Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: Khánh mập trong 03 Tháng Chín, 2012, 08:14:27 PM



Tiêu đề: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: Khánh mập trong 03 Tháng Chín, 2012, 08:14:27 PM
MỘT ĐỜI CHINH CHIẾN - Thiếu tướng NGUYỄN NAM HƯNG (NGUYỄN VĂN TRỊNH)
NHÀ XUẤT BẲN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA Hà Nội – 2006
Số hóa: Đơn vị tác chiến điện tử @ Facebook.com/WarComissar

Tiếp nối cuốn Nhật ký cao điểm 384 - chúng cháu xin tiếp tục đóng góp công sức trong việc số hóa cuốn Hồi ký của thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng sau đây để phục vụ các chú các cô trong diễn đàn mình và mọi người!

Thiếu tướng: Nguyễn Nam Hưng (Nguyễn Văn Trịnh)
(https://lh3.googleusercontent.com/-FGbIz_ncQo0/UEStqhDO1cI/AAAAAAAAB8I/8ucPwGkx30s/s721/IMG_6428.jpg)

LỜI NHÀ XUẤT BẢN

Đất nước ta đã trải qua bao cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, giành lại giang sơn từ tay quân thù mà đỉnh cao là cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đã thoái khỏi kiếp nô lệ trở thành người dân của một đất nước độc lập, tự do.

Trong cuộc kháng chiến ấy. bao đổng bào ta đã ngã xuống, bao chiến sĩ ta đã hy sinh. Những người con anh dũng, kiên cường của dân tộc đã viết lên những trang sử chói lọi để cho các thế hệ sau mãi mãi tự hào. Những người chiến sĩ đã đi qua hai cuộc chiến tranh, ngày nay trở về với công cuộc dựng xây đất nước, nhưng họ không thể quên những đồng đội, đồng chí đã hy sinh. Đó là một phần cuộc đời họ.

Một trong những chiến sĩ ấy là Thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng; ông đã tham gia cách mạng từ những ngày đầu kháng chiến, trải qua suốt hai cuộc kháng chiến cho đến ngày toàn thắng, đất nước hoàn toàn thông nhất. Đất nước đã thống nhất nhưng ông vẫn chưa được ngơi nghỉ, vẫn cùng thế hệ thanh niên Việt Nam tiếp tục chiến đâu bảo vệ biên cương Tổ quốc. Cuộc đời ông là một phần bức tranh kháng chiến của quân dân miền Nam vùng lên đâu tranh chống ngoại xâm, giành lại non sông đất nước. Nam Bộ thành đồng Tổ quốc đi trước về sau và cuộc đời ông gắn liền với Nam Bộ. Cuộc đời ông sẽ là tấm gương sảng cho thế hệ trẻ noi theo.

Ông đã ghi lại cuộc đời mình thành cuốn Hồi ức Một đời chinh chiến vừa để kỷ niệm vừa để tri ân với đồng đội, đồng chí, nhất là các đồng chí đã hy sinh; vừa để biết ơn Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân đội nhân dân Việt Nam đã giáo dục, dìu dắt để ông từ một đứa trẻ nghèo khổ trở thành một đảng viên, một sĩ quan cao cấp trong quân đội; "vừa để biết ơn nhân dân đã cưu mang, đùm bọc, chở che, tiếp tế cho cách mạng đến ngày toàn thắng".

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản cuốn sách Một đời chinh chiến của ông với hy vọng phàn ánh được một phần trong những cuộc đời chiến đấu oanh liệt  của các chiến sĩ cách mạng Việt Nam đã làm nên chiến thắng.

Xin giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.


Tháng 9 năm 2006
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

LỜI GIỚI THIỆU

Trong và sau cuộc chống Mỹ cứu nước có 3 vị tướng đều xuất thân từ Trung đoàn 397 (Bà Rịa) thời kháng chiến chống Pháp. Nếu kể thêm những người từng một thời gắn bó với mành đất địa đầu vùng duyên hải Nam Bộ này không thể không nhắc tới 2 vị tướng khác đó là các anh: Nguyễn Hồng Lâm (Nguyễn Văn Bứa) và Hai Nhã (Lương Văn Nho) từ những năm 50 của thế kỷ trước, cả 2 đều là Tỉnh đội phó tỉnh Bà Rịa-Chợ Lớn. Anh Hai Bứa phụ trách luôn Tiểu đoàn 300 của tỉnh. Anh Hai Nho thì kiêm nhiệm Tham mưu trưởng Tỉnh đội. Một tướng nữa Nguyễn Minh Ninh, trưởng thành từ Tiểu đoàn 445 (Tiểu đoàn bộ đội địa phương Bà Rịa - Long Khánh thời chống Mỹ) coi như cùng thế hệ với Nguyễn Nam Hưng. Nhân dân Bà Rịa - Vũng Tàu tự hào đã có công đóng góp 6 vị tướng vào đội ngũ các tướng lĩnh Việt Nam.

Ba vị tướng xuất thân từ Trung đoàn 397 tôi nói ở trên là: Tám Quang (Đặng Quang Long), Ba Trung (Nguyễn Đệ) và Năm Hưng (Nguyễn Văn Trịnh). Trẻ nhất và lên tướng muộn nhất trong 6 vị tướng của Bà Rịa - Vũng Tàu là Năm Ninh và Năm Hưng. Năm Ninh, Năm Hưng là thế hệ nối tiếp các tướng kia.

Tôi quen biết Đặng Quang Long từ đầu mùa kháng chiến chống Pháp, lúc chúng tôi ở Chi đội 10 Biên Hòa, Chi đội  Huỳnh Văn Nghệ, và ít lâu sau, khoảng giữa năm 1947 chi tôi cùng chuyển chiến trường hoạt động về Chi đội 16 Bà Rịa. Khi mới  thành lập Trung đoàn 397 có lúc Đặng Quang Long, đảm nhiệm quyền Chính ủy Trung đoàn trước khi đồng chí Phan Trọng Bình từ Khu 7 xuống làm Chính ủy. Bấy giờ Nguyễn Đệ đã là Đại đội Trưởng Đại đội Độc lập 3568 hoạt động bám trụ ở  Long Điền và Đất đỏ.

Năm 1949, Đại hội bầu Đảng ủy Trung đoàn. Tôi tham gia với tư cách Đảng ủy viên dự khuyết/Bí thư liên chi Trung đoàn Bộ. Tôi biết Nguyên Văn Trịnh khi chi bộ Văn phòng Trung đoàn giới thiệu Trịnh vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Lúc này, Trịnh đang làm thư ký trong tổ  văn thư của Văn phòng Trung đoàn.

Trịnh đang bước vào tuổi thanh niên rất hăm hở cầu tiến. Đi theo kháng chiến từ lúc 13-14 tuổi, Trịnh đang độ trưởng thành. Việc Trịnh đến với Đảng sau hơn 4 năm thừ thách trong quân đội và được kết nạp vào Đảng coi như một tất yếu.

Khác với anh Đặng Quang Long và Nguyễn Đệ là cán bộ ngang xương ngay từ khi vào bộ đội, Trịnh từ thiếu sinh quân lớn dần lên. Trong chống Mỹ, Ba Trung (Nguyễn Đệ) và Năm Hưng (Nguyễn Văn Trịnh) giống nhau ở một điểm: Cả 2 đều là cán bộ chỉ huy quân sự, là người của chiến trận mút mùa. Cả 2 cùng có mặt ở Campuchia suốt 10 năm giúp bạn thoát khỏi họa diệt chủng của Pol Pốt. Đặng Quang Long khác họ ở cái gốc là cán bộ Đảng, cán bộ chính trị trong quân đội.

Cho đến nay, 6 vị tướng của Bà Rịa - Vùng Tàu chì còn 3 người. Các anh Hồng Lâm, Hai Nhã và Ba Trung đã mất. Ba Trung mất ít lâu sau khi từ mặt trận Tây Nam (979) Campuchia về, là Trung tướng Tư lệnh Quân khu 9, từ những năm đầu 90 của thế kỷ trước. Anh mất vì ung thư gan.

Đặng Quang Long nghỉ hưu khi là  Tư lệnh phó Quân khu 7, bỏ Sài Gòn về quê Khánh Hòa, sống ở Nha Trang, nay đã hơn 80 tuổi. Năm Hưng (Nguyễn Văn Trịnh) cũng đã nghỉ hưu sau khi về làm Chỉ huy trưởng đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo (thay Thiếu tướng Năm Ninh sang làm Chủ tịch Ban nhân dân đặc khu, nay cũng nghỉ hưu). Thiếu tướng Năm Hưng đang sống với gia đình vợ con ở thành phố Vũng Tàu.

Đầu năm 2005, tôi được Năm Hưng tin cậy giao cho đọc hơn 200 trang hồi ký viết tay và yêu cầu tôi góp ý.
Bản thảo của Năm Hưng viết khá thoáng đạt, như rút ruột mà ra, không  chút màu mè lảm dáng, lối kể chuyện thật tự nhiên.

Nét đặc sắc của hồi ký giúp người đọc hiểu rõ hơn về một thế hệ tướng Việt Nam như Năm Hưng. Tác giả hồi ký đã không che giấu những nhược điểm của mình trong chỉ huy chiếu đấu, đặc biệt là  trong ứng xử với cấp trên. Nhưng qua đó nhân cách và tính cách riêng hiện lên rõ nét:

Một ông tướng trưởng thành từ chiến sĩ lên, được Đảng và quân đội chăm lo, đào tạo và  bồi dưỡng, ông tướng ấy không chỉ trong sáng về tâm hồn mà còn rất giàu tình cảm, rất keo sơn với đồng bào, đồng đội. Và cùng rất tự biết mình. Trung thực, thẳng thắn, dân chủ và kỷ luật, dám nói những gì cần nói, nói có nơi có chỗ, không e dè, không sợ định kiến, dám chịu trách nhiệm về những ý kiến đề xuất của mình. Nhưng cũng có những trường hợp đã không tự kìm chế được

Tôi thực sự xúc động trước những trang viết về đồng đội của tác giả, nhất là khi nói đến những tổn thất của đơn vị. "Nhất tướng công thành vạn cốt khô". Năm Hưng đã nhắc lại câu nói này. Như một đánh giá đầy tự hào song cũng rất đau xót của cuộc chống Mỹ cứu nước. Để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước,chiến thắng ấy thật quyết liệt và gian nan không thể nào tả xiết. Những gì Năm Hưng nếm trải chỉ như một giọt nước giữa đại dương mà đã cam go đến thế. Sự nghiệp chiến đấu giải phóng miền Nam lớn lắm. Song, nó phải trả giá không nhỏ. Cái giá ấy không ai được phép quên và không thể nào quên được, cho dù cuộc chiến tranh đang trôi dần về quá khứ sau 30 năm đất nước hòa bình, thống nhất.

Mới đây, tôi rất vui được Năm Hưng cho biết: có sự giúp đỡ của cấp ủy tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia có khả năng tập hồi ký sẽ được in thành sách. Tôi mừng, nó sẽ bổ sung vào kho tàng hồi ký của nhiều tướng lĩnh khác. Giúp cho bạn đọc trẻ tuổi đọc nó sẽ hiểu hơn về cha anh họ.

Với sự hiểu biết về chiến trường về con người trong quân đội ở Bà Rịạ. Tôi hiểu rất rõ về Thiếu tướng Năm Hưng, xin giới thiệu và xin mời độc giả đi cùng với tác giả, để nhớ lại một thời và nghiền ngẫm.


Ngày 31-03-2006
Anh Hoàng
(Nguyên Phó Chủ tịch Hội Văn học - Nghệ thuật Đổng Nai 1981-1990)


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: Khánh mập trong 03 Tháng Chín, 2012, 08:28:58 PM
LỜI NGỎ

Tôi đi theo cách mạng lúc mới 14 tuổi, liên tục phục vụ trong quân đội từ tháng 11 - 1946 cho đến ngày nghỉ hưu, vừa tròn 50 năm (1946 - 1996).

Năm mươi năm ấy, tôi và đồng đội, qua các đơn vị, từng nằm gai nếm mật, từng mặt đối mặt với kẻ thù, nhiều phen ranh giới giữa cái sống và cái chết chỉ như đường tơ sợi tóc, thắng lợi hay thất bại phụ thuộc vào quyết định trong khoảnh khắc. Chúng tôi giành nhau cái chết, nhường nhau sự sống, tình thân hơn ruột thịt.

Được Đảng lãnh đạo, đồng đội thương yêu nhau, được nhân dân đùm bọc, chở che, tiếp tế, động viên... cùng với sự nỗ lực, năng động, phấn đấu của bán thân và đơn vị, chúng tôi đã vượt qua tất cả, hoàn thành mọi nhiệm vụ.

Hằng ngày, hằng giờ trong cuộc chiến tranh dài dằng dặc ấy, tôi đã chứng kiến bao đồng chí, đồng đội ngã xuống. Trước khi trút hơi thở cuối cùng không ít người còn gắng gượng nhắn lại: "Tôi đã hoàn thành nhiệm vụ". Những tấm gương sảng ngời ấy đã động viên tôi trong suốt cuộc đời chinh chiến. Tất cả những điều đó như một giấc mơ đẹp, oanh liệt và hào hùng hiển hiện giữa cuộc đời.

Nay trở về với cuộc sống bình thường, tôi ghi lại một số nét cuộc đời mình, của các đơn vị mà tôi đã từng gắn bó trong những năm tháng khói lửa chiến trường. Vừa để kỷ niệm, vừa để tri ân với đồng đội, đồng chí, nhất là các đồng chí không còn nữa: vừa là biết ơn Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân đội nhân dân Việt Nam đã giáo dục, dìu dắt tôi từ một đứa trẻ nghèo khổ, phải đi ở đợ, trở thành một đảng viên một cán bộ cao cấp trong quân đội; vừa để biết ơn nhân dân đã cưu mang đùm bọc, chở che, tiếp tế cho cách mạng đến ngày toàn thắng.

Sự nghiệp của người lính còn có hình bóng của những người mẹ, người vợ đã âm thầm hy sinh cái riêng của mình âm thầm chịu đựng những gian khổ ác liệt của chiến tranh động viên chồng con hoàn thành nhiệm vụ, xứng đáng là người con của dân tộc Việt Nam. Họ có thể là người lính, người thợ hay chỉ là người phụ nữ bình thường trên đồng ruộng nhưng lại vô cùng vĩ đại.

Sự trưởng thành và hoàn thành nhiệm vụ qua các thời kỳ của tôi có hình bóng của mẹ tôi, có phẩn công lao đóng góp của người vợ thân yêu của tôi. Vợ tôi cũng là một người lính không chỉ chịu đựng gian khổ, ác liệt của chiến tranh mà còn âm thầm hy sinh tình cảm riêng tư, động viên tôi trên tất cả nẻo đường nhiệm vụ.

Tôi sống thật với chính mình, không quanh co, che đậy suy nghĩ của mình về những gi đã trải qua!

Qua tập hồi ký này, tôi xin thể hiện lòng biết ơn Đảng, quân đội, nhân dân và đồng đội, chân thành cám ơn Nhà xuất bản Chính trị quốc gia đã giúp tôi hoàn thành cuốn sách này.


Tháng 8 năm 2006
NGUYỄN NAM HƯNG
(Nguyễn Văn Trịnh)



TUỔI THƠ

Tôi sinh năm 1933 (năm Quý Dậu) tại ấp Tân Kiều, làng An Phú Tây, tổng Long Hưng Trung, Trung Quận, Chơ Lớn (nay là xã An Phú Tây, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh) trong một gia đình nghèo, ông nội, rồi cha tôi làm nghề hạ bạc kiếm sống qua ngày. Tôi có một người anh là anh Trình, hơn tôi bốn tuổi. Ông nội tôi giáo dục con cái có nề nếp gia phong, tôn ti trật tự, trên nói dưới phải nghe.

Khi tôi lên hai tuổi thì mẹ mất. Anh em tôi sống mồ côi từ đó. Sau khi mẹ mất, cha tôi đi làm ăn xa, có khi cả tháng mới về. Hai anh em quấn quít nhau sống với ông bà nội, thỉnh thoảng lại được phép dẫn nhau về sống với ông bà ngoại, với dì Năm và cậu Sáu ở làng Phong Đước, huyện Cần Giuộc. Tôi thích về ngoại vì ông bà ngoại dễ hơn ông bà nội.

Sáu tuổi, tôi được đi học ở trường hộ 17, cách nhà 3 cây số, phải qua rạch Lồng Đèn. Sảng sảng, bà nội nấu cơm cho ăn, giỡ theo một mo cơm với cái trứng vịt chiên hoặc con cá khô. Xuống xuồng, bà đưa qua rạch Lồng Đèn, tự đi đường ruộng tới trường. Học đến trưa nghỉ, lật mo cơm ra ăn, uống nước lã, nằm tại bàn học. Chiều học xong về thì gọi bà nội đem xuồng qua rước. Cứ như thế tôi học đến lớp êlêmăngte (lớp 3).

Tôi nhớ, năm 1944, có người của đạo Hòa Hảo đến làng tôi tuyên truyền: “Sau này máu chảy thành sông, xương chất thành núi, lụt cao mười tám mét, ma quỉ cùng đường chó tru cùng ngõ, phải tìm nơi tu hành lánh nạn".

Ông bà nội và gia đình cô Năm tôi cùng xuống một chiếc ghe lớn để đi tu, tôi và anh Ba Trình đi theo, lúc đó cha tôi về bắt lại. Sau này, nghe nói ông bà nội và cô Năm xuống núi Tà Lơn - Thất Sơn (Bảy Núi) gì đó tu hành, đến nay tôi cũng không biết tin.

Cha tôi, sau khi giữ anh em tôi lại, ông cũng bỏ nhà đi luôn. Mãi về sau, tôi nghe loáng thoáng ông đã đi theo cách mạng. Hai anh em tôi còn nhỏ dại ở lại bơ vơ từ đó.

Năm 1945, Đồng minh ném bom Xóm Chiếu (Sài Gòn). Quân Nhật tràn vào làng tôi. Chúng thuê dân đi đào đất đắp công sự giả ở đầu cầu Bình Điền. Tôi và anh tôi cũng đi làm, một ngày được năm cắc. Hết làm công sự thì anh em tôi mò cua, bắt cá bán để sống.

Phong trào thanh niên nổi dậy diễn ra rầm rộ và có sức lôi cuốn lớn. Anh Ba theo phong trào bỏ tôi lại một mình. Tôi tiếp tục mò cua, bắt cá, theo anh Hai Ngọc - con người bác họ - đi đăng kiếm ăn.

Ở Cần Giuộc, những người theo Tây hoặc có nghi vấn theo Tây mà trong mình có các loại vật dụng đủ ba màu xanh - trắng - đỏ (giống màu cờ tam tài của Pháp) thì khó tránh khỏi bị Thanh niên Tiền phong cho “mò tôm”, nghĩa là bắt trói lại, đeo đá, ném xuống sông. Có lần, đang neo xuồng trải đăng, tôi đụng phải “thằng chỏng" (Xác chết trôi). vướng vào đăng, tôi không sợ, lấy sào đầy ra cho trôi đi.

Thời gian này, Pháp lập lại tổ chức tề ở làng. Một hôm, bọn Pháp và tề đi càn đến trước nhà tôi, tên hương quản Lễ nói: “Nhà Mười Tân (tên ông nội tôi) không ai ở, để làm chi, đốt!”. Chúng xúm lai đốt trụi nhà tôi.

Tôi còn nhớ, lúc Đồng minh ném bom Xóm Chiếu, có gia đình chú Hùng (người Hoa) tản cư xuống ở nhờ nhà tôi. Nay chú có tiệm nước ở ngã ba Rạch Cát, hộ 17. Tôi lần mò lên tìm chú, được chú nhận vào làm phổ ky (bưng bê) và trả mỗi tháng 15 đồng. Tôi bắt đầu cuộc đời ở đợ từ đây.

Đầu năm 1946, vừa sảng, mờ cửa tiệm tôi đã thấy cô Ba Gắt (con cô Năm, vai em tôi, đã có chồng, đang ở gần nhà máy Kiến Quang) đứng trước cửa vừa khóc vừa nói:

-   Anh Năm ơi ! (cô gọi tôi theo thứ), anh Ba chết rồi.
-   Tại sao chết? Tôi sửng sốt.
-   Tây nó chôn sống ở cầu Bà Tàng.

Tôi lặng người, không khóc:
-   Thôi, cô về đi.

Từ đó, tôi buồn vô tận nhưng không nói với ai. Ông bà đi tu, cha đi không thấy về, nay anh lại bị Tây chôn sống.

Tôi làm phổ ky ở tiệm chú Hùng, hàng ngày có nhiều khách ra vào ăn uống. Trong ngày, vắng khách nhất là từ 12 giờ đến 14 giờ. Giờ này, thường có một số khách tìm vào chỗ bàn vắng ngồi, mặt ngó ra phía cửa. Tôi bưng cà phê, hù tiếu từ phía sau lưng họ đi tới nên có khi tỏi dụng phải cán súng ngắn của họ đeo ở nách. Tôi chú ý, biết họ là người đánh Tây.

Một hôm, nhân lúc vắng người, tôi bưng trà đến và nói:

-   Các anh cho em theo với !

Các anh nhìn tôi lom lom, một anh thốt lên:

-   Thằng này là em Ba Trình mới bị Tây chôn sống ở cầu Bà Tàng.

Thì ra anh Ba tôi đã hoạt động chung với các anh. Các anh rất thông cảm và đồng ý cho tôi theo. Một anh nói:

- Em theo các anh chạy Tây không nổi đâu. Để anh đưa em lên chiến khu, đồng ý không?

Tôi mừng quá nhận lời ngay. Nhân lúc vắng người, các anh hỏi và ghi tên cha mẹ, hoàn cảnh của tôi rồi hẹn ba ngày nữa sẽ đến đón.

Ba ngày chờ đợi, lòng tôi ngổn ngang, vui buồn lẫn lộn. Tôi chưa biết chiến khu là gì, nghe hai tiếng “chiến khu” thấy lạ và bí hiểm làm sao. Tính tò mò làm tôi chỉ mong mau tới ngày lên đường, nhưng cũng buồn vì phải xa mộ mẹ tôi. Đối với tôi, đó là điều thiêng liêng nhất. Dù mẹ mất sớm, anh em chúng tôi vẫn cảm nhận được tình thương của mẹ. Mẹ mất lúc tôi hai tuổi mà đến sáu tuổi tôi vẫn được mặc quần áo vải xá, xị trắng do mẹ tôi may để lại.

Để giã từ mẹ và xin phép mẹ ra chiến khu, tôi làm hai con vịt luộc để vào một cái mâm, rồi đội ra mộ mẹ.
Nỗi đau xưa vỡ òa cùng niềm lưu luyến của người con sắp đi xa. “Mẹ ơi ! Sao mẹ sớm bỏ con đi. Con cô đơn quá. Nay mẹ phù hộ cho con đi vào chiến khu mạnh giỏi nghe mẹ !.

Về lại tiệm nước, tôi báo với chú Hùng vài ngày nữa tôi đi, không nói là đi đâu. Chú Hùng đối với tôi là quan hệ chủ tớ, song chú cũng rất mến tôi, không muốn tôi đi.

-   Mày đi, tía mày về hỏi, tao biết trả lời ra sao?

-   Tía tôi có về hỏi, chú cứ nói tôi đi rồi.

Lần đầu tiên, tôi quyết định khúc quanh cho cuộc đời mình. May thay, đó lại là một quyết định đúng.

Vào một ngày đầu tháng 11 năm 1946, đúng hẹn, trời vừa sụp tối có hai anh đến tiệm nước dẫn tôi di. Trong đêm đó, vượt đường 4 (quốc lộ 1 bây giờ), rồi qua Chợ Đệm, lên Láng Le - Bàu Cò, đến sáng tới kênh Lý Văn Mạnh (Vườn Thơm) thì nghỉ. Từ nhỏ, chưa lần nào đi xa, đi suốt một đêm, sảng ra tôi mệt rã rời và lăn ra ngủ li bì đến trưa mới dậy. Chiều, các anh lại tiếp tục đưa tôi vượt sông Vàm cỏ Đông, qua Thạnh Lợi, lên Bình Hòa Nam, đưa vào Chi đội 25. Sau này, tôi biết các anh thuộc ban tiếp liệu của Chi đội.

Tôi được biên chế vào Ban tình báo của Chi đội do anh Mười Be làm Trưởng ban, anh Tư Lân - Phó ban. về Ban tình báo, tôi không ngỡ ngàng lắm, vì có nhiều bạn nhỏ cùng trang lứa với tôi, như các anh Trường Sa, Chín Thẹo, Xe, Tiểu...

Đây là mốc đầu tiên trong đời quân ngũ của tôi.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: Khánh mập trong 04 Tháng Chín, 2012, 10:06:00 AM
THEO KHÁNG CHIẾN Ở CHI ĐỘI 25

Ở Ban tình báo Chi đội 25, tôi được các anh dạy cách quan sát, ghi nhớ, canh gác, tuần tra vòng ngoài vùng đóng quân, cách đi tiền trạm chọn chỗ đóng quân cho Chi đội.

Chi đội 25 có hai đại đội. Đại đội 2 do anh Ngọc chỉ huy và Đại đội 4 do anh Ở - Đại đội trưởng chỉ huy. Chi đội có Ban tình báo, Ban quân khu, Ban tiếp liệu thành và Văn phòng Chi đội. Theo tôi biết, Chi đội trưởng là ông Tư Tỵ, Chi đội phó là ông Bảy Quới và Chính trị viên là ông Tươi.

Cuối tháng 11 năm 1946, Chi đội đang đóng quân ở làng Bình Hòa Bắc. Sáng sớm, Ban tình báo chúng tôi chia làm nhiều tổ, đi nhiều hướng để đề phòng Tây càn. 7 giờ, tôi thấy có máy bay chuồn chuồn lên quần đảo từ Bình Hòa ra hướng Hội đồng sầm, rồi máy bay “cồng cộc” lên ném bom quanh vùng. Tôi chạy về thì đơn vị đã ra chiếm lĩnh các ngả đường có trâm bầu. Tiếp sau, một tốp máy bay đakôta thả xuống từng dãy cục tròn, treo lủng lẳng và rơi dần xuống. Tôi không biết là gì, cứ đứng núp trong bụi trâm bầu mà ngó. Anh Mười Be chạy lại kéo tôi núp xuống bờ. “Nó nhảy dù đó!” -  anh nói.

Xuống tới đất là chúng hành quân vào làng ngay, cả hai đại đội chúng tôi nổ súng đánh suốt buổi. Tôi cũng lăn, lê hết chồ này đến chỗ khác theo hướng dẫn của anh Mười Be. Đến tối, giặc rút đi đâu tôi cũng không biết.

Trong ban có anh Tiểu, anh Chín cũng trạc tuổi tôi, nhưng các anh lanh lắm. Tối, các anh rủ tôi bò ra chỗ địch nhảy dù, thấy vô số dù rằn ri và dây. Chúng tôi chạy về báo cho đơn vị ra lấy dù. Anh Tiểu nhặt được cả một cây Tômsơn rời hai khúc. Anh lắp lại thành một cây súng hoàn chỉnh.

Liên tiếp mấy ngày sau đơn vị cơ động đánh thêm mấy trận rồi trở về Bình Hòa Nam đóng quân. Lần đầu nếm mùi súng đạn, tôi sợ lắm nhưng thấy anh em làm được mình cũng dạn ra. Được các anh lớn thương yêu và an ủi động viên, tôi càng thêm ấm lòng.

Sau trận này, tôi được trang bị một quả lựu đạn OF và một con dao găm. Tôi coi hai món vũ khí này như lá bùa hộ mệnh, dạn dĩ hắn lên, đi đâu cũng không sợ.

Năm 1947, các lực lượng miền Đông Nam Bộ thành lập các liên quân để hoạt động lưu động. Chi đội 25 được chia làm hai. Đại đội 4 vào liên quân C hoạt động ở vùng Đông Thành. Đại đội 2 xuống khu 8 liên quân với Chi đội 14 hoạt động tại địa bàn Long An và Mỹ Tho bây giờ.

Đại đội 2 xuống Khu 8, thường đóng quân ở Lương Hòa Lạc, Tà Yến, Kiến Văng, Long Trì. Tôi ở bộ phận tình báo thuộc Đại đội 2, do còn nhỏ nên thường đi trinh sát công khai để nắm tình hình khi có dấu hiệu Pháp đi càn, phục vụ cho đơn vị đánh nhiều trận như Long Trì, Tà Yến.
Một lần, tôi đi nghiên cứu đồn Tà Yến với chị Chín Sớm, tình báo của Chi đội 14, di chuyển bằng xuồng, tôi bơi mũi, chị bơi lái. Chị Chín khá xinh xắn nên khi đi ngang đồn, bọn lính gọi vào giữ rất lâu để chọc ghẹo. Lợi dụng lúc bọn lính đùa cợt với chị, tôi lên đồn chơi, quan sát và ghi nhớ trong lòng. Khi về, vẽ lại sơ đồ của đồn Tà Yến phục vụ cho đơn vị diệt đồn. Ta đã tiêu diệt đồn Tà Yến và thu được 30 súng.

Qua đợt liên quân với Chi đội 14, tôi dần quen với công tác trinh sát, tình báo, quen với tiếng súng và lanh lợi dần trong việc đi tiền trạm chọn chỗ và phân công nhà dân tin cậy cho đơn vị đóng quân. Lúc bấy giờ tôi không biết sợ là gì nữa. Có lúc, tôi và anh Chín (hơn tôi hai tuổi) đi tiền trạm, hai anh em chỉ có trong tay hai quả lựu đạn, hai dao găm mà dám bơi xuồng ba lá suốt đêm theo kênh Bo Bo từ Tà Yến về Hội đồng Sầm, Bình Hòa Bắc để chuẩn bị chỗ cho đơn vị đêm sau hành quân về. Hai chúng tôi còn nhỏ, 14 và 16 tuổi đã là lính Vệ quốc đoàn, đi tới dâu củng được nhân dân thương yêu, nhất là các mẹ, các chị nên chúng tôi dễ dàng mượn được nhà cho bộ đội đóng quân.

Thời bấy giờ, Đồng Tháp Mười còn âm u lắm. Đúng như câu vè dân gian truyền miệng: “Muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội tợ bánh canh”. Chúng tôi ngồi trên xuồng, be xuồng gần mặt nước, đỉa nghe hơi người bò theo be xuồng lên bám vào chân, vào đùi cắn no nê mà không biết. Tôi đã quen với cuộc sống vất vả lúc ở nhà nên đỉa, muỗi không làm tôi sợ và nản lòng.

Đầu năm 1948, Đại đội 2 trở về với đội hình Chi đội 25 hoạt động trên khu vực Vườn Thơm, Lý Văn Mạnh... ra Bàu Cò, Láng Le. Về đây, Ban tình báo của tôi có thêm nhiều bạn mới. Anh Cớt (Hà), Mía, chị Sặt, chị Hồng Ân mới vào, làm cho ban thêm đông vui.

Hàng ngày, tôi và các bạn được phân công ra Bàu Cò - Láng Le, cầu Xáng nắm tình hình. Một hôm, chúng tôi vừa ra khỏi đơn vị về hướng cầu Xáng hơn hai cây số thì anh Chín phát hiện Tây từ cầu Xáng đổ vào. Hai anh em chạy thục mạng về, ngang qua trung đội anh Mộng, tôi hô: “Tây vô, ra phục kích!’’. Anh em đơn vị nghe chúng tôi báo đều lao ra phục kích theo kế hoạch chống càn đã chuẩn bị sẵn.

Hôm dó, địch kéo vào theo cả hai hướng: Cầu Xáng và Bàu Cò - Láng Le. Đơn vị quần nhau với địch suốt ngày. Tôi cũng suốt ngày lăn, lê, bò từ mương này qua mương khác thông báo, truyền đạt lệnh của đại đội. Đến chiều, Tây rút ra Cầu Xáng và đường số 4 (quốc lộ 1 bây giờ). Đêm đến chúng tôi mới thu dọn chiến trường. Ban tình báo của tôi có chị Sặt hy sinh (chị làm văn thư của ban). Chị Sặt hy sinh rất dũng cảm, lúc bọn Tây đánh vào, anh em đều tiến lên phía trước, để chị ở phía sau vì chị là phụ nữ nhưng chị quyết bám theo. Chúng tôi đem chị về mà lòng xót xa vô hạn.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: Khánh mập trong 04 Tháng Chín, 2012, 10:13:27 AM
Tháng 3 năm 1948, toàn Chi đội được lệnh hành quân về chiến khu Rừng Sác (huyện Cần Giờ bây giờ). Chỉ trong một đêm, từ kênh Lý Văn Mạnh, toàn đơn vị đã hành quân ra Bàu Cò - Láng Le, vượt đường 4 (quốc lộ 1 bây giờ), qua làng An Phú Tây (huyện Bình Chánh ngày nay), đến rạch Lồng Đèn, đi ghe theo sông Cần Giuộc, xuống cầu Xóm Rượu huyện Cần Giuộc thì đơn vị tạm dừng chân để đêm sau vượt sông Soài Rạp vào chiến khu Rừng Sác.

Trong khi dừng lại ở rạch Lồng Đèn chờ xuống ghe đi tiếp, lòng tôi nôn nao khó tả, vui buồn lẫn lộn cùng với niềm tự hào. An Phú Tây, rạch Lồng Đèn là nơi chôn nhau cắt rốn của tôi, nơi mộ mẹ tôi còn nằm đây, nơi tôi đã sống bơ vơ những tháng năm mồ côi mẹ, đi mò cua, bắt ốc... Đồng bào xung quanh, trong đó có gia đinh bác Năm Hoài, anh Hai Ngọc (bà con với tôi), thấy bộ đội về cũng kéo ra thăm, gặp tôi ai cũng mừng rỡ, cũng ào lại xem "Thằng Trịnh bao lớn rồi”.

Trước đây, tôi là một đứa trẻ mồ côi. Nay, mọi người đến thăm, ai cũng thương mến, ai cùng cho tiền, quà.

Lúc đến chỗ ở mới, tôi kiểm lại được cả mấy trăm đồng. Số tiền đó lúc bấy giờ lớn lắm, tôi hiểu đó cũng là tấm lòng của bà con quê hương chòm xóm dành cho mình.

Trong đêm ấy, có anh Tư - con chú Bảy Sung nhà ở đầu rạch Lồng Đèn - rủ tôi trốn lại thăm nhà ngày hôm sau mới đi nhưng tôi kiên quyết không ở lại. Anh Tư đã ở lại và từ đó anh không trở về đơn vị nữa.

Đêm thứ hai, toàn đơn vị vượt sông Soài Rạp về đóng quân ở Tắc Cá Bạc trong chiến khu Rừng Sác.
Rừng Sác, tôi đã biết từ khi bảy, tám tuổi khi theo ông nội và cha làm nghề hạ bạc. Toàn bộ vùng này là sình lầy, ngập mặn quanh năm, sông rạch chằng chịt. Diện tích rộng cả ngàn cây số vuông chỉ toàn rừng đước, mắm, chà là, bần... ngập chìm dưới nước mặn, thỉnh thoảng mới có gò nồi trên mặt nước.

Đơn vị xuống đây, lợi dụng những chỗ gò nổi ấy để làm nhà sàn ờ. Nhà sàn thì lấy cây chà là làm sàn, lợp bằng lá dừa nước. Cơ cực nhất là nước ngọt, phải đi chở từ Bà Bông, Long Thành về. Lấy nước phải qua sông Lòng Tàu rất nguy hiểm vì thường xuyên có tàu Tây chạy, gặp xuồng là chúng bắn chìm.

Ở chiến khu Rừng Sác, dần dà tôi biết được thêm các chi đội của liên chi Bình Xuyên, những Chi đội 2 -3 của ông Năm Hà, Chi đội 4 của ông Mười Trí, Chi đội 21 của ông Tư Hoạnh, Chi đội 9 của Bảy Viễn, Chi đội 7 của ông Bảy Vĩnh và Chi đội 25 mà tôi đang ở - vẫn ông Tư Tỵ là Chi đội trường, tất cả đều tụ tập ở đây.

Tháng 5 năm 1948, xảy ra cuộc thanh trừng trong lực lượng Bình Xuyên. Việc này sách báo đã nói nhiều. Lúc ấy, tôi còn nhỏ và cũng không biết sâu lắm về chính trị. Chỉ nghe nói phải thanh trừng vì có bọn phản động chui vào lũng đoạn các chi đội, thậm chí còn mưu toan kéo một số chi đội về thành, trong đó có Chi đội 9 của Bảy Viễn (Lê Văn Viễn).

Sau cuộc thanh trừng, đơn vị tôi hành quân vượt sông Lòng Tàu về Long Thành, đóng quân ở Bà Bông. Tại đây, đơn vị hoạt động bình thường. Tôi tiếp tục làm tình báo, cùng các anh đi nghiên cứu đồn Phú Hội, đưa cả hai đại đội 2 và 4 cùng đi đánh đồn. Trận đánh diễn ra quyết liệt đến sáng vẫn không diệt được đồn, ta phải rút về Sở Ngựa Bà Bông. Trận đánh đêm ấy, ta hy sinh bảy người, trong đó có anh Thi (chồng chị Sặt, hy sinh ở Vườn Thơm). Cả gia đình anh khi vào đơn vị có hai vợ chồng và đứa em, giờ chỉ còn đứa em tên Mía. Đến nay Mía vẫn còn sống ở thành phố Hồ Chí Minh.

Thời gian hai năm ở Chi đội 25 tuy ngắn ngủi nhưng đã rèn cho tôi sự rắn rỏi, tôi quen với hiểm nguy chiến trận, nhận thức rõ ràng hơn về danh dự Vệ quốc đoàn, với mục đích đánh Tây cứu nước. Được các anh lớn như Phương Tùng, Thiết Sơn, Mười Be thương yêu và ân cần chỉ bảo, có thêm những người anh, người chị, những người bạn rất thân thiết khác, cuộc đời đơn côi của tôi đã ấm áp dần lên. Với tôi, bạn bè chính là anh em và đơn vị chính là nhà, ngôi nhà đầm ấm tràn đầy tình cảm cách mạng.

Cuối năm 1948, Chi đội 25 lại chia làm hai. Đại đội 4 và một nửa cơ quan trực thuộc hành quân về Thủ Biên. Đại đội 2 và một nửa cơ quan trực thuộc còn lại hành quân về Bà Rịa, tăng cường lực lượng để thành lập Trung đoàn 397. Tôi theo đơn vị hành quân về Bà Rịa.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: Khánh mập trong 04 Tháng Chín, 2012, 02:35:15 PM
VỀ TRUNG ĐOÀN 397

Những năm 1949 - 1950, tôi được biên chế làm thư ký đánh máy cho văn phòng Trung đoàn 397.

Tôi trưởng thành hơn về nhận thức, tư tưởng, bước đầu hiểu thế nào là quan điểm lập trường, biết về giai cấp và đấu tranh giai cấp. Vốn liếng chính trị cơ bản dần được trang bị, tôi cảm thấy mình lớn lên thật sự dù vẫn đang tuổi thiếu niên.

Những năm ấy, phong trào chiến tranh du kích ở Nam Bộ nói chung, Bà Rịa nói riêng đã có thế và lực mới. Lực lượng vũ trang đã hình thành ba thứ quân, có chủ lực, có các đại đội độc lập và du kích tập trung, du kích xã làm nòng cốt cho chiến tranh nhân dân địa phương.

Ở Bà Rịa, các căn cứ địa được mở rộng. Căn cứ Xuyên Mộc - Phước Bửu trải rộng tới Hồ Tràm, Lộc An giáp biển, là căn cứ của Tỉnh ủy, Ủy ban hành chính kháng chiến tỉnh và Trung đoàn 397. Ở ngã tư trong rừng Phước Bửu dân cư đông đúc, mua bán sầm uất. Thời bấy giờ dân kháng chiến thường gọi khu vực này là “Sài Gòn mới”.

Ngoài căn cứ Xuyên Mộc - Phước Bửu, còn có càn cứ Cơ Trạch tiếp giáp với Xuân Lộc, các căn cứ này nối liền nhau và được gọi là chiến khu Xuyên - Phước - Cơ. Ở phía tây lộ số 2 có căn cứ Hắc Dịch, Phú Mỹ (thuộc địa bàn huyện Tân Thành ngày nay) gọi tắt là Khu Tây.
Trong vùng căn cứ có tổ chức sản xuất, mua bán sôi nổi. Tại căn cứ Khu Tây, bộ đội phát rừng làm rẫy, trồng lúa, mì, bắp, khoai lang, bí đỏ... đế giải quyết nạn thiếu lương thực.

Lúc này, tôi làm việc dưới quyền anh Châu Quang Kiều, Chánh văn phòng Trung đoàn, cùng tổ văn thư với các anh Khôi, Giác... Bộ phận nhân sự có anh Rằng – Trưởng ban, các anh đều là đảng viên cộng sản. Tôi là người nhỏ tuổi nhất trong cơ quan, được các anh thương yêu, dạy bảo, dìu đắt đến nơi đến chốn về mọi mặt.. Do trình độ văn hóa còn kém, trước kia chỉ được học tới lớp 3 nên các anh khuyến khích tôi đi học thêm bổ túc văn hóa, vừa học vừa làm, ngày làm, đêm học.

Được đi học, lại có máu nóng của tuổi trẻ vốn ham hiểu biết, gặp sách gì tôi cũng đọc, hấp dẫn nhất là sách chính trị, sách viết về Đảng Cộng sản. Thời gian này, tôi đã ngấu nghiến đọc "Tư bản luận” của Các Mác, tuy hiểu không sâu nhưng tôi vẫn say mê đọc đi đọc lại nhiều lần; dễ nhớ và dễ hiểu là quyển “Sửa đổi lối làm việc’’ của Hồ Chủ tịch, quyển “Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi” của đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư Đảng.

Đang lúc khát khao về một cuộc sống tốt đẹp sẽ đến, tôi ham đọc, ham học và cũng rất ham làm. Tôi nghĩ, làm cũng là một cách học, có làm mới mở mang đầu óc, kiến thức được mở rộng, nắm vấn đề mới chắc và sâu hơn.

Do làm việc có hiệu quả, các "anh lớn” càng chăm chút bồi dưỡng chính trị cho tôi. Trong các cuộc học tập về Đảng do Liên chi cơ quan Trung đoàn tổ chức (anh Hoàng Kim Chung là Bí thư Liên chi), anh Kiều đề nghị cho tôi đi học. Được đi học, tôi học rất chăm chú, ngày càng tỏ ra tiến bộ, sau này tôi mới biết các anh quyết tâm giáo dục, bồi dưỡng tư tưởng, củng cố lập trường quan điểm cho tôi để kết nạp tôi vào Đảng.

Ngày 19 tháng 12 năm 1949, hai anh Châu Quang Kiều Bí thư chi bộ - Chánh văn phòng Trung đoàn và anh Võ Văn Rằng, Chi ủy viên - Trưởng ban nhân sự Trung đoàn đứng ra giới thiệu tôi vào Đảng.

Lễ kết nạp được tổ chức trong rừng Láng Sim, Phước Bửu anh Hoàng Kim Chung (Anh Hoàng Kim Chung, khi tập kết ra Bắc, anh về công tác ở Tổng Cục chính trị. Năm 1958. anh được phong quân hàm Đại úy. sau anh trở thành nhà văn, nhà báo quân đội. Hiện nay, anh đang nghỉ hưu, là cán bộ cách mạng lão thành 60 năm tuổi Đảng (hiện ngụ tại 206 Đồng Khởi – Trảng Dài - Biên Hòa. Bút danh là nhà văn Anh Hoàng – Đồng Nai)) - Bí thư Liên chi cơ quan - đứng ra kết nạp tôi vào đội ngũ của Đàng. Ngày 5 tháng 5 năm 1950, tôi trở thành đảng viên chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Vào Đảng là một vinh dự lớn cho tôi. Cuộc đời bơ vơ thời niên thiếu của tôi đã chấm dứt, không chỉ trở thành Vệ quốc đoàn mà còn được tổ chức đánh giá và thừa nhận là chiến sĩ tiên phong, là người của Đảng. Từ đây, cuộc đời tôi bước sang trang mới, với trách nhiệm của người đảng viên đối với đất nước, với nhân dân. (Năm 1949, vì muốn sớm vào Đảng tôi đã khai thêm cho mình 2 tuổi thành ra sinh năm 1931. Còn chính xác tôi sinh năm 1933. Năm 1955, trong đợt chỉnh huấn cải cách ruộng đất có yêu cầu xác định tuổi Đảng lại, tổ chức đã xem xét vả chấp nhận tuổi Đảng của tôi, vì động cơ vào Đảng tốt)

Tôi tiếp tục làm thư ký văn thư - đánh máy cho văn phòng Trung đoàn đến hết năm 1951. Thời kỳ này anh Trần Thắng Minh về làm Trung đoàn trưởng. Cơ quan vẫn ở Láng Sim, Phước Bửu, cặp theo sông Hỏa ngày nay.

Năm Nhâm Thìn (1952), năm xảy ra trận bão lụt khủng khiếp ở Nam Bộ, lương thực bị mất trắng, bộ đội bị đói và ốm đau nhiều, địch lợi dụng thời cơ này tăng cường đánh phá, mở rộng lấn chiếm. Các cơ quan Trung đoàn phải giảm bớt quân số. Những bệnh binh nặng được đưa về thành để hợp pháp chữa bệnh. Số thiếu sinh quân được các cơ quan tập trung lại thành lớp học, vừa học văn hóa, vừa học quân sự, chính trị. Tôi được Trung đoàn phân công phụ trách lớp thiếu sinh quân, chuyển lên xây dựng căn cứ ở Sông Sót, Xuyên Mộc, vừa xây dựng chỗ ăn ở, vừa sản xuất tự túc, chuẩn bị cơ sở học tập. Ngoài tôi là phụ trách chung, Ban quân nhu tài chánh (hậu cần) Trung đoàn còn cử một cán bộ là ông Năm Tâm trên 40 tuổi, về làm quản lý, lo chỉ đạo sản xuất tự túc.
Đây là thời kỳ thử thách của tôi. Sau trận lụt năm 1952, mùa màng bị mất trắng, không có gạo đã đành, đến bắp, củ mì cũng thiếu. Trong tay lại nắm một đơn vị trên 40 người, tuổi từ 15 đến 18 đang sức ăn, sức lớn. Cả đơn vị chỉ có tôi là đảng viên, lúc ấy mới 19 tuổi. Làm sao cho đơn vị có cái ăn, có chỗ ở, tổ chức học hành thế nào để ổn định tư tường và giữ vững tinh thần anh em?

Ông Năm Tâm chịu trách nhiệm xin đất, mượn dụng cụ như dao, cuốc và chạy lo củ mì, muối, bắp để ăn tạm hàng ngày. Tôi lo tổ chức sản xuất xen kẽ với làm nhà, tổ chức sinh hoạt, học văn hóa. May thay, nhờ giúp đỡ, đùm bọc của các mẹ, các chị, của đồng bào Xuyên Mộc, cuối cùng đơn vị cũng vượt qua tất cả. Sản xuất bắp, mì, lúa, đủ ăn, rau thì nhiều, cá bắt dưới sông Sót, lán trại đủ để ở. Cuối năm 1952, đơn vị thiếu sinh quân đã đi vào ổn định học tập.

Lần đầu tiên làm nhiệm vụ lãnh đạo, tôi đã gây được lòng tin đối với Trung đoàn. Tôi tự tin hơn, vững vàng hơn, tôi “già” đi nhiều trước tuổi. Dù bận rộn tôi vẫn giữ thói quen đọc sách. Tôi đọc nhiều sách nói về Cách mạng Tháng Mười, về Chiến tranh thế giới thứ hai, về vai trò và những chiến công của Hồng quân Liên Xô. Những sách này tôi “mượn” của Ban Chính trị Trung đoàn, từ những cán bộ Nam tiến đem vào, tặng lại Trung đoàn. Tôi sùng bái tướng Giucốp và càng sùng bái Đại nguyên soái Xtalin. Cuối 1953, Xtalin mất, tôi đã khóc.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: Khánh mập trong 05 Tháng Chín, 2012, 12:52:23 PM
Cùng khoảng thời gian này, có một đoàn cán bộ cao cấp của miền Nam ra Bắc học tập gồm các anh Đồng Văn Cống. Lê Hiền, Đào Sơn Tây, nhà thơ Bảo Định Giang và nhiều người nữa. Tôi được Ban chỉ huy Tỉnh đội Bà Chợ (gồm Trung đoàn 397, Tỉnh đội dân quân Bà Rịa sáp nhập lại. Cộng thêm các huyện Nhà Bè, Cần Đước, Cần Giuộc, Nam Chợ Lớn) chọn đi phục vụ và bảo vệ đoàn vượt Trường Sơn ra Bắc.

Cuối năm 1953, đoàn vẫn đang ở vùng giải phóng Liên khu 5 (đoạn từ Phú Yên ra Quảng Ngãi). Tháng 7 nàm 1954, Hiệp định Giơnevơ về đình chỉ chiến sự ở Đông Dương được ký kết.

Từ đây, cả đoàn được tàu của Ba Lan đưa từ Quy Nhơn ra Bắc.

Tôi hoàn toàn không hề biết gì cảnh tập kết của lực lượng miền Nam ra Bắc. Nhưng biết rằng ở miền Đông Nam Bộ, Phước Bửu là địa điểm duy nhất tập kết quân và rút quân sớm nhất so với các điểm Cao Lãnh và Chắc Băng ở Khu 8 và Khu 9 (miền Trung và Tây Nam Bộ) .

Các đơn vị miền Nam tập kết ra Bắc được chia thành hai Sư đoàn 330 và 338. Tôi được đưa trở về Sư đoàn 330 (gồm các đơn vị miền Đông Nam Bộ là chủ yếu) và được phân công làm trợ lý quân lực sư đoàn.
***

Nhìn lại chặng đường kháng chiến chống Pháp, từ một đứa trẻ mồ côi, tự quyết định đời mình bằng việc đi theo bộ đội, từ đơn vị này sang đơn vị khác, từ đồng bằng lên rừng núi, từ miền Nam ra miền Bắc, tôi đã hoàn toàn trở thành một con người mới.

