Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: macbupda trong 17 Tháng Mười, 2012, 10:06:49 AM



Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Mười, 2012, 10:06:49 AM
Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Nhà xuất bản: Chính trị quốc gia
Năm xuất bản: 2001
Số hóa: macbupda

BAN CHỈ ĐẠO CÔNG TRÌNH

- Đồng chí NGUYỄN MINH ĐƯỜNG, nguyên Xứ ủy viên Xứ ủy Nam Bộ, Bí thư Khu ủy Khu VIII từ năm 1954 đến năm 1974, Trưởng ban.
- Đồng chí HUỲNH CHÂU SỔ - nguyên Bí thư Khu ủy Khu VIII từ năm 1974 đến năm 1975, ủy viên.
- Đồng chí LÊ VĂN NHUNG - nguyên Phó bí thư Khu ủy Khu VIII từ năm 1974 đến năm 1975, ủy viên.
- Đồng chí Thiếu tướng LÊ QUỐC SẢN - nguyên Ủy viên Thường vụ Khu ủy Khu VIII, ủy viên.
- Đồng chí LÊ VĂN PHẨM - nguyên Ủy viên Thường vụ Khu ủy Khu VIII, ủy viên.
- Đồng chí NGUYỄN VĂN TRUNG - nguyên Ủy viên Thường vụ Khu ủy Khu VIII, ủy viên.

BAN BIÊN SOẠN:

- NGUYỄN MINH ĐƯỜNG (chủ biên)
- NGUYỄN VĂN TRIỆU
- LÊ MINH ĐỨC
- PHẠM VĂN KIM
- CAO VĂN SÁU
- ĐẶNG VĂN TỐ
- NGUYỄN XUÂN AN

HOÀN CHỈNH BẢN THẢO:

- NGUYỄN VĂN MÙI
- NGUYỄN XUÂN AN
- CAO MINH

TỔ CHỨC THỰC HIỆN:

- HỨA VĂN GIÁO
- NGUYỄN THÚY HẰNG
- TRẦN HỒNG LAN


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Mười, 2012, 10:07:45 AM
LỜI NHÀ XUẤT BẢN

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) toàn thắng là thiên anh hùng ca vĩ đại của chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thế kỷ XX. Với trí thông minh, sáng tạo, với tinh thần chiến đấu anh dũng, ngoan cường, với những hy sinh vô bờ bến, nhân dân ta đã đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược thực dân với quy mô lớn nhất, dài ngày nhất, ác liệt và dã man nhất từ sau chiến tranh thế giới thứ hai. Sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân Việt Nam đã trở thành sức mạnh vô địch, đã nhấn chìm chiến tranh xâm lược thực dân mới của Mỹ.

Chiến thắng vĩ đại của dân tộc tạo nên bởi sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, của mọi địa phương trong cả nước, trong đó có sự đóng góp xứng đáng của Đảng bộ và quân dân Khu VIII - Trung Nam Bộ.

Cuộc kháng chiến ở Khu VIII đã phát triển nhịp nhàng với đà kháng chiến chung của đất nước, luôn bám sát chủ trương và sự chỉ đạo của cấp trên, chủ động phối hợp với các chiến trường. Cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và đồng bào Khu VIII - Trung Nam Bộ đã trung thành, tận tụy, không ngại khó khăn, gian khổ, hy sinh, đã trí dũng, kiên cường, quyết đánh và quyết thắng, vận dụng thông minh, sáng tạo, và đầy hiệu quả đường lối chính trị và quân sự của Đảng, động viên, tổ chức sức lực của toàn dân, toàn quân và bằng mọi hình thức, đặc biệt là phương thức tiến công tổng hợp bằng hai chân: chính trị, vũ trang, ba mũi: chính trị, vũ trang, binh vận để tạo nên sức mạnh to lớn, lập nên những kỳ tích như phong trào Đồng khởi, chiến thắng Ấp Bắc,… và cuối cùng đã giành thắng lợi huy hoàng giải phóng toàn Trung Nam Bộ, góp phần giải quyết hoàn toàn miền Nam, cùng cả nước kết thúc thắng lợi vẻ vang cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Ngày nay, nhìn lại những chiến lược quân sự, những âm mưu, thủ đoạn ngày càng thâm độc, tàn bạo; những lực lượng và phương tiện với quy mô ngày càng lớn và hiện đại mà đế quốc Mỹ và tay sai đã thực thi trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam, chúng ta càng hiểu sâu sắc tầm vóc vĩ đại của thắng lợi, càng tự hào về quân và dân Việt Nam anh hùng, về Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh đã lãnh đạo tài tình cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Viết lại lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung, về chống Mỹ, cứu nước ở Khu VIII - Trung Nam Bộ nói riêng là nguyện vọng của mọi người, cũng là nguyện vọng của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân sống, chiến đấu và làm việc trên địa bàn Khu VIII.

Để đáp ứng phần nào nguyện vọng đó, cuốn Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) đã được ra mắt bạn đọc. Ngoài Lời nói đầu, Kết luận, Phụ lục, cuốn sách gồm 6 chương. Đây là kết quả quá trình làm việc công phu, nghiêm túc và nhiệt tình với tinh thần trách nhiệm trước lịch sử, trước những hy sinh vô bờ bến của cán bộ, chiến sĩ, quân và dân Khu VIII - Trung Nam Bộ của tập thể Ban chỉ đạo, Ban biên soạn…, mà phần đông là những cán bộ chủ chốt của Khu VIII - Trung Nam Bộ qua các thời kỳ. Được viết bởi chính những người đã trực tiếp tham gia cuộc kháng chiến, do đó cuốn sách là nguồn tư liệu phong phú, tin cậy về cuộc kháng chiến anh hùng của Đảng bộ và quân dân Khu VIII - Trung Nam Bộ. Các sự kiện trong cuốn sách được trình bày một cách chân thực, cụ thể, cặn kẽ, tỉ mỉ, làm sống lại những năm tháng chiến đấu gian khổ nhưng cũng rất hào hùng của Khu VIII - Trung Nam Bộ cùng cả nước đánh Mỹ; cung cấp cho người đọc một bức tranh vừa khái quát toàn cảnh, vừa cụ thể, sinh động về chiến trường Khu VIII - Trung Nam Bộ trong những năm chống Mỹ, cứu nước.

Tuy vậy, cuốn sách chưa thể khắc họa đầy đủ hai mươi mốt năm chiến đấu liên tục của quân và dân Khu VIII - Trung Nam Bộ - một chặng đường vừa bi tráng, vừa hào hùng. Nhà xuất bản và các tác giả mong nhận được ý kiến đóng góp, xây dựng. Chúng tôi hy vọng cuốn sách sẽ góp phần tích cực, có hiệu quả vào việc giữ gìn truyền thống, động viên nhân dân ta tiếp tục phát huy những phẩm chất tốt đẹp trong kháng chiến vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc với chất lượng mới và tầm cao mới, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.

Tháng 12 năm 2000
                                                                                                       
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Mười, 2012, 10:08:23 AM
LỜI CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP

Khu VIII - Trung Nam Bộ, có vị trí chiến lược quan trọng về các mặt chính trị, quân sự, kinh tế, nằm giữa miền Đông và miền Tây Nam Bộ, về phía tây nam thành phố Sài Gòn. Ngay từ khi bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ở Nam Bộ, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định thành lập Khu VIII - Chiến khu VIII - Quân khu VIII. Từ năm 1951, toàn Nam Bộ lập thành 2 Phân liên khu: miền Đông và miền Tây. Tháng 7 năm 1954, bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, Khu VIII hình thành trở lại và tồn tại cho đến ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng.

Nhân dân Khu VIII có truyền thống yêu nước, tinh thần đấu tranh bất khuất, chống lại mọi kẻ thù xâm lược. Đó là những cuộc chiến đấu phá tan quân Xiêm ở Rạch Gầm - Xoài Mút của anh hùng Nguyễn Huệ; cuộc chiến đấu kiên cường, bất khuất của nghĩa quân Trương Định, Võ Duy Dương và Nguyễn Hữu Huân.

Từ khi có Đảng, nhân dân Khu VIII đã vùng lên tiến hành cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ vô cùng anh dũng và làm cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, tiếp đó đã kiên cường kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược với những chiến công oanh liệt, xây dựng căn cứ Đồng Tháp Mười, làm địa bàn đứng chân cho các cơ quan lãnh đạo kháng chiến của Nam Bộ trong những năm đầu của cuộc kháng chiến; tổ chức và xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân lớn mạnh, phát động chiến tranh du kích rộng khắp, và đã có những chiến thắng vang dội như những trận Cổ Cò, Giồng Dứa, Mộc Hóa, Sa Đéc, La Bang, Kinh Bùi và các chiến dịch Cầu Kè, Trà Vinh, Bến Tre, v.v.

Phát huy truyền thống và kinh nghiệm trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng bộ và quân dân Khu VIII bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước với truyền thống anh hùng cách mạng, được phát huy đến trình độ cao, chiến đấu dũng cảm, mưu trí, đóng góp nhiều kinh nghiệm, sáng tạo trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân mới và giành được nhiều thắng lợi vẻ vang.

Kết hợp khéo léo đấu tranh chính trị với vũ trang, vùng lên làm cuộc Đồng khởi nổi tiếng với tinh thần cực kỳ anh dũng, quyết liệt, sáng tạo và mưu trí. Với đội quân tóc dài làm nòng cốt, nhân dân đã tiến công địch bằng ba mũi tấn công và giáp công, buộc gần một vạn quân địch phải rút lui khi chúng tiến hành phản công lại cuộc Đồng khởi ở Mỏ Cày, Bến Tre. Qua đó, ở khu VIII đã hình thành và phát triển phương châm đấu tranh hai chân (chính trị, vũ trang), ba mũi (chính trị, binh vận, vũ trang). Chiến thắng Ấp Bắc lịch sử đã mở ra bước ngoặt, làm phá sản chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ - ngụy. Phát triển mạnh mẽ chiến tranh du kích, kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị bằng nhiều hình thức phong phú, sáng tạo, Khu VIII trực tiếp chiến đấu với bộ phận quan trọng của quân Mỹ ở đồng bằng sông Cửu Long trong “chiến tranh cục bộ”. Trong Xuân Mậu Thân (1968), quân và dân Khu VIII đã tiến công và nổi dậy ở nhiều thị xã, thị trấn, kiên cường bám đất, bám dân, đánh bại các âm mưu bình định của địch, làm chủ nhiều vùng nông thôn rộng lớn. Trong cuộc tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, Khu VIII đã hoàn thành xuất sắc ba nhiệm vụ: chia cắt chiến lược, đánh chiếm làm chủ quốc lộ 4; tiến công đánh chiếm Tổng Nha cảnh sát - một trong năm mục tiêu phải đánh chiếm ở Sài Gòn và phát huy thời cơ thắng lợi, giải phóng toàn khu.

Trong suốt 21 năm kháng chiến chống Mỹ, chiến trường Khu VIII có lúc, có nơi không tránh khỏi có những khuyết điểm, lâm vào thế cực kỳ khó khăn, nhưng nhìn chung thắng lợi là to lớn, toàn diện, cơ bản với nhiều kinh nghiệm sáng tạo.

Quân và dân Khu VIII, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần xứng đáng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Ngày nay, phát huy truyền thống vẻ vang của cách mạng và kháng chiến, tôi mong và tin rằng Đảng bộ, đồng bào và các chiến sĩ các tỉnh thuộc Khu VIII trước đây tiếp tục tăng cường đoàn kết nhất trí, cùng nhân dân cả nước ra sức đẩy mạnh công cuộc đổi mới, công nhân hóa, hiện đại hóa, xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Hà Nội, ngày 22 tháng 12 năm 2000


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Mười, 2012, 10:09:58 AM
LỜI NÓI ĐẦU

Khu VIII là vùng đất nằm giữa Nam Bộ Việt Nam, còn gọi là Khu Trung Nam Bộ, được chính thức thành lập cùng với các khu khác trong toàn khu từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Về vị trí địa lý của Khu VIII, phía đông giáp biển Đông với chiều dài gần 100 kilômét, phía tây bắc là biên giới giáp với Campuchia dài gần 300 kilômét, phía đông bắc và tây nam giáp với hai khu VII và IX (miền Đông và miền Tây Nam Bộ). Dưới triều Nguyễn, nơi đây là hai tỉnh Định Tường và An Giang của Lục tỉnh Nam Kỳ. Thời thuộc Pháp, cho đến năm 1951, nơi đây là các tỉnh: Tân An, Mỹ Tho, Gò Công, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Sa Đéc, Long Xuyên, Châu Đốc.

Từ năm 195 đến năm 1954, Trung ương giải thể các Khu VII, VIII, IX, thành lập hai Phân liên khu miền Đông và miền Tây Nam Bộ, địa bàn Khu VIII nằm trong các tỉnh Mỹ Tân Gò, Long Châu Sa của Phân liên khu miền Đông và trong các tỉnh Bến Tre, Vĩnh Trà, Long Châu Hà của Phân liên khu miền Tây.

Từ năm 1954, sau Hiệp định Giơnevơ, hai Phân liên khu của Nam Bộ giải thể, thành lập bốn khu là: miền Đông, miền Trung, miền Tây và Sài Gòn - Chợ Lớn. Khu VIII (miền Trung) gồm các tỉnh: Tân An, Mỹ Tho, Gò Công, Sa Đéc, Long Xuyên, Châu Đốc. Các tỉnh Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh thuộc khu miền Tây. Sau Hội nghị Xứ ủy Nam Bộ cuối năm 1956, tỉnh Bến Tre của miền Tây cùng với tỉnh Chợ Lớn của miền Đông được chuyển cho miền Trung.

Đầu năm 1957, Mỹ - Diệm chia lại ranh giới các tỉnh thì Khu VIII gồm: Long An, Kiến Tường, Kiến Phong, Mỹ Tho, An Giang và Bến Tre.

Năm 1967, để chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân, thành phố Mỹ Tho và huyện Gò Công của tỉnh Mỹ Tho được tách ra thành hai đơn vị cấp tỉnh. Tỉnh Long An được giao về Miền. Cho đến năm 1973, Long An mới trở lại với Khu VIII.

Đến năm 1974, hai tỉnh An Giang và Kiến Phong giải thể. Vùng đất hữu ngạn sông Hậu của An Giang chuyển cho Khu IX (miền Tây Nam Bộ). Phần còn lại của hai tỉnh cộng với phần đất nam Sa Đéc do Khu IX giao lại lập thành hai tỉnh mới là tỉnh Long Châu Tiền và tỉnh Sa Đéc.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Khu VIII (miền Nam Trung Bộ) giải thể, trở thành địa bàn của 5 tỉnh: Tiền Giang, Long An, Bến Tre, Đồng Tháp và An Giang, trực thuộc trung ương.

Khu VIII - Trung Nam Bộ là nơi có mật độ dân số cao, nhân dân đa số là người Kinh. Vào năm 1954, khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, dân số toàn Khu khoảng 2 triệu người. Đến khi giải phóng miền Nam, dân số khoảng 4 triệu người. Dân tộc ít người có: người Khơme, người Chăm và người Hoa, tổng cộng xấp xỉ 8 vạn người. Đây là miền đất có nhiều tôn giáo. Phật giáo Hòa Hảo có nhiều tín đồ nhất, chiếm 1/4 dân số toàn Khu. Các tôn giáo có số tín đồ khá đông là Phật giáo, Công giáo, Tin Lành và Cao Đài. Ngoài ra còn có nhiều phái đạo nhỏ, mỗi phái có vài chục, vài trăm, vài nghìn tín đồ. Vùng có nhiều tín đồ tôn giáo là các tỉnh An Giang, Kiến Phong, Sa Đéc (nay là hai tỉnh An Giang và Đồng Tháp.

Khu VIII - Trung Nam Bộ là vùng nông thôn đồng bằng, địa hình trống trải, nhiều bưng trắp, sông rạch, kênh đào chằng chịt. Khu vực phía tây có ít đồi núi thấp. Khu vực phía đông và nam là nơi tập trung dân cư đông đúc, kinh tế dồi dào, ruộng vườn phì nhiêu. Đó là vùng hạ lưu của hai con sông Cửu Long và Vàm Cỏ. Còn khu vực phía bắc, chiếm gần một nửa diện tích, là vùng Đồng Tháp Mười mênh mông, dân cư thưa thớt, mùa nắng thì đồng khô cỏ cháy, kênh rạch dậy phèn, mùa mưa thì nước từ thượng nguồn các sông Cửu Long, Vàm Cỏ tràn vào, ngập sâu mênh mông, đưa một lượng lớn phù sa bồi đắp phì nhiêu. Quốc lộ 4, kênh Chợ Gạo là hai đường vận chuyển chiến lược nối Sài Gòn với miền Tây xuyên qua Khu VIII và cùng với những con sông, rạch lớn nhỏ thuộc hệ Cửu Long, Vàm Cỏ chia cắt Khu VIII thành những vùng riêng biệt.

Khu VIII - Trung Nam Bộ cũng là vành đai án ngữ phía tây và phía nam thành phố Sài Gòn - nơi trong suốt cuộc đấu tranh là sào huyệt đầu não của chính quyền Mỹ - ngụy.

Người dân Khu VIII - Trung Nam Bộ, không phân biệt người sống trong đồng sâu hoang vu hay ở nơi đất đai phì nhiêu, dân cư đông đúc, lương hay giáo, người vốn ở từ trước hay người bị cưỡng ép di cư, di dân đến từ sau năm 1954, tuyệt đại bộ phận là nhân dân lao động cần cù, chăm chỉ, bị bọn địa chủ, thực dân đế quốc áp bức, bóc lộ nên giàu tinh thần quật khởi và đoàn kết; cần củ trong lao động, dũng cảm trong chiến đấu.

Khi thực dân Pháp mới xâm lược nước ta, Khu VIII là địa bàn chống Pháp rất sôi nổi với các phong trào của Trương Định, Nguyễn Hữu Huân, Nguyễn Trung Trực, Đốc Binh Kiều, Thiên Hộ Dương, Phan Tôn, Phan Liêm, v.v.

Từ những năm 30, Khu VIII là nơi các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng cộng sản Đông Dương và Xứ ủy Nam Kỳ hoạt động và có ảnh hưởng rộng lớn.

Trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940, lá cờ đỏ sao vàng, quốc kỳ của nước Việt Nam độc lập sau này, lần đầu tiên xuất hiện ở xã Long Hưng, tỉnh Mỹ Tho.

Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), cuộc chiến tranh ở Khu VIII - Trung Nam Bộ là cuộc nổi dậy của nông dân cầm súng đánh Pháp dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong quá trình nổi dậy đấu tranh với kẻ thù, nông dân đã giành được ruộng đất, quyền làm chủ trên nhiều xã, ấp ở nông thôn. Những cái tên gọi thân thương “chánh quyền mình”, “bộ đội mình”, “Đảng mình” là câu nói cửa miệng của người dân ở Khu này.

Trong kháng chiến chống Pháp, căn cứ Đồng Tháp Mười của Khu VIII - Trung Nam Bộ đã nổi danh trong toàn quốc, là vùng thành lập và hoạt động trong thời kỳ đầu của Xứ ủy, của Ủy ban kháng chiến hành chính, Bộ tư lệnh Nam Bộ và các cơ quan trực thuộc.

Trên địa bàn Khu VIII - Trung Nam Bộ, các Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng căn cứ địa cách mạng và dấy lên cuộc chiến tranh du kích điển hình, nhiều cán bộ, đảng viên, chiến sĩ ưu tú đã trưởng thành trong cuộc đấu tranh này. Chính nơi đây đã ra đời những đơn vị vũ trang thiện chiến mà chiến tích đã đi vào lịch sử như các tiểu đoàn 307, 308, 309, 310, 311, 312. Và cũng chính nơi đây trong chiến dịch Đông - Xuân 1953-1954, cuộc tấn công và nổi dậy đồng loạt của quần chúng nhân dân ở Chợ Gạo, Gò Công, Bến Tre cùng các chiến thắng giòn giã của các đơn vị lực lượng vũ trang ở nhiều nơi khác trong Khu đã góp phần với chiến thắng Điện Biên Phủ dẫn đến việc ký kết Hiệp định Giơnevơ năm 1954.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, kế thừa những truyền thống quật khởi của cha ông, đặc biệt là những nền móng đã xây dựng được trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Đảng bộ và quân dân Khu VIII lại lập nên những kỳ tích. Không một ngày ngưng nghỉ, Khu VIII đã kiên cường, dũng cảm, thông minh, sáng tạo, vượt qua những khó khăn, gian khổ, những đau thương, mất mát để xây dựng lực lượng cách mạng, lực lượng vũ trang, vận dụng nhuần nhuyễn các phương châm đấu tranh phù hợp với thực tế chiến trường cùng với quân dân toàn miền Nam, cùng với quân dân cả nước lần lượt đánh thắng các chiến lược chiến tranh của Mỹ - ngụy, giành thắng lợi trọn vẹn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc.

Sau khi hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, cả nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, Khu VIII được tổ chức lại các tỉnh cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của giai đoạn cách mạng mới.

Thể theo nguyện vọng và mong muốn của cán bộ, chiến sĩ, đảng viên và quần chúng cách mạng Khu VIII, các đồng chí đã từng lãnh đạo Khu ủy Khu VIII tổ chức biên soạn cuốn Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) nhằm ghi lại những diễn biến lịch sử, những sự kiện lịch sử chủ yếu đã diễn ra trên chiến trường Khu VIII trong suốt những năm chống Mỹ, cứu nước cho đến ngày toàn thắng. Dựng lại bức tranh chiến đấu hào hùng của Khu VIII nhằm góp phần tô thắm truyền thống đấu tranh giữ nước của dân tộc ta; đồng thời qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm, góp phần giáo dục, động viên và phát huy sức mạnh của toàn dân trong công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Cuốn sách được biên soạn dựa vào sự chỉ đạo của các đồng chí lãnh đạo Khu ủy, các đồng chí Bí thư, Thường vụ các Tỉnh ủy qua các thời kỳ; sự ủng hộ và giúp đỡ của Tỉnh ủy các tỉnh: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, An Giang, Bộ tư lệnh Quân khu IX và thành phố Hồ Chí Minh; nguồn tài liệu, tư liệu, ý kiến trao đổi của Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Long An, Đồng Tháp, An Giang và Phòng Khoa học - Công nghệ và Môi trường Quân khu IX; cùng với sự đóng góp nhiệt tình và đầy trách nhiệm của các đồng chí lão thành cách mạng, các cán bộ, chiến sĩ, các nhân chứng lịch sử đã từng chiến đấu, công tác trên chiến trường Khu VIII.

Mấy chục năm đã trôi qua, nhiều cán bộ, chiến sĩ và đồng bào đã hy sinh, hoặc mỗi người ở một nơi, đảm nhiệm những công việc khác nhau; nhiều tài liệu, tư liệu bị phân tán, hất lạc; thời gian, điều kiện làm việc và khả năng có hạn nên mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc sưu tầm, thu thập, khai thác tài liệu trong quá trình biên soạn, nhưng cuốn sách không khỏi có những thiếu sót, hạn chế nhất định. Chúng tôi rất mong nhận được sự chỉ đạo, giúp đỡ, tiếp tục góp ý của các đồng chí cán bộ lãnh đạo, của các đồng chí, đồng bào để cuốn sách được đầy đủ, chính xác và có chất lượng hơn.

Nhân dịp cuốn sách ra mắt bạn đọc, chúng tôi xin chân thành cảm ơn Đại tướng Võ Nguyên Giáp, cám ơn sự đóng góp, giúp đỡ, ủng hộ, hợp tác của các đồng chí, đồng bào, của các cơ quan, các địa phương và Nhà xuất bản Chính trị quốc gia đã tạo điều kiện cho cuốn Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) được xuất bản.

BAN CHỈ ĐẠO VÀ BAN BIÊN SOẠN


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Mười, 2012, 10:11:03 AM
CHƯƠNG I

TÌNH THẾ MỚI, NHIỆM VỤ MỚI

I - TÌNH THẾ MỚI

Ngày 21 tháng 7 năm 1954, tại Giơnevơ (Thụy Sĩ) Hiệp định về lập lại hòa bình ở Đông Dương được kỹ kết. Lúc này, tại các tỉnh Trung Nam Bộ, cách mạng đang ở thế tiến công. Sau chiến dịch Đông Xuân 1953-1954, phần lớn các xã, ấp ở vùng nông thôn trước đây bị địch chiếm đã được giải phóng. Ở tỉnh Mỹ Tân Gò, trong những tháng đầu năm 1954, nhân dân Gò Công, Chợ Gạo đã nổi dậy bức rút, bức hàng 397 đồn bốt, giải phóng trên 40 xã ở các huyện Châu Thành Mỹ Tho, Cai Lậy, Cái Bè, Vàm Cỏ, Thủ Thừa. Địch chỉ còn giữ được thị trấn, quốc lộ 1 và một số xã vùng Củ Chi, ở huyện Mộc Hóa. Hệ thống đồn bốt địch dọc biên giới lên đến quốc lộ 1 Sài Gòn - Phnômpênh bị tiêu diệt hết.

Ở tỉnh Bến Tre, các đợt hoạt động của ta đầu năm 1954 đã diệt hàng trăm đồn bốt địch, vùng giải phóng chiếm 3/4 số xã trong toàn tỉnh. Ở tỉnh Long Châu Sa, vùng du kích mở rộng ra đến sát bờ sông Tiền từ Hồng Ngự đến Phong Mỹ và sát sông Cao Lãnh; vùng biên giới An Hòa Xương của huyện Phú Châu được giải phóng. Ở tỉnh Long Châu Hà, cánh đồng năm xã của huyện Châu Thành Long Xuyên được giải phóng. Các đồn bốt địch dọc lộ Tri Tôn - Tịnh Biên - Châu Phú ven biên giới bị ta đánh phá liên tục. Ở hầu khắp các tỉnh, chính quyền cách mạng quản lý đến sát thị xã, thị trấn, đồn bốt. Nhân dân ở cả ba vùng căn cứ, du kích và tạm chiếm đều mừng vui khôn xiết trước các chiến thắng ở địa phương, ở Điện Biên Phủ và trước diễn biến của Hội nghị Giơnevơ. Sĩ quan, binh lính ngụy hoang mang đào ngũ. Nhiều tên chỉ huy đồn bốt, tề, xã, ấp, công an, ác ôn ra hàng, nộp súng, thú tội; số còn lại cũng co đầu, rụt cổ, không dám hung hăng, hống hách.

Đêm 20 tháng 7 năm 1954, tại xã Hậu Thạnh, trên kênh Dương Văn Dương, giữa Đồng Tháp Mười, Tỉnh ủy Mỹ Tân Gò tổ chức cuộc mít tinh lớn đón mừng 500 tù nhân chính trị phá khám số 7 (Mỹ Tho) trở về. Tin tức về việc ký kết Hiệp định Giơnevơ truyền đi trong cuộc mít tinh được mọi người hoan hô vang dội.

Ngày 23 tháng 7 năm 1954, nội dung văn bản Hiệp định được phổ biến: Việt Nam được hội nghị quốc tế long trọng công nhận độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ. Nhưng trước mắt đất nước phải tạm chia hai. Miền Bắc đến vĩ tuyến 17 được hoàn toàn độc lập. Miền Nam còn thuộc quyền quản lý của Pháp. Quân đội mỗi bên phải tập kết về vùng của mình quản lý. Sau hai năm sẽ tổ chức tổng tuyển cử trong toàn quốc để thực hiện thống nhất. Trong thời gian chờ tuyển cử, cấm mọi phân biệt đối xử, trả thù những người đã tham gia phía đối lập, mỗi bên phải bảo đảm thực hành tự do, dân chủ, cải thiện dân sinh.

Các công sở ngụy quyền đều treo cờ rủ, nhưng bọn sĩ quan, binh lính, tề, xã, ấp, nhân viên ngụy quyền, địa chủ ở miền Nam thì vui mừng, vì chúng biết miền Nam vẫn còn thuộc quyền chúng quản lý. Chiến tranh chấm dứt, chúng thì chưa bị tiêu diệt, vẫn còn được an vị, làm “phụ mẫu chi dân”, tiếp tục ngồi trên đầu trên cổ dân. Ở Gò Công, tên tỉnh trưởng chỉ thị cho bọn tay chân cố giữ vững cho qua thời gian hai bên tập kết. Bọn địa chủ thì dự tính đòi lại ruộng đất đã bị cách mạng tịch thu để cấp cho nông dân.

Trong niềm vui chung hòa bình được lập lại người dân miền Nam không tránh khỏi nỗi lo: Hiệp định Giơnevơ quy định rõ ràng như vậy nhưng liệu kẻ thù có chịu thực hiện không? Vì bản chất của bọn đế quốc là không thay đổi?

Ở vùng Đồng Tháp Mười cũng như ở nhiều vùng nông thôn giải phóng khác, người dân vốn đã chịu muôn vàn tủi nhục trong cuộc sống cơ cực, nô lệ dưới thời Pháp thuộc, nay đã được đổi đời, có cuộc sống tự do, độc lập, văn minh, tiến bộ do cách mạng đem lại. Người dân đã được làm chủ mảnh ruộng, khẩu đìa, tự do sản xuất, nuôi quân đánh giặc. Một nền văn hóa mới đã hình thành: ông già, bà lão, thanh niên nam nữ đều được đi học bình dân, tham gia đoàn thể, sinh hoạt tinh thần phong phú; mọi người được chữa bệnh, có trạm y tế, sinh đẻ có nhà hộ sinh; nhà cửa khang trang, sạch sẽ… Cuộc sống đã hoàn toàn đổi mới, nhà nhà đoàn kết, người người thương yêu, đùm bọc lẫn nhau; không còn đĩ điếm, cờ bạc, rượu chè, không còn lưu manh, trộm cắp, cướp bóc, mê tín dị đoan… Nhờ có cách mạng mà cuộc sống người dân các vùng giải phóng hoàn toàn đổi mới. Họ mong muốn kháng chiến hoàn toàn thắng lợi, cách mạng thành công để có cuộc sống tự do, cơm no, áo ấm, hạnh phúc đời đời. Nay hòa bình đã được lập lại, nhưng miền Nam lại phải tạm thời thuộc quyền quản lý của địch. Tâm trạng người dân thấp thỏm, không yên.

Trước tình hình như vậy, Khu VIII - Trung Nam Bộ họp Hội nghị cán bộ quán triệt Nghị quyết của Trung ương Cục miền Nam về việc thi hành Hiệp định Giơnevơ. Tinh thần của Nghị quyết là ngừng bắn thật sự. Tuyệt đối không để sơ hở cho địch lợi dụng phá hoại. Phải hiểu là Pháp chịu thua, ký hiệp định, nhưng Mỹ không chịu ký, đang tìm cách nhảy vào thay chân Pháp. Trước mắt là nghiêm chỉnh thi hành tập kết. Có tập kết quân hai bên đúng quy định thì mới chấm dứt chiến tranh thật sự, mới đẩy lùi được âm mưu của đế quốc Mỹ, mới tạo được điều kiện hiệp thương, tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Phải nhận thức và quán triệt được Hiệp định Giơnevơ là thắng lợi to lớn, thắng lợi quan trọng trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ. Phân nửa nước đã được độc lập. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, có thủ đô là Hà Nội, có tên tuổi trên thế giới. Phải trân trọng thắng lợi chung đó. Đã thắng lợi được phân nửa thì dứt khoát cách mạng sẽ thắng lợi hoàn toàn. Phải có lòng tin ở Trung ương, ở Bác Hồ.

Cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân ở Khu VIII - Trung Nam Bộ quyết tâm đánh giặc không tiếc máu xương, nhưng được lệnh ngừng bắn thì trăm người như một đơn vị tập trung hay lực lượng du kích đều thi hành nghiêm túc. Ưu tư thì nhiều, nhưng sức mạnh của hòa bình, không khí hòa bình, niềm vui đoàn tụ đã lấn át ưu tư.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Mười, 2012, 10:12:37 AM
*
*   *

Đồng Tháp Mười là khu tập kết 100 ngày theo Hiệp định Giơnevơ. Vùng hai con kênh Dương Văn Dương và Nguyễn Văn Tiếp là nơi đóng quân để chuẩn bị xuống tàu ở bến Cao Lãnh. Vùng kênh Dương Văn Dương dành cho lực lượng của Phân liên khu và một số tỉnh miền Đông. Vùng kênh Nguyễn Văn Tiếp và khu vực các xã chung quanh thị trấn Cao Lãnh là nơi tập kết của lực lượng hai tỉnh Mỹ Tân Gò và Long Châu Sa. Vùng kênh Dương Văn Dương vốn là vùng độc lập, vùng kênh Nguyễn Văn Tiếp là nơi địch chiếm giữ từ cuối năm 1951, nay chúng rút hết đồn bốt trên một tuyến dài hàng chục kilômét để ta tiếp quản.

Đồng Tháp Mười chưa bao giờ có cảnh tấp nập như thời gian này. Địch rút, mọi người hồ hởi san bằng đồn bốt, cờ đỏ sao vàng mọc lên như nấm. Hàng trăm xuồng ghe từ các ngả đi vào Đồng Tháp Mười, đưa đón những người từ các vùng địch tạm chiếm, thành phố, thị xã đến với người thân đi kháng chiến. Người vào mang theo đủ thứ: vịt, gà, thịt heo, gạo nếp, bánh trái… Người chỉ ở đôi bữa, người lưu lại hàng tháng. Có người đã về rồi lại quay trở lại. Nhà cửa của đồng bào địa phương tuy chật hẹp nhưng đồng bào luôn vui vẻ tiếp đón. Đồng bào thương yêu, thông cảm với cán bộ, chiến sĩ đi chiến đấu xa gia đình bao năm, nay đoàn tụ với người thân chẳng mấy chốc lại phải lên đường. Một trăm ngày chính quyền kháng chiến phải giải quyết rất nhiều việc để người ra đi yên tâm, người ở lại cũng vững lòng như: cấp giấy chứng nhận ruộng đất để người dân có cơ sở pháp lý đấu tranh giữ quyền làm chủ, xây dựng trạm y tế, nhà hộ sinh, lớp bình dân học vụ, cải thiện cuộc sống cho dân. Các đoàn y tế khẩn trương khám bệnh, trị bệnh miễn phí. Các đoàn văn công, điện ảnh biểu diễn văn nghệ, chiếu phim cách mạng liên tục, đều khắp các xã, ấp.

(https://lh3.googleusercontent.com/OpYjb4Ka5wYaSEk3WDat_U-lKOeTGd4tzTSDdslhMHn6RZ44YCC9je6r34NT2aOuk5uC4nxU8te2qW1YpU7eD5KuulenmInYBV9Xv_8u63KL1e5dMScZ_WLd8k0yy6pk0pvDT-Cq70r6cQbAl70vH0Vmkjh1OOSMa6dcEty5ucHGXjj40stYHCSwELjkPsAouOgc3plm1hs-khobpW2h9MIQnakTZeyY9PMDSj82-C-EynVhHjIkJ73Rjnw6CEiebzC5cX6W4vcLQFpPpffz0aOYMLYM9xu5069ERWUFmai12aG5huRQvuMVigOdn2_2v1VQ55U2_aTd-c2skJAzxO0PvSnSMz5ht_1jqNHhC2VOYwU3dgq0dUKAfVhsl2ck5yG4UpiripHXWYl5iM1Ae9pbSqYxbsuk4RLhvB70pqNdxBzDkmvTV-wzY4XY3Q7vzFTb4wedvUKv_4OLf002E4fPiTC7jdv1u34SbyfTHRgELQtVpw3gXTuBXdeI6mKlkS-4QaJ_5s1JfUP2HXaczSSjYlqUxzONn0xp_JF_r6ozAA7XNgARjADkb87MapjFr5lt_ptdYqYWYWcjVCqmZEgsEs6Nz32LEAKd0wW-ZT70GWuOCUwe=w800-h493-no)

Tiễn bộ đội đi tập kết (năm 1954)

Một trăm ngày hòa bình tuy ngắn ngủi nhưng là cơ hội để cách mạng tiếp xúc với các tầng lớp nhân dân. Những người lâu này ở vùng địch tạm chiếm sâu, vùng tôn giáo thường xuyên nghe những lời xuyên tạc của địch, nay được tận mắt thấy cán bộ, bộ đội Cụ Hồ đẹp người, đẹp nết, hiền lành, dễ thương nên càng hiểu biết thêm và cảm tình với cách mạng.

(https://lh3.googleusercontent.com/jaSNekyaGHCfiahcOMnyxmADRo0yZMmfqHmxuyAPSSvAGDL5VNBYGWtQDYYKWglLXInUsJOfOZBM2KJVUoCec-t6IcxsOq4Fdz8qqvMHn_2Lp89puQ9uJ7D9nzqMQyCohtQll3QY5yA0DURY9cB3tdDmsDWkQNC51DkqzOXc80a1mjseoHbA3zuhojDPYCKMqDqIwaqOwfIKOpOl4YmJxtP43DL-bHKm8VLMj6ywCiOy0OuDsh6vwvxi0SwKFnxi_TA4YJRbdUYi_1oXZXmGHRTNuObrSmp5uS1NKi7bzjZxuJQ9vwP08W4TaLvv7Cyp8dm973hsrDeOOBgOZljSyTd66joC5u4DXZHErRnmKv74M43EAK6zXRwQP_pKNtvmGggz6FuyJai_faGNopdHTBg_sFZVHOkmh-Pf6VV_Nw4De7-ayHjNRyEk7MSbIOUpZriRmapBkDw5xnuvvKRcFzEy8DqPrgEnu6isvJyU_aL2jJU7uw-U2CGA1d6Rac6RCx5o7zwRROdaWlg9AiQ5n5YTfvsCbanVIHz0dk83eDWr2kaSCi57lHdp81bnMhhJMm6srEfp1zDfbgYnlWGu44pRcsTiMSLw95GgEGLfH6QCYA85U2o0=w472-h321-no)

Đồng bào lưu luyến tiễn đưa bộ đội tập kết tại bến Bắc Cao Lãnh ngày 29 tháng 10 năm 1954

Ngày 30 tháng 10 năm 1954, đúng 3 tháng 10 ngày kể từ sau ngày ký Hiệp định Giơnevơ, chuyến tàu cuối cùng của khu tập kết Cao Lãnh rời bến.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Mười, 2012, 10:13:31 AM
Không bao lâu sau, cảnh khói lửa chiến tranh lập tức tái diễn. Hàng ngàn ngụy quân và lực lượng giáo phái tràn vào Đồng Tháp Mười. Cảnh đầu rơi máu chảy diễn ra. Tiểu đoàn ngụy 520 BVN(1) đóng ở Gò Bắc Chiên và kênh Dương Văn Dương. Bọn Cao Đài Liên minh đóng dọc theo sông Vàm Cỏ Tây và xen kẽ với Tiểu đoàn 520 của ngụy ở kênh Dương Văn Dương, có bộ phận đóng sâu trong cây da hổ, xã Thỉ Đông. Mục đích của kẻ địch là tiêu diệt lực lượng cách mạng. Cao Đài Liên minh tuyên bố: “Quân đội Cao Đài chỉ biết Việt Minh cộng sản là kẻ thù không đội trời chung, không biết Hiệp định Giơnevơ”. Chúng cho lính rình rập, bắt bớ, tra tấn bất cứ ai chúng tình nghi. Bắt được cán bộ hồi cư thì chúng chặt đầu, mổ bụng, moi gan; bắt được phụ nữ thì hãm hiếp. Chỉ trong vòng một tuần lễ ở Mộc Hóa đã có 200 người bị bắt, 72 người bị đập chết rồi xỏ dây kẽm vào lòng bàn tay buộc thành chùm ném xuống kênh Dương Văn Dương và sông Vàm Cỏ Tây.

Chúng không chấp nhận bất cứ một lời đề nghị nào. Anh Nguyễn Văn Hùng, giáo viên ở xã Tuyên Thạnh xin được phép lập trường học ở Bắc Chiên bị chúng bắt đem bắn; thầy giáo Cẩn, đồng chí Bảy Tân cán bộ kháng chiến hồi cư bị chúng giết ở xã Mỹ An Phú; đồng chí Trần Công Vinh, Phó bí thư huyện Đoàn Thanh niên bị chúng chặt đầu; đồng chí Lê Hiếu Nghĩa, Bí thư chi bộ xã bị chúng mổ bụng. Các ông Trương Văn Liêu, Trương Văn Chìa bị chúng chôn sống tới tận cổ rồi bị chém đầu bằng phảng ở xã Bình Hòa. Vườn nhà ông Lê Minh Xuân trở thành nơi chúng chôn sống nhiều người. Những người bị chúng bắt giam trong khám Mộc Hóa hàng ngày lần lượt bị chúng đem đi thủ tiêu.

Nhưng không phải chỉ sau khi ta rút khỏi khu tập kết chúng mới gây tội ác, mà trước đó, ở Long Châu Sa, cuối tháng 7 năm 1954 quân Hòa Hảo do Trần Văn Soái (Năm Lửa) chỉ huy bị buộc phải rút khỏi thị trấn Cao Lãnh để giao lại cho khu tập kết Việt Minh, chúng đã tuyên bố không đội trời chung với Việt Minh, không thi hành Hiệp định Giơnevơ. Chúng cướp bóc, hà hiếp, hăm dọa đốt nhà, giết chết những ai treo cờ Việt Minh,đồng thời còn ra lệnh cấm tụ tập quá ba người, ngăn chặn không cho đồng bào ta đi lại giữa hai vùng. Đại đội 10 Hào Hỏa đào công sự phục kích ở Hòa An để đón bắt phái đoàn kháng chiến vào Cao Lãnh. Chúng bắn chết và bắt 4 người của ta đang treo cờ và khẩu hiệu hoan hô Hiệp định Giơnevơ ở Tân Thuận Đông. Trung đội 88 Hòa Hảo ở Long Hòa treo giải thưởng cho ai chỉ điểm để chúng bắt được Việt Minh. Các đại đội 22, 40, 82, 116 và 179 Hòa Hảo ở Châu Thành, Long Xuyên vẫn lùng bắt những người kháng chiến.

Quân Hòa Hảo do Nguyễn Giác Ngộ chỉ huy tràn ngập vùng Phong Thạnh Thượng, Chợ Mới, Long Xuyên. Sau khi chính quyền và bộ đội kháng chiến vừa rút về khu tập kết, theo chân binh lính là bọn địa chủ đi thu tô, lấy lại đất. Tên quận trưởng Phong Thạnh ra lệnh cho bọn bảo an quận tìm bắt những cán bộ Việt Minh còn ở lại.

Trong vùng chiếm đóng của bọn Hòa Hảo do Lâm Thành Nguyên (Hai Ngoán) chỉ huy ở Phú Châu, Tịnh Biên, Châu Đốc thường xuyên diễn ra cảnh cướp bóc, trả thù, trả oán đối với đồng bào ta.

Ngay từ chiều ngày 20 tháng 7 năm 1954, quân của bọn Dân xã Đảng Ba Cụt tràn vào Thoại Sơn, Châu Đốc. Đến giữa tháng 9-1954, chúng đã chiếm các xã Lương Phi. An Tức, Lê Tri, Châu Lăng vùng Bảy Núi. Đầu tháng 10 năm 1954, quân của Ba Cụt và quân Cao Đài đánh nhau quyết liệt suốt tuần lễ ở các xã Ba Chúc, Lương Phi, Lê Tri, Giác Quan để giành nhau vùng Bảy Núi. Quân Cao Đài phải rút chạy, quân của Ba Cụt tuyên bố Bảy Núi là căn cứ chống cộng.

Ngày 16 tháng 8 năm 1954, tên tỉnh trưởng tỉnh Gò Công ra lệnh bắn vào đoàn biểu tình của quần chúng đang đi vào thị xã hoan hô hòa bình, hưởng ứng Hiệp định Giơnevơ, làm chết và bị thương 20 người.

Ngày 19 tháng 8 năm 1954, ngụy quyền quận Bình Đại, tỉnh Bến Tre đàn áp cuộc biểu tình của 1.500 người thuộc các xã trong quận đang đi vào quận lỵ mừng hòa bình, hoan hô Hiệp định, kỷ niệm ngày Nam Bộ kháng chiến, ngày Quốc khánh 2-9, làm chết 5 người, bị thương 17 người, bắt giam 30 người.

Ngày 13 tháng 9 năm 1954, lính bốt ở xã Khánh Thạnh Tân, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre đi bắt xâu đánh dân bị thương nặng. Dân các xã ở Mỏ Cảy tập trung khiêng người bị thương lên quận. Chúng khủng bố bắn chết 11 người, làm bị thương 36 người, bắt giam 200 người. Đến đêm, chúng đem ra giết 34 người.

Ngày 11 tháng 11 năm 1954, tại xã Bình Thành tỉnh Long Xuyên, lính của Đại đội 4, Tiểu đoàn ngụy 513BVN đóng ở đồn Thầy Ba Dĩ tổ chức đi ăn cướp. Chúng bị dân vây bắt, đồng bọn của chúng đến giải vây, bắn chết 4 người, làm bị thương 8 người. Ngày hôm sau, chúng lại kéo tới vây, bắn chết 3 người, bắt đi 600 người khác. Đến đêm, chúng đập đầu 24 người.

Ở quận lỵ Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc khu tập kết vừa rút, chúng vừa vào tiếp quản đã đưa lực lượng đến phá mộ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc - thân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trạm y tế, nhà hộ sinh, tượng đài liệt sĩ, lớp bình dân học vụ được lập trong những ngày có khu tập kết, đều bị phá hủy.

Hàng trăm tên công dân vụ mặc áo đen từ Sài Gòn được đưa về tỉnh, phân tán đến tận xã. Chúng tập trung dân để tuyên truyền xuyên tạc cộng sản; rình rập, ngầm lập danh sách các gia đình cán bộ, đảng viên, quần chúng có liên quan đến cách mạng.


(1) BVN: tiểu đoàn chính quy ngụy


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Mười, 2012, 10:14:21 AM
II. NHIỆM VỤ MỚI

1. Đấu tranh chính trị đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ

Tháng 10 năm 1954, tại vùng căn cứ U Minh Hạ, Hội nghị thành lập Xứ ủy Nam Bộ được triệu tập, do đồng chí Lê Duẩn chủ trì. Hội nghị nhận định tình hình có hai khả năng phát triển: có thể Mỹ - Diệm buộc phải thi hành Hiệp định Giơnevơ và cũng có thể chúng không thi hành Hiệp định. Cách mạng miền Nam cần phải có kế hoạch ứng phó với cả hai tình huống trên.

Trước mắt, nhân dân miền Nam cần đoàn kết đấu tranh buộc đế quốc Mỹ và tay sai phải thi hành Hiệp định Giơnevơ. Đảng bộ miền Nam phải rút vào hoạt động bí mật, từ lãnh đạo đấu tranh vũ trang chuyển sang lãnh đạo đấu tranh chính trị. Trong điều kiện đấu tranh chính trị, việc đẩy mạnh phong trào đấu tranh ở thành thị là cần thiết, do đó, phương hướng công tác là củng cố và phát triển cơ sở ở nông thôn, mở rộng và đẩy mạnh công tác đô thị, phối hợp chặt chẽ công tác đô thị với công tác nông thôn.

Đại biểu của Khu Trung Nam Bộ đi dự Hội nghị thành lập Xứ ủy Nam Bộ là đồng chí Nguyễn Văn Mùi (Nguyễn Minh Đường), nguyên ủy viên Phân liên khu ủy miền Đông Nam Bộ, Bí thư Tỉnh ủy Mỹ Tân Gò, do một sĩ quan Pháp và một đại diện Ban Liên hiệp đình chiến ở Cao Lãnh đưa xuống Phụng Hiệp và từ đây đưa về cuộc họp. Trong Hội nghị này, đồng chí Nguyễn Văn Mùi được cử là Xứ ủy viên chính thức. Sau Hội nghị, đồng chí Lê Đức Thọ, phái viên của Trung ương Đảng căn dặn đồng chí Nguyễn Văn Mùi phải tự lực, tự cường, chủ động, linh hoạt, sáng tạo, bí mật bám chắc trong dân để vừa làm tròn trách nhiệm của Đảng bộ với nhân dân, vừa phải chấp hành nghiêm túc chủ trương, đường lối của Trung ương vì tình hình sắp tới sẽ rất nhiều khó khăn và phức tạp, nhiệm vụ cách mạng mới lại hết sức nặng nề.

Từ tháng 8 năm 1954, Liên tỉnh ủy Khu VIII - Trung Nam Bộ được Trung ương Cục miền Nảm chỉ định thành lập, gồm 3 đồng chí: Nguyễn Văn Mùi (Nguyễn Minh Đường), Nguyễn Văn Chim (Ba Chim) và Phan Thành Long (Tư Long). Các đồng chí đều là những người đã tham gia cách mạng trước năm 1945 và được thử thách qua nhiều nhiệm vụ lãnh đạo quan trọng trong kháng chiến chống Pháp. Các đồng chí Ba Chim và Tư Long kiêm nhiệm Bí thư các Tỉnh ủy Mỹ Tho và Long Xuyên. Đồng chí Nguyễn Minh Đường (Sáu Đường), Xứ ủy viên kiêm Bí thư thường trực Liên tỉnh ủy.

Theo chủ trương của Trung ương, cán bộ chính quyền, quân sự, công an huyện, tỉnh đều đi tập kết hết, chỉ để lại cán bộ đảng, đoàn thể. Nhưng ở Khu VIII - Trung Nam Bộ nhiều cán bộ chính quyền, quân sự, công an có điều kiện bám dân đã tình nguyện và được sắp xếp ở lại, như các đồng chí: Lê Văn Khuyên, Huyện đội trưởng Thủ Thừa, Đào Kim Sơn, Huyện đội phó Chợ Gạo; Nguyễn Trường Can, Huyện đội trưởng; Sáu Danh, Huyện đội phó Châu Thành, Mỹ Tho; Ba Phát, Chỉ huy trưởng mặt trận 16A quốc lộ 4; Ba Trung, Chính trị viên Huyện đội Cái Bè; Tư Chiểu, cán bộ bộ đội địa phương, phụ trách xã đội; Quảng Cà Dom, Tỉnh đội phó; Ba Thăng, Phó Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính Long Châu Sau; Lê Phan, Tỉnh đội phó Long Châu Hà; Hai Nhất, Tỉnh đội trưởng Bến Tre và nhiều cán bộ khác.

Về vũ khí, mỗi tỉnh để lại đủ trang bị cho 1 đại đội. Một số Tỉnh ủy viên, Huyện ủy viên được để lại súng ngắn tùy thân.

Số cán bộ, đảng viên kháng chiến của Khu VIII là 40.000, đi tập kết 10.000 còn lại 30.000, có 12.000 đảng viên. Đảng viên ở xã, ấp, chiếm 2/3, trong số này 3/4 là bí mật, còn lại là những người giữ chức vụ công khai như chủ tịch, bí thư, công an, xã đội, mặt trận, ban chấp hành các đoàn thể, du kích thoát ly… Số đảng viên lộ ở xã cộng với số cán bộ, nhân viên trong và ngoài Đảng từ các cấp trên vè hợp thành khối cán bộ hồi cư, có tới 22.000 người. Trước mắt, cấp ủy chỉ đạo cho các đồng chí này tìm cách sống như người dân bình thường, có giấy tờ hợp pháp, có nghề nghiệp làm ăn, sau đó sẽ tập hợp lại vào tổ chức.

Đây cũng là dịp để bố trí lực lượng cách mạng đứng chân đều khắp ở các vùng sâu, vùng tôn giáo, vùng dân tộc ít người, thị xã, thị trấn. Các thị xã Châu Đốc, Long Xuyên, Sa Đéc, Mỹ Tho, Tân An, Gò Công và một số thị trấn, mỗi nơi có hàng chục đảng viên về thêm. Các Đảng bộ được tổ chức lại, tinh giản gọn nhẹ, bí mật, trọng chất lượng, bao gồm những người được lựa chọn, có lập trường giai cấp kiên định, tính đảng cao, có ý thức tổ chức kỷ luật, tích cực tự giác lãnh nhiệm vụ. Một số đảng viên làm nhiệm vụ đặc biệt hoặc chưa được tập hợp vào tổ chức cơ sở thì hoạt động đơn tuyến, giao từng việc; một số hoạt động bí mật trong bộ máy các cơ quan Khu, Tỉnh ủy, Huyện ủy, số đồng chí này ăn, ở, đi lại, hoạt động trong dân theo từng mức độ, tùy theo từng người, từng địa phương.

Khi thành lập Liên tỉnh ủy Khu Nam Trung Bộ cũng là lúc chia lại các tỉnh để lãnh đạo quần chúng đấu tranh với địch cho phù hợp với tình hình mới.

Mỹ Tân Gò chia thành ba tỉnh: Mỹ Tho, Tân An, Gò Công. Long Châu Sa chia thành các tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc, Sa Đéc. Liên tỉnh ủy Khu Trung Nam Bộ quản lý, lãnh đạo các tỉnh Mỹ Tho, Tân An, Gò Công, Long Xuyên, Châu Đốc, Sa Đéc. Các Tỉnh ủy, Huyện ủy bí mật được hình thành.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Mười, 2012, 10:14:56 AM
Tỉnh ủy bí mật Mỹ Tho do đồng chí Ba Chim, Liên tỉnh ủy viên kiêm Bí thư; đồng chí Ba Đời (Tư Thế), Phó bí thư. Căn cứ Tỉnh ủy ở xã Long Hưng, huyện Châu Thành. Các cán bộ sống phân tán trong nhà dân, mỗi người ở một nhà, có hầm bí mật trong buồng ngủ hoặc ngoài cây rơm, ngoài vườn, v.v. Vùng này trước kia là vùng địch tạm chiếm nhưng có truyền thống cách mạng lâu đời, phong trào quần chúng mạnh, lại gần đường giao thông tiện cho việc liên lạc hợp pháp.

Tỉnh ủy bí mật Tân An do đồng chí Nguyễn Văn Minh (Hai Minh) làm Bí thư; đồng chí Huỳnh Châu Sổ (Năm Bê), Phó Bí thư. Căn cứ Tỉnh ủy ở xã Hiệp Thạnh, huyện Châu Thành là vùng mới giải phóng trong chiến dịch Đông Xuân 1953-1954. Cách ăn ở của cán bộ ở đây cũng giống như ở Mỹ Tho.

Tỉnh ủy bí mật Gò Công do đồng chí Lê Văn Còn (Chín Còn) làm Bí thư. Căn cứ ở xã Hòa Nghị.

Tỉnh ủy bí mật Long Xuyên do đồng chí Tư Long, Liên tỉnh ủy viên kiêm Bí thư; đồng chí Nguyễn Văn Chuẩn, Phó bí thư. Căn cứ Tỉnh ủy ở vùng Bình Thủy, thị xã Long Xuyên. Vùng này là vùng Công giáo, có thế hợp pháp, cơ sở quần chúng mạnh.

Tỉnh ủy bí mật Châu Đốc do đồng chí Phạm Ngọc Bính (Bảy Ruộng) làm Bí thư; đồng chí Nguyễn Văn Thứ, Phó bí thư. Căn cứ Tỉnh ủy ở xã An Bình và xã Tân Hội Cơ, huyện Hồng Ngự.

Tỉnh ủy bí mật Sa Đéc do đồng chí Nguyễn Văn Phối (Hai Phối) làm Bí thư; đồng chí Nguyễn Việt Châu, Phó bí thư. Căn cứ ở xã Mỹ Hiệp, huyện Cao Lãnh và xã Tân Đông, huyện Châu Thành. Vùng này trước là vùng tranh chấp, vừa có thế hợp pháp vừa có địa hình để tránh né.

Thời gian còn khu tập kết Cao Lãnh cơ quan Liên tỉnh ủy đóng ở vùng kênh Nguyễn Văn Tiếp tại Ba Sao, xã Mỹ Quý, huyện Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc. Cơ quan được tổ chức gọn nhẹ, chỉ có hơn 30 người, phụ trách các ngành binh vận, tuyên huấn, tổ chức, dân vận, căn cứ, văn phòng, điện đài, giao liên… Trong các ngành trên, ngành binh vận được đặc biệt chú ý. Đây cũng là ngành được chỉ đạo xuyên suốt từ xứ cho đến liên tỉnh, tỉnh, huyện, xã và có rất nhiều cơ sở trong hàng ngũ địch từ tề, xã, ấp đến binh lính trong các đơn vị dân vệ, bảo an, chủ lực. Khi địch tiến hành “tố cộng, diệt cộng” tràn lan, một số người bị mất liên lạc với Đảng.

Sau khi đồng chí Sáu Đường đi dự Hội nghị về, cơ quan Liên tỉnh ủy dời về các xã Nhơn Ninh, Tân Ninh, Tân Hòa, huyện Mộc Hóa, tỉnh Tân An. Trước đó Đồng Tháp Mười là căn cứ kháng chiến rộng lớn, cơ quan hoạt động công khai, cán bộ nhân viên đông đúc, có nhà cửa, hội trường bề thế, có lực lượng quân sự bảo vệ; còn lúc này thì tình hình đã khác, Đồng Tháp Mười do địch kiểm soát.

Cơ quan Liên tỉnh ủy về đây hoạt động bí mật trong khi địch đang tiếp quản xây dựng bộ máy chính quyền độc tài phát xít tố cộng, diệt cộng, bắn giết trả thù. Cơ quan phải phân tán từng người trong nhà dân, phải làm hầm bí mật để hoạt động. Tất cả trông cậy vào sự đùm bọc, che chở của dân.

Đồng chí Sáu Đường, Bí thư Liên tỉnh ủy ở nhà má Năm, xã Tân Ninh. Gia đình má phân công nhau: má gác trước cửa buồng để hễ có động thì kịp thời nghi trang nắp hầm bí mật; chồng má ngồi vót nan tre đan rổ trước cổng để báo động khi có địch tới; con trai má là anh Ba Hểng đi vòng ngoài đặt lợp, giăng câu, nghe ngóng tin tức; con gái má đi cấy ngoài ruộng gần nhà để nắm tình hình.

Lúc này, tin về những vụ bắt bớ, tàn sát ở khắp nơi trong vùng Đồng Tháp Mười truyền lan như cơm bữa. Anh Bê Hểng đi ra ngoài lượm lặt về thuật lại. Đồng chí Sáu đường tổng hợp viết thành bản tin gửi ra Hà Nội, Đài phát thanh ở Hà Nội lập tức đưa tin tố cáo tôi ác của địch. Tin tức rành mạch: địch trả thù giết gia đình nào, tên họ, chỗ ở cụ thể. Người có rađiô nghe được bàn tán: “Như vậy là cách mạng còn để người ở lại trong này, nên chuyện gì ngoài Hà Nội cũng biết rõ như đang ở trong làng, trong xóm ấp mình”.

Địch tập trung sức xóa sạch dấu vết của căn cứ Đồng Tháp Mười như chặt phá cây cối, phá các chướng ngại vật trên sông rạch… Địch còn xúi giục đồng bào vùng người vào đốn tràm trong xã Tân Hòa. Tràm ở đây cao lớn, mọc thành rừng, là chỗ ẩn nấp của những anh em ở lại hoạt động. đồng chí Ba Nhóm, Bí thư liên xã đến gặp đồng chí Sáu Đường, Bí thư Liên tỉnh ủy xin ra lệnh cấm đốn tràm. Đồng chí Sáu Đường nói: Mình đâu có tư cách gì để cấm dân… Dân mình rất tốt! Đó là vì bà con chưa hiểu âm mưu của địch, nên nói cho bà con rõ, tức khắc họ sẽ thôi, không vì lợi nhỏ mà làm hại cách mạng đâu.

Mấy hôm sau, được cán bộ của Đảng bí mật tuyên truyền, giáo dục nhân dân đã chấm dứt việc đốn tràm.

Một lần bọn bảo an bất ngờ mò vào xóm, chúng đã đến gần cửa nhà má Năm, nơi đồng chí Sáu Đường ở, cô Bảy con gái má Năm đang cấy lúa gần đó, nhanh trí nhảy lên bờ ruộng, giang tay ngăn cản, đùa bỡn với bọn lính, gây ồn ào để báo động. Má Năm kịp thời đưa đồng chí Sáu Đường xuống hầm bí mật.

Diễn biến tình hình cho thấy cơ quan Liên tỉnh ủy không thể bám ở Đồng Tháp Mười. Tình thế mới đang diễn ra rất phức tạp. Kẻ thù lộ rõ ý đồ muốn triệt phá căn cứ địa cách mạng, trong khi đó, nhiệm vụ mới đòi hỏi cách mạng phải bám sát các vùng đông dân, đô thị để lãnh đạo phong trào đấu tranh chính trị chống lại âm mưu, ý đồ phá hoại Hiệp định Giơnevơ của địch. Cơ quan đầu não của cách mạng phải ở nơi tiện cho việc nắm tình hình và chỉ đạo đấu tranh. Hai đồng chí Lê Văn Khuyên (Tám Dần) và Đào Kim Sơn là cán bộ cứ được cử đi chuẩn bị chỗ ăn ở mới ở phía nam quốc lộ 4 thuộc các xã giáp ranh hai huyện Châu Thành, tỉnh Tân An và Chợ Gạo, tỉnh Mỹ Tho. Nơi đây tuy là vùng địch tạm chiếm lâu, mới nổi dậy trong chiến dịch Đông Xuân 1953-1954, nhưng ngụy quyền cơ sở tan rã, chúng chưa củng cố lại được, lòng dân nơi đây vững vàng.

Tháng 12 năm 1954, cơ quan Liên tỉnh ủy dời về căn cứ mới, tài liệu, máy móc, điện đài, súng đạn giấu dưới ghe hai đáy theo sông Vàm Cỏ Tây xuống kênh Chợ Gạo và Rạch Tràm; cán bộ nhân viên thì đi xe đò. Đến đây cơ quan cũng phân tán từng người ở trong nhà dân gần Cầu Hàng, xã An Lục Long, được bảo vệ bằng hầm bí mật.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Mười, 2012, 10:15:22 AM
*
*   *

Đầu tháng 1 năm 1955, sau một thời gian khẩn trương tổ chức lại, hệ thống tổ chức Đảng bộ đã thông suốt từ liên tỉnh xuống tỉnh đến chi bộ bằng đường giao liên họp pháp. Giữa cấp khu với tỉnh, xứ và Hà Nội còn liên lạc với nhau qua hệ thống điện đài. Đảng ủy Khu VIII - Trung Nam Bộ đã cơ bản chuyển từ công khai lãnh đạo chiến tranh sang bí mật lãnh đạo đấu tranh chính trị. Từ đó, công văn, chỉ thị, mệnh lệnh chỉ đạo đấu tranh được đồng chí Sáu Đường, Bí thư thường trực Liên tỉnh ủy thảo rồi truyền xuống bằng điện đài hoặc bằng bạch chỉ, do giao liên bí mật đưa đi bằng con đường hợp pháp trong vùng kiểm soát của địch đến các cấp ủy và cán bộ, đảng viên.

Giữa tháng 1 năm 1955, tại căn cứ An Lục Song, Liên tỉnh ủy Khu VIII - Trung Nam Bộ họp kiểm điểm tình hình và đề ra chủ trương chỉ đạo phong trào đấu tranh ở các nơi, nội dung chính như sau:

Địch vẫn đang đánh Đồng Tháp Mười ác liệt. Hầu hết quần chúng trong khắp 20 xã thuộc huyện Mộc Hóa đã phải sống dưới ách kìm kẹp ác nghiệt của ngụy quyền xã, ấp. Đảng bộ ở đây cần phải nhanh chóng có biện pháp lãnh đạo bảo tồn lực lượng cách mạng. Tuy nhiên, trọng tâm lãnh đạo vẫn là đấu tranh chính trị đòi địch thi hành Hiệp định Giơnevơ ở vùng đô thị, vùng nông thôn đông dân để chống lại các chính sách thực dân mới của địch, bảo vệ cách mạng, tài sản và đời sống nhân dân theo tinh thần Điều 14C của Hiệp định Giơnevơ và chuẩn bị đấu tranh đòi hiệp thương tổng tuyển cử. Ở những vùng này, tạm thời nội bộ địch chưa giải quyết được mâu thuẫn Mỹ - Pháp, đến nay chúng chưa nắm được cơ sở hạ tầng, chúng buộc phải để Đảng chi phối quản lý dân. Nhưng chắc chắn chúng sẽ dốc toàn lực đánh ta trong thời gian tới. Muốn giành được thắng lợi trong tuyển cử thì cách mạng phải nắm chắc dân, tổ chức nhân dân đấu tranh thành cao trào quy mô, liên tục để bắt buộc địch phải thi hành Hiệp định Giơnevơ. Ta phải biết đào sâu mâu thuẫn giữa Mỹ - Pháp, lôi kéo, tác động Pháp buộc Mỹ và tay sai phải thi hành Hiệp định mà Pháp đã ký. Trong chính quyền và quân đội địch ở các cấp vẫn còn những người vốn là của Pháp để lại, hiện đang lưng chừng, cần phải lôi kéo họ chống lại ý đồ phá hoại Hiệp định của bè lũ Mỹ - Diệm để làm lợi cho ta. Việc phải làm trước mắt là tiếp tục đưa phong trào quần chúng mừng hòa bình, bảo vệ hòa bình, hoan nghênh Hiệp định mạnh hơn nữa, duy trì phong trào liên tục và ngày càng đi vào chiều sâu.

Sắp đến Tết Nguyên đán, Liên tỉnh ủy chủ trương toàn Khu tiến hành đợt thống nhất hành động “mừng Tết hòa bình, đoạn tụ, đoàn kết đấu tranh bảo vệ hòa bình”.

Nhân dịp này, ta vận động các gia đình ngụy quân, ngụy quyền gọi con em về quê ăn tết, tổ chức cán bộ nòng cốt nói chuyện với họ về nội dung Hiệp định Giơnevơ, tuyên truyền ý thức phải giữ gìn hòa bình để khôi phục kinh tế, xây dựng đất nước, tiến tới tổng tuyển cử thống nhất đất nước đúng ngày 20 tháng 7 năm 1956; tổ chức cho nhân dân thăm viếng các gia đình liệt sĩ, lập đài tưởng niệm những người đã hy sinh, thăm viếng gia đình những người có chồng, con em đi tập kết; phát động đoàn kết thôn xóm, khôi phục kinh tế, sinh hoạt văn hóa, xây dựng ý thức xã hội, nâng cao đời sống tinh thần, vận chuyển, lãnh đạo dân khai hoang phục hóa, lập trạm y tế, nhà hộ sinh, tổ chức lớp bình dân học vụ, xóa mù chữ, phá ý đồ củng cố ngụy quyền cơ sở của địch.

Một nhiệm vụ hết sức quan trọng được triển khai trong đợt này là vận động nhân dân tẩy chay những tên tay sai trong ngụy quyền xã và dân vệ do địch chỉ định, dòi phải bầu cử dân chủ, thông qua đó đưa người tốt vào nắm chắc tề xã, ấp, dân vệ để bảo vệ Đảng, bảo vệ quyền lợi quần chúng; đưa người vào các đơn vị bảo an, chủ lực của địch để tuyên truyền, giáo dục binh sĩ giác ngộ cách mạng, trước mắt ủng hộ đồng bào đấu tranh bảo vệ hòa bình, thống nhất đất nước, về lâu dài, mai phục chờ thời cơ nổi dậy đấu tranh cách mạng.

Từ chủ trương đó của Liên tỉnh ủy, phong trào nhân dân mừng hòa bình, bảo vệ hòa bình ở Khu VIII - Trung Nam Bộ trong những tháng đầu năm 1955 đã thực sự trở thành phong trào từ thành thị đến nông thôn.

Hàng triệu lượt người đã tham gia họp mít tinh, biểu tình, tuần hành, hô khẩu hiệu, đưa kiến nghị. Mỗi tỉnh có hàng trăm ngàn người viết đơn, ký tên tố cáo Mỹ - Diệm vi phạm Hiệp định Giơnevơ, đưa cho phái đoàn Ủy hội quốc tế ở Tân Châu (Châu Đốc) và ở Sài Gòn đòi ngụy quyền phải nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định. Trong hai tháng, phong trào này có hàng triệu lượt ngươi tham gia, lôi kéo cả gia đình binh sĩ, sĩ quan, nhân viên ngụy quyền và con em họ. Ta còn tổ chức móc nối và phối hợp với phong trào bảo vệ hòa bình ở thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn cùng hoạt động. Ở mỗi xã đều tổ chức những người có thân thế tiếp xúc với ngụy quyền và Ủy hội quốc tế để đưa đơn kiến nghị.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Mười, 2012, 10:15:52 AM
Tết hòa bình đầu tiên, năm 1955, nhà nào cũng có câu đối mang nội dung hòa bình, mừng thắng lợi Hiệp định Giơnevơ do các chi bộ Đảng phổ biến. Nhân dân tổ chức cầu siêu, dựng đài tử sĩ, tu bổ nghĩa trang, tảo mộ liệt sĩ, lập bàn thờ Tổ quốc, bàn thờ chiến sĩ. Không khí vui tươi, đoàn tụ bao trùm trong ba ngày tết. Ở mỗi xã, hàng trăm binh lính, sĩ quan, công chức về quê ăn tết. Họ đi thăm viếng người thân, gặp gỡ những cán bộ kháng chiến hồi cư, chúc mừng nhau, nói chuyện về Hiệp định Giơnevơ, tổng tuyển cử, hứa hẹn móc nối cách mạng. Nhiều người đã được tổ chức thành cơ sở cách mạng, sau này có đóng góp cho cách mạng. Điển hình như trường hợp của viên Thiếu tá Nguyễn Hữu Hạnh, về quê ăn tết ở quê là xã Phú Phong, huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho, đến năm 1975 là Chuẩn tướng, phụ tá Tổng tham mưu trưởng quân đội ngụy có quá trình tham gia đóng góp cho cách mạng và đã góp phần tích cực cho thắng lợi của chiến dịch Hồ Chí Minh.

Cuộc vận động bầu cử tề xã, ấp phát triển thành phong trào rộng, mạnh ở các tỉnh. Từ những tháng cuối năm 1954, chính quyền Ngô Đình Diệm tạm chỉ định những tề cũ, những người gia đình khá giả, thân thuộc với làng lính và đưa một số sĩ quan làm Chủ tịch Hội đồng hương chính, ủy viên cảnh sát, chủ ấp. Các chi bộ Đảng đã lãnh đạo nhiều người trong tề cũ, được chúng chỉ định, từ chối không làm, đấu lý với chúng là “thời thế bây giờ khó lắm, ra làm thì sẽ đụng chạm dân, nên phải hỏi ý dân trước đã”. Những cơ sở nòng cốt của cách mạng ở các thị trấn, khu phố là những người có uy tín, có điều kiện gần quận, tổng cũng tìm cách đưa dư lận của dân đến chúng. Cuối cùng, chúng buộc lòng phải để cho những người này được giới thiệu người ra ứng cử. Bằng cách đó, sau bầu cử, ở nhiều nơi ta nắm được từ 50% đến 80% tề xã, ấp và xã đoàn dân vệ, như ở xã Phú Quý, huyện Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho, xã đoàn dân vệ có 10 người thì 8 người là đoàn viên thanh niên, 2 người là nòng cốt cách mạng; hội đồng hương chính xã có 4 người thì 2 người là đảng viên, 2 người là quần chúng cảm tình với cách mạng. Hội đồng hương chính và dân vệ các xã An Hòa, Tân Niên Tây, tỉnh Gò Công là cơ sở bảo vệ cơ quan tỉnh ủy. Hội đồng hương chính xã Thạnh Mỹ Tây, huyện Châu Phú, tỉnh Châu Đốc có 6 người thì 4 là người của cách mạng. Văn phòng Huyện ủy Tân Châu ở cây số 7 xã Long Sơn, sát đồn dân vệ. Văn phòng Tỉnh ủy Châu Đốc, trạm giao liên của Xứ ủy đóng ở cây số 3 Long Sơn, cách thị trấn Tân Châu 3 kilômét dựa vào tề và dân vệ xã. Trạm này đã từng là nơi dừng chân của các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Mai Chí Thọ, Lê Toàn Thư, Phạm Thái Bường trên đường từ Sài Gòn đi về cơ quan Xứ ủy.

Sau Tết hòa bình đầu tiên năm 1955, Liên tỉnh ủy Khu Trung Nam Bộ lúc này vẫn ở An Lục Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tân An, phía nam quốc lộ 4, chỉ đạo tổ chức học tập Nghị quyết của Xứ ủy về tình hình và nhiệm vụ cho toàn Đảng bộ và nhân dân.

Lúc này, ở Đồng Tháp Mười địch đánh phá nặng, kìm kẹp chặt. Ở các nơi khác, cán bộ, đảng viên hồi cư chuyển về cơ sở đã tạm ổn định. Trước khí thế của phong trào, anh em tỏ ra an tâm, phấn khởi. Nhưng cũng có người, trước việc địch triển khai chính sách thực dân mới, mị dân, ve vãn, đã tỏ ra chủ quan, thỏa mãn, mơ hồ, mất cảnh giác, có ảo tưởng hòa bình chủ nghĩa.

Nghị quyết của Xứ ủy và Liên tỉnh ủy Khu Trung Nam Bộ nhằm uốn nắn những khuyết điểm trên, xác định rõ kẻ thù trực tiếp, chủ yếu của cách mạng, của nhân dân miền Nam là đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai bán nước Ngô Đình Diệm, đại diện cho giai cấp địa chủ phong kiến, tư sản mại bản phản động nhất. Chúng chủ trương phá hoại Hiệp định Giơnevơ nhằm chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ, thành căn cứ quân sự làm bàn đạp tấn công ra miền Bắc và phe xã hội chủ nghĩa. Cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam còn gian khổ, ác liệt, hy sinh nhiều hơn nữa, vì thế Đảng bộ phải tích cực chuyển hướng hoạt động, đi sâu vào quần chúng để lãnh đạo quần chúng đấu tranh quyết liệt với địch.

Nội dung nhiệm vụ là đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh chính trị đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ, để hòa bình thống nhất Tổ quốc; đấu tranh giành quyền dân sinh, dân chủ cho quần chúng; lãnh đạo quần chúng chống tăng tô, xáo canh, bảo vệ quyền làm chủ ruộng đất của nông dân; thực hiện tốt công tác binh vận; thực hiện công nông binh liên hiệp. Đối với công tác binh vận, tề vận, Nghị quyết nêu rõ: Gia đình binh sĩ là những gia đình đau khổ, là một thành phần không thể thiếu trong lực lượng xung kích đấu tranh với địch để bảo vệ hòa bình, thống nhất đất nước, chống chiến tranh, chủ yếu là chống đôn quân, bắt lính, vận động con em đào ngũ, chống “Bắc tiến”, tạo thành một mũi tấn công chiến lược. Phân cấp lãnh đạo công tác binh vận, tề vận là: xã nắm tề xã, ấp, dân vệ xã; huyện, tỉnh tổ chức gài người vào đơn vị bảo an, dân vệ ở cấp huyện, tỉnh; khu, tỉnh tổ chức cơ sở trong các đơn vị chủ lực và cơ quan Trung ương của ngụy. Nhưng trong tất cả các cấp, trọng tâm trước mắt là nắm các xã, thực hiện mục tiêu vô hiệu hóa ngụy quyền cơ sở, sử dụng bộ máy của địch để bảo vệ lực lượng cách mạng và hỗ trợ các cuộc đấu tranh đòi quyền lợi chính trị, kinh tế của quần chúng.

Về công tác dân vận, mặt trận lấy liên minh công nông làm nòng cốt, tập hợp đông đảo quần chúng xung quanh khẩu hiệu trung tâm là đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ, hòa bình thống nhất đất nước. Chú trọng vận động đồng bào người dân tộc thiểu số tìm cách xóa bỏ hận thù với đồng bào tín đồ Hòa Hảo, Cao Đài để đoàn kết chống Mỹ - Diệm. Đối với đồng bào di cư là những người bị bắt buộc, hoặc bị lừa mị vào Nam thì vận động đồng bào vào mặt trận chống Mỹ - Diệm. Đối với các đoàn thể công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ trong kháng chiến thì này trở thành lực lượng nòng cốt cách mạng, tập hợp đông đảo quần chúng trong những tổ chức họp pháp hoặc bán hợp pháp. Đảng viên là hạt nhân lãnh đạo, nắm quần chúng qua nòng cốt, bắt rễ, xâu chuỗi trong xóm ấp phát động đấu tranh.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Mười, 2012, 08:04:35 AM
Đợt học tập trong toàn Khu đã được tiến hành thuận lợi. Từng cấp sau khi học xong đều ra nghị quyết về chương trình hành động cụ thể. Đảng viên học trước, sau đó mở rộng ra quần chúng. Qua học tập, từ nông thôn đến thành thị, các tầng lớp quần chúng đều hiểu đối tượng của cách mạng là đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Ngô Đình Diệm, đại diện cho giai cấp phong kiến, tư sản mại bản phản động nhất. Mỹ - Diệm đang cố hất cẳng Pháp, phá hoại Hiệp định Giơnevơ, chia cắt đất nước, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ trong chế độ quốc gia giả hiệu, thân Mỹ, thành căn cứ quân sự, tiền đồn chống cộng, gây chiến tranh phá hoại hòa bình.

Cán bộ, đảng viên ngoài học tập nội dung Nghị quyết còn được học tài liệu về năm bước công tác cách mạng, về nhân sinh quan, lập trường, khí tiết cách mạng và phương hướng công tác bí mật của Đảng.

Đi đôi với học tập, Liên tỉnh ủy Khu Trung Nam Bộ chỉ đạo tiến hành sắp xếp, bố trí lại đảng viên:

- Những đảng viên hoạt động hợp pháp, không bị lộ được tập hợp thành từng tiểu tổ riêng, có từ 3 đến 5 người. Trước khi học Nghị quyết, chi ủy đã rà xét kỹ quá trình phấn đấu của từng người, người nào đủ tư cách mới được học. Học xong, phân công từng đảng viên phụ trách theo ngành, nghề, xóm ấp. Mỗi đảng viên phải chọn quần chúng tốt ở các giới, bồi dưỡng thành nòng cốt cách mạng rồi hướng dẫn những nòng cốt này tìm từ 3 đến 5 người bè bạn, bà con, anh em để hướng dẫn công việc cách mạng. Số này là quần chúng tích cực, hiểu rõ rằng mình là người trong tổ chức. Mỗi quần chúng tích cực lại hướng dẫn nội dung cách mạng cho những người quen biết cùng giới, cùng ngành nghề, những bà con thân tộc có xu hướng tốt để họ trở thành quần chúng cảm tình. Như vậy, một đảng viên có thể nắm được từ 50 đến 80 quần chúng là nòng cốt, tích cực, cảm tình. Từ đó liên hệ với quần chúng rộng rãi thông qua các tổ chức hợp pháp, bán hợp pháp.

- Đảng viên hoạt động bất hợp pháp, trong kháng chiến là bí thư, chủ tịch, xã đội, công an, du kích là lực lượng trung kiên, nòng cốt của chi bộ, được quần chúng tín nhiệm, kẻ thù kiêng sợ, truy lùng. Những đồng chí này bố trí vào cấp ủy. Nhân dân có yêu cầu cần giải quyết đến xin ý kiến như đối với chính quyền cách mạng trước đây.

- Đảng viên là cán bộ từ các cơ quan kháng chiến tỉnh, huyện trở về, quần chúng ít biết hoặc không biết phải tranh thủ chuyển vào thế công khai hợp pháp. Nếu xét thấy chuyển hợp pháp bí mật lâu dài được thì hoạt động đơn tuyến, cũng bắt rễ, xâu chuỗi quần chúng. Số này phân công phụ trách những quần chúng tầng lớp trên, tề xã, ấp hoặc các tổ chức hợp pháp, bán hợp pháp.

- Đảng viên bố trí nằm trong tề xã, ấp, dân vệ hoặc là cơ sở nội tuyến binh vận thì hoạt động đơn tuyến.

- Đảng viên chỉ lo làm ăn, không dám nhận công tác thì cắt Đảng tịch, xem như quần chúng.

Đối với quần chúng, Liên tỉnh ủy chỉ đạo tập hợp trong ba hình thức: hợp pháp, bán hợp pháp và bất hợp pháp.

- Các tổ chức hợp pháp là: Hội phụ nữ, Liên hiệp nghiệp đoàn, Hiệp hội Nông dân, Hội truyền bá quốc ngữ, Giáo hội tăng già… Hội phụ nữ có Ban Chấp hành ở Sài Gòn. Tổ chức này tập hợp phụ nữ làm công tác xã hội, hạn chế trong một số thị xã, thị trấn. Tổ chức Liên hiệp nghiệp đoàn cấp cao nhất do Trần Quốc Bửu, một tên tay sai của Mỹ nắm. Thông qua tổ chức này, ta có thể tập hợp người lao động vào các nghiệp đoàn xích lô, bán cá, bán hàng bông, khuân vác… lãnh đạo họ đấu tranh chống thuế, phạt vạ, đuổi nhà, cướp đất, bãi công hưởng ứng các đợt đấu tranh chính trị, bảo vệ cán bộ hồi cư.

- Các tổ chức bán hợp pháp được hình thành theo đòi hỏi của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của nhân dân, nhất là ở nông thôn. Loại tổ chức này, mặc cho ngụy quyền có cho phép hay không, quần chúng vẫn thành lập và chúng phải công nhận. Nó phù hợp với yêu cầu bức xúc của quần chúng nên dễ tập hợp được đông đảo quần chúng. Các tổ chức này là: vạn vần đổi công, vạn cấy, vạn phát, vạn cuốc để khôi phục kinh tế, tăng gia sản xuất, khai hoang, phục hóa; hụi không lời để tương trợ vốn sản xuất, chống cho vay nặng lãi. Về văn hóa xã hội, có hội đình, hội chùa, miếu để lo trùng tu đình, chùa, miếu, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, chống mê tín dị đoan; hội múa lân, hội đá banh, đội văn nghệ tập họp thanh niên vui chơi, đoàn kết, chống cờ bạc, rượu chè, sa đọa; lớp bình dân, hội truyền bá quốc ngữ, hội phụ huynh học sinh, hội bảo trợ học đường có tác dụng giáo dục thanh thiếu niên, chống giặc dốt cho người lớn, chống văn hóa ngoại lai xâm nhập; hội thanh niên, phụ nữ tương trợ nhau trong đám cưới, đám tang, giúp đỡ những gia đình neo đơn có việc làm ăn, giáo dục nội dung văn hóa mới.

- Các tổ chức bất hợp pháp là lực lượng quần chúng cách mạng trước đây đã ở trong các đoàn thể công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ cứu quốc, nay chuyển thành nòng cốt, quần chúng tích cực, quần chúng cảm tình, trở thành hệ thống rễ, chuỗi của đảng viên trong việc lãnh đạo các tổ chức hợp pháp, bán hợp pháp trong xóm ấp. Về vấn đề này, Trung ương chỉ đạo phương châm chung là hết sức lợi dụng khả năng hợp pháp để tuyên truyền cổ động, tổ chức giáo dục quần chúng, lãnh đạo quần chúng đấu tranh.

Chấp hành sự chỉ đạo của Trung ương và căn cứ vào tình hình thực tế của Liên tỉnh Trung Nam Bộ chủ yếu là vùng nông thôn, Liên tỉnh ủy đề ra phương châm hoạt động cụ thể, sáng tạo của Đảng bộ là kết hợp bán hợp pháp, bất hợp pháp và hợp pháp - lấy bán hợp pháp làm chính, lấy bất hợp pháp làm nòng cốt lãnh đạo và lấy hợp pháp làm nghệ thuật trực diện với địch.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Mười, 2012, 08:05:06 AM
Ngay từ đầu đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Ngô Đình Diệm đã có hành động phá hoại Hiệp định Giơnevơ, không chịu thi hành Hiệp định, tức là không có quyền tự do dân chủ nào, cũng có nghĩa là sẽ không có tổ chức hợp pháp nào mang nội dung chính trị tích cực như tổ chức mít tinh mừng hòa bình, nêu khẩu hiệp đòi hiệp thương tổng tuyển cứ cỏ thể tự do hoạt động; muốn hợp pháp thì phải xin phép ngụy quyền. Vì vậy, đấu tranh hợp pháp với địch là một nghệ thuật hết sức mềm dẻo, kết hợp giữa lực lượng quần chúng với tranh thủ nhân viên ngụy quyền để trực tiếp đưa yêu sách trong từng cuộc đấu tranh, từng không gian, thời gian nhất định. Nghị quyết của Liên tỉnh ủy Khu Trung Nam Bộ lấy đấu tranh bán hợp pháp làm chính, vì ngụy quyền cơ sở còn yếu, chưa khống chế được dân. Dùng hình thức đấu tranh bán hợp pháp là để thúc đẩy người tốt, việc tốt, tranh thủ người lưng chừng, cô lập bọn ngoan cố. Đấu tranh bán hợp pháp là yêu cầu thiết thực, bức xúc, phù hợp với quyền lợi nhân dân. Ngụy quyền dù không cho phép cũng không ngăn chặn được vì khẩu hiệu đấu tranh có lý, có tình, hình thức đấu tranh đa dạng, sinh động như tập trung trực diện đưa đơn, đi chợ đông, bãi thị, lãn công, mít tinh, biểu tình, hội thảo, đưa khẩu hiệu tranh thủ sự đồng tình của dư luận…

Quá trình đấu tranh bán hợp pháp là quá trình giáo dục nhân dân về khẩu hiệu đấu tranh, là quá trình nhân dân giúp nhau đi đến đoàn kết nhất trí. Khẩu hiệu đấu tranh trở thành bức thiết, trở thành sức mạnh, qua đó, dẫn dắt quần chúng đến công khai bàn bạc nhiều việc, dám đối chọi với quân thù, vạch mặt bọn ác ôn ngoan cố và có điều kiện tranh thủ sự đồng tình của đa số ngụy quân, ngụy quyền.

Lấy đấu tranh bất hợp pháp làm nòng cốt, vì đa số nhân dân các tỉnh Trung Nam Bộ đã giác ngộ cách mạng, đi theo Đảng từ những năm 1930 - 1945. Nhân dân ở nông thôn hay thành thị đều hiểu Đảng và tin Đảng. Sau ngày bộ đội đi tập kết, Đảng vẫn giữ vai trò lãnh đạo. Vì thế, để phát động nhân dân đấu tranh, Đảng vẫn có thể tổ chức những cuộc hội thảo, mít tinh, hiệu triệu, đưa khẩu hiệu, phân phát truyền đơn, áp phích, treo cờ Đảng để dân tin tưởng. Hình thức bất hợp pháp càng nhiều, càng có sức mạnh tinh thần, càng uy hiếp kẻ thù ở cơ sở.

Ba hình thức hợp pháp, bán hợp pháp và bất hợp pháp kết hợp với nhau hình thành phong trào đấu tranh sôi nổi của nhân dân cho từng yêu cầu, từng thời gian.

Trong việc triển khai nghị quyết, đối với công tác quần chúng, Liên tỉnh ủy chú ý đến ba khối quần chúng lớn là các tín đồ Hòa Hảo, đồng bào di cư và người dân tộc Khơme, Chàm, Hoa.

Khi đó ở Khu Trung Nam Bộ có hơn nửa triệu tín đồ Hòa Hảo, chiếm 1/4 dân số toàn khu, sống tập trung chủ yếu ở ba tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc, Sa Đéc; nhiều nhất là ở Long Xuyên. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, thực dân Pháp dùng thủ đoạn chia rẽ đạo, đời, tạo ra sự hiểu lầm sâu sắc của Hòa Hảo đối với Việt Minh. Năm 1953, Đảng đưa ra chính sách Hòa Hảo vận, chính quyền kháng chiến đã nhiều lần cho phép một số đơn vị vũ trang Hòa Hảo lấy súng của Pháp đi qua căn cứ địa Đồng Tháp Mười đem về vùng căn cứ của Hòa Hảo. Sự việc này đã làm dịu đi phần nào thành kiến của Hòa Hảo đối với Việt Minh và tạo thuận lợi cho việc vận động tín đồ Hòa Hảo tham gia kháng chiến. Khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, tín đồ Hòa Hảo cũng vui mừng vì chiến tranh chấm dứt sẽ tránh được cảnh đôn quân, bắt lính và được yên ổn làm ăn.

Đồng chí Bí thư Liên tỉnh ủy Khu Trung Nam Bộ đã nhận định về bản chất của tín đồ tôn giáo Hòa Hảo như sau: đồng bào cũng là những người nông dân đau khổ, bị áp bức bóc lột và có nguyện vọng về ruộng đất, đời sống như những thành phần nông dân khác. Nếu ta biết khéo vận động và đi sâu động viên họ căm thù bọn áp bức, bóc lột, thì họ cũng sẽ nổi dậy đấu tranh như mọi người nông dân khác, cũng sẽ dám hy sinh bảo vệ cách mạng, đào hầm bí mật chứa cán bộ. Thực tế là sau ngày chính quyền và quân đội cách mạng đi tập kết, một số cơ quan Đảng và cán bộ đã dựa vào đồng bào tín đồ mà ăn ở, hoạt động ở nhiều nơi vì quyền lợi cuối cùng của đồng bào vẫn là ruộng đất, đời sống; còn cách mạng thì tôn trọng tự do tín ngưỡng, giúp họ đấu tranh bảo vệ quyền làm chủ ruộng đất, cải thiện đời sống, đòi dân chủ, đối xứ với họ không định kiến, hận thù, trái lại còn tìm cách đoàn kết để chống kẻ thù chung. Đó là thực tế. Qua việc đưa cán bộ hồi cư về cơ sở, nhiều đồng chí cán bộ đã về sống ở vùng có đạo. Nay Liên tỉnh ủy tiếp tục chỉ đạo các Tỉnh ủy Châu Đốc, Long Xuyên, Sa Đéc đưa thêm nhiều cán bộ có uy tín vào với đồng bào để tăng cường ảnh hưởng của cách mạng.

Địch đưa khá đông đồng bào miền Bắc di cư về các tỉnh Trung Nam Bộ, mỗi tỉnh có từ 15.000 đến 30.000 người. Ở Mỹ Tho, đồng bào tập trung thành khu dọc theo kênh Nguyễn Tấn Thành từ Long Định đến Chùa Phật Đá, từ chợ Xoài Hột, xã Thạnh Phú vào đến xã Bình Đức. Ở Tân An, đồng bào tập trung ở phía bắc kênh Dương Văn Dương, dọc biên giới xã Bình Hiệp và khu vực Gò Măng Đa. Ở Long Xuyên, đồng bào tập trung ở vùng Cái Sắn. Ngoài ra, còn có đồng bào ở Quảng Nam - Đà Nẵng… trước đây bị Mỹ - Diệm cưỡng ép di cư vào Đồng Tháp Mười ở các khu tập trung Sa Rài (Hồng Ngự, Châu Đốc), Bắc Hòa, Giồng Dung (Mộc Hóa, Tân An). Đồng bào là những nạn nhân của chế độ Mỹ - Diệm, hầu hết là những người nông dân nghèo, bị áp bức bóc lột, có tinh thần yêu nước, mong muốn độc lập, thống nhất. Có người đã tham gia kháng chiến. Họ phải rời quê hương, nhà cửa ruộng vườn ra đi là vì bị lừa gạt, bị đe dọa. Vào đây, họ sống rất khổ. Số tiền cung cấp buổi đầu bị bọn ngụy quyền các cấp ăn chặn, chẳng còn lại là bao, lại thêm không hợp khí hậu, bệnh tật phát sinh, không nghề nghiệp, nghèo khổ. Cho nên, cần phải có cách vận động nhân dân, đào tạo cốt cán của Đảng từ đồng bào, phát động đồng bào chống Mỹ - Diệm. Trước mắt, vận động đồng bào phân tán, không nên sống tập trung trong các khu di cư do Diệm tổ chức.

Người Khơme ở Khu Trung Nam Bộ có hơn 4 vạn, sống tập trung ở vùng Bảy Núi thuộc hai huyện Tri Tôn, Tịnh Biên. Người Chăm có vài ngàn, sống ở vùng đối diện với thị xã Châu Đốc. Người Hoa có hơn hai vạn, ở rải rác trong các tỉnh. Họ là những người đã sống hàng trăm năm ở vùng này, đã từng tham gia nổi dậy trong Cách mạng Tháng Tám và kháng chiến chống thực dân Pháp, nên họ hiểu, tin tưởng và ủng hộ Đảng. Nhiều cán bộ, đảng viên của Đảng là người Khơme, người Chăm, người Hoa. Cho nên, việc tập hợp đồng bào vào mặt trận dân tộc yêu nước chống Mỹ - Diệm có nhiều thuận lợi.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Mười, 2012, 08:05:50 AM
*
*   *

Từ quý III năm 1954 đến năm 1956, Liên tỉnh ủy Khu Trung Nam Bộ đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh quyết liệt với chính quyền Mỹ - Diệm, tạo thành phong trào liên tục, hết đợt này đến đợt khác, tập hợp hàng triệu người đấu tranh giữ vững quyền lợi dân sinh, dân chủ và ruộng đất đã có được trong kháng chiến; chống khủng bố và trả thù những người kháng chiến, bảo vệ hòa bình, đòi hiệp thương tổng tuyển cử, thống nhất đất nước

Tỉnh ủy Gò Công lãnh đạo Đảng bộ và nhân dân chuyển hướng đấu tranh bằng phương pháp hòa bình. Từ đầu năm 1954, trước khi có Hiệp định Giơnevơ, lực lượng vũ trang và quần chúng ở Gò Công đã nổi dậy tiêu diệt và làm tan rã hàng trăm đồn bốt địch; ngụy quyền nơi đây rất hoang mang, buộc phải co cụm vào cố thủ ở trong thị xã và các đồn bốt vùng ven.

Sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, từ ngày 13 đến ngày 15 tháng 8, toàn tỉnh có nhiều cuộc mít tinh mừng hòa bình ở các xã Bình Công, Tăng Hòa, Hòa Nghị, Tân Thành, Tân Niên Đông, Tân Niên Tây, Tân Niên Trung, Đồng Sơn, Yên Luông Đông, Bình Thành, Long Chánh…

Ngày 16 tháng 8 năm 1954, để biểu dương sức mạnh đoàn kết toàn dân, theo chỉ đạo của Tỉnh ủy, hơn 30.000 đồng bào từ các xã trong toàn tỉnh đã tập trung thành đội ngũ từ bốn hướng lộ chính kéo vào thị xã, mang theo các khẩu hiệu chào mừng hòa bình và hoan nghênh Hiệp định Giơnevơ được ký kết.

Hoảng sợ trước khí thế mạnh mẽ của nhân dân, ngụy quyền ở tỉnh Gò Công đã huy động quân đội và cảnh sát ngăn chặn, đe dọa. Khi không giải tán được, chúng dùng súng đạn tấn công vào đoàn biểu tình tay không. Như vậy là, Mỹ - Diệm đã ngang nhiên vi phạm trắng trợn Hiệp định Giơnevơ và lệnh ngừng bắn, gây tội ác cực kìm nghiêm trọng. Chúng dùng súng trung liên, súng tromblon và súng trường bắn vào đoàn biểu tình; đuổi bắt 3 phụ nữ rồi xé áo quần, dùng dao găm đâm vào thân thể giết chết tại chỗ; đánh chết một cụ già và một em bé. Tên quan hai Điển dùng súng lục bắn chết hai người, nắm giò một em bé bị thương liệng vào xe chữ thập đỏ. Tổng cộng địch bắn chết 8 người, làm bị thương 162 người.

Ngay từ tháng 8 năm 1954, ở Tân An đã có cuộc đấu tranh của 30.000 người, thuộc 10 xã của huyện Bến Lức, Thủ Thừa, Tân Trụ, Cần Đước kéo đến đồn Bình Chánh chống vụ bắt 5 người kháng chiến cũ. Sau đó, đoàn người kéo về thị xã Tân An đấu tranh liên tục trong 10 ngày cho đến khi thắng lợi.

Tháng 9 năm 1954, hơn 2 vạn nhân dân các xã trong huyện Mỏ Cày bao vây bọn lính ở bốt xã Khánh Thạnh Tân, buộc chúng phải khiêng người bị chúng đánh bị thương lên quận, phải bồi thường.

Trong tháng 11 năm 1954, ở Bình Thành, Long Xuyên, hàng trăm người mang đơn đến tổ Ủy hội quốc tế ở Tân Châu tố cáo vụ thảm sát của bọn lính đồn Thầy Ba Dĩ, đòi bồi thường nhân mạng, tai sản của những người bị chúng giết, đòi phải thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ. Khi tàu của Ủy hội quốc tế tới điều tra, đồng bào kéo ra yêu cầu quyết liệt, mặc dầu địch ra sức ngăn trở.

Ở huyện Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc, hàng trăm đồng bào, học sinh đấu tranh chống ngụy quyền đập phá đài liệt sĩ và mộ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc - thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cuộc đấu tranh rất quyết liệt, dư luận vang đến tận Sài Gòn, nhiều tờ báo ở Sài Gòn cũng lên tiếng phản đối, ngụy quyền buộc phải ngừng việc đập phá mộ. Trong tháng 12 năm 1954, ở Tân An, hơn 3.000 người kéo vào các thị trấn Mộc Hóa, Kiến Bình đấu tranh chống khủng bố, chống tề xã, ấp kìm kẹp, ức hiếp dân; 2.000 người ở Tuyên Thạnh đấu tranh đòi bồi thường cầu cống của dân bị địch phá; hơn 500 ngươi ở xã Nhơn Hòa Lập đấu tranh đòi chấp nhận đại diện của dân cử vào chính quyền.

(https://lh3.googleusercontent.com/VzIhUVSgtx1LSOR7qLc51SkxgjS6fK2xEK0FpANoM-Pxb2ImRnB16xfnCKZ5qGNdDUf0d-B37NcN3ABo-hq8iW23GiW3MYDJzrLDrtF3y_y31aObr46ar8hcZf_dFKgClUGAenOcklw8TP0V6cOxD0AVTruKeOJKhevYAEPPWZF5H6npzF3AiPuG_P2A3tc11iLUB-3-OgFfaaDr_cWFMSRQEbaJIMhCWXS26j3XoTHwSgAZw3jvDeV5e329_yyzshTK-0JD5IxpItSXd8R4upm_cGoEF_abqsqPnlcgMEIsSdleMcFfcoYUJlpM1armrzd8zYoAHJUDklxce9nrkcNvry2AUX1O9R0p491ohJ_zmYJ3aRGz3VUceXv3rxUBgqo404RgGOTNFExMk5yVzwD5KYSe0vNywK2WunWVlNQpTe_vkwfst1xqYbPFqh3v0jWoBx19VWqkyRjIpSoZBFG30txjPgiFHD8-Z7HJhIB_1aiuPr_eT4177DE3TaHUMW8gxd-rL-4eLEU3_98zzYOdBgOvfvaSWQWnFnnD-tG-pFbvgBoXdQQIotmvT2CTaiTtgtnKM3ffuNuI4HqnQCbUsgchWz4DR-4bJcV_fic6A51Wk8oT=w480-h321-no)

(https://lh3.googleusercontent.com/yrP64SKphlphwPbaQdS-OF6Hq8t8leuoBNbv4elhZ6hlDzWyv-mESx7wrYkEAJv7ab9U6a1-jezq3mJ3FhpcBcuQC1RwxSUmSgPWQovVL99XgE_kF6t3HthEtHqEEgLsAlNiztJoRDKPRasvliETs1tr_BieNOccBuxV5YCzoPgYoU0oDLXtU1dWmHA-GZfQd4qYOcroIZkdrCmsyDXsKyZJ6AoVREditFOOyq15p5c-cUrugcO7FfA7wgbZCo3Z2z5XddEpWK8CGKCOJRJWOmWQyR80UQvf6PSHW4Jkl663dX1gsuSE_Y-ltZME2QJVJgA0hYIS_axyDEIWJMFtTnPpsddflaNTRj3cfNqvhun4gzEHLQNK9OKHdNgak_uE0Obx8niAve3gQ3Mvg-OC6CJYq9LgWhlsQ2CLeLSww0yIIlKZmc_MZuwDw-BybUanGyvKyVeOMACH73ldXeWgJXqd3VeeT-J-Tz6yvKzdedWbxxsMtbZaXRAkLuqLnW7axZoIr4zDslkMnd9uWJMX4SG7UTL6_hoIlhxelBaixHr54QirjQdicQnNXnlFdzZ3kd5BIrDeTDuKmxv1iDEmFAfABMbrNifs5Dwc6-22qk8ejrfBa_Qb=w800-h535-no)

Đài liệt sĩ (ảnh trên) và mộ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc do bộ đội và nhân dân
xây dựng ở quận lỵ Cao Lãnh trong thời gian 100 ngày tập kết chuyển quân (năm 1954)

Tháng 5 năm 1955, dân ở Cả Cái, xã Tân Thành, huyện Hồng Ngự, tỉnh Châu Đốc kéo tới tổ Ủy hội quốc tế ở Tân Châu phản đối Tiểu đoàn 508 ngụy bắt người trái phép. Tổ Ủy hội quốc tế can thiệp, chúng phải thả. Cùng trong tháng, 500 người ở Thới Sơn, Nhơn Hưng, An Cư kéo tới quận lỵ Tịnh Biên đòi chính quyền ngụy thả những người đấu tranh đòi hòa bình bị bắt; 500 người ở Vĩnh Xương, huyện Phú Châu kéo đến đồn đòi bồi thường sinh mạng ông Hồi là cán bộ kháng chiến hồi cư bị lính đồn vô cớ bắn chết. Trưởng đồn phải hứa bồi thường, nhưng chúng bắt 4 người trong đoàn đấu tranh. Cuộc đấu tranh tiếp tục kéo dài hàng tháng cho đến khi chúng phải thả. Ở Tịnh Biên, Tri Tôn, hàng ngàn đồng bào Khơme, có cả sư sãi, đấu tranh đòi trả chính quyền Việt Minh về cho họ, đòi không được trả thù những người kháng chiến.

Tháng 7 năm 1955, nổ ra cuộc đấu tranh quyết liệt của nhân dân hai tỉnh Mỹ Tho, Gò Công sau vụ địch bắt giam 400 cán bộ kháng chiến hồi cư. Đơn từ, kiến nghị được trực tiếp đưa tới các cấp ngụy quyền, đến Ủy hội quốc tế ở Sài Gòn, tới tổ Ủy hội quốc tế ở Tân Châu, tố cáo Mỹ - Diệm vi phạm Điều 14C của Hiệp định Giơnevơ. Cuối cùng, địch phải thả những người bị bắt.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Mười, 2012, 08:07:08 AM
Trước tình hình địch khủng bố, bắt bớ những người kháng chiến hồi cư ở khắp các tỉnh, Thường trực Liên tỉnh ủy chỉ thị các tỉnh phát động phong trào đấu tranh bảo vệ Đảng, bảo vệ cán bộ trong toàn dân. Ở nhiều xã, ấp thuộc các tỉnh Đồng Tháp Mười và vùng ven đã dấy lên phong trào chống cướp, rào nhà, làm cửa ngõ, rào xóm, sửa đường đi. Thanh niên được tổ chức thành đội chống cướp có gậy, roi, mõ, đuốc. Phụ nữ làm nhiệm vụ thông báo tin tức đấu tranh để giải thoát cán bộ bị bắt. Buộc bọn lính muốn vào nhà phải gọi cửa, có chủ ấp đi theo, muốn bắt ai phải có giấy của quận trưởng. Nhờ có tổ chức đó mà hạn chế được hoạt động của bọn biệt kích, chúng lẻn vào nhà nào cũng bị lộ, có nơi chúng còn bị dân bắt trói giải lên đồn.

Sau khi Diệm cho ban hành các chỉ dụ số 2 và số 7, thì trên tất cả các xã Khu Trung Nam Bộ xuất hiện từng đoàn người nhà địa chủ cùng với tề, dân vệ, tay thước, tay súng, đi đo lại đất để lập khế ước tính tô. Ở Tân An, bọn địa chủ ác ôn như Hội đồng Ngãi, Cai tổng Thân, Cai tổng Oai cướp lại của nông dân hàng ngàn hécta ruộng. Ở Mỹ Tho, Long Xuyên, Châu Đốc, Sa Đéc, những tên địa chủ lớn như Cai tổng Hường, Hai Xíu, Bang Sang, Nguyễn Ngọc Thơ sử dụng bộ máy chính quyền đi đòi nợ, thu tô, cướp đất, xáo canh cho chúng.

Trước tình hình này, Liên tỉnh ủy đã vận dụng sự chỉ đạo của Xứ ủy là lãnh đạo nông dân đấu tranh giữ nguyên canh, giảm tô thành yêu cầu phát động phong trào nông dân đấu tranh chống lập khế ước, đòi giảm tô và giữ nguyên canh. Sách lược đấu tranh là đoàn kết trung, bần, cố nông; liên hiệp với phú nông; tranh thủ địa chủ nhỏ; trung lập địa chủ vừa; cô lập địa chủ ác ôn. Tùy tương quan mà đấu tranh không đóng tô, hẹn nợ, hoặc đóng tô theo mức kháng chiến quy định, nhưng nhất quyết không làm khế ước, không để bị xáo canh.

Các cuộc đấu tranh diễn ra hết sức gay gắt. Nông dân sôi sục căm thù. Những cuộc đấu tranh liên tiếp diễn ra ở các tỉnh:

Ở Sa Đéc, phong trào đấu tranh rất sôi động, mạnh nhất ở vùng ven Đồng Tháp Mười, có cả gia đình binh sĩ, gia đình dân vệ tham gia, đồng tình ủng hộ, có nơi ngả hẳn về phía quần chúng, lôi cuốn của tề, dân vệ. Vì là quyền lợi thiết thân nhất, nên nông dân đấu tranh rất mạnh, có nơi như ở Bình Thạnh, Mỹ Tho, huyện Cao Lãnh, Phú Hựu, huyện Châu Thành giết cả địa chủ đi thu tô. Trên 200 nông dân xã Phong Mỹ và Bình Thành (thuộc Long Xuyên giáp ranh) kéo đi ngăn cản, rượt chém bọn đi đo đất.

Ở Châu Đốc, tên địa chủ On có 200 hécta đất, phần lớn là đất hoang hóa. Hắn cho tay chân đi đòi đất. Anh Cù Giáo là nông dân nghèo ở xã Vĩnh Hòa phục hóa được 20 công ruộng bị hắn lấy 10 công. Anh ức quá, đâm chết tên “cặp rằn” Sáu Đức là tay chân của tên On. On phải bỏ trốn.

Ở các huyện Châu Phú, tỉnh Châu Đốc, Núi Sập, tỉnh Long Xuyên, địa chủ cho máy cày (có dân vệ đi theo) vào cày đất. Hàng trăm nông dân rượt đuổi, bọn lái máy cày và dân vệ phải bỏ chạy.

Ở xã Thạnh Mỹ Tây, huyện Châu Phú, tỉnh Châu Đốc, tên Chỉnh, tay chân của tên địa chủ Phán Nhơn, đi cướp đất của nông dân bị bắn chết. Phán Nhơn hoảng sợ, không dám cướp đất nữa.

Ở Long Xuyên, tên đại địa chủ Nguyễn Ngọc Thơ, Bộ trưởng trong chính phủ Diệm, hứa thưởng cho ai chỉ trụ đá ranh giới đất của hắn, nhưng không ai thèm chỉ.

Ở các xã Tân Thạnh, Tân Phú, Bình Thành, tổng Phong Thạnh Thượng, tỉnh Long Xuyên và xã Tân Hội Cơ, huyện Hồng Ngự, tỉnh Châu Đốc, hàng 50 - 70 người dùng gậy gộc, dao búa ngăn cản hoặc rượt chém bọn cướp đất.

Ở huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho, anh Chà nông dân xã Đạo Thạnh bị cướp đất, anh chém tên địa chủ rồi tự sát. Một nông dân ở xã Bình Đức chém chết tên địa chủ cướp bốn phần đất của bốn hộ nông dân, anh bị chúng bắt nhưng bốn hộ nông dân giữ được đất.

Cuộc đấu tranh diễn ra suốt trong hai năm 1955 - 1956. Kết quả nông dân giữ được nguyên canh, chừng 50% phải đóng tô ở mức thấp và khoảng 30% phải lập khế ước. Có nơi địa chủ phải trả lại đất và lúa tô mà chúng đã cướp của nông dân.

Tháng 10 năm 1956, Ngô Đình Diệm ra chỉ dụ số 57, tiếp tục đánh vào quyền sở hữu ruộng đất do cách mạng mang lại cho nông dân. Chúng quy định truất hữu ruộng đất đối với địa chủ chiếm hữu trên 100 héc ta. Ngụy quyền đã mua đất truất hữu, trong đó bao gồm cả đất của nông dân đã được cách mạng cấp, và bán lại cho chính họ. Ai không mua được thì nhường cho người khác. Ý đồ của chúng là xóa bỏ hoàn toàn chủ quyền ruộng đất do cách mạng đem lại, xáo trộn ruộng đất, gây mất đoàn kết trong nông dân, và sâu xa hơn là chúng biến địa chủ thành tầng lớp tư sản mới làm chỗ dựa chính trị cho chế độ phản động.

Nông dân lại đấu tranh quyết liệt để giữ cho được ruộng đất. Tuy nhiên, ở nhiều nơi, nông dân phải chịu bị cướp mất đất, phải lo tiền mua để có đất, coi như số tiền đó bị Mỹ - Diệm ăn cướp. Kẻ thù đánh vào quyền lợi ruộng đất của nông dân là đánh vào chỗ dựa sống còn của cách mạng. Đảng bộ đã nỗ lực lãnh đạo nông dân kiên trì giữ đất.

Đi đôi với việc cướp đất, truy tô, xáo canh, ngụy quyền còn đưa ra chủ trương “hữu sản hóa nông dân”. Chúng nhận định là thực dân Pháp trước kia nắm nông dân bằng bần cùng hóa nên nông dân theo cộng sản. Vì vậy, chúng thực hiện âm mưu đẩy mạnh phong trào nông nghiệp, truất hữu đất của địa chủ bán cho nông dân, đầu tư vốn, kỹ thuật để tạo ra một tầng lớp tư sản ở nông thôn. Nông dân bị ràng buộc với chúng, chúng sẽ nắm được nông dân, tách nông dân ra khỏi cách mạng, nông dân sẽ chống cộng. Đây là một chủ trương rất thâm độc nằm trong chính sách thực dân mới của Mỹ.

Ở Mỹ Tho, khi nghe tin ngụy quyền sẽ cho nông dân vay bạc, vay phân, vay trâu, quần chúng rất xôn xao. Thường vụ huyện ủy Châu Thành họp bàn đối phó với việc này, chủ trương tẩy chay việc Mỹ viện trợ. Nhưng nông dân ở nhiều nơi đã phát biểu ý kiến: Nông dân đang thiếu vốn, thiếu trâu, thiếu phân, nhân dịp này, cứ để dân lấy để phát triển sản xuất, tăng gia thêm được tiền bạc ủng hộ cách mạng. Đảng cần để cho nông dân lấy và còn phải lãnh đạo họ đấu tranh đòi nhiều hơn nữa, lãnh đạo họ chống bọn ăn xén ăn bớt, chống những điều kiện ràng buộc, dấy lên thành phong trào đấu tranh vạch trần sự giả nhân, giả nghĩa của chúng. Các ý kiến này được báo cáo, phản ánh lên tỉnh, lên Khu và được Liên tỉnh ủy đồng tình, chỉ đạo biến thành chủ trương chung.

Ở An Giang, lúc đầu tỉnh cũng chủ trương vận động quần chúng tẩy chay, nhưng sau đã được sự chỉ đạo của Liên tỉnh ủy uốn nắn lại.

Cuộc đấu tranh đòi vay bạc, vay phân, vay trâu đã diễn ra sôi nổi khắp các tỉnh Khu Trung Nam Bộ, kéo theo cả những nông dân tín đồ Hòa Hảo, Cao Đài, Công giáo di cư cũng tham gia.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Mười, 2012, 08:08:05 AM
2. Phong trào đấu tranh đòi Mỹ - Diệm hiệp thương tổng tuyển cử

Thi hành chủ trương của Xứ ủy Nam Bộ, Thường trực Liên tỉnh ủy ra văn bản chỉ đạo mở đợt đấu tranh thống nhất toàn Khu Trung Nam Bộ từ ngày 10 đến ngày 20 tháng 7 năm 1955.

Văn bản chỉ đạo của Thường trực Liên tỉnh ủy đã vượt qua hàng trăm đồn bốt địch, đến các tỉnh ủy, huyện ủy và được hàng ngàn cán bộ, đảng viên truyền đạt tới quần chúng. Vậy là có hàng triệu người xuống đường, bất chấp khủng bố, chết chóc, tù đày, đã sáng tạo ra nhiều biện pháp đấu tranh với kẻ thù thâm độc, tàn ác.

Ở Mỹ Tho trong đợt này, có hai cuộc biểu tình trực diện, có hàng ngàn người tham gia, hàng ngàn cuộc mít tinh, họp xóm ấp, hội thảo, ký kiến nghị, hô khẩu hiệu. Hàng trăm người có thân nhân bị bắt cùng dân trong xã đi gặp quận, tỉnh, tổ Ủy hội quốc tế Tân Châu, Ủy hội quốc tế ở Sài Gòn để đấu tranh. Trên quốc lộ 4, đồng bào chặn xe để treo băng, khẩu hiệu, biểu ngữ, đưa dư luận tới Sài Gòn. Trên sông, đồng bào thả các bè chuối mang biểu ngữ. Ở các phường, khóm trong thị xã, thị trấn cũng có những cuộc mít tinh, hội họp, ký kiến nghị, treo băng, biểu ngữ, rải truyền đơn.

Ở Châu Đốc đợt này có cuộc đấu tranh trực diện với tỉnh trưởng của 3.000 người. Hình thức tập hợp rất khôn khéo. Lúc đầu chỉ có 7 chị mang kiến nghị hiệp thương tổng tuyển cử đến xin gặp tỉnh trưởng. Lính gác không cho vào. Lát sau, hàng trăm người tụ tập trước dinh. Có tin tung ra tỉnh trưởng hứa đổi bạc, tin này làm số người kéo đến càng đông, cả khách vãng lai cũng đến. Họ la vang đòi gặp tỉnh trưởng. Tên tỉnh trưởng phải ra tiếp và nhận kiến nghị.

Sau đấu tranh trực diện là bãi thị. Hơn 40% tiệm lớn và 60% tiệm nhỏ đóng cửa. Dân không đi chợ. Mua bán đình trệ; phố xá thưa thớt. Ngụy quyền cho gọi loa và cho lính đi từng nhà ra lệnh phải mở cửa. Các chủ tiệm từ chối với lý do chợ vắng mở cửa bán không ai mua. Chúng phải chấp nhận cuộc bãi thị.

Sáng ngày 20 tháng 7 năm 1955, chợ Tân Châu trở nên tấp nập bởi người đi chợ đông hơn bình thường, từ phía Thường Phước qua, An Hòa Xương xuống, Long Sơn, Long Thuận lên,… Đến giờ hành động, đoàn Long Phú rút băng và khẩu hiệu ra, lấy mía cây trương lên rồi kéo đến Ủy hội quốc tế. Lực lượng các xã nhập lại lên đến 2.000 người. Bà con đi chợ và dân phố cũng hưởng ứng nên càng thêm đông. Nội dung các khẩu hiệu là đòi chính quyền ngụy lập lại quan hệ bình thường giữa Nam và Bắc, tổ chức hiệp thương, tổng tuyển cử, thả những người bị bắt, không trả thù người kháng chiến, thực hiện các quyền dân sinh, dân chủ, đòi đổi bạc…

Ở tỉnh Sa Đéc, khắp các địa phương, quần chúng rầm rộ biểu tình, mang băng rôn, biểu ngữ đến quận, tỉnh, đòi chính quyền ngụy hiệp thương với miền Bắc.

Sau đợt đấu tranh này, các tỉnh Khu Trung Nam Bộ còn tiến hành hai đợt đấu tranh thống nhất chống trưng cầu dân ý, phế truất Bảo Đại và chống tuyển cử riêng rẽ ở miền Nam. Liên tỉnh ủy chủ trương phát động quần chúng tẩy chay không đi bỏ phiếu, ai bị bắt ép thì vào phòng phiếu gạch mặt, gạch tên Diệm, làm cho phiếu không hợp lệ. Hơn 50% số cử tri không đi bỏ phiếu, lính ngụy phải vào xóm ấp lùa từng người.

Ở một số nơi như xã Bình Ninh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Mỹ Tho, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, các xã Mỹ Long, Mỹ Hiệp tỉnh Sa Đéc, đồng bào cướp cả thùng phiếu. Tại thị xã Cao Lãnh, học sinh vẽ khẩu hiệu trên đường phố, phân phát truyền đơn, tờ bướm. Ở các xã vùng ven Cao Lãnh, đồng bào viết khẩu hiệu phản đối, dán trước các ngõ. Ở Châu Đốc và ở huyện Mộc Hóa, tỉnh Tân An, nhiều điểm bỏ phiếu bị đập phá.

*
*   *

Từ sau ngày Hiệp định Giơnevơ năm 1954 được ký kết, Đảng bộ Khu Trung Nam Bộ đã rút vào hoạt động bí mật. Đảng vẫn bảo tồn được lực lượng và lãnh đạo các cuộc đấu tranh chính trị của quần chúng, làm thất bại một bước ý đồ dùng chính sách thực dân kiểu mới giành dân của địch. Trong những năm 1954 - 1956, công tác tổ chức và vận động quần chúng của Đảng bộ Khu Trung Nam Bộ rất chặt chẽ, đảng viên và lãnh đạo đều ở trong dân nên đã nắm được hơn 90% quần chúng nông thôn và hơn 50% quần chúng ở đô thị. Trong nội bộ địch thì phần lớn tề xã, ấp, dân vệ, một số lớn binh sĩ, bảo an, chủ lực là người của cách mạng.

Trước bản chất độc tài, phát xít và hành động khủng bố, trả thù của địch, từ năm 1954 đến năm 1956, cao trào đấu tranh chính trị của các tầng lớp quần chúng đã diễn ra sôi nổi, rộng khắp và mạnh mẽ trong các tỉnh Khu Trung Nam Bộ. Cao trào đã vô hiệu hóa phần lớn các âm mưu bắt lính, cướp ruộng đất, khủng bố tiêu diệt cơ sở cách mạng của kẻ thù.

Đấu tranh chính trị ở Khu Trung Nam Bộ là quá trình vận động sáng tạo đường lối, chủ trương của Trung ương từ chiến tranh chuyển sang đấu tranh hòa bình trong điều kiện của địa phương và trong bối cảnh Mỹ - Diệm còn đang phải đối phó với các lực lượng thân Pháp trong nội bộ chúng.

Đấu tranh chính trị là một sáng tạo trong chỉ đạo phong trào cách mạng quần chúng ở Trung Nam Bộ trong điều kiện địch áp dụng chính sách thực dân kiểu mới kết hợp ve vãn, mua chuộc, lừa mị với khủng bố, đánh phá, bắn giết, bắt bớ, giam cầm ở khắp nơi. Đảng bộ đã biết khai thác nhược điểm của chính sách hai mặt của địch để tấn công chúng.

Đấu tranh chính trị ở các tỉnh Trung Nam Bộ là cuộc tập dượt quy mô lớn của quần chúng, tạo tiền đề cho thời kỳ cách mạng tiến công nổi dậy đồng loạt trong toàn Khu sau này.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Mười, 2012, 08:09:29 AM
CHƯƠNG II

XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG CÁCH MẠNG, TIẾN HÀNH ĐỒNG KHỞI
(1955 - 1960)

I - NHỮNG TIỀN ĐÈ CỦA NỔI DẬY

1. Lợi dụng mâu thuẫn trong nội bộ địch

Từ cuối năm 1954 đến hết năm 1955, cơ quan Liên tỉnh ủy đóng ở Rạch Tràm, thuộc xã An Lục Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tân An và huyện Chợ Gạo, tỉnh Mỹ Tho, thuộc phía nam lộ 4. Thời gian này, nội bộ địch đang có những diễn biến phức tạp, bọn tay sai của Pháp và của Mỹ có khả năng sẽ xung đột với nhau. Bọn thân Mỹ đã mạnh lên, hơn hẳn bọn thân Pháp. Nhưng bọn thân Pháp cũng không dễ dàng đầu hàng, vì chúng có vũ trang khá mạnh, lại chiếm cứ những vùng đông dân. Chắc chắn bọn chúng sẽ đánh nhau và điều này có lợi cho cách mạng, ta cần phải lợi dụng tình hình. Trong khi chờ chỉ đạo của Trung ương và Xứ ủy, Liên tỉnh ủy Khu Trung Nam Bộ chỉ thị cho các tỉnh theo dõi chặt chẽ tình hình và cử cán bộ đi sâu tuyên truyền, vận động đồng bào tín đồ Cao Đài, Hòa Hảo, vạch trần âm mưu muốn tiêu diệt giáo phái của Mỹ - Diệm, đồng thời cho đồng bào thấy rõ chính sách tốt đẹp của cách mạng, giải tỏa được những hiểu lầm, hiềm khích trước đây.

Ở Sài Gòn, ngày 28 tháng 4 năm 1955, quân Diệm tấn công lực lượng Bình Xuyên. Quân Bình Xuyên thua to phải rút vào Rừng Sác. Lực lượng Cao Đài ly khai của Trịnh Minh Thế, rồi tiếp theo là nhóm của Nguyễn Thành Phương, Văn Thành Cao đầu hàng Diệm. Tòa thánh Cao Đài ở Tây Ninh bị chiếm đóng. Hộ pháp Phạm Công Tắc bỏ chạy sang Phnômpênh. Một số lực lượng Cao Đài trung thành với Phạm Công Tắc do các tên đại tá Khiêm, đại tá Phụng cầm đầu phải rút vào Mộc Hóa, Đồng Tháp Mười.

Ngày 5 tháng 6 năm 1955, Diệm mở chiến dịch Đinh Tiên Hoàng I, huy động 20 tiểu đoàn vây đánh quân Hòa Hảo của Năm Lửa (Trần Văn Soái) ở Cái Vồn, Cần Thơ và quân Hòa Hảo của Hai Ngoán (Lâm Thành Nguyên) ở Cái Dầu, Châu Đốc. Năm Lửa bị mất phần lớn lực lượng, số còn lại phải rút chạy vào Đồng Tháp Mười.

Ngày 13 tháng 6 năm 1955, Hai Ngoán đầu hàng Diệm. Một số tay chân của Ngoán do Lê Hồng Tươi, Trần Thanh Hồng cầm đầu không chịu đầu hàng, tách ra đóng ở vùng An Hòa Xương.

Quân Hòa Hảo của Ngộ (Nguyễn Giác Ngộ) vội vã đầu hàng Diệm, trở thành lực lượng bảo an đồng hóa. Dân xã Đảng Ba Cụt (Lê Quang Vinh) được sự giúp đỡ của bọn tay sai Pháp, chống Diệm.

Một tuần sau khi quân Diệm và quân Bình Xuyên đánh nhau, Liên tỉnh ủy Khu Trung Nam Bộ được Bộ Chính trị Trung ương Đảng chỉ đạo: “tìm cách duy trì lực lượng giáo phái ly khai để gây khó khăn cho Mỹ - Diệm”. Đồng chí Tư Long, Liên tỉnh ủy viên, được chỉ thị thôi làm Bí thư Tỉnh ủy Long Xuyên để về cơ quan liên tỉnh ủy, đặc trách công tác Hòa Hảo vận, binh, chánh vận.

Liên tỉnh ủy Khu Trung Nam Bộ ra chỉ thị về phương hướng hành động đối với lực lượng giáo phái ly khai. Chỉ thị nêu rõ: Lực lượng giáo phái ly khai chống Diệm là dựa vào Pháp. Bản chất của họ là ham quyền, ham lợi, nếu Diệm đánh mạnh và bỏ ra nhiều tiền để mua chuộc thì có khả năng họ sẽ tan rã, đầu hàng. Ta cần đưa người vào giúp họ đánh Diệm, thuyết phục họ phải biết dựa vào dân, không đụng chạm đến quyền lợi, tính mạng, tài sản của dân để được dân ủng hộ; vừa tranh thủ bọn chỉ huy, vừa vận động binh lính.

Trước mắt, Liên tỉnh ủy Khu Trung Nam Bộ chỉ thị cho đồng chí Chín Còn - Bí thư Tỉnh ủy Gò Công rút một số cán bộ, chiến sĩ còn lại đưa sang Rừng Sác thâm nhập vào lực lượng Bình Xuyên.

Đến tháng 6 năm 1955, tình hình giáo phái chống Diệm phát triển ở Đồng Tháp Mười. Nhận thấy cần phải theo sát để chỉ đạo, cơ quan Liên tỉnh ủy Khu Trung Nam Bộ chuyển căn cứ vùng ven thị xã Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc, từ Hòa An lên Phong Mỹ qua Mỹ Ngãi, Mỹ Trà và xuống phía nam huyện Cao Lãnh. Căn cứ được xây dựng ở xã Long Hiệp và bám trụ ở đây đến cuối năm 1955 thì chuyển xuống các xã Mỹ Phong, Thanh Bình, huyện Chợ Gạo và một số xã ven thị xã Mỹ Tho.

Liên tỉnh ủy đã chỉ đạo các Tỉnh ủy Châu Đốc, Long Xuyên, Sa Đéc, Mỹ Tho, Tân An bố trí cán bộ, chiến sĩ hồi cư giúp lực lượng Cao Đài, Hòa Hảo và vận động họ lập các ủy ban quân chính giáo phái, tự vệ, du kích, giáo phái các xã, rồi bí mật đưa người của ta vào. Các tổ chức này mang danh nghĩa giáo phái nhưng đấu tranh phá thế kìm kẹp, trừng trị ác ôn, trấn áp tề xã, ấp, liên gia, chỉ điểm…, giúp đồng bào đấu tranh bảo vệ quyền lợi ruộng đất, chống bắt lính… giống như chính quyền cách mạng ở xã, ấp. Tỉnh ủy các tỉnh Đồng Tháp Mười đã thi hành triệt để chỉ thị của Liên tỉnh ủy.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Mười, 2012, 08:10:14 AM
Đối với khối Hòa Hảo ly khai, Tỉnh ủy Châu Đốc đưa các đồng chí Lê Trung Cang, Hồng Việt, Tư Sâm, Mười Dân, Năm Phàn, Huỳnh Văn Tụi bám theo cánh quân của Năm Lửa. Huyện ủy Tân Châu, An Phú đưa người vào lực lượng của Lê Hồng Tươi, Trần Thanh Hồng. Lực lượng này xưng là Tiểu đoàn Lê Văn Duyệt, đồng thời là Bộ Tư lệnh Lâm Thành Nguyên. Đồng chí Lê Văn Khoái, Huyện ủy viên, Bí thư xã Vĩnh Xương, đồng hương với Tươi, làm cố vấn cho Tươi. Đồng chí Sáu Tố, cán bộ tuyên huấn Tỉnh ủy Châu Đốc được Tươi cử làm Chính trị viên Tiểu đoàn. Đồng chí đã tổ chức dạy văn hóa cho binh sĩ Hòa Hảo, giáo dục họ không hà hiếp dân. Tươi là dân anh chị, chẳng hề phục ai nhưng lại rất nể đồng chí Sáu Tố. Trong số những đồng chí vào đơn vị của Tươi có người trước đây là y tá, đã sử dụng nghề nghiệp của mình để chữa bệnh cho tín đồ và quần chúng ở những vùng đóng quân, qua đó làm công tác dân vân, tuyên truyền cách mạng. Đến đầu năm 1956, đơn vị của Hồng tan rã, số đồng chí ở đây nhập sang đơn vị của Tươi. Các đồng chí vận động Tươi cho tách ra thành lập đơn vị riêng, lấy phiên hiệu là Đại đội 4. Đại đội này cùng hoạt động với Tiểu đoàn của Tươi, đánh quân Diệm và trừng trị ác ôn.

Tỉnh ủy Long Xuyên đưa các đồng chí Võ Văn Tôn, Văn Thông, Tư Bình, Ba Tính, Tư Việt Sinh vào lực lượng Dân xã Đảng Ba Cụt. Một thời gian sau khi các cán bộ, chiến sĩ của Đảng bộ Long Xuyên, Châu Đốc thâm nhập vào giáo phái Hòa Hảo, nhiều tín đồ và binh sĩ Hòa Hảo đã được giác ngộ cách mạng, trở thành đảng viên, như các đồng chí Bảy Tỉnh, Tám Sái, Mười Tôn, Tư Rô, Mười Chải. Đây là những vốn quý của cách mạng ở một vùng mà tín đồ Hòa Hảo chiếm số lượng lớn, đòi hỏi những người làm cách mạng là những tín đồ Hòa Hảo.

Ở tỉnh Tân An, Huyện ủy Mộc Hóa rất vui mừng khi nhận được chỉ đạo của Khu. Huyện ủy lựa chọn, đưa ngay 37 người vào quân Hào Hảo của Năm Lửa, trong đó có những đồng chí như Hai Trải, Tư Phong, Hai Trung, Sáu Nhỏ, Huỳnh Nho,… Huyện ủy còn liên lạc với Tiểu đoàn 65 Hòa Hảo để xin súng, trang bị cho một trung đội và hai tiểu đội do ta thành lập. Đơn vị này hoạt động song song với Tiểu đoàn 65 Hòa Hảo, cùng phục kích diệt 2 trung đội lính Diệm ở ngã ba Đốc Vàng, Tân Phú.

Ở tỉnh Sa Đéc, khi lực lượng Hòa Hảo ly khai kéo vào Đồng Tháp Mười, Huyện ủy Cao Lãnh phân công đồng chí Tư Tiến, Huyện ủy viên cùng 20 cán bộ quân sự và du kích hồi cư gặp Năm Lửa vận động hắn nhận các đồng chí làm cố vấn. Đang lúc lúng túng, hắn chấp nhận và đồng ý cho tổ chức Ủy ban giáo phái và tự vệ Hòa Hảo ở xã. Tất cả các xã dọc lộ 30 đều thành lập Ủy ban giáo phái và tự vệ Hòa Hảo, ta dùng hình thức này để đưa người vào hoạt động ở xã, ấp. Từ những việc mà Huyện ủy Cao Lãnh đã làm được, Tỉnh ủy chỉ thị các huyện ủy khác trong tỉnh chọn cán bộ, đảng viên hoạt động bất hợp pháp tổ chức các Ủy ban giáo phái và tự vệ Hòa Hảo ở các nơi trong tỉnh.

Tỉnh Mỹ Tho cũng đưa người vào lực lượng giáo phái Hòa Hỏa nhưng chỉ có mấy người, vì lúc này ở Mỹ Tho phong trào đấu tranh chính trị đang mạnh, chính quyền ấp, xã đều do chi bộ nắm, không cần đến lực lượng vũ trang phá kìm kẹp, giải tán bộ máy chính quyền ở xã, ấp.

Đầu năm 1956, cơ quan Liên tỉnh ủy Khu Trung Nam Bộ đóng ở vùng kênh Ba Tháp. Trước việc Diệm đánh ngày càng mạnh vào các đơn vị giáo phái ly khai, Liên tỉnh ủy đã chỉ thị cho cơ quan tổ chức cho một bà má xuống Chợ Gạo tìm Văn Phú, là người của phòng nhị Pháp, nguyên là cố vấn chính trị của Năm Lửa, đang trốn tránh ở đó. Ý định là thông qua Văn Phú nối liên lạc với Pháp tranh thủ tiếp tế cho Năm Lửa. Nhưng trong khi Văn Phú đang trên đường từ cơ quan Liên tỉnh ủy đi gặp Năm Lửa, thì ngày mồng 2 tết năm 1956, Năm Lửa đã đưa 600 quân ra hàng, tập kết ở Đốc Vàng, Tân Phú và Voi Me, Mỹ Thọ, Cao Lãnh.

Với khối Cao Đài ly khai, địa bàn hoạt động của họ nằm chủ yếu trong tỉnh Tân An. Huyện ủy Mộc Hóa đã cử các đồng chí Sáu Thảo - Bí thư xã Phong Phú, Bảy Thới - tiểu đội trưởng Vệ quốc đoàn, và đồng chí Tư Dẫn vào đơn vị Cao Đài của Khiêm đóng ở biên giới Campuchia, các đồng chí Tư Đúng, Mười Xưởng, Bảy Xứng vào hoạt động trong lực lượng Cao Đài của Thái Khai. Các đồng chí này được họ đồng ý cho tổ chức các đơn vị tự vệ mang danh nghĩa giáo phái Cao Đài và trang bị cho những người của cách mạng đưa vào. Từ Bình Hiệp đến Bình Hòa, Phong Phú, Thủy Đông, Thuận Nghĩa, Tân Đông, dọc biên giới và theo sông Vàm Cỏ Tây, nơi nào cũng có các đội tự vệ giáo phái hoạt động.

Tháng 7 năm 1955, Diệm mở chiến dịch đánh vào lực lượng Cao Đài của Khiêm. Lực lượng của Khiêm tan rã. Các đồng chí trong lực lượng của Khiêm tách ra, được đồng chí Võ Văn Tăng, - Huyện ủy viên phụ trách vùng, đưa nhập vào đơn vị Cao Đài của Phụng đang chiếm đóng từ Vàm Cỏ Đông qua Giồng Dinh, Giồng Lức, thuộc các xã của huyện Thủ Thừa, Tân An. Phụng đưa khung tiểu đoàn của hắn sang lập một tiểu đoàn mới, lấy tên là Tiểu đoàn Văn Kia, đóng ở Trắp Tre. Đồng chí Sáu Thảo được cử làm Chính trị viên tiểu đoàn, đồng chí Bảy Ngôn làm cố vấn cho tiểu đoàn trưởng, đồng chí Bảy Thới làm Đại đội phó, đồng chí Tư Dẫn phụ trách văn phòng đại đội. Tiểu đoàn này hoạt động từ xã Bình Hiệp tới xã Bình Hòa, Bình Thành, Thủy Đông dọc biên giới Campuchia. Tỉnh ủy Tân An còn rút một số cán bộ ở các huyện cài vào lực lượng giáo phái Cao Đài ly khai này.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Mười, 2012, 08:10:54 AM
Đến tháng 7 năm 1956, các nhóm Cao Đài ly khai tan rã. Như vậy chỉ còn hai đơn vị nhỏ giáo phái ly khai là đơn vị Dân xã Đảng của Bảy Ớt, em của Ba Cụt và đơn vị Hòa Hảo của Lê Hồng Tươi.

Từ tháng 3 năm 1956, trước tình hình các lực lượng giáo phái ly khai hầu hết khai tan rã, Liên tỉnh ủy Khu Trung Nam Bộ đã chỉ thị cho các tỉnh thành lập các lực lượng vũ trang cách mạng mang danh nghĩa giáo phái, tiếp tục hoạt động để giữ thế cách mạng vừa tạo được ở Đồng Tháp Mười.

Thực hiện chỉ đạo này, ở Sa Đéc, Huyện ủy Cao Lãnh cử đồng chí Mười Ái - Ủy viên Thường vụ Huyện ủy tập hợp chiến sĩ, gom súng của Hòa Hảo để lại thành lập hai phân đội 210 và 401. Đồng chí Nguyễn Văn Phối - Bí thư Tỉnh ủy trực tiếp xây dựng một đơn vị lấy từ cán bộ, đảng viên hoạt động bất hợp pháp, lấy phiên hiệu là Tiểu đoàn Đinh Bộ Lĩnh Hòa Hảo, đưa đồng chí Tư Tiến - Huyện ủy viên Cao Lãnh làm Chính trị viên và dùng đại úy Hồng - tín đồ Hòa Hảo ở lại làm Tiểu đoàn trưởng, trang bị lấy từ số súng của tỉnh cất giấu. Ở phía nam sông Tiền, các đồng chí Việt Châu, Mai Xuân Quảng tổ chức lực lượng xây dựng đơn vị, lấy tên là Tiểu đoàn Lý Thường Kiệt. Tiểu đoàn Đinh Bộ Lĩnh từ ba phân đội, 100 người ban đầu về sau phát triển thành chín đại đội quân số lên đến 300 người. Cán bộ, chiến sĩ đều là người của cách mạng, không có một người lính Hòa Hảo nào. Các đại đội chia ra bảo vệ các vùng, bảo vệ cơ quan Tỉnh ủy, đánh càn, phục kích bọn lính Diệm đi lùng sục, hỗ trợ cho lực lượng tự vệ xã trấn áp ngụy quyền xã, ấp, chống bắt lính, chống cướp ruộng đất cách mạng đã cấp cho nông dân, chống phá các cuộc bầu cử của ngụy quyền, tuyên truyền, giác ngộ nhân dân.

