh Quảng Yên nên đặt được 3 đồn: 1 đồn ở xã Xuân Áng, gọi là đồn Ninh Hải; 1 đồn ở Thôn Vậng, gọi là đồn Tĩnh Hải; 1 ở thôn Vĩnh Thực gọi là đồn Thiếp Hải. Đồn Tĩnh Hải phái 1 Quản vệ, Quản cơ, 300 biền binh, 2 đồn Ninh Hải, Thiếp Hải, mỗi đồn 3 Suất đội, 105 biền binh để đóng giữ. Lại phái Thông phán, Kinh dịch, bát phẩm, thư lại, hợp sức cùng làm việc.
Vua dụ rằng: "Về việc đi tuần biển, đã có nghị định chương trình, các địa phương trở vào Nam, trở ra Bắc đều có phái binh thuyền chiểu hạt tuần tiễu, lại có quan quân bắt giặc đi lại tra bắt, tuy chưa bắt được thuyền giặc, nhưng lần lượt cứu thoát được thuyền buôn cũng nhiều, nay nếu vội rút về, chỉ đem 8 chiếc thuyền bắt được của người Thanh đi tuần chẹn, sợ người ngồi thuyền đã không phải là biền binh đắc lực mà đường biển xa rộng, trông khắp sao được, có khác gì tự bỏ phên giậu đi, mà muốn cho chúng sợ hãi không dám đi lại thì có được không? Lời ngươi nói viển vông không thể làm được. Còn như canh giữ bờ biển, cũng là việc quan trọng, nhưng trù binh trước hết phải bàn đến lương, phải cho chu đáo mới làm được, việc ấy chuẩn giao cho tỉnh Quảng Yên tính liệu. Ngươi từ trước đến nay phần nhiều làm việc hồ đồ, nay đã có chỉ về Kinh, phải tuân lệnh đi ngay, không cần phải quá lo cho người khác”. (Trang 492, tập V).
[Khi tỉnh Quảng Yên trù liệu tâu lên, việc bố phòng tuần tiễu, và tình hình bọn giặc giống như lời tâu của Trứ nhưng chỉ bớt số lượng và thêm thắt tình hình, chứ không có gì sáng tạo].
[Tháng 6] Giáng Tổng đốc Hải - Yên là Nguyễn Công Trứ xuống Hữu Tham tri bộ Binh. Trứ, trước kia đi Quảng Yên bắt giặc, làm việc không khéo, đến nay triệu về Kinh giao bộ Lại xét. Bộ xin theo lệ nịch chức, xử cách chức. Vua đặc cách đổi cho làm giáng xuống chức này...
[Tiếp đó] Thuyền Hải Vận ở Kinh phái đi, khi từ Nam Định trở về qua ngoài khơi về phần đồn cửa biển Hà Tĩnh gặp thuyền giặc xông lên đón chặn. Người áp giải là Suất đội Đặng Văn Trang hoảng sợ cuống quýt, trở tay không kịp, nấp vào lái thuyền. Giặc bèn lên thuyền chém giết mấy tên binh lính, cướp lấy súng lớn và khí giới rồi đi. Vua được tin ấy sai áp giải (Văn Trang) đến bờ biển chém đầu bêu lên cho mọi người biết... Bèn sai Thự Thống chế dinh Thần cơ là Nguyễn Hữu Thắng, Hữu Tham tri bộ Binh là Nguyễn Công Trứ quản lĩnh 10 chiếc thuyền binh nhằm phận biển tứ Thừa Thiên trở ra Bắc suốt đến Chàng Sơn thuộc Quảng Yên để đuổi bắt. (Trang 520, tập V).
Sai bọn Tham tri Nguyễn Công Trứ, Thị lang Lê Văn Đức đến sở Đốc công chiếu theo lời tâu của bộ Công về việc làm nhà lầu kết hoa ở ngoài đường gạch bốn góc Hoàng thành, chế biện các vật hạng dàn bày, đốc sức thợ để làm. (Trang 525, tập V).
[Tháng 9, giáng Hữu Thị lang bộ Lễ gia hàm Tham tri, sung biện các Vụ là Hoàng Quýnh xuống Viên ngoại lang bộ Công về tội lộng ngôn]. Vua nói: "... bổ cho theo Lê Văn Đức, thừa biện công việc thuỷ sư ở Kinh kì, lại theo với Nguyễn Công Trứ thừa biện công việc làm lầu rạp, cho y được tuỳ việc mà cố gắng làm việc để chuộc lỗi xưa". (Trang 573, tập V).
Cho Hữu Tham tri bộ Binh là Nguyễn Công Trứ kiêm chức Tả Phó Đô ngự sử viện Đô sát. (Trang 577, tập V).
[Tháng 10] Dựng lầu rạp dịp khánh tiết sang năm (Trước cửa Ngọ Môn dựng 1 lầu chính, 2 rạp dài 2 bên tả, hữu, bốn lầu góc; trước sân 2 điện Quang Minh, Bồng Doanh mỗi nơi 1 rạp dài. Sai Thượng thư Hà Duy Phiên, Thống chế Nguyễn Tiến Lâm làm Đổng lí, Tham tri Nguyễn Công Trứ, Thự Tham tri Tôn Thất Bạch, Thị lang Lê Văn Phú, Bùi Quỹ, nhất đẳng Thị vệ Lê Văn Phú sung làm Phó Đổng lí. (Trang 590, tập V).
[Tháng 12, Thự Ngự sử là Mẫn Đạt tâu bầy không chính xác về nhân sự bị phạt 6 tháng lương].
Vua hỏi Nguyễn Công Trứ: “Người là Viện trưởng, việc Mẫn Đạt nói có trình cho ngươi biết không?”. Trứ thưa: “Không, từ khi thần lĩnh chức viện ấy đến nay, các khoa đạo tâu nói việc gì đều dùng ấn riêng, cho chí đi việc công, khi trở về cũng đều không trình báo gì Viện trưởng, không phải một mình Mẫn Đạt như thế mà thôi”. Vua nói: “Như thế thì chức Viện trưởng đặt ra chỉ là hư vị, kể ra, triều đình đặt quan, các bộ, viện, tự, sảnh đều có đầu mối, nay trong chốn phong hoá, pháp độ còn như thế, lấy gì làm phép tắc cho mọi người trông vào ư?”. Trứ dâng sớ xin lỗi. Vua tha lỗi cho. (Trang 628-629, tập V).


________________________________________
(5) Vì lí do tỉnh Hải Dương lụt to, đê sông Cửu An bị vỡ, nước tràn xuống, đê các huyện Đường An, Đường Hào, Thanh Miện đều bị vỡ, các huyện Gia Lâm, Vĩnh Lại, Cẩm Giàng, ruộng nương, nhà cửa của dân chìm ngập trong nước. Nước sông Hưng Yên gấp đôi 14 thước.
 
(5) Đình thần bàn lại: Trương Minh Giảng, Phạm Hữu Tâm, Tạ Quang Cự, Phan Văn Thuý, Mai Công Ngôn làm một bia bên tả. Nguyễn Xuân, Phạm Văn Điển, Lê Văn Đức, Trần Văn Trí, Tôn Thất Bật làm 1 bia bên hữu. Vua theo lời bàn ấy. Còn 10 người bị đình thần gạt ra trong đó có Nguyễn Công Trứ.
(6) Bài gỗ ghi ngày, tháng và ký hiệu rõ ràng.


Tiêu đề: Re: Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép về Nguyễn Công Trứ
Gửi bởi: Noitraitim trong 24 Tháng Tám, 2013, 01:19:05 am
Sách Đại Nam thực lục chính biên chép về Nguyễn Công Trứ (Phần VI)
Đinh Dậu, Minh Mệnh năm thứ 18, 1837.
[Tháng Giêng] Tổng đốc Hải - An là Nguyễn Công Trứ tâu nói: 3 huyện Đường Hào, Đường An, Thanh Miện thuộc hạt ấy, ruộng xấu dân nghèo. Gần đây thường gặp năm mất mùa, ngày càng cùng quẫn thêm. Vua đặc cách cho những tiền thóc thuế thiếu từ năm ngoái trở về trước, đều cho hoãn cả. (Trang 12, tập V).
Tổng đốc Hải - An là Nguyễn Công Trứ, Thự Tổng đốc Định - An là Trịnh Quang Khanh, Tuần phủ Hưng Yên là Hà Thúc Lương hội đồng đốc suất đắp đê sông Cửu An (một đoạn tư Bằng Ngang đến Ba Đông hai bờ dài suốt hơn 5.070 trượng, thuê dân hơn 10.000 người làm việc, còn một đoạn từ Ba Đông đến Duyệt Lễ dài hơn 2.320 trượng, một đoạn từ Bích Chàng đến Văn Nhuệ và chặn ngang sông nhỏ dài hơn 2.120 trượng, một đoạn từ Quang Liệt đến Biện Tân dài hơn 3.170 trượng. Cùng các đoạn sông cũ huyện Thanh Miện, Gia Lộc, Đường An, Đường Hào tỉnh Hải Dương dài suốt hơn 24.300 trượng, sức sai dân sở tại và các dân xã thế nước đến được phải làm). Dâng sớ nói: Trước định đắp thêm một đoạn đê từ Bích Chàng đến Bình Trì để ngăn nước lụt mùa hạ, nhưng xứ ấy địa thế thấp, hàng năm khoảng tháng 4, tháng 5, nước nhiều, nước ứ ở ruộng tự sông Kinh Khương tỉnh Hải Dương (thuộc địa hạt 2 huyện Đường Hào, Đường An) tiêu xuống cả ở đấy, nay đắp đê ngăn lại, thì nước mưa từ hạt Văn Giang tỉnh Bắc Ninh chảy rót xuống không khỏi ứ đọng, xin theo ý dân, đổi đắp từ Bích Chàng đến cầu Văn Nhuệ, chặn ngang sông cũ cho đến đê nhỏ xã Kinh Dương (thuộc huyện Đường Hào) đã giữ được nước lụt mà nước mưa vẫn tiêu ra sông Kinh Khương, khỏi cả được nạn úng thuỷ, lại bớt được nhân công 2.000 trượng.
Vua bảo rằng: "Đúng như lời các ngươi nói thì làm một việc mà lợi hai, ba đường, có gì là không nên, bèn cho phép làm. Vừa ba tháng, đê đắp xong. Vua thưởng lũ Trứ đều gia một cấp, sa màu mỗi người ba tấm; Phi long, đại kim tiền; cát tường, bát bảo, ngũ bảo, tiểu kim tiền mỗi người đều một đồng".(Trang 20, tập V).
[Tháng 5] Vua cho triệu Tổng đốc Hải - Yên là Nguyễn Công Trứ về Kinh chầu. (Trang 101, tập V).
[Tháng 6] Tổng đốc Nguyễn Công Trứ vừa đến Kinh vào chầu vua, vua chuẩn cho lập tức đi ngựa trạm về bàn cách phát thóc cho dân vay(5). (Trang 117, tập V).
[Tháng 7] Trước đây Nguyễn Công Trứ, Tổng đốc Hải - An về Kinh bệ kiến, vua nghĩ năm trước giặc Vân nổi loạn, Trứ từng lĩnh quân đi đánh dẹp, đã thân đến địa hạt ấy, nên triệu tập Trứ hỏi rằng: “Cao Bằng, Tuyên Quang còn có giặc trốn là Nông Văn Sĩ, Nông Văn Thạc ẩn nấp mà Trần Văn Tuân không thể bắt được, ngươi có mưu lược gì, có thể làm tuyệt hết cỗi rễ độc ác ấy không?”. Trứ tâu thưa rằng: “Bọn giặc Sĩ ở hẻo lánh nơi rừng rú, chỗ ấy xa xôi, nhân khi sơ hở, lén lút ra vào bất thường, một khi nghe tin quan quân tiến đến, thì tìm cách trốn, lùng bắt rất khó, chỉ có Quản phủ phủ Thông Hoá ở Thái Nguyên là Dương Đình Cẩm và Đội trưởng ở Tuyên Quang là Nguyễn Văn Cầu đều là người Thổ đã quen biết mặt giặc, mà lại chịu quen thuỷ thổ, giao cho bắt giặc, tưởng cũng được việc”. Vua cho là phải. (Trang 127 - 128, tập V).
[Tháng 11] Trước đây, Tổng đốc Hải - An là Nguyễn Công Trứ dâng sớ xin về Kinh để đến ngày ấy theo triều ban chúc thọ. Vua phê bảo rằng: “Ngươi mới về tỉnh lị, công việc còn nhiều, cố gắng làm hết chức vụ, cũng như được vào yết kiến”.(Trang 171, tập V).
[Tháng 12] Tổng đốc Hải - An là Nguyễn Công Trứ tâu nói: “Việc ngăn giữ nước sông, thần ngày đêm tính kĩ, không dám theo ý một mình, phàm gặp hương thân, kì lão, người hơi biết lẽ phải thì liền hỏi, đều nói: Một dải sông Nhị Hà phải chứa 100 dòng sông mà chảy rót xuống cửa biển tỉnh Nam Định, nay từ huyện Tiền Hải trở ra bãi sông ngày càng bồi, cửa biển ngày càng nông mà các sông Hát Môn, Nhật Đức, Nguyệt Đức, Thiên Đức ở thượng nguồn chia từng ngả chảy xuống, nhiều chỗ đã bị lấp, năm mới rồi, nước lũ lên to, không phải là hơn mức thường, thế mà nước sông tiêu tiết, không được nhanh lắm, nên phải ứ đọng lại, xét kĩ lời ấy, xét rõ tình hình thì các dòng sông ở Bắc Ninh đều qua Hải Dương, rồi chảy đến biển. Sông Hàm Giang là sông lớn thuộc hạt ấy, từ trước đến nay, kì nước lũ mùa hạ, nước sa không đến, nước thuỷ triều vẫn lên xuống như thường, thượng lưu bị úng tắc không thông suốt được đã rõ ràng. Nay cửa biển đã không khai đào được chỉ có chia dòng nước chảy như sông Hát Môn, thông đến Ninh Bình; sông Nhật Đức, Nguyệt Đức, Thiên Đức thông đến Hải Dương, nếu không khơi thông sớm, thì lối nước chảy cũ ngày càng ngăn lấp, nước lũ hàng năm càng ứ thêm bội, một con đê cũ, sợ cũng chống không nổi. Vả lại sông Cửu An là lợi hại của 11 huyện, mà sông Nhị Hà là lợi hại của 6 tỉnh, thực không thể không trù liệu sớm.”
Vua sai bộ Công bàn lại. Bộ Công tâu: Lời thỉnh an là hợp lí, xin cho quan địa phương các vùng khảo sát, thi công. Vua y cho. (Trang 221, tập V).
Mậu Tuất, Minh Mệnh năm thứ 19, 1838.
[Tháng Giêng] Bãi chức Quản phủ ở các phủ, đổi đặt làm Trú phòng. Trước đây, Tổng đốc Hải - An là Nguyễn Công Trứ tâu nói: “Quản phủ có chức vụ là phải coi quân bắt giặc, xin nên chế cấp cho cái ấn, để gặp khi có việc sai phái biền binh do Quản phủ chuyên biện, dùng để làm tin”.
Vua sai hai bộ Lễ, Binh bàn, tâu lên, cho là dựng phép phải cốt về sau, mà xét mối tệ, đặt quan nên xét sự thực cho xứng với danh, khoảng năm Gia Long, các hạt từ Quảng Bình trở vào Nam, không đặt chức Quản phủ, duy từ Hà Tĩnh trở ra Bắc sự thể hơi khác, mỗi phủ đặt một Quản phủ, hoặc lấy Quản vệ, Quản cơ, hoặc lấy Cai đội sung lĩnh chức ấy. Minh Mệnh năm thứ 13 [1832], phủ Diễn Châu ở Nghệ An, phủ Tĩnh Gia ở Thanh Hoá bỏ bớt chức Quản phủ, và phủ Hà Hoa ở Hà Tĩnh cho Quản vệ đem quân đóng giữ, thực là để chính tên quan mà ngăn mối tệ... Nay chuẩn cho bộ Binh đem những viên hiện tại, nguyên là Quản vệ, Quản cơ, Cai đội thuộc tỉnh lĩnh chức Quản phủ, thì chỉ gọi là Quản vệ, Quản cơ, Cai đội, các người chưa có nguyên hàm vệ, cơ, đội, thì trước hết cho chức hàm Quản vệ, Quản cơ, Cai đội thuộc tỉnh, do tỉnh lượng phái biền binh giao cho quản lĩnh, vẫn đóng giữ ở phủ cũ, để cho quen việc”. (Trang 257-258, tập V).
[Tháng 2, dân các hạt Hưng Yên, Hải Dương, Nam Định sửa đắp đê điều, phần nhiều góp tiền thuê người làm, không chịu tự mình đi làm việc. Việc đến tai Vua]. [Vua] chuẩn cho truyền chỉ cho Tổng đốc Hải - An là Nguyễn Công Trứ, Tổng đốc Định - An là Trịnh Quang Khanh, Tuần phủ Hưng Yên là Hà Thúc Lương đều đem việc ấy hiểu thị mà răn bảo, còn dám có thuê riêng thì trị tội nặng”. (Trang 264, tập V).
[Tháng 3, vùng Quảng Đông nhà Thanh bị đói, một bọn giặc thường đón đường cướp lương, rồi mượn tiếng đóng thuyền đánh cá ở phận biển Quảng Yên mưu trộm cướp thóc gạo, dẫn dụ giặc nhà Thanh mưu đánh tỉnh thành Quảng Yên]. Tổng đốc Hải - An là Nguyễn Công Trứ có trách nhiệm trông coi cả hạt ấy cũng chuẩn cho phái người đi ngay dò xét, nếu thấy giặc Thanh ngầm tụ, thì đem ngay quân thuỷ sư cùng đánh, không được chuyên uỷ cho tỉnh Quảng Yên. (Trang 290, tập V).
[Tháng 4] Đặt thêm huyện Vĩnh Bảo ở Hải Dương. Hai huyện Vĩnh Lại, Tứ Kì thuộc hạt tỉnh ấy, đinh điền gấp bội và địa thế xa rộng, không liên thuộc với nhau, Tổng đốc Nguyễn Công Trứ dâng sớ xin trích 3 tổng ở huyện Vĩnh Lại (Ngải Am, Đông Am, Thượng Am, số đinh 631 người, ruộng 5.795 mẫu 7 sào), 5 tổng ở huyện Tứ Kì (Am Bổ, Đông Tạ, Bắc Tạ, Viên Gia, Vu Trì, số đinh 1200 người, ruộng 11.987 mẫu 9 sào), đặt thêm một huyện, gọi là huyện Vĩnh Bảo. Vua y cho. (Trang 304, tập V).
[Tháng 5] Vua nhân bảo bộ Binh rằng: "Hạt tỉnh Quảng Yên, đất ở bờ biển, giáp với nhà Thanh, có nhiều hòn đảo, dễ làm thung lũng trộm cướp. Gần đây giặc biển ngầm nổi, Tả Kì, Hữu Kì, đều lấy đó làm nơi ẩn nấp, trước đã giáng dụ cho Tổng đốc Hải - An Nguyễn Công Trứ phái đi dò, xếp đặt thế nào, chưa thấy tâu báo, nên truyền chỉ sức phải tâu về, tức thì phái cán viên đắc lực đem theo binh thuyền đến hội họp ở Quảng Yên ngày đêm tuần bắt...”. Nguyễn Công Trứ tâu nói về: “Tự trước đến nay, từ tháng 8, 9 đến tháng 3, 4 người nhà Thanh có 500, 600 chiếc thuyền, tụ họp thành đoàn ở ngoài phận biển Quảng Yên đánh cá, phái thuyền quân ra, liền lại đi xa, mùa xuân năm nay đã phái người được việc ở địa phương ấy đi đến núi Chàng Sơn tra xét, có người phường Khai Vĩ là Lương Bình Tổ nói: “Phường của hắn, nhân khẩu kể có hàng nghìn người, vốn là lương thiện, nếu được đánh cá ở ngoài biển, xin tự ra sức bắt giải bọn ác ở phường đánh lưới tôm”. Xét ra một giải Chàng Sơn, vòng quanh suốt vài dặm, có đất cấy trồng được, có suối uống được, có vụng đậu thuyền được, người nước Thanh, nhiều người làm nhà ở trên núi, cấy trồng lấy hoa lợi, phàm các thuyền bè đều đỗ ở đây, nếu một phen bắt bớ đốt phá, chúng tất tan đi, khi quan quân đã về, thế ắt trở lại, nếu muốn vĩnh viễn cấm tuyệt, thực khó xếp đặt, nghĩ nên theo lòng mong muốn của Bình Tổ, cho tự trông coi, thì chúng được lợi, tự nhiên cũng ngăn cấm nhau, tưởng quan quân không đến tốn sức, mà giặc biển yên được”.
Vua bảo rằng giặc ấy đóng ở biển quấy rối, thường làm lo cho dân ta. Nguyễn Công Trứ đã dò xét được Chàng Sơn là đích nơi giặc ẩn tụ, sao không lập tức phái quân đánh bắt, lại bị lời nói ngọt của Lương Bình Tổ lừa dối được, yêu cầu ở lại tụ họp như trước, há chẳng khiến cho kẻ gian được thoả lòng lừa dối ư? Tâu đối hàm hồ, khó chối được lỗi, chuẩn giao cho bộ Binh nghị xử, các công việc nên xếp đặt cũng bàn tâu một thể. Đến khi nghị dâng lên, xin trước giáng Công Trứ 2 cấp.Lại nói từ trước đến nay thuyền nước Thanh thường đậu ở các hòn đảo thuộc tỉnh Quảng Yên, tụ họp thành đoàn, thế tất tụ họp những giặc trốn cùng là quân lêu lổng, nương tựa nhau làm gian, trước tuy làm đám nhỏ, sau thành bọn to, thực không thể để lớn dần lên được, vả, Chàng Sơn là biên giới của ta, địa lợi có thể nhân theo được, chúng đã chiếm tiện nghi, lại theo mà ăn cướp làm giặc, thế mà quan tỉnh không trông coi đến, nếu bảo ở ngoài biển xa cách, thế không thể ở được thì người nước khác còn có thể từ xa đến ở, há lại nhân dân ta đối với đất cát của ta lại có lí không thể ở được ư? Xin sai Nguyễn Công Trứ thân đến nơi ấy xem xét hình thế, chỗ nào có thể đóng giữ được, liệu đặt đồn ải, pháo đài, phái quân đóng giữ để làm kế lâu dài. Chiêu mộ dân đến ở, lập thành làng ấp, tuỳ tiện sinh nhai, cốt cho tin tức cùng thông, cho để xem xét đối phó; nhưng do Quảng Yên bất kì phái binh thuyền đi tuần tiễu, hiểu bảo bờ cõi rõ ràng. Nếu thuyền nhà Thanh chúng dám có vượt qua địa phận chạy sang, thì không cứ trong thuyền có đồ đánh cá hay đồ ăn cướp hay không. Lập tức đem người và thuyền bắt giải, giết hết không tha, không được nương náu tạm dụng, lại để bị mua chuộc được. Ngoài ra có tình hình gì khác, cũng cho tính kĩ tâu vào. Và xưa nay thuyền buôn mất cướp, phần nhiều là cau khô, tiền kẽm, đều không phải vật chi dụng thông hành của người nhà Thanh, chắc là bọn chúng đem những vật cướp được ấy trao đổi với thổ dân Quảng Yên, nhân đó mà mua trộm gạo, thổ dân cũng có lợi, cho họ đậu ở ngoài biển, im không báo cáo, từ đấy thành thói quen, xin cho Công Trứ chuyển sức cho tỉnh Quảng Yên, nghiêm cấm, răn bảo các Tổng lí sở tại, phàm thấy thổ dân còn dám giao thông, bán trộm gạo cho người Thanh, thì lập tức bắt giải quan, chiểu luật trị tội nặng, Tổng lí dụng tình dung ẩn, cũng bắt tội như người có tội ấy, như thế thì sào huyệt trộm cướp đã trừ, tức là mưu gian xảo của thuyền nhà Thanh không thể thi thố được, mà giặc biển có thể được yên hẳn. Vua theo lời bàn ấy. (Trang 337, tập V).
[Tháng 6, Hộ phủ Quảng Yên là Lê Dục Đức, đem thuyền quân đi bắt giặc biển, gặp giặc đánh nhau ở Đảo Đũa bị thua, thuyền bị đắm, quân chết nhiều. Đức tả tơi dẫn quân về].
Vua nghe tin liền giáng dụ sai Tổng đốc Nguyễn Công Trứ thân đem thuyền quân kíp đi đuổi đánh và nhân tiện xem tình thế núi Chàng Sơn, tính kĩ công việc giữ đánh, bàn định thoả đáng, tiếp tục tâu lên. Lê Dục Đức phải cách chức trói giải về Kinh giao cho bộ Hình nghị xử, sau phải tội trảm giam hậu. (Trang 349, tập V).


