Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: hoi_ls trong 04 Tháng Sáu, 2013, 03:15:34 PM



Tiêu đề: Lịch sử Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn 1947 -2002
Gửi bởi: hoi_ls trong 04 Tháng Sáu, 2013, 03:15:34 PM
(http://image.baophapluat.vn/w800/Uploaded/2019/athlraqhpghat/2015_10_15/14_iies.jpg)

Chủ tịch Hồ Chí Minh quan sát vị trí Đông Khê mở đầu chiến dịch Biên Giới (năm 1950)
trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.


LỜI GIỚI THIỆU

Ra đời trong thời kỳ toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Trải qua hơn nửa thế kỷ; Tỉnh đội Bộ dân quân Lạng Sơn (nay là Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn). Quá trình củng cố xây dựng, chiến đấu và trưởng thành luôn gắn kết với các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu I và lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn, sự tận tình chăm sóc đùm bọc của nhân dân các dân tộc trong tỉnh. Cán bộ chiến sỹ Bộ chỉ huy quân sự tỉnh luôn nêu cao chủ nghĩa Anh hùng cách mạng truyền thống tốt đẹp của quân đội, của dân tộc và truyền thống cách mạng của quê hương Bắc Sơn khởi nghĩa; tự lực, tự cường khắc phục mọi khó khăn gian khổ, đoàn kết nỗ lực phấn đấu vươn lên hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ; lập nhiều chiến công to lớn tô thắm thêm truyền thống trung với Đảng, với nước, với nhân dân được đồng bào các dân tộc tin yêu.

Nhân dịp kỷ niệm 75 năm ngày thành lập Đảng CSVN, 60 năm ngày thành lập nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, 30 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam. Được Ban Thường trực Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đồng ý, Đảng ủy, Bộ CHQS Lạng Sơn, chỉ đạo tổ chức biên soạn cuốn sách “Lịch sử Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn 1947 -2002”, nhằm ghi lại chặng đườns xây dựng, chiến đấu và trưởng thành đầy khó khăn gian khổ, với biết bao cống hiến mồ hôi, xương máu của các thế hệ cán bộ, chiến sỹ trong suốt hơn nửa thế kỷ qua.

Đây là tài liệu quý báu nhằm ghi lại truyền thống đấu tranh cách mạng của lực lượng vũ trang Lạng Sơn, góp phần giáo dục bản chất, truyền thống cho cán bộ, chiến sỹ lực lượng vũ trang và nhân dân trong tỉnh hăng hái, thi đua xây dụng, phát triển kinh tế xã hội, củng cố an ninh quốc phòng, góp phần đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ cách mạns; trong giai đoạn mới.

Bộ CHQS Lạng Sơn xin chân thành cảm ơn Phòng Khoa học Công nghệ và Môi trường Quân khu I, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, các cơ quan, đơn vị trong và ngoài tỉnh, các đồng chí cán bộ, chiến sĩ đã từng công tác, chiến đấu trong các thời kỳ ở Bộ CHQS tỉnh đã nhiệt tình giúp đỡ để Bộ CHQS tỉnh hoàn thành cuốn sách.

Trong quá trình tổ chức sưu tầm tư liệu, biên soạn cuốn sách, mặc dù có nhiều cố gắng, song nguồn tư liệu cũng chưa được đầy đủ, các đồng chí cán bộ lãnh đạo, chỉ huy của Bộ chỉ huy qua các thời kỳ tuổi đã cao, già yếu không tham dự được các cuộc Hội thảo, bộ phận biên soạn trình độ còn có hạn, khôns tránh khỏi những khiếm khuyết. Rất mong đươc các đồng chí và các bạn đónơ eóp ý kiến bổ sung để cuốn sách ngày càng hoàn chỉnh.

Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng các đồng chí và bạn đọc.

TM. ĐẢNG ỦY BỘ CHQS TỈNH LẠNG SƠN
CHỈ HUY TRƯỞNG
Đại tá: Dương Hiền


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn 1947 -2002
Gửi bởi: hoi_ls trong 04 Tháng Sáu, 2013, 03:18:36 PM
PHẦN I


Chương I
TỪ NHỮNG ĐỘI DU KÍCH, TỰ VỆ CHIẾN ĐẤU, VŨ TRANG TUYÊN TRUYỀN ĐẦU TIÊN, HÌNH THÀNH TRUNG ĐOÀN CHỦ LỰC 28, TIỀN THÂN CỦA CƠ QUAN QUÂN SỰ TỈNH LẠNG SƠN 1940 - 1946


Từ đầu năm 1940, chiến tranh thế giới thứ hai ngày càng lan rộng. Neày 10 tháng 5 năm 1940, phát xít Đức tấn công vào nước Pháp. Một tháng sau Pháp đầu hàng. Pê-Tanh lên làm quốc trưởng và trở thành tay sai của phát xít Đức.

Nhân đà Pháp bại trận, phát xít Nhật liền nhảy vào Đông Dương. Ngày 22 tháng 9 năm 1940, Nhật đánh vào Lạng Sơn, quân Pháp chống cự yếu ớt và thất bại nhanh chóng, rút chạy từ Bắc Sơn về Thái Nguyên, chính quyền địch ở những vùng này bị tan rã, tri châu Điềm He, tri phủ Tràng Định, tri châu Thoát Lãng chạy trốn. Đại lý Pháp, đồn trưởng đồn Bình Gia vứt súng bỏ chạy. Nắm được thời cơ đó, nhân dân Bắc Sơn, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ địa phương, các đồng chí Hoàng Đình Ruệ, Nông Văn Cún, sau khi thoát khỏi nhà tù Lạng Sơn, về đến Bắc Sơn họp với Chi bộ Đảng ở Hưng Vũ, Bắc Sơn quyết định khởi nghĩa.

Ngày 27 tháng 9 năm 1940, với sự tham gia đông đảo của các tầng lớp nhân dân các xã Bắc Sơn, Hưng Vũ, Chiêu Vũ, Trấn Yên với súng kíp, gậy gộc, giáo mác tiến công đồn Mỏ Nhài, cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn bùng nổ. Quân khởi nghĩa nhanh chóng chiếm đồn Mỏ Nhài và châu lỵ Bắc Sơn, chính quyền địch bị tan rã. Do chưa có sự chuẩn bị chu đáo nên ta chưa thành lập được chính quyền cách mạng. Sau một thời gian ngắn do ta chưa tập trung được lực lượng đối phó, thực dân Pháp đã tiến công đàn áp khốc liệt, nhưng không dập tắt được tinh thần chiến đấu của nhân dân các dân tộc huyện Bắc Sơn.

Đầu tháng 10 năm 1940, Xứ ủy Bắc Kỳ, cử đồng chí Trần Đăng Ninh, lên tiếp tục chỉ đạo cuộc khởi nghĩa. Ngày 14 tháng 10 năm 1940, đồng chí đã triệu tập cuộc họp với các đảng viên Bắc Sơn và quyết định thành lập đội du kích Bắc Sơn, lấy vùng Nà Tâm (Ngư Viễn), Sa Khao, Bản Ne, Mỏ Tát, Nam Nhi (Vũ Lăng) làm căn cứ. Nsày 16 tháng 10 năm 1940, đội du kích Bắc Sơn đã được thành lập tại xã Vũ Lăng. Ban lãnh đạo của đội do đồng chí Trần Đăng Ninh phụ trách, quân số 20 đồng chí.

Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 7 họp từ nơày 6 đến ngày 8 tháng 11 năm 1940 tại Đình Bảng (Bắc Ninh), sau khi phân tích tình hình cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, thành lập căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai. Sau thời gian ngắn được củng cố, đến cuối tháng 12 năm 1940, đội du kích Bắc Sơn đã có 200 chiến sỹ, biên chế thành nhiều tiểu đội, mỗi tiểu đội 10 chiến sỹ, đội du kích đã có 20 súng trường và 200 súng kíp. Cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn đã báo hiệu thời kỳ đấu tranh mới của cách mạng Việt Nam. Đội du kích Bắc Sơn được ra đời trong cuộc khởi nghĩa là lực lượng nòng cốt hình thành đội Cứu quốc quân 1 và Cứu quốc quân 2 sau này. Khởi nghĩa Bắc Sơn đã có tác dụng trực tiếp, tích cực cổ vũ tinh thần đoàn kết đấu tranh cách mạng của nhân dân trong tỉnh. Sự ra đời của đội du kích Bắc Sơn cùng với việc thành lập căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai đã tạo ra những tiền đề cần thiết cho việc mở rộng địa bàn phong trào cách mạng trong tỉnh. Việc sử dụng hình thức vũ trang giành chính quyền của cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn đã trở thành bài học sâu sắc nhất cho quá trình chuẩn bị lực lượng mọi mặt, tiến tới giành chính quyền trong cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Lạng Sơn.

Ngày 18 tháng 2 năm 1941 tại Pắc Bó (Cao Bằng) đã vinh dự đón lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước; chính từ nơi đây Người đã chủ trì hội nghị Trung ương lần thứ 8 tại lán Khuổi Nậm từ ngày 10 đến ngày 19 tháng 5 năm 1941. Hội nghị đã định ra những vấn đề có ý nghĩa quyết định thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945, trong đó “Chưa chủ trương làm cách mạng tư sản dân quyền mà chủ trương làm cách mạng giải phóng dân tộc” và cho rằng: “Cuộc cách mạng Đông Dương phải kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang” mới thành công. Do đó phát triển các đội Việt Nam cứu quốc quân và các đội vũ trang khác làm nòng cốt cho phong trào giải phóng dân tộc trong cả nước là vấn đề có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Hội nghị đã thông qua điều lệ tóm tắt của Đảng, điều lệ của Việt Nam tiểu tổ du kích cứu quốc quân. Trong điều lệ ghi rõ: Tên, mục đích, phương pháp tổ chức, điều kiện kết nạp đội viên, trách nhiệm của Việt Nam tiểu tổ du kích, luyện tập, vũ khí, kỷ luật. Điều lệ còn qui định về tổ chức: “Mỗi đoàn thể cứu quốc của Việt Minh tổ chức ra tiểu tổ du kích. Tiểu tổ du kích chịu dưới quyền chỉ huy của Đoàn cứu quốc và Việt Minh; có từ 3 đến 7 hội viên thì tổ chức thành một tiểu tổ du kích cứu quốc, có 1 tiểu tổ đội trưởng chỉ huy. Có từ 2 tiểu tổ du kích trở lên thì tổ chức thành liên tiểu tổ, có 1 liên tiểu tổ đội trưởng, một phó liên đội và một ủy viên chính trị chỉ huy”.

Từ ngày 6 đến ngày 21 tháng 7 năm 1941 tại căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai, đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư Trung ương Đảng trực tiếp phổ biến tinh thần Nghị quyết Trung ương 8 cho toàn thể cán bộ, chiến sỹ đội cứu quốc quân và tự vệ cứu quốc.

Cuối tháng 6 năm 1941 thực dân Pháp mở cuộc càn quét lớn vào khu căn cứ nhằm bắt các đồng chí cán bộ cấp cao của Đảng, lãnh đạo khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai, cán bộ chiến sỹ cứu quốc quân, tự vệ cứu quốc và trấn áp phong trào cách mạng của quần chúng nhằm chấm dứt sự đe dọa thường xuyên đối với chúng. Thực dân Pháp huy động 4000 quân đủ các sắc lính, cùng bọn cường hào phản động địa phương tổ chức thành 3 mũi tiến công từ Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Giang bao vây khu căn cứ.

Dưới sự lãnh đạo chỉ huy trực tiếp của cấp ủy Đảng và đồng chí Phùng Chí Kiên, được sự giúp đỡ che chở, đùm bọc của nhân dân các dân tộc huyện Bắc Son, Việt Nam cứu quốc quân và tự vệ cứu quốc đã chiến đấu anh dũng vừa bảo vệ an toàn cho các đồng chí trong Ban Thường vụ Trung ương Đảng, vừa tìm cách bảo toàn lực lượng, rút khỏi vòng vây của địch lên Cao Bằng và biên giới Việt Trung, chỉ để lại 1 tiểu đội bí mật ở Bắc Sơn để hoạt động chống địch khủng bố; ngày 22 tháng 8 năm 1941 đồng chí Phùng Chí Kiên hy sinh trong trận đánh địch phục kích trên đường rút quân lên biên giới Việt Trung qua vùng Ngân Sơn (Bắc Kạn). Đồng chí Lương Văn Tri ốm không đi được, sau đó bị địch bắt và hy sinh ở nhà tù Cao Bằng. Tháng 8 năm 1941 đồng chí Trường Chinh và Hoàng Văn Thụ rút về xuôi an toàn, đồng chí Hoàng Quốc Việt được giao nhiệm vụ ở lại tiếp tục chỉ đạo phong trào ở khu căn cứ.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn 1947 -2002
Gửi bởi: hoi_ls trong 04 Tháng Sáu, 2013, 03:23:34 PM
Cuộc khủng bố dã man của thực dân Pháp đã làm cho phong trào ở Bắc Sơn - Võ Nhai chịu nhiều tổn thất to lớn và phải chịu đựng một thử thách mới. Từ năm 1941 đến năm 1942, quán triệt đường lối của Đảng và các chính sách của Mặt trận Việt Minh, cùng với các tỉnh Bắc Kạn, Thái Nguyên, Phú Thọ, Tuyên Quang, phong trào Việt Minh ở Lạng Sơn đã phát triển ở nhiều vùng nông thôn, thị xã, thị trấn. Cuối năm 1941, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Tổng bộ Việt Minh, Hội nghị liên tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn được triệu tập đã cử ra Ban Việt Minh liên tỉnh để thống nhất chỉ đạo phong trào.

Được sự chỉ đạo sát sao của Ban Việt Minh liên tỉnh, hàng loạt cơ sở Việt Minh ở Lạng Sơn đã được tổ chức với nòng cốt là số đảng viên trung kiên còn lại, sau thời gian khủng bố khốc liệt của thực dân Pháp. Từ cuối năm 1942 đến đầu năm 1944, phong trào Việt Minh đã phát triển ở Bắc Sơn, Tràng Định, Bình Gia, Thoát Lãng. Các lớp huấn luyện các đội vũ trang tuyên truyền được tổ chức ở xã Chí Minh, đông Hua Vài (Tràng Định). Qua huấn luyện, học viên được học tập điều lệ của Mặt trận Việt Minh, được phổ biến những hiểu biết cần thiết về tình hình nhiệm vụ cách mạng Việt Nam trong giai đoạn trước mắt, những phương pháp cần thiết cho quá trình vận động, tổ chức đấu tranh phù hợp với tình hình thực tế của tỉnh.

Sau khi được tăng cường một đội ngũ cán bộ Việt Minh, các cơ sở Việt Minh ở nhiều nơi của Tràng Định, Thoát Lãng, Bắc Sơn, Văn Uyên, Bình Gia đã được tổ chức nhanh chóng, các cơ sở: “Nông dân cứu quốc”, “Phụ nữ cứu quốc”, “Thanh niên cứu quốc” đã được ra đời với sự tham gia của đông đảo các tầng lóp quần chúng yêu nước. Các đội tự vệ trị an và tự vệ chiến đấu được thành lập. Ngoài nhiệm vụ bảo vệ trị an làng xã, tuyên truyền báo chí, tài liệu truyền đơn cách mạng, các đội tự vệ còn làm nhiệm vụ tiễu trừ việt gian phản động, chuẩn bị kế hoạch đối phó với hành động đàn áp của thực dân Pháp và phát xít Nhật. Ảnh hưởng của phong trào Việt Minh đã được chuyển lan tới các địa phương trong tỉnh như Điềm He, Bằng Mạc, Ôn Châu, Cao Lộc, Lộc Bình, Đình Lập.

Ngày 7 tháng 5 năm 1944, Tổng bộ Việt Minh ra Chỉ thị cấp bách: “Sửa soạn khởi nghĩa”. Chỉ thị đã nhận định: “Thời cơ hết sức thuận lợi cho nhân dân ta giành chính quyền độc lập sắp tới”. “Song thời cơ không phải tự nó đến, một phần lớn do ta sửa soạn nó, thúc đẩy nó”, vì vậy phải tìm mọi cách đẩy mạnh cao trào cứu nước, đưa quần chúng từ cuộc đấu tranh giành quyền sống hàng ngày, tiến lên đấu tranh giành chính quyền. Đẩy mạnh việc tổ chức các đội tự vệ và đội du kích: Lập “quỹ mua vàng” và tự chế lấy một phần vũ khí, theo dõi sát thời cuộc, chọn đúng thời cơ khởi nghĩa.

Ở Lạng Sơn, từ cuối năm 1944 đến đầu năm 1945, được sự tăng cường chỉ đạo của Tổng bộ Việt Minh, liên tỉnh ủy Cao Bắc Lạng và sự vận động tích cực của cứu quốc quân từ căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai, các đội vũ trang tuyên truyền chiến đấu, lần lượt được thành lập ở nhiều địa phương trong tỉnh. Ở Hội Hoan (Thoát Lãng) có đội vũ trang do đồng chí Hoàng Văn Kiểu phụ trách, ở Thụy Hùng (Thoát Lãng) có đội vũ trang do đồng chí Bế Chấn Hưng phụ trách, ở Chí Minh (Tràng Định) có đội vũ trang do đồng chí Minh Tuần phụ trách, ở Bình Gia có đội vũ trang đuợc thành lập ở Văn Mịch do hai đồng chí Hà Tân Cương và Hà Khai Lạc phụ trách. Sau khi được thành lập, các đội vũ trang này đã tự tổ chức mua sắm vũ khí, phục kích tuớc vũ khí của lính dõng trang bị cho mình, sẵn sàng phối hợp với sự nổi dậy của quần chúng khởi nghĩa giành chính quyền.

Cùng với sự ra đời của các đội vũ trang cách mạng, các căn cứ cách mạng cũng được thành lập ở Hội Hoan (Thoát Lãng), Chí Minh (Tràng Định), Văn Mịch (Bình Gia). Giữa các căn cứ đó có sự liên lạc với nhau thành hệ thống liên hoàn và liên hệ chặt chẽ với căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai, một căn cứ do Trung ương Đảng trực tiếp chỉ đạo. Những hoạt động của các đội vũ trang tuyên truyền càng gây thanh thế và ảnh hưởng của Mặt trận Việt Minh lan rộng trong các tầng lớp nhân dân.

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị: “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, chỉ rõ tình hình khủng hoảng này đã thúc đẩy cho thời cơ khởi nghĩa của nhân dân càng thêm chín muồi nhanh chóng.

Thực hiện chủ trương của Đảng, tháng 3 năm 1945, liên tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng ra Chỉ thị cho các địa phương: Nhân lúc này lập tức lật đổ bộ máy thống trị của thực dân, tùy từng vùng, từng điều kiện mà giành chính quyền ở xã, châu, tỉnh. Những cuộc khởi nghĩa từng phần đã diễn ra, xóa bỏ chính quyền tay sai, giành chính quyền về tay nhân dân.

Ớ Lạng Sơn, được sự chỉ đạo phối hợp của cứu quốc quân, từ tháng 4 đến tháng 7 năm 1945, dưới sự tổ chức trực tiếp của các Chi bộ Đảng, quần chúng cách mạng đã lần lượt nổi dậy giành chính quyền. Từ ngày 16 đến ngày 17 tháng 4 năm 1945, được sự hỗ trợ của đội vũ trang tuyên truyền, quần chúng huyện Bắc Sơn đã nổi dậy lần lượt giải phóng các xã Vũ Lễ, Vũ Lăng, Hưng Vũ, Bắc Sơn, Chiêu Vũ. Ngày 18 tháng 4 năm 1945, giải phóng hoàn toàn châu lỵ Bắc Sơn.

Tại Bình Gia, chớp lấy thời cơ thuận lợi, ngày 19 tháng 4 năm 1945, trung đội vũ trang tuyên truyền do đồng chí Hà Tân Cương chỉ huy đã phối hợp cùng đội vũ trang giải phóng do đồng chí Quốc Vinh chỉ huy từ Bắc Sơn sang, tiến công vào đồn Bình Gia nhanh chóng làm chủ châu lỵ Bình Gia.

Tại Hữu Lũng được sự hỗ trợ của lực lượng cứu quốc quân từ Võ Nhai sang, cùng với sự nổi dậy của lực lượng quần chúng, nsày 15 tháns 4 năm 1945, quân khởi nghĩa đã bao vây đồn địch ở phố Mẹt, cô lập chính quyền địch, thành lập Ban Việt Minh châu.

Tại Tràng Định, ngày 2 tháng 5 năm 1945, các đội vũ trang chiến đấu tấn công đồn Pò Mã xã Quốc Khánh, giải phóng hoàn toàn xã Quốc Khánh...

Hòa cùng khí thế khởi nghĩa giành chính quyền của các huyện, tại Thoát Lãng khi quân Pháp và tay sai hoang mang dao động, đội vũ trang tuyên truyền của đồng chí Hoàng Văn Kiểu và đội vũ trang của đồng chí Bế Chấn Hưng phụ trách đã phát động quần chúng giành chính quyền ở nhiều xã.

Tại Điềm He, đội vũ trang tuyên truyền do đồng chí Hà Khai Lạc và đồng chí Lý Thế Kim chỉ huy đã tới các xã Lương Năng, Tri Lẽ, Hữu Lễ tuyên truyền giác ngộ quần chúng, xây dựng các hội cứu quốc của Mặt trận Việt Minh và lực lượng tự vệ địa phương.

Đội vũ trang tuyên truyền do đồng chí Bảo An chỉ huy, phân công đồng chí Lê Huyền Trang tới các xã Xuân Mai, Đại An, Tân Đoàn v.v... xây dựng các đội cứu quốc và lực lượng tự vệ, chuẩn bị các điều kiện tiến tới giải phóng châu lỵ Điềm He.



Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn 1947 -2002
Gửi bởi: hoi_ls trong 04 Tháng Sáu, 2013, 03:25:17 PM
Trước sự chuyển biến mau lẹ của tình hình cách mạng trong toàn tỉnh, được sự chỉ đạo trực tiếp của liên tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng, giữa tháng 5 năm 1945, tại khu rừng Khau Kham, Văn Mịch (châu Bình Gia), Tỉnh ủy lâm thời Lạng Sơn đã được kiện toàn, củng cố do đồng chí Lô Quang Nam làm Bí thư. Ban Chấp hành Tỉnh ủy lâm thời gồm các đồng chí: Lô Quang Nam, Bảo An, Phan Mạnh Cư, Hoàng Văn Kiểu.

Cuối tháng 5 năm 1945, Tỉnh ủy đã đề ra chủ trương tăng cường củng cố và giữ vững vùng giải phóng, nhanh chóng xây dựng lực lượng vũ trang ở các huyện, phong trào chưa thực sự phát triển cao như ở Cao Lộc, Lộc Bình, Thị xã... để thời cơ đến sẽ kịp thời nổi dậy giành chính quyền. Để thực hiện tốt chủ trương đã đề ra, Tỉnh ủy đã mở nhiều lớp huấn luyện chính trị và quân sự tại Ba Xã (châu Điềm He).

Trước những thuận lợi mới, Tỉnh ủy đã quyết định huy động lực lượng giải phóng châu Điềm He, xây dựng căn cứ tập trung gần nhất để tiến vào giải phóng tỉnh lỵ.

Ngày 3 tháng 7 năm 1945, đội vũ trang tuyên truyền do đồng chí Hoàng Văn Kiểu chỉ huy, phối hợp với đội vũ trang tuyên truyền tỉnh Cao Bằng từ Thoát Lãng sang; cùng với sự nổi dậy của quần chúng trong huyện tiến công đánh chiếm đồn Điềm He làm chủ châu lỵ. Cùng ngày Tỉnh bộ Việt Minh đã tổ chức một cuộc mít tinh lớn khuếch trương lực lượng cách mạng, tuyên bố chính thức ra mắt trước đông đảo quần chúng.

Tỉnh bộ Việt Minh đã kêu gọi nhân dân các dân tộc trong tỉnh đoàn kết một lòng, quyết tâm giành thắng lợi cuối cùng.

Sau khi giải phóng châu ly Điềm He, các đội vũ trang tuyên truyền được tập kết tại căn cứ Ba Xã, châu Điềm He, tích cực luyện tập quân sự, chuẩn bị tiến về giải phóng tỉnh lỵ Lạng Sơn.

Giữa lúc cao trào kháng Nhật, cứu nước của nhân dân ta đang đi dần tới bước ngoặt quyết định, thì phát xít Nhật đầu hàng Liên Xô và đồng minh vô điều kiện - quân Nhật ở Đông Dương như rắn mất đầu tê liệt hoàn toàn, chính phủ tay sai Trần Trọng Kim hoang mang cực độ. Thời cơ ngàn năm có một để nhân dân ta nổi dậy giành chính quyền trong cả nước đã tới. Không thể chậm trễ. Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào (Tuyên Quang) từ ngày 13 đến 15 tháng 8 năm 1945, đã quyết định tổng khởi nghĩa, cử ra Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc để lãnh đạo cho kịp thời cơ.

Ngay đêm 13 tháng 8 năm 1945, Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc ra quân lệnh số một, hạ lệnh tổng khởi nghĩa; ngày 16 tháng 8, Đại hội quốc dân họp tại Tân Trào, nhiệt liệt tán thành chủ trương tổng khởi nghĩa của Đảng, thông qua lệnh tổng khởi nghĩa và 10 chính sách lớn của Mặt trận Việt Minh, quyết định quốc kỳ, quốc ca, cử ra Ủy ban dân tộc giải phóng (tức chính phủ Lâm thời) do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Thay mặt Quốc dân Đại hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi đồng bào cả nước “Hãy đứng dậy đem sức ta mà giải phóng cho ta”.

Mệnh lệnh tổng khởi nghĩa đã mau chóng được truyền đi trong cả nước.

Ngày 19 tháng 8 năm 1945, giành chính quyền tại Đồng Mỏ (Ôn Châu), cùng ngày huyện Hữu Lũng được hoàn toàn giải phóng.

Ngày 21 tháng 8 năm 1945, các lực lượng vũ trang và quần chúng cách mạng đã nổi dậy và làm chủ phố Thất Khê, giải phóng hoàn toàn Tràng Định.

Ngày 22 tháng 8 năm 1945, lực lượng vũ trang và quần chúng làm chủ Na Sầm giải phóng hoàn toàn Thoát Lãng.

Ngày 24 tháng 8 năm 1945, Tỉnh ủy đã triệu tập cuộc họp khẩn cấp ở Ba Xã, Điềm He (nay thuộc huyện Văn Quan), đề ra chủ trương kịp thời giải phóng thị xã Lạng Sơn, cùng ngày ban lãnh đạo khởi nghĩa của tỉnh được thành lập, quyết định giải phóng thị xã vào ngày 25 tháng 8 năm 1945.

Đêm 24 tháng 8 năm 1945, tại Ba Xã - Ban chỉ đạo khởi nghĩa của tỉnh đã tập hợp các lực lượng vũ trang từ các địa phương trong vùng giải phóng cấp tốc tiến về giải phóng thị xã.

Sáng ngày 25 tháng 8, lực lượng vũ trang và quần chúng cách mạng các vùng lân cận, bằng nhiều hướng đã tiến vào thị xã. Trước sức mạnh của các lực lượng vũ trang và lực lượng quần chúng cách mạng, tỉnh trưởng Linh Quang Vọng buộc phải đầu hàng, thị xã Lạng Sơn được giải phóng. Việc giành chính quyền ở tỉnh lỵ đã cổ vũ phong trào cách mạng ở một số huyện còn lại giành chính quyền như: Cao Lộc ngày 25 tháng 8, Lộc Bình ngày 28 tháng 8. Được sự chỉ đạo của Ban Việt Minh tỉnh, quần chúng cách mạng huyện Đình Lập đã tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền. Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Lạng Sơn đã hoàn toàn thắng lợi.

Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Lạng Sơn đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi vĩ đại của cách mạng tháng Tám trong cả nước với sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (2/9/1945).


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn 1947 -2002
Gửi bởi: hoi_ls trong 04 Tháng Sáu, 2013, 03:29:18 PM
Ngay sau cách mạng tháng Tám thành công, ngày 26 tháng 8 năm 1945, một ngày sau khi các lực lượng cách mạng của tỉnh giành được chính quyền ở thị xã, cánh quân của bọn phản động Tưởng Giới Thạch, với danh nghĩa đồng minh vào tước vũ khí quân Nhật ở nước ta, đã vào Lạng Sơn (theo đường Đồng Đăng). Với âm mưu là tiêu diệt Đảng ta, phá tan Việt Minh, giúp bọn phản động Việt Nam đánh đổ chính quyền nhân dân, để lập một chính quyền phản động làm tay sai cho chúng.

Thực hiện chủ trương của Đảng và của Tỉnh ủy, sau hơn 5 tháng, các lực lượng vũ trang và quần chúng nhân dân đã đánh bại một bước quan trọng âm mưu phá hoại cách mạng của quân Tưởng và bọn tay sai. Đến cuối tháng 6 năm 1946 quân Tưởng phải rút về nước. Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy về củng cố và tăng cường xây dựng lực lượng vũ trang, sẵn sàng đối phó với mọi khiêu khích của kẻ thù. Lực lượng vũ trang được xây dựng củng cố, thành lập Trung đoàn chủ lực đầu tiên của tỉnh là Trung đoàn 11 (sau này đổi thành Trung đoàn 28 Bộ đội chủ lực của tỉnh). Gồm 03 tiểu đoàn, do đồng chí Liên Đoàn làm Trung đoàn trưởng, Hà Thế Đỗ làm chính trị viên, Hoàng Long Xuyên làm Trung đoàn phó, Thế Hùng làm Tham mưu trưởng, lực lượng dân quân du kích và tự vệ được phát triển rộng khắp với quân số sần 10.000 đội viên.

Theo Hiệp định sơ bộ Việt - Pháp ký ngày 6 tháng 3 năm 1946, từ ngày 7 tháng 7 năm 1946, quân Pháp chiếm đóng một số điểm thuộc thị xã Lạng Sơn. Sau đó chúng đã nhiều lần vi phạm Hiệp định, gây hấn làm cho tình hình hết sức căng thẳng. Căn cứ vào tình hình thực tế và yêu cầu nhiệm vụ, tính đã quyết định thành lập Ban tác chiến từ tỉnh đến huyện, đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của các cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp, với nhiệm vụ tổ chức huấn luyện quân sự, xây dựng lực lượng vũ trang và nửa vũ trang. Cùng với lực lượng cảnh vệ, công an xung phong, các lực lượng bộ đội, dân quân tự vệ, du kích, bám đất bám dân, bảo vệ trật tự trị an. Các huyện Tràng Định, Thoát Lãng, Cao Lộc đã thành lập các đại đội bộ đội địa phương của huyện. Chỉ trong một thời gian ngắn, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ tỉnh, lực lượng vũ trang Lạng Sơn trưởng thành và phát triển nhanh chóng, nhiều đại đội đã có Chi bộ Đảng; đánh dấu bước chuyển biến về chất, đồng thời đó cũng là một nhân tố quyết định đảm bảo cho sự lớn mạnh toàn diện của lực luợng vũ trang địa phương.

Để kịp thời đối phó với những hành động gây hấn của thực dân Pháp. Quán triệt chủ trương của Đảng, cán bộ chiến sỹ trung đoàn 28 và các đội viên tự vệ tự kiềm chế, chấp hành nghiêm chỉnh chỉ thị của Trung ương: “Tránh khiêu khích, đề phòng khiêu khích, bảo vệ chính quyền, tranh thủ chuẩn bị”. Ngày 25 tháng 11 năm 1946, quân Pháp tập trung hỏa lực tấn công khu vực Hang Dê thị xã Lạng Sơn. Cuộc chiến đấu của quân và dân Lạng Sơn thực sự bắt đầu. Lạng Sơn bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Được sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, Thường trực Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh, Trung đoàn 28 và các trung đội dân quân tự vệ thị xã đã chiến đấu ngoan cường kìm chân địch trong thị xã, hướng dẫn nhân dân kịp thời sơ tán triệt để đảm bảo an toàn tính mạng và tài sản, để bảo toàn lực lượng Trung đoàn 28 và tự vệ được lệnh rút ra ngoài thị xã trong đêm 25 tháng 11.

Tiếp theo hành động khởi hấn Hải Phòng, Lạng Sơn; thực dân Pháp liên tiếp khiêu khích ở Hà Nội, ngày 18 tháng 12 năm 1946 Pháp gửi tối hậu thư cho ta; ngày 18, 19 tháng 12 Thường vụ Trung ương họp và phát động cả nước kháng chiến. Ngay đêm 19 tháng 12 năm 1946 lực lượng vũ trang ở thủ đô Hà Nội, ở các thành phố, thị xã trên miền Bắc và Bắc Trung Bộ có quân Pháp đã đồng loại nổ súng.

Ngày 19 tháng 12 năm 1946, tiếng súng toàn quốc kháng chiến bùng nổ. Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chỉ thị toàn kháng chiến của Trung ương Đảng. Lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc Lạng Sơn bình tĩnh, dũng cảm, cùng quân dân cả nước bước vào cuộc chiến đấu mới đầy hy sinh gian khổ, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, cuộc kháng chiến nhất định thắng lợi.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn 1947 -2002
Gửi bởi: hoi_ls trong 04 Tháng Sáu, 2013, 03:31:20 PM
Chương II
TỈNH ĐỘI BỘ DÂN QUÂN LẠNG SƠN TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP
(3/1947 - 10/1954)


1. Sự ra đời của Tỉnh đội bộ dân quân Lạng Sơn.

Ngay từ khi cả nước bước vào cuộc kháng chiến, cùng với việc “tiêu thổ” kháng chiến, tổ chức tản cư và tiếp cư, vấn đề xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang, tăng cường thực lực quân sự được Đảng bộ các cấp đặc biệt chú ý. Về công tác quân sự, Tỉnh ủy căn cứ theo Thông tư của Bộ quốc phòng (19/02/1947) qui định tổ chức và nhiệm vụ của dân quân, tự vệ, du kích, việc xây dựng lực lượng vũ trang ở Lạng Sơn được triển khai với qui mô lớn hơn, tốc độ nhanh hơn. Các huyện trong tỉnh vừa củng cố lực lượng đã có từ trước, vừa tích cực xây dựng thêm các đơn vị dân quân, du kích để đáp ứng với tình hình nhiệm vụ mới. Thực hiện quyết định của Chính phủ (3/1947) thành lập các Ban chỉ huy tỉnh đội, huyện đội, xã đội dân quân trực thuộc Ủy ban kháng chiến hành chính các cấp. Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng, Tỉnh ủy đã chấn chỉnh lại bộ máy lực lượng vũ trang và bán vũ trang.