Tôi vào quân đội lúc còn rất trẻ, mới 14 tuổi. Lúc bấy giờ, phong trào kháng chiến đang sôi nổi, tôi chỉ chạy theo phong trào, chưa biết giác ngộ cách mạng là gì. Qua một thời gian dài được Đảng, được quân đội rèn luyện, giáo dục, được các “anh lớn", lớp người đi trước chăm lo, dìu dắt, tôi mới phân biệt được đâu là bạn, đâu là thù, mới có lòng yêu nước, biết yêu giai cấp nghèo khổ, càng căm thù thực dân Pháp xâm lược đã làm mình tan nhà, nát cửa, đã đẩy cả dân tộc mình đến cái thế chẳng đặng đừng buộc phải cầm súng chống lại chúng. Tôi đã nhận thức được phải kháng chiến trường kỳ, từ yếu ta sẽ mạnh dần lên nhờ có chiến tranh nhân dân, nhờ dựa vào nhân dân. Cuộc kháng chiến nhất định thắng lợi, tôi đinh ninh như thế.

Phần thưởng cao nhất trong thời kỳ đánh Pháp đối với tôi là được kết nạp chính thức vào Đảng Cộng sản Việt Nam (lúc ấy mang tên Đảng Lao động Việt Nam) lúc mới 17 tuổi. Thử thách lớn nhất đối với tôi là khi được giao nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ huy Trường Thiếu sinh quân Trung đoàn 397, trong hoàn cảnh đầy rẫy khó khăn, gian khổ  khi mới 19 tuổi. Và tôi rất tự hào đã không phụ lòng tin cậy của cấp trên.

Kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, nhận thức về Đảng, về chủ nghĩa xã hội, về đấu tranh giai cấp, về hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội đồng thời đầy mạnh đấu tranh giải phóng miền Nam... trong tôi đã có một tầm nhìn mới, nhất là sau các cuộc chỉnh huấn về quân đội nhân dân về cải cách ruộng đất trên miền Bắc.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: Khánh mập trong 05 Tháng Chín, 2012, 01:08:40 PM
NHỮNG THÁNG NĂM SỐNG TRONG LÒNG MlỀN BẮC

Với tinh thần lạc quan của một thanh niên tràn đầy sức sống, tư tưởng lại không vướng bận gì, tôi lao vào công tác, học tập và lao động.

Trong đợt chỉnh huấn cải cách ruộng đất, khi kiểm điểm cá nhân tôi đã xác định lại tuổi đời, tuổi quân và tuổi Đảng của mình. Tôi có cái sai là đã khai tăng tuổi khi vào quân đội và cả khi vảo Đảng. Tôi khai là sinh năm 1931, tăng hai tuổi để đủ tuổi vào quân đội và vào Đảng. Lúc bấy giờ tổ chức xét động cơ của tôi là tích cực, từ khi vào Đảng đến nay tôi luôn hoàn thành nhiệm vụ nên kết luận: Chỉnh lại tuổi đời, chính thức sinh năm 1933, tuổi Đảng giữ nguyên nhưng tuổi quân (từ 16 tuổi trở lên mới được tính) cắt hai năm theo quy định của Bộ Quốc phòngNăm 1995, trong lúc chờ nghỉ hưu, một lần nữa tôi đề nghị Bộ Quốc phòng xem xét lại vụ cắt hai năm thâm niên và được Bộ Quốc phòng đồng ý – Tuổi quân khi về hưu của tôi vẫn được tính đủ 50 năm phục vụ trong quân đội.

Từ năm 1956 đến 1958, tôi được Cục cán bộ gửi đi học đại học ở Trường Sĩ quan Lục quân khóa 10, lớp sĩ quan đầu tiên sau hòa bình lập lại. Trong vòng hơn hai năm học, Trường Sĩ quan Lục quân đã rèn luyện cho tôi quan điểm toàn diện về chính trị, quân sự, thể lực, văn hóa. Riêng về quân sự, không chỉ nắm vững chiến, kỹ thuật mà còn được đào tạo về phương pháp công tác, về tác phong chỉ huy binh chủng hợp thành. Trường Sĩ quan Lục quân dã bồi dưỡng cho tôi rất cơ bản về những phẩm chất cần có của người sĩ quan chỉ huy. Sự thành công trong quá trình chỉ huy chiến đấu và chiến thắng trong kháng chiến chống Mỹ sau này của tôi là nhờ cái nền tảng quân sự, chính trị mà Trường Sĩ quan Lục quân đã đào tạo. Tôi luôn ghi nhớ những gì đã học được tại Trường Sĩ quan Lục quân (khóa 10).



Tôi ra trường tháng 6 năm 1958, trong đợt phong quân hàm đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, tôi được Đại tướng Võ Nguyên Giáp ký quyết định phong hàm thiếu úy. Tôi coi đây là bước ngoặt mới nữa trong cuộc đời của mình.

Nhìn lại những tháng năm sống trong lòng miền Bắc, tôi thấy mình lớn hẳn lên. Tình cảm yêu nước, thương dân ngày càng ngấm sâu vào lòng tôi. Là một quân nhân từ miền Nam ra, sống, lao động và học tập rất lâu trên đất Bắc, tôi nhớ quê hương da diết, nhớ đồng bào, nhớ những nơi tôi đã công tác trong kháng chiến chống Pháp đến cồn cào. Tôi căm thù Mỹ - Diệm nhẫn tâm chia cắt đất nước, càng đau đáu muốn sớm được trở về Nam chiến đấu.

Trong lúc học tại Trường Sĩ quan Lục quân, có một số đồng chí nôn nóng muốn trở về Nam rủ tôi cùng đi, tôi đã can các đồng chí ấy. Là đảng viên, là sĩ quan đang học, việc gì cũng phải có mệnh lệnh, không được tự ý vô nguyên tắc. Nhưng một số vẫn bí mật tổ chức đi, sau bị bắt lại và bị kỷ luật. Với tôi, đó là bài học sâu sắc về tính kỷ luật.

Tốt nghiệp Trường Sĩ quan Lục quân, tôi được thực hành huấn luyện một thời gian ở đơn vị Đại đội 2, Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 3, Sư đoàn 330, được Bộ chỉ huy Sư đoàn đánh giá là một sĩ quan có năng lực.

Cuối tháng 12 năm 1960 (năm Canh Tý) là thời điểm mùa đông miền Bắc lạnh cắt da. Đại đội hai của chúng tôi là đại đội huấn luyện giỏi nhất Sư đoàn, phải hoàn thành khoa mục cuối cùng để ăn tết. Bắn đạn thật đại đội tấn công, trên một thao trường không biết trước. Đơn vị đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ: bắn đạn thật thuộc loại giỏi.

Kết thúc khóa huấn luyện, đơn vị hành quân trở về Bái Thượng, Thanh Hóa. Cùng một lúc, tôi nhận hai quyết định: đề bạt từ thiếu úy lên trung úy và điều động về làm Đại đội phó Đại đội 1. Lòng tôi phơi phới với kết quả 1 năm huấn luyện tuyệt đẹp của đơn vị, cũng rất vui với tiến bộ của bản thân. Tôi chuẩn bị sẵn sàng để nhận nhiệm vụ mới.

Nhưng rồi anh Hứa Bá Lộc - Chính ủy Trung đoàn thông báo: “Sớm bàn giao công việc ở Đại đội 2. Không nhận nhiệm vụ ở Đại đội 1 nữa. Lên ngay Trung đoàn bộ nhận lệnh mới”.

-   Thưa Thủ trưởng, tôi sẽ nhận nhiệm vụ gì?

-   Cứ lên đây ăn Tết rồi sẽ biết cụ thể.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: Khánh mập trong 05 Tháng Chín, 2012, 02:13:22 PM
Tết năm 1961 (năm Tân Sửu), tôi ăn tết ở Trung đoàn bộ Trung đoàn 3. Không vướng bận công việc, bạn bè ờ Đại đội 2 liên tục lên thăm tôi, thăm dò xem sắp tới tôi làm việc gì.

Lúc đó, có anh Nguyễn Tấn Phước cũng mang quân hàm trung úy và là bạn rất thân ở đại đội của tôi. Đêm vắng, chỉ còn hai đứa, Phước khóc và nói:

-   Mày sẽ làm gì, tao đoán biết rồi. Mày sẽ về Nam chiến đấu. Mày là thành phần cơ bản, cốt cán nên tổ chức chọn mày đi. Tao có lẽ chôn chân ở đất này vì tao thuộc thành phần địa chủ. Tao sẽ lấy vợ.

Phước đã đoán đúng. Trước đó, tôi đã được Chính ủy Trung đoàn phổ biến nhưng không được phép lộ bí mật. Tôi an ủi Phước.

-   Tao tin trái đất tròn, tao với mày sẽ còn gặp nhau. Hãy kiên trì chờ đợi như tính khéo léo của mày.

Mà đúng vậy, năm 1964, Phước về công tác ở Phòng quân báo, Bộ Tham mưu Miền. (Kết thúc chiến tranh, anh là Phó Phòng quân báo Quân khu 7. Trưởng Phòng Quân báo Mặt trận 479 CPC. Từ trần vì cơn đau đột tử nhồi máu cơ tim tại Phnôm Pênh năm 1989...)

Đêm đó, tôi và Phước rủ rỉ, thức đến tận sáng.

Mồng 6 Tết năm Tân Sửu (1961), tôi có mặt ở Sư đoàn bộ Sư đoàn 330. Cả đoàn tập hợp ở nhà Bộ Tư lệnh, khoảng trên 20 đồng chí. Tất cả đều vui vẻ, ngồi uống trà ăn kẹo chờ Chính ủy Sư đoàn giao nhiệm vụ mới.

Đồng chí đại tá Nguyễn Bảo bước ra. Tất cả đứng dậy.

   - Chào các đồng chí. Ngồi xuống, uống trà đi. Trong tâm trạng xúc động, đồng chí nói tiếp:

   - Hôm nay, Đảng và Nhà nước phân công các đồng chí trở về Nam chiến đấu chống Mỹ - ngụy giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Các đồng chí thấy sao? Có ý kiến gì không?

Cả mấy chục đồng chí đều nhao nhao lên, Thiếu úy Khen mau mắn đứng dậy.
 
-   Thưa thủ trưởng, đến nay mới được phân công trở về miền Nam, chúng tôi thấy chậm quá rồi.

Cả chục đồng chí đồng thanh: “Chậm quá rồi!”

Đồng chí Khen tiếp:

-   Chúng tôi không có ý kiến gì. Chỉ mong làm sao tổ chức đi càng nhanh càng tốt.

Tất cả lại đồng thanh: “Càng nhanh càng tốt !”.

Chính ủy Sư đoàn vui ra mặt:

-   Tốt rồi. Tổ chức sẽ sắp đặt mọi việc. Chúc các đồng chí lên đường mạnh khỏe, nhanh chóng về đến miền Nam. Bây giờ, các đồng chí uống nước xong về nghỉ, đi đứng theo kế hoạch của các cơ quan Sư đoàn.

Mọi hành động của chúng tôi từ đây đi vào bí mật.

Ba giờ sáng, chúng tôi lên xe tải bịt bùng chở ra ga thị xã Thanh Hóa. Các đồng chí tổ chức đoàn đã gọi phở sẵn. Ăn phở xong lại lên tàu hỏa nhưng ngồi toa riêng, không tiếp xúc với ai. Ba giờ sáng hôm sau tới ga Hàng Cỏ. Xuống tàu, cả đoàn kêu đói. Các anh tổ chức cho tản ra ăn tự do. Xong, lên xe bịt bùng chạy thẳng vào trạm 66 Bộ Quốc phòng trong vòng thành, ở riêng biệt, được đãi bánh bao và cà phê. Nghỉ tới chiều tối lại lên xe bịt bùng đi một mạch lên thị xã Hòa Bình, vào tập kết ở một căn cứ chuẩn bị cho các đồng chí được trở về miền Nam do một đồng chí thiếu tá là anh Cẩm - người Bến Cát - phụ trách.

Về đây, nhiệm vụ của chúng tôi là rèn luyện thể lực và bắn đạn thật, làm quen với các loại súng của Mỹ. Hằng đêm tập hành quân từ hai đến ba giờ. Cứ sau mười tám giờ tập bằng cách bắt đầu lấy 10 viên gạch ống bỏ vào balô và cứ tăng dần lên 20, 30 rồi 40 viên. Ban ngày,
từng tổ ba người tự lập kế hoạch tập bắn súng và nộp kết quả cho ban huấn luyện. Đúng theo lịch đã báo cáo, lấy phiếu đến kho nhận vũ khí và đạn ra trường bắn đã tổ chức sẵn, tự cắm bia, tự bắn và tự ghi thành tích. Mỗi ngày ít nhất cũng tập bắn một buổi từ hai đến ba loại súng: súng trường tự động của Mỹ, súng Cạcbin, Tômsơn, côn 12 ly, đại liên Mắcxim, trung liên Anh đầu bạc, trung liên Mát của Pháp... Đạn bắn tự do, tư thế bắn do tổ tự chọn. Mục đích là để chúng tôi quen với súng của Mỹ.

Chúng tôi đã được học tập cơ bản về bắn súng nên cũng dễ làm quen với các loại súng khác nhau và thành tích đều đạt rất cao. Chúng tôi sáng tác ra nhiều động tác bắn, như đang chạy do bị địch rượt đuổi ngã sấp quay lại sau bắn ngay, bắn lỗ châu mai lô cốt ban đêm không đèn, phải nhắm đế đầu ruồi, trừ hao, ước lượng mà bắn, bắn mãi rồi cũng trúng mục tiêu.

Rèn luyện hơn một tháng, chúng tôi được đưa về Cầu Phùng, nơi tập trung cuối cùng để các đồng chí lãnh đạo tới thăm, bồi dưỡng thêm về tinh thần, vật chất, hoàn chỉnh trang bị cho từng người vừa tổ chức biên chế lại trước lúc lên đường.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: Khánh mập trong 07 Tháng Chín, 2012, 08:53:51 PM
Trong một ngày nắng ấm đầu xuân, sau giờ cơm trưa, mọi người đều nghỉ. Tôi và một số đồng chí rủ nhau xuống nhà bếp gặm chân, cánh gà luộc vì đây là những thứ không dùng trong bữa ăn chính theo tiêu chuẩn (Lúc này, tiêu chuẩn ăn rất cao, gà ăn bữa chính toàn thịt nạc. Thân gà, chân gà, cánh gà luộc sẵn, ai muốn ăn vã chơi lúc nào cứ xuống bếp). Tôi và các đồng chí đang vừa ăn vừa trò chuyện rôm rả thì chợt có xe vào. Một đồng chí buột miệng reo lên: “Bác Hồ!”.

Chúng tôi bỏ ăn, chạy về chỗ ở. Các đồng chí ở nhà cũng như ong vỡ tổ, nhanh chóng mặc quân phục vào vừa xong thì được lệnh lên hội trường.

Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp đi từ bếp lên. Cả hội trường như vỡ ra vì tiếng vỗ tay khi Bác và Đại tướng bước vào. Nước mắt chúng tôi trào ra vì cảm động không tài nào kìm chế được.

Khi hội trường ổn định, im phăng phắc, Bác nói:
-   Bác vào thăm các cháu. Các cháu về làm nhiệm vụ cũ cần hết sức cố gắng. Ngoài này, Bác và các đồng chí Trung ương cũng lo. Dưỡng sức lúc này để mai kia đi đến nơi, về đến chốn. Chúc các cháu lên đường mạnh khỏe. Trung ương luôn dõi theo từng bước đi của các cháu.

Cả hội trường hô to: “Chúc Bác khỏe!’’.

Các đồng chí bảo vệ đã đưa Bác ra đến xe mà cả hội trường chưa hết bàng hoàng vì bất ngờ được gặp Bác và Đại tướng trước lúc lên đường.

Đoàn Cán bộ trở về Nam được đặt tên là Phương Đông 2. Ban chỉ huy đoàn gồm các anh: Lê Quốc Sản (sau là Tư lệnh Quân khu 9) – Trưởng đoàn, Nguyễn Hồng Lâm (anh Hai Bứa, sau là Phó tư lệnh Quân khu 7) — Phó đoàn, Hứa Bá Lộc (sau là Chính ủy Đoàn 600) là Chính ủy và Lê Hoàng Lâu (sau là Tham mưu phó Quân khu 9) - Tham mưu trưởng.

Trước khi lên đường, theo quy định cùa tổ chức, mọi người đều tự đổi tên để giữ bí mật. Tên được thống kê giao cho Cục cán bộ. Từ ngày lên đường là bắt đầu dùng tên mới cho quen, về tới Nam Bộ không được dùng tên cũ nữa vì nhiệm vụ cách mạng giao cho.

Đoàn được chia làm ba phân đội. Phân đội 1 do anh Nguyễn Văn Tốt (Hai Bình) làm Phân đội trưởng và tôi làm Bí thư. Các anh trong Ban chỉ huy đoàn chia ra đi cùng các phân đội. Anh Hai Hồng Lâm đi với Phân đội 1. Anh Lê Quốc Sản và anh Lê Hoàng Lâu đi với Phân đội 2. Anh Hứa Bá Lộc đi với Phân đội 3.

Trang bị cho từng người gọn, song không nhẹ chút nào. Mỗi người một khẩu cạc bin, một khẩu P.38, đạn mang nổi bao nhiêu lấy bấy nhiêu, 2 quả lựu đạn và dao găm. Thuốc trị bệnh khoảng một ký, lương thực hai ruột tượng gạo và hai ký mắm cô đặc. Ngoài ra còn võng, tăng, quần áo lụa cho nhẹ, tổng cộng nặng chừng 25 ký trở lên.

Phân đội tôi còn đảm nhận một nhiệm vụ là mang 2 triệu đồng tiền miền Nam, tuy là giấy nhưng cũng khá nặng, lại thêm cái máy phát cho đài 15 oát. Cục sắt 16 ký này không chẻ ra được nên đồng chí thông tin được đặc trách mang máy và được miễn mang gạo.

Mọi công việc chuẩn bị đã xong. Trong cuộc họp cuối cùng của đoàn để phổ biến kế hoạch và thời gian hành quân, cả đoàn ai cũng yêu cầu chạy xe vòng quanh Hà Nội để được ngắm nhìn Hà Nội một lần nữa trước lúc về miền Nam. Ai cũng tưởng như có thể đây là lần cuối cùng được thỏa thích nhìn ngắm Hà Nội thân yêu.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: Khánh mập trong 07 Tháng Chín, 2012, 08:56:01 PM
Cuối cùng cũng đã đến ngày mà ai cũng chờ đợi, tháng 3 năm 1961, ban đêm trời còn se lạnh. 3 giờ sáng đoàn xe Phương Đông 2 rời doanh trại cầu Phùng. Tất cả bạt xe được tốc lên nóc để mọi người nhìn thấy xung quanh. Xe nối đuôi nhau chạy về đường Bưởi, ra đường Thanh Niên, Hồ Tây, chạy lên đê sông Hồng xuôi về Nhà Hát Lớn, ra Tràng Tiền và chạy rất chậm quanh hồ Hoàn Kiếm. Thuở ấy Hà Nội còn nghèo lắm. Phố phường cũ kỹ, đường phố vắng vẻ, im ắng lạ lùng, đèn đường mờ nhạt, leo lét như đom đóm, vì tất cả còn phải lo cho miền Nam ruột thịt vẫn đang bị giày xéo dưới gót giày giặc ngoại xâm, công việc xây dựng lại Thủ đô còn chờ sau.

Xe chạy hai vòng bờ hồ Hoàn Kiếm, xuống đường Trần Hưng Đạo, rẽ phải ra ga Hàng cỏ, xuôi đường Nam Bộ vào Thanh Hóa.

Những đường phố Hà Nội, nơi tôi đã từng qua lại và thuộc lòng từng con đường, góc phố, là nơi an ủi tôi những năm xa quê hương mỗi khi tìm tới Câu lạc bộ Thống Nhất gặp gỡ anh chị em đồng hương Nam Bộ. Không sống ở Hà Nội song tình cảm của tôi với Hà Nội thật sâu lắng vì Hà Nội là Thủ đô, là biểu tượng của cả nước, là nơi Bác Hồ và những người thân yêu của tôi đang ở đó, là nơi đã nuôi lớn trong tôi những điều thiêng liêng nhất về Tổ quốc, về lý tưởng, là nơi tôi trở thành con người thực thụ như ngày nay, đã nung nấu trong tôi tình cảm của một đứa con xa xứ sắp trở về giải phóng quê hương khỏi những đau thương, uất hận, giải phóng đất nước khỏi nạn đạn bom, chết chóc của quân thù.

Chào Hà Nội ! Tạm biệt Thủ đô yêu dấu ! Hẹn gặp lại!

Quá trưa hôm ấy, đoàn xe qua khỏi Cầu Bố, thị xã Thanh Hóa. Đến cánh đồng trống đoàn xe dừng lại để ăn trưa, thực phẩm gọn nhẹ là cơm nếp và thịt gà quay đem theo.

Chiều, xe chạy một mạch đến trạm đầu tiên ở miền núi Hà Tĩnh, mọi người được tạm nghỉ ngơi sau một đoạn đường dài. Ngày hôm sau, tất cả bỏ lại bất kỳ thứ gì mang dấu vết miền Bắc tại trạm, kể cả tiền bạc. Tôi giao chứng minh thư sĩ quan cho trạm. Còn hơn 40 đồng tôi cho đồng chí lái xe.

Kỷ luật rất nghiêm, ai mang theo vật gì có dấu vết miền Bắc nếu bị phát hiện sẽ không được đi Nam. Vậy mà vẫn có chuyện rất vui. Anh Huệ ở Tiểu đoàn 8 (sau này về làm Chính trị viên Tiểu đoàn Hirông) vẫn giấu được một chiếc đồng hồ đeo tay Liên Xô về để tặng người yêu, còn tôi chỉ mang theo cuốn tiểu thuyết Ruồi Trâu nhưng để xóa dấu vết, tôi buộc phải xé hết bìa. Vậy mà cuốn tiểu thuyết ấy có về được tới miền Nam đâu. Dọc đường, các anh nghiện thuốc xin giấy để quấn thuốc hút thế là cứ xé dần cho đến hết.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: Khánh mập trong 09 Tháng Chín, 2012, 08:19:52 PM
ĐƯỜNG VỀ NAM

Từ trạm đầu tiên này bắt buộc hành quân bằng đường bộ vượt Trường Sơn theo đường mòn đến từng trạm. Trèo núi liên tục, hết núi này sang núi khác, họa hoằn lắm mới có một khoảng rừng bằng phẳng. Có núi dốc đứng, trán người đi sau đụng gót chân người đi trước. Mỗi người đều chặt một đoạn mây rừng uốn cong một đầu làm gậy chống để tăng thêm lực cho đôi chân. Có ngọn núi càng lên cao càng lạnh, đỉnh núi nằm trong mây. Với trọng lượng mang từ 25 đến 30 ký mà phải leo dốc, mọi người đều mồ hôi nhễ nhại. Thỉnh thoảng được tạm nghỉ 10 phút mà gặp khí hậu mát mẻ, người dễ chịu, khỏe lại ngay. Nhờ vậy mà hết ngày này đến ngày khác cứ lên đỉnh lại xuống đèo, mà vẫn vượt qua được.

Bí mật là một yêu cầu cao trong quá trình hành quân. Thông thường, đoàn phải theo dường mòn do liên lạc là một người dân tộc dẫn dường, có đoạn là một em nhỏ cũng người dân tộc, cắt rừng đi mà không được để lại dấu vết. Lương thực dựa vào các rẫy khoai, mì của đồng bào là cơ sở cách mạng trồng, có trạm được tiếp tế ít gạo. Khi có điều kiện nấu ăn thì không được để khói nhiều. Có một lần đoàn được Hà Nội tiếp tế gạo và nhu yếu phẩm bằng máy bay thả bao, rơi tự do xuống đất ở đoạn hành quân sang biên giới Lào. Hàng ngày, đoàn đều phải điện báo cáo với anh Văn (Đại tướng Võ Nguyên Giáp) vào 21 giờ.

Khoảng tháng 5, miền núi đã bắt đầu có mưa. Qua sông, suối luôn gặp rất nhiều khó khăn Ba phân đội của đoàn hành quân đi cách nhau hai tiếng để không bị ùn lại khi leo núi hoặc khi qua suối, qua sông. Phân đội 1 của tôi đi đầu đến sông Xêrêpốc gặp nước lớn phải vượt sông bằng bè tre. Chỉ với hơn 30 người vượt sông mà từ sáng sớm đến 9 giờ chúng tôi mới qua hết, giao bè lại cho Phân đội 2. Chúng tôi về đến lán nghỉ thì đã hai giờ chiều. Mọi người đang căng võng nằm nghỉ tạm sau một chặng đường dài hành quân vất vả thì anh Lê Hoàng Lâu, Tham mưu trưởng của đoàn, cùng đi với Phân đội 2 chạy đến lán báo tin: Phân đội 2 sau khi vượt sông Xêrôpốc, hành quân được một đoạn thì bị địch phục kích. Do chủ quan có Phân đội 1 đi trước, cả phân đội cứ thế mà đi, mất cảnh giác nên bị địch đánh bất ngờ, hy sinh 9 đồng chí, bị thương 1 đồng chí.

Lập tức, anh Hồng Lâm ra lệnh tất cả theo anh quay trở lại giúp Phân đội 2, chỉ để lại một tổ giữ đồ đạc.
Đêm đó, Phân đội 1 và Phân đội 2 chôn cất tử sĩ đến sáng mới xong. Cả hai phân đội thay nhau mang đồng chí bị thương đến tận 8 giờ sáng hôm sau mới về tới lán nghỉ.

Việc đầu tiên là điện báo cho Phân đội 3 cắt đường khác mà đi vì đường đi theo kế hoạch đã bị lộ. Lúc này, Phân đội 3 đi sau nghe tiếng súng đã dừng lại. Nhận được điện, Phân đội vòng đường khác, đoàn cũng báo cáo với anh Văn việc bất trắc vừa xảy ra và hạ quyết tâm đi tới. Mãi 10 ngày sau các Phân đội mới gặp lại nhau.

Trước đau thương mất mát của Phân đội 2 và 1 đồng chí bị thương phải để lại trạm, cả đoàn như lặng đi, không tiếng nói cười. Ban chỉ huy đoàn quyết định dừng lại một ngày. Anh Hồng Lâm tổ chức lập bàn thờ, mặc niệm các đồng chí vừa hy sinh. Ngay trước bàn thờ, anh cho họp đoàn lại.

-   Địch đánh Phân đội 2 - anh Hồng Lâm phán đoán có thể là bọn phỉ ở Lào, không phải ngụy Sài Gòn. Vì nếu là ngụy Sài Gòn, lẽ nào chúng đánh ta rồi lủi mất? Nhưng dù thế nào thì hướng hành quân của đoàn đã bị lộ. Từ đây, phải tăng cường cảnh giác. Tổ chức hành quân cần chu đáo, có tiền vệ, đi thưa, đụng địch nằm tại chỗ chiến đấu, phải tổ chức tấn công tới, không chạy lùi, dồn cục nếu không sẽ có thương vong lớn.

Anh Hồng Lâm quyết định nhập hai phân đội thành một đội hình hành quân (vẫn giữ nguyên chỉ huy hai phân đội). Sau đó anh điện chỉ đạo Phân đội 3 cắt rừng đi đường vòng, không đi theo đường Phân đội 1 và 2, rồi anh điện báo cáo với anh Văn đoàn vẫn tiếp tục hành quân.

Chặng đường từ Xêrêpốc đến đường 14 đều an toàn do cảnh giác cao, tổ chức hành quân chặt chẽ dù địch có ra sức chặn đánh. Tổ chức đường dây liên lạc tốt để giữ bí mật hai đầu, có trạm giữa để hai bên bàn giao đoàn rồi quay lại. Có một chặng đoàn bị địch phục kích, địch bắn bị thương đồng chí liên lạc từ phía Nam ra đón. Vị trí liên lạc đều không đến chỗ giao nhận như thỏa thuận được, nên cứ sáng đoàn hành quân, trưa đến điểm hẹn là một gốc cây, hay một cục đá to theo quy ước của trạm - nếu không thấy liên lạc đến đón thì đoàn lại quay về chỗ cũ. Cứ như vậy, hết 10 ngày vẫn chưa bắt được liên lạc, gạo gần hết, khoai mì ở rẫy cũng sắp hết.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: Khánh mập trong 09 Tháng Chín, 2012, 08:23:38 PM
Ban chỉ huy họp đoàn đánh giá tình hình: có thể trạm phía Nam đã bị lộ phải dời đi, chưa ổn định nên chưa đến vị trí liên lạc. Cũng có thể tình huống xấu nhất là anh em đã hy sinh. Và đoàn hạ quyết tâm: bất cứ giá nào cũng khắc phục để lên đường, phải về đến miền Nam. Khó khăn chính là vấn đề lương thực, sau đó là tổ chức bắt liên lạc. Chuẩn bị phương án cắt rừng theo góc phương vị. Ra nghị quyết mỗi người phải giữ ba lít gạo không được ăn, đó là lương thực phục vụ cho chặng đường phải cắt rừng sắp tới.

Từ ngày thứ 11 trở đi, cử một tổ đến chỗ hẹn bắt liên lạc. Vấn đề gay go lúc này là hết gạo, gạo dự trữ mỗi người ba lít thì không được đụng đến. Theo kinh nghiệm nhiều năm hoạt động ở rừng miền Đông Nam Bộ thời chống Pháp của anh Hồng Lâm, anh đi tìm một bụi khoai chụp, lấy toàn bộ dây đem về, cắt ra từng đoạn hai tấc, đem chia cho từng người và hướng dẫn cách đào. Toàn đoàn tỏa ra đi tìm và đào củ chụp. Từng tổ hai người thay nhau đào bằng dao găm, bằng cây vạt nhọn, đào liên tục, đủ cho hai người ăn trong ngày và dự trữ cho ngày hôm sau.

Đến ngày thứ 15 cũng chưa bắt được liên lạc với trạm phía Nam. Củ chụp cũng bắt đầu khó kiếm. Không thế nấn ná được nữa, đã đến lúc phải thực hiện phương án cắt rừng.

Sáng sớm hôm sau, toàn đoàn bắt đầu hành quân. Đoạn từ trạm phía Bắc đến điểm giữa thì đi theo đường cũ, có hai liên lạc của trạm cùng đi. 11 giờ, đoàn nghỉ ăn cơm, củng cố quyết tâm, chỉnh lại đội hình, bắt đầu cắt rừng theo góc phương vị.

Một đồng chí đi trước chặt cây dọn đường, đồng chí kế tiếp cầm la bàn hướng dẫn. Đồng chí thứ ba, thứ tư sẵn sàng súng đạn yểm trợ khi cần. Cứ thế, đoàn đi 50 phút lại nghỉ 10 phút. Đến 3 giờ chiều, tổ cắt rừng phát hiện có dấu vết người ở trong một hốc đá.

Nghi ngờ là người của ta, anh Hồng Lâm trao đổi với hai đồng chí liên lạc. Đồng chí liên lạc người dân tộc đưa tay lên miệng hú gọi. Mừng không kể xiết, nghe có tiếng trả lời.

Đồng chí liên lạc dẫn tổ đi đầu đến chỗ có tiếng trả lời mới biết các đồng chí từ trạm phía Nam ra bị địch phát hiện bắn bị thương một người. Các anh dìu nhau trốn vào rừng không đến chỗ hẹn được, cũng không trở về trạm cũ được do đường đi đã bị địch phát hiện. Đồng chí còn khỏe mạnh đào củ, lấy măng ăn tạm qua ngày và chăm sóc cho đồng chí bị thương.

Người dân tộc khi đã giác ngộ cách mạng rất trung thành, rất tận tâm và chung thủy. Khi gặp hoạn nạn không bao giờ bỏ nhau. Có lần, tôi trò chuyện với đồng chí liên lạc còn rất trẻ, mới 17, 18 tuổi, hỏi lúc mở đường đầu tiên trên rừng núi này đồng chí đi bằng cách nào. Đồng chí trả lời:

- Theo hướng mặt trời. Ngày đi, đêm leo lên cây chọn chỗ có chạc hai lấy dây bó vào cây mà ngủ để tránh gặp cọp, voi. Lương thực là măng tre và củ rừng. Cứ vậy một mình đi, có khi đi hàng 7 ngày, 10 ngày...

Gương anh em liên lạc người dân tộc được đoàn đem ra sinh hoạt trong các chi bộ. Chính tấm gương của các đồng chí ấy đã củng cố thêm quyết tâm của toàn đoàn.

Bắt được liên lạc, đoàn tổ chức khiêng đồng chí bị thương đưa về lán trại phía Nam. Từ đây, đoàn không phải cắt rừng theo góc phương vị nữa mà nối vào đường dây đi tiếp.


Càng vào sâu phía Nam, rẫy khoai mì của đồng bào dân tộc càng ít đi, lương thực càng khó khăn. Có đồng chí ăn măng không chịu nổi, ăn vào là ói ra hết, như anh Hai Hương - sau này về T67/Quân khu 7 - phải tranh thủ đào củ mà ăn, anh Tốt, người to như bồ tượng – sau này về Long Đất, Bà Rịa. Đói quá, đêm anh lén lấy gạo (trong số ba lít gạo buộc phải giữ) để nấu ăn. Có đồng chí phát hiện, phản ánh. Tôi là Bí thư buộc phải đưa chi bộ kiểm điểm mà trong lòng xót xa vô cùng. Nếu không vì nhiệm vụ cách mạng, tôi cũng không cam lòng nhìn đồng chí mình vất vả, thiếu thốn. Lòng căm thù giặc càng cao.

Khi đoàn đến trạm bắc đường 14 - Bà Rá, có ý kiến đề xuất: nhân lúc vượt đường, ta tổ chức kiếm lương thực luôn. Ý kiến này bị bác bỏ ngay.

-   Đã giữ bí mật hai phần ba đoạn đường, phải giữ bí mật đến cùng.

-   Đã đói dài còn chịu được, bây giờ phải chịu được.

-   Lúc này hơn lúc nào hết đã tới đích rồi, phải vươn lên tới đích.

Đoàn lại âm thầm, lặng lẽ, bí mật vượt qua đường 14.
Sau hơn 5 tháng, từ tháng 3 đến đầu tháng 9 năm 1961, cuối cùng đoàn cũng đến Căn cứ R tại đồi 300 Bình Long.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: Khánh mập trong 12 Tháng Chín, 2012, 12:33:07 PM
Phân đội 1 của tôi cùng anh Hồng Lâm được bổ sung về T1 (Quân khu 7 bây giờ). Đưa nhau về đến Đất Cuốc giữa lúc T1 vừa chiến thắng vang dội trận Phước Thành hôm mùng 9 tháng 9. Khắp vùng, từ Đất Cuốc đến Mỹ Lộc, Thường Long, đâu đâu cũng một không khí hồ hởi, phấn khởi khiến chúng tôi càng náo nức. Toàn phân đội được lệnh đóng quân ở Suối Cái.

Sau mấy tháng đói khát, lần đầu tiên được nấu cơm với bao nhiêu gạo cũng được. Tôi cho ba lon sữa bò gạo vào cái hăng gô vuông, khi sôi lên cạn nước, sợ không chín, tôi đặt hăng gô sát xuống than và trở đi trở lại mấy phía. Sau mấy tháng đói dồn, ai cũng thèm một bữa cơm no.

Trong đời tôi có lẽ bữa cơm hôm ấy là bữa cơm ngon nhất và cũng nhiều nhất. Chỉ ăn với muối tiêu trộn bột ngọt mà tôi ăn một hơi hết ba lon sữa bò gạo.

Một bữa cơm rất ngon lành!


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: Khánh mập trong 12 Tháng Chín, 2012, 12:35:35 PM
VỀ T1 (QUÂN KHU 7)

Cách mạng miền Nam đã chuyển sang giai đoạn chiến lược mới. Đế quốc Mỹ thi hành chiến lược Chiến tranh đặc biệt, cuộc chiến tranh bằng quân đội ngụy với tiền của, vũ khí và sự chỉ huy của Mỹ. Thời kỳ đen tối của cách mạng miền Nam đã qua, thời kỳ ta chỉ đấu tranh chính trị đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ mà không được vũ trang, còn địch thì tha hồ bắn giết cán bộ, đồng bào yêu nước. Từ sau đồng khởi, quân giải phóng ra đời và nhanh chóng phát triển.
Anh Hồng Lâm về làm Chỉ huy phó kiêm Tham mưu trưởng T1. Tôi được phân công về làm trợ lý của Phòng tác chiến T1, do anh Út Đặng làm Trưởng phòng. Các anh trong phân đội được phân công về các tỉnh Phước Thành, Biên Hòa, Bình Dương, Bà Rịa, một số về Tiểu đoàn 500 và Tiểu đoàn 700.

Công việc đầu tiên của tôi là làm thư ký cho cuộc họp kiểm điểm rút kinh nghiệm trận đánh Tiểu khu Phước Thành của Tiểu đoàn 500. Anh Hồng Lâm dặn tôi:

-   Mới về, dự họp nghe và ghi, không nên phát biểu, nhất là phê phán ưu khuyết điểm. Tích cực thâm nhập vào cán bộ và chiến sĩ để hiểu rõ anh em.

Tiểu đoàn 500 mới thành lập. Toàn những cán bộ, chiến sĩ là du kích cũ, ý chí quyết tâm cao, có bản lĩnh chiến đấu vừa mới chiến thắng một trận lớn. Đây là trận đầu tiên Quân giải phóng miền Nam diệt một tiểu khu của địch. Lòng tự hào chính đáng của cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn đang dâng cao. Trong niềm tự hào ấy còn hàm ý: “Để rồi xem “cán bộ mùa thu” đánh đấm như thế nào với địch”.

Thấu hiểu tâm tư của anh em, đồng chí, tôi xác định thái độ tiếp xúc của mình. Phải vui vẻ, khiêm tốn, lắng nghe và học hỏi anh em, ca tụng và biểu dương cái tốt của anh em, tuyệt đối không được khoe khoang những kiến thức quân sự mình đã làm, đã học.

Sau hơn 10 ngày ở Phước Thành để đơn vị kiểm điểm trận đánh, làm lễ biểu dương thắng lợi, có đồng bào Đất Cuốc, Tân Tịch, Thường Lang lên dự, củng cố lại tổ chức tiểu đoàn, điều chỉnh trang bị vũ khí... tôi đã cùng sinh hoạt với Ban chỉ huy Tiểu đoàn, với các đại đội 59 và 80, với đội trinh sát...

Các anh trẻ, vui vẻ và cởi mở. Anh Xứ - Tiểu đoàn trưởng - mới 24 tuổi, nhỏ hơn tôi 4 tuổi. Anh Tư Luông - Chính trị viên Tiểu đoàn. Anh Tư Lòng - Tiểu đoàn phó. Tất cả các anh là những cán bộ phong trào. Anh Sáu Quang tức Sáu Thế từ ngoài Bắc về trước tôi một đợt, cũng là Tiểu đoàn phó.

Các cán bộ đại đội và trung đội như các anh Út Thắng, Út Hiệp, Hai Phê, Thành, Huệ, Bá... đều rất tình cảm. Tôi trạc tuổi các anh, cảm mến các anh thật lòng nên mới nửa tháng sau chúng tôi đã rất thân nhau. Các anh yêu cầu tôi bỏ hết trang bị từ ngoài Bắc vào, quần áo bà ba, ba lô con cóc, thắt lưng, cả súng ngắn P.38 của tôi cũng đổi. Các anh trang bị lại cho tôi quần técrông giặt mau khô, áo sơmi, ba lô Mỹ có gắn tấm bản đồ phía sau, thắt lưng Mỹ, súng côn 12 ly... giống hệt các anh.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: Khánh mập trong 12 Tháng Chín, 2012, 12:38:34 PM
Sau lễ mừng chiến thắng ở Phước Thành, Bộ Tư lệnh T1 phân công tôi đi theo Tiểu đoàn để góp sức xây dựng huấn luyện, nghiên cứu chiến trường và tổ chức chiến đấu. Tôi nhủ với lòng: sau bao nhiêu năm được Đảng, quân đội rèn luyện và giáo dục, bây giờ là lúc mình có thời cơ biểu hiện lòng trung thành với Tổ quốc, thể hiện năng lực lãnh đạo và chỉ huy, phát huy bản lĩnh xây dựng và chiến đấu. Chỉ có tinh thần dũng cảm, dám đổ máu, không sợ hy sinh mới chứng minh được sự trung thành, mới thuyết phục được nhân tâm, mới chiếm được tình cảm của anh em Tiểu đoàn.

Tôi cùng ăn, cùng ở, cùng nghiên cứu huấn luyện và chiến đấu, vào sinh ra tử với Tiểu đoàn 500, Tiểu đoàn chủ lực đầu tiên của T1 (Khu 7) thời ấy. Tôi đã cùng Tiểu đoàn rong ruổi khắp các chiến trường.

Ở Tây Ninh, đánh bót cầu Xe, phá ấp chiến lược suối Bà Tươi, đánh tàu trên sông Sài Gòn, đoạn Dầu Tiếng.

Ở Bình Dương, đánh diệt giao thông trên lộ 13 Mỹ Phước, phá ấp chiến lược Bến Tượng, đánh Lai Khê...

Ở Phước Thành, diệt địch trên đường giao thông, ở Nha Bích, diệt địch tại Bàu Cá Trê, diệt đồn Bà Cẩm, phá các ấp chiến lược Sình, Bà Đã, Ván Hương... giải phóng, vùng nam Sông Bé, mở rộng căn cứ Chiến khu Đ. lên hướng bắc.

Lại cùng Tiểu đoàn xuống Bà Rịa, ra Tánh Linh (Bình Thuận).

Liên tục mấy năm liền, tôi chỉ là cán bộ tác chiến T1 đi với Tiểu đoàn. Song Ban chỉ huy Tiểu đoàn rất tín nhiệm tôi, mọi việc đều hỏi ý kiến tôi, từ huấn luyện, nghiên cứu chiến trường đến tổ chức và thực hành chiến đấu. Anh em cán bộ các đại đội, trung đội và chiến sĩ coi tôi như cán bộ của Tiểu đoàn, lúc nào cũng thân tình chăm sóc, hỏi han. Khi có khó khăn anh em đều xin ý kiến. Tôi cũng coi Tiểu đoàn như ruột thịt của mình, cùng vui khi chiến thắng và cũng không ít lần rơi nước mắt trước cảnh anh em đồng chí mình hy sinh.

Tình đồng chí, đồng đội giữa tôi và anh em cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn đã gắn bó thật keo sơn. Ý chí chiến dấu, tác phong công tác, cách sử dụng lực lượng và động tác chiến đấu... tôi và anh em Tiểu đoàn rất ăn ý và dễ thống nhất với nhau.

Ngày 5 tháng 10 năm 1964, đồng chí Tư Lòng - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 500 được điều động về làm Chỉ huy trưởng thị xã Biên Hòa, Tiểu đoàn phó vẫn là đồng chí Út Thắng.

Qua anh Hai Sỹ, cán bộ biệt phái của Bộ Tư lệnh T1, tôi biết cấp trên cân nhắc rất nhiều giữa tôi và Út Thắng ai sẽ là Tiểu đoàn trưởng.

Về tài năng, phẩm chất và bản lĩnh thì anh em tôi như nhau. Tôi được đào tạo cơ bản hơn. Cái lo lắng của các anh là liệu tình cảm của anh em Tiểu đoàn có chấp nhận tôi không vì tôi là cán bộ “mùa thu”, Út Thắng lại là cán bộ phong trào, mà cán bộ phong trào lúc này vẫn được nhiều ưu ái. Nhưng cân nhấc tới lui, xét gần ba năm tôi sống và chiến đấu với Tiểu đoàn, cán bộ và chiến sĩ Tiểu đoàn thương yêu tôi như ruột thịt, cuối cùng Bộ Tư lệnh quyết định tôi làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 800 (phiên hiệu mới của Tiểu đoàn 500 cũ) thay anh Tư Lòng.

Từ ngày 5 tháng 10 năm 1964, tôi chính thức chỉ huy Tiểu đoàn 800 của T1 (Khu 7).


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: Khánh mập trong 12 Tháng Chín, 2012, 12:43:18 PM
TIỂU ĐOÀN 800 TRONG CHIẾN DỊCH BÌNH GIÃ

Năm 1964, chiến tranh cách mạng miền Nam phát triển mạnh đi kèm với nó là các phong trào ngày càng rầm rộ và chính quy hơn, các lực lượng của ta liên tục tiến công địch ở khắp nơi: nông thôn, miền núi và cả ở đô thị. Ta đã phá hỏng trên 5000 ấp chiến lược.

Ở Chiến khu Đ, ta đã phá banh các ấp chiến lược: Sình, Bà Đã, Ván Hương... mở rộng vùng giải phóng chiến khu Đ đến tận đường 16.

Ở Bà Rịa, vùng tam giác giữa các con đường số 1, đường số 2 (cả đông và tây), đường 15 đều giải phóng.

Phong trào chiến tranh du kích được mở rộng, bộ đội địa phương lớn mạnh và tác chiến có hiệu quả.

Cấp trên nhận định: “Ta đã đánh bại một bước quốc sách ấp chiến lược của địch’’. Nhưng đế quốc Mỹ và ngụy quyền tay sai vẫn ngoan cố tiếp tục chiến tranh bằng kế hoạch Mắc Namara, với mục tiêu bình định Việt Nam trong 3 năm, đẩy mạnh chiến lược Chiến tranh đặc biệt hòng cứu vãn nguy cơ sụp đổ của chế độ Mỹ - ngụy ở miền Nam.

Chủ trương của ta lúc này là khống chế và thắng địch trong Chiến tranh đặc biệt. Với phương châm chiến lược: “đánh lâu dài, đồng thời tích cực tranh thủ thời cơ để thắng địch trong thời gian tương đối ngắn". Trước mắt, phải ra sức xây dựng lực lượng ba thứ quân, đẩy mạnh tác chiến tập trung trên địa bàn miền Đông Nam Bộ, diệt một bộ phận sinh lực địch, vừa để rèn luyện bộ đội chủ lực vừa hỗ trợ có hiệu quả cho phong trào đấu tranh chính trị cùa đồng bào.

Sau khi nghiên cứu nhiều mục tiêu trên khắp địa bàn, Bộ Chỉ huy Miền quyết định chọn Bà Rịa - Long Khánh - Biên Hòa và một phần địa bàn Bình Thuận để mở chiến dịch. Với quyết tâm cụ thể, hướng chủ yếu là Bà Rịa - Long Khánh, hướng thứ yếu là Nhơn Trạch - Long Thành. Lực lượng gồm hai trung đoàn chủ lực của Miền Q761, Q762, 4 tiểu đoàn trợ chiến, Tiểu đoàn 800 Quân khu 7 và bộ đội địa phương các tỉnh. Tổng cộng khoảng 7000 quân chủ lực cộng với lực lượng địa phương và du kích cùng tham gia chiến dịch.

Tháng 11 năm 1964, Tiểu đoàn 800 của Quân khu 7 đang đứng chân ở suối Xà Môn, Gia Kốp, huyện Châu Đức thì được anh Hồng Lâm, Chỉ huy phó Chiến dịch Bình Giã, đến giao nhiệm vụ.

Sau khi được nghe phổ biến toàn bộ tình hình địch - ta, đặc điểm địa hình, nhiệm vụ chiến dịch, hướng chủ yếu và thứ yếu, lực lượng tham gia, phương châm, phương thức tác chiến và các mặt bảo đảm, anh giao nhiệm vụ cụ thể cho đơn vị: “Tiểu đoàn cùng bộ đội địa phương và du kích hoạt động trên hướng thứ yếu của chiến dịch. Phạm vi hoạt động cả nam và bắc đường 15, thuộc hai huyện Nhơn Trạch và Long Thành. Tùy theo yêu cầu và thời gian chiến dịch cần dể đánh nghi binh, đánh lạc hướng và thu hút địch, tạo thuận lợi cho hướng chính cơ động và tác chiến. Tiểu đoàn chuẩn bị các mục tiêu trên đường 15 có thể chặn đánh địch trên đường giao thông bất kỳ đoạn nào. Chuẩn bị đánh các đồn bốt hai bên lộ 15, cả An Viễn, Bình Sơn, Nhơn Trạch. Chuẩn bị phương án thọc sâu xuống phía nam lộ 15. Thời gian chuẩn bị cho mục tiêu và thông qua quyết tâm trong tháng 11”.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: Khánh mập trong 13 Tháng Chín, 2012, 11:37:57 AM
Mới cầm quân, nhận ngay nhiệm vụ chiến đấu với quy mô lớn (ở miền Nam tại thời điểm này với lực lượng chiến dịch như vậy là lớn lắm), tôi vừa phấn khởi vì đây là thời cơ để biểu hiện năng lực và bản lĩnh tổ chức, chỉ huy chiến đấu của mình, vừa lo là nhiệm vụ quá nặng nề, không được đánh tự do mà phải đánh theo yêu cầu và thời gian của chiến dịch. Tuy nhiên, tôi tuyệt đối tin vào trình độ, ý chí quyết tâm và bản lĩnh chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn. Tiểu đoàn phó Út Thắng đã 3 năm cùng chiến đấu bên tôi từ Tiểu đoàn 500 cũ, người trầm tĩnh, dũng cảm, có trình độ tổ chức và chỉ huy chiến đấu. Trong suy nghĩ, đánh giá về địch - ta, trong hành động chiến đấu anh rất hợp với tôi. Các đại đội trưởng Hai Phê - Đại đội 1, Chín Hướng - Đại đội 2, Ba Thành - Đại đội 3, Hai Lô - Đại đội 4 là những đại đội trưởng giỏi, ý chí quyết tâm cao, đoàn kết tốt. Một ưu thế nữa là trinh sát của Tiểu đoàn thuộc loại giỏi lúc bấy giờ. Họ đều là những người không chịu nổi sự áp bức của Mỹ - ngụy nên đã lên đường theo cách mạng, nhập ngũ Tiểu đoàn, có đồng chí từng là du kích ở địa phương, rất gan dạ và có bản lĩnh trong chiến đấu. 

Bắt tay vào chiến dịch, vì phải đánh theo yêu cầu của chiến dịch nên chúng tôi phải chuẩn bị nhiều mục tiêu, tôi chia tiểu đoàn thành 2 bộ phận để chuẩn bị cho chiến trường.

Tôi và một bộ phận trinh sát cùng với trưởng các đại đội đi chuẩn bị đánh giao thông trên đường 15 và các đồn bốt ở nam đường 15 như Phước Thọ, Tam An, huyện Long Thành.

Tiếu đoàn phó Út Thắng cùng một bộ phận trinh sát và cán bộ đại đội cấp phó đi chuẩn bị đánh địch ở Bình Sơn, An Viễn và Dốc 47, bắc đường 15 (đường 51 ngày nay).

