Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: anhquaynop trong 15 Tháng Tư, 2013, 08:22:45 AM



Tiêu đề: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu cần t
Gửi bởi: anhquaynop trong 15 Tháng Tư, 2013, 08:22:45 AM
Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu cần tài trí
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia năm 1998
 
BAN BIÊN SOẠN

1. Thiếu tướng Nguyễn An, nguyên Phó Tư lệnh Đoàn 559, nguyên Cục trưởng Cục Vận tải, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần.
 
2. Thiếu tướng Nguyễn Xuân Khôi, nguyên Trưởng Phòng Chiến trường, nguyên Phó Tham mưu trưởng Tổng cục Hậu cần, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần.
 
3. Thiếu tướng Nguyễn Hữu Lê, nguyên Tham mưu phó Tổng cục Hậu cần, nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 1.
 
4. Đại tá Trần Lư, nguyên Bí thư của đồng chí Đinh Đức Thiện, nguyên Phó Tham mưu trưởng Tổng cục Hậu cần.
 
5. Thiếu tướng Đinh Thiện, nguyên Tham mưu trưởng Tổng cục Hậu cần, nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần.
 
6. Giáo sư Ngô Vi Thiện, nguyên Trưởng Ban Khoa học Tổng cục Hậu cần, hiện là Chuyên viên Khoa học Hậu cần, thành viên Ban Tổng kết chiến lược Bộ Quốc phòng.
 
7. Đại tá Trần Quang Vinh, nguyên Trưởng Phòng Thông tin, tư liệu, Ban Khoa học Tổng cục Hậu cần.
 
Đồng Chủ biên:
- Giáo sư Ngô Vi Thiện
- Thiếu tướng Nguyễn Hữu Lê


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 15 Tháng Tư, 2013, 08:23:56 AM
LỜI NHÀ XUẤT BẢN

Đồng chí Đinh Đức Thiện là một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu cần tài trí. Trong những năm tháng hoạt động cách mạng, đồng chí đã có nhiều đóng góp to lớn.
 
Trong lĩnh vực quân sự, đồng chí Đinh Đức Thiện là một tướng lĩnh biết nhìn xa trông rộng, sáng tạo, dám nghĩ dám làm, đã hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, quân đội giao phó; đặc biệt trong công tác hậu cần quân đội, tạo tiền đề góp phần làm nên những thắng lợi kì vĩ của nhân dân ta trong hai cuộc kháng chiến chống xâm lược.
 
Trong lĩnh vực kinh tế, đồng chí Đinh Đức Thiện được Đảng và Nhà nước giao phó nhiều nhiệm vụ quan trọng. Đồng chí Đinh Đức Thiện chẳng những là một trong những người có công xây dựng và tham gia lãnh đạo nhiều ngành kinh tế lớn của nước ta vào tới điểm mà đất nước còn gặp rất nhiều khó khăn như xây dựng Khu gang thép Thái Nguyên - khu công nghiệp luyện kim đầu tiên của nước ta, xây dựng cầu đường và đặc biệt là đặt nền móng cho ngành dầu khí Việt Nam.
 
Trong quan hệ với đồng chí, đồng đội, đồng chí Đinh Đức Thiện là người có tấm lòng bao dung, độ lượng, thương yêu cán bộ, chiến sĩ, coi họ như anh em một nhà và chính đồng chí đã để lại trong bạn bè, đồng đội những tìm cảm mến yêu, kính trọng.
 
Để ghi nhớ công lao đóng góp của đồng chí Đinh Đức Thiện đối với sự nghiệp đấu tranh anh dũng và xây dựng sáng tạo của dân tộc, những tìm cảm trong sáng, thủy chung của đồng chí đối với bè bạn, nhân dịp kỉ niệm 10 năm ngày đồng chí đi xa, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản cuốn sách Đinh Đức Thiện - một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu cần tài trí.
 
Cuốn sách tập hợp những tham luận tại lễ tưởng niệm đồng chí Đinh Đức Thiện ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh của một số đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội, những nhà cách mạng lão thành, cán bộ nghiên cứu… đã từng có thời kì công tác với đồng chí Đinh Đức Thiện.
 
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.

Tháng 1 năm 1998
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 15 Tháng Tư, 2013, 08:25:05 AM
LỜI BAN BIÊN SOẠN

Đồng chí Đinh Đức Thiện là một nhà cách mạng lão thành, đã tham gia cách mạng từ năm 1930. Đồng chí có nhiều cống hiến trong những năm hoạt động bí mật, và đã hai lần bị chính quyền thực dân, phong kiến bắt bỏ tù.
 
Trong 30 năm chiến tranh cách mạng, đồng chí Đinh Đức Thiện đã có công lao đóng góp trong nhiều mặt công tác của Đảng, của Nhà nước cũng như của quân đội. Đồng chí thường được Đảng giao phụ trách những mặt công tác khó khăn, mới mẻ, nhưng đối với nhiệm vụ nào, đồng chí cũng quyết tâm khắc phục mọi trở ngại, với tinh thần sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm để hoàn thành tốt đẹp.
 
Nhân dịp 10 năm ngày mất của đồng chí Đinh Đức Thiện (20-1-1997), các Ban Liên lạc Cựu chiến binh ngành Hậu cần ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đã cùng Hội Khoa học lịch sử Việt Nam tổ chức lễ tưởng niệm ở hai thành phố. Trong hai buổi sinh hoạt khoa học này, đã có nhiều đồng chí lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, quân đội, nhiều nhà cách mạng lão thành, nhiều nhà khoa học lịch sử và đông đảo cán bộ đã có thời kì cùng công tác với đồng chí Đinh Đức Thiện đến tham dự và phát biểu ý kiến.
 
Trước và sau buổi lễ tưởng niệm, Ban Tổ chức đã nhận được nhiều bài viết với nội dung phong phú, phản ánh những suy nghĩ, những tình cảm, những kỉ niệm sâu sắc về những lĩnh vực công tác mà đồng chí Đinh Đức Thiện đã đảm nhiệm.
 
Đáp ứng lòng mong mỏi chung của nhiều đồng chí muốn tập hợp các bài viết này thành một cuốn sách, một “Ban Biên soạn” đã được thành lập để:
 
1. Nghiên cứu các bài viết, đối chiếu với tình hình thực tế, qua các tư liệu chính thức ở các cơ quan lưu trữ của Đảng, của Nhà nước, của quân đội.
 
2. Trao đổi với các tác giả, cùng chỉnh lí lại những chỗ cần thiết để bài viết phản ánh đúng thực tế lịch sử.
 
3. Sắp xếp các bài thành hệ thống tương đối hợp lí, phản ánh trung thực các hoạt động của đồng chí Đinh Đức Thiện.
 
Công việc biên soạn đã được tiến hành thuận lợi.
 
Ban Biên soạn xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, các đồng chí lão thành cách mạng và tất cả các đồng chí đã viết bài, đã khuyến khích, cổ vũ chúng tôi, đóng góp ý kiến để chúng tôi hoàn thành được cuốn sách này.
 
Xin chân thành cảm ơn Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần, Hội khoa học lịch sử Việt Nam, Bộ Công nghiệp, Tổng cục Dầu khí, Bộ Giao thông vận tải, Công ti gang thép Thái Nguyên, Công ti liên doanh Dầu khí Viexopetrô, Hội Cựu chiến binh ngành hậu cần Thành phố Hồ Chí Minh, các ban liên lạc Cựu chiến binh ngành hậu cần Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, các ban liên lạc Hội Cựu chiến binh các quân khu, quân đoàn ở các chiến trường Nam Bộ đã tạo điều kiện để tổ chức lễ tưởng niệm và tiếng hành biên soạn cuốn sách.
 
Xin chân thành cảm ơn Nhà xuất bản Chính trị quốc gia đã tham gia đóng góp nhiều ý kiến để hoàn thiện và xuất bản cuốn sách này.
 
Xin chân thành cám ơn gia đình đồng chí Đinh Đức Thiện đã hết sức giúp đỡ, cung cấp nhiều tư liệu và ảnh kỉ niệm của gia đình.
 
Mặc dầu Ban Biên soạn đã cố gắng, nhưng điều kiện làm việc và khả năng xử lí các bài viết có những mặt hạn chế, nên chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong được sự chỉ dẫn của các đồng chí lãnh đạo, các đồng chí đã có dịp tiếp xúc, làm việc với đồng chí Đinh Đức Thiện, các nhà khoa học lịch sử và đông đảo bạn đọc quan tâm tới cuốn sách này.

Ngày 7 tháng 11 năm 1997
BAN BIÊN SOẠN


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 15 Tháng Tư, 2013, 08:28:03 AM
THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP THƯỢNG TƯỚNG ĐINH ĐỨC THIỆN

Thiếu tướng ĐINH THIỆN(*)

Đồng chí Đinh Đức Thiện tên thật là Phan Đình Dinh, sinh năm 1913 tại xã Nam Vân, huyện Nam Ninh, tỉnh Nam Định. Sinh trưởng trong một gia đình nhà nho nghèo, yêu nước, cha mất sớm, mẹ tần tảo nuôi 8 người con, trong hoàn cảnh kinh tế hết sức chật vật.
 
Sớm được giác ngộ cách mạng, đồng chí tham gia hoạt động từ năm 1930, bị bắt giam ở Nam Định, nhưng vì không đủ căn cứ buộc tội, nên đến năm 1931, chúng phải thả đồng chí về. Ra tù, đồng chí vào Sài Gòn làm công nhân và tiếp tục hoạt động cách mạng. Năm 1936, đồng chí hoạt động trong Hội Ái hữu công nhân và tham gia phong trào Mặt trận dân chủ. Năm 1939, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 4 năm 1940, đồng chí bị bắt giam lần thứ hai ở nhà tù Nam Định, sau đưa về nhà lao Hỏa Lò (Hà Nội). Năm 1943, được ra tù, dù bị chính quyền thực dân quản lí rất chặt, đồng chí vẫn tìm cách xây dựng phong trào cách mạng ở địa phương, và tìm bắt được liên lạc với Xứ ủy Bắc Kì.
 
Năm 1944, đồng chí được Xứ ủy điều động lên Vĩnh Yên, tham gia Ban Cán sự Đảng của tỉnh, rồi được chỉ định làm Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Yên.
 
Sau Cách mạng Tháng Tám, đồng chí được điều về làm Bí thư kiêm Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cách mạng tỉnh Bắc Giang. Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, đồng chí được cử làm Ủy viên Khu ủy Khu 12, Ủy viên Thường vụ Khu ủy 1, rồi Ủy viên Thường vụ Liên Khu ủy Việt Bắc, phụ trách công tác kinh tế.
 
Cuối năm 1949, cuộc kháng chiến chống Pháp bước vào một giai đoạn mới. Quân đội thành lập Cục Vận tải để chuẩn bị các chiến sĩ lớn. Đồng chí được Trung ương Đảng điều vào quân đội và cử làm Cục trưởng, Bí thư Đảng ủy Cục Vận tải. Từ giữa năm 1950, Tổng cục Hậu cần được thành lập, đồng chí được chỉ định tham gia Đảng ủy Tổng cục.
 
Đồng chí đã có nhiều công lao xây dựng ngành Vận tải quân sự, từ nhỏ đến lớn, đặc biệt là đã mạnh dạn phát triển vận tải cơ giới, kết hợp với phương tiện thô sơ và sức người, phục vụ kịp thời cho bộ đội tác chiến thắng lợi trong các chiến dịch.
 
Kháng chiến chống Pháp kết thúc, miền Bắc được giải phóng, đồng chí được cử làm Phó Chủ nhiệm kiêm Tham mưu trưởng Tổng cục Hậu cần.
 
 Trước yêu cầu khôi phục và phát triển kinh tế, tháng 6 năm 1959, đồng chí được điều ra làm Thứ trưởng Bộ Công nghiệp nặng, kiêm Chỉ huy trưởng và Bí thư Đảng ủy Công trường xây dựng Khu gang thép Thái Nguyên, từ giữa năm 1962 là Giám đốc Công ti gang thép Thái Nguyên. Dưới sự lãnh đạo của đồng chí cùng tập thể Đảng ủy và Ban Giám đốc, sau hơn 3 năm xây dựng, Khu công nghiệp luyện kim đầu tiên của đất nước ta, đã hình thành và từ cuối năm 1963, liên tục cho các mẻ gang ra lò.
 
Năm 1960, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, đồng chí được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
 
Đầu năm 1965, đồng chí đang chỉ đọa hoàn thành xây dựng các công trình luyện, cán thép, thì đế quốc Mĩ mở rộng chiến tranh, đưa quân chiến đấu vào miền Nam và tiến hành chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc. Trung ương Đảng lại điều đồng chí trở về quân đội, giữ chức Chủ nhiệm, Bí thư Đảng ủy Tổng cục Hậu cần, tham gia Quân ủy Trung ương, và được phân công trực tiếp chỉ đạo công tác chi viện cho các chiến trường miền Nam và hai nước bạn Lào và Campuchia
 
Giữa năm 1969, Bộ Cơ khí - Luyện kim được thành lập, đồng chí được điều động ra làm Bộ trưởng. Nhưng đến cuối năm, do yêu cầu chỉ đạo công tác chi viện chiến trường, và tuyến vận tải chiến lược, đồng chí lại một lần nữa được điều động trở lại quân đội, tiếp tục làm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần kiêm Bộ trưởng Bộ Cơ khí - Luyện kim.
 
Tháng 4-1974, đồng chí được phong quân hàm Trung tướng. Khi thành lập Tổng cục Kĩ thuật, đồng chí được cử kiêm chức Chủ nhiệm, Bí thư Tổng cục Kĩ thuật… Trong cuộc tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, đồng chí là thành viên bộ phận đại diện quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh chỉ đạo Chiến dịch Tây Nguyên, rồi được cử làm Phó Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh.
 
Trong 10 năm kháng chiến chống Mĩ cứu nước, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, đồng chí đã góp nhiều công sức để xây dựng và phát triển ngành Hậu cần, ngành Kĩ thuật và công nghiệp quốc phòng. Đồng chí đã chú trọng xây dựng bộ máy tổ chức và đội ngũ cán bộ, xây dựng cơ sở vật chất, kĩ thuật theo kịp yêu cầu của nhiệm vụ. Đồng chí đã đề xuất nhiều chủ trương và biện pháp táo bạo để xây dựng và phát triển tuyến đường chi viện chiến lược mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh: mở nhiều đường ô tô ngang, dọc, tập trung lực lượng thành lập các binh đoàn vận tải cơ giới, xây dựng mạng thông tin chỉ huy vận tải tương đối hoàn chỉnh, lắp đặt tuyến đường ống để bơm xăng từ hậu phương miền Bắc vào tuyến vận tải và các chiến trường, tổ chức lực lượng phòng không đánh lại máy bay địch bảo vệ đường, cầu, phương tiện và lực lượng vận tải… Đồng chí đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi để Đoàn 559 hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ vận chuyển chi viện cho miền Nam, bảo đảm đủ nhu cầu vật chất, kĩ thuật cần thiết, để giành thắng lợi ngày càng lớn, và cuối cùng toàn thắng trong chiến dịch Hồ Chí Minh.
 
Khi công tác trong quân đội, cũng như khi phụ trách các ngành kinh tế đồng chí luôn luôn quan tâm kết hợp kinh tế với quốc phòng, giữ mối quan hệ gắn bó với các ngành, các cấp ủy và chính quyền địa phương, phối hợp chặt chẽ để hoàn thành nhiệm vụ, đồng thời nghiên cứu và đề xuất với Đảng và Nhà nước nhiều vấn đề cần thiết để xây dựng, củng cố hậu phương, huy động tiềm năng của đất nước để phục vụ cho tiền tuyến.
 
Là một cán bộ cao cấp được giao nhiều trọng trách, đồng chí luôn luôn quán triệt đường lối, quan điểm của Đảng, Nhà nước, tổ chức thực hiện kiên quyết, nặng động và sáng tạo, giữ vững nguyên tắc tập thể dân chủ, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, có tác phong sâu sát chịu đi vào thực tế. Mực dù công việc luôn luôn bận rộn, đồng chí vẫn dành thời gian đi xuống các đơn vị bộ đội, các cơ quan, cơ sở, nhiều lần trực tiếp đến các tuyến đường vận tải chiến lược, đi các chiến trường để kiểm tra, nắm tình hình, giúp cấp dưới giải quyết kịp thời các khó khăn do thực tiễn đặt ra, trực tiếp ra mặt trận chỉ đạo công tác hậu cần, kĩ thuật, trong các chiến dịch lớn như: Đường 9 - Nam Lào, Bắc Quảng Trị, Tây Nguyên và mùa Xuân 1975 đại thắng. Đối với Nam Bộ, chiến trường xa nhất, đồng chí đã vào ba lần, mặc dầu tuổi cao, sức yếu, đường sá khó khăn, địch đánh phá ác liệt.
 
Sau khi kết thúc chiến tranh chống Mĩ, đồng chí được Trung ương Đảng điều ra ngoài quân đội, phụ trách kinh tế, và lần lượt giao các nhiệm vụ: Ủy viên Ban Đại diện Trung ương Đảng và Chính phủ tại miền Nam, Bộ trưởng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước (1975), Bộ trưởng phụ trách Tổng cục Dầu khí (1976), Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải (1980). Đồng chí đã đề ra những kiến nghị đúng đắc để giải quyết những vấn đề kinh tế và xã hội cấp bách ở miền Nam sau ngày giải phóng nhằm khôi phục và phát triển kinh tế của đất nước sau chiến tranh. Đồng chí đã đặt nền móng cho ngành Dầu khí Việt Nam, và chỉ đạo xây dựng những cơ sở ban đầu rất quan trọng cho Xí nghiệp Liên doanh dầu khí Việt - Xô (Vietxopetro); đã chỉ đạo khôi phục mạng đường, cầu, và tổ chức lại giao thông vận tải sau chiến tranh…
 
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (1976) và lần thứ V (1982), đồng chí được bầu làm Ủy viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
 
Đến năm 1982, đồng chí lại được điều trở lại Quân đội làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, phụ trách hậu cần, kĩ thuật và công nghiệp quốc phòng.
 
Tháng 1-1986, đồng chí được phong quân hàm Thượng tướng.
 
Do những cống hiến xuất sắc về nhiều mặt, đồng chí Đinh Đức Thiện đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh và nhiều Huân chương cao quý khác.
 
Trong kháng chiến chống Pháp, quân đội ta đã có đồng chí Trần Đăng Ninh, Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp, một nhà cách mạng có uy tín lớn trong Đảng và trong nhân dân, người xây dựng nền móng cho ngành Hậu cần quân đội ta, đã đóng góp nhiều công lao trong việc xây dựng quân đội, đưa đến chiến thắng Điện Biên Phủ. Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, quân đội ta cũng tự hào có đồng chí Đinh Đức Thiện, người kế tục sự nghiệp của đồng chí Trần Đăng Ninh, có công lớn trong xây dựng ngành Hậu cần, góp phần cùng cả nước, đem lại đại thắng mùa Xuân 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
 
Đồng chí Đinh Đức Thiện đi xa đã 10 năm, nhưng sự nghiệp và công lao của đồng chí vẫn mãi mãi tồn tại với Đảng, với dân, với non sông đất nước, hình ảnh và tính cách của đồng chí vẫn sống mãi trong lòng cán bộ và chiến sĩ ngành Hậu cần cũng như toàn quân ta.

Chú thích
(*) Nguyên Tham mưu trưởng Tổng cục Hậu cần; nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 15 Tháng Tư, 2013, 08:32:11 AM
MỘT TẤM GƯƠNG TRUNG KIÊN - TÀI ĐỨC(*)

Đại tướng VÕ NGUYÊN GIÁP

Tôi hoan nghênh Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, cùng Ban liên lạc truyền thống Tổng cục Hậu cần đã tổ chức buổi sinh hoạt tưởng niệm đồng chí Thượng tướng Đinh Đức Thiện, một đảng viên cộng sản kiên cường, đã mưu trí đấu tranh với địch trong nhà tù đế quốc, một tướng lĩnh tài năng trong hai cuộc kháng chiến, một cán bộ lãnh đạo sắc sảo đối với một số ngành kinh tế quan trọng trong hòa bình xây dựng đất nước, như Gang thép, Cơ khí Luyện kim, Dầu khí…
 
Đồng chí Đinh Đức Thiện là người năng động và sáng tạo, có tinh thần cách mạng tiến công. Nhiệm vụ dù khó khăn đến đâu, đồng chí cũng suy nghĩ, tìm mọi biện pháp để khắc phục. Đồng chí dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm về việc làm của mình. Đồng chí đã làm một số việc mạnh bạo, có người cho là làm bừa, làm ẩu, nhưng thực ra đồng chí đã suy nghĩ, cân nhắc kĩ mới làm, để kịp thời phục vụ chiến đấu. Nhiều việc quan trọng, đồng chí đề xuất ý kiến, tập trung trí tuệ của cán bộ khoa học, kĩ thuật, giải quyết thành công như xây dựng tuyến đường ống dẫn dầu, vượt núi băng đèo bằng những bộ đường ống dã chiến sử dụng trên địa hình trung bình; tổ chức đưa xe tăng vào chiến trường xa; sản xuất xe và ca nô phá bom từ trường do địch rải trên các tuyến đường sông, đường bộ…
 
Đồng chí Đinh Đức Thiện đã nhận thức được hướng phát triển của chiến tranh; vai trò của hậu phương đối với tiền tuyến; tầm quan trọng của của kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế. Khi công tác ở các ngành kinh tế, đồng chí chăm lo xây dựng cơ sở vật chất phục vụ cho quốc phòng và quân đội. Khi công tác trong quân đội, đồng chí quan tâm việc tham gia xây dựng hậu phương, xây dựng vùng giải phóng, xây dựng căn cứ địa và các căn cứ hậu cần vùng giải phóng, xây dựng căn cứ địa và các căn cứ hậu cần tại chiến trường. Đồng chí Đinh Đức Thiện và đồng chí Đồng Sĩ Nguyên đã có công lớn trong việc xây dựng tuyến đường Trường Sơn 559, xây dựng hệ thống giao thông vận tải từ hậu phương miền Bắc tới các chiến trường, trong đó có tuyến đường ống dẫn xăng dầu, nhằm bảo đảm chi viện cho miền Nam, tạo cơ sở hạ tầng cho cơ động lực lượng và vận chuyển lớn, phục vụ đắc lực cho thời cơ chiến lược, nhất là cho Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.
 
Là Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, đồng chí Đinh Đức Thiện luôn quan tâm đến đời sống của bộ đội, luôn nghĩ đến việc nâng cao mức sinh hoạt của bộ đội, nhất là ở chiến trường, cải tiến quân trang, quân dụng, vũ khí, trang bị cho gọn nhẹ, phù hợp với yêu cầu phải hành quân bộ đường dài. Đồng chí còn tham gia vào việc chỉ đạo cứu giúp nhân dân ở các vùng tuyến lửa, các vùng mới giải phóng. Khi lãnh đạo các ngành kinh tế, đồng chí cũng chăm lo việc cải thiện sinh hoạt cho cán bộ, công nhân, quan tâm tới việc tổ chức học tập, nâng cao tay nghề…
 
Đồng chí Đinh Đức Thiện là người cương trực, thẳng thắn nói lên những điều suy nghĩ của mình khi thấy là đúng cũng như trong phê bình các sai lầm, khuyết điểm. Đồng chí là người có bản lĩnh, sống giản dị, trong sáng.
 
Trong quan hệ công tác, với tư cách là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh, tôi đã làm việc nhiều với đồng chí Đinh Đức Thiện, Chủ nhiệm, Bí thư Đảng ủy Tổng cục Hậu cần về các chủ trương hậu cần có tính chất chiến lược cũng như các công việc cụ thể lớn. Tôi đánh giá cao nhiệt tình cách mạng cũng như tài năng tổ chức của đồng chí Thiện. Đồng chí đã có công lớn trong việc thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị nhanh chóng tăng cường lực lượng hậu cần cho miền Nam. Sau khi Mĩ rút quân, đồng chí đã lãnh đạo một đoàn cán bộ gần 100 đồng chí gồm các ngành Hậu cần và một số binh chủng, đi vào tiền tuyến lớn để nhanh chóng củng cố vùng giải phóng. Đồng chí đã có công lớn trong việc thực hiện chủ trương lãnh đạo của Quân ủy Trung ương: chuẩn bị hậu cần không phải từng mùa như trước đây, mà cho kế hoạch một năm rưỡi. Điều đó tạo điều kiện vật chất cho lãnh đạo tăng cường lực lượng với nhịp độ thần tốc, rút ngắn kế hoạch giải phóng miền Nam từ 2-3 năm, xuống 1 năm rồi xuống 2 tháng.
 
Đối với tôi, đồng chí Đinh Đức Thiện là một người bạn chiến đấu thân thiết, quý mến nhau, tôn trọng nhau. Năm nào cũng như năm nào, dù mùa xuân ấm áp hay mùa đông giá lạnh, đến những ngày lễ lớn, đồng chí Đinh Đức Thiện không bao giờ quên mang hoa đến chúc mừng.
 
Đồng chí Đinh Đức Thiện là tấm gương của một cán bộ trung kiên, vừa có đức vừa có tài, có bản lĩnh, cương trực bảo vệ chân lí, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ chung, đoàn kết và yêu thương đồng chí, ăn ở thủy chung.

Chú thích
(*) Đây là bài phát biểu của Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại buổi sinh hoạt lịch sử  tưởng niệm đồng chí Đinh Đức Thiện tổ chức ở Hà Nội ngày 3-1-1997 và ở Thành phố Hồ Chí Minh ngày 10-1-1997. Đầu đề do Ban Biên soạn đặt.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 15 Tháng Tư, 2013, 08:33:41 AM
*
*    *

Tôi đã có bài phát biểu tại buổi sinh hoạt tưởng niệm anh Đinh Đức Thiện tại Hà Nội, đã đăng trên tạp chí Xưa và nay. Ở đây xin nói thêm mấy điểm.
 
Anh Thiện là một người cán bộ trung kiên của Đảng, giác ngộ sớm, hoàn thành mọi nhiệm vụ dù khó khăn, gian khổ, khi bị bắt cũng như khi hoạt động; một người chiến sĩ cộng sản gương mẫu; một người cộng sản có đức, có tài.
 
Tôi nói có đức trước, bởi vì bây giờ ai cũng thấy anh Thiện rất gần gũi với mình, thấy anh Thiện không làm gì vì lợi ích riêng của bản thân, mà là vì lợi ích chung, vì Đảng, vì nhân dân, vì bộ đội. Đó là “đức” của anh Thiện.
 
Tôi nói điều này trước, vì Bác Hồ có nói: “đạo đức là gốc của cách mạng”. Đối với người cán bộ thì cái gốc là có đạo đức. Lúc này, chúng ta phải nêu gương, phải đề cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, quét sạch tham ô, tham nhũng, móc ngoặc, cơ hội, bè phái… Cho nên phải nêu gương anh Thiện. Anh Thiện là một người trong sáng, suốt đời phục vụ nhân dân, là một con người thẳng thắn, nghĩ gì nói nấy. Cũng có người cho rằng anh Thiện hay nói bạt mạng! Không phải đâu. Anh là con người ngang tàng nhưng có tổ chức. Tính tổ chức đó biểu hiện ở chỗ: luôn tìm cách hoàn thành mọi nhiệm vụ Đảng giao cho. Anh rộng rãi đối với mọi người, trong công việc, nhưng đối với bản thân thì luôn cần kiệm. Tôi biết anh Thiện có có địa phương mấy cái xe để đổi lấy thanh niên xung phong và dân công đưa vào làm đường và đặt ống dẫn dầu trong tuyến vận tải. Như vậy là để động viên thêm sức người sức của phục vụ tiền tuyến. Như thế không thể coi là không đúng nguyên tắc, là hoang phí. Cho nên tôi nói bản thân anh Thiện là một con người có đạo đức.
 
Bác Hồ có nói: Làm người và ở đời phải thương nước thương dân, đồng chí càng phải thương yêu lẫn nhau, ăn ở thủy chung; nếu không như vậy thì thế nào gọi là cách mạng?
 
Anh Thiện là một con người như vậy. Cho nên, hôm nay chúng ta nhớ anh Thiện, chúng ta thấy anh mất đi là một tổn thất lớn của Đảng, của quân đội, của gia đình, của tất cả chúng ta. Nhớ anh Thiện, thiết thực nhất là phải trau dồi đạo đức, đặc biệt trong lúc này, cơ chế thị trường có đem đến cho ta những mặt tích cực, nhưng các mặt tiêu cực cũng không ít, đang phá phách trong xã hội, thậm chí nhấn chìm nhân cách của một số cán bộ.
 
Còn về cái tài của anh Thiện, thì đó là tài toàn diện: làm kinh tế, làm hậu cần, và cả làm thơ… Khi Anh làm gang thép Thái Nguyên thì bạt đồi, xẻ núi để xây dựng một công trình mới mẻ và đồ sộ; tôi đến thăm và thầm nghĩ: “Anh này thật táo bạo, dám nghĩ, dàm làm”. Khi bắt đầu làm giao thông, thì quán triệt phương châm “giao thông đi trước”. Lúc chuyển sang làm dầu khí, thì nghiên cứu đề ra một chiến lược lâu dài về dầu khí cho đất nước. Anh là người chịu nghiên cứu sâu, có tầm nhìn chiến lược, có khả năng tổ chức. Anh cũng hay làm thơ; thơ anh có khi người ta nói là “trào phúng”, thế nhưng đọc lên nghe cũng hay, cũng vui, nhưng ý nghĩa thì rất sâu! Nói anh có tài năng toàn diện là như vậy.
 
Được điều động vào bộ đội, trong kháng chiến chống Pháp, anh Thiện làm Cục trưởng cục Vận tải, thuộc Tổng cục Cung cấp, do anh Trần Đăng Ninh và anh Trần Hữu Dực phụ trách. Anh Đức Đức Thiện đã góp phần rất quan trọng để giải quyết những khó khăn trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Lúc đó, tôi theo dõi từng ngày về tình hình lương thực chuẩn bị cho bộ đội; có một hôm thấy trên biểu đồ, lương thực tụt xuống gần con số không! Trung ương Đảng, cả Bác Hồ, anh Trường Chinh và anh Phạm Văn Đồng rất lo. Anh Nguyễn Chí Thanh phải đi Thanh Hóa để huy động. Anh Đinh Đức Thiện được phân công phụ trách một tuyến vận tải của mặt trận, lo việc chuyển gấp gạo từ các Liên Khu III, IV lên trong những giờ phút khó khăn và khẩn cấp. Lúc đó, anh đã tổ chức vận tải cả ban ngày, bất chấp máy bay địch bắn phá. Trong chiến tranh chống Mĩ, anh Thiện phụ trách chỉ đạo xây dựng tuyến vận tải chiến lược đường 559 cùng anh Đồng Sĩ Nguyên, tổ chức bảo đảm hậu cần cho bộ đội cùng nhân dân cả nước đánh thắng các kiểu chiến tranh “đặc biệt”, “cục bộ”, “Việt Nam hóa”… của địch ở miền Nam và chiến tranh phá hoại miền Bắc. Công lao của anh Thiện là rất lớn.
 
Tôi có nhiều dịp làm việc với anh Thiện, có khi cả với anh Thiện và anh Nguyên về các vấn đề hậu cần chiến lược. Những lần làm việc này đã để lại cho tôi những kí ức không bao giờ phai mờ. Anh Thiện đã ủng hộ anh Nguyên về mọi mặt. Tuyến 559, từ vận chuyển bằng sức người, bằng phương tiện thô sơ, đã đi lên vận chuyển cơ giới, có đội hình đại đội, tiểu đoàn, rồi tiến lên đến trung đoàn, sư đoàn xe vận tải. Muốn có nhiều xe chạy, thì phải có nhiều xăng dầu. Anh Thiện đã chỉ đạo cùng với anh Nguyên làm ra hệ thống đường ống dẫn dầu, gắn với con đường 559, chạy từ miền Bắc vào giới chiến trường miền Đông Nam Bộ. Đó là một việc làm rất giỏi, rất sáng tạo.
 
Cuối năm 1972, Mĩ dùng B52 đánh phá miền Bắc dữ dội, hòng buộc ta phải nhận điều kiện quan trọng là các đơn vị bộ đội miền Bắc phải rời khỏi miền Nam. Sau trận “Điện Biên Phủ trên không”, Mĩ phải kí Hiệp định Pari. Mĩ buộc phải rút quân khỏi miền Nam, nhưng bộ đội miền Bắc vẫn ở lại. Bộ Chính trị có chủ trương phải nhanh chóng củng cố các vùng giải phóng ở miền Nam. Anh Đinh Đức Thiện đã trình ra với Quân ủy và trực tiếp làm việc với tôi về một kế hoạch hậu cần toàn diện. Anh xin dẫn đầu một đoàn cán bộ trực tiếp vào chiến trường để tổ chức thực hiện.
 
Tôi hỏi: “Cậu định làm gì, mà mang lắm quân thế?”.
 
Anh Thiện trả lời: “Khoảng gần 100 cán bộ, gồm các ngành hậu cần và cả các binh chủng… Có cả cán bộ chỉ đọa và cán bộ nghiệp vụ. Đi đến đâu, tổ chức đến đấy, đẩy mạnh việc xây dựng vùng giải phóng vững mạnh, xây dựng các căn cứ hậu cần có đầy đủ các kho tàng, các trạm quân y, các cơ sở kĩ thuật, các đơn vị sản xuất…”. Tôi thấy kế hoạch khá đồ sộ, mạnh dạn, nhưng hợp lí và cần thiết, thấy anh Thiện có quyết tâm, có khả năng làm được, nên tôi tán thành.
 
Kế hoạch của anh Thiện được Quân ủy thông qua, và được đưa vào thực hiện, đã góp phần củng cố mạnh các vùng giải phóng và tăng cường lực lượng của ta trên chiến trường. Đến khi Bộ Chính trị họp tại Đồ Sơn, đánh giá là ta mạnh. Một trong những nhân tố góp phần tăng cường sức mạnh của ta là công lao của anh Đinh Đức Thiện. Lúc đặt kế hoạch tổng tấn công và nổi dậy, Bộ Chính trị định hai ba năm, hưng khi thời cơ đến thì có thể rút ngắn. Khi tiến hành tổng tiến công, thời cơ đến: kế hoạch hai, ba năm rút xuống một năm, lực lượng tăng nhanh, bộ đội hành quân thần tốc, hậu cần vẫn bảo đảm được. Đến tháng 4-1975, thời gian rút xuống trước mùa mưa, thì lại càng thần tốc: bộ đội tăng thêm nữa, khối lượng b ảo đảm to lớn và khẩn trương hơn nữa. Đoàn 559 thân tốc mở thêm các tuyến vận chuyển để bảo đảm cho hành quân và tác chiến thần tốc. Nhờ có kế hoạch được chuẩn bị sẵn từ trước, nên hậu cần vượt được khó khăn, không gặp trở ngại lớn. Nếu như lúc đó, thời cơ đến, dù có lực lượng, dù có mệnh lệnh thần tốc, mà bộ đội thiếu ăn, xe thiếu xăng dầu, thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới kế hoạch chiến dịch rồi. Tôi nói lên mấy điểm đó để thấy công lao của anh Đinh Đức Thiện trong những lúc khó khăn là như vậy.
 
Anh Thiện là con người dám nghĩ, dám làm, biết làm quy mô lớn. Bây giờ chúng ta thực hiện “công nghiệp hóa, hiện đại hóa” mà thiếu những người như anh Thiện là rất tiếc, vì Anh sớm có tư tưởng công nghiệp lớn, và đã góp phần vào việc hiện đại hóa quân đội.
 
*
*    *

Tôi đã nói về một con người có đức, có tài và tài năng toàn diện. còn về quan hệ tình cảm của tôi với anh Thiện, đến bây giờ tôi vẫn ghi nhớ mãi hình ảnh của anh Thiện. Hằng năm, năm nào cũng như năm nào, những ngày lễ lớn đến, dù mùa xuân ấm áp hay mùa đông giá lạnh, một mình với bó hoa rất đẹp và nụ cười tươi, anh đến chơi với tôi, chúc mừng và đọc thơ. Hôm nay, bản thân tôi vẫn tràn ngập những kí ức về anh Thiện. Anh là con người tình nghĩa, kiên định, có bản lĩnh, bảo vệ chân lí, nghĩ gì dám nói, có trách nhiệm, thương yêu đồng chí, đoàn kết đồng đội, ăn ở thủy chung. Tôi nghĩ một con người như anh Thiện, đúng là một “ông Thiện”.
 
Anh Thiện ra đi để lại tấm gương sáng cho chúng ta. Trong khi chúng ta đang đứng trước những vận hội lớn, nhưng thách thức cũng rất lớn, tất cả đảng viên, đoàn viên và nhân dân ta đang tích cực tiến lên, nhưng về đạo đức cũng có bộ phận bị sa sút, chủ nghĩa cơ hội nảy nở, chúng ta càng tưởng nhớ tới anh Thiện.
 
Với tất cả tấm lòng của tôi, và của cả gia đình chúng tôi, ai cũng thương nhớ anh Thiện, tôi xin gửi những tình cảm thân thiết đến chị Xuyến, đến anh Xuân, đến cháu Lương, cháu Nhân…, đến tất cả con cháu trong nhà. Mong gia đình ta tự hào là có một người chồng, người cha, người anh như anh Đinh Đức Thiện.
 
Tôi mãi mãi nhớ anh Thiện.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 15 Tháng Tư, 2013, 08:39:25 AM
MỘT ĐỒNG CHÍ CÓ NHIỀU CÔNG LAO
VỚI CÁCH MẠNG, VỚI KHÁNG CHIẾN, VỚI QUÂN ĐỘI

Đại tướng VĂN TIẾN DŨNG

Tôi biết đồng chí Đinh Đức Thiện từ những năm tháng hoạt động bí mật, rồi đến kháng chiến chống thực dân Pháp, nhưng ít có dịp gặp gỡ và công tác. Đến năm 1965, đế quốc Mĩ đưa quân vào xâm lược miền Nam nước ta, tiến hành chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc, đồng chí Đinh Đức Thiện được Trung ương Đảng và Chính phủ điều động trở lại quân đội, làm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Ủy viên Quân ủy Trung ương. Tôi có nhiều kỉ niệm về đồng chí.
 
Là một người có nhiều kinh nghiệm chỉ huy vận tải trong kháng chiến chống Pháp và nhất là trong chiến dịch Điện Biên Phủ, khi nhận lại nhiệm vụ trong quân đội, đồng chí đã đề nghị Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương mở rộng tuyến vận tải quân sự vào các chiến trường miền Nam, từ đường gùi thồ xây dựng thành mạng đường cho xe cơ giới, với nhiều trục dọc, ngang liên hòa; xây dựng tuyến đường ống dẫn xăng dầu, nối liền hậu phương miền Bắc tới các chiến trường miền Nam. Được Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đồng ý và giao trách nhiệm trực tiếp phụ trách, đồng chí đã cùng Đoàn 559 quyết tâm phát triển mạnh đường vận tỉa chiến lược. Trước tình hình địch dùng cả máy bay, biệt kích và bộ binh đánh phá ác liệt, đồng chí đã chỉ đạo đánh địch, mở đường, tổ chức mạng thông tin chỉ huy. Nhiều lần đồng chí đã đi kiểm tra trên tuyến đường, tập trung lực lượng xe cộ, phương tiện kĩ thuật, tạo điều kiện cho Đoàn 559 hoàn thành nhiệm vụ. Mạng đường giao thông vận tải quân sự Trường Sơn là một kì tích trong công cuộc chống Mĩ cứu nước, là cơ sở hạ tầng cho hành quân cơ động, cho vận chuyển chi viện chiến trường, góp phần quan trọng vào thắng lợi giải phóng miền Nam và giúp cách mạng hai nước anh em.
 
Là người phụ trách công tác hậu cần, đồng chí Đinh Đức Thiện luôn suy nghĩ về chất lượng vũ khí, trang bị, bảo đảm đời sống và sức khỏe bộ đội. Đồng chí luôn lo nghĩ đến bữa ăn sao cho đủ chất lượng, đến quân trang, vũ khí, trang bị của bộ đội sao cho nhẹ, phù hợp với hành quân đi bộ đường dài vào chiến trường.
 
Đồng chí Đinh Đức Thiện có những việc làm táo bạo, kịp thời để phục vụ cho kháng chiến. Nhìn về hiện tượng thì có những việc như không đún nguyên tắc, nhưng về bản chất thì lại là thực hiện nguyên tắc cao nhất là bảo đảm cho tác chiến thắng lợi: như việc chuyển súng đạn chống tăng, súng máy cao xạ vào chiến trường Nam Bộ, kịp thời phục vụ cho chiến dịch phản công Tây Ninh, đánh bại cuộc hành quân Gianxơn Xity của Mĩ vào căn cứ của Trung ương Cục miền Nam và Bộ Chỉ huy Miền; như việc cấp xe ô tô vận tải cho tỉnh Quảng Bình để có thể huy động được dân công, làm đường 10 và xây dựng tuyến đường ống dẫn dầu… Có những báo cáo, những thắc mắc về các việc làm như vậy của đồng chí, nhưng Quân ủy Trung ương đã nắm được thực chất của sự việc là để phục vụ kịp thời cho tác chiến nên đã giải thích lại.
 
Trong một số chiến dịch lớn cuối cùng của kháng chiến chống Mĩ, đồng chí Đinh Đức Thiện đã đi với tôi trong đoàn đại diện của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh bên cạnh Bộ chỉ huy chiến dịch. Đồng chí đã chỉ đạo và tạo điều kiện cho hậu cần chiến dịch lúc đó có nhiều khó khăn, hoàn thành được nhiệm vụ bảo đảm tác chiến thắng lợi. Như trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào và chiến dịch tiến công Quảng Trị, đồng chí đã cho xây dựng gấp tuyến đường ống dẫn xăng qua sông Gianh vào tới chiến trường, vận chuyển 5.000 tấn gạo vào Bắc sông Gianh cho tỉnh Quảng Bình, đổi lấy 5.000 tấn gạo dự trữ ở Nam sông Gianh để bảo đảm tác chiến cho mùa mưa phòng khi tuyến sông Gianh bị địch đánh phá, đường vận tải bị gián đoạn. Cùng với việc bảo đảm cho tác chiến, đồng chí còn lo cứu trợ cho đồng bào vùng mới giải phóng. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, thời gian chuẩn bị rất gấp, hậu cần có nhiều khó khăn, nhưng đồng chí hứa nhất định bảo đảm đầy đủ và kịp thời cho đánh thắng, và đã làm được. Đồng chí ít khi ở sở chỉ huy, mà thường đi kiểm tra, đôn đốc việc vận chuyển trên tuyến đường chiến lược, việc tiến hành bảo đảm cho chiến dịch. Đồng chí luôn luôn xông xáo, đi sát thực tế, đã nói là làm và đã làm là đạt kết quả tốt. Bộ Tổng Tư lệnh cũng như Bộ Chỉ huy chiến dịch rất tin đồng chí.
 
Tưởng nhớ đồng chí, một người đã có nhiều công la cống hiến cho cách mạng, cho kháng chiến, cho quân đội, một người thẳng thắn, quyết tâm vượt mọi khó khăn, trở ngại để làm tròn nhiệm vụ, một người, tuy có lúc nóng tính và phóng khoáng nhưng rất tình nghĩa với anh em đồng chí, đồng đội.
 
Đã mười năm, đồng chí Đinh Đức Thiện ra đi không bao giờ trở lại. Nhưng hình ảnh và tính cách của đồng chí luôn luôn đậm nét trong tôi không bao giờ phai mờ.


Tiêu đề: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu cần t
Gửi bởi: anhquaynop trong 15 Tháng Tư, 2013, 08:41:55 AM
LUÔN CÓ MẶT TRÊN NHỮNG MẶT TRẬN KHÓ KHĂN NHẤT

NGUYỄN CƠ THẠCH(*)

Tôi không công tác với đồng chí Đinh Đức Thiện nhưng tôi cùng bị bắt và cùng ở tù với đồng chí Thiện. Do hợp tính nhau, trong mấy chục năm qua, hai chúng tôi thường xuyên tâm sự với nhau.
 
Đồng chí Thiện hoạt động cách mạng từ lúc 16 tuổi và hiến thân trọn đời cho cách mạng đến lúc qua đời năm 74 tuổi. Đồng chí hoạt động bí mật 15 năm và bị bắt vào tù hai lần.
 
Từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trong suốt 58 năm công tác, lãnh đạo Đảng đã giao cho đồng chí Thiện những trách nhiệm rất nặng nề.
 
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đồng chí Thiện làm nhiệm vụ vận tải tiếp tế cho tiền tuyến, đặc biệt là trong chiến dịch Điện Biên Phủ.
 
Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, Đại hội lần thứ III của Đảng đề ra hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng: đẩy mạnh cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, đồng thời tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, làm hậu phương vững chắc cho miền Nam. Lúc đó đồng chí Thiện được giao nhiệm vụ trực tiếp làm Giác đốc Khu gang thép Thái Nguyên. Chúng ta đều biết, đó là cơ sở công nghiệp nặng đầu tiên và cũng là lớn nhất của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc nước ta.
 
Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ xâm lược, liên tục 10 năm (từ 1965 đến 1975), đồng chí Thiện được giao nhiệm vụ vận tải tiếp tế cho cách mạng miền Nam. Cuộc chiến đấu của nhân dân miền Nam phải dựa vào hậu phương vững chắc là miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Đế quốc Mĩ đã tập trung hỏa lực đánh phá vào đường Hồ Chí Minh, tuyến đường tiếp tế huyết mạch của miền Bắc cho miền Nam, chạy dọc theo dãy núi Trường Sơn. Nhưng dưới sự chỉ đạo của đồng chí Thiện, Đoàn 559 đã đánh bại âm mưu chiến lược của địch là triệt phá đường vận tải từ hậu phương ra tiền tuyến của ta. Tuyến vận tải chiến lược vẫn giữ được thông suốt và đảm bảo đủ các nhu cầu cho quân, dân ta chiến đấu giành thắng lợi ở miền Nam.
 
Sau khi đánh thắng đế quốc Mĩ và hoàn toàn giải phóng miền Nam,Hội nghị Trung ương Đảng tháng 4 năm 1975 quyết định thống nhất đất nước và đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Năm 1976 đồng chí Thiện được cử làm Bộ trưởng Dầu khí. Đây là ngành kinh tế mũi nhọn có tiềm năng lớn để tích lũy vốn cho xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
 
Trong hai cuộc kháng chiến, cũng như khi xây dựng kinh tế thời bình, đồng chí Thiện đều hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ nặng nề được giao phó.
 
Đồng chí Thiện là người trực tính, rất ghét những kẻ xu nịnh và những người ưa nịnh.
 
Đồng chí là một tấm gương sáng cho chúng ta noi theo.

Chú thích
(*) Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng; Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 17 Tháng Tư, 2013, 09:58:11 AM
TẦM NHÌN VÀ HÀNH ĐỘNG

ĐỒNG SĨ NGUYÊN(*)

Anh đi xa đã 10 năm. Nay, Anh đang ở trong cõi không gian vô định, hòa quyện với đất, trời, sông, núi. Nhưng đồng chí, bạn bè thân thuộc, gia đình ruột thịt cảm thấy Anh vẫn ở bên chúng tôi.
 
Năm 1946, tôi may mắn được cùng học lớp Nguyễn Ái Quốc khóa I với Anh ở thị xã Hà Đông. Lúc ấy, tối đến anh em trong lớp thường quây quần bên Anh, để nghe Anh kể chuyện tiếu lâm và lẽ sống của tuổi thanh niên, vì Anh có cách nói chuyện rất sinh động, hấp dẫn.
 
Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, theo chỉ thị của Trung ương, lớp học phải kết thúc để cán bộ về chỉ đạo kháng chiến ở các tỉnh, thành phố. Lúc bấy giờ, tôi mới 23 tuổi, là bậc đàn em của Anh. Thuở ban đầu, tôi mới biết anh Thiện thế đó.
 
Năm 1953, Anh Thiện làm Cục trưởng Cục Vận tải, phụ trách tổ chức vận tải chi viện cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Lúc đó, tôi chỉ là phái viên kiểm tra của Tổng cục Chính trị. Trên đường công tác, khi qua Sở chỉ huy của anh Thiện ở Cò Nòi, Hát Lót tỉnh Sơn La, tôi ghé thăm. Anh rất mừng. Vốn là con người hóm hỉnh, mở đầu Anh nói ngay: “Thế nào, anh bạn đến kiểm tra, có cho tôi chiếc xe vận tải nào không?”. Tôi trả lời: “Thưa Anh, đi qua được biết Anh ở đây, tôi vào thăm; xe vận tải thì chỉ Anh mới có, còn tôi thì đào đâu ra”. Vừa hút thuốc lá quấn, vừa uống nước, anh Thiện lại nói vui: “Chỉ có các cậu là sướng, thắng bại ba tấc lưỡi, còn chúng tớ suốt ngày súng đạn, gạo cơm, mắm muối! Giá như lúc này mình có mấy trăm xe vận tải, cùng với mấy vạn dân công cùng ra trận, thì sức mạnh tổng hợp đó sẽ là cấp số nhân”. Tiếp theo Anh nói them về tình hình, các thuận lợi, khó khăn đang diễn ra hằng ngày. Tôi chỉ biết ngồi nghe và quan sát Anh. Với nụ cười duyên dáng hồn nhiên và cách diễn đạt công việc thẳng tuột, không dè chừng ở một chỗ nào.
 
Tôi vừa nghe, vừa ngẫm suy về một con người phụ trách vận tải chi viện ở nơi chiến trận, trong hoàn cảnh lấy gùi thồ là chính mà sớm nuôi một hoài bão, một khát vọng có một đội quân vận tải cơ giới. Lúc đó, tôi chưa đủ trình độ để nghĩ về tầm nhìn của anh Thiện. Tôi mới nghĩ thoáng qua rất nhanh “đây là con người của hướng phát triển, con người của tốc độ”. Chỉ nông cạn thế thôi, nhưng từ tình cảm ban đầu, chuyển qua mối quan hệ gắn kết giữa anh Thiện và tôi, cứ phát triển dần qua năm tháng, mà cao điểm nhất là trong kháng chiến chống Mĩ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
 
Sau Hiệp định Giơnevơ, với nguyện vọng nung nấu sẵn có, anh Thiện được Đảng và Nhà nước giao phụ trách xây dựng Khu gang thép Thái Nguyên, khu công nghiệp có quy mô lớn nhất lúc bấy giờ, đứa con đầu lòng của công nghiệp nặng, của chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.
 
Ngay lúc đầu mới phát triển xây dựng, với tình cảm sẵn có, tôi đến tham quan và thăm Anh. Tuy công việc bề bộn, Anh vẫn để một tiếng đồng hồ giới thiệu cho tôi biết quy mô và tiến độ xây dựng Khu Công nghiệp gang thép. Khi kết thúc câu chuyện, Anh nói: “công việc mới mẻ, nặng nề quá,muốn làm được cần phải có một vạn quân đội, cộng với công nhân và kĩ sư của Nhà nước. Anh Võ Nguyên Giáp đã hứa đưa lực lượng quyển đội chuyển ngành đến”.
 
Anh Thiện nói tiếp: “bọn mình là người trong cuộc hiểu rất rõ, bộ đội thì anh dũng có thừa, nhưng khi trong tay không có đủ đạn, đủ súng, đủ xe vận tải, đành phải rớt nước mắt, cắn răng để chấp nhận cuộc kháng chiến trường kì. Khu gang thép Thái Nguyên này ra đời là tiền đề để có các thứ nói trên, để xóa đi câu ngạn ngữ chế giễu “trừng chọi với đá”.
 
Ra về, tôi lại một dịp nữa nghĩ thêm về con người này. Từ đây, bắt đầu tôi nghĩ về tầm nhìn và hành động của anh Đinh Đức Thiện, tuy mới phôi thai.
 
Năm 1965, sau khi phụ trách chính ủy Quân khu IV và Tư lệnh bộ đội tình nguyện ở Trung, Hạ Lào bị thương trở về, tôi được Quân ủy Trung ương điều sang làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần tiền phương. Đầu năm 1967, tôi làm tư lệnh Đoàn 559, kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Tiền phương là trợ thủ trực tiếp giúp anh Thiện, đồng thời là Tư lệnh một Quân khu của Bộ Tổng Tư lệnh. Từ đây, sự liên hệ giữa anh Thiện và tôi là sự gắn kết giữa cấp trên trực tiếp với cấp dưới; vận hành trong một dây chuyền tổ chức thực hiện công cuộc chi viện cho các chiến trường ta và bạn ở nam bán đảo Đông Dương suốt 10 năm (Tôi phụ trách Đoàn 559 từ đầu năm 1967 đến 1975).
 
Trong 10 năm đó, tôi thực thụ đo được tầm nhìn và năng lực hành động của anh Đinh Đức Thiện. Về nguyên tắc, bất luận một cán bộ phụ trách, một cấp thực hành nào trong quân đội, muốn làm tròn trách nhiệm, không thể xa rời chủ trương, đường lối của Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh. Anh Đinh Đức Thiện cùng nằm trong quỹ đạo đó. Nhưng anh Đinh Đức Thiện có một tầm nhìn chiến lược độc đáo. Anh là một nhà chiến lược về công tác hậu cần trong thời đánh Mĩ,một tham mưu đắc lực có tầm cỡ của Đảng, Nhà nước, quân đội trong thời đánh Pháp, đánh Mĩ và sau khi thắng Mĩ.
 
Theo tôi biết, nhiều việc lớn, do anh phụ trách được đưa ra thực hiện, phần lớn do Anh đề nghị.
 
Riêng những việc lớn trên tuyến đường chi viện chiến lược, đường Hồ Chí Minh, từ năm 1964 trở đi, tôi biết khá đầy đủ, rõ ràng về vai trò của anh Đinh Đức Thiện là thành viên của Quân ủy Trung ương, là nhân vật chính giúp Trung ương Đảng, Chính phủ, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh và Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp chỉ đạo tuyến đường Hồ Chí Minh suốt 10 năm.

Chú thích
(*) Nguyên Tư lệnh Đoàn 59; Ủy viên Bộ Chính trị; Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 17 Tháng Tư, 2013, 10:01:51 AM
Khi thời gian đã lùi về quá khứ, tôi mới có những năm tháng để hiểu hết chiều sâu của tầm nhìn và năng lực hành động của anh Đinh Đức Thiện.
 
Mùa khô năm 1964-1965, ở Tây Trường Sơn, trên đất bạn Lào, anh Phan Trọng Tuệ và anh Đinh Đức Thiện đã sang thử nghiệm việc vận tải cơ giới với một đơn vị vận tải 100 xe trên một cung đường dài 300 km. Ta mới bắt đầu tổ chức vận tải trong một thời gian rất ngắn, chưa hiểu được đặc điểm, quy luật đánh phá, ngăn chặn quyết liệt của địch, chưa hội tụ đủ các điều kiện tập trung thống nhất vào một đầu mối để đánh trả, nên cuộc thử nghiệm vận tải cơ giới đã không thành công.
 
Vào cuối năm 1966, Quân ủy Trung ương triệu tập một cuộc họp dưới sự chủ trì của Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp để đánh giá lại việc tổ chức thực hiện vận tải trên tuyến đường Hồ Chí Minh mùa khô 1965, đặc biệt đánh giá lại việc thử nghiệm vận tải cơ giới không thành công (tôi được dự thính). Cuộc họp này thảo luận sôi nổi, có lúc gay gắt giữa hai loại ý kiến: “có nên tiếp tục vận tải cơ giới hay quay trở lại gùi thồ?”.
 
Tôi rất ngạc nhiên, khi thấy anh Đinh Đức Thiện và anh Phan Trọng Tuệ là hai tác giả của cuộc thử nghiệm vận tải cơ giới không thành công, lại đứng dậy khẳng định: “phải lấy vận tải cơ giới là chính, kết hợp gùi thồ ở nơi và lúc thấy cần”. Hai anh vừa tự phê bình thẳng thắn, vừa dũng cảm bác bỏ ý kiến quay về vận chuyển gùi thồ. Từ đúc kết của quá trình cách mạng Việt Nam “thất bại là mẹ thành công”. Anh Thiện, anh Tuệ đã phân tích một cách lô gích sự cần thiết và cấp bách của vận tải cơ giới trong công cuộc chi viện cho các chiến trường miền Nam và hai nước bạn, do phải theo kịp hướng phát triển đi lên, vì mục đích cuối cùng phải đạt là “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”. Hai anh mạnh mẽ đề nghị Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh hãy tập trung sức lực, trí tuệ của miền Bắc, của quân đội, sự chi viện của cá nước anh em, ưu tiên cho chiến trường miền Nam, trước hết tăng cường đồng bộ đủ mạnh cho đường Hồ Chí Minh, để thực hiện thành công công cuộc chi viện cho các chiến trường ta, bạn ở nam bán đảo Đông Dương. Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, một trong các nhà chiến lược quân sự lỗi lạc của Đảng và Nhà nước ta, khi kết luận đã theo hướng đề nghị của anh Thiện và anh Tuệ, nhấn mạnh đến các điều kiện tổng hợp để bảo đảm việc thực hiện.
 
Khi giao nhiệm vụ cho tôi vào làm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần tiền phương ở khu vực cán xoong nam khu IV, sau khi nói rõ các nhiệm vụ, anh Thiện tâm sự: mình rất tức, vì thử nghiệm vận tải cơ giới chưa thành công, nên mới có việc bàn thụt lùi. Lần này, cậu vào chính quê cậu, tâm điểm của sự đánh phá ác liệt, hãy thực hiện cho được vận tải cơ giới có quy mô lớn để chứng minh kết luận của Quân ủy Trung ương là đúng đắn.
 
Với 750 xe vận tải, 5 tiểu đoàn của 4 binh trạm, từ tháng 8 đến tháng 12 năm 1966, Tổng cục Tiền phương đã lập chân hàng cho tuyến đường 559 ở các cửa khẩu đạt 75% kế hoạch cả năm, trong bối cảnh không quân Mĩ đánh phá ngăn chặn, thả bom rải thảm cả ban ngày và ban đêm.
 
Nguyên nhân thành công, chủ yếu là sức mạnh tổng hợp phải thực sự tập trung vào một mối chỉ huy, đưa công tác cầu đường lên khâu đột phá hàng đầu.
 
Đầu tháng 12-1966, anh Thiện vào Sở chỉ huy Tổng cục Tiền phương tại xã Hương Đô, Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh. Với thái độ rất vui vẻ, vồn vã, anh nói với tôi; “Hiệp đầu ta đã thắng, Quân ủy Trung ương sẽ điều anh vào làm Tư lệnh Đoàn 559 kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Tiền phương”.
 
Rút kinh nghiệm Tổng cục Tiền phương để vận dụng vào 559, tuyến Tây Trường Sơn, Anh nói với tôi nhiều việc cần suy nghĩ để triển khai kế hoạch năm 1967 của tuyến 559, trong đó, anh nhấn mạnh: “cậu ở Bộ Tổng tham mưu có lẽ đã hiểu, trên tuyến vận tải cơ giới trong chiến tranh phải có một mạng thông tin đa phương thức thì mới chỉ huy được thông suốt. Năm 1965, tôi đã nói với Bộ Tư lệnh 559 mắc đường dây tải ba, nhưng không hiểu sao anh em làm chậm. Khi cậu vào, phải xúc tiến mạnh. Về Hà Nội tôi sẽ đề nghị với anh anh Văn Tiến Dũng, Bộ Tổng tham mưu tăng cường cán bộ, trang thiết bị thông tin, nếu thiếu tôi sẽ đề nghị với anh Lê Thanh Nghị xin thêm dây, máy của các nước anh em”. Quá trình đi đến thành công của tuyến đường Hồ Chí Minh, có nhiều mặt tổng hợp. Nhưng phải nói mạng thông tin là yếu tố quyết định thắng lợi của chỉ huy. Một mạng thông tin đa phương thức, lấy tải ba là chính, trong chiến tranh chỉ có ở tuyến đường Hồ Chí Minh là hoàn chỉnh.
 
Quá trình về sau, cán bộ chỉ huy các cấp của tuyến vận tải chiến lược, ai cũng rất tự hào về mạng thông tin này. Nhưng ít ai hiểu tác giả có tầm nhìn và năng lực hành động, tác động vào việc xây dựng mạng thông tin, chính là anh Đinh Đức Thiện. Cần nhớ lại, lúc bấy giờ, nhiều người không tin tuyến đường dây thông tin hữu tuyến tải ba dài 1.350 km lại trụ được trong điều kiện không quân Mĩ đánh phá ác liệt!
 
Theo dự tính trước, thì tuyến đường Hồ Chí Minh trong những năm đầu, thế nào cũng có nhiều khó khăn. Từ năm 1965 đến năm 1967 được bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Trung ương Cục miền Nam chấp thuận, Chính phủ Campuchia cho phép, anh Đinh Đức Thiện đã bí mật sang Phnôm Pênh khảo sát nguồn lương thực, thực phẩm tại chỗ. Khi trở về, đã khẩn trương phối hợp với Hậu cần Miền để tổ chức mua lương thực ở Campuchia. Anh Thiện đã phái anh Đức Phương và một số cán bộ đóng vai nàh tư sản, tổ chức thua mua và vận chuyển lương thực cho chiến trường Tây Nguyên có hiệu quả (gọi là tuyến C4).
 
Tuy thời gian thực hiện việc này chỉ duy trì được hơn hai năm, nhưng nhờ tầm nhìn và năng lực hành động trong công tác hậu cần khá uyển chuyển, đã sử dụng được cả nhân tố quốc tế, với chế độ chính trị khác nhau.
 
Cũng tương tự như vậy, đầu năm 1970, theo dự đoán của Bộ Chính trị, Mĩ ngụy có thể mở tấn công lớn sang Campuchia, mở rộng phạm vi an toàn cho ngụy miền Nam ra xa để phá căn cứ chỉ huy và hậu cần của Trung ương Cục miền Nam, làm áp lực cho Lon Non lật đổ quốc trưởng Xihanúc, để cắt đứt tuyến đường Hồ Chí Minh đi qua đất Campuchia. Đối với với thời cuộc đó, theo chủ trương của Quân ủy Trung ương, anh Đinh Đức Thiện vào làm việc với Bộ Tư lệnh Trường Sơn, tạo mọi điều kiện lập Sư đoàn hu vực 470 để lo mọi mặt chi viện cho Tây Nguyên, Nam Bộ, Đông Bắc Campuchia. Thế là từ tuyến vận tải C4, nhanh chóng đảo ngược thành hành lang chi viện ở khu vực biên giới ba nước, một địa bàn chiến lược cực kì quan trọng không thể bỏ ngỏ. Việc làm này đã đón đầu và góp phần dập tắt âm mưu cắt đứt tuyến đường Hồ Chí Minh đi qua đất Campuchia. Đó là kết quả của tầm nhìn và năng lực hành động sáng tạo của anh Thiện.
 
Cuối năm 1966, khi chân hàng đã thỏa mãn ở các cửa khẩu, đúng 30 Tết âm lịch năm 1967, anh Thiện vào làm việc với Bộ Tư lệnh 559 tại Sở chỉ huy Tổng cục Tiền phương, giao tăng gấp đôi chỉ tiêu vận tải cho các chiến trường. Nếu cần những điều kiện gì, thì Bộ Quốc phòng và Tổng cục thảo mãn cho 559.
 
Do nắm chắc được tình hình bên dưới, anh Đinh Đức Thiện đã ra quyết định kịp thời để phát huy các nhân tố mới, không bỏ lãng phí. Đó chính là sự giúp đỡ cho cấp dưới phát triển một cách tự giác không phải gò ép. Vì vậy, chúng tôi nhận nhiệm vụ đó rất nhẹ nhàng, thoải mái.
 
Đầu năm 1969, trong buổi làm việc với Bộ Tư lệnh 559, Anh để nhiều thì giời trao đổi trên bản đồ, để quy định lắt đặt tuyến đường ống dẫn xăng dầu. Nét bút chì đỏ của anh Thiện chấm điểm cuối cùng của đường ống này là Bù Đăng, thuộc tỉnh Sông Bé. Anh Thiện nói: “Tôi sẽ phụ trách anh Lê Thanh Nghị sang Liên Xô, Trung Quốc xin bằng được ống, phụ kiện, máy bơm, dây thông tin. Nếu vẫn còn thiếu thì xin Nhà nước cho mua và tìm cách khắc phục trong nước. Đối với một số đồn bốt của địch còn nằm trên tuyến khi các chiến trường “nhổ” được đến đâu, ta đặt đường ống đến đấy. Vận tải hàng hóa, cơ động binh chủng kĩ thuật nhanh, lớn, cực lớn, thì tất nhiên việc chở xăng bằng phuy, bằng xe téc là lỗi thời, lại không an toàn. Đường ống dẫn xăng dầu là phương thức vận tải hiện đại, bán tự động, đó là mơ ước ta quyết làm bằng được”. Chính khách nước ngoài và nhiều người trong nước đều đánh dấu hỏi: Trong điều kiện không quân Mĩ đánh phá dữ dội như vậy, Quân đội nhân dân Việt Nam đã tiếp tế xăng dầu như thế nào, mà lại sử dụng được đến các sư đoàn xe vận tải, cơ động bằng cơ giới từng quân đoàn, sư đoàn bộ binh, cơ động một khối lượng lớn binh chủng kĩ thuật vào đến chiến trường miền Nam xa hàng nghìn kilômét. Anh Trần Hoàn, nguyên Bộ trưởng Văn hóa - Thông tin nói: “Tôi đến xem bia lịch sử Bù Đăng tỉnh Sông Bé ghi đây là điểm cuối cùng của tuyến đường ống dẫn xăng dầu đường Hồ Chí Minh, tôi mới hiểu rõ, đầy đủ những nguyên nhân dẫn đến thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử”.


Tiêu đề: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu cần t
Gửi bởi: anhquaynop trong 17 Tháng Tư, 2013, 10:09:01 AM
Tác giả, kiến trúc sư tuyến đường ống dẫn xăng dầu trên tuyến đường Hồ Chí Minh là anh Đinh Đức Thiện. Đó là tầm nhin và năng lực hành động, dự đoán trước sáu, bảy năm, để đón đầu thời cơ.
 
Về đường sá anh Đinh Đức Thiện luôn luôn chủ trương cầu đường trên tuyến phải xây dựng thành một mạng lưới liên hoàn, đồng bộ cả Đông Tây Trường Sơn, thỏa mãn và có dự trữ, tạo ra cơ sở hạ tầng thực sự đi trước. Tuyến Đông Trường Sơn, phải khôi phục và mở mới thành một tuyến đường tiêu chuẩn quốc gia xuyên Bắc - Nam, cho trước mắt và cả cho phát triển kinh tế miền núi, quốc phòng, an ninh sau khi ta giải phóng miền Nam.
 
Trước khi chiến dịch Đường 9 - Nam Lào diễn ra, anh Đinh Đức Thiện đã vào làm việc cùng Bộ Tư lệnh Trường Sơn đưa ra các dự đoán và giải pháp cụ thể; giao cho chúng tôi: một mặt phải đánh thắng địch ở cánh Tây Trường Sơn, đặc biệt diệt cho được trực thăng, đồng thời phục vụ hậu cần thỏa mãn cho cánh Đông Trường Sơn. Nhưng vấn đề đặt lên hàng đầu là phải vận chuyển liên tục, không để vận tải chiến lược ngừng trệ một ngày nào.
 
Đoàn 559 cần gì, Bộ Quốc phòng và Tổng cục thỏa mãn đầy đủ. Nhờ vậy khi chiến dịch xảy ra, tuyến Tây Trường Sơn hoàn toàn chủ động, dưới sự chỉ huy thống nhất của Bộ, Đông và Tây Trường Sơn đã phối hợp nhịp nhàng, tiêu diệt hoàn toàn các binh đoàn của ngụy miền Nam, Lào, Thái Lan; đập tan vĩnh viễn âm mưu của địch cắt đứt tuyến chi viện chiến lược đường Hồ Chí Minh, đẩy mạnh được vận chuyển bảo đảm hậu cần cho các chiến trường.
 
Về xây dựng, phát triển các binh chủng trên tuyến, anh Đinh Đức Thiện ủng hộ quan điểm: căn cứ theo yêu cầu, nhiệm vụ mà điểu chỉnh, phát triển quy mô tổ chức theo kịp diễn biến khách quan, không câu nệ. Vì nhiệm vụ đề ra tổ chức, chứ không phải tạo ra tổ chức để có chỗ ngồi. Khi hiệp định Pari được kí kết, điều kiện hòa bình đã có, Bộ Tư lệnh Trường Sơn đề nghị tổ chức các sư đoàn xe vận tải để chạy thẳng giao hàng nhiều, nhanh, trực tiếp cho các chiến trường, xóa bỏ các cung. Đây chính là quan điểm vận tải của anh Đinh Đức Thiện nên Anh rất ủng hộ. Đây cũng là cách làm để thúc đẩy thời cơ và đủ sức để chủ động đón lệnh thần tốc của Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, phục vụ chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Nhờ vậy, đến giữa năm 1973, Bộ đã cho phép tuyến đường Hồ Chí Minh được sắp xếp lại theo hướng binh chủng hợp thành và 10.000 thanh niên xung phong, trong đó có 2 sư đoàn và 1 trung đoàn xe vận tải cơ động chở hàng, chở quân là lực lượng chủ lực, 4 sư đoàn công binh, 1 sư đoàn bộ binh, 1 sư đoàn và 6 trung đoàn công xạ và các trung đoàn phục vụ chiến đấu và bảo đảm chiến đấu. Sau chiến dịch Buôn Ma Thuột, anh Đinh Đức Thiện được Bộ Chính trị cử vào tham gia Bộ Chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh. Nhờ nắm chắc khả năng, thế mạnh của tuyến đường Hồ Chí Minh nên Anh đã phát huy được sức mạnh tối đa của tuyến cho thời cơ quyết định.
 
Về phong cách và tác phong của anh Đinh Đức Thiện: cái lớn nhất là nói và làm đi đôi với nhau, chủ trương và giải pháp gắn liền với nhau. Đặc biệt là điều kiện để bảo đảm giải pháp rất đồng bộ, kịp thời, chủ động, cụ thể. Ví dụ tăng cường 1.000 xe vận tải, anh ghi rõ trong quyết định bao nhiêu lái xe đi cùng, bao nhiêu chiếc lốp dự bị, bộ đồ nghề v.v… Khi bàn việc phát triển cầu đường, anh chủ động nói luôn phải tăng thêm bao nhiêu máy húc, xe ben, thuốc nổ… Khi quân Mĩ rải bom từ trường xuống tuyến, anh chủ động đưa các trung đội xe phóng từ vào, trong lúc Bộ Tư lệnh Trường Sơn chưa kịp xin… Có những việc cụ thể, chúng tôi rất cảm động như việc trang bị mũ sắt, áo giáp cho bộ đội vận tải. Mũ sắt thì chiến trường nào cũng được cấp, riêng áo giáp thì chỉ có tuyến đường Hồ Chí Minh mới có, do đặc điểm riêng của nó. Anh quan tâm cả giấc ngủ, lo từng viên tăng lực cho bộ đội lái xe. Anh Đinh Đức Thiện là một nhân vật dám nói, dám làm việc lớn, dám chịu trách nhiệm, năng động, sáng tạo, thẳng thắn, rộng rãi, ghét xu nịnh, gần gũi, thực lòng thương yêu cán bộ, chiến sĩ, bạn bè. Phong cách và tác phong của anh Đinh Đức Thiện có sức thuyết phục cấp dưới mạnh mẽ, góp phần tạo nên nhân cách đúng đắn cho nhiều cán bộ cộng sự.
 
Ngày 30 tháng 4 năm 1975 giải phóng Sài Gòn, thì ngày 8 tháng 5 năm 1975 anh Thiện triệu tập tôi đến bàn cách để đề nghị Chính phủ một phương án xây dựng kinh tế. Anh chỉ đạo tìm kiếm dầu khí đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long, đặt nền móng đầu tiên để liên doanh với Liên Xô xây dựng ngành dầu khí Việt Nam. Sau khi giải phóng miền Nam, Anh cũng lại đi vào những công việc có tầm cỡ quốc gia như sau chiến thắng Điện Biên Phủ.
 
Cuộc đời của anh Đinh Đức Thiện trong thập kỷ 60, nửa thập kỷ 70 đã gắn chặt với tuyến chi viện chiến lược đường Hồ Chí Minh, làm nên mốc son chói lọi trong trang sử hào hùng kháng chiến chống Mĩ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
 
Hôm nay, tưởng niệm 10 năm ngày mấy của Anh, là một cộng sự trực tiếp đã từng giúp Anh, trải qua bao thăng trầm, gian khổ, ác liệt và thắng lợi, tôi xin kính cẩn nghiêng mình trước anh hồn của Anh. Chúc Anh an nghỉ ngàn thu!


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 17 Tháng Tư, 2013, 10:16:45 AM
ÔNG TƯỚNG “NÓNG” - NHÀ THƠ VUI(*)

TỐ HỮU

Tôi là một cán bộ chính trị nhưng lại có cái “duyên” với nhiều nhà quân sự, trong đó đặc biệt là anh Đinh Đức Thiện mà người ta hay gọi là ông Tướng “Nóng”. Tôi cho đó là cái tên sáng tạo của nhân dân gọi một người nhiệt tình, nhiệt tâm, rất nóng, nóng trong tâm huyết, nóng trong hành động, đã nói là làm. Nói mà nóng thì cũng dễ thôi, chứ làm mà nóng mới thật là khó.
 
Anh Đinh Đức Thiện là người nói nóng và làm rất nóng. Tôi tin rằng nếu không có anh Đinh Đức Thiện, ngành Hậu cần và Đoàn 559 thì cũng khó có những chiến công lớn là đặc biệt là chiến dịch Hồ Chí Minh mà chúng ta đã giành được. Dẫu rằng có Bộ Chính trị, có Bác Hồ, và sau Bác có đồng chí Lê Duẩn; dẫu rằng có Quân ủy, đứng đầu là Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Đại tướng Văn Tiến Dũng, là những nhà quân sự tài ba, thao lược lớn và rất sáng suốt. Nhưng không thể thiếu những người thực thi là các tướng “đánh”, rong đó có tướng cực kì quan trọng mà lịch sự đôi khi không nhớ tới lắm, đó là “tướng Hậu cần”. Mác đã nói: “Chống lại bạo lực phản cách mạng chỉ có bạo lực cách mạng”, cho nên cái câu ta hay nói “lấy yếu đánh mạnh” chỉ là cách nói lúc ban đầu thôi, còn cuối cùng bao giờ cũng phải mạnh hơn thì mới thắng được. Mạnh hơn không phải chỉ bằng tư tưởng, mà còn phải bằng lực lượng vật chất. Trí tuệ sáng suốt và tài tổ chức tuyệt với của Đảng ta đã tạo ra sức mạnh vật chất vĩ đại để chiến thắng. Chính Kítxingiơ có lần nói trong khi đàm phán với ta rằng: “Nếu các ông chỉ có dũng cảm thì các ông thua rồi. Nhưng các ông cực kì thông minh! Tôi rất ngạc nhiên là tại sao các ông đưa được nhiều pháo lớn, nhiều xe tăng, nhiều đơn vị lớn vào miền Nam như thế mà chúng tôi lại không biết gì cả”. Ai làm việc đó, cố nhiên là Bộ Chính trị quyết định, cố nhiên là Quân ủy chỉ thị, nhưng người thực hiện theo tôi hiểu, đó là anh Đinh Đức Thiện và đội quân hậu cần tuyệt vời của chúng ta, trong đó có anh Đồng Sĩ Nguyên Tư lệnh và Đoàn 559 anh hùng, mà tôi rất quý mến.
 