Ngày 7 tháng 3 năm 1947, Ban chỉ huy tỉnh đội bộ dân quân Lạng Sơn được thành lập tại Chợ Bãi (Điềm He) do đồng chí Nguyễn Trung Tín, làm Tỉnh đội Irưởng; đồng chí Đặng Văn Sỹ làm Tỉnh đội phó; đồng chí Phan Minh Tuệ, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, làm chính trị viên tỉnh đội bộ dân quân tỉnh Lạng Sơn. Các huyện đội bộ, thị đội bộ cũng lần lượt được thành lập, ở xã thành lập xã đội bộ. Các đội dân quân du kích tập trung ở các xã, huyện tạo thành thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp.

Sự ra đời của Tỉnh đội bộ dân quân Lạng Sơn đã đánh dấu một bước phát triển mới của quá trình tổ chức và xây dựng lực lượng vũ trang địa phương. Tỉnh ủy và Ủy ban kháng chiến Hành chính tỉnh đã có một cơ quan tham mưu về công tác quân sự địa phương, trước mắt củng cố, phát triển lực lượng vũ trang xây dựng phương án tác chiến sẵn sàng đập tan mọi âm mưu, hành động quân sự của kẻ địch.

Cùng với việc kiện toàn Ban chỉ huy tỉnh đội, các cơ quan giúp việc cho Ban chỉ huy cũng được hình thành đi vào hoạt động. Đó là các Ban: Ban Chính trị do đồng chí Đào Khang làm Trưởng ban, Ban Quân sự do đồng chí Nguyễn Trung Tín phụ trách, đồng chí Lê Huyền Phong làm Trưởng ban Ban Cung cấp và Ban Hành chính.

Tháng 4 năm 1947, Công Binh xưởng được thành lập ở Kéo Coong (Điềm He) do đồng chí Nguyễn Hữu Biên phụ trách với 40 công nhân, tận dụng những phế liệu thu gom và bom đạn địch không nổ để sản xuất, sửa chữa vũ khí trang bị và lựu đạn, mìn, trang bị cho lực lượng vũ trang chiến đấu.

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ ba (12 - 15/6/1947), công tác huấn luyện chiến đấu, đào tạo cán bộ các cấp được xúc tiến khẩn trương. Bên cạnh những lớp bồi dưỡng tự mở, Tỉnh đội đã cử nhiều cán bộ dự các lóp bổ túc về quân sự, chính trị do cấp trên tổ chức.

Để đối phó với âm mưu thủ đoạn mới của địch, Tỉnh ủy Lạng Sơn quyết định: “Thiết lập mỗi huyện một vùng kháng chiến, củng cố xây dựng các khu du kích, đẩy mạnh du kích chiến tranh trong vùng địch hậu”. Các khu du kích Chi Lăng (Lộc Bình), Ba Sơn (Cao Lộc), Nà Thuộc (Đình Lập) được tăng cường cán bộ đại đội của Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 28 được bổ sung về các khu du kích làm nòng cốt nhằm xây dựng thành khu căn cứ liên hoàn tạo nên các khu vực đứns chân vững chắc, cắm sâu trong lòng địch.

Lực lượng vũ trang và nửa vũ trang các huyện trên trục đường số 4 tăng cường hoạt động, đánh du kích, ngăn chặn sự vận chuyển tiếp tế của địch. Tháng 6 năm 1947, hình thái xen kẽ cài răng lược giữa ta và địch ở Lạng Sơn đã được hình thành rõ nét. Nhằm tăng cường khả năng cơ động, có thể tác chiến với qui mô lớn hơn. Tỉnh đội bộ dân quân điều động bổ sung đủ biên chế cho Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 28) - đổi phiên hiệu là Tiểu đoàn 249 do đồng chí Bắc Quân làm Tiểu đoàn trưởng, đồng chí Nông Tuấn Phong làm chính trị viên. Trung đoàn 28 (trừ Tiểu đoàn 249), được phân tán thành các đại đội độc lập, phối hợp với dân quân du kích tại chỗ sẵn sàng đánh địch.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn 1947 -2002
Gửi bởi: hoi_ls trong 04 Tháng Sáu, 2013, 03:33:51 PM
2. Tỉnh đội bộ dân quân trong nhiệm vụ xây dựng củng cố tổ chức, lực lượng vũ trang trong tỉnh tham gia chiến dịch đường số 4, giải phóng biên giới, giải phóng Lạng Sơn (10/1950) và tham gia chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ 1954.

Tháng 7 năm 1947, Chính phủ Pháp phê chuẩn kế hoạch tấn công Việt Bắc của Xa Lăng với mục đích tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến và bộ đội chủ lực của ta, dùng thắng lợi quân sự để xúc tiến việc lập Chính phủ bù nhìn Bảo Đại, bao vây ngăn chặn đường liên lạc của ta với quốc tế.

Trước những âm mưu của thực dân Pháp, ngày 15 tháng 9 năm 1947 Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Sửa soạn phá tan những cuộc tấn công lớn của địch”, đề ra những nhiệm vụ cần kíp cho các địa phương đơn vị.

Với âm mưu tấn công lên Việt Bắc, thực dân Pháp sử dụng một lực lượng lớn gồm 12.000 quân cùng nhiều xe tăng, máy bay, đại bác theo 2 hướng, kết họp với quân nhảy dù vào căn cứ địa. Ngày 7 tháng 10 năm 1947, địch mở cuộc tấn công qui mô lớn lên Việt Bắc.

Sáng ngày 7 tháng 10, cánh quân bộ do Bôphơrê chỉ huy theo hướng đường 4 lên Cao Bằng. Đại đội bộ huyện Thoát Lãng, cùng dân quân du kích chặn đánh ở Khuổi Slin, Khuổi So, diệt nhiều tên. Những ngày sau đó dùng chiến thuật du kích, đánh địa lôi, phục kích trên đường hành quân của địch. Phải mất nửa tháng địch mới rải xong quân dọc đường số 4 từ Lạng Sơn lên Cao Bằng. Quyết chặt đứt đường số 4, phối hợp với toàn mặt trận, đập tan kế hoạch tiến công Việt Bắc của địch, đó là nhiệm vụ nặng nề, đồng thời là ý chí quyết tâm của Đảng bộ, quân và dân các dân tộc tỉnh Lạng Sơn. Tỉnh đội bộ dân quân đã điều Tiểu đoàn 249 phối hợp với dân quân du kích các địa phương bố trí phục kích tiêu diệt địch trên đường số 4 từ Lạng Sơn lên Cao Bằng.

Ngày 30 tháng 10 năm 1947, Tiểu đoàn 249 chặn đánh một đoàn xe vận tải của địch chỉ sau 25 phút chiến đấu, Tiểu đoàn 249 đã làm chủ trận địa trên đoạn đường Bông Lau - Lũng Phầy, tiêu diệt 27 xe quân sự cùng 94 tên lính Âu Phi, 55 lính ngụy, bắt sống 101 tên, thu nhiều vũ khí, quân trang quân dụng. Sau chiến thắng này, Tiểu đoàn 249 đã vinh dự được mang danh hiệu “Tiểu đoàn Bông Lau” và được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng 2.

Chiến thắng Bông Lau đã mở đầu cho hàng loạt những trận đánh oanh liệt của quân và dân ta trên mặt trận đường số 4. Phát huy chiến thắng Bông Lau, các lực lượng vũ trang Lạng Sơn đã liên tiếp tiến công địch, giành nhiều thắng lợi lớn ở Đèo Khách, Bản Nằm, Bản Trại, Lũng Vài, Lũng Phầy, Bản Trang dọc đường số 4, góp phần làm tiêu hao sinh lực địch và chia cắt kế hoạch tấn công của địch. Quán triệt chỉ thị của khu ủy khu 12 và của Tỉnh ủy, quân và dân ta ở vùng địch tạm chiếm bước đầu đã tiến hành chiến dịch phá thế kìm kẹp của địch, diệt tề trừ gian, làm thất bại âm mưu phục hồi chính quyền tay sai bù nhìn của thực dân Pháp, tùng bước làm cho địch mất chỗ dựa và ngày càng bị cô lập, khó khăn nhiều mặt.

Chiến thắng của quân và dân Lạng Sơn trên mặt trận quân sự, góp phần cùng quân dân Việt Bắc làm thất bại âm mưu tấn công lên Việt Bắc của địch. Ngày 19 tháng 12 năm 1947, chiến dịch Việt Bắc thu đông 1947 kết thúc thắng lợi, đã làm thất bại chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh” của địch.

Từ năm 1948, do bị thất bại nặng nề của kế hoạch đánh nhanh, thắng nhanh lên Việt Bắc, quân Pháp ráo riết điều thêm quân, củng cố hệ thống đồn bốt trên đường số 4 nhằm yểm trợ cho các đoàn xe vận tải chở binh lính, vũ khí đạn dược của chúng lên chiến trường Đông Khê (Cao Bằng).

Thực hiện chủ trương của tỉnh, các lực lượng vũ trang đã nhanh chóng tổ chức phục kích, tấn công các đoàn xe vận tải của địch. Ngày 8 tháng 01 năm 1948, Tiểu đoàn 23 phối hợp dân quân du kích xã Trùng Quán (Thoát Lãng), phục kích chặn đánh một đoàn xe vận tải của địch trên đoạn đường số 4 từ Bó Củng đến Lũng Vài, phá hủy 4 xe quân sự, tiêu diệt gần 2 trung đội địch, thu nhiều vũ khí quân trang, quân dụng.

Ngày 28 tháng 4 năm 1948, địch đưa 2 đại đội tiến theo đường 1 để càn quét khu vực Ba Xã (Điềm He), âm mưu tiêu diệt cơ quan đầu não của tỉnh. Hai đại đội 184, 185 cùng với dân quân du kích các xã dọc đường phối hợp đánh địch từ xa, đánh tiêu hao sinh lực địch, buộc chúng phải rút lui về thị xã Lạng Sơn. Những ngày sau đó địch tiếp tục huy động lực lượng tập trung càn quét vào vùng tự do ở các huyện Văn Uyên, Thoát Lãng, Tràng Định đã bị các đại đội bộ đội địa phương và dân quân du kích chặn đánh tiêu diệt nhiều tên địch.

Song “Phong trào du kích phát triển chưa đều chưa mạnh, chưa phát triển được thành phong trào rộng rãi trong quần chúng nhân dân, phối hợp chưa chặt chẽ giữa các đơn vị bộ đội và dân quân, du kích, trình độ tác chiến các địa phương còn yếu”. Để khắc phục tình trạng trên, tỉnh chủ trương “... phát động phong trào du kích chiến tranh rộng rãi, xây dựng và phát triển mạnh mẽ lực lượng dân quân, du kích, đặc biệt chú trọng vùng địch hậu và dọc đường giao thông, tổ chức phục kích, diệt cứ điểm nhỏ, quấy rối, giải tán hội tề, thực hiện biến hậu phương thành địa bàn hoạt động của ta”. Thực hiện chủ trương của tỉnh, các đơn vị của Trung đoàn 28 được phân tán thành các đại đội độc lập đứng chân ở các địa bàn trọng điểm làm nhiệm vụ củng cố, xây dựng cơ sở chính trị, dìu dắt dân quân du kích, đưa phong trào du kích chiến tranh phát triển lên một bước mới.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn 1947 -2002
Gửi bởi: hoi_ls trong 04 Tháng Sáu, 2013, 03:36:28 PM
Tỉnh đội bộ dân quân đã điều động Đại đội 361 về hoạt động ở địa bàn 2 huyện Thoát Lãng và Văn Uyên, phối hợp với các lực lượng dân quân du kích đánh địch bảo vệ vùng kháng chiến, chặn đường giao thông tiếp tế của địch trên đoạn đường số 4 từ Đồng Đăng đến Na Sầm.

Đại đội 186 từ khu căn cứ Bình Gia được điều về hoạt động ở huyện Tràng Định có nhiệm vụ phối hợp với du kích ngăn chặn địch, không cho chúng mở rộng kiểm soát vùng Đông Bắc, phá tan âm mưu bao vậy, cửa ngõ biên giới Việt - Trung của thực dân Pháp.

Đại đội 413 được tăng cường cho huyện Lộc Bình phối hợp với Tiểu đoàn 426 của Trung đoàn 59 (Chũ), chống địch càn quét, lấn chiếm, bảo vệ khu du kích Chi Lăng (Lộc Bình), Nà Thuộc (Đình Lập). Đồng thời có nhiệm vụ chặn đánh các đoàn xe tiếp tế của địch trên đường số 4 từ Lộc Bình đi Đình Lập.

Đại đội 185 cùng Tiểu đoàn 372 vừa làm nhiệm vụ bảo vệ khu an toàn của tỉnh ở Ba Xã (Điềm He), vừa cơ động đánh địch trên địa bàn huyện Cao Lộc, huyện Ôn Châu (nay là huyện Chi Lăng). Tiểu đoàn 249 là đơn vị chủ lực cơ động của tỉnh. Tính đến mùa hè năm 1948, lực lượng bán vũ trang, du kích tập trung Lạng Sơn phát triển tới 10.221 người, lực lượng dân quân có 35.597 người. Số lượng dân quân, du kích tăng lên đáng kể, nhưng chất lượng chưa cao. Trình độ năng lực lãnh đạo chỉ huy chưa theo kịp với nhịp độ phát triển của cuộc kháng chiến, nạn chưa biết chữ còn phổ biến trong cán bộ, chiến sỹ.

Xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ, tỉnh đã liên tục mở các lớp huấn luyện bổ túc ngắn ngày cho các thôn đội, xã đội ở các vùng tự do, vùng tranh chấp, vùng địch hậu ở các khu căn cứ Ba Xã (Điềm He), Bình Gia, Bắc Sơn, tỉnh còn cử hàng trăm lượt cán bộ quân sự tỉnh đi dự các lóp bổ túc ngắn ngày và dài hạn đào tạo bồi dưỡng kiến thức về quân sự, chính trị do Bộ Quốc phòng và Liên khu tổ chức. Với những kiến thức đã tiếp thu được qua các lớp bồi dưỡng về quân sự, các cán bộ chỉ huy trở về địa phương huấn luyện và nâng cao chất lượng đơn vị. Trung đoàn 28 điều động các đồng chí cán bộ, chiến sỹ có năng lực trong các đại đội độc lập, giúp du kích các xã và du kích huyện trong công tác huấn luyện. Các đại đội độc lập bám chặt địa bàn, vừa chiến đấu, vừa huấn luyện theo hướng tập trung đạt hiệu quả.

Du kích tập trung là lực lượng chiến đấu nòng cốt tại chỗ, đồng thời là lực lượng chủ yếu để phát triển xây dựng các đơn vị chủ lực, nên việc huấn luyện tập trung luyện tập kỹ thuật cá nhân và chiến thuật đánh du kích. Các trung đội du kích huyện Bắc Sơn, Bình Gia, Điềm He và Bằng Mạc được huấn luyện ngay trong thực tế tại huyện Tràng Định, Thoát Lãng và Ôn Châu. Khẩu hiệu “Đi làm quen với tiếng súng” được dân quân du kích khắp nơi trong tỉnh hăng hái hưởng ứng. Tháng 11 năm 1948, đồng chí Nguyễn Xuân Tiễn, giữ chức Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội bộ dân quân Lạng Sơn, đồng chí Dương An Hoa là Tỉnh đội phó. Trong năm 1948, quân và dân ở các khu du kích Ba Sơn (Cao Lộc), Chi Lăng (Lộc Bình), Nà Thuộc (Đình Lập) đã anh dũng chiến đấu tiêu diệt, tiêu hao sinh lực địch, giữ vững khu căn cứ.

Tháng 2 năm 1949, Tỉnh ủy Lạng Sơn triệu tập Hội nghị cán bộ, đánh giá công tác lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ trong năm 1948 và ra Nghị quyết về nhiệm vụ quân sự năm 1949: “Tích cực chuẩn bị mọi mặt, phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực, đánh mạnh trên đường số 4, làm chủ đường số 4 trong từng thời gian chặn đường tiếp tế của địch”. Tiếp sau, ngày 8 tháng 3 năm 1949, Tỉnh đội bộ dân quân ra chỉ thị cho các địa phương, đơn vị gấp rút chuẩn bị chiến trường, tích cực phá hoại giao thông của địch, bảo đảm đủ lương thực, thực phẩm cho các đơn vị chủ lực đóng quân trên địa bàn tỉnh, chủ động phối hợp tham gia tác chiến chuẩn bị bước vào chiến đấu. Các lực lượng vũ trang và bán vũ trang được bổ sung thêm quân số, trang bị, vũ khí đảm bảo đánh thắng địch trong mọi tình huống.

Ngày 5 tháng 3 năm 1949, một đại đội độc lập của Trung đoàn 28 phối hợp với dân quân du kích Ba Sơn tấn công đồn Ba Sơn. Sau hơn một ngày chiến đấu, toàn bộ vị trí địch ở khu vực Cao Lâu, Xuất Lễ, Mẫu Sơn đã bị ta tiêu diệt.

Ngày 25 tháng 3 năm 1949, Tiểu đoàn 249 của tỉnh cùng Tiểu đoàn 23 độc lập của liên khu phục kích chặn đánh đoàn xe vận tải của địch ở Lũng Phầy, phá hủy 53 xe, diệt 250 tên lính Âu Phi (trong đó có 2 sỹ quan); Tiểu đoàn 23 được mang danh hiệu Tiểu đoàn Lũng Phầy.

Vừa chiến đấu, vừa xây dựng, đến giữa năm 1949 nhiều đơn vị du kích được chuyển thành bộ đội địa phương sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh thành lập bộ đội địa phương (tháng 1/1949), ở Lạng Sơn các đại đội độc lập có từ trước được chuyển thành bộ đội địa phương. Cấp ủy Đảng, chính quyền các huyện đã xúc tiến khẩn trương, xây dựng mỗi huyện một đại đội bộ đội địa phương trên cơ sở các đơn vị du kích tập trung.

Ngày 18 tháng 6 năm 1949, Tiểu đoàn 249 (Bông Lau) phục kích tiêu diệt một đoàn xe vận tải từ Thất Khê lên Đông Khê (Cao Bằng), phá hủy 10 xe, diệt 100 tên. Ngày 17 tháng 7 năm 1949, theo quyết định của trên, Tiểu đoàn 249 (Bông Lau) được điều động sát nhập với một đơn vị của Trung đoàn 174 Cao Bằng và một đơn vị Trung đoàn 72 Bắc Kạn thành lập Trung đoàn 174. Tỉnh điều động 3 đại đội độc lập biên chế thành Tiểu đoàn 888 làm lực lượng chủ lực cơ động, các đại đội mang phiên hiệu 319, 320, 415. Đến cuối năm 1949, lực lượng vũ trang Lạng Sơn đã có những đại đội tiểu đoàn mạnh, trang bị tốt, trình độ tác chiến ngày một nâng cao, đáp ứng được yêu cầu mới của cuộc kháng chiến.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn 1947 -2002
Gửi bởi: hoi_ls trong 04 Tháng Sáu, 2013, 03:38:28 PM
Đến năm 1950, lực lượng dân quân du kích được phát triển rộng khắp. 10 đại đội bộ đội địa phương huyện được thành lập, bao gồm các đại đội: 815 (Cao Lộc), 817 (Ôn Châu), 819 (Lộc Bình), 820 (Văn Uyên), 822 (Thoát Lãng), 824 (Tràng Định), 826 (Bình Gia), 828 (Bắc Sơn), 830 (Bằng Mạc).

Tháng 6 năm 1950 Trung ương quyết định mở chiến dịch biên giới trên địa bàn 2 tỉnh Cao - Lạng; tầm quan trọng của chiến dịch cao, yêu cầu các địa phương trong cả nước phải phối hợp chặt chẽ.

Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, Ủy ban kháng chiến tỉnh Lạng Sơn; Ban chỉ huy tỉnh đội đã tiến hành triển khai nhiệm vụ và chỉ đạo cho tiểu đoàn chủ lực và lực luợng vũ trang của tỉnh thực hiện theo kế hoạch tác chiến đồng loạt tăng áp lực dọc đường số 4, số 1 hỗ trợ cho dân công du kích phá hoại giao thông chặt đứt con đường số 4, làm tê liệt con đường tiếp tế của địch. Từ tháng 7 đến 30 tháng 10 năm 1950, Lạng Sơn đã huy động 290.146 ngày công phục vụ cho chiến dịch trong đó có 25.201 ngày công do chị em phụ nữ tham gia. 2000 dân công tổ chức thành 5 đại đội phục vụ trực tiếp theo yêu cầu chiến dịch mở hàng trăm km đuờng, vận chuyển hàng ngàn tấn đạn, lương thực, đào 3643 hố sâu trên đường số 4, số 1, bạt 56 quãng đường, phá sập 19 cầu cống, đóng góp 200 tấn thóc, 2.500 tấn ngô, 998 con trâu, 450 con bò 243 con ngựa bảo đảm đủ thực phẩm cho bộ đội tham gia chiến dịch, đóng góp hàng chục vạn đồng cho tiền tuyến, hàng ngàn cây gỗ, tre, nứa làm cầu, lán trại, kho tàng, bệnh viện.

Đúng 6 giờ ngày 16 tháng 9 năm 1950, ta tiến công cụm cứ điểm Đông Khê mở màn cho chiến dịch. Sau 02 ngày đêm chiến đấu kiên quyết dũng cảm ta đã làm chủ Đông Khê. Những ngày tiếp đó ta tiêu diệt 2 binh đoàn Sác Tông và Lô-Pa-Giơ.

Khi Đông Khê bị đánh, địch đưa tiểu đoàn Ta Bo số 3 từ Đồng Đăng lên Đông Khê ứng cứu đã bị Tiểu đoàn 428 và đại đội 822 (Thoát Lãng) chặn đánh quyết liệt ở Pắc Luống diệt 4 xe ô tô, 60 tên, buộc địch phải rút về Đồng Đăng. Ngày 17 tháng 9 năm 1950, chúng tiếp tục hành quân tại Tà Lài, Tiểu đoàn 888 Lạng Sơn và đại đội 820 (Văn Uyên) diệt 02 xe ô tô, 120 tên buộc địch rút về Đồng Đăng. Sau trận Tà Lài, Pắc Luống, bộ đội và du kích huyện Đình Lập, Lộc Bình, Cao Lộc, Ôn Châu, Hữu Lũng đã liên tiếp đánh và bứt rút một số đồn bốt trên đường số 4, số 1. Bộ đội du kích huyện Thoát Lãng, Văn Uyên, Tràng Định, phối hợp chặt chẽ chặn bước tiến của Binh đoàn Lơ-Pa-Giơ; mãi đến ngày 19 tháng 8 năm 1950, chúng mới tới Thất Khê.

Thất bại ở Đông Khê, Cao Bằng, địch càng hoang mang, ta đoán được ý định rút lui của địch đã tổ chức chuyển lực lượng bao vây Thất Khê. Đêm 8 tháng 10 năm 1950. Tiểu đoàn 888 Lạng Sơn đã đánh đồn Bản Trại, đêm 9 tháng 10 cùng với du kích Tràng Định đánh sập cầu Bản Trại. Trước sức mạnh tiến công liên tiếp của quân và dân ta trên dọc đường số 4; đêm 10 tháng 10 địch rút khỏi Thất Khê, Tiểu đoàn 888 Lạng Sơn được lệnh truy kích địch; tại Bản Nằm, Đại đội 813 của Tiểu đoàn 888 chặn đánh tiêu diệt và bắt sống 120 tên. Bộ đội địa phương và dân quân du kích đều tích cực truy kích buộc địch rút khỏi Na Sầm, Đồng Đăng; 24 giờ ngày 17 tháng 10 năm 1950, địch rút khỏi thị xã Lạng Sơn. Tỉnh ủy và Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh chỉ đạo cho lực lượng vũ trang và nhân dân thị xã nhanh chóng tiếp quản giải quyết hậu quả ổn định đời sống.

Chiến dịch biên giới đã kết thúc thắng lợi diệt và bắt sống 8300 tên (trong đó có 2 cơ quan chỉ huy binh đoàn), thu nhiều vũ khí trang bị và kho tàne của địch, giải phóng 5 thị xã, 13 thị trấn với 35 vạn dân, căn cứ địa Việt Bắc được mở rộng, đường biên giới được khai thông, nước ta được nối liền với các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới.

Qua chiến dịch biên giới, quân và dân ta đã thể hiện khả năng to lớn, chiến đấu dũng cảm giành thắng lợi hoàn toàn, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, tin tưởng vào sức mạnh của chiến tranh nhân dân, đã mang lại ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là chiến dịch mở màn cho các chiến dịch về sau giành thắng lợi. Đồng chí Hoàng Long Xuyên, giữ chức vụ tỉnh đội trưởng tỉnh đội bộ dân quân Lạng Sơn (từ tháng 4 năm 1950 đến tháng 2 năm 1951). Từ tháng 8 năm 1951 đến năm 1956, đồng chí Lý Thế Kim, giữ chức vụ tỉnh đội trưởng tỉnh đội bộ dân quân tỉnh Lạng Sơn, đồng chí Trần Định, giữ chức vụ chính trị viên từ 11/1950 đến tháng 12/1954.

Sau giải phóng nhằm tăng cường sức mạnh, bảo vệ căn cứ kháng chiến và địa bàn biên giới vừa được giải phóng, hai Tiểu đoàn 888, 999 bộ đội địa phương tỉnh cùng cơ quan tỉnh đội sát nhập thành Trung đoàn 176, sau đó Trung đoàn 176 chuyển sang Sư đoàn 316 vừa được thành lập tháng 5 năm 1951, nhiệm vụ xây dựng cơ quan quân sự địa phương lúc này đặt ra hết sức cấp bách. Năm 1951, cơ quan tỉnh đội bộ dân quân từ Kéo Coong (Bình Gia) được chuyển về đóng tại xã Hồng Phong (Văn Uyên), cuối năm 1951 chuyển về tại thị xã Lạng Sơn.

Để bổ sung quân số cho các đại đoàn chủ lực của Bộ Tổng tư lệnh và các Trung đoàn bộ đội địa phương, Tỉnh ủy đã phát động “toàn dân khuyến khích vận động thanh niên tòng quân”. Kết quả, trong các đợt tuyển quân năm 1951 hoàn thành chỉ tiêu trên giao. Lạng Sơn đã cung cấp đủ quân số một trung đoàn bổ sung cho các đơn vị chủ lực. Tính đến tháng 10 năm 1952, toàn tỉnh đã có 41.181 dân quân du kích, trong đó có 3.018 dân quân xung phong với chức năng hoạt động phối hợp với bộ đội tác chiến và 11.801 dân quân thường có nhiệm vụ bảo vệ cầu cống, đường giao thông, giữ gìn trật tự trị an địa phương. Nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới, tỉnh đội đã chỉ đạo chặt chẽ việc chỉnh huấn, chỉnh quân. Tổ chức huấn luyện cho bộ đội và dân quân du kích theo đúng chương trình kế hoạch cấp trên đề ra. sẵn sàng chiến đấu và phục vụ chiến đấu thắng lợi.

Giữa lúc quân dân Lạng Sơn đang tập trung nỗ lực giải quyết những nhiệm vụ trong hoàn cảnh của tỉnh vừa được giải phóng. Ngày 17 tháng 7 năm 1953, Pháp đưa 2 tiểu đoàn biệt kích nhảy dù xuống thị xã Lạng Sơn, nhằm phá hủy kho tàng, tiêu diệt cơ quan chỉ đạo kháng chiến của tỉnh; Pháp cho quân đánh chiếm động Tam Thanh, phá hủy kho vũ khí của ta; 20 chiến sỹ dân quân đã chiến đấu ngoan cường, đẩy lùi nhiều đợt tiến công của địch bảo vệ kho tàng an toàn. 14 giờ cùng ngày địch rút khỏi Lạng Sơn.

Sau đợt tập kích của địch, Tỉnh đội tổ chức rút kinh nghiệm nghiêm khắc chỉ ra khuyết điểm như: Chủ quan mất cảnh giác, kế hoạch phòng thủ sơ hở, sẵn sàng chiến đấu không cao, nên khi địch tập kích ta không kịp đối phó. Qua bài học kinh nghiệm trên, tỉnh đề ra biện pháp tăng cường củne cố xây dựng lực lượng bộ đội địa phương, củng cố ban chỉ huy từ cấp huyện đến xã đủ số lượng, có kế hoạch sơ tán khi tình huống xẩy ra.

Trước yêu cầu chi viện của tiền tuyến, trong thời gian ngắn từ cuối năm 1953 đến giữa năm 1954, tỉnh đã huy động được 700 tân binh bổ sung cho lực lượng vũ trang quân khu để huấn luyện, điều động tham gia chiến đấu trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 và chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ. Nhiều chiến sỹ của quê hương Xứ Lạng đã có mặt hầu hết ở các mặt trận nóng bỏng, anh dũng chiến đấu, lập được những chiến công xuất sắc, góp phần xương máu của mình vào thắng lợi chung của toàn quân và toàn dân ta.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn 1947 -2002
Gửi bởi: hoi_ls trong 04 Tháng Sáu, 2013, 04:04:37 PM
Chương III
TỈNH ĐỘI LẠNG SƠN KHÔNG NGỪNG ĐƯỢC XÂY DỰNG, CỦNG CỐ VÀ TRƯỞNG THÀNH TRONG CUỘC
KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1955 - 1975)


1. Tỉnh đội Lạng Sơn thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc sau hòa bình lập lại ở miền Bắc 1955 - 1964.

Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ và sau Hiệp định Giơnevơ về việc lập lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Nhân dân miền Nam phải tạm thời chịu ách thống trị thục dân kiểu mói của đế quốc Mỹ và bọn tay sai phản động, tiếp tục cuộc đấu tranh chống các thế lực xâm lược và bè lũ tay sai.

Nhiệm vụ chung của cách mạng cả nuớc lúc này là: Hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, cả nước cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Ngay sau khi cách mạng chuyển sang giai đoạn mới, ngày 17 tháng 7 năm 1954, Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết về “Tình hình mới nhiệm vụ mới”, nêu rõ nhiệm vụ chính trị của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong giai đoạn trước mắt là:

- Tranh thủ và củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong toàn quốc.

- Tăng cường lực lượng quân sự, xây dựng một quân đội nhân dân hùng mạnh, thích hợp với yêu cầu của tình hình mới.

- Tiếp tục thực hiện người cày có ruộng, ra sức phục hồi sản xuất, chuẩn bị mọi điều kiện kiến thiết nước nhà.

Xuất phát từ đặc điểm tình hình đất nước, nghị quyết Bộ Chính trị (9/1954) đề ra nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, trong đó có nhiệm vụ của quân đội. Nghị quyết của Bộ Chính trị chỉ rõ: “Quân đội nhân dân là trụ cột chủ yếu nhất, chắc chắn nhất để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hòa bình. Cho nên tăng cường quân đội nhân dân là nhiệm vụ rất quan trọng của Đảng, Chính phủ và của toàn thể nhân dân ta”. Thực hiện các nghị quyết của Đảng, Tỉnh đội Lạng Sơn không ngừng được củng cố về mọi mặt. Từ cuối năm 1954, lực lượng thường trực của Lạng Sơn có một tiểu đoàn bộ đội bảo vệ (5 đại đội). Năm 1956, giải thể đại đội 53, đại đội 49, tiểu đoàn bảo vệ lấy phiên hiệu là 324 gồm có các đại đội 47, đại đội 51 và đại đội Văn Uyên (C370). Tỉnh đội đã nhanh chóng điều chỉnh lại nhiệm vụ cho các đơn vị. Đại đội 47 làm nhiệm vụ bảo vệ trụ sở phái đoàn Ủy ban quốc tế tại Đồng Đăng và tuyến đường sắt từ Hữu Nghị Quan đến Bản Thí. Đại đội 57 làm nhiệm vụ bảo vệ tuyến đường sắt từ Lạng Sơn đến ga Voi Xô (Hữu Lũng) và các vùng lân cận xung quanh khu vực Nhà máy phốt phát Vĩnh Thịnh. Đại đội 57 phối hợp cùng lực lượng dân quân tự vệ giữ gìn an ninh trật tự ở 2 huyện Hữu Lũng và Ôn Châu.

Đại đội Văn Uyên (370) làm nhiệm vụ bảo vệ khu kho 370 và các vùng xung quanh (sau đó đại đội 50 sáp nhập vào 370). Sau đợt chỉnh biên cuối năm 1956 đầu năm 1957, mỗi đại đội được biên chế là 134 đồng chí, tiểu đoàn bộ 9 đồng chí.

Nhằm thực hiện kế hoạch quân sự 5 năm lần thứ nhất (1955 - 1959) của Bộ Tổng tham mưu. Trong công tác xây dựng lực lượng bộ đội thường trực tập trung vào các nội dung: Một là tổ chức biên chế; Hai là trang bị vũ khí; Ba là huấn luyện chính qui về quân sự, chính trị, văn hóa, thể lực; Bốn là huấn luyện cán bộ; Năm là thực hiện các điều lệnh; Sáu là kiện toàn cơ quan tham mưu; Bẩy là xây dụng và nâng cao cơ sở vật chất; Tám là tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về công tác chính trị.

Cuối năm 1955, các đơn vị bảo vệ của Lạng Sơn bước vào đợt huấn luyện quân sự đầu tiên trong điều kiện thời bình với nội dung chương trình thống nhất, trong đó trọng tâm là các nội dung về kỹ thuật, chiến thuật cấp phân đội. Từ cuối năm 1956, nội dung huấn luyện được bổ sung thêm về điều lệnh nội vụ, điều lệnh đội ngũ, điều lệnh cảnh bị, điều lệnh kỷ luật. Từ năm 1955 đồng chí Hoàng Văn Mào (tức Hoàng Việt Long là chính trị viên phó Tỉnh đội Lạng Sơn).

Sau ba năm huấn luyện (1955 - 1957), cơ bản về trình độ kỹ, chiến thuật cá nhân cũng như phân đội nhỏ (cấp tiểu đội, trung đội) của các đơn vị được nâng lên, đó là cơ sở để lực lượng vũ trang Lạng Sơn hòa mình cùng với toàn quân thực hiện tiến dần lên chính quy hóa, hiện đại hóa, đáp ứng và hoàn thành những nhiệm vụ chiến đấu trước mắt cũng như lâu dài về sau này.