Tiêu đề: Re: Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép về Nguyễn Công Trứ
Gửi bởi: Noitraitim trong 24 Tháng Tám, 2013, 01:19:46 am
Sách Đại Nam thực lục chính biên chép về Nguyễn Công Trứ (Phần VI) – tiếp
[Tháng 7] Tổng đốc Hải Dương Nguyễn Công Trứ thân đem thuyền quân đến phận biển Quảng Yên bắt giặc, dâng sớ tâu lên... Vua bảo Hiệp biện Đại học sĩ Trương Đăng Quế rằng: “Nay 4 phương vô sự, duy còn giặc biển chưa yên, trước đây sai Nguyễn Công Trứ đi bắt giặc biển Quảng Yên, xứ ấy núi khe xa hiểm, sóng gió khôn lường, quân ta không quen mà bọn giặc thì quen, thêm đường biển mông mênh dễ bề trốn tránh, chỉ nên dùng kế thì hơn, nếu chỉ lấy tiếng là tuần tiễu, khi gặp thuyền giặc, đánh trống, giương cờ thì chúng bèn đi xa, thế là cũng chỉ khó nhọc mà thôi”. (Trang 355-356, tập V).
[Tháng 9] Tổng đốc Hải - An Nguyễn Công Trứ đem đại đội binh thuyền chia đường thẳng đến Chàng Sơn vây bắt giặc biển, chém tại trận được một đầu giặc, giặc bỏ thuyền lên bờ chạy, quan quân đuổi theo bắt, chém được nhiều, thu được cả thuyền mành khí giới, xét thấy nhà cửa có hơn 50 nhà, đều có tang vật cướp được, khoảng núi ấy, cấy lúa được hơn 500 mẫu, đều đốt phá hết. Việc ấy tâu lên thưởng cho Quản vệ, Quản cơ đi trận ấy đều kỉ lục hai thứ, Suất đội đều một thứ, binh dõng thưởng chung cho 300 quan tiền. Trứ bèn cùng với Suất đội giám thành Lê Đức Hảo ở Kinh phái đi cùng xem hình thể núi Chàng Sơn vẽ thành đồ bản đệ lên dâng. Sớ nói: Hai bên tả hữu Chàng Sơn có Đông Chàng, Tây Chàng, Nam Chàng, Đàm Chàng giúp đỡ lẫn nhau, một dải phía Đông núi cao, cây rậm, giữa có dòng sông gọi là sông Thông Đồng, một dải Tây Nam núi non thấp phẳng, phía dưới rộng và phẳng, đất cát màu mỡ, người nước Thanh tụ ở đấy thường đến trên 500 nhà, từ trước đến nay Quảng Yên cho là nơi không thể đến được, mới thành sào huyệt của giặc cướp. Nhưng chúng đón cướp tất cả ở các cửa biển lớn nhỏ Vạn Ninh (thuộc xã Vĩnh Thực); đánh cá thì tất ở các phận biển Vậng Thôn và Vân Đồn (thuộc xã Quan Lạn) và U Nang ở Hoa Phong (tên đất, thuộc các xã Chân Châu, Xuân Áng), chặn được đường đi đến, thì không dám vượt biển, canh giữ cho nghiêm, thì không đón cướp được. Nghĩ định ở Chàng Sơn, vụng Đàm Úc ở phía Đông, vụng Thảng Úc ở phía Tây Nam, đều làm một đồn lớn, mỗi đồn đặt một Quản vệ hoặc một Quản cơ, 500 binh, 20 thuyền. Bên tả Thảng Úc, bên hữu Đàm Úc làm một pháo đài, những nơi cao đều đặt lầu canh, chỗ đốt lửa, phía trước là bãi cát thì lập xưởng đóng thuyền, duy ở ngoài biển tin tức khó thông, hai bên tả, hữu hộ ứng, thì mới giữ được không ngại. Còn vụng Cai Úc ở cửa biển lớn, Vậng Thôn ở Vân Đồn đều làm một đồn. Đồn Cai Úc bên tả làm pháo đài, bên hữu làm chỗ đốt lửa, 200 biền binh, 6 chiếc thuyền; đồn Vậng Thôn chỉ làm một chỗ đốt lửa làm hiệu, 2 đồn ấy cũng đốt lửa làm hiệu, một mặt đem binh thuyền ở đồn, một mặt phi tư cho các châu huyện Vạn Ninh, Hoa Phong, Vân Đồn, cho đến tỉnh thành đều đến sách ứng, như thế thì tin tức cũng thông, chiếu cố được nhanh chóng, bờ biển có thể yên hẳn.
Và ở Chàng Sơn thành điền đã được hơn 500 mẫu. Các lính đóng ở đồn cấp cho điền khí để khai khẩn trồng cấy, không ngoài một năm, chi tiêu thừa thãi, cũng không phải cấp gạo thêm lương. Còn như thổ mục và thủ hạ hắn ở Vạn Ninh, Hoa Phong, Vân Đồn đều là quen chịu sóng gió, có thể chiến đấu được, xin mộ người địa phương ấy 1 cơ 10 đội, mỗi đội 50 người để giúp việc sai phái. Vả lại, nay vào tiết cuối thu, gió mưa không lường, tạm trở về Hoa Phong, đợi hướng gió thuận tiện, lại đến Chàng Sơn liệu việc. Lại chỗ tiếp giáp với Vạn Ninh là núi Trúc Sơn động La Phù thuộc châu Vinh An, vốn là địa giới nước ta, nay cũng nên tính lấy lại.
Sớ tâu vào. Vua bảo rằng: “Từ trước đến nay giặc biển trộm nổi dậy cướp người buôn bán. Trẫm đã liệu biết tất lấy các đảo gần biển làm sào huyệt ẩn nấp. Nay cứ lời tâu, Chàng Sơn quả nhiên có một hoàn đảo quanh co, thuyền có thể đậu lén lút, đất cát phì nhiêu có thể mưu sống được, hiện nay người Thanh tụ tập đấy đến hơn mấy trăm nhà, trồng cấy đến hơn 500 mẫu vả chăng xét thấy có tang vật trộm cướp, sự trạng rõ ràng, nếu không sớm tính đánh đuổi, hằng năm thuyền đánh cá hàng trăm hàng nghìn, tụ họp thành đoàn. Thực là một chằm vực lớn của kẻ trốn tránh, lửa đom đóm, muỗi thành sấm, thế tất ngày càng lớn, hơi độc ở biển bao giờ yên được, đó là trách nhiệm của người chưa xong, tất phải đi nữa làm cho thoả đáng để cho xong việc. Còn nghĩ định chọn đất làm đồn luỹ, pháo đài và mộ dân Thổ, trước xung làm lính đóng đồn rất là hợp lí, nhưng 1 phen sắp đặt nên phải 10 phần chu đáo, đợi sau khi đi khắp xem xét, trù tính kĩ càng, tâu lên, lại giáng chỉ cho thi hành. Còn như địa giới Trúc Sơn động La Phù, châu Vĩnh An là bãi biển xa xôi, việc đã lâu rồi, bản đồ sổ sách khó xét, nay nếu tư đến Quảng Đông, ta lấy được đất làm vinh, thì chúng tất lấy mất đất làm nhục, việc liên quan đến biên giới, tất không khỏi tốn nhiều lời biện chiết, lại thành ra không khéo. Duy dân ở biên giới ở chỗ phần nhiều không căn cứ đích xác, hoặc do tỉnh Quảng Yên phái người đến tận nơi viên đồn Trúc Sơn nói rõ đất ấy nguyên trước thuộc về cương giới triều ta, tự phải giao trả, để đưa tin lặng lẽ là lời nói, không động đến thanh sắc, chúng tự nhiên phải nghe, thế là tốt”. (Trang 382, tập V).
[Tháng 10] Thuyền binh đi tuần bắt giặc của Tổng đốc Hải - Yên Nguyễn Công Trứ ở phận biển Chân Châu (tên xã) thuộc Hoa Phong, gặp thuyền giặc người Thanh trên 60 chiếc, đánh nhau, Quản vệ bọn Nguyễn Văn Ngữ thu được ba chiếc thuyền sam bản nhỏ và khí giới, bỗng gió đông thổi mạnh, lại chạy đến Vân Đồn chờ gió thuận. Việc ấy được tâu lên và nói bọn giặc lảng vảng ngoài biển, khi tụ, khi tan, binh thuyền không tiện ở lâu, xin đến chỗ giặc từ trước tới nay thường đậu, thiết lập đồn luỹ, pháo đài, phòng ngự nghiêm hơn, cần đến vôi rất nhiều, phải do tỉnh Hải Dương thuê bắt binh dân mong để làm.
Vua bảo rằng: “Ngươi thân lĩnh đại đội biền binh ra biển đánh bắt cần phải đến thẳng Chàng Sơn đánh phá sào huyệt giặc... Còn như quan quân đi bắt giặc, đánh nhau với giặc, thu được thuyền bè khí giới cũng là đáng khen”. (Trang 413, tập V).
[Tháng 12] Tổng đốc Hải - Yên Nguyễn Công Trứ ở Vậng Thôn, châu Vân Đồn nghe tin ngoài núi Ỷ Cầm có trên 50 cái thuyền giặc Thanh, lập tức phái binh thuyền hiện đem đi chia làm 5 toán đang đêm tiến đi ngay, gặp gió đông thổi mạnh, sóng đánh trôi gần sáng thuyền giặc đều giương buồm chạy thoát, chỉ có một chiếc chưa kịp nhổ neo, Suất đội toán trước là bọn Nguyễn Công Khuyến đi thuyền nhẹ nhanh, sấn đến chém được một đầu giặc. Còn thì nhảy xuống biển chết cả. Trứ đem việc ấy tâu lên và xin tạm về Quảng Yên, chờ thuận gió lại đến Chàng Sơn.
Vua bảo rằng: “Ngươi đi lần này rất lâu, nhọc quân, tốn lương, giặc biển vẫn còn kết thành bọn lớn, xử theo luật quân còn chối sao được, nhưng gặp phải sự thế hơi khó, chưa nỡ bắt tội ngay. Tạm xử nhẹ giáng một cấp. Vả lại giặc ấy đóng ở biển, rất là ngăn trở việc buôn bán trên đường biển. Nay đã biết rõ đích chỗ giặc lén lút, việc đánh giặc không thể hoãn được,có thể trong tháng này lại đi làm xong cố nhiên là không thể, cũng chuẩn cho đến tháng giêng sang năm lại đi, cốt đem giặc ấy giết hết tất cả cho đến công việc xếp đặt về sau, phải hết lòng sửa sang, không được mượn cớ để chậm trễ”.(Trang 418-419, tập V).
Dựng bia võ công. Trước vua nghĩ các quan vâng mệnh chuyên đi đánh dẹp, nhiều người có công lao, muốn dựng bia ghi công để mãi mãi đời sau, sai bộ Binh bàn. Đến nay quan ở bộ tìm xét năm gần đây, bầy tôi kính theo việc võ như dẹp yên giặc Xiêm, uy dậy biên thuỳ, cùng là đánh dẹp giặc cướp ở Nam Kì, Bắc Kì và thắng trận ở Ba Lan, Đại Đồng, phàm người theo việc đánh bắt, được phong tước và con được tập ấm là 20 người, nghĩ nên ghi vào bia để nêu chiến công: Trương Minh Giảng, Trương Phúc Đĩnh, Phan Văn Thuý, Nguyễn Xuân, Phạm Hữu Tâm, Trần Văn Trí, Hồ Văn Khuê, Nguyễn Công Hoán, Mai Công Ngôn, Phạn Văn Điển, Tạ Quang Cự, Lê Văn Đức, Nguyễn Công Trứ, Vũ Văn Từ, Nguyễn Tiến Lâm, Tôn Thất Bật, Vũ Đình Quang, Lê Văn Thuỵ, Phạm Phi, Phạm Văn Lí(5). (Trang 435, tập V).


________________________________________
(5) Vì lí do tỉnh Hải Dương lụt to, đê sông Cửu An bị vỡ, nước tràn xuống, đê các huyện Đường An, Đường Hào, Thanh Miện đều bị vỡ, các huyện Gia Lâm, Vĩnh Lại, Cẩm Giàng, ruộng nương, nhà cửa của dân chìm ngập trong nước. Nước sông Hưng Yên gấp đôi 14 thước.
(5) Đình thần bàn lại: Trương Minh Giảng, Phạm Hữu Tâm, Tạ Quang Cự, Phan Văn Thuý, Mai Công Ngôn làm một bia bên tả. Nguyễn Xuân, Phạm Văn Điển, Lê Văn Đức, Trần Văn Trí, Tôn Thất Bật làm 1 bia bên hữu. Vua theo lời bàn ấy. Còn 10 người bị đình thần gạt ra trong đó có Nguyễn Công Trứ.