Còn nhớ một hôm, vào đầu tháng 2-1973, tôi đến nhà anh Lê Duẩn. Anh đang ngồi trầm ngâm, thấy tôi vào, liền bật dậy và nói: “Không thể kéo dài tình thế nhùng nhằng ở miền Nam được. Bọn địch đã trở mặt, đang giành giật với ta, thì ta phải ra tay ngay. Nhưng phải có những quả đấm thật mạnh. Muốn vậy, phải đưa vào các chiến trường những binh đoàn chủ lực, nhiều xe tăng và đại bác. Nhưng đường vào còn nhỏ, phải mở đường lớn ở cả Đông và Tây Trường Sơn, càng nhanh càng tốt. Không có đường lớn, thì không thể có những quả đấm mạnh để đánh bại đội quân ngụy còn hàng triệu quân và được vũ trang ghê gớm. Dầu là Mĩ đã rút đi, nhưng nó đã tăng cường vũ trang cho quân ngụy, gọi đó là “đổi màu da xác chết!””.
 
Nghe Anh nói, tôi rất phấn khởi, vì đó là chủ trương rất đúng. Tôi liền đề nghị với Anh, cho tôi đi miền Nam một chuyến. Tôi là Bí thư thường trực, Trưởng ban Thống nhất, Trưởng ban Tư tưởng Trung ương mà không biết gì về Trường Sơn, về Nam Bộ thì làm ăn thế nào được? Anh Ba rất đồng tình và bảo nên đi sớm. Được lời như cởi tấm lòng, vì thế mới có chuyện tôi đi Nam đầu tháng 3 năm 1973. Nhân có đoàn anh Đinh Đức Thiện đi vào Nam, tôi liền đi cùng, càng tiện và thêm vui.
 
Kỉ niệm về chuyến đi của tôi với anh Đinh Đức Thiện rất nhiều. Một chuyến đi mà gặp đủ cả thủy, hỏa, tặc, chỉ thiếu đạo! Đi 8 xe, một qua sông Se Xan, bị máy bay Mĩ đánh cháy mất 6 xe, quần áo mất sạch nhưng không chết người là may rồi. Mới nghe vo ve tiếng của OV10, là cả đoàn bỏ xe, chạy tản vào rừng ngay. Riêng anh Thiện và tôi thì có 2 cái xe máy chở đi trước về trạm nghỉ. Còn các anh em thì đợi hết bom, máy bay qua rồi, lục tục về sau. Tất cả đều an toàn. Chết làm sao được cái đội quân cơ giới rất gan góc và thông minh này. Dầu lúc đó là tháng 3 năm 1975, Hiệp định Pari đã kí, nhưng không phải là đã hết nguy hiểm. Chúng tôi đi đường Tây Trường Sơn. Thơ của Phạm Tiến Duật nói Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây, nhưng lúc đó, mới chỉ có Trường Sơn Tây thôi. Anh Thiện nói: “chỉ có một đường thì không ăn được, phải có hai đường, phải làm nhanh đường Đông Trường Sơn”. Tôi hỏi: “Đông Trường Sơn đi thế nào?”. Anh bảo: “chưa có đường, phải xẻ đường mà đi, băng qua rừng khộp; không phải là rừng du lịch, mà là rừng đầy bom, mìn và chất độc màu da cam”…
 
Thế là sau một tháng ở Trung ương Cục miền Nam, từ Lộc Ninh, chúng tôi lên Bù Đốp, Bù Gia Mập, qua sông Xe Rê Pok, vào đất Tây Nguyên và đi lên phía Bắc.
 
Khi đến Kon Tum, gặp bộ đội, anh Thiện hỏi câu trước tiên là: “Có đủ gạo ăn không?”. Lính thưa rằng: “Thưa Bác, hết gạo rồi, chỉ còn nửa lạng đến một lạng, phải ăn cháo thôi”; “Thế còn muối không?”, “Chỉ còn một chút thôi nhưng mà phải để dự trữ”. Tóm lại là, lính rất đói và ăn nhạt, và đồng bào dân tộc ở đây cũng thế, thèm từng hạt muối! Thế là anh Thiện nổi nóng lên. Tìm gặp anh Trần Thế Môn là Chính ủy chiến trường Tây Nguyên, anh Thiện hỏi :”Sao anh để lính và cả dân đói như thế còn đánh đấm gì?”. Anh Môn nói: “Ơ hay! Việc này là việc của Anh, chứ đâu phải việc của tôi?”. Anh Thiện cà khịa: “Anh ở trên núi cao, anh chả biết bộ đội và dân nó no, nó đói thế nào?”. Anh Môn cũng chả vừa: “Tôi biết cả, nhưng việc đưa gạo vào chiến trường là việc của Anh chứ đâu phải là việc của tôi?”. Anh Thiện tuy nóng dữ dằn như thế, nhưng lại cũng rất phục thiện. Anh nói: “Ờ thì lỗi của mình!”. Và Anh điện hỏa tốc cho anh Đồng Sĩ Nguyên, ra lệnh tuyến vận tải Trường Sơn chở gấp gạo, muối và thực phẩm vào Tây Nguyên, tạm hoãn việc vận chuyển súng đạn và các loại khác. Khi quay ra đến Chà Vân, tôi thấy hàng trăm, hàng trăm xe chở toàn gạo và muối vào. Qua đó tôi mới thấy: tinh thần, tình cảm đã đành, nhưng tính quyết liệt, quyết sách rất nhanh của anh Thiện đã cứ nguy cho các đơn vị ở Tây Nguyên. Sau này, tôi có dịp gặp anh em các đơn vị đó, anh em nói: “Hồi đó không có bác Thiện, bọn cháu e đến rau má cũng không còn mà ăn và dân cũng đánh thiếu muối mãi thôi”. Như vậy, để thấy rằng anh Thiện là một con người cực kì tốt bụng, cực kì ngay thẳng, nhưng điều quan trọng nhất là hành động cực kì quyết liệt, nhanh nhạy. Anh là người không biết sợ địch, không biết sợ khó, nhưng lại rất trọng lẽ phải và tình đồng chí. Đó là điều mà trong lòng tôi luôn luôn kích trọng. Anh Đinh Đức Thiện không phải chỉ có tài làm hậu cần, mà khi làm cơ khí luyện kim cũng giỏi, đến lúc làm dầu khí cũng tài. Cho nên trong sự nghiệp cách mạng của đất nước, công lao trong những năm đánh giặc, cũng như công lao trong xây dựng đất nước của anh Thiện rất lớn.

Chú thích
(*) Bài nói của đồng chí Tố Hữu, nguyên ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng tại buổi sinh hoạt lịch sử tưởng niệm đồng chí Đinh Đức Thiện tổ chức ở Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 10-1-1997.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 17 Tháng Tư, 2013, 10:18:58 AM
*
*    *

Anh Thiện với tôi tuy không có quan hệ chặt chẽ lắm, nhưng cũng có cái tình riêng là hay thơ, phú. Ông Tướng võ này, tuy nổi tiếng về tính nóng nhưng cũng lại thích làm thơ, hay làm thơ, và làm thơ lục bát loại châm biếm sắc sảo lắm. Thơ của Anh “vịnh” tất cả các ngành của Đảng, và Nhà nước. Anh “vịnh”tất cả mọi sự việc mà trúng gần hết. Giọng thơ Nam Định, cái đất của Tú Xương cũng phải! Thơ của Tú Xương chua cay, nhưng đùa cợt, nhẹ nhàng, còn thơ Anh thì nói toạc móng heo! Người tốt bụng, ngay thẳng thì thích, nhưng ai ưa nịnh thì cũng khó chịu đấy!
 
Anh làm thơ đọc cho tôi, hoặc các anh em khác nghe toi. Không ngờ trong chuyến đi vào Nam, khi đến đoạn đường Trường Sơn ngang qua Huế, Anh tặng tôi bài thơ: “Nhà thơ xứ Huế” như sau:
 
Đường về núi Ngự, sông Hương
Lòng quê đi, một bước đường một đau
Thù này mang nặng từ lâu
Nắng mưa đã gội máu đầu hoa râm.

Năm đó tôi mới 53 tuổi, tóc đã hoa râm đâu! Chẳng qua Anh đã phịa thêm một chút! Tôi nghĩ cũng phải tặng lại Anh một bài thơ. Trong chuyến đi, một lần đi thuyền trên suối, tôi đang lo thuyền đắm thì chết, thế mà khi thấy con cá, anh vội chồm ra chụp được đuôi cá. Thế là vớ được một con cá giữa dòng nước chảy. Ở một đoạn sau, đang ngồi trong xe, thấy Anh nhảy tuột xuống đất, chưa kịp hiểu anh đi đâu, làm gì, thì Anh đã đánh què một con cầy hay con cáo gì đó. Thế là hai lần tôi phục động tác nhanh nhẹn của anh. Nhưng một lần khác đi thuyền trên sông, thì thuyền bị lật. Chúng tôi đều bị ướt như chuột lột, phải lên bờ phơi quần áo. Trời nắng quá! Tôi nói; “Ông Thiện ơi, trời nắng quá”. Anh nói; “Thì khó gì, có như vậy mà cũng không biết xử lí, lật mẹ nó cái thuyền lên, rồi ngồi vào trong”. Tôi thấy anh thật nhanh trí, bèn ứng khẩu mấy câu thơ vui tặng Anh:
 
                  Nhảy tòm xuống nước lôi đuôi cá,
                  Vượt tót lên non bắt cáo què.
                  Được thời, Bộ trưởng thông sông núi.
                  Thất thế, anh hùng núp bóng ghe.
 
Anh Thiện là người hay làm thơ châm chọc, thì mình cũng học ông một tí! Không dè anh thụi tôi một cái và nói: “Anh bảo tôi núp bóng ghe, thì tôi đâu có đến nỗi như thế. Trong quê tôi “ghe” là cái thuyền, nhưng ở ngoài Bắc thì nó lại có nghĩa khác! Thế là “ông Tướng” bị chiếu tướng cười ộ lên vui vẻ. Nhân đây tôi nhắc lại một bài thơ khác của Anh, một bài thơ mà tôi thấy rất hay. Một vị tướng như anh Thiện, không sợ trời, sợ đất, mà biết sợ một cô con gái lái đò dám phê bình! Đó là bài thơ:
 
                 Đi qua sông Ghép
 
                  Hôm đi qua phà Ghép
                  Tới nơi chẳng thấy đò.
                  Làm cách nào sang sông?
                  Đang bực sẵn trong lòng,
                  Mình văng ngay “củ kiệu”.
                  Bỗng lái đò xuất hiện.
                  Chắc chị đã nghe hết,
                  Vẫn đưa đò cho sang.
                  Đi ra tới giữa sông,
                  Chị lái đò mới nói:
                  Các ông là bộ đội,
                  Hay cán bộ trung ương
                  Văng “cái ấy” với dân,
                  Theo tôi là hơi bậy,
                  Làm sai điều Bác dạy
                  Không có đúng chi mô.
                  Và tôi người lái đò,
                  Thấy răng tôi cứ nói.
                  Các ông chớ mất lòng.
                  Sông Ghép rộng mênh mông,
                  Chị lái đò “ca mãi”.
                  Mình nghĩ biết mình dại,         
                  Thua cả chị lái đò!
 
Một ông Tướng như anh Đinh Đức Thiện, hay văng tục, có lẽ lần đầu bị một chị lái đò phê bình thẳng thắn, mà không tự ái, thành thật thấy lỗi: “mình nghĩ biết mình dại, thua cả chị lái đò”, thì cũng đáng trọng biết bao!
 
Anh Thiện ơi! Anh là một trong những người tôi quý mến và suốt đời tôi không sao quên được. Hôm nay, tưởng niệm 10 năm ngày mất của Anh, tôi cảm thấy rất sung sướng. Sung sướng vì thấy rằng: ở trên đời này, nhân dân mình, Đảng mình vẫn còn luôn tưởng nhớ đến những người đồng chí, những người con rất xứng đáng với Đảng, với dân, thực sự là những người cộng sản Việt Nam, như Anh. Bài thơ “Nước non ngàn dặm”, tôi viết sau chuyến đi vào Nam cùng Anh, chứa chan bao xúc động, có một phần tình cảm sâu nặng với người bạn đường, bạn đời rất chân thành là Anh đấy, anh Thiện thân yêu!


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 17 Tháng Tư, 2013, 10:31:20 AM
ĐỐI PHÓ VỚI MẬT THÁM PHÁP(*)

MAI CHÍ THỌ(*)

Anh Đinh Đức Thiện, năm 1930 là học sinh đã bị bắt vì hoạt động cộng sản. Vì thiếu chứng cứ, và anh không chịu thừa nhận tội trạng, nên địch phải thả anh ra. Sau đó, anh bắt liên lạc được với Đảng và tiếp tục hoạt động. Lần này bị bắt, bị tra tấn, anh cương quyết phủ nhận những lời buộc tội của địch. Bọn lính kín đưa ra bằng cớ về một lời khai của một đồng chí đối với anh. Anh yêu cầu được đối chất. Địch buộc phải đưa đồng chí này đến gặp anh. Thì ra đồng chí cùng trong chi bộ. Hai gia đình ở gần nhau. Vừa trông thấy đồng chí kia anh nói ngay: “thằng này khai bậy cho tôi là đúng thôi, vợ nó đem đồ dơ xuống giặt giũ ở ao nhà tôi, tôi đã chửi cho một trận, nó căm thù tôi”. Nói xong với bộ mặt hầm hầm, anh xông lại đánh đồng chí kia túi bụi. Anh đóng kịch như thật, bọn lính kín thấy không ổn, nhẩy vô can thiệp và đưa anh kia trở lại xà lim. Anh nói với bọn lính kín: “Tôi thường bệnh hoàn và đau tim nặng, biết mình sức khỏe như thế không chịu được gian khổ, đòn tra tấn nên không dám tham gia cách mạng. Khi các ông khám xét nhà tôi thì thuốc[46] tây, thuốc bắc, toa thuộc đều ở trong ngăn tủ. Các ông tra khảo chắc tôi phải chết thôi. Tôi đâu có biết gì mà khai”.
 
Thực ra cũng chẳng có toa thuốc và thuốc men gì cả. Nhưng anh cứ dựng đứng lên như thế vì tin chắc rằng khi xét nhà, bắt người, bọn chúng chỉ quan tâm đến tài liệu cách mạng, những tang vật phạm pháp thôi. Mặt khác, từ ngày bị bắt, anh luôn luôn đóng vai tuồng là một người bệnh hoạn. Dù cho trời nắng nóng anh vẫn mặc bên ngoài một cái áo bành tô, đầu tóc bù xù, nét mặt mệt mỏi, ít ăn, ít nói. Nửa tin, nửa ngờ, bọn lính kín nói: “để tụi tao đưa mày đi khám bệnh cho rõ trắng đen”. Và chúng đưa anh đi khám bệnh thật. Anh chắc mẩm: khám bệnh cho tù nhân thì bất quá chúng chỉ cho một y tá khám là cùng. Khi nhân viên y tế hỏi anh; “Tài sao anh lại biết là đau tim?”. Anh nói tên một ông bác sĩ nội trú (docteur interne dé hopitaux) đã khám và cho anh toa thuốc. Ông bác sĩ nội trú là có thật, còn khám bệnh và cho toa là bịa đặt. Anh giương ông bác sĩ nội trú ra cốt để cho người y tá khám bệnh phải nể trọng. Lúc đó ở Việt Nam, bác sĩ thường cũng hiếm, huống chi là bác sĩ nội trú. Người y tá khám qua loa rồi cho anh về, cũng chẳng thấy có ý kiến gì. Quả nhiên sau đó, bọn lính kín tra tấn anh cũng nhẹ đòn hơn trước nhiều. Thế là anh Thiện đã chiến thắng được bọn lính kín, bằng tinh thần chịu đựng, trí tuệ và kinh nghiệm mà anh đã thu thập được trong cuộc sống phong phú của mình trên cả ba miền đất nước. Anh đã làm nhiều nghề, tiếp xúc, cọ xát với nhiều tầng lớp, nhiều giới đồng bào và cũng từng vào tù ra khám. Năm 1941, tòa án đế quốc phải tha anh vì không có bằng chứng buộc tội. Đây là người đảng viên duy nhất được thả trong vụ án của chúng tôi.

Chú thích
(*) Tên bài do Ban Biên soạn đặt. Trích trong: Những mẩu chuyện đời tôi - Mai Chí Thọ - Nxb Công an nhân dân, 1995.
(**) Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị; Bộ trưởng Bộ Nội vụ.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 17 Tháng Tư, 2013, 10:37:43 AM
CÔNG TO, CHỨC TRỌNG MÀ DÂN DÃ

NGUYỄN THỌ CHÂN(*)

Nếu chỉ biết nhau trong công tác, chưa dễ gì đã hiểu nhau. Nếu chỉ giao du với nhau, chưa dễ gì đã biết tài nhau. Quan hệ giữa tôi và anh Đinh Đức Thiện quả là không đầy đủ để nói về nhau.
 
Sau cùng một chuyến đi vào, ra dọc đường Trường Sơn, anh Tố Hữu làm bài thơ dài Nước non ngàn dặm, gửi tặng anh Thiện và tôi. Nhờ có chuyến đi Trường Sơn ấy, mà chúng tôi hiểu nhau, thân nhau và quý nhau hơn. Hành trình vất vả, đến binh trạm sau mỗi ngày đường, người và xe mệt nhoài. Có đêm vượt sông Sê Xan, bị máy bay Mĩ bắn trúng đoàn xe, chúng tôi biết sức lực, cái gan, cái chí của nhau. Để bớt mệt, chúng tôi kể cho nhau cả những chuyện riêng tư mà ngày thường và nếu không thân, chẳng bao giời nói, mà chỉ cùng chung gian lao, nguy hiểm người ta mới thổ lộ với nhau.
 
Cho đến bây giờ, tôi vẫn thầm cảm ơn anh Thiện đã tổ chức chuyến đi đó, cảm ơn các đồng chí bộ đội đã vất vả vì chúng tôi. Chuyến đi ấy vào mùa xuân năm 1973. Đường sá rất xấu, một ngày đêm, xe chỉ bò được khoảng 80 km trở lại. Hết núi đồi, lại khe suối, qua những cánh rừng bị chất độc hóa học làm trụi lá, những cành cây khô khốc giống như những cánh tay gầy guộc đang giơ lên kêu la thảm thiết, tố cáo tội ác của giặc. Vì đang là mùa khô, nên có lúc chúng tôi phải múc nước ở khe mà uống, bụng nghĩ chắc khó tránh được nhiễm độc. Nhờ anh Thiện và các đồng chí bộ đội, chúng tôi không đến nỗi kiệt sức. Anh Tố Hữu và tôi nói riêng với nhau: nếu không có sự chu đáo của anh Thiện, thì không biết sẽ ra sao!
 
Chỉ trên đường ngàn dặm đó, tôi mới hiểu được công lao của anh Thiện và đồng đội đã khai sơn, phá thạch làm ra con đường 559, tin tưởng hơn và sức mạnh của tinh thần yêu nước. Tố Hữu có lí khi viết:
 
                  Trường Sơn Đông nắng Tây mưa,
                  Ai chưa đến đó như chưa hiểu mình.
 
Đường Trường Sơn đồng nghĩa với nghị lực phi thường và quyết tâm sắt đá của cán bộ và chiến sĩ Trường Sơn và vị tướng lãnh đạo Tổng cục Hậu cần.
 
Anh Thiện rất tháo vát, có tác phong dứt khoát và sâu sát. Đến từng đơn vị, Anh kiểm tra tình hình quân nhu, vũ khí. Có nơi Anh phát hiện khai gian, lấy nhiều hơn cơ số đạn được quy định, trong khi chiến trường khác còn thiếu. Anh đã nghiêm khắc phê bình. Tôi hỏi riêng Anh: “Ở các nước khá, trong thời chiến lấy quá như thế có bị kỉ luật không?”. Anh trợn mắt: “bắn!”. Hỏi vậy chứ tôi thừa biết là lỗi nặng.
 
Dường như sau chuyến đi đó, Anh thân với tôi hơn. Tôi nói thân là vì người ta có thể quen nhau mà không thân nhau. Một hôm, Anh cho người đem đến biếu tôi một bình rượu bìm bịp mà trước đó Anh đã ca ngợi tác dụng của nó. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đến chơi với tôi vào mùa đông, thấy tôi nằm giường không đệm, Anh cằn nhằn: “Tuổi cao rồi, sao ăn ngủ như thế”, và ngỏ ý sẽ gửi đệm và máy điều hòa cho tôi. Tôi can Anh, vì có thể tự lo được. Qua đó, thấy Anh quan tâm đến đồng chí của mình như thế nào. Tôi quý tấm lòng của Anh, vì có những người chẳng thèm quan tâm đến ai, nếu họ không được hưởng chút lợi. Với họ, lương tâm cũng trở thành hàng hóa trao đổi.
 
Tôi để ý thái độ của Anh đối với cán bộ, chiến sĩ. Anh rất nghiêm trong công việc, nhưng thương yêu cấp dưới như tinh thần “phụ tử chi binh”. Cán bộ, chiến sĩ kính nể, phục tùng, nhưng thương Anh, cảm thấy Anh chính là họ. Trên đường Trường Sơn, xe vận tải qua các trạm, lính hỏi nhau: “chở gì thế?”. Trả lời: “chở cái… của ông Thiện, chứ chở gì nữa!”. Rồi họ cười với nhau. Đủ biết họ gần gũi với Anh biết dường nào.
 
Anh Thiện rất ghét thói hành chính quan liêu, lạnh lùng, chậm chạp. Ôi, Anh có biết đâu ngày nay, nước ta cũng đang cải cách hành chính, nhưng ì ạch lắm, vì hành chính minh bạch, họ khó kiếm chác, nên sức cưỡng lại không nhỏ! Tôi đã có ý nghĩ phải bắt những kẻ quan liêu xuống “dưới đó” xin ý kiến của Anh!
 
Đôi khi ngồi với nhau, chúng tôi đọc thơ cho nhau nghe. Anh là một ông tướng, vừa đánh giặc vừa làm thơ. Anh là một nhà thơ, còn thôi chỉ là thứ “ong non ngứa nọc”. Anh làm thơ để châm biếm thói dởm đời và để châm chọc bạn bè. Thơ Anh có giọng Tú Xương. Là một lãng tử Thành Nam đặc biệt, Anh đã từng bôn ba, lê gót bốn phương, nếm đủ mùi tục lụy.. Nếu không gặp cách mạng, có lẽ Anh sẽ trở thành một Tú Xuất thời nay. Dù đi đến đâu, Anh cũng không bỏ cốt cách Nam Định, nên trên đường Trường Sơn xa thẳm, Anh cũng không quên đem theo riềng, mẻ, mắm tôm… Anh kheo thịt chó Nam Định quê Anh mới ngon, nên có lần về Nam Định cùng Anh, tôi đã gạ Anh thết món “cờ tây”.
 
Ngay chiều hôm Nam bị nạn, tôi vội đến để nhìn lại lần chót người bạn ngàn dặm, một người gần gũi với mọi người, và được mọi người gần gũi, một con người từng trải, hào phóng. Anh cũng là một tướng lĩnh lỗi lạc, hết lòng vì đồng đội, vì chiến trường. Anh có công lớn trong sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Mọi người yêu quý Anh không chỉ vì công lao to lớn của Anh mà còn vì anh có cái tâm của một ông “Thiện”, chức vụ cao mà vẫn dân dã, ghét cay ghét đắng thói xu phụ.
 
Tôi không đủ tư cách để nói về chiến công của Anh, đánh giá sự nghiệp của Anh. Và tôi cũng không có ý định nói với các đồng chí và các bạn những chuyện đời thường như trên, mà chỉ để thì thầm sự việc đã qua với Anh, vì tôi nghĩ Anh còn sống! Anh còn sống trong lòng chúng ta!

Chú thích
(*) Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng; Phó Trưởng ban Thống nhất Trung ương; Bộ trưởng Bộ Lao động.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 23 Tháng Tư, 2013, 09:54:56 AM
MỘT LỚP HỌC ĐẶC BIỆT

Giáo sư PHẠM NHƯ CƯƠNG(*)

Trước ngày miền Nam được giải phóng, một số anh chị em chúng tôi ở Việt Triết học thuộc Ủy ban Khoa học xã hội đã có dịp đối thoại qua làn sóng của Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam với trí thức và nhân dân đô thị miền Nam về các chủ đề hòa hợp dân tộc và tôn giáo. Chúng tôi cũng đã có dịp tiếp xúc và trao đổi với những thân sĩ, trí thức miền Nam thuộc Liên minh dân tộc dân chủ và hòa bình do Luật sư Trịnh Đình Thảo làm Chủ tịch ở Hà Nội. Và sau ngày giải phóng Sài Gòn, vào hạ tuần tháng 5-1975, tôi được đi trong đoàn trí thức khoa học xã hội ở miền Bắc vào gặp gỡ, trao đổi với các đồng nghiệp ở Sài Gòn. Không khí của những buổi hội ngộ ban đầu chan hòa tình cảm dân tộc, niềm vui đất nước được thống nhất, nhưng chưa có được sự cởi mở, chan hòa để nói với nhau về những lo âu, thắc mắc, về nội dung học thuật và những công việc sẽ cùng làm trong những ngày sắp tới.

Sau ngày toàn bộ miền Nam được giải phóng ít lâu, một số cán bộ nghiên cứu thuộc các viện của Ủy ban Khoa học xã hội được cử vào Thành phố Sài Gòn để thành lập Viện Khoa học xã hội miền Nam (sau đổi tên là Viên Khoa học xã hội Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh). Viện có tiếp nhận một số trí thức khoa học xã hội tại chỗ vào làm việc. Một trong những hoạt động quan trọng của Viện hồi đó là tiếp xúc, trao đổi và tổ chức sự hợp tác ban đầu giữa Viện và các trí thức ở miền Nam, trong đó một bộ phận quan trọng là các trí thức đã làm việc trong chế độ cũ. Địa điểm làm việc của viện là nơi đã diễn ra nhiều cuộc gặp gỡ, tọa đàm, thuyết trình những vấn đề học thuật đang được quan tâm và qua những hoạt động đó, Viện đã thực hiện được đến mức độ nhất định nhiệm vụ đoàn kết, tập hợp đội ngũ trí thức khoa học xã hội ở miền Nam (chủ yếu là ở Thành phố Hồ Chí Minh), bước đầu đã tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin với trí thức cũ.

Nhưng quả tình là những ngời phụ trách Viện và Ủy ban Khoa học xã hội hồi đó, chưa nghĩ tới việc tổ chức một lớp nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin cho chông chức và trí thức cao cấp của chế độ Sài Gòn cũ, mà sáng kiến, chủ trương rất độc đáo đó là từ đồng chí Đinh Đức Thiện.

Một ngày cuối năm 1975, đồng chí thư kí của anh Thiện, đến gặp anh Trần Phương và tôi (lúc đó là Viện trưởng Viện Kinh tế và Viện Triết học thuộc Ủy ban Khoa học xã hội) chuyển lời mới của Anh vào giảng cho lớp học sẽ được tổ chức trong Thành phố Hồ Chí Minh. Tôi không khỏi ngỡ ngàng về một chủ trương thật là táo bạo, lại không phải do cơ quan tuyên huấn mà lại do “một ông Tướng” đưa ra. Nhưng riêng tôi, vốn vẫn mong có dịp được tiếp xúc, trao đổi sâu hơn với những đối tượng như trong lớp nghiên cứu, nên sau khi được sự đồng ý của đồng chí Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học xã hội, tôi đã vui vẻ nhận lời, mặc dù biết trước rằng đây sẽ là một khảo nghiệm, thách thức không đơn giản đối với mình về tri thức cũng như về thái độ, tấm lòng.

Trên chuyến máy bay vào Thành phố Hồ Chí Minh, đồng chí Đinh Đức Thiện trao đổi với chúng tôi về lớp học. Đọng lại trong tôi đến nay một ý: chúng ta đã phải chiến đấu bằng súng đạn và đã chiến thắng. Vẫn cảnh giác, phải sẵn sàng đối phó với các thủ đoạn phá hoại, chống đối, nhưng dẫu sao cái chính lúc này là khôi phục, xây dựng về kinh tế, văn hóa. Lớp học này là một dịp tốt để chứng minh sức mạnh chân lí của chủ nghĩa Mác - Lênin. Điều đó tôi không làm được, đó là trách nhiệm và vinh dự của các anh, mong các anh cùng chúng tôi làm cho lớp học thành công tốt đẹp. Tôi tin tưởng và xin phó thác cho các anh và các anh ở Viện Khoa học xã hội miền Nam. Chúng ta cần tế nhị trong quan hệ đối xử và kiên nhận theo kiểu “mưa dầm nước lut”.

Suốt cả khóa học, Anh không một lần can thiệp hoặc tỏ ra có quyền chỉ đạo, chỉ thị này khác cho chúng tôi. Nhưng chúng tôi hiểu rằng sự đóng góp của Anh vào thành công của lớp học là rất lớn.

Qua đồng chí thư kí tôi hiểu được thêm về anh Đinh Đức Thiện: Anh tìm mọi cách để hiểu thật nhiều về Sài Gòn, về con người Sài Gòn. Muốn vậy phải đi nhiều, thấy nhiều, tiếp xúc nhiều, nghe nhiều. Phải có người thông thuộc đường phố Sài Gòn đưa đi, và Anh đã chọn anh Năm Nhẫn một lái xe cứu hỏa trước là cảnh sát cũ, lái xe cho Anh. Anh Năm Nhẫn tiếp tục lái xe nhiều năm sau này cho Anh. Đó là một thái độ dám tin người và mạnh bạo dùng người.

Anh tiếp xúc một cách cởi mở với nhiều loại người khác nhau, trong đó có các công chức, trí thức cao cấp cũ. Có số người đã biết nhau trước đây ở miền Bắc, có người đã từng là cán bộ của ta, sau vào miền Nam, lập gia định và làm việc cho chính quyền Sài Gòn. Anh lắng nghe tâm tư, nguyện vọng và gợi ý về việc tổ chức lớp học tập, nghiên cứu này. Từ sau ngày Sài Gòn được giải phóng, họ đã được nghe và đọc khẩu hiệu “chủ nghĩa Mác - Lênin bách chiến bách thắng muôn năm!”. Họ muốn có dịp hiểu rõ hơn, có hệ thống hơn về vũ khí tư tưởng kì diệu đó. Anh thấy nên đáp ứng nguyện vọng đó, và cũng là một dịp rất tốt cho ta để tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin. Anh trao đổi suy nghĩ với các đồng chí Phạm Văn Đồng, Tố Hữu, Trần Quang Huy, được sự đồng tình ủng hộ.

Tuy không trực tiếp lên lớp, vì còn bận bao nhiêu công việc khác, nhưng Anh vẫn dành thì giờ để tiếp xúc với các học viên ở nhà riêng của Anh hoặc ở nhà của họ, trao đổi việc lớn, việc nhỏ một cách cởi mở, thẳng thắn, có khi họa thơ. Có lần anh Vũ Quốc Thúc (chuyên gia kinh tế có tiếng của chế độ cũ) đến chơi đi chiếc xe đạp mini, anh Thiện nói: “Tôi biết anh còn hai chiếc xe con xịn, cứ mang ra mà dùng, nếu thiếu xăng tôi sẽ giúp giải quyết. Anh đi xe đạp, ngộ nhỡ xảy ra tai nạn tôi mang tiếng”. Nhiều người trong số họ nói với nhau: “Cộng sản mà như anh Bảy Thiện thì chúng tôi chơi liền”.

Xin nói cụ thể thêm một ít về lớp nghiên cứu. Ngoài 29 học viên là cán bộ của Viện Khoa học xã hội miền nam, còn lại 119 học viên nguyên là Thủ tướng, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, Thứ trưởng, Quốc vụ khanh, dân biểu, linh mục, các giáo sự, luật sư, kiến trúc sư, kĩ sư. Một phần lớn trong số học có bằng cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ ở các trường đại học Âu, Mĩ. Ngoài những người là quan chức cao cấp cũ, có những người thuộc lực lượng thứ ba chống Mĩ - Thiệu nhưng cũng không tán thành chủ nghĩa cộng sản, có người chống Mĩ - Thiệu trong các phong trào đô thị, bị Mĩ - Thiệu bỏ tù, như chị Ngô Bá Thành. Các học viên được chia thành 10 tổ, có tổ trưởng, tổ phó. Cách học là lên lớp nghe giảng, trao đổi, thảo luận ở tổ, sau mỗi phần, có thu hoạch cá nhân. Thời gian của lớp nghiên cứu là 14 tháng, gồm các bộ môn chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, kinh tế chính trị học mácxít. Khi giới thiệu nội dung, có liên hệ với đường lối, phương pháp cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Cũng như với anh Đinh Đức Thiện, quan hệ giữa anh em giảng viên chúng tôi với các anh, chị học viên rất cởi mở, chân tình, tôn trọng lẫn nhau. Những bản thu hoạch của học viên, những bức thư họ gửi cho tôi khi học xong phần triết học, cho thấy rõ kết quả của lớp nghiên cứu và là một kỉ niệm đẹp trong cuộc đời làm công tác nghiên cứu và giảng dạy chủ nghĩa Mác - Lênin của tôi. Kinh nghiệm của lớp nghiên cứu này đã được tôi vận dụng có kết quả sau này, trong khi tổ chức tòa đàm học thuật với các đại biểu của “con đường thứ ba” trong Sài Gòn cũ vàn hất là trong các cuộc hội thảo khoa học có sự tham gia của các linh mục, trí thức công giáo vào dịp Tòa thánh Vaticăng phong thánh tử vì đạo.

Do nhiều hoàn cảnh và lí do khách quan, chủ quan khá phức tạp mà hiện nay việc giảng dạy và tiếp thu Chủ nghĩa Mác - Lênin có phần khó khăn, giảm sút hơn so với trước. Chúng ta đang thực hiện việc chuyển đổi về mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đây là một sự đổi mới mang ý nghĩa cách mạng sâu sắc, trong đó có sự đổi mới về tư duy bao gồm đổi mới cả về nội dung và phương pháp. Chúng tôi, những người đã từng là giảng viên của lớp nghiên cứu hồi đó, đang hằng ngày cố gắng thực hiện “sự vượt lên chính mình” để nhận thức không lạc hậu với cuộc sống. Tôi chắc nhiều anh, chị em học viên của lớp nghiên cứu cũng đang làm điều đó. Giá như có một cuộc gặp mặt để nói với nhau về những gì diễn ra trong nhận thức của mỗi chúng ta trong gần 20 năm qua thì rất bổ ích và thú vị. Và cũng là một dịp để chùng nhau ôn lại những kỉ niệm trân trọng về một vị tướng cách mạng, một người cộng sản Việt Nam xứng đáng được chúng ta kính trọng về nhân cách, về những đóng góp to lớn vào chiến thắng lịch sử của dân tộc.

Chú thích
(*) Nguyên Chủ nhiệm Ủy ban khoa học xã hội; nguyên Viện trưởng Viện Triết học Ủy ban khoa học xã hội.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 23 Tháng Tư, 2013, 09:58:30 AM
CUỘC ĐỜI, SỰ NGHIỆP CỦA ANH LÀ MỘT TẤM GƯƠNG

Thiếu tướng TÔ KÍ(*)

Ngày 20-1-1977, chúng ta rất bàng hoàng, xúc động nghe một tin mà chắc mọi người chúng ta không bao giờ muốn nghe: đồng chí Đinh Đức Thiện từ trần một cách đột ngột.

Như chúng ta đều biết về con người của đồng chí Đinh Đức Thiện: đó là một công dân, một quân nhân, một tướng lĩnh, một đồng chí cộng sản mẫu mực trong thời đại Hồ Chí Minh.

Đối với Đảng, hết lòng trung thành,
Đối với quân đội, tận tâm phục vụ.

Từ buổi thiếu thời đến lúc vĩnh biệt cõi đời, đồng chí đã biểu lộ là một con người trung thực, hết lòng, hết dạ, tận tâm tận lực lo cho đất nước, bất luận ở cương vị công tác nào, bất luận ở đâu, bất kể khó khăn nào.

Những đức tính cao đẹp đó của đồng chí, dẫu bao nhiêu năm, tháng đã trôi qua, vẫn mãi mãi còn lắng đọng trong tâm trí mọi người. Chúng ta vẫn tưởng nhớ những ngày nào, dưới sự chỉ đạo của đồng chí, quân dân cùng chung lòng chung sức mở đường chiến lược Trường Sơn bảo đảm cho chiến trường có đủ súng các loại, đủ xe, pháo, xăng dầu, khí tài, lương thực, thực phẩm, cung cấp cho bộ đội ăn no đánh thắng.

Đồng chí có công lớn trong việc bảo đảm hậu cần cho cuộc kháng chiến chống Mĩ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Chúng ta đều hiểu chiến tranh với quân xâm lược Mĩ ác liệt là dường nào, công tác hậu cần nặng nề và khó khăn như thế nào; hậu cần phải đi trước mới đảm bảo cho tác chiến ở miền Nam với quy mô ngày một lớn, nhu cầu ngày một nhiều, chiến tuyến ngày một dài, ngày càng đánh sâu vào sào huyệt của địch. Đồng chí đã hoàn thành được nhiệm vụ vì đã thấm nhuần quan điểm chiến tranh nhân dân, quan điểm hậu cần nhân dân và đã truyền cảm cho các cấp trong toàn ngành, tạo ra mạng lưới hậu cần rộng khắp trên, dưới, ngang, dọc, bảo đảm kịp thời cho tác chiến bất kể với quy mô nào. Nhiều người trong chúng ta còn nhớ câu nói của đồng chí khi mở đầu Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử: “Tôi bảo đảm đủ các loại đạn, nhất là đạn pháo để bắn cho chúng nó khiếp đến ba đời”. Đó là quyết tâm sắt đá của đồng chí, trong việc đảm bảo hậu cần cho chiến dịch toàn thắng.

Sau chiến thắng đế quốc Mĩ, đồng chí được Đảng và Nhà nước giao nhiệm vụ chính thức thành lập ngành dầu khí Việt Nam, một công việc rất khó khăn - mọi việc mở đầu đều rất khó - nhất là trong một lĩnh vực ta chưa hề có kinh nghiệm. Đến hôm nay, ngành dầu khí đã đạt được những kết quả to lớn, xứng đáng là một ngành kinh tế mũi nhọn, mà Đảng, Nhà nước và nhân dân hi vọng.

Mấy năm tiếp sau, đồng chí được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải. Đồng chí đã nêu ra khẩu hiệu: “giao thông phải đi trước, mới phát triển được kinh tế” và “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, vì hệ thống đường sá của nước ta rất lạc hậu, chưa phát triển, lại bị địch đánh phá hỏng nhiều. Nếu chỉ riêng Nhà nước làm thì không thể bảo đảm được. Đó là những phương hướng đúng đắn mà ngày nay chúng ta còn tiếp tục thực hiện.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, thời đại Hồ Chí Minh đã sản sinh ra những con người cộng sản, người quân nhân, người tướng lĩnh, người cán bộ cao cấp tuyệt vời. Đồng chí Đinh Đức Thiện là một trong những người đó.

Đứng trước anh linh của đồng chí, chúng tôi là những người cộng sự dưới quyền lãnh đạo của đồng chí, xem cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí là tấm gương để mãi mãi học tập.

Chú thích
(*) Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Thành phố Hồ Chí Minh.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 23 Tháng Tư, 2013, 10:04:44 AM
LỊCH SỬ NGÀNH GANG THÉP MÃI MÃI GHI CÔNG

NGUYỄN HOÀI KHIÊM(*)

Anh Đinh Đức Thiện đã có một thời gắn bó với Khu gang thép Thái Nguyên và để lại những dấu ấn không bao giờ phai mờ trong tâm khảm đội ngũ cán bộ, công nhân gang thép chúng tôi.

Sau kháng chiến chống Pháp kết thúc thắng lợi, để thực hiện đường lối công nghiệp hóa đất nước trong thời kì quá độ, Đảng và Nhà nước đã quyết định thành lập khu Gang thép Thái Nguyên. Ngày 4 tháng 6 năm 199, công trường Khu gang thép được thành lập. Đồng chí Đinh Đức Thiện được Trung ương Đảng và Chính phủ chỉ định làm Bí thư Đảng ủy kiêm Chỉ huy trưởng công trường. Và từ ngày đó, đồng chí cùng ập thể lãnh đạo, sát cánh với đội ngũ cán bộ, công nhân viên, vượt qua những thử thách ban đầu, với biết bao công việc phải lo toan của một công trường lớn mà cái vốn để điều hành kinh tế và kĩ thuật lại hầu như chưa có gì. Thế nhưng, chỉ trong khoảng thời gian hơn ba năm, khu công nghiệp gang thép Thái Nguyên đã hình thành và đã bắt đầu sản xuất được gang.

Ngày 21-6-1962, Bộ Công nghiệp nặng ra quyết định thành lập Công ti Gang thép Thái Nguyên, đồng chí Đinh Đức Thiện được giao nhiệm vụ Giám đốc Công ti.

Sản xuất chưa được bao lâu thì đế quốc Mĩ mở cuộc chiến tranh phá hoại ra miền Bắc. Cả nước ở trong tình trạng có chiến tranh. Khu gang thép tạm thời chuyển hướng nhiệm vụ vừa xây dựng, vừa sản xuất, vừa sẵn sàng chiến đấu. Một bộ phận cán bộ, công nhân viên lên đường gia nhập bộ đội và phục vụ tiền tuyến. Đồng chí Đinh Đức Thiện cũng có quyết định trở lại quân đội.

Như vậy trong quãng đời hoạt động của mình, đồng chí Đinh Đức Thiện đã có sáu năm cống hiến cho sự ra đời và trưởng thành của khu công nghiệp gang thép Thái Nguyên.

Sáu năm chỉ là một khoảng thời gian ngắn. Nhưng với đội ngũ cán bộ, công nhân viên Khu gang thép, thì thời gian công tác của đồng chí Đinh Đức Thiện là những năm, tháng sôi động, đầy nhiệt tình, trách nhiệm và tâm huyết với sự nghiệp, với đội ngũ và để lại trong lòng mỗi người những kỉ niệm đẹp đẽ, rất gần gũi, thân thương. Đồng chí Đinh Đức Thiện vừa là người lãnh đạo, người đồng chí, vừa là người anh, người bạn thân thiết của đội ngũ cán bộ, công nhân ở đây.

Đồng chí đã cùng tập thể cán bộ, công nhân viên phải đối mặt với biết bao khó khăn:

- Quy mô công trường lớn, lại ở một vùng đồi núi hoang vu, dân cư thưa thớt, cơ sở hạ tầng hầu như không có gì.

- Cán bộ, công nhân tuy đông, nhưng chưa có kinh nghiệm làm kinh tế, chưa bao giờ tiếp cận với công nghiệp gang thép.

- Cơ sở vật chất kĩ thuật, phương tiện thì cũng quá ít, phần lớn công việc phải làm thủ công nhưng dụng cụ để làm thủ công cũng không có đủ.

Ấy vậy mà trong những năm công tác ở khu Gang thép, đồng chí Đinh Đức Thiện, với bản lĩnh của người cách mạng, với tác phong của người cán bộ quân đội, đã cùng với tập thể lãnh đạo và đội ngũ cán bộ, công nhân viên ở đây, khai thác những tiềm năng sẵn có, vượt qua những khó khăn, thử thách, tạo dựng nên những thành quả rất có ý nghĩa cho khu công nghiệp:

- Đó là sau ba năm từ ngày mở đầu với hai vạn cán bộ, công nhân viên, với gần 1.000 xe và máy, hàng vạn tấn vật tư thiết bị được lần lượt đưa về, gần 50 quả đồi với gần 11 triệu m3 đất đá đã được san lấp. Mặt bằng nhà máy đã được hình thành, tạo điều kiện cho hàng loạt công trình đầu tiên của khu công nghiệp gang thép được xây dựng vào những năm sau. Và ngày 29 tháng 11 năm 1963, lò cao số 1 đã cho ra lò mẻ gang đầu tiên trong niềm hân hoan, phấn khởi của cán bộ, công nhân Khu gang thép và đồng bào cả nước.

Với lòng quyết tâm, sớm làm ra thép cho Tổ quốc, ngay trong năm 1964, đồng chí Đinh Đức Thiện đã cùng các lãnh đạo, dồn sức đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình thép đầu tiên. Nhưng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ đã ngăn cản việc thực hiện kế hoạch này.

- Đó là những thành quả về xây dựng đội ngũ cán bộ, công nhân viên. Các anh, chị em được điều động đến khu công nghiệp phần lớn chỉ có lòng nhiệt tình cách mạng, và truyền thống chiến đấu anh dũng, nhưng rất thiếu vốn kiến thức kinh tế, khoa học kĩ thuật, kinh nghiệm và tay nghề. Cho nên, sau khi nhận nhiệm vụ, việc đầu tiên, đồng chí Đinh Đức Thiện quan tâm là phải tìm mọi cách bồi dưỡng cán bộ và công nhân. Trên một nghìn bộ đội chuyển ngành đã được tập trung học văn hóa và kĩ thuật để chuẩn bị cho lớp đào tạo công nhân kĩ thuật xây dựng như hàn, nề, mộc, bê tông, cốt thép… được mở cùng với hàng chục lớp cán bộ quản lí thi công, quản lí sản xuất do chuyên gia hướng dẫn. Như vậy, đến hết năm 1960 đã có trên một vạn cán bộ, công nhân được học tập kĩ thuật, nghiệp vụ.

Kết quả này đã góp phần quan trọng giúp cho đội ngũ cán bộ, công nhân nhanh chóng tiếp thu và làm chủ được những công việc ở công trường xây dựng một khu công nghiệp lớn với dây chuyền công nghệ sản xuất gang, thép. Nhờ đó, đã tạo tiền đề quan trọng cho những bước tiến vững chắc cho khu công nghiệp trong những năm tiếp theo và cho đến ngày nay.

- Cùng với những cống hiến về đào tạo, bồi dưỡng kĩ thuật, nghiệp vụ, đồng chí Đinh Đức Thiện còn để lại những kinh nghiệm quý báu về công tác cán bộ. Với cách nhìn sắc sảo, lấy hiệu quả công việc và phẩm chất làm thước đo, đồng chí cùng tập thể đảng ủy xây dựng được một đội ngũ cán bộ vừa có phẩm chất chính trị tốt, vừa có năng lực chuyên môn, lại được thử thách trong thực tiễn. Ngay từ khâu lựa chọn, đồng chí đã chủ trương dựa vào quần chúng giới thiệu lên. Trong sử dụng, đồng chí chủ trương khai thác tối đa chỗ mạnh của từng người. Đồng chí luôn luôn đòi hỏi cao ở cán bộ dưới quyền. Theo đồng chí, đã là người cán bộ thì phải gương mẫu, phải có năng lực và phẩm chất, có tính quyết đoán, dám chịu trách nhiệm trước cấp trên và cấp dưới, làm việc phải trung thực và hết mình. Đối với cán bộ, người lãnh đạo phải có thái độ khen, chê thưởng phạt rõ ràng, kiên quyết. Đồng chí Đinh Đức Thiện nổi tiếng là người nghiêm khắc đối với cán bộ. Đã có không ít trường hợp, cán bộ không hoàn thành nhiệm vụ, đồng chí đã kí quyết định thi hành kỉ luật ngay sau khi trực tiếp kiểm tra. Ở thời điểm lúc đó, không làm như vậy thì rất khó giữ được ổn định, khó có được một đội ngũ cán bộ, công nhân gang thép gắn bó với sự nghiệp, có tay nghề và tác phong công nghiệp vững vàng như ngày nay.

- Đối với chúng tôi, dấu ấn của đồng chí Đinh Đức Thiện không chỉ ở những cống hiến mà còn ở phẩm chất đạo đức, tác phong và tình cảm với đồng đội, đồng chí.

Đồng chí Đinh Đức Thiện là người có tinh thần trách nhiệm cao, say sưa lăn lộn với công việc, không chịu chùn bước trước khó khăn. Đồng chí rất xông xáo, rất sâu sát thực tế nên thường có mặt ở những công trình trọng điểm, ở những khâu ách tắt để giải quyết.

Với đồng chí, công việc là trên hết, nguyên tắc là trên hết. Trong công việc phải kiên quyết, dứt khoát, không được để tình cảm lấn lướt. Vốn người thắng thắn, nóng tính, thấy cái gì không nên, không phải nói ngay, thậm chí có lúc rất gay gắt, nhưng đồng chí lại rất tình người. Trong đời thường, đồng chí sống chan hòa, tình cảm với anh, chị em cán bộ, công nhân viên, quan tâm tới mọi người, nên càng làm cho anh, chị em gần gũi yêu mến. Đồng chí rất kiên quyết trong xử lí kỉ luật. Nhưng khi đã xử lí rồi, đồng chí thấu hiểu cán bộ sẽ có nhiều tâm tư, đồng chí thường dành thời gian, gần gũi tâm sự, động viên người có lỗi. Khi người bị kỉ luật có tiến bộ, sửa chữa được khuyết điểm, thì đồng chí lại tín nhiệm, giao công tác, sử dụng, theo đúng khả năng và trách nhiệm, không thành kiến. Một số đồng chí, lúc đầu có ý kiến sai về đồng chí Đinh Đức Thiện, cho là độc đoán, gia trưởng, nhưng từ thực tiễn, và với tấm lòng thủy chung, tình người của đồng chí đã giúp họ hiểu đúng hơn, và lại càng yêu mến, kính trọng đồng chí hơn.

Tình cảm thương yêu đồng chí, đồng đội của đồng chí Đinh Đức Thiện đã biểu hiện rõ rệt nhất trong việc đồng chí rất quan tâm đến đời sống cán bộ, công nhân viên. Trong những năm đầu xây dựng, cơ sở vật chất còn thiếu thốn, đồng chí đã chăm lo xây dựng nơi ăn, chốn ở, mua sắm giường chiếu, tổ chức nhà ăn tập thể, nâng cao chất lượng bữa ăn cho cán bộ, công nhân viên. Phong trào tăng gia sản xuất, chăn nuôi, phong trào rèn luyện thân thể, vệ sinh phòng bệnh, phong trào học tập bổ túc văn hóa do đồng chí phát động đã phát triển khá rầm rộ. Thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ khi về thăm công trường ngày 8-6-1959: Muốn ăn quả thì phải trồng cây”, đồng chí đã phát động toàn công trường trồng cây ở khu vực nhà ở, nơi làm việc, để vừa có bóng mát, vừa có môi trường trong sạch, lại có quả để ăn. Đồng chí cho mua hàng tấn quả nhãn, quả vải… cho mọi người ăn và lấy hạt ươm thành cây để trồng. Kết quả, những năm sau này, cây cối lên xanh tốt ở các khu tập thể, khu làm việc và đường vào nhà máy, hằng năm đã ra hoa kết quả. Khi ăn những quả vải, quả nhãn với hương vị ngọt ngào, chúng tôi lại nhớ đến đồng chí Đinh Đức Thiện, người đã đặt nền móng cho phong trào trồng cây ở khu Gang thép Thái Nguyên.

Trong suốt 37 năm qua, từ những kết quả ban đầu rất có ý nghĩa mà đồng chí Đinh Đức Thiện cùng lớp cán bộ lãnh đạo tiền bối đã tạo dựng được, các thế hệ cán bộ, công nhân gang thép đã nỗ lực vượt qua những khó khăn, thử thách, mất mát, hi sinh để bảo vệ, xây dựng, duy trì và phát triển công nghiệp gang thép. Trải qua 10 năm đổi mới của đất nước, khu Gang thép Thái Nguyên đã không ngừng phát triển, sản lượng hàng năm tăng bình quân 10-15%, năng lực sản xuất từng bước được bổ sung, hiện đại hóa, và đang phấn dấu đến năm 2000 đạt sản lượng 25 vạn tấn thép cán/năm. Đời sống của công nhân, viên chức về vật chất và tinh thần, ngày càng được cải thiện. Trình độ kĩ thuật, nghiệp vụ và quản lí được nâng lên. Hiện nay, toàn công ti có 2.000 cán bộ có trình độ trung, cao cấp kĩ thuật; đang bộ có 2.700 đảng viên, và trên 2.000 đoàn viên Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Đội ngũ chúng tôi đang chuẩn bị hành trang để bước vào thời kì phát triển mới, thời kì công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.

Chú thích
(*) Nguyên Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy Bắc Thái, Bí thư Đảng ủy Công ti gang thép Thái Nguyên.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 23 Tháng Tư, 2013, 10:07:41 AM
NGƯỜI ĐẶT NỀN MÓNG CHO NGÀNH DẦU KHÍ VIỆT NAM

Tiến sĩ NGUYỄN GIAO(*)

Tôi rất vinh dự thay mặt cho tập thể cán bộ, công nhân viên Liên doanh Dầu khí Vietxopetro, được bày tỏ những tình cảm chân thành, tốt đẹp nhất đối với đồng chí cố Bộ trưởng Dầu khí Đinh Đức Thiện nhân buổi lễ tưởng niệm 10 năm ngày mất của đồng chí.

Thực hiện mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chuyến đi thăm Liên Xô trước đây: xây dựng ở Việt Nam, sau khi đất nước thống nhất, một cơ sở công nghiệp dầu khí như ở Adécbaigian, đồng chí Bộ trưởng Đinh Đức Thiện là một trong những đồng chí lãnh đạo Việt Nam, có công đầu tham gia vào quá trình khởi thảo và hiện thực hóa Hiệp định hợp tác Việt Nam và Liên Xô về thăm dò và khai thác dầu khí tạo thềm lục địa Nam Việt Nam. Trên cương vị Bộ trưởng phụ trách dầu khí, đồng chí Đinh Đức Thiện đã trực tiếp chỉ đạo việc xây dựng luận chứng kinh tế kĩ thuật, làm cơ sở thành lập Xí nghiệp liên doanh Vietxopetro.

Xí nghiệp liên doanh Vietxopetro được thành lập trong những năm tháng mà đất nước có nhiều khó khăn. Cơ sở vật chất cho ngành Dầu khí chưa có, đội ngũ cán bộ chuyên môn còn ít. Bộ trưởng Đinh Đức Thiện đã đích thân tổ chức đoàn cán bộ khảo sát các tỉnh phía nam và cuối cùng, xác định lấy Vũng Tầu làm nơi xây dựng cơ sở hạ tầng ban đầu, đặc biệt làm cảng dầu khí cho Xí nghiệp liên doanh Vietxopetro. Dưới sự chỉ đạo của Bộ trưởng Đinh Đức Thiện, nhân dân địa phương và các đơn vị quân đội đã tập trung hỗ trợ rất lớn cho việc xây dựng cơ sở cho Xí nghiệp liên doanh. Đồng thời, nhiều đồng chí chỉ huy quân đội được cử sang công tác tại Tổng cục Dầu khí và tập trung chỉ đạo xây dựng các công trình tại Vũng Tàu.

Những công trình hiện có của Liên doanh Vietxopetro đều ghi đậm nét nhưng kỉ niệm sau sắc về Bộ trưởng Đinh Đức Thiện. Cảng dầu khí và căn cứ dịch vụ trên bờ, ngày nay có được là nhờ sự hợp tác đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta với Liên Xô (cũ), đồng thời cũng là công lao của những người lính binh đoàn 318, vừa từ chiến trường trở về, đã bắt tay ngay vào xây dựng cơ sở của Xí nghiệp liên doanh Vietxopetro. Cảng và căn cứ dầu khí Vũng Tầu, có tầm cỡ lớn nhất Việt Nam đã phát huy tác dụng to lớn trong việc làm cơ sở phát triển công tác thăm dò và khai thác các mỏ dầu khí trên biển. Nhờ vậy, chỉ trong vòng hai năm rưỡi, Vietxopetro đã tìm thấy dầu và từ năm 1986, mỏ Bạch Hổ đã được đưa vào khai thác.

Trong 15 năm hoạt động, Xí nghiệp Vietxopetro thu được nhiều thành tựu đáng kể. Sản lượng khai thác dầu khí tăng nhanh qua từng năm và đưa Vietxopetro trở thành cơ sở sản xuất dầu thô lớn nhất Việt Nam. Tính đến tháng 9 năm 1996, tổng số dầu khai thác từ các mỏ của Vietxopetro đạt 40 triệu tấn. Riêng trong giai đoạn 1991 - 1995, Xí nghiệp đã khai thác trên 29 triệu tấn dầu thô; tốc độ tăng trưởng trên 9 triệu tấn và nộp vào ngân sách Nhà nước trên 700 triệu đôla Mĩ.

Kế hoạch khai thác năm 1997, là 9 triệu tấn dầu thô. Dự kiến tháng 10 năm 1997, Vietxopetro sẽ khai thác tấn dầu thứ 50 triệu.

Cùng với việc nâng cao sản lượng dầu, Xí nghiệp đã tập trung đầu tư vào giải quyết vấn đề cung cấp khí đồng hành. Từ năm 1995, khí đã được chuyển vào bờ cho Nhà máy điện Bà Rịa và hiện nay đạt sản lượng gần 1 triệu m3/ngày. Dự kiến trong năm 1997, Xí nghiệp liên doanh sẽ cung cấp vào bờ khoảng 600 m3 khí để đáp ứng nhu cầu của ngành Điện năng.

Tháng 7 năm 1996 vừa qua, tại buổi mít tinh trọng thể kỉ niệm 15 năm ngày thành lập Xí nghiệp liên doanh Vietxopetr, để ôn lại một chặng đường xây dựng và phát triển của cơ sở khai thác dầu đầu tiên ở Việt Nam, các đại biểu và tập thể cán bộ, công nhân viên Việt Nam và Liên bang Nga đã long trọng ghi nhớ công lao to lớn của cố Bộ trưởng Đinh Đức Thiện đối với các Xí nghiệp liên doanh Vietxopetro.

Nhiều năm tháng trôi qua, nhưng trong tâm trí những người cán bộ công nhân làm dầu khí không thể nhòa phai kí ức tốt đẹp về người Bộ trưởng Dầu khí đầu tiên đầy bản lĩnh, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm với một hoài bão to lớn: chinh phục những tầng vàng đen nằm sâu trong vùng thềm lục địa Việt Nam để phục vụ cho công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước.

Đồng chí Bộ trưởng Đinh Đức Thiện là tấm gương sáng ngời cho mọi thế hệ cán bộ, công nhân viên công tác trong Xí nghiệp liên doanh Vietxopetro nói riêng và ngành Dầu khí nói chung.

Chú thích
(*) Tổng Giám đốc Xí nghiệp liên doanh dầu khí Vietxopetro.


Tiêu đề: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu cần t
Gửi bởi: anhquaynop trong 23 Tháng Tư, 2013, 10:15:14 AM
ANH THIỆN VÀ TÁC CHIẾN

Thiếu tướng HOÀNG DŨNG(*)

Tôi công tác ở Bộ Tông Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam 32 năm, trong đó có 14 năm ở Cục Tác chiến. Tôi đã nhiều lằn được gặp và làm việc với anh Đinh Đức Thiện trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.

Là Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, những lần đi xuống đơn vị, Anh thường đề nghị Bộ Tổng Tham mưu cho cán bộ tác chiến cùng đi. Anh thường chọn những cán bộ theo dõi hướng, theo dõi chi viện nắm được tình hình chiến trường. Trong thời gian đế quốc Mĩ đánh phá miền Bắc, hằng ngày Anh thường cử cán bộ tham mưu hậu cần sang Cục Tác chiến nắm tình hình địch bắn phá để báo cáo lại. Anh không hỏi về tên những địa điểm địch đánh phá, những quãng đường bị bị hỏng, cầu bị sập… Vì Anh đã nắm được qua nhiều nguồn khác. Anh thường tập trung hỏi sâu về cách đánh của máy bay, tầu chiến địch, lực lượng phòng không, pháo binh của Bộ và Quân khu bố trí ở đó, hỏa lực của dân quân, tự vệ địa phương, những khó khăn của các lực lượng tham gia chiến đấu, số thương vong và thiệt hại của bộ đội và nhân dân…

Một lần nghe báo cáo xong, Anh đều nêu những gợi ý khá cụ thể về cách bố trí lực lượng, đánh lại máy bay và tầu chiến địch và dặn tôi về báo cáo với Thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu là Anh đề nghị điều động đơn vị phòng không nào bố trí cố định đơn vị nào cơ động để bảo vệ một mục tiêu, một khu vực hay nhắc nhở các quân khu các tỉnh phải kiểm tra hệ thống báo động, xây dựng hầm hố phòng tránh và sơ tán nhân dân ở các vùng trọng điểm, tổ chức khắc phục hậu quả sau khi địch đánh phá v.v. Hồi đó, ta có nhiều trung đoàn phòng không và đơn vị pháo binh bắn tầu chiến, nhưng Anh vẫn nhớ phiên hiệu từng đơn vị.

Một lần, trong dịp Tết dương lịch, địch ngừng ném bom, tôi được đi cùng Anh vào Quân khu IV, đi ban ngày, theo đường số 1. Nhiều cầu lớn bị đánh hỏng, phải đi đường vòng tránh hoặc lội qua đường ngầm. Khi đến đầu cầu Cẩm Bào, nằm ở giữa ga Yên Lí và huyện lị Diễn Châu, Anh bảo dừng xe lại, xuống xem. Đây là một cây cầu nhỏ, nằm sát đường sắt. Cầu bị địch đánh đi, đánh lại nhiều lần. Cứ mỗi lần cầu bị đánh hỏng, ta sửa lại, máy bay địch lại đến đánh tiếp. Cầu nằm giữa cánh đồng lầy, địa hình rất trống trải, nên rất khó bố trí lực lượng phòng không. Để tránh chiếc cầu này, ta phải làm một con đường vòng rất dài, rất xa, ban đêm phải đi mất cả tiếng đồng hồ xe mới qua được.

Anh đứng ngắm nghía một lúc, rồi nói: “Tức thật, một cái cầu bé tí, vỗ đít một cái có thể nhảy qua, mà nó làm mình khó giữ”, rồi Anh quay lại hỏi tôi: “Cậu có nghĩ đến cách lợi dụng mấy cái toa xe lửa mặt bằng ở ga Yên Lí, cách đây mấy trăm mét không? Bọn này đánh cầu, nhất định phải bổ nhào thật thấp. Ta đưa súng lên toa xe mặt bằng, bố trí lẫn lộn vào đống toa xe bị đánh hỏng trong ga. Khi máy bay địch đến, thì đẩy ra gần cầu, bắn lúc chúng đang bổ nhào thì nhất định ăn. Chỉ cần 12 li 7 hay 14 li 5, nó cũng chết. Đánh vài trận như vậy cho nó sợ đi chứ, nếu không có chữa xong cầu, nó lại đánh hỏng”.

Nhờ gợi ý của anh Thiện, ít lâu sau, với cách bắn trực diện máy bay bổ nhào, dân quân xã Diễn Hồng bằng súng 12 li 7 đã bắn rơi một máy AD-6, ngay gần cầu Cẩm Bào, mở đầu cho phong trào dân quân miền Bắc bắn rơi nhiều máy bay Mĩ.

Tôi cũng được làm việc với anh Thiện trong Chiến dịch Tây Nguyên, tiếp đo là Chiến dịch Hồ Chí Minh. Tuy là Phó Tư lệnh chiến dịch, nhưng ít khi Anh có mặt trong Sở Chỉ huy. Anh thường đi kiểm tra đôn đốc các dv dưới. Chỉ khi nào Bộ Chỉ huy họp bàn những vấn đề quan trọng như quyết tâm sử dụng và bố trí lực lượng, cách đánh…, thì Anh có mặt và tham gia những ý kiến rất cụ thể vè những nội dung đó. Khi nghe Chủ nhiệm Hậu cần Chiến dịch Tây Nguyên báo cáo kế hoạch bảo đảm xong, anh Dũng quay sang nhìn anh Thiện, anh Thiện thủng thẳng nói: “Lo đấy, nhưng quyết tâm đã có, cách đánh nhất định phải thế mới bất ngờ, mới chắc ăn. Tôi sẽ thúc anh em bảo đảm bằng được, sẽ cố gắng để nếu các anh đánh nhanh, thì còn dư để đưa ra chỗ khác. Tôi sẽ làm việc cụ thể với anh em hậu cần chiến dịch, và anh em 559, rồi sẽ báo cáo sau. Thôi tôi đi đây…”. Mọi người trong Sở Chỉ huy đều cười, tuy không ai nói ra, nhưng chắc đều không nghĩ một điều: anh Thiện là con người đã nói có là có, đã làm là làm bằng được. Anh có cách làm, mà nhiều khi người khác chưa kịp nghĩ ra. Mọi người trong Sở Chỉ huy đều yên tâm, tin tưởng ở Anh.

Tôi nhớ trong trận đánh Buôn Ma Thuột, Sư đoàn 316 có một trung đoàn phải vượt đường 14 và sông Sê Rê Pốc để đánh từ phía nam vào. Đây là hướng hiểm yếu, nhưng có nhiều khó khăn. Hôm Sư đoàn thảo luận quyết tâm, và giao nhiệm vụ trên sa bàn, tôi vừa đến nơi đã thấy anh Thiện ngồi giữa các cán bộ Sư đoàn. Anh đã khêu gợi cho nhiều ý kiến cụ thể về cách giữ bí mật, cách vượt đường, vượt sông, cách đưa pháo vào, cách đánh chiếm và giữ các vị trí tiền tiêu của địch thế nào đẻ Trung đoàn đồng loạt tấn công và hợp điểm với các cánh quân khác tại Sư đoàn bộ 23 của địch trong thị xã. Trung đoàn 149 của Sư đoàn 316 ở hướng này, đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của trận đánh.

Sáng ngày 30 tháng tư năm 1975, tại Sở chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh, khi lời Dương Văn Minh tuyên bố trên đài phát thanh Sài Gòn yêu cầu ngừng bắn, để trao lại chính quyền cho ta, vừa dứt, thì anh Thiện cùng một lúc với các anh Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Văn Tiến Dũng, đều thốt lên một cách kiên quyết: “Không ngừng bắn gì cả, lệnh cho các đơn vị tiếp tục tấn công”. Vừa lúc đó, cũng có lệnh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp điện vào: “Tiếp tục tấn công, buộc địch đầu hàng vô điều kiện”.

Sau khi Dương Văn Minh ra lệnh trên đài cho quân ngụy hạ vũ khí đầu hàng, cả Sở Chỉ huy nhảy lên reo hò mừng thắng lợi. Tôi nhìn thấy anh Thiện nét mặt rạng rỡ. Anh không nói gì cả, miệng cười mà nước mắt chảy trên gò má. Một lúc sau, cả Sở Chỉ huy im lặng nghe anh Dũng chỉ thị những việc phải làm ngay. Anh Dũng nói xong, anh Thiện mới chậm rãi nói: “Bây giờ có chết mới nhắm mắt được”.

Anh Đinh Đức Thiện đi vào cõi vĩnh hằng 10 năm rồi, nhưng nhiều anh em cán bộ Bộ Tổng Tham mưu vẫn nhớ Anh, nhớ hình ảnh của Anh, không phải là vị tướng mặc quân phục oai nghiêm, ngực đeo huân chương mà là một ông già tóc bạc, mặc bộ đồ bà ba màu nâu giả dị, nhưng hiện trong con người chưa đựng một tâm hồn trong sáng, kiên định, táo bạo nhưng đầy thân ái; nhớ những lời nói của Anh chân thành, dí dỏm, dễ hiểu, nhưng ẩn chứa nội dung lí luận, khoa học sâu sắc.

Anh em cán bộ tham mưu chúng tôi luôn coi Anh như một trong những thủ trưởng ngành Tham mưu của mình.

Chú thích
(*) Nguyên Chánh Văn phòng Bộ Tổng Tham mưu.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 23 Tháng Tư, 2013, 10:20:00 AM
ĐỒNG CHÍ ĐINH ĐỨC THIỆN VỚI NGÀNH HẬU CẦN
TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MĨ, CỨU NƯỚC

Giáo sư NGÔ VI THIỆN

Đồng chí Đinh Đức Thiện là Cục trưởng Cục Vận tải trong kháng chiến chống Pháp. Sau khi hòa bình được lập lại ở miền Bắc, đồng chí là Phó Chủ nhiệm kiêm Tham mưu trưởng Tổng cục Hậu cần. Trước yêu cầu xây dựng kinh tế, đồng chí được Trung ương Đảng và Chính phủ điều động ra làm Thứ trưởng Bộ Công nghiệp, kiêm Giám đốc khu Gang thép Thái Nguyên, cơ sở lớn nhất của ngành công nghiệp nặng Việt Nam.

Năm 1965, đế quốc Mĩ đưa quân vào miền Nam, trực tiếp xâm lược nước ta, tiến hành chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc. Đồng chí Đinh Đức Thiện lại được điều động vào quân đội, làm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, tham gia Quân ủy Trung ương. Trở lại quân đội, trong tình hình mới, đồng chí đã suy nghĩ nhiều về nhiệm vụ ngành Hậu cần trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, vừa để giải phóng miền Nam, vừa để bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, tiến tới thống nhất đất nước.

Phân tích tình hình và điều kiện thực tế, đồng chí rút ra những điểm cơ bản của công tác hậu cần trong hai cuộc chiến tranh. Điểm giống nhau là trong kháng chiến chống Mĩ cũng như chống Pháp, ta đều tiến hành chiến tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc, công tác hậu cần cũng phải dựa vào nhân dân, toàn dân làm công tác hậu cần. Điểm khác nhau nổi bật là tính hiện đại của chiến tranh: đế quốc Mĩ dùng ưu thế tuyệt đối về vũ khí và trang bị kĩ thuật để đánh ta; ta cũng có một số vũ khí và trang bị kĩ thuật mới để đánh lại. Tình hình đất nước ta cũng đã khác trước: có miền Bắc đang xây dựng chủ nghĩa xã hội làm căn cứ địa cho cách mạng cả nước, là hậu phương vững chắc cho miền Nam đánh Mĩ; ta lại có sự giúp đỡ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, nhất là về vũ khí, trang bị kĩ thuật hiện đại.

Đồng chí trao đổi những nhận định đó với Đảng ủy và thủ trưởng Tổng cục Hậu cần, thống nhất nhận thức về nhiệm vụ hậu cần trong kháng chiến chống Mĩ, những quan điểm và tính chất của công tác hậu cần, những mối quan hệ trong nội bộ ngành Hậu cần, giữa Hậu cần và các ngành trong và ngoài quân đội. Đó là những vấn đề cơ bản về xây dựng và tiến hành công tác hậu cần trong suốt cuộc kháng chiến chống Mĩ(1).

Trong khi quan tâm đẩy mạnh xây dựng hậu cần quân đội, đồng chí cũng rất chăm lo chỉ đạo quân đội tham gia xây dựng và củng cố hậu phương đất nước, cùng các địa phương giữ vững giao thông vận tải, bảo đảm cho chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mĩ đối với miền Bắc, cứu trợ nhân dân vùng tuyến lửa và vùng mới giải phóng. Những lần đi vào các chiến trường, đồng chí đã góp ý kiến và trực tiếp chi viện cho việc xây dựng hậu phương tại chỗ, chỉ đạo hậu cần chiến trường tham gia xây dựng căn cứ địa, vùng giải phóng, căn cứ hậu cần trên từng địa bàn. Khi đến Tây Nguyên đầu năm 1973, đồng chí đã kịp thời chỉ đạo giải quyết được nạn đói đang đe dọa bộ đội và nhân dân địa phương lúc đó.

Vể bảo đảm hậu cần, phải có đường giao thông vận tải thông suốt từ hậu phương ra tiền tuyến. Được Quân ủy Trung ương phân công trực tiếp chỉ đạo tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn, đồng chí Đinh Đức Thiện, đã tập trung mọi khả năng xây dựng tuyến đường nối liền hậu phương lớn miền Bắc với các chiến trường miền Nam và hai nước láng giềng. Sự nỗ lực của hậu phương với công sức, mồ hôi và xương máu của bộ đội cùng các lực lượng thanh niên xung phong, dân công, vừa đánh địch vừa mở đường dưới bom đạn ác liệt của địch, đã tạo nên mạng đường vận tải chiến lược với hệ thống đường ô tô có chiều dài gần 17.000 km và hệ thống đường ống dẫn xăng dầu dài hơn 5.000 km, trên dải Trường Sơn hiểm trở. Đồng chí Đinh Đức Thiện còn chỉ đạo và tạo điều kiện cho các chiến trường, mở các đường vận tải chiến dịch sử dụng xe cơ giới. đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy 1975, các chiến trường miền Nam đã có mạng đường vận tải chiến dịch có chiều dài hơn 6.000 km, nối tuyến vận tải chiến lược vào tới gần các tuyến đường ô tô trong vùng địch còn kiểm soát. Nhờ đó khi phát triển tiến công, xe tăng và cơ giới ta có thể thọc sâu vào dinh lũy cuối cùng của địch nhanh chóng.

Đồng chí Đinh Đức Thiện đã suy nghĩ nhiều về tính chất hiện đại của cuộc chiến tranh chống Mĩ. Ta có vũ khí, trang bị kĩ thuật hiện đại do các nước anh em giúp đỡ; phải làm sao phát huy được hiệu quả chiến đấu cao nhất, làm sao giữ gìn được, làm sao bảo đảm được kĩ thuật? Đế quốc Mĩ có nền khoa học hiện đại, lại rất giàu. Chúng sẽ ra sức phát huy ưu thế của vũ khí, trang bị kĩ thuật, nhằm hủy diệt ta, “đưa Bắc Việt Nam trở về thời kì đồ đá” như chúng đe dọa, để hòng ngăn chặn kì được công cuộc chi viện của hậu phương cho tiền tuyến. Ta phải làm gì để hạn chế sức mạnh của địch.

ồng chí đã tập hợp được đội ngũ cán bộ khoa học - kĩ thuật, dựa vào Giáo sư - Viện sĩ Trần Đại Nghĩa, dựa và các Viện kĩ thuật của quân đội và của các ngành. Đồng chí cũng lấy ý kiến của các cán bộ và chiến sĩ đã trực tiếp sử dụng vũ khí và trang bị. Từ thực tiễn đó, đồng chí đã có những gợi ý và khuyến khích cán bộ và công nhân kĩ thuật cải tiến cả vũ khí, trang bị của các nước anh em sản xuất, cho phù hợp với điều kiện và đặc điểm chiến đấu ở Việt Nam, với con người Việt Nam. Đồng chí cũng lắng nghe những người đã trực tiếp chiến đấu với vũ khí của địch để tìm ra cách đối phó có hiệu quả. Khi các đề tài nghiên cứu thành công, đồng chí đã tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy sản xuất và kịp thời đưa vào sử dụng ở chiến trường.