Ngày 10 tháng 11, anh Hồng Lâm, Phó Tư lệnh Chiến dịch điện đề ra nhiệm vụ cho tiểu đoàn: “để thu hút địch chú ý đối phó trên đường 15, nghi binh cho chủ lực cơ động xuống chiến trường Bà Rịa, tiểu đoàn tổ chức đánh ngay một trận trên đường 15".

Nhận lệnh, tôi và các cán bộ họp bàn xem các mục tiêu đã chuẩn bị giờ phải chọn đánh mục tiêu nào. Đánh phải chắc thắng, giòn giã, diệt gọn, buộc địch phải dồn lực để đối phó.

Trinh sát báo cáo về, có đoàn xe 12 chiếc với 2 bù lu (bọc thép), 1 xe Jeep và 9 xe GMC chạy từ hướng Vũng Tàu về Sài Gòn.

Chúng tôi thống nhất đánh đoàn xe mà trinh sát đang theo dõi ở đoạn Phước Thái. Rạng ngày 15 tháng 11, toàn Tiểu đoàn hành quân ra phục kích cách đường 15 trên dưới 100m.

Tôi ra lệnh Đại đội 3 chuẩn bị chặn đầu và toàn tiểu đoàn sẵn sàng chiến đấu.

9 giờ, đoàn xe lọt vào trận địa. Đại đội 3 chặn đầu rất hiệu quả. Toàn tiểu đoàn nổ súng và xung phong. Sau 30 phút chiến đấu, tiểu đoàn diệt gọn đoàn xe 12 chiếc, tiêu diệt và làm bị thương 50 tên, thu 52 súng.

Trận đầu nghi binh cho chiến dịch thắng lợi giòn giã. Cả tiểu đoàn ai cũng phấn khởi. Tôi thấy lòng lâng lâng, rất vui vì anh em tỏ ra tin tưởng vào khả năng chỉ huy của mình.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: Khánh mập trong 13 Tháng Chín, 2012, 11:41:24 AM
Khi chiến dịch Bình Giã chính thức nổ ra, vào giai đoạn gay cấn nhất trên chiến trường, để chia lửa, tiểu đoàn hành quân nghi binh xuống nam đường 15, ép sát phía nam thị trấn Long Thành, thọc qua phía tây đánh tiêu diệt dồn Tam An sát thị trấn. Địch tưởng ta có một cánh quân lớn đang ép sát Sài Gòn - khoảng 20km theo đường chim bay - chúng phải phân tán lực lượng tăng cường đối phó trên đường 15.

Để tiểu đoàn không bị cô lập dưới nam đường 15, không bị ép về một phía, phải gây rối địch mọi hướng, tôi phân công Út Thắng dẫn Đại đội 2 vượt đường 15 về phía bắc, chọn vùng Bình Sơn, An Viễn hoạt động.

Đêm đầu năm 1965, Út Thắng cùng Đại đội 2 vượt qua đường an toàn và bí mật. Từ đó đến ngày 15 tháng giêng năm 1965, Út Thắng tổ chức đánh nhỏ lẻ liên tục làm cho địch phải phân tán đối phó trên bắc lộ 15, giảm bớt sức ép của địch đối với tiểu đoàn ở nam lộ.

Út Thắng chỉ huy đánh một trận sáng tạo, bất ngờ tiêu diệt đồn bảo an Bình Sơn khiến địch hoang mang. Nắm được quy luật, buổi trưa khi xe chở công nhân cạo mủ cao su đi ngang qua đồn bảo an, bọn lính hay túa ra trêu ghẹo chị em công nhân, Út Thắng lợi dụng ngay sơ hở này để “gậy ông đập lưng ông”.

Đại đội 2 vào giờ ấy cũng đi 4 xe như chị em công nhân cạo mủ đi làm về. Xe chạy đến cổng đồn thì bất ngờ từ trên xe, 8 quả cối 60 ly phóng vào đồn. Anh em từ trên xe nhảy xuống, xung phong thẳng vào cửa đồn. Địch không trở tay kịp, ta diệt đồn nhanh gọn, thu hơn 30 súng. Nhân thời cơ này, du kích địa phương nổi dậy phá kìm, phá ấp chiến lược giành thắng lợi lớn.

Tháng 3 năm 1965, tổng kết chiến dịch Bình Giã ở suối Nhung, Chiến khu Đ, Tiểu đoàn 800 được đánh giá là “đã hoạt động tốt và liên tục làm tiêu hao nhiều sinh lực địch, có một số trận diệt gọn, hiệu suất chiến đấu cao như trận đánh giao thông trên lộ 15, các trận diệt bót Tam An, đồn Bình Sơn... hoàn thành tốt nhiệm vụ nghi binh, thu hút địch, buộc chúng phải phân tán để đối phó tạo thuận lợi cho hướng chủ yếu của chiến dịch".
Qua chiến dịch Bình Giã, tình đồng chí, tình thương yêu trong đơn vị càng gắn bó. Giữa cán bộ, chiến sĩ, giữa đại đội này với đại đội khác, càng tin tưởng nhau hơn trong chiến đấu.

Tôi và anh em đơn vị có dịp gần gũi cán bộ địa phương và du kích nhiều hơn. Anh em chi bộ, anh em du kích không muốn tiểu đoàn đi nơi khác. Chúng tôi cũng rất quý mến anh em. Rõ ràng, chỉ có trong chiến đấu, tình người mới càng đằm thắm. Nhưng tiểu đoàn là đơn vị chủ lực của quân khu. Nó không thể là của riêng của một địa phương nào.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: Khánh mập trong 14 Tháng Chín, 2012, 08:34:14 PM
TIỂU ĐOÀN 1 TRUNG ĐOÀN 4 T1 (QUÂN KHU 7)

Hoàn thành tốt nhiệm vụ trong chiến dịch Bình Giã, chiến dịch đầu tiên của Quân giải phóng miền Nam, bước đầu tôi đã chiếm được niềm tin trong lòng anh em Tiểu đoàn.

Tết Ất Tỵ (1965), Tiểu đoàn đón một cái Tết vui vẻ, hồ hởi, phấn khởi. Sau chiến dịch Bình Giã phong trào đấu tranh chính trị, phá ấp chiến lược, phong trào du kích các tỉnh miền Đông phát triển mạnh. Vùng giải phóng các nơi được mở rộng.

Bộ Tư lệnh Miền chủ trương, tập trung xây dựng các đơn vị chủ lực để đánh những đòn tiêu diệt lớn nhằm tiếp tục mở rộng vùng giải phóng. Bộ Tư lệnh T1 (Quân khu 7) quyết định thành lập trung đoàn đầu tiên của Quân khu tại vùng căn cứ Chiến khu Đ, lấy phiên hiệu là Trung đoàn Đồng Nai, sau đổi là Trung đoàn 4 (Q764) theo phiên hiệu do Bộ Tư lệnh Miền đặt.

Tổ chức ăn Tết cho Tiểu đoàn xong, theo lệnh của Bộ Tư lệnh Tl, tôi tổ chức cho Tiểu đoàn tạm biệt chiến trường Bà Rịa hành quân về Chiến khu Đ.

Khi mới thành lập, trực thuộc Trung đoàn 4 có 2 tiểu đoàn bộ binh, một đại đội trợ chiến, một trung đội trinh sát và cơ quan trung đoàn bộ gồm các ban Tham mưu, Chính trị và Hậu cần. Tiểu đoàn 800 chúng tôi là đơn vị đã kinh qua chiến đấu nhiều năm, đội ngũ cán bộ chiến sĩ được rèn luyện và trưởng thành, lại thông thạo địa hình miền Đông Nam Bộ nên được giao nhiệm vụ là lực lượng chủ công của Trung đoàn với phiên hiệu là Tiểu đoàn 1. Tiểu đoàn 308 (gồm các đơn vị vận tải, sản xuất bảo vệ căn cứ) mới thành lập mang phiên hiệu Tiểu đoàn 3. Ban chỉ huy Trung đoàn gồm đồng chí Trần Minh Tâm - Trung đoàn trưởng, Đặng Kỷ - Chính ủy Trung đoàn, Đặng Ngọc Sĩ - Trung đoàn phó. Tôi làm Tiểu đoàn trường Tiểu đoàn 1, Hồ Văn Nam (Sậm) làm Chính trị viên, Trần Minh Thắng làm Tiểu đoàn phó. Huỳnh Thìn làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3, Út Minh làm Chính trị viên và Tư Thinh làm Tiểu đoàn phó.

Biên chế ban đầu của trung đoàn còn thiếu, vũ khí trang bị của cấp trung đoàn cũng thiếu. Riêng Tiểu đoàn 1 chúng tôi, quân số trên 500, biên chế có 3 đại đội bộ binh, 1 Đại đội trợ chiến, 1 đại đội trinh sát, 1 trung đội thông tin, 1 trung đội vận tải, 1 trung đội quân y, vũ khí được trang bị rất tốt về chủng loại và rất đầy đủ.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: Khánh mập trong 14 Tháng Chín, 2012, 08:35:28 PM
Ngày 31 tháng 1 năm 1965, để chào mừng ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Tư lệnh Quân khu ra chỉ thị cho Trung đoàn tổ chức đánh một trận đánh thắng lợi giòn giã trên khu vực đường 16 Tân Uyên để xây dựng truyền thống Trung đoàn. Thật là một nhiệm vụ rất khó khăn lúc bấy giờ. Vì đơn vị mới thành lập, cán bộ chưa quen tính cách nhau, cơ quan chưa biết ưu thế của đơn vị, đặc biệt là chưa đánh kết hợp lực lượng trung đoàn lần nào...

Trước khó khăn ấy, anh Hai Sỹ  - Trung đoàn phó, người hiểu Tiểu đoàn 1 nhất xuống Tiểu đoàn và bàn với tôi, Út Thắng, Ba Nam về nhiệm vụ được giao. Sau khi cân nhắc kỹ, chúng tôi hạ quyết tâm với anh Hai Sỹ:

-   Tiểu đoàn sẽ làm nòng cốt đánh một trận trên đường 16.

Tôi nói tiếp:

-   Anh Hai báo cáo với anh Năm Tâm để anh yên tâm.

Trung đoàn tổ chức đi nghiên cứu chiến trường, lực lượng tham gia gồm cán bộ Tiểu đoàn 1 và 3, cùng Đại đội 61 của Bình Dương để hình thành phương án đánh phục kích địch trên đường 16, vận động cấp trung đoàn tham gia, vị trí là khu vực ngã ba cổng Xanh.

Ngày 2 tháng 2 năm 1965, Trung đoàn hành quân phục kích gần khu vực ngã ba cổng Xanh đến khu vực Nhà Đỏ trên đường 16 Tân Uyên đi Phú Giáo. Tiểu đoàn 1 được tăng cường thêm Đại đội 61 của Bến Cát (Bình Dương), từ bắc đường 16 trong đêm hành quân xuống nam đường 16, phục kích chặn đầu và đánh từ nam lên bắc đường 16 khi địch lọt vào. Tiểu đoàn 3 phục kích đối diện với Tiểu đoàn 1. Do địa hình trống trải, Tiểu đoàn 3 phải phục cách đường hơi xa, khoảng 700 - 800 mét, nghe Tiểu đoàn 1 nổ súng thì phải nhanh chóng đánh lên mặt đường.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: Khánh mập trong 14 Tháng Chín, 2012, 08:37:19 PM
Đúng như dự kiến trong kế hoạch, 8 giờ ngày 3 tháng 2, Tiểu đoàn 31 biệt động quân ngụy thuộc Chi khu Phú Giáo hành quân lọt vào trận địa phục kích của ta. Đại đội 61 nổ súng khóa đầu. Toàn tiểu đoàn 1 xung phong lên mặt đường.

Bị đánh bất ngờ, ngay từ phút đầu, địch đã rối loạn đội hình, bị tiêu diệt một số. Tôi cử Út Thắng nắm trinh sát chạy nhanh đến báo tin cho Đại đội 1 của Hai Phê thúc đánh nhanh, chậm sẽ bị phi pháo. Út Thắng nhận lệnh, thực hành chỉ huy xuất sắc. Địch lợi dụng địa hình chống đỡ, gọi trực thăng chi viện làm cho trận chiến thêm quyết liệt.

Tiểu đoàn 3 không thấy xuất kích, để địch chạy thoát về Phú Giáo. Sau một giờ chiến đấu, chiến trường im hẳn tiếng súng chỉ còn trên đầu trực thăng đang quần đảo, tôi ra lệnh mỗi đại đội cho một tổ bắn máy bay, tất cả nhanh chóng rút quân theo kế hoạch.

Trận mở đầu của Trung đoàn thắng lợi. Ta diệt 2 đại đội địch, bắn rơi một máy bay trực thăng thu trên 40 súng, địch chết và bị thương 300 tên. Ta hy sinh 3 đồng chí, bị thương trên 10 đồng chí trong đó có Hai Phê, Đại đội trưởng Đại đội 1.

Họp rút kinh nghiệm trận đánh, Ban Chỉ huy Trung đoàn kết luận:

-   Trận đánh có hiệu suất cao. Tiểu đoàn 1 hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Tiểu đoàn 3 không xuất kích kịp thời do tổ chức quan sát không tốt, không nghe rõ tiếng súng của Tiểu đoàn 1, đến khi xuất kích thì trận đánh đã kết thúc.

Họp xong, tôi đến gặp Huỳnh Thìn, Tiểu đoàn trưởng Tiếu đoàn 3 và an ủi anh:

-   Anh chưa quen địa hình ở đây. Hơn nữa, Tiểu đoàn phục kích dưới triền thấp nên không nghe tiếng súng. Tôi hiểu anh. Anh yên lòng, chúng ta còn chiến đấu với nhau dài dài…

Ngày 3 tháng 2 năm 1965 trở thành ngày thành lập Trung đoàn 4.

Chiến thắng Nhà Đỏ - Cổng Xanh đường 16 khởi đầu xây dựng truyền thống Trung đoàn “ĐÃ ĐÁNH LÀ THẮNG".

Tiểu đoàn 1 bước đầu gây được lòng tin với cán bộ Trung đoàn, với các đơn vị bạn trong Trung đoàn.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: Khánh mập trong 14 Tháng Chín, 2012, 08:54:09 PM
MÙA KHÔ 1965 TRÊN QUỐC LỘ 20

Để mở rộng và củng cố vững các cứ địa cách mạng khu vực miền Đông Nam Bộ, cũng để rèn luyện Trung đoàn mới thành lập, chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh T1. Ngày 6 tháng 5 năm 1965, Trung đoàn hành quân với khí thế quyết chiến quyết thắng về hướng đường 20 từ Long Khánh đi Đà Lạt.

Đến bàu Nước Sôi (Định Quán), Trung đoàn dừng lại và liên hệ với anh Sáu Vịnh, bộ phận Định Quán, tổ chức trinh sát và đánh nhỏ lẻ xung quanh Chi khu Định Quán, Tà Lài...

Trung đoàn trưởng Năm Tâm giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 1 nghiên cứu, tổ chức đánh một trận giao thông trên đường 20. Đánh giao thông đối với Tiểu đoàn 1 đã quen thuộc. Tôi và Út Thắng tổ chức nghiên cứu quy luật hoạt động của xe và bộ binh địch trên đường 20. Vài ngay sau, Tiểu đoàn đã hình thành quyết tâm và kế hoạch đánh địch, báo cáo với Trung đoàn và được duyệt.

Thông thường, địch có một đội tuần tra đường gồm 3 xe bọc thép, 4 xe GMC đi từ hướng Long Khánh lên, qua Định Quán, tới Tà Lài thì quay về Long Khánh.

Đêm mùng 6 rạng sáng mùng 7 tháng 5, Tiểu đoàn hành quân bố trí ở phía nam đường 20, đoạn giữa Định Quán đi Tà Lài. Đánh chặn đầu là Đại đội 3 của Ba Thành, được tăng cường 2 khẩu ĐKZ 57, tổ chức bắn chặn xe đi đầu. Trinh sát Đại đội 3 bố trí một quả mìn định hướng đặt từ ta luy cao thổi ra mặt đường. Như vậy, bảo đảm chặn đầu buộc xe địch phải dừng lại. Đồng thời đội hình Tiểu đoàn phục dài trên 1 km. 8 giờ, đài quan sát báo đoàn xe đã tới cách đài 300m.

Tôi ra lệnh cho Đại đội 3 chuẩn bị chặn đầu khi xe tới, ĐKZ phát hỏa cũng là lệnh nổ súng của toàn Tiểu đoàn.

Hai khẩu ĐKZ bắn liền hai quả, mìn nổ nhưng một xe bọc thép vẫn chạy thoát lên Tà Lài, Đại đội 3 đuổi theo không kịp.

Sau 20 phút chiến đấu, Tiểu đoàn diệt 2 xe bọc thép, 4 xe GMC, một trung đội bảo an, thu 21 súng các loại. Mặc dù vẫn bảo đảm an toàn lực lượng nhưng đây là một trận đánh không diệt gọn.

Đại đội 3 họp kiểm điểm và tôi xuống dự. Nguyên nhân trận đánh chưa được xuất sắc là do anh em bố trí 2 khẩu ĐKZ bắn vào cùng một điểm, mìn định hướng cũng tập trung vào điểm bắn của hai khẩu ĐKZ để bảo đảm chặn chiếc xe đầu chắc ăn. Đúng như vậy, chiếc xe đầu trúng đạn đứng ngay. Nhưng chiếc thứ hai tăng tốc chạy vọt ra khỏi đội hình, chiếc thứ ba vì chạy sau 4 xe GMC nên bị diệt.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: Khánh mập trong 26 Tháng Chín, 2012, 07:14:55 PM
Sau trận đường 20 của Tiểu đoàn 1, Trung đoàn trưởng Năm Tân thấy không hài lòng, trận đánh không diệt gọn. Song vì ngại nên anh không phê bình mà cử anh Hai Sỹ - Trung đoàn phó xuống Tiểu đoàn góp ý với anh em. Tôi trình bày với anh Hai Sỹ:

-   Ý chí thì không có vấn đề. Quyết tâm đánh địch rất cao nhưng kế hoạch chặn đầu có khuyết điểm. Hỏa lực ĐKZ và mìn chỉ nhắm vào một điểm. Không lường trước được chiếc sau lại càn chạy về trước quá nhanh. Tiểu đoàn đã họp rút kinh nghiệm. Anh Hai yên lòng, chúng tôi đã kiểm điểm rất nghiêm túc.

Anh Hai Sỹ, người đàn anh rất hiểu cán bộ, hiểu nết chiến đấu của Tiểu đoàn, song anh cũng nhắc nhở:

-   Trung đoàn trưởng không hài lòng đó. Chú ý !

Sau trận đánh giao thông trên đường 20 của Tiểu đoàn 1, Trung đoàn cùng địa phương làm chủ đường 20 đoạn từ Định Quán đi La Ngà, cô lập Chi khu Định Quán, buộc địch phải lập cầu hàng không vận chuyển từ Sài Gòn lên Đà Lạt. Ý định của Ban Chỉ huy Trung đoàn là buộc địch phải chi viện quân lớn để giải tỏa Chi khu Định Quán, mở thông đường 20. Đúng theo kế hoạch của ta, Trung đoàn tổ chức trận địa phục kích từ cây số 109 đến cây số 111 đoạn phía bắc cầu La Ngà. Trận này, ta tổ chức đánh cấp trung đoàn, phân công Tiểu đoàn 3 chặn đầu, Tiểu đoàn 1 khóa đuôi.

Sau khi nhận nhiệm vụ, tôi về làm công tác tổ chức cho cán bộ khảo sát trên bản đồ và đi thực địa. Tôi phân công: Đại đội 2 của Chín Hướng bố trí giáp với Tiểu đoàn 3. Đại đội 3 do Ba Thành làm Đại đội trưởng giáp với Đại đội 2 còn Đại đội 1 do Hai Phê làm đại đội trưởng khóa đuôi. Đài quan sát do trinh sát bố trí cách đội hình Đại đội 1 khoảng 500 mét. Trận địa cối của Đại đội 4 do anh Lô - Đại đội trưởng bố trí sau khi quan sát sở của Tiểu đoàn, đối diện bên kia đường chuẩn bị lực lượng bắn tỉa và bắn theo yêu cầu.

Làm công tác tổ chức trên bản đồ xong, có ý kiến bàn:

-   Trung đoàn không tin Tiểu đoàn 1 nữa mới để Tiểu đoàn 3 chặn đầu.

-   Đánh thế này nhẹ hều ! Từ 10 xe trở lại thì Tiểu đoàn 3 xơi. Tiểu đoàn 1 thất nghiệp.

Nhận thấy tư tưởng cán bộ bị phân tán, có vẻ xem thường trận này, tôi bàn với anh Ba Nam - Chính trị viên cần phải chấn chỉnh kịp thời, bảo đảm đoàn kết và quyết tâm. Phần quân sự, tôi phân tích thêm về thực lực của địch

Họp anh em cán bộ lại, tôi nói:

-   Không phải trung đoàn không tin Tiểu đoàn 1 mà ngược lại, ta đã cắt lộ 20, cắt đường tiếp tế đi Đà Lạt cô lập Định Quán, buộc địch phải dùng lực lượng lớn đi giải tỏa. Có thể từ 20 đến 30 xe GMC chở quân và từ 2 chi đội xe thiết giáp trở lên yểm trợ, đội hình địch sẽ dài.

Tôi tiếp tục lý giải:

-   Tiểu đoàn 3 chặn đầu, địch sẽ dồn cục lại. Mật độ xe và sinh lực địch sẽ dày đặc trước chính diện với Tiểu đoàn 1. Nhiệm vụ Tiểu đoàn rất nặng. Các đồng chí phải tổ chức chiến đấu trong đại đội thật chu đáo, quyết tâm cao, xung phong thật nhanh, thật quyết liệt, không được coi thường.

Anh Ba Nam phân tích thêm cái hại của chủ quan, động viên toàn Tiểu đoàn quyết tâm “ĐÃ ĐÁNH LÀ THẮNG”.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: Khánh mập trong 26 Tháng Chín, 2012, 07:16:31 PM
Vào những ngày này, Trung đoàn kết hợp với lực lượng địa phương liên tiếp pháo kích Chi khu Định Quán, phá rã hết hệ thống ấp chiến lược trên đoạn Định Quán đi Tà Lài, làm cho địch càng thêm hoang mang rất có lợi cho ta.

Nhận thấy nguy cơ mất đường 20 lâu dài, Đà Lạt rất dễ bị cô lập; Đà Lạt kêu cứu, Định Quán hoang mang, dao động. Bằng mọi giá, Sài Gòn phải mở thông đường 20. Ngày 15 tháng 5, địch dùng Tiểu đoàn bảo an số 41 với 2 chi đội xe bọc thép 8 chiếc, tổ chức hành quân giải tỏa đường 20 đoạn Định Quán - Tà Lài và cứu nguy cho Chi khu Định Quán.

Sáng sớm, địch cho một phi đội trực thăng 2 chiếc lên rà soát, sục sạo dọc theo trục lộ và bắn phá những nơi chúng nghi ngờ.

8   giờ 30 phút, đài quan sát của Tiểu đoàn 1 báo cáo phát hiện xe địch đến cách cầu La Ngà 300 mét đang dừng lại, thả bộ binh xuống lục soát hai bên đường. Tôi ra lệnh toàn Tiểu đoàn ẩn nấp kỹ, không để lộ. Sau khi lục soát hai bên đầu cầu không thấy gì, địch lên xe, hành quân tiếp.

Đi đầu là 4 xe bọc thép qua khỏi đội hình Đại đội 1 thì tới xe GMC chở quân, mỗi xe cách nhau từ 10 đến 15 mét, tổng cộng là 15 xe.

Khi đội hình địch đến điểm phục cuối của Tiểu đoàn 3, ta nổ súng khóa đầu chính xác, ngay loạt đạn đầu, xe thiết giáp đi đầu bốc cháy và dừng lại.

Tôi ra lệnh cho Đại đội 1 của Hai Phê nhanh chóng khóa đuôi chiếm cầu La Ngà, không cho địch tháo chạy về Sài Gòn và cắt đuôi nếu chúng còn đuôi dài phía sau, cho Đại đội 2 xung phong ngay ra mặt đường đánh cắt đội hình chúng ra, chúng đã cảnh giác nhưng vẫn bị bất ngờ vì không ngờ lực lượng ta lớn vậy.

Cả tiểu đoàn địch rối loạn, chạy dồn về phía sau làm cho trận địa của Đại đội 1 mật độ địch dày đặc. Bốn thiết giáp của địch phía sau bắn như vãi đạn hòng ngăn chặn Đại đội 1 đang tiến công. Bộ binh Tiểu đoàn 41 địch chạy dồn về phía bên kia đường, kết hợp với thiết giáp chống cự quyết liệt.

Đại đội 2 nhận lệnh tập trung hỏa lực xung phong vượt đường, đánh tạt về trái, về hướng cầu La Ngà để cùng Đại đội 1 giải quyết địch co cụm.

Sau hơn 1 giờ chiến đấu quyết liệt, ta hoàn toàn làm chủ trận địa. Trên chính diện trận địa của Tiểu đoàn 1, địch chết và bị thương trên 100 tên. Tiểu đoàn bắt sống 11 tên, bắn cháy 19 xe, trong đó có 4 xe thiết giáp, thu trên 70 súng các loại.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: Khánh mập trong 26 Tháng Chín, 2012, 07:17:37 PM
Chiến thắng cầu La Ngà của Tiểu đoàn 1 nằm trong đội hình Trung đoàn 4 làm tôi nhớ về trận La Ngà đầu tiên năm 1948. Cũng tại đoạn đường lịch sử này, Chi đội 10 của anh Huỳnh Văn Nghệ thời đánh Pháp đã lập chiến công vang dội. Trận đánh gây tiếng vang mạnh mẽ dư âm đến tận nước Pháp.

17 năm sau trận La Ngà lần thứ nhất, Trung đoàn 4 giờ đây lại tô đậm thêm truyền thống “miền Đông gian lao mà anh dũng”. Chiến thắng La Ngà khuấy động toàn vùng đông - tây lộ 20, nam - bắc đường số 1, tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng địa phương Long Khánh, Định Quán, Gia Ray, Trà Tân, Xuân Lộc, phát triển và hoạt động có hiệu quả trên một địa bàn rộng lớn.

Trong sơ kết trận La Ngà. tôi nhắc lại với anh em:

-   Như vậy, không thể nói Trung đoàn không tin Tiểu đoàn 1. Mà ngược lại, vì rất tin nên Trung đoàn đã giao phần chiến đấu nặng nhọc nhất cho Tiểu đoàn.

Tổng kết trận đánh ở Trung đoàn, đồng chí Năm Tâm, Trung đoàn trưởng nhận xét:

-   Tiểu đoàn 1 giữ bí mật tốt trước trận đánh. Địch đi qua đội hình mà không phát hiện được. Trong chiến đấu, Tiểu đoàn thực hành động tác chiến thuật khóa đuôi và chia cắt tốt, chiến đấu dũng mãnh, đánh tiêu diệt. Tiểu đoàn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Đánh giá của Trung đoàn thêm niềm hứng khởi cho cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn. Riêng tôi, tôi thầm cám ơn anh em đã không phụ lòng tin cậy của Tiểu đoàn trưởng, giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: Khánh mập trong 01 Tháng Mười, 2012, 07:22:23 PM
TIÊU DIỆT YẾU KHU QUÂN SỰ GIA RAY

Tiếp tục kế hoạch hoạt động của Trung đoàn, trinh sát Trung đoàn và Tiểu đoàn 1 nghiên cứu yếu khu Gia Ray.

Yếu khu Gia Ray án ngữ ngã ba Ông Đồn, sát đường sắt Long Khánh - Phan Thiết, là trung tâm huân luyện biệt kích của vùng 3 chiến thuật ngụy. Lực lượng thường xuyên có 3 đại đội học viên đầy đủ vũ khí huấn luyện, 1 đại đội bảo an phòng thủ yếu khu. Hệ thống công sự của yếu khu khá kiên cố, với bờ thành đất xung quanh, các lô cốt, 3 lớp rào dây thép gai, hào sâu bên ngoài, mìn và lựu đạn gài.

Tôi và trinh sát Tiểu đoàn bò vào tận bờ tường, nhìn được vào bên trong, lên được sơ đồ hoàn chỉnh cách bố trí của yếu khu. Một tình huống rất quan trọng là qua các đêm nghiên cứu có đêm có 1 đoàn xe lửa với 6 toa trong đó có 3 ét cọt (như xe bọc thép) dừng ở yếu khu. Trường hợp tấn công yếu khu mà có xe ét cọt thì thêm một mục tiêu cứng bên ngoài phải giải quyết. Tôi lên quyết tâm, bàn trong Đảng ủy và Ban chỉ huy Tiểu đoàn, dù thế nào vẫn đánh và đánh phải thắng.

Lên báo cáo với Ban chỉ huy Trung đoàn, Trung đoàn ra lệnh:

-   Tiểu đoàn 1 được tăng cường Đại đội 12 của Tiểu đoàn 3 và một Trung đội ĐKZ của Trung đoàn. Tiểu đoàn đảm nhiệm tấn công toàn bộ yếu khu Gia Ray. Ngày N nếu phát hiện có ét cọt thì không đánh, lùi lại N+1 hoặc N+2.

-   Tiểu đoàn 3 thiếu, làm dự bị của Trung đoàn. Sẵn sàng chiến đấu theo lệnh Ban chỉ huy Trung đoàn và bảo đảm chặn viện, hướng từ Long Khánh ra.

-   Trận địa cối của Trung đoàn bố trí bắn theo yêu cầu của Tiểu đoàn 1.

Nhận lệnh xong, tôi chỉ có một đề nghị: dứt điểm yếu khu Gia Ray, cho phép Tiểu đoàn đổi vũ khí. Tôi nắm được trong yếu khu có kho vũ khí dùng cho học viên học toàn súng tốt và mới.

Trung đoàn trưởng Năm Tâm đồng ý.

Tôi xây dựng Tiểu đoàn có nếp tỉ mỉ và thận trọng trong nghiên cứu địch và tổ chức chiến đấu. Sau khi nhân lệnh, chúng tôi đắp sa bàn để phổ biến nhiệm vụ, sau đó xây dựng thao trường tương ứng như yếu khu để anh em tập. Được mấy đêm mới kết luận lại nhiệm vụ từng cánh. Tiểu đoàn hạ quyết tâm: Đánh tiêu diệt gọn, nhanh. Có ét cọt cũng đánh. Đã hành quân phải chiến thắng!

Chúng tôi đã có kế hoạch dùng 1 ĐKZ và một trung đội bộ binh đánh ét cọt. Tiểu đoàn “không theo lệnh” của Trung đoàn, nếu có ét cọt thì lui lại ngày N.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: Khánh mập trong 02 Tháng Mười, 2012, 11:50:57 AM
Đêm 8 rạng ngày 9 tháng 6, theo kế hoạch, Tiểu đoàn 1 hành quân chiến đấu. 21 giờ đội hình cách mục tiêu 2 km. Tổ trinh sát Trung đoàn bám mục tiêu là đồng chí My chạy về ngang tiểu đoàn báo “có ét cọt”. Tôi nói với đồng chí My: “Anh về báo cáo với Ban chỉ huy Trung đoàn. Tiểu đoàn 1 vẫn hành quân'’.

My chạy về báo cáo với anh Năm Tâm. Anh hỏi:

    - Có báo cho Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 biết chưa?

    - Dạ, đã báo anh Năm Hưng rồi. Ảnh nói tôi báo với Trung đoàn, ảnh vẫn hành quân.

Anh Năm Tâm ngỡ ngàng mất một lúc rồi quay sang hỏi anh Hai Sỹ, Trung đoàn phó. Anh Hai Sỹ nói: “Nó đánh đó! Nếp Tiểu đoàn 800 là vậy, đã hành quân là không dừng. Nó đã có kế hoạch đánh ét cọt rồi. Để nghị anh cho dự bị Trung đoàn sẵn sàng chi viện cho nó”. Anh Hai Sỹ hiểu Tiểu đoàn 1 hơn ai hết.

23 giờ ngày 9 tháng 6, toàn Tiểu đoàn đang triển khai tiếp cận mục tiêu. Anh Châu, Đại đội phó Đại đội 1, bò lại quan sát sở tiểu đoàn báo cáo với tôi:

-   Có một tiểu đội địch phục kích bên ngoài.

Tôi chỉ thị ngay:

-   Cho một tiểu đội của ta phục kích ém sát nó. Khi nổ súng, anh cho nổ vào bọn phục kích cho nó chạy luôn vô núi Gia Ray.

Đúng 24 giờ, giờ G. Tổ đặc công đánh trung tâm đã lọt vào trong và cho nổ mìn làm địch rối loạn. Các khẩu ĐKZ bắn vào các lô cốt. Toàn bộ lực lượng Tiểu đoàn xung phong qua các cửa mở đặc công đã mở sẵn. Bị đánh bất ngờ, quyết liệt địch không trở tay kịp.

Sau hơn nửa giờ chiến đấu, Tiểu đoàn đã làm chủ hoàn toàn yếu khu Gia Ray. Địch chết và bị thương trên 100 tên. Ta thu toàn bộ vũ khí và rất nhiều lương thực, được dân công tỉnh Bà Rịa - Long Khánh tải về núi Mây Tào cất giấu. Chỗ cất giấu kho la ve, sau thành “ngã ba la ve".

Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn không chỉ thành thạo động tác chiến đấu  mà còn rất nhanh tay. Chiếm lĩnh trận địa xong, chiếm được kho súng, tất cả Tiếu đoàn đều bỏ súng cũ tại chỗ cho dân công tải đi và tự trang bị cho mình toàn súng mới. Từ súng trường Mỹ tự động đến Carbin, trung liên, cối, cả đến súng ngắn Côn 12 ly của cán bộ đại đội cũng mới hoàn toàn.

Sau chiến thắng yếu khu Gia Ray, toàn Tiểu đoàn thay đổi hoàn toàn trang bị. Súng cũ của Tiểu đoàn, dân công tải về, sau Trung đoàn lấy trang bị cho các đơn vị khác trong Trung đoàn. Từ đó nảy sinh thắc mắc: Toàn súng cũ của Tiểu đoàn 1. Chính ủy Trung đoàn định ra lệnh cho Tiểu đoàn 1 kiểm điểm. Nhưng anh Năm Tâm cản lại: “Tôi cho phép Tiểu đoàn 1 đổi súng mới nếu chiến thắng

Sau trận đánh, địch bỏ luôn yếu khu Gia Ray. Hệ thống đồn trên đường số 3 từ suối Cát qua Trà Cổ, đến Đồng Hiệp, địch đều hoang mang bỏ chạy. Nhân dân Bảo Chánh, Bảo Bình, Tân Phong nổi dậy phá kìm. Cả một vùng rộng lớn ven lộ 1 và lộ số 3 dài gần cả trăm cây số được giải phóng.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: LordOfStorms trong 03 Tháng Mười, 2012, 01:26:53 PM
TỪ NÚI THỊ VẢI

Giữa năm 1965, vùng giải phóng càng ngày càng mở rộng, ngụy quân ngụy quyền đứng trước nguy cơ sụp đổ, quân Mỹ ồ ạt đưa quân với quy mô lớn vào miền Nam, đồng thời đẩy mạnh chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc. Trên địa bàn Biên Hòa, Bà Rịa — Long Khánh, Vũng Tàu, quân Mỹ cũng bắt đầu triển khai lực lượng.

Trước yêu cầu mới của nhiệm vụ, Tiểu đoàn 1 nằm trong đội hình trung đoàn 4 .chuyển về địa bàn đông — nam Long Khánh, phối hợp với lực lượng Biên Hòa 9 Bà Rịa tổ chức đánh dịch trên quốc lộ 1, quốc lộ 15 và Hên tỉnh lộ số 2, hỗ trợ cho phong trào du kích chiến tranh Bà Rịa - Biên Hòa, sẵn sàng đương đầu với quân Mỹ và chư hầu. Trở về chiến trường cũ quen thuộc, tuy có gian khổ song tôi và đơn vị thấy không có gì bỡ ngỡ. Tháng 7 năm 1965, toàn Trung đoàn đã cơ động hết đội hình xuống đông

- Tây lộ 2, Tiểu đoàn 1 xây dựng căn cứ ở suối Xà Môn

- Gia Kốp thuộc xả Hắc Dịch huyện Châu Thành, tỉnh Bà Rịa.

Sau khi ổn định căn cứ của Tiểu đoàn, Trung đoàn trưởng Năm Tâm, cũng quen thuộc địa hình này, trực tiếp xuống Tiểu đoàn. Anh thăm dò tôi:

- Mới về đây, Năm Hưng thấy nên triển khai chiến đấu hướng nào? Đã đánh phải diệt gọn, gây uy thế cho đơn vị mới về.

- Mới về là Trung đoàn, chứ Tiểu đoàn 1 vốn là Tiểu đoàn 800 trước đây thì vùng này là chiến trường quen thuộc

Tôi báo cáo với anh:

- Đánh dễ nhất, gọn nhất là đánh giao thông đường 15. Có thể nghiên cứu trên nhiều đoạn. Tiểu đoàn 1 đảm bào đánh chắc thắng.

Anh Năm Tâm giao nhiệm vụ luôn:

- Vậy, Năm Hưng tổ chức nghiên cứu đánh giao thông trên đường 15. Nghiên cứu xong, thông qua trực tiếp tôi.

Ngày 4 tháng 7, Tiểu đoàn đang làm công sự. Út Thắng - Tiểu đoàn phó được giao nhiệm vụ ở nhà chỉ huy, tôi dẫn đoàn cán bộ có các đại đội trưởng và một tiểu đội trinh sát xuống núi Thị Vải để nghiên cứu đường 15. Trung đoàn có anh Năm Tâm - Trung đoàn trưởng, anh Mô - cán bộ tác chiến Trung đoàn và một tiểu đội trinh sát cùng xuống để khi tôi nghiên cứu xong thì trực tiếp thông qua quyết tâm với Trung đoàn trưởng. Đến Thị Vải, đoàn tôi ở hang 90. Đoàn cán bộ Trung đoàn ở trên tôi một đoạn.

Xuống đây, tôi gặp anh Bình (Tốt) - Tham mưu trưởng Tỉnh đội Bà Rịa. Hồi đoàn Phương Đông 2 về Nam, anh Bình là Phân đội trưởng, tôi là Bí thư chi bộ. Gặp nhau, hai anh em rất mừng, trò chuyện như bắp rang. Gặp cả anh Quang, Huyện đội trưởng Châu Thành. Như vậy, phía địa phương có đủ thành phần tỉnh, huyện và xã Phủ Mỹ sở tại, rất thuận lợi cho công tác nghiên cứu và kết hợp tổ chức chiến đấu sau này.

Ngồi ở lưng chừng núi Thị Vải, phóng tầm mắt nhìn xuống đường 15, thấy từ bên trái là Chu Hải - Kim Hải đến Đồng Lớn, đến Phú Thạnh... nhìn xa hơn, thắng trước mặt thấy cả vùng Rừng Sác, sông Thị Vải, sông Lòng Tàu... Tôi xác định rõ, khu căn cứ phía tây này của Tỉnh đội Bà Chợ thời chống Pháp. Trên đoạn đường này, lúc chiến dịch Bình Giã Q762 đã đánh một lần. Tôi nghĩ muốn đánh lại trận Đồng Lớn phải có cách tác chiến khác Q762, nếu đánh kiểu Q762 dễ bị thiệt hại. Tôi họp các cán bộ đại đội của Tiểu đoàn và phác họa kế hoạch:

- Tối nay, ta đi nghiên cứu đoạn từ Đồng Lớn đến Phú Mỹ. Chọn đội hình phục kích là nam đường 15, tức phục kích phía bên kia đường, đánh xong vượt đường về phía rừng vồng. Đường rút, không vào núi Thị Vải, dễ bị máy bay ném bom. Khi rút, đi xuống Eo Ông, vòng ra sau núi. Đánh, như Hoàng Thọ thời đánh Pháp, táo bạo, thật táo bạo và bất ngờ, giải quyết nhanh và gọn.

Các đại đội trưởng đều nhất trí. Sau khi bàn sơ bộ kế hoạch, tắm rửa nghỉ ngơi, chờ đội du kích Phú Mỹ đi công tác về sẽ bàn kế hoạch du kích dẫn đường. Lâu ngày mai gặp lại, các anh Bình, Quang và tôi ngồi tâm tình. Anh Bình nói:

- Thôi, chuyến này lo vợ cho Năm Hưng đi.

- Chiến tranh ngày càng khó, biết đâu mà lo. Tôi đáp.

Anh Bình nói:

- Tại đây chớ đâu.

Rồi các anh bàn riết, chọn người này người kia. Người thi được cái này, chưa được cái khác. Cuối cùng anh Bình bảo:

- Chọn cô Tuyết (vợ tôi bây giờ). Tuyết được đấy.

Tôi nửa đùa nửa thật, thả lỏng một câu:

- Tùy các anh. Các anh đồng ý, tôi đồng ý.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: Khánh mập trong 04 Tháng Mười, 2012, 04:20:35 PM
Thế là các anh bố trí kế hoạch, đêm nay, sau khi đi nghiên cứu về, cho tôi gặp.
14 giờ, cán bộ xã Phú Mỹ và đội du kích đi công tác về. Tôi mặc quần cụt áo thun lá, đứng trên dốc nhìn xuống thấy đoàn đang đi lên. Đi đầu là một chị mang một khẩu Tôm-sơn trước ngực, có vẻ hiên ngang lắm. Sau tôi mới biết đó là chị Sáu Phượng, Bí thư chi bộ xã. Đi sau chị còn 3 phụ nữ khác (trong đó có Tuyết) và 4 nam, có đồng chí Thâm - Xã đội trưởng.

Đoàn đi gần tới chỗ tôi đứng. Buột miệng, tôi nói bâng quơ:

- Phải chi mình có cây súng như của chị đeo trước ngực thì sướng quá.

Cả đoàn nhìn tôi, không hỏi một câu, đi luôn về căn cứ. Sau này mới hay: anh chị cho tôi là tân binh ham súng, có ý xem thường. Thật thì lúc đó tôi đã 31 tuổi, nhưng nhỏ con, ốm, trắng, xem thư sinh lắm. Các anh chị lầm cũng phải!

16 giờ, anh Quang - Huyện đội trưởng tổ chức cuộc họp giữa huyện, tỉnh, xã - có Bí thư và Xả đội trưởng - với cán bộ Tiểu đoàn 1. Tất cả mọi người có mặt đầy đủ, riêng tôi chưa vào, còn mặc quần técrông, áo sơmi đứng ngoài, như người gác cuộc họp. Chị Sáu Phượng nhìn tôi, không hỏi, đi vào hàng 90 ngồi ngay vị trí giữa. Tôi vẫn chưa vào.

Anh Ba Quang, Huyện đội trưởng gọi:

- Đã đủ thành phần cán bộ theo yêu cầu của Năm Hưng rồi. Năm Hưng vào chú trì hội nghị. Có yêu cầu gì, đêm nay xã sẽ giúp đỡ.

Tôi vào, nhìn mọi người:

- Xin chào tất cả các anh chị.

Chị Sáu Phượng nhìn tôi trân trân. Chị không ngờ hồi chiều còn nghĩ tôi là tân binh ham súng, giờ lại chủ trì hội nghị. Đây là dấu ấn đầu tiên của chị với tôi, cũng là dấu ấn chị lo xây dựng vợ cho tôi sau này.

Tôi vào đề ngay. Tôi nói mục đích, yêu cầu, nội dung, phương pháp, nhờ du kích xã giúp dẫn đường cho đoàn cán bộ Tiểu đoàn 1 nghiên cứu đêm nay đoạn Đồng Lớn đến cầu Phú Mỹ để đánh một trận giao thông trên đường 15. Sau khi kết thúc hội nghị, tôi đến gặp chị Sáu Phượng:

- Nếu đơn vị tôi đánh trận này tốt, tôi sẽ đổi cho chị một khẩu Carbin tự động nhẹ hơn cây Tômsơn của chị và sẽ trang bị đầy đủ cho đội du kích xã.

Đêm, đoàn cán bộ của Tiểu đoàn, có trinh sát và tác chiến của Trung đoàn đi theo, nghiên cứu thực địa. Tôi phân công phạm vi phục kích, phương pháp tấn công cho từng đơn vị. 24 giờ, đoàn về đến chân núi. Tôi sinh hoạt lần cuối về kế hoạch thời gian, tổ chức quan sát theo dõi quy luật an ninh, lộ trình và quy luật hành quân của địch hàng ngày. Kế hoạch thời gian N và G tính từ ngày hôm sau. Xong xuôi mọi việc, theo kế hoạch bố trí của anh Bình và anh Quang, tôi đi gặp Tuyết. Anh Năm Tám - Trung đoàn trướng đêm đó không đi nghiên cứu, ở căn cứ du kích Phú Mỹ thức chờ tôi dài cổ về thông qua quyết tâm. Khi thấy anh Mô, tác chiến của Trung đoàn về, anh hỏi:

- Năm Hưng đâu?
- Ảnh đang sắp xếp công việc cho đơn vị. Xin sáng mai thông qua quyết tâm.

Anh Mô cũng ủng hộ việc “tình cảm” của tôi. Trong lúc đó tôi và Tuyết gặp nhau trên một tảng đá bằng phẳng của núi Thị Vải, vùng căn cứ của xả Phú Mỹ. Đêm ấy, trăng trong, gió mát. Sắp xếp xong mọi việc cho một trận chiến đấu sắp tới, lòng tôi củng rảnh rang thoái mái. Nhưng tôi không biết mở đầu như thế nào, bằng cách nào. Thực ra mà nói, tôi cũng thuộc loại có tướng tá hào hoa: đẹp vừa phải, sĩ quan cấp cao vì bấy giờ Tiểu đoàn trưởng là hiếm lắm. Nhưng hào hoa là vẻ bên ngoài, thật tình đối với người khác giới tôi còn nhát lắm. Lúng túng, ngượng ngập mất một lúc, mãi tôi mới được một câu:

- Các anh có ý tốt, muốn xây dựng em với anh.

Sau câu mở đầu ấy, chúng tôi tìm hiểu cặn kẽ về hoàn cảnh gia đình của nhau. Gia đình Tuyết ở xã Hòa Long, còn cả cha mẹ và các chị em. Tuyết thoát ly sớm, là du kích xã cũng được mấy năm rồi (làm y tá ờ xã).
Gần 3 giờ sáng, tôi mới nói:

- Anh mồ côi mẹ từ lúc 2 tuổi. Tứ cố vô thân, khi theo cách mạng mới 13, 14 tuổi. Từ đó đến giờ chỉ sống với tình đồng chí, đồng đội. Tình cảm riêng tư rất thiêu thốn. Nếu em thấy bù đắp được tình cảm cho anh thì thương, thương là thương Năm Hưng. Còn thương Tiểu đoàn trưởng thì thôi. Thương anh thì mới lâu bền. Chớ thương Tiểu đoàn trường rất dễ mất, chiến tranh mà, biết thế nào. Em cứ suy nghĩ thật kỹ, khoan trả lời.

Trong đêm tối, tôi nghe tiếng thờ đều đều của Tuyết dường như Tuyết nhích lại gần tôi. Tiếng em thì thào như gió thoảng:

- Em thương anh, thương hoàn cành của anh, em cảm động lắm nhưng em còn cha mẹ, mà cha em khó lắm, em còn phải xin phép, anh chờ!


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: Khánh mập trong 04 Tháng Mười, 2012, 05:01:16 PM
Theo kế hoạch, đêm 9 tháng 7, tôi tổ chức cho Tiểu đoàn hành quân từ suối Xà Môn - Gia Kốp xuống Phú Mỹ. 23 giờ, đầu đội hình đã tới gần đường 15 đoạn trận địa. Tôi cho cảnh giới hai đầu và cho anh em lót nilông lên mật đường để vượt dường. Một giờ sáng chiếm lĩnh xong. 5 giờ đã hoàn thành công sự và sần sàng chiến đấu.

Trận địa phục kích là một khu vực rừng dầu, cây thấp và thưa, xen kẽ với cỏ ống cao, địch ít nghi ngờ hơn bên. phía rừng vồng. Khoảng 6-7 giờ sáng, dân ra đường đi lại mót củi. Có tiếng người dân nói rất lớn:

- Bữa nay không có gió sao lá dầu lật ngược nhiều quá !

Hóa ra anh em làm công sự ngụy trang bằng nhánh cây dầu, không chú ý dể lá dầu lật ngược, dân phát hiện và báo dộng cho ta. Qua dường dây điện thoại, tôi chỉ thị cho anh em bí mật kiểm tra lại hết lá ngụy trang. Nếu dân không báo động, lúc nửa bọn tuần tra địch ngoài dường phát hiện thì nguy.

9 giờ, đài quan sát báo tin bọn an ninh lộ trình đi trên đường, đang thay nhau sục về phía rừng vồng, ít sang bên rừng sác. Vậy là yên tâm.

10 giờ, đoàn xe 12 chiếc có xe bọc thép, 2 chiếc đi đầu, 1 đi sau cùng. Khi địch đến cua Phú Mỹ- Đại đội 2 nổ ĐKZ chặn đầu. Toàn tiểu đoàn đổng loạt nổ súng. Bị đánh bất ngờ, quân địch bỏ xe nhảy xuống. Chưa kịp chống trả thì bị các chiến si ta đã dũng mãnh xung phong lên, diệt và bất sống gần hết.
Chưa có kinh nghiệm tháo súng trên xe bọc thép anh Giàu - Chính trị viên phó Đại đội 2 lấy súng trường Mỹ kề gần cất súng bắn đứt ra dể lấy. Giàu bị thương.
Trong số tù binh bắt được có một tên da trắng, mũi lõ. Anh em báo cáo có một tên Mỹ. Nó nghe được tiếng Việt hoảng quá la lên: “Không phải Mỹ, tôi là Pháp". Nó đúng người Pháp thật.

13 giờ, toàn Tiểu đoàn rút vòng qua núi Eo Óng về sau núi Thị Vải, tránh được trận bom 0 trước núi Thị Vải. Tiểu đoàn về đến cản cứ ở Xà Môn - Gia Kốp lúc 17 giờ, trời đang chập choạng tối.

Kết quả trận đánh: diệt một chi đội xe bọc thép 3 chiếc, 9 xe GMC, diệt một đại đội ngụy, bắt 16 tù binh có 1 tên Pháp, thu 32 súng có 4 đại liên và 4 máy bộ đàm. Một đồng chí ta bị thương nhẹ ở đùi. Trên đường hành quân về, lúc đi ngang chỗ anh Ba Nam - Chính trị viên Tiểu đoàn cho đào sẵn 7 cái huyệt, anh em nói vui: “Vậy là Chính trị viên thất nghiệp rồi”.