Trong công tác giáo dục chính trị, Đảng bộ Tỉnh đội Lạng Sơn đã chú trọng giáo dục cho toàn thể cán bộ, chiến sỹ về bản chất giai cấp, về cách mạng xã hội chủ nghĩa, về lý tưởng của người thanh niên, người quân nhân cách mạng v.v... Qua học tập đã khắc phục và giải quyết kịp thời những thắc mắc của bộ đội, chấn chỉnh những biểu hiện lệch lạc, mơ hồ tâm lý và hành động thường xảy ra sau chiến tranh như vấn đề đãi ngộ, hưởng thụ, vấn đề nghỉ ngơi v.v... Đồng thời chú ý giáo dục về đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, ý thức tổ chức kỷ luật. Giáo dục chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước. Tổ chức học tập văn hóa để nâng cao trình độ và xóa mù chữ.

Trong huấn luyện cũng như trong xây dựng lực lượng vũ trang tiến bộ, vững chắc và toàn diện, phong trào thi đua học tập, rèn luyện, lao động sản xuất được phát động rộng rãi, thường xuyên liên tục, cán bộ chiến sỹ đều hăng hái tham gia, từ Ban chỉ huy tỉnh đội đến huyện, thị, các đơn vị thường trực cũng như các lực lượng tự vệ, công an vũ trang.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn 1947 -2002
Gửi bởi: hoi_ls trong 04 Tháng Sáu, 2013, 04:06:56 PM
Năm 1958, lực lượng dân quân tự vệ Lạng Sơn có 5.549 đồng chí, trong đó có 450 nữ, số cán bộ xã đội là 657 nam và 13 nữ (trong đó có 63 cấp ủy, 142 đảng viên). Cán bộ tiểu đội 327 nam và 54 nữ (có 39 đảng viên).

Năm 1960, lực lượng dân quân tự vệ Lạng Sơn có bước phát triển mới, đặc biệt là lực lượng tự vệ trong các nhà máy, hầm mỏ. Tiểu đoàn tự vệ mỏ than Na Dương được thành lập ngày 01 tháng 11 năm 1960. Đồng chí Hoàng Liên Đoàn làm tiểu đoàn trưởng, đồng chí Vi Long Chương tiểu đoàn phó, đồng chí Nông Lân Anh chính trị viên, đồng chí Trần Lâm Thanh chính trị viên phó tiểu đoàn. Tổng số dân quân tự vệ năm 1960 toàn tỉnh có 16.914 đồng chí bằng 6,47% dân số. Trong đó dân quân có 13,25% (dân quân: 6.217 đồng chí, 143 nữ) số tự vệ có 3.658 đồng chí. Gồm 1.409 ở xí nghiệp, 1.897 ở cơ sở cơ quan, 352 ở khu phố.

Lực lượng dân quân tự vệ được biên chế tổ chức thành 1 tiểu đoàn, 10 đại đội, 477 trung đội, 1.598 tiểu đội.

Công tác hậu bị cũng được chú trọng, các đồng chí quân nhân phục viên xuất ngũ về địa phương đều làm tốt công tác đăng ký. Toàn tỉnh có 2.253 quân dự bị loại 1 (1.146 sỹ quan và 1.107 binh sỹ) gồm các binh chủng bộ binh, pháo binh, phòng không, công binh, thông tin, vận tải, quân y. Quân dự bị 2 có 3.820 đồng chí.

Năm 1961, đồng chí Hoàng Bình Khuyên (tức Hoàng Bình Kim) giữ chức Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Lạng Sơn, đồng chí Nông Minh Lâm (tức Nông Kim Khanh) giữ chức chính trị viên phó Tỉnh đội Lạng Sơn.

Năm 1962, lực lượng dân quân tự vệ có 23.082 đồng chí (bằng 6,03% dân số) vượt chỉ tiêu Quân khu đề ra 2.297 đồng chí.

Giữa lúc quân dân miền Bắc đang ra sức lao động xây dựng chủ nghĩa xã hội, thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965) và thực hiện kế hoạch quân sự lần thứ 2 (1961 - 1965), thì đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, hòng móc nối với bọn phản động, thổ phỉ, đặc vụ còn nằm vùng để gây các vụ phá hoại cơ sở kinh tế, quốc phòng của ta.

Ngày 22 tháng 6 năm 1961, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra chỉ thị số 2-CT/TW về việc đối phó với hoạt động gián điệp, biệt kích Mỹ ngụy phá hoại miền Bắc nước ta. Đảng ủy Bộ tư lệnh Quân khu đã mở hội nghị liên tịch trong 10 tỉnh của Quân khu triển khai kế hoạch phòng chống và bắt gián điệp biệt kích trên địa bàn của từng huyện.

Thực hiện kế hoạch tác chiến của Quân khu, Tỉnh đội Lạng Sơn đã xây dựng được các phương án kế hoạch phòng chống được tập dượt, các ký tín hiệu được ban hành, các tổ tuần tra được canh gác chặt chẽ. Các trung đội, tiểu đội phòng không và cả súng bộ binh tập luyện bắn máy bay địch bay đêm. Tất cả đã ở thế sẵn sàng bắt gọn nếu địch liều lĩnh cho biệt kích nhảy dù xuống Lạng Sơn.

Vào hồi 0 giờ 50 phút ngày 12/4/1963, Công an huyện Đình Lập báo cho biết có một máy bay bay từ biển vào qua Đình Lập hướng lên Lộc Bình vào Lục Ngạn (Hà Bắc). Đến 3 giờ 45 phút ngày 13/4/1963, Lạng Sơn nhận được điện của Bộ Công an và của tỉnh Hà Bắc (nay là tỉnh Bắc Giang) cho biết: “Địch thả biệt kích xuống xã Kiên Lao, huyện Lục Ngạn (Hà Bắc), ta nhặt được 6 dù người, yêu cầu Lạng Sơn triển khai kế hoạch phối hợp bắt biệt kích”.

Ban chỉ huy chống biệt kích được thành lập, bao gồm 1 đồng chí trong Tỉnh ủy làm trưởng ban, 1 đồng chí Công an vũ trang, 1 đồng chí Tỉnh đội làm ủy viên. Ban chỉ huy nhanh chóng điều động lực lượng bao vây phong tỏa để Hà Bắc bắt gọn địch. Vòng vây triển khai từ Hòa Thắng, Hòa Sơn, Hòa Lạc, Tân Thành (Hữu Lũng), Quang Lang, Chi Lăng và Quan Sơn (Ôn Châu), những điểm cần tập trung là Tân Thành, Hòa Thắng, Hòa Sơn.

Sau 11 ngày đêm liên tục bao vây truy lùng, ta đã diệt và bắt gọn toán biệt kích của ngụy gồm 6 tên (Hà Bắc bắt 2, Lạng Sơn bắt 3, bắn chết 1), lực lượng ta bị thương 2 dân quân, 1 bộ đội hy sinh.

Ngày 27 tháng 3 năm 1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập hội nghị chính trị đặc biệt nhằm tăng cường đoàn kết nhất trí của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trước âm mưu xâm lược của Đế quốc Mỹ. Người tuyên bố: “... Nếu chúng liều lĩnh động đến miền Bắc thì nhất định chúns; sẽ bị thất bại thảm hại, vì nhân dân cả nước ta sẽ kiên quyết đánh bại chúng...”. Người kêu gọi: “... Mỗi người phải làm việc bằng hai để đền đáp lại cho đồng bào miền Nam ruột thịt”.

Hưởng úng lời kêu gọi thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân dân Lạng Sơn hăng hái thi đua đẩy mạnh sản xuất, phục vụ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu thắng lợi.

Ngày 2 tháng 4 năm 1964, Phủ Thủ tướng ra chỉ thị khẩn trương triển khai công tác phòng không nhân dân nhằm hạn chế thiệt hại khi có máy bay địch bắn phá.

Ngày 5 tháng 8 năm 1964, đế quốc Mỹ đã huy động không quân và hải quân đánh phá trên toàn luyến duyên hải miền Bắc Việt Nam. Với ý chí quyết thắng giặc Mỹ xâm lược, quân và dân miền Bắc đã anh dũng đánh trả bọn xâm lược, bắn rơi 8 máy bay, bắt sống giặc lái. Trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn từ cuối năm 1964, máy bay địch đã liên tiếp xâm phạm không phận Lạng Sơn 15 lần để trinh sát và khiêu khích. Chúng thả truyền đơn và đồ vật xuống địa phận các huyện Hữu Lũng, Chi Lăng, Cao Lộc, Lộc Bình...

Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, chính quyền các cấp, lực lượng vũ trang Lạng Sơn cùng với nhân dân các dân tộc trong tỉnh vừa trực tiếp tham gia củng cố xây dựng kinh tế, văn hóa, bảo vệ trật tự trị an xa hội. Tích cực củng cố, xây dựng lực lượng vũ trang theo hướng từng bước tiến lên chính qui, hiện đại. Lực lượng vũ trang Lạng Sơn trưởng thành nhanh chóng, đảm bảo số lượng và chất lượng, trình độ nhận thức của cán bộ và chiến sỹ được nâng lên về mọi mặt. Thường xuyên duy trì bảo đảm các chế độ qui định, sẵn sàns chiến đấu, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Lực lượng; dân quân tự vệ được củng cố xây dựng rộng khắp trong tỉnh. Đó là yếu tố bảo đảm cho Lạng Sơn trong những năm chống chiến tranh phá hoại ác liệt của đế quốc Mỹ, vẫn đứng vững và là hậu phương vững chắc đối với tiền tuyến lớn miền Nam.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn 1947 -2002
Gửi bởi: hoi_ls trong 04 Tháng Sáu, 2013, 04:09:03 PM
2- Tỉnh đội Lạng Sơn trong chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ, tích cực chi viện cho chiến trường, góp phần vào thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1965 - 1975.

Ngày 7 tháng 2 năm 1965 đế quốc Mỹ sử dụng không quân mở chiến dịch “Mũi lao lửa” ném bom thị xã Đồng Hới (tỉnh Quảng Bình). Tiếp đó, ngày 2 tháng 3 năm 1965 chúng mở chiến dịch “Sấm rền” đánh phá liên tục ác liệt đối với miền Bắc.

Ban chấp hành Trung ương Đảng họp hội nghị Trung ương lần thứ 11 (khóa III) ra nghị quyết về tình hình nhiệm vụ cấp bách của cách mạng nước ta. Nghị quyết nêu rõ “... Tình hình một nửa nước có hòa bình đã biến thành tình hình cả nước có chiến tranh với hình thức và mức độ khác nhau ở mỗi miền... Miền Nam vẫn là tiền tuyến lớn, miền Bắc vẫn là hậu phương lớn, nhưng nhiệm vụ của miền Bắc là vừa xây dựng, vừa trực tiếp chiến đấu, vừa chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam”, “Tiếp tục xây dựng miền Bắc, kết hợp xây dựng kinh tế và tăng cường quốc phòng, kiên quyết bảo vệ miền Bắc, đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại và phong tỏa bằng không quân và hải quân của địch...”. Nghị quyết chỉ rõ việc chuyển hướng nền kinh tế - xã hội miền Bắc từ thời bình sang thời chiến. Quán triệt và thực hiện Nghị quyết lần thứ 11 của Ban chấp hành Trung ương Đảng. Tỉnh ủy Lạng Sơn đã đề ra phương châm chỉ đạo sát hợp và tích cực lúc này là: “Trong bối cảnh và tình hình mới đòi hỏi phát triển sản xuất phải kết hợp với tăng cường củng cố quốc phòng, vừa sản xuất, vừa chuẩn bị lực lượng sẵn sàng chiến đấu. Nếu địch tiến hành chiến tranh phá hoại trên địa bàn của tỉnh thì quân và dân các dân tộc cần nêu cao quyết tâm đánh địch ngay từ trận đầu”.

Thực hiện quyết định của Quân khu, trong tháng 5 năm 1965, Tỉnh đội đã xúc tiến tổ chức 2 đại đội pháo cao xạ súng phòng không 12,7 ly và 1 trung đội công binh. Chọn đại đội phòng không 101 làm đơn vị điểm, thường xuyên luyện tập sẵn sàng chiến đấu. Hưởng ứng phong trào thanh niên “3 sẵn sàng” được đoàn viên thanh niên các dân tộc Lạng Sơn hăng hái tham gia. Đến giữa tháng 5 năm 1965 toàn tỉnh đã có 21.000 đoàn viên thanh niên đăng ký tham gia các phong trào và nộp đơn tình nguyện nhập ngũ, bổ sung lực lượng cho quân đội. Đến tháng 5 năm 1965, đồng chí Hoàng Bình Khuyên (tức Hoàng Bình Kim), tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Lạng Sơn được điều sang đơn vị khác, đồng chí Lý Quốc Tài giữ chức tỉnh đội phó Tỉnh đội Lạng Sơn, đồng chí Chu Việt Cường là chính trị viên Tỉnh đội Lạng Sơn.

Cùng với việc tăng cường củng cố các đơn vị chủ lực, Tỉnh đội đã có kế hoạch phối hợp với các cấp, các ngành, đoàn thể ở các địa phương trong tỉnh củng cố các đơn vị dân quân tự vệ. Đến giữa năm 1965, toàn tỉnh đã xây dựng được lực lượng dân quân hơn 3.000 người, được trang bị vũ khí đầy đủ và được chỉ đạo huấn luyện tác chiến theo phương án phối thuộc do Tỉnh đội xây dựng. Công tác tuyển quân đợt 1 và các đợt khác trong năm 1965 đã có 1.918 thanh niên lên đường nhập ngũ.

Trong khi quân và dân Lạng Sơn đang khẩn trương thực hiện sơ tán, tích cực xây dựng lực lượng, chuẩn bị mọi mặt sẵn sàng chiến đấu. Ngày 20 tháng 9 năm 1965, máy bay Mỹ chính thức bắn phá các mục tiêu như thị trấn Đồng Mỏ, ga Đồng Mỏ, cầu Sông Hóa, ga Sông Hóa, thị trấn Mẹt thuộc địa phận Lạng Sơn. Với tinh thần cảnh giác cao, đại đội phòng không 101 pháo cao xạ phối hợp với các đơn vị bạn, đã nổ súng bắn rơi tại chỗ 1 máy bay phản lực Mỹ. Chiến công của đại đội 101 đã ghi một dấu son, mở ra những trang sử chiến công nối tiếp chiến công của các lực lượng vũ trang Lạng Son. Ngày 5 tháng 10 năm 1965, máy bay Mỹ lại điên cuồng bắn phá thị xã Lạng Sơn và các mục tiêu phía Nam của tỉnh, bộ đội pháo cao xạ và các đơn vị dân quân chiến đấu ở thị xã, Chi Lăng và Hữu Lũng đã bắn cháy 2 máy bay phản lực Mỹ (trong đó có chiếc thứ 50 của Quân khu).

Từ tháng 4 năm 1966, địch tăng cường đánh phá ác liệt Lạng Sơn, đặc biệt là địa bàn 2 huyện Chi Lăng và Hữu Lũng. Trước tình hình đó, Tỉnh ủy ra nghị quyết chỉ rõ: “Nhiệm vụ công tác quân sự địa phương là phải đẩy mạnh hơn nữa, tăng cường phát động nhân dân các dân tộc trong tỉnh đoàn kết nhất trí cao độ, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Muốn vậy phải tích cực xây dựng lực lượng vũ trang một cách toàn diện, bảo đảm trong sạch về đội ngũ, vũng vàng về tư tưởng, mạnh về tổ chức”.

Ngày 20 tháng 4 năm 1966, Ủy ban hành chính tỉnh ra quyết định số 266/QĐ thành lập Đại đội 12,7 ly phòng không của tỉnh, phiên hiệu là Đại đội 4. Tiếp đó căn cứ vào quyết định của Bộ tư lệnh Quân khu Việt Bắc (6/7/1966), về tổ chúc xây dựng lực lượng công binh trọng điểm. Ủy ban hành chính tỉnh quyết định thành lập 2 đại đội công binh 815 (Kỳ Lừa), 817 (Mẹt) và trung đội 20 trực thuộc Tỉnh đội.

Những ngày tháng 9 năm 1966, không quân Mỹ tiếp tục trinh sát và đánh phá vùng phía nam của tỉnh. Với tinh thần sẵn sàng chiến đấu cao, ngày 9 tháng 9 năm 1966, khi máy bay Mỹ lao vào bắn phá, quân dân Lạng Sơn đã trừng trị đích đáng, bắn rơi 1 chiếc F. 101, bắt sống giặc lái. Đây là chiếc máy bay Mỹ thứ 1.400 bị bắn rơi trên miền Bắc. Từ năm 1965 đến năm 1968, quân và dân Lạng Sơn phối hợp với lực lượng phòng không của Bộ đã bắn rơi 66 máy bay Mỹ, bắt sống giặc lái.

Công tác củng cố xây dựng lực lượng bổ sung cho chiến trường là một trong những nhiệm vụ quan trọng của hậu phương miền Bắc đối với tiền tuyến lớn miền Nam. Căn cứ vào tình hình của từng địa phương, Quân khu Việt Bắc giao cho Lạng Sơn xây dựng tiếp 2 tiểu đoàn: Tiểu đoàn Bắc Sơn 2 và Bắc Sơn 3 để bổ sung cho chiến trường. Rút kinh nghiệm việc xây dựng tiểu đoàn Bắc Sơn 1 trước đây. Đảng ủy Tỉnh đội tập trung chỉ đạo chặt chẽ, toàn diện ngay từ khi mới giao quân và trong quá trình xây dựng. Vì thế hầu hết những chiến sỹ là con em các dân tộc thuộc tiểu đoàn 2 và 3 đều chấp hành tốt mọi qui định. Do yêu cầu của chiến trường, tiểu đoàn 2 mới huấn luyện được 2 tháng đã nhận lệnh lên đường vào Nam với quân số 623 cán bộ chiến sỹ (có 59 đảng viên, 331 đoàn viên). Tiểu đoàn 3 Bắc Sơn sau 3 tháng huấn luyện đạt kết quả tốt được bổ sung thêm trang bị và một thời gian sau cũng nhận lệnh vào chiến trường với quân số 648 cán bộ, chiến sỹ (có 125 đảng viên, 336 đoàn viên). Các tiểu đoàn Bắc Sơn 1, Bắc Sơn 2, Bắc Sơn 3 vào chiến trường đã phát huy truyền thống “Bắc Sơn khởi nghĩa” năm xưa, chiến đấu dũng cảm, nhiều tập thể và cá nhân đã lập chiến công oanh liệt, góp phần cùng quân và dân ta đánh bại “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn 1947 -2002
Gửi bởi: hoi_ls trong 04 Tháng Sáu, 2013, 04:10:25 PM
Bên cạnh việc xây dựng lực lượng bổ sung cho chiến trường, Đảng ủy Tỉnh đội tập trung chỉ đạo tốt công tác động viên tuyển quân. Trong năm 1968, Lạng Sơn đã tuyển được 5.293 thanh niên nhập ngũ, tăng gấp 4 lần so với năm 1965.

Theo chỉ thị của Bộ tư lệnh Quân khu, tiểu đoàn pháo cao xạ Lạng Sơn giải thể 2 đại đội, còn lại đại đội 100 chuyển sang làm nhiệm vụ cơ động, sẵn sàng chiến đấu trên địa bàn Việt Bắc.

Đại đội 54 bộ đội địa phương tỉnh tách thành 2 bộ phận, phần lớn chuyển về Quân khu làm nhiệm vụ xây dụng công trình quốc phòng, số còn lại giải thể.

Tỉnh đội luôn chú trọng củng cố toàn diện đội ngũ cán bộ cơ sở của dân quân tự vệ. Đồng thời phát triển lực lượng để làm lực lượng nòng cốt bảo đảm giao thông vận tải, giữ gìn trật tự an ninh địa phương. Năm 1968 tỉnh phát triển được 3.842 dân quân tự vệ (2.242 nữ), đưa tổng số dân quân toàn tỉnh lên 39.258 người, chiếm 11,69% so với số dân, trong đó có 27.085 dân quân và 12.173 tự vệ. Tuy lực lượng thường trực giảm, nhưng quân và dân Lạng Sơn vẫn hoàn thành nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, bảo đảm giao thông thông suốt, chi viện kịp thời cho tiền tuyến.

Trước sự thất bại ở miền Bắc và miền Nam, ngày 01 tháng 11 năm 1968, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn phải tuyên bố chấm dứt không điều kiện việc ném bom bắn phá miền Bắc, sau đó chấp nhận đàm phán với ta tại Pa-ri.

Cuộc chiến tranh nhân dân của quân và dân ta trên miền Bắc chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ lần thứ nhất kết thúc thắng lợi.

Tranh thủ miền Bắc tạm ngừng tiếng bom đạn, Tỉnh đội và cơ quan quân sự các cấp chú trọng huấn luyện dân quân, tự vệ, nhằm nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật, sẵn sàng chiến đấu cao. Tỉnh đã thực hiện huấn luyện cho 614 tiểu đội và 76 đại đội tự vệ, 664 xã đội.

Tháng 5 năm 1969, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra Nghị quyết về tình hình nhiệm vụ mới, trong đó nêu rõ: “Động viên sự nỗ lực cao nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trên cả hai miền, phát huy thắng lợi đã đạt được, đánh cho Mỹ phải rút quân, đánh cho ngụy phải suy sụp... tiến tới thống nhất nước nhà”.

Chấp hành Nghị quyết của Quân ủy Trung ương về tăng cường công tác quân sự địa phương, ngày 8 tháng 7 năm 1969, Tỉnh ủy ra Chỉ thị số 25-CT/TU về công tác quân sự địa phương nêu rõ: Đối với dân quân, tự vệ phải chú ý lãnh đạo chặt chẽ về tư tưởng, tổ chức và công tác để có khả năng làm nòng cốt trong sản xuất, bảo vệ trị an và bổ sung cho chủ lực. Phải thực hiện đầy đủ các chính sách của Đảng đối với gia đình thương binh, liệt sỹ, gia đình quân nhân đang chiến đấu ở chiến trường. Nhiệm vụ công tác quân sự địa phương không phải là nhiệm vụ tạm thời mà là nhiệm vụ lâu dài. Các ngành, các cấp cần có nhận thức đúng đắn để chỉ đạo thực hiện tốt công tác này. Đồng thời Tỉnh ủy phát động phong trào toàn dân tham gia xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố quốc phòng, kiện toàn tổ chức, nâng cao năng lực chỉ đạo của cơ quan quân sự các cấp, đồng thời chỉ thị cho các cấp, các ngành, các địa phương và nhân dân phải “Đề cao ý thức cảnh giác cách mạng, làm tốt công tác phòng tránh và sẵn sang chiến đấu với địch trong bất kỳ tình huống nào, chống tư tưởng chủ quan, ảo tưởng hòa bình mất cảnh giác, kiên trì khắc phục khó khăn gian khổ, phát huy truyền thống đấu tranh cách mạng của dân tộc, phải bám sản xuất, không được lơ là, sẵn sàng đánh thắng kẻ thù”.

Với thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ tháo gỡ bom mìn chưa nổ của địch thả xuống Lạng Sơn. Đồng chí Nông Văn Nghi trợ lý công binh tỉnh được Đảng và Nhà nước tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” ngày 25 tháng 8 năm 1970.



Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn 1947 -2002
Gửi bởi: hoi_ls trong 04 Tháng Sáu, 2013, 04:11:10 PM
Các cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp đã tiến hành củng cố lực lượng dân quân tự vệ triển khai huấn luyện đến tận cơ sở, trong đó chú trọng huấn luyện lực lượng dân quân tự vệ ở các huyện biên giới Việt - Trung, nhằm bảo vệ vững chắc trật tự an ninh vùng biên cương của Tổ quốc. Năm 1971, đồng chí Lâm Văn Kiếm giữ chức vụ tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Lạng Sơn, đồng chí Hoàng Doãn Trần (tức Lê Trần Quốc) là Chính ủy Tỉnh đội, đồng chí Mông Ngọc Chương (tức Mông Văn Tý) tỉnh đội phó, đồng chí Vi Văn Mộc tỉnh đội phó, đồng chí Hoàng Quốc Văn, phó Chính ủy Tỉnh đội.

Để phù hợp với tình hình, ngày 12 tháng 10 năm 1971, Hội đồng Chính phủ quyết định tên gọi và nhiệm vụ của cơ quan quân sự địa phương. Cấp tỉnh là Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, cấp huyện, thị xã gọi là Ban chỉ huy quân sự cấp huyện, thị xã. Các chức danh tỉnh đội trưởng, tỉnh đội phó được đổi thành: Chỉ huy trưởng, chỉ huy phó; Chính trị viên đổi thành Chính ủy, phó Chính ủy; các ban tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật, được nâng nên thành phòng, các tiểu ban trực thuộc Ban nay nâng nên thành ban trực thuộc phòng.

Từ tháng 4 năm 1972, hòng cứu vãn tình thế ngày càng bi thảm ở chiến trường miền Nam, giặc Mỹ huy động một lực lượng lớn không quân và hải quân đánh phá trở lại miền Bắc nước ta với mức độ ác liệt hơn bao giờ hết. Ngày 12 tháng 4 năm 1972, thực hiện quyết định của Quân khu, Ban Thường vụ Tỉnh ủy chỉ thị cho cơ quan quân sự tỉnh nhanh chóng xây dựng tiểu đoàn 54A pháo cao xạ 37 ly và các đại đội 55, 56, trung đội súng phòng không 14,5 ly, 2 đại đội 45, 46 công binh bổ sung cho lực lượng 54 bộ binh theo quy mô đại đội tăng cường, gấp rút huấn luyện, thường trực sẵn sàng chiến đấu. Ngày 9 tháng 6 năm 1972, tiểu đoàn 54A của Bộ chỉ huy quân sự Lạng Sơn đã chiến đấu trận đầu với không quân Mỹ, bảo vệ bầu trời thị xã Lạng Sơn “Cảng nổi kiên cường”. Từ ngày 9 tháng 6 năm 1972 đến ngày 29 tháng 12 năm 1972, quân và dân Lạng Sơn đã bắn rơi 19 máy bay, bắt sống giặc lái. Qua 2 đợt chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, Lạng Sơn phối hợp với lực lượng phòng không của Bộ, đã bắn rơi 85 máy bay, bắt sống nhiều giặc lái.

Bị thất bại nặng nề, cả về vật chất và tinh thần trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ 2 ở miền Bắc, đặc biệt là trong trận tập kích đường không chiến lược địch dùng máy bay B.52 ném bom hủy diệt thủ đô Hà Nội, Hải Phòng và một số tỉnh, thành miền Bắc khác (trong đó có Lạng Sơn) trong 12 ngày đêm cuối tháng 12 năm 1972, ngày 27 tháng 01 năm 1973, đế quốc Mỹ buộc phải ký kết Hiệp định Pa-ri chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, rút hết quân Mỹ và quân chư hầu khỏi miền Nam Việt Nam.

Từ năm 1973, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh tập trung chỉ đạo các lực lượng vũ trang nhân dân địa phương cùng với nhân dân các dân tộc trong tỉnh khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục, phát triển kinh tế và động viên tuyển quân chi viện cho chiến trường.

Một trong những việc làm đầu tiên của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh sau chiến tranh là chỉ đạo các lực lượng vũ trang địa phương rà phá bom, đạn địch chưa nổ để giải phóng mặt bằng sản xuất, đảm bảo an toàn tính mạng và tài sản của nhân dân. Các đại đội 45, 46 công binh của tỉnh là lực lượng nòng cốt thực hiện tháo gỡ bom đạn. Hai đại đội này tiếp tục được củng cố, bổ sung quân số, tăng cường thêm trang bị và khẩn trương huấn luyện cho cán bộ và chiến sỹ về kinh nghiệm rà phá, tháo gỡ bon đạn nằm sâu dưới lòng đất.

Vói tinh thần tích cực chủ động, sáng tạo, trong năm 1973, lực lượng công binh của tỉnh đã tháo gỡ và gây nổ 32 quả bom nổ chậm cùng hàng nghìn quả bom xuyên, bom bi. Cùng với nhiệm vụ rà phá bom đạn chưa nổ, các lực lượng vũ trang Lạng Sơn đã cùng với nhân dân các địa phương san lấp hố bom, sửa chữa cầu đường, khôi phục sản xuất và giao thông vận tải. Công tác tuyển quân từ năm 1973 - 1975 luôn luôn hoàn thành và vượt chỉ tiêu trên giao.

Ngày 30/4/1975, chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, non sông, đất nước ta thu về một mối. Trong niềm vui chiến thắng cùng với nhân dân cả nước, cán bộ, chiến sỹ Bộ chỉ huy quân sự tỉnh phấn khởi, tự hào sẵn sàng bước sang một thời kỳ mới, cả nước thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn 1947 -2002
Gửi bởi: hoi_ls trong 04 Tháng Sáu, 2013, 04:13:44 PM
Chương IV
BỘ CHỈ HUY QUÂN SỰ TỈNH LẠNG SƠN TRONG THỜI KỲ XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC (1976 -1985)


1- Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Cao - Lạng trong giai đoạn sát nhập 2 tỉnh Lạng Sơn và Cao Bằng (1976 - 1978)

Sau cuộc tổng tiến công chiến lược mùa xuân năm 1975 của quân và dân ta ở miền Nam, đất nước ta hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc ta được thống nhất, nhiệm vụ của quân đội ta nói chung, của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn đã chuyển sang một thời kỳ mới.

Tháng 4 năm 1976, thực hiện quyết định của Quốc hội, hai tỉnh Lạng Sơn và Cao Bằng sáp nhập thành một tỉnh mới là tỉnh Cao - Lạng, các cơ quan Đảng, chính quyền, mặt trận, đoàn thể và lực lượng vũ trang của tỉnh hợp nhất đã nhanh chóng ổn định tổ chức, kiện toàn thành các cơ quan thống nhất của một tỉnh mới. Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn sáp nhập với Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Cao Bằng thành Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Cao Lạng. Cơ quan của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh đóng tại thị xã Cao Bằng. Đồng thời, Quân ủy Trung ương đã có quyết định cử đồng chí Hoàng Cao Ngôn giữ chức chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Cao Lạng, đồng chí Bế Chu Lang là Chính ủy Bộ chỉ huy quân sự tỉnh. Các phòng tham mưu, chính trị, hậu cần và các Ban quân sự các huyện, thị cũng được củng cố kiện toàn. Nhiệm vụ trước mắt của quân đội là tăng cường phối hợp với các lực lượng vũ trang, nhất là đối với lực lượng Công an nhân dân vũ trang và lực lượng Công an nhân dân đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn rộng lớn, bảo vệ và giữ vững đường biên giới của tỉnh dài hơn 500 km; tăng cường xây dựng lực lượng vũ trang địa phương vững mạnh, toàn diện. Nhiệm vụ lực lượng vũ trang tỉnh Cao Lạng càng trở nên cấp bách, nặng nề hơn do phía bên kia thường xuyên gây căng thẳng, tiến hành xâm lấn đất đai...

Tháng 12 năm 1976, Đại hội Đảng toàn quốc làn thứ IV đã đề ra Nghị quyết nêu rõ nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân đặc biệt của lực lượng vũ trang trong giai đoạn mới là không ngừng nâng cao cảnh giác, tăng cường củng cố quốc phòng, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Nghị quyết Đại hội xác định hai nhiệm vụ chính trị cơ bản của quân đội: “Luôn luôn sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và tích cực làm nhiệm vụ kinh tế”. Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Quân khu đã đề ra phương hướng nhiệm vụ chủ yếu là “Tích cực củng cố xây dựng và không ngừng nâng cao chất lượng, sức mạnh chiến đấu của cả 3 thứ quân... tham gia giữ gìn trật tự an ninh, bảo vệ an toàn biên giới và nội địa; tổ chức các đơn vị tham gia xây dụng kinh tế kết họp quốc phòng có hiệu quả cao”. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Cao Lạng nêu rõ: “Tiếp tục xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh bao gồm lực lượng thường trực và dân quân tự vệ, sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ, xây dụng và thực hiện tốt nghĩa vụ quân sự hàng năm với số lượng đầy đủ, đúng chính sách, đúng thời gian, công bằng, hợp lý”.

Thực hiện chủ trương của Quân ủy Trung ương, Trung đoàn 567 Quân khu III được điều chuyển đến tỉnh Cao Lạng thực hiện nhiệm vụ xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng trên địa bàn các huyện Trùng Khánh, Quảng Hòa; Trung đoàn 123 thực hiện nhiệm vụ trên địa bàn Văn Lãng - Lạng Sơn. Đến tháng 12 năm 1976, ngoài 2 Trung đoàn 567 và Trung đoàn 123 ở Cao Lạng có 5 đại đội, 31 trung đội bộ đội địa phương, 55 trung đội dân quân cơ động, đảm bảo sẵn sàng chiến đấu cao. Lực lượng tự vệ các cơ quan trong tỉnh không ngừng được củng cố và phát triển. Các đơn vị dân quân tự vệ đã duy trì thường xuyên công tác huấn luyện, diễn tập theo kế hoạch phòng thủ bảo vệ an ninh chính trị trên địa bàn tỉnh. Quân số từng bước được bổ sung, tăng cường, đưa tổng số dân quân tự vệ toàn tỉnh tăng từ 43.379 người năm 1976 lên 57.868 người năm 1977, chiếm tỷ lệ 14,32% dân số trong tỉnh. Toàn tỉnh đã xây dựng được 1.048 trung đội, 1.732 tiểu đội dân quân; 65 đại đội, 169 trung đội và 117 tiểu đội tự vệ chiến đấu. Bộ chỉ huy quân sự tỉnh đã tổ chức huấn luyện cho 98% cán bộ xã đội trưởng dân quân; 83% cán bộ trung đội và 84% cán bộ tự vệ. Trong 2 năm 1976 - 1977, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh đã triển khai thành lập Trường quân sự tỉnh tại Hang Dê - Thị xã Lạng Sơn theo quyết định của Bộ Quốc phòng. Đi đôi với công tác xây dụng lực lượng về mọi mặt, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh đã tập trung chỉ đạo thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội.