Đồng chí đã suy nghĩ và góp ý về việc đưa xe tăng vào các chiến trường miền Nam. Khó khăn lớn nhất cần phải khắc phục là máy móc, và một số bộ phận, chỉ hoạt động được một thời gian, rồi sẽ hỏng; do đó, xe chỉ chạy được trên một cư li nhất định. Đồng chí chủ trương: cứ cho xe tăng chạy trên đường dài vào các chiến trường; đồng thời cho xe vận tải chở máy tổng thành cùng với xích, trục và một số phụ kiện thay thế cần thiết đi theo. Tới chiến trường, thay các bộ phận hư hỏng, thì xe tăng lại có chất lượng tốt, vì thân xe, súng, pháo không bị ảnh hưởng bao nhiêu trong cơ động. Do đó, trong tiến công chiến lược năm 1972, ta có xe tăng chiến đấu ở Tây Nguyên; đến tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, xe tăng đã tham gia chiến đấu trên tất cả các chiến trường miền Nam.

Để cung cấp xăng dầu cho xe cơ giới sử dụng ngày càng nhiều trên tuyến vận tải chiến lược và các chiến trường, không thể cứ dùng phương thức vận chuyển xăng dầu bằng xe téc hay thùng phuy như cũ vì dễ bị địch đánh phá gây tổn thất lớn và không bảo đảm được nhu cầu. Đồng chí đã chỉ đạo ngành xăng dầu quân đội đưa các bộ đường ống dã chiến của Liên Xô và Trung Quốc (thường để dùng ở cấp chiến dịch trong địa hình trung bình với cự li 100 km), ra xây dựng thành tuyến đường ống chiến lược dài hàng trăm kilômét, vượt qua nhiều đèo cao, suối sâu trên dãy Trường Sơn, dẫn xăng dầu từ hậu phương miền Bắc vào tới miền Đông Nam Bộ.

Chú thích
(1) Bộ Tham mưu hậu cần đã dựa vào đó biên soạn thành tài liệu Mấy vấn đề cơ bản về công tác hậu cần, để huấn luyện cho hậu cần toàn quân trong kháng chiến chống Mĩ.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 23 Tháng Tư, 2013, 10:21:42 AM
Về mặt quân sự, đồng chí không phải là một người chỉ huy tác chiến, không phải là nhà khoa học, nhưng là một vị tướng mưu trí, sáng tạo, nên đã có nhiều ý kiến độc đáo trong chỉ đạo khoa học kĩ thuật phục vụ chiến tranh về chiến lược, về chiến dịch và cả về chiến thuật để đánh địch, bảo vệ mình. Thí dụ như: để chống không quân địch trên tuyến vận tải, đồng chí đã đề ra các phương án chiến đấu chống máy bay địch đánh phá đường, cầu, đánh chặn các đoàn xe vận tải chạy đêm. Đồng chí đã gợi ý việc đưa tên lửa vác vai lên các điểm cao ven đường đón đánh máy bay AC130, vì loại máy bay này đã gây nhiều tổn thất cho ta. Kết quả, ta đã bắn rơi được một số AC130, hạn chế được tác dụng của chúng, làm cho các lái xe yên tâm, không lo lắng khi đi làm nhiệm vụ.

Đối với các kho tàng dự trữ ở hậu phương cũng như trên tuyến vận tải, đồng chí cùng Đảng ủy, Thủ trưởng Tổng cục Hậu cần chỉ đạo việc bố trí phân tán và kín đáo để tránh bị tổn thất khi máy bay địch đánh phá, nhưng có thể tập trung nhanh để bảo đảm cho vận tải khối lượng lớn. Kho xăng dầu được rải dọc tuyến vận tải, chôn giấu dưới đất hoặc để trong hang đá, địch không đánh phá được, hưng vẫn đảm bảo cung cấp thuận tiện cho các đoàn xe cơ giới. Đồng thời với việc dựa vào nhân dân để bảo vệ và giữ bí mật, đồng chí còn chỉ đạo thực hiện các biện pháp nghi binh để đánh lừa địch, để thu hút bom đạn của máy bay địch đánh vào các mục tiêu giả.

Đồng chí Đinh Đức Thiện quan tâm thường xuyên đến việc bảo đảm sinh hoạt và sức khỏe bộ đội; chăm lo việc nuôi dưỡng bộ đội, nhất là những người trực tiếp chiến đấu, phục vụ chiến đấu ở chiến trường; yêu cầu bảo đảm cho bộ đội được ăn no, đồng thời từng bước cải tiến chất lượng bữa ăn. Đồng chí đã chỉ đạo việc nghiên cứu các mẫu thực phẩm khô, lương khô, đồ hộp có chất lượng cao, đề nghị các nước anh em sản xuất và viện trợ cho ta để cung cấp cho bộ đội ở chiến trường và lái xe trên tuyến vận tải.

Về mặt quân trang, quân dụng, đồng chí nêu ra yêu cầu phải bảo đảm chất lượng nhưng phải gọn, nhẹ, mau khô, phù hợp với thể chất con người Việt Nam, điều kiện khí hậu, thời tiết của chiến trường, nhất là ở miền Nam Việt Nam.

Đồng chí thường trao đổi với Cục Quân y về các biện pháp để giữ vững và nâng cao sức khỏe bộ đội, làm tốt công tác vệ sinh, phòng bệnh, nhất là phòng chống sốt rét, phòng chống chất độc hóa học của Mĩ. Đồng chí cũng chú trọng vào chỉ đạo xây dựng các cơ sở điều trị thương, bệnh binh ở chiến trường, tăng cường cán bộ chuyên môn, trang bị kĩ thuât và thuốc men, lương thực, thực phẩm, đề nâng cao chất lượng điều trị tại chỗ, trả nhanh quân số chiến đấu về các đơn vị. Đặc biệt là việc chuyên thương, bệnh binh từ chiến trường về hậu phương miền Bắc đã dần dần được cơ giới hóa, giảm nhẹ khá nhiều nhiệm vụ điều trị và chuyển thương cho chiến trường và tuyến vận tải.

Trong việc bảo đảm thuốc men cho chiến trường, đồng chí đã chỉ thị cho ngành quân y, đào tạo nhiều dược sĩ biết pha chế thuốc, đưa vào chiến trường, đồng thời chuyển dược phẩm và hóa chất vào để giúp chiến trường sản xuất thuốc tại chỗ.

Đồng chí rất chú trọng chỉ đạo chặt chẽ việc đóng gói các vật phẩm chi viện, để sau chặng đường dài vận chuyển, xe chạy đêm tối trên đường xấu, qua nhiều đèo dốc, các kiện hàng phải bốc lên, xếp xuống, quăng quật nhiều lần nhưng khi vào đến chiến trường, đến tay bộ đội vẫn bảo đảm số lượng đủ và chất lượng tốt.

Đồng chí Đinh Đức Thiện là người tổ chức và chỉ đạo hậu cần chiến lược nhưng rất xông xáo, luôn luôn tìm hiểu thực tế bộ đội, thực tế chiến trường, tự mình đi kiểm tra và giải quyết công việc tại chỗ. Là Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần trong 10 năm chiến tranh chống Mĩ ác liệt, đồng chí đã ba lần vào chiến trường Nam Bộ, một lần vào Tây Nguyên để kiểm tra và chỉ đạo công tác hậu cần, nhiều lần vào làm việc với tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn và tuyến đường 7 - Cánh đồng Chum, trực tiếp vào chỉ đạo tiền phương Tổng cục Hậu cần (Đoàn 500) ở nam Quân khu IV vào thời điểm địch đánh phá ác liệt nhất (1968), trực tiếp chỉ đạo công tác hậu cần chiến dịch đường 9 - Nam Lào (1971) và cuộc tấn công chiến lược Bình Trị Thiên (1972). Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, đồng chí làm nhiệm vụ Phó Tư lệnh phụ trách hậu cần và kĩ thuật.

Đồng chí là người xây dựng ngành hậu cần về lí luận, cũng như về tổ chức, về cán bộ cũng như về cơ sở vật chất kĩ thuật, cả ở hậu phương cũng như trên các chiến trường. Trên cơ sở đó, đồng chí đã chỉ đạo ngành hậu cần hoàn thành được nhiệm vụ bảo đảm cho quân đội cũng như toàn dân giành thắng lợi trọn vẹn trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.

Trong cuộc chiến tranh cách mạng chống chủ nghĩa đế quốc xâm lược kéo dài 30 năm để giải phóng và bảo vệ Tổ quốc, ngành hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam đã có được hai người lãnh đạo và chỉ huy kiệt xuất là đồng chí Trần Đăng Ninh và đồng chí Đinh Đức Thiện.

Trong kháng chiến chống Pháp, đồng chí Trần Đăng Ninh là người lãnh đạo thao lược, tài đức, đã xây dựng nền móng cho ngành hậu cần về quan điểm tư tưởng và tổ chức hậu cần trong chiến tranh nhân dân, bảo đảm cho kháng chiến chống tên Đế quốc thực dân cáo già thắng lợi. Trong kháng chiến chống Mĩ, đồng chí Đinh Đức Thiện là người tài trí, sáng tạo, đã nâng công tác hậu cần lên một tầm vóc mới, tổ chức hậu cần quân đội vững mạnh kết hợp với tổ chức hậu cần nhân dân trong điều kiện mới, tạo nên sức mạnh tổng hợp của hậu cần toàn dân, bảo đảm giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh chống tên đế quốc đầu sỏ rất giàu và rất mạnh.

Cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí Đinh Đức Thiện là một tấm gương sáng cho chúng ta học tập và noi theo.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 25 Tháng Tư, 2013, 10:22:59 AM
LUÔN LUÔN QUAN TÂM KẾT HỢP KINH TẾ VỚI QUỐC PHÒNG

Thiếu tướng NGUYỄN HỮU LỄ(*)

Một đặc điểm của đồng chí Đinh Đức Thiện là khi làm công tác ở quân đội, cũng như khi phụ trách các ngành kinh tế, đồng chí đều luôn chú trọng kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng ới kinh tế.

Chỉ đạo làm ra gang, thép cho đất nước

Sau khi chiến tranh chống Pháp kết thúc thắng lợi, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng và bước vào thời kì khôi phục và phát triển kinh tế, đồng chí Đinh Đức Thiện được Đảng và Nhà nước điều động ra phụ trách xây dựng Khu gang thép Thái Nguyên, một công trình công nghiệp lớn nhất và cũng khó khăn nhất. Nhận nhiệm vụ này, anh tìm ngay ra biện pháp hợp lí và hữu hiệu nhất lúc đó là dựa vào lực lượng bộ đội.

Anh xin Chính phủ và Bộ Quốc phòng chọn gần một vạn cán bộ và chiến sĩ cùng một số cán bộ và công nhân các ngành kinh tế, đưa lên Gia Sàng (Thái Nguyên) phá núi, san đồi xây dựng Khu gang thép rộng hàng trăm hécta với nhiều hạng mục công trình đồ sộ và phức tạp. Việc sử dụng bộ đội xuất ngũ làm công trình, vừa giúp Khu Công nghiệp có ngay một nguồn nhân lực có tính kỉ luật và tổ chức cao, vừa giúp Nhà nước và quân đội giải quyết công ăn việc làm và đào tạo nghề nghiệp cho một số khá đông bộ đội dời quân ngũ, trở thành những cán bộ và công nhân cốt cán cho các ngành kinh tế sau này. Trong quá trình thi công, những lúc cần tập trung thêm nhiều nhân lực, anh đã đến nhờ các đơn vị bộ đội ở gần, đưa quân đến hỗ trợ. Ngược lại, khi các đơn vị bộ đội cần xe vận tải, xe ủi, và các máy móc xây dựng, để làm doanh trại, thì anh lại sẵn sàng đưa đến giúp.

Anh cùng Đảng ủy Khu Gang thép lãnh đạo cán bộ, chiến sĩ, công nhân vật lộn với trăm, nghìn khó khăn cho một công việc mới mẻ, vừa làm, vừa mày mò học tập, trong điều kiện thiết bị sản xuất của bạn giúp đỡ còn lạc hậu, cán bộ kĩ thuật chuyên ngành chưa có, mà trình độ của chuyên gia bạn thì cũng còn hạn chế.

Qua gần 4 năm phấn đấu đầy gian nan, vất vả, vượt qua nhiều thử thách, Khu gang thép Thái Nguyên, đứa con đầu lòng của ngành công nghiệp nặng Việt Nam đã hình thành. Từ cuối năm 1963, những mẻ gang đầu tiên đã ra lò và được đưa ra chế tạo nông cụ, một số bộ phận máy móc, đúc vỏ lựu đạn cho bộ đội và cả đưa đi xuất khẩu.

Có thể nói: Khu gang thép là công trình đồng chí Đinh Đức Thiện lãnh đạo hoàn thành được bằng phương thức kết hợp kinh tế với quốc phòng, và cũng vì mục đích kết hợp kinh tế với quốc phòng.

Năm 1964, Khu gang thép mới nấu được gang, nhưng chưa luyện được gang thành thép. Mà ta thì lại đang rất cần thép. Đồng chí Đinh Đức Thiện đã xin Nhà nước cho nhập nhiều thiết bị nấu thép cỡ nhỏ (lò hồ quang, lò cảm ứng) để bổ sung trang bị cho các nhà máy công nghiệp và nhà máy quốc phòng. Sau này, khi đế quốc Mĩ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, ném bom hủy diệt Khu gang thép Thái Nguyên, làm sản xuất ngừng trệ, thì các lò thép nhỏ đã phát huy tác dụng lớn trong việc cung cấp vật liệu cho sản xuất, sửa chữa máy móc, xe cộ, vũ khí, phục vụ cho nhu cầu kinh tế và nhất là cho quốc phòng.

Người lãnh đạo hậu cần xuất sắc của thời đánh Mĩ

Đầu năm 1965, đế quốc Mĩ mở rộng chiến tranh ra cả nước, đồng chí Đinh Đức Thiện được điều động trở lại quân đội làm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Nhiệm vụ chủ yếu của công tác hậu cần trong giai đoạn này là tổ chức bảo đảm vật chất và kĩ thuật cho cuộc chiến tranh chống Mĩ trên cả nước: tích cực chi viện nhân lực, vật lực cho miền Nam chiến đấu, đồng thời đảm bảo mọi mặt để đánh thắc cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc của địch. Anh đã chấn chỉnh bộ máy sửa chữa, chế biến… của quân đội. Và đặc biệt, anh đã chỉ đạo phát triển tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn, mở rộng, phát triển những “đường mòn” thành những “đại lộ”, có chiều dài tổng cộng trên 1 vạn kilômét; lấy phương châm “vận tải cơ giới là chủ yếu”, lúc đầu sử dụng trên dưới một nghìn xe tải, rồi tiến lên tới gần 1 vạn xe. Để bảo đảm xăng dầu, anh cho xây lắp tuyến đường ống dẫn dầu từ biên giới phía bắc vào đến miền Đông Nam bộ. Anh cho đưa nhiều lực lượng công binh, thanh niên xung phong, dân công, xao xạ… vào đường Trường Sơn, thực hiện chủ trương chủ động, tích cực mở đường mà đi, đánh địch mà đi.

Để làm được nhiệm vụ vô cùng nặng nề và khó khăn này, anh đã hết sức tranh thủ sự chi viện của hậu phương đối với tiền tuyến. Anh thường xuyên báo cáo tình hình và xin chỉ thị của các đồng chí lãnh đạo cấp trên, mà trực tiếp là Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Võ Nguyên Giáp và các Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị, Đỗ Mười. Đảng và Nhà nước đã tập trung lãnh đạo chiến tranh, đã rất quan tâm bảo đảm đủ nhu cầu vật chất cho hai miền đánh giặc. cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng đã theo dõi và đôn đốc hằng ngày công tác chi viện miền Nam. Trung ương Đảng và Chính phủ đã đưa đồng chí Phan Trọng Tuệ, Bộ trưởng, đồng chí Nguyễn Tường Lân, Thứ trưởng và một số cán bộ có năng lực của bộ Giao thông vận tải vào chiến trường tham gia cùng đồng chí Đinh Đức Thiện và các cán bộ quân đội, làm nhiệm vụ mở đường và tổ chức vận tải trên tuyến chi viện chiến lược. Để có đủ phương tiện, đồng chí Đinh Đức Thiện đã xin Nhà nước dành cho quân đội hầu như toàn bộ số xe vận tải mới, được nhập hằng năm qua đường kinh tế. Đồng thời, anh cũng để nghị huy động phần lớn xe vận tải 3 cầu, xe ủi đất, xe lu, xe ben… cùng nhiều lái xe, kĩ sư và công nhân kĩ thuật của các ngành kinh tế, vào phục vụ trong quân đội.

Trong việc xây dựng đường ống, có nhiều khó khăn phải giải quyết. Mấy nghìn kilômét ống dã chiến được viện trợ vẫn chưa đủ, anh đã đề nghị huy động thêm loại ống hàn dự trữ trong kho của Bộ Vật tư. Thiếu máy bơm, anh đã giao nhiệm vụ cho các kĩ sư khí tài xăng dầu, kết hợp với những cán bộ kĩ thuật giỏi của Bộ Cơ khí luyện kim, cắt bổ một máy bơm hiện đại của Liên Xô ra nghiên cứu, đo đạc, thiết kế, rồi giao cho các nhà máy trong và ngoài quân đội kết hợp sản xuất ra hàng loạt máy bơm, cung cấp cho tuyến đường ống.

Khi đế quốc Mĩ rải bom và thủy lôi từ trường, lúc đầu, giao thông, vận tải cũng bị trở ngại khá nhiều. Đồng chí Đinh Đức Thiện đã chỉ đạo Viện Kĩ thuật quân sự hợp tác cùng một số cán bộ kĩ thuật của Nhà nước, tìm biện pháp khắc phục. Sau một thời gian kiên trì nghiên cứu, qua nhiều thử nghiệm, không quản hi sinh, gian khổ, các cơ quan kĩ thuật trong và ngoài quân đội đã thiết kế, chế tạo được các máy phát ra từ trường mạnh, đặt trên xe bọc thép và ca nô không người lái, cùng những thiết bị phóng từ thô sơ, gây nổ phá bom từ trường có hiệu quả. Nhờ đó, các tuyến giao thông trên bộ, trên sông, trên biểu của ta đều được giải tỏa. Âm mưu phong tỏa của địch đã bị thất bại hoàn toàn.

Trong chiến tranh, tuyến vận tải chiến lược đã chuyển được trên một triệu tấn vật phẩm, và đưa được hàng chục vạn quân vào chiến trường, đường Trường Sơn, đường Hồ Chí Minh huyền thoại đã đóng góp to lớn vào cuộc chiến tranh chống Mĩ, giải phóng miền nam. Đây cũng là một công trình kết hợp quốc phòng với kinh tế mà đồng chí Đinh Đức Thiện đã dành nhiều công sức để tổ chức và chỉ đạo.

Chú thích
(*) Nguyên Phó Tham mưu trưởng Tổng cục Hậu cần; Phó Tư lệnh Quân khu 1.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 25 Tháng Tư, 2013, 10:25:33 AM
Lo công việc chung của nước với tầm nhìn chiến lược toàn diện

Trong kháng chiến, khi thấy đồng chí Đinh Đức Thiện đưa các phương tiện và nhân lực bên ngoài vào quân đội, cũng có những ý kiến cho là bản vị, cục bộ. Nhận xét là là không đúng! Những việc điều động này nếu không được các cấp có thẩm quyền của Nhà nước xét và cho phép, thì chắc không thể thực hiện được.

Nhưng ngay trong thời chiến, không phải lúc nào đồng chí Đinh Đức Thiện cũng chỉ chăm lo công việc quốc phòng. Là một cán bộ, đã từng lãnh đạo kinh tế, anh đã luôn luôn tham gia ý kiến về sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, giao thông, vận tải, xây dựng căn cứ địa v.v. với các tỉnh và nhiều lần đã tìm cách giúp đỡ thiết thực cho các vùng mới giải phóng và các địa phương kế cận chiến trường khôi phục và phát triển kinh tế.

Hằng năm, ta thường đề nghị các nước anh em viện trợ cho một số mặt hàng cần thiết cho chiến đấu và bảo đảm đời sống. Là một cán bộ lãnh đạo ở Trung ương, đồng chí Đinh Đức Thiện nắm được tình hình chung, hiểu biết mối hành quân giữa các nước, nhất là xu hướng và ý đồ của các nước lớn. Cho nên, trong những năm 1970 - 1972, anh đã chỉ đạo đề ra các đơn hàng xin viện trợ có khối lượng khá lớn đối với các nước. Cũng có ý kiến không nhất trí, cho là: “Xin nhiều thế là tham lam quá, dùng không hết sẽ lãng phí, và bạn sẽ không đáp ứng đâu!”. Nhưng anh lại quan niệm: “Ta đánh Mĩ, trước hết là vì, ta, nhưng ta cũng kìm chân, kìm tay tế đế quốc đầu sỏ, các nước lớn cũng được lợi. Ta đánh được Mĩ thua đau, thì họ càng có thêm thế mạnh để mặc cả với Mĩ. Do đó, họ có thể viện trợ cho ta nhiều. Lúc này, thời cơ thuận lợi, ta cứ mạnh dạn đề ra những thứ ta cần, không những để dùng cho trước mắt mà còn dự trữ cho tương lai, đề phòng khi tình hình thế giới diễn biến khác đi…”. Quả nhiên, quan hệ giữa các nước lớn dần dần thay đổi theo chiều hướng nhích lại gần nhau. Từ 1973 trở đi, mặc dầu Hiệp định Pari được kí kết, cuộc chiến tranh ở miền Nam nước ta vẫn tiếp diết không kém phần gay go, ác liệt, nhưng viện trợ của các nước anh em thì đã giảm rõ rệt. Tuy nhiên, trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, ta vẫn có đủ vũ khí, đạn dược, phương tiện để mở những trận đánh lớn, giải phóng miền Nam, là nhờ có tính toán, dành dụm, tích lũy từ những năm trước.

Trong khi ta gửi đơn hàng xin viện trợ, một số nước bạn cũng nói thật, do khó khăn về kinh tế, nên không thể giúp ta được các loại xe cộ và vũ khí mới. Nếu ta đồng ý nhận các loại cũ thì có thể cho được nhiều. Có ý kiến cho rằng: “Nhận đồ cũ về làm gì, mất công vận chuyển mà tác dụng chẳng được bao nhiêu”. Đồng chí Đinh Đức Thiện không nhất trí và nói: “Xe mới, người ta có ít không cho được, nhưng có thể cho nhiều xe cũ còn dùng được, thì ta cũng cứ lấy, không dùng ở tiền tuyến được thì cho chạy ở hậu phương; trong quân đội không dùng, thì đưa ra cho kinh tế, còn hơn là phải sử dụng dân công gánh bộ hay chở bằng xe bò. Còn súng, pháo cũ, bộ đội chủ lực không dùng thì đưa cho dân quân; dân quân không dùng được thì cho vào lò nấu, ta sẽ được loại thép thật tốt, mà còn lâu ta mới sản xuất được. Còn vận chuyển thì ta cũng không phải lo, vì xe lửa của bạn sẽ đưa đến, ta có mất công gì nhiều đâu!”.

Khi nhận được hàng viện trợ, anh thường xem những loại vật tư xin qua đường quân sự được nhiều, mà các ngành kinh tế của Nhà nước cũng cần, thì báo cáo với cấp trên điều động ra một phần cho các ngành kinh tế. Anh cũng đem một số xe cấp cho các địa phương để đổi lấy thêm dân công ngoài kế hoạch, tăng cường nhân lực làm đường và xây dựng đường ống trên tuyến vận tải. Trong quân đội, cũng có người nói như thế là “làm ẩu, vô nguyên tắc”. Nhưng các đồng chí trong Quân ủy Trung ương thì hiểu, thông cảm việc anh làm là hợp lí, là cần thiết để bảo đảm nhu cầu cho bộ đội, cho tác chiến.

Những người đã quen biết, đã làm việc với anh, đều nhận thấy đó là một con người tận tụy, luôn luôn lo lắng cho công việc chung, biết nhìn xa trông rộng, thấy thế nào là đúng, có lợi cho sự nghiệp cách mạng, thì cứ làm, dám chịu trách nhiệm về công việc mình làm, không sợ bị hiểu lầm hoặc thành kiến.

Không phải anh chỉ quan tâm kết hợp kinh tế với quốc phòng vì lợi ích trước mắt, mà còn nhìn đế cả tương lai, khi chiến tranh kết thúc. Như khi bắt đầu làm con đường Trường Sơn, thì anh đã tính là trong thời bình, đó sẽ là con đường bộ chủ yếu của đất nước, xuyên suốt Bắc - Nam. Tuyến đường ống, không chỉ vận hành cho nhu cầu Quân đội, mà ngay trong thời chiến, đã bơm cả xăng dầu phục vụ kinh tế ở các tỉnh từ Nam Hà vào đến Vĩnh Linh. Và cho đến sau chiến tranh, ngành vật tư của Nhà nước vẫn thông qua tuyến đường ống này, để bơm xăng cho các tỉnh phía bắc của miền Trung, và từ đây, kéo dài đường ống qua biên giới, sang đất Lào để cung cấp nhiên liệu cho bạn.

Đối với anh, tư tưởng bản vị, cục bộ hầu như rất xa lạ. Khi vào các vùng mới giải phóng, thấy mùa màng bị chất độc hóa học phá hoại, dân bị đói, anh đã ra lệnh xuất một phần lương thực, thực phẩm dự trữ của bộ đội để cứu đói cho dân, và cho đem xe ủi đất (để làm đường), đi san lấp hố bom, khôi phục lại ruộng đất canh tác. Trong những năm 1975 - 1976, ở miền Nam, nhiều nơi bị thiếu lương thực, nhất là một số đô thị, anh đã đề nghị Chính phủ chở từ miền Bắc vào mấy chục vạn tấn bột mì (là hàng viện trợ ta còn dự trữ được), cung cấp cho các địa phương, đặc biệt là Thành phố Hồ Chí Minh.

Chính vì anh là người có tầm nhìn chiến lược sâu sắc và toàn diện, luôn luôn biết chăm lo kết hợp kinh tế với quốc phòng, nên sau khi giải phóng miền Nam, anh đã được Đảng và Nhà nước cử làm Phó Ban đại diện thường trực của Trung ương Đảng và Chính phủ ở miền Nam, phụ trách công tác kinh tế. Rồi đến những năm sau đó, anh lại được cử làm Bộ trưởng Dầu khí, Bộ trưởng Giao thông vận tải, là những ngành kinh tế mũi nhọn, có quan hệ mật thiết đến cả kinh tế và quốc phòng.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 25 Tháng Tư, 2013, 10:27:41 AM
ANH ĐINH ĐỨC THIỆN, NGƯỜI MÀ TÔI
VÔ CÙNG QUÝ MẾN VÀ KÍNH TRỌNG

Thiếu tướng VŨ VĂN ĐÔN(*)

Một tin đột ngột!

5 giờ sáng ngày 21-1-1987, tôi đang nằm ngủ ở nhà, bỗng có tiếng đập cửa ầm ầm, kèm theo tiếng gọi thất thanh:

- Anh Đôn ơi, anh Đôn ơi!

Tôi giật mình, hỏi: “Ai đấy, ai đấy?” và vội vàng chạy ra mở cửa.

- Em, em Long đây. Anh Đôn ơi, anh Thiện chết rồi… (Long là bí thư riêng của anh Thiện).

- Sao? Long nói gì? Anh Thiện chết? Tôi bàng hoàng quá! Long gục đầu vào vai tôi, nức nở khóc: “Anh Đôn ơi, anh Thiện chết rồi!”.

- Làm sao anh Thiện lại chết? Hôm kia tôi còn thấy anh Thiện đi xe với các cầu cơ mà? Tôi rất ngạc nhiên, hỏi lại.

- Vâng, anh Thiện chết rồi, chết thật rồi! Chết vì tai nạn!

Không nén nổi xúc động, tôi kéo Long ngồi xuống ghế, hai anh em ôm nhau cùng khóc!

Tôi được tin anh Thiện qua đời là như vậy!

Anh Thiện mất rồi! Anh Thiện là người mà tôi vô cùng quý mến và kính trọng!

Từ 5, 6 năm nay, tôi có lệ hằng ngày dành ra 15-20 phút, thanh thản, tĩnh tâm ngồi để tưởng niệm tới Bác Hồ, bố mẹ hai bên nội ngoại, các anh, chị ruột tôi, các thủ trưởng mà tôi quý mến và kính trọng nhất, các bạn bè chí cốt… tất cả đề đã mất, trong số đó có anh Đinh Đức Thiện.

Anh là người đã trực tiếp chỉ huy tôi, đã dìu dắt, giúp đỡ tôi, luôn luôn tạo điều kiện cho tôi hoàn thành nhiệm vụ trong hai cuộc kháng chiến…

Anh Đinh Đức Thiện trong kháng chiến chống Pháp

Cuối năm 1949, Cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta chuyển sang giai đoạn mới. Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Cục Vận tải để chuẩn bị các chiến dịch lớn. Đồng chí Đinh Đức Thiện là ủy viên Thường vụ Liên Khu ủy Việt Bắc được Trung ương Đảng và Bộ Quốc phòng cử làm Cục trưởng. Thời gian đó, tôi đang làm Trưởng Phái đoàn mậu dịch quốc phòng thì được cử làm Cục phó.

Lúc mới về, tôi có phần e dè, ngần ngại vì chưa quen tiếp xúc với các cán bộ ở Cục, phần lớn là cấp ủy viên ở các địa phương mới được Đảng điều vào quân đội. Nhưng qua các buổi làm việc, các buổi họp, tôi cảm thấy anh Thiện là một người nghiêm khắc, không mềm mỏng, có lúc xuề xỏa, bỗ bã, nhưng rất thẳng thắn, không khách sáo, nên tôi cũng yên tâm hơn.

Cuối tháng 6-19590, một hôm đi họp trên Bộ Quốc phòng về, anh Thiện gọi tôi lên phổ biến: Trung ương quyết định mở chiến dịch ở biên giới. Chiến dịch sẽ đánh lớn; ta sẽ được các nước Liên Xô, Trung Quốc viện trợ súng đạn, lương thực, quân trang, quân dụng và cả ô tô vận tải… Anh cử tôi thay mặt Cục đi theo anh Trần Đăng Ninh - Ủy viên Trung ương, Phó Bí thư Tổng Quân ủy, Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp lên Cao Bằng để lo công tác vận tải phục vụ chiến dịch. Anh cho tôi chọn lấy một số cán bộ ở Cục đem đi tổ chức một bộ máy vận tải chiến dịch. Anh hứa sẽ qua lại thường xuyên và cần gì thì điện hoặc nhắn về, Anh sẽ hết sức giúp đỡ. Anh yêu cầu tôi chuẩn bị gấp để đầu tháng 7 anh Ninh gọi là đi được ngay.

Chiến dịch Biên giới là chiến dịch đánh vận động lớn đầu tiên của Quân đội ta, sử dụng nhiều đơn vị chủ lực. Khối lượng vật chất phải vận chuyển để cung cấp cho bộ đội khá lớn.

Kết quả chiến dịch: ta thắng lớn, tiêu diệt được nhiều đơn vị tinh nhuệ của địch, thu được khá nhiều chiến lợi phẩm, giải phóng được một vùng biên giới, mở được đường liên lạc với quốc tế, khai thông được đường vận tải ô tô từ biên giới xuống Trung du Bắc Bộ… Những nhấn tố đó đã tạo điều kiện để đưa cuộc kháng chiến sang giai đoạn mới, đồng thời cung tác động rất thuận lợi để phát triển công tác vận tải quân sự phục vụ cho nhiệm vụ đánh lớn của bộ đội.

Kết thúc chiến dịch, ta thu được 60 xe của địch, phần lớn là xe vận tải và còn dùng được. Anh Thiện đã tranh thủ thời cơ, xin phép anh Trần Đăng Ninh, đưa các e chiến lợợi phẩm kết hợp với 10 xe GMC do nước bạn viện trợ, thành lập 2 đại đội xe: C 200 và C 201, trực thuộc Cục Vận tải. Đó là những đơn vị vận tải cơ giới đầu tiên của quân đội và của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đầu tháng 4-1951, 2 đại đội này đã có vinh dực được Bác Hồ tới thăm, tại Cây số 8, thị xã Cao Bằng. Tại đây Người đã có lời dặn dò: “phải yêu xe như con, quý xăng như máu”. Những lơi đó đã trở thành khẩu hiệu hành động của tất cả những người lái xe và sử dụng xe vận tải của quân đội, và của các cơ quan Nhà nước trong những năm sau đó và cho đến tận bây giờ.

Rồi tiếp theo Chiến dịch Biên giới là các Chiến dịch Trung Du, Đường 18, Hà Nam Ninh, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào. Theo quyết định của Tổng cục Cung cấp, tôi tiếp tục làm Trưởng ban Vận tải chiến dịch phụ trách công tác vận tải ở phía trước, còn anh Thiện ở phía sau, chỉ huy tuyến vận tải từ biên giới đến hậu phương chiến dịch và chăm lo việc xây dựng cơ quan cơ sở. Đến chiến dịch Điện Biên Phủ, do quy mô to lớn, nên công tác vận tải ở hậu phương do Tổng cục Cung cấp trực tiếp phụ trách, còn gần như toàn bộ cán bộ chủ chốt của Cục được tung ra mặt trận. Anh Thiện, tôi, anh Lục, anh An… mỗi người phụ trách công tác vận tải trên một đoạn đường từ Sơn La, qua Tuần Giáo vào các kho mặt trận.

Ta đã giành toàn tháng trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ được kí và cuộc kháng chiến chống Pháp đã kết thúc.

Trải qua những năm chiến tranh, nhất là từ 1950 trở đi, công tác vận tải đã phát triển nhanh chóng đi từ không đến có, từ nhỏ đến lớn, và đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong công tác bảo đảm hậu cần cho bộ đội tác chiến thắng lợi. Cục Vận tải đạt được thành tích như vậy là nhờ sự lãnh đạo của Tổng cục Cung cấp, và trước hết là của đồng chí Trần Đăng Ninh, người đã tạo điều kiện thuận lợi cho Cục Vận tải làm tốt nhiệm vụ. Trên cương vị là Ủy viên Trung ương Đảng, Đặc phái viên của Chính phủ, anh Ninh đã tổ chức viện sữa chữa và mở mang đường sá, đồng thời huy động hàng triệu dân công đưa đi vận tải phục vụ các chiến dịch. Anh đã chỉ đạo công tác vận tải rất chặt chẽ, và đã chú trọng nhiều đến việc giáo dục, rèn luyện cán bộ vận tải, nhất là các đồng chí lãnh đạo cục.

Còn anh Thiện thì đã chấp hành rất tốt và có sáng tạo những ý kiến chỉ đạo của anh Ninh. Anh đã sớm nhận thức được quy luật phát triển của chiến tranh, đã mạnh dạn phát triển vận tải cơ giới. Từ hai đại đội xe khi kết thúc Chiến dịch Biên giới, chỉ mấy tháng sau, có thêm xe viện trợ, Anh đã tổ chức ra Trung đoàn 151 với 6 đại đội xe. Đến chiến dịch Điện Biên Phủ ta có trên 600 xe vận tải.

Không những chỉ lo về xe vận tải, mà anh Thiện đã rất quan tâm đến công tác bảo đảm kĩ thuật: Anh đã chỉ đạo chúng tôi thu thập tất cả những trạm, xưởng sửa chữa, các máy công cụ, máy chuyên dùng, dụng cụ cơ khí… của quân Pháp trong các đồn, bốt, căn cứ bị ta tiêu diệt đem về tổ chức ra hai xưởng sửa chữa xe của Cục Vận tải: xưởng Tiền phong và xưởng Chiến thắng, và một số trạm sửa chữa ở Trung đoàn xe và các đơn vị pháo.

Anh cũng chăm lo việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, không những chỉ về mặt chính trị, tư tưởng mà cả về mặt kĩ thuật, nghiệp vụ, là những nội dung còn rất mới mẻ đối với chúng tôi trong thời kì đó. Đội ngũ cán bộ đông đảo của Cục Vận tải thời kì chống Pháp, đã trở thành cốt cán để xây dựng không những ngành vận tải, mà cả ngành xe máy, ngành xăng dầu, trong thời bình và nhất là trong cuộc kháng chiến chống Mĩ sau này.

Năm 1957, do yêu cầu khôi phục và phát triển kinh tế, anh Thiện được Đảng và Nhà nước cử ra phụ trách xây dựng khu Gang thép Thái Nguyên. Tôi tiếp tục ở trong Quân đội làm nhiệm vụ Cục trưởng Cục Quản lí xe.

Chú thích
(*) Nguyên Cục trưởng Cục Quản lí xe; Tham mưu trưởng Đoàn 559; Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kĩ thuật.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 25 Tháng Tư, 2013, 10:28:59 AM
Anh Đinh Đức Thiện trong kháng chiến chống Mĩ

Đến năm 1965, đế quốc Mĩ mở rộng chiến tranh, anh Thiện được điều động trở lại quân đội làm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Ủy viên Quân ủy Trung ương. Lúc đó, tôi đang làm Tham mưu trưởng Đoàn 559.

Thời kì này, tuyến vận tải Trường Sơn mới bắt đầu chuyển sang vận tải cơ giới. Đường sá đang được mở, nhưng chủ yếu làm thủ công, vì thiếu các phương tiện thi công. Xe vận tải cũng mới chỉ có một ít. Địch phát hiện ta làm đường lớn, nên bắt đầu đánh phá ác liệt, nhưng lực lượng phòng không của ta rất yếu. Anh Thiện được Quân ủy Trung ương phân công đặc trách công tác chi viện chiến trường, đã tận lực huy động cơ sở vật chất kĩ thuật ở hậu phương để tăng cường lực lượng cho Đoàn 559 vì Anh đã có nhiều kinh nghiệm từ thời chống Pháp: phải nắm chắc vận tải vì đó là khâu trung tâm để bảo đảm hậu cần. Anh đã quyết định những việc cực kì mạng bạo mà tôi nghĩ nếu không phải là anh Đinh Đức Thiện thì khó có ai dám làm và có thể làm được như vậy:

- Điều cả ba Trung đoàn xe vận tải của hậu phương và nhiều cán bộ chủ chốt của Tổng cục Hậu cần vào Đoàn 559.

- Điều toàn bộ khung huấn luyện của Trường lái xe thuộc Cục Quản lí xe, với tất cả một số xe cùng học viên, tổ chức thành hai tiểu đoàn vận tải đưa vào Đoàn 559.

- Điều nhiều cơ sở sửa chữa xe, máy của Cục Quản lí xe vào cho Đoàn 559.

- Trong khi chưa có hàng viện trợ, đã xin Nhà nước cho huy động toàn bộ xe vận tải 3 cầu của các ngành kinh tế, và phần lớn xe máy làm đường của Bộ Giao thông vận tải và các tỉnh đưa vào làm đường Trường Sơn. Sau đó đã xin được Nhà nước dành phần lớn xe vận tải nhập hằng năm (khoảng rên dưới 1 vạn chiếc), cho tuyến vận tải quân sự chiến lược.

- Xin được Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đưa lực lượng phòng không, ngày càng nhiều, từ cao xạ 37, cao xạ 57, đến tên lửa vào đánh máy bay địch bảo vệ tuyến vận tải.

- Giải quyết vật tư cho xây dựng đường dây trần thông tin tải ba để chỉ huy vận tải.

- Chỉ đạo xây dựng tuyến đường ống để bơm xăng từ hậu phương miền Bắc vào đường Trường Sơn, rồi vào đến miền Đông Nam Bộ v.v.

Cuối năm 1967, do yêu cầu bức bách của nhiệm vụ bảo đảm kĩ thuật xe máy, anh Đinh Đức Thiện đề nghị Quân ủy Trung ương điều tôi từ Đoàn 559 trở lại làm Nhiệm vụ Cục trưởng Cục Quản lí xe thuộc Tổng cục Hậu cần. Anh dặn dò tôi và các anh em ở Cục Quản lí xe: “Ngành xe máy phải bảo đảm cho quân đội có đủ cơ sở vật chất kĩ thuật, cho phát triển lực lượng cơ giới, cho bộ đội cơ động nhanh. Muốn vậy, phải có hệ thống bảo đảm, kĩ thuật hoàn chỉnh từ Trung ương đến các Quân khu, Quân, Binh chủng. Phải nhớ ưu tiên cho Đoàn 559 và không được quên các chiến trường miền Nam. Phải có một đội ngũ cán bộ, chiến sĩ, công nhân, có trình độ tay nghề giỏi, có lương tâm, tận tụy với nghề nghiệp, dám hi sinh lợi ích của riêng mình vì thắng lợi của chiến trường”.

Anh đã tạo cho chúng tôi những điều kiện thuận lợi nhát để hoàn thành nhiệm vụ như: đã xin viện trợ nhiều bộ thiết bị đồng bộ sửa chữa 500, 300 xe/năm, và hàng trăm xe công trình sửa chữa cơ động, mua sắm nhiều thiết bị, máy móc, dụng cụ… cho Cục Quản lí xe. Nhờ đó, chúng tôi đã bổ sung được trang bị, nâng cao được chất lượng sửa chữa ô tô các loại, xe tăng, xe xích, ca nô, tầu chạy sông, nhà máy sản xuất các loại phụ tùng về động cơ, về thân, gầm, về cao su, sản xuất, sửa chữa bình điện, đắp lốp… Từ 2 xưởng sửa chữa thành lập từ thời kì chiến tranh chống Pháp, đến nay Cục Quản lí xe đã có 11 nhà máy và một phòng nghiên cứu, thiết kế, cùng với hàng chục trạm và tiểu đoàn sửa chữa cơ động được trang bị tương đối đầy đủ, đặt trên các xe công trình, có khả năng tiếp cận các đơn vị để tiến hành sửa chữa vừa và nhỏ. Ngoài ra, đã tăng cường trang, thiết bị, phụ tùng cho các trạm, xưởng kĩ thuật, cung cấp các xe công trình cho các tiểu đoàn cơ giới để tổ chức các trạm sửa chữa nhỏ và bảo dưỡng kĩ thuật.

Để xây dựng một đội ngũ cán bộ kĩ thuật, thợ và lái xe, đáp ứng nhu cầu chiến đấu như anh Thiện đã chỉ thị, chúng tôi đã mở thêm một trường đào tạo thợ, khôi phục lại Trường lái xe của Cục Quản lí xe (đã điều động vào Đoàn 559), mở các trường đào tạo lái xe ở các Quân khu, gửi cán bộ đi học tại các trường đại học của Nhà nước, tuyển mộ hàng nghìn kĩ sư và thợ kĩ thuật có tay nghề cao; nhờ vậy hằng năm đã có thể bổ sung cho Đoàn 559 và các chiến trường hàng vạn lái xe và thợ sửa chữa đáp ứng cho nhu cầu phát triển của công tác bảo đảm kĩ thuật ngành xe.

Theo gợi ý của anh Thiện, chúng tôi đã phát động một phong trào thi đua trong các nhà máy sửa chữa ô tô quân sự với chỉ tiêu: tăng năng suất lao động và bảo đảm chất lượng cao. Kết quả đạt được rất đáng khích lệ ở tất cả các nhà máy, nhưng thành tích khá nhất là nhà máy Z151 (Chiến thắng cũ): trước đây hằng tháng sửa chữa được 120-140 xe vận tải, nhưng trong cao trào thi đua mỗi tháng đã sửa chữa được 330 động cơ và tổng lắp hoàn chỉnh được 180 xe.

Ngoài kế hoạch sửa chữa thường xuyên được duyệt hằng năm (mà thường phải điều chỉnh nhiều lần, chỉ tiêu lần sau bao giờ cũng cao hơn lần trước, do nhu cầu cấp bách của chiến trường), trong những năm đánh Mĩ, anh Thiện còn giao cho Cục Quản lí xe nhiều đề tài nghiên cứu, cải tiến. Những việc này phần lớn là đột xuất và phải hoàn thành trong một thời gian ngắn. Xin nêu lại một số việc chính:

- Thiết kế, chế tạo loại phao chân vịt lắp vào xe Zil 130 để xe có thể vượt sông tự hành.

- Cải biên xe một cầu thành hai cầu.

- Thiết kế, chế tạo bành xe phụ cho xe một cầu vượt qua bãi lầy.

- Thiết kế, chế tạo xe và ca nô phá bom từ trường.

- Thiết kế, chế tạo cầu cáp treo cho xe vượt sông.

- Thiết kế, chế tạo hệ thống che chắn bảo vệ xe, người và hàng hóa chống bom bi.

- Cải biên ghế ngồi trên xe chỉ huy Gaz 69 để cho cán bộ đi chiến trường đỡ mệt mỏi.

- Thiết kế, cải biên xe tang lễ Nhà nước.

- Thiết kế, cải biên xe chở thi hài Bác Hồ.

Chính nhờ sự dẫn dắt, châm ngòi rất sắc sảo, nhiều khi rất táo bạo của anh Thiện, mà suốt trong thời kì chiến tranh chống Mĩ, cơ quan và các cơ sở Cục Quản lí xe luôn luôn có không khí sôi nổi, tưng bừng tấn công vào khoa học, kĩ thuật, hướng theo khẩu hiệu: Tất cả vì tiền tuyến, tất cả vì miền Nam ruột thịt!

Anh Thiện rất chú trọng tới việc sản xuất phụ tùng ô tô. Trong điều kiện rất khó khăn về ngân sách, Anh đã cho mua sắm nhiều máy công cụ, máy chuyên dùng chính xác, cùng các lò luyện thép cỡ nhỏ cho Cục Quản lí xe. Nhờ đó trong những năm chống Mĩ, các nhà máy của Cục Quản lí xe đã sản xuất được nhiều chi tiết ô tô, từ đơn giản đến phức tạp như vòng găn, quả nén, các loại vòng đệm, các loại trục, kể cả trục cơ, các loại bánh răng, bình điện v.v. để bảo đảm cho công tác sửa chữa xe trong toàn quân. Năm 1970, Anh đã đề nghị Bộ Quốc phòng và Chính phủ xin viện trợ một nhà máy sản xuất phụ tùng ô tô với công suất 5.000 tấn/năm. Nước bạn đã chấp thuận và đã đưa chuyên gia sang khảo sát, thiết kế. Ta đã chuẩn bị mặt bằng xây dựng ở Sóc Sơn (Hà Nội). Nhưng công việc chuẩn bị của bạn kéo dài, đến sau giải phóng miền Nam, nước bạn cũng bỏ không tiếp tục công trình nữa.

Trên cơ sở các phụ tùng đã sản xuất được giữa năm 1970 anh Thiện đề ra một việc táo bao, mà trước đó, chúng tôi chưa dám nghĩ tới: Sản xuất ô tô! Ngày 6 tháng 6 năm 1970, trong một cuộc họp với đông đảo cán bộ chỉ huy, cán bộ kĩ thuật, cán bộ chính trị của Cục Quản lí xe và một số cơ quan của Tổng cục Hậu cần anh Đinh Đức Thiện đã phát biểu: “Nhiệm vụ Cục Quản lí xe là phải bảo đảm sửa chữa xe, cải biên xe, sản xuất ra phụ tùng rồi tiến tới sản xuất ra xe. Đó là yêu cầu khách quan đòi hỏi ta phải sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, phải nhảy vọt từ công nghiệp sửa chữa sang công nghiệp sản xuất…”.

Sau đó, Anh đề ra yêu cầu cụ thể: thiết kế và chế tạo một xe ô tô vận tải theo mẫu xe Zil 130 của Liên Xô và một mô tô cỡ nhỏ theo mẫu xe Honda của Nhật Bản.

Nhiệm vụ này làm cho cán bộ và công nhân ngành xe vô cùng phấn khởi. Vì đó là niềm mơ ước của mọi người, mặc dầu đó là một việc mà nhiều người không thể thưởng tượng nổi. Cho nên khi đã có chủ trương của cấp trên, thì tập thể đông đảo của Cục Quản lí xe, từ người chỉ huy, cán bộ phòng, ban ở cơ quan, đến cán bộ, nhân viên ở các bộ phận nghiên cứu, thiết kế, công nghệ, cán bộ quản lí và công nhân ở hầu hết các nhà máy, đã kết hợp với một số cơ quan kĩ thuật của Nhà nước, lao vào một trận chiến đấu mới đầy khó khăn, gian khổ nhưng cao đẹp và đáng tự hào: làm ra những chiếc xe ô tô đầu tiên cho Tổ quốc Việt Nam! Trong khi đó vẫn phải làm tốt nhiệm vụ trung tâm: chỉ đạo công tác bảo đảm kĩ thuật, sửa chữa xe có chất lượng tốt, cung cấp đủ phụ tùng cần thiết cho tuyến vận tải và các đơn vị toàn quân.

Trỉa qua một năm rưỡi phấn đấu, vừa thiết kế vừa sản xuất, thử nghiệm, ngày 22 tháng 12 năm 1971, các nhà máy của Cục Quản lí xe đã cho ra đời một xe vận tải mang tên Trường Sơn và một xe mô tô mang tên Ấp Bắc. Cả hai xe đều được lắp ráp bằng phụ tùng sản xuất trong nước, chủ yếu tại các nhà máy của Cục. Chỉ có một số đồ điện phải nhập ngoại như: bu gi, tăng điện, chia điện, dây điện, bóng đèn…

Anh Thiện rất vui mừng, và đã chỉ thọ cho chúng tôi đưa xe vào chạy thử trên tuyến đường Trường Sơn. Kết quả xe đã chạy được 1.000 km an toàn.

Đã nhiều lần tôi suy nghĩ: “Kì lạ thật, ông Đinh Đức Thiện, trình độ học vấn rất bình thường, chưa hề qua một trường, lớp kĩ thuật nào, mà sao ông ấy sắc sảo như vậy. Trong thực tế trong nghề “vận tải - ô tô - xe máy” lúc nào cũng nghe thấy ông ấy bày vẽ, chỉ bảo được, và phần lớn ý kiến đều đúng…”.

Anh Thiện ơi!

Nếu không có sự chỉ đạo chặt chẽ của Anh, làm sao ngành xe máy chúng tôi, trong thời kì kháng chiến chống Mĩ, cứu nước, có thể hoàn thành được nhiệm vụ, và phát triển sự nghiệp của mình lên những tầm cao mới trên lĩnh vực khoa học, kĩ thuật…


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 25 Tháng Tư, 2013, 10:30:35 AM
BẤT KHUẤT VÀ SÁNG TẠO

Thiếu tướng PHẠM NHƯ VƯU(*)

Ít thấy đồng chí Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần nào quan tâm đến vũ khí của các lực lượng vũ trang như đồng chí Đinh Đức Thiện. Sự quan tâm đó thể hiện ở thái độ không khuất phục trước mọi vũ khí hiện đại lợi hại và tàn bạo của quân đội Mĩ - ngụy. Từ tiềm thức sâu thẳm đó, đồng chí luôn suy nghĩ, tìm hiểu và sáng tạo ra các vũ khí và biện pháp để đánh trả địch, vô hiệu hóa vũ khí của địch, cải tiến các vũ khí của ta. Thông thường thì nhiệm vụ này là của Bộ Tổng Tham mưu, nhưng khi có sự chậm trễ, thì đồng chí không ngần ngại, vượt qua phạm vi chức năng của mình để nghĩ cách đối phó với địch.

Sáng kiến về cải tiến vũ khí của đồng chí Thiện thì nhiều. Ở đây, xin kể một số sự việc chính. Chỉ riêng việc khuyến khích sáng tạo và nhận trách nhiệm với cấp trên về thất bại hay thành công của công tác nghiên cứu hay cải tiến vũ khí đã cho thấy đồng chí là người rất tự tin, tin vào quần chúng và có khí phách. Nhiều lần đồng chí đã nhắc nhở anh em kĩ thuật làm những việc mới mẻ, và khẳng định với anh em, cứ mạnh dạn mà làm, tội vạ đâu đồng chí sẽ chịu! Riêng đối với Cục Quân giới, đồng chí còn khuyến khích mạnh dạn nghiên cứu và thực hiện các dự án mới, không cần có ý kiến của Tổng cục, nhưng có ai chát vấn thì cứ nói là theo chỉ thị của đồng chí Thiện.

Khi thấy quân Mĩ thay lựu đạn vỏ gang bằng lựu đạn vỏ thép, đồng chí yêu cầu Quân giới phải giải thích lí do sự thay đổi đó.

Số là từ xưa đến lúc đó, vỏ lựu đạn đúc bằng gang vừa dễ chế tạo vừa rẻ tiền. Nhưng vỏ gang phải đủ dầy, để khi phát nổ tạo ra các mảnh có khả năng sát thương. Những mảnh nhỏ và bụi gang không có tác dụng đó. Vì vậy, lựu đạn gang nặng, không được nhồi thuốc nổ mạnh và tất nhiên không ném được xa, bán kính sát thương cũng nhỏ. Lựu đạn vỏ gang thường nặng trên dưới 500g, khi nổ chỉ tung ra được khoảng 400 mảnh, bán kính sát thương khoảng 7-8 mét. Còn lựu đạn vỏ thép, chỉ nặng trên dưới 400g, khi nổ có tới 1.000 mảnh, bán kính sát thương tới 15-20 mét. Vì trọng lượng nhẹ nên lựu đạn vỏ thép ném xa được tới 40 mét, người chiến sĩ có thể mang được nhiều hơn. Nhưng chế tạo lựu đạn vỏ thép trong điều kiện lúc đó còn khá khó khăn, nhất là chế tạo bộ lửa cơ khí thay cho bộ lửa chày gỗ. Vật liệu cũng không dồi dào cho việc sản xuất số lượng lớn. Nhưng vì có nhiều ưu điểm, nên đồng chí Thiện kiên quyết yêu cầu Quân giới phải chuyển sản xuất lựu đạn truyền thống sang sản xuất lựu đạn thép.

Với truyền thống vượt khó khăn của mình, Quân giới nhanh chóng xây dựng những dây chuyển sản xuất lựu đạn vỏ thép. Nhưng sau đó ít lâu, Mĩ lại sử dụng bom bi, gây sát thương lớn cho ta ở cả tiền tuyến lẫn hậu phương. Khi nghiên cứu thì thấy bom bi làm bằng một loại chất dẻo trong ép nhiều viên bi, đồng chí Thiện lại yêu cầu chuyển sang sản xuất lựu đạn bi, một loại lựu đạn mà đến đầu những năm 80, nhiều nước khác có công nghệ và kĩ thuật phát triển mới đưa vào sản xuất. Khó khăn lớn nhất là sản xuất ra được những viên bi, làm chức năng của mảnh sát thương. Ví dụ lựu đạn TW-31 của Đức chỉ nặng có 310 g, nhưng vỏ chất dẻo chứa được 3.000 viên bi, có bán kính sát thương là 10 mét. Lựu đạn bi sản xuất nhanh hơn, giá thành rẻ hơn. Vì vậy nhờ có sáng kiến của đồng chí Thiện mà mấy triệu lựu đạn bi đã được cung cấp cho tiền tuyến miền Nam.

Đồng chí Thiện còn có dự định làm đạn cối bi. Nhưng vấn đề này không được các nhà kĩ thuật chất nhận, vì lúc đó chưa có loại chất dẻo nào để làm vỏ đạn đủ sức chịu được áp suất lớn trong nòng súng cối khi bắn.

Vào lúc máy bay địch đánh phá ác liệt trên đường 559, đồng chí Thiện luôn suy nghĩ tìm cách đánh lại địch trên không. Trong trang bị của bộ đội ta lúc đó có hai loại tên lửa H6 và DKZ-B, dùng đánh các mục tiêu trên mặt đất. Đồng chí Thiện yêu cầu cải tiến thành tên lửa cao xạ, có tầm bắn cao hơn pháo cao xạ 37, đang có nhiều trên đường 559. Trước yêu cầu đó, Quân giới nghĩ đến tên lửa nhiều tầng, và dàn phóng độc lập, đơn giản, nhẹ nhàng… với nguyên lí hoạt động của tên lửa nhiều tầng, các cán bộ quân giới đã lắp thêm một động cơ vào quả tên lửa. Sau nhiều ngày nghiên cứu công phu, rồi sản xuất, thử nghiệm, ta đã chuyển được tên lửa đất đối đất thành tên lửa đất đối không. Nhưng do không có ra đa theo dõi và dự tinh được đường bay của máy bay địch, nên vũ khí này chỉ có tác dụng đánh vào tâm lí của giặc lái nhiều hơn.

Để chuẩn bị cho cuộc tổng phản công ở miền Nam, ta cần rất nhiều đạn pháo cỡ lớn. Nhưng lúc đó, ta nhận được viện trợ rất ít các loại đạn này. Không thể để bị động, đồng chí đề nghị với Bộ Quốc phòng một kế hoạch gọi là 75B. Trong kế hoạch này có việc sản xuất súng và đạn cối 160, chế tạo đầu đạn và ngòi để phục hồi đạn pháo 130 và đạn cao xạ 37. Các loại sản phẩm trong kế hoạch này vượt xa khả năng công nghệ lúc đó của các xí nghiệp quân giới. Nhưng Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần quyết tâm làm bằng được. Đồng chí đã tạo mọi điều kiện về vật chất và thiết bị để thực hiện kế hoạch. Trong quá trình chế thử, đồng chí luôn chăm sóc và đôn đốc, biểu dương kịp thời các sáng kiến công nghệ. Khi khẩu súng cối và viên đạn 160 đầu tiên ra đời, đồng chí rất hân hoan và đã mời nhiều đồng chí lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, cả miền Bắc lẫn miền Nam đến thăm các nhà máy để động viên cán bộ, công nhân quân giới. Sau khi chế thử và bắn thử nghiệm thành công, Cục Quân giới đã triển khai công nghệ sản xuất một loạt lớn. Việc nghiên cứu, thiết kế và chế thử đạn pháo 130 và đạn cao xạ 37 cũng đạt kết quả. Nhưng kế hoạch làm được một phần thì miền Nam đã được giải phóng.

Có thể nói, những thành tích quan trọng của ngành quân giới trong chiến tranh chống Mĩ đều gắn liền với tư tưởng bất khuất và sáng tạo của đồng chí Đinh Đức Thiện. Ngành Quân giới rất tự hào có một đồng chí lãnh đạo cấp trên như đồng chí Thiện, dám nghĩ, dám làm, biết phá bỏ các nguyên tắc cứng nhắc, những điều kiện trói buộc khắt khe để lãnh đạo cấp dưới hoàn thành những việc tưởng như không thể làm được.

Chú thích
(*) Nguyên Cục trưởng Cục Quân giới; Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kĩ thuật.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 02 Tháng Năm, 2013, 10:09:20 AM
DÁM NGHĨ, DÁM LÀM VÌ CHIẾN THẮNG, VÌ NGƯỜI CHIẾN SĨ

Thiếu tướng, Giáo sư NGUYỄN SĨ QUỐC(*)

Nhớ về đồng chí Đinh Đức Thiện, chúng tôi nhớ một đồng chí dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Đồng chí đã có nhiều chủ trương đúng đắn và mạnh bạo, nhờ đó công tác hậu cần trong kháng chiến chống Mĩ đã phát triển thắng lợi.

Một chủ trương lớn của đồng chí là: Để chiến thắng một kẻ địch có khoa học kĩ thuật quân sự hiện đại, công tác hậu cần cũng phải cơ giới hóa và từng bước hiện địa hóa (cố nhiên khi cần thiết, thì vẫn kết hợp dùng thô sơ). Anh đã có sáng kiến làm đường (thậm chí làm nhiều đường), để vận chuyển cơ giới đưa hàng và chiến trường. “Đường mòn Hồ Chí Minh”, thực chất ngoài những đường nhỏ cho người đi bộ, là những tuyến đường ô tô song song và một tuyến đường ống dẫn dầu, chạy suốt từ miền Bắc vào miền Nam. Tôi đã tận mắt “nhìn” thấy tính chất đúng đắn của chủ trương này. Năm 1971, trong khi đi phục vụ chiến dịch Đường 9, Nam Lào, qua Sác Lít, tôi đã thấy hàng nghìn chiếc xe đạp chất đống ngổn ngang trong hang; hỏi ra mới biết đó là xe của Quân khu Trị Thiên đưa vào để tổ chức đoàn vận tải thồ, song bị thất bại, sau phải mở đường và tổ chức vận chuyển cơ giới, như ý kiến chỉ đạo của đồng chí Đinh Đức Thiện, mới bảo đảm được đủ nhu cầu lương thực, vũ khí, thuốc men cho chiến trường.

Những tư tưởng chỉ đạo của đồng chí Đinh Đức Thiện đối với công tác quân y, được đồng chí Vũ Văn Cẩn, lúc đó là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, kiêm Cục trưởng Cục Quân y, tổ chức thực hiện một cách nghiêm túc và sáng tạo, đã được thực tiễn cuộc kháng chiến chống Mĩ chứng minh là đúng đắn.

Trước hết là phải luôn nâng cao trình độ kĩ thuật quân y trong quá trình chiến tranh, phải kiên quyết và mạnh dạn đưa kĩ thuật ra tuyến trước và vào các chiến trường. Với cương vị là Cục phó cục Quân y, tôi đã có dịp đi kiểm tra công tác Quân y của Quân khu V, Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ, Đoàn 559, và đã thấy các tư tưởng đó được thực hiện có kết quả trên các chiến trường. Các Quân khu miền Nam đều có đủ các tổ chức bảo đảm quân y cần thiết để cấp cứu và điều trị thương, bệnh binh ở các cấp, các bệnh viên hậu phương, các đội điều trị, các tổ chống sốt rét, các tổ tẩy uế chiến trường… Về dược thì có các kho, các xưởng bào chế, các tổ sưu tầm dược liệu, các đội thu mua thuốc, dược liệu và dụng cụ y tế… Về huấn luyện, có các trường y tá, trường quân y sĩ. Riêng miền Đông Nam Bộ, cộng sản trường Đại học Quân y (cùng hệ Trường Đại học Dân y). Về cơ quan chỉ đạo thì mỗi chiến trường có một Phòng quân y, mà Trưởng phòng là một đồng chí đã từng là Cục phó hoặc Trường Phòng có năng lực của Cục Quân y được điều động vào. Bộ máy Quân y của Đoàn 559 cũng được tổ chức tương đương như một quân khu, nhưng có hệ thống tổ chức phù hợp với tính chất và nhiệm vụ của tuyến vận tải chiến lược rải ra theo chiều dài đất nước.

Trong quá trình chiến tranh, để thực hiện phương châm càng đánh càng mạnh, phải luôn tăng cường khả năng của tổ chức quân y, về cơ sở vật chất kĩ thuật cũng như về con người, dựa vào cơ sở tại chỗ và đưa từ hậu phương lớn vào. Ví dụ như về thuốc men và dụng cụ y tế thì quân y các chiến trường đều dựa vào ba nguồn mua sắm trong vùng địch, đưa từ Cục Quân y vào và sản xuất tại chỗ. Về cán bộ thì vừa đào tạo, đề bạt tại chỗ, vừa điều động từ miền Bắc vào…

Một câu hỏi được đặt ra là có thể nghiên cứu khoa học, kĩ thuật quân y tại chiến trường được không? Các cán bộ chủ chốt của ngành quân y đều trả lời có thể và rất cần. Anh Thiện, anh Cẩn đã thúc đẩy rất mạnh và tạo điều kiện cho ngành Quân y làm công việc này. Theo chỉ thị của Tổng cục Hậu cần, Cục Quân y đã cử vào các chiến trường nhiều tổ chuyên khoa, nhiều tổ nghiên cứu về phòng chống sốt rét, chống bệnh tê phù, cấp cứu hỏa tuyến, chuyển thương, về bảo vệ sức khỏe bộ đội trong hành quân đường dài và trong chiến đấu, bảo vệ sức khỏe lái xe liên tục chạy đêm trên tuyến vận tải, về phòng, chống chất độc hóa học của Mĩ, về cây thuốc v.v. Trong nhiều chiến dịch, đã có các chuyên viên quân y được cử đi tăng cường cho các đơn vị, để vừa làm công tác chuyên môn vừa kết hợp nghiên cứu khoa học. Sau chiến tranh, ngành quân y đã có nhiều đề tài tổng kết có giá trị, đặc biệt là về mặt cấp cứu, xử trí và điều trị các vết thương chiến tranh. Đó là tài sản vô giá của quân đội và nhân dân ta.

Chú thích
(*) Nguyên Cục trưởng Cục Quân y; Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 02 Tháng Năm, 2013, 10:10:25 AM
*
*    *

Xin nói mấy lời về con người đồng chí Đinh Đức Thiện. Có thể khái quát đó là một “con người” với tất ý nghĩa của hai từ đó. Trước hết phải nói đồng chí Đinh Đức Thiện có tinh thần trách nhiệm rất cao, đồng chí luôn bắt đầu óc làm việc và cũng bắt cấp dưới của mình động não.

Đồng chí rất gần gũi anh em. Nhiều khi, đến làm việc với đồng chí xong, mọi người còn được nghe ở đồng chí nhiều chuyện rất sinh động, thú vị và bổ ích. Cho nên, anh em thường tìm cách “moi” chuyện ở đồng chí, nhất là tin tức thời sự…

Đồng chí có lối làm việc rất cụ thể và thực tế. Tôi nhớ một lần đồng chí yêu cầu Cục Quân y đưa lên Tổng Cục các hòm thuốc được chuẩn bị để vận chuyển vào chiến trường. Đồng chí cho ném thử các hòm thuốc từ trên gác xuống, rồi cho mở ra để mọi người cùng xem, nhiều ống thuốc tiêm, nhiều lọ thủy tinh bị vỡ. Đồng chí nói: “Vận chuyển trên tuyến 559, đường xấu, xe rất xóc, phải lên đèo, xuống dốc nhiều, bốc hàng lên, xuống trong đêm tối, địch lại đánh phá thường xuyên, hàng hóa bị quăng quật; không đóng gói chu đáo, để hàng bị vỡ, hỏng thì chở vào cũng bằng không!”. Hôm đó, không chỉ riêng cán bộ quân y, mà tất cả mọi người có mặt đều được một bài học rất thực tế: quan tâm đến bộ đội, đến tác chiến, thì phải làm sao đưa được vật chất đến chiến trường, đến tận tay chiến sĩ với số lượng đủ, với chất lượng tốt.

Đồng chí rất quan tâm đến đời sống chiến sĩ, đời sống thương, bệnh binh. Khi đi thăm Bệnh viện 108, thấy anh em thương bệnh binh ăn cơm với bát đũa quá xoàng xĩnh, và không có giấy vệ sinh, đồng chí đã mời đồng chí Vũ Văn Cẩn lên nói chuyện. Tôi phụ trách Phòng Kế hoạch nên được cùng đi với Cục trưởng. Đồng chí đã phê phán chúng tôi quan liêu nên không biết được thương bệnh binh ở ngay cạnh Cục, thiếu cả giấy vệ sinh! Đồng chí nói “Ở bệnh viện có mua báo hằng ngày cho anh em đọc không? Hãy lấy báo cũ phát cho anh em, nếu thiếu thì mua thêm” (Trong điều kiện chiến tranh, ta chưa có giấy vệ sinh như bây giờ).

Còn bát đĩa? Đồng chí nói: “Bát sạch ngon cơm, nhưng nếu bát vừa sạch lại vừa đẹp thì lại càng ngon cơm gấp bội. Bát đĩa đẹp đẽ sẽ hấp dẫn và động viên người ốm cố gắng ăn uống cho mau lành bệnh”. Đồng chí chỉ thị cho chúng tôi phải thay dần bát đĩa cho các bệnh viện, và nếu thiếu ngân sách thì Tổng cục sẽ cấp thêm.

Sự quan tâm của đồng chí Đinh Đức Thiện đối với sức khỏe bộ đội, thể hiện ở chỗ đồng chí rất lo lắng về tình hình bệnh sốt rét ở chiến trường. Mùa mưa năm 1967, khi được báo cáo cán bộ và chiến sĩ ở Nam Bộ bị sốt rét rất nhiều, anh Thiện đã hỏi anh Cẩn: “Tại sao anh em trong ấy bị sốt rét nhiều như vậy? Ta phải tính toán biện pháp phòng chống như thế nào để giữ sức khỏe cho bộ đội ở chiến trường?”. Anh Cẩn suy nghĩ rồi trả lời: “Tình hình bệnh sốt rét phức tạp lắm. Chắc phải có người vào trong đó cùng anh em nghiên cứu thì mới kết luận và có cách đối phó có hiệu quả được”. Anh Thiện bàn với anh Cẩn cử một đoàn cán bộ Cục Quân y do tôi và anh Bùi Đại(1) phụ trách vào Nam Bộ, nghiên cứu giúp đỡ chiến trường phòng chống sốt rét và đẩy mạnh việc sản xuất, tiếp tế thuốc và dụng cụ y tế. Đoàn phải đi ngay trong tháng 7 là lúc bắt đầu mùa mưa, đi bộ theo đường giao liên của Đoàn 559, để tháng 10 vào đến miền Đông Nam Bộ.

Thành thực mà nói, đi trong mùa mưa thì cũng khá ê ẩm. Một đồng chí trong Cục Quân y bảo chúng tôi sao không xin để đến đầu mùa khô hãy đi. Lời khuyên đó cũng chí tình và có lí, vì chính chúng tôi cũng đề nghị với trên, chỉ nên đưa quân vào chiến trường trong mùa khô, để tránh mưa lũ, hành quân đỡ vất vả… Song, chúng tôi thông suốt: “quân lệnh như sơn”, nên chỉ có chuẩn bị tốt để lên đường, không thể bàn lùi! Thế nhưng khi bước chân vào tuyến 559, thì chúng tôi lại thấy đi trong mùa mưa cũng có cái hay, tuy có vất vả thật, nhưng bây giờ là thời điểm bệnh sốt rét đang phát triển mạnh, nên ngay trên dọc đường đi vào chiến trường, chúng tôi đã có đối tượng để nghiến cứu và tiến hành nhiệm vụ của chuyến đi được ngay.

Vào đến nơi, sau khi nghe báo cáo để nắm tình hình sơ lược, chúng tôi cùng các anh em quân y ở chiến trường xuống các đơn vị tiến hành công tác thực tế ngay, nhất là ở những nơi mà bệnh sốt rét đang hoành hành mạnh. Tôi không kể lể dài dòng về công việc chúng tôi đã làm. Niềm vui lớn của chúng tôi là khi làm xong việc, đến báo cáo công tác với Bộ tư lệnh Miền trước khi trở về, thì đồng chí Hoàng Văn Thái, lúc đó là Tư lệnh trưởng đã nhận xét: “Đoàn anh Quốc và anh Đại vào làm việc đã giúp đỡ cho chiến trường tăng được quân số “xuống đường” trong mùa khô 1971 - 1972”. Nhận xét đó là phần thưởng rất quý báu đối với anh em chúng tôi.

Chúng tôi thấy rằng chủ trương của anh Thiện và anh Cẩn là đúng, là chính xác. Chuyến đi gấp của chúng tôi là cần thiết đối với chiến trường.

Chú thích
(1) Thiếu tướng - giáo sư - tiến sĩ Bùi Đại lúc đó là chuyên gia phòng chống sốt rét của Cục Quân y.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 02 Tháng Năm, 2013, 10:11:55 AM
SỰ QUAN TÂM CỦA ĐỒNG CHÍ ĐINH ĐỨC THIỆN
ĐẾN VẤN ĐỀ ĂN VÀ MẶC CỦA QUÂN ĐỘI

Giáo sư, bác sĩ TỪ GIẤY(*)

Đầu năm 1966, tôi đang làm Chủ nhiệm Khoa Vệ sinh Quân đội Trường đại học Quân y, thì được lệnh của Tổng cục Hậu cần, vào nghiên cứu tình hình bảo đảm quân y và ăn mặc trên tuyến đường 559 và chiến trường Tây Nguyên. Sau khi trở về được ít lâu, tôi được bổ nhiệm làm Cục phó Cục Quân nhu, phụ trách nghiên cứu các vấn đề ăn mặc của quân đội. trong lần gặp đồng chí Đinh đức Thiện nhận nhiệm vụ, tôi đã trình bày các cấn đề ăn mặc trong thời chiến rất phức tạp, công tác nghiên cứu đòi hỏi phải có sự kết hợp của nhiều ngành, phải có cán bộ và một số trang thiết bị nhất định mới làm được. Với tác phong nhanh gọn, dứt khoát, anh Thiện nhất trí và quyết định:

1. Trên cơ sở Phòng nghiên cứu sẵn có của Cục Quân nhu, và Phòng phân tích kiểm nghiệm thực phẩm của Trường đại học Quân y mới chuyển sang, nhanh chóng xây dựng Viện Nghiên cứu ăn mặc quân đội.

2. Làm ngay đề án trang các phòng thí nghiệm. Trước mắt xin thêm cán bộ ở ngoài vào, đưa đi tìm hiểu thực tế ở chiến trường, đi bổ túc và đào tạo ở các nước anh em.

Nhờ đó, Viện đã phát triển nhanh chóng, được bổ sung nhiều cán bộ thuộc các ngành y, dược, nông nghiệp, chế biến lương thực, thực phẩm, cơ điện, vải sợi, may mặc… Thời kì phát triển cao nhất Viện có đến 350 cán bộ nghiên cứu. Mặc dù trong hoàn cảnh chiến tranh, nhiều cán bộ của Viện đã được cử đi học chuyên sâu để đào tạo thành phó tiến sĩ ở các nước anh em.

Viện cũng được đồng chí Đinh Đức Thiện dành cho một căn nhà bốn tầng, khá khang trang, mỗi tầng có 20 buồng, để triển khai các phòng thí nghiệm và một khoản ngoại tệ khá lớn để mua sắm các trang, thiết bị hiện đại và háo chất dùng vào việc nghiên cứu và thực nghiêm.

Anh Thiện nêu rõ đối tượng phục vụ của Viện là tiền tuyến, là người chiến sĩ hành quân và chiến đấu ở chiến trường. Chúng tôi đã hướng vào đó để nghiên cứu.