Út Thắng - Tiểu đoàn phó dẫn quân về. Tôi cùng trung đội trinh sát ở lại núi Thị Vải, đến gặp Trung đoàn trường báo cáo. Anh Năm Tám khen:

- Tiểu đoàn đánh tốt. Ở trên núi nhìn xuống, như xem phim chiến đấu.

Thực hiện lời hứa, tôi trao ngay cho chị Sáu Phượng một khẩu Carbin, tặng đội du kích của anh Năm Thâm 7 khẩu súng trường, trao cho anh Quang - Huyện đội trưởng hơn 20 khẩu, giao tù binh cho anh Bình tỉnh Bà Rịa giải quyết. Mọi người hồ hởi, phấn khởi. Anh Bình nói vui:

- Năm Hưng đánh một trận tuyệt cú mèo xuất sắc.

Đúng là trận này có dấu ấn của tình yêu tôi và Tuyết. Thái độ tin cậy và tình thương của Tuyết đã khích lệ tôi trước khi bước vào trận đánh. Một trận đánh nhanh và gọn đến tôi cũng không khỏi ngạc nhiên. Đúng là Tiểu đoàn 1 đã đánh tốt như nhận xét và đánh giá của Trung đoàn trưởng Năm Tâm.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: LordOfStorms trong 04 Tháng Mười, 2012, 05:11:48 PM
NHIỆM VỤ MỚI - CƯƠNG VỊ MỚI

Giữa năm 1965 đến 1966, trước sự tan rã của quốc sách ấp chiến lược, để cứu vãn tình hình suy sụp của chính quyền Sài Gòn, Mỹ ồ ạt đổ quân vào cảng Đà Nẵng, nâng tổng số quân Mỹ lên trên 200.000 tên. Trung đoàn 11 thiết giáp Mỹ với xe tăng nặng, thiết giáp, xe công trình, xe chỉ huy, tổng cộng trên 650 chiếc đổ lên Vũng Tàu, kéo về lập căn cứ ở Suối Râm, nam ngã ba Tân Phong - Long Khánh. Lữ đoàn Hoàng gia sức lập căn cứ ở Núi Đất xã Hòa Long, huyện Châu Thành (Bà Rịa) với trên 6.000 quân. Sư đoàn Mãng Xà Vương Thái Lan lập căn cứ ở Nước Trong, Long Thành. Dàn pháo Tân Tây Lan chiếm lĩnh trận địa ờ núi Da Quy với 37 khẩu 105 và 155 ly. Bộ Tư lệnh dã chiến 2 và Lữ 173 Mỹ đóng ở Biên Hòa. Sư đoàn 18 ngụy đứng chân ở Long Khánh.

Địch liên tục đánh phá vùng nam - bắc lộ 1, đông -   tây lộ 2 và nam - bắc lộ 15, gom dân về các ấp chiến lược, dùng xe ủi phá rừng nhằm bóc các căn cứ của ta, đánh phá các cửa khẩu mua lương thực của hậu cần ta. Cuộc kháng chiến của toàn miền Nam nói chung, của Bà Rịa - Long Khánh nói riêng đang đi vào một giai đoạn mới: “Chiến tranh cục bộ’. Chiến trường Bà Rịa — Long Khánh ngày càng gian khổ, ác liệt. Khu tam giác đường số 1, số 2 và đường 15 bị các căn cứ Núi Đất, Suối Râm về Nước Trong vây xung quanh. Việc mua lương thực của hậu cần ta trở nên rất khó khăn.

Trung đoàn 4 vừa được bổ sung Tiểu đoàn 265 từ miền Tây lên, mang phiên hiệu Tiểu đoàn 2, do anh Lê Phải làm Tiểu đoàn trưởng. Trung đoàn đầy đủ 3 tiểu đoàn bộ binh và các đại đội trực thuộc vẫn tiếp tục đứng chân cả ở đông lẫn tây lộ 2 hoạt động.

Tháng 9 năm 1965, Sư đoàn 5 được thành lập. Anh Năm Tâm - Trung đoàn trưởng về làm Sư đoàn phó. Anh Hai Sỹ làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 4, tôi làm Tham mưu trưởng Trung đoàn, út Thắng - Tham mưu phó và Hai Phê thay tôi làm Tiểu đoàn trường Tiểu đoàn 1 (anh Hai Phê quê ở Bến cầu, Tây Ninh, không chịu nổi sự đàn áp của địch, chạy vào rừng từ những năm 1958, đã làm du kích địa phương, về Tiểu đoàn từ những ngày đầu mới lập. Người chắc khỏe, rất dũng cảm trong chiến đấu, thận trọng và tỉ mỉ trong nghiên cứu và xây dựng kế hoạch, nghĩa tình sâu đậm với đồng đội, đồng chí. Sau này anh là Sư đoàn trường Sư đoàn 302 trong cuộc chiến bảo vệ biên giới Tây Nam, Thiếu tướng Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy quân sự Sông Bé - nay nghỉ hưu ở Sông Bé).

Vậy là tôi rời Tiểu đoàn 1 thân yêu của mình, nơi tôi đã sống cùng anh em, cùng xây dựng đơn vị, cùng chiến đấu từ năm 1961. Chia tay anh em nhiều bịn rịn, song tôi tin anh em sẽ tiếp tục chiến thắng và trưởng thành, tiếp tục giữ vững vai trò đơn vị chủ công của Trung đoàn.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: LordOfStorms trong 05 Tháng Mười, 2012, 12:47:40 PM
Từ cuối năm 1965 trở đi, chiến trường Bà Rịa - Long Khánh ngày một ác liệt. Với ưu thế lực lượng, quân địch liên tục mở các cuộc hành quân đánh phá vùng căn cứ ta.

Ban chỉ huy Trung đoàn 4 gồm anh Hãi Sỹ, tôi và Út Thắng (Anh Hai Sỹ tức Đặng Ngọc Sỹ, quê ở Long Xuyên. Thời đánh Pháp, anh là cán bộ Đại đội của Tiểu đoàn chủ lực miền Đông 303, tập kết ra Bắc, trong đợt phong quân hàm đầu tiên 1958 anh được phong hàm, đại úy. Anh về Nam trước tôi 1 đoàn, người anh phúc hậu, đức độ, trong làm việc anh có sức thuyết phục, rất nghĩa tình, thương yêu dìu dắt đàn em Sau anh làm  trưởng Sư đoàn 6, Thiếu tướng Tư lệnh phó Quân khu 7 anh từ trần năm 2004. Anh Út Thắng tức Trần Minh Thắng, quê ở Châu Thành, Tây Ninh, khống chịu nối sự đàn áp của địch nôn chạy vào rừng từ năm 1958, là chiến sĩ đặc công trưởng thành lên, người chắc khỏe, rất mưu trí và dũng cảm trong chiến đấu, sống với nhau rất tình cảm, luôn giành khó khăn, sự hy sinh về mình; nhường thuận lợi và sự sống cho đồng chí, cho bạn. Năm 1972 anh về làm Sư đoàn phó Sư đoàn Đặc công 429 của Miền đi chuẩn bị cho chiến dịch Nguyễn Huệ, anh bị địch phục kích và hy sinh ở An Nhơn Tây - Củ Chi).

Ba anh em chúng tôi thương yêu nhau như ruột thịt, hiểu tâm tư tình cảm của nhau, hiểu nết chiến đấu từng người, cùng hiểu đơn vị và địa bàn hoạt động như từng đường chỉ trong lòng bàn tay, chúng tôi đã chia nhau di chỉ đạo, tổ chức chỉ huy trực tiếp với các tiểu đoàn, tổ chức đánh lẻ, nhỏ, đánh cấp đại đội, tiếu đoàn liên tục. Không ngày nào không có tiếng súng trên địa bàn Trung đoàn. Ta tiêu hao rộng rãi, tiêu diệt bộ phận sinh lực địch, nâng lòng tin đánh và thắng Mỹ của anh em lên, làm cho địch chùn bước khi càn quét các vùng căn cứ ta.

Để phân tán lực lượng dịch và mở rộng vùng căn cứ len phía đông bắc Long Khánh, Sư đoàn chủ trương nghiên cứu chiến trường Võ Đắc, Võ Xu ở đông bắc Long Khánh - mở hành lang lên Chiến khu Đ.

Chấp hành quyết tâm của Sư đoàn, tôi tổ chức đoàn nghiên cứu chiến trường gồm anh Hai Sỹ - Trung đoàn trưởng, tôi, các tiểu đoàn trưởng, đại đội trưởng trực thuộc và một trung đội trinh sát cắt rừng hành quân ngược lên quốc lộ 1, lên Suối Kiết - Tánh Lính, cắt thẳng ra khu rừng nam Võ Xu, bí mật đóng quân và tổ chức nghiên cứu chiến trường. Được sự giúp đỡ của chính quyền và lực lượng vũ trang Tánh Linh, cuối tháng 1 năm 1966, đoàn đã nghiên cứu xong ấp chiến lược Võ Xu và lên phương án tiêu diệt cứ điểm này.

Ở ấp chiến lược Võ Xu, lực lượng dịch có Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 43 thuộc Sư đoàn 18 ngụy, 1 trung đội cánh sát, một đại đội bảo an 738, tổng cộng trên dưới 500 tên. Chúng đóng căn cứ dã ngoại với công sự dã chiến, tổ chức thành 3 khu vực phòng ngự. Hàng ngày, chúng bung ra hoạt động, đêm co về phòng thủ.

Sau khi thông qua quyết tâm với Ban chỉ huy Sư đoàn, anh Năm Hòa (Hòa điếc) cùng đi khảo Rát thực địa với Trung đoàn. Đến cầu Lăng Quăng, phía nam vị trí địch 2 cây số, anh Năm bát gặp nhiều truyền đơn địch rải. Anh nhặt và xé ném đi, vẻ giận dữ. Anh Hai Sỹ nhẹ nhàng vỗ vai anh, nhắc: ‘Chỉ có Việt cộng mới xé truyền đơn này” Anh vội vàng nhặt hết và nhét vào túi quần.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: LordOfStorms trong 06 Tháng Mười, 2012, 05:43:29 PM
Khảo sát thực địa xong, trở về chỗ tạm trú, Ban chỉ huy Sư đoàn chính thức thông qua quyết tâm, tăng cường cho Trung đoàn 4 đại đội địa phương Tánh Linh và 2 khẩu 81 ly.

Ngay tại địa bàn nghiên cứu, tôi làm công tác tổ chức với các tiểu đoàn trường, đại đội trưởng trực thuộc, đồng thời điện cho Út Thắng tổ chức Trung đoàn hành quân ra Tánh Linh. Ngày 24 tháng 2, Út Thắng đưa Trung đoàn tới nơi. Ngày 26, Trung đoàn hoàn thành mọi công tác chuẩn bị. 13 giờ ngày 27, Trung đoàn tổ chức hành quân chiếm lĩnh.

Tiểu đoàn 1 do Hai Phê chỉ huy được tăng cường một trung đội bộ đội địa phương đánh hướng chủ yếu từ nam lên.

Tiểu đoàn 3 do Tư Thinh làm Tiểu đoàn trưởng đánh từ hướng tây bắc xuống.

Tiểu đoàn 2 thiếu, làm dự bị. Một đại đội của Tiểu đoàn đánh cầu Lăng Quăng.

Trận địa cối của Trung đoàn đặt sau Tiểu đoàn 1 chi viện cho hướng chủ yếu. 23 giờ, các mũi tiến công áp sát mục tiêu. 24 giờ, theo kế hoạch, trận địa cối bắn vào mục tiêu. Sau 15 phút pháo bắn chuẩn bị, các mũi đồng loạt nổ súng xung phong. 20 phút sau, Tiểu đoàn 1 đã chiếm tiền duyên. Đặng Văn Đâu - người sau này được phong Anh hùng lực lượng vũ trang đã dũng cảm dẫn đầu đội hình diệt hết mục tiêu này đến mục tiêu khác, khi bị thương nặng vẫn không rời trận địa. Tiểu đoàn 3 diệt địch cụm ngoài, phát triển thuận lợi. Một đại đội của Tiểu đoàn 2 đánh sập cầu Lăng Quảng dài 40 mét bảo đảm chặn viện tốt.

Sau một giờ chiến đấu, Trung đoàn làm chủ 2 cụm địch và diệt địch ở cầu Lăng Quăng. Trung đoàn củng cố đội hình. Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 3 quyết tâm tập trung hỏa lực đánh phá công sự địch, thực hành xung phong tiêu diệt toàn bộ quân địch.

Tôi được lệnh anh Hai Sỹ - Trung đoàn trưởng, dẫn đội dự bị của Trung đoàn vào tăng cường cho hướng đột kích chủ yếu. Mặc dù bị đánh thiệt hại nặng nhưng địch ngoan cố lợi dụng hầm hào đào sẵn chống trả quyết liệt. Đưa đội dự bị vào, tôi cùng Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 tổ chức hai lần xung phong cũng chỉ phát triển chiếm được một đoạn chiến hào của địch.

Tình hình lúc này trở nên quyết liệt. Máy bay địch ném bom bi trùm lên đội hình ta và địch nhưng địch trong công sự, ta phơi lưng, rải vào trận địa phòng không, trận địa cối của Trung đoàn. Lực lượng các tiểu đoàn bị thương nhiều, sức chiến đấu giảm.

Tôi cũng bị thương vào ngực phải, vào chân, máu ra nhiều nhưng không dám nói với anh em, cũng không dám báo cáo với Trung đoàn. Anh em trinh sát theo tôi băng bó. Tôi ra lệnh: Không được báo cáo tôi bị thương. Anh Mười Hy — Đại đội trường ĐKZ bò lại:

- Anh Năm ơi, tôi gãy chân.

- Anh em lại băng cho, yên tâm.

Anh Hai Sỹ từ Chỉ huy sở điện cho tôi:

- Tình hình thế nào?

Lúc này đã 3 giờ sáng. Tôi báo tóm tắt tình hình và kết luận: "Không dứt dược, đành bỏ nửa thôi !”.

Anh Hai Sỹ rất tin tôi, ra lệnh thu dọn chiến trường, lui quân.

6 giờ sáng ngày 28, trận chiến đấu kết thúc. Các cánh đưa thương binh, tử sĩ rời khỏi trận địa. Anh em trinh sát khiêng tôi về chỗ đại đội trinh sát ở. Lúc này anh Hai Sỹ mới biết tôi bị thương.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: Khánh mập trong 07 Tháng Mười, 2012, 06:03:00 PM
Sau 5 giờ chiến đấu quyết liệt, Trung đoàn 4 và đại đội địa phương Tánh Linh đã tiêu diệt đại đội địa phương 738, cùng 2 đại đội của Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 43 ngụy, bắt sông 20 tên, thu 76 súng các loại, phá kho tàng, đốt cháy 2 xe GMC, phá sập cầu Lăng Quăng. Tôi bị thương, trăn trở rất nhiều về trận đánh. Tại sao ta không diệt gọn? Sơ sót về nghiên cứu, hay sơ sót về chiến thuật? Hay là gì nữa?

Tất cả thương binh đều được dân công Bình Thuận khiêng. Riêng tôi. anh Tư Quang - Chính trị viên Đại đội trinh sát (nay là đại tá, Anh hùng lực lượng vũ trang, nghỉ hưu ở thành phố Hồ Chí Minh), phân công 6 anh em trinh sát khiêng. Khiêng 2 đêm từ Tánh Linh về đến đường số 1 có cuộc đổi ca, dân công Bà Rịa lên tiếp nhận.

Tôi nói với anh em trinh sát:

-   Thôi, anh em trở về đơn vị đi. Tới đây, được rồi. Anh em không nỡ xa tôi, cứ bịn rịn đòi khiêng tiếp, đưa tôi về tới bệnh viện 1500. Một lần nữa, tôi thúc giục anh em:
-   Đơn vị tiếp tục làm nhiệm vụ. Anh em về đi, chung lo với đơn vị chớ !

Đến lúc ấy anh em mới chịu trở về.

Thương binh nằm dọc trên dường số 1, chờ dân công Bà Rịa tới. Có nhiều ánh đến pin rọi sát mặt. Một ánh dèn pin rọi sát mật tôi rất lâu, tôi kêu lên: “chói lắm". Chị rọi đèn tắt đèn, ngồi xuống gần đầu tôi:
-   Cậu Năm phải không?
Nghe tiếng, tôi biết:
-   Chị Tư phải không? Tôi đây.
Chị hơi buồn:
-   Sao vậy?
Tỏi cười:
-   Thì không đi nổi, người ta khiêng chớ sao !

Chị Tư Anh là chị của Tuyết, người yêu tôi. Từ khi quen biết, bà con bên phía Tuyết không ai kêu tôi bằng dượng cả. Chị Tư chỉ kêu tôi bằng cậu, cậu em.

Trong đêm, tất cả thương binh được khiêng về bệnh viện 1500 ở núi Mây Tào. Chị Tư cũng đi dân công. Sáng, chị đến thăm tôi. Tôi dặn: ‘Khi về, chị đừng báo cho Tuyết và bà con biết tôi bị thương’’. Nhưng rồi sau, ai ở xã Long Phước cũng đều biết cả. Tuyết cũng biết, nôn nao trong lòng, song biết làm sao. Danh chính ngôn thuận chưa cưới, chưa thành vợ. Phần thì rừng núi, địch đón hà rầm... Mẹ của Tuyết cũng được tin. Từ Hòa Long bà sang Long Phước tìm Tuyết, đôn đốc đi thăm tôi. Nghĩa tình của mẹ khi chúng tôi còn chưa cưới là vậy, tôi rất cảm động. Tôi nghĩ, nếu mẹ ruột tôi còn sống, chắc mẹ cũng xốn xang như thế.

Nằm dưỡng thương ờ bệnh viện, tôi trăn trở mải về trận đánh không dứt điểm Võ Xu. Vì từ lúc tôi làm Tiểu đoàn trường 800 đến sau này là Tiểu đoàn 1, chưa lần nào đánh mà không tiêu diệt gọn. Võ Xu là trận đánh bỏ mứa của Trung đoàn, tôi xót lắm. Sơ sót hiển nhiên thuộc về phần chiến thuật. Điểm mạnh của Tiểu đoàn 1 trong đánh cứ điểm là tiền đặc công, hậu xung kích, tại sao mình không vận dụng, lại dùng pháo không đủ mạnh để cấp tập? Đánh không gọn, Trung đoàn còn bị thương vong khá nặng nề. Trung đoàn đã phải trả giá không tương xứng với những gì Trung đoàn đạt được. Như tôi, tay phải vẫn “xuội", chưa đưa lên được...

Cuối tháng 3, tôi mới ra viện. Tôi trở về căn cứ của Tiểu đoàn 1 ở suối Quít. Lúc này, Trung đoàn còn đang hoạt động ở suối Kiết - Núi Ông, Bình Thuận.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: LordOfStorms trong 08 Tháng Mười, 2012, 12:52:40 PM
TẦM BÓ, TRẬN ĐẦU TIÊN DIỆT MỸ

Đầu tháng 4 năm 1966, tôi đang nghỉ dưỡng thương tại căn cứ Tiểu đoàn 800 ở Tầm Bó thì anh Hai Sỹ - Trung đoàn trưởng dẫn đoàn cán bộ Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 3 và trinh sát về. Gặp tôi, anh giao nhiệm vụ:

- Lo vị trí đóng quân cho Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 3, trực thuộc và trung đoàn bộ. Hai ngày nữa đơn vị về tới. Anh đi nghiên cứu chiến trường ở đường số 2 để đánh một trận diệt Mỹ trên khu vực đông - tây lộ 2. Sáng hôm sau, tôi giao Hai Phê - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 đóng quân chỗ cũ của Tiểu đoàn, tăng cường công sự khi Tiểu đoàn về. Tôi và trinh sát đi nghiên cứu cùng anh Tư Thinh - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3 bố trí cho Tiểu đoàn 3 và Trung đoàn bộ.

Ngày 10 tháng 4, đội hình Trung đoàn đã về đủ, tăng cường công sự trên khu vực Tầm Bó và tổ chức trinh sát ra các hướng, tập trung lộ 2.Trên chiến trường đông - tây lộ 2 lúc nào cũng có máy bay địch bắn phá. Mấy ngày nay mức độ đánh phá ác liệt hơn. Chúng đánh tập trung vào Chòi Đồng, Suối Cả, núi Gác Ma... tây lộ 2. Các đơn vị của Trung đoàn thời kỳ này đều ăn, nghỉ trên miệng hầm, ngủ dưới hầm Đơn vị luôn ở trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu.

Sáng sớm ngày 11, tôi và Trung đoàn trưởng Hai Sỹ ngồi uống trà với Ban chi huy Tiểu đoàn 1: Hai Phê, Ba Nam... Anh Tư Ré - Đại đội trưởng cối đang xem cụ thể vị trí đặt cối chạy về báo: “ Mỹ vô !” Có một cánh quân Mỹ từ đường số 2 cắt vào Suối Gia Hoét, tiến thẳng vào vị trí của Tiểu đoàn bộ Tiểu đoàn 1 chỉ còn cách vài trăm thước. Anh Hai Sỹ chỉ thị Hai Phê ra lệnh Tiểu đoàn chuẩn bị chiến đấu. Tôi và anh Hai Sỹ lui về Sở chỉ huy Trung đoàn.

10 giờ, quân Mỹ cách 20 đến 50 mét chỗ Tiểu đoàn bộ Tiểu đoàn 1. Đồng chí Khanh, Y tá Tiểu đoàn, nổ loạt đạn đầu, diệt mấy tên Mỹ. Bị bất ngờ, địch dừng lại, củng cố và tổ chức tấn công. Từ đó đến 13 giờ, lính Mỹ liên tục tấn công nhiều đợt. Các đơn vị quân y, thông tin, trinh sát Tiểu đoàn kiên cường bám trụ, đánh trả quyết liệt, diệt một bộ phận sinh lực địch. Không thế chọc thủng Tiểu đoàn bộ Tiểu đoàn 1, địch lui ra xa rồi dùng pháo ở Suối Râm, Núi Đất, núi Da Quy bắn cấp tập vào trận địa ta.

Qua mấy giờ chiến đấu, ta phát hiện địch dùng hỏa lửa chế áp, một mũi đột phá, đầu nhọn đuôi dài. Ta lợi thế có công sự, rừng rậm, địch di chuyển ta dễ phát hiện, đề phòng địch mở nhiều cánh. Cứ như thế trong ngày, Tiểu đoàn 1 đánh lui hàng chục đợt tiến công của quân Mỹ, giữ vững trận địa.

16 giờ 30, sau khi đánh giá tình hình địch, nắm vững địa hình, Trung đoàn hạ quyết tâm xuất kích tiêu diệt quân Mỹ trước khi trời tối. Dùng Tiểu đoàn 1 tăng cường Đại đội 12 cùa Tiểu đoàn 3, Đại đội cối Trung đoàn, Đại đội phòng không Trung đoàn hạ nòng bắn thẳng.

17 giờ, hoàn thành mọi công tác chuẩn bị, anh Hai Sỹ ra lệnh tấn công. Cối bắn vào đội hình lính Mỹ, 12 ly 8 hạ nòng bắn quyết liệt, đồng thời đội hình Tiểu đoàn 1 nhích lên. Cối vừa dứt, toàn đội hình Tiếu đoàn 1 xung phong...

18 giờ, ta hoàn toàn làm chủ trận địa. Lần đầu anh em nghe lính Mỹ khóc. Trời tối, các trận địa pháo địch bắn mật độ tối đa vào sau đội hình Tiểu đoàn 1 trúng công sự Trung đoàn và Tiểu đoàn 3, trúng công sự Đại đội thông tin. Lần đầu tiên, tôi biết thế nào là pháo bắn mẫu.

Đồng thời với pháo bắn, máy bay Đakôta của địch lên thả pháo sáng để những tên Mỹ bị lạc nhận hướng Lợi dụng lúc pháo sáng, ta thu dọn chiến trường. Đây là trận diệt Mỹ đầu tiên của Trung đoàn. Ta diệt 1 tiểu đoàn lính Mỹ của Lữ 199, thu nhiều súng và trang bị.

Trong đêm, toàn đội hình Trung đoàn rời khỏi Tầm Bó và đồi Vú Sữa. Tiểu đoàn 3 và anh Hai Sỹ với Trung đoàn bộ vượt đường số 2 sang tây lộ. Tôi đi với Tiểu đoàn 1, ra gần lộ 2 thì Trung đoàn 11 thiết giáp địch đã hàn đường không qua được. Tôi bàn với Hai Phê – Tiểu đoàn trường cho đơn vị trụ lại công sự ở đồi Vú Sữa, giấu thương binh, lính Mỹ vào đánh tiếp.

Ngày sau, quân Mỹ vào giải quyết hậu quả ở Tầm Bó. Đêm tối, tôi cho tổ trinh sát Trung đoàn do đồng chí Thái chỉ huy cắt rừng dán Tiểu đoàn 1 vé Bảo Bình. Đến Bảo Bình được đồng bào, cán bộ địa phương tiếp tế rau, củ, quà bồi dưỡng. Hai đêm sau Tiểu đoàn 1 vượt đường 2 đoạn Ông Quế về tây lộ, về với đội hình Trung đoàn.

Trên địa bàn Bà Rịa - Long Khánh lúc này, Mỹ - ngụy huy động một lực lượng lớn thường xuyên đánh phá. Ngoài lực lượng tại chỗ, địch còn huy động cả Lữ 173, Lữ 2 Sư đoàn 1 anh cả đỏ Mỹ tham gia. Chiến trường gian khổ ác liệt hơn bất cứ lúc nào. Ta thiếu gạo, muối, thuốc men. Đời sống quân giải phóng càng khó khăn hơn. Nhưng Trung đoàn 4 vốn quen thuộc địa hình vẫn vững vàng đứng chân trên cả đông và tây lộ 2, vẫn tổ chức đánh liên tục quân Mỹ và Úc.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: LordOfStorms trong 09 Tháng Mười, 2012, 12:50:37 PM
ĐÁNH TRƯỜNG BẮN VẠN KIẾP

Sau chiến thắng Tầm Bó, Trung đoàn quần thảo với địch liên tục trong khu tam giác đường số 1, 2 và 15.
Ngày 20 tháng 10, Trung đoàn tổ chức phục kích phía đông lộ 2, đoạn Kim Long, trận địa cấp Trung đoàn, quyết tâm đánh diệt xe tăng và thiết giáp của Trung đoàn 11 thiết giáp địch thường đi càn đánh phá đông - tây lộ 2.

Cơm đùm cơm vắt phục kích cả tuần địch không đi. Anh Hai Sỹ - Trung đoàn trưởng gọi tôi và út Thắng lại:

- Sượng rồi. Địch không đi, bộ đội phục kích hoài, oải lắm. Bây giờ, Năm Hưng với một tiểu đội trinh sát cùng lực lượng Tiểu đoàn 2 xuống hướng đường 15. Út Thắng với một tiểu đội trinh sát dẫn Tiểu đoàn 1 lên Hưng Nghĩa đường số 1. Anh nào chuẩn bị mục tiêu trước cứ đánh trước. Cho hai anh quyền quyết định.

Anh ra lệnh thu quân. Trung đoàn bộ và Tiểu đoàn 3   về tây lộ 2. Tôi và út Thắng tổ chức Tiểu đoàn 1 và 2 đi hai hướng theo chỉ thị của anh.Tôi đưa Tiểu đoàn 2 xuống đứng chân ở Hắc Dịch. Gặp các anh huyện Châu Thành, xã Hắc Dịch, anh hai Trung (thị xã Bà Rịa) và cả các anh chị xã Phú Mỹ, tay bắt mặt mừng.

Tôi hỏi từng nơi, tìm hiểu tình hình để chọn mục tiêu. Sau khi sàng lọc, còn 3 mục tiêu đáng chú ý: trường bắn Vạn Kiếp, đại đội ngụy an ninh lộ trình đường 15 tới cụm đông ở Phước Hòa và đánh giao thông trên đường 15 Tôi gút lại với cán bộ Tiểu đoàn 2 và trinh sát Trung đoàn: nghiên cứu trường bắn Vạn Kiếp.

Trường bắn Vạn Kiếp nằm ở Phước Tân, sát chân núi, phía sau là sông Dinh, đối diện trường bắn là tỉnh đoàn bảo an. Có một đại đội bảo vệ trường bắn, quy luật bắn đêm của địch như sau: 15 giờ, từ trường bắn Vạn Kiếp chúng hành quân đến. 18 giờ đến 21 giờ, bắn đêm. Từ 21 giờ tập hợp nhận xét, đi về. Tôi xác định đối tượng đánh là lính bắn bia. Giờ G từ 21 giờ trở đi. Vấn đề là nghiên cứu từ đâu, hành quân cách nào, triển khai ra sao. Tôi bàn với cán bộ Tiểu đoàn 2 và trinh sát:

- Mục tiêu này hồi Chiến dịch Bình Giã các anh đã nghiên cứu từ trên đỉnh núi dòm xuống. Cuối cùng không đánh được vì thời gian hành quân không kịp, đến mục tiêu đã 23 giờ, địch về rồi.

Tôi vạch kế hoạch: Bây giờ ta không nghiên cứu từ đỉnh núi xuống. Lợi dụng sông Dinh, chúng ta lội theo sông ban ngày, Núi Đất không thể nhìn thấy. Đến nhà máy nước, trời vừa tối chúng ta bò xéo qua đập, tiếp cận sau trường bắn, lưng quay về phía tỉnh đoàn bảo an. Làm sao 19 giờ tới sau trường bắn là tốt nhất. Hướng này địch bất ngờ, ỷ lại tỉnh đoàn bảo an phía sau. Chúng cảnh giới hướng núi nhiều hơn.

Theo kế hoạch, tôi tổ chức cán bộ Tiểu đoàn 2 đi gọn trên 10 đồng chí, 2 tổ trinh sát trung đoàn và tôi. Chỉ một đêm đầu đi nghiên cứu rất thú vị: đến mục tiêu đúng thời gian, chọn được trận địa triển khai, quan sát được hành động bắn bia và cảnh giới.

Cán bộ Tiểu đoàn 2 đều thỏa mãn. Vấn đề còn lại là: chiến sĩ phải biết lội. Những đồng chí không lội được thì không đi đánh. Rất may, Tiếu đoàn 2 là tiểu đoàn đồng bằng khu 8 tất cả đều biết lội. Tôi chỉ thị cho Tiểu đoàn 2 làm công tác tổ chức và quyết định: N - ngày 18 tháng 11, G - 20 giờ 30 phút, lúc quân địch đang tập hợp nhận xét kết quả bắn.

15 giờ ngày 18, Tiểu đoàn 2 hành quân. Cả Tiểu đoàn trầm mình xuống sông Dinh và lội. 18 giờ, đầu đội hình gần đến nhà máy nước. Tôi ra lệnh: “Khuất mình, 18 giờ 30 mới bò qua nhà máy nước”.

20 giờ, toàn Tiểu đoàn đã vào chiếm lĩnh. Hai khẩu 12 ly 8 hạ nòng bắn quét mặt đất. Cối 82 chuẩn bị phần tử bắn vào tỉnh đoàn bảo an.

Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn căng thẳng chờ đợi tới lúc địch tập hợp nhận xét. Địch vừa ổn định đội hình, Tiểu đoàn ra lệnh cho 2 khẩu 12 ly 8 nổ súng phát lệnh. Trước họng 12 ly 8 như hai cây đèn măng xông sáng chói, cả Tiểu đoàn nổ súng, xung phong mãnh liệt. Cối 82 bắn dồn dập vào tỉnh đoàn bảo an. Bị đánh quá bất ngờ, cả đại đội bảo vệ và lính bắn bia đều trở tay không kịp, trừ số chết, tất cả chạy tán loạn và đầu hàng.

Sau 30 phút chiến đấu, Tiểu đoàn 2 diệt 2 đại đội bắn bia, một đại đội bảo vệ, bắt sống 187 tên, thu 71 súng các loại. Tiểu đoàn rút về tới Hắc Dịch với 187 tù binh đả 3 giờ sáng. Cả ngày sau, thanh lọc số tù binh, thả trên 100 tên, có 80 tên tình nguyện theo bộ đội.

Trung đoàn tổ chức giáo dục bổ sung cho Trung đoàn một nửa số tình nguyện, giao cho tỉnh Bà Rịa một nửa. Lần đầu tiên quân giải phóng giáo dục tù binh bổ sung thành quân giải phóng. Số anh em này về sau đều tốt, có anh trưởng thành lên tới cán bộ đại đội. Tiểu đoàn 2 vẫn đứng chân ở Hắc Dịch tiến hành rút kinh nghiệm trận đánh:

- Ngoài quyết tâm cao, phải sáng tạo trong chiến thuật. Nếu theo vết mòn hồi Chiến dịch Bình Giã thì không đánh được.

- Táo bạo trong hành động, trên cơ sở thận trọng và tỉ mỉ của kế hoạch.

- Đánh nhanh, giải quyết nhanh, tránh được phi pháo địch.

Chính quyền, nhân dân vùng giải phóng cũng như đồng bào thị xã rất phấn khởi sau chiến thắng Vạn Kiếp của ta.

Trước đó, tôi được tin út Thắng, nhanh hơn tôi, đã tổ chức cho Tiểu đoàn 1 đánh một số trận trên đường số 1, thu được một số súng. Hai chúng tôi là đồng chí, là bạn thân của nhau, cũng là hai cánh tay đắc lực của Trung đoàn trưởng Đặng Ngọc Sỹ.

Sau một tuần lễ phục kích trên lộ 2 bị sượng, Trung đoàn bung ra hoạt động chiến đấu thắng lợi ở cả hai đầu khu tam giác. Đảng, chính quyền, nhân dân Bà Rịa - Long Khánh đã tin tưởng càng thương yêu Trung đoàn 4.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: Khánh mập trong 09 Tháng Mười, 2012, 02:24:55 PM
ĐÁM CƯỚI TÔI

Từ sau trận đánh "o mèo" trên đường 15, tôi mải miết đi chiến đấu, không một lần gặp mặt Tuyết. Mọi việc vun đắp cho tình yêu chúng tôi đều do chị Sáu Phượng, Bí thư chi bộ xã Phú Mỹ, các anh Quang, Bình... chăm chút lo lắng. Qua thư từ hiếm hoi, chúng tôi đến với nhau.

Trong lúc chiến trường căng thẳng, anh Hai Sỹ và tôi cùng một trung đội trinh sát đi nghiên cứu các xã Bình Ba, Long Tân, Long Phước, xung quanh căn cứ Núi Đất của Úc. Hôm tạm nghỉ ở xã Long Phước, anh Hai Sỹ nói:

-   Tối nay, sang Hòa Long hỏi vợ cho Năm Hưng.

Nhà cha mẹ vợ tôi chỉ cách chi khu Long Lễ tại xã Hòa Long 500 mét đường chim bay. Tôi ngần ngại:

-   Không cần thiết đâu anh. Lỡ xảy ra đụng địch có thương vong thì ân hận.

Anh Hai Sỹ không đổi ý:

-   Năm Hưng không đi, tôi đi.

Tôi đành móc với du kích Long Phước và Hòa Long bố trí trung đội trinh sát ém hết các ngả đường vào nhà cha mẹ vợ. Sáu giờ tối, anh Hai Sỹ và tôi từ Long Phước sang, vào nhà cha mẹ vợ tôi, ở cho đến chín giờ đêm. Anh Hai Sỹ làm xong mọi thủ tục hỏi vợ cho tôi ngay trong đêm ấy.

Cuối 1966, chiến trường ngày càng ác liệt. Không ngày nào không có bom, pháo. Không ngày nào không có tiếng súng đánh nhau. Đi, cắt rừng tránh biệt kích, ở, ngủ dưới hầm. Ngày nào cũng trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Đầu óc căng thẳng, bận rộn tối không có thời gian rảnh rỗi nhớ đến Tuyết, càng không nghi gì việc cưới vợ. Sau khi rút kinh nghiệm trận đánh trường bắn Vạn Kiếp và giải quyết mọi việc, sáng 19 tháng 12 tôi về căn cứ Trung đoàn để báo cáo. Họp xong, anh Hai Sỹ cho biết:

-   Ngày mai, đi xuống Tiểu đoàn 1 cưới vợ cho Năm Hưng.

Tôi ngơ ngác:

-   Vợ đâu mà cưới?

Anh Mười Khoan chủ nhiệm chính trị mắt như cười:

-   Yên chí. Tôi đã đưa cô Tuyết về phòng chính trị rồi.

Anh Hai Sỹ tiếp lời:

-   Trung đoàn định tổ chức “tuyên bố" cho Năm Hưng. Nhưng Hai Phê và anh em Tiểu đoàn 1 giành làm. Anh em nhắc lại Năm Hưng là Tiểu đoàn trường từ hồi còn là Tiểu đoàn 800. Cuộc tình giữa Năm Hưng và cô Tuyết có phần vun đắp của anh em Tiểu đoàn 1. Xin Trung đoàn để Tiểu đoàn tổ chức cho trọn tình nghĩa với Năm Hưng.

Tôi đành đồng ý.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: Khánh mập trong 09 Tháng Mười, 2012, 02:31:05 PM
Sáng 20, tôi và đoàn cán bộ cơ quan Trung đoàn có anh Hai Sỹ cùng đi xuống Tiểu đoàn 1. Trước đó, anh Mười Khoan đã cho anh em Phòng Chính trị đưa Tuyết xuống Tiểu đoàn 1 rồi. Tuyết rất thân quen với anh em trinh sát Tiểu đoàn. Gặp tôi, Hai Phê nói luôn:

-   Đã chuẩn bị một đợt có đủ thịt cheo, chồn... mà Năm Hưng không về, ăn hết rồi. Bữa nay chỉ có đậu phộng và trà, thuốc.

Quây quần trong buổi họp mặt ngoài đông đủ cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 1 còn có các anh đại diện huyện Châu Đức. Vui hơn nữa, hôm đó anh Hai Hồng Lâm (Thiếu tướng Nguyễn Vãn Bứa), Tư lệnh phó T1 (Quân khu 7) đi công tác cũng ghé vào dự. Gia đình Tuyết không có ai. Trước đó, Trung đoàn đã mời mẹ vợ tôi lên Kim Long, xin phép ngày đó đơn vị tổ chức “tuyên bố" của tôi, gia đình đã đồng ý, vì khó khăn quá không lên dự được.

Làm nghi thức vừa xong, đang uống trà, ăn đậu phộng rang vui vẻ thì trinh sát tuần tra vào báo cáo có mẹ vợ tôi vào căn cứ. Thật bất ngờ và cảm động. Mẹ vợ tôi nhớ ngày. Với tình mẫu tử, ngày con gái lấy chồng mà không có mặt thì mẹ bứt rứt không chịu nổi. Mẹ mặc quần áo đi rẫy, mang một túi bàng trong có lít gạo và mấy con khô, vai vác rựa cứ thế lên đường. Mẹ không biết căn cứ nằm đâu, chỉ nhắm hướng rừng đi hú họa, may gặp anh em trinh sát dẫn về đơn vị.
Tôi hỏi mẹ:

-   Lỡ không gặp các con, má làm sao?
-   Thì... chiều tối má lội về. Ở nhà không chịu nổi.
-   Rủi gặp biệt kích, má làm sao?
-   Má nói má đi rẫy. Có sao!

Các anh Hồng Lâm, Hai Sỹ, Hai Phê, Mười Khoan xoay quanh mừng má vợ tôi vào. Anh Hồng Làm bảo họp lại, làm lại. Lại giới thiệu mẹ vợ tôi với mọi người. Thấy tình nghĩa của đơn vị đối với vợ chồng tôi mẹ vợ tôi rất xúc động, bà hớn hở ra mặt.

Chiều, Hai Phê cho một tổ trinh sát đưa mẹ vợ tôi ra Kim Long để về nhà. Đến sông Xoài, bà bị một trận pháo cùa địch phải bò lê bò càng. May mắn mẹ vẫn an toàn. Tổ chức đám cưới cho tôi xong, toàn đơn vị triển khai ngay nhiệm vụ đánh Mỹ, Úc càn vào căn cứ. Vợ tôi được trinh sát Trung đoàn đưa đi trong đêm, vượt đường số 2 sang phía đông lộ, về công tác ở đội phẫu thuật của Sư đoàn bộ binh 5 do anh Ba Lư phụ trách.

Cà một tháng trời, đơn vị liên tục chống càn. Tôi cưới vợ, không một ngày trăng mật.

Ngày chúng tôi nên vợ nên chồng, không hẹn lại trùng với ngày kỳ niệm lần thứ 6 thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Với chúng tôi, ấn tượng này thật sâu sắc !


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: Khánh mập trong 10 Tháng Mười, 2012, 04:59:49 PM
ĐƯƠNG ĐẦU VỚI QUÂN MỸ

Bước sang 1967, trên chiến trường Bà Rịa - Long Khánh, quân Úc, Trung đoàn 11 thiết giáp, Lữ 199 Mỹ, sư đoàn 18 ngụy, quân Thái Lan với sự yểm trợ của phi pháo liên tục đánh phá vào vùng căn cứ khu tam giác giao lộ giữa ba con đường 1, 2 và 15, hòng phá kho tàng hậu cần, ra sức “tróc” các cơ quan huyện, tỉnh của ta. Các đơn vị của Trung đoàn luôn bám sát mọi hoạt động của địch, thực hành đánh lẻ, đánh nhỏ trên khắp địa bàn.

Ngày 30 tháng 1, Trung đoàn tổ chức diệt một bộ phận của Lữ 199 và 2 chi đoàn thiết giáp càn quét đóng quân dã ngoại ở ngã ba Kim Long, đánh thiệt hại nặng một đại đội Mỹ, bắn cháy 7 xe thiết giáp, bắn rơi 3 máy bay trực thăng.

Ngày 2 tháng 4, Trung đoàn tổ chức tập kích hỏa lực vào căn cứ Trung đoàn 11 thiết giáp địch ở suối Râm với trên 300 viên đạn cối 81 và ĐKZ, phá hủy trên 100 xe địch, làm chết và bị thương nhiều tên Mỹ. Khói xăng dầu cháy suốt ba, bốn ngày vẫn còn bốc lên cuồn cuộn.

Bằng những đòn tiến công bất ngờ, táo bạo kết hợp với từng tổ hỏa lực B40 đánh lẻ bọn lính thiết giáp, Trung đoàn cùng lực lượng địa phương đã gây cho địch những tổn thất không nhỏ. Để trả đũa cho trận ta tập kích suối Râm, quân Mỹ liên tục càn quét khu vực đông - tây lộ 2 hòng đánh bật lực lượng Trung đoàn 4 ra khỏi địa bàn. Thông thường, địch càn ban ngày, đêm cụm lại đóng quân dã ngoại.

Trinh sát Trung đoàn bám sát mọi hành động của địch. Ngày 10 tháng 6, trinh sát báo cáo nắm vững quy luật cụm đóng quân địch ở Kim Long, trên cánh đồng Hê An. Trong lúc Trung đoàn trưởng và Chính ủy lên Sư đoàn nhận nhiệm vụ, không để mất thời cơ, tôi trao đổi với anh Mười Khoan, thường vụ Đảng ủy Trung đoàn - Phó chính ủy, hạ quyết tâm tiêu diệt cụm địch ở đồng Hê An. Báo cáo lên Sư đoàn, anh Năm Tâm - Sư đoàn trưởng trả lời: “Đồng ý quyết tâm của Trung đoàn. Tăng cường cho Trung đoàn 1 đại đội cối, 1 đại đội 12 ly 8 và 1 trung đội B40 cúa Sư đoàn cho Trung đoàn thực hành tập kích’’.

Tôi khẩn trương tiến hành mọi công tác tổ chức. Ngày 19 tháng 6, đội hình Trung đoàn từ đông lộ 2 vượt đường tiếp cận mục tiêu. Tiểu đoàn 1 do Hai Phê làm Tiểu đoàn trưởng được tăng cường một đại đội địa phương, 1 trung đội ĐKZ75 đánh hướng chủ yếu từ bắc mục tiêu xuống nam. Tiểu đoàn 2 do Chín Hướng làm Tiểu đoàn trưởng hành quân xuống đường tiếp cận nam mục tiêu đánh lén. Đại đội 13 Tiểu đoàn 3, dự bị. Tiểu đoàn 3 thiếu, chặn viện hai đầu đường số 2. Trận địa cối ở sau Tiểu đoàn 1 chi viện trực tiếp cho Tiểu đoàn 1. Trận địa phòng khỏng bảo đảm toàn mặt trận. 23 giờ 30, các mũi đã vào vị trí. Cách địch từ 50 đến 70 mét, anh em đã quan sát thấy xe tăng và pháo.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: LordOfStorms trong 11 Tháng Mười, 2012, 12:49:22 PM
0 giờ 5 phút ngày 20 tháng 6, tôi ra lệnh cho tiểu đoàn 1 và trận địa cối nổ súng. Cối bắn chính xác vào trận địa pháo và xe tăng địch. Hỏa lực bắn thẳng Tiểu đoàn 1 bắn phá tuyến phòng ngự bên ngoài. Dứt pháo Tiểu đoàn 1 xung phong dùng B40, thủ pháo, tiểu liên nhanh chóng chiếm tiền duyên.

Sau 30 phút chiến đấu, các trận địa pháo địch từ Núi Đất, Suối Rám bắn cấp tập vào sau Tiểu đoàn 1. Anh em Tiểu đoàn 1 đề nghị cho Đại đội 13 Tiểu đoàn 3, đội dự bị vào chiến đấu, đánh sâu vào trung tâm bắt liên lạc được với Tiểu đoàn 2 từ nam đánh lên.

Lúc này, trực thăng vũ trang của địch đã thả trái sáng, bắn phá quyết liệt vào sau Tiểu đoàn 1 và 2, cùng các trận địa hỏa lực của ta, gây cho ta thương vong. Mặc cho phi pháo địch chi viện liên tục, Đại đội 13 do Tám Luông dẫn vào đã tăng thêm sức mạnh cho Tiểu đoàn 1 đánh thẳng vào Chỉ huy sở của địch.

 Địch cụm lại điên cuồng phản kích cố giữ Sở chỉ huy. Khoảng 2 giờ sáng, cả hai tiểu đoàn đều báo cáo đạn hỏa lực hết, không diệt được số cơ giới còn lại. Tôi bàn với anh Mười Khoan:

- Cả hai tiểu đoàn sức chiến đấu đã giảm. Đạn B40 hết. Địch bị đánh thiệt hại nặng. Ta lui quân được rồi.
Anh Mười Khoan nhất trí. Tôi lệnh cho thu quân nhanh gọn, không được để sót thương binh, liệt sĩ.

Trong trận Kim Long hai này, Trung đoàn 4 đã cơ bàn tiêu diệt tiểu đoàn bộ binh cơ giới Mỹ, bắn cháy 78 xe các loại, phá hủy 3 khẩu 106, 7 và 105, diệt hàng trăm tên Mỹ. Ta phá tan ý đồ càn quét của giặc Mỹ hòng tiêu diệt lực lượng ta và phá kho tàng dọc đông - tây lộ 2 của ta.

Sau trận đánh, quân ngụy phải co cụm về các đồn bót. Tuy nhiên, ta không diệt gọn được và thương vong cao. Bài học quý cho đơn vị là rút được nhiều kinh nghiệm trong tổ chức tập kích bộ binh và cơ giới Mỹ đóng quân dã ngoại.

Tháng 8, anh Hai Sỹ được điều về Sư đoàn. Tôi làm Trung đoàn trưởng. Anh Tám Nghi làm Chính ủy và út Thắng làm Trung đoàn phó. Trung đoàn vẫn trụ vững trên chiến trường Bà Rịa - Long Khánh, nhưng tách ra khỏi đội hình Sư đoàn 5, về lại T1 (Quân khu 7).

Hầu như đã thành lệ, hễ Sư đoàn 5 xuống chiến trường Bà Rịa - Long Khánh thì kéo Trung đoàn 4 về đội hình chiến đấu Sư đoàn. Hễ Sư đoàn 5 đi, lại “nhả’' Trung đoàn 4 đứng lại chiến trường này. Thông lệ này chúng tôi quen rồi.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: LordOfStorms trong 12 Tháng Mười, 2012, 02:31:36 PM
CHUẨN BỊ CHO TẾT MẬU THÂN

Từ khi Sư đoàn 5 rời khỏi chiến trường Bà Rịa - Long Khánh, Trung đoàn 4 đã chủ động phối hợp với lực lượng địa phương liên tục tấn công địch trên đường 15, thọc sâu xuống Phước Thọ, Phước An (Nhem Trạch) đánh cụm Thái Lan làm nức lòng nhân dân vùng nam - bắc lộ 15.

Tháng 11 năm 1967, anh Hai Lực - Bí thư Khu ủy TI (Quân khu 7), anh Hai Nhã (Thiếu tướng Lương Văn Nho) - Phân khu trưởng Phân khu 4 triệu tập Ban chỉ huy Trung đoàn về Suối Cả. Anh Hai Lực giao nhiệm vụ cho Trung đoàn chuẩn bị đánh các mục tiêu: Liên trường Thủ Đức, cầu Đồng Nai, nhà máy nhiệt điện Thủ Đức, phát triển vào Sài Gòn bắt liên lạc với đơn vị bạn ở ngã tư Hàng Xanh. Sau đó, anh Hai Nhã nói về các mặt bảo đảm cho Trung đoàn.

Với 3 mục tiêu lớn như vậy, các anh chưa gợi cho một phương pháp nghiên cứu nào cụ thể, chỉ hướng dẫn xung quanh vấn đề quan hệ với địa phương Thủ Đức để nắm tình hình, còn nhấn mạnh thời gian nghiên cứu phải nhanh, trong vòng một tháng đã có thể điều quân đánh được. Các anh động viên nhiều nhất là thời cơ. Thời cơ đến, mọi việc sẽ thuận lợi.

Nhận nhiệm vụ xong, Ban chỉ huy Trung đoàn còn ở lại để trao đổi với. Bộ Tư lệnh và cơ quan. Tôi bàn với Út Thắng và Tám Nghi - Chính ủy mấy vấn đề:

- Mục tiêu to, sâu, chưa có một khái niệm hình dáng, lực lượng, bố phòng của mục tiêu cả”

- Phương thức trinh sát phải vừa công khai vừa mật tiếp cận mới bảo đảm thời gian.

- Đường hành quân phải vượt sông Đồng Nai xuống Thủ Đức, khu vực ém quân là đồng bằng 6 xã Thủ Đức là cả một vấn đề nan giải.