Ở tỉnh Tân An, cán bộ, chiến sĩ do Huyện ủy Mộc Hóa đưa vào lực lượng Cao Đài đã rút ra thành lập một đơn vị gồm 6 tiểu đội, lấy danh nghĩa Tiểu đoàn Phước Dư - Cao Đài, do đồng chí Bảy Thới làm Tiểu đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Văn Thông làm Chính trị viên.

Cho đến năm 1956, Đảng bộ tỉnh Chợ Lớn bị địch đánh phá ác liệt nhưng còn thuộc Liên tỉnh ủy miền Đông đang tuyệt đối không hoạt động vũ trang để giữ gìn lực lượng. Đồng chí Sáu Đường - Bí thư Liên tỉnh ủy Khu Trung Nam Bộ cho tập hợp số cán bộ hồi cư hoạt động bất hợp pháp từ Chợ Lớn tránh về Đồng Tháp Mười thành lập ba trung đội 29, 30, 31. Vùng Rừng Sác thành lập Đại đội 12, gồm 12 chiến sĩ vượt ngục ở Biên Hòa. Các đồng chí Mười Xưởng, Tư Đúng, Bảy Xứng diệt tên Thái Khai, tách ra thành lập đơn vị lấy tên là Tiểu đoàn Quang Huy - Cao Đài. Sau đó. đồng chí Ba Du lại thành lập đơn vị lấy tên là Tiểu đoàn Lê Quang - Bình Xuyên. Các đơn vị trên là tiền thân của hai tiểu đoàn 506, 508 lực lượng vũ trang Long An tiến công đánh tan tàn quân Cao Đài của Phụng.

Tháng 6 năm 1956, Tiểu đoàn Phước Dư về vùng kênh Bùi xã Tân Ninh khai hầm lấy lên 60 khẩu súng đã cất giấu từ trước cộng với số súng lấy được của giáo phái trang bị và phát triển lực lượng thành ba trung đội, mang danh nghĩa ba đại đội, hoạt động ở các vùng, là tiền thân của Tiểu đoàn 504 lực lượng vũ trang Kiến Tường.

Đối với những đồng chí được Tỉnh ủy Gò Công đưa ra Rừng Sác giúp lực lượng Bình Xuyên, sau khi Bình Xuyên tan rã, Liên tỉnh ủy cho hai đồng chí Đào Kim Sơn và Tám Dần sang tìm được mấy chục người, thành lập đơn vị mang danh Bình Xuyên kéo về Đồng Tháp Mười. Liên tỉnh ủy rút thêm cán bộ, chiến sĩ của Tân An, Mỹ Tho bổ sung vào rồi đặt phiên hiệu là Tiểu đoàn 2 Bình Xuyên, trực thuộc Khu Trung Nam Bộ, do đồng chí Sáu Thanh (Trần Hữu Danh) làm Tiểu đoàn trưởng, đồng chí Đào Kim Sơn làm Tiểu đoàn phó, đồng chí Tám Dần làm Chính trị viên. Một thời gian sau Tiểu đoàn này giao lại cho tỉnh ủy Sa Đéc nhập với Tiểu đoàn Đinh Bộ Lĩnh của tỉnh, là tiền thân của Tiểu đoàn 502 lực lượng vũ trang Kiến Phong.

Ở Mỹ Tho, hàng chục cán bộ, đảng viên, đoàn viên, thanh niên ở Cái Bè, Cai Lậy tạm lánh vào vùng Tân Ninh, Nhơn Ninh, Tân Hòa, Mộc Hóa, Tân An. Không có súng, các đồng chí lấy khúc trâm bầu làm vũ khí, đêm về diệt ác ôn, vận động quần chúng, ngày trở lại vùng trong, trú dưới rặng trâm bầu. Dân gọi là “bộ đội trâm bầu”. Một số cán bộ, chiến sĩ bộ đội địa phương, xã đội, du kích ở các xã vùng ven Đồng Tháp Mười như Cai Lậy, Châu Thành bị ngụy quyền truy nã, đã tạm lánh vào Tân Hòa Đông, căn cứ cũ của hai huyện, sông bằng nghề nhổ bàng, cắt đưng, bắt cá. Ở đây, các đồng chí kết hợp với đồng chí Năm Chi - Bí thư chi bộ xã Tân Hòa Đông, đào được hầm súng của tỉnh Gò Công chôn ở Tràm Mù liền tổ chức lực lượng vũ trang hoạt động trấn áp ngụy quyền xã, ấp vùng kênh Nguyễn Văn Tiếp A.

Như vậy là lực lượng vũ trang các tỉnh Đồng Tháp Mười đã được thành lập. Tuy còn ít, nhưng ảnh hưởng của hoạt động vũ trang đã làm cho ngụy quyền cơ sở ở những nơi này giảm uy thế, bớt hống hách, đồng bào dễ thở hơn, đã có thể chống lại ách kìm kẹp và tham gia ủng hộc cách mạng. Gặp mặt bọn tề và lính, đồng bào đã nói thẳng: Tình thế bây giờ đã khác trước, mấy ông phải liệu lấy thân, gian ác làm khổ dân sẽ bị trừng trị.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Mười, 2012, 08:11:39 AM
Đã có lực lượng vũ trang, Liên tỉnh ủy Khu Trung Nam Bộ cho thành lập cơ quan chỉ huy quân sự cấp Khu của các tỉnh Đồng Tháp Mười, đóng ở Trắp Tre gắn liền với biên giới Campuchia, với danh nghĩa Bộ tư lệnh lực lượng vũ trang giáo phái giải phóng, do đồng chí Lê Văn Khuyên (Tám Dần) xưng danh Trung tá Lưu Phước Nam làm Tư lệnh, đồng chí Quốc Hùng - Phó bí thư Huyện ủy Mộc Hóa, làm Phó tư lệnh. Các đơn vị vũ trang gọi tên chung là lực lượng Cao Thiên Hòa Bình, lấy cờ đỏ có ngôi sao xanh làm quân kỳ. Đồng chí Bí thư Liên tỉnh ủy giải thích về ý nghĩa lá cờ: “Màu đỏ là tượng trưng cho cách mạng, còn ngôi sao xanh tượng trưng cho hòa bình cách mạng trong đường lối đấu tranh chính trị hòa bình”. Bắt đầu từ đây cho đến ngày Đồng khởi năm 1960, lá cờ đỏ ngôi sao xanh đã trở thành biểu tượng cho cách mạng ở Khu VIII. Để phối hợp giữa chính trị và quân sự trong tình hình đã có lực lượng vũ trang cách mạng, ở Đồng Tháp Mười đã thành lập các ban quân chính các cấp, là tiền thân các tỉnh đội, huyện đội sau này.

Như vậy, là từ những tháng đầu năm 1956, qua việc Liên tỉnh ủy Khu Trung Nam Bộ tổ chức lực lượng vũ trang ở các tỉnh để hỗ trợ cho quần chúng đấu tranh bảo vệ cán bộ, đảng viên, cơ sở cách mạng, cục diện đấu tranh cách mạng của Khu Trung Nam Bộ đã chuyển sang một hình thái mới. Trên một địa bàn rộng là Đồng Tháp Mười vốn là căn cứ địa trong cuộc kháng chiến chống Pháp trước kia đã tạo nên một thế mới, quần chúng đã nổi dậy phá kìm kẹp, tấn công địch từng bước, làm chủ từng phần ở xã, ấp vùng nông thôn. Đây là nơi cán bộ, đảng viên đã có thể bám dân hoạt động cách mạng, địch không dễ dàng lùng bắt, tàn sát, đồng thời cũng là nơi những cán bộ, đảng viên bị địch lùng bắt ở các vùng đến trú chân. Những người này sẽ là nguồn bổ sung quan trọng cho lực lượng cách mạng phát triển vượt bậc khi thời cơ đến sau này.

Lúc đầu lấy danh nghĩa đội tự vệ giáo phái gồm 3-4 người, đến năm 1956 ta đã có tới trung đội gồm hàng chục người, mang danh hiệu tiểu đoàn, có thanh thế. Có tỉnh có tới hai tiểu đoàn, như Long An có Tiểu đoàn 6, Tiểu đoàn 8, có tỉnh có một tiểu đoàn, như Kiến Phong có Tiểu đoàn 2, Kiến Tường có Tiểu đoàn 4.

Riêng Tiểu đoàn 2 Bình Xuyên được thành lập từ những cán bộ, chiến sĩ của Gò Công được phái đi giúp Bình Xuyên trở về, có bổ sung thêm cán bộ, chiến sĩ của các tỉnh vùng trên. Tiểu đoàn này lúc mới thành lập trực thuộc Khu bộ, sau nhập với Tiểu đoàn 2 của tỉnh Kiến Phong.

Với người dân Đồng Tháp Mười, dầu các tiểu đoàn mới thành lập mang tên Hòa Hảo, Cao Đài, Bình Xuyên nhưng họ hiểu ngay đó là lực lượng vũ trang của cách mạng. Vì nhìn mặt cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị chẳng ai lạ, toàn là con em của họ trong kháng chiến chống Pháp.

Đồng bào các tỉnh Đồng Tháp Mười đã không bỏ lỡ cơ hội, lấy lại thế tấn công chính trị của mình. Việc quan trọng nhất đối với đồng bào là đấu tranh trực diện kết hợp bạo lực vũ trang đòi lại quyền làm chủ ruộng đất.

Sau Hiệp định Giơnevơ người dân thực hiện khẩu hiệu đấu tranh mà Xứ ủy đề ra là đòi giữ nguyên canh, giảm tô. Nhưng khi đã có lực lượng vũ trang thì thế của dân lên, không phải chỉ đấu tranh đòi giảm tô mà đòi bỏ tô và đòi trả lại quyền làm chủ ruộng đất cách mạng đã cấp. Thí dụ như sự kiện đấu tranh với địa chủ Lý Thị Hường, con gái của địa chủ Lý Văn Mạnh, một địa chủ lớn, có hàng ngàn mẫu đất trồng dừa và lúa, có cả con kênh mang tên Lý Văn Mạnh trên đất tỉnh Chợ Lớn. Thị Hường lại là chị vợ tướng Trần Văn Đôn, một viên tướng có thế lực trong chính quyền Diệm; bọn địch ở tỉnh, quận chỉ là đàn em của Đôn và tay chân của Hường. Lý Thị Hường đã cướp lại tất cả số ruộng đất mà cách mạng đã cấp cho nông dân, truy tô, hống hách, sỉ nhục nông dân. Nông dân đã đấu tranh chính trị vơi Lý Thị Hường, nhưng không thu được kết quả. Khi có lực lượng vũ trang, tuy mang danh nghĩa giáo phái, thì tình hình đã khác. Ta tổ chức phục kích bắt Lý Thị Hường, ra lệnh cho thị phải trả đất lại cho dân, ngoài ra còn phải nộp phạt 500.000 đồng (số tiền này thời điểm đó trị giá hàng ngàn giạ lúa) nếu không thì sẽ bị tử hình. Lý Thị Hường khóc lóc, lạy lục xin trả lại đất, nộp phạt, sau đó trốn về Sài Gòn không dám xuống nữa.

Ở trong các ấp cũng vậy. Nhiều tề xã, tề ấp hôm trước còn đi quát nạt, hà hiếp dân chúng. Sáng hôm sau, cũng chính những tên tề đó, khăn đóng, áo dài, bưng khay trầu, rượu đến quỳ lạy những người chúng vừa hà hiếp, nạt nộ. Bà con ngỡ ngàng, lúng túng, không dám nhận lạy nhưng chúng một mực xin được lạy, còn hứa từ nay sống lương thiện, tử tế, không hà hiếp bà con lối xóm. Mọi người ngạc nhiên. Chỉ có chúng và một số người biết tại sao có chuyện lạ đời như vậy. Đó là vì, chúng vừa nhận được thư của lực lượng cách mạng kể tội chúng, buộc chúng phải mang trầu, rượu đi xin lỗi người dân, nếu dân không tha tội thì cách mạng sẽ không tha, tức là sẽ tử hình như những tên chủ ấp ác ôn khác. Những tên này không thể bỏ nhà cửa, ruộng vườn, vợ con chạy ra đồn bốt hay đi ở nơi khác như những tên có nhiều tiền của, nên chúng phải chấp nhận xin lỗi bà con.

Đó là cách hạ uy thế của bọn tề ấp, xã mà các chi bộ đã làm. Ở những nơi lực lượng vũ trang chưa đủ mạnh hoặc chưa có lực lượng vũ trang thì mượn uy thế lực lượng vũ trang nơi khác tác động vào địa phương mình. Rồi từ đó phát động quần chúng đứng lên hạ uy thế địch, tấn công bằng cả chính trị, quân sự và binh vận để vô hiệu hóa bộ máy kìm kẹp của địch, làm chủ xã, ấp từng bước. Nhờ cách này, đã lấy lại uy thế của cách mạng, xây dựng được cơ sở, bồi dưỡng phát triển chi bộ, du kích, đoàn thể, từng bước đứng lên làm chủ xóm làng.

Ngay ở những xóm, ấp địch đưa đồng bào di cư, di dân vào Đồng Tháp Mười sau năm 1954 ta cũng vận dụng được cách hạ uy thế của bọn ác ôn như vậy.

Trước tình thế địch đang chủ trương xây dựng chính quyền cơ sở, ráo riết kìm kẹp dân, thì việc người dân Đồng Tháp Mười lấy lại được uy thế của cách mạng có ý nghĩa rất lớn. Từ đó, Đồng Tháp Mười lại trở thành biểu tượng của vùng đất cách mạng, nơi mà các vùng ngoài đông dân lại bị địch kìm kẹp hướng đến, đặt niềm tin, là nơi tích tụ, bảo tồn lực lượng dự trữ của cách mạng để khi thời cơ đến, mở rộng ra các vùng địch kiểm soát. Nhưng từ lúc này cho đến khi cách mạng tạo được thời cơ để đồng bào nổi dậy tấn công địch bằng hai chân; chính trị, vũ trang và ba mũi: chính trị, quân sự, binh vận để từng bước giành được quyền làm chủ ở cơ sở, chưa phải đã suôn sẻ, mà còn nhiều quanh co, rất nhiều khó khăn quyết liệt.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Mười, 2012, 08:12:27 AM
2. Dự thảo đề cương đường lối cách mạng miền Nam, đề án tổ chức hoạt động vũ trang tuyên truyền của Xứ ủy

Tháng 11 năm 1955, đồng chí Lê Duẩn - Bí thư Xứ ủy, đến Bến Tre khảo sát tình hình, biện soạn dự thảo Đề cương đường lối cách mạng miền Nam.

Đồng chí Ba Chim, Liên tỉnh ủy viên, Bí thư Tỉnh ủy Mỹ Tho được đồng chí Bí thư Liên tỉnh ủy Khu Trung Nam Bộ cử đến gặp đồng chí Bí thư Xứ ủy để báo cáo tình hình. Đồng chí Bí thư Xứ ủy đánh giá cao Đảng bộ Khu Trung Nam Bộ đã chuyển hướng nắm dân, phát động nhân dân đấu tranh trong những năm vừa qua.

Tháng 10 năm 1956, đồng chí Sáu Đường, Bí thư Liên tỉnh ủy được triệu tập đi dự Hội nghị lần thứ nhất của Xứ ủy Nam Bộ, họp tại Phnômpênh, thủ đô Campuchia. Khi đến cơ quan Xứ ủy, đồng chí Sáu Đường được đưa về trong dãy nhà mà nhân dân gọi là dãy nhà Mỹ (Xứ ủy thuê bao luôn cả dãy nhà Mỹ), cách nhà đồng chí Lê Duẩn một căn. Trước ngày vào Hội nghị, đồng chí Sáu Đường có nhiều thời gian tiếp xúc với đồng chí Bí thư Xứ ủy.

Là Bí thư Xứ ủy đã trải qua thời gian hai năm sống trong dân từ sau Hiệp định Giơnevơ, đồng chí Lê Duẩn cũng đã từng nghe tâm sự của đảng viên, quần chúng và hiểu tình hình, nên đồng chí nhấn mạnh với đồng chí Sáu Đường: “Cách mạng miền Nam phải giải quyết bằng con đường bạo lực của nhân dân miền Nam, lật đổ Mỹ - Diệm mới có hòa bình”. Đồng chí nói để mấy hôm nữa họp Xứ ủy, Bản đề cương sẽ được xây dựng thành nghị quyết chính thức phổ biến trong Đảng bộ. Đồng chí Sáu Đường thay mặt Liên tỉnh ủy báo cáo với đồng chí Lê Duẩn tình hình ở Đồng Tháp Mười và các tỉnh Khu Trung Nam Bộ trong hai năm qua. Đồng chí trình bày cụ thể những khó khăn, nguyện vọng của người dân Đồng Tháp Mười khi địch kìm kẹp, áp bức; mong muốn có bạo lực vũ trang hỗ trợ cho đấu tranh quần chúng của người dân Đồng Tháp Mười và cán bộ, đảng viên nói chung; những cuộc đấu tranh đòi giữ chủ quyền ruộng đất của nông dân; việc thành lập các tiểu đoàn giáo phái, liên lạc với bọn Mặt trận quốc gia thân Pháp có đại diện ở Phnômpênh nhận viện trợ; lấy cờ đỏ ngôi sao xanh tượng trưng cho Mặt trận Cao Thiên Hòa Bình. Từ khi có những tiểu đoàn mang danh nghĩa giáo phái hoạt động ở Đồng Tháp Mười dùng bạo lực vũ trang để trừng trị bọn ác ôn, phá thế kìm kẹp ở cơ sơ xã, ấp thì cơ sở Đảng đã được bảo vệ, khí thế cách mạng của quần chúng lên cao, tình hình có nhiều đổi khác.

(https://lh3.googleusercontent.com/f82OeTV4ocnkPTpGzFGAid15eXqOWmSyNEWtpeDSxp0r8d7hEimQsv3gWr9bu-aArlwOn9q6tmekfwhu5mSbx0H6Ygf0fLc1asMzR1HMTorJq4msUFb6rAKlUHxbHF30jQe1QhegBcnpUSOjfBvHDtbR207FDsIjxtrao1Ui0wBJX8BG3_4Rl2-lFe9wuIAlDd4zZzp8VEmfrVLm2LL1c8ImM0pVTcw9s_arUVteXhJN7aJGbBGvDj0hKlul4RVFBq96xJaGrx-IYbqZBPDcBCfYhgkSFBpnuQCv_ZIRiNnv3uG5XbBNCjU6fJm4Lq_NH111VTui2BOpBYZtgFivEGeiz506P2kziixe7Psz9FmQ4NAQxSeMnip0tne-lYOjE-_fLCJsMFHVjJdYKh5pL6adOI-1bS7sV9C3sv8z2ekR2APocSX1gL-qux7xfynQyawQQiRcCVJG4t9C1MUXyVqcRGLGfZjXRpPCh70IOEVxOtzh6JUBcozoGf7i_TFOs3L1hV8HmR8orSogpZww65bXiP__ZZSpZu5e7Ms9inEk8deknPVXZTpubMa0FgGfUM6NAH3-M4XhrOw6-8hIZ_b7pmVA-Kh766PCEsdO19Gkr-pLpwmY=w261-h358-no)

Đồng chí Nguyễn Minh Đường
Nguyên Bí thư Khu ủy - Chính ủy Quân khu VIII

Đồng chí Lê Duẩn lắng nghe, nhiều điểm tỏ ra tâm đắc; đồng thời còn phân tích thêm: Người nông dân theo cách mạng là vì ruộng đất, lợi ích thiết thân của họ. Khi chính quyền mình còn, người nông dân thấy sau lưng của họ có Đảng, có bộ đội, có chính quyền, nên họ hăng hái theo Đảng đấu tranh, cho con em vào bộ đội để bảo vệ quyền lợi của mình. Nay chính quyền ở miền Nam nằm trong tay địch, bộ đội tập kết ra Bắc, Đảng rút vào hoạt động bí mật, thì người nông dân cảm thấy không có chỗ dựa. Chính quyền miền Nam độc tài phát xít, đồng bào đấu tranh chính trị đơn thuần với địch ít kết quả, nhân dân, nhất là nông dân đòi hỏi phải có lực lượng vũ trang, đó là tất yếu. Vì vậy, chủ trương phải giải quyết cách mạng miền Nam bằng bạo lực của quần chúng là điểm chính quan trọng của bản Đề cương đường lối cách mạng miền Nam sẽ được họp thảo luận để Xứ ủy thông qua. Khu Trung Nam Bộ đã có những hoạt động vũ trang bước đầu có những kinh nghiệm và kết quả tốt. Đồng chí chỉ thị cho đồng chí Sáu Đường soạn thảo một bản đề án về tổ chức và hoạt động vũ trang tuyên truyền để đưa ra thảo luận trong Hội nghị Xứ ủy lần này. Đồng chí Lê Duẩn còn góp một số ý về quan điểm và cách thức hoạt động như: tổ chức những đội quân ngầm, huấn luyện cho thanh niên biết sử dụng vũ khí, để khi cần có thể cầm súng chiến đấu; việc giáo phái ra hàng cả rồi, nếu cứ giữ tên vũ trang giáo phái thì không phù hợp, việc liên lạc với bọn thân Pháp rất phức tạp, nên cắt quan hệ với chúng; ta cứ làm vũ trang tuyên truyền, coi như người đảng viên cầm súng đi phát động quần chúng, xây dựng cơ sở. Sau khi soạn xong bản đề án về tổ chức và hoạt động vũ trang tuyên truyền, đồng chí Sáu Đường chuyển tới đồng chí Lê Duẩn xem trước ngày họp Hội nghị Xứ ủy.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Mười, 2012, 08:14:18 AM
Khi họp Hội nghị Xứ ủy, đồng chí Lê Duẩn đưa ra bản Đề cương đường lối cách mạng miền Nam được mọi người nhất trí. Đồng chí Lê Duẩn phân tích: Bản chất của địch là phát xít, khi chống lại nó thì dù bằng chính trị hay vũ trang, nó cũng giết, thẳng tay tiêu diệt Đảng mà thôi. Tuy nhiên, ta cứ làm thử, vừa làm, vừa rút kinh nghiệm… nếu có gì thì ta tính nữa…

Bản đề án tổ chức và hoạt động vũ trang tuyên truyền năm 1956 có những nội dung chủ yếu như sau:

Một là, vũ trang tuyên truyền là để hỗ trợ thế đấu tranh chính trị của dân, để giữ thế chủ động tiến công của quần chúng, giữ vững vùng căn cứ, bảo vệ cơ sở Đảng và quần chúng, làm cơ sở cho những thắng lợi từng bước của cách mạng, đánh đổ địch từng phần, tiến lên làm thất bại quốc sách “tố cộng, diệt cộng” của Mỹ - Diệm.

Hai là, hoạt động vũ trang tuyên truyền phải bí mật, được dân ủng hộ, giúp đỡ, vì dân biết đó là lực lượng vũ trang của Đảng. Mặt khác, cố gắng tranh thủ thế công khai hợp pháp để chủ động tấn công chính trị, tranh thủ làm công tác binh vận, cô lập, trung lập, hạn chế, vô hiệu hóa, làm tan rã chính quyền quân đội địch ở cơ sở xã, ấp tạo thế có lợi cho ta.

Những yếu tố này không chỉ phù hợp với tình hình lúc đó mà sau này phát triển thành phương châm chiến lược chủ động giữ thế công khai hợp pháp đấu tranh chống Mỹ - ngụy với thế hai chân, ba mũi tấn công địch, có lực lượng quân sự, đội quân tóc dài và lực lượng binh vận kết hợp tiêu diệt, làm tan rã địch trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ ở Khu Trung Nam Bộ.

(https://lh3.googleusercontent.com/3-bCFa-Iv-ZXM2Fuk_tg1z96aSN7RM68vAduETfCWumgVfc8zes1j46AVC9E4SARims02Bl8TbEr23sonrwrecDYgRjG3dTjfS-GMNv1Ok1N17ATyZPOgAd8irasOAcs8yOKblAbHxjlSbUOXtjCWQ-hrRoamAXCsbMt4z1LYX2gGYjo9xNJKtp7DiM21iKi-BlEJ2b-ggISDjXDVM_xWXtQZ4Mo6TuT9hvevQqdUcwwqKNqxr9D1Jg5gllYvRysuVPTLbWTdRPDVLtdfyfFdgHaNY5XRkDLqSijohlKraCeP1dLD6VRhp6IjMY3wBd5AJq610SX-GR9RVRE5CqlLB9jV2iUleXCVHwTAyjRMw_O-8vLr6RBuqYYMFYRQmS7RSLaNilc8g9iLMVpN4fcvlMQFfKE88R97ajyPNOyHpt2HYrzleSNPNjoWxv3Ml_rwpqgOgBpENgHZeQH4AuoV_YzxW345zm3YJThipYnTOjv0_Bj2JMVTMDCIPCsbkJiiXQBJAwGl3GRBs1u6k-Kz0DKPzwVhbWF0PNwnUk5823d553Sk0cHMoC7Km6VV-llYJiCZAP1b-Eo8-H2aJ4qIHLfVDLY7b7LVzWN7smMk-XOwJg7i733=w547-h309-no)

Đội quân tóc dài ở Bến Tre chống Mỹ - Diệm

Bản đề án vũ trang tuyên truyền quy định tổ chức hoạt động là trung đội, tiểu đội và tổ. Nhưng ở Khu Trung Nam Bộ lúc ấy đã tổ chức tới đại đội, tiểu đoàn nên khu, tỉnh chỉ linh hoạt, phân tán hoạt động cho phù hợp.

Sau Hội nghị Xứ ủy, Liên tỉnh ủy tiến hành phổ biến, học tập Đề cương đường lối cách mạng miền Nam và đưa ra thảo luận triển khai đề án vũ trang tuyên truyền mà Xứ ủy đã thông qua. Liên tỉnh ủy nhấn mạnh với các đồng chí trong Đảng bộ ý của đồng chí Lê Duẩn là Khu Trung Nam Bộ đã có hoạt động vũ trang tuyên truyền từ trước, nay có đề án vũ trang tuyên truyền tức là có đường lối phương châm, phương thức cụ thể để được cấp trên thông qua, lại là cách làm thí điểm để các nơi khác rút kinh nghiệm.

Lúc này, địch đẩy mạnh các chiến dịch “tố cộng, diệt cộng” đánh phá cơ sở rất tàn bạo và dã man. Có nơi chi bộ bị chà xát nhiều lần. Địch tung thám báo, biệt kích, chỉ điểm đi lùng bắt cán bộ khắp các thôn xóm. Trong nội bộ nông dân, công nhân, trí thức, tôn giáo, kể cả công chức, giáo viên, các thành phần xã hội đều có bọn ác ôn kìm kẹp, đánh phá ác liệt.

Vì vậy, các đơn vị vũ trang tuyên truyền được lệnh trừng trị bọn này. Khi những tên này bị trừng trị, địch la lối trên báo, trên đài phát thanh là ta giết hại dân lành và chúng trả thù rất tàn ác. Nhưng thực tế là nơi nào ta trừng trị được bọn thám báo, chỉ điểm, ác ôn thì nơi đó ta giữ được ổn định cơ sở, địch phải co lại hoặc tan rã.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười, 2012, 08:29:05 PM
II - SỰ BÙNG NỔ CỦA PHONG TRÀO CÁCH MẠNG
TRƯỚC QUỐC SÁCH “TỐ CỘNG, DIỆT CỘNG” CỦA MỸ - DIỆM

Trong thời gian Xứ ủy đang họp ở Phnômpênh, tình hình miền Nam diễn ra ngày càng phức tạp. Quốc hội ngụy quyền đã thông qua luật “đặt Cộng sản ra ngoài vòng pháp luật”. Chính quyền Ngô Đình Diệm tiến hành một loạt điều chỉnh địa giới hành chính và nhân sự; tổ chức lại các tỉnh, bố trí lại các tỉnh trưởng, quận trưởng. Ở Khu Trung Nam Bộ nhiều tỉnh mới được thành lập như tỉnh Mộc Hóa thành lập trên cơ sở quận Mộc Hóa của tỉnh Tân An rồi sau đổi thành tỉnh Kiến Tường, nằm trọn trên khu vực trung tâm Đồng Tháp Mười, tỉnh trưởng, quận trưởng đều là sĩ quan. Tỉnh Sa Đéc giải thể, thành lập tỉnh Phong Thạnh rồi đổi thành tỉnh Kiến Phong gồm các quận Cao Lãnh (của tỉnh Sa Đéc cũ), quận Hồng Ngự (của tỉnh Châu Đốc cũ), quận Thanh Bình (vốn là tổng Phong Thanh Thượng, quận Chợ Mới, tỉnh Long Xuyên cũ), quận Mỹ An (gồm một số xã của quận Cao Lãnh và một số xã của quận Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho). Phần còn lại của tỉnh Tân An (sau khi đã tách quận Mộc Hóa ra lập tỉnh Kiến Tường) và tỉnh Chợ Lớn nhập thành tinh Long An. Hai tỉnh Mỹ Tho, Gò Công nhập thành tỉnh Định Tường. Phần còn lại của hai tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc nhập thành tỉnh An Giang. Tỉnh An Giang, tỉnh trưởng cũng là sĩ quan. Tỉnh Bến Tre cộng thêm quận An Hóa và hai xã Phú Đức, Phú Túc của tỉnh Mỹ Tho đổi thành tỉnh Kiến Hòa.

Tỉnh Định Tường được ngụy quyền chọn làm thí điểm cho cuộc triển khai quy mô quốc sách “tố cộng, diệt cộng”. Tên Nguyễn Trân, một tên chống cộng khét tiếng, từ Miền Trung Trung Bộ được đưa vào làm tỉnh trưởng. Tên Nguyễn Trung Long, tay chân tích cực của Diệm, từ Vĩnh Long về làm quận trưởng Châu Thành.

Đáng chú ý là quận Châu Thành có xã Long Hưng là cái nôi của cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ và hiện đang là căn cứ của Tỉnh ủy Mỹ Tho. Bước đầu, địch ra thông báo kêu gọi các cán bộ kháng chiến hồi cư ra trình diện. Ngay từ sau cuộc đình chiến, chúng đã nắm được danh sách từng người. Lời lẽ kêu gọi của chúng rất mị dân: “Những người kháng chiến là những người có công với Tổ quốc, là những tài năng hữu ích. Chính phủ mời anh em ra trình diện để cộng tác với chính phủ”. Ở Mỹ Tho đã có hơn 700 cán bộ kháng chiến hồi cư ra trình diện. Chúng liền gom số đồng chí này lại học tập. Đích thân tên Nguyễn Trân đứng lớp, giảng tài liệu về chủ nghĩa quốc gia và chủ nghĩa cộng sản do hắn soạn thảo. Hắn tuyên bố: “Các anh ở lại miền Nam là đã bỏ cộng sản. Các anh cần phải học để hiểu rõ chủ nghĩa quốc gia khác với chủ nghĩa cộng sản như thế nào để có nhận thức tư tưởng, góp sức vào xây dựng đất nước”. Người học phải ở nội trú. Học xong, chúng phát bản tình nguyện ly khai cộng sản.

Tình hình trở nên rất phức tạp. Một số đảng viên biết mình bị địch lừa gạt đã bỏ trốn. Đảng viên ở các địa phương suy tính không biết có nên ra trình diện hay không? Chúng tiếp tục kêu gọi và nói là học xong thì được tự do làm ăn, không ra sẽ bị bắt. Một số người tự động ra. Nhưng khi chúng bắt tố cộng, ly khai cộng sản thì bỏ trốn. Tỉnh ủy họp và quyết định không để đảng viên ra trình diện. Ai lỡ ra thì trong lúc học phải đấu lý. Ai đã lỡ học rồi thì “điều lắng”. Sở dĩ, có tình trạng này là do một số cán bộ, đảng viên ở Mỹ Tho trong hai năm sống khá yên ổn đã lơ là, mất cảnh giác và có phần mơ hồ đối với địch. Tình hình trên của Đảng bộ Mỹ Tho đã làm sâu sắc thêm nhận thức: “Đối với kẻ thù giai cấp thì trong bất kỳ hoàn cảnh nào người cách mạng cũng không thể lơi lỏng, mất cảnh giác. Bản chất phản động của chúng là không thay đổi”. Hậu quả là có mấy trăm người phải bỏ cơ sở chạy vào rừng tràm Tân Hòa Đông và phải “điều lắng” đi nơi khác. Một số cam tâm ly khai, hàng tuần đến trình diện để được yên thân. Lại có những tên phản bội như tên Ba Bửu ở Phước Thạnh, Châu Thành; tên Sáu Ý ở Cai Lậy nhập bọn với vợ chồng tên Sở, tên Bê đi tuyên truyền tố cộng, dụ dỗ cán bộ đầu hàng và chỉ điểm cho địch đánh phá cơ sở cách mạng. Bọn này gây ra khá nhiều rắc rối. Tỉnh ủy Mỹ Tho phải vất vả uốn nắn, củng cố, đến đầu năm 1957 mới ổn định dần.

Cơ quan Liên tỉnh ủy đến cuối năm 1957 đã đóng ổn định ở căn cứ Long Thường (gồm các xã Thường Phước, Thường Thới, Thường Lạc), huyện Hồng Ngự, giáp biên giới Campuchia. Như vậy là trong ba năm 1954 - 1956 Liên tỉnh ủy đã mấy lần phải thay đổi nơi đóng cơ quan, từ Đồng Tháp Mười xuống hai huyện Châu Thành, Tân An và Chợ Gạo, Mỹ Tho, rồi trở lên Đồng Tháp Mười rồi lại chở xuống Chợ Gạo và ven thị xã Mỹ Tho. Bị địch phát hiện, phải dời lên ở Long Hưng, căn cứ của Tỉnh ủy Mỹ Tho. Đến đầu năm 1956, cơ quan chuyển trở lại Đồng Tháp Mười và ở kênh ba và dần dần chuyên lên hướng Campuchia về ở căn cứ Tam Thường, Hồng Ngự, Châu Đốc. Đây là căn cứ được xây dựng vững chắc về quân sự và cả về chính trị, có lực lượng vũ trang mạnh để bảo vệ, có thể dựa lưng vào biên giới để phòng ngự, cơ sở nhân dân sâu rộng, phòng chống gián điệp ở các xã chung quanh. Căn cứ này về sau phát triển, có cả cơ quan Bộ tư lệnh quân khu. Tạo được căn cứ tại chỗ ổn định cho cơ quan đầu não là một thắng lợi lớn của phong trào cách mạng Trung Nam Bộ. Căn cứ này đã tồn tại trong suốt 13 năm cho đến năm 1970.

Đầu năm 1957, đồng chí Sáu Đường đi dự Hội nghị Xứ ủy về, Liên tỉnh ủy tổ chức họp Hội nghị mở rộng triển khai học tập Đề cương đường lối cách mạng miền Nam và đề án vũ trang tuyên truyền, sắp xếp lại các tỉnh và chỉ đạo công tác sắp tới.

Trong Hội nghị, đồng chí Ba Chim tự kiểm điểm việc để cho cán bộ, đảng viên Mỹ Tho ra trình diện. Đồng chí rút khỏi Tỉnh ủy Mỹ Tho về Liên Tỉnh ủy. Liên tỉnh ủy được bổ sung thêm hai đồng chí: Hai Phối, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Sa Đéc; Bảy Ruộng, Bí thư Tỉnh ủy Châu Đốc đồng chí Bảy Ruộng vẫn kiêm nhiệm Bí thư.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười, 2012, 08:29:36 PM
Các tỉnh được tổ chức lại như sau: tỉnh Mỹ Tho và tỉnh Gò Công nhập thành tỉnh Mỹ Tho. Bí thư Tỉnh ủy là đồng chí Tư Việt Thắng (Lê Văn Nhung), Phó bí thư là đồng chí Chín Đẳng, Ủy viên Thường vụ là đồng chí Chín Công (Đoàn Văn Dư).

Tỉnh Kiến Tường được thành lập theo ranh giới tỉnh Kiến Tường của ngụy quyền, do đồng chí Thái Bình làm Bí thư, đồng chí Tư Quốc làm Phó bí thư. Tỉnh Kiến Tường không chia huyện mà chia thành bốn vùng: 2, 4, 6, 8.

Tỉnh Kiến Phong được thành lập theo ranh giới tỉnh Kiến Phong của ngụy quyền, do đồng chí Hai Nha (Nguyễn Kim Nha) làm Bí thư, đồng chí Tám Thử (Lê Văn Thử) làm Phó bí thư, đồng chí Hai Minh, Ủy viên Thường vụ.

Tỉnh An Giang được thành lập theo ranh giới tỉnh An Giang của ngụy quyền, do đồng chí Bảy Ruộng làm Bí thư, đồng chí Nguyễn Văn Chuẩn, làm Phó bí thư, đồng chí Tư An (Nguyễn Văn Náo), Ủy viên Thường vụ.

Hai tỉnh Bến Tre (Liên tỉnh ủy miền Tây) và Chợ Lớn (Liên tỉnh ủy miền Đông) được giao về cho Liên tỉnh Khu Trung Nam Bộ. Tỉnh Bến Tre theo ranh giới tỉnh Kiến Hòa của ngụy quyền, do đồng chí Năm Chung (Nguyễn Văn Khước) làm Bí thư. Tỉnh Chợ Lớn và phần còn lại của tỉnh Tân An lập thành tỉnh Long An theo ranh giới tỉnh Long An của ngụy quyền, do đồng chí Năm Bê làm Bí thư, đồng chí Chín Cần (Nguyễn Văn Chín) làm Phó bí thư.

Đồng chí Sáu Đường - Bí thư Liên tỉnh ủy phổ biến dự thảo Đề cương đường lối cách mạng miền Nam và đề án vũ trang tuyên truyền được Hội nghị Xứ ủy thông qua cho hội nghị. Đề cương đường lối cách mạng miền Nam được tiếp thu thuận lợi vì nó đáp ứng đúng suy nghĩ và nguyện vọng của cán bộ, đảng viên trong tình hình thực tế ở Khu. Về đề án vũ trang tuyên truyền, đồng chí Sáu Đường nêu cụ thể: bỏ tên gọi giáo phái mà gọi là lực lượng vũ trang tuyên truyền, vẫn tạm dùng cờ đỏ ngôi sao xanh làm hiệu kỳ. Nhiệm vụ vũ trang tuyên truyền thực chất là đảng viên cầm súng đi phát động quần chúng làm cách mạng, hỗ trợ cho cơ sở phá kìm kẹp, làm chủ xã, ấp. Kết hợp đấu tranh chính trị của quần chúng, tác chiến khi phải tự vệ, hoạt động sâu vào vùng đông dân. Không đề cập đến trong đề án chỉ cho các đơn vị vũ trang tồn tại đến mức trung đội. Vì thực tế, ở các tỉnh trong Khu đã có các tiểu đoàn, đại đội có Ban chỉ huy dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thường vụ cấp ủy. Để tạo uy thế cho lực lượng vũ trang tuyên truyền, đồng chí Bí thư quyết định cho lấy danh nghĩa mỗi tỉnh có từ một đến hai tiểu đoàn: Kiến Phong có Tiểu đoàn 504; Long An có 2 Tiểu đoàn 506 và 508; An Giang có 2 Tiểu đoàn 510, 512; Mỹ Tho có Tiểu đoàn 514; Bến Tre có Tiểu đoàn 516. Kiến Phong giao cho Mỹ Tho một trung đội, Kiến Tường đưa lên Xứ ủy hai trung đội.

Hội nghị thao luận quán triệt Đề cương đường lối cách mạng miền Nam, về phần đánh đổ chính quyền Ngô Đình Diệm bằng bạo lực, đại biểu ai cũng nhất trí. Nhưng khi bàn tới phương pháp cách mạng nêu ra vẫn là bạo lực chính trị thì nhiều đồng chí chưa thông. Đồng chí Sáu Đường phải giải thích, đây là phương hướng tiến lên của cách mạng miền Nam do đồng chí Lê Duẩn ở lại miền Nam tổng kết từ thực tiễn mà đề ra để giải đáp cho tư tưởng Đảng bộ miền Nam đang bế tắc trước việc Mỹ - Diệm gây ra chiến tranh, không chịu hiệp thương tổng tuyển cử. Trung ương chưa chuyển hướng chỉ đạo mới, đường lối chung cả nước Việt Nam vẫn là đấu tranh chính trị, thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ, miền Bắc đang cần có thời gian hòa bình để củng cố, xây dựng vững mạnh. Đồng chí Lê Duẩn đề ra như thế là rất táo bạo nhưng cũng rất thận trọng vì phải có sự nhất trí chung của toàn Đảng, không thể đơn giản địa phương tự đề xuất rồi tự làm. Kết luận chung về phương hướng của cách mạng miền Nam của đồng chí Lê Duẩn đề ra được toàn thể nhất trí. Nhưng khi triển khai đề án hoạt động vũ trang tuyên truyền, còn có một số ít đại biểu chưa hẳn đã hoàn toàn chấp nhận. Hội nghị hình thành hai luồng tư tưởng ở những tỉnh có liên quan đến Đồng Tháp Mười đã thấy tác dụng của lực lượng vũ trang tạo điều kiện cho cơ sở Đảng được tồn tại, củng cố vững mạnh, quần chúng có thế và giữ được chủ quyền ruộng đất thì có xu hướng muốn làm mạnh hơn. Ngược lại, ở những tỉnh ta vẫn còn giữ được thế đấu tranh chính trị bằng phương pháp hòa bình, tổ chức nắm được tề hai mặt ở xã, ấp thì lo nếu đấu tranh vũ trang địch sẽ có cớ khủng bố phong trào.

Nhưng ngay sau đó, thực tế đã trả lời ảo tưởng hòa bình, mất cảnh giác với kẻ địch là không đúng. Vì trong những tỉnh chưa có hoạt động vũ trang, địch đã đẩy mạnh thi hành quốc sách “tố cộng, diệt cộng”, dùng khủng bố, đàn áp dìm phong trào cách mạng trong biển máu. Ở những xã, ấp vùng yếu, địch kìm kẹp chặt quần chúng bằng hình thức “đoàn ngũ hóa”, dồn quần chúng vào các tổ chức thanh niên, phụ nữ cộng hòa, phong trào cách mạng quốc gia, ép phải trang bị dây, roi, rượt bắt nếu “Việt cộng” vào ấp mình… Ai không thi hành thì bị đánh đập, tù đày. Hành động của Mỹ - Diệm đã làm tan rã gần như hầu hết tổ chức Đảng vào cơ sở quần chúng cách mạng ở những vùng đông dân nông thôn ngoài Đồng Tháp Mười. Quần chúng bị áp bức, đau khổ không sao kể xiết, nhưng tình hình đó cũng đẩy họ tới mức tận cùng của sự sống còn, trở thành ngòi nổ của một sự bùng nổ mãnh liệt, khi có lực lượng vũ trang của Đảng phát động. Tình hình diễn ra ở Mỹ Tho, Bến Tre và An Giang là những điển hình.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười, 2012, 08:29:58 PM
Mỹ Tho tổ chức xong tỉnh mới, gồm cả huyện Gò Công và Hòa Đồng thuộc tỉnh Gò Công cũ, vào tháng 1 năm 1957. Sau khi đã giải quyết hậu quả việc địch dụ dỗ cán bộ kháng chiến ra trình diện, Tỉnh ủy vẫn ở trong dân tại xã Long Hưng, tổ chức học tập Đề cương đường lối cách mạng miền Nam. Tỉnh ủy học xong thì tổ chức cho các Huyện ủy học, rồi đến xã, chi bộ, chuỗi rễ học. Ở cấp xã vừa học vừa củng cố tổ chức, sắp xếp lại cấp ủy, tổ Đảng. Những người đi “điều lắng” thì học đơn tuyến hoặc học ở rừng tràm Tân Hòa Đông. Học tập xong, Tỉnh ủy nghiên cứu lại việc tổ chức. Tỉnh ủy đóng cơ quan tại Long Hưng đã hai năm, một số cán bộ căn cứ, giao liên bị bắt, nên cần phải cảnh giác. Vì thế các đồng chí quyết định dời trụ sở lên Hội Cư, Cái Bè để phân tán trong dân.

Tháng 4 năm 1957, địch chuyển sang tố cộng bước hai. Mục tiêu đầu tiên của chúng là huyện Châu Thành. Địch đánh vào cơ quan Thường vụ Huyện ủy, đóng tại nhà má Hai ở ấp Phú Thuận, xã Phú Phong.

Trong hai tháng, Huyện ủy Châu Thành bị bắt bốn huyện ủy viên, một số cán bộ huyện ủy và bí thư xã. Chúng tập trung đánh vào cơ sở Đảng và quần chúng nòng cốt. đến tháng 1 nam 1958, chúng đánh tan rã hầu hết các chi bộ Đảng, bắt hơn 1.000 cán bộ, đảng viên, quần chúng; đánh tan vỡ huyện ủy, bắt 9 huyện ủy viên và cán bộ huyện ủy, trong đó có cả Bí thư, bắt cả Tỉnh ủy viên phụ trách huyện. Huyện ủy Châu Thành phải tạm phân tán.

Song song với đánh Châu Thành, địch đánh vào Chợ Gạo và thị xã Mỹ Tho. Chúng bắt được Tỉnh ủy viên phụ trách huyện. Hầu hết cán bộ huyện ủy và ngót một ngàn cán bộ, đảng viên nòng cốt, quần chúng tích cực bị bắt. Cơ sở Đảng ở Chợ Gạo bị đánh tan rã. Ở thị xã Mỹ Tho, thị ủy chỉ còn hai đồng chí. Thị xã bị đánh mạnh nhưng chưa tan rã, còn cố móc nối sinh hoạt được.

Trong Hội nghị Liên tỉnh ủy triển khai đề án vũ trang tuyên truyền của Xứ ủy đã thông qua, Mỹ Tho là tỉnh không mặn mà với vũ trang. Sau Hội nghị, Kiến Phong nhận lệnh của Liên tỉnh ủy, giao về cho Mỹ Tho một trung đội. Tỉnh ủy không quan tâm, đã để trung đội này ở lại đất Kiến Phong, sau đó trung đội tan rã, chỉ còn một tiểu đội.

Sau Châu Thành, thị xã Mỹ Tho và Chợ Gạo, địch chuyển sang đánh Cai Lậy. Chúng bắt được 6 huyện ủy viên và 300 cán bộ, đảng viên cơ sở. Sau Cai Lậy, địch đánh Cái Bè. Cái Bè có thời gian chuẩn bị đối phó nên đã sắp xếp cho cán bộ, đảng viên rút vào Đồng Tháp Mười. Nhưng địch cũng bắt được hai huyện ủy viên, Tỉnh ủy viên phụ trách huyện và một số đảng viên, cán bộ cơ sở.

Tháng 7 năm 1957, Tỉnh ủy Mỹ Tho đang ở Hội Cư, ấp Chợ Mới, cách Cái Nứa một kilômét, cách lộ 4 ba kilômét. Ở Hội Cư không được bao lâu thì bị lộ, do cán bộ căn cứ bị bắt, khai báo. Địch đánh, mỗi người phải chạy tản một nơi. Đồng chí Việt Thắng cho dời cơ quan vào phía bắc lộ 4 ở Mỹ Lợi, ven Đồng Tháp Mười. Ở Mỹ Lợi được hơn một tháng, Tỉnh ủy mới liên lạc được với Liên tỉnh ủy và các huyện. Công việc lúc này chỉ xoay quanh việc móc nối liên lạc củng cố tổ chức. Cán bộ bị bắt thì điều cán bộ khác tới thay, cán bộ bị lộ thì điều đi nơi khác.

Tháng 5 năm 1958, Tỉnh ủy họp tại xã Thạnh Mỹ, trong một cái chòi trâu ở giữa đồng, để xem xét, đánh giá tình hình, bàn cách đối phó với cuốc sách “tố cộng, diệt cộng” của địch. Lúc này ở huyện Châu Thành xuất hiện mô hình của đồng chí Tý, đảng viên chi bộ xã Long An sử dụng vũ trang phát động quần chúng đứng dậy đánh địch. Đồng chí Tý mượn súng của lực lượng vũ trang Kiến Tường về xã cùng quần chúng cảnh cáo, giáo dục chủ ấp, liên gia. Quần chúng tin tưởng, đóng góp tiền bạc cho cách mạng, bảo vệ đồng chí ở lại hoạt động. Chủ ấp, liên gia bị khống chế. Khi diệt được tên ác ôn Của, có cả chủ ấp, liên gia đều đồng tình nên hạn chế được sự khủng bố của địch. Phong trào được duy trì, cơ sở được giữ vững và phát triển. Liên tỉnh ủy tống kết hoạt động của đồng chí Tý, gợi ý cho tỉnh lối ra trong tình hình đang khó khăn, ác liệt. Việc sử dụng vũ trang cần phải có tổ chức chu đáo và phải liên kết chặt chẽ với việc xây dựng thế chính trị của quần chúng. Kinh nghiệm cho thấy mỗi xã cần có cán bộ chí cốt bám trụ trong dân, có vũ khí làm công tác vũ trang tuyên truyền, thì quần chúng mới tin tưởng và dám đứng dậy chống địch. Đây là vấn đề mới. Sau cuộc họp, Tỉnh ủy đã có chuyển biến, tuy vẫn chủ trương các cơ quan lãnh đạo Đảng phải bí mật bám trong dân, nhưng chuẩn bị sẵn sàng căn cứ có vũ trang bảo vệ như ở các tỉnh, huyện, xã Đồng Tháp Mười đã làm.

Sau khi họp, đang triển khai thì hai Tỉnh ủy viên trên đường về bị địch bắt và có tin báo Huyện ủy Hòa Đồng, Gò Công bị đánh nặng. Tỉnh ủy cấp tốc dời về Bằng Lăng, thuộc vùng hậu kênh Nguyễn Văn Tiếp. Chuyển về Bằng Lăng còn chưa ổn định thì cán bộ căn cứ bị bắt, phải chuyển sang kênh Nguyễn Văn Tiếp B, thuộc đất Kiến Tường, để dựa vào thế vũ trang của Đồng Tháp Mười. Ở kênh Bùi chưa được bao lâu thì cán bộ giao liên bị bắt, Tỉnh ủy lại phải di chuyển. Lần này, cơ quan phải ở giữa đồng nước. Tình hình các huyện vẫn rất khó khăn. Chợ Gạo lại bị đánh. Cai Lậy bị đánh. Tỉnh ủy viên kiêm Bí thư bị bắn chết, hai huyện ủy viên bị bắt. Ở Châu Thành, một huyện ủy viên bị bắt, một số cơ sở bị phá.

Đến đầu năm 1959, trước sự lùng sục ráo riết của địch, cơ quan Tỉnh ủy không ở trong dân được nữa phải lùi vào ở trong đám chàng cuối kênh Ba, thuộc đất Kiến Phong.

Như vậy là từ đầu năm 1957 cho đến đầu năm 1959, địch triển khai quốc sách “tố cộng, diệt cộng”, Tỉnh ủy Mỹ Tho bị bắt, bị giết 5 tỉnh ủy viên. Trong 6 huyện của tỉnh thì 3 huyện ủy bị đánh tan rã, phải thay huyện ủy viên nhiều lần; 3 huyện ủy viên bị tiêu hao nặng, tất cả bí thư 6 huyện đều bị bắt hoặc bị giết. Sau năm 1954, Mỹ Tho - Gò Công có hơn 5.000 cán bộ, đảng viên ở lại thì hầu hết đã bị bắt, bị giết, tù đày. Chỉ riêng năm 1958, con số thiệt hại đã lên đến 3.000 người. Đảng viên ở cơ sở chỉ còn 92 đồng chí, phần lớn mới phát triển, cán bộ còn được hơn 100 người, đang phải tạm lánh trong Đồng Tháp Mười.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười, 2012, 08:30:19 PM
Tại Bến Tre, trong khi đang tiến hành thí điểm quốc sách “tố cộng, diệt cộng” ở Mỹ Tho thì ở đây địch rà nắm danh sách cán bộ, đảng viên, bố trí lại cảnh sát xã, chủ ấp, liên gia, tiến hành do thám.

Khởi đầu, chúng dụ dỗ cán bộ kháng chiến hồi cư ra trình diện, nhưng được sự chỉ đạo thống nhất của Tỉnh ủy nên không ai ra. Tháng 4 năm 1958, một tiểu đoàn công an Ngô Quyền của địch từ Sài Gòn đến Bến Tre. Chúng đóng tại thị xã một đại đội, tại Giồng Trôm một đại đội, tại Mỏ Cày một đại đội. Bọn này hầu hết là dân công giáo di cư và người Nùng. Chúng phối hợp với công an tỉnh bắt cán bộ, đảng viên theo danh sách đã nắm, bắt thân nhân cán bộ đi tập kết và đang hoạt động bí mật đem về đình Hội Yên (Mỏ Cày), đình Bình Hòa (Giồng Trôm), đình Phước Tuy (Ba Tri), đình Thới Lai (Bình Đại), mỗi nơi 200 người rồi tiến hành tra tấn, đánh đập tàn nhẫn, bắt tố cộng, ly khai Đảng. Đây là chiến dịch “tố cộng, diệt cộng” rất man rợ. Nhiều cán bộ lãnh đạo bị giết, hàng trăm đảng viên, đoàn viên nòng cốt bị tù, bị tra tấn dã man. Nhiều người giữ vững khí tiết bị tra tấn đến chết như các đồng chí Bùi Ngọc Nghị - Tỉnh ủy viên, đồng chí Võ Tấn Nhứt, đồng chí Lộ ở Giồng Trôm, đồng chí Trần Hoàng Võ ở Bình Đại. Nhiều cuộc đấu tranh giành giật, bảo vệ cán bộ đã diễn ra quyết liệt, nhiều người dân chịu chết để bảo vệ cán bộ của Đảng.

Huyện ủy Bình Đại, Châu Thành ba lần bị bắt gần hết. Huyện ủy Sóc Sải bị bắt hết, kể cả Tỉnh ủy viên phụ trách. Hầu hết, các chi bộ trong tỉnh tan rã. Ngành binh vận tỉnh vốn rất mạnh, từ 50 cán bộ chỉ còn lại 3 người. Ban Chấp hành Tỉnh ủy bị bắt 2 người, có một Ủy viên Thường vụ khai báo nên hầm súng chôn giấu lại sau tập kết bị địch phát hiện, khui lấy hết.

Cơ quan Tỉnh ủy bị đánh hụt nhiều lần, phải di chuyển luôn. Từ Thạnh Phú Đông, Giồng Trôm, Tỉnh ủy phải chuyên lên Châu Thành, rồi xuống Tân Xuân, Ba Tri qua Bình Đại, đến Mỏ Cày, xuống Minh Đức, qua Hương Mỹ rồi trở lại Bình Khánh, lên Tân Thành Bình, rồi đi Hòa Lộc.

Ở một số nơi do căm thù những hành động khủng bố dã man của địch nên đảng viên, quần chúng lén diệt bọn ác ôn, do thám, chỉ điểm. Địch đối phó lại bằng khủng bố tàn bạo. Năm 1957, khi được giao về Liên tỉnh Khu Trung Nam Bộ, Bến Tre có tiếp nhận chủ trương thành lập lực lượng vũ trang tuyên truyền của Liên tỉnh ủy nhưng vì số súng chôn giấu bị địch lấy mất nên không thực hiện được. Phong trào sa sút, tổ chức Đảng bị thiệt hại nặng nề, một số cán bộ, đảng viên chao đảo chịu học tập tố cộng, ly khai. Số các đồng chí cốt cán còn lại tuy ít nhưng quyết bám dân, lãnh đạo dân, củng cố tinh thần quần chúng. Có người làm chỗ ở trên ngọn dừa để hoạt động. Phần lớn những đồng chí bị bắt, bị tù đày đều giữ được khí tiết.

Liên tỉnh ủy chỉ đạo củng cố. Đồng chí Năm Chung chuyển về Liên tỉnh ủy. Đồng chí Võ Văn Phẩm (Tám Chừ) làm Bí thư, nữ đồng chí Nguyễn Thị Định (Ba Định) - Phó bí thư, đồng chí Hai Thủy - Ủy viên Thường vụ. Tỉnh ủy tổ chức cho Đảng bộ học tập củng cố lập trường, khí tiết, nhân sinh quan cách mạng và triển khai tinh thần chỉ đạo của Xứ ủy và Liên tỉnh ủy về quan điểm cách mạng miền Nam, đồng thời đưa bớt cán bộ đi “điều lắng”.

Đến năm 1959, Đảng bộ Bến Tre chỉ còn 16 chi bộ ở trên 100 xã của toàn tỉnh; mỗi chi bộ còn từ 3 đến 5 đảng viên.

(https://lh3.googleusercontent.com/qHxnzHxnsMG3alozY1HXiUZOm9y_lJq3xkYQ-WoGX-ORwDhRfD4CuW4JqeDr9oVzwgBvE4C97XrR_LuGiODJ_BTGxl-hQcVGrcgHun8NLXqfZTcOQZHmvciSqRFt84HNIstGamKxDvhJIY070bVyybU90j6y5BjCdyiLIUGXpfEgWjXGx63EvydbQhjljAFtSFVZgH6BdNGx5n0JXRQKnxwwk4WfsI4ULYFJWa4E9B7CBSjNV4-gBtZ_anaPAGQ1_t-jSmEHpo9Ns8FPmptIYpp97FTLnF0-lYtJm6W1AjJZsg_AniAuLMMPn9tyoqFYWKUTvYRu_JYUKt6IzxW13sZcUIoo4wNv_aqXDpPyCsGAhSyj0vorm_iSMqIg3s6GeBIWQuFGGXaD1KzOzhu92YUAzGouFnEXjDA076gIGaQnxOy4LosVpBcaMuBduwQvkAXxJbLOGFCpHCADwqGAq0LG_TKg0Wa_2-T0rHdjKKRPOdHjiXdh1hlC91WOqgOvPGvA24-1SCg_VatXixTUozjXcQf5_zYFNX2-h7rTWOdvbF1bvMpUIEnQmDv3hANEXXYn6trVvXd0iGUWYNufyQGpJ8pRKswiuZV7XaPk-wNLT_Fo0uGp=w559-h315-no)

Bọn địch đàn áp, cướp bóc đã bị sức chống trả quyết liệt của nhân dân (Bến Tre - 1959)


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười, 2012, 08:30:42 PM
An Giang, đầu năm 1957, địch triển khai quốc sách “tố cộng, diệt cộng” song song với chiêu hồi đám giáo phái ly khai còn lại. Các chi bộ Đảng ở thị xã Long Xuyên, Chợ Mới, Châu Phú bị đánh vỡ. Tỉnh ủy Long Xuyên phải dời căn cứ từ Bình Thủy, Châu Thành về Tân Thạnh Trung, Bình Thạnh Đông, Lấp Vò. Tỉnh ủy Châu Đốc ở Long Sơn, Tân Châu phải chuyển sang Mỹ Đức, Khánh Hòa. Nhiều cán bộ hồi cư lâu này sống hợp pháp phải tạm lánh.

Ngày 10 tháng 2 năm 1957, đồng chí Lê Văn Khoái, Huyện ủy viên Tân Châu và đồng chí Ba Khành, Bí thư Vĩnh Hòa bị lực lượng Ba Cụt giết hại tại Vĩnh Xương. Tiếp đến đồng chí Út Cốc, Bí thư Núi Sập bỏ việc. Địch xiết chặt kìm kẹp, người dám nuôi giấu cán bộ giảm dần.

Tháng 3 năm 1957, hai Tỉnh ủy Long Xuyên và Châu Đốc họp tại Gò Tre, xã Thường Thới, huyện Hồng Ngự thành lập Tỉnh ủy An Giang, đặt căn cứ ở các xã Hội An, Bình Phước Xuân, Tân Mỹ thuộc cù lao Giêng, Chợ Mới.

Tỉnh ủy An Giang tổ chức học Đề cương đường lối cách mạng miền Nam trong toàn Đảng bộ và tuyên truyền ra nhân dân. Sau khi học, xác định nhiệm vụ công tác: đẩy mạnh công tác vận động cách mạng trong tín đồ tôn giáo Hòa Hảo, tổ chức đi sâu vào tín đồ, hướng dẫn đấu tranh giữ ruộng đất, đòi tự do tín ngưỡng, chống càn quét, chống quân địch, duy trì lực lượng Hòa Hảo ly khai chống Diệm, xây dựng căn cứ dự bị ở Mỹ Đức, Khánh Hòa, Vĩnh Thạnh Trung (Châu Phú), Phú Hữu, Vĩnh Hậu, Châu Phong, An Phú, Long Sơn (Tân Châu).

Tổ chức Đảng ở cơ sở từng bước được củng cố. Châu Phú lập được một số chi bộ bí mật. Tỉnh ủy điều động đồng chí Tư Bình đang ở trong lực lượng Hòa Hảo ly khai của Bảy Ớt về làm Trưởng ban Cán sự Chợ Mới. Lập lại Ban Cán sự Núi Sập, chỉ định đồng chí Hồ Chí Sơn làm Trưởng ban. Lập Ban Cán sự An Phú, đồng chí Lê Chánh làm Trưởng ban. Tuy cũng còn hạn chế nhưng các phong trào đấu tranh của quần chúng liên tiếp diễn ra.

Ở địa bàn An Giang, việc duy trì phong trào không đơn giản. Đây là vùng tạm chiếm từ lâu, bị ngụy quyền và quân đội giáo phái Hòa Hảo kìm kẹp nặng nề. Quần chúng căm thù Mỹ - Diệm, nhưng lo sợ. Chính sách Hòa Hỏa vận của Đảng bộ thực hiện trong mấy năm qua có đem lại một số kết quả nhưng chưa đủ sức phá thế kìm kẹp của các chức sắc đối với tín đồ.

Tháng 7 năm 1958, lực lượng Hòa Hảo ly khai của Lê Hồng Tươi ra hàng Diệm. Số cán bộ, đảng viên đưa vào đơn vị Tươi trở về, lên ở với các cán bộ ở Pẹt Chạy. Sau khi Lê Hồng Tươi ra hàng Diệm, ở An Giang vẫn còn các đơn vị Hòa Hỏa ly khai của Bảy Ớt, Bảy Đởm, Huỳnh Trung Hiếu, Huỳnh Công Cứng. Bọn này phá cách mạng không ít cho đến mãi sau năm 1964, nhiều đảng viên chi bộ Vĩnh Hòa bị chúng giết. Huyện ủy Tân Châu, Phú Châu bị thiệt hại, một số cán bộ bị tróc địa bàn

Tháng 9 năm 1958, đồng chí Lê Tín Đôn, Tỉnh ủy viên phụ trách binh vận trên đường đi vào thị xã Long Xuyên bị bắt. Đây là một tổn thất đáng kể.

Tháng 11 năm 1958, một đại đội bảo an, biệt kích, đánh vào căn cứ Tỉnh ủy ở ấp Bình Tân, xã Bình Phước Xuân, huyện Chợ Mới. Các đồng chí trong Ban Thường vụ thoát được về Long Sơn, Tân Châu, ba đồng chí giao liên bị bắt. Một số tài liệu bị mất. Cuộc vây ráp kéo dài năm ngày. Chúng dồn dân từng khu nhà lại để nhìn mặt. Chi bộ Bình Phước Xuân bị bắt gần hết. Cán bộ Chợ Mới được lệnh “điều lắng”.

Tỉnh ủy ở Long Sơn một thời gian ngắn rồi chuyển về Khánh Hòa, Mỹ Đức, Châu Phú ở trong đồng bào Hòa Hảo.

Đồng chí Phạm Ngọc Bính, Bí thư Tỉnh ủy chuyển về Liên tỉnh ủy, đồng chí Chuẩn, Quyền Bí thư. Tình hình hết sức căng thẳng. Các huyện ủy ở phân tán trong dân, nằm hầm bí mật. Ở vùng Bảy Núi, đồng chí Nguyễn Văn Náo (Tư An) - Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy và đồng chí Mười Đức - Tỉnh ủy viên, thực hiện chủ trương của hội nghị binh chánh vận liên tỉnh, cho tổ chức lực lượng vũ trang liên huyện Tri Tôn - Tịnh Biên hoạt động, hạn chế được địch lùng sục. Nhưng đơn vị này chỉ tồn tại được vài tháng thì bị giải tán. Nội bộ Tỉnh ủy hình thành hai quan điểm: một là, muốn tổ chức vũ trang; còn quan điểm khác là không tán thành. Tỉnh ủy không có biện pháp hữu hiệu đối phó với tình hình, tư tưởng sợ khó khăn nảy sinh…

Liên tỉnh ủy phải chỉ đạo củng cố lại: đồng chí Tư An - Bí thư, đồng chí Tám Sử - Phó bí thư. Các đồng chí Ba Lũy, Mười Đức - Ủy viên Thường vụ. Đội vũ trang tuyên truyền Bảy Núi được lập lại, Bảy Núi được xây dựng thành căn cứ dự bị của tỉnh.

Tỉnh ủy vẫn bám dân. Nhưng căn cứ ở Khánh Hòa, Mỹ Đức không ổn. Tỉnh ủy dời về Vĩnh Thạnh Trung, Châu Phú. Lúc này, địch xiết chặt bộ máy kìm kẹp ở cơ sở, tai mắt, do thám của chúng dày đặc. Tỉnh ủy về đây ít hôm thì bị lộ, phải dời về Long Sơn, Tân Châu, nơi ở của Huyện ủy Tân Châu trước đây, đào hầm bí mật ở trong nhà dân. Nhưng Tỉnh ủy cũng không ở đây được bao lâu. Đến tháng 9 năm 1959, cơ quan Tỉnh ủy chuyển sang Thường Thới, Hồng Ngự thuộc đất Kiến Phong, dựa vào thế vũ trang của Kiến Phong.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười, 2012, 08:31:03 PM
Trong khi ở Mỹ Tho, Bến Tre, An Giang địch dồn sức đánh phá ác liệt gây cho tỉnh những thiệt hại nghiêm trọng thì ở các tỉnh còn lại thuộc Đồng Tháp Mười, phong trào do có lực lượng vũ trang nên có phần thuận lợi hơn. Tuy nhiên, cũng không phải không có khó khăn, phức tạp. Thí dụ như ở Kiến Phong.

Ở Kiến Phong, đến đầu năm 1957, sau khi địch tổ chức lại địa giới hành chính, thành lập hai tỉnh Kiến Phong và Kiến Tường thì phân khu Đồng Tháp Mười được hình thành. Phân khu này do Ngô Đình Diệm phê chuẩn dự án từ năm 1955, với ý đồ là tiến hành bình định Đồng Tháp Mười bằng quân sự. Vì Đồng Tháp Mười ngay từ năm 1955 đã có lực lượng cách mạng hoạt động. Địch muốn tiêu diệt lực lượng cách mạng, kìm kẹp dân, nhưng chúng không thể làm được dễ dàng như ở Mỹ Tho, Bến Tre, An Giang. Chúng bố trí ở đây 2 trung đoàn chính quy của Sư đoàn 23. Ngoài ra, còn nhiều tiểu đoàn bảo an, tổng quân số lên tới 5.000, đóng 38 đồn trong căn cứ. Tại Bắc Dụng, xã Bình Thạnh, huyện Hồng Ngự chúng thành lập nông trường Bảo An trên một diện tích có chiều dài là 15 kilômét, chiều rộng là 4 kilômét, ở sát biên giới, quy tập các gia đình binh sĩ bảo an và trang bị vũ khí. Thực chất đây là căn cứ quân sự, khống chế biên giới thuộc chi khu Hồng Ngự.

Tháng 6 năm 1957, chúng xây tháp mười tầng, cao 36 mét ở đầu kênh Ba Tháp, Mỹ An, bố trí một trung đội bảo an đóng giữ, lợi dụng điểm cao để quan sát, khống chế một vùng rộng lớn giữa trung tâm Đồng Tháp Mười.

Từ năm 1957, chúng triển khai chương trình “dinh điền”, đưa dân vào sửa chữa lộ 30, thông suốt từ Hồng Ngự đến Cao Lãnh tới quốc lộ 4 ở An Thái Chung, Cái Bè, Mỹ Tho và đào các con kênh mới như kênh Phước Xuyên, kênh An Long để khống chế và chia cắt Đồng Tháp Mười.

Kiến Phong là tỉnh mà ngay từ đầu, hầu hết Đảng bộ và cấp ủy đã nhiệt liệt hưởng ứng tổ chức vũ trang. Nhờ có lực lượng vũ trang hỗ trợ nên các phong trào quần chúng nổi dậy chống các quốc sách phản động của địch diễn ra liên tục và quyết liệt. Thí dụ như chống các chỉ dụ số 2, số 7 và 57 về ruộng đất, uy hiếp bọn tề điệp, đi đôi với cảnh cáo, giáo dục bọn địa chủ. Cho đến năm 1958, ở vùng căn cứ du kích cũ của tỉnh, nằm ở khu vực bờ bắc sông Tiền, hầu hết ruộng đất mà chính quyền cách mạng tạm cấp cho nông dân vẫn giữ được nguyên canh và quyền làm chủ, không phải nộp tô. Ở vùng tôn giáo, tá điền cũng chỉ nộp từ 10 đến 15 giạ một mẫu, bằng một phần sáu mức tô trước kia. Phong trào chống bắt lính trong các vùng địch tạm chiếm phát triển mạnh, như ở thị xã Cao Lãnh và quận Thanh Bình, khi địch bắt 200 thanh niên đi lính, hàng trăm đồng bào đã kéo đến dinh tỉnh trưởng đòi trả chồng, con em; học sinh Cao Lãnh rải truyền đơn, nêu khẩu hiệu phản đối quân địch. Cuộc đấu tranh kéo dài hai ngày, tỉnh trưởng phải thả hết số thanh niên bị bắt.

Ở Mỹ An, chúng bắt 100 thanh niên đưa xuống tàu định chở đi, đồng bào tràn xuống giành giật. Tàu chìm, số thanh niên trốn thoát. Ở Hồng Ngự dũng diễn ra những sự kiện tương tự. Phong trào chống khủng bố, chống tố cộng khá rộng. Các đội tự vệ được tổ chức ở nhiều nơi, đánh đuổi bọn đi bắt cóc cán bộ ban đêm. Ở những vùng có lực lượng vũ trang hoạt động, các chi bộ và cơ sở nòng cốt khống chế diệt ác ôn, tề xã, ấp, liên gia, hạ uy thế địch. Quần chúng tẩy chay không học tập, không treo băng tố cộng, không treo hình Diệm, chống khủng bố, chống cô lập các gia đình cách mạng. Ở Mỹ An, tên quận trưởng Hồ Châu và tay chân uy hiếp các gia đình cách mạng đã nhận được thư cảnh cáo. Ở các huyện khác cũng vậy, địch phải lùi bước. Ở Kiến Phong, chiến dịch “tố cộng, diệt cộng” của địch rất hạn chế. Nói chung, các phong trào đã hình thành ba lực lượng chính trị, binh vận, vũ trang cùng kết hợp, phối hợp khá tốt, không chỉ bảo tồn mà còn phát triển lực lượng cách mạng. Ngay trong việc chống phá các trò hề bầu cử quốc hội và trưng cầu dân ý của địch, lực lượng vũ trang cũng được sử dụng đánh địch và phá thùng phiếu.

Trong năm 1957, tỉnh đã có những hoạt động vũ trang như đặt mìn, diệt trung đội bảo an ở Giồng Sa Rài, đánh một đại đội bảo an hành quân vào xã Thiện Mỹ, đánh chìm chiếc tàu đang nạo vét kênh Nguyễn Văn Tiếp và đánh phá nông trường Bắc Dung.

Tháng 9 năm 1957, đồng chí Hai Phối đã về Liên tỉnh ủy, đồng chí Hai Nha, Bí thư tỉnh ủy, dựa vào uốn nắn của Xứ ủy sau vụ Mỹ Tho giết Quận Long, đã chỉ đạo giảm bớt lực lượng vũ trang, không được chủ động nổ súng. Bộ đội Kiến Phong phải tự động xây dựng các địa bàn phòng ngự, làm hầm chông, gài lựu đạn, treo, dán khẩu hiệu binh vận để giữ gìn lực lượng. Một số khác phải phân tán thành những đơn vị nhỏ, bám trong dân ở vùng ven. Về sau, do tình hình thực tế hoạt động của địch, đồng chí Hai Nha cho phép được nổ súng để tự vệ trong trường hợp bất đắc dĩ. Trong mùa nước năm 1957, ở Đồng Tháp Mười, phần lớn cán bộ Ban Chỉ huy Tiểu đoàn 2 của Kiến Phong, có cả đồng chí Hoàng Thái Ân, Tiểu đoàn trưởng và đồng chí Đặng Tám Quảng, Chính trị viên và gần chục đồng chí khác đã bị địch đánh úp và bị bắt, bị tù đày chục năm liền ở Phú Quốc và Côn Đảo.

Tháng 10 năm 1958, Liên tỉnh ủy chuyển chỉ thị của Xứ ủy xuống các tỉnh giảm bớt lực lượng vũ trang và tổ chức chi bộ bí mật để bảo đảm gọn nhẹ, bí mật. Tổng số đảng viên của Kiến Phong đến lúc này là 933, sau khi sắp xếp lại là 358, tập hợp vào 14 chi bộ. Sau sắp xếp, tổ chức Đảng có gọn hơn nhưng hoạt động hạn chế.

Từ năm 1958, địch sử dụng Sư đoàn 21 chủ lực ngụy làm nòng cốt cho các lực lượng bảo an, dân vệ có máy bay yểm trợ càn quét liên miên, đánh sâu vào Đồng Tháp Mười, ném bom kênh Kỳ Sơn… nhằm truy diệt lực lượng vũ trang cách mạng. Chúng ra sức bắt lính, đôn quân với quy mô chưa từng có, gom dân vào khu trù mật ở mương Cây Sung, An Bình, Hồng Ngự, sân bay kênh An Long, ngã ba Phú Thành, Thanh Bình, ngã tư Phong Mỹ, ngã tư Kênh Số Một, Mỹ Hội, ngã tư chùa Long Hiệp, Cao Lãnh, Đốc Binh Kiều, Mỹ An. Khoảng giữa tháng 10 năm 1959, sau khi đào xong con kênh An Long, địch đưa dân Hòa Hảo miền Tây và dân miền Trung đến lập các khu dinh điền dọc theo bờ nam kênh, gồm các Khu II An Long, Khu III Phú Thành, Khu IV Tràm Chim, Khu V Bình Thành, Thanh Bình, Khu VI Phong Mỹ, Cao Lãnh, Khu VII Gãy Cờ Đen, Thạnh Lợi, Mỹ An; tạo thành hệ thống dinh điền, kể cả khu dinh điền Sa Rài, triển khai mạnh chiến dịch “tố cộng, diệt cộng” thi hành luật 10/59 đặt cộng sản ngoài vòng pháp luật. Tình hình trở nên gay go, quyết liệt.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười, 2012, 08:31:25 PM
Kiến Tường, ngay từ ngày địch tiếp quản (năm 1954) chúng đã đánh ác liệt. Kiến Tường thưa dân, chỉ có khoảng 50 ngàn người. Địch đưa đồng bào miền Bắc di cư và đồng bào từ miền Trung đến thành lập 17 dinh điền và khu trù mật, tất cả có đến 20.000 người ở Thạnh Trị, Long Khốt, Gò Cát, Chắc Rùm, Thái Trị, Gãy Cờ Đen, Gò Dung, Bắc Hòa, Thạnh Cần, nhà thờ Lá Nhơn Hòa Lập… các dinh điền và khu trù mật đều ở những vị trí trọng yếu, hình thành tuyến ngăn chặn dọc biên giới.

Nhiều con kênh ngang dọc, trên bờ là lộ xe, được đào đắp, chia cắt Đồng Tháp Mười, như kênh Bến Kè qua chùa Phật Đá, kênh Mười Hai, Cai Lậy qua Bắc Chiên thị xã Mộc Hóa, kênh Nhơn Xuyên, kênh xáng Bà Cạp, kênh Bảy Thước.

Địch dùng lực lượng quân sự, kết hợp với bộ máy kìm kẹp ở xã, ấp tiến hành càn quét khủng bố trắng. Dân bị buộc phải đi học tố cộng, làm tờ ly khai cộng sản, xé cờ Đảng, và ảnh Bác Hồ, thân nhân cán bộ cách mạng phải quỳ hương, sám hối. Ai cưỡng lại thì bị đánh đập, bỏ tù. Mỗi nhà dân phải sắm đèn, dây, roi, trống, mõ, hễ thấy người lạ thì nổi trống, mõ và rượt bắt. Việc địch đánh vào Đảng và dân ở Kiến Tường khi mới tiếp quản là tương đối dễ vì lúc đó, cán bộ, đảng viên, quần chúng cách mạng tay không, khó chống lại. Còn từ năm 1955, Kiến Tường đã có lực lượng vũ trang. Dù địch có làm quyết liệt vẫn không đạt được điều chúng mong muốn. Tỉnh không những có vũ trang mà điều hết sức quan trọng là Tỉnh ủy ở bất cứ tình huống nào cũng không dao động trong vấn đề duy trì và sử dụng lực lượng vũ trang hỗ trợ cơ sở quần chúng. Vì vậy ở Kiến Tường không có những bước thăng trầm, khó khăn như ở Mỹ Tho, Bến Tre, An Giang và Kiến Phong.

Lực lượng vũ trang của tỉnh đã hộ trợ cho đồng bào bị gom ở khu vàm xáng Tuyên Nhơn, phá khu trở về nơi ở cũ. Khu này, chúng tập trung những gia đình cán bộ kháng chiến ở các xã Tân Đông, Thủy Đông, Thuận Nghĩa Hòa, Thạnh Phước. Tiếp đó, đặc công tỉnh kết hợp với lực lượng nội tuyến phá khám Mộc Hóa, diệt một tiểu đội lính gác, thu súng, giải thoát tù chính trị. Lực lượng vũ trang tuyên truyền ở các vùng bám dân, tổ chức dân đấu tranh, xây dựng nòng cốt, tự vệ mật. Các đồng chí đột nhập nhà các tên hội đồng xã, trưởng ấp, địa chủ, thầu đìa, cảnh cáo không cho thu tô, cướp ruộng, đìa, rạch của dân, buộc chúng phải nộp thuế cho cách mạng. Tên nào ngoan cố chống lại thì bị lên án, trừng trị. Các xã Tân Ninh, Tân Hòa diệt 13 ác ôn, trong đó có 2 tên là mật vụ tỉnh; hỗ trợ quần chúng đấu tranh làm thất bại kế hoạch lập khu trù mật. Nhơn Hòa Lập diệt tên Lạc, địa chủ ác ôn. Những tên địa chủ khác phải co lại, không dám hung hăng. Hàng trăm đồng bào các xã Tân Đông, Long Ngãi Thuận kéo đến dinh tỉnh trưởng tố cáo tên trung úy Thuận, trường đồn Trà Cú ức hiếp dân, ăn hối lộ, tỉnh trưởng phải điều tên này đi nơi khác. Cuộc đấu tranh thắng lợi đã lan sang các xã khác.

Long An, khi tỉnh Chợ Lớn còn thuộc Liên tỉnh miền Đông, địch đã làm thí điểm quốc sách “tố cộng, diệt cộng” ở các huyện Đức Hòa, Trung Huyện, Cần Đước, Cần Giuộc ngay từ năm 1955. Tên Y, Tỉnh trưởng Chợ Lớn lệnh cho bộ hạ thẳng tay khủng bố cán bộ kháng chiến hồi cư. Đến cuối năm 1956, có hàng người bị bắt bớ, tù đày, giết hại. Các tổ chức Đảng bị phá vỡ hầu hết. Cần Đước, Cần Giuộc mỗi huyện chỉ còn 2 đến 3 chi bộ, nhiều xã trắng. Ở Đức Hòa khi mới hòa bình, mỗi xã trung bình có 40-50 đảng viên, có xã đến 150 đảng viên, đến cuối năm 1956, mỗi xã chỉ còn 5-7 đảng viên. Tỉnh ủy Chợ Lớn năm 1954 có 7 ủy viên, đến cuối năm 1956 chỉ còn 4 đồng chí mà cũng không liên lạc với nhau được thường xuyên. Ở Tân An, giữa năm 1955 có những cuộc khủng bố, bắt bớ ở những huyện dưới nhưng do phong trào quần chúng đang ở thế đấu tranh nên địch tạm thời để yên. Chúng đang tập trung vào Mộc Hóa, Thủ Thừa. Khi giáo phái ly khai tràn vào Đồng Tháp Mười, cục diện của các huyện này thay đổi, bắt đầu có lực lượng vũ trang hoạt động tạo thế cho nhân dân chống lại có hiệu quả quốc sách “tố cộng, diệt cộng” của Mỹ - Diệm.

Ngay từ năm 1955, khi Ngô Đình Diệm có chương trình tố cộng, đã có một số cán bộ, đảng viên bất hợp pháp với địch ở Tân An, Chợ Lớn chạy lên biên giới Campuchia vùng Trắp Tre, Ba Thu sống theo từng khóm quen biết, đồng hương. Ở đây có khó khăn về vật chất nhưng tương đối an toàn. Các đồng chí tự kiếm súng để tự vệ và đã trừng trị một số tên mật vụ, do thám của địch. Đây là cơ sở để Tỉnh ủy điều những cán bộ bị lộ lên. Đến giữa năm 1956, vùng này trở thành nơi tập trung cán bộ từ các nơi đến.

Đầu năm 1957, Chợ Lớn được đưa về Liên tỉnh miền Trung Nam Bộ nhập với Tân An thành tỉnh Long An. Tỉnh ủy Long An ngay từ đầu đã thấy cần sử dụng lực lượng vũ trang hỗ trợ cho phong trào đấu tranh, nên ưu tiên cho tổ chức, xây dựng lực lượng vũ trang. Long An là tỉnh duy nhất ở Trung Nam Bộ thành lập Đảng ủy quân sự để đi sâu lãnh đạo vũ trang. Sau khi được Liên tỉnh ủy Trung Nam Bộ cho phiên hiệu, Tỉnh ủy dựa vào các đơn vị có sẵn thành lập 2 Tiểu đoàn 506 và 508; một tiểu đoàn chịu trách nhiệm hoạt động từ biên giới xuống phía bắc lộ 4 và một tiểu đoàn phụ trách từ Rừng Sác lên phía nam lộ. Hoạt động vũ trang của tỉnh hỗ trợ cho phong trào đấu tranh của quần chúng, giữ gìn lực lượng ở cơ sở rất có hiệu quả.

Lực lượng vũ trang hoạt động ra tới lộ 4, sát ngoại ô Sài Gòn, tới cầu Nhị Thiên Đường, vũ trang tuyên truyền, cảnh cáo tề điệp, ác ôn, giác ngộ nhân dân tham gia cách mạng. Đến cuối năm 1958, tiếp nhận Đề cương đường lối cách mạng miền Nam, Tỉnh ủy Long An đã linh hoạt chuyển hoạt động vũ trang của tỉnh đi sâu vào tổ chức, xây dựng cơ sở quần chúng, phân tán, bám chặt dân. Các hành động diệt ác được cân nhắc kỹ, để vừa trấn áp được địch, vừa thể hiện chính sách của cách mạng, phân hóa kẻ thù, nhân dân tin tưởng mà vẫn không bị lộ.

Long An phát triển vững chắc về chính trị, vũ trang, đối phó có hiệu quả với quốc sách “tố cộng, diệt cộng” của Mỹ - Diệm. Đảng viên, cán bộ ít bị thiệt hại, cơ sở Đảng, quần chúng ít bị phá vỡ, mà còn được củng cố phát triển, kể cả những vùng của Chợ Lớn cũ đã bị đánh nặng, thế đấu tranh chính trị của quần chúng vẫn được giữ vững.

Như diễn biến tình hình ở các tỉnh Trung Nam Bộ đã nêu, sau Hiệp định Giơnevơ, trong những năm từ năm 1954 đến năm 1959, con đường dẫn đến nhận thức thống nhất với phương châm hành động thích hợp co cách mạng phát triển một khó khăn: Tiếp tục đấu tranh chính trị bằng phương pháp hòa bình đơn thuần hay có kết hợp vũ trang. Đây là câu hỏi day dứt trong đầu những người lãnh đạo Đảng cấp từ liên tỉnh, tỉnh, huyện đến xã, ấp, đến đảng viên, cán bộ và quần chúng cách mạng. Nhất là từ sau ngày 20 tháng 7 năm 1956, địch ra sức phá hoại tổng tuyển cử thống nhất đất nước và ráo riết tiến hành “tố cộng, diệt cộng”, sử dụng lực lượng lớn đánh phá ác liệt vào Đảng và quần chúng cách mạng. Nơi bị đàn áp, tàn sát, giết chóc, ngay từ khi địch tiếp quản như ở Đồng Tháp Mười thì sớm có ý muốn hoạt động vũ trang. Nơi được chỉ đạo của cấp ủy, thấm nhuần ý nghĩa của hoạt động vũ trang là phục vụ tạo thế cho đấu tranh của quần chúng theo chỉ đạo của Liên tỉnh ủy thì vũ trang hoạt động có bài bản, phong trào được giữ vững. Nơi nào cứ máy móc thực hiện đấu tranh chính trị đơn thuần bằng phương pháp hòa bình, khi bị sức ép của địch mà manh động vũ trang, địch phản ứng lại tàn bạo thì hoang mang, lúng túng, để cho địch tự do khủng bố thì phong trào càng xuống thấp, cơ sở tan rã thêm, quần chúng hoang mang.

Đầu năm 1958, Xứ ủy triệu tập Hội nghị Xứ ủy lần thứ hai ở Phnômpênh. Mục đích là để các Xứ ủy viên, Bí thư các Liên tỉnh ủy thông suốt về việc giữ vững đường lối đấu tranh chính trị bằng phương pháp hòa bình. Sau Hội nghị, Liên tỉnh ủy đã chuyển nội dung hỉ đạo mới của Xứ ủy tới các tỉnh.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười, 2012, 08:31:51 PM
III - NGHỊ QUYẾT 15 CỦA TRUNG ƯONG,
TRẬN GIỒNG THỊ ĐAM VÀ GÒ QUẢN CUNG - PHÁT PHÁO LỆNH CHO ĐỒNG KHỞI

Đầu năm 1959 trong tình hình phong trào cách mạng đang sôi sục, Khu VIII - Trung Nam Bộ đã chỉ đạo cho các tỉnh ủy có một bước chuẩn bị đẩy mạnh hoạt động tiến công phá thế kìm kẹp xã, ấp bằng ba mũi chính trị, vũ trang và binh vận.

Tháng 1 năm 1959, tại Hà Nội, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp thông qua Nghị quyết 15. Tháng 8 năm 1959, Khu nhận được nội dung ngắn gọn của Nghị quyết và đến cuối năm các khu được Xứ ủy triệu tập Hội nghị triển khai toàn bộ nội dung Nghị quyết.

Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng cho phép hoạt động vũ trang để hỗ trợ cho đấu tranh chính trị, để bảo vệ cơ sở và phong trào cách mạng của quần chúng.

Được soi sáng bởi Nghị quyết 15, các tỉnh Đồng Tháp Mười yên tâm hơn, phấn khởi hơn. Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng đã tạo thế và lực mới cho phong trào cách mạng miền Nam.

Tình thế Khu Trung Nam Bộ trong những ngày đầu năm 1959 đặt ra yêu cầu phải xác định rõ hơn thực chất của chính sách thực dân kiểu mới của Mỹ - Diệm và đưa ra những giải pháp để chống lại chính sách này có kết quả. Chính sách thực dân kiểu mới của Mỹ - Diệm chủ yếu là nắm dân, tranh thủ trái tim, khối óc của dân để tiêu diệt cách mạng. Đảng ta cũng phải dựa vào dân, giành dân với địch. Ai nắm được dân thì có lực lượng, có thế mạnh tiến công để giành thắng lợi cuối cùng.

Tuy nhiên, cách nắm dân của ta và địch hoàn toàn khác nhau. Địch dùng lừa mị, dùng vật chất để mua chuộc, tìm cách làm cho tư tưởng tư sản thống soái trong dân chúng để dân chúng dần dần xa rời tư tưởng cách mạng. Đó là đường lối thực dân kiểu mới. Còn ta chăm lo cho lợi ích của dân bằng thực tế hành động, lãnh đạo nhân dân đứng dậy lật đổ ngụy quyền các cấp, trước hết là ngụy quyền cơ sở, để làm chủ cuộc sống của mình.

Chính sách thực dân kiểu mới của địch là kìm kẹp để nắm dân, giành dân. Cho nên, ta chống chính sách thực dân kiểu mới của địch phải bằng cách phá kìm kẹp, đưa dân lên thế làm chủ xã, ấp. Điều này ta đã làm ngay từ năm 1955 nhưng ở mức thấp và cứ nâng dần lên cho đến khi nổ ra Đồng Khởi (tấn công và nổi dậy đồng loạt toàn Khu năm 1959).

Ở các xã Đồng Tháp Mười, sau các đợt khủng bố, tố cộng ác liệt, người dân phải chịu bao khó khăn gian khổ. Với thế công khai hợp pháp cách mạng (chứ không phải hợp pháp khuất phục) đồng bào đã chuyển từ người kháng chiến đánh Tây thành người đứng lên tấn công địch bằng ba mũi quân sự, chính trị, binh vận, diệt ác ôn, phá kìm kẹp, giành quyền làm chủ ở xã, ấp.

Chỗ mạnh của người dân Đồng Tháp Mười là ở chỗ họ đã hiểu biết cách mạng, đã quen với các hoạt động vũ trang của Đảng. Cho nên khi có lực lượng giáo phái ly khai tràn vào thì họ có ngay những tổ tự vệ giáo phái, dùng những tổ tự vệ đó diệt ác ôn, phá kìm kẹp. Sau khi lực lượng giáo phái ly khai tan rã, những đơn vị giáo phái do cách mạng thành lập đã cầm súng đánh địch.

Đến năm 1958, phong trào cách mạng ở đây đã mạnh lên. Nhiều xóm ấp địch công nhận là vùng quốc gia kiểm soát nhưng chỉ trên danh nghĩa, còn quần chúng cách mạng đã thật sự làm chủ. Bọn mật vụ, tình báo, chỉ điểm của địch đã bị trừng trị, cảnh cáo, co lại, không dám hoạt động, chỉ ở trong đồn bốt… Vì vậy, trong nông thôn không còn bọn tay sai, tề, điệp… người dân đoàn kết giúp đỡ nhau sản xuất và đấu tranh với địch.

Đầu năm 1958, ở Đồng Tháp Mười, các tỉnh Kiến Phong, Kiến Tường, Long An đều có tiểu đoàn tập trung hoạt động. Nhưng không phải chỉ có các chiến sĩ của tiểu đoàn đi phá kìm kẹp mà những đảng viên trong chi bộ các xã cũng đóng góp vai trò lực lượng vũ trang đi diệt ác ôn, phá kìm kẹp.

Từ trước khi nổi dậy, việc phá kìm kẹp ở vùng Đồng Tháp Mười đã được đúc kết thành kinh nghiệm, sau đó nhân rộng ra toàn khu. Phá kìm kẹp của địch đối với dân không phải là làm tràn lan mà phải phân hóa chung, phân biệt tên nào ác ôn nhiều, tên nào ác ôn ít, tên nào cần trừng trị ngay, tên nào chỉ cần cảnh cáo, rồi tranh thủ trung lập, cô lập, làm cho chúng tê liệt, không phát huy được tác dụng, buộc đầu hàng, thực hiện công tác cách mạng giao, buộc phải im lặng không được tố cáo những việc quần chúng cách mạng làm, án binh bật động, tiến tới không đồng tình với việc làm của bọn ngụy quyền và cao hơn làm tham gia công việc cách mạng, trở thành người kháng chiến… Tóm lại, lấy mục đích giáo dục là chính để cảm hóa, còn trừng phạt chỉ trong trường hợp rất cần thiết. Nhờ đó mà thêm bạn, bớt thù, lực lượng cách mạng ngày càng đông, lực lượng theo địch ngày càng bị cô lập.

Về việc này, có lần đồng chí Bí thư Liên tỉnh ủy nói chuyện trực tiếp với cán bộ, uốn nắn hiện tượng anh em chỉ nặng về trửng trị. Đồng chí giải thích cho anh em hiểu là đằng sau mỗi người mà ta trừng trị, có thể đi tới một trăm người là người thân ruột thịt, bạn bè thân thiết và họ hàng của họ. Do đó, có khả năng vì một người bị giết mà có tới một trăm người chồng lại hoặc mất cảm tình với cách mạng. Như vậy, việc trừng trị một người là phải hết sức thận trọng, phải là cần thiết đối với việc bảo vệ cơ sở, phát triển phong trào và không thể dừng lại được. Việc trừng trị không phải chỉ đơn giản là giết tên đó là xong, mà còn phải vạch rõ tội ác của hắn để cho mọi người, kể cả gia đình, họ hàng, bạn bè hắn biết hắn phải đền tội là phải lẽ. Do vậy, ở cơ sở, điều quan trọng là phải nắm vững lực lượng đối nghịch, hiểu rõ cặn kẽ từng tên tay sai của địch. Đây là điểm mấu chốt cho việc lên phương án phá kìm kẹp thành công.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười, 2012, 08:32:27 PM
Phá kìm kẹp và làm chủ là hai mặt có liên quan mật thiết với nhau như hình với bóng. Kinh nghiệm những năm phá kìm kẹp ở vùng Đồng Tháp Mười cho thấy, đã hình thành quy luật phá kìm kẹp càng mạnh thì làm chủ càng cao, làm chủ càng cao thì càng tạo điều kiện cho phá kìm kẹp mạnh hơn.

Chính sách của địch là kìm kẹp - bình định - nắm dân, còn chính sách của cách mạng là phá kìm kẹp - chống bình định - đưa nhân dân nổi dậy giành quyền làm chủ. Chính sách này đã lặp đi lặp lại, xuyên suốt cuộc đấu tranh theo từng mức độ từ thấp đến cao, từ ít đến nhiều và đã phản ánh trong phương châm của ta là đánh đổ địch từng bước, giành thắng lợi từng phần, phá kìm kẹp từng bước làm chủ từng mức độ rồi lại phá kìm kẹp mạnh hơn để làm chủ cao hơn, tiến tới làm tan rã địch, diệt hết đồn bốt để giành quyền làm chủ hoàn toàn. Làm chủ được thì có người cầm súng, nhân dân đoàn kết, có sức mạnh vũ trang, thì sẽ giải phóng được rộng hơn, uy thế cách mạng to lớn hơn. Những hoạt động trên ở Đồng Tháp Mười, ngay từ đầu cho đến khi nổi dậy trong thời gian cuối năm 1959, đã trở thành quy luật.

Từ nhận thức đó cho thấy vai trò quan trọng của Đồng Tháp Mười trong việc tạo ra mô hình giữ thế công khai hợp pháp để nổi dậy tấn công địch bằng ba mũi: vũ trang, chính trị và binh vận, phá thế kìm kẹp của địch, giành quyền làm chủ của quần chúng cách mạng ở vùng đồng bằng đông dân. Và cũng chính điều đó giải thích vì sao Đồng Tháp Mười là nơi nổi dậy trước tiên của Khu VIII - Trung Nam Bộ.

Nhìn lại diễn biến tình hình ở đây, cho thấy, từ năm 1954, Diệm sử dụng loại hình chiến tranh đơn phương để kìm kẹp dân. Còn về phía ta thì không có lực lượng vũ trang hoặc lực lượng vũ trang còn yếu nên chưa thể đè bẹp được địch. Sức mạnh của ta trong những ngày này là sức mạnh chính trị của quần chúng, bắt nguồn từ trong tinh thần cách mạng của quần chúng nhân dân và ta cũng chỉ có thể dựa vào sức mạnh đó để giữ quyền làm chủ của nhân dân. Trong thời gian Khu VIII - Trung Nam Bộ chủ trương mở đợt đấu tranh để kiềm chế địch và giữ thế công khai hợp pháp của cách mạng, quần chúng tấn công địch, cứ một, hai tháng Khu chỉ đạo làm một đợt. Nhưng tất nhiên đấu tranh chính trị trong điều kiện địch đã tiến hành chiến tranh (bất kể là loại chiến tranh gì) tác dụng cũng bị hạn chế, do đó, cần thiết phải có vũ trang để ghìm mũi nhọn vũ trang của địch, giữ thế cho dân làm chủ. Chính vì thế mà khi có điều kiện đấu tranh vũ trang (giáo phái ly khai vào Đồng Tháp Mười năm 1955) Khu đã lập tức đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị có vũ trang hỗ trợ. Có vũ trang nhưng không quên thế mạnh của mũi đấu tranh chính trị của quần chúng. Từ đó mà hình thành phương châm: chính trị - vũ trang song song; ba mũi quân sự, chính trị, binh vận tấn công và giáp công làm tan rã và tiêu diệt địch. Phương châm đó đã ra đời từ trong yêu cầu phải giải quyết những vấn đề của thực tế đấu tranh, là kết quả được đúc rút từ kinh nghiệm, sáng tạo của hàng vạn cán bộ cơ sở và quần chúng cách mạng. Nó đã được tổng kết, đem ra thực hiện, và nhân rộng ra thành chủ trương chung của Khu và toàn miền Nam.

Phong trào ở Đồng Tháp Mười đã có nền tảng như vậy, nên mặc dù có lúc, có nơi phong trào lên xuống, nhưng căn bản vẫn là thế chung đang lên. Chính vì thế, năm 1959, trước sức ép của địch càng mạnh, còn về phía ta cấp trên có chủ trương đúng và thích hợp thì phong trào vùng lên, mở đường cho các nơi khác.

Sau khi tiếp thu Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng, ở Khu VIII - Trung Nam Bộ đã tiến hành trận đánh lớn ở Giồng Thị Đam và Gò Quản Cung. Đây là một địa điểm nằm sâu trong Đồng Tháp Mười, giáp ranh hai huyện Hồng Ngự và Thanh Bình. Hằng năm, đến tháng 9, tháng 10, vùng này bị ngập sâu từ 2 đến 2,5 mét, nhiều đám chàng, cỏ dại, lúa ma,… mọc lên thành rừng, gây trở ngại cho xuồng, ghe qua lại. Mùa nước nổi, chỉ có một số dân ở vùng sông Tiền vào đây giăng câu, bủa lưới bắt cá.

Từ năm 1956, Giồng Thị Đam và Gò Quản Cung là một trong những địa bàn phòng ngự, giấu quân của các phân đội thuộc Tiểu đoàn 2. Năm 1959 là căn cứ của Ban chỉ huy Tiểu đoàn 502 và Đại đội cơ động 271 của tiểu đoàn. Theo kế hoạch chung, Đại đội 271 được phân công làm công tác vũ trang tuyên truyền phá kế hoạch gom dân ở xã Bình Thạnh, Hồng Ngự. Yêu cầu của cuộc vũ trang tuyên truyền là phá kìm kẹp, phát động quần chúng. Trong phương án có nêu tình huống: nếu có điều kiện thì tiêu diệt trung đội bảo an đang đóng ở vùng này.

Trong thời gian lực lượng vũ trang của ta đang ở Giồng Thị Đam chuẩn bị cho đợt hoạt động thì bọn thám báo địch phát hiện ra. Tên trung tá Trần Hoàng Quân, Tư lệnh phân khu Bắc họp bàn với tên thiếu tá Trần Quốc Hoàng, Tỉnh trưởng, Tiểu khu trưởng Kiến Phong quyết định mở cuộc hành quân đánh vào đây nằm tiêu diệt lực lượng của ta. Lực lượng của chúng gồm 2 tiểu đoàn 2 và 3. Trung đoàn 43 Sư đoàn 23 và một đại đội bảo an của tiểu khu Kiến Phong. Chúng chia thành bốn cánh quân, hành quân bằng xuồng, đi từng đại đội.

Ngày 25 tháng 9 năm 1959, theo kế hoạch, cánh A xuất phát từ thị trấn Hồng Ngự. Cùng thời điểm này, tại Giồng Thị Đam, Ban chỉ huy Đại đội 271 đang họp bàn với cán bộ xã Bình Thạnh. Khoảng 9 giờ sáng, trinh sát phát hiện có một cánh quân lạ, rất đông. Đại đội trưởng Út Thu ra quan sát, khẳng định đây là quân chủ lực ngụy liền ra lệnh cho đơn vị chuẩn bị chiến đấu. Nhưng chúng chỉ đi ngang qua cách hơn 2.000 mét, thẳng về Sa Rài.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười, 2012, 08:32:58 PM
Ban chỉ huy Đại đội 271 báo cáo tình hình với tiểu đoàn. Tiểu đoàn và đại đội thống nhất nhận định: Đây là cuộc càn lớn của địch nhằm tìm diệt lực lượng vũ trang ta, hỗ trợ việc gom dân quy khu, bảo vệ bọn đào kênh An Long - Gãy Cờ Đen. Qua quan sát, thấy chúng không quen bơi xuồng chiến đấu trên đồng nước (đội hình dồn cục, xuống nọ đụng xuồng kia, la hét om sòm). Nếu bị đánh bất ngờ thì nhất định chúng sẽ khó bề chống đỡ. Về phía ta, tuy quân số của Đại đội 271 ít hơn địch, nhưng quen chiến đấu trên đồng nước, tinh thần rất cao, đang mong có cơ hội lập công.

Trên cơ sở phân tích trên, tiểu đoàn hạ quyết tâm dùng Đại đội 271 để đánh thắng một trận lớn. Tiểu đoàn tăng cường thêm cho đại đội 1 khẩu trung liên của phân đội Năm Bình.

Đúng như nhận định, khoảng 9 giờ sáng ngày 26 tháng 9 năm 1959, cánh quân địch từ Sa Rài tiến về Giồng Thị Đam. Chúng lọt vào trận địa của Đại đội 271. Khoảng cách gần nhất giữa ta và địch chỉ khoảng 10 mét, tổ trung liên được lệnh nhằm ngay xuồng chỉ huy, đơn vị đồng loạt nổ súng và xung phong. Địch bị bất ngờ, rối loạn ngay từ đầu, binh lính quăng súng, nhảy xuống nước, xuồng bị lật chìm. Kết quả, ta tiêu diệt gọn Đại đội 12 và Ban chỉ huy Tiểu đoàn 13 Trung đoàn 43; bắt 75 tù binh, trong đó có tên đại úy Phán, Tiểu đoàn phó chỉ huy cánh quân A; thu được nhiều súng đạn, trong đó có 5 khẩu trung liên Mỹ.

Qua khai thác, ta biết ngoài cánh quân A, còn cánh quân B sẽ tiến vào Gò Quản Cung. Đại đội 271 liền hành quân gấp về Gò Quản Cung để đón địch, đưa theo 75 tù binh vừa bị bắt.

Tại đám chàng ở phía nam Gò Quản Cung, vào khoảng 14 giờ thì ta bố trí xong, cánh quân B của địch cũng vừa tới. Ta cử hai chiến sĩ trinh sát ra để nhử chúng đuổi theo. Tiếng súng rộ lên ở Gò Bộ Tức, cách trận địa 1.000 mét. Vì điện đài của cánh quân A bị diệt ngay loạt đạn đầu nên bọn địch ở cánh quân B chưa hay biết gì. Hai chiến sĩ trinh sát chống xuồng chạy thẳng về Gò Quản Cung. Địch hò nhau hối hả đuổi theo. Chúng lọt vào trận địa phục kích của Đại đội 271. Cả đơn vị đồng loạt nổ súng và xung phong. Lần này, hỏa lực của ta càng mạnh vì ta vừa được bổ sung thêm vũ khí thu được của cánh quân A. Một số địch bị diệt ngay từ loạt đạn đầu, số sống sót lặn hụp dưới nước và bị bắt. Số còn lại không dám chống cự, quay xuồng chạy thục mạng về phía Tân Dinh An Phong, bờ sông Tiền.

Như vậy là chỉ trong một ngày, với quyết tâm cao và linh hoạt chiến đấu trên đồng nước bằng hai trận đánh với chủ lực địch, Đại đội 271 Tiểu đoàn 502 đã đánh thắng cuộc hành quân cấp trung đoàn của Sư đoàn 23, gồm hai tiểu đoàn kết hợp với 1 đại đội bảo an, diệt gọn hai đại đội và một ban chỉ huy tiểu đoàn, giết 12 tên, bắt sống 105 tên, thu 7 trung liên, 120 tiểu liên, súng trường, 12 máy bộ đàm PRC 25 và rất nhiều đạn dược. Toàn bộ số tù binh được cán bộ, chiến sĩ Đại đội 271 giáo dục, giác ngộ cách mạng và thả ngay trong ngày.

Sau trận đánh, Ban chỉ huy Tiểu đoàn 502 đã sáng tạo, mưu trí cho gom thẻ bài của binh sĩ đã chết và bị bắt gửi về gia đình họ, tạo nên cuộc đấu tranh của hàng trăm gia đình binh sĩ kéo đến quận lỵ Hồng Ngự đòi chồng con, làm cho địch đã thất bại lại càng thêm lúng túng và ảnh hưởng trận đánh thắng của ta lan rộng ra khắp nơi.

Trận Giồng Thị Đam - Gò Quản Cung là thất bại quân sự đầu tiên đau đớn nhất của quân ngụy từ sau năm 1954 tại Khu VIII - Trung Nam Bộ, một bất ngờ đối với ngụy quân, ngụy quyền. Bộ Tổng tham mưu ngụy phải lập hội đồng quân kỷ xét cách chức tên trung tá Trần Hoàng Quân, Tư lệnh phân khu Bắc; bãi chức và tống giam nhiều sĩ quan tham gia trận đánh.

Chiến thắng Giồng Thị Đam - Gò Quản Cung đã tạo nên một tiếng vang lớn tác động đến tinh thần cán bộ, chiến sĩ, quần chúng cách mạng các tỉnh Trung Nam Bộ, đồng thời gieo rắc hoang mang trong hàng ngũ địch.

Hoạt động vũ trang ở Đồng Tháp Mười vốn đã khá mạnh, sau trận Giồng Thị Đam - Gò Quản Cung thế cách mạng càng mạnh lên.

Chiến thắng Giồng Thị Đam - Gò Quản Cung là phát pháo lệnh châm ngòi cho cuộc nổi dậy của quần chúng các tỉnh Trung Nam Bộ và nhiều nơi khác.

Ngay sau khi được Khu phổ biến nội dung Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng, ở Kiến Phong, Kiến Tường phong trào đấu tranh đã phát triển mạnh, không chỉ hoạt động ở bên trong Đồng Tháp Mười mà còn mở rộng ra cả vùng ven Đồng Tháp Mười, không chỉ hỗ trợ phá kìm kẹp để giành quyền làm chủ ở mức độ thấp mà đánh thẳng vào bọn kìm kẹp của địch, diệt và làm tan rã địch để giành quyền làm chủ hoàn toàn ở nhiều xã, ấp. Sau Kiến Phong, Kiến Tường nổi dậy, Long An cũng đưa thế cách mạng quần chúng nổi dậy có hiệu quả. Cả Đồng Tháp Mười trở thành phát pháo lệnh lớn trong toàn khu, thành hình mẫu tấn công và nổi dậy đồng loạt cho toàn khu học tập. Tỉnh ủy Kiến Phong thực hiện tinh thần chỉ đạo của Liên tỉnh ủy, ngay sau trận Giồng Thị Đam - Gò Quản Cung, đã tổ chức thành công đợt tấn công nổi dậy đầu tiên.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười, 2012, 08:33:17 PM
Đêm 23 tháng 11 năm 1959, ba đơn vị của Tiểu đoàn 502 hoạt động ở các huyện Thanh Bình, Cao Lãnh, Mỹ An tập trung lại, do đồng chí Tư Sâm - Chính trị viên, tiểu đoàn phó chỉ huy, cùng với cán bộ huyện Cao Lãnh và xã Phong Mỹ chia làm ba mũi tấn công đồn dân vệ Vàm Xáng, đột nhập khu vực cầu sắt trên lộ 30 và khu vực từ đồn Thống Linh, xã Thiện Mỹ đến chợ Ngã Tư. Đồn Vàm Xáng bị ta đánh chiếm. Lực lượng vũ trang cùng với cơ sở và quần chúng nòng cốt nổi dậy lùng bắt tề ấp, liên gia trưởng, chỉ điểm. Ba mũi tấn công gặp nhau tại chợ Phong Mỹ. Tại đây, các đồng chí tập hợp hơn 300 quần chúng xử tội những tên bị bắt, giải thích chủ trương chính sách của cách mạng, tuyên bố giải tán chính quyền địch, kêu gọi quần chúng đứng lên tấn công và nổi dậy diệt ác, phá kìm kẹp, giành quyền làm chủ, tham gia công tác cách mạng. Hai tên ác ôn Lầu và Lộc là công an kiêm trưởng ấp bị xử tử. Các tên khác bị cảnh cáo.

Sau cuộc tấn công nổi dậy ở xã Phong Mỹ, các phân đội của Tiểu đoàn 502 kết hợp với quần chúng địa phương và cơ sở diệt ác ôn, phá thế kìm kẹp ở các xã Thiện Mỹ, Mỹ Ngãi, Mỹ Hội huyện Cao Lãnh, Thường Thới, Thường Phước, Tân Thành huyện Hồng Ngự. Tề ấp, liên gia những xã này tan rã, một số bỏ chạy, một số từ chức. Nhân dân các xã rất phấn khởi, thanh niên xin theo bộ đội rất nhiều.

Tỉnh ủy Kiến Phong tiếp tục chỉ đạo một đợt mới vào giữa tháng 12 năm 1953, lấy xã Thường Lạc, huyện Hồng Ngự và xã Thanh Mỹ, huyện Mỹ An làm điểm. Tại xã Thường Lạc, đêm 19 tháng 12 năm 1959, chi bộ phát động quần chúng nổi dậy đánh trống, đánh mỏ, đốt pháo, đèn đuốc sáng rực, kéo đi rầm rập suốt đêm. Lực lượng vũ trang có nửa tiểu đội, đột nhập hỗ trợ cho nội tuyến trong tề và dân vệ nổi dậy chiếm đồn. Bộ máy kìm kẹp tan rã, xã Thường Lạc được giải phóng. Đêm 25 tháng 12 năm 1959, đại đội Chín Cứ phối hợp với nội tuyến trong đồn và hai cơ sở trong tề xã tấn công chiếm đồn Thanh Mỹ. Hàng ngàn quần chúng bao vây chiếm trụ sở xã, giải tán dân vệ, chủ ấp, liên gia, đánh trống, đánh mõ, đốt pháo, đập bảng tố cộng, xé cờ ba sọc, đốt hình Ngô Đình Diệm… Xã Thanh Mỹ được giải phóng.

Ở Hồng Ngự, lực lượng vũ trang đột nhập các xã Thường Thới, Bình Thạnh diệt hai đồn Cái Sơ và Bến Siêu. Chi bộ phát động quần chúng nổi dậy tước vũ khí dân vệ, buộc tề xã đầu hàng, giải phóng hai xã Thường Thới, Bình Thạnh. Một mũi tấn công khác của lực lượng vũ trang phối hợp với cơ sở và nội ứng bức rút 3 bốt, phá banh 3 khu gom dân Chòi Mòi, Cây Me, Thăm Bua ở Tân Thành. Ở Cao Lãnh, một phân đội vũ trang tỉnh đột nhập vào cồn Bình Thạnh diệt 2 đồn Cồn Trọi và Bình Linh. Quần chúng nổi dậy cùng du kích tước vũ khí của dân vệ, buộc tề xã đầu hàng. Xã Bình Thạnh được giải phóng. Ở huyện Mỹ An, sau khi giải phóng xã Thanh Mỹ được 7 ngày, một phân đội đặc công của tỉnh đánh sập tháp mười tầng ở Gò Tháp, xã Mỹ Hòa, diệt gọn trung đội địch. Đây là một cứ điểm kiên cố và cao, địch xây dựng để quan sát một vùng rộng lớn của Đồng Tháp Mười. Cùng lúc, lực lượng vũ trang diệt đồn Mỹ Hòa, diệt gọn trung đội địch. Đây là một cứ điểm kiên cố và cao, địch xây dựng để quan sát một vùng rộng lớn của Đồng Tháp Mười. Cùng lúc, lực lượng vũ trang diệt đồn Mỹ Hòa, chiếm trụ sở tề xã, giải thoát một số cán bộ bị giam ở đây. Xã Mỹ Hòa được giải phóng. Thừa lúc bọn tề ngụy hoang mang, cơ sở trong khu gom dân Gãy Cờ Đen, xã Thạnh Lợi phát động quần chúng phá banh khu.

Tính đến cuối năm 1959, Kiến Phong đã sử dụng lực lượng vũ trang kết hợp với chi bộ Đảng phát động quần chúng liên tục nổi dậy tấn công địch, diệt 7 đồn, giải phóng hoàn toàn 7 xã, phá banh 9 khu gom dân, diệt và bắt hàng trăm tên địch, thu 300 súng, đánh sập tháp mười tầng. Ở hầu hết các xã còn lại trong tỉnh, tề ấp, liên gia bị giải tán, tề xã bị bao vây trong đồn. Cuộc nổi dậy đã mở ra địa bàn căn cứ rộng lớn liên hoàn từ Mỹ An, Cao Lãnh lên đến biên giới Campuchia.

(https://lh3.googleusercontent.com/9YiZkTQsShJYj93f8RFnjWbh2hQ5q3wGQkkLmAPhjQiSlVDeI4pPyTOZkOtMPJgUbcmMePcP2KjstNvwlsB8ntaq-D9WqEZYAOzHsiu3U9wuou5TBBFZfCAQmdVLeJMped3ldeo337eguAbKq2PF24agxUStNWYiCLpjYA3d5DRLoUJ-SE8eVLNpbMnefRB-bBHOFHDI3htiMag0lphWOOU40-5MVUyrfcfcaoA3B8bNMazrmoiXIyUElnc-JcEXlfLASyrTDz7yOR7j5Xwg3A6m-tjTz7cXDcMDriEDg2MCVjGYpUba_j_J2F_r8NA8MpwdAY4cv1RG1M4diYbQpRC5sdtg5I7dzEIFZUGkft34bu--jF7PXYEWyJsNu1IUQc6rmGY5z2sPQzvAgYFn-4chrhrzQFbrj8eab8Uk-uNykVCw3Z5FpP1m5_-_1_p4P_Ln7aYYpPKyq2YEsNxJSSDCAI2AqjC91WfQWaL-iOvJioHPZHM5VOMn8Y61syXszhZBuZwptEJ4OfRKdZ3Q4Fov9tXHZ3K9D11VI-rQJ5uT6LQg36bCRv7VVzAD-rKiiZelunP8M_OGAJG8SX1jVGmMmb49qdkLfbnyK1S735uxMJoyrZj6=w530-h800-no)

(https://lh3.googleusercontent.com/W7CAZ0ObBXMVO_9s3SNcVMdSDUHZMnq4zGkeRL8JfJdB2KMT0oXD3jQTbKtv7qga3G-ZHWPAZlhEQHHfzHabYWlBdhliZsSQ95E2aTEkgTen4UpixVqwIeoqRcqwaiWyk9Cks4EdWDcE8WGpDRmY1gNQkG3Vhkj34Q1nR2hMPMEIoaBw0f8M4fp6jBU8OnAIF5yWuOuTpiZncGB1jT-WZhl0nrwzkid8cijWkfnJZYB5K_rnHbcqc5w8WnGRE-AwL6Nc6wGF9BsWi3PEafEJUbBrYR6By0YwnEPfsyFr-YBUB1Bvpyt5W1a2DcrNWWws31FtDyxbx46-7JStS8YEYKPLHJJslvHfy5IyLWmdTLnIsp_fBoJ6Fb8wa6rxd-ix2D2dOtJWKhlGYosfc2FW2RsBzPmzNQDiW_2qTP2PQ7ftswnteUZQBQ1veQZRcaet_SBpqRVDNQl7azWFWrLq_9g1EhUhtLRcd8BvTdPHhjXKS7Xp7qd-cHXv3sCoagl9Yvo_4IeI2dJwupHUinOYbO2p1ac7mOa9SbWFD4fdsJ22J3p453R41rEs8-Wk7U8RA-zQLqTpFAdViIBEUViitppMckhvqFf2Xy3aJRhMH3KfuOtOfZoL=w800-h501-no)

Năm 1957, Mỹ - Diệm xây dựng tháp Mười Tầng ở Gò Tháp, xã Mỹ Hòa, làm đài quan sát trung tâm Đồng Tháp Mười (ảnh trên) và phế tích tháp Mười Tầng bị phân đội đặc công tỉnh Kiến Phong đánh sập tháng 1 năm 1960.

Cùng với Kiến Phong, ở Kiến Tường, lực lượng vũ trang và chi bộ Đảng phát động quần chúng tấn công địch liên tục, mạnh mẽ. Ngày 16 tháng 11 năm 1959, Tiểu đoàn 504 của tỉnh diệt 3 đồn: Ông Tờn, Đá Biên, Ma Ren. Quần chúng ở nhiều xã nổi dậy diệt ác ôn, phá thế kìm kẹp, giải tán bộ máy tề, chủ ấp, liên gia và các tổ chức đoàn ngũ hóa quần chúng của địch, giành quyền làm chủ trên diện rộng, nối liền các vùng.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Mười Một, 2012, 09:52:50 AM
IV - TẤN CÔNG, NỔI DẬY ĐỒNG LOẠT TRÊN TOÀN TRUNG NAM BỘ

1. Cuộc Đồng khởi ở Bến Tre

Thắng lợi của Kiến Phong và Kiến Tường là cơ sở thực tế để Tỉnh ủy hạ quyết tâm chỉ đạo mở rộng tấn công, nổi dậy đồng loạt trên toàn Trung Nam Bộ. Trong quá trình Kiến Phong và Kiến Tường tấn công quân sự kết hợp với khởi nghĩa quần chúng, Liên tỉnh ủy theo dõi chặt chẽ từng bước đi, rút ra phương châm, phương thức, kinh nghiệm sử dụng vũ trang kết hợp với chi bộ, đảng viên phát động quần chúng nổi dậy.

Theo tinh thần Nghị quyết 15 của Trung ương và nghị quyết của Xứ ủy, cách mạng miền Nam cần phải tiến hành một cuộc tổng khởi nghĩa; còn để đánh đổ chính quyền Mỹ - Diệm thì tình hình hiện nay chưa chín muồi vì tương quan lực lượng quân sự chung giữa ta và địch trên toàn miền Nam còn chênh lệch nhiều và chính quyền trung ương của địch còn mạnh. Nhưng vì cơ sở thì lại khác, địch đã hoang mang, suy yếu, không cai trị được dân; ta hoàn toàn có thể đánh đổ được chúng, có thể tiến hành một cuộc tấn công, nổi dậy từng bước của quần chúng, tiêu diệt và làm tan rã hạ tầng cơ sở của địch để giành quyền làm chủ từng phần với nhiều mức độ trên diện rộng, đồng thời tích cực chủ động, sáng tạo đón thời cơ tiến hành tổng tấn công và nổi dậy tổng công kích, tổng khởi nghĩa, đánh sụp chính quyền trung ương địch.

Liên tỉnh ủy khẳng định đã đến lúc mở rộng diện nổi dậy đồng loạt, không phải chỉ trong phạm vi Đồng Tháp Mười mà trong toàn Trung Nam Bộ.

Từ khẳng định ấy, Liên tỉnh ủy Trung Nam Bộ quyết định triệu tập Hội nghị Liên tỉnh ủy mở rộng các tỉnh ủy để triển khai phát động cuộc tấn công, nổi dậy đồng loạt; hướng chủ yếu là nổi dậy ở các xã đông dân trong và ngoài Đồng Tháp Mười còn đang bị địch kìm kẹp nặng. Hội nghị đã diễn ra hết sức khẩn trương trong tháng 12 năm 1959. Đây là cuộc Hội nghị lịch sử của Đảng bộ Khu Trung Nam Bộ.

Tinh thần chỉ đạo của Hội nghị là “phát động quần chúng nổi dậy diệt ác, phá kìm, giành quyền làm chủ ấp, xã”. Thực tế cho thấy sự chỉ đạo của Hội nghị là đúng đắn và đã dẫn đến những thắng lợi lớn.

Đồng chí Hai Phối, Liên tỉnh ủy viên, Bí thư Tỉnh ủy Kiến Phong, được phân công chuẩn bị báo cáo điển hình về cuộc tấn công và nổi dậy ở địa phương mình trong Hội nghị để các tỉnh rút kinh nghiệm.

Dự Hội nghị có các đồng chí trong Liên tỉnh ủy, các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của cơ quan Liên tỉnh ủy: Bảy Hiệp, Tám Hưng, Sáu Cao, Năm Chung và các đồng chí lãnh đạo các tỉnh ủy: đồng chí Ba Định - Tỉnh ủy Bến Tre; đồng chí Tư An - Tỉnh ủy An Giang; Đồng chí Hai Phối, Sáu Chung - Tỉnh ủy Kiến Phong; đồng chí Ba Giảng, đồng chí Quốc Hùng - Tỉnh ủy Kiến Tường; đồng chí Chín Cần, Lê Pha - Tỉnh ủy Long An. Đại biểu tỉnh Mỹ Tho vắng mặt vì đường đi khó khăn.

Đồng chí Sáu Đường (Tư Mùi), Bí thư Liên tỉnh ủy Trung Nam Bộ chủ trì Hội nghị.

Tại Hội nghị, đồng chí Sáu Đường thông báo với các đại biểu: [/i]Trung ương Đảng có Nghị quyết 15 đã cho đánh… Toàn Khu sẽ tấn công và nổi dậy đồng loạt thống nhất vào ngày 15 tháng 1 năm 1960[/i].

Thông báo đã gây xúc động mạnh đối với các đại biểu. Nhiều người không cầm được nước mắt. Sau báo cáo của đại biểu Kiến Phong, các đại biểu thảo luận về nhiệm vụ mới. Đại biểu các tỉnh Kiến Phong, Kiến Tường, Long An không có thắc mắc vì tỉnh đã có lực lượng vũ trang hoạt động khá mạnh và khí thế cách mạng của Đảng bộ và quần chúng đang lên. Đại biểu An Giang lo lắng vì cơ sở của Đảng bị đánh tan rã ở nhiều nơi, lực lượng vũ trang còn ít và mới. Đồng chí Ba Chim, Liên tỉnh ủy viên, phụ trách chỉ đạo Mỹ Tho, phát biểu về những khó khăn mà tỉnh đang gặp phải.

Kết luận của Hội nghị khẳng định: Về hình thức tổ chức thì Đảng, đoàn thể quần chúng không còn ở nhiều nơi ngoài Đồng Tháp Mười. Nhưng Đảng vẫn còn ở trong trái tim, khối óc của dân. Các đoàn thể công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ từ kháng chiến chống Pháp đến nay vẫn còn ở trong lòng đồng bào. Nhân dân vẫn tin tưởng ở Đảng, đang hướng về Đảng, chờ Đảng có chủ trương mới để họ hành động. Tuy hiện nay dân ở một số nơi đang bị địch kìm kẹp nặng nề, nhưng rất căm thù giặc. Cho nên, khi Đảng hiệu triệu thì họ sẽ hưởng ứng và nhanh chóng tạo thành sức mạnh của lực lượng hành động cách mạng. Tuy đảng viên còn ít nhưng không yếu, vì đảng viên đã qua thử thách, được rèn luyện quên mình vì lợi ích của quần chúng và cách mạng. Quần chúng tuy không còn tổ chức nhưng quần chúng sẽ nổi dậy và hình thành ngay lực lượng có tổ chức. Chỉ cần ta có quyết tâm, có kế hoạch tổ chức chỉ đạo, có khẩu hiệu thích hợp thì nhất định quần chúng ở những nơi đó sẽ vùng dậy được.

Về lực lượng vũ trang, Hội nghị chỉ đạo Tỉnh ủy Kiến Phong đưa lực lượng hỗ trợ cho An Giang, Tỉnh ủy Long An và Tỉnh ủy Kiến Tường đưa lực lượng hỗ trợ cho Mỹ Tho.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Mười Một, 2012, 09:53:10 AM
Đến tháng 9-1958, trong khi các nơi ở Đồng Tháp Mười đang lần lượt nổi dậy thì ở Bến Tre vẫn còn yên lặng, địch đang đàn áp khốc liệt. Nhưng Bến Tre còn chi bộ Đảng ở một số vùng, chỉ thiếu lực lượng vũ trang. Chị Ba Định (Nguyễn Thị Định), Phó bí thư Tỉnh ủy từ Bến Tre lên căn cứ Khu ở Tam Thường (Hồng Ngự, Kiến Phong) để dự cuộc hội nghị phát động đợt tấn công và nổi dậy đồng loạt toàn khu trong tháng 12 năm 1959. Trên đường đi xuyên qua các xã ven sông Tiền (Đồng Tháp Mười), thấy khí thế của quần chúng nổi dậy tấn công địch, chị rất phấn khởi. Ở khắp nơi, từng lùm cây, bụi cỏ, ngã ba, ngã tư, trên thân cây đâu đâu cũng có truyền đơn của dân viết bằng mực, viết bằng đủ mọi thứ người dân có được như giấy học trò, bao nhang, tờ lịch với những khẩu hiệu: Đả đảo Mỹ - Diệm! Đả đảo địa chủ ác ôn! Giành lại ruộng đất của cách mạng cấp cho dân cày… chị thấy ham thích quấ. Đây không phải là truyền đơn của Đảng viết mà do dân tự tay viết, rải… đó là một hình thức nổi dậy của nhân dân, địch không thể nào đàn áp hay gỡ những tờ truyền đơn đó được. Trên bờ sông thì bất cứ lùm bụi nào cũng có khẩu hiệu, truyền đơn, dưới sông thì họ thả bè, thả cây chuối, trên có gài truyền đơn, có hình Ngô Đình Diệm bị gạch chéo, v.v. Hàng vạn hàng chục vạn người viết, phía địch có mấy chục mấy trăm tên làm sao gỡ hết được, nó đành chịu thua. Chị Ba Định nói: “Nội thấy khẩu hiệu của dân treo dây đầy trời như vậy là phát mê rồi”.

Trong cuộc Hội nghị phát động cuộc tấn công nổi dậy đồng loạt toàn khu tháng 12 năm 1959, Bến Tre được chỉ đạo cho lấy súng chôn cất trước đây lên để vũ trang tuyên truyền như các tỉnh, để phát động dân nổi dậy. Nhưng chị Ba Định cho biết là có nhận được lệnh đó nhưng tỉnh không có điều kiện lập đội vũ trang tuyên truyền như các tỉnh Đồng Tháp Mười. Bởi vì, tỉnh có giữ lại một số súng đủ trang bị cho 1 đại đội thì Túc, Thường vụ Tỉnh ủy bị địch bắt đã khai ra, địch lấy hết rồi. Chị nói: Toàn tỉnh tới bây giờ chỉ còn 1 hoặc 2 cây súng thôi thì làm vũ trang tuyên truyền sao nổi? Thấy người ta làm thì ham nhưng lực bất tòng tâm. Rồi chị đề nghị đồng chí Sáu Đường giúp cho Bến Tre cũng làm được như Đồng Tháp Mười. Chị nói làm như Đồng Tháp Mười nghĩa là làm cho Bến Tre có lực lượng vũ trang để phá thế kìm kẹp, làm tan rã địch ở từng xóm ấp để làm chủ, rồi xây dựng bộ đội lớn mạnh đánh đồn, làm chủ hoàn toàn, xây dựng xã chiến đấu, xây dựng chính quyền tự quản, nhưng vẫn giữ được thế hợp pháp cho dân đấu tranh với địch. Chứ không phải chạy xà đùa bất hợp pháp khi địch phản kích trở lại như hồi đánh Pháp.

Chị nói tiếp: “Tôi thấy làm theo kiểu đó cũng ham nhưng tôi không có súng. Anh cho tôi mượn ít cây súng tôi về làm”.

Đồng chí bí thư Liên tỉnh ủy bảo: Chị là phụ nữ, đi họp toàn khu bằng đường hợp pháp. Từ Bến Tre chi đi xe đò lên Tân Châu, sang Hồng Ngự, từ đó mới theo đường căn cứ vào nơi họp của Khu. Lần về cũng vậy, làm sao chị mang súng đi được. Muốn chuyển súng cho Bến Tre thì phải tổ chức ghe hai đáy, trên chở muối, chở khóm nghi trang thì mới được. Chuyện đó không phải làm trong một ngày một bữa, đó phải là chuyện về sau. Còn đợt nổi dậy lần này thì ngày giờ đã ấn định chung cho toàn khu gần tới rồi, không còn kịp nữa. Có lẽ phải nghĩ cho Bến Tre một cách khác, phù hợp với hoàn cảnh thực tế của Bến Tre. Trong những xã vừa qua đã giành được chính quyền làm chủ hoàn toàn ở Đồng Tháp Mười không phải tất cả đều có lực lượng vũ trang trực tiếp hỗ trợ mà có xã chỉ có chi bộ và cán bộ đóng giả làm bộ đội cùng quần chúng đứng lên. Trong cái thế chung địch đang hoang mang và quần chúng đang tin tưởng là có lực lượng vũ trang lớn của cách mạng đứng sau lưng từ sau khi xảy ra trận Giồng Thị Đam - Gò Quản Cung, Tiểu đoàn 502 vang danh thì dầu không có lực lượng vũ trang đứng kề bên, họ cũng làm được. Vấn đề là chỉ cần có thể lực lượng vũ trang có mặt ở Bến Tre địch sẽ hoang mang, quần chúng sẽ tự tin, ta có thế mạnh là có thể quần chúng dám đứng lên và địch sẽ nhụt chí không dám chống lại.

Rồi đồng chí Bí thư Liên tỉnh ủy nói với chị Ba Định: “Thôi được rồi, tôi giúp cho Bến Tre. Chị thiếu lực lượng vũ trang thì tôi sẽ cho chị một tiểu đoàn trong đợt tấn công nổi dậy đồng loạt này”.

Đồng chí Bí thư giải thích thêm: Tôi cho chị một tiểu đoàn là một tiểu đoàn trên giấy. Tôi đồng ý cho chị về khắc mộc, nói là Bộ chỉ huy Khu ra lệnh cho Tiểu đoàn 502 đã từng thắng trận Giồng Thị Đam - Gò Quản Cung về cùng quần chúng nhân dân Bến Tre tấn công và nổi dậy đợt tháng 1 năm 1960 này. Chị không phải chỉ khắc mộc không mà phải xây dựng Tiểu đoàn 502 bằng người thật và trang bị bằng súng giả, may áo súng để người ngoài nhìn thấy như súng thật. Chị chỉ 1 - 2 cây súng thật, còn lại mấy chục, mấy trăm cây súng giả mặc áo. Chị cho tiểu đoàn hành quân ban đêm thì chị có Tiểu đoàn 502 giả, nhưng như thật… Đồng bào nghe nói Tiểu đoàn 502 xuống Bến Tre, có người thấy tiểu đoàn hành quân, đồn ra, địch hoảng sợ, quần chúng tin, vững bụng. Như vậy là đã thực hiện được đường lối vũ trang hỗ trợ cho chính trị trong cuộc nổi dậy của quần chúng rồi. Khi quần chúng đã dám nổi dậy, địch đầu hàng, tan rã, nội tuyến dám cướp súng của địch, ta sẽ có súng để thành lập bộ đội thì cái không, cái giả ban đầu sẽ trở thành cái có, cái thật.

Chị Ba Định được thuyết phục, yên bụng ra về. Chi thấy có lý, nên làm rất hăng. Tới phiên chị thuyết phục lại các đồng chí ở tỉnh nhà cùng làm với chị. Từ cái ý ban đầu ấy, các đồng chí còn sáng tạo ra nhiều cách nghi trang, nghi binh độc đáo, phong phú, thiên biến vạn hóa, hay hơn những suy nghĩ đơn giản sơ khai.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Mười Một, 2012, 09:55:30 AM
Trong thời gian chị Ba Định còn ở Khu, Tỉnh ủy Bến Tre đã nhận được thư viết bằng bạch chỉ của Khu thông báo chuẩn bị cho đợt tấn công nổi dậy đồng loại sắp đến. Nhưng lúc này địch đang tìm Tỉnh ủy rất gắt. Tỉnh ủy phải di chuyển luôn, liên lạc giữa các đồng chí với nhau thật khó khăn. Chị Ba Định về Mỏ Cày, bắt liên lạc với Bí thư Tỉnh ủy không được, mà ngày tháng nổi dậy đã gần kề nên chị bàn với các đồng chí Tỉnh ủy viên ở Mỏ Cày làm ở ba xã điểm Phước Hiệp, Bình Khánh, Định Thủy trước rồi nhân ra.

Từ năm 1959 đầu năm 1960, ở Bến Tre lực lượng quân sự địch có 2.900 tên, trong đó bảo an: 840 tên, dân vệ: 290 tên, dân vệ xã, ấp: 1.380 tên, cảnh sát hiến binh: 180 tên và cảnh sát duyên hải: 210 tên. Chúng có 300 đồn bốt tề xã, ấp các xã đầy đủ.

Về phía cách mạng chỉ còn 18 chi bộ trong 15 xã trên 115 xã trong toàn tỉnh; mỗi chi bộ có từ 3 đến 5 đảng viên, tổng số đảng viên, kể cả đảng viên trong các cơ quan Huyện ủy, Tỉnh ủy là 162 đồng chí. Mỗi xã chỉ còn có 1 đến 2 đoàn viên thanh niên lao động.

Những năm trước, tỉnh tổ chức được hơn 1.000 cơ sở nội tuyến nhưng từ khi cách mạng bị địch đàn áp thì một số bị lộ, bị bắn giết, tù đày; một số phản bội, cầu an, một số không còn liên lạc được. Tổ chức quần chúng, cơ sở rễ chuỗi cũng còn một số ít người. Cơ quan Huyện ủy chỉ còn bí thư. Thường trực Tỉnh ủy cũng chỉ còn bí thư và chánh văn phòng.

Đồng chí Nguyễn Thị Định - Phó bí thư Tỉnh ủy đi dự Hội nghị toàn khu trở về trên một chiếc ghe buôn. Đi ngang qua đồn bốt và vùng bị địch tạm chiếm, chẳng ai biết được đồng chí là cán bộ lãnh đạo Đảng bộ của một tỉnh. Những nội dung tiếp thu, đồng chí thuộc lòng, không một mảnh giấy ghi chép, không một chữ trong hành trang.

Trong thời gian đồng chí Ba Định dự Hội nghị, Thường vụ Tỉnh ủy Bến Tre đã nhận được chỉ thị của Liên tỉnh ủy cho chuẩn bị các việc cần làm để phát động quần chúng nổi dậy. Ngày 19 tháng 12 năm 1959, các đồng chí đã cho nội tuyến đồn Lộc Thuận, huyện Bình Đại, kết hợp với chi bộ làm binh biến chiếm đồn, thu 7 súng để thăm dò phản ứng của địch.

Ngày 30 tháng 12 năm 1959, đồng chí Ba Định về Mỏ Cày, Bến Tre. Đồng chí không liên lạc được với đồng chí Tám Chữ - Bí thư Tỉnh ủy vì tình hình biến động, cơ quan Tỉnh ủy đã thay đổi nơi ở. Nhận thấy, nếu chờ họp được Tỉnh ủy thì sẽ không kịp với thời gian thống nhất mở đợt theo quy định, đồng chí Ba Định bàn với đồng chí Bảy Hiền - Tỉnh ủy viên, phụ trách cù lao Minh, tập hợp các Tỉnh ủy viên và Huyện ủy viên trên cù lao mở hội nghị triển khai, sau đó làm tiếp bên cù lao Bảo.

Từ ngày 1 đến ngày 3 tháng 1 năm 1960, hội nghị họp tại nhà chị Bảy Tốt ở ấp Tân Hòa, xã Tân Trung, huyện Mỏ Cày, có các đồng chí Bảy Hiền - Tỉnh ủy viên, phụ trách cù lao Minh, đồng chí Ba Đào - Chánh văn phòng Tỉnh ủy, vừa từ Giồng Trôm sang tìm đồng chí Ba Định theo lệnh của đồng chí Tám Chữ, hai đồng chí Ba Cầu, Sáu Huấn - Huyện ủy viên Mỏ Cày, đồng chí Hai Chiến - Huyện ủy viên Thạnh Phú, đồng chí Bảy Tranh và một số đồng chí huyện Minh Tân. Hội nghị thống nhất chủ trương phát động tuần lễ toàn dân nổi dậy đấu tranh đồng loạt ở cù lao Minh, sau đó sẽ lan dần sang cù lao Bảo, tạo điều kiện cho phong trào đấu tranh trong toàn tỉnh Bến Tre. Đối tượng cuộc nổi dậy đấu tranh là tiêu diệt và làm tan rã bộ máy tề xã, ấp, liên gia. Yêu cầu của cuộc nổi dậy là diệt ác ôn, phá kìm kẹp, tấn công đồn bốt làm chủ nông thôn, xây dựng chính quyền tự quản của nhân dân.