Tiêu đề: Re: Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép về Nguyễn Công Trứ
Gửi bởi: Noitraitim trong 24 Tháng Tám, 2013, 01:21:32 am
Sách Đại Nam thực lục chính biên chép về Nguyễn Công Trứ (Phần VII)

Kỉ Hợi, Minh Mệnh năm thứ 20, 1839.
[Tháng Giêng]Tổng đốc Hải - Yên Nguyễn Công Trứ thân lĩnh đại đội binh thuyền lại đến Chàng Sơn tuần bắt giặc biển, dâng sớ xin thôn Vận ở Vân Đồn, xã Vĩnh Thực ở Vạn Ninh (tên xã, tức cửa biển Đại, tiếp gần Bạch Long Vĩ thuộc Trúc Sơn), đều làm một đồn (Thành đồn 4 mặt đều dài 23 trượng, chân sâu 1 thước 5 tấc, thân cao 5 thước, mặt trước xây đá, dày 2 thước, 5 tấc. Cấp giữa đổ đầy đất 3 thước, 5 tấc, cấp trong xây đá 2 thước, 2 cửa sau đều dựng cột gỗ cao 9 thước, tầng trên làm lầu canh, dưới đóng hai cánh cửa, bên tả làm một pháo đài, bên hữu làm chỗ đốt lửa, về pháo đài chiểu theo thế núi, mặt rộng trên dưới 2,3 trượng, cao 4 thước, sâu 1 thước, ngoài xây đá dày 4 thước, giữa đổ đầy đất), uỷ Lãnh binh tỉnh Hải Dương Đồng Bá Huyên trông coi. Xã Xuân Áng thuộc Hoa Phong làm một đồn (4 mặt đều dài 19 trượng 3 thước, cao, dày, và cách thức cửa theo như trước, bên hữu làm 1 chỗ đốt lửa, không có pháo đài) uỷ Phó Lãnh binh tỉnh Quảng Yên Đinh Văn Yên trông coi. Vua y cho. (Trang 447-448, tập V).
Binh thuyền đi tuần bắt của Tổng đốc Hải - An Nguyễn Công Trứ ở phận biển Vân Đồn, thấy hộ thuyền đánh cá người Thanh: hai bang Khai Vĩ, Hà Cổ là bọn Thái Hợp Lợi đem tướng giặc bắt được là Lí Công Tống và bọn chúng 16 tên bắt sống, 50 tên chém giết cắt lấy tai, cả thuyền mành khí giới đem đến dâng nộp ở trại quân. Nói: bọn chúng vốn lấy nghề đánh cá buôn bán mưu sống, gần đây nhân bọn ấy cướp người buôn bị phải liên luỵ, nên góp sức cùng bắt được, xin đem việc ấy chuyển tâu, để được đánh cá ở ngoài biển chịu nộp thuế sản vật. Công Trứ liền đem 100 đồng bạc hoa, 100 phương gạo lương thưởng cho, đều cho về nước. Bọn chúng cầu xin làm dân cùng giống với Minh hương, Trứ đem việc ấy tâu vào.
Vua bảo viện Cơ mật rằng: “Lúc đầu mới được tin báo bắt được giặc Thanh, cho là quan quân giết giặc lập công. Đến khi mở xem thì là nhờ hộ thuyền buôn đánh cá bắt giết đem nộp, nhờ người mà thành công để được việc rất là thẹn cho Nguyễn Công Trứ, nhưng các hộ thuyền ấy biết rõ hoạ phúc, biết cố sức bắt chém bọn giặc, cũng có chút công. Chuẩn cho thưởng thêm 500 quan tiền, Công Trứ đã xuất bạc, gạo, thì chia của kho trả cho, còn như việc bọn chúng xin làm dân nộp thuế, thì giao cho hai bộ Hộ, Binh bàn cho thoả đáng tâu lên". (Trang 475 , tập V).
[Tháng 4] Tổng đốc Hải - An Nguyễn Công Trứ đem binh thuyền lại đến Chàng Sơn tìm bắt được 4 tên giặc chém đi, rồi chiêu dụ dân, tất cả 180 người lập làm làng Hướng Hoá, tuỳ theo chỗ ở, chia làm Đông, Tây, Nam, Bắc, 4 giáp, đặt Lí trưởng, Giáp trưởng để cai quản, lệ thuộc vào châu Vân Đồn để ghi vào sổ chịu thuế. Sớ tâu vào được vua khen. Trứ lại theo dụ, bắt đầu mục 2 bang Khai Vĩ, Hà Cổ, sai cứ hiện số người, số thuyền ghi sổ định thuế (số người: đàn ông, đàn bà trên dưới 760 người, số thuyền: trên 70 chiếc, cứ tháng ba, tháng mười, hai kì đem nộp, thuế lệ...).
Trứ bèn lượng đặt Bang trưởng, Bang mục, còn 2 má đầu thuyền đổi sơn màu xanh, đều cấp cho bài gỗ, cắm cuối thuyền làm dấu(6).(Trang 486 - 487, tập V).
Tổng đốc Hải - Yên Nguyễn Công Trứ từ Chàng Sơn về, nghe tin dân động Liêm Châu cướp bóc ở biên giới châu Vạn Ninh, dân xã An Lương ở đấy đánh nhau với chúng, có người bị thương, bị chết, bèn dâng sớ xin tư cho Tổng đốc hai tỉnh Lưỡng Quảng nghiêm sức tra xét.
Vua bảo rằng: giặc hèn nhỏ nhặt, việc gì phải tư cho hai tỉnh Quảng thường phải chậm trễ, nên sai tỉnh Quảng Yên tư cho Khâm Châu chuyển báo cho Liêm Châu... tìm cách tra bắt, cốt được cả bọn cướp ấy, kết án trừng trị cho địa hạt được yên.(Trang 492, tập V).
[Tháng 4] Triệu Tổng đốc Hải - An Nguyễn Công Trứ về Kinh. Lấy Tổng đốc Ninh - Thái Tôn Thất Bật quyền lĩnh Tổng đốc Hải - An... Nguyễn Công Trứ đem việc trù nghị phái uỷ đi tuần biển và ấn định biền binh giữ đồn làm tập tâu nói: “Giặc người Thanh, không những chỉ thuyền đánh cá, cũng có thuyền buôn người Thanh lúc cùng túng mà sinh việc. Quan quân thế khó ập bắt. Xin đem thuyền bắt được của người Thanh lấy 8 chiếc dùng được cho sửa chữa ngay rồi chọn biền binh đắc lực cho ngồi. Cứ từ Hà Tĩnh trở về Bắc đến Nam Định, chia nhau đi tuần chặn. Khi gặp lũ giặc thì dùng thuyền người Thanh, chúng tất không thể trốn thoát, các binh thuyền ở Kinh phái đi tuần bắt từ Quảng Bình trở vào Nam, còn thì hãy bãi bỏ. Và ven tỉnh Quảng Yên nên đặt được 3 đồn: 1 đồn ở xã Xuân Áng, gọi là đồn Ninh Hải; 1 đồn ở Thôn Vậng, gọi là đồn Tĩnh Hải; 1 ở thôn Vĩnh Thực gọi là đồn Thiếp Hải. Đồn Tĩnh Hải phái 1 Quản vệ, Quản cơ, 300 biền binh, 2 đồn Ninh Hải, Thiếp Hải, mỗi đồn 3 Suất đội, 105 biền binh để đóng giữ. Lại phái Thông phán, Kinh dịch, bát phẩm, thư lại, hợp sức cùng làm việc.
Vua dụ rằng: "Về việc đi tuần biển, đã có nghị định chương trình, các địa phương trở vào Nam, trở ra Bắc đều có phái binh thuyền chiểu hạt tuần tiễu, lại có quan quân bắt giặc đi lại tra bắt, tuy chưa bắt được thuyền giặc, nhưng lần lượt cứu thoát được thuyền buôn cũng nhiều, nay nếu vội rút về, chỉ đem 8 chiếc thuyền bắt được của người Thanh đi tuần chẹn, sợ người ngồi thuyền đã không phải là biền binh đắc lực mà đường biển xa rộng, trông khắp sao được, có khác gì tự bỏ phên giậu đi, mà muốn cho chúng sợ hãi không dám đi lại thì có được không? Lời ngươi nói viển vông không thể làm được. Còn như canh giữ bờ biển, cũng là việc quan trọng, nhưng trù binh trước hết phải bàn đến lương, phải cho chu đáo mới làm được, việc ấy chuẩn giao cho tỉnh Quảng Yên tính liệu. Ngươi từ trước đến nay phần nhiều làm việc hồ đồ, nay đã có chỉ về Kinh, phải tuân lệnh đi ngay, không cần phải quá lo cho người khác”. (Trang 492, tập V).
[Khi tỉnh Quảng Yên trù liệu tâu lên, việc bố phòng tuần tiễu, và tình hình bọn giặc giống như lời tâu của Trứ nhưng chỉ bớt số lượng và thêm thắt tình hình, chứ không có gì sáng tạo].
[Tháng 6] Giáng Tổng đốc Hải - Yên là Nguyễn Công Trứ xuống Hữu Tham tri bộ Binh. Trứ, trước kia đi Quảng Yên bắt giặc, làm việc không khéo, đến nay triệu về Kinh giao bộ Lại xét. Bộ xin theo lệ nịch chức, xử cách chức. Vua đặc cách đổi cho làm giáng xuống chức này...
[Tiếp đó] Thuyền Hải Vận ở Kinh phái đi, khi từ Nam Định trở về qua ngoài khơi về phần đồn cửa biển Hà Tĩnh gặp thuyền giặc xông lên đón chặn. Người áp giải là Suất đội Đặng Văn Trang hoảng sợ cuống quýt, trở tay không kịp, nấp vào lái thuyền. Giặc bèn lên thuyền chém giết mấy tên binh lính, cướp lấy súng lớn và khí giới rồi đi. Vua được tin ấy sai áp giải (Văn Trang) đến bờ biển chém đầu bêu lên cho mọi người biết... Bèn sai Thự Thống chế dinh Thần cơ là Nguyễn Hữu Thắng, Hữu Tham tri bộ Binh là Nguyễn Công Trứ quản lĩnh 10 chiếc thuyền binh nhằm phận biển tứ Thừa Thiên trở ra Bắc suốt đến Chàng Sơn thuộc Quảng Yên để đuổi bắt. (Trang 520, tập V).
Sai bọn Tham tri Nguyễn Công Trứ, Thị lang Lê Văn Đức đến sở Đốc công chiếu theo lời tâu của bộ Công về việc làm nhà lầu kết hoa ở ngoài đường gạch bốn góc Hoàng thành, chế biện các vật hạng dàn bày, đốc sức thợ để làm. (Trang 525, tập V).
[Tháng 9, giáng Hữu Thị lang bộ Lễ gia hàm Tham tri, sung biện các Vụ là Hoàng Quýnh xuống Viên ngoại lang bộ Công về tội lộng ngôn]. Vua nói: "... bổ cho theo Lê Văn Đức, thừa biện công việc thuỷ sư ở Kinh kì, lại theo với Nguyễn Công Trứ thừa biện công việc làm lầu rạp, cho y được tuỳ việc mà cố gắng làm việc để chuộc lỗi xưa". (Trang 573, tập V).
Cho Hữu Tham tri bộ Binh là Nguyễn Công Trứ kiêm chức Tả Phó Đô ngự sử viện Đô sát. (Trang 577, tập V).
[Tháng 10] Dựng lầu rạp dịp khánh tiết sang năm (Trước cửa Ngọ Môn dựng 1 lầu chính, 2 rạp dài 2 bên tả, hữu, bốn lầu góc; trước sân 2 điện Quang Minh, Bồng Doanh mỗi nơi 1 rạp dài. Sai Thượng thư Hà Duy Phiên, Thống chế Nguyễn Tiến Lâm làm Đổng lí, Tham tri Nguyễn Công Trứ, Thự Tham tri Tôn Thất Bạch, Thị lang Lê Văn Phú, Bùi Quỹ, nhất đẳng Thị vệ Lê Văn Phú sung làm Phó Đổng lí. (Trang 590, tập V).
[Tháng 12, Thự Ngự sử là Mẫn Đạt tâu bầy không chính xác về nhân sự bị phạt 6 tháng lương].
Vua hỏi Nguyễn Công Trứ: “Người là Viện trưởng, việc Mẫn Đạt nói có trình cho ngươi biết không?”. Trứ thưa: “Không, từ khi thần lĩnh chức viện ấy đến nay, các khoa đạo tâu nói việc gì đều dùng ấn riêng, cho chí đi việc công, khi trở về cũng đều không trình báo gì Viện trưởng, không phải một mình Mẫn Đạt như thế mà thôi”. Vua nói: “Như thế thì chức Viện trưởng đặt ra chỉ là hư vị, kể ra, triều đình đặt quan, các bộ, viện, tự, sảnh đều có đầu mối, nay trong chốn phong hoá, pháp độ còn như thế, lấy gì làm phép tắc cho mọi người trông vào ư?”. Trứ dâng sớ xin lỗi. Vua tha lỗi cho. (Trang 628-629, tập V).
Canh Tí, Minh Mệnh năm thứ 21, 1840.
[Tháng 2] Vua nghĩ việc trần thiết ở các sở lầu, rạp, công việc bận nhiều. Các viên Đổng lí khó lòng kiêm coi được cả công việc bản nha của mình, vua bèn cho phép Hà Duy Phiên, Lê Văn Đức, Nguyễn Công Trứ, Tôn Thất Bạch, Bùi Quỹ, nếu bản nha có việc quan khẩn thì cùng với đồng liêu ở bộ hội làm, còn việc thường thì miễn cho. (Trang 662, tập V).
[Tháng 3] Giám sát Ngự sử đạo Bình - Phú là Nguyễn Thị đi Phú Yên thanh tra về, lấy vợ lẽ, mua ngựa. Lại bắt những lính trạm đài tệ tư trang. Bị người cùng viện là Vũ Trọng Bình tham hặc.
Vua bảo Viện trưởng là Nguyễn Công Trứ rằng: “Người bề tôi phụng mệnh sai đi, tay không mà về, người ta còn chưa tin lắm. Ngươi há chả biết việc hạt ý dĩ của Mã Viện ư? Huống chi Nguyễn Thị là người trong phong hiến, sự hiềm nghi ở ruộng dưa gốc mận, không biết tránh xa, mà đem về nhiều thứ như thế, bị người ta ngờ là phải. Vua lập tức sai cách chức Nguyễn Thị, giao bộ nghiêm nghị. Thị rồi bị tội đồ, sau được tha, phát đi thành Trấn Tây cố sức làm việc để chuộc tội.(Trang 681, tập V).
[Tháng 4, Tuần phủ Nam - Ngãi là Vương Hữu Quang có tội giam vào ngục. Đình thần cùng bọn Đốc, Phủ, Bố, Án đến Kinh chúc hỗ, cùng nhau một lời bàn xin đem Hữu Quang cách chức trị tội]. Vua bèn sai hội đồng bàn xử. Đến lúc các lời bàn dâng lên, có người bàn xin xử tội chém, có người bàn xin xử tội lưu. Duy có Tham tri Nguyễn Công Trứ, Doãn Uẩn, Thị lang là Phan Thanh Giản, Bùi Quỹ bàn khác đi là xin xử nhẹ giáng 2 cấp lưu.
Vua dụ rằng: “Vương Hữu Quang làm lễ cầu tạnh không được lại muốn đổ cho người trên. Lại thấy ngày ấy trẫm hơi se mình, dám nói bậy bạ cho là trẫm có tội với trời đất thần minh, sao điêu toa dối bậy quá thế! Vả lại, truyện “Quần tiên hiến thọ” là thuộc việc Nội các bọn Nguyễn Bá Nghị soạn ra, dẫu trong ấy trẫm có chỉ bảo một vài câu, nhưng là lời thần bếp, thầy kiện răn bảo đó thôi, có điều gì đùa cợt thần minh đâu, huống hồ dám động đến trời đất ư? Nay Hữu Quang nói ra câu ấy, làm cho mọi người tức giận chổng ngược tóc lên, giao cho đại thần trong ngoài bàn xử, người xin xử lưu, người xin xử chém, cũng là đáng tội. Mà bọn Công Trứ lại bàn xử nhẹ... Nguyễn Công Trứ, Doãn Uẩn, Bùi Quỹ chẳng qua chỉ phụ hoạ vào thôi, đều giáng một cấp lưu, không cho lấy công khác khấu trừ. (Trang 689-690, tập V).
[Tháng 5, tết Đoan Dương, chuẩn cho đại viên các địa phương về Kinh chúc hỗ cùng thuộc biền thành Trấn Tây, Thổ ti Tân Cương, Sứ bộ Hoả Xá, đều được dự ăn yến và thưởng lương từ 1 đến 3 tháng].
Thưởng cho các viên Đổng lí coi làm lâu bằng là bọn Hà Duy Phiên, Lê Văn Đức. Nguyễn Công Trứ đều gia 2 cấp;bọn Nguyễn Tiến Lâm, Tôn Thất Bạch, Bùi Quỹ, Lê Văn Phú đều gia 1 cấp. (Trang 714, tập V).


Tiêu đề: Re: Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép về Nguyễn Công Trứ
Gửi bởi: Noitraitim trong 24 Tháng Tám, 2013, 01:22:00 am