Nhờ có đội ngũ cán bộ có năng lực và nhiệt tình, có trang bị tốt, có ngân sách hoạt động gần như không hạn chế, Viện Nghiên cứu ăn mặc quân đội đã nhanh chóng giải quyết được những vấn đề có ý nghĩa chiến lược. Sau đây là mấy đề tài lớn đã nghiên cứu thành công:

- Gạo bốn túi: Gạo ăn hằng ngày của bộ đội ở các chiến trường phần lớn phải vận chuyển từ miền Bắc vào. Từ các kho hậu phương, gạo phải qua tuyến vận tải 559, qua nhiều cung đoạn vận chuyển thô sơ, gùi, thồ của các đơn vị rồi mới vào đến chiến trường; trên đường nhiều khi gặp mưa nắng, thường xuyên nằm trong môi trường không khí ẩm ướt ở rừng núi. Vào đến chiến trường, gạo không phải được đem ra sử dụng ngay, mà có khi còn phải bảo quản dự trữ một thời gian dài, nên khi đến tay người sử dụng thì gạo đã kém phẩm chất, bị ẩm mốc, mối mọt, có khi đến mức bị mủn ra, nhưng bộ đội vẫn phải ăn vì không có nguồn nào khác thay thế. Đó là nguyên nhân dẫn đến tình trạng cán bộ và chiến sĩ ở chiến trường hay mắc bệnh tê, phù, có nơi phát triển như một bệnh dịch, vì gạo đã bị phân hủy, mất hầu hết các loại vitamin. Anh Thiện đã chỉ thị cho Viện phải nghiên cứu cách đóng gói gạo làm sao có thể vận chuyển thuận tiện đường dài, đưa vào đến chiến trường, có thể dự trữ được ít nhất một năm. Viện Nghiên cứu ăn mặc quân đội phối hợp với cán bộ nghiên cứu của Tổng cục Lương thực đã tìm ra biện pháp bao gói kín gạo. Ở môi trường kín này, sâu bọ không phát triển được. Gạo chuyển vào chiến trường được bao gói bằng bốn lớn túi: lớn trong cùng là túi bằng đay như các bao gạo thông thường; lớp thứ hai là túi Pôlyêtylen (PE), để chống ẩm một phần và chủ yếu là ngăn cách không cho gạo tiếp xúc với thành phẩn cho từ túi thứ ba; lớp thứ ba bằng PVC để chống ẩm, chống nước ướt; ngoài cùng là một túi bao gai, để tăng độ bền cơ học, tránh cho túi gạo không bị rách do cọ xát. Qua thử nghiệm, “gạo bốn túi” có thể đạt yêu cầu bảo quản trong 2, 3 năm mà cũng không ảnh hưởng nhiều đến chất lượng. Trên tuyến vận chuyển, đã có những trường hợp do đường trên bộ gặp khó khăn vì bị địch đánh phá, “gạo bốn túi” đã được thả trên suối cho trôi đến nơi cần thiết thì vớt lên chuyển sang phương tiện khác. Trong chiến dịch Quảng Trị, ta cũng thả gạo ở đầu nguồn sông Thạch Hãn để bộ đội ở hạ lưu vớt lên ăn. Trong chiến trường, để tránh địch đốt phá, tránh ảnh hưởng chất độc hóa học, do máy bay Mỹ thả xuống, có nơi đã chôn gạo xuống đất: mấy tháng sau đào lên, gạo vẫn giữ được chất lượng. Năm 1972, khi địch phong tỏa các cảng ở miền Bắc, “gạo bốn túi” đã từ các tầu lớn của nước bạn thả xuống nước, lợi dụng thủy triều và gió đẩy vào bờ. Địch tức tối vì không ngăn cản được, lại dùng cả máy bay đuổi bắn các bao gạo trôi trên biển, nhưng đâu có dễ trúng, và cái giá phải trả để bắn trúng một bao gạo chắc cũng không rẻ, để có thể làm được lâu dài!

“Gạo bốn túi” đã cùng rau rừng, góp phần chống tê, phù và quáng gà là hai bệnh phổ biến trong những năm đầu chiến tranh, làm hao hụt khá nhiều quân số ở chiến trường miền Nam.

Chú thích
(*) Nguyên Phó Cục trưởng Cục Quân nhu; Viện trưởng Viện Dinh dưỡng Quốc gia.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 02 Tháng Năm, 2013, 10:12:45 AM
- Lương khô 701 - 702: Trong chiến đấu, quân đội nào cũng phải dùng lương khô. Ở các nước phát triển, lương khô thường là bánh mì khô, bánh quy, thịt, cá, đường, sôcôla… đóng hộp thành những khẩu phần ăn; nói chung trọng lượng nặng và thể tích cồng kềnh, giá thành cao, không phù hợp với điều kiện kinh tế và vận chuyển của ta. Anh Thiện yêu cầu nghiên cứu một loại lương khô, gọn nhẹ, đóng gói kín, nhưng bảo đảm được năng lượng xấp xỉ khẩu phần ăn của bộ đội ta ở chiến trường. Viện đã triển khai nghiên cứu loại lương khô 701. Chúng tôi đã tính toán nguyên liệu cân đối đủ dinh dưỡng để sản xuất ra một loại bánh bích quy đặc biệt. Trong quá trình nướng chín, loại bánh này đã được khử trùng, và giảm thủy phần xuống mức thấp nhất để giảm trọng lượng. Sau đó bánh được xay nhỏ rồi ép chặt để giảm thể tích, thành các bánh 250g được bao gói kín trong túi PE và được đóng vào thùng sắt tây hán kín. Tuy nhiên, lương khô 701, chỉ bảo đảm được dinh dưỡng ở mức vừa phải, chỉ có thể thay thế một vài bữa ăn trong điều kiện hành quân và chiến đấu bình thường, không thể dùng để ăn dài ngày được, và trọng lượng cũng còn nặng. Đồng chí Đinh Đức Thiện đã yêu cầu Viện nghiên cứu một loại lương khô cực nhẹ, trọng lượng không được vượt quá 300g/người/ngày, có dinh dưỡng cao, để cung cấp cho những đơn vị có nhiệm vụ đặc biệt luồn sâu trong lòng địch dài ngày (như đặc công, trinh sát), nhưng không có điều kiện nấu nướng, không được tiếp xúc với dân. Chúng tôi đã nghiên cứu làm ra loại lương khô 702 cũng bằng bột bích quy ép nhưng cực ngọt, để không thể ăn được nhiều một lần, được bổ sung thêm thành phần sô cô la, bột sữa, bột trứng để tăng chất đạm, thêm một loại vitamin và bột sâm để tăng khả năng chuyển hóa và sức dẻo dai. Loại lương khô 702 được đưa cho một trung đội trinh sát ăn thử nghiệm thay suất ăn hằng ngày trong khi đi làm nhiệm vụ. Kết quả sau một tháng, đơn vị đã hoàn thành nhiệm vụ trinh sát, mỗi chiến sĩ đêu có bị sụt cân, nhưng được bồi dưỡng trong ba tuần thì trọng lượng lại được khôi phục như cũ. Cán bộ, chiến sĩ đơn vị đã phát biểu: có thể chấp nhận được loại lương khô 702.

Mẫu của hai loại lương khô đã được đưa sang nước bạn sản xuất và hơn 40.000 tấn đã được đưa ra chiến trường cung cấp cho bộ đội. Các loại lương khô này đã có tác dụng lớn để bảo đảm thay thế bữa ăn cho các đơn vị hành quân cấp tốc, bộ đội lái xe, đặc công, trinh sát trong khi đi làm nhiệm vụ. Đặc biệt, trong các chiến dịch Đường 9 Nam Lào (1971), Quảng Trị (1972), mùa Xuân 1975, lương khô đã bảo đảm cho bộ đội có suất ăn giữ được sức khỏe để duy trì chiến đấu khẩn trương, liên tục và truy kích địch, không có điều kiện nấu nướng.

- Mắm ruốc: Việc nhận được yêu cầu nghiên cứu một loại thực phẩm đóng vào hộp, có khối lượng nhỏ, nhưng thành phần đạm cao, có thể ăn dần trong nhiều ngày, để dùng cho bộ đội hành quân đường dài và chiến đấu ở những vùng khó tiếp tế. Bài toán thật khó giải. Nhưng cuối cùng cũng đã tìm ra được đáp số: Chúng tôi dùng 2kg thịt lợn nạc làm thành 600g ruốc bông, và 2 lít nước mắm nấu khô thành 400g mắm kem: đem hai thức trộn với nhau, được 1kg đạm cô đắc và mặn, đóng vào hộp có thể bảo quản lâu dài; mở ra dùng được cả tháng; có thể làm thức ăn với cơm, có thể pha thành nước chấm, có thể đem nấu canh với các loại rau rừng kiếm hái được thành những nồi canh ngon miện có hương vị khác nhau.

- Vấn đề rau: Rau là nguồn quan trọng cung cấp vitamin, chất khoáng và chất xơ. Khẩu phần ăn thiếu rau, thường gây ra các bệnh tê phù, quáng gà, chảy máu chân răng (scorbut), táo bón… Vì vậy, trong bữa ăn không thể thiếu rau. Để giải quyết vấn đề rau ăn cho bộ đội trong hành quân và chiến đấu, lúc đầu chúng tôi đã nghiên cứu cách chế biến rau khô, nhưng việc cung cấp rau không giải quyết được vì những khó khăn về vận chuyển. Cũng có phương án chuyển đậu xanh thường xuyên cho các đơn vị ngâm giá, nhưng cũng không thể cung cấp đậu xanh thường xuyên cho tất cả các đơn vị. Tốt nhất là khuyến khích các đơn vị tăng gia sản xuất tại chỗ theo truyền thống của bộ đội ta. Cục Quân nhu đã mua, lập đơn hàng xin viện trợ nhiều loại hạt giống rau để cung cấp cho các đơn vị. Nhưng do điều kiện chiến đấu, bộ đội phải lưu động luôn, và do địch đánh phá, nên việc tăng gia sản xuất cũng bị hạn chế.

Viện cũng đã cử sáu đoàn đi nghiên cứu thực vật ở các chiến trường và thu thập được 420 loại rau rừng ăn được. Chúng tôi viết thành sách, in ra gửi cho các đơn vị, tổ chức triển lãm, và huấn luyện cho cán bộ và chiến sĩ biết cách kiếm hái rau rừng. Đây cũng là một biện pháp giải quyết được một phần rau cho khẩu phần ăn hằng ngày của bộ đội ở chiến trường.

- Chế biến lương thực, thực phẩm: Do nhu cầu bảo đảm, và cải thiện sinh hoạt cho bộ đội, các đơn vị phải chế biến tại chỗ nhiều loại lương thực, thực phẩm. Viện đã nghiên cứu đặt sản xuất trong nước và xin viện trợ các loại máy chế biến cỡ nhỏ: máy xát gạo, máy xay bột khô, máy xay bột nước, máy mài sẵn, máy làm mì sợi, máy thủy điện nhỏ… để tổ chức các trạm chế biến cho các đơn vị. Triển khai trong điều kiện hết sức thiếu thốn ở chiến trường, các trạm chế biến của một số đơn vị, đã khắc phục khó khăn, chế biết được sắn thành mì sợi, kẹo mạch nha, bánh quy, chế biến bún, bánh phở, sữa đậu nành, đậu phụ, chế biến rượu, cồn, nước giải khát… và đã hình thành một ngành công nghiệp lấy làm mô hình cơ sở công nghiệp chế biến nhỏ ở nông thôn và miền núi thời bình.

- “Nhà ăn cơ khí”: Anh Thiện giao cho Viện nghiên cứu tổ chức các nhà ăn cơ khí” cho những đơn vị tập trung đông người ở hậu phương. Gọi là “nhà ăn cơ khí”, vì nhà ăn được trang bị các máy móc cơ điện để chuẩn bị thức ăn và nấu nướng như: máy vo gạo, máy xay, máy xát, máy nghiền, máy trộn thực phẩm, máy rửa bát, nồi áp suất, nồi hơi… Bếp của “nhà ăn cơ khí” không dùng than, củi đun trực tiếp mà dựa trên công nghệ dùng hơi nước cung cấp nhiệt đun nóng các nồi to có 2 vỏ được đậy nắp kín để tạo ra áp suất lớn làm chín lương thực, thực phẩm. “Nhà ăn cơ khí” được tổ chức thí điểm trước tại một cơ quan, một trường học, một bệnh viện, một xí nghiệp trong quân đội. Từ đó rút ra ưu thế của nó là: nấu chín nhanh (hầu như không bao giờ có cơm sống, cơm khê, cơm cháy hoặc thức ăn không chín), bảo đảm vệ sinh sạch sẽ, tiết kiệm than củi, giá thành nấu nướng hạ (bếp càng lớn, người ăn càng đông càng rẻ). Tuy nhiên, nó cũng có nhược điểm là giá đầu tư ban đầu cao. Sau khi hòa bình, thống nhất đất nước, “nhà ăn cơ khí” đã được phát triển thêm ở một số đơn vị. Anh Thiện cũng chỉ thị cho Viện giúp đỡ tổ chức “nhà ăn cơ khí” cho nhiều đơn vị ngoài quân đội, trong đó có 10 trường đại học, và đặc biệt là giúp khu Gang thép Thái Nguyên tổ chức “nhà ăn cơ khí” cho 9000 người ăn, đạt được kết quả khá tốt.

Ngoài các đề tài khoa học học kĩ thuật ăn uống trên đây, Viện còn được giao nghiên cứu khẩu phần ăn cho bộ đội không quân và hải quân, đặc biệt là người lái máy bay phản lực chiến đấu. Chúng tôi đã hoàn thành tốt nhiệm vụ này, đã cung cấp những tài liệu có căn cứ khoa học để Cục Quân nhu soạn thảo các tiêu chuẩn cung cấp cho bộ đội không quân và hải quân, đã được Bộ Quốc phòng và Tổng cục Hậu cần ban hành chính thức.

- Về mặt nghiên cứu quân trang của bộ đội thì việc đáng kể của Viện là đã thiết kế được bộ quân phục gọn nhẹ cho bộ đội hành quân vào chiến trường. Thời kì đầu, chiến sĩ và cán bộ đi B đều phải mang một ba lô nặng 15kg, chưa kể vũ khí, đạn dược, dụng cụ chuyên môn. Trong ba lô phải có đủ các loại trang bị sinh hoạt cần thiết cho cá nhân: quần áo, chăn, màn, võng, tăng, tấm đắp, ni lông che mưa, giầy hoặc dép, khăn mặt, xà phòng, kem đánh răng, gương, lược, bi đông nước, hộp mắm hành quân, đường, sữa, túi gạo dự trữ cho 5 ngày, xoong nhôm để nấu ăn, xăng đặc làm chất đốt, một số thuốc thường dùng cùng bông, băng cấp cứu… Chấp hành chỉ thị của đồng chí Đinh Đức Thiện, Viện đã nghiên cứu rút trọng lượng mang theo của chiến sĩ đi B xuống 13kg, rồi xuống 10kg. Đó quả là một kì tích. Đối tượng nghiên cứu để giảm trọng lượng chủ yếu nhằm vào các loại vải sợi để may trang phục. Trước đây, quân trang được may bằng sợi bông nên nặng, và khi giặt lại lâu khô, không phù hợp với điều kiện chiến trường. Nay dùng các loại vải dệt bằng sợi tổng họp thì chẳng những đạt được yêu cầu nhẹ, gọn mà lại ít ngấm nước, giặt mau khô. Tuy nhiên nếu dùng loại vải 100% sợi tổng hợp, thì rất nhẹ, rất mau khô nhưng bí, không thoát mồ hôi, không hợp vệ sinh. Vì vậy, đã dùng loại vải dệt bằng sợi tổng hợp có pha một phần sợi bông (tétron), là tốt nhất…

Trong chiến đấu, nhất là trên tuyến đường vận tải chiến lược Trường Sơn, máy bay địch đánh phá rất ác liệt suốt ngày đêm. Nhưng chiến sĩ công binh vẫn phải bám trụ trên mặt đường để bảo đảm giao thông, chiến sĩ lái xe vẫn phải xông pha dưới làn bom đạn để chở hàng vào chiến trường. Viện đã nghiên cứu ra loại áo giáp chống bom bi, được anh em công binh và lái xe rất hoan nghênh. Đồng thời, cũng nghiên cứu loại áo phao để bảo vệ các chiến sĩ công tác ở bến phà, trên sông, suối, bị bom địch hất xuống nước, cũng không bị chìm, không bị chết đuối.

*
*    *

Là Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần thời chiến, đồng chí Đinh Đức Thiện rất quan tâm đến các vấn đề có liên quan đến đời sống, chiến đấu hằng ngày của cán bộ, chiến sĩ. Đồng chí giải quyết công việc rất nhanh, nhưng mọi quyết định đều dựa trên cơ sở nghiên cứu khoa học và tính toán, cân nhắc kĩ về mặt kinh tế.

Đồng chí không chỉ đề ra yêu cầu cao, mà còn lo mọi điều kiện cần thiết để cán bộ hoàn thành nhiệm vụ. Đồng chí đã khuyến khích cán bộ hoa học kĩ thuật, ngoài việc nghiên cứu tài liệu trong sách vở, phải tự học trong thực tế, phải được bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn. Đồng chí đã tạo cơ sở, điều kiện trang bị, thiết bị và ngân sách cần thiết cho việc nghiên cứu. Với tác phong sâu sát, đồng chí đã nhiều lần nghe báo cáo và xem xét kết quả nghiên cứu ở hiện trường, có nhiều ý kiến nhật xét, phê phán, đánh giá và gợi ý rất sắc sảo.

Cho đến bây giờ, ngồi viết những dòng này tôi lại tưởng nhớ tới một người chỉ huy quân sự, bề ngoài có dáng vóc to lớn, vẻ oai phong, làm việc thì chặt chẽ, nghiêm khắc, nhưng trong cuộc sống đời thường, lại rất gần gũi và đầy tình cảm…


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 02 Tháng Năm, 2013, 10:14:13 AM
NGƯỜI CHỦ NHIỆM ĐẦU TIÊN CỦA TỔNG CỤC KĨ THUẬT

Trung tướng NGUYỄN VĂN TIÊN(*)

Đầu năm 1974, do nhu cầu phát triển của quân đội, Tổng cục Kĩ thuật được thành lập. Đồng chí Đinh Đức Thiện, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, được giao kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Kĩ thuật. Tôi từ Bộ Tư lệnh Phòng không - Không quân được điều động về làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục, cùng với các anh Vũ Văn Đôn, Các Cục Quân khí, Quản lí xe, cùng các nhà máy, kho tàng, nhà trường thuộc Cục, đều được chuyển từ Tổng cục Hậu cần sang Tổng cục Kĩ thuật.

Lúc đầu, cơ quan Tổng cục Kĩ thuật chưa có cán bộ, chưa có chỗ làm việc. Anh Thiện bàn với Tổng cục Chính trị điều động cán bộ các nơi về tổ chức bộ máy giúp việc, đồng thời chỉ thị cho các cơ quan của Tổng cục Hậu cần thu xếp bố trí chỗ ở và chỗ làm việc cho Tổng cục Kĩ thuật. Anh cũng hướng dẫn cho tôi, một cán bộ từ đơn vị mới lên cơ quan, còn nhiều bỡ ngỡ, cách làm việc với các tổng cục, với thủ trưởng bộ, các cơ quan và các đơn vị. Anh cũng chỉ thị cho thủ trưởng các cục trực thuộc Tổng cục Kĩ thuật đến báo cáo với tôi về nhiệm vụ, tình hình mọi mặt, và kế hoạch công tác của cục, sau đó đưa tôi xuống các nhà máy, kho tàng, nhà trường… để tìm hiểu tình hình thực tế. Những việc này, đã tạo điều kiện cho tổng cục Kĩ thuật sớm đi vào hoạt động, đồng thời cũng giúp tôi nhanh chóng bắt tay vào nhiệm vụ mới.

Anh Thiện đề ra nhiệm vụ trước mắt của Tổng cục Kĩ thuật là: điều kiện tổ chức, bổ sung đủ cán bộ và nhân viên vào biên chế, lập thêm những tổ chức mới cần thiết như Cục Tăng - Thiết giáp… đồng thời đẩy mạnh cung cấp vũ khí, đạn dược cho các chiến trường, để chuẩn bị cho hoạt động Đông - Xuân 1975, dự kiến có thể đánh lớn và dài ngày hơn, mặt khác, giao nhiệm vụ cho các nhà máy sản xuất và cải tiến vũ khí, trang bị, phục vụ cho nhu cầu của chiến trường như làm đạn pháo, cối, mìn phá rào, nghiên cứu cải tiến loại xe vận tải có thể tự hành vượt sông được… Anh nói với chúng tôi; “Làm nghề hậu cần, kĩ thuật, luôn luôn phải đi trước một bước; phải nắm ý đồ của người chỉ huy quân sự, điểm tấn công ở đâu, sẽ phát triển về hướng nào, để ta vừa bảo đảm cho các binh đoàn cơ động có đủ vũ khí đạn dược theo cơ số, vừa có phương án ém sẵn trước kho tàng dự trữ, thì khi tác chiến xảy ra mới tránh được bị động…”.

Tháng 2 năm 1975, anh Thiện và tôi vào chiến trường, để kiểm tra và chỉ đạo công tác chuẩn bị bảo đảm hậu cần và kĩ thuật cho chiến dịch mùa Xuân. Đến Tây Nguyên, anh Thiện ở lại Sở chỉ huy, làm nhiệm vụ Phó Tư lệnh chiến dịch, và cử tôi vào thẳng Cục Hậu cần Miền (B2) để kiểm tra, nắm tình hình vũ khí, đạn dược bổ sung theo kế hoạch đã cung cấp được bao nhiêu, còn thiếu gì thì đôn đốc hậu phương chuyển nhanh vào, đồng thời xem xét khả năng bảo đảm kĩ thuật của một số cơ sở như kho tàng, trạm, xưởng… của các đơn vị hỏa lực: tăng, thiết giáp, pháo binh…

Khi chiến dịch Tây Nguyên mở đầu, ta đánh vào Buôn Ma Thuột, anh Thiện gọi tôi về ngay, để chuẩn bị tiếp quản các cơ sở vật chất, kĩ thuật của địch. Việc này, anh Thiện đã có kế hoạch cho cơ quan Tổng cục Kĩ thuật và các cục chuẩn bị sẵn từ trước. Khi tôi về đến Tây Nguyên thì các đồng chí Cục phó và Đoàn cán bộ tăng cường của Cục Quân khí và Quản lí xe cũng đã có mặt, nên việc thu chiến lợi phẩm và quản lí các cơ sở kĩ thuật của địch được tiến hành khá thuận lợi: ta có bộ phận chuyên trách tiến vào ngay, mặt khác, quân địch thua trận hoang mang bỏ chạy, không kịp phá hoại nên ta tiếp thu được các cơ sở vật chất, kĩ thuật gần như trọn vẹn.

Sau khi giải phóng Buôn Ma Thuột và Plâycu, bộ đội ta truy kích địch, rồi tiếp tục tấn công xuống vùng duyên hải, giải phóng Tuy Hòa và Nha Trang. Tôi và một số cán bộ kĩ thuật lại được anh Thiện cử xuống những nơi đó để tổ chức tiếp thu các cơ sở kĩ thuật và trang bị của mình. Từ Sở chỉ huy, anh Thiện đã điện chỉ thị hướng dẫn cho chúng tôi; thu gom ngay các loại súng pháo, đạn dược của địch, nhất là pháo và đạn 105, tổ chức bảo quản và sửa chữa nhanh chóng, rồi vận chuyển gấp vào tăng cường hỏa lực cho các quân đoàn đang tiến vào phía nam. Nhà Trang là nơi có kho xăng dầu lớn của địch. Anh Thiện cũng chỉ thị cho chúng tôi huy động xe téc của quân đội và của dân ở vùng mới giải phóng chở xăng dầu vào, cung cấp cho các đơn vị tham chiến và Cục Hậu cần Miền. Chúng tôi đã thi hành được tốt mệnh lệnh này một phần nhờ sự ủng hộ tích cực của anh Lê Trọng Tấn chỉ huy cánh quân phía đông, đánh chiếm Nhà Trang và tiến vào Nam theo quốc lộ 1. Anh Tấn đã hạ lệnh cho bộ đội canh giữ kho,bảo quản chu đáo rồi bào giao cho chúng tôi nhận và tổ chức vận chuyển. Nhờ đó, đã giải quyết được một phần khá quan trọng nhiệm vụ bảo đảm xăng dầu cho chiến dịch. Phải nói rằng anh Thiện đã quán triệt rất sâu sắc quan điểm “lấy của địch để đánh địch”.

Đến Chiến dịch Hồ Chí Minh, do cơ sở và nhu cầu vật chất, kĩ thuật đã được Tổng cục Hậu cần và Tổng cục Kĩ thuật chuẩn bị trước, đã ém sẵn ở các chiến trường, rải trên tuyến 559 và để ở các kho hậu phương, cộng với số chiến lợi phẩm được đưa vào sử dụng kịp thời, nên công tác bảo đảm hậu cần và kĩ thuật đã hoàn thành được nhiệm vụ, bảo đảm được yêu cầu tác chiến, góp phần vào thắng lợi chung.

Sau khi giải phóng Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thì việc thu hồi, tiếp quản các cơ sở vật chất, kĩ thuật, các trang bị vũ khí, đạn dược, xe cộ, khí tài, quân trang, quân dụng trở thành một nhiệm vụ lớn của Tổng cục Hậu cần và Tổng cục Kĩ thuật. Xe cộ, súng, pháo và các đồ dùng quân sự, địch vứt đầy đường, khắp nơi trong thành phố và trong các căn cứ quân sự. Anh Thiện bàn với tôi, tổ chức nhiều đội đi thu hồi, đưa gom về các nhà máy phục hồi, bảo dưỡng, sửa chữa rồi đưa vào kho cất giữ. Các kho tàng, nhà náy, các căn cứ hậu cần, kĩ thuật của địch do các quân đoàn chiếm giữ lúc đầu, được dần dần giao lại cho các tổng cục quản lí. Công việc tiếp quản, thu hồi một khối lượng lớn cơ sở vật chất, kĩ thuật của địch rất khó khăn, vất vả, nhưng nhờ có sự chỉ đạo trực tiếp của anh Thiện, nên đã làm được khá tốt, tuy nhiên cũng phải mất nhiều tháng sau mới bước vào ổn định.

Mặc dầu thời gian tôi được công tác cùng anh Thiện không dài, nhưng tôi đã học tập được ở anh rất nhiều. Tôi nhớ anh là một đồng chí cấp trên có sự hiểu biết rộng, có tầm nhìn xa, chịu suy nghĩ sâu và có quyết tâm cao. Anh rất thông cảm, độ lượng đối với các đơn vị và cơ quan, đối với cán bộ và chiến sĩ cấp dưới, nhưng lại rất nghiêm khắc đối với bản thân và cơ quan tổng cục do anh lãnh đạo. Anh luôn luôn lo cho chiến trường, lo cho bộ đội, sẵn sàng giúp đỡ, hợp tác với các cơ quan ngoài quân đội và các địa phương.

Anh Thiện là người có công lớn trong việc xây dựng ngành hậu cần và ngành kĩ thuật của quân đội ta.

Chú thích
(*) Nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kĩ thuật.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 07 Tháng Năm, 2013, 01:10:39 PM
NHÀ CHIẾN LƯỢC HẬU CẦN TÀI BA

Thiếu tướng ĐÀO SƠN TÂY(*)
(TƯ KHANH)

Đồng chí Thượng tướng Đinh Đức Thiện, người anh, người chỉ huy hậu cần, kĩ thuật của quân đội nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước. Anh là người gắn bó, luôn nghĩ tới cán bộ và chiến sĩ ở chiến trường. Anh đã không từ một việc gì, dù nhỏ nhất để lo cho chiến trường Nam bộ, xa hậu phương đang chiến đấu đầy hi sinh, gian khổ: từ vũ khí, đạn dược, thuốc men, đến cơm, áo, gạo, tiền… Anh cũng đã đề xuất với các cơ quan cử vào Nam Bộ hàng nghìn cán bộ, kĩ sư, y bác sĩ, công nhân lành nghề để xây dựng ngành hậu cần, kĩ thuật.

Anh là nhà chiến lược hậu cần tài ba. Khi Mĩ - ngụy thực hiện quốc sách ấp chiến lược, dưới sự lãnh đạo của Đảng, anh đã cùng các cơ quan tìm cách tiếp tế bí mật bằng đường biển cho Nam Bộ hơn 5.000 tấn vũ khí, đạn dược, thuốc men, bảo đảm cho các lực lượng vũ trang đánh phá ấp chiến lược, làm thất bại âm mưu chiến tranh đặc biệt của địch.

Khi đế quốc Mĩ thực hiện chiến tranh cục bộ, tranh thủ thời co thuận lợi, anh đã kịp thời chuyển hướng vận tải bằng đường công khai: dùng tầu lớn chở hàng quá cảnh qua cảng nước bạn Campuchia tiếp chuyển về biên giới Việt Nam. Nhờ số vũ khí đó, lực lượng vũ trang Nam Bộ đã có điều kiện đánh thắng hai cuộc phản công mùa khô 1965-1966, và 1966-1967, đặc biệt là đã đánh bại cuộc càn Gianxơn Xity, có 3.000 quân Mĩ tham gia và đánh vào các thị xã, thị trấn, thành phố trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968), làm nhụt ý chí xâm lược của đế quốc Mĩ, buộc chúng phải đàm phán với ta ở Pari.

Từ năm 1969 đến năm 1963 đế quốc Mĩ thực hiện chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh hòng rút dần quân Mĩ về nước trong khi vẫn đẩy mạnh Chiến tranh. Khi Nam Bộ gặp nhiều khó khăn nhất, thì tháng 6-1969, anh cùng một số cán bộ vào nghiên cứu chi viện và chỉ đạo trực tiếp Hậu cần Miền khắc phục khó khăn. Từ đó, việc tiếp tế, chi viện của hậu phương lớn miền Bắc về nhiều mặt, đã giúp Nam Bộ cùng cả nước đánh bại chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh. Mĩ buộc phải rút quân. Vùng giải phóng được mở rộng.

Đầu 1973, quân dân miền Đông Nam Bộ giải phóng Bù Bông. Đường đông Trường Sơn được nối liền với Nam Bộ. Đồng thời, một kì công có một không hai trong cuộc kháng chiến chống Mĩ là xây dựng được đường ống dẫn xăng dầu từ miền Bắc vào đến Bù Gia Mập (tỉnh Phước Long), tạo điều kiện tiếp tế xăng dầu cho vận tải cơ giới, xe tăng, thiết giáp, pháo binh phát huy hiệu quả, góp phần quan trọng để đi đến thắng lợi cuối cùng.

Năm 1975, Anh lại có mặt ở Tây Nguyên để trực tiếp chỉ đạo bảo đảm hậu cần, kĩ thuật cho giải phóng Buôn Ma Thuột, Plâycu, Huế, Đà Nẵng, Nhà Trang, Phan Rang… và sau đó vào miền Đông Nam Bộ để thành lập Hậu cần mặt trận, bảo đảm cho Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Bất cứ ở đâu, nhiệm vụ gì trên giao, Anh đều hoàn thành xuất sắc, vì Anh dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Anh đã luôn chủ động thực hiện chuẩn bị hậu cần và kĩ thuật đi trước một bước, tạo điều kiện bảo đảm đẩy đù và kịp thời cho các chiến trường.

Thắng lợi là công lao chung của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Nhưng Anh là người có vai trò quan trọng trong việc chi viện cho chiến trường, như Bác Hồ đã nói: “Công việc cung cấp cũng quan trọng như việc đánh giặc trước mặt trận: có cung cấp đầy đủ súng đạn, đủ cơm ăn, áo mặc thì bộ đội mới đánh thắng trận…”.

Anh đã làm đúng lời Bác Hồ dạy.

Chú thích
(*) Nguyên Chính ủy Cục Hậu cần, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 07 Tháng Năm, 2013, 01:11:58 PM
NHỮNG NĂM THÁNG LÀM VIỆC VỚI ĐỒNG CHÍ ĐINH ĐỨC THIỆN

Đại tá TRẦN LƯ(*)

Đầu năm 1965, tôi được giao nhiệm vụ làm Bí thư cho đồng chí Đinh Đức Thiện, lúc đồng chí vừa trở về nhận lại nhiệm vụ Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Từ đó đến năm 1974, khi làm việc ở Hà Nội cũng như các đợt đi công tác ở trong nước và ngước ngoài, đặc biệt là trong những ngày tháng được đi với đồng chí vào tuyến lửa Khu IV, đường Trường Sơn và các chiến trường miền Nam, lúc nào thầy trò cũng ở bên nhau. Tôi đã được sống và làm việc với đồng chí vào thời điểm lịch sử cả nước chuyển sang thời chiến, ngành Hậu cần quân đội đứng trước những thử thách nặng nề, với những đòi hỏi cực kì phức tạp và mới mẻ.

Cùng với tập thể lãnh đạo Tổng cục Hậu cần, biết dựa vào các ngành của Nhàn ước và các địa phương, với ý chí và tài năng của mình, đồng chí đã không phụ lòng tin của Bác Hồ, của Bộ Chính trị Trung ương Đảng và của Quân ủy Trung ương đối với ngành hậu cần.

Không chỉ trong lĩnh vực công tác hậu cần và kĩ thuật, mà trên các lĩnh vực khá như quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, văn học nghệ thuật, đồng chí cũng có nhiều ý kiến sắc sảo do có một bộ óc quan sát nhạy bén và vống sống phong phú, từng trải của mình. Ý kiến của đồng chí trên các lĩnh vực này thường được nhiều người trong nghề thích thú, tâm đắc.

Thời kì đó, mặc dù đã ở tuổi 60 nhưng sự vận động của tư duy và cường độ làm việc của đồng chí thì thanh niên cũng ít người theo kịp. Trần ngâm, nhưng lúc nào cũng suy nghĩ, rất say sưa tìm ra cái mới, đứng trước những tình huống tưởng như bế tắc, đồng chí thường tìm mọi cách để “đi ra” và “đi lên”, không thỏa mãn dừng lại, mà luôn luôn thúc đẩy cho công việc phát triển.

Làm việc với đồng chí thì sự tiêu cực, trì trệ, bảo thủ phải được thay bằng “ý chí tiến công” với lòng hàm muốn đổi mới, và cải tiến không ngừng.

Khi đã quyết và bắt tay vào cuộc thì hầu như khó có thể ngăn chặn hay cản trở được. Sống chan hòa, ưa phóng khoáng, ngại gò bó, hình thức. Hình ảnh ông già cao lớn, mái tóc bạc với bộ quần áo bà ba bạc màu và đôi dép lê khi tiếp xúc với bộ đội, thanh niên xung phong và dân công trên tuyến vận tải, ai cũng cảm giác đó là một “lão nông tri điền” chứ không phải là dáng vẻ một vị tướng. Đó cũng là cá tính, là góc cạnh riêng, mà đồng chí thường nói rằng “trái khoáy” nên mới vậy.

Là một người lãnh đạo cao nhất của ngành hậu cần, có điều kiện tiếp xúc rộng rãi với nhiều người, ở các ngành trong và ngoài quân đội, các địa phương, ở trong và ngoài nước, hầu như rất nhiều người, ít nhiều đều biết đến đồng chí.

Đã gắn bó với đồng chí trong gần 10 năm, nhân ngày giỗ đồng chí, tôi xin có một đôi dòng ghi lại những sự kiện, những kỉ niệm, và những suy nghĩ của mình về một con người chân chính, gọi là nén hương dâng lên đồng chí, người anh và cũng là người thầy của cán bộ hậu cần chúng tôi với tất cả tấm lòng biết ơn và kính trọng.

Chú thích
(*) Nguyên Phó Tham mưu trưởng Tổng cục Hậu cần.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 07 Tháng Năm, 2013, 01:26:01 PM
Những quyết định táo bạo

Từ chuyến vào làm việc đầu tiên với Đoàn 559 khi mới về nhận nhiệm vụ ở Tổng cục Hậu cần, điều trăn trở nhất làm cho đồng chí luôn luôn suy nghĩ là làm sao tổ chức được một tuyến vận tải chiến lược để đưa hàng tới các chiến trường với một khối lượng lớn, đáp ứng được yêu càu của bộ đội.

Vận chuyển thô sơ, gùi thồ đã có tác dụng nhất định trong thời gian đầu, khi quy mô cuộc chiến tranh còn nhỏ, nhu cầu còn đơn giả. Đến nay, yêu cầu bảo đảm cho các chiến trường đã trở nên rất to lớn, phức tạp và khẩn trương nếu chỉ dùng vận chuyển thô sơ thì không thể đáp ứng được, mà phải chuyển sang cơ giới.

Đồng chí trực tiếp đi nghiên cứu tuyến và giao cho Đoàn 559 cử nhiều đoàn đi khảo sát cụ thể ở Tây Trường Sơn.

Tổ chức vận tải trong kháng chiến chống Pháp chỉ có các đoàn xe và lực lượng công binh bảo đảm không lớn lắm. Trong kháng chiến chống Mĩ, ta phải tự mình xây dựng tuyến đường quân sự chiến lược vượt Trường Sơn. Địch dùng cả không quân và bộ binh phối hợp đánh phá ác liệt, nhằm mục đích ngăn chặn chi viện từ miền Bắc vào miền Nam, nên bản thân lực lượng vận tải phải có các đơn vị chiến đấu, các đơn vị phòng không để “che ô” cho đoàn xe, kho tàng và đường, cầu trọng điểm. Chỉ huy tuyến vận tải dài hàng nghìn kilômét, làm sao cho ăn khớp giữa lực lượng xe và kho tàng, giữa vận tải và công binh, phòng không… Không thể chỉ dùng phương tiện thông tin độc nhất là vô tuyến điện, vì sẽ quá chậm do phải qua khâu mã dịch của cơ yếu, mà phải có mạng hữu tuyến tải ba thông suốt trên toàn tuyến và nối với chiến trường.

Phương án tổ chức vận chuyển cơ giới trên tuyến đường Trường Sơn đã được trên thông qua nhanh chóng. Nhưng khi bắt tay vào tổ chức thực hiện, tôi đã được chứng kiến ở đồng chí những sự chịu đựng và căng thẳng, có khi quá tải trong thời điểm này. Từ vận chuyển gùi thồ, chuyển sang vận chuyển bằng ô tô với tuyến đường dài hàng mấy nhìn kilômét, có biết bao nhiêu nhu cầu phải giải quyết: khảo sát nắm tuyến, xin lực lượng làm đường, xe ủi, xe húc, thuốc nổ, xăng dầu, xe cộ, phương tiện thông tin, đào tạo lái xe, thợ kĩ thuật, tổ chức các binh trạm, hệ thống kho tàng, các đơn vị xe vận tải, các đơn vị bảo đảm, công binh, dân công, thanh niên xung phong, phòng không, tác chiến mặt đất… Lo cho đủ các nhu cầu vật chất và tổ chức lực lượng đã vất vả, lại còn phải tranh thủ sự ủng hộ và nhất trí trong quân đội và các cơ quan nhà nước.

Các đồng chí lãnh đạo nói chung đều quyết tâm nhưng đi vào cụ thể có đồng chí cũng còn phân vân điều này, điều nọ. Thí dụ như đối với Quân khu Trị Thiên, chiến trường gần miền Bắc nhất, trong những năm đầu, ta phải dùng hàng nghìn dân công và xe đạp thồ để vận chuyển vẫn không kịp đáp ứng được nhu cầu tối thiểu. Nhưng khi đề ra chủ trương dùng cơ giới thì đồng chí lãnh đạo cao nhất ở đó cũng ngại ngùng, nghi ngờ khả năng hiện thực, vì thấy địch đánh phá ác liệt quá, không tin có thể đảm bảo vận chuyển thông suốt. Nhưng sau, thực tế đã trả lời: trong mùa vận chuyển đầu tiên, lực lượng cơ giới đã đưa vào Trị Thiên khối lượng vật chất gấp nhiều lần những năm trước đó. Nhu cầu của chiến trường về cơ bản được đảm bảo.

Những năm tiếp theo cho đến hết chiến tranh, việc tổ chức vận chuyển cơ giới trên tuyến 559 đã được triển khai, phát triển đồng bộ và đã khẳng định tính ưu việt của nó:

- Từ năm 1959 đến năm 1964 chúng ta mới chuyển được hàng vào Khu V, mỗi năm được vài nghìn tấn, đến năm 1966 đã bắt đầu vận chuyển đến Tây Nguyên và Nam Bộ. Năm 1968, dùng vận chuyển cơ giới, đã đưa được vào miền Nam 1 vạn quân (gấp 3 lần năm 1965) và 70.000 tấn hàng (gấp 8 lần năm 1965)(1).

Trong hơn hai năm chuẩn bị và đảm bảo cho tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đã chuyên giao cho các chiến trường 413.450 tấn(2).

Đối với tuyến đường mang tên Bác thì sử sách, các công trình nghiên cứu, cũng như nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật đã nói đến và chắc chắn sẽ còn tiếp tục được tôn vinh mãi mãi xứng đáng với sự đóng góp to lớn trong sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Ngay sau khi tổ chức vận chuyển cơ giới bước đầu thực hiện có kết quả, đồng chí liền suy nghĩ sao cho việc vận chuyển xăng dầu vào chiến trường đáp ứng được yêu cầu với khối lượng lớn, lại tiết kiệm được xăng dầu và nhất là bớt thương vong.

Hằng ngày giao ban vận chuyển, nghe báo cáo về số xe chở xăng bị đánh và cháy trên toàn tuyến, đồng chí càng sốt ruột vì con số đã lên đến hàng trăm, mà xe chở xăng bị địch đánh trúng là mất xe, mất xăng, mất cả người.

Cùng với các đồng chí chỉ huy và cán bộ kĩ thuật Cục Xăng dầu, đồng chí đi khảo sát tuyến và nghiên cứu phương án làm đường ống dẫn xăng dầu. Đó là một công việc hoàn toàn mới mẻ, ngoài tầm suy nghĩ thông thường.

Cùng với đường bộ, đường thủy, đường không, nay quân đội ta đã có thêm phương thức vận chuyển mới là đường ống. Xây dựng đường ống xăng dầu xuyên Việt trong chiến tranh chống Mĩ đã trở thành một huyền thoại. Chúng ta ai cũng đã biết. Cho đến bạn vè và đối thủ của chúng ta cũng đã biểu lộ sự ngạc nhiên, thán phục. Đó vẫn còn là đề tài hấp dẫn để nghiên cứu, tìm hiểu.

Chuyển hướng vận chuyển từ thô sơ sang cơ giới trên tuyến đường vận tải chiến lược đường Trường Sơn và làm đường ống xăng dầu từ miền Bắc vượt Trường Sơn vào đến Nam Bộ, hai công trình đó đã đi vào lịch sử như những dấu son chói lọi của quân dân ta.

Bây giờ nghĩ lại càng thấy vĩ đại biết bao!

Công lao đó thuộc về các đồng chí lăn lộn trên tuyến đường bằng cả mồ hôi và máu của mình, các cán bộ vận tải và xăng dầu từ hậu phương ra tiền tuyến và các đồng chí lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và quân đội. Nhưng nếu không có người chỉ huy nhận thức nhạy bén, có trình độ tổ chức điêu luyện, có kiến thức và nhất là có gan dám làm, dám chịu trách nhiệm, thì cũng không thể đề xuất và thực hiện các phương án mới mẻ và táo bạo đó.

Chú thích
(1) Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước. Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 314.
(2) Sđd, tr. 318.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 07 Tháng Năm, 2013, 01:27:22 PM
Tạo nguồn vật chất hậu cần trong kháng chiến chống Mĩ

Có thể nói việc tạo nguồn vật chất hậu cần cho quân đội trong chiến tranh chống Mĩ đã phát triển rất cao, cả về quy mô, chủng loại, số lượng, chất lượng, các hình thức và không gian huy động. Ngoài nguồn huy động ở trong nước là chủ yếu, còn có nguồn viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa và các nguồn khác nữa.

Nhiệm vụ của Tổng cục Hậu cần là: nghiên cứu, tổng hợp đơn hàng viện trợ quân sự, đi đàm phán kí kết với các nước, tổ chức tiếp nhận vận chuyển, phân phối và thanh quyết toán. Đồng chí Thiện được Quân ủy Trung ương giao cho nhiệm vụ trực tiếp chỉ đạo công tác này.

Đồng chí thường xuyên và trực tiếp báo cáo với đồng chí Lê Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ để giải quyết mọi yêu câu thực hiện kế hoạch tạo nguồn vật chất, kể cả việc cung cấp ngoại tệ thường xuyên cũng như đột xuất để mua hàng tại chỗ.

Chính phủ có sự giúp đỡ của nước bạn cho quá cảnh, mà ta đã kịp thời đưa được một số lớn súng đạn đến chiến trường trong đó có B40, 12 li 7 để đánh bại cuộc hành quân Gianxơn Xity của Mĩ năm 1967.

Đối với Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa, ngoài việc hướng dẫn xét duyệt đơn hàng hằng năm, đồng chí đã cho thành lập cơ quan đại diện của ta ở Bắc Kinh và Mátxcơva để giữ liên lạc thường xuyên với bạn trong công tác viện trợ.

Hằng năm đồng chí đều dành thời gian gặp và làm việc với các tùy viên quân sự và các tham tán thương vụ của ta khi về nước, để nắm khả năng của mỗi nước, thông báo nhu cầu của quân đội, tranh thủ sự giúp đỡ của các đại diện của ta ở nước ngoài và bàn kế hoạch triển khai thực hiện.

Giữa Tổng cục Hậu cần và Bộ Ngoại thương, có mối quan hệ rất chặt chẽ, “tắt lửa tối đèn” có nhau, làm việc rất thân tình và cởi mở để phối hợp chặt chẽ trong việc lập đơn hàng và tiếp nhận hàng viện trợ quân sự đi qua đường kinh tế(1).

Trong những lần đồng chí được Bộ Chính trị cử làm Phó trưởng đoàn đại biểu Chính phủ do Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị dẫn đầu, đi đàm phán và kí kết hiệp định về viện trợ quân sự và kinh tế ở các nước xã hội chủ nghĩa, đồng chí đã tranh thủ xin bạn các loại trang bị kĩ thuật mới, có chất lượng cao như máy bay Mig-21, xe tăng T-55, tên lửa phòng không SAM-3, tên lửa vác vai để bắn máy bay bay thấp, các loại hỏa tiễn, súng chống tăng B40, B41, máy điện thoại TA-57… Đồng chí cố gắng xin nhiều đạn và phụ tùng thay thế, xin các thiết bị kĩ thuật cho công binh, thông tin, phòng hóa, máy thu thanh bán dẫn…). Đồng chí rất chú ý đến các thiết bị toàn bộ để thành lập các nhà máy sản xuất, sửa chữa vũ khí và trang thiết bị kĩ thuật và xin các loại xe công trình để phục vụ cho việc sửa chữa vũ khí và khí tài ở các đơn vị và chiến trường.

Về sinh hoạt của bộ đội, đồng chí Thiện quan tâm đến việc nhờ bạn giúp đỡ nâng cao dinh dưỡng trong khẩu phần ăn của bộ đội, đặc biệt chú trọng các loại thứ ăn khô, đóng hộp có chất lượng cao như lương khô, bột trứng, bột sữa, mắm ruốc, thịt, cá hộp… để phục vụ cho bộ đội chiến đấu ở chiến trường xa, cho lái xe phải đi cả đêm mà không có điều kiện nấu nướng. Chính đồng chí đã trực tiếp chỉ đạo Viện Nghiên cứu Kĩ thuật quân nhu nghiên cứu công thức chế biến khẩu phần lương khô 701 và 702 được bộ đội rất hoan nghênh trong chiến tranh chống Mĩ, để nhờ bạn sản xuất.

Về quân trang, đồng chí đã đề ra việc xin và mua sắm các loại trang bị gọn, nhẹ, mau khô như tăng, võng, quân áo bằng sợi tổng hợp để giảm nhẹ mang vác cho bộ đội và phù hợp với thời tiết, khí hậu ẩm ướt ở chiến trường.

Đồng chí cũng chỉ đạo cả việc sản xuất giầy vải có đế dày, xốp, đàn hồi, phù hợp với hành quân và tác chiến của bộ đội, nghiên cứu cả mẫu dép nhựa khá đẹp cho bộ đội nữ.

Về cứu chữa thương, bệnh binh và phòng bệnh, đồng chí chú ý xin nhiều trang bị cho bệnh viện, đội điều trị, đội phẫu thuật cơ động, xin nhiều thuốc kháng sinh, thuốc phòng chống sốt rét, thuốc bổ (vitamin các loại, sâm, viên tăng lực) và các loại thuốc cần thiết khác và đặc biệt, đồng chí đã chỉ đạo Cục Quân y nghiên cứu việc đóng thuốc thành từng cơ số, rất thuận tiện trong cấp phát cho các loại cơ sở điều trị ở đơn vị, ở chiến trường cũng như ở hậu phương.

Viện trợ của các nước anh em đã giúp đỡ chúng ta một phần vật tư, hàng hóa khá lớn để bảo đảm cho quân và dân ta chiến đấu và giành thắng lợi. Đồng chí thường nói vui rằng trong chống Mĩ, chúng ta đã có những con người tuyệt vời được ra đời trong cái nôi xã hội chủ nghĩa, có sức khỏe, có tri thức, có lòng yêu nước, có chí hi sinh và lòng dũng cảm. Nhưng trang bị từ đầu đến chân là do nước bạn giúp đỡ. Đó là điều rất quý mà không bao giời chúng ta quên được.

Chú thích
(1) Nhu cầu viện trợ của quân đội, theo thủ tục của các nước thường chia làm hai đơn hàng: các loại vật tư quân sự thuần túy do Bộ Quốc phòng làm đơn hàng; còn loại vật phẩm có tính chất kinh tế thì quân đội làm việc với Bộ Ngoại thương và Ủy ban Kế hoạch Nhà nước để tổng hợp vào đơn hàng viện trợ chung của Chính phủ.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 07 Tháng Năm, 2013, 01:28:45 PM
Một phần ba thời gian đi xuống dưới

Nét nổi bật trong phương pháp lãnh đạo và tác phong công tác của đồng chí là luôn luôn tiếp cận với thực tiễn. Đồng chí hay nhắc lại câu nói của Gớt mà đồng chí thích thú: “… Lí luận thì xám mà cây đời mãi mãi xanh tươi”.

Với các trọng trách: Ủy viên Trung ương Đảng, ủy viên Quân ủy Trung ương, Phó ban Điều hòa vận tải Trung ương, Chủ nhiệm và Bí thư Đảng ủy Tổng cục Hậu cần, trong thời điểm cả nước có chiến tranh, quả là đồng chí có hàng núi công việc. Chương trình công tác của đồng chí đều dày đặc, trong đó đã thành nếp quy định mỗi tuần vào thứ 5 phải đi họp Thường trực Quân ủy Trung ương. Cũng có khi họp hai ngày hoặc cả tuần liền. Nhưng đồng chí dặn tôi là dù có nhiều việc, nhưng cố dành khoảng một phần ba thời gian để đi xuống dưới.

Đồng chí giao việc cho cơ quan và mạnh dạn giao quyền hạn giải quyết công việc cho các phó chủ nhiệm Tổng cục và các cục trưởng. Đồng chí thường nói; “phải biết chọn việc mà làm, đừng tham một đĩa mà bỏ cả mâm. Cung phải có gan dám bỏ bàn giấy, xa gia đình, xa Hà Nội, đến tận cơ sở mà quan sát, nghiên cứu, để giải quyết cho trúng”. Làm việc theo kiểu sáng đi tối về thật chẳng thích hợp chút nào với sự biến động và tác phong xông xáo của đồng chí. Đồng chí cho rằng giam mình bên bàn làm việc suốt ngày làm cho người ta giảm khả năng tư duy, không thấy được cái mới, cái đang phát triển trong thực tiễn vô cùng sinh động và phong phú. Vì vậy, khi có ý định đi các đơn vị cơ sở, hay vào tuyến đường 559 hoặc đi chiến trường, thì khó có ai can ngăn hoặc trì hoãn được vì hầu như không bao giờ đồng chí thay đổi ý kiến.

Đầu năm 1965, khi mới về Tổng cục Hậu cần, đồng chí chưa điều hành công việc mà dành hẳn mấy tháng liền đến các cơ sở: xí nghiệp, kho tàng, đoàn xe, bệnh viện, binh trạm, nhà trường, học viện… Tiếp theo là đến một số sư đoàn, quân khu, quân đoàn, quân binh chủng, trong đó có các đảo, sân bay, căn cứ hải quân, trận địa phòng không. Cuối cùng là đồng chí trực tiếp đi vào tuyến 559 và ở đó làm việc liền một tuần.

Đầu năm 1966, đồng chí lại cùng với đồng chí Phạm Ngọc Mậu, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, vào Đoàn 559 để trực tiếp chỉ đạo việc xây dựng lực lượng, bảo đảm vận chuyển và hành quân, vì ở thời điểm này Đoàn 559 đang gặp khó khăn, có hướng, có tuyến đã thiếu gạo ăn, có nguy cơ bộ đội bị đói.

Sau hơn ba tháng “nằm vùng” tại Đoàn 559, đúng lúc cao điểm của mùa mưa thì thầy trò mới hồi quân bằng đường bộ, vì lúc đó không còn xe nào chạy được. Ban ngày leo đèo, vượt suối, tối đến tăng võng ngủ rừng, suốt gần một tuần đi bộ đến đèo Mụ Giạ thuộc đất Việt Nam mới chuyển sang đi ôtô. Sau đó gần như thành lệ, mùa khô nào đồng chí cũng có mặt ở Đoàn 559.

Mùa mưa bộ đội Trường Sơn rút ra các tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa để nghỉ ngơi, tập huấn, khôi phục các trang bị kĩ thuật… thì đồng chí lại đến với anh em để thăm hỏi, động viên và sơ kết rút kinh nghiệm cho mùa khô tới.

Anh em trên tuyến 559 từ các đồng chí trong Bộ Tư lệnh đến chỉ huy các tuyến, các binh trạm, các sư đoàn… đều thấy “Anh Đinh”(1) là người gần gũi với mình. Các giai đoạn trưởng thành hay những lúc khó khăn thì “anh Đinh” là người luôn có mặt để chia sẻ, giúp đỡ và thật sự ghé vai cùng gánh vác.

Ngược lại, đối với Đoàn 559 đồng chí cũng dành những tình cảm quý trọng đặc biệt, đồng chí coi anh em trên tuyến 559 như những chiến hữu thân tình. Việc chăm sóc nuôi dưỡng lái xe, từ viên thuốc bổ, viên sáng mắt, thuốc chống muỗi, chống vắt, chiếc mũ sắt và áo giáp chống bom bi, đến việc tổ chức các trạm ăn uống dọc đường với bát phở, bát bún… Tất cả những điều cụ thể đó đều được đồng chí quan tâm đề ra và yêu cầu thực hiện có kết quả.

Có thể nói trong suốt 10 năm (1965-1975), lúc Đoàn 559 còn trong giai đoạn sơ khai đến khi phát triển thành những binh đoàn hùng mạnh, binh chủng hợp thành, dù Đoàn 559 thuộc Tổng cục Hậu cần hay trực thuộc Quân ủy Trung ương sau này, đồng chí vẫn là người chỉ huy gắn bó máu thịt với bộ đội Trường Sơn.

Vào thời điểm địch không chỉ tập trung đánh phá trên tuyến 559 mà còn rất chú trọng đánh phá khá ác liệt vùng cán xoong từ vĩ tuyến 20 trở vào để ngăn chặn vận chuyển từ hậu phương, phá việc tạo chân hàng cho tuyến 559, đồng chí lại trực tiếp với Bộ Tư lệnh 500(2)chỉ đạo tổ chức vận chuyển, trong đó có việc vượt sông Lam và sông Gianh để đưa hàng lên các cửa khẩu cho tuyến 559 và chuyển sang Lào theo đường 217, đường 7 và 8. Những địa danh đã đi vào sử sách như Đồng Lộc, Truông Bồn, Địa Lợi, Khe Ve… cũng là nơi mà đồng chí đã bỏ bao tâm huyết để đưa được các đoàn xe mang hàng lên phía trước.

Dịp lễ Nôen, Tết dương lịch, Tết âm lịch, thường có ngừng ném bom ở miền Bắc. Trước đó hàng tháng, đồng chí đã chỉ đạo chuẩn bị một đợt vận chuyển đột kích để tranh thủ chạy ban ngày, ưu tiên đưa những hàng hóa thiết yếu quan trọng được an toàn.

Bản thân đồng chí cũng tranh thủ lên đường để quan sát tình hình thực tế ban ngày. Đã bao nhiêu đêm đi xe dưới ánh trăng hoặc với ánh sáng đèn gầm, nhiều khi dưới pháo sáng và cả những trận bom, nay ngồi xe chạy ban ngày, với sự tĩnh lặng của bầu trời, ngọn gió đồng mát rượi và thiên nhiên đầy ắp không khí trong lành. Nhiều lần đi ban ngày từ Ninh Bình, Thanh Hóa đến Vĩnh Linh, mới thấy đến từng chi tiết sự tàn phá, hủy diệt của âm mưu muốn đưa Việt Nam trở lại thời kì đồ đá. Cảm giác vừa quen vừa lạ, nhẹ nhõm lâng lâng, lúc quặn đau thúc giục tự nhiên lòng yêu nước dâng trào và sự căm thù lại có dịp bốc lửa.

Đồng chí hết sức quan tâm xem xét cách đánh phá của địch các trọng điểm, các phương án tìm đường vòng, đường tránh, tổ chức vượt sông, việc phân chia cung tuyến vận chuyển, các khu vực kho tàng trung chuyển, nơi tập kết xe, cách bố trí lực lượng bảo đảm giao thông… Cứ mỗi lần đi như vậy lại giúp cho đồng chí hình thành những ý định và chủ trương mới.

Vào những năm 1967-1968, bộ đội hành quân đi B mang vác khá nặng, phải đi bộ dài ngày, đến chiến trường Nam Bộ thì mất gần nửa năm trời. Đây là nỗi trăn trở day dứt, lo lắng của các đồng chí lãnh đạo ở Bộ Quốc phòng cũng như ác đồng chí tư lệnh chiến trường.

Trước tình hình đó, đồng chí đã dành thời gian đến các đơn vị chuẩn bị đi B để trực tiếp tìm hiểu các mặt: từ chất lượng bộ đội, tổ chức phương pháp và kết quả huấn luyện cũng như các mặt bảo đảm. Đồng chí đã thử vác ba lô và các trang bị của chiến sĩ, thì thấy trọng lượng người chiến sĩ phải mang theo là quá nặng. Sau nhiều lần nghiên cứu trao đổi với Đoàn 559, cơ quan và lãnh đạo Tổng cục Hậu cần, cũng như Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị, đã đã đề xuất kế hoạch bảo đảm cho bộ đội hành quân đi B nhằm giảm bớt cực nhọc, vất vả cho anh em, để khi vào chiến trường vẫn duy trì được sức khỏe, có thể chiến đấu được ngay. Kế hoạch đó có ba nội dung chủ yếu:

Một là: Chấn chỉnh công tác huấn luyện. Ngoài nội dung giáo dục chính trị, cần được học kĩ về chiến thuật, rèn luyện toàn diện, thực hành thành thạo. Tăng số đạn thật cho anh em bắn, thêm lựu đạn, bộc phá để anh em sử dụng thuần thục, làm cho mọi người “dạn” với súng đạn, nghe tiếng súng không “giật mình” thì vào chiến trường mới đối mặt ngay được với quân Mĩ.

Hai là: Giảm trọng lượng mang vác. Anh em đi B chỉ mang theo những thứ thiết yếu nhất, sao cho tổng trọng lượng không quá 20kg kể cả súng đạn. Số còn lại giao cho đơn vị vận tải trên các tuyến phụ trách đưa đến tận nơi.

Ba là: Tích cực chuẩn bị các mặt tiến tới bộ đội hành quân cơ giới.

Khi kế hoạch đó được phê chuẩn, đồng chí đã chỉ đạo thực hiện theo đúng quy định và yêu cầu nói trên, và cuối cùng thì bộ đội đi B đã hành quân cơ giới đến tận chiến trường. Nỗi trăn trở đã được giải tỏa, mặc dù trong quá trình thực hiện thật không dễ dàng.

Đồng chí đã nhiều lần nới với cán bộ phụ trách việc huấn luyện, việc trang bị cho bộ đội và tổ chức hành quân đi B và đặc biệt với tuyến 559: “con em miền Bắc như những viên ngọc quý, được chế độ xã hội chủ nghĩa chăm sóc nâng niu từ lúc lọt lòng. Nếu huấn luyện “nhếu nháo”, trang bị không hợp lí, điều kiện đi đường quá gian khổ, sức cùng lực tận, khi đến chiến trường, không còn sức chiến đấu, không đủ sức đánh thắng được quân Mĩ, thì chúng ta là người có tội với anh em, với các bà mẹ, và với cả miền Nam”.

Chú thích
(1) Bí danh của đồng chí Thiện khi giao dịch với các chiến trường và tuyến vận tải.
(2) Sở chỉ huy tiền phương của Tổng cục Hậu cần ở nam Quân khu IV.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 07 Tháng Năm, 2013, 01:29:20 PM
Ba lần vào Nam Bộ và những tình cảm với chiến trường

Được xác định bởi mối quan hệ đúng đắn giữa hậu phương và tiền tuyến, đồng chí rất quan tâm xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa Tổng cục Hậu cần với các chiến trường. Báo cáo ở chiến trường gửi ra đồng chí đọc rất cẩn thận, nghiên cứu và có ý kiến giải quyết cụ thể, không bỏ sót một chi tiết nào. Cũng không bao giờ bỏ qua dịp gặp gỡ, làm việc với cán bộ ở chiến trường ra. Những cuộc gặp vỡ và làm việc với cán bộ hậu cần và tư lệnh các chiến trường thường là được xếp vào ưu tiên số 1, nếu ngày bận thì làm tối, ngày làm việc bận thì làm vào ngày nghỉ. Làm xong, đồng chí còn hỏi tỉ mỉ tình hình gia đình, vợ con của từng người. Không những giải quyết yêu cầu chung của chiến trường mà còn rất tâm lí giải quyết những nhu cầu riêng, kể cả việc ăn ở, phương tiện đi lại… Ngày lễ, ngày Tết, đồng chí giao cho cơ quan đi thăm gia đình các đồng chí đang công tác ở chiến trường. Bản thân đồng chí cũng trực tiếp đến thăm một số nhà. Đồng chí thường xuyên cử các đoàn của Tổng cục Hậu cần vào công tác ở các chiến trường, có đoàn do cán bộ cấp cục, cũng có đoàn do các đồng chí Phó chủ nhiệm Tổng cục dẫn đầu.

Kể từ khi làm Chủ nhiệm Tổng cục cho đến khi kết thúc chiến tranh chống Mĩ, không kể những lần trực tiếp đi các chiến dịch Đường 9 Nam Lào và Bắc Quảng Trị, đồng chí đã ba lần vào chiến trường Nam Bộ, một lần vào các chiến trường Khu V, Tây Nguyên.

Tháng 6-1969, đồng chí đi theo đường hàng không từ Hà Nội qua Quảng Châu (Trung Quốc) đến Phnôm Pênh rồi vào miền Đông Nam Bộ.

Tháng 3-1973, sau Hiệp định Pari, đồng chí dẫn đầu đoàn của Tổng cục Hậu cần đi theo tuyến đường 559 vào miền Đông Nam Bộ, rồi sau đó ra làm việc tiếp với Bộ Tư lệnh Tây Nguyên và Bộ Tư lệnh Khu V. Đầu năm 1975, đồng chí đi Chiến dịch Hồ Chí Minh với cương vị là Phó Tư lệnh chiến dịch, phụ trách hậu cần, kĩ thuật.

Trong những chuyến đi vào Nam, thì lần đi năm 1973 là có nhiều kỉ niệm nhất. Đoàn của Tổng cục Hậu cần gồm tôi, cả các cục trưởng nên quân số gần ba chục người đi trên tám xe con. Gần đến ngày lên đường thì Văn phòng Trung ương Đảng báo có đoàn của Trung ương gồm đồng chí Tố Hữu, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban thống nhất Trung ương, đồng chí Nguyễn Thọ Chân, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó trưởng ban Thống nhất Trung ương và đồng chí Phạm Chung, Phó văn phòng Trung ương Đảng sẽ đi cùng với đồng chí Thiện vào chiến trường.

Đồng chí giao cho tôi tổ chức chỉ huy hành quân và bảo đảm các mặt ở trên đường cũng như sắp xếp chương trình và nội dung là việc với từng chiến trường. Các đồng chí ở Bộ Tư lệnh 559 đã luân phiên nhau đưa đoàn cả khi vào lẫn khi ra. Do xe nhiều, người đồng nên các đồng chí ở Đoàn 559 càng vất vả để lo cho đoàn đi đến nơi, về đến chốn. Đến nay nghĩ lại chuyến đi ấy, tôi thầm biết ơn cán bộ, chiến sĩ Đoàn 559 đã rất nhiệt tình và trách nhiệm cao lo đưa, đón, bảo đảm cầu đường, vượt sông, bảo đảm nơi ăn nghỉ được chu đáo đàng hoàng.

Chuyến đi khá vất vả nhưng cũng rất sinh động này đã được miêu tả chân thật nhưng cũng rất trữ tình, trong bài thơ “Nước non ngàn dặm” của đồng chí Tố Hữu. Nhà thơ đã nói đến một trong những kỉ niệm sâu sắc trong chuyến đi mà chúng tôi không bao giờ quên được:

                                         “Anh vào tuyến lửa đêm qua
                                         Bất ngờ một trận như là bão rơi…”
                                         “… Sê Xan tan nát đạn cày,
                                         Trống trơ rừng khộp, khô gầy rừng le…”.

Đêm đó chúng tôi đến Tà Ngâu, Xiêm Pạng, vượt đường19, đi qua sông Sê Xan. Các anh được Đoàn 559 bố trí một số xe Honđa đưa đi trước. Đoàn xe con do tôi phụ trách vừa qua phà được vài trăm thước thì máy bay OV10 và C130 đến; phát hiện được mục tiêu chúng liền tập trung đánh. Rời khói xe, anh em chạy vội vào rừng le, rừng khộp hai bên đường nấp vào gốc cây hoặc mô đất. Chúng đánh khá lâu: máy bay địch quần đi đảo lại, đến hơn một giờ; tiếng đạn cối từ máy bay bắn xuống nổ đinh tai, nhức óc. Có lẽ chúng thấy xe đã cháy, cho là đã xóa sổ được mục tiêu hoặc đã hết đạn, mới bỏ đi. Cũng máy, chúng chỉ bắn cối thôi, nếu chúng dùng thêm hai tiết mục nữa như chúng vẫn thường đánh các mục tiêu khác, là bom bi, bom phát quang thì chắc chắn chúng tôi không thoát khỏi thương vong. Khi dứt tiếng máy bay, chúng tôi đi ra đường thì ôi thôi! Cả gia tài của mọi người để trên xe cùng với 6 chiếc xe đã cháy trụi, không còn lại một thứ gì! Thế là từ đây mỗi người chỉ còn nhất bộ; cứ như vậy cho đến lúc vào đến Nam Bộ mới có thêm quần áo và đồ dùng sinh hoạt hằng ngày.

Sau ba tuần lễ hành quân xuyên Đông Dương, vào một buổi sáng giữa tháng 4-1973, chúng tôi đã đến sở chỉ huy của Bộ Tư lệnh Miền trong khu rừng cao su ở vùng Lộc Ninh mới giải quyết, trong gần 20 ngày, anh Thiện cùng đoàn chúng tôi làm việc với Cục Hậu cần Miền, đến thăm các trung đoàn xe, kho tàng, bệnh viện… rồi cùng anh Tố Hữu làm việc với Trung ương Cục và Quân ủy Miền.

Cuộc chia tay với các đồng chí Nam Bộ đầy lưu luyến và cảm động! Đồng chí Bùi Phùng, Chủ nhiệm Hậu cần Miền trực tiếp đưa đoàn ra Tây Nguyên và Khu V.

Chuyến đi vào bị địch đánh, chuyến đi ra cũng chẳng kém phần gian khổ, vì từ Bù Gia Mập, các anh cùng chúng tôi tự soi đường theo hướng Đông Trường Sơn để ra Đắc Tô; xe cứ theo tọa độ lăn bánh trên rừng khộp. Có đoạn phải đi bằng thuyền trên sông Bung, chẳng may thuyền bị lật làm cho ai nấy đều có dịp tự kiểm tra khả năng bơi lội của mình. Có đoạn gặp cả một khu rừng khộp đang cháy, đoàn lại phải tìm đường tránh để đi.

Ra đến Tây Nguyên, nghe báo cáo được biết bộ đội và đồng bào đang bị thiếu gạo, thiếu muối, anh Thiện đã điên ngay cho Đoàn 559 tập trung lực lượng vận tải để chở gấp gạo, muối cho Tây Nguyên, tránh được nạn đói đã gần kề.

Sau hơn ba tháng đi vào bằng tuyến đường Tây Trường Sơn, đi ra theo hướng Đông Trường Sơn, trực tiếp làm việc với các đồng chí lãnh đạo và ngành hậu cần các chiến trường, các anh và chúng tôi đã kết thúc chuyến đi lịch sử này trên một máy bay chuyên cơ do Bộ Quốc phòng điều vào sân bay Đồng Hới để đưa đoàn về Hà Nội.

Trong chuyến đi này, ngoài công việc chính là kiểm tra mọi mặt công tác của các chiến trường, truyền đạt những chủ trương của Trung ương và Quân ủy, giúp cho các chiến trường giải quyết khó khăn, nhất là trong bảo đảm hậu cần và xây dựng hậu phương. Các anh cũng đã nắm được cơ sở thực tiễn đi đi đến một quyết định chiến lược là phải mở thêm trục đường Đông Trường Sơn. Nhờ có thêm trục đường mới này mà chúng ta có điều kiện đưa các binh đoàn cùng với các trang bị và hỏa lực vào miền Nam, mà anh Tố Hữu đã khái quát là; “có đại lộ nên mới đưa được đại quân, đại xa (xe tăng) và đại pháo vào!”.

Có thể nói nội dung và kết quả chuyến đi ấy không những chỉ có giá trị trong thời gian trước mắt mà chắc chắn còn góp phần vào việc chuẩn bị cho đại thắng mùa Xuân năm 1975.

Sau 23 năm, nghĩ lại chuyến đi ấy, tôi vẫn thấy hiện lên những hình ảnh đẹp đẽ của anh Thiện với chiến trường. Trên tuyến 559 cũng như ở Nam Bộ, Tây Nguyên và Khu V đâu đâu các đồng chí lãnh đạo chiến trường và cán bộ hậu cần cũng dành những tình cảm đặc biệt cho đoàn và coi anh Thiện là người gần gũi, chân tình, đã lo trước cho chiến trường và giải quyết cho chiến trường với mức độ cố gắng nhất.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 07 Tháng Năm, 2013, 01:30:11 PM
Tấm lòng đối với cán bộ

Sống và làm việc nhiều năm với đồng chí tôi thấy tình cảm của đồng chí được giấu kín ở trong lòng, ít khi bộc lộ ra ngoài, ngay cả đối với vợ con trong gia đình. Nhưng thực trạng nội tâm thì chưa đầy lòng quý mến, yêu thương đồng chí đồng đội, cũng như những người thân trong gia đình.

Có đồng chí mới gặp lần đầu và làm việc với đồng chí thì e ngại trước thái độ nghiêm khắc, có khi lạnh lùng. Nhưng làm việc nhiều thì lại càng thấy gần gũi, thân thiết, vì thực chất, đồng chí là con người đại lượng, chân thành, thẳng thắn, không ưa khuất tất, vòng vèo. Đồng chí rất quý mến những cán bộ có ý chí tiến công, dám làm và dám chịu trách nhiệm, không dựa dẫm hay tranh công đổ lỗi. Đồng chí thường nói: “Cán bộ chúng ta không phải là những thầy bói nói mò, mà là người hành động, muốn hành động đúng phải có ý chí và kiến thức khoa học, kĩ thuật, nghiệp vụ”. “Tiến độ công việc bình thường hay cấp bách đến đâu thì người cán bộ cũng phải xử lí đúng như như sự vật vốn có, nóng lạnh phải cho rõ ràng, minh bạch. Đừng bao giờ tránh né, giữ thái độ phải chăng, dĩ hòa vi quý, tốt trong quan hệ bạn bè nhưng lại rất có hại cho cán bộ”.

Khi giao nhiệm vụ cho cán bộ, không bao giờ đồng chí chỉ giao việc mà không giải quyết các điều kiện để làm được việc đó. Đó là cách tốt nhất, làm cho cán bộ yên tâm, phấn khởi triển khai v. Gặp trường hợp cán bộ yêu cầm quá nhiều, đồng chí phê phán và cho rằng: “Nếu cán bộ khi nhận nhiệm vụ mà đòi hỏi cấp trên giải quyết đủ 100% các điều kiện thì chứng tỏ tài ăng của cán bộ đó quá bình thường. Cấp trên chỉ giải quyết tốt đa là 70% điều kiện, còn lại 30% là do trình độ năng lực của cán bộ giải quyết”. Mùa khô năm 1969 khi vào thông qua kế hoạch vận chuyển ở Đoàn 559, cơ quan đã tính toán và đề nghị xin thêm hàng trăm xe vận tải. Đồng chí nói vui rằng: Không những không thêm xe mà còn thu bớt xe về dự phòng, nếu chúng ta giải quyết triệt để các biện pháp sau đây:

Một là tập trung thêm lực lượng công binh để củng cố, nâng cấp mặt đường bảo đảm cầu, đường tốt hơn trước để xe không phải đi với tốc độ 10km/giờ mà lên được 15km/giờ thì đã tăng được 50% năng suất vận chuyển.

Hai là chấn chỉnh khâu giao nhận hàng giảm thời gian xe chờ hàng do khâu chuẩn bị và bốc vác.

Ba là nâng trọng tải của mỗi xe lên cho đúng hệ số quy định. Nếu xe 4 tấn mà chỉ chở có 2 tấn thì cũng như có hai xe mà ta chỉ dùng có một xe.

Bốn là nuôi dưỡng tốt lái xe, chuẩn bị kĩ thuật xăng dầu chu đáo, để từng xe cộ có thể vượt cung, tăng chuyến. Tổ chức bảo dưỡng sửa chữa khôi phục kĩ thuật nhanh cóng để giảm số xe nằm ở các trạm, xưởng.

Năm là công tác chỉ huy điều độ, hợp đồng giữa các lực lượng công binh, phòng không, kho tàng, vận chuyển phải ăn khớp, tất cả tập trung vào bảo đảm cho đoàn xe đưa hàng ra phía trước.

Các biện pháp đó tổng hợp lại sẽ ra được số xe nhiều hơn số xe mà Đoàn đề nghị tăng thêm. Kết thúc cuộc họp, mọi người đều thoải mái mặc dầu không có thêm xe.

Trong cuộc sống hằng ngày, đồng chí hay đến nhà anh em cán bộ để thăm hỏi chuyện trò. Nhà riêng của đồng chí không có lính canh gác để bạn bè, anh em tự do ra vào, không hạn chế. Ở những cuộc họp hay gặp gỡ riêng, câu chuyện của đồng chí thường đem lại cho ngươi nghe nhiều điều bổ ích. Cách trò chuyện của đồng chí thường giản dị, chân thành, sôi nổi, dí dỏm nhưng có nội dung lí luận sâu sắc và phương pháp luân khoa học. Có lúc đồng chí cũng “bạo mồm” phê pháp để mong mỏi có những cái mới xuất hiện và được ủng hộ. Cũng có lúc đồng chí sử dụng ngôn từ dân dã mà từ đó “tiếng lành đồn xa”, có người đã thêu dệt lên những chuyện vui mà tôi biết là không hề có.

Đối với mọi người trong tâm của đồng chí Thiện luôn luôn chỉ có một chữ Thiện.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 07 Tháng Năm, 2013, 01:31:16 PM
BÀI HỌC TỪ MỘT VỊ TƯỚNG CÓ TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC

Thiếu tướng BÙI NAM HÀ(*)

Từ thuở thiếu thời bước vào cuộc đấu tranh cách mạng, đến khi rời khỏi quân ngũ, tôi vừa tròn 50 tuổi quân, trong đó có 30 năm vũ trang kháng chiến chống đế quốc, tôi càng thấm thía câu tục ngữ Việt Nam: “Không thầy, đố mày làm nên”.