Đồng chí Ba Định phổ biến về cách giải quyết thế vũ trang hỗ trợ cho cuộc nỏi dậy theo chỉ đạo của Liên tỉnh ủy, Hội nghị đều thông suốt. Một bản quân lệnh được thảo cấp tốc:

“Bọn ác ôn có nợ máu và bọn địa chủ cướp ruộng đất của nông dân sẽ bị trừng trị. Anh em binh sĩ, sĩ quan dù có tội ác đến đâu mà biết hối cải đều được khoan hồng, nếu mang súng trở về với nhân dân sẽ được khen thưởng xứng đáng. Tề xã, tề ấp, liên gia trưởng, công an, chỉ điểm đi trả chức và thú tôi với nhân dân sẽ được khoan hồng, ai cãi lệnh sẽ bị nhân dân trừng trị. Địa chủ nào dựa hơi bọn chính quyền Diệm giật đất, tăng tô nay trả lại cho nông dân thì được tha tội.

TƯ LỆNH. QUÂN KHU ỦY KHU VIII
                                                                                                        
T.M. BAN CHỈ HUY TIỂU ĐOÀN 502
Tiểu đoàn trưởng
LÊ THIẾT HÙNG”
Hội nghị bàn tỉ mỉ cách triển khai tổ chức nghi trang, nghi binh sao cho địch và cả quần chúng đều tin là Tiểu đoàn 502 có mặt ở Bến Tre thật. Từ việc bàn bạc này triển khai xuống từng chi bộ trong vùng trọng điểm nổi dậy, đảng viên, quần chúng cốt cán sáng tạo ra nhiều cách rất phong phú như: làm súng bập dừa, cho mặc áo súng, tổ chức diễu hành lực lượng ban đêm. Nếu có đồng bào muốn gặp bộ đội để tiếp tế thì cử một vài chiến sĩ có súng và mặc quân phục đến. Chính động tác nghi trang, nghi binh trong những ngày đầu nổi dậy ở Bến Tre đã đóng vai trò quan trọng trong việc động viên quần chúng nổi dậy và tác động mạnh đến tinh thần các binh sĩ là chồng, con em họ, khiến kẻ địch hoang mang lo sợ. Đó là biện pháp chủ động sáng tạo thời cơ và tình thế cách mạng, giúp cho Bến Tre tiến hành tấn công nổi dậy đồng loạt với các tỉnh Trung Nam Bộ.

Hội nghị thống nhất xác định lá cờ đỏ ngôi sao xanh - quân kỳ của lực lượng vũ trang các tỉnh Trung Nam Bộ và Tiểu đoàn 502, là biểu tượng của cách mạng. Sau khi bàn bạc kỹ phương pháp tiến hành, Hội nghị quyết định ngày giờ nổi dậy là lúc 16 giờ ngày 17 tháng 1 năm 1960. Trọng điểm nổi dậy là ba xã: Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh của huyện Mỏ Cày. Ba xã này ở tiếp giáp nhau, sông rạch chằng chịt, địa thế hiểm trở, là nơi có phong trào mạnh, cơ sở nội tuyến khá, chi bộ Đảng nắm chắc được quần chúng.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Mười Một, 2012, 09:56:56 AM
Huyện ủy Mỏ Cày họp xong ngày 11 tháng 1 năm 1960. Đồng chí Ba Cầu - Huyện ủy viên xuống xã Định Thủy triệu tập họp chi ủy. Cuộc họp có đồng chí Lê Bình An - Bí thư xã và ba chi ủy viên là Bảy Thông, Ba Đình, Chín Kết. Nghiên cứu chủ trương khởi nghĩa của Tỉnh ủy xong, các đồng chí chọn mục tiêu hành động là: diệt bọn tổng đoàn dân vệ tổng Minh Đạt, do tên đội Tý chỉ huy, đang đóng tại xã; sử dụng nội tuyến trong tề và dân vệ xã kết hợp với các tổ hành động vũ trang thô sơ của quần chúng chiếm đồn tề xã đóng tại ấp Thanh Thủy; phát động toàn dân nổi dậy diệt ác ôn, bắt chủ ấp, liên gia, công an, do thám, lập tòa án nhân dân đem ra xét xử, phá tan bộ máy kìm kẹp.

Chi bộ Đảng được tổ chức lại thành hai bộ phận: đảng viên đã lộ thì công khai phát động cuộc nổi dậy; đảng viên hoạt động bí mật thì bám dân và làm nòng cốt trong quần chúng. Bốn đảng viên đã lộ tổ chức thành chi bộ A do đồng chí Lê Bình An làm Bí thư. Sáu đảng viên hoạt động bí mật tổ chức thành chi bộ B, do đồng chí Tư Lực làm Bí thư.

Những ngày sau đó, hai chi bộ họp, đặt kế hoạch, chuẩn bị mọi mặt, tổ chức các tổ hành động gồm 30 thanh niên; giao nhiệm vụ cho 6 cơ sở nội tuyến trong tề và dân vệ xã. Thanh niên tự trang bị mã tấu, dao mác, bù lon, búa tay…

Ở xã Phước Hiệp, ngày 12 tháng 1 năm 1960, đồng chí Ba Cầu truyền đạt nghị quyết cho hai đồng chí Tư Thành và Việt Hồng, có đại biểu Đa Phước Hội tham dự. Nghe nghị quyết nổi dậy, các đồng chí rất phấn khởi. Nhưng khi kiểm điểm lực lượng thì thấy quá ít. Chi bộ còn ba đảng viên đã bị lộ còn phải tránh né địch. Việc tập hợp quần chúng trước khi nổi dậy không dễ. Đồng chí Ba Cầu chỉ thị cấp tốc triệu hết số đồng chí “điều lắng” về, tùy điều kiện mà tập hợp với chi bộ A hoặc chi bộ B và giao nhiệm vụ.

Sau cuộc họp, chi bộ vừa đi triệu tập số cán bộ “điều lắng”, vừa móc nối tập hợp số thanh niên và quần chúng nòng cốt tổ chức thành các tổ hành động, chuẩn bị vũ khí thô sơ, theo dõi mục tiêu và đề xuất kế hoạch. Các đồng chí là đảng viên đã lộ diện nên phát động rất mạnh dạn. Mỗi ấp xây dựng được từ 3 đến 5 cốt cán lãnh đạo chỉ huy quần chúng. Tổng cộng các tổ hành động là 50 người, đều là thanh niên khỏe mạnh, tích cực. Ba nội tuyến trong tề xã được giao nhiệm vụ phối hợp cướp đồn dân vệ. Thực là kỳ diệu, khi có chủ trương của cách mạng, chỉ trong bốn ngày, tổ chức đã phát triển từ 3 đến 50 người sẵn sàng tiến công địch.

Ở xã Bình Khánh, ngày 11 tháng 1 năm 1950, đồng chí Bảy Đoàn - Huyện ủy viên, đến truyền đạt nghị quyết nổi dậy cho hai đồng chí Tư On và Tư Bảo, là đảng viên còn lại của xã. Nghe chủ trương nổi dậy, hai đồng chí mừng rơi nước mắt, lắng nghe từng lời của đồng chí Bảy Đoàn. Họp bàn xong, các đồng chí hành động ngay. Đêm 16 mọi việc đã sẵn sàng.

Bọn tổng đoàn dân vệ tổng Minh Đạt có 12 tên, do đội Tý chỉ huy. Mấy ngày này, chúng ở xã Định Tủy rước gánh hát về hát tại Vàm Nước Trong, bán vé lấy tiền. Chúng đang say mê chơi bời, ăn nhậu. Đồng chí Hai Thủy - Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy phụ trách điểm, chỉ đạo chi bộ Định Thủy có kế hoạch diệt tổng đoàn dân vệ đó ngay trong đêm 15 tháng 1 năm 1960, vì đây là cơ hội dễ trà trộn vào số người đi xem hát để tiếp cận chúng. Chi bộ đang triển khai lực lượng thì bị lộ, số đảng viên đã bị lộ xuất hiện, len lỏi trong số người đi xem hát, quần chúng biết mặt sợ có chuyện xảy ra nên rải rác bỏ về. Bọn tổng đoàn sinh nghi, đề phòng. Chúng mượn cớ ít người xem hát, nên giải tán. Ngay trong đêm, chúng kéo về đóng tại đình Rắn, ấp Định Phước. Sáng ngày 16 tháng 1 năm 1960, chi bộ xem xét lại kế hoạch, quyết định đêm đến sẽ diệt chúng tại đình Định Phước.

Hai mũi gồm các tổ hành động trang bị vũ khí thô sơ, phục bên ngoài, tiếp ứng cho mũi thứ ba đột nhập. Mũi này gồm nội tuyến trong tề, dân vệ xã, lôi kéo thêm một số dân vệ khác sẽ đột nhập vào đình, tấn công bọn tổng đoàn. 10 giờ đêm 16 tháng 1 năm 1960, ba mũi hành động đã áp sát đình Định Phước. Mũi thứ ba đường hoàng đi thẳng vào đình tìm đội Tý. Hắn đang nằm trên võng sau đình. Nghe tiếng người chộn rộn, hắn đánh thức ngay tất cả lính dậy, súng cầm tay, đèn đốt sáng trưng. Thế là kế hoạch bị hỏng.

Ngày 17 tháng 1 năm 1960, vừa sáng, có tin báo cho biết tên đội Tý và một tên lính ra quán cách đình 100 mét để uống cà phê. Hai tổ hành động gồm các đồng chí Bảy Thống, Ba Giai, Chín Chim, Ba Kỉnh, Tám Dũng, Chín Hiếu đóng giả người đi tảo mộ cuối năm, ghé vào quán. Tên đội Tý bất ngờ bị đồng chí Ba Giai quật ngã xuống đất. Đồng chí Bảy Thống giật lấy súng của tên lính, đưa cho đồng chí Chín Chim bắn một phát. Đội Tý chết, các đồng chí bắt tên lính và lôi xác đội Tý giấu dưới mương. Lúc này là 8 giờ sáng ngày 17 tháng 1 năm 1960.

Nghe tiếng súng nổ, những nòng cốt chung quanh ngã tư Định Thủy liền huy động quần chúng rằn rằn chạy tới cả thảy trên 200 người, chật cả đường. Đồng chí Bảy Thống chi lực lượng ra làm hai bộ phận, bao vây diệt gọn tổng đoàn còn lại. Một bộ phận, do đồng chí Ba Gia chỉ huy, phục kích hai bên đường vào đình. Một bộ phận, do đồng chí Ba Kỉnh chỉ huy, chia thành từng tốp bò xuống ruộng lúa, lội qua mương vào bao vây đình.

Vợ tên đội Tý từ trong đình hớt hải chạy ra, bị các đồng chí bắt giữ. Vài phút sau, hai tên lính đi ra cũng bị bắt luôn, ta lấy được 2 khẩu súng. Các đồng chí cho mộ tên lính vào gọi bọn còn lại đầu hàng. Bọn này định chống trả. Đồng chí Bảy Thống và tổ hành động xông vào. Tên lính gác hoảng hốt buông súng. Lệnh xung phong phát ra, quân ta từ bốn phía tràn vào, bọn lính run rẩy nộp súng, 5 tên vượt rào chạy thoát. Lúc này là 9 giờ sáng ngày 17 tháng 1 năm 1960. Anh em thu được 8 khẩu súng, trong đó có 1 khẩu tiểu liên, 3 quả lựu đạn, 500 viên đạn.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Mười Một, 2012, 09:57:14 AM
Cùng thời gian đó, tại bốt tề xã Vàm Nước Trong, đồng chí Hai On và Chín Cúc chỉ huy đồng chí Chín Hòa cảnh sát xã Định Thủy là nội tuyến cùng một số nội tuyến binh lính kết hợp với quần chúng bên ngoài nổi dậy chiếm được bốt vào lúc 8 giờ sáng, thu được 15 khẩu súng, 10 quả lựu đạn, 1.000 viên đạn.

Xã Định Thủy nổ súng mở màn cho cuộc nổi dậy trong tỉnh Bến Tre vào lúc 8 giờ sáng và thắng lợi trọn vẹn lúc 9 giờ ngày 17 tháng 1 năm 1960. Chỉ trong vòng một giờ đã diệt đơn vị dân vệ tổng, tề và dân vệ xã, giải phóng hoàn toàn xã Định Thủy. Cờ đỏ ngôi sao xanh tung bay khắp các ấp dưới ánh mặt trời của buổi ban mai.

Nhân dân trong xã vô cùng phấn khởi đã cùng các tổ hành động lùng bắt chủ ấp, liên gia, công an, do thám để xử tội, xóa bỏ ách kìm kẹp, xé hình Ngô Đình Diệm, cờ ba que, khẩu hiệu tố cộng. Trống. mõ, thùng thiếc, loa đài vang rền suốt ngày đêm. Đông đảo nhân dân tham gia du kích tự vệ, canh gác, sửa đường đi, xây dựng xã chiến đấu…; ghi tên vào các tổ chức Nông hội, Thanh niên, Phụ nữ, vào các tổ chức chính quyền tự quản, các ban an ninh, quân sự, kinh - tài, thông tin - tuyên truyền… Hàng ngàn người tấp nập mít tinh, biểu tình thị uy ở xã, ấp đông như ngày hội lớn.

(https://lh3.googleusercontent.com/zWlaIg6MnOwIZ3gvAiskw577c3GxvHOyYibY7dV43sZSv6-YHLvumxwjthnlUymSUGnpFPpfzBaoIjYF6O2nxsTIbkhFU0KhRy-nGC81ahVkLSKW0Gb1hn_aZnUPP5A3AKqKgejNNb3BpAzmxqMp1qYss6YIWUgTN_yfyfcV7PZEA_sO_96f0vn0Gm0jJRhPBhhz8smTq-cSg-8cZYyutGGkZEygv3MvBgoUMX6hDALpZhdVswpceD6IA7W3SOnWwnEcWprmZi65oAOUkX-5Inoy92Sp-OZmUDSjD8-42ChXK11j_2DkiWocl1nh8ifcwcicZtRc7VKxXZ8esJgV8ck6Rwe7CVaotKpfCq5InssNFNfUJUEeaa9hQjacEfu8LHcf0R3Ht3iY2akG4EfiLAQt8x45lOZCRHfeaV-J4QXfMN_K_dCrlqo653oILxgQ_ZX7g-tUe4H2w_p49Z5jRDu7PzopsTGRRNUk5p0UT-2eWoUmGW-UJ5ujcyLOJJlfuM001Bhl-cayf351APqtc13Ew7ZhOld6sLU58ZvdkebeCJkGV_j1OgguEN11fTvbfCXlCnFCE5exk_u0u4YugoM3q9ZjFA5fPK1eKDwrUAIJhMXwmHHS=w629-h832-no)

Tiếng mõ hưởng ứng Đồng Khởi - Bến Tre

Tại xã Phước Hiệp, chi bộ quyết định hành động ngay tối ngày 17 tháng 1 năm 1960. Suốt đêm quần chúng nổi dậy, 9 ấp trong xã được giải phóng, chỉ còn ấp có bốt dân vệ, do cảnh sát và một số tên ác ôn cố thủ nghiêm ngặt, nội tuyến mất yếu tố bất ngờ, không kết hợp được với bên ngoài chiếm bốt như kế hoạch đã định. 9 giờ 30 sáng ngày 18 tháng 1 năm 1960, bọn địch ở chi khu Mỏ Cày cho 1 trung đội bảo an đi đò máy đến giải vây. Lực lượng vũ trang của ta vừa được tổ chức chiều ngày 17 tháng 1 năm 1960 sau khi giải phóng Định Thủy đã phục kích bắn chìm một đò máy, tên trung úy chỉ huy bị chết, 2 tên lính bị thương, bọn còn lại hốt hoảng tháo chạy về chi khu. Đến tối, bọn lính ở bốt xé rào vượt vòng vây băng đồng chạy thục mạng về Mỏ Cày. Sáng 19 tháng 1 năm 1960, hàng ngàn quần chúng tràn vào san bằng bốt. Xã Phước Hiệp hoàn toàn giải phóng. Lá cờ đỏ ngôi sao xanh được kéo lên.

Ở xã Bình Khánh, tình hình trước ngày nổi dậy diễn biến phức tạp. Đồng chí Bảy Đoàn - Huyện ủy viên, phụ trách xã Bình Khánh bị địch bắt. Bọn công an tỉnh, huyện, công an Ngô Quyền liên tục đến xã truy lùng, khủng bố, bắt bớ. Nhưng vì đồng chí Bảy Đoàn và những người dân có liên quan đến việc chuẩn bị nổi dậy bị bắt không ai khai báo nên địch không biết kế hoạch nổi dậy. Chi bộ vẫn khẩn trương chuẩn bị. 10 giờ ngày 17 tháng 1 năm 1960, hai đồng chí đảng viên là Năm Thơ và Sáu Thời tổ chức tiệc nhậu để diệt một toán an ninh địch tại nhà, lấy được 3 khẩu súng, sau đó các tổ hành động đi phát động quần chúng. 12 giờ đêm ngày 17 tháng 1 năm 1960, các tổ quần chúng ào ào nổi dậy đánh trống mõ, treo băng cờ, khẩu hiệu khắp nơi trong các ấp. Từng đoàn người rầm rập trên đường, cầm dao mác, gậy gộc, mã tấu bao vây bốt dân vệ và tề xã. Tổ hành động bắt và trừng trị những tên ác ôn ngoan cố; cảnh cáo, giải tán bọn tề ấp, liên gia, công an, do thám, các tổ chức phản động, hủy bỏ các hình thức kìm kẹp. Quần chúng nổi dậy làm chủ 10 ấp với khí thế bừng bừng. Nhưng còn một số tên dân vệ trong bốt ngoan cố chưa chịu đầu hàng. Quần chúng tiếp tục bao vây, đưa gia đình vào thuyết phục. Đến sáng ngày 20 tháng 1 năm 1960, tỉnh đưa một số chiến sĩ trong đơn vị vũ trang mới tổ chức đến hỗ trợ. Tin đồn có Tiểu đoàn 502 đến loan ra, quần chúng náo nức tham gia, lực lượng bao vây càng đông. Gia đình binh sĩ lại vào bốt tác động. Trời mờ tối, lực lượng ta bao vây áp sát, kết hợp bắn tỉa với hô hoán, khua trống mõ. Địch bắn ra quyết liệt. Thừa lúc vòng vây vừa dãn ra, tên sếp bốt dẫn một số lính bò dưới mương, chui ra khỏi rào, chạy thoát về Mỏ Cày. Thấy chúng bỏ chạy, các tổ hành động tràn vào bắt số lính còn lại, san bằng bốt, thu vũ khí. Chi bộ tổ chức ngay cuộc mít tinh với 1.000 người tham gia chào mừng xã được giải phóng, kéo cờ đỏ ngôi sao xanh ngay tại chợ lúc nửa đêm. Xã Bình Khánh được giải phóng.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Mười Một, 2012, 09:57:31 AM
Trong ngày 19 tháng 1 năm 1960, tại xã Bình Khánh, huyện Mỏ Cày, đồng chí Hai Thủy đã cho tập trung số vũ khí thu được, tập hợp lực lượng tổ chức ba tiểu đội đưa đi hỗ trợ phá kìm kẹp ở các nơi trong ba huyện Mỏ Cày, Minh Tân, Thạnh Phú; đồng thời, chọn một số cán bộ, chiến sĩ ưu tú rồi trang bị súng tốt để thành lập đơn vị vũ trang đầu tiên của tỉnh. Đơn vị này do các đồng chí Nguyễn Văn Song, Lê Phục và Đinh Văn Chức chỉ huy.

Cùng với ba xã trên, các xã khác trong huyện Mỏ Cày và trên cù lao Minh đồng loạt nổi dậy cướp chính quyền xã, ấp. Trong đêm 17 tháng 1 năm 1960, ở huyện Mỏ Cày có năm xã nổi dậy là: Hương Mỹ, Minh Đức, Cẩm Sơn, Tân Trung, Tân Phú Tây, quần chúng đồng loạt phá tan bộ máy kìm kẹp xã, ấp, diệt, làm tan rã hoặc bức rút đồn, giải phóng hoàn toàn, còn bảy xã: Anh Định, Đa Phước Hội, Thành Thới, Thanh Tân, Tân Thành Bình, An Thới, Thạnh Ngãi quần chúng nổi dậy phá tan bộ máy kìm kẹp xóm ấp, bao vây đồn bốt.

Huyện Thạnh Phú có sáu xã: Thạnh Phong, Giao Thạnh, An Nhơn, An Quy, Đại Điền và Thới Thạnh, quần chúng nổi dậy bức rút, bức hàng 6 đồn bốt, phá tan bộ máy kìm kẹp xã, ấp, giải phóng hoàn toàn xã, thu được 13 khẩu súng, trang bị cho đơn vị vũ trang của huyện vừa thành lập.

Ở huyện Châu Thành cuộc nổi dậy được mở đầu ngày 19 tháng 1 năm 1960 tại xã Phước Thạnh, quần chúng nổi dậy diệt 3 tên ác ôn, phá kìm kẹp xóm ấp, bức hàng đồn bốt. Quân địch một số đầu hàng, một số bỏ chạy. Ta thu được 7 khẩu súng, xã được giải phóng. Ngày 21 tháng 1 năm 1960, xã An Khánh nổi dậy diệt 7 ác ôn, phá kìm kẹp xóm ấp, bao vây bức rút bốt, giải phóng xã. Ngày 30 tháng 1 năm 1960, xã Hữu Định nổi dậy diệt ác ôn, phá kìm kẹp, bao vây, bức hàng bốt tề xã, thu được 14 khẩu súng, giải phóng xã. Xã Tân Phú, quần chúng nổi dậy diệt ác ôn, phá kìm kẹp, bức rút bốt Tân Lợi, giải phóng xã.

Huyện Giồng Trôm nổi dậy đồng loạt ngày 25 tháng 1 năm 1960. Ba xã: Thạnh Phú Đông, Bình Hòa, Bình Thành quần chúng nổi dậy khởi nghĩa phá thế kìm kẹp, bao vây, bức hàng đồn bốt, giải phóng xã, thu 23 khẩu súng; 5 xã: Thuận Điền, Lương Hòa, Tân Hòa, Phú Thuận, Hiệp Hưng quần chúng bao vây bốt nhà thờ La Mã, bức rút đồn bốt, giải phóng các xã. Xã Châu Bình nổi dậy ngày 18 tháng 1 năm 1960, bao vây 2 bốt đến ngày 1 tháng 12 năm 1960 mới bức rút được 1 bốt; ngày 2 tháng 2 năm 1960, bức rút bốt thứ hai, giải phóng xã.

Ở hai huyện Ba Tri và Bình Đại, chiến dịch “tố cộng, diệt cộng” của địch năm 1959 đã phá vỡ hầu hết cơ sở. Hưởng ứng lệnh nổi dậy, hai huyện đã triệu tập cán bộ “điều lắng” về, củng cố, xây dựng chuẩn bị lực lượng, tuyên truyền giáo dục quần chúng, diệt một số tên ác ôn, cảnh cáo, giáo dục tề xã, ấp. Riêng ở Tân Xuân, xã điểm của huyện Ba Tri còn cơ sở, ngày 23 tháng 1 năm 1960, tổ chức hành động giả là công an Ngô Quyền bắt được Việt cộng khiêng vào bốt nộp rồi bất ngờ tập kích chiếm bốt lúc 8 giờ sáng, thu được 12 khẩu súng. Có súng, huyện thành lập ngay đơn vị vũ trang tuyên truyền.

Trong những ngày đầu nhân dân Bến Tre nổi dậy, các đơn vị dân vệ, bảo an hoang mang, co thủ. Bọn quận trưởng, tỉnh trưởng bị bất ngờ, lúng túng không biết đối phó ra sao. Chúng tưởng ta có lực lượng vũ trang lớn, Tiểu đoàn 502 xuống Bến Tre thật nên một mặt quận trưởng báo cáo về tỉnh trưởng, tỉnh trưởng báo cáo về Sài Gòn; mặt khác; ra lệnh cố thủ.

Mười ngày sau, phong trào nổi dậy phát triển, không những ba xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh bị ta chiếm mà còn lan ra nhiều xã khác ở cù lao Minh và cù lao Bảo, chúng phải ra lệnh đối phó. Ngày 26 tháng 1 năm 1960, một tiểu đoàn bảo an địch từ Bến Tre đến chiếm đóng xã Phước Hiệp rồi hành quân vào ba xã đóng lại đồn bốt, tổ chức lại bộ máy kìm kẹp. Chúng đến, dân không chạy. Chúng gom dân lại, hăm dọa, hỏi tại sao dám nổi loạn giết viên chức, binh lính nhà nước, đốt trụ sở đồn bốt. Dân đấu lý: “Chúng tôi không nổi loạn, không giết ai, không đốt phá trụ sở. Chuyện đó, các ông hỏi mấy ông chủ ấp, mấy ông hội đồng hương chính của chính phủ thì rõ hơn. Lính quốc gia bắt chúng tôi làm gì, chúng tôi cũng làm. Giải phóng về, họ có súng, họ bảo chúng tôi làm, chúng tôi cũng làm theo, ai cũng làm theo. Cả gia đình vợ con các ông cũng làm, thậm chí, dân vệ, tổng, bảo an, quận, hội đồng xã còn chạy vắt giò lên cổ thì sức mấy chúng tôi chống lại được!”.

Đuối lý, chúng xoa dịu:

- Chính quyền và quân đội chính phủ sơ hở để bọn phiến loạn cộng sản đến quậy phá, bây giờ chúng tôi về giữ an ninh. Bà con hãy cử lại chủ ấp, liên gia để làm việc cho bà con.

Mọi người nhao nhao:

- Chúng tôi không làm! Các ông có bảo đảm được mạng sống cho chúng tôi không? Nay đã giải tán rồi, còn ai dám ra làm lại nữa?

Cuộc đấu lý giằng co. Cuối cùng, chúng chẳng bắt được ai làm. Vả lại trước tình hình rối loạn, chúng chúng cũng đang sợ, chúng phải làm chiếu lệ vậy thôi. Vài ba ngày sau, chúng để lại một số lính hỗ trợ bọn giữ bốt mới lập lại, rồi rút đi, mặc cho quần chúng làm gì thì làm. Được thế, quần chúng nổi dậy đấu tranh liên tục, kéo dài, mít tinh, biểu tình thị uy suốt ngày đêm, uy hiếp tinh thần bọn chiếm đóng. Mặt khác, gia đình sĩ quan, binh lính đến vận động, hù nhát, làm cho chúng càng hoang mang. Lực lượng du kích ba xã và lực lượng vũ trang tỉnh tìm sơ hở đánh địch, liên tục tiêu diệt địch.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Mười Một, 2012, 09:57:50 AM
Ngày 26 tháng 1 năm 1960, du kích xã Định Thủy đánh chìm chiếc đò máy chở lính bảo an đi càn, diệt 8 tên. Ngày 3 tháng 2 năm 1960, tiểu đoàn bảo an càn quét xã Bình Khánh. Đại đội 264 của tỉnh và du kích chặn đánh địch ở An Thạnh. Tên trung úy Lương, chỉ huy bị chém xả hai vai. Lần đầu tiên súng ngựa trời xuất hiện, gây sát thương nhiều tên. Nắm được quy luật cứ mấy ngày lại có đò máy dòng ghe chở lương thực, đạn dược cho bọn đóng quân ở Phước Hiệp, có 1 trung đội bảo an đi cặp theo sông hộ tống. Ngày 26 tháng 2 năm 1960, đơn vị vũ trang tỉnh do đồng chí Mười Phục chỉ huy chặn đánh, diệt được 2 trung đội gồm 47 tên, tên Nước, trung úy chỉ huy ác ôn đền tội. Ta thu được 20 khẩu súng, trong đó có 1 khẩu trung liên.

Cuộc tấn công nổi dậy đồng loạt ở Bến Tre phát triển, lan sang các huyện Ba Tri và Bình Đại. Tiểu đoàn bảo an địch được lệnh phải đi trấn áp ba xã nổi dậy đầu tiên từ tháng 1 năm 1960 đang bị tiêu hao, tìm diệt từng bộ phận, bị lún chân, sa lầy và có nguy cơ tan rã. Ở các nơi khác, bảo an chỉ co thủ trong đồn bốt. Tỉnh trưởng Bến Tre bất lực, phải kêu cứu về Sài Gòn.

Chỉ ít ngày trước, cán bộ, đảng viên Bến Tre còn phải tạm tránh, hầu hết quần chúng bị kìm kẹp, bọn ác ôn ở các xã, ấp ngang nhiên lộng hành, chống phá cách mạng. Vậy mà quần chúng đã nổi lên bắt ác ôn, lập tòa án trừng trị, khiến chúng phải khiếp sợ, chạy dài. Hàng ngũ cách mạng bây giờ không phải chỉ lẻ loi có mấy đảng viên, đoàn thanh lao mà đã lớn vụt lên như có phép màu.

Để đối phó với phong trào nổi dậy ngày càng mạnh mẽ và phát triển trong toàn tỉnh, Ngô Đình Diệm đã đưa 11 tiểu đoàn đến tàn sát, khủng bố, bắt bớ, đốt phá. Đầu tháng 3 năm 1960, đích thân Ngô Đình Diệm cùng cố vấn Mỹ và các tướng tá Bộ tổng tham mưu ngụy xuống thị sát Bến Tre, quyết định cách đối phó.

Ngày 25 tháng 3 năm 1960, Diệm mở cuộc hành quân lớn, huy động 13.000 quân từ Sài Gòn và các nơi đến, gồm 2 chiến đoàn 2 tiểu đoàn thủy quân lục chiến, 1 tiểu đoàn dù, 3 tiểu đoàn khinh quân, 70 thiết giáp, 17 tàu, pháo binh và phi cơ. Tiểu đoàn công an Ngô Quyền, công an miền Đông, nhiều đoàn công dân vụ, tâm lý chiến cũng được huy động tham gia. Chúng đánh vào ba xã điểm Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh âm mưu dập tắt phong trào nổi dậy từ gốc.

Sáng sớm ngày 25 tháng 3 năm 1960, các lực lượng của địch triển khai thành nhiều cánh, bao vây chặt vùng đất chỉ có 8 kilômét chiều dài, 4 kilômét chiều rộng. Chúng càn quét từng ấp, chà đi sát lại, lục soát trong nhà, ngoài sân, không bỏ sót một lùm cây, một bụi cỏ. Hễ thấy có bóng người là chúng bắn ngay. Em bé năm tuổi đang chơi ngoài sân, ông bà già đang tưới cây, hái rau ngoài vườn cũng bị bắn chết. Gặp thanh niên chúng bắt rồi dẫn đi đánh đập, chôn sống. Phụ nữ không chạy thoát thì bị hãm hiếp. Tiền bạc, lúa gạo, trâu bò, heo, gà, vịt,… thứ gì chúng cũng cướp. Nhà cửa bị đốt, phá tan hoang...

Thường trực Tỉnh ủy chỉ đạo quyết tâm đánh bại cuộc càn quét. Có như vậy mới giữ vững và phát triển được phong trào. Do đó, tỉnh chủ trương dân vẫn bám giữ thế hợp pháp đấu tranh, tranh thủ binh lính. Lực lượng vũ trang tỉnh, xã tạm tránh, tùy điều kiện đánh tiêu hao, tiêu diệt địch lấy súng bảo tồn lực lượng. Nhưng tình hình đã trở nên phức tạp, cuộc càn quét của địch hết sức tàn khốc, ác liệt. Chúng đánh vào dân, dân phải chạy tản ra thị trấn, thị xã.

Chị Ba Định về rồi cuộc khởi nghĩa Bến Tre nổ ra, Khu theo dõi tình hình với sự căng thẳng. Dầu gì thì cách làm của Bến Tre cũng mới mẻ. Khi được tin Ngô Đình Diệm tập trung quân đến đàn áp khốc liệt thì nỗi lo ấy càng tăng. Bọn Diệm quyết tâm đàn áp vì cuộc nổi dậy ở Bến Tre khác hẳn với các nơi khác bởi vì tính quần chúng cao của nó là bão táp, nguy cơ thật sự đối với chính quyền của chúng. Ở những nơi khác thì chúng cho là do áp lực quân sự của Việt cộng, điều đó từ từ chúng có thể xử lý được.

Các đồng chí trong Liên tỉnh ủy ngày đêm theo dõi. Đầu tiên, sau khi nổi dậy, với các tiểu đoàn bảo an của địa phương, quần chúng còn giữ thế công khai hợp pháp, đấu tranh với quần chúng được. Nhưng với bọn này thì chúng bất chấp phải trái, chỉ có đốt, giết, hãm hại tất cả những ai mà chúng gặp. Thanh niên phải tránh đi đã đành, mà thanh nữ, người già, trẻ con cũng chẳng được ở lại. Ban đầu lác đác rồi sau đó ngày càng đông người dắt díu nhau chạy ra chợ Mỏ Cày. Ý định của các đồng chí Bến Tre không phải là như vậy, các đồng chí muốn giữ quần chúng tại chỗ để đấu tranh chính trị với địch…

Thường trực Khu liên lạc với Bến Tre khá chặt chẽ trong suốt thời gian này. Các báo cáo từ dưới gửi lên tới tấp, phản ánh tình hình khó khăn. Các đồng chí đã họp bàn phải bằng mọi cách giữ được dân, giữ được dân thì mới thực hiện được quyền làm chủ của cách mạng ở đây.

Hình ảnh những dòng người trên bộ, dưới xuồng lũ lượt kéo nhau ra thị trấn huyện, thị xã, nơi đầu não của địch bỗng làm đồng chí Bí thư Khu ủy liên tưởng đến những cuộc đấu tranh chính trị trực diện đòi hòa bình, đòi thực hiện các điều khoản của Hiệp định Giơnevơ, đòi dân sinh dân chủ mà đồng bào Bến Tre đã tiến hành trước đây. Hồi đó, để vận động đồng bào đi đấu tranh được như vậy là cả một quá trình lãnh đạo, tổ chức kỳ công. Còn bây giờ đồng bào tự động kéo ra thị trấn. Việc ra chợ đã trở thành một nhu cầu bức thiết. Thế thì tại sao Bến Tre không nhân đây biến những cuộc tản cư ồ ạt này thành cuộc đấu tranh chính trị, đòi địch phải ngừng khủng bố, phải rút quân? Đồng bào Bến Tre chỉ cần nói thật lòng mình, đòi hỏi thật cái mà mình muốn là đã tạo thành sức mạnh tấn công, làm cho bọn đầu sỏ của địch phải lo nghĩ rồi. Địch đang khủng bố trắng nhưng địch không thể bỏ mục tiêu thực dân kiểu mới, không thể bỏ mục tiêu tối hậu là phải chinh phục cho được trái tim, khối óc của dân. Nếu hàng ngàn, hàng vạn người dân đều phản đối quyết liệt, thì chúng sẽ ra sao? Chúng dùng khủng bố để dọa nạt những người yếu bóng vía, nhưng chắc chắn chúng phải sơ mất lòng số đông.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Mười Một, 2012, 09:58:07 AM
Từ những suy nghĩ này, đồng chí Bí thư tham khảo ý kiến các đồng chí lãnh đạo khu, các đồng chí cũng tán thành cách suy nghĩ đó, nên khẳng định: “Ta không thể ngăn cản đồng bào chạy ra chợ và cũng không nên ngăn cản đồng bào chạy ra chợ vì hiện nay đó là con đường sống duy nhất của bà con, nhưng ta phải biến những cuộc “tản cư ngược” này thành những cuộc tấn công chính trị trực diện. Đòi địch phải rút quân thì dân mới trở về. Các đồng chí ở Bến Tre nhận được sự chỉ đạo của Khu đã tích cực thực hiện. Bây giờ không phải đồng bào tự động tản cư mà Khu chỉ đạo tổ chức cho đồng bào kéo ra tấn công. Không những đồng bào ở ba xã điểm đang bị khủng bố mà đồng bào trong những vùng đã nổi dậy trong toàn huyện, toàn tỉnh Bến Tre cùng đấu tranh. Hàng ngàn, hàng vạn người đi, có sự lãnh đạo nhưng là lãnh đạo bí mật để giữ thế công khai hợp pháp cho đồng bào mạnh dạn đấu tranh với địch. Không những chỉ ra thị trấn Mỏ Cày mà còn đổ ra cả tỉnh lỵ Bến Tre. Đồng bào nói với quận trưởng, tỉnh trưởng rằng: Chúng tôi là dân “quốc gia”. Nay Việt cộng đánh với “quốc gia” thế nào không biết nhưng lính “quốc gia” giết chóc, hãm hiếp dân thì các ông phải bảo vệ dân. Các ông kêu với Tổng thống cho rút quân để dân trở về yên tâm làm ăn. Đồng bào kiên quyết đấu tranh buộc địch phải rút quân càn quét mới trở về. Hàng ngàn, hàng vạn đồng bào chiếm lĩnh ở thị xã Bến Tre và thị trấn Mỏ Cày, ngay cả trong các trụ sở cơ quan địch, trên đường phố và chợ làm rối trật tự, không khí bất bình, sôi sục. Áp lực của dân mạnh, làm cho ngụy quyền thấy cứ tiếp tục để quân càn quét, khủng bố, đàn áp thì sẽ mất lòng dân, dân sẽ không còn tin là chính phủ quốc gia bảo vệ họ nữa, sẽ ngả theo Việt cộng. Không phải chỉ bọn quận trưởng, tỉnh trưởng Bến Tre nghĩ như vậy mà bọn cầm quyền tối cao là Ngô Đình Diệm và cố vấn Mỹ cũng phải suy nghĩ, cân nhắc, không dám khủng bố mạnh nữa. Quận trưởng Mỏ Cày, Tỉnh trưởng Bến Tre phải nhận đơn của dân, phải kêu Diệm cho người xuống tận nơi để xem xét. Về mặt quân sự, cuộc hành quân của 11 tiểu đoàn địch ở ba xã Mỏ Cày không tiến triển được. Quân ta đánh kiểu du kích, nay bắn chết một tên, mai vài tên, có trận tiêu diệt hàng chục tên. Bọn lính Nùng, bọn thủy quân lục chiến vốn rất hung hăng mà cũng phải nản. Bọn quận trưởng, tỉnh trưởng rất lo lắng ăn không ngon, ngủ không yên. Cuối cùng, địch phải rút quân ra khỏi ba xã, bỏ lại mấy cái đồn chơ vơ, không lập lại được bộ máy kìm kẹp. Quần chúng trở về. Thiệt hại của quần chúng tuy lớn nhưng thắng lợi của phong trào cách mạng rất trọn vẹn và thắng lợi này còn được nhân lên trong toàn tỉnh, toàn khu. Địch đã thất bại trong việc khủng bố trắng.

Việc biến tản cư ngược thành đấu tranh chính trị trực diện, dùng lực lượng chính trị của quần chúng tiến hành cuộc phản công lớn, cùng với mũi quân sự buộc 11 tiểu đoàn của địch phải rút quân ra khỏi ba xã điểm của Bến Tre đã đem lại nhiều kinh nghiệm về tác dụng thiết thực của mũi tấn công chính trị trực diện vào đầu não địch trong phối hợp tấn công ba mũi với địch. Khu Trung Nam Bộ chỉ đạo tổ chức những cuộc tấn công chính trị này thành một mũi tiến công chiến lược, giống như mũi quân sự, có tổ chức lực lượng nòng cốt như một đơn vị quân sự, có chỉ huy lãnh đạo, có bộ phận hậu cần lo cho những người đi đấu tranh yên tâm về việc nhà, có lực lượng chủ công trực diện, có lực lượng dự bị sẵn sàng tiếp viện. Bây giờ không phải chỉ khi những quyền lợi về dân sinh, dân chủ, an ninh, sinh mạng của quần chúng thực sự bị xâm phạm thì quần chúng mới đấu tranh chính trị mà là những cuộc tấn công chủ động với những cái cớ về dân sinh, dân chủ hợp pháp của người dân dưới chính thể quốc gia bị đụng chạm. Những cuộc tấn công này tiến hành độc lập hoặc được gắn chặt với cuộc tấn công ba mũi quân sự, chính trị, binh vận để buộc địch như bị trói tay, không thể hành động như ý được, làm cho tinh thần của sĩ quan, binh lính, ngụy quyền càng hoang mang, tan rã.

Những người tham gia vào mũi tấn công của đội quân chính trị này không phải là những thanh niên trai tráng mà là những phụ nữ, những người già, trong đó chủ yếu là phụ nữ. Đội quân này còn có tên gọi là: “đội quân đầu tóc” là vì thế. Về sau, khi những cuộc tấn công này trở thành phổ biến không những ở các nơi trong toàn tỉnh Bến Tre mà còn ở nhiều nơi khác trong Khu Trung Nam Bộ và trong toàn miền Nam, Bác Hồ đã gọi đội quân này bằng một cái tên đẹp và thân thương hơn: “đội quân tóc dài”.

Mũi tấn công chính trị của đội quân tóc dài đã ra đời trong hoàn cảnh như vậy.

Những kinh nghiệm tấn công chính trị ban đầu được đem ra áp dụng, rồi từ những tình huống phải xử lý trong thực tiễn đấu tranh, nội dung các cuộc đấu tranh ngày càng phong phú, các phương pháp đem ra vận dụng ngày càng sắc sảo hơn.

Như trong cuộc đấu tranh ở thị trấn Mỏ Cày đòi địch rút quân khỏi ba xã điểm: trong khi bà con đang đòi quận trưởng ra nhận đơn của họ thì có một tên lính khiêu khích nói là mấy người bị Việt cộng xúi giục kéo ra đây làm loạn… Hơn mười chị xông vào đánh hắn, đè hắn xuống. Tên lính gác trên mirađo trông thấy, nó bắn mấy loạt súng làm ba chị chết và bị thương.

Từ vụ này, lan ra trong quần chúng tư tưởng thất bại hoang mang: thằng địch nó có súng, mình làm sao đấu lại với nó được?

Đồng chí Sáu Đường, Bí thư Liên tỉnh ủy được báo cáo về chuyện này, vội có thư uốn nán: Đã là tấn công chính trị thì tuyệt đối không được dùng vũ lực, thậm chí cũng không cãi lộn với địch mà phải biết tranh thủ sự đồng tình của binh sĩ, sĩ quan, nhân viên ngụy quyền để ủng hộ mình, ủng hộ những yêu cầu thiết thân nhưng rất hợp lý của mình. Đưa đơn, nếu địch đã nhận đơn thì rút về không ở lại nữa. Về tới xã, ấp thì bọn ở đồn bốt thấy rằng cấp trên của nó đã chấp thuận đòi hỏi của những người dân rồi chúng không đàn áp họ nữa.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Mười Một, 2012, 09:58:26 AM
Đồng chí Bí thư còn nhắc nhở nhấn mạnh thêm: Bí quyết của tấn công chính trị là phải tuyệt đối mềm dẻo, tuyệt đối không được để quần chúng có hành động gì có thể sa vào thế bất hợp pháp. Bởi vì sa vào thế bất hợp pháp là mất ngay sức mạnh tiến công chính trị, là thua. Đồng chí nói: “Nếu ai muốn đánh nhau với địch thì mời về tham gia du kích đánh nhau với tụi đi càn, còn ở đây mà đánh nhau là tự mình làm cho mình bị thua và thất bại”. Đấu tranh chính trị mà muốn có kết quả thì phải có lý, có lợi và phải biết kết thúc đúng lúc. Trước Cách mạng Tháng Tám, trong thời gian có Mặt trận Bình Dân những người hoạt động cách mạng lúc đó đã quen với cách làm này khi cùng với quần chúng đưa yêu sách đối với bọn cầm quyền Pháp, trong vòng vây của lưỡi lê và matrắc, hơi cay của tụi cảnh sát đàn áp. Bây giờ cũng như vậy thôi, tuy ở trong một thời điểm khác của lịch sử. Bọn địch hung ác nhưng chúng vẫn không thể hoàn toàn lột bỏ cái mặt nạ giả nhân giả nghĩa của nó. Vả lại trong hàng ngũ địch, cũng không thiếu những người có lương tri, vì hoàn cảnh nào đó mà họ phải chấp nhận làm tay sai cho địch. Cái lý, cái lợi của quần chúng trong lúc đấu tranh, vận động sẽ thuyết phục họ, khiến họ đồng tình với ta, tiêu cực trong việc thực hiện mệnh lệnh của bọn chỉ huy cấp trên, thậm chí có thể ngầm ủng hộ ta. Trong nhiều cuộc đấu tranh chính trị trực diện của quần chúng, bọn địch cuối cùng phải nhượng bộ, tỏ rõ sự bất lực.

Tiến lên một bước nữa, để phát huy thế mạnh của tấn công chính trị trực diện, các đồng chí ở Bến Tre đã vận động các gia đình binh sĩ cùng đi. Chính sách của cách mạng không phân biệt đối xử đối với những gia đình này, họ được hưởng mọi quyền lợi như những người dân khác. Ở nông thôn, họ cũng là những người nông dân lao động, cũng có nhu cầu về ruộng đất canh tác. Do đó, họ cũng hưởng ứng chính sách ruộng đất của cách mạng. Với cách mạng, họ là những gia đình đau khổ, đau khổ vì chồng, con em họ bị địch cưỡng ép, dụ dỗ đi vào con đường phản lại nhân dân, vào chỗ chết chóc, không được đoàn tụ với gia đình. Trong đấu tranh chính trị, những gia đình binh sĩ trở thành lực lượng của cách mạng, vì ngoài thế công khai hợp pháp là dân “quốc gia”, họ còn có cái thế là gia đình binh sĩ, hạn chế được bọn địch đàn áp.

Khi xây dựng được lực lượng tấn công chính trị thành nề nếp, thì quần chúng thấy đấu tranh chính trị không phải cái gì căng thẳng, ghê gớm lắm. Họ thấy đấu tranh kiểu này được thì họ tham gia vừa được lợi mà không sợ địch khủng bố. Vì địch chẳng có lý do gì mà khủng bố họ - những người dân “quốc gia”.

Từ thực tế đấu tranh chính trị ở thị trấn Mỏ Cày, Liên tỉnh ủy tổng kết thành kinh nghiệm. Phân biệt rõ thế nào là đấu tranh chính trị trực diện, đấu tranh chính trị không trực diện và thế nào là đấu tranh vũ trang; mỗi hình thức có yêu cầu, mục đích, phương pháp và lý lẽ, khẩu hiệu khác nhau. Sự phân biệt này rất cần thiết vì nếu ta đấu tranh vũ trang, cướp đồn bốt thì địch đối phó bằng bạo lực vũ trang; còn nếu ta tấn công chính trị có khẩu hiệu, đưa đơn, nêu yêu sách thì chúng nhận đơn. Còn mít tinh, biểu tỉnh, xuống đường đấu tranh là để phát động quần chúng vạch rõ tội ác của kẻ địch.

Rất nhiều cách nói để đấu tranh nhưng đặc sắc nhất là vận động được gia đình binh sĩ cùng đi hoặc đóng giả là gia đình binh sĩ. Họ nói là gia đình họ cũng có con em đi lính, ở tỉnh này, tỉnh nọ, tên sư đoàn là, trung đoàn là… Nhưng cũng bị đàn áp. Vậy họ cũng đấu tranh cho quyền lợi của gia đình… Đấu tranh như vậy đã mang tính chất binh vận, từ đưa yêu sách để buộc bọn cầm quyền ngụy phải chùn bước đã tiến tới yếu tố vận động binh sĩ, giáo dục họ ủng hộ nguyện vọng của quần chúng, cũng là yêu cầu của cách mạng. Đấu tranh chính trị kiểu mới này là phải được đa số binh lính, sĩ quan đồng tình để hạn chế sự đàn áp của địch. Muốn đạt được như vậy thì, như trên đã nói, phải có lý, có lợi và phải biết kết thúc đúng lúc. Có lý là khi bị địch khủng bố hoặc rõ ràng trước sau gì chúng cũng sẽ đến khủng bố ở vùng mình. Có lợi là nếu kịp thời đấu tranh để ngăn chặn địch thì nhân mạng, tài sản của dân ít bị thiệt hại. Kết thúc đúng lúc là phải nhận định được đến mức nào thì địch chấp nhận, đến mức nào thì ta dừng.

Nghệ thuật đấu tranh chính trị là như vậy. Nhưng trong hoàn cảnh có đấu tranh vũ trang thì phải tổ chức cho quần chúng đấu tranh đấu tranh như thế nào để địch không thể vu cho quần chúng bị Việt cộng xúi giục, rồi chúng quay ra khủng bố, tìm bắt những người nòng cốt.

Khi quần chúng đã được giải thích, thấm nhuần ý nghĩa của cuộc đấu tranh chính trị trực diện thì sẽ nảy ra nhiều sáng kiến hay. Ví dụ, trong đấu tranh phải biết làm công tác binh vận. Như đấu tranh với tỉnh trưởng thì phải tranh thủ được bọn chỉ huy đồn bốt và binh lính đồng tình. Đấu tranh với ác ôn ở cơ sở thì phải tranh thủ được quần chúng, tỉnh trưởng đồng tình. Tóm lại, đấu tranh với bọn bên trên thì phải biết tranh thủ được sự đồng tình của bọn bên dưới. Đấu tranh với bọn địch bên dưới thì phải tranh thủ được sự đồng tình của bên trên. Sự đồng tình đó càng nhiều thì khả năng thắng lợi càng lớn.

Ta phát động quần chúng đấu tranh chính trị nhưng cũng đồng thời phát động đấu tranh vũ trang nên địch không biết được lúc nào thì người dân tấn công bằng cách đưa yêu sách, lúc nào là lực lượng vũ trang ta giả dạng để đánh đồn. Đồn bốt địch hầu hết đóng theo các trục đường. Địch thấy đông đảo dân kéo nhau đi trên đường, chúng không biết đoàn này đi làm gì. Từ thực tế này, các nhà “tham mưu nhân dân” nghĩ ra cách như sau: họ cử một nhóm tiền tiêu. Trước khi đoàn biểu tình đi tới thì có hai, ba người đi trước, nói với lính gác rằng hôm nay bà con đi đấu tranh, đi ngang đồn, xin cho mượn đường đi. Mình cũng trung thành với lời nói, giữ chữ tín. Vậy là nó yên tâm. Như vậy là mình tìm sự đồng tình của binh lính…

Từ phong trào Đồng khởi ở Bến Tre, Khu tổng kết được nhiều kinh nghiệm sáng tạo.

Đồng khởi năm 1960 ở Bến Tre là đỉnh cao của quá trình nhân dân Bến Tre nổi dậy dưới sự lãnh đạo của Đảng, với những sức mạnh to lớn, và có nhiều sáng tạo trong phương thức đấu tranh, đánh bại chiến lược đầu tiên trong âm mưu chiến lược thực dân mới của Mỹ, góp phần chuyển cách mạng miền Nam sang chiến lược tiến công tổng hợp.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Mười Một, 2012, 09:58:49 AM
DIỄN BIẾN ĐỒNG KHỞI ĐỢT I
(Từ ngày 17 tháng 1 đến 23 tháng 3 năm 1960


(https://lh3.googleusercontent.com/GO0R9V5OqiwunDHlxZlF8ZQ44d2V6R4pPaFe3ljVtoZlZTZ_P4ygAYiDoPnVZO3655fBooxwPn0zt-87Wg2dvjWBibyM-l7cBxDhm6XgEjgJS6qSY9pAgaMZlN-e0N0HXvi_kR0BkTTrkdrGJCVNTdo0SKbpFe8RHnBQU8XVNiSJI9MamsbnGxt4Ez0qWb0CSBJFPpfWiM8wlaEtAIU_jBhyWy3e2qM57H2sltZg664kHPXUYeEXkyFiTGKntHmfYfwjIxBal7-C8ru6myLMMs-wOIzj0y-NgsSXnySxKXyRaesv0ysgAH03ABOcuOihpbJAbPw2mhGXRLtBXpARYjm4pQ6y9QIUdJsxy7yqufWV3V-YbksxmXitU-3BvDEXEHde849Ix6YHDy1PFe14ZPP67Hh_CUj7Ahsi7P4BAXXfFE1GekQubH0wcN43ng3yjtVT4VLUIhz93FL0ToMdWbO2krnS4NAFOSmFfNvVCd3cg42sooxuR-8p47Gg8JQVhzdnVSokgSWssB_3StNPXyRksq_ObYDeP2ebV_2n91AyHsIrsXMh_xfmeZKzITQFwfBtspO3Np6_6FeKsIGYFQXFd2gPkVC9DZLCdFMhSuir-aUaF2-g=w1148-h832-no)


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Mười Một, 2012, 02:26:06 PM
2. Đồng khởi lan rộng toàn Khu

Sau thắng lợi Đồng khởi của Bến Tre tháng 4-1960, Liên tỉnh ủy mở hội nghị để tổng kết nhân rộng ra và chỉ đạo ba mũi giáp công. Đồng thời cũng nhấn mạnh ý nghĩa việc quần chúng tay không nổi dậy của Bến Tre. Mô hình này có tác dụng rất lớn. Nó giải quyết được sự bế tắc là sau khi Đồng Tháp Mười đã nổi dậy, làm sao có thể đưa được các vùng ngoài Đồng Tháp Mười và các vùng bị địch bình định nổi dậy trong khi ta chưa có đủ lực lượng vũ trang để hỗ trợ. Tóm lại, đây là tiền đề cho cuộc nổi dậy mang tính chất quần chúng cao trong khắp các tỉnh ở Trung Nam Bộ.

Hội nghị bàn rất sôi nổi về ba mũi giáp công: chính trị, quân sự và binh vận. Đồng chí Hai Thủy, Tỉnh ủy viên Bến Tre có tham gia chỉ đạo nổi dậy ở ba xã điểm của Mỏ Cày được Khu rút lên làm cán bộ quân sự của Khu. Đồng chí được Khu phân công trình bày các khẩu hiệu, về ba mũi giáp công về mặt chiến lược, trong chiến dịch, chiến thuật và chiến đấu; ba mũi giáp công trong tấn công địch và trong phòng ngự chống càn quét, trong bao vây tiêu diệt và làm tan rã địch ở các đồn bốt. Sử dụng ba mũi để dứt điểm một đơn vị vũ trang địch và làm chủ xã, ấp. Ba mũi tấn công có tác dụng, có yêu cầu mục đích, có vị trí quyết định riêng của mỗi mũi. Ba mũi giáp công là một sức mạnh tổng hợp để tấn công vào một mục tiêu, một vùng trọng điểm và một đối tượng cụ thể.

Trên cơ sở đó, Khu đúc kết, phổ biến toàn Khu về kinh nghiệm tạo thế công khai hợp pháp của quần chúng trong tiến hành ba mũi tấn công và giáp công.

Hội nghị Khu đang họp thì nhận được điện của Mỹ Tho: quần chúng ở Mỹ Trung, Mỹ Lợi huyện Cái Bè nổi dậy tổ chức mít tinh, biểu tình hàng ngàn người, phá kìm kẹp, diệt ác ôn, bức hàng đồn bốt. Quần chúng ở Mỹ Thiện, Hậu Mỹ, Hậu Thành nổi dậy mít tinh, biểu tình lớn. Tại ngã sáu Mỹ Chung 15.000 người trang bị gậy gộc, dao mác diễu hành thị uy trên một tuyến dài 15 kilômét đòi Ngô Đình Diệm phải từ chức, Mỹ phải rút khỏi miền Nam Việt Nam. Các đồn bốt dân vệ và bảo an biệt kích đóng ở những nơi này phải rút chạy. Tại Cai Lậy, quần chúng nổi dậy biểu tình ở mảng bốn và phối hợp với Trung đội 514 của tỉnh đang đánh địch ở Cặp Rằng Núi biến thành cuộc diễu hành với 9.000 người từ Ban Dầy, Chà Là, kênh Mười, Xoài Tư tiến về chợ Ngã Năm giương cao cờ đỏ sao vàng, hô khẩu hiệu kêu gọi nhân dân nổi dậy, diệt ác, phá kìm, phá khu trù mật, đòi quyền làm chủ ruộng đất.

Tin đồng bào Mỹ Tho nổi dậy theo mô hình của Bến Tre phát động phong trào Đồng khởi ở các xã thuộc vùng yếu, vùng trắng không còn cơ sở Đảng làm cho ai nấy đều hết sức vui mừng.

Mỹ Tho là tỉnh mạnh thời kháng chiến chống Pháp. Khi tập kết còn trên 3.000 đảng viên. Chiến dịch “tố cộng, diệt cộng” của Mỹ - Diệm làm tan rã phần lớn Đảng bộ cơ sở. Nhiều vùng ở Chợ Gạo, Gò Công, Hòa Đồng, vùng ngoài lộ 4 ở Châu Thành, Cai Lậy, Cái Bè không có chi bộ, đảng viên và cơ sở nòng cốt của cách mạng. Đồng bào bị địch bắt ép vào các đoàn thể phản động phải trang bị dây, roi, đánh trống mõ rượt bắt cán bộ, đảng viên xâm nhập vào xóm ấp. Ai không thi hành thì bị chúng đánh đập, bắt giam. Người dân bị kìm kẹp rất căm thù Mỹ - Diệm, đang trông chờ cách mạng về. Ở xã cù lao Thới Sơn trên sông Tiền, ngang thị xã Mỹ Tho, các anh Tư Thanh, Quốc Vũ, Cường, Ba Nhỏ,… là thanh niên của địa phương trong khi chưa có sự chỉ đạo của Huyện ủy Châu Thành nghe tin bên An Khánh, Bến Tre nổi dậy đã sang học tập, chép lại khẩu hiệu đem về bí mật cắt băng, viết khẩu hiệu, phát động quần chúng ở xã mình.

Mỹ Tho chấp hành chỉ đạo của Liên tỉnh ủy Khu Trung Nam Bộ tiến hành phát động quần chúng nổi dậy trong toàn tỉnh đợt II, hướng chính là vùng yếu không có cơ sở Đảng. Mười lăm ngày đầu đợt sẽ đưa quần chúng ở nam, bắc quốc lộ 4 của các huyện Châu Thành, Cai Lậy, Cái Bè nổi dậy; trọng điểm là các xã của Châu Thành, Cai Lậy từ Vĩnh Kim đến sát thị trấn Cái Bè. Trung đội 514 phụ trách vùng Châu Thành, trung đội của Kiến Tường do Khu điều động chi viện phụ trách vùng Cai Lậy, biệt động thị xã phụ trách vùng ven. Chợ Gạo nổi dậy từ kênh Chợ Gạo trở lên. Riêng hai huyện dưới là Gò Công và Hòa Đồng, sau khi mở được Chợ Gạo sẽ có kế hoạch tiếp theo.

Đêm 24 tháng 9 năm 1960, đồng chí Ba Thanh - Bí thư Huyện ủy Châu Thành, đồng chí Sáu Danh - Phó ban Quân sự tỉnh cùng Trung đội 514 vượt quốc lộ 4 đến đóng quân trong nhà quần chúng tốt ở ấp Phú Nhuận, xã Phú Phong. Sáng ra, có người nhận ra đồng chí Ba Thanh và đồng chí Sáu Danh, nhiều đồng bào liền đến thăm, đem heo, gà, vịt tiếp tế. Từ xã Phú Phong tình hình này loang ra tám xã trong vùng suốt mấy ngày. Đồng chí Ba Thanh, đồng chí Sáu Danh và cán bộ chiến sĩ tiếp xúc với đồng bào, phát động nổi dậy, đồng thời phái đồng chí Ba Vũ đưa một tổ vũ trang đột nhập ấp Phú Quới. Ấp này gần bốt Rau Răm, buổi chiều hôm đó 1 trung đội dân vệ của địch đã vào ấp rêu rao: “phiến quân Việt cộng đang về quấy rối xóm làng, đồng bào phải sẵn sàng cây, dây, roi để bắt Việt cộng”. Chúng vừa rút đi thì tổ của các đồng chí Ba Vũ đến. Các đồng chí đi từng nhà kêu gọi dân ra tập trung. Trời tối, đèn măng xông thắp sáng choang tại địa điểm tập trung. Khi đã đông đủ, đồng chí Ba Vũ bước lên tuyên bố: “Chúng tôi là bộ đội giải phóng từ Đồng Tháp Mười về đây thăm đồng bào”. Mọi người xôn xao, đồng chí Ba Vũ kêu gọi đồng bào tố cáo tội ác Mỹ - Diệm, nổi dậy diệt ác, giải tán bộ máy chủ ấp, liên gia, vạch mặt những tên chủ ấp, cảnh sát, liên gia trưởng đã kìm kẹp, áp chế đồng bào.

Đồng chí Ba Vũ còn giải thích chính sách của cách mạng và kêu gọi đồng bào tham gia các tổ chức Nông hội, Thanh niên, Phụ nữ, tự vệ để làm chủ xóm ấp. Mọi người sốt sắng ghi tên vào các đoàn thể, nhiều thanh niên xin đi bộ đội. Nhân dân bầu Ban cán sự ấp gồm ba người để lãnh đạo mọi việc trong ấp. Cuộc tập trung kéo dài đến nửa đêm, sau đó mọi người kéo đi biểu tình, hô khẩu hiệu rầm trời qua ấp kế cận, lôi kéo đồng bào nơi đây nổi dậy.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Mười Một, 2012, 02:26:53 PM
Cứ như vậy, liên tiếp qua 4 ngày, tám xã Phú Phong, Bàn Long, Kim Sơn, Vĩnh Kim, Hữu Đạo, Dưỡng Điềm, Bình Trưng, Điềm Hy đều nổi dậy. Từ ấp đến xã đều hình thành ban cán sự. Các đoàn thể du kích, tự vệ được tổ chức, quần chúng rào, sửa đường làm xã chiến đấu, phòng thông tin, cổng chào…

Ở các vùng của Cai Lậy, Cái Bè, ven thị xã Mỹ Tho, Chợ Gạo đồng bào cũng nổi dậy sôi nổi suốt 15 ngày. Trống, mõ, thùng thiếc, đánh hồi một, liên tục suốt ngày, đêm. Lính ngụy ở trong các đồn sợ hãi không dám ra. Mãi đến ngày 14 tháng 10 năm 1960, hai đại đội bảo an mới dám lò dò tiến vào các xã Bàn Long, Phú Phong, Cẩm Sơn, Phú An. Tại những nơi này chúng bị Trung đội 514 và Trung đội Kiến Tường diệt mấy chục tên, bọn còn lại sợ chạy ra lộ 4. Nhân dân càng phấn khởi nổi dậy, mít tinh, biểu tình, tham gia mọi công tác cách mạng, đóng góp tài chính. Có nông dân đóng 10 giạ lúa. Má Hai ở Phú Phong đi vận động mọi người, má nói: “anh em cực khổ quá, bây giờ có đóng góp nuôi anh em hết nhà cũng được”. Trong những ngày nổi dậy, nhà má nuôi bộ đội và đồng bào tới thăm.

Cuộc nổi dậy diễn ra được 5 ngày thì mũi tấn công chính trị của đội quân tóc dài ra quân. Vào lúc 8 giờ sáng ngày 29 tháng 9 năm 1960, 7.000 người thuộc các xã vùng ven thị xã Mỹ Tho, Cai Lậy, Cái Bè, do 3 cán bộ nữ của Châu Thành làm nòng cốt, tập trung trước dinh tỉnh trưởng Mỹ Tho. Tỉnh trưởng báo động cho cảnh sát và cho người ra hạch hỏi. Đồng bào một mực đòi gặp tỉnh trưởng. Giằng co mãi, hắn mới ló mặt ra, giở giọng hăm dọa là đồng bào nghe lời Việt cộng xúi giục làm loạn, rồi hỏi ai là người đại diện và muốn yêu cầu việc gì. Đồng bào, từng người một đưa đơn đòi trả chồng, con bi bắt, đòi hoãn quân dịch cho con, em, đòi trả ruộng đất bị cướp, đòi không được khủng bố, miễn giảm thuế,… Tên thư ký phải thu tới 2.000 lá đơn. Thấy đồng bào đứng đông nghẹt cả đoạn đường trước dinh và bao quanh dinh, tên tỉnh trưởng không dám giở trò, phải xoa dịu, hứa xem xét, giải quyết và xin đồng bào giải tán.

Cùng ngày, hơn 40.000 đồng bào thuộc lực lượng đội quân tóc dài xuống đường, kéo ra các điểm An Hữu, ngã tư Văn Cang, lộ quẹo Bình Phú, chợ Cai Lậy, Thẻ 23, Thuộc Nhiêu, Long Định, ngã tư Chợ Đưng trên quốc lộ 4 và thị trấn Chợ Gạo, mỗi nơi từ 2.000 - 3.000 người đấu tranh chống khủng bố. Bọn lính bốt và quận trưởng phải xuống nước, năn nỉ đồng bào trở về nhà, hứa không khủng bố nữa.

Trong 15 ngày, ở Mỹ Tho quần chúng đã thật sự nổi dậy làm chủ vùng nông thôn của ba huyện Châu Thành, Cai Lậy, Cái Bè và một phần huyện Chợ Gạo. Trong 50 xã, hơn 100.000 quần chúng nổi dậy biểu tình, mít tinh và tập hợp đội ngũ trong đội quân tóc dài kéo ra đấu tranh trực diện với các cấp đầu não địch.

Tình hình nổi dậy thắng lợi của Mỹ Tho cho thấy rõ quần chúng bị kèm kẹp hết sức căm thù Mỹ - Diệm và bọn tay sai, nếu phát động đúng mức và có phương pháp thích hợp họ sẵn sàng vùng lên. Và điều rút ra là lãnh đạo phát động quần chúng nổi dậy phải hết sức kiên trì, lực lượng vũ trang và cán bộ, đảng viên không được làm thay, mà phải để cho quần chúng ra quyết định xử lý, diệt ác ôn thì quần chúng mới xác định được quyền làm chủ cuộc nổi dậy của mình. Phải có chính sách khoan hồng với những người bị ép buộc làm tay sai, có khả năng hối cải. Nổi dậy từ ấp này loang ra ấp khác, xã này loang ra xã khác bằng khí thế phong trào quần chúng biểu tình, mít tinh hô khẩu hiệu liên tục, kết hợp với tập hợp quần chúng chủ động kéo ra thành đội quân tóc dài gồm cả gia đình binh sĩ đấu tranh trực diện với bọn đầu não ở các thị xã, thị trấn để bắt buộc chúng bảo vệ sinh mạng, tài sản của người dân, không được khủng bố trả thù, bắn giết bừa bãi vào xóm làng, đồng thời phải khéo léo tranh thủ, phân hóa cô lập bọn ác ôn để hạn chế sự phản kích, đàn áp, khủng bố của địch.

Từ ngày 10 đến ngày 20 tháng 11 năm 1960, phong trào đấu tranh ở Mỹ Tho mở rộng ra đến 90 xã. Hơn 200.000 người nổi dậy biểu tình, mít tinh. Hơn 100.000 người được tập hợp vào đội quân tóc dài chủ động tấn công trực diện với tề xã, quận trưởng, tỉnh trưởng để kìm chế các cuộc càn quét, đánh bằng bom pháo vào xóm làng.

Sau đợt này là đợt từ ngày 25 tháng 12 năm 1960 đến ngày 10 tháng 1 năm 1961, với trên 300.000 lượt người dân của 121 xã ở Mỹ Tho nổi dậy. Hơn 100.000 người xuống đường tập hợp vào đội quân tóc dài đấu tranh trực diện với địch. Đợt này, lực lượng nổi dậy kết hợp ba mũi quân sự, chính trị, binh vận bao vây bức hàng, bức rút trên 30 đồn bốt, thu trên 100 khẩu súng.

Tháng 2 năm 1961, Mỹ Tho mở tiếp đợt đấu tranh thống nhất trong toàn tỉnh vào 3 ngày đầu tháng. Hướng chính là hai huyện Gò Công, Hòa Đồng. Các huyện vùng trên tiếp tục nổi dậy bao vây ba mặt bức rút, bức hàng đồn bốt. Hơn 100.000 người của 123 xã nổi dậy biểu tình, mít tinh, hơn 80.000 người tập hợp vào đội quân tóc dài kéo ra đấu tranh trực diện với tỉnh, quận, xã. Có cuộc tập trung tới 10.000 người tại thị trấn Cai Lậy, 5.000 người tại Long Định và thị trấn huyện Châu Thành.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Mười Một, 2012, 02:27:14 PM
Từ ngày 20 tháng 2 năm 1961, đến ngày 3 tháng 3 năm 1961, tỉnh thống nhất nổi dậy, biểu tình, mít tinh, nghi binh, nghi trang bao vây đồn bốt bằng ba mũi, kêu gọi binh lính quay súng chống Mỹ - Diệm. Trên 10.000 người đã cùng lực lượng vũ trang Cái Bè bao vây làm hai đại đội bảo an khu trù mật Hậu Mỹ rút chạy, thiêu hủy hai xe thiết giáp, phá hủy khu trù mật, thu 30 khẩu súng. Đợt này, hơn 30 đồn bốt bị lực lượng ba mũi bức rút, bức hàng, thu hơn 100 khẩu súng. Lực lượng vũ trang tỉnh đánh diệt một đại đội bảo an ở xóm Cò Long Định, thu 20 khẩu súng.

Gò Công cũng nổi dậy mạnh. Hai mươi ngàn đồng bào nổi dậy tấn công ba mũi như mô hình ở Mỹ Tho, diệt 21 ác ôn, phá lộ Cầu Nổi, lộ Kiểng Phước suốt 3 ngày.

Tính chung các đợt tấn công nổi dậy trong năm 1960 đến đầu năm 1961, Mỹ Tho đã có 350.000 lượt quần chúng nổi dậy, bằng ba mũi giáp công quét sạch đồn bốt địch trên 32 xã; hơn 20 xã nhân dân làm chủ cả ngày đêm, đội quân tóc dài đấu tranh trực diện kéo ra tấn công liên tục. Tỉnh trưởng bị 4 cuộc đấu tranh từ 3.000 đến 20.000 người. Các quận trưởng Cái Bè, Cai Lậy, Châu Thành, Chợ Gạo, Hòa Đồng, Gò Công, tên nào cũng bị 5 - 6 cuộc đấu tranh. Quận Châu Thành phải thay quận trưởng 4 lần.

Phong trào quần chúng chủ động đấu tranh trực diện với bọn đầu não ở thị xã, thị trấn bằng lực lượng đội quân tóc dài đã đi vào nề nếp. Hễ lực lượng vũ trang nổ súng thì quần chúng xuống đường tản cư ngược, đấu tranh trực diện với tỉnh trưởng, quận trưởng đòi không được bắn phá, phản kích càn quét, khủng bố. Ban đêm quần chúng đánh mõ nổi dậy trong xóm ấp, ban ngày xuống đường biểu tình đấu tranh trực diện để giữ thế công khai hợp pháp, nổi dậy chủ động tấn công liên tục, không ngại gian khổ, nguy hiểm. Có cuộc địch chỉ nhận đơn, có cuộc chúng đàn áp nhưng quần chúng vẫn hăng hái đấu tranh. Điển hình là cuộc đấu tranh trực diện của đồng bào 8 xã khu vực quốc lộ 4 từ Phú Phong, Bàn Long đến Bình Trưng, tại ngã ba Chim Chim trên quốc lộ 4. Đêm hôm đó địch bắn 50 trái pháo vào ấp Phú Quới, xã Phú Phong làm chết hai người. Sáng ra hàng ngàn người kéo đến bốt hội tề đòi chấm dứt bắn pháo, đòi bồi thường thiệt hại. Ngày hôm sau, 1.000 người kéo thành đội ngũ có băng rôn, khẩu hiệu diễu hành dọc lộ 4 từ Nhị Bình tiến xuống Long Định. Đoàn đến ngã ba Chim Chim thì địch cho xe thiết giáp chặn lại. Đồng bào cương quyết kéo nhau đi. Chúng nổ súng, chị cầm băng đi đầu ngã gục, một chị khác nhảy lên thay, chúng bắn chết, một chị nữa lên thay cũng bị bắn chết, 10 người khác bị thương, đồng bào vẫn không lùi. Một chị bị thương rất nặng miệng vẫn hô: tiến lên, đả đảo! Đàn áp không được, tỉnh trưởng Mỹ Tho và quận trưởng Châu Thành phải xuống nước, nhận yêu sách, hứa bồi thường thiệt hại và trừng trị kẻ giết người.

Đến tháng 3 năm 1961, Mỹ Tho căn bản đã hoàn thành nổi dậy làm chủ nông thôn từ biển Gò Công lên đến Cái Bè. Mỹ Tho nổi dậy đều khắp là nhờ học tập kinh nghiệm của Bến Tre và áp dụng các mô hình nổi dậy đầu tiên ở Cái Bè và Cai Lậy Bắc.

Nữ đồng chí Ngọc Việt - Tỉnh ủy viên, phụ trách huyện Cái Bè và sau đó sang Cai Lậy đã cương quyết cùng Huyện ủy bố trí cán bộ có tư tưởng tiến công đi phát động quần chúng. Đó là bài học, vì Đảng chỉ đạo Đồng khởi và phương pháp lãnh đạo tư tưởng nội bộ thực hiện nghị quyết.

Sau khi hai đồng chí Tám Chữ và Bảy Đấu đi dự hội nghị sơ kết ở Liên tỉnh ủy về, Bến Tre tiếp tục đồng khởi đợt II.

Từng huyện trong tỉnh chỉ đạo đấu tranh ở những xã còn lại hoặc mở những đợt đấu tranh tiếp theo. Hướng chính là huyện Giồng Trôm, hướng phụ là huyện Mỏ Cày. Điểm chỉ đạo riêng của tỉnh là năm xã Phong Nẫm, Phong Mỹ, Châu Phú, Châu Hòa, Châu Bình thuộc huyện Giồng Trôm.

Sau đợt I, địch tăng cường phòng thủ nên Tỉnh ủy chỉ đạo đẩy mạnh hoạt động ở thị xã trước khi vào đợt để kéo lực lượng chúng trở về phòng thủ, tạo điều kiện cho trọng điểm giành thắng lợi. Lúc này, tỉnh Bến Tre đã có lực lượng vũ trang tương đối mạnh, nên dễ nghi trang, nghi binh.

Ngày 21, 22 tháng 9 năm 1960, hàng vạn quần chúng đổ vào thị xã mua lương thực, thực phẩm dự trữ và tung tin Quân giải phóng về rất đông, sắp có đánh lớn. Thị xã trong những ngày này tràn ngập người đi lại, giá cả tăng vọt. Nhưng sang ngày 23 tháng 9 năm 1960, tình hình hoàn toàn ngược lại, ngoài đường người đi lại thưa thớt, các tiệm đóng cửa, thị xã vắng tanh. Ngụy quyền hoảng hốt báo động.

Trưa ngày 23 tháng 9 năm 1960, Đại đội 261 của tỉnh phục kích diệt gọn một trung đội bảo an trên đường Tân Thạch đi thị xã. Cùng ngày, Trung đội vũ trang huyện Giồng Trôm cũng diệt 1 trung đội bảo an địch trên đường Giồng Trôm - thị xã. Đến đêm, tự vệ thị xã diệt đồn dân vệ cầu nhà thương, tước vũ khí đồn dân vệ Cái Cối, nổ súng ở ngoại ô. Cho rằng thị xã sẽ bị tấn công, sáng ngày 24 tháng 9 năm 1960, Tỉnh trưởng Bến Tre cấp tốc gọi hai tiểu đoàn bảo an từ Giồng Trôm về thị xã. Cùng lúc, nhân dân các xã Lương Hòa, Long Mỹ, Bình Hòa thuộc huyện Giồng Trôm thả bè dừa phá sập cầu Bình Chánh - cây cầu lớn, quan trọng trên tỉnh lộ 26, nối thị xã Bến Tre với Giồng Trôm, Ba Tri. Đây là kết quả của một sáng kiến tuyệt vời của đồng bào Bến Tre, vì trên cầu có lính canh phòng cẩn mật, chị em đi chợ đã đếm bước chân mình để đo chiều ngang giữa hai trụ cầu chính và một ông lão dùng ghe có cột buồm đi ngang qua đụng cầu để biết chiều cao mặt nước. Sau đó hàng ngàn người tập họp lại kết bè, xác định kích thước chiều dài, chiều rộng, chiều cao cần thiết để lợi dụng sức nước đẩy sập cầu.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Mười Một, 2012, 02:27:36 PM
Vào lúc 15 giờ tại đồn Châu Phú, Giồng Trôm, anh Chống là nội tuyến, Đại đội trưởng đại đội nghĩa binh công giáo, ra lệnh cho lính gom súng lại để kiểm tra tạo điều kiện cho một tiểu đội của Đại đội 261 đóng giả bảo an đột nhập, bức hàng đại đội nghĩa binh, thu toàn bộ vũ khí. Nhân dân phá tan đồn. Từ đồn Châu Phú, các đồng chí đóng giả là lính nghĩa binh cùng anh Chống lên xe lam vào chiếm bốt nhà thờ. Nội tuyến ở đây đã nổi dậy trước, bọn lính nhanh chóng đầu hàng.

Chiếm xong nhà thờ, lực lượng vũ trang cách mạng cùng nội tuyến kéo thẳng đến đồn Châu Thới. Lính ngụy trong đồn chưa kịp chống cự, cửa đồn đã bị phá tung. Toàn bộ lính trong đồn đầu hàng. Như vậy là vừa mở đầu đợt, ta đã liên tiếp chiếm 3 đồn, thu được hơn 100 khẩu súng. Quần chúng hết sức phấn khởi, san bằng đồn bốt.

Cũng trong thời gian đó, nhân dân các xã Phong Nẫm, Phong Mỹ, Châu Bình, Châu Hòa phối hợp với tiểu đội vũ trang huyện, nội tuyến và gia đình binh sĩ bao vây bức hàng, bức rút, san bằng hệ thống đồn bốt dọc sông Ba Lai, bắt hơn 100 tù binh, thu nhiều súng.

Đêm đến, nhân dân năm xã tổ chức mít tinh mừng chiến thắng.

Phát huy thắng lợi, sáng ngày 25 tháng 9 năm 1960, hơn 5.000 người kéo vào thị trấn Giồng Trôm và nhà thờ La Mã, Hiệp Hưng, loan tin đại đội nghĩa binh công giáo đã theo cách mạng, đòi chính quyền phải đảm bảo tính mạng, tài sản của dân, không khủng bố dân, đòi bồi thường cho lính bị chết, mất tích. Địch hoang mang, lúng túng, năn nỉ, xoa dịu.

Sau khi tuyên truyền chính nghĩa của cách mạng, chính sách của quân giải phóng, một số tù binh vừa bị bắt được phóng thích: 30 tên được thả tại thị xã Bến Tre, 10 tên khác cho về với gia đình. Việc thả tù binh đã nêu cao chính sách khoan hồng, nhân đạo của cách mạng, được gia đình binh lính và quần chúng loan truyền, gây ảnh hưởng rộng rãi.

Cùng với năm xã điểm, đêm 24 tháng 9 năm 1960, hàng chục vạn quần chúng các xã trong toàn tỉnh nổi dậy đánh trống mõ diệt ác ôn, phá thế kìm kẹp, đốt đuốc xuống đường biểu tình thị uy, bao vây đồn bốt, kêu gọi binh lính đầu hàng. Hai chục đồn ở Giồng Trôm nộp súng, hàng chục đồn ở Châu Thành, Bình Đại, Thạnh Phú, Ba Tri bị diệt, hàng chục xã quần chúng giành quyền làm chủ. Ngày 23 tháng 10 năm 1960, tỉnh điều Đại đội 261 sang tăng cường hỗ trợ quần chúng các xã của huyện Mỏ Cày tiếp tục nổi dậy bằng ba mũi giáp công bức hàng, bức rút đồn bốt địch.

Đồng khởi Bến Tre lần này nổ ra quy mô toàn tỉnh với khí thế mới, dùng ba mũi giáp công bao vây, tiến công, bức hàng, bức rút hàng loạt đồn bốt. Phong trào lính đầu hàng, nộp súng, rã ngũ về với nhân dân chưa từng thấy. Sau hai mươi ngày cao điểm, cuộc Đồng khởi tiếp tục kéo dài đến hết năm 1960. Trong toàn tỉnh, đã có 51 xã trên 115 xã hoàn toàn giải phóng, 21 xã còn đồn tua nhưng nhân dân làm chủ.

Tháng 7 năm 1960, cùng với toàn Khu, Long An bước vào đợt II. Mở đầu, Đại đội công binh tỉnh tấn công chi khu Đức Hòa. Trận đánh bắt đầu từ việc ta vây đồn Hựu Thạnh. Địch cho 1 trung đội bảo an quận đến giải tỏa, bị ta tiêu diệt. Sau đó ta đánh thẳng vào quận lỵ. Sau 30 phút đại đội bảo an phòng thủ bị đánh tan, ta làm chủ quận lỵ. Cờ cách mạng được kéo lên trên nóc dinh quận. Nhân dân các xã xung quanh nổi dậy phá lộ, đốn cây, làm chướng ngại vật, cắt đứt đường vào thị trấn. Ngày hôm sau địch phải đưa tiểu đoàn dù từ Sài Gòn đến để giải vây.

Kết hợp với tấn công nổi dậy ở Đức Hòa, 1 trung đội vũ trang cùng quần chúng ba mũi tấn công nổi dậy diệt ác ôn, phá tề ấp, tề xã ở Bình Lợi, Bình Thuận, đông đảo nhân dân họp mít tinh bắt chúng trả chức không làm việc nữa. Bộ máy kìm kẹp bị đập tan.

Đại đội cơ động tỉnh chuyển xuống phía nam lộ 4 phối hợp với quần chúng tấn công nổi dậy ở xã Long Trì, huyện Châu Thành, diệt 1 trung đội bảo an, dân vệ, bắt sống tên ủy viên cảnh sát.

Lực lượng vũ trang của tỉnh còn kết hợp với quần chúng tấn công nổi dậy tiêu diệt một loạt các bốt Đông Thạnh, Long Phụng, Tân Lập, Long Khê, Long Cang. Tề ấp, liên gia tan rã.

Ở Cần Đước, 1.000 người biểu tình vào chợ Núi. Binh lính ngụy phải làm ngơ, không dám đàn áp.

(https://lh3.googleusercontent.com/tJFYVCqoY2aRAXh_nwoSST8F8JAPtKUFbSuVJmbMArfUf3EMcoG6YLL5WcLxqIu9i6QKfIdIMyJ1jNzESTOYUGG5sTKAgM-1sBIHyWKymtbX-aDrlb7Bpge-gp6seCIYz7rnYbYIRxOrVL0OovzrP5qsmYDQNleHCDp1g1CgWSBcd50CXy7N3iknUncH5Ci27dPgU_HqfYHEYd1JN56eT78F3C3B3lXZ2pnF4Vyv7sh-8fZ0GWV-ya9Bl9E_csVJHWCLeAg75znSTIY8U7IKFHc2EU7cvD3klmqIhjDXoY_8d8lI4RstkEtmfTn365a8SSbci7id03-eqoKWZA2BFdzw19wmp3AvX7K1y2YJ8AVS0QexFW1yFOpl2Z4aILOx4PUgYQvhElW0FJuNpswey1WwMGOJGNUSA_eGK75Ex6vUntDbYND-ItKy7U6ICYHsbR7lUjt_QxKxrfk_1gUs85vtQZJKGU9ewD22U-2Zk95LknGD48Z4W6vquitGf1f2ThoGfMpVDd54oj0Rb30SB3sZDf4871_Bktv7nKxv3JyS9UDKVVFq6EKV_jZ54GkvE1wcT0mRLTXam5YYRMfTp9xl8tjwKSeSEa6ZC_88LrA_z76G-kRp=w542-h832-no)

Đả đảo luật 10/59 - Long An


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Mười Một, 2012, 02:28:06 PM
Vào đợt này, lực lượng vũ trang Long An vừa tác chiến, vừa làm nhiệm vụ diệt ác, bắt bọn tề xã, ấp cam kết không làm việc cho Mỹ - Diệm, không ủng hộ địa chủ cướp ruộng. Hoạt động vũ trang có hiệu quả về mặt đánh địch, diệt ác, phá kìm kẹp, được nhân dân đồng tình. Nhưng quần chúng chưa nổi dậy bùng lên, ỷ lại vào lực lượng vũ trang.

Đến tháng 9 năm 1960, vùng giải phóng ở Long An đã tương đối rộng. Đức Hòa, Đức Huệ, Cần Giuộc, Bến Lức đã có 12 xã không còn đồn bốt, 67 xã khác chỉ còn 1 đồn ta làm chủ.

Được báo cáo diễn biến tình hình ở Long An, đồng chí Bí thư Liên tỉnh ủy chỉ đạo cho Thường vụ Tỉnh ủy chú ý đi sâu chỉ đạo các cấp ủy và cán bộ, đảng viên đề cao tinh thần tự lực nổi dậy của quần chúng đúng mức hơn nữa, nhắc nhở các đồng chí là chỉ có phát động được khí thế cách mạng của quần chúng để quần chúng tự lực đứng lên, bằng ba mũi giáp công diệt và làm tam rã địch, làm chủ xã, ấp và kéo ra đấu tranh trực diện với cơ quan đầu não địch ở thị xã, thị trấn, chống khủng bố như Bến Tre và Mỹ Tho đã làm, thì mới lập được quyền làm chủ vững chắc của nhân dân.

Từ cuối năm 1960 đến quý I năm 1961, Tỉnh ủy Long An kiên quyết chỉ đạo phát động quần chúng hai huyện dưới nổi dậy tấn công địch, làm chủ thật sự như ở Bến Tre, Mỹ Tho. Tổ chức nhiều cuộc biểu tình có từ 5 đến 7.000 người tham gia, kéo dài nhiều ngày. Ở Bến Lức, trên 8.000 người kéo ra lộ 4 làm tắc nghẽn giao thông, tạo thành dư luận cách mạng tấn công lớn vào các vùng đô thị, thị xã, thị trấn. Ở Đức Hòa, 10.000 người kéo ra thị trấn và lên lộ. Ở Châu Thành 13.000 người kéo vào thị trấn Tầm Vu và thị xã Tân An. Ở Cần Đước, 17.000 người biểu tình, hình thành đội quân tóc dài đấu tranh chính trị trực diện với cơ quan đầu não của địch, có nhiều lý lẽ chống khủng bố, kêu gọi anh em binh sĩ đồng tình ủng hộ, quay súng trở về với cách mạng.

Tinh thần binh lính ngụy hoang mang, nhiều tên đào ngũ. Tổng đoàn dân vệ Bầu Trai được nội tuyến hướng dẫn nổi dậy giết chết cai tổng Oai, một tên ác ôn, rồi mang toàn bộ vũ khí theo cách mạng.

Đến đầu năm 1961, nhân dân Long An mới thực sự đứng lên bằng ba mũi giáp công tiến công địch làm chủ theo mô hình Bến Tre, Mỹ Tho; đã kết hợp lực lượng vũ trang và ba mũi giáp công của quần chúng, mở ra nhiều vùng làm chủ của nhân dân. Điển hình là ở Đức Huệ và Châu Thành. Ở Đức Huệ nhân dân phán tan khu trù mật Giồng Bún, xã Mỹ Quý Tây, cùng với lực lượng vũ trang chống địch phản kích hai trận ở Mỹ Thạnh Đông và Giồng Nhỏ, diệt hai trung đội và đồn Bình Thành, giải phóng hầu hết huyện.

(https://lh3.googleusercontent.com/jWUDkEUIzPn7E3sACsUMjDenCIxFMSDdDlL4drq0m7vjlTBOLfezA9F4BxOYdCc9Rm12oxtGo0VvAuMV6odSFrOtVBgZ5CIuJfzATcs9kBlvXc57TWxxOpkb4QxugALtHIZK7SDtJ_UKpeevPRLqut7hI70GStAuITt--5VeBXlcOkZTkWpokH07SdR8MOxBskN6oqSgCuhUCBvuBvclfr9Uw361wiuNOHklbSIcM7aF0lSXyYPZETrFR0yykBRoYV51Nn42RNXp3QaEN1D3qgPEmXc9c_cBvZWcgI-3HaSY3qeMuDspLr9rLPs_dKY4woS6vwJPYcUUZNSKYDjoiKnzhzN0k7Pr8kLRTFqGPHWB-8X1Z26whSohbP2bPFEnw-ev7-gC064j9MTQzRJByhxAYQsGpCOZSbIZkSmPT9NbZigxA1KZ97eHz0Ig-z0eTnSMtUZTDJH3p0ua5fPcmry5L4onwzs9M9tMf6cF9RQnwxlb1cYp-dSvihAHAYanyw_amjNObYNYQyWt4cf2pkZCC9ZDjMWchCyhQ-8cFCqhG4EQIJgDpgzLrops6FzO6V4jp28kkIu8EgTyoRC3r5Go1Ag-MuMe_wNHCzuL64QyhzTijoSV=w986-h726-no)

Ở Châu Thành - Tân Trụ, lực lượng vũ trang mới thành lập kết hợp với cơ sở nội tuyến đồn Nhật Tảo diệt tên chỉ huy ác ôn, giáo dục rồi tha 30 dân vệ, thu nhiều súng. Lực lượng vũ trang đóng giả lính ngụy, kết hợp với nội tuyến, diệt đồn giữa ban ngày, thu súng, giải phóng xã Phước Vân. Nhân dân các xã nổi dậy biểu tình, mít tinh, có nhiều cuộc có tới 6 đến 7.000 người tham gia. Hàng chục cuộc đấu tranh trực diện với quận trưởng Bình Phước - Tân Trụ có từ 3 đến 4.000 người tham gia.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Mười Một, 2012, 02:28:36 PM
Tỉnh Kiến Tường vào đợt II của Đồng khởi vào giữa mùa nước. Cả tỉnh là một biển nước, có nơi ngập sâu đến 2-3 mét, mọi sinh hoạt đi lại, làm ăn đều dựa vào xuồng, ghe. Bộ đội, du kích bám địa phương bằng xuồng, lênh đênh trên nước, trong rừng tràm, lau sậy,… Tỉnh ủy vừa lo việc ăn ở cho cơ quan, vừa lo ổn định đời sống của dân, vừa chỉ đạo nổi dậy tấn công. Các đồng chí đánh giá: nước nổi khiến cả ta và địch đều gặp khó khăn. Nếu ta quyết tâm vượt khó khăn thì sẽ thắng. Địch ở trong đồn bị nước bao vây tứ phía nếu bị đánh sẽ khó chi viện. Phải có kế hoạch đánh bức đồn. Tỉnh ủy chỉ đạo bộ đội xây dựng kế hoạch tấn công. Anh em có sáng kiến dùng bè chuối kẹp hai bên xuồng rồi chất bao trấu lên làm công sự. Lợi dụng trời tối, ta bí mật áp sát xuồng vào hàng rào đồn, dùng mã tấu chặt đứt rào, mở cửa, xông vào chiếm đồn. Bằng cách này, trong mùa nước tháng 9 và tháng 10 năm 1960, lực lượng vũ trang Kiến Tường cùng nhân dân đã chiếm 47 đồn bốt, thu được 102 khẩu súng, mở rộng vùng giải phóng.

Kết hợp với lực lượng vũ trang tấn công, đồng bào ven thị xã Mộc Hóa nổi dậy, mỗi cuộc có từ 500 đến 1.000 người tham gia. Đội quân tóc dài thường xuyên kéo vào đấu tranh trực diện với cơ quan đầu não của địch, đòi không được bắn phá, khủng bố.

Tỉnh Kiến Tường ít dân, phần lớn dân tập trung ở thị xã, thị trấn nhưng Tỉnh ủy vẫn chỉ đạo các Đảng bộ lãnh đạo quần chúng giữ thế công khai hợp pháp đấu tranh và tạo được sự đồng tình hưởng ứng; đồng bào sống rải rác trong kênh rạch, bưng trắp thì dùng hình thức mít tinh, biểu tình, vạch mặt địch, treo băng rôn, khẩu hiệu, cờ khắp mọi nơi, trống mõ, thùng thiếc đánh vang dội. Những cuộc xuống đường, kéo ra thị trấn đấu tranh trực diện với địch ở Kiến Tường tuy ít người tham gia (vì tỉnh ít dân hơn các tỉnh vùng ngoài) nhưng đồng bào rất sáng tạo trong chiến đấu kết hợp thế công khai hợp pháp và vận dụng phương châm hai chân, ba mũi tấn công địch khi địch càn, nên đã giành được quyền làm chủ trên diện rộng.

Đến tháng 3 năm 1961, Kiến Tường đã căn bản đạt yêu cầu của đợt nổi dậy. Vùng giải phóng hình thành. Thế quần chúng làm chủ bằng chính quyền tự quản rộng khắp.

Tỉnh Kiến Phong lấy ngày 14 tháng 9 năm 1960 làm ngày mở đầu đợt II Đồng Khởi và thống nhất cho toàn tỉnh. Đêm 13 rạng ngày 14 tháng 9 năm 1960, quần chúng các xã nổi dậy đồng loạt đánh trống, mõ, truy lùng ác ôn, phá thế kìm kẹp ở những vùng yếu. Lực lượng vũ trang tiếp tục tấn công đánh đồn bốt, mở rộng thêm nhiều vùng giải phóng.

Đặc điểm của Kiến Phong là tỉnh nằm ở giữa Đồng Tháp Mười, có lực lượng vũ trang mạnh, từ trước đến nay hoạt động theo phương thức lực lượng vũ trang tập trung kết hợp với ba mũi quần chúng nổi dậy tại chỗ làm chủ xã, ấp, xây dựng xã chiến đấu, xây dựng thế du kích chiến tranh.

(https://lh3.googleusercontent.com/QUhOlISPmglaDr1apN9_oui6RC_6ciQUl0UW9_5tCLIc0jCXjpA376UBsm-lUzl4jiQghQfTDPChb3zwxI_1bZXaXeUcn99SNQCZmLdRMySn23l0NUMU336CCHBVtjKnfgc6_06aNFTwNd3m0nJVScQlwia0QrMECOn_DAdpwxJHAhuon-qU0VAsXMl8BcXnINM6vyMc4pnHbQXpXhQQkc3pHKCCBDY9wp5UwEASGHEZWNdj7w7hsghZF9mzzLGtIUGRyYi2vJiXTjKa_NF2r2W1eOEV9Q3uQjmT5HTIxsuk4W7oqBiEweqSVyPtECGhTyjvVBgVoAz2X5vVBmfEd72Qhb0gy5n8EMwqf5NhqgdejjQWgSRuPmrF2YQG_zHlLGBnsknhzisDsUDRoo9zmUKFlnoM4qaIq8j9ODCETIK4xwatIDfM7VaRblOBMeFbDOM9b1zd9eJ9Pbgxj5-lDsvEQB_sMtkC1iGKZK7mH6AKrAg_dkf_TaF4P_ebX92Jsi_mC2KkIuCKtPkKfjnxsYRJkVmsB29ICnEMagKy62-ev-RagmhwiKdgH6nA-FBUa8yhkDEQqPcXIPJzIMW-M8QAKwFWjIf8we9uBdf8Uv0a9UJ16DEC=w788-h600-no)

Lực lượng vũ trang tỉnh Kiến Phong những ngày mới thành lập
với một số ít súng trường và mã tấu


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Mười Một, 2012, 02:29:04 PM
Đến đợt II này, vùng giải phóng đã được mở trên diện rộng, nhưng thế đấu tranh chính trị trực diện với cơ quan đầu não của địch còn yếu. Theo chỉ đạo của Liên tỉnh ủy, các tỉnh đều phải thực hiện đưa quần chúng tấn công chính trị trực diện vào cơ quan đầu não của địch ở thị xã, thị trấn và trên các trục giao thông chiến lược. Tỉnh ủy Kiến Phong quyết tâm khắc phục điểm yếu này để thực hiện tốt sự chỉ đạo của Liên tỉnh ủy.

Ngày 4 tháng 10 năm 1960, 4.000 người thuộc lực lượng đội quân tóc dài kéo vào thị xã Cao Lãnh. Địch vừa bắt bớ, hăm dọa vừa xoa dịu, nhưng đồng bào kiên trì đấu tranh, chúng phải thả những người bị bắt.

Bước sang đầu năm 1961, tỉnh tiếp tục nâng cao quyết tâm phát động phong trào quần chúng đấu tranh chính trị trực diện, phải có nhiều cuộc đấu tranh lớn để đưa khí thế cách mạng quần chúng lên, làm suy yếu, phân hóa kẻ địch, hạn chế sự phản kích bằng càn quét, bom, pháo ác liệt.

Ngày mồng 3 Tết âm lịch năm 1961, tỉnh tổ chức một cuộc mít tinh với 5.000 người tham dự tại kênh Thầy Thông, xã Mỹ Hội, Cao Lãnh, phát động đấu tranh đòi địch không được bắn pháo để nông dân tự do làm đồng, chống bắt bớ, khủng bố, chống bắt thanh niên đi lính.

Đầu tháng 3 năm 1961, tỉnh tổ chức một cuộc mít tinh tại kênh Xáng Xéo, xã Mỹ Hội có 10.000 đồng bào các xã của huyện Cao Lãnh và huyện Mỹ An tham gia, mừng Ủy ban Mặt trận dân tộc giải phóng tỉnh Kiến Phong vừa thành lập. Cuộc mít tinh kêu gọi đồng bào hưởng ứng các cuộc đấu tranh sắp tới.

Ngày 5 tháng 3 năm 1961, tỉnh tổ chức cuộc đấu tranh lớn trong toàn tỉnh. Dự kiến đấu tranh ở ba cấp: xã, huyện, tỉnh. Riêng tại thị xã Cao Lãnh, dự kiến lực lượng đấu tranh đến một vạn người. Trừ Hồng Ngự đấu tranh tại huyện, mỗi huyện còn lại đưa vào thị xã từ 1.000 đến 3.000 người. Trời chưa sáng, lực lượng đấu tranh từ huyện Mỹ An đã kéo lên thị xã. 1.000 người đi nườm nượp trên bờ, dưới sông gây náo loạn, trong đoàn có cả thanh niên cầm vũ khí thô sơ. Trước đó ta vừa đánh một trận tập kích sát thị xã nên địch hốt hoảng tưởng Việt cộng tấn công, chúng bắn xả vào đoàn người, làm 2 người bị chết, 7 người bị thương; đồng thời chúng báo động toàn thị xã. Lực lượng đấu tranh của thị xã Cao Lãnh tập trung ở Hòa An, lúc 5 giờ sáng kéo qua nhưng đến Cầu Đúc thì bị địch chặn lại không qua được. Lực lượng huyện Thanh Bình gồm 1.000 người lúc rạng sáng theo đường Mỹ Ngãi tới đồn cũng bị địch chặn, bắn chết 1 người, làm bị thương 2 người và bắt một số người đưa về sân vận động thị xã tra tấn. Lực lượng cánh dưới Cao Lãnh kéo qua kênh Thầy Cừ cũng bị địch chặn lại, ném hơi cay và bắn xả vào đoàn người. Cuộc đấu tranh kéo dài 2, 3 ngày, giằng co quyết liệt. Cuối cùng, địch phải xoa dịu, nhận đơn, thả hết những người bị bắt.

Ở các quận, có nơi quận trưởng cho lính đàn áp, có nơi chúng nhận đơn rồi yêu cầu quần chúng giải tán.

Cuộc đấu tranh trực diện ngày 5 tháng 3 năm 1961 với quy mô toàn tỉnh Kiến Phong tuy có giành thắng lợi, địch xuống nước xoa dịu nhưng bị thiệt hại đáng tiếc. Tỉnh tổ chức kiểm thảo rút kinh nghiệm là đã áp dụng kinh nghiệm của Bến Tre một cách rập khuôn máy móc không phù hợp với điều kiện ở một thị xã nhỏ như Cao Lãnh; lại tổ chức quy mô lớn, quá công khai lộ liễu, không giữ được bí mật bất ngờ, nên đã làm mất thế hợp pháp, dẫn đến bị địch đàn áp làm ảnh hưởng đến lòng tin của quần chúng vào hiệu quả đấu tranh chính trị trực diện. Sáu tháng sau, sau nhiều bước kiểm thảo rút kinh nghiệm của Tỉnh ủy, tỉnh mới tổ chức đấu tranh chính trị trực diện trở lại, nhưng với số người tham gia ít hơn, có gia đình binh sĩ làm lực lượng xung kích, đấu lý lẽ thích hợp giành quyền lợi thiết thân.

Đến đầu năm 1961, tỉnh Kiến Phong cũng đã căn bản hoàn thành thắng lợi cuộc tấn công nổi dậy bằng ba mũi giáp công.

Ở An Giang vào đợt I, đầu năm 1960, quần chúng nổi dậy còn lẻ tẻ, diện chưa rộng nên giành quyền làm chủ có mức độ. Tuy trong tháng 7 và tháng 9, Tiểu đoàn 510 có tổ chức đánh một số trận ở xã Tân An, huyện Tân Châu, kết hợp với nội tuyến đánh đồn Tam Giác và đánh phục kích ở Cỏ Găng, diệt được lực lượng địch, thu vũ khí, nhưng bộ máy kìm kẹp và lực lượng vũ trang của địch vẫn còn mạnh. Đặc biệt, ta chưa phá được tổ chức mật vụ của địch còn bám chặt trong quần chúng nên chúng phát hiện được ta khi đang chuẩn bị đợt mới, liền tăng cường đánh phá.

Đêm 17 rạng 18 tháng 9 năm 1960, tại khu trù mật Tân Châu và khu vực Khánh Hòa, Châu Phú, địch bắt 13 cán bộ, trong đó có hai huyện ủy viên.

Chiều ngày 22 tháng 9 năm 1960, bọn bảo an Tân Châu đột kích vào ấp Tân Phước, xã Tân An vây bắt Huyện ủy đang họp. Chánh văn phòng Huyện ủy và hai cán bộ bị bắt cùng hàng ngàn truyền đơn và một máy phóng thanh.

Ngày 30 tháng 9 năm 1960, cán bộ giao liên của Thị ủy Long Xuyên bị địch bắt. Chúng khai thác, bắt thêm được đồng chí Trần Thúy Liễu - Tỉnh ủy viên, đồng chí Phan Thanh Liêm - Bí thư Thị ủy và một số đồng chí ở cơ sở.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Mười Một, 2012, 02:29:30 PM
Trước tình hình địch đánh phá, kế hoạch nổi dậy ở một số nơi bị đình lại nhưng trên diện chung, cuộc nổi dậy vẫn được tiến hành. Trọng điểm nổi dậy là vùng Bảy Núi, có đa số người Khơme. Đêm 23 tháng 9 năm 1960, nhân dân ở ấp Rôn Cô và Srock Chhuk, xã Ô Lâm nổi trống mõ, kéo đến bao vây đồn Bà Thệch do hai tiểu đội bảo an và dân vệ đóng giữ. Gia đình binh sĩ vào kêu gọi chồng con, kết hợp với nội tuyến bắn chết trưởng đồn, hai lính trở về với cách mạng. Nhân dân xã Ô Lâm tiếp tục nổi dậy diệt ác ôn, phá bộ máy kìm kẹp, bao vây bức rút đồn bốt, xã Ô Lâm được giải phóng. Cũng đêm đó, ở xã An Tức, nhân dân nổi dậy, anh Châu Sanh là nội tuyến đã chỉ huy tiểu đội dân vệ hưởng ứng, đốt đồn, trở về với nhân dân. Tiếp đó là đồn Băng Trạo, cơ sở nội tuyến cũng vận động anh em binh lính về với cách mạng. Cùng thời gian, các đồn bốt, tháp canh trên con đường quanh núi Cô Tô lần lượt rút chạy. Nhân dân đứng lên giành quyền làm chủ từ Ô Lâm qua Cô Tô, An Tức, bao vây thị trấn Tri Tôn, 15 ấp của 3 xã quanh núi Cô Tô được giải phóng.

Cùng đêm 23 tháng 9 năm 1960, lực lượng vũ trang tỉnh cùng nhân dân xã Lương Phi nổi dậy diệt ác ôn, truy lùng tề điệp, lập toàn án nhân dân xử tội bọn ác ôn. Tề xã, tề ấp tan rã, một số bỏ trốn ra quận lỵ Tri Tôn. Đồng bào liên tục tấn công, bao vây, đốt trụ sở hội đồng xã. Đồn Cây Dừa, đồn Sà Lôn rút chạy, đường từ Lương Phi về Tri Tôn bị cắt đứt.

Ở xã Ba Chúc, lực lượng vũ trang kết hợp với nhân dân nổi dậy diệt ác ôn, phá kìm kẹp, bao vây đồn bốt, giải phóng hầu hết các ấp xung quanh khu trù mật Ba Chúc.

Đêm 24 tháng 9 năm 1960, lực lượng vũ trang tỉnh bắn phá quận lỵ Tri Tôn, tấn công trụ sở xã Châu Lăng, đốt cháy cầu Ô Bà Lây.

Đồng bào các xã xung quanh núi Dài, núi Cấm nổi dậy làm chủ với nhiều mức độ khác nhau. Đồng bào các xã Thới Sơn, Nhơn Hưng, Xuân Tô ở cửa ngõ Bảy Núi cũng đồng loạt nổi dậy, xã Thới Sơn được giải phóng. Như vậy các xã trong huyện Tịnh Biên đều nổi dậy giành quyền làm chủ ở nhiều xã, ấp với mức độ khác nhau.

Ở các huyện Chợ Mới, Thốt Nốt, Châu Thành đồng bào nhiều xã nổi dậy phá tan bộ máy kìm kẹp, giành quyền làm chủ. Ở Chợ Mới, huyện có nhiều đồng bào tín đồ Hòa Hỏa, Công giáo, đêm 24 tháng 9 năm 1960, nhân dân nổi dậy đốt cháy đồn cầu Cái Đôi, Thông Lưu, Cái Gia, Trùm Quá, Hòa Bình, Trà Thôn, Long Điền. Lộ Chợ Mới, Sa Đéc bị phá và bị đắp chướng ngại vật ở nhiều nơi. Đồn Thuận Giang, Kiến An bị diệt. Ở Thốt Nốt, ta tấn công trụ sở dân vệ Thới Thuận lấy được ba khẩu súng. Vùng Núi Sập, Châu Thành đêm 25 tháng 9 năm 1960, đội vũ trang huyện, do đồng chí Sáu Hơn chỉ huy, đánh kỳ tập đồn Cần Đăng nằm ở lộ Tẻ đi Tri Tôn, diệt một số lính, thu được 4 khẩu tiểu liên, 20 khẩu súng trường. Lần đầu tiên lực lượng vũ trang của địa phương Châu Thành, Núi Sập đã thắng lớn, thu được nhiều súng. Cán bộ, chiến sĩ và nhân dân phấn khởi, nhiều thanh niên tình nguyện nhập ngũ, thành lập một trung đội tại cánh đồng tràm xã Mỹ Lâm. Phong trào quần chúng, đa số là tín đồ Hòa Hảo, nổi dậy ở huyện Châu Thành phát triển mạnh giành quyền làm chủ ban đêm, tranh chấp ban ngày. Nhân dân các xã Vòng Thê, Vĩnh Hanh, Cần Đăng nổi dậy và ở mỗi xã đã làm chủ được 1, 2 ấp.

Địch tổ chức phản kích nhiều trận ác liệt ở vùng Bảy Núi, kéo dài 5 - 6 ngày, hành quân cấp tiểu đoàn, trung đoàn có phi pháo yểm trợ. Lực lượng vũ trang ta đánh trả có kết quả, diệt nhiều địch, lấy được nhiều súng.

Ngày 6 tháng 10 năm 1960, 1 trung đội bảo an biệt kích bao vây cuộc họp của Huyện ủy Chợ Mới, bắt được đồng chí Nguyễn Văn Tây - chỉ huy lực lượng vũ trang huyện.

Ở An Giang, địch vẫn còn đôn quân bắt lính, duy trì quân số. Chúng tuyển thêm được 310 dân vệ, bổ sung đủ số 1.940 dân vệ trong tỉnh. Nhiều nơi chúng lùa dân đi mít tinh “tố cộng” để đối phó với phong trào nổi dậy của quần chúng. Đáp lại, ngày 5 tháng 10 năm 1960, ta tổ chức cuộc mít tinh chính trị trực diện lớn của đội quân tóc dài bao gồm người Việt, người Khơme ở các xã vùng Bảy Núi kéo vào quận lỵ Tri Tôn, tập trung gần 10.000 người, đòi đế quốc Mỹ rút khỏi miền Nam, hủy bỏ Luật 10/59, không được càn quét, bắn phá phum sóc, xóm làng trên núi để bà con đi lại làm ăn, tăng lương cho binh sĩ. Địch ra mặt khủng bố, bắt được một thanh niên người Khơme mổ bụng và bắt giam hàng chục người khác. Cuộc đấu tranh trở nên quyết liệt, đoàn biểu tình cương quyết không lùi bước, tiếp tục đấu tranh đòi phải bồi thường nhân mạng cho người bị giết, thả hết những người bị bắt, đả đảo bọn giết người. Cuối cùng, quận trưởng Tri Tôn phải chấp nhận yêu sách.

Vùng Bảy Núi thuộc hai huyện Tri Tôn, Tịnh Biên là nơi sinh sống của các dân tộc Kinh, Khơme, Chăm, ngụy quyền ở đây chỉ còn kiểm soát được những nơi gần đồn vào ban ngày. Ở các thị xã, thị trấn cũng không ổn định. Căn cứ của ta ở Tân Châu - An Phú được giữ vững. Nhiều căn cứ lõm hình thành khắp Chợ Mới, Châu Thành, Núi Sập, Châu Phú, Tân Châu. Lực lượng cách mạng phát triển nhảy vọt cả về quân sự, chính trị, binh vận, lực lượng vũ trang gồm ba thứ quân được củng cố và phát triển. Theo quyết định của Liên tỉnh ủy, tỉnh An Giang chỉ giữ một phiên hiệu tiểu đoàn, giải thể Tiểu đoàn 510 chuyển sang Bảy Núi nhập với Tiểu đoàn 512.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Mười Một, 2012, 02:29:55 PM
Cuối năm 1960, hai sự kiện lớn đã tác động tích cực đến tình hình:

Sự kiện thứ nhất là Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời. Khắp các huyện, các tỉnh thuộc Trung Nam Bộ đều tiến hành tổ chức đại hội thành lập Mặt trận. Đại hội đã tập hợp rộng rãi nhiều tầng lớp quần chúng ở nông thôn, thị xã, thị trấn, đại biểu các đoàn thể, tôn giáo, đảng phái, trí thức, tư sản…

Ở Mỹ Tho, Đại hội Mặt trận tỉnh tổ chức tại xã Bàn Long - Châu Thành, có 260 đại biểu và ra mắt trong cuộc mít tinh lớn của 25.000 quần chúng tại chợ Mỹ Long - Cai Lậy.

(https://lh3.googleusercontent.com/c2EOHYaHz00zY2DJb-2tPYnuqgBKxxQUj-xa5hyHuzcD2lemUFzLp6Erz6MuXqwLIV4tIspB_4KSrBI66Tpn6n_VMMAzvxY50aHdr0owQqHkj5zERnQwNhdB-LldfUD4R6NEjVJEY3YOzRMn5y8byPpSjUEhOuqVDq2yQCBAW1BfWu-ll99AIFZL9cHuuh76rNJxMrHjoVUTQClrlIVrRqFAvK4gYvr2wKWmJkDkSHcFijsYaULkdmPTRNeH2oqD_9REyrrPBPUqTYa1mSBVaE5jC5oBzZJxodwc54U3TBOntIwR-x9tyQyj1_EBho-WVDTayfyzxBE1-1cOtmPBaMareh3QOYx_vWzcPxN4Alw1BVyRXTn2j2h-cqMEZeVh3O9BFzsZt1Psea0Gnwf9eWQ288pNQ5HTKF2GXVPdzrKpJhfoEDkJ5nRp2yltlUcal4Sb7SE73cQL2nqPYPVc8wh2HsxFY_aZrMpJPocUDcEnZxjq7DXNc9kV0KuoVaTdSgkvgX9-RbW9fWicmY9t6o7CDycdh18NprNA7BSwi0_APei7T-1GIoquc3IwslyzmqXZKWssZch8FDHzkZZMnROqJlomnOMtPmmqy0E13FGKYOB9JiBF=w590-h719-no)

Mít tinh mừng Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ra đời

Tại Bến Tre, Ủy ban Mặt trận tỉnh ra mắt đồng bào tại ấp Mỹ Chánh - Ba Tri trong cuộc mít tinh 10.000 người.

Tại An Giang, Ủy ban Mặt trận Dân tộc giải phóng tỉnh ra mắt trong cuộc mít tinh 10.000 người. Đặc biệt trong thành phần Ủy ban Mặt trận có mặt bà Từ Tâm, mẹ của tướng Lê Quang Vinh (Ba Cụt) chỉ huy quân đội Dân xã Đảng đã bị chính quyền Diệm xử tử tại Cần Thơ.

Ở các tỉnh Long An, Kiến Phong, Kiến Tường, Ủy ban Mặt trận ra mắt trong những cuộc mít tinh lớn của đông đảo quần chúng trong những vùng giải phóng. Sau các tỉnh, Liên tỉnh tiến hành đại hội bầu Ủy ban Mặt trận dân tộc giải phóng Khu Trung Nam Bộ gồm đủ các thành phần đại biểu, do đồng chí Nguyễn Văn Chim - Phó bí thư Liên tỉnh ủy làm Chủ tịch và giới thiệu các nhân sĩ yêu nước gồm có Hòa thượng Thích Minh Nguyệt, Thích Thiện Hào (Phật giáo), Nguyễn Ngọc Ngợi (Cao Đài), Hồ Huệ Bá (Công giáo), Huỳnh Thiện Từ (Hòa Hảo) và một số đại biểu trí thức, công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ vào Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.

Sự kiện quan trọng thứ hai là ngày 6 tháng 2 năm 1961, tại cuộc mít tinh của hàng vạn quần chúng tại xã Hưng Thạnh, Châu Thành, Mỹ Tho, Tiểu đoàn chủ lực 261 được thành lập. Tiểu đoàn gồm hai đại đội bộ binh, một trung đội trợ chiến rút từ lực lượng vũ trang các tỉnh Bến Tre, Kiến Tường, Kiến Phong, Long An. Đồng chí Lê Văn Khuyện làm Tiểu đoàn trưởng, đồng chí Lê Minh Đào làm Tiểu đoàn phó, đồng chí Lê Pha làm Chính trị viên.

Đầu những tháng đầu năm 1961, Đồng khởi ở các tỉnh Trung Nam Bộ căn bản giành được thắng lợi rất to lớn, các nơi đều đang ở thế tấn công và nổi dậy liên tục. Các tỉnh Đồng Tháp Mười có thế, có lực lượng vũ trang sung sức đã tiến hành những đợt tấn công nổi dậy bằng hai chân, ba mũi đầu tiên, mở đầu là chiến thắng Giồng Thị Đam - Gò Quản Cung vang dội, diệt ác ôn, phá thế kìm kẹp, phát động quần chúng nổi dậy làm chủ nông thôn.

Bến Tre là tỉnh chưa có lực lượng vũ trang các cấp, Đảng bộ bị đánh phá nặng, quần chúng bị kèm kẹp chặt. Quần chúng đã tay không nổi dậy diệt ác, phá kìm, bao vây đồn bốt, làm chủ nông thôn, từ tản cư ngược biến thành ngọn đòn tấn công chính trị trực diện của đội quân tóc dài đã góp phần hoàn chỉnh phương châm chỉ đạo cho quần chúng cách mạng nổi dậy trong cuộc đấu tranh chống Mỹ - Diệm là: Thế công khai hợp pháp, hai chân ba mũi giáp công; đồng thời rút ra bài học sâu sắc là: trong việc lãnh đạo nổi dậy giành và giữ quyền làm chủ của quần chúng, Đảng giữ vai trò lãnh đạo, tạo điều kiện, hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy, chứ tuyệt đối không làm thay quần chúng.

Vận dụng sáng tạo bài học và phương châm này, đồng thời kiên quyết khắc phục những tư tưởng hữu khuynh, tỉnh Mỹ Tho đã tiến hành được cuộc nổi dậy ở địa phương mình, giành thắng lợi lớn.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Mười Một, 2012, 02:30:20 PM
Tất các các tỉnh Trung Nam Bộ qua hơn một năm Đồng khởi đã chuyển sang thế chiến lược tiến công hai chân (chính trị và vũ trang), ba mũi (quân sự, chính trị, binh vận) đẩy Mỹ - Diệm vào thế bị động, lúng túng. Quần chúng nông dân đã làm chủ nông thôn, ra sức xây dựng, phát triển lực lượng chính trị, vũ trang, binh vận hoàn chỉnh một bước mới. Phong trào lan rộng tới cả các thị xã, thị trấn.

Từ kinh nghiệm thực tế của cao trào Đồng khởi của Trung Nam Bộ và của các nơi khác, Xứ ủy đã chủ trương mở đợt Đồng khởi toàn Nam Bộ.

Tổ chức Đảng và đoàn thể cách mạng của Khu Trung Nam Bộ đã được khôi phục phát triển một bước nhảy vọt: Đảng và cơ sở quần chúng được khôi phục phát triển gấp nhiều lần. Cuối năm 1959, toàn Khu Trung Nam Bộ còn 1.800 đảng viên, 60 chi bộ. Đến hết tháng 3 năm 1961, đã có hơn 6.000 đảng viên và 400 chi bộ.

Ở Bến Tre, trước Đồng khởi còn 161 đảng viên, 15 chi bộ; sau Đồng khởi có 1.500 đảng viên, 115 chi bộ.

Ở Mỹ Tho, trước Đồng khởi còn 100 cán bộ, đảng viên, 9 chi bộ; Sau Đồng khởi có 1.500 đảng viên, 119 chi bộ.

Ở Kiến Tường, trước Đồng khởi còn 358 đảng viên, một xã không có chi bộ; sau Đồng khởi có 1.066 đảng viên, tất cả các xã đều có chi bộ.

Ở các tỉnh Long An, Kiến Phong, An Giang việc phát triển cơ sở Đảng cũng tiến lên một bước khả quan.

Các tỉnh ủy, huyện ủy đều được bổ sung đủ, ổn định, đủ sức lãnh đạo phong trào.

Về các tổ chức quần chúng: các đoàn thể công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ được tổ chức thành hệ thống từ tiểu tổ, ban cán sự ấp, ban chấp hành xã. Trước Đồng khởi, mỗi tỉnh chỉ cón vài ba trăm quần chúng nòng cốt, tích cực. Sau Đồng khởi, mỗi tỉnh, tùy dân đông hay ít, đã có từ 20.000 đến 100.000 hội viên, đủ sức làm nòng cốt cho phong trào.

Mặt trận dân tộc giải phóng đã được thành lập đều khắp ở các tỉnh, huyện. Lực lượng vũ trang đã phát triển và hình thành ba thứ quân: chủ lực, địa phương tỉnh, huyện và du kích xã. Đã có 1 tiểu đoàn chủ lực của Khu, tỉnh có từ 1 đến 2 đại đội tập trung, huyện có trung đội, xã ấp có tiểu đội du kích thoát ly và trung đội dân quân tự vệ.

Nét đặc biệt là các tỉnh Trung Nam Bộ đã hình thành được lực lượng đấu tranh chính trị, đó là đội quân tóc dài, gồm phần lớn phụ nữ trong từng xã, mỗi xã có từ 100 đến 200 người, trong đó các gia đình binh sĩ, hoạt động nhạy bén, chặt chẽ như một quân đội thực sự: có tổ chức, kỷ luật, có chỉ huy, có chiến thuật phòng ngự, tấn công, tiếp vận, rút lui linh hoạt, kịp thời, luôn luôn mưu trí, sáng tạo, điêu luyện trong tấn công địch cũng như trong phòng ngự bảo vệ. Khu, tỉnh đều có trường, lớp tập huấn về đấu tranh chính trị, có nhiều cuộc hội nghị tổng kết rút kinh nghiệm, có sinh hoạt, kiểm điểm, phê bình và tự phê bình rút kinh nghiệm sau mỗi cuộc tấn công chính trị trực diện.

Nhìn chung, sau một năm Đồng khởi, thế và lực của các tỉnh Trung Nam Bộ đã chuyển một bước nhảy vọt lên tương đương thế và lực của những ngày tháng 7 năm 1954 trước khi ký kết Hiệp định Giơnevơ.

Từ tháng 7 năm 1954 đến tháng 4 năm 1961, cuộc đấu tranh của Đảng bộ và quân dân Trung Nam Bộ với Mỹ - Diệm đã diễn ra gay gắt và vô cùng quyết liệt, đã giành được thắng lợi bước đầu. Bởi vì kẻ thù đã xây dựng một chính quyền “quốc gia” giả hiệu, gồm những tên tay sai, ác ôn, phản động; một hệ thống chính quyền độc tài, phát xít từ trung ương đến tỉnh, huyện, xã, ấp, liên gia với những âm mưu thâm độc, thủ đoạn xảo quyệt, hành động tàn bạo, hòng tiêu diệt Đảng bộ và khuất phục nhân dân để thiết lập chế độ thực dân kiểu mới. Đảng bộ và quân dân Trung Nam Bộ đã phải vượt qua nhiều khó khăn, hy sinh, gian khổ, chịu đựng những tổn thất nặng nề. Với lý tưởng cao cả, trong sáng, tất cả vì độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân lao động, Đảng bộ gồm những người cộng sản chân chính, kiên cường bất khuất, luôn luôn trung với nước, hiếu với dân, quên mình vì lợi ích nhân dân, không bị mê hoặc, lạc hướng, mất cảnh giác, dám chấp nhận hy sinh, dũng cảm đương đầu với kẻ thù vô cùng thâm độc và tàn ác, biết dựa vào khối quần chúng trung kiên - động lực thực sự của cách mạng, dám tin và biết tạo thế cho quần chúng đứng lên tiến hành cuộc Đồng khởi lịch sử, tạo một bước nhảy vọt, chuyển lên thế chủ động tiến công, giành một bước thắng lợi căn bản trên con đường đấu tranh, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Mười Hai, 2012, 10:14:00 AM
CHƯƠNG III

PHÁT TRIỂN THẾ TIẾN CÔNG, ĐÁNH THẮNG CHIẾN LƯỢC
“CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT” CỦA ĐẾ QUỐC MỸ
(1961 - 1964)

I - PHÁT TRIỂN THẾ TIẾN CÔNG

Trải qua đoạn đường gian nan trong suốt 7 năm, từ năm 1954 đến năm 1961, Khu VIII giờ đây đã xây dựng được một lực lượng cách mạng rất đáng tự hào với sự đóng góp bao máu xương và trí tuệ của đảng viên, cán bộ và quần chúng cách mạng. lúc này đã có thể từ bờ biển Tân Thành của Gò Công đi xuyên qua Hòa Đồng, Chợ Gạo của Mỹ Tho lên vùng phía bắc kênh Nguyễn Văn Tiếp qua kênh Dương Văn Dương của Kiến Tường lên Sa Rài đến các căn cứ của Khu đã được xây dựng khá ổn định ở khu vực phía bắc Kiến Phong. Đâu đâu cũng thấy những xã, ấp do dân làm chủ với lực lượng của bản thân mình tuy vẫn còn ở mức đơn giản nhưng tràn đầy phấn khởi và triển vọng tốt đẹp. Sau lần huy động lực lượng quân sự lớn nhất kể từ khi có Hiệp định Giơnevơ: 11 tiểu đoàn quân chủ lực đánh vào ba xã trọng điểm nổi dậy của Bến Tre ở Mỏ Cày mà không phá được cao trào tấn công nổi dậy đồng loạt khắp trên chiến trường Khu VIII, Mỹ - Diệm đã cảm thấy lúng túng trước sức tấn công mạnh mẽ của quần chúng cách mạng đang ngày càng rộng khắp.

Đợt tấn công nổi dậy của quần chúng ở Khu VIII là một cao trào tấn công nổi dậy khởi nghĩa ở cơ sở xã, ấp để giải phóng quần chúng khỏi ách kìm kẹp của địch, xây dựng quyền làm chủ của nhân dân.

Những tháng đầu năm 1961, trong khi phong trào Đồng khởi ở các tỉnh Trung Nam Bộ đang diễn ra sôi nổi thì Thường trực Khu ủy nhận được Nghị quyết của Bộ Chính trị, ngày 31 tháng 1 năm 1961, nhận định: Thời kỳ tạm ổn định của chế độ Mỹ - Diệm đã qua và thời kỳ khủng hoảng liên tiếp, suy sụp nghiêm trọng đã bắt đầu. Đấu tranh vũ trang phát triển với quy mô ngày càng lớn và phối hợp với đấu tranh chính trị. Phương hướng chiến lược của cách mạng miền Nam là phát triển theo con đường tiến lên tổng khởi nghĩa với những đặc điểm mới. Trong quá trình ấy, ngụy quân và ngụy quyền sẽ tiếp tục tan rã; lực lượng cách mạng sẽ được xây dựng và phát triển mau chóng, các hình thức chính quyền cách mạng sẽ xuất hiện từ một số địa phương đến toàn Miền. Một cuộc khủng hoảng sâu sắc và toàn diện của chính quyền tay sai Mỹ sẽ xuất hiện, cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa của nhân dân sẽ bùng nổ để lật đổ  chính quyền  đó. Phương châm đấu tranh là đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh chính trị, đồng thời đẩy mạnh đấu tranh vũ trang song song với đấu tranh chính trị, tiến công địch bằng cả hai mặt chính trị và quân sự, đấu tranh trên cả ba vùng chiến lược rừng núi, đồng bằng và đô thị.

Trong các công tác quan trọng mà Bộ Chính trị nêu ra có việc thống nhất cơ quan chỉ đạo của cách mạng miền Nam và tăng cường các cơ quan Khu ủy để đủ sức chỉ đạo công tác cách mạng ở từng khu, từng chiến trường.

Nghị quyết của Bộ Chính trị đã đặt vấn đề chính thức đưa đấu tranh vũ trang lên song song với đấu tranh chính trị. Điều đó cũng có nghĩa là những hoạt động của Khu Trung Nam Bộ từ sau Đồng khởi được Khu ủy tổng kết và phương châm chủ động tạo thế công khai hợp pháp của quần chúng tấn công và nổi dậy bằng hai chân, ba mũi, phối hợp về mặt chiến lược, chiến dịch và chiến đấu để tiêu diệt và làm tan rã địch ở cơ sở, giành quyền làm chủ cho quần chúng ở nông thôn đã được Nghị quyết Trung ương Đảng chính thức thừa nhận.

Nghị quyết của Bộ Chính trị, ngày 31 tháng 1 năm 1961, đã xác định cuộc chiến tranh cách mạng ở Khu VIII là mô hình của một cuộc khởi nghĩa cục bộ, du kích từng phần.

Hội nghị Khu ủy mở rộng họp vào tháng 4 năm 1961, tại căn cứ Tam Thường. Hội nghị tổng kết một năm Đồng khởi toàn Trung Nam Bộ, đồng thời triển khai Nghị quyết của Bộ Chính trị và chỉ đạo của Trung ương Cục miền Nam.

Đại biểu các tỉnh lên đường đi dự Hội nghị từ cuối tháng 3 năm 1961. Đồng chí Nguyễn Thị Định - Bí thư Tỉnh ủy, cùng đồng chí Sáu Quân, đại biểu Bến Tre vượt sông Cửu Long sang đất Mỹ Tho trên một chiếc đò máy. Khắp vùng giải phóng Mỹ Tho treo cờ, băng rôn, khẩu hiệu, dựng cổng chào. Đoàn Bến Tre được đưa đến gặp đồng chí Việt Thắng - Bí thư Tỉnh ủy Mỹ Tho, tại căn cứ Hưng Thạnh trong kênh Nguyễn Văn Tiếp. Tại đây Tỉnh ủy Mỹ Tho tổ chức cuộc gặp mặt thân mật đoàn đại biểu Bến Tre.

Hai giờ sáng ngày hôm sau, đoàn Bến Tre và đoàn Mỹ Tho lên đường, theo kênh Nguyễn Văn Tiếp lên đến kênh Nhứt thì gặp đoàn Kiến Phong. Từ đó ba đoàn cùng đi về căn cứ Khu.

Cùng thời gian đó, đoàn đại biểu các tỉnh Long An, Kiến Tường, An Giang cũng đang trên đường đi dự Hội nghị.

Địa điểm tổ chức Hội nghị được chuẩn bị chu đáo: có hội trường rộng, có nhà ở riêng cho từng đoàn cán bộ. Hội trường trang hoàng rực rỡ. Đại biểu ngồi xếp bằng tròn trên sàn ván, tập giấy để trên đùi, vừa ghi chép, vừa thảo luận.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Mười Hai, 2012, 10:14:19 AM
Hội nghị có các đồng chí cấp khu, đại biểu các tỉnh ủy, các cán bộ chủ chốt các ngành. Đặc biệt lần này, có các đồng chí cán bộ đi tập kết vượt Trường Sơn trở về cùng chiến đấu với quê hương. Xa cách sáu năm, giờ gặp lại thật bàng hoàng, xúc động. Cuộc tấn công nổi dậy giải phóng của nhân dân miền Nam đã có được nguồn cán bộ chi viện của miền Bắc, nhân dân và Đảng bộ Khu Trung Nam Bộ càng thêm tin tưởng.

Hội nghị thảo luận sôi nổi về bản dự thảo đánh giá tình hình, ôn lại những ngày qua, bắt đầu từ tiếng súng tấn công nổi dậy vang lên ở Giồng Thị Đam - Gò Quản Cung sau khi Khu ủy nhận được Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng.

Hội nghị ra nghị quyết tiếp tục phát triển thế tiến công và nổi dậy với hai chân chính trị, vũ trang song song, với phương châm tích cực chủ động, linh hoạt, sáng tạo, tiến công bằng cả ba mũi quân sự, chính trị và binh vận trong chống càn quét và vây ép, tấn công kết hợp với tiêu diệt và làm tan rã đồn bốt để giành và mở rộng thế làm chủ của quần chúng ở tất cả các xã, ấp vùng nông thôn trên toàn Khu Trung Nam Bộ, không cho địch hồi phục thế kìm kẹp và bình định. Những công việc cụ thể phải làm để bảo đảm vững chắc thế tiến công là:

1. Củng cố, xây dựng mở rộng vùng nông thôn giải phóng, xây dựng chính quyền tự quản của quần chúng.

2. Xây dựng, phát triển tổ chức Đảng, xây dựng các cấp bộ Đảng vững mạnh. Củng cố, bổ sung các cấp ủy khu, tỉnh, huyện, thị và xã, ấp đủ số lượng. Giáo dục, rèn luyện đảng viên, cán bộ và cơ sở cách mạng giữ vững phẩm chất đạo đức, lập trường, khí tiết, nhân sinh quan cách mạng. Cấp ủy, đảng viên, cán bộ luôn luôn bám chặt trong quần chúng, làm nòng cốt cho quần chúng trong tấn công ba mũi.

3. Xây dựng ác lực lượng vũ trang với ba thứ quân bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích và các lực lượng chính trị, bao vây theo phương châm tích cực chủ động, liên tục tiến công.

4. Tích cực xây dựng căn cứ làm địa bàn đứng chân để bảo đảm lãnh đạo chỉ huy.

5. Xây dựng và mở rộng hệ thống các trường Đảng, quân đội, đoàn thể, chính quyền, đào tạo cán bộ.

6. Hoàn chỉnh hệ thống công binh xưởng đến tỉnh, huyện, xã; thành lập hệ thống bệnh viện, bệnh xá các cấp.

Đối với ý kiến chỉ đạo của cấp trên về việc xây dựng lực lượng vũ trang tập trung lớn, xây dựng căn cứ địa vững chắc, trên cơ sở tình hình thực tế của Khu Trung Nam Bộ, Hội nghị đã cân nhắc và nhận định: Về xây dựng lực lượng chủ lực tập trung lớn thì nhân lực ở Khu không thiếu, nhưng hỏa lực trợ chiến ít, hầu hết chỉ có súng cá nhân của bộ binh, nên cách tốt nhất trong tình hình hiện tại là ưu tiên trang bị hợp lý, cân đối để đánh nhỏ, đánh vừa và hỗ trợ quần chúng đấu tranh giữ đất, giữ quyền làm chủ; đồng thời xây dựng lực lượng vũ trang tập trung vừa sức đủ làm nòng cốt cho các cuộc tấn công nổi dậy ở từng cấp, bảo đảm triển khai cuộc đấu tranh với địch bằng sức mạnh tổng hợp và trên cơ sở đó tự lực nâng dần cuộc đấu tranh phát triển lên mức cao hơn. Chuẩn bị mọi mặt sẵn sàng chờ đón thời cơ chung, đáp ứng những yêu cầu của Trung ương.

Về việc xây dựng căn cứ địa thì vì địa hình của Trung Nam Bộ là đồng bằng trống trải; địch có ưu thế về binh hỏa lực và phương tiện cơ động hiện đại nên có thể chiếm đóng, đánh phá khắp nơi, do vậy ta chỉ có thể xây dựng địa bàn căn cứ đứng chân bằng thế làm chủ của quần chúng cách mạng với hệ thống xã, ấp chiến đấu bằng ba mũi.

(https://lh3.googleusercontent.com/p1RtHeeYtqTd9MgjdZrV4wTXtuTFs5O_5veIRYoN-uQ5TtApahUqVCD8TZ3OBXdolLYV8EjlucrbFUg3x2TN45cp67wi8IKnE7Ypr7_3H-kfqlf3HeTyju_nqYYf2NS9L1Qruvde2vtMScNNvz8Q9O9ZNL6PxqgNscJV3sNn5W5-eFWvOX8lYx3wSuaeD_HWtaisYwO0vthsOkARNfUoi7m3TQwfUhIvOtPGZwVm-ZUR8wAp9F8fnL7qv3DeMmCeSqiaHmYBfp-qcrOLT_1HVz7LoHRNEebNSfOL902sn3_XXnupIRxGOhkAvhhe73J5tgbDcnFziDTIxRgxJGTav1e-2PNxw2sW8DU1_ncUjbgjTJV_HrWNLfGOLZzH12bdyn298LzPfY1bcERghb1pkpqWnzBwGVqWctGCoQNeTnXArHUs4GU_nFnGaxRMGPSWxD2pqO4CIg49RQIAtKBGw7WM1oZ_3vFNNakwg0uruacUogW6eQoVv3S_wAMx2v00KEw2vZ1TSvJT5YeLqIxpPjiD71BY_fSgSfxvor7URv1R56XXfrTI1FiJ5FvzYfqWo26-dYCuxtz-KcvVqB7yPQfr3h3Jd9tOIObNdk_re-ZqYD299M3Z=w800-h433-no)

Đồng bào Bến Tre xây dựng làng chiến đấu

Cũng trong Hội nghị, theo tinh thần Nghị quyết của Bộ Chính trị và sự chỉ đạo của Trung ương Cục miền Nam, Liên tỉnh ủy Trung Nam Bộ chuyển thành Khu ủy Trung Nam Bộ. Khu ủy gồm các đồng chí Nguyễn Minh Đường - Bí thư, Nguyễn Văn Chim - Phó bí thư, Phan Thành Long, Nguyễn Văn Phối, Phạm Ngọc Bính, Huỳnh Châu Sổ, Lê Việt Thắng, Nguyễn Thị Định - Ủy viên.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Mười Hai, 2012, 10:14:46 AM
Cho đến lúc này, thông tin về sự chuyển hướng chiến lược của Mỹ là chúng không bỏ cuộc mà quyết định tăng cường chiến tranh, can thiệp sâu hơn nữa vào miền Nam Việt Nam. Một thời gian sau Hội nghị, Bộ tư lệnh quân khu và hệ thống chỉ huy quân sự các cấp được hình thành. Bộ tư lệnh gồm đồng chí Lê Quốc Sản - Tư lệnh, đồng chí Nguyễn Minh Đường - Chính ủy, đồng chí Nguyễn Văn Phối - Phó Chính ủy,đồng chí Đỗ Giọng - Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng. Dưới đây là một số hoạt động điển hình của các tỉnh thuộc Khu VIII:

Tỉnh Mỹ Tho tập trung lực lượng ba mặt tấn công, nổi dậy một cách toàn diện ở nam, bắc lộ 4, bao vây, bức rút, bức hàng đồn bốt, phá khu trù mật, mở rộng quyền làm chủ. Đại đội 1 Tiểu đoàn 514 ra quân diệt 1 trung đội dân vệ tại xã Bình Đức, huyện Châu Thành. Sau đó, đại đội kết hợp với các đơn vị của tỉnh Long An cũng đang hoạt động ở các huyện phía nam lộ 4, tiến xuống huyện Hòa Đồng - là nơi địch còn kìm kẹp chặt, đánh thiệt hại nặng một đại đội bảo an ở Đồng Sơn. Theo thế hoạt động của đơn vị tỉnh, lực lượng ba mũi ở các xã Bình Luông Đông, Bình Tân, Bình Long, Yên Luông của huyện phát động quần chúng nổi dậy vào xã, cắm bảng tử địa, đào hầm hào, gài lựu đạn; sử dụng vũ kí thô sơ, bao vây chặt các đồn bốt.