Từ năm 1978, phía Trung Quốc dựng lên cái gọi là “Nạn kiều”, công khai kêu gọi người Việt gốc Hoa ở Việt Nam “Trở về xây dựng Tổ quốc”. Tháng 5 năm 1978, do bị người xấu kích động, hàng vạn người Hoa sinh sống ở Việt Nam đã kéo về Lạng Sơn tổ chức vượt biên trái phép sang Trung Quốc. Sau sự kiện ngày 25 tháng 8 năm 1978 ở cửa khẩu Hữu Nghị. Từ tháng 9 năm 1978, phía Trung Quốc liên tục điều động tập trung quân cùng vũ khí, đạn dược, phương tiện chiến tranh áp sát toàn tuyến biên giới phía Bắc nước ta, chuẩn bị chiến tranh xâm lược ở biên giới Việt Nam. Để đối phó với nguy cơ chiến tranh ở hai đầu biên giới Tây Nam và phía Bắc, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, các lực lượng vũ trang của ta đã chủ động chỉ đạo củng cố, xây dựng thế trận phòng thủ biên giới, chuẩn bị mọi mặt sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu mới.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn 1947 -2002
Gửi bởi: hoi_ls trong 04 Tháng Sáu, 2013, 04:15:24 PM
Ngày 31 tháng 10 năm 1978, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 56/CT-TW “Về việc thống nhất sự chỉ đạo xây dựng tuyến phòng thủ biên giới phía Bắc”. Ngày 12 tháng 12 năm 1978, Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam ra Chỉ thị số 156-CT về việc “Thống nhất hành động chỉ huy các lực lượng vũ trang ở tuyến biên giới phía Bắc”. Thực hiện Chỉ thị, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh tăng cường đẩy mạnh công tác xây dựng và củng cố vững chắc tuyến phòng thủ biên giới, phối hợp chặt chẽ với lực lượng Biên phòng, Công an, dân quân tự vệ trong việc nắm tình hình, thường xuyên theo dõi mọi diễn biến, đối phó kịp thời với âm mưu thủ đoạn mới của phía Trung Quốc, có kế hoạch cho lực lượng vũ trang trong tỉnh chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu, đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục bộ đội, nêu cao cảnh giác sẵn sàng đập tan âm mưu phá hoại của địch.

Cuối năm 1978, trước biến đổi phức tạp trên toàn tuyến biên giới, Ban Thường vụ Tỉnh ủy quyết định thành lập Bộ chỉ huy quân sự thống nhất cấp tỉnh và cấp huyện theo tinh thần Nghị quyết 21-NQ/TW Bộ Chính trị đã đề ra. Đồng chí Hoàng Trường Minh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Cao Lạng được phân công làm chính ủy, đồng chí Bế Chu Lang làm phó chính ủy, đồng chí Hoàng Cao Ngôn làm chỉ huy trưởng. Sau khi được kiện toàn, Bộ chỉ huy quân sự thống nhất đã nhanh chóng chỉ đạo các cơ quan đơn vị thực hiện kế hoạch huấn luyện, điều chỉnh bổ sung trang bị, chuyển một số đại đội của huyện thành tiểu đoàn chủ lực của huyện, các đại đội thường trực của tỉnh được nâng cấp thành các tiểu đoàn trinh sát đặc công, tiểu đoàn pháo cao xạ 37 ly, tiểu đoàn pháo binh hỗn hợp, tiểu đoàn quân y, tiểu đoàn thông tin và các đại đội công binh vận tải. Đại đội tự vệ mỏ than Na Dương đã được nâng lên thành tiểu đoàn tự vệ mỏ Na Dương; các đại đội tự vệ ở nông lâm trường, các xã biên giới được xây dựng thêm trung đội dân quân cơ động để sẵn sàng chiến đấu trong mọi tình huống.

Ngày 29 tháng 12 năm 1978, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quyết định tách tỉnh Cao Lạng trở thành hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn, đồng thời sáp nhập huyện Đình Lập từ tỉnh Quảng Ninh về thuộc tỉnh Lạng Sơn. Đơn vị hành chính tỉnh Lạng Sơn gồm có Thị xã Lạng Sơn, các huyện: Tràng Định, Văn Lãng, Văn Quan, Bình Gia, Bắc Sơn, Hữu Lũng, Chi Lăng, Cao Lộc, Lộc Bình và Đình Lập.

Sau khi tách tỉnh, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn đã từng bước khắc phục khó khăn, ổn định tổ chức, bắt tay vào triển khai các mặt công tác chiến đấu, góp phần cùng các lực lượng vũ trang trong tỉnh tăng cường công tác bảo vệ an ninh chính trị, giữ gìn trật tự an toàn trong tình hình mới. Thực hiện quyết định của Bộ tư lệnh Quân khu I, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn đã có kế hoạch củng cố quản lý toàn bộ lực lượng bộ đội địa phương của 11 huyện, thị và Trung đoàn 123, Trung đoàn 199, Trường quân sự tỉnh. Đồng chí Lê Sơn, được Bộ Quốc phòng quyết định làm chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn, thay đồng chí Hoàng Cao Ngôn đi nhận nhiệm vụ mới, đồng chí Trần Rỹ, Chính ủy Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, đồng chí Hoàng Đình Cưu - Chỉ huy phó Bộ chỉ huy quân sự tỉnh.

Trước tình hình diễn biến phức tạp, ngày 15 tháng 2 năm 1979, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lạng Sơn đã đề ra nhiệm vụ cấp bách cho Đảng bộ, quân và dân các dân tộc Lạng Sơn, yêu cầu “Các ngành, các cấp phải cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu. Các lực lượng vũ trang, bộ đội thường trực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ và Công an vũ trang ở các huyện biên giới phải luôn luôn nắm tình hình địch và phương án đã được chuẩn bị trong tư thế sẵn sàng chiến đấu cao nhất, sẵn sàng nổ súng tiêu diệt địch ngay từ trận đầu, bảo vệ biên giới Tổ quốc”.

Để giành thế chủ động. Bộ chỉ huy quân sự tỉnh đã nhanh chóng chỉ đạo lực lượns vũ trang trong tỉnh phòng thủ vững chắc địa bàn tỉnh; phối hợp với sư đoàn 3, bộ đội chủ lực tổ chức phòng thủ vững chắc địa bàn các huyện Văn Lãng, Cao Lộc, thị xã Lạng Sơn, phía đông huyện Văn Quan và phía bắc huyện Chi Lăng. Sư đoàn 338 có nhiệm vụ cùng với lực lượng địa phương phòng thủ vững chắc huyện Đình Lập và phía đông huyện Lộc Bình.

Ngày 17 tháng 2 năm 1979, phía Trung Quốc huy động 60 vạn quân gồm 30 sư đoàn của 9 quân đoàn chủ lực, hàng ngàn xe tăng, xe bọc thép ồ ạt vô cớ tấn công nước ta trên toàn tuyến biên giới phía Bắc, từ huyện Phong Thổ tỉnh Lai Châu đến Móng Cái tỉnh Quảng Ninh. Với tinh thần chủ động sẵn sàng chiến đấu, quân và dân 6 tỉnh biên giới phía Bắc nước ta đã anh dũng, kiên cường giáng trả quân xâm lược bằng những đòn đích đáng, đánh lui nhiều đợt tiến công của địch, bảo vệ lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.

Trên hướng Lạng Sơn, từ 5 giờ sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979, hàng trăm khẩu pháo của quân Trung Quốc đã bắn phá dữ dội vào địa phận dọc tuyến biên giới từ xã Bắc Xa huyện Đình Lập đến xã Quốc Khánh huyện Tràng Định. Sau các đợt pháo kích, nhiều trung đoàn bộ binh Trung Quốc có pháo binh và xe tăng yểm trợ đã tiến công vào Lạng Sơn theo các hướng: Đồng Đăng - huyện Cao Lộc; hướng Chi Ma - huyện Lộc Bình; hướng Bảo Lâm, Tân Thanh, Tân Mỹ - huyện Văn Lãng; hướng Quốc Khánh, Tri Phương - huyện Tràng Định và hướng Bắc Xa - huyện Đình Lập.

Sau gần 1 tháng chiến đấu, các lực lượng vũ trang Lạng Sơn đã phối hợp với các đơn vị chủ lực của Quân khu đóng quân trên địa bàn cùng với dân quân tự vệ chiến đấu dũng cảm, chặn đứng được nhiều hướng tiến công của địch. Cuộc chiến tranh xâm lược do Trung Quốc tiến hành đã bị cả loài người tiến bộ lên án mạnh mẽ. Trước sự giáng trả kiên cường của quân và dân ta trên toàn tuyến biên giới phía Bắc, bị tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực, ngày 5 tháng 3 năm 1979, phía Trung Quốc đã phải tuyên bố rút quân vô điều kiện khỏi biên giới nước ta. Ngày 6 tháng 3 năm 1979, địch rút quân khỏi thị xã Lạng Sơn. Ngày 15 tháng 3 năm 1979, địch rút khỏi thị trấn Đồng Đăng, chấm dứt cuộc xâm chiếm biên giới phía Bắc thuộc địa phận tỉnh Lạng Sơn.

Sau cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới tháng 2 năm 1979, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh đã tổ chức hội nghị mừng công tại huyện Chi Lăng. Với những thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu bảo vệ biên giới, lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Lạng Sơn được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhất, 4 đơn vị được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, 6 đơn vị được tặng thưởng Huân chương quân công hạng Hai, hạng Ba, 5 chiến sỹ được tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, 12 đơn vị được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhất, hạng Hai và hạng Ba, 178 cán bộ, chiến sỹ được tặng thưởng Huân chương Quân công và Huân chương Chiến công các loại.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn 1947 -2002
Gửi bởi: hoi_ls trong 05 Tháng Sáu, 2013, 10:36:06 AM
2- Xây dựng tuyến phòng thủ biên giới vững mạnh.

Sau cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới tháng 2 năm 1979, để khắc phục hậu quả chiến tranh, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn đã chỉ đạo các lực lượng công binh phối hợp với Trung đoàn 4 - Sư đoàn 337, Quân đoàn 14 tiến hành dò, gỡ mìn, bảo vệ an toàn cho cán bộ, chiến sỹ, nhàn dân ta khôi phục và phát triển sản xuất.

Chấp hành quyết định của Bộ Tổng tham mưu và Quân khu trong tháng 4 năm 1979, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, bàn giao trung đoàn 123, 199, về Sư đoàn 347 bảo đảm nhanh gọn an toàn.

Ngày 10 tháng 10 năm 1979, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW, chuyển giao nhiệm vụ và lực lượng Công an nhân dân vũ trang từ Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) sang Bộ Quốc phòng, để “Thống nhất lãnh đạo và chỉ huy các lực lượng vũ trang, tăng cường sức mạnh chiến đấu, đồng thời phát huy sở trường của các lực lượng nhằm góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”. Từ đó lực lượng Công an nhân dân vũ trang đổi tên thành Bộ đội biên phòng.

Ngày 19 tháng 11 năm 1979, Hội đồng Chính phủ ra quyết định số 42/CP về thực hiện việc chuyển giao, đồng thời quyết định lại nhiệm vụ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ an ninh biên giới, bờ biển, hải đảo giữa lực lượng thuộc Bộ Quốc phòng và lực lượng thuộc Bộ Nội vụ. Tiếp đó ngày 19 tháng 12 năm 1979, Bộ trưởng Bộ quốc phòng ra quyết định số 1148/QĐ-QP, qui định về nhiệm vụ và tổ chức Bộ đội biên phòng, quyết định nêu rõ: “Giải tán Ban chỉ huy Công an vũ trang tỉnh, thành lập phòng Biên phòng đặt dưới sự lãnh đạo chỉ huy của Đảng ủy Bộ chỉ huy quân sự tỉnh (hoặc thành phố). Các đồn biên phòng trước đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ huy trực tiếp của Ban chỉ huy Công an nhân dân vũ trang tỉnh (thành) chuyển sang đặt dưới sự chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp của các Ban biên phòng huyện (nằm trong Ban chỉ huy quân sự huyện).

Thực hiện Nghị quyết và các quyết định của Trung ương, ngày 17 tháng 3 năm 1980, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lạng Sơn đã ra Nghị quyết số 41 “Về việc giải thể Đảng bộ Công an nhân dân vũ trang tỉnh Lạng Sơn, chuyển giao đảng viên và tổ chức Đảng về Đảng bộ Quân sự tỉnh”. Ngay sau đó, công việc bàn giao và sát nhập Công an nhân dân vũ trang vào Bộ chỉ huy quân sự tỉnh được tiến hành nhanh chóng và lập phòng biên phòng; chuyển giao tiểu đoàn 1 cơ động trực thuộc Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, các đồn biên phòng chuyển giao sang Ban chỉ huy quân sự huyện quản lý.

Bộ chỉ huy quân sự tỉnh đã khẩn trương xây dựng và triển khai kế hoạch tác chiến phòng thủ của tỉnh, chỉ đạo Ban chỉ huy quân sự các huyện, thị đẩy mạnh xây dựng kế hoạch tác chiến phòng thủ chống chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch. Chú trọng xây dựng kế hoạch tác chiến ở các huyện biên giới, tổ chức bố trí lực lượng, thường xuyên tuần tra canh gác, xây dựng các chốt điểm tựa, quản lý tốt đường biên mốc giới. Luôn luôn duy trì chế độ trực ban, trực chiến, trực chỉ huy. Đối với các huyện biên giới tăng cường các cụm chiến đấu, gồm bộ đội địa phương, bộ đội biên phòng, bộ đội chủ lực, dân quân tự vệ dưới sự chỉ huy thống nhất của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh. Ngày 20 tháng 6 năm 1980, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh cùng thủ trưởng các quân đoàn, sư đoàn chủ lực đóng quân trên địa bàn Lạng Sơn, phối hợp với Ty Công an tiến hành tổ chức hội nghị liên tịch, nhằm quán triệt nội dung chỉ thị 01 của Liên bộ Quốc phòng - Bộ Nội vụ về cuộc vận động nâng cao trách nhiệm, đoàn kết hiệp đồng chặt chẽ giữa Quân đội nhân dân và Công an nhân dân. Tháng 7 năm 1981, cấp trên điều động đồng chí Nông Ngọc Cận, làm chỉ huy phó, tham mưu trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh. Tháng 10 năm 1981, Bộ Quốc phòng có quyết định điều động đồng chí Đoàn Độ, đại tá làm chỉ huy trưởng kiêm chính ủy Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn, các đồng chí chỉ huy phó là: Hoàng Đình Cưu, Ong Lương Minh, Lộc Văn Bựng.

Thực hiện kế hoạch phòng thủ đã đề ra, liên tiếp từ năm 1980 đến 1983, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh tập trung tiến hành điều chỉnh và bố trí lại nhiệm vụ cho một số đơn vị sau: Tiểu đoàn 6 - Tràng Định đứng chân ở điểm cao 583 và 558 đối diện với mốc 11-13 tây, bố trí tiểu đoàn 7 - Văn Lãng bảo vệ các điểm cao 370, 250 và 343; bố trí Tiểu đoàn 8 huyện Cao Lộc đóng quân ở Bản Đon và Pác Cuồng; bố trí tiểu đoàn 9 huyện Lộc Bình đóng quân ở Tú Mịch và Mẫu Sơn trên các điểm cao 522, 530, 473 và 400; bố trí Tiểu đoàn 11 thị xã Lạng Sơn bảo vệ điểm cao 1.820 Mẫu Sơn và xây dựng thêm 1 đồn biên phòng ở xã Tân Minh - huyện Tràng Định. Sau khi được bố trí lại và giao nhiệm vụ cụ thể, các đơn vị đã nhanh chóng triển khai xây dựng trận địa, phối hợp cùng vói các trung đoàn chủ lực, các đồn biên phòng, các trung đội dân quân tập trung của các xã biên giới, hình thành dải tác chiến phía trước của 3 thứ quân. Trong dải tác chiến phía trước xây dựng xen kẽ thế trận bám trụ đánh quần lộn sau lưng địch của bộ đội địa phương huyện và nhân dân xã biên giới tạo nên thế trận liên hoàn, chạy dài suốt dọc biên giới của 5 huyện Tràng Định, Văn Lãng, Cao Lộc, Lộc Bình và Đình Lập. Đồng thời Bộ chỉ huy quân sự tỉnh cùng Quân đoàn chủ lực đã tiến hành thành lập Bộ chỉ huy quân sự thống nhất. Tiếp đó các huyện cũng thành lậpBan chỉ huy quân sự thống nhất trên địa bàn của mình đảm nhiệm và xây dựng Ban chỉ huy cụm chiến đấu, tạo thành hệ thống chỉ huy thống nhất từ tỉnh đến cơ sở.



Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn 1947 -2002
Gửi bởi: hoi_ls trong 05 Tháng Sáu, 2013, 10:36:57 AM
Cùng với quá trình xây dựng tuyến phòng thủ biên giới vững mạnh toàn diện, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh chú trọng công tác kiện toàn tổ chức, chỉnh đốn đơn vị, nhất là đối với công tác tổ chức xây dựng củng cố bộ đội biên phòng vững mạnh. Ngày 26 tháng 5 năm 1981, Bộ Tổng tham mưu ra Chỉ thị số 85/CT-TM nêu rõ: “Chấn chỉnh và kiện toàn tổ chức, tăng cường chỉ đạo, chỉ huy đối với Bộ đội biên phòng nhằm đẩy mạnh công tác bảo vệ chủ quyền, giữ gìn an ninh biên giới, vùng biển của Tổ quốc trong tình hình mới”. Chấp hành Chỉ thị 85, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh ra Nghị quyết về việc chấn chỉnh, kiện toàn tổ chức phòng Biên phòng, thành lập cơ quan Trung đoàn 695 Biên phòng Lạng Sơn. Trên cơ sở đó, các đồn biên phòng đều được chuyển giao từ Ban chỉ huy quân sự các huyện biên giới sang Ban chỉ huy Trung đoàn 695 Biên phòng Lạng Sơn với tổng quân số 1.157 cán bộ, chiến sỹ. Trong đó, đảng viên có 150 đồng chí, đoàn viên có 674, chiến sỹ có 327 và quân nhân chuyên nghiệp có 7 người. Bộ chỉ huy quân sự tỉnh đã tiếp tục kiện toàn một bước các đơn vị trực thuộc thành tiểu đoàn hoàn chỉnh, gồm có: Tiểu đoàn 6, Tiểu đoàn 7, Tiểu đoàn 8, Tiểu đoàn 9, Tiểu đoàn 11, Tiểu đoàn 131. Đồng thời, tổ chức thêm Ban khoa học quân sự, Ban tuyên truyền đặc biệt, tiến hành sát nhập Ban huấn luyện tác chiến thành Ban tác chiến; thành lập thêm đại đội công binh chuyên trách; đại đội 82 đào tạo quân y và quản lý, tiến hành di chuyển Trường quân sự về địa bàn Hữu Lũng để đào tạo hạ sỹ quan, bổ túc cán bộ, mở lóp tập huấn cho cán bộ dân quân và huấn luyện chiến sỹ mới nhập ngũ. Tháng 7 năm 1983, cơ quan Bộ chỉ huy quân sự tỉnh đến đóng tại khu vực trong Đoàn Thành, thị xã Lạng Sơn để tiện lợi trong công tác chỉ đạo, chỉ huy chiến đấu và sát thực với công tác xây dựng, củng cố tuyến phòng thủ biên giới vững mạnh.

Trong 4 năm 1980 - 1983, toàn tỉnh đã giao được 15.881 chiến sỹ, kịp thời bổ sung cho các đơn vị chiến đấu, công tác huấn luyện được thường xuyên quan tâm, chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh huấn luyện của Bộ Tư lệnh Quân khu. Tổ chức các đợt diễn tập M.34, 83A và 83B đạt kết quả tốt. Trong 4 năm 1980 -1983, lực lượng dân quân toàn tỉnh phát triển mạnh cả số lượng và chất lượng. Năm 1980 toàn tỉnh đã có 67.188 dân quân tự vệ; năm 1981 có 53.854 dân quân tự vệ. Trong 2 năm 1982 - 1983, toàn tỉnh có 101.505 dân quân tự vệ chiếm 20,9% dân số trong toàn tỉnh, trong đó riêng 21 xã biên giới, lực lượng dân quân tự vệ có 3.864 ngưòi.

Căn cứ vào tình hình, đặc điểm của từng địa bàn, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh đã quyết định tổ chức biên chế ưu tiên cho các đơn vị làm nhiệm vụ ở phía trước, thành lập thêm 4 đại đội huấn luyện tân binh, thành lập ban chính sách, ban kiểm tra, ban tuyên truyền đặc biệt; tổ chức sát nhập đội kiểm soát với đội canh phòng, rút gọn C19 vận tải; giải thể đại đội 82 xây dựng củng cố nhà văn hóa... Công tác Đảng, công tác chính trị thường xuyên được tiến hành phù hợp với tính chất nhiệm vụ của Quân đội nhân dân trước tình hình nhiệm vụ mới. Đến năm 1985, Đảng bộ Quân sự tỉnh đã có 105 chi bộ trực thuộc với tổng số 889 đảng viên. Nhờ làm tốt công tác xây dựng tuyển phòng thủ biên giới vững mạnh toàn diện, công tác xây dựng đơn vị trên các mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức, công tác sẵn sàng chiến đấu, công tác huấn luyện bộ đội, công tác hậu cần, công tác tham gia xây dựng, củng cố phong trào địa phương đạt được những bước tiến mới quan trọng, góp phần xây dựng tuyến phòng thủ biên giới vững mạnh, toàn diện, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch, giữ vững biên cương của Tổ quốc.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn 1947 -2002
Gửi bởi: hoi_ls trong 05 Tháng Sáu, 2013, 10:38:40 AM
Chương V
BỘ CHỈ HUY QUÂN SỰ TỈNH LẠNG SƠN TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI XÂY DỰNG VÀ
BẢO VỆ TỔ QUỐC 1986 - 2002


Tháng 12 năm 1986, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước. Về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, Nghị quyết Đại hội đã vạch rõ “Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước và xã hội quyết đánh thắng kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch, đồng thời có kế hoạch sẵn sàng đối phó với mọi tình huống do kẻ thù gây ra”.

Xuất phát từ tình hình, đặc điểm của một tỉnh biên giới, Đại hội Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ X (1986) đã nêu rõ chủ trương, nhiệm vụ xây dựng và củng cố quốc phòng, an ninh, tăng cường bảo vệ biên giới quốc gia trong tình hình mới là: “Xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân và nền quốc phòng toàn dân, kết họp chặt chẽ và có hiệu quả giữa quốc phòng và kinh tế và kinh tế với quốc phòng; tiếp tục xây dựng tuyến phòng thủ biên giới vững mạnh toàn diện về chính trị, kinh tế, an ninh quốc phòng để bảo vệ vững chắc biên cương của Tổ quốc”. Cuối năm 1986, Bộ Quốc phòng có quyết định bổ nhiệm đồng chí Hoàng Áp làm chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn thay đồng chí Đoàn Độ được nghỉ chế độ, đồng chí Lương Phấn, chỉ huy phó chính trị Bộ chỉ huy quân sự tỉnh.

Trên cơ sở ổn định từng bước từ Bộ chỉ huy quân sự tỉnh đến các đơn vị, trong 2 năm 1986 - 1987, lãnh đạo, chỉ huy các cấp đẩy mạnh công tác chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ cả về số lượng và chất lượng, tiến hành điều chỉnh sắp xếp và kiện toàn đội ngũ cán bộ theo biên chế, chức danh từng cơ quan, đơn vị, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị hoàn thành nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu. Tiến hành chặt chẽ và kịp thời công tác xét duyệt thăng cấp hàm, đề bạt, bổ nhiệm, điều động, thực hiện chính sách 47, chăm lo gia đình thương binh, gia đình liệt sị, gia đình cán bộ. Chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo công tác đoàn và phong trào thanh niên trong quân đội, khẳng định tuổi trẻ các đơn vị là lực lượng nòng cốt, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của từng đơn vị. Các đơn vị đã kết nạp được 520 đoàn viên mới, giới thiệu đoàn viên ưu tú cho Đảng được 630 đoàn viên, 80% tổ chức cơ sở đoàn đạt tiêu chuẩn vững mạnh, 85% đoàn viên đủ tư cách.

Trong 2 năm 1986 - 1987, chấp hành mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng và của Quân khu về sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, cơ quan Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, 6 tiểu đoàn địa phương và trung đội dân quân các xã biên giới thường xuyên ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao theo chỉ lệnh 47B. Các đơn vị cũng như chỉ huy các cấp luôn duy trì chặt chẽ chế độ thường trực sẵn sàng chiến đấu, trực chỉ huy, trực ban tác chiến, đảm bảo quân số theo qui định. Đồng thời, luôn chủ động tổ chức lực lượng tuần tra, canh gác sẵn sàng chiến đấu đánh bại mọi âm mưu khiêu khích vũ trang của địch. Ban chỉ huy quân sự các huyện, thị đã nỗ lực xây dựng, củng cố thêm 251 đơn vị dân quân tự vệ, tập huấn cho 84 cán bộ xã đội, nhằm nâng cao năng lực chỉ huy chiến đấu ở các đơn vị cơ sở, đặc biệt là các đơn vị thuộc các xã biên giới. Tổ chức học tập Nghị quyết 142 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Chỉ thị 183 của Hội đồng Bộ trưởng cho các xã và thị trấn. Tiếp tục chỉ đạo tăng cường củng cố dải tác chiến phía trước, xây dựng pháo đài quân sự huyện củng cố điểm tựa, làng xã chiến đấu.

Trước yêu cầu của nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội trong tình hình mới, trong năm 1987, Bộ chính trị ra Nghị quyết nêu rõ “Chuyển giao Bộ đội biên phòng cho Bộ Nội vụ trực tiếp phụ trách”, ngay sau đó, biên bản bàn giao lực lượng đã được ký kết giữa Bộ Quốc phòng và Bộ Nội vụ, từ đó Bộ đội biên phòng lại thuộc quyền chỉ huy, chỉ đạo toàn diện của Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Thực hiện Nghị quyết 02 của Bộ chính trị ngày 30 tháng 7 năm 1987, Nghị quyết 20 của Đảng ủy quân sự Trung ương, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh đã tham mưu cho Tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện kế hoạch A về điều chỉnh lực lượng, bố trí lại đội hình phòng thủ, giao cho địa phương phòng thủ tuyến trước, đưa lực lượng chủ lực của Quân khu và Bộ về tuyến sau. Tiếp đó ban thường vụ Tỉnh ủy ra Nghị quyết về tổ chức điều chỉnh lực lượng vũ trang địa phương, xây dựng tuyến phòng thủ Lạng Sơn vững chắc. Nghị quyết nêu rõ “Tiếp tục xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, khả năng phòng thủ ngày càng vững chắc, đánh bại các cuộc tấn công lấn chiếm, đánh trả kịp thời các vụ khiêu khích, các thủ đoạn chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch”.

Thực hiện kế hoạch A, Đảng ủy quân sự tỉnh đã tiến hành sắp xếp lại biên chế trong toàn đơn vị; tổ chức bàn giao lại lực lượng Bộ đội biên phòng sang Công an tỉnh quản lý; sát nhập Ban lịch sử quân sự với Ban khoa học lịch sử tổng họp; sát nhập ngành quân trang với ngành quân lương; giải thể C78 và tiếp nhận các tiểu đoàn thông tin, tiểu đoàn công binh và tiểu đoàn cao xạ; sát nhập bệnh xá Bộ chỉ huy quân sự tỉnh với đội điều trị 50; sát nhập đội 27 vào tiểu đoàn công binh; thành lập Ban vận tải; tổ chức cơ quan Viện kiểm sát khu vực, thành lập Ban điều tra hình sự; tiếp nhận các trung đoàn 199, 123, 540 và 460 về Bộ chỉ huy quân sự tỉnh quản lý.

Cùng với quá trình thực hiện kế hoạch A, chỉ đạo củng cố, xây dựng và phát triển lực lượng dân quân tự vệ, lấy chất lượng làm chính theo tinh thần Nghị quyết 10 của Tỉnh ủy Lạng Sơn đã đề ra. Năm 1987, lực lượng dân quân tự vệ được xây dựng chiếm tỷ lệ 8,2% dân số toàn tỉnh. Riêng các xã biên giới, lực lượng dân quân tập trung có 580 người, luôn trong tư thế sẵn sàng cơ động và chiến đấu cao. Lực lượng dự bị động viên được chú trọng xây dựng, phát triển, là lực lượng quan trọng nằm trong kế hoạch tác chiến quân sự của tỉnh. Được sự chỉ đạo trực tiếp, chặt chẽ của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, Ban chỉ huy quân sự các huyện, thị đã có kế hoạch tổ chức đăng ký theo luật nghĩa vụ quân sự đạt 80%; tổ chức nhiều đợt diễn tập phát lệnh gọi kiểm tra thường xuyên quân số đạt 90% trở lên. Bộ chỉ huy quân sự tỉnh tổ chức tập huấn cho hơn 200 cán bộ trong và ngoài quân đội, xây dựng kế hoạch tác chiến phòng thủ của lực lượng vũ trang, giúp các cơ quan, ban ngành, các cấp thống nhất kế hoạch, kết họp phát triển kinh tế với quốc phòng.

Đồng thời, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh đã chú trọng củng cố công tác hậu cần đẩy mạnh chăn nuôi, tăng gia sản xuất, xây dựng doanh trại, điều chỉnh đồng bộ các loại vũ khí trang bị, tổ chức tiếp nhận vận chuyển một khối lượng lớn trang bị kỹ thuật cho phục vụ chiến đấu.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn 1947 -2002
Gửi bởi: hoi_ls trong 05 Tháng Sáu, 2013, 10:40:16 AM
Trước yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới, tháng 1 năm 1988, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh đề ra phương hướng công tác quân sự địa phương “Tiếp tục điều chỉnh kế hoạch động viên, kiện toàn và nâng cao các khung động viên, xây dựng nền nếp động viên quân đội, quản lý chặt chẽ vững chắc nguồn động viên, từng bước nâng cao chất lượng các đơn vị dự bị và lực lượng dự bị.”

Tháng 3 năm 1988, thực hiện chỉ đạo của Bộ quốc phòng và Bộ tư lệnh Quân khu I, Đảng ủy - Bộ chỉ huy quân sự tỉnh tổ chức cuộc diễn tập Z88 A, là đơn vị đầu tiên trong toàn quân thực hành diễn tập theo tinh thần Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị và Nghị quyết của Tỉnh ủy Lạng Sơn về xây dựng Lạng Sơn thành khu vực phòng thủ vững chắc bảo vệ Tổ quốc.

Cuối năm 1988, Đại hội đại biểu Đảng bộ quân sự tỉnh lần thứ IX được tổ chức, đã tiến hành kiểm điểm quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ đơn vị trong nhiệm kỳ qua, chỉ rõ những mặt yếu kém còn tồn tại trong công tác xây dựng đơn vị, nhất là công tác xây dựng Đảng ở cơ sở. Đại hội đã bầu Ban chấp hành Đảng bộ khóa IX, bầu đồng chí Hoàng Áp, chỉ huy trưởng làm phó Bí thư Đảng ủy, đồng chí Đàm Đình Trại, chỉ huy phó về chính trị làm phó Bí thư thường trực. Thực hiện Nghị quyết Đảng bộ quân sự tỉnh trong 2 năm 1989 - 1990, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn đã tập trung chỉ đạo tăng cường xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân và quốc phòng toàn dân trên địa bàn tỉnh đạt chất lượng ngày càng cao, xây dựng lực lượng vũ trang, mạnh mẽ về mọi mặt, thực hiện tốt nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc biên giới quốc gia. Đẩy mạnh một bước công tác giáo dục chính trị tư tưởng trong đơn vị, nâng cao nhận thức trách nhiệm đối với nhiệm vụ quốc phòng, tạo được sức mạnh toàn dân xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc, quyết tâm đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch.

Ban chỉ huy quân sự các huyện, thị được củng cố, đảm bảo quân số và trang bị theo quy định. Trường quân sự tỉnh đẩy mạnh công tác củng cố tổ chức, kiện toàn đủ số lượng, không ngừng nâng cao chất lượng cán bộ khung, chỉ huy và đội ngũ giáo viên đảm bảo yêu cầu chất lượng dạy và học.

Năm 1989, theo quyết định của Quân khu, tỉnh đã giải thể Trung đoàn 460, chuyển tiểu đoàn 22 thuộc trung đoàn 460 về trực thuộc Ban chỉ huy quân sự huyện Đình Lập quản lý và chỉ huy. Tháng 6 năm 1990, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh tổ chức rút gọn Trung đoàn 199 và Trung đoàn 540, chuyển tiểu đoàn 6 trực thuộc Ban chỉ huy quân sự huyện Tràng Định, tiểu đoàn 7 trực thuộc Ban chỉ huy quân sự huyện Lộc Bình quản lý và chỉ huy.

Trong 2 năm 1989 - 1990, toàn tỉnh tổ chức giao quân đều đạt 100%, đảm bảo đủ các tiêu chuẩn chính trị, sức khỏe, trình độ văn hóa, độ tuổi theo luật định.

Tháng 12 năm 1990, đồng chí Dương Công Sửu được đề bạt làm chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn thay đồng chí Hoàng Áp được nghỉ chế độ.

Tháng 6 năm 1991, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII tiếp tục khẳng định. Đối với công tác quốc phòng an ninh, Nghị quyết đại hội chỉ rõ “Giữ vững an ninh quốc gia, bảo đảm sự ổn định chính trị của đất nước, đấu tranh làm thất bại âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch; giữ vững trật tự an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng; phục vụ đắc lực công cuộc đổi mới là nhiệm vụ trọng yếu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, kết hợp thành chiến lược thống nhất giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ an ninh trật tự, kết hợp củng cố nền quốc phòng toàn dân với xây dựng thế trận an ninh nhân dân; phát huy sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân, phối hợp với lực lượng quốc phòng và an ninh trong cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh trật tự”.