Sách Đại Nam thực lục chính biên chép về Nguyễn Công Trứ (Phần VII) – tiếp

[Tháng 7] Xây pháo đài Phòng Hải ở tỉnh Quảng Nam. Trước đây vua cho là chỗ vụng Trà Sơn ở đầu cửa biển Đà Nẵng là chỗ trọng địa của bờ biển, công việc phòng bị nên phải 10 phần chu đáo, cẩn mật. Sai Hữu Tham tri bộ Công là Nguyễn Công Trứ đem theo bọn phó Vệ úy vệ loan giá là Tôn Thất Tường đi đến nơi khám xét chỗ các thuyền lớn bọc đồng chứa đậu. Nếu dùng để đánh trận nên đặt thêm mấy cổ súng, bao nhiêu lính cho đủ dùng. Lại xem chỗ đỗ thuyền cách bờ gần xa thế nào, một dải núi ven bờ biển, chỗ nào xung yếu mà địa thế hơi bằng phẳng nên đặt pháo đài, để cho trên bờ, dưới thuyền chiêu ứng với nhau được, thì vẽ bản đồ dâng lên.
Đến khi về, Trứ nói rằng: “Các thuyền hiệu Thuỵ long, Phấn bằng, Thanh loan, mỗi thuyền nên phái thêm 100 biền binh thủ hộ, 10 cỗ súng quá sơn (trước cấp cho 6 cỗ súng Hồng y đồng), 100 khẩu điểu thương, 15 cây giáo dài, để việc canh giữ được nghiêm. Còn như việc đặt pháo đài, đã xem được đảo Mỏ Diều ở vụng Trà Sơn, 4 mặt rộng rãi đối nhau với pháo đài Định Hải, có thể nương tựa được. Xin xây pháo đài hình bầu dục (dài 57 trượng, ngang 7 trượng) để cùng chống đỡ hộ nhau. Phía Đông pháo đài mở một cửa, ven cửa xây luỹ đá, trong dựng trại lính, kho lương. Lại đặt lầu trông ngắm ở đài đốt lửa cũ tại núi Trà Sơn, chế cấp cờ hiệu để lâm thời treo lên làm hiệu.
Lại những viên thủ hộ ở 2 thành An Hải, Điện Hải và pháo đài Định Hải phần nhiều lười biếng. Những cỗ súng đặt ở đấy, gián hoặc có cái mòn mẻ, khi dùng đến, sợ khi lỡ việc. Xin phái quan ở Kinh đến kiểm soát, tuỳ nghi sửa lại, đặt thêm biền binh đóng giữ”.
Vua cho lời tâu ấy là phải. Bèn đặt tên đài ấy là “Phòng Hải pháo đài”. (Trang 757 - 758, tập V).
[Tháng 10] Ở Hà Nội, Nam Định mở khoa thi Hương.
Vua sai Hữu Tham tri bộ Binh kiêm Tả phó Đô ngự sử viện Đô sát là Nguyễn Công Trứ, sung Chủ khảo trường thi Hà Nội(7). (Trang 816, tập V).
[Tháng 11] Cho Hữu Tham tri bộ Binh kiêm Tả phó Đô ngự sử viện Đô sát là Nguyễn Công Trứ thăng Thự Tả Đô ngự sử viện Đô sát, nhưng vẫn kiêm Hữu Tham tri bộ Binh. (Trang 857, tập V).
Vua sai Thự Tả Đô ngự sử viện Đô sát Nguyễn Công Trứ, sung làm Tán lí Cơ vụ ở Trấn Tây, hiệp cùng với bọn Kinh lược Phạm Văn Điển, Nguyễn Tiến Lâm, đem quân đánh giặc, hễ trong quân có tâu báo mà cùng đứng tên, cho đứng ở dưới Tiến Lâm.
Trứ thấy bọn thổ phỉ ở Trấn Tây xui giục khởi loạn, việc đánh dẹp vỗ yên có nhiều ngả, tự xin đi để giúp việc, tuỳ việc chia sức khó nhọc, nên có mệnh ấy. Khi vào từ biệt trước thềm để đi, vua dụ bảo trước mặt rằng: “Bọn Phạm Văn Điển, Nguyễn Tiến Lâm, không lo là không mạnh, chỉ lo không có mưu, mà trong quan có văn viên tứ phẩm là Đinh Văn Huy, bàn bạc việc quân, sợ hoặc chưa trùng khớp. Khanh là nho tướng, việc quân lữ vốn đã quen thạo, cốt nên cùng nhau đắn đo cơ nghi, sớm được thành công lớn để xứng với uỷ nhiệm”.
Trứ nhân tâu nói: “Phong tục người Thổ dễ lừa hoặc mà khó hiểu bảo, chỉ một mực nghe thổ ti. Sở dĩ họ dấy loạn cùng một lúc tất cũng là có cớ. Hoặc bị bọn không tốt bức bách, quấy nhiễu gây biến; hoặc là đầu mục của họ là bọn Trà Long bị tội, bọn con em họ hàng sợ phải tội lây, nhân đó mà xui giục dỗ dành, lừa dối những kẻ không biết gì. Triều đình vốn không nỡ lòng giết hết, nhưng chúng đã phạm tội, sợ không dám quay đầu trở về nữa. Hoặc chết đói ở rừng sâu, hoặc chạy chốn sang nước khác, đất cũ của người Lạp, Man thành ra một khoảng đất bỏ không. Tưởng cũng hư phí từ trước tới đây bao nhiêu kế hoạch, xét ra bọn Trà Long, tội cố nhiên không thể tha giết được. Nay nhân họ theo về quy thuận mà ghép vào pháp luật, hoặc có kẻ vin vào đấy để nỏ mồm. Xin giải bọn họ ra nơi quân thứ, sai tự tay viết thư, khuyên bảo con em họ hàng để cùng đem thổ dân ra đầu thú. Nếu ngần ngừ trông ngóng, không chịu nói hết sự thực cũng là đã viết thư răn bảo, mà con em họ không chịu nghe theo, thì rõ là bọn họ đã bị họ hàng bọn lũ ruồng bỏ, tức thời đem chém ngay trước quân; rồi chiếu những nơi mà bọn đầu mục khác của họ tụ tập đánh dẹp rõ kịch liệt để cho họ biết sợ hãi, rồi sau tuỳ cách vỗ về chiêu dụ cho yên họp mới là thoả đáng”.
Vua nói: “Bọn Trà Long dẫu từng làm đầu mục dân Man, nhưng từ lúc trước dân Man chưa làm phản, hoặc có thể lấy hắn là đầu mục mà khuyên bảo, để cho họ hồi tâm. Nay thì có bọn đầu mục khác cùng nhau chống cự quan quân có dính gì đến bọn Trà Long đâu? Nếu con em bọn Trà Long yêu mến hắn mà ra thú phục, há có lẽ bọn giặc Man đều làm phản ấy, cũng mến hắn mà ra thú phục ư? Hoặc giặc Man yêu mến hắn mà ra thú phục, há có lẽ giặc Xiêm giúp quân phản nghịch cũng yêu mến hắn mà ra thú phục ư? Huống chi trong nước Xiêm hãy còn bọn giặc Man ở đó, không những là không yêu mến bọn Trà Long mà thôi lại cùng oán ghét nhau lắm. Nay đã giúp dân Man làm loạn lại theo bên cạnh mà xúi bẩy, há chịu để dân Man theo người oán ghét của nó ư? Và lại, ngày trước bộ Hình đã từng sai bọn kia gửi thư khuyên bảo con em, mà con em họ vẫn trốn làm phản, chưa thấy có một người nào quay đầu trở về thì có khuyên bảo cũng vô ích, tưởng đã thấy được đại khái.
“Nay đại binh đi đánh dẹp, đến nơi nào là phá tan sào huyệt của giặc không bao lâu nữa cũng sẽ bình định. Tức như mọi nơi Tây Ninh, Quang Phong ở Gia Định; Bông Nguyên, Liễu Khê ở Định Tường; Tĩnh Biên, Chu Nham ở Hà Tiên; Xà Năng, Cổ Thành ở Trấn Tây được thắng lợi nhiều, những chỗ trở ngạnh, dần đã yên lặng, có cần gì phải đợi họ khuyên bảo dỗ dành đâu? Chỉ duy một dải Hải Đông, Hải Tây bọn giặc hiện còn hung hăng, nên dẹp tắt trước tiên, sau sẽ chiêu dụ vỗ về dân chúng để cho yên nghiệp sinh sống, đó là điều cốt yếu. Ngươi đi chuyến này phải nên cố gắng đấy.
“Còn như bọn Trà Long là một tên thổ biền có tội, nếu chiếu tội trước mà đem chém thì cũng đủ rõ xử tội là chính đáng. Duy có lẽ kẻ ngu tối không biết gì, không nỡ vội làm nhơ nhớp dao búa đó thôi. Hà tất phải đợi thân thuộc bọn lũ nó ruồng bỏ nó, rồi sau mới giết ư? Lời xin không chuẩn cho thi hành.”
Sai Thị vệ trưởng là Trần Văn Kiếm đem một lá cờ đỏ thêu con rồng của ngự dụng trong khi việc quân, đi đường trạm đến ban cấp cho bọn Kinh lược để khi ra trận đốc chiến. (Trang 861-862, tập V).
[Tháng 12] Bọn Kinh lược đại thần là Phạm Văn Điển, Tham tán là Nguyễn Tiến Lâm, Tán lí là Nguyễn Công Trứ và Tá lí là Đinh Văn Huy tiến đến Trấn Tây. Dâng sớ nói: Binh thuyền từ huyện hạt Tân Thành thuộc An Giang tiến đi, đường qua xứ Sa An (tên đất, thuộc phủ Nghi Hoà ở Trấn Tây), có 50, 60 tên thổ phỉ ở bờ bên tả sông trông ngóng. Sai người thông ngôn ra hỏi, họ bèn hỏi rằng: “Nữ chúa còn không?”, đáp: “Hiện hãy còn ở Gia Định”. Họ đều lấy tay giơ lên trán nói rằng: “Nếu được nữ chúa lại trở về, xin cùng bảo nhau ra thú”. Đi đến sông nhánh Thuyết Nột, bọn giặc ước độ 500 tên ở hai bên bờ sông chặn bắn. Tức thời thân đốc quan quân lên bộ đánh giết, chém được 3 thủ cấp cắt lấy tai, bắt sống 3 tên, còn đều trốn chạy. Khi tới bến đò đồn thuỷ Trấn Tây, có hỏi về tình hình giặc, thì Bang biện là Doãn Uẩn và Hiệp tán là Cao Hữu Dực nói: trước đây, bọn thổ phỉ hội họp bọn lũ, kể cả có hàng vạn, cùng nhau đánh vây hạt lị, bị biền binh giết tan. Nay còn ở đó sửa đắp đồn luỹ. Đã thương lượng cùng nhau, Phạm Văn Điển cùng với Đinh Văn Huy quản lĩnh 3 vệ, cơ ở lại cùng với bọn Doãn Uẩn liệu cơ đánh dẹp; còn Nguyễn Tiến Lâm và Nguyễn Công Trứ đem 4 vệ binh tiến đến Hải Tây hội cùng Tướng quân, Tham tán bàn làm công việc bắt giặc.
Vua dụ rằng: "Quan quân mới gặp giặc lần đầu, đánh dẹp một trận, đã có thực trạng bắt chém bọn giặc, đủ sức oai thanh trước tiên. Chắc đi đến đâu tất phải thành công đến đó. Duy Phạm Văn Điển là Kinh lược đại thần, giặc lớn ở đằng trước, mà lại ở Trấn Tây, chỉ mưu toan dẹp đám giặc nhỏ, như thế có phần chưa thoả mãn lòng người. Nay chuẩn cho Phạm Văn Điển, Đinh Văn Huy lập tức đem một nửa biền binh để lại trước, đi nhanh đến quân thứ của Trương Minh Giảng, hội bàn việc quân.
Nguyễn Công Trứ lại dâng tờ sớ dán kín nói: “Thần từ khi tới Nam Kì, hỏi kĩ về tình trạng bọn thổ phỉ và xem xét hình thế núi sông, so với sự thế của tên nghịch phạm ở Bảo Lạc và Nông Văn Vân hơi có chậm khó hơn là vì, xướng lên khởi nguỵ chỉ có một Văn Vân, theo giặc chỉ có một châu Bảo Lạc; còn các thổ mục đều đem lính thổ dũng, theo quan quân ra sức. Tên đầu mục của giặc bị giết, thì công đánh giặc xong. Nay bọn thổ phỉ này không thống nhất một nơi, ở tản mát trong các chỗ: bằng phẳng, hoang vu, cây rậm, cỏ tốt, bát ngát bốn phía, phần nhiều tre xanh um tùm, nước đọng bùn lầy không thể đi lại được, không như núi cao, cây lớn, có thể phá đẵn đi tắt làm đường. Nay từ An Giang đến Trấn Tây trải qua Cổ Khê thuộc huyện hạt Phong Nhương; xứ Sa An sông nhánh Thuyết Nột thuộc phủ hạt Nghi Hoà; từ An Giang đến Hà Tiên, trải qua sông Hà Dương, Hà Âm bên sông Vĩnh Tế, bọn giặc đều dựng đồn trại, quân ta vận tải lương thực, phát đệ công văn, chúng bèn đón chặn bắn ra. Mà 4 bên hạt lị Trấn Tây, bọn giặc ngày thường hò hét đánh vây, quan quân theo gót bắt thì chạy, rồi lại tới. Chỗ nào cũng như đàn muỗi tụ, không có nơi hạ thủ. Lại nghe tên đầu mục người Xiêm là Phi Nhã Chất Tri, cùng với phủ Hải Tây cầu hoà, nhưng tựu trung thực hay giả cũng chưa thể biết. Lại nghe thám tử báo: Chất Tri sai bọn nó là giặc Cố, giặc Hiên, đi qua các phủ huyện câu kết với bọn thổ dân dựng đắp đồn bảo, nói phao là đem Nặc Ong Giun về lập lên để làm cớ. Bọn giặc Xiêm quen giảo quyệt dối trá, hoặc giả cách cầu hoà, để mưu toan hoãn binh, nhưng ở trong lén lút xui giục. Thổ dân dễ mê hoặc khó hiểu biết, không khỏi bị lừa dối, nên cùng rủ nhau theo Xiêm, một cách vững chắc không thể dứt ra nổi. Vả lại, lương thực là việc cốt yếu trong khi dùng binh. Từ Trấn Tây tải tới quân thứ, đường đi 8 ngày mới đến 1 lần, chỉ đủ nhu dùng trong 1 tháng. Nếu chợt có trở ngại, làm lỡ việc không phải là nhỏ. Thần thiết nghĩ: phải nên giết lui giặc Xiêm, rồi sau bọn thổ phỉ mới có dẹp yên được. Xin đi đến nơi cùng với Tướng quân, Tham tán gặp mặt, để mưu tính bàn bạc. Thần trộm có thỉnh cầu như sau: Việc binh cần phải có quyền biến, tuỳ cơ mà làm việc. Giặc Yểm nguyên có tội ở nước nó, mới rồi về đầu hàng, triều đình chưa nỡ giết chết. Nay xin sắc cho giải tên Yểm và thuộc hạ của nó là tên Giao đến Gia Định, sai uỷ cho tên Giao cùng với cậu của Ngọc Vân 3 người theo đến ở Gia Định ấy, trở về báo cho thổ mục và thổ dân, sớm quay đầu về thì không những khoan tha tội trước, mà tên Yểm cũng liệu lượng ban ơn cho. Những thổ dân kia đối với tên Giun, tên Yểm, vốn không có sự khác gì, đã mang được tên Yểm trở về, tất nhiên nhiều người thuận theo. Quan quân không có mối lo trông trước ngoảnh sau nữa, tới đâu đi được nhanh chóng chuyên sức đánh dẹp, thì bọn giặc ngông cuồng kia có thể phá tan, mà công có thể sớm nên. Lại các tù phạm tội quân lưu ở các địa phương kể có đến 3.000 người, chia đi đóng các đồn, bảo, nhà trạm, cũng không có việc gì làm, và bọn họ tội chưa đến chết, không phải là hạng đại hung, đại ác, xin cho cùng với bọn làm binh, phát đi Trấn Tây để phòng sai phái. Sau khi yên việc, tuỳ nơi chia cho để ở, dựng thành thôn ấp, để cho khai khẩn ruộng đất. Lúc yên tĩnh thì làm ruộng, lúc có biến động thì làm lính, khéo léo vỗ về tưởng cũng được việc”.
Vua dụ rằng: "Bọn thổ phỉ ở Trấn Tây, hễ khi quan quân tiến đánh là tự vỡ tan trốn tránh để sống. Còn việc đã lâu chưa chịu ra thú phục, chẳng qua cậy có giặc Xiêm đến cứu viện mà thôi. Nay nếu đem giặc Xiêm giết tan thì bọn thổ phỉ không đánh cũng tự ra thú phục. Đến như tên Yểm là kẻ có tội không nên vội buông tha. Nếu không tha ra mà dụ được người thổ ra thú phục, thì tha tội cho nó ư? Nếu không tha tội mà giam cầm nó thì chúng mượn cớ để làm câu nói, rồi lại rủ nhau làm phản, thì lấy gì mà xử trí ư? Lời xin khó chuẩn cho thi hành. Duy các tù phạm về tội quân lưu ở các hạt, đương lúc hữu sự này, cũng nên cho đi theo quân hoặc biết ra sức dụng công, còn có thể chuộc được tội trước. Vậy chuẩn cho các Đốc, Phủ, Bố, Án từ Quảng Bình trở vào Nam, đều xét các tù phạm tội quân bưu hiện phát phối đến, tên nào khoẻ mạnh thì cho tháo bỏ xiềng xích tuỳ tiện liệu lượng bắt thuyền giải đến Gia Định, chuyển giao cho Trấn Tây, dồn thành đội ngũ, chia phái đi đánh giặc”. 
Giờ Hợi ngày Ất Hợi tháng 12 năm 1840, Minh Mệnh băng hà, thọ 50 tuổi (Trang 884, tập V).


________________________________________
(6) Bài gỗ ghi ngày, tháng và ký hiệu rõ ràng.
(7) Trường Hà Nội khoa thi này lấy đỗ 14 Hương cống: Bùi Tuấn, Trần Vỹ, Nguyễn Huy Huỳnh, Hoàng Đình Tá, Nguyễn Văn Trừng, Nguyễn Hy Nguyên, Ngô Chấn, Ngô Thủ, Vũ Tá An, Phan Đình Dương, Hà Đức Thạc, Vũ Văn Lí, Phạm Hoàng Nghị, Cát Văn Tuỵ.


Tiêu đề: Re: Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép về Nguyễn Công Trứ
Gửi bởi: Noitraitim trong 24 Tháng Tám, 2013, 01:24:24 am
Sách Đại Nam thực lục chính biên chép về Nguyễn Công Trứ(Phần VIII)