(https://lh3.googleusercontent.com/WwuOS8zd1Y05zdGwBnN4BRrEuaYxHyJkM8coj9odZcC0kyAxBFRrSOhnSpYRMUGBbcUgDp8BMCKwPSqXKTqtNBE-E-qLgy5XPt2Vu7BI-EQRR7VHNGl0HPs81n4lE4i_WL72fv1Yr6g584PYrfShH6geg_joVvtGT9nDVScku3DEr2F7yQ4PXYJf8VvhNniWMXYCtjzOTM7EfJ4vpvesamIUbTi_63BOIVOP9jxFQYModSvFPMDRKR26KE_zUjvREjOteLAtAKs2h5TsaZVR5gAR4H5hMb0ljzBvB2HKhQs8PLAPoxihsveKPvekETADDtgFHL1DijdFAj0grZoiM8tUetcyiehSN5Wu0EgTwaXjb2IdAyesc4F_FteFCTlnkZdFiEZimiIL_e_-30wjhRTtPMc22GPSxV7s2xsa15joSRnIkciYilzeoLec2G6ZdKLWwRn9g4E5rxgOnokscaBuLdaXd3a8FtxfUkkREO5KiVCpSAOTWSZdAudrJyykR88A5ok0gu_fxe_AD3E8CERtLmQOnQJ8ZK5mW4De24RWyoXO1_qpjR3KBNywkYKaSNlrlb7UAuJ-APeSiqCgAWpkJfowSFd95nmqllqKqgFkjYiccH-8=w744-h456-no)

Lễ tiễn thanh niên tỉnh Mỹ Tho lên đường nhập ngũ (năm 1961)

Xã Thới Sơn, huyện Châu Thành là cù lao chơi vơi ở giữa sông Tiền, sát thị xã Mỹ Tho, du kích chỉ có 2 khẩu súng nhưng đã mưu trí dùng vũ khí thô sơ đánh với hàng trung đoàn địch đến càn quét. Trong trận này đã xuất hiện tay súng bắn tỉa Mười Nho, anh đã diệt 14 tên địch, bẻ gãy một mũi đổ quân của địch. Phong trào chiến đấu du kích ở Thới Sơn đã lan ra nhiều địa phương trong tỉnh. Xã Long Trung, huyện Cai Lậy trong sáu tháng xây dựng được 21.000 hầm, hố chông, 47 ổ chiến đấu; trong một tháng du kích xã đánh 29 trận, diệt 40 tên địch. Xã Tân Bình giáp lộ 12 làm được 10.444 hầm chông lấn sát lộ và sát hàng rào bốt. Xã Hậu Mỹ, huyện Cái Bè đắp bờ cản, gài lựu đạn, đánh địch càn quét trên lộ 20.

Mũi tấn công chính trị của đội quân tóc dài ra quân bằng cuộc đấu tranh lớn của 10.000 người thuộc 11 xã: Tân Phú, Tân Hội, Mỹ Hạnh Đông, Mỹ Hạnh Trung, Mỹ Phước Tây, Tân Bình, Nhị Mỹ, Thạnh Phú, Mỹ Thành, Bình Phú, Phú Nhuận; đấu tranh trực diện với bọn chỉ huy khu trù mật Mỹ Phước Tây đòi chúng không được gom dân, lập vành đai trắng.

Cuộc đấu tranh diễn ra gay gắt ở khu trù mật thuộc thị trấn Cai Lậy, buộc địch chấp nhận yêu sách và phải bồi thường tính mạng cho chị Thái Thị Kiểu, hy sinh trong cuộc đấu tranh.

(https://lh3.googleusercontent.com/hpbkHLyFup7ojpCdrxJXCT0ljyO76zo76j4P4VJN4ZiATkeN9EZg2nl4g4U-yO19A4Wlw0CCnUohry059SN1v3qvYUUvRag_k3daOLeSKxCxMKgNz6D94gH0u1iaKwws1F2s0w1qWxtSvJKAE8xNX0vOdY6lKfB_7dxy7zrtTq00UOcPH3sPfjk_Li-ps-NyPmc9LQ5Y_EaFQ852GkrtFlW-lXNTCgpumGObBpsECq4cfizrrkJOPS3liRhHUNsXKF9GMaBUVR2ywGJxk4vWInCeqdhT16VgzrSLFgxX2TarNHvBM7my7CynE-j-ETbrEPZzXUIL-KgGu1rvYKIT-F3SaHgLdKy8nC81YArUy_knI986YvLrJS-ccJMOYHj5-oIX2CEfFz7L6OCarXV1Bes5TtMqnY0ar1Plal_FTEIYDmC5nDWHjir3op11gm2yOqcAzPwt-bF_IiIbA2Ii6pXNo_kwZ9MRW2n1QKRaFWD_Abrdq9YWxeRmXu5uE4W1AonWOZsvQS-hTdFrpH7YZYlSjQSN3FUNbf9KlEsmrzZSoMEFHp6I0PKf6dTo5QrcSCCwPTWq6OhssKQwYzvIEga17XIzVnHYBlynX_WV0cmBvFo7BDpx=w611-h600-no)

Phụ nữ Cai Lậy mang xác chị Thái Thị Kiểu ra quận Cai Lậy
đấu tranh chống lập khu trù mật

Tỉnh Bến Tre lập kế hoạch tấn công vào thị xã. Đại đội của tỉnh và bộ đội địa phương huyện Mỏ Cày đánh bọn bình định chiêu an nhiều trận ở xã Tân Phong, ở ngã tư Cái Quao. Quân địa phương huyện Mỏ Cày diệt 2 trung đội của đại đội bảo an sông Mao, xã An Định.

Đại đội của tỉnh cơ động xuống huyện Thạnh Phú cùng quân địa phương huyện công đồn, đánh viện, diệt đại đội 854 bảo an tại Giá Thé.

Song song với tấn công quân sự, mũi tấn công chính trị của đội quân tóc dài ra quân bằng cuộc đấu tranh lớn của 20.000 người, trong đó có 300 thân nhân binh sĩ, kéo vào thị xã đấu tranh chống khủng bố, chống bắt lính. Cuộc đấu tranh diễn ra trong ba ngày. Địch dùng đủ cách đàn áp như ném lựu đạn cay, cắt tóc, bôi bẩn lên áo, bắt phơi nắng, đoàn đấu tranh vẫn không lùi bước. Cuối cùng, chúng phải chấp nhận yêu sách.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Mười Hai, 2012, 10:15:18 AM
Tỉnh Kiến Tường, lực lượng vũ trang của ta liên tục đánh vào các khu gom dân ở Tân Hòa, Tân Lập trên lộ 12. Địch phải đưa sư đoàn 7 đến đối phó. Bộ đội và du kích đánh diệt 1 đại đội, và đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn địch.

Cùng với hoạt động của lực lượng quân sự, quần chúng nổi dậy phá lộ 12, làm gián đoạn giao thông trong 15 ngày. Tại thị trấn Kiến Bình thuộc vùng 4, bộ đội tỉnh và du kích đánh diệt đại đội Hắc Hổ ác ôn khét tiếng - là đại đội địch tăng cường để đánh phá vùng giải phóng.

Quần chúng các nơi trong tỉnh nổi dậy phá các khu gom dân. Xã Tuyên Thạnh vùng 8 phá khu gom dân Bắc Chan I, giải thoát cho gần 100 thanh niên bị bắt đi lính.

Sau đó, 50 người của đội quân tóc dài, kéo lên quận đấu tranh đòi bỏ khu gom dân và thả những người bị bắt; 2.000 người kéo vào thị xã Mộc Hóa đấu tranh đòi không được bỏ bom, bắn pháo bừa bãi, 9.000 người các vùng 4, 6, 8 đấu tranh trực diện với chi khu Gãy Cờ Đen và với tỉnh trưởng, 1.500 đồng bào ở ba xã Tân Ninh, Tân Hòa, Nhơn Ninh đấu tranh trực diện với chi khu Kiến Bình chống khủng bố, gom dân.

Mùa lụt lớn năm 1961, ở Kiến Tường nước ngập mênh mông. Lực lượng vũ trang và quần chúng khắc phục trở ngại, sáng tạo ra cách đánh đồn bốt. Bộ đội, du kích dùng xuồng ba lá, xếp bao bố nhồi trấu cho nước thấm ướt, dùng chuối cây làm công sự, cơ động hành quân, tiếp tục tấn công địch.

Du kích vùng 8 uy hiếp, tiêu hao địch ở các đồn bốt bằng xông ớt cay, ống lói, súng ngựa trời, đầu bom cháy… Mượn được mấy khẩu súng của bộ đội vùng 4, các đồng chí dùng xuồng máy chia thành nhiều mũi đánh tiêu diệt đồn Vàm Dưng do 1 đại đội của địch đóng giữ. Sau trận này, các đồng chí còn bao vây, bức hàng, bức rút 18 đồn bốt ở Vàm Dưng, Châu Bình, Hòa Bình, Cả Rưng, Cả Cối, Rượng Lưới, kênh Phụ nữ, Cà Na, Rạch Bảy, kênh Bảy Thước…

Vùng 4 gỡ các đồn bốt trên các kênh: Bùi, Bằng Lăng, Phụng Thớt, Tè, Bích, Giữa, Cò, cống Biện Minh.

Vùng 6 gỡ đồn Tân Thiết, các bốt Rau Má, Bún, Bến Bùi, Ba Đồng.

Vùng 2 gỡ được các đòn Cả Quản Cụt, Cả Quản Dài, Vàm Bắc Chan, lộ Ốp.

Trong đợt hoạt động này, Kiến Tường đã gỡ 51 đồn, bốt, trong đó lực lượng vũ trang tập trung gỡ 3 đồn, còn lại là do lực lượng ba mũi ở cơ sở gỡ, hầu hết vùng 8 được giải phóng; vùng 4 giải phóng được 2 xã và một số ấp.

Cùng với bộ đội, du kích đánh địch, bức rút đồn bốt, nhân dân nổi dậy diệt tề, trừ ác ôn, phá kìm kẹp, bỏ khu gom dân trở về nơi ở cũ.

Trận đánh nổi bật nhất là trận bộ đội tỉnh kết hợp với nội tuyến đánh tiêu diệt đồn của trung đội bảo an Thái Kỳ, xã Thái Trị. Đồn này trấn giữ dinh điền của đồng bào di dân miền Trung, địa thế rất hiểm trở. Trận đánh có ảnh hưởng lớn đối với đồng bào di dân.

Địch phản ứng, cho tàu và bo bo đến thị trấn Long Khốt chuẩn bị đánh vào vùng 8. Đặc công tỉnh đột nhập, đánh vỡ chiếc tàu mặt dựng và đánh hỏng nhiều bo bo. Cuộc càn bị gãy. Tên quận trưởng Tuyên Bình hoảng sợ bỏ quân chạy về tỉnh.

Phong trào chiến tranh nhân dân nổi dậy phát triển mạnh và đã xuất hiện những điển hình du kích mưu trí, sáng tạo.

Đồng chí Hai Long - Bí thư Nhơn Ninh, tổ chức du kích và nhân dân bao vây đồn cấp đại đội ở Phụng Thớt. Các đồng chí cùng máy bơm cùng hàng trăm dân dùng thùng tát cạn kênh, đắp đập ngăn các ngách dẫn nước vào đồn, đổ thuốc trừ sâu rầy xuống ao, đìa, làm chúng không có nước uống; gài lựu đạn, chông, mìn sát đồn; xông ớt vào đồn. Địch chịu không nổi phải bỏ chạy.

Đồng chí Huỳnh Việt Thanh, chỉ huy du kích Hậu Thạnh dũng cảm ôm mìn vượt qua lính gác, đánh đồn Hậu Thạnh giữa ban ngày.

Tỉnh Long An trong nửa cuối năm 1961, sức tiến công của lực lượng vũ trang và phong trào nổi dậy của quần chúng rất sôi nổi. Các cuộc đấu tranh chính trị trực diện của đội quân tóc dài liên tiếp diễn ra trong thị xã và các thị trấn, nhất là ở các huyện ven lộ 4. Đồn bốt bị tấn công với đủ các hình thức: bao vây, bắn tỉa, bức hàng, bức rút, ba mũi kết hợp với nội tuyến tiêu diệt.

Lực lượng vũ trang với các thứ quân của Long An đã gỡ 43 đồn bốt, giải phóng thêm nhiều xã, ấp. Những trận điển hình như trận diệt đồn Mỹ Hạnh - Đức Hòa, đồn Tân Bửu, Bình Đức - Bến Lức, đồn Bình Thạnh - Tân Trụ, đồn Long Cang - Cần Đước, đồn Long Phụng - Cần Giuộc.

Trong năm 1961, tỉnh Long An thu được 300 khẩu súng. Lực lượng vũ trang của huyện trưởng thành. Đại đội Võ Văn Tần, bộ đội địa phương Đức Hòa, có sức chiến đấu cao.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Mười Hai, 2012, 10:15:40 AM
Tỉnh Kiến Phong, sau cuộc tiến công chính trị trực diện lớn vào thị xã ngày 5 tháng 3 năm 1961, lực lượng tấn công chính trị bị tổn thất đã dần dần được củng cố lại. Các cuộc biểu tình, đấu tranh trực diện đưa kiến nghị, yêu sách, tranh thủ binh lính, cô lập ác ôn, tung tin hù dọa lại được tiếp tục, làm cho địch hoang mang, lo sợ. Hoạt động của ba thứ quân kết hợp với ba mũi ở cơ sở rất sôi động trong 6 tháng đầu năm 1961. Ở huyện Cao Lãnh, ta diệt gọn trung đội bảo an ở Mỹ Quý, diệt đội tuần tiễu cơ giới trên lộ 20, đánh thiệt hại nặng đại đội bảo an đi càn ở Mỹ Trà, chống càn ở ba xã Phong Mỹ, Mỹ Ngãi và Thiện Mỹ diệt 1 tiểu đoàn của Sư đoàn 21 và đánh tiêu hao nặng 1 đại đội dù.

(https://lh3.googleusercontent.com/Gdf54kZcaMQXAP_0Jq73LfX40Y529pYl7mX0IOZ1xdh_tRPMX7fSxpoiRfBusMAMPBBaIbcHOv97UsqcsmusKVjsceKVcgnDu3ow2zC05bfPpTkFN7c__om4CyBTkoShZ_W8dY2ZjPYuIue2eoxh_Yk4sgfpAzvew2Jvo1qtuddUVw8nX8p1wATnPQ3Yhynds9wNn96cn1frR7HMtr39py3UKOdFMg2pvjlnbLdezwf9vrIVWwrNxIBd8PhKhdy4yrDeYRdb0Jw-_-h5hKifFYsmzY2UheyfxfhDTrk4ws4spwFzxOA6jGX0a9C-0YQZ0nhRpWEznTz4J7CHnKrWCOUBaOGV851rYR3R3uMOCm1RxzLYzh3qak5o6dlinDf6QV3QpQLHBiOOAvfbJwC0w4hKPlcPSF5OzC3f6ZrqkmhkaBCAKMaG79s6ZrbpISy5IwSHD5HBFNnctVTCI4krhT0ZKJy4JkjcucEa58aY4LQ6WKwAUBh81sutaN5V2cf4duBJkDZX56PGaS3DRRWPTFgMO6H6KyQ_kFK4ZHXRlk9Qm59jhPZrF867lOYYAlzv9fqTyQV-W5XObxcMth_4h9zyED39t1S-JTzOdDfxY6udsC3lA0kV=w800-h521-no)

Sản xuất vũ khí trên đồng nước Tháp Mười - Đồng Tháp

Ở huyện Hồng Ngự, ta kết hợp với nội tuyến diệt đồn Thường Lạc, phát động quần chúng ở dinh điền Sa Rài và các xã Thông Bình, Tân Thành, huyện Bình Thạnh nổi dậy.

Ở huyện Mỹ An, ta đánh diệt trung đội biệt kích áo đen của tên ác ôn Cao Tươi, đã tác động rất lớn đến tinh thần binh sĩ địch, làm cho nhân dân rất phấn khởi.

Tuy nhiên, hoạt động 6 tháng cuối năm có giảm sút sau trận đơn vị tỉnh chống càn ở Mỹ Quý - Cao Lãnh bị thiệt hại nặng, phải lui về củng cố.

Tỉnh An Giang, lực lượng vũ trang và nhân dân bao vây nhiều đồn bốt ở Thạnh Mỹ Tây, huyện Châu Phú; An Tức, Ô Lâm, huyện Tri Tôn; Thới Sơn, huyện Tịnh Biên, cảng dừa huyện Châu Thành; Định Mỹ, huyện Huệ Đức; Tân An, huyện Tân Châu; đốt cầu, đặt mìn ở sát thị xã Long Xuyên; phá đường giao thông, diệt tên chỉ huy đại đội bảo an ở Châu Phú ngay tại Núi Sam.

Các đội quân tóc dài tấn công chính trị trực diện, đã tổ chức ra nhiều cuộc biểu tình thị uy ở Vĩnh Hậu, Vĩnh Trường, Khánh An, huyện An Phú; Long Sơn, Phú Lâm, Tân Châu, Tân Mỹ, Bình Phước Xuân, huyện Chợ Mới; Vĩnh Chánh, Bình Đức, Bình Hòa; huyện Châu Thành, Long Xuyên.

Lực lượng tấn công chính trị kết hợp với gia đình binh sĩ bao vây, gọi hàng các đồn Cần Đăng, Cảng Dừa - Châu Thành, kênh Cựu Hội - Chợ Mới. Phòng thông tin ở xã Thoại Sơn bị đốt.

Lực lượng vũ trang tỉnh đánh tiêu diệt tổng đoàn dân vệ biệt kích huyện Huệ Đức.

Cho đến lúc này, ở An Giang mọi nỗ lực của địch nhằm giành lại quyền kiểm soát những vùng đã mất sau Đồng khởi đều thất bại. Trong toàn tỉnh An Giang nhân dân làm chủ tới 50/97 xã. Các căn cứ được củng cố vững chắc như vùng Bảy Núi thuộc hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên, vùng biên giới từ Phú Hữu đến Khánh Bình, An Phú, vùng Hội An - Chợ Mới, vùng Thạnh Phú Cờ Đỏ, vùng cánh đồng năm xã đồng tràm Huệ Đức, vùng Thạnh Mỹ Tây, Tánh Linh, Châu Phú.

Như vậy là từ sau ngày Đồng khởi, các tỉnh Khu VIII - Trung Nam Bộ đã chính thức bước vào cuộc đấu tranh bằng hai chân, ba mũi với Mỹ - ngụy.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Mười Hai, 2012, 10:16:32 AM
II - ĐỊCH TRIỂN KHAI CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT”

Từ tháng 4 năm 1961, trước tình hình ngày càng nguy ngập do cuộc Đồng khởi của nhân dân miền Nam làm cho ngụy quyền bị suy yếu, đế quốc Mỹ đã quyết định can thiệp sâu hơn vào miền Nam Việt Nam. Chúng triển khai chiến lược “chiến tranh đặc biệt” mà xương sống là kế hoạch Xtalây - Taylo “tăng cường càn quét, đánh phá, đi đôi với thi hành quốc sách “ấp chiến lược” thực hiện mục tiêu bình định miền Nam Việt Nam trong vòng 18 tháng”.

Để thực hiện chiến lược này, Mỹ tăng cường và mở rộng quyền điều hành tác chiến, chỉ huy, yểm trợ của phái đoàn cố vấn quân sự, từng bước đưa vào lực lượng yểm trợ, lực lượng đặc biệt, giúp Diệm tăng cường ngụy quân, củng cố ngụy quyền các cấp. Chúng mời nhiều chuyên gia chống chiến tranh du kích đến Sài Gòn; đồng thời cử nhiều sĩ quan ngụy sang các nước Đông Nam Á học tập kinh nghiệm đàn áp các cuộc nổi dậy.

Từ giữa năm 1961, chúng bắt đầu triển khai chương trình “ấp chiến lược”, tiến hành gom dân ở những vùng đã nổi dậy vào ấp chiến lược để tách dân ra khỏi ảnh hưởng của cách mạng.

Chúng bố trí lại chiến trường: bỏ quân khu, lập các vùng chiến thuật. Chúng chia toàn miền Nam thành ba vùng chiến thuật: 1, 2, 3. Đến năm 1963 chúng tách vùng chiến thuật 3 thành hai vùng chiến thuật: 3, 4. Dưới vùng chiến thuật là khu chiến thuật gồm nhiều tỉnh, do cấp sư đoàn phụ trách. Dưới khu chiến thuật là tiểu khu, tương đương với tỉnh. Dưới tiểu khu là chi khu, tương đương cấp quận. Chúng chia tỉnh và quận nhỏ hơn để dễ bình định và thống nhất quyền hành chính quân sự.

Theo sự phân chia chiến trường này thì lúc đầu các tỉnh Trung Nam Bộ đều thuộc vùng chiến thuật 3.

Về sau, khi địch thành lập vùng chiến thuật 4, thì tỉnh Long An thuộc khu chiến thuật 31 vùng chiến thuật 3, các tỉnh khác của Trung Nam Bộ thuộc vùng chiến thuật 4. Trong đó, ba tỉnh Mỹ Tho (Định Tường), Kiến Tường, Bến Tre (Kiến Hòa) thuộc khu chiến thuật Tiền Giang, hai tỉnh An Giang, Kiến Phong thuộc khu chiến thuật 41.

Về tổ chức lực lượng, địch tăng cường xây dựng quân địa phương: bảo an, dân vệ, tăng chủ lực lên 1/4, tăng cường lực lượng yểm trợ Mỹ lên gấp 5 lần, đưa vào những vũ khí, phương tiện chiến tranh mới như trực thăng, thiết xa, súng trường tự động, chất độc hóa học…

Trên cơ sở tăng cường lực lượng và cải tiến phương tiện trang bị, chúng sử dụng những biện pháp chiến thuật mới, tăng hỏa lực và sức cơ động để bất ngờ đánh chụp, hòng tiêu diệt các lực lượng vũ trang cách mạng.

Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn hy vọng rằng chúng có thể áp đảo được thế và lực của cách mạng, nhất là các đơn vị vũ trang cách mạng vừa mới thành lập. Hầu hết các tỉnh của Khu VIII đều nằm trong vùng trọng điểm bình định của địch.

Từ giữa năm 1961, Mỹ - Diệm mở cuộc hành quân “Lam Sơn”, đánh vào các tỉnh trọng điểm ở miền Đông, trong đó có Long An, Kiến Phong, Kiến Tường, Bắc Mỹ Tho.

Ở Mỹ Tho, ngụy quyền Sài Gòn ráo riết xúc tiến triển khai chiến lược “chiến tranh đặc biệt”. Chúng điều chỉnh tổ chức hành chính, đổi quận Châu Thành thành quận Long Định, dời quận lỵ về Long Định, tách một phần đất của quận Cái Bè thành lập quận Giáo Đức, quận lỵ là thị trấn An Hữu. Toàn tỉnh có 8 quận, 16 tổng, 124 xã.

Sư đoàn 7 bộ binh - sư đoàn thiện chiến và tin cẩn của Diệm, được điều từ giới tuyến quân sự ở vĩ tuyến 17 về phụ trách khu chiến thuật Tiền Giang. Vừa về đến Mỹ Tho, Sư đoàn 7 đã phối hợp với bảo an, dân vệ càn quét dài ngày vào vùng căn cứ của tỉnh ở các xã Hưng Thạnh, Mỹ Phước, Mỹ Phước Tây, Tân Hòa Đông thuộc hai huyện Châu Thành và Cai Lậy.

Tháng 10 năm 1961, ấp chiến lược thí điểm được xây dựng tại xã Tân Lý Tây, huyện Châu Thành. Chúng gom dân tại chỗ, đắp tường đất bao quanh, rào kẽm gai bên ngoài, rồi lại rào thêm một hàng cây cao quá đầu người, đan khít nhau, tổ chức canh gác, phòng thủ.

Mỹ - Diệm cho rằng, ấp chiến lược là một mũi tên mà bắn trúng được ba mục tiêu: về chính trị, dựa vào dân chủ pháp trị làm cho dân trong ấp tự cai quản, được pháp luật bảo đảm; về xã hội, dựa vào cộng đồng, đồng tiến thực hiện xã hội công bằng, cải thiện dân sinh; về quân sự, tách cộng sản ra khỏi nhân dân, xây dựng hạ tầng cơ sở của Việt Nam cộng hòa, làm cho cộng sản mất lợi thế về chiến tranh, và ấp chiến lược cũng chính là điểm tựa của lực lượng vũ trang Việt Nam cộng hòa.

Quốc sách “ấp chiến lược” mang tính toàn diện nhưng vẫn nặng về quân sự. Chúng chủ trương “kiên quyết vũ trang cho nhân dân để tự vệ” để làm lực lượng thường trực tại ấp thay cho lực lượng chiếm đóng. Chúng coi quân chủ lực là “mũi dùi”, còn biệt động quân, bảo an, dân vệ, thanh niên chiến đấu là “bộ phận lưới” để tiêu diệt lực lượng cách mạng, duy trì ấp chiến lược”.

Vấn đề cốt lõi nhất của ấp chiến lược là làm sao cho dân chúng trở thành thù địch với cách mạng. Nếu tạo được sự thù địch ấy thì chúng sẽ thực hiện được phương châm “lấy dân để chiếm đất chứ không phải chiếm đất để giữ dân”.

Nói là vậy, nhưng sự thực thì chúng đã biến ấp chiến lược thành ngục tù của nhân dân.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Mười Hai, 2012, 10:17:02 AM
Từ ấp chiến lược thí điểm, bước sang năm 1962, chúng tiến hành xây dựng các ấp chiến lược thuộc hệ Củ Chi - Châu Thành, rồi lan ra các xã ven thị xã, thị trấn, các trục giao thông.

Ở ngoại vi thị xã Mỹ Tho, chúng xây dựng căn cứ Châu Phước Liêm, tập trung ở đây 182 cố vấn Mỹ. Chúng tăng cường bắt lính ở các thị xã, thị trấn, tuyển mộ những tên lưu manh và sử dụng bọn đầu hàng, phản bội để làm nòng cốt. Lực lượng quân địa phương của chúng tăng nhanh 1 tiểu đoàn, 8 đại đội bảo an, 2 đại đội biệt lập, 3.006 tên dân vệ và 242 cảnh sát.

Cố vấn Mỹ được bố trí trực tiếp đến cấp quận và đi theo trong các cuộc hành quân. Chủ lực, bảo an liên tiếp mở những cuộc càn quét quy mô từ 1-2 đại đội đến 1-2 tiểu đoàn trong khu vực vài ba xã, khủng bố, gom dân vào ấp chiến lược. Chỉ trong ba tháng đầu năm, chúng đã đốt 108 nhà ở Hòa Đồng, 30 nhà ở Châu Thành, bắn chết 57 người, làm bị thương 13 người, đánh đập, tra tấn 533 người.

Song song với xây dựng ấp chiến lược chúng còn tung biệt kích luồn sâu, bất ngờ đánh vào vùng giải phóng, kết hợp với chiến tranh tâm lý kêu gọi đầu hàng, đầu thú, uy hiếp tinh thần kháng chiến của nhân dân.

Ngày 5 tháng 5 năm 1962, Sư đoàn 7 ngụy được trang bị xe M113. Từ tháng 7 năm 1962, chúng liên tục sử dụng trực thăng và thiết xa đánh vào các vùng căn cứ. Tình hình trở nên hết sức căng thẳng. Bốn giờ sáng, mọi người, kể cả cán bộ, nhân viên cơ quan, du kích, bộ đội, đều phải nổi lửa nấu cơm ăn, rồi quấn vội tư trang thành từng gói nhỏ để tránh địch. Bộ đội đọ súng với địch nhưng phải rút đi dưới hỏa lực ác liệt của trực thăng và khi dừng quân chưa kịp làm công sự thì chúng đã đổ bộ xuống trước mặt.

Những tháng cuối năm 1962, chúng liên tiếp gây cho ta nhiều thiệt hại: trực thăng và xe M113 đánh vào quân y và công trường tỉnh, phá hủy các phương tiện, 20 tân binh trên đường đi Miền, trú lại bị hy sinh; chúng đánh vào trạm giao liên ở Quơn Long - Chợ Gạo, 37 cán bộ tập kết trở về bị giết. Sư đoàn 7 của chúng đánh vào trường tân binh của tỉnh ở tân Hòa Đông, 150 tân binh bị bắt và hy sinh. Chúng đánh vào căn cứ của Tỉnh ủy ở Hưng Thạnh - Châu Thành, 52 cán bộ, chiến sĩ Đại đội 2 Tiểu đoàn 514 bảo vệ căn cứ hy sinh, trong đó có một đồng chí Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy. Trận chúng đánh vào xóm Chòi, xã Mỹ Thạnh Đông, Cai Lậy làm đồng chí Đỗ Giọng - Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng quân khu, hy sinh.

Triệt để khai thác ưu thế về phương tiện kỹ thuật mới trên chiến trường đồng bằng trống trải, chúng sử dụng rộng rãi chiến thuật “trực thăng vận” và “thiết xa vận”. Tỉnh Mỹ Tho phải phân tán bộ đội địa phương, cùng du kích dựa vào xã, ấp để chiến đấu với địch. Bộ đội tỉnh phải tìm cách tránh càn để bảo tồn lực lượng.

Đến cuối năm 1962, tình hình đã xuống đến mức ở một số xã du kích bị đánh bật khỏi địa phương; hơn 30 xã cơ sở phải ly hương. Số du kích trong toàn tỉnh hy sinh là 143, bị thương 33, bị bắt 240, mất 72 khẩu súng. Nhân dân bị tổn thất nặng: 237 người chết và bị thương, 2.328 bị bắt, 40 nhà bị đốt, tài sản thiệt hại hơn 6 triệu đồng. Quần chúng nhiều người chạy tản ra vùng địch kiểm soát. Bộ đội không có nơi đóng quân yên ổn, có đêm phải đi qua 2, 3 xã.

Địch đã khoanh được hàng vạn dân vào 184 ấp chiến lược.

Kiến Tường, bước vào năm 1962, địch tập trung 2 trung đoàn 10 và 11 của Sư đoàn 7 ngụy, cùng nhiều tàu, pháo, trực thăng, thiết xa, xuồng cao tốc quyết giành ưu thế trên địa bàn trống trải của Đồng Tháp Mười.

Ở kênh Giữa xã Hưng Điền vùng 8, nhiều trực thăng vũ trang của địch đánh vào trạm giao liên của Khu, 1 tiểu đội của ta hy sinh. Chúng đánh vào xã Nhơn Ninh vùng 4, du kích xã chống càn hy sinh toàn bộ. Điển hình là trận tại ấp Trại Lòn, xã Nhơn Ninh vùng 4. Sư đoàn 7 ngụy đổ quân bằng trực thăng, có phi pháo yểm trợ, từ tờ mờ sáng đã bao vây nhiều khu vực. Đại đội 3 và đại đội trợ chiến của Tiểu đoàn 261 chủ lực Khu của ta đang tập trung huấn luyện bị đánh bất ngờ, thiệt hại nặng.

Địch liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét, chiếm lại các vùng ta đã giải phóng, dọc theo hai bờ sông Vàm Cỏ Tây, lộ 12, kênh Dương Văn Dương, nới rộng phạm vi kiểm soát vùng ven thị xã, thị trấn. Chúng bắt đầu đào và mở rộng các kênh 28, Cả Bót, Kinh Thầu, Thái Kỳ, Cá Rô, Lập Ốp, Bò Cạp, Cà Nhíp, Năm Ngàn, Bảy Thước, Nhơn Xuyên, Bến Kè; đắp đường từ La Khoa đi Tuyên Nhơn, đặt tên là lộ Trần Lệ Xuân, nhằm bao vây, chia cắt phá thế liên hoàn căn cứ, đồng thời tạo điều kiện phát huy phương tiện, tăng thêm sức cơ động của chúng.

Ở vùng 6, bọn bảo an đánh phá, giết người vô tội vạ. Má Võ Thị Phương bắn gãy cả hai tay, người con trai của má bơi qua sông Vàm Cỏ Tây để trốn bị bắn chết. Ông Võ Văn Tùng bị giết khi đang câu tôm trên xuồng ở giữa sông. Ông Trương Văn Quán đi thăm đồng lúa bị giết chết, bị chặt cả hai tay. Anh Chiến tại Rạch Cá Bống bị mổ bụng, moi gan, v.v.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Mười Hai, 2012, 10:17:30 AM
Một bầu không khí ngột ngạt bao trùm trên từng mái nhà, từng làng xã, xóm ấp. Dân phải lìa bỏ quê hương xứ sở, bị đồn vào ấp chiến lược, bỏ lại nhà cửa, mất hết phương tiện sinh sống, làm ăn, lại luôn bị đánh đập, bị bắt lính, phải nộp thuế nặng, sưu cao.

“Ấp chiến lược” của chúng được rêu rao là một xã hội pháp trị, dân chủ, đảm bảo bằng pháp luật, đồng tiến công bằng, hạnh phúc nhưng thực sự là địa ngục trần gian.

Qua mùa khô năm 1962, chúng đã lập được 58 ấp chiến lược ở tất cả các vùng của Kiến Tường. Chúng đóng thêm nhiều đồn bốt, tăng cường lực lượng canh phòng, đưa hàng ngàn đồng bào Trung Bộ bị bắt đi xâu vào làm vành đai. Kiến Tường gặp khó khăn mới: phần lớn cơ sở và quần chúng cách mạng nằm trong tầm khống chế của chúng, cán bộ ở bên ngoài không liên hệ được với bên trong. Lực lượng vũ trang phải phân tán từng tiểu đội, trung đội, bám vùng yếu, tìm cách móc nối lại.

Ta chủ trương phá ấp chiến lược bằng sử dụng lực lượng bên ngoài, đột nhập cắt rào, phá bờ thành rồi rút ra. Nhưng sau đó, địch lại bắt dân trong ấp rào, đắp lại chắc chắn hơn. Chúng còn bắt dân ngủ chung quanh đồn bốt để làm lá chắn. Khi hành quân, chúng bắt dân đi trước. Kế hoạch giữ ấp của chúng ngày càng chặt chẽ về lực lượng kìm kẹp, mỗi ấp chúng có từ 2 đến 3 trung đội bảo an, dân vệ, thanh niên chiến đấu, có đồn bốt canh phòng cẩn mật. Các lực lượng chủ lực, bảo an, thường xuyên càn quét ngăn chặn vòng ngoài. Ở những vùng đã gom hết dân đi thì chúng ném bom, bắn pháo bừa bãi để dân không dám về.

Bến Tre, từ tháng 9 năm 1961, địch mở chiến dịch “bình định, chiêu an”, lấy huyện Mỏ Cày là trọng điểm, đồng thời đánh phá vùng giải phóng và các căn cứ bàn đạp.

Tháng 3 năm 1962, chúng bắt đầu triển khai lập ấp chiến lược, tổ chức lại chiến trường, cắt nhỏ địa bàn thành 8 chi khu, 6 yếu khu, 3 đặc khu Thiên Chúa và 3 biệt khu. Chúng tăng cường đôn quân, bắt lính, mở trường huấn luyện thanh niên chiến đấu ở sân bay Tân Thành. Số quân trong tỉnh tăng lên 1/3, đến 7.300 tên cuối năm 1962. Chúng còn điều về tỉnh 2 chi đội thiết xa, 1 hải đoàn xung phong số 21 cùng 47 tên cố vấn quân sự Mỹ. Chúng dùng hỏa lực, bảo an mở hàng loạt cuộc càn quét quy mô từ 1-2 đại đội đến 1-2 tiểu đoàn vào khu vực nhỏ vai ba xã; khủng bố, bắn giết, gom dân vào ấp chiến lược.

Ở huyện Thạnh Phú, chúng càn quét dọc sông Cổ Chiên, từ ấp Phú Điền, kênh Cầu Ván, Rạch Muối, Cái Cát đến vùng cù lao Đất, cưỡng bức hàng trăm gia đình bỏ ruộng vườn vào ấp chiến lược.

Ở huyện Bình Đại, chúng gom trên 350 gia đình ở vùng Tân Phú Trúng, kênh số 4, rạch Máy ven sông Ba Lai.

Ở huyện Ba Tri, chúng chia huyện thành 4 mảng, mỗi mảng 3-4 xã, khoanh dân tại chỗ, lập ấp. Một đoàn 80 tên cán bộ bình định về hoạt động ở xã An Bình Tây.

Tháng 7 năm 1962, địch đẩy nỗ lực lập ấp chiến lược ở Bến Tre lên một bước mới, chúng đưa Trung đoàn 10 Sư đoàn 7 bộ binh về Bến Tre. Đây là lần đầu tiên cấp trung đoàn chủ lực ngụy về Bến Tre. Có lực lượng chủ lực tại chỗ hỗ trợ, những tháng cuối năm 1962, chúng tăng cường càn quét, chà xát, củng cố hệ thống ấp chiến lược cũ, lập thêm ấp mới.

Bọn biệt kích còn luồn sâu, bất ngờ đánh vào vùng giải phóng các huyện Giồng Trôm, Mỏ Cày; kết hợp chiến tranh tâm lý kêu gọi đầu hàng, đầu thú, uy hiếp tinh thần của nhân dân.

Các lực lượng vũ trang tỉnh, huyện của ta phải phân tán hoạt động nhỏ, lẻ tránh những trận càn quét lớn có trực thăng, thiết xa yểm trợ của địch.

Đến cuối năm 1962, địch gom được hàng vạn dân ở Bến Tre vào 115 ấp chiến lược.

Kiến Phong, sang năm 1962, địch bắt đầu triển khai xây dựng ấp chiến lược. Tổng Phong Nẫm, quận Cao Lãnh tách ra thành quận Kiến Văn. Ở huyện Thanh Bình, địa hình mỏng và thưa thớt, cho nên khi địch tập trung lực lượng và phương tiện làm ấp chiến lược thì ta rất khó phá.

Đến cuối năm, trong toàn tỉnh địch đã lập được 100 ấp, trong đó có 79 ấp trên lưu vực bắc sông Tiền.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Mười Hai, 2012, 10:17:52 AM
An Giang, từ giữa năm 1961, địch xác định lấy xã, ấp làm trận tuyến đối đầu với cách mạng. Chúng ráo riết gia tăng lực lượng vũ trang ở cơ sở. Cụ thể là: dân vệ tăng thêm 400 tên, bảo an tăng thêm 198 tên, cảnh sát thăng thêm 125 tên, đồng thời đưa về thêm 6 đại đội biệt động và 1 tiểu đoàn của Sư đoàn 9 ngụy. Ở các quận lỵ Tri Tôn, Tịnh Biên, Huệ Đức, Tân Châu, Châu Phú, chúng đều đưa pháo 105 ly về. Bộ chỉ huy hành quân của tiểu khu An Giang dời lên thị xã Châu Đốc. Chúng liên tiếp mở các chiến dịch “bình định chiêu an”, “xây dựng hương thôn”, “xây dựng xã chiến lược” và từ tháng 12 năm 1961 triển khai chương trình “xây dựng ấp chiến lược”.

Trong tất cả những chiến dịch đó, chủ trương của chúng là đẩy mạnh hoạt động tình báo đánh vào cơ sở cách mạng, thanh lọc nội bộ, tìm mọi cách gây chia rẽ dân tộc, tôn giáo. Thực hiện chủ trương này, 3 tháng cuối năm 1961, chúng sa thải 33 ủy viên hội đồng xã và 54 dân vệ, cho bọn phản động đội lốt tôn giáo lập lại các ban trị sự Phật giáo Hòa Hảo trong vùng giải phóng thuộc huyện Châu Phú. Nguy hại nhất là ở vùng núi chúng sử dụng chiêu bài Khơme Sơrây để dựng lên phong trào “Người Miên chống cộng”.

Bọn Khơme Sơrây xuất hiện từ những năm 1958, đến năm 1960 - 1961 bắt đầu hoạt động mạnh. Chúng công khai tuyên truyền “Sơn Ngọc Thành sẽ lấy lại 6 tỉnh miền Tây Nam Bộ để lập chính phủ tự trị Miên Hạ chống cộng sản, chống chính phủ Sài Gòn áp bức người Khơme”. Chúng dùng bùa chú (cà tha, khăn trắng) và rượu để ép đồng bào dân tốc chém đất thề nguyền, ai gặp cán bộ cách mạng mà không chém thì sẽ chết dưới lưỡi dao đã thề. Đầu tiên, người Khơme ở các xã Lê Trì, An Cư nổi dậy chém giết cán bộ cách mạng, rồi lan dần sang các xã Nam Quy, Trác Quan, Vĩnh Trung, Tú Tề. Các phum sóc của Cô Tô nổi dậy rào làng, xây tuyến chiến đấu. Nhiều vụ mạnh động, đốt phá, bắn giết cán bộ cách mạng xảy ra ở huyện Tịnh Biên - Tri Tôn. Ở An Hảo - Lương Phi, chùa Tà Miệt và 77 nhà chung quanh bị đốt, 11 người bị chém chết. Khơme Sơrây từ Cô Tô kéo sang Ô Lâm, An Tức rượt đuổi cán bộ, du kích. Người Khơme ở sóc Tức - Lê Trì giết 6 người dân Ba Chúc. Đồng chí Châu Phút - Bí thư Ô Lâm, Huyện ủy viên Tri Tôn bị Khơme Sơrây giết chết rồi xẻo tai. Đồng chí Châu Nên - Phó bí thư Ô Lâm phải trốn lên ngọn thốt nốt rồi vào chùa đóng giả làm sãi, chờ liên lạc với tổ chức. Hầu hết các xã người Khơme vùng Bảy Núi trở thành vùng tự trị. Ở Núi Cấm, Núi Tô, mỗi nơi có 1 đại đội người Khơme có trang bị vũ khí do Mỹ - ngụy ngầm cung cấp.

Tình hình phức tạp trên đã dẫn đến địch kiểm soát lại được những đường giao thông vùng Bảy Núi. Hàng chục bốt và tháp canh được xây lại ở các xã giải phóng trước đây như Văn Giáo, Lê Trì, Lương Phi, An Tức, Ô Lâm, Cô Tô. Áp lực của lực lượng vũ trang giải phóng quanh các quận lỵ Tri Tôn, Tịnh Biên không còn. Chủ trương của ta lúc đầu không đánh lại bọn Khơme Sơrây đã dẫn đến vùng căn cứ bị mất. Nhiều cơ quan tỉnh phải bỏ căn cứ vùng núi xuống đồng tràm. Căn cứ của huyện Tri Tôn - Tịnh Biên cũng phải dời đi. Cán bộ đoàn thể người Khơme và một số đảng viên mới phát triển sau Đồng khởi không chịu nổi khủng bố đã phải đầu hàng bọn Khơme Sơrây. Hàng trăm cán bộ, du kích người Khơme bị giết chết. Số còn lại phải chạy xuống bưng, đồng tràm hoặc trốn lên núi.

Những tháng cuối năm 1961, mặc dù đã có sự uốn nắn của Khu ủy về chủ trương đối với bọn Khơme Sơrây là cần trừng trị bọn ngoan cố, đồng thời, tăng cường tuyên truyền, giải thích cho đồng bào người Khơme, vạch trần bộ mặt lừa bịp của địch, nhưng tình hình vẫn chưa lắng dịu. Phần lớn vùng giải phóng trước ki bị bọn Khơme Sơrây chiếm giữ, các cơ quan tỉnh, huyện vẫn chưa trở lại được căn cứ cũ. Cho đến sau trận ta đánh bọn Khơme Sơrây ở chân đồi Tức Dụp, sau đó giải phóng Ô Lâm, Núi Tô, đuổi chúng chạy sang Núi Cấm thì tình hình mới được cải thiện.

Đến cuối năm 1961, bọn ngụy không còn lợi dụng được bọn Khơme Sơrây nữa. Số thanh niên người Khơme được chúng trang bị vũ khí thì ngày càng lệ thuộc vào Khơme Sơrây, cùng bọn này tấn công quân ngụy, cướp súng, phá hoại đồn bốt. Vì thế bọn ngụy buộc lòng phải đánh phá căn cứ chính của Khơme Sơrây tại sóc Tức - Lê Trì. Tàn quân Khơme Sơrây phân hóa: một số thành thổ phỉ Càbaxo (khăn trắng), một số chạy theo ngụy nhập vào các đơn vị biệt kích. Lực lượng vũ trang An Giang lần lượt chiếm lại vùng giải phóng Lương Phi, phong tỏa Ba Chúc, gỡ nhiều tháp canh trên các trục giao thông vùng núi, phục hồi lại thành quả của phong trào Đồng khởi.

Đối phó với vấn đề lợi dụng người Khơme của Ngụy quyền Sài Gòn vừa xong, bước sang năm 1962, An Giang lại phải đối phó với chương trình xây dựng ấp chiến lược của địch. Dự tính của địch là sẽ xây dựng 478 ấp chiến lược và 20 khu trù mật để gom 800.000 dân An Giang. Chúng sẽ tăng được số dân vệ lên thêm 1.317 tên, bình quân mỗi xã 40 tên. Mỗi xã còn có một liên toán thanh niên cộng hòa cải biên thành thanh niên chiến đấu có vũ trang. Trong suốt năm 1962, chúng đã mở 15 chiến dịch và hàng trăm cuộc hành quân lớn nhỏ để càn quét, dỡ nhà, lùa dân, phát quang. Mức độ bom pháo tăng lên dày đặc ở vùng Bảy Núi. Vùng đồng bằng, cơ sở cách mạng bị đánh phá, cán bộ, du kích nhiều xã bị bắt, bị giết. Trong những tháng đầu năm 1962, chủ trương lập ấp chiến lược của địch đã phát huy được tác dụng, nhất là ở vùng đồng bằng nông thôn tôn giáo. Ngô Đình Nhu trực tiếp đến chủ tọa cuộc lễ khanh thành ấp chiến lược Ô Tà Tung ở Ô Lâm - Tri Tôn là ấp chiến lược kiểu mẫu của chúng trong vùng bất an ninh. Cuộc đấu tranh với địch để giành dân của An Giang lại bước vào một tình thế phức tạp mới.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Mười Hai, 2012, 10:18:15 AM
Trước tình hình khó khăn của An Giang, Thường vụ Khu ủy đã chỉ đạo Kiến Phong đưa Đại đội 291 sang Chợ Mới chi viện hỗ trợ nhân dân nổi dậy phá ấp chiến lược. Đại đội phải mất hai tháng mới sang được sông Tiền đến Hội An. Từ Hội An đơn vị bung ra hoạt động lên vùng Mỹ Luông, Long Kiến, qua An Thạnh Trung, Hòa Bình tác chiến nhiều trận: đánh bốt Hòa Ninh, Hội An Đông, diệt tên thượng sĩ Triệu ở ấp Thị Hội An; đánh đồn Cái Đa, phá ấp chiến lược An Quới - Hòa Bình, ấp chiến lược Mỹ Trung, diệt trưởng ấp Mỹ Luông, v.v. Sau một tháng đơn vị hoạt động, địch thấy tình hình bất ổn nên quyết tâm đối phó. Chúng đưa lực lượng đến càn quét. Đại đội 291 và bộ đội địa phương của huyện bị thiệt hại khá nặng. Đại đội được lệnh rời Chợ Mới rút về Bảy Núi, chuyển thuộc hẳn cho An Giang.

Chợ Mới là trọng điểm chương trình xây dựng ấp chiến lược của địch ở An Giang nên địch dồn mọi nỗ lực thực hiện. Trong quý I năm 1962, ở tỉnh An Giang địch lập được 51 ấp chiến lược thì Chợ Mới đã có 10 ấp. Đến quý III năm 1962 Chợ Mới đã có 53 ấp, trong tổng số 161 ấp lập được trong toàn tỉnh. Sau khi địch chiếm đóng vùng căn cứ Hội An, bộ đội địa phương huyện Chợ Mới phải phân tán nằm hầm bí mật hoặc sang ở Mỹ An Hưng - Vĩnh Long. Việc phá ấp chiến lược thiếu lực lượng vũ trang nòng cốt nên khó dứt điểm, bị thiệt hại nhiều. Đến cuối năm 1962, hầu hết căn cứ lõm của Chợ Mới không còn.

Trên địa bàn Tân Châu - An Phú, địch luôn tập trung đánh phá để cắt đứt hành lang giao thông từ Khu về Bảy Núi. Đường dây từ trạm đầu cầu ở Phú Hữu nói với Thường Phước - Hồng Ngự của Kiến Phong về Vĩnh Hậu qua Hòa Lạc, Khánh Hòa, Thạnh Mỹ Tây, Châu Phú được bộ đội địa phương bảo vệ nhưng thường bị phục kích, nhiều chiến sĩ thương vong. Hoạt động tác chiến của bộ đội địa phương và du kích các xã biên giới rất căng thẳng.

Trên địa bàn Châu Phú, bộ đội địa phương và du kích hoạt động mạnh hơn là nhờ thế chiến trường thuận lợi và lực lượng vũ trang được xây dựng rộng khắp, có điều kiện huy động tác chiến. Bộ đội địa phương và du kích đã đột kích trung đội dân vệ tại đình Bình Long, thu được nhiều súng và diệt đại đội bảo an của tên trung úy Điền ở khu vực kênh đào nam xã Mỹ Đức.

Trên chiến trường vùng núi, từ tháng 10 năm 1962, địch mở cuộc hành quân hỗn hợp khai hoang đồng tràm, đặt Bộ chỉ huy hành quân tại quận lỵ Tri Tôn, 2 đại đội bảo an đóng giữ Ba Chúc và ấp chiến lược Lương An Trà, Lương Phi. Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 13 Sư đoàn 9 ngụy phối hợp với bảo an, dân vệ, có pháo và xe M113 yểm trợ, thường xuyên hành quân càn quét giải tỏa giao thông.

Long An, trong khi các chiến trường trong Khu đang gặp khó khăn do việc địch tăng cường lực lượng, triển khai chiến lược “chiến tranh đặc biệt” thì duy nhất chỉ có Long An là vẫn tiếp tục tiến công.

Trong nửa cuối năm 1961, cuộc “hành quân Lam Sơn” của địch hoàn toàn không ngăn được sức tiến công của lực lượng vũ trang tỉnh và phong trào nổi dậy của quần chúng. Các cuộc tiến công chính trị của đội quân tóc dài vẫn diễn ra sôi nổi ở thị xã Tân An và các huyện lỵ, phong trào chiến tranh du kích phát triển mạnh mẽ, các đồn bốt bị tấn công bằng đủ hình thức: bao vây, bắn tỉa, bức hàng, bức rút bằng tấn công kết hợp ba mũi. Chỉ trong vòng hai mươi ngày, Long An đã gỡ được 43 đồn bốt, giải phóng thêm nhiều xã, ấp; điển hình như các trận diệt đồn Mỹ Hạnh ở Đức Hòa, đồn Tân Bửu, đồn Bình Đức ở Bến Lức, đồn Bình Thạnh ở Tân Trụ, đồn Long Cang ở Cần Đước, đồn Long Phụng ở Cần Giuộc.

Trong năm 1962, đơn vị vũ trang tỉnh đánh được một số trận lớn, diệt 1 đại đội của Sư đoàn 7 ngụy tại bến đò Đức Huệ, tiêu diệt đại đội bảo an ở xóm Chùa Tân Lân, Cần Đức; kết hợp với Tiểu đoàn 261 của Khu vây đồn, diệt viện ở Long Hòa. Riêng trận sau, đơn vị vũ trang tỉnh diệt 1 trung đội dân vệ và đánh thiệt hại nặng 1 đại đội bảo an. Các lực lượng của huyện, xã cũng đánh rất mạnh, bao vây chặt các đồn bốt dân vệ đóng ở xa các trục giao thông. Đồn Đức Tân bị bao vây đến nỗi lính muốn ra khỏi đồn đi đâu cũng phải xin phép quân giải phóng và chỉ được đi một toán 3 tên tay không. Lực lượng địch định đến giải tỏa bị đánh bật trở lại. Cuối cùng, chúng phải bỏ đồn. Các đồn An Thạnh, ngã ba An Ninh cũng ở trong trường hợp tương tự. Kết hợp với nội tuyến, du kích cũng diệt được đồn, như đồn Mỹ Hạnh. Bộ đội địa phương Đức Huệ diệt các đồn Bình Hòa Bắc, cầu Bà Vòm, Bịnh Thạnh, xóm Cống.

Các cuộc đấu tranh của nhân dân Long An chống lập ấp chiến lược rất phong phú. Ở Đức Huệ, địch dùng máy bay trực thăng hạ xuống bất kỳ chỗ nào, bắt dân chở ra thị trấn, đưa vào ấp chiến lược. Dân đã chống lại sự cưỡng bức đó bằng đủ các hình thức, từ biểu tình trực diện của đội quân tóc dài đến tham gia chiến đấu bằng quân sự. Nhiều người cắm chông, đào hào, gài mìn diệt bọn đi càn. Ở Bến Lức, cuộc đấu tranh diễn ra quy mô rất lớn với lực lượng tiến công chính trị của đội quân tóc dài đông hàng vạn người, kéo ra lộ 4 đoạn từ Gò Đen đến Bến Lức làm tắc nghẽn giao thông. Ngụy quyền Bến Lức phải thương lượng. Ở Long Hiệp và Mỹ Yên, Gò Đen, ban ngày lính dỡ nhà dân đưa vào ấp chiến lược, đêm dân dựng lại nhà trên nền cũ. Cứ như vậy, cuối cùng địch phải bỏ việc lập ấp chiến lược ở Mỹ Yên. Đến cuối năm 1962, trong toàn tỉnh Long An địch chỉ lập được 12 ấp chiến lược - con số thấp nhất trong những con số về ấp chiến lược địch lập được ở các tỉnh của Khu Trung Nam Bộ.

Con số ấp chiến lược địch lập được trong toàn Khu, cho đến lúc đó là 730, còn rất xa so với dự tính của chúng.

Như vậy là bước sang năm 1962, Khu Trung Nam Bộ có bị khó khăn trước sự tăng cường chiến tranh của địch trên phần lớn chiến trường Khu nhưng quân và dân trong Khu đã nỗ lực vượt bậc trong việc phá quốc sách “ấp chiến lược” của Mỹ - ngụy.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Một, 2013, 09:17:03 AM
III - CHIẾN THẮNG ẤP BẮC LỊCH SỬ

1. Những tiền đề của trận Ấp Bắc lịch sử

Tháng 4 năm 1962, Khu ủy nhận được Nghị quyết của Trung ương Cục triển khai Nghị quyết Hội nghị của Bộ Chính trị họp tháng 2 năm 1962 về nhiệm vụ công tác trước mắt của cách mạng miền Nam. Nội dung Nghị quyết là: kiên quyết đẩy mạnh đấu tranh chính trị, quân sự, giành và giữ vững thế chủ động, đẩy địch vào thế bị động hơn nữa, tích cực xây dựng lực lượng về mọi mặt, ra sức phá kế hoạch Xtalây-Taylo, mở rộng hơn nữa phong trào giải phóng dân tộc, tăng cường chặt chẽ hơn khối đoàn kết toàn dân, khơi sâu hơn nữa mâu thuẫn nội bộ của địch, tranh thủ mạnh mẽ sự ủng hộ và đồng tình của lực lượng hòa bình dân chủ, độc lập dân tộc và xã hội chủ nghĩa trên thế giới để chống sự can thiệp vũ trang quy mô của đế quốc Mỹ vào miền Nam Việt Nam, tiến lên giành những thắng lợi lớn hơn nữa.

Đến tháng 8 năm 1962, Khu ủy nhận được Nghị quyết của Hội nghị Trung ương Cục họp tháng 4 năm 1962. Nghị quyết Hội nghị Trung ương Cục cụ thể hóa chủ trương của Bộ Chính trị và nhấn mạnh ba công tác trọng tâm nhằm chống phá những âm mưu nguy hiểm nhất của địch: tích cực đẩy mạnh phong trào đấu tranh toàn diện; kiên quyết làm thất bại kế hoạch gom dân, lập ấp chiến lược của địch, ra sức xây dựng và mở rộng căn cứ địa vững mạnh toàn diện và tăng cường công tác quản lý nông thôn; khẩn trương xây dựng lực lượng vũ trang cả ba thứ quân, chủ trương xây dựng bộ đội tập trung để đủ sức chặn đứng và đánh lui những âm mưu quân sự của địch.

Chỉ đạo phương thức phá ấp chiến lược với nội dung chủ yếu phải từ phong trào quần chúng, nổi dậy tại chỗ trong ấp chiến lược, Đảng phải bám trong dân, trong ấp chiến lược, xây dựng cơ sở chính trị trong quần chúng, tổ chức du kích, tự vệ mật tại chỗ kết hợp với lực lượng vũ trang và quần chúng bên ngoài để phá, nhưng chủ yếu là quần chúng tại chỗ. Phải phá bỏ bộ máy kìm kẹp kết hợp với chống làm lại ấp chiến lược, phá với yêu cầu từ thấp đến cao, từ phá lỏng đến phá banh rồi phá dứt điểm là tiêu diệt đồn bốt, giải phóng hoàn toàn xã.

Đây là một việc rất khó khăn, phức tạp bởi khi lập ấp chiến lược, địch gom tất cả, từ người dân bình thường đến chi bộ Đảng, du kích, cơ sở cách mạng vào. Như vậy là ngay từ lúc nảy sinh ý đồ lập ấp chiến lược, địch đã tính đến việc gom cả lực lượng cách mạng có tổ chức vào trong ấp. Vì thế mà khi chúng lập ấp chiến lược thí điểm ở Tân Lý Tây (Mỹ Tho) năm 1961, một số cán bộ đã chủ quan phát biểu: “Địch gom phần lớn là đồng bào nông dân đã kinh qua Đồng khởi. Địch sử dụng một số ác ôn đến bắt đồng bào phải tổ chức bộ máy kìm kẹp gồm chồng, con, em họ, vậy cứ để cho nó làm. Làm xong, ấp chiến lược của nó sẽ nhanh chóng chuyển thành ấp chiến đấu của ta thôi!”. Nhưng thực tế đã diễn ra không đúng như sự đánh giá chủ quan đơn giản đó. Phương pháp đánh phá ấp chiến lược bằng cách ban đêm dùng lực lượng nhỏ từ bên ngoài kết hợp với lực lượng ben trong nổi dậy đã không đem lại kết quả, bởi vì sáng ra địch bắt những người đã tham gia phá trong đêm làm lại chắc chắn gấp hai, ba lần cái đã phá, và chúng rút kinh nghiệm, tổ chức bố phòng nghiêm ngặt hơn. Hoặc lực lượng vũ trang tấn công tiêu diệt đồn bốt trong ấp chiến lược xong vừa rút đi thì chúng đóng đồn lại như cũ, lực lượng phòng thủ trong ngoài được chúng tăng cường mạnh hơn. Bọn tề, điệp dựa vào đồn bốt, ở ngay tại chỗ kìm kẹp. Trong khi đó, người dân trong ấp chiến lược muốn trở về làng cũ thì quê hương đã trở thành vùng oanh kích tự do, bọn chủ lực, biệt động quân, biệt kích, bảo an hàng ngày đánh phá. Rõ ràng, địch có thủ đoạn bỏ đất, giành dân, dùng bom pháo càn quét, hủy diệt địch hình để đồng bào không dám về nơi ở cũ.

Có những ấp chiến lược ở Châu Thành, Thạnh Phú, Bình Đại, Ba Tri - Bến Tre, cơ sở cách mạng rất vững, du kích mật nằm ngay trong ấp hàng trung đội, thế mà trong năm 1962 phá đi phá lại đến 30 - 40 lần, ấp chiến lược vẫn tồn tại. Quân chủ lực ngụy vẫn ráo riết đánh phá ở vùng giải phóng, vùng tranh chấp, gom dân vào các ấp chiến lược.

Ở Bến Tre, trong khi ta chưa phá được các ấp cũ thì chúng lại lập thêm ấp mới kiểu mẫu ở Tường Đa, củng cố ấp chiến lược Tân Thạnh để giữ lộ Mỹ Tho - Bến Tre, lập ấp chiến lược ở Thạnh Phú, hình thành vành đai Cầu Vân - Giao Thạnh, củng cố các ấp chiến lược ở ngoại ô thị xã, thị trấn và gần lộ giao thông, càn quét mạnh vùng Châu Hòa, Châu Bình, rải chất độc hóa học làm trụi cây cối vùng căn cứ Thuận Điền, Nhơn Thạnh, Mỹ Thạnh, Lương Phú, tiếp tục xây dựng ấp chiến lược ở Bình Nguyên. Số ấp chiến lược địch lập được ở Bến Tre từ 115 đã tăng lên đến 195.

Từ khi nhận thức được tầm nguy hại của âm mưu lập ấp chiến lược của địch, việc đánh phá ấp chiến lược của nhiều địa phương đã gia tăng, nhưng do tương quan lực lượng quân sự nên chưa đạt được kết quả mong muốn.

Ở nơi có tương quan quân sự nghiêng về phía cách mạng thì dù là trọng điểm của chương trình lập ấp, dù ở sát nách Sài Gòn, là nơi địch muốn cấp thiết phải bình định như Long An, kế hoạch lập ấp chiến lược của chúng cũng chỉ đạt ở mức thấp.

Còn ở những nơi có phong trào chính trị mạnh nhưng lực lượng quân sự vừa mới xây dựng, như Mỹ Tho, Bến Tre, An Giang; nơi có địa hình trống trải như Kiến Tường và vùng bắc sông Tiền của Kiến Phong, thì mặc dù vẫn có những trận thọc sâu tác chiến của lực lượng vũ trang, kể cả lực lượng vũ trang của Khu, kết hợp với đấu tranh chính trị trực diện của quần chúng nhưng số ấp chiến lược vẫn cứ phát triển.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Một, 2013, 09:17:43 AM
Những vấn đề về vai trò nổi dậy của quần chúng, hiệu quả tác chiến của lực lượng vũ trang, biện pháp để cải thiện tình thế quân sự trong giai đoạn này đã được thảo luận rất nhiều.

Sau những trận Mỹ Tho và Khu liên tiếp bị thiệt hại, đặc biệt trận ngày 2 tháng 9 năm 1962, căn cứ Tỉnh ủy Mỹ Tho bị đánh, một đồng chí Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy và nhiều chiến sĩ bảo vệ hy sinh; tiếp đến đồng chí Đỗ Giọng - Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng quân khu hy sinh, sự quan tâm của Miền đối với Khu VIII càng tăng. Trong cuộc hội nghị chiến tranh du kích toàn Miền vào tháng 11 năm 1962, đã có đồng chí trong Bộ tham mưu miền gợi ý cho Khu VIII cho di tản một số cơ sở hậu cứ lên rừng miền Đông.

Ngày 7 tháng 9 năm 1962, tại căn cứ Mỹ Hạnh Đông của Mỹ tho, đồng chí Lê Việt Thắng - Khu ủy viên, họp với Thường vụ Tỉnh ủy Mỹ Tho rút kinh nghiệm trận địch đánh vào căn cứ Tỉnh ủy ngày 2 tháng 9 năm 1962, bàn chuyên đề chống càn và phá ấp chiến lược. Hội nghị đã thảo luận rất nhiều và đi đến quyết nghị: “Lực lượng vũ trang tập trung phải tấn công ra vùng ngoài, kết hợp với cơ sở bên trong phá ấp chiến lược, phải “đứng lại đánh càn”, “không tránh né càn”. Phải chuẩn bị sẵn sàng trận địa công sự vững chắc, có thế xã, ấp chiến đấu và thế ba mũi tấn công của các lực lượng”.

Đây chính là tiền đề và những kết luận mà Khu rút ra được từ tình hình thực tế, sau đó đã có Nghị quyết của Khu ủy làm chuyển biến tình hình toàn Khu sau này.

Thực hiện sự chỉ đạo của Khu, ngày 10 tháng 9 năm 1962, Đại đội 1 Tiểu đoàn 514 phối hợp bộ đội địa phương Châu Thành và du kích tiến ra nam lộ 4 phá ấp chiến lược Dưỡng Điềm. Được báo động, địch rải quân dọc lộ 4 và lộ Ba Dựa chặn đường bộ đội rút về bắc lộ 4. Sáng ngày 13 tháng 9 năm 1962, các đại đội bảo an của chi khu Cái Bè, Cai Lậy và Long Định, Tiểu đoàn 17 bảo an của tiểu khu Mỹ Tho và 1 tiểu đoàn của Sư đoàn 7 ngụy đánh vào khu vực 8 xã nam lộ 4. Đại đội 1 Tiểu đoàn 514 dựa vào xã chiến đấu và công sự vững chắc đã trụ lại. Đại đội bảo an Cái Bè kéo vào. Chúng đến rạch Cải Nai, xã Mỹ Long thì bị Đại đội 1 Tiểu đoàn 514 đánh thiệt hại nặng.

Đêm 23 tháng 9 năm 1962, Đại đội 1 Tiểu đoàn 514 lại tiến ra hoạt động ở xã Phú Phong nam lộ 4, chuẩn bị sẵn sàng thế bám trụ tấn công bằng ba mũi giáp công tại chỗ. Sáng hôm sau, 1 trung đoàn của Sư đoàn 7 ngụy và 2 đại đội bảo an của chi khu Long Định đổ quân bằng trực thăng bao vây quân ta. Đến trưa, đại đội bảo an tiến vào, bị Đại đội 1 Tiểu đoàn 514 đánh diệt hơn 30 tên. Sau đó Đại đội 1 chuyển xuống xã Vĩnh Kim. Một tiểu đoàn của Sư đoàn 7 ngụy bám theo, bị ta đánh bật trở lại. Bộ đội truy kích trên 3 kilômét, diệt gần 100 tên, sáng hôm sau, 3.000 người của đội quân tóc dài, trong đó có nhiều gia đình binh sĩ thuộc các xã Vĩnh Kim, Bình Trưng, Đông Hòa kéo đến đấu tranh trực diện với bọn chỉ huy cuộc càn, đòi gặp mặt chồng, con, em, đòi tìm xác người thân, đòi không được bắn pháo vào trận địa. Chúng bị buộc phải chấp nhận yêu sách. Trong khi đó, Đại đội 1 Tiểu đoàn 514 đã an toàn rút về bắc lộ 4.

Hai trận đánh thắng của Đại đội 1 Tiểu đoàn 514 ở nam lộ 4 đã khẳng định phương thức: Lực lượng vũ trang tập trung dựa vào thế chủ động, tấn công của lực lượng chính trị, binh vận và thế xã, ấp chiến đấu, công sự vững chắc, kiên quyết bám trụ đánh càn là đúng đắn.

Qua kinh nghiệm của Đại đội 1, các địa phương trong tỉnh củng cố thêm xã chiến đấu, cắm chông ngoài đồng, chống đổ bộ bằng trực thăng, xây dựng các trận địa chống càn và tổ chức lại lực lượng chính trị, binh vận của đội quân tóc dài, sẵn sàng hợp đồng với bộ đội cùng phối hợp ba mũi tấn công làm thất bại các cuộc càn quét, gây thiệt hại cho địch, làm phân hóa kẻ thù và phá thế hợp đồng binh chủng của địch để giành thắng lợi. Ngày 5 tháng 10 năm 1962, địch phát hiện được Đại đội 1 Tiểu đoàn 514 đóng tại cầu Vông, xã Mỹ Hạnh Đông. Chúng cho 2 trực thăng vũ trang bắn dọn bãi và dùng 6 trực thăng H21 đổ xuống 1 đại đội biệt động quân. Đã chuẩn bị sẵn, Đại đội 1 đánh trả, bắn rơi 3 trực thăng, diệt gần hết đại đội biệt động quân của địch.

Từ thắng lợi của những trận đánh trên, cùng với kinh nghiệm trận đánh ngày 2 tháng 9 năm 1962 ở Hưng Thạnh: 2 trung đội của Đại đội 2 Tiểu đoàn 514 bị quân bộ tấn công dưới đất và trực thăng khống chế trên trời, một trung đội bỏ công sự, rút lui đã bị hy sinh 1 tiểu đội, trung đội kia trụ lại, dựa vào công sự đánh trả, bắn rơi 1 trực thăng và diệt được 40 tên địch, ta đã rút ra nhận xét: “Bộ đội tập trung dám đứng lại, có chuẩn bị sẵn thế trận, có công sự vững chắc thì hoàn toàn có khả năng đánh càn thắng lợi”. Vấn đề ở đây là có dám đánh, có quyết tâm đánh và chủ động chuẩn bị trận địa công sự vững chắc hay không? Từ chống càn thắng lợi và trụ lại được, áp sát được ấp chiến lược mới hỗ trợ được cho quần chúng nổi dậy phá ấp chiến lược.

Từ những diễn biến thực tế trên chiến trường, tháng 11 năm 1962, Thường vụ Khu ủy triệu tập Hội nghị cán bộ, gồm cấp ủy, chỉ huy quân sự các tỉnh và chỉ huy đơn vị tập trung của Khu, bàn về hai vấn đề chính: đánh càn và phá ấp chiến lược.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Một, 2013, 09:18:01 AM
Hội nghị nhất trí với nhận định trong dự thảo Nghị quyết của Thường vụ Khu ủy: Đối sách của Mỹ - Diệm tiến hành chiến tranh ở miền Nam chủ yếu là để tiêu diệt lực lượng cách mạng, giành dân, mà trọng điểm là vùng đồng bằng sông Cửu Long, nơi đông dân nhiều của. Cuộc đồng khởi của nhân dân trở thành cuộc chiến tranh nổi dậy đã làm cho chế độ Mỹ - Diệm bị thất bại nặng nề. Từ đầu năm 1961, Mỹ đã cứ nguy cho Diệm bằng tăng cường vũ khí, binh lính, cố vấn, tiền bạc, phương tiện tiến hành chiến lược “chiến tranh đặc biệt”. Hai vấn đề càn quét và gom dân lập ấp chiến lược có liên quan mật thiết. Đồng bào ta đang phải gánh chịu một cuộc thử thách vô cùng ác liệt. Song, chúng ta không có con đường này khác là phải tiếp tục đẩy mạnh cuộc chiến tranh nổi dậy, đánh bại âm mưu thủ đoạn mới trong chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ - Diệm bằng hai chân, ba mũi quân sự, chính trị, binh vận với thế tấn công khai hợp pháp của quần chúng.

Tuy nhiên, vấn đề mà Hội nghị bàn đến nhiều nhất và trước hết là tổ chức thực hiện cho được việc trụ vững của các lực lượng vũ trang cách mạng, chủ động đánh phản kích và đánh càn quét của Mỹ - Diệm.

Tinh thần này của Hội nghị Khu đã một lần nữa thể hiện tư tưởng chủ động, tích cực tiến công mà Đảng bộ Khu Trung Nam Bộ đã luôn quán triệt ngay từ sau khi có Hiệp định Giơnevơ. Và chính tư tưởng này đã luôn luôn là nền tảng của mọi thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống Mỹ.

Để thực hiện điều này, Hội nghị đề ra nhiệm vụ trước mắt phải triển khai ngay ba việc lớn:

Một là, phải củng cố mũi tấn công chính trị, binh vận và mũi vũ trang tại chỗ. Ở những xã, ấp quần chúng chưa bị gom thì tăng cường động viên đồng bào ra sức đào công sự, xây dựng xã chiến đấu; tiếp tục đẩy mạnh mũi tấn công chính trị trực diện của đội quân tóc dài khi địch bắn pháo, thả bom và kéo quân vào càn quét, cào nhà, gom dân; vừa diệt địch vừa tranh thủ làm binh vận để giữ thế công khai hợp pháp, làm chủ tại chỗ, vừa chủ động tấn công cơ quan đầu não của địch ở thị xã, thị trấn như đã làm trước đây. Giải thích cho đồng bào hiểu là mặc dù địch dùng phương tiện, hỏa lực phi pháo cao độ và chiến thuật “trực thăng vận” để chuyển quân hoặc ngồi trong xe bọc thép nhưng rồi binh lính địch cũng phải đỗ xuống đất. Khi ấy đồng bào hoàn toàn có điều kiện giữ thế công khai hợp pháp tấn công chính trị hay làm binh vận. Địch bắn pháo, thả bom thì đồng bào vào công sự vững chắc để ẩn núp. Sau đó có thể kéo ra trực diện tấn công chính trị, binh vận và đánh bằng vũ khí thô sơ như đã làm trước đây. Tuyệt đối không nên chạy dài, dễ sa vào thế bị động, không giữ được thế làm chủ và không hạn chế được địch.

Hai là, các lực lượng vũ trang tập trung, hành quân ban đêm đến nơi trú quân phải chủ động tạo trận địa phục kích, chủ động đánh càn quét bằng hệ thống hầm hào, công sự kiên cố nhiều tuyến, tạo sẵn trận địa công sự phòng ngự ở nhiều vùng để cơ động lúc chiến đấu với đối tượng địch có bom pháo yểm trợ mật độ cao, bộ binh đông, có sử dụng trực thăng vận, thiết xa vận.

Các đơn vị vũ trang phải được gấp rút xây dựng, bồi dưỡng, huấn luyện kỹ thuật tác chiến mới để với trang bị hiện có, có thể bẻ gãy được những phương tiện kỹ thuật, chiến thuật trực thăng vận, thiết xa vận của địch nhằm đạt được mục tiêu giữ vững trận địa cho đến hết ban ngày. Sau đó, chờ đêm tối, có thể chuyển đến trận địa mới, sẵn sàng tiếp tục chiến đấu.

Ba là, lực lượng vũ trang phải luôn luôn được đặt trong thế chiến đấu chung của ba mũi kết hợp, phối hợp một cách nhịp nhàng trên diện rộng, vừa ở ngay trong khu vực trận đánh, vừa ở diện rộng nhiều xã, toàn huyện, nhiều huyện… quy mô tùy theo từng trận đánh và khả năng kết hợp, thì mới có thể đạt được mục tiêu trụ lại được.

Có trụ lại đánh phản kích và đánh càn quét thắng lợi thì mới thiết thực hỗ trợ cho quần chúng đấu tranh bám lại, chống địch gom dân từ vùng giải phóng ra ấp chiến lược, mới giữ được vùng giải phóng và tạo được thế cho đồng bào bên trong nổi dậy phá ấp chiến lược và dám bỏ ấp chiến lược trở về.

(https://lh3.googleusercontent.com/iM_HUmKHnL1Gv_ZJbFiiQCWYknsbG8s0s9Cv-l2nO9NwjupkS5U0T_nLVH91HGOP_7iwQ3AOUQ9H4U6aAtLaxCXVpYcVhpy1fpZkU7e-ocCIeIJ7D-GgWGs7A2T8r_Bw8a05EeYVSDU059TshfuyPk6DkdugAFv8vmHflnmOrSUgUxX0YHdeFBWigjcH8vb84ppitj0pz-sZ-KCAPYw_cjw-XWpYylDDY8FjJo42IbWuE0vwWUkQPnzqQjfTcQ0pEiZY3OuDD01wLmVrU2ApS5W63Cl3qwz8Cx3QSGuMMmWEM8fxq5XlHy6SACn-IMuVLeFMxyt8H9OnABJhl4Zh_8AI_gaorqqJWr_LoRg2nzQt9QUIMjS0dJFNsn1mRvE_4pH6aZnOypvDGftmwiBlwhcFpu46BEPQHZqFpgds57BnCRWFdvGF4PkYUmH1aJzzYc9ckAA2nUTjhfxHagNe2nL3jsyVSKCATdti81b0-meKqXsE1bqHk4H7P7lye4PcXFnIWfYH0j1TQas8OsdbUuZ_bkuumdbOAwR7QrtVRZku-zY3-9YeTphOxaeP_qjHjpHkjeEc-EI2ENdEl7x3p8qi_I9Z_ngqFogYJ3Htth3Bfa45KLrq=w744-h461-no)

Nhân dân phá banh ấp chiến lược


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Một, 2013, 09:18:26 AM
Hội nghị còn đề ra một số biện pháp, kế hoạch cụ thể cần làm ngay:

Một: Lực lượng vũ trang của khu, tỉnh, huyện, du kích xã phải cơ động trên những địa bàn quen thuộc, có chuẩn bị sẵn công sự vững chắc và phải liên hệ với quần chúng, tập dượt điêu luyện về phối hợp tấn công hai chân, ba mũi; có sẵn xã, ấp chiến đấu với công sự vững chắc và kiên cố. Bộ đội đi đến đâu phải chủ động thiết kế công sự trận địa, luôn luôn sẵn sàng chuẩn bị sẵn kế hoạch tác chiến với nhiều tình huống, chủ động đánh phản kích, đánh càn và tiến công đồn bốt địch. Luôn luôn có kế hoạch hợp đồng tác chiến giữa ba mũi quân sự, chính trị, binh vận và các thứ quân.

Hai: Thành lập các ban chỉ huy thống nhất ở từng cấp tỉnh, huyện, xã trên từng khu vực. Ban chỉ huy thống nhất gồm: các cấp ủy viên các Đảng bộ, chỉ huy quân sự khu vực, chỉ huy đơn vị vũ trang tập trung hoạt động trên địa bàn. Ban chỉ huy này thống nhất chỉ đạo các lực lượng phối hợp chống phản kích, chống càn quét, phá ấp chiến lược. Khi có tình huống chiến sự bất ngờ xảy ra thì từng nơi, dựa trên kế hoạch đã lập sẵn, chủ động hợp đồng tác chiến trước khi có được sự chỉ đạo trực tiếp của Ban chỉ huy.

Ba: Tổ chức ngay các lớp tập huấn cho các thứ quân về cách chủ động đánh càn quét, cách đánh bại các chiến thuật mới của địch, cách đánh trực thăng, xe bọc thép và các loại máy bay bằng vũ khí sẵn có của đơn vị mình.

Bốn: Về phá ấp chiến lược: phải có kế hoạch phối hợp trong ngoài bằng thế tấn công ba mũi: quân sự, chính trị, binh vận. Cơ bản là quần chúng trong ấp nổi dậy tự phá khi có thời cơ; tức là, khi có sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang bên ngoài đột nhập, đứng lại trong ấp chiến lược hoặc gần ấp. Mục tiêu là phá bộ máy kìm kẹp, bức rút, bức hàng đồn bốt, đưa dân trở về vùng cũ hoặc dứt điểm (diệt đồn - dân đứng lại tại chỗ, giữ thế làm chủ, chuyển thành vùng giải phóng).

Năm: Các cấp ủy quân sự triển khai ngay công tác chính trị, công tác Đảng: xây dựng chi bộ 4 tốt nhằm nâng cao sức mạnh của chi bộ để chi bộ thực sự làm nòng cốt trong chiến đấu; xây dựng đại đội bộ binh xã và đại đội binh chủng, các đơn vị du kích các loại và quần chúng bằng chiến đấu ba mũi tấn công tốt, quyết tâm đánh bại chiến thuật trực thăng vận và các thủ đoạn mới của địch. Chi bộ các đơn vị phải ra nghị quyết lãnh đạo đơn vị bám trụ đánh càn quét, diệt địch suốt ngày, giữ nghiêm kỷ luật, bí mật trong hành quân, trú quân, kiên cường dũng cảm, mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu.

Sáu: Thường vụ Khu ủy cử ngay cán bộ xuống các Đảng bộ địa phương khẩn trương mở đợt sinh hoạt giáo dục đảng viên nêu cao vai trò tiên phong gương mẫu, lôi cuốn đông đảo quần chúng tích xực xây dựng công sự, hầm hào theo yêu cầu của bộ đội, của tác chiến ở khắp các xã, ấp và theo đường bộ đội, nhân dân thường đi lại. Chuẩn bị kế hoạch cho lực lượng tấn công chính trị, bao vây của đội quân tóc dài sẵn sàng phối hợp căng kéo địch làm cho binh sĩ dao động, mất tinh thần chiến đấu, chống lệnh trên và địch không hợp đồng binh chủng được. Củng cố xây dựng cơ sở Đảng, cốt cán, lực lượng vũ trang mật trong các ấp chiến lược, sẵn sàng nổi dậy khi có thời cơ.

Sau hội nghị, phương thức mới, biện pháp đánh địch mới đã được cán bộ, chiến sĩ, nhân dân các tỉnh Trung Nam Bộ khái quát thành châm ngôn hành động:

“Chính trị, binh vận, vũ trang
Phối hợp nhịp nhàng, ba mũi giáp công
Bao vây, bức rút, bức hàng
Đứng lại đánh càn, giải phóng nông thôn”.

Trong toàn Khu, một thế trận mới đã được chuẩn bị và trong bối cảnh đó, trận Ấp Bắc đã diễn ra.

Cũng trong thời gian này, Trung ương Cục miền Nam mở hội nghị về chiến tranh du kích; Bộ Chính trị họp bổ sung chủ trương và phương hướng đấu tranh ở miền Nam. Những chủ trương của hai cuộc hội nghị này triển khai ở Trung Nam Bộ đã trực tiếp tác động đến trận chiến đấu thắng lợi ở Ấp Bắc về sau.

Hội nghị về chiến tranh du kích ở Trung ương Cục tổng kết kinh nghiệm và xác định phương hướng chỉ đạo phong trào. Qua kinh nghiệm giành và giữ quyền làm chủ ở nông thôn miền Nam mà hội nghị rút ra được lúc này là:

Địch kìm kẹp, ta phá kìm kẹp, địch lại kìm kẹp, ta lại phá. Địch càn quét, địch lập ấp chiến lược, ta phá ấp chiến lược, địch lại lập, ta lại phá. Trong cuộc đấu tranh giằng co quyết liệt đó, mỗi ngày ta tiến thêm một bước, đẩy lùi địch một bước, ta lớn mạnh lên một bước, địch suy yếu đi một bước, tiến tới ta mạnh hơn địch và giành thắng lợi hoàn toàn. Muốn thắng lợi hoàn toàn, ta phải đánh bại địch về quân sự.

Hội nghị Bộ chính trị dự kiến những khả năng phát triển của cuộc chiến tranh ở miền Nam:

Khả năng thứ nhất là qua nhiều thắng lợi cục bộ, ta đánh bại địch từng phần, đẩy lùi địch từng bước buộc địch phải công nhận chủ quyền độc lập, dân chủ của nhân dân ở miền Nam.

Khả năng thứ hai là do kẻ địch ngoan cố, không từ bỏ âm mưu xâm lược nên chúng sẽ tiếp tục cuộc chiến tranh với những cố gắng mới, thủ đoạn mới. Vì thế, ta cần phải ra sức xúc tiến xây dựng và biết che giấu lực lượng, nắm vững thời cơ để có thể tiến tới tổng công kích - tổng khởi nghĩa đánh đổ chính quyền Mỹ - Diệm, làm thất bại âm mưu xâm lược của đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam.

Phân tích tình hình, Bộ Chính trị cho rằng: đế quốc Mỹ đã mở một cuộc chiến tranh thực sự với quy mô khá lớn ở miền Nam Việt Nam. Cuộc đấu tranh giữa ta và địch ở miền Nam đã thực sự là một cuộc chiến tranh. Do vậy, vị trí của lực lượng và yêu cầu của đấu tranh vũ trang cần phải được nâng cao hơn nữa.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Một, 2013, 09:19:13 AM
2. Diễn biến của trận Ấp Bắc lịch sử

Trong lịch sử chiến tranh giữ nước, trận Ấp Bắc đã đi vào lịch sử của dân tộc ta. Vùng đất Ấp Bắc - Tân Thới thuộc xã Tân phú, huyện Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho của Trung Nam Bộ. Đặc điểm của trận Ấp Bắc là ta không có địa hình thuận lợi, lực lượng của ta nhỏ, còn địch thì mạnh gấp nhiều lần, có đầy đủ vũ khí, phương tiện. Trận Ấp Bắc diễn ra trong bối cảnh:

- Về phía cách mạng: Từ những bài học xương máu rút ra được sau khi chạm trán với các chiến thuật mới của địch, như “trực thăng vận”, “thiết xa vận”, “bủa lưới phóng lao” và những phương tiện kỹ thuật chiến tranh hiện đại của địch từ đầu năm 1962, chúng ta đi đến một nhận định: với lực lượng tập trung lớn, trang bị bằng những vũ khí thự có rất hạn chế, nhưng lực lượng cách mạng hoàn toàn có thể bẻ gãy được những chiến thuật mới của Mỹ - ngụy trên một chiến trường đồng bằng trống trải. Khái quát hơn, nó chứng nỏ là dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, cách mạng cũng có khả năng đè bẹp những nỗ lực tối đa của Mỹ - ngụy nhằm cứu vãn chế độ của chúng đang sụp đổ.

- Về phía Mỹ - ngụy: Sau việc áp dụng các chiến thuật, các phương tiện kỹ thuật chiến tranh mới, đánh nhau quyết liệt với quân du kích mà vẫn chưa đạt được ý đồ tiêu diệt hoàn toàn một đơn vị tập trung của ta, chúng cũng đang nóng lòng muốn gài thế để thực hiện cho được một chiến thắng trọn vẹn, với hy vọng làm tan rã ý chí kháng cự của lực lượng cách mạng, đồng thời minh chứng cho thành công không thể nghi ngờ của công thức: cố vấn Mỹ + hỏa lực Mỹ + bộ binh ngụy thì hoàn toàn có thể giành thắng lợi trên chiến trường.

Lực lượng của hai bên trong trận đánh này như sau:

- Về phái cách mạng, là tiểu đoàn ghép, gồm: 1 đại đội chủ lực của Khu, 1 đại đội địa phương tỉnh và 1 trung đội địa phương huyện, cộng với du kích xã, cùng lực lượng tấn công tổng hợp: quân sự, chính trị, binh vận tạo thành một mặt trận phối hợp trên một địa bàn rộng đã được chuẩn bị. Riêng phần lực lượng trực tiếp tác chiến tại trận địa là những đơn vị của Khu, tỉnh đã được huấn luyện, xây dựng từ nhiều tháng về ý chí quyết đánh, quyết bám trụ và được trang bị những kỹ thuật, chiến thuật mới để đánh bại những cuộc tấn công bao vây điển hình của địch.

- Về phía Mỹ - ngụy, chúng đã sử dụng một lực lượng lớn, gồm: 6 tiểu đoàn bộ binh, trong đó có 2 tiểu đoàn của trung đoàn 11 Sư đoàn 7 và 2 đại đội biệt động quân của khu chiến thuật Tiền Giang, tiểu đoàn dù thuộc tổng trù bị Sài Gòn, 2 tiểu đoàn bảo an của tiểu khu Định Tường, 1 chi đoàn thiết xa M113, 13 tàu xuồng chiến đấu; 33 máy bay, gồm: trực thăng đổ quân H21, trực thăng chiến đấu HU1A, máy bay khu trục B26, T28, máy bay vận tải hạng nặng C123, máy bay vận tải chiểu sáng C47, máy bay trinh sát L19; 3 cụm 10 khẩu pháo 105, cối 106,7 ly của Sư đoàn 7 và của tiểu khu Định Tường và 2 đại đội pháo 105, cối 106,7 ly của lực lượng pháo binh tổng trù bị.

Toàn bộ lực lượng trên đặt dưới sự chỉ huy của Bùi Đình Đạm, Đại tá, Tư lệnh Sư đoàn 7 và Lâm Quang Thơ, Thiếu tá, tiểu khu trưởng tiểu khu Định Tường và những cố vấn Mỹ rất xông xáo do John Paul Vann, Trung tá làm đoàn trưởng. Sau khi trận đánh diễn ra, lại có thêm Huỳnh Văn Cao - Thiếu tướng, Tư lệnh vùng 4 chiến thuật, Trần Thiện Khiêm - Thiếu tướng, Tham mưu trưởng Bộ Tổng tham mưu ngụy, Cao Văn Viên - Đại tá, Tư lệnh lữ đoàn dù thuộc lực lượng tổng trù bị, Daniel Bonne Porter - Đại tá, trưởng cố vấn Mỹ vùng 4 chiến thuật tham gia chỉ đạo.

Trận Ấp Bắc diễn ra trong bối cảnh các cuộc hành quân của Mỹ - ngụy đang sôi động với hy vọng nơi đây - khu vực phía bắc sông Cửu Long, sẽ là nơi quyết định cho cuộc chiến tranh.

Ấp Bắc, Tân Thới là mảnh đất hẹp với chiều dài 4 kilômét, chiều ngang 150 mét, là hai ấp của xã Tân Phú, huyện Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho. Nhân dân trong hai ấp không đông, chỉ hơn 1.000 người. Đây là vùng căn cứ lâu đời của cách mạng từ những năm 30. Địa hình ở đây phức tạp, đất thấp, vườn tược xen kẽ ruộng lúa nước, nhiều sình lầy, bị chia cắt bởi nhiều kênh rạch nhỏ. Về phía nam Ấp Bắc chỉ cách lộ 4 từ 4 đến 5 kilômét; về phía bắc cách kênh Nguyễn Văn Tiếp khoảng 4 kilômét; về phía đông cách kênh Nguyễn Tấn Thành 3 kilômét; về phía tây cách lộ 12 khoảng 9 kilômét. Ngoài những đồn bốt, căn cứ đã sẵn có trên lộ 4, kênh Nguyễn Văn Tiếp, lộ 12, địch còn có thể dùng tàu, xe cơ giới án ngữ trên các con kênh, trên lộ, tạo thành thế bao vây bốn mặt. Ấp Bắc nối liền với ấp Tân Thới như hình vòng cung.

Ấp Tân Thới nằm ở phía tây bắc của Ấp Bắc, cách nhau một khoảng trống gần 300 mét. Rạch Ấp Bắc rộng 7 mét, sâu 1,5 mét nằm ở phía đông hai ấp. Phía đông rạch là bưng sình, sâu tới bụng, không thể là bãi nhảy dù hoặc đổ bộ trực thăng; bộ binh cũng không thể dàn hàng ngang đi qua được. Các phía khác là đồng trống, rộng khoảng từ 500 đến 1.000 mét sang các ấp lân cận. Do địa hình như vậy, nên hướng phòng ngự chủ yếu là hướng tây, kế đó là hướng nam, đông nam và tây bắc. Bộ đội đã từng qua lại đây đóng quân, cùng ăn, củng ở, cùng làm lụng với dân, giúp dân từ việc lớn đến việc nhỏ. Nhân dân và bộ đội đã đào đắp nhiều công sự, hầm hào chiến đấu vững chắc, xây dựng thành hệ thống nhiều tuyến liên hoàn. Tuy nhiên, vì đất ở đây thấp, đào xuống không quá 5 tấc là gặp nước, nên hầm núp và công sự đều phải nửa nổi, nửa chìm. Trong ấp thường xuyên có trung đội du kích xã Tân Phú, là một đội du kích mạnh.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Một, 2013, 09:19:44 AM
Đêm 31 tháng 12 năm 1962, Đại đội 1 Tiểu đoàn 261 Khu và Đại đội 1 Tiểu đoàn 514 tỉnh Mỹ Tho về đóng tại ấp Tân Thới và Ấp Bắc để chuẩn bị cùng với trung đội địa phương huyện Châu Thành và cán bộ địa phương, du kích, phá ấp chiến lược Giồng Dừa, Long Định trong đêm ngày 1 tháng 1 năm 1963. Sau đó sẽ nhử chúng càn vào cầu sắt kênh Năng vào sáng ngày 2 tháng 1 năm 1963 để đánh một trận tiêu diệt. Hai đại đội hình thành 1 tiểu đoàn ghép, do đồng chí Hai Hoàng, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 261 chỉ huy chung.

Chiều ngày 1 tháng 1 năm 1963, hai đại đội rời Ấp Bắc đến địa điểm tập kết. Trinh sát đi trước quay lại báo cáo có ám hiệu của cơ sở bên trong ấp cho biết có trở ngại nên phải hoãn kế hoạch tấn công.

Theo kế hoạch từ trước, sau khi phá ấp chiến lược, đơn vị sẽ về đóng ở kênh Năng, nhưng trinh sát phát hiện có một đơn vị thuộc Tiểu đoàn Tây Đô từ Khu IX đi về miền Đông đã trú lại đây. Sau khi hội ý với ban chỉ huy 2 đại đội, đồng chí Hai Hoàng quyết định quay lại Tân Phú. Đại đội 1 Tiểu đoàn 514 đóng ở ấp Tân Thới. Đại đội 1 Tiểu đoàn 261 bố trí từ cầu Ông Bồi Thi đến mộ hai ông Nguyễn Văn Tiếp và Phan Đình Lân. Ban chỉ huy tiểu đoàn đóng giữa 2 đơn vị.

Đến 20 giờ ngày 1 tháng 1 năm 1963, Trung đội địa phương huyện Châu Thành về tới, đóng chung trong đội hình Đại đội 1 Tiểu đoàn 261 về phía đông cầu Ông Bồi Thi.
 
Trong khi các gia đình ở Tân Phú đang chuẩn bị đi ngủ thì nghe tiếng dầm bơi xuồng khuấy nhẹ dưới rạch, tiếng xì xào nho nhỏ, tiếng xuồng cặp bờ của bộ đội trở về.

Bà Mười Sử tươi cười vặn to ngọn đèn dầu, hỏi Hai Hoàng vừa bước vào:

- Thằng Hai mầy về đó hả? Bầy trẻ đâu, dậy nấu nước pha trà cho chú Hai uống con!

- Dạ để mời mấy anh em đến đây hội ý, uống luôn thể. Hai Hoàng đáp nhỏ nhẹ.

- Vậy thì lấy ấm lớn nấu! Rút củi trâm bầu khô nấu cho mau sôi.

Nước vừa sôi thì Bảy Đen - Đại đội trưởng Đại đội 1 Tiểu đoàn 261, Mười Diệp - Đại đội trưởng Đại đội 1 Tiểu đoàn 514, Hai Phấn - Bí thư chi bộ xã cùng với xã đội trưởng đã tề tựu đủ. Bảy Đen báo cáo:

- Mấy anh bộ đội địa phương Châu Thành cũng đã về, đang đóng quân cạnh đại đội tôi.

Hai Hoàng vui vẻ nói:

- Vậy anh cho mời Chín Hấn tới hội ý luôn.

Đại đội trưởng Bảy Đen vốn là học sinh miền Nam tập kết ra Bắc, nhập ngũ ở Sư đoàn 330, về Nam chiến đấu. Anh chiến đấu rất gan dạ, là một đại đội trưởng giỏi của Tiểu đoàn chủ lực Khu, vì có nước da bánh mật và là con thứ bảy nên anh em quen gọi là Bảy Đen. Tính anh quyết đoán, thông minh, tháo vát, dũng cảm, giống tính Tiểu đoàn trưởng Hai Hoàng nên hai người rất hợp nhau, tin tưởng nhau trong chiến đấu. Mười Diệp là một đại đội trưởng xuất sắc của Tiểu đoàn 514.

Hai Hoàng nói ngắn gọn nội dung cuộc hội ý: các đơn vị bố trí quân như cũ. Chỉ huy tiểu đoàn ở với Đại đội 1 Tiểu đoàn 514 ở ấp Tân Thới, dựa vào Đại đội 1 Tiểu đoàn 514 làm phương tiện chỉ huy. Bên Ấp Bắc giao cho Bảy Đen. Chín Hấn làm việc trực tiếp với Bảy Đen, nhận lệnh chỉ huy chung của tiểu đoàn. Hợp đồng tác chiến đánh càn theo phương án đã định. Cho trinh sát từ xa, cơm nước xong khi trời sáng. Đề nghị chi ủy và xã đội thực hiện đúng như đã hợp đồng từ trước khi có tình huống chiến đấu xảy ra.

Các cán bộ trở về đơn vị thì các chiến sĩ đã ngủ.

Hai Hoàng vừa chợp mắt một chút thì nghe thấy tiếng nhiều xe chạy trên lộ 4 về hướng Cai Lậy. Lúc đó là 3 giờ sáng ngày 2 tháng 1 năm 1963.

Hai Hoàng vừa giở bản đồ ra xem dưới ánh đèn dầu, vừa lắng nghe tiếng động chung quanh. Phía đông, tiếng tàu trên kênh Nguyễn Tấn Thành nghe mỗi lúc một gần hơn. Rồi tiếp đến tiếng ầm ĩ của xe M113 trên lộ 4. Tiếng ù ù của nhiều trực thăng bay theo hướng bắc. Các mặt đều có động. Hai Hoảng mỉm cười một mình:

- Mình tính nhử nó vô Long Định. Bây giờ nó vô đây hay sao chớ?

Hai Hoàng đánh thức Mậu - chiến sĩ liên lạc dậy, đi báo cho 2 đại đội sẵn sàng chiến đấu, chuẩn bị cơm nước cho cả ngày, kiểm tra lại công sự, ngụy trang.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Một, 2013, 09:20:09 AM
Đến 5 giờ, trinh sát mặt đất báo cáo: Có 1 chi đoàn xe M113 vận chuyển trên lộ 4, đã dừng lại đoạn từ Thuộc Nhiêu đến Nhị Quý. Trên kênh Nguyễn Tấn Thành có 1 đoàn tàu từ sông Tiền vào, đã đến cầu Long Định và một đoàn trực thăng từ hướng Vĩnh Long bay dọc theo sông Tiền rồi ngoặt lên hướng Mỹ Phước Tây. Như vậy, khả năng chúng đánh vào Tân Phú khá rõ. Hai Hoàng ra lệnh cho các đơn vị ra công sự, chỉ đạo từng đại đội cho trinh sát cùng du kích bám địch từ xa, đánh chim sẻ, ngăn chặn làm chậm bước tiến của chúng, không cho chúng vào trận địa phòng ngự sớm. Đại đội trưởng Bảy Đen cùng Chính trị viên Tám Thư đến từng công sự, nhắc nhở chiến sĩ.

Buổi sáng ngày 2 tháng 1 năm 1963, ở khu vực Tân Phú sương mù dày đặc. Trinh sát phát hiện địch bằng tai, trước khi nhìn thấy chúng.

5 giờ 30, trực thăng quần đảo, đổ 1 đại đội bộ binh thuộc Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 11 Sư đoàn 7 ngụy xuống khu vực phía đông bắc ở khoảng đồng trống giữa cống Bà Kỳ và kênh Đào.

Đại đội trưởng Bảy Đen đang động viên chiến sĩ thì Tiểu đội trưởng Nhân dẫn tiểu đội hậu cần của đại đội đến xin tham gia chiến đấu. Anh giao cho tiểu đội nhiệm vụ giữ phía sau đội hình, sẵn sàng làm dự bị. Anh gặp nữ đồng chí Tám Nghề - Phó bí thư, Chính trị viên xã đội Tân Phú và đồng chí Chín Trù - Phó ban quân sự xã, ở đội hình Trung đội 3. Chị Tám Nghề hỏi anh:

- Coi bộ tụi nó đánh lớn vô đây, tính sao anh?

- Đánh chớ sao! Mà phải đánh tối ngày kia! Anh Chín cho du kích cùng trinh sát của bọn này bám chắc tụi nó nghe. Còn chị Tám thì cho mấy ông già, bà già, em nhỏ tản bớt đi. Phần mấy anh chị và cô bác lo cớm nước cho bộ đội, lo cho thương binh, tử sĩ cứ tiến hành chuẩn bị đi là vừa.

Tám Nghè cười:

- Chuyện cơm nước tụi này nhớ kỹ, đâu phiền anh nhắc?

Bảy Đen cũng cười:

- Phải nhắc chớ, chuyện bao tử là chuyện sống chết mà!

Đúng 6 giờ 30 sáng, Tiểu đoàn bảo an địch từ lộ 4 qua địa phận xã Điềm Hy, phía nam và đông nam Tân Phú, chia làm hai cánh: một cánh tiến dọc kênh 24, hướng về cầu Trường Gà và xóm Hội đồng Vàng; cánh kia theo kênh Cầu Sao, hướng về chùa Thầy Lơ. Trinh sát và du kích chặn đánh từ xa, lùi dần vào địa hình Ấp Bắc.

Nghe tiếng súng mở màn từ phía nam, Bảy Đen đôn đốc Đại đội 1 Tiểu đoàn 261 và Trung đội địa phương Châu Thành củng cố công sự, sẵn sàng đánh thắng ngay từ đợt đầu.

Anh Chín Hấn, Trung đội trưởng quân địa phương, trưởng thành từ du kích lên, một chỉ huy gan dạ, nhắc nhở chiến sĩ:

- Để nó tới thật gần hãy bắn.

Địch còn cách 30 mét, Chín Hấn hô: bắn! Cả trung đội nhất loạt nổ súng. Ngay loạt đầu tiên, tên đại đội trưởng bảo an và một sĩ quan nữa đã ngã gục. Số còn lại lảo đảo lội qua bùn lầy, lùi về nấp sau bờ ruộng, chĩa súng lên trời bóp cò. Phía sau, vang lên bọn chỉ huy chửi rủa, đốc thúc. Bọn lính nằm lại kìm chân, chờ bọn từ xóm Trường Gà tiến lên đánh xuyên hông Trung đội quân địa phương. Địch kéo đến đông. Đại đội trưởng Bảy Đen cho 1 trung đội cơ động ra phía trước, nổ súng đánh bật chúng ra ngoài đồng.

Cánh bảo an thứ hai chậm chạp đến chùa Thầy Lơ, cách cầu Ông Bồi 800 mét về phía đông, nghe súng nổ gần, phía cầu Trường Gà, trụ lại không dám tiến lên.

Bốn giờ sáng, Trung đội công binh của tỉnh dùng thủy lôi gài sẵn đánh hỏng 1 tàu trong đoàn tàu tiến vào kênh Nguyễn Tấn Thành tại vàm kênh Ba. Tên đại úy tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn bảo an bị thương vào chân, binh sĩ trong tiểu đoàn hoang mang vì số thương vong quá lớn. Tiểu đoàn này được lệnh củng cố vị trí, án ngữ phía đông nam Ấp Bắc.

9 giờ, pháo địch bắn xổi xả vào phía sau Trung đội 3 Đại đội 1 Tiểu đoàn 261 và trước trận địa chính. Đại đội trưởng Bảy Đen nhận định: Chúng chuẩn bị bãi đổ bộ trực thăng, đánh phía sau Trung đội 3. Chúng chưa phát hiện đội hình đại đội, nhắc nhở chiến sĩ chuẩn bị đánh trực thăng.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Một, 2013, 09:20:37 AM
9 giờ 30, một đoàn trực thăng 10 chiếc H21 từ hướng sân bay Thân Cửu Nghĩa, bay dọc theo phía bắc kênh Nguyễn Văn Tiếp ngoặt về hướng nam đến Ấp Bắc, bay trước tiền duyên đại đội. Trực thăng hạ cánh ngay trước công sự tiền duyên, cách khoảng 150 đến 200 mét. Đại đội trưởng Bảy Đen ra lệnh toàn đại đội nhằm vào trực thăng sẵn sàng nhả đạn. Đại liên nổ lệnh, đạn bị lép, phải thông nòng mới nổ giòn, chậm mất 3 giây. Cả đại đội tập trung hỏa lực mạnh vào 6 trực thăng đáp xuống sau. Cả 6 chiếc đều trúng đạn, 3 chiếc cháy tại chỗ, hai chiếc cố bay lên rồi rơi ở Cà Dâm và Bầu Rô. Số còn lại không dám hạ xuống đổ quân mà bay đảo trước trận địa, rồi chuồn thẳng. Ba chiếc xuống trước vừa kịp đổ, lúc đại liên bị kẹt đạn cũng vội vã cất cánh tẩu thoát.

Trừ số chết và bị thương trong trực thăng, số còn lại của Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 11 Sư đoàn 7 ngụy vừa đỗ xuống, nhảy ra, chạy tán loạn về phía sau hợp với số đổ sau, xa hơn ở khoảng ruộng lúa ngập nước, nằm mọp xuống sau những bờ mẫu. Pháo binh địch bắn tới tấp như mưa, đại đội của ta không xuất kích được, chỉ đứng trong công sự bắn đuổi theo và cho cối 60 bắn vào những tên còn núp sau những chiếc trực thăng bị hạ. Đợt này, chúng bị đòn đau. Hai máy bay L19 quan sát chỉ điểm cho 3 khu trục và 5 trực thăng vũ trang HU1A thả bom và bắn hỏa tiễn vào trận địa. Khi trực thăng chúi xuống phóng hỏa tiễn, súng của ta bắn lên, 1 chiếc trúng đạn, rơi xuống nằm dọc theo những chiếc trực thăng rơi trước. Pháo cối từ Long Định, lộ Quẹo Nhị Bình, căn cứ Thẻ 33 - Tân Hội lại rót đạn và trận địa Đại đội 1 Tiểu đoàn 261. Bom nổ rền trời. Trong lúc pháo bắn, địch củng cố hàng ngũ, chiếm địa hình có lợi, cách tiền duyên đại đội 400-500 mét, bắn trả để giữ mấy chiếc trực thăng bị hạ. Nhưng cuộc phản kích bằng bom và pháo vẫn không giải tỏa được áp lực đang đè lên các phi hành đoàn và đám nhảy dù đang mắc kẹt trên đám ruộng.

(https://lh3.googleusercontent.com/PfPMDg10PR5b78bPt7YYZGjUKS2OIQdUo7cP_D9EUF5DD-RoosCAv40ipRL16tTZdvjOTDBDemPQr8U35p07TjYxeIjpIutcc-JiJkItMpoobQfPN8MXOqk4Pyb3mSIl1ujcOQi-QS98q7bIl8Y1utq9lZSl2OCeXaAlOvrV0XcorzZ66MgMbHsZW6skWhZC7i0Q8lNy0-TbpUu5aC9scuh394k3wmlomcpJAWbzoHC9MNi2pIA6XapDx3AGvdJIT6VooPjBnBCzWaCiXfM8o1bxC1gDSBDjSd9omzeEYlHWaiGXwlR9FS-eaIC3ZsYamIeSLG0GsKAWdhA7HGgR5ohSD2epimTLUhc82Cd9MDtNNX1j6ffzyai8213HKbo-7jybtKUXsZIAzfHTQ59ysYQjziWeVGnUcsHqZbR81Hi61EsMgThfT6ZVtLv4B6TWexhErkCzmdYrEbNfTs72xGBD2lZpmrH8g7WW9yRoEMlHc4VpQPsAM1McHC260pbJnRRo8iU7-EtphZG4gubVIFU9pTG0tnwEFTVdIyMjp133uvflHtgS_hqRqhyvvvRQwBbmxBWnrI-fMRvBvVANCbgtozXppMqJp1vnHlkeXJNZJvxdg-3r=w800-h572-no)

Trực thăng Mỹ bị bắn rơi trong trận Ấp Bắc (ngày 2 tháng 1 năm 1963)

Tại căn cứ Hưng Thạnh, dự đoán trận đánh càn đã diễn ra ở Ấp Bắc, Ban chỉ huy thống nhất tỉnh liền ra lệnh cho trung đội của Đại đội 2 Tiểu đoàn 514 đang giữ căn cứ, tiến ra uy hiếp trường bia Tân Hiệp và khu di cư Long Định, lệnh cho lực lượng trinh sát của tỉnh khống chế sân bay Thân Cửu Nghĩa, Đại đội 211 giữ ngã ba chùa Phật Đá, sẵn sàng chi viện cho mặt trận, công binh thủy bám đánh tàu giặc, kiên quyết không cho chúng thọc sâu và kênh Nguyễn Tấn Thành.

Các huyện và thị xã được lệnh cho bộ đội địa phương và du kích tấn công vào các mục tiêu đã chuẩn bị sẵn trên lộ, trong ấp chiến lược, trong thị trấn, thị xã và triển khai các mũi chính trị, binh vận của đội quân tóc dài tấn công địch trên đường hành quân và ngay địa phương mình để chia lửa với Ấp Bắc.

Nhận lệnh, ngay 12 giờ trưa, Đại đội 2 Tiểu đoàn 514 tấn công vào quận lỵ Tân Hiệp trên lộ 4, khu phố Củ Chi và khu di cư Long Định. Tại Tân Hiệp, đơn vị tiếp cận trường bia, diệt một số tên đóng bên ngoài, bao vây các đồn Chùa Ông, Bến Lội, ấp chiến lược xóm Trầu. Trong khi đó, 300 người của đội quân tóc dài tràn vào chợ Tân Hiệp tung tin “Việt cộng về đông lắm, có súng to, súng nhỏ đủ thứ, đang chuẩn bị lấy quận”. Tên quận trưởng vội vã ra lệnh rút đại đội bảo an đang đi càn ở Hòa Tịnh về cố thủ quận và cấp báo về tỉnh xin tiếp viện.

Trinh sát bí mật vào sân bay Thân Cửu Nghĩa đánh mìn phá hủy 1 máy bay trực thăng đang đậu. Hai chiếc khác từ trận địa về bị bắn rơi.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Một, 2013, 09:20:57 AM
Trên lộ 4, du kích các xã hai bên lộ từ Cái Bè đến Châu Thành tiến ra đón bắn các xe quân sự. Bọn bảo an các chi khu phải phân tán ra giữ lộ. Du kích và hơn 20.000 người thuộc lực lượng đội quân tóc dài đã bao vây hơn 30 đồn bốt trên lộ, phá banh 22 ấp chiến lược.

Ở Cai Lậy, du kích các xã Mỹ Hạnh Đông, Tân Hội, Nhị Mỹ, Mỹ Hạnh Trung bao vây các đồn bốt ở xã. Bộ đội địa phương cùng du kích các xã Long Tiên, Tam Bình, Long Trung, Cẩm Sơn, Phú An… tiến công các đồn bốt và bọn bảo an đang đóng ở đó, buộc chúng phải bị động đối phó. Như vậy là ngày 2 tháng 1 năm 1963, chiến sự diễn ra trong toàn huyện Cai Lậy chứ không phải chỉ riêng ở Tân Phú. Trận đánh càn ở Ấp Bắc nổ ra có sự hợp đồng tuyệt đẹp vì nó nằm trong đợt tấn công nổi dậy của toàn tỉnh Mỹ Tho và của toàn Khu.

Nhân dân hai xã Điềm Hy, Tân Phú đấu tranh quyết liệt với đám lính xe thiết giáp không cho chạy vào ruộng lúa, vào trận địa. Bà con tranh thủ cầm chân bọn bộ binh và cơ giới, tổ chức mời chúng uống nước, ăn cơm, uống rượu, nhân đó hù dọa làm cho tinh thần chúng dao động trước khi bước vào trận đánh. Ở căn cứ Thẻ 33 trên lộ 4, đồng bào bao vây, níu kéo bọn xạ thủ pháo binh không cho bắn pháo vào trong xóm. Phần lớn các khẩu pháo ở đây bắn không đúng tọa độ, mục tiêu lại gây thương vong cho bộ binh của chúng. Ở khu trù mật Mỹ Phước Tây, hơn 700 quần chúng thuộc các xã Mỹ Hạnh Trung, Mỹ Hạnh Đông, Mỹ Phước Tây bao quanh các cụm pháo, bịt nòng không cho chúng bắn vào trận địa ta.

Tên chỉ huy pháo binh không sao dẹp nổi, tức tổi nói:

- Việt cộng bắn tụi này ở trong đó, sao mấy bà không vô đó đấu tranh với họ, lại ra đây đấu tranh?

Một chị trong đoàn đấu tranh đáp lại ngay:

- Ông nói lãng nhách! Việt cộng bắn mấy ông chớ bắn tụi tôi đâu mà tụi tôi đấu tranh? Mấy ông bắn pháo cháy nhà, hư hao ruộng, vườn, đồ đạc của bà con, nên chúng tôi phải đấu tranh chớ?

Tên sĩ quan đuối lý, hầm hừ bỏ đi.

Tại thị xã Mỹ Tho, trưa ngày 2 tháng 1 năm 1963, đội biệt động thị xã đột nhập ấp chiến lược ở khu 4 diệt 1 lô cốt. Ở các xã ven lộ 24 Chợ Gạo, ngay ban ngày, du kích, nhân dân cũng nổi dậy tấn công bao vây đồn bốt, đột nhập ấp chiến lược. Hơn 200 gia đình binh sĩ cả thật và giả ùn ùn kéo vào thị xã, bao vây Bộ tư lệnh Sư đoàn 7, tỉnh đoàn bảo an, xông vào bệnh viện dã chiến, các trại lính kêu khóc, đòi gặp mặt chồng, con bị thương từ mặt trận đưa về, làm náo loạn thị xã, khiến bọn sĩ quan, binh lính, công chức ngụy quyền hết sức hoang mang.

Trên lộ 4, mấy ngày chiến sĩ đội quân tóc dài các xã tràn vào quận lỵ Cai Lậy, vào sở chỉ huy hành quân ở Thuộc Nhiêu kêu khóc, níu kéo, phản đối càn quét làm cho chúng lúng túng không sao giải quyết được.

Trong lúc đó, Tiểu đoàn B bảo an theo sau xe M113 đi qua xã Tân Hội, từ phía tây tiến về Ấp Bắc. Nghe tiếng súng nổ dữ dội bên xóm Hội đồng Vàng, bọn xe M113 dừng lại, do dự. Những người dân ở gần đó mang nước ra cho binh lính uống, rồi tỏ vẻ lo ngại nói: “Từ sáng tới giờ súng to, súng nhỏ nổ rền trời. Anh em đi qua đó sợ nguy quá!”. Những tên lính trên xe M113 nghe vậy, nhụt tinh thần chiến đấu, uể oải tản ra tìm chỗ mát ngồi.

Ở phía ấp Tân Thới, từ 5 giờ sáng, trực thăng đã đổ 1 đại đội của Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 11 Sư đoàn 7 ngụy ngoài đồng. Do sương mù chúng phải hoãn việc đổ tiếp đại đội còn lại. Bọn trụ lại giữa đồng trống lo lắng cảnh giới từ mọi phía, sốt ruột chờ đồng đội.

Mặt trời lên, sương mù tan dần. Trực thăng đến đổ tiếp Đại đội 2 của Tiểu đoàn 2 xuống phía bắc, cách ngã tư Miễu Hội 700 mét. Chúng chấn chỉnh đội hình rồi dàn hàng ngang, chậm chạp tiến vào Miễu Hội, trên đường đi bị du kích và trinh sát của Đại đội 1 Tiểu đoàn 514 chặn đánh từng đoạn.

Địch vào cách tiền duyên 70 mét, Đại đội trưởng Mười Diệp lệnh cho Trung đội 1 đồng loạt nổ súng, diệt gần hết tốp đi đầu. Bọn sau dồn tới, bị chặn lại ngoài đồng trống. Mười Diệp cho 2 tiểu đội bí mật vận động theo bờ trâm bầu của rạch Ấp Bắc, bất ngờ đánh tạt ngang sườn làm chúng rối loạn hàng ngũ. Chúng gọi pháo chi viện và rút về Miễu Hội cố thủ. Nơi đây cách tiền duyên của đại đội tới 500 mét, đồng trống nên ta không tiện xuất kích.

Đốc thúc mãi mà xe M113 vẫn chưa đến để hợp đồng tấn công cứu bọn bị thương ở chỗ cụm trực thăng rơi, bọn chỉ huy hành quân liều mạng cho 1 chiếc trực thăng đáp xuống. Nhưng chưa tới đất, chiếc trực thăng đã bị bắn rơi cách đó vài trăm mét.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Một, 2013, 09:21:19 AM
Mãi đến 12 giờ 30, chi đoàn xe M113 và tiểu đoàn bảo an mới tới trận địa Ấp Bắc, tiếp cận với mấy xác trực thăng. Bốn máy bay khu trục, 3 trực thăng HU1A thi nhau trút đạn xuống trận địa Đại đội 1 Tiểu đoàn 261. Các cụm pháo 105 ly trên lộ 4 cùng tất cả hỏa lực trên xe M113 trút đạn như mưa xuống đơn vị. Xe M113 dẫn bộ binh xông vào. Các chiến sĩ chờ chúng đến thật gần mới nhằm bắn chính xác, bọn xạ thủ đại liên trên xe lần lượt bị chết gục bên súng. Những tên còn lại không dám ngóc đầu dậy mà thụt xuống với tay lên bóp cò, đạn túa lên trời. Tên xạ thủ đại liên giỏi nhất trong xe chỉ huy cũng bị bắn chết.

13 giờ 30, chúng thả nhiều bom cháy xuống trận địa Trung đội 2 Đại đội 1 Tiểu đoàn 261. Lửa cháy ngút trời, nóng rát tới cả chỗ bọn lính đang ở ngoài đồng trống. Pháo, hỏa tiễn xối xuống trận địa. M113 lại tiến vào cách 70 mét, lại bị đánh bật ra. Tiếp theo, đại liên bắn bị thương 1 máy bay khu trục. Nó xịt khói lảo đảo bay đi. M113 lại tấn công. Lần này, chúng dùng súng phun lửa, định đốt cháy chốt tiền tiêu của Tiểu đội 3 Trung đội 1 Đại đội 1 Tiểu đoàn 261. Nhưng vì chúng không dám đến gần nên lửa tắt ngấm trước khi đến mục tiêu. Đợt tiến công tiếp nữa của chúng lại thất bại và xả thủ bắn kiểu với tay, đạn bay lên trời. Phi cơ đến ném nhiều bom tạ khoét đất trên trận địa thành những hố sâu hoắm, quăng những tảng đất to tướng lên làm đổ cây cối, nhà cửa, phủ lên các công sự, hầm hố. Mặt đất thay đổi hẳn, không khí khét lẹt, nóng bỏng, sặc mùi bom đạn.

Tên đại úy chỉ huy chi đoàn thiết giáp quyết định một cú liều mạng. Hắn đích thân ngồi trên chiếc M113 đi đầu, dẫn theo hai chiếc khác, lợi dụng bờ cây che khuất, đột phá vào đội hình Tiểu đội 3. Chúng đã tiền sát, xe sắp chồm lên bờ đập, trận địa có nguy cơ bị chọc thủng. Tiểu đội trưởng Nguyễn Văn Đừng cho hỏa lực bắn kiềm chế, anh cùng hai đồng đội là Hùng và Công bí mật rời khỏi công sự, bò sát bờ mương rồi bất ngờ bật dậy, nhảy lên chiếc M113 đi đầu, tung thủ pháo vào trong xe. Tiếng thủ pháo nổ inh tai, chiếc xe khựng lại, bốc cháy. Hai chiếc sau hốt hoảng thụt lùi. Trên đường trở lại công sự các anh đã hy sinh.

Địch còn tổ chức hai đợt tấn công bằng xe M113 nữa, nhưng đều bị đẩy lùi. Lúc đó là 4 giờ 30 chiều. Tính từ lúc có xe M113 đến, chúng đã tấn công 5 đợt.

Địch cho máy bay oanh tạc dữ dội vào khu vực Ấp Bắc và ấp Tân Thới. Nhiều nhà cửa sập đổ, cháy rụi, nắp hầm trơ ra. Xuồng của bộ đội giấu dưới mương cũng bị trúng mảnh. Bộ đội vừa chiến đấu vừa cứu đồng bào. Trong lửa đạn, các má, các chị vẫn nấu cơm, đem đến từng công sự. Thương binh được đưa vào hầm chăm sóc.

Đợt oanh tạc vừa dứt, từ hướng đông, 6 chiếc máy bay thả dù tiếp tế, lượn vòng rồi xếp hàng kiểu xỉa tiền, tung dù trên cách đồng phía ấp Tân Thới. Đại đội trưởng Mười Diệp phát lệnh:

- Đánh ngay khi chúng còn lơ lửng trên không!

Thay vì rơi xuống phái sau bọn bộ binh và xe MM3, cách tiền duyên Trung đội 3 Đại đội 1 Tiểu đoàn 514 khoảng 200 mét, phần lớn dù lại rơi xuống ấp, ngay trên trận địa của đại đội. Đã chờ sẵn, toàn đại đội giương thẳng súng lên mà bắn. Nhiều tên chết trước khi chạm đất. Nhiều chiếc dù bị vướng trên ngọn cây, trở thành mục tiêu sống. Tên chỉ huy tiểu đoàn bị bắn chết, rơi ngay trên công sự của Ban chỉ huy Đại đội 1 Tiểu đoàn 514. Bốn tên lính dù rơi trên nóc nhà chị Út Mừng, bà mẹ chị chỉ cho bộ đội bắt sống. Một tên trung úy và một tên lính trốn trong chuồng heo bị chị phát hiện chỉ cho bộ đội tiêu diệt. Má Trần Thị Hy chỉ cho bộ đội tiêu diệt những tên bị kẹt trên máng xối nhà. Bọn sống sót tập hợp lại thành từng tốp chống cự quyết liệt. Bộ đội và lính dù quần nhau xen kẽ từng bờ mương, liếp chuối.

Trước tiền duyên hai trận địa Ấp Bắc và Tân Thới, quân dù, quân bộ, xe M113 vẫn chập chờn. Nắm được tinh thần bạc nhược của chúng, Đại đội trưởng Bảy Đen cho hỏa lực kiềm chế, đồng thời cho cối, đại liên vận động đến địa điểm mộ ông Lân, ông Tiến đánh lướt sườn bọn chúng trước tiền duyên Đại đội 1 Tiểu đoàn 514, thu hút hỏa lực của chúng về phía Đại đội 1 Tiểu đoàn 261 để Đại đội 1 Tiểu đoàn 514 rảnh tay diệt địch.

Bọn lính dù rơi ngoài đồng chỉnh đốn hàng ngũ, tấn công vào trận địa Đại đội 1 Tiểu đoàn 514. Cánh lướt sườn của Đại đội 1 Tiểu đoàn 261 vừa nổ súng thì trung liên bị kẹt. Trong lúc cấp bách, đồng chí Bảy To, Trung đội trưởng dùng răng cắn chặt khoen sắt, dốc toàn lực hai tay kéo dãn lò xo, cây thông nòng đủ độ dài, thông cho trung liên. Trung liên nổ giòn, đẩy lùi đợt xung phong của địch.

Đồng chí Ba Danh, Trung đội phó lệnh cho các chiến sĩ chờ địch vượt qua bờ mẫu trước mặt đến gần mới nổ súng. Chúng chạy lùi trở lại, nhiều tên chết gục mặt xuống bờ ruộng.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Một, 2013, 09:22:05 AM
Đến gần tối, bọn lính dù lợi dụng lúc tranh tối tranh sáng bò vào sát công sự định đánh úp. Hai khẩu súng trung liên, tất cả tiểu liên, súng trường đồng loạt tạo thành lưới lửa đẩy lùi chúng tán loạn rút lui, bỏ lại những xác chết nằm tại chỗ. Đó là đợt xung phong cuối cùng, của địch.

Sau gần hai giờ chiến đấu với quân dù, Đại đội 1 Tiểu đoàn 514 đã diệt hầu hết các đại đội dù của địch rơi xuống trận địa. Những tên thoát chết chạy về hướng đông, lội qua con rạch nhỏ, rối rít kêu tiếp viện.

Tàn quân địch ở tất cả các hướng đều mệt mỏi, chán ngán, co lại từng cụm ngoài đồng, lo sợ bị tấn công ban đêm. Chúng xin cấp trên cho tải thương, nhưng bọn trực thăng không dám xuống. Chúng chửi rủa, kêu khóc om sòm.

9 giờ đêm, tại nhà bà Mười Sử, sau khi kiểm điểm lại toàn bộ thiệt hại của đơn vị và của đồng bào, đồng chí Hai Hoàng và các đồng chí trong Ban chỉ huy Đại đội 1 Tiểu đoàn 261, Đại đội 1 Tiểu đoàn 514 và Trung đội quân địa phương Châu Thành bàn với chi ủy xã và xã đội Tân Phú kế hoạch rút quân, thu dọn chiến trường và đối phó với địch ngày hôm sau.

Đồng bào Ấp Bắc, Tân Thới tập trung xuồng ghe đưa bộ đội rời chiến trường qua ngả chùa Phật Đá về căn cứ Hưng Thạnh - Mỹ Phước. Tại đây Đại đội 211 và du kích vẫn còn chốt tại ngã ba chùa Phật Đá, khống chế bốt, giữ đường cho bộ đội đi qua. Tại căn cứ, hậu cần tỉnh đã lo sẵn cơm nước, đón nhận thương binh, bổ sung cơ số đạn ngay cho bộ đội.

Một bộ phận cán bộ, chiến sĩ của tỉnh đội được cử đến Ấp Bắc cùng du kích và địa phương thu dọn chiến trường.

Các đồng chí trong Thường vụ Tỉnh ủy và Ban chỉ huy Tỉnh đội đến thăm bộ đội. Cán bộ, chiến sĩ đang ăn cơm ngon lành. Anh em cười nói:

- Mải mê lo đánh, quên cả đói!

Hỏi tình hình đạn dược, hầu hết anh em đều nói:

- Nhờ bắn tiết kiệm vì không biết còn phải đánh với bao nhiêu đợt tấn công nên mới chỉ hết 2/3 cơ số đạn.

Tại Ấp Bắc, chi ủy, xã đội, du kích giúp đồng bào dọn dẹp nhà cửa, chôn cất người chết, chuẩn bị đưa người bị thương ra quận lỵ Cai Lậy và xuống thị xã Mỹ Tho để đấu tranh với địch, đòi cứu chữa, đồng thời đòi bồi thường nhà cửa bị cháy, bị sập, tài sản hư háo và thống nhất kế hoạch với mũi đấu tranh chính trị, binh vận của đội quân tóc dài đấu tranh trực diện tại chỗ với địch ngày hôm sau.

Sáng ngày 3 tháng 1 năm 1963, pháo địch bắn cấp tập vào hai ấp. Hai tiểu đoàn của Sư đoàn 7 ngụy được xây dựng đưa tới trên lộ 4 từ sáng sớm, theo đường từ thẻ 24, 25 tiến quân dè dặt, vừa đi vừa thăm dò, mãi tới trưa mới tới hai ấp. Du kích được lệnh bám sát theo dõi, không đánh.

Chúng vào ấp. Nhà nào cũng còn người ở, toàn ông già, bà già, phụ nữ có con nhỏ. Bà con làm cơm mời chúng và tỏ vẻ thông cảm:

- Thấy anh em cực nhọc, chết chóc tội quá! Cầu trời cho đừng có đụng độ như ngày hôm qua nữa!

Ông Sáu Chua tổ chức nhậu với bọn lính, nhân lúc nhậu cởi mở, ông nói thẳng với chúng:

- Đời lính khổ quá! Tụi bây đừng đi nữa, rủi chết, vợ con bỏ lại ai nuôi?

Bọn lính cúi đầu nhìn nhau. Số thương vong hôm qua quá lớn còn trước mắt, chúng không suy nghĩ sao được.

Chúng đóng lại tại hai ấp suốt 3 ngày để thu dọn chiến trường, tải thương và chữa trực thăng. Bốn tên Mỹ mang dụng cụ đến chữa. Có chiếc bay lên được, có chiếc vừa bay lên đã rơi xuống, hỏng nặng hơn, chúng đành phải tháo thành từng mảng, chất lên chiếc khác rồi mang đi. Chiếc cuối cùng chữa mãi không được, đến ngày 5 tháng 1 năm 1963, chúng cho trực thăng để cẩu chở về Sài Gòn. Khi bay ngang qua Long Định, bị du kích bắn rơi cả hai. Chúng phải tổ chức hành quân suốt cả ngày để lấy xác 2 chiếc trực thăng này.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Một, 2013, 09:22:38 AM
Trận Ấp Bắc là trận tác chiến thắng lợi điển hình của cuộc tiến công và nổi dậy hai chân ba mũi của nhân dân Khu VIII. Trận đánh không chỉ riêng của quân chủ lực Khu mà còn có cả quân địa phương, quân du kích, không phải chỉ có bộ binh, mà có cả công binh, đặc công, không phải chỉ với người cầm súng với tinh thần anh dũng tuyệt với và phương thức kỹ, chiến thuật tác chiến mới, điêu luyện mà của cả đông đảo những người dân bình thường, của lực lượng tấn công chính trị, đội quân tóc dài, không phải chỉ đánh bằng súng đạn mà còn đánh bằng chính trị, binh vận vào lòng binh lính ngụy. Trận đánh không phải chỉ diễn ra ở hai ấp của xã Tân Phú mà còn mở rộng trong toàn tỉnh Mỹ Tho với hình thức đánh đồn bốt, đánh giao thông, bắn máy bay, kiềm chân và thu hút làm phân tán lực lượng địch. Trước một thế trận tác chiến tổng hợp của lực lượng cách mạng như vậy nên địch dù có quân số áp đảo, phương tiện trang bị kỹ thuật tối tân, vẫn bị cột chặt tay chân, lúng túng, bị động, không thể hợp đồng tổ chức được, mọi mũi không cùng một lúc khép chặt, mọi hỏa lực, phương tiện không cùng một lúc phát huy được tác dụng. Do đó, chúng đông mà hóa ít, mạnh mà hóa yếu, để cuối cùng bị đánh đau, thua đậm. Từ lúng túng và bị động đã dẫn đến chỗ bọn cố vấn Mỹ và bọn chỉ huy ngụy mâu thuẫn, lục đục với nhau, làm cho nội bộ chúng càng thêm lục đục, bị động, làm hạn chế và bộc lộ thêm nhược điểm. Đây chính là điểm mấu chốt, là nguyên nhân thắng lợi của một lực lượng vũ trang cách mạng tuy nhỏ bé, ở vào một địa hình trống trải, trước một lực lượng đông đảo ngụy quân, trang bị tối tân gấp nhiều lần, mà ngay bọn cầm quyền, tướng tá Mỹ - ngụy sau khi rút kinh nghiệm về thất bại Ấp Bắc đã không chỉ ra được.

Thắng lợi lớn nhất của trận Ấp Bắc là lần đầu tiên bộ đội đã trụ lại được cả ngày để đánh nhau với một lực lượng địch hơn hẳn cả về quân số lẫn hỏa lực, địch đã áp dụng đủ hết các bài bản chiến thuật: “trực thăng vận”, “thiết xa vận”, “bủa lưới phóng lao”; đủ các phương tiện kỹ thuật hiện đại, dốc hết lực lượng tổng trù bị, hỏa lực tối đa mà vẫn không giành được thắng lợi. Bộ đội ta không những thương vong ít mà còn gây được cho địch thương vong nặng nề. Toàn trận địch chết và bị thương 450 tên, trong đó có 11 cố vấn Mỹ, 16 trực thăng bị bắn rơi, bắn hỏng, 3 xe M113 bị cháy, 2 tàu bị bắn hỏng và chìm.

Thắng lợi Ấp Bắc đã làm cho chiến thuật tân kỳ “bủa lưới phóng lao” của chiến lược “chiến tranh đặc biệt” mất tác dụng. Từ thất bại của địch ở Ấp Bắc có thể khái quát thành thế thua của địch ở toàn miền Nam.

Tháng 4 năm 1963, Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam phát động phong trào “Thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công” trong toàn miền Nam. Khẩu hiệu: “VÀO SÂU, ĐỨNG LẠI, ĐÁNH CÀN, GIẢI PHÓNG NÔNG THÔN” của các Tiểu đoàn 261 và 514 được phổ biến khắp các đơn vị toàn Miền.

Thất bại của Mỹ - ngụy trong trận Ấp Bắc làm cho chúng hoang mang, dao động.

Trong thư của đồng chí Lê Duẩn gửi đồng chí Nguyễn Chí Thanh, tháng 2 năm 1965, lúc ấy đồng chí Nguyễn Chí Thanh đang là phái viên của Bộ Chính trị ở Trung ương Cục miền Nam, có viết: “Kể từ Ấp Bắc, Mỹ thấy không thể thắng ta…”. Cũng từ sau trận Ấp Bắc, số phận của chính quyền Ngô Đình Diệm đã được quyết định.

(https://lh3.googleusercontent.com/bsYU_IPF3tqOmPndTxWjRPr_OCbS1weRYpHHKwji51U7T4A3BPCPu4YaOq1Zh4FDTECy29HCqn7ehJyuT-gsgq6sbJqpr_KyFONzfcOOnyOBsTPafgnDOZZxelTH_AMjunQSWOwWWoGXj-oI2Umjtnk3jx1O_VKnlNqfSCfjc62Lb4TzyWl2hWx5EA6kWrViwFZdKMQve43c1OKVDfnZyYV39RI1VSjYZusS5BkgsuvTNS0eSdSqrt_K11Z8sJY6reBRN9d_Bn0c-FeNc9bpB4YzDGBUgJQr9ifXsFoXXZvjXsjo_2uZD06E2-fysH2RDY7AHLJN5ZwPj8urPYZwyNM_LFSV5Ae2vd9pIs9rp4XeJeyVQUYnmrtc9seCcH_iq-eMrFqJ2BJijjsEXRRqzOcHMuII9w7JRytHUVoMVtgxJRQHCC5HIgMOPtYJUbc_CrHG7e3J-Gs1xbMWbVw4tQf_CghASN8Cif8kyaaECLlyYvBLU3z1oYUE86EbQLJwH4U9SmmRgBkKoSn44Aoqqg04WL7z-JOBuP_Puvoo_PhdhXMC-cyPaU6vxCdsxMnL6nIArLTKp17ceseRR6XIh2gMA_Hmd5brvUqeSuntQOLCfGJCCH40=w800-h595-no)

Tiểu đoàn 261 - thắng trận Ấp Bắc, được tặng danh hiệu của CuBa: “Tiểu đoàn Hy-rôn”


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Một, 2013, 06:42:24 AM
IV - ĐỢT TIẾN CÔNG TỔNG HỢP MỞ VÙNG 20-7,
LÀM THẤT BẠI QUỐC SÁCH “ẤP CHIẾN LƯỢC” CỦA MỸ DIỆM

1. Đợt tiến công tổng hợp mở vùng 20-7

Đánh bại quốc sách “ấp chiến lược” là mục tiêu hàng đầu trong việc làm phá sản chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ - Diệm. Nhất là ở Khu VIII, nơi chiến trường đông dân, nhiều của, giành và giữ dân là mục tiêu xuyên suốt cuộc chiến tranh của cả hai bên thì trận Ấp Bắc đã làm sáng tỏ nhận định: chính cuộc tấn công sâu rộng của quần chúng cách mạng đã hình thành nên thế chiến lược hai chân, ba mũi, đã tạo ra sức mạnh tổng họp mà lực lượng vũ trang cách mạng và bộ đội tập trung có thể tồn tại và chủ động tấn công hay phòng ngự ở một vùng đồng bằng trống trải, có khả năng đánh bại các cuộc càn quét với phương tiện kỹ thuật hiện đại, có sự hỗ trợ của cố vấn quân sự Mỹ, với sự yểm trợ hỏa lực, hậu cần hùng hậu của Mỹ.

Trận Ấp Bắc đã mở đường cho việc giải quyết có hiệu quả nhiệm vụ chiến lược: đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt” mà xương sống là quốc sách “ấp chiến lược” của Mỹ - Diệm.


Ngay từ năm 1962, qua kinh nghiệm ở các nơi trong Khu, sau gần một năm đấu tranh phá quốc sách “ấp chiến lược” của Mỹ - Diệm, Thường vụ Khu ủy đã đúc kết:

Địch gom dân lập ấp chiến lược chủ yếu là gom quần chúng đã từng nổi dậy. Do vậy, phá quốc sách “ấp chiến lược” phải chính là cuộc nổi dậy của quần chúng bằng hai chân chính trị, vũ trang và ba mũi quân sự, chính trị, binh vận, kết hợp giáp công và tấn công của quần chúng tự động đứng lên đánh địch, phá sạch bộ máy kìm kẹp, bờ thành, hàng rào, trở về ruộng vườn cũ sinh sống nhưng đồng thời bộ đội và du kích cũng phải tấn công tiêu diệt và làm tan rã địch có hiệu quả, chặn đứng được các cuộc càn quét vào vùng giải phóng, đánh được bọn đi phản kích thì đồng bào mới nổi dậy được. Quá trình địch gom dân vào ấp chiến lược là quá trình ta chuyển cuộc chiến đấu theo dân vào ấp chiến lược, biến ấp chiến lược thành ấp chiến đấu, bao gồm lực lượng có tổ chức bí mật từ ngay trong lòng người dân, làm lỏng dần thế kìm kẹp và khi có thời cơ bộ đội tiến công diệt địch thì dân đứng dậy phá dứt điểm, bao bức đồn bốt, diệt và làm tan rã địch, biến thành xã, ấp giải phóng.