Trao đổi trong Ban chỉ huy Trung đoàn suốt buổi tối đêm đó tôi không sao ngủ được. Tôi vắt óc suy nghĩ và quyết định phải tự mình đi công khai để nghiên cứu thôi. Đối với tôi, phương thức này không phải dễ dàng song không còn cách nào khác.

Sáng ra, tôi lên gặp anh Hai Lực trình bày. Sau đó tôi xin phép anh cho tôi đi công khai:

- Tôi không đi công khai thì không làm sao nghiên cứu các mục tiêu được. Đơn vị sẽ không hoàn thành nhiệm vụ.

Anh Hai suy nghĩ rất lâu không trả lời. Tôi biết anh đang rất đắn đo. Để anh yên tâm và thúc đẩy anh đồng ý, tôi quả quyết:

- Anh Hai yên tâm. Tôi đi nghiên cứu công khai chỉ có 2 con đường. Một, hoàn thành nhiệm vụ. Hai, hy sinh. Không có con đường thứ ba, để bị bắt.

Từ lâu nay anh Hai Lực rất tin tôi qua mọi nhiệm vụ chiến đấu. Nhưng trước một nhiệm vụ nặng nề, khó khăn và hết sức phức tạp này anh không thể không cân nhắc.

- Không còn cách nào khác hay hơn đâu, anh Hai à - tôi trình bày rõ hơn. Tối thức trắng đêm bàn nát nước với Út Thắng và Tám Nghi rồi. Chỉ có tôi đi trinh sát công khai rồi về phác họa cho anh em trinh sát đi nghiên cứu bí mật mới kịp thời gian. Chưa biết mục tiêu hình dáng ra sao làm sao bò vào được? Mà có bò vào cũng chỉ biết có một lõm... Cuối cùng anh Hai Lực đồng ý:

- Không phải tôi không tin Năm Hưng. Tôi đang nghĩ Năm Hưng đóng vai gì khi đi công khai. Vai công nhân tự do làm thuê được không?

Anh chỉ thị cho bộ phận kỹ thuật làm giấy căn cước cho tôi. Thẻ căn cước số 051746 do Quận trưởng Thủ Đức ký. Tôi lấy tên anh ruột tôi - Nguyễn Văn Trình - cho dễ nhớ. Giấy, mộc và chữ ký đều là thật, vì mình mua của nó. Từ hôm nay tôi phải bỏ dép râu, đi chân không. Cho lằn quai dép trên bàn chân mất đi, để khi đi công khai không bị lộ.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: Khánh mập trong 12 Tháng Mười, 2012, 08:55:31 PM
Chiến trường Thủ Đức nằm sát với Sài Gòn. Vùng căn cứ lõm là cánh đồng bưng 6 xã, đồng ruộng, sông rạch chi chít. Hai bên sông rạch là dừa nước. Chỉ có thể làm công sự nổi. Hệ thống đồn bót hướng xa lộ dày đặc. Ngay Chợ Nhỏ (Tăng Nhơn Phú) là Trường sĩ quan Thủ Đức, mục tiêu phải đánh. Nhà máy nhiệt điện ở phía tây xa lộ. Cầu Đồng Nai nằm trên xa lộ, giáp với Đồng Nai. Nhiều nhà máy dệt như Tô Châu, Liên Phương nằm ven xa lộ trên các xã Tăng Nhơn Phú, An Phú. Mọi hành động ban ngày của vùng căn cứ lõm - bưng 6 xã - đài quan sát Trường sĩ quan Thủ Đức đều thấy.

Một đêm tháng 11, tôi, Ba Nam - Phó Chính ủy, Lập - Chủ nhiệm trinh sát và một tiểu đội trinh sát gạo cội xuất phát từ Suối Cả đi nghiên cứu chiến trường xuống Tam An, Long Thành. Đêm sau, vượt sông Đồng Nai qua Cù lao Long Phước Thôn, vượt luôn vào bưng 6 xã ém nghỉ ở Truông Tre.

Các ngày sau, tôi đã móc nối được với Huyện ủy Thủ Đức: anh Ba Mỹ - Bí thư, anh Năm Lý - Huyện đội trưởng. Có cả anh Ba Cam - Tham mưu phó Trung đoàn 2, Sư đoàn 9, người địa phương xã An Phú - được trên tăng cường về giúp cho huyện Thủ Đức. Anh Ba Cam với tôi rất quen thân. Sau khi cho ém bộ phận nghiên cứu ổn định, tôi bàn với các anh thực hiện kế hoạch nghiên cứu mục tiêu. Anh Ba Mỹ giao cho tôi một cơ sở ở ngã ba Chợ Nhỏ. Anh này lưng gù, tên Tám, anh rất thông thạo các mục tiêu, rành rẽ đường đi các nơi, đường vào đến ngã tư Hàng Xanh. Tôi bàn với anh Tám đi công khai bằng xe Honda 50, các tình huống có thể xảy ra và cách xử lý. Tôi gút lại với anh Tâm đi xem bao quát vòng ngoài các mục tiêu, phát hiện địch kiểm tra thì tránh, bất ngờ bị chặn lại tôi sẽ bắn, anh tẩu thoát.

Vào một buổi sáng ở căn cứ lõm sát đình Tăng Nhơn Phú tôi chuẩn bị xong, anh Ba Cam gọi em Mười Dung (cháu gọi anh bằng chú) đang phục vụ y tá chỗ anh, đưa tôi vào đình Tăng Nhơn Phú. Em Mười Dung người xã An Phú, nước da đậm, chắc, khỏe, lanh lợi, thạo chèo chống, giỏi bơi lội sông nước. Chuẩn bị xuồng để đưa tôi đi. Tôi vừa xuống xuồng, nhìn tôi, em nói:

- Anh ra đến Chợ Nhỏ bị bắt liền.

Không biết chuyện gì, tôi nói:

- Em đừng nói xui xẻo.

Em nói ngay:

- Sợi dây dù súng của anh lộ bóng sau lưng kìa!

Tôi giật mình. Mình thật là sơ ý. Mặc áo trắng nên sợi dây dù lộ ra, không giấu được.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: Khánh mập trong 12 Tháng Mười, 2012, 09:41:44 PM
Hôm đó và mấy ngày sau nữa, tôi cùng anh Tâm đi xem bao quát được cầu Đồng Nai, nhà máy nhiệt điện. Còn Liên trường Thủ Đức chỉ mới biết cổng từ Chợ Nhỏ vào, vòng rộng ba bên chưa đi quan sát được.

Một hôm, tôi móc với anh Bảy Bi, Bí thư xã Long Trường để anh đưa đi vòng quanh căn cứ Trường sĩ quan Thủ Đức. Hôm ấy, anh chở tôi chạy trên đường 33 (phường Long Trường bây giờ) để xem hướng bắc và đông của căn cứ. Chạy ngang phòng thông tin của xã tôi thấy cờ ngụy, khẩu hiệu tan hoang, du kích dán khẩu hiệu và cờ Mặt trận thay vào. Tôi kêu anh Bảy Bi dừng lại xem.Đang xem, một xe gíp chở 4 tên lính từ Liên trường Thủ Đức chạy tới. Xe gíp tới phòng thông tin cũng dừng lại. Tôi và anh Bảy lên xe đi. Anh Bảy vừa sang số 2 thì nghe tiếng lính kêu: "Ê anh, ê anh!". Tôi nói với anh Bảy:

- Đường thẳng lắm. Nó bắn không trật. Dừng lại!

Xe dừng lại, anh Bảy dựng xe. Bọn lính tường chúng tôi sẽ trở lại không chú ý. Tôi hô anh Bảy: Chạy! Chúng tôi chạy cắt vào xóm. Chúng bắn theo. Chạy một đoạn gặp rào dây thép gai của nhà dân cao hơn một mét, tôi nhảy qua không khỏi, thọc chán vào giữa hai sợi dây trên cùng. Sức mạnh khi nhảy quáng cả người tôi vào bên trong. Bắp vế gài vào hai sợi dây thép gai rách ống quần. Kẽm gai móc rách bắp vế dài khoảng một tấc, sâu tới thịt, máu ra quá cỡ. Vào xóm gặp dân, đồng bào bảo:

- Đừng chạy nữa! Nó không dám rượt đâu!

Mãi đến trưa, tôi và anh Bảy Bi mới len lỏi về tới căn cứ gặp các anh Ba Cam và Năm Lý.

- Bị bắn rồi hả? Các anh hỏi.

Tôi báo lại tình hình, đề nghị Năm Lý bố trí cơ sở xem chúng bàn gì, nghĩ gi về chúng tôi. Em Mười Dung mang đồ nghề ra rửa vết thương, băng lại... Do mệt và bị nhiễm trùng nên tôi sốt liên tục mấy ngày, cực em Mười Dung chăm sóc. vết sẹo ở bắp vế giờ vẫn còn. Mấy ngày sau, anh Năm Lý báo: “Địch cho các ông là thanh niên trốn lính”.

Vậy là ổn! Chúng không ngờ đã để “sẩy’’ một Trung đoàn trưởng và một Bí thư xã Việt cộng!

Các đêm sau, tôi triển khai cho trinh sát đi nghiên cứu cụ thể các mục tiêu, vấn đề lớn còn lại: đánh cầu Đồng Nai bằng cách nào?

Trên cử anh Mười Thọ (kỹ sư) xuống bàn. Theo tính toán của anh: đánh sập một chân cầu phải cần 1 tấn thuốc TNT. Làm sao có một tấn TNT? Làm sao đưa vào được chân cầu? Bàn mãi, cuối cùng anh Thọ nói sẽ đổ cho tôi hai quả mìn lòm, mỗi quả 250 ký. Tôi dùng đặc công đưa áp vào hai bên chân cầu.

Cuối tháng 12, đã ra hình dáng một kế hoạch tấn công vùng sâu:
- Đánh Liên trường Thủ Đức với một tiểu đoàn tăng cường
- Đánh sập cầu Đồng Nai bằng trinh sát đặc công với 2 quả mìn lõm.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: LordOfStorms trong 13 Tháng Mười, 2012, 05:29:01 PM
-   Đánh nhà máy nhiệt điện bằng pháo cối và ĐKZ.
-   Đánh trên xa lộ (cả bộ binh và cơ giới cơ động của địch) với lực lượng một tiểu đoàn và một tiểu đoàn thiếu làm dự bị.
Đầu tháng 1 năm 1968, tôi tổ chức đường hành lang chuyển quân từ Thủ Đức về Tam An, Long Thành, từ Long Thành về bắc đường 15 sẵn sàng cơ động lực lượng.

Ngày 15 tháng Giêng, tôi được điện anh Hai Nhã - Tư lệnh Phân khu 4: “Mục tiêu phía anh không thay đổi. Lực lượng chỉ một Tiểu đoàn 2. Út Thắng nắm quân còn lại về đội hình Sư đoàn 5 nhận nhiệm vụ. Anh không phải về báo cáo quyết tâm. Ở đó chờ lệnh và đón Tiểu đoàn 2”.

Một thay đổi kế hoạch lớn. Các mục tiêu giữ nguyên nhưng lực lượng giảm, không đồng ý tôi về báo cáo quyết tâm. Vậy thời gian tấn công đã rất khẩn trương. Tôi bàn với các anh Ba Cam, Ba Nam và các anh Huyện ủy Thủ Đức thay đổi quyết tâm.

- Đánh cầu Đồng Nai như cũ.

- Tập trung cối, ĐKZ pháo kích Liên trường Thủ Đức.

- Tiếu đoàn 2 thọc sâu đánh xa lộ và nhà máy nhiệt điện.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: LordOfStorms trong 14 Tháng Mười, 2012, 12:09:12 PM
TRONG VÀ SAU TẾT MẬU THÂN

Đêm 30 và rạng 31 tháng 1 năm 1968.

Sân bay Biên Hòa, kho Long Bình, các vùng lân cận súng nổ ran như pháo đón giao thừa. Tôi và các trinh sát đứng ở bìa sông đón Tiểu đoàn 2 mà lòng như lửa đốt!

Tiểu đoàn 2 vượt sông từ Tam An sang. Đến sáng, đội hình mới lên hết bờ. Triển khai đội hình chiếm lĩnh đường 33 sau Liên trường Thủ Đức đụng địch từ Liên trường ra, từ xa lộ vào. Tiểu đoàn 2 quần nhau với địch từ sáng đến chiều.

Địch bị tấn công nhiều nơi nên cũng rối loạn, hoang mang. Bốn giờ chiều, chúng rút ra xa lộ. Ta củng cố lại tiểu đoàn, hy sinh và bị thương trên 20 đồng chí. Xong xuôi, ngay trong đêm, tôi cho cắt đồng ruộng về vùng lõm bưng 6 xã, tản đội hình công sự cặp theo sông rạch.

Theo kế hoạch, trong đêm N, trinh sát đặc công đưa được mìn vào cầu Đồng Nai, xả dây 400 mét xuống phía hạ lưu đánh không nổ (do thả dưới sông gần nửa tháng nên hạt nổ hỏng). Thật là xót!
Từ đây tôi không liên lạc được về T1 vì không dựng được đài và ăng ten.

Hàng đêm, Tiểu đoàn 2 tổ chức đánh địch trên xa lộ. Đêm nào cũng diệt từ 7 đến 10 xe chở lính và chở đạn bom từ kho Long Bình về Sài Gòn. Cứ đêm ra xa lộ, ngày rút xuống bưng 6 xã. Với Liên trường Thủ Đức, pháo kích nhiều lần.

Tiểu đoàn 2 bám trụ được nhờ địa phương Thủ Đức lo và bảo đảm hậu cần. Thương binh thì đưa xuống bưng để lên xuồng đẩy đi và chăm sóc. Đồng bào ven xa lộ, ven đồng bưng, ở các xã Tăng Nhơn Phú, Long Trường, An Phú... ngày tản cư ra xa lộ tránh bom pháo địch, đêm lại về xóm làng đem gạo, thực phẩm, dầu lửa tiếp tế cho quân giải phóng. Tiểu đoàn 2 cứ đêm ra chiến đấu, lấy gạo, lấy dầu lửa, ngày ém trong bưng (ở bưng 6 xã lực lượng vũ trang nấu bếp dầu).

Giữa tháng 2, tôi mới liên lạc và báo cáo tình hình về T1 với đồng chí Tư lệnh Phân khu 4, trong lúc đang quần thảo nhau suốt ngày đêm với địch ở vùng Thủ Đức. Ngày, bộ binh và cơ giới địch càn ven đồng bưng. Pháo, cối, máy bay bắn vào vùng bưng 6 xã, không sót chỗ nào. Lực lượng Tiểu đoàn 2 ém theo rạch, hầm nổi, địch không dám lội xuống. Đêm, địch rút về, ta lại lên đánh địch ở xa lộ, đánh nhà máy nhiệt điện.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: Khánh mập trong 14 Tháng Mười, 2012, 08:39:51 PM
Trong lúc căng thẳng, tôi lại đau ruột thừa. Anh Ba Nam - Phó chính ủy định đưa tôi về sau. Tôi nói:

- Tôi không đi về sau. Các anh cố gắng trị cách nào đó hoặc mổ tại đây.

- Anh em quân y cho tôi uống thuốc và tiêm kháng sinh liều cao ém lại, cơn đau hết. Tôi vẫn ở cùng anh em.

Đầu tháng 3, tôi được điện của R: “Bàn giao Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 4 cho Phân khu 4. Anh trở về Trung đoàn”.

Cuộc trở về không đơn giản chút nào. Trên 30 thương binh phải đưa vượt sông Đồng Nai về Long Thành và vượt đường 15 về căn cứ. Trong lúc đó, đêm đêm bo bo phong tỏa đường sông, cặp theo bờ sông, các đầu rạch đều có cây nhiệt đới báo mục tiêu để pháo bắn. Tổ chức bám bến khít khao theo dõi quy luật hoạt động của bo bo mãi đến trung tuần tháng 3 tôi mới về đến đơn vị.

Gặp Út Thắng, Tám Nghi, Tư Quang mừng mừng tủi tủi (Út Thắng - Trung đoàn phó, Tám Nghi - Chính ủy, Tư Quang - Chủ nhiệm chính trị), là những đồng chí cùng trong Ban chỉ huy Trung đoàn thân nhau như ruột thịt phải xa nhau 4, 5 tháng trong điều kiện đơn vị phân tán, chiến đấu đầy gian khổ, ác liệt, hy sinh - gặp lại làm sao không mừng, tủi). Kiểm lại quân, cả Tiểu đoàn 1 lẫn Tiểu đoàn 3 đều mất sức chiến đấu sau các trận đánh vào sân bay Biên Hòa, vào Tổng kho Long Bình, Tiểu đoàn 2 thương vong cao và để lại chiến trường Thủ Đức.

Chúng tôi được bổ sung quân từ miền Bắc đưa vào. Tiểu đoàn 3 và Tiểu đoàn 1 còn được giàn cán bộ cũ nên củng cố khá nhanh. Trên bổ sung thêm nguyên một Tiểu đoàn 2 từ Thái Bình vào.

Cuối tháng 3, Trung đoàn củng cố, bổ sung đủ quân số cho 3 tiểu đoàn.

Đầu tháng 4, Ban chỉ huy Sư đoàn tổ chức rút kinh nghiệm chiến đấu, chuẩn bị đợt 2 Mậu Thân. Đến địa điểm hội nghị tôi gặp Xuân Thanh, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 5. Tay bắt mặt mừng, Xuân Thanh hỏi ngay:

- Năm Hưng vào họp đi, tôi không vào. Đánh theo chiến thuật “a thần phù”, có gì để rút kinh nghiệm.

Tôi khuyên cứ vào và phát biểu quan điểm của mình. Tôi nói với Xuân Thanh:

- Anh thấy Trung đoàn tôi sử đụng phân tán như thế nào. Tiểu đoàn 1 đánh sân bay, Tiểu đoàn 3 đánh kho Long Bình, Tiểu đoàn 2 thọc sâu Thủ Đức. Chỉ huy cũng phân tán, làm sao có sức mạnh?

Vào Hội nghị, tôi và Xuân Thanh đều phát biểu quan điểm này.



Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: fantomasft trong 16 Tháng Mười, 2012, 02:51:36 PM
   Sau Hội nghị rút kinh nghiệm chiến đấu, Sư đoàn 5 hành quân về R. Trung đoàn 4 ở lại hoạt động độc lập trên chiến trường Bà Rịa - Long Khánh dưới sự chỉ đạo của T1 và cả của Bộ Chỉ huy Miền.

   Trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968, nhìn chung ta tiêu hao một lực lượng lớn sinh lực, vũ khí, trang bị chiến tranh của Mỹ - Ngụy. Việc ta là đồng loạt đánh vào Sài Gòn, Huế, vào 99 thành phố, thị xã trên toàn Miền đã gây một tiếng vang lớn trên thế giới, buộc địch phải ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Pari, công nhận vai trò của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, đơn phương tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc.

   Nhưng trên chiến trường miền Nam, nhất là Đông Nam Bộ, Mỹ tiếp tục đưa thêm một sư đoàn kỵ binh bay vào, tập trung tối đa không quân chiến lược dùng B52 đánh phá nát rừng miền Đông. Biệt kích Mỹ, biệt kích Úc lùng sục khắp nơi. Có thể hình dung rừng miền Đông, nhất là Bà Rịa - Long Khánh, Biên Hòa, Phước Thành... cứ 1 cây số vuông rừng là có từ một tiểu đội đến trung đội biệt kích. Nơi nào không có biệt kích thì B52 ném bom ban đêm, pháo và phản lực đánh ban ngày. Ngày nào, đơn vị cũng đánh địch, luôn cơ động di chuyển. Không căn cứ nào ở quá 3 ngày. Các cửa khẩu đều bị phong tỏa. Tình hình lương thực rất khó khăn.

   Trung đoàn 4 với giàn cán bộ từ đại đội trở lên rất thông thạo địa hình, rất dũng cảm và có bản lĩnh chỉ huy chiến đấu, lại quan hệ với Đảng bộ, chính quyền, du kích và nhân dân địa phương rất khăng khít, đi tới đâu cũng được tận tình giúp đỡ.

   Cán bộ hậu cần Trung đoàn thời kỳ này do anh Tư Lân làm chủ nhiệm đã cùng du kích Bình Sơn, An Viễn móc ráp với nhân dân vùng Nước Trong quanh căn cứ Sư đoàn Mãng Xà Vương mua gạo. Trong bọn lính Thái Lan có tên là Việt kiều biết tiếng Việt, ham tiền (có chăng bọn này còn một chút tính dân tộc?) nên đã bán gạo cho ta. Xe của lính Thái Lan chở gạo cho ta vào sát bìa sở cao su Bình Sơn theo kế hoạch hậu cần của ta. Có hôm lính ngụy càn vào bìa sở. Xe chạy vào rồi lại chạy ra. Khi lính ngụy ra, chúng lại đưa gạo vào cho ta. Có lẽ sau đó bọn ngụy phát hiện xe Thái Lan chở gạo cho ta nên tiếp tục càn và phục kích bìa sở Bình Sơn - An Viễn.

   Địch tuy bị thất bại nặng nề trong các đợt ta tấn công từ Tết Mậu Thân, chúng vẫn điên cuồng phản kích tái chiếm các vùng ta giải phóng, tiếp tục “bình định cấp tốc”, ra sức cắt hết mọi nguồn lương thực của ta.

   Cấp trên chủ trương mở chiến dịch Xuân Hè 1969 trên toàn miền Đông. Sư đoàn 5 lại trở lại chiến trường Bà Rịa - Long Khánh, có nhiệm vụ tiêu diệt một lực lượng quan trọng của Sư đoàn 18 ngụy ngay trên chiến trường này.

   Tháng 4, bộ phận tiền trạm của Sư đoàn cùng Sư đoàn trưởng Năm Tâm đến Tầm Bung, Long Khánh. Trung đoàn 4 được lệnh phối hợp với Sư đoàn 5 chiến đấu. Tôi và Út Thắng đến gặp anh Năm Tâm. Sau khi phổ biến tình hình, nhiệm vụ của Sư đoàn, anh giao cho Trung đoàn 4 nhiệm vụ đánh mồi nhằm kéo các trung đoàn của Sư đoàn 18 ngụy ra để Sư đoàn tổ chức đánh tiêu diệt.

   Trung đoàn 4 về, nghiên cứu và hạ quyết tâm đánh một trận trên đường 20, đoạn cầu La Ngà về hướng Long Khánh. Sau khi báo cáo quyết tâm với Sư đoàn và hợp đồng với các trung đoàn bạn, ngày 28, Trung đoàn triển khai chiến đấu. Đêm 27, Trung đoàn chiếm lĩnh trận địa xong. Tôi tái phát đau ruột thừa lần hai. Các anh đòi đưa về sau để mổ. Tôi không chịu:

-   Bây giờ mà rời Chỉ huy sở sê không ra gì, ảnh hưởng đến lòng tin và sức chiến đấu của đơn vị. Các anh cứ tiêm và cho uống thuốc kháng sinh liều cao cho tôi.

   Quả nhiên, sau khi tiêm và uống thuốc, khoảng 4 giờ sáng bụng êm, tôi mừng quá.

   7 giờ sáng ngày 28, địch cho an ninh lộ trình có máy bay quan sát. 9 giờ, đoàn xe lọt vào trận địa. Tiểu đoàn 3 chặn đầu, Tiểu đoàn 1 khóa đuôi. Cả hai Tiểu đoàn cùng xung phong chia cắt nhiều đoạn đội hình địch.

   Để đảm bảo đánh chắc thắng, trước đó tôi đã chẻ Tiểu đoàn 2 ra. Tất cả cán bộ, chiến sĩ của Tiểu đoàn đều từ Thái Bình miền Bắc mới vào còn lạ nước lạ cái. Vừa chưa quen thung thổ, vừa chưa qua chiến đấu. Một đại đội tăng cường cho Tiểu đoàn 1, một cho Tiểu đoàn 3, đại đội còn lại làm dự bị cho Trung đoàn.

   Cả trận địa đánh theo kế hoạch đến 11 giờ mới giải quyết xong chiến trường. Ta tiêu diệt hoàn toàn cả đoàn xe trên 20 chiếc (có 6 xe bọc thép), diệt đại đội bảo an La Ngà an ninh lộ trình và một đại đội của Trung đoàn 43 Sư đoàn 18 ngụy trên xe, bắt 12 tên và thu trên 40 súng.

   Nhưng ta thương vong cao. Nhiều nhất là Tiểu đoàn 2, lính mới toanh, tuy được kèm với Tiểu đoàn 1 và 3, mà bị thương đến 80 và hy sinh 6 đồng chí.

   Trung đoàn 4 đã hoàn thành nhiệm vụ kéo Trung đoàn 43 Sư đoàn 18 ngụy lên suối Rết - Tầm Bung giải tỏa để Sư đoàn 5 tiêu diệt chúng vào các ngày sau đó.




Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: Khánh mập trong 16 Tháng Mười, 2012, 11:21:58 PM
Sau trận chiến đấu trên đường 20, tôi nhận được chỉ thị của anh Hai Lực (Bí thư Khu ủy) phải đi mổ ruột thừa ngay. Quân y đã báo cáo với anh nếu không mổ để đau lần thứ 3, nó bục ra thì không cứu được. Chấp hành chỉ thị, tôi lên K76A ở bắc sông La Ngà mổ ruột thừa.

Lúc này vợ tôi đang học y sĩ ở K76A. Bác sĩ Ba Hòa Chủ nhiệm Quân y Miền được các anh giao mổ cho tôi. Hôm mổ, anh Ba Hòa hỏi tôi:

- Năm Hưng sợ gì không?

- Sợ nhất bị nhiễm trùng, anh Ba!

Và tôi yêu cầu anh đừng cho lớp học y sĩ của anh đến tham quan vì có vợ tôi trong số đó. Anh Ba Hòa đồng ý:

- Tôi đã mổ hơn 200 ca ruột thừa rồi. Mỗi lần mổ, rửa tay tiêu chuẩn hai lần, khỏi lo nhiễm trùng.

8 giờ, anh bắt đầu mổ. Song lại báo cho lớp học là 10 giờ tối. Khi ấy, vợ tôi thế nào cũng đến nhưng ca mổ đã xong.

Mổ ruột thừa đối với anh Ba Hòa là chuyện nhỏ, thế mà lần mổ này cho tôi anh toát mồ hôi. Thông thường ca mổ chỉ từ 15 đến 30 phút là xong, ca mổ cho tôi mất 2 tiếng. Nguyên do sau 2 lần dùng kháng sinh liều cao ruột thừa được mỡ bao bọc đông quánh lại, dính với ruột già. Từ gây tê, anh chuyền sang gây mê để bóc tách. Gây mê hơi sâu, 6 giờ chiều tôi vẫn chưa tỉnh hẳn.

Thời gian nằm dưỡng bệnh ở K76A tôi mới có dịp gần gũi vợ tôi. Từ khi cưới nhau đến giờ, lần này chúng tôi mới được gần nhau trên 10 ngày. Tôi động viên Tuyết học, chép bài dùm em, nói cho em biết tình hình chiến trường ngày càng căng thẳng, vợ chồng không dễ gặp nhau, anh không chăm lo cho em được, em đừng buồn tủi.

Thật ra là lòng tự trọng hão. Cái chính, tôi không muốn vợ tôi ở cùng đơn vị. Sợ anh em, sợ tổ chức cho là có vợ ở gần dễ bị chi phối, có thể giảm ý chí... Do vậy, suốt cuộc chiến tranh không bao giờ tôi đồng ý bố trí vợ tôi công tác cùng đơn vị.

Phần vợ tôi, Tuyết rất vững vàng, xông xáo, dũng cảm, tự lực rất cao. Em khuyên tôi cứ yên tâm lo nhiệm vụ. Dựa vào tập thể, em sẽ vượt qua tất cả và cũng sẽ hoàn thành nhiệm vụ của mình. Trong sự nghiệp của tôi có phần động viên, khích lệ rất lớn của vợ tôi.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: LordOfStorms trong 17 Tháng Mười, 2012, 02:07:37 PM
ĐẾN VỚI TRUNG ĐOÀN ĐỒNG NAI

Trong lúc chiến trường đang rất ác liệt, tôi nhận được điện của R về T1 nhận nhiệm vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn Đồng Nai. Út Thắng thay tôi làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 4 từ tháng 9 năm 1969.

Rời khỏi chiến trường Bà Rịa - Long Khánh, rời khỏi Trung đoàn 4 thân yêu lúc này, tôi không muốn tí nào. Ngoài cái chung còn cái riêng. Vợ tôi đang có thai 6 tháng, tuy không ở cùng đơn vị nhưng thỉnh thoảng tôi còn gặp, còn chăm lo được chút ít. Bây giờ trong lúc ác liệt tôi lại đi xa, bụng bầu ngày một lớn, thật rối!

Gặp vợ tôi ở sông Gia Ui, bắc đường số 1, vợ tôi có thai. Anh Hai Sỹ (Sư đoàn phó Sư đoàn 5) gửi Tuyết lại cơ quan Tỉnh đội Bà Rịa, chỗ anh Út Đặng - Tỉnh đội trưởng. Nhìn vợ bụng to, đi lại khó khăn, tôi quặn lòng.

- Anh có quyết định về làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn Đồng Nai, trên Bình Dương.
- Anh cứ đi. Em ở đây có anh em giúp, lo gì.

Đêm ấy, tôi không tài nào chợp mắt. Tôi bàn với Tuyết mọi tình huống có thể xảy ra và cách giải quyết. Nếu sanh con trai đặt tên Nguyễn Nam Hùng, con gái thi đặt tên Nguyễn Tuyết Hà. Sáng ra, tôi gặp chị út Đặng và mọi người thân quen trong đơn vị gửi gắm Tuyết rồi lên đường về T1với liên lạc của tôi - em Thanh, cùng một trinh sát - em Hà.

Thanh và Hà còn rất trẻ, mới 18 -19 tuổi, đã đi với tôi nhiều năm. Cả hai đều lanh lợi, dũng cảm, tháo vát. Em Thanh quê Trà Vinh, vào bộ đội năm 16 tuổi, đi lên miền Đông với Tiểu đoàn 265 (Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 4). Thấy em nhỏ, tôi lấy em làm liên lạc từ lúc mới về Trung đoàn. Em lanh lẹ, dũng cảm, thương và giúp tôi nhiều việc trong chiến đấu và sinh hoạt. Em Hà là trinh sát của Trung đoàn, quê ở Bến Cát - Bình Dương, là một trinh sát trẻ giỏi. Em Thanh hiện nay là Thương binh 2/4, về quê ở Trà Vinh. Em Hà đã hy sinh ở Chiến trường CPC.

Từ sông Gia Ui, ba người cắt rừng về căn cứ T1 vùng Xà Cót, Mã Đà. Ra đi mà lòng nặng như chì. Sau được tin ngày 31 tháng 12 vợ tôi sanh con trai, do vợ anh Út Đặng đỡ. Sanh trong đêm thứ nhất đến đêm sau, Tuyết phải bồng con lội suối chạy tránh B52. Sau đó, các anh ở tỉnh đội đưa Tuyết về Trường huấn luyện quân sự lúc này có anh Ba Nam - Chính ủy Trung đoàn 4 về phụ trách.

Anh Ba Nam rất lo lắng chăm sóc cho vợ tôi. Trong một lần Trường Quân chính Hành quân từ Gia Ray về Núi Ông (Bình Thuận) phải qua đường số 3 Trà Tân, vợ tôi lưng mang bồng đựng đồ cho con, ngực dùng tấm vải dù đai con đi theo đoàn; khi vượt đường số 3 đạp trái sáng, đoàn chạy dạt vào rừng, con khóc, tình hình rất nguy hiếm. Anh Mai Viết Thiềng, là cán bộ của Trường đến bảo Tuyết: “Chị bóp mũi cho nó chết đi (cháu Hùng con tôi bây giờ), nếu không cả đoàn chết hết! Vợ tôi cứ khóc, không tài nào làm được. May quá, anh Ba Nam nghe thấy, anh đến quát: “Anh có sợ thì tách đoàn đi một mình”. Rồi anh nói với Tuyết: “Em không được giết con..." khi qua sông Đạt Oay, anh bọc cháu Hùng trong tấm nilon đội lên đầu đưa qua sông. Đồng đội, đồng chí tôi là như vậy. Tôi, gia đình


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: LordOfStorms trong 18 Tháng Mười, 2012, 05:28:53 PM
Tôi, đặc biệt là cháu Hùng nhớ ơn anh suốt đời! Sau này anh Ba Nam là Đại tá Chỉ huy phó Chính trị tỉnh Bình Dương, nay nghỉ hưu ở Bà Rịa - Vũng Tàu, anh đã ngoài 80 tuổi.

Út Thắng - Trung đoàn trưởng Trung đoàn 4 cũng thường cho anh em mang đường, sữa đến cho vợ tôi. Trong lúc gian khổ, đói cơm... nghĩa tình anh em, đồng chí đã làm ấm lòng tôi ở xa nhiều lắm!

Rừng cây miền Đông những năm 60 - 61 là rừng già, cây cao nhiều tán, bây giờ trơ trọi bên trên không lá vì bị chất độc hóa học, bên dưới cây con mới mọc lên lúp xúp như rừng chồi. Bom pháo cày nhiều lắm, cây ngã ngổn ngang xen lẫn với rừng chồi mới mọc rất khó đi, lại phải dò đường tránh biệt kích, ba ngày sau tôi mới về tới T1.

Vào gặp Bộ Tư lệnh. Các anh hai Hồng Lâm, Bùi Khánh Ngươn - Phó Tư lệnh mừng quá đãi cho một bữa cơm no. Có một bữa cơm no lúc này là quý lắm! Sau bữa cơm, anh hai Hồng Lâm bàn luôn công việc:

- Tình hình chung, Năm Hưng đã biết. Riêng Trung đoàn Đồng Nai đang rất khó khăn. Anh Chín Chước (Trung đoàn trưởng) bị địch bắt trong Tết Mậu Thân, tìm mãi chưa có người thay. Bây giờ Năm Hưng về, giữa lúc Trung đoàn đang thiếu đói, phải rút về tận An Long - Phước Sang, Phú Giáo, Trung đoàn bộ thì ở Suối Thôn. Năm Hưng về, cùng anh em nhanh chóng củng cố trung đoàn, tìm cách giải quyết lương thực, sớm mở hoạt động xuống nam - bắc đường 16.

Sáng hôm sau, anh Bùi Khánh Ngươn cùng đi với tôi xuống Trung đoàn. Từ T1 cắt rừng đi phải 2 ngày mới tới. Sáng tới, chiều anh Ngươn họp ngay Đảng ủy Trung đoàn gồm các anh Tư Sâm (Chính ủy), anh Tân (Tham mưu trưởng) và các anh trong Đảng ủy. Họp Đảng ủy ngày thứ nhất mỗi người chỉ được ăn một bát cơm một bữa, ngày thứ hai cả Đảng ủy ăn cháo. Tối đến, hai em Thanh và Hà gặp tôi:

- Anh Năm! Sớm mai hai em đi đào củ mài.

Củ mài các em đào được đủ cho anh em trong Ban Chỉ huy Trung đoàn cùng ăn cả ngày. Về phần nhiệm vụ hoạt động của Trung đoàn rất nhiều bàn cãi. Là chủ lực làm sao thọc sâu? Trụ làm sao? Đánh làm sao? Tôi gút lại:

- Phải vào ấp chiến lược mua gạo. Phải áp sát ấp chiến lược mới liên lạc được với dân. Phải thọc xuống nam đường 16, xuống Vĩnh Tân, Bến Xoài, Chánh Phú Hòa mới đánh được địch và giải quyết được hậu cần.

Và tôi kết luận:

- Bước 1, ép sát ấp chiến lược Bình Mỹ, Bình Cơ ở phía bắc đường 16 liên lạc với dân, đánh địch bung ra và đêm vào ấp chiến lược tải gạo. Đồng thời ở ven rừng này học đào hầm bí mật, tập nằm hầm bí mật.

- Bước 2, tổ chức thành từng tổ 3 người, mỗi trung đội chọn ra 2 đến 3 tổ thọc xuống Vĩnh Tân đào hầm bí mật, ngày ở hầm, dân vào liên lạc, đêm lên thọc vào ấp chiến lược Vĩnh Trường (vùng sâu) đánh và giải quyết hậu cần.

Tình hình quá khó khăn về lương thực mà đơn vị cứ rút sâu vào rừng càng không có lương thực. Anh em sẽ nhụt chí vì không đánh được giặc, lại đói thì đơn vị sẽ suy sụp.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: Khánh mập trong 19 Tháng Mười, 2012, 02:41:00 PM
Tôi hạ quyết tâm như vậy, Đảng ủy cũng đồng ý. Anh Bùi Khánh Ngươn nhất trí, thấy thế là hợp lý.

Từ đây, Trung đoàn tổ chức lần lượt “sâu đo”, xuống dần vùng sâu theo phương thức trên, bằng mọi cách liên lạc được với dân, đánh nhỏ, đánh lẻ thường xuyên. Dân phấn khởi vì thấy lực lượng vũ trang mình vẫn còn đây, không phải như địch tuyên truyền “đã tiêu diệt hết Việt cộng”.

Từ những tháng cuối năm 1969 đến cuối năm 1970, tuy vất vả, gian khổ nhưng Trung đoàn vẫn bám được chiến trường, vẫn bám được dân, giải quyết được vấn đề lương thực. Nhờ đó giải quyết tốt tư tưởng của anh em. Cũng trong những ngày này, lần đầu tiên trong đời, tôi nằm hầm bí mật.

Tôi đang ở vùng sâu Vĩnh Tân - Tân Uyên, hằng đêm chỉ đạo cho các tiểu đoàn hoạt động đột ấp chiến lược, diệt bọn tuần tiễu, kìm kẹp nhân dân và vận động giải quyết hậu cần cho Trung đoàn bước đầu có hiệu quả thì nhận được điện vượt cấp của Bộ Chỉ huy Miền "Về R nhận nhiệm vụ”.

Sau khi bàn giao các việc cho Trung đoàn, tôi về Bộ Tư lệnh T1 báo cáo và tìm hiểu Bộ Tư lệnh Miền ở đâu. Anh Hồng Lâm dùng năm đầu ngón tay chúm lại chỉ trên bản đồ:

- Trước tôi đi họp ở đây, Cà Tum. Bây giờ đã đánh mở biên giới Việt Nam - Campuchia, có thể về đây, Đầm Rayphong (tỉnh Kratié). Nếu không có thì sang Congpongthom.

Lúc này địch đánh phá chiến trường dữ dội bằng biệt kích, pháo, B52 hàng ngày. Anh Hồng Lâm có ý kiến:

- Về R, Năm Hưng phải đi vòng lên ngã ba biên giới, cắt về Kratié đã giải phóng mới đến Đầm Rayphong được.

Nhìn bản đồ thấy đường đi trên trăm cây số đường chim bay, phải đi hàng tháng mới đến R. Tôi đề nghị Bộ Tư lệnh T1 điện về Miền, nếu bố trí tôi về đơn vị nào điện xuống cho tôi về thẳng đơn vị đó. Bộ Tư lệnh Miền trả lời: “Cứ về R”, ký tên Năm Ngà. Anh Năm Ngà lúc này là Tham mưu trưởng Miền.

Tôi xin phép Bộ Tư lệnh T1 cho về thăm vợ tôi trước khi đi R. Từ Suối Linh - căn cứ T1 - tôi và hai em liên lạc cắt rừng đi về Tà Lài mất 3 ngày. Vào được căn cứ cửa khẩu Bà Rịa - Long Khánh ở Tà Lài thì mới hay vợ tôi vẫn ở trường quân sự tỉnh, trường đóng tận ngoài Núi Ông, Bình Thuận. Tôi nghĩ bây giờ mà ra ngoài ấy thăm vợ thì lấy gì ăn, một khi không bám vào cửa khẩu. Tôi viết thư gửi Ban chỉ huy Trường nhờ anh em đi lấy gạo đem về cho anh Ba Nam và cho Thanh, Hà đi theo để đưa vợ tôi xuống cửa khẩu. Anh Ba Nam tổ chức đưa vợ tôi đi.

Vợ tôi cho biết đã gửi cháu Nguyễn Nam Hùng về Hòa Long - Bà Rịa ở với bà ngoại rồi. Gặp nhau, mỗi ngày chỉ được 2 bữa cơm với cá hộp, thế cũng đã an ủi cuộc đời nhiều rồi.

Tuyết vẫn rất vững vàng động viên tôi yên tâm mà về R. Và vẫn một giọng điệu: “Có tập thể, em sẽ vượt qua tất cả. Anh khỏi lo!”.

Vợ chồng quyến luyến nhau được mấy ngày lại phải tạm biệt nhau. Lần ấy, Tuyết lại cấn thai con trai thứ của tôi, cháu Nguyễn Nam Hải bây giờ!


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: LordOfStorms trong 20 Tháng Mười, 2012, 12:40:40 PM
SANG CAMPUCHIA

Tôi trở về T1 sau khi gặp vợ. Anh Hồng Lâm tổ chức một bữa cơm cá soi được dưới suối chia tay tôi và cho tôi một trăm đô la lên Miền đổi mà tiêu. Tôi báo cáo với anh:

- Tôi không đi đường ngã ba biên giới, lâu lắm, không mang gạo ăn đường nổi. Tôi sẽ đi cắt từ Phú Giáo qua đường 13 quành trên Lai Khê. Anh em Trung đoàn Đồng Nai sẽ đưa tôi qua đường. Từ bên kia đường 13, chúng tôi cắt rừng đi về biên giới Campuchia, sang đất Campuchia tôi sẽ tính.

Anh Hồng Lâm đồng ý, chỉ dặn:

- Nguy hiểm lắm, cẩn thận!

Đêm 17 tháng 1 năm 1971, anh em Tiểu đoàn 1 Trung đoàn Đồng Nai đưa tôi đến cách đường 13 khoảng 300 mét thì bắt tay từ giã tôi trở về. Tất cả anh em đều cảm động muốn khóc:

- Bỏ anh chơ vơ chỗ này chúng em không đành.

- Anh em yên tâm. Anh sẽ khắc phục được khó khăn. Cứ về đi!

Còn lại ba chúng tôi, vào thêm 200 mét nữa, chui vào một bụi rậm nghỉ, súng luôn trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu. Trời sáng rõ, tôi lấy góc phương vị đã chuẩn bị sẵn, đưa địa bàn cho Thanh đi đầu, kế đến là Hà, tôi đi sau cùng. Tất cả bước thật nhẹ nhàng, không gây tiếng động. Âm thầm đi đến 10 giờ, Thanh phát hiện có dấu vết căn cứ. Tôi trao đổi với em:

- Vào, coi chừng mìn, lựu đạn. Đề phòng anh em giật mình bắn chết.

Thanh rất giỏi về động tác trinh sát. Em mò vào tận bếp, trở ra Thanh báo cáo bếp còn nóng, có thể của du kích. Tôi bảo em bỏ hết ba lô chỗ tôi, trở vào bếp lần nữa, từ bếp tự nhiên đi đến nơi ở ẩn của anh em. Gặp bất ngờ, anh em không giật mình vì thấy Thanh có một mình. Thanh ra dẫn tôi và Hà vào. Hóa ra anh em Tiểu đoàn 6 đặc công đóng ở đây để nghiên cứu căn cứ Lai Khê. Tôi đưa điện R gọi tôi về, biết tôi là Trung đoàn trưởng, anh em cứ gọi là thủ trưởng. Tôi hỏi đồng chí cán bộ tiểu đoàn:

- Anh em ăn gạo ở đâu?

- Các em ăn gạo Kàchay - Mimốt.

Tôi mừng quá:

- Mấy ngày các em đi lấy gạo một lần?

- Dạ, mười ngày.

- Còn mấy ngày nữa đi?

- Dạ, bảy ngày.

- Khi đi lấy gạo cho anh đi cùng về Kàchay.

Đồng chí cán bộ tiểu đoàn rất nhiệt tình:

- Không! Em sẽ tổ chức một tổ đưa thủ trưởng đi.

Ngày hôm sau, một tổ hai đồng chí đặc công người dân tộc thật thà, chất phác, dũng cảm đưa ba chúng tôi cắt rừng lên Kàchay.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: fantomasft trong 22 Tháng Mười, 2012, 08:31:19 AM
Đang ở một chiến trường gian khổ, thiếu thốn lên đến Kàchay - Mimốt - vùng ta mới giải phóng bên đất Campuchia - chợ búa, xe cộ đông vui, nhân dân đi lại tấp nập, bộ đội ta nhộn nhịp, tôi nảy ra ý nghĩ: tạm nghỉ xả hơi vài ngày rồi tìm R sau. Gặp các anh Đoàn 84-81 hậu cần Miền, tôi xin quá giang xe tải, ba chúng tôi đi ra Salon, sát sông Mê Kông.

Tôi xuống một nhà bè Việt kiều xin tạm ở dưỡng sức được một ngày đêm.

Sáng ngày 21 tháng 1, từ nhà bè tôi lên tham quan thị trấn Salon, đang thơ thẩn đi dạo chợt thấy một đoàn xe Honda 90 chạy rầm rầm. Thấy tôi, một xe dừng lại.

-   Đi đâu đây?

Tôi quay lại:
-   Anh Út!

Tôi và anh Út Thới (sau là Trung tướng - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng) có quan hệ thân tình từ trận chiến thắng Bàu Cá Trê năm 1963:

-   Năm Hưng đi đâu mà đứng đây?

-   Tôi được quyết định về R. Mới tới, chưa biết R ở đâu. Còn tạm nghỉ tại đây.

Anh Út cho cả đoàn xe dừng lại. Anh đang là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 9. Anh bảo:

-   Đi với tôi.

Anh bỏ lại một người, chở tôi theo. Hai em Thanh, Hà cũng ở lại đi sau.

Anh Út đưa tôi thẳng vào Bộ Tư lệnh Miền, gặp anh Năm Ngà, Tham mưu trưởng. Nhìn tôi một lúc anh Năm Ngà nói:

-   Tưởng đâu Năm Hưng to con lắm chớ...

Anh bỏ lửng, không nói thêm.

Những năm chiến tranh, vóc dáng tôi tuy hơi cao nhưng gầy ốm, chỉ trên dưới 50 ký. Chẳng hiểu anh Năm Ngà khen hay chê. Chắc là chê tôi gầy ốm.

Vừa uống nước, anh vừa giao nhiệm vụ:

-   Trong tuần này Năm Hưng ở tại phòng tác chiến. Trong ngày dự ba cuộc giao ban. Giao ban phòng 2, quân báo, chỗ anh Năm Bích. Giao ban phòng 1, tác chiến, chỗ anh Sáu Khâm. Giao ban Bộ Tham mưu Miền. Còn thời gian rảnh xem tài liệu của Sư đoàn 5.
Ngày 01 tháng 2 năm 1971, Bộ Tham mưu Miền tổ chức đưa tôi về nhận nhiệm vụ Tham mưu phó Sư đoàn 5.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: fantomasft trong 22 Tháng Mười, 2012, 08:45:00 AM
NHỮNG THÁNG ĐẦU Ở SƯ ĐOÀN 5

Tôi về Sư đoàn 5 đúng lúc quân ngụy mở cuộc hành quân phản công lên biên giới Campuchia mang tên "Toàn thắng 01.71 NB” với quy mô lớn. Hướng chủ yếu ở Suông – Chúp - Đầm Be. Hướng thứ yếu từ Lộc Ninh theo đường 13 lên Snoul. Tôi từ Kratié theo đường 13 xuống Snoul trước, đón Sở chỉ huy Sư đoàn từ đường 14K Bù Đốp hành quân qua bắc Snoul.

Anh Sáu Tấn chủ nhiệm trinh sát Sư đoàn tranh thủ đưa tôi đi xem địa hình Snoul ngày 2 tháng 2 năm 1971. Chiều ngày 3, tôi và trinh sát vào Ban chỉ huy Trung đoàn 1 ở lô cao su 49 để sáng hôm sau tiếp tục đi khảo sát địa hình.

9 giờ sáng ngày 4 tháng 2, trinh sát Trung đoàn 1 báo cáo Chiến đoàn 49 ngụy vượt biên giới Việt Nam - Campuchia và đã chiếm Snoul. Tôi trở về Sở chỉ huy Sư đoàn trình diện và bắt tay vào chiến đấu.

Vì là những cán bộ từng trải trên cùng chiến trường, tôi nhập cuộc Sư đoàn rất nhanh. Cùng với Ban chỉ huy và các cơ quan Sư đoàn chỉ huy quần thảo với địch ở Snoul và xung quanh Snoul ròng rã gần 4 tháng chiến đấu liên tục từ ngày 4 tháng 2 đến 30 tháng 5 năm 1971, Sư đoàn 5 tiêu diệt hoàn toàn căn cứ địch ở Snoul.

Trong mấy tháng quần thảo với địch, có những điều tôi nhớ mãi. Sau thời gian chỉ huy các trung đoàn chiến đấu đánh tiêu hao, tiêu diệt bộ phận địch, cuối cùng địch co cụm phòng thủ công sự tại Snoul với quy mô chiến đoàn có bộ binh, thiết giáp và pháo binh tại chỗ, thêm pháo binh và không quân chi viện. Địch lấy căn cứ Snoul làm bàn đạp để tấn công ra các hướng.

Ngày 17 tháng 3, anh Sáu Tấn (Chủ nhiệm trinh sát) đưa cho tôi một mẩu tin trinh sát kỹ thuật thu từ máy bay trực thăng trinh sát địch trao đổi với nhau: “Trảng này dài, trảng bên tròn, trảng này có hai cái liền nhau”. Qua mẩu tin, tôi và anh em tham mưu, trinh sát tra bản đồ thấy có trảng Phum Xăng cách sở chỉ huy sư đoàn 4 cây số về phía tây bắc và một trảng nhỏ cách sông Salon 2   cây số. Tôi và cơ quan nhận định ban đầu: “Nó đổ biệt kích thăm dò hoặc đổ chụp cấp tiểu đoàn phối hợp với lực lượng Snoul nống ra quấy rối ta phiá sau”.

Trưa ngày 18, tôi lên gặp Sư đoàn trưởng Bùi Thanh Vân (Út Liêm). Tuy tôi mới về, nhưng chúng tôi đã biết nhau qua tiếng tăm chiến đấu, nết làm việc chúng tôi rất ăn ý nhau. Tôi báo tin trinh sát thu được và nhận định của cơ quan. Anh Út nhất trí và có ý kiến:

-   Phải đề phòng nó đổ lớn. Song, nếu điều quân cấp trung đoàn thì phải họp Đảng ủy Sư đoàn. Tin thì chỉ là phán đoán. Mình điều cấp trung đoàn vào mà nó đổ chỉ 1, 2 tiều đội biệt kích thì chỉ huy kẹt. Vậy, Năm Hưng điều một tiểu đoàn của Trung đoàn 1 vào chuẩn bị đánh địch đổ trực thăng ở Phum Xăng, đồng thời báo động cho Tám Nỷ - Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 – sẵn sàng cơ động vào Phum Xăng khi có lệnh. Như vậy, khỏi họp đảng ủy sư đoàn, không sợ hớ và cũng kín kẽ khi địch đổ lớn.