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn tháng 11 năm 1991 đã nhấn mạnh: “Cần nắm vững tình hình, tiếp tục điều chỉnh, xây dựng phương án phòng thủ phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ mới; nâng cao chất lượng lực lượng thường trực; nắm chắc và huấn luyện tốt lực lượng dự bị động viên, đặc biệt là dân quân tự vệ. Trong điều kiện mới, cần phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng dân quân tự vệ cùng lực lượng Công an làm tốt công tác bảo vệ an ninh, giữ gìn trật tự an toàn xã hội. Giáo dục nhân dân, các cấp các ngành chăm lo xây dựng nền quốc phòng toàn dân”. Thực hiện sự chỉ đạo của Đảng ủy Quân khu và của Tỉnh ủy Lạng Sơn, Đảng bộ Bộ chỉ huy quân sự tỉnh đã tiến hành Đại hội bầu đồng chí Dương Công Sửu chỉ huy trưởng làm phó Bí thư, đồng chí Nguyễn Như Hành, chỉ huy phó chính trị làm phó Bí thư thường trực. Đại hội Đảng bộ lần thứ X đề ra Nghị quyết nêu rõ nhiệm vụ công tác quân sự địa phương trong những năm 1991 -1995 là: “Phải nắm vững quan điểm và tư duy mới của Đảng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Phát huy tốt chức năng tham mưu cho cấp ủy, chính quyền. Tập trung xây dựng lực lượng, xây dựng thế trận vững mạnh, giữ vững ổn định để phát triển kinh tế. Từng bước gắn củng cố quốc phòng với việc thúc đẩy sự phát triển trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, tạo thêm sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân. Lực lượng vũ trang phải phối hợp với các ban, ngành địa phương làm tốt công tác vận động quần chúng; cùng toàn dân tham gia chống tiêu cực và tệ nạn xã hội, giữ vững an ninh chính trị, coi đó là điều kiện quan trọng để đánh thắng chiến tranh xâm lược và âm mưu “Diễn biến hoà bình” của địch. Tập trung xây dựng bộ đội địa phương chính qui từng bước hiện đại, có trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu cao. Xây dựng lực lượng dân quân rộng khắp, làm nòng cốt cho việc phát huy sức mạnh thế trận chiến tranh nhân dân và phong trào trị an ở cơ sở. Quan tâm chăm lo xây dựng tổ chức Đảng, tổ chức chỉ huy, tập trung xây dựng sự đoàn kết cả về ý chí và hành động trong các cấp ủy, trong Đảng bộ và trong đơn vị”.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn 1947 -2002
Gửi bởi: hoi_ls trong 05 Tháng Sáu, 2013, 10:42:47 AM
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng, Đảng ủy - Bộ chỉ huy quân sự đã tổ chức học tập các Nghị quyết của Đảng với việc đẩy mạnh công tác Đảng, công tác chính trị trong lực lượng vũ trang. Từ năm 1991 - 1995, công tác giáo dục chính trị tư tưởng được coi trọng và tiến hành đồng bộ ở hầu khắp các đơn vị. Cùng với công tác quán triệt các Nghị quyết Đại hội Đảng, cấp ủy các đơn vị đã tổ chức triển khai học tập Nghị quyết Trung ương 3, Nghị quyết của Quân khu, của Tính ủy và Đảng ủy quân sự tỉnh về đổi mới và chỉnh đốn Đảng, các Nghị quyết Trung ương 4, 5, 6, 7, 8 Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị. Nội dung các đợt học tập đều tập trung bồi dưỡng nhận thức, bản lĩnh chính trị, xây dựng quyết tâm, phấn đấu giữ vững ổn định chính trị, tư tưởng trong lực lượng vũ trang, đi đôi với công tác tuyên truyền giáo dục, đẩy mạnh phát động các phong trào thi đua thực hiện nhiệm vụ giáo dục với chăm lo đời sống vật chất tinh thần của cán bộ, chiến sỹ, làm cho lực lượng vũ trang thấu suốt nhiệm vụ, nhận rõ kẻ thù, kiên định với mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Phong trào thi đua của các lực lượng vũ trang đã diễn ra sôi nổi, rộng khắp với nhiều hình thức nội dung phong phú, động viên được tinh thần và nhiệt huyết của tuổi trẻ trong thực hiện các cuộc vận động “đẹp người - đẹp doanh trại - đẹp tình quân dân”, đã phát huy được bản chất và truyền thống hình ảnh “Anh bộ đội Cụ Hồ”. Tháng 7 năm 1993, đồng chí Hoàng Khai, được điều động về giữ chức chỉ huy phó Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn.

Thực hiện mệnh lệnh của Bộ tư lệnh Quân khu về công tác xây dựng lực lượng vũ trang theo hướng sát, gọn phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ, Đảng ủy - Bộ chỉ huy quân sự tỉnh đã chỉ đạo tiến hành công tác giải thể một số đơn vị. Giải thể tiểu đoàn 576 công binh, thành lập đại đội công binh, kế tiếp là các đơn vị tiểu đoàn 607 thông tin, tiểu đoàn 245 pháo 37 ly, tiểu đoàn 76, chóng được giải thể, rút gọn thành các đại đội thông tin 607, đại đội 245 pháo cao xạ và cụm kho 76; giải thể phòng động viên tuyển quân. Thành lập Ban động viên tuyển quân trực thuộc phòng tham mưu; giải thể đội công tác khu Mẫu Sơn; chuyển tiểu đoàn 7 Văn Lãng thành đại đội 7 Văn Lãng; tiểu đoàn 7 Lộc Bình thành đại đội 7 Lộc Bình, chủ động phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể, tranh thủ sự giúp đỡ của các cấp ủy, chính quyền địa phương chú trọng chỉ đạo kế hoạch tuyển quân hàng năm đều đạt chỉ tiêu giao, đảm bảo chất lượng, kịp thời bổ sung cho các đơn vị chiến đấu. Từ năm 1991 - 1995 toàn tỉnh đã đăng ký được 35.136 quân dự bị, trong đó số dự bị hạng một có 12.674 người số dự bị hạng hai có 21.229 người, cùng hàng nghìn phương tiện các loại được tập trung đăng ký, đảm bảo sẵn sàng chiến đấu trong mọi tình huống.

Để sắp xếp tinh, gọn, nâng cao sức chiến đấu của tổ chức Đảng. Đảng ủy quân sự tỉnh quyết định tiến hành giải thể Đảng bộ Trung đoàn 123; thành lập Đảng bộ Tiểu đoàn 1; giải thể chi bộ 245, chuyển hai chi bộ 576 và chi bộ 607 về phòng tham mưu; sát nhập 4 chi bộ thành 2 chi bộ, bổ sung thêm 24 cấp ủy viên mới. Mở các lớp bồi dưỡng đối tượng Đảng cho hàng trăm đoàn viên thanh niên có thành tích xuất sắc trong công tác học tập huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu, không ngừng tăng cường số lượng đảng viên trong toàn Đảng bộ. Nhiều Đảng bộ, chi bộ các đơn vị từ tỉnh đến cơ sở đều đạt tiêu chuẩn Đảng bộ, chi bộ trong sạch vững mạnh.

Bộ chỉ huy quân sự tỉnh đã tiến hành chỉ đạo điều chỉnh tổ chức phù hợp với tình hình mới, sắp xếp lại biên chế cơ cấu các cơ quan thuộc Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, bao gồm Trường quân sự, các ban chỉ huy 11 huyện, thị; tiểu đoàn 1 trực thuộc, 5 đại đội trực thuộc 5 huyện biên giới; đại đội trinh sát, đại đội thông tin, đại đội công binh trực thuộc phòng tham mưu; tiểu đoàn quân y, đại đội vận tải và cụm kho trực thuộc phòng hậu cần kỹ thuật. Đồng thời Bộ chỉ huy quân sự tỉnh quyết định điều động 70 sỹ quan tăng cường cho cơ sở, có kế hoạch chỉ đạo các đại đội, tiểu đoàn cử cán bộ cho các xã, phường củng cố tổ chức, giúp huấn luyện dân quân tự vệ, quản lý lực lượng dự bị động viên, tổ chức động viên tuyển quân, góp phân giữ vững an ninh chính trị ở cơ sở; chú trọng công tác thực hiện chính sách cán bộ đối với sỹ quan và hạ sỹ quan, giải quyết tốt mọi chế độ chính sách với quân đội. Công tác quy hoạch cán bộ đảm bảo đúng quy trình, bố trí và sử dụng cán bộ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác quân sự địa phương.

Tháng 5 năm 1994, Đảng ủy - Bộ chỉ huy quân sự tỉnh tổ chức triển khai cuộc diễn tập khu vực phòng thủ tỉnh mang tên LS94 do Quân khu trực tiếp chỉ đạo. Đây là cuộc diễn tập rất quan trọng, các cơ quan của Bộ, các nhà trường quân đội và cơ quan quân sự các tỉnh trong Quân khu đã tới tham quan, nhằm rút kinh nghiệm diễn tập của Lạng Sơn theo cơ chế 02 về khu vực phòng thủ.

Cuộc diễn tập LS94 và triển khai thực hiện kế hoạch A2 đã tập trung được sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ban ngành với lực lượng bộ đội, công an, biên phòng, dân quân tự vệ, tạo được sự phối hợp chặt chẽ liên hoàn trong cuộc đấu tranh chống âm mưu “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc biên cương Tổ quốc.

Cuối năm 1995, Đại hội đại biểu Đảng bộ quân sự tỉnh lần thứ XI được tổ chức. Đại hội đã tập trung kiểm điểm, đánh giá ưu điểm, khuyết điểm của Đảng bộ trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ của nhiệm kỳ qua. Đại hội nhận định: “Ý thức, khả năng sẵn sàng chiến đấu của quân và dân được nâng lên. Nền quốc phòng toàn dân và thế trận chiến tranh nhân dân ngày càng được củng cố vững chắc. Chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, trình độ chính quy, tính kỷ luật của lực lượng vũ trang có tiến bộ. Cơ chế Đảng lãnh đạo đối với quốc phòng và lực lượng vũ trang được tăng cường. Hiệu lực lãnh đạo của Đảng, hiệu quả điều hành của chính quyền từ tỉnh đến cơ sở ngày càng vững chắc, mối quan hệ quân dân ngày càng gắn bó. Chủ quyền biên giới an ninh được giữ vững”. Đại hội đã chỉ rõ những mặt tồn tại của Đảng bộ là: “Năng lực tham mưu cho cấp ủy, chính quyền ở một số cơ quan đơn vị chưa thật ngang tầm với nhiệm vụ. Vai trò cấp ủy, chỉ huy ở một số cơ sở chưa phát huy đầy đủ. Tính chiến đấu, tinh thần học tập vươn lên của Đảng viên chưa được đề cao”. Đại hội đã đề ra nghị quyết nhiệm kỳ 1996 - 2000 của Đảng bộ và lực lượng vũ trang trong tỉnh là:

“1. Làm tham mưu cho cấp ủy, chính quyền cùng toàn dân xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thế trận chiến tranh nhân dân ngày càng vững chắc. Phát huy sức mạnh các tổ chức, các lực lượng và cả hệ thống chính trị đấu tranh giữ vững biên giới, giữ vững ổn định chính trị trên địa bàn.

2. Tạo sự chuyển biến tiến bộ cơ bản; vững chắc vẻ chất lượng tổng họp, sức chiến đấu, trình độ chính qui, tinh nhuệ của lực lượng vũ trang. Xây dựng dân quân tự vệ rộng khắp, được tổ chức chặt chẽ, chất lượng và độ tin cậy chính trị cao. Làm tròn nhiệm vụ bảo vệ Đảng, chính quyền, nhân dân. Là lực lượng xung kích trong phong trào lao động sản xuất và giữ vững an ninh chính trị ở cơ sở, xây dựng lực lượng dự bị hùng hậu, đáp ứng yêu cầu động viên và phát triển lực lượng.

3. Tích cực tham gia vào dự án xây dựng 21 xã biên giới đã được Nhà nước phê duyệt, góp phần xây dựng vùng biên giới vững mạnh toàn diện.

4. Nêu cao tinh thần chủ động, sáng tạo, tự lực tự cường. Đẩy mạnh tăng gia sản xuất, làm kinh tế cải thiện tốt đời sống vật chất tinh thần cho bộ đội. Bảo quản, bảo dưỡng, sửa chữa, niêm cất và giữ gìn tốt vũ khí trang bị kỹ thuật, đảm bảo tốt yêu cầu trước mắt và lâu dài.

5. Xây dựng Đảng bộ quân sự tỉnh, huyện trong sạch vững mạnh. Nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện, sức chiến đấu của các tổ chúc Đảng, tính tiên phong gương mẫu của đảng viên, chất luợng toàn diện đội ngũ cán bộ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới”.

Đại hội đã bầu Ban chấp hành Đảng bộ khóa mới, đồng chí Dương Công Sửu, chỉ huy trưởng được bầu làm phó Bí thư Đảng ủy. Đồng chí Vi Văn Mạn chỉ huy phó chính trị được bầu làm phó Bí thư thường trực.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn 1947 -2002
Gửi bởi: hoi_ls trong 05 Tháng Sáu, 2013, 10:44:37 AM
Trong 5 năm 1996 - 2000, phía bên kia tiến hành hàng trăm vụ lấn chiếm biên giới, tập trung ở khu vực mốc 5, mốc 15 đến mốc 20, mốc 44 + 45, mốc 53 + 55 đông. Thông qua hoạt động giao lưu kinh tế, buôn bán, du lịch, phía bên kia còn tiến hành hoạt động gián điệp, móc nối, cài cắm vào nội bộ ta, thu thập tin tức tình báo quân sự, chính trị. Các tệ nạn xã hội, hoạt động của bọn tội phạm phát triển làm cho tình hình khu vực biên giới, nhất là các cửa khẩu vốn đã phức tạp càng trở nên phức tạp hơn, ảnh hưởng xấu tới an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, gây nhiều khó khăn cho các lực lượng làm nhiệm vụ ở vùng cửa khẩu, biên giới.

Để đối phó với tình hình trên, Đảng ủy - Bộ chỉ huy quân sự tỉnh chủ trương đẩy mạnh công tác hướng dẫn, phối hợp cùng các ban, ngành, các địa phương trong tỉnh tập trung giáo dục động viên, tổ chức cho nhân dân tham gia công tác quốc phòng, xây dựng và bảo vệ tiềm năng quốc phòng, chuẩn bị mọi mặt sẵn sàng đối phó với mọi tình huống, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở cơ sở. Được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của tỉnh ủy Lạng Sơn, trong thời gian ngắn, với quyết tâm nỗ lực và trách nhiệm cao, hầu hết các Sở, Ban, ngành, các huyện, thị trong toàn tỉnh đã khẩn trương hoàn thành cơ bản việc triển khai Nghị định 19/CP và Chỉ thị 610 của Thủ tướng Chính phủ. Bộ chỉ huy quân sự tỉnh đã tập huấn quản lý Nhà nước về quốc phòng được 13 lớp cho 650 cán bộ huyện, thị; đồng thời tập huấn được 64 lóp với 1.630 cán bộ lãnh đạo các cấp. Nghị định 19/CP của Chính phủ được quán triệt học tập trong 120 lóp bồi dưỡng cán bộ là đội ngũ Bí thư, Chủ tịch, xã đội trưởng của các xã, phường, thị trấn trong toàn tỉnh. Qua học tập, cán bộ các cấp đã nhận thức sâu sắc về nhiệm vụ quốc phòng trong giai đoạn cách mạng mới. Bộ chỉ huy quân sự tỉnh cũng tích cực hướng dẫn các Sở, Ban, ngành tiến hành đồng bộ việc xây dựng và quản lý lực lượng dự bị động viên, củng cố lực lượng dân quân tự vệ, thực hiện tốt công tác tuyển quân, tổ chức phòng thủ dân sự theo kế hoạch. Đồng thời, đẩy mạnh công tác xây dựng lực lượng gắn với thực hiện Chỉ thị 58-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện, đáp ứng yêu cầu quốc phòng an ninh trong tình hình mới.

Công tác hậu cần, kỹ thuật đã được Bộ chỉ huy quân sự tỉnh chỉ đạo chặt chẽ, thường xuyên bảo đảm đúng đủ lượng dự trữ sẵn sàng chiến đấu và hoạt động thường xuyên của cơ quan, đơn vị bảo quản bảo dưỡng niêm cất sửa chữa hàng năm đạt và vượt kế hoạch, công tác đăng ký thống kê chặt chẽ, hệ thống kho tàng được củng cố đủ tiêu chuẩn kỹ thuật; Công tác nuôi dưỡng chăm sóc sức khỏe bộ đội có chuyển biến tích cực bằng các nguồn thu tăng gia sản xuất đã đưa vào ăn thêm cho bộ đội từ 200đ đến 569 đ/người/ngày bảo đảm quân số khỏe đạt 98,8% tỷ lệ bếp nuôi quân giỏi đạt 84,2%.

Để thực hiện chương trình phát triển kinh tế - xã hội kết họp với củng cố quốc phòng, an ninh vững chắc, xây dựng thế trận phòng thủ vững mạnh toàn diện. Bộ chỉ huy quân sự tỉnh đã tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân tỉnh ra quyết định giành 6.622.323 m2 cho qui hoạch đất quốc phòng, trên 65 điểm các đơn vị đóng quân, xây dựng 2.183 m2 nhà kho, nhà bếp; 43.392 m2 nhà ở tiếp nhận từ các đơn vị rút gọn, cung ứng các phương tiện vận dụng linh hoạt cho cán bộ chiến sỹ; không ngừng tăng chỉ tiêu đầu tư xây dựng các công trình phòng thủ quốc phòng. Chỉ đạo đẩy mạnh các đơn vị tích cực thực hiện chương trình tổng thể phát triển kinh tế - xã hội; củng cố quốc phòng ở 21 xã, thị trấn vùng biên giới.

Bộ chỉ huy quân sự tỉnh đã chỉ đạo tổ chức cho đơn vị 576 công binh, phối hợp với các đơn vị của Bộ, Quân khu, Biên phòng thực hiện nhiệm vụ rà phá mìn, vật cản được trên 939,82 ha đất canh tác, đưa 708 hộ dân với 3.987 nhân khẩu trở lại biên giới đến năm 1998 có 100% nhân dân vùng sát biên trở lại thôn bản cũ định canh định cư ổn định cuộc sống yên tâm lao động sản xuất phát triển kinh tế đoàn kết quyết tâm bám đất bám làng bảo vệ vững chắc biên cương của Tổ quốc. Đồng thời thực hiện nhiệm vụ của Bộ Quân khu; Bộ chỉ huy quân sự tỉnh tiếp tục chỉ đạo cho công binh của tỉnh cùng lực lượng của Quân khu, Biên phòng tỉnh tiếp tục rà phá mìn, vật cản phục vụ cho việc phân giới cắm mốc giữa Việt Nam - Trung Quốc trên phạm vi của tỉnh đảm bảo theo đúng yêu cầu kế hoạch.

Thực hiện chủ trương của Bộ Quốc phòng và Quân khu về xây dựng Lạng Sơn thành tuyến phòng thủ vững chắc ở phía Bắc nước ta, từ năm 1996 -2000, Đảng ủy - Bộ chỉ huy quân sự tỉnh đã tập trnng triển khai phương án tác chiến ở xã, phường cho hơn 108 cơ sở tự vệ; tổ chức chỉ huy 202 cuộc diễn tập cụm xã, 8 cuộc diễn tập phòng thủ huyện. Đặc biệt là cuộc diễn tập phòng thủ cấp tỉnh đã được tổ chức có qui mô, huy động trên 237.648 công lao động với 100% lực lượng dân quân tự vệ tham gia, thể hiện rõ tinh thần chiến đấu và chiến đấu thắng lợi của quân và dân Lạng Sơn trước yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Xuất phát từ yêu cầu xây dựng Lạng Sơn thành khu vực thủ vững chắc. Bộ chỉ huy quân sự tỉnh đã tập trung chỉ đạo công tác xây dựng lực lượng, củng cố một bước các đợn vị lực lượng vũ trang từ tỉnh đến các đơn vị cơ sở. Thực hiện quyết định của Bộ quốc phòng, sát nhập Trung đoàn 123 và Trường quân sự, trở thành khung huấn luyện dự bị động viên, đảm bảo chất lượng, kịp thời bổ sung nguồn cho các đơn vị. Trường quân sự đã không ngừng được củng cố về mọi mặt, đáp ứng được nhiệm vụ huấn luyện và đào tạo cán bộ theo yêu cầu công tác quân sự địa phương; thực hiện nhiệm vụ giáo dục kiến thức quốc phòng cho cán bộ đối tượng 3 và 4 đạt chất lượng tốt.

Công tác tuyển quân, thực hiện nghĩa vụ quân sự đạt kết quả tốt. Từ năm 1996 - 2000, toàn tỉnh đã tuyển quân giao được 4.098 chiến sỹ mới bổ sung cho các đơn vị, đảm bảo 100% chỉ tiêu kế hoạch.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn 1947 -2002
Gửi bởi: hoi_ls trong 05 Tháng Sáu, 2013, 10:46:06 AM
Trong 5 năm 1996 - 2000, Đảng ủy - Bộ chỉ huy quân sự tỉnh chú trọng củng cố, xây dựng các Đảng bộ trong lực lượng vũ trang địa phương vững mạnh về tư tưởng, chính trị và tổ chức, trọng tâm là thực hiện nhiệm vụ xây dựng chỉnh đốn Đảng. Nghiêm túc quán triệt học tập các Chỉ thị, Nghị quyết của Trung ương, Đảng ủy quân sự Trung ương, Đảng ủy quân khu, Tỉnh ủy Lạng Sơn và Nghị quyết của Đảng bộ quân sự tỉnh. Cuộc vận động “Xây dựng chỉnh đốn Đảng”, phê bình và tự phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) đã đem lại không khí mới tích cực trong các đơn vị. Các tổ chức Đảng từ Đảng bộ đến các chi bộ đã duy trì tốt chế độ sinh hoạt theo đúng định kỳ, nội dung sinh hoạt từng bước được đổi mới, bám sát nhiệm vụ chính trị của đơn vị. Đội ngũ đảng viên trong lực lượng vũ trang địa phương có lập trường vững vàng, tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, trung thành với Tổ quốc, với Đảng, với nhân dân; có lối sống lành mạnh, phẩm chất đạo đức trong sáng, luôn gương mẫu trong học tập, công tác và chiến đấu, chấp hành tốt cương lĩnh điều lệ Đảng, pháp luật Nhà nước; có ý thức tổ chức kỷ luật, tôn trọng và thực hiện tốt các nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy được tính tiên phong gương mẫu của người đảng viên trước nhiệm vụ được giao. Song song với công tác chính trị tư tưởng, công tác tổ chức cũng có bước phát triển mới, các cấp ủy đơn vị lực lượng vũ trang thường xuyên được củng cố, kiện toàn có chất lượng, đáp ứng được yêu cầu lãnh đạo đơn vị hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Chế độ làm việc của các cấp ủy từng bước đi vào nền nếp. Qua Phân loại, tỷ lệ Chi bộ, Đảng bộ cơ sở, cấp ủy cơ sở, cấp ủy chi bộ trong sạch đạt từ 92,2% đến 96,2%. Công tác điều động bố trí, sắp xếp, đề bạt, bổ nhiệm và thực hiện chính sách cán bộ đúng nguyên tắc tập trung dân chủ. Trình độ năng lực đội ngũ cán bộ các cấp không ngừng được nâng lên. Hoạt động của đội ngũ cán bộ tăng cường cho cơ sở đều đạt hiệu quả thiết thực.

Được sự chỉ đạo chặt chẽ của Quân khu và Tỉnh ủy, Đảng ủy quân sự tỉnh thường xuyên tiến hành công tác kiểm tra đảng viên, kiểm tra các tổ chức Đảng về việc chấp hành điều lệ Đảng, nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng; kiểm tra các cơ sở Đảng và đảng viên có dấu hiệu vi phạm. Trên cơ sở đó, tập trung đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, giải quyết kịp thời các tổ chức Đảng và đảng viên nhận rõ khuyết điểm, có hướng khắc phục sửa chữa. Đồng thời, tiến hành xử lý một số đảng viên vi phạm khuyết điểm, vô ý thức tổ chức kỷ luật, thiếu tinh thần học tập và công tác, giảm sút ý chí chiến đấu, vi phạm đạo đức lối sống của người chiến sỹ Quân đội nhân dân Việt Nam.

Công tác phát triển đảng viên mới, Đảng ủy quân sự tỉnh đã tiến hành mở 9 lớp bồi dưỡng đối tượng kết nạp Đảng cho 467 chiến sỹ là quần chúng ưu tú, có nhiều thành tích xuất sắc trong công tác. Trong đó đã tổ chức kết nạp được 235 đảng viên mới, đảm bảo chất lượng. Tỷ lệ đảng viên tiền phong gương mẫu trong các đơn vị đạt 92,4%.

Đầu tháng 11 năm 2000, đồng chí Dương Hiền được đề bạt làm chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh thay đồng chí Dương Công Sửu đi nhận nhiệm vụ mới.

Giữa tháng 11 năm 2000, Đại hội đại biểu Đảng bộ quân sự tỉnh Lạng Sơn lần thứ XII được tổ chức. Đại hội đã tiến hành kiểm điểm, đánh giá công tác quân sự địa phương trong 15 năm đổi mới, 5 năm thực hiện Nghị quyết đại hội Đảng bộ quân sự tỉnh, nêu rõ những chuyển biến tiến bộ, những khuyết điểm yếu kém. Từ đó đánh giá nguyên nhân, đúc rút kinh nghiệm thực tiễn quý báu cho công tác quân sự địa phương. Đại hội đã xác định mục tiêu, đề ra phương hướng nhiệm vụ của công tác Quốc phòng - quân sự địa phương trong giai đoạn mới là:

Về mục tiêu, cần nâng cao chất lượng tổng họp của lực lượng vũ trang địa phương, làm nòng cốt cho thế trận chiến tranh nhân dân, đấu tranh làm thất bại âm mưu “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ nhân dân và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ vũng chắc chủ quyền biên giói quốc gia, tạo môi truờne thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội. Xây dụng Đảng bộ trong sạch vững mạnh gắn vói xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Về phương huớng nhiệm vụ, Nghị quyết đại hội chỉ rõ: Tập trung xây dựng lực luựng vũ trang địa phương vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành làm tốt chúc năng tham mưu cho cấp ủy, chính quyền, lãnh đạo chỉ đạo xây dụng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng khu vục phòng thủ vững chắc; nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu phòng chống “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn, lật đổ của các thế lực thù địch và chống xâm lấn biên giới; nâng cao chất lượng huấn luyện, thực hiện nền nếp chính quy, chấp hành tốt kỷ luật quân đội, tập trung xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, từng bước nâng cao đời sống cán bộ, chiến sỹ. Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) và cuộc vận động “Xây dựng chỉnh đốn Đảng”, nắm vững yêu càu mục tiêu và tiêu chuẩn xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh. Tập trung xây dựng các Đảng bộ trong lực lượng vũ trang địa phương luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, không ngừng phát huy hơn nữa vai trò lãnh đạo của Đảng đối với mọi hoạt động của lực lượng vũ trang. Đẩy mạnh công tác cán bộ, chăm lo kiện toàn tổ chức quần chúng, tạo mọi điều kiện cho Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội đồng quân nhân hoạt động đúng chức năng nhiệm vụ, đảm bảo yêu cầu bám sát nhiệm vụ chính trị của đơn vị tại địa phương.

Đại hội bầu Ban chấp hành Đảng bộ khóa XII gồm 10 đồng chí, đồng chí Dương Hiền, chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn được bầu làm phó Bí thư Đảng ủy, đồng chí Nguyễn Ngọc Hinh, chỉ huy phó chính trị được bầu làm phó Bí thư thường trực Đảng ủy Bộ chỉ huy quân sự tỉnh. Trong thời gian này, đồng chí Nguyễn Văn Khuông, được bổ nhiệm chỉ huy phó - tham mưu trưởng, đồng chí Hoàng Phi Thăng làm chỉ huy phó quân sự.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn 1947 -2002
Gửi bởi: hoi_ls trong 05 Tháng Sáu, 2013, 10:47:04 AM
Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đối với công tác quốc phòng - an ninh, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX đã chỉ rõ “Tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của Đảng, Nhà nước và của toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và công an nhân dân là lực lượng nòng cốt.

Xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có bản lĩnh chính trị vững vàng; trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân; có phẩm chất, đạo đức, lối sống lành mạnh, giản dị; kế thừa và phát huy truyền thống vẻ vans; có năng lực chỉ huy và tác chiến thắng lợi trong bất kỳ tình huống nào; có trình độ sẵn sàng chiến đấu ngày càng cao; thường xuyên cảnh giác, kịp thời đập tan mọi âm mưu và hành động xâm phạm độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và an ninh quốc gia; ngăn chặn và đẩy lùi các tội phạm nguy hiểm và các tệ nạn xã hội, bảo đảm tốt trật tự an toàn xã hội.

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ XIII đã nêu rõ về quốc phòng - an ninh “Lạng Sơn có vị trí rất quan trọng về quốc phòng và an ninh trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Những năm trước mắt, các cấp ủy Đảng, chính quyền, nhân dân các dân tộc Lạng Sơn, trong đó có bộ đội địa phương, bộ đội biên phòng, Công an nhân dân giữ vai trò nòng cốt cần thực hiện tốt những nhiệm vụ chủ yếu sau đây: Đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức về nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; xây dựng các khu vực phòng thủ, kết họp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, quốc phòng và an ninh kinh tế; củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân. Đề cao cảnh giác, chủ động phòng ngừa và làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch; tăng cường chống buôn lậu, chống tội phạm và các tệ nạn xã hội có hiệu quả; giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo của công dân, không để xẩy ra điểm nóng, giữ gìn an ninh, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, chính trị ổn định, bảo vệ vững chắc chủ quyền ỉãnh thổ của Tổ quốc.
Chăm lo xây dựng bộ đội địa phương chính qui, từng bước hiện đại với cơ cấu tổ chức và quân số hợp lý, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ và sức chiến đấu ngày càng cao, đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Tổ chức tốt lực lượng dự bị động viên, nâng cao chất lượng dân quân tự vệ. Tăng cường công tác huấn luyện, diễn tập, quản lý tốt vũ khí, khí tài quân sự, bảo đảm chất lượng và hoàn thành chỉ tiêu giao quân hàng năm”.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ quân sự tỉnh, trong 3 năm từ năm 2001 - 2002, Đảng ủy - Bộ chỉ huy quân sự tỉnh đã chỉ đạo tốt trong việc tổ chức xây dựng lực lượng về mọi mặt, đảm bảo hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ.

Trong 2 năm 2001 - 2002 Bộ chỉ huy quân sự tỉnh tổ chức các đợt tham gia hội thao, hội thi với trên đều đạt thứ hạng cao. Hội thao Phòng không lục quân đạt giải nhất toàn quân (2001), Hội thao phòng không 3 thứ quân của Quân khu gồm Trung đội tự vệ 14,5 ly Mỏ Na Dương, Trung đội 12,7 ly dân quân thị trấn Mẹt và Tiểu đoàn bộ binh 1 đạt nhất toàn đoàn (2002), đồng thời trong 2 năm các đoàn thanh tra, kiểm tra của Bộ Quốc phòng, quân khu kiểm tra toàn diện các mặt công tác đều đạt kết quả khá trở lên và được Quân khu đánh giá là một trong những tỉnh khá.

Năm 2002 được sự chỉ đạo trực tiếp của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu I, Tỉnh Lạng Sơn tiện hành diễn tập khu vực phòng thủ tỉnh theo Nghị quyết 02 của Bộ chính trị - Đảng ủy Bộ chỉ huy quân sự tỉnh đã tham mưu với Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, lãnh đạo, chỉ đạo các cấp, các ngành làm tốt mọi công tác chuẩn bị và thực hành diễn tập hoàn thành tốt nhiệm vụ, đạt được mục đích yêu cầu đề ra. Đặc biệt sự vận hành theo cơ chế 02 của Bộ Chính trị được nhịp nhàng, đồng bộ và liên tục có hiệu quả; rõ nét hơn là cấp tỉnh, huyện. Đồng thời trong diễn tập cũng mang lại kết quả thiết thực được Quân khu đánh giá tốt. Tỉnh cũng rút ra được bài học quý báu trong công tác Quốc phòng an ninh.

Với những thành tích và kết quả đạt được trong năm qua là động lực thúc đẩy, tạo đà nâng bước cho lực lượne vũ trang và Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn bước tiếp trong chặng đường của những năm tiếp theo giành nhiều thắng lợi to lớn trong công cuộc đổi mới của đất nước.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn 1947 -2002
Gửi bởi: hoi_ls trong 05 Tháng Sáu, 2013, 10:48:20 AM
KẾT LUẬN

Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam quang vinh, trực tiếp là Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn. Kể từ khi thành lập tháng 3 năm 1947 đến nay, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn đã trải qua hơn nửa thế kỷ xây dựng, chiến đấu và trưởng thành.

Chặng đường 50 năm của mình, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn đã trải qua ba cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc của dân tộc đầy gian khổ, hy sinh và đã giành được những chiến công rất vẻ vang. Đó là cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.

Ra đời trong hoàn cảnh cả nước vừa bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp: Đây là bước phát triển của tổ chức lực lượng vũ trang tỉnh Lạng Sơn, khẳng định được sự phát triển và sức mạnh to lớn của lực lượng vũ trang và là lực lượng nòng cốt của chiến tranh nhân dân bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền cách mạng. Động viên con em các dân tộc trong tỉnh, tham gia vào quân đội bổ sung cho các chiến trường. Thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội, phát động du kích chiến tranh phối hợp với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương lập nên những chiến công hiển hách, tiêu diệt hàng ngàn tên địch biến con đường số 4 anh hùng trở thành “Con đường chết” của kẻ thù, giải phóng biên giới, giải phóng Lạng Sơn. Tích cực chi viện cho chiến trường, cùng cả nước đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi hoàn toàn.

Khi cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tỉnh đội Lạng Sơn và sau này là Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn, được sự giúp đỡ, chỉ đạo của Bộ quốc phòng, Quân khu, sự lãnh đạo chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn đã vượt lên mọi khó khăn, xây dựng trở thành Bộ chỉ huy quân sự địa phương có đủ khả năng thực hiện tốt nhiệm vụ chiến lược trên địa bàn chiến lược, vừa chiến đấu, vừa chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến, động viên 27069 thanh niên nhập ngũ. Thực hiện tốt cuộc chiến tranh nhân dân đầy sáng tạo và phong phú. Thực hiện chủ trương toàn dân đánh máy bay, lấy lực lượng phòng không làm nòng cốt lực lượng vũ trang Lạng Sơn cùng dân quân cả nước đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ đưa đất nước đến thắng lợi hoàn toàn. Cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, lực lượng vũ trang Lạng Sơn. Cùng đồng bào các dân tộc trong tỉnh kiên quyết bảo vệ mọi thành quả cách mạne mà nhân dân ta đã đổ bao xương máu mới dành được, luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, xây dựng cơ quan, đơn vị và cho mọi cán bộ chiến sỹ có nhận thức chính trị tốt kiên quyết chống mọi âm mưu “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, xây dựng tốt phương án phòng thủ từ tỉnh đến huyện, xã. Luôn được tổ chức diễn tập theo phương án, bảo vệ vững chắc biên cương Tổ quốc. Xây dựng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh có đủ khả năng làm tốt chức năng tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương về mặt quốc phòng, an ninh, sẵn sàng đập tan mọi âm mun phản loạn, bất kỳ ở quy mô nào đáp ứng với tình hình mới.