Tân Sửu, Thiệu Trị năm thứ I, 1841.
[Tháng Giêng] Trước đây, Kinh lược Tham tán đại thần ở Trấn Tây là Nguyễn Tiến Lâm, Tán lí cơ vụ là Nguyễn Công Trứ đến nơi quân thứ, đầu tiên dâng sớ nói: “Thành Trấn Tây là nơi chứa để những thuyền bè, súng đạn, khí giới, lương thực, quan binh ở các đạo và các phủ, đồn đều do thành này cung cấp cho cả, thực là một nơi căn bản trọng yếu. Thế mà trong thành thì chật hẹp, không đủ chỗ chứa quân lính, mà đối ngạn về phía Đông Nam, một dải đất La Kết, khoảng độ vài dặm, thuyền công và thuyền tư đỗ ở đấy liền như vảy cá, nhỡ có việc gì bất ngờ, sinh ra mối lo không nhỏ. Nay cả hạt Chân Lạp về bè với nước Xiêm. Vừa rồi nghe nói Chất Tri gọi họp các phiên mục đến cả Hải Tây, yêu cầu ta lui quân, mới ra đầu thú. Thế cũng đủ biết được đại khái sự giảo quyệt của chúng. Nhỡ ra chúng đi đường tắt để đến đánh Trấn Tây hoặc là nhân chỗ hiểm để chẹn đường vận lương của mình, cũng chưa biết chừng. Vả lại, lấy được đất cần phải lấy được cả người, nay man dân ấy coi ta là cừu địch, tuyệt nhiên không chịu về với ta, thì ta chỉ giữ được cái thành không mà thôi. Quan quân muốn đi đến nơi nào, đều phải do đường thuỷ, thế mà tình hình của địch hư thực thế nào, đường đi xa gần bao nhiêu, núi rừng chằm lầy đi lại khó dễ ra sao, mình không biết một tí gì cả. Khi bỏ thuyền, lên bộ, tất phải chia quân đóng giữ. Vận lương qua nơi hiểm trở chỉ đủ dùng cho 3 - 4 ngày thôi, dù có lấy được rồi cũng phải bỏ. Thế là sở đắc không bù cho sở tổn. Việc trước tiên xin đắp cao rộng thêm thành cũ Trấn Tây, đào hào, cắm chông, cho được bền vững, lại đắp thêm thành ngoài ở La Kết, phái đại binh đến đóng giữ; phàm những đường lối ra vào, chia đặt đồn lẻ đóng chặn ngăn giữ, để cho đường sá bình yên, đi lại không có sự gì lo ngại; rồi sau sẽ tuỳ nghi dẹp yên và vỗ về, mưu tính cho sau này được tốt.
Vả lại, chia đồn, đặt bảo, tất phải thêm số quân, không khỏi có sự tốn phí, nhưng vì sự thể như thế, nên bắt buộc phải như thế.
[Chúng tôi] nghe nói bố viên Quản cơ hai cơ An Man nhất và nhị ở Sơn Tĩnh bị bọn man tù giết chết, nên Quản cơ ấy đối với man tù là thế thù. Hắn tự nguyện để vợ con ở trong thành, đi hướng dẫn đường lối cho quan quân. Xét về chân tình thì hắn cũng có lòng muốn quy thuận, nhân cơ hội này mà vỗ về hắn thì hắn cũng có thể là người đắc lực. Xin đặc cách gia ân cho hắn để thêm khuyến khích”.
Khi tờ sớ đến Kinh, gặp việc quốc tang, chưa được trả lời.
Bọn Tiến Lâm và Công Trứ lại cùng với Kinh lược sứ đại thần Phạm Văn Điển, và Tá lí cơ vụ Đinh Văn Huy tiếp tục dâng sớ nói về tình hình biên giới ở Trấn Tây, đại lược: Trước đây, đã gửi thư cho bọn đầu mục nước Xiêm bảo cho biết đại ý về việc hoà hay đánh, nhưng vì thể thống của nước, mưu kế việc binh, rất là quan trọng, mà sự thế ở nơi biên cương sớm chiều biến đổi một khác. Hiện nay, bọn thổ phỉ chỗ nào cũng đóng đồn liên kết, dựa chỗ hiểm, đóng quân chống lại, làm kế cố thủ. Từ trước đến nay, ta chỉ đánh phá được ở nơi ven sông và những chỗ tiếp cận đồn, bảo của địch mà thôi; còn chỗ sào huyệt chứa để của chúng thì ta chưa từng đến được, như: đạo quân Định - Biên chưa thể qua được đất Nam Thái; đạo quân Long - Tường cũng chỉ đi lùng bắt theo ven bờ ở đất Sơn Tĩnh, rồi lại đem quân về; đạo binh thành hạt Mĩ Lâm cũng chỉ từ phủ Hải Đông đi phủ Hải Tây, rồi lại từ phủ Hải Tây về phủ Hải Đông; đạo binh Kinh lược cũng chỉ đi về những chỗ tiếp giáp phủ Trấn Tây, còn ở bên ngoài thành, bảo đóng quân thì bị ngăn trở không đi thông được. Cho nên bọn địch vẫn được tự do, chưa từng cùng quẫn. Vì rằng địa thế rộng xa, đường rừng nhiều lối, nếu có đem quân chia đường tiến đánh, cũng cần phải nghe tăm hơi nhau, hăng hái tiến lên. Bọn giặc nếu thấy thế không chống nổi thì chạy tan đi các ngả, không thể bắt được. Quan quân đem lương đi sâu vào, không thể ở lâu, một khi vừa mới rút về, thì bọn giặc lại tụ tập như cũ. Huống chi, khí hậu ở Trấn Tây khác với nơi trung thổ: đương mùa đông mà khí nóng dữ dội, suốt ngày gió lốc, cát bay bụi mù. Nếu không sớm xong việc binh nhung, thì quân lính bị cảm nhiễm ngày càng nhiều, thành ra không tiện. [Chúng tôi] vâng theo ý nhà vua dụ, đã nhiều cách dỗ bảo, nhưng họ bị che bịp mê hoặc đã quá sâu sắc, đi đến đâu họ cũng đều nói rằng: “Đại đức của thiên triều, thực không dám quên, chỉ vì chúng tôi bị khổ sở bức bách lừa dối đã lâu, không thể tự mình bày tỏ lên trên được, đến nỗi phải rủ nhau làm giặc. Nay sợ phải tội, không dám quay đầu trở về nữa”. Theo lời họ nói, xét việc làm trước, thì ra bọn lại dịch không tốt, bọn côn đồ vô lại, hống hách sách nhiễu man dân không biết thế nào mà kể, không trách bọn man dân làm phản là phải. Việc đã qua rồi, không thể lấy lại được nữa, luống để triều đình phải một phen mưu tính một cách đại đoạn. Nay đã không thể lấy lời suông bảo cho họ hiểu được, tất phải dùng đến binh uy; nhưng quân lính ít thì vây bắt không khắp, binh lính nhiều thì lương thực phiền phí, chưa chắc đã được việc gì. Vậy xin trước hết chia quân các ngả bao vây lùng bắt ngay ở Trấn Tây để cho bọn giặc không thể trốn thoát được. Kẻ nào bị cưỡng ép theo giặc thì cho ra thú, kẻ ngoan ngạnh không theo ta thì phải trị tội; tuỳ tiện chia đặt để vỗ về trị yên. Khi đã bình định được Trấn Tây rồi, sẽ dời quân đến Nghi Hoà, Vũ Công, rồi đến Mĩ Lâm và Sơn Tĩnh, nơi xa nơi gần có thứ tự trước sau, mới có thể thành công được. Nếu không làm như thế thì sở đắc không bù với sở tổn, không bao giờ xong được.
Sớ dâng lên, vua phê vào tập tâu rằng: “Rất mong ở các khanh, cốt làm thế nào cho xong việc sớm, để yên chí của Hoàng khảo ta. Còn thì sẽ có chỉ dụ sau. (Trang 30-31-32, tập VI).
Tán lí Nguyễn Công Trứ và Tá lí Đinh Văn Huy đến Trấn Tây, Văn Điển ở thành hạt để đàn áp, thương lượng uỷ cho bọn Tiến Lâm, Công Trứ đem 4 vệ quân Kinh binh đi đến chỗ quân thứ của Trương Minh Giảng và Lê Văn Đức. Khi đến tấn Xà Năng, làm sớ tâu xin đắp thêm thành Trấn Tây và đắp thành bao ngoài La Kết, chia đóng đồn chắn giữ để đi lại được thông đồng.
Vua cho lời tâu của bọn Công Trứ chỉ tỏ cho người ta biết mình là yếu nên không cho làm. Chợt nghe thấy bốn xung quanh thành đều có bọn giặc rủ nhau tụ tập, bọn Tiến Lâm, Công Trứ lại quay về Trấn Tây, dò thám biết có bọn đầu mục của giặc là tên Cố, tên Mê, tên Đột đóng đồn họp quân ở cầu Nhâm Lịch, Văn Điển bèn chia đường đến đánh. Khi đến đầu cầu, bọn giặc đã trước đưa thư xin hàng. Văn Điển sai nhận lấy thư, chưa kịp phiên dịch, thì bọn giặc hơn 1000 tên đã xông ra khiêu chiến, Văn Điển tính nóng nảy, không đợi cho các đạo quân đều đến đủ, một mình đem quân lính và voi sang qua cầu, thẳng tới luỹ giặc. Nguyễn Công Trứ sai người ngăn lại, không kịp. Bọn giặc chặn ngang đường đi, dựa vào chỗ hiểm trở bắn ra. Quân lính của Văn Điển chết mất hơn 100 người, bị thương hơn 60 người. Văn Điển đem quân về, dâng sớ xin chịu tội.
Vua quở trách rằng: “Đại tướng xuất quân, mới gặp bọn giặc nhỏ, mũi nhọn đã bị toả chiết, làm cho người ta xiết nỗi kinh ngạc! Ta nhớ lại khi Văn Điển bắt đầu ra đi, Hoàng khảo ta đã bảo tận mặt là không nên nóng nảy, hấp tấp để cho người ta thừa cơ chỗ mình sơ hở, nay quả nhiên thế. Nghĩ lại sự sáng suốt biết trước của Hoàng khảo, ta bất giác ứa nước mắt! Chỉ có điều đáng lạ là Nguyễn Công Trứ từng trải trận mạc đã nhiều, sao lại không biết ngăn cản thì còn trông mong gì nữa! Tội ấy sẽ đáng nên trị, nhưng vì tội ấy xảy ra trước khi đại xá, thì tha cho. Chuẩn cho được đeo tội lập công”.
Lại dụ cho bọn Phạm Văn Điển, Nguyễn Tiến Lâm và Nguyễn Công Trứ rằng: “Trước đây, lũ các khanh mấy lần tâu bày xin đắp thêm thành bảo, phái binh chia giữ, là vì bọn thổ phỉ dựa thế nước Xiêm làm tiếp viện, càn rỡ ngông cuồng, tất phải có thành cao, hào sâu, chứa nhiều lương cỏ, mới có thể chống giữ được. Nay, đầu mục nước Xiêm cũng đã xin hoà, các tỉnh An Giang và Hà Tiên nhiều lần báo tin thắng trận. Lũ các khanh đem đi 3.000 quân mạnh, mà bấy lâu không làm được việc gì, chỉ thấy đắp đê, bo bo giữ thành, để cho kẻ địch được nhàn rỗi, thì có nên không? Lũ các khanh có trách nhiệm coi việc quân, còn cho việc vào sâu trong đất giặc để đánh bắt là khó, thì đến ngày nào cho xong việc? Kể ra trong việc hành quân, đổi bước thay hình, thật khó lòng ở xa mà liệu lượng được, ta cũng không ngăn trở việc của các khanh làm đâu. Nhưng nên thương lượng với bọn Tướng quân Trương Minh Giảng, hoặc chia nhau đi tiễu, hoặc hợp sức cùng vây, tuỳ nghi nên làm thế nào thì làm để thành công được sớm thì thôi. Nếu cứ tâu bày rối rít lên, đến nỗi làm cho quân cắm một chỗ, lương thực hao phí, không được việc gì, thì ta dù có nghĩ thương tôi cũ, không nỡ trị tội, nhưng còn việc phụ ơn đoái thương và tri ngộ của Tiên đế thì sao? Các khanh có yên tâm không? Các khanh phải toan tính đấy, chớ cho lời ta nói là câu văn viết cho đủ lề lối”.(Trang 45-46, tập VI).
[Trương Minh] Giảng nghe nói mạn sau Trấn Tây có nhiều bọn giặc quấy nhiễu, bèn sai Đoàn Văn Sách lưu lại ở bảo Sa Tôn đóng quân chống giữ. Bọn Giảng đem quân về Trấn Tây, thì đảng giặc tụ họp khắp mọi nơi. Lũ lớn 3.000 đến 4.000, lũ nhỏ không kém 400 đến 500 tên. Về mạn Tây cầu Nhâm Lịch, một dải luỹ dài hơn 1.000 trượng, bọn giặc dựa chỗ hiểm, dàn quân chống lại, làm cho đường đi lại bị ngăn trở. Giảng cùng với bọn Nguyễn Tiến Lâm, Lê Văn Đức và Nguyễn Công Trứ đem 5.000 binh dõng, chia 3 đường tiến đánh. Đầu tiên phá được luỹ Thuyết Nột, lại tiến quân xuyên qua đường núi để đánh, bọn giặc nhiều người bị thương và chết, chạy tan cả. Quan quân thừa thắng lùng bắt, đánh phá luôn được 12 sở đồn luỹ, đều phá bằng đi cả. Sau vì không tiếp vận được lương, [quan quân] phải rút về. Việc đến tai vua, thưởng cho bọn Giảng mỗi người quân công một cấp, kim tiền một đồng. (Trang 63-64, tập VI).
Vua thấy thành Trấn Tây chậm báo tin về công việc ở biên giới, truyền cho bọn Tướng quân Trương Minh Giảng, Tham tán Lê Văn Đức, Kinh lược Phạm Văn Điển, Tham tán Nguyễn Tiến Lâm và Tán lí Nguyễn Công Trứ lập tức đem sự trạng dẹp giặc tâu lên. Lại căn cứ vào số hương dũng hiện đã gọi ra, chước lượng xem nên để lại hay nên thả ra về, nơi nào thiếu cũng không gọi ra bổ sung nữa. (Trang 69, tập VI).
[Tháng 2] Bọn Lê Văn Đức, Nguyễn Công Trứ ở lâu nơi quân thứ, dâng sớ xin số tiền và thóc về lương bổng hàng năm cho phép người nhà được lĩnh lại kho ở Kinh. Vua y cho.(Trang 78, tập VI).
Thự tả Đô ngự sử Nguyễn Công Trứ sung làm Tán lí, đem quân ở các hạt từ Kinh trở về Nam tiến đi hội tiễu. (Trang 86, tập VI).
Vua dụ: “… Nay chuẩn cho bộ Hộ trích ra 1.000 lạng bạc và 10.000 quan tiền đưa đến thành Trấn Tây, để khao thưởng và ban cho bọn Kinh lược Phạm Văn Điển, Trương Minh Giảng, Lê Văn Đức, Nguyễn Tiến Lâm, Bùi Công Huyên, Nguyễn Công Trứ, Diên Hựu, Đoàn Văn Sách, Cao Hữu Dực, Đinh Văn Huy cùng Lãnh binh, Quản vệ, Quản xuất, các Cơ đội binh dõng tuỳ từng hạng mà ban cho”. (Trang 87, tập VI).
Cho Tán lí Nguyễn Công Trứ quyền sung Tham tán đại thần ở Trấn Tây. Lê Văn Đức bị ốm, cho về Gia Định để điều dưỡng. (Trang 102, tập VI).


Tiêu đề: Re: Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép về Nguyễn Công Trứ
Gửi bởi: Noitraitim trong 24 Tháng Tám, 2013, 01:25:07 am
Sách Đại Nam thực lục chính biên chép về Nguyễn Công Trứ (Phần VIII) – tiếp

[Tháng 4] Vua dụ: “Địa hạt Trấn Tây thuộc về triều đình đã lâu, Tướng quân Trương Minh Giảng và bọn Tham tán, Hiệp tán có trách nhiệm trông coi toàn quyền một địa phương; bọn Kinh lược đại thần Phạm Văn Điển, Tham tán Nguyễn Tiến Lâm và Nguyễn Công Trứ cũng có trách nhiệm toàn quyền đánh dẹp. Người có toàn quyền trông coi một địa phương, nhậm chức không phải là không lâu, người được toàn quyền đi đánh dẹp, uỷ nhiệm không phải là không long trọng. Ta, buổi đầu nối ngôi chưa nghĩ đến việc khác, chỉ nghĩ ngay đến các tướng sĩ đi đánh giặc ở miền Tây, ở ngoài vất vả, trước tiên trích tiền bạc ra ban cho, xuống dụ uỷ lạo các tướng sĩ rất là chu tất ân cần… Ta lại nghĩ: Việc binh không thể ở xa mà liệu tính được, cho nên lại cho được tuỳ nghi mà làm, để [các khanh] được thi thố hết sở trường của mình. Mỗi khi có tâu xin việc gì, ta đều chiều lòng y cho, không có ngăn trở gì cả. Vì các khanh đều là hạng danh thần kì cựu, lịch duyệt việc binh, cho nên được ta tin cẩn chuyên dùng, để mở rộng mưu mô công việc, tuỳ cơ đánh dẹp nắm lấy phần thắng, cho đến thành công”. (Trang 137, tập VI).
Vua dụ: “… Ngày trước Phạm Văn Điển và Nguyễn Công Trứ tự mình xin đi, cũng đã dự bị sẵn kế cố thủ như ngày nay ư? Nếu không phải thế, thì xin đi một phen làm gì cho thêm rờm chuyện! Ta thực không hiểu việc làm của các khanh ra sao cả!
“Vả lại, sự thế ngày nay, không ngoài hai việc càn quét hay vỗ yên mà thôi. Nay việc càn quét đã không làm được tí gì mà việc chiêu dụ vỗ yên cũng chưa thu được công trạng.
   “Hiện nay, gần đến mùa nước lớn lại kế đến thời kì canh phòng mùa đông, việc vận lương cho quân lính có nhiều sự không tiện, mà bọn các khanh còn thu tay trong áo, điềm nhiên ngồi trông, chưa nghe thấy cử động việc gì thì còn đợi đến bao giờ mới đáng làm nữa? Nay chuẩn truyền dụ cho các khanh phải xem tình hình hiện nay, liệu tính như thế nào, nếu tình thế có chậm hay khó, thì một dải mạn sau Sa An phải tuỳ nghi trù liệu làm trước, cho được yên tĩnh, để bọn giặc không được ra vào thì thụt ở đấy làm ngăn trở cho việc vận lương đi lại. Lại trù tính công việc càn quét hay chiêu dụ, việc gì nên trước, việc gì nên sau, chỗ nào nên giữ, chỗ nào nên đánh phải lập tức đem việc mưu tính, việc đã làm, xếp đặt ra sao, cho đi ngựa trạm đem về, tâu lên minh bạch. Hoặc giả sức không làm nổi, chịu để cho người khác đến làm thay thì cũng cho cứ thực tình, lập tức về tâu, triều đình không thiếu gì người, đã có cách xử trí. Các khanh hãy nghĩ lấy, ta không nói đến hai lần”. (Trang 138, tập VI).
Vua bèn cho Thự Chưởng vệ Nguyễn Công Nhàn làm Chưởng vệ quyền sung Tham tán ở Trấn Tây; Tôn Thất Mậu làm Phó Lãnh binh, Nguyễn Công Trứ lại về chức Tán lí như cũ. (Trang 139, tập VI).
[Tháng 5] Tán lí Nguyễn Công Trứ mật tâu rằng: “Nước Cao Miên được triều đình trông nom đùm bọc đã lâu, lại đặt ra thành Trấn Tây để phòng giữ. Đã 8 năm nay, tổn phí tài lực không biết đâu mà kể, nhưng thổ binh thì không thể sai phái được, thổ dân thì không thể dạy dỗ được. Từ khi có việc binh đến nay, quan quân chết trận có đến hàng nghìn, cho đến súng đạn, khí giới bị hao tổn, tiền lương chi phát ra, thuyền bè phải vận tải, công và tư đều hao tổn cả. Ba Xuyên và Lạc Hoá cũng lần lượt không được yên tĩnh, các tỉnh thuê bắt đòi gọi, nông và thương đều vất vả cả. Sự thế hiện nay khác với năm ngoái, vì năm ngoái, nhân dân do sự ngờ sợ mà sinh biến loạn, năm nay đã có tên Giun làm tù trưởng, chí ở khôi phục lại nước, nên nhân dân đều một lòng liều chết. Tuy có quận chúa là Ngọc Vân nhưng họ cho là hạng đàn bà không kể chi đến. Chỗ nào cũng đóng đồn họp quân, nương chỗ hiểm để chống lại. Việc sai người đi dò la hoặc dẫn đường, hai việc ấy đều không thể làm được cả. Từ Thuyết Nột cho đến các xứ Long Trưng, Sa An, Cổ Tiêu và Long Sơn, hai bên bờ bắn xuống, ngăn giữ sự qua lại. Vả lại, thành Trấn Tây nhỏ bé, không thể dùng để giữ được, phải lấy con đê làm thành ngoài, mà đồ dùng để sửa đắp cũng không được bền chặt. Nay đến mùa nước lớn, nước sông chảy xiết, ngay như đối ngạn bên kia sông là đất Nhu Viễn và La Kết, lỡ ra có việc khẩn cấp đi lại còn không tiện, huống chi đến các nơi xa? Thành Trấn Tây bốn mặt đều phải đối địch với giặc, ứng tiếp không chu, nếu một phen không dùng đến đại binh thì không bao giờ xong việc được. Nói cho đúng, quân nhiều phải tốn nhiều, nhưng cũng chỉ thêm cho sự tốn phí mà thôi. Vì rằng, dù lấy được đất ở nơi ấy, cũng không thể cày cấy được, dù lấy được dân ở xứ ấy, cũng không sai khiến được. Song, đã sửa sang xếp đặt, công lao khi trước không nên bỏ đi cả. Nên nhân theo tình thế mà làm cho được việc. Năm trước, tên Yểm đã bó tay nộp mình, mong làm tôi tớ triều đình, nhờ lượng tiên đế, tuy đem giam cấm, nhưng vẫn hậu cấp cho tiền lương. Nay Hoàng thượng nối ngôi, ơn trạch rộng ban, dù kẻ tử tù cũng được khoan giam. Vậy xin ban sắc chỉ giao tên Yểm cho thành Trấn Tây trông coi. Y đã được tha về, thì đồ đảng của y cũng lần lượt ra thú. Đồ đảng đã chia rẽ, tất ngờ vực lẫn nhau, ta không còn phải lo về sau nữa, có thể đi thẳng một đường, dùng người Man để chiêu dụ người Man, bắt họ phải nơi nào giữ nơi ấy cho được yên. Còn kẻ nào cố chấp mê hoặc bướng ngạnh không chịu theo thì đánh giết cho một trận kịch liệt. Như thế là lấy tôi tớ của triều đình làm người sai khiến của triều đình”.
Sớ này giao xuống cho đình thần bàn.
… Lời bàn ấy dâng lên, vua phê bảo rằng: “Quần thần đã đồng ý, ta cũng tạm chuẩn y, nhưng phải cẩn thận công việc, đừng để có hối về sau”. Vua bèn sai bộ Hình mở xiềng xích tha cho Yểm, rồi cho đáp thuyền công đưa về Trấn Tây.(Trang 160, tập VI).
Phạm Văn Điển và Nguyễn Công Trứ được chỉ đi Ba Xuyên thì vừa gặp thành hạt có động, phải ở lại bàn tính làm việc. Trứ giữ đồn Bắc Đế, Đoàn Văn Sách giữ bảo Nhu Viễn, Cao Hữu Dực giữ đồn Kim Tháp, Nguyễn Công Nhàn giữ đồn Trấn Uy, Phạm Văn Điển quản đốc các thuyền binh đi đàn áp mặt trước thành lị Trấn Tây. Nhiều lần bắn nhau với giặc, bọn giặc bị thương và chết cũng nhiều. Quan quân bị thương và chết cũng gần bằng số của giặc. Bọn giặc lại nhân ban đêm, cắm rào, đắp luỹ ở ngoài đồn Nhu Viễn. Quân ta đêm ngày phòng bị nghiêm cẩn, bọn giặc không dám động đến, nhưng chúng vẫn ẩn nấp ở trong rừng, đào đất để ngồi ẩn…(Trang 161, tập VI).
… Bọn Công Trứ, Văn Sách và Tôn Thất Mậu chia hai đường thuỷ và bộ, ra ngoài thành tiến đánh. Phạm Văn Điển thì đóng quân ở Tiền Giang để làm ứng viện. Gặp giặc giao chiến, quân ta hai đạo đều bắn vào, bọn giặc chạy tan. Quân ta thừa thế, đánh phá hai đồn ở Thổ Sơn, đốt hết trại sách của giặc, đến tối mới thu quân về.
Vua phê bảo rằng: “Thừa thế ra đánh, làm cho quân lính thêm khí hăng hái, như thế há chẳng phấn khởi lòng người một chút ư? Hà tất cứ bo bo giữ đồn làm gì?”.(Trang 162, tập VI).
Vua lại bàn đến việc nước Xiêm và Chân Lạp, bảo các đại thần rằng: “…Việc tha bổng tên Yểm, từ khi Trấn Tây mới có biến động, quan khoa đạo đã từng nói đến. Nguyễn Công Trứ là Viện trưởng sao lại không dâng một lời bàn việc nên làm? Nay mới đến quân thứ, đã cùng nhau dâng tập tâu xin tha cho Yểm, chẳng là liệu việc muộn quá ư?… Tình hình nơi biên giới như thế, các đại thần có ý kiến gì nói cho ta biết”. (Trang 178, tập VI).
[Tháng 8] Bọn Phạm Văn Điển, Trương Minh Giảng, Nguyễn Công Trứ, Đoàn Văn Sách, Nguyễn Công Nhàn và Cao Hữu Dực dâng tập tâu mật nói: “Trước đây xin tha cho tên Yểm về, tưởng rằng cũng là một cơ hội để cho nó đi chiêu phủ bọn thổ dân. Nhưng từ khi tên Yểm được tha về, không thể tự lập được, cũng chỉ dựa vào ta cả. Nếu không dùng đến đại binh thì không bao giờ xong việc, mà biền binh thì khó nhọc đã lâu, số người bị ốm đau mỗi ngày thêm nhiều. Cứ giữ mãi thành không, chỉ tổn hại, chứ không ích gì. Xin rút hết quân về tỉnh An Giang, để cho binh lính được đỡ nhọc mà dân ở Nam Kì cũng được nghỉ ngơi”.
Tập tấu này được giao xuống cho văn võ đại thần họp bàn. Bọn Tạ Quang Cự, Nguyễn Văn Trọng, Nguyễn Văn Minh, Vũ Xuân Cẩn, Trương Đăng Quế, Lê Đăng Doanh, Hà Duy Phiên, Phan Bá Đạt, Doãn Uẩn và Phan Thanh Giản đều nói: “Hiện nay, sang thu, nước lớn, đường đi không thông đồng, nếu dùng binh thì lương vận không tiếp tục được, mà đóng đấy để giữ thì chỉ khó nhọc hão mà không có công trạng gì. Bọn chúng tôi đã tính đi tính lại vài ba lần cũng không có kế sách gì hơn. Chi bằng hãy tạm rút quân về An Giang, để cho vững mạnh bờ cõi căn bản của ta. Rồi sau sẽ nhân thời thế mà làm”.
Vua phê: “Sự thế hiện nay buộc phải như thế, chuẩn cho theo lời bàn mà làm. Các viên từ Kinh lược, Tướng quân cho đến Tán lí và Hiệp lí không làm được công trạng gì, đều giao cho bộ Hình nghiêm ngặt nghị tội từng viên có khác nhau”.(Trang 218, tập VI).
[Tháng 9] Quan quân Trấn Tây rút về đóng giữ ở tỉnh An Giang. Ngày hôm ấy, Trương Minh Giảng chết… Bọn Phạm Văn Điển và Nguyễn Công Trứ đem việc Giảng ốm chết tâu lên.
Vua nghe tin Giảng chết, phán rằng: “Giảng đảm đương sự kí thác nặng nề, chỉ vì việc trị dân và chống giặc không đúng phương pháp, cho nên thổ dân cùng nổi lên làm loạn, để triều đình phải bận đến việc phái quân đi tiễu bắt, đã lâu ngày mà chưa xong việc. Đã giao cho bộ nghiêm ngặt nghị tội. Không ngờ đại binh vừa mới về đến nơi, đã ốm chết rồi. Ta nghĩ: Giảng năm trước đây, làm Tham tán quân vụ, khiến giặc ở Biên Hoà và Vĩnh Long sợ mất vía, lại đánh được quân Xiêm ở Thuận Cảng. Công trạng rõ rệt, khắc vào bia đá cũng không thể mất được. Chuẩn cho truy đoạt lại chức Trấn Tây Tướng quân…
“Cho bọn Phạm Văn Điển, Nguyễn Công Trứ, Đoàn Văn Sách, Nguyễn Công Nhàn và Cao Hữu Dực được giữ nguyên hàm quản lĩnh quan quân đóng giữ ở An Giang, hiệp đồng với nhau bàn công việc làm. Còn các chức hàm về Kinh lược, Tham tán, Tán lí, Đề đốc và Hiệp tán ở Trấn Tây của các viên này đều phải cách và thu lại cả. Những ấn triện quan phòng, cờ bài, cờ rồng và ấn quan phòng 2 đạo binh lương đều đem về bộ nộp lại cả. Các viên dịch trong ti An Biên khi trước, thì chia bổ vào những chân khuyết Thông phán và Kinh lịch ở sáu tỉnh Nam Kì; còn số thừa thì rút về Kinh có khuyết đâu sẽ bổ ”. (Trang 220, tập VI).
Định tội các tướng hiệu ở Trấn Tây. Bộ Hình đệ án tâu lên, khép Cao Hữu Dực, Phạm Văn Điển và Nguyễn Công Trứ vào tội trảm giam hậu, từ Lê Văn Đức và Nguyễn Tiến Lâm trở xuống cứ theo thứ tự, giảm tội dần.
Vua cho rằng trong buổi đi đánh dẹp, còn mong họ lập công báo đáp về sau, bèn giáng Hữu Dực làm Tư vụ bộ Hình, quyền Lĩnh Án sát tỉnh An Giang; Phạm Văn Điển thì cách chức hàm Tả quân Chưởng phủ, giáng làm Chưởng vệ, nhưng cho cách lưu, quyền Lĩnh Tổng đốc An - Hà, vẫn được giữ tước hầu; Nguyễn Công Trứ thì cách chức hàm Thự tả Đô ngự sử kiêm Tham tri bộ Binh, giáng làm Lang trung bộ Binh nhưng cho cách lưu, quyền Lĩnh Tuần phủ An Giang; Đinh Văn Huy giáng làm Viên ngoại Lang bộ Hình, Lĩnh Án sát Hà Tiên; nguyên Tuyên phủ sứ Hải Đông là Trần Văn Thông giáng làm Lang trung bộ Binh, Lĩnh Bố chính Hà Tiên; Lê Văn Đức và Nguyễn Tiến Lâm không phải chuyên làm việc ở Trấn Tây từ trước đến sau, đều phải giáng 3 cấp được lưu nhiệm. Nguyên sung chức Bang biện là Doãn Uẩn mới làm việc ở Trấn Tây có ít ngày được tha không bàn tội. Nguyễn Công Nhàn và Đoàn Văn Sách đều giáng 2 cấp được lưu nhiệm.
Lại sai Phạm Văn Điển và Nguyễn Công Trứ đến ngay quân thứ phủ Lạc Hoá hội đồng chia đi tiễu dư đảng giặc. (Trang 221, tập VI).