Trong đêm 17, tôi điều động Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 1 vào Phum Xăng, tăng cường 1 đại đội 12,8 ly cho Tiểu đoàn. Từ Sở chỉ huy Sư đoàn mắc đường dây trực tiếp nói chuyện với anh Tám Luông và anh Ba Thà, Ban chỉ huy Tiểu đoàn. Tôi giao nhiệm vụ: “Phục kích đánh đổ bộ đường không vào sáng mai. Trước khi đổ, địch sẽ dọn bãi. Phục sát bìa trảng, công sự ngụy trang kín sẽ đỡ tổn thất. Khi địch đổ quân vừa chấm đất là nổ súng cả vào máy bay và bộ binh...”

Bảy giờ sáng ngày 18, Sở chỉ huy Sư đoàn được tin trinh sát kỹ thuật địch lên máy bay trực thăng từ Xuân Lộc trong lúc một tốp trực thăng vũ trang và quan sát đang bắn dọn bãi. Từ Sở chỉ huy Sư đoàn tôi cầm máy thông báo cho Tiểu đoàn 1: “Địch đang lên máy bay. Máy bay đã cất cánh. Tất cả 10 chiếc. Máy bay trực thăng đã đến Lộc Ninh. Chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu".

Quyết tâm của ta là sẽ đánh tiêu diệt cấp tiểu đoàn địch, chờ chúng đổ đợt thứ hai tiểu đoàn mới nổ súng. Theo lệnh của Sư đoàn trưởng Bùi Thanh Vân, tôi điều động Trung đoàn 1 còn lại cấp tốc hành quân về Phum Xăng.

9 giờ, địch đổ quân đợt thứ hai xuống. Tiểu đoàn 1 cấp tập bắn đồng loạt vào bãi đổ quân, đồng thời đánh bọn đang còn ngoài trảng. Ngay loạt đạn đầu tiên của Tiểu đoàn 1, hai chiếc trực thăng rơi tại trảng, một chiếc bị thương lượn vòng qua Sở chỉ huy Sư đoàn rồi rơi trong khu vực Sở chỉ huy Sư đoàn, gần chỗ ban pháo của Tạ Điển. Mười một tên ngụy chết hết nhưng sống sót hai tên Mỹ. Một tên ngoan cố, nổ súng vào anh em chiến sĩ ban pháo. Tức quá, anh em bắn chết tại chỗ. Một tên chạy lung tung trong khu vực Sở chỉ huy bị đồng chí Thắng (y sĩ) bắt sống.

Trung đoàn 1 kịp đưa hết đội hình vào chiến đấu.

Địch chết và bị thương kêu la dậy trảng. Số còn lại chạy dạt mở đường máu ra đường 13 về Snoul.

Sau hai giờ chiến đấu, trận Phum Xăng kết thúc. Ta diệt hàng trăm tên, mười ngày sau còn gặp những thây khô trong rừng. Ta bắt sống 23 tên, thu trên 100 súng và 5 máy PRC 25.

Cánh quân mở đường máu chạy ra lộ 13 bị Trung đoàn 3 do anh Tư Bường chỉ huy chặn ở Cát Đai, diệt một số.

Ý định đổ chụp vào vùng bắc Snoul để giải tỏa áp lực cho cụm chốt Snoul của địch bị bẻ gãy, địch ở Snoul sau trận này càng hoang mang.

Sau hơn ba tháng quần thảo tiêu hao, tiêu diệt bộ phận cánh quân thứ yếu của địch, cuối cùng chúng phải co cụm về Snoul. Chiến đoàn 48 ngụy tạo thành 4 cụm chốt liên hoàn, mỗi cụm chốt có một tiểu đoàn bộ binh, một chi đoàn thiết giáp, pháo 105 và cối 106,7 tạo thành một cụm phòng ngự vòng tròn.

Địch tin tưởng với cụm phòng ngự hoàn chỉnh ở Snoul, Việt cộng không thể công phá nổi. Chúng dùng chiến thuật tung lực lượng nhỏ kết hợp pháo, xe thiết giáp đánh phá ta. Nhưng Bộ chỉ huy Miền của ta nhận định: “Sau thời gian đánh vượt biên, tinh thần địch đang suy sụp. Địch co cụm và mong được lệnh rút về nước. Đây là thời cơ cho ta tiêu diệt lớn".

Sư đoàn 5 nhận nhiệm vụ tiêu diệt cứ điểm Snoul. Đảng ủy Sư đoàn họp thông qua nhiều phương án khác nhau. Có phương án vây ép, bóp lòi, tiêu diệt địch ngoài công sự tiến đến tiêu diệt toàn bộ trong công sự. Tôi thiên về phương án này.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: fantomasft trong 22 Tháng Mười, 2012, 08:50:25 AM
Một phương án khác: “Vây, lấn, tấn, triệt, diệt", ép dần vào, tiến đến tiêu diệt. Tôi phân tích: Phương án này phải phơi mình dưới bom đạn dài ngày, thương vong lớn.

Một đồng chí lãnh đạo có ý kiến:

- Đây là chiến thuật phải đánh để rút kinh nghiệm.

Vốn thẳng tính, tôi buông một câu:

- Nếu nói đánh để rút kinh nghiệm về chiến thuật thì tôi không có ý kiến. Nhưng thâm tâm tôi nghĩ, không người chỉ huy giỏi nào lại phung phí sinh mạng con người để rút kinh nghiệm cả.

Đáng buồn là hầu như cấp trên bao giờ cũng đúng, vẫn chọn thực hành chiến thuật “vây, lấn, tấn, triệt, diệt”.

Thực tế diễn ra các ngày sau đó thành hai chiến thuật kết hợp. Ta tiến hành công sự vây, lấn, tấn... đến ngày thứ 5 thì địch trong cứ điểm Snoul chịu không nổi. Chúng phải mở đường máu tháo chạy về hướng Lộc Ninh song không thoát khỏi, bị Trung đoàn 3 và Sư đoàn 7 tiêu diệt.

Ngày 30 tháng 5, ta quét sạch cụm địch ở Snoul.

*
*        *

Những ngày đầu mới về Sư đoàn 5, qua công tác, phục vụ chiến dịch, tôi được sự tin tưởng và thương mến của anh em cơ quan cũng như các trung đoàn và đơn vị trực thuộc, tình cảm ấy an ủi tôi nhiều lắm.

Anh Bùi Thanh Vân, Sư đoàn trưởng, tính cũng nóng nảy, bộc trực nhưng rất thương yêu đồng chí, đồng đội. Một hôm, anh trao đổi riêng với tôi:

-   Vây, lấn, tấn, triệt, diệt... là chiến thuật ngoài miền Trung làm rồi. Anh Hiền - Tràng vào phổ biến, tôi về phổ biến lại. Năm Hưng nói tôi một câu nặng quá. Về quan điểm con người...

Tôi trả lời anh:

-   Nhưng rồi ta có diệt nó được hết trong công sự đâu anh Út ! Nó cũng lòi ra thôi.

Từ đó về sau, anh và tôi rất ăn ý nhau. Anh tin tôi trong công tác tổ chức cũng như triển khai các nhiệm vụ chiến đâu, về các văn kiện chiến đấu.

Sau trận diệt địch ở Snoul, từ tháng 8 năm 1971, Sư đoàn hoạt động liên tục trên đường 13 và đường 7. Từ sông Salon đi Snoul, Kàchay, Mimốt, Anpúp, tiêu diệt nhiều đơn vị cấp đại đội, tiểu đoàn địch vượt biên giới lấn sang Campuchia.

Về Sư đoàn 5 có một điều sướng nhất là không đói như ở chiến trường trong nước!


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: fantomasft trong 22 Tháng Mười, 2012, 08:52:59 AM
THAM GIA CHIẾN DỊCH NGUYỄN HUỆ

Tháng 11 năm 1971, Bộ chỉ huy Miền quyết định mở chiến dịch Nguyễn Huệ. Sư đoàn nhận nhiệm vụ đánh trận then chốt: tiến công tiêu diệt cụm cứ điểm Lộc Ninh, mở đầu cho chiến dịch. Sư đoàn 9 đánh An Lộc và Sư đoàn 7 đánh viện Tàu Ô - Chơn Thành.

Đánh trận Lộc Ninh, sử dụng binh chủng hợp thành cấp sư đoàn có tăng cường, có thể đây là trận đánh lớn nhất ở miền Đông Nam Bộ lúc bấy giờ. Từ bàn đạp Kàchay - Mimốt, tôi tổ chức đoàn cán bộ đi nghiên cứu trên hai hướng chủ yếu, thứ yếu và bộ phận đánh viện. Ròng rã 3 tháng trời, mọi công tác chuẩn bị mới hoàn thành.

Ngày 28 tháng 3 năm 1972, quyết tâm chiến đấu của Sư đoàn được cấp trên phê duyệt. Sư đoàn được tăng cường Trung đoàn 3 của Sư đoàn 9, Trung đoàn 28 pháo mang vác, Trung đoàn 42 pháo xe kéo và một đại đội xe tăng 11 chiếc.

Địch trong chi khu Lộc Ninh có Chiến đoàn 9, Trung đoàn 1 thiết giáp án ngữ ở ngã ba Lộc Tấn, các khu biệt kích 81 và khu tiếp liệu của chúng.

Ngày 30 tháng 3 năm 1972, Sư đoàn xuất phát với 5 cánh quân, khí thế hừng hực với khẩu hiệu “Tiêu diệt gọn Chiến đoàn 9, đánh quỵ Sư đoàn 5 ngụy Sài Gòn, giải phóng Lộc Ninh, giành cờ quyết chiến, quyết thắng của Bộ chỉ huy Miền".


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: fantomasft trong 22 Tháng Mười, 2012, 09:09:46 AM
Ngày xuất quân, Sư đoàn trưởng Bùi Thanh Vân lại sốt cao, quân y Sư đoàn bộ phải tổ chức cáng đồng chí hành quân. Âm thầm, bí mật, quyết tâm cao, từ các căn cứ ở biên giới Campuchia các đơn vị hành quân về biên giới Việt Nam, tiếp cận mục tiêu.

Ngày 4 tháng 4, các cánh quân đã vào vị trí tập kết quy định. Trung đoàn 1 ở bắc Lộc Ninh, Trung đoàn 2 ở phía tây, Trung đoàn 3 vượt đường 13 về phía đông mục tiêu, Trung đoàn 3 Sư đoàn 9 đông nam ngã ba Lộc Tấn, đảm nhiệm đánh Trung đoàn 1 thiết giáp địch từ ngã ba Lộc Tấn chạy về chi viện cho Lộc Ninh. Trung đoàn 28 pháo và Trung đoàn 42 pháo cũng đều sẵn sàng ở vị trí tập kết. Thế trận bao vây cụm cứ điểm Lộc Ninh đã hình thành.

Thị trấn Lộc Ninh thuộc tỉnh Bình Long là thị trấn cửa ngõ biên giới Việt Nam - Campuchia nằm vị trí giao điểm giữa hai đường 13 và 14 đi Snoul và Bù Đốp, là cứ điểm kiên cố ngăn chặn ta từ biên giới về, là bàn đạp trung tâm chỉ huy đánh phá của địch đánh vào các căn cứ ta bên phía Campuchia. Chi khu Lộc Ninh với quân số 4.500 tên, 16 khẩu đại bác 105 đến 155 ly, có Trung đoàn 1 thiết giáp trực tiếp hỗ trợ, hệ thống công sự kiên cố với chiều dài 800 mét, rộng 200 mét, 7 lớp rào và mìn. Ngoài ra còn hệ thống 16 đồn bảo an trên các xã, lại thường xuyên có Tiểu đoàn 74 biệt động quân ở căn cứ Hoa Lư. Lộc Ninh được quân ngụy Sài Gòn gọi là “bức tường thép" của chúng ở biên giới Việt Nam - Campuchia.

Trong quá trình chúng tôi nghiên cứu mục tiêu, địch phán đoán có sự hiện diện của quân ta, nhưng chúng chủ quan cho rằng Việt cộng nếu có đánh chỉ lẻ tẻ vòng ngoài. Khi phát hiện các hướng đều có Việt cộng bèn tăng cường pháo kích vào các hướng nghi ngờ. Trung đoàn 1 thiết giáp ở ngã ba Lộc Tấn có một bộ phận đã lùng sục và đụng đầu với Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 3 của ta. Nhưng biết ra thì đã quá muộn.

4 giờ 30 sáng ngày 5 tháng 4, thế trận bao vây của Sư đoàn bộ binh 5 đã siết chặt. Tôi báo cáo với Sư đoàn trưởng. Sư đoàn xin phép tiền phương Bộ Chỉ huy Miền cho nổ súng và được chuẩn y.

Qua máy bộ đàm, tôi lệnh cho trận địa pháo Trung đoàn 28 nổ súng nhưng Trung đoàn bị sự cố bất thường ở trận địa không nổ súng được. Tôi bèn lệnh cho trận địa cối của Sư đoàn, đồng thời ra lệnh cho Trung đoàn 2 ép sát công sự vây lấn. Ở hướng đông, Trung đoàn 3 cũng ép sát cách rào 70 mét công sự, Trung đoàn 1 bao vây các đồn ở xã Lộc Bình và Trương Ngọc Hoa.

Sau 15 phút phát lệnh, các trận địa pháo của Trung đoàn 42 và 28 mới khai hỏa. Liên tục 30 phút, hỏa lực cối 160, 120 và 82 ly cùng hỏa tiễn các loại dồn dập bắn vào Sở chỉ huy Chiến đoàn 9 ngụy và các trận địa pháo của chúng. Cùng lúc, các trận địa cối 82, ĐKZ của Trung đoàn 2 và Trung đoàn 3 bắn quyết liệt vào các lô cốt của Chiến đoàn 9 yểm trợ cho các cánh vào mở cửa. Suốt ngày 5 tháng 4, Sở chỉ huy Sư đoàn sôi động chỉ huy các hướng vây ép, giữ cửa mở, tiêu diệt các mục tiêu phát hiện trong cứ điểm.

9 giờ 30 phút, Trung đoàn 1 thiết giáp ngụy từ ngã ba Lộc Tấn kéo vào giải vây cho Chi khu Lộc Ninh, lọt vào trận địa Trung đoàn 3 (Sư đoàn 9). Với quyết tâm ngăn chặn bảo đảm cho Sư đoàn 5 an toàn đánh Chi khu Lộc Ninh, Trung đoàn 3 (Sư đoàn 9) quần nhau với địch trong các lô cao su từ 11 giờ trưa đến 17 giờ chiều diệt 16 xe M113, buộc địch phải quay về ngã ba Lộc Tấn.

Nhằm bảo đảm cho Trung đoàn 2 và Trung đoàn 3 của Sư đoàn ép sát hàng rào và mở thêm 5 cửa mở mỗi hướng súng ĐKZ của hai trung đoàn diệt 6 lô cốt xung quanh. Trận địa pháo của Trung đoàn 28 và 42 bắn theo yêu cầu của Sư đoàn bắn chính xác vào Sở chỉ huy, các trận địa pháo địch khiến hệ thống pháo của chúng tê liệt.

Ngày 6 tháng 4, Trung đoàn 1 thiết giáp ngụy cùng Tiểu đoàn 74 và một đại đội bảo an từ Hoa Lư tổ chức hành quân về cứu nguy cho Chi khu Lộc Ninh. 8 giờ, tất cả lọt vào trận địa phục kích của Trung đoàn 3 (Sư đoàn 9). Sau 3 giờ chiến đấu, Trung đoàn 3 (Sư đoàn 9) đã tiêu diệt 2 chi đoàn xe thiết giáp và Tiểu đoàn 74, bắn cháy 56 xe, bắt sống 34 xe, bắt 130 tù binh...

Theo kế hoạch, sau 4 đến 5 ngày vây lấn, ta sẽ thực hành tấn công. Nhưng trước diễn biến chiến dịch thuận lợi, cơ quan tham mưu tổng hợp tình hình, báo cáo Đảng ủy Sư đoàn. Đảng ủy hạ quyết tâm: “Thực hành tấn công tiêu diệt cứ điểm Lộc Ninh sớm hơn dự kiến".

Được cấp trên chấp thuận, vào lúc 3 giờ ngày 7 tháng 4, Sư đoàn bộ binh 5 thực hành tấn công. Đến 14 giờ cùng ngày, Sư đoàn hoàn toàn làm chủ chi khu Lộc Ninh, bắt sống tên đại tá Nguyễn Công Vinh - Chi khu trưởng và nhiều tù binh. Năm ngày sau, ngày 12 tháng 4 năm 1972, tình hình vùng giải phóng Lộc Ninh đã ổn định.

Lần đầu tham gia một trận đánh lớn với quy mô sư đoàn tăng cường có binh chủng hợp thành, tôi đã hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu, xây dựng kế hoạch, tổ chức hợp đồng, tham gia chỉ huy hành quân và chỉ huy chiến đấu, có ý kiến chính xác trong những thời điểm quyết định giúp cho Sư đoàn trưởng hạ quyết tâm đúng đắn. Tôi thầm cảm ơn anh em trinh sát bộ binh, trinh sát kỹ thuật rất giỏi. Chủ nhiệm pháo binh Tạ Điển, Chủ nhiệm thông tin Hai Phối tổ chức mạng lưới thông tin tuyệt vời, cảm ơn Chủ nhiệm trinh sát Sáu Tấn và các trợ lý rất thông minh và dạn dày kinh nghiệm trong chiến đấu.

Chợt tôi nhớ câu: Một con én không làm nên mùa xuân.

Sau chiến thắng Lộc Ninh, Bộ Chỉ huy Sư đoàn 5 cùng bộ phân chủ chốt của cơ quan đi nghiên cứu chiến trường Dầu Tiếng, chuẩn bị cho Sư đoàn về hoạt động trên hướng này. Thường trực ở đơn vị chỉ còn Sư đoàn phó Dũng và tôi, các trung đoàn cũng chỉ còn cấp phó.

Trong lúc đó, Sư đoàn 9 đánh An Lộc chưa dứt điểm. Địch tăng cường lên chiếm nhiều mục tiêu, trong đó có Núi Gió để án ngữ phía đông An Lộc. Lệnh của tiền phương Bộ Tư lệnh Miền: Sư đoàn 5 tổ chức một trung đoàn xuống An Lộc tiêu diệt Núi Gió, bảo đảm an toàn sườn phía đông cho Sư đoàn 9.

Ngày 19 tháng 5, tôi trực tiếp giao nhiệm vụ cho Trung đoàn phó Trung đoàn 1 Ba Thà và cùng tổ chức hành quân xuống bắc sân bay Técních, gặp anh Ba Hồng, Tham mưu trưởng Sư đoàn 9 để nắm tình hình.

Sư đoàn 9 tăng cường cho Trung đoàn 1 bốn xe tăng và số anh em trinh sát bám Núi Gió. Tôi cùng Trung đoàn 1 triển khai nghiên cứu và triển khai lực lượng đi cùng đánh gấp, không để địch kịp xây công sự vững chắc. Ngay trong đêm, các mũi tiếp cận mục tiêu. Rạng sáng hôm sau, ngày 20 tháng 5, Trung đoàn tập kích Núi Gió.

Sau 30 phút cấp tập hỏa lực, xe tăng T54 vượt lên cùng bộ binh các Tiểu đoàn 1 và 3 đánh chiếm tiền duyên thọc nhanh vào trung tâm. Nhưng bọn lính dù ngoan cố chống cự. Xe tăng của ta bị cháy 2 chiếc, phải đánh dằng đai đến 5 giờ sáng vẫn chưa đứt điểm được.

Tôi bàn với Ban chỉ huy Trung đoàn củng cố tổ chức bộ binh, cối và ĐKZ chuyển sang đánh ban ngày, đưa tiểu đoàn 3 tiếp tục vào chiến đấu.

Cối và ĐKZ tiếp tục chế áp.

Ta đồng loạt tiến công nhiều hướng.

Đến 10 giờ, Trung đoàn 1 làm chủ hoàn toàn Núi Gió. Ta thu 6 đại bác 105 ly, 2 khẩu cối, bắt 14 tù binh.

Tuy giành thắng lợi trong trận tấn công Núi Gió, song tôi thấy thời cơ tiêu diệt An Lộc không còn. Đã gần một tháng rưỡi từ sau khi ta giải phóng Lộc Ninh, với An Lộc, Sư đoàn 9 đã để lỡ thời cơ.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: fantomasft trong 22 Tháng Mười, 2012, 09:24:38 AM
(http://i1337.photobucket.com/albums/o677/anhdn1988/10-22-20129-12-13AM_zpsf7d3d190.jpg)


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: fantomasft trong 22 Tháng Mười, 2012, 09:27:24 AM
XUỐNG ĐỒNG BẰNG

Trải qua hơn một tháng chiến đấu trong chiến dịch Nguyễn Huệ trên địa bàn Bình Long, tôi đã góp phần phục vụ cho Sư đoàn chiến đấu trên 20 trận lớn nhỏ, tiêu diệt Chiến đoàn 9, Trung đoàn 1 thiết giáp ngụy, đánh thiệt hại Tiểu đoàn 74 biệt động quân, 2 tiểu đoàn lính dù... loại khỏi vòng chiến đấu trên 5.000 tên địch, bắt sống trên 1.900 tù binh, thu nhiều xe, pháo và súng đạn. Điều quan trọng hơn cả là giải phóng hoàn toàn huyện Lộc Ninh, trở thành trung tâm vùng giải phóng Đông Nam Bộ với trên 35.000 dân.

Sau trận Núi Gió, đang ở sân bay Técnich thì tôi nhận được điện của anh Sáu Khâm từ tiền phương Bộ Tư lệnh Miền: “Sẵn ở sân bay Técnich Năm Hưng lấy số bản đồ hướng nam. Ngày thứ tôi, thứ Năm Hưng cộng lại, nhân đôi có mặt tại 301 nhận nhiệm vụ”.

Anh nói mật: thứ tôi (Sáu Khâm) là thứ 6, Năm Hưng là thứ 5, cộng lại là 11, nhân đôi thành 22, tức là ngày 22. Sẵn kho bản đồ của địch ở Técnich tôi lựa hết bản đồ Dầu Tiếng, Nam Bến Cát cho tới Trảng Bàng mang về. Vì tôi tính, hướng nam là hướng này, hơn nữa Sư đoàn trưởng đang đi chuẩn bị chiến trường hướng này.

Về đến Sở chỉ huy tiền phương 301 (Bộ Tư lệnh Miền), suy nghĩ ban đầu của tôi sai hết. Lệnh của Bộ Tư lệnh Miền: “Sư đoàn 5 thọc xuống đồng bằng Kiến Tường, Kiến Phong, Long An, Mỹ Tho... Phải hành quân gấp và bằng mọi phương tiện”.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: fantomasft trong 22 Tháng Mười, 2012, 09:43:43 AM
Không khỏi ngỡ ngàng! Trong lúc Bộ chỉ huy Sư đoàn còn ở dưới Dầu Tiếng, tôi tổ chức hành quân cấp tốc theo lệnh của Bộ Tư lệnh Miền.
 
Tiểu đoàn trinh sát xuất phát từ Kàchay theo đường 7 trưng dụng xe hơi, xe máy kéo rơmooc và xe hậu cần Miền tăng cường, hành quân suốt ngày đêm xuống Tànu, biên giới giáp tỉnh Svayriêng (Campuchia) tới Mộc Hóa - Kiến Tường, đoạn đường dài trên 200 km. Sau đó, tôi tổ chức cho Trung đoàn 2 và 3 cũng lần lượt hành quân về biên giới Kiến Tường bằng mọi phương tiện: xe lam, xe lôi, xe hơi, xe vận tải, Honda, đến Congpongtrapet, Chiphu tỉnh Svayriêng...

Giữa tháng 6 năm 1972, toàn đội hình chiến đấu của Sư đoàn 5 đã tập kết ở tỉnh Svayriêng sát biên giới Kiến Tường, Kiến Phong, Long An và tiến hành chuẩn bị mọi mặt: về tư tưởng, tổ chức, vật chất, nhất là xuồng để cơ động vì từ tháng 6 đến tháng 8, thọc xuống còn cơ động bộ được nhưng từ tháng 10 trở đi nước ngập, chỉ có thể cơ động nhỏ bằng xuồng. Trong lúc đội hình lớn của Sư đoàn 5 muốn xuống đồng bằng còn phải bao vây và kìm chế các đồn biên phòng của địch như Long Khốt, Gò Măng Đa ở Vĩnh Hưng.

Bước vào đợt thọc sâu xuống đồng bằng từ tháng 6 đến tháng 8, Trung đoàn 2 mở đợt hoạt động biên giới, mở màn đánh Long Khốt, pháo kích Gò Măng  Đa. Đơn vị tên lửa vác vai A72 phục kích bắn máy bay trinh sát ở biên giới. Trung đoàn 3 thọc xuống vùng 4 Kiến Tường. Trung đoàn 1 thọc thẳng xuống nam lộ 1, Vĩnh Kim - Mỹ Tho. Chỉ huy Sư đoàn và Sư đoàn bộ xuống đứng ở vùng 4 Kiến Tường, phối hợp cùng lực lượng địa phương khu 8 mở rộng vùng Cái Bè, mở rộng mảng biên giới Hồng Ngự. Các trận điển hình như diệt đồn Thày Yến, diệt địch đóng ở chùa Phật Đá, kinh Nguyễn Văn Tiếp... Trên tuyến biên giới, Trung đoàn 2 giữ phía sau, đánh bọn Lonnon đạt hiệu suất cao, bảo đảm hậu phương của Sư đoàn.

Từ “anh lính rừng già” làm "lính đồng bằng”, thiếu đạn dược và lương thực, ăn ở đi lại chỉ có đồng lầy trong lúc pháo kết hợp bộ binh địch đánh phá ác liệt, hoàn cảnh mới với không ít khó khăn, gian khổ mới. Tuy nhiên, Trung đoàn 1 cũng như Trung đoàn 3 cùng tiền phương chỉ huy của Sư đoàn vẫn kiên cường bám trụ, cùng Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Kiến Tường, Mỹ Tho chiến đấu quyết liệt.

Những ngày chiến đấu ở vùng sâu là những ngày Sư đoàn 5 bộ binh bị tổn thất lớn. Trong những ngày này, tôi và các anh trong cơ quan tham mưu Sư đoàn xuống từng đơn vị để tìm ra phương thức chiến đấu tốt nhằm hạn chế tổn thất cho đơn vị.

Ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định Pari được ký kết. Mỹ cam kết tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, rút toàn bộ quân Mỹ và chư hầu về nước, không can thiệp vào nội bộ miền Nam Việt Nam.

Được tin Hiệp định ký kết, tôi vẫn bán tín, bán nghi. Mỹ rất xảo quyệt, chúng không dễ dàng bỏ cuộc. Tuy nhiên, Mỹ rút quân là chuyện có thật, chẳng đặng đừng. Nhưng chúng lại tăng cường viện trợ tiền bạc vũ khí cho ngụy để Việt Nam hóa chiến tranh. Ngụy đang hùng hổ hô hào bình định, bung ra hòng chiếm lại các vùng giải phóng của ta, cố sức xóa thế da beo, thế xen kẽ giữa ta và địch.

Tôi đã cùng Bộ chỉ huy Sư đoàn xoay sở chỉ đạo Trung đoàn 3 và Trung đoàn l đánh trả địch trên khắp chiến trường vùng 4 Kiến Tường, chùa Phật Đá, Cai Lậy, kinh Dương Vân Dương, kinh Bà Trần, kinh 12... giữ vững vùng giải phóng.

Sau một năm dừng chân ở đồng bằng, tháng 6 năm 1973, sư đoàn được lệnh Bộ Tư lệnh Miền hành quân về Đồng Pan tỉnh Tây Ninh. Hành quân xuống đồng bằng đã khó, hành quân băng Đổng Tháp Mười ngược về Tây Ninh càng khó hơn.

Với tư cách là cơ quan tham mưu, tôi nêu các vấn đề cần phải giải quyết ngay như:

- Phải hết sức bí mật với địch đã đành, phải bí mật với cả dân nữa.

- Xuống đồng bằng phải hành quân thần tốc 2 đêm: nay về, chỉ được đi trong 1 đêm.

- Xuống, hành quân cấp tiểu đoàn, về phải hành quân cấp sư đoàn thiếu.

- Các mặt bảo đảm phải hết sức chu đáo, chặt chẽ, nhất là bảo đảm phòng không và chặn địch các hướng khi lộ đội hình.

Thật táo bạo, mạo hiểm khi đội hình Sư đoàn băng qua cánh đồng Đồng Tháp Mười từ vùng 4 Kiến Tường về biên giới Campuchia. Nhưng không có cách nào khác hay hơn, tốt hơn.

Bộ chỉ huy Sư đoàn giao cho thủ trưởng và cơ quan tham mưu làm kế hoạch cụ thể và chỉ đạo thực hiện. Việc đầu tiên, để nghi binh, tôi cho một tiểu đoàn của Trung đoàn 3 do Trung đoàn phó Tám Luông chỉ huy vận tải từ biên giới Campuchia xuống khu 8, liên tục như vậy hơn nửa tháng để cho địch thấy là lực lượng vận tải không đáng kể, chúng sẽ không chú ý đến đường đi. Kế đến, hợp đồng với lực lượng địa phương kế hoạch ém hết các đồn bốt. Đúng 21 giờ đêm, đơn vị hành quân phải có mặt ở tất cả mục tiêu, sẵn sàng đánh phá hoại để nghi binh, thu hút địch.

Khi bộ đội ở đồng bằng, cá nhiều, đơn vị nào cũng có hầm cá dự trữ, để nghi binh trong dân. Ngày hành quân, phải gửi hầm cá cho dân, không được cho, không được bán, chỉ nói vài bữa nữa sẽ trở về lấy.

Toàn tiểu đoàn trinh sát bí mật hành quân trước, chốt hết các đầu mối trọng điểm.

Ngày hành quân, toàn bộ lực lượng tên lửa vác vai - loại bắn máy bay trực thăng - đều trong tư thế sẵn sàng chiến đấu đi trong đội hình Sư đoàn.

Công tác chuẩn bị chỉ trong vòng hơn 20 ngày, kể cả nghi binh vận tải.

16 giờ ngày 25 tháng 6, toàn Sư đoàn xuất phát. Khoảng chập tối là rời khỏi vị trí đóng quân, từ vùng 4 Kiến Tường băng đồng, hàng ba, hàng tư lội bưng hướng về biên giới Tà Nu (Campuchia), đi liên tục không được nghỉ; đói ăn cơm vắt, khát vừa đi vừa uống; người khỏe mang giúp cho người yếu.

Tất cả đều nỗ lực, cứ như thế Sư đoàn rầm rập hành quân. Sau 16 tiếng đồng hồ hành quân liên tục, khoảng 8 giờ sáng hôm sau, đội hình Sư đoàn đặt chân đến biên giới Campuchia - Việt Nam an toàn.

Đối với người làm công tác tham mưu như tôi, cuộc hành quân này là một kỷ niệm khó quên.

Về Đồng Pan, Tây Ninh, một vùng giải phóng rộng sau chiến dịch Nguyễn Huệ, Sư đoàn như hổ về rừng, bắt tay ngay vào việc củng cố tổ chức, bổ sung quân số, bổ sung trang bị; ổn định tư tưởng đơn vị; tiến hành xây dựng doanh trại; chuẩn bị cho đợt huấn luyện mới.

Cuối năm 1973, Sư đoàn đã có chỗ ăn ở tươm tất, với hơn 70 căn nhà ở, 5 hội trường cấp trung đoàn và sư đoàn, 3 sân bóng đá, 16 sân bóng chuyền, nhiều thao trường chiến thuật và các công trình sinh hoạt khác.

Không khí sư đoàn thật sôi nổi.

...Nhớ lại lúc bất đầu chuẩn bị chiến dịch Nguyễn Huệ, tôi đang họp Đảng ủy ở Kàchay, Mimốt để thông qua kế hoạch tiêu diệt Chi khu Lộc Ninh thì anh Hai Hồng Lâm từ T1 về họp ở Bộ Tư lệnh Miền dẫn vợ tôi theo lên. Anh đưa vợ tôi vào thẳng cơ quan Sở chỉ huy Sư đoàn đang họp. Chào hỏi mọi người xong, anh nói:
- Năm Hưng nay là lính của Miền (R) rồi, khó về lại Quân khu 7 (T1). Tôi đưa vợ Năm Hưng lên. Các đồng chí bố trí công tác cho gần Năm Hưng.

Thật bất ngờ với tôi, và càng thấm thìa nghĩa tình của anh.

Mấy ngày vợ tôi ở lại Sư đoàn, vợ chồng có dịp tâm sự với nhau. Tôi rất thương cảm cho vợ phải gian truân chịu đựng sự ác liệt của bom đạn, đói vì địch phong tỏa, bụng mang thai đứa con thứ 2 của chúng tôi (cháu Nguyễn Nam Hải bây giờ), gạo không có ăn, phải ăn lá bép, măng rừng... thức ăn không có, mang bầu xuống suối bắt được con cua, con nhái, bỏ vào lon sữa bò kho lên với mấy hạt muối (muối cũng hiếm) để ăn dưỡng thai!... Sanh xong, không có một hạt gạo. Anh Tư Mậu (Chính trị viên Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 4) gửi cho 3 lon bột mỳ còn viết thư dặn: "Bột mỳ mốc, chị cho cháu ăn coi chừng phá bụng!...”.

Chiến trường miền Đông gian khổ và ác liệt vậy đó... Nhưng rồi với tính tự trọng hão - đúng hơn vì sĩ diện - tôi gặp anh Út Tùng, trưởng đoàn hậu cần 230 của Miền đề nghị anh nhận vợ tôi về Đoàn hậu cần Miền mà không để công tác ở Sư đoàn, út Tùng, anh Nguyễn Phương Tùng là người anh, người đồng chí dẫn dắt tôi từ buổi ban đầu ở Chi đội 25. Anh hiện nghỉ hưu ở cư xá Bắc Hải, đã ngoài 80 tuổi.
Anh Út Tùng cũng là người đầy nghĩa tình như anh Hồng Lâm. Anh nói:

- Được. Cứ giao anh lo.

Vợ tôi được anh út cử về làm Phó trạm xá của Đoàn. Cũng thời gian này, vợ tôi cấn thai con gái út của chúng tôi bây giờ. Cháu sinh vào tháng 11 năm 1973.

Khi Sư đoàn rút quân từ đồng bằng về Đồng Pan, chỉ đến lúc ấy tôi mới xin cho vợ tôi về Quân y Sư đoàn để dễ bề chăm sóc con nhỏ. Vợ tôi về Quân y Sư đoàn từ đó cho đến kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: fantomasft trong 22 Tháng Mười, 2012, 09:52:31 AM
NGƯỢC TRƯỜNG SƠN RA BẮC

Tháng 5 năm 1974, trong lúc Sư đoàn đang sôi nổi xây dựng lực lượng huấn luyện, ngày đi họp, đi huấn luyện chiều tối tôi mới về ẵm con, ăn cơm với vợ. Con gái út tôi được năm tháng, rất kháu khỉnh. Trong chiến tranh gian khổ, từ khi cưới nhau đến đứa con thứ ba tôi mới có hạnh phúc đầm ấm này. Hai đứa đầu, vợ tôi sinh, tự lo nuôi rồi gửi về bà ngoại. Đến lần này tôi mới có hạnh phúc được lo cho vợ con, hy vọng bù lại hai lần trước vợ tôi sinh vắng chồng, lại trong chiến tranh ác liệt.

Thời gian chăm lo cho vợ con không được bao lâu. Tháng 7, cấp trên quyết định gửi tôi ra miền Bắc học bổ túc cao cấp quân sự khóa 1. Nhận quyết định, về ẵm con, nói với vợ mà tôi chưa hết bần thần. Nhưng, với tinh thần đảng viên và trách nhiệm của cán bộ, tôi không thể thoái thác, phải nói cho vợ tôi biết.

Tuyết cũng là một đảng viên nên rất vững vàng, an ủi tôi:

- Anh yên tâm đi học. Em ở đây có tập thể đơn vị. Các anh ở đây sẽ giúp em lúc khó khăn. Bây giờ đã sướng hơn hai lần sinh trước nhiều.

Tháng 7, tôi lên đường ngược Trường Sơn ra Bắc. Lần vượt Trường Sơn này nhanh và không gian khổ như lần trước. Tôi lên xe tải từ đầu trong của đường Hồ Chí Minh tại Lộc Ninh vừa giải phóng, chạy liên tục 12 ngày đêm tới Hà Nội.
Đường rừng bụi mịt mù, có bom đánh phá, song vẫn sướng hơn trăm lần lúc tôi lội bộ từ Bắc vào Nam năm 1961.

Trở lại Hà Nội sau 13 năm. Tôi có thời gian đi thăm lại cảnh cũ. Đến hồ Hoàn Kiếm, ra Hồ Tây, lên hồ Bảy Mẫu, nay đã trở thành công viên Thống Nhất, đi tản bộ trên các phố phường. Hà Nội mới trải qua cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ, phố Khâm Thiên bị bom B52, cảnh tàn phá vẫn còn dấu tích. Hà Nội xem ra vẫn khắc khổ, chưa có xây dựng gì mới so với trước khi tôi về Nam.

Tôi cũng có cơ hội đến thăm lại các anh lớn như anh Năm Hà (em trai Thiếu tướng Dương Văn Dương, hy sinh hồi chống Pháp); anh Tám Lầu (nguyên Trưởng ban quân nhu tài chính Trung đoàn 397), gia đình ông Tám Mạnh (một gia đình lớn, tất cả con trai con gái và dâu, rể đều là dân kháng chiến - ở 3 Phùng Hưng, anh Hoàng Kim Chung (người đứng ra kết nạp tôi vào Đảng thời đánh Pháp) cùng vợ con anh (tại 35 Hàng Nón), chị Tư Điểm (chị kết nghĩa của tôi thời còn liên chi Bình Xuyên), nay công tác ở Viện quân y 108)...

Các anh chị đều mừng cho tôi. Tình cảm các anh chị dành cho tôi vẫn đầy ắp. Ngày ra đi rời khỏi miền Bắc, tôi là một thanh niên mang quân hàm trung úy mới 26 tuổi, nay trở ra đã là một trung tá 40 tuổi. Đối với các anh chị, tôi vẫn như đứa trẻ năm nào. Nghĩa tình ấy làm tôi thêm ấm lòng.

Trò chuyện với các anh chị mới thấy hết sự can trường của đồng bào miền Bắc, hậu phương lớn của cả nước. Qua cuộc sống của các anh chị lại càng rõ. Các anh chị vẫn sống đạm bạc bằng tem phiếu bao cấp. Có phiếu mà có lúc vẫn không mua được gì vì phải xếp hàng quá dài, đến lượt mình thì hàng đã hết...

Từ tháng 8, tôi bắt đầu học. Tôi vốn hiếu học nên rất cố gắng. trong các kì sát hạch, kiểm tra đều đạt điểm cao. Tôi cũng có thời gian rảnh rỗi để viết thư về Nam cho vợ. Những lá thư ấy đến giờ vợ tôi vẫn còn giữ.

Đó là một chút tình cảm riêng tư của tôi.



Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: fantomasft trong 22 Tháng Mười, 2012, 10:02:43 AM
TRỞ VỀ, THAM GIA CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH.

Đến tháng Giêng, tháng Hai năm 1975, tình hình chiến sự miền Nam diễn ra khẩn trương. Tháng Ba, ta mở chiến dịch Tây Nguyên. Tôi và một số đồng chí đang học suy đoán: Có thể diễn ra đánh lớn. Có thể đây là trận cuối cùng đánh cho ngụy nhào vì Mỹ đã rút rồi, khó trở lại.

Chúng tôi không yên tâm nổi để học tập nữa. Tôi và một số đồng chí muốn xin về song không dám báo cáo.

Hằng đêm, chúng tôi phân công nhau ra trạm khách Bộ Quốc phòng mong được gặp các đồng chí Bộ Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam ra để đề đạt nguyện vọng.

May quá, khoảng cuối tháng 3-1975, anh Tư Chi (Thượng tướng Trần Văn Trà) đến trạm khách để làm việc trong Quân ủy, tôi tranh thủ xin gặp anh. Mới thấy tôi vào, anh hồ hởi hỏi ngay:

- Năm Hưng làm gì ở đây?

Tôi trình bày với anh rằng số anh em đang học bổ túc quân sự nôn nóng quá, xin về.

Anh nói liền:

- Học gì nữa! Tôi báo cáo Bộ Quốc phòng xin cho các đồng chí về phụ với anh em...

Ngay lúc đó, anh điện xin Quân ủy và được trả lời ngay:

- Đồng ý cho các đổng chí ở Sư đoàn 5 và Sư đoàn 9 về.

Anh Tư Chi vui vẻ báo tin cho tôi

- Quân ủy đồng ý rồi. Năm Hưng về báo với anh em chuẩn bị đi ngay trong đêm nay.

Tôi mừng như mở cờ trong bụng, xách xe đạp chạy thẳng về Học viện. Trước hết, tôi chạy lại phòng anh Út Thới. Báo tin xong, qua phòng Năm Tích. Thấy Năm Tích đang mặc quần cụt áo thun, tôi nói:

- Chuẩn bị đồ đạc, xuống hành chính thanh toán, về Nam.

Năm Tích ở Sư đoàn 9 là người nôn nóng về Nam nhất, nhưng anh lại sợ tôi nói chơi, trả lời xuôi xị:

- Tôi không thèm về Nam, tôi ở học.

Tôi bỏ về phòng lo chuẩn bị đồ đạc. Chỉ lát sau, Năm Tích chạy qua, thấy tôi đang chuẩn bị tư trang thật, anh bàng hoàng hỏi:

- Thật hả Năm Hưng?

- Không thật thì giả sao! về chuẩn bị đi, 23 giờ lên Phòng tài vụ thanh toán.

Lúc đó anh mới chạy về chuẩn bị.

Cùng trong đêm ấy, Văn phòng Quân ủy điện cho Học viện Quân sự danh sách cho về Nam ngay. Trong danh sách đó có tôi, anh Út Thới (Nguyễn Thới Bưng, sau là Trung tướng, Thứ trưởng, Bộ Quốc phòng), anh Năm Tích (Sư đoàn 9), anh Hai Phê... còn phần lớn phải ở lại học...

23 giờ, những người có tên trong danh sách được trở về Nam lên phòng tài vụ thanh toán. Anh nào tâm trạng cũng phấn khởi, hồ hởi. Cả đêm, chúng tôi không ai ngủ được. Người được đi thì vui vẻ. Những đồng chí phải ở lại buồn ra mặt.

Sáng sớm, chúng tôi đã tập trung ở trạm 66 Bộ Quốc phòng. Toàn bộ trang bị thay đổi hết: quần áo gọn nhẹ, lương khô, dao găm, súng ngắn, võng, tăng...

11 giờ, chúng tôi được đưa sang sân bay Gia Lâm, lên máy bay cánh quạt, bay vào sân bay Đồng Hới, sang máy bay trực thăng đưa lên đường Trường Sơn, đáp xuống trạm nào đó tới nay tôi không còn nhớ.

Đêm hôm đó, đoàn tôi có 12 người do anh Út Thới làm Trưởng đoàn. Sáng hôm sau, ngày 5 hay 6 tháng 4 gì đó, đoàn được cấp ba xe U oát làm phương tiện. Trên đường về Nam gặp quân ta đang hành quân rầm rập. Xe chúng tôi nhỏ, chạy nhanh, cũng thần tốc len lỏi vượt cả bộ binh, pháo binh, xe tăng mà chạy. Chúng tôi chạy ngày, có đêm nghỉ, đêm không, do cung đường quyết định. Khó nhất là chen lấn với pháo binh và xe tăng để vượt lên đi trước.

Ngồi trên xe tôi thầm tính, mình vượt Trường Sơn lần này là lần thứ tư. Lần đầu vào năm 1952 gian khổ từ Nam ra Bắc. Lần thứ hai năm 1961, vừa gian khổ vừa khó khăn từ Bắc vào Nam; Lần thứ ba năm 1973, đi nhanh nhưng ác liệt từ Nam ra Bắc. Và lần này... ít gian khố, ít ác liệt mà đầy niềm vui chiến thắng...

Sáng 12 tháng 4, chúng tôi đến Lộc Ninh. Anh Út Thới vào liên hệ với Bộ chỉ huy Miền, ở đây, chúng tôi chia tay. Anh Út Thới về làm Trưởng phòng tác chiến Bộ Tham mưu Miền, Năm Tích về làm Sư đoàn phó Sư đoàn 9. Tôi nhận quyết định về làm Sư đoàn phó, Tham mưu trưởng Sư đoàn 5.

Các đơn vị đều đã triển khai các hướng chuẩn bị tấn công Sài Gòn. Tôi mừng quá, chỉ chút nữa là mình không có mặt ở trận quyết chiến chiến lược này nếu như không gặp anh Tư Chi. Khởi đầu chống xâm lược mình có mặt. Nay kết thúc chiến tranh vẫn có mặt, dù có hy sinh trong trận này cũng hả dạ!

Sáng ngày 13, Bộ chỉ huy Miền điều một xe U oát khác cấp tốc đưa tôi về Sở chỉ huy Sư đoàn bộ binh 5 Từ Lộc Ninh, xe chạy theo đường quân sự làm gấp qua một phà trên sông Vàm Cỏ, chạy băng đồng Bàu Oét về biên giới Việt Nam - Campuchia. Chập tối thì xe đến hậu cứ Sư đoàn do anh Tư Bường (Tham mưu phó) phụ trách. Hậu cứ Sư đoàn 5 đêm qua mới bị bọn phản động Pôn Pốt ném lựu đạn, mọi người đang căng thẳng canh phòng và đều ở gần công sự, sẵn sàng chiến đấu. Xe tôi bật đèn pha chạy thẳng vào chỗ anh Tư Bường. Mọi người thấy tôi về đều ngỡ ngàng, mừng rỡ vì nghĩ tôi còn phải học một năm nữa. Câu đầu tiên, Tư Bường chào tôi:

- Chị Năm cũng ở đây.

Vợ tôi cũng bất ngờ và vui mừng không tả xiết.

Tôi điện báo ngay cho Sở chỉ huy Sư đoàn biết tôi đã về. Và ngày mai, tôi sẽ có mặt ở Sở chỉ huy.

Ngày 14, anh Tư Bường tổ chức liên lạc và vệ binh đưa tôi băng đồng Long An, đi suốt ngày, chỗ lội bưng, chỗ đi xuồng. Năm giờ chiều, tôi tới Sở chỉ huy ở rừng tràm Tà Yến, cách thị xã Tân An bốn kilômét.

Sau khi trao đổi tình hình nhiệm vụ với Ban chỉ huy Sư đoàn (Năm Thược - Sư đoàn trưởng, Tám Hòa - Chính ủy, Ba Đối - Sư đoàn phó), tôi gặp anh Hai Hiệu (cơ quan tác chiến), anh Sáu Tấn (quân báo) và anh Năm Hưng (thông tin - trùng tên với tôi).

Tất cả Sở chỉ huy rất mừng khi thấy tôi về vì anh em đã quen với tôi từ nếp nghĩ đến tác phong làm việc. 11 giờ đêm, tôi điện xuống các trung đoàn để chào, cũng để nắm tình hình. Các trung đoàn trưởng Tám Nỷ (Trung đoàn 1), Quân (Trung đoàn 2), Tám Luông (Trung đoàn 3) đều mừng rỡ làm tôi cảm thấy ấm áp vô cùng.

Từ ngày 15, tôi bắt tay vào cùng chỉ huy với Ban chỉ huy Sư đoàn.

Nằm trong đội hình của Đoàn 232 (tương đương cấp quân đoàn), Sư đoàn 5 được tăng cường một trung đội pháo 105 ly với 2 khẩu và một đại đội xe tăng lội nước (12 xe), có nhiệm vụ bóc gỡ hết đồn bốt vòng ngoài của tỉnh Long An, áp sát vào đường 4, chia cắt chiến dịch trên đường 4, đoạn Bến Lức - Long An và đoạn Long An - ngã ba Trung Lương, không cho địch từ Sài Gòn chạy về miền Tây và không cho địch từ miền Tây kéo về chi viện cho Sài Gòn. Khi có lệnh, lập tức tấn công tiêu diệt chi khu Bến Lức và tiểu khu Long An, giải phóng toàn tỉnh Long An.

Cùng trong ngày 15 tháng 4, chúng tôi nhận được thông báo của Bộ Chỉ huy Đoàn 232: “Bộ Chính trị đã thông qua chiến dịch giải phóng Sài Gòn mang tên Chiến dịch Hồ Chí Minh”.

Một đợt thông báo công tác tư tưởng của Sư đoàn xuống các đơn vị, đơn vị động viên quyết tâm đánh trận quyết định giải phóng Long An, góp sức vào giải phóng Sài Gòn, giải phóng miền Nam. Toàn đơn vị phấn khởi, sẵn sàng lên đường làm nhiệm vụ.

Ngày 20 tháng 4, sau nhiều ngày tác chiến ác liệt, Trung đoàn 3 đã gỡ bỏ hết 6 đồn bốt lẻ dọc theo sông Vàm Cỏ, Tắc Gừa rồi vượt sông ém gần đường 4. Trung đoàn 2 đã đến rừng tràm sát sân bay Long An. Trung đoàn 1 cũng đã vào vị trí tập kết tại ngã ba Trung Lương. Gian khổ khó khăn là vấn đề 2 khẩu pháo 105 ly, anh em đã tháo rời ra để chở đi bằng xuồng, song còn một bộ phận nặng nhất khoảng 600 kg không tháo được phải... khiêng để lên ghe chuyển dần xuống. Xe thiết giáp vẫn ở biên giới Campuchia - Việt Nam.

Ngày 26 tháng 4, Bộ chỉ huy Sư đoàn ra lệnh Trung đoàn 3 tấn công chi khu Bến Lức, chiếm đường 4. Tôi dặn anh Tám Luông:

- Bất kỳ giá nào cũng phải chiếm được đường 4 nghe Tám Luông.

- Anh yên chí. Tác phong Tám Luông là vậy.