Sự trưởng thành và lớn mạnh ấy bắt nguồn từ đường lối đúng đắn về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân và nền quốc phòng toàn dân của Đảng, trong đó có sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng ủy Quân khu I, Tỉnh ủy Lạng Sơn, của các cấp ủy Đảng các huyện, thành và cơ sở.
Hơn 50 năm qua, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh luôn luôn nhận được sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, sự giúp đỡ của Mặt trận Tổ quốc, các ban, ngành đoàn thể trong tỉnh đã nâng bước cho sự trưởng thành của mình, đặc biệt là sự nuôi dưỡng, chở che, đùm bọc, động viên của nhân dân các dân tộc trong tỉnh.

Trang sử vẻ vang của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh hơn 50 năm còn được kết tinh bằng xương máu, mồ hôi, công sức của nhiều thế hệ cán bộ, đảng viên, chiến sỹ đã từng chiến đấu, công tác ở Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn.

Trong quá trình xây dựng, phát triển và trưởng thành của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh qua các thời kỳ là những mốc son chói lọi, thể hiện trí tuệ, sự đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động của toàn thể cán bộ, chiến sỹ trong lực lượng vũ trang nhân dân trong tỉnh. Đó mãi mãi là truyền thống quý báu, là niềm tự hào, là niềm tin, là sức mạnh của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh trên từng bước đường tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới, xây dựng Lạng Sơn thành một tỉnh ngày càng giàu đẹp, văn minh.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn 1947 -2002
Gửi bởi: hoi_ls trong 05 Tháng Sáu, 2013, 02:41:02 PM
PHẦN II

CÁC ĐỒNG CHÍ CHỈ HUY TRƯỞNG BỘ CHQS LẠNG SƠN


(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/50420085_2266097183674854_4911468194452996096_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_oc=AQmvJ1PTGYpYk4YwpphP4hyiRI_Fo3WkVigkKtTM-rNbws-gttKku3HzXJuXdBeBM9s&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=28b87cf6eb921cf157108eda95e45058&oe=5CC4959D)


1- Đồng chí: NGUYỄN TRUNG TÍN
Sinh ngày: 4 tháng 2 năm 1920.
Dân tộc: Tày.
Quê quán: Xã Đa Thông, huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng.
Trú quán: Thị trấn Thông Nông, huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng.
Tham gia cách mạng tháng 4 năm 1936.
Nhập ngũ: Ngày 22 tháng 5 năm 1946.

Chức vụ: Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Bộ dân quân tỉnh Lạng Sơn (năm 1947 - 1948). Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam năm 1945. Tham gia cách mạng năm 1936 đến năm 1946, đồng chí là cán bộ Hội cứu quốc, Phó Chủ nhiệm Việt Minh huyện Thông Nông. Tháng 2 năm 1946 đến tháng 2 năm 1947, đồng chí được tăng cường về tỉnh Lạng Sơn.

Từ tháng 3 năm 1947 đến tháng 10 năm 1948, đồng chí giữ chức Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Bộ dân quân tỉnh Lạng Sơn.

Tháng 11 năm 1948 đến tháng 3 năm 1967, giữ các chức: Trưởng ban Tác chiến tỉnh đội dân quân, Huyện đội trưởng, kiêm Chính trị viên huyện, Chủ tịch Liên Việt, Trưởng ban tuyên huấn huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.

Tháng 4 năm 1967 đến năm 1973, Phó Chủ tịch huyện, Trưởng ban kiểm tra Đảng, kiêm Trưởng ban lịch sử đảng huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng. Năm 1974, đồng chí nghỉ hưu.



2- Đồng chí: NGUYỄN XUÂN TIỄN
Sinh năm 1915.
Dân tộc: Kinh
Quê quán: Thị xã Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
Trú quán: Thành phố Vũng Tầu, tỉnh Vũng Tầu Côn Đảo.
Tham gia cách mạng năm 1944.

Chức vụ: Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Bộ dân quân tỉnh Lạng Sơn (tháng 11 năm 1948 đến tháng 3 năm 1950). Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam năm 1946.

Năm 1944, đồng chí tham gia vào Mặt trận Việt Minh, sau cách mạng tháng Tám năm 1945, làm Chỉ huy trưởng Mặt trận Cứu quốc của thị xã Bắc Giang.

Tháng 11 năm 1948 đến tháng 3 năm 1950, đồng chí giữ chức Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Bộ dân quân tỉnh Lạng Sơn.

Tháng 4 năm 1950 đến năm 1952 là đặc phái viên, ủy viên kháng chiến liên khu Việt Bắc. Năm 1953 đến năm 1975, chuyển sang làm công tác giao thông, chánh thư ký công đoàn Phó ty, Trưởng ty giao thông, tỉnh Vĩnh Phúc.

Năm 1976, đồng chí nghỉ hưu và đã từ trần năm 1988 tại thành phố Vũng Tầu.



3- Đồng chí: HOÀNG LONG XUYÊN
Sinh năm 1917
Dân tộc: Tầy
Quê quán: Xã Nam Tuấn, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng.
Trú quán: Thị trấn Chùa Hang, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
Tham gia cách mạng tháng 02 năm 1940.
Nhập ngũ: Ngày 22 tháng 12 năm 1944.

Cấp bậc: Đại tá; Chức vụ: Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Bộ dân quân tỉnh Lạng Sơn (từ tháng 04 năm 1950 đến tháng 02 năm 1951); Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam năm 1945.

Năm 1944, nhập ngũ và giữ các chức vụ: Tiểu đội trưởng, Chi đội trưởng giải phóng quân, Trung đoàn phó trung đoàn 28 Lạng Sơn.
Từ tháng 4 năm 1950 đến tháng 01 năm 1951, giữ chức Trung đoàn phó trung đoàn 28, kiêm Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Bộ dân quân tỉnh Lạng Sơn.

Tháng 02 năm 1951 đến năm 1956, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 176, Sư đoàn 316; Trung đoàn phó Trung đoàn 238, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 246. Năm 1961 đến năm 1966, Chỉ huy trưởng, kiêm Giám đốc Công an vũ trang khu tự trị Việt Bắc. Năm 1976, Trưởng phòng điều tra Hình sự - Bộ Tư lệnh Biên Phòng.

Năm 1983 nghỉ hưu tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.



4- Đồng chí: LÝ THẾ KIM
Sinh ngày 21 tháng 3 năm 1917
Dân tộc: Tày
Quê quán: Xã Chí Thảo, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng.
Trú quán: thị trấn Quảng Uyên, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng.
Tham gia cách mạng năm 1940, nhập ngũ tháng 3 năm 1945.

Cấp bậc: Trung tá; chức vụ: Tỉnh đội truởng Tỉnh đội Lạng Sơn (năm 1951 đến năm 1956); Phó Chủ tịch ủy ban hành chính tỉnh Lạng Sơn. Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam năm 1945.

Tham gia cách mạng năm 1940 đến năm 1945, làm liên lạc đội tuyên truyền cách mạng dân chủ phản đế bài phong Cao Bằng, Lạng Sơn.

Năm 1945, vào bộ đội đồng chí giữ các chức vụ: Tiểu đội phó, chính trị viên, đại đội phó, đại đội trưởng - vệ quốc đoàn chi đội Lạng Sơn. Từ năm 1946 đến tháng 12 năm 1949, giữ chức Chính trị viên, kiêm tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 97, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 100, 374, 383 Trung đoàn 28 Lạng Sơn. Năm 1950, là Phó Giám đốc trường Quân chính Cao - Bắc - Lạng. Năm 1951, Tham mưu trưởng trung đoàn 174.

Tháng 8 năm 1951 đến tháng 6 năm 1956, giữ chức Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Lạng Sơn. Từ tháng 7   năm 1956 đến tháng 6 năm 1959, Phó Chủ tịch Ủy ban hành chính tỉnh Lạng Sơn. Tháng 9 năm 1959 đến tháng 10 năm 1968, Phó Chính ủy, Chính ủy Công an nhân dân vũ trang Khu tự trị Việt Bắc. Tháng 11 năm 1968, sang phụ trách Hiệu trưởng trường Trung học Công nghiệp Miền núi. Tháng 9 năm 1973, đồng chí nghỉ hưu tại thị trấn Quảng Uyên, huyện Hòa Quảng, tỉnh Cao Bằng. Đồng chí đã từ trần tháng 01 năm 1997.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn 1947 -2002
Gửi bởi: hoi_ls trong 05 Tháng Sáu, 2013, 02:44:15 PM
(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/50031977_2266097150341524_2218452755591200768_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_oc=AQlLt1i6_Gqf8wuyyYZFxNdEYzcZ7mTKhklxm-Q25EMwU_aZXzx7AW9Dr3gscZHp_uY&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=bcfb49323b1bcdca467613449d59b329&oe=5CB91B06)


5- Đồng chí: HOÀNG BÌNH KIM
Sinh ngày 21 tháng 12 năm 1919
Dân tộc: Tày
Quê quán: Xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng

Tham gia cách mạng tháng 02 năm 1936. Nhập ngũ tháng 3 năm 1945; cấp bậc: Trung tá, chức vụ: Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Lạng Sơn năm (1961 đến năm 1965). Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam năm 1944.

Năm 1946, đồng chí tham gia hoạt động cách mạng làm liên lạc, xây dựng cơ sở, đưa đón cán bộ. Từ năm 1941 đến năm 1945, phụ trách đội tự vệ xã, là Trung đội trưởng, Chính trị viên đại đội 04 huyện Hà Quảng.

Từ năm 1946 đến năm 1952, đồng chí tham gia Nam tiến, Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn Bảo vệ Thủ Đô, rồi tiểu đoàn Tây Tiến, Tiểu đoàn Phó Tiểu đoàn Lạng Sơn.

Tháng 01 năm 1953 đến năm 1957, Tỉnh đội phó tỉnh đội Thái Nguyên. Tháng 01 năm 1958 đến tháng 12 năm 1960, Tỉnh đội phó Tỉnh đội Lạng Sơn.

Tháng 01 năm 1961 đến tháng 5 năm 1965, đồng chí giữ chức Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Lạng Sơn.

Tháng 6 năm 1965 đến tháng 12 năm 1974 đồng chí giữ các chức vụ: Trung đoàn trưởng Quân khu Việt Bắc, Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Cao Bằng, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc tỉnh Cao Bằng. Năm 1975, đồng chí nghỉ hưu tại xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.

Trong chiến tranh tháng 02 năm 1979, đồng chí đã cùng lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Cao Bằng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và đã hy sinh anh dũng trên chiến hào.



6- Đồng chí LÂM VĂN KIẾM
Sinh ngày 15 tháng 02 năm 1921
Dân tộc: Tầy
Quê quán: Xã Ngọc Khê, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.
Trú quán: Phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
Tham gia cách mạng tháng 3 năm 1945; nhập ngũ tháng 8 năm 1945; Đảng viên Đảnẹ công sản Việt Nam năm 1947.

Cấp bậc: Trung tá; chức vụ: Tỉnh đội trưởng Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn (tháng 01 năm 1971 đến tháng 12 năm 1976).

Trước cách mạng tháng 8 năm 1945, đồng chí là Tiểu đội trưởng, Trung đội trưởng du kích. Sau cách mạng tháng 8, đến năm 1953, là Trung đội trưởng Đại đội 400 tỉnh Cao Bằng, Đại đội phó Trung đoàn 174, Sư đoàn 316.

Tháng 01 năm 1954 đến tháng 12 năm 1968, đồng chí giữ các chức vụ: Đại đội trưởng, Tiểu đoàn phó, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 24, Sư đoàn 351, Tham mưu trưởng, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 123 pháo cao xạ, Phó Chủ nhiệm, Chủ nhiệm Sở chỉ huy Phòng không Quân khu Hữu Ngạn.

Từ tháng 10 năm 1968 đến năm 1970, giữ chức Chủ nhiệm Phòng không Quân khu, Đoàn trưởng Đoàn 222 Quân khu Việt Bắc.

Tháng 01 năm 1971 đến tháng 12 năm 1976, giữ chức: Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn.

Tháng 01 năm 1977, đồng chí nghỉ hưu. Đồng chí đã từ trần tháng 12 năm 1997.



7- Đồng chí: HOÀNG CAO NGÔN
Sinh tháng 8 năm 1922
Dân tộc: Tày
Quê quán: Xã Đề Thám, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng.

Tham gia cách mạng năm 1941; cấp bậc: Đại tá, chức vụ: Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Cao Lạng (năm 1976 đến tháng 12 năm 1978). Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam năm 1944.

Tháng 3 năm 1941 đến tháng 3 năm 1945, đồng chí phụ trách đội tự vệ xã. Tháng 4 năm 1945 đến tháng 8 năm 1950, chính trị viên đại đội địa phương huyện Thạch An, Đại đội trưởng 924 - Tiểu đoàn 55 -Trung đoàn 174.

Tháng 9 năm 1950 đến năm 1959, Học viên trường Lục quân là: Tiểu đoàn phó, Tiểu đoàn trưởng khung huấn luyện trường Sỹ quan Lục quân.

Năm 1960 đến tháng 7 năm 1963, Tham mưu phó Lữ đoàn Dù 305 Bộ Quốc phòng. Tháng 8 năm 1964 đến tháng 7 năm 1976, làm Chuyên gia Quân sự giúp lực lượng Trung lập và Quân đội Pa Thét Lào.

Từ tháng 8 năm 1976 đến tháng 12 năm 1978, là Chủ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Cao Lạng. Sau khi tách tỉnh tháng 01 năm 1979, đồng chí là Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Cao Bằng. Tháng 10 năm 1981, đồng chí nghỉ hưu và làm Chủ tịch Hội Cựu chiến binh tỉnh Cao Bằng.



8- Đồng chí: LÊ SƠN
Sinh năm 1926
Dân tộc: Tày
Quê quán: SN 47, đường Nguyễn Du, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

Tham gia cách mạng tháng 8 năm 1945; nhập ngũ: Tháng 7 năm 1946; cấp bậc: Thiếu tướng; chức vụ: Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn (năm 1979 đến tháng 9 năm 1981). Ủy viên Ban Thường vụ tỉnh Lạng Sơn. Đại biểu Quốc hội khóa VII; Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam năm 1947.

Từ tháng 8 năm 1945 đến tháng 6 năm 1946, đồng chí tham gia vào du kích thanh niên Cứu quốc.

Tháng 7 năm 1946, đồng chí vào bộ đội giữ chúc Tiểu đội truởng Trung đoàn 28 Lạng Sơn.

Từ tháng 3 năm 1947 đến tháng 8 năm 1963, đồng chí giữ các chức vụ: Trung đội trưởng, Đại đội phó, Đại đội trưởng, Tiểu đoàn trưởng - Trung đoàn 174 - Sư đoàn 316; sau đi học trường Phun De tại Liên Xô, học viên trung cao Hà Nội.

Tháng 7 năm 1963 đến tháng 5 năm 1966, Trung đoàn truởng Trung đoàn 174, 673 Quân khu Tây Bắc.

Từ tháng 6 năm 1966 đến tháng 12 năm 1978, giữ các chúc vụ: Tham mưu phó, Tham mưu trương, Tư lệnh Phó Sư đoàn 316, quyền Tư lệnh truởng Sư đoàn 316B - Quân khu IV; Tư lệnh trưởng Sư đoàn 324, Binh đoàn 678 Lào.

Từ tháng 01 năm 1979 đến tháng 6 năm 1979 và tháng 10 năm 1980 đến tháng 9 năm 1981, giữ chúc chỉ huy trưởng - Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn.

Tháng 10 năm 1981 đến tháng 10 năm 1987, Phó Tư lệnh Quân đoàn 26 Quân khu I. Tháng 11 năm 1987, đồng chí nghỉ hưu tại phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn 1947 -2002
Gửi bởi: hoi_ls trong 05 Tháng Sáu, 2013, 02:46:31 PM
(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/50501296_2266097257008180_5532712343118544896_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_oc=AQlCDv57Qbr5hOOP9mPrHdWbCbGMXtqe7FmRiiNvUtBCWYpPDtK4KceE_lEw_574DgY&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=10d0a732348934e6af0a1606681c2d0a&oe=5CCED18D)


9- Đồng chí: LUƠNG NGỌC CHI
Sinh ngày 13 tháng 6 năm 1926
Dân tộc: Kinh
Quê quán: Xã Yên Giang, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh.
Trú quán: Khu tập thể 37 Lý Nam Đế, thành phố Hà Nội.

Tham gia cách mạng tháng 3 năm 1945; nhập ngũ tháng 8 năm 1945; cấp bậc: Thiếu tướng; chức vụ: Hiệu trưởng trường Quân chính Quân khu I; Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn (tháng 7 năm 1979 đến 9 năm 1980). Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam năm 1946.

Năm 1945, nhập ngũ là Tiểu đội trưởng, Trung đội trưởng Tự vệ chiến đấu Hà Nội. Tháng 3 năm 1947 đến tháng 12 năm 1953, Trưởng ban chính trị Bộ Quốc phòng, Trung đoàn phó Trung đoàn 174.

Tháng 01 năm 1954 đến tháng 02 năm 1979, giữ các chức vụ: Tham mưu trưởng quân tình nguyện Lào, Trưởng phòng nghiên cứu Trung cao, Cục phó Cục Dân quân - Bộ tổng tham mưu; Sư đoàn phó Sư đoàn 338; Tham mưu phó Quàn đoàn I; Trưởng khoa chiến thuật học viện cấp cao. Tháng 3 năm 1979, ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lạng Sơn.

Từ tháng 7 năm 1979 đến tháng 9 năm 1980, chỉ huy trưởng - Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn.

Tháng 10 năm 1980 đến tháng 10 năm 1986, Hiệu trưởng trường Quân chính Quân khu I. Tháng 11 năm 1986, nghỉ hưu và đã từ trần tháng 11 năm 2002.



10- Đồng chí: ĐOÀN ĐỘ
Sinh năm 1924
Dân tộc: Tầy
Quê quán: Xã Hùng Sơn, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.
Trú quán: SN 24, phố Đường Thành, phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn.

Tham gia cách mạng tháng 5 năm 1945; nhập ngũ tháng 9 năm 1945; cấp bậc: Đại tá; chức vụ: Chỉ huy trưởng - Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn (tháng 10 năm 1981 đến tháng 3 năm 1986). Ủy viên Ban Thuờng vụ Tỉnh ủy, Bí thư Đảng ủy Quân sự tỉnh. Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam năm 1947.

Tháng 8 năm 1945 nhập ngũ là Tiểu đội trưởng, Chính trị viên trung đội - Đại đội độc lập của huyện Văn Uyên - Ôn Châu Lạng Sơn.
Từ tháng 9 năm 1947 đến tháng 9 năm 1959, Chính trị viên Đại đội, Tiểu đoàn, Phó Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn 98, 08, 176, 174 - Sư đoàn 316.

Tháng 10 năm 1959đến tháng 4 năm 1956, Chủ nhiệm chính trị, Chính ủy trường Quân chính Quân khu Tây Bắc. Tháng 5 năm 1965 đến tháng 7 năm 1978, Phó Chính ủy Sư đoàn 316 chiến đấu ở chiến trường Bắc Lào - Xiêng Khoảng - Cánh đồng Chum và chiến dịch Tây Nguyên.

Tháng 8 năm 1978 đến tháng 9 năm 1979, Chính ủy Sư đoàn 411 - Quân khu I; Sư đoàn 345 Quân khu II.

Tháng 10 năm 1981 đến tháng 3 năm 1986, ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư Đảng ủy Quân sự tỉnh; Chỉ huy trưởng - Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn.

Tháng 4 năm 1986, đồng chí nghỉ hưu ở phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn.



11- Đồng chí: NGUYỄN NGỌC VĂN
Sinh ngày 03 tháng 10 năm 1942
Dân tộc: Kinh
Quê quán: Xã Hồng Ninh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
Trú quán: Số 02 ngõ 76 phường Tứ Liên, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.

Nhập ngũ tháng 02 năm 1961; cấp bậc: Trung tướng; chức vụ: Viện trưởng Viện chiến lược - Bộ Quốc phòng; Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn (tháng 10 năm 1987 đến tháng 02 năm 1988). Đảng viên Đảng cộng sản Việt Năm năm 1967.

Từ ngày nhập ngũ cho tới nay đồng chí phục vụ liên tục trong Quân đội và giữ nhiều chức vụ từ Tiểu đội trưởng, Trung đội trưởng, Đại đội trưởng, tới cán bộ Trung đoàn.

Tháng 8 năm 1981 đến tháng 8 năm 1986 giữ chức: Sư đoàn phó, Sư đoàn trưởng - Sư đoàn 337 - Quân đoàn 14 - Quân khu I.

Tháng 9 năm 1986 đến tháng 9 năm 1987, Tư lệnh phó, Tham mưu trưởng Quân đoàn 14 - Quân khu I.

Tháng 10 năm 1987 đến tháng 02 năm 1988, Chỉ huy trưởng - Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn.

Tháng 3 năm 1988 đến tháng 3 năm 1998, Tham mưu Phó Quân khu I, Chỉ huy trưởng - Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Hà Bắc, Tư lệnh phó Quân khu I.

Từ tháng 4 năm 1998 đến nay, đồng chí giữ chức Viện phó, Viện trưởng Viện Chiến lược - Bộ Quốc phòng.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn 1947 -2002
Gửi bởi: hoi_ls trong 05 Tháng Sáu, 2013, 02:49:21 PM
(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/50530635_2266097267008179_3391077706136289280_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_oc=AQkjX7CMt6XGrtt_-spX3r9vKMfsKiovm1TjDDmCIoPUBVaUG4wVH2vHkqTJlHG-eUQ&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=f7621348906c87a1b200c0e8f93a5295&oe=5CBB883D)


12- Đồng chí: HOÀNG ÁP
Sinh năm 1940.
Dân tộc: Tày.
Quê quán: Xã Văn Mộng, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn.
Trú quán: 243, Trần Đăng Ninh, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

Nhập ngũ ngày 19 tháng 3 năm 1959; Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1961; ủy viên Ban thường vụ Tỉnh ủy, Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự tỉnh; Đại biểu Quốc hội (khóa VIII).

Cấp bậc: Đại tá. Chức vụ: Chỉ huy trưởng - Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn (tháng 8 năm 1986 đến tháng 11 năm 1990).

Tháng 3 năm 1959, đồng chí vào bộ đội và giữ các chức vụ từ Tiểu đội trưởng, Trung đội trưởng, đến cán bộ cấp Tiểu đoàn. Tháng 3 năm 1979 đến tháng 12 năm 1981, là Trung đoàn trưởng Trung đoàn Pháo Cao Xạ; Phó Tham mưu trưởng - Sư đoàn 321 - Quân đoàn 1.

Tháng 01 năm 1982 đến tháng 7 năm 1986, giữ chức Tham mưu phó; Phó Chỉ huy trưởng - Tham mưu trưởng - Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn.

Từ tháng 8 năm 1986 đến tháng 10 năm 1987 và từ tháng 3 năm 1988 đến tháng 10 năm 1990, Chỉ huy trưởng - Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn; Ưy viên Ban thường vụ Tỉnh ủy - Đại biểu Quốc hội (khóa VIII).

Tháng 11 năm 1990, đồng chí nghỉ hưu tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn.



13- Đồng chí: DƯƠNG CÔNG SỬU
Sinh năm 1950.
Dân tộc: Tày
Quê quán: Xã Bắc Sơn, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
Trú quán: Khối 10, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
Nhập ngũ: Ngày 08 tháng 7 năm 1967.
Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1968.

Cấp bậc: Thiếu tướng; Phó Tư lệnh Quân khu I, Chỉ huy trưởng - Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn (tháng 12 năm 1990 đến tháng 10 năm 2000). Ủy viên Ban thường vụ Tỉnh ủy, Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự tỉnh, Đại biểu Quốc hội (khóa IX). Anh hùng lực lượng vũ trang (tháng 12 năm 1973).

Tháng 7 năm 1967, đồng chí nhập ngũ, chiến đấu ở chiến trường miền Nam và giữ các chức vụ: Trung đội phó, Trung đội trưởng, Đại đội trưởng đại đội 25 - Trung đoàn 209 - miền Đông Nam Bộ. Tháng 01 năm 1974 đến tháng 3 năm 1974, đồng chí cùng trong đoàn đại biểu Anh hùng lực lượng vũ trang miền Nam ra thăm miền Bắc.

Tháng 9 năm 1981 đến tháng 02 năm 1984, giữ chức Trung đoàn trưởng Trung đoàn 198 Đặc công. Tháng 3 năm 1984 đến tháng 8 năm 1986, Học viên học viện Quân sự Cấp cao.

Tháng 9 năm 1986 đến tháng 11 năm 1990, Chỉ huy phó - Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn.

Từ tháng 12 năm 1990 đến tháng 10 năm 2000, Chỉ huy trưởng - Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn; ủy viên Ban thường vụ Tỉnh ủy, Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự tỉnh; Đại biểu Quốc hội (khóa IX).

Từ tháng 11 năm 2000 đến nay, đồng chí giữ chức Phó Tư lệnh Quân khu I.



14- Đồng chí: DƯƠNG HIỀN
Sinh năm 1955.
Dân tộc: Tày.
Quê quán: Xã Hữu Vĩnh, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
Trú quán: Đường Nguyễn Thái Học, phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn.
Nhập ngũ: Tháng 12 năm 1971.

Cấp bậc: Đại tá. Chức vụ: Chỉ huy trưởng - Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn (tháng 11 năm 2000 đến nay), Ủy viên Ban thường vụ Tỉnh ủy, Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự tỉnh; ủy viên ủy ban An ninh Quốc phòng; Đại biểu Quốc hội (khóa XI). Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tháng 12 năm 1971, đồng chí vào bộ đội ở đơn vị Trung đoàn 97 - Bộ Tư lệnh Pháo Binh, Học viên trường Quân Y - Đại đội 15 - Sư đoàn 312 Quảng Trị.

Từ tháng 4 năm 1974 đến tháng 7 năm 1977, Học viên trường sỹ quan Pháo Binh; Trung đội trưởng, Đại đội phó, Đại đội trưởng, trợ lý Pháo Binh, Tiểu đoàn phó, Tiểu đoàn Trưởng - Tiểu đoàn 22 - Quân khu II. Tháng 9 năm 1984 đến tháng 8 năm 1987, Học viên Học viện Lục Quân.

Tháng 9 năm 1987 đến tháng 4 năm 1994, giữ chức Tham mưu trưởng, Trung đoàn trưởng - Trung đoàn 120; Chủ nhiệm Pháo Binh Sư đoàn 327 - Quân đoàn 14.

Tháng 5 năm 1994 đến tháng 8 năm 1994, Phó chủ nhiệm Pháo Binh - Quân khu I. Tháng 9 năm 1994 đến tháng 5 năm 1997, Học viên Học viện Quốc phòng.

Tháng 6 năm 1997 đến tháng 9 năm 1997, Tham mưu phó - Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn.

Tháng 10 năm 1997 đến tháng 10 năm 2000, Chỉ huy phó - Tham mưu trưởng - Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn.

Tháng 11 năm 2000 đến nay, giữ chức Chỉ huy trưởng - Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn. Ủy viên Ban thường vụ Tỉnh ủy, Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự tỉnh, ủy viên ủy ban An ninh Quốc phòng, Đại biểu Quốc hội (khóa XI).


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn 1947 -2002
Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Sáu, 2013, 01:43:41 PM
CÁC ĐỒNG CHÍ CHÍNH ỦY, CHỈ HUY PHÓ CHÍNH TRỊ, PHÓ CHÍNH ỦY

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/51014175_2266096957008210_2085944673683111936_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_oc=AQloaI94udeneaQ3dBUQOD6c946Hmi6S7bKQAhBuJ2jc-r5_4dEldoUpnCdmm76arGA&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=135644a6e0281be3ed79a1eb844db119&oe=5D005A5D)


1- Đồng chí: PHAN MINH TUỆ
Sinh ngày 9 tháng 4 năm 1922.
Dân tộc: Kinh.
Quê quán: Xã Quỳnh Phương, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
Trú quán: Số 01 Lê Phụng Hiểu, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

Tham gia cách mạng tháng 6 năm 1940; nhập ngũ: Tháng 7 năm 1945; chức vụ: Chính trị viên đội Bộ dân quân tỉnh Lạng Sơn (tháng 2 năm 1947 đến tháng 7 năm 1948). Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1940.

Năm 1940 đồng chí liên lạc cho cách mạng ở tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Yên, Tuyên Quang. Tháng 9 năm 1945, là Ủy viên chính trị ủy ban Hành chính tỉnh Lạng Sơn. Tháng 7 năm 1946, Phó Bí thư Thị ủy, phụ trách Việt Minh thị xã Lạng Sơn, Chánh văn phòng kinh tế Ủy ban tỉnh.

Tháng 3 năm 1947 đến tháng 7 năm 1948, là Ủủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, chính trị viên đội Bộ dân quân tỉnh Lạng Sơn.

Tháng 8 năm 1948 là Trưởng ban Đảng vụ tỉnh, Thường trực Tỉnh ủy, tháng 2 năm 1950, công tác tại Tiều ban cán bộ của Ban tổ chức Trung ương. Tháng 4 năm 1954, là Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy Lạng Sơn.

Từ tháng 8 năm 1955 đến tháng 01 năm 1979, đồng chí công tác tại Bộ Tài chính và đảm nhiệm các chức vụ: Trưởng phòng Hành chính văn xã, Phó vụ Trưởng vụ Tài Vụ kiến thiết kinh tế, Giám đốc Ngân hàng kiến thiết Trung ương. Tháng 02 năm 1979 đến tháng 01 năm 1985, Nhà nước cử đi làm nhiệm vụ Ủy viên đoàn chuyên gia cao cấp Việt Nam - Trưởng đoàn chuyên gia Bộ Tài chính sang giúp nước bạn Cam Pu Chia.

Tháng 2 năm 1985 đồng chí nghỉ hưu và đã từ trần ngày 03 tháng 7 năm 2002 tại Hà Nội.



2- Đồng chí: TRẦN ĐỊNH
Sinh ngày 15 tháng 8 năm 1920.
Dân tộc: Tày.
Quê quán: Xã Đề Thám, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.
Trú quán: Số 6 đường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

Tham gia hoạt động cách mạng tháng 5 năm 1942, nhập ngũ tháng 5 năm 1949, Cấp bậc: Đại úy, chức vụ: Chính trị viên tỉnh đội Bộ dân quân tỉnh Lạng Sơn (tháng 11 năm 1950 đến tháng 12 năm 1954). Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1946.

Tháng 5 năm 1942, là Tổ trưởng Tổ thanh niên Cứu Quốc xã Đề Thám, tháng 6 năm 1946, là chủ nhiệm Việt Minh huyện Tràng Định.

Tháng 7 năm 1947 đến tháng 5 năm 1949, giữ các chức vụ: Bí thư Huyện ủy huyện Tràng Định; Bí thư Huyện ủy huyện Bắc Sơn; Bí thư Huyện ủy huyện Bằng Mạc. Tháng 6 năm 1949 đến tháng 10 năm 1950, là Trưởng ban cán sự, kiêm chính trị viên huyện đội Cao Lộc B.

Tháng 11 năm 1950 đến tháne 12 năm 1954, giữ chức vụ: Chính trị viên tỉnh đội Bộ dân quân tỉnh Lạng Sơn.

Tháng 01 năm 1955 đến tháng 4 năm 1961 trợ lý chính trị Quân khu Việt Bắc. Tháng 5 năm 1961, đồng chí chuyển ngành sang Ty Lương thực và là Trưởng Ty lương thực tỉnh Lạng Sơn. Năm 1974, được nghỉ hưu tại phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.



3- Đồng chí NÔNG TUẤN PHONG
Sinh ngày 27 tháng 9 năm 1916.
Dân tộc: Tày.
Quê quán: Xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.
Trú quán: Phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

Tham gia cách mạng năm 1940, nhập ngũ: 20 tháng 4 năm 1946; chức vụ: Chính trị viên Phó tỉnh đội Lạng Sơn (năm 1953 - 1957). Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1945.

Cuối năm 1940, hoạt động tại Quảng Tây Trung Quốc. Tháng 4 năm 1944, là cán bộ Việt Minh, ủy viên ủy ban Hành chính huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn. Tháng 4 năm 1946 đến tháng 10 năm 1947, là đặc phái viên quân sự chi đội Bộ giải phóng quân tỉnh Lạng Sơn, chính trị viên Tiểu đoàn 99, Trung đoàn 28 Lạng Sơn. Tháng 10 năm 1947 đến tháng 8 năm 1949, giữ chức: Chính trị viên Tiểu đoàn 386, chỉ huy Trưởng mặt trận 1 Trung đoàn 174. Tháng 9 năm 1949 đến tháne 4 năm 1951, Tiểu đoàn Trưởng tiểu đoàn 185 Trung đoàn 246.

Từ tháng 10 năm 1953 đến tháng 10 năm 1957, giữ chức chính trị viên Phó tỉnh đội Lạng Sơn.

Năm 1957 đến năm 1959, chuyển ns;ành làm ủy viên Ủy ban Hành chính, Phó Trưởng ty thương nghiệp tỉnh Lạng Sơn.

Từ tháng 8 năm 1959 đến tháng 10 năm 1961, giữ chức Bí thư Huyện ủy huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.

Tháng 8 năm 1963 đến tháng 12 năm 1970, giữ chức: Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn.

Năm 1971, đồng chí nghỉ hưu tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Đồng chí đã từ trần năm 1991.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn 1947 -2002
Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Sáu, 2013, 02:04:51 PM
(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/50534997_2266096970341542_601739134511349760_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_oc=AQm3RwgH-lYm00wNhviHuNtp_GSbE9K8itSUq6wc7lHIetZAYKwxz-_MR7j0LVVzTKU&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=28b15dfd6202366ded1cbe2e586825a3&oe=5CB77E1D)


4- Đồng chí: HOÀNG VIỆT LONG
Sinh ngày 01 tháng 8 năm 1922.
Dân tộc: Tày.
Quê quán: Xã Tân Đoàn, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn.