Tiêu đề: Re: Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép về Nguyễn Công Trứ
Gửi bởi: Noitraitim trong 24 Tháng Tám, 2013, 01:26:14 am
Sách Đại Nam thực lục chính biên chép về Nguyễn Công Trứ (Phần VIII) – tiếp

Định rõ lại các điều cấm về việc bán trộm muối, gạo ở Nam Kì. Nguyễn Công Trứ tâu rằng: “Bọn con buôn gian giảo ở các tỉnh phần nhiều chở gạo, muối bán lậu cho thổ phỉ”. Vì thế lại định điều cấm rõ ràng lần nữa.(Trang 228, tập VI).
[Tháng 10] Bọn Nguyễn Tiến Lâm, Nguyễn Tri Phương và Nguyễn Công Trứ đánh tan được Lâm Sâm ở Sâm Đô. Phủ Lạc Hoá đều yên cả. Trước đây, Lâm Sâm chiếm giữ ở Trà Vinh, đồ đảng của hắn có tên sư phiên dùng pháp thuật, yêu quái để cổ hoặc dân chúng, thổ dân nhiều người theo hắn. Quan quân đánh đã lâu chưa được. Đến đây, Phạm Văn Điển và Nguyễn Công Trứ đem quân đến, các đạo quân họp lại, chia sai các biền binh đến các xứ Hòn Lầy, Cà Vần, Trà Cú chặn giữ các đường lối xung yếu. Phạm Văn Điển vì bị ốm, lưu lại ở thuyền; bọn Nguyễn Công Trứ, Đoàn Văn Sách và Nguyễn Công Nhàn tiến đánh sốc Uy Dương, Nguyễn Tiến Lâm, Nguyễn Tri Phương và Tôn Thất Nghị tiến đánh sốc Thường Tụ. Khi quân ta đương đánh sốc Uy Dương thì bọn giặc chạy về sốc Thường Tụ, họp đồ đảng chống đánh lại. Bọn Tri Phương thúc quân đuổi đánh: giặc tan chạy về sốc Sâm Đô. Vì ngày đã tối, phải đóng quân lại, đến sớm hôm sau Tiến Lâm tiến đánh sốc Nghi Gia; Tri Phương, Công Trứ và Tôn Thất Nghị đem súng lớn đánh úp ở phía sau giồng Sâm Đô; Văn Sách, Văn Nhàn đánh ở phía trước giồng ấy. Hơn 3.000 phỉ cố giữ lũy, dàn quân chống lại. Quân các đạo của ta hăng hái tiến đánh, chém giết được rất nhiều. Quân ta thừa thắng, đuổi bừa, đến chỗ hồ nhỏ, thấy quân phục của giặc nổi dậy, quân ta phải rút lui một chút. Phó cơ Nguyễn Mân và Cai đội Lê Văn Bạch, cố sức đánh, bị chết trận. Công Nhàn và Tri Phương lại thúc quân đánh lại: giặc bị thua to, bỏ chạy. Lâm Sâm chỉ chạy thoát được một mình. Tên sư phiên tự thắt cổ chết ở cây xoài, quan quân tìm được xác, cắt lấy đầu đem bêu cho mọi người biết. Rồi luôn mấy ngày quan quân đi lùng bắt, thì bọn giặc đã bỏ đồn, trốn xa từ trước rồi. Cả mấy lần đánh phá được 13 sốc, lấy được 29 lũy, bắt sống được 9 tên, chém tại trận được 62 tên giặc, bắn chết được 156 tên, lùng bắt được 27 tên, lấy được khí giới vô kể. Có 7.683 người Thanh, người Thổ và người Kinh quy thuận. Bọn đầu sỏ giặc là Kiên Hồng (tức Tổng Hồng), Trần Hồng (tức Phù Mã Cung), Thạch Đột (lại có tên là Ba Lặc Đột) thế cùng, phải đến đầu hàng ở quân thứ, bị đóng cũi đưa về Kinh. Quân thứ đem cờ đỏ về báo tin thắng trận.
Vua mừng lắm, sai loan báo khắp cả Kinh sư. Lại dụ rằng: “Thổ dân ở phủ Lạc Hoá, là nơi yên vui đã lâu, thế mà tự nhiên có sự ngu tối gian ngoan, ngang ngạnh từ ngoài gây nên, tụ họp nhau như đàn ong, đàn kiến, nhiều đến 7000-8000 người, chống lại với ta, từ mùa xuân đến mùa đông, nhiều lần bị quan quân đến tiễu, chúng thường thường bỏ chỗ này đến chỗ khác, chui vào rừng rậm để sống lần hồi, đã bao lâu quan quân chưa làm xong việc. Nay quan quân các đạo họp lại đông kín như mây, một lòng hăng hái, đánh dẹp luôn mấy ngày, một trận đánh mà thành công, thực là nhờ oai hùng của Tiên đế để lại mới được thế. Ta nhận được tờ tâu, xiết nỗi vui hả, rất đáng khen ngợi. Chuẩn thưởng cho Nguyễn Tiến Lâm và Nguyễn Tri Phương mỗi người quân công một cấp. Khi trước phải giáng cấp ghi dưới tên trong sổ đều cho khôi phục hết. Lại thưởng cho Tiến Lâm một tấm bài ngọc khắc chữ “phúc, lộc, thọ” có dây đeo kết bằng trân châu, san hô. Nguyễn Tri Phương lại được thăng Thự Tổng đốc Long - Tường và được thưởng thêm một tấm bài ngọc khắc chữ “Cát tường như ý”, có dây đeo kết bằng trân châu, san hô. Nguyễn Công Trứ được khởi phục làm Thị lang bộ Binh, vẫn Lĩnh Tuần phủ An Giang, được thưởng thêm một tấm bài ngọc khắc chữ “Minh phượng triêu dương” có dây đeo kết bằng san hô…
“Thưởng riêng cho Nguyễn Công Trứ và Nguyễn Tri Phương mỗi người một đồng kim tiền Song long hạng vừa có dây đeo”. (Trang 236-237, tập VI).
Lĩnh Tuần phủ tỉnh An Giang Nguyễn Công Trứ và Thự Đề đốc Vĩnh Long Đoàn Văn Sách dời quân ra bến sông Vĩnh Tế, tâu lên rằng: “Vĩnh Tế là đường vận tải thông báo của tỉnh An Giang, phía Bắc sông này liên tiếp với Thất Sơn, phía Nam sông này liên tiếp với các núi Sâm Đăng, Châu Sâm, Bà Đê, Cần Thế, Lệ Chân, phàm những đường có thể qua lại, bọn thổ phỉ đều dựa vào chỗ hiểm, đặt đồn làm chước cố giữ. Gần đây, không thấy chúng ra vào, là vì từ bờ sông tới chân núi phần nhiều là ruộng hoang, lại có nhiều khe ngòi, sau kì tháng 8 nước lụt sâu dần, những thứ cỏ nước mọc lan dài ra, đi qua sẽ bị vướng vít. Nếu đến cuối mùa đông, khô ráo, một mớ lửa đốt cháy sạch mặt đất, chúng tất lại đến quấy nhiễu. Thất Sơn chưa dẹp yên, vẫn làm ngăn trở cho phía sau sông Vĩnh Tế, nên một phen hết sức tiễu trừ để tuyệt hết mối lo về sau. Nay từ bờ sông vào phía trong còn có nước đọng, nếu số quân tiến tiễu nhiều thì chia làm 5 đạo do những đường qua Vĩnh Tế, Tĩnh Biên, Tiên Nông, Vĩnh Thông, Vĩnh Gia cùng tiến lên. Nếu số binh ít thì chia làm 3 đạo, 1 đạo do đường thuỷ qua Mặc Cần, rồi ra phía sau Xoài Tốn, còn bộ Binh do núi Lệ Sam, chia làm 3 đạo; thế thì bọn thổ phỉ không thể trông nom được cho nhau, ta có thể dẹp yên hết. Xin cho điều động những binh 5 vệ Long võ, Trung bảo, Tả bảo, Thần cơ và Tiền bảo đang lưu thứ ở các tỉnh, kíp đi tới để kịp ngày hội tiễu, chắc trong vài tháng có thể xong việc được”.
Vua dụ rằng: “… Phàm mưu quý ở chỗ được vẹn toàn không nên nghĩ ở sự cầu may, dùng binh cốt tính cho trúng kế không nên vội, cầu lấy công thiện cận, nay truyền cho Nguyễn Công Trứ và Đoàn Văn Sách hãy xét trong hạt mình, phòng bị cho nghiêm, nên để lính thú lưu lại An Giang nghỉ ngơi cho được rỗi sức”. (Trang 248, tập VI).
Trước kia quan quân từ Trấn Tây trở về, tên Yểm tình nguyện tập hợp bọn thổ dân lại sung làm tiền khu đến nay, Phạm Văn Điển và Nguyễn Công Trứ đưa Yểm đi Lạc Hoá, sai ở đồn Bắc Trang chiêu dụ bọn thổ phỉ và tư sang tỉnh Vĩnh Long chọn cắt 5 viên Suất đội ở đội Long Nhuệ đi theo Yểm sai khiến. Bố chính Lê Khánh Trinh không chịu cho. Không bao lâu, bọn thổ phỉ phần nhiều do Yểm mà ra hàng, tranh nhau đưa đồ tặng Yểm, lại có kẻ gọi Yểm là quân trưởng nữa… [Vua] lại sai bọn Nguyễn Tiến Lâm, Nguyễn Công Trứ đem Yểm đi quân thứ, giao cho đi chiêu dụ dư đảng ở Thất Sơn và thổ phỉ ở các xứ Phong Nhương, Nghi Hoà phải mau quay đầu về với triều đình để lập công báo đáp. (Trang 249, tập VI).
 Vua sai Nguyễn Tiến Lâm và Tôn Thất Nghị đóng đồn ở bảo tuỳ cơ dẹp bắt hoặc phủ dụ; Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Công Nhàn, Nguyễn Lương Nhàn ở lại tỉnh An Giang, hội đồng với bọn Phạm Văn Điển, Nguyễn Công Trứ bàn định làm việc. (Trang 250, tập VI).
“Lại truyền bảo Phạm Văn Điển, Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Công Trứ, Đoàn Văn Sách, Nguyễn Công Nhàn và Nguyễn Lương Nhàn phải cùng bàn nhau chia ra các đường hiểm yếu ở Tiền, Hậu Giang và đường Đông từ Vĩnh Tế đến Hà Tiên, ngăn giữ cho nghiêm cẩn. Tuỳ theo tình thế hoãn hay cấp, nên đánh hay nên giữ, cho phép được tiện nghi làm việc”. (Trang 251, tập VI).
Lĩnh Tuần phủ An Giang là Nguyễn Công Trứ nghe Hà Tiên có tin cảnh báo liền quản đốc biền binh đi sang để hội hợp chống giữ, lưu Đoàn Văn Sách ở lại ngăn giữ bảo Vĩnh Thông và tâu lên nói: “Hà Tiên là đất xung yếu, phía Đông giáp tới Đông Hồ, Đông Nam tiếp giáp với biển có thể dựa vào thế hiểm trở thiên nhiên ấy được, duy hai mặt Tây, Bắc, đường bộ đi thông ba ngả, mà đồn Chu Nham, cách tỉnh vài chục trượng, chỗ luỹ đất đặt súng cùng đối diện nhau, bắn ra không tiện. Xin cho đặt vài ba cỗ súng lớn ở trên núi Bình Sơn trong luỹ để khống chế mặt Tây Bắc. Lại ở trên núi Tô Châu dựng một vọng lâu, đặt 2 cỗ súng lớn để khống chế mặt Đông Nam và cho triệt bỏ đồn Chu Nham để đỡ bớt binh lực”. Vua nghe lời tâu ấy. Không bao lâu, Trứ lại đem binh về sông Vĩnh Tế. (Trang 252, tập VI).
[Tháng 12] Nguyễn Công Trứ lại lựa phái 1000 biền binh hợp sức với Nguyễn Tiến Lâm đi hội tiễu bọn giặc còn sót ở Cái Đi, Cái Lần thuộc quân thứ Ba Xuyên.
Lời dụ của vua chưa tới, Nguyễn Công Trứ và Đoàn Văn Sách trước đã sai Nguyễn Lương Nhàn đem hơn 1000 binh đi sang hợp (với bọn Lâm) dẹp giặc.
Có người con trai tự xưng là con nhỏ của Anh Duệ Hoàng thái tử (tức là Thái tử Cảnh), ngụy hiệu là Hoàng Tôn, ở thành Nam Vang, họp tập những quân Xiêm, Lào, Kinh, Thổ, tới nghìn người. Nhiều kẻ vong mạng đến theo. Bọn quân thứ ở Vĩnh Tế: Nguyễn Công Trứ, Đoàn Văn Sách và Nguyễn Công Nhàn tâu lên rằng: “Sự thể ở nơi biên cương, sớm tối mỗi lúc một khác. Tên đầu mục người Xiêm, Chất Tri, rất tinh quái: trước đây đã đều lập tên ngụy Giun để thu phục vỗ về dân Miên, nay lại tạo ra kẻ nguỵ xưng Hoàng Tôn để cổ hoặc người Kinh. Chúng nói phao rằng Tiền Giang và Hậu Giang sẽ đều phái quân đến, nhưng ý chúng tất đến hai nơi là Hà Tiên, Vĩnh Tế trước vì Hà Tiên địa thế cách biệt mà chúng thì thuỷ, bộ sẽ tiếp ứng cho nhau. Vĩnh Tế, đường sông dài dòng, mà chúng thì tả, hữu đều có thể tiếp ứng sang. Vĩnh Tế một khi bị nghẽn thì Hà Tiên thế tất cô lập. Hiện nay chúng biết ta phòng bị nghiêm ngặt cho nên chưa dám kinh động. Duy ở biên giới, ta nên giữ vững rồi sau mới tuỳ thế đánh dẹp. [Chúng tôi] đã đặt thêm 2 đồn ở khoảng giữa Tiền Nông, Vĩnh Thông và Vĩnh Điền để chặn đường giặc, từ Tiền Nông đến Vĩnh Điền sửa đắp luỹ dài để cho giặc ngoài hết dòm dỏ”. Trứ, rồi chuyển về tỉnh An Giang bàn định việc tỉnh, lưu Đoàn Văn Sách ở lại giữ đồn Vĩnh Thông, Nguyễn Công Nhàn ở lại giữ đồn Tỉnh Biên sửa đắp luỹ đất.
Vua phán rằng: “Nguyễn Công Trứ từ khi ở Hà Tiên trở về Vĩnh Tế cùng với Đoàn Văn Sách và Nguyễn Công Nhàn hẹn ngày tiến dẹp Thất Sơn để yên đường sau. Nay lại đóng quân ngồi giữ, sao ngày trước nói ra dễ dàng mà nay nhút nhát như thế? Huống chi các đồn Vĩnh Thông, Tiền Nông, trước đây bọn tướng nhỏ Đoàn Quang Mật cũng còn có thể dựa hiểm, cố giữ, không ai dám làm gì. Nay đem đại binh đến đó ngăn giữ, tự có thừa sức, cớ gì lại phải đặt thêm 2 đồn, sửa đắp luỹ dài, để làm thêm nhọc sức quân? Có phải bày ra cách ấy để giữ mình chăng? Việc làm thật trái với cơ nghi việc binh mà chỉ tỏ cho người biết là mình yếu! Nay Nguyễn Công Trứ lại tự trở về An Giang bàn việc, thì bọn giặc ở trước mặt rồi, không biết còn về tỉnh bàn việc gì quan trọng hơn việc ấy nữa! Nay nên cho quân sĩ nghỉ ngơi, lấy sức nhàn rỗi đợi bọn mệt nhọc ở xa đến, thì hơn. Nếu những tin báo ở biên giới hơi thư, thì cổ vũ tướng sĩ chia đường thẳng tới Thất Sơn, đốt phá sào huyệt của giặc, để cho hết thảy được yên tĩnh, không nên đặt nhiều đồn, luỹ, để phí và vất vả cho nhân công làm gì?” (Trang 274-275, tập VI).