Bước vào năm 1953, sau thất bại ở Ấp Bắc địch càng quyết tâm thực hiện cho kỳ được kế hoạch bình định, cào nhà, gom dân, lập ấp chiến lược. Thể hiện quyết tâm đó, tháng 1 năm 1963, Ủy ban liên bộ đặc trách chương trình “ấp chiến lược” của Mỹ - Diệm chỉ thị cho các vùng chiến thuật trong năm 1963 phải hoàn tất việc lập ấp chiến lược trên toàn miền Nam.

Để thực hiện mục tiêu này, chúng chỉ thị triển khai tất cả chủ lực, bảo an, dân vệ, cảnh sát liên tục mở những cuộc hành quân càn quét quy mô vừa và nhỏ trên các địa bàn xung yếu. Ở Khu VIII, chúng tập trung nỗ lực vào tất cả các tỉnh Long An, Bến Tre, Mỹ Tho, Kiến Tường, Kiến Phong, An Giang. Tình hình hết sức căng thẳng, tốc độ gom dân, phát triển ấp chiến lược tăng vọt.

Ở Mỹ Tho, tháng 3 năm 1963, địch tập trung 3 tiểu đoàn của Sư đoàn 7, 1 tiểu đoàn biệt động quân, 10 đại đội bảo an, 40 xe M113 đánh vào 7 xã vùng Ấp Bắc và các xã thuộc mảng 3 Cai Lậy Bắc, bắt dân dỡ nhà, gom vào ấp chiến lược. Ai không chịu dỡ nhà thì chúng cho xe M113 ủi sập, xúc lúa, bắt heo mang đi.

Trước tình hình này, đồng chí Lê Quốc Sản - Ủy viên Thường vụ Khu ủy, Tư lệnh quân khu họp với Thường vụ Tỉnh ủy và Ban chỉ huy Tỉnh đội Mỹ Tho bàn cách phá kế hoạch của địch. Các đồng chí đã quyết định:

(https://lh3.googleusercontent.com/DpR18SWx_j2AAEKRVzSPZDn3R7XU2Lm-olUuTWjZe9OZxubw6TxmBAMNVjxCliYywr_mCVKNr7-wptzfV1pvUS_us_YC4lU1foLgfKKCuPQ_9LMDUo54utmPDTHV-a_m9fq9lkA2pp_pJPNORNKazCeLW8RVo2xLp0pq8S68nHxlLV0VMf4C0_8YQ2dET8HGJQR9yBa0u-7YJuONRiD4XQD_Xr5r6XNtgOVkl3ZFr8DFzsQ7g_FDf4nDfcwPL41BUDd2clOzxdS2sp8nOnmNjG8GwkfznripZb5aKfC14QFQoALY515MjB8EiXhTeilKHoK9ryyixQaGmU9lqfYHtF-qdlZmIVfhElqaATozfWYet4ZCZWwl6P0zZF0t3ApHJUzQclYVJWVJD3hRDu6G808uQYuitVD2tqppPbI_67aDDBrlEK8OpxvRg5IzcaodjWJ29NTExqHs-yrJiCofQ7Fqg3JJjdNfFgzYiRy6n9eouJDhGB4SdPtGniyxEP5TYyjtL97_piaPLx2Zj05uY-YSrilROYQocmki4RoPKYnxqtchIr8gwXSQmpq1NP_TCORpkhlbnY46dLTDAvUdLhIboSozPM6Fkbd4SnjVDRwYi8qkbVTT=w241-h358-no)

Thiếu tướng Lê Quốc Sản - nguyên Tư lệnh Quân khu VIII (1961-1972 - 1974-1975)

Tiểu đoàn 261 của Khu, quân địa phương huyện Cai Lậy và du kích các xã phải tìm cách đánh tiêu diệt, tiêu hao lực lượng nòng cốt của cuộc gom dân của địch, buộc chúng phải chùn lại, không dám xông xáo, đàn áp, tạo thế cho quần chúng nổi dậy đấu tranh.

Tiểu đoàn 514 của tỉnh luồn ra phía nam lộ 4 thuộc khu vực hai huyện Châu Thành và Cai Lậy, cùng với lực lượng tại chỗ phá ấp chiến lược. Các huyện Gò Công, Chợ Gạo, Hòa Đồng, thừa cơ địch đang vướng chân ở Bắc Cai Lậy, đồng loạt nổi dậy phá ấp chiến lược.

Phát động quần chúng vùng 7 xã Ấp Bắc và mảng 3 Cai Lậy Bắc kiên quyết đấu tranh chống cào nhà, gom dân. Thực hiện khẩu hiệu: “Dân bám đất, cán bộ bám dân, bộ đội, du kích bám địch”.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Một, 2013, 06:42:52 AM
Thực hiện quyết định này, Tiểu đoàn 261 đã phục kích tại xã Tân Hội diệt 1 đại đội biệt động quân và bắn cháy 2 xe M113. Đại đội 1 Tiểu đoàn 514 thọc xuống nam lộ 4 hỗ trợ quần chúng phá ấp chiến lược ở Long Tiên, Long Trung - Cai Lậy. Đại đội 2 Tiểu đoàn 514 đột nhập ấp chiến lược đồng bào di cư ở Long Định, trụ lại trong ấp, diệt dân vệ, vây chặt đồn, hỗ trợ đồng bào nổi dậy, phá ấp chiến lược. Sau đó, đại đội luồn xuống phía nam lộ 4, diệt 1 trung đội dân vệ ở Long Hưng, hỗ trợ quần chúng nổi dậy phá ấp chiến lược ở 3 xã Kim Sơn, Song Thuận, Vĩnh Kim. Đại đội 1 Tiểu đoàn 514 phá xong ấp chiến lược ở Cai Lậy, tiến xuống Hòa Đồng hỗ trợ cho 3 mũi cơ sở nổi dậy phá ấp chiến lược Thạnh Trị. Ở Gò Công, quân địa phương huyện đột nhập vào ấp chiến lược An Hòa, diệt dân vệ, làm tan rã thanh niên chiến đấu, hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy phá ấp chiến lược.

Sau 45 ngày chiến đấu quyết liệt, kết hợp hai lực lượng, ba thứ quân và ba mũi ở cơ sở, ta đã liên tục tiêu hao, tiêu diệt tan rã địch. Mỹ Tho đã đánh bại cuộc hành quân càn quét, khủng bố, gom dân vào ấp chiến lược ở mảng 3 Cai Lậy Bắc. Địch phải bỏ chạy.

Qua tình hình thực tế cho thấy, nếu ta cứ cho từng đại đội của khu, tỉnh vào phá từng ấp chiến lược thì khó có thể phá cả hệ thống của chúng. Chúng đang tập trung hết mọi khả năng thực hiện trên quy mô lớn, ta phá được 1 thì chúng làm lại gấp 20 lần, Kinh nghiệm hoạt động của Tiểu đoàn 261 Khu cho thấy đầu năm 1962, Tiểu đoàn xuống Gò Công diệt 3 đại đội địch rồi cùng bộ đội địa phương, du kích và quần chúng nổi dậy bao vây, diệt bức rút đồn bốt, phá tan hệ thống ấp chiến lược, giải phóng hoàn toàn ba xã. Và trong tháng 5 năm 1963, Tiểu đoàn 514 của tỉnh cùng quần chúng nổi dậy tấn công ba mặt, bao vây, đánh dứt điểm đồn Cẩm Sơn, phá tan ấp chiến lược, giải phóng hai xã Cẩm Sơn, Xuân Sơn.

Từ những kinh nghiệm trên, mở ra khả năng muốn giải phóng được nhiều xã, phá dứt điểm được nhiều ấp chiến lược thì phải tập trung ba thứ quân bám trụ tại chỗ, mở từng khu vực với phương thức đánh điểm, kéo địch ra để diệt viện. Sau đó, dùng ba lực lượng chính trị, vũ trang, binh vận tại chỗ bao vây, tiêu diệt, bức rút, bức hàng đồn bốt, tạo thời cơ cho quần chúng bị kìm kẹp nổi dậy phá tan ấp chiến lược.

Trên cơ sở những nhận định ấy, bước sang tháng 7 năm 1963, Quân khu ủy Quân khu VIII đề nghị, Thường vụ Khu ủy quyết định mở đợt kỷ niệm ngày 20-7, tấn công nổi dậy thống nhất đồng loạt đánh phá ấp chiến lược trong toàn Khu. Vùng nam lộ 4, gồm 14 xã thuộc hai huyện Cai Lậy và Châu Thành được chọn làm trọng điểm của khu và của tỉnh Mỹ Tho.

Đây là hoạt động mang tính chất thí điểm của Khu nên được tổ chức chỉ đạo rất tỉ mỉ, chu đáo. Trong kế hoạch vạch ra có tính toán mọi trắc trở mà địch có thể gây ra.

Mô hình phá ấp chiến lược bằng cách phá mảng, phá lỏng, phá banh, phá dứt điểm ấp chiến lược ở một vùng xung yếu là một điển hình rất quan trọng về mặt tư tưởng và phương pháp đánh phá ấp chiến lược, vì ở đây địch xem như là núm ruột của chúng, lại ở lọt giữa vòng vây bảo vệ chặt chẽ của chúng mà chúng phải chịu thua thì thử hỏi nơi nào khác ta lại không thể có hành động tương tự như thế.

Khu vực này, phía bắc là lộ 4 chiến lược của địch, luôn luôn được phòng giữ hết sức nghiêm ngặt; phía nam là sông Tiền rộng mênh, trên đó tàu địch kiểm soát thường xuyên; phía đông là thị xã Mỹ Tho, nơi tập trung cơ quan đầu não của khu chiến thuật Tiền Giang của địch; phía tây là các cứ điểm nằm trong tầm pháo diện địa của các căn cứ quân sự địch ở chung quanh.

Đây là nơi đông dân, nhiều của, kinh tế trù phú vào bậc nhất của tỉnh Mỹ Tho. Nếu xét về mục tiêu giành dân và giữ dân thì nơi đây chính là nơi quan trọng bậc nhất.

Lực lượng tiến công ở hướng chủ yếu gồm có Tiểu đoàn 261 của Khu, Đại đội 1 Tiểu đoàn 514 bộ đội địa phương Châu Thành, Cai Lậy, dân quân, du kích 14 xã và lực lượng tấn công chính trị, binh vận các xã trong mảng trọng điểm. Sử dụng Đại đội 2 Tiểu đoàn 514 ở hướng Chợ Gạo để căng kéo địch.

Về mặt quân sự, tổ chức Ban chỉ huy thống nhất gồm các đồng chí Châu Kim Sơn - Phó tham mưu trưởng quân khu làm Chỉ huy trưởng, đồng chí Mười Hà - Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Chính trị viên tỉnh đội làm Chính trị viên, đồng chí Sáu Danh - Tỉnh đội trưởng và đồng chí Hai Hoàng - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 261, làm Chỉ huy phó.

Đêm 15 tháng 7 năm 1963, toàn Khu vào đợt.

Ở hướng chủ yếu, một bộ phận của Tiểu đoàn 261 và Đại đội 1 Tiểu đoàn 514 bao vây đồn chợ cầu Cái Mít, xã Long Tiên, dụ địch giải tỏa để phục kích tiêu diệt một tiểu đoàn của Sư đoàn 7. Địch đoán được ý đồ của ta nên chúng án binh trên lộ 4 và lộ Ba Dừa. Đồn chợ cầu Cái Mít rút chạy, ta phát động quần chúng nổi dậy phá ấp chiến lược nhưng cũng chưa dứt điểm. Ban chỉ huy thống nhất quyết định đánh điểm then chốt. Đêm 20 tháng 7 năm 1963, Tiểu đoàn 261 đánh chiếm yếu khu Vĩnh Kim, Đại đội 1 Tiểu đoàn 514 cùng bộ đội địa phương huyện Châu Thành, Cai Lậy và du kích đồng loạt tiến công bức hàng 7 đồn, bức rút 8 đồn khác. Quần chúng nổi dậy phá banh, phá dứt điểm hầu hết các ấp chiến lược trong mảng 14 xã, giải phóng một vùng rộng từ lộ Đông Hòa đến lộ Ba Dừa. Vùng này từ đó được mang tên là vùng 20-7.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Một, 2013, 06:43:12 AM
Ở hướng Chợ Gạo, Đại đội 2 Tiểu đoàn 514 tiến công ấp chiến lược Trung Hòa, đánh thiệt hại nặng 1 trung đội địch. Phát hiện có lực lượng của ta thọc xuống Chợ Gạo, sáng ngày 16 tháng 7 năm 1963, khu chiến thuật Tiền Giang của địch tập trung một lực lượng lớn gồm 5 tiểu đoàn bộ binh và biệt động quân, đánh vào xã Mỹ Tịnh An. Đại đội 2 đánh diệt trên 100 tên, bắn rơi 1 máy bay khu trục.

(https://lh3.googleusercontent.com/cCfX8hoswyUVTrrJcc6bOufHaq5p-rggrilOeknWWJP_onJVC87O9JNskPBxdG7Lr7-5PoUDDNYfw4tLhsmwGbN63VDKZn__GkwzCHNuS6SFoK4lAed-BmE0N6N8foBWSiPAHVdRq3g43VGV05OK5rDahzhSkryLZzp5DjBV7Bn4Wq3rmsBMQc8Q0Vs202HyUtlzuyNY4AgMs_AcsWX8uwDkj_tIcQZ0JQjZztCgWYUOpHDLz9nXKk4AZPs4t2Tlba6E59lFgr2p2wt9mBYlfrWv0f69Pi0KpwpGWrE_eXGEybtrmxRzBQTNEKlGLz0HQzCbqk1tCbt97T0sx11rYN7aivnUhKExwdwNq2zZrrF3H-SSRyOZc00E90z8FNvARYNg69t6kI3cBer4thsOPK5a67Gd33Ions4aKLtxJ2MW2hWojcYPvhpcV4H_pImLt7xUxxl0SG2OC3XR5qXWduxI9_IL5yieOZ-DMn0k6Qrf1kywJXMkSCwRSeUO1E3XsVvH6OtMXxfwDh3kvl95W4vg2t9yuFBxnc3FasVTVCib4ot1Y6CZ8cO_0MykhWv9H_5feMEQXrqsWvDUe9ubXHpQUdVG9BT9MjeiCHpWZIoWe4BJsOfL=w495-h635-no)

Đồng bào và du kích xã Hòa Định (Chợ Gạo) tập trung phá ấp chiến lược

Quyết tâm diệt Đại đội 2 của ta, ngày 21 tháng 7 năm 1963, địch tăng cường thêm lực lượng, đưa Trung đoàn 11 Sư đoàn 7 và Tiểu đoàn biệt động quân có 48 xe M113 và 27 tàu yểm trợ, do đích thân tướng Trần Thiện Khiêm từ Bộ tổng tham mưu ngụy ở Sài Gòn xuống chỉ huy đánh tiếp vào vùng Chợ Gạo, tiến hành bao vây lực lượng ta ở xã Quơn Long. Đại đội 2 đánh lui nhiều đợt tiến quân của địch, giữ vững trận địa suốt ngày, đến tối rút lui an toàn, diệt trên 100 tên địch, bắn rơi 1 máy bay trực thăng, 1 máy bay trinh sát L19, bắn hỏng 5 xe M113, hoàn thành được nhiệm vụ thu hút, căng kéo địch. Cùng tham gia chiến đấu với bộ đội tỉnh, đội du kích Thanh Bình đánh nhỏ lẻ đã diệt được 50 tên địch. Đợt hoạt động mở vùng 20-7 kết thúc thắng lợi.

Đợt hoạt động tấn công nổi dậy tháng 7 năm 1963 tại vùng trọng điểm nam lộ 4 đã tổ chức và hình thành như một chiến dịch tổng hợp tấn công ba mũi chính trị, vũ trang, binh vận phá ấp chiến lược bằng sức mạnh của ba thứ quân, ba mũi, kết hợp chặt chẽ giữa tiến công và nổi dậy của quần chúng. Hình thành hai hướng: hướng chính ta đánh chiếm yếu khu, đồn bốt, kéo địch đi giải tỏa để tiêu diệt lớn, gây thối động, tạo thế cho quần chúng nổi dậy đồng loạt ở nhiều xã. Hướng phối hợp thì thọc sâu phá ấp chiến lược, thu hút địch để cho hướng chính giành thắng lợi lớn.

Sau trận Ấp Bắc, đây là trận thắng mang ý nghĩa rất lớn để tiến tới đánh bại hoàn toàn quốc sách “ấp chiến lược” trên địa bàn toàn Khu. Từ mô hình của đợt hoạt động này đã cho kinh nghiệm tổ chức các chiến dịch tổng hợp vừa và nhỏ ở các cấp trong Khu cho đến quy mô lớn có sự tham gia của binh đoàn chủ lực cấp trên ở các chiến trường đông dân sau này.

Được báo cáo của Thường vụ Khu ủy Trung Nam Bộ về đợt tấn công nổi dậy đồng loạt toàn Khu ngày 20 tháng 7 năm 1963, đặc biệt là kết quả đã giành được thắng lợi ở trọng điểm, đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn đã điện vào khen ngợi và đánh giá: Đây là bài học có tính quy luật mới. Tuy địch ở miền Nam còn mạnh hơn ta gấp bội nhưng bị căng kéo, lực lượng bị kẹt chân ở các chiến trường phải đóng quân phân tán để giữ đất, nếu ta dám tổng hợp sức mạnh tập trung lực lượng các mặt, bám trụ ở một vùng nhất định, kiên quyết tấn công nổi dậy, dám bám trụ tại chỗ đánh mạnh, đánh liên tục thì vẫn có khả năng mở ra một vùng giải phóng rộng lớn ở khu vực đó.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Một, 2013, 06:44:13 AM
2. Làm thất bại quốc sách “ấp chiến lược”

Từ tháng 7 năm 1963, Khu Trung Nam Bộ bắt đầu nhận được vũ khí do Trung ương chi viện. Khu đã nhanh chóng tổ chức phân phối, cải tiến trang bị cho các đơn vị trực thuộc và các tỉnh. Đây chính là một trong những yếu tố hết sức quan trọng giúp Khu nhanh chóng xây dựng lực lượng và đẩy nhanh nhịp độ tấn công địch giành những thắng lợi mới trên chiến trường.

Sau thắng lợi mở vùng 20-7, Thường vụ Khu ủy chỉ đạo chiến trường Mỹ Tho chuyển hướng mở vùng yếu Gò Công.

Đêm mùng 9 tháng 9 năm 1963, Tiểu đoàn 261 của Khu diệt đồn Tân Niên Tây, phục kích diệt 1 đại đội biệt kích ác ôn của chi khu Gò Công, tiếp đó chặn đánh 1 tiểu đoàn của Sư đoàn 7 và 1 chi đoàn xe M113 hành quân giải tỏa, diệt 10 xe M113, bắn rơi 3 máy bay. Đại đội 2 Tiểu đoàn 514 và Trung đội địa phương cùng quần chúng nổi dậy tấn công ba mũi, bao vây bức rút, bức hàng đồn bốt, phá banh các ấp chiến lược, giải phóng 2 xã Kiển Phước và Tân Thành.

(https://lh3.googleusercontent.com/cYZ_MGRrobJtJPofihuS7XD7bd2OjBBa1IPVZZ0N-4Sfijf3wKJJ9vfImF9UtZvImc_qxeyBKy9cC49vAunQ7jXvHP8-46Usww3XqBhmwcvP4sqXACMEkTbC2uuDkB7ZoxKTQlNsb6VMCQbZkCG2l8Ro1aX4LLqg0k5XMpJpzEH_61Si61pIEHy7CcWGhKb7t2sbPOKtIL15nsdDqOjAn0CNSLdQUoFAjRJXXglarkXstOi4qG2QPQZexh2AuJ1EArIK7nRktMVRsDx7D_Ggpx1rYxS2CRZuFiDGqulOCZRK_adXvAfL2neKYV3a3UbEHs7Of4HS04_lHp1iUfQse24RWE7qi_2PaiOu2iR8AeTcIAn45mYpUK7vE5O6_leTIaGZEeOt0hRgEYZkoDT0aCKAti04O1CID8DcTYKVsaWVKcbuHEUjYh6YIQ3DXhzE8TAWHp3sb_zGluJZakwBH_3-YUGAEVg_TUQb2NE-5fu-UzM13iQYVQ1LOyeFVpcVMULtjv8x0owLs3Akzt_ev0CeNpdkwI0ZASs6DxwZ7GZd6Edfycu0Y9WZFiik_dSQYJ6ORz-01_r00VpJiQe0VgEzAG805YEW5HPh_PzILIwL9J6F6j9o=w744-h461-no)

Bà mẹ dùng máy phóng thanh của đội Thanh niên xung kích để kêu gọi con và binh sĩ
của đồn Tân Niên Tây (Gò Công) trở về với cách mạng

Được sự chỉ đạo của Trung ương Cục tận dụng thời cơ Ngô Đình Diệm có thể bị đảo chính (tuy chưa biết xảy ra vào ngày nào nhưng tình hình Sài Gòn đang sôi động), đồng chí Sáu Đường, Bí thư Khu ủy, quyết định lấy ngày 5 tháng 11 năm 1963 làm ngày nổi dậy tấn công thống nhất toàn Khu để chớp thời cơ. Nhưng đến ngày 1 tháng 11 năm 1963, cuộc đảo chính Diệm đã nổ ra ở Sài Gòn. Lúc này Tiểu đoàn 514 Mỹ Tho đang chuẩn bị vào đợt ở yếu khu Ba Dừa, được lệnh Khu bàn giao lại cho Tiểu đoàn 261, nhanh chóng chuyển sang tấn công vào khu vực Phú Mỹ - Củ Chi. Sáng ngày 3 tháng 11 năm 1963, Tiểu đoàn 514 diệt đồn đại đội của tên Huề. Ngày 4 tháng 11 năm 1963, tiểu đoàn đánh chiếm yếu khu Phú Mỹ và đồn Tân Hòa Thành, giải phóng 2 xã Phú Mỹ, Tân Hòa Thành; đánh Sư đoàn 7 phản kích ở lộ Quẹo; phá ấp chiến lược Tân Lý Đông ở sát lộ 4, diệt 5 xe M113 và hàng trăm tên địch. Củ Chi - Phú Mỹ là vùng tập trung đồng bào tín đồ đạo Cao Đài Tây Ninh, bị địch chiếm đóng đã lâu ngày nay đã được giải phóng. Vùng Phú Mỹ - Củ Chi được giải phóng, ta mở thông được hành lang từ Đồng Tháp Mười xuống Chợ Gạo.

Ở hướng chính, ngày 2 tháng 11 năm 1963, Tiểu đoàn 261 cùng quần chúng nổi dậy bao vây, tấn công yếu khu Ba Dừa. Sau 4 ngày đêm bao vây, đánh lấn, địch đầu hàng, ta bắt được 62 tù binh. Ba Dừa thất thủ đã gây thối động mạnh trong hàng ngũ địch, nhất là trong các đồn bốt chung quanh. Du kích và nhân dân 7 xã Long Tiên, Long Trung, Long Khánh, Tam Bình, Cẩm Sơn, Xuân Sơn, Hội Sơn chung quanh Ba Dừa bao vây, hù dọa, bức rút, bức hàng toàn bộ đồn bốt. Tiểu đoàn chuyển xuống hỗ trợ quần chúng nổi dậy bao vây chi khu Vĩnh Kim, giải phóng xã Đông Hòa, sau đó chuyển lên Cai Lậy giải phóng xã Hiệp Đức. Vùng giải phóng 20-7 được mở rộng từ sông Ba Rài - Cai Lậy đến kênh Nguyễn Tấn Thành - Châu Thành, từ lộ 4 đến giáp mé sông Tiền, nối liền với vùng giải phóng của Bến Tre.

Sau thắng lợi lớn ở Củ Chi, tỉnh chuyển Đại đội 1 Tiểu đoàn 514 lên Cái Bè hỗ trợ cho xã, ấp bức rút 3 đồn xã Hòa Khánh. Bộ đội huyện, du kích và quần chúng bao vây bức hàng các đồn bốt khu vực Cái Nứa và khu trù mật Hậu Mỹ, huyện Cái Bè, giải phóng một vùng rộng lớn trong mảng 6 xã phía bắc huyện, từ kênh Nguyễn Văn Tiếp ra đến giáp quốc lộ 4, đến Rạch Ruộng xã Thanh Hưng, giáp Kiến Phong.

Đại đội 2 và Đại đội 3 Tiểu đoàn 514 chuyển xuống Chợ Gạo, Gò Công, Hòa Đồng, kết hợp với bộ đội huyện, du kích và lực lượng tấn công chính trị, binh vận tại chỗ, diệt các đồn ở xã Mỹ Tịnh An, Thanh Bình, Phú Kiết, ngã ba Chị Cúc - Chợ Gạo. Địch phản kích nhưng bị đánh và bị diệt nhiều tên ở An Thạnh Thủy.

Ở Gò Công, đại đội bộ đội huyện hỗ trợ quần chúng nổi dậy và bức rút toàn bộ đồn bốt trong huyện, chỉ còn lại thị trấn. Ở Hòa Đồng lực lượng ba mũi của huyện đã giải phóng 3 xã Phú Thạnh Đông, Bình Tân, Vĩnh Hữu, phá banh 5 ấp chiến lược trên lộ 24 thuộc các xã Thạnh Trị, Bình Phục Nhứt, Thạnh Nhựt. Vùng giải phóng được mở rộng từ Cửa Tiểu lên giáp kênh Chợ Gạo.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Một, 2013, 06:45:02 AM
Chỉ trong tháng 11 năm 1963, trong toàn tỉnh Mỹ Tho, ta đã diệt và bức rút 162 đồn bốt, giải phóng 20 xã. Đến cuối năm 1963, toàn tỉnh Mỹ Tho chỉ còn 10 ấp chiến lược ở các thị xã, thị trấn nhưng các ấp chiến lược này cũng chỉ là hình thức. Kế hoạch lập ấp chiến lược của địch ở Mỹ Tho đã bị phá sản. Hoạt động của lực lượng du kích các loại và quần chúng tấn công chính trị, binh vận đã tạo thành một mạng lưới chiến tranh nhân dân nổi dậy hai chân ba mũi rộng khắp. Du kích có mặt ở khắp nơi, trong mọi tình huống, phối hợp với bộ đội chủ lực, địa phương đánh càn quét, bao vây đồn bốt, trinh sát bám địch, độc lập tác chiến. Du kích Hậu Mỹ, Mỹ Trung, Mỹ Lợi - Cái Bè và một số xã của Gò Công, với vũ khí thô sơ do tổ vũ khí xã sản xuất, đã giết và làm bị thương nhiều địch trong các trận càn. Du kích công binh phục kích trên các đường giao thông, phá hủy và đánh hỏng hàng chục xe quân sự, hàng chục tàu. Ở xã Thanh Hòa - Cai Lậy, du kích mật đánh xe Jeep chở sĩ quan ngay sát thị trấn. Du kích Thạnh Phú kết hợp binh vận lấy đồn dân vệ. Du kích Thới Sơn bắn cháy 1 tàu, diệt 1 trung đội địch. Du kích Thân Cửu Nghĩa đánh sân bay, phá hỏng 1 máy bay L19. Du kích Mỹ Thiện dùng ong vò vẽ kết hợp đắp mô, gài mìn trên lộ 4, làm ngưng trệ giao thông suốt ngày. Địch ra gỡ mìn đem về đồn, bọn lính đồn xúm lại xem, mìn nổ làm chết cả chục tên. Các đoạn Cây Me Tơ, Cầu Rượu, Cả Chác, Quẹo Bình Phú, Thẻ 23, Đồng Lớn, Co Cò là những điểm săn xe và phá lộ của du kích và đồng bào trên lộ 4. Nhiều cách đánh địch rất mưu trí, sáng tạo, đơn sơ, dễ làm cho địch rất sợ và không biết phá bằng cách nào để khỏi bị tổn thất về sinh mạng và phương tiện của chúng. Thí dụ như đắp mô đất sình, gài mìn có cắm chà chôm.

Trong các ấp chiến lược, du kích và quần chúng đã trừng trị 86 tên, cảnh cáo 1.726 tên và chặn đánh bọn bung ra. Du kích Hậu Mỹ tiêu diệt tiểu đội dân vệ, thu 11 khẩu súng. Du kích Đông Hòa Hiệp tập kích địch giữa ban ngày, chiếm lô cốt, thu 6 khẩu súng. Du kích Hậu Thành phục kích diệt 3 tên địch, thu 3 khẩu súng. Du kích các xã Gò Công bám sát ấp chiến lược, lộ giao thông đánh thường xuyên.

Tính chung ở Mỹ Tho trong năm 1963, du kích và quần chúng đã đánh 3.595 trận, diệt 3.286 tên, bắn rơi 14 máy bay, phá hủy và làm hỏng 23 xe quân sự, trong đó có 20 xe M113, 12 chiếc tàu, thu 1.200 khẩu súng, nhiều mìn, đạn dược và 15 máy thông tin.

Ở chiến trường Long An, trong năm 1962 địch yếu thế nhưng sang năm 1963 chúng triển khai kế hoạch “tổng tiến công” lập ấp chiến lược rất ác liệt. Chúng tăng cường và điều chỉnh binh lực. Riêng ở bắc lộ 4, chúng bố trí Trung đoàn 46 Sư đoàn 25 ở Đức Hòa, Trung đoàn 10 Sư đoàn 7 ở Thủ Thừa và tăng cường thêm một trận địa pháo ở Bến Lức. Nếu tính cả chiến đoàn biệt động quân và chiến đoàn thủy quân lục chiến bố trí ở Cần Giuộc, Cần Đước thì tổng số lực lượng địch ở Long An từ 13.700 tên năm 1962, đã tăng lên đến 40.000 tên năm 1963. Ngoài ra, chúng còn gom được vào thanh niên chiến đấu 21.000 người, trong đó có 6.000 người được trang bị vũ khí. Từng chiến đoàn địch kết hợp với phi pháo, xe M113 đánh phá từng vùng 2 - 3 xã hoặc 5 - 6 xã; đánh cả ngày lẫn đêm, đánh đến đâu gom dân lập ấp chiến lược, hình thành bộ máy kìm kẹp đến đó, làm dứt điểm từng vùng rồi chuyển sang vùng khác theo kiểu vết dầu loang. Trong một thời gian ngắn, chúng đã lập được 273 ấp chiến lược ở 88 xã, trong đó có 17 xã ở Bến Lức, Thủ Thừa và 12 xã ở Đức Hòa. Ở Đức Huệ, chúng chỉ lập được 1 ấp chiến lược tại quận lỵ cũ.

Trước đây địch càn quét ban ngày, cán bộ, đảng viên tản ra các căn cứ lõm hoặc xuống hầm bí mật, ban đêm lại trở về gặp gỡ quần chúng. Nay với kiểu đánh mới, dân bị gom và ấp, bị kìm kẹp chặt, cơ sở chính trị bị xáo trộn, các tổ chức quần chúng bị tan rã hầu hết. Cán bộ, đảng viên không bám được. Các vùng căn cứ lõm cũng không ổn định.

Để khắc phục, tỉnh đưa lực lượng vũ trang thọc sâu vào ấp, đánh và trụ lại, phát động quần chúng phá rào, đấu tranh dỡ nhà bung về nơi ở cũ. Nhưng ta cũng không trụ lại được dài ngày. Khi lực lượng vũ trang rút đi, địch bắt quần chúng làm lại. Chúng còn bắt những gia đình có con đi kháng chiến đóng tiền bồi thường. Cứ giằng co như vậy cho đến tháng 10 năm 1963, Long An không phá dứt điểm được một ấp chiến lược nào. Tình hình trở nên hết sức căng thẳng. Điển hình như Mỹ Hạnh, Đức Hòa là xã mạnh, có 2.379 hộ dân thì có đến 2.328 ộ bị gom, chỉ có 51 hộ trụ lại được. Nhiều đội du kích xã tan rã, quân số bộ đội địa phương bị giảm sút, bộ đội tỉnh mất chỗ đứng, suốt 6 tháng không đánh được trận nào mà còn bị tiêu hao.

Địch triển khai được ấp chiến lược ở Long An là do chúng đã thay đổi tương quan lực lượng hai bên, đồng thời sử dụng các phương tiện hiện đại, vận dụng các thủ đoạn mới có hiệu quả hơn. Trong lúc đó, lực lượng vũ trang cách mạng chưa phát triển kịp theo yêu cầu của tình hình, vận dụng phương châm, phương thức tấn công chưa phù hợp, chưa đánh được đồn cấp trung đội và chưa diệt được quân tiếp viện.

Thường vụ Khu ủy chỉ đạo tỉnh Long An kiểm điểm và xác định đối tượng tác chiến là đồn bốt, lực lượng bảo vệ và quân chi viện. Tỉnh phải có những trận đánh tiêu diệt then chốt, gây thối động để tạo đà đẩy mạnh hai chân, ba mũi tấn công.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Một, 2013, 06:45:22 AM
Sau hội nghị kiểm điểm, bộ đội tỉnh được củng cố lại thành hai đại đội bộ binh mạnh, quân số chung tới 800 người. Các đơn vị huyện và du kích xã đều được củng cố khá mạnh, lại còn thêm tổ chức du kích liên xã. Ngoài ra, còn có 2 đại đội đặc công, các đại đội trinh sát, công binh thủy, trung đội thông tin.

Tháng 10 năm 1963, bộ đội địa phương Đức Hòa đánh trận Giồng Lớn, diệt được địch, trụ lại; quần chúng nổi dậy tấn công ba mũi, phá bộ máy kìm kẹp, giải tán thanh niên chiến đấu, phá ấp chiến lược. Đây là trận đánh thí điểm vận dụng phương châm, phương thức tấn công mới.

Trong khi đó, trên lộ 10 sau khi diệt đồn Hòa Khánh ta rút đi, 2 tên địch còn sống sót vẫn khống chế được dân, bắt dân làm lại ấp chiến lược.

Rút kinh nghiệm từ đây, bộ đội địa phương các huyện Bến Lức, Thủ Thừa và nam lộ 4 hạ quyết tâm đánh đồn xong bám trụ lại đánh càn, quyết giữ thế cho quần chúng nổi dậy. Tỉnh theo dõi chỉ đạo rút kinh nghiệm từng trận. Nhờ vậy, Long An bước đầu đã phá được 20 ấp chiến lược, giải tán được 2.800 thanh niên chiến đấu.

Sang tháng 11 năm 1963, xảy ra vụ đảo chính Ngô Đình Diệm ở Sài Gòn. Địch đang rối rắm, tỉnh tổ chức đánh diệt căn cứ Hiệp Hòa. Đây là căn cứ huấn luyện lực lượng đặc biệt của Mỹ. Địch dùng bọn này để đánh phá, ngăn chặn ta dọc theo biên giới Việt Nam - Campuchia, đã gây cho ta không ít khó khăn. Căn cứ nằm bên bờ phía trái sông Vàm Cỏ Đông, án ngữ một góc của Đồng Tháp Mười, rộng 15.000 mét vuông, là cụm công sự và lô cốt kiên cố, khống chế hành lang từ Miền xuống Khu VIII và Khu IX, trực tiếp uy hiếp hành lang từ Long An đi Sài Gòn và vùng bắc lộ 4 Long An. Ở đây, địch có 12 cố vấn Mỹ, khung chỉ huy, khung huấn luyện, 9 trung đội học viên biệt kích và lực lượng bảo vệ. Ta có 3 nội tuyến, trong đó có một đảng viên.

Trận đánh diễn ra trong đêm 22 rạng ngày 23 tháng 11 năm 1963. Chỉ trong 30 phút, ta đã làm chủ căn cứ, diệt 70 tên, trong đó có 8 tên Mỹ; bắn sống 100 tên, trong đó có 4 tên Mỹ, thu trên 500 súng, trong đó có 13 cối 81 và đại liên, 18 trung liên. Đây là trận đánh đầu tiên ta bắt sống được nhiều cố vấn Mỹ ở miền Nam.

Sáng ngày 23 tháng 11 năm 1968, địch tung ra 1 trung đoàn bộ binh với 18 xe M113, có máy bay và pháo binh yểm trợ, đánh vào các xã An Ninh, Bình Hòa Bắc truy kích lực lượng ta. Chị em đội quân tóc dài, trong đó có nhiều gia đình binh sĩ, chít khăn tang xông ra chặn xe địch, kêu khóc, đòi trả con em và hù dọa bọn chúng. Đoàn xe M113 bị chặn lại, không tiến lên được, chúng phải rút. Lực lượng ta trở về căn cứ an toàn.

(https://lh3.googleusercontent.com/Jgn0pKBzR5YZgCWGVp_kCC8I4pY_ZNCSUPnN8Oqb8TobJps9FR7Uvuhs8xKHPKB_W8xjl5IKbeH74KpspfVmhqO3PwnCkfRewxPNv9I1-KpbvnulKEv0fsXN7gD3lRk5vDh2UkhNS3nnThU5jO2povCbZTfPJNodW7LD3_d5-_zKYH3TasXgMydLEAy09rEW-kxV5sYsiBMAD_lZODGs6o0-PdW81hn3qkPL-EF8ntnBV0xO7gRvRGQk6VwFQ4Y_5xAvnosAjj5h5wA0gtr1i1kg4CpDFakm-MtIb5cUMYtvRH8yEAa6FqM7jV5a8RmJpQBei4QVVFO1Pp8xphKWwpYdf82rth1AvAd0Xlhc06_oMCrXWqRwV42zb9ipf4dCokyxsP65AQPYu7C1cBLc5wlmgr8pVHM9SUmO8RaGEMy-x_2mpYHIVAVAqVSVdBm4qU-eG3yYE4kZ0ihN8sHm94rFRtNZTAnDWCq85nS5704V7TLpC-RZHYY25feRQ2ysVAL7_Y3AZF_k1zUBZAJXO9P5tS-E6cT1w3m_b-U3GKXDblC7Xz8fuCYCedqhwDZg4OyRsl5clWaG7NYN6A_HZF6aZzbwHoCXmmWIaOEfbshjWf0jHxW5=w800-h539-no)

Bắt sống cố vấn Mỹ tại căn cứ huấn luyện biệt kích ở Hiệp Hòa - Long An (23/11/1963)

Phối hợp với trận đánh, hàng chục ngàn đồng bào trong các ấp chiến lược nổi dậy phá đồn bốt, phá rào, bờ tường, dỡ nhà, chở đồ đạc trở về ấp cũ. Địch không sao ngăn chặn được.

Chỉ trong ba ngày, cả một vùng Đức Hòa, Hòa Khánh, Sò Đo, Mỹ Hạnh, sạch đồn bốt và ấp chiến lược. Một loạt đồn bốt trên lộ 10, trong khoảng dài 10 kilômét, bị bức rút.

Với vũ khí thu được, tỉnh thành lập thêm hai trung đội đặc công bộ và thủy, bổ sung trang bị đầy đủ cho các đại đội cơ động.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Một, 2013, 06:45:50 AM
Trận Hiệp Hòa là trận đánh địch trong công sự vững chắc mà thắng lớn đầu tiên của bộ đội Long An cũng là trận đánh thắng lớn đầu tiên thuộc loại này trong toàn Khu Trung Nam Bộ. Thắng lợi này chứng tỏ khả năng kết hợp đặc công, bộ binh, nội tuyến kỳ tập diệt căn cứ có công sự vững chắc của địch là loại hình chiến thuật thích hợp trên chiến trường trong lúc bộ đội ta chưa đủ hỏa lực diệt đồn kiên cố.

Đầu tháng 12 năm 1963, Long An mở đợt tấn công nổi dậy đồng loạt hai chân, ba mũi theo phương thức và kinh nghiệm mà Khu ủy đã tổng kết. Bộ đội tỉnh, huyện kết hợp với ba mũi của quần chúng tấn công liên tục, bức rút, bức hàng 12 đồn trên các lộ 9, 16, 31 và ven sông Vàm Cỏ Đông. Hàng vạn quần chúng nổi dậy phá ấp chiến lược, dỡ nhà về nơi ở cũ. Vùng giải phóng được mở rộng từ Đức Huệ qua Đức Hòa xuống giáp lộ 4. Có nơi có bộ đội hỗ trợ, có nơi chỉ có quần chúng nổi dậy cướp bốt, có nơi quần chúng hù dọa, địch sợ phải bỏ ấp chiến lược chạy.

Chỉ trong tháng 12 năm 1963, toàn tỉnh đã diệt, bức rút 60 đồn bốt, giải tán 20.000 thanh niên chiến đấu, phá 193 trong số 273 ấp chiến lược, giải phóng 23 xã.

Đến hết năm 1963, việc lập ấp chiến lược của địch ở Long An đã bị thất bại nặng nề.

Ở Bến Tre, cho đến cuối năm 1962, địch đã khoanh được hàng vạn dân, lập được 115 ấp chiến lược.

Đầu năm 1963, ở Bến Lức nổ ra cuộc tấn công chính trị lớn, đội quân tóc dài kéo vào thị xã đấu tranh trực diện với tỉnh trưởng, chống rải chất độc hóa học. Nguyên nhân thực tiếp là do máy bay Mỹ rải chất độc hóa học xuống các xã Nhơn Thạnh, Thuận Điền, Mỹ Thạnh, Lương Phú huyện Giồng Trôm làm cho một em bé bị chết, nhiều người bị sưng mắt; trâu, bò, heo, gà, vịt bị chết. Tại nhà của em bé bị chết, quần chúng tụ tập rất đông, cấp ủy địa phương phát động lòng căm thù giặc Mỹ dã man rải chất độc hủy diệt xóm làng, đồng bào xác định phải kéo lên tỉnh đấu tranh. Đội quân tóc dài ở Nhơn Thạnh và các xã lân cận gồm hơn 200 người, đi trên 60 xuồng máy, đưa xác em bé lên tỉnh. Ban đầu, tỉnh trưởng đổ trách nhiệm cho Mỹ, sau vì áp lực của quần chúng mạnh, có cả đồng bào thị xã ráp lại, hắn phải xoa dịu, nhận sẽ chuyển ý kiến lên cấp trên.

Cuộc đấu tranh biến thành cuộc biểu tình công khai đả đảo Mỹ rải chất độc hóa học, kéo đi suốt dọc theo con đường chính trong thị xã. Về tới xã, cuộc biểu tình vẫn tiếp tục, kéo theo hàng ngàn người tham dự, biến thành cuộc mít tinh tố cáo tội ác của Mỹ - ngụy.

Trong tình hình sôi sục đó, Tỉnh ủy chỉ đạo tổ chức cuộc đấu tranh trực diện lớn của lực lượng tấn công chính trị các huyện Châu Thành, Ba Tri, Giồng Trôm, Mỏ Cày, Thạnh Phú, Chợ Lách và thị xã, lên tới hơn 20.000 người, nhằm gây áp lực buộc địch phải ngừng hẳn việc rải chất độc hóa học.

Ngày 16 tháng 1 năm 1963, đoàn đấu tranh, bằng nhiều cách, đã tiến vào thị xã. Phát hiện có quần chúng đấu tranh, địch cho cảnh sát ngăn chặn, nhưng đồng bào cứ giương băng tràn tới. Tiếng kêu khóc thảm thiết vang vậy: “Cứu dân với, chính phủ ơi!”. Những tiếng kêu cứu thảm thiết của hàng vạn con người đã gây xúc động lớn đến mọi người dân ở thị xã, kể cả binh lính. Đồng bào tràn tới trước dinh tỉnh. Tên đại úy Tuyết, sĩ quan trong dinh, ra gặp đoàn biểu tình. Hắn hăm dọa: “Mấy bà bị Việt cộng xúi giục làm loạn phải không? Trở về liền, bằng không thì chúng tôi cho bắt hết xử tử!”. Bà Sáu vợ ông Phán Tố, sống ở thị xã, rất có uy tín với bọn sĩ quan, từ trong hàng ngũ biểu tình đứng lên gọi tên Tuyết: “Ông Tuyết, tôi đây nè! Ông có bắt thì bắt tôi đi!”. Tên Tuyết bối rối: “Bác Phán mà cũng đi đấu tranh nữa sao?”. “Mấy ông rải chất độc hóa học chết dân, nhà cửa, ruộng vườn người ta không còn gì hết thì người ta đến đòi hỏi. Chớ Việt cộng nào xúi giục? Oan ức cho người ta quá, bây giờ người ta đòi mấy ông trả lời”. Tên Tuyết xuống giọng bảo tỉnh trưởng không có nhà, xin bà con cứ đưa đơn, tỉnh trưởng sẽ về giải quyết. Giằng co mãi, cuối cùng hắn đề nghị đồng bào tập trung ra sân vận động để tỉnh trưởng nói chuyện. Đoàn đấu tranh tập trung tại sân vận động hơn 5.000 người, còn thì rải khắp thị xã. Tỉnh trưởng cũng chẳng giải quyết được gì. Chúng giam chân đoàn đấu tranh tại chỗ, cho bọn cảnh sát và chiêu hồi vào hăm he, nhìn mặt. Nhưng đây lại là dịp để đồng bào vạch mặt chúng. Qua đấu lý, nhiều tên phải nhìn nhận sự thật. Suốt đêm, trong sân vận động và trong thị xã, đồng bào đấu tranh thật sôi nổi. Đến sáng, lực lượng đấu tranh chính trị đội quân tóc dài từ bên ngoài vào tiếp viện, nâng con số lực lượng đấu tranh lên đến 25.000 người. Bọn lính được tuyên truyền suốt một ngày đêm, chúng chẳng còn muốn đàn áp. Tỉnh trưởng đành phải nhận đơn và hứa sẽ báo cáo lên cấp trên, dứt khoát không rải chất độc hóa học nữa. Đoàn đấu tranh thắng lợi kéo về rầm rộ. Trên bộ, dưới sông, xe, tàu chạy nối đuôi hàng trăm chiếc. Dân thị xã đứng xem rất động ở hai bên đường, hai bên bờ sông, địch không tài nào cản nổi, đành để mặc.

Sau cuộc đấu tranh, địch phải ngừng rải chất độc hóa học ở Bến Tre một thời gian dài.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Một, 2013, 06:46:20 AM
Tuy nhiên, đến giữa năm 1963, tình hình chung vẫn chưa được cải thiện. Vùng giải phóng vẫn tiếp tục bị thu hép. Cuộc đấu tranh giành dân, chống càn quét, phá ấp chiến lược vẫn diễn ra hết sức căng thẳng.

Nghiên cứu tình hình thực tế chiến trường Bến Tre, Thường vụ Khu ủy chỉ ra cho tỉnh thấy địch tích cực càn quét, gom dân, ta không tích cực đánh càn quét là sai. Trong chiến tranh, nếu mũi quân sự của ta không mạnh thì mũi đấu tranh chính trị và binh vận cũng không thể triệt để phát huy được tác dụng. Tư tưởng co thủ, hữu khuynh, né tránh, sợ ác liệt, gian khổ trong cán bộ, đảng viên đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng khí thế cách mạng của quần chúng. Phải nâng cao sức chiến đấu của lực lượng vũ trang tập trung. Cần cấp tốc mở các lớp huấn luyện chiến thuật, kỹ thuật bắn trực thăng, đánh xe M113,… theo kinh nghiệm của trận Ấp Bắc, để tổ chức cho được những trận đánh tiêu diệt lớn, làm đòn bẩy cho quần chúng nổi dậy thành cao trào phá ấp chiến lược.

Mở đầu, tỉnh đưa lực lượng cơ động đứng chân tại địa bàn Giồng Trôm. Ngày 5 tháng 7 năm 1963, lực lượng vũ trang tỉnh và huyện diệt đồn Cả Mít, xã Thạnh Phú Đông. Đây là chốt của địch nhằm ngăn chặn hành lang giao thông thủy, bộ của ta. Địch điều Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 12 Sư đoàn 7 ngụy đến đối phó, hành quân bằng trực thăng. Bộ đội bắn rơi trực thăng, diệt 1 đại đội, tiêu hao nặng Tiểu đoàn 3. Địch không vào được đồn Cả Mít. Nhân dân trong ấp chiến lược nổi dậy phá banh ấp, giải phóng xã Thạnh Phú Đông.

Phối hợp với mũi quân sự, từ ngày 10 đến 15 tháng 7 năm 1963, 2.000 người của đội quân tóc dài, trong đó có nhiều gia đình binh sĩ, từ các xã Thạnh Phú Đông, Hiệp Hưng, Tân Hào, Phước Long kéo đến thị trấn Giồng Trôm đấu tranh đòi bồi thường thiệt hại tài sản, đòi chấm dứt bắn phá, càn quét, bồi thường tính mạng con em đi lính bị chết, vận động binh lính trở về với cách mạng. Cuộc đấu tranh đã bồi thêm một đòn nặng vào tinh thần bọn địch sau thiệt hại ở trận Cả Mít, Thạnh Phú Đông.

Từ kinh nghiệm đánh trận Cả Mít, lực lượng vũ trang tỉnh và huyện liên tiếp tiến công địch, giải phóng được nhiều xã, ấp, mở rộng địa bàn làm chủ. Từ ngày 2 đến ngày 6 tháng 9 năm 1963, lực lượng vũ trang tỉnh và huyện đánh đồn Sơn Phú, phục kích đánh tiêu hao nặng Đại đội bảo an 232; tiếp đến đánh đồn Lương Phú, chặn đánh quân địch tiếp viện bằng tàu, bắn chìm và cháy 2 tàu, diệt đại đội bảo an Giồng Trôm và tên quận trưởng.

Ngày 9 tháng 9 năm 1963, bộ đội địa phương huyện Ba Tri diệt đồn Mỹ Nhơn, 2 đại đội 1 và 2 của tỉnh phục kích, vận động ngoài đồng trống, diệt hoàn toàn Đại đội bảo an 907 khét tiếng ác ôn ở Ba Tri. Cùng lúc, Đại đội 3 của tỉnh (mới thành lập ở Thạnh Phú) đánh đồn, diệt viện, tiêu hao nặng Đại đội bảo an 854 ở Cầu Ván, xã Giao Thạnh.

Chiến trường Bến Tre đã chuyển biến tốt.

Ở Kiến Tường, những tháng cuối năm 196 đầu năm 1963, địch đã lập được 45 ấp chiến lược. Mùa nước năm 1963 là mùa tỉnh phá ấp chiến lược, đưa dân về vùng giải phóng với khí thế Ấp Bắc.

Các lực lượng vũ trang của tỉnh được tập huấn về các phương thức tiến công, phòng ngự, trụ chắc bằng chông, mìn, lựu đạn, tập kích địch đóng dã ngoại kết hợp với đánh đồn bốt và bọn bình định, tề điệp trong ấp chiến lược, hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy phá ấp chiến lược.

Mũi binh vận tổ chức các gia đình binh sĩ vận động con em bỏ ngũ hoặc làm nội ứng cho cách mạng.

Khi tỉnh phát động những tín đồ Công giáo di cư và những người di dân trong các khu ấp thì gặp khó khăn. Ở những nơi này, địch tổ chức kìm kẹp rất chặt, chúng buộc dân khi gặp người lạ phải báo cáo và dọa họ là cộng sản rất tàn ác, nếu gặp thì sẽ giết họ. Đồng chí Bí thư, Thường vụ Khu ủy nghe báo cáo về tình hình này đã động viên, thúc đẩy quyết tâm của các đồng chí cấp ủy Kiến Tường: “Nhiệm vụ tự giải phóng đứng lên giành quyền làm chủ của nhân dân Kiến Tường không thể thiếu những người di dân, di cư. Bà con từ lâu đã làm một thành phần quan trọng, chiếm một số lượng đáng kể trong quần chúng cư dân của tỉnh. Đồng bào cũng là những người nông dân bị áp bức, bóc lột. Họ cũng căm thù bọn ác ôn kìm kẹp, khủng bố họ. Họ cũng có nguyện vọng đứng lên tự giải phóng khỏi ngục từ “ấp chiến lược”. Dứt khoát bằng mọi giá ta phải nghĩ ra cách tiếp xúc với họ, tuyên truyền giáo dục phát động họ nổi dậy phá khu gom dân như những người nông dân khác để hoàn thành nhiệm vụ giải phóng, giành quyền làm chủ của tỉnh nhà”.

Trên cơ sở nhận thức đó, các đồng chí cấp ủy ở cơ sở đã kiên trì bố trí người bám, tìm đủ mọi cách để gặp cho được đồng bào di cư. Khi đã tiếp xúc được rồi, được giáo dục, họ trở về nói lại với người trong khu ấp. Cuối cùng, đồng bào trong khu di dân, di cư đã làm lỏng kìm kẹp, bung ra sản xuất và phối hợp với lực lượng bên ngoài tấn công và nổi dậy. Các khu ấp di dân, di cư cũng được phá sạch như các ấp chiến lược ở các vùng khác.

Nhiều người trong đồng bào di dân, di cư đã trở thành đảng viên, cán bộ nòng cốt, là cấp ủy viên, cán bộ tỉnh, huyện, xã trong cuộc chiến tranh chống Mỹ.

Tháng 9 năm 1963, Kiến Tường thắng lớn: đặc công tỉnh đánh chìm chiếc tàu chở 227 sĩ quan trường võ bị Đà Lạt trên đường đi thực tập về, chỉ còn 17 tên sống sót, trên kênh Dương Văn Dương. Trận đánh đã gây tác động lớn trong đồng bào và trong hàng ngũ địch.

Cùng thời gian đó, trên tuyến kênh Năm Ngàn, lực lượng vũ trang kết hợp binh vận gỡ 13 đồn bốt, hỗ trợ quần chúng nổi dậy, phá bung hàng loạt ấp chiến lược, giải phóng các xã Tân Ninh, Tân Hòa, Nhơn Ninh, buộc địch ở đồn Cà Nhíp phải co lại. Vùng 4 được giải phóng lần thứ 2.

Tại vùng 6, ta diệt 3 đồn Bến Bùi, Rau Má, An Đông 1. Tại vùng 8, ta diệt đồn Cà Rưng, Vàm Dưng. Tại vùng 2, ta diệt đồn Cái Đôi, Tầm Đuông và bức địch ở đồn Tân Thiết rút chạy về Tuyên Nhơn. Quần chúng các vùng nổi dậy phối hợp với lực lượng vũ trang phá ấp, diệt bọn kìm kẹp, đồng bào trở về nhà và ruộng vườn cũ. Kế hoạch gom dân lập ấp chiến lược của địch ở Kiến Tường đến cuối mùa nước năm 1963 cơ bản đã bị phá sản.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Một, 2013, 06:46:49 AM
Ở Kiến Phong, đến đầu năm 1963 tình hình địch lập ấp chiến lược và ta phá ấp chiến lược diễn ra khá gay gắt. Ở huyện Hồng Ngự, địch xây dựng 2 yếu khu Đôn Phục và Bản Đô ở Tân Công Chí và Thường Thới Tiền. Đây là hai trung tâm biệt kích chịu sự chỉ huy của biệt khu 44 biên phòng của địch đóng ở thị xã Cao Lãnh. Đặc biệt trung tâm biệt kích Bản Đô nằm cách căn cứ của Khu ủy chỉ hơn 10 kilômét. Mỗi yếu khu của chúng là một hệ thống cứ điểm, gồm nhiều lô cốt, tháp canh, sân bay lên thẳng, cụm pháo.

Cùng với chi khu Hồng Ngự, hai trung tâm tạo thành khu tam giác mạnh, làm bàn đạp cho các cuộc hành quân càn quét, đánh phá gom dân. Hơn 200 cố vẫn Mỹ đã lần lượt về ở các trung tâm này.

Tuy nhiên, đến mùa khô năm 1963, hầu hết các ấp chiến lược địch lập được ở Hồng Ngự đều bị phá. Ta đã diệt hơn 30 tên công an, do thám, tề xã và san bằng, bức rút 10 đồn bốt. Ở các xã An Bình, Tân Hội, Thường Lạc và các xã ven Đồng Tháp Mười, bọn chủ ấp, công an ban đêm phải lánh vào thị trấn. Hầu hết dân bị gom đã trở về nơi ở cũ.

Để đối phó lại, địch tổ chức đánh phá, bao vây ngăn chặn các ghe xuồng không cho đi vào vùng giải phóng và bắt buộc một số dân vùng chúng tạm chiếm phải đi theo các cuộc hành quân của chúng vào cướp lúa. Bị lực lượng vũ trang giải phóng chặn đánh, chúng gọi máy bay ném bom xăng để đốt. Chúng đánh ban ngày, dân tổ chức gặt ban đêm. Đồng bào vùng tạm chiếm vẫn tìm cách đưa được hàng ngàn giạ lúa vào vùng giải phóng ủng hộ cách mạng.

Mũi tấn công chính trị của đội quân tóc dài các xã Thường Thới, Tân Thành, Bình Thạnh kéo hàng trăm người vào thị trấn Hồng Ngự đấu tranh đòi chấm dứt bắn phá, càn quét, đòi bồi thường thiệt hại nhân mạng, tài sản, dần dần việc phong tỏa mất hiệu lực, địch phải bỏ.

Tháng 6 năm 1963, bộ đội huyện Hồng Ngự san bằng đồn Ụ Cờ Đen. Du kích các xã hoạt động mạnh đánh cả bảo an, diệt được cố vấn Mỹ. Các đồn kênh Kháng Chiến, Bình Phú, Cả Sơ, Sâm Hai bị diệt, xã Bình Thạnh được giải phóng.

Cùng với Hồng Ngự, ở những nơi khác của Kiến Phong diễn ra sự giằng co rất quyết liệt. Khu vực Nam Cao Lãnh là trọng điểm xây dựng ấp chiến lược của địch, đồng thời cũng là trọng điểm chỉ đạo phá ấp chiến lược của tỉnh. Ở đây, bước sang năm 1963, địch xây lại một số ấp chiến lược đã bị ta phá trong năm 1962 kiên cố hơn. Do vậy, ta đột nhập vào khó khăn hơn.

Rút kinh nghiệm phá ấp chiến lược ở các nơi, tháng 3 năm 1963, lực lượng vũ trang tỉnh bao vây, tấn công các đồn và các chòi canh ở Long Hiệp, hỗ trợ quần chúng phá các bờ rào. Ta phá, địch làm lại, ta lại phá tiếp, phá đi phá lại nhiều lần. Cuối cùng, ta diệt đồn Long Hiệp và gỡ bỏ các ụ gác của thanh niên chiến đấu, đứng lại đánh bọn giải tỏa, địch mới chịu thua. Từ kinh nghiệm ở Long Hiệp, tỉnh đưa lực lượng địa phương quân Kiến Văn, du kích Bình Hàng Trung đánh địch, hỗ trợ quần chúng phá ấp chiến lược trong khu vực rạch Chùa Tổ. Vùng này sát chi khu Kiến Văn nên địch cố bám. Ta đánh thiệt hại nặng lực lượng địch đóng dã ngoại, 2 lần diệt đồn Chàu Tổ và diệt đồn cầu Bốn Miệng, huy động quần chúng phá hẳn từng đoạn bờ thành, biến nơi đây thành ấp chiến đấu, du kích đánh liên tục. Cuối cùng chúng phải bỏ.

Cũng từ tháng 3 năm 1963, bộ đội tỉnh và huyện tích cực tổ chức đánh tiêu diệt, tiêu hao sinh lực địch, phá vỡ đồn, hỗ trợ quần chúng nổi dậy phá ấp chiến lược. Ta đã bao vây, cường tập kết hợp kỳ tập 2 đồn Cái Bèo, Bà Vẹn thuộc xã Mỹ Quý, phục kích diệt địch ở rạch Tân Trường, xã Mỹ Hội, tập kích địch đóng dã ngoại ở xã Tân An, chống địch càn ở Cả Cải, Xẻo Quít, xã Long Hiệp, huyện Cao Lãnh.

Kết thúc năm 1963, Kiến Phong đã giải phóng được nhiều vùng nông thôn ở Cao Lãnh, Mỹ An, Hồng Ngự, Thanh Bình, nhiều ấp chiến lược bị phá lỏng, phá rã. Ở vùng nam Cao Lãnh, ta lấn ra sát lộ 30, vùng bắc Cao Lãnh, ta làm chủ sát thị xã, địa bàn du kích mở rộng ra ở các xã An Bình, Mỹ Trà, Mỹ Ngãi, Tân An.

Ở An Giang, bước sang năm 1963, ngoài việc triển khai nhiệm vụ của Khu giao là giác ngộ cách mạng trong đồng bào theo đạo và đồng bào thiểu số chống địch xây dựng ấp chiến lược, bình định trên địa bàn của mình, tỉnh vẫn thực hiện nhiệm vụ chiến lược bảo đảm hành lang tiếp viện từ miền Đông xuống Khu IX đi qua vùng đất An Giang.

Cuộc chiến đấu hết sức gian khổ. Địch huy động Sư đoàn 21 ngụy và lực lượng bảo an, có sự yểm trợ của xe M113 và phải đánh liên miên vào vùng Bảy Núi. Hơn 200 gia đình người Việt - Khơ me bị gom vào ấp chiến lược Ô Lâm.

Cuộc chiến đấu tại Núi Tô, Núi Dài giằng co, kéo dài suốt 4 tháng. Cuối cùng, Tỉnh ủy phải chuyển từ Núi Dài sang Núi Cấm, lương thực khô cạn. Đơn vị vũ trang tỉnh phải phân tán vào dân để sống, phải ăn củ chuối, củ mì, rau rừng… Tỉnh phải xin Khu tiền để nuôi bộ đội. Khó khăn, gian khổ nhưng cán bộ, chiến sĩ không nản chí, vẫn thực hiện những trận đánh gây thiệt hại nặng cho địch: Trận càn của Tiểu đoàn 2 Sư đoàn 21 có xe M113 yểm trợ vào Ô Cạn ngày 2 tháng 1 năm 1963 bị bộ đội tỉnh đánh thiệt hại nặng 2 đại đội. Bộ đội địa phương Tịnh Biên chống càn ở Núi Phú Cường và Núi Dài diệt 2 trung đội, 1 xe M113. Bộ đội tỉnh tấn công ấp chiến lược Ba Chúc, diệt 2 đại đội. Bộ đội địa phương Châu Thành - Huệ Đức đánh chìm tàu địch trên kênh 200, diệt 2 trung đội địch bình định đưa đến yểm trợ cho việc xây dựng ấp chiến lược Núi Trọi và Vọng Thê.

Cùng thời gian đó, ở Chợ Mới, Tân Châu là nơi có đông đảo tín đồ Hòa Hảo, tình hình cũng rất căng thẳng. Địch ra sức truy bắt, tiêu diệt cán bộ cách mạng. Bọn bảo an, biệt kích ngày đêm rình rập tìm hầm bí mật ở các xã Tấn Mỹ, Hội An, Mỹ Hiệp, Bình Phước Xuân, Phú Lâm,… giết hơn 20 cán bộ. Các đồng chí này đã chiến đấu với chúng và hy sinh oanh liệt. Liên tiếp, hai đồng chí Bí thư Huyện ủy hy sinh.

Tháng 7 năm 1963, tỉnh đưa lực lượng hỗ trợ phá các ấp chiến lược dọc biên giới. Các ấp chiến lược Sân Trâu, xã Nhơn Hưng, Bắc Đai, xã Phú Hội, ấp chiến lược Chà Ly, Chà Xanh, xã Khánh Bình vùng dân tộc Chăm đều bị phá. Đối phó lại, địch chủ trương dời dân vào trong biên giới 800 mét. Quần chúng phản ứng quyết liệt.

Tháng 8 năm 1963, ở Tri Tôn, lực lượng vũ trang tỉnh và quân địa phương hỗ trợ quần chúng nổi dậy phá bung nhiều ấp chiến lược, trong đó có ấp chiến lược Lương An Trà là điểm ngăn chặn đường liên lạc giữa Núi Dài và Đồng Tràm.

Tháng 9 năm 1963, ở Châu Phú, lực lượng vũ trang tỉnh và quân địa phương đánh thiệt hại nặng Sư đoàn 21 và bảo an vào 3 xã Bình Mỹ, Bình Long và Thạnh Mỹ Tây.

Ở Chợ Mới, 2 xã Hội An và Mỹ Hiệp sau khi củng cố lại, được sự hỗ trợ của quân địa phương và du kích, quần chúng đã nổi dậy phá ấp chiến lược. Trong tháng 9 năm 1963, du kích đánh đồn kênh Cựu Hội, phá ấp chiến lược An Phú. Quần chúng xã Long Điền đấu tranh chống địch bắt đào kênh làm hào bảo vệ quận lỵ. Chúng phải nhượng bộ.

Tháng 11 năm 1963, lực lượng vũ trang tỉnh phục kích đánh 3 trung đội bảo an mở đường Tịnh Biên - Nhà Bàng có xe M113 yểm trợ và phục kích trung tâm huấn luyện Chi Lăng. Tháng 12 năm 1963, du kích Thới Sơn đánh mìn diệt bọn bảo an đi từ Chi Lăng đến Lạc Quới.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Hai, 2013, 06:30:06 AM
V - THỰC HIỆN NHIỆM VỤ MỞ ĐƯỜNG TRÊN BIỂN,
ĐÁNH THẮNG CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT”

1. Mở đường trên biển, tiếp nhận trang bị vũ khí của Trung ương chi viện cho chiến trường miền Nam

Từ sau Nghị quyết 15 năm 1959, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã chỉ đạo xúc tiến mở hành lang giao thông quân sự đặc biệt trên bộ và trên biển để chi viện người và của từ hậu phương lớn miền Bắc cho cách mạng miền Nam. Trong khi Đoàn 559 đang phát cây, mở đường, đặt trạm dọc theo dãy Trường Sơn thì ngày 20 tháng 7 năm 1959, Bộ Chính trị ra quyết định thành lập Đoàn 559 tìm đường đi vào miền Nam trên biển.

Giữa năm 1961 Trung ương Cục chỉ đạo Khu ủy giao nhiệm vụ cho các tỉnh ven biển nghiên cứu luồng lạch, bến bãi, tình hình hoạt động của địch, chuẩn bị tàu thuyền và cử cán bộ ra Bắc liên lạc và báo cáo.

Thường vụ Khu ủy triển khai công tác này, giao nhiệm vụ cho tỉnh Bến Tre. Thường vụ Tỉnh ủy Bến Tre đã tổ chức một chiếc ghe máy có cả buồm vượt biển ra Bắc. Đoàn gồm 4 đồng chí, do đồng chí Sáu Giáo phụ trách, ra đến Hà Nội an toàn. Tại Thủ đô Hà Nội, Bác Hồ kính yêu đã gặp những người con của quê hương Đồng khởi. Các đồng chí Lê Duẩn, Phạm Hùng, Lê Đức Thọ trong Bộ Chính trị là những đồng chí đã từng sống và chiến đấu ở miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp, đã trực tiếp nghe các đoàn của Cà Mau, Trà Vinh, Bến Tre báo cáo trong 4 ngày liền về việc chấp hành Nghị quyết 15; về phong trào tấn công, nổi dậy đồng loạt ở nông thôn; về việc tiến công, nổi dậy bằng hai chân, ba mũi; về xây dựng và phát triển lực lượng chính trị, binh vận, vũ trang; chia lại ruộng đất cho nông dân; đặc biệt về đội quân chính trị tóc dài, về đời sống nhân dân và chính quyền tự quản của nhân dân trong vùng mới giải phóng và nhất là về sự thiếu thốn vũ khí, đạn dược.

Gần hai năm sau, việc tổ chức đường vận chuyển trên biển của Trung ương vào được đến Nam Bộ.

Ngày 2 tháng 12 năm 1963, bến Khâu Băng, Thạnh Phú, Bến Tre, gọi tắt là M3, được chuẩn bị xong.

Ngày 17 tháng 12 năm 1963, chuyến tàu sắt đầu tiên chở hơn 44 tấn hàng do đồng chí Bình Đạt chỉ huy cập bến an toàn. Từ sau đó, những chuyến hàng vào liên tục cập bến.

Việc tiếp hàng vào các bến, tổ chức chuyển về Miền và phân phối cho các khu là nhiệm vụ của Đoàn 962 do Trung ương Cục miền Nam quyết định thành lập, trực thuộc Bộ chỉ huy Miền. Đồng chí Nguyễn Văn Phối, Ủy viên Thường vụ Khu ủy Khu VIII, Phó chính ủy Bộ Tư lệnh Quân khu VIII được chỉ định làm Chỉ huy trưởng kiêm Chính ủy Đoàn 962.

Bến M1 ở Cà Mau có luồng lạch sâu, kín đáo nên tàu thường gặp ở bến giao hàng. Đoàn 962 tổ chức một hành lang đi ghe máy trên biển qua chốt M2. Từ M2 phân phối vũ khí cho Trà Vinh, Vĩnh Long và đẩy hàng qua cửa sông Cỏ Chiên bằng ghe máy giao cho M3. Từ M3 giao hàng cho Khu VIII, rồi Khu VIII đẩy hàng qua Long An, lên Tây Ninh và Miền rồi tiếp tục vượt biển đẩy hàng qua Rừng Sác, Bà Rịa để giao hàng cho Sài Gòn - Chợ Lớn và cho Miền.

(https://lh3.googleusercontent.com/kfyrDLAZnvRyBK-avWdb-ErnZpEGx2ux9Cpt_YHb025AyH9XGAbFyom7Ft-e1E5apq3TTMWqMjOe6et0T5X2InnGCkus6ZRj3a4vmOURMPNtf50ScH1CMJ0Ik6j978zt4U-6xcW7YRMu4Lh1Kj6LPlsNgJbCYLFZgrKLGQ4-BztKmRj4QaoL2aft-kQHovqh0dr6EYzonftYl5lNrnmK42AjKql9DER0BSqiG5iTJHA-CoC0eOkwapV1JtBYrZs8tpEBBWtS_IqmF1qSo9ryqqbFRP9ubcZBcvS0qT8BHXpncAs23ynYyV0ZzSzyzOZI3hFAAmm1djgoVh17_42yIn-ZlLXywXdDLL-JgJnqTZ3P8mUF0EaL80Yxj0V4S4W2SmDx3cIZXgAW88QXKO4kl9_H8vCTNUlB8NnafKiprPqoMqKAb9SI3qrzHLr8IzFDoypvmSD7QiK9Ie95TUEc0N7NkeiSZIdYDWuLSsEtxZhPuAFpfuffs9pe7UZu3SKPYwz12Zbq_xNbudNtCRDvHSC5mjqWD5V7TL5ikxMWkOzBI4jGT0tdcEcxlmsMhbwZ0rq4yL3_T_ybHEz7xJbazN56pDr6XLs65CMvbqQCjhq9SQbC=w640-h404-no)

Một kho “gửi dân” ở Khu VIII (Cai Lậy)


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Hai, 2013, 06:30:41 AM
Mở được hành lang trên biển đã là việc rất khó, nhưng mở hành lang trên bộ, chuyển súng đạn về đến nơi quy định, đến tận người cần nó lại còn khó hơn nhiều. Vì biển cả mênh mông, dễ ngụy trang, luồn tránh, còn trên đất liền thì kho tàng của ta phải cố định trong một vùng, phải chống càn quét liên tục để bảo vệ kho tàng. Đường hành lang cũng phải đi theo một trục nhất định giữa vòng bao vây, phong tỏa suốt ngày đêm của địch. Khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu đặc biệt coi trọng công tác này, đã cử nhiều cán bộ quân sự, chính trị đi lo tổ chức, giao cho các tỉnh ủy, tỉnh đội cử người có năng lực, có kinh nghiệm đến tăng cường cho Đoàn 962, trực tiếp xây dựng căn cứ địa bàn, mở các trục hành lang, tổ chức lực lượng vận tải trên bộ, trên sông, trên biển, lựa chọn những người dân chí cốt, những cán bộ trung kiên trực tiếp điều khiển tàu, ghe vận tải. Đây là một công việc lãnh đạo và tổ chức rất quy mô, rất phức tạp, đòi hỏi Đoàn 962 và các Đảng bộ, địa phương phải tập trung trí tuệ và kinh nghiệm của những người dân chí cốt, của cán bộ, chiến sĩ, địa phương để thực hiện.

Trên hướng sông Tiền, theo chỉ thị của Trung ương Cục, Thường vụ Khu ủy Khu VIII đã cử đồng chí Nguyễn Văn Phối, Tư lệnh Đoàn ra lo chung cho Miền vừa lo cho đầu cầu M3 của Khu VIII. Ngoài ra, Khu VIII tập trung cán bộ khu, tỉnh thành lập trạm tiếp nhận tại đầu cầu M3, tổ chức vận tải đưa đi các hướng, lấy tên là đơn vị X15.

X15 đứng chân hoạt động tại vùng Khâu Băng, Giao Thạnh, Thạnh Phong, Thạnh Phú, Bến Tre, vừa là lực lượng của bến M3 để tiếp nhận, cất giữ hàng của Trung ương, vừa tổ chức lực lượng vận tải thủy đưa đi các hướng.

Để thực hiện nhiệm vụ trên, trong cao trào phá ấp chiến lược năm 1963, Khu VIII đã sử dụng lực lượng đánh phá ấp chiến lược, mở rộng vùng giải phóng, nối liền hành lang vận tải Thạnh Phú - Giồng Trôm - Châu Thành, Bến Tre, Mỹ Tho, lên Kiến Tường, qua Đức Huệ, Long An đưa hàng lên miền Đông. Mở rộng vùng giải phóng và hành lang vận tải từ Cửa Tiểu, Gò Công lên Chợ Gạo lên Châu Thành, Mỹ Tho, vượt qua sông Soài Rạp đến Rừng Sác. Lực lượng vận tải được thành lập tại mỗi tỉnh từ 1 đến 2 tiểu đoàn; lấy cán bộ, bộ đội địa phương tỉnh, huyện làm nòng cốt chỉ huy, bổ sung dân quân, du kích cả nam lẫn nữ được chọn lọc, được hướng dẫn công tác bí mật, nhiệm vụ tải hàng chiến lược và chiến đấu bảo vệ hàng. Trên trục hành lang, các chi bộ Đảng giáo dục nhân dân ủng hộ và bảo vệ bí mật cho lực lượng vận tải, chuẩn bị sẵn các hầm bí mật để cất giấu vũ khí khi cần thiết. Các ấp, xã chiến đấu được thiết lập rộng, vững mạnh suốt dọc hành lang. Khó khăn và nguy hiểm nhất là việc qua sông, qua lộ. Đó là những nơi địch chú ý ngăn chặn ta bằng tàu chiến, xe thiết giáp với vũ khí hiện đại. Phải nắm quy luật hoạt động của địch, tình hình ở hai bên để tổ chức chuyển hàng đi được an toàn.

Khi qua sông Cửu Long thường phải tiến hành vào ban ngày để quan sát tàu địch từ xa. Hàng tập kết xuống ghe lớn đậu sẵn trong con rạch kín đáo gần bờ sông. Bên ngoài trông giống như chiếc ghe buôn bình thường. Ghe có gắn máy Kôle 10 sức ngựa, tư thế sẵn sàng. Có một chiếc xuồng máy nhỏ ở giữa sông để quan sát tàu tuần tiễu của địch, nếu có ám hiệu “nón lá giơ cao” thì lập tức ghe nổ máy băng ngang sông với tốc độ tối đa. Việc vượt sông phải gọn trong vòng 7 phút vì cứ 15 phút thì tàu tuần tiễn của địch chạy qua một lần.

Việc vượt qua lộ 4 thì đơn giản hơn và thường là vào ban đêm. Ngoài hệ thống đồn bốt đặt cách nhau 1-2 kilômét, cứ 15 phút thì có một đoàn xe M113 chạy tuần tiễu trên lộ. Khi đoàn xe vừa đi khuất, phải tiếp cận ngay mé lộ để nắm tình hình bọn nằm đường phục kích. Đợi vắng xe chạy thì cho đoàn vận tải vượt qua lộ, tiếp tục đi đến nơi an toàn. Cũng có nơi khó hơn vì địch rải bùng nhùng kẽm gai dọc theo hai bờ mương lộ, giao liên phải mang theo tấm ván, đặt lên trên kẽm gai để người đi qua được an toàn, khi vượt qua lộ phải trải nylông để không có vết chân in trên mặt lộ.

Mùa nước nổi việc đi lại thuận lợi hơn. Đồng Tháp Mười ngập mênh mông như biển cả. Xuồng gắn máy chạy suốt từ biên giới tới kênh Nguyễn Văn Tiếp - lộ 4 chỉ trong một đêm. Nhưng mùa khô thì phải qua nhiều trạm, trong nhiều ngày. Đêm đi ngày nghỉ, giữa đồng trống phải phân tán mỏng ra, trú ẩn trong các đám cỏ để tránh trực thăng chụp.

Ngoài ra, ta còn vận chuyển bằng ghe buôn công khai hợp pháp qua đồn bốt, súng đạn để dưới, hàng nông sản để lên trên, khi qua đồn bốt trình giấy tờ, khéo léo, mưu trí lo lót bọn lính gác. Cũng có lúc ta dùng ghe hai đáy để chuyên chở. Ở một số vùng địch kiểm soát, ta phải tổ chức các đội nữ vận chuyển bằng cách hợp pháp để đưa hàng hóa đi qua lộ 4 vào ban ngày. Đồng bào đặt tên cho lực lượng này là “đội quân hai màu áo”.

Từ những năm ấy, hàng chục vạn tấn vũ khí, đạn dược, phương tiện quân sự từ đường Hồ Chí Minh trên biển nhập vào đất liền miền Nam đã tăng thêm khối lượng hàng chiến lược vận chuyển cho miền Nam, đẩy nhanh nhịp độ phát triển của cuộc đấu tranh cách mạng miền Nam.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Hai, 2013, 06:31:21 AM
2. Bẻ gãy kế hoạch bình định trọng điểm - nỗ lực cuối cùng của địch trong chiến lược “chiến tranh đặc biệt”

Chế độ thống trị của Ngô Đình Diệm bị lật đổ, Diệm, Nhu bị giết, tiếp theo là những cuộc đảo chính liên miên ở Sài Gòn. Còn phía ta, sự viện trợ vũ khí trang bị đều, kịp thời của Trung ương đã giúp cho việc xây dựng, phát triển nhanh lực lượng vũ trang tập trung là điều kiện ngàn vàng cho toàn miền Nam nói chung và Khu VIII nói riêng đánh bại hoàn toàn quốc sách “ấp chiến lược” của địch.

Khí thế rầm rộ của phong trào nổi dậy ba mũi giáp công ở xã, ấp, cộng với tinh thần hoang mang, dao động của ngụy quân, ngụy quyền ở các địa phương đã dẫn đến việc ngụy quyền trung ương để mất những gì mà bộ máy của chế độ Ngô Đình Diệm đã xây dựng lên trong chín năm cầm quyền. Phong trào quần chúng tấn công chính trị và nổi dậy phá ấp chiến lược, tiêu diệt và làm tan rã địch đã phát triển cả về số lượng và chất lượng. Lực lượng vũ trang cách mạng đã đánh bại các chiến thuật mới của địch, diệt những cứ điểm kiên cố, đánh bại các cuộc càn quét, giải tỏa của chủ lực ngụy.

Tình hình và thời cơ thuận lợi xuất hiện, tạo ra khí thế mới cho quần chúng nổi dậy bằng hai chân, ba mũi, phá banh phá rã, phá dứt điểm từng mảng lớn các ấp chiến lược và làm chủ khắp nơi.

Quốc sách “ấp chiến lược” - xương sống của chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ - ngụy, đã bị phá sản.

Tháng 12 năm 1963, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 9 (khóa III) ra Nghị quyết đánh giá tình hình đấu tranh cách mạng ở miền Nam trong giai đoạn mới và đề ra chủ trương: Phải nỗ lực vượt bậc để nhanh chóng tăng cường lực lượng quân sự, tạo ra một chuyển biến căn bản về so sánh lực lượng giữa ta và địch ở miền Nam… Đồng thời chỉ rõ phương châm chiến lược ở miền Nam là: Kết hợp đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang. Hai hình thức đấu tranh này đều cơ bản, có vai trò quyết định, trong đó đấu tranh vũ trang có vai trò quyết định trực tiếp tiêu diệt lực lượng quân địch. Cuộc chiến tranh sẽ kéo dài nhưng phương hướng phấn đấu là tranh thủ thời cơ, giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn. Trong chỉ đạo cần tìm mọi cách kiểm chế và thắng địch trong cuộc “chiến tranh đặc biệt”, đồng thời chuẩn bị sẵn sàng đối phó với cuộc chiến tranh trên quy mô lớn của đế quốc Mỹ.

Để thực hiện chủ trương của Nghị quyết Trung ương, trên cơ sở tình hình thực tế của Khu VIII, Khu ủy xác định: Điều quan trọng quyết định nhất, trong bất cứ trường hợp nào, là vẫn phải nỗ lực tăng cường lực lượng của ta về mọi mặt, đặc biệt là ra sức sử dụng lực lượng vũ trang lớn mạnh. Đánh lâu dài, đồng thời tích cực tranh thủ thời cơ để giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn.

Triển khai chủ trương này của Khu ủy, Thường vụ Khu ủy đã đề ra một số công việc cấp bách:

- Xây dựng lực lượng vũ trang tập trung lớn mạnh, tăng cường công tác binh vận.

- Mở rộng hành lang biên giới.

- Tích cực tranh thủ thời cơ giành thắng lợi tối đa.

Về phía địch, sau thất bại của chương trình bình định toàn miền Nam với quốc sách lập ấp chiến lược, chúng vẫn chưa cam chịu thất bại. Ngày 17 tháng 3 năm 1964, địch triển khai thực hiện kế hoạch Johnson - Mac Namara: dùng lực lượng không quân và hải quân đánh phá miền Bắc; ở miền Nam: tăng viện trợ vũ khí, trang bị kỹ thuật, tăng cường bắt lính, tăng quân số quân đội ngụy, tăng thêm yểm trợ hỏa lực, hậu cần của Mỹ, tăng cường sự chỉ huy trực tiếp của Mỹ, đồng thời thu hẹp phạm vi, tập trung lực lượng bình định 7 tỉnh trọng điểm là Long An, Định Tường, Kiến Hòa, Kiến Phong, Hậu Nghĩa, Bình Dương… Như vậy là trong 7 tỉnh bình định trọng điểm của địch đã có 5 tỉnh thuộc địa bàn Khu VIII. Đó cũng là điều dễ hiểu, vì Khu VIII có vị trí bản lề giữa hai khu Đông và Tây Nam Bộ, tiếp giáp và nối Sài Gòn - nơi đầu não của địch với đồng bằng sông Cửu Long - nơi đông dân, nhiều của và là nơi quần chúng đang ở thế chủ động nổi dậy tấn công rộng, mạnh, đều khắp.

Để thực hiện âm mưu mới, kẻ thù tập trung nhiều quân nhất, sử dụng nhiều phương tiện chiến tranh hiện đại nhất, để đánh phá các tỉnh chúng bình định trọng điểm, hòng thực hiện âm mưu giành dân, chiếm đất. Vì vậy, cường độ chiến tranh ở những nơi này trở nên vô cùng ác liệt.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Hai, 2013, 06:31:50 AM
Một lần nữa, Thường vụ Khu ủy lại tập trung chỉ đạo các đơn vị, địa phương khắc phục mọi khó khăn, tổ chức thực hiện cho được những nhiệm vụ cấp bách, kiên quyết đánh bại âm mưu bình định mới của địch, giành thắng lợi trọng ven.

Những kinh nghiệm đấu tranh với địch đã cho thấy vấn đề tiêu diệt và làm tan rã lực lượng địch, đưa chiến tranh vào sào huyệt của địch kết hợp với ba mũi vũ trang, chính trị, binh vận giáp công ở cơ sở, từng bước mở rộng vùng giải phóng, ngày càng trở thành quy luật tất yếu.

Khu ủy và Quân khu ủy quyết định xây dựng tiếp các đơn vị bộ binh chủ lực và trợ chiến: Tiểu đoàn 263 bộ binh, Tiểu đoàn pháo cối 120-H12, Tiểu đoàn công binh, Đại đội đặc công thủy. Sau khi thành lập Tiểu đoàn 263 bộ binh không lâu, Thường vụ Khu ủy chỉ đạo xây dựng tiếp các đơn vị bộ binh chủ lực lớn trợ chiến cho khu, tỉnh, huyện. Các tỉnh thành lập thêm các đại đội công binh. Trong điều kiện trang bị được tăng cường do sự chi viện của Trung ương, cơ quan tác huấn triển khai tập huấn ngay cho các đơn vị vũ trang tập trung của khu, tỉnh về chiến thuật, kỹ thuật đánh địch trong công sự vững chắc, hợp đồng binh chủng bộ binh, đặc công, pháo binh để đưa chất lượng tiến công của mũi quân sự lên một bước cao hơn, đủ sức làm mũi nhọn quyết định trực tiếp trong ba mũi trong điều kiện địch cũng ráo riết tăng cường mũi quân sự của chúng.

Để khắc phục việc hợp đồng chỉ huy trong những trận đánh lớn mà Khu đã sử dụng lực lượng tập trung cao hơn tiểu đoàn, Khu dùng hình thức chiến đoàn. Các chiến đoàn 1 và 2 của Khu ra đời trong hoàn cảnh ấy. Chiến đoàn 1 được thành lập, do các đồng chí Lê Văn Nhỏ, Vũ Mạnh và Châu Hoàng Nam chỉ huy.

Trong các tỉnh của Khu VIII, tỉnh Mỹ Tho có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng. Địa bàn của tỉnh ôm gọn lộ 4 và kênh Chợ Gạo là hai đường giao thông thủy, bộ chiến lược, là yết hầu nối liền Sài Gòn với miền Tây Nam Bộ. Chỉ cần cắt đứt lộ 4 và kênh Chợ Gạo thì Sài Gòn sẽ lao đao, rối loạn vì thiếu lương thực, thực phẩm. Vì thế, sau Long An, Mỹ Tho là trọng điểm bình định và là nơi tập trung hoạt động của phần lớn quân chủ lực ở khu chiến thuật Tiền Giang của địch. Cũng vì thế, đối với cách mạng, đây là nơi cần tập trung tấn công mạnh, khống chế địch để có tác động có tính chất chiến lược trên toàn chiến trường miền Nam chứ không chỉ riêng ở Khu VIII. Do đó, từ khi chiến tranh chống Mỹ bùng nổ, Mỹ Tho trở thành chiến trường trọng điểm, quyết chiến giữa ta và địch. Khu đã cắm Tiểu đoàn 261 - tiểu đoàn chủ lực đầu tiên của Khu ngay từ khi thành lập, thường trực cơ động ở Mỹ Tho để tác chiến hỗ trợ cho lực lượng vũ trang địa phương và quần chúng tấn công nổi dậy ba mũi quân sự, chính trị, binh vận trên địa bàn trọng điểm này.

Trước mắt cần phải giải quyết các chốt địch nằm án ngữ trên đường hành lang đi xuyên qua Khu và dọc theo biên giới để bảo đảm nguồn tiếp vận được đều đặn chuyển xuống các chiến trường và bảo đảm chỉ đạo thông suốt từ Khu, từ Miền xuống.

Sau đợt huấn luyện, Tiểu đoàn 261 với quân số trên 800 chiến sĩ, được trang bị DK75, ra quân trận đầu đánh địch trong công sự vững chắc, diệt ngay cứ điểm chùa Phật Đá, xã Mỹ Phước, huyện Châu Thành; đánh sập cầu sắt bắc ngang kênh Nguyễn Văn Tiến.

Tiếp sau, tiểu đoàn tiêu diệt căn cứ Thiên Hộ, phá khu trù mật Hậu Mỹ, huyện Cái Bè, Mỹ Tho. Căn cứ này chiếm một góc ngã ba về phía tây bắc nơi gặp nhau giữa kênh Hàm Vồ và kênh Nguyễn Văn Tiếp, án ngữ một trong những hành lang lớn của ta từ miền Đông xuống miền Tây. Thiên Hộ là căn cứ hành quân của Sư đoàn 7 ngụy đánh vào Đồng Tháp Mười. Toàn bộ căn cứ là một cụm cấu trúc kiên cố với nhiều lô cốt, hầm ngầm bê tông, nằm trong tầm bắn yểm trợ của 6 cụm pháo chung quanh. Nếu kể cả 1 tiểu đoàn của Sư đoàn 7 vừa tăng thêm trước trận đánh cộng với bọn thám báo, tề điệp, cố vấn Mỹ, thì số địch trong căn cứ lên đến 700-800 tên.

Từ vùng 20-7, Tiểu đoàn 261 hành quân lên phía bắc lộ 4, ém quân ở kênh 10, xã Thạnh Phú, huyện Cai Lậy. Đêm 3 rạng ngày 4 tháng 4 năm 1964, ta nổ súng. Căn cứ bị tiêu diệt hoàn toàn. Địch bị thương vong 500 tên, bị bắt 25 tên. Trong số địch bị chết cố 4 tên cố vấn Mỹ. Tên chỉ huy phó, 1 tên cố vấn Mỹ và nhiều tên ác ôn, bình định bị bắt. Toàn bộ đồn bốt địch trên lộ 20 nối từ lộ 4 vào Hậu Mỹ tháo chạy.

Cùng lúc, Tiểu đoàn 514 tỉnh Mỹ Tho, quân địa phương, du kích và quần chúng nổi dậy bao vây, đánh chiếm yếu khu Vĩnh Kim.

Từ trận đánh diệt khu trù mật Hậu Mỹ, giải phóng trục lộ 20 ta đã hình thành một vùng giải phóng rộng nối liền các xã dọc kênh Nguyễn Văn Tiếp thuộc Bắc Cai Lậy - Cái Bè với vùng 4 Kiến Tường thành vùng giải phóng liên hoàn giữa 3 tỉnh Mỹ Tho - Kiến Tường - Kiến Phong, đồng thời cũng là căn cứ vùng ruột Đồng Tháp Mười của Khu VIII.

Sau trận Thiên Hộ, Thường vụ Khu ủy chỉ đạo tiếp hướng mở ra là phía nam lộ 4 Cái Bè, diệt chi khu Cái Bè kết hợp phát động quần chúng nổi dậy mở thế làm chủ của nhân dân các xã vùng chung quanh thị trấn. Lực lượng sử dụng gồm có 3 tiểu đoàn: 261, 263, 514. Đại đội pháo, Đại đội đặc công, Đại đội trinh sát, quân địa phương huyện Cái Bè và du kích các xã nam lộ 4.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Hai, 2013, 06:32:14 AM
Đêm 20 tháng 7 năm 1964, sau gần 1 giờ chiến đấu, ta đã đánh chiếm và làm chủ toàn bộ chi khu Cái Bè, diệt gần 200 tên địch, phá hủy 2 pháo 105. Sáng ngày 21 tháng 7 năm 1964, ta diệt thêm 100 tên địch từ thị xã Mỹ Tho hành quân lên giải tỏa ở khu vực sông Cái Thia.

Đây là trận đánh tiêu diệt chi khu đầu tiên trên chiến trường Khu VIII. Từ trận đánh thọc sâu vùng yếu nam Cái Bè, ta tìm ra được những quy luật trong phòng thủ của địch, tiếp tục mở ra khả năng đánh đồn bốt bằng hợp đồng giữa đặc công - hỏa lực - bộ binh trên chiến trường.

Cũng trong tháng 7 năm 1964, Tiểu đoàn 514 bao vây chi khu Long Định, đánh tan 1 tiểu đoàn thủy quân lục chiến đến giải tỏa.

Từ tháng 4 năm 1964, địch triển khai kế hoạch Johnson-Mac Namara. Chúng tập trung lực lượng đánh vào các vùng căn cứ giải phóng, khôi phục các đường giao thông, củng cố vành đai, chia cắt chiến trường hòng xoay chuyển tình thế.

Những hoạt động chống phá bình định giữa ta và địch trở nên gay gắt.

Trung đoàn 12 Sư đoàn 7 và 3 tiểu đoàn thủy quân lục chiến của địch liên tiếp càn quét 2 huyện Gò Công và Hòa Đồng để tiến tới thành lập đặc khu Gò Công, tiến hành bình định tuyến lộ Phú Kiết - Chợ Gạo, nhằm ngăn cắt chiến trường Gò Công với các huyện vùng trên. Chúng cho trực thăng rải chất độc hóa học kết hợp bom pháo và bộ binh hủy diệt địa hình Gia Thuận, Cồn Chim, Cồn Cống là những căn cứ lâu đời của Gò Công. Công trường và bệnh xá của Gò Công đóng tại Cồn Cống phải chuyển lên Tân Hòa Đông - Đồng Tháp Mười. Chúng càn dài ngày vào xóm Dinh, căn cứ của cơ quan thị trấn Gò Công, đóng vào Xóm Dinh, căn cứ của cơ quan thị trấn Gò Công, đóng lại 1 tuần, hù dọa: “Việt cộng sẽ chết đói dưới hầm, chỗ nào nghe thối đào lên sẽ gặp”. Đồng bào phải đánh lạc hướng chúng, lợi dụng đêm tối đưa các cán bộ thoát khỏi vòng vây. Sau khi Đại đội 206 và du kích tập kích diệt 1 trung đội địch tại đồn Tân Bình Điền, chúng mới chấm dứt trận càn.

Tiến công lại địch, tổ đặc công Chợ Gạo gài mìn diệt tên Trung tá Trần Hoàng Quân, Tỉnh trưởng Định Tường và tên cố vấn Mỹ trên lộ Phú Kiết khi chúng đi khánh thành sân banh Phú Kiết trở về. Tiểu đoàn 514 tập kích diệt 1 đại đội địch tại Đạo Thành, đánh càn trên lộ Ông Văn diệt 30 tên, trong đó có 2 tên Mỹ, bắn rơi 3 máy bay. Sau hơn một năm ta giải phóng Ba Dừa, ngày 19 tháng 11 năm 1964, địch đưa quân chiếm lại yếu khu này. Tiểu đoàn 514 đánh càn diệt 100 tên, ngày hôm sau lại diệt thêm 1 đại đội bảo an tại chợ Long Tiên.

Ở Gò Công, Đại đội 206 tập kích diệt đồn Bình Xuân, Cầu Nổi, Bến Phà, Xóm Sọc, Tăng Hòa, Phước Trung. Quần chúng nổi dậy trừng trị ác ôn. Nhưng đội du kích xã Tân Niên Tây đánh với một tiểu đoàn thủy quân lục chiến càn vào xã bị hy sinh gần hết.

Địch càn vào vùng 20-7, Tiểu đoàn 514 đánh diệt 100 tên, phá gãy một cuộc càn của địch ở ấp Long Điền, xã Mỹ Long. Nhưng sau đó Tiểu đoàn bị tổn thất nặng trong trận Bầu Chảo.

Trên chiến trường Long An, trong năm 1963, kế hoạch lập ấp chiến lược của địch đã bị thất bại nghiêm trọng. Chúng chuyển sang tập trung thực hiện chương trình bình định trọng điểm. Chúng đánh giá Long An là trọng điểm số 1 vì đây là tuyến phòng thủ phía tây nam Sài Gòn. Từ năm 1964, hoạt động của địch trên chiến trường Long An đặt trực tiếp dưới sự chỉ huy của Bộ tư lệnh hỗn hợp Mỹ - ngụy ở Sài Gòn, thay vì Bộ tư lệnh khu chiến thuật 31 vùng 3 chiến thuật như trước.

Kế hoạch của địch là trong 6 tháng đầu năm 1964, chậm nhất là đến cuối năm, chúng phải bình định xong Long An.

Địch mở hàng loạt cuộc càn quét, tập trung bom, pháo, chất độc hóa học, trực thăng, xe M113 đánh phá ác liệt vào vùng giải phóng bắc lộ 4, phá trụi cây cối, hoa màu, vườn tược, biến thôn xóm thành vùng trắng. Bộ binh địch đi tới đâu, bắn giết, đốt sạch đến đó, gây tâm lý khủng khiếp, hòng bắt dân ra vùng chúng. Chiến trường Long An trở nên ác liệt, gian khổ chưa từng thấy. Đêm đêm, bom pháo thay nhau dội xuống. Nhà cửa, vườn tược tan nát, đồng bào phải đào hầm, dựng chòi để ở ngoài đồng trống.

Song, tình hình đó vẫn không làm cán bộ, chiến sĩ Long An nao núng. Cấp ủy tăng cường lãnh đạo Đảng bộ, cán bộ, chiến sĩ kiên quyết bám trụ, chấp nhận gian khổ, tìm mọi cách diệt địch, hỗ trợ quần chúng đứng dậy phá tan âm mưu của địch, giành chiến thắng.

Ngày 2 tháng 5 năm 1964, Đại đội 4 của tỉnh cơ động lên xã Đức Hòa Hạ, phục kích vận động diệt 1 đại đội biệt động quân của địch. Địch liền huy động Trung đoàn 46 Sư đoàn 25 phối hợp với biệt động quân mở cuộc càn quét lớn ở vùng Đức Hòa. Tỉnh để một bộ phận của Đại đội 2 ở lại cùng quân địa phương, du kích kết hợp với lực lượng ba mũi chiến đấu tiêu hao địch, chống địch cướp bóc, đốt phá, còn đại bộ phận lực lượng nhanh chóng cơ động xuống phía nam lộ 4.

Đêm 5 tháng 5 năm 1964, Đại đội 1 diệt đồn đại đội bảo an ở Chợ Núi, xã Phước Vĩnh và đồn 2 trung đội dân vệ xã Long Phụng vùng hạ Cần Giuộc. Quân địa phương Cần Đước tập kích diệt đại đội bảo an đóng dã ngoại ở xã Long Cang, chúng phải rút chạy. Các xã Phước Vĩnh Tây, Long Phụng - hạ Cần Giuộc lên đến sát lộ 5A và xã Long Cang - Cần Đước được giải phóng.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Hai, 2013, 06:32:42 AM
Trong khi đó thì ở Đức Hòa, bọn địch hành quân bị du kích bám đánh liên miên suốt ngày đêm, đội quân tóc dài bám sát tấn công binh vận, làm cho tinh thần binh lính sa sút. Đến ngày 6 tháng 5 năm 1964, chúng buộc phải ngưng cuộc càn, cụm quân lại để củng cố. Thời cơ rất thuận lợi, Ban chỉ huy thống nhất tỉnh quyết định chuyển sang thực hiện cao điểm 2.

Đêm 6 tháng 5 năm 1964, Đại đội 1 được lệnh quay về bắc lộ 4. Đêm 7 tháng 5, Đại đội tập kích tiêu diệt tiểu đoàn 4 Trung đoàn 46 Sư đoàn 25 ngụy tại cầu Láng Ven ngã ba Hòa Khánh. Bộ đội địa phương Bến Lức, quần chúng chiến đấu và du kích bao vây căn cứ Lương Hòa, địch phải đưa Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 46 đến giải tỏa. Tiểu đoàn này bị Đại đội 1 và Đại đội 2 của tỉnh và bộ đội huyện Đức Hòa phục kích tiêu diệt tại cầu Tàu. Sau 2 trận này, Trung đoàn 46 của địch phải rút về căn cứ để củng cố, bỏ dở cuộc càn.

Chỉ một đợt tấn công trong một thời gian, Long An với lực lượng địa phương không lớn, nhưng với nghệ thuật chỉ huy và sử dụng lực lượng hết sức linh hoạt, kết hợp tốt ba thứ quân với lực lượng ba mũi tấn công, đã giành quyền làm chủ trên chiến trường, tiêu diệt hơn 2.000 tên địch, diệt 2 tiểu đoàn của Trung đoàn 46, 3 đại đội, 6 trung đội khác, bức rút 20 đồn tua, giải phóng 18 xã. Đó là chưa kể trận đánh tiêu diệt căn cứ biệt kích Gò Đen ở sát nách Sài Gòn trong tháng 4 năm 1964, diệt hàng chục tên địch, thu 120 khẩu súng, khiến cho các đồn bốt trong vùng hết sức hoang mang, buộc địch phải rút bỏ những nơi chúng thấy không thể giữ nổi.

Như vậy, bằng sức mạnh tổng hợp ba mũi quân sự - chính trị - binh vận của địa phương, chỉ huy linh hoạt, khả năng tác chiến hiệu suất cao, cơ động giỏi, chuẩn bị chiến trường chu đáo, Long An đã đánh bại các cuộc càn quét quy mô lớn của Sư đoàn 25 ngụy, giải phóng phần lớn vùng nông thôn nam - bắc Long An.

Sau khi củng cố lực lượng và rút kinh nghiệm đợt hoạt động, được Khu chấp nhận, tỉnh thành lập Tiểu đoàn 1. Sang tháng 8 năm 1964, tỉnh lại mở tiếp đợt tiến công. Tiểu đoàn 1 tiến công đồn chợ Rạch Kiến, đồn Long Sơn, Long Khê; Đại đội 2 độc lập diệt 1 số đồn ở Thuận Mỹ - Châu Thành. Tiểu đoàn 1 lại diệt tiếp đồn ngã tư Chợ Trạm Mỹ Lộc, bộ đội địa phương huyện diệt đồn Phước Hậu. Trong tháng 8 năm 1964, Long An đã mở được một vùng giải phóng nối liền trên trục lộ 15 lên giáp tỉnh lộ 18, phát triển thành một hệ thống các đồn giải phóng liên hoàn trên các trục lộ 15, 18 giữa Vàm Cỏ Đông với Cần Đước.

Bước sang tháng 9 năm 1964, địch đưa Trung đoàn 50 Sư đoàn 25 ngụy đến càn quét, bình định vùng Bến Lức. Trước tình hình căn cứ Lương Hòa thuộc khu tập trung dân theo đạo Thiên Chúa bị ta uy hiếp mạnh, chúng phải điều 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 50 đến tăng cường phòng thủ. Bộ đội địa phương, dân quân du kích ngày đêm xiết chặt vòng vây, liên tục tiêu hao, ngăn chặn đường bộ. Địch phải tiếp tế bằng máy bay và đưa 2 tiểu đoàn của Trung đoàn 46 Sư đoàn 25 đến giải tỏa.

Tiểu đoàn 263 của Khu được điều lên bổ sung cho Miền. Trên đường đi, tiểu đoàn được lệnh dừng lại phối hợp tác chiến với Long An. Cùng với Tiểu đoàn 1 của Long An, Tiểu đoàn 263 đã tổ chức trận phục kích vận động và đã tiêu diệt 2 tiểu đoàn của Trung đoàn 46 ngụy.

Giữa tháng 10 năm 1964, 1 đại đội của Tiểu đoàn 263 đơn vị pháo cối, cao xạ 12,8 ly của Khu cùng bộ đội huyện và du kích tiêu diệt chi khu Đức Huệ thuộc tiểu khu Hậu Nghĩa, giải phóng hoàn toàn huyện Đức Huệ.

Tiểu khu Hậu Nghĩa của địch đóng ở Bầu Trai (Đức Hòa) bị thế chiến tranh du kích của các xã giải phóng bao vây, cô lập. Sư đoàn 25 ngụy không đủ sức giữ Hậu Nghĩa, địch phải tăng cường thêm 2 tiểu đoàn biệt động quân về Đức Lập để giữ đường Hậu Nghĩa - Củ Chi.

Tại vùng nam lộ 4 địch phải vội vã điều Trung đoàn 46 Sư đoàn 25 về Cần Giuộc để đối phó với phong trào chiến tranh du kích đang ngày càng mở rộng tại đây. Nhưng trung đoàn này bị du kích các xã Cần Giuộc, Cần Đước bám đánh quyết liệt, liên tục bị tiêu hao, không bung ra được, phải co cụm về công sự.

Địch thừa nhận rằng với những trận phục kích và tấn công đêm của quân du kích Long An, Sư đoàn 25 mất trung bình mỗi tháng 1 đại đội.

Đặc biệt nổi bật trên chiến trường Long An trong năm 1964 là lực lượng vũ trang ba thứ quân đã phối hợp chặt chẽ với lực lượng tấn công chính trị, binh vận, có quần chúng nổi dậy trên từng cao điểm, tấn công tại từng khu vực trọng điểm và trên diện rộng. Ta đã đánh địch trên 16.000 trận lớn, nhỏ, phần lớn là do lực lượng du kích xã, ấp và quần chúng thực hiện; diệt và làm tan rã trên 29.000 tên địch, 54 đồn, diệt 4 tiểu đoàn chủ lực ngụy, đánh quỵ Trung đoàn 46, đánh thiệt hại nặng Trung đoàn 50 làm cho Sư đoàn 25 ngụy mất sức cơ động phải lùi về củng cố; giải phóng hoàn toàn 57 xã, làm chủ cơ bản 50 xã khác, giải phóng hoàn toàn huyện Đức Huệ.

Về nghệ thuật chỉ huy tác chiến và sử dụng lực lượng, ta đã sử dụng các đánh nghi binh và cơ động lực lượng hết sức linh hoạt. Hiệu suất tác chiến tập trung cao, cấp tiểu đoàn tăng cường hoặc 2 tiểu đoàn tăng cường, tiêu diệt được từng đại đội, từng tiểu đoàn hoặc 2 tiểu đoàn chủ lực địch, kể cả diệt chi khu căn cứ có phòng thủ mạnh.

Từ kinh nghiệm của chiến dịch tiến công tổng hợp bằng ba mũi giải phóng vùng 20-7 trên chiến trường Mỹ Tho, Long An đã vận dụng và phát triển cách đánh của loại hình chiến dịch tiến công và nổi dậy tổng hợp bàng lực lượng của địa phương khá linh hoạt.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Hai, 2013, 06:33:11 AM
Bến Tre là chiến trường nằm độc lập với Khu và ở bên kia sông Tiền, nhưng cuộc chiến đấu không kém phần ác liệt. Từ giữa năm 1963, ngoài nhiệm vụ đấu tranh giành và giữ dân, Bến Tre còn phải bảo đàm đầu cầu tiếp nhập hàng chiến lược của Trung ương đưa vào miền Nam theo đường biển và là đầu mối, hành lang vận chuyển hàng chiến lược về Khu Sài Gòn - Chợ Lớn và về Miền. Vì nhiệm vụ chiến lược ấy mà Bến Tre trở thành nơi chịu đựng những cuộc hành quân lớn của địch. Bến Tre đã đánh địch bảo vệ đầu cầu tiếp vận rất anh dũng. Ngày 7 tháng 1 năm 1964, địch mở cuộc hành quân lớn Sóng Thần 5 do các tên tướng Lê Văn Kim - Bộ tổng tham mưu ngụy, Lâm Văn Phát - Tư lệnh khu chiến thuật Tiền Giang, nhiều cố vấn quân sự cao cấp của Mỹ và Đại tá Hoàng Gia Anh chỉ huy chiến đoàn thủy quân lục chiến, 1 tiểu đoàn của Sư đoàn 7 ngụy, 6 đại đội biệt kích, 60 máy bay, 33 tàu chiến, giang thuyền, 26 xe M113, 12 pháo 105 và pháo 155. Chúng bao vây 2 xã Thạnh Phong và Giao Thạnh huyện Thạnh Phú, lùng tìm kho hàng, bến bãi. Chúng ném bom, bắn phá rất ác liệt, giết chóc, hãm hiếp nhân dân rất tàn bạo. Tiểu đoàn 263 của Khu vừa thành lập lúc này đang huấn luyện đã cùng đơn vị bảo vệ bến M3, du kích các cơ quan các trường quân sự của tỉnh ở khu vực Thạnh Phú và du kích xã chặn đánh địch nhiều trận, làm cho chúng không tự do lùng sục được. Lực lượng tấn công của đội quân tóc dài đấu tranh quyết liệt với bọn càn quét và với tỉnh trưởng Kiến Hòa, ngăn chặn hành quân, làm cho chúng lúng túng, xoay trở đối phó khó khăn, không chủ động hợp đồng binh chủng được. Trong khi đó thì lực lượng vũ trang và lực lượng ba mũi toàn tỉnh đồng loạt phối hợp tấn công, căng kéo, chia cắt địch trên khắp các địa bàn trong tỉnh. Bộ đội tỉnh đánh vào nhiều vị trí trong thị trấn Mỏ Cày, pháo kích thị trấn Giồng Trôm, bắn cháy tàu chở tiểu đoàn biệt động quân trên sông Hàm Luông. Nhiều khu vực ở ngoại ô thị xã Bến Tre bị đánh, bị thiệt hại nặng, buộc địch phải rút bớt một số đơn vị đang càn quét về phòng thủ thị xã Bến Tre.

Qua 21 ngày đêm chiến đấu gian khổ, ác liệt trên một địa bàn hẹp, trống trải, Tiểu đoàn 263 của Khu cùng các lực lượng trong khu vực và quần chúng nổi dậy đã đánh bại cuộc hành quân càn quét quy mô lớn của địch; bảo tồn lực lượng, giữ được nguyên vẹn các kho tàng. Địch chết và bị thương 1.000 tên, trong đó có tên Đại tá Anh; 47 máy bay, phần lớn là trực thăng, bị bắn rơi. Đây là trận đánh càn quét giành được thắng lợi lớn.

Sau trận đánh, hãng thông tấn Pháp AFP đã bình luận: “Đây là trận đánh lớn nhất trong lịch sử trực thăng vận của Mỹ, đã trở thành ngày tồi tệ nhất của chiến thuật này”.

Về sau địch còn mở tiếp đợt càn dài ngày, cấp trung đoàn đánh vào hai xã An Thạnh, Thạnh Phong huyện Thạnh Phú. Trong 8 ngày đêm, quân và dân Thạnh Phú đã diệt 200 tên địch, trong đó có 3 cố vấn Mỹ, bảo vệ căn cứ và hành lang an toàn.

Ngoài khu vực ven biển, địch còn mở những cuộc hành quân Sóng Thần - Cửu Long đánh vào các đầu cầu trong nội địa như Phú Túc, Phú Đức - Bến Tre và vào các xã vùng 20-7 của Mỹ Tho thuộc hai bên bờ nam bắc sông Tiền.

Đầu năm 1964, Thường vụ Khu ủy chỉ đạo Bến Tre tập trung lực lượng quân sự, chính trị, binh vận và quần chúng nổi dậy phá cho được từng mảng ấp chiến lược trên những địa bàn trọng điểm để làm thông suốt hành lang vận chuyển. Tiểu đoàn 263 của Khu được tăng cường cho Bến Tre. Hai địa bàn này được chọn để mở chiến dịch là cù lao Bảo và cù lao Minh, lấy Ba Tri làm hướng chủ yếu, hướng phát triển là Mỏ Cày và Bình Đại. Điểm đột phá then chốt là các xã Mỹ Chánh, Mỹ Nhơn, Tân Xuân của Ba Tri.

Vào đầu tháng 3 năm 1964, thời tiết khô ráo, các lực lượng tham gia vào đợt tấn công nổi dậy đã nô nức hành quân về khu vực dọc sông Ba Lai của Giồng Trôm và Ba Tri. Tiểu đoàn 263 dùng thuyển gắn máy từ cù lao Minh vượt sông Hàm Long qua cù lao Bảo đến khu vực tập kết.

Mở đầu đợt, liên tiếp trong hai ngày 16, 17 tháng 3 năm 1964, bằng tấn công ba mũi, ta đã tiêu diệt và làm tan rã các đồn bốt trong ba xã Mỹ Chánh, Mỹ Nhơn, Tân Xuân, huyện Ba Tri. Quần chúng nổi dậy phá kìm kẹp, phá banh các khu gom dân. Địch điều Trung đoàn 12 Sư đoàn 7 đến ứng cứu. Tất cả các huyện trong tỉnh được lệnh đẩy mạnh tấn công, căng kéo địch. Một lực lượng tấn công chính trị trên 20.000 người, trong đó có 1.000 gia đình binh sĩ, chia thành nhiều hướng kéo vào thị xã Bến Tre, hô vang các khẩu hiệu đòi “ngưng ngay các cuộc càn quét”, đòi “cho con em về nhà làm ăn”. Hốt hoảng, tỉnh trưởng Bến Tre vội gọi hai tiểu đoàn 1 và 2 của Trung đoàn 12 Sư đoàn 7 quay về thị xã, chỉ để lại Tiểu đoàn 3 “Ó Đỏ” án ngữ ở xã Phú Lễ phía bắc chi khu Ba Tri.

Đêm 17 tháng 3 năm 1964, Tiểu đoàn 263 của Khu và đại đội của tỉnh bí mật tiếp cận cách đội hình trú quân của địch 500 mét, triển khai thành trận địa phục kích.

Sáng ngày 18 tháng 3 năm 1964, Tiểu đoàn “Ó Đỏ” rời công sự, hành quân về hướng Tân Xuân, rơi vào trận địa phục kích của ta, bị diệt gọn.

Đây là trận đánh tiêu diệt gọn tiểu đoàn chủ lực ngụy đầu tiên trên chiến trường Khu Trung Nam Bộ. Ta sử dụng lực lượng không lớn, chỉ 1 tiểu đoàn tăng cường tại mặt chính, đánh nhanh, diệt gọn 1 tiểu đoàn chủ lực địch, chứng tỏ cán bộ chỉ huy của ta đã trưởng thành về nghệ thuật chỉ huy và sử dụng lực lượng trong chiến thuật phục kích vận động.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Hai, 2013, 06:33:42 AM
Sau khi Tiểu đoàn “Ó Đỏ” bị tiêu diệt, các đồn bốt chung quanh chi khu Ba Tri bị lực lượng ba mũi bao vây, bức hàng, bức rút. Sáng ngày 19 tháng 3 năm 1964, lực lượng tấn công chính trị đội quân tóc dài gồm 2.000 người, có giáo dục binh lính, các xã Phú Lễ, Phú Ngãi, An Bình Tây kéo vào thị trấn Ba Tri đấu tranh suốt hai ngày đòi địch bồi thường thiệt hại do các trận đánh gây nên. Tên quận trưởng phải đứng ra nhận bồi thường. Địch hoang mang, sợ hãi, một số chạy về đồi Xã Diệu, lính các đòn đào ngũ, rã ngũ hàng loạt, chỉ riêng ngày 20 tháng 3 đã có 165 tên dân vệ và bảo an bổ trốn về gia đình.

Như vậy, sau 15 ngày cao điểm tiến công và nổi dậy, ta đã giành được thắng lợi vang dội trên chiến trường Ba Tri: diệt gọn 1 tiểu đoàn chủ lực của Sư đoàn 7, bức rút 12 đồn, giải phóng hoàn toàn các xã Mỹ Nhơn, Mỹ Chánh, Mỹ Thạnh, Tân Xuân, Bảo Thạnh, Phú Lễ, Phước Tuy, An Ngãi Tây. Thắng lợi đó đã tác động đến tinh thần, tư tưởng địch trên khắp tỉnh Bến Tre. Các đồn bốt và bọn kìm kẹp ở các xã, ấp còn lại hoang mang, dao động dữ dội.

Đêm 19 tháng 3 năm 1964, 1 trung đội của Tiểu đoàn 263 tăng cường cùng khẩu đội DKZ75 của tỉnh đội diệt đồn ngang Vang Quới, Bình Đại. Tên quận trưởng Bình Đại cho đại đội bảo an đồn Thừa Đức đi tiếp cứu. Đại đội của tỉnh cùng du kích bố trí chặn đánh khi chúng kéo về. Ta nhanh chóng tiêu diệt đại đội bảo an, thu 37 khẩu súng. Lập tức quần chúng nổi dậy giải phóng xã Vang Quới. Bọn địch ở khu trù mật Thới Thuận, Bình Đại ở cửa sông Ba Lai ngang Ba Tri hoang mang cao độ, kêu cứu, buộc tiểu đoàn Bến Tre phải đưa 1 tiểu đoàn 12 chiếc theo sông Ba Lai xuống yểm trợ cho bọn này rút chạy. Ta phát hiện và kịp thời chặn đánh chúng trên đường rút, bắn chìm 8 chiếc, bắn hỏng nặng 3 chiếc khác. Quần chúng nổi dậy cùng lực lượng vũ trang tại chỗ bức hàng, bức rút hơn 10 đồn bốt, mở rộng vùng giải phóng ven biển Thới Thuận, Thừa Đức.

Kết thúc đợt cao điểm của Ba Tri, Bến Tre tiếp tục phát triển thắng lợi: Đại đội 2 của tỉnh hoạt động kìm chân địch trên lộ 23 Giồng Trôm ở Mỹ Lồng, hỗ trợ cho quần chúng phá khu gom dân và căng kéo địch. Đợt hoạt động tiếp tục phát triển theo hướng Mỏ Cày. Điểm đột phá là các xã dọc trục lộ Mỏ Cày đi chợ Thơm.

Tiểu đoàn 263 của Khu và toàn bộ lực lượng còn lại của tỉnh, gồm Đại đội 1, Đại đội 3, Đại đội đặc công bí mật hành quân vượt sông Hàm Luông tập kết ở vùng nam Mỏ Cày.

Đêm 8 tháng 4 năm 1964, Đại đội đặc công diệt đồn ngã ba Cây Điệp, do một trung đội bảo an đóng giữ và bao vây chặt đồn dân vệ xã An Thạnh.

Sáng ngày 9 tháng 4 năm 1964, địch đưa quân tới giải tỏa. Lần này, chúng tổ chức yểm trợ mạnh, có cả xe M113, trực thăng vũ trang, máy bay ném bom và pháo 105 từ Mỏ Cày chi viện. Chúng hành quân dè dặt, chia làm nhiều cánh, bọc sâu hai bên đường, xe M113 chạy gần sát mí vườn, pháo binh, trực thăng, máy bay ném bom bắn phá ác liệt vào các xóm ấp, dọc hai bên trục lộ Mỏ Cày ra Chợ Thơm. Đến 11 giờ, Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 12 Sư đoàn 7 “Ó Vàng” lọt vào trận địa phục kích của ta. Sau một giờ chiến đấu ác liệt, ta tiêu diệt Tiểu đoàn “Ó Vàng”, bắn cháy tại chỗ 5 xe M113, bắn rơi 3 trực thăng và 1 máy bay. Nhân dân xã An Thạnh nổi dậy đánh trống mõ, cầm gậy gộc, dao mác lùng diệt tề, điệp, bức rút các đồn còn lại, giải phóng hoàn toàn xã An Thạnh.

Phát huy thắng lợi, liên tiếp những ngày sau, bộ đội địa phương và dân quân, du kích Mỏ Cày hỗ trợ cho quần chúng rầm rộ nổi dậy tiến công các đồn Phước Mỹ Trung, Hưng Khánh Trung, Nhuận Phú Tân, Thành An. Đặc biệt là đã tấn công ba mũi bức hàng chi khu Đơn Nhơn ở chợ Ba Vát thu 300 khẩu súng, bao vây bức rút khu trù mật kiểu mẫu Thành Thới đã được Ngô Đình Diệm chủ trương xây dựng từ năm 1959, do một đại đội bảo an trấn giữ. Một loạt đồn bốt ở các xã An Định, Tân Trung, Cẩm Sơn, Ngãi Đăng, An Thới bị ba mũi giáp công bức hàng, bức rút. Ta giải phóng một vùng rộng lớn, nối liền nam - bắc Mỏ Cày.

Lộ 30 Mỏ Cày - Thạnh Phú bị cắt đứt một đoạn dài 10 kilômét từ Hương Mỹ đến Cây Keo xã Đa Phước Hội. Không ngại bom, pháo, quần chúng đã ngày đêm băm nát đường này không cho địch sửa chữa. Tiểu đoàn 263 cơ động xuống Thạnh Phú tiêu diệt đồn Phú Khánh, hỗ trợ cho quần chúng tiến công nổi dậy diệt đồn An Quy, Anh Nhơn, bao vây bức rút cầu Ván xã Giao Thạnh, giải phóng nhiều xã, ấp.

Cùng với chiến thắng dồn dập trên khắp các mặt trận, ngày 18 tháng 4 năm 1964, Đại đội 2 của tỉnh được tăng cường 1 trung đội của Đại đội 3 và 1 trung đội đặc công đã kết hợp với lực lượng binh vận tiến công cứ điểm Xã Diệu. Cứ điểm Xã Diệu nằm trên lộ giao thông Ba Tri, thuộc xã An Hòa Tây, tiếp giáp với xã Vĩnh Hòa, cách thị trấn Ba Tri 1.500 mét, xung quanh là ruộng đồng trống trải, bên trong có chợ và nhiều dãy nhà ngang dọc. Cứ điểm này là tiền đồn ven biển của huyện Ba Tri. Từ đây, quân địch kiểm soát chặt chẽ giao thông vùng duyên hải Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú. Nó được cấu trúc thành khu tức giác với 3 lô cốt bêtông và 3 cao điểm xây bằng đá xanh. Tường cứ điểm cao 2 mét, quanh bờ tường là những hố cá nhân sâu 1 mét, với nhiều hàng rào kẽm gai và ao mương cắm đầy chông. Cứ điểm này thường xuyên có một đại đội dân vệ được trang bị mạnh, do tổng Huấn chỉ huy. Bọn này rất ác ôn, ngoan cố. Ỷ vào công sự kiên cố, chúng tuyên bố khoác lác với nhân dân trong vùng: “Thị trấn Ba Tri có thể mất nhưng căn cứ Xã Diệu không thể mất”. Hàng ngàn cán bộ, nhân dân đã bị chúng bắt bớ, tra tấn, cưỡng hiếp, mổ bụng, moi gan.

Khi nhận nhiệm vụ diệt căn cứ quân sự Xã Diệu, cán bộ, chiến sĩ Đại đội 2 hạ quyết tâm: “Vì lợi ích của nhân dân, toàn đại đội sẵn sàng hy sinh”.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Hai, 2013, 06:34:08 AM
Hai giờ 30 phút đêm ngày 29 tháng 4 năm 1964, bộ đội ta đang bí mật triển khai lực lượng thì địch phát hiện. Ta nổ súng. Địch chống trả quyết liệt. Chỉ sau 20 phút chiến đấu, ta tiêu diệt hoàn toàn căn cứ. Địch chết và bị thương 50 tên, bị bắt 10 tên, tên tổng Huấn đền tội. Ta thu được 70 khẩu súng các loại, 21 máy thông tin và nhiều trang bị. Bọn địch ở đồn Giồng Nhan, sát thị trấn Ba Tri hốt hoảng bỏ chạy. Dân vệ, bảo an các đồn xung quanh đào ngũ trên 150 tên.

Giải phóng Xã Diệu, ta có một vùng nông thôn rộng lớn sát thị trấn Ba Tri, mở rộng hành lang giao thông vùng duyên hải, tạo thế liên hoàn giữa các vùng căn cứ chủ yếu của ba huyện ven biển Ba Tri, Thạnh Phú, Bình Đại. Bộ đội tỉnh đã tiến bộ thêm một bước về kỹ thuật, chiến thuật tập kích diệt cứ điểm địch có công sự vững chắc.

Mùa hè năm 1964, cuộc nổi dậy hàng loạt của nhân dân Bến Tre đã phát triển lên đến đỉnh cao. Để đáp ứng yêu cầu của tình hình nhiệm vụ, Tỉnh ủy được Thường vụ Khu ủy chấp nhận cho thành lập tiểu đoàn bộ binh, lấy tên là Tiểu đoàn 516. Sau khi thành lập, Đại đội 1 và Đại đội 2 Tiểu đoàn 516 ra quân tập kích đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn biệt động quân 41 của địch ở yếu khu Nhơn Thạnh Giồng Trôm. Đại đội 3 Tiểu đoàn 516 tập kích diệt đồn cấp trung đội ở khu phố An Hóa Châu Thành.

Ngày 20 tháng 8, Đại đội 3 Tiểu đoàn 516 và Trung đội đặc công diệt đồn Phú Túc ven sông Cửu Long, phía bắc thị trấn Sóc Sải, cách chi khu Trúc Giang 5 kilômét. Địch chết 13 tên, bị bắt sống 9 tên. Ta thu được 24 khẩu súng. Trong khi đó, Đại đội 1 và 2 Tiểu đoàn 516 phục kích đánh viện ở lộ Thơ thuộc xã Thành Triệu. Đoạn đường này đã bị ta phá hoại nên địch phải đi bộ. Lúc 4 giờ chiều, Tiểu đoàn biệt động 41 “Cọp Đen”, từ Tường Đa đến lộ đất Phú Túc ven sông Ba Lai cùng với các tiểu đoàn của Sư đoàn 7 càn quét vùng Phú Túc và Thành Triệu. Chúng chia thành hai mũi kéo ra lộ Thành Triệu về Sóc Sải, bị Tiểu đoàn 516 đánh vào phía sau, bên sườn và chia cắt. Sau một giờ chiến đấu, Tiểu đoàn “Cọp Đen” bị tiêu diệt. Tiểu đoàn của Sư đoàn 7 bị thiệt hại nặng, rút chạy về đồn Thành Triệu. Binh sĩ, dân vệ các đồn trong khu vực hoang mang cao độ, đào rã ngũ gần hết. Tên trưởng đồn Thành Triệu trốn về tiểu khu. Bọn chỉ huy chi khu Hàm Luông được lệnh truy kích, nhưng không dám hành quân.

Trận này địch chết và bị thương gần 500 tên (có cả ban chỉ huy tiểu đoàn biệt động quân và 4 tên cố vấn Mỹ), bị bắt sống 52 tên. Ta thu được 225 khẩu súng các loại, 25 máy vô tuyến điện và nhiều loại trang bị quân sự khác. Tại các xã, lực lượng ba mũi tiến công bao vây bức rút, làm tan rã nhiều đồn bốt, phá dứt điểm các khu gom dân. Các xã Tường Đa, Thành Triệu, Tam Phước, An Khánh, Phú An Hòa thuộc mảng giáp sông Tiền phía Bắc Châu Thành được giải phóng, mở thông hành lang từ Bến Tre qua sông Tiền sang vùng 20-7 Mỹ Tho.

Lần đầu ra quân, Tiểu đoàn 516 của tỉnh, bằng nhiều chiến thuật phục kích vận động, đã diệt tiểu đoàn biệt động quân sừng sỏ của địch, chứng tỏ trình độ kỹ thuật, chiến thuật của bộ đội Bến Tre đã có bước phát triển mạnh.

Đến cuối năm 1964, tỉnh Bến Tre đã giải phóng 57 xã và 27 xã khác địch chỉ còn một góc. Nhiều xã ở vùng yếu đã chuyển lên thế tranh chấp mạnh, 30 vạn đồng bào Bến Tre thoát ách kìm kẹp của địch.

(https://lh3.googleusercontent.com/9Q3XPz-1eIDN9ebsyQrdFivFxvDqKh1PdFFWzPAeI27lj1VT9393ZwDDwye3WRj4mR9OieqlIZc3o1VNHLS5MBcpbGA7nLUc7POBRgWPNnLsOuttyBdBO8m6mTfoNVRX4OeT-6LukhU2xWxVTr4rM_r1mFOYxfReiRF7y4lVY2Z98K6oGK7gm5hKPBK8ez9JsHMwJd8Kz5E-yM31wJN1rN4OrZ4fpG184OT_zB_CJ8V4dpYGBRNxV10X1uL16hzEVPvWWC1am6piDGIEsbT0F4IFcKuseDyqvOjns0Q-eielcnN7y-3I1xnhwAHlIHBjU0bW5Oor3XP303DBTtq7H_XMGCLoS_D-GOHpPew0gfN2ZTN5Yxx_66WwB2Zm8HG2iUGJ9RTBtBgMyX-nsQnp9xF1XRWk2Jxw5DurhpVzuTUIOJ2xzsmdSVxWZsl_VKFZm1-cKC8r8KNvEhmdJ1LaUNQFCWB-Kfk8UdMfKF0YGcpelzNMSngNO5VWlycyZENeKqrBa3Py2pToge1xEJbMQaM08lUgvThCDzYEs4Vqx9TBVKHoIeNb1ysVsDTsjXqd47Bn-wrnfPTaQZmjhhEJMTQtRA3zKIk4BFkFlFh1S-OGo7dI4L_F=w800-h497-no)

Công trường chế tạo vũ khí đánh địch của tỉnh Bến Tre


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Hai, 2013, 06:34:41 AM
Kiến Tường, từ khi cường độ chiến tranh gia tăng thì nhiệm vụ bảo đảm, giữ vững hành lang từ căn cứ Khu đến chiến trường trọng điểm Mỹ Tho và phía nam Kiến Phong càng trở nên thiết yếu. Địch cũng ý thức được vị trí chiến lược của Kiến Tường đối với khu vực bắc sông Tiền, đặc biệt vùng nam Kiến Tường lại là nơi tập kết lực lượng của “Quân khu II”, trực tiếp đe dọa hệ thống phòng thủ lộ 4 của chúng nên chúng tăng cường lực lượng, ráo riết đánh phá, khiến cho cuộc chiến đấu trở nên hết sức ác liệt. Chúng liên tiếp mở nhiều cuộc hành quân vào các căn cứ, đốt phá nhà cửa, triệt hạ sản xuất.

Kế hoạch bình định của chúng nhằm mục đích tiêu diệt tận gốc lực lượng cách mạng, phá hủy tất cả căn cứ giải phóng trên lãnh thổ Kiến Tường, tái lập hạ tầng cơ sở. Kiến Tường được chúng chia thành ba khu vực, tiến hành bình định mỗi khu vực 3 đợt trong vòng 40 ngày, trước hết dùng quân sự tiêu diệt lực lượng vũ trang và phá hủy cơ sở cách mạng, sau đó lực lượng quân sự rút về vùng trọng điểm, giao lại cho bọn bình định, dân vệ và thanh niên chiến đấu đảm trách. Trọng điểm của chúng là vùng 4 Kiến Tường.

Địch tuyên bố Kiến Tường là vùng tự do bắn phá. Chúng ném bom, bắn pháo với cường độ và mật độ chưa từng có. Hễ phát hiện có bóng người là chúng dùng phi, pháo oanh tạc ngay, gây rất nhiều khó khăn cho việc đi lại, sản xuất của nhân dân, hoạt động của bộ đội và du kích.

Mặc dù địch quyết tâm tăng cường hoạt động như vậy nhưng ở Kiến Tường cấp ủy nắm vững phương châm đấu tranh: mũi quân sự được đặc biệt quan tâm xây dựng, củng cố; mọi hoạt động luôn được kết hợp giữa ba mũi nên vùng căn cứ vẫn mở rộng, hầu hết nông thôn được giải phóng. Lực lượng vũ trang tỉnh đủ sức cản phá các cuộc càn của địch; làm bảo an, dân vệ, tề điệp co vào đồn, thế kìm kẹp lỏng, ta làm chủ ban đêm các vùng thị trấn và gần đồn. Phong trào bắn máy bay được phát động rộng rãi trong du kích. Du kích dùng súng trường bắn rơi được máy bay địch và dùng súng có máy ngắm bắn tỉa địch trong đồn bốt, khiến cho chúng nơm nớp lo sợ mỗi khi ra khỏi đồn. Trong năm, du kích đã bắn rơi và bắn hỏng 52 máy bay địch. Du kích xã Tân Hòa kết hợp với đặc công, công binh tỉnh và nhân dân nổi dậy bao vây bức rút 7 đồn bốt trong xã, diệt 690 địch, phá hủy 70 xe quân sự, có cả xe M113, thu 147 khẩu súng, giải phóng xã.

Trong những tháng đầu năm 1964, Thường vụ Khu ủy chủ trương mở đợt đánh địch ở biên giới Campuchia và các chốt địch cắm sâu trong nội địa để mở rộng căn cứ và làm thông suốt hành lang từ căn cứ Khu xuống các tỉnh.

Lực lượng chủ lực của Khu kết hợp với các lực lượng địa phương tiến hành nhiều trận đánh lớn trên địa bàn các tỉnh Mỹ Tho, Kiến Tường, Kiến Phong và An Giang.

Tiểu đoàn 261 của Khu đã đánh diệt đồn Vàm Đồn xã Hưng Điền, do 1 đại đội bảo an đóng giữ. Tiếp đó, Tiểu đoàn kết hợp với lực lượng vũ trang tỉnh diệt khu Măng Đa ở xã Vĩnh Trị là trung tâm huấn luyện biệt kích và ổ hoạt động gián điệp nổi tiếng ở Đồng Tháp Mười.

Lực lượng vũ trang tỉnh phục kích đánh viện trên sông Vàm Cỏ Tây, bắn cháy, hỏng 5 tàu, diệt 100 tên địch. Du kích Vĩnh Lợi, Vĩnh Đại, Tuyên Bình bao vây, bức rút đồn Cả Rưng. Sau những trận này, địch co về giữ quận lỵ Tuyên Bình, tàu địch không dám chạy trên sông, hành lang dọc tuyến biên giới từ Hưng Điền đến Vĩnh Đại được thông suốt. Cũng trong tháng 4 năm 1964, lực lượng vũ trang tỉnh kết hợp với du kích các xã vùng 4 đánh 4 trận cấp đại đội, kết hợp với công tác binh vận diệt 13 đồn. Vùng 4 Kiến Tường chỉ còn 2 đồn là Phụng Thớt và Cà Nhíp. Tại vùng 6, lực lượng vũ trang vùng đánh các đồn Rau Má, Bến Bùi, An Đông 1 và bức rút nhiều đồn khác, giải phóng gần hết vùng 6. Vùng 8 đánh các đồn Cả Rưng, Vàm Dưng, giải phóng các xã Vĩnh Thạnh, Vĩnh Lợi, Hưng Điền. Vùng 2 đánh đồn Tầm Đuông, Cả Đôi.

Tháng 5 năm 1964, các tiểu đoàn 261, 263 của Khu kết hợp với Tiểu đoàn 504 của tỉnh đánh căn cứ Kinh Quận, nhổ hết một loạt đồn bốt ở 2 xã Nhơn Hòa Lập, Hậu Thạnh. Ngày 5 tháng 5 năm 1964, Tiểu đoàn 261 đánh chiếm khu Măng Đa lần thứ hai.

Cho đến tháng 7 năm 1964, vùng 4 đã mở rộng được thế làm chủ. Căn cứ đủ đứng chân cho hàng trung đoàn. Hành lang từ biên giới xuống nội địa được thông suốt. Bộ đội có thể hành quân từ vùng 8 xuống vùng 4 giữa ban ngày, đứng chân ngay trên kênh Dương Văn Dương. Kế hoạch bình định vùng trung tâm Đồng Tháp Mười của địch bị phá sản. Địch chỉ còn kiểm soát được thị xã, thị trấn. Các đường giao thông thủy, bộ quan trọng là sông Vàm Cỏ Tây từ Mộc Hóa đến Tân An bị cắt, lộ 29 đi Cai Lậy bị khống chế, có lúc ta làm chủ hàng tuần ở đoạn Tân Lập - Tân Hòa.

Ở hầu hết các khu gom dân, đồng bào nổi dậy dỡ nhà chuyển về chỗ cũ, đã có 15 xã giải phóng trên toàn bộ 20 xã trong toàn tỉnh.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Hai, 2013, 06:16:41 PM
Kiến Phong, phía bắc là căn cứ đầu não của Khu, phía nam là khu vực liên hoàn với vùng 4 Kiến Tường tạo thành địa bàn căn cứ trực tiếp uy hiếp lộ 4 của địch.

Căn cứ Tứ Thường của Khu ủy và Bộ tư lệnh quân khu tuy ổn định nhưng địch cũng chú ý đánh phá nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não quan trọng của cách mạng. Chúng tiến hành cả thảy ba trận đánh vào căn cứ của ta, nhưng đều thất bại chua cay.

Trận thứ nhất diễn ra vào ngày 2 tháng 9 năm 1962, một cánh quân của địch lợi dụng nước lũ dâng cao, dùng tàu chở xe lội nước theo sông Tiền vòng lên đất Campuchia đánh xuống căn cứ; một cánh khác từ xã Thường Phước đánh vào gặp đại đội tiền tiêu của Tiểu đoàn 274 bảo vệ. Ta chỉ có súng bộ binh, lại là mùa nước, công sự bị ngập nên chỉ ngăn chặn bước tiến của địch, đánh lạc hướng chúng để đại bộ phận cơ quan trong căn cứ rút lui an toàn.