Tham gia cách mạng tháng 5 năm 1945, nhập ngũ tháng 4 năm 1946, Cấp bậc: Đại tá, chức vụ: Chính trị viên Phó tỉnh đội Lạng Sơn (1955 - 1958), Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1946.

Tháng 5 năm 1945, tham gia Hội thanh niên Cứu Quốc. Tháng 4 năm 1946, là chiến sỹ huyện Văn Quan. Từ tháng 4 năm 1947 đến tháng 4 năm 1954 đồng chí giữ chức huyện đội Trưởng, chính trị viên huyện đội Văn Quan. Tháng 5 năm 1954, chính trị viên Phó tiểu đoàn 259 bộ đội địa phương tỉnh Lạng Sơn.

Tháng 8 năm 1955 đến tháng 6 năm 1958, giữ chức Chính trị viên Phó tỉnh đội Lạng Sơn.

Năm 1962 chính trị viên tỉnh đội Bắc Cạn. từ tháng 10 năm 1964 đến tháng 3 năm 1983, giữ các cương vị: Chính ủy Trung đoàn 246 mặt trận B5, Phó chính ủy Cục Hậu cần Quân khu Việt Bắc.

Chính ủy đoàn 346, Hiệu trưởng trường Hạ sỹ quan, Phó chính ủy, Chính ủy sư đoàn 431 Quân khu I.

Năm 1983, đồng chí nghỉ hưu tại xã Tân Đoàn, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn.



5- Đồng chí: TRỊNH XUÂN ĐỨC
Sinh năm 1923.
Dân tộc: Kinh.
Quê quán: Xã Hiệp Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.

Nhập ngũ tháng 8 năm 1945; cấp bậc: Thiếu tá; Chức vụ: Phó Bí thư Tỉnh ủy, chính trị viên Tỉnh đội Lạng Sơn (năm 1959 - 1960). Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam 1947.

Tháng 8 năm 1945, vào bộ đội là đội viên ở quận Tân Bình. Tháng 11 bị địch bắt giam trong nhà tù khám lớn Sài Gòn. Tháng 6 năm 1946 được tha làm thư ký Ban công tác số 6 Sài Gòn Chợ Lớn.

Từ tháng 2 năm 1947 đến tháng 12 năm 1956, trải qua các cương vị công tác: Cán bộ tuyên huấn phòng chính trị khu 7, chính trị viên bộ đội Hải Ngoại số 01, chính trị viên Tiểu đoàn 913 Trung đoàn 305, chính trị viên bộ đội SiVoTha (Miên), chính trị viên Ban chỉ huy Quân sự miền Đông Bắc Cao Miên, chính trị viên tỉnh đội tỉnh KpCham, cán bộ nghiên cứu Ủy ban liên hiệp đình chiến Trung ương.

Tháng 01 năm 1959 đến tháng 8 năm 1960 , giữ chức chính trị viên Tỉnh đội Lạng Sơn.

Tháng 9 năm 1960 đến tháng 4 năm 1962 Phó Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Lạng Sơn. Tháng 4 năm 1962 đồng chí chuyển vào miền Nam công tác.



6- Đồng chí: NÔNG KIM KHANH
Sinh ngày 21 tháng 7 năm 1911
Dân tộc: Tày.
Quê quán: Xã Đoài Côn, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.
Trú quán: Khối Cửa Nam, phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

Tham gia cách mạng tháng 7 năm 1945, nhập ngũ tháng 3 năm 1947, cấp bậc: Đại úy, chức vụ: Chính trị viên Phó - Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn năm (1959 - 1961) Đảng viên Đảns Cộng sản Việt Nam tháng 11 năm 1946.

Trước cách mạng tháng 8 năm 1945, bị bắt buộc đi lính cho Pháp. Nhật đảo chính Pháp (tháng 3 năm 1945), đồng chí bỏ hàng ngũ địch về với cách mạng. Tháng 7 năm 1945, tham gia đội du kích, chủ nhiệm Việt Minh xã Vinh Quý. Sau cách mạng tháng 8 năm 1945 thành côn đồng chí giữ chức Ủy viên Ủy ban Hành chính Lâm thời huyện Trùng Khánh, ủy viên chấp hành Quân nhân tỉnh Cao Bằng.

Tháng 4 năm 1947, tỉnh đội Phó tỉnh đội Bộ dân quân tỉnh Cao Bằng, tháng 1 năm 1948 chỉ huy Trưởng kiêm chính trị viên mặt trận miền Đông Cao Bằng. Tháng 4 năm 1949, huyện đội Trưởng huyện Trùng Khánh. Tháng 4 năm 1952 đến năm 1954 chính trị viên tiểu đoàn huyện Trùng Khánh, Trưởng ban dân quân, Trưởng ban cung cấp tỉnh đội Cao Bằng. Tháng 1 năm 1955, Trưởng ban Tài vụ Sư đoàn 332 Quân khu Đông Bắc. Tháng 7 năm 1958 giữ chức tỉnh đội Phó tỉnh đội Bắc Ninh. Tháng 4 năm 1959 đến tháng 8 năm 1960, giữ chức tỉnh đội Phó, chính trị viên Phó tỉnh đội Lạng Sơn.

Tháng 9 năm 1960 đến tháng 4 năm 1961, chính trị viên tỉnh đội Lạng Sơn.

Tháng 5 năm 1961, chuyển ngành làm phó Trưởng ty Thương nghiệp tỉnh Lạng Sơn. Tháng 4 năm 1975 nghỉ hưu tại phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn. Đồng chí đã từ trần năm 1984.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn 1947 -2002
Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Sáu, 2013, 02:08:50 PM
(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/50035272_2266097283674844_7343949272166957056_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_oc=AQml_ALIM3EUUhDqWpRor5A6u-mwqWwa5U_dPpi42gpusKkrZanfZ76q_x4O-U5NiOc&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=6b1b7ab00787cc0379e15685bc552ed4&oe=5CB88A71)


7- Đồng chí: CHU VIỆT CƯỜNG
Sinh ngày 16 tháng 12 năm 1924.
Dân tộc: Tày
Quê quán: Xã Đề Thám, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.
Trú quán: Xã Đề Thám, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn

Tham gia cách mạng tháng 8 năm 1943, nhập ngũ tháng 2 năm 1947; cấp bậc: Thiếu tá; chúc vụ: Chính trị viên - tỉnh đội Lạng Sơn năm (1961 - 1968). Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1946.

Tháng 8 năm 1943, tham gia tổ thanh niên Cứu Quốc, tháng 4 năm 1945 đến tháng 01 năm 1947 là Ủy viên Ủy ban Hành chính, Phó Bí thư Huyện ủy kiêm chủ nhiệm Việt Minh huyện Tràng Định.

Tháng 2 năm 1947, vào bộ đội ở tiểu đoàn Đồng Đăng Trung đoàn 28 Lạng Sơn. Tháng 9 năm 1949 đến tháng 5 năm 1956, giữ chức vụ: Trưởng tiểu ban Đảng vụ, trợ lý tuyên huấn Trung đoàn 174, cán bộ tổ chức Sư đoàn 316.

Từ tháng 6 năm 1956 đến tháng 10 năm 1960, chính trị viên Tiểu đoàn bảo vệ Đường sắt, Phó ban chính trị, chính trị viên Phó tỉnh đội Lạng Sơn.

Năm 1961 đến năm 1968, chính trị viên, Bí thư Đảng ủy tỉnh đội Lạng Sơn.

Năm 1969 đồng chí nghỉ hưu tại xã Đề Thám, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.



8- Đồng chí: NÔNG VĂN HINH
Sinh ngày 8 tháng 8 năm 1924.
Dân tộc: Tày
Quê quán: Xã Kháng Chiến, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.
Trú quán: SN 6 phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

Tham gia cách mạng tháng 4 năm 1945, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1947, chức vụ: Chính trị viên Phó tỉnh đội Lạng Sơn, (năm 1962- 1964).

Tháng 4 năm 1945, là đội viên đội tự vệ xã Kháng Chiến, đội viên tuyên truyền giải phóng quân huyện Tràng Định tỉnh Lạng Sơn.

Từ tháng 9 năm 1946 đến tháng 12 năm 1960, giữ các chức vụ: Cán bộ Trung đội, Trung đoàn 28 Lạng Sơn. Phó ban cán bộ phòng chính trị Quân khu Việt Bắc. Phó ban chính trị tỉnh đội Lạng Sơn.

Tháng 01 năm 1962 đến tháng 12 năm 1964, giữ chức chính trị viên Phó tỉnh đội Lạng Sơn.

Từ tháng 01 năm 1965 đến tháng 3 năm 1970, giữ chức chủ nhiệm chính trị Trung đoàn 274, Phó phòng quân lực phòng Tham mưu, trung đoàn Phó trung đoàn 1 Sư đoàn 304B, đoàn Phó đoàn an dưỡng cán bộ Quân khu Việt Bắc. Tháng 4 năm 1970 đồng chí chuyển ngành làm thẩm phán tòa án, ủy viên Thường vụ Huyện ủy Văn Lãng, Phó Giám đốc vận tải ô tô, cán bộ nghiên cứu văn phòng Tỉnh ủy, Phó ban Nội chính tỉnh Lạng Sơn. Đồng chí đã từ trần năm 1989.



9- Đồng chí : LÊ TRẦN QUỐC
Sinh ngày 20 tháng 12 năm 1926.
Dân tộc: Tày.
Quê quán: xã Hưng Vũ, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
Trú quán: Xã Đồng Bẩm, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
Tham gia cách mạng tháng 3 năm 1941, nhập ngũ tháng 3 năm 1947.

Cấp bậc: Đại tá; chức vụ: Chính ủy - Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn (năm 1969 - 1974). Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1948.
Tham gia cách mạng đồng chí là cán bộ thanh niên ở huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Tháng 3 năm 1947, vào bộ đội là chiến sỹ trinh sát, tiểu đội trưởng. Tháng 10 năm 1949 đến tháng 3 năm 1955. Chính trị viên trung đội, chính trị viên Phó đại đội Sư đoàn 308, chính trị viên đại đội đoàn 367. Tháng 4 năm 1955 đến tháng 8 năm 1960, giữ chức chính trị viên tiểu đoàn 392 Sư đoàn 320.

Tháng 9 năm 1960 đến tháng 4 năm 1969, giữ các chức vụ: Chính trị viên đại đội văn hóa trường Quân chính Quân khu Việt Bắc.

Tháng 5 năm 1969 đến thánơ 1 năm 1974, là Chính ủy Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn.

Tháng 2 năm 1974 đến tháng 3 năm 1983, giữ các chức vụ: Chính ủy đoàn 375 Quân khu 1, Chính ủy đoàn 159 Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Bắc Thái.

Năm 1983 đồng chí được nghỉ hưu tại xóm Nhị Hòa, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Đồng chí đã từ trần năm 2001.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn 1947 -2002
Gửi bởi: hoi_ls trong 10 Tháng Sáu, 2013, 04:23:47 PM
(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/50089370_2266097383674834_1894179297359298560_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_oc=AQl3kLVF50r52rvhs63RzedRXTGPnngAO3fGQsA8nUUDp9APmSn_SBDPT3yrqAyn_sU&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=d63c4d5a493bd6cbd3812a1f774df428&oe=5CCD1B87)


10- Đồng chí: HOÀNG QUỐC VĂN
Sinh ngày 15 tháng 12 năm 1923.
Dân tộc: Nùng.
Quê quán: Xã Xuân Mai, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn.
Trú quán: Xã Xuân Mai, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn.

Tham gia cách mạng tháng 5 năm 1945, nhập ngũ: Tháng 10 năm 1947, cấp bậc: Thiếu tá; chức vụ: Phó Chính ủy - Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn (năm 1966 - 1975). Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1949.

Tháng 5 năm 1945 đến tháng 9 năm 1947, tham gia hoạt động du kích bí mật ở xã là ủy viên quân sự, tiểu đội trưởng, chính trị viên Trung đội.

Tháng 10 năm 1947, vào bộ đội làm cán sự dân quân huyện Văn Quan, công tác Quân Báo xã Mai Pha, huyện Cao Lộc.

Năm 1950, 1951 là chính trị viên Trung đội, chính trị viên đại đội địa phương tỉnh Lào Cai. Tháng 4 năm 1962 đến tháng 9 năm 1966, công tác tại phòng cán bộ Quân khu Việt Bắc.

Tháng 10 năm 1966 đến tháng 4 năm 1975, giữ chức: Phó chính úy Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn.

Tháng 5 năm 1975, đồng chí nghỉ hưu tại xã Xuân Mai, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn.



11- Đồng chí: MÃ TRỌNG
Sinh năm 1925.
Dân tộc: Nùng.
Quê quán: Xã Vân Nham, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.
Trú quán: Xã Vân Nham, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.
Tham gia cách mạng tháng 3 năm 1945, nhập ngũ tháng 5 năm 1945.
Cấp bậc: Thượng tá. Chức vụ: Chính ủy Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn (năm 1974 - 1976). Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam năm 1946.

Tháng 3 năm 1945, đồng chí là hội viên tự vệ của Việt Minh ở xã Vân Nham, huyện Hữu Lũng.

Tháng 5 năm 1945, đồng chí vào bộ đội là tiểu đội phó, tiểu đội Trưởng tiểu đội du kích Bắc Sơn, Trung đội trưởng đại đội độc lập Bố Hạ - Bắc Giang. Năm 1947 là trung đội trưởng tiễu phỉ ở Sông Hóa, Hữu Lũng.

Từ tháng 7 năm 1947 đến tháng 10 năm 1954, giữ các chức vụ: Chính trị viên trung đội cảnh vệ tỉnh đội Bắc Giang, chính trị viên đại đội địa phương Hữu Lũng, chính trị viên phó, chính trị viên huyện đội Hữu Lũng, chính trị viên đại đội 261 bảo đài Suối Ngàn Lục Ngạn.

Tháng 11 năm 1954 đến tháng 2 năm 1957, trợ lý Đảng vụ phòng chính trị Quân khu Việt Bắc. Tháng 3 năm 1957 đến tháng 8 năm 1958, giữ các chức huyện đội Trưởng huyện đội Hữu Lũng.

Tháng 9 năm 1958 đến tháng 4 năm 1962, là Bí thư Huyện ủy huyện Hữu Lũng, tỉnh ủy viên tỉnh Lạng Sơn.

Tháng 5 năm 1962 đến tháng 2 năm 1963, Chính trị viên Phó - tỉnh đội Lạng Sơn. Tháng 3 năm 1963, là Viện phó Viện Kiểm sát Quân khu Việt Bắc.

Tháng 2 năm 1974 đến tháng 6 năm 1976, Chính ủy - Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn.

Từ tháng 7 năm 1976 đến tháng 10 năm 1981, giữ chức Bí thư Huyện ủy huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn. Tháng 5 năm 1982, đồng chí nghỉ hưu tại xã Vân Nham, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.

Đồng chí đã từ trần ngày 15 tháng 7 năm 1997 tại quê nhà.



12- Đồng chí: BẾ CHU LANG
Sinh ngày 25 tháng 5 năm 1925.
Dân tộc: Tày.
Quê quán: Xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn
Trú quán: Số nhà 86 phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
Tham gia cách mạng tháng 01 năm 1945, nhập ngũ tháng 8 năm 1946.
Cấp bậc: Đại tá. Chức vụ: Chính ủy Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Cao Lạng (năm 1976- 1978). Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn. Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam năm 1946.

Năm 1945 đến tháng 7 năm 1946, là cán bộ Việt Minh của huyện Tràng Định. Tháng 8 năm 1946, đồng chí vào bộ đội là chính trị viên đại đội 315 trung đoàn 28 Lạng Sơn. Từ tháng 11 năm 1950 đến tháng 8 năm 1959, đồng chí trải qua các cương vị: Chính trị viên phó Tiểu đoàn 249, chính trị viên Tiểu đoàn 888, chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn, phụ trách Chính ủy thuộc Trung đoàn 176 Sư đoàn 316. Tháng 9 năm 1959 đến tháng 01 năm 1964, là Chính ủy Trung đoàn 249, Chính ủy Trung đoàn 50, Quân khu Tả Ngạn.

Từ tháng 02 năm 1964 đến tháng 8 năm 1976, giữ các cương vị: Phó chính ủy Lữ đoàn 350 Quân khu 3. Phó Chính ủy Quân khu Đông Bắc. Phó chủ nhiệm chính trị Quân khu Tây Bắc. Chủ nhiệm chính trị đoàn 959. Phó Chính ủy Bộ Tư lệnh 959. Và làm chuyên gia cho Lào năm 1968.

Tháng 9 năm 1976 đến tháng 2 năm 1978, Chính ủy Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Cao Lạng.

Tháng 3 năm 1978, đồng chí là học viên Học viện Quân sự cấp cao. Tháng 3 năm 1979 đến tháng 12 năm 1986, giữ chức Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn.

Tháng 3 năm 1987, đồng chí nghỉ huu tại phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn và là Chủ tịch Hội Cựu chiến binh tỉnh Lạng Sơn đến năm 1997.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn 1947 -2002
Gửi bởi: hoi_ls trong 10 Tháng Sáu, 2013, 04:26:13 PM
(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/50051891_2266097030341536_4426786499513548800_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_oc=AQmLRKpdaCTDkAc3UDzeHZr5nUzs_WSlv79HnescMYnR4DyFHqO4m3dd_YL1fjzEe_w&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=42afd81da63736c697f067bc990c6167&oe=5CC634D6)

13- Đồng chí: ĐINH TIẾN TÚC
Sinh năm 1924.
Dân tộc: Kinh.
Quê quán: Mỏ thiếc Tĩnh Túc, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng.
Trú quán: Nà Khoan, xã Minh Thanh, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng.

Tham gia cách mạng tháng 3 năm 1944, nhập ngũ tháng 10 năm 1947. Cấp bậc: Trung táằ Chức vụ: Phó Chính ủy - Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Cao Lạng năm 1976 - 1978). Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam năm 1949.

Năm 1944 đến năm 1946, tham gia tự vệ ở Mỏ thiếc Tĩnh Túc. Tháng 10 năm 1947, đồng chí vào bộ đội và là chính trị viên trung đội thuộc Huyện đội Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng.

Từ năm 1948 đến năm 1958, đồng chí là chính trị viên trung đội, đại đội, Trưởng ban Tuyên huấn, Trưởng ban cán bộ, chính trị viên Huyện đội Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng.

Tháng 01 năm 1959 đến năm 1964, giữ chức Huyện đội trưởng huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng. Năm 1965 đến năm 1967, là Trưởng ban cán bộ trường Quân chính Quân khu Việt Bắc, trợ lý cán bộ phòng Cán bộ Quân khu.

Năm 1968 - 1975, chủ nhiệm chính trị, Phó Chính ủy Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Cao Bằng.

Năm 1976 - 1978, Phó Chính ủy Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Cao Lạng.

Năm 1979, đồng chí nghỉ hưu tại địa phương, và làm Phó Bí thư, Bí thư Đảng ủy xã 02 khóa. Đồng chí đã từ trần năm 1984.



14- Đồng chí: TRẦN RỸ
Sinh ngày 05 tháng 10 năm 1927
Dân tộc: Kinh.
Quê quán: Xã Vân Canh, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây.
Tham gia cách mạng năm 1945, nhập ngũ năm 1950. Cấp bậc: Đại tá. Chức vụ: Chính ủy Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn (tháng 3 năm 1979 đến tháng 7 năm 1980). Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam năm 1946.

Năm 1945 đến năm 1950, tham gia Việt Minh hoạt động bí mật ở huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây.

Năm 1950, đồng chí vào bộ đội và giữ các cương vị từ trung đội, đại đội đến tiểu đoàn trưởng, cán bộ tổ chức Trung đoàn 52, Chủ nhiệm chính trị Trung ương 52, Trưởng Ban tổ chức Trung đoàn 52 Sư đoàn 320.

Năm 1958 đến năm 1972, đồng chí phụ trách công tác tổ chức cán bộ Quân khu Tả Ngạn, Quân khu III và chỉ huy đoàn 32 chi viện quân cho chiến trường. Năm 1972 đến tháng 02 năm 1979, Phó chủ nhiệm chính trị Quân khu III.

Tháng 3 năm 1979 đến tháng 7 năm 1980, giữ chức Chính ủy - Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn.

Tháng 8 năm 1980 đến tháng 01 năm 1983, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Lạng Sơn. Từ tháng 02 năm 1983 đến tháng 8 năm 1989, đồng chí giữ chức Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Lạng Sơn. Năm 1989, nghỉ hưu tại xã Vân canh, Hoài Đức, Hà Tây. Đồng chí đã từ trần năm 1995.



15- Đồng chí: VI TRÍ THƯ
Sinh ngày 12 tháng 10 năm 1925.
Dân tộc: Tày.
Quê quán: Thôn Hăng xã Quan Sơn, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.
Trú quán: Thôn Hăng xã Quan Sơn, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.

Tham gia cách mạng tháng 8 năm 1945, nhập ngũ tháng 11 năm 1947. Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam năm 1949. Cấp bậc: Thiếu tá. Chức vụ: Phó Chính ủy - Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn (năm 1974- 1978).

Tháng 8 năm 1945, đồng chí là Bí thư Ban Chấp hành thanh niên cứu quốc xã Quan Sơn, cán bộ thanh niên tuyên truyền huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.

Tháng 11 năm 1947, đồng chí vào bộ đội là chính trị viên trung đội, tháng 4 năm 1952 đến tháng 12 năm 1959, chính trị viên Phó, chính trị viên đại đội 263 vũ trang tự trị Quân khu Việt Bắc.

Tháng 01 năm 1960 đến tháng 4 năm 1974, chính trị viên Huyện đội Chi Lăng, trợ lý tổ chức, Phó Phòng tổ chức Cục chính trị Quân khu Việt Bắc.

Tháng 5 năm 1974 đến tháng 10 năm 1978, Phó Chính ủy - Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn.

Tháng 11 năm 1978, nghỉ hưu tại xã Quan Sơn, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn. Đồng chí đã từ trần năm 1991 tại quê nhà.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn 1947 -2002
Gửi bởi: hoi_ls trong 10 Tháng Sáu, 2013, 04:28:29 PM
(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/49344572_2266097393674833_7216161054374494208_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_oc=AQnXeCyhD2eZ6ljnkLlzur6NM-eocJV_jYGZIK9Dmn3a73vU-Q09vu1Rv5oU-6qkbVY&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=c6fab77f6296d90143b5c69a6c26c048&oe=5CBB04CD)

16- Đồng chí: LƯƠNG PHẤN
Sinh tháng 7 năm 1934.
Dàn tộc: Tày.
Quê quán: Bản Hu, An Hùng, Văn Lãng, Lạng Sơn.
Trú quán: Khối 11, Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
Nhập ngũ tháng 6 năm 1954. Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam năm 1958. Cấp bậc: Đại tá.
Chức vụ: Chỉ huy Phó chính trị - Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn (năm 1986 - 1988).

Tháng 6 năm 1954 đến tháng 4 năm 1962, đồng chí là chiến sỹ Tỉnh đội Lạng Sơn, chiến sỹ Tiểu đoàn 144 Bộ Tổng tham mưu, văn thư đánh máy cục Quân Pháp Tổng cục chính trị. Tháng 5 năm 1962, phục viên về địa phương.

Tháng 5 năm 1965, đồng chí tái ngũ là học viên trường Sỹ quan Lục quân. Từ tháng 01 năm 1966 đến tháng 12 năm 1972, Chính trị viên Phó, chính trị viên đại đội, Tiểu đoàn Phó, tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn 19 Sư đoàn 308.

Tháng 01 năm 1973 đến tháng 12 năm 1985, đồng chí trải qua các chức vụ: Giáo viên chính trị truờng Học viện Quân sự. Trưởng khoa Chính trị, hiệu Phó trường Hạ sỹ quan Quân đoàn 14, Phó Chủ nhiệm chính trị Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn.

Tháng 01 năm 1986 đến tháng 7 năm 1988, Phó chỉ huy trưởng về chính trị - Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn.

Năm 1989, đồng chí nghỉ hưu tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn và đã từ trần năm 1994.



17- Đồng chí: ĐÀM ĐÌNH TRẠI
Sinh tháng 12 năm 1947.
Dân tộc: Tày.
Quê quán: Xã Đào Ngạn, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.
Nhập ngũ: Ngày 16 tháng 02 năm 1965. Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam năm 1968. Cấp bậc: Trung tướng. Chức vụ: Phó Chủ nhiệm Tổng cực chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; Chỉ huy Phó chính trị - Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn (năm 1988 - 1991).

Tháng 02 năm 1965, đồng chí vào bộ đội là học viên lái xe tăng Bộ Tư lệnh Tăng Thiết Giáp. Tháng 8 năm 1967 đến tháng 12 năm 1972, đồng chí trải qua các cương vị công tác: Trung đội Phó, trung đội Trưởng, đại đội Phó Đại đội 1, Tiểu đoàn 19, Sư đoàn 308. Tháng 6 năm 1974, đồng chí là trợ lý tổ chức Phòng Tổ chức Quân khu I.

Năm 1978, là trợ lý tổ chức Bộ tham mưu Quân đoàn 1. Từ tháng 02 năm 1980 đến tháng 9 năm 1988, đồng chí trải qua các cương vị: Phó ban, Phó phòng, Trưởng Phòng Tổ chức, chỉ huy Phó chính trị Sư đoàn 322 Quân đoàn 26.

Tháng 10 năm 1988 đến tháng 10 năm 1991, giữ chức: Chỉ huy phó chính trị - Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn.

Từ tháng 11 năm 1991 đến tháng 12 năm 2004 đồng chí giữ chức: Chủ nhiệm chính trị, Tư lệnh Phó về chính trị, Bí thư Đảng ủy Quân khu I.
Tháng 12 năm 2004, là Phó Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.





18- Đồng chí: NGUYỄN NHƯ HÀNH
Sinh ngày 8 tháng 7 năm 1948
Dân tộc: Tày
Quê quán: Xã Quốc Việt, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.
Trú quán: Khối 11, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

Nhập ngũ: ngày 5 tháng 5 năm 1966. Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam năm 1968. Cấp bậc: Đại tá. Chức vụ: Chỉ huy Phó chính trị, Chỉ huy Phó Quân sự - Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn (năm 1991 - 1998). Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự tỉnh -Anh hùng lực lượng vũ trang.
Tháng 5 năm 1966, đồng chí vào bộ đội là tiểu đội Trưởng, trung đội Phó trung đội Trưởng, chính trị viên Phó Đại đội 15 Trung đoàn 148 Sưđoàn 316 (chiến trường Lào).

Tháng 8 năm 1974 đến tháng 2 năm 1984, đồng chí giữ các cương vị công tác: Chính trị viên Phó, chính trị viên Tiểu đoàn 28 và Tiểu đoàn Quân y, Chủ nhiệm chính trị, trung đoàn Phó chính trị Trung đoàn 174 Sư đòàn 316 Quân đoàn 29 Quân khu II. Tháng 3 năm 1984 đến tháng 10 năm 1991, là Phó Chủ nhiệm chính trị, chủ nhiệm chính trị Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn.

Từ tháng 11 năm 1991 đến tháng 11 năm 1995, là Chỉ huy phó chính trị, năm 1995 đến tháng 11 năm 1998, chỉ huy Phó Quân sự - Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn, Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự tỉnh.

Tháng 3 năm 1998, đồng chí nghỉ hưu.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn 1947 -2002
Gửi bởi: hoi_ls trong 10 Tháng Sáu, 2013, 04:30:52 PM
(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/49864286_2266097413674831_7354987570045911040_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_oc=AQnz2Iq9iBkIBNm-qq7K5WOku3hajpWqNLtu72WF0U5vTJjWS0okHn_BmtP0tnbWLj8&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=cb4402be32f986a8c487f2561f0293f4&oe=5CD1CF64)

19- Đồng chí: VI VĂN MẠN
Sinh ngày 9 tháng 01 năm 1949.
Dân tộc: Tày.
Quê quán: Xã Gia Lộc, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.
Trú quán: Khối 11, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
Nhập ngũ: Ngày 01 tháng 5 năm 1966. Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam năm 1969.
Cấp bậc: Thiếu tướng. Chức vụ: Tư lệnh phó chính trị Quân khu 1; Chỉ huy Phó chính trị - Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn (năm 1995 - 1999). Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự tỉnh - Đại biểu Quốc hội khóa 10.

Tháng 5 năm 1966 đến tháng 10 năm 1974, đồng chí là chiến sỹ, tiểu đội Trưởng, trung đội Phó, trung đội Trưởng, đại đội Trưởng Đại đội 13 Bộ tham mưu Quân khu Tây Bắc, chiến đấu Thượng Lào mặt trận 959.

Tháng 11 năm 1974 đến tháng 9 năm 1981, học bổ túc sơ cấp chính trị, đại đội Phó chính trị. Từ tháng 10 năm 1981 đến tháng 8 năm 1988, giáo viên chính trị, Phó khoa trường Sỹ quan Tăng Thiết Giáp. Tháng 9 năm 1988 đến tháng 11 năm 1995, đồng chí trải qua các cương vị công tác: Phó Chủ nhiệm, Chủ nhiệm chính trị Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn. Học viên học viện Quốc phòng.

Tháng 12 năm 1995 đến tháng 01 năm 1999, chỉ huy Phó chính trị - Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn. Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự tỉnh - Đại biểu Quốc hội khóa 10.

Tháng 02 năm 1999 đến nay, đồng chí giữ chức vụ: Phó Chủ nhiệm, Chủ nhiệm chính trị - Cục Chính trị; Phó Tư lệnh chính trị Quân khu I.





20- Đồng chí: NGUYỄN NGỌC HINH
Sinh ngày 18 tháng 9 năm 1947.
Dân tộc: Kinh.
Quê quán: Xã Tân Tiến, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
Trú quán: Khối 10, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
Nhập ngũ tháng 3 năm 1965. Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam năm 1969. Cấp bậc: Đại tá. Chức vụ: Chỉ huy Phó chính trị - Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn (năm 1999 đến nay); Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự tỉnh.

Nhập ngũ tháng 3 năm 1965 đến tháng 11 năm 1970, đồng chí trải qua các cương vị công tác: Học viên Quân y Quân khu 3, đi B làm y tá Đại đội 97, trợ lý quân y Tiểu đoàn 28 công trường 5 miền Đông Nam Bộ.

Tháng 12 năm 1970 đến tháng 10 năm 1973, trợ lý quân y, Tiểu đoàn 33 Trung đoàn 203 Căm-Pu-Chia. Năm 1974 đến năm 1981 là học viên học viện chính trị Bộ Quốc phòng; rồi giữ các cương vị: Chính trị viên Phó đại đội, trợ lý tuyên huấn, trợ lý tổ chức Lữ đoàn 38 Quân đoàn 5.

Từ tháng 5 năm 1981 đến tháng 11 năm 1990, Phó chủ nhiệm, Chủ nhiệm chính trị, trung đoàn Phó chính trị Trung đoàn 514, Phó Phòng cán bộ Quân đoàn 14. Tháng 12 năm 1990 đến tháng 11 năm 1998, Phó chủ nhiệm, Chủ nhiệm chính trị -Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn.
Từ tháng 01 năm 1999 đến tháng 3 năm 2005 đồng chí giữ chức chỉ huy Phó chính trị - Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn; Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Quân sự tỉnh. Tháng 4/2005 đồng chí nghỉ chế độ tại phường Hoàng Văn Thụ - Thành phố Lạng Sơn.





21- Đồng chí: LÂM TRƯỜNG THIÊM
Sinh ngày 21 tháng 11 năm 1950.
Dân tộc: Nùng.
Quê quán: Ngọc Trí, Tô Hiệu, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.
Trú quán: Khu 6B thị trấn Bình Gia, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.
Nhập ngũ: Tháng 8 năm 1968.
Cấp bậc: Đại tá. Chức vụ: Phó chỉ huy trưởng về chính trị - Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn. Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam tháng 3 năm 1972.

Trước khi vào bộ đội tháng 10 năm 1966, đồng chí là học viên trường trung cấp Bưu điện.

Nhập ngũ tháng 8 năm 1968 đến tháng 5 năm 1974, đồng chí công tác và giữ các chức vụ: Học viên trường Trung cấp Kỹ thuật Thông tin, Cơ công trạm sửa chữa thông tin Quân khu Việt Bắc; Cơ công Bộ Tư lệnh Thiết Giáp, trợ lý thông tin Tiểu đoàn 195 mặt trận 316.

Từ tháng 6 năm 1974 đến tháng 8 năm 1982, đồng chí giữ các chức vụ: Chính trị viên Đại đội 5 Tiểu đoàn 195 Sư đoàn 316; trợ lý tuyên huấn Trung đoàn 608 - Binh đoàn 678.

Tháng 9 năm 1982 đến tháng 8 năm 1985, là học viên Học viện Chính trị quân sự - Bộ Quốc phòng.

Từ tháng 9 năm 1985 đến tháng 6 năm 1992, đồng chí giữ các chức vụ: Trợ lý tuyên huấn, Phó Ban tuyên huấn phòng chính trị, chỉ huy phó chính trị - Ban chỉ huy Quân sự huyện Bắc Sơn; trung đoàn phó chính trị - Trung đoàn 123 - Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn.

Tháng 7 năm 1992 đến tháng 3 năm 2005, đồng chí giữ các chức vụ: Phó Chủ nhiệm chính trị, học viên Học viện Quốc phòng, hoàn thiện cử nhân Học viện chính trị, chủ nhiệm chính trị - Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn.

Từ tháng 4 năm 2005 đến nay, đồng chí giữ chức: Chỉ huy phó về chính trị - Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn, Phó BT Thường trực Đảng ủy Quân sự tỉnh.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn 1947 -2002
Gửi bởi: hoi_ls trong 10 Tháng Sáu, 2013, 04:45:14 PM
CÁC ĐỒNG CHÍ CHỈ HUY PHÓ BỘ CHỈ HUY QUÂN SỰ TỈNH LẠNG SƠN

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/50042798_2266097050341534_4818516864420282368_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_oc=AQnJGnhknZltlYf6KBhtqiW9HmsT1u_KAMDuL9E7qXpCIv5nWW4j_N8Ofw7sRPG1sFg&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=2a23e25bdd0f307df840740879b14357&oe=5CB4C310)


1- Đồng chí: ĐẶNG VĂN SỸ
Sinh ngày 19 tháng 8 năm 1915.
Dân tộc: Kinh.
Quê quán: Xã Cự Khuê 4, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây.
Trú quán: số 4A, Trần Đăng Ninh, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
Tham gia cách mạng: Tháng 9 năm 1945.
Nhập ngũ: Tháng 12 năm 1946. Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam năm 1949.
Chức vụ: Tỉnh đội Phó tỉnh đội Bộ dân quân (nay là Bộ chỉ huy Quân sự) tỉnh Lạng Sơn, năm 1947.