Anh Đinh Đức Thiện là một trong những người thầy mà tôi rất kính trọng và biết ơn.

Vào thu đông năm 1948-1949, trước chiến dịch Đông Bắc, anh Thiện là Bí thư Tỉnh ủy Bắc Giang, được cấp trên chỉ định làm Chính ủy một hướng chiến dịch. Anh cùng anh Thanh Phong, Phó Tư lệnh Liên Khu I đến kiểm tra tiểu đoàn tôi D517, chủ lực của Liên khu I - trước lúc xuất quân. Duyệt qua hàng quân một lượt, Anh xen vào đội hình các phân đội, xem xét và hỏi han cặn kẽ từng cán bộ, chiến sĩ về vũ khí, đạn dược, thuốc men, quân trang, quân dụng của mỗi người và của cả đơn vị có được bao nhiêu. Đang là mùa đông mà tôi và anh Thức, chính trị viên tiểu đoàn, toát mồ hôi, ướt cả áo và ngạc nhiên, không ngờ một đồng chí cấp trên, mà lại làm việc cụ thể, tỉ mỉ đến như thế.

Kiểm tra xong, anh nói chuyện với bộ đội, đại ý:

Các đồng chí xuất trận lần này, đã có tương đối đủ trang bị để hoàn thành nhiệm vụ đợt đầu. Muốn cho chiến dịch toàn thắng, thì phải kiên quyết đánh thắng trận đầu. Phải đánh thắng để động viên khí thế quân, dân, làm cho bộ đội và nhân dân cùng phấn khởi và tin tưởng. Phải đánh thắng để thu chiến lợi phẩm, lấy vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng của địch bổ sung cho mình, để đánh tiếp những trận sau. Đất nước ta còn nghèo, nhân dân ta còn nghèo - trên chỉ có thể cấp cho bộ đội được một phần vũ khí đạn dược, quân trang, quân dụng, còn phần quan trọng hơn cả là lấy ở tiền tuyến, lấy của địch để trang bị cho mình mạnh lên. Như thế là “lấy của địch để đánh địch”. Đó là quan điểm, là đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng. Đó cũng là phương châm để đánh tắc từ không đến có, từ nhỏ đến lớn, lấy ít thắng nhiều, lấy yếu thắng mạnh… Một điều quan trọng nữa cần chú ý là khi đánh xong, thu quân phải mang hết thương binh về hậu phương điều trị. Phải chôn chất tử sĩ chu đáo, và phải bí mật đánh dấu mộ chí để sau này còn tìm lại được.

Chiến dịch Đông Bắc, ta đã giành thắng lợi lớn, tiêu diệt được một bộ phận quan trọng sinh lực địch và thu được chiến lợi phẩm: lương thực, quân trang, thuốc men, và đặc biệt là súng đạn, trong đó có cả súng chống tăng và trung liên để bổ sung trang bị cho đơn vị. Chúng tôi đã làm được như chỉ thị của đồng chí bí thư Tỉnh ủy, chính ủy hướng chiến dịch.

Như vậy, trong lần đầu tiên gặp Anh, tôi đã thu được một bài học: “Bộ đội tiến hành chiến tranh nhân dân, phải dựa vào hai nguồn tiếp tế: Một là của ta, do trên cấp hoặc nhân dân giúp đỡ; hai là lấy của địch, để bổ sung cho mình”.

Khi cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ của nhân dân ta bước vào giai đoạn quyết liệt, Mĩ đổ bộ quân chiến đấu vào miền Nam, và gây chiến tranh phá hoại miền Bắc, anh Thiện được bổ nhiệm về lãnh đạo ngành Hậu cần quân đội.

Vào cuối những năm 60, đầu những năm 70, cả hai bên, ta và Mĩ - ngụy, đều tổ chức những chiến dịch tiến công và phản công lớn, sử dụng những binh đoàn tinh nhuệ, thiện chiến nhất, tiêu thụ lượng vật tư chiến tranh rất lớn. khi đó, tôi là Phó Tư lệnh Mặt trận Quảng - Đà, thì được các anh Chu Huy Mân, Tư lệnh, và anh Võ Chí Công,Chính ủy, gọi về giao nhiệm vụ ra miền Bắc, xin Bộ kế hoạch chi viện hậu cần cho Quân khu V, nhất là để phát triển về hướng Nam Trung Bộ.

Trên đường ra Bắc, tôi nhớ lại cách đây 6 năm (cuối 1964), Đoàn chúng tôi hành quân vào Quân khu V, theo tuyến giao liên trên đường 559, phải mất 53 ngày. Chuyến đi ra lần này chỉ mất 14 ngày. Có nhiều đoạn đường dài hàng trăm kilômét được đi bằng ô tô. Đường Trường Sơn đã khác xa, không phải là “Đường mòn Hồ Chí Minh”, như lúc chúng tôi đi, mà đã có nhiều tuyến đường dài, rộng, ngang, dọc chằng chịt. Trên trời máy bay địch lồng lộn trinh sát, bắn phá suốt ngày đêm. Dưới mặt đường, khói lửa ngút trời, ít khi vắng tiếng bom rơi, đạn nổ. Nhưng từng đoàn rất đông bộ đội, công binh, thanh niên xung phong, cả nam lẫn nữ, vẫn liên tục sửa đường bị địch phá hỏng và mở thêm đường mới! Nhiều đơn vị cao xạ bố trí trận địa ở ven đường, chống trả quyết liệt với máy bay địch để bảo vệ hành lang vận chuyển. Xe cộ ra vào nườm nượp; từng đoàn hàng trăm xe đang chở hàng, chở quân, kéo pháo đi về phía Nam! Các binh trạm với thành phần binh chủng hợp thành, đã thay thế các trậm giao liên thuở trước. Trên tuyến 559, đã hình thành một thế trận, một loại hình tiền tuyến của công tác hậu cần, trong chiến tranh quy mô lớn, hiện đại hóa.

Trên đường, qua các binh trạm và các đoàn xe, tôi không chỉ nghe những chiến công của cán bộ, chiến sĩ Đoàn 559, mà còn được biết về tài điều hành cuộc chiến phía sau của Bộ Tư lệnh Trường Sơn và nhất là của người trực tiếp lãnh đạo tuyến vận tải chiến lược ở trên: đồng chí Đinh Đức Thiện, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, người Bí thư Tỉnh ủy 20 năm trước, đã lãnh đạo chiến tranh du kích và đánh vận động chiến trên một địa bàn địa phương. Và hiện nay, vẫn anh Đinh Đức Thiện ấy, đang là một trong mấy vị tướng điều hành một mặt trận đặc biệt “mặt trận vận tải chi viện cho chiến trường miền Nam”. Mặt trận này được trải dài từ miền Bắc, xuyên dọc dải Trường Sơn vào đến Nam Bộ, trên đường còn được tiếp nối với các chiến trường Trị Thiên, Tây Nguyên, Quân khu V, Lào, Campuchia. Ngoài thế trận trên bộ, công tác vận tải chi viện còn có tuyến hỗ trợ là “Đường mòn Hồ Chí Minh trên Biển Đông” tạo ra chỗ dựa vững chắc cho tiền tuyến lớn đánh bại quân địch.

Về bộ, sau khi báo cáo với Thường trực Quân ủy Trung ương, tôi được sang báo cáo và làm việc trực tiếp với anh Thiện. Đã từ lâu không gặp anh, nên tôi vui mừng khôn tả. Anh dang hai tay ôm tôi vào lòng, vuốt nhẹ đầu tôi rồi nói câu đầu tiên: “Nam Hà gầy quá! Tóc đã bạc rồi, có được 50 kí không?”. Tôi cũng ghì chặt lấy anh, xúc động mạnh vì thấy “ông Tướng” thân hình cũng lủng củng toàn xương với da thôi, có hơn gì đâu – Anh cũng gầy quá - tôi nghĩ nhưng không dám nói ra. Cách đây hơn 20 năm, Anh là Bí thư Tỉnh ủy, lo cho dân, cho bộ đội, lúc ấy đánh du kích là chủ yếu, đến nay trên cương vị ủy viên Quân ủy Trung ương, phụ trách bảo đảm vật chất cho một cuộc chiến tranh nhân dân hiện đại trải dài ra cả hai miền từ Bắc đến Nam, lại hỗ trợ cho cả hai nước Lào và Campuchia, thì làm sao mà to, mập được! Nghĩ vậy mà thương anh quá, tôi lại càng ghì sát vào áo anh. Anh ứa nước mắt! Anh trấn tĩnh lại, nắm lấy vai tôi và nói vui: “ô thằng cha này còm thế mà còn khỏe gớm nhỉ!”.

Vào bàn làm việc, tôi báo cáo ý định của Quân khu, phát triển tác chiến về hướng Nam Trung Bộ và kế hoạch bảo đảm hậu cần, trong đó có vấn đề làm đường cho xe vận tải loại nhẹ chạy từ Tây Bình Định nối với tuyến vận tải của Nam Trung Bộ. Quân khu dặn tôi ra cố gắng xin lấy tối thiểu 10 - 15 xe Gát 63 và Gát 69 đít vuông, nhưng thấy Thủ trưởng có vẻ cởi mở, rộng rãi với chiến trường, tôi đã nâng lên xin 20 xe. Anh gật gù lắng nghe và phê chuẩn toàn bộ. Tôi mừng quá, tưởng thế là xong, nhưng anh nhẹo mắt mỉm cười và nói với tôi; “Chà, cái anh Tham mưu con này vẫn hóm hỉnh như gã Tiểu đoàn trưởng năm xưa thôi, ma lanh thật!”. Anh đưa ra bức điện và nói tiếp: “Này xem đây, Quân khu chỉ xin có 5 xe Gát 63 và 10 xe Gát 69 thôi, nhưng cậu đã tự ý tăng lên. Thôi, cũng phê chuẩn tất cả để Nam Hà về lập công. Nhưng cần báo cáo với các anh Bộ tư lệnh, coi đây là vốn của Bộ chi viện, còn chiến trường cần tích cực bổ sung thêm bằng cách đánh địch mà lấy. Cố gắng tiêu diệt lấy vài thiết đoàn Mĩ - ngụy, thì mới thỏa mãn được yêu cầu trang bị của Quân khu”.

Tôi cảm ơn anh Thiện, và trên đường về suy nghĩ kĩ về lời anh dặn dò. Thì ra đây cũng là tư tưởng chỉ đạo như cách đây hơn 20 năm, mặc dù bây giờ ta tiến hành chiến tranh trong những điều kiện khác trước: ta đã có hậu phương lớn là miền Bắc xã hội chủ nghĩa, ta được sự giúp đỡ của các nước anh em và các lực lượng tiến bộ trên tế giới. Nhưng bất kì trong hoàn cảnh nào, dù là chiến tranh du kích hay chiến tranh chính quy, quy mô lớn, nếu muốn giành được thắng lợi, đều phải dựa vào hai nguồn tiếp tế: nguồn của ta do trên cấp và nhân dân giúp đỡ, và nguồn của địch, phải đánh mà lấy. Người chỉ huy phải đề cao tư tưởng tự lực, phải coi trọng nguồn tiếp tế của địch. Phải đánh thắng để thu hồi chiến lợi phẩm để bổ sung trang bị và nuôi dưỡng đơn vị ngày một trưởng thành và phát triển. Phải chăng đó cũng là đặc trưng của công tác hậu cần của chiến tranh nhân dân, dù tác chiến trong điều kiện du kích hay hiện đại, của một nước chậm phát triển, phải đương đầu với các đạo quân xâm lược của các nước lớn.

Sau khi làm xong nhiệm vụ “cầu viện” cho chiến trường Quân khu V, tôi được điều về bộ Tư lệnh quân tình nguyện ở Thượng Lào, không có dịp trở về Quân khu. Sau này, khi được bổ nhiệm làm Giám đốc Học viện Hậu cần, trong khi xây dựng giáo trình, giáo án giảng dạy, đặc biệt là khi chỉ đạo tập bài về bảo đảm hậu cần cho tác chiến, bất kể là chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân địa phương, hay chiến tranh nhân dân của các binh đoàn chủ lực, tôi đều quán triệt quan điểm bảo đảm bằng “hai nguồn tiếp tế”, làm cơ sở để hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu và giành thắng lợi.

Tôi vẫn nhớ đó là bài học mà đồng chí Đinh Đức Thiện, người có tầm nhìn chiến lược đã nhắc nhở tôi, đã dạy tôi, trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mĩ.

Chú thích
(*) Nguyên Phó Tư lệnh mặt trận Quảng - Đà, Phó Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam ở Thượng Lào, Giám đốc Học viện Hậu cần.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 14 Tháng Năm, 2013, 09:53:23 AM
ĐỒNG CHÍ ĐINH ĐỨC THIỆN VỚI VIỆN TRỢ QUÂN SỰ

Đại tá NGUYỄN ĐỊCH(*)

Tôi được biết anh Đinh Đức Thiện từ cuối năm 1951. Khi đó anh là Cục trưởng Cục Vận tải, còn tôi làm công tác tiếp nhận hàng viện trợ quân sự ở biên giới Việt - Trung. Công tác tiếp nhận và công tác vận tải gắn bó với nhau rất khăng khít. Những năm 1950 - 1951, hàng viện trợ chủ yếu là gạo, quân trang, vũ khí nhẹ. Trong những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp, nhất là khi chuẩn bị chiến dịch Điện Biên Phủ, thì khối lượng ngày càng nhiều, nhất là xe và các loại pháo. Để giữ bí mật các trang bị mới, anh Thiện đã chỉ thị cho binh trạm vận tải phải chở các loại pháo bằng xe: pháo nhỏ thì mỗi xe xếp hai khẩu, pháo lớn thì mỗi xe một khẩu; xếp xong, chằng chèn cẩn thận, rồi làm dàn, che kín. Những khẩu pháo cao xạ 37 li, có 4 bánh, cồng kềnh, không xếp lên xe được, anh đã bày cách đóng khung gỗ úp lên rồi phủ bạt kín, trông bề ngoài như những rơ moóc chở hàng. Cách làm thận trọng này, đã làm cho địch bị bất ngờ đối với hỏa lực của ta ở Điện Biên Phủ. Đây là tác phong của một cán bộ ở cơ quan chiến lược, nhưng khi cần thiết đã chỉ đạo từng việc rất cụ thể.

Trong chiến tranh chống Mĩ, anh làm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, rồi sau kiêm cả Chủ nhiệm Tổng cục Kĩ thuật, được Bộ Quốc phòng ủy nhiệm thông qua các đơn hàng viện trợ quân sự, tham gia đàm phán và chỉ đạo công tác tiếp nhận hàng vào các ga, cảng và sân bay.

Trong việc xin viện trợ, phần trang bị chiến lược chủ yếu do Bộ Tổng Tham mưu đề xuất, còn các mặt bảo đảm kĩ thuật và hậu cần, do Anh chỉ đạo, Phòng Vật tư, Bộ Tham mưu Hậu cần là cơ quan, dựa vào các ý kiến của cấp trên, lập đơn hàng xin viện trợ, theo dõi và tổ chức tiếp nhận hàng.

Về bảo đảm giao thông vận tải, Anh chỉ đạo tập trung xin máy ủi, xe tự đổ, máy xúc… để mở đường vận tải, sửa chữa và phục hồi giao thông nhanh chóng khi bị địch đánh phá và xin ô tô để vận tải. Những năm cao nhất, các nước anh em đã giúp ta hàng trăm máy ủi và máy xúc, hàng nghìn xe tự đổ, hàng vạn xe vận tải… Anh chủ trương xin rải ra mỗi nước một ít, bạn có khả năng cho loại gì thì nhận loại đó, ta có được chừng nào tốt chừng đó, còn hơn là không. Thí dụ, đối với ô tô vận tải thì xin xe mới của Liên Xô, Trung Quốc, còn một số nước khác không có xe mới, cho xe đại tu ta cũng nhận…

Về bảo đảm kĩ thuật, anh chủ trương xin nhiều phụ tùng thay thế cho xe, súng, pháo, các thiết bị toàn bộ và đồng bộ của các xưởng sửa chữa các loại trang bị kĩ thuật, các trạm sửa chữa lưu động đặt trên xe…

Về bảo đảm nhiên liệu cho quân đội, thì đề nghị bạn giúp đỡ xăng cho ô tô, điêden cho tầu chiến, dầu hỏa cho máy bay phản lực, dầu nhờn, mỡ bôi trơn các loại, vật liệu làm kho, thùng chứa xăng dầu… Anh là người đã đề xuất viện xin Liên Xô, rồi Trung Quốc cung cấp cho các bộ đường ống dã chiến. Nhờ đó, trong kháng chiến chống Mĩ, ta đã có vật tư và trang bị để xây dựng tuyến đường ống chiến lược Bắc - Nam, bảo đảm kịp thời nhu cầu xăng dầu cho quân đội.

Về phương tiện cấp cứu, điều trị thương, bệnh binh và bảo vệ sức khỏe bộ đội, anh yêu cầu các nước bạn giúp từ những thiết bị toàn bộ của bệnh viện hậu phương, các thiết bị động bộ cho các bệnh viện dã chiến, các đội điều trị, phẩn thuật cơ động, vệ sinh phòng dịch, tẩy uế chiến trường, các xe cứu thương… đến các loại dụng cụ y tế, các loại thuốc, kể cả thuốc đông y… Anh cũng không quên các loại thuốc bồi bổ sức khỏe cho cán bộ, trong đó có sâm Triều Tiên, thuốc bổ tổng hợp của Trung Quốc, vitamin của Liên Xô, Hunggari…

Về vật tư sinh hoạt, ngoài các loại lương thực, thực phẩm thông thường, anh rất quan tâm đến việc tăng cường dinh dưỡng cho bộ đội ở chiến trường, nên đã xin bạn giúp các loại lương khô, thịt, cá hộp, bột trứng, sữa bột, đường, mì chính… Chính anh đã chỉ đạo Viện Kĩ thuật của Cục Quân nhu, nghiên cứu mẫu các loại lương khô 701, 702, 705, đưa sang nhờ bạn sản xuất hàng vạn tấn để cung cấp cho bộ binh, đặc công, lái xe, không quân, hải quân… Các loại lương khô này được cán bộ, chiến sĩ các binh, quân chủng hoan nghênh vì rất phù hợp trong chiến đấu.

Về mặt quân trang, quân dụng, anh rất quan tâm đến việc giảm nhẹ mang vác của chiến sĩ và phù hợp với điều kiện thời tiết ở chiến trường. Anh đã đề nghị bạn giúp các loại dụng cụ cấp dưỡng bằng nhôm gọn, nhẹ, sử dụng thuận tiện trong hành quân cũng như trong chiến đấu, các loại tăng, võng, bạt nằm, tấm đắp, quần áo… làm bằng các loại vải mỏng, nhẹ, bền nhưng giặt lại mau khô. Những thứ này đều được xây dựng theo mẫu của ta. Anh chú ý đến việc nghiên cứu đôi dép bằng ni lông, vừa nhẹ nhàng, vừa đẹp đẽ, để cung cấp cho chị em nữ dân quân.

Trong việc lập đơn hàng viện trợ, trong cơ quan Bộ Quốc phòng, cũng có ý kiến: “Nên xin những thứ ra tấm ra món, còn những cái lặt vặt, thì đừng nên xin làm gì, để khỏi mang tiếng”. Nhưng anh Thiện lại thường nói: “Mình là con nhà nghèo, cái gì cũng thiếu thốn, bạn cho được cái gì cũng cứ nhận. Cũng như anh nông dân đi đánh dậm, mỗi mẻ được con cá, con cua, con ốc đều nhặt tất cả đem về nhà, phân loại ra mà tận dụng. Đi xin viện trợ cũng phải thế! Ta cần thì ta cứ đề ra, còn bạn cho hay không, cho được bao nhiêu là tùy ở khả năng và thiện chí của bạn. Nếu ta không đề ra, thì bạn biết ta cần gì mà cho”.

Chính vì có quan điểm này, nên anh đã giải quyết được không những các yêu cầu to lớn, mà cả những vật dụng tuy nhỏ bé nhưng rất cần thiết cho cán bộ và chiến sĩ ở chiến trường như: bật lửa, đèn pin, hộp dao cạo râu, tông đơ, kéo cắt tóc, đồng hồ báo thức cho quản lí và anh nuôi, hộp dầu con hổ chống cảm, lọ thuốc chống muỗi, chống vắt v.v. Các cán bộ trung, cao cấp trong quân đội thời chống Mĩ, đều rất phấn khởi khi được ấp phát chiếc đồng hồ deo tay tự động kiểu Đức. Đây là món quà mà bà Bộ trưởng Bộ Cơ khí Luyện kim nước Cộng hòa Dân chủ Đức tặng cán bộ Quân đội nhân dân Việt Nam, năm 1969, theo đề nghị trực tiếp của anh Thiện khi sang thăm Đông Đức.

Ngoài các nhu cầu bảo đảm hậu cần, anh còn đề xuất với Quân ủy Trung ương nhiều ý kiến thiết thực, để nhờ bạn giúp các loại vũ khí hỏa lực, tên lửa, pháo cao xạ, súng chống tăng, máy bay chiến đấu, tầu chiến, các loại đạn dược, xe chở xe tăng, các loại phụ tùng thay thế cho trang bị kĩ thuật quân sự…

Mỗi năm, thường phải làm đơn hàng viện trợ chính thức một lần, và làm đơn hàng bổ sung từ 1 đến 2 lần. Mỗi lần làm, thì cơ quan vật tư thường bận rộn, tấp nập từ 2 đến 3 tháng liền vì phải tính toán, đối chiếu, hiệp đồng với các ngành chuyên môn, các quân, binh chủng, lập đơn hàng, làm bản thuyết minh, thông qua các cơ quan, các cấp có thẩm quyền, dịch ra tiếng các nước bạn… Mỗi khi có ý kiến thay đổi, thì phải làm lại. Mà trong quá trình làm thì anh Thiện lại hay có nhiều sáng kiến, hay đề ra những vấn đề mới, phải nghiên cứu, tìm hiểu, tinh toán lại, làm thuyết minh, có khi phải chỉ đạo ngành chuyên môn có liên quan chế tạo mẫu đưa cho bạn. Cơ quan phải vất vả để thực hiện ý kiến của anh: nhưng ai nấy đều rất vui vẻ, vì đây không phải là chấp hành mệnh lệnh, mà các vấn đề anh nêu ra thường độc đáo, có tác dụng đối với chiến trường, nên có sức thuyết phục rất mạnh. Thí dụ như anh đã đề ra việc nghiên cứu loại áo giáp chống bom bi, loại áo phao cung cấp cho lái xe và bộ đội công binh trên tuyến vận tải chiến lược; như mô hình người bằng cao su để nghi binh trên mặt đường, túi nilông để đóng gạo thả trôi dưới nước.

Qua việc chỉ đạo làm đơn hàng viện trợ, cũng thấy ở anh Thiện, tính kiên trì, sáng tạo, chịu khó tìm tòi, suy nghĩ, luôn luôn lo lắng đến chiến trường, đến đời sống người chiến sĩ, thấy cái gì cần thiết, thì hết sức tranh thủ sự giúp đỡ của các nước anh em, bè bạn để tạo nguồn vật chất, bảo đảm cung cấp cho bộ đội, cho chiến đấu.

Chú thích
(*) Nguyên Cục trưởng Cục Vật tư, Tổng cục Hậu cần.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 14 Tháng Năm, 2013, 09:59:51 AM
MỘT VỊ TƯỚNG HẬU CẦN GẮN BÓ VỚI CHIẾN TRƯỜNG

Đại tá PHẠM KINH(*)

Lực lượng vũ trang Nam Bộ, nhất là những cán bộ, chiến sĩ trong ngành Hậu cần, ai cũng biết và yêu mến đồng chí Đinh Đức Thiện, Tổng cục Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước.

Là người đứng đầu ngành Hậu cần, với tính tình bộc trực, cởi mở, đượm chút dân dã, nhưng ý chí và quyết tâm cao, có óc sáng tạo, táo bạo và quyết đoán, dám làm, dám chịu trách nhiệm, đồng chí đã có công lớn trong việc xây dựng ngành Hậu cần thời chiến, phục vụ kịp thời cho quân dân ta giành thắng lợi trên khắp các chiến trường. Đặc biệt đối với Nam Bộ, là một chiến trường xa Trung ương, xa miền Bắc xã hội chủ nghĩa, nơi có cơ quan đầu não chiến tranh của Mĩ - ngụy, đồng chí đã quan tâm đặc biệt, luôn luôn có sự tính toán, dự đoán, đi trước tình hình một bước, để chỉ đạo ngành Hậu cần chủ động, phục vụ kịp thời cho tác chiến.

Ngay từ những ngày đầu, Đoàn 559 mới thành lập, đồng chí đã thay mặt Quân ủy Trung ương, trực tiếp chỉ đạo xây dựng con đường Trường Sơn, mang tên Bác và tổ chức công tác vận chuyển chi viện vật chất, vũ khí, khí tài cho các chiến trường Bình Trị Thiên, Tây Nguyên, Liên Khu V và nhất là cho Nam bộ, đáp ứng kịp thời yêu cầu chiến đấu và xây dựng lực lượng ngày càng lớn.

Khi Quân khu miền Đông Nam Bộ đưa tầu ra miền Bắc xin chi viện, lãnh đạo Tổng cục Hậu cần đã giải quyết nhanh chóng, và chuyến tầu đầu tiên chở 20 tấn vũ khí đã được đưa về đến bến Lộc An (tỉnh Bà Rịa) an toàn. Có số vũ khí đó, quân dân miền Đông đã đẩy mạnh hoạt động: đánh địch, phá nhiều ấp chiến lược, mở rộng hậu phương tại chỗ, tạo điều kiện cho chiến dịch Bình Giã thành thắng lợi lớn. Tiếp đó là chuyến tầu thứ hai chở 57 tấn vũ khí, đạn dược vào Bến Tranh, Sông Ray, rồi sau đó, là chiếc tầu sắt do Lê Quốc Thân làm thuyền trưởng đổ bộ vào cửa Lộc An, Bến tranh, Sông Ray, mang theo nhiều vũ khí mới như AK47, B40, B41. Số vũ khí mới đưa về, được trang bị cho các đơn vị miền Đông và Quân khu VI, đã góp phần vào các chiến thắng vang lừng trong chiến dịch Đồng Xoài, Phước Long và những trận tiêu diệt quân Mĩ ở Bầu Bàng, Dầu Tiếng… góp phần đánh bại chiến tranh đặc biệt của Mĩ.

Đầu năm 1965, sau hi chiếc tầu không số của ta bị lộ ở Vũng Rô, địch kiểm soát gắt gao trên biển, việc dùng tầu thuyền tiếp tế cho Nam Bộ trở nên rất khó khăn. Dưới sự lãnh đạo của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, đồng chí Đinh Đức Thiện đã chỉ đạo chuyển hướng vận chuyển cho miền Nam bằng tầu lớn quá cảnh Campuchia. Nhờ đó đã giải quyết cho các chiến trường một khối lượng khá lớn vũ khí, đạn dược, thuốc nổ, thực phẩm, thuốc men…

Sau cuộc đảo chính 18 tháng 3 năm 1970, bè lũ phản động Lon Non lật đổ chính quyền của Quốc trưởng Xihanúc. Với sự giúp đỡ của ta, cách mạng nước bạn giành được thắng lợi to lớn: giải phóng được 5 tỉnh Đông Bắc Campuchia. Trong điều kiện đó, đồng chí Đinh Đức Thiện đã chỉ đạo củng cố và mở rộng đường lối vận tải chiến lược Tây Trường Sơn, cung cấp liên tục, kịp thời cho yêu cầu của chiến trường Nam Bộ (kể cả miền Đông, miền Trung và miền Tây). Đồng thời từ đầu năm 1973, đồng chí chỉ đạo gấp rút xây dựng tuyến đường Đông Trường Sơn. Cuối năm, chiến dịch Tuy Đức, Bù Bông thắng lớn, mở ra một vùng giải phóng rộng lớn từ ba biên giới đến tận vùng căn cứ của miền Đông Nam Bộ, nối thông với đường Đông Trường Sơn. Đồng chí đã chỉ đạo các đợt vận chuyển lớn, nhanh chóng đưa vũ khí, khí tài và các phương tiện vật chất tăng cường cho các chiến trường miền Nam. Đặc biệt là đã làm được tuyến đường ống dẫn xăng dầu vượt dãy Trường Sơn, vào đến sân bay Bù Gia Mập, bảo đảm được nhu cầu hoạt động lớn của hàng nghìn xe vận tải, xe tăng, thiết giáp, pháo cơ giới… tạo điều kiện phục vụ cho Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng.

Là người đứng đầu ngành Hậu cần, trong suốt cuộc kháng chiến chống Mĩ quyết liệt, đồng chí đã luôn luôn đi sát chiến trường, đứng mũi chịu sào trước mọi khó khăn thử thách, dũng cảm, quyết đoán, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước Đảng, trước quân đội về mọi quyết định của mình. Đến đâu, đồng chí cũng đi sâu, nghiên cứu giúp cấp dưới tháo gỡ khó khăn, giải quyết những yêu cầu cụ thể của chiến trường, của địa phương.

Riêng đối với Nam Bộ, đồng chí đã ba lần vào tận chiến trường để chỉ đạo. Đó là lần vào giữa năm 1969, địch phong tỏa kinh tế gắt gao, công tác hậu cần gặp nhiều vấn đề nan giải, đặc biệt là thiếu gạo, muối. Vào thời điểm đó, các đơn vị chủ lực chỉ còn gần một tháng dự trữ, đồng chí đã có mặt kịp thời ở chiến trường, cùng Bộ Tư lệnh Miền nghiên cứu tình hình, đề ra ý kiến chỉ đạo, tạo điều kiện cho khai thác “hậu cần tại chỗ”, giúp cho chiến trường vượt qua được thời điểm khó khăn, gay gắt nhất. Tháng 2 năm 1973, đồng chí lại cùng các cán bộ chủ chốt của ngành Hậu cần vào miền Đông Nam bộ, nghiên cứu tình hình chi viện cho chiến trường tiếp tục đánh địch, trước nguy cơ Mĩ - ngụy xẻ bỏ Hiệp định Pari. Trong dịp này, đồng chí đã quyết định điều động vào Nam Bộ một số lượng khá lớn cán bộ hậu cần các đơn vị, đặc biệt có hàng trăm bác sĩ và cán bộ kĩ thuật các ngành, giúp đỡ tăng cường tổ chức và nâng cao chất lượng công tác hậu cần của chiến trường. Và lần thứ ba, đồng chí lại vào tới Nam Bộ, đó là là trong những ngày tháng 4 năm 1975 sôi động. Sau khi trực tiếp chỉ đạo hậu cần mặt trận Tây Nguyên phục vụ thắng lợi chiến dịch giải phóng Buôn Ma Thuột, mở màn cho cuộc Tổng tấn công Buôn Ma Thuột, mở màn cho cuộc Tổng tấn công mùa Xuân 1975, đồng chí Đinh Đức Thiện đã vào ngay chỉ đạo hậu cần Miền, phục vụ Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đánh bại ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Trong suốt 10 năm với cương vị là chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, lúc nào đồng chí Đinh Đức Thiện cũng toàn tân toàn ý phục vụ cho quân đội, cho người lính, cho chiến trường và cho chiến thắng của quân và dân ta.

Đã 10 năm đồng chí đi xa, nhưng công lao to lớn và tình cảm của đồng chí vẫn sống mãi trong lòng toàn quân, toàn dân chúng ta, đặc biệt là trong lòng cán bộ chiến sĩ hậu cần Nam Bộ.

Chú thích
(*) Nguyên Phó Chủ nhiệm Hậu cần Quân khu VII.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 14 Tháng Năm, 2013, 10:18:59 AM
NHỚ NGƯỜI CHỈ HUY ĐẦU TIÊN CỦA NGÀNH VẬN TẢI QUÂN SỰ

Đại tá VŨ CAO BẰNG(*)

Đồng chí Đinh Đức Thiện là người đầu tiên đặt nền móng xây dựng ngành Vận tải quân sự Việt Nam. Ôn lại tiểu sử và sự nghiệp của đồng chí, chúng tôi bồi hồi, xúc động nhớ tới một chặng đường lịch sử hào hùng đã qua, với biết bao thành tích oanh liệt đạt được dưới sự lãnh đạo của đồng chí, biết bao kỉ niệm sâu sắc với người chỉ huy nhiệt tình, thân thiết và đầy tài năng của ngành.

Đầu năm 1950, khi cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta chuyển sang giai đoạn mới, đồng chí Đinh Đức Thiện là Ủy viên Thường vụ Liên khu ủy Việt Bắc, đã được Hồ Chủ tịch, Trung ương Đảng và Chính phủ đưa vào quân đội và bổ nhiệm làm Cục trưởng Cục Vận tải. Bằng tinh thần chủ động vượt lên những khó khăn, gian khổ, thiếu thốn về mọi mặt trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, từ đầu tháng 3 năm 1950, đồng chí đã cùng 36 cán bộ và chiến sĩ lên Cao Bằng tổ chức tuyến vận tải đầu tiên của Cục Vận tải, chuẩn bị tiếp nhận 200 tấn vũ khí ở biên giới, rồi tổ chức vận chuyển về Chợ Mới, theo lệnh của bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh.

Cuối năm 1950, quân đội ta mở chiến dịch Biên giới, chiến dịch đầu tiên có quy mô lớn, đồng chí đã tập trung lực lượng của Cục, giao cho đồng chí Vũ Văn Đôn, Cục phó đưa ra phía trước để tổ chức Ban Vận tải chiến dịch. Trong quá trình chiến dịch, Ban Vận tải được đồng chí Trần Đăng Ninh, Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp, trực tiếp dìu dắt, giúp đỡ, đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, trưởng thành vượt bậc và đã rút ra được nhiều kinh nghiệm mới mẻ rất quý để vận dụng trong xây dựng lực lượng và phục vụ tác chiến ngày càng phát triển.

Sau chiến dịch Biên giới, đồng chí Đinh Đức Thiện đã sớm chủ động nắm bắt được tình hình và nhiệm vụ mới, cùng tập thể cán bộ, cơ quan và các cơ sở, triển khai xây dựng, mở rộng hệ thống vận tải quân sự, kết hợp chặt chẽ với lực lượng vận tải Nhàn ước và vận tải nhân dân, nên chỉ trong một thời gian ngắn, Cục vận tải đã có bước phát triển nhảy vọt về tổ chức, lực lượng, phương tiện và phương thức vận tải: quân số từ 36 người ban đầu tăng lên gần 3.000 người; phương tiện từ mấy trăm xe bò, xe trâu, xe quệt, ngựa thồ, thuyền nan và hơn một chục xe ô tô, tổ chức và phạm vi hoạt động của Cục từ một số chi nhánh và trạm vận tải trên đường số 3 ở hai tỉnh Cao Bằng và Bắc Cạn, đã phát triển thành năm Binh trạm, hai đại đội ô tô, ba xưởng sửa chữa, một đại đội công binh… hoạt động trên bốn tuyến đường (1, 2, 3, 4), trên địa bàn các tỉnh: Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Giang, Tuyên Quang, Hà Giang, rồi từ tháng 4 năm 1951 tiến xuống Phú Thọ, Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa… Từ chỗ vận tải chủ yếu bằng sức người và phương tiện thô sơ đã tiến lên kết hợp thô sơ với cơ giới, và cơ giới ngày càng chiếm tỉ trọng cao hơn.

Trong những năm 1951-1953, dưới sự chỉ đao của đồng chí Đinh Đức Thiện, lực lượng vận tải quân sự ngày một phát triển và đã liên tiếp phục vụ các chiến dịch: Trung Du, đường 18, Hà Nam Ninh, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào giành thắng lợi to lớn. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, đồng chí Đinh Đức Thiện là Đại diện của Tổng Cục tiền phương, đặc trách chỉ huy tuyến vận tải từ Sơn La lên Tuần Giáo để chuyển gạo từ Liên Khu III, IV đưa ra tiền tuyến. Đó là một nhiệm vụ rất trọng yếu, rất nặng nề của hậu cần chiến dịch vào thời điểm đó.

Quá trình xây dựng và phục vụ chiến đấu của bộ đội vận tải trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp đầy gian khổ, dưới sự lãnh đạo của Cục trưởng Đinh Đức Thiện, đã để lại cho các thế hệ tiếp sau nhiều bài học kinh nghiệm thực tiễn phong phú và vô cùng quý báu. Đó là những kinh nghiệm về tổ chức công tác vận tải quân sự, trong điều kiện kinh tế nước ta còn nghèo nàn, lạc hậu, chiến trường bị chia cắt, phân tán, địa hình, khí hậu, thời tiết phức tạp. Đó là những kinh nghiệm về tổ chức sử dụng, động viên lực lượng, sức người, sức của theo đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng để phục vụ cho vận tải quân sự. Đó còn là những kinh nghiệm về tổ chức, chỉ huy vận tải quân sự trong các trận đánh và các chiến dịch có quy mô từ nhỏ đến lớn.

Từ những kinh nghiệm rút ra trong cuộc kháng chiến chống Pháp, khi bước vào cuộc chiến tranh chống Mĩ, tuy không trực tiếp phụ trách công tác vận tải, nhưng trên cương vị là Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần trong suốt nhiều năm chiến đấu oanh liệt, cho đến khi giải phóng miền Nam, đồng chí Đinh Đức Thiện luôn luôn nắm vững vị trí hàng đầu của vận tải trong nhiệm vụ bảo đảm hậu cần, nên đã thường xuyên chăm lo xây dựng và phát triển ngành Vận tải quân sự, mà lực lượng chủ yếu là Đoàn 559 và Cục Vận tải, ngày càng lớn mạnh, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ vận tải chi viện chiến lược cho các chiến trường miền Nam, và hai nước bạn Lào, Campuchia, đồng thời vận tải đầy đủ nhu cầu cho lực lượng vũ trang đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ đối với miền Bắc. Đồng chí đã tạo những điều kiện thuận lợi nhất cho bộ đội vận tải hoàn thành nhiệm vụ, góp phần bảo đảm cho các lực lượng vũ trang nhân dân ta chiến đấu, giành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước; do đó, bộ đội vận tải đã được Đảng và Nhà nước tuyên dương danh hiệu “đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.

Nhân dịp kỉ niệm 26 năm ngày truyền thốn của bộ đội vận tải (18-6-1975), Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã cùng với đồng chí Đinh Đứ Thiện, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần đã đến thăm, căn dặn và chỉ thị cho bộ đội vận tải. Chấp hành chỉ thị của đồng chí, Cục Vận tải đã từng bước tiến hành tổng kết kinh nghiệm công tác vận tải quân sự trong hai cuộc chiến tranh, để đưa vào học tập huấn luyện, nhằm tiếp tục bồi dưỡng, nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ chiến sĩ. Ngoài chăm lo xây dựng tổ chức, lực lượng vận tải tiến lên chính quy, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ trung tâm đột xuất và tham gia xây dựng kinh tế, bộ đội vận tải đã góp phần hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ trong thời kì xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và làm tròn nghĩa vụ quốc tế giúp bạn.

Thực hiện lời dạy của ông cha ta: “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, là thế hệ được vinh dự kế tiếp sự nghiệp của cố Cục trưởng Đinh Đức Thiện, người anh cả của lực lượng vận tải quân sự, chúng tôi mãi mãi ghi nhớ công lao của đồng chí và các cán bộ lão thành lớp trước.

Học tập và noi theo bản lĩnh chiến đấu kiên cường, tác phong giản dị, sâu sát, hết lòng thương yêu, gắn bó với đồng chí, đồng đội, với ngành vận tải quân sự, đặc biệt là sự quan tâm chăm sóc đối với các chiến sĩ lái xe, lái tầu của đồng chí cố Cục trưởng, cán bộ, chiến sĩ vận tải chúng tôi nguyện không ngừng học tập, rèn luyện để tiếp thu những kinh nghiệm quý báu về công tác vận tải quân sự mà các thế hệ cha, anh để lại, vận dụng vào điều kiện mới, tiếp tục quán triệt đường lối quân sự của Đảng về công tác hậu cần, vận tải trong công cuộc đổi mới đất nước, tích cực xây dựng bộ đội vận tải cách mạng, chính quy, từng bước tiến lên hiện đại để luôn luôn sẵn sàng hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ trong thời kì xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chú thích
(*) Nguyên Cục trưởng Bí thư Đảng ủy Cục Vận tải, Tổng cục Hậu cần.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 14 Tháng Năm, 2013, 10:22:56 AM
CẬU VỀ LO GIÚP PHÍA SAU

Thiếu tướng NGUYỄN AN(*)

Tháng 4 năm 1972, kết thúc vận chuyển mùa khô, tôi đang ở Sư đoàn 471 viết báo cáo tổng kết, thì được điện cấp tốc gọi về Bộ Tư lệnh Trường Sơn. Tôi không tiện hỏi kĩ trong điện thoại, nhưng anh Đồng Sĩ Nguyên cũng kịp thông báo mọt tin không vui là anh Nguyễn Danh Phan - Cục trưởng Cục Vận tải - mới hi sinh trong khi đi kiểm tra đơn vị ở Quảng Bình.

Lúc này, Tổng thống Mĩ Níchxơn đang cho máy bay, tàu chiến đánh phá trở lại miền Bắc dữ dội hơn trước, đồng thời triệt để phong tỏa các cảng biến và các cửa sông từ Móng Cái đến Cửa Tùng.

Tôi vừa chân ướt, chân ráo về tới cơ quan, chưa kịp hạ ba lô thì bom đạn đã nổ rầm rầm trên toàn khu vực. Tội gọi điện thoại hỏi trực ban tác chiến thì được biết B52 đã đánh một vệt dài ngang qua khu cơ quan Bộ Tư lệnh. Anh Nguyên hẹn là sau đợt oanh tạc này, sẽ làm việc trong Sở chỉ huy ở địa đạo, có anh Đinh Đức Thiện cũng tham gia.

Mùa khô năm nay, kết quả vận chuyển của Sư đoàn 471 khá tốt, lại được các trung đoàn xe cơ động của bộ Tư lệnh 559 chạy ban ngày trên đường kín, đi vượt cung vào sâu hỗ trợ, nên lượng hàng giao cho Sư đoàn 470 ở phía trong đạt trên 100% kế hoạch và Sư đoàn 470 cũng đã giao hàng cho cả hai hướng Nam Bộ và Tây Nguyên vượt mức trên giao, nên không khí buổi làm việc rất vui vẻ.

Anh Thiện đợi cho đợt hoan hỉ dịu đi, mới nêu nhận xét: “Về kết quả vận chuyển của hai Sư đoàn 470 và 471 mùa khô này, đạt cao so với năm trước, mặc dù địch đã tập trung đánh phá tuyến 559 dữ dội hơn trước rất nhiều, cả về cường độ lẫn chủng loại bom đạn. Nhưng cán bộ chiến sĩ Đoàn 559 nói chung và hai Sư đoàn phía trong nói riêng, đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Nay địch chuyển ra đánh phá miền Bắc với thái độ rất hung hăng. Sau khi thắng cử, Níchxơn muốn dàn xếp được công việc quốc tế có liên quan đến chiến trường Việt Nam một cách  có lợi cho Mĩ, nên đã ra lệnh đánh phá lại miền Bắc với mức độ không hạn chế, có thể sẽ dùng cả B52 đánh vào Hà Nội, Hải Phòng, đồng thời phong tỏa sự chi viện quốc tế bằng đường thủy đến Việt Nam. Tôi e rằng việc vận chuyển ở phía sau sẽ có khó khăn hơn trước, từ đó cũng sẽ ảnh hương đến chân hàng của 559”.

Anh dừng lại một chút rồi ngậm ngùi thương cảm, nói tiếp: “Anh Phan đã hi sinh, trong lúc khối lượng vận tải phía sau càng nặng nề, hoàn cảnh thực hiện nhiệm vụ càng khó khăn. Lúc này, có lẽ tuyến trước phải chia lửa với tuyến sau”. Anh dừng lại một chút, nhìn anh Nguyên rồi quay sang tôi. Anh nói; “Tôi đã trao đổi với anh Nguyên và báo cáo với Quân ủy Trung ương xin điều động anh An, Phó Tư lệnh 559 về làm Cục trưởng Cục Vận tải và anh Bùi Đức Tạm, Phó Chính ủy 559 về làm Chính ủy Cục. bộ đã chuẩn y. Anh An phải chuẩn bị bàn giao công việc ở đây, về sớm, để lo tiếp chân hàng cho 559, ngay sau mùa khô này.

Buổi chiều, trước khi lên đường, anh Thiện gọi tôi sang ăn cơm. Vừa ăn, Anh vừa thân mật dặn tôi; “cậu phải về sớm, lo việc vận tải phía sau cho mình. Cậu ra trước, ngoài ấy có Lê Lương và Đặng Ba làm phó, anh Tạm ở Sư đoàn 571 sẽ ra sau ít ngày, nhưng phải đề bạt thêm một số Cục phó nữa để lo các mặt, vì bây giờ tuyến sau cũng có các binh chủng bảo đảm như cao xạ pháo, công binh, thông tin… Các cậu phải lường cho hết khó khăn, phải sẵn sàng đón nhận những nhiệm vụ đột xuất, có khi ra ngoài cả chức năng vận tải cũng phải làm vì đây là giai đoạn đọ sức quyết liệt với Mĩ trong cuộc chiến tranh này!”.

Tôi xếp ba lô để chuẩn bị lên xe, anh còn sang đưa cho chiếc màn chiến  lợi phẩm, một gói lương khô và nói: “Vợ cậu, trước làm chiến sĩ cơ yếu ở Cục Vận tải, cô ấy có công lao cả thời chống Pháp, cậu cho mình hỏi thăm và tặng ít quà chiến trường”. Anh dừng lại một chút rồi hỏi thêm: “À cái con bé hay nghịch, chạy như chuột ở Phòng Bí thư của Cục Vận tải, bây giờ cháu bao nhiêu tuổi rồi?”. Tôi cười và trả lời anh; “Cháu bác đã 21 tuổi rồi và sắp ra bác sĩ đấy!”. Anh trầm ngâm: “Nhanh quá nhỉ, chẳng trách mình chóng già!”.

Rồi anh lại than thở về việc anh Phan hi sinh: “Tao nghĩ thương thằng Phan quá, lắm lúc nhớ lại thấy ân hận về cái tính nóng nảy của mình, nhiều khi làm anh em xa lánh và hiểu lầm! Cái hôm máy bay ném bom ga Khoa Trường, trúng đoàn tầu quân sự, tao thốc vào kiểm tra, thấy các toa tầu chở toàn chiếu cói, tao bực quá, gọi thằng Phan vào xạc cho một trận. Nó cũng giận mình nhưng không cãi lại lúc đó vì biết mình đang nóng. Bây giờ nghĩ lại vừa thương nó lại vừa tự trách mình”. Anh quay đi, chùi vội dòng lệ đang tràn ra trong khéo mắt.

Tôi biết anh có lúc nóng nảy, đôi khi không tự kiềm chế được, nhưng ở trong thâm tâm, Anh rất mực yêu thương cấp dưới. Những khuyết điểm về công tác của dưới, Anh luôn nhận trách nhiệm lãnh đạo, chỉ huy của mình. Tôi nhớ lại đợt ra quân đầu mùa khô 1967, xe Đoàn 559 mới nhập tuyến, dồn dập đổ hàng ở kho Binh trạm 33 tại Thà Mé. Vì kho mới di chuyển, nên chưa ngụy trang kĩ, địch lại theo dõi qua nhiều đêm, nên đã phát hiện và tập trung đánh phá kho ngay giữa lúc xe đang xuống hàng, làm nổ tung 1.200 tấn vũ khí, đạn và 500 phuy xăng dầu. Đó là một tổn thất lớn trong những ngày đầu mùa, gây choáng váng cho mọi người. Bộ Tư lệnh 559 đánh điện ra Bộ và Tổng Cục xin nhận khuyết điểm. Vài hôm sau, anh Thiện được Thường trực Quân ủy Trung ương ủy niệm điện vào, có đoạn nói: “Cần cẩn trọng hơn nữa trong việc phòng tránh và hiệp đồng thật chặt hơn nữa trong việc đánh địch, vận chuyển và nghi binh. Tổng cục sẽ cho chuyển ngay vào tuyến, bù cho số tổn thất”.

Bức điện đọc giữa buổi giao ban cơ quan Bộ Tư lệnh làm cho mọi người lặng đi vì xúc động trước tấm lòng bao dung của cấp trên mà anh Thiện là người trực tiếp chỉ đạo.

Anh Thiện có tầm nhìn xa chiến lược, đã có những chủ trương, quan điểm, cách giải quyết các vấn đề xây dựng hậu phương và công tác hậu cần trong chống Mĩ rất sắc sảo. Đối với việc chuẩn bị hậu cần, kĩ thuật cho chiến trường bao giờ Anh cũng chủ động, kiên quyết đưa sớm, gối sẵn, ém sâu vao sát hậu phương các chiến trường những nhu cầu thiết yếu nhất, để bảo đảm cho nhiệm vụ tác chiến mà Anh được phổ biến, được bàn bạc trong các cuộc hội nghị của Quân ủy Trung ương hoặc Bộ Chính trị.

Công lao to lớn của Anh là đã chỉ đạo xây dựng rất cơ bản ngành hậu cần phục vụ quân đội đánh thắng đế quốc Mĩ, tên xâm lược đầu sỏ rất tàn bạo, nhưng cũng rất hiện đại, trong đó nổi lên việc chỉ đạo xây dựng và phát triển tuyến vận tải chiến lược Trường Sơ, với phương châm lấy vận tải cơ giới là chủ yếu, có lực lượng binh chủng hợp đồng bảo đảm. Đó là then chốt đưa đến thành công lớn trong nhiệm vụ vận tải chi viện chiến trường.

Mấy tháng sau, Anh cùng một đoàn cán bộ, vào Nam Bộ kiểm tra công tác hậu cần, kết hợp đi duyệt lại cả hai tuyến đường Đông và Tây Trường Sơn, nối vào các căn cứ hậu cần chiến trường. Tất cả các Cục trưởng thuộc Tổng cục Hậu cần đều đi, chỉ riêng Cục trưởng Cục Vận tải phải ở nhà. Anh biết tôi có băn khoăn về việc này, nên chủ động bảo tôi: “Công tác vận tải ở chiến trường rất nặng, nhưng hiện nay chưa gắp bằng việc đẩy mạnh vận tải phía sau, lập chân hàng sớm cho Đoàn 559. Nếu tới đây ba tháng không phụ vụ được hàng kịp thời cho bộ đội đánh mạnh, thì ở Pari chắc chắn cũng sẽ bị ảnh hưởng!”. Anh nhắc tôi phải chuẩn bị chu đáo cho khâu vượt sông ở Long Đại và Gianh, để đón thời cơ, đưa các đơn vị binh khí kĩ thuật nặng, gấp rút vào chiến trường. Anh còn hướng dẫn cụ thể cách ghép phà lớn để chở được một lúc 16 xe vận tải 4 tấn, và yêu cầu phà ghép xong, phải đưa gấp vào để hoạt động ngay. Các cán bộ và chiến sĩ dũng cảm và mưu trí của Xí nghiệp đóng và sửa chữa tầu A173 và Đoàn Vận tải Hồng Hà đã hoàn thành được kế hoạch ghép và và kéo phà từ Hải Phòng vào Long Đại và sông Gianh đúng thời gian anh Thiện quy định, mặc dầu lúc đó, địch đang phong tỏa gắt gao trên đường biển.

Sau này, khi các đạo quân thần tốc ào ạt vào chiến trường, xe pháo đầy đường, ùn ùn vượt sông, tôi mới thấy rõ hơn tầm nhìn chiến lược đi đôi với kế hoạch chỉ đạo cụ thể của Anh, đúng là kiệt xuất!

Chú thích
(*) Nguyên Phó Tư lệnh Đoàn 559; Cục trưởng Cục vận tải; Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 14 Tháng Năm, 2013, 10:24:20 AM
NHỚ MÃI ANH ĐINH ĐỨC THIỆN

Thiếu tướng BÙI ĐỨC TẠM(*)

Tôi công tác ở Đoàn 559 từ năm 1966 đến giữa năm 1971. Anh Đinh Đức Thiện thay mặt Quân ủy Trung ương và Tổng cục Hậu cần, trực tiếp chỉ đạo Đoàn 559 từ cuối năm 1965 đến khi quân, dân ta toàn thắng đế quốc Mĩ xâm lược. Anh đã đóng góp rất nhiều công sức và trí tuệ vào việc xây dựng và chỉ đạo Đoàn 559, tạo điều kiện để Đoàn thực hiện được vai trò là cái cầu chiến lược, nối liền hậu phương lớn miền Bắc với tiền tuyến lớn miền Nam, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đánh thắng giặc Mĩ xâm lược của quân đội và nhân dân ta.

Ở Anh, nổi bật lên tính cách đặc biệt của một người chỉ huy có quyết tâm rất cao trong công tác, nhưng về tình cảm thì lại luôn luôn thương yêu đồng chí, đồng đội vô hạn.

1. Quyết tâm cao của Anh thể hiện trong việc xây dựng Binh đoàn vận tải Trưởng Sơn, mở nhiều tuyến đường ô tô ngang, dọc liên hoàn, đẩy nhanh quá trình cơ giới hóa vận tải, xây dựng mạng thông tin chỉ huy, đưa lực lượng phòng không vào tuyến vận tải, để đánh trả máy bay địch, bảo vệ cơ sở và lực lượng vận tải, và đặc biệt trong việc xây dựng tuyến đường ống xăng dầu từ miền Bắc vào miền Đông Nam Bộ.

Đây là một công trình lớn mà Anh đã suy nghĩ rất nhiều và quyết làm bằng được. Anh đã chỉ đạo bộ đội xăng dầu lập được chiến công kì diệu: bắt dòng xăng chảy ngược vượt lên những triền núi cao, qua những dòng suối sâu, trên dọc dải Trường Sơn hùng vĩ.

Đây cũng là một việc làm thật táo bạo, một sự vận dụng sáng tạo của Anh cùng đội ngũ cán bộ chỉ huy và kĩ thuật xăng dầu, vào hoàn cảnh thực tế của chiến trường Việt Nam, dùng những bộ đường ống dã chiến chiến dịch của quân đội các nước anh em, lắp ráp thành tuyến đường ống chiến lược dài hàng nghìn kilômét để bơm xăng từ các kho ở hậu phương miền Bắc cung cấp cho lực lượng vận tải Đoàn 559, cho các chiến trường, cho các đoàn xe chở bộ đội và các binh khí kĩ thuật hành quân thần tốc vào tham gia các chiến dịch mùa Xuân 1975 để giải phóng miền nam.

Trước khi có tuyến đường ống này, đường vận tải bị địch tập trung đánh phá hết sức ác liệt, đường tắc nghẽn xe chở xăng không qua được, có binh trạm đã phải dùng can nhựa 20 lít và túi nilông gùi xăng qua các trọng điểm, phải chịu khá nhiều thương vong, có lúc phải thả các phuy xăng cho trôi theo dòng nước chảy trên các sông suối. Có đơn vị đã phải tổ chức các tiểu đội xe xung kích, lợi dụng lúc đường vừa chữa xong, lái xe chở xăng vọt qua trọng điểm thật nhanh; nhưng rồi phần lớn cũng không thoát, xe bị bắn trúng, lái xe hi sinh, xăng bốc cháy và hàng tốp máy bay “bâu” lại bắn phá tan hoang cả quãng đường! Anh em công binh và thanh niên xung phong bảo đảm giao thông đã tặng cho các lái xe xi téc chở xăng danh hiệu “anh hùng mặc áo lửa”! Nhưng, những cách làm thủ công và nhỏ lẻ như vậy, mặc dầu rất dũng cảm, sáng tạo, cũng không đáp ứng được nhu cầu mà thường phải chịu thiệt hại lớn!

Nhờ xây dựng thành công tuyến đường ống, đã giảm được tối đa xương máu của chiến sĩ vận tải, giảm được tổn thất xăng dầu, xe cộ, mà lại chi viện được khối lượng rất lớn xăng dầu cho tuyến vận tải và cho các chiến trường.

2. Anh Đinh Đức Thiện là người chỉ huy có tinh thần thương yêu đồng chí và đồng đội vô hạn.

Thu Đông 1967, tôi đi kiểm tra các binh trạm phía Nam. Lúc này, ta chưa vận chuyển được lớn, nên các Binh trạm 3 và 4 (ở Hạ Lào) thiếu gạo, thực phẩm, thuốc chữa bệnh nghiêm trọng. Bộ đội có khi phải ăn mang và củ rừng thay cơm. Vì vậy, trên tuyến có câu ca dao truyền miệng:

“Ai đi qua đất tuyến ba,
Chớ có la cà mà đói khổ thân”.

Đến Binh trạm 3 các đồng chí Nguyễn An, Vũ Quang Bình ra đón và nói: “Hôm nay có đoàn của cấp trên vào, chúng tôi ưu tiên mời đoàn mỗi suất ăn một lạng gạo với măng”. Câu nói nghe có vẻ khôi hài, nhưng đúng là sự thật!

Đến Binh trạm 4, các đồng chí Lê Quang Dự, Lê Xi vừa khỏi sốt rét, người gầy rộc, báo cáo:

“… Cần đây, bộ đội ốm nhiều, một số đã chết vì sốt rét ác tính; hàng trăm người sau khi khỏi sốt, không có gì bồi dưỡng, nên bị teo cơ hoặc mờ mắt…”. tôi hỏi: “Trong kho hàng có thuốc gì để chữa bệnh và bồi dưỡng cho anh em không?”. Các anh cho biết: “Có 5 kilô B1, nhưng là hàng của chiến trường, chúng tôi không dám đụng đến”. Tôi báo cáo ngay tình hình đó về anh Đinh Đức Thiện và anh Đồng Sĩ Nguyên ở Sở chỉ huy. Sau này, trở về cơ quan tôi được anh em kể lại: “nghe xong báo cáo, anh Thiện lau nước bắt bảo anh Nguyên: “Cho xuất ngay 2kg B1 để cứu anh em, nếu không thì còn ai mà vận chuyển cho chiến trường nữa”.

Đối với cá nhân tôi, anh Đinh Đức Thiện để lại những kỉ niệm sâu sắc không bao giờ có thể quên được.

Tháng 6 năm 1970, khi tôi nhận nhiệm vụ đi thành lập Sư đoàn 470 ở khu vực Nam Lào - Đông Bắc Camupchia, Anh đến thăm và nói rất thân tình: “Như vậy là cầu đi “a văng xăng” (trung phong), tin ở câu trên mới giao, nhất định cầu làm được”. Anh rất hiểu cán bộ, tin ở cấp dưới và thường tạo điều kiện cho cấp dưới hoàn thành nhiệm vụ.

Mùa khô 1970-1971, địch dùng cách đánh mới: đưa máy bay AC130 được trang bị pháo 40 li, có máy nhìn đêm phát hiện tia hồng ngoại, đi săn lùng xe, vừa bắn phá, vừa rải hỗn hợp các loại bom từ trường, bom phá, bom nổ chậm, mìn… trên những đoạn đường dài hàng trăm kilômét, để gây tắc đường, ngăn chặn không cho xe qua. Lúc đầu, chưa có kinh nghiệm đối phó, nên có lúc ở các binh trạm phía ngoài, trong một tuần có tới hơn một trăm xe bị bắn cháy, hàng trăm cán bộ và chiến sĩ công binh bị gẫy chân vì mìn lã; đường vận chuyển bị tắc.

Đùa năm 1972, sau khi bộ đội phòng không Đoàn 559, bắn rơi hai máy bay AC130 ở khu vực sân bay A Lưới và Sê Pôn, ta đã rút kinh nghiệm về cách đánh lại loại máy bay này, và cách phá bom mìn hỗn hợp, đem ra phổ biến trên toàn tuyến.

Đầu năm 1971, máy bay AC130 bắt đầu đánh vào khu vực chúng tôi. Chiều tối 30 tháng 3, tôi cùng một số cán bộ cơ quan Sư đoàn đi ra đường, để trực tiếp chỉ đạo cách chống phá địch qua kinh nghiệm các binh trạm phía Bắc. Khi qua đường 49 thì xe tội bị địch phát hiện và hai máy bay AC130 đến quần đảo và bắn phá khu vực đó suốt hai giờ liền. Chúng tôi chạy được vào hầm nhưng hầm cũng bị trúng bom. Tôi cùng một số cán bộ, chiến sĩ bị thương. Tổ cấp cứu lưu động khiêng tôi ra khỏi hầm, máu đầm đìa từ bụng xuống đến hai chân. Các trạm “barie” báo cáo về Binh trạm và Đoàn 559 là tôi bị gẫy hai chân. Sau tôi được biết, hôm đó anh Đinh Đức Thiện đang ở Sở chỉ huy Đoàn, Anh xúc động bảo cơ quan điện ngay cho Viện Quân y 45 “cố giữ cho anh Tạm một chân”. Tôi hiểu Anh rất thương tôi và các cán bộ, chiến sĩ bị thương vong! May mắn quá, khi bệnh viện tháo băng ra thì tôi bị sáu vết thương, nhưng chỉ một vết gẫy xương ống chân phải, còn đều vào phần mềm.

Hơn một tháng sau anh Thiện lại diện vào Sư đoàn: “Chuyển đồng chí Tạm ra hậu phương điều dưỡng, khỏi sẽ vào sau”, mặc dù tôi đã hai lần xin ở lại đơn vị, tiếp tục công tác.Sau hai tháng điều trị ở Viện Quân y 108, tôi lại xin về Đoàn 559. Anh đến thăm tôi và bảo: “Bây giờ cậu không đi “a văng xăng” được nữa, cậu sẽ giữ “arie” (hậu vệ( thôi!”. Thế là tôi được giao nhiệm vụ đại diện cho tiền phương Tổng cục Hậu cần giao hàng cho Đoàn 559, ở Nam Quân khu IV. Đây là vùng “cán xoong” mà địch đã tập trung đánh phá rất ác liệt trong mùa mưa 1972.

Trải qua nhiều năm tháng công tác căng thẳng và nhiều đêm không ngủ từ trước đây, tôi bị bệnh huyết áp thấp và suy nhược thần kinh nặng. Anh biết tin đã viết thư động viên tôi cố giữ gìn sức khỏe để công tác và gửi quà cho tôi hai lạng cao ban long và bốn con chim bồ câu để bồi dưỡng.

Tôi còn thấy ở Anh, một người chỉ huy luôn luôn có tinh thần cách mạng tiến công, không chịu lùi bước trước khó khăn, nên thường không ưa những người hay bàn lùi. Anh là một người “khẩu xà, tâm phật!”: đối với cán bộ dưới quyền, người nào mắc khuyết điểm do thiếu trách nhiệm, Anh hay phê bình gay gắt, nhưng xong rồi, lại bỏ qua; có khi anh dọa cách chức, nhưng thực ra Anh chưa kí quyết định thi hành kỉ luật nặng với ai. Hiểu rõ tính tình của Anh như vậy, nên nhiều cán bộ rất quý trọng Anh.

Để tưởng niệm Anh, tôi xin ghi lại mấy việc mà tôi biết rõ và đã trở thành những kỉ niệm sâu sắc của tôi trong những năm tháng hoạt động dưới sự chỉ đạo của Anh trên tuyến đường Trường Sơn.

Những cống hiến của Anh đối với kháng chiến, đối với quân đội, đối với nhân dân là to lớn. Anh đã để lại tấm gương sáng cho các thế hệ nối tiếp học tập và phát huy để hoàn thành sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân.

(*) Nguyên Phó Chính ủy Đoàn 559, Chính ủy Cục Vận tải, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kĩ thuật.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 14 Tháng Năm, 2013, 10:28:08 AM
PHẢI TẬN DỤNG MỌI LOẠI PHƯƠNG TIỆN VẬN TẢI

Đại tá VŨ BÁ TƯỚC(*)

Năm 1965, khi tôi ề công tác ở Cục vận tỉa, cũng là lúc đế quốc Mĩ bắt đầu đưa máy bay ra bắn phá miên Bắc. Cục Vận tải vừa được thành lập trở lại, do anh Nguyễn Danh Phan làm Cục trưởng. Anh Đinh Đức Thiện cũng mới từ Bộ Công nghiệp nặng trở lại quân đội làm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Trước đây tôi chưa được gặp Anh nhưng đã nghe nhiều “giai thoại” về Anh: nào là “người Cục trưởng Vận tải rất tài năng trong kháng chiến chống Pháp”, nào là “người cán bộ lãnh đạo rất quyết tâm, rất nhiệt tình, nhưng tính nóng như lửa, mà một khi đã nóng thì không kiêng nể một ai, làm ăn với “ông” mà lơ mơ thì chỉ có chết”.

Sau này, tôi thường được lên Tổng cục giao ban, hoặc báo cáo kế hoạch vận tải, khi thì đi theo Cục trưởng Nguyễn Danh Phan, khi thì làm việc trực tiếp với anh Đinh Đức Thiện, được nghe những chỉ thị, những ý kiến chỉ đạo của Anh, tôi thấy rõ Anh là một người chỉ huy có tư tưởng làm ăn lớn, có nhãn quan nhìn xa, trông rộng, luôn luôn nắm được những trọng tâm, những vấn đề then chốt cần phải giải quyết, đồng thời cũng không bỏ qua mọi khả năng có thể tận dụng để tạo ra sức mạnh tổng hợp. Điều này đã thể hiện rõ trong tư tưởng chỉ đạo của Anh đối với công tác vận tải.

Lúc đó, Cục Vận tải được Tổng cục Hậu cần giao nhiệm vụ tổ chức vận chuyển hàng hóa từ miền Bắc  vào Nam Quân khu IV, tạo chân hàng cho Đoàn 559 tiếp chuyển trên tuyến đường Trường Sơn, chi viện cho các chiến trường. Cục vận tải chủ yếu sử dụng lực lượng vận tải của Nhà nước: tầu hỏa, tầu thủy, các đoàn vận tải ô tô các tỉnh và một phần lực lượng của Cục gồm có một ít ca nô, xà lan, ô tô (Tổng cục Hậu cần có 3 Trung đoàn xe thì đã được điều hết vào Đoàn 559).

Mục đích chính của địch đánh phá miền Bắc là nhằm ngăn cản chi viện cho miền Nam, nên đối tượng chủ yếu để đánh phá là giao thông vận tải, và khu vực trọng tâm là phía Nam Quân khu IV. Trong năm 1965, máy bay Mĩ đã bắn phá ác liệt các cầu, phà, bến cảng, các đoạn đường sắt, đường bộ xung yếu nhất là từ Hà Tĩnh trở vào, làm cho giao thông vận tải bị ách tắc nghiêm trọng. Đến giữa năm, kế hoạch tạo chân hàng cho Đoàn 559 mới chỉ đạt 25%.

Anh Đinh Đức Thiện chỉ thị cho Cục Vận tải phải tìm mọi cách để đảm bảo đủ chân hàng cho Đoàn 559 trước mùa khô. Địch đã phá hỏng phần lớn đầu máy, toa xe ở Nam Khu IV, anh Thiện đã bàn với Bộ Giao thông Vận tải, lắp các camiông ray (camion rail) kéo các toa xe goòng để tận dụng tuyến đường sắt Chu lễ - Tân Ấp - Đò Vàng(1). Nhưng chỉ sau một thời gian, địch phát hiện lại tập trung đánh phá sập hầu hết các cầu, làm cho đoạn đường goòng này chỉ dài có 28km, mà phải chuyển tải tới bốn, năm lầm…

Một buổi sáng, anh Đinh Đức Thiện trệu tập Cục Vận tải và Quản lí xe lên làm việc. Anh nói: “Để bộ đội ở chiến trường miền Nam đói, thiếu súng, thiếu đạn là tội của miền Bắc, tội của hậu cần; phải tìm mọi cách, bằng bất cứ giá nào, đưa hàng vào chiến trường, không chịu bó tay. Địch đánh tắc đường bộ, đường goòng, thì ta phải phát triển thật nhanh đường thủy; lúc này địch đang tìm cách ngăn ngoài biển, ta phải tận dụng các sông, ngòi, kênh, rạch trong nội địa để vận chuyển”. Anh yêu cầu Cục Quản lí xe triển khai việc đóng ca nô, xa làn, và Cục Vận tải đi khảo sát ngay khả năng vận chuyển đường thủy ở nam Khu IV, tìm các bến bãi, kho chứa hàng, nơi cất giấu phương tiện vận tải, đặc biệt chú trọng “Kênh nhà Lê” qua kênh này đưa phương tiện thủy vào hoạt động trên các sông Khu IV, đặc biệt chú ý tuyến Khương Hà - Minh Cầm - Cù Lạc(2), để hỗ trợ cho tuyến đường goòng đang có khó khăn.

Cục Vận tải cử cán bộ đi khảo sát “Kênh nhà Lê”(3), thấy có thể dùng cho loại thuyền hoặc xà lan 30 tấn. Anh Thiện liền hạ lệnh cho Cục đưa ngay một đầu kéo và sáu xà lan 30 tấn, theo “Kênh nhà Lê” vào vận chuyển trên sông Lam, sông Ngàn Sâu, Ngàn Phố(4).

Riêng tuyến Khương Hà - Cù Lạc, vì không thể đưa phương tiện đến bằng đường thủy, nên tôi được giao nhiệm vụ cùng một số cán bộ Cục vận tải và xưởng A173 Cục Quản lí xe đi khảo sát đường bộ để vận chuyển ca nô và sả lan đến bằng ô tô. Đường ra sông, nhiều đoạn rất hẹp, xe 4 tấn khó đi qua lọt, nên chúng tôi phải vừa đi vừa phát cây mở rộng đường. Tuy nhiên cũng còn nhiều đoạn cua gấp khúc quá hẹp, nên xe chở xà lan dài quá cũng không qua được.

Chúng tôi về báo cáo tình hình, anh Đinh Đức Thiện liền quyết định giao cho Cục Quản lí xe sản xuất loại xà lan 10 tấn nhưng chia làm 3 khoang tách rời (2 khoang mũi và 1 khoang giữa). Còn một khó khăn nữa phải giải quyết là chúng tôi chỉ có một xe cẩu 5 tấn, tay đòn ngắn, mà ở bờ sông thì đường rất hẹp, địa hình mấp mô, lầy lội, không có chỗ cho xe cẩu đứng để hạ các khoang xà lan xuống sông. Chúng tôi đã bàn cách khắc phục: bạt đất thành một dốc thoải từ bờ sông xuống mặt nước, lót tà vẹt cho ca nô, xà lan trượt xuống nhờ sức thả của tời xe Zil 157…

Một đêm tối trời, chúng tôi bắt đầu dùng xe 3 cầu, chở ca nô và các khoang xà lan ra bờ sông. Trời mưa, đường trơn, lầy, xe chở cồng kềnh, nên đi rất chậm, phải nhích dần từng đoạn, từng đoạn, nhất là khi vượt qua những “cua” ngoặt gấp khúc. Đến 2 giờ sáng, xe mới vào đến bờ sông. Mặc dầu rất mệt, nhưng cũng phải hạ hàng xuống trước khi trời sáng. Cán bộ, chiến sĩ dùng sức người kết hợp với tời thả từng khoang, cho trượt từ từ xuống sông. Trong khi thả phải có một số người đỡ cho khoang xà lan đặt đúng vào đường trượt; khi xà lan trượt, hai bên rãnh phải có người điều chỉnh, khi xà lan xuống nước, phải có người nhảy xuống theo, để giữ, kéo, móc nối 3 khoang lại với nhau thành một xà lan, rồi đem đi cất giấu ở chỗ có bụi cây che khuất.

Hai tuần sau, Cục Vận tải đã có 1 ca nô và 6 xà lan 10 tấn chạy trên tuyến Khương Hà - Minh Cầm - Cù Lạc. Các phương tiện được ngụy trang cẩn thận, địch lại bị bất ngờ nên không phát hiện được.

Việc tổ chức tuyến vận tải đường thủy này đã giúp khắc phục được khó khăn về chuyển tải và đối phó với địch trên tuyến đường goòng.

Nhờ phát triển mạnh vận tải đường thủy ở Nam Khu IV, nên đến mùa khô năm đó, đã bảo đảm chân hàng cho Đoàn 559 đạt 80%.

Nhớ lại chuyện này để thấy rõ sự khôn ngoan, sáng tạo, tài tình, tầm nhìn toàn diện của anh Đinh Đức Thiện trong chỉ đạo công tác vận tải chi viện chiến trường.

Chú thích
(*) Nguyên Cục trưởng Cục Vận tải.
(1) Chu Lễ - Tân Ấp - Đò Vàng nằm trên tuyến đường sắt Bắc - Nam thuộc huyện Hương Khê (Hà Tĩnh).
(2) Khương Hà - Minh Cầm - Cù Lạc: thuộc huyện Tuyên Hóa (Quảng Bình).
(3) Là con kênh đào từ Thanh Hóa vào Nghệ An, được vua Lê Đại Hành cho đào từ năm 972 để mở đường tiến quân vào phía Nam. Đến đời nhà Trần, từ năm 1231, vua Trần Thái Tông cho tu bổ, mở rộng, đào sâu thêm.
(4) Là hai con sông chảy qua huyện Hương Sơn (Hà Tĩnh) đổ vào sông Cả..


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 29 Tháng Năm, 2013, 01:13:49 PM
VẬN TẢI: THÔ SƠ HAY CƠ GIỚI

NÔNG TÁC LÂM(*)

Trong những năm 1967 - 1968, đế quốc Mĩ tập trung cao độ lực lượng không quân và cả pháo tầm xa, đặt trên các hạm tầu, đánh phá ác liệt các tuyến giao thông ở miền Bắc, nhằm ngăn chặn nguồn tiếp tế từ hậu phương vào các chiến trường miền Nam. Đặc biệt, từ sau khi Tổng thống Mĩ Giônxơn tuyên bố “ném bom hạn chế” từ vĩ tuyến 20 trở vào, thì địch đã tập trung đánh rất dữ dội khu vực Nam Quân khu IV, mà chúng gọi là “vùng cán xoong”. Ở một số trọng điểm như ngã ba Đồng Lộc, các cửa khẩu vào tuyến 559, đầu đường nối ào các chiến trường, các bến phà, máy bay địch đủ loại đã thay nhau bắn phá suốt ngày đêm, hầu như không có lúc nào ngừng. Hố bom chi chít của các loại bom nổ ngay, bom nổ chậm, bom napan, bom bi, mìn… chồng chất lên nhau. Đường cũ không còn vết tích, cây cối bị phá trụi, núi đồi bị cày xới, sạt lở chỉ còn một mầu đất nâu xám, đồng ruộng biến thành bãi bùn… Có những nơi, do địch đánh phá liên tục, hàng nửa tháng liền, không một phương tiện giao thông nào qua được. Trong khi đó thì hàng trăm xe trên đường Trường Sơn phải chờ hàng, nhất là chờ xăng dầu.