Trận thứ hai diễn ra ngày 29 tháng 6 năm 1963, địch càn vào Cây Dừng ổ quạ, xã Thường Phước. Nước bắt đầu vào bưng, địch kết hợp bộ binh và xe M113, chia làm hai cánh: một cánh từ Cái Sách đánh sang; cánh kia từ Mương Kinh đánh lên, hợp điểm tại Cây Dừng ổ quạ. Ta chỉ có súng bộ binh, lựu đạn và thủ pháo. Tiểu đoàn 274 bảo vệ căn cứ đã chiến đấu ngoan cường ngăn chặn địch. Trong khi địch càn, một nông dân là cha của em Võ Văn Lai, 17 tuổi, chiến sĩ của đơn vị, xách giàn trâu chạy vào hướng tiểu đoàn. Trong lúc đang chiến đấu, em Lai nhanh trí lấy giàn trâu của cha bỏ lại, giả chăn trâu, bám theo xe M113 dùng thủ pháo đánh hỏng nặng 1 chiếc. Em đã hy sinh.

Trận thứ ba diễn ra vào ngày 3 tháng 4 năm 1964. Đây là thất bại của Cao Văn Viên, Đại tá, Tư lệnh Lữ đoàn dù thuộc lực lượng tổng trù bị Sài Gòn trong cuộc tấn công quy mô vào căn cứ Khu ủy. Địch biết được là lực lượng bảo vệ đầu não Khu ủy chỉ có một đại đội và du kích cơ quan. Cao Văn Viên tin chắc 4 tiểu đoàn dù đang đứng hàng sừng sỏ nhất trong “quân lực Việt Nam cộng hòa” của mình cùng với lực lượng thiết giáp, có máy bay, trọng pháo hùng hậu hỗ trợ, sẽ xé nát căn cứ, tiêu diệt đầu não Khu ủy. “Chiến thắng” được tuyên bố trước với các phóng viên báo chí trong và ngoài nước đi theo cuộc hành quân. Ở thị trấn Hồng Ngự và Tân Châu, tên quận trưởng còn truyền rao cho dân chúng chuẩn bị mở radio nghe “tường thuật tại chỗ” cuộc hành quân tiêu diệt đầu não “Khu ủy” do Đại tá Cao Văn Viên đích thân chỉ huy.

Quả thật, lực lượng vũ trang bảo vệ Khu ủy và các cơ quan dân quân chính cấp khu đúng như địch đã phán đoán, nhưng điều nằm ngoài nhận thức của chúng là quyết tâm và cách đánh của các đồng chí không chỉ lệ thuộc vào số lượng mà còn bằng nghệ thuật và mưu trí. Đại đội bảo vệ Khu và du kích cơ quan đã tổ chức trận địa phòng ngự thành ba tuyến theo tinh thần đánh dài ngày không cho địch lọt vào khu vực trung tâm căn cứ.

Quân dù bị một điều bất ngờ là đêm hôm trước chúng đã đến ngủ trên cánh đồng cách trận địa của ta không quá vài trăm bước. Chiến sĩ ta được lệnh để chúng tạm ngủ yên. Sáng ra, trời có sương mù, sau khi làm lễ xuất quân, các tiểu đoàn dù hàng hàng lớp lớp theo sau xe M113 chạy vào trận địa của ta. Địch không bắn pháo. Tên Đại tá Cao Văn Viên đứng trên xe M113, tay cầm gậy chỉ huy. Đợi địch đến gần, các cỗ súng của ta từ trên bờ rọc cao bắn xuống lòng rọc. Cao Văn Viên buông gậy, ngã gục ngay trên xe. Bị đánh bất ngờ, bọn lính chạy tán loạn, dẫm đạp lên nhau lớp chết, lớp bị thương nhiều vô kể. Bọn chỉ huy địch phải gọi cấp cứu.

Sau một lúc choáng váng, được máy bay, trọng pháo yểm trợ quyết liệt, quân dù tổ chức lại lực lượng rồi phản kích. Chúng đánh thủng được tuyến 1 của ta nhưng chỉ làm được một việc là nhặt xác đồng bọn. Dân ở ngoài bờ sông Tiền nghe súng nổ dữ dội, lo lắng cho anh em trong căn cứ. Tới khi thấy trực thăng tới tấp đến lấy xác, mới thở phào. Cứ đếm số trực thăng hạ xuống, bà con đoán chúng chết, bị thương cỡ 100 tên trở lên. Cái trò tường thuật tại chỗ dẹp luôn.

Cùng lúc, lực lượng tấn công chính trị các xã Thường Phước, Tân Thành, Bình Thạnh khiêng xác người bị pháo bắn chết, tập trung kéo vào thị trấn, vào tổng ủy và các đồn bốt đấu tranh trực diện đòi bồi thường nhân mạng, tài sản bị thiệt hại, đòi chấm dứt càn quét, chấm dứt bắn pháo vào xóm làng, làm cho địch càng thêm rối rắm. Cuộc hành quân của địch đã thất bại.

Sau này, thấy không thể xâm nhập vào căn cứ được, đêm 18 tháng 8 năm 1969, lợi dụng mùa lũ, nước ngập sâu 3 mét, địch sử dụng pháo hạm kết hợp với pháo ở Hồng Ngự, Tân Châu bắn đúng vào căn cứ đến vài ngàn quả. Nhưng căn cứ vẫn tồn tại cho đến 1970.

Đêm 15 tháng 4 năm 1964, địch còn chưa hoàn hồn sau trận đánh, Tiểu đoàn 261 của khu thực hiện chỉ thị của Thường vụ Khu ủy và Quân khu ủy cùng với các tỉnh Kiến Tường, An Giang, Kiến Phong tấn công mở rộng hành lang biên giới, đã diệt đồn cấp đại đội ở Cái Sách, xã Thường Thới Hậu - Hồng Ngự, diệt 10 tên, bắt sống 43 tên, thu nhiều vũ khí đạn dược, mở rộng tuyến hành lang biên giới vùng sông Sở Thượng - Sở Hạ. Phong trào chiến tranh du kích huyện Hồng Ngự phát triển mạnh mẽ. Du kích thường xuyên bám sát đồn bốt địch, quấy rối tiêu hao nhiều sinh lực địch. Tinh thần binh lính địch hoang mang, nhiều binh sĩ bỏ ngũ về với nhân dân. Hàng loạt đồn bốt bị san bằng, như các đồn Cả Cái, Thông Bình xã Tân Thành, đồn Bình Phú xã Tân Hội Cơ, các đồn Cầu Muống, Trà Dư, Thước Nước xã Thường Lạc, các đồn Cầu Ván, Mương Kinh xã Thường Phước. Du kích Thường Thới Tiền còn tập kích đồn Xã Song, bắt sống bo bo địch.

Tháng 5 năm 1964, Tiểu đoàn 502 Kiến Phong cùng du kích xã Bình Hàng Trung tập kích địch tại Chợ Cũ, diệt gọn một đại đội địch, thu toàn bộ vũ khí. Bộ đội tỉnh còn hỗ trợ cho du kích các xã Mỹ Ngãi, Nhị Mỹ, An Bình, Cao Lãnh tấn công địch ở vùng ven tỉnh lỵ Kiến Phong, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, diệt và bức rút nhiều đồn bốt, giải phóng được nhiều ấp. Ở vùng nam Cao Lãnh, ta tích cực tấn công bằng ba mũi, nhiều xã cơ bản được giải phóng, địch bị dồn sát ven lộ 30.

Cuối năm 1964, hình thái chiến trường Kiến Phong có nhiều thay đổi, vùng giải phóng nối liền nhau thành thế liên hoàn, hành lang mở rộng, vùng tranh chấp áp sát tới chi khu, tiểu khu. Địch bị tấn công trên nhiều mặt, phải đối phó bị động. Chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ về cơ bản đã bị thất bại nghiêm trọng ở Kiến Phong.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Hai, 2013, 06:17:27 PM
An Giang, năm 1964, tình hình diễn ra khá phức tạp do địch ra sức nắm đạo Hòa Hảo. Sau khi Ngô Đình Diệm chết, những tên lãnh đạo đầu sỏ mới ở Sài Gòn như Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh, đại sứ Mỹ Cabốt Lốt đều đến viếng Tổ đình. Chúng chiêu dụ các lực lượng Hòa Hảo còn ly khai của bọn Cù, Đớm, Hiếu ra hàng, sáp nhập vào bảo an đóng chốt ở Chi Lăng và dọc biên giới. Chúng chọn người có gốc đạo Hòa Hảo là tỉnh trưởng An Giang, Châu Đốc. Giáo hội Trung ương Hòa Hảo được tái lập, cùng với Ban trị sự Hòa Hảo các cấp nắm chặt tín đồ. Trong nội bộ Hòa Hảo, mâu thuẫn giữa hai phe Ba Sao và Chữ Vạn cũng được dàn xếp. Hàng chức sắc trong đạo được nhiều đặc ân. Các ngày lễ lớn của đạo được tổ chức trọng thể. Chúng khơi dậy chuyện Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ thọ nạn, gợi lòng căm thù của tín đồ với cách mạng.

Từ một tỉnh An Giang trước kia, địch tách ra thành hai tỉnh: An Giang và Châu Đốc. Tỉnh An Giang mới gồm 4 quận: Châu Thành, Chợ Mới, Thốt Nốt, Huệ Đức, được xác định là vùng ưu tiên bình định quốc gia. Ở đó, địch có những chủ trương, chính sách riêng để nắm tín đồ Hòa Hảo. Tỉnh Châu Đốc thuộc biệt khu 44 biên phòng là tỉnh đặc biệt về quân sự và dân tộc, nhiệm vụ là bình định và nắm người Khơme, Chàm và đánh phá hành lang tiếp vận của ta từ Miền về Khu IX và từ Khu xuống các tỉnh.

Đêm 14 tháng 5, thực hiện chủ trương mở hành lang biên giới của Khu, Tiểu đoàn 512 quân địa phương huyện và du kích tấn công diệt gọn các đồn Đồng Ki, Khánh Bình, đánh thiệt hại nặng đồn Quan Thuế và trạm kiểm soát kinh tế. Riêng đồn Bắc Đai bị ta chiếm bằng lực lượng tấn công chính trị, binh vận trong khi bộ đội bao vây. Ngày hôm sau địch điều một tiểu đoàn biệt động quân có máy bay, trọng pháo, tàu chiến đến tiếp viện. Đại đội 1 và Đại đội 2 Tiểu đoàn 512 tỉnh chuyển sang đánh viện ở khu vực mương Tám Sớm (từ Phú Hội đến Phước Hưng), diệt 60 tên. Kết quả hai trận này ta loại khỏi vòng chiến đấu 200 tên địch.

Sáng ngày 17 tháng 6, Tiểu đoàn 512 bao vây các đồn Phổ Đà, Phi Lai và Tam Bửu. Chúng gọi tiếp viện. Trung đội bảo an từ Lạc Quới kéo đến, qua khỏi cầu sắt Vĩnh Thông thì bị ta phục kích nổ súng diệt gọn.

Sáng ngày 18 tháng 9, địch bắn pháo dọn đường cho 5 đại đội bảo an từ hướng Phú Cường hành quân về Lê Trì. Bọn này lọt vào trận địa phục kích của ta. Nhiều tên bị tiêu diệt. Chúng củng cố lại đội hình rồi dùng hỏa lực bắn từ xa. Đến chiều, máy bay đến ném bom nhưng lại trúng đội hình địch bên bờ suối phía đông ấp chiến lược. Cuối cùng, chúng rút chạy về Vĩnh Trung. Kết quả, ta diệt và làm bị thương 200 tên địch, 40 tên đầu hàng và bị bắt sống.

Chi khu Kiên Lương là vị trí quan trọng để địch ngăn chặn hành lang tiếp vận của ta từ biên giới về U Minh, bảo vệ nhà máy xi măng Hà Tiên và là bàn đạp tiến công, khai hoang đồng tràm Hà Tiên nhằm phá căn cứ của ta. Lực lượng của chúng gồm một đại đội, 3 liên đoàn thanh niên chiến đấu, hơn 150 nhân viên hành chính và cảnh sát. Tiểu đoàn 512 của tỉnh được lệnh cấp tốc hành quân từ Núi Dài, vượt qua hơn 50 kilômét về Kiên Lương chiếm lĩnh các vị trí tiến công.

Một giờ sáng ngày 6 tháng 10 năm 1964, bộc phá của đặc công nổ ran phát lệnh tấn công. Sau 20 phút chiến đấu, ta đã chiếm hầu hết các lô cốt trại lính, diệt và bắt sống nhiều tên địch. Bọn còn lại co cụm trong khu vực dinh quận, chống trả quyết liệt. Ban Chỉ huy tiểu đoàn lệnh cho đại đội trợ chiến cơ động 2 khẩu DK, bắn cháy 2 xe nồi đồng và tiêu diệt bọn lính cổ thủ trong lô cốt phía trước, bộ đội xung phong chiếm dinh quận. Đúng 3 giờ sáng, ta làm chủ hoàn toàn chi khu, đánh tan quân cứu viện từ núi Còm xuống, bắn cháy 2 xe nồi đồng. Kết quả địch chết và bị thương 61 tên, bị bắt 150 tên.

Chiến thắng Kiên Lương là một bước phát triển lớn về trình độ tác chiến của bộ đội An Giang, lần đầu tiên cơ động tác chiến tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm quân sự cấp chi khu giành thắng lợi trọn vẹn trong một thời gian ngắn.

Đêm 30 tháng 11 năm 1964, Tiểu đoàn 512 lại diệt đồn Băng Trạo - An Tức. Một trung đội dân vệ bị loại khỏi vòng chiến đấu. Ta thu toàn bộ vũ khí.

Đêm 1 tháng 12 năm 1964, đơn vị bộ binh và đặc công tỉnh diệt đồn Thalapăngàxây ở Ô Lâm, diệt hai trung đội dân vệ. Đồn cầu Sắt Tri Tôn - Huệ Đức bỏ chạy. Ngày 4 tháng 12 năm 1964, địch mở cuộc hành quân cấp trung đoàn, gồm quân ngụy, bảo an, chiếm lại An Tức. Địch đang củng cố Núi Tô thì một tuần sau lực lượng vũ trang tỉnh diệt đồn Vĩnh Thông - Lạc Quới là cứ điểm quân sự quan trọng của địch trên tuyến biên giới, thường là nơi đặt sở chỉ huy và trận địa pháo cho những cuộc hành quân lớn đánh vào Núi Dài. Đại đội bảo an giữ đồn bị tiêu diệt, đại đội đóng dã ngoại ở ngoài đồn phải bỏ chạy.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Hai, 2013, 06:18:22 PM
*
*   *

Đồng khởi thắng lợi, Khu Trung Nam Bộ đã đưa thế phong trào phát triển sang giai đoạn toàn dân nổi dậy chống Mỹ toàn diện bằng đấu tranh chính trị song song với đấu tranh vũ trang, lấy đấu tranh vũ trang làm lực lượng quyết định trực tiếp; bằng phương châm đấu tranh hai chân, ba mũi, ba vùng kết hợp các thứ quân đánh thắng chiến lược “chiến tranh đặc biệt” càn quét, gom dân, lập ấp chiến lược của Mỹ - ngụy triển khai trên địa bàn Khu.

Cuộc đấu tranh giữa ta và địch đã diễn ra rất quyết liệt. Địch rất hung hăng đã phản công ta trên khắp các tỉnh trong Khu, đặc biệt là trên khu vực bắc sông Tiền. Các cuộc hành quân với binh lực lớn được tăng cường những phương tiện trang bị hiện đại, những chiến thuật mới được triển khai ráo riết nhằm gom dân, lập ấp chiến lược của địch đã gây cho ta không ít những khó khăn, tổn thất. Bước đầu, ta có bị bất ngờ trước sự gia tăng đột ngột cường độ chiến tranh của địch ở một số nơi, đặc biệt là ở khu vực chiến trường trọng điểm. Nhưng rồi, với ý chí quyết thắng, luôn luôn xác định tư tưởng chủ đạo là trong bất kỳ hoàn cảnh nào, điều kiện phương tiện nào cũng phải liên tục chủ động tiến công, Đảng bộ đã nêu cao tinh thần tự lực, tích cực xây dựng, phát triển lực lượng, khai thác triệt để thế mạnh của việc thực hiện phương châm hai chân, ba mũi, và về sau - khi được chi viện vũ khí của Trung ương, xây dựng thành thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp, thế trận này càng thêm mạnh mẽ và vững chắc. Trên cơ sở đó, ta đã làm nên những chiến thắng vang dội, đánh bại các chiến thuật “tân kỳ”, phương tiện chiến tranh hiện đại của địch ở Ấp Bắc, mở ra vùng 20-7; đã diệt được cứ điểm kiên cố cấp tiểu đoàn, căn cứ cấp chi khu của địch, diệt được nhiều tiểu đoàn chủ lực địch trong những trận đánh càn; đã góp phần không nhỏ làm sụp đổ chế độ Ngô Đình Diệm, làm thất bại một bước quan trọng chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của địch trên chiến trường Trung Nam Bộ.

Trong quá trình tiến hành cuộc đấu tranh, Đảng bộ Khu Trung Nam Bộ đã lãnh đạo quân và dân các tỉnh trong Khu vừa không ngừng tiến công địch vừa ra sức xây dựng và phát triển lực lượng chính trị, vũ trang, binh vận trong thực hiện phương châm vừa tấn công vừa xây dựng. Bởi vì, có tích cực chủ động tấn công địch thì mới xây dựng được tốt, có khẩn trương xây dựng mới kịp thời tấn công có kết quả và phải tranh thủ phát triển mọi mặt, càng đánh càng mạnh. Đặc biệt coi trọng xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang các thứ quân và những binh chủng kỹ thuật chủ yếu, xây dựng hành lang, căn cứ.

Từ khi đế quốc Mỹ tiến hành chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, quân và dân Khu Trung Nam Bộ đã sáng tạo cách đánh ba mũi tấn công giáp công, hình thành loại hình chiến dịch tấn công nổi dậy tổng hợp; đã vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức chiến thuật để đánh bại các cuộc càn quét quy mô lớn của địch, đánh diệt cả chi khu, yếu khu và bằng phục kích, vận động diệt nhiều tiểu đoàn, đại đội, đánh bại quốc sách “ấp chiến lược”, giải phóng nhiều vùng rộng lớn liên hoàn, giành quyền làm chủ, giải phóng 2/3 đất đai trong toàn Khu với ngót một triệu rưỡi dân.

Khu ủy đã lãnh đạo Đảng bộ, chính quyền tự quản, Mặt trận dân tộc giải phóng và đoàn thể các cấp tích cực chăm lo xây dựng nền tảng của chiến tranh nhân dân trong vùng ta làm chủ: tạm cấp ruộng đất cho nông dân còn thiếu ruộng, đẩy mạnh sản xuất, chăm lo phát triển y tế, văn hóa, giáo dục…, bồi dưỡng sức dân, động viên nhân dân đóng góp sức người, sức của cho kháng chiến.

Thường xuyên chăm lo xây dựng, củng cố, phát triển Đảng, tập trung nhất ở khâu bồi dưỡng lập trường, phẩm chất đạo đức đảng viên và năng lực lãnh đạo của chi bộ cơ sở, điểm đặc biệt trong công tác xây dựng Đảng và cơ sở cách mạng là tuy ta đã mở nhiều vùng giải phóng và vùng làm chủ rộng lớn nhưng ta vẫn để phần lớn đảng viên, đoàn viên, hội viên ở thế bí mật, hòa mình trong quần chúng nhằm sẵn sàng đối phó với địch trong mọi tình huống. Số đảng viên trong toàn Khu từ hơn 6.000 sau Đồng khởi năm 1960 đến cuối năm 1964 đã phát triển lên gấp ba lần. Hội viên các đoàn thể từ vài trăm ngàn người cuối năm 1961, cũng đã phát triển lên gấp ba lần vào cuối năm 1963.

Lực lượng vũ trang các thứ quân làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc bằng hai chân, ba mũi được xây dựng và phát triển lớn mạnh, cân đối, thích hợp trên chiến trường toàn Khu, từ vùng giải phóng cho đến vùng yếu và thị xã, thị trấn. Toàn bộ lực lượng vũ trang các thứ quân phát triển rộng theo mô hình cân đối trên dưới đều vững mạnh. Từ những đơn vị cấp trung đội, đại đội được xây dựng trong thời kỳ 1955 - 1959, trang bị vũ khí thông thường, được phát triển nhanh chóng trong các cao trào Đồng khởi năm 1960, đã hình thành ba thứ quân: chủ lực khu, bộ đội tỉnh và quân địa phương huyện, dân quân và du kích. Khu đã có 6 tiểu đoàn bộ binh chủ lực tập hợp trong hai chiến đoàn 1 và 2, nhiều tiểu đoàn, đại đội binh chủng kỹ thuật: trinh sát, thông tin, công binh, pháo binh, đặc công, biệt động. Tỉnh đã có tiểu đoàn bộ binh. Huyện có trung đội đến đại đội bộ binh. Ngoài ra, tỉnh, huyện còn có các đại đội, trung đội binh chủng. Xã có 5 loại du kích; du kích xã có tiểu đội, trung đội; du kích ấp có tiểu đội; du kích mật có tổ; du kích công binh, đặc công và lực lượng quần chúng nỗi xã tự chiến đấu. Riêng tỉnh Long An còn có trung đội du kích liên xã. Bộ đội được trang bị súng bắn máy bay, diệt xe M113, bắn tàu, do miền Bắc chi viện.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Hai, 2013, 06:19:00 PM
Tính đến đầu năm 1965, lực lượng vũ trang toàn Khu đã có ngót 7 vạn người. Trong đó du kích có trên 5 vạn, chiến đấu tại xã, ấp, có rất nhiều đơn vị du kích chiến đấu giỏi như ở Long An. Bộ đội tỉnh, huyện có 15.000 người, có nhiều trung đội, đại đội huyện và tiểu đoàn tỉnh chiến đấu đạt hiệu suất cao như ở Mỹ Tho, Long An, Bến Tre, An Giang đơn vị tỉnh diệt được cả tiểu đoàn bảo an, tiểu đoàn chủ lực, chi khu quân sự địch. Ở Kiến Phong, Kiến Tường, bộ đội tỉnh, huyện và du kích trong những năm nước lũ tràn về có nhiều trận đánh đồn, tập kích, phục kích đánh càn rất sáng tạo, diệt nhiều địch, bảo tồn mình, giải phóng nhiều vùng.

Các đơn vị chủ lực của Khu - bộ binh và binh chủng - có trên 5.000 người, được huấn luyện tốt, sức chiến đấu cao, là lực lượng nòng cốt của các thứ quân, là chỗ dựa của phong trào toàn dân đánh giặc, là đòn xeo trong cuộc chiến tranh nổi dậy ba mũi binh vận, chính trị, vũ trang tấn công và giáp công ở cơ sở.

Trong những năm 1963 - 1964, trong toàn Khu đã tuyển được hàng vạn thanh niên vào bộ đội, đưa hàng ngàn du kích bổ sung cho lực lượng vũ trang của huyện, tỉnh, khu và đưa về Miền. Hàng vạn thanh niên nam, nữ đã được bổ sung vào các đơn vị chủ lực và phục vụ trong các cơ quan Đảng, ngành hậu cần, giao liên, vận tải, mặt trận, đoàn thể. Trên khắp các núi rừng miền Đông Nam Bộ ra đến tận Khu VI - Lâm Đồng - Đà Lạt đâu đâu cũng gặp nam, nữ thanh niên các tỉnh Khu VIII - Trung Nam Bộ chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

Công cuộc cải tạo địa hình được phát động thành phong trào “Toàn dân trồng cây gây rừng” trên các tuyến kênh rạch, trên các cánh đồng trống trải, tạo thế che khuất cho bộ đội hành quân, dân công vận tải. Công cuộc đào các con kênh mới, đắp các cản đất, cản cây, cản lục bình chặn địch trên các con sông, các kênh rạch được thực hiện ở Đồng Tháp Mười và khắp các vùng giải phóng, vùng làm chủ ở nông thôn các tỉnh Trung Nam Bộ. Làm nên những kỳ tích đó chính là do sức lao động to lớn của những người nông dân chí cốt, tay lấm, chân bùn trong vùng giải phóng và cả dân ở các vùng thị xã, thị trấn, vùng yếu cùng tham gia dưới làn bom đạn ác liệt.

Chiến tranh còn phải lâu dài, nên từ năm 1961, Khu đã nghĩ đến việc bồi dưỡng, đào tạo cán bộ một cách toàn diện, bảo đảm cho nhu cầu chiến tranh. Các trường Đảng, trường quân chính, trường dân quân với các lớp tập huấn đặc công, công binh, hậu cần, các lớp thông tin, cơ yếu, các trường y tá, y sĩ, văn hóa, các trường huấn luyện thanh niên, phụ nữ, các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ kinh tế, tài chính đã được thành lập ở nhiều nơi, đã bồi dưỡng, đào tạo hàng vạn cán bộ đủ các ngành để cung cấp cho việc củng cố Đảng ở cơ sở, xây dựng và phát triển các lực lượng vũ trang tập trung và dân quân du kích, xây dựng bộ máy chính quyền, các đoàn thể nâng cao trình độ tri thức, văn hóa cho cán bộ. Ngoài ra còn có hàng ngàn cán bộ các ngành Đảng, quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội được gửi lên đào tạo ở Miền.

Các công binh xưởng của khu, tỉnh cũng được thành lập và mở rộng, bảo đảm việc sửa chữa các loại vũ khí, sản xuất các loại lựu đạn, thủ pháo, các loại mìn đánh xe, đánh tàu ĐH5, ĐH10, bộc phá ống phá rào, phá tường,… cho các lực lượng vũ trang chiến đấu.

Các tổ sản xuất vũ khí của huyện, xã được phát triển rộng rãi, sản xuất các loại vũ khí thô sơ, tự tạo các loại lựu đạn, chông, mìn, cạm bẫy, phục vụ cho phong trào toàn dân đánh giặc.

Các bệnh viện, bệnh xá, các trạm y tế được hình thành và xây dựng ở khu, tỉnh, huyện, xã, vừa chiến đấu hàng ngày dưới bom đạn ác liệt, vừa xây dựng và mở rộng, đảm nhận việc cứu chữa, điều trị cho thương binh, bệnh binh và nhân dân.

Trong các vùng giải phóng đều có mở trường cho con em nhân dân được học hành. Các đoàn văn công, văn nghệ quần chúng ở khu, tỉnh, huyện, xã; các tổ nhiếp ảnh, quay phim, nhà in sách báo cũng ra đời phục vụ cho bộ đội và động viên cách mạng không chỉ nhân dân vùng giải phóng mà cả đồng bào ở các vùng, các thị xã, thị trấn còn bị địch tạm chiếm.

Từ sự lãnh đạo, chỉ đạo vừa kiên quyết tấn công địch vừa xây dựng toàn diện, tạo cơ sở tổng hợp cả về quân sự, chính trị, kinh tế, sản xuất, giáo dục, y tế, văn hóa - xã hội như đã nói ở trên. Đảng bộ Khu Trung Nam Bộ đã phát động được một phong trào toàn dân đánh giặc rộng khắp, hình thành thế nhân dân chiến đấu ở các xã, ấp phát triển rộng, mạnh trên những vùng trọng yếu nhất và hầu khắp các địa phương.

Đến cuối năm 1964 đầu năm 1965, ở Khu Trung Nam Bộ cách mạng đã ở thế chủ động tiến công. Trung Nam Bộ đã sẵn sàng để thực hiện quyết tâm giành thắng lợi quyết định của Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Trung ương Cục miền Nam đề ra. Nhưng đến giữa năm 1965, đế quốc Mỹ chưa chịu bỏ cuộc, đã dấn sâu thêm một bước nữa, tiến hành chiến lược “chiến tranh cục bộ”. Khu Trung Nam Bộ phải chuyển qua đối phó trực tiếp với quân Mỹ trên chiến trường.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Hai, 2013, 05:19:28 PM
CHƯƠNG IV

TIẾP TỤC PHÁT TRIỂN THẾ TẤN CÔNG HAI CHÂN, BA MŨI,
ĐÁNH THẮNG CHIẾN LƯỢC CHIẾN TRANH CỤC BỘ” CỦA ĐẾ QUỐC MỸ
(1965-1968)

I - KHU VIII CHUẨN BỊ SẴN SÀNG ĐÁNH QUÂN MỸ

Năm 1965, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta chuyển sang giai đoạn mới. Trước sự phá sản của chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ chuyển sang dùng chiến lược “chiến tranh cục bộ”. Chúng quyết định ồ ạt đưa thêm hàng chục vạn quân Mỹ vào miền Nam Việt Nam; đồng thời cho hàng trăm máy bay và tàu chiến tăng cường đánh phá miền Bắc.

Mục tiêu của chiến lược “chiến tranh cục bộ” là đánh bại cách mạng miền Nam trong vòng 25-30 tháng (từ giữa năm 1965 đến hết năm 1967).

Kế hoạch chiến lược chia làm 3 giai đoạn: giai đoạn 1: phá kế hoạch mùa mưa của ta, chặn chiều hướng thua của chế độ ngụy, bảo đảm triển khai nhanh lực lượng quân viễn chinh Mỹ; giai đoạn 2: mở các cuộc phản công chiến lược để diệt quân chủ lực của ta và kiểm soát vùng nông thôn; giai đoạn 3: hoàn thành việc tiêu diệt quân chủ lực của ta, hoàn thành cơ bản chương trình bình định miền Nam vào cuối năm 1967.

Về lực lượng chiến tranh: quân viễn chinh Mỹ và quân ngụy là hai lực lượng chiến lược; quân viễn chinh Mỹ tuy được coi là con chủ bài, là nòng cốt, nhưng quân đội ngụy vẫn được sử dụng như một lực lượng quan trọng. Quân Mỹ là lực lượng cơ động chủ yếu để “tiêu diệt” bộ đội chủ lực của ta; quân ngụy là lực lượng chiếm đóng để bình định, kìm kẹp nhân dân.

Biện pháp chủ yếu của chiến lược mới của Mỹ ở miền Nam là “tìm diệt”, sau đó là “bình định” - được coi là chiến lược hai gọng kìm, đưa Mỹ ồ ạt vào miền Nam, mở các cuộc tiến công lớn “tiêu diệt” chủ lực của ta ở miền Nam, đồng thời dùng không quân và hải quân đánh phá miền Bắc hòng ngăn cản sự chi viện của miền Bắc đối với miền Nam; cô lập và đè bẹp cách mạng miền Nam, làm suy yếu căn cứ địa cách mạng của cả nước, hậu phương lớn của cuộc kháng chiến.

Đây là cố gắng quân sự lớn nhất, bước leo thang chiến tranh cao nhất của đế quốc Mỹ ở miền Nam, cũng là lần đầu tiên Mỹ đưa nhiều quân nhất đi xâm lược, kể từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai.

Đế quốc Mỹ đã tăng quân viễn chinh gồm cả lục quân, không quân và hải quân, với tốc độ rất nhanh, đẩy cường độ và tính chất ác liệt của chiến tranh lên rất cao.

Trong giai đoạn này, với cố gắng quân sự lớn, giới cầm quyền Mỹ đã huy động lực lượng và tiền của đến mức cao nhất vào cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam(1).

Việc leo tang chiến tranh như trên của đế quốc Mỹ đã đặt cách mạng nước ta và cuộc kháng chiến của nhân dân ta đứng trước muôn vàn khó khăn.

Đảng ta đã đánh giá tình hình chiến lược mới một cách bình tĩnh và sáng suốt, tạo nên sự nhất trí cao trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, cả nước một lòng, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Các cuộc Hội nghị Trung ương lần thứ 11 (3-1965) và lần thứ 12 (12-1965) đã phân tích toàn diện, sâu sắc chiến lược mới của Mỹ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam và đề ra chủ trương đúng đắn, chủ động, sáng tạo. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 12 xác định quyết tâm: Kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất kỳ tình huống nào nhằm bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới hòa bình thống nhất nước nhà…

Quyết tâm đó còn được thể hiện trong Lời kêu gọi nhân ngày 20-7 của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “dù phải chiến đấu 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, chúng ta cũng kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn”(2).

Trên cơ sở đánh giá địch, ta một cách khách quan, khoa học, toàn diện, Đảng ta đã xác định một số vấn đề cơ bản như sau;

- Tính chất cơ bản của cuộc chiến tranh của Mỹ vẫn là cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới, nên có những mâu thuẫn lớn về chính sách chiến lược.

- Trước tình hình cả nước có chiến tranh với mức độ và hình thành khác nhau, Đảng ta chủ trương kịp thời động viên và tổ chức cả nước cho kháng chiến chống Mỹ; miền Nam là tiền tuyến lớn, miền Bắc là hậu phương lớn…

- Quân Mỹ ồ ạt vào miền Nam, tính chất ác liệt của cuộc chiến tranh tăng lên, gây cho ta những khó khăn lớn, nhưng so sánh lực lượng giữa địch và ta căn bản không thay đổi. Vì thế, ta vẫn giữ vững và phát huy thế chiến lược tiến công của chiến tranh cách mạng miền Nam.

- Tiếp tục tiến công và phản công, kết hợp đấu tranh quân sự và chính trị, nhưng đấu tranh quân sự ngày càng có tác dụng quyết định trực tiếp.


(1) Mỹ huy động tới 70% quân số, 60% lính thủy đánh bộ, 40% hải quân và 60% không quân của nước Mỹ, 6,5 triệu lượt thanh niên Mỹ trực tiếp tham gia chiến tranh xâm lược Việt Nam, 22.000 xí nghiệp trên đất Mỹ trực tiếp phục vụ chiến tranh xâm lược Việt Nam.
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.11, tr.470.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Hai, 2013, 05:19:52 PM
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 12 Ban Chấp hành Trung ương Đảng là Nghị quyết kết tinh trí tuệ, ý chí và sức sáng tạo của nhân dân ta. Nó mang sức nặng của tinh hoa truyền thống 4000 năm của dân tộc Việt Nam, mở đầu sự ra đời của thiên hùng ca của dân tộc ta trong thế kỷ XX và sẽ lưu lại cho ngàn đời, sau những trang sử hào hùng và oanh liệt.

Bước sang năm 1965, sự can thiệp trực tiếp của quân Mỹ vào miền Nam ngày càng tăng.

Ở đồng bằng sông Cửu Long, Mỹ đã đưa Không đoàn 13 đến sân bay Cần Thơ, Không đoan 7 đến sân bay Sóc Trăng, lập căn cứ hải quân ở An Thới - Phú Quốc và đưa hải quân đặc nhiệm phối hợp hoạt động với hải quân vùng 4 ngụy.

Quân ngụy được tích cực vực dậy, mỗi trung đoàn của sư đoàn chủ lực tăng thêm 1 tiểu đoàn, số pháo của chi khu, tiểu khu được tăng gấp đôi. Chúng bị thúc đẩy hoạt động ráo riết, đánh mạnh vào vùng giải phóng của ta để tăng cường phòng ngự vùng chúng kiểm soát và tiếp tục gom dân trong khi quân Mỹ đang tích cực triển khai. Chúng đánh vào Ba Tri - Bến Tre, Cần Giuộc - Long An, bắc lộ 4 và xúc tiến bình định ráo riết ở Gò Công. Vùng giải phóng bị bom, pháo nặng nề. Dân bám lại phải bỏ địa hình, tản ra đồng. Cuộc đấu tranh chống cào nhà, gom dân diễn ra quyết liệt. Bọn lính đến từng nhà hăm dọa, đập phá đồ đạc, kéo sập nhà, vây bắt đàn bà, trẻ con, người già lùa đi. Nhưng số đông đồng bào vẫn cố tìm cách ở lại. Đồng bào chất vấn bọn đi cào nhà: “Các chú bảo ra ngoài đó thì chúng tôi lấy gì mà sống? Ruộng vườn bỏ cho ai? Vợ con các chú còn sống không nổi thì bà con làm sao sống được”.

Ở nhiều nơi, dân xách dao đuổi chém bọn đi dỡ nhà, làm cho chúng phải chùn tay.

Hàng ngày, đội quân tóc dài gồm hàng trăm người kéo vào thị xã, thị trấn đấu tranh đòi ở lại. Một số đồng bào bị địch cưỡng bức đi đã chở cành cây ra vứt bừa bãi giữa đường làm cản trở giao thông và tố cáo tội ác của địch với khách đi xe qua lại và với dân ở dọc đường.

Trong khi đó, Thường vụ Khu ủy đang triển khai theo chủ trương của Bộ Chính trị Trung ương Đảng là tiến tới giành một thắng lợi quyết định ở miền Nam, đồng thời tranh thủ đánh bại hoàn toàn quân ngụy trước khi quân Mỹ nhảy vào. Thực hiện được chủ trương trên là cả một quá trình chiến đấu khẩn trương, hết sức gay go và phức tạp.

Trước tình hình địch đánh phá ác liệt, Khu ủy chỉ đạo các tỉnh lãnh đạo đồng bào tìm cách bám lại, đồng thời khẩn trương lập kế hoạch cho bộ đội và du kích tăng cường đánh bọn đi bình định và tiến hành những hoạt động tác chiến lớn, chủ động tiến công địch.

Việc sắp xếp lại thế đứng của dân phải trải qua nhiều cam go. Lúc đầu gần như hầu hết các gia đình phải tạm sơ tán ra vùng địch. Sau đó, tranh thủ đấu lý với chúng, nhân dân mới lần lượt trở về dựng chòi ngoài đồng, bên mảnh ruộng của mình. Từ đó hình thành thế ăn ở và chiến đấu phù hợp với tình hình mới. Nhân dân ra đồng nhưng vẫn liên hệ, phối hợp với cơ quan, du kích, bộ đội trong địa phương chặt chẽ. Đây là một cuộc di chuyển to lớn, gồm hàng vạn gia đình với hàng chục vạn người. Cuộc di chuyển này là một hình thức linh hoạt trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt để người dân có điều kiện bám đất mà vẫn giữ được thế công khai hợp pháp đấu tranh với địch theo tinh thần chỉ đạo của Đảng bộ: “dân bám đất, cán bộ bám dân, bộ đội du kích bám địch”.

Người dân ra đồng dựng nhà trên mảnh ruộng của mình vừa tránh được bom pháo, vừa có điều kiện chăm sóc lúa tốt hơn, đảm bảo hậu cần cho cách mạng, làm tai mắt cho cơ quan, bộ đội, du kích và vẫn đấu tranh chính trị với địch và làm binh vận. Lính địch càn vào, trước khi đối đầu với du kích và bộ đội, chúng đã bị nhân dân giữ chân để tác động, đánh lạc hướng, lôi kéo, làm giảm sút tinh thần chiến đấu.

Trước đây đồng bào làm nhà trong vườn, dọc theo sông hay bờ kênh. Khi có chiến tranh, bộ đội và du kích ở lẫn lộn với đồng bào. Nay đồng bào ra đồng, chỉ còn lại bộ đội và du kích, cơ quan ở trong địa hình, hoạt động tác chiến sẽ dễ dàng hơn.

Để thích hợp với điều kiện tác chiến mới, chủ động đánh càn, Khu ủy chủ trương xây dựng thế chủ động phòng ngự vững chắc. Các tiểu đoàn tập trung của Khu và tỉnh đều lập phương án tác chiến và xây dựng các trận địa công sự trên khu vực của mình, tạo thuận lợi cho việc hành quân, trú quân và tác chiến. Mỗi tiểu đoàn xây dựng từ 5 đến 7 hay 10 trận địa công sự. Ở nam - bắc lộ 4 của Mỹ Tho, các tiểu đoàn của Khu cùng với lực lượng tỉnh có đến một, hai chục trận địa công sự.

Ở Long An, các trận địa công sự rải từ Đức Hòa, Thủ Thừa đến nam quốc lộ 4. Ở Bến Tre, bộ đội của tỉnh xây dựng trận địa ở ba huyện Mỏ Cày, Giồng Trôm, Châu Thành…


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Hai, 2013, 05:20:14 PM
Đảng bộ phải được củng cố, Khu ủy phát động xây dựng Đảng bộ theo tiêu chuẩn bốn tốt, sắp xếp, bố trí lại đảng viên để tăng hiệu quả lãnh đạo và chiến đấu. Toàn khu lúc này có trên 20.000 đảng viên, trong đó có hơn 3.000 đảng viên giữ thế công khai, hợp pháp, lãnh đạo đấu tranh ba mặt: vũ trang, chính trị, binh vận. Khu ủy còn chỉ đạo đưa đảng viên và những người nòng cốt bám theo dân ra vùng yếu và động viên tất cả đảng viên trẻ khỏe cầm súng, thành lập các hội đồng cung cấp của khu, tỉnh để xúc tiến việc bảo đảm hậu cần.

Tháng 6 năm 1965, thực hiện chủ trương của Trung ương Cục, Khu ủy tiến hành công tác phát động nông dân. Yêu cầu của đợt phát động này là nâng cao giác ngộ và vai trò của nông dân trong cách mạng; tăng cường đoàn kết ở nông thôn, làm cho nông dân ngày càng tin tưởng Đảng, gắn bó hơn nữa với chi bộ Đảng ở cơ sở; giáo dục, động viên nông dân đẩy mạnh sản xuất, đóng góp sức người, sức của cho kháng chiến để giành thắng lợi quyết định trước mắt và sẵn sàng đánh bại quân Mỹ nếu chúng đổ quân xuống địa phương mình. Cùng với công tác phát động nông dân là củng cố Mặt trận dân tộc giải phóng, các đoàn thể nông hội, thanh niên, phụ nữ,… Công tác phát động còn gắn với việc củng cố lực lượng ba mũi đấu tranh chính trị, vũ trang và binh vận ở cơ sở, củng cố an ninh chính trị, sạch làng, tốt xóm. Mặc dù địch đánh bom, pháo, càn quét ác liệt nhưng quần chúng vẫn cố gắng khắc phục, duy trì được sinh hoạt và sản xuất. Trong vùng giải phóng, nhiều nơi đã làm mỗi năm hai vụ lúa giống ngắn ngày, cho năng suất cao. Địch đánh ban ngày, dân tranh thủ làm ban đêm. Hầu hết nam giới đã thoát ly theo cách mạng, phụ nữ ra đồng sản xuất và đấu tranh với địch. Lợi dụng địch hô hào sản xuất để khai quang Đồng Tháp Mười, nông dân đã mua sắm các phương tiện kỹ thuật tiên tiến như máy cày, máy xới, máy bơm nước, bình phun thuốc trừ sâu… Vùng Đồng Tháp Mười và An Giang có loại máy cày lớn được dùng khá phổ biến. Nhờ thế, có nơi, Khu chuyển vũ khí cho các đơn vị và các tỉnh qua Đồng Tháp Mười bằng máy cày. Cán bộ đi công tác, bộ đội hành quân, có đoạn được đi xuồng máy. Các cánh đồng và các khu vườn ngay trong lúc chiến tranh ác liệt nhất vẫn có lúa tốt, có cây ăn trái. Quanh năm dân Đồng Tháp Mười vẫn bám sản xuất, khi trồng lúa, khi trồng dưa, rau, đậu.

Cũng trong năm 1965, thực hiện chủ trương của Trung ương Cục, Khu phát động trong giới thanh niên phong trào “Thanh niên năm xung phong”, sôi nổi thi đua giết giặc, tích cực đấu tranh chống bắt lính, đấu tranh chính trị, làm binh vận, rèn luyện thân thể, học tập quân sự, sản xuất nuôi quân. Việc đóng góp nhân lực, vận lực của đồng bào cho cách mạng vẫn tiếp tục. Riêng trong năm 1965, ngoài phần bổ sung cho Khu VIII, còn đưa về cho Miền gần 2.000 tân binh. Cho đến khi đánh Mỹ trong “chiến tranh cục bộ”, Khu VIII vẫn tự lực về nhân lực và tài chính.

Khắp các tỉnh trong Khu có nhiều trận đánh thắng giòn giã của lực lượng các thứ quân.

Mỹ Tho, ngày 29 tháng 5 năm 1965, 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 11 Sư đoàn 7 ngụy dùng trực thăng đổ quân xuống xóm Đào, xã Mỹ Hạnh Đông, huyện Cai Lậy, đúng ngay đội hình của Tiểu đoàn 261 của Khu. Chúng bị diệt trên 400 tên, bị bắt 3 tên. Ta thu được hơn 100 khẩu súng.

Cũng trong tháng 5 năm 1965, 1 đại đội của Tiểu đoàn 514 tỉnh Mỹ Tho, quân địa phương huyện Cái Bè và du kích 2 xã Hậu Thạnh, Hội Cư phục kích diệt bọn bảo an ở Cái Bè trên tuyến lộ 20, cách lộ 4 một kilômét, bắt hơn một chục tù binh, trong đó có tên cố vấn Mỹ tên là Suman. Địch ráo riết tìm kiếm Suman, chúng treo giải 1 triệu đồng cho ai chỉ điểm cho chúng. Chúng đã không tìm được Suman mà 1 trực thăng đi tìm còn bị du kích xã Hội Cư bắn rơi, làm cho hai tên Mỹ nữa bỏ mạng.

Bến Tre, địch bị tấn công, uy hiếp trên tất cả các hướng. Ba chi khu Mỏ Cày, Hương Mỹ, Chợ Lách ở cù lao Minh bị bao vây, cô lập địch phải tiếp tế bằng trực thăng. Chi khu Giồng Trôm ở cù lao Bảo cũng bị bao vây, liên tỉnh lộ 6, tỉnh lộ 26 thường xuyên bị uy hiếp. Ở Ba Tri trên cù lao An Hóa, ta vây các đồn ở bốn xã quanh thị trấn. Ở thị xã Bến Tre, du kích xã Mỹ Thạnh An bắn tỉa địch ngay trên hữu ngạy sông, đối diện với thị xã.

Những tháng đầu năm 1965, ta liên tục đánh vào vùng sâu, vùng yếu của địch, tạo thêm nhiều vùng tranh chấp mới.

Ngày 15 tháng 1 năm 1965, 2 đại đội của Tiểu đoàn 261 và Tiểu đoàn 516 diệt 2 đồn tại ấp Cây Diệp, giải phóng hoàn toàn xã Châu Hòa, huyện Giồng Trôm.

Đêm 28 tháng 1 năm 1965, Tiểu đoàn 516 diệt đồn Ba Rọi thuộc tiểu chi khu An Nhơn, cách thị xã Bến Tre 1.500 mét về phía tả ngạn sông Bến Tre. Sau đó, Tiểu đoàn 516 kết hợp với du kích và bộ đội địa phương hai huyện Ba Tri, Mỏ Cày mở thêm khu vực tranh chấp ở Tân Xuân và An Thạnh.

Đêm 24 tháng 2 năm 1965, các Tiểu đoàn 261, 265, 269 của Khu và Tiểu đoàn 516 đánh thiệt hại nặng đồn Cây Xanh ở xã Tân Thiềng, huyện Chợ Lách và chặn đánh Trung đoàn 13 Sư đoàn 9 ngụy và 1 tiểu đoàn bảo an từ Vĩnh Long định đến giải tỏa cho đồn Cây Xanh, diệt gần 200 tên, bắn rơi và bắn hỏng 5 máy bay.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Hai, 2013, 05:20:37 PM
Long An, qua 20 tháng tấn công và phản công quyết liệt, đến tháng 11 năm 1965, ta đã diệt và làm tan rã 8.500 tên địch (chưa kể 6.000 tên đào ngũ), diệt 6 tiểu đoàn chủ lực, đánh tê liệt Trung đoàn 46, đánh thiệt hại nặng Trung đoàn 50 Sư đoàn 25 ngụy, làm cho sư đoàn này mất khả năng cơ động; giải phóng hoàn toàn 57 xã, dân làm chủ 50 xã còn đồn; giải phóng hoàn toàn huyện Đức Huệ. Các đơn vị có quân số dồi dào: bộ đội huyện có đến 200 - 30o quân, tiểu đoàn tỉnh có đến 800 - 1000 chiến sĩ.

(https://lh3.googleusercontent.com/IiNQc6hFSWRNwhH0_M8qmyvOk1lGw7JzG66nFowpM7kpyA9MC8x3HsaoiBtUcU8GWKOgF7tH8B3OR4_r8whbL3xLeDbRGmrmCP-fm6TelNZ7qfrG4xR6Ld0VleqFk6d5LqOIrbcfy8KMVhEsZu_rWAj7dW5_XXXApv79ToAwwAmhV2CuwVvUYxwtewr9C3WO0h4bAwg5cpbGxuQ8V2xXi0IjW64GohPyb-S_ju9TYhME_m5Vb0NFteWF-5t8DFBds9nATMZ2WNMLGgv_P_RYtXx4DIcgX4QSOOZ3W-Ozvusyz24G3PV1Ylrj10xRZqFUdOIM4vVzNoC_ryvl0ahtYSWxPxQZ5aYU_HMkJMYlXhki6Uj-lJsWMxvmX6uF_9lMYH0vA4lMNn9iHh_Y-5M51hlmQm0_4zeuZ0-q_V3oQ4jlzrIJ09JFn9zKJymPY4ewrFNn47XcnqYplumrLYvKYHojG2XoTTslM0SOTVsJFfbK4ekmnpBNUFi9I5tqzI2fU67AA69lzeKkhk26XF5o9FxqtvlzDEXZ-enFLFsYQcuzozpTA18_XR6-8LFHFds2csO9HdzWmzqw4rAYTa7FwMVsQ6g57FzlTOitAoI1TMTvpE8Sw7wU=w800-h506-no)

Anh Nguyễn Văn Danh, du kích gài mìn chống xe tăng địch

Địch chống lại sức tấn công của quân dân Long An cũng rất quyết liệt. Ngoài 2 trung đoàn của Sư đoàn 25 ngụy thường trực, chúng đưa vào đây hết tiểu đoàn đến tiểu đoàn khác biệt động quân. Đồn bốt có cái ta phải diệt đến lần thứ ba, thứ tư chúng mới bỏ. Như đồn Hòa Khánh huyện Đức Hòa phải diệt bốn lần, các đồn Lạc Tấn huyện Tân Trụ, Mỹ Lộc huyện Cần Giuộc, Thanh Hà huyện Bến Lức phải diệt ba lần. Căn cứ Đức Lập ở sát thị xã Hậu Nghĩa, 2 tiểu đoàn biệt động quân lần lượt bị diệt, rồi đến 2 tiểu đoàn nữa bị đánh thiệt hại nặng chúng mới bỏ. Chúng tiến hành nhiều cuộc phản kích cấp trung đoàn, sư đoàn. Chúng rải chất độc hóa học và cho máy bay B52 chà sát ven sông Vàm Cỏ Đông, một phần sông Vàm Cỏ Tây và ven sông Sài Gòn quyết “tìm diệt” Tiểu đoàn 1 của tỉnh nhưng không được, trái lại, chỉ gặp tiểu đoàn này trong những trận tiểu đoàn chủ động tấn công tiêu diệt chúng.

Hoạt động của Long An đã uy hiếp nghiêm trọng tuyến phòng thủ tây nam, tây và tây bắc của cơ quan đầu não địch ở Sài Gòn.

Kiến Tường, bước vào năm 1965, Tiểu đoàn 504 đã có 2 đại đội mạnh, quân số mỗi đại đội từ 200 đến 400 quân, 1 đại đội vận tải và 1 phân đội pháo binh nữ. Du kích xã rất mạnh; xã trung bình có từ 20 đến 40 tay súng, xã mạnh có đến 70 - 80 tay súng. Tỉnh còn đưa quân lên cho Khu. Ở Kiến Tường đã diễn ra nhiều trận đánh tiêu diệt địch; ba mũi quân sự, chính trị, binh vận tiến công bao vây đồn bốt, phá các khu gom dân, bảo vệ vùng giải phóng.

Ngày 22 tháng 3 năm 1965, Đại đội 1 cùng đặc công và hỏa lực diệt đồn tam giác cấp trung đội ở Giồng Dung, xã Bắc Hòa. Đây là trận đánh đầu tiên bằng hình thức kỳ tập diệt đồn có công sự vững chắc.

Ngày 22 tháng 5 năm 1965, ta diệt đồn tam giác kênh Chuối, xã Bắc Hòa, hỗ trợ cho nhân dân thoát ra khỏi hai khu dinh điền Giồng Dung, Gò Chuối.

Ngày 23 tháng 6 năm 1965, Đại đội 1 đánh bọn biệt kích ác ôn đột nhập vào ấp Đầu Sấu, xã Tuyên Bình. Địch chết và bị thương 2 tiểu đội. Trận đánh này có ảnh hưởng lớn vì bọn này hành động rất dã man, dân rất căm thù.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Hai, 2013, 05:21:05 PM
Kiến Phong, năm 1965, ta tiến công ra vùng yếu và vùng ven thị xã, loại khỏi vòng chiến đấu trên 600 tên địch, đánh trên 400 trận nhỏ và vừa, tiêu diệt gọn 30 tiểu đội, 7 trung đội, 4 đại đội địch, bắn rơi 2 máy bay, bắn cháy và hỏng 4 xe M113, thu hơn 200 khẩu súng.

Những trận đánh có tác dụng gây tiếng vang lớn như:

Tháng 4 năm 1965, Tiểu đoàn 502 diệt gọn 1 đại đội bản an đóng dã ngoại trên lộ 30 đoạn ở xã Mỹ Hội, huyện Cao Lãnh.

Tháng 7 năm 1965, Tiểu đoàn 502 và đại đội đặc công đánh Trường huấn luyện bảo an Trần Quốc Tuấn ở xã Tân An gần thị xã, diệt gọn đại đội bảo vệ trường và 2 đại đội khóa sinh, diệt 250 tên, thu 50 khẩu súng, trong đó có 1 đại liên.

(https://lh3.googleusercontent.com/9BH0-uLClS0RQ2PnOOauSG7_s1vFPRbGmdmUHhVCAsatn1kAtCIUX3JERs9ztIQs4ZwnCel3i4AJSwC9E50gEqJOgcsOM4771NBbrVvD5umFTpC7tPovPJhCx9px7l29EIGFMdgCKSD_II1PusorGA5qIAR7Vix1SMlsNgngLwlq1vWI-jARauH7DZR5geOVw_1H03aL8PAjU9eKmcexkOlk8llO4aBIRQrB7-X9mfHKfBgb3K1mXdzCeUSgi5NwiYYLpp73335lUE8SWmq3g4tVgC7shXX5H5dz4ZMR9_9SZABMpNJcl38xhuHnmSh8k-OK3PKsFXtrJOknTatPJwXtGQu0k-nnoJ5_BgKpwWjzhFtHOCdcf8pomPflhh1wvFHNnxQz1ccPLFPNCkQguSPBbk9roGOB9JD9zZ-zXSpV0LthT4fQib8n6wMv1dYndEidgfYDOoc7XRoIOTs9EerTHX4DdVX5Ob7iLzfqgmu8i8j4tIb_0XLJ6bw5hfIZMFM2Qqp7fh8UppTdlPN-7MGjRYj_VFgrbibIDhUsw5uoLmZ2YjnyenECKQehUucxhhCZ9plGp2moKryoxbLz-5NAOuawYDML4nThXEIqguyst1Qyv2Jh=w788-h600-no)

Lễ tiễn thanh niên ở Lấp Vò lên đường tòng quân - năm 1965

An Giang, từ cuối năm 1964, ta và địch giằng co nhau quyết liệt. Ở Châu Đốc địch tổ chức hành quân đến cấp sư đoàn với các Sư đoàn 9, 21 ngụy và bảo an. Chúng dồn dân quy khu, phá địa hình căn cứ, cho máy bay, pháo đánh ác liệt vùng Núi Dài, Núi Tô, Núi Cấm. Mặc dù địch đánh phá ác liệt An Giang vẫn có những trận đánh kìm chân và tiêu hao nhiều địch ở vùng Châu Đốc. Lực lượng của An Giang khá mạnh: Tiểu đoàn của tỉnh có 600 quân, bộ đội huyện có tới cấp trung đội, du kích xã cũng có tới cấp trung đội.

(https://lh3.googleusercontent.com/ll2vXNEH2gYc1qGdGU36iX0F4qbBnPFUsfSQrX10hpuZjVaCWLYBN86hF6MclrvJePhQzkLxOnc1dWQp2aiJfrVX9tD_o-TTMsb09Cx5cKx6EsWaQNxkvsG8GyY9fGWgYtJEXwnXQvfXx6WEAP6mDHyPNzNuN5tRQLLNP8s4tmaA4r8a6f50kSXeTo0laVCmEUCaMBYvp1y_CPzdiX6XbgEdyzsvUwPWoJGARHzlcp1UlomEGcqRqDHCfjAQBTZe_87Y-WypdfIdo07O58x0o6OO7lvGrkKpw_WnDKy7OaVQTqqQKSj7bpTLWmszAsZb5-aYOKDfnDnr4oHCAEW0SFTAQuabREC1AcStsytCm-DEQ0qqe1DfoR6VXoZp3c-hMWFP-OiUxi42pmp2rDfjpBM9Ca-zDQgiBOxD4XgkcccJxFuDAMfc-E3baOdq8sH125Sle-kUCpGoezUs1VOTglF8v_0RzGV-vwvfQ2ThlLggxuE8uV0dqRKNfT8fqJwikzkCVKfd66xBELm7zGODMDSHB6jr34ILZQKFsERc2yvPg3qhVhQ9ZF8HefXdUAM34n4Up-8jp0GJ4BPmKEyuTHSYD44VLoF1e6pNuKhNorpMClbrRO0=w800-h535-no)

Máy bay Mỹ bị du kích xã Long Mỹ bắn rơi tháng 4 năm 1965

Cuối năm 1965, trên chiến trường Châu Đốc, ta vẫn duy trì được quyền kiểm soát các xã Lương Phi, Lê Trì, An Tức, Ô Lâm, Cô Tô, An Lạc của huyện Tri Tôn; Ba Trúc, Thới Sơn, Vĩnh Gia, Lạc Quới, An Nông, Xuân Tô, Nhơn Hưng của huyện Tịnh Biên; Nhơn Hội, Phú Hữu, Vĩnh Trường, Vĩnh Hậu của huyện An Phú; Vĩnh Xương, Tân An, Long Sơn của huyện Tân Châu.

Nhưng, nổi bật trong toàn Khu là trận đánh diệt điểm then chốt - sân bay Thân Cửu Nghĩa ở huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho do 2 tiểu đoàn 261, 263, 2 đại đội pháo, 2 đại đội đặc công, trinh sát của Khu và lực lượng của tỉnh Mỹ Tho thực hiện.

Sân bay Thân Cửu Nghĩa nằm sát lộ 4, cách thị xã Mỹ Tho 10 kilômét, mỗi chiều rộng đến hơn 1.000 mét, trên một giồng cát, xung quanh là ruộng ngập nước. Trong trận Ấp Bắc năm 1963, trực thăng chở lính địch đều xuất phát từ đây. Chung quanh sân bay là vành đai ấp chiến lược lập từ năm 1961. Đây cũng là cứ điểm vững chắc, ngăn chặn đường hành lang của ta từ vùng trên xuống Chợ Gạo, Gò Công. Trong sân bay có đường bằng cho máy bay vận tải hạng nặng và máy bay trinh sát. Bãi trực thăng có thể đỗ được 30 chiếc. Lực lượng bảo vệ căn cứ gồm 1 tiểu đoàn bảo an, nhiều pháo 105. Hệ thống lô cốt vững chắc, rào kẽm gai, mìn khá dày. Ngoài ra, chúng còn được sự chi viện trực tiếp của tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 11 Sư đoàn 7 ngụy đóng ở vòng ngoài và Tiểu đoàn 32 biệt động quân đóng cách 1.000 mét ở ngã ba lộ 4. Cơ sở thông tin trong căn cứ do 5 chuyên viên Mỹ phụ trách, có thể liên lạc với vùng 4 chiến thuật. Bộ tổng tham mưu ngụy và Bộ tư lệnh viện trợ Mỹ ở Sài Gòn. Căn cứ bị diệt, địch bị chết 500 tên, trong đó có tên trung tá ngụy chỉ huy căn cứ và 5 tên Mỹ; 7 máy bay, 25 xe quân sự, nhiều xe M113 bị phá hủy cùng xăng dầu, đạn dược và toàn bộ thiết bị sân bay. Sân bay Thân Cửu Nghĩa bị diệt gây tác động lớn về tinh thần đối với địch ở Mỹ Tho, ở vùng 4 chiến thuật và cả ở Sài Gòn.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Hai, 2013, 05:21:34 PM
Cùng với mũi tiến công quân sự và chính trị, mũi binh vận cũng phát triển mạnh. Đến cuối năm 1965, trong quân đội Sài Gòn đão cộng sản đến 20 tướng tá bắt liên lạc với các đầu mối binh vận của Khu, trong đó có cả tỉnh trưởng, Tư lệnh sư đoàn, Tư lệnh lực lượng tổng trù bị, Đô đốc hải quân Tư lệnh phó vùng chiến thuật. Tham mưu trưởng Bộ tổng tham mưu… Nhưng cũng đến cuối năm 1965, việc Mỹ đưa quân can thiệp trực tiếp vào cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam đã rõ ràng. Khu ủy Khu VIII đã nhận được Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 12, mà trước mắt là tập trung đánh bại việc Mỹ đưa quân can thiệp trực tiếp vào miền Nam.

Để triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương, thường vụ Khu ủy triệu tập Hội nghị Khu ủy (mở rộng), do đồng chí Bí thư Khu ủy chủ trì. Các đại biểu về dự hội nghị mang theo không khí chiến thắng ở các chiến trường. Tuy phấn khởi, nhưng các đồng chí cũng không khỏi băn khoăn: quân Mỹ đã đổ bộ vào các tỉnh Trung Trung Bộ và Đông Nam Bộ. Cuộc chiến rồi đây sẽ càng ác liệt hơn nữa.

Tham dự Hội nghị có gần 60 đại biểu, gồm các đồng chí Khu ủy viên, Bí thư tỉnh ủy, Tỉnh đội trưởng, chỉ huy các đơn vị lực lượng vũ trang thuộc quân khu, thủ trưởng các ban của Khu, thủ trưởng các cơ quan Bộ tư lệnh Quân khu, lãnh đạo Ban Chấp hành các đoàn thể của Khu.

Hội nghị bàn định tỉ mỉ đường lối, phương châm, phương thức hoạt động để đi đến sự nhất trí và quyết tâm cao nhất.

Đồng chí Sáu Đường - Bí thư Khu ủy trình bày tóm tắt nhận định chung của Thường vụ Khu ủy:

- Chiến trường Khu VIII là đồng bằng trống trải, lại nhiều sông lớn và lộ chiến lược chia cắt. Thế mạnh của Khu VIII là cuộc nổi dậy của nhân dân bằng thế công khai hợp pháp cách mạng với phương châm hai chân: chính trị, vũ trang và ba mũi giáp công quân sự, chính trị, binh vận là loại hình chiến tranh nổi dậy toàn diện mà đảng viên, cán bộ, chiến sĩ và quần chúng nhân dân các tỉnh trong Khu luôn luôn năng động, mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu. Trong tình thế địch tăng cường chiến tranh lên một mức rất cao, yêu cầu các Đảng bộ càng phải bám chặt dân, đưa cuộc đấu tranh nổi dậy với ba mũi tấn công lên một mức cao hơn nữa. Đặc biệt là các lực lượng vũ trang tập trung cần phải được củng cố mạnh hơn nữa và phải luôn luôn dựa chắc vào thế tấn công ba mũi của cơ sở mới có thể đáp ứng được tình thế. Các Đảng bộ cần lãnh đạo dân bám đất, cùng với bộ đội, du kích tấn công địch. Đánh Mỹ lại càng phải nắm chắc cách đánh sở trường, vốn là thế mạnh của Khu VIII lâu nay. Tuy nhiên, để giữ vững phương châm đấu tranh và thế mạnh của phong trào, rõ ràng ba mũi tấn công ở cơ sở phải được tăng cường hơn nữa, các biện pháp phải được nâng lên, nghiên cứu sâu hơn để vận dụng thích hợp với đối tượng là quân đội Mỹ.

Hội nghị thảo luận sâu các vấn đề mà thực tiễn đòi hỏi:

- Đấu tranh theo phương châm vận dụng thế hợp pháp hai chân, ba mũi đối với ngụy thì được, còn đối với Mỹ thì phải vận dụng như thế nào?

- Tận dụng thế công khai hợp pháp để đấu tranh với Mỹ mà không biết tiếng Mỹ thì làm thế nào?

- Mỹ tiến hành cuộc “chiến tranh cục bộ” thực chất là chiến tranh xâm lược cổ điển, như vậy thì cuộc chiến tranh có còn mang tính chất thực dân kiểu mới hay không, hay lại trở lại cuộc chiến tranh chỉ bằng mũi quân sự tiêu diệt sinh lực đối phương để quyết định thắng lợi như kiểu của thực dân cũ trong kháng chiến chống Pháp?

Đồng chí Bí thư Khu ủy phân tích một đoạn của Nghị quyết Trung ương và khẳng định:

Mặt trận của chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ vẫn là tiêu diệt các lực lượng vũ trang cách mạng để hỗ trợ cho ngụy thực hiện kế hoạch bình định nhân dân miền Nam. Tính chất cơ bản vẫn là cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới. Do đó, ta vẫn có thể sử dụng phương châm, phương thức hai chân, ba mũi kết hợp quân sự, chính trị, binh vận để đánh Mỹ như đánh quân ngụy tuy phương pháp tiến hành với mỗi đối tượng có yêu cầu, mục đích và nội dung khác nhau.

Quân đội Mỹ vào nhưng chính quyền trung ương, tỉnh, quận vẫn là ngụy. Như vậy thì quần chúng vẫn giữ được thế công khai hợp pháp và đấu tranh chính trị trực diện với chúng.

Dân đã giữ được thế công khai hợp pháp đấu tranh với ngụy, thì cũng giữ được thế công khai hợp pháp đấu tranh với Mỹ bằng cách thức thích hợp.

Chế độ Sài Gòn cùng hệ thống pháp luật của nó là con đẻ của Mỹ. Cho nên các phương thức đấu tranh với chế độ chắc chắn có thể áp dụng với bọn Mỹ được. Như vậy, vận động lính Mỹ vừa là địch vận vừa là binh vận.


Hội nghị đi sâu thảo luận về nhiệm vụ của mũi tiến công quân sự. Các cán bộ quân sự đều nhất trí là phải tiến công chúng ngay từ đầu làm cho chúng bị động. Trong “chiến tranh đặc biệt” ta đã có bài học về chủ động tiến công, trong “chiến tranh cục bộ” cũng phải chủ động tiến công ngay.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Hai, 2013, 05:21:53 PM
Qua thảo luận, Hội nghị nhất trí kết luận:

Đánh giá đúng mặt mạnh, mặt yếu của Mỹ - ngụy là điểm rất quan trọng có ý nghĩa quyết định thắng lợi.

Nếu sợ Mỹ thì thấy Mỹ mạnh, dù có lực lượng đông cũng không dám tiếp chiến với chúng; trái lại, nếu có quyết tâm cao, dám đánh và quyết thắng, dũng cảm bám trụ, dựa hẳn vào quần chúng cách mạng, cùng quần chúng bám chặt địch, năng động, mưu trí, sáng tạo nhất định sẽ phát hiện mặt yếu, mặt sơ hở và nhược điểm của quân Mỹ mà tìm cách đánh thắng. Thí dụ như quân Mỹ hành quân cấp tiểu đoàn, trung đoàn thì thấy chúng mạnh chứ nếu như chúng đi phân tán từng đại đội, trung đội, tiểu đội thì với một tổ du kích dựa vào thế bảo vệ của dân ta có thể đánh được.

Quân Mỹ vào là để cứu ngụy trong thế bị thất bại. Phương châm hai chân, ba mũi của ta đang trên thế thắng, thế luôn luôn tích cực, chủ động tấn công. Ta cần có lòng tin, lòng tự hào, phát huy tự lực, tự cường, thông qua kinh nghiệm và phương châm, phương thức chủ động tấn công bằng hai chân, ba mũi đã đánh ngụy để tiếp tục tấn công bẻ gãy mục tiêu và kế hoạch “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ. Có nghĩa là, đánh với quân Mỹ ta cũng áp dụng đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang theo phương thức hai chân, ba mũi như đánh với ngụy. Tất nhiên đánh với quân Mỹ có hỏa lực mạnh, phương tiện kỹ thuật hiện đại hơn ngụy, ta cần nghiên cứu biện pháp tấn công, phòng ngự bằng công sự, bằng hầm, hố chông, xã, ấp chiến đấu với vũ khí thô sơ thích hợp để tiêu diệt được chúng mà tránh được tổn thất.

Về vấn đề người dân phải trực diện đấu tranh với Mỹ mà không biết tiếng Mỹ, ta phải bàn bạc với đồng bào về việc học tiếng Mỹ, giúp đồng bào tạo thế công khai hợp pháp cách mạng để tiếp xúc, giáo dục, vận động và đấu tranh chính trị với quân đội Mỹ, hạn chế chúng khủng bố, bắn giết, đốt phá, đồng thời vô hiệu hóa tác dụng của chúng đối với quân ngụy.

Với lính Mỹ, dân vẫn đóng vai là “dân quốc gia”. Cách đối xử với chúng khi chúng đi tuần tiễu, càn quét cũng như đối với lính ngụy, đồng bào đóng kịch là “dân quốc gia”, tiến hành tuyên truyền, vận động để vô hiệu hóa, chống khủng bố và tiêu diệt, làm tan rã, giúp chúng làm binh biến phản chiến.

Với những hành động khủng bố, đốt phá, cướp bóc của quân Mỹ thì cũng đưa lực lượng đội quân tóc dài đấu tranh chính trị thường trực ra đấu tranh trực diện như đấu tranh với ngụy.

Tóm lại, cần phát động các lực lượng chính trị và binh vận cùng đông đảo quần chúng tiếp tục tích cực, chủ động tiến công quân Mỹ, từ đó sẽ tìm ra cách đấu tranh với Mỹ, cách đánh Mỹ và thắng Mỹ.

Chiến trường của Khu VIII là chiến trường đồng bằng, ít rừng, đông dân. Bộ đội phải dựa vào thế tiến công ba mũi của nhân dân mà chiến đấu và tồn tại. Cho nên, nếu dân bị sa vào thế hợp pháp “chạy xà đùa” thì cuối cùng dân sẽ bị địch kìm kẹp chặt, bị sa vào thế khuất phục đầu hàng, địch sẽ bình định được dân, bộ đội sẽ không thể đánh được quân Mỹ. Ngược lại, nếu dân tạo được thế công khai hợp pháp cách mạng thì  Đảng và lực lượng vũ trang sẽ có nhiều thuận lợi và chủ động hơn là dựa vào địa hình rừng cây, vì dân ở đồng bằng là “rừng cây biết nói”, biết cách chiến đấu rất linh hoạt, sáng tạo, không những có nhiều mưu trí bảo vệ cuộc sống và quyền lợi của mình mà còn dám xả thân bảo vệ Tổ quốc, rất thương yêu, đùm bọc và che chở, giúp đỡ bộ đội, hiểu địch, tiếp cận địch, nắm thắt lưng Mỹ mà đánh thì chắc chắn sẽ đánh trúng và đánh thắng.

Quân Mỹ vào tất yếu sẽ phát sinh mâu thuẫn giữa Mỹ và ngụy. Ta phải làm cho đồng bào hiểu để chủ động khai thác điều này. Trong các cuộc đấu tranh chính trị, cũng như làm binh vận và khi đấu tranh chống những hành động dã man của quân Mỹ thì phải biết dựa vào tinh thần dân tộc Việt Nam mà tranh thủ quân ngụy đồng tình bảo vệ quyền lợi của nhân dân. Phải biết lợi dụng mâu thuẫn và khoét sâu mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù. Phải khéo léo tranh thủ những phiên dịch viên người Việt để giải thích cho quân Mỹ theo nội dung có lợi cho đồng bào mình.

Tiến hành xây dựng ngay những vành đai diệt Mỹ ở các nơi có quân Mỹ đóng chốt. Quân đội Mỹ có lực lượng hùng mạnh, phương tiện kỹ thuật chiến tranh của chúng cực kỳ hiện đại. Cách tốt nhất là ta phải bám chặt đội hình hải quân, trú quân, đồn bốt, cứ điểm của chúng để chúng không thể sử dụng bom pháo có hiệu quả được. Phải có công sự vững chắc và khi chưa nổ súng phải tuyệt đối bí mật.

Ở các vành đai, điều đáng chú ý là ta phải tạo điều kiện và lãnh đạo quần chúng giữ cho được thế công khai hợp pháp để đánh địch bằng ba mũi, diệt địch bằng mưu trí và bằng đủ loại vũ khí từ hiện đại đến thô sơ, khiến địch bị bao vây rồi tiêu hao, tiêu diệt địch làm cho chúng hoang mang, tan rã mà không có cách nào đối phó được.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Hai, 2013, 05:22:17 PM
Hội nghị kết thúc trong niềm tin tưởng vào chiến thắng. Nhưng không phải là đã hết những băn khoăn về những gì sẽ xảy ra trước một đối tượng tác chiến mới là quân đội Mỹ, nên phải vừa đánh vừa tìm hiểu chúng, vì lúc này tương quan lực lượng giữa ta và địch đang có những thay đổi lớn. Đồng thời ta phải thấy hết khó khăn, phức tạp trong thực hiện chủ trương đánh Mỹ đã bàn bạc tại Hội nghị, cần xem xét trên bình diện so sánh lực lượng quân sự giữa ta và địch để xác định rõ nhiệm vụ quan trọng, nặng nề của mũi tiến công quân sự khi phải giữ vững chiến lược tiến công.

Về phía địch, Mỹ đưa vào Khu VIII Sư đoàn 9 bộ binh, đây là sư đoàn được thành lập từ năm 1940, đã từng tham gia trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, đã đổ bộ lên Bắc Phi và Noócmăngđi trên đất Pháp ở châu Âu. Sư đoàn tái lập năm 1966, gồm 3 lữ đoàn: 1, 2, 3 với 10 tiểu đoàn, 19.020 sĩ quan và binh lính, trong đó có 2 tiểu đoàn cơ giới, 4 tiểu đoàn cơ động bằng máy bay lên thẳng, được trang bị và huấn luyện đặc biệt để tác chiến chống du kích trên địa hình đồng bằng lầy lội và nhiều sông rạch. Lữ đoàn 2 là lực lượng dặc nhiệm có thể và đánh dưới nước vừa đánh trên bộ. Cùng với bộ binh còn có Lữ đoàn hải quân Mỹ, đóng căn cứ ở Mỹ Tho. Ở Long An, ngoài Sư đoàn 9 Mỹ, còn có mặt thường xuyên 1 lữ đoàn của Sư đoàn 25 tia chớp nhiệt đới, Lữ đoàn 199 và Lữ đoàn dù 173 Mỹ. Pháo, thiết giáp, không quân của Mỹ mạnh gấp 10 lần ngụy. Quân chủ lực ngụy có Sư đoàn 5, Sư đoàn 25 hoạt động ở Long An, Sư đoàn 7 hoạt động ở Mỹ Tho, Bến Tre, Kiến Tường, Sư đoàn 9 hoạt động ở Kiến Phong, An Giang. Ngoài ra, còn có 2 liên đoàn biệt động quân và các lực lượng địa phương: bảo an, biệt kích, dân vệ đông đảo. Tất cả đã được vực dậy, tăng cường mạnh mẽ cả về quân số và trang bị khi Mỹ quyết định dấn sâu thêm vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam.

Về phía ta, lực lượng chủ lực Khu VIII có 5 tiểu đoàn bộ binh: 261, 263B, 265, 267, 269 và các tiểu đoàn, đại đội binh chủng. Sáu tỉnh trực thuộc Khu, mỗi tỉnh có 1 tiểu đoàn mạnh và các đại đội, trung đội binh chủng. Quân số đủ biên chế, trang bị đồng bộ vũ khí, đủ vũ khí chống tăng, phá công sự và phòng không, có phương tiện thông tin liên lạc đã được cải tiến một bước. Các đại đội địa phương huyện đa số là đại đội giỏi. Việc thay thế trang bị và tiếp tế đạn dược khá đảm bảo.

Các đội du kích xã và liên xã đều được trang bị vũ khí lấy được của địch và tự tạo. Các đội du kích đều thông thạo địa hình, kỹ thuật đánh địch trên địa bàn trống trải. Xã yếu nhất có tiểu đội du kích, xã trung bình có trung đội, xã mạnh có đến đại đội.

(https://lh3.googleusercontent.com/p_cfccMhoc_qx78C-5mgCtEIAMvfdq3u3Z3T0Sz3qPNtpIiEAJeAQwU03descyRKnDZSkOIDMIsMIR_LvGdrADgR5kKVSTOdDE4-VLETsjB4jObVosPV7BW33lx8u5bdf4IFNcdv9YQbXUyIlOMKPgAY7tF8wRLFgtlugA28MpwfOedZUhgQq8w5mXwe7uEVAHm91vw3UFwuD4OK8pDurDmgAa0eeMVqDNOxNtAGy-M_yiuvXk-uQPrTfTzxy4pJM4CcLwc2gHUfYIwqA9UZ8CAS4TK8zz95CnGhoiwLaPNAhgtOmZqPsLgIRbVm8qtJGNi7OtjcgVEnZBABd0kMt5Ez6EKkKcaeBslhpGNDWzDZT5pNaY83VOS1w0H2kOu7SyhvmFuX-ROEqpjHppYR21AmVwgPv6jPQW7vTFeYM-ZQ0xTXVRpqHnxY9O1BuQ76spdKmYZIPjB5nsJYD8i5XzsAM0Zq_DKhM2RHzzXWoX_uJOukEVSkaz0ffRtmUKNrEoVBXvK4ywzSizyZ0AYURcaDHijZtZCnitVSX4Ei0CS65juIk81Z1t7-oyQT_aYaGk4a7zMgyPfVWSeWkXtDnwL5jbNVTptoFPPB7Jfu-Hd8w5tDSiPT=w800-h522-no)

Nữ dân quân du kích xã Đức Lập gài mìn chống xe tăng địch càn quét

Riêng về lực lượng du kích, để thích hợp với thế công khai hợp pháp cách mạng của quần chúng tấn công ba mũi, ta đã tổ chức thành 5 loại: du kích ấp, du kích xã, du kích mật, du kích công binh đặc công và nhân dân tự chiến đấu bằng vũ khí thô sơ, hầm hố chông.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Hai, 2013, 05:22:39 PM
II - NHỮNG TRẬN ĐÁNH THẮNG QUÂN MỸ ĐẦU TIÊN
VÀ CÁC VÀNH ĐAI DIỆT MỸ

1. Long An mở màn trận đánh thắng quân đội Mỹ

Bảy giờ sáng ngày 1 tháng 1 năm 1966, Tiểu đoàn 267 chủ lực của Khu vừa triển khai xong đội hình chiến đấu cạnh cầu Ông Huyện, xã Hòa Khánh, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An thì từng tốp máy bay phản lực thay nhau trút bom xuống tiền duyên của Đại đội 2. Nửa giờ sau, hơn 30 khẩu pháo của địch từ các hướng bắn cấp tập vào đội hình Đại đội. Trận bom, pháo đã làm cho nhiều hầm hào chiến đấu bị sạt lở. Các chiến sĩ phải vất vả gấp rút củng cố lại công sự. Sau trận pháo bắn dữ dội, 20 chiếc trực thăng quần đảo, đáp xuống cánh đồng xóm Tràm, đổ lính Mỹ xuống cách công sự của Đại đội khoảng 500 đến 600 mét.

Đồng chí Hùng, Đại đội trưởng dùng điện thoại báo cáo với Tiểu đoàn trưởng là quân Mỹ đã đến. Đồng chí Tiểu đoàn trưởng ra lệnh phải đợi địch vào cách 20 mét mới được nổ súng. Ghìm chúng lại tại chỗ để diệt, nhắc lại với chiến sĩ là nếu để chúng ở xa thì phải hứng nhiều hỏa lực của địch. Công sự nào sụp lở, phải cho anh em củng cố lại ngay.

Từ ngoài đồng, bọn lính dù Mỹ áo quần loang lổ, giăng hàng ngang trên diện rộng 500 mét, tay lăm lăm súng AR15 nhích dần vào trận địa. Chúng còn cách 20 mét, Đại đội trưởng Hùng ra lệnh nổ súng. Tiếng tiểu liên, tiếng lựu đạn vang lên, khói mù mịt, bọn lính Mỹ đang giăng hàng tiến tới đổ xuống như cỏ bị phát. Bọn còn sống sót, một số lợi dụng địa hình chống trả, số khác kéo đồng bọn chết và bị thương lùi lại. Các chiến sĩ ta đã bình tĩnh, ngắm bắn, tiêu diệt thêm một số lính Mỹ nữa.

Sau đợt tấn công thất bại, địch lại trút bom, pháo xuống trận địa dữ dội. Suốt ngày hôm đó, chúng tổ chức tấn công ba lần, lần nào cũng với một mức độ hỏa lực cao như thế nhưng vẫn không vào được trận địa ta. Đến 3 giờ chiều, chúng rút ra xa chờ nhận tiếp tế.

Đại đội 2 Tiểu đoàn 267 chủ lực của Khu đã giữ vững trận địa, diệt được nhiều lính Mỹ, thu được nhiều súng và đồ quân dụng. Thiệt hại của Đại đội không đáng kể. Sau trận đánh, Tiểu đoàn nhận định: hỏa lực của quân Mỹ cực mạnh, nhưng nếu khắc phục được hỏa lực của Mỹ thì có thể đánh Mỹ. Kinh nghiệm của trận đánh Mỹ đầu tiên của bộ đội Khu được nhanh chóng phổ biến. Cách khắc phục hỏa lực Mỹ là công sự phải vững chắc, đội hình bố trí phải thưa, phân tán thành những phân đội nhỏ, linh hoạt và trong lúc chiến đấu tuyệt đối không được ra khỏi công sự.

Các đồng chí còn phát hiện được một nhược điểm của quân Mỹ là mới tiếp xúc với chiến trường nên chúng còn rất ngờ nghệch. Nhược điểm đó của chúng tạm thời ta có thể lợi dụng được.

Mười giờ sáng ngày hôm sau, 7 chiến sĩ trinh sát của Tiểu đoàn luồn trong cánh đồng mía ở kênh Lò Đường, xã Hòa Khánh, bắt gặp một cánh quân Mỹ hơn 100 tên đang đứng, ngồi, hút thuốc, chuyện trò, đợi trực thăng tới chở đi, không phòng bị gì cả. Nửa giờ sau, Đại đội 1 ập đến, dùng AK và lựu đạn bất thần tấn công. Chúng hốt hoảng ngã lăn, đứa chết, đứa bị thương. Những tên thoát chết chưa kịp hoàn hồn thì quân giải phóng đã đi mất.

Sau chủ lực của Khu, đến lực lượng địa phương tỉnh, huyện và du kích đụng với quân Mỹ, đây là thử thách mạnh của chiến tranh nhân dân với quân lực và kỹ, chiến thuật Mỹ.

Ngày 30 tháng 5 năm 1966, 1 lữ đoàn Mỹ có cơ giới yểm trợ đánh trở lại các xã của hai huyện Đức Hòa và Đức Huệ. Tiểu đoàn 269 chủ lực của Khu cùng quân địa phương huyện Đức Hòa và du kích bám đánh địch, bắn rơi 5 trực thăng. Một đại đội Mỹ bị tập kích, nhiều tên bị diệt, 1 tên bị bắt sống. Du kích xã Đứ Lập đánh mìn diệt 20 thiết giáp và 132 tên Mỹ.

Trong cuộc phản công lần thứ nhất của Oétmôlen, quân Mỹ hành quân bốn lần lữ đoàn đánh vào Long An. Đây là một trong 5 hướng phản công trên toàn miền Nam của địch, chủ yếu từ miền Đông Nam Bộ ra tới Khu V. Trong cuộc phản công này, cả ba thứ quân của ta đều đánh được Mỹ. Quân địa phương huyện cũng tập kích được đại đội Mỹ, bắt sống lính Mỹ. Du kích xã cũng diệt được xe M113 của Mỹ và lính Mỹ.

Thắng lợi trong đánh Mỹ ở phía bắc lộ 4 khiến Long An yên tâm đẩy mạnh hoạt động ở các huyện phía nam, tiếp tục mở rộng vùng.

Ngày 28 tháng 9 năm 1966, đồn Long Hưng, Tân Quy, Bình Chánh bị diệt. Hai xã Tân Quy, Bình Chánh được giải phóng. Lộ 16 sát thành phố Sài Gòn cũng được giải phóng. Quân Mỹ phải vội vã đưa 1 tiểu đoàn đến chiếm lại.

Ngày 25 tháng 9 năm 1966, đồn Tân Thạnh ở xã Phước Lại là tiền đồn phía đông chi khu Cần Giuộc bị diệt.

Ngày 29 tháng 6 năm 1966, đồn Tân Lân và đồn Cầu Núi là hai tiền đồn của chi khu Cần Đước nằm trên tỉnh lộ 5A bị diệt.

Ở những vùng Mỹ đánh vào, quần chúng vẫn bám trụ. Khi đạn pháo địch bắn phá ác liệt, đồng bào sơ tán ra đồng.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Hai, 2013, 05:22:59 PM
Ngày 22 tháng 12 năm 1966, Lữ đoàn 1 thuộc Sư đoàn 25 Mỹ đổ quân xuống Rạch Kiến thuộc huyện Cần Đước, tỉnh Long An. Chúng đóng lại, thiết lập căn cứ. Máy bay cần cẩu hạng nặng liên tiếp đưa đến những công sự bê tông, cốt thép đúc sẵn, nhà bạt, dây kẽm gai cho công binh dựng nhà, và rào quanh một vùng rộng lớn. Vừa được đổ xuống, quân Mỹ đã bị ngay quân địa phương các huyện Cần Đước, Tân Trụ và du kích các xã liên tiếp tấn công. Trước và trong khi quân Mỹ đổ bộ, nhiều tiểu đoàn của Sư đoàn 25 ngụy và bảo an đã đến càn quét và bảo vệ vòng ngoài nhưng bọn mới đến cũng không thoát. Cả Mỹ lẫn ngụy đều bị tiêu hao. Bị bắt buộc đi bảo vệ cho Mỹ, nhiều lính ngụy bất mãn, khi nghe lính Mỹ bị diệt chúng tỏ ra khoái chí. Thế là vành đai diệt Mỹ ở Rạch Kiến được thành lập.

(https://lh3.googleusercontent.com/Rb4sCIG9dZOTe81qhcA9EuDG0aJOQfBTUXSfYej1MYU-S_oCDmez3DwwirU4_q-uWtdmBv0WsddlvTOH-nX2liaKSwzl3PCK_jkSPzSY1nXI6clLXywb3bRFakKwCyF1SyeudSXV7LsOR8zdV8ojjsef-qtHs_DgzbXSs0XKf1dePPElRv0ODGG9LhIVowwjxTSGoTeTy-bF3sJFrzxlzdPev5jtEl7Gg_z4f4x-uPJe0zwI8qUMpKItCsS1Y0BpKW5bNY18x5udUwg7dr3nTRR7CqbuT8mk5Yg5iniRI5sVoGHgoPqcTM08bq-ieIqRONZL5LUlG2SH5J_-H7rHT-FBI_Qim2hcLwxykD1HeNDNGAN3tCjYNPtf-XAhKJMIZm_KDDdSJrta7zIOOrhF29ybgeHUGbMT6BjRZqAw4FmkW6YF7yYdtZ1b10-KkXHOoj6ThJ0wLtLL21eDvcBCZ80cAZjHgWDOwwrWcSmcrr7HnfH4E9ban7RZI8l-iejF5pI2E5ZJokE3WNlIWTWAEML3PlvkpV13j_Iij5vRTJqK4wdf_I8R2cZvGeH_K1jVYbHc2LOg25-MunNekzoWB2VMmChUCtmNh_ZPeqqRoECekSvPD974=w734-h600-no)

Lính Mỹ ở Rạch Kiến, năm 1966

Ban chỉ huy vành đai gồm cán bộ huyện Cần Đước, tỉnh chọn chỉ định những đồng chí có kinh nghiệm đánh du kích, tấn công quân sự, chính trị và binh vận theo phương thức giữ thế công khai hợp pháp cách mạng. Lực lượng du kích các xã chung quanh vành đai tích cực xây dựng công sự, xã, ấp chiến đấu, tăng cường lựu đạn, mìn, hầm chông để đánh Mỹ. Quần chúng được cán bộ lãnh đạo bám lại giữ thế hợp pháp đấu tranh ba mũi vũ trang, chính trị và binh vận với chúng.

Các đồng chí xã ủy bàn bạc với đồng bào và du kích: “Mỹ lập căn cứ là cho ta cơ hội góp sức cùng đồng bào toàn Miền đánh Mỹ. Chúng tập trung toàn sư đoàn thì khó, nếu đi lẻ tẻ thì diệt chúng là dễ”. Đánh Mỹ như kiểu công thức cái khiên và ba mũi giáo, sử dụng thế công khai hợp pháp cách mạng bằng hai chân: chính trị, vũ trang, ba mũi quân sự, chính trị, binh vận như cách đánh ngụy đã được chứng minh là có thể thực hiện được.

Trong ba tháng đầu Mỹ đến vành đai Rạch Kiến, bộ đội, du kích và đồng bào đã diệt hàng trăm tên Mỹ, bắn rơi 16 trực thăng và phá hủy 4 xe M113. Bọn lính trong căn cứ luôn phải sống trong căng thẳng, ngày nào cũng có đồng đội bị chết và bị thương. Thời tiết lại nóng như thiêu, nhà bạt dựng trên đồi cát, mồ hôi lúc nào cũng tuôn ra như tắm, mỗi lần gió nổi lên là đất cát bay mù mịt.

Suốt 5 tháng từ khi đổ xuống Rạch Kiến, Lữ đoàn 1 thuộc Sư đoàn 25 Mỹ loay hoay chung quanh các xã vành đai, không tổ chức được cuộc hành quân nào có ý nghĩa ở phía nam lộ 4 của Long An. Ngay cả nhiệm vụ trực tiếp là ngăn chặn hành lang từ bắc xuống nam lộ 4 cũng chẳng làm được. Chúng tổ chức những cuộc đánh nống ra, đổ quân bằng trực thăng, có pháo, máy bay ném bom yểm trợ, vẫn không làm thiệt hại được một tổ du kích, không bắt sống được một du kích nào. Ngược lại, mỗi lần chúng đi ra là bị sát thương, bị bắn tỉa, bị đụng mìn, lựu đạn. Chúng như đang ở trong ổ kiến lửa hay như voi bị mắc lầy.

Quân địa phương các huyện Cần Đước, Tân Trụ và du kích các xã, tất cả chừng 200 tay súng, cùng với 400 đảng viên, đoàn viên và nhân dân các xã chung quanh vành đai đã kìm chân lữ đoàn 1 của Mỹ gồm 4.000 tên. Nhân dân che giấu bộ đội, du kích, đào hàng vạn công sự, hầm hào, làm xã chiến đấu, gài mìn, đấu tranh với Mỹ.

Lúc đầu bọn Mỹ gặp ai cũng hỏi giấy tờ. Đưa cho chúng giấy gì cũng được, kể cả giấy đi nhà thương, giấy biên nhận thuế. Nói chuyện với chúng thì bằng cách ra dấu. Về sau, bà con bập bẹ nói được tiếng Mỹ, tuy phát âm không chuẩn nhưng cũng nói được những điều cần nói. Thế là thế công khai hợp pháp cách mạng đánh Mỹ bằng ba mũi như đánh ngụy của quần chúng, đảng viên và du kích mật đã hình thành.

Một đại đội Mỹ càn vào ấp, du kích xã Long Trạch cùng bộ đội huyện chặn đánh. Bọn Mỹ chạy vào vườn cây, vấp phải mìn và lựu đạn, chúng hốt hoảng lui ra. Tên đi sau cùng bị đạn du kích bắn trúng, ngã xuống ao chìm nghỉm. Địch cho trực thăng lùng kiếm hàng giờ chẳng thấy đành phải bỏ cuộc. Du kích đem xác tên Mỹ lên. Biết thế nào chúng cũng tổ chức càn vào tìm và tra hỏi dân, các đồng chí bàn nhau đưa xác ra trả và tranh thủ chúng. Ba chục chị em đội quân tóc dài khiêng xác tên lính Mỹ đã được tắm rửa tử tế ra căn cứ Rạch Kiến. Hai bà lanh lợi, được cử đi báo trước. Các bà nói với người phiên dịch: “Chú lính Mỹ này vướng đạp lôi của Việt cộng. Bà con đem xác chú ấy ra căn cứ làm phước, để chú được đưa về Mỹ cho gia đình vợ con thấy mặt”.

Người phiên dịch nói lại với tên chỉ huy. Nhiều tên Mỹ chạy ra xem, xúc động trước việc dân đem xác tên Mỹ tới cho chúng.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Hai, 2013, 05:23:24 PM
Sau khi xây dựng xong căn cứ Rạch Kiến, Lữ đoàn 1 của Mỹ bung ra đóng nhiều tiền đồn chung quanh để phòng vệ. Một trong những tiền đồn đó là ở Bầu Cọp, xã Long Trạch, cánh căn cứ chính 1.000 mét, do 1 đại đội Mỹ đóng giữ. Tiền đồn này có 10 bốt, trên bốt là nhà dù, chung quanh là công sự bằng bao cát. Các bốt xếp thành hình bầu dục, chắn ngang một con lộ đất. Chúng bung ra được 1 ngày thì Tiểu đoàn 1 Long An, qua quần chúng biết rõ cách bố phòng và quy luật hoạt động của chúng, đã tổ chức tấn công. Sáu tổ đặc công, mỗi tổ 4 người, trang bị mìn, bộc phá, B40, lựu đạn. Ba tổ luồn vào được bên trong. Bọn bên trong ỷ vào hàng rào kẽm gai và bọn tuần tra bên ngoài nên phòng bị sơ hở, bị đánh bất ngờ không kịp trở tay. Ba bốt bị diệt gọn. Tiếng mìn DH10, súng, bộc phá nổ làm bọn còn lại nhốn nháo. Bọn bên ngoài chạy vào tiếp cứu, bị chặn lại. Hai bên đánh giáp lá cà. Đại đội Mỹ chỉ còn 20 tên sống sót. Qua trận đánh này, đồng chí Tư Chiểu, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 chỉ huy trận đánh nhận xét: “Bản lĩnh chiến đấu của lính Mỹ chẳng có gì xuất sắc! Kỹ thuật cá nhân kém, chỉ trông cậy vào hỏa lực”.

Từ tháng 12 năm 1966 đến tháng 4 năm 1967, Lữ đoàn 1 Sư đoàn 25 Mỹ bị bao vây chặt trong căn cứ Rạch Kiến.

Đầu tháng 5 năm 1967, Mỹ dùng trực thăng đổ 2 đại đội quân Mỹ xuống xây dựng căn cứ Vàm Nhật Tảo, xã Bình Trinh Đông thuộc huyện Tân Trụ và đưa 1 đại đội đến đóng chốt tại xã Long Khê thuộc huyện Cần Đước. Các chốt này cùng với căn cứ Rạch Kiến hình thành hệ thống chốt điểm, ngăn cắt hành lang từ bắc xuống nam lộ.

Một tháng sau, Tiểu đoàn 1 Long An tập kích tiêu diệt chốt Mỹ ở Long Khê. Sau đó ít lâu, Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 tập kích diệt luôn căn cứ Mỹ ở Vàm Nhật Tảo. Chúng phải bỏ cả hai nơi này.

Từ khi quân Mỹ đến Long An đã làm cho chiến trường nơi này khác trước nhiều. Quân Mỹ đánh ác liệt hơn quân ngụy nhiều. Cuộc sống và chiến đấu của bộ đội và nhân dân luôn căng thẳng, địa hình bị cày xới vì bom đạn, nhất là ở khu vực nam Long An. Quân Mỹ thuộc Lữ đoàn 199 liên tục càn quét các xã Hiệp Phước, Phước Lại, Phước Vĩnh đến Hưng Thạnh Hạ - Cần Giuộc, trong đó Phước Lại là trọng điểm. Chúng đánh từng ấp, từng xã, chà đi xát lại nhiều lần. Có xã chúng đánh đi đánh lại 4-5 ngày liền, dùng phi pháo và xe M113 mở đường cho bộ binh chiếm địa hình. Nếu vướng mìn, bị bộ đội hay du kích đánh, chúng lùi lại cho ném bom, bắn pháo cấp tập rồi bộ binh tiến vào. Suốt tháng chúng càn quét bom, pháo ngày đêm không dứt, tiếng máy bay gầm rít chẳng bao giờ ngớt trên bầu trời.

Tỉnh ủy cử cán bộ có kinh nghiệm xuống tăng cường tiếp viện đạn, lựu đạn, mìn. Huyện điều các đội du kích các xã khác đến chi viện cho khu vực bị càn. Bộ đội huyện đưa 1 trung đội đến thường trực ở Phước Lại. Lực lượng đội quân tóc dài rất tích cực, đã góp phần không nhỏ làm hạn chế tốc độ và kế hoạch hành quân của chúng, tạo điều kiện cho du kích và quân địa phương đánh chúng.

Chỉ riêng xã Phước Lại trong tháng địch càn, ta đã diệt 200 tên Mỹ, bắn rơi 1 trực thăng, thu 15 khẩu súng.

Sau Lữ đoàn 199 là Lữ đoàn 2 thuộc Sư đoàn 9 Mỹ đánh tiếp 9 xã Cần Giuộc. Vùng này là địa bàn tiếp giáp Sài Gòn. Ngày đổ quân, chúng bị tiểu đoàn 5 huyện Nhà Bè chặn đánh tại ấp Cầu Kinh, xã Phước Vĩnh Tân, diệt 200 tên, bắn cháy 3 tàu, bắn rơi 1 máy bay F.105 và 4 trực thăng. Ngày hôm sau, quân địa phương Cần Giuộc, du kích liên xã và du kích xã Đông Thạnh bám đánh diệt 100 tên. Khi chúng quay lại Phước Vĩnh Tân lại gặp Tiểu đoàn 5 và quân địa phương. Chúng sang Phước Vĩnh Đông bị Đại đội 1 Tiểu đoàn 5 và du kích chặn đánh, bắn rơi 8 máy bay. Khi chúng sang Quê Mỹ Thạnh, Tân Trụ bị quân địa phương đánh ở ấp 5. Sau trận càn, Lữ đoàn 2 của địch mất sức chiến đấu, phải củng cố.

Ở phía bắc lộ 4 Long An, trong mùa khô 1966-1967, Sư đoàn 25 Mỹ phối hợp với Trung đoàn 44 Sư đoàn 25 ngụy, Liên đoàn biệt động quân số 30, bảo an và 6 đại đội bình định đánh chiếm các trục lộ 8, 9, 10. Lần này, khác với mùa khô 1965-1966, chúng không đánh sâu vào vùng giải phóng mà chỉ hoạt động ở vùng ven. Nhưng khi quân Mỹ vừa rút thì quân ngụy chiếm đóng đã đầu hàng hoặc bỏ chạy.

Nhân dân đã có kinh nghiệm đấu tranh với Mỹ trong một năm qua, nên đấu tranh rất quyết liệt, khiến chúng phải chùn tay đốt phá, bắn giết. Đấu tranh với Mỹ lại càng phải chuẩn bị chu đáo hơn. Đồ đạc quý giá, lúa gạo sơ tán, cất giấu kỹ. Ngày đầu chúng đến, quần chúng tản bớt ra đồn bốt, thị trấn, thị xã. Lúc đầu, quân Mỹ đi càn, thái độ rất hung hăng. Cả bọn đứng ngoài chĩa súng, một tên vào nhà lục soát, hỏi giấy. Những người dân bám lại tỏ thái độ bình tĩnh, hòa nhã với chúng. Dần dà chúng quen, bớt đề phòng. Đồng bào đã có thể vừa tranh thủ giữ thế hợp pháp vừa gài lựu đạn đánh chúng.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Tư, 2014, 07:24:45 AM
2. Mỹ Tho với vành đai diệt Mỹ ở Bình Đức

Gần như cùng một lúc với việc triển khai căn cứ cấp lữ đoàn ở Rạch Kiến (Long An), Mỹ triển khai căn cứ cấp sư đoàn ở Đồng Tâm, Bình Đức, Châu Thành (Mỹ Tho). Những ngày cuối tháng 1 năm 1967, lữ đoàn 2 sư đoàn bộ binh số 9 Mỹ rầm rộ đổ quân lên căn cứ Đồng Tâm. Hàng đoàn xe chở lính, xe kéo pháo, thiết giáp nối đuôi nhau chạy không dứt, hàng đoàn máy bay trực thăng, phản lực bay lượn trên bầu trời, hàng trăm tàu chiến lớn, nhỏ cập bến. Toàn bộ Trung đoàn 11 Sư đoàn 7 ngụy, hàng chục đại đội bảo an, thám sát, dân vệ được huy động càn quét suốt ngày ở vùng chung quanh căn cứ để bảo vệ an toàn cho quân Mỹ.

Chung quanh căn cứ Đồng Tâm là vườn cây ăn trái tươi mát, là dòng sông Cửu Long nước bạc hiền hòa, trong lành, ngọt ngào. Giữa sông Cửu Long là cù lao Thới Sơn với hàng ngàn cây dừa ung dung lắc lư những tàu lá như vẫy gọi mà cũng như chọc tức bọn lính Mỹ đang tự thiêu mình trong căn cứ Đồng Tâm.

Đặt cho căn cứ này cái tên “Đồng Tâm” là Oétmôlen muốn kêu gọi sự đồng tâm giữa quân ngụy và quân Mỹ. Cũng bằng lời kêu gọi “đồng tâm”, ông ta chỉ thị về nhiệm vụ và phương thức chiến tranh ở vùng này là bình định và chinh phục trái tim, khối óc của nhân dân. Thực hiện “đồng tâm”, tên tướng ngụy Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh Sư đoàn 7 và tên Tỉnh trưởng Định Tường đã đưa trọn 1 tiểu đoàn bộ binh thường trực và từng bước đưa cả Trung đoàn 11 Sư đoàn 7, 6 đại đội bảo an, 4 đại đội thám sát, cùng với thiết giáp, pháo binh và 10 đoàn bình định để can quét 6 xã chung quanh, trong khi ở đây chỉ có tất cả 20.000 người dân, 200 đảng viên và 70 du kích.

Từ ngày 19 tháng 5 năm 1965, Bộ tư lệnh Mỹ quyết định xây dựng căn cứ cho một sư đoàn Mỹ ở đồng bằng sông Cửu Long tại Định Tường (Mỹ Tho).

Cuộc đấu tranh bảo vệ lợi ích của nhân dân, làm chậm trễ kế hoạch xây dựng của địch ở sáu xã Bình Đức, Long Hưng, Phước Thạnh, Thạnh Phú, Song Thuận, Vĩnh Kim bắt đầu. Lực lượng xây dựng của địch gồm: 3 tàu cuốc, 20 tàu bảo vệ, 20 xe cạp đất, 120 xe vận chuyển, 1 đại đội công binh Mỹ và một sư đoàn công binh ngụy.

Cùng với việc càn quét, bắn phá liên miên, Sư đoàn 7 ngụy, bọn bảo an và bọn bình định còn tung tin để hù dọa, đề cao sức mạnh của quân đội Mỹ. Chúng nói: Mỹ có máy bay B52 khổng lồ nhất thế giới là thần chiến tranh, mỗi chiếc mang tới hàng chục tấn bom, khi trút xuống, người và vật đều chết sạch, mặt đất biến sẽ biến thành sao Hỏa, Mỹ có vô vàn phương tiện tối tân, nào máy ngửi hơi người, máy nghe tiếng động, cây nhiệt đới, bom lade, bom từ trường… hễ đánh đâu là trúng đó, không ai tránh được, lính Nam Hàn và lính Mỹ đi hành quân gặp ai bắn lại, chúng sẽ bắt sống moi gan, mổ bụng… Lực lượng liên minh Việt - Mỹ vô địch, sẽ bẻ gãy xương sống Việt Cộng! Bên cạnh việc hù dọa, chúng thả bài ve vãn: “Mỹ đối với dân là bạn, Mỹ đến để giúp dân chống cộng sản, bảo vệ dân…” v.v.

Những cuộc càn quét, chà xát khốc liệt của địch đã khiến cho cơ sở các xã vành đai gặp nhiều khó khăn. Chi bộ Đảng xã Bình Đức chỉ còn lại đồng chí Bí thư, các đảng viên khác tản cư qua cù lao Thới Sơn. Chi bộ Thạnh Phú chỉ còn ba đảng viên bám lại. Chi bộ xã Long Hưng bị dồn về hai ấp Long Thới và Long Bình. Bốn xã vành đai: Bình Đức, Song Thuận, Thạnh Phú, Long Hưng chỉ còn 31 đảng viên và du kích, trong đó Thạnh Phú còn 7 người, Long Hưng, Song Thuận, Bình Đức mỗi nơi còn một tiểu đội.

Tàu cuốc của địch hút cát lên tràn lan, sông rạch tắc nghẽn, hàng ngàn hécta ruộng vườn của các xã Long Hưng, Bình Đức và Thạnh Phú bị phá hủy. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh khó khăn ác liệt như vậy, Đảng bộ vẫn lãnh đạo đồng bào và đội quân tóc dài các xã liên tục đấu tranh với bọn ủi đất, với lính càn, cào nhà, đốt nhà, chống hút cát phá ruộng vườn, đấu tranh với Quận trưởng Long Định, Tỉnh trưởng Định Tường. Nhiều cuộc đấu tranh đông tới hàng trăm người. Hơn 400 gia đình đấu tranh buộc chúng phải bồi thường đất bị mất, chịu phí tổn để đồng bào di chuyển chỗ ở.

Đến tháng 12 năm 1966, hầu hết nhân dân 4 xã vành đai đều đã bám được chung quanh căn cứ. Nhà nào cũng có hầm trú ẩn chắc chắn chịu đựng hàng ngàn quả pháo chúng bắn mỗi đêm. Dân ở ấp Đông, xã Song Thuận cứu được hàng trăm hécta đất khỏi bị lấp. Địch định đào kênh dọc hương lộ từ Long Hưng đến Thạnh Phú nhưng phải bỏ dở.

Mặc dù lực lượng địch tập trung tối đa, đóng dày đặc, các lực lượng vũ trang khu, tỉnh, huyện và du kích vẫn bám đánh được nhiều trận. Trận đánh lớn và vang dội nhất là trận đánh vào bọn xây dựng căn cứ Đồng Tâm. Đây cũng là trận đánh Mỹ đầu tiên ở Mỹ Tho, đòn choáng váng đố với chúng khi chúng vừa mới bước chân đến. Trong trận này đặc công Khu VIII đã đánh chìm chiếc tàu cuốc Jamaica-bal của Mỹ. Đây là chiếc tàu cuốc lớn vào loại nhất nhì của nước Mỹ, đồ sộ như một tòa lâu đài nổi, chiều dài là 300 mét, chiều ngang là 75 mét, lườn sâu dưới nước 6,5 mét, được đưa gấp rút từ miền Trung Trung Bộ vào để hút cát từ đáy sông lên xây dựng căn cứ Đồng Tâm. Chiếc tàu cuốc được neo trên sông Tiền giữa Bình Đức và cù lao Thới Sơn, chiều rộng con sông ở khoảng này là 1.000 mét. Có 20 tàu bảo vệ với hàng rào dây điện chung quanh gắn trên phao nổi. Trên bờ phía Mỹ Tho là một tiểu đoàn ngụy và bọn xây dựng Mỹ.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Tư, 2014, 07:26:06 AM
Một tổ đặc công nước của đơn vị 332 của Khu VIII được giao nhiệm vụ này. Được sự bảo vệ và giúp đỡ tận tình của nhân dân, du kích và chi bộ địa phương, các chiến sĩ đặc công ở cù lao Thới Sơn hơn hai tháng đã tiếp cận hiện trường, nghiên cứu, đo đạc.

Vật liệu và phương tiện sử dụng cho trận đánh là 180 kilôgam thuốc nổ, hàng trăm cục pin, kíp nổ, hàng ngàn mét dây điện thoại, dây dù, hàng trăm mét vải nilông…

Lúc 4 giờ 30 phút ngày 2 tháng 10 năm 1966 tiếp theo tiếng nổ như sấm sét là một cột nước dâng cao đến 10 mét giữa sông Tiền: “Tòa lâu đài nổi” biến mất. Một xoáy nước cực lớn cuốn theo 10 chiếc tàu tuần tiễu lúc đó đang bâu vào “tàu mẹ” để tiếp nhiên liệu. Tiểu đoàn pháo binh Mỹ đặt trên tàu vào hơn 200 sĩ quan, chuyên viên kỹ thuật Mỹ bị tiêu diệt.

Diện tích trong vòng rào của căn cứ Đồng Tâm là 200 hécta, được chia làm 7 khu: khu hải quân ở sát bờ sông Cửu Long với quân cảng, ụ tàu, xưởng sửa chữa; khu công binh; khu kho lớn chứa vật liệu chiến tranh; khu sân bay; khu thông tin; khu pháo binh và khu thiết giáp. Hải quân có 1 lữ đoàn với 7 chiến hạm lớn và hàng trăm tàu xuồng chiến đấu, vận tải; máy bay có trinh sát và trực thăng; thông tin có rađa; pháo có hàng trăm khẩu từ 203, 175 nòng dài đến 155, 105, 75 và cối 106,7 ly; thiết giáp có hàng trăm xe M113, M118, AB. Bọ Tư lệnh sư đoàn đóng ở trung tâm có hầm ngầm kiên cố với các phương tiện chỉ huy hiện đại. Chỗ ở của viên Sư đoàn trưởng là một căn nhà hình toa xe lửa, có phòng làm việc, phòng ăn, phòng ngủ riêng, nằm ở lưng chừng mặt đất, có công sự kiên cố bao bọc, khi cần thì cần cẩu sẽ nhắc chuyển xuống hầm sâu. Ngoài ra, phía tây căn cứ còn có khu gia binh và bộ phận sửa chữa khí tài của Sư đoàn 7 ngụy.

Bao quanh căn cứ là từ 7 đến 15 lớp kẽm gai có đủ loại và hàng rào lưới chống đạn B40 chạy điện. Giữa các lớp rào là bãi mìn: mìn tự động, mìn cóc, mìn sáng, mìn phòng hàng triệu quả. Hệ thống đèn pha cực mạnh chiếu sáng, ban đêm cũng nhìn rõ như ban ngày. 50 lô cốt canh gác thường trực, mỗi lô cốt có 1 tiểu đội lính Mỹ canh gác.

Tại sao Mỹ lại chọn Mỹ tho để xây dựng căn cứ quân sự lớn cho cả sư đoàn bộ binh ới đầy đủ các binh chủng mà không chọn nơi khác?

Cabốt Lốt đại sứ Mỹ nói: “Định Tường (tức Mỹ Tho) giống như một vùng đất quan trọng nhất của bang Miami của Mỹ, nơi gắn với Cuba. Nó mang tính chất một yết hầu để tác biệt vùng đồng bằng giàu có với cái dạ dày Sài Gòn”.

Tướng Mácxoen Taylo, cố vấn quân sự của Tổng thống Mỹ, khi sang chiến trường Việt Nam cũng nói: “Bình định được vùng này, có nghĩa là bình định được Việt Nam”. Các nhà máy chiến lược quân sự của đế quốc Mỹ trước đây cũng như tướng Taylo của Mỹ đều nói rằng: Định Tường (Mỹ Tho) giữ vị trí quan trọng có tầm sống còn bậc nhất đối với các cuộc “chiến thắng cộng sản” ở đồng bằng Nam Bộ. Lộ 4 chạy suốt chiều dài của tỉnh nối Sài Gòn với các tỉnh miền Tây. Hơn 30 xã trong 100 xã của Mỹ Tho trải dài trên 70 kilômét cặp theo nam bắc lộ 4. Mỹ Tho còn có tuyến kênh Chợ Gạo, là đường thủy chính, chuyên chở lúa gạo, thực phẩm từ các tỉnh miền Tây về Sài Gòn. Đây là con đường ngắn nhất, an toàn, thu hút 90% số tàu thuyền từ miền Tây đi lên miền Đông. Như vậy rõ ràng là ai làm chủ được lộ 4 và kênh Chợ Gạo là làm chủ được đồng bằng.

Định Tường lại còn là tỉnh mà đối với Mỹ - ngụy tình hình an ninh rất trầm trọng. Chọn Đồng Tâm làm chỗ đứng chân, Bộ tư lệnh Mỹ hy vọng sử dụng Sư đoàn 9 kết hợp chặt với ngụy quân bình định những địa bàn có tình hình an ninh trầm trọng nhất, bảo vệ nó có hiệu quả vị trí yết hầu của chế độ Sài Gòn, đồng thời có thể cơ động, chi viện nhanh cho bất cứ nơi nào ở đồng bằng.

(https://lh3.googleusercontent.com/jEyQ9y893VSNIOtlwfBTX6eT4dkiaAisH6zEDu1mJJzhuAcjIzzW1LcisC1daKUgcoSzF0ZxoQIn7x1OQMGies_AF8zozCI2SSt6agA9CgFKi0m75JIGTauMosl3jVyGW7V4N1U-VLRdsaupgDmViXmIjkLBkPrJprxfatF6lhxOOJEGV5jFWeAmaooV1K7HeI9Ke5Dr4KNnN3BqdmI57PWeE-7UkntFoFk39NYjz72wMBRUZypO6MvJHflyH4aU403n3rOBudrNv3wD9YKYN3PR4lQmdwit0InNobAnNXs-61RtOAbwY9tMshUhtf0tcLjV75KqkshLP-zESQkF_BDAydOr8Vtritc8ClBprFVcdq6w-SRCpYiyfsI5s2lx7dDZVFF1v9jH0EBQlIbTIM0Kh8I6F9UBkvQC0nkKkvFoyxihDR2K34VXiJkxX9ITvwQ9edtx2OSbQCTB9xgmkucUqy1lyXbwmRQ-m5y0k8Ebwpgk6qaRRpd_6wRuUd5ENiNyX9tcYhyUOk_4VVu-CpeZzC2TE59WAOGFCTDl5hQ6GFHV7PJwEDF0PNmcpwrL-XeDOR0VJSEEq13FqH41--PkNEVR7tlc7IEEQURdjBa61BgkfCkQ=w744-h464-no)

Nữ du kích vành đai Bình Đức


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Tư, 2014, 07:27:25 AM
Vài ngày sau khi Sư đoàn 9 Mỹ đến căn cứ Đồng Tâm, tại một địa điểm cách căn cứ Mỹ 1.000 mét, Ban Chỉ huy vành đai diệt Mỹ của Khu và tỉnh họp khẩn cấp để xem xét lại kế hoạch hành động. Trước đó, trong tháng 12 năm 1966, đã có cuộc họp của Khu ủy và Tỉnh ủy Mỹ Tho tổng kết việc chống xây dựng căn cứ Mỹ và quán triệt đến chi bộ, du kích, nhân dân nhiệm vụ, phương châm đấu tranh ở vành đai cũng như kinh nghiệm đánh Mỹ bằng thế công khai hợp pháp, đánh Mỹ bằng ba mũi giáp công ở Long An. Cuộc họp tổ chức tại chùa Ông Hiếu, ấp Long Thuận A, xã Long Hưng. Đây là ngôi chùa nhỏ, nằm trong một khu vườn sum xuê cây trái, gắn liền với địa hình phía tây 4 xã vành đai, là một căn cứ của cách mạng từ cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ cho đến hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Chủ trì cuộc họp là đồng chí Sáu Danh - Tỉnh đội phó Mỹ Tho, Chỉ huy trưởng vành đai. Tham dự cuộc họp có nữ đồng chí Tám Nghiệp - Tỉnh đội phó, Chỉ huy phó; đồng chí Tư Lượng - Bí thư huyện ủy Châu Thành; đồng chí Thanh Việt - Huyện đội trưởng, đồng chí Ba Mì - Tham mưu phó Quân khu VIII phụ trách pháo binh và các đồng chí Bí thư kiêm Chính trị viên xã đội các xã vành đai.

Cho đến lúc này, sau khi được Khu và tỉnh chỉ đạo, uốn nắn, các cơ sở và quần chúng chung quanh căn cứ đã ổn định, bám lại tiếp tục sản xuất, sinh hoạt bình thường, quen dần với sự có mặt của quân Mỹ. Học sinh vẫn tiếp tục đến trường, kể cả đi đến những trường xa như trường trung học ở thị trấn Vĩnh Kim và trường Trung học Nguyễn Đình Chiểu ở thị xã Mỹ Tho. Những ngày đầu Mỹ đến, trường vắng tanh. Cha mẹ học sinh đấu tranh với hiệu trưởng đòi phải can thiệp với bọn Mỹ bảo đảm an ninh cho các em. Chính quyền ngụy phải hứa.

Tiền tiêu cho căn cứ Mỹ có 4 đại đội thám sát. Hàng ngày bọn này cho từng tiểu đội, trung đội tỏa ra, đi lại, ăn ngủ trong nhà dân ở các xã chung quanh căn cứ.

Lực lượng vũ trang của ta bao vây căn cứ Đồng Tâm gồm có 1 đại đội của Tiểu đoàn 514, 1 trung đội của đại đội bộ đội huyện Châu Thành, du kích các xã và Tiểu đoàn pháo 309 F của Khu. Ngoài những lực lượng trên, là đông đảo quần chúng vừa giữ thế công khai hợp pháp, cách mạng vừa chiến đấu bằng ba mũi giáp công. Tất cả những lực lượng này tạo thành một mạng lưới đánh Mỹ và ngụy rất nhịp nhàng, trở thành nỗi ám ảnh đè nặng lên hai lữ đoàn Mỹ trong căn cứ, khiến cho từ sĩ quan đến binh lính Mỹ ăn không ngon, ngủ không yên, liên tục bị tiêu hao, lúc nào cũng nơm nớp lo phòng thủ, do đó không thể cơ động hết lực lượng để làm nhiệm vụ tìm diệt, hỗ trợ công việc bình định của ngụy.

Khu ủy chủ trương: Bằng mọi giá, dứt khoát không để chúng lập vành đai trắng, đẩy quần chúng vào tình trạng thất thế, bị động. Giữ vững và phát huy thế hợp pháp cách mạng của quần chúng, tiếp tục tiến công Mỹ bằng chính trị, binh vận. Lập vành đai bao vây, tiêu hao, tiêu diệt quân Mỹ trong căn cứ Bình Đức. Đẩy mạnh đánh phá giao thông thủy, bộ và các phương tiện chiến tranh của chúng. Tích cực tiêu hao, tiêu diệt quân Mỹ khi chúng bung ra càn quét, v.v.

Mở đầu đợt tấn công là cuộc đấu tranh lớn của nhân dân các xã ở huyện Châu Thành đòi quân Mỹ không được đốt nhà, đuổi dân. Ngày 14 tháng 2 nam 1967, chỉ nửa tháng sau ngày vào căn cứ, bọn thám sát Mỹ bị du kích Song Thuận gài mìn làm chết 1 tên, 2 tên bị thương. Trên đường về căn cứ, chúng lại bị bắn và bị thương 2 tên. Du kích Long Hưng bắn bị thương 2 tên nữa ở ấp Long Thới. Chúng rượt theo đến ấp Long Bình thì mất dấu, liền đốt nhà và ra lệnh đuổi hết dân. Tình hình trở nên nghiêm trọng. Nếu địch đuổi dân ở đây rồi tiếp đến những nơi khác nữa quanh căn cứ thì chủ trương lập vành đai bao vây căn cứ Đồng Tâm bằng lực lượng ba mũi sẽ trở nên nan giải.

Ấp Long Bình ở cách hàng rào căn cứ Đồng Tâm 200 mét. Nhà cửa đông đúc. Vườn tược khá trù phú. Khi Mỹ đuổi dân ở các xã lấy đất lập căn cứ, nhiều người đã tản về đây. Việc đốt nhà và đuổi dân ở Long Bình làm cho dân ở đây và các xã chung quanh căn cứ náo động. Trong số đó có nhiều người là gia đình sĩ quan, binh lính, công chức ngụy, tín đồ các tôn giáo. Đốt nhà, đuổi dân là biện pháp tàn bạo, trong thời lập ấp chiến lược, ngụy quyền đã vì nó mà bị lên án và chống phá quyết liệt. Riêng ở vùng này, chủ trương của chúng là bình định tại chỗ nên biện páp này là một hạ sách đối với chúng.

Lệnh đuổi nhà của Mỹ rất cấp bách. Chúng hạn trong ba ngày mà không đi thì chúng sẽ đốt hết.

Ban chỉ huy vành đai diệt Mỹ khẩn trương tổ chức cuộc đấu tranh. Sáng ngày thứ ba, 200 người già và phụ nữ trong lực lượng đấu tranh chính trị của đội quân tóc dài kéo đến chợ Vĩnh Kim, đòi gặp quận trưởng Sầm Giang. Chợ đang đông, người đi chợ xúm lại, làm cho số người tụ tập trước dinh quận càng đông. Tên quận Pho ra nhận đơn. Pho là người công giáo ở Chợ Gạo, là một tên tay sai đắc lực, xuất thân từ lính Commăngđô của Pháp. Hắn gan lì, bặm trợn, gian ác, được đưa về Sầm Giang từ khi có chủ trương xây dựng căn cứ Đồng Tâm.

Pho đang ở trong tình trạng ngao ngán vì đã một năm thực hiện chủ trương đánh phá, bình định vùng này mà kết quả chẳng đi tới đâu. Tàu cuốc Mỹ Jamaica-bai bị đánh chìm ngay trong khu vực thuộc trách nhiệm của hắn. Với hắn phương cách khủng bố tỏ ra không có hiệu quả. Cho nên nghe tin Mỹ đốt nhà, đuổi dân ở Long Bình, hắn cảm thấy đây là việc làm bất lợi, chỉ đẩy dân ngả theo Việt Cộng. Chính vì thế khi dư luận phản đối, hắn không thể bỏ qua… Khi đoàn biểu tình đề nghị hắn cùng đi với họ đến gặp bọn Mỹ, hắn đồng ý nhưng lúc đầu chỉ cho phép 10 người đại diện. Bà con thuyết phục một hồi, cuối cùng hắn chịu cho cả đoàn cùng đi. Có đi đông người mới có áp lực buộc hắn không bỏ cuộc nửa chừng, đồng thời cũng tăng sức mạnh cho hắn đối với Mỹ. Hắn cho xe nhà binh chở một số, một số đi bộ, một số kêu xe lam bên ngoài. Đoàn đấu tranh biến thành cuộc diễu hành. Hai bên lộ, người ra xem rất đông. Gần đến căn cứ Đồng Tâm, thêm một số nữa đón sẵn nhập vào đoàn. Tới căn cứ, sau một hồi đấu tranh, bọn Mỹ đã phải tuyên bố hủy bỏ lệnh đuổi nhà. Cuộc đấu tranh thắng lợi. Nhân dân các xã vành đai rất phấn khởi. Ban Chỉ đạo vành đai có thêm bài học về khả năng tranh thủ bọn chỉ huy ngụy quân ngụy quyền để bảo vệ lợi ích cho dân và chống lập vành đai trắng. Các đồng chí chỉ đạo cho các cơ sở động viên quần chúng “đề cao” việc quận Pho đấu tranh với Mỹ để tiếp tục tranh thủ hắn.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Tư, 2014, 07:28:00 AM
Về phía tây căn cứ Đồng Tâm giáp kênh Nguyễn Văn Thành, bên kia kênh là vườn, rất thuận tiện cho hoạt động du kích. Ngược lại, lính Mỹ muốn vào các xã Song Thuận, Kim Sơn, Vĩnh Kim và một phần xã Long Hưng thì phải qua kênh, rất chậm chạp. Chúng muốn khắc phục việc đó bằng cách mở rộng căn cứ sang ấp Đông Hòa của Song Thuận, thêm khoảng 200 hécta.

Sáng ngày 11 tháng 2 năm 1967, 2 xe quân sự Mỹ chở 10 ống hút cát lớn đến ấp Đông Hòa. Xe vừa dừng, hàng chục ông già, bà lão đã chạy ào tới bao vây bọn Mỹ đang kéo các ống hút cát từ trên xe xuống. Bọn lính Mỹ bảo vệ, súng lăm lăm xông đến đuổi dân ra. Các ông bà níu lấy chúng, khóc lóc, tố cáo Mỹ cướp đất, phá nhà, làm khổ dân, làm dân không còn kế sinh nhai, phải lang thang vất vả để kiếm sống. Tiếng than khóc vang động làm bọn Mỹ đang hùng hổ bỗng ỉu xìu, người phiên dịch cũng bị kích động. Chúng ô đuổi quá thì đồng bào dãn ra nhưng rồi lại xáp lại, liều chết với chúng chứ quyết không chịu để mất nhà, mất đất. Người phiên dịch nói lại với chúng những gì đồng bào kể lể. Chúng ngừng tay, đứng trơ ra. Được thể, đồng bào tiến lên đẩy các ống hút cát xuống sông. Bọn Mỹ chán ngán bỏ lên xe rồi nổ máy chạy về căn cứ. Sau đó, chúng không trở lại nữa.

Bên cạnh các cuộc đấu tranh trực diện với bọn Mỹ ở căn cứ Đồng Tâm, dân còn đấu với ngụy quyền tỉnh Mỹ Tho, ngụy quyền các quận Long Định, Sầm Giang, Bến Tranh buộc phải can thiệp với Mỹ không được bắn pháo, lùng sục, làm trở ngại công việc của dân. Các cuộc đấu tranh này vừa vạch mặt bọn Mỹ vừa khoét sâu mâu thuẫn giữa Mỹ và ngụy, bọn ngụy đang ấm ức vì bị Mỹ lấn át.

Trong hội nghị bàn cách đánh Mỹ của Khu VIII, đồng chí Sáu Đường - Bí thư Khu ủy còn nhấn mạnh nội dung chỉ đạo đánh Mỹ vẫn tiếp tục như kiểu đánh ngụy, vẫn phải chủ động tạo thế công khai hợp pháp cách mạng để sử dụng ba mũi quân sự, chính trị, binh vận tấn công Mỹ. Muốn vậy, dân phải tiếp cận được với Mỹ, gần gũi chúng để rồi vận động chúng. Trong những ngày Mỹ xây dựng căn cứ Đồng Tâm đây là mối quan tâm lớn của lãnh đạo khu, tỉnh, huyện và ở các xã vành đai. Việc làm được trước tiên là dân đã bám lại được. Bây giờ là bước tiếp theo: tiếp xúc được với lính Mỹ và có cách đánh Mỹ, tiêu diệt, tiêu hao, làm tan rã, tạo tâm lý phản chiến, án binh bất động, chống lệnh trên làm vô hiệu hóa âm mưu “tìm diệt và bình định” của Mỹ - ngụy.

Như trên đã nêu, vừa đặt chân đến căn cứ Đồng Tâm, bọn chỉ huy Mỹ liền bung ra tấn công. Ngoài bộ binh, chúng sử dụng tối đa trực thăng, bom pháo, xe M113. Nhiều nhà cửa, tài sản, sinh mạng của dân trở thành mục tiêu của bom, pháo Mỹ. Con lộ đất từ Song Thuận đến chợ Ông Hồ, xã Long Hưng bị pháo Mỹ bắn phá thường xuyên. Nhưng bọn Mỹ đi càn cũng đã nhiều tên bỏ mạng vì các xã chiến đấu dũng cảm với chông, mìn, lựu đạn ở đó. Con lộ làng từ bến đò Long Hưng đến chợ Xoài Hột - Thạnh Phú, lộ ngang từ lộ 4 vào căn cứ Đồng Tâm đối với Mỹ là tử lộ.

Khi Mỹ triển khai xây dựng căn cứ Đồng Tâm, quân ngụy đã tập trung lực lượng lớn càn quét chà xát dữ chung quanh căn cứ. Khi quân Mỹ đến căn cứ Đồng Tâm, cuộc chiến đấu nơi đây trở nên quyết liệt hơn. Chúng hy vọng quân Mỹ có thể thay chân quân ngụy để quân ngụy bung ra sâu hơn. Nhưng quân ngụy không những không rút chân ra khỏi khu vực này được mà còn phải tăng thêm lực lượng để yểm trợ cho quân Mỹ, cả quân Mỹ và quân ngụy vẫn tiếp tục bị động.

Nhân dân và chiến sĩ vành đai hình thành thế công khai hợp pháp với ba mũi tấn công đã thực sự kìm chân một lực lượng quan trọng của Mỹ - ngụy, gây cho chúng thiệt hại to lớn và làm cho tinh thần chúng sa sút. Với một lực lượng tập trung lớn như thế mà trong ba năm, từ lúc quân Mỹ vào cho đến khi chúng rút đi, Mỹ - ngụy không bình định được các xã vành đai. Sư đoàn 9 Mỹ phải 4 lần thay tướng, bệnh viện Đồng Tâm không lúc nào vắng binh lính bị thương. Từ chỗ sa sút tinh thần chiến đấu, lính Mỹ đi đến nghiện ngập.

Ở chiến trường vành đai diệt Mỹ, lực lượng quân sự của ta được bố trí theo 5 cấp: ấp, xã, huyện, tỉnh và khu; có đủ các binh chủng: bộ binh, pháo binh, đặc công, công binh, trinh sát, quân y, liên lạc,… do một ban chỉ huy chung điều khiển. Tại vành đai, các lực lượng, các chuyên ban tác chiến được tổ chức chặt chẽ và chia ra làm từng mặt trận nhỏ. Mỗi ấp là một mặt trận, có tổ Đảng, có lực lượng đội quân tóc dài làm nòng cốt cho đấu tranh chính trị, vận động lính Mỹ. Lực lượng du kích có du kích xã, du kích ấp, du kích mật, du kích công binh cùng đơn vị đặc công và quần chúng chiến đấu tại chỗ. Có hầm bí mật cho cán bộ và cất giấu vũ khí. Có mặt trận trên các tuyến giao thông như lộ Ngang, lộ Me từ Song Thuận đi Long hưng. Có tổ diệt xe M113. Có ba chốt quân y, ba lõm căn cứ, hình thành theo thế tam giác, là nơi đứng chân của Ban chỉ đạo. Bao trùm lên là xã, ấp chiến đấu với công sự, hầm hào vững chắc, bí mật và công khai, có nhiều chướng ngại, bãi mìn và lựu đạn dày đặc.

Ba tháng sau khi xây dựng và chiến đấu ở vành đai, Khu và tỉnh mở Đại hội bầu dũng sĩ diệt Mỹ lần thứ nhất, tiến hành tại xã Bình Trưng, huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho, một xã thuộc vòng ngoài của vành đai, cách căn cứ Đồng Tâm theo đường chim bay không quá 10 kilômét. Đại hội đã công nhận 127 dũng sĩ. Ba tháng sau, Đại hội bình chọn dũng sĩ diệt Mỹ lần thứ hai được tiến hành cùng lúc với việc tên tướng Mỹ chỉ huy Sư đoàn 9 bị thay thế.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Tư, 2014, 07:28:27 AM
Ông Bảy Tẩu, 45 tuổi, nông dân xã Long Hưng, là đảng viên cộng sản từ thời chống Pháp. Trước khi Mỹ đến, ông Bảy Tẩu là xã ủy viên phụ trách ấp Nam. Xã chuyển ông sang phụ trách ấp Long Bình. Khi về ấp Long Bình, ông phát động nhân dân trong ấp tìm mọi cách diệt Mỹ, giành danh hiệu dũng sĩ. Ông thực hiện phương châm “muốn có phong trào dũng sĩ, trước hết mình phải là dũng sĩ”. Ông nhờ cán bộ quân sự dạy cách làm mìn, gỡ mìn, gài mìn, điểm hỏa, cách tránh và đối phó với địch. Lúc đầu, mìn, lựu đạn nhận từ trên nhưng sau ông tìm pháo lép, lựu đạn lép, gỡ mìn, lựu đạn trong hàng rào căn cứ về sửa đổi cho thích hợp để đánh. Hàng ngày, đều có 1 tiểu đội Mỹ từ căn cứ kéo vào một khu vườn hoang trong ấp để sục sạo. Ông gài 3 trái mìn ở đầu một bờ liếp cách 200 mét. Bọn Mỹ đến, ông điểm hỏa. Chúng chết và bị thương 3 tên. Cứ thế, ông bám địch mà đánh. Mỹ tánh vườn, đi ngoài đồng, ông gài lựu đạn trong ruộng lúa. Nhiều trận chúng đi không đúng đường, ông lại gỡ mìn, lựu đạn, đem gài đón đầu lính Mỹ. Nhiều trận ông chỉ cách chúng vài chục thước nên đánh rất hiệu quả vì khi bị trúng mìn bọn chúng gom lại cứu bọn bị thương, đó là lúc tốt nhất để ném tiếp lựu đạn vào bọn Mỹ.

Trong ba năm ở vành đai, ông Bảy Tẩu đã đánh 22 trận, diệt hơn 50 tên Mỹ. Suốt một năm, ông và các chiến sĩ du kích làm chủ hoàn toàn một đoạn đường dài 4 kilômét từ bến đò Long Hưng đến Thạnh Phú.

Theo gương ông Bảy Tẩu, hàng chục dũng sĩ đã xuất hiện ở các xã, ấp trên vành đai diệt Mỹ. Đánh Mỹ không còn là chuyện xa vời, khó khăn nữa.

Em Hồ Văn Nhành, 16 tuổi, nhà ở gần căn cứ Đồng Tâm. Hàng ngày, em chăn trâu gần hàng rào cứ, phát hiện mìn và lựu đạn Mỹ gài. Lần đầu, em đào nguyên một bệ đất đựng trong mo cau có mìn trong đó mang về cho du kích. Dần dần, em tự gỡ và chỉ cho em Dũng cùng xóm vào gỡ. Em đã gỡ được trên 1.500 quả mìn các loại, phục vụ cho 300 trận đánh, diệt 130 tên Mỹ và nhiều tên ngụy.

Lộ Đông Hòa, xã Song Thuận có cây cầu ván bắc qua một con kênh nhỏ, khi nước cạn là bùn lầy. Sát chân cầu từ phía căn cứ Đồng tâm đến là một mảnh ruộng xâm xấp nước. Giữa ruộng có một gò đất rộng, khô ráo. Các chiến sĩ du kích bố trí mìn tại chân cầu và trên gò gài nhiều lựu đạn và hai đầu đạn 105, 155 ly. Gần trưa, hai tiểu đội lính Mỹ ra. Nhìn xa, trông thoáng chúng như đồng bào đi làm đồng về, đầu đội nón lá, vai cuốc. Đến gần mới biết là bọn “Mỹ hề”. Mỹ hề là bọn lính Mỹ xung kích, tình nguyện làm những việc nguy hiểm. Chúng vẽ mặt rằn ri trông rất quái dị. Đến cầu thấy ván đã gỡ hết, chúng tức tối, dừng lại tỏa ra lùng sục. Một tên đạp phải mìn, mìn nổ, năm sáu tên ngã lăn. Số còn lại khiêng đồng bọn ra gò đất băng bó và gọi cấp cứu. Khi bọn Mỹ đã tập trung lên gò, du kích cho nổ tiếp 2 đầu đạn làm cho 10 tên nữa bị chết và bị thương. Còn lại 5 tên, bọn này hoảng quá, bỏ mặc đồng bọn chạy về chi khu Vĩnh Kim cách đó 500 mét. Một giờ sau trực thăng mới đến. Du kích đủ thời gian thu hàng chục súng và nhiều lựu đạn. Với cách đánh trên, riêng các chiến sĩ du kích xã Song Thuận đã diệt tổng cộng 4 trung đội Mỹ.

Tháng 6 năm 1968, địch đóng lại bốt dân vệ ở chỗ giáp ranh ba xã Long Hưng, Song Thuận, Vĩnh Kim, trên con lộ làng từ Vĩnh Kim đến bến đò Long Hưng. Du kích ba xã liên tục gây sát thương cho bọn lính trong đồn. Bọn bảo an ở chi khu Vĩnh Kim cách đố 3 kilômét cũng không làm gì được. Bọn Mỹ ở căn cứ Đồng Tâm buộc phải đi cứu viện. Du kích bố trí đánh quân cứu viện tại bờ con rạch trong một khu vườn cách bốt 200 mét. Sát bờ gài 2 trái mìn clâymo, dưới rạch để một chiếc xuồng. Thấy xuồng, muốn qua rạch, thế nào bọn Mỹ cũng bước xuống. Đây là con đường chúng thường đi. Đúng như dự kiến, bọn Mỹ đến, chúng xuống xuồng, mìn nổ, làm chết, bị thương nhiều tên, số còn lại rớt xuống rạch, la khóc dậy trời. Chờ cho chúng hoàn hồn, gom đồng bọn bị thương lại để băng bó, du kích cho nổ trái mìn thứ hai. Chúng lại chết và bị thương thêm nữa. Trận này có 15 tên Mỹ bị diệt.