Tiêu đề: Re: Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép về Nguyễn Công Trứ
Gửi bởi: Noitraitim trong 24 Tháng Tám, 2013, 01:26:45 am
Sách Đại Nam thực lục chính biên chép về Nguyễn Công Trứ (Phần VIII) – tiếp

Nhâm Dần, Thiệu Trị năm thứ 2, 1842.
[Tháng Giêng] Tỉnh Hà Tiên lại tâu: “Có 40-50 chiếc thuyền Xiêm và một chiếc kiểu Tây dương đến lấn bức bãi Thiển Môn ở Phú Quốc. Lại thấy thuyền giặc ước 30 chiếc đến đảo Hùng Chưởng (tục gọi đảo Móng Tay) đuổi theo quân thú binh ta”…
[Vua] lại sai một người trong bọn Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Công Nhàn, Đoàn Văn Sách, hiện quân thứ ở Thất Sơn đem biền binh đi mau tới để sắp đặt. (Trang 279, tập VI).
Đảng nguỵ ở Nam Vang (tức là kẻ nguỵ xưng Hoàng Tôn) đem cả quân Xiêm, Lào 5.000 người lẻn đến Sách Sô (thuộc phủ hạt Nam Ninh), lại có hơn 10 chiếc thuyền thổ phỉ đến đồn Cần Thăng dòm dỏ. Tổng đốc An - Hà Phạm Văn Điển phi tư cho Đoàn Văn Sách quản lĩnh biền binh đến ngay Hà Tiên sắp đặt công việc, Nguyễn Công Nhàn ngăn giữ đồn Vĩnh Thông, Nguyễn Công Trứ chuyển đi tuần tra ở Tiền Giang. Điển vẫn lưu lại An Giang sắp xếp mọi việc.
[Vua] lại dụ Phạm Văn Điển và Nguyễn Công Trứ rằng: “Công Trứ trước ở Hà Tiên đã từng xin trở về mau dẹp Thất Sơn để cho yên hết mọi trở ngạnh ở sau sông Vĩnh Tế. Trẫm đã chuẩn y lời xin ấy. Thế mà động gặp bọn giặc linh tinh, đều không dám tiến đánh, lại đặt đồn, đắp luỹ, chỉ làm mệt sức quân, rồi trở về An Giang lần lữa không tiến, lờ mờ không có chủ định như thế, còn ngày nào làm xong việc được! Theo tình hình hiện nay, nếu xét thấy bọn giặc quả thực mắc mưu lừa dối (của kẻ phao tin) thì nên liệu để biền binh ngăn giữ, rồi họp cả những binh hùng mạnh ở các đại đội tiến đánh, diệt hết bọn giặc tàn ở Thất Sơn, khiến cho chỗ ấy chóng được yên hẳn. Như vậy, các thuyền giặc ở ngoài biển và những bọn giặc linh tinh nghe oai tất phải trốn xa; không nên nhất nhất chia quân đi đóng giữ, thành ra tính lầm!”. (Trang 280, Tập VI).
Tổng đốc An - Hà là Phạm Văn Điển và Lĩnh Tuần phủ An Giang là Nguyễn Công Trứ tâu lên rằng: “Tỉnh Hà Tiên thám biết: tên thổ phỉ Phi Phủ họp binh ở Châu Sâm, muốn đến sông Vĩnh Tế quấy nhiễu, những thuyền của bọn đầu mục giặc đóng ở phận biển Quảng Biên hẹn nhau chia 2 đường thuỷ bộ đến đánh Hà Tiên. Về phận sông Ba Nam, 2 bên bờ đều có đồn trại, thuyền bè của bọn thổ phỉ, mưu định gây việc. Vả lại, bọn thổ phỉ ở Ba Xuyên, Thất Sơn chưa trừ hết, mà ở Hà Tiên, Tiền Giang có tin báo nguy cấp ấy thì những đồn Đa Phúc, Lô Khu ở Hậu Giang, đồn Cần Thăng ở Cam La và những đồn Tiên Nông, Vĩnh Điền ở Vĩnh Tế không thể không phòng bị trước cho nghiêm cẩn. Vậy xin lưu những biền binh vẫn đóng trước và những biền binh mới đóng, mới đưa đến, cứ theo các đạo để đủ sai phái”. Vua nghe theo.
Vua lại dụ rằng: “Phạm Văn Điển và Nguyễn Công Trứ đều là bề tôi có tiếng đã lâu, trước ở Trấn Tây, giữ mãi không thành, mặc cho bọn thổ phỉ lan khắp, đến khi về An Giang, mong những trước dẹp Ba Xuyên, sau đánh Thất Sơn, tuyệt đường đi lại kiếm chác của giặc, và cho quân dân nghỉ ngơi, ngồi chặn chỗ hiểm yếu để cho quân giặc tất đến phải chết. Thế mà đến nay, ở Ba Xuyên chưa quét sạch hết, ở Thất Sơn không tiến được bước nào, và cứ sai đi do thám lung tung, không được tin gì đích xác! Ở quân, động một tí là hấp tấp: nay dựng đồn lớn mai đắp luỹ to, việc nhiều, sức mệt, không lúc nào thôi (tháng Chạp năm trước, Nguyễn Công Trứ làm tờ tâu xin đặt 2 đồn Tiên Nông, Vĩnh Điền, lại sửa đắp luỹ dài ở 2 đồn ấy, như vậy không chút nắm vững, cử động trái ngược chỉ làm cho quân giặc coi khinh mà thôi. Sao không nghĩ thuyền giặc nghênh ngang ngoài biển đã gần 3 tháng lúc tiến, lúc lùi, chưa từng một lần nào với Hà Tiên đối địch thì chẳng qua chúng khoe thanh thế hão, có thể thấy rõ nghề mọn như con lừa của chúng thế là đã cùng…”.
Vua dụ các quan to ở 6 tỉnh Nam Kì rằng: “… Ở An Giang, bọn Phạm Văn Điển, Nguyễn Công Trứ, Lê Quốc Trinh, Cao Hữu Dực trước đây còn bảo rằng đất Trấn Tây rộng rãi, thế tất khó dẹp; nay đã thuộc về bờ cõi của ta, không thể nói rằng khó khăn được nữa… Nguyễn Công Trứ đã nói: “Thất Sơn ở tại trong ruột cần xin tiễu diệt”, sao không làm ngay để đến nỗi cái lo ở trong chưa yên, sức chống bên ngoài lại đuối?… Trẫm sắp ra Bắc, lòng lo miền Nam, nay đặc dụ, cho bọn Lê Văn Đức, Nguyễn Đăng Uẩn, Ngô Văn Giai ở Gia Định, Nguyễn Tri Phương, Lê Khánh Trinh… ở Định Tường, Phạm Văn Điển, Nguyễn Công Trứ, Lê Quốc Trinh, Cao Hữu Dực ở An Giang, Nguyễn Tiến Lâm… ở Ba Xuyên, Nguyễn Công Nhàn, Đoàn Quang Mật… ở Hà Tiên, là những người đều có trách nhiệm giữ đất, cần phải hăng hái chống với giặc ngoài, phải giữ vững bờ cõi…”. (Trang 288-289, tập VI).
[Tháng 2] Tướng Xiêm là Ca La Hâm, Phì Phạt đem hơn 500 quân Xiêm, hơn 1000 quân Thổ và hơn 40 chiếc thuyền đến đóng ở bến phủ Quảng Biên; lại chở muối gạo lên bờ chứa tại một nhà để tạm ở Quảng Biên... Vua nghe biết việc ấy, nói rằng: “… Nay thuyền đồng ở Gia Định, đã sắp tới cõi, nên báo cho Nguyễn Công Trứ đi tới ngay, hợp sức cùng đánh…”. Ngay sau đó, Nguyễn Công Trứ đem biền binh ở đạo ấy đi tới, Đoàn Văn Sách đóng giữ đường bộ, cắt đặt binh thuyền giữ chặn cửa Kim Dư. Vua nói: “Làm như vậy cũng hợp sự cơ. Nếu giặc còn ở gần biên giới nên lập tức chia đường tiến đánh một phen để cho chúng khiếp sợ mãi mãi, mới được”. (Trang 302, tập VI).
Binh thuyền của Ô Thiệt Vương nước Xiêm đến đỗ ở Quảng Biên và phận biển đảo Nhĩ Dữ, núi Bạch Mã, số binh có tới vài vạn đóng đồn mọi chỗ, định mưu trước hết đánh úp Lô Khê rồi lấy Tô Môn, kéo đến bức tỉnh thành. Tỉnh Hà Tiên hoảng sợ, kíp tư cho tỉnh Vĩnh Long mau đem binh thuyền đến giúp. Tin báo đến, vua dụ rằng: “Giặc Man liên kết với giặc Xiêm mưu đồ dòm dỏ đất ta, hiện số binh của tỉnh không kém 4000-5000 và 2 đạo quân của Đoàn Văn Sách, Nguyễn Công Trứ kể cũng không ít, thế mà không tính được một mưu gì, lại phòng giữ sơ hở, để từ Lộc Giác đến Chu Nham chịu cho quân giặc đóng đồn trại, sao lại vô tài như thế... Thật rất phụ với việc được giao cho đi đánh giặc! Đoàn Văn Sách và Nguyễn Công Trứ đều giáng trước một cấp…”. Ngay sau đó, ở dải sông Vĩnh Tế, thổ phỉ kéo đến quấy nhiễu. Nguyễn Công Trứ nghe báo liền đem quân bản đạo đi gấp đêm ngày về An Giang; Nguyễn Tiến Lâm, Nguyễn Lương Nhàn chia nhau đi đến Tiền, Hậu Giang dẹp bắt. (Trang 303, 304, tập VI).
[Vua] sai Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Tiến Lâm án giữ sông Tiền Giang, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Công Nhàn án ngữ sông Vĩnh Tế; Phạm Văn Điển, Nguyễn Lương Nhàn án ngữ mặt Hậu Giang. (Trang 311, tập VI).
[Tháng 2] Bọn Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Công Nhàn tâu lên rằng: “Tại dải sông Vĩnh Tế, bên hữu ngạn từ Vĩnh Thông đến Tiên Nông, bên tả ngạn từ Vĩnh Lạc đến Tĩnh Biên, bọn thổ phỉ kết đồn trại liên tiếp, thừa dịp vây bắn vào Tân Châu, An Lạc ở Tiền Giang, Đa Phúc, Cần Thăng ở Hậu Giang, càng ngày càng vây bức mà hiện số quân ta có ít, phòng giữ không đủ. Còn ở Hà Tiên hiện nay đã hơi thư việc, chúng thần đã tư cho Đoàn Văn Sách chuyển về giúp sức đánh dẹp. Nhưng Sách cho rằng thuyền giặc hãy còn đỗ ở ngoài biển Quảng Biên, hiện Sách đương chỉnh quân sắp thuyền tuỳ cơ tiến đánh, chứ không chịu trích phái quân đi giúp. Chúng thần trộm nghĩ: Sách làm việc ấy có 3 điều bất tiện: 1. Trong khi đại giá ra Bắc, không nên vội khai mối hiềm khích với nước bên; 2. Có bọn giặc to ở sau lưng mà lại vượt xa ra ngoài biển; 3. Vĩnh Tế là đường sau tỉnh Hà Tiên, nếu bị cắt đứt thì Hà Tiên không thể giữ được. Cân nhắc cho thích hợp trước sau, hoãn, cấp thì nên chuyển về An Giang, đợi cho đường sau dẹp yên rồi hãy tuỳ cơ tiến đánh”.
Vua thấy tâu, quở trách rằng: “Giặc Xiêm hôm nọ bị quan quân Hà Tiên chặn đánh, đã sợ oai, đêm trốn, thì ngoài ra, các đường Tiền, Hậu Giang, Vĩnh Tế chẳng qua là bọn giặc tàn linh tinh, chắc rồi cũng phải tan chạy. Huống chi giặc Xiêm vô cớ cất quân xằng bậy, giúp bọn làm càn, nên thừa lúc chúng thua chạy về, đánh riết một phen để chúng vĩnh viễn không dám tới dòm dỏ. Sao bảo là “khai hiềm khích với nước bên”, mà nêu ra ba điều không tiện? Thật đáng khinh bỉ! Lại như một đường Vĩnh Tế trước chỉ có một Nguyễn Công Nhàn đóng giữ cũng còn chặn được nơi hiểm yếu để giữ vững. Nay đã có Nguyễn Công Trứ lại có Tôn Thất Nghị đem binh tiếp đến, chắc cũng đã thừa sức, lại còn muốn Đoàn Văn Sách đến cùng họp một chỗ, sao kiến thức kém đến thế… Công Trứ vốn gọi là biết dùng binh sao lại tính đến thế, thật không thể hiểu!”… Rồi đó, Công Trứ mắc bệnh, vua cho Nguyễn Công Nhàn kiêm lĩnh cả số binh, liệu cơ phòng giữ hoặc tiến đánh. (Trang 316, tập VI).
[Tháng 5] Tuần phủ An Giang Nguyễn Công Trứ trước đây vì có bệnh, về tỉnh, xin lưu ở tỉnh làm việc. Vua bảo rằng: “Bọn giặc ở vùng đó đã trốn xa rồi, còn những chỗ Thất Sơn, Sách Sô đã phái đại binh đi đánh dẹp, không bao lâu có thể dẹp yên, chuẩn cho Công Trứ lưu lại tỉnh để làm việc, lại thường thường phái người đi thăm dò biên tình xứ Trấn Tây, tuỳ tiện sắp đặt để cho địa phương được yên, không cần phải lại đi quân thứ nữa”. (Trang 352, tập VI).
Thất Sơn đã dẹp yên. Người Thanh, người Thổ ra hàng, thú kể hàng nghìn (tên Yểm chia giao viên chức ở phiên trấn là Mộc Tức dụ được hơn 2.700 người và các hạng súng, khí giới, đem nộp; Phùng Nghĩa Phương dụ được hơn 1300 người; Tri phủ Ba Xuyên Lê Nhượng dụ được 4.500 người). Vua sai Nguyễn Công Trứ và Phùng Nghĩa Phương thay nhau đi sắp đặt, lựa chia lập ấp, thôn, đặt người trông coi, giúp đỡ sự khai khẩn ruộng đất cho cày và ở, để việc làm và chỗ ở được yên. (Trang 361, tập VI).