Đặc biệt khó khăn là Quân khu Trị Thiên, mặc dầu ở sát ngay hậu phương lớn, nhưng từ sau cuộc tổng tiến công “Tết Mậu Thân”, tuyến vận tải vào chiến trường đã bị máy bay địch băm nát, không những đường ô tô mà cả đường gùi thồ cũng bị ách tắc nghiêm trọng. Bộ đội, thanh niên xung phong và dân công, có nơi thiếu gạo đã phải ăn cháo.

Để tăng cường sự lãnh đạo, chỉ huy các lực lượng đối phó với cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ nhằm phong tỏa giao thông vận tải ở tuyến Nam Quân khu IV, Trung ương Đảng và Chính phủ đã quyết định thành lập Bộ Tư lệnh bảo đảm giao thông vận tải Quân khu IV - do Thiếu tướng Phan Trọng Tuệ, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải làm Tư lệnh. Thiếu tướng Lê Quang Hòa, Chính ủy Quân khu IV làm Chính ủy, Đại tá Hoàng Văn Thái, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần làm Phó Tư lệnh. Trong tình hình địch đánh phá ác liệt, giao thông vận tải bị đình đốn không chuyển được hàng vào chiến trường, Bộ Tư lệnh Bảo đảm giao thông vận tải đã họp để bàn việc đẩy hàng qua các trọng điểm, giao cho Đoàn 559 vận chuyển vào các chiến trường, và đặc biệt có Đại tướng Võ Nguyên Giáp; đồng chí Đinh Đức Thiện, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần; đồng chí Lê Quang Đạo, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; đồng chí Lương Nhân, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần; đồng chí Hoàng Anh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Khu ủy Trị Thiên. Tôi là Phó Tham mưu trưởng Ban Bảo đảm giao thông vận tải làm thư kí hội nghị.

Các phương án đề xuất để bảo đảm giao thông vận tải chi viện chiến trường được hng thảo luận rất kĩ lưỡng. nhưng tựu trung, có hai phương án chính:

Phương án thứ nhất của đồng chí H.A. căn cứ vào tình hình địch đánh phá ngăn chặn tuyến giao thông rất quyết liệt, không thể vận chuyển lớn bằng ô tô được, ta nên mở những tuyến đường nhỏ bí mật trong rừng, có thể che mắt máy bay địch, để tổ chức vận chuyển bằng xe đạp thồ.

Để thực hiện riêng đối với tuyến vào Trị Thiên, cần có vài nghìn chiếc xe đạp và điều khiển xe đạp thồ. Xe đạp thì không có gì khó khăn lắm vìa đã có sẵn trong kho của Bộ Vật tư và Ủy ban Kế hoạch Nhà nước sẵn sàng cấp cho chiến trường. Riêng về dân công, nhắt là loại biết điều khiển xe đạp thồ ở đường rừng, đề nghị huy động ở Thanh Hóa, vì tỉnh này là nơi có đông người làm nghề thồ hàng bằng xe đạp, đã nổi tiếng về sức dẻo dai và khả năng chở đường nhiều hàng trên một xe từ Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954). Vấn đề này tuy có khó khăn nhưng cũng có thể đáp ứng được.

Phương án này, xem xét thì có vẻ đơn giản, thực hiện không có gì trở ngại nhiều lắm, nhưng có nhược điểm là phải đưa thêm khá nhiều nhân lực vào chiến trường. Việc cung cấp, tiếp tế cho lực lượng này sẽ rất tốn kém, trong khi chiến trường Trị Thiên đang có nhiều khó khăn về lương thực, thực phẩm do không vận chuyển vào được. Vả lại cũng không thể nào tin chắc chắn là với một lực lượng xe và người đông đảo như vậy, vào trong thời gian dài, mà địch không phát hiện được và sẽ không bị đánh phá. Và còn điều quan trọng nhất là với lực lượng thô sơ này thì khối lượng hàng đưa vào không được nhiều, không bảo đảm được nhu cầu thường xuyên của chiến trường, chứ không nói gì đến nhu cầu để đánh lớn.

Phương án thứ hai của đồng chí Đinh Đức Thiện; dựa trên căn cứ trong hơn hai năm qua, ta đã thực hiện vận tải cơ giới có kết quả và ta cũng có một số kinh nghiệm. Do nhu cầu của chiến trường ngày càng lớn, đòi hỏi ta nhắt thiết phải tìm mọi cách chẳng những để duy trì mà còn phát triển nhanh vận tải cơ giới thì mới đáp ứng được. Không những tiếp tục vận chuyển cơ giới trên hành lang Trường Sơn, mà cả trên các tuyến đường từ hậu phương vào Đoàn 559, và từ Đoàn 559 vào các chiến trường. Nay địch tập trung đánh phá rất ác liệt vào nam Quân khu IV và đường vào Trị Thiên, nhưng chúng cũng không có đủ lực lượng rải ra đánh khắp mọi nơi, nên đã có phần lơi lỏng đối với các tuyến phía trong. Ta cần khắc phục khó khăn, chuyển nhanh chân hàng cho Đoàn 559 để tranh thủ thời cơ, đưa vào các chiến trường, ngay trong mùa khô này. Anh Thiện đề nghị cụ thể:

- Tập trung lực lượng vận tải của quân đội và của Nhà nước tạo kì được chân hàng cho Đoàn 559 theo một kế hoạch thống nhất: ở phía sau, do lực lượng của Bộ Giao thông Vận tải (xe goòng, tầu, thuyền, xà lan, ô tô…), kết hợp với một phần lực lượng của Cục Vận tải quân đội thực hiện; ở phía trong, gần các cửa khẩu do lực lượng vận tải quân sự đảm nhiệm. Sẽ dùng các đại đội, tiểu đoàn xe, lợi dụng những lúc thông đường, tổ chức các đợt vận chuyển đột kích, vượt qua các trọng điểm, các cửa khẩu để giao hàng cho Đoàn 559 và dưa tới các kho của Quân khu Trị Thiên.

- Nói về xe, thì trước hết phải nói đến đường, vì có đường thì xe mới chạy được. Địch chủ yếu nhằm vào đường cầu để đánh phá; cho nên cần tăng chường thêm lực lượng làm đường, cầu và bảo đảm giao thông (công binh, thanh niên xung phong, dân công…), để khi địch đánh hỏng chỗ nào, ta có lực lượng sửa ngay, không để tắc đường lâu; ta phải làm nhiều đường phụ, đường vòng, đường tránh, đường ngầm, để khi địch đánh đường này ta đi đường khác; đường chính cũng phải mở thêm để ta có nhiều cửa vượt khẩu, lực lượng đánh phá của địch sẽ bị phân tán, không tập trung được. Cụ thể là, ngoài đường 12, đường 20 đang sử dụng, tiếp tục duy trì tuyến đường vận tải tô sơ qua làng Ho (Nam Quảng Bình) để hỗ trợ một phần cho vận tải cơ giới, nay cần mở thêm tuyến đường ô tô chạy từ Long Đại, qua nông trường cao su Lệ Ninh, qua biên giới Lào (Bắc sông Sê Băng Hiên).

- Địch đánh phá giao thông vận tải của ta, ta phải đánh lại chúng mà đi. Cần dưa lực lượng phòng không từ pháo cao xạ 100, 57, 37 li đến các loại súng 12,7 và 14,5 ly của B5, của Quân khu, của Tỉnh… đến yểm trợ giao thông vận tải; có những đơn vị bố trí cố định để bảo vệ các trọng điểm, có những đơn vị cơ động để bảo vệ các đoàn xe, nhất là trong các đợt vận chuyển đột kích, hoặc để tập trung bảo vệ những mục tiêu cần thiết. Có lực lượng cao xạ đánh trả thì máy bay địch cũng chùn, không thể tự do muốn đánh đâu thì đánh, mà về phía ta thì công binh, thanh niên xung phong, dân công và lái xe cũng yên tâm hơn.

Cần xác định nhiệm vụ các đơn vị phòng không ở đây là để bảo vệ giao thông, bảo vệ vận tải; phải đánh địch không cho chúng phá đường, phá cầu, phá kho tàng, phá phương tiện… là chính. Bắn rơi máy bay địch là rất tốt, nhưng nếu chỉ bắn xua được địch đi, không cho chúng đánh trúng mục tiêu, cũng là hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc rồi!

- Cần thống nhất chỉ huy: ở trên đã có Ban Bảo đảm giao thông chung, ở các địa phương, cũng lập Ban bảo đảm giao thông của từng địa phương. Riêng ở phía tro9ng, gần các cửa khẩu do tính chất phải đối phó với địch rất quyết liệt, các lực lượng vận tải của quân đội, các lực lượng làm đường, bảo đảm giao thông, phòng không đều đặt dưới quyền chỉ huy của Binh trạm vận tải. Binh trạm là hình thành tổ chức binh chủng hợp thành. Có như vậy mới tạo ra sức mạnh, tránh được tình trạng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”…

Đồng chí Phan Trọng Tuệ nhiệt liệt ủng hộ phương án tổ chức vận chuyển lấy cơ giới là chính, không nên quay trở lại vận chuyển thô sơ! Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng tán thành phương án này.

Sau khi thảo luận cân nhắc mọi người đều nhất trí với phương án 2 do đồng chí Đinh Đức Thiện trình bày.]

Anh Thiện hứa nhất định sẽ bảo đảm đầy đủ nhu cầu cho chiến trường, mong các đồng chí ở Quân khu và địa phương cứ yên tâm.

Phương án này được đem ra thi hành ngay và đã đưa đến kết quả rất tốt. Mặc dầu, tập trung lực lượng tối đa, để quốc Mĩ đã không bao giờ còn ngăn chặn được việc vận chuyển hàng chi viện chiến trường của ta đi qua vùng “cán xoong” và các cửa khẩu của tuyến vận tải chiến lược. Riêng đối với Quân khu Trị Thiên, nhờ vận chuyển cơ giới mùa khô 1969 trở đi đã nhận được hàng chi viện không những đủ mà còn vượt mức yêu cầu của chiến trường.

Nhắc đến câu chuyện về lựa chọn phương án vận tải: “cơ giới hay thô sơ”, trong thời kì địch tập trung đánh phá ác liệt ở Quân khu IV, nhất là vào cuối năm 1968, để nhớ lại công lao của đồng chí Đinh Đức Thiện, một người chỉ đạo công tác vận tải trong chiến tranh rất tài tình, rất sáng tạo. Anh là nhà lãnh đạo có tầm nhìn xa trông rộng, nhạy bén, sắc sảo, và có cách làm rất táo bạo và độc đáo.

Chú thích
(*) Nguyên Phó Tham mưu trưởng Cục Vận tải Tổng cục Hậu cần; Phó Tham mưu trưởng Ban Bảo đảm giao thông Vận tải Quân khu IV; Vụ trưởng Vụ Kế hoạch Bộ Cơ khí luyện kim..


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 29 Tháng Năm, 2013, 01:15:13 PM
NGƯỜI THẦY CỦA CÔNG TÁC VẬN TẢI TRONG CHIẾN TRANH

Đại tá TRẦN LÂN(*)

Cuối tháng 11 năm 1968, ngay sau khi đe quốc Mĩ tuyên bố ngừng ném bom, bắn phá miền Bắc, Bộ Tư lệnh 500(1) đã triệu tập các cơ sở lên họp và chỉ rõ: địch sẽ tập trung hỏa lực đánh phá tuyến 559 dữ dội hơn, kể cả các cửa khẩu từ miền Bắc vào và các đường ngang từ hành lang chiến lược vào các chiến trường, quyết ngăn chặn luồng hàng từ hậu phương miền Bắc chi viện cho miền Nam.

Để hỗ trợ cho vận tải cơ giới, đề phòng những khó khăn bất trắc, Bộ Tư lệnh giao cho Binh trạm 16 tổ chức một tuyến vượt khẩu bí mật bằng phương tiện thô sơ, không để địch phát hiện. Chúng tôi báo cáo quyết tâm sơ bộ, rồi trở về đơn vị làm phương án hoàn thiện xin Bộ Tư lệnh phê chuẩn sau.

Tháng 12 năm 1968, Anh Đinh Đức Thiện vào thăm Binh trạm, đúng lúc chúng tôi chuẩn bị thực nghiệm việc thả trôi xăng phuy và bao gạo trên dòng suối Băng ở miền tây huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Con suối này có dòng chảy tương tự sông Sê Băng Hiên trên đất bạn Lào mà chúng tôi sẽ thực hiện kế hoạch vận chuyển vượt khẩu.

Nhận lời mời xem cuộc thực nghiệm, Anh cùng ngồi thuyền với chúng tôi, đi theo những bao gạo, thùng xăng lững lờ trôi theo dòng nước. Anh không hỏi han gì về công việc chúng tôi đang làm. Hình như anh đang bận tâm suy nghĩ về những việc khác. Sinh ý kiến Anh nhận xét, chỉ bảo, Anh trả lời đại ý: các cậu bây giờ trực thuộc Đoàn 500, cứ theo chỉ đạo của Bộ Tư lệnh mà làm.

Ba ngày sau, từ Tỉnh ủy Quảng Bình, Anh điện cho tôi ra làm việc với đồng chí Hoàng Anh. Tôi được biết đồng chí Hoàng Anh vừa được Bộ Chính trị giao nhiệm vụ vào làm Bí thư Khu ủy Trị Thiên. Tôi ra ngay và được biết thêm: trên đường vào Trị Thiên, anh Hoàng Anh dừng lại ở Quảng Bình để nắm tình hình và khả năng vận tải chi viện của hậu cần chiến lược đối với chiến trường đầy gian khổ và khó khăn này.

Tôi nhớ lại tháng 8-1968, một bộ phận chủ lực của Quân khu Trị Thiên đã phải rút quân về tuyến 559, vì địch phản kích quyết liệt, chiến trường thiếu gạo, thiếu đạn, không thể trụ lại để giữ vững những thắng lợi đã giành được từ Tết Mậu Thân. Lúc đó, Đoàn 559 cũng không còn lương thực, thực phẩm, nên bộ đội Trị Thiên phải rút về hậu phương miền Bắc, tạm thời đứng chân trên tuyến giao liên, dựa vào nguồn hàng dự trữ của Binh trạm 16 để củng cố lực lượng. Nhớ lại hình ảnh đoàn quân ốm yếu vì thiếu cơm, nhạt muối, thiếu thuốc men, từ chiến trường trở về, tôi càng nhận rõ trách nhiệm nặng nè, to lớn và vai trò quan trọng có tính chất quyết định của tuyến chi viện chiến lược mà binh trạm chúng tôi là một mắt xích trên dây chuyền vận tải quân sự rộng lớn.

Anh Hoàng Anh yêu cầu tôi cho biết kết quả thử nghiệm thả trôi, và phương án vận chuyển đường sông theo kế hoạch của Đoàn 500. Anh Thiện cũng bảo tôi báo cáo đầy đủ với anh Hoàng Anh và làm phương án với mức độ cố gắng cao nhất.

Mùa mưa năm 1968, không quân địch tập trung đánh phá ác liệt từ vĩ tuyến 20 trở vào, đã làm nát các tuyến đường chiến lược, đặc biệt là ở Nam Quân khu IV, làm cho giao thông vận tải bị ách tắc nghiêm trọng. Ta đã tập trung khắc phục, nhưng vẫn chưa làm chuyển biến được tình thế, hàng vẫn không vào được chiến trường! Sự đình đốn của vận tải trong mây tháng qua là một thực tiễn làm cho nhiều người, trong đó có cả một số đồng chí lãnh đạo phải phân vận, lo lắng và suy nghĩ: trong điều kiện địch đánh phá dữ dội như vậy, liệu phương thức vận tải cơ giới có còn phù hợp không? Có làm được không? Có nên duy trì không? Hay là quay về với vận tải thô sơ, ít nhất là trong thời gian trước mắt?

Tôi thông cảm và chia sẻ nỗi băn khoăn, lo lắng của đồng chí Hoàng Anh trước những thử thách hiện nay đang đợi anh ở chiến trường, và đã trình bày với Anh các phương án mà chúng tôi đã nghiên cứu và chuẩn bị:

- Dùng vận tải gùi thồ và thuyền trọng tải nhẹ 500 kg vượt thác, ghềnh để vận chuyển khoảng từ 500 - 300 tấn/tháng, thì phải sử dụng khá nhiều lực lượng, khó giữ được bí mật. Lương thực, thực phẩm vận chuyển vào, phải trích ra để nuôi đội quân vận tải sẽ quá lớn, phần còn lại để đưa vào chiến trường chẳng được bao nhiêu.

- Mở đường cho xe tải nhẹ chạy ở phía sau qua đèo 1001 đến bờ sông Sê Băng Hiên, từ đây thả trôi hàng vào bắc đường 9 giao cho tuyến 559, thì số quân và phương tiện sẽ giảm. Lượng hàng trước mắt có thể đạt 300 - 400 tấn/tháng, sau nếu thông suốt thì có thể tăng dần. Đây là phương án mà chúng tôi muốn chọn.

Anh Hoàng Anh động viên tôi hãy cố gắng vì chiến trường, làm từ ít tới nhiều, lúc này 1 tấn hàng vào tới chiến trường là rất quý. Anh còn cho biết sẽ tổ chức một tuyến thồ riêng của chiến trường, đón hàng ở bờ nam sông Sê Băng Hiên, qua Hướng Hóa vào hậu phương của Trị Thiên để có thể tự bảo đảm một phần, đề phòng trường hợp vận tải cơ giới của tuyến 559 gặp khó khăn, không thực hiện được kế hoạch chi viện. Anh yêu cầu Binh trạm 16 chúng tôi làm nhiệm vụ phía sau cho tuyến thồ: vận chuyển vài nghìn chiếc xe đạp và đưa mấy nghìn dân công từ hậu phương vào triển khai tuyến và sau đó, tạo chân hàng, theo yêu cầu của chiến trường.

Anh Đinh Đức Thiện chỉ nghe tôi báo cáo mà không có ý kiến gì thêm, chỉ nhắc chúng tôi phải đáp ứng đầy đủ yêu cầu của đồng chí Hoàng Anh…

Tôi có nhiều năm làm công tác dưới quyền Anh, nhất là từ khi đế quốc Mĩ mở rộng chiến tranh. Anh trở lại làm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, được Quân ủy Trung ương phân công phụ trách chi viện vật chất, kĩ thuật cho các chiến trường. Lúc Anh trở lại quân đội thì Đoàn 559 với các tuyến vận tải thô sơ và một ít xe ô tô đã không đáp ứng được nhu cầu chi viện khi Mĩ ồ ạt đổ quân vào miền Nam, và bộ đội chủ lực ta cũng tiến vào các chiến trường.

Anh cùng các cơ quan Tổng cục Hậu cần, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương, tập trung mọi nỗ lực để nhanh chóng đưa tuyến 559 lên vận tải cơ giới.

Chú thích
(*) Nguyên binh trạm trưởng các Binh trạm 9, 16 ở Nam Quân khu IV.
(1) Đoàn 500 được thành lập ngày 28-10-1968 để thay cho Tổng cục Hậu cần Tiền phương có nhiệm vụ tổ chức chỉ huy tuyến vận tải ở Nam Quân khu IV, chuyển hàng từ Nam sông Lam vào qua đường 12 và đường 20, giao cho Đoàn 559. Đoàn 500 do Thiến tướng Nguyễn Đôn, Phó Tổng Tham mưu trưởng làm Tư lệnh, Thiếu tướng Lê Quang Đạo, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 29 Tháng Năm, 2013, 01:15:58 PM
Ngay trong những năm đầu chống chiến tranh phá hoại, Anh không chỉ lo về vận tải cơ giới trên đường bộ, mà còn quan tâm rất nhiều đến vận tải thủy và đường ống dẫn dầu. Anh đã chủ trương tăng cường phương tiện vận tải đường sông trong nội địa, và đưa một phần lực lượng đường sông ra hoạt động ở ven biển, mặc dù địch phong tỏa rất gắt gao. Khối lượng xăng dầu cho vận tải cơ giới chiếm một phần tư tổng trọng lượng hàng hóa vận chuyển, nên trong nhiều năm, bộ đội vận tải thường bị thiếu nhiên liệu. Qua sáng kiến táo bạo của Anh, từ cuối năm 1968, đường ống đã được xây dựng, đang kéo dài theo tuyến vận tải chiến lược để cung cấp xăng dầu cho Đoàn 559 và sẽ phát triển vào các chiến trường trong tương lại không xa.

Khi vận tải cơ giới của tuyến chiến lược đã phát triển mạnh, các chiến trường miền Nam đã trở thành địa bàn tác chiến thường xuyên của bộ đội chủ lực, thì không thể chỉ dựa vào đôi vai của bộ đội và dân công, để mở các chiến dịch lớn, đánh dài ngày. Anh Thiện đã gợi ý làm đường chiến dịch cho các chiến trường, cung cấp các phương tiện kĩ thuật để mở đường, và đưa các đơn vị vận tải cơ giới từ hậu phương vào hoạt động cũng như giúp đỡ tổ chức lực lượng vận tải cơ giới cho các Quân khu miền Nam, khắc phục tình trạng mất cân đối giữ sức đẩy cao của tuyến chi viện chiến lược, và sức thút thấp của tuyến vận tải chiến trường, làm cho hàng hóa không bị ứ đọng, chậm đến tay bộ đội.

Hầy như mùa khô năm nào Anh cũng đến các tuyến vận tải và các chiến trường để trực tiếp kiểm tra, đôn đốc, điều chỉnh nhịp nhàng, kịp thời hoạt động của tuyến trước và tuyến sau, nắm vững tình hình thực tế và những yêu cầu mới để chỉ đạo hậu phương quân đội và kiến nghị với hậu phương quốc gia đáp ứng.

Đế quốc Mĩ lợi dụng những khó khăn về khí hậu, thời tiết và nhược điểm của hệ thống cầu đường của ta, đã làm cho tuyến vận tải chiến lược bị thất bại tạm thời trong mùa mưa 1968. Nay chúng đang tiếp tục cuộc chiến tranh ngăn chặn ác liệt gấp bội, trọng điểm nhằm vào các cửa khẩu, với tham vọng không cho miền Bắc chi viện cho miền Nam, để quân ta ở các chiến trường bị đẩy lùi về rừng núi, trở lại thời kì chiến tranh du kích, âm mưu làm cho cuộc chiến tranh giải phóng tàn lụi dần!

Tất cả suy tư và lo lắng của Anh trong thời điểm này là không cách nào thắng địch trên mặt trận giao thông vận tải, giữ vững được vận tải cơ giới, nhằm bảo đảm đầy đủ và kịp thời cho nhu cầu của các chiến trường ngày càng phát triển to lớn. Ngày nay trong điều kiện mới, Anh thấy rõ không thể nào lặp lại phương thức huy động hàng chục vạn dân công đưa vào tuyến vận tải, đưa ra chiến trường như ở chiến dịch Điện Biên Phủ năm xưa! Anh không quan tâm mấy đến việc thả trôi của chúng tôi cũng chính là vì vậy!

Từ mùa khô năm 1969, cuộc chiến tranh ngăn chặn và chống ngăn chặn giữa ta và địch đã phát triển đến đỉnh cao. Với sự chi viện của cả nước, với sự chỉ đạo của Quân ủy Trung ương và Tổng cục Hậu cần, với sự thông minh, mưu trí của các cấp chỉ huy các tuyến vận tải, với tinh thần hi sinh, dũng cảm tuyệt vời của cán bộ, chiến sĩ trong các đơn vị binh chủng hợp thành: công binh, phòng không, bộ binh, vận tải, kho, trạm, đường ống, thông tin, của thanh niên xung phong và dân công, của nhân dân… trong đó phải kể đến sự chỉ đạo sát sao với quyết tâm không mệt mỏi của đồng chí Đinh Đức Thiện, bộ đội vận tải của ta đã thắc được địch trên các tuyến. Ta cũng phải chịu những tổn thất không nhỏ, nhưng lượng hàng đưa vào chiến trường ngày càng nhiều, năm sau cao hơn năm trước.

Riêng chiến trường Trị Thiên, ngay trong mùa khô 1969, đã nhận được khối lượng hàng chi viện vượt mức kế hoạch.

Thắng lợi của vận tải cơ giới trong mùa khô 1969 đã củng cố niềm tin của các cấp lãnh đạo và chỉ huy ở chác chiến trường cũng như ở hậu phương.

Cũng trong mùa khô 1969, tuyến thồ của khu Trị Thiên đã phải giải thể vì địch đánh ác liệt, vì khí hậu thời tiết khắc nghiệt, làm dân công đau ốm bệnh tật nhiều, năng suất vận tải quá thấp. Còn tuyến thả trôi của Binh trạm 16 chúng tôi, phát triển khá thuận lợi, từ 300 - 400 tấn lúc đầu, đã đạt tới mức cao điểm 3000 tấn/tháng vào mà mưa năm 1960. Nó đã hỗ trợ đắc lực cho tuyến 559, tạm ngừng hoạt động trong mùa mưa. Tuy vậy, nó cũng phải kết thúc nhiệm vụ lịch sử vào thời điểm này, vì thực tiễn hai mùa khô 1969 - 1970 đã khẳng định: Không quân địch không có khả năng ngăn chặn nổi vận tải cơ giới của ta nữa!

Trong những năm tiếp theo, đường, cầu ngày càng phát triển, và được củng cố vững chắc. Xăng dầu có đầy đủ. Thông tin chỉ huy thông suốt trên toàn tuyến. Các Trung đoàn ô tô vận tải cơ động được thành lập, và được sử dụng chạy đường dài, đi ban ngày trong đường kín vào thẳng đến các chiến trường Tây Nguyên, Khu 5 và Nam Bộ… Tất cả những nhân tố đó đã góp phần làm cho thời gian chuyển hàng giảm đi một nửa so với tuyến trước, và lực lượng vận tải chiến lược đã đáp ứng được đầy đủ và kịp thời nhu cầu thường xuyên cũng như đột xuất của chiến trường.

*
*    *

Kỉ niệm 10 năm ngày Anh Đinh Đức Thiện qua đời, chúng tôi nhớ tới công lao to lớn của Anh trong việc xây dựng và phát triển vận tải cơ giới trên tuyến chi viện hậu cần chiến lược trong chiến tranh chống Mĩ.

Anh là người Anh cả của bộ đội vận tải quân sự anh hùng, người thầy của công tác vận tải trong chiến tranh. Ngay cả trong lúc khó khăn gian nguy nhất, Anh vẫn kiên trì phương thức sử dụng cơ giới trên tuyến vận tải chiến lược, vì biết chỉ có vận tải cơ giới mới có thể bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ chi viện cho các chiến trường để đánh thắng đế quốc Mĩ.. anh là người lãnh đạo có tầm nhìn chiến lược, có quyết tâm và mạnh dạn xóa bỏ những gì lỗi thời, ràng buộc, cản trở sự phát triển của công tác vận tải trong điều kiện chiến tranh hiện đại. Anh là người dám làm, dám chịu trách nhiệm với đảng, với quân đội, với nhân dân để đưa công tác vận tải chi viện chiến trường phát triển tới đỉnh cao, sẵn sàng chờ đón thời cơ chiến lược lớn để giải phóng hoàn toàn miền Nam. Ở cương vị người lãnh đạo ngành Hậu cần toàn quân, Anh luôn luôn nắm chắc vận tải là khâu trọng tâm để hoàn thành nhiệm vụ bảo đảm cho bộ đội chiến thắng!


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 29 Tháng Năm, 2013, 01:17:49 PM
ĐỒNG CHÍ ĐINH ĐỨC THIỆN VÀ NGÀNH XĂNG DẦU QUÂN ĐỘI

PHAN TỬ QUANG(*)

Trong cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ, các kho xăng dầu là những mục tiêu trọng điểm, bị tập trung đánh phá. Mục đích của chúng là phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và nhất là ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc đối với miền Nam. Ngay từ ngày 5-8-1964, không quân Mĩ đã đánh vào hàng loạt các kho xăng dầu của Nhà nước ở Bến Thủy (Nghệ An), Thượng Lí (Hải Phòng), Bãi Cháy (Quảng Ninh). Đến tháng 4-1966, địch lại đánh vào kho Đức Giang và kho Đông Anh ở Hà Nội.

Địch lại càng đặc biệt chú trọng hủy diệt các kho xăng dầu của quân đội: trong 3 năm, từ 1966 đến 1968, chỉ riêng một kho H150 của Cục Xăng dầu ở Nghệ An đã bị đánh liên tiếp 169 trận, với 2420 bom phá và bom sát thương, 1545 quả đạn tên lửa và rốc két, chưa kể đạn pháo từ tầu chiến địch ở ngoài biển bắn vào.

Tuy nhiên, trong suốt cuộc chiến tranh phá hoại, các kho xăng dầu quân đội đã bố trí phân tán, chôn giấu, ngụy trang kín đáo, nên tuy bị đánh ác liệt, nhưng không có tổn thất lớn, vẫn liên tục tiếp nhận và cấp phát, bảo đảm xăng dầu cho các lực lượng vũ trang chiến đấu cho đến ngày thắng lợi. Tuy nhiên việc địch đánh phá, cũng không phải là không gây cho chúng ta nhiều khó khăn và trở ngại.

Vào những năm 1966-1967, ngành xăng dầu quân đội đứng trước một yêu cầu mới: phải bảo đảm xăng dầu với bước phát triển nhảy vọt cả về khối lượng và chủng loại cho các quân binh chủng kĩ thuật, cho các chiến trường và nhất là cho tuyến vận tải chiến lược Trường sơn đang chuyển ssang vận chuyển bằng cơ giới với quy mô lớn. đến thời kì đó, phương thức vận chuyển xăng dầu bằng thùng phuy, xe téc đã không còn thích hợp nữa vì không đáp ứng được nhu cầu mà lại dễ bị thiệt hại khi địch đánh phá. Đã có lúc, do thiếu xăng, nên đích thân đồng chí Tư lệnh Đoàn 559 mỗi đêm phải tự mình phân phối từng phuy xăng để vận chuyển mặt hàng gì, cho chiến trường nào.

Không đêm này không có xe chở xăng bị bắn cháy, không có người lái bị thương vong. Vì xe chở xăng bị đánh trúng có nghĩa là chúng ta mất cả xe, mất cả xăng dầu, và quan trọng hơn cả là sinh mạng chiến sĩ lái xe. Một lít xăng đưa vào tuyến vận tải, đưa vào chiến trường, ít nhiều đều có thấm máu đồng đội! Tình hình này làm cho cán bộ xăng dầu hết sức day dứt và lo nghĩ. Đồng chí Đinh Đức Thiện cũng dành nhiều thời gian để suy nghĩ và trao đổi với chúng tôi ở ngành Xăng dầu.

Đồng chí đã sớm nghĩ đến việc phải chuyển xăng dầu bằng đường ống. Từ cuối năm 1966, đồng chí đã đề nghị Bộ Quốc phòng và Chính phủ đặt vào đơn hàng viện trợ năm 1967, xin Liên Xô cung cấp cho các bộ đường ống dã chiến của quân đội Xô viết. Cuối năm 1967, đồng chí chủ trì một cuộc họp về bảo đảm xăng dầu cho các chiến trường và tuyến vận tải, trước yêu cầu mới. Trong cuộc họp này, đồng chí đã xác định quyết tâm dùng đường ống để vận chuyển xăng dầu. Đó là một suy nghĩ táo bạo, một công việc mới mẻ hoàn toàn, trong lúc cơ sở vật chất kĩ thuật và chuyên gia chưa có. Nhưng phải làm, vì chỉ có phương thức vận chuyển bằng đường ống, mới bảo đảm được xăng dầu liên tục với khối lượng ngày càng lớn, lại giảm được tổn thất của cải và sinh mạng.

Đến giữa năm 1968, Liên Xô viện trợ cho ta 2 bộ đường ống dã chiến, mỗi bộ dài 100 km, kèm theo máy bơm và các phụ kiện đồng bộ. Đồng chí Thiện quyết định sử dụng ngay để làm tuyến đường ống đầu tiên vượt qua tam giác lửa Vinh - Nam Đàn - Linh Cảm.

Sau khi nghe Tổng cục Hậu cần báo cáo, Đại tướng Võ Nguyên Giáp phát biểu: “Tôi tán thành ý kiến của anh Đinh Đức Thiện, trước mắt phải làm ngay đường ống đưa xăng dầu vượt qua các trọng điểm đánh phá của địch, rồi làm tiếp tuyến đường ống vượt Trường Sơn”.

Đồng chí Đỗ Mười, cũng hoàn toàn nhất trí với việc xây dựng đường ống và nói nếu gặp khó khăn gì thì trực tiếp báo cáo để đồng chí giải quyết.

Được sự ủng hộ của lãnh đạo quân đội và Nhà nước, chúng tôi bắt tay vào đặt đoạn đường ống đầu tiên từ Nam Đàn qua Linh Cảm vào đất Hà Tĩnh, dài 42 km, trong đó công việc khó nhất là đưa đường ống vượt qua Sông Lam rộng 500m. Đây là đoạn đường phải qua nhiều trọng điểm, địch đánh phá ác liệt nhất mà xe vận chuyển xăng dầu không hoạt động được.

Chúng tôi đã hoàn thành được việc xây dựng đoạn đường ống đầu tiên này, trong điều kiện máy bay địch quần đảo và bắn phá suốt ngày đêm nhưng cũng không bị thiệt hại gì đáng kể. Sau đó đồng chí Đinh Đức Thiện giao cho chúng tôi thi công tiếp, nối tuyến ống vào Khe Ve (Quảng Bình) đi theo đường 12, qua đèo Mụ Giạ (cao 900 mét) vào đến Nà Tông trên đất Lào.

Đúng đêm mồng một Tết năm 1969, xăng dầu đã được vận hành qua tuyến đường ống vào kho Nà Tông. Vào 1 giờ sáng hôm đó, đồng chí Đinh Đức Thiện gọi dây nói cho tôi chúc mừng thắng lợi của cán bộ, chiến sĩ xăng dầu và cho biết: Bác Hồ rất vui lòng. Không có gì vui sướng bằng khi công trình vừa hoàn thành đã được cấp trên và nhất là được Bác Hồ động viên khuyến khích. Cán bộ, chiến sĩ xăng dầu lại hăm hở lao vào chuẩn bị thi công tiếp tuyến đường ống từ Nam Hà Nội và Nam Bộ.

Chú thích
(*) Nguyên Cục trưởng Cục Xăng dầu Tổng cục Hậu cần; Tổng cục phó Tổng cục Dầu khí..


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 29 Tháng Năm, 2013, 01:18:41 PM
Vấn đề lớn nhất đặt ra là nguồn viện trợ không đáp ứng được toàn bộ các nhu cầu vật tư, trang thiết bị cho tuyến đường ống này. Đồng chí Đinh Đức Thiện đã trực tiếp báo cáo với Chính phủ, làm việc với các viện khoa học, các trường đại học và các cơ sở sản xuất, để huy động sức mạnh tổng hợp của quân đội, của các cơ quan nhà nước, của các địa phương có tuyến ống đi qua, để thực hiện cho được quyết tâm xây dựng tuyến đường ống vào đến chiến trường.

Tuy nhiên, còn vấn đề gay go nhất là thiếu máy bom. Đồng chí Đinh Đức Thiện chỉ thị cho chúng tôi phải khắc phục bằng cách chế tạo ở trong nước. Chúng tôi đi tham khảo ý kiến các cơ quan nhà nước, các viện nghiên cứu thì tất cả đều trả lời rằng: khả năng công nghiệp của ta chưa sản xuất được loại máy bơm này. Đồng chí Đinh Đức Thiện đã đồng ý cho chúng tôi lấy một chiếc bơm ПHY trong bộ đường ống của Liên Xô, tháo rời ra từng bộ phận, rồi tập trung một số cán bộ kĩ thuật chế tạo cơ khí trong và ngoài quân đội cùng nghiên cứu, phân tích, thiết kế rồi tiến hành sản xuất thử. Sau một thời gian, bằng phương pháp thủ công và cơ khí, anh em đã sản xuất được một chiếc máy bơm đầu tiên theo đúng mẫu của Liên Xô, và đặt tên là bơm Trường Sơn.

Đồng chí Thiếu tướng, Giáo sự, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa lúc đó là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần cùng một số cán bộ nghiên cứu kĩ thuật trong và ngoài quân đội đã đến xem, trực tiếp kiểm tra, thử nghiệm và kết luận: Bơm Trường Sơn đã đạt được các thông số kĩ thuật tương đương bơm ПHY của Liên Xô, có thể đưa vào sản xuất hàng loạt. Ngay sau đó, đồng chí Đinh Đức Thiện giao nhiệm vụ cho một số nhà máy trong quân đội và Nhà máy cơ khí Hà Nội(1) tập trung sản xuất bơm Trường Sơn.

Mơ ước của ngành xăng dầu đã thành sự thật! Hàng trăm chiếc bơm Trường Sơn lần lượt được xuất xưởng; tiếp sau đó là đường ống dã chiến cùng phụ kiện cũng được sản xuất trong nước để cùng với nguồn viện trợ bảo đảm kịp thời cho kế hoạch thi công tuyến đường ống chiến lược. Sau bao nhiêu ngày đêm gian khổ, chiến đấu với địch, với trời, cuối cùng, đến đầu năm 1975, tuyến đường ống cũng vào đến Bù Gia Mập, cách Sài Gòn khoảng gần 1200 km đường chim bay.

Đường ống từ Lạng Sơn về gần Hà Nội rồi tiến vào Quảng Bình, vượt Trường Sơn vào Nam Bộ, hình thành một mạch máu xăng dầu xuyên qua cả chiều dài đất nước, bảo đảm đầy đủ và kịp thời xăng dầu cho tuyến vận tải chiến lược và các chiến trường.

Đó là một kì tích của quân dân ta trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ, là biểu hiện sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân.

Trong cuộc họp Hội đồng Chính phủ, sau khi nghe báo cáo về tuyến đường ống Trường Sơn, đồng chí Nguyễn Duy Trinh, lúc đó là Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao đã phát biểu: “Mặt trận xăng dầu nổi lên như một trong ba ngọn sóng của cách mạng trong chiến dịch chống phong tỏa của Níchxơn”.

Sau này, tôi làm Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Dầu khí, có dịp sang Pháp làm việc, ông Viện trưởng Viện Dầu khí Pháp có hỏi tôi: “Vì sao trong chiến tranh, các ông dám làm và làm được đường ống dẫn dầu xuyên Việt?”.

Tôi trả lời: “Chúng tôi dám là và quyết tâm làm vì buộc lòng phải làm theo đơn đặt hàng của Mĩ”.

Ông ta nói; “Thật là các ông cũng sống xứng đáng lắm rồi!”.

Khi tôi làm Giám đốc Công ty Du lịch Cựu chiến binh, có dịp gặp hai tướng không quân Mĩ là Harry Adeholt và Richard Serd, họ cũng cho rằng đường ống dẫn dầu của ta là chuyện thần thoại có thật.

Đường ống xăng dầu vượt Trường Sơn gắn liền với tên tuổi của đồng chí Đinh Đức Thiện, vì đồng chí có tầm suy nghĩ chiến lược, có kiến thức kinh tế và khoa học, kĩ thuật, biết vận dụng sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân, chỉ đạo kiên quyết, sáng tạo. Là một con người dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, đồng chí đã kịp thời chuyển hướng công tác bảo đảm xăng dầu sang trạng thái chủ động, bớt hao người, tốn của.

Đồng chí Đinh Đức Thiện đã đi xa. Nhưng hình ảnh của đồng chí mãi mãi in sâu trong lòng cán bộ và chiến sĩ ngành xăng dầu Quân đội nhân dân Việt Nam. Đồng chí là tấm gương sáng mãi mãi không bao giờ phai mờ để cho thế hệ chúng tôi và thế hệ mai sau học tập, noi theo!

(1) Đồng chí Đinh Đức Thiện giao nhiệm vụ cho Nhà máy cơ khí Hà Nội trên cương vị là Bộ trưởng Bộ Cơ khí - luyện kim.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 29 Tháng Năm, 2013, 01:19:43 PM
TUYẾN ĐƯỜNG ỐNG XĂNG DẦU ĐÃ HÌNH THÀNH NHƯ THẾ!

Đại tá MAI TRỌNG PHƯỚC(*)

Trận mở đầu: vượt qua “Tam giác lửa”

Đầu tháng 6-1968, tôi đang công tác ở Trường Sĩ quan hậu cần, thì được lệnh khẩn cấp của Tổng cục Hậu cần gọi về nhận nhiệm vụ mới tại Cục Xăng dầu. Gặp tôi, các đồng chí thủ trưởng Cục Xăng dầu cho biết: hiện nay máy bay địch đang đánh mạnh vào địa bàn Quân khu IV, đặc biệt, tập trung vào khu vực ba bến phà Vinh - Nam Đàn - Linh Cẩm suốt ngày đêm, gây ách tắc giao thông, hàng không chuyển vào phía trong được. Xe chở xăng qua đây bị bắn cháy rất nhiều. An hem lái xe đã gọi đây là vùng “Tam giác lửa!”. Đoàn 559 và Đoàn 500 đang thiếu xăng nghiêm trọng. Nếu không khắc phục được kịp thời thì mùa khô tới đây sẽ không bảo đảm được chân hàng cho Đoàn 559 vận chuyển vào chiến trường. Vì vậy, đồng chí Đinh Đức Thiện, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần quyết định lắp đặt tuyến đường ống dã chiến vượt qua sông Lam và sông La để bơm xăng vào Hà Tĩnh cung cấp cho Đoàn 500 và Đoàn 559 và Tổng cục cử tôi phụ trách Công trường18 vừa được thành lập, làm nhiệm vụ thi công tuyến này.

Mặc dầu ở nhà trường, tất cả cán bộ, chiến sĩ, giáo viên, học viên đều được chuẩn bị tinh thần sẵn sàng đi làm nhiệm vụ ở tuyến trước, nhưng khi nhận được lệnh này, tôi không khỏi bàng hoàng, lo lắng vì tôi không phải là cán bộ chuyên môn ngành Xăng dầu, chưa có hiểu biết về đường ống, lại làm trong điều kiện địch đánh phá các liệt, mà thời gian triển khai thì lại rất gấp… Các đồng chí thủ trưởng Cục Xăng dầu động viên tôi, nói rõ cái khó nhất của công trình này là phải làm ở nơi mà địch đánh phá rất dữ dội nên đòi hỏi người phụ trách công trường, trước hết phải có quyết tâm, có tinh thần trách nhiệm, không ngại khó, thì mới làm được. Còn về kĩ thuật, đã có hai chuyên gia bạn mới sang, sẽ vào hướng dẫn thi công. Đồng chí Phan Tử Quang, Cục phó sẽ vào trực tiếp chỉ đạo. Công trường có gì khó khăn, Cục sẽ hết sức giúp đỡ.

Tôi suy nghĩ thì thấy đây là công việc rất cấp thiết để phục vụ cho chiến trường, cho miền Nam, nên dù khó khăn mấy cũng phải làm, không thể thoái thác.

Tôi về ngay Công trường 18 vừa được thành lập đang đóng quân ở phía nam Hà Nội. Ở đây, tôi gặp một số cán bộ đã cùng công tác ở Trường Hậu cần, được tiếp xúc với những kĩ sư trẻ mới tốt nghiệp ở các trường đại học, và các cán bộ, công nhân ở các ngành đã làm đường ống, mới được trưng tập vào bộ đội; thấy tinh thần anh em rất hồ hởi, phấn khởi đi làm nhiệm vụ, nên tôi cũng bớt lo lắng.

Ngày 10-6-1968, Đảng ủy Tổng cục Hậu cần ra quyết định thành lập Đảng ủy Công trường 18. Chúng tôi tranh thủ họp ngay để kịp triển khai công tác. Đồng chí Lương Nhân, Phó Chủ nhiệm, Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Tổng cục, đến họp và giao nhiệm vụ. Anh nói tình hình các chiến trường và yêu cầu cấp bách của công tác cung cấp xăng dầu, để bảo đảm chi viện cho chiến trường. Anh giải thích, trước đây Tổng cục định làm đường ống trên đường 12 qua đèo Mụ Giạ, nhưng nay tình hình vận chuyển xăng dầu qua khu vực “Tam giác lửa” rất khẩn trương, rất cấp thiết, nên phải làm ở đây trước đã. Xây dựng tuyến đường ống này không những là công tác trọng tâm của Cục Xăng dầu mà của cả Tổng cục Hậu cần. Công trường hãy ra sức khắc phục khó khăn để làm cho nhanh, làm cho được. Cần gì thì Cục và Tổng cục sẽ chi viện. Anh kết luận bằng một câu, làm cho chúng tôi thấy rõ tính chất quan trọng của công việc mình sắp làm và không bao giờ quên được: “Nếu cần dát vàng vào để cho các đồng chí làm tuyến đường ống này thì Tổng cục cũng không tiếc”.

Sau khi thảo luận, bàn bạc, Đảng ủy Công trường 18 nhất trí hạ quyết tâm: “Lãnh đạo toàn công trường tích cực chuẩn bị, khắc phục mọi khó khăn, không ngại hi sinh, gian khổ, khẩn trương đưa công trường vào thi công để hoàn thành tuyến đường ống trong thời gian sớm nhất”.

Đêm 12-6-1986, toàn thể cán bộ, chiến sĩ, công nhân Công trường 18, rời Hà Nội hành quân vào Khu IV, và đêm 13-6, vượt qua bến phà Nam Đà và Rút Trét, tập kết an toàn vào các thôn, xóm bên bờ sông Lam; từ 14-6, tổ chức đi nghiên cứu địa hình và cắm tuyến…

Ngày 18-6, một bức điện của Cục Xăng dầu gửi vào làm cho chúng tôi rất bối rối: “Vì điều kiện khách quan, chuyên gia không thể vào được!”. Đường ống dã chiến là một loại trang bị mới của Liên Xô, để phục vụ chiến dịch, trong điều kiện được phi, pháo yểm trợ; còn ta thì lại làm cố định ở nơi bị không quân địch khống chế. Toàn bộ công trình, khó nhất là đoạn vượt sông Lam: sông thì rộng, nước chảy xiết, công trình đòi hỏi kĩ thuật cao mà chưa ai có kinh nghiệm. Chúng tôi chưa hình dung sẽ xoay xở ra sao đây?

Tiếp đó, chúng tôi lại nhận được điện của Tổng cục hỏi: “Không có chuyên gia thì có làm được không? Anh Thiện cho phép: nếu thấy việc kéo ống qua sông Lam khó khăn quá, thì đưa một bộ phận về Hà Nội, làm thử qua sông Hồng, với sự hướng dẫn của chuyên gia, rút kinh nghiệm, rồi sẽ vào làm tiếp”. Anh Phan Tử Quang cùng với chúng tôi bàn bạc thấy bây giờ lực lượng và phương tiện đã triển khai rồi, đặc biệt trong tháng 6 này, nước sông Lam xuống thấp nhất, qua tháng 7, tháng 8 là mùa mưa lũ, nước sông sẽ lên cao, dòng sông chảy xiết, khó mà vượt qua được. Vì vậy phải “làm tới” thôi, không thể do dự được. Bây giờ mà hoãn lại, thì sẽ làm mất khí thế của anh em. Phải làm khẩn trương, nếu để lâu sẽ lộ, địch có thể đánh vào đội hình công trường…

Vài ngày sau, đi nghiên cứu vượt sông, chúng tôi thăm dò, tìm được đoạn sông hẹp và kín nhất ở phía Nam bến dò Vạn Rú. Chúng tôi điện về báo cáo với Tổng cục quyết tâm làm, và hứa sẽ cố gắng làm cho được, và xin phép cho tổ chức vượt sông Lam trước. Anh Thiện trả lời đồng ý và nhắc nhở phải giữ bí mật tuyệt đối.

Chúng tôi bắt tay vào việc ngay. Việc kéo ống qua sông là quan trọng nhất và có ý nghĩa quyết định. Công trường không có máy kéo, không có ca nô, nên phải dùng sức người kéo ống như bộ đội ta đã kéo pháo vào Điện Biên Phủ năm xưa… Chúng tôi quan hệ với địa phương, xin thêm lực lượng dân quân hỗ trợ.

Đúng 21 giờ ngày 22-6-1968, công trường bắt đầu tổ chức vượt sông. Máy bay địch gầm rú trên đầu chúng tôi, và bắn phá các bến phà Nam Đàn, Linh Cảm, đèo Rú Trét, đồng thời thả pháo sáng rực bầu trời. Cán bộ, chiến sĩ, công nhân cùng dân quân vẫn bình tĩnh, lợi dụng ánh sáng của địch để thi công. Sau mỗi lần lắp ráp xong một đoạn thì hiệu lệnh kéo ống vang lên. Những cánh tay bên bờ phía đông nâng ống lên, để bên bờ phía tây níu dây cáp kéo ống qua sông, với sự hỗ trợ của một chiếc xe con Rumani. Qua một đêm lao động vất vả, đến 5 giờ sáng ngày 23-6-1968, một đoạn đường ống dài 500 mét được kéo qua sông an toàn. Đến mùa nước lên thì cả đoạn ống này đã nằm im dưới đáy sông. Nhờ kinh nghiệm vượt sông Lam chúng tôi đã tổ chức đưa đoạn ống qua sông La được nhanh và gọn hơn.

Công trường bắt tay vào thi công tiếp các đoạn ống trên mặt đất. Cần phải giữ cho tuyến ống được thẳng, bảo đảm bí mật, đề phóng máy bay trinh sát địch phát hiện, đồng thời không làm ảnh hưởng đến lúa của dân vừa cấy. Được bà con nông dân góp ý, ban ngày các đội thi công mượn trâu, theo mốc đã cắt, cày thành một rãnh thẳng có độ sâu 40cm; ban đêm, đưa ống vào lắp ráp; lắp đến đâu chôn lấp ngay đến đó; sáng hôm sau tổ chức cấy dặm lại như cũ. Nhờ đó, thi công được nhanh, bảo đảm được kĩ thuật và giữ được bí mật. Sau 45 ngày, chúng tôi lắp xong 42 km ống từ Nam Thanh (Nam Đàn, Nghệ An) đến Nga Lộc (Can Lộc, Hà Tĩnh) và đưa các máy bơm vào vị trí. Để giữ bí mật đoạn ống này được kí hiệu là X42.

Thi công xong, chúng tôi tiến hành bơm nước rửa ống, thử áp suất và tính toán thông số kĩ thuật vận hành, trước khi chính thức bơm xăng. Ngày 10-8-1968, dòng xăng từ kho Nam Thanh đã được đẩy vào kho Nga Lộc. Nhận được báo cáo, Tổng cục Hậu cần đã điện vào biểu dương toàn thể cán bộ, chiến sĩ công nhân viện và dân quân trên công trường.

Chỉ sau vài ngày vận hành thì kho xăng Nga Lộc có sức chứa 500 tấn đã đầy ắp! Lúc này, địch lại đánh phá dữ dội và làm tắc đường nghiêm trọng ở ngã ba Đồng Lộc. Anh Thiện điện vào, ra lệnh kéo ngay một đoạn ống ra sông Ngàn Sâu. Trong hai ngày chúng tôi lắp xong đoạn ống dài 5km mang tên TF5, ra Đức Bồng trên bờ sông Ngàn Sâu để đóng phuy đưa xuống xà lan vận chuyển vào phía trong tránh trọng điểm ngã ba Đồng Lộc.

Song song với việc thi công đoạn đường ống X42, lợi dụng tình hình địch ngừng ném bom vĩ tuyến 19 trở ra, Cục Xăng dầu đã tổ chức xây dựng một kho dã chiến ở Đại Sơn (Đô Lương, Nghệ An) có sức chứa 1.000m3. Khi X42 hoàn thành, Cục giao nhiệm vụ cho một bộ phận Công trường 18, lắp đặt tiếp đoạn ống từ kho Nam Thanh qua Truông Băng về kho Đại Sơn. Cuối tháng 8-1968 xăng được bơm từ Đại Sơn, nằm ngoài khu vực bị địch đánh phá vào tuyến X42.

Trong chiến đấu, đánh thắng trận đầu là rất quan trọng! Đối với chúng tôi, hoàn thành được đoạn ống X42 để bơm xăng vượt qua “Tam giác lửa”, cũng là đánh thắng trận đầu, rất có ý nghĩa. Từ đây, đã mở ra một hướng phát triển mới cho công tác bảo đảm xăng dầu của quân đội. Chúng ta đã mạnh dạn, tự lực áp dụng một phương thức vận chuyển mới đòi hỏi kĩ thuật cao, tuy mới là bước đầu, nhưng đã thu được những kinh nghiệm rất quý báu để tiếp tục phát triển. Với trận thắng đầu, bộ đội đường ống xăng dầu đã góp phần vào thắng lợi chung của quân, dân ta đánh bại các âm mưu và thủ đoạn ngăn chặn của đế quốc Mĩ, giữ vững sự chi viện cho tiền tuyến lớn…

Chú thích
(*) Nguyên Chỉ huy trưởng Công trường 18 (xây dựng đường ống); binh trạm trưởng Binh trạm đường ống 169; Trung đoàn trưởng Trung đoàn đường ống 592 (Đoàn 559); Tham mưu phó Cục Tham mưu vận chuyển (Đoàn 559); Cục trưởng Cục Xăng dầu Tổng cục Hậu cần.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 29 Tháng Năm, 2013, 01:20:41 PM
Đường ống vượt đèo Mụ Giạ, qua biên giới Việt - Lào tiến vào đường Trường Sơn

Sau khi tuyến ống X42 vận hành thông suốt một thời gian, anh Thiện chỉ thị cho Cục Xăng dầu tách Công trường 18 thành ahi công trường: Công trường 18 lên đường 12, thi công đoạn từ Cổng Trời (tây Quảng Bình) vào tuyến 559; bộ phận còn lại được tăng cường thêm hai tiểu đoàn tổ chức thành Công trường X40 để thi công nối tuyến X42 vào Cổng trời.

Anh Thiện điện gọi tôi ra Hà Nội làm việc. Lúc này đế quốc Mĩ cũng vừa tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc nhưng chúng lại tập trung đánh dữ dội đoạn đầu tuyến đường Trường Sơn. Anh bảo đồng chí bí thư trải bản đồ ra bàn, lấy bút chì đỏ vạch một đường ống từ Cổng Trời qua đèo Mụ Giạ, lên biên giới Việt - Lào, qua 050(1) rồi xuống Nà Tông (thuộc tỉnh Khăm Muộn ở Trung Lào); tại đây Anh khoanh một vòng tròn nhỏ, và nói: “ Các cậu làm ngay đoạn này, làm sao đến Tết Âm lịch này, phải có xăng ở Nà Tông cấp cho xe 559 chạy ban ngày”. Rồi Anh lại vạch tiếp một đường từ Nà Tông xuống Ka Vát rồi đi Lâm Bùm và giải thích: “sau đó, phát triển xuống ngã ba Làng Khằng, rồi đến Ka Vát để tránh các trọng điểm và túi nước Seng Phan và Pha Nốp”.

Thực hiện chỉ thị của anh Thiện, Cục Xăng dầu giao tuyến X42 cho Tiểu đoàn 668, trực thuộc Cục quản lí vận hành; tôi đưa Công trường 18 lên Cổng Trời; đồng thời Cục tổ chức Công trưởng X40, làm nhiệm vụ kéo đường ống từ Hà Tĩnh vào đường 12 (Quảng Bình).

Việc thi công tuyến ống trên đường 12, phải khắc phục nhiều khó khăn: núi cao, nhiều đèo dốc, đường hẹp, vực sâu, trời mưa thì nước sông suối chảy xiết, dễ làm gẫy ống và lại phải làm qua cửa khẩu là nơi địch đang tập trung đánh phá, ngăn chặn quyết liệt. Sau khi chúng tôi lắp xong ống, bơm thử thì không đẩy nước qua đỉnh đèo Mụ Giạ được. Anh em kĩ thuật phải nghiên cứu tính toán lại, đặt hai bơm đẩy nối tiếp ở đầu nguồn, thay đổi ác van điều chỉnh áp suất, và các thông số kĩ thuật vận hành, phải thử đi, thử lại mãi cuối cùng mới bơm được nước lên đèo.

Chúng tôi đang tiếp tục bơm thử nghiệm thì cuối tháng 12-1968, quân Mĩ dùng B52, ném bom rải thảm từ phía đông sang phía tây khu vực 050, phá hoại nhiều đoạn ống. Ban đêm, khắc phục xong, thì ngày hôm sau, chúng lại đánh phá… Chúng tôi loay hoay mất một thời gian dài, rồi mới tìm được đường tránh sang phía Đông. Anh em vừa khảo sát, đo đạc, vừa bắt tay ngay vào việc tháo, dỡ, chuyển ống, xây dựng các trạm bơm mới. Công việc có nhiều khó khăn vì địa hình hiểm trở, không có đường ô tô, nên phải tháo bơm ra thành nhiều bộ phận để khiêng, vác qua các lèn đá tai mèo. Trong quá trình làm đường tránh, chúng tôi vẫn tổ chức nghi binh ở tuyến cũ, nên máy bay cường kích và B52 vẫn tiếp tục đánh phá khu vực cũ.

Vào lúc đó, tôi nhận được điện của anh Thiện gọi ra Sở chỉ huy tiền phương Tổng cục Hậu cần ở Hương Đô (Hương Khê, Hà Tĩnh) để báo cáo. Có lẽ thấy làm đã lâu mà chưa xong, ngày Tết lại sắp đến rồi, nên anh Thiện sốt ruột. Trên đường về, tôi rất lo ngại vì đã được nghe nói Anh là người rất nóng tính. Đồng chí Lư, là bí thư, đưa tôi vào gặp Anh khi một cán bộ cao cấp vừa ra khỏi phòng làm việc. Có lẽ công việc có gì trục trặc, nên nét mặt Anh còn lộ vẻ bực tức…

Gặp tôi, Anh hỏi ngay: “Anh có làm được không thì nói…?”.

Tôi bình tĩnh báo cáo với Anh tình hình địch đánh phá trong những ngày qua và chúng tôi đang khắc phục bằng cách làm đường tránh sang phía đông, khoảng hai hay ba ngày nữa là xong và sẽ tổ chức bơm xăng vào Nà Tông trước Tết. Anh hỏi tại sao không dùng ngay đường này từ trước? Tôi trình bày vì trước đây khu vực này có kho vũ khí, nay địch đánh phải chuyển đi nơi khác, chúng tôi mới tận dụng được. Anh hỏi về ngụy trang và nghi binh. Tôi trả lời có làm, và địch vẫn đánh chỗ cũ, thì nét mặt Anh dần dần thay đổi và có vẻ vui lên. Anh hỏi tiếp về tình hình các kho hậu cần sau khi địch đánh phá, tình hình xe vận tải đi lại trên đường, tình hình sinh hoạt của cán bộ, chiến sĩ bám trụ ở khu vực này… Tôi trả lời Anh rành rọt các vấn đề mà tôi nắm được. Cuối cùng Anh hỏi có cần gì để hoàn thành công việc? Tôi đề nghị nếu có thể Tổng cục tăng cường thêm cho chúng tôi 2 đại đội, để có đủ lực lượng vác ống thì sẽ làm được nhanh hơn. Anh đồng ý sẽ điều ngay cho 2 đại đội thanh niên xung phong, bảo đồng chí Lư, ghi vào sổ rồi lấy mà gửi về cho anh em trên tuyến. Anh lại nhắc phải hết sức giữ bí mật; sau khi nối tuyến xong, thì vận hành ngay và báo cáo cho Anh biết…

Tôi về công trường, truyền đạt ý kiến anh Thiện cho anh chị em. Ai cũng phấn khởi và động viên nhau hoàn thành nhiệm vụ. Chỉ hai ngày sau, Công trường nối ống xong, bơm nước thử, rửa, rồi vận hành bơm xăng. Đúng giao thừa xuân Kỉ Dậu (1969), xăng vào đầy kho Nà Tông và được cấp phát kịp thời cho xe Đoàn 559, chở hàng ngay ban ngày trong ba ngày Tết…

Chú thích
(1) Tên bộ đội vận tải đặt cho một điểm ở đầu tuyến đường Tây Trường Sơn.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 29 Tháng Năm, 2013, 01:21:15 PM
Sau đó, chúng tôi tiếp tục thi công vượt dãy núi đá, tránh ngã ba Làng Khằng qua Sen Phan và Pha Nốp để xuống Ka Vát. Đây là những trọng điểm địch đánh phá rất ác liệt, suốt ngày đêm, hầu như bầu trời không lúc nào ngớt tiếng máy bay; liên tiếp hàng chục kilômét đồi núi, rừng cây, khe suối luôn luôn rung chuyển vì những trận bom, đạn của máy bay các loại… Cuộc chiến đấu với địch diễn ra liên tục và căng thẳng. Cán bộ, chiến sĩ vẫn bám sát trận địa thi công, vừa làm vừa động viên nhau bằng những câu hò vang vọng núi rừng:

“… Trăm tấn sắt trên vai chiến sĩ
Vượt băng qua đỉnh đá tai mèo.
Tiếng hò át tiếng bom reo.
Mấy sông cũng vượt, mấy đèo cũng qua…”.

Đầu tháng 3-1969, chúng tôi hoàn thành lắp đặt xong đoạn ống Nà Tông - Ka Vát, tiến hành bơm xăng cấp phát cho xe các Binh trạm 31, 32, Đoàn 559 và báo cáo về Tổng cục để anh Thiện biết.

Trong khi chúng tôi làm tuyến ống trên đường 12 vào Đoàn 559, thì Công trường X40 cũng lắp đặt tuyến ống từ Đức Bồng qua Hương Khê (Hà Tĩnh) Tân Ấp (Quảng Bình) lên Cổng Trời. Đoạn ống X42, cũng được nối vào kho xăng ở Vinh. Đến ngày 9-3-1969, tuyến đườn ống từ Vinh (Nghệ An), vượt đèo Mụ Giạ vào đến Ka Vát dài 350 km đã vận hành thông suốt. Nờ có tuyến đường ống này, đến hết quý I năm 1969, Đoàn 559 đã nhận được khối lượng xăng bằng 1,5 lần cả mùa khô năm trước.

Sau khi nối thông tuyến ống trên đây, thì Cục Xăng dầu cũng sắp xếp lại tổ chức chỉ huy đường ống. Công trường 18 được chuyển thành Binh trạm 169 để làm nhiệm vụ quản lí, vận hành đoạn tuyến từ Hương Khê đến Ka Vát. Đoạn từ Nghệ An vào Hương Khê, do Binh trạm 150 phụ trách.

Ở hướng Đông, từ đầu năm 1960, theo chỉ thị của anh Thiện, Cục Xăng dầu thành lập Công trường 18b để thi cong tuyến đường ống từ Cẩm Li (huyện Lê Ninh, Quảng Bình) đi theo đường 18 qua biên giới Việt - Lào, sang Ba Mai (Savannakhét, Lào), rồi tới bờ sông Sê Băng Hiên. Đến giữa mùa mưa 1969 tuyến này đã bơm được 200 tấn xăng cho Đoàn 559, đóng phuy để thả trôi trên sông Sê Băng Hiên xuống đường 9, giảm được việc chở xăng bằng xe qua các trọng điểm. Đến tháng 12-1969, Tiểu đoàn 658 (được điều về quản lí tuyến ống từ tháng 9-1969) đã kéo dài đường ống đến Bản Cọ (Savanakhét). Nhờ có hai tuyến đường ống ở đường 12 và đường 18 nên việc bảo đảm xăng dầu cho Đoàn 559 ngày càng được vững chắc hơn.

Sau thời gian công tác ở Binh trạm 169, tháng 4-1970, tôi được điều về công tác ở cơ quan Cục Xăng dầu. Tháng 6-1970, tôi đi cùng đồng chí Phan Tử Quang vào Đoàn 559 làm việc. Đồng chí Đinh Đức Thiện lúc đó cũng vào tuyến vận tải, đã cùng đồng chí Đồng Sĩ Nguyên nghe báo cáo kết quả vận hành trên tuyến đường ống Cẩm Li - Bản Cọ và di kéo tiếp tuyến đường ống này, theo dọc sông Sê] Băng Hiên xuống Nam đường 9. Như vậy, cự li bơm xăng từ hậu phương vào tuyến vận tải chiến lược sẽ rút ngắn hơn, vừa tiết kiệm được ống và máy bơm, mà thi công lại nhanh hơn. Anh Thiện quyết định tôi ở lại Đoàn 559 để phát triển đường ống.

Ngày 20-10-1970, Trung đoàn 592, trung đoàn đường ống đầu tiên của Đoàn 559 được thành lập. Trung đoàn đã tập trung thi công tiếp đoạn đường ống từ Bản Cọ vượt qua đường 9, đến Gia Khum (Sê Công). Từ đó, việc bảo đảm xăng dầu cho các binh trạm từ bắc sông Bạc trở ra có nhiều thuận lợi. Chính vì vậy, mà trong năm 1970-1971, xăng dầu bảo đảm cho Đoàn 559 đạt gấp 1,5 lần năm 1968-1969.

Tháng 2-1971, Mĩ - ngụy mở cuộc hành quân Lam Sơn 719, vào khu vực Đường 9 - Nam Lào, hòng chặt đứt hành lang chi viện của chúng ta. Khi địch chiếm hai điểm cao 660 và 721, thì tuyến đường ống của Trung đoàn 592 nằm giữa hai ngọn núi này, bị uy hiếp. Nhưng bộ đội đường ống, chủ yếu là lực lượng Tiểu đoàn 968, đã phối hợp với các đơn vị của Sư đoàn 2, chiến dịch tiêu diệt địch và bảo vệ đường ống, các trạm bơm và kho xăng an toàn. Trong quá trình chiến dịch, Trung đoàn đường ống 592, ngoài việc bảo vệ tuyến an toàn, vẫn tổ chức vận hành bơm xăng vào kho Gia Khum và cấp phát được liên tục. Nhờ đó, sau chiến dịch đường 9 - Nam Lào, Đoàn 559 vẫn đủ xăng để cấp cho các đơn vị vận tải hoạt động từ Nam đường 9 vào phía trong.

Tháng 8-1971, Đoàn 559 thành lập Trung đoàn đường ống 532, để thi công và quản lí vận hành tuyến từ Gia Khum qua Sê La Nông vào nam sông Bạc. Trung đoàn đã phải khắc phục nhiều khó khăn về địa hình và thời tiết, do phải làm cả trong mùa mưa.

Đến cuối năm 1972, trên dải Trường Sơn, Đoàn 559 đã có tuyến đường ống dài gần 700km và hơn 12.800m3 kho.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 29 Tháng Năm, 2013, 01:21:59 PM
Mở rộng mạng đường ống ở hậu phương:
đập tan âm mưu phong tỏa của đế quốc Mĩ, bảo đảm xăng dầu liên tục

Tháng 11 năm 1968, đế quốc Mĩ tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc. Các đường giao thông vào Khu IV được sửa chữa, khôi phục nhanh chóng. Xăng dầu lại được chở bằng đường sắt vào ga Vinh, bằng đường thủy vào cảng Gianh.

Đế quốc Mĩ buộc phải xuống thang, nhưng Trung ương Đảng nhận định: không thể loại trừ khả năng địch đánh phá trở lại, nên cần có các biện pháp tích cực, chủ động đề phòng. Anh Thiện đã đề nghị với Bộ Quốc phòng và Chính phủ cho phép xây dựng một đường ống từ nam Hà Nội vào Vinh. Lúc này ống dã chiến được viện trợ đã sử dụng gần hết, nên đề nghị Nhà nước cho huy động loại ống hàn Φ100, dự trữ trong kho của bộ Vật tư ra làm đường ống cố định luôn, để sau này còn có thể dùng trong thời bình. Thực hiện chủ trương này, từ giữa năm 1970, Cục Xăng dầu đã tổ chức thi công và đến cuối năm 1971 thì hoàn thành. Với đoạn ống mới này, ta có thể bơm xăng từ khô xăng dầu dự trữ lớn nhất của Nhà nước ở Nhân vực (nam Hà Nội) vào Khu IV và đường Trường Sơn.

Đi đôi với việc tổ chức thi công tuyến ống hàn, Tổng cục Hậu cần quyết định xây dựng mạng đườn ống liên hoàn, nối liền tuyến ống hướng đông và tuyến ống hướng tây nằm trên địa bàn Quân khu IV. Để triển khai việc này, tháng 6-1970, Cục Xăng dầu giao nhiệm vụ cho Binh trạm 169 xây dựng đoạn ống từ nam sông Gianh đến Cẩm Li dài 85m, nối vào tuyến đường ống Cẩm Li - Bản Cộ của Đoàn 559. Đầu tháng 12-1970, Binh trạm 169, được tăng cường Trung đoàn 32 (Quân khu IV) thi công tiếp 85km từ nam sông Gianh vào Tân Ấp, nối liền với tuyến ống đường 12 - đèo Mụ Giạ.

Cuối tháng 12-1970, Cục xăng dầu đã thành lập Binh trạm 171 để quản lí tuyến đường ống Tân Ấp - Thọ Lộc - Giang - Long Đại - Cẩm Li. Thông qua tuyến này, có thể tiếp nhận xăng chở bằng đường ống đến cảng Giang, để bơm vào tuyến đông qua Cẩm Li, hoặc bơm vào tuyến tây qua Tân Ấp; cũng có thể bơm xăng từ Vinh sang tuyến đông, qua Tân Ấp, Gianh, Cẩm Li vào đường Trường Sơn(1).

Để phục vụ cho mặt trận bắc Quảng Trị (B5), đầu năm 1972, Cục Xăng dầu giao cho Binh trạm 171 lắp đặt trong 10 ngày xong đoạn tuyến Long Đại - Bến Quang, dài 60 km, với một khu bể có sức chứa 1.000m3.

Sau khi bộ đội ta đã đập nát tuyến phòng thủ bắc đường 9 của Mĩ - ngụy, Cục Xăng dầu đã cử một đoàn cán bộ cấp tốc vượt sông Bến Hải, vào Cam Lộ. Bộ đội giải phóng đến đâu, cán bộ xăng dầu nghiên cứu, khảo sát, cắm tuyến đến đấy. Tháng 4-1972, Tổng cục Hậu cần ra quyết định thành lập Binh trạm 172, có nhiệm vụ thi công và quản lí vận hành tuyến đường ống từ Bết Tất (sông Bến Hải) vào đường 9, Ba Lòng. Lúc này Mĩ - ngụy phản ứng điên cuồng, tập trung máy bay cường kích, B52, pháo hạm, pháo mặt đất đánh phá hủy diệt sướt ngày đêm, hòng ngăn cản cuộc tiến công của quân ta và chiếm lại những vùng đã mất. Vì vậy, trong thi công, nhiều lần, bị địch đánh trúng vào đội hình, nhưng cán bộ, chiến sĩ đường ống vẫn dũng cảm, kiên trì bám trận địa, để làm nhiệm vụ. Đầu tháng 5-1972, Binh trạm 1762 đã hoàn thành được đoạn đường ống Bến Tất - Cam Lộ dài 25km, và đưa vào vận hành ngay để phục vụ kịp thời đợt 2 chiến dịch.

Ngày 6-4-1972, Tổng thống Mĩ Níchxơn ra lệnh đánh phá lại miền Bắc với quy mô lớn và ác liệt hơn. Lúc này, hệ thống đường ống hàn cố định Φ150 Bãi Cháy - Nhân Vực của bộ Vật tư mới xây dựng về đến Hải Dương. Theo chủ trương của Chính phủ, Cục Xăng dầu lắp đặt trong 12 ngày đêm xong một tuyến ống dã chiến từ Hải Dương về Nhân Vực, tạo ra thế liên hoàn để bơm xăng thẳng từ Bãi Cháy về Nam Hà Nội.

Trong cuộc chiến tranh phá hoại lần này, đế quốc mĩ đã thả thủy lôi và mìn xuống bờ biển Vịnh Bắc Bộ và các cửa sông từ Móc Cái, Cẩm Phả, Hồng Gai, Hải Phòng, Cửa Hội đến sông Gianh, nhằm phong tỏa, bịt chặt đường giao thông quốc tế làm cho tầu bè nước ngoài không thể ra vào các cảng của miền Bắc Việt Nam. Do đó, nguồn xăng dầu nhập bằng đường biển bị ngừng trệ. Các tuyến đường sắt cũng bị địch đánh phá dữ dội và bị tê liệt, nên không còn dùng toa P để vận chuyển xăng dầu được nữa. Các kho xăng dầu của Nhà nước và quân đội cạn kiệt dần. Nguồn dự trữ còn rất mỏng. Chúng ta đứng trước nguy cơ không có đủ xăng dầu để bảo đảm cho chiến đấu và hoạt động kinh tế. Thực tế này đòi hỏi phải tìm biện pháp hữu hiệu nhất để chống lại việc phong tỏa của địch. Chính phủ đã họp và đi đến quyết định giao cho quân đội làm đường ống để tiếp nhận xăng dầu từ biên giới Việt - Trung. Cục Xăng dầu tổ chức thi công tuyến đường ống, mang tên T72, từ Lạng Sơn về đến Nhân Vực. trong điều kiện có nhiều khó khăn về thời gian cần làm xong rât gấp, quân đội không có đủ lực lượng. Nhưng Thủ tướng Chính phủ đã giao cho các tỉnh Lạng Sơn, Hà Bắc, Hải Hưng, Bắc Thái… huy động nhân lực đến giúp. Các bộ: Cơ khí - Luyện kim, Vật tư, Tài chính, Kiến trúc… đã nhanh chóng đưa lực lượng và vật tư kĩ thuật tham gia công trình. Bộ Quốc phòng cũng sử dụng thêm lực lượng của các trường, các đơn vị đóng quân ở gần tham gia thi công. Vì vậy, chỉ sau nửa tháng xây dựng tích cực, đến 25-9-1972, toàn bộ công trình đã hoàn thành với bốn đường ống song song, có chiều dài tổng cộng 386km, có thể đồng thời bơm cả xăng và điêden. Sau đó, Nhà nước quyết định giao cho quân đội xây dựng tiếp tuyến đường ống T72b từ Móng Cái về đến Hải Dương. Tuyến ống này cũng đã làm xong trong 5 tháng và được đưa vào vận hành.

Nhờ có hai tuyến đường ống T72 và T72b, nhu cầu xăng dầu cho chiến đấu và cho kinh tế đều được bảo đảm đầy đủ và kịp thời. Âm mưu của địch nhằm ngăn chặn, cắt đứt nguồn tiếp tế và vận chuyển xăng dầu của ta - một loại vật tư chiến lược thiết yếu - đã hoàn toàn bị phá sản.

Ngành Xăng dầu quân đội đã góp phần đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mĩ, như trong thư khen ngợi của Phó Thủ tướng Đỗ Mười, tháng 11-1972 đã nói; “Tôi thay mặt đồng chí Thủ tướng, tôi tuyên dương thành tích của ngành Xăng dầu, quân đội. Vừa qua bộ đội xăng dầu đã góp phần đánh bại âm mưu bao vây, phong tỏa của địch. Không phải chúng ta nói với nhau như vậy, mà chính đế quốc Mĩ cũng phải thú nhận sự thất bại của chúng. Trong công tác xăng dầu, chúng ta đã giành được thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, vì đã thực hiện được kế hoạch cơ giới hóa công tác vận chuyển xăng dầu chi viện tiền tuyến…”.