Sau trận đánh, bốt dân vệ vẫn bị vây. Du kích chuẩn bị đánh bọn Mỹ đi cứu viện tiếp. Các đồng chí bố trí thành hai cánh: một cánh trong vườn, một cánh ngoài lộ đón địch. Ba giờ chiều, từ căn cứ Đồng Tâm trực thăng đến đổ lính Mỹ xuống chi khu Vĩnh Kim. Bốn giờ rưỡi, chúng kéo ra lộ làng. Đợi chúng lọt hẳn vào ổ phục kích, du kích đồng loạt nổ súng xung phong. Bọn Mỹ lớp chết, lớp bị thương, chạy tán loạn. Đứa chạy vào vườn, đứa té xuống mương, đứa chui vào ống cống. Hai tên chạy vào nhà dân, đuổi dân ra giành hầm núp. Số thoát được thì chạy thẳng về Vĩnh Kim không dám quay lại. Trận này Mỹ chết 10 tên, bỏ lại 15 khẩu súng.

Xã Bình Đức có chùa Thiên Đức, là ngôi chùa nhỏ, lâu đời. Bao quanh chùa là những cây sao, cây me to. Ngôi chùa là nơi nuôi giấu nhiều thế hệ cách mạng ở Bình Đức và các xã chung quanh. Sư trụ trì là thầy Võ Văn Tri. Chùa Thiên Đức là nơi cán bộ cơ sở cách mạng và du kích nghỉ ngơi, hội họp, được Thầy Tri và các tiểu canh gác rất chu đáo. Lính Mỹ nhiều lần đi tuần qua ghé chùa gặp sư sãi nhưng không phát hiện được. Hôm đó, bốn giờ chiều, một tiểu đội du kích đang ở sau chùa. Anh em vừa ăn cơm xong, đang hội ý. Thầy Tri mặc áo cà sa đang đứng gác sau một cây sao lớn ở phía trước. Trước cổng chùa, cách chỗ gác 200 mét là hai quả mìn clâymo. Thầy bỗng thấy một tốp lính Mỹ từ mé vườn bên kia, rất gần, kéo sang. Không còn kịp báo động, thầy liền cầm hai đầu dây điện điểm hỏa. Mìn nổ vang, quét sạch tốp đi đầu. Du kích thừa dịp xông ra diệt Mỹ. Thầy Tri được tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Tư, 2014, 07:28:56 AM
Trong cuộc chiến đấu bao vây diệt Mỹ ở vành đai của căn cứ Đồng Tâm, bên cạnh hoạt động sôi nổi của lực lượng ba mũi ở cơ sở, không thể quên vai trò trụ cột của các lực lượng vũ trang tập trung của khu, tỉnh, huyện hỗ trợ cho phong trào. Tỉnh đã để lại vành đai 1 đại đội của Tiểu đoàn 514. Huyện Châu Thành để lại 1 trung đội quân địa phương. Những lực lượng này là chỗ dựa đắc lực của mũi vũ trang xã, ấp trong tiến công đánh Mỹ. Đặc biệt là Tiểu đoàn pháo 309 F của Khu. Tiểu đoàn này được thành lập do Khu đưa cán bộ xuống huấn luyện cho lực lượng lấy trong dân ở vành đai (đa phần là nữ) và điều ba đại đội pháo đến làm nòng cốt, chia thành các cụm: cối 120, DKZ 75 ở Kim Sơn, Phú Túc và cối 60, 82 ở sát vành đai thuộc hai xã Song Thuận và Long Hưng. Nhiều cuộc đấu trí giữa cán bộ, chiến sĩ pháo binh và quần chúng với địch để bảo vệ pháo, bộ đội pháo được an toàn sau mỗi trận đánh địch lùng sục, phản ứng.

Nếu các cuộc chiến đấu ở cơ sở của ba mũi đã gây nhiều thiệt hại và bất ngờ cho lính Mỹ khi ra ngoài căn cứ thì pháo binh vành đai thật sự là nỗi kinh hoàng đối với bọn chỉ huy rúc trong căn cứ, đồng thời phá hủy rất nhiều phương tiện chiến tranh của chúng. Các pháo thủ đã bắn vào sân bay, diệt và làm hỏng nhiều máy bay, súng đạn, thiêu cháy hàng triệu lít xăng của địch. Nhiều tên sĩ quan, lính Mỹ không chết khi đi lùng sục bên ngoài mà chết trên giường ngủ, trong câu lạc bộ, chỗ ăn chơi giải trí của chúng vào lúc bất ngờ nhất ngay trong căn cứ. Với lực lượng pháo binh, những người chỉ huy vành đai đã thực sự đưa chiến tranh vào tận sào huyệt mà bọn chỉ huy Mỹ cho là tuyệt đối an toàn của chúng.

Có người gọi các vành đai diệt Mỹ ở Khu Trung Nam Bộ là vành đai lửa. Gọi như vậy đúng với quân Mỹ. Vì những nơi đây thật quá nóng bỏng và khủng khiếp đối với các lực lượng Mỹ ở đồng bằng sông Cửu Long.

Nhưng đối với lực lượng cách mạng thì chỉ đúng một phần vì ở các vành đai này không chỉ có tác chiến quân sự của ba thứ quân mà còn có đông đảo quần chúng nổi dậy, có tấn công vũ trang, đồng thời lại có tấn công chính trị và binh vận với nhiều mưu mẹo, sang tạo, phong phú. Đồng thời với tiến công địch bằng ba mũi, đồng bào còn sử dụng thành thạo, linh hoạt cái khiên (thế công khai hợp pháp) để không những bảo vệ mình mà còn giúp cho cán bộ, đảng viên, quân đội bí mật bám trụ trong dân để tiếp cận địch và đánh địch suốt trên 1.000 ngày, khi quân Mỹ vào Khu VIII. Nhân dân ở vành đai diệt Mỹ thật kỳ diệu, giúp cho cán bộ, đảng viên và bộ đội hòa mình trong quần chúng để chủ động tiếp cận, đánh Mỹ giành thắng lợi.

Phương châm “động vi binh, tịnh vi dân” được áp dụng triệt để, nhưng có điểm đặc biệt là ở đây không có lúc nào tịnh cả. Vì vậy, người dân tuy giữ được thế công khai hợp pháp bình thường trong ăn ở, sản xuất, nhưng lúc nào cũng vừa là chiến binh, vừa là dân, luôn luôn tích cực, chủ động, sáng tạo và tận dụng mọi thời cơ để tấn công địch bằng ba mũi vũ trang, chính trị và binh vận thích hợp, có hiệu quả.

Cũng có người nói cuộc chiến tranh ở vành đai diệt Mỹ là cuộc chiến tranh một mất, một còn. Ta thì không thể mất, còn địch thì có hàng lữ đoàn, sư đoàn với những trang bị hiện đại. Yêu cầu của cuộc chiến đấu ở vành đai là kìm chân không cho Mỹ - ngụy triển khai hết lực lượng, thực hiện ý đồ “tìm diệt” và hỗ trợ “bình định”, đồng thời góp phần tiêu diệt và làm tan rã sinh lực địch.

Đối chiếu với những yêu cầu này, vành đai Bình Đức thực tế đã đạt được. Lực lượng địch phải để lại phòng giữ căn cứ không ít vì chúng luôn luôn phải chống đỡ với những cuộc tiến công bất ngờ. Trong gần ba năm, quân Mỹ đóng căn cứ ở Bình Đức đã làm cho nhân dân ở vùng này phải chịu biết bao khó khăn và tổn thất về người và của, cuộc sống của người dân luôn luôn bị đe dọa, căng thẳng hàng ngày, hàng giờ; hàng trăm đồng bào, cán bộ, chiến sĩ đã ngã xuống vì sự tàn sát của quân Mỹ và không có một mảnh đất nào, một cây cối nào mà không có bom đạn Mỹ găm vào. Giặc Mỹ đã tàn phá con người, đất đai, thiên nhiên, môi trường nơi đây rất tàn bạo và khốc liệt. Thế nhưng với truyền thống kiên cường bất khuất, vùng đất này vẫn trụ vững, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ, nhân dân đã liên tục bao vây, tiến công quân Mỹ, đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 8.000 tên Mỹ, bắn cháy hơn 200 máy bay các loại, bắn chìm 300 tàu chiến các loại, đốt chạy hơn 3 triệu lít xăng, phá hủy trên 3 triệu viên đạn pháo và hỏa tiễn; hơn 50 đồn bốt địch bị diệt.

Tháng 9 năm 1969, toàn bộ Sư đoàn 9 của Mỹ phải rút về nước, khi mà một số sư đoàn Mỹ khác vẫn còn ở lại Việt Nam.

Trong cuộc đọ sức này, quân và dân vành đai diệt Mỹ Bình Đức, Mỹ Tho, Bến Tre và Khu VIII đã thắng quân xâm lược Mỹ và trong cuộc chiến đấu này, hơn 300 người được phong tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, em Hồ Văn Nhánh 16 tuổi và cô giáo Lê Thị Hồng Gấm sinh trưởng trên mảnh đất này được phong tặng danh hiệu Anh hùng, các xã, huyện ở đây đều được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và được tặng thưởng rất nhiều huân chương, bằng khen của các cấp để ghi nhận chiến công đánh Mỹ của đồng bào, cán bộ, chiến sĩ nơi đây.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Tư, 2014, 07:30:09 AM
3. Đánh thắng quân viễn chinh Mỹ trên lộ 4

Sau ngay giải phóng 30 tháng 4 năm 1975, khách đi trên đường 1 (trong chiến tranh chống Mỹ là lộ 4) từ thành phố Hồ Chí Minh về miền Tây không khỏi bồi hồi xúc động khi nhớ lại những chiến công oanh liệt, những nỗi hiểm nguy mà đồng bào, chiến sĩ ven hai bên đường năm xưa đã phải chịu đựng khi họ tấn công địch, phá hoại, băm nát con đường huyết mạch này. Cuộc chiến đấu trên lộ 4 có lịch sử lâu dài suốt 30 năm chiến tranh giải phóng miền Nam nhưng sôi nổi và quyết liệt nhất là lúc Sư đoàn 9 Mỹ đến căn cứ Đồng Tâm. Càng xúc động và thương cảm hơn nữa khi khách đi ngang qua 5 nghĩa trang trang dọc theo lộ mà mỗi nghĩa trang có từ 1.000 đến 4.000 mộ liệt sĩ. Nếu chia theo chiều dài đoạn lộ 4 thì bình quân khoảng 8 mét đã có một chiến sĩ ngã xuống.

Lộ 4 từ thành phố Hồ Chí Minh đến Bắc Mỹ Thuận dài 130 kilômét, đoạn thuộc tỉnh Tiền Giang dài 79 kilômét, trải trên 31 xã, có 28 cây cầu, cầu nhỏ dài 20 mét, cầu lớn dài 100 mét. Thời đánh Pháp, các xã cặp lộ 4 là vùng tranh chấp. Thời đánh Mỹ, thế dân làm chủ và tranh chấp càng mạnh. Lộ 4 chạy qua một khu vực trù phú, đông dân. Phía nam giáp sông Cửu Long, phía bắc giáp kênh Nguyễn Văn Tiếp, kênh Dương Văn Dương. Khu vực lộ 4 bao gồm cả các xã vùng 4 Kiến Tường và 2 huyện Mỹ An, Cao Lãnh của tỉnh Kiến Phong, cộng chung tất cả là 100 xã.

Chiến lược chiến tranh cách mạng của nhân dân là tiến công. Khu vực lộ 4 là trọng điểm, yết hầu của địch, nên Khu ủy Khu Trung Nam Bộ chọn làm trọng điểm đụng đầu với quân Mỹ, thu hút lực lượng Mỹ, kiềm chế, tiêu hao, tiêu diệt quân Mỹ, không cho chúng bung ra đánh phá để tìm diệt, hỗ trợ cho ngụy bình định trên các địa bàn khác của Khu, tạo điều kiện cho các địa phương đánh phá kế hoạch bình định của địch.

Khu vực lộ 4 có lịch sử đấu tranh từ hơn 200 năm. Nghĩa quân Tây Sơn đã từng hỏa tốc hành quân qua đây để đánh tan 2 vạn quân Xiêm. Nghĩa quân Thủ Khoa Huân xây dựng căn cứ chiến đấu ở Thuộc Nhiêu - Nhị Quý. Nghĩa quân Đốc Binh Kiều, Thiên Hộ Dương đã xây dựng căn cứ kháng chiến ở kênh Ba Gò Tháp. Trước Cách mạng Tháng Tám, Long Hưng, Vĩnh Kim và các xã ven lộ 4 là cái nôi của cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ và là nơi đầu tiên xuất hiện lá cờ đỏ sao vàng. Trong kháng chiến chống Pháp, các trận đánh giao thông Giồng Dứa, Co Cò đã diễn ra trên lộ 4. Trong kháng chiến chống Mỹ, những cuộc biểu tình hàng ngàn người trên lộ 4 của đội quân tóc dài Long An và Mỹ Tho đấu tranh chính trị trực diện, dồn dư luận thắng lợi của cách mạng về đô thị Sài Gòn và các nơi khác ở miền Nam. Nhiều sự kiện có ý nghĩa lịch sử lớn đã diễn ra ở nơi đây, nổi bật là cuộc Đồng khởi của nhân dân Mỹ Tho năm 1960-1961, giải phóng và làm chủ các xã đến sát thành phố Mỹ Tho và sát các thị trấn Châu Thành, Cai Lậy, Cái Bè đến dọc bờ sông và đầu năm 1963, có chiến thắng Ấp Bắc lịch sử.

(https://lh3.googleusercontent.com/5ZcYmNcJrabHkWQe2YjHKi7lKZs_6voNcUlni4UIoAvhVJouaMTVZZXX9fkApT4v8Agwml312I3ZRS6BwJtpLfzAEIuobPS_YafC4PhacB6t8iXwuS2D_WcycpAOde7z0hQj0kY80DZdyI7X2b_qxjm-p9oX4S7YXXr60TcJbx0HT8J1-JMM5Xi6brDKk4lTVke57DRFYetaw2WzzaQwultSQVi0ZW0J3Z9P1runqoQzz7Hl6-qLTWjQWdox02GCdseYyf6EzhJC2m-SSPQ257OcsVZ3IwSeBbnqmGXpqzqbRhztJH5AafPK83G8NLKtm_wYw5mXChNMLal5_KN_8GggpQgMbvUlUaqtuPTeYz_PsYX5b9r-jMgJNV8GihJ05uxyGZ2q-BvSi5JW_jchLtNIkiT_82BUXxhST4A4_uIG6YXQz7kPj0aFfXG7qqUTwVhEkMzsVsVSwTKMH-QkuySUOlPhKUMf02ZB-wd9-bCJ2MyoBPknfEGenr9LWE7hNB16SnjDw_WNl7Aor5zwgnoJGrlPQGVtPsAF8gTazl1rSmbHYZi-uwRSNg-Fvimqft5n7QsXCsle9fg72fzzRgvmrcYfrpBIgVN0Xy32LxzjPAqkVpe5=w512-h800-no)

Du kích Long Hưng, Tiền Giang

Qua năm 1968, quân chủ lực của Khu ở chiến trường Mỹ Tho, ngoài 2 tiểu đoàn 261, 263B (Tiểu đoàn 263B được thành lập sau khi Tiểu đoàn 263 về Miền), còn có thêm Tiểu đoàn 265. Được chi viện đều dặn vũ khí và phương tiện chiến tranh từ miền Bắc, ta đã thay thế toàn bộ trang bị cho chủ lực Khu và các đơn vị tỉnh. Thuốc nổ, mìn và lựu đạn dồi dào. Trên khu vực lộ 4, mỗi xã đã có từ trung đội đến đại đội du kích thoát ly. Ngoài ra, còn có lực lượng du kích mật, các đơn vị đặc công và công binh. Đường hành lang xuyên qua lộ 4 luôn được thông suốt. Mỗi xã trên lộ đều có nhiều đường qua lại, nhiều trạm nút giao liên hợp pháp tồn tại bí mật suốt 21 năm đánh Mỹ.

Quyết tâm của Thường vụ Khu ủy là tiếp tục đánh tan Sư đoàn 7 ngụy, giữ vững vùng giải phóng, uy hiếp lộ 4 không để địch tái chiếm kênh Nguyễn Văn Tiếp.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Tư, 2014, 07:31:18 AM
Tháng 3 năm 1966, Tiểu đoàn 261 của Khu pháo kích vào chi khu Cai Lậy, phục kích từ ngã tư Văn Cang đến Thẻ 23 trên lộ 4 đánh viện, diệt gọn Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 11 Sư đoàn 7 ngụy. Đây là trận đánh giao thông lớn đầu tiên kể từ năm 1960.

Cũng trong tháng 3 năm 1966, Tiểu đoàn 263B của Khu phục kích đánh Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 10 Sư đoàn 7 ngụy trên lộ 12. Địch đưa lực lượng phản kích, ta đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 10 và Liên đoàn 41 biệt động quân.

Tháng 4 năm 1966, công binh của Khu đánh sập cầu Long Định, làm gián đoạn giao thông trên lộ 4 trong hai ngày.

Ngày 24 tháng 5 năm 1966, Tiểu đoàn 261 chặn đánh 3 tiểu đoàn của Sư đoàn 7 ngụy càn quét ở Hậu Mỹ - Cái Bè diệt 300 tên. Chúng không tái chiếm được vùng này.

Năm 1966, nhân mùa nước lên, ta tổ chức đánh trên lộ 4. Trong hai tháng 9 và 10 năm 1966, hai lần lộ bị phá, làm cho giao thông liên lạc của địch bị đứt, mỗi lần từ 1 đến 3 ngày. Du kích và bộ đội phục kích, bắn phá, buộc địch phải rải quân giữ đường.

Năm 1967, 4 tháng sau khi đến căn cứ Đồng Tâm, quân Mỹ tổ chức cuộc hành quân quy mô đầu tiên đánh vào khu vực lộ 4.

Ngày 2 tháng 5 năm 1967, một tiểu đoàn Mỹ hành quân càn quét vào xã Điềm Hy, Châu Thành, Mỹ Tho. Lúc nay đã có những trận mưa đầu mùa. Nước trên ruộng đã xấp mắt cá chân nhưng các bờ ruộng còn khô. Quân Mỹ chia làm nhiều cánh tiến vào. Tiểu đoàn 514 nấp trong công sự vững chắc, sẵn sàng chờ đánh địch. Một đại đội Mỹ lọt vào ổ phục kích của ta, bị thiệt hại nặng. Chúng lùi ra rồi cho máy bay, pháo bắn cấp tập vào trận địa. Sau đó, hai đại đội Mỹ tiến vào, lại bị thiệt hại nặng nề. Chúng tiến vào nhiều đợt nhưng trận địa ta vẫn giữ vững. Cuối cùng, trực thăng phải đến chở chúng rút lui, mang theo hàng chục tên chết và bị thương. Lần đầu đánh quân Mỹ, với mật độ bom pháo lớn hơn hẳn đánh quân ngụy, Tiểu đoàn 514 tỉnh đã gây cho quân Mỹ nhiều thiệt hại. Ta thương vong không đáng kể. Xã Điềm Hy chỉ cách lộ 4 chưa đầy 1,5 kilômét. Trận Điềm Hy chứng tỏ tiểu đoàn địa phương tỉnh có thể đánh bại tiểu đoàn Mỹ có phi pháo mạnh, bảo tồn được lực lượng trên chiến trường đồng bằng trống trải.

Cũng trong ngày 2 tháng 5 năm 1967, ngoài bị thiệt hại do bộ đội tập trung đánh bọn Mỹ còn bị thiệt hại hàng chục tên vì mìn, lựu đạn của xã chiến đấu và du kích.

Mùa nước năm 1967, Thường vụ Khu ủy chỉ đạo quyết định mở đợt đánh phá mạnh trên lộ 4 với quyết tâm thu hút, kiềm chế, tiêu hao, tiêu diệt quân Mỹ nhiều hơn, cắt đứt lộ 4 nhiều ngày hơn làm cho địch càng lúng túng và lún sâu hơn nữa vào thế bị động.

Mặt trận lộ 4 được thành lập. Du kích các xã ven lộ đều được tăng thêm trang bị và huấn luyện. Nhân dân đào công sự sát lộ. Hậu cần Khu gấp rút vận chuyển thuốc nổ. Địa phương đào bom, pháp lép đưa vào công binh xưởng để chế tạo mìn. Trong ba tháng, ta đã sản xuất được 300 quả mìn định hướng. Lộ 4 rất kiên cố, ta quyết tâm là phải đánh phá nhiều đoạn dài từ 50-100 mét hoặc hơn nữa; có độ sâu đủ để nước chảy qua, khoét làm hỏng nhiều thêm. Những năm trước, ta chỉ cắt đường được một buổi hoặc 1 đến 3 ngày. Năm nay, yêu cầu cao hơn, phải phá nhát đường, làm gián đoạn giao thông nhiều ngày đối với địch.

Mỗi xã trên lộ 4 có nhiệm vụ phá từ 1 đến 3 đoạn. Cách làm là đào hố ven lề sâu từ 1,5 mét đến 2 mét, sau đó đào xuyên vào rồi đặt mìn. Đao ban đêm, ban ngày ngụy trang kỹ, đất đào phải giấu. Một hố phải đào mất 3 đến 4 đêm. Trên lộ 4, cứ cách 1.000 mét là có bốt địch. Binh lính các bốt được cơ sở ta vận động ban đêm không bung ra tuần tiễu để ta đào phá lộ. Địch lại hay bắn pháo ven lộ. Ta tránh pháo bằng cách lên nằm trên lộ hoặc áp sát cách đồn từ 300 đến 500 mét.

11 giờ đêm ngày 17 tháng 7 năm 1967, lực lượng đánh lộ 4 đồng loạt co nổ 700 quả mìn, phát đứt 30 đoạn đường, 1.500 dân công của 37 xã đào phá những đoạn nước chảy qua. Tham gia đánh lộ còn có 2 đại đội công binh của Khu, trung đội công binh của tỉnh và các tiểu đội công binh của các huyện. Lộ 4 bị phá có đoạn dài tới 150 mét, phổ biến là từ 50 đến 100 mét. Cộng chung chiều dài các đoạn bị phá lên tới 3 kilômét. Nước chảy làm cho đất mềm ra, dân công đào xuống dễ dàng. Có đoạn rất sâu. Phối hợp với phá đường, du kích các xã ven lộ cùng nhân dân một số khu gom dân nổi dậy trừng trị bọn ác ôn. Các cụm pháo chi khu, cụm pháo Bình Đức, 5 cụm pháo Mỹ trên lộ đều bị pháo ta bắn kiềm chế, nên bắn ra được ít và không chính xác. Ban đêm ta tiếp tục đào phá, ban ngày giữ không cho sửa chữa.

Ở các khu gom dân, du kích trụ lại cả ban ngày. Địch huy động lực lượng bảo an tỉnh, quận càn quét giải tỏa, pháo, trực thăng bắn phá suốt ngày đêm dọc ven lộ. Công binh Mỹ, ngụy chở đá đến lấp lại các đoạn bị phá. Chúng dùng cả trực thăng chở đá. Phải lấy đá ở Sa Đéc, Vĩnh Long, Bến Tre, cả đá của các nhà thầu. Mãi đến 7 ngày sau, chúng mới thông xe được. Trong 7 ngày ấy, Sài Gòn xôn xao vì lương thực, thực phẩm khan hiếm. Hàng ngàn xe khách, xe hàng từ miền Tây về Sài Gòn bị nghẽn.

Lần phá này, tuy ta chưa phá cầu, chưa đánh đồn, bốt trên lộ 4 nhưng đã đạt kết quả lớn.

Chỉ với lực lượng chủ yếu ở xã ấp, ta đã làm được điều mà Cabốt Lốt, đại sứ Mỹ ở Sài Gòn vẫn lo sợ, đó là cắt rời cái “yết hầu” Định Tường với “cái dạ dày Sài Gòn”.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Tư, 2014, 07:33:34 AM
Ngày 18 tháng 7 năm 1967, phản ứng lại việc ta đánh lộ 4 và để quét lực lượng ta ra xa lộ 4, địch mở chiến dịch mang tên Coronado - “Sóng thần Cửu Long” đánh khu vực hai bên lộ 4 trong phạm vi 25 xã. Chúng huy động vào chiến dịch này 2 lữ đoàn của Sư đoàn 9 Mỹ, toàn bộ Sư đoàn 7 ngụy, các tiểu đoàn, đại đội bảo an của tiểu khu Định Tường và của 3 chi khu Châu Thành, Cai Lậy và Cái Bè, nhiều đại đội bảo an của Long An, Vĩnh Long, tổng số lực lượng hành quân là 21 tiểu đoàn bộ binh gồm 16.000 tên Mỹ - ngụy, 60 tàu chiến, hàng trăm trực thăng, 40 pháo, 70 xe M113. Máy bay ném bom được sử dụng tối đa.

Ngay từ mùa khô, Thường vụ Khu ủy đã dự kiến ý đồ của chúng, nhất là sau trận Điềm Hy. Khi địch triển khai chiến dịch, tất cả các cơ quan, đơn vị từ khu, tỉnh đến xã, ấp đều đã được thông báo, chuẩn bị sẵn sàng đánh địch phản kích.

Ngay ngày đầu chúng đổ quân, Đại đội công binh của Khu đã bắn chìm một tàu ở vàm Rau Răm, diệt 1 đại đội Mỹ. Sáng ngày hôm sau, đoàn tàu 40 chiếc chở lính Mỹ tiến vào sông Ba Rài - sông rộng khoảng 100 mét, hai bên bờ cây cối um tùm, trước đây là xóm ấp trù phú, từ khi có quân Mỹ vào, bom đạn cày xới liên tục, đồng bào tản ra đồng. Chúng bắn hàng ngàn quả pháo dọn đường. Máy bay trinh sát quần đảo xuống sát các ngọn cây soi mói. Trực thăng chiến đấu bay dọc hai bờ sông, phóng hỏa tiễn xuống chỗ tình nghi. Tiểu đoàn 263B của Khu được trang bị đủ các loại súng bắn tàu như DKZ57, DKZ75, B40, B41, phục kích trên đoạn dài 1 kilômét dọc sông. Đoàn tàu lọt hết vào ổ phục kích, 25 chiếc bị bắn cháy và chìm. Số còn lại phải quay đầu chạy trở ra. Trong khoảng 1 kilômét, khói lửa nghi ngút. Các chiến sĩ bắn tỉa những tên sống sót đang ngụp lặn dưới sông. Máy bay ném bom và trực thăng được gọi đến nhưng bị lực lượng phòng không khống chế nên phải bay cao và không đến được gần. Phối hợp với trận đánh tàu, các đội du kích quân địa phương ba huyện bám lộ 4, bắn máy bay, đánh bọn tuần tra. Chúng phai sử dụng 2 chi đoàn xe M113 và một bộ phận Sư đoàn 7 ngụy phân tán thành từng đại đội giữ lộ. Trong suốt 1 tuần lễ, chúng thả pháo sáng suốt đêm trên đoạn đường dài 50 kilômét. Chúng phải tổ chức công - voa mở đường cho xe đò, xe tải. Nhưng bộ phận đi đầu vừa qua thì đường lại bị cắt. Từ hai phía lộ, hàng trăm xe bị ùn tắc. Cho đến ngày 3 tháng 8 năm 1967, lộ 4 mới được giải tỏa thông suốt. Theo kế hoạch của chúng, Sư đoàn 7 ngụy sẽ đánh phá vùng bắc lộ 4, nhưng vì bị động nên chúng không thực hiện được.

Đêm 30 tháng 7 năm 1967, trong lúc chiến dịch của chúng đang diễn ra, Tiểu đoàn 514 tập kích sở chỉ huy lữ đoàn 2 Sư đoàn 9 Mỹ tại xóm Tre thuộc xã Long Tiên. Sau đó, hàng chục sĩ quan, binh lính Mỹ đào ngũ.

Như vậy là trong chiến dịch phản công dài ngày của Mỹ, ta đã diệt gần 1.000 tên địch, hơn một nửa là Mỹ, bắn cháy và hỏng 19 xe, bắn hỏng và chìm 23 tàu, lộ 4 bị cắt từng đoạn 1 hoặc 2 ngày. Khi bọn Mỹ kéo đến nhà đồng bào ở ngoài đồng, đồng bào vây chúng và nói lên nỗi khổ của mình do chiến tranh xâm lược gây ra, chúng phải chùn tay không khủng bố, đốt phá.

Đêm 31 tháng 8 rạng ngày 1 tháng 9 năm 1987, ta tổ chức đánh lộ 4 lần thứ hai. Đánh lần này còn có mục đích phá cuộc bầu cử Quốc hội ngụy vào ngày 5 tháng 9 năm 1967. Lúc này nước đã ngập cao trên đồng phía bắc lộ. Phối hợp tấn công toàn Khu, ta đánh đồng loạt 250 quả mìn trên lộ. Những đoạn lộ đã đánh lần trước thì đợt này đào hố ngay trên lộ để đặt mìn. Những đoạn đánh lần đầu thì đào từ bên cạnh vào. Mìn nổ xong, công binh và nhân dân đào, cuốc thêm, nước chảy qua lộ rất mạnh, lộ tự lở ra. Ngoài việc đào phá lộ, du kích và nhân dân còn chất chà, rơm, tô bùn kết hợp gài mìn và lựu đạn. Khoảng giữa hai đồn địch, ta đào công sự, phục kích bọn đi giải tỏa, bắn máy bay, cơ giới. Cách làm này đơn giản nhưng bọn đi dọn đường rất sợ. Suốt 5 ngày, tiếng súng của du kích, bộ đội ta; tiếng bom pháo của địch vang dội không ngớt. Bọn lính trong các đồn bốt dọc lộ cốt thủ không dám ra ngoài. Ban ngày thì du kích, bộ đội giữ, ban đêm công binh, dân đào phá thêm. Đoạn ở xã Thanh Hòa - Cai Lậy, du kích đặt tổ ong vò vẽ rồi chất chà, rải rơm lên. Bọn lính ở thị trấn Cai Lậy ra phá bị ong vò vẽ rượt đuổi, chúng chạy về làm cho bọn địch ở thị trấn tưởng bị tấn công hoảng hốt báo động. Trên đoạn Trung Lương - Tân Hương, đến ngày thứ hai có đến 500 xe bị ùn tắc. Ta tổ chức nhiều đoàn tuyên truyền lên mặt đường, tiếp xúc với đồng bào, giải thích, kêu gọi tẩy chay trò hề bầu cử. Các đồng chí còn cắm cờ Mặt trận giải phóng, dán khẩu hiệu bên các thành xe, lùng bắt bọn mật vụ, sĩ quan ngụy đi trên xe.

Cho đến ngày bầu cử Quốc hội ngụy - ngày 5 tháng 9 năm 1967, lộ 4 vẫn còn bị cắt. Ở khu vực lộ 4 chúng không tổ chức bầu cử được.

Trận đánh lộ 4 lần thứ hai vừa chấm dứt thì ngày 13 tháng 9 năm 1967, địch mở trận càn lớn vào phía nam lộ. Lực lượng gồm Lữ đoàn 3 Sư đoàn 9 Mỹ, toàn bộ Sư đoàn 7 và Lữ đoàn thủy quân lục chiến ngụy. Lữ đoàn 2 Sư đoàn Mỹ làm lực lượng dự bị. Ngày 14 tháng 9 năm 1967, 4 tiểu đoàn của Lữ đoàn 3 Sư đoàn 9 Mỹ càn vào 2 xã Long Khánh, Long Trung - Cai Lậy. Chúng bị Tiểu đoàn 263B chặn đánh. Ta giữ vững trận địa suốt ngày. Bọn Mỹ chết và bị thương 145 tên, 12 xe M113 bị bắn cháy và hỏng. Ngày hôm sau, địch huy động thêm 2 tiểu đoàn Mỹ và 18 xe M.113 tiến hành phản kích. Bọn chỉ huy cuộc càn sử dụng sông Ba Rài làm đường vận chuyển binh lính, đạn dược, lương thực, thuốc men. Trên sông lúc nào cũng đầy nghẹt tàu Mỹ. Đêm 17 rạng ngày 18 tháng 9 năm 1967, 2 tiểu đoàn 263B, 265 và công binh của Khu phục kích bắn cháy 16 chiếc, bắn hỏng 40 chiếc trên sông, tiêu diệt trên 500 tên Mỹ. Một tiểu đoàn Mỹ cụm lại tại xã Phú An - Cai Lậy đến đêm bị Tiểu đoàn 261 của Khu tập kích, gần 200 tên chết và bị thương. Tiểu đoàn 261 còn phục kích vào sở chỉ huy hành quân của Lữ đoàn 3 Sư đoàn 9 Mỹ ở Thẻ 33, diệt hàng trăm tên, phá hủy 2 pháo 105 ly. Căn cứ Đồng Tâm cũng bị pháo binh vành đai bắn phá, hàng chục tên bị diệt. Trong lúc đó, Tiểu đoàn 514 tỉnh luồn sâu vào sau lưng địch ở xã Phước Thạnh gần thị xã Mỹ Tho tập kích diệt gọn một đoàn bình định. Mỹ - ngụy đã phải chấm dứt cuộc càn vào ngày 20 tháng 9 năm 1967. Cuộc càn lần này chỉ diễn ra trong 7 ngày, bằng non nửa thời gian cuộc càn trước, mà chúng bị thiệt hại gấp hai lần: 2.305 tên chết và bị thương, trong đó hơn 1.200 tên Mỹ; 60 xe quân sự bị bắn cháy, trong đó có 42 xe M 113; 3 máy bay bị bắn rơi, 56 tàu bị bắn chìm và hỏng. Lính ngụy đào ngũ 160 tên. Hơn 200 giáo dục rời bỏ khu tập trung trở về quê cũ.

Tháng 10 năm 1967, Thường vụ Khu ủy chỉ đạo tỉnh Mỹ Tho tiếp tục đánh phá lộ 4. Du kích và bộ đội ngày đêm đứng chân trên lộ 4 đánh bọn đi giải tỏa. Chúng phải phân tán xe M113 giữ lộ. Tuy nhiên, ban đêm thì bọn xe M113 không dám bật đèn pha và phải tìm chỗ trốn vì sợ bị đánh. Nhưng chúng cũng không thoát. Đại đội 1 Tiểu đoàn 514 và Đại đội đặc công tỉnh tổ chức những tổ đi săn xe M113, tìm những nơi xe M113 trốn để diệt. Ngoài ra còn tổ chức phục kích đoạn lộ 4 ở Giồng Dứa diệt được 9 xe M113 đi đêm. Giồng Dứa chỉ cách căn cứ Đồng Tâm 6 kilômét theo đường chim bay.

Phối hợp với mặt trận ở lộ 4, đêm 10 tháng 10 năm 1967, một tổ đặc công của thị xã Mỹ Tho đột nhập đánh chìm cụm 6 tàu Mỹ tại phía đông thị xã Mỹ Tho, trên tàu có hàng trăm lính Mỹ và 12 khẩu pháo. Bọn này có nhiệm vụ tuần tra và yểm trợ bình định dọc hai bên bờ sông Tiền. Chúng canh phòng rất nghiêm ngặt, ban đêm đèn điện sáng như ban ngày, trên bờ lại có một đại đội bảo an cảnh giới nhưng cũng không thoát.

Tiếp tục đánh lộ, đêm 25 rạng 26 tháng 10 năm 1967, ta vừa đánh phá lộ theo chỉ đạo đợt thống nhất toàn Khu, vừa đồng loạt tấn công và nổi dậy đánh các đồn bốt trên lộ. Ta diệt bằng cường tập, kết hợp nội tuyến, quần chúng, gia đình binh sĩ kêu gọi binh lính đầu hàng được 8 đồn: Ông Vẽ, Mỹ Thiện, Đồng Lớn, Lộ Quẹo, Rạch Cỏ, An Hữu, Giồng Nhị Bình, ngã tư Chợ Bưng. Một số đồn rút chạy như: Ông Hưng, Mỹ Tây, Bình Phú, Cầu Rượu. Ta còn pháo kích 4 cứ điểm quân sự ở thị xã Mỹ Tho, căn cứ Đồng Tâm, hậu cứ Trung đoàn 11 Sư đoàn 7 ngụy ở Long Định, chi khu An Hữu. Địch chết và bị thương 300 tên, có 8 cố vấn Mỹ, ta thu 30 khẩu súng.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Tư, 2014, 07:34:10 AM
Tận dụng thời cơ số đồn bốt trên lộ bị chiếm hoặc bỏ chạy, đồng bào nổi dậy phá lộ mạnh hơn. Trên khoảng từ Tân Hương đến Bắc Mỹ Thuận, nhiều đoạn bị phá dài hàng trăm mét, san bằng ngang mặt ruộng. Đoạn ở Nhị Bình dài 110 mét. Các đoạn Giồng Dứa, Cả Cát, Bình Phú, Mỹ Thành, Hội Cư, An Hữu mỗi đoạn dài trên dưới 80 mét. Du kích An Thái Đông đánh mìn làm hỏng một xe địch. Du kích Hội Cư diệt 9 tên địch, du kích Nhị Bình diệt 5 tên, bắn rơi một trực thăng. Quần chúng vừa phá lộ vừa đánh rã bộ máy kìm kẹp, phá các khu tập trung, treo cờ, đánh trống mõ, truy lùng ác ôn. Các gia đình binh sĩ đi tuyên truyền, giác ngộ chồng, con em. Quần chúng tuyên truyền khách đi trên xe đồ, đưa dư luận khí thế thắng Mỹ về Sài Gòn và các tỉnh khi xe bị ùn tắc ở hai đầu. Ở các thị trấn, thị xã Mỹ Tho, các đội vũ trang tuyên truyền đột nhập, hoạt động mạnh.

Sư đoàn 7 ngụy, Sư đoàn 9 Mỹ không giữ nổi lộ 4. Bộ tổng tham mưu ngụy phải tăng cường thêm Chiến đoàn B thủy quân lục chiến đến. Tiểu đoàn 263B của Khu tổ chức tập kích diệt gọn Tiểu đoàn “Trâu điên” của chiến đoàn này đóng cạnh cầu Bình Phú - Cai Lậy.

Đợt này ta phá và làm chủ lộ 4 gần suốt cả tháng. Đến ngày 5 tháng 11 năm 1967, địch tập trung toàn bộ Sư đoàn 7 ngụy, Sư đoàn 9 Mỹ, cộng với lực lượng tổng trù bị từ Sài Gòn đến yểm trợ mới đóng lại được các đồn và thông được đường. Sau đó địch lại tiếp tục thực hiện ý định lấn chiếm sâu vào bên trong.

Rạng sáng ngày 17 tháng 11 năm 1967, Ban chỉ huy Chiến đoàn 1 và 2 tiểu đoàn 261, 263B đang đóng quân ở xã Hậu Mỹ - Cái Bè thì pháo địch bắn cấp tập vào khu vực đập Ông Tải, cách lộ 4 gần 10 kilômét, rồi nhiều trực thăng đến bắn hỏa tiễn, đại liên, khói bốc lên mù mịt. Sau đó hàng đoàn trực thăng đáp xuống đổ quân. Cả pháo lớn cũng được trực thăng đáp cẩu đưa đến. Ban chỉ huy Chiến đoàn 1 được trinh sát báo cáo là một tiểu đoàn Mỹ và 6 khẩu pháo đã được đổ xuống đập Ông Tải. Đập Ông Tải là khu vườn nằm trên bờ tây kênh Hàm Vổ. Dọc kênh về phía đông là lộ 20. Kênh rộng từ 20 đến 30 mét. Thấy quân Mỹ đổ xuống, các đồng chí biết ngay cách đóng quân của chúng. Quân Mỹ đóng theo góc vuông hướng về phía kênh Hàm Vổ và dọc theo đường nước Hàm Vồ là những công sự tự nhiên che chở cho chúng. Từ nhiều tháng nay ta đã có nhận định là quân Mỹ sẽ tái chiếm lộ 20, từ đó tái chiếm Thiện Hộ và kênh Nguyễn Văn Tiếp; thực hiện bình định từ bắc lộ 4 đến kênh Nguyễn Văn Tiếp và vùng 4 Kiến Tường. Trinh sát được tiếp tục tung đi nắm tình hình. Mặc dù Mỹ đổ quân, nhân dân vẫn đi lại trên kênh và đã cung cấp nhiều tin tức. Chiến đoàn hạ quyết tâm diệt ngay tiểu đoàn Mỹ vì nếu để kéo dài, chúng sẽ có đủ thời gian để củng cố công sự và có thể đổ thêm quân. Trinh sát và nhân dân xác nhận bọn Mỹ đóng quân đúng như ta dự đoán. Các đồng chí còn đang phân vân, nếu tập kích chính diện, bộ đội sẽ phải lộ qua kênh và đường nước, như vậy sẽ mất yếu tố bất ngờ và dễ bị sát thương, thì có một người dân góp ý là nên đánh từ phía sau lưng địch bởi vì phía đó là ruộng hoang, cỏ mọc lưa thưa, có nước nhưng không sâu, có thể tiến êm và đánh bất thình lình, địch sẽ trở tay không kịp. Các đồng chí đồng ý với ý kiến đó. Thế làm kế hoạch được vạch ra. Phía chính diện lộ 20 và kênh Hàm Vồ, ta dùng súng cối, du kích, bắn chế áp vừa diệt địch vừa nghi binh. Bộ binh tiến vào phía địch từ phía sau. Lực lượng của ta gồm hai đại đội của Tiểu đoàn 261 và một đại đội của Tiểu đoàn 263B. Ngoài AK, trung liên, lực lượng tiến công còn được tăng cường nhiều B40, B41. Bộ đội đặc công chịu trách nhiệm đánh các khẩu pháo. Ba tổ cối 82 được cử đi ém các cụm pháo ở An Hữu, Thẻ 33, Nhị Bình.

Đúng như kế hoạch, Tiểu đoàn 3 Lữ đoàn 3 Sư đoàn 9 Mỹ và toàn bộ pháo vừa đổ xuống đã bị diệt. Ta rút rồi, máy bay địch mới đến thả pháo sáng, trực thăng đáp xuống lấy bọn chết và cứu bọn bị thương. Đến sáng máy bay mới đến đánh bom. Địch phải bỏ kế hoạch chiếm lại lộ 20.

Tiếp tục tấn công địch trên lộ 4 và để rèn luyện cho bộ đội cách đánh vào đô thị, các tiểu đoàn 261, 514, 263B được giao nhiệm vụ đánh thị trấn Cai Lậy. Các đồng chí chiếm được một số khu vực phía đông thị trấn.

Tại ấp Bà Bèo, xã Mỹ Phước Tây, Tiểu đoàn 514 phục kích đánh 2 đại đội biệt kích, diệt 101 tên, bắn rơi 1 máy bay lên thẳng. Du kích Mỹ Phước Tây diệt 17 tên biệt kích tại kênh Kháng Chiến. Ngày 11 tháng 12 năm 1967, các cụm pháo vành đai bắn vào căn cứ Đồng Tâm tiêu diệt nhiều tên Mỹ.

Từ ngày Mỹ đổ quân vào căn cứ Đồng Tâm và trực tiếp đánh phá, chiến tranh càng ác liệt. Nhờ đã được chuẩn bị nên cuộc sống của nhân dân tuy có bị xáo trộn nhưng sản xuất vẫn được giữ vững. Số đông nhân dân vẫn bám trụ trên mảnh đất của mình, nhờ đó mà cung cấp đủ lương thực, tiền bạc nuôi quân, tham gia và du kích và bộ đội, phụ nữ làm việc đồng áng, ruộng vườn. Mỗi nhà đều có trữ sẵn gạo. Hậu cần không cần có kho quân lương riêng cho bộ đội. Bộ đội cần bao nhiêu là dân cung cấp đủ. Đất đai Khu VIII rất màu mỡ, cho nên dù địch có dùng chất độc hóa học phá hoang nhiều vùng nhưng chỉ trong thời gian ngắn, cây cỏ lại mọc lên um tùm.

Mặt trận lộ 4 và khu vực hai bên lộ 4 là trọng điểm tranh chấp quyết liệt giữa ta và địch trên chiến trường Khu VIII. Địch tập trung một lực lượng lớn quân ngụy và Mỹ tại đây hòng giành lại thế chủ động trên chiến trường. Ngay từ đầu, nhân dân và lực lượng vũ trang của ta đã đã được chuẩn bị sẵn sàng. Ta đã liên tục đánh địch bằng phương châm hai chân, ba mũi tấn công trong đánh ngụy để đánh Mỹ trong càn quét, trong căn cứ, trên đường giao thông thủy, bộ và đã giành được nhiều thắng lợi, góp phần cùng toàn Miền đánh bại hai cuộc phản công chiến lược lớn của Mỹ - ngụy. Việc Thường vụ Khu ủy và Quân khu ủy chỉ đạo mở các đợt tiến công trên mặt trận lộ 4 đánh vào yết hầu của địch, đã dồn chúng vào thế bị động là đúng. Mặt trận lộ 4 và khu vực hai bên lộ 4 đã thu hút, tiêu hao, tiêu diệt một lực lượng lớn quân số và phương tiện chiến tranh của địch, tạo điều kiện cho các nơi trong Khu tấn công và nổi dậy. Đồng thời, những cuộc tiến công của các nơi khác cũng có tác dụng căng kéo địch, chi viện cho mặt trận lộ 4, tiếp tục tạo nên thế chủ động tấn công nổi dậy đồng loạt rộng khắp trong toàn Khu.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Tư, 2014, 09:45:27 PM
III - CÁC TỈNH LIÊN TIẾP ĐÁNH ĐỊCH,
BẢO ĐẢM THÔNG SUỐT CÁC HÀNH LANG TIẾP VẬN

1. Quân dân Bến Tre bẻ gãy kế hoạch bình định trọng điểm, tiêu diệt căn cứ hạm đổi nhỏ của Mỹ trên sông

Bến Tre là chiến trường bình định trọng điểm của địch, là nơi địch giành người và của với cách mạng, đồng thời còn làm tê liệt đầu cầu hành lang tiếp vận của ta từ miền Bắc chi viện cho miền Nam. Mỹ đưa quân vào Khu VIII nhằm thúc đẩy hoạt động bình định ở đây mạnh hơn. Đến năm 1966 số cố vấn Mỹ ở Bến Tre đã lên tới 186 tên. Nhiều tên ngụy dự khóa huấn luyện công tác bình định từ Malaixia về, được đưa về tăng cường. Chúng tích cực đôn quân, bắt lính củng cố các đại đội bảo an đã có, xây dựng mới thêm 10 đại đội và lập tiểu đoàn thứ 4 của Trung đoàn 10 Sư đoàn 7. Biệt kích từ 10 toán tăng lên 40 toán. Những tên đầu hàng phản bội được chúng tập hợp vào tổ chức “tuyên văn” để hỗ trợ cho bọn bình định. Vùng ven biển, chúng tăng thêm một đại đội hải thuyền cho căn cứ Tiệm Tôm, Tân Thủy - Ba Tri. Các chi khu đều xây dựng bãi đáp máy bay trinh sát và trực thăng. Sân bay thị xã được nâng cấp. Tổng số quân ngụy lên đến 12 nghìn tên. Chiến trường được bố trí lại, chia nhỏ thành 24 tiểu chi khu. Chúng đưa những tên ác ôn về thay tỉnh trưởng, thay hàng loạt quận trưởng và chỉ huy các ngành chủ chốt như quân sự, tình báo, công an.

Kèm theo những thay đổi đó, là cường độ chiến tranh tăng lên. Vùng giải phóng Bến Tre bị bom, pháo địch đánh phá thường xuyên - pháo trong tỉnh, pháo từ căn cứ Đồng Tâm, Vĩnh Long, hạm đội 7; bom đủ loại: bom ngày, bom đêm, bom tọa độ, thậm chí chúng ném cả đá xanh. Trực thăng vũ trang soi dọc các con sông, rạch và ven biển. Lực lượng tuần giang, hải thuyền tăng cường hoạt động. Chúng lại rải chất độc hóa học xuống hầu khắp các huyện, tập trung vào ven biển Thạnh Phú, Bình Đại, Ba Tri và dọc các con sông lớn.

Rõ ràng là Mỹ - ngụy đẩy mạnh đánh phá để thúc đẩy cho bình định, đồng thời tập trung đánh phá đầu cầu tiếp vận vũ khí, quân dụng, cán bộ từ miền Bắc vào. Tuy cường độ chiến tranh cao và ác liệt nhưng đồng bào vẫn bám lại, làm công sự vững chắc ở trong vườn hoặc ra đồng trống tạo thế ăn, ở mới. Quân và dân Bến Tre vẫn kiên cường bám trụ và chiến đấu với địch.

Tháng 1 năm 1966, lực lượng thủy quân lục chiến Mỹ, Trung đoàn 10 Sư đoàn 7 ngụy càn quét căn cứ Thới Thuận, Thừa Đức, Bình Đại và các xã ven biển Ba Tri.

Giữa tháng 2 năm 1966, lực lượng thủy quân lịch chiến Mỹ và 2 trung đoàn của Sư đoàn 7 ngụy đánh vào căn cứ Thạnh Phó, Giao Thạnh (Thạnh Phú).

Thường vụ Khu ủy và Quân khu ủy chỉ đạo cho Bến Tre cần phải kiên quyết ngăn chặn các cuộc càn quét lấn chiếm giành dân của địch, tiến công và liên tục tiến công không để địch giành được thế chủ động trên chiến trường.

Đêm 13 rạng ngày 14 tháng 4 năm 1966, Tiểu đoàn 516, Đại đội đặc công và Đại đội trợ chiến của tỉnh tập kích trung tâm huấn luyện Hưng Điền ở các thị xã Bến Tre 2.000 mét về phía đông bắc. Đây là nơi địch tập trung huấn luyện những lực lượng có nhiệm vụ bình định, gồm dân vệ, bảo an và bọn xây dựng nông thôn. Địch gồm 400 tên, là những tên ác ôn có nhiều nợ máu, đã từng đàn áp, bắn giết cơ sở cách mạng. 12 giờ đêm, bộ đội được 2 nội tuyến hướng dẫn đột nhập vào trại, bất thình lình đánh địch. Chúng bỏ chạy tán loạn. Kết quả là 300 tên bị diệt, 96 tên bị bắt sống; ta thu 200 khẩu súng, 2 tấn đạn, phá hủy 3 xe quân sự.

Từ những tháng đầu năm 1966 kéo dài hết năm 1967, địch dồn mọi nỗ lực bình định huyện Ba Tri. Huyện Ba Tri có 17 xã, 90.000 dân, đa số là tín đồ Cao Đài và Công Giáo. Địch quyết giành cho được kho nhân lực, vật lực này. Chúng tập trung 2 tiểu đoàn của Sư đoàn 7, 8 đại đội bảo an, 12 đoàn bình định, 1 chi đoàn xe M113, do đích thân tỉnh trưởng và một tên thiếu tướng từ Sài Gòn xuống điều khiển. Chúng tập trung vào ba xã Mỹ Nhơn, Mỹ Chánh, Mỹ Thạnh và một số ấp của An Bình Tây. Đối với những xã chung quanh, chúng dùng bom, pháo đánh phá và rải chất độc hóa học hủy diệt địa hình. Chúng đánh liên miên từ tháng 4 đến tháng 7 năm 1966, tính ra mỗi ấp trong xã phải đương đầu với một đại đội địch.

Ngay khi địch vừa đến, lực lượng địa phương đã bám đánh. Đảng vận động nhân dân làm ruộng vườn, đấu tranh chống khủng bố, chống bắt thanh niên vào dân vệ, phòng vệ dân sự, chống lập liên gia, làm đồn bốt. Ngay trong tháng đầu, 200 tên địch bị diệt, 2 xe M113 bị phá hủy. Nhưng do địch tập trung lực lượng lớn và ta bị bất ngờ nên trước sức ồ ạt và sự kiên trì của chúng nên phong trào ở một số xã bị núng. Huyện Ba Tri phải sắp xếp lại tổ chức và lực lượng, đẩy mạnh công tác binh vận, nắm tề, chủ ấp, chuẩn bị đấu tranh lâu dài.

Tháng 7 năm 1966, tỉnh tăng cường cán bộ để chỉ đạo chống phá bình định ở trọng điểm Ba Tri. Đồng chí Tư Cường - Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy được đưa về làm Bí thư Huyện ủy Ba Tri. Đồng chí Lê Phát Tân - Tỉnh đội phó, Tham mưu trưởng được lệnh đưa Tiểu đoàn 516 đến phối hợp với địa phương tăng cường hoạt động. Đồng chí Tân hy sinh. Đồng chí Tư Nghĩa - Tỉnh ủy viên, Chính trị viên tỉnh đội thay. Cuộc chiến đấu ở đây diễn ra quyết liệt.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Tư, 2014, 09:46:15 PM
Đễ hỗ trợ cho Ba Tri chống bình định, bộ đội tỉnh, quân địa phương huyện và du kích mở đợt đánh vào các đồn bốt trên các lộ 6, 26 trong các huyện Giồng Trôm, Châu Thành, Mỏ Cày. Cầu Chẹt Sập bị đánh sập, 1 đại đội bảo an bị diệt gọn trong khu phố Mỹ Lồng. Nhưng địch vẫn chưa từ bỏ kế hoạch bình định Ba Tri.

Tình hình diễn ra ở Ba Tri được Khu ủy hết sức quan tâm. Đồng chí Bùi Thanh Khiết - Khu ủy viên, Phó chính ủy Quân khu được Thường vụ Khu ủy phân công cùng đi với Tiểu đoàn 261 và một đại đội pháo của Khu đến hỗ trợ cho Bến Tre.

Theo chỉ đạo đợt Đông Xuân 1966-1967 của Thường vụ Khu ủy, đảng bộ Bến Tre tích cực chuẩn bị mở chiến dịch Bình Đại - Ba Tri.

Đêm 2 tháng 10 năm 1966, 2 đại đội của Tiểu đoàn 516 san bằng 2 đồn ở xã Phú Khánh, huyện Thạnh Phú giáp ranh huyện Mỏ Cày. Ngày hôm sau, ta chặn đánh bọn đi cứu viện trên sông Hàm Luông, bắn chìm và cháy 4 tàu, tiêu hao nặng Tiểu đoàn 41 biệt động quân. Trung đoàn 10 Sư đoàn 7 ngụy càn vào hai xã Bình Khánh, Phước Hiệp, huyện Mỏ Cày, bị diệt 130 tên, hỏng 1 xe M113.

Những tháng cuối năm 1966, tình hình ở Ba Tri đã được cải thiện một bước. Cơ sở các xã đã được phục hồi. Tiểu đoàn 516 luồn sâu diệt được 2 đại đội bảo an ở xã Vĩnh Hòa. Quần chúng phấn khởi, bọn tề co lại. Nhiều thanh niên bị bắt vào phòng vệ dân sự bỏ trốn. Ta bắn cối 60 ly vào chi khu Ba Tri. Trong khi đó, du kích các xã cũng diệt được nhiều địch. Du kích hai xã Phước Tuy, An Bình Tây đánh địch bằng lựu đạn gài. Du kích xã Tân Xuân diệt địch giữa ban ngày. Du kích xã Phú Ngãi đặt mìn định hướng trên cây, diệt được 20 tên. Dù địch cắm lại đây 2 tiểu đoàn chủ lực, 8 đại đội bảo an dài ngày, chúng vẫn không sao ổn định được tình hình.

Đêm 4 tháng 1 năm 1967, chiến dịch Bình Đại - Ba Tri chính thức mở màn. Phân đội đặc công của Tiểu đoàn 261 của Khu diệt đồn dân vệ Châu Hưng. Một bộ phận của Tiểu đoàn 516 tỉnh đánh thiệt hại nặng đồn Giồng Quéo. Quân địa phương huyện Ba Tri và du kích diệt một trung đội “tuyên văn”. Bọn dân vệ và tề các xã chung quanh Châu Hưng đều bỏ chạy. Địch đưa Tiểu đoàn biệt động quân số 32 của khu chiến thuật Tiền Giang, Đại đội bảo an 843 của huyện Bình Đại và Liên đoàn dân vệ Thới Lai tái chiếm Châu Hưng. Đêm 6 tháng 1 năm 1967, 2 tiểu đoàn 261 và 516 vượt sông Ba Lai tiến công Tiểu đoàn biệt động quân 32, tiêu diệt gần hết 2 đại đội và tiêu hao 1 đại đội. Địch lại đưa thêm Đại đội bảo an 994 từ chi khu An Hóa đến. Đêm 8 tháng 1 năm 1967, ta tấn công tiêu diệt số còn lại của Tiểu đoàn biệt động quân 32, đánh tiêu hao nặng Đại đội bảo an. Địch chết và bị thương 300 tên. Ta thu 50 khẩu súng, bắn rơi 1 máy bay lên thẳng, bắn bị thương 1 máy bay Đakôta. Như vậy là trong 5 đêm liền, ta đã ba lần diệt địch tại các xã thuộc các huyện Bình Đại, Ba Tri, Châu Thành. Bọn địch ở các đồn bốt trong vùng rất hoang mang. Bộ đội địa phương, du kích vây ép kết hợp với nội tuyến lấy đồn Vang Quới, bức rút 11 đồn khác, giải phóng hoàn toàn bốn xã Thạnh Tân, Phước Thuận, Thới Lai và Châu Hưng. Phòng vệ dân sự mang nộp hàng chục súng. Chủ ấp, liên gia ra thú tội.

Trong chiến dịch Bình Đại - Ba Tri ta đã tiêu diệt một số lượng khá lớn địch, giải phóng một số xã nhưng chưa thực hiện được mục tiêu kéo bọn chủ lực, bảo an rút ra khỏi trọng điểm bình định tại Ba Tri. Sức tiến công của ta chưa đủ mạnh để buộc địch phải rút lực lượng đang bình định đi ứng cứu. Bộ đội ta lại chưa diệt được địch tại Ba Tri. Quân và dân Ba Tri tuy chưa đánh bại được hoàn toàn âm mưu bình định nhưng cũng cầm chân được một lực lượng lớn của địch, làm cho chúng sa lầy, để các nơi khác có điều kiện diệt địch và phá bình định.

Để thực hiện việc lấn chiếm, tiếp tục bình định các huyện ven biển, triệt phá kho tàng, đầu cầu tiếp vận hàng quân sự của ta từ miền Bắc chuyện vào mà ngụy đã không làm được, Mỹ phải đổ quân vào huyện Thạnh Phú. Chúng chuẩn bị từ hai tháng trước. Chúng cho máy bay trinh sát chụp ảnh, cho tàu nhỏ thọc sâu vào các cửa sông, bãi biển, thăm dò, đo đạc, cài cắm do thám, gián điệp nắm tình hình. Để nghi binh, đồng thời dọn đường trước cho Mỹ chính thức hành động, quân ngụy mở cuộc càn nhỏ do lực lượng của tiểu khu Bến Tre thực hiện, đánh vào các xã An Thạnh, Thạnh Phú, An Quy, lấy tên là “Cửu Long 1”.

Ngày 1 tháng 6 năm 1967, quân Mỹ nhảy vào cuộc với lực lượng gồm 1 lữ đoàn thủy quân lục chiến, một số tiểu đoàn dù, 1 tiểu đoàn Nam Triều Tiên cộng với Trung đoàn 10 Sư đoàn 7 ngụy, bảo an, biệt kích ngụy, tất cả hơn 4.000 tên, có 12 xe M113, 57 tàu chiến của Hạm đội 7, 152 máy bay và hàng trăm khẩu pháo trên Hạm đội 7, đánh vào sáu xã Thạnh Phong, Giao Thạnh, Thạnh Phú, An Quy, An Nhơn, An Thạnh, chính thức mở cuộc càn lấy tên là “Song Thần 5”. Trước khi đổ quân, chúng cho B52 đánh 3 đợt vào xã Thạnh Phong. Lính bộ binh của chúng rất đông, cơ giới, phi pháo tập trung rất cao để chỉ đánh vào một khu vực nhỏ, dân số chưa tới 30.000 người. Tính ra cứ 6 người dân trong vùng bị càn, phải đương đầu với một tên lính Mỹ hoặc ngụy.

Về phía ta, lực lượng ứng chiến có Tiểu đoàn 518 và dân quân, du kích bảo vệ căn cứ. Trước khi địch đổ quân, các đồng chí huyện Thạnh Phú đã chuẩn bị kế hoạch đối phó. Đã có kinh nghiệm của tỉnh Long An nên các đồng chí rất tin tưởng sẽ đánh được Mỹ. Các chi bộ Đảng, du kích và nhân dân ở Thạnh Phú đã qua thử thách trong chiến tranh du kích và đấu tranh chính trị. Tư tưởng ngại đấu tranh chính trị trực diện với Mỹ đã được kinh nghiệm của Long An, Mỹ Tho giải quyết. Xã chiến đấu được củng cố, các bãi mìn, lựu đạn, hầm núp, hầm chông được sửa sang lại kỹ lưỡng. Ở mỗi xã, có từ một tiểu đội đến một trung đội du kích được trang bị khá đầy đủ. Ở mỗi ấp, đều có tổ hay tiểu đội du kích ấp, một số được huấn luyện chuyên đánh mìn và lựu đạn. Nhân dân được hướng dẫn cách củng cố hầm trú ẩn để tránh phi pháo và chuẩn bị cùng với đội quân tóc dài đấu tranh chính trị và làm binh vận với Mỹ.

Ngay khi cánh quân Mỹ vừa đặt chân đến Hồ Cỏ, xã Giao Thạnh, chúng đã bị chặn đánh. Hàng chục tên bị diệt, 1 trực thăng, 1 máy bay ném bom bị bắn rơi, 2 tàu bị cháy và chìm. Chị em thuộc đội quân tóc dài kéo ra chặn lính Mỹ, đấu tranh ngăn chặn không cho chúng ném bom, bắn pháo, phá hầm trú ẩn của dân. Trong ngày hôm đó, đội quân tóc dài đã chặn chúng lại 4 lần, làm chúng tiến quân rất chậm.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Tư, 2014, 09:46:34 PM
Ngày 8 tháng 1 năm 1967, trực thăng đổ quân Mỹ xuống An Nhơn, bị ta bắn cháy 4 chiếc, chúng loay hoay lo cho bọn chết và bị thương nên không đổ tiếp xuống được. Tại xã Giao Thạnh, tổ chiến đấu của công trường huyện dùng bom lép chữa lại đánh tan 1 trung đội Mỹ. Tại cầu Lớn, Khâu Băng, Cồn Chim, Cồn Điệp, Giồng Rao, du kích dựa vào xã chiến đấu kết hợp mìn, lựu đạn, bắn tỉa, bám sát lính Mỹ. Chúng đến đâu cũng bị bắn tỉa, sụp hầm chông, trúng mìn và lựu đạn. Quân Mỹ chẳng biết bộ đội ta ở đâu mà đánh. Khi một tên chết hoặc bị thương là cả bọn xúm lại khóc lóc. Hễ bọn Mỹ khóc thì chị em đội quân tóc dài kích động làm cho lính Mỹ càng khóc nhiều hơn. Các bà, các chị ra dấu hoặc nhờ phiên dịch nói cho lính Mỹ biết là nơi nào cũng có chông, mìn, lựu đạn, bảo chúng cứ ở tại chỗ đừng đi đâu hết. Tại Cồn Tra, 80 chị em đội quân tóc dài chặn bọn Mỹ lại, chúng bị kìm chân tại chỗ cả ngày. Ở Thạnh Phong, 1 tiểu đội Mỹ không chịu hành quân, bọn chỉ huy Mỹ phải xúc chúng lên trực thăng chở đi…

Đến ngày 15 tháng 1 năm 1967, quân Mỹ phải rút khỏi cuộc càn mà không đạt được mục tiêu đã vạch ra. Bộ đội và đồng bào 6 xã đã diệt và làm bị thương 265 tên, trong đó 2 phần 3 là lính Mỹ và có một tên đại tá ngụy, bắn cháy và bắn chìm 3 tàu, bắn rơi và bắn hỏng 14 máy bay, thu nhiều súng đạn. Nhân dân và đội quân tóc dài nổi tiếng của Bến Tre đã đấu tranh bảo vệ tính mạng, tài sản, ngăn chặn cuộc càn và làm sa sút tinh thần lính Mỹ. Đây là lần đầu tiên, quân dân Bến Tre đương đầu với quân Mỹ, cả một lữ đoàn thủy quân lục chiến và nhiều tiểu đoàn lính dù Mỹ, cả lính Nam Triều Tiên và đã thắng lợi.

Từ khi quân Mỹ triển khai ở đồng bằng sông Cửu Long, chúng đã bố trí một lực lượng hành quân đông đảo trên các con sông lớn của Bến Tre. Để đáp ứng nhiệm vụ đánh Mỹ, Bến Tre đã được Khu chỉ đạp gấp rút xây dựng lực lượng tác chiến trên sông.

Cuối tháng 3 năm 1967, lực lượng đặc công thủy của Bến Tre ra quân trận đầu, tập kích căn cứ hạm đội nhỏ trên sông Hàm Luông diệt gần 100 tên Mỹ.

Những tháng cuối năm 1967, lực lượng hành quân Mỹ ở Bến Tre lại bị hai đòn choáng váng: Tại vàm Bến Tre, Mỹ bố trí một tàu sửa chữa cơ động mang số hiệu 833. Nó là một binh công xưởng nổi lớn, có nhiệm vụ sửa chữa các loại vũ khí, phương tiện chiến tranh cho cả Mỹ lẫn ngụy ở vùng 4 chiến thuật. Tàu dài 110 mét, rộng 25 mét. Nơi đây địch canh phòng rất cẩn mật, cứ 5 phút, chúng ném xuống quanh tàu một loạt lựu đạn, mìn hơi. Ít phút, chúng lại cho một dòng điện cực mạnh phóng xuống nước. Trên bờ sông, có bốt Giồng Xoài do một đại đội bảo an đóng giữ, cùng công an, mật vụ theo dõi bảo vệ. Trên trời là trực thăng quần đảo, chung quanh là các tàu tuần tiễu. Khác với đoạn sông Tiền ở ngang căn cứ Đồng Tâm, sông ở nói đây nhỏ hơn, nước chảy mạnh hơn nên dễ tiếp cận.

Đêm 23 tháng 11 năm 1967, các chiến sĩ đặc công đưa hai khối thuốc nổ 200 kilôgam ra sông cặp vào hai bên sườn tàu. Đến 2 giờ đêm, một tiếng nổ lớn dội vào thị xã Bến Tre. Một cột nước cao ngất vọt lên không. Hai bên sườn tàu bị khoét sâu, thành tàu bị đánh vỡ, tàu chìm xuống đáy sông. 300 lính Mỹ, Úc, Tân Tây Lân bị chết, 12 khẩu pháo bị chìm theo tàu. Cho đến mấy ngày sau, đồng bào thị xã Bến Tre và các xã chung quanh không ngớt bàn tán, khâm phục các chiến sĩ giải phóng. Đồng bào tỏa ra mé sông đứng nhìn thỏa thích. Một không khí nặng nè bao trùm các công sử địch. Bọn ác ôn xuống giọng, có tên nói: “Mấy ông ghê quá, tàu Mỹ có máy móc tối tân bảo vệ, có lính gác suốt ngày đêm mà còn bị đánh chìm!”.

Trong lúc dư luận về vụ chiếc tàu sửa chữa của Mỹ bị đánh chìm tại vàm Bến Tre chưa hết thì cụm tàu Mỹ ở vàm Thủ Cửu lại bị đánh. Tại vàm Thủ Cửu, xã Phước Long, trên sông Hàm Luông,có một cụm tàu hải quân của Mỹ, trong đó có 1 tàu lớn mang số 821, dài 110 mét, có 2 khẩu pháo, 6 xe M113 và hàng chục tàu nhỏ bảo vệ, ngày đêm nhả đạn liên tục vào các xã ven sông thuộc hai huyện Mỏ Cày và Giồng Trôm. Máy bay trinh sát liên tục quần đảo trên không. Hôbo gầm rú đe dọa, xé nát mặt nước Hàm Luông. Lựu đạn cứ 5 phút lại nổ ầm ầm dưới sông. Thỉnh thoảng, có chiếc xuồng nào của dân chạy ngang thì hàng chục nòng đại liên lại chĩa thẳng, rà theo, lăm lăm chực nổ súng. Trực thăng thường bất ngờ đổ quân xuống đánh vào các ấp ven sông, hy vọng sẽ chộp được các chiến sĩ đặc công chuyên đánh tàu Mỹ thường xuyên ám ảnh làm cho bọn chỉ huy và binh lính Mỹ mất ăn, mất ngủ.

Trong khi đó, ở xã Phước Long, mặc bom đạn càn quét ác liệt hàng ngày, sự chuẩn bị âm thầm của các chiến sĩ đặc công và của nhân dân vẫn tiến tới. Chị Năm, ông bà Bảy, bà Chín ngày nào cũng đi chợ Bến Tre. Ai tò mò hỏi thì ông Bảy trả lời:

- Đi mua ván về đóng máng cho heo ăn.

Hỏi thì để hỏi, chớ đồng bào ai cũng biết nhưng không ai xì xầm với nhau để giữ bí mật kế hoạch. Người ta chỉ nhìn ông Bảy với ánh mắt thân thương gởi gắm. Cứ vậy, mọi vật dụng khác được mua về. Tại nhà của ông Tư và ông Tám là hai anh em ruột, ở sát nhau, đêm đêm các chiến sĩ đánh tàu làm mọi công việc chuẩn bị một cách khẩn trương.

Đêm 29 tháng 12 năm 1967, sau một tiếng nổ dữ dội, căn cứ nổ dữ dội, căn cứ nổi của quân Mỹ trên sông Hàm Luông tại vàm Thủ Cửu đã chìm nghỉm dưới đáy sông, kéo theo các tàu nhỏ và các phương tiện chiến tranh, xe pháo và 200 lính Mỹ. Các chiến sĩ đặc công sau khi hoàn thành nhiệm vụ đã trở về căn cứ an toàn.

Liền sau trận đánh, chi bộ xã Phước Long tổ chức lực lượng tấn công chính trị và binh vận. Đội quân tóc dài của xã đã kéo ra thị trấn Giồng Trôm, thị xã Bến Tre loan báo tin chiến thắng và đấu tranh ngăn chặn địch càn quét, khủng bố trả thù.

Sáng hôm sau, 30 tháng 12 năm 1967, sau khi lực lượng đấu tranh chính trị của đội quân tóc dài đã lên đường ra thị trấn và thị xã thì 1 đại đội bảo an được trực thăng chở tới để truy tìm đặc công đã đánh tàu. Chúng bị bà con hù dọa, giữ chân ở ngoài ruộng đến ngày thứ ba. Khi bọn Mỹ vớt hết xác lính chết và trục vớt chiếc tàu bị đắm lên, được lệnh rút, chúng kéo nhau lên trực thăng chuồn thẳng.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Tư, 2014, 09:47:02 PM
2. Kiến Tường đập tan các kế hoạch của quân Mỹ, bảo vệ hành lang tiếp vận thông suốt

Bước vào chống chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ, Kiến Tường có nhiệm vụ giữ vững, củng cố và mở rộng hành lang chiến lược - căn cứ để giải quyết các nhu cầu cho chiến trường trọng điểm của Khu nên càng trở nên cực kỳ quan trọng. Trong khi đó, bàng mọi cách, với lực lượng lớn hơn hẳn trước, địch càng quyết tâm đánh phá hành lang và căn cứ Kiến Tường. Để làm được việc đó, chúng tung lực lượng ra chốt chặn dọc theo biên giới Campuchia, sông Vàm Cỏ Tây, kênh Dương Văn Dương, lộ 29, vùng 4… Chúng ra sức gom dân, lập vành đai trắng, tăng cường độ bom pháo, rải chất độc hóa học, tung biệt kích, sử dụng hạm đội nhỏ, thuyền bay hoạt động liên tục trên các tuyến kênh rạch và trên đồng nước.

Theo chủ trương của Khu ủy, một trong những việc lớn mà các cấp ủy Đảng Kiến Tường phải làm là chống lập vành đai trắng, tiếp tục giữ thế hợp pháp đấu tranh của dân. Ở Bến Tre, Mỹ Tho, Long An, đồng bào tránh bom pháo ác liệt bằng cách tản ra đồng dựng nhà, đào hàng vạn công sự, hầm trú ẩn chống phi pháo để bám trụ lại. Còn ở Đồng Tháp Mười, vùng địch tự do oanh kích, quần chúng bị địch coi là cộng sản, bị phân biệt đối xử thì phải óc phương châm, phương thức đấu tranh khác. Theo quy định của chính quyền ngụy, nơi đây dân chúng đi giăng câu, cày, gieo gặt lúa trên đồng đều phải được phép của tề và phải cắm cờ ngụy.

Khu gom dân ở Gãy Cờ Đen có trên 100 ngôi nhà dựng dọc kênh Dương Văn Dương, kênh Tư Mới và kênh 6 tháng 1. Từ bốt địch ra ngôi nhà xa nhất là 1 kilômét. Nhà cất đơn sơ, nhà này cách nhà kia cả trăm mét. Bà con cố ý dựng nhà thưa. Địch dồn ép dân co vào ở sát đồn, dân đấu tranh: Phải ở thưa ra để còn có chỗ nuôi heo, nuôi gà; có chỗ làm hầm trú ẩn. Nhưng thật ra, đồng bào dựng nhà thưa để xa tầm quan sát của đồn, phá thế lập vành đai trắng, vùng oanh kích tự do để du kích, bộ đội bám vào. Địch ép dân vào liên gia, phòng vệ dân sự và phát súng cho dân. Súng đó lại nằm trong tay đảng viên, quần chúng nòng cốt, quần chúng cảm tình với cách mạng canh gác, bảo vệ cán bộ, du kích, bộ đội và diệt gián điệp giữ thế làm chủ.

Lúc dân mới bị gom vào, địch quản lý rất chặt, không ai được đi đâu hết. Bà con đấu tranh, buộc địch phải cho bung ra làm ăm, giăng câu, giăng lưới. Bọn dân vệ, bảo an cũng muốn bà con đi bắt cá bán cho chúng để cải thiện bữa ăn. Xã ủy lãnh đạo dân không đem cá đến báo cho lính, làm cho chúng phải ăn mắm muối, tương, chao suốt khiến chúng càng bất mãn. Cuối cùng, địch phải nới lỏng cho dân bung ra giăng câu cả ngày lẫn đêm. Như vậy là vành đai trắng bị xóa.

Tới mùa khô, bà con cũng làm như thế để cắt lúa và gieo sạ. Người vùng ngoài thấy làm ăn được, mua máy cày loại lớn vào cày mướn. Máy cày trở thành phương tiện vận tải hậu cần, chở vũ khí từ Khu đi ngang qua Đồng Tháp Mười xuống các chiến trường Long An - Mỹ Tho.

Kiến Tường là tỉnh nằm giữa Đồng Tháp Mười, có diện tích là 271.500 hécta. Kiến Tường rất thưa dân, cho đến năm 1966, dân số Kiến Tường chỉ có hơn 4 vạn người. Sông Vàm Cỏ Tây bắt nguồn từ Campuchia chảy qua thị xã Mộc Hóa, đổ vào tỉnh Long An ra biển Đông. Sông rộng 300 mét, rất thuận tiện cho tàu bè cỡ vừa đi lại.

Đến năm 1965, quân số của địch ở đây đã lên đến 7.000 tên, gồm 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 10, Sư đoàn 7, 1 tiểu đoàn biệt động quân biên phòng, 1.755 bảo an, 1.805 dân vệ, 625 thanh niên chiến đấu và hàng chục đại đội biệt kích. Với hệ thống trung tâm biệt kích Cà Vàng Đông Phục - Bản Đô - Đốc Binh Kiều ở Kiến Phong; Mỹ Phước Tây ở Mỹ Tho; Măng Đa, Thái Trị, Nồi Gọ, kênh Bà Của, kênh Quận, Nhơn Xuyên ở Kiến Tường; Hiệp Hòa, Quéo Ba ở Long An địch đã hình thành mạng lưới dày đặc biệt kích giăng kín khắp Đồng Tháp Mười và án ngữ tuyến biên giới Campuchia. Một con chủ bài rất lợi hại nữa được chúng tung ra là thuyền bay và hạm đội nhỏ để khống chế trên sông rạch và trên đồng nước. Chúng có hai căn cứ thuyền bay: một ở thị xã Cao Lãnh - Kiến Phong, một ở thị xã Mộc Hóa - Kiến Tường. Tổng số có đến hàng trăm chiếc. Còn căn cứ hạm đội nhỏ (giang thuyền) thì đặt ở Nhơn Xuyên trên sông Vàm Cỏ Tây và Thạnh Lợi ở trên kênh xáng An Long cách Gãy Cờ Đen hơn 1 kilômét. Thuyền bay có gắn 2 máy phản lực nên có thể chạy lượt như bay trên đồng nước với tốc độ đến 50-70 km/giờ. Trên mỗi thuyền bay có gắn súng đại liên ở mũi thuyền, có thể xoay trở dễ dàng. Trừ tên lái và tên bắn đại liên, 4 tên còn lại trang bị vũ khí bộ binh.

Về phía ta, ngoài Tiểu đoàn 504 bộ binh của tỉnh và các binh chủng, các đại đội vùng và lực lượng du kích mạnh ở xã, ấp, còn có Chiến đoàn 1 gồm 3 tiểu đoàn của Khu hoạt động ở khu vực lộ 4, trong đó có vùng 4 Kiến Tường và 2 tiểu đoàn 267, 269 hoạt động ở khu vực phía bắc lộ 4 Long An và phía đông Kiến Tường.


Tiêu đề: Re: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Tư, 2014, 09:48:11 PM
Cuối năm 1965, địch tăng cường độ đánh phá. Chúng liên tục đánh phá các tuyến hành lang, cướp vũ khí, đạn dược, hàng hóa của ta. Chúng đánh sâu vào các căn cứ Thạnh Phước, Bình Hòa, Bình Phong Thạnh và tiến vào chiếm căn cứ Tà Lọt, Trắp Tre. Tại vùng 8, chúng đóng quân từ gò Ông Lẹt đến Cái Sắn, đánh lên Sông Trăng, ngăn chặn và kiểm soát khu vực biên giới. Tại vùng 4, chúng tăng cường lực lượng ngăn chặn tuyến kênh Dương Văn Dương. Ngoài ra, chúng còn dùng bom napan, chất độc hóa học hủy diệt rừng tràm, làm cho toàn tỉnh không còn khoảnh rừng nào nguyên vẹn đến 1 hécta.

Hoạt động ngày càng gia tăng của lực lượng biệt kích cùng với mật độ và cường độ đánh dữ dội của không quân, pháo binh địch đã gây cho ta nhiều khó khăn. Đặc biệt là gây trở ngại lớn cho việc chuyển vũ khí, đạn dược từ các kho hậu cần của Khu từ biên giới đi ngang qua Đồng Tháp Mười xuống chiến trường. Vấn đề đặt ra là các lực lượng của ta phải bám lại được, bẻ gãy các mũi đánh phá lấn chiếm, biệt kích của địch, không để cho chúng tự do tung hoành, đồng thời diệt cho được bọn bình định.

Để thực hiện thắng lợi, Khu tăng cường cho tỉnh Tiểu đoàn 267 cùng với lực lượng tỉnh thực hiện việc đánh các điểm then chốt, đẩy lùi các mũi tiến công của địch.

Đêm 13 tháng 11 năm 1965, sau một thời gian kỳ công theo dõi, nghiên cứu, Đại đội 1 Tiểu đoàn 504 và đơn vị 408 vùng 8 diệt đại đội biệt kích địch đóng ở gò Ông Lẹt, xã Vĩnh Thạnh (bọn này được đưa ra đóng dã ngoại để bảo vệ căn cứ Măng Đa và đánh vào hành lang của ta. Chúng hoạt động rất tích cực, đã gây cho ta nhiều tổn thất. Chúng có 80 tên, 4 cố vấn Mỹ, nơi trú quân có công sự và hàng rào bảo vệ, được pháo binh của căn cứ Măng Đa yểm trợ). Địch chết và bị thương 70 tên, ta thu 41 súng, có 2 súng cối. Đây là trận thắng lớn đầu tiên của ta đối với lực lượng biệt kích do Mỹ huấn luyện, trang bị và chỉ huy ở Kiến Tường.

Đêm 19 tháng 12 năm 1965, Tiểu đoàn 267 và Đại đội 1 Tiểu đoàn 504 diệt đồn Thạnh Phước do 1 đại đội tăng cường của địch đóng giữ. Đây là căn cứ yểm trợ hành quân mạnh, hết sức quan trọng đối với địch trên một dãy biên giới vùng 6. Do đó, địch cố hết sức giữ và ta cố diệt cho kỳ được. Địch bố trí ở đây 3 khẩu pháo. Hàng trăm gia đình dân bị gom về ở quanh đồn làm hàng rào và bị bọn tề điệp khống chế chặt chẽ. Chúng chết và bị thương 120 tên. Đêm 29 tháng 1 năm 1966, cùng với lực lượng trên ta diệt đồn Thạnh Phước lần thứ 2. Lần này, chúng chết và bị thương 125 tên. Ngày 19 tháng 3 năm 1966, căn cứ này bị Tiểu đoàn 267 và lực lượng tỉnh diệt lần thứ 3. Sau lần này địch mới chịu bỏ căn cứ.

Ngày 13 tháng 2 năm 1966, Đại đội 1 Tiểu đoàn 504 cùng du kích đánh đồn bảo an Tân Lập, diệt 1 trung đội địch. Sau đó, ta tiến công đồn bảo an Tuyên Thạnh, diệt 2 tiểu đội.

Ngày 13 tháng 2 năm 1966, Đại đội 1 Tiểu đoàn 504 cùng du kích đánh đồn bảo an Tân Lập, diệt 1 trung đội địch. Sau đó, ta tiến công đồn bảo an Tuyên Thạnh, diệt 2 tiểu đội.

Tháng 3 năm 1965, du kích xã Thạnh Phước chặn đánh một bộ phận quân Mỹ đang hành quân trinh sát khu vực này, chúng bị thiệt hại nặng.

Tóm lại, trong mùa khô năm 1966, lực lượng của tỉnh, vùng và du kích, có sự hỗ trợ của lực lượng Khu, liên tục diệt biệt kích và đánh vào căn cứ yểm trợ hành quân của chúng. Các xã và các cơ quan tích cực củng cố xã chiến đấu, tăng cường công sự, hầm hố chông mìn, lựu đạn. Du kích các xã chia ra từng tổ, từng tiểu đội đeo bám, đánh địch. Lần nào cũng bung ra đi biệt kích, lùng sục cũng có tên bị chết, bị thương. Tinh thần của chúng suy sụp dần. Sang năm 1967, tinh thần bọn biệt kích ngày càng sa sút. Nhiều trung đội biệt kích khi phải đi càn chỉ ra khỏi căn cứ, tìm chỗ nằm im rồi về báo cáo láo với bọn chỉ huy và cố vấn Mỹ.

Song song với sử dụng biệt kích, địch đưa thuyền bay vào hoạt động. Nhưng chiến thắng này nhanh chóng bị vô hiệu hóa. Mùa nước năm 1965, nhiều lần thuyền bay của chúng đánh vào vùng giải phóng vùng 8 sát biên giới Campuchia. Chúng chia làm 2 mũi. Mỗi mũi 5-6 chiếc. Mũi từ Vàm Đồn lên, mũi từ Sông Trăng xuống, theo sông Cái Cỏ. Nhược điểm của thuyền bay là vỏ thuyền làm bằng chất dẻo nên dễ bị bắn thủng, chòng chành dễ lật. Lính địch trong thuyền phơi từ lưng trở lên làm mồi cho đạn bắn, tiếng máy chạy lại vang rất xa, cách 3-4 kilômét đã nghe thấy, nên mất yếu tố bất ngờ. Lần đầu tiên đến, chúng chạy như bay giữa sông. Đơn vị 408 và du kích nổ súng. Chiếc đi đầu bỏ chạy luôn, 4 chiếc đi sau 3 chiếc bị chìm, không kịp bắn trả, chiếc còn lại rướn lên bờ lăn quay, bọn lính nhảy xuống sông, bị ta diệt sạch. Ta chiếm được 1 chiếc nguyên vẹn, thu toàn bộ vũ khí.

(https://lh3.googleusercontent.com/9Jy0xhZjxwqIm6R5sApD7xyA9aAtJxcYIudeY_QevBKmKxpwlZtXntriQBQQBJGqkkVKSv-zTl3HiQONLciJXAyymaTZOrKJELYM8L-fe8LOY5SvWGKC6JpKaIeqb4pidgAQIqpVw8cNgVQ8Mud0HSXrnfKu_UDMkCDhLEtghVPB3JMWT4rFBF9JItrxqQlZJXUICCBs4NamkwryASiRaOjqfvTIe1YyPJtHiupuv3pgdttj6P5xW5gZp63xsZkPAusyaWgpLXQLxKNdthqEycBe13gqAyclA4BGzUfgY8JTC2IVkIyDFYI-hvaSxfMG0_Bt8PlWhUSKWYPsK4urDllIZSf3xYoYhA5rUiTveMbZEwl5RbK_Nhp3H8vB9s3oi1KMgr1KgCDfTXiakwDbujszyji90vo4H_Bir47WC491o5k4CBNA0qJV0VEFz8dhY8xlGTu5DC5b0VdTs_F3tVxJ2O5i2wp9FJp9xnvN5RqvpMNVfrIBR-1YigqLr15GtKPWmHzltvl_6FWnHBK_JSIYNo7ydPR77K90AVdojkkG4z-8awkJuZ1YO7aa6CNXBwsD3w5XLBXJ0SUz0JtC3IbEouWBIwXRDG54MYAYHhm-jwoJulbU=w800-h532-no)

Thuyền bay của địch trên sông Mê Kông 1965


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Tư, 2014, 09:49:19 PM
Sau thất bại này, thuyền bay chỉ dám chạy giữa đồng trống, không dám xáp vào những rặng cây hoặc chạy vào các con sông nữa.

Năm 1966 nước lũ dâng cao hơn mọi năm. Bộ đội tỉnh và vùng phân tán từng trung đội, cùng du kích bám trong dân để đánh địch. Lợi dụng nước cao, bọn thuyền bay lại bung ra, du kích lại có dịp lập công. Trong mùa nước này, ta diệt và chiếm được 20 chiếc, phần lớn là do du kích trực tiếp thực hiện. Du kích Bình Phong Thạnh diệt 3 chiếc, bắt sống 1 chiếc. Trận đánh ở kênh Bích, xã Tân Ninh, ta diệt 3 chiếc, bắt sống 1 chiếc. Gần như trận nào ta cũng chiếm được 1 chiếc còn nguyên vẹn vì bọn lính nghe tiếng súng hoảng quả dồn về một phía, thuyền bị lật chìm.

Quân Mỹ hoạt động ở Kiến Tường bàng lực lượng hạm đội nhỏ. Hải quân của chúng hoạt động rất tích cực trên kênh Dương Văn Dương, kênh xáng An Long và sông Vàm Cỏ Tây, ngăn chặn hành lang tiếp vận của ta và yểm trợ cho các cuộc hành quân của ngụy đánh vào các xã giải phóng ở vùng 4, dọc theo trục lộ 29 và nam bắc kênh Dương Văn Dương.

Mùa nước lũ năm 1966, lực lượng ba thứ quân của Kiến Tường đã diệt 35 đồn địch, thu hàng trăm súng. Nhiều đồn địch phải bỏ chạy khi nước rút.

Cuối năm 1966 đầu năm 1967, quân Mỹ trực tiếp đến Rạch Kiến - Long An và Đồng Tâm - Mỹ Tho. Thường vụ Khu ủy đặt niềm tin vào Kiến Tường. Hướng Gò Công có thể bị địch tái chiếm nhưng ảnh hưởng không lớn đến lực lượng của Khu và của hai tỉnh Mỹ Tho, Bến Tre. Nhưng nếu địch chiếm được Kiến Tường, các đường tiếp vận hành lang bị trở ngại thì sức chiến đấu trên chiến trường trọng điểm của Khu và hai tỉnh sẽ bị suy giảm.

Sau khi khắc phục nhiều khó khăn do địch gây ra trong năm 1966, bước vào năm 1967, Kiến Tường vươn lên đánh địch dồn dập.

Mở đầu mùa khô, Đại đội 1 của tỉnh cùng với đặc công, du kích tập kích diệt 2 trung đội địch đóng dã ngoại ở Cả Quảng Cụt và Xẻo Cỏ thuộc xã Tân Lập. Bọn này án ngữ phía đông và tây thị xã Mộc Hóa. Đây là trận đánh táo bạo ở vùng ven, được đồng bào và cơ sở tích cực hỗ trợ. Sau trận đánh, bọn chỉ huy địch ở Kiến Tường cũng như bọn tề, chủ ấp, liên gia đều rất hoang mang. Còn quần chúng nhân dân thì rất phấn khởi.

Từ tháng 3 đến tháng 10 năm 1967, Tiểu đoàn 267 của Khu và các lực lượng của tỉnh, của vùng và du kích liên tục diệt địch. Nhiều đồn địch bị diệt, như: Bình Châu, Chùa Nổi, Cả Đôi, vàm Bắc Chan, Cả Sậy, Cả Cốc, Cả Quảng Dài, Cả Rưng, Bắc Hòa, Cà Nhíp, Nhà Thờ Lá, Kinh Cò, Cống Biện Minh, Rạch Chùa. Trong đó có đồn bị diệt 4 lần như đồn tam giác thuộc cấp tiểu đoàn Bình Châu; bị diệt hai lần như các đồn Chùa Nổi, Cái Đôi. Cùng với thắng lợi quân sự, mũi đấu tranh chính trị của đội quân tóc dài và mũi binh vận hoạt động tích cực. Hàng trăm lính địch được đồng bào vận động đào ngũ, đưa đi bằng xuồng băng đồng nước ra lộ 4 trở về với gia đình. Nhiều gia đình binh lính kéo ra thị xã Mộc Hóa đòi chồng, con. Không khí binh sĩ hoang mang bao trùm thị xã.

Cuối năm 1967, lực lượng vũ trang ta áp sát thị xã. Ngày 2 tháng 11 năm 1967, Đại đội 1 Tiểu đoàn 504 cùng với phân đội đặc công, biệt động vùng 2 và du kích Bình Hiệp đánh đoàn bình định và trung đội cảnh sát dã chiến ở Gò Dưa bắc thị xã, diệt 59 tên, thu 41 khẩu súng.

Sáng ngày 29 tháng 11 năm 1967, phân đội công binh, đặc công vùng 2 đột nhập vào khu pháo binh địch, đặt chất nổ phá hủy một pháo 105, đánh sập nhà tên chỉ huy và 2 bốt, làm 19 tên chết và bị thương. Cùng đêm, dinh tỉnh trưởng bị pháo kích, nhiều tên bị chết. Tỉnh trưởng, phó tỉnh trưởng sợ quá, đêm không dám ngủ ở nhà. Bọn tề điệp tan rã, nhiều lính đào ngũ.

Ở vùng 4, địch không bình định được, Sư đoàn 7 ngụy bị căng kéo dọc lộ 4. Đồn bốt bị vây bằng mìn, lựu đạn, đồng bào trở về bám ruộng vườn. Lộ 29 nối Mộc Hóa xuống lộ 4 qua Cai Lậy cũng bị cắt cùng với lộ 4. Địch phải đưa một tiểu đoàn lính Nam Triều Tiên càn giải tỏa. Ở dọc kênh Dương Văn Dương, du kích làm chủ suốt ngày đêm.

Tháng 12 năm 1967, Đại đội 1 Tiểu đoàn 504 tập kích căn cứ Mỹ ở Nhơn Xuyên. Địch bị thiệt hại nặng. Căn cứ này đã nhiều lần bị tập kích bằng Đạn DKZ75, lần nào cũng bị thiệt hại. Sau lần tập kích này thì bọn Mỹ bỏ luôn căn cứ này. Ta mở thêm các căn cứ lõm ở khu vực Thuận Nghĩa Hòa.

Như vậy là, trong hai cuộc phản công chiến lược của Mỹ, mặc dù với lực lượng ít hơn hẳn so với địch, lực lượng vũ trang tập trung của Kiến Tường cùng với ba mũi ở cơ sở, với sự hỗ trợ tích cực của lực lượng Khu đã đánh tê liệt các mũi biệt kích, thuyền bay và hạm đội nhỏ trên sông của Mỹ-ngụy, đánh bại các cuộc càn quét, giữ được hành lang căn cứ, bảo đảm nhiệm vụ của Khu giao.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Tư, 2014, 09:50:55 PM
3. Kiến Phong đánh thắng cuộc phản công chiến lược của Mỹ - ngụy, giữ vững hành lang Đông Tây

Kiến Phong nằm hai bên bờ sông Tiền, có biên giới giáp Campuchia, dài 52 kilômét. Trong cuộc chiến đấu giữa ta và quân Mỹ ở đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 1965 - 1968, Kiến Phong nằm bên cảnh phải của trận đồ đánh bại các mũi phản công chiến lược của Mỹ, đồng thời được Khu giao nhiệm vụ bảo vệ hành lang Đông Tây. Kiến Phong có diện tích 3.440km2 gồm 6 huyện, trong đó có 5 huyện nằm ở bờ bắc sông Tiền thuộc Đồng Tháp Mười. Dân số có nửa triệu người, trong đó một phần năm là đồng bào theo đạo Hòa Hảo, tập trung ở huyện Chợ Mới, nam sông Tiền.

Năm 1965, địch tăng thêm cố vấn Mỹ và nhiều cụm pháo binh đến chi khu. Ngoài pháo trong tỉnh, địch còn có pháo ở Cái Bè và pháo cơ động của căn cứ Bình Đức ở Mỹ Tho cũng đánh vào đất Kiến Phong. Địch còn tăng thêm căn cứ hạm đội nhỏ trên sông ở Thạnh Lợi, trên kênh xáng An Long, lập căn cứ thuyền bay ở thị xã Cao Lãnh, đánh phá gom dân vào các khu dọc theo các kênh Nguyễn Văn Tiếp A, Nguyễn Văn Tiếp B. Chúng lập thêm các căn cứ biệt kích ở Đốc Binh Kiều, Cá Vàng, Thầy Hai Tiểu. Túc trực thường xuyên ở thị xã Cao Lãnh là 1 trung đoàn của Sư đoàn 9 ngụy. Ở huyện Chợ Mới là vùng địch khống chế chặt chẽ, chúng lập phòng vệ dân sự, mỗi xã hàng trăm người. Thanh niên, phụ lão (tuổi 60) đều bị bắt vào phòng vệ dân sự. Mỗi ấp, xóm đều có xây nhà phát thanh tuyên truyền giáo lý đạo Hòa Hảo.

Đặc điểm của chiến trường Kiến Phong là ta đánh nhỏ liên tục. Địch chiếm đóng không sâu vào Đồng Tháp Mười mà chỉ dọc theo các con sông Sở Thượng, Sở Hạ, cặp biên giới Campuchia, dọc kênh xáng An Long, kênh Nguyễn Văn Tiếp, kênh 4 mới, dọc lộ 30 và ven sông Cửu Long.

Trong năm 1966, tuy chiến trường Kiến Phong chưa có quân bộ binh Mỹ hoạt động nhưng cường độ chiến tranh đã tăng gấp bội. Địch mở nhiều cuộc phản kích đánh mạnh vào vùng giải phóng, nhiều cuộc càn dài ngày cấp trung đoàn, có máy bay B52 ném bom rải thảm, máy bay rải chất độc hóa học hủy diệt địa hình…

Ngày 5 tháng 4 năm 1966, Đại đội 1 Tiểu đoàn 502 diệt 1 đoàn biệt kích công dân vụ ở rạch Cái Tre, xã Bình Thành, huyện Thanh Bình, diệt 18 tên địch, bắt sống 3 tên, thu 10 khẩu súng.

Ngày 18 tháng 7 năm 1966, đặc công tỉnh cùng một bộ phận của Tiểu đoàn 502 vượt sông Cái Sao Thượng và sông Cao Lãnh đánh sân bay Tân Tịch, phá hủy 2 máy bay L19, diệt 30 tên địch, thu 20 khẩu súng, trong đó có 3 trung liên.

Ngày 4 tháng 9 năm 1966, Tiểu đoàn 502 và đặc công nước diệt đồn cấp trung đội Hai Lúa ỏ cánh đồng xã Phong Mỹ, thu toàn bộ vũ khí.

Cũng trong tháng 9 năm 1966, nhân dịp nước lên cao, Tiểu đoàn 502 cùng trung đội quân địa phương huyện Thanh Bình và đặc công nước đánh đồn Láng Thượng, tiêu hao địch nặng, nhưng chưa dứt điểm được. Sang tháng 10 năm 1966, đồn bị ngập nước, sụt lở, ta dùng hỏa lực cường tập đánh lần thứ hai, diệt gọn.

Trong năm 1966, Kiến Phong đánh tất cả 584 trận, hạ nhiều đồn, địch chết và bị thương 2.300 tên, trong đó có 54 tên Mỹ; 6 xe quân sự, 6 xe M113; bắn cháy 7 tàu; bắn rơi 20 máy bay.

Bước sang năm 1967, hai huyện Mỹ An, Kiến Văn nằm trong mặt trận lộ 4, các tiểu đoàn của Khu thường xuyên có mặt. Cường độ chiến tranh ở đây tăng lên hết sức ác liệt. Nhiều cuộc càn quét của địch với lực lượng 1-2 trung đoàn, sử dụng cơ giới với mức cao; có lúc chúng huy động tới 40 xe M113, 20 thuyền bay, 100 tàu, 30 lượt máy bay ném bom trong một ngày; rải chất độc hóa học, chà đi xát lại dài ngày.

Ngày 29 tháng 3 năm 1967, một trung đoàn của Sư đoàn 9 ngụy càn vào xã Đốc Binh Kiều thuộc huyện Mỹ An yểm trợ cho việc đóng căn cứ biệt kích, cách thị trấn Mỹ An 4 kilômét. Bọn biệt kích này rất hung hăng, đánh liên miên vào vùng giải phóng của ta ở hai huyện Mỹ An và Kiến Văn, đánh tới cả Cao Lãnh, Thanh Bình. Hoạt động của chúng nằm trong kế hoạch bình định kênh Nguyễn Văn Tiếp để chia cắt các lực lượng vũ trang của Khu ở chiến trường trọng điểm với hậu phương, đồng thời bảo vệ an toàn từ xa cho lộ 4. Đốc Binh Kiều vốn là vùng có phong trào du kích mạnh và là địa bàn căn cứ của các lực lượng vũ trang Khu, nên khi vào chiếm, địch rất tàn bạo. Chúng chặt hết cây cối, khủng bố bắt dân dỡ hết nhà gom dân vào gần đồn để lập vành đai trắng. Chi bộ Đảng địa phương theo dõi, biết trong số lính địch và cả trong bọn chỉ huy của chúng, có những tên có gia đình ở ngay trong xã và xã lân cận. Các đồng chí mời các gia đình đó đến khuyên họ đi thuyết phục chồng, con em mình đừng bắt bớ, làm khó dễ dân. Một chị bị địch bắt dẫn về đồn. Nhiều chị em vợ lính kéo đến đòi thả về cho bằng được.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Tư, 2014, 09:52:35 PM
Bà con liên tục kéo đến quận Mỹ An đấu tranh đòi được tự do bung ra làm ăn. Đồng bào làm chòi trên ruộng đất của mình. Cuối cùng không còn vành đai trắng.

Căn cứ biệt kích này không duy trì được 4 tháng. Đêm 13 tháng 7 năm 1967, Tiểu đoàn 261 của Khu, Tiểu đoàn 502, quân địa phương huyện Mỹ An đã mở trận đánh tiêu diệt căn cứ. Liên tiếp trong hai tháng 7 và 8 năm 1967, lực lượng Kiến Phong tổ chức đánh sau lưng địch những đòn choáng váng.

Đêm 3 tháng 7 năm 1967, Tiểu đoàn 502, đặc công biệt động thị xã Cao Lãnh đánh căn cứ thuyền bay, cách cầu đúc Hòa An 500 mét, diệt 60 tên, trong đó có 20 tên Mỹ, 20 thuyền bay bị phá hủy.

Đêm 13 tháng 8 năm 1967, Tiểu đoàn 502, bộ đội đặc công tỉnh và biệt động thị xã diệt căn cứ hành chính tiếp vận tiểu khu do hơn một đại đội bảo an đóng giữ. Địch chết và bị thương 157 tên, ta thu 53 khẩu súng các loại và nhiều quân trang, quân dụng.

Tiếp đó, 20 chiến sĩ biệt động thị xã Cao Lãnh, đánh một trận xuất sắc, tập kích 1 đại đội của Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 15 Sư đoàn 9 ngụy đóng dã ngoại, diệt 73 tên, bắt sống 22 tên, thu 34 khẩu súng, 4 máy thông tin. Địch tổ chức truy kích nhưng bị mũi chính trị của đội quân tóc dài của ta ngăn trở. Các chiến sĩ rút lui an toàn.

Tháng 8 năm 1967, địch đưa về căn cứ Bản Đô, xã Thường Thới Tiền, huyện Hồng Ngự, gần biên giới Campuchia 1 đại đội thuyền bay 12 chiếc, do một tên Đại úy Mỹ chỉ huy. Mục tiêu đánh phá của chúng là vùng căn cứ của Khu, nằm cách bờ sông Sở Thượng 5 kilômét. Phía Việt Nam, vẫn còn đồng bào ở dọc theo sông, phía Campuchia đồng bào Việt ở đông đúc. Địch đánh vào mùa nước lên, bờ sông bị ngập, chỉ còn ít gò và nền nhà cao có thể làm công sự. Trong khoảng dài 5 kilômét, dọc theo sông có 7 con rạch đổ ra đồng, thuyền bay có thể chạy được. Từ căn cứ của chúng vào sông Sở Thượng, địch phải qua một cánh đồng nước sâu, rộng 10 kilômét.

Từ khi đội thuyền bay đến Thường Thới Tiền, ta đã có kế hoạch đánh chúng. Lực lượng tác chiến là bộ phận quân địa phương và du kích xã, ấp của 4 xã căn cứ, tổng cộng là 40 tay súng.

Tám giờ sáng ngày 11 tháng 9 năm 1967, địch chia làm 2 mũi đánh vào. Mũi chính 8 chiếc, chạy vào mương Ba Nguyên nhưng bị vướng cản và bị bắn rát, phải quay lại rạch Vọp. Tám giờ 45 phút, chúng ra được sông Sở Thượng, chạy về phía nam, vừa chạy vừa bắn dữ dội vào hai bên bờ. Bộ đội địa phương nổ súng. Hai chiếc bị bắn hỏng. Chúng quay trở lại, khi qua rạch Cái Sách chạy được ra đồng thì 1 chiếc nữa bị bắn hỏng. Chúng phải bỏ lại 3 chiếc. Mũi thứ hai loay hoay ngoài đồng, nhập với số còn lại của mũi thứ nhất chạy về căn cứ.

Toàn trận, địch chết và bị thương 15 tên, trong đó có 1 tên cố vấn Mỹ. Ta thu toàn bộ trang bị trên 3 chiếc chúng bỏ lại, trong đó 2 chiếc gần như còn nguyên vẹn. Những chiếc chạy thoát của mũi một đều bị trúng đạn. Xem như mũi chính bị ta đánh tan tác. Sau trận này, đội thuyền bay chỉ dám chạy ngoài đồng trống, xem như mất tác dụng. Du kích, quân địa phương và vũ khí nhẹ cũng diệt được chúng.

Sau những thất bại trên lộ 4 ở Mỹ Tho trong năm 1967, bọn chỉ huy Mỹ - ngụy thực hiện ý đồ mới nhằm lấn sâu vào Đồng Tháp Mười bằng cách đánh thọc sườn.

Ngày 4 tháng 12 năm 1967, lực lượng vũ trang Kiến Phong đã đánh thắng một trận oanh liệt, vang dội, bẻ gãy cả một mũi bao gồm cả thủy lục không quân lớn, cấp lữ đoàn của Mỹ, giáng cho chúng một đòn choáng váng. Một giang đoàn Mỹ gồm 80 tàu chiến lớn nhỏ chở một lữ đoàn của Sư đoàn 9 Mỹ và bọn bình định ngụy tiến vào Rạch Ruộng và kênh Nguyễn Văn Tiếp B. Cả lính ngụy và Mỹ trên tàu có đến 3.000 tên. Chúng chuẩn bị đủ súng đạn, lương thực, thuốc men, các phương tiện khí tài quân sự cho một cuộc đánh phá dài ngày và chiếm đóng một vùng rộng lớn. Đây là một quyết tâm lớn của chúng mà cũng là một hành động hết sức liều lĩnh. Chúng đã sử dụng cả một hạm đội đi sâu vào kênh rạch nhỏ.

Từ nhiều năm trước, Tiểu đoàn 502, các đội du kích và cán bộ cơ sở, quần chúng đã chuẩn bị sẵn sàng khi bắt được dấu hiệu chúng thọc vào căn cứ. Vũ khí đánh tàu được bổ sung. Hai đại đội của Tiểu đoàn 502, trung đội vệ binh tỉnh và một tổ B41 được bố trí trên một tuyến dài 2.000 mét dọc bờ kênh huyện Mỹ An, tỉnh Kiến Phong, bên kia là xã Thanh Hưng, huyện Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho. Đại đội 3 Tiểu đoàn 502 bố trí sau cánh đồng để đánh bọn đổ quân. Quyết tâm của ta là chặn không cho chúng tiến vào Ngã Sáu.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Tư, 2014, 09:55:04 PM
Mặt trời vừa mọc, chiếc OV10 trinh sát tọa độ xiết vòng quanh, một trận pháo dữ dội dọn đường cho tàu địch tiến vào. Nước đang lớn nên tàu chạy rất nhanh. Nước dưới kênh nổi sóng tràn lên bờ, nước lọt vào công sự của các chiến sĩ. Mặt trời mới lên, không khí còn dịu mát nhưng tiếng pháo, tiếng máy tàu gầm rú, tiếng súng nổ liên hồi, tiếng phi cơ trinh sát, trực thăng quần đảo sát như nung núng có một vùng. Những dàn đại liên bắn như vãi trấu, đạn cắm phùm phụp vào bờ. Những tên lính mặt đỏ gay, mắt láo liên, tay lăm lăm súng AR15. Tuy ta im lặng, nhưng chúng biết đã vào vùng nguy hiểm.

Hai mươi chiếc đã vượt qua khóa đầu vào trận địa. Những chiếc tàu to tướng, lù lù chạy qua trước mắt các chiến sĩ.

Mười giờ 30, phần lớn đội hình địch đã lọt vào ổ phục kích. Súng lệnh nổ, những viên đạn DKZ, B40, B41 tới tập vọt ra khỏi nòng, bắn cháy những chiếc tàu xám xịt, tua tủa họng súng và chở đầy lính Mỹ và ngụy. Trên đoạn dài 2.000 mét, lửa bốc ngùn ngụt khắp mặt sông, khói đen mù mịt. Tiếng súng lớn nhỏ nổ rát rạt, DKZ, B40, B41, AK tấn công xen lẫn đại bác, đại liên, AR15, M79 chống trả.

Một đoàn trực thăng đổ quân xuống cánh đồng Cai Lân, cứu viện cho quân Mỹ đang bị bao vây. Nhưng Tiểu đoàn 41 biệt động quân và một tiểu đoàn của Sư đoàn 7 ngụy từ máy bay đổ xuống chỉ nằm tại chỗ, không dám tiến khi lực lượng chặn viện của ta nổ súng.

Trận đánh hết sức quyết liệt. Tàu địch vẫn ngoan cố tiến vào dù đã hàng chục chiếc bị bắn cháy và chìm. Cho mãi đến khi một chiếc tàu chở quân lớn bị bắn quay ngang, chìm chặt bít con kênh Nguyễn Văn Tiếp B thì bọn Mỹ mới chịu thua. Chúng dừng lại, xin lệnh bọn cấp trên cho điều tàu trục vớt tới cấp cứu và rút lui. Mãi ba ngày sau, chúng mới tạm thu dọn xong hậu quả. Trong trận chiến đấu này, có đồng chí Nguyễn Minh Trí, chiến sĩ B41 của ta đã bắn 9 quả đạn, hạ gục 8 chiếc tàu, trong đó có chiếc bị bắn chìm nằm cản ngang kênh làm chúng bị nghẽn không tới lui được. Đồng chí đã hy sinh. Trận đánh đã đem lại tổn thất lớn cho địch: 37 chiếc tàu bị bắn cháy và chìm, 1.400 tên trên tàu bị diệt. Ngoài ra, bọn đi cứu viện cũng bị diệt 200 tên. Đây là trận thắng lớn nhất, có hiệu quả cao nhất về đánh phá cơ giới, phương tiện và tiêu diệt sinh lực địch. Điều quan trọng là ta đã đánh bại địch trong lúc chúng đang hành quân và làm cho chúng phải bỏ cuộc giữa chừng.

Trong năm 1967, Kiến Phong đã loại khỏi vòng chiến đấu 6.058 tên địch, trong đó có 1.013 tên Mỹ và Nam Triều Tiên; đánh hỏng, cháy, chìm 39 tàu, 40 thuyền bay; bắn rơi và hỏng 17 máy bay; đánh hỏng và phá hủy 28 xe quân sự; san bằng, bức rút 13 đồn; phá hủy một kho 150 khẩu súng, làm cháy 3 kho xăng chứa 200.000 lít; thu 300 khẩu súng. Kết quả này gần gấp 3 lần năm 1966.

(https://lh3.googleusercontent.com/kvfMCsAyfplN-gxqcMP2ptVjRC_ryGPzzRqpq9wCri0DlWBHf0cdAzCvkjK6ApeoWVCoIzzy0faKr-7HRqOrdcMKl3wmh0lskE_acWKfsNDcY52rK9aYTFKA2s6HuWH4DdE1x4mSQ_IjX-ODuEjL9n-_-dNusNx4f6PLjsuqcNjxWrlig9NZCcuWgh8e7Wv1wXaJiD33bSg2wNPGgJ56OpKFfcKpl16tfgsNTbyQsWQPny3mj3461wFQDxHekdrmq3MYZhv4OqTTAu2lRszAHffa1O7ybiSLd8GZHACJXtAruNv-Dam1Yo6dvoXTaboEHEjHfzUwdNVJVDtmxf8WbqZvZhxvOAxqTHmrBfKssJqQ-jRmBuX9OillaPkTLBEJ44OFV3B3D0WvA78S2Idat5i-94lMSUPhG_mpAoJWvY7yv0niVxtd5VkMvPVt2yYzHoFEXlRacZLn3n_3OHMDj9CAL77Ea57SQBVqP1gFPT6wO7pMGJClpr-DMlXzIWB8WWx4glksX-iPrhSOYsmzH4IgyphtpWOE1sPZrxd0W6dZWd5aFtXIR3L3RiZz51xX-wJd9i73RWguXMm__Gxmb8_iYDxTaaL71M54rk3N-KMK2rPC0MiQ=w800-h473-no)

Nhân dân Đồng Tháp Mười dùng xe trâu chuyển vũ khí phục vụ cho chiến trường Quân khu VIII trong kháng chiến chống Mỹ


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Tư, 2014, 09:56:03 PM
4. An Giang giữ vững hành lang chiến lược, đẩy mạnh đấu tranh chính trị ở vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc và tôn giáo

An Giang có vị trí chiến lược quan trọng, là nơi duy nhất có vùng Bảy Núi, lại nằm trên biên giới Việt Nam - Campuchia là nơi diễn ra sự tranh chấp quyết liệt giữa ta và địch để duy trì và mở rộng hành lang tiếp vận từ Miền về Khu IX, bảo vệ hành lang từ Khu xuống tỉnh để giữ vững địa bàn căn cứ của tỉnh và nơi đứng chân của lực lượng lớn làm bàn đạp tiến xuống Khu IX. An Giang đã bẻ gãy các mũi tiến công lấn chiếm bình định của địch ở khu vực Châu Đốc và đẩy mạnh mũi tấn công chính trị trực diện với địch, vận động đồng bào dân tộc Khơme và đồng bào tôn giáo ở những vùng sâu.

Cuối năm 1965, Khu mở Hội nghị chiến tranh du kích tại căn cứ B1 Tân Châu, do đồng chí Lê Quốc Sản - Ủy viên Thường vụ Khu ủy, Tư lệnh Quân khu chủ trì. Với An Giang, yêu cầu của Hội nghị là rút kinh nghiệm cuộc chiến đấu vừa qua của ba thứ quân và đề ra phương hướng nhiệm vụ cho phong trào chiến tranh du kích của tỉnh sắp tới để đối phó với “chiến tranh cục bộ” của địch, trong đó việc xây dựng, củng cố lực lượng vũ trang và xây dựng đường hành lang của An Giang là những nhiệm vụ chủ yếu.

Trong năm 1965, trên địa bàn Châu Đốc, địch đã mở 6 cuộc hành quân cấp sư đoàn, 15 cuộc cấp tiểu đoàn và 375 cuộc đánh phá cấp đại đội. Qua năm 1966, địch tiến hành 377 cuộc hành quân, trong đó có nhiều cuộc cấp sư đoàn. So với năm 1965 thì số cuộc hành quân không nhiều hơn, nhưng bom đạn ác liệt hơn. Trong năm 1966, địch đã thực hiện hàng trăm phi vụ ném bom sát thương và rải chất độc hóa học ở nhiều vùng.

Vượt qua ác liệt, lực lượng vũ trang An Giang đánh địch ở cả ba vùng, tiêu hao, tiêu diệt nhiều địch, giữ vững các địa bàn hành lang và duy trì phát triển chiến tranh du kích trong vùng yếu và ven thị xã, thị trấn. Theo tài liệu của địch, chúng thừa nhận năm 1965, hoạt động của ta nhiều hơn năm 1964 là 218 lần và ta kiểm soát chi phối 21/57 xã ở Châu Đốc; có đến 50% dân huyện Huệ Đức, Long Xuyên do Mặt trận dân tộc giải phóng kiểm soát.

Trong ba năm, từ năm 1965 đến năm 1967, quân và dân An Giang đã tấn công và nổi dậy đánh hàng trăm trận lớn nhỏ ở vùng căn cứ Bảy Núi và ở vùng đồng bằng, làm địch bị thất bại trong âm mưu lấn chiếm vùng giải phóng và các vùng khác, giữ vững cơ sở cách mạng trên 40 xã. Tiêu biểu là các trận:

Tháng 1 năm 1965, ta diệt một trung đội bảo an ở cao điểm Núi Tượng - Ba Chúc.

Ngày 15 tháng 10 năm 1965, ta diệt Đại đội bảo an 685 ở dốc núi Bà Đắt - Thới Sơn.

Ngày 26 tháng 3 năm 1966, ta phá hủy đồn Đầm Chích, Vĩnh Điền, Tịnh Biên, diệt 1 trung đội địch.

Ngày 7 tháng 8 năm 1966, ta phục kích diệt tên Thiếu tá Long - Chi khu trưởng Tri Tôn tại dốc núi Bà Đội.

Cùng thời gian này, ta đánh bại nhiều cuộc càn quét dài ngày cấp sư đoàn của địch vào căn cứ Bảy Núi, như: Cuộc càn quét từ ngày 30 tháng 9 đến ngày 6 tháng 10 năm 1966 vào núi Dài và Núi Tô, do tướng Lâm Quang Thi - Tư lệnh khu 41 chiến thuật chỉ huy; cuộc càn quét kéo dài liên tục trong 24 ngày đêm trong tháng 4 năm 1967 của 2 sư đoàn 9 và 21 ngụy cũng vào những vị trí trên. Quân ta bám Núi Dài đánh trả địch, chiếm lại vùng giải phóng Lương Phi, diệt hàng trăm tên, bắn cháy 4 xe M113.

Ở vùng nông thôn đồng bằng, chiến sự cũng diễn ra quyết liệt. Quân ta, với số lượng không đông nhưng dũng cảm và mưu trí đã làm cho địch thiệt hại nặng. Tiêu biểu là những trận:

Ngày 10 tháng 1 năm 1965, quân địa phương Châu Thành, Huệ Đức cùng biệt động thị xã Long Xuyên đánh càn trên kênh Hai Trân, bắn chìm 2 tàu, diệt 27 tên địch.

Ngày 20 tháng 5 năm 1965, hai chiến sĩ biệt động thị xã Long Xuyên và một chiến sĩ du kích xâm nhập vào nơi đóng quân của 2 đại đội chủ lực, diệt 2 cố vấn Mỹ và làm bị thương 7 lính ngụy.

Đêm 7 rạng ngày 8 tháng 9 năm 1966, quân địa phương Châu Thành, Huệ Đức và du kích Bình Hòa phá cầu Mặc Cần Dưng và phục kích bọn đi tiếp viện. Ta bắn chết tên Đại úy quận trưởng và 10 lính ngụy, giải tán và thu súng của một toán thanh niên chiến đấu.

Nhưng trong thắng lợi chung, cũng có một số trận ta bị thiệt hại, như trận đầu bờ Núi Sam, do nắm không vững thực địa nên ta không diệt được đồn, lại bị hy sinh 13 người, bị thương 17 người, bị bắt 1 người. tối 29 tháng 8 năm 1965, đặc công và trinh sát đi điều tra nghiên cứu chi khu Tân Châu, sáng không rút ra kịp, địch phát hiện, 8 người hy sinh, trong đó có 1 chính trị viên đại đội. Mùa khô năm 1966, Khu đưa Tiểu đoàn 267 đến An Giang tăng cường cho lực lượng của tỉnh bảo vệ hành lang. Tháng 4 năm 1967, Tiểu đoàn 267 cùng bộ đội tỉnh mở chiến dịch Xuân Hè, đánh địch ở Vĩnh Xương, Khánh Bình, Khánh An, Phú Hội… Trận cầu số 5 (Phú Hội), Tiểu đoàn bị thương vong nặng, phải rút về Khu.

Trong thời gian này có sự kiện quan trọng là Đại đội 52 tân binh ngụy đang huấn luyện ở căn cứ Chi Lăng khởi nghĩa. Trong đại đội này ta có 20 cơ sở, trong đó có 5 đảng viên do binh vận Mỹ Tho đưa lên. Chiều ngày 6 tháng 7 năm 1966, các binh sĩ khởi nghĩa bắn chết tên sĩ quan huấn luyện và kéo ra căn cứ Núi Cấm, tất cả 175 người và 40 khẩu súng. Trước khi khởi nghĩa, các đồng chí đã vận động được 600 tân binh đang huấn luyện tại Chi Lăng đào ngũ.

Từ năm 1965, An Giang có nét nổi bật là đấu tranh chính trị ngày càng mạnh. Phong trào mạnh ở cả nông thôn và đô thị, nhất là trong học sinh và công nhân lao động. Ngoài đấu tranh lẻ, có những cuộc đấu tranh tập trung của lực lượng chính trị thuộc đội quân tóc dài đông đến hàng trăm, hàng ngàn người, kéo ra đấu tranh trực diện với đồn bốt, với quận, có cả đồng bào Việt, Khơme, cả sư sãi, đồng bào lương, tín đồ Hòa Hảo, Hiếu Nghĩa, Công giáo, gia đình binh sĩ và cả binh sĩ cùng đồng tình.

Những cuộc đấu tranh tiêu biểu từ năm 1965 đến 1967 là:

- Ngày 15 tháng 10 năm 1964, 200 đồng bào Việt, Khơme cùng 20 sư sải và A cha xã Văn Giáo khiêng ba em bé bị thương do pháo địch bắn, kéo ra căn cứ núi Đất Tịnh Biên tố cáo địch. Địch phải đưa các em đi chữa trị.

- Ngày 29 tháng 4 năm 1965, 400 đồng bào Khơme ở Ô Lâm, An Tức - Tri Tôn kéo ra quận đấu tranh chống ném bom, bắn pháo, đòi bồi thường sinh mạng và tài sản, đòi chấm dứt càn quét.

- Ngày 8 tháng 10 năm 1965, hàng trăm đồng bào Ba Chúc - Tịnh Biên khiêng xác người bị pháo bắn chết ra đồi núi Tượng đòi bồi thường. Sau đó, lại tiếp kéo kéo ra bốt cầu sắt Vĩnh Thông. Tại đây viên xếp bốt phải cho xe chở đồng bào ra quận đấu tranh.

- Tháng 4 năm 1966, 32 nông dân xã Định Mỹ - Huệ Đức đấu tranh chống lại một số người dựa thân thế ngụy quyền cướp đất. Lính đồn đồng tình, bắt số cướp đất giải về tỉnh.

- Ngày 30 tháng 5 năm 1966, 1.200 đồng bào Việt và Khơme kéo ra quận Tri Tôn đấu tranh chống rải chất độc hóa học, chống bắn pháo vào xóm làng.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Tư, 2014, 09:56:45 PM
Ở thị xã Long Xuyên, Châu Đốc và các thị trấn có những cuộc đấu tranh tiêu biểu là:

- Đêm rạng 18 ngày 19 tháng 1 năm 1965, học sinh trường Thoại Ngọc Hầu, Long Xuyên rải truyền đơn, căng 6 bích chương lớn trên 2 dãy nhà nêu khẩu hiệu: “Đả đảo đế quốc Mỹ và tai sai đàn áp học sinh”, “Tinh thần Trần Văn Ơn bất diệt!”, “Đế quốc Mỹ cút khỏi miền Nam!” và một số khẩu hiệu đòi dân sinh, dân chủ. Sáng hôm sau, có gần 4.000 học sinh và đồng bào tụ tập thành cuộc mít tinh lớn.

- Ngày 9 tháng 3 năm 1965, 100 công nhân xây dựng bệnh viện Long Xuyên đấu tranh chống chủ thầu Mỹ đuổi 6 công nhân, buộc tỉnh trưởng phải hứa can thiệp nhập lại.

- Ngày 7 tháng 7 năm 1965, bọn địch ở Tân Châu bắt anh Bảo - thợ mộc, tra tấn đến chết và liệng xác xuống sông. 3.000 đồng bào thuộc đủ các tầng lớp, có cả công chức, binh lính, khiêng xác anh đến quận, đòi bồi thường nhân mạng, biến thành cuộc tuần hành vòng quanh thị trấn. Đến chi cục cảnh sát, đồng bào tràn vào đập phá. Địch đưa lính đến đàn áp. Đồng bào càng căm thù chúng, đấu tranh quyết liệt hơn.

- Tháng 1 năm 1966, học sinh trường Thoại Ngọc Hầu bãi khóa, lên án hiệu trưởng khủng bố học sinh.

- Tháng 9 năm 1966, địch lấy đất của dân làm căn cứ quân sự ở thị xã Long Xuyên, 3.000 đồng bào làm đơn phản đối, buộc địch phải bỏ kế hoạch này. Cũng trong tháng 9 năm 1966, địch đuổi đồng bào khỏi nhà ở khu vực Trần Minh. Đồng bào chống lại. Địch tổ chức đốt. Đồng bào đấu tranh buộc chúng phải bồi thường.

- Trong hai tháng 10 và 11 năm 1967, hàng ngàn học sinh các trường trong thị xã Châu Đốc xuống đường đấu tranh chống bắt lính, chống khủng bố.

Qua hai năm (1966-1967) đối phó với “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ, Khu VIII - Trung Nam Bộ trực tiếp chiến đấu với Sư đoàn 9 bộ binh Mỹ, một sư đoàn chính quy, hiện đại được huấn luyện kỹ, được trang bị những phương tiện chiến tranh hiện đại và khổng lồ của một đội quân tự cho là mạnh nhất thế giới, chưa từng bị thua trong chiến tranh. Sư đoàn 9 Mỹ vào cùng với quân ngụy ở chiến trường Khu VIII làm cho tương quan lực lượng về quân sự của ta và địch có sự chênh lệch lớn, nhất là chúng có ưu thế tuyệt đối về phương tiện chiến tranh. Cường độ, tính chất ác liệt của chiến tranh được đẩy lên mức cao, làm cho cuộc sống và chiến đấu của nhân dân và các lực lượng vũ trang gặp rất nhiều khó khăn. Địch có gây cho ta những thiệt hại về người và của. Nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, của Trung ương Cục miền Nam và của Khu ủy Khu VIII, quân và dân Khu VIII đã phát huy thế chủ động chiến trường được tạo ra trong cuộc Đồng khởi và trong “chiến tranh đặc biệt”, đã dũng cảm vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, ác liệt, nắm vững tư tưởng tiến công, quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ nên đã mưu trí, sáng tạo trong tiêu diệt quân Mỹ và làm tan rã quân ngụy. Từ chỗ đẩy mạnh diệt ngụy làm suy yếu thêm chỗ dựa trước khi Sư đoàn 9 Mỹ vào, đã chuẩn bị mọi mặt để sẵn sàng đánh Mỹ với quyết tâm và khí thế rất cao. Khu ủy Khu VIII còn tăng cường cán bộ, đảng viên trung kiên, dũng cảm đến những địa bàn khó khăn, ác liệt nhất, củng cố, nâng sức chiến đấu và lãnh đạo của các chi bộ, tổ chức và bố trí lực lượng thích hợp, thiết lập các vành dai bao vây, tiêu hao, tiêu diệt quân Mỹ; tạo thế ăn ở công khai, hợp pháp cho nhân dân, để tiếp tục tiến công địch bằng ba mũi quân sự, chính trị và binh vận bằng những phương pháp thích hợp; đã tỉm ra cách đánh quân Mỹ phù hợp thực tế chiến trường đồng bằng, sông nước.

Do có sự chuẩn bị kỹ về các mặt tư tưởng, tổ chức cho nhân dân và các lực lượng vũ trang, chuẩn bị cách đánh của bộ đội và du kích; với phương thức tiến công quân sự, chính trị, binh vận theo tinh thần chủ động, tích cực tấn công quân Mỹ, tìm ra cách đánh Mỹ thích hợp, bám sát Mỹ mà đánh nên đã hạn chế được thương vong vì bom đạn của Mỹ. Do đó, ta đã giành được thắng lợi bước đầu quan trọng và có ý nghĩa trong đánh quân Mỹ ở chiến trường đồng bằng Khu VIII.

Về tiến công quân sự, ta phát huy sức chiến đấu của các thứ quân: du kích, bộ đội địa phương, bộ đội tập trung tỉnh, chủ lực Khu và các binh chủng công binh, đặc công (bao gồm cả lực lượng đánh dưới nước), pháo binh tổ chức thành những pháo chốt và cụm pháo… có du kích (bao gồm cả du kích mật), có biệt động trong thị xã, thị trấn và nhân dân tham gia chiến đấu vũ trang… Vì vậy, ta đã tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch (cả Mỹ lẫn ngụy), phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, kho tàng của Mỹ, làm thất bại chiến thuật “hạm đội nhỏ” và “thuyền bay” của Mỹ. Ta đã chủ động đánh địch trong căn cứ, tổ chức đánh liên tục trên lộ 4 kéo quân Mỹ, ngụy ra để tiêu hao, tiêu diệt sinh lực chúng và thu hút, kiềm chân địch trên lộ 4 để hỗ trợ cho đánh phá bình định. Từ chỗ tiêu hao, tiêu diệt lẻ tẻ, đến tiêu diệt từng đại đội và tiểu đoàn quân Mỹ khi chúng hành quân hoặc đóng dã ngoại.

Về đấu tranh chính trị, từ chỗ bỡ ngỡ ban đầu, từ đấu tranh lẻ tẻ, ta đã tập hợp được đông đảo chị em phụ nữ dũng cảm chặn xe thiết giáp Mỹ, ngăn chặn pháo không cho chúng bắn phá hủy hoại hoa màu, ruộng vườn, xóm làng. Nhân dân, bộ đội và du kích bám trụ sản xuất và chiến đấu, phá kế hoạch lập vành đai trắng của Mỹ. Từ chỗ ra tranh thủ, tuyên truyền đến việc tự học tiếng Anh để đấu tranh trực diện với Mỹ, hạn chế sự tàn bạo của lính Mỹ; tranh thủ lôi kéo chỉ huy ngụy quân, ngụy quyền đồng tình đấu tranh với Mỹ để bảo vệ quyền lợi của dân. Hình thức đấu tranh chính trị trực diện với quân Mỹ phát triển từ thấp đến cao và ngày càng có hiệu quả tấn công quân sự.
 
Về công tác binh vận, ta đã làm cho lính Mỹ lo sợ, hoang mang, nhớ nhà, từng bước nhận ra sự phi lý của việc Mỹ đến gây chiến tranh ở Việt Nam, nên từ chỗ làm cho lính Mỹ tiêu cực trong hành quân càn quét, hạn chế lùng sục, từ chỗ phản chiến lẻ tẻ, đến chỗ phản chiến tập thể không chịu lên máy bay đi bắn phá… Đặc biệt là đồng bào đã khoét sâu mâu thuẫn giữa lính Mỹ với lính ngụy, đẩy mạnh công tác binh vận đối với quân ngụy, vận động được nhiều binh lính đào, rã ngũ và kéo từng tiểu đội, trung đội, đại đội ngụy trở về với cách mạng.
 
Như vậy là trong giai đoạn Mỹ - ngụy tiến hành chiến lược “chiến tranh cục bộ” quân và dân Khu VIII đã tiếp tục phát triển thế tấn công địch trên cả ba mặt quân sự, chính trị và binh vận để giành thắng lợi có hiệu quả, làm thất bại các mục tiêu “tìm diệt” và “bình định” của Mỹ - ngụy ở chiến trường Khu VIII, góp phần cùng toàn Miền đánh bại hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 và 1966-1967 của địch, tạo ra thế mới, tạo điều kiện mới để quân và dân ta tiến lên giành thắng lợi to lớn hơn trong giai đoạn sau.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Tư, 2014, 08:57:36 PM
IV - TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968

1. Tình hình trước tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968

Sau hai cuộc phản công chiến lược của địch (1965-1966 và 1966-1967) thực tế chiến trường miền Nam nổi lên tình hình: mọi cố gắng của đế quốc Mỹ trong chiến lược “chiến tranh cục bộ” đã đến đỉnh cao nhưng địch đã thất bại về nhiều mặt, trên cả phạm vi chiến lược, chiến dịch và chiến thuật, cả quân sự, chính trị và ngoại giao (đầu năm 1967 ta mở mặt trận ngoại giao). Đó là thất bại của giai đoạn đầu, rất quan trọng trong chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ.

Do bị thất bại nặng nề trên chiến trường Việt Nam và trước dư luận rộng rãi trên thế giới ngày càng lên án, phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, phong trào chống chiến tranh xâm lược Việt Nam phát triển ngày càng rộng lớn ngay trong lòng nước Mỹ. Giới cầm quyền Mỹ bắt đầu dao động, lúng túng, nhưng vẫn ngoan cố tiếp tục tăng quân, chuẩn bị kế hoạch mở cuộc phản công chiến lược lần thứ ba với 120 vạn quân, trong đó có 50 vạn quân Mỹ.

Tình hình trên chiến trường lúc này rất phức tạp. Mĩ đã thua to nhưng vẫn chưa từ bỏ âm mưu tiếp tục chiến tranh xâm lược Việt Nam. Ta đã thắng lớn nhưng chưa làm chuyển biến cơ bản cục diện chiến tranh có lợi cho ta. Tình hình đó đòi hỏi ta phải có quyết sách mới.

Các Hội nghị Bộ Chính trị nửa cuối năm 1967, nhất là Hội nghị tháng 12 năm 1967 đã ra Nghị quyết về Tổng công kích - tổng khởi nghĩa, sau đó được Hội nghị Trung ương 14 (tháng 1 năm 1968) nhất trí thông qua đều chỉ rõ: Cuộc kháng chiến của ta lúc này cần phải và có thể tạo một bước chuyển lớn giữa đế quốc Mỹ đang ở thế ngập ngừng về chiến lược, giới cầm quyền Mỹ đã dao động và trong thời điểm rất nhạy cảm của năm bầu cử tổng thống Mỹ, để chuyển cách mạng và chiến tranh cách mạng miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ giành thắng lợi quyết định; phải tạo được một bước ngoặt lớn của cuộc chiến tranh và dùng phương pháp tổng công kích - tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định.

Muốn đạt được yêu cầu đó, Trung ương nhận thấy ta không thể tiến từng bước, tuần tự… như những năm trước, và cũng không thể đánh theo cách cũ như Đông Xuân trước,… vì như vậy thì cuộc chiến tranh sẽ kéo dài. Ta phải tạo một bước nhảy vọt bằng chọn hướng chiến lược hiểm và dùng cách đánh mới. Đó là cách đánh chưa từng diễn tra trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - tính đến thời điểm này, khiến cho Mỹ - ngụy không hề nghĩ tới và cũng không thể nghĩ tới. Những điểm mới trong cuộc tiến công lần này là:

- Hướng tiến công chủ yếu không phải là rừng núi và nông thôn, mà là đô thị, trọng điểm là Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế, nơi địch đang sơ hở, cũng là nơi dễ nhạy cảm và tạo sôi động lớn.

- Mục tiêu tiến công chủ yếu không phải là các tập đoàn quân chủ lực địch mà nhằm vào các cơ quan đầu não chiến tranh của Mĩ - ngụy, các trung tâm chỉ huy, các hậu cứ, vừa tiêu diệt sinh lực, vừa phá hủy phương tiện chiến tranh của địch. Đây là chỗ hiểm yếu, dễ chấn động nhất.

- Không gian tiến công không phải chỉ một vài vùng, mà toàn Miền, tiến hành đồng loạt trên quy mô rộng lớn nhất từ trước đến nay.

- Thời gian tiến công không vào các thời điểm thông thường thường mà vào giữa đêm giao thừa Tết nguyên đán, lúc bất ngờ nhất.

- Phương châm đánh địch vẫn là kết hợp tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng nhưng trên diện rộng ở cả ba vùng chiến lược trong toàn miền, thực hiện kết hợp tổng công kích và tổng khởi nghĩa,v.v.

Tất cả các mặt trên đây đều nhằm một mục tiêu: giáng cho địch một đòn mạnh và hiểm, bất ngờ và đồng loạt, làm cho Mĩ phải lung lay ý chí xâm lược, tạo nên sự thay đổi cơ bản cục diện chiến tranh, có lợi cho ta.

Ở khu VIII - Trung Nam Bộ, cuối năm 1967, Thường vụ Khu ủy nhận được Nghị quyết của Bộ Chính trị Trung ương Đảng về tiến hành cuộc tổng công kích - tổng khởi nghĩa. Trước ngày nổ ra cuộc tổng công kích - tổng khởi nghĩa một tháng, đồng chí Nguyễn Minh Đường - Bí thư Khu ủy được triệu tập đến Trung ương Cục và Quân ủy Miền nhận nhiệm vụ. Khi trở về, đồng chí Bí thư Khu ủy đã chủ trương triệu tập và chủ trì Hội nghị Thường vụ Khu để quán triệt quyết tâm chiến lược của Trung ương, sự chỉ đạo của Trung ương Cục và Quân ủy Miền đối với chiến trường Khu VIII - Trung Nam Bộ. Khi giao nhận nhiệm vụ ở Trung ương Cục, phổ biến về dự kiến khả năng, đồng chí Phạm Hùng - Bí thư Trung ương Cục, Bí thư Quân ủy Miền chỉ thị cho Khu VIII chỉ được phổ biến khả năng thứ nhất: làm dứt điểm các đô thị, thị xã, thị trấn để các nơi nắm vững quyết tâm chiến lược, tập trung cao cho khả năng thứ nhất. Khi nào cần phải chuyển qua khả năng thứ hai thì bám trụ vùng ven. Khả năng thứ ba là chuyển ra giải phóng nông thôn thì phải có quyết định của Trung ương Cục mới được thi hành.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Tư, 2014, 08:58:20 PM
Hội nghị Thường vụ Khu ủy đã nhất trí cao với quyết tâm chiến lược của Trung ương, tuy có băn khoăn trong đánh giá tương quan địch - ta ở chiến trường Khu VIII - Trung Nam Bộ là nơi tuy có phong trào mạnh, nhưng khả năng dứt điểm các thị xã, thị trấn theo khả năng thứ nhất thì còn nhiều hạn chế do lực lượng quân sự và thế cách mạng quẩn chúng tiến công của thị xã, thị trấn tại chỗ chưa đủ sức. Tuy có băn khoăn, lo lắng nhưng Khu vẫn quyết tâm thực hiện nhiệm vụ trên giao và đã khẩn trương tiến hành công tác chuẩn bị với những nỗ lực và cố gắng cao nhất.