Tôi nói với Tám Nỷ, Trung đoàn 1:

- Ngã ba Trung Lương địch sẽ dồn nhiều. Anh Tám tổ chức kỹ, đánh chắc, anh Tám à!

- Sư đoàn yên tâm. Tôi đã cho trinh sát bám rồi.

Tôi nói với Quân, Trung đoàn 2:

- Anh cho cán bộ và trinh sát bám tiểu khu Long An, tổ chức chiến đấu chu đáo, chờ pháo binh, khi có lệnh Sư đoàn thì tấn công.

Quân trả lời:

- Trung đoàn đã cho bám kỹ. Một bộ phận đã vượt đường sang phía đối diện rồi.

Tôi đôn đốc Tạ Điển (Chủ nhiệm pháo) kiểm tra xem 2 khẩu pháo và 100 viên đạn tới đâu. Và ra lệnh cho đại đội xe tăng lội nước tiến về hướng sông Vàm Cỏ.

Đêm 27 tháng 4, 2 khẩu pháo 105 ly với đầy đủ cơ số đạn đã chiếm lĩnh trận địa gần sân bay Long An. 11 giờ đêm, xe tăng đến sông Vàm Cỏ, đang qua sông gặp tình huống bất ngờ. Một đoàn tàu chiến của căn cứ hải quân Bến Lức từ phía trên chạy về căn cứ Bến Lức trong lúc xe tăng lội nước của ta đã lội cặp sông.

Tôi đoán, có thể tàu địch đã phát hiện được quân ta nhưng hoảng quá vì thấy quân ta đông, lại có xe tăng nên chúng chạy thẳng. Khi xe tăng lên bờ, tôi ra lệnh xe tăng chạy cặp bờ bắn chặn đoàn tàu và bộ binh Trung đoàn 3 đã bắt hết quân lính của 3 tàu chiến địch trong đêm.

Rạng sáng 28, Sư đoàn ra lệnh cho Trung đoàn 3 vây chặt và tấn công căn cứ Bến Lức, chiếm đường 4. Trung đoàn 1 chiếm ngã ba Trung Lương. Pháo binh bắn vào tiểu khu Tân An. Xe tăng phối thuộc Trung đoàn 2 tấn công tiểu khu.

Sức tấn công như vũ bão của quân ta trên các hướng tạo điều kiện thuận lợi cho Sư đoàn. Trong ngày 28, Sư đoàn đã chia cắt đường 4. Hết ngày 29, Trung đoàn 2 đánh chiếm và làm chủ tiểu khu Long An. Sáng 30, Sở chỉ huy Sư đoàn 5 đã di chuyển về căn cứ hải quân Bến Lức của quân ngụy Sài Gòn.

Sư đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ chia cắt chiến trường trên đường 4, chặn đứng và cắt đứt đường 4, tiêu diệt chi khu Bến Lức và tiểu khu Long An. Cùng với lực lượng tại chỗ, Sư đoàn đã giải phóng hoàn toàn tỉnh Long An.

Gần 30 năm theo cách mạng, gắn bó với cách mạng, lần này là lần tôi vui mừng tột đỉnh, nhưng cũng không khỏi chạnh lòng thoảng qua một nỗi buồn man mác. Để có ngày nay, bao nhiêu đồng chí, đồng đội đã ngã xuống. Nước mắt tôi tràn mi, rơi xuống, không biết là buồn hay vui nữa !


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: fantomasft trong 22 Tháng Mười, 2012, 10:12:06 AM
TẠI BỘ THAM MƯU QUÂN KHU 7

Ngày 6 tháng 5 năm 1975, Sư đoàn 5 đã ổn định đội hình đóng quân dọc đường 4 từ Bến Lức xuống ngã ba Trung Lương. Tôi dùng xe Honda 90 chở vợ tôi và 2 xe chở 4 chiến sĩ trinh sát đi về làng An Phú Tây, quê tôi. Len lỏi trong rừng người đổ xuống đường mừng chiến thắng, đến ngã ba đầu cầu Bình Điền, giữa đám đông đồng bào, tôi hỏi lớn:

- Ở đây, có ai ở làng An Phú Tây không?

Một anh trạc tuổi tôi chen đến đứng sát tôi:

- Có phải anh là anh Trịnh?

Tôi ngạc nhiên:

- Sao anh hỏi vậy?

Anh trả lời:

- Tôi đã kiểm người An Phú Tây hết rồi. Ai đi bên nào, ai còn, ai mất, tôi biết hết. Chỉ còn thiếu mỗi mình anh, không biết ra sao. Nay thấy anh hỏi người làng An Phú Tây, mừng quá, tôi đoán chắc là anh Trịnh...

- Đúng tôi rồi. Anh là ai?

- Tôi, Mười Bộ đây. Nhớ chưa?

Té ra là anh Mười, bạn của anh ba tôi và tôi hồi nhỏ. Tôi và anh ôm nhau rất cảm động. Sau đó, anh cho địa chỉ cậu Sáu (là em mẹ tôi) và cha tôi.

Tôi len lỏi trong rừng người xuống ngã ba Rạch Cát, qua đò, lên chỗ tiệm nước chú Hùng cũ, nơi đây đã thay đổi quá nhiều. Tôi hỏi đến nhà cậu Sáu. Vừa thấy tôi ông đã nhận ra ngay, mừng rơi nước mắt ông nói:

- Con còn sống về thăm cậu là quý rồi.

Sau khi hỏi thăm bà con thân tộc, tôi dồn ba em trinh sát đi một xe, còn một xe chở cậu dẫn đường ra cầu Nhị Thiên Đường để gặp cha tôi.

Nhà cha tôi ở gần cầu Mật, sát bờ sông. Nhà thì một nửa trên bờ, nửa trên sông, lợp tôn. Khi cậu đưa tôi vào nhà mọi người ngơ ngác, không ai nhận ra ai. Cậu Sáu dắt tôi đến trước một ông già:

- Đây là cha mày !

Lúc tôi đi, ông 42 tuổi, nay ông đã 72 tuổi. Đầu ông cạo trọc, người gầy ốm, trông già khọm. Và cậu Sáu chỉ vào tôi: “Đây là con anh, thằng Trịnh đó !"

Ông nhìn tôi, tôi nhìn ông, không ai khóc. Có lẽ sau một thời gian dài, cuộc chiến tranh dài đến mức cha con khi gặp nhau không còn nhận ra nhau nữa.

Trở về đơn vị, các anh trong Ban chỉ huy Sư đoàn cũng tranh thủ thời gian về thăm gia đình. Anh Năm Thược về Bắc, anh Tám Hòa về Bến Tre, anh Ba Đối về Quảng Nam. Thường trực Sư đoàn chỉ còn tôi nên không thể về thăm cha mẹ vợ và các con tôi được. Tôi nói vợ tôi đi trước nhưng Tuyết không chịu, nhất quyết chờ tôi.

Sau hơn nửa tháng, gần cuối tháng 5 vợ chồng tôi mới về xã Hòa Long, huyện Châu Thành, tỉnh Bà Rịa thăm mẹ và các con.

Xe chạy vào đến cửa nhà, mọi người đều mừng rỡ. Mẹ vợ tôi mắng yêu:

- Dữ ác không ! Chúng nó không nhớ con nó, nay mới chịu về !

Tôi phải thanh minh để gia đình thông cảm. Lúc này, các con tôi đứa lớn đã sáu tuổi, đứa kế bốn tuổi và bé Hà hai tuổi vừa biết đi. Bà ngoại gọi chúng lại:

- Đây là ba má các con đó.

Vợ chồng tôi đến ẵm các con, chúng chạy hết. Hùng và Hải chạy ra vườn, đứng ngó vào trân trân. Hà chạy lại, ôm chặt bà ngoại.

Từ lâu, nhằm che mắt địch, các con tôi đều gọi dì năm chúng là mẹ. Vì còn quá nhỏ, chúng đâu có biết tôi và Tuyết mới đích thực là cha mẹ chúng. Tôi thương các con quá và nghĩ đến tuổi thơ của mình. Còn Tuyết tủi thân quá, đôi mắt người mẹ lặng lẽ nhòa đi trong dòng lệ.

*
*   *

Tháng 10 năm 1975. tôi nhận quyết định về làm Trưởng phòng tác chiến Bộ Tham mưu Quân khu 7. Từ lâu, toàn ở đơn vị tác chiến, nay về cơ quan mới, hầu hết là những sĩ quan “đầu có sạn” từ tác chiến Miền trong đánh Mỹ vẫn còn đây, tôi lường trước những khó khăn sẽ gặp.

Tôi về Bộ Tham mưu, các anh vốn biết tôi là Sư đoàn phó, Tham mưu trưởng Sư đoàn 5 nhưng vẫn thầm xem “giò cẳng anh này ra sao”.

Trong lúc đó, hưởng ứng phong trào xây dựng sau hòa bình, trong cơ quan và dọc các đường nội bộ Bộ tham mưu la liệt khẩu hiệu “Tất cả cho sản xuất”. Ngay hội trường Phòng tác chiến cũng căng khẩu hiệu ấy ở chỗ trang trọng nhất.

Sau khi nắm tình hình Phòng, tôi bắt đầu chấn chỉnh tổ chức các ban: Chiến trường, Tổng hợp, Văn thư, Đồ bản, và củng cố nghiêm ngặt chế độ trực ban. Tôi đả thông tư tưởng các sĩ quan của Phòng:

- Ta đã chiến thắng, giải phóng miền Nam nhưng tàn quân ngụy vẫn còn lén lút hoạt động quấy rối, phá hoại nhiều nơi, nhất là vùng La Ngà. Pôn Pốt đã xâm phạm biên giới Tây Ninh, xâm phạm đảo Phú Quốc, Thổ Chu giết hại đồng bào ta. Nhiệm vụ của Phòng tác chiến là theo dõi sát mọi hoạt động của địch, đề đạt phương án diệt địch. Không phải nhiệm vụ trọng tâm là sản xuất. Tất cả khẩu hiệu về sản xuất trong Phòng tác chiến đều phải dẹp hết.

Tôi cho gỡ hết khẩu hiệu sản xuất và thay bằng một khẩu hiệu hướng dẫn tác phong công tác của người sĩ quan tác chiến: Khẩn trương - Thận trọng – Tỉ mỉ - Chuẩn xác - Dám Nghĩ - Dám làm - Dám chịu trách nhiệm.

Tôi cho vẽ luôn bằng sơn và căng khẩu hiệu mới này lên chỗ trang trọng nhất của hội trường Phòng tác chiến.

Đây là cái “sốc” đầu tiên của Đảng ủy Bộ tham mưu đối với tôi. Anh Năm Bích rất hiểu và thương tôi. Là Phó Bí thư Đảng ủy, anh xuống Phòng tác chiến gặp tôi và hỏi:

- Tất cả cho sản xuất là chủ trương lúc này, sao Năm Hưng cho dẹp hết khẩu hiệu ấy?

Tôi báo cáo với anh:

- Tình hình còn phức tạp. Trên biên giới, Pôn Pốt đã giết hại đồng bào ta. Chưa biết tình hình rồi sẽ dẫn tới đâu. Nhiệm vụ trung tâm của Phòng tác chiến là theo dõi, tổng hợp tình hình hoạt động của địch, đề nghị phương án tác chiến đúng và phù hợp chứ không có sản xuất. Anh cho phép tôi chịu trách nhiệm trước Đảng ủy.

Anh im lặng ra về. Khi Chi bộ Phòng tác chiến bầu cấp ủy, tôi rớt. Tôi không nao núng và báo cáo với chi bộ:

- Lãnh đạo là quyền của cấp ủy. Nhưng việc của chính quyền, của Phòng tác chiến, mọi sĩ quan phải chấp hành theo nhiệm vụ tôi phân công.

Không khí nội bộ cơ quan có hơi căng thẳng, song diễn biến nhiệm vụ lại phù hợp với ý định của tôi. Từ cuối tháng 12, tàn quân địch ở ven sông La Ngà nổi dậy quấy rối. Ta phải dùng trực thăng đổ quân xuống các cù lao tiêu diệt chúng. Pôn Pốt không chỉ xâm phạm biên giới Tây Ninh liên tục mà còn mở rộng lên biên giới Sông Bé, kéo dài xuống Long An. Sĩ quan tác chiến bù đầu bù cổ, chạy bở hơi tai.

Hai tháng sau, Chi ủy đề nghị bổ sung tôi vào cấp ủy phòng và Bộ tham mưu. Tập thể đã thừa nhận tôi đúng.

Từ năm 1976 đến đầu năm 1977, Phòng tác chiến Quân khu là đầu mối tổng hợp tin tức, hoạt động rất tất bật. Pôn Pốt xâm phạm biên giới, đánh cả đồn biên phòng Xa Mát, đồn biên phòng Bến Cầu, giết hại đồng bào ta ở Tân Biên. Lực lượng Sư đoàn 5, Quân đoàn 4 phải lên “be bờ” ở biên giới Sông Bé và Tây Ninh.

Phòng tác chiến phân công cán bộ đi khắp nơi để nắm tình hình và chuyển mệnh lệnh. Tại cơ quan phòng, đèn sáng thâu đêm. Cán bộ chiến trường với cây bút chì xanh đỏ đánh dấu trên bản đồ theo dõi diễn biến tình hình. Trực ban nhận tin khắp các tỉnh trong Quân khu, đọc điện cơ yếu, ghi nhật ký tình hình tác chiến và tổn thất của ta... Sĩ quan tổng hợp, từ 3 giờ sáng phải ngồi tổng hợp tình hình trong 24 giờ, đến 5 giờ phải giao bản tổng hợp cho tôi để tôi xem lại. 7 giờ sáng, tôi báo cáo trong giao ban với Bộ Tư lệnh Quân khu.

Để hoàn thành nhiệm vụ, không đêm nào tôi ngủ đủ giấc. Mọi báo cáo về trực ban tôi xem hết, các điện cơ yếu đều phải đọc hết, tra bản đồ và xác định vị trí bên ta, bên đất Campuchia.. Khi sĩ quan tổng hợp đưa báo cáo tổng hợp tình hình 24 giờ qua, tôi đọc qua đã biết đúng sai. Có hôm đọc xong, không còn thời gian sửa chữa, lên họp giao ban Bộ Tư lệnh, tay cầm báo cáo nhưng tôi thuộc lòng tình hình nên đã thêm vào những cái không có trong báo cáo.

Thời đó, tác phong công tác của Tư lệnh Quân khu Thượng tướng Trần Văn Trà (anh Tư Chi) rất nghiêm trình bày vấn đề cực kỳ chuẩn xác, chỉ bản đồ cũng thật chính xác. Anh không dùng gậy quay tròn khu vực trên bản đồ. Tôi thích người chỉ huy như vậy, giúp cho cấp dưới rèn luyện tác phong chuẩn xác của mình.

Thời gian tôi làm Trưởng phòng Tác chiến Quân khu là thời gian để lại trong tôi nhiều điều đáng nhớ. Tôi đã xây dựng được sự đoàn kết trong cơ quan, vừa hoàn thành nhiệm vụ, vừa được anh em tin tưởng, xóa đi cái “xem xem” của anh em khi tôi mới về Phòng.



Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: fantomasft trong 22 Tháng Mười, 2012, 10:19:50 AM
SƯ ĐOÀN 303 ĐÁNH PÔN PỐT

Tháng 8 năm 1977, Thượng tướng Trần Văn Trà được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, anh Lê Đức Anh làm Tư lệnh Quân khu.

Ngày 19 tháng 8 năm 1978, Quân khu quyết định thành lập Sư đoàn 303 gồm các đơn vị đang sản xuất ở Phước Long tập hợp lại. Sáng hôm ấy, giao ban Bộ Tư lệnh bàn việc củng cố gấp Sư đoàn 303 để nhanh chóng đưa vào chiến đấu trên hướng Mimốt, anh Lê Đức Anh hỏi Phòng cán bộ Cục Chính trị:

- Sư đoàn trưởng là ai?

- Báo cáo chưa có. Phòng cán bộ trả lời.

Anh Lê Đức Anh nói luôn:

- Sư đoàn mới không có Sư đoàn trưởng không được. Đồng chí Năm Hưng bàn giao Phòng tác chiến để ra làm Sư đoàn trưởng Sư đoàn 303. Phòng cán bộ làm bản đề nghị gửi Cục cán bộ và Ban Bí thư Trung ương rồi đưa tôi ký!

Lúc này, cán bộ cấp sư đoàn do Ban Bí thư quản lý, việc quyết định bổ nhiệm Sư đoàn trưởng do Thủ tướng Chính phủ ký. Quyết định Sư đoàn trưởng của tôi do Thủ tướng ký.

Sau giao ban, buổi chiều về Phòng tác chiến, tôi bàn giao công việc cho anh Bảy Răng (Phó phòng). Tôi báo anh Nguyễn Thanh Hùng (Bảy Hùng) - Trưởng phòng Quân lực cho tôi xin một xe Jeep và hai vệ binh. Ngày 20, tôi lên Đồng Nai liên hệ chọn địa điểm ở Long Bình để tập hợp Sư đoàn bộ và triển khai các địa điểm ở Vũng Tàu tập kết Trung đoàn 33, Trung đoàn 316 và Sông Bé tập kết Trung đoàn 1 (155).

Ngày 20 tháng 8 năm 1978, tôi chính thức nhận nhiệm vụ Sư đoàn trưởng. Ban chỉ huy Sư đoàn có anh Bảy Dũng làm Chính ủy; anh Phương làm Sư đoàn phó, anh Kiểm làm Tham mưu trưởng. Toàn anh em quen biết nhau từ trước nên việc triển khai công tác tập kết Sư đoàn từ Phước Long về, việc củng cố, bổ sung trang bị vũ khí cũng như việc nhanh chóng hoàn thành sẵn sàng chiến đấu của Sư đoàn đã diễn ra suôn sẻ, vì anh em dễ thông cảm nhau, ai cũng chung lo.

Về việc củng cố Sư đoàn, tôi vừa suy ngẫm, sau Chiến dịch Hồ Chí Minh, ta đã say sưa, thỏa mãn với thắng lợi và cho ra quân ồ ạt. Không chỉ mất cảnh giác từ chiến lược đến chiến dịch mà còn ảnh hưởng tới chiến thuật và chiến đấu xộc xệch. Tư tưởng hòa bình chủ nghĩa tệ hại. Thế nhưng, bây giờ nói với ai, than với ai? Đành phải sửa sai bằng cách dồn hết mọi nỗ lực để nhanh chóng củng cố Sư đoàn đưa vào chiến đấu.

Rạng ngày 22, Sư đoàn nhận lệnh tấn công chiếm đường 7, Mimốt, Trung đoàn 316 đánh chiếm bắc Kàchay lên dốc ba cầu, đường đi Snoul.

Ngày 25, Sư đoàn đã ổn định đội hình đứng ở nam - bắc đường 7 từ Mimốt đến bắc Kàchay, bắt đầu có kế hoạch từng đơn vị đánh bung ra diệt Pôn pốt, giải phóng và cứu đói nhân dân Campuchia.

Tháng 9 năm 1978, Sư đoàn 303 cùng Sư đoàn 5 đánh chiếm Snoul. Sư đoàn 303 phát triển phía tây Snoul và Sư đoàn 5 phía đông Snoul, thực hiện truy lùng Pôn Pốt, giải phóng và cứu đói nhân dân Campuchia trên một vùng rộng lớn tỉnh Congpongcham.

Ngày 21 tháng 12 năm 1978, Sư đoàn nhận nhiệm vụ tấn công sông Mê Kông, giải phóng tỉnh Kratié, đánh cặp theo sông Mê Kông xuống Salon, quét địch ở Chầm Ka An Đông, vượt sông Mê Kông phát triển về hướng Congpongthom. Toàn Sư đoàn đã vượt sông Mê Kông đứng từ Congpongcham lên ngã ba Congpongthom.

Từ đây, Sư đoàn đảm nhận đánh địch trên tỉnh Congpongcham, đi sâu vào căn cứ của Pôn Pốt ở Nui Chi, sông Chi Nít.

Cuộc chiến đấu lùng sục, tiêu hao, tiêu diệt bộ phận địch đầy gian khổ và hy sinh. Trước kia, ta bám đánh du kích, đánh nhỏ với Mỹ. Nay, Pôn Pốt cũng bám đánh du kích, đánh nhỏ với ta, không ngày nào và không đơn vị nào trong ngày không nổ súng với địch. Trang bị quân Pôn Pốt khá đầy đủ. Đánh nhỏ, song chúng có cả súng cối. B40, B41 bắn cháy xe tăng ta. Đồng chí Nhỏ, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 316, đi xe Jeep có xe tăng đi đầu bị quân Pôn Pốt dùng B40 bắn du kích, hy sinh gần Congpongthom. Đi trên các tuyến đường phải an ninh lộ trình rồi mới cho xe chạy.

Sư đoàn chỉ đạo, hàng ngày các trung đoàn đánh liên tục vào rừng căn cứ của Pôn Pốt và cứu đói cho nhân dân Campuchia tại các nơi trung đoàn đứng chân.

Ngày 12 tháng Giêng năm 1979 cùng toàn chiến trường Campuchia, Sư đoàn 303 đã góp phần vào giải phóng đất nước Campuchia.

Ở sát biên giới, nhưng nhân dân Campuchia bị bọn Pôn Pốt sát hại thảm khốc mà lúc đầu ta không hay biết. Chúng gom dân lập từng công xã, đàn ông ở theo đàn ông, đàn bà ở theo đàn bà, đi sản xuất tập thể có lính Pốn Pốt gác, mặc quần áo chỉ một màu đen, phụ nữ cắt tóc ngắn tới vai, không có chợ, không xài tiền, ăn tập thể, không ai được đốt lửa riêng, cãi lại giết ngay, giết bằng đập đầu... Một cảnh diệt chủng thảm khốc hãi hùng chỉ khi quân ta sang Campuchia giúp bạn, ta mới dần dần tường tận.

*

Qua nắm tình hình, thấy nhân dân Campuchia vẫn rất sùng bái Xihanúc. Bị đàn áp tồi tệ như vậy nhưng nhân dân Campuchia vẫn giữ hình Xihanúc bỏ vào chai chôn xuống đất giấu. Lòng tin của dân Campuchia đối với Xihanúc như nhân dân Việt Nam tin tưởng và quý trọng Bác Hồ. Nhân dân Campuchia rất căm thù Pôn Pốt.

Tháng 4 năm 1979, đại diện Trung ương ở phía Nam - anh Lê Đức Thọ - mở cuộc họp các chỉ huy chiến trường từ cấp sư đoàn trở lên nhằm tổng hợp, quán triệt tình hình, giải quyết khó khăn và phổ biến nhiệm vụ sắp tới tại T78 thành phố Hồ Chí Minh.

Nhân nghỉ giải lao ra hành lang hội trường, tôi đến gặp anh Sáu Thọ, chân thành phát biểu nhận thức của mình về tình hình Campuchia:

- Thưa chú Sáu! Qua nắm tình hình bên Campuchia tôi thấy có vấn đề này cần lưu tâm. Nhân dân Campuchia rất căm thù Pôn Pốt và càng ngưỡng mộ, tin tưởng, tôn sùng Xihanúc. Không khác gì nhân dân Việt Nam ta tôn kính Bác Hồ. Đề nghị chú nghiên cứu sử dụng Xihanúc làm Chủ tịch Mặt trận gì đó ở Campuchia thì rất có lợi cho cách mạng Campuchia...

Anh Sáu Thọ tạt cho tôi một gáo nước lạnh:

- Lúc này mà đồng chí còn có tư tưởng sử dụng Xihanúc?

Khi vào hội nghị, không chỉ đích danh tôi nhưng anh phân tích ý kiến của tôi là mất lập trường.

Tôi đau lắm. Mình sống chính con người mình, nghĩ rằng đề xuất ấy là sự mềm dẻo chính trị, là sách lược và sách lược ấy phù hợp với tình hình phát triển cách mạng Campuchia nên mới có ý kiến thế. Không ngờ cái miệng nó kiện cái thân mình!

Tuy bị phê phán, song tôi vẫn nghĩ ý kiến đề xuất của mình là chỉ có lợi cho cách mạng Campuchia. Tôi nhớ lại thuở ban đầu dựng nước, Bác Hồ với chính sách đại đoàn kết dân tộc đã thu hút bao nhiêu nhân sĩ, trí thức những Bùi Bằng Đoàn, Vi Văn Định, những Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Văn Huyên... Sai, đúng của tôi thế nào, thời gian sẽ trả lời...

Và thực tế sau này đã chứng minh gợi ý của tôi với anh Sáu Thọ về sử dụng Xihanúc, gợi ý ấy chẳng những đã không bị gạt bỏ mà còn trở thành chủ trương của Trung ương. Đề xuất ấy của tôi rõ ràng không phải là vô bổ.

Chủ trương sử dụng Xihanúc của Trung ương vô hình chung lại minh oan cho việc “mất lập trường” của tôi như anh Sáu Thọ đã phân tích!



Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: fantomasft trong 22 Tháng Mười, 2012, 10:33:21 AM
SƯ ĐOÀN 303 "BẮC TIẾN"

Tháng 10 năm 1979, tôi đang cùng đơn vị hoạt động vùng sâu Congpongcham, dọc theo sông Chi Nít lên Nui Chi, cách căn cứ Sư đoàn ở Cham Ka Lơ trên 30 kilômét trong rừng sâu thì nhận được điện của Bộ Tư lệnh Quân khu về căn cứ Sư đoàn nhận nhiệm vụ.

Không thể ra bằng đường bộ được, tôi đề nghị tiền phương Bộ tổng tham mưu cho trực thăng vào đón. Về đến căn cứ Sư đoàn, tôi thấy có các đồng chí Bộ Tư lệnh Quân khu: đồng chí Bảy Cống (Đồng Văn Cống), Chín Như (Võ Minh Như) và các cơ quan quân khu. Cả đại diện Cục vận tải Tổng cục Hậu cần cũng có mặt. Tôi đoán có thể cơ động lên Siêm Rệp vì phương án này đã có và tôi đã đi trinh sát vùng Ăngco – Siêm Rệp rồi.

Vào họp nhận nhiệm vụ, mọi ý nghĩ ban đầu đều đảo lộn, bất ngờ đến ngỡ ngàng. Sư đoàn 303 được bổ sung đầy đủ xe pháo, tổ chức hành quân cấp sư đoàn từ Congpongcham ra Hà Nam Ninh, Quân khu 3. Sau 15 ngày đến Hà Nam Ninh, phải xây dựng xong phương án đánh quân địch đổ bộ đường biển lên Hải Hậu (Nam Định), cùng Quân đoàn 1 giữ vững giải Tam Điệp. Trước mắt, bắt liên lạc với Quân khu 3 để được giúp đỡ địa bàn đóng quân. Sau khi đứng chân xong sẽ nằm trong đội hình Quân đoàn 9 Bộ Quốc phòng.

Sư đoàn gấp rút thu quân, củng cố tổ chức, tiến hành công tác chính trị, lãnh đạo tư tưởng, tổ chức hành quân.

Bảo đảm vận chuyển từ Congpongcham về Long Bình - Biên Hòa do Trung đoàn vận tải ô tô Quân khu phụ trách Từ Long Bình - Biên Hòa hành quân bằng tàu hỏa ra Nam Định do Cục vận tải Tổng cục Hậu cần phụ trách. Chậm nhất sau một tháng, toàn Sư đoàn phải có mặt ở Hà Nam Ninh.

Nhiệm vụ đột xuất, bất ngờ, mới mẻ - hành quân bằng tàu hỏa - suốt quá trình công tác tôi chưa gặp. Sư đoàn tiến hành mọi công tác tổ chức. Họp Đảng ủy Sư đoàn mở rộng ra nghị quyết lãnh đạo, tiến hành giao nhiệm vụ cho cơ quan và đơn vị, cử tiền trạm về Long Bình và tiền trạm ra Hà Nam Ninh.

Khó khăn nhất là lãnh đạo tư tưởng. Sư đoàn có 7.500 quân thì có 3.500 anh em cán bộ, chiến sĩ phía Nam. Việc đưa quân ra Bắc gặp trở ngại lớn về tư tưởng, phải làm thế nào để anh em thông suốt.

Sư đoàn tiến hành thu quân, chấn chỉnh tổ chức, làm công tác lãnh đạo tư tưởng tại Campuchia, đồng thời cử tiền trạm chuẩn bị hai nơi - Long Bình, Biên Hòa và Hà Nam Ninh đến 15 tháng 11 thì cơ bản hoàn thành.
Ngày 20 tháng 11, Sư đoàn phát lệnh hành quân. Đơn vị tổ chức thành từng khối, mỗi khối 600 quân đi đủ hai vagông xe lửa và bốn vagông chở giường, phản và các phương tiện, dụng cụ vật chất khác. Xe pháo kèm theo đi vagông trần.

Chỉ huy sư đoàn điều hành chỉ huy hành quân ở Long Bình. Bộ phận tiền trạm đặt tại ga Gôi Nam Định tiếp nhận. Hai đầu liên lạc chặt chẽ với nhau.

Ngày 25 tháng 11, tôi về Sở chỉ huy ở Long Bình điều hành công việc. Ở đây, cứ chiều, tôi về nhà là sáng lại đi. Tôi chưa dám nói cho vợ tôi biết tôi phải ra Bắc.

Tuyết thấy tôi sao lần này gần nhà lâu quá, cả hai tuần vẫn chưa thấy lên lại Campuchia bèn hỏi. Tôi trả lời quấy quá:

- Còn công việc ở Quân khu.

Vẫn chưa dám nói thật.

Khoảng năm ngày sau nữa, tôi đành vào Bộ Tư lệnh cứu viện các anh ra nói chuyện với vợ tôi về nhiệm vụ của tôi. Cục chính trị cử anh Mười Ngà, Trưởng phòng Cán bộ, là bạn của vợ chồng tôi. Anh ra, phân trần với vợ tôi:

- Cả sư đoàn ra Bắc, Năm Hưng là Sư đoàn trưởng không đi sao được! Không đi, cán bộ dễ nản lòng, lính hoang mang dao động có thể xảy ra đào ngũ... Chị ở nhà có khó khăn, tập thể và cơ quan không bỏ chị đâu.

Sau khi nghe Mười Ngà nói, vợ tôi nín lặng hồi lâu. Trấn tĩnh trở lại, Tuyết mới trả lời:

- Nhiệm vụ, anh cứ yên tâm mà đi. Em sẽ cố gắng như hồi đánh Mỹ vậy. Cảm ơn anh Mười.

Đã bốn năm sau ngày giải phóng miền Nam, vợ con tôi vẫn chưa thực sự sống có hòa bình như nhiều gia đình bình thường khác. Tôi xót xa thay cho Tuyết, song không thể làm gì hơn được.

Cuối tháng 11 năm 1979, sau gần một tháng Sư đoàn hành quân, Quân khu tổ chức một cuộc họp có quân - dân - chính - Đảng trong Quân khu để tiễn đưa Sư đoàn đi chiến đấu ở phía Bắc. Sư đoàn có Ban chỉ huy Sư đoàn và đại điện các trung đoàn. Cuộc tiễn đưa bí mật làm êm lòng người đi. Lần đầu tiên tôi thấy anh Năm Ngà xúc động, ôm ghì lấy tôi không nói được gì mà nước mắt ròng ròng. Tôi cũng khóc.

Các tỉnh tặng cho Sư đoàn vô số vật chất. Tây Ninh, 15 tấn đường. Long An, 5 tấn muối tiêu ngon. Thành phố Hồ Chí Minh. 40.000 gói mì tôm. Đồng Nai, quần áo và khăn mặt.

Cuốn phim tiễn đưa này còn giữ bí mật đến nay.

Ngày 20 tháng 12, toàn Sư đoàn đã ổn định đội hình ở Hà Nam Ninh. Sư đoàn bộ ở xã Nam Vân, Trung đoàn 33 ở Vụ Bản, Trung đoàn pháo ở Núi Gôi, Trung đoàn 316 ở Nam Ninh.

Trong quá trình hành quân trên 100 người đào ngũ, nhưng sau một tháng lại có mặt đông đủ. Biết ra đây là chuẩn bị chiến đấu bảo vệ đất nước thì không đồng chí nào bỏ cuộc, dù là một chiến sĩ bình thường. Không kịp từ giã gia đình, những đồng chí nhẹ dạ bỏ về thăm nhà vài ngày sau đó đã trở lại với đơn vị.

Sư đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ hành quân đường dài một cách xuất sắc, không xảy ra một tai nạn nào.

Sư đoàn hành quân ra Bắc là một sư đoàn mạnh; được trang bị xe chỉ huy, xe hậu cần, xe kéo pháo mặt đất, xe kéo cao xạ đầy đủ. Xe con dùng cho chỉ huy đến cấp trung đoàn, trong lúc ngoài Bắc chỉ cấp sư đoàn mới có. Vật chất mang theo đủ dùng trong 3 tháng. Xăng dầu 37.000 lít, bột ngọt ăn 3 tháng, cơ số thuốc cho chiến thương đầy đủ, phản nằm mỗi người một chiếc.

Ra đóng quân nhà dân, song bộ đội ít gặp khó khăn. Chỉ có điều, do thay đổi khí hậu, lạ nước nên bệnh sốt rét tái phát và tăng cao. Cơ quan Quân khu xuống xem Sư đoàn có yêu cầu gì, tôi chỉ đề nghị giúp giải quyết nạn sốt rét.

Sau 15 ngày ổn định đội hình, Sư đoàn báo cáo quyết tâm chống đổ bộ đường biên lên Hải Hậu với Bộ Tư lệnh Quân đoàn 9.

Gần 20 năm tôi mới trở lại đóng quân trong vùng nông thôn miền Bắc. Lần này khác xa những năm 1960 trở về trước. Đời sống nhân dân no ấm, không còn cảnh ngủ ổ rơm, ăn cơm trong xó bếp với nước cải chua. Bây giờ bữa cơm có thịt, cá; tối ngủ có mùng mền, có nhà có cả nệm. Không còn ai mặc rách, mặc vá.

Tôi mừng cho dân. Bộ đội không phải cứu đói cho trẻ nhỏ như 20 năm về trước.

Nhằm cải thiện đời sống bộ đội - cũng là bản chất của Quân đội nhân dân, là đội quân sản xuất khi chưa có giặc - tôi và cơ quan hậu cần vào Thanh Hóa xin đất thuộc vùng rừng núi Như Xuân đưa bộ đội lên sản xuất.

Cứ như thế: đều đặn học tập, lao động, sản xuất và sẵn sàng chiến đấu, các đơn vị của Sư đoàn đứng trên địa bàn của mình còn làm tốt công tác dân vận trong quan hệ với dân.

Cuối năm 1982, Trung ương họp đánh giá lại tình hình và có chủ trương đẩy mạnh 3 mũi nhọn kinh tế: dầu khí, trồng cao su và sản xuất lúa.

Quân khu 3 được giao nhiệm vụ đưa từ 3.000 đến 5.000 người vào miền Đông Nam Bộ trồng cao su. Chớp thời cơ, tôi đề nghị với đồng chí Nguyễn Quyết - Tư lệnh Quân khu - cho tôi tổ chức 2 trung đoàn anh em chiến sĩ và cán bộ miền Nam trở lại Phước Long trồng cao su, Sư đoàn sẽ tuyển quân miền Bắc bù vào quân số sư đoàn. Bộ Tư lệnh Quân khu 3 xét thấy đề nghị của tôi là hợp lý hợp tình, hoàn toàn đồng ý. Sư đoàn gom hết cán bộ, chiến sĩ gốc miền Nam tổ chức thành 2 Trung đoàn cho hành quân bằng xe lửa trở lại Phước Long.

Hai trung đoàn đi rồi, Sư đoàn trở nên xộc xệch. Khẩu đội trưởng pháo, y tá, tiểu đội trưởng, lái xe... thiếu nát hết. Tôi động viên cơ quan mở lớp y tá, lớp tiểu đội trưởng, khẩu đội trưởng và gửi đi học lái xe ở Quân khu và Bộ.

Toàn sư đoàn thành trường học. Phải đào tạo cấp tốc để sau Tết 1983, Sư đoàn nhận quân mới có đủ chỉ huy. Tháng 2 năm 1983, Sư đoàn nhận tân binh vào, số cán bộ cơ sở chỉ huy đã đào tạo kịp, Sư đoàn đủ quân số, vẫn sẵn sàng chiến đấu.

Toàn Sư đoàn chỉ còn mình tôi - Sư đoàn trưởng - là người miền Nam. Tháng 4 năm 1983, Bộ Quốc phòng quyết định để tôi bàn giao nhiệm vụ cho Sư đoàn trưởng mới. Tôi nhận nhiệm vụ Tham mưu phó, Trưởng phòng Tác chiến Quân khu 7.

Nhớ lại chuyện nhà. Tôi đi, vợ tôi phải chăn nuôi heo tăng gia để đảm bảo cuộc sống gia đình trong lúc các con tôi còn nhỏ đều đang đi học. Tuyết lại ốm đau luôn vì sức khỏe sa sút, các thứ bệnh có dịp phát ra. Nhưng vợ tôi đầy nghị lực, thư từ không bao giờ kêu khó, không bao giờ than thở. Thư nào cũng nhắc tôi yên tâm với công việc.

Cuối năm 1982, tôi nhận được một bức điện ký tên Phương gọi tôi về ký tên bảo đảm cho vợ mổ. Tôi hơi lúng túng, Sư đoàn đang sẵn sàng chiến đấu làm sao đi? Tôi điện về Bộ Tham mưu Quân khu 7 nhờ anh Năm Bích, Tham mưu phó vào bệnh viện ký thay tôi. Ban cán bộ Sư đoàn báo cáo tình hình vợ tôi lên Phòng cán bộ Quân khu và Quân đoàn 9. Các anh điện xuống cho phép tôi về nuôi vợ mổ.

Tôi đáp máy bay về. Chỉ gặp các con ở nhà. Vào Bệnh viện 7A của Quân khu thì vợ tôi đã chuyển qua Bệnh viện Hùng Vương. Tuyết bị u xơ tử cung, nếu không mổ sớm dễ chuyển thành ung thư.

Thật may, gặp bác sĩ Bình, Viện trưởng cùng là bạn chiến đấu cũ, anh đích thân đứng ra mổ cho Tuyết (bác sĩ Bình khi lập Sư đoàn 5 anh là bác sĩ của Sư đoàn. Sau được đi học chuyên về phụ khoa ở Hunggari và Pháp 8 năm, khi giải phóng Sài Gòn anh tiếp quản và làm Viện trưởng Bệnh viện Hùng Vương. Rủi cho anh năm 1987, anh bị điện giật chết!). Tôi vô cùng cảm ơn anh.

Tôi về, được biết thêm trong thời gian tôi đi vắng, cán bộ các phòng trong Quân khu, các anh thủ trưởng Bộ Tham mưu Quân khu đã hết sức lo lắng, giúp đỡ vợ con tôi.

Tuyết đau, vào Bệnh viện 7A không cần giấy giới thiệu. Nghe nói ngoài miền Trung có người chữa giỏi, các anh cho xe, cho người đưa Tuyết đi.

Các bác sĩ, y tá Bệnh viện 7A đều hết lòng chăm lo cho Tuyết mỗi đợt vào trị bệnh.

Đó là tình cảm ruột liền ruột, xương liền xương của Quân khu 7, quân khu của miền Đông Nam Bộ, vùng đất tôi đã gắn bó như keo sơn từ thuở thiếu thời vào bộ đội...

...Sau hơn 3 năm trở ra Bắc trong hòa bình, tôi trở về làm Tham mưu phó, Trưởng phòng tác chiến Quân khu 7.

Về đây, với cảnh cũ người xưa, với bao nghĩa tình thân thương. Từ Tham mưu trưởng - anh út Liêm (Bùi Thanh Vân), Tham mưu phó - anh Năm Bích, anh út Đặng, anh Năm Đàng... đến các trưởng phòng đều là những đồng chí, những người bạn thân thiết đã quen nhau nếp nghĩ nếp công tác. Mọi công việc không có gì khó khăn. Chỉ có nhịp độ công tác khẩn trương hơn, phạm vi rộng hơn. Quân khu 7 chỉ huy cả 2 mặt trận 479 và 779 lên Campuchia và các tỉnh miền Đông. Khối lượng công việc nhiều hơn.

Tuy nhiên, trong Bộ Tham mưu mọi việc tiến hành rất ăn ý, rất khớp; do đó đã phục vụ kịp thời cho Bộ Tư lệnh Quân khu 7 chỉ đạo và chỉ huy hai mặt trận quân tình nguyện và các tỉnh nội địa.

Đêm mồng 2 rạng mồng 3 Tết năm 1984, tôi đang trực trong cơ quan. Ba giờ sáng, vợ tôi báo:

-Anh Năm! Cha đã mất.

Tôi rất tỉnh táo vì mọi hậu sự cho ông, tôi đã chuẩn bị trước hết rồi.

Tôi trả lời Tuyết:

- Em cứ chuẩn bị sẵn ở nhà. Giao ban xong, anh về rước em qua nhà cha.

Tuyết trả lời:

- Anh giao ban xong trưa mất. Sang đến nơi thì đã tẩm liệm rồi, không thấy mặt cha đâu.

Tôi điện cho anh Út Đặng (Tham mưu phó):

- Anh vào giúp tôi trực và giao ban. Cha tôi chết rồi.

Anh Út Đặng mau mắn:

- Năm Hưng đi đi, tôi vào ngay.

Tôi không báo cho cơ quan, cũng không báo cho Bộ Tư lệnh vì sợ phiền các anh phải đi viếng. Nhà cha tôi chật chội, nghèo khổ lắm, tận bên quận 8.

Các anh Năm Ngà (Thượng tướng Nguyễn Minh Châu), Tám Lê Thanh (Trung tướng) hay tin, đi kiếm nhà cha tôi cả buổi sáng. Mãi 11 giờ trưa mới đến. Các anh vào, tôi rất cảm động.

Anh Năm Ngà nói:

- Năm Hưng cứ lo tang xong đã. Công việc tôi nói Út Liêm lo.

Cơ quan Bộ Tham mưu cho xe qua lo chu tất đám tang cha tôi.

Cha tôi mất coi như tôi chẳng còn ai. Các con ông sau này tuy cùng cha nhưng khác mẹ, tình cảm đối với tôi cũng không sâu đậm vì tôi không gần, không biết gì về quá khứ của họ. Còn vì cha tôi đã xóa sổ tôi trong gia đình từ lâu rồi. May là sau 30 tháng 4 năm 1975, nhờ cậu Sáu tôi mà tôi gặp lại ông. Tôi đã cố gắng làm hết phận sự làm con: sống, tôi chăm lo nuôi dưỡng; bây giờ ông mất, tôi lo mai táng. Tôi nhớ mãi và rất buồn, năm 1975 sau giải phóng miền Nam, tôi về thăm mộ mẹ, thấy ngôi mộ hoang tàn, cỏ dại mọc đầy vì không ai chăm sóc. Đến khi cần làm tấm bia cho mộ mẹ, tôi mời ông cùng đi thì đến nay ông không còn nhớ mộ mẹ tôi ở đâu. Tôi hỏi thử, ông chỉ vào ngôi mộ khác, tôi tủi, thương mẹ mà rơi nước mắt!

Còn “phần” sau của ông không gắn tình cảm với tôi lắm. Đến bây giờ vẫn vậy.

Tháng 5 năm 1984, trong giao ban Bộ Tư lệnh, anh Năm Ngà, Tư lệnh Quân khu, chỉ thị bằng miệng cho tôi:

- Đồng chí Năm Hưng bàn giao công việc Bộ Tham mưu, lên Mặt trận 479 Campuchia đảm nhiệm Tư lệnh phó, Tham mưu trưởng.

Tôi về, chuẩn bị mọi việc, đáp máy bay lên Mặt trận 479 quân tình nguyện Campuchia ở Siêm Rệp.

Tôi đang bàn giao công việc, tiếp thu mọi việc của Mặt trận, đi khảo sát chiến trường... thì được điện của Tư lệnh Quân khu: “Năm Hưng về ngay Quân khu".

Tôi ngỡ ngàng chẳng hiểu thế nào. Mới lên, sao lại về? Song, vì tổ chức kỷ luật tôi lại đáp máy bay về, sau một tháng ở Mặt trận 479.

Vào báo cáo với Bộ Tư lệnh, anh Năm Ngà chỉ nói với tôi có một câu:

- Người ta đã có người làm Tư lệnh phó, Tham mưu trưởng rồi. Mình khỏe!

Sau này tôi mới biết Bộ Quốc phòng đã cử Thiếu Anh Lân lên. Tôi cũng đơn giản. Không làm thì thôi, chẳng phải suy nghĩ gì cho mệt.

Tiếp theo, anh Năm Ngà chỉ thị:

- Năm Hưng khoan tiếp nhận công việc tham mưu. Anh đi học bổ túc cao cấp quân sự.
Đầu tháng 8, tôi lại ra Hà Nội học 6 tháng. Hết tháng 1 năm 1985 quay về, lại gặp anh Năm Ngà:

- Năm Hưng về nhà ăn Tết đi. Sau Tết ra Hà Nội học tiếp. Học bổ túc ở Học viện chính trị cho nó xong luôn. Trước sau gì cũng phải học.

Sau Tết tôi lại quay ra Hà Nội.

Đến tận tháng 9 tôi mới trở về đảm nhiệm lại chức vụ Tham mưu phó, tác chiến Quân khu 7.

Vào tháng 12, cũng lại Tư lệnh quân khu gọi điện cho tôi:

- Ngày mai Năm Hưng giao nhiệm vụ lại cho các anh Bộ Tham mưu. Anh lên thay cho anh Chín Như, Tư lệnh phó Mặt trận 779 Đoàn trưởng đoàn quân sự tỉnh Congpongthom Campuchia.

Tôi trả lời:

- Làm sao tôi thay anh Chín Như được anh Năm? Anh Chín là Phó Tư lệnh Quân khu. Tôi chỉ là Tham mưu phó Quân khu.

Anh Năm Ngà biết tôi nói “chọc" ổng:

- Thôi, anh không lên nhanh, anh Chín Như mà chết thì anh ân hận đó. Anh đang bị nổi mụn ở cổ. Bác sĩ nghi ung thư. Anh lên đi!

Ngay ngày hôm sau, tôi lại lên Campuchia.



Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: fantomasft trong 22 Tháng Mười, 2012, 10:51:00 AM
DUYÊN NỢ CAMPUCHIA

Congpongthom nằm giữa Siêm Rệp và Congpongcham, tỉnh trọng điểm đánh phá của Pôn Pốt nhằm chia cắt lưu thông giữa hai Bộ Tư lệnh quân tình nguyện Mặt trận 779 và 479. Ở đây ta bố trí một lực lượng mạnh do một đồng chí Tư lệnh phó Quân khu lãnh đạo, tổ chức chỉ huy.

Trước khi tôi lên mặt trận bảy ngày, Pôn Pốt đã đánh vào Sở chỉ huy của Đoàn quân sự 7701 Congpongthom lúc anh Chín Như đã được đưa về cấp cứu rồi. Hôm đến nhận nhiệm vụ, Sở chỉ huy vẫn còn nguyên cảnh hoang tàn. Nhà bị đốt cháy hết. Đồng chí Chỉ huy phó, Chỉ huy phó chính trị, Tham mưu trưởng... đang nằm nghỉ trưa dưới hầm. Đi vòng cơ quan tôi thấy vẫn chưa thu dọn gì cả. Tôi nghĩ thầm: “Để thế này mất khí thế quân tình nguyện quá!”. Ngay tối hôm đó, tôi họp ban chỉ huy đoàn 7701 bàn những công việc cần kíp trước mắt: phải gấp rút tổng vệ sinh, củng cố lại hệ thống phòng thủ, tăng cường cảnh giới phát hiện địch từ xa, tổ chức đánh sâu vào các vùng nghi là chỗ trú chân của Pôn Pốt, liên hệ với Tỉnh ủy và lực lượng vũ trang bạn phối hợp hoạt động để bạn yên tâm. Pôn Pốt đánh vào Sở chỉ huy quân tình nguyện có thể gây cho bạn hoang mang.

Sáng hôm sau, đồng chí Tham mưu trưởng chỉ huy lực lượng thu dọn. Tôi và đồng chí Chỉ huy phó chính trị, Chỉ huy phó quân sự ra gặp Tỉnh ủy bạn.

Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Congpongthom là đồng chí Suhan. Đồng chí là kỹ sư nông nghiệp thời Xihanúc bị Pôn Pốt bắt tập trung tri thức cải tạo lao động, anh rất giỏi tiếng Việt và tiếng Pháp, có tầm cỡ về năng lực.

Sau khi chào xã giao, giới thiệu tôi thay anh Chín Như, cả Tỉnh ủy hồ hởi, vui vẻ. Tôi bắt đầu đi sâu vào tìm hiểu tình hình.

Là tỉnh trọng điểm đánh phá của Pôn Pốt, việc chúng đánh vào cơ quan quân sự Đoàn quân tình nguyện là chuyện bình thường. Quân tình nguyện có khuyết điểm còn sơ hở trong phòng thủ, không diệt được nhiều địch, lại bị đốt cháy hết nhà, thiệt hại một số cơ sở vật chất. Chúng tôi sẽ rút kinh nghiệm và khắc phục, không để xảy ra trường hợp tương tự.

Trước sự cởi mở chân thành của tôi, Tỉnh ủy bạn thấy thỏa mãn và thông cảm. Bàn về phương hướng phối hợp hoạt động sắp tới giữa quân tình nguyện và lực lượng bạn, đồng chí Suhan hoàn toàn nhất trí, còn có nhã ý giúp tài chính cho Đoàn bộ Đoàn quân tình nguyện Congpongthom sửa chữa nhà cửa, mua bàn ghế làm việc...

Họp xong, đồng chí Suhan và tôi cùng đi xem xét thiệt hại doanh trại của cơ quan. Đồng chí chỉ thị ngay cho tài chính tỉnh xuất kinh phí cho Đoàn để nhanh chóng khôi phục lại cơ quan Đoàn bộ. Sau 10 ngày, cơ quan Đoàn bộ đoàn Congpongthom đã được sửa chữa lại khang trang.

Nhằm chủ động giữ an ninh, đầu năm 1986, chúng tôi tổ chức Trung đoàn 320 quân tình nguyện phối hợp với lực lượng bạn hành quân sâu vào rừng Săng Đan đánh các căn cứ của Pôn Pốt. Hành quân gian khổ, không ác liệt như thời chống Mỹ, nhưng luôn bị Pôn Pốt bám đánh du kích, chúng tập kích A.T và cối vào ngay đội hình chỉ huy hành quân. Từ thực tế này, cứ một tuần tôi tổ chức rút kinh nghiệm hành quân và đánh phản du kích với địch.