Tháng 9 năm 1945 đến tháng 3 năm 1946 tham gia cách mạng, là Ủy viên Ban chấp hành thanh niên cứu quốc thị xã Lạng Sơn, làm liên lạc cho cơ quan lãnh đạo của tỉnh Lạng Sơn tại Ba Xã.

Tháng 4 năm 1946 đến tháng 2 năm 1947 chủ nhiệm Việt Minh thị xã Lạng Sơn, kiêm Trưởng Ban tự vệ thị xã, Phó Ban tự vệ tỉnh Lạng Sơn.
Tháng 3 năm 1947 đến tháng 3 năm 1948 là tỉnh đội Phó tỉnh đội Bộ dân quân tỉnh Lạng Sơn. Tháng 4 năm 1948 đến tháng 9 năm 1950 làm Trưởng Ban phá hoại, cán sự tiếp tế lương thực cho chiến dịch đường số 4 và chiến dịch biên giới 1950.

Tháng 10 năm 1950 đến năm 1954 Chủ tịch Ủy ban Liên Việt thị xã và ủy viên của ủy ban Liên Việt tỉnh Lạng Sơn. Tháng 11 năm 1954 đến tháng 7 năm 1957 là cán bộ giảm tô và cải cách ruộng đất tại Lạng Sơn, Hải Dương, Vĩnh Phúc.

Tháng 8 năm 1957 đến tháng 12 năm 1958 là cán bộ tuyên huấn Thị ủy thị xã Lạng Sơn. Tháng 01 năm 1959 đến tháng 01 năm 1962 cán bộ Phòng Công nghiệp Ty Công nghiệp tỉnh Lạng Sơn.

Tháng 5 năm 1965 đến tháng 5 năm 1966 phụ trách Xí nghiệp Cơ khí Lạng Sơn. Tháng 6 năm 1966 đến tháng 4 năm 1970 cán bộ lãnh đạo Xí nghiệp Gốm Lạng Sơn. Tháng 5 năm 1970 nghỉ hưu.



2- Đồng chí: ĐOÀN HÙNG CƯỜNG
Sinh ngày 15 tháng 12 năm 1908.
Dân tộc: Tày.
Quê quán: Xã Hùng Sơn, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.
Trú quán: Xã Hùng Sơn, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.
Tham gia cách mạng tháng 01 năm 1945, nhập ngũ tháng 5 năm 1945.

Chức vụ: Tỉnh đội Phó tỉnh đội Bộ dân quân tỉnh Lạng Sơn (tháng 7/1947 - tháng 5/1948). Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam tháng 02 năm 1947.

Năm 1945 tham gia cách mạng làm chủ nhiệm Việt Minh xã Hùng Sơn. Tháng 5 năm 1945 đồng chí vào bộ đội là trung đội Trưởng giải phóng quân, Ủy viên ủy ban bảo vệ tỉnh Lạng Sơn, Huyện đội Trưởng kiêm Đại đội Trưởng huyện Tràng Định.

Tháng 7 năm 1947 đến tháng 5 năm 1948 giữ chức vụ: Tỉnh đội Phó tỉnh đội Bộ dân quân tỉnh Lạng Sơn.

Từ tháng 6 năm 1948 đến tháng 5 năm 1958 đồng chí là Sỹ quan liên lạc (Pò - Mã), ủy ban thi hành hiệp định đình chiến Trung ương. Cán bộ Tổng cục Hậu Cần. Tháng 6 năm 1958 phục viên về địa phương.

Tháng 01 năm 1959 đến tháng 5 năm 1960 giữ chức Bí thư Huyện ủy Tràng Định.

Từ tháng 6 năm 1960 đến tháng 4 năm 1969, Chủ tịch ủy ban Hành chính huyện Tràng Định. Tháng 5 năm 1969 đồng chí nghỉ hưu tại địa phương và đã từ trần tháng 12 năm 1987.



3- Đồng chí: DƯƠNG AN HOA
Sinh ngày 9 tháng 9 năm 1911.
Dân tộc: Tày.
Quê quán: Xã Chiêu Vũ, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
Trú quán: 19B Bến Bắc, xã Việt Thắng, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

Tham gia cách mạng tháng 3 năm 1945. Nhập ngũ tháng 9 năm 1945. Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam năm 1946.

Chức vụ: Tỉnh đội Phó tỉnh đội Bộ dân quân tỉnh Lạng Sơn năm 1948.

Khi tham gia cách mạng đồng chí là nhân viên thông tin của huyện Bắc Sơn. Nhập ngũ làm trung đội trưởng chi đội Lạng Sơn, Phó ban dân quân trực thuộc Ủy ban kháng chiến Hành chính tỉnh Lạng Sơn. Tháng 4 năm 1947 đến tháng 12 năm 1947 chính trị viên huyện đội Bộ dân quân huyện Bắc Sơn.

Tháng 01 năm 1948 đến tháng 12 năm 1948 Tỉnh đội phó tỉnh đội Bộ dân quân tỉnh Lạng Sơn.

Từ tháng 01 năm 1949 đến tháng 11 năm 1952, giữ chức chính trị viên Huyện đội Bộ Bắc Sơn. Tháng 12 năm 1952 đến tháns 9 năm 1953, ủy viên ủy ban huyện Bắc Sơn. Tháng 10 năm 1953 đến tháng 12 năm 1956, chính trị viên đơn vị 226. Tháng 01 năm 1957 đến tháng 12 năm 1959, cán bộ Tổ chức Ty Thủy Lợi Lạng Sơn.

Tháng 01 năm 1960 đến tháng 6 năm 1963, trưởng phòng vật liệu kiến thiết Lạng Sơn.

Từ năm 1963 đến tháng 12 năm 1969, là Phó Quản đốc, Quản đốc Xí nghiệp Rượu Lạng Sơn. Năm 1970 nghỉ hưu. Đồng chí từ trần ngày 25 tháng 5 năm 2001.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn 1947 -2002
Gửi bởi: hoi_ls trong 10 Tháng Sáu, 2013, 04:46:49 PM
(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/50530619_2266096950341544_6046556943307243520_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_oc=AQku0XoZfbjkmBt9RTGPB84gjQyPeoY1ck-16TazoPD87Rmz_5FNERtL77wpYlY0PqA&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=434fc3be166ab2a7318cd8d0dfe52114&oe=5CCE5C20)

4- Đồng chí: MA THANH TÙNG
Sinh năm 1906.
Dân tộc: Tày.
Quê quán: Xã Hùng Sơn, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.
Trú quán: Xã Hùng Sơn, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.
Tham gia cách mạng năm 1945
Nhập ngũ: Ngày 19 tháng 8 năm 1945.
Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam năm 1946.
Chức vụ: Tỉnh đội phó tỉnh đội Bộ dân quân Lạng Sơn năm 1949.

Tham gia cách mạng tại địa phương đồng chí hoạt động trong Hội Việt Minh. Tháng 8 năm 1945 làm công tác quân sự. Tháng 7 năm 1948 là Huyện đội Trưởng huyện Tràng Định.

Tháng 8 năm 1948 đến tháng 12 năm 1949 là tỉnh đội Phó tỉnh đội Bộ dân quân Lạng Sơn. Cuối năm 1949 đến năm 1956 đồng chí về làm huyện đội trưởng Tràng Định. Năm 1957 chuyển ngành làm chủ nhiệm Công ty Lương thực tỉnh Lạng Sơn. Năm 1959 đến năm 1963 làm Phó ban thanh tra tỉnh Lạng Sơn. Năm 1964 nghỉ hưu tại quê nhà. Đồng chí từ trần ngày 18 tháng 8 năm 1974.



5- Đồng chí: LÝ QUỐC TÀI
Sinh ngày 12 tháng 3 năm 1917.
Dân tộc: Nùng.
Quê quán: Xã Lộc Yên, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.
Trú quán:, Hố 10 xã Minh Sơn, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.
Tham gia cách mạng tháng 8 năm 1945.

Nhập ngũ: Ngày 16 tháng 6 năm 1946. Cấp bậc: Thiếu tá. Chức vụ: Tỉnh đội Phó tỉnh đội Lạng Sơn (năm 1965 - 1970). Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam năm 1947.

Tham gia cách mạng năm 1945 phụ trách đại đội tự vệ chiến đấu huyện Cao Lộc, đại đội Phó vệ quốc đoàn. Tháng 10 năm 1947 đại đội Trưởng đại đội 185, thuộc Trung đoàn 28 Lạng Sơn. Tháng 5 năm 1949 huyện đội Trưởng kiêm đại đội Trưởng bộ đội địa phương huyện Cao Lộc. Năm 1952 -1953 là cán sự tỉnh đội Lạng Sơn. Năm 1954- 1955, tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 29 tỉnh Lạng Sơn.

Năm 1956 - 1957 phụ trách huyện đội Truởng huyện Lộc Bình tỉnh Lạng Sơn. Cuối năm 1959 đến tháng 6 năm 1965, tham mưu Phó tỉnh đội Lạng Sơn.

Từ tháng 7 năm 1965 đến năm 1970, là tỉnh đội Phó tỉnh đội Lạng Sơn.

Cuối năm 1970, đồng chí nghỉ hun và từ trần năm 1980.



6- Đồng chí: MÔNG VĂN TÝ
Sinh ngày 27 tháng 9 năm 1923.
Dân tộc: Nùng.
Quê quán: Xã Hội Hoan, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.
Trú quán: Khu Dây Thép, thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn

Tham gia cách mạng: Tháng 10 năm 1940. Nhập ngũ: Ngày 21 tháng 3 năm 1945. Cấp bậc: Thiếu tá. Chức vụ: Chỉ huy Phó Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn (năm 1970 đến năm 1975). Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam năm 1946.

Tham gia cách mạng năm 1940, đồng chí làm liên lạc cho tổ chức cách mạng hoạt động bí mật tại xã Hội Hoan. Năm 1945, vào bộ đội làm cán bộ vũ trang tuyên truyền cứu quốc quân, tiểu đội trưởng, trung đội trưởng, đánh phỉ và tàn quân Tưởng ở dọc biên giới Tràng Định, Văn Lãng, Lộc Bình, Đình Lập.

Từ năm 1947 đến năm 1960, đại đội Phó, đại đội Trưởng, tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 51 Quảng Ninh. Huyện đội trưởng huyện đội Cẩm Phả.
Từ năm 1960 đến năm 1965, Phó Ban tham mưu tỉnh đội Bắc Thái, sỹ quan liên lạc Ban Ngoại vụ Quân khu Việt Bắc.

Năm 1965 đến năm 1970, giữ chức tham mưu Trưởng tỉnh đội Lạng Sơn. Năm 1970 đến năm 1975, chỉ huy Phó Bộ chỉ huy Quân sự Lạng Sơn.

Năm 1976 đồng chí nghỉ hưu.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn 1947 -2002
Gửi bởi: hoi_ls trong 10 Tháng Sáu, 2013, 04:48:34 PM
(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/50046004_2266097473674825_523997739667685376_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_oc=AQmFkWGX_yXTuidphAyFR4qpSmA44esTIKCWgAi72iGD5Y6-MUDRmDoiyZf-AEgvkMg&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=36bbf5fd8091a084f4b81f86fb698545&oe=5CD07958)

7- Đồng chí: VI VĂN MỘC
Sinh ngày 22 tháng 11 năm 1928.
Dân tộc: Nùng.
Quê quán: Xã Hữu Khánh, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.
Tham gia cách mạng tháng 8 năm 1945.

Cấp bậc: Đại tá. Chức vụ: Chỉ huy Phó Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn (năm 1971 - 1976). Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam năm 1952.
Từ tháng 8 năm 1945 đến tháng 5 năm 1960, là đội viên tuyên truyền, vệ quốc đoàn tỉnh Lạng Sơn, tiểu đội trưởng, trung đội Phó, trung đội Trưởng, thuộc Sư đoàn 316.

Tháng 6 năm 1960 đến tháng 7 năm 1963, huyện đội Trưởng huyện đội Cao Lộc, tháng 8 năm 1963 đến tháng 11 năm 1965, huyện đội Trưởng huyện đội Lộc Bình.

Tháng 12 năm 1965 đến tháng 9 năm 1971, Tham mưu Phó, Tham mưu Trưởng tỉnh đội Lạng Sơn, trợ lý phòng dân quân Quân khu Việt Bắc.

Tháng 10 năm 1971 đến tháng 4 năm 1976, chỉ huy Phó Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn.

Tháng 11 năm 1976 đến tháng 4 năm 1984, chỉ huy Trưởng huyện đội Lộc Bình.

Tháng 5 năm 1984 nghỉ hưu và giữ chức Chủ tịch Hội Cựu chiến binh huyện Lộc Bình đến tháng 11 năm 1991.

Đồng chí từ trần ngày 6 tháng 5 năm 1995.



8- Đồng chí: NÔNG VĂN NIỆM
Sinh ngày 15 tháng 12 năm 1924.
Dân tộc: Tày
Quê quán: Xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.
Trú quán: Xã Cổ Loa, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây.

Tham gia cách mạng tháng 3 năm 1945. Cấp bậc: Đại tá. Chức vụ: Chỉ huy Phó Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn (năm 1965 đến 1978). Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam năm 1948.

Khi nhập ngũ đồng chí ở Trung đoàn 174 và trải qua các cương vị công tác: Trung đội trưởng, Đại đội Phó, Đại đội trưởng, Tiểu đoàn phó thuộc Trung đoặn 174, Sư đoàn 316.

Từ năm 1959 đến năm 1965, Chủ nhiệm công binh Sư đoàn 312.

Tháng 8 năm 1965 đến năm 1976 giữ chức tỉnh đội phó tỉnh đội Lạng Sơn và khi sát nhập tỉnh Cao Lạng từ 1976 đến 1978 đồng chí là chỉ huy Phó Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Cao Lạng.

Tháng 11 năm 1978 đồng chí nghỉ hưu tại xã Cổ Loa, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây.



9- Đồng chí: LÊ HUYỀN PHONG
Sinh ngày 29 tháng 8 năm 1928
Dân tộc: Tày.
Quê quán: Xã Đại Đồng, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.
Trú quán: SN 1 Ngõ 7, đường Bà Triệu, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

Tham gia cách mạng: Ngày 19 tháng 8 năm 1945. Cấp bậc: Đại tá. Chức vụ: Chỉ huy phó Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn (năm 1978 - 1987). Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam năm 1948.

Tham gia cách mạng đồng chí hoạt động trong mặt trận Việt Minh. Từ tháng 4 năm 1948 đến tháng 10 năm 1959 đồng chí giữ các cương vị: Trưởng ban tác chiến tỉnh đội Lạng Sơn, đại đội phó Đại đội 450 địa phương Thoát Lãng, trợ lý tác chiến Trung đoàn 174, 176, trợ lý cán bộ Sư đoàn 316, tiểu đoàn Phó Sư đoàn 316.

Từ tháng 1 năm 1960 đến tháng 3 năm 1975, giáo viên trường trung cao Quân sự, tiểu đoàn Trưởng Sư đoàn 304B, hiệu phó trường Quân chính Quân khu Việt Bắc, tham mưu phó Sư đoàn 304B.

Từ tháng 4 năm 1975 đến tháng 9 năm 1979, giữ chức: Trung đoàn trưởng Trung đoàn 123 Lạng Sơn, hiệu phó trường Quân sự Cao - Lạng.

Tháng 10 năm 1979 đến tháng 01 năm 1981, tham mưu Trưởng Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn.

Tháng 2 năm 1981 đến tháng 7 năm 1987 Phó chỉ huy Trưởng Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn. Năm 1988, đồng chí nghỉ hưu.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn 1947 -2002
Gửi bởi: hoi_ls trong 10 Tháng Sáu, 2013, 04:50:29 PM
(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/50292165_2266097503674822_6261024241152425984_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_oc=AQmDMSIi6X3qDovPCNq7ipQOVDvx8R9ZyUaMRoUVdFKgEDytIP7Gspu5vFGAZnpBuTE&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=d3f286c090558972b85535991ad2ed3c&oe=5CBE3EEB)

10- Đồng chí: HOÀNG ĐÌNH CƯU
Sinh ngày 17 tháng 12 năm 1929.
Dân tộc: Tày.
Quê quán: Xã Hưng Vũ, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
Trú quán: Xã Hung Vũ, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

Tham gia cách mạng tháng 9 năm 1945. Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam năm 1948.

Cấp bậc: Đại tá. Chức vụ: Chỉ huy Phó Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn (năm 1979 - 1986).

Từ năm 1945 đến năm 1950, đồng chí làm liên lạc huyện Bắc Sơn, tiểu đội Phó Tiểu đoàn 100 Lạng Sơn.

Từ tháng 10 năm 1950 đến năm 1956, đội viên cán bộ dân vận phòng chính trị Thượng Lào, trung đội phó, trung đội trưởng phiên dịch trường Quân chính Lào.

Tháng 9 năm 1963 đến tháng 12 năm 1978, trưởng tiểu ban tác chiến Trung đoàn 230, tham mưu Trưởng binh trạm 12, Phó phòng huấn luyện đoàn 559. Trung đoàn Phó Trung đoàn 2210 Sư đoàn 17 miền Đông Nam Bộ. Trưởng Phòng Kinh tế Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Cao - Lạng.

Từ tháng 01 năm 1979 đến tháng 8 năm 1986, đồng chí giữ chức: Chỉ huy Phó Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn.

Năm 1987 đồng chí nghỉ hưu và đã từ trần năm 1991.



11- Đồng chí: ONG LƯƠNG MINH
Sinh ngày 9 tháng 5 năm 1927.
Dân tộc: Tày.
Quê quán: An Lạc, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.
Trú quán: SN 451 Bạch Mai, phường Trương Định, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

Nhập ngũ: Ngày 01 tháng 01 năm 1947. Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam.

Cấp bậc: Đại tá. Chức vụ: Phó chỉ huy truởng Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn (năm 1979 - 1986).

Từ khi nhập ngũ đồng chí liên tục phục vụ trong Quân đội, từ năm 1947 đến tháng 01 năm 1971 trên các cương vị: Tiểu đội Trưởng, trung đội Phó, trung đội Trưởng, chính trị viên, chủ nhiệm chính trị Trung đoàn 36, Trưởng ban bảo vệ Sư đoàn 308, chủ nhiệm chính trị Sư đoàn 308.

Tháng 02 năm 1971 đến tháng 8 năm 1978, Phó trưởng phòng Cục Bảo vệ - Tổng cục chính trị. Tháng 7 năm 1978 đến tháng 12 năm 1978, Trưởng phòng bảo vệ Cục chính trị Quân khu I.

Từ tháng 02 năm 1979 đến tháng 12 năm 1986, giữ chức Phó chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn.

Tháng 01 năm 1987 đồng chí nghỉ hưu tại 451 Bạch Mai, phường Trương Định, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.



12- Đồng chí: LỘC VĂN BỰNG
Sinh năm 1930.
Dân tộc: Nùng.
Quê quán: Xã Lâm Sơn, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.
Trú quán: Xã Nhân Lý, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.
Nhập ngũ: Tháng 10 năm 1946. Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam năm 1952.

Cấp bậc: Đại tá. Chức vụ: Chỉ huy Phó Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn. Từ (1980 đến 1982)

Từ năm 1946 đến năm 1980: Nhập ngũ trong Quân đội đồng chí giữ các chức vụ ở các đơn vị: Tiểu đội Trưởng, trung đội Phó, trung đội Trưởng, đại đội Trưởng Đại đội 924 Trung đoàn 174, tiểu đoàn Phó thuộc Sư đoàn 316, tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn 26, Phó phòng thông tin Quân khu Tây Bắc.

Từ tháng 11 năm 1980 đến tháng 01 năm 1982, Chỉ huy Phó Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn.

Tháng 02 năm 1982, đồng chí lâm bệnh và từ trần tại đơn vị.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn 1947 -2002
Gửi bởi: hoi_ls trong 10 Tháng Sáu, 2013, 04:52:34 PM
(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/50312666_2266097490341490_6535895727120318464_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_oc=AQktbm12MZyUkg04yimMDHK5HML83PgeBduZOT5apkiqmupyxhzg_mGUq0Y2XH5iF50&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=8abc0671a8df8efe6d22c5ebdf1510fc&oe=5CCF1905)

13- Đồng chí: NÔNG NGỌC CẬN
Sinh năm 1928.
Dân tộc: Tày.
Quê quán: Xã Chi Lăng, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.
Trú quán: Số 61 phố Văn Miếu, phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

Tham gia cách mạng năm 1944. Nhập ngũ: Ngày 01 tháng 01 năm 1948. Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam năm 1954.

Cấp bậc: Đại tá. Chức vụ: Phó chỉ huy trưởng -tham mưu Trưởng Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn (năm 1981 - 1986).

Tham gia cách mạng đồng chí là cán bộ Việt Minh của huyện Tràng Định, trưởng đặc khu ban đặc vụ tỉnh Lạng Sơn.

Từ khi nhập ngũ năm 1948 đến năm 1978, đồng chí đã giữ các chức vụ: Trung đội trưởng, đại đội phó, đại đội trưởng trinh sát Đại đội 13 Trung đoàn 608 miền Đông Nam Bộ, Phó ban trinh sát Sư đoàn 7, trung đoàn trưởng Trung đoàn 207 ở Căm Pu Chia, tham mưu Phó đoàn 500 Quân khu 7.

Tháng 9 năm 1978 đến tháng 6 năm 1981, tham mưu trưởng Sư đoàn 327 Quân đoàn 14, Quân khu I.

Từ tháng 7 năm 1981 đến tháng 12 năm 1986 giữ chức Phó chỉ huy trưởng - Tham mưu Trưởng Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn.

Năm 1987 đồng chí nghỉ hưu tại phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn.



14- Đồng chí: NÔNG VĂN SẮM
Sinh ngày 17 tháng 12 năm 1930
Dân tộc: Tày
Quê quán: Xã Đại Đồng, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.
Trú quán: Xã Đại Đồng, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.

Nhập ngũ: Năm 1950. Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam năm 1952.
Cấp bậc: Đại tá. Chức vụ: Chỉ huy Phó Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn năm (1986 - 1989).

Từ năm 1950 đến tháng 5 năm 1961, trung đội Trưởng thuộc Sư đoàn 304, học viên pháo binh, giáo viên trường 400, sau phục viên.

Năm 1965 tái ngũ, đến năm 1985 giữ các chức vụ ở các đơn vị: Tham mưu trưởng Tiểu đoàn 6, tiểu đoàn Phó thuộc Quân khu Việt Bắc, học viên trường sỹ quan pháo binh, tiểu đoàn Phó Trung đoàn 84 Quân khu Việt Bắc, hiệu trưởng trường Quân sự Cao - Lạng, chỉ huy Trưởng Ban chỉ huy Quân sự huyện Tràng Định.

Từ năm 1986 đến năm 1989, giữ chức chỉ huy Phó Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn.

Năm 1990, đồng chí nghỉ hưu và tham gia vào Hội Cựu chiến binh tại địa phương.



15- Đồng chí: CHU LÂM HÀNH
Sinh năm 1942.
Dân tộc: Nùng.
Quê quán: Xã Xuân Mai, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn.
Trú quán: Khối 10, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

Nhập ngũ: Tháng 7 năm 1963. Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam năm 1968.
Cấp bậc: Đại tá. Chức vụ: Chỉ huy phó Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn (năm 1990 - 1993)

Khi nhập ngũ vào bộ đội đồng chí giữ chức tiểu đội Trưởng, trung đội Trưởng, trợ lý tác chiến, đại đội Trưởng, tiểu đoàn Trưởng, trung đoàn Phó Trung đoàn 335. Quân khu Tây Bắc.

Từ tháng 3 năm 1982 đến năm 1989, trợ lý tác chiến Quân khu I, trung đoàn phó, trung đoàn trưởng, tham mưu trưởng Sư đoàn 346 Quân đoàn 26 Quân khu I, sư đoàn Phó, sư đoàn Trưởng Sư đoàn 337 Quân đoàn 14 Quàn khu I.

Từ tháng 01 năm 1990 đến tháng 12 năm 1993, giữ chúc chỉ huy Phó Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn.

Năm 1994 đồng chí nghỉ hưu và giữ chức Phó Chủ tịch, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh tỉnh Lạng Sơn.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn 1947 -2002
Gửi bởi: hoi_ls trong 10 Tháng Sáu, 2013, 04:54:45 PM
(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/50108039_2266097607008145_6582250347073372160_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_oc=AQlB8lS66n4IymkRovrewufW2T27OtePhevDWhimsUL2vmgudDKTrxIv1e7JQ0bwhzg&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=729065d9393326ae6959b21b7df80665&oe=5CD0C6EA)

16- Đồng chí: NGUYỄN DU
Sinh ngày 05 tháng 8 năm 1948.
Dân tộc: Kinh.
Quê quán: Xã Đồng Phúc, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
Trú quán: Phường Lê Lợi, thị xã Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

Nhập ngũ: Tháng 10 năm 1964. Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam năm 1968. Cấp bậc: Đại tá. Chức vụ: Chỉ huy phó - Tham mưu trưởng Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn (năm 1990 - 1999).

Từ khi nhập ngũ năm 1964 đến năm 1989, đồng chí giữ các chức vụ: Tiểu đội trưởng, trung đội phó, trợ lý trinh sát Sư đoàn 7, tiểu đoàn Phó, tham mưu phó Trung đoàn 207, trưởng ban tác chiến, trung đoàn phó Trung đoàn 1, Sư 8 Quân khu 9, trợ lý tác chiến phòng tác chiến Quân khu I, phụ trách Văn phòng Sở chỉ huy Quân khu I.

Tháng 9 năm 1989 đến tháng 7 năm 1990, Phó tham mưu trưởng Sư đoàn 338 Quân khu I.

Từ tháng 8 năm 1990 đến năm 1999, giữ chức chỉ huy Phó - Tham mưu trưởng Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn.

Cuối năm 1999, giữ chức hiệu phó trường Quân chính Quân khu I, đến nay là hiệu trưởng trường Quân chính Quân khu I.



17- Đồng chí: NGUYỄN ĐỨC THẮNG
Sinh năm 1950.
Dân tộc: Kinh.
Quê quán: Xã Cổ Bì, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Hưng.
Trú quán: 252 đường Trần Đăng Ninh, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

Nhập ngũ: Tháng 02 năm 1968. Cấp bậc: Đại tá. Chức vụ: Chỉ huy Phó - Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn (năm 1988).

Từ tháng 02 năm 1968 đến tháng 4 năm 1978, đồng chí giữ các chức vụ: Tiểu đội trưởng, trung đội Phó, trung đội Trưởng, đại đội Phó, đại đội Trưởng, tiểu đoàn Trưởng, tham mun Phó Trung đoàn 48, Sư đoàn 320, Quân đoàn 3.

Tháng 5 năm 1978 đến tháng 12 năm 1980, là trung đoàn Phó, trung đoàn Trưởng Trung đoàn 677, Sư đoàn 346, Quân khu I.

Tháng 7 năm 1984 đến tháng 3 năm 1987, tham mưu Trưởng Sư đoàn 327 Quân đoàn 14, Quân khu I. Tháng 4 năm 1987 đến tháng 12 năm 1987, tham mưu Trưởng Sư đoàn 337 Quân đoàn 14, Quân khu I.

Từ tháng 01 năm 1988 đến tháng 11 năm 1988 đồng chí giữ chức Phó chỉ huy Trưởng - Tham mưu Trưởng Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn.

Tháng 12 năm 1988 đến tháng 12 năm 1990, sư đoàn Phó, Sư đoàn 3, Quân khu I.

Tháng 01 năm 1991, đồng chí nghỉ hưu tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.



18- Đồng chí: HOÀNG HỮU KHAI
Sinh tháng 9 năm 1943
Dân tộc: Tày.
Quê quán: Xã Đồng Ý, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
Trú quán: Khối 10, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

Nhập ngũ: Tháng 01 năm 1966. Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam năm 1967.
Cáp bậc: Đại tá. Chức vụ: Chỉ huy Phó - Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn (năm 1993 - 1998).

Từ khi nhập ngũ năm 1966 đến năm 1975, đồng chí giữ các chức vụ: Trung đội trưởng, đại đội Phó, đại đội Trưởng, Trưởng Ban tham mưu Trung đoàn 7 Bộ Tư lệnh Côns; binh, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 7 Quân đoàn 3 Tây Nguyên.

Tháng 10 năm 1977 đến tháng 9 năm 1982, trung đoàn Phó, trung đoàn Trưởng, quyền Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 229 Bộ Tư lệnh Công binh. Tháng 10 năm 1982 đến tháng 8 năm 1990, đồng chí giữ chức Lữ đoàn phó, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 575 Quân khu I.

Từ tháng 9 năm 1990 đến tháng 6 năm 1993, đồng chí là chuyên gia Quân sự tại Cu Ba.

Tháng 7 năm 1993 đến tháng 12 năm 1998, đồng chí giữ chức: Chỉ huy Phó Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn.

Năm 1999, đồng chí nghỉ hưu tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Và tham gia vào Hội Cựu chiến binh tỉnh Lạng Sơn.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn 1947 -2002
Gửi bởi: hoi_ls trong 10 Tháng Sáu, 2013, 04:57:03 PM
(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/50263506_2266097667008139_2020237360591011840_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_oc=AQmAIbft22ttG7tiRnFvtdNw4p0Osm9sMEeJikzVdVu0qE6fUGFM2GJ-PmHSugeNE-w&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=3bcaefb604f50cf79736045fa8f2766a&oe=5CBFBD39)


19- Đồng chí: HOÀNG PHI THĂNG
Sinh ngày 9 tháng 9 năm 1952.
Dân tộc: Nùng.
Quê quán: Xã Hoa Thám, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.
Trú quán: Khu 6B, thị trấn Bình Gia, huyện Bình Gia, tỉnh Lạnc Sơn.

Nhập ngũ: Tháng 5 năm 1972. Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam năm 1974.
Cấp bậc: Đại tá. Chức vụ: Chỉ huy phó - Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn (năm 2000 đến nay).

Trước khi nhập ngũ đồng chí là giáo viên cấp 2. Từ khi nhập ngũ tới nay đồng chí luôn phục vụ liên tục trong Quân đội. Từ tháng 5 năm 1972 đến tháng 3 năm 1983, đồng chí giữ chức: Trợ lý tác chiến Trung đoàn 576 Quân khu 5, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3 Quân khu 5.

Từ tháng 4 năm 1983 đến tháng 7 năm 1998, đồng chí giữ chức: Chỉ huy phó - Tham mưu trưởng, chỉ huy trưởng Ban chỉ huy Quân sự huyện Bình Gia.

Tháng 8 năm 1998 đến tháng 12 năm 1999, tham mưu phó Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn.

Từ tháng 01 năm 2000 đến tháng 3 năm 2005, đồng chí giữ chức chỉ huy phó Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn. Tháng 4 năm 2005 đồng chí nhận nhiệm vụ mới.



20- Đồng chí: NGUYỄN VĂN KHUÔNG
Sinh ngày 3 tháng 3 năm 1950.
Dân tộc: Kinh.
Quê quán: Xã Tam Hà, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.
Trú quán: Khối 10, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

Nhập ngũ: Tháng 5 năm 1971. Cấp bậc: Đại tá. Chức vụ: Phó chỉ huy trưởng - Tham mưu trưởng Bộ chỉ huy Quân sự Lạng Sơn. Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam năm 1972.

Từ ngày nhập ngũ tháng 5 năm 1971 đến tháng 12 năm 1976, đồng chí giữ các chức vụ: Tiểu đội phó, trung đội phó thuộc Sư đoàn 308b. Trung đội trưởng khung trường Quân chính Quân khu 3.

Từ năm 1977 đến tháng 5 năm 1989, đồng chí đã giữ các chức vụ: Trợ lý tham mưu tiểu đoàn, đại đội trưởng, tiểu đoàn phó quyền tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 21 Sư đoàn 3 Quân đoàn 14, trợ lý tác chiến Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn.

Tháng 6 năm 1989 đến tháng 10 năm 2000, giữ chức Trune đoàn phó tham mưu Trưởng, trung đoàn trưởng Trung đoàn 123, Tham mun Phó Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạne Sơn, Hiệu trưởng trường Quân sự tỉnh, tham mưu phó Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn.

Từ tháng 11 năm 2000 đến tháng 3 năm 2005, đồng chí giữ chức: Phó chỉ huy Trưởng - Tham mưu trưởng Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn.

Từ tháng 4 năm 2005 đến nay, đồng chí giữ chức Chỉ huy Phó Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn.



21- Đồng chí: HOÀNG CÔNG HÀM
Sinh ngày 8 tháng 4 năm 1960.
Dàn tộc: Tày.
Quê quán: Xã Quang Lang, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.
Trú quán: Khu Hòa Bình, thị trấn Đồng Mỏ, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.

Nhập ngũ: Tháng 3 năm 1979.
Cấp bậc: Thượng tá. Chức vụ: Phó chỉ huy trưởng - Tham mưu trưởng - Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn. Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam tháng 9 năm 1983.

Nhập ngũ tháng 3 năm 1979 đến tháng 8 năm 1981, đồng chí là chiến sỹ Ban chỉ huy Quân sự huyện Chi Lăng, học viên trường Văn hóa Quân khu I.

Tháng 9 năm 1981 đến tháng 7 năm 1984, đồng chí là học viên trường Sỹ quan Lục quân I.

Từ tháng 8 năm 1984 đến tháng 8 năm 1990, đồng chí giữ các chức vụ: Trung đội trưởng, đại đội trưởng, tiểu đoàn phó - Tiểu đoàn 8 - Cao Lộc -Lạng Sơn.

Tháng 9 năm 1990 đến tháng 7 năm 1993, học viên học viện Lục quân.

Từ tháng 8 năm 1993 đến tháng 10 năm 2002, đồng chí giữ các chức vụ: Tiểu đoàn trưởng dự nhiệm Ban chỉ huy Quân sự huyện Chi Lăng; Tham mưu phó trường Quân sự; Phó chỉ huy trưởng - Tham mưu trưởng Ban chỉ huy Quân sự huyện Hữu Lũng.

Tháng 11 năm 2002 đến tháng 3 năm 2005, đồng chí giữ chức Phó trưởng phòng Dân quân Tự vệ - Bộ tham mưu - Quân khu I.

Từ tháng 4 năm 2005 đến nay, đồng chí giữ chức: Phó chỉ huy trưởng - Tham mưu trưởng - Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn.



Hết