Tiêu đề: Re: Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép về Nguyễn Công Trứ
Gửi bởi: Noitraitim trong 24 Tháng Tám, 2013, 01:27:10 am

Sách Đại Nam thực lục chính biên chép về Nguyễn Công Trứ (Phần VIII) – tiếp

[Tháng 2, nói về việc đào sông] Vua dụ Lê Văn Đức rằng: “… Một đoạn từ thủ sở Châu Giang ngang qua Tân Châu và An Lạc, giao cho Nguyễn Công Nhàn và Nguyễn Công Trứ trù tính công làm, rồi tâu lên”. Chưa bao lâu, tỉnh An Giang trù tính: “Nhân công dùng làm việc này phải tới 72.522 công, phải thuê 10000 dân phu ở 3 tỉnh An Giang, Vĩnh Long, Định Tường và vát 2000 biền binh các hạng đi làm, ước tới 2 tháng mới xong. Nhưng hiện nay trời nắng dữ, nhân dân phần nhiều cảm nhiễm sinh bệnh, xin hãy cho tạm hoãn”. Vua y cho. (Trang 367, tập VI).
Vua lại dụ rằng: “Chuyến này biên giới đã yên, đại quân mừng chiến thắng. Đối với các đại thần nguyên sung chức Tổng thống, Tham tán, các viên Đốc, Phủ, Bố, Án và Lãnh binh các tỉnh Nam Kì hoặc vâng mệnh coi quân, hoặc giữ hạt chống đánh, đều đã nhiều lần hậu thưởng để nêu công lớn; nay vì còn ở trong 27 tháng quốc tang, vậy lấy vàng ban thưởng thay vào tiệc rượu ghi công để đáp công lao, khiến cho ơn đều nhuần thấm”.
(… Thị lang bộ Binh, Lĩnh Tuần phủ An Giang là Nguyễn Công Trứ; Chưởng vệ Lĩnh Tuần phủ Hà Tiên là Dương Văn Liễu; nguyên Lãnh binh nay hiện làm Chưởng vệ, quyền lĩnh ấn triện dinh Kì võ Nguyễn Văn Hoà… mỗi người được thưởng một đồng kim tiền Phú Thọ đa nam hạng nhỏ…). (Trang 384, Tập VI).
[Tháng 8] Tổng đốc An - Hà Nguyễn Công Nhàn và Tuần phủ An Giang Nguyễn Công Trứ tâu rằng: “Bọn người nhà Thanh và người Thổ ở Thất Sơn, Ba Xuyên về thú phần nhiều bị chết đói, tình hình rất bách thiết! Bọn thần đã lấy 1000 phương gạo kho cho vay đợi đến sang năm chiếu số nộp trả”. Vua dụ rằng: “Bọn chúng được liệt vào dân biên giới đã lâu, trước đây nhân thổ phỉ xui giục, cùng theo làm bậy, nay đã quay đầu quy thuận, tức là dân ta, há nỡ ngồi nhìn chúng đang như là trẻ con kêu khóc đợi mớm sao? Quan tỉnh gấp gáp giúp đỡ để cứu sự cấp bách, làm thế cũng phải, nhưng sau cơn binh lửa; tài sản hết sạch, chắc đâu sang năm đã nộp trả được! Vậy, phải xét xem nếu quả không đủ sức cày cấy thì nên liệu cấp ngay cho thóc giống, khiến chúng ra sức cày cấy để mùa màng được kịp thời. Lại nên gia tâm vỗ về cho chúng đều chóng được yên nghiệp, tỏ cái ý triều đình thiết tha vỗ yên dân chúng ngoài biên”. (Trang 396-397, tập VI).
[Tháng 10] Tổng đốc An - Hà là Nguyễn Công Nhàn và Lĩnh Tuần phủ An Giang là Nguyễn Công Trứ dâng tập trù nghị tâu rằng: “Số tiền và gạo hiện chứa ở kho tỉnh chưa được đầy đủ, xin cho nghiêm sức trong thuộc hạt và tư sang 2 tỉnh Định Tường, Hà Tiên mau đem tải nộp để đủ chi dùng”. Vua bảo bộ Hộ rằng: “Hai tỉnh An Giang và Hà Tiên là những nơi địa đầu xung yếu. Về việc tích trữ ở biên cương cần phải dự bị, huống nữa hiện nay số biền binh phái đi theo Kinh lược đại thần khá nhiều, sang năm sẽ lần lượt tới tỉnh, việc quân nhu rất tốn. Vậy sai 3 tỉnh Gia Định, Vĩnh Long, Định Tường, mỗi tỉnh lấy thóc kho ra xay thành 20.000 phương gạo và xuất tiền kho mỗi tỉnh 10.000 quan tiền, thuê ngay thuyền dân tải đi giao tỉnh An Giang thu chứa, cốt phải trong năm nay tải đến đề phòng chi dùng. Lại trước đây có chỉ do thuyền Thanh Loan chở 10.000 quan tiền công, chuyển giao cho Gia Định; đợi khi thuyền này đến thì do tỉnh Gia Định giao sang lại chuyển An Giang thu chứa, để được giản tiện”.
 
Vua dụ bọn Nguyễn Công Nhàn, Nguyễn Công Trứ rằng: “Trước đây, Thất Sơn đã dẹp yên, những người ra thú trước sau rất nhiều, quả là một lòng quy thuận yên phận làm ăn chưa? Bọn thổ phỉ Hà Âm, có ra vào nom dòm, thám thính hay không? Tên thổ mục Mộc Tức bấy nay chiêu dụ có đắc lực không? Tên Yểm và Ngọc Vân gần đây làm những việc gì? Và thổ dân còn có lòng yêu kính nữa không? Về hạt Ba Xuyên, trước sau chiêu tập, dân đã hồi phục như cũ chưa? Mọi việc ấy cần để tâm xét hỏi cho đích xác, tâu lên”.


Tiêu đề: Re: Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép về Nguyễn Công Trứ
Gửi bởi: Noitraitim trong 24 Tháng Tám, 2013, 01:28:02 am
Sách Đại Nam thực lục chính biên chép về Nguyễn Công Trú(Phần IX)

Quý Mão, Thiệu Trị năm thứ 3, 1843.
[Tháng Giêng] Vua thấy tỉnh An Giang là đất tiếp giáp Lạp Man, năm ngoái đã dụ sai thăm dò đích xác tình hình giặc, lâu chưa có tin báo, nay lại dụ Tổng đốc Nguyễn Công Nhàn, Lĩnh Tuần phủ Nguyễn Công Trứ dò hỏi cho đích xác rồi tâu lên. Bọn Nhàn tâu: “Tên đầu mục Xiêm là Phi Nhã Chất Tri đã về Vọng Các, tên Phi Nhã Sô Phì Phủ Đăng đổi sang ở Trấn Tây, số binh chỉ có hơn vài nghìn.
Kể chức đầu mục thì Sô Phì Phủ Đăng không bằng Phi Nhã Chất Tri, kể số quân thì không bằng 1 phần 20 khi trước. Nếu ta đem binh thẳng đến Trấn Tây, có thể thừa được cơ hội tốt, chỉ vị đánh dẹp không khó mà giữ yên thì khó; nếu giữ yên không được thì đánh dẹp cũng chỉ khó nhọc mà vô ích. Vì người Thổ ngu tối, đa nghi, quân ta mới đến thì chúng giữ hiểm, chống cự, hễ thấy cùng bách thì chúng bỏ đất trốn đi. Ta ở lâu chiêu dụ, chúng vị tất đã về theo. Nếu lại xin triệt binh về thì đi không lại về không; chỉ thương tổn đến uy vọng. Vả, Trấn Tây địa thế bát ngát, trong mùa khô ráo, hành quân chưa được tiện; từ tháng 7 trở đi, nước ngập tràn đầy, đường bộ không thông, đội Chu sư nhanh nhẹn của ta có thể tung hoành đi lại. Lúc ấy, chúng đóng ở các chỗ núi, gò, sức kém, thế cùng, không thể không đem nhau quy phục, nhân đó, ta chiêu dụ vỗ về mới là đúng cơ hội. Huống chi bọn Lạp Man từng bị giặc Xiêm trăm đường sách nhiễu, không sao chịu nổi, đã chán cái bạo ngược của Xiêm mà nhớ sự khoan rộng của triều đình ta, chẳng bao lâu nữa tự cắn rứt lẫn nhau, nhân đó ta thừa cơ tiến sang thì Hải Đông, Hải Tây có thể lần lượt thu phục được cả”.
Vua dụ rằng: “Cái chủ yếu làm cho đất Man quy phục là ở đánh dẹp và vỗ yên mà thôi. Đương mùa khô ráo ở xứ ấy, quân ta tiến sang còn có thể thuỷ lục giúp lẫn cho nhau được. Nếu kì ngập lụt, nước chảy xiết, ngược dòng đi lên đã thấy chậm và khó, huống nữa ta có thể dùng thuyền nhẹ đi lại thì chúng tất sẽ đem thuyền nhỏ phục ở trong bụi lau, đám cỏ, ta có thể lùng hết các chỗ đầm vực mà bắt cá hết được không? Vả, việc dùng quân quý ở biết mình, biết người, trước cơ liệu địch tỏ hào không sai mới là tính toán vẹn toàn. Nếu chúng quân ít, tướng yếu, có thể thừa cơ đánh được thì nên đem toán quân mới đến của ta thẳng tiến đến Trấn Tây, đánh phá sào huyệt khiến cho dân Man biết rõ rằng giặc Xiêm không thể nhờ cậy được, càng thêm sợ sệt ta. Nhân đó, chọn sai bọn tên Yểm, Trà Long và các thổ mục đã quy thuận, tuỳ cơ sắp đặt, chia đi chiêu dụ, vỗ về, chúng tất sợ oai, nhớ đức mà quy thuận. Ấy là kế hay đó…”. (Trang 453-454, tập VI).
Tỉnh Hà Tiên tâu nói: “Hạt ấy là địa đầu sung yếu, có nhiều đồn trại, xin cho 2300 biền binh mà tỉnh Vĩnh Long và tỉnh An Giang phái đến trước, lưu lại để phòng thủ”. Vua nói rằng: “Lưu quân lại để tự vệ cho mình, là ý kiến thiên về một bên đó thôi”. Lại sai Nguyễn Tri Phương và Nguyễn Công Trứ bàn việc ấy. Bọn Tri Phương xin bắt 500 quân ở tỉnh Gia Định và 300 quân ở tỉnh Định Tường hợp cùng với biền binh của hai tỉnh Vĩnh Long, An Giang hiện đóng ở đấy đều lưu lại để phòng thủ. Vua cho rằng sự đi lại thay đổi chưa thoả đáng chỉ chuẩn cho hai tỉnh Vĩnh Long và An Giang đều phái một cơ binh đóng lại ở đấy, cứ 6 tháng đổi một lần. (Trang 481, tập VI).
Sai các quan đại thần bàn rõ sự nghi xứ Trấn Tây. Trước đây, Tổng đốc An - Hà Nguyễn Công Nhàn, Lĩnh Tuần phủ Nguyễn Công Trứ tâu lên nói: “Quân Xiêm ở lâu xứ Trấn Tây, dân bản xứ khổ về việc cung đốn. Phàm có việc phải bắt dân phu, phần nhiều trốn tránh; quân Xiêm cũng không thích ở lâu ở đấy, thường thường lẩn trốn, số quân không quá 5000-6000. Bên hữu ngạn sông Tiền Giang đã không có quân Xiêm đóng đồn. Chỉ có các đồn trại Ba Nam Đà và Lô An, cũng giao cho hào mục bản xứ và dân bản xứ phòng thủ mà thôi. Duy đường thuỷ về sông Hậu Giang là có phòng giữ; đường bộ thì từ Vĩnh Long đến Hà Âm không có phòng bị gì, có thể nhân cơ hội đó xin phái 9000 quân kinh thành và mỗi tỉnh 5000 quân, đủ số 30000, phái thêm một cơ quân có voi; lại chọn một viên Tổng thống chuyên lĩnh các quan đại thần, cốt đến tháng 11 hội đồng trù tính, chia đường để tiến đánh”. (Trang 490, tập VI).
Thị lang bộ Binh, Lĩnh Tuần phủ An Giang là Nguyễn Công Trứ, bổ thụ Tham tri bộ Binh, vẫn Lĩnh Tuần phủ An Giang. (Trang 499, tập VI).
[Tháng 10] Tổng đốc An - Hà Nguyễn Công Nhàn, Thự Tổng đốc Long Tường Nguyễn Tri Phương, Tuần phủ An Giang Nguyễn Công Trứ cùng tâu nói: “Việc đào sông Tân Châu ở tỉnh An Giang trước đã xin hoãn lại, nay đến tiết mùa đông khô ráo, xin thuê 5.000 dân phu khơi trước một đoạn dài (550 trượng), trong một tháng thì cho về, đợi sang xuân, sẽ làm tiếp”. Vua y cho. (Trang 548, tập VI).
Giáp Thìn, Thiệu Trị năm thứ 4, 1844.
[Tháng Giêng] Tỉnh An Giang có bọn Man, người Chân Lạp hơn nghìn tên, ngầm đến chỗ bên tả đồn Đa Phúc đắp luỹ, dàn thuyền làm thế nương dựa nhau. Tổng đốc An - Hà là Nguyễn Công Nhàn uỷ Lãnh binh Nguyễn Văn Hoàng đóng triệt đồn Đa Phúc. Bọn Tuần phủ An Giang là Nguyễn Công Trứ cũng thân đem biền binh đến đồn Cần Thăng, do sông Lô Khu ngược dòng đi lên. Sai người hỏi, thì có kẻ nói rằng triều đình đào sông để đánh úp thành Trấn Tây nên đầu mục nước Xiêm là Chất Tri và Nặc Ong Giun uỷ cho đến phòng ngự, không dám bới việc; người khác lại nói: đóng ở đó để tiện cho thổ dân đi lại trao đổi buôn bán, không có ý gì khác. Sức phải triệt đi thì chúng xin hoãn tuần nhật. Công Trứ cho rằng chúng đã cúi mình thuận theo, nên không muốn gây chuyện, hãy tạm cho, nhưng dời đồn Cần Thăng đến giữa bãi sông Đa Phúc để cho tiện sự đi lại. Việc đến tai vua. Vua lấy làm lạ, nói rằng: “Chỗ ấy ở vào khoảng giữa 2 đồn Đa Phúc và Cần Thăng, cách tỉnh thành lại không xa, cớ sao giặc Man đắp luỹ ngầm mà các ngươi có trách nhiệm không từng biết đến! Chức vụ ở chỗ nào? Phó Vệ uý Vũ Văn Tô, Hiệp quản Nguyễn Bích đều phải giáng một cấp”. (Trang 571, tập VI).
[Tháng 4] Sông Tân Châu ở An Giang đã đào xong. Mùa đông năm ngoái bắt đầu đào đường sông từ cửa sông Chu Giang ngang qua sông Tiền Giang, đồn Tân Châu (dài 3695 trượng), cuối năm thì nghỉ việc; mùa xuân năm nay lại làm. Thuê nhân công làm việc này, cấp cho tiền và gạo. Vừa một tháng thì sông đào xong (trên rộng 6 trượng, dưới rộng 3 trượng, sâu trên dưới 9 thước…). Tuần phủ Nguyễn Công Trứ, tâu nói: “Cửa sông Chu Giang cùng đồn Tân Châu cách nhau hơi xa, có một khu đất cao gọi là Giồng Tượng, giặc Thổ thường đến ẩn nấp ở đây. Vậy xin đặt một đồn ở đất ấy, trích lấy 50 biền binh ở 2 đồn Tân Châu và An Lạc đóng giữ. Lại nên dời đồn Chu Giang đặt lên phía trên sông Tân Châu để tiện việc tuần sát”. Vua y cho. (Trang 593, Tập VI).
Tổng đốc An - Hà là Nguyễn Công Nhàn, Tuần phủ Nguyễn Công Trứ, Bố chính Phùng Nghĩa Phương, Hộ lí Đề đốc Đoàn Quang Mật và Thự Bố chính Hà Tiên là Lê Quốc Trinh có tội, đều bị mất chức.
Trước kia, người thôn Tân Hựu tỉnh An Giang là bọn Đoàn Văn Quận đến Kinh kêu về việc thôn ấy đất rộng, người đông, và xin chia ra cho tiện việc công, nguyên quyền Lĩnh Bố chính là Lê Quốc Trinh cùng với Nghĩa Phương, Công Trứ và Công Nhàn đều đòi tiền bạc đút lót (hoặc 50 lạng, hoặc 70 lạng, hoặc 100 lạng) do Lại dịch trong tỉnh là Nguyễn Văn Uy và Nguyễn Văn Giao và Đội trưởng Nguyễn Công Pháp dẫn nộp, lâu không xử đoán ra sao. Vua dụ rằng: “Việc chia đặt thôn ấp, cũng không phải là tình hình bách thiết gì, sao lại đem nhiều của đút mà cầu cạnh như thế, rất không phải lẽ! Nhưng đã chỉ rõ người và việc ra, chưa chắc đã phải là bịa đặt, nói mò. Vậy chuẩn cho đều phải tâu lên nói cho rõ ràng, không được tự ý bênh vực chống đỡ cho sự trái lẽ… Bọn Nhàn đều dâng sớ, tự biện bạch. Duy có Nguyễn Văn Pháp thú nhận là có nộp 70 lạng bạc, mới giao xuống cho Pháp ti xét hỏi, thì cái số bạc ấy là Công Nhàn trả lại mà giao cho Văn Pháp. Trước hết, giáng Công Nhàn xuống 4 cấp, cắt lương một năm. Lại chuẩn cho bọn Công Trứ đều phải tâu riêng mà trần thú, sẽ chước lượng xử theo luật nhẹ”. Sau đó [bọn Công Trứ] cũng không chịu nhận. Công Trứ trước là chức Tham tán cầm quân, Công Nhàn xuất thân là Tì tướng, nay lại ở địa vị trên, Công Trứ vì thế bất bình. Công Nhàn nhòm thấy tâm trạng ấy, có ý chức hại ngầm Trứ. Đến đây, Công Trứ đi xem xét công việc khơi sông, Quang Mật bắt được Đội trưởng đồn Chu Giang là Mai Văn Thạch tự tiện hộ tống 4 chiếc thuyền buôn lậu. Công Nhàn và Nghĩa Phương hội đồng tra hỏi, nêu ra các tình lệ Công Trứ phái người đi dò thăm ở xứ Trấn Tây, mua riêng tê giác và đậu khấu, bèn tham hặc tâu lên. Vua sai Tham tri bộ Lễ Trần Ngọc Giao sung Khâm sai đại thần đem cả Lại khoa Chưởng ấn Cấp sự trung Đặng Kham đi đến ngay để tra xét. Khi Ngọc Giao đến, biết hết được tình trạng Công Nhàn vu cáo để buộc tội. Khi án dâng lên, Nghĩa Phương và Công Nhàn vì tội vu cáo bị xử phạt trượng, phát lưu; Công Trứ làm việc phần nhiều xuất lược, Quang Mật nghe Công Nhàn và Nghĩa Phương xui khiến, đều bị phạt trượng, cách chức.
Vua dụ rằng: “Công Nhàn xuất thân từ lúc làm Tì tướng, lên đến chức trọng trấn một địa phương, chưa từng làm được một việc gì! Trước kia, vụ án tham tang ở thôn Tân Hựu phát ra, ta đã châm chước, xử theo luật nhẹ; nay còn không nghĩ, đồng một lòng với nhau mà giúp nước, để che cái lỗi trước, thế mà cố ý bắt kẻ phạm tội vu cáo cho người khác, gây nên một vụ án to, đáng lẽ theo như án đã nghị xử, phạt tội phát lưu để răn những kẻ theo ý riêng mà bỏ việc công. Nhưng nghĩ: Công Nhàn năm trước đánh lui được giặc ở đất Sa Tôn, lập công ở sông Vĩnh Tế. Theo điều “nghị công” trong luật, đối với người có công cũng có thể lượng giảm. Vậy gia ân cho cách chức, đi hiệu lực. Nguyễn Công Trứ trước phái đi biên giới phía Tây, giao cho việc quân rất quan trọng để phí cả ngày giờ, không làm nên công cán gì, ta cũng đã bỏ qua cái lỗi trước, bổ cho làm Tuần phủ; gần đây cứ ôm gốc cây để đợi thỏ đến, mơ hồ mọi việc không chịu để tâm. Việc buôn gian chở hàng hoá tuy là có việc vu cáo nói không, nhưng xét đến chỗ sở hành, đại để là mượn việc công để làm việc riêng, tội tình không thể che giấu được. Nghĩa Phương, Quang Mật a dua với quan trên đáng lẽ xử cùng một tội, nhưng vì QuangMật chỉ ra được kẻ buôn gian, nên chỉ đổi phạt: giáng xuống chức Suất đội, cho theo sai phái ở tỉnh Hà Tiên. Công Trứ, Nghĩa Phương đều bị cách chức cùng với Lê Quốc Trinh cùng can vào việc tham tang, phải giải chức, giao cho Ngọc Dao xét nghị”. Sau đó, Ngọc Dao được đổi đi làm Tuần phủ tỉnh Định Tường. Vụ án này, đổi giao cho Nguyễn Tri Phương hội đồng với Tuần phủ, Bố chính, Án sát tra xét nghị xử cái án của Công Trứ, Nghĩa Phương và Quốc Trinh. Vì nhân chứng rõ ràng, đều kể cái số tham tang giảm đi một nửa nên xử phạt trượng và đồ. Khi án dâng lên, vua chuẩn cho đều sung quân: Công Trứ phát đi biên thuỳ tỉnh Quảng Ngãi; Nghĩa Phương, Quốc Trinh phát đi đảo Côn Lôn, truy thu số tiền tham tang trả lại cho những người đem lễ. Thôn Tân Hựu cũng không cho chia ra. (Trang 611-612, tập VI).
Ất Tị, Thiệu Trị năm thứ 5, 1845.
[Tháng 9] Cho viên bị cách là Nguyễn Công Trứ khởi phục làm Chủ sự bộ Hình quyền Viên ngoại lang; rồi lại đổi quyền Viên ngoại lang Đại lí tự. (Trang 768, tập VI).