Chú thích
(1) Tuyến đường ống phía tây trên đường 12 chỉ vào đến Ka Vát. Tuyến đường ống phía đông qua Cẩm Li, Gia Mai là hướng chủ yếu bơm xăng vào Đoàn 559 và phát triển vào đến Nam Bộ.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 29 Tháng Năm, 2013, 01:23:26 PM
Kéo dài tuyến đường ống, vươn sâu vào các chiến trường!

Đầu năm 1973, Hiệp định Pari được kí kết, đế quốc Mĩ buộc phải công nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, phải rút hết lực lượng Mĩ và chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam. Nhưng với bản chất hiếu chiến, ngoan cố, Mĩ vẫn tiếp tục dính líu vào Việt Nam, tiếp tay cho quân ngụy trắng trợn phá hoại Hiệp định, thực hiện chiến tranh lấn chiếm, hòng tiêu diệt cơ sở cách mạng, tiến tới xóa các vùng giải phóng của ta.

Thực hiện quyết tâm chiến lược của Trung ương và Quân ủy Trung ương, anh Thiện đã chỉ đạo Cục Xăng dầu và Đoàn 559 nối nhanh tuyến đường ống chiến lược vào các chiến trường.

Trong những năm 1973 - 1974, Đoàn 559 đã kéo dài tuyến đường ống từ Nam đường 9, theo đường vận tải chiến lược Tây Trường Sơn tiến xuống phía Nam. Trung đoàn 532, sau khi thi công đến nam sông Bạc, tháng 11-1974 đã tiếp tục kéo ống vào đến Pô Cô (Tây Nguyên). Tháng 1-1974, Bộ Tl 559 thành lập tiếp Trung đoàn 537, để tổ chức thi công tuyến ống từ Pô Cô qua Plây Khốc vào Bu Prăng (tây nam Đắc Lắc) dài 225km. Sau đó sẽ phát triển vào miền Đông Nam Bộ.

Ở hướng Đông Trường Sơn, Binh trạm 171 và Binh trạm 172 ở Cục Xăng dầu, sau khi chuyển thuộc Đoàn 559, đã được tăng cường thêm lực lượng và phương tiện kĩ thuật, tổ chức thành Trung đoàn 671, có nhiệm vụ nối tiếp đường ống từ Cam Lộ, qua thung lũng A Lưới, vượt qua đỉnh núi Đá Bàn cao hơn 1.000 mét, tới Bù Lạc (tây Thừa Thiên) và từ đó đi Giàng (tây Quảng Nam), Khâm Đức (Tây Nguyên) rồi cũng tiến xuống phía nam. Việc thi công tuyến đường ống ở hướng đông rất gian khổ vất vả, vì phải qua địa hình rất hiểm trở: lắm đèo, nhiều dốc, có nhiều thung lũng rộng với những vỉa đá vôi lởm chởm, mùa mưa biến thành những túi nước, khó vượt qua. Nhưng cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 671 đã vượt mọi khó khăn, chủ yếu phải dùng sức người khiêng ống, khiêng máy qua rừng rậm, qua núi cao, có đoạn đã phải dùng dây thép bện lại, bắc trên cây rừng làm cầu treo để kéo ống qua vực sâu… Đến tháng2-1974, dùng xăng bơm qua đường ống phía Đông đã vào đến Bến Giàng. Ngoài ra cuối năm 1974, ở phía Đông Trường Sơn, Trung đoàn 671 còn tiến hành xây dựng tuyến ống thứ hai từ Đông Hà và A Lưới dài 65km để bơm điêden, chuẩn bị cung cấp cho xe tăng hành quân trên tuyến Đông Trường Sơn, tham gia các chiến dịch mùa Xuân 1975.

Tháng 1-1975, đường ống từ Plây Khốc (ngã ba biên giới) được kéo đến Bu Prăng rồi giữa tháng 2-1975 xuống đến Bù Gia Mập(1), kho cuối cùng của tuyến đường ống chiến lược nằm trong khu căn cứ của chiến trường miền Đông Nam Bộ…

Ngày 17-2-1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã thay mặt Thường vụ Quân ủy Trung ương gửi điện khen ngợi toàn thể cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên ngành xăng dầu quân đội. Trong bức điện có đoạn viết:

“… Sau một thời gian lao động khẩn trương trong công tác, các đồng chí đã hoàn thành thắng lợi việc xây dựng một tuyến xăng dầu rất dài từ hậu phương ra tiền tuyến. Thành tích đó có ý nghĩa to lớn, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho nhiệm vụ chiến đấu của quân và dân ta trên các chiến trường.

Thường vụ Quân ủy Trung ương rất vui mừng và nhiệt liệt khen ngợi công lao đó của toàn thể cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên ngành xăng dầu quân đội…”.

*
*    *

Trải qua 7 năm (1968 - 1975) phấn đấu hết sức gay go, gian khổ, vượt qua những khó khăn về trang bị máy móc, vật tư, về điều kiện địa hình, thời tiết khắc nghiệt và sự đánh phá ngăn chặn quyết liệt của kẻ thù, bộ đội xăng dầu đã xây dựng và quản lí vận hành được một tuyến đường ống chiến lược, từ biên giới phía Bắc vào đến miền Đông Nam Bộ, với chiều dài hơn 5.000km, cùng hơn 100 khu kho có sức chứa trên 300.000m3. Lực lượng ban đầu khi vượt qua “Tam giác lửa” chỉ có một công trường với hơn 30 cán bộ, chiến sĩ và vài trăm công nhân, đến đầu năm 1975, đã phát triển thành chín trung đoàn đường ống, hai trung đoàn công trình, một trung đoàn thông tin, hai nhà máy, ba tiểu đoàn xe vận tải. Đội ngũ cán bộ, chiến sĩ ngành xăng dầu đã trưởng thành nhanh chóng, đã tiếp thu được những kinh nghiệm quý báu của các nước anh em, biết cách vận dụng rất sáng tạo và phù hợp với hoàn cảnh của đất nước ta, đã vươn lên làm chủ việc vận chuyển xăng dầu bằng đường ống, một phương thức hiện đại, nhưng còn rất mới mẻ đối với nước ta.

Tuyến đường ống xăng dầu đã hình thành như thế.

Đường ống đã phát huy tác dụng to lớn trong công tác cung cấp xăng dầu cho quân đội và cho cả các cơ quan nhà nước, trong thời chiến, đặc biệt là bảo đảm nhu cầu cho tuyến vận tải chiến lược và cho các chiến trường, đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của quân và dân ta, trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Chú thích
(1) Theo lịch sử của Cục Xăng dầu và lịch sử của Đoàn 559 thì Bù Gia Mập là kho cuối cùng của tuyến đường ống chiến lược. Kho xăng Lộc Ninh có sức chứa 1500m3 do anh Thiện chỉ thị cho Cục Xăng dầu giúp đỡ B2 xây dựng, chưa nối với tuyến đường ống. Xăng dầu dự trữ ở đây do xe xitéc chở từ Bu Prăng và Bù Gia Mập đưa về.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 10 Tháng Sáu, 2013, 12:04:06 PM
ĐỒNG CHÍ ĐINH ĐỨC THIỆN VÀ CHUYẾN ĐI KHẢO SÁT
TUYẾN ĐƯỜNG ỐNG ĐẦU TIÊN

TRẦN XANH(*)

Một ngày đầu tháng 4 năm 1968, đồng chí Đinh Đức Thiện triệu tập tôi lên làm việc và phổ biến: “Năm nay, Liên Xô viện trợ cho ta hai bộ đường ống dã chiến, mỗi bộ dài 100 km. Bộ thứ nhất đã đến cảng Hải Phòng còn bộ thứ hai cũng sắp vào. Tình hình đang biến chuyển có lợi cho ta. Sắp tới có thể địch phải xuống thang, ngừng ném bom miền Bắc để tuyên truyền gây uy tín cho Đảng Dân chủ trong cuộc bầu cử Tổng thống ở Mĩ. Nhưng thằng địch cũng ngoan cố và nham hiểm lắm. Nó sẽ đem tất cả bom đạn, trước đây dùng để bắn phá miền Bắc, đổ xuống tuyến đường 559, nhất là sẽ bịt các cửa khẩu từ miền Bắc vào đất Lào. Nó sẽ đánh rất dữ dội để cắt đứt đường tiếp tế cho miền Nam. Nếu ta không chuẩn bị sớm, không có kế hoạch đối phó cho tốt thì sẽ bị động. Nhất là về xăng dầu thì việc vận chuyển khó khăn hơn các loại hàng khác. Mà thiếu xăng thì xe trên tuyến vận tải không chạy được. Như vậy thì có đưa được hàng vào Đoàn 559 cũng bằng không”.

Tôi lắng nghe và ghi chép, vì những ý kiến anh phổ biến về tình hình hoàn toàn mới mẻ, tôi chưa được nghe và cũng chưa hình dung nổi. Anh bảo đồng chí bí thư đem bản đồ ra, lấy bút chì đỏ vạch, chỉ cho tôi và nói: “Tổng cục quyết định triển khai ngay các bộ đường ống dã chiến để bơm xăng vào cho Đoàn 559. Bộ thứ nhất sẽ đi theo đương 12, vượt qua đèo Mụ Giạ; còn bộ thứ hai sẽ nối xuống Lùm Bùm. Cậu về báo cáo thủ trưởng Cục, cử ngay một đoàn khảo sát, do cậu phụ trách, vào làm gấp, vừa khảo sát, vừa thiết kế. Phải đi ngay, làm trong tháng tư phải xong, về báo cáo và đưa lực lượng vào thi công ngay trong mùa mưa này. Phải tranh thủ thời gian, không thể chậm trễ, vì thằng Mĩ nó không chờ đợi anh đâu! Phía trong đã hết xăng rồi. Có binh trạm đã phải cho anh em dùng ba lô lót nilông để gùi xăng; nhưng cũng chẳng được bao nhiêu! Làm thế không được đâu…”.

Tôi suy nghĩ và thấy lo lắng vì khi học ở trường, trong khoa mục về khí tài xăng dầu có được học về đường ống. Nhưng khi về thì cũng chưa nghiên cứu sâu, vì nghĩ đất nước mình biết bao giờ mới có đường ống, có lẽ phải sau chiến tranh! Tôi cũng có làm đường ống nhưng đó chỉ là những đoạn đường ống hàn có “mặt bích” với chiều dài chưa quá mấy trăm mét ở trong các kho. Còn đường ống dã chiến thì tuy có nghe nói, nhưng tôi chưa hình dung ra thế nào… Tôi cũng lo lắng về việc đem đường ống đặt trên địa hình rừng núi mấp mô thế thì có được không, bơm có đủ sức mạnh để đẩy dòng xăng qua núi không, chuyên chở thế nào, khiêng vác chăng…?

Tôi đã biết anh Thiện và công tác dưới quyền Anh ở Cục Vận tải từ năm 1951, nên tôi cũng mạn dạn trình bày các suy nghĩ và thắc mắc của tôi. Anh đã giải thích và hướng dẫn thêm: “… Phải làm đoạn vượt qua đèo Mụ Giạ trước, vì đây là cửa khẩu chính của ta vào đường 559, đang bị địch đánh phá rất ác liệt để phong tỏa, ngăn chặn. Phải đặt đường ống theo đường ô tô, vì bơm xăng là để cấp cho xe chạy, đồng thời cũng lợi dụng ô tô chở ống và lắp ráp và có đường để đưa máy bơm vào… Nhưng đừng có dại làm đường ống ngay sát đường, vì khi địch đánh đường thì cũng trúng ống luôn. Phải làm cách xa ra, có thể cách đường một vài kilômét. Khi qua các trọng điểm, thường xuyên bị địch đánh phá thì phải cách xa hơn nữa. Nơi địa hình quá hẹp thì cũng phải tìm cách tránh xa mấy trăm mét. Từ đường ô tô vào nơi đặt đường ống phải vác ống bằng vài. Đường ống dã chiến làm bằng vật liệu nhẹ, khi mình đi xem diễn tập thấy lính Liên Xô một người vác được hai ống. Còn chiến sĩ của ta yếu hơn thì một người một ống, nếu không nổi thì hai người khiêng một ống vậy! Bơm thì nhất định nặng hàng tấn rồi. Phải làm đường, rồi dùng xe ba cầu, xe kéo, hoặc mượn xe húc kéo vào. Không có xe kéo thì dùng sức người như kéo pháo ở Điện Biên Phủ. Bơm xăng lên núi cao thì phải dùng nhiều bơm; nếu ở đường bằng phẳng dùng một bơm, thì nay phải dùng hai, ba bơm đấu vào mà bơm… Các kho xăng thì phải tìm hang đá mà đặt vào. Trường hợp ở nơi không có núi đá thì dùng các bể nhỏ, chôn ngầm dưới đất, hoặc trong khe núi, nhưng phải chú ý ngụy trang cẩn thận và đặt phân tán, để khi một bể bị bắn cháy không lan sang những cái khác.

Tôi còn có băn khoăn vì chưa biết được tính năng kĩ thuật của máy bơm, nên khó tính toán được vị trí đặt máy bơm. Anh Thiện nói: “Cứ đi xác định tuyến là chính, còn máy bơm sẽ xét sau”.

Tôi về báo cáo Cục lập một đội khảo sát tám người gồm các cán bộ khảo sát, thiết kế, vật chất, khí tài, cung cấp xăng dầu, vật tư, mang theo bản đồ, địa bàn, ống nhóm, máy kinh vĩ, cùng lương thực, thực phẩm và lên đường ngay. Cục bố trí cho một xe Gát 63 với ba lái xe, để thay đổi nhau, lái đi cho nhanh.

Chúng tôi đi mất gần hai đêm thì đến Hương Đô (Hương Khê, Hà Tĩnh), vào Sở chỉ huy của Đoàn 559. Sau khi nghe chúng tôi báo cáo, các đồng chí Tư lệnh và Chính ủy Đoàn rất hoan nghênh chủ trương lắp đặt đường ống của anh Thiện, và ra lệnh cho các binh trạm trên dọc đường hết sức giúp đỡ Đoàn khảo sát.

Đến tối, chúng tôi lại được xe theo đường 15 vào Xóm Cục. Ngày hôm sau, chúng tôi bắt đầu vác ba lô và dụng cụ đi bộ để khảo sát; còn xe, chờ đến tối sẽ quay về Hà Nội.

Đoạn từ Khe Ve đến 050, nhờ được nhân dân giúp đơ, chúng tôi đi theo dấu vết của đường Hàm Nghi, nay là con đường mòn trong khe núi đi gần như song song với đường 12, nhưng tránh được các trọng điểm: La Trọng, Bãi Rinh, Cha Lo, Cổng Trời (trên đèo Mụ Giạ). Đoan từ 050 qua Làng Khằng, Nà Tông, xuống Lùm Bùm, chúng tôi bám theo đường giao liên của Đoàn 559. Chúng tôi đã kết hợp bản đồ với đo đạc, xác định các điểm chuẩn trên thực địa, rồi vẽ sơ đồ mặt cắt dọc của tuyến đường ống, nhưng chưa xác định được vị trí đặt máy bơm, như đã báo cáo với anh Thiện. Về kho, thì cúng tôi xác định ở Khe Ve cứ dùng kho hiện có, còn phải dặt ở Nà Tông một kho có trữ lượng khoảng 500 tấn, ở Lùm Bùm, một cụm kho có chứa từ 500 đến 1.000 tấn.

Trong thời gian đi khảo sát, đoàn chúng tôi đã được các binh trạm 12, 31, 32 của Đoàn 559 tận tình giúp đỡ, nên công việc đã được tiến hành khá thuận lợi.

Cuối tháng 4-1968, chúng tôi trở ra đến Hương Đô, thì nhận được điện của Cục gọi về gấp. Thời gian này, địch đã tăng cường độ đánh phá lên gấp bội. Các bến phà Địa Lợi, Linh Cảm, Bến Thủy và đoạn đường ngã ba Vọt luôn luôn bị ùn tắc. Chúng tôi phải đi bộ ra Vinh rồi mới đi được ô tô ra Hà Nội.

Chúng tôi báo cáo với Thủ trưởng cục xong thì có điện của Tổng cục gọi lên báo cáo trực tiếp với anh Thiện. Tôi trình bày phương án chọn tuyến, nhất là tìm được đường “Hàm Nghi”, thì Anh rất ưng ý và chấp nhận. Anh nói: “Loại đường ống dã chiến này của quân đội Liên Xô, là để dùng ở cấp chiến dịch; bạn ới thiệu là mới chỉ triển khai trong diễn tập, chưa dùng trong chiến đấu, nên chưa có kinh nghiệm thực tế. Nay ta đem ra sử dụng đầu tiên, cần vừa làm vừa rút kinh nghiệm vận dụng cho phù hợp với điều kiện thực tế của ta. Điều quan trọng nhất là phải giữ bí mật, không để địch phát hiện. Làm đến đâu phải ngụy trang đến đấy, không được phát cây cối nhiều; những chỗ đào đất, chôn ống xong phải trồng lại cây cỏ để giữ nguyên hiện trạng địa hình như cũ”.

Anh nói tiếp: “Nay địch đã xuống thang bước đầu, ngừng ném bom từ vĩ tuyến 19 trở ra, nhưng lại tập trung bắn phá Khu IV. Nó đang đánh dữ dội để phong tỏa khu tam giác Bến thủy, Nam Đàn, Linh Cảm. Xe téc và xe chở xăng phuy bị cháy nhiều. Phía trong đang “đói” xăng nghiêm trọng, nên ta phải làm một đoạn đường ống vượt sông Lam trước đã, còn đoạn Khe Ve - Mụ Giạ sẽ làm sau. Tổng cục sẽ giao kế hoạch cho Cục, cậu về bàn bạc để thực hiện…”.

Tôi về Cục, thì các cơ quan đang khẩn trương chuẩn bị đi làm đoạn đường ống đầu tiên. Đoạn này dự kiến đi từ Nam Thanh (Nam Đàn, Nghệ An) đến Nga Lộc (Can Lộc, Hà Tĩnh) dài 42 km. Tổng Cục quyết định thành lập Công trường 18 (đơn vị tương đương trung đoàn) để thi công tuyến đường ống. Đồng chí Mai Trọng Phước được cử làm Chỉ huy trưởng, đồng chí Phan Ninh làm Chính ủy, tôi làm Phó Chỉ huy công trường. Các đồng chí trong đoàn khảo sát đều trở về công tác trong các cơ quan của công trường.

Vì yêu cầu phải làm rất khẩn trương, nên đoạn ống X42, chúng tôi phải vừa khảo sát, vừa thiết kế, vừa thi công.

Sau khi hoàn thành X42, đẩy được xăng vào tuyến bắc Hà Tĩnh. Công trường 18 được lệnh vào làm tiếp tuyến ống vượt qua đèo Mụ Giạ. Thực ra khi thi công, tuyến ống này cũng được điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện thực tế, chứ không giữ nguyên như khi chúng tôi khảo sát, thiết kế.

Nhưng tôi muốn kể lại chuyện này để thấy rằng anh Đinh Đức Thiện không những là người đã đề ra chủ trương xây dựng đường ống, mà Anh còn chỉ đạo việc xây dựng rất cụ thể từ khâu khảo sát, thiết kế ban đầu, vạch ra hướng cho từng đoạn và cho toàn tuyến, cũng như khâu thi công sau này suốt từ Biên giới phía Bắc vào đến miền Đông Nam Bộ.

Anh là người đã khai sinh ra tuyến đường ống chiến lược Bắc - Nam!

Chú thích
(*) Nguyên Trưởng phòng Kĩ thuật, Cục Xăng dầu Tổng cục Hậu cần; Vụ trưởng Vụ Kĩ thuật, Tổng cục Dầu khí.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 10 Tháng Sáu, 2013, 12:05:29 PM
TẦM NHÌN CỦA NHỮNG NGƯỜI LÃNH ĐẠO

ĐỖ NGỌC NGẠN(*)

Mặc dù cuộc họp đêm đó, tại Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng diễn ra cách đây 25 năm, nhưng với tôi, đó là một kỉ niệm thật khó quên! Cuộc họp chủ yếu để giải quyết kinh phí cho công trình đường ống T70, mới được xây dựng từ nam Hà Nội vào bắc Nghệ An. Công trình do đồng chí Đinh Đức Thiện, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần đề xuất, xin được ý kiến nhất trí của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và của đồng chí Đỗ Mười; Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, kiêm Chủ tịch Hội đồng chi viện chiến trường… Bộ Vật tư cung cấp ống, Cục Xăng dầu Tổng cục Hậu cần tổ chức thi công, từ cuối năm 1970 đến cuối năm 1971 thì xong. Tuy công trình đã hoàn thành, nhưng kinh phí xây dựng, cũng như để duy trì bộ máy quản lí, khai thác thì chưa có cơ quan nào chịu trách nhiệm bảo đảm…

Đồng chí Đỗ Mười chủ trì cuộc họp. Đồng chí Phan Tử Lăng, Cục trưởng Cục Xăng dầu, được đồng chí Đinh Đức Thiện ủy nhiệm báo cáo về tiến trình tổ chức thi công T70, một tuyến đường ống hàn cố định dài 170 km với bốn cụm kho có trữ lượng hơn 5.000 tấn, được hoàn thành trong thời gian chưa đầy 14 tháng.

Tuyến đường ống làm được nhanh như vậy, một phần, nhờ quyết tâm của bộ đội xăng dầu, nhưng phần quan trọng là đã vận động được sự đóng góp của cha và đông đảo nhân dân các địa phương có đường ống đi qua, tích cực tham gia giúp đỡ thi công. Đoạn đường ống mới xây dựng đã được nối liền vào tuyến đường ống dã chiến của Cục Xăng dầu xây dựng trước đây, từ bắc Nghệ An vào Trung Lào. Như vậy, từ nay trở đi ta có thể bơm thẳng xăng dầu từ Nam Hà Nội vào đến Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, rồi vào tuyến vận tải Trường Sơn.

Đa số đại biểu các bộ, các ngành đều đánh giá cao kết quả xây dựng tuyến đường ống mới: một công trình có tính chất công nghiệp, khoa học kĩ thuật rát cao, mà đã thi công được nhanh, đưa vào sử dụng được ngay, đáng được coi là một kỉ lục về xây dựng trong thời chiến… Tuy nhiên khi bàn đến vấn đề kinh phí cho công trình thì cuộc họp bị bế tắc.

Cục Tài vụ, đại diện cho Bộ Quốc phòng trong cuộc họp đưa ra lí do khó có thể phản bác được: “Nhà nước chưa cấp cho Quốc phòng ngân sách để chi cho công trình này. Vả lại, theo quy định của Nhà nước thì xăng dầu cấp cho quân đội từ nam Khu IV trở vào, được Bộ Vật tư giao cho tại Vinh (Nghệ An), nên Bộ Quốc phòng không có trách nhiệm về vận chuyển xăng dầu từ ngoài Bắc vào”.

Bộ Vật tư nhận mình là cơ quan có nhiệm vụ cung cấp xăng dầu cho quân đội nhưng chỉ biết nhận và giao ở Vinh, còn trách nhiệm vận chuyển vào đến nơi là của Bộ Giao thông - vận tải. Còn việc cấp ống dẫn dầu cho công trình này, theo lệnh cấp trên, là coi như hàng ghi nợ, chủ công trình phải thu hồi vốn để trả lại, theo đúng nguyên tắc của Nhà nước.

Bộ Giao thông - vận tải thì rất hoan nghênh tuyến đường ống, đã gánh cho mình một khối lượng vận chuyển khá lớn. Nhưng hiên nay vẫn dùng được tầu hỏa để chuyển xăng dầu vào Khu IV, nên chưa cần đến đường ống.

Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, cơ quan có thẩm quyền nhất để giải quyết, thì đưa ra ý kiến là công trình này chưa được ghi vào kế hoạch năm, nên chưa có ngân sách. Vả lại, thực tế thì xét thấy cũng không cần!

Đúng như câu nói dân gian: “Sư nói sư phải, vãi nói vãi hay”. Cứ như vậy, cuộc họp chưa tìm được tiếng nói chung, càng về khuya, càng trở nên căng thẳng. Cái rét, lúc đầu len lỏi vào phòng họp, bây giờ, đã bị xua tan vì khói thuốc lá hay vì cuộc tranh luận rất hăng hái, nhưng chưa ngã ngũ, không ai chịu ai…!

Tôi quan sát nét mặt đồng chí Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng vẫn rất điềm tĩnh. Đồng chí lắng nghe, lúc nồi, lúc đứng, lúc đi lại… và chốc chốc lại lấy tay vuốt mái tóc khá dầy và đốm bạc, hất ra phía sau…

*
*    *
Bây giờ nghe lại chuyện này, chắc nhiều người không khỏi ngạc nhiên vì sao trong cuộc họp quan trọng như thế, lại có sự đùn đẩy để giải quyết một việc tưởng chừng như rất đơn giản? Xin ngược giòng thời gian để nhớ lại bối cảnh lịch sử lúc đó.

Năm 1965, đế quốc Mĩ gây chiến tranh phá hoại, mục đích chủ yếu là để cắt đứt sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam. Mùa mưa năm 1968, địch tập trung đánh phá “vùng cán xoong” đã gây trở ngại khá lớn cho ta: hàng không đưa được qua vùng nam Khu IV để chuyển vào chiến trường. Đặc biệt việc vận chuyển xăng dầu bị đình đốn: nhiều xe chở xăng bị bắn cháy; tuyến vận tải chiến lược thiếu nhiên liệu nghiêm trọng, hàng trăm xe đang nằm chờ… Giữa lúc đó, đồng chí Đinh Đức Thiện chủ trương đưa những ống dẫn dầu dã chiến, vừa được bạn viện trợ, ra xây dựng tuyến đường ống vượt qua các “cửa tử”: Nam Đàn - Linh Cảm, ngã ba Đồng Lộc, Khe Ve, Bãi Dinh, Cổng Trời, Nà Tông… Đến cuối năm 1970, một tuyến đường ống 400 km đã kéo dài từ Bắc Nghệ An vào đến Lùm Bùm ở Trung Lào…

Từ cuối tháng 11 năm 1968, địch tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc. Trong những năm 1969 - 1970, các địa phương từ Vĩnh Linh trở ra đã phần nào có không khí hòa bình: kinh tế được từng bước khôi phục; đường sắt, đường bộ, cầu cống được khẩn trương sửa chữa; xe lửa, ô tô chạy ban ngày. Ga Vinh, cảng Cửa Hội, cảng Gianh hoạt động tấp nập. Công tác vận tải hàng hóa vào nam Khu IV đã từng bước được cải thiện…

Tuy nhiên, phải nói âm mưu của địch rất xảo quyệt, chúng buộc phải tuyên bố ngừng bắn phá miền Bắc, thì lại tăng cường lực lượng không quân và bom đạn vào đánh phá dữ dội tuyến đường 559 hơn trước gấp nhiều lần. Nhưng nhờ có tuyến đường ống, tuyến vận tải chiến lược vẫn luôn luôn được cung cấp đầy đủ xăng dầu. Từ mùa khô 1969, có đường, có xe, có xăng, lại áp dụng nhiều biện pháp đối phó với địch có hiệu quả, Đoàn 559 đã tổ chức vận chuyển liên tục, đưa hàng vào ngày càng nhiều, tạo điều kiện cho bộ đội giành lại thế chủ động trên khắp các chiến trường…

Trước tình hình phát triển theo chiều hướng có phần thuận lợi, Trung ương Đảng tỏ ra rất bình tĩnh và sáng suốt… Nghị quyết Trung ương lần thứ 18, họp vào tháng 1-1970, nhấn mạnh: cần đề phòng đế quốc Mĩ ném bom trở lại miền Bắc, và mở rộng chiến tranh sang Lào và Campuchia để gây sức ép với ta…

Xuất phát từ nhận định đó, từ giữa năm 1970, đồng chí Đinh Đức Thiện đã đề xuất việc gấp rút xây dựng tuyến ống từ nam Hà Nội để nối vào tuyến ống đã xây dựng ở phía trong. Chủ trương này đã gặp không ít phản ứng, không đồng tình từ một số cơ quan Nhà nước và cả trong quân đội, vì cho là địch không đánh nữa, có thể chuyển xăng dầu bằng đường sắt, đường bộ, đường thủy, thì làm đường ống làm gì cho tăng phí, trong khi ta đang thiếu ống, thiếu máy bơm…!

Chú thích
(*) Nguyên Trưởng Phòng Kế hoạch, Cục Xăng dầu, Tổng cục Hậu cần; Vụ trưởng Vụ Tổ chức - Lao động, Tổng cục Dầu khí.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 10 Tháng Sáu, 2013, 12:06:09 PM
Nhưng anh Thiện không thay đổi ý kiến và quyết tâm làm bằng được. đây là tuyến ống ở hậu phương, nên Anh chủ trương làm bằng đường ống hàn cố định, để xử dụng lâu dài. Sau này được viện trợ thêm ống dã chiến, sẽ nối dài tuyến ống từ Trung Lào sang Hạ Lào rồi vào Nam Bộ. Chủ trương này được Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhất trí. Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười cũng nhiệt liệt ủng hộ, và đã chỉ thị cho Bộ Vật tư xuất kho loại ống han đường kính 100mm cho Cục Xăng dầu làm. Đầu tháng 10 năm 1970, anh Thiện mời lãnh đạo các tỉnh có đường ống đi qua, về họp ở Tổng cục Hậu cần, để nghe trình bày kế hoạch xây dựng tuyến ống. Anh Mười bận không đến được, đã ủy nhiệm cho đồng chí Vũ Đường, là Bí thư riêng, đến truyền đạt tinh thần chủ trương của Nhà nước giao cho tổng cục Hậu cần làm tuyến ống hàn cố định. Các tỉnh đều nhiệt liệt hưởng ứng chủ trương này và hứa sẽ hết sức giúp đỡ việc xây dựng đường ống.

Công trường triển khai vào cuối tháng 10-1970. Hàng vạn dân công được huy động vào các công việc: cạo rỉ, sơn ống, đào hào, khiêng vác, rải ống, đặt ống, lấp đất… Hàng trăm thợ hàn bậc cao được huy động từ các nhà máy quốc phòng và các xí nghiệp của Bộ Cơ khí và luyện kim, thay nhau làm việc liên tục, để hàn ghép, nối ống…

Sau hơn 13 tháng lao động khẩn trương, công trình đã hoàn thành. Đồng chí Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã gửi thư khen ngợi. Đồng chí Bộ trưởng Bộ Quốc phòng biểu ương và tặng lẵng hoa…

Thế nhưng khi bàn đến chuyện giải quyết kinh phí thì trắc trở, căng thẳng. Đồng chí Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng phải can thiệp…

Đêm đã khuya. Sương bao phủ vườn Bách Thảo một màu trắng đục. Hội nghị vẫn chưa nhất trí, vẫn chưa tìm được tiếng nói chung. Sự kiên nhẫn, kìm nén của đồng chí Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng cũng có giới hạn… Đồng chí trở về chỗ ngồi của mình, lấy tay hất ngược mái tóc ra sau gáy, rồi lại đứng dậy, tay phải chém mạnh vào không khí, cắt ngang một ý kiến phát biểu quá dài dòng của một đại biểu nào đó và nói đại ý: cuộc họp hôm nay, đáng lẽ phải tràn ngập không khí vui mừng, phấn khởi mới phải. Vui vì cán bộ, chiến sĩ ngành xăng dầu quân đội, được sự giúp đỡ của nhân dân bốn tỉnh Hà Tây, Nam Hà, Ninh Bình, Than Hóa, chưa đầy 14 tháng đã xây dựng được một tuyến ống hàn cố định, dài 170 km, vượt qua sông, qua núi. Những người tham gia xây dựng đã phải vượt qua bao gian khổ, khó khăn, có người đã vĩnh viễn nằm lại ở công trường, để hôm nay, chúng ta có cả một mạng đường ống, kho tàng chạy suốt từ nam Hà Nội vào tới Trung Lào. Chúng ta đã có một phương thức vận chuyển mới nhanh chóng, bất ngờ, an toàn, bí mật. Dù trong bất kì tình huống nào, dù địch đánh phá ác liệt đến đâu, cũng không thể ngăn chặn được dòng xăng ta đưa vào các chiến trường. Đoàn 559, quân dân miền Nam và tất cả chúng ta ở hậu phương lớn, đều vui mừng vì xe máy sẽ đỡ tổn thất, lái xe bớt hi sinh, còn xăng dầu thì bơm được quanh năm, không phụ thuộc vào mùa khô hay mùa mưa nữa…

Nghị quyết của Trung ương đã chỉ rõ: cả hai miền Nam, Bắc phải ra sức chuẩn bị sẵn sàng đối phó với những âm mưu và biện pháp chiến lược mới của Mĩ - ngụy. Trong 2 năm 1970 - 1971, trên các chiến trường, do phán đoán đúng, dự kiến sớm, ta đã chủ động đối phó với địch và giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, buộc địch phải co cụm lại và bị động đối phó. Nhưng chúng chưa từ bỏ các âm mưu thâm độc và các biện pháp quỷ quyệt, trong đó có việc đánh phá lại miền Bắc với quy mô ác liệt hơn. Điều đó rất có thể xảy ra. Công trình T70 của anh Thiện đề xuất, chính là một biện pháp tích cực để sẵn sàng đối phó với âm mưu của địch. Việc đó là rất đúng, rất cần, rất hợp lí. Dù chưa chuẩn bị, chưa kịp đưa vào kế hoạch, ngân sách, nhưng do nhu cầu bức thiết của chiến tranh, chúng ta phải làm, rồi sẽ bổ sung sau…

Những lời giải thích và kết luận đầy tính thuyết phục của đồng chí Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, làm cho tất cả những người dự cuộc họp đều nhất trí, mà nếu ai chưa nhất trí thì cũng không còn lí do gì để phản đối được nữa…! Cuối cùng, thì đại biểu Ủy ban Kế hoạch Nhà nước cũng đề nghị xin cho phép xem xét tính toán lại, rồi sẽ báo cáo cách giải quyết, trên tinh thần tích cực nhất, vì ngân sách đã phân bổ rồi, cần làm việc với Bộ Tài chính để cân đối lại…!

*
*    *

Chỉ hơn hai tháng sau, tình hình đã diễn ra đúng như những phán đoán đồng chí Đỗ Mười đưa ra trong cuộc họp: Tháng 4-1972, Níchxơn ra lệnh ném bom, bắn phá trở lại miền Bắc với cường độ dữ dội hơn trước, đồng thời lại thả thủy lôi và mìn phong tỏa các cảng và các cửa sông làm cho vận tải đường thủy, đường bộ, đường sắt đều bị khó khăn, trở ngại. Duy nhất chỉ có tuyến đường ống vẫn ngày đêm liên tục chuyển xăng dầu cho các đầu mối tiêu thụ từ Nam Hà Nội vào đến nam Khu IV và tuyến 559…

Ở cơ quan Cục Xăng dầu, không khí làm việc hết sức nhộn nhịp, khẩn trương. Chuông điện thoại réo liên tục. Các Binh trạm báo cáo tình hình giao nhận xăng dầu, tình hình vận hành và các sự cố trên tuyến đường ống… Ủy ban Kế hoạch Nhà nước yêu cầu cho người ra làm việc ngay để giải quyết những việc tồn đọng và triển khai kế hoạch mới… Bộ Tài chính mới ra quyết toán công trình T70… Bộ Vật tư yêu cầu nhận xăng dầu gấp… Bộ Giao thông - vận tải yêu cầu giải phóng các toa P chở xăng… Nhiều cơ quan khác đề nghị giúp đỡ việc cung cấp hoặc cho vay nhiên liệu ở các địa phương nam Khu IV…

*
*    *

Tuyến đường ống không chỉ dừng lại ở đoạn nam Hà Nội - Lùm Bùm. Ở phía bắc, năm 1972, ngay trong khi máy bay địch đang đánh phá dữ dội, đường ống đã được nối thông đến biên giới Việt - Trung. Ở phía Nam, từ Trung Lào, đường ống đã được dần dần kéo dài vào chiến trường, mỗi năm thêm một đoạn, và đến đầu năm 1975 đã vào đến miền Đông Nam Bộ.

Bây giờ, có dịp ngồi nghĩ lại chặng đường hình thành tuyến đường ống mới thấy vĩ địa và đáng tự hào làm sao. Chưa đầy sáu năm rưỡi, chúng ta đã xây dựng được một mạng đường ống xuyên suốt Bắc - Nam với chiều dài hơn 5.000 km, cùng gần 600 trạm bơm và hàng trăm kho chứa xăng dầu lớn nhỏ.

Mùa xuân năm 1975, cuộc Tổng tiến công vào dinh lũy cuối cùng của Mĩ - ngụy, với nhiều quân đoàn hành tiến trên xe cơ giới, cùng hàng vạn xe, pháo các loại, ồ ạt tiến vào giải phóng Sài Gòn. Ngành xăng dầu dựa vào hệ thống đường ống, đã đáp ứng được đầy đủ và kịp thời mọi nhu cầu cho tuyến vận tải chiến lược hoạt động, cho các binh đoàn và đơn vị hành quân cơ động và tác chiến thắng lợi.

Có được tuyến đường ống, có được chiến công, có đường thắng lợi, một phần quan trọng là nhờ ở tầm nhìn của những người lãnh đạo, trong đó có anh Đinh Đức Thiện.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 10 Tháng Sáu, 2013, 12:07:19 PM
XÂY DỰNG SÂN BAY, ĐÁNH TÀU CHIẾN MĨ!

Thiếu tướng PHAN HÀM(*)

Gần suốt thời gian kháng chiến chống Mĩ, tôi công tác ở Cục Tác chiến, Bộ Tổng Tham mưu, lãnh thêm trách nhiệm làm kế hoạch và theo dõi công việc chi viện cho chiến trường miền Nam. Vì vậy, tôi có quan hệ mật thiết với Tổng cục Hậu cần, và có nhiều dịp được làm việc với anh Thiện. Tôi thấy ở Anh, một người chỉ huy có quyết tâm cao, chịu suy nghĩ mạnh bạo, dám làm và biết làm lớn.

Anh Thiện trở lại quân đội, làm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, khi đế quốc Mĩ vừa bắt đầu gây ra cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc Việt Nam để hòng ngăn cản việc chi viện của hậu phương lớn cho miền Nam.

Trong chiến lược của địch, khu vực nam Quân khu IV, từ Hà Tĩnh vào đến Quảng Bình, Vĩnh Linh là vùng trọng điểm đánh phá. Chúng gọi đó là vùng “cán xoong”, vì ở đây địa hình rất hẹp, có chỗ chiều ngang từ bờ biển vào đên chân dãy núi Trường Sơn rộng không quá 15 - 20 km. Các đoàn xe vận tải và các đơn vị bộ đội hành quân vào miền Nam, đều đi qua khu vực này. Thời Tổng thống Mĩ Giônxơn, từ 1965 đến 1968, Mĩ đã tập trung không quân và cả hải quân đánh vào đây với cường độ cao nhất, hơn cả ở các chiến trường miền Nam và tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn. Đặc biệt, chúng dùng nhiều loại máy bay thả đủ các loại bom: bom nổ, bom cháy, bom bi, bom nổ chậm, bom từ trường… ngày đêm bắn phá các điểm hiểm yếu, biến những đoạn đường chạy qua Ngã ba Đồng Lộc, ngã ba Dân Chủ thành những bãi bùn lầy lội, biến các bến phà sông Gianh, Xuân Sơn, Long Đại thành bình địa, tưởng chừng như không một chiếc xe nào, một phương tiện nào, một con người nào có thể lọt qua vùng “cán xoong” để vào được tuyến Trường Sơn.

Thế nhưng địch vẫn không ngăn cản được bộ đội công binh cùng thanh niên xung phong và dân công anh hùng của chúng ta, ngày đêm phơi mình dưới bom đạn, không quản hi sinh, gian khổ để chửa đường, chữa cầu, làm đường vòng, đường tránh, không để đường ra tiền tuyến bị tắc lâu. Bộ đội phòng không cùng dân quân du kích phối hợp tác chiến, bảo vệ đường, cầu, phá, các trọng điểm, đã bắn rơi khá nhiều máy bay địch, nên đã hạn chế được một phần tác hại đánh phá của chúng. Các lái xe tài giỏi và dày dạn kinh nghiệm đối phó với không quân địch, cũng không quản bom đạn, hi sinh, vẫn anh dũng đưa xe qua vùng tuyến lửa. Vì vậy, chúng ta vẫn đưa được hàng và các đơn vị bộ đội vào chi viện cho các chiến trường.

Khi Níchxơn lên cầm quyền, thì việc đánh phá miền Bắc càng được đẩy mạh hơn về cường độ cũng như về chủng loại, khối lượng các loại bom đạn. Tuy nhiên chúng vẫn không cắt đứt được đường vận tải của ta. Công tác chi viện cho miền Nam không bị ngừng trệ, mà còn được tăng cường hơn.

Địch bèn thay đổi cách đánh: Chiến hạm Niu Giơdi (New Jersey) được điều đến, cùng một số tầu hộ tống đừng ngoài khởi Quảng Bình. Nó là kì hạm của Hạm đội Thái Bình Dương, có 12 khẩu pháo cỡ lớn, có thể bắn xa tới 35 km. Mặc dù đứng cách bờ trên 10 km, ngoài tầm bắn của pháo bờ biển ta, nó có thể bắn khống chế đoạn đường từ Long Đại đến Xuân Sơn. Nó hợi hại hơn máy bay rất nhiều, vì máy bay phải có số giờ bay nhất định rồi phải hạ cánh, lại bị hạn chế về tầm nhìn, địa hình, thời tiết, đạn bắn trả của súng, pháo phòng không, nên thực tế không thể suốt ngày đêm phát huy được hiệu lực. Còn pháo hạm thì khác, nó có thể chia ô, tính toán cự li sẵn rồi bắn phá kiểu rải thảm cả 24/24 giờ để khống chế một khu vực. Đường hỏng, ta không sửa chữa được. Đoàn xe đi qua là trúng đạn ngay! Thủ đoạn mới này của địch đã gây khó khăn lớn cho ta, vì đoạn đường này rất hẹp, phía tây lại có các dãy núi đã án ngữ, không có chỗ nào có thể làm đường vòng, đường tránh.

Tình hình đó không những làm cho Tổng cục Hậu cần phải lo lắng, mà Bộ Tổng Tham mưu cũng phải quan tâm tìm cách giải quyết, vì hằng ngày giao ban nghe báo cáo khối lượng hàng chuyển vào tuyến 559 giảm một cách rõ rệt… Nếu để kéo dài, thì công tác chi viện chiến trường sẽ bị ảnh hưởng lớn. Anh Dũng bàn với anh Thiện: phải tìm biện pháp đánh lại chủ trương này của địch. Dùng pháo bờ biển thì bắn không tới. Chỉ còn cách dùng máy bay, mà phải hết sức bí mật, bất ngờ. Muốn vậy phải làm một sân bay dã chiến ở sát mép nước, trong địa phận tỉnh Hà Tĩnh hoặc tỉnh Quảng Bình. Phải làm rất nhanh, càng nhanh càng tốt. Sau khi nghiên cứu trên thực địa, Cục Tác chiến và Bộ Tư lệnh Không quân thống nhất đề nghị làm sân bay ở khu vực Khe Gát, thuộc xã Xuân Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Phương án này được Thường trực Quân ủy thông qua và phân công cho anh Thiện tổ chức thực hiện.

Anh Thiện vào Quảng Bình, bàn với Thường vụ Tỉnh ủy và Ủy ban tỉnh huy động nhân lực tại chỗ để làm, vì chỉ có như vậy mới làm được nhanh và giữ được bí mật. Nhưng lúc đó, lực lượng lao động của Quảng Bình cũng không còn dư dật, đa số thanh niên đã vào bộ đội, vào du kích, đi thanh niên xung phong, dân công vào làm đường trong tuyến 559, số còn lại, phần lớn là nữ đi “ba sẵn sàng”, đang phải làm nhiệm vụ bảo đảm giao thông và vận chuyển hàng hóa trên địa bàn tỉnh. Thật là nan giải! Nhưng sau khi trao đổi đã đi đến thống nhất: Tỉnh Quảng Bình đưa ba trung đoàn thanh niên xung phong đến làm sân bay ở Khe Gát, dưới sự hướng dẫn của cán bộ kĩ thuật không quân. Để đổi công lại, anh Thiện cấp cho tỉnh Quảng Bình một số xe ủi để san lấp hố bom, sửa chữa đường, và một số xe vận tải, đồng thời dùng xe của Tổng cục Hậu cần vận chuyển cho địa phương một số hàng hóa.

Ở Bộ Tổng Tham mưu cũng có người phản đối việc cấp xe cho tỉnh vì cho như thế là chuyển tài sản, trang bị của quân đội ra ngoài, là việc làm không đúng nguyên tắc… Nhưng anh Thiện cứ làm! Vì thấy việc này là cần thiết, để thực hiện cho được chủ trương của cấp trên mà mục đích cao nhất là chiến thắng địch.

Sau năm tháng thi công cật lực, đến cuối tháng 2 năm 1972 sân bay dã chiến Khe Gát đã hoàn thành. Làm đến đâu, bộ đội và thanh niên xung phong đã ngụy trang đến đó, nên dù luôn luôn có máy bay, có vệ tinh do thám trên trời mà địch vẫn không phát hiện được.

Làm xong sân bay, phải bí mật đưa một biên đội máy bay đến. Việc này cũng không kém gian truân. Nếu để máy bay đáp xuống sân bay, thì rađa trên tầu chiến của địch sẽ phát hiện ngay. Bộ đội không quân phải tháo rời máy bay thành nhiều bộ phận, rồi vừa chở, vừa khiêng đến sân bay…

Ngày 19 tháng 4 năm 1972, hồi 16 giờ 5 phút, một biên đội máy bay ta cất cánh từ sân bay Khe Gát, bay là là trên mặt biển ra tiến công địch. Vì bất ngờ, tầu chiến địch không phát hiện được. Đến gần mục tiêu, máy bay mới vọt lên cao, bổ nhào xuống ném bom vào tầu Niu Giơdi và các tầu hộ thống, rồi quay về hạ cánh an toàn xuống một sân bay ở miền Bắc. Đoàn tầu địch không kịp phản ứng, cũng không kịp gọi máy bay đến ứng cứu. Kết quả, ta đã đánh chìm một tầu hộ tống, và làm hư hại nặng chiếc chiến hạm Niu Giơdi, ở ngoài khơi phía đông cửa Nhật Lệ (Quảng Bình).

Từ đấy, tầu chiến Niu Giơdi của Hạm đội Hoa Kì vắng bóng trên Biển Đông, không còn đến quấy nhiễu bờ biển bắc Việt Nam nữa. Ta theo dõi động tĩnh của địch thì thấy Đài tiếng nói Hoa Kì, các hãng thông tấn, cũng như báo chí Mĩ đều im lặng như tờ! Chả bù với vụ Hải quân ta đánh tầu Mađốc năm xưa! Có lẽ bị giáng một đòn đau điếng, địch không dám kêu la! Cũng có thể giới cầm quyền Hoa Kì muốn lờ đi để che giấu dư luận nhân dân Mĩ và thế giới!

Thế là chỉ với một sân bay, một biên đội, một lần xuất kích, ta đã phá được một thủ đoạn chiến lược rất nham hiểm của địch! Anh Thiện đã đóng góp một phần to lớn vào chiến thắng này, bằng cách làm độc đáo và sáng tạo.

Chú thích
(*) Nguyên Phó Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 10 Tháng Sáu, 2013, 12:09:04 PM
TÌNH BẠN GIỮA HAI VỊ TƯỚNG

NGUYỄN ĐÌNH NGUYÊN

Lúc sinh thời, Thượng tướng Đinh Đức Thiện, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Kĩ thuật, là một người chỉ huy năng động, với những sáng kiến táo bạo, nhạy cảm, rất quyết đoán trong lãnh đạo cũng như điều hành. Những quyết định của Anh đều có suy nghĩ, có cơ sở. Mặt khác Anh có cá tính riêng: trực tính, hay phản ứng mạnh, có lúc nóng nảy, nói lớn tiếng.

Thế nhưng trong quan hệ, người mà anh Thiện quý trọng thích gần gũi lại là nhà khoa học, cả ngày chỉ biết cặm cụi với nghiên cứu, tính toán: Thiếu tướng - Giáo sư - Viện sĩ Trần Đại Nghĩa. Anh Nghĩa có đức tính hiền lành, giản dị, khiêm tốn đến mức Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tặng cho biệt hiệu là “Ông Phật làm súng”.

Anh Thiện thường xông pha vào thực tiễn chiến đấu, sản xuất, đời sống, giao thiệp rộng rãi, có vốn sống phong phú và tích lũy được nhiều kinh nghiệm. Ngược lại, anh Nghĩa có hạn chế về thực tiễn, nhưng chưa đựng một kho tàng trí thức khoa học và công nghệ, luôn luôn tổng kết các vấn đề một cách sâu sắc.

Sự gặp nhau giữa thực tiễn phong phú với những kiến thức sâu rộng của hai vị tướng là đầu mối vun đắp tình bạn, tình đồng chí bổ sung cho nhau.

Về cá tĩnh cũng vậy, nếu anh Thiện hay “bốc lửa” thì anh Nghĩa lại khoan thai, nhẹ nhàng, có các biện pháp hữu nghị để “hạ nhiệt” nhanh. Vì vậy, những cuộc đàm đạo giữa hai vị tướng luôn sổi nổi, chân thành và cởi mở.

*
*    *

Sau mỗi đợt đi công tác xa, dài ngày trở về, anh Thiện thường chủ động đến thăm, kể chuyện và trao đổi với anh Nghĩa về nhiều chuyên đề: thời cuộc, công tác bảo đảm hậu cần ở chiến trường, tình hình trong và ngoài nước… Trong lần đi khảo sát tại chỗ, kiểm tra việc mở đường tiếp tế cho bộ đội ở chiến trường miền Nam, anh Thiện cảm nhận các khó khăn, gian khổ đồng thời cũng rất khâm phục và ngạc nhiên trước những cố gắng phi thường của các chiến sĩ hậu cần tại chỗ. Anh kể lại với anh Nghĩa:

- Tầm vóc chúng nó rất nhỏ bé, loắt choắt, mỗi đứa cân nặng chỉ độ 40 - 50 kg, kể cả quần áo, giầy dép, với sức tôi (anh Thiện vốn cao lớn), có thể nhấc bổng cùng một lúc hai tay hai đứa. Ấy thế mà, chúng vác những bao gạo 70 - 80 kg đi băng băng trong lúc có máy bay địch quần đảo trên đầu. Tôi kể lại, có người không tin, nêu ra nào lí thuyết cân bằng, lực tác động, phản lực… rồi phân tích lung tung.

Sau khoảnh khắc suy nghĩ, anh Nghĩa thân mật trao đổi:

- Cơ thể con người là một bộ máy phức tạp và kì diệu, một bộ máy hoàn chỉnh mà khoa học đã và đang tiếp tục nghiên cứu, khám phá, một bộ máy đặc biệt, lúc cần thiết có tác động điều tiết, hiệu chỉnh, bổ sung từ sự điều khiển của não bộ. Khi xem sét sự vận động cơ năng của nó, còn phải tính đến sức mạnh ý chí không đơn thuần theo toán học, cơ học một cách máy móc. Cơ năng và ý chí con người trong hoàn cảnh chiến đấu trường kì như chúng ta, phải quan tâm đến việc sử dụng và bồi dưỡng liên tục, phục hồi đúng mức trước và sau khi lao động vất vả. Kinh nghiệm khi chiến đấu căng thẳng, mọi người hăng hái tham gia như “mình đồng chân thép”, nhưng hòa bình trở lại thì biết bao bệnh tật xảy ra, nào đau thần kinh, đau dạ dày, đau ở lục phủ ngũ tạng…

Anh Thiện lắng nghe những lời phân tích chân thành, khúc chiết.

Anh Nghĩa còn đề xuất việc cần giúp đỡ, đôn đốc tổ chức nghiên cứu các loại vũ khí tự tạo tại chỗ, phù hợp với yêu cầu chiến trường, phục vụ tốt cho chiến tranh nhân dân. Anh khẳng định: “Vũ khí tốt tân chỉ phát huy hiệu quả ở các chiến dịch, các trận đánh tập trung, còn bất ngờ tung các lực lượng nhỏ vào đô thị, hay đánh các tuyến giao thông thì rất cần những loại vũ khí gọn nhẹ, dễ sử dụng và vận chuyển. Tất cả đều phải nghiên cứu sản xuất tại chỗ”.

*
*    *

Sau những kì họp Nội nghị Trung ương, anh Thiện thường trao đổi với anh Nghĩa, một mặt để nói ch oanh Nghĩa biết những chủ trương mới, mặt khác cũng bàn bạc với anh Nghĩa về các biện pháp tổ chức thực hiện. Khoảng đầu năm 1970, Nghị quyết Trung ương có nêu: “phấn đấu đưa chăn nuôi lên thành ngành sản xuất chính”. Vốn là người lãnh đạo hậu cần, thường xuyên phải chăm lo đến đời sống bộ đội, anh Thiện rất tâm đắc về nguồn thực phẩm dồi dào: có nhiều thịt, trứng, sữa để cung cấp thêm chất đạm cho bộ đội. Riêng anh Nghĩa, khi nghe kể lại đã có ý kiến rất phân vân, không tin tưởng lắm. Với tầm suy nghĩ sâu sắc và thói quen nghề nghiệp, anh thẳng thắng trao đổi với anh Thiện:

- Khi nói tới “chăn nuôi là ngành sản xuất chính” thì giá trị sản phẩm chăn nuôi đạt được phải chiếm một tỉ trọng lớn trong sản xuất nông nghiệp. Muốn đạt được phải đề cập đến một ngành sản xuất mang tính công nghiệp, có quy mô lớn với các biện pháp về giống, thức ăn có chất lượng cao, thú ý, vệ sinh chăn nuôi… Với hình tượng ẩn dụ, các loại súc vật đó được xem như những chiếc máy trong dây chuyền chế biến công nghiệp có nhiệm vụ chuyển hóa lương thực lúa, bắp, khoai, ngô, sắn… (đạm ở cấp thấp) thành thực phẩm thịt, sữa, trứng (đạm cấp cao).

Anh Thiện hiểu vấn đề và nhận xét:

- Như vậy khó thật đấy, cần phải có khối lượng lương thực khá lớn, mới đẩy mạnh được chăn nuôi, trong lúc sản lượng nông nghiệp của ta chưa đủ cung cấp theo mức bình thường cho người dân!

- Không phải chỉ có thế, mà còn phải có hàng loạt biện pháp nữa thì yêu cầu đã nêu trên mới có kết quả. Còn nếu chỉ để thực hiện theo khẩu hiệu: “Tích cực, đẩy mạnh, phấn đấu…” thì lại là việc khác.

*
*    *

Nhớ lại cuối những năm 50 đầu những năm 60, khu Gang thép Thái Nguyên là một công trình xây dựng lớn nhất do anh Thiện phụ trách Tổng chỉ huy quản lí thi công. Nước ngoài viện trợ, cung cấp thiết kế và thiết bị toàn bộ, nhưng còn nhiều mặt hạn chế. Phía Việt Nam thì rất mới mẻ, xem như một công trình đầu tay. Trong quá trình xây dựng lại gặp chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ.

Không ít ý kiến, dư luận phê phán chủ trương xây dựng công trình này. Ở cương vị Chủ nhiệm Ủy ban Kiến thiết cơ bản của Nhà nước, anh Nghĩa thông cảm sâu sắc hoàn cảnh, đặc điểm của công trình và vai trò chỉ huy trực tiếp của anh Thiện ở hiện trường. Bằng nhiều biện pháp tích cực, huy động lực lượng các cơ quan Nhà nước, cán bộ khoa học, kĩ thuật, anh Nghĩa hết lòng giúp đỡ tháo gỡ khó khăn cho công trình, thúc đẩy sự nghiệp xây dựng khu liên hợp gang thép đầu tiên.

Từ trước đến sau, anh Nghĩa vẫn đánh giá khu Gang thép Thái Nguyên là cái lò cung cấp cho ngành đúc, luyện kim non trẻ của đất nước những cán bộ quản lí và công nhân kĩ thuật đã qua tôi luyện, thử thách. Riêng anh Thiện là tiêu biểu cho ý chí gang thép như đặc tính riêng của sản phẩm của khu công nghiệp anh xây dựng.

*
*    *

Biết anh Thiện là người nóng tính… hay phê phán mạnh, nói bốp chát làm cho một số người mới gặp e ngại, nhất là các trí thức trẻ, anh Nghĩa thường giải thích: “mỗi người đều có cá tính riêng: anh Thiện tuy có lúc “ác cái miệng” nhưng lại “thiện cái lòng”; tiếp xúc, làm việc cần chuẩn bị chu đáo, khiêm tốn, thẳng thắn thì không có gì đáng ngại…”.

Trong những năm kháng chiến chống Mĩ, một vài lần anh Thiện được đi cùng Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị đến các nước xã hội chủ nghĩa để đàm phán kí kết hiệp định viện trợ kinh tế và quân sự, để các nước anh em giúp đỡ vũ khí, trang bị cho chiến trường và các nhu cầu cần thiết cho nền kinh tế kháng chiến. Cuộc đàm phán nhiều khi kéo dài, vì cần phải trình bày sao cho bạn thông cảm, thông suốt với các nhu cầu của ta; phía bạn thì cũng còn phải trao đổi trong nội bộ, xin thêm chủ trương của lãnh đạo…

Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị vẫn điềm đạm, trầm tĩnh, kiên nhẫn thuyết phục bạn. Còn anh Thiện thì lại sốt ruột muốn giải quyết cho nhanh. Chẳng khác nào Lưu Bị và Trương Phi đi cầu Gia Cát Khổng Minh!

Kể lại với anh Nghĩa, an còn tỏ vẻ bực tức: “chiến trường thì nóng bỏng, mà cứ ngồi bàn bạc, mặc cả kéo dài, từ ngày này sang ngày khác, chẳng khác nào như đi ăn xin…”.

Anh Nghĩa nhẹ nhàng trao đổi: “Nếu ta có cần một tỉ đô la, thì đâu có phải bàn cãi gì nhiều. Vì độc lập, thống nhất đất nước anh Nghị đành phải chấp nhận kiên nhẫn thuyết phục để đảm bảo lợi ích trực tiếp của dân tộc. Còn phần bạn, dù sao đánh Mĩ cũng chỉ là lợi ích gián tiếp mà thôi”.
*
*    *

Vượt lên những sự khác biệt về cá tính riêng và trình độ, tình bạn của hai vị tướng gắn bó rất mật thiết chân thành trong suốt cuộc đời của hai người.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 10 Tháng Sáu, 2013, 12:10:41 PM
MỘT VỤ KỈ LUẬT

Thiếu tướng, PGS. ĐẶNG HUYỀN PHƯƠNG(*)

Những ngày đầu tháng 2 năm 1954, từng đoàn xe ô tô, xe đạp thồ, dân công… nườm nượp lên đường ra mặt trận Điện Biên Phủ. Hôm ấy chiếc xe cuối cùng của đơn vị chúng tôi vừa ngụy trang xong, thì trời cũng hửng sáng. Mọi người tranh thủ chợp mắt lấy sức, để tối nay còn đi tiếp… Các đồng chí quản lí, anh nuôi thì hì hục đào bếp Hoàng Cầm để lo bữa ăn cho anh em.

Suốt cả đêm căng thẳng, mệt mỏi vì phải tranh chấp từng đoạn đường với con “đầm già” (cánh lính nhà ta gọi máy bay cánh quạt, chỉ điểm mục tiêu của quân Pháp như thế). Cứ hễ nó lượn khuất sang bên kia đèo, thì chúng tôi lại tranh thủ “vù ga” chạy được một quãng; nếu nó lượn vòng lại thì phải tắt máy, tắt đèn, đứng chờ nó lượn vòng khác mới đi tiếp… Nếu gặp những đoạn đường bị bom làm sụt lở, hoặc đường đèo quá hẹp, thì phải đỗ lại, chờ xe bên kia đèo sang hết mới đi được. Vì vậy, suốt đêm vất vả, căng thẳng mới qua được mấy chục cây số trên đoạn đường trọng điểm này, để tối nay vào giao hàng ở kho tiền phương chiến dịch. Đơn vị chúng tôi vận chuyển xăng, nên khi đến chỗ nghĩ, phải vần hết các phuy xăng trên xe xuống, lăn đi cất giấu ở các hốc đá, bụi cây ven đường, ngụy trang kín đáo cả xe lẫn xăng rồi mới yên tâm ngả lưng, chợp mắt được.

Đang lúc mơ màng, tôi bỗng nghe có tiếng quát tháo từ phía mấy chiếc xe giấu ngoài bìa rừng: “Đoàn xe nào đây? Ai lái những xe này? Ai là chỉ huy?”. Chỉ nghe tiếng quát mà không nghe thấy tiếng mấy cậu lái xe nằm cạnh đấy trả lời. Chắc anh em mình sợ, không dám lên tiếng… Tôi nghĩ bụng thế và nhổm dậy, nhìn về phía có tiếng quát thì thấy đồng chí Đinh Đức Thiện, Cục trưởng Cục Vận tải đi về phía xe tôi, vừa đi vừa quát tiếp: “Chúng nó đâu cả rồi? Dậy ngụy trang lại mau, hay để máy bay nó ném bom, đốt trụi cả khu rừng này?”.

Tôi thầm nghĩ: chuyến này đến lượt đơn vị mình “ăn” kỉ luật đây, trong khi anh Thiện đi thẳng đến trước mặt tôi và hỏi :”Ai lái chiếc xe này?”. Anh nhìn tôi, vẻ ngờ ngợ dường như đã gặp tôi ở đâu rồi. Chắc anh nhớ lại gần bốn năm về trước (tháng 5 năm 1950), khi tôi về Cục Vận tải gặp anh nhận công tác. Tôi trả lời: “Báo cáo, tôi ạ”.

Anh khó chịu cau có nhìn tôi, gắt gỏng: “Ngụy trang như thế này à? Đi từ xa, có nhìn rõ cả mấy bánh xe!”.

Tôi vội chống chế: “Đồng chí đi dưới đất mới nhìn thấy chứ máy bay ở trên trời không nhìn thấy đâu ạ!”.

Có lẽ câu trả lời của tôi càng làm anh bực bội, nên anh lại quát tiếp: “Lại còn cãi à! Có đi ngụy trang lại không, hay muốn “ăn” kỉ luật”? Ai chỉ huy đơn vị này thì bảo “nó” đúng 1 giờ chiều vào binh trạm kiểm điểm và nhận kỉ luật… Anh nói xong, bực tức bỏ đi ngay, nên tôi không kịp trình bày, giải thích gì thêm nữa.

Khi nghe tiếng quát tháo ầm ĩ, anh em trong đơn vị cũng đã tỉnh dậy cả và được chứng kiến cuộc đối thoại căng thẳng giữa tôi và “ông” Cục trưởng nổi tiếng là nóng như lửa. Không ai bảo ai, mọi người đều đi ngụy trang lại xe và hàng… cả đơn vị ái ngại bảo tôi về việc chiều nay phải vào binh trạm nhận kỉ luật. Anh em đồng thanh: “Nếu có bị kỉ luật thì chúng tôi cùng chịu…”.

Ôi! Tình cảm đồng chí, đồng đội, ngọt bùi, đắng cay cùng chia sẻ, sao mà thiêng liêng thế! Tôi là người chỉ huy đơn vị, nếu đơn vị có khuyết điểm, phải kỉ luật thì một mình tôi gánh lấy, chứ không để anh em phải chịu! Tôi nghĩ vậy và thầm cảm ơn anh em.

Buổi chiều hôm đó, cả đơn vị tranh thủ kiểm tra, sửa chữa xe rồi hội ý rút kinh nghiệm và bồn chồn chờ đợi xem kết quả tôi vào Binh trạm để kiểm điểm và nhận kỉ luật ra sao.

Đúng 1 giờ chiều, tôi vào đến Binh trạm bộ. Lúc này tôi mới biết thêm là đồng chí Đinh Đức Thiện cùng một số đồng chí khác, thay mặt đồng chí Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần đi kiểm tra công tác chuẩn bị chiến dịch trên toàn tuyến và hôm nay đến tuyến Binh trạm này. Cán bộ các đơn vị trong khu vực thuộc tuyến Binh trạm được triệu tập về họp đông đủ. Chuyến này không khéo đơn vị mình được “bêu danh” giữa “chốn ba quân” đây! Tôi nghĩ vậy, và lẳng lặng đi vào phòng họp.

Không ngờ, vừa nhìn thấy tôi, đồng chí Đinh Đức Thiện liền sẵng giọng, hỏi ngay: “Cán bộ chỉ huy đi đâu, mà lái xe phải đi họp thay?”. Tôi vội trả lời: “Báo cáo, tôi là chỉ huy đơn vị xe, mà sáng nay đồng chí đến kiểm tra đấy ạ!”. Có lẽ hơi ngạc nhiên về câu trả lời của tôi, đồng chí hỏi thêm: “Đồng chí là lái xe cơ mà?”. Tôi vội giải thích: “Báo áo, một đồng chí lái xe là chiến sĩ thi đua được lệnh về Cục họp, đơn vị không có lái xe dự bị, nên tôi phải lái thay, để khỏi mất một xe phải nằm lại”.

Đồng chí nhìn kĩ tôi, vẻ mặt dịu hơn, chậm rãi hỏi: “Ai để các cậu đói, mà gầy gò, xanh xao thế này?”. Nghe giọng nói và thái độ của anh lúc này, có thể đoán ra là anh đang xúc động. đây là điều hoàn toàn bất ngờ đối với tôi. “Ông” Thiện bây giờ khác hẳn “ông” Thiện tội gặp buổi sáng!

Tôi thong thả trình bày: “Anh em lái xe suốt đêm trên đường, tinh thần luôn căng thẳng vì đường đèo dốc, chật hẹp khó đi, trên trời thì máy bay địch thường xuyên bay đi, lượn lại, nên chỉ dám đi đèn gầm. Cái lo nhắt là kế hoạch vận chuyển lần này lại chở xăng phuy, nếu gặp một xe trúng đạn là có thể cháy cả đoàn xe. Ban ngày chỉ chợp mắt được một lúc lại phải dậy chuẩn bị cho chuyến đi tiếp; vả lại máy bay cứ vè vè trên đầu, nằm không yên, nên anh em vừa căng thẳng, mệt mỏi, vừa thiếu ngủ cả tháng nay ạ?”.

Anh ngồi im, lắng nghe tôi nói… Anh không nhắc gì đến chuyện “kiểm điểm” hay “kỉ luật”, mà ân cần dặn dò tôi về chú ý chăm sóc sức khỏe của anh em, vì chiến dịch còn dài ngày và nhắc nhở anh em dù vất vả, mệt nhọc như thế nào, căng thẳng đến mây cũng khôn được chủ quan, coi thường địch, phải ngụy trang xe và hàng chu đáo, nhất là xăng dầu phải cất giấu kĩ xa nơi để xe. Nói xong, anh quay sang ra lệnh cho đồng chí chỉ huy Binh trạm bắt con lợn to nhất trong chuồng và cử người khiêng ra đơn vị, bồi dưỡng cho anh em lái xe.

Một lần nữa, tôi lại bị bất ngờ, ngạc nhiên và xúc động trước cử chỉ nghĩa tình đó của anh. Mới sáng nay, anh còn quát tháo ầm ĩ cả bìa rừng. Thế mà bây giờ anh lại rất nhẹ nhàng và hào phóng với tôi như vậy. Ôi phong cách thật đáng quý của một người chỉ huy cấp trên: đối với công việc thì nghiêm túc, kiên quyết nhưng quan hệ với đồng chí, đồng đội, đối với cấp dưới thì nhân ái, nghĩa tình.

Tôi vừa đi vừa miên man nghĩ, cho tới khi về đến nơi giấu xe. Lúc này, cả đơn vị đang chuẩn bị xe và cũng đang sốt ruột chờ tôi đi họp về. Từ xa, anh em đã nhìn thấy hai người đi sau tôi khiêng một con lợn khá nặng, oằn cả đòn.

Chuyện gì lạ thế này? Ai nấy đang xì xào, bàn tán về kỉ luật thì bây giờ lại thấy tôi đi họp về, có cả người khiêng lợn đi theo! Anh em chạy lại, vây quanh chúng tôi và hồi hộp chờ đợi nghe tôi thông báo kỉ luật… Tôi thong thả nói: “Chúng ta nhận “kỉ luật con lợn!”. Mọi người chưa hết ngạc nhiên, tôi lại nói tiếp: “Giao cho đồng chí quản lí và các anh nuôi “kỉ luật” con lợn ngay buổi chiều nay, đồng chí nào chuẩn bị xong xe, thì đến giúp anh nuôi một tay; bây giờ đã 3 giờ chiều rồi, cần khẩn trương giải quyết xong trước 5 giờ để kịp lên đường đi tiếp”.

Cả đơn vị reo lên, vui sướng: “Ôi, thật là tình huống bất ngờ”. Tôi nhắc nhở anh em: “Này! Đứng có tưởng cứ ngụy trang sơ sài để lần sau lại nhận “kỉ luật con lợn” nữa đâu nhé! Lúc đó sẽ kỉ luật con người đấy!”.

Có nhiều tiếng nói to đáp lại: “Vâng! Chúng tôi sẽ ngụy trang tốt hơn, để lần sau lại nhận được con lợn to hơn nữa”. Cả đơn vị cười xòa, vui vẻ, mỗi người một việc, khẩn trương chuẩn bị để đến tối hôm đó, lại tiếp tục lên đường vào tuyến hậu cần chiến dịch…

*
*    *

Những ngày tháng chuẩn bị Chiến dịch Điện Biên Phủ thật khẩn trương, sôi động ấy, tuy đã đi qua hơn 42 năm rồi, nhưng cuộc tiếp xúc với đồng chí Đinh Đức Thiện lúc đó, ban đầu thật căng thẳng, nhưng sau lại thật tình nghĩa, thì mãi mãi tôi không quên.

Chú thích
(*) Nguyên Phó Chủ nhiệm, Tham mưu trưởng Tổng cục Hậu cần.


Tiêu đề: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu cần t
Gửi bởi: anhquaynop trong 24 Tháng Sáu, 2013, 01:04:50 PM
KHÓ KHĂN NÀO CŨNG CÓ CÁCH GIẢI QUYẾT

TRẦN VŨ HOA(*)

Trong những ngày sôi động của mùa xuân 1975 lịch sử, Quân đoàn 1 đã nhận được lệnh hành quân từ miền Bắc vào miền Nam chiến đấu. Ngày 19-3, những đơn vị đầu tiên của Quân đoàn lên đường và ngày 1-4 là những đơn vị cuối cùng.

Đội hình hành quân của Quân đoàn đi bằng nhiều phương tiện khác nhau: xe lửa, tầu biển, máy bay, nhưng chủ yếu bằng ô tô với gần 2.000 xe vận tải của đơn vị, của Cục Vận tải và của Đoàn 559, trải dài trên đường số 1, đường đông Trường Sơn, rồi chuyển sang tây Trường Sơn, thẳng tiến vào miền Đông Nam Bộ. Khi Quân đoàn bắt đầu vào tới chân đèo Nưa ở tây Trường Sơn thì nhận được mệnh lệnh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trên làn sóng điện, được truyền tới khắp các đơn vị, tới từng cán bộ, chiến sĩ với nội dung ngắn gọn mà thôi thúc:

                 “Thần tốc, thần tốc hơn nữa,
                 Táo báo, táo bạo hơn nữa,
                 Tranh thủ từng giờ, từng phút,
                 Xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam.
                 Quyết chiến, quyết thắng”

Từ đó, Quân đoàn hành quân với tốc độ cao, ngày đêm không nghỉ. Chỉ sau 10 ngày đi từ miền Bắc, Sở Chỉ huy phía trước của Quân đoàn và một số đơn vị đã tới Đồng Xoài. Và sau đó, ngày 14-4 đội hình toàn Quân đoàn với đầy đủ trang bị kĩ thuật cũng đến khu vực tập kết. Chỉ huy Hậu cần Quân đoàn phân công nhau, mỗi người đi một hướng. Tôi được chỉ định thay mặt Chủ nhiệm Hậu cần ở Sở chỉ huy cơ bản trong quá trình hành quân và chiến đấu.

Một ngày sau khi đến Đồng Xoài, tôi cùng các Trưởng phòng nghiệp vụ, theo Tư lệnh và Chính ủy Quân đoàn lên Sở chỉ huy Bộ Tư lệnh Miền ở Lộc Ninh. Trong khi Tư lệnh và Chính ủy báo cáo tình hình và nhận mệnh lệnh tác chiến của Bộ Chỉ huy chiến dịch, thì chúng tôi đến Cục Hậu cần Miền. Đồng chí Bùi Phùng và các trưởng ngành đã tề tựu đông đủ và tiếp đón chúng tôi rất nồng nhiệt. Tôi đã báo cáo tình hình bảo đảm hậu cần cho các đơn vị hành quân thần tốc từ miền Bắc vào, tình hình quân số, trang bị, khả năng của hậu cần Quân đoàn và đề nghị Miền giải quyết một số nhu cầu cần thiết cho Quân đoàn bước vào chiến đấu.

Cục Hậu cần Miền đã giải quyết các đề nghị của chúng tôi rất nhanh chóng và chu đáo. Nhưng riêng yêu cầu tăng cường phương tiện vận tải thì đồng chí Bùi Phùng nói Miền cũng khó khăn và hứa sẽ xem lại tình hình rồi nghiên cứu trả lời sau. Chúng tôi biết Hậu cần Miền không có khả năng giải quyết.

Sau buổi làm việc đó, chúng tôi phấn khởi, nhưng cũng còn canh cánh bên lòng nỗi lo không có đủ phương tiện vận tải để cơ động đội hình toàn Quân đoàn từ Đồng Xoài vào đến Sài Gòn. Tôi báo cáo lại tình hình với Tư lệnh Quân đoàn, rồi đề nghị ở lại một ngày đến gặp đồng chí Đinh Đức Thiện, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần để xin tăng cường lực lượng vận tải.

Ngay tối hôm đó, đồng chí Đinh Đức Thiện đã tiếp tôi trong lán của đồng chí ở Sở chỉ huy Lộc Ninh. Sau khi báo cáo tình hình hậu cần và các đề nghị đã được Cục hậu cần Miền giải quyết rất tốt, tôi đã trinh bày tín toán giữa nhu cầu và khả năng của chúng tôi không đủ xe vận tải để bảo đảm cho Quân đoàn hành quân thần tốc vào chiến đấu giải phóng Sài Gòn. Cụ thể tôi xin được tăng cường một tiểu đoàn ô tô của Tổng cục. Làm việc đến 11 giờ đêm thì anh Thiện bảo hãy đi nghỉ. Anh còn suy nghĩ, rồi sáng mai sẽ giải quyết tiếp. Đồng chí Thông, bí thư gọi chị em nuôi quân mang cháo gà lên. Anh ăn cùng tôi, vừa ăn vừa thân mật hỏi thăm sức khỏe của tôi. Anh cho tôi một củ sâm Triều Tiên để bồi dưỡng, rồi bảo sang nghỉ ở lán bên cạnh. Anh cùng đồng chí bí thư còn tiếp tục làm việc đến hai giờ sáng…

Tôi đặt mình nằm, thao thức không sao ngủ được vì lo lắng không rõ Anh có giải quyết cho không? Liệu có xe cho đơn vị kịp hành quân không? Sáng hôm sau, anh Thiện gọi tôi sang sớm và nói là tình hình phương tiện vận tải đang có khó khăn. Anh cũng không có lực lượng dự bị… Tôi thoáng nghĩ: “Thế là hỏng rồi, bây giờ làm thế nào đây?”. Nhưng rồi Anh cười rất đôn hậu bảo tôi cứ yên tâm vì khó khăn nào rồi cũng có cách giải quyết! Ngay sau đó đồng chí bí thư đưa cho tôi 5 tờ giấy đánh máy có cữ kí của Anh và đóng dấu đỏ của Bộ Chỉ huy chiến dịch. Tôi ngỡ ngàng chưa hiểu ra sao, thì Anh ân cần động viên tôi phải chịu khó vất vả một chút, hãy cử năm tổ cán bộ, mỗi tổ cầm một tờ lệnh này, đi cắm chốt ở các đầu mỗi giao thông để thu thập, huy động những đơn vị vận tải chiến lược, kể cả xe lẻ trên đường quay về, sau khi đã dỡ hàng, thu gom cho đủ một tiểu đoàn - 100 xe - cho Quân đoàn.