Về tổ chức chiến trường:

Thị xã Mỹ Tho được xác định là trọng điểm số 1 của Khu. Do vậy, Trung ương Cục ra quyết định nâng cấp từ thị xã lên thành phố ngang cấp tỉnh. Đồng chí Nguyễn Thanh Hà - Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy Mỹ Tho được giao nhiệm vụ Bí thư Thành ủy.

Hai huyện Gò Công Đông và Hòa Đồng tách khỏi tỉnh Mỹ Tho, trở thành tỉnh Gò Công, do nữ đồng chí Ngọc Việt - Khu ủy viên làm Bí thư Tỉnh ủy; là trọng điểm thứ hai của Khu nằm ven Sài Gòn.

Tỉnh Long An tách khỏi Khu VIII, được giao về trực thuộc Miền. Cùng với việc bàn giao toàn bộ lực lượng của tỉnh Long An, Khu VIII giao về Miền 3 tiểu đoàn bộ binh chủ lực mạnh của Khu là các tiểu đoàn 265, 267 và 269 với đầy đủ quân số, vũ khí, cán bộ chỉ huy có năng lực và có kinh nghiệm tác chiến.

Để chỉ đạo tấn công nổi dậy ở trọng điểm 1, Thường vụ Khu ủy quyết định thành lập Phân ban Khu ủy, do đồng chí Nguyễn Văn Chim - Phó bí thư Khu ủy là Trưởng phân ban, và Quân khu thành lập Bộ tư lệnh tiền phương, do đồng chí Nguyễn Văn Sĩ - Tư lệnh phó, Tham mưu trưởng Quân khu làm Tư lệnh và đồng chí Bùi Thanh Khiết - Khu ủy viên, Phó chính ủy Quân khu làm Chính ủy.

(https://lh3.googleusercontent.com/vq7FHlSWeyiwEkKr-C06uT5KFOsR5yp4AR0TMPS1_jzIhbOLOPFfAPwrt44guQmAEuf9LDdM6LiPNI14sr1VrDO8iHzBpGpXwZAF5SqaW5K7EHNqw3dX7GNwSTExDGlTimmSyo5b2ZNXHQNeNB0YQP1Q2ncG3KW8udCjf4S6U5F3o2eIsGRHrgt4CCbPGweqba-RJScbEsJPLSa3P2pzhQh2neWqClrQ6WapNhrO4nsYkzCeKytkC0HzdGHewJaUsQ_eWUErsbGlmuW3hQa79-8yL8TnbD2mTSzlm4JaRYrPlpQCTBCB-ECvGiK44v8AuwjL64JkTrDOhGCALRDcKDHqc3hIzyPi56gDH2Nw5ILShlr5hKvlW0KXWXPBAtO3b2ddpr4VZC3qEZMBkuk4Fk2Ovw_ZRxFJcR8A0iOlnLE2ohLyhLIMYNh6rd54FkdtUZHSEbx6WQVKDWcQ97oGoy5IIQhdQxOMjjmjP6Z0A1i3a7pwuW9GbFLC8Ih3RqTBta6eHPpZrcWjaCIKJniGc3vJo3s7loSACp2MfKIPkJQdvHekoCmPhMmO5Q41yJvQpaWgw6iifdFlGJfElQBOc-bkmmLDduo-rinoEtbJCahmldzn1-ln=w318-h448-no)

Đồng chí Nguyễn Văn Sĩ


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Tư, 2014, 08:58:58 PM
Về xây dựng lực lượng cho tổng công kích - tổng khởi nghĩa, Khu ủy chỉ đạo cấp ủy địa phương gấp rút tuyển mộ tân binh, đôn du kích, bổ sung đầy đủ quân số cho các đơn vị vũ trang của khu, tỉnh, huyện và phát triển mạnh du kích. Riêng đối với bộ đội chủ lực của Khu, sau khi đưa quân cho Miền chỉ trong vòng một tháng, Khu đã xây dựng mới 3 tiểu đoàn 261B, 265B, 267B và lấy của Mỹ Tho một tiểu đoàn 514A, cộng với 2 tiểu đoàn hiện có là 261A, 263B tổ chức thành 2 chiến đoàn. Phần các tỉnh thì sau khi đưa quân cho Khu, tỉnh ít nhất như Kiến Tường cũng xây dựng được 1 tiểu đoàn (thiếu), tỉnh nhiều nhất như Bến Tre xây dựng được 4 tiểu đoàn. Các huyện thì cấp huyện xây dựng được ít nhất 1 đại đội, nhiều thì 3 đại đội. Xã mạnh có từ 1 đến 2 trung đội hoặc đại đội du kích. Ấp có từ 1 tổ đến 1 - 2 tiểu đội du kích. Thị xã, thị trấn có từ 1 - 3 phân đội biệt động. Riêng thành phố Mỹ Tho có 3 đại đội. Bộ đội được khẩn trương huấn luyện cách đánh vào thành phố, thị xã. Khẩn trương trinh sát thực địa, bố phòng của địch, rà lại các cơ sở nội tuyến, gấp rút tổ chức vận chuyển đạn dược, phương tiện xuống các trọng điểm.

Chỉ trong một tháng, trong điều kiện phải giữ bí mật tuyệt đối, Khu đã phát triển lực lượng lên gấp đôi. Tất cả đảng viên trẻ đều cầm súng chiến đấu trong lực lượng vũ trang tập trung. Đảng viên lớn tuổi ở địa phương thì vào du kích. Quân số các đơn vị, các thứ quân đều tăng. Điều đáng lo là dù có quyết tâm cao nhưng vì thời gian xây dựng gấp rút, nên việc huấn luyện không sao tiến hành chu đáo được và chưa qua thử thách nên chất lượng chiến đấu còn non yếu.

Các kế hoạch đấu tranh chính trị, binh vận, đánh phá giao thông cũng được chuẩn bị gấp rút, mặc dù không đủ thời gian giải quyết chất lượng, nhất là tổ chức lực lượng ba mũi chính trị, binh vận, vũ trang tại cơ sở nội đô.

Mũi tấn công chính trị, binh vận vùng ven đã sẵn sàng, khi có lệnh thì tuần hành thị uy, cùng mũi quân sự, binh vận bao vây, bức hàng đồn bốt, quần chúng vùng ven cùng quần chúng bên trong thị xã, thị trấn, thành phố nổi dậy truy lùng tề điệp, ác ôn, phá sạch bộ máy kìm kẹp của địch.

Tập trung giác ngộ các gia đình binh sĩ để họ vận động chồng, con em buông súng làm tan rã lớn lực lượng địch.

Sẵn sàng đánh, cắt các đường giao thông, nhất là lộ 4, phá lộ, phá cầu.

Tinh thần chung là làm một cuộc tổng công kích - tổng khởi nghĩa với khí thế và quy mô lớn hơn tất cả các cuộc tấn công nổi dậy trước đây. Nhưng có nhược điểm là các lực lượng chưa có kinh nghiệm và chưa chuẩn bị kĩ cho cuộc tổng tấn công và nổi dậy trong thành phố, thị xã, thị trấn. Đa số lực lượng tấn công là quần chúng quen chiến đấu ở nông thôn hoặc ở vùng ven, còn lực lượng ba mũi tại chỗ trong nội ô thì quá mỏng.

Trung ương Cục và Quân ủy Miền quy định việc giữ bí mật rất nghiêm ngặt “các bí thư tỉnh ủy và các tỉnh đội trưởng chỉ được biết việc tổng công kích - tổng khởi nghĩa trước một tháng, bí thư huyện ủy, huyện đội trưởng được biết trước nửa tháng, cấp xã chỉ biết khi cuộc tấn công nổ ra”. Riêng về ngày N giờ G thì tất cả các cấp từ Khu trở xuống chỉ được phổ biến vào giờ chót. Quy định gắt gao này giữ được yếu tố bí mật, bất ngờ đối với địch, nhưng cũng trở ngại cho việc điều lực lượng và tổ chức hiệp đồng của ta không ít. Trong thời gian ta chuẩn bị tổng công kích - tổng khởi nghĩa ở chiến trường Mỹ Tho, địch đánh phá, bình định rất quyết liệt, liên tục đánh phá suốt ngày đêm trên trục lộ 4, đánh phá ngăn chặn các tuyến hành lang, gây khó khăn lớn cho việc chuyển vũ khí, đạn dược xuống các trọng điểm. Ngoài ra, ở hai huyện Châu Thành và Cai Lậy, địch liên tục mở các cuộc hành quân càn quét, ban đêm chúng bắn pháo bầy, B52 ném bom. Do đó, tiền phương Quân khu phải cho 2 chiến đoàn di chuyển lên phía bắc huyện Cái Bè, xa trọng điểm Mỹ Tho gần 50 kilômét.

Gần vào đợt, đồng chí Phạm Hùng - Bí thư Trung ương Cục triệu tập đồng chí Bí thư Khu ủy lên báo cáo và nhận mệnh lệnh nổ súng. Ngày N giờ G được phổ biến trong lúc đồng chí Bí thư Khu ủy đang ở tại căn cứ Miền. Đường về Khu đi nhanh nhất cũng phải mất 3 ngày. Ở Khu, đồng chí Lê Quốc Sản - Tư lệnh Quân khu đi kiểm tra đầu cầu tiếp vận ở Tăng Lèo, đồng chí Huỳnh Châu Sổ - Thường trực Khu ủy nhận được lệnh có ghi rõ: “Chỉ có Bí thư Khu ủy và Tư lệnh Quân khu mới được triển khai”. Do vậy, khi Bí thư Khu ủy về đến nhà thì thời gian đã cận kề, cán bộ phải rất khẩn trương để tổ chức thực hiện, bảo đảm tấn công vào các đô thị, thị xã, thị trấn đúng ngày N giờ G trên quy định.

Theo chỉ thị của Miền, Khu ban hành lệnh tiến công đồng loạt toàn Khu vào đêm 31 tháng 1 năm 1968.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Tư, 2014, 08:59:48 PM
2. Trọng điểm và diễn biến của tổng tiến công và nổi dậy đợt 1

Trọng điểm 1 - thành phố Mỹ Tho:

Tại đây, bộ binh địch có 1 tiểu đoàn của Sư đoàn 7 ngụy, 1 tiểu đoàn biệt động quân ngụy, 1 lữ đoàn Mỹ; binh chủng ngụy có 1 giang đoàn, 1 thiết đoàn, 2 tiểu đoàn pháo, cối, thiết giáp và hải quân Mỹ ở căn cứ Đồng Tâm.

Trong nội ô các đại đội bảo an chiếm giữ các vị trí quan trọng, chốt tại các ngã ba, ngã tư, bố trí đại liên, trung liên, cối trên các nhà cao tầng, tháp nước. Ngày 31 tháng 1 năm 1968, Tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu về Mỹ Tho ăn tết, địch tăng cường phòng thủ. Tiểu đoàn 32 biệt động quân được điều đến đóng dã chiến từ bắc cầu Thạnh Trị đến cầu Vĩ, xã Mỹ Phong. Tăng thêm 3 đại đội thám sát của Sư đoàn 7 ngụy vào nội ô. Lực lượng thiết giáp được đưa lên Giếng Nước.

Lực lượng chung của địch trong toàn tỉnh Mỹ Tho là 20.954 tên, trong đó có 14 tiểu đoàn bộ binh chủ lực Mỹ - ngụy. Ngoài ra là các binh chủng và bảo an, dân vệ, công an, cảnh sát.

Lực lượng của khu đánh vào trọng điểm 1 gồm 2 chiến đoàn: 6 tiểu đoàn bộ binh; Chiến đoàn 1 có các tiểu đoàn 261A, 261B và 514A; Chiến đoàn 2 có các tiểu đoàn 263B, 265B, 267B. Một đại đội cối 120 và trung đội cối 82 phối thuộc đóng ở các xã ven thành phố Mỹ Tho và ở Phú Túc bên kia bờ sông Tiền thuộc đất Bến Tre.

Thành đội có 3 đại đội bộ binh, 3 phân đội biệt động và 1 đại đội cối 82.

Ở 4 quận, mỗi quận có 1 tiểu đội du kích mật.

Ở 4 xã vùng ven, mỗi xã có từ 1 tiểu đội đến trung đội du kích.

Cơ sở Đảng trong nội ô có 4 chi bộ, 20 đảng viên, 50 nòng cốt và một số quần chúng cảm tình.

Ở các xã vùng ven, mỗi chi bộ xã có từ 10 đến 25 đảng viên, từ 10 đến 30 thanh niên lao động.

Lực lượng qch được ta huy động tổ chức thành đội ngũ đông đảo. để đảm bảo lương thực cho bộ đội, ở các xã vùng ven, mỗi gia đình dân chuẩn bị 20 giạ gạo. Các nhà máy xay trong nội ô mỗi nhà máy chuẩn bị 1.500 đến 3.000 giạ gạo.

Phương án tấn công là vào 0 giờ 31 tháng 1 năm 1968, pháo ta sẽ bắn 1.200 quả đạn trong 20 phút vào một số mục tiêu. Chiến đoàn 1 và 2 từ hai hướng đông bắc và tây bắc sẽ tiến vào đánh chiếm 4 mục tiêu chủ yếu là Bộ tư lệnh Sư đoàn 7, tiểu khu, nơi làm việc của cố vấn Mỹ, tỉnh đoàn bảo an và khống chế ngã ba Trung Lương chặn địch từ Sài Gòn xuống. Sau khi giải quyết các mục tiêu chính, các mũi tiếp tục phát triển kết hợp với lực lượng khởi nghĩa mở toàn bộ khu 1, 2 và các nơi khác.

Đêm giao thừa Tết Mậu Thân, đồng bào cả nước lắng nghe thư chúc mừng năm mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

      Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,
      Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
      Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ.
      Tiến lên!
      Toàn thắng ắt về ta!


Đối với cán bộ, chiến sĩ, đồng bào miền Nam đó là mệnh lệnh, là Hịch tổng công kích - tổng khởi nghĩa. Đêm 31 tháng 1 năm 1968 toàn Khu đã đồng loạt nổ súng tiến hành tổng công kích - tổng khởi nghĩa. Diễn biến cụ thể như sau: Chỉ có Chiến đoàn 1 và 1 tiểu đoàn 265B của Chiến đoàn 2 đến điểm tập kết đúng giờ quy định. Vì Chiến đoàn 2 đến chưa đủ nên Tiểu đoàn 514A của Chiến đoàn 1 được mệnh lệnh chuyển nhiệm vụ sang tập kích Tiểu đoàn biệt động quân 32 để mở cửa cho 2 tiểu đoàn 261A và 261B đánh vào thành phố. Như vậy, khi bắt đầu nổ súng tiến công trọng điểm 1, ta chỉ có hai phần ba lực lượng đội hình đưa vào tiến công so với dự kiến.

Một điều nữa đã gây trở ngại không ít cho tiến công là do địch ngăn chặn nên dân công không đưa kịp đạn pháo cho các cụm pháo. Vì vậy, thay vì phải bắn 1.200 quả pháo vào lúc 0 giờ, thì mãi đến 1 giờ ta mới bắn được 20 quả cối 82 do các đơn vị mang theo vào các mục tiêu tiến công. Biệt động thành phố nhanh chóng diệt đồn cảnh sát Quay, làm chủ và phát triển sang đường Trưng Trắc, chiếm cửa Khám Đường. Giằng co 15 phút chưa mở được cửa khám, địch cho 2 xe V100 và 1 xe Jeép từ chợ Cũ lên phản kích. Ta bắn cháy 1 xe V100 1 Jeep, diệt 10 tên cảnh sát và quân cảnh. Đến gần sáng, lực lượng biệt động hi sinh và bị thương phải rút ra hướng Mỹ Phong, đại bộ phận rút an toàn, 2 chiến sĩ bị thương được giấu dưới thuyền để sáng đưa ra, bị tàu giang cảnh ngụy xét hỏi, hai đồng chí chiến đấu và hi sinh. Tiểu đoàn 514A tập kích Tiểu đoàn 32 biệt động quân. Địch chống trả quyết liệt, ta không mở được cửa đột phá Thạnh Trị. Hai tiểu đoàn 261A, 261B và 2 đại đội của thành đội phải bơi qua sông Bảo Định. Sang được sông, ngay trong đêm, 2 tiểu đoàn chia làm ba mũi: mũi thứ nhất từ đường Alexandre De Rhôdes đánh vào đại lộ Hùng Vương, chiếm trường La San; mũi thứ hai theo đường Nguyễn Tri Phương đánh xuống Giếng Nước đến bùng binh; mũi thứ ba từ bến xe thọc sang chiếm bờ tây Giếng Nước và sân bay trực thăng. Tiểu đoàn 265B được tăng cường Đại đội 1 của thành đội và 2 đại đội đặc công 312 và 314 từ Trung An đánh chiếm đường Lý Thường Kiệt rồi chia làm hai mũi theo hình gọng kìm: một mũi tiến theo đường Lý Thường Kiệt xuống đường Pasteur; một mũi chiếm cây xăng Năm Nồi phát triển tiến đánh bốt số 8 và đường Pasteur. Địch cho xe M113 ra chặn tại ngã tư Jersin - Lý Thường Kiệt nối dài và tại ngã tư Hùng Vương - Nguyễn Trãi.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Tư, 2014, 09:04:14 PM
Đến sáng ngày 1 tháng 2 năm 1968, bộ phận còn lại của Chiến đoàn 2 gồm 2 tiểu đoàn 263B, 267B mới đến. Địch đã tổ chức phòng thủ rất chặt nên 2 tiểu đoàn không đánh được căn cứ thiết đoàn 6 và trung tâm huấn luyện Hùng Vương.

Cũng sáng ngày 1 tháng 2 năm 1968, trực thăng đáp xuống khu vực đông Giếng Nước đón Tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu về Sài Gòn.

Ngày 2 tháng 2 năm 1968, Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 11 Sư đoàn 7 ngụy từ căn cứ Hùng Vương kéo vào nội ô bị tiểu đoàn 265B đánh bật ra. Các tiểu đoàn 261A, 261B tiến vào đường Châu Văn Tiếp. Tiểu đoàn 514A tiến lên khu 4 nhưng trong đêm vẫn không sao vào được trung tâm thành phố.

Sáng ngày 3 tháng 2 năm 1968, Lữ đoàn 3 Sư đoàn 9 Mỹ, toàn bộ trung đoàn 11 Sư đoàn 7 ngụy, có thiết giáp và bom pháo yểm trợ mạnh tiến vào nội ô. Ta chặn đánh quyết liệt. Một tiểu đoàn Mỹ và 1 tiểu đoàn ngụy bị tiêu hao nặng, 20 xe M113 bị diệt, ta gấp rút chuẩn bị đến tối sẽ tấn công Bộ tư lệnh Sư đoàn 7. Nhưng đến 16 giờ, địch tập trung pháo hạm và máy bay bắn phá ném bom hủy diệt, trực thăng rải xăng đặc đốt sạch từ Giếng Nước đến ngã ba Trung Lương là khu vực ta đang chiếm giữ, làm cháy trên 100 căn nhà làm gần 300 người chết, 1.000 người bị thương. Các tiểu đoàn của ta bị thiệt hại nặng phải rút ra vùng ven.

Song song với mũi quân sự, mũi tiến công chính trị diễn ra khá sôi nổi. Quần chúng nổi dậy hơn 500 người bao vây và bức hàng đồn Mỹ An, xã Mỹ Phong, tiếp đó, bao vây hậu cứ của Tiểu đoàn 72 pháo binh kêu gọi quân súng trở về với nhân dân. Bọn này bắn ra làm chết 1 người, bị thương 2 người, quần chúng vẫn không nao núng. Hơn 3.000 người nữa kéo tới hỗ trợ, bao vây, kêu gọi. Bọn chúng phải ngừng bắn và hứa nếu dinh tỉnh trưởng bị chiếm thì chúng đầu hàng. Tiểu đoàn này không chi viện được cho mặt trận nội ô. Một đại đội bảo an đóng ở sân bóng cạnh Bộ Tư lệnh Sư đoàn 7 đã sẵn sàng đầu hàng.

Quần chúng khu 2 thành phố cùng lực lượng vũ trang diệt 120 tên công an, tề ác ôn. Quần chúng xã Trung An vây 6 đồn, bức hàng 1, diệt 2, bức rút 3, thu 23 khẩu súng, phá sạch hệ thống “ấp tân sinh”.

Quần chúng ở các khu 1, 4, Đạo Thạnh, Tân Mỹ Chánh nổi dậy phối hợp với lực lượng vũ trang quét sạch hệ thống “ấp tân sinh”, giải phóng 2 xã Đạo Thạnh và Mỹ Phong.

Phối hợp với lực lượng tiến công và nổi dậy trong thành phố Mỹ Tho, các huyện của tỉnh Mỹ Tho đã huy động hàng ngàn quần chúng cùng dân quân, du kích và công binh quân khu phá lộ 4 từ Cái Bè đến Châu Thành, đánh sập các cầu An Hữu, Bà Tồn, Đông Hòa, Dưỡng Điềm, cầu Rượu, cắt đứt giao thông trên lộ từ ngày 1 đến ngày 16 tháng 8 năm 1968.

Chiến đoàn 1 và 2 sau khi rút ra khỏi nội ô thành phố Mỹ Tho được lệnh đứng chân trên các xã ven thành phố, vừa chuẩn bị cho cao điểm, vừa đánh địch phản kích.

Sáng ngày 5 tháng 2 năm 1968, bọn Mỹ đánh vào xã Long An. Tiểu đoàn 263B và Đại đội đặc công 512 bắn cháy 4 xe M113, chúng hoảng hốt rút chạy, bỏ lại 7 xe. Chúng đổ tiếp 1 tiểu đoàn, ta bắn rơi 7 trực thăng.

(https://lh3.googleusercontent.com/fcs8hB1V0Q6aXcfzKClVbfJb6Q9fQPcgvOVvloLQTzzvNbfLFfMCbvp-5GQj-8sNY7lXSDKowwIEka_loQYP5RwrIECjfWRY7e86BAT6peOdpqiP8WPpEGly6WWI5jGL7t6FICigTlAZOeddUHQYemQp3993wE9OX7-QMvLvMJqUbBCOPBAfQvoaiBJUePCQV2JclApaga6ByeMtEwIxLtZ1rrXb52y22GX3Hyd7MuDMgnkyqcIQkK7YsEtPqDAbOl2eihQh2HDyWI7b_DDcquTB_aAx3WuSmEIjfCDmPMN-JkD1XxzTFJxrlN-1Dko8q13A3qpDZAQV7qYxUzxG8a2PBK_phQEUBim9m9y7bxjRe3qcAvHXUz9NnqOoFhA99N8gLtNXeAuyEkEmaSSgXMsnHaxBXD652XlkToVF9nUYGQtpeFvSPtm5_zlT3wRIWi1M4a8N3-_-PJPzU6DhsrAqNWEDt5mM398WoSyAH23up6tK4rV7GVw5yN9XtGGMx1Q5AYETIjgyFq0TWeslq9BZSIw9Q-nWNLLIR4jDw2J4pxRMBrLi8l3KbnL1FAP7FFAS1tBm_alP_XlADe3097otNka9sPX54AB2MUIrihZryPE7y2Fx=w744-h461-no)

Quân giải phóng chiếm xe tăng địch giữa lòng thành phố Mỹ Tho
trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Tư, 2014, 09:04:41 PM
Trong thời gian này, tỉnh Mỹ Tho thành lập Tiểu đoàn 514C phụ trách trọng điểm của tỉnh là thị trấn Cai Lậy.

Ngày 10 tháng 2 năm 1968, Tiểu đoàn 514C đánh 1 tiểu đoàn của Sư đoàn 7 ngụy càn vào Tân Hội gần Cai Lậy diệt 100 tên, phá hủy 5 xe M113.

Đến đây, cao điểm 1 Mỹ Tho kết thúc. Trong cao điểm 1, bộ đội và quần chúng đã tiến công địch rất anh dũng, diệt được nhiều Mỹ - ngụy, chiếm được một phần thành phố Mỹ Tho trong một thời gian, phát động được quần chúng nổi dậy ở một số nơi. Nhưng không đạt yêu cầu đặt ra trong kế hoạch.

Sau cao điểm 1, Thường vụ Khu ủy được Trung ương Cục và Quân ủy Miền chấp thuận cho thành lập 2 trung đoàn 1 và 2 trên cơ sở các đơn vị của 2 chiến đoàn. Trung đoàn 1 gồm các tiểu đoàn 261A, 261B, 265B. Trung đoàn 2 gồm các tiểu đoàn 263B, 267B, 514A.

Vào cao điểm 2, kế hoạch của ta là tấn công tiếp vào thành phố Mỹ Tho. Nhưng đến giờ chót phải bỏ kế hoạch vì địch tăng cường phòng thủ rất chặt. Đêm 17 tháng 2 năm 1968, một bộ phận của Tiểu đoàn 514A thọc sâu vào tuyến phòng thủ hướng đông thành phố diệt lô cốt cầu Quay, bắn cháy 1 xe M113, bắn cháy một tàu trên sông Bảo Định và đánh sập một góc nhà máy điện thành phố. Cùng đêm, ở Cai Lậy, Tiểu đoàn 514 C tiến công chi khu, chiếm được một số khu vực nhưng rồi cũng phải rút ra. Công binh, du kích và quần chúng đắp mô, đặt chướng ngại tiếp tục cắt đứt giao thông trên lộ 4 cho đến ngày 21 tháng 2 năm 1968.

Từ ngày 19 đến 29 tháng 2 năm 1968, địch phản kích vào các xã Đạo Thạnh, Mỹ Phong, Thanh Bình, Mỹ Tịnh An ven thành phố Mỹ Tho. Trung đoàn 1 và 2 đánh diệt 300 tên, 35 xe M113.

Địch chốt nhà dân, giết người trong thành phố Mỹ Tho đã gây xúc động mạnh trong đồng bào, công chức, binh sĩ ngụy và trong tín đồ các tôn giáo.

Đồng chí Nguyễn Văn Chim - Trưởng phân ban Khu ủy chỉ đạo Thành ủy Mỹ Tho vận động nhân dân giúp đỡ nạn nhân, đấu tranh tố cáo, đòi địch bồi thường.

Lực lượng tấn công chính trị của đội quân tóc dài gồm hơn 5.0900 người từ các vùng ven kết hợp với quần chúng trong nội ô kéo đến dinh tỉnh trưởng và Bộ tư lệnh Sư đoàn 7 ngụy đấu tranh trực diện, đòi địch không được bắn pháo. Quần chúng mang theo cả mảnh pháo để làm bằng chứng. Nhân dân trong nội ô đấu tranh chống khám xét, chống lo tiền để nhận phiếu cứu trợ “nạn nhân chiến cuộc”.

Tại các vùng nông thôn Mỹ Tho, cuộc tấn công và nổi dậy đã diễn ra ở nhiều nơi thuộc các huyện Cái Bè, Cai Lậy, Châu Thành. Trong thời gian 20 ngày của tháng 2 năm 1968, quân địa phương huyện và du kích xã đã hỗ trợ quần chúng san bằng 94 đồn, giải phóng hoàn toàn 12 xã. Hơn một nửa binh sĩ bỏ súng về nhà.

Đêm 3 tháng 3 năm 1968, ý định của ta là công đồn, diệt viện ở trọng điểm 1 và cao điểm 3. Ta đánh thiệt hại 2 đồn ở Đạo Thạnh. Trung đoàn 2 tổ chức phục kích từ Đạo Thạnh đến Phú Kiết để tiêu diệt 1 tiểu đoàn và từ 1 đến 2 chi đoàn xe M113 địch đến chi viện. Nhưng địch không ra. Đến tối, Tiểu đoàn 514A thọc sâu vào khu 2 đánh Ty Chiêu hồi, lô cốt cầu Quay, diệt 30 tên. Biệt động thành phố đánh căn cứ Mỹ Châu, Phúc Liêm, Ty Cảnh sát, diệt hàng chục tên địch.

Đêm 7 tháng 3 năm 1968, 2 tiểu đoàn của Sư đoàn 7 ngụy và tiểu đoàn thủy quân lục chiến ngụy đánh vào xã Mỹ Tịnh An. Tiểu đoàn 514A bắn rơi 1 trực thăng và diệt 50 tên địch. Sáng ngày 8 tháng 3 năm 1968, địch dùng trực thăng đổ 1 tiểu đoàn quân ngụy xuống xã Long Bình Điền - Chợ Gạo trước đội hình đóng quân của Trung đoàn 2 và trung đội an ninh vũ trang của Khu. Ta bắn rơi tại chỗ 9 trực thăng, 2 chiếc bị thương bay về Mỹ Tho bị rớt dọc đường. Địch chết, bị thương hàng trăm tên. Các cụm pháo địch (kể cả pháo hạm Mỹ) bắn vào trận địa khoảng 6.000 trái pháo, sáng ngày hôm sau mới rút. Vào lúc 21 giờ ngày 8 tháng 3, khẩu đội cối 82 của thành đội Mỹ Tho bắn ra pháo hạm Mỹ đang đậu tại vàm Kỳ Hôn - Chợ Gạo trong lúc giàn pháo trên hạm đang bắn vào trận địa ở Long Bình Điền. Đạn cối rớt trúng pháo Mỹ trên hạm, đạn nổ dữ dội suốt đêm ngày 8 tháng 9 tháng 3, hủy diệt toàn bộ quân Mỹ cùng với súng đạn, phương tiện chiến tranh trên pháo hạm. Ba chiếc tàu nhỏ đậu chung quanh bảo vệ pháo hạm cũng bị hỏng nặng, chúng phải rút chạy. Sáng ra, đồng bào các xã Xuân Đông, Hòa Tịnh - Chợ Gạo bơi xuồng ra chiến hạm để thu chiến lợi phẩm, địch đã bị diệt sạch, chiếc pháo hạm đã bị đạn pháo nổ phá hủy nhưng chưa chìm. Hai trận này ta thắng lớn.

Đến đây chấm dứt cao điểm 3, cũng là chất dứt đợt 1 ở trọng điểm 1.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Tư, 2014, 09:05:04 PM
Trọng điểm 2 - thị xã Gò Công

Để chuẩn bị cho trận tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân, Khu ủy chỉ định hai Khu ủy viên (Ngọc Việt và Võ Văn Thanh) và một số tỉnh ủy viên của Mỹ Tho thành lập Phân ban Tỉnh ủy Gò Công kiêm Ban chỉ đạo. Tháng 10-1967, đoàn đã đứng chân tại xã Bình Xuân, cách thị xã 3 kilômét. Quyết tâm của Ban chỉ đạo và Huyện ủy Gò Công Đông, Huyện ủy Hòa Đồng, Thị ủy là tập trung xây dựng Tiểu đoàn 514B, đơn vị 207 (biệt động thị xã); bổ sung cho 2 đại đội 206, 305 quân địa phương hai huyện đủ quân số và trang bị mạnh. Du kích xã từ 2A đến 1B, tiến hành nghiên cứu các mục tiêu quân sự sẽ đánh chiếm, đối tượng của khởi nghĩa tiêu diệt ác ôn tại thị xã và hai thị trấn và cả các đồn và lô cốt trục lộ giao thông 24 và số 5. Tích cực vận chuyển vũ khí và đạn dược. Vận động tài chính gây “quỹ tổng tiến công”. Khẩu hiệu động viên quần chúng là: “Cơ hội ngàn năm có một”. Khí thế cách mạng sôi sục trong cán bộ, chiến sĩ và nhân dân đã tạo nên kết quả hai tháng đầu: quân số đủ, tài chính có hàng triệu đồng. Nhưng đến giờ chót, rà lại các mục tiêu để xác định quyết tâm tấn công thì các mục tiêu khởi nghĩa không bám được. Thực tế cho thấy khả năng 1: tiêu diệt cơ quan đầu não của địch và đánh chiếm thị xã không đạt được. Quyết tâm của trọng điểm 2 là: đánh thiệt hại nặng tiểu khu, tỉnh đoàn bảo an, dinh tỉnh trưởng, phá khám Gò Công giải thoát anh em tù chính trị và đồng bào, cắt điện một số giờ để gây hoang mang cho địch; cắt giao thông, diệt đồn, phá cầu lộ 24 và số 5; chặn đánh chi viện cho Mỹ Tho và Sài Gòn; tạo thế vây ép thị xã, đánh quân phản kích ra vùng ven để tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch. Ở hai thị trấn Hòa Đồng và Tân Tây thì pháo kích vào cơ quan đầu não quận, diệt ác ôn bên trong.

Diễn biến tiến công ngày N giờ G:

Gò Công nhận được lệnh hồi 12 giờ trưa ba mươi Tết. Lệnh nổ súng tấn công vào 2 giờ sáng mồng 2 Tết. Do lực lượng đánh vào thị xã, nhất là Tiểu đoàn 514B không kịp về nên ngày mồng 2 chỉ có các thị trấn, thị tứ, các xã đồng loạt tấn công vào mục tiêu. Tiểu đoàn 514B đang đóng quân ở Vĩnh Hựu, tấn công vào Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 12 bộ binh của địch đóng ở bến đò Cá Chốt (xã Long Hựu) diệt 40 tên giặc, sau đó chuyển quân về tập kết để đánh vào thị xã Gò Công. Ngày mồng 6 Tết, toàn bộ lực lượng từ Bình Xuân tấn công vào thị xã.

Theo kế hoạch, cánh quân thứ nhất, gồm Tiểu đoàn 514B, các Đại đội 206, 207, công an vũ trang, đặc công, chia làm 3 mũi. Mũi thứ nhất, cặp lộ 5 đánh bốt cảnh sát, tiến vào phía sau dinh tỉnh trưởng. Mũi thứ hai, vào hướng nhà thờ, tấn công phá khám lớn, đánh Tiểu khu, đồng thời tiến công phía trước dinh tỉnh trưởng. Mũi thứ ba, án ngữ sân bay và chặn đánh Đại đội bảo an 882 của địch. Cánh quân mũi thứ hai là đơn vị 305, tấn công ấp chiến lược Long Mỹ, sang kho dầu, căng kéo địch, tạo điều kiện cho mũi thứ nhất tấn công dinh tỉnh trưởng.

Vào lúc 22 giờ, mũi tấn công thứ nhất của ta bắn cối đồng loạt vào các mục tiêu tiểu khu, dinh tỉnh trưởng. bi ta bám sát mục tiêu, dùng B40 diệt các ổ đề kháng. Địch co cụm cố thủ. Đại đội bảo an 882 bỏ chạy. Cảnh sát dã chiến và xe bọc thép tập trung hỏa lực mạnh bảo vệ dinh tỉnh trưởng. Ta không chuyển kịp đạn B41 vào để đánh xe bọc thép nên bộ binh ta không vào được dinh tỉnh trưởng (tên tỉnh trưởng đêm ấy phải chạy sang bệnh viện, đóng giả làm bệnh nhân). Mũi thứ hai tấn công khám lớn, tiêu diệt bọn lính gác. Dùng súng AK bắn vỡ ổ khóa, tung xiềng, mở cửa giải thoát tất cả 200 tù chính trị. Một số anh em tù chính trị gia nhập các đơn vị vũ trang. Số còn lại đưa về căn cứ Bình Xuân an toàn. Tiếp đó mũi thứ hai đánh vào kho dầu, hoàn thành nhiệm vụ.

Từ 1 giờ đến 3 giờ sáng, các mũi tiến công của ta đều chiến đấu giằng co với địch. Ba giờ sáng, sở chỉ huy ra lệnh rút về xóm Non, xã Tân Trung sẵn sàng đánh quân giặc phản kích.

Cùng đêm, tại Hòa Đồng, ta pháo kích các mục tiêu đầu não thị trấn: biệt động đánh vào ấp Thượng diệt tên chủ ấp ác ôn.

Mười một giờ sáng mồng 7 Tết, Liên đoàn bảo an Gò Công, được sự yểm trợ xe bọc thép, các cụm pháo Tân Tây, Tăng Hòa, Hòa Đồng, phản kích bộ đội ta tại xóm Non. Ta chống phản kích, diệt hàng trăm tên địch, trong đó có tên Thiếu tá, Phó tỉnh trưởng phụ trách an ninh.

Sau khi cắt giao thông, Tiểu đoàn 514B đánh địch tại cầu Long Chánh (lộ 24), Đại đội 206 đánh đồn Sơn Quy (lộ 5), vì không diệt gọn bốt, nên ta không phá được cầu Sơn Quy.

Vào cao điểm 2 đợt A, đơn vị cối 82 thị trấn Hòa Đồng pháo kích, diệt tên quận trưởng Nguyễn Văn Tiên.

Ngày 22 và 23 tháng 4 năm 1968, Tiểu đoàn 514A và an ninh vũ trang tỉnh đánh phản kích 2 tiểu đoàn bộ binh địch có xe M113 yểm trợ thọc sâu vào cứ điểm của Phân ban Tỉnh ủy và Ban chỉ huy quân sự tại hai xã Thành Công và Bình Xuân. Kết quả ta bẻ gãy cuộc phản kích, tiêu diệt 2 đại đội địch, bắn cháy 1 xe M113.

Ngày 24 tháng 4 năm 1968, đơn vị 206 Gò Công đánh địch càn quét tại xã Bình Ân và Tân Bình Điền, tiêu diệt 1 trung đội bảo an địch.

Ngày 25 tháng 4 năm 1968, đơn vị 207 thị xã Gò Công đánh đoàn bình định địch ở ấp Bà Phó.

Ta kết thúc đợt A.

Đợt B, ta đã có kế hoạch điều tra nghiên cứu kĩ một số mục tiêu trong thị xã, nhưng không tấn công được, vì lực lượng Tiểu đoàn 514B bị giảm sức chiến đấu, đang phải củng cố và phải tập trung đối phó với bọn địch đang triển khai bình định trọng điểm theo chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” ở Gò Công khẩn cấp.

Đánh giá về tổng tiến công Xuân Mậu Thân ở trọng điểm 2: Trọng điểm 2 đã thực hiện quyết tâm chiến lược rất chính xác, phù hợp thực tế và khả năng chiến trường. Tuy tấn công chậm mấy ngày, yếu tốt bất ngờ không còn, nhưng Phân ban Tỉnh ủy nhận định về thời cơ đúng, kiên quyết và quyết tâm tiến công địch cao, giành thắng lợi, hoàn thành nhiệm vụ của Khu ủy giao.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Tư, 2014, 09:06:28 PM
Ở Bến Tre, tại thị xã địch có 4 tiểu đoàn của Trung đoàn 10 thuộc Sư đoàn 7 ngụy, 9 đại đội bảo an và 1 tiểu đoàn pháo binh, dưới sông có tàu tuần giang. Địch bố trí phòng thủ thị xã chặt chẽ. Trong toàn tỉnh Bến Tre, địch có 13.118 tên, có 4 tiểu đoàn bộ binh chủ lực ngụy, ngoài ra là lực lượng bảo an dân vệ, công an, cảnh sát…

Về phía ta, lực lượng tấn công thị xã có 4 tiểu đoàn bộ binh: 516, 2, 3, 4, và đại đội binh chủng của tỉnh, tổ chức thành 1 trung đoàn. Thị xã có 1 đại đội bộ binh và 1 trung đội biệt động. Ngoài ra, tỉnh còn đưa vào thị xã 7 tiểu đoàn quân du kích và lực lượng nổi dậy 10.000 người tổ chức thành nhiều trung đoàn. ở các huyện Mỏ Cày, Giồng Trôm, mỗi huyện có 1 tiểu đoàn bộ binh (thiếu). Các huyện khác có đại đội. Mỗi huyện lại có tiểu đoàn quân du kích, riêng huyện Mỏ Cày có 2 tiểu đoàn quân du kích và 1 đại đội liên quân du kích.

Tính chung trong toàn tỉnh, lực lượng quần chúng của đội quân tóc dài được huy động là 22.000 người, tổ chức thành 6 trung đoàn.

Thường vụ Khu ủy phân công đồng chí Nguyễn Văn Khước - Khu ủy viên đôn đốc, chỉ đạo tiến công thị xã Bến Tre.

(https://lh3.googleusercontent.com/7lbgb1mLsDY_PPNVGuHcpQy8KAHQxitZab-krBpZ7xO1lcFHXeNFYf3aBtWZmGDWs20RBCkwIKcUFIEC6H1D9RSIhtcVxEk0LT2HNZjNJ6Hkw_04Ngf7BL8KnstNNb3eS-XBSLa05W1NvLC1GecvPqZtKuf8EmX1nG9jS3PhQiDLyoiqewToTNlgbQ9wcOvFJi1LKQCDb-09kuphp0vljnMsGTqca6I8Xz74j9uKh2Gb6y-sZ48zTjUJnHZ9ojkQElI2jRe0NyTfTP6LbIzhDYba7b_fuMafnrv9DqzJtqyeH_Q1HWXNoRFZv-uRm6FheN9Wf5UxNtfv9xORTaLKdn4ieusfucferN5cVCu64MR2XHzLzdkuCJN5T4XNW_2UsQgbhj9JwWSWET0sDRbdEi3FcP-FqEKgRK1crCyOcoVVDfKIY7esqmidFRpdLZ7vnwZfeV-9mHY3Nqspi3--jC-A3pErGhAGEYDxNFVxXE1eJq9l0F87RCJHA-XOytP6F_iX7MqAjHqb-y8YNJl5pawxlkWg8Hbl-MzgzoVlUl5s4NTJOvVFfCyiE-NL-qzA9arOTMmtmHtLfThvg3-HwQReD2A2Qvrb-4J2BnwhQp9eWfJidk5r=w150-h199-no)

Đồng chí Nguyễn Văn Khước

Hướng tiến công chính vào thị xã Bến Tre là hướng nam. Hướng này có con sông Bến Tre ngăn cách nhưng đảm bảo được yếu tố bí mật, bất ngờ. Khi vượt được sông thì đã tiếp cận được mục tiêu chủ yếu là dinh tỉnh trưởng.

Đêm 28 rạng ngày 29 tháng 1 năm 1968, các đơn vị của Bến Tre được lệnh hành quân đến địa điểm tập kết. Lực lượng của hướng chủ yếu gồm Tiểu đoàn 516, 1 đại đội đặc công bộ, 2 trung đội đặc công nước, 1 cối 120, 2 cối 82, 2 DK75, 3 pháo 70; tất cả đều có mặt tại xã Lương Phú, huyện Giồng Trôm, cách thị xã 7 kilômét về hướng nam. Lực lượng hướng thứ yếu 1 gồm có: Tiểu đoàn 3, Tiểu đoàn 4 và 1 đại đội đặc công bộ; đóng tại Hữu Định, huyện Châu Thành, cách thị xã 5 kilômét về hướng đông. Lực lượng hướng thứ yếu 2 gồm có; Tiểu đoàn 2 bộ binh, 1 đại đội đặc công; đóng tại các xã Tam Phước, Tường Đa, huyện Châu Thành, cách thị xã 8 kilômét về hướng tây bắc.

Trong lúc bộ đội ta áp sát thị xã thì 15 giờ ngày 31 tháng 1 năm 1968, Tỉnh trưởng Kiến Hòa được thông báo của bọn ngụy ở Sài Gòn cho biết Việt cộng đã tràn ngập từ Buôn Ma Thuột trở ra Quảng Trị nên phải đề phòng.

Hai mươi hai giờ đêm 31 tháng 1 năm 1968, các lực lượng ta chiếm lĩnh vị trí chiến đấu.

Đúng 1 giờ ngày 1 tháng 2 năm 1968, cùng lúc với Mỹ Tho, cụm hỏa lực ở hướng chủ yếu bắn vào trung tâm sở chỉ huy hành quân của Trung đoàn 10 Sư đoàn 7 ngụy và Tỉnh đoàn bảo an. Trung đội đặc công nước ém quân sẵn tại bờ bắc sông Bến Tre nhanh chóng đánh chiếm trại Đinh Tiên Hoàng (bãi quân xa), diệt 6 xe thiết giáp và giữ đầu cầu cho Tiểu đoàn 516 vượt sông.

Tiểu đoàn 516 có nhiệm vụ đánh chiếm dinh tỉnh trưởng, sang sông bằng 70 chiếc ghe. Mũi thứ nhất vượt sông cách Bến Lở 100 mét. Ta vừa đánh tàu địch, vừa vượt sông. Chiếm được bờ bắc, Tiểu đoàn tiến theo đường Hùng Vương đến Bến Lở. Địch trong dinh tỉnh trưởng bắn ra ác liệt. Mũi thứ hai vượt sông, tiến theo đường Nguyễn Huệ diệt 1 số bốt, lô cốt, đánh thiệt hại nặng Đại đội bảo an 289 và trung đội dân vệ tại cầu Cá Lóc. Quân địch chiếm các cao điểm trên đường Phan Thanh Giản, dùng trọng liên, đại liên, cối 60 bắn chặn ta. Các đại đội của Tiểu đoàn 516 phải phân tán thành trung đội, tiểu đội, lợi dụng từng dãy nhà, góc phố chiến đấu với địch. Như vậy là Tiểu đoàn đã không đánh chiếm được mục tiêu chủ yếu là dinh tỉnh trưởng vì đã mất yếu tố tấn công bất ngờ.

Các đơn vị ở hướng thứ yếu 2 do một tổ nữ vũ trang dẫn đường từ Bình Phú vào thị xã, có nhiệm vụ hợp đồng chiến đấu với Tiểu đoàn 516. Vào gần tới nội ô, tổ dẫn đường hi sinh hết. Tiểu đoàn 2 bị lạc hướng. Cùng lúc, ở hướng thứ yếu 1, Tiểu đoàn 3 và 2 trung đội đặc công bộ chia thành 2 mũi, một mũi đánh tiêu hao nặng Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 10 Sư đoàn 7 ngụy tại sân bóng đá cùng với trận địa pháo; mũi còn lại đánh chiếm được một góc sở chỉ huy Trung đoàn 10 sư đoàn 7 ngụy và đánh hỏng đài phát thanh. Tiểu đoàn 4 bí mật tiếp cận bao vây, đánh tiêu hao nặng 1 đại đội của Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 10 Sư đoàn 7 ngụy tại vườn ươm cầu Bà Mụ. Hai trung đội đặc công tập kích sân bay Tân Thành, phá hủy 4 máy bay, diệt trận địa pháo.

5 giờ sáng ngày 1 tháng 2 năm 1968, tất cả các cánh, các mũi đồng loạt nổ súng. Đại đội đặc công đánh chiếm hoàn toàn sở chỉ huy Trung đoàn 10 Sư đoàn 7 ngụy, giết chết tên trung tá Trung đoàn trưởng, phá hủy 3 xe quân sự. Ta truy lùng, bắt sống được tên trung tá công binh. Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 10 Sư đoàn 7 ngụy từ Mỹ Hóa đánh vào thị xã để giải vây cho dinh tỉnh trưởng, bị chặn đánh tại cầu Cái Cá. Trận đánh rất ác liệt. Chúng xông lên hàng chục đợt đều bị đẩy lùi. Đêm đến, ta làm chủ hầu hết thị xã, bao vây chặt dinh tỉnh trưởng.

Ngày 2 tháng 2 năm 1968, pháo hạm Mỹ đậu trên sông Hàm Luông và pháo từ căn cứ Bình Đức - Mỹ Tho bắn vào nội ô thị xã, các loại máy bay ném bom và trực thăng bắn phá, hủy diệt khu chợ Bến Tre làm cho hơn 300 đồng bào chết và bị thương. Cũng ngày đó Tiểu đoàn 516 diệt 1 đại đội bảo an từ cầu Rạch Vông rút chạy về thị xã.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Tư, 2014, 09:08:59 PM
Ngày 3 tháng 2 năm 1968, lực lượng ta vẫn bám các khu vực trong thị xã. Công an vũ trang, tự vệ mật, cán bộ cơ sở lùng quét bộ máy kìm kẹp của chúng. Buổi chiều, Tiểu đoàn 516 đánh chiếm tỉnh đoàn bảo an, phá hủy kho súng trên 1.000 khẩu. Địch tiếp tục dùng máy bay, pháo bắn hủy diệt hầu hết các khu phố. Trực thăng chở một tiểu đoàn Mỹ từ Mỹ Tho sang, định đổ xuống sân bóng. Bộ đội phòng không ta bắn bị thương 1 chiếc, chúng phải quay lên sây bay Tân Thành. Tin trinh sát kỹ thuật cho biết, chúng sẽ đưa thêm 1 tiểu đoàn Mỹ nữa đến. Lúc này ta chưa có khả năng chiếm ngay dinh tỉnh trưởng. Ban chỉ huy chiến dịch quyết định rút các tiểu đoàn bộ binh và các đại đội binh chủng ra ngoại ô lập trận địa đánh quân Mỹ, chỉ để lại nội ô một bộ phận gọn nhẹ kìm chân địch.

Bảy giờ sáng ngày 4 tháng 2 năm 1968, trực thăng chở 1 tiểu đoàn Mỹ từ Mỹ Tho sang đổ quân đánh xuống cánh đồng Cây Đa, xã Phú Hưng. Tiểu đoàn Mỹ từ sân bay Tân Thành chia thành nhiều mũi tiến xuống thị xã. Chúng bị bộ đội đặc công và du kích đánh chặn dọc đường, tới 11 giờ chúng mới đến được nội ô. Sau đó, chúng chia thành nhiều mũi, hành quân qua cầu Cá Lóc trên tỉnh lộ 26. Khi đến cách cầu Gò Đàng 500 mét, 1 đại đội Mỹ lọt vào trận địa phục kích của Tiểu đoàn 516, bị diệt gọn. 16 giờ, Tiểu đoàn Mỹ từ Phú Hưng hành quân lên thị xã. Đến cầu Cá Lóc, chúng bị Tiểu đoàn 516 và 1 trung đội của Tiểu đoàn 4 đánh thiệt hại nặng.

(https://lh3.googleusercontent.com/H-laBK6sSVbv-EcWqcwRLxfsFauwrzWviThhRA-OGwX8J_gMBJsauos6pv65-H7ayfC00m0impq3Rs3de6bcLh6BWQyD-lnnloDuBvY9DrusOwc2FQLCqe6h04T7aiXn8BBetYTfnfaUQmZgSHccS80BaQkFzPtv9ybl_sfgD4n5HBB8jbaX4faIP2zt_5yBgng7Bo2PN_Bfl8DxYnQhTdFM8b_675GIfF-xdn1WIKZsW88yoTEFZSdJqA_GPMUaTmn0NxIPvKccerzG41zupRdOzQcQOTlDKXLPx8uFsb2pftRAQl5YpwA_FA8rvZ4EH3apKncUSt5vnRhPuqoYy0uWKk7rFaCjauE34ufmXbcbpnGnv40bu8JOYxtvAtmM7ATQse32Kp_ielu-n9c4wUD_4stE2fa3ZcMJmr5RtQFKiEtpUeE9sQGZeKd7OTm_2n95-ff-LT46Eh-eN-P7DdZ2votxdGcFu8_ArbBpUqu8as6J3QyT3bd0ten9yhOX-ppwYM_LyQ67_ypW7xiG4NU3yIXl6ivxg080m1qXM3t9hDWegPlAAwdO-haSpS53w0LeASshOznin2pQH-L7laPcflEulX8FsE1tvid8884UVhdogmmV=w800-h559-no)

Đồng bào thị xã Bến Tre chuyển chiến lợi phẩm ra vùng giải phóng (năm 1968)

Tại vùng ven thị xã và huyện Châu Thành, bộ đội kết hợp với lực lượng chính trị, binh vận và du kích bức hàng, bức rút các đồn Phú Tự, Cây Đa, Chợ Giữa, Thầy Cai, Sơn Đông, Bình Phú, Mỹ Thành, Vàm Cái Sơn. Ta làm chủ một đoạn dài trên lộ 27 từ Thành Triệu đến xã Sơn Đông. Du kích và đặc công diệt đồn cống số 2, cống số 3, cắt đứt liên tỉnh lộ 6A từ thị xã Bến Tre đi Mỹ Tho.

Tại thị trấn Mỏ Cày, trong đêm 31 tháng 1 rạng ngày 1 tháng 2 năm 1968, đại đội địa phương và trung đội đặc công huyện diệt đồn Việt Hoa. Dân vệ đồn Cầu Chợ bỏ chạy. Ta chiếm Trường trung học Hàm Luông, chọc thủng tuyến phòng ngự ngoài chi khu. 7 giờ sáng, đại đội bảo an do tên quận trưởng Mỏ Cày chỉ huy bung ra phản kích, bị chặn đánh tại ngã ba Thom, tên quận trưởng và 1 trung đội bị diệt, số còn lại tháo chạy. Ta tiến vào chiếm công sở ở Đa Phước Hội và làm chủ chợ Mỏ Cày. Địch bị dồn vào chi khu. Quần chúng, du kích rào đường, đắp ụ trên các trục giao thông vào chi khu. Buổi chiều ngày 2 tháng 2 năm 1968, 200 quần chúng họp mít tinh mừng chiến thắng tại chợ Mỏ Cày.

Ngày 3 tháng 2 năm 1968, Đại đội liên quân du kích chuyển thành Đại đội 2 cùng 2 tiểu đoàn quân du kích đào chiến hào dài 1 kilômét từ ngã ba Thom qua Giồng Giữa để ép địch. Sáng ngày 4 tháng 7 năm 1968, ta diệt đại đội bảo an chi khu bung ra phản kích. Trong trận này, bom pháo địch rất ác liệt, đã làm cho hơn 50 đồng bào chết và bị thương. Bộ đội ta đã bám trụ, liên tục chiến đấu, làm chủ thị trấn trong 7 ngày đêm.

Huyện Chợ Lách nằm trên chót mỏm cù lao Minh. Phần lớn dân là tín đồ các tôn giáo Công giáo, Phật giáo, Cao Đài, Hòa Hảo. Đồn bốt địch dày đặc, mỗi xã chúng lập tới 3 - 4 “ấp tân sinh”. Lực lượng địch có tới 1.000 tên, gồm bảo an, dân vệ, biệt kích là người địa phương. Quần chúng bị địch kìm kẹp. Lực lượng cơ sở của ta yếu. Để chuẩn bị cho tổng công kích, huyện đã tích cực nối lại các cơ sở và tổ chức lực lượng vũ trang. Huyện đưa được về tỉnh 1 đại đội bộ binh, 1 trung đội đặc công, ngoài ra còn xây dựng cho huyện được 1 trung đội bộ binh, 1 tiểu đội trinh sát đặc công. Các xã trong huyện, mỗi xã đã xây dựng được từ 1 tiểu đội đến 1 trung đội du kích.

Đồn Cái Mít thuộc xã Sơn Định được chọn làm trọng điểm của cuộc tiến công. Đồn này cách thị trấn 600 mét, trong đồn ta có 2 nội tuyến. 7 giờ sáng ngày 1 tháng 2 năm 1968, ta tổ chức dụ tên đồn trưởng ra ngoài ăn tiệc và bắn chết. Tiểu đội vũ trang nổ súng vào đồn. Quần chúng, có cả gia đình binh sĩ, nổi trống mõ áp đảo, bao vây đồn. Sau 2 giờ bao vây, địch đầu hàng. Chúng nộp 14 khẩu súng. Đến 1 giờ chiều, cũng bằng cách đó, quân và dân ta buộc địch ở đồn Phú Thuận và Phú Hiệp phải đầu hàng. Đồn thuộc khu vực công sở, do dân vệ đóng, đang hoảng sợ thì em Cam (15 tuổi) đưa gia đình binh sĩ vào đồn giải thích chính sách của Mặt trận, kết hợp với bên ngoài kêu gọi, toàn bộ 15 tên ra hàng. Bọn ở các đồn Cây Bàng, Cây Đa, Đình Thiếc bỏ chạy.

Đêm 3 tháng 2 năm 1968, 100 quần chúng và gia đình binh sĩ kết hợp với du kích và 1 tiểu đội quân địa phương bao vây công sở xã Phú Phụng, bắn chết tên cảnh sát ác ôn. Tề, dân vệ ra hàng, nộp 23 khẩu súng. Xã Phú Phụng được giải phóng.

Ngày 3, 4 tháng 2 năm 1968, các đồn thuộc công sở Vĩnh Bình, Hưng Nhơn, Bình Thạnh, Hòa Thanh, Cây Cuôi, Vàm Cống, Tân Bường, Tân An, Thới Lộ, Song Lân bị bức hàng, bức rút. Tề và dân vệ xã Hòa Bình Phước rút chạy sang cù lao Tân Phong trên sông Tiền. Cơ sở binh vận, quần chúng, gia đình binh sĩ bám sát kêu gọi. Chúng quay về, nộp 80 khẩu súng. Ở xã Đồng Phú, bọn dân vệ tập trung ở công sở tới 76 tên, ta tấn công hai lần không diệt được. Nữ đồng chí Tám Phụng - Huyện ủy viên, Bí thư xã trực tiếp vận động vợ 3 tên ác ôn chỉ huy nhóm dân vệ cùng 30 gia đình binh sĩ vào đồn kêu gọi chúng. Một tiểu đội vũ trang và 200 quần chúng bên ngoài tổ chức nghi binh hù dọa. Sau 7 ngày đêm bị bao vây, chúng ra hàng. Xã Đồng Phú được giải phóng.

Trong 10 ngày đêm tiến công, nổi dậy, huyện Chợ Lách đã giải phóng hoàn toàn 4 xã, 25 ấp; bức rút, bức hàng 70 đồn bốt, công sở; giết và làm bị thương 19 tên, trong đó có 2 tên Mỹ, gọi hàng 335 tên; thu được 143 khẩu súng. Kể từ năm 1954, đây là cuộc tiến công, nổi dậy đầu tiên của huyện Chợ Lách. Kinh nghiệm của huyện Chợ Lách đã làm phong phú thêm bài học về phương thức tiến công bàng ba mũi giáp công ở vùng sâu.

Kết thúc đợt 1, Bến Tre chưa dứt điểm được việc giải phóng thị xã nhưng đã tiêu hao được nhiều sinh lực địch, giải phóng vành đai, hình thành thế bao vây thị xã, làm tan rã phần lớn bộ máy kìm kẹp từ tỉnh đến xã, ấp, mở rộng vùng giải phóng, làm chủ nhiều đoạn giao thông thủy, bộ.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Tư, 2014, 09:09:33 PM
Tại Kiến Tường địch có 1 tiểu đoàn bộ binh của Sư đoàn 7 ngụy, 9 đại đội bảo an, 25 trung đội dân vệ, 2 trung đội biệt kích, 1 trung đội trinh sát, 1 đại đội cơ giới, 3 trung đội pháo và 1 đại đội tuần giang.

Nhiệm vụ của Kiến Tường trong tổng công kích - tổng khởi nghĩa là dứt điểm thị xã Mộc Hóa, giải phóng phần lớn nông thôn, bảo đảm hành lang vận chuyển từ Khu xuống các tỉnh và ngược lại. Để chuẩn bị, tỉnh đã củng cố, bổ sung đủ quân số cho Tiểu đoàn 504, các đại đội của các vùng, 3 đại đội đặc công, trung đội công binh, trung đội biệt động thường xuyên, trung đội thông tin…

Tỉnh đang gấp rút triển khai các mặt công tác, vì chỉ còn 48 tiếng đồng hồ nữa là đến giờ nổ súng thì có lệnh của quân khu điều Tiểu đoàn 504 đi làm lực lượng dự bị cho Khu. Tỉnh phải tổ chức một lực lượng mới. Tiểu đoàn 504B được gấp rút thành lập, rút từ bộ đội các vùng, du kích xã và chỉ gồm 2 đại đội bộ binh. Ở những vùng phải rút bớt lực lượng để thành lập Tiểu đoàn 504B, tỉnh chỉ đạo rút du kích lập lại đại đội bộ binh. Các vùng được phép sử dụng hết các cơ sở nội tuyến, cơ sở chính trị hợp pháp cho trận đánh quyết định, không còn mai phục như trước nữa. Các xã Bình Hòa, Bình Phong Thạnh, Hưng Điền được chỉ đạo tổ chức lực lượng tấn công chính trị của đội quân tóc dài 1.500 người, tập kết sẵn sàng ở phía đông thị xã.

Ngày 31 tháng 1 năm 1968, các đơn vị tỉnh cùng hàng nghìn quần chúng hành quân đến các điểm tập kết. Do hành quân xa trên 10 kilômét và phải bơi qua sông Vàm Cỏ Tây nên đến 5 giờ sáng ngày 1 tháng 2 năm 1968, các lực lượng hướng chủ yếu ở phía đông thị xã vẫn chưa tiếp cận được mục tiêu, phải quay lại. Trong khi đó, các lực lượng phía tây đã bám được mục tiêu nhưng vì phía đông đã rút nên cũng phải rút. Trên đường về Bắc Chan, các đồng chí phải dừng lại đánh phản kích suốt ngày và bị tiêu hao.

Bốn giờ sáng ngày 2 tháng 2 năm 1968, ta tiếp tục tiến công thị xã, lực lượng cánh đông đã tiếp cận được và nổ súng. Các đồng chí vượt qua cửa đông, đại đội đặc công lướt qua nhà lao đến dinh tỉnh trưởng và tòa hành chính. Tuy đã phòng bị nhưng địch không chống cự nổi, phải tháo chạy về cầu Cá Rô. Một số địch đầu hàng. Nhưng, ngược lại với ngày hôm trước, cánh phía tây của ta lại chưa vào được. Đến sáng rõ, địch nắm được tình hình, tổ chức phản kích. Chúng có xe thiết giáp yểm trợ nên đã từng bước đẩy lùi lực lượng của ta ở cánh phía đông. Ta không còn đạn đánh xe thiết giáp nên chống phản kích kém hiệu quả. Đến 10 giờ sáng, ta phải rút lui. Đại đội đặc công hi sinh và bị bắt gần hết. Bộ binh cũng bị thương vong nặng.

Cánh phía tây mãi đến 5 giờ sáng mới vào được đến cầu Cá Rô. Thoạt đầu địch bỏ chạy. Khi thấy cánh đông của ta bị tê liệt, chúng tổ chức phản kích, ta phải rút lui. Cộng cả 2 cánh, địch chết và bị thương hơn 100 tên, nhưng ta bị thương vong 80 cán bộ, chiến sĩ.

Do tấn công quân sự không thắng lợi nên mũi chính trị, binh vận hoạt động không kết quả. Ta cho lực lượng rút về Băng Chăng.

Ở thị trấn Kiến Bình, ta pháo kích vào chi khu và đánh giao thông trên lộ 29. Ở Long Khốt, ta pháo kích vào dinh quận, phá trụ sở 3 ấp. Ở Tuyên Nhơn, ta nổ súng tiến công vào thị trấn nhưng không vào được nên phải rút lui. Ở các vùng 4, 6, 8, ta nổ súng tiến công diệt được một số địch.

Cao điểm 1 của đợt 1 ở Kiến Tường hoạt động chưa có hiệu quả, lực lượng vũ trang bị thiệt hại nặng.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Tư, 2014, 09:10:29 PM
Ở Kiến Phong, tỉnh đã thành lập thêm Tiểu đoàn 502B và 1 đại đội chủ lực. Mỗi huyện đều có từ 2 trung đội đến 1 đại đội. Thị xã Cao Lãnh có 1 trung đội đặc công. Mục tiêu tiến công chủ yếu là thị xã Cao Lãnh. Tại đây, địch có 1 tiểu đoàn bộ binh của Sư đoàn 9 ngụy và các đơn vị bảo an, an ninh, cảnh sát, pháo binh, thiết giáp,…

Đêm 29 tháng 1 năm 1968, các đơn vị hành quân chiếm lĩnh vị trí tập kết theo kế hoạch đã định. Hướng chủ yếu gồm có: Tiểu đoàn 502, Đại đội đặc công, Trung đội thị xã tập kết ở Nhị Mỹ, cách thị xã 5 kilômét về hướng đông bắc. Riêng Đại đội đặc công có 1 tổ tiếp cận sở chỉ huy tiểu khu của địch. Hướng thứ yếu gồm có: Tiểu đoàn 2 và 1 trung đội đặc công và thông tin tập kết tại xã Mỹ Ngãi, cách thị xã 5 kilômét về hướng tây bắc.

Sáng ngày 30 tháng 1 năm 1968, tỉnh nhận được điện của khu điều Tiểu đoàn 502 tới khu vực gần lộ 4 để làm lực lượng dự bị cho Khu. Đây là một điều bất ngờ đối với Kiến Phong. Tỉnh một mặt điện cho Khu, xin để Tiểu đoàn 502 lại; mặt khác, ra lệnh cho Tiểu đoàn lùi ra, tạm trú quân tại kênh số 1 Bình Hàng Trung (Kiến Văn) chờ lệnh, để dù làm lực lượng dự bị cho Khu hay ở lại tỉnh đều có thể kịp thời làm nhiệm vụ. Tiểu đoàn 502 lùi ra thì Đại đội đặc công cũng phải ra theo. Khi tỉnh được Khu đồng ý cho Tiểu đoàn 502 ở lại thì đêm 31 tháng 1 năm 1968, tiểu đoàn hành quân trở lại vị trí tập kết lại bị lạc. Đến 8 giờ sáng ngày 1 tháng 2 năm 1968, tiểu đoàn mới đến Cái Vừng - Nhị Mỹ nên không thể tấn công địch đúng ngày N giờ G; kéo theo cánh thứ yếu không nổ súng hợp đồng tấn công vào thị xã theo tiếng súng của cánh chủ yếu. Tỉnh phải chỉ đạo bộ đội vây ép và pháo kích nhiều vào thị xã, đồng thời phát động quần chúng nổi dậy giải phóng các xã vùng ven. Nhưng đạn pháo lại không chuyển đến kịp. Đến sáng ngày 1 tháng 2 năm 1968, ta chỉ diệt được đồn Cái Vừng, giải phóng xã Nhị Mỹ và bao vây thị xã. Đêm 1 tháng 2 năm 1968, ta mới tiến công vào thị xã.

Ở hướng chủ yếu, Tiểu đoàn 502 đánh vào khám đường và trụ sở quận Hòa An nhưng không chiếm được mà trụ lại xã Hòa An hỗ trợ quần chúng nổi dậy tiêu diệt bức rút các đồn bốt, giải phóng các xã vùng tổng An Tịnh.

Ở hướng thứ yếu, Tiểu đoàn 2 đánh chiếm trụ sở USOM (United States Operation Mission), diệt 4 tên Mỹ và diệt Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 16 Sư đoàn 9 ngụy. Địch dùng đạn hóa học ngăn chặn, ta không tiến được đến mục tiêu hậu cần và căn cứ thuyền bay.

Ngày 2 và 3 tháng 2 năm 1968, cả hai hướng chủ yếu và thứ yếu đều không vào được nội ô mà đứng chân trên địa bàn đã chiếm được, hỗ trợ quần chúng nổi dậy. Ta diệt đồn An Bình, bức rút đồn Bình Trị, giải phóng 2 xã An Bình và Mỹ Ngãi.

Đêm 3 rạng ngày 4 tháng 3 năm 1968, ở hướng chủ yếu, Tiểu đoàn 502 đột nhập nội ô, chiếm khu vực Cao Đài, bức rút đồn xóm Bún, xã Mỹ Trà, hỗ trợ quần chúng truy lùng ác ôn một số khu phố. Ở hướng thứ yếu, Tiểu đoàn 2 chiếm khu phố Chợ Mới phường 11, khu hậu cần, bức rút đồn và phá sập cầu kênh Cụt.

Bọn địch ở thị xã cố thủ, chờ chi viện, ta không tiến sâu hơn nữa, bám trụ tại chỗ, vây ép thị xã trong các ngày 4, 5, 6 tháng 2 năm 1968. Được dược bổ sung kém, nhất là đạn và mìn chống tăng. Sáng ngày 7 tháng 2 năm 1986, trực thăng đổ Tiểu đoàn 41 biệt động quân xuống xóm Bún, xã Mỹ Trà, đụng đầu với Tiểu đoàn 502 của ta. Địch bị diệt 90 tên. Tiểu đoàn 502 chuyển sang tổng An Tịnh cùng Tiểu đoàn 2 bố trí trận địa đánh phản kích ở 2 xã Hòa An và Tân Thuận Tây.

Sáng ngày 8 tháng 2 năm 1968, địch tập trung Liên đội bảo an tiểu khu, Tiểu đoàn 41 biệt động quân, tàn quân Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 16 Sư đoàn 9, 1 chi đoàn xe M113 đánh vào tổng An Tịnh. Ta chặn đánh suốt ngày, loại khỏi vòng chiến đấu 150 tên, bắn hỏng và cháy 4 xe M113. Ta cũng bị thương vong, phải rút về phía bắc thị xã Cao Lãnh. Cao điểm 1 kết thúc.

Trong cao điểm 1 ta diệt 29 đồn bốt, bức hàng 2 đồn, bức rút 21 đồn bốt, thu được 105 khẩu súng, diệt 600 tên địch, bắt sống 13 tên, giải phóng 6 xã: Nhị Mỹ, An Bình, Mỹ Ngãi, Hòa An, Tân Thuận Tây, Tịnh Thới. Nhưng qua 9 ngày chiến đấu, mức thương vong của bộ đội ta khá cao.

(https://lh3.googleusercontent.com/AuqlCHCUkDZ9ZRbzKJMIPYhIDEpJ4pgJzXfOs4BtyFUhF-SkKNWmsv6mB5rOES5vf7BNs5u848WUKRFSKjEMNvuV4in0ccdoWoyAhGp-EUPVq7_rsVMjXeOaBOdrqigNf6OLWocQ6ocVBJ1gmiqBj-AmO6t-OvIB_rCbe2bY_NZtrH_kXZPvcB-AdaDzWS9R5q6v3ObPB1lDcZHriIWn42d6u95eUAO1A-eUrvJasQl2qX4s0-YHL1Ga9wy49KItT9M0a__W4lenMwEl8BYqf9dlpsSk47tc_iHnP13kFMvcpN62QLkABmJ3OKlAotQf5rg0piPLu05W_6faL9zarcJc_v6PfiSvCP6jXuBlCCv_1arU__rojRxRATF6hMMqvXRZjHVVi-ZqCRIXgov17YBKNrZXskHOKfJRQj9YnfRSJNDetNLPk50xmHpoaspgp4xYrK1cXSLmPZYIcoLBF2vae1bNuzIbNy7hdrNa1XHngjPUtuLLybK9y9Rq8lFBu3k3f7BGcTiBSvKfi9OCvI2aSA8RJVHVfWrWo2UBRN8UJk2fSsZpiDAsyL1561qhY4t-Qvb4gxOG_DDfEpwLChD7J1rjT0nPKNJAKmCsfNnE5B2TX3zE=w590-h800-no)

Đồn và công sở Tân Thuận Đông - Cao Lãnh - Đồng Tháp bị ta đánh chiếm ngày 21/2/1968

Ở các nơi khác trong tỉnh như Hồng Ngự, Thanh Bình, Kiến Văn, Mỹ An, Chợ Mới đúng ngày N giờ G ta nổ súng đồng loạt tiến công vào các quận lỵ (trừ Chợ Mới) nhưng không nơi nào chiếm được mục tiêu. Ở nông thôn, bọn địch một số nơi rút chạy. Ta làm chủ lộ 30, cắt đứt giao thông từ thị xã đi Thanh Bình, Hồng Ngự, Kiến Văn. Tên quận trưởng Mỹ An chuẩn bị chạy, quận trưởng Kiến Văn chạy qua Cồn Trọi xã Bình Thạnh, quận trưởng Thanh Bình chạy qua cồn Ông Cha giữa sông Tiền. Nói chung, hệ thống đồn bốt ở nông thôn lay chuyển mạnh, nhưng thực lực tại chỗ của ta không còn đủ sức để dứt điểm vì lực lượng tỉnh, huyện đang tập trung vào thị xã, thị trấn.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Tư, 2014, 09:11:36 PM
Ở An Giang, tỉnh An Giang của ta theo cách phân chia địa lý hành chính của chính quyền ngụy là 2 tỉnh Châu Đốc và An Giang.

Ở Châu Đốc, địch có 20.000 quân; ở An Giang chúng có 10.000 quân, với hệ thống đồn bốt, cứ điểm dày đặc. Riêng trong thị xã Châu Đốc địch có trên 2.000 quân, nhiều xe bọc thép, giang thuyền và cụm pháo bố trí ở núi Sam, Đồng Ky, sân bay,…

Trong tổng công kích - tổng khởi nghĩa ở tỉnh An Giang ta xác định mục tiêu chính là thị xã Châu Đốc, mục tiêu phụ là thị xã Long Xuyên; Tri Tôn, Tân Châu là diện căng kéo địch.

Lực lượng tiến công vào thị xã Châu Đốc của ta từ Núi Dài Lớn (Tịnh Biên) và căn cứ Ban An (Tân Phú) hành quân về thị xã Châu Đốc. Tối ngày 31 tháng 1 năm 1968, 2 cánh quân gặp nhau.

(https://lh3.googleusercontent.com/qN4uMoocohP641hlWel9X1JKax3QSixuP0hVjnCyJMoq5XqG5QoFYFUmiT2UUI8PnZRnKul2cKCJCuBGkjRvgOGHA3WsSFZE9RybDWjp3Lyl0T-_rWNKyExhkdfOOjRMlQ-dlVw9h8AoCfzcITQ-kmeEPevnuXiFWbo9WE88ZddQ7Tly5Cg7WWKfMULHL22DE4aON5lVfJu-iHuNt17lGJa2kz3iYQ2Il6W9qw4gLvi6W1l9JyKYXYw1c6NZTffUf1LjSux66AzQmuJnqvs6k0cZpLt4HA9oK-eZ5ak3mfA8WLiwIr_VfoN7wjzo2eIjCBy67cLhWLjcfFfnS87Ne3PukwHUTUX9k9I6P2knHYajw8Y_jpkfoQaMnot8DGT-oKcDP3l_0_ZKcM2I-OvBA-G2yCT34_xXGdkfSTIip9l1ael9y5pA1osDoauEIwH1g2F2ZyqigcfhTY7FRtwdr_P_POwTsBxVOv2byn2bZKZYjFxljtOv9q16VfVpQ5wqIq_nx6wjugoVNAn2MYXAQfqbf-rQGPBwgYy6y85hFY_2Gd2_aKfqf-YaQhfHQlnAFpVGR_KXwuD0pWPRF_VTStmRPjOQ1NEpUlDFI7YnyFTQamL5gNCy=w800-h510-no)

Lực lượng vũ trang An Giang trên đường tiến công vào thị xã Châu Đốc Xuân 1968

Hai giờ sáng ngày 31 tháng 1 năm 1968, ta nổ súng tiến công vào thị xã Châu Đốc. Sau vài giờ chiến đấu, ta gần như làm chủ hoàn toàn thị xã, chiếm tiểu khu, loại Đại đội 810 hành chính tiếp vận khỏi vòng chiến đấu, tiếp tục tấn công trại giam và dinh tỉnh trưởng. Bệnh viện tỉnh cũng lọt vào tay quân giải phóng. Địch trong dinh tỉnh trưởng được tàu và xe bọc thép yểm trợ, kháng cự mãnh liệt, ta phải dừng lại củng cố. Cánh quân thứ ha của ta làm chủ hoàn toàn đường núi, diệt đồn quân cảnh, rạp Tân Việt, trụ sở cảnh sát dã chiến, tấn công trụ sở USOM. Một bộ phận đánh vào khu vực nhà tên phó tỉnh trưởng. Một bộ phận định đánh ra bến đò nhưng bị địch chặn lại. Cánh quân thứ ba chiếm khu vực cầu sắt An Biên - Thủ Khoa Nghĩa, bao vây địch trong nhà Phủ Vị, vũ trang tuyên truyền lên đến khu vực Đất Thánh Tây. Một bộ phận làm chủ tiệm rượu Vĩnh Phong Long, bao vây thành PC, tổ chức trận đánh tàu ven sông Cồn Tiên, Đa phước.

Đến 6 giờ sáng ngày 31 tháng 1 năm 1968, địch chỉ còn lại dinh tỉnh trưởng, nhà Phủ Vị, thành PC. Địch hoàn toàn bị động trước cuộc tấn công. Tên tỉnh trưởng, tiểu khu trưởng đi ra ngoài không về được dinh. Tên tiểu khu phó liều chết chạy vào dinh tỉnh trưởng cố thủ. Tên đại úy, quyền tham mưu trưởng tiểu khu bị kẹt trong thánh thất Cao Đài. Các cụm pháo Núi Sam, An Phú im tiếng vì không chuẩn bị sẵn tọa độ trong nội ô. Suốt đêm mồng 1 rạng ngày mồng 2 Tết, địch không tổ chức phản kích được, chỉ có 1 chiếc Dakota thả pháo sáng.

Qua ngày 31 tháng 1 năm 1968, ta củng cố các vị trí đã chiếm được. Trại Thượng Đăng Lễ (tiểu khu) cùng 2 lô cốt cuối cùng ở giáp dinh tỉnh trưởng và liền bờ tường trại giam chống cự. Nếu dùng bộc phá đánh hủy diệt, thì gây thương vong cho tù nhân nên ta đắn đo. Phía bờ sông bọn giang thuyền ngụy dùng hỏa lực tối đa kiềm chế không cho ta vòng qua toàn nhà tòa án để tiến công dinh tỉnh trưởng.

Đến trưa ngày 31 tháng 1 năm 1968, Ban chỉ huy chiến dịch nhận được tin tức các nơi trên toàn miền Nam. Tình hình chung diễn biến phức tạp. Quân giải phóng chưa chiếm được các thành phố Mỹ Tho và Cần Thơ. Các trọng điểm Sài Gòn, Huế vẫn đang giằng co. Ở những nơi đó, địch đang ráo riết phản kích. Ở Châu Đốc cũng có khả năng chúng sẽ đưa lực lượng đến cứu viện. Ở mặt trận Châu Thành - Long Xuyên, địch chặn ta ở cánh đồng Năm Xã, bịt kín các ngả đường vào nội ô thị xã Long Xuyên. Mũi vũ trang trong nội ô chỉ phá được phà Vàm Cống, ném lựu đạn vào ấp Đông Thịnh B. Cánh quân ta ở Châu Phú chiếm khu vực phía dưới chùa Chà Châu Giang, định vượt sông sang Châu Đốc nhưng bị địch chặn lại. Tại Hòa Lạc, cán bộ ta phát động quần chúng nổi dậy nhưng bị địch đàn áp dữ dội. Cánh quân ta chiếm vùng Cây Dương xã Vĩnh Hậu bị địch chặn, không triển khai được qua Cồn Tiên - Đa Phước dù đã bắn cháy 2 tàu, đánh lui 3 chiếc khác. Ở Tri Tôn, đại đội địa phương đánh vào thị trấn và cầu kênh 14-15 cắt lộ tả Tri Tôn - Long Xuyên, chiếm trụ sở cảnh sát, diệt 1 trung đội bảo an. Địch còn giữ được chi khu và dinh quận. Ta làm chủ quận lỵ suốt ngày 31 tháng 1 năm 1968. Du kích các xã Núi Tô hỗ trợ 3.000 quần chúng tiến ra quận lỵ nhưng địch đàn áp mạnh nên phải rút.

Chiều ngày 31 tháng 1 năm 1968, tại thị xã Châu Đốc, địch đưa lực lượng của Sư đoàn 21 ngụy đến tiếp viện. Máy bay địch bắn phá vào khu vực ta đặt sở chỉ huy chiến dịch. Trực thăng đổ 1 tiểu đoàn xuống sân bay, 1 đại đội xuống ngoài đồng hướng cuối kênh Lò Heo. Một tiểu đội từ núi Đất Tịnh Biên đã ra tới Núi Sam. Trong nội ô, địch trong sở chỉ huy tiểu khu Châu Đốc (thành PC) và nhà Phủ Vị đang nống ra. Pháo địch ở An Phú, khu vực sân bay và Núi Sam bắn dồn dập.

Đêm 31 tháng 1 năm 1968, thấy tình thế diễn biến bất lợi, Ban chỉ huy chiến dịch lệnh cho rút lui. Phía Tri Tôn, ta cũng rút. Trên đường về, ta diệt đồn Sóc Suối và đánh thiệt hại nặng đồn Sóc Thiết. Riêng tiểu đội chốt giữ cầu kênh 13 do không nhận được lệnh rút nên vẫn bám trụ. Sáng ngày 1 tháng 2 năm 1968, địch phản kích, tiểu đội chiến đấu dũng cảm, chỉ còn 1 chiến sĩ sống sót.

Ở Châu Thành, Huệ Đức, ta và địch tiếp tục kịch chiến trên cánh đồng Năm Xã trong 45 ngày đêm. Nhiều lần, ta đánh thọc ra Vĩnh Hanh, cắt giao thông trên lộ tẻ, đánh vào Cái Chiên xã Bình Đức, vũ trang tuyên truyền ở Phú Hòa, bao vây chi khu Huệ Đức, cắt lộ Ba Thê - Núi Sập. Địch bị diệt trên 400 tên, bị bắn cháy 2 tàu. Nhiều đồn bốt bị gỡ. Cuối cùng, chúng tập trung lực lượng, máy bay, pháo, xe bọc thép chà xát cánh đồng Năm Xã. Ta phải rút về Đồng Tràm - Huệ Đức để củng cố.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Tư, 2014, 09:12:03 PM
Tháng 3 năm 1968, tiếp tục đợt 1, theo chỉ đạo của Trung ương Cục miền Nam, Khu ủy chỉ thị cho An Giang phải mở cuộc hành quân vũ trang tuyên truyền lớn vào vùng Chữ O (thuộc huyện Tân Châu), nơi có nhiều đồng bào theo đạo Hòa Hảo, và có trụ sở của Trung ương Hòa Hảo (phái Lương Trọng Tường). Đây là vùng mà địch và những tên cầm đầu phản động làm tay sai cho địch lợi dụng lòng yêu nước và lòng trọng đạo của đồng bào để kích động, gây chia rẽ, kìm kẹp, khống chế, lôi kéo một bộ phận tín đồ chống lại cách mạng, hòng biến vùng này thành nơi dự trữ sức người, sức của cho chúng để đánh phá cách mạng. Từ sau khi bộ đội ta đi tập kết (năm 1954), lực lượng cách mạng chưa thâm nhập được vào vùng này. Vì vậy, lần này ta chủ trương đưa 3 tiểu đoàn tỉnh An Giang, tron đó có Tiểu đoàn 3 mang danh nghĩa bộ đội ông Mười Trí là cán bộ quân sự Bình Xuyên theo cách mạng, được giáo chủ đạo Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ đặt cho là Sư Thúc. Ông tập kết ra Bắc năm 1954 đến năm 1968 được Trung ương đưa về Khu VIII vận động đồng bào Hòa Hảo. Yêu cầu của đợt hoạt động này là phát huy thế cách mạng vào nơi địch coi là an toàn nhất; tuyên truyền chính sách đoàn kết dân tộc, chính sách tôn giáo của Mặt trận dân tộc giải phóng, cổ vũ lòng yêu nước, vận động đồng bào theo đạo Hòa Hảo từng bước tách khỏi sự kìm kẹp của Mỹ - ngụy, trở về với cách mạng, với dân tộc. Cùng đi với bộ đội, có cán bộ vận động Hòa Hảo của tỉnh và huyện. Để thực hiện nhiệm vụ này, Khu ủy và Quân khu ủy chỉ đạo Tỉnh ủy, Tỉnh đội An Giang chuẩn bị cho bộ đội ngoài phương thức tác chiến, phải chú ý công tác vũ trang tuyên truyền, học tập nắm vững chính sách tôn giáo, phong tục tập quán, các nghi lễ của đồng bào theo đạo Hòa Hảo, giữ nghiêm kỷ luật dân vận.

Theo kế hoạch đã chuẩn bị, đêm 23 rạng ngày 24 tháng 3 năm 1968, các đồng chí Mười Đức - Phó bí thư Tỉnh ủy, Võ Ngọc Cẩn (Năm Sương) - Tỉnh đội trưởng, Nguyễn Văn Hơn (Sáu Sên) - Chính trị viên tỉnh đội, lãnh đạo và chỉ huy 3 tiểu đoàn mở cuộc hành quân tiến vào vùng Chữ O. Bộ đội tỉnh từ căn cứ B1, băng qua đồng trồng, vượt qua kênh xáng Tân An, kênh Cũ về tập kết tại xã Long Sơn. Từ đây bộ đội tỉnh chia làm 2 cánh: Cánh thứ nhất có Tiểu đoàn 1 và một bộ phận của Tiểu đoàn 3, tiến xuống xã Phú Lâm và xã Hòa Hảo (là trung tâm thánh địa). Cánh thứ hai có Tiểu đoàn 2 và bộ phận còn lại của Tiểu đoàn 3, tiến vào các xã Hiệp Xương và Bình Thạnh Đông. Phía sông Hậu, 1 đại đội của tỉnh và bộ đội huyện Châu Phú bố trí trên địa bàn xã Hòa Khánh để ngăn chặn địch từ Long Xuyên lên phản kích.

Hoạt động của các cánh quân như sau:

- Tiểu đoàn 1 của tỉnh bố trí một trận địa dài 2 kilômét (từ kilômét 14 đến kilômét 16) thuộc hai xã Long Sơn và Phú Lâm, tiến hành vũ trang tuyên truyền, bao vây, bức hàng đồn Tân Phú nhưng do địch chống trả nên ta phải dùng hỏa lực diệt đồn này. Một bộ phận khác của Tiểu đoàn 1 đã áp sát hai xã Hòa Hảo và Hưng Nhơn, tiến hành vũ trang tuyên truyền. Một đại đội của Tiểu đoàn 3 chặn đánh một lực lượng địch từ Hiệp Xương. Ta đã chiến đấu quyết liệt, bắn chết tên thiếu úy ngụy và nhiều tên khác, đẩy lùi mũi phản kích của địch.

Trên địa bàn xã Khánh Hòa, bộ đội tỉnh bố trí chặn và cắt đứt đường từ Long Xuyên đi Châu Đốc. Địch sử dụng Liên đoàn biệt động quân từ Bảy Nùi, lực lượng Sư đoàn 9 ngụy có 1 chi đoàn xe M113 và số tàu chiến ở căn cứ Vịnh Tre - Cái Dầu… đến phản kích ta tại xã Khánh Hòa. Bộ đội chặn đánh các mũi phản kích của chúng, diệt 9 xe quân sự, bắn cháy 3 xe M113 và tiêu hao, tiêu diệt một số địch, thu 30 khẩu súng.

Bị đánh thiệt hại nặng địch sử dụng một tiểu đoàn bộ binh của Sư đoàn 9 ngụy, có tàu chiến, pháo binh và 45 xe M113 yểm trợ, tiến quân đánh vào lực lượng ta ở hai xã Long Sơn và Phú Lâm. Bộ đội ta chặn đánh địch suốt ngày, bắn cháy một tàu chiến, 1 xe M113, tiêu diệt và làm bị thương một số tên địch. Tại các xã: Phú Lâm, Hòa Hảo, Hiệp Xương, Bình Thạnh Đông, Long Sơn,… bộ đội ta ngoài việc chặn đánh lực lượng phản kích của địch, còn tiến hành vũ trang tuyên truyền, rải truyền đơn, vận động đồng bào theo đạo Hòa Hảo nổi dậy diệt tề, trừ gian, giúp đỡ bộ đội.

Về phần đồng bào theo đạo Hòa Hảo, do sự tuyên truyền xuyên tạc của địch, khi bộ đội ta tiến vào đồng bào bỏ nhà, lần tránh, nhưng thấy sự tàn ác của địch và thấy sự chiến đấu dũng cảm và ý thức chấp hành nghiêm kỷ luật dân vận của cán bộ, chiến sĩ ta, đồng bào đã lần lượt trở về tiếp tế lương thực, thực phẩm cho bộ đội, cứu chữa và vận chuyển thương binh, nhiều đồng bào đã trực diện đấu tranh với địch, ngăn chặn pháo địch không cho bắn vào xóm làng - nơi có bộ đội ta bố trí chiến đấu, nhiều người tay không vẫn dũng cảm xông ra chặn đầu xe M113 không cho chúng càn, phá ruộng vườn.

Cuộc hành quân vũ trang tuyên truyền vào vùng Hòa Hảo (Chữ O) đã giành được thắng lợi, có ý nghĩa lớn về chính trị, bước đầu tạo được sự chuyển biến lớn và tích cực, đồng bào theo đạo Hòa Hảo đã thấy rõ thanh thế của cách mạng, hình ảnh anh bộ đội giải phóng, bước đầu tin tưởng cách mạng và đã có hành động dũng cảm đấu tranh với địch, giúp đỡ, bảo vệ bộ đội và cán bộ ta. Cuộc hành quân vũ trang tuyên truyền này đã tạo thuận lợi cho việc vận động cách mạng và xây dựng cơ sở Đảng trong vùng Hòa Hảo và từng bước làm chuyển biến tình hình ở vùng này có lợi cho cách mạng.

Phía Tri Tôn, ngày 5 tháng 5 năm 1968, bộ đội huyện bao vây đồn Cây Cầy - An Tức, đồn này do một trung đội dân vệ đóng giữ để kiểm soát toàn bộ khu vực đông, tây lộ An Tức. Phía tây chi khu Tri Tôn, có đồn Băng Trạo bảo vệ. Bị ta bao vây, địch cho 2 đại đội bảo an 816, 819 vào tiếp viện. Chúng lọt vào trận địa phục kích của ta. Bộ đội ta chặn đánh tiêu diệt và làm bị thương 82 tên địch.

Ngày 20 tháng 5 năm 1968, ta tiến công khu chợ Ba Thế thuộc huyện Huệ Đức nhưng không kết quả.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Tư, 2014, 09:12:35 PM
Trên chiến trường Sài Gòn:

Trước khi vào chiến dịch Xuân 1968, tỉnh Long An tách khỏi Khu VIII, trực thuộc Miền và chia thành 2 phân khu: Phân khu 2 ở phía tây, Phân khu 3 ở phía nam, để nổ súng tiến công vào thành phố Sài Gòn.

Phân khu 2, gồm các huyện phía bắc lộ 4 (nay là lộ 1) như: Đức Hòa, Đức Huệ, Bến Lức, Thủ Thừa được nối liền với các quận, huyện nội, ngoại thành phía tây Sài Gòn là Tân Bình, Bình Chánh, quận 5, quận 6, quận 3, quận 2. Nhiệm vụ của Phân khu 2 là hiệp đồng chiến đấu với 4 phân khu bạn, đánh chiếm các mục tiêu quan trọng là sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ tổng tham mưu ngụy, Biệt khu Sài Gòn, phát triển và hội quân ở Dinh Độc Lập.

Phân khu 2 do đồng chí Võ Trần Chí làm Bí thư Phân khu ủy và đồng chí Hai Sang (sau đó là đồng chí Lê Văn Nhỏ, tức Hai Lâm), làm Tư lệnh Phân khu lãnh đạo và chỉ huy. Phân khu đã sử dụng các Tiểu đoàn bộ binh 267, 269, 6, 16, Tiểu đoàn 12 đặc công và Tiểu đoàn pháo binh mang vác. Cán bộ, chiến sĩ các tiểu đoàn đã dũng cảm tiến đánh các mục tiêu được giao, có một bộ phận đánh chiếm được một góc sân bay Tân Sơn Nhất, đã bám lại được ở khu Vinatexco và đường Trần Quốc Toản (đoạn trường đua Phú Thọ). Trong đợt 2 Trung đoàn 2 của Phân khu đã đánh chiếm được khu vực Cầu Tre, Bình Thới, vây và tiêu diệt Tiểu đoàn 33 biệt động quân. Phát triển đánh chiếm Cây Gõ ở đường Hậu Giang rồi trụ lại ở khu vực Trang Tử cho đến ngày 10 tháng 5 năm 1968 thì lui dần.

Phân khu 3 gồm các huyện phía nam lộ 4 của tỉnh Long An như: Châu Thành, Tân Trụ, Cần Đước, Cần Giuộc nối với các quận huyện nội, ngoại thành phía nam Sài Gòn là Bình Chánh, Nhà Bè, quận 4, quận 7, quận 8, quận 1; do các đồng chí Nguyễn Văn Chính (Chín Cần) làm Bí thư Phân khu ủy, đồng chí Huỳnh Văn Mến (Tư Thân làm Tư lệnh Phân Khu… lãnh đạo và chỉ huy. Nhiệm vụ của Phân khu 3 là đánh chiếm các mục tiêu phía nam Sài Gòn, trong đó có các mục tiêu quan trọng như: Tổng nha cảnh sát, Dinh Độc Lập, Bộ tư lệnh Hải quân.

Phân khu đã sử dụng 7 tiểu đoàn; Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 của Long An, Tiểu đoàn của Nhà Bè, Tiểu đoàn Đồng Nai, Tiểu đoàn Phú Lợi, Tiểu đoàn đặc công và Tiểu đoàn pháo binh tiến công vào các mục tiêu. Kết quả là: Tiểu đoàn 2 Long An thọc sâu vào Phú Định, đánh bật Tiểu đoàn 33 biệt động quân ra Phú Lâm; Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn Phú Lợi thọc vào quận 8 phát triển về hướng Tổng nha cảnh sát nhưng bị địch chặn lại ở cầu Nhị Thiên Đường. Trong đợt 2, Tiểu đoàn 1 Long An đánh chiếm cầu Chữ Y và bám trụ đánh quân Mỹ phản kích suốt 1 tuần, tiêu hao, tiêu diệt nhiêu lính Mỹ. Trong hai đợt tiến công vào Sài Gòn, cán bộ, chiến sĩ Phân khu 2 và Phân khu 3 đã chiến đấu rất kiên cường và dũng cảm.

Trong đợt 1 tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, Đảng bộ, nhân dân và các lực lượng vũ trang, lực lượng chính trị và binh vận Khu VIII - Trung Nam Bộ đã nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh của Trung ương, vượt qua mọi gian khổ, hy sinh chiến đấu dũng cảm, kiên cường, với khí thế Đồng Khởi, hợp đồng chặt chẽ với các chiến trường toàn Miền, đã đồng loạt tiến công và nổi dậy ở hầu hết các thị xã, thị trấn và vùng nông thôn rộng lớn, thành phố, thị xã quan trọng như: thành phố Mỹ Tho, thị xã Bến Tre, thị xã Châu Đốc…, kiên cường đánh phản kích của địch trong thành phố, thị xã, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh ngay trên các đường phố. Quần chúng trong nội ô đã nổi dậy diệt ác, phá kìm, giành quyền làm chủ nhiều khu phố, đường phố. Ở vùng nông thôn, đồng bào đã tiến công và nổi dậy mạnh mẽ, giải phóng hoàn toàn 30 xã và giành quyền làm chủ nhiều nơi. Ta giành được thắng lợi lớn và đưa chiến tranh vào tận hang ổ, vào các cơ quan đầu não, hậu cứ của Mỹ - ngụy, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, diệt, bức hàng, bức rút nhiều đồn bốt địch, giải phóng và giành quyền làm chủ nhiều vùng nông thôn quan trọng. Tuy nhiên, ta cũng chưa dứt điểm và giải phóng được các thị xã và thị trấn.

Thắng lợi của chiến trường Khu VIII - Trung Nam Bộ trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân đã góp phần quan trọng cùng toàn Miền “giáng đòn sấm sét” vào đầu bọn xâm lược Mỹ, làm choáng váng cả nước Mỹ và chấn động dư luận thế giới. Chính quyền Giônxơn bị đứng trước nguy cơ lần đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ, quân đội Mỹ có khả năng bị đánh bại trong chiến tranh.

Sau một tháng, tướng Oétmôlen, tổng chỉ huy quân Mỹ ở miền Nam bị cách chức. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mác Namara từ chức. Sau 2 tháng, ngày 31 tháng 3 năm 1968, Tổng thống Mỹ Giônxơn phải tuyên bố đơn phương ba điểm:

- Đơn phương ngừng đánh phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra.

- Nhận đàm phán với ta tại Pari.

- Không ra tranh cử Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ thứ hai.

Đây là sự thừa nhận đầu tiên nhưng đầy đủ nhất về sự phá sản của chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ, một chiến lược chiến tranh được nước Mỹ chuẩn bị rất công phu. Đến tháng 5 năm 1968, Mỹ phải bắt đầu đàm phán với ta về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Rõ ràng, cuộc tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của ta đã làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, đã tạo một bước ngoặt quan trọng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, khởi đầu một quá trình đi xuống về chiến lược trong chiến tranh xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Tư, 2014, 08:57:22 PM
3. Tổng tiến công và nổi dậy đợt 2

Ngày 24 tháng 4 năm 1968, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp và nhận định bước đầu thực hiện cuộc tổng tiến công và nổi dậy, ta đã thu thắng lợi to lớn và toàn diện, tạo nên bước ngoặt mới tiến lên giành thắng lợi quyết định cho cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam. Bộ Chính trị đề ra phương hướng nỗ lực động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phát huy thế chiến thắng, tiếp tục phát triển tiến công toàn diện, đẩy địch vào thế thất bại liên tiếp.

Bước vào đợt 2, đồng chí Phạm Hùng - Bí thư Trung ương Cục miền Nam, Chính ủy Bộ tư lệnh Miền và đồng chí Hoàng Văn Thái - Tư lệnh Quân giải phóng Miền giao nhiệm vụ cho Khu VIII là: Ngoài nhiệm vụ đánh vào trọng điểm là thành phố Mỹ Tho và các thị xã trong đợt 1, trong đợt 2 phải đưa Trung đoàn 1 sang Long An, đánh chiếm sân bay Cần Đốt, đánh sập cầu Tân An và cắt lộ 4. Đây là nhiệm vụ mới, rất khó khăn vì chưa được chuẩn bị. Lực lượng bị tiêu hao trong đợt 1 chưa được bổ sung, nếu đưa Trung đoàn 1 sang Long An, chỉ còn lại Trung đoàn 2 và không đủ sức tiếp tục tiến công vào thành phố Mỹ Tho.

Thường vụ Khu ủy và Quân khu ủy đã họp quán triệt nhiệm vụ của đợt 2 và bàn biện pháp thực hiện. Hội nghị do đồng chí Sáu Đường - Bí thư Khu ủy kiêm Bí thư Quân khu ủy chủ trì. Hội nghị đã đi sâu phân tích, đánh giá tình hình trong Khu như sau: Trong đợt, toàn Khu đã không giành được thắng lợi thắng lợi theo khả năng 1 như dự kiến, chưa dứt điểm được các thị xã, thị trấn… Theo chỉ thị của Miền, bộ đội đã bám trụ ở vùng ven để tiếp tục tiến công vào thị xã, thị trấn. Khi bám trụ ở vùng ven, bộ đội phải liên tục đánh địch phản kích rất ác liệt nên lực lượng tiếp tục bị tổn thất.

Lúc này trên chiến trường miền Nam, từ tháng 3, tháng 4 năm 1968, địch tập trung lực lượng liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét, thực hiện thủ đoạn “quét và giữ” quy mô lớn nhằm giải tỏa các đô thị, các căn cứ bị ta tấn công, đẩy lực lượng ta ra xa, khôi phục các tuyến giao thông chiến lược bị ta cắt, tăng cường đàn áp, khủng bố quyết liệt các cơ sở cách mạng, ráo riết tiến hành “bình định” nhằm giành giật lại vùng nông thôn đồng bằng, đặc biệt là ở các vùng vừa bị mất trong đợt tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân.

Trên chiến trường Khu VIII, Sư đoàn 7 ngụy, Lữ đoàn 3 Sư đoàn 9 Mỹ, có phi pháo yểm trợ mạnh, kể cả pháo đài bay B52, liên tục mở những đợt hành quân càn quét lớn vào vùng ven thành phố Mỹ Tho, nam bắc lộ 4 ở Mỹ Tho, Bến Tre. Vùng Bảy Núi An Giang và Gò Công.

Hằng ngày, hằng giờ, pháo binh, máy bay, kể cả máy bay B52 của địch ném bom, bắn phá ác liệt vào các nơi đóng quân, vào căn cứ và hành lang vận chuyển của ta, gây nhiều thương vong cho cán bộ, bộ đội, du kích và nhân dân.

Trước tình hình trên Trung ương Cục và Bộ tư lệnh Miền đã cử đồng chí Trần Độ (Chín Vinh) - Phó chính ủy Quân giải phóng Miền xuống chỉ đạo Khu VIII tiếp tục đánh vào thành phố, thị xã. Khu ủy và Quân khu ủy đã nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh cấp trên, động viên cán bộ, chiến sĩ vượt mọi khó khăn, gian khổ, tiếp tục tiến công địch, thực hiện nhiệm vụ của đợt 2 của cuộc tổng tiến công.

Vào đợt 2, Miền quyết định cho Khu chuyển các chiến đoàn sang trung đoàn. Đối với Trung đoàn 1 sang Long An do đồng chí Bùi Thanh Khiết (Hai Thanh) - Phó chính ủy và đồng chí Tăng Thiên Kim (Tư Chương) - Tham mưu quân khu trực tiếp chỉ huy.

Trước khi vào đợt 2, Trung đoàn 2 chủ lực của Khu đánh một trận tập kích vào cụm cơ giới Mỹ đóng dã ngoại tại Quẹo Nhị Bình (trên lộ 4), phá hủy 30 xe quân sự. Mỹ chết và bị thương 100 tên. Sau trận đánh dũng cảm, táo bạo và thắng lớn của ta, toàn bộ đồn bốt quân ngụy từ Long Định đến Hưng Môn đều rút chạy. Quần chúng các xã ven thành phố Mỹ Tho cùng du kích nổi dậy phá banh 15 “ấp tân sinh”.

Đêm mồng 4 rạng ngày 5 tháng 5 năm 1968, quân và dân toàn Khu cùng toàn Miền bước vào đợt 2 tổng công kích - tổng khởi nghĩa.

Trên hướng Long An, Trung đoàn 1 nổ súng tiến công địch, diệt được một số mục tiêu xung quanh sân bay Cần Đốt và phía đông thị xã Tân An. Địch ngăn chặn quyết liệt và tăng cường phòng thủ. Trung đoàn 1 phải rút khỏi thị xã Tân An, trụ lại ở các xã An Lục Long - Tân Hóa Thành thuộc huyện Châu Thành tỉnh Long An. Địch tập trung bộ binh, xe M113, pháo, máy bay đánh liên tục vào đội hình ta. Trong điều kiện khó khăn do địch đánh phá mạnh, đạn dược, lương thực, thuốc men và cả nước uống đều thiếu (do nước bị phèn), cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 1 vẫn kiên cường bám trụ, đánh địch liên tục suốt 15 ngày đêm liền, đẩy lùi nhiều đợt phản kích, tiêu hao, tiêu diệt nhiều địch. Đến ngày 18 tháng 5 năm 1968, Bộ Tư lệnh Miền cho Trung đoàn 1 rút khỏi Long An về bám ở các xã thuộc huyện Chợ Gạo, Mỹ Tho để vừa đánh địch vừa củng cố lực lượng.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Tư, 2014, 09:00:02 PM
Tại thành phố Mỹ Tho (trọng điểm 1), lực lượng chủ lực của Khu chỉ còn Trung đoàn 2. Ngoài đánh một số mục tiêu ở vùng ven, đánh địch phản kích, đánh giao thông, trong đợt này ta còn đánh một số mục tiêu trong thành phố bằng hình thức đột kích: Tiểu đoàn 263B, 2 đại đội đặc công 312, 314 và biệt động thành phố chọn ra 100 cán bộ, chiến sĩ, trang bị tốt, tổ chức cuộc đột kích vào Trung tâm huấn luyện Hùng Vương của địch ở tây nam thành phố. Trong trung tâm, ta có 3 nội tuyến và đội trưởng trinh sát của Tiểu đoàn 263B vào trước hỗ trợ. Ta đánh chiếm các lô cốt chung quanh, đột nhập vào trong thành chiếm được một phần khu ngoài, sau đó phát triển sang khu tân binh nhưng địch chống cự mạnh nên đành phải rút. Địch bị thương vong nặng và tan rã lớn… Biệt động thành phố đánh chiếm cư xá Mỹ, đồn cảnh sát, căn cứ thiết đoàn 6. Công binh cắt lộ 4 trong 2 ngày, từ ngày 5 đến ngày 7 tháng 5 năm 1968. Du kích các xã Bình Trưng, Long Hưng, Song Thuận bắn rơi trực thăng. Du kích vành đai Bình Đức diệt một đơn vị Mỹ. Tiểu đoàn 514C đứng chân ở bắc Cái Bè, diệt một số đồn ở Hội Cư, Hậu Mỹ, Mỹ Thiện.

(https://lh3.googleusercontent.com/CNUm5SuG0cZRCfnOzcQyAyXECftwzDq1WqUlybprqTtlHnfakLNVVHjWpwe-pCw0w-x5icO24aU_4OBPy5zY67LCiu1Zhvneb-hMnbawJFtKN1B7fZj5WzzE4dj43IMbxE4MqejPNBm0ptvZVRqfbOGYREdYpFFarvWC7Ycv0AAy1fLc-9Pk4xwCZcxLw_8AGOn4aq4F6sL-98LBNxTMKmqF-F87M-KrIepYgn-FDrz52kPGo0ebeI-y385oViREX9DavxNT-q-OQgYqinxWGGTIeMQlJBbYgLxcWi_pDHaCMh6teXsP8jUpnFQ0snrtCX2gj-AgDISQZi1LEiiRUvLoq6w24zoyToJYKjzGA8F00-C_Tq1t1qaS4V7PSNvsxJevd9bwneeMKIyndDb-YxwFB35_DMGwqo2KrZOc6r0KQQlyP8_TLQRVDDbwAn4j-Qp2MMB3Da0Hm0mbTrytoZhonxeBUZCcUH2MXHaGErGj4ovLJp6x7MHkcgQomQaYgpxhYnW8MyN_kJCP84LTr1CHIejmyz6exNPaTQeINTniZBaxQyg5vUh1g1A02NllafJhHyrrUHEdbAY9nrTM09Sl24AK_ErLtKej_jEoOfndJ74AUPSo=w600-h493-no)

Quân Mỹ đốt phá ở Mỹ Tho, tháng 5-1968

Ở Gò Công, Tiểu đoàn 514B diệt đồn Sơn Quy và các đoàn bình định, đánh phản kích ở Bình Lạc, Bình Phú, Bình Nhị, Đồng Thọ. Ngày 10 tháng 3 năm 1968, Tiểu đoàn đánh địch càn tại ấp Nam Tân, Bình Điền.

Trong đợt 2, Mỹ Tho - Gò Công loại khỏi vòng chiến đấu 2.263 tên địch, trong đó có 389 tên Mỹ, phá hủy 70 xe quân sự và 4 pháo. Nhưng địch đã chuyển sang phản kích mạnh, đẩy chủ lực ta ra xa thành phố và ráo riết triển khai kế hoạch bình định nhằm vào các vùng nông thôn giải phóng.

Đầu tháng 6 năm 1968, quân Mỹ bung ra đóng chốt trên lộ 4 ở Nhị Bình, căn cứ 23, 33 và căn cứ Bà Lâm. Mỗi nơi chúng bố trí một đại đội pháo 155 và một đại đội bộ binh. Riêng tại căn cứ 33 chúng bố trí một tiểu đoàn. Từ những chốt này, với chiến thuật “cóc nhảy” có pháo binh, máy bay, kể cả B52 yểm trợ, chúng đánh sâu vào vùng căn cứ và các tuyến hành lang vận chuyển của ta. Quân ngụy cũng tăng cường đánh phá vùng ven, các trục giao thông, thị trấn, thành phố, thực hiện “bình định cấp tốc”. Chúng tập trung bình định các huyện Gò Công, Chợ Gạo, các xã ven thành phố Mỹ Tho, dọc lộ 4, ven sông Tiền. trên sông Tiền và trên các con kênh Nguyễn Tấn Thành, kênh 28… tàu, xuồng máy của chúng liên tục tuần tra, kiểm soát chặt chẽ.

Để đối phó lại các cuộc hành quân phản kích của địch và thực hiện được nhiệm vụ đứng chân bám sát thành phố, ta chủ trương xây dựng các lõm căn cứ, lõm chiến đấu ở các xã vùng ven.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Tư, 2014, 09:00:27 PM
Ở Bến Tre, ngày 5 tháng 3 năm 1968, Khu điều Tiểu đoàn 3 của tỉnh về Miền. Tỉnh cho lực lượng khởi nghĩa của quần chúng về địa phương, giải thể Tiểu đoàn 4, tổ chức thành 3 đơn vị mũi nhọn đứng chân ở vành đai vây ép thị xã.

Tiểu đoàn 516, Tiểu đoàn 2 và các đại đội binh chủng tổ chức thành chiến đoàn nhẹ làm quả đấm của tính bám trụ tại các xã Hữu Định, Phước Thạnh, Song Phước, Phú An Hòa, Quới Sơn, sẵn sàng đánh trả các cuộc phản kích của địch, giữ vững thế tổ chức tạo điều kiện bước vào đợt 2.

Cuối tháng 3 năm 1968, quân Mỹ rút khỏi Bến Tre. Quân ngụy trong thị xã thường bung ra thăm dò. Bộ đội đặc công Châu Thành, biệt động thị xã, du kích vành đai đánh địch, diệt hàng chục tên. Cũng trong tháng 3 năm 1968, Trung đoàn 10 Sư đoàn 7 ngụy yểm trợ cho bọn công binh phát quang, mở đường cho dân vệ chi khu Trúc Giang chiếm lại các đồn công sở 2, 3, khai thông liên tỉnh lộ 6A Bến Tre - Mỹ Tho. Tiểu đoàn 16, Tiểu đoàn 2 và quân địa phương Châu Thành chặn đánh tiêu hao nặng tiểu đoàn công binh, bọn dân vệ bỏ chạy khỏi 2 đồn mới đóng, giao thông địch lại bị tắc.

Đêm 4 tháng 5 năm 1968, ta đánh đồn Phú Hưng với ý định kéo Trung đoàn 10 Sư đoàn 7 ngụy ra cứu viện nhưng chúng đề phòng nên không ra.

Bảy giờ sáng ngày 7 tháng 5 năm 1968, 2 tiểu đoàn của Trung đoàn 10 Sư đoàn 7 và đại đội trinh sát chia thành 2 cánh, tiến qua cánh đồng Phú Hưng - Hữu Định bao vây đại đội quân địa phương Châu Thành đóng ở gần đó. Cánh ở lộ Phú Điền, lộ Giữa, gồm Tiểu đoàn 3 và Đại đội trinh sát của Trung đoàn 10 của địch rơi vào tuyến phòng ngự của Tiểu đoàn 516. Cánh Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 10 của địch hành quân theo kênh Chẹt Sậy đánh vào đại đội quân địa phương Châu Thành. Trên toàn mặt trận, ta đồng loạt nổ súng đánh bật địch ra đồng. Đại đội quân địa phương chống trả quyết liệt với tiểu đoàn địch, ta bị tiêu hao một tiểu đội, trận địa bị chọc thủng. hai trung đội dự bị của Tiểu đoàn 516 được lệnh hợp đồng cùng đại đội địa phương chiếm lại vị trí đã mất. Ngay đợt đầu tiên, địch bị diệt 70 tên. Địch cho máy bay ném bom, pháo bắn hàng ngàn quả xuống mặt trận. Trong lúc đang tác chiến, qua tin trinh sát kỹ thuật, ta biết địch không còn lực lượng chi viện, định rút. Ta vẫn bám và kìm, chúng không dám rút và rất hoang mang. Ban chỉ huy mặt trận lệnh cho Tiểu đoàn 516 chia cắt địch, Tiểu đoàn 2 lợi dụng địa hình, bí mật đánh vào sau lưng địch. Tiểu đoàn 516 xuất kích, địch chạy tán loạn. Trên mặt trận dài 3 kilômét, ta tiến công mãnh liệt. Tiểu đoàn 516 đánh trúng sở chỉ huy Trung đoàn 10, tên trung đoàn phó và tên đại úy pháo binh bị diệt, tên trung đoàn trưởng bỏ chạy thục mạng. Địch bị diệt 400 tên. Đây là trận đánh tiêu diệt quy mô lớn trong đợt 2 trên chiến trường Bến Tre.

Trước tình hình như vậy, quân Mỹ lại phải nhảy vào cứu nguy cho quân ngụy. Ngày 8 tháng 5 năm 1968, 14 chiếc tàu chở 1 tiểu đoàn quân Mỹ từ vàm An Hóa vào sông Ba Lai, lọt vào trận địa phục kích của quân ta. Ta nổ súng bắn chìm và cháy 12 chiếc. Tiểu đoàn Mỹ bị thiệt hại nặng. Cùng lúc, trực thăng đổ 1 tiểu đoàn Mỹ xuống cánh đồn Sơn Phước, Giao Long Hòa. Tiểu đoàn 2 bố trí đánh địch diệt một số tên.

Đêm 8 tháng 5 năm 1968, các lực lượng ta chuyển về đóng quân tại xã An Khánh để chuẩn bị vào đợt 2. Địch phát hiện, 1 tiểu đoàn Mỹ từ xã Giao Long Hòa lên lộ 6A, chia làm nhiều mũi đánh vào. Chúng ném bom, bắn pháo dữ dội vào mặt trận. Ta chiến đấu suốt 14 giờ liền, diệt 100 tên Mỹ. Đêm 11 tháng 5 năm 1968, ta đánh vào thị xã. Đại đội đặc công diệt 2 đồn ở xã Bình Phú. Sáng 12 tháng 5 năm 1968, 1 đại đội bảo an, 1 chi đội xe M113 phản kích. Ta diệt gần 100 tên. Chúng cho máy bay B52 ném bom xuống xã Phước Thạnh ở ven thị xã. Như vậy, trong 6 ngày đêm bám trụ đánh địch phản kích, bộ đội tỉnh, huyện đã đánh 4 trận lớn, diệt 2 tiểu đoàn chủ lực ngụy, 1 đại đội bảo an, tiêu hao nặng 1 tiểu đoàn, 1 đại đội Mỹ, bắn chìm 12 tàu. Đến đây, tuy địch đã yếu sức nhưng bộ đội ta cũng chưa đủ khả năng giải phóng thị xã. Chiến đoàn được lệnh rút ra vùng ven.

Trong tháng 5 năm 1968, Khu điều Tiểu đoàn 2 của tỉnh về Miền. Tỉnh lấy Đại đội 2 và một số cán bộ của Tiểu đoàn 516, 3 trung đội quân địa phương của các huyện Thạnh Phú, Mỏ Cày, Chợ Lách xây dựng tiểu đoàn mới, lấy tên là Tiểu đoàn 5.

Quân chủ lực ngụy đã mất sức chiến đấu. Quân Mỹ lại phải vào để đối phó. Lần này, chúng đưa đến Bến Tre cả 1 lữ đoàn Mỹ, 1 hạm đội nhỏ xung kích cùng nhiều phương tiện chiến tranh và xây dựng trận địa pháo ở nhiều nơi: sân bay Tân Thành, Phú Hưng, Gò Cát, Đồng Gò, Giồng Xoài trong địa bàn thị xã và huyện Giồng Trôm.

Đối tượng tác chiến chủ yếu lúc này là quân Mỹ, hỏa lực Mỹ, quân ta cần phải có quyết tâm cao để đánh bại đội tượng mới; phải xây dựng chiến đoàn mạnh, tác chiến tập trung để đủ sức tiêu diệt từng đại đội và tiểu đoàn Mỹ; bộ đội cần phải được bồi dưỡng kỹ về những kỹ thuật và chiến thuật thích hợp để tác chiến với quân Mỹ.

Thượng tuần tháng 7 năm 1968, Bến Tre tập trung các tiểu đoàn bộ binh và các đơn vị binh chủng về các xã căn cứ Lương Phú, Thuận Điều, Long Mỹ huyện Giồng Trôm để củng cố tổ chức, giáo dục cán bộ, chiến sĩ quán triệt hơn nữa quyết tâm và cách đánh Mỹ, chuẩn bị cho trận chiến đấu mới.

Đêm 22 tháng 7 năm 1968, trinh sát kỹ thuật của ta phát hiện địch đang chuẩn bị hành quân càn quét căn cứ Giồng Trôm. Lực lượng càn quét là Trung đoàn 10 Sư đoàn 7 ngụy, có quân Mỹ và máy bay B52 yểm trợ. Quân Mỹ sẽ dùng tàu đánh vào các xã Lương Phú, Thuận Điền, Long Mỹ, Trung đoàn 10 ngụy sẽ đổ quân bằng trực thăng xuống xã Tân Hào, Hiệp Hưng. Rạng sáng ngày 23 tháng 7 năm 1968, máy bay B52 ném bom 6 lần xuống các xã Lương Phú, Thuận Điền, Long Mỹ, Tân Hào. Vào lúc 7 giờ, 14 trực thăng đổ 2 đại đội của Trung đoàn 10 xuống Gò Tranh. Bộ đội phòng không 12,8 ly của ta bắn rơi 7 chiếc, bắn bị thương 4 chiếc. Tiểu đoàn 5 và Đại đội 3 Tiểu đoàn 516 xuất kích, diệt được 200 tên địch. Đoàn trực thăng thứ 2 đổ 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 10 cách mặt trận 1.000 mét. Ta bắn bị thương 1 chiếc. Địch bắn gần 5.000 quả pháo xuống 2 xã Lương Phú, Long Mỹ và dọc bờ sông Giồng Trôm để dọn đường cho 20 tàu chở đầy quân Mỹ tiến vào. Đến đoạn sông thuộc xã Lương Phú, chúng bị các tổ săn tàu của ta diệt tại chỗ 16 chiếc. Khi chúng vào kéo số tàu chìm, ta lại bắn cháy thêm 12 chiếc. Tổng số quân Mỹ và ngụy bị diệt trong trận này là 500 tên.

Đây là đòn phủ đầu choáng váng đối với quân Mỹ và ngụy ngay khi quân Mỹ trở lại Bến Tre.

Ở Kiến Tường, trước khi vào đợt, địch đưa Sư đoàn 7 và 2 trung đoàn của Sư đoàn 9 cùng 1 tiểu đoàn của Sư đoàn 21 ngụy, bọn biệt kích Mỹ và bọn chiêu hồi đánh lên phía nam vùng 4. Yểm trợ cho bọn chúng là 30 khẩu pháo, tập trung ở các cụm Mỹ Phước Tây, Thiên Hộ. Chúng hành quân liên miên, tiếp tục bới hầm bí mật và sử dụng phi pháo ở mật độ cao.

Ở vùng 6 và vùng 8, chúng tăng cường hoạt động biệt kích và tập trung nhiều xe M113 yểm trợ cho các cuộc hành quân bung ra phản kích.

Về phía ta, sau đợt 1, ta rút lực lượng ra củng cố, chuẩn bị cho tiến công đợt 2, đồng thời đánh địch phản kích rất quyết liệt. Ngày 4 tháng 4 năm 1968, quân địa phương vùng 4 chặn đánh 2 đại đội bảo an từ Mỹ An càn vào xã Tân Ninh, diệt và bắt 75 tên. Ngày 24 tháng 5 năm 1968, bộ đội vùng 6 cùng du kích Đông Thuận đánh địch càn vào ấp Bà Xây, xã Thủy Đông diệt 64 tên, bắn rơi 4 máy bay. Ngày 31 tháng 4 năm 1968, quân địa phương vùng 4 đánh tàu địch tại kênh Phụng Thớt, xã Nhơn Ninh, bắn chìm 2 chiếc. Cùng ngày, Tiểu đoàn 263B của Khu đánh 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 10 Sư đoàn 7 ngụy đi càn quét ở Trại Lòn, diệt 80 tên. Ngày 10 tháng 3 năm 1968, Tiểu đoàn 504 diệt gần như toàn bộ tiểu đoàn biệt kích “Trâu điên” tại kênh Nguyễn Văn Trỗi, xã Hưng Điền, sau đó, tiểu đoàn tiến công đồn Cái Đôi, đánh Tiểu đoàn 86 biệt động quân biên phòng và 2 trung đội thám sát tại xã Vĩnh Đại, diệt trên 100 tên.

Đến đây, sau khi Trung đoàn 1 được rút về Mỹ Tho, Quân ủy Miền chỉ đạo Khu giao nhiệm vụ cho Kiến Tường tiến công tiếp vào thị xã Tân An. Đây là địa bàn mới, bộ đội chưa quen, địch đã tổ chức phòng thủ chặt chẽ và đang bung ra phản kích quyết liệt. Tỉnh tiếp nhận chiến trường mới, vừa tổ chức điều tra, nghiên cứu vừa cho Tiểu đoàn 504 hành quân đến mục tiêu. Tiểu đoàn phải vượt chặng đường dài từ biên giới vùng 8 xuống huyện Châu Thành - Tân An. Ngày 20 tháng 5 năm 1986, tiểu đoàn bước vào tiến công. Không có điều kiện để tiến công theo kiểu đột phá, nên ta phải đánh từ bên ngoài. Tiểu đoàn bám thị xã trong suốt đợt 2, diệt 4 xe M113 từ Châu Thành lên thị xã và diệt 1 trung đội địch từ thị xã Tân An xuống đồn Vàm, sông Vĩnh Công.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Tư, 2014, 09:00:51 PM
Ở An Giang, vào đợt 2, bộ đội bám trụ đánh địch và phát động quần chúng ở các khu vực Mỹ Đức, Khánh Hòa, Vĩnh Tế, Đa Phước. Theo sự chỉ đạo của Khu ủy, An Giang tiếp tục đưa quân xuống hoạt động ở vùng Hòa Hảo (Chữ O). Theo hợp đồng, bộ đội tỉnh An Giang từ Mỹ Đức qua vùng Chữ O, cùng lực lượng của Khu từ Hồng Ngự vượt sông Tiền qua Long Sơn, Phú Lâm, nhưng lực lượng của Khu chỉ đến được Long Thuận, đứng chân 3 ngày hoạt động vũ trang tuyên truyền rồi rút. Địch dùng 3 tiểu đoàn và xe bọc thép chặn bộ đội An Giang ở Mỹ Đức, Khánh Hòa. Trong suốt 5 ngày đêm ta đánh thiệt hại nặng 3 tiểu đoàn địch. Ta bị thương vong nhiều, nên rút về căn cứ.

Phía Tri Tôn, ngày 5 tháng 5 năm 1968, quân địa phương huyện bao vây đồn Cây Cầy - An Tức, do 1 trung đội dân vệ đóng giữ. Hai đại đội bảo an 816, 819 từ Tri Tôn vào tiếp viện bị ta chặn đánh. Địch chết và bị thương 85 tên. Ta hi sinh 2, bị thương 19.

Ngày 20 tháng 5 năm 1968, ta tiến công khu chợ Ba Thê thuộc huyện Huệ Đức nhưng không giành được thắng lợi.

Trong đợt 2 tổng công kích - tổng khởi nghĩa ở Khu VIII, địch tăng cường phòng thủ, lực lượng ta bị tiêu hao trong đợt 1 và trong khi bám trụ ở vùng ven chưa được bổ sung, củng cố, nhiệm vụ khó khăn hơn, nhưng các cấp lãnh đạo, chỉ huy, quân và dân toàn Khu VIII đã nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh của cấp trên, đưa quân sang tiến công ở thị xã Tân An, tiếp tục tiến công vào thị xã, thị trấn bằng lực lượng pháo, biệt động, đặc công, vây ép thị xã và tiêu hao, tiêu diệt địch ở vùng ven giành thêm được một số thắng lợi, góp phần cùng toàn Miền tiếp tục giành thêm thắng lợi, giáng thêm một đòn vào kẻ thù, buộc Tổng thống Mỹ Giônxơn, ngày 13 tháng 5 năm 1968, phải cử một đoàn đại biểu Mỹ đến Pari trong thế suy yếu hơn để đàm phán với ta.

Tháng 8 năm 1968, Bộ Chính trị Trung ương Đảng chủ trương tiến hành tổng công kích - tổng khởi nghĩa đợt 3.

Ở chiến trường Khu VIII - Trung Nam Bộ thế và lực của ta sau hai đợt tiến công suy giảm nhiều, địch đã thực hiện “quét và giữ” và tập trung mọi lực lượng đẩy mạnh bình định nông thôn trên quy mô rộng lớn, khả năng tiến công và giữ của ta đều gặp khó khăn lớn. Do đó, khi vào đợt 3, chỉ có Mỹ Tho, Kiến Tường (gồm bộ phận tiến công Tân An) có tiến công, nhưng chỉ đánh địch ở vùng ven. Các tỉnh khác như Bến Tre, Kiến Phong, An Giang phải liên tục đánh địch phản kích và chống phá chương trình “bình định cấp tốc” của địch nhằm chiếm lại những vùng chúng bị mất trong đợt 1 và lấn chiếm sang vùng giải phóng cũ của ta.

Đêm 24 tháng 8 năm 1968, Tiểu đoàn 263B của Khu và Tiểu đoàn 514C tiến công chi khu Giáo Đức. Tiểu đoàn 514B tập kích diệt 1 đại đội biệt kích tại Cả Chốt và tập kích đồn Vàm Giồng, diệt 2 xe trên lộ Hòa Đồng (tỉnh Gò Công).

Ở Tân An, Tiểu đoàn 504 của Kiến Tường cùng 1 đại đội biệt động thị xã tập kích 1 đại đội bảo an và 1 đoàn bình định tại vành đai đông nam thị xã, diệt 50 tên. Sau đó tập kích diệt gọn 1 trung đội biệt kích Mỹ tại căn cứ Bình Tịnh và diệt 1 trung đội biệt kích ngụy ở thị xã.

Tại thị xã Mộc Hóa, ở ba xã vùng ven là Tuyên Thạnh, Bình Hiệp, Tân Lập, bộ đội và du kích vây ép, cắt giao thông thủy bộ, đánh địch bung ra giải tỏa. Địch đưa 1 lữ đoàn của Sư đoàn 9 Mỹ và 80 tàu đến hoạt động từ Mộc Hóa đến Thủ Thừa. Bộ đội tỉnh Kiến Tường tổ chức tập kích các đồn Bình Châu, Chùa Nổi, Cái đôi, dùng phân đội nhỏ thọc sâu và bắn pháo cối vào thị xã Mộc Hóa.

Tháng 9 năm 1968, Tiểu đoàn 504 chặn đánh 1 tiểu đoàn của Sư đoàn 7 ngụy tại ấp Cái Đôi, xã Bình Hiệp, diệt 1 đại đội. Địch ở đồn Cái Đôi hoảng hốt bỏ chạy.

Tại Bến Tre, đội săn tàu và Tiểu đoàn 516 phục kích bắn chìm và cháy 16 tàu chiến của Lữ đoàn 3 Sư đoàn 9 Mỹ khi chúng càn quét và căn cứ huyện Giồng Trôm.

Đến ngày 30 tháng 9 năm 1968, kết thúc đợt 3 cuộc tổng công kích - tổng khởi nghĩa ở Khu VIII.

Cuộc tổng công kích - tổng khởi nghĩa ở Khu VIII - Trung Nam Bộ đã diễn ra từ Tết Mậu Thân và kéo dài cho đến cuối năm 1968, đã tổ chức và tiến hành 3 đợt tiến công để phối hợp toàn chiến trường toàn miền Nam.

Quân và dân trong toàn Khu VIII với quyết tâm cao, chịu đựng mọi khó khăn, ác liệt, đã nghiêm chỉnh chấp hành mọi mệnh lệnh về chiến đấu cũng như điều động chiến đấu của cấp trên, đã giành được thắng lợi to lớn trong cao điểm 1 của đợt 1, đồng loạt nổ súng, tiến công vào 6 thành phố, thị xã, 23 thị trấn, đánh chiếm và làm chủ một số khu vực trong thành phố Mỹ Tho, thị xã Bến Tre, thị xã Châu Đốc, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của Mỹ - ngụy, cắt đứt giao thông lộ 4 và nhiều đường giao thông thủy, bộ quan trọng khác. Ở nhiều vùng nông thôn, đồng bào đã nổi dậy giải phóng 30 xã và giành quyền làm chủ nhiều nơi khác, kể cả trong nội ô thị xã, thị trấn và ven trục lộ giao thông… Khu VIII đã góp phần cùng toàn Miền đánh bại những cố gắng cao nhất về quân sự của Mỹ - ngụy tạo được bước ngoặt quyết định của cuộc kháng chiến chống Mỹ, làm đảo lộn thế bố trí chiến lược của chúng, làm rung chuyển cả nước Mỹ và chấn động dư luận thế giới, làm lung lay tận gốc ý chí xâm lược của giới cầm quyền Mỹ, mở đầu quá trình xuống thang chiến tranh của đế quốc Mỹ.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Tư, 2014, 09:02:26 PM
CHƯƠNG V

TIẾN HÀNH CHIẾN DỊCH TIẾN CÔNG TỔNG HỢP,
GÓP PHẦN ĐÁNH THẮNG CHIẾN LƯỢC
“VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH” CỦA ĐẾ QUỐC MỸ
(1969 - 1972)

I - TIẾP TỤC TIẾN CÔNG ĐỊCH, TẠO THẾ ĐỨNG MỚI

1. Tình hình Khu VIII sau tổng tiến công và chủ trương của Khu ủy

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 thật sự mở ra bước ngoặt lớn của chiến tranh, làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ”, đánh đòn quyết định vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh và việc phải chấp nhận rút quân Mỹ về nước là một xu thế không thể nào cưỡng lại được. Nhưng tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968 chưa buộc Mỹ chấm dứt được chiến tranh, chưa buộc chúng từ bỏ dã tâm xâm lược.

Tập đoàn Níchxơn, sau khi lên cầm quyền, đã thay đổi chiến lược chiến tranh để tiếp tục duy trì chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam, tiếp tục lao vào cuộc chiến tranh xâm lược nước ta.

Chiến lược chiến tranh mới của Níchxơn được gọi là chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” - một sự điều chỉnh chủ trương “phi Mỹ hóa chiến tranh” của Giônxơn. Níchxơn sử dụng tối đa về quân sự kết hợp với những thủ đoạn chính trị và ngoại giao xảo quyệt hòng giành thế mạnh, cô lập và bóp nghẹt cuộc kháng chiến của nhân dân ta.”

Biện pháp chủ yếu mà Níchxơn coi là có ý nghĩa quyết định thành bại của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” là tập trung xây dựng quân ngụy thành một đội quân tay sai hiện đại, làm lực lượng chiến lược chủ yếu ở miền Nam, là đội quân xung kích ở Đông Dương, có thể thay thế được quân Mỹ trong chiến đấu trên bộ. Đi đôi với biện pháp trên, một biện pháp mà Mỹ coi là then chốt của “Việt Nam hóa chiến tranh”, quyết định sự sống còn của bản thân ngụy quyền là bình định nông thôn. Vì vậy, Mỹ - ngụy đã huy động toàn bộ bộ máy chiến tranh khổng lồ vào việc bình định nông thôn. Níchxơn đã phát huy sức mạnh quân sự và thủ đoạn chính trị đến mức tối đa trong đòn bình định, vừa giành dân, vừa triệt phá cơ sở cách mạng, hòng giành thắng lợi quyết định.

Để tiêu diệt tận gốc cách mạng miền Nam, tập đoàn Níchxơn còn sử dụng thủ đoạn chính trị, ngoại giao xảo quyệt, đánh vào hậu phương quốc tế của Việt Nam, mở rộng chiến tranh sang Lào và Campuchia; chia rẽ Liên Xô và Trung Quốc, hy vọng dùng Liên Xô và Trung Quốc tác động tiêu cực đến cuộc tiến công quân sự của nhân dân ta, hòng cắt nguồn viện trợ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác cho Việt Nam; cắt nguồn tăng viện của hậu phương miền Bắc cho miền Nam, hy vọng bóp nghẹt cuộc kháng chiến của nhân dân ta, làm cạn kệt sức chiến đấu, từ đó phải đầu hàng chúng.

Với những thủ đoạn độc ác và tàn bạo trên, đế quốc Mỹ thực hiện sự kết hợp chiến tranh hủy diệt với chiến tranh giành dân và chiến tranh bóp nghẹt để làm suy yếu cuộc kháng chiến của nhân dân ta trên cả hai miền Nam - Bắc.

Níchxơn dự tính kế hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh” sẽ tiến hành theo ba giai đoạn:

Giai đoạn 1: từ năm 1969 đến tháng 6 năm 1970, kiểm soát được những vùng đông dân quan trọng nhất, quân ngụy được tăng cường đủ sức đối phó với các đơn vị tương đương của ta; rút được một bộ phận quân Mỹ về nước…

Giai đoạn 2: từ tháng 6 năm 1970 đến tháng 6 năm 1971, kiểm soát hầu hết những vùng đông dân; quân ngụy đảm nhiệm được đại bộ phận nhiệm vụ chiến đấu trên bộ; rút đại bộ phận quân chiến đấu Mỹ.

Giai đoạn 3: từ tháng 6 năm 1971 đến tháng 6 năm 1972, cơ bản hoàn thành “Việt Nam hóa chiến tranh” phục vụ cho Níchxơn thắng cử trong cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ tháng 11 năm 1972.

Năm 1969 và đầu năm 1970 là thời gian Mỹ triển khai mạnh mẽ giai đoạn 1 của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Địch tập trung lực lượng đánh vào nông thôn. Sau khi tiến hành thí điểm bình định có kết quả ở Vĩnh Long, Trà Vinh, từ giữa năm 1968 đến đầu năm 1970, Mỹ - ngụy tiến hành liên tiếp các kế hoạch bình định như: “bình định cấp tốc”, “bình định đặc biệt”, “bình định bổ sung”, “kế hoạch phượng hoàng”,… kế hợp mở liên tiếp những cuộc hành quân càn quét, đóng thêm nhiều đồn bốt, chiếm lại hầu hết vùng nông thôn ta giải phóng và mở ra trong Tết Mậu Thân, kìm kẹp thêm nhiều dân, kiểm soát thêm nhiều vùng. Đây là cuộc phản công quyết liệt, hủy diệt tàn khốc của địch bằng sức mạnh toàn diện, chủ yếu là sức mạnh quân sự vào trận địa nông thôn; là cuộc “chiến tranh giành dân”, “chiến tranh hủy diệt” trên quy mô lớn với những biện pháp cực kỳ dã man.

Chúng tiến hành đánh phá ở hầu hết các khu vực nam bắc lộ 4 của các huyện Châu Thành, Cai Lậy, Cái Bè tỉnh Mỹ Tho; hầu hết tỉnh Gò Công; vùng 4 của tỉnh Kiến Tường; Mỏ Cày, Giồng Trôm tỉnh Bến Tre; vùng bắc Cao Lãnh tỉnh Kiến Phong. Ở tỉnh An Giang, chúng tập trung lực lượng mở cuộc tấn công quy mô lớn và dài ngày cấp sư đoàn vào đồi Túp Dụp, Bảy Núi hòng khóa chặt hành lang của Miền từ biên giới Campuchia về Khu IX.


Tiêu đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Tư, 2014, 09:03:17 PM
Đường hành lang của Khu xuyên qua Long An, Kiến Tường xuống Mỹ Tho bị biệt kích ngăn chặn. Tại mảng 3, Cai Lậy Bắc, tỉnh Mỹ Tho, các Sư đoàn 7, 9 ngụy, bảo an, máy bay trực thăng, thiết giáp đánh phá dài ngày, cào nhà dân, gây cảnh hỗn loạn. Tình hình các nơi khác cũng diễn ra tương tự. Đi đôi với đánh phá, chúng tung hàng trăm đội bình định thực hiện “bình định cấp tốc”.

Thiệt hại của nhân dân rất nặng. Chỉ tính riêng tỉnh Bến Tre, những tháng đầu năm 1969 đã có 1.285 người chết, hàng ngàn người bị đánh đập, bắt bớ. Toàn Khu trước Xuân Mậu Thân có gần 100 xã giải phóng, trong đợt 1 Mậu Thân ta giải phóng thêm 30 xã nữa. Nhưng đến nay không những địch chiếm lại số xã vừa giải phóng mà còn lấn chiếm sang gần chục xã vùng giải phóng cũ. Có nơi, như ở Mỹ Tho, bị địch lấn chiếm rất nhiều, chỉ còn 33 lõm căn cứ với khoảng trên dưới 100.000 dân.

Trong năm 1968, số đồn bốt địch còn giữ được là 1.000 sang đầu năm 1969, chúng đóng thêm hơn 500 đồn nữa, đưa tổng số đồn bốt trong toàn Khu lên hơn 1.500 đồn. Đồn bốt dày đặc, xã ít nhất cũng 3 - 4 đồn, trung bình mỗi xã 5 - 6 đồn, nhiều nhất như xã Thanh Mỹ, tỉnh Kiến Phong và một số xã biên giới ở Tân Châu, tỉnh An Giang chúng đóng