Tôi vô cùng cảm động và phấn khởi, chào tạm biệt Anh và lên xe về đơn vị. Sau khi báo cáo cho Tư lệnh biết, tôi cùng cơ quan hậu cần, tổ chức ngay các tổ cán bộ đi cắm chốt để thu gom xe. Và thật bất ngờ, chỉ sau ba ngày, chúng tôi đã thu gom đủ 100 xe thuộc tiểu đoàn 51 của Đoàn 559. Đồng chí Tư lệnh rất mừng, quyết định tăng cường tiểu đoàn xe này cho sư đoàn bộ binh 320, để cùng với 200 xe tải trong biên chế của Quân đoàn, cùng với xe tăng, xe kéo pháo,xe đặc chủng hình thành một lực lượng cơ giới mạnh đủ để cơ động đội hình Sư đoàn 320, mũi chủ công của Quân đoàn, thực hiên cách đánh tần thốc, táo bạo, tiến công Bình Dương trong hành tiến, rồi thọc sâu vào Sài Gòn, đánh chiếm Bộ Tổng Tham mưu ngụy, phối hợp cùng các mũi tiến công trên các hướng khác giải phóng Sài Gòn ngày 30-4-1975.

Bây giờ đã trên 20 năm, ngồi nghĩ lại, tôi vẫn còn thấy rạo rực, hồi hộp như đang ngồi nghe Anh nói ở Sở Chỉ huy Lộc Ninh… Mãi mãi nhớ Anh, người chỉ huy cao nhất của ngành hậu cần, người hết lòng vì sự nghiệp cách mạng, luôn luôn lo cho chiến trường, lo cho bộ đội, lúc nào cũng tìm mọi cách giải quyết khó khăn để bảo đảm cho bộ đội tác chiến, giành thắng lợi.

Chú thích
(*) Nguyên Trưởng phòng Tham mưu Cục Hậu cần Quân đoàn 1; Phó Tham mưu trưởng Tổng cục Hậu cần.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 24 Tháng Sáu, 2013, 01:06:49 PM
HÃY VẬN DỤNG TRÍ KHÔN, DÁM NGHĨ, DÁM LÀM!

Đại tá NGUYỄN HỮU CÔN(*)

Sau Tết Mậu Thân 1968, tôi ở Mặt trận B5 được về Bộ dự Hội nghị tổng kết và tập huấn. Gặp tôi, anh Thiện nói:

- Cậu bây giờ ở B5 hả? Kế hoạch cho từng chiến trường, Tổng cục và Bộ đã duyệt, cứ thế mà thực hiện và báo cáo kịp thời. Nhân dịp về tập huấn, nói với Văn phòng bố trí gặp tôi, báo cáo thật ngắn gọn hai điểm sau đây:

1. Tư lệnh Mặt trận có yêu cầu cụ thể gì trong công tác hậu cần?

2. Các anh có khó khăn gì muốn Tổng cục chi viện thêm?

Thật là dịp may hiếm có. B5 là cửa ngõ vào các chiến trường, bị địch đánh phá rất ác liệt. Hậu cần B5 phải phục vụ các chiến dịch lớn, nhu cầu vật chất, kĩ thuật tuy được ưu tiên nhưng còn muôn vàn khó khăn. Được Thủ trưởng Tổng cục cho gặp, phải báo cáo thế nào đây? Tôi trao đổi với các đồng chí bên cơ quan Tham mưu cùng ra họp để báo cáo với anh Thiện:

- Ngoài kế hoạch từng đợt chiến dịch và kế hoạch bảo đảm thường xuyên của đơn vị, đồng chí Tư lệnh Quang Trung yêu cầu Hậu cần phục vụ chiến thuật “chốt tấn công” (còn gọi là kiềng ba chân, hổ vồ mồi”). Hậu cần phải bảo đủa đủ vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm để chốt giữ và đánh dài ngày, cho nên đề nghị Tổng cục cho B5 xin thêm, ngoài kế hoạch đã duyệt: đạn cối 82, mìn bộ binh, mìn phóng, lương khô, mì chính, ruốc và thịt hộp.

Về khó khăn chính của Hậu cần B5 là: tuyến vận chuyển bộ quá dài (trên 10 cung), lực lượng vận tải và dân công thường có ít, nên khôn bao giờ hoàn thành được khối lượng vận chuyển ra phía trước.

Một khó khăn nữa là sức khỏe của bộ đội, nhất là của cán bộ giảm sút, do gạo kép phẩm chất, mốc, mọt, thực phẩm thiếu chất tươi, nên xin Tổng cục cho một đợt bồi dưỡng đặc biệt, tăng thêm định lượng thực phẩm trong vài tháng.

Sau khi nghe báo cáo anh Thiện nói:

“Anh đã báo cáo rõ ràng như anh Quang Trung đã trao đổi với tôi. Yêu cầu của các anh không lớn. Chuyến này anh trực tiếp nhận một số hàng và áp tải vào chiến trường. Tổng cục đồng ý cấp thêm đạn cối và mìn ngoài kế hoạch Bộ Tổng Tham mưu duyệt, ưu tiên cấp cho B5 lương khô, cả lương khô BA70, mì chính… Anh Quang Trung có xin thêm súng và đạn thể thao, lưới đánh cá nhỏ để cán bộ, chiến sĩ săn bắt, tự cải thiện sinh hoạt, những thứ này sẽ cấp.

Về khó khăn của các anh trong công tác vận tải, các anh hãy vận dụng trí khôn, dám nghĩ, dám làm: phải rút ngắn đường vận tải bộ, thay bằng phương tiện thô sơ và cơ giới. Cụ thể các anh nghiên cứu, đề nghị Tư lệnh dùng công binh làm đường quân sự làm gấp, vận dụng sườn núi, suối cạn, chỗ nào xe con chạy được thì dùng xe con, không chạy được cơ giới thì dùng xe thồ, chỗ nào gần địch không dùng được phương tiện thô sơ hay cơ giới, thì hãy dùng dân công. Làm được rồi thì các anh báo cáo, Tổng cục sẽ cấp xe con, xe thồ. Có như vậy mới giải quyết được khó khăn…”.

Sau khi gặp anh Thiện, chúng tôi rất phấn khởi, đi nhận ngay hàng chi viện thêm, gồm năm xe tải cùng lương khô, mì chính, súng đạn thể thao, lưới, mìn, đạn cối… đưa về hậu cứ chiến trường và báo cáo đồng chí Tư lệnh. Anh Quang Trung khen biết nắm ý đồ của người chỉ huy và làm việc với ngành dọc cấp trên, tạo điều kiện để cải thiện hoàn cảnh của chiến trường. Tư lệnh giao nhiệm vụ phải hướng dẫn cho đơn vị sử dụng hợp lí vật chất được trên cấp để bảo đảm cho bộ đội được tốt hơn. Từ đó ở B5 có công thức “3M” tức là Hậu cần cung cấp mì chính, mỡ và muối, bộ đội kiếm rau rừng, nên bữa ăn nào cũng có canh. Sinh hoạt được cải thiện, tác chiến đạt nhiều hiệu quả. Bộ đội giữ chốt đủ vũ khí, đủ lương thực, thực phẩm đánh dài ngày.

Về việc làm đường, Tư lệnh Quang Trung đồng ý điều công binh cho Hậu cần, và chỉ nửa năm sau, từ mùa khô năm1969, chúng tôi đã rút ngắn được nhiều cung vận chuyển bộ, và thay thế bằng xe GAZ 69 và xe đạp thồ, nên chẳng những bảo đảm vượt mức kế hoạch vận chuyển trước mắt, mà còn tạo điều kiện cho đánh lớn sau này.

Tôi nghĩ đây là một cách giáo dục cán bộ từ thực tiễn của anh Thiện. Anh đã dạy chúng tôi biết cách làm việc, biết cách tấn công vào các khó khăn, dám nghĩ, dám làm, phải luôn luôn lo lắng, quan tâm đến bộ đội ở tiền tuyến…

Chú thích
(*) Nguyên Trưởng phòng Tham mưu Cục Hậu cần Mặt trận B5; Phó Chủ nhiệm Hậu cần Quân đoàn 2; Phó Chủ nhiệm Hậu cần Quân khu Quảng Ninh.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 24 Tháng Sáu, 2013, 01:10:23 PM
ĐỒNG CHÍ ĐINH ĐỨC THIỆN VỚI NGƯỜI CÔNG NHÂN QUÂN GIỚI

Đại tá NGUYỄN THỌ(*)

Giữa năm 1968, Không quân Mĩ bắt đầu đến trinh sát và bắn thăm dò khu vực Nhà máy Z1 của Cục Quân giới. Trước đó ít lâu, chúng tôi đã được lệnh đưa các phân xưởng ra khỏi khu kĩ thuật và tiếp tục tổ chức sản xuất ở nơi sơ tán ngoài nhà máy.

Trong lãnh đạo hoàn thành các nhiệm vụ của cấp trên giao, chúng tôi đang gặp một mâu thuẫn lớn mà không thể điều hòa được: một mặt, phải bảo đảm các chỉ tiêu sản xuất vũ khí do Cục Quân giới giao cho, để phục vụ nhu cầu của chiến trường, mặt khác phải hoàn thành chỉ tiêu tăng gia sản xuất để tự túc của Cục Sản xuất đề ra. Không hoàn thành kế hoạch sản xuất vũ khí tức là không hoàn thành nhiệm vụ chính trị của xí nghiệp, sẽ bị cấp trên nhận xét, phê bình và mất điểm thi đua. Nhưng không hoàn thành kế hoạch tăng gia sản xuất, thì cũng mất điểm thi đua, đặc biệt nhất là sẽ ảnh hưởng đến “dạ dày” ngay: sẽ không có rau, thịt để ăn, cơm cũng sẽ thiếu vì tiêu chuẩn gạo đã bị khấu trừ rồi! Vì vậy có tình trạng, một số bộ phận trong nhà máy đã lao vào tăng gia sản xuất kể cả làm trong giờ hành chính, để đời sống không bị giảm, còn công tác chuyên môn, thậm chí cả sản xuất trong xưởng nhiều khi bị bỏ bễ!

Khoảng tháng 8 năm 1968, anh Thiện lên kiểm tra tình hình và xác định nhiệm vụ của Nhà máy. Khi nghe báo cáo về các chỉ tiêu sản xuất rau, thịt và chất bột để tự túc thì anh cắt ngang ngay: “Sao bắt tăng gia nhiều thế, thì còn sức đâu, thời gian đâu mà làm việc trong nhà máy?”.

Đồng chí Phó Giám đốc đời sống chống chế: “Báo cáo Anh, đây là chỉ tiêu trên giao hẳn hỏi, nếu không hoàn thành không được vì trên đã trừ bớt chỉ tiêu rồi”. Anh gạt đi: “Không trừ gì cả, nhiệm vụ chính của cán bộ, công nhân trong nhà máy là sản xuất. Không hoàn thành kế hoạch sản xuất vũ khí thì mới đáng trừ tiêu chuẩn! Các đồng chí cứ tập trung vào sản xuất trong xưởng, còn Tổng cục sẽ bảo đảm cấp đủ tiêu chuẩn. Tôi về sẽ bảo Cục Quân nhu và Cục Sản xuất. Tất nhiên các đồng chí có thể tranh thủ trồng thêm ít cây rau, nuôi mấy con gà, con lợn để cải thiện thêm, nhưng không tính vào tiêu chuẩn. Tăng gia, chủ yếu là làm quanh bếp quanh nhà, không đưa lực lượng đi tổ chức trại sản xuất ở xa, và tuyệt đối không được bỏ việc trong nhà máy để đi tăng gia…”.

Chúng tôi nghe Anh nói rất phấn khởi, vì ý kiến Anh rất phù hợp với thực tế, phù hợp với suy nghĩ của nhiều người, nhưng trước đây chưa ai dám lên tiếng.

*
*    *

Thời kì đó, trong mỗi nhà máy quân giới đều tồn tại hai chế độ: chế độ quân nhân và chế độ công, nhân viên. Tuy cùng làm công việc giống nhau nhưng nếu thuộc chế độ khác nhau thì hưởng thụ cũng khác nhau. Vì vậy đã gây nên những thắc mắc, những suy bì, tị nạnh có ảnh hưởng nhất định đến tâm tư, tình cảm của anh, chị em, và tất nhiên có tác động đến sản xuất.

Bộ đội hưởng chế độ cung cấp theo tiêu chuẩn với hình thức tem phiếu đặc biệt, trong hoàn cảnh chiến tranh phá hoại cũng còn gặp nhiều khó khăn, vì từ tem phiếu đến chỗ lĩnh được lương thực, thực phẩm, cũng phải mất khá nhiều công sức. Cán bộ Hậu cần và có khi cả Chỉ huy đơn vị, phải chịu chạy, phải qua nhiều cửa của các cơ quan Chính quyền ở địa phương, mới đảm bảo được tiêu chuẩn cho bộ đội.

Đối với cán bộ, công nhân viên chức các xí nghiệp Quân giới, Cục Quân giới “rót” chỉ tiêu cho thương nghiệp ác tỉnh, và thông báo cho các nhà máy để liên hệ mua theo giá cung cấp, chứ không được cấp tem phiếu như bo, nên tình hình bảo đảm các nhu cầu vật chất còn khó khăn hơn nhiều. Khi tôi công tác ở Nhà máy Z1, có nhiều lần đã phải “xuất quân”, trực tiếp đi liên hệ với các cơ quan thương nghiệp và lương thực của tỉnh, trình bày hoàn cảnh và báo cáo với Tỉnh ủy, Ủy ban hành chính đề nghị giúp đỡ sao cho cán bộ, công nhân, viên chức các xí nghiệp quốc phòng có cái ăn, cái mặc tạm ổn định, để dồn sức cho nhiệm vụ sản xuất, sửa chữa vũ khí đáp ứng yêu cầu của chiến trường.

Anh Thiện đã được nghe phản ánh và tìm cách để giải quyết tình trạng bất hợp lí đã tồn tại từ lâu. Anh đã nghiên cứu, tìm hiểu cách đãi ngộ công nhân ở các nhà máy sản xuất quốc phòng trong thời chiến ở ác nước và đã bàn với các đồng chí lãnh đạo Tổng cục Hậu cần, đề nghị với Bộ Quốc phòng cho chuyển toàn bộ cán bộ, công nhân, viên chức trong các xí nghiệp quốc phòng sang chế độ quân nhân: sĩ quan hoặc quân nhân chuyên nghiệp, tùy theo chức vụ và công việc theo biên chế (trừ một số ít người không tự nguyện hoặc tuổi đã quá cao). Đề nghị này đã được chuẩn y và được đưa ra thực hiện ngay. Cán bộ, công nhân viên quân giới được chuyển sang chế độ quân nhân, đời sống được cải thiện rõ rệt: tiêu chuẩn lương thực, thực phẩm được cung cấp cao hơn và đều đặn hơn; ngoài ra, còn được cấp quân trang (chăn, màn, quần, áo, giày, mũ v.v.). Tinh thần anh chị em phấn chấn hẳn lên và đã thể hiện rõ rệt trong việc thực hiện các kế hoạch sản xuất.

Chúng tôi cũng không ngờ được rằng chủ trương này, đến 17 năm sau, lại tiếp tục phát huy tác dụng: năm 1985, thực hiện cải tiến chế độ tiền lương, hệ số được tính để quy đổi tỏng những năm chống Mĩ cứu nước của quân nhân được cao hơn công, nhân viên; do đó cán bộ và công nhân quân giới cũng được lĩnh lương hưu và mất sức nhiều hơn. Lúc đó, nhiều anh, chị em đã phát biểu: “Một lần nữa chúng tôi lại biết ơn anh Thiện và các đồng chí lãnh đạo Tổng cục Hậu cần đã quan tâm đến đời sống của cán bộ và công nhân quân giới, là những người suốt đời sống và làm việc trong rừng, xa cơ quan, xa thành thị, xa quê hương, làng xóm…”.

Chú thích
(*) Nguyên Chính ủy Nhà máy Z1, Cục Quân giới; Chánh Văn phòng Tổng cục Hậu cần; Chánh Văn phòng Tổng cục Kĩ thuật.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 24 Tháng Sáu, 2013, 01:11:16 PM
ĐÓNG TÀU HÚT BÙN

ĐÀO NGUYÊN(*)

Năm 1969, anh Thiện đang làm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần thì được Trung ương Đảng và Chính phủ cử ra làm Bộ trưởng Bộ Cơ khí - Luyện kim. Vừa nhận nhiệm vụ mới, Anh liền đi thăm lại các nhà máy, công trường và các địa phương. Đến các tỉnh ở đồng bằng, các đồng chí lãnh đạo ở nhiều nơi than phiền về việc lòng sông, lòng kênh ngày càng bị bùn và phù sa bồi lắng, nên rất trở ngại cho giao thông đường thủy. Có những khúc sông, vài chục năm trước đây, tầu, thuyền trọng tải 20 - 30 tấn có thể qua lại dễ dàng, nhưng đến nay thuyền chở vài tấn hàng có khi cũng bị mắc cạn. Các đồng chí lãnh đạo thành phố Hải Phòng cũng cho biết, đường sống từ biển vào cảng, mỗi năm lại bị cạn thê, nên tầu lớn không ra, vào được. Trong khi đó, ta thiếu tầu hút bùn, tầu cuốc để nạo vét; tầu cũ, phần lớn bị hư hỏng, muốn mua tầu mới thì không có tiền.

Trở về Hà Nội, Anh đưa ra trao đổi việc nạo vét luồng lạch để khai thông đường thủy với các cơ quan, các ngành, thì hầu như mọi người đều thấy đó là việc rất cần thiết. Khai thông được lòng sông, lòng kênh thì sẽ mở mang được nhiều tuyến đường thủy; vận tải thủy, giá thành thấp; phương tiện đường thủy ta có thể đón lây được. Mở rộng mạng vận tải đường sông sẽ giảm được số ô tô phải nhập giảm được chi phí để xây dựng đường sá rất tốn kém. Nạo vét các dòng sông còn giúp việc tiêu nhanh nước lũ ra biển, làm giảm bớt nguy cơ lụt lội trong mùa mưa, đồng thời còn có thể đưa đất phù sa màu mỡ để bồi bổ cho đồng ruộng. Đường sông vào càng nạo vét được sâu để tầu biển lớn có thể vào cảng để hàng, tránh được chuyển tải từ xa, thì sẽ có lợi lớn, không những chỉ về giao thông vận tải, về kinh tế mà cả về quốc phòng. Nhưng muốn nạo vét thì phải có phương tiện chuyên dụng. Dù ta có tinh thần khắc phục khó khăn cao đến mức nào, cũng không thể dùng sức người để xúc vét, vận chuyển bùn, đất ở sâu dưới lòng sông đưa lên mặt nước và chuyển đi nơi khác…

Nhưng khi đưa ra việc nghiên cứu đóng tầu hút bùn, thì có khá nhiều ý kiến phản đối, kể cả ở Bộ Cơ khí - Luyện kim, vì cho là công nghiệp của ta còn quá non nớt, cán bộ kĩ thuật trình độ còn thấp, chưa có kinh nghiệm, trang thiết bị không đồn bộ, nguyên vật liệu thiếu thốn v.v. Con nên đóng tầu vận tải cỡ nhỏ đã là khó khăn, nhưng còn có thể cố gắng làm được, còn tầu hút bùn là loại chuyên dụng, ta không thể nào đóng nổi. Thậm chí có người còn cho ý kiến đó là “nói bốc”, là chuyện “phiêu lưu”, “mạo hiể”!

Anh Thiện xuống Nhà máy Cơ khí Duyên Hải và một số nhà máy khác của Bô Cơ khí - Luyện kim xem xét tình hình trang, thiết bị, và khả năng chuyên môn kĩ thuật của các xí nghiệp. Anh đưa ra trao đổi việc đóng tầu hút bùn, thì nhiều cán bộ, công nhân nói: Nếu trên Bộ đưa thiết kế, cho thêm thiết bị và cung cấp đủ vật tư thì có thể làm được!

Nhất thiết phải có tầu hút bùn! Không có ngoại tệ để mua thì phải tự đóng lấy! Anh Thiện hạ quyết tâm và giao nhiệm vụ cho các cơ quan thiết kế, chỉ đạo sản xuất của Bộ Cơ khí - Luyện kim và Nhà máy Cơ khí Duyên Hải tìm cách làm bằng được! Anh động viên cán bộ và công nhân: chưa đóng được tầu có công suất lớn thì hấy đóng những tầu nhỏ, để nạo vét ở những độ sâu trung bình. Sau này, đã có kinh nghiệm ta sẽ đóng các tầu có khả năng hút bùn, xúc bùn, đất ở lòng sông sâu hơn; trước mắt nếu đạt được 2/3 thậm chí 1/2 công suất thiết kế, thì coi như đã hoàn thành được nhiệm vụ rồi.

Về máy động lực và thân tầu thì cơ bản cũng không khác gì tầu vận tải nhiều lắm, nếu có thể tham khảo các bản thiết kế sẵn có ở các nhà máy đóng tầu trong nước.

Nhưng còn thiết bị để hút bùn và chuyển tải từ đáy sông lên boong tầu rồi đổ xuống xà lan hoặc đưa lên bờ thì phải làm thiết kế hoàn toàn mới. Anh Thiện đã chỉ đạo các cơ quan thiết kế của Bộ Cơ khí - Luyện kim cùng Nhà máy Cơ khí Duyên Hải tháo rỡ, cắt bổ các bộ phận trong con tầu cũ của Pháp còn lại ở Hải Phòng để làm mẫu nghiên cứu, thiết kế. Hầu như toàn bộ lực lượng kĩ thuật của cơ quan Bộ, cùng các nhà máy thuộc Bộ Cơ khí - Luyện kim, đã được huy động để giúp đỡ Nhà máy Cơ khí Duyên Hải chế tạo tầu hút bùn. Công ty Vật tư của bộ được giao nhiệm vụ chạy bằng được các loại thiết bị, vật tư cần thiết. Những loại hàng đặc biệt khí khăn thì các thứ trưởng hoặc bản thân anh Thiện trực tiếp đi giao dịch để kiếm và đưa về cho Nhà máy.

Trải qua gần một năm, vừa nghiên cứu, thiết kế, vừa chế tạo, thử nghiệm, Nhà máy cơ khí Duyên Hải với sự giúp đỡ của nhiều nhà máy khác, đã chế tạo thành công và cho hạ thủy chiếc tầu hút bùn đầu tiên có công suất 160m3/giờ. Tầu đã được đưa vào sử dụng, đạt được đầy đủ công suất thiết kế, và phát huy được tác dụng, được các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước rất hoan nghênh. Dựa vào kết quả đó, Bộ Cơ khí - Luyện kim đã xin được Nhà nước đầu tư vốn, thiết bị và vật tư để đóng tiếp những con tầu mới.

Việc đóng tầu hút bùn thành công cho thấy anh Thiện là một con người có quyết tâm sắt đá, việc gì thấy cần, thấy đúng là làm, dù gặp qua bao nhiều khó khăn, trở ngại cũng tìm cách vượt qua để làm bằng được.

Xung quanh việc đóng tầu hút bùn, người ta nghe một chuyện khá nực cười! Có một vài cán bộ, từ đầu đã không đồng tình với việc này, vì cho là ta không có khả năng, đầu tư vào là “vô ích, tốn tiền của, tốn sức”; đến khi tầu đã đóng xong, cũng không chịu đến xem thực tế, mà cố tìm cách dèm pha, hạ thấp giá trị con tầu một cách khá vụng về và dốt nát đến mức đã báo cáo với cấp trên là: “Tầu hút bùn của anh Thiện đóng xong, không hút được bùn mà lại chỉ hút được cát!”.

Anh Thiện nghe được chuyện này đã mỉm cười và nói: “Mình đóng tầu hút được bùn thì đã phúc một đời, nó mà hút được cả cát thì sẽ có phúc đến ba đời đấy!”.

Chú thích
(*) Nguyên Phó phòng cán bộ Tổng cục Hậu cần; Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ, Bộ Cơ khí - Luyện kim.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 24 Tháng Sáu, 2013, 01:17:07 PM
ANH THIỆN TRONG TRÍ NHỚ CỦA TÔI

Bác sĩ TRẦN VĂN HIẾN(*)

Khi đang làm nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe giúp bạn ở Campuchia, tôi sửng sốt nghe được tin anh Thiện đột ngột qua đời. Tôi suy nghĩ mãi về một người mà bạn bè tôi, các bác sĩ quân y và dân y cho là có “cá tính”, với ý nghĩa là độc lập suy nghĩ, và rất kiên quyết khi cần hành động theo chân lí.

Trong kháng chiến chống Pháp, Anh là Cục trưởng Cục Vận tải; tôi làm công tác ở Phòng Quân y cơ quan Bộ Tổng tư lệnh, định kì có đến thăm sức khỏe Anh và gia đình. Tại nhà Anh, tôi được xem các cây cảnh do Anh tự tay uốn nắn thành những hình thù chim, thú rất đẹp. Tôi ngạc nhiên không ngờ một người cán bộ cách mạng rất kiên quyết trong công tác, đôi khi hơi nóng nảy, mà lại yêu thích cái đẹp của thiên nhiên như vậy.

Anh hay nói chuyện với cán bộ quân y về cây cỏ, thuốc Nam để chữa bệnh cho bộ đội. Có lần Anh nói chuyện về cây quế và tỏ ra rất sành: “Quế Thanh Hóa của ta vào loại tốt, nhưng phải biết thu hái vào đúng thời điểm, mùa nào, buổi nào trong ngày, phải tìm thu phần vỏ cây hướng về mặt trời”.

Khi Anh trở về làm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần trong kháng chiến chống Mĩ, Anh bận nhiều việc, nhưng vẫn thu xếp cùng anh Vũ Văn Cẩn, Cục trưởng Cục Quân y, đến thăm cơ sở Phòng Quân y Bộ Quốc phòng để chỉ đạo xây dựng, tăng cường trang thiết bị cho Bệnh viện 354, đến tận nhà kho, nhà bếp, hướng dẫn anh chị em quản lí, nuôi quân, tổ chức nấu ăn tốt theo bệnh lí cho bệnh nhân.

Kỉ niệm sâu sắc nhất đối với tôi là vào dịp mùa Xuân năm 1975, tôi được cử đi phụ trách Tổ quân y Đoàn A75 (mật danh của Bộ Chỉ huy Mặt trận Tây Nguyên, sau này là Chiến dịch Hồ Chí Minh). Anh Thiện đi kiểm tra tuyến Hậu cần chiến lược dọc Tây Trường Sơn, nên đến Sở chỉ huy sau. Anh họp và làm việc với anh Dũng được vài buổi thì lên cơ sốt, vừa nóng vừa rét, ra nhiều mồ hôi. Trong hoàn cảnh giữa rừng Tây Nguyên, không có phương tiện xét nghiệm, vì đang còn phải giữ bí mật, không được quan hệ rộng rãi với Phòng Quân y B3, chúng tôi phải vận dụng tập thể y, bác sĩ trong Sở chỉ huy để chẩn đoán và điều trị. Ai đã gần gũi anh Thiện thì đều biết, Anh rất quan tâm đến sức khỏe của cán bộ chiến sĩ, nhưng bản thân Anh lại không thích điều trị theo đơn thuốc của Quân y. Đối với Anh, uống thuốc Tây có háo chất và nhất là phải tiêm thì Anh dứt khoát từ chối.

Lúc đầu, đồng chí công vụ tìm lá xông, xoa trị cảm gió, nhưng không có kết quả, chúng tôi phải báo cáo anh Dũng can thiệp. Sau khi anh Dũng đến lán thăm và khuyên nên theo kế hoạch điều trị của quân y, chúng tôi mới thực hiện được việc tiêm thuốc chữa bệnh và nâng sức trong mấy ngày liền. Cơn sốt lui dần, nhưng huyết áp có lúc còn tụt. Chúng tôi phải tăng cường các loại thuốc bổ, kết hợp với chế độ ăn theo bệnh lí. Anh ngồi dậy được, đi lại, tập nhẹ và hồi phục nhanh.

Tuy chưa khỏi hoàn toàn, nhưng Anh lại lên đường đi gập vào B2, để chuẩn bị cho chiến dịch mới. Chúng tôi trao cho đồng chí Thông, bí thư của Anh, một bệnh án ghi chép diễn biến mạch, nhiệt độ, huyết áp, thuốc đã dùng theo giờ, trong suốt 7 ngày anh bị sốt vừa qua. Chúng tôi đã dặn dò các đồng chí bí thư, y sĩ, công vụ và lái xe đi cùng anh cách chăm sóc, thuốc men, ăn uống, nghỉ ngơi ở dọc đường. Sở chỉ huy cũng báo về là sức khỏe của anh khá lên trên đường vào Nam.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, vào Sài Gòn giải phóng, chúng tôi đến thăm lại sức khỏe anh. Anh Thiện vui cười, chỉ vào mình và nói: “Mình khỏi ngay, khỏe rồi; nhưng tiêm đau đấy, ông Cẩn cũng chẳng bắt được mình tiêm bao giờ”. Chúng tôi đánh trống lảng, nói chuyện về đường Trường Sơn, về “đàn voi xanh” - xe Zil 130 - xuống dốc lên đèo, về dòng máu trắng chảy trong đường ống dẫn dầu kì diệu…

Anh đem hoa quả ra thiết chúng tôi và gợi ý về nhiệm vụ tìm hiểu trang, thiết bị ở bệnh viện Cộng hòa, để hướng vào phục vụ cho thương, bệnh binh của bộ đội ta.

Ngày 19 tháng 8 năm 1967, đồng chí Thông gặp tôi ở Thủ đô Hà Nội, đã đưa lại quyển sổ “theo dõi quá trình điều trị, hộ lí” của anh Đinh Đức Thiện từ 14 đến 21 tháng 3 năm 1975 ở rừng Tây Nguyên.

Sau khi đi Campuchia về, trở lại công tác cũ, vào dịp giỗ đầu anh Thiện, tôi đến thăm gia đình, xin viếng Anh, thắp hương tưởng niệm và trân trọng tặng chị Xuyến, tài liệu lưu niệm lịch sử về sức khỏe của anh Thiện ở rừng Tây Nguyên, trên đường ra trận, với mấy lời cảm xúc:

     “Xông pha khắp các chiến trường
     Ốm đau chẳng quản dọc đường xa xôi.
     Anh đi để lại cho đời,
     Tình thương nỗi nhớ một người kính yêu.
     Vắng Anh, chị, cháu nhớ nhiều,
     Anh em, nước mắt cũng đều chảy quanh.
     Hôm nay thương tiếc nhớ anh
     Đốt hương với cả lòng thành kính dâng”.

Chú thích
(*) Nguyên Viện trưởng Viện Quân y 354; Trưởng Phòng Quân y Bộ Tổng Tư lệnh, Phụ trách Tổ bảo vệ sức khỏe Bộ Chỉ huy chiến dịch Tây Nguyên và Chiến dịch Hồ Chí Minh


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 24 Tháng Sáu, 2013, 01:22:24 PM
THƠ GỬI ANH ĐINH ĐỨC THIỆN

NGUYỄN VĂN BIÊN(*)

Vào Nam gặp lại anh đây(1),
Mà lòng rộn nhớ những ngày xa xưa
Chính quyền cách mạng tuổi thơ,
Anh về chèo chống những giờ khó khăn.
Anh về dạy nắm lại quân(2)
Anh về dạy giữ lại dân làm nền
Phong trào hừng hực bùng lên,
Đảng thêm sức trẻ dân thêm vững lòng.
Chặn thù anh quyết ngăn sông(3),
Diệt thù, anh chỉ tiến công, không lùi.
Trong anh, sáng một con người,
Đảng hun khí phách, dân nuôi chí bền.
Thấy anh, chỉ thấy tiến lên,
Chí anh, thực chí vượt lên đầu thù.
Bôn ba khắp nẻo chiến khu
Mỗi tin anh đến lòng như bồi hồi.
Nhớ anh, nhớ cả con người,
Dấu anh, in suốt đường đời tôi đi(4).

Chú thích
(*) Tỉnh ủy viên tỉnh Bắc Giang; Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Dầu khí.
(1) Năm 1946, anh Thiện là Bí thư Tỉnh ủy Bắc Giang, tôi là Tỉnh ủy viên.
(2) Anh Thiện giao cho tôi nhiệm vụ nắm lại Tiểu đoàn Bắc Giang.
(3) Tháng 11-1946, chuẩn bị kháng chiến toàn quốc, anh chủ trương rào sông Thương để ngăn tầu địch.
(4) Anh Thiện đã ảnh hưởng tới phong cách, ý chí và tình cảm cách mạng của tôi trong suốt cả quá trình công tác sau này.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 24 Tháng Sáu, 2013, 01:23:37 PM
ANH THIỆN GỌI TÔI CÓ VIỆC CẦN!

HOÀNG PHÁT ĐẠT(*)

Buổi chiều hôm ấy, đã hết giờ làm việc, anh Thiện còn vào phòng làm việc của tôi ở Văn phòng Tổng cục Hậu cần, dặn dò mấy việc cần làm tiếp ngày mai; sau đó anh bắt tay tôi và lên xe ra về.

Chia tay anh Thiện, tôi lấy xe, đạp một mạch về nhà, trong đầu vẫn đeo đuổi mấy việc anh vừa dặn.

Về đến nhà, tôi vừa rửa mặt mũi, chân tay xong, định giở tờ báo ra xem tin tức, thì thấy đồng chí Thông, bí thư riêng của anh Thiện đến, mặt mày hớn hở, nói với tôi: “May quá anh đã về! Mời anh đến nhà, gặp anh Thiện ngay, có việc cần”. Tôi ngạc nhiên hỏi: “Quái, có việc gì thế nhỉ, mình vừa đứng với Anh ở trong cơ quan, có còn việc gì nữa đâu?”/

Anh Thông nói: “Chắc có chứ, anh Thiện vừa về đến nhà, gặp chị Xuyến, rồi bảo tôi lấy xe đến đón anh ngay!”.

Đến nhà anh Thiện, tôi đi thẳng vào phòng làm việc, thấy anh, tôi hỏi: “Anh cho tôi gọi tôi có việc cần?”.

Anh Thiện mỉm cười, thủng thẳng trả lời: “Rất cần nữa cơ!”. Và đứng dậy dắt tôi sang phòng bên cạnh. Cả nhà đề đã ngồi vào bàn ăn, có vẻ đang chờ Anh. Chị Xuyến kéo ghế ra và nói tôi ngồi xuống. Anh nói: “Đây cái cần đây! Người ta bảo gan kì đà chữa bệnh gan rất tốt. Hôm qua, có người bạn bẫy được một con, đem cho. Tớ bảo bà ấy nấu ca ri cho cả nhà ăn. Còn bộ gan, nhớ đến cậu, để phần cho cậu đấy. Đứng làm khách, cậu phải ăn đủ cả bộ thì mới có có hiệu quả; ăn đi, đứng ngại gì cả!”. Anh nói với tấm lòng thương yêu của một người anh! Tôi cảm động quá, chưa kịp nói gì, thì chị Xuyến đã tươi cười nói thêm: “Ngay từ khi người ta mới đem con kì đà đến, anh Thiện đã dặn khi làm thịt phải dành cho anh Đạt bộ gan. Nay tiện tôi nấu luôn, mời anh đến cùng ăn cho vui!”.

Tôi còn lí do gì mà từ chối nữa! Tôi ngồi vào bàn, và từ từ ăn hết bộ gan kì đà rồi bánh mì. Cả hai anh chị thấy tôi ăn ngon lành, tỏ vẻ rất vừa ý. Vừa ăn, cả nhà vừa chuyện trò với tôi rất vui vẻ. Ăn xong, chị Xuyến mời Anh và tôi sang phòng khách ăn hoa quả tráng miệng. Tôi uống nước rồi đứng dậy cám ơn anh, chị trước khi ra về. Anh Thiện gạt đi: “Ơn với huệ gì, mong cậu khỏi bệnh và khỏe là mình vui rồi”. Anh nắm chặt tay tôi, nói tiếp: “Thôi về đi, kẻo vợ con ở nhà lại mong và lo lắng, không hiểu thủ trưởng có việc gì mà cần đến thế. Chữa bệnh cũng là cần chứ!”.

Tôi ra về, vừa đi vừa suy nghĩ mãi: nhiều người bảo anh Thiện nóng tính, rất nóng tính; tôi cũng đã vài lần được chứng kiến cảnh Anh “quạt” thẳng thừng, nói gay gắt, mất ngọt, mất nhạt những cán bộ làm hỏng việc do thiếu trách nhiệm, làm sai chủ trương, không chấp hành chỉ thị của cấp trên… Nhưng có lẽ ít người biết rằng sau con người nóng tính này, là một con người có tình cảm, rất thương yêu cán bộ, và độ lượng với cấp dưới.

Ít lâu sau, tôi khỏi bệnh viêm gan, da tôi không còn vàng nữa. Người tôi khỏe dần lên. Tôi không dám chắc có phải hoàn toàn do tác dụng của gan kì đà không, vì “có bệnh thì vái tứ phương”, tôi đã dùng rất nhiều loại thuốc tây, thuốc ta…

Nhưng sự chăm sóc của anh Thiện, tấm lòng của hai anh chị, thì mãi mãi tôi không bao giờ quên được…

Chú thích
(*) Nguyên Phó Phòng hành chính Tổng cục Hậu cần; Vụ phó Vụ Lao động tiền lương Bộ Cơ khí - Luyện kim.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 24 Tháng Sáu, 2013, 01:24:57 PM
VÀI MẨU CHUYỆN VỀ ĐỒNG CHÍ ĐINH ĐỨC THIỆN

BÙI QUANG YÊN(*)

Ra chợ nghiên cứu nuôi quân,
vào nhà dân học tập xây dựng

Thời kì vừa kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp, anh Thiện là Phó Chủ nhiệm kiêm Tham mưu trưởng Tổng cục Hậu cần. Anh nhận được báo cáo Đoàn An dưỡng Quảng Yên, gặp nhiều khó khăn về lương thực, thực phẩm. Đây là cơ sở lớn nhất trên miền Bắc để nuôi dưỡng, phục hồi sức khỏe cho thương, bệnh binh các chiến trường. Anh đã bố trí thời gian xuống tận nơi để xem xét tình hình và giải quyết. Trên đường đi, sang qua phà Rừng đến đầu thị xã Quảng Yên, thấy chợ đang họp, Anh bảo hãy dừng xe, xuống xem đã.

Anh đi quanh chợ một vòng, dừng lại trước các hàng bán thịt, cá, gà, trứng, rau, đậu, củ, quả… hỏi giá cả từng loại, rồi hỏi thăm các bà bán hàng xem quanh đây có bao nhiêu chợ, tháng họp mấy phiên, loại hàng gì có nhiều, loại nào có ít…

Buổi chiều, Anh mới vào Đoàn An dưỡng làm việc. Các đồng chí Đoàn trưởng, Đoàn phó và Chủ nhiệm Hậu cần báo cáo với Anh tình hình mọi mặt và nhấn mạnh về khó khăn nhất của Đoàn là vân đề nuôi dưỡng vì địa phương có rất ít thịt, mà giá lại đắt. Đoàn không có điều kiện sang thành phốp Hải Phòng để tiếp phẩm, nên không có đủ thức ăn bồi dưỡng cho bộ đội.

Anh hỏi: “Thỉnh thoảng các đồng chí có đi chợ không? Xung quanh thị xã có bao nhiêu chợ?”, v.v. Tôi thấy những câu hỏi này giống hệt như sáng nay, Anh đã hỏi các bà bán hàng và đồng bào đi chợ… Đồng chí Chủ nhiệm Hậu cần lúng túng, đề nghị cho đồng chí tiếp phẩm lên báo cáo cụ thể. Anh Thiện cười và nói tiếp: “Tôi đã nghe báo cáo ở chợ rồi, không cần gặp đồng chí tiếp phẩm nữa. Các đồng chí nói thực phẩm ở đây khó khăn. Tôi thấy ở đây thịt thì hiếm, nhưng cá thì rất sẵn, nhất là cá quả, và giá cũng rẻ, so với giá ở Hà Nội hai Hải Phòng thì chỉ bằng một nửa hoặc hai phần ba. Rau muống thì có ít, nhưng các loại ra khác như: rau làng, rau bí, mồng tơi, rau đay, mướp thì lại khá sẵn. Tôi hỏi, tại sao chỉ cá quả lại rẻ hơn? Bà con ở chợ cho biết, dân ơ đây có nhiều người kiêng không ăn loại cá này vì cho là “độc”! Thế thì tại sao ta không mua loại cá này cho bộ đội ăn. Các cụ ta đã có câu nói: “Cá quả dim khô, cá rô canh cải”. Loại cá quả này ở thành phố rất đắt vì được mọi người ưa chuộng, ăn ngon mà lại ít xương, muốn mua thường xuyên cũng không được. Về rau cũng vậy, nên dựa vào địa phương, có gì ăn nấy, có nhiều loại rau thì mỗi ngày mua một loại để thay đổi món cho bộ đội, ăn càng ngon miệng. Quanh doanh trại đây, đất còn rộng, nên tổ chức cho anh em tăng gia sản xuất, trồng lấy một phần rau mà ăn. Nói tóm lại, các đồng chí nên ra ngoài chợ, đến nhà đồng bào xem cách ăn uống của nhân dân địa phương, hợp với túi tiền của bộ đội. Như thế có được không?”. Các đồng chí ở Đoàn An dưỡng rất hể hả, thấy đã mở ra một hướng để lo vấn đề ăn uống lâu dài cho bộ đội, mà đơn vị có thể làm được.

Còn lo vật liệu xây dựng cho bộ đội như thế nào?

Sau khi hòa bình được lập lại nhu cầu xây dựng của bộ đội rất lớn, đơn vị nào cũng cần làm doanh trại, xây dựng cơ sở. đặc biệt ở khu vực Sơn Tây là nơi có nhiều đơn vị, nhiều trường học, nhưng đây là một vùng đồi trọc, sỏi đá cằn cỗi, không có rừng để khai thác tre, lá, cũng không có đất để làm gạch, Vậy phải làm thế nào đây? Anh Thiện lại đến tận nơi để nghiên cứu cách giải quyết.

Anh vào các nhà dân, lân la hỏi chuyện các cụ già thì được biết từ lâu đời, dân ở đây xây nhà bằng đá ong, hoặc làm nhà trình tường, chứ lấy đâu ra tiền để mua gạch từ xa đem về. Đá ong ở Sơn Tây, hàu như dào chỗ nào cũng có, xây nhà đỡ tốn vôi vừa mà cũng khá chắc. Còn trình trường, thì lấy ngay đá sỏi tại chỗ, nếu có thêm vữa vôi hoặc xi măng trát thêm một lớp mỏng, thì vừa chắc lại vừa đẹp. Nhà bằng đá ong hay trình tường mùa hè thì mát nhưng mùa đông lại ấm vì có tường dày. Tất nhiên không thể đẹp như nhà xây gạch; nhưng có vật liệu mà xây dựng, nhất là giá lại rẻ, là tốt rồi! Thêm được một bài học nữa từ nhân dân!

Anh đến các công trường ở Sơn tây phổ biến ngay cách làm này, đồng thời chỉ thị cho Cục Doanh trại hướng dẫn cho tất cả các đơn vị ở vùng đồi núi trung du, nên làm nhà bằng đá ong và trình tường. Sau này, khi làm Giám đốc khu Gang thép Thái Nguyên, Anh cũng áp dụng cách làm này, nên đã giải quyết được khá nhanh nhu cầu nhà ở trước mắt cho cán bộ, công nhân.

Kiểm tra đánh mìn từ xa qua tiếng nổ

Thời kì đầu, Anh lên phụ trách xây dựng khu Gang thép Thái Nguyên, phải chỉ đạo san phá mấy chục quả đồi thành mặt bằng để xây dựng nhà máy. Lượng thuốc nổ sử dụng phải tính đến hàng trăm tấn.

Một buổi trưa, Anh đi uống công trường về, vừa ăn cơm xong, nằm nghỉ một lát, thì nghe những tiếng mìn nổ đinh tai, nhức óc. Anh bật dậy, và bảo tôi đi gọi tổ trưởng đánh mìn lên ngay gặp Anh. Tôi thầm nghĩ có lẽ anh em dùng những khối thuốc nổ lớn quá, làm cho Anh mất ngủ, trong khi anh rất mệt, và vừa đi lại vừa hò hét suốt buổi sáng ở ngoài trời… Khoảng 5 phút sau, đồng chí tổ trưởng, mồ hồi nhễ nhại, chạy vội lên. Anh bảo ngồi xuống rồi nói: “Ngày trước anh đi bộ đội, được Đảng giáo dục, anh tỏ ra tháo vát, dũng cảm, cẩn thận thế, tại sao đến nay ra làm kinh tế anh lại thiếu tinh thần trách nhiệm đến thế?”. Đồng chí này ngớ người chưa hiểu chuyện gì thì Anh lại nói tiếp: “Tôi đã dặn anh trước khi đánh mìn phải kiểm tra chu đáo, thế mà hôm nay nghe cả chục tiếng nổ váng óc mới thấy một tiếng “ục”, thì làm sao chạy được đủ thuốc nổ để cho các anh phá hết được khu đồi này? Anh cứ làm ăn kiểu này, thì không những chỉ anh mà cả tôi cũng đi tù sớm!”. Đồng chí tổ trưởng nhận lỗi, vì về ăn cơm ra chậm, chưa kiểm tra được thì anh em đã vội vã cho nổ mìn…

Có lẽ thấy cấp dưới thành khẩn, không chống chế loanh quanh, nên Anh cũng nguôi, và lại hướng dẫn cho đồng chí tổ trưởng phải kiểm tra chặt chẽ, không được quan liêu: trước khi cho nổ, phải kiểm tra độ sâu lỗ khoan, thế phá, và lượng thuốc nổ hợp lí cho từng điểm phá. Phải chú ý đánh mìn sao cho có hiệu quả, và đặc biệt phải bảo đảm an toàn tuyệt đối… Phải quy định chế độ rõ ràng: khoan lỗ xong, tổ trưởng phải kiểm tra đã, rồi mới được nhồi thuốc nổ. Cắm kíp mìn và dây cháy chậm xong, tổ trưởng cũng phải xem lại, rồi ra lệnh mới được châm lửa. Anh nào không chấp hành hoặc làm ẩu, thì phải thi hành kỉ luật.

Đồng chí tổ trưởng hứa từ nay sẽ làm đúng như thế rồi chào Anh ra về, qua cổng còn nói nhỏ với tôi: “Sao thủ trưởng tinh thế, hôm nay mình có sơ xuất ra chậm để chúng nó làm ẩu một chút, ông ấy phát hiện ra ngay được và được một bài học nhớ đời…”.

Chú thích
(*) Nguyên bí thư của đồng chí Đinh Đức Thiện.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 24 Tháng Sáu, 2013, 01:25:32 PM
Phải tuyển lao động nữ cho công trường!

Khi lấy thêm lao động ở địa phương vào làm việc ở khu Gang thép, anh Thiện nêu chủ trương phải tuyển một tỉ lệ nữ nhất định. Nhưng có những đơn vị không muốn nhận “phái yếu”, vì sợ không làm được việc nặng ở công trường. Anh phải giải thích: “Các đồng chí lo chị em yếu ư? Thế trong kháng chiến, chị me nữ đi dân công, gánh vác có kém gì nam giới, mà có khi còn dẻo dai hơn nữa. Phải quan tâm thích đánh đến đời sống, và đào tạo nghề nghiệp chu đáo thì chị em nữ làm năng suất không thua gì nam giới đâu! Vả lại, công trình của ta rất lớn, lại ở vùng đất rộng người thưa, đưa hàng nghìn anh em bộ đội đã trải qua bao năm đánh giặc, về đây công tác, chả lẽ cứ để anh em độc thân mãi ư? Nếu không có nơi để tìm hiểu, không có đối tượng để xây dựng “tổ ấm” tại chỗ, tất nhiên, anh em phải về quê lập gia đình, thì làm sao chúng ta có lực lượng công nhân, cán bộ ổn định được” Mọi người đều nghe ra và nhất trí.

Sau một thời gian xây dựng công trình, một hôm, Anh bàn với anh Trần Bảo, là Thư kí công đoàn khu Gang thép: “Chúng ta nên chọn chị em phụ nữ lao động xây dựng đưa đi bồi dưỡng thêm nghiệp vụ và nâng cao tay nghề, nhất là phải chú ý đến các chị em chưa chồng, tuổi cao mà cũng không được đẹp gái lắm, để chị em có công việc ổn định, thu nhập được khá hơn, thì mới dễ lấy chồng!”.

Ngày nay, ở khu Gang thép có biết bao nhiêu cặp vợ chồng đều cùng là cán bộ, công nhân viên trong nhà máy; một số đến tuổi nghỉ hưu, thì lại đến thế hệ con cái họ tiếp tục sự nghiệp của cha mẹ vào tham gia xây dựng và sản xuất trong khu công nghiệp. Mọi người lại nhớ đến chủ trương đúng đắn, mà nghĩa tình sâu nặng của anh Thiện để xây dựng đội ngũ cán bộ, công nhân viên lâu dài cho khu công nghiệp lớn đầu tiên của đất nước.

Bữa riêu cua trên đường vào tuyến lửa!

Tôi làm bí thư riêng của anh Thiện trong 10 năm vào giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp và khi hào bình mới được lâp lại. Anh phụ trách xây dựng khu Gang thép Thái Nguyên. Khi Anh trở lại quân đội thì tôi vẫn tiếp tục công tác ở khu công nghiệp.

Cuối tháng 12 năm 1966, Anh điện gọi tôi về gặp Anh ngay. Tôi về gặp Anh ở nhà riêng. Anh hỏi tình hình công việc ở Xí nghiệp Gang thép, rồi Anh hỏi thăm gia đình tôi ở Hà Tĩnh, nay địch đánh phá dữ dội như thế thì làm ăn, sinh sống như thế nào? Tôi trình bày hoàn cảnh rất khó khăn của vợ con ở quê nhà, và dự kiến tương lai phải tính chuyện đưa gia đình ra Thái Nguyên thôi. Anh bảo ngày mai Anh sẽ vào Đoàn 559 làm việc, và tôi hãy cùng đi với Anh, khi qua Hà Tĩnh, Anh sẽ gặp các đồng chí ở Tỉnh ủy, nhờ bố trí đưa gia đình tô ra ngoài Bắc. Tôi ngần ngại, sợ phiền Anh và các đồng chí lãnh đạo ở quê nhà, đang phải lo bao nhiêu công việc to lớn. Nhưng Anh bảo tiện chuyến, tôi cứ đi, không có ảnh hưởng gì cả vì đằng nào Anh cũng phải dừng chân ở Hà Tĩnh và làm việc với các đồng chí lãnh đạo ở Tỉnh. Thế là một lần nữa tôi lại được đi với Anh.

Anh tranh thủ đi vào ngày 24 và ngày 25 tháng 12, trong dịp lễ Nôen, địch tuyên bố ngừng ném bom. Cùng đi chuyến này có cả anh Hoàng Tùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng biên tập báo Nhân dân. Chuyến đi khá vất vả vì nhiều đoạn đường, cầu bị địch phá hỏng chưa kịp khôi phục, và phải đi tránh những chỗ còn nhiêu bom chưa nổ.

Qua nửa đêm, vừa qua ngã ba Đồng Lộc (Hà Tĩnh), thì điện đài trong xe nhận được thông báo của Bộ Tư lệnh Phòng không: “Mục tiêu địch xuất hiện ở Quảng Bình… Sông Gianh… Ba Đồn… Kỳ Anh…”, Xe phóng nhanh, đến chỗ có bìa rừng thì dừng lại. Chúng tôi vội dắt hai anh xuống xe, đưa vào một khe núi cạnh đường. Vừa chạy được khoảng 50 mét, thì đã nghe tiếng máy bay, ánh chớp lòe và tiếng bom nổ ở đoạn đường xe vừa đi qua.

Gần sáng thì đến chỗ nghỉ. Đồng chí Binh trạm trưởng đến đón, dẫn các Anh và chúng tôi vào nghỉ tại mấy cái lán của Binh trạm, làm nhờ trong vườn nhà dân ở ven đồi, cách đường khoảng hơn một kilômét. Chỗ này ở xa các trọng điểm, lại khuất nẻo, các lán được bụi cây um tùm che khuất, có hầm hố ngay cạnh, nên mặc cho máy bay lượn đi lượn lại, chúng tôi vẫn yên trí nằm ngủ tới gần trưa mới dậy. Anh Thiện hỏi tình hình công tác của Binh trạm, rồi mọi người cùng đi ăn cơm trưa. Sau bữa ăn, ngồi nghỉ uống nước, nói chuyện một lúc, anh Thiện mời anh Hoàng Tùng tiếp tục đi nghỉ, vì đêm nay sẽ phải đi cả đêm. Anh bảo đồng chí Lư (bí thư), ở lại với anh Tùng. Anh rủ tôi và đồng chí công vụ đi chơi. Chúng tôi biết đây là thói quen của Anh: trên đường đi, mỗi khi dừng chân ở đâu, Anh không hay nghỉ trưa, mà thường ra đồng xem đồng bào làm ăn, đi bắn chim, ra ngồi chơi bên bờ suối, dưới bóng cây… Chúng tôi mang theo cây súng săn và một bi đông nước, cùng Anh ra cánh đồng nhỏ cách chỗ ở của Binh trạm khoảng một kilômét.

Đang nói chuyện rôm rả thì thấy 1, rồi 2, 3, 4… con cua bò dưới ruộng. Thế là ba thầy trò, cùng xắn quần, lội xuống nước bắt cua. Cua nhiều quá, không có cái đựng nên đồng chí công vụ phải cởi quần dài, buộc túm hai ống lại bỏ cua vào. Bắt một lúc, hai ống quần đã chứa đầy, hết chỗ đựng, đành phải thôi! Ba anh em lên bờ vào dưới gốc đa, ngồi vừa nói chuyện vừa nghỉ một lúc, rồi trở về Binh trạm.

Anh Thiện bảo kiếm một nồi nước nóng. Tôi nhờ cô cấp dưỡng đun hộ; cô hỏi: “Để Thủ trướng tắm à?”. Nhưng không phải. Anh dùng nước nóng rửa cua cho sạch. Hai cô cấp dưỡng, đồng chí công vụ và tôi cùng xúm vào làm với Thủ trưởng. Rửa xong, Anh hướng dẫn cho chúng tôi cách móc cua, cách giã cua, lọc nước cua và khều gạch cùng trứng cua, sao cho lấy được hết khỏi lãng phí. Anh bảo cho nước cua vào nồi, cùng mấy quả khế, nấu riê… Anh lại hướng dẫn chị em cấp dưỡng phải đun nhỏ lửa, và khi đã sôi đều mới đổ gạch, cùng hành, mỡ, rau thơm vào… Các cán bộ, chiến sĩ của Binh trạm cũng có mặt lúc đó với chúng tôi, tròn mắt ngạc nhiên, không hiểu sao mà thủ trưởng cũng biết cách làm ăn dân dã tỉ mỉ đến như thế!

Bữa cơm chiều hôm đó của chúng tôi cùng cán bộ, chiến sĩ Binh trạm có thêm món riêu cua, cùng rau ghém nõn chuối. Ai cũng khen ngon và thích thú! Trong bữa ăn, hầu như Anh không đụng đũa đến món thịt bò xào, do nhà bếp của binh trạm đã chuẩn bị để thết đoàn chúng tôi, mà chỉ ăn toàn riêu cua! Anh cũng không quên bảo chị em đem biếu gia đình chủ nhà một cặp lồng đầy. Bà cụ chủ nhà ăn xong, thấy ngon quá đến cảm ơn, hỏi cách nấu và nói: “Dạm trong ni, nhiều vô kể, mà bà tui không biết ăn ra ri, có biết mần mô nà…”. Anh Thiện lại hướng dẫn các kiểu nấu cua: riêu, canh, kho, rim, rán… Sau đó Anh tủm tỉm cười và nói với chúng tôi: “Già được bát canh, trẻ được manh áo mới mà!”. Chị em cấp dưỡng nói lại: “Không phải chỉ người già đâu, chúng cháu được ăn canh của của bác cũng thích lắm ạ”. Anh có vẻ rất khoái, nét mặt vui tươi, rạng rỡ hẳn lên!

Trong lòng tôi cảm thấy rất vui sướng, vì đã góp phần tạo ra cho Anh những giờ phút thư thái, ung dung, trước khi bước vào tuyến lửa, với bao công việc khó khăn đang chờ đợi Anh.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 24 Tháng Sáu, 2013, 01:34:13 PM
MỘT VỊ TƯỚNG BÌNH DỊ!

NGUYỄN VĂN QUẢNG(*)

Thành phố Hồ Chí Minh, vào đông 1986, tôi đang đi tới gần ngã tư Điện Biên Phủ - Hai Bà Trưng, cạnh công viên Lê Văn Tám, Quận 1, thì đèn đỏ bật lên. Tất cả xe dừng lại. Tôi nhìn xang bên cạnh, thì thấy Thượng tướng Đinh Đức Thiện ngồi cùng một cán bộ cao cấp trong xe. Tôi vội chạy đến chào, vì từ lâu không gặp lại. Anh vẫn mặc bồ đồ bà ba “xông pha” như thuở nà! Sau cái bắt tay rất chặt, anh nhắn ngay: “Cậu còn nợ tớ “một cuộc”, nhớ chưa?”. Tôi vội nghĩ và nhớ lại: Thì ra không phải là một bữa “nhậu”, không phải một chuyến đi săn, không phải tiền bạc… Mà là đi xe cải lương!

Bởi có một lần, sau giải phóng Sài Gòn ít lâu, tôi có điểm qua sân khấu thành phố để Anh nghe. Tôi giới thiệu với Anh những vở tuồng, cải lương khá, có thể xem được, và nhắc lại những đoạn hay… Mỗi đoạn lâm li, đều rót theo âm điệu ngọt ngào… kèm theo vài câu vọng cổ… Anh thừa biết, nhưng vẫn tặc lưỡi, gật gật ở mấy nút kịch tuyệt vời! Anh Bảy khoái ngay và hẹn dịp nào rảnh rang, tôi phải đưa Anh đi cùng xem cải lương! Tôi còn “nợ” Anh là như vậy!

Nhưng sau do Anh bận công tác, tôi chưa có dịp gặp Anh. Tôi không ngờ bữa nay gặp Anh lại là lần cuối cùng, nên tôi vẫn chưa trả được món “nợ” này! Tôi bồi hồi nhớ lại một chuỗi kỉ niệm về Anh, ngày còn nổ súng và sắp đến hồi kết thúc…

Đang lo cho B2(1)

Khoảng mùa xuân 1973, tức là sau Hiệp nghị Pari, Anh cùng anh Tố Hữu, tỏng phái đoàn của Trung ương vào Nam, làm việc với Trung ương Cục, Quân ủy Miền. Đoàn cần tìm ra lời đáp, hơi thở, nhịp sống của chiến trường. Bộ Thống soái ta, trên tầm nhìn chiến lược, cần có dự đoán và giải pháp chiến lược phù hợp với tình hình thực tế đang phát triển…

Sau các buổi họp, làm việc với lãnh đạo, Anh tạt qua Cục Chính trị B2. Lúc đó, tôi đang phụ trách Phó Chủ nhiệm Cục. Anh đến ngay chỗ tôi làm việc, sục vào hầm luôn. Nhìn tấm bạt che lên cái bàn viết bằng vạt tre, đặt sát miệng hầm chữ “A”, Anh “chơi” luôn tôi một chặp: “Cái hầm của cậu vậy mà cũng chữ A hả? Gà bươi đã tróc nóc, chuột gậm chút xíu thì gỗ ấy cũng đi đời! Cậu chả biết cái c… gì. Đây này…”. Anh lấy bút chì vẽ lên giấy trắng trên bài viết của tôi cách thiết kế, kích thước gỗ, tre, đất để làm hầm… Xong Anh bảo: “Phải như thế này, mới trụ được như ở Thạch Hãn(2) mới chống nổi bom, và các loại đạn pháo, từ hạm đội Mĩ bắn vào… Biết chưa?”. Dĩ nhiên tôi cũng chống chế nhẹ nhàng, vì rất biết Anh, rất phục Anh, biết cả nhiều giai thoại về Anh. Tôi cứ dạ, dạ… theo cách Nam Bộ cho qua chuyện thôi. Dầu vậy, tôi vẫn “tháu cáy” lại Anh, để cố thăm dò Anh thêm một con “bài tẩy”:

- Thưa anh Bảy, đã mùa xuân 73 rồi chớ anh!

- Cậu lại lơ mơ hay sao rồi đấy? Nhớ nhé! Bọn tao đang lo, lo cho B2, lo cho chúng mày sớm được đầy đầy. Cả xăng dầu cũng sắp “chảy” vào Bù Gia Mập! Biết chưa?

- Dạ, dạ… Có biết.

Ngày tiễn Đoàn trở ra Hà Nội, các anh trong Miền bảo tôi “chiêu đãi” một đêm văn nghệ hỗn hợp: có văn công R(3), có các diễn viên nội thành Sài Gòn bị địch bắt vừa được trao trả, cùng diễn. Nghệ sĩ Thái Li chỉ đạo múa. Từ tiết mục đến tay nghề cũng tầm cỡ!... Lúc tàn cuộc, Anh khều tôi lại, hỏi:

- Cậu có rành văn nghệ không?

- Thưa anh Bảy, cũng biết chút đỉnh. Tôi đáp gọn.

Anh “đế” luôn: “Mày chả biết cái đ… gì cả! Chúng nó múa đẹp thế mà mày cho mặc nilông, làm sột soạt như giũ bụi trên sân khấu! Con gái văn công của mày đẹp thế, khăn rằn quấn cố, nếu trang phục mềm mại hơn nữa, thì sẽ tôn vẻ đẹp lên và tiết mục sẽ hay hơn gấp mấy lần!”. Rồi Anh tiếp luôn: “Khi đoàn xe vô, tao gửi tặng luôn cho chúng mày một mớ lụa Hà Đông. Được chứ!”.

“Cám ơn anh Bảy quá chừng. Rất mê!”. Tôi mừng rơn, vội đáp.

Chú thích
(*) Nguyên Phó Cục trưởng Cục Chính trị Quân Giải phóng miền Nam; Thứ trưởng Bộ Thương binh - Xã hội.
(1) Chiến trường Nam Bộ.
(2) Tên con sông nằm cạnh Thành cổ Quảng Trị.
(3) Hậu cứ của B2.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 24 Tháng Sáu, 2013, 01:35:09 PM
Nước mắt xen tiếng cười!

Tại Sở chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh ngày 30 tháng 4 năm 1975, Anh Thiện là Phó Tư lệnh, phụ trách Hậu cần. Cái rađiôcátxét Toshiba của tôi kịp ghi âm sớm nhất lời Tổng thống ngụy tướng Minh lớn tuyên bố đầu hàng, đem ra phục vụ ngay tại hầm chỉ huy. Mọi người reo lên như sắp làm vỡ tung cả Sở chỉ huy. Tin vui lan nhanh vào các hầm cơ quan chiến dịch. Có lẽ trong đời tôi và cả các anh chỉ huy có mặt tại đó, có niềm hạnh phúc lớn là được chứng kiến cái giờ phút lịch sử có một không hay này! Mọi người đều dàn dụa nước mắt. Tôi lướt nhìn và nghe to hơn cả là tiếng khóc của anh Bảy Thiện. Anh vốn quen “ăn to nói lớn”. Anh em trong Sở chỉ huy đã truyền tụng câu Anh trả lời anh Dũng, Tư lệnh chiến dịch, hỏi về khả năng cung cấp đạn pháo: “Tôi bảo đảm đủ đạn pháo để các anh bắn cho cho con nó khiếp đến ba đời!”. Bây giờ thì Anh thoải mái thả cửa rồi! Mà cũng phải thôi. Tôi bỗng nhớ một lần anh tâm sự: “Năm Phòng có biết không, mình đã quen từng góc phố, thuở hoạt động bí mật ở Sài Gòn. Mình đã từng chân đất, đội nón lá cời, rảo bước khắp các đại lộ Nôrôđôm, Galiêni… Tao mong một ngày trở lại…”.

Và bây giờ, Anh lên xe ô tô để về nơi chốn ấy. Tuyệt vời quá! Nghĩ về Anh là như vậy. Nghĩ về mình, thì tôi cũng từ cái Dầu Tiếng này ra đi. Đây là nơi, tôi đã từng chỉ huy một đội biệt động, cùng du kích công nhân cao su, diệt bộ chỉ huy địch, phá gẫy cuộc càn quy mô lớn “Hành quân nhà lá” (Campagne chaumière) của Tây hồi mùa xuân 1952. Rồi năm 1954, tôi cũng hành quân qua đây, qua thị trấn Tràng Bảng, rồi rẽ tiếp về Cao Lãnh để xuống tầu tập kết ra Bắc. Đến nay, tôi cũng về đây, cũng qua Trảng Bàng để chạy thẳng về tiếp quản Sài Gòn… Hai mươi mốt năm: một chặng đường! Dĩ nhiên nước mắt tôi cũng tuôn ra dữ dội không sao cầm được. Ông Xuân Hồng đã dệt vào nốt nhạc của ông: “Vui sao nước mắt lại trào”. Chính xác quá!

Tiền cửa rừng!

Tại Đà Lạt, tháng 5 năm 1975, mưa sa nặng hạt. Bộ Tổng Tư lệnh, Bộ Tổng Tham mưu và Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh mở Hội nghị sơ kết. Anh Bảy Thiện nhìn đám sĩ quan chúng tôi sau chiến dịch ăn mặc hơi “nhếch nhác”. Nước da, dù đã được phơi nắng khá nhiều nhưng vẫn chưa “mặn mòi” lắm, có lẽ từ gốc sốt rét rừng, lại do thiếu ngủ kéo dài. Anh gọi tôi đến và hỏi: “Cậu xem, cán bộ đang cần thứ gì, để “o bế” cho “ngon một chút”. Quân chiến thắng mà!”.

- Xe anh Bảy chó chở theo được bao nhiêu… tiền. Tôi nhanh nhảu hỏi.

- Có! Có thể đủ. Nhưng mức nào? Thứ gì? Bao nhiêu người?

- Thưa anh Bảy…. Tôi nhẩm tính, chưa kịp nói tiếp thì Anh cắt ngang, qua một cái phất tay:

- Mấy thắng ở liên tục trong này, từ hồi tụi bây đi tập kết là một. Bọn đi B sớm như mày, là hai. Mấy thằng cùng vô với tới chuyến này đi dứt điểm, là ba… Nói “mẹ” nó đi, được chưa.

Tôi bỗng nhớ cậu Định, Trưởng Ban Tác chiến Sư đoàn 9 ở trận An Lộc, bị B52 vùi mất xác, cùng Trung đoàn trưởng và Chính ủy Trung đoàn 1 chung một hầm, tôi vừa giao lại. Lúc còn sống cậu ta từng tâm sự với tôi: “Tin nhà nhắn lên, mẹ và em ở nhờ đất vườn một tay nhà giàu; lều của bà là 3 mảnh tôn ghép lại cạnh bụi chuối…”. Tôi bùi ngùi:

- Thưa anh Bảy, nhu cầu khiêm nhường: ai còn mẹ thì cần tiền trầu; ai còn con, cháu thì cần kẹo; ai còn vợ thì cần tấm vải. Nhất là mấy ông đi B lâu, lương để ngoài Bắc cả, không có ai ở ngoài đó!

- Ừ! Thì đấy, chi cho mỗi cậu mấy ngàn. “Tiền cửa rừng”, khao quan, khao quân. Được chưa!

Tôi mừng quá và cho Văn phòng lập danh sách ngay tại “trận”.

*
*    *

Anh là một vị tướng nổi tiếng vẹn cả đức, tài, thông minh, tháo vát, táo bạo. Trong nông ngữ Anh dùng, hình như không hề có cái từ “khó”. Anh cống hiến xuất sắc ở bất cứ cương vị nào. Anh rất quan tâm đến những người dưới quyền, mà không hề nghĩ đến việc nghĩa ơn. Anh có “chất nóng” trong người, nóng lòng vì công việc, có lúc cũng bốp chát, nhưng thương người hết mức, không hề gieo lại trong ai điều gì trách hận, sống trọn nghĩa, vẹn tình. Tâm hồn văn học của Anh khá phong phú. Anh thuộc làu làu nhiều thơ và tích tuồng. Anh không dạy đời, mà để lại cho đời một tấm gương tuyệt hảo!

Tôi “nợ” Anh không chỉ có thế, mà còn “mang nợ” Anh nhiều. Anh đi xa 10 năm rồi, nhưng chưa bao giờ Anh đã mất. Tôi nghĩ thế!


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 24 Tháng Sáu, 2013, 01:36:23 PM
ANH THIỆN LÀ NHƯ VẬY

ĐẶNG VĂN THÔNG(*)

Khi anh Thiện được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải, anh em cán bộ Giao thông, vận tải phía Nam bàn tán: Anh Thiện là người đã kinh qua các chức vụ Bộ trưởng Cơ khí - Luyện kim, Bộ trưởng Dầu khí, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, lãnh đạo Tuyến vận tải 559, nay về làm Bộ trưởng Giao thông - Vận tải, chắc là đa năng, thiên tài?

Qua quá trình công tác, anh em đã hiểu và nhận ra giá trị con người anh Thiện

Đó là:

1 - Đối với người, có cái tâm, trong cái tâm: có chân, có thiện.

2 - Đối với việc, có cái tâm, trong cái tâm: làm cho được, làm thật tốt.

3 - Trong đối nhân, xử thế.

a) có 4 cái ghét:

- xu nịnh

- khoe khoang

- lười nhác

- chạy dài

b) có 4 cái yêu:

- thẳng thắn

- tự trọng

- tương trợ

- dám chịu trách nhiệm

Anh Thiện là con người bình dị, thực tế, con người hành động, ít lời lẽ. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành. Khó khăn nào cũng vượt qua.

Anh Thiện là như vậy!

Chú thích
(*) Nguyên Thứ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải.


Tiêu đề: Re: Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu c
Gửi bởi: anhquaynop trong 24 Tháng Sáu, 2013, 01:37:20 PM
CÂU ĐỐI TƯỞNG NIỆM ĐỒNG CHÍ ĐINH ĐỨC THIỆN

Giáo sư VŨ KHIÊU(*)

BÍNH TÍ NIÊN ĐÔNG NGUYỆT

                 THIÊN ĐỊA PHONG TRẦN CAN TỰ THIẾT
                 HẢI HỒ TUẤN KIỆT NHÃN NĂNG THANH

ĐINH ĐỨC THIỆN TƯỚNG QUÂN, ĐỆ THẬP KỊ NHẬT
VŨ KHIÊU BÁI ĐỀ

Dịch nghĩa:

MÙA ĐÔNG NĂM BÍNH TÍ

                 ĐẤT TRỜI GIÓ BỤI GAN NHƯ SẮT
                 HỒ HẢI ANH HÙNG MẮT NHỮNG XANH

NHÂN NGÀY GIỖ 10 NĂM THƯƠNG TƯỚNG ĐINH ĐỨC THIỆN
VŨ KHIÊU BÁI ĐỀ

Tôi xin phép có vài lời ngắn ngủi, bày tỏ tình cảm sâu sắc của tôi đối với đồng chí Đinh Đức Thiện, qua hai câu đối trên.

Vế thứ nhất:

THIÊN ĐỊA PHONG TRẦN CAN TỰ THIẾT
(Đất trời gió bụi gan như sắt)

mới chỉ nói được một phần khí phác kiên cường của người cộng sản, chẳng bao giờ sờn gan trước mọi gian lao, thử thách, trên con đường dài của cách mạng.

Tôi muốn qua vế thứ hai

HẢI HỒ TUẤN KIỆT NHÃN NĂNG THANH
(Bốn bể anh hùng mắt những xanh)

nói lên tâm đắc của tôi với một khía cạnh của con người Anh. Đó là tấm lòng bao dung và con mắt tinh đời của Anh đối với những kẻ tuấn kiệt chốn giang hồ.

Tôi được gặp Anh và từng làm việc với Anh cách đây đã gần 50 năm, nhưng thời gian gắn bó với Anh nhiều nhất là mở miền Nam sau ngày giải phóng. Anh có sáng kiến mở một lớp học chủ nghĩa Mác - Lênin cho gần 200 trí thức cao cấp nhất, đã hoạt động dưới chế độ cũ. Theo đề nghị của Anh, tôi được chỉ định tổ chức và phụ trách giảng dạy cho lớp đó. Học viên toàn là Bộ, Thứ trưởng và Giáo sư, Tiến sĩ trở lên. Trong những năm tháng đó, tôi đã cùng Anh gặp gỡ các anh, chị em ấy ở cơ quan, ở nhà riêng, trong hội thảo, trong liên hoan. Tôi không thể quên được tinh thần cởi mở và chan hòa giữa Anh, một tướng lĩnh của quân đội chiến thắng, một nhân vận cao cấp của Đảng cầm quyền, với bên kia là đại diện của tầng lớp thượng lưu dưới chính quyền đã sụp đổ, mặc cảm của anh, chị em này đã bịu xua tan dần.

Trong thời gian ấy, anh đã thể hiện một cách sinh động, tinh thần địa đoàn kết của bác Hồ và chính sách của Đảng ta đối với những người trí thức lầm đường hoặc chưa hiểu cách mạng. Tôi nhớ nhà thơ Nguyễn Tịch thời Đông Hán đã có mắt xanh để nhận biết được giữa chốn trần ai, ai là hiền nhân và trí giả (Tôi còn giữ được gần 200 bài ghi cảm nghĩ của anh, chị em sau hai năm nghiên cứu, đối với Đảng,với chế độ và với anh Thiện). Giới trí thức dưới chế độ cũ rất quý mến và tin cậy Anh, chính vì Anh đã nhìn họ với cặp mắt khoan hòa và hiểu biết.

Chính vì thế, hôm nay tôi gửi đến để đặt trước bài vị Anh hai câu đối nói trên.

Chú thích
(*) Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam.

HẾT