Hơn 20 ngày hành quân liên tục đánh vào vùng sâu, ta diệt nhiều tên, đẩy Pôn Pốt vào sâu trong rừng núi làm cho chúng khốn đốn về lương thực, hoạt động của Pôn Pốt giảm hẳn. Áp lực đối với Congpongthom - Congpong Svay nhẹ dần.

Nhân dân bạn rất phấn khởi, Tỉnh ủy và chính quyền bạn càng tin tưởng vào quân tình nguyện, sau trận bị đánh vào Sở chỉ huy đoàn, quân tình nguyện đã lấy lại được lòng tin của bạn.

Năm 1986 Bộ Tư lệnh 719 (Quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia) có chủ trương “Đại đội đứng phum đánh địch, không cho địch về phum bám dân lấy tiếp tế". Phum của Campuchia cách xa nhau, phum này cách phum kia từ 5 đến 7km. Trong lúc đó, quân số quân tình nguyện thiếu, một đại đội chỉ còn 25 đến 35 đồng chí. Nếu đại đội đứng phum thì quân ta hoạt động không bung ra được, có khi tiềm ẩn sự thỏa hiệp với Pôn Pốt. Chúng đã từng bắn tin đến một bộ phận nhỏ của ta: "Anh không đánh tôi, tôi không đánh anh".

Tôi lên kế hoạch quân sự gồm đến tiểu đoàn đứng phum và hoạt động trên một số phum theo quy định được phân công. Như vậy, bắt buộc tiểu đoàn muốn kiểm soát được địa bàn phải luôn luôn di động đánh địch. Cẩn thận hơn, kế hoạch quân sự 1986 tôi thông qua Bộ Tư lệnh Quân khu 7 và Tư lệnh Quân khu đã ký duyệt.

Một sáng tháng ba, tôi đang giao ban ngày thì có tiếng máy bay MI6. Tôi hỏi Tham mưu trưởng:

- Hôm nay có kế hoạch ai đến không?

- Không, không có ai báo lên cả.

Tiếng máy bay lớn dần rồi hạ cánh xuống sân bay trực thăng của đoàn. Tôi đội mũ chạy ra, nói với Ban chỉ huy:

- Vậy là có ông “Cốm” đến đột xuất rồi, chuẩn bị đón đi.

Tôi tới sân đáp máy bay. Đúng! Ông “cốm” Lê Đức Anh - Tư lệnh 719 (Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia) đang bước xuống thang máy bay.

Sau cái bắt tay chào hỏi, tôi nói với đồng chí Ngọc, thư ký Tư lệnh (nguyên là trợ lý tác chiến của Phòng tác chiến Quân khu 7):

- Lên sao không báo trước? May là tôi cho gỡ mìn rồi. Nếu không nó nổ tan máy bay.

- Tôi biết anh không có gài. Ngọc trả lời.

Quá thật tôi không gài mìn.

Từ 8 giờ rưỡi, đồng chí Tư lệnh vào họp luôn với Đoàn 7701 Congpongthom. Tôi báo cáo toàn bộ tình hình: Địch, ta, bạn, kế hoạch hoạt động của Đoàn. Sau khi nghe báo cáo, Tư lệnh đi sâu vào kế hoạch triển khai lực lượng đứng chân của quân tình nguyện tại Congpongthom. Đây là nội dung trọng tâm chuyến đi kiểm tra của đồng chí.

Tôi tiếp tục báo cáo cụ thể kế hoạch đứng chân và hoạt động của quân tình nguyện. Thái độ Tư lệnh có vẻ không hài lòng vì chủ trương của Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện là đại đội đứng ở phum, còn tôi lại bố trí tiểu đoàn đứng ở phum.

Ông đứng dậy đi tới, đi lui. Tôi tiếp tục thuyết trình về những khó khăn khi đại đội đứng phum. Cuối cùng, tôi chốt lại:

- Tôi bố trí lực lượng và hoạt động như vậy nếu phong trào cách mạng ở đây xuống, tôi chịu trách nhiệm trước Đảng nhân dân cách mạng Campuchia, trước Tư lệnh Quân tình nguyện. Nếu Tư lệnh ra lệnh tôi phải rải quân ra từng đại đội chiếm đóng phum, tôi chấp hành.

Đồng chí Tư lệnh cứ đi tới, đi lui thấy khó xử. Tôi cũng đứng dậy, sẵn sàng nhận lệnh. Các trợ lý đi với đồng chí, các đồng chí Ban chỉ huy Đoàn ngồi họp đều căng thẳng, phòng họp im phăng phắc, không một tiếng động.

Một lúc sau, đồng chí Tư lệnh hỏi:

- Kế hoạch này, đồng chí đã thông qua Bộ Tư lệnh Quân khu chưa?

Ít khi Tư lệnh 719 gọi tôi bằng đồng chí bởi ông biết tôi từ thời thiếu sinh quân đến giờ, thường gọi tôi bằng tên hoặc cậu.

Tôi đáp:

- Tôi đã thông qua kế hoạch này với Bộ Tư lệnh Quân khu 7.

Tôi đưa bản kế hoạch có chữ ký của anh Năm Ngà ra. Ông không xem mà chỉ im lặng.

Cuộc họp kéo dài không nghỉ đến 13 giờ mới kết thúc. Tan họp, đi ăn cơm, đồng chí Ngọc đến nói với tôi:

- Tôi chưa thấy Tư lệnh chiến trường nào cãi căng với Tư lệnh 719 như Năm Hưng.

Tôi bảo Ngọc:

- Tôi bảo vệ cái mà tôi cho là đúng thôi, Ngọc à! Nếu Tư lệnh ra lệnh, tôi nghiêm chỉnh chấp hành. Trước nay, tôi vẫn là một tín đồ ngoan đạo đối với Quân đội nhân dân Việt Nam mà Ngọc!



Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: fantomasft trong 22 Tháng Mười, 2012, 11:10:43 AM
ĐẾN MẶT TRẬN 779

Tháng 6 năm 1986, anh Hai Sỹ - Tư lệnh Mặt trận 779 bị bệnh phải đi điều trị ở Quân y viện. Anh Năm Ngà điện cho tôi: “Năm Hưng về Mặt trận 779 thay anh Hai Sỹ”. Tôi bàn giao cho anh Sáu Tân, Chỉ huy phó chuyên gia quân sự làm Chỉ huy trưởng Congpongthom.

Tôi về thay anh Hai Sỹ, đương nhiên làm Tư lệnh 779, nhưng chưa có quyết định của Bộ Quốc phòng. Tại Đại hội Đảng bộ Mặt trận 779, tôi được bầu vào Ban chấp hành Đảng bộ và Ban chấp hành bầu tôi làm Bí thư Đảng Ủy Mặt trận và Đại biểu đi họp Đại hội Đảng bộ Quân khu.

Trong Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân khu 7, thay mặt cho Đoàn đại biểu Mặt trận 779, tôi có bài tham luận chặt chẽ đánh giá tình hình địch ở Campuchia sau gần 10 năm hoạt động của quân tình nguyện. Cái chính bản tham luận tôi nhắm đến là tình hình Campuchia thực sự là một cuộc chiến tranh. Tôi đi đến kết luận: “...Tình hình chiến đấu giữa Quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia với quân Khơme đỏ là một cuộc chiến tranh giữa một lực lượng chính nghĩa với một tập đoàn người phi nghĩa để giải phóng nhân dân Campuchia. Do quân Pôn Pốt có Đảng phản động lãnh đạo, có chính quyền lưu vong tay sai đóng căn cứ ngay trong lòng Campuchia, có cơ sở phản động trong quần chúng, có thế lực phản động quốc tế ủng hộ tinh thần và vật chất, cho nên ta phải coi cuộc chiến đấu này, phải đối xử với nó như một cuộc chiến tranh. Đảng phải có nghị quyết lãnh đạo, Chính phủ phải triển khai các bộ tham gia, phải thông báo cho toàn dân biết. Không thể để một mình Quân đội âm thầm chiến đấu mãi được”.

Bản tham luận này được đa số đại biểu đồng tình. Khi bầu đại biểu đi dự Đại hội Đảng toàn quân, trong 12 tổ đại biểu có 11 tổ giới thiệu tôi vào danh sách đại biểu đi dự. Thế nhưng, kết luận của bản tham luận lại không phù hợp với đánh giá chung lúc bấy giờ: “Pôn Pốt chỉ là giặc cỏ, là tàn quân. Quân tình nguyện đánh nhanh là 2 năm, chậm là 3 năm sẽ giải quyết xong”.

Bộ Tư lệnh Quân khu thấy khó xử. Với tư cách cá nhân, dựa trên tình anh em, anh Năm Ngà gặp riêng tôi:

- Năm Hưng rút đi. Năm Hưng dự bầu sẽ trúng đại biểu. Đại hội đại biểu toàn quân mà Năm Hưng tham luận bài này là chưa phù hợp với nghị quyết.

Tôi trả lời anh:

- Thưa anh Năm! Tối viết bản tham luận ấy chưa phù hợp với nghị quyết Đảng, song theo tôi nó nói lên được thực tiễn chiến trường. Tôi không kể gì đến tiền đồ danh vọng đâu. Tôi vì xương máu của chiến sĩ mình. Tôi không sợ thì anh Năm đừng sợ cho tôi. Hay anh Năm sợ Quân ủy Trung ương đánh giá là Đảng ủy Quân khu không lãnh đạo được tôi?

Anh Năm Ngà tỏ vẻ khó chịu:

- Thôi, Năm Hưng nghe tôi đi.

Tôi đành xuôi theo anh Năm Ngà.

Tôi sống trung thực với chính mình. Tôi luôn ý thức rằng còn sống thì còn phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng rồi trở về làm dân, hy sinh thì trở về với đất. Sự trung thực luôn đòi hỏi bất kể làm việc gì cũng phải nghiêm túc, phải nhìn thẳng vào sự thật, không dối trên lừa dưới. Tôi cũng hiểu thực tế mâu thuẫn phức tạp mà nhược điểm của tôi là không cân bằng được và tôi đã gặp không ít khó khăn.

Tuy nhiên, bản chất tôi vốn là người có suy nghĩ độc lập ngay từ nhỏ, từ lúc tôi tự quyết định đi theo kháng chiến, theo cách mạng. Chính cái ưu điểm này của tôi lại khiến một số đồng chí cấp trên cho tôi là “bướng”. Nhưng kiểm lại những đề đạt của tôi, thực tiễn sau này chứng minh là đúng. Như vấn đề vài trò của Xihanúc, hay vấn đề đại đội hay tiểu đoàn đứng chân ở phum ở Campuchia! Và thực tiễn Campuchia có phải là tình thế chiến tranh hay không?

Mười năm sau, vào ngày 13 tháng 12 năm 1996 tại Hội nghị tổng kết cuộc chiến tranh trên biên giới Tây Nam, 10 năm giúp bạn Campuchia, đồng chí Trung tướng Lê Hai, Phó chủ nhiệm Tổng cục chính trị đã kết luận, đó là cuộc chiến tranh.

Để đến tổng kết mới kết luận theo tôi là quá chậm, đã đổ mất quá nhiều xương máu của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân.

Thất bại trong cuộc đời tôi thì chưa, song có nhiều điều phải suy ngẫm. Bởi tôi có tật không phải “dễ bảo", cũng không có tính gió chiều nào xoay chiều đó. Tôi có ý tưởng riêng, từ sự kiên định sáng tạo của mình tôi thường bị hiểu lầm là kiêu ngạo.

Lúc tôi đang quyền Tư lệnh Mặt trận 779, đồng chí Lê Đức Anh nói với Bộ Tư lệnh Quân khu 7:

- Năm Hưng giữ chức vụ gì, nhiệm vụ gì cũng được, song không nên bố trí cấp trưởng, có vấn đề nó quyết, đỡ không kịp.

Đồng chí đề nghị đưa Sáu Hưng (Đỗ Quang Hưng) làm Tư lệnh, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 quyết định tôi làm Tự lệnh phó số 1.

Tôi không đặt vấn đề danh vọng là quan trọng. Tôi trả lời rất thoải mái:

- Phó là phó, không có số 1, số 2 gì cả. Cái khó của tôi là chức Bí thư Đảng ủy Mật trận. Tình thế này tôi giữ Bí thư sao được. Bí thư phải là người quyết định hơn Tư lệnh kia mà.

Tôi nghiêm túc họp Ban chấp hành thuyết phục bầu lại Bí thư. Lúc bầu cho đồng chí Sáu Hưng làm Bí thư, trong 13 đồng chí có 6 đồng chí đồng ý, 6 đồng chí không. Tôi bỏ phiếu bên nào là bên đó được. Tôi bỏ cho đồng chí Sáu Hưng. Phiếu tín nhiệm Sáu Hưng là 7/13.

Tôi đã từng nói, quan trọng không phải là ở cái ghế ngồi mà là hiệu quả công việc. Dù quan niệm của tôi có khác thủ trưởng nhưng thủ trưởng quyết thì tôi làm hết mình, chấp hành triệt để. Hiệu quả thấp, rõ ràng quan điểm của thủ trưởng sai, không phải lỗi của tôi.

Vì cái tật đặt vấn đề một cách thẳng thắn ấy, việc phong hàm cấp tướng cho tôi cũng trầy trật.

Lần thứ nhất, tất cả Thường vụ Đảng ủy Quân khu đều đồng ý. Bản nhận xét đề bạt ghi: “Thành phần chính trị cơ bản, quan điểm lập trường vững vàng, năng lực lãnh đạo và chỉ huy sáng tạo, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Khuyết điểm: Nhận thức và đánh giá tình hình Campuchia chưa phù hợp với nghị quyết của Đảng".

Một vị tướng mà nhận thức và đánh giá chưa phù hợp với nghị quyết của Đảng thì ai lại đề bạt?

“Rớt” kỳ đó, tôi không có gì để “sốc”. Hai năm sau, năm 1986, lại đề nghị lần nữa. Lần này họp Thường vụ Quân khu có đồng chí Lê Đức Anh dự. Các anh Hai Sỹ, anh Chín Như đề nghị phải để bạt tôi, đến mức các anh nói:

- Nếu lần này, không đề bạt cấp tướng cho Năm Hưng thì thôi đừng xét ai nữa cả.

Tôi cảm ơn sự tín nhiệm của các anh đối với tôi trong quá trình lãnh đạo, chỉ huy tôi, hiểu biết tôi mà đấu tranh cho tôi.

Riêng tôi, được tôi cũng không mừng, không được tôi cũng chẳng lo. Vì tôi nghĩ: “Nhất tướng công thành vạn cốt khô”. Thành công của một vị tướng là do bao xương máu của anh em đồng chí đổ xuống anh mới có, mới thành danh, sung sướng gì!

Tôi đang hết sức lao vào nhiệm vụ giúp bạn ở Mặt trận 779 thì vợ con tôi sống khá vất vả trong hòa bình. Các con tôi còn quá nhỏ, đứa 10 tuổi, đứa 8 tuổi, đứa 6 tuổi, cả ba đang đi học. Tuyết, vợ tôi, sau những năm dài chiến tranh bệnh tật nay lại bộc phát: khớp, tim, thần kinh, hai lần mổ phụ khoa và ruột thừa, sức yếu giờ yếu thêm, một năm ít nhất ba lần nằm viện, bỏ con nheo nhóc.

Ở nhà, mẹ con phải ra sức chăn nuôi heo tăng gia. Có lần, tôi về họp Quân khu, tối tranh thủ về nhà, trời mưa như trút nước. Hai con trai tôi nhỏ như vậy mà 21 giờ đêm còn chầu trực ngoài nhà máy cám để nhận cám nuôi heo. Mẹ ở nhà ôm đứa con gái ngóng hai đứa con trai.

Về, thấy cảnh xót xa quá. Tôi chạy ra nhà máy rước hai con về. Tôi nói với các con: “Bỏ hết đi”. Lúc ấy, mấy mẹ con nuôi 16 con heo. Vợ tôi bảo:

- Không làm vậy làm sao sống đủ?... Có sổ gạo mà họ nói có mới có, họ nói không là đói.

Tôi đang quyền Tư lệnh Mặt trận 779 lại được điện Tư lệnh Quân khu 7 “cho phép Nam Hưng về ký tên để vợ mổ”.

Tôi cấp tốc chạy về, vào thẳng Viện quân y 7A của Quân khu. Vợ tôi đang đau quằn quại ở bụng. Chẩn đoán của bệnh viện “Thoát vị ruột thừa phải mổ gấp, nếu không dễ tắc ruột”. Tôi ký tên cho Tuyết mổ lần thứ ba.

Tôi ở lại Viện đến sáng hôm sau. Tuyết còn đang nằm trong phòng hồi sức. Anh Năm Ngà, Tư lệnh Quân khu lại gọi điện vào:

- Năm Hưng lên ngay Phnôm Pênh để ngày mai họp. Có cần gì giúp vợ, tôi nói cơ quan Quân khu lo.

Tôi trả lời anh:

- Tôi chỉ cần ở đây vài ba ngày chờ vợ tôi ổn định.

Anh Năm Ngà nói:

- Chết, chết! Công việc ngày mai là việc của Tư lệnh chiến trường. Tôi không thay anh được, Năm Hưng ráng thu xếp đi đi, tôi cho anh em cơ quan vào ngay Quân y viện giúp Năm Hưng.

Tôi nói vậy, chứ tính tổ chức kỷ luật của tôi Tư lệnh Quân khu thừa biết. Tôi nói:

- Anh báo Bộ Tham mưu cho xe và tổ trinh sát của tôi vào Quân y viện 7A, 12 giờ có mặt. Anh khỏi phải phiền cơ quan giúp tôi. Tôi tự sắp xếp.

Tôi thật bứt rứt, Tuyết lại bị sốc dịch truyền, mới mổ mà sốc, không khéo vết mổ lại bung ra. Anh em bác sĩ bệnh viện rất nhiệt tình, ra sức chống sốc bằng đèn và tiêm Calcium... Tôi chưa dám cho Tuyết hay việc trưa nay tôi phải đi Phnôm Pênh. Tôi nhờ chị Ba Phương, Viện phó 7A, giúp tâm sự với Tuyết.

Chị Ba Phương nghĩa tình như người chị của vợ chồng tôi, chị nói:

- Năm Hưng yên tâm. Để tôi lo cho.

Và chị vào nói chuyện với Tuyết. May quá, một lúc sau có Thoại từ Bà Rịa lên thăm chị. Tôi nhờ Thoại ở lại nuôi Tuyết, cho vợ tôi đỡ tủi thân.

Ai hưởng hòa bình, chăm lo cho gia đình, chứ với tôi... sau gần chín năm giải phóng miền Nam, tôi vẫn là người lính chiến, vẫn xa nhà biền biệt...

Ngày ấy, trên đất Campuchia, Pôn Pốt còn đánh nhỏ, đánh lẻ dọc đường giao thông những chỗ vắng lúc ban ngày. Vào ban đêm, bất kỳ chỗ nào cũng có thể bị phục kích. 12 giờ trưa, tôi xuất phát từ Bệnh viện 7A, lên Mộc Bài, chạy thục mạng đến phà Niếk Lương thì đã 18 giờ, phà bạn đang dẹp nghỉ. Thấy xe tôi tới, bạn tôn trọng la lên: “Lục Thum !” và cho phà đưa qua. Tôi qua sông Mê Kông thì đã tối, khoảng 19 giờ. Từ đây chạy về Phnôm Pênh còn 66 kilômét nữa. Tôi bàn với anh em trinh sát:

- Sẵn sàng chiến đấu, súng quay ra ngoài gặp bất trắc, thì bắn và cứ chạy.

Chín giờ đêm xe tới Phnôm Pênh, tôi thở phào. Lúc gấp rút cũng phải táo bạo, quyết tâm. Dù có hy sinh cũng vì nhiệm vụ mà thôi.
*
  *                       *

Tại Mặt trận 779 Quân tình nguyện Việt Nam giúp bạn địa bàn 5 tỉnh: Congpongcham, Conpongthom, Svayrieng, Prayveng, Kratié.

Mỗi tỉnh có một đoàn chuyên gia quân sự và một tiểu đoàn bộ binh quân tình nguyện đặt dưới sự chỉ huy của đoàn chuyên gia quân sự để giúp bạn hoạt động đánh Pôn Pốt và phát triển xây dựng lực lượng bạn.

Bộ Tư lệnh Mặt trận 779 biên chế đủ cơ quan: Tham mưu, Chính trị, Hậu cần, Kỹ thuật và 2 trung đoàn bộ binh cơ động (320 và 159), một tiểu đoàn trinh sát, một tiểu đoàn thông tin, một tiểu đoàn công binh, quân y viện và trường huấn luyện cán bộ của Mặt trận.

Bộ Tư lệnh Mặt trận chịu trách nhiệm trực tiếp giúp bạn xây dựng cơ quan Bộ Tư lệnh Quân khu 2 và các lực lượng tập trung của bạn; vừa chỉ đạo, chỉ huy phối hợp lực lượng các tỉnh và lực lượng mặt trận cùng lực lượng của bạn trên chiến trường 5 tỉnh tiêu hao và tiêu diệt lực lượng Pôn Pốt; phát triển lực lượng dân quân du kích, cũng như lực lượng tập trung của bạn bảo vệ nhân dân, cơ sở chính quyền, cơ sở Đảng; giúp bạn phát triển Đảng nhân dân cách mạng Campuchia, sản xuất cải thiện đời sống nhân dân.

Lực lượng quân tình nguyện Việt Nam thực hiện nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia đã phát huy đầy đủ bản chất cách mạng, một đội quân chiến đấu, một đội quân sản xuất, một đội quân công tác có nhiều vấn đề mới mẻ như giúp bạn phát triển Đảng nhân dân cách mạng Campuchia, giúp cách điều tra, tuyên truyền, bồi dưỡng, chọn lựa và phương pháp kết nạp để bạn tự làm chứ Quân tình nguyện không làm thay, giúp cách hoạt động của Đảng lãnh đạo chính quyền và nhân dân ở cơ sở.

Quân tình nguyện muốn làm được tốt nhiệm vụ thì trường huấn luyện mặt trận phải phát huy hết công suất huấn luyện. Trước hết là dạy tiếng Campuchia, dạy phương pháp công tác quần chúng, công tác Đảng, công tác xây dựng chính quyền, cách giúp dân sản xuất.

Trong công tác dân vận, Quân tình nguyện không chỉ công tác quần chúng giỏi, vừa công tác vừa giúp bạn phương pháp công tác quần chúng, đồng thời phải giữ nghiêm kỷ luật quần chúng để bạn và nhân dân nước bạn tin tưởng. Nói và làm là một.

Mặt trận 779 được thành lập ngày 18 tháng 7 năm 1981 đã qua nhiều Tư lệnh phụ trách. Năm 1985, tôi về phụ trách Mật trận thì đã có nề nếp, chỉ tiếp tục phát huy cho tốt. Bộ tư lệnh Quân khu 2 và cơ quan bạn rất tín nhiệm Bộ Tư lệnh và cơ quan Mặt trận 779.

Hai Bộ Tư lệnh và cơ quan đóng gần sát nhau. Ta giúp bạn bằng cách cùng tham gia giao ban ngày, tuần. Các cơ quan giúp bạn trong quan hệ nghiệp vụ, chuyên môn, nên bạn tiến bộ khá nhanh.

Tuy nhiên, tôi vẫn chỉ đạo anh em:

- Giúp tận tình, nhưng phải đề cao cảnh giác.

Tôi vẫn lấy hình tượng Phật có bốn mặt ở Campuchia nhắc nhở anh em:

- Đang là bạn đó, nhưng cũng có thể là thù ngay.

Bài học này tôi đã có từ năm 1975. Lúc ta tập trung lực lượng giải phóng miền Nam thì họ đánh chiếm kho tàng ta ở phía sau, gây cho ta không ít thiệt hại.

Nhưng trong mắt nhân dân Campuchia, Quân tình nguyện là người cứu sống họ, rất được thương mến.

Một lần, xe tôi đang chạy trên đường 7 đụng đầu con ngựa, do giật mình quay đầu lại, khiến xe bị lật, con ngựa ngã ra chết, người đánh xe ngựa văng xuống ruộng. Tôi cho dừng xe lại, xem sự thể ra sao, thấy anh đánh xe ngựa vẫn an toàn, tôi mừng quá.

Tôi mời chính quyền đến lập biên bản để đền ngựa cho dân, vì con ngựa là cả cơ nghiệp của người dân nghèo Campuchia. Nhưng người chủ xe chân thành nói:

- Quân tình nguyện đã cứu cả nhà tôi. Tôi làm sao bắt đền quân tình nguyện được?

Chính quyền xã bảo tôi:

- Lục Thum cứ yên tâm đi đi, chính quyền ở đây sẽ lo giúp gia đình này.

Về đến cơ quan, tôi cho tài chính xuống xã và mời chủ xe đến đền bù xứng đáng. Chủ xe rất cảm động, rối rít cám ơn.

Cuối năm 1985, tình hình toàn Mặt trận đã khả quan. Nhân dân Campuchia hồi sinh: Chợ đông người, sản xuất phát triển, dân hết đói...

Đám tàn quân Pôn Pốt ngày càng khốn đốn, phải rút sâu vào rừng. Lực lượng vũ trang bạn hoạt động có hiệu quả, Đảng và chính quyền cơ sở có một bước trường thành, gần dân hơn, nắm chắc dân hơn.

Tuy nhiên, Quân tình nguyện vẫn còn phải làm thay nhiệm vụ chiến đấu rất quan trọng là đánh địch trong rừng sâu.

Việc này bạn chưa đảm đương được.



Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: fantomasft trong 22 Tháng Mười, 2012, 11:16:42 AM
RÚT QUẦN VỀ NƯỚC

Đầu năm 1989, Bộ Tư lệnh Mặt trận 779 nhận kế hoạch “tối mật” chuẩn bị rút toàn bộ Quân tình nguyện về nước.

Tư lệnh mặt trận Đỗ Quang Hưng giao cho tôi làm kế hoạch rút Quân tình nguyện Mặt trận 779 để thảo luận trong Bộ Tư lệnh Mặt trận và thông qua Bộ Tư lệnh Quân khu.

Tôi cùng một số đồng chí trong cơ quan tham mưu xác định mục đích kế hoạch: Ta rút quân nhưng bạn phải tiến bộ lên, đảm đương được địa bàn, giữ vững tình hình an ninh trên địa bàn.

Kế hoạch rút quân sẽ chia làm ba bước:

Bước 1: Ta cùng bạn mở một đợt hoạt động đánh sâu vào rừng, những nơi nghi là căn cứ của tàn quân Pôn Pốt, tiêu hao, tiêu diệt bộ phận làm cho địch tan rã không còn khả năng khôi phục hoạt động. Mục tiêu nhằm: Đánh vào căn cứ, kho tàng địch, bóc gỡ địch ngầm trong dân.

Bước 2: Đưa lực lượng bạn đứng sâu trong rừng. Rèn luyện cho bạn đảm đương nhiệm vụ đánh địch là chủ yếu, lực lượng Quân tình nguyện rút ra ven đường, ven thị xã, thị trấn hỗ trợ cho bạn.

Bước 3: Tiến hành an ninh lộ trình cặp ven đường hành quân, rà phá bom mìn và tổ chức đội hình hành quân về nước.

Khi thông qua nội bộ Bộ Tư lệnh Mật trận và thủ trưởng các cơ quan Mặt trận cơ bản nhất trí với kế hoạch. Đồng chí Tư lệnh nêu một vấn đề:

- Bước 2, ta rút ra đường, ven thị xã, thị trấn, bạn làm sao đảm đương nổi vùng sâu? Ta nên giữ trạng thái xen kẽ bạn, ta ở vùng sâu đến giờ chót.

Tôi không đồng ý quan điểm này.

- Như vậy, ta còn ở đây xen kẽ thì yên ổn. Ta không tập cho bạn đương đầu với khó khăn, khi ta rút đi rồi thì bạn làm sao giữ yên được địa bàn?

Bàn nhau gay gắt ở điểm này. Tôi không giữ được bình tĩnh buông ra một câu nặng lời:

- Như vậy là, còn Tư lệnh ở đây thì yên ổn. Tư lệnh rút đi rồi tình hình ra sao không cần biết.

Câu này làm buồn lòng Tư lệnh. Tôi nhận ra thì đã muộn. Lời nói đâu vớt lại được nữa. Đây vẫn là cái tật nói thẳng suy nghĩ của tôi ra, rất dễ bị hiểu lầm là kiêu ngạo. Nhược điểm của tôi là ở đó trong những tình huống “đối chọi” gay gắt. Tôi chỉ còn biết tự an ủi: Tôi đã trung thực với chính mình.

Quân tình nguyện rút về nước. Đã diễn ra cuộc chia tay đầy cảm động giữa Quân tình nguyện và lực lượng vũ trang Campuchia.

Trước khi Quân tình nguyện hành quân về nước, bạn đã triển khai an ninh lộ trình xuống tận phum, sóc. Mọi gia đình đều cắm cờ Campuchia trước nhà. Ngày Quân tình nguyện hành quân, toàn dân đổ ra đường tiễn đưa. Đoạn đường nào thuộc phum nào, sóc nào lực lượng vũ trang và nhân dân phum đó chịu trách nhiệm bảo vệ an toàn cho Quân tình nguyện, không để Quân tình nguyện bị phục kích, bị gài mìn.

Tất nhiên, ta không ỷ lại việc bảo vệ của bạn, ta có kế hoạch riêng của ta. Nhưng nhìn vào hành động, việc làm của nhân dân bạn, chúng ta cảm động.

Các đoạn đường mà xe Quân tình nguyện đi qua, nhân dân dùng chổi quét sạch lá cây trên mặt đường để kiểm tra có gài mìn không, tổ chức canh gác dày liên tục nhiều ngày. Du kích và lực lượng bạn phân công lùng sục trong rừng, tuần tra trên đường chặt chẽ.

Ngày 20 tháng 9, toàn Mặt trận tổ chức hành quân. Hai bên đường hàng cờ thẳng tắp, chiều cao bằng nhau, kích thước cờ như nhau. Nhân dân đứng chật hai bên đường, không ai lấn ra lề và lòng đường, chỉ có những người đại diện cho dân ra trao quà cho các xe Quân tình nguyện. Quà thường là sản phẩm địa phương như dừa, chuối, đường thốt nốt...

Một không khí tưng bừng song rất trật tự, đầy xúc động. Bộ Tư lệnh Quân khu 2 của bạn và các Ban chỉ huy quân sự bạn theo từng đơn vị đưa tiễn đoàn Quân tình nguyện về tới biên giới Việt Nam - Campuchia, tận cửa khẩu Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

15 giờ ngày 20 tháng 9, toàn đội hình của Mặt trận 779 đã về đến Việt Nam an toàn. Lòng tôi nhẹ nhõm, thầm nể phục kỷ luật và trật tự của lực lượng vũ trang và nhân dân bạn trong tổ chức cuộc tiễn đưa thật thắm thiết suốt chặng đường Quân tình nguyện Mặt trận 779 trở về nước.

Đối với tôi, đến ngày hôm nay mới thực sự kết thúc cuộc chiến tranh lâu dài, đầy gian khổ, hy sinh của đời mình. Nhân dân ta có hòa bình từ 30-4-1975. Quân tình nguyện Việt Nam, trong đó có tôi, thực sự sống có hòa bình chỉ từ ngày rút quân từ Campuchia về, ngày 20 tháng 9 năm 1989, hơn 14 năm sau ngày miền Nam nước ta hoàn toàn giải phóng.

Mới rút quân khỏi Campuchia, đồng chí Tư lệnh đi nhận nhiệm vụ mới. Mọi việc giải quyết hậu quả của Mặt trận 779 tôi lãnh đủ.

Tổ chức đưa các trung đoàn, tiểu đoàn về địa phương các tỉnh, giải quyết chính sách đề bạt, khen thưởng, xuất ngũ, nghỉ hưu, cấp đất, cấp nhà cho cán bộ (vì Quân khu cho trên 200 suất đất và nhà ở căn cứ Hoàng Hoa Thám), rồi thanh toán tài chính, xăng dầu, cơ sở vật chất với hậu cần, kỹ thuật và tài chính quân khu...

Một khối công việc tồn đọng trên 10 năm từ Campuchia mang về, tôi và các đồng chí các cơ quan Mặt trận phải làm cật lực 3 tháng mới xong.

Trong thời gian đứng chân ở căn cứ Quang Trung giải quyết công việc, có thời gian tôi về thăm gia đình, ổn định tư tưởng cho các con. Tuyết yên lòng hơn, không còn cảnh nơm nớp lo từng ngày như lúc tôi còn trên Mặt trận 779, không biết chồng sống chết ngày nào.

Cuối tháng 12, giải quyết xong hết công việc của Mặt trận 779, tôi về báo cáo với Tư lệnh Quân khu 7, gặp đồng chí Trung tướng Bùi Thanh Vân (Út Liêm), Tư lệnh phó, Tham mưu trưởng Quân khu và các thủ trường cơ quan Quân khu.

Sau khi nghe tôi báo cáo tình hình và ý kiến nhận xét, đánh giá của các cơ quan Quân khu, đồng chí Út Liêm kết luận:

- Mặt trận 779 đã giải quyết tốt mọi công việc của Quân tình nguyện sau khi về nước, từ giải quyết các chính sách đến thanh toán hậu cần, tài chính không còn vướng mắc gì. Đến đây, kết thúc vai trò lịch sử Mặt trận 779, các con dấu nộp lại cho phòng tổ chức, động viên.

Sau cuộc họp chung, đồng chí giữ tôi lại bàn nhiệm vụ của tôi sắp tới. Tôi và đồng chí Út Liêm đã từng sống chung ở Sư đoàn 5, tôi là cán bộ dưới quyền đồng chí từ ngày ấy. Trò chuyện tâm sự với nhau nhiều điều, lúc sau đồng chí Út Liêm nói:

- Năm Hưng giờ có nhiệm vụ, tùy chọn: một, làm Tư lệnh phó Quân khu, kiêm Chỉ huy trưởng quân sự Tây Ninh; hai, nếu về Vũng Tàu — Côn Đảo thì chỉ làm Chỉ huy trưởng quân sự đặc khu.

Trước đây, tôi đã có lần đánh tiếng xin về đặc khu. Lần này, nghe đồng chí nói xong người tôi nóng bừng lên. Tôi phản ứng bằng một động tác đứng dậy rất nhanh.

- Về đặc khu! Về với mảnh đất chó ngồi ló đuôi cho nó khỏe!

Và tôi bỏ ra ngoài.

Tội nghiệp, Út Liêm chạy theo tôi:

- Đó là Cục cán bộ đặt vấn dề. Không phải tôi nói đâu.

- Ai đặt vấn đề tôi không biết. Bây giờ là anh nói. Anh đánh giá tôi quá thấp. Trước nay, anh thừa biết tôi đâu phải là người thích mua quan, bán chức. Khẳng định lại, tôi về đặc khu.

Thật ra, lúc ấy anh chỉ cần nói rằng Quân tình nguyện mới rút, tình hình biên giới vẫn rất phức tạp, tôi về Tây Ninh phụ với Quân khu lo mảng này là tôi bằng lòng về Tây Ninh rồi. Nhưng anh chẳng khéo chút nào, nhưng đó lại là bản chất thật thà của anh, tôi thông cảm anh điều đó.

Song, vô tình anh chạm đến lòng tự trọng của tôi. Tôi đã tự ái, không dằn được, nóng nảy với anh.


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: fantomasft trong 22 Tháng Mười, 2012, 01:08:57 PM
NHIỆM VỤ MỚI TRONG HÒA BÌNH

Tháng giêng 1990, tôi về làm Chỉ huy trưởng quân sự đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo, Ủy viên thường vụ Đặc khu ủy, thay đồng chí Năm Ninh ra làm Chủ tịch Ủy ban nhân dân đặc khu.

Mọi việc diễn ra thuận lợi có cả thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Cảnh cũ người xưa cả. Ban chỉ huy: Đồng chí Tư Trí (Chỉ huy phó), người Bến Tre cùng trang lứa về tuổi tác, con người cởi mở, thẳng thắn, trung thực, tình cảm, trách nhiệm cao, đoàn kết với mọi người, hiểu biết công việc. Chỉ huy phó chính trị, anh Út Chiến, người Tiền Giang, trước là cán bộ phong trào, chất phác, trách nhiệm... hai đồng chí đã giúp tôi trong quá trình công tác. Công việc không mấy khó khăn. Tôi bắt tay vào củng cố tổ chức, sắp xếp cán bộ, xây dựng lề lối làm việc theo ý mình. Sau 6 tháng, mọi việc đã đi vào nề nếp.

Để tôi có thời gian và điều kiện chăm lo, sớm ổn định gia đình, Ủy ban đặc khu xếp nhà cho tôi đưa vợ con từ thành phố Hồ Chí Minh về Vũng Tàu. Từ năm 1990, tôi mới thực sự sống trong hòa bình và gia đình mới đoàn tụ. Tôi bằng lòng với công việc và cuộc sống.

Sau nhiều năm gian khổ ác liệt với chiến tranh, tiếp tục sống kéo dài trong lo âu cho chồng khi đã có hòa bình, các loại bệnh của vợ tôi trỗi dậy. Ngoài đau khớp, tim, thần kinh, còn dạ dày, tiểu đường, tôi thấy phải quan tâm đến Tuyết nhiều hơn, bù cho những năm xa cách bỏ Tuyết một mình tự bươn chải. Đó là lương tâm, là trách nhiệm của người chồng.

*
*            *

Quan điểm của tôi trong quá trình củng cố đơn vị sắp xếp cán bộ là: Đào tạo cán bộ người địa phương, sắp xếp cán bộ lãnh đạo, chỉ huy người địa phương là chính.

Có như vậy, cán bộ mới gắn bó với đơn vị, với quê hương. Sức mạnh tổng hợp với đơn vị sẽ được nhân lên nhiều lần.

Tôi chỉ đạo cơ quan làm quy hoạch cán bộ ba êkíp và thông qua Quân khu duyệt. Dựa vào quy hoạch mà cho đi học đào tạo, bố trí luân chuyển trong đơn vị.

Sau hai năm, nguồn cán bộ đã vào nề nếp theo ý định. Tôi coi vấn đề cán bộ là then chốt bảo đảm sức mạnh của đơn vị. Quan điểm này tôi quán triệt sâu sắc trong Đảng ủy quân sự đặc khu. Các đồng chí đều đồng tình.

Có lần, đồng chí Phó Tư lệnh Quân khu mang quyết định một đồng chí do Quân khu bố trí làm Chỉ huy đặc khu xuống, thuyết phục tôi nhận, tôi trả lời dứt khoát:

- Quy hoạch cán bộ Đặc khu đã thông qua Quân khu duyệt. Vậy, cán bộ đặc khu để đặc khu đề nghị bố trí.

Là Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Ủy viên Ủy ban nhân dân, tôi tham gia tích cực trong lãnh đạo toàn diện của tỉnh, cùng chung lưng gánh vác trách nhiệm với Thường vụ Tỉnh ủy.

Suốt cuộc chiến tranh chống Mỹ, chiến tranh biên giới Tây Nam, tôi đều ở đơn vị chủ lực. Về công tác quân sự địa phương, môi trường hoạt động mới nhưng nhờ quá trình tích lũy quan hệ với địa phương, về đất Bà Rịa lại quen biết các đồng chí từ đánh Mỹ ra, đối với cơ quan Quân khu thì các mối quan hệ đều thân quen, quan hệ công tác với địa phương và Quân khu đều thuận lợi.

Mọi công tác tổ chức, huấn luyện, tuyển quân, xây dựng lực lượng dự bị động viên hàng năm đều hoàn thành tốt. Qua mấy lần diễn tập cơ quan và có thực binh đều được Quân khu đánh giá cao, tạo cho tôi có mối quan hệ ngày càng tốt với địa phương.

Lực lượng vũ trang tỉnh được cấp ủy, chính quyền địa phương tin tưởng và hết sức quan tâm. Làm công tác quân sự địa phương mà không gắn với cấp ủy, chính quyền, đoàn thể coi như thất bại. Trong chiến tranh, thực tiễn đã dạy tôi điều này. Trong hòa bình, càng phải chú trọng nhiều hơn.

Tự đặt mình là một người con của địa phương, tôi ra sức học tập về xây dựng kinh tế - xã hội, về xây dựng Đảng, về hoạt động của Mặt trận, không chỉ lo chức trách quân sự của mình.

Trong quy hoạch chung tổng thể của tỉnh, tôi cùng chính quyền đi khảo sát từng con đường, từng cái cầu để lên kế hoạch xây dựng hệ thống đường sá, góp ý xây dựng các công trình lớn theo kiến thức của mình, được tập thể đồng tình.

Vào những năm đầu 90, Thường vụ Tỉnh ủy có sáng kiến đề ra chủ trương “lấy quỹ đất đổi công trình" mà ngòi nổ từ đồng chí Năm Ninh, Chủ tịch đặc khu.

Tham vọng xây dựng tỉnh khang trang to đẹp lại mâu thuẫn với việc “tiền đâu để làm”. Sau nhiều ngày tháng trăn trở, một hôm đồng chí Năm Ninh họp toàn Ủy ban thông báo: “Ta lấy tiền từ dưới đất”.

Từ ý tưởng ấy, đồng chí đưa ra Thường vụ Tỉnh ủy bàn. Sau nhiều lần, nó biến thành chủ trương: Lấy đất đổi công trình.

Tôi là một thành viên trong thường vụ bàn và ủng hộ quyết liệt, Ủy ban nhân dân lên kế hoạch các công trình xây dựng bằng quỹ đất trình Chính phủ. Và Chính phủ đồng ý cho Bà Rịa - Vùng Tàu làm thử.

Tỉnh mừng như mở cờ trong bụng, cho tiến hành khởi công một lúc 40 công trình. Toàn tỉnh như một công trường xây dựng. Chủ trương của Bà Rịa - Vũng Tàu lan tỏa ra. Lâm Đồng, thành phố Hồ Chí Minh đều làm.

Đến năm 1995, Chính phủ đánh giá: “Việc cho làm thử chủ trương dùng quỹ đất để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng ở Vùng Tàu, thời gian qua đã có những bài học kinh nghiệm về tổ chức chỉ đạo, hoàn thiện cơ chế để thực hiện tốt chủ trương này. Kết quả đạt được ở Bà Rịa - Vũng Tàu là đáng khích lệ. Cơ sở hạ tầng, đường sá ở thành phố Vũng Tàu được cải tạo nâng cấp và mở rộng. Việc xây dựng nói chung được tuân thủ theo quy hoạch, có hiệu quả làm cho thành phố Vũng Tàu phát triển nhanh chóng...”

Đánh giá của Chính phủ là như vậy. Nhưng Thường vụ Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh vì chủ trương này lại chịu nhiều cơn sóng dập, gió nhồi, hơn một năm lận đận lao đao. Sau 8 lần thanh tra, kiểm tra của Trung ương Đảng, Ban thường vụ Tỉnh ủy bị kỷ luật cảnh cáo. Phó bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân bị cách chức.

Nhận thức của tôi bấy giờ về việc dùng “quỹ đất xây dựng cơ sở hạ tầng” chưa có tiền lệ, chưa có hành lang pháp lý, Chính phủ, các Bộ chưa có một hướng dẫn gì, tỉnh mò mẫm để làm. Với vấn đề mới, làm thế nào để hoàn thiện ngay được. Đề ra chủ trương dùng quỹ đất xây dựng cơ sở hạ tầng của tỉnh là một sáng tạo được Trung ương cho phép và làm có hiệu quả mà hiệu quả là chủ yếu. Có thiếu sót, khuyết điểm trong quá trình điều hành tất nhiên không tránh khỏi song đã được sửa chữa kịp thời. Tôi thấy “chưa tâm phục khẩu phục” trong việc thi hành kỷ luật Ban thường vụ Tỉnh ủy. Việc cách chức Phó Bí thư kiêm Chủ tịch tỉnh và Ủy viên thường vụ, Phó chủ tịch có cái gì đó chưa thật minh bạch.

Trong đời Đảng viên của tôi, lần đầu tôi bị kỷ luật cảnh cáo cùng tập thể Thường vụ Tỉnh ủy Bà Rịa - Vũng Tàu. Tôi ấm ức mãi không giải đáp được.

Tháng 6 năm 1996, vào dịp Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ II, trước Đại hội tôi phát biểu một bài tham luận về “hiệu quả của việc dùng quỹ đất xây dựng cơ sở hạ tầng”. Tôi đã phân tích ưu điểm, hiệu quả, sáng tạo là chủ yếu. Trong quá trình điều hành có thiếu sót nhưng đã kịp thời sửa chữa. Cuối cùng tôi kết luận bài tham luận: “Thường vụ Tỉnh ủy Bà Rịa - Vũng Tàu chủ trương dùng quỹ đất xây dựng cơ sở hạ tầng là một sáng tạo, thực hiện có hiệu quả mà hiệu quả là chủ yếu. Có thiếu sót trong quá trình điều hành nhưng chưa tới mức phải chịu kỷ luật cảnh cáo Thường vụ và Bí thư. Vừa qua, Ban chấp hành Tỉnh đảng bộ đã có nghiên cứu nghiêm túc và ra nghị quyết đề nghị Bộ Chính trị và Ban Bí thư Trung ương Đảng không kỷ luật Thường vụ và Bí thư trong việc thực hiện chủ trương này. Mong được Bộ Chính trị và Ban Bí thư Trung ương Đảng cứu xét và trả lời trước khi diễn ra Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII”.

Bài phát biểu của tôi được toàn thể đại biểu Đại hội hoan nghênh nhiệt liệt. Nhưng cho đến nay, Trung ương vẫn chưa trả lời, không giải thích. Tôi chỉ còn biết tự trách mình: vẫn chứng nào tật ấy, thấy việc bất bình không chịu được, không thế bỏ qua.

Tôi chủ động đề nghị với cấp trên xếp thời gian cho tôi nghỉ hưu. Tháng 10 năm 1995, Bộ Quốc phòng thông báo tôi nghỉ, chờ hưu. Bộ triệu tập tất cả các vị tướng được thông báo nghỉ năm đó họp tại tiền phương Bộ ở Tân Sơn Nhất, để nghe các vị tướng đề đạt nguyện vọng trước khi nghỉ.

Nhiều đồng chí nêu nhiều vấn đề xung quanh tác động của cơ chế thị trường ảnh hưởng đến chất lượng xây dựng quân đội. Riêng tôi, tôi nghĩ rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân ta, quân đội ta đánh thắng mọi kẻ thù thì nay vẫn vậy. Lớp này nghỉ, lớp khác thay thế là đương nhiên.

Tôi nêu vắn tắt tâm trạng của mình:

- Ở quân đội lâu năm, rời khỏi quân đội thấy buồn, hụt hẫng. Nhớ đồng đội còn sống và đã mất, chúng tôi còn có ngày hôm nay, bao nhiều đồng chí đã “nghỉ” lâu rồi...

Tôi chỉ đề nghị quân đội công bằng trong giải quyết chính sách, tính đủ năm tôi ở trong quân đội đến ngày về. Tôi có “tội” là vào quân đội lúc mới 14 tuổi. Quân đội đã cắt của tôi hai năm thâm niên lúc tính tuổi quân ở miền Bắc. Bận đánh Mỹ, lâu nay tôi không có ý kiến gì. Nay, nếu không tính đủ năm, tôi không nhận sổ hưu.

Các đồng chí cùng hoàn cảnh như tôi gồm Chín Tùng, Bảy Răng, Tám Lập đều đồng tình hưởng ứng.

Cuối năm 1999, Bộ Quốc phòng giao sổ hưu, tính đủ niên hạn chúng tôi sống trong quân đội.

Chính thức từ tháng 6 năm 1996, tôi trở về cuộc sống đời thường.

(http://i1337.photobucket.com/albums/o677/anhdn1988/10-22-20121-02-59PM_zps591b619a.jpg)

...Năm 1996, tôi mãn nguyện với 50 năm trong quân đội và trở về với người thân nhất trong cuộc sống đời thường..


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: fantomasft trong 22 Tháng Mười, 2012, 01:10:45 PM
CUỘC ĐỜI NHÌN LẠI

Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo khổ, không miếng đất cắm dùi ở vùng thôn dã ven thành phố Sài Gòn. Cuối Chiến tranh thế giới thứ hai, phát xít Nhật xâm lược nước ta, rồi thực dân Pháp quay trở lại, gia đình tôi tan nát: ông bà ly tán, cha đi, anh chết.

Là một đứa trẻ mồ côi bơ vơ giữa chợ đời, tôi sớm phải bươn chải làm thuê kiếm sống. Nhờ đó, tôi có sức mạnh tinh thần, không dựa dẫm ai. Tôi cũng sớm tự quyết định đi theo kháng chiến, theo cách mạng. Đó là niềm may mắn nhất đến với tôi, làm thay đổi hẳn cuộc đời tôi.

Đảng và quân đội đã dẫn dắt tôi từ tấm bé đi suốt cuộc hành trình chống xâm lược của dân tộc, đào tạo tôi từ một quân nhân bình thường trở thành một sĩ quan cao cấp.

Gắn bó gần hết đời với quân đội - suốt 50 năm ròng rã, tôi có nhiều điều đáng nhớ.

Điều thứ nhất, tháng 11 năm 1946, mới 14 tuổi tôi tự quyết định đi theo Vệ quốc đoàn. Lúc ấy chưa biết cách mạng là gì. Phải qua một thời gian dài, được Đảng và quân đội giáo dục, rèn luyện, qua thực tiễn hoạt động chiến đấu, tôi mới có lòng yêu nước, biết phân biệt ta, bạn, thù, mới dần dần giác ngộ về giai cấp. Tôi trở thành Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam từ khá sớm, lúc mới 17 tuổi.

Điều thứ hai, hồi trở về Nam, tôi là một trong những người đi đợt đầu, những năm 60, 61.

Tôi mừng muốn khóc vì được Đảng tin cậy. Và tôi đã công tác, chiến đấu, từng bước trưởng thành trong khói lửa chiến tranh để đền đáp lại sự tin cậy ấy.

Điều thứ ba, tháng Giêng 1975, tôi còn đang học ở Hà Nội. Biết miền Nam đang chuẩn bị đánh lớn, lòng tôi như lửa đốt. Sau nhiều lần đề nghị, Bộ Quốc phòng đồng ý cho tôi về. Tôi và một số đồng chí khác mừng rỡ vô cùng. Lần này, chúng tôi “đi bằng đầu” để kịp tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Và chúng tôi đã có mặt.

Đến nay, sau gần 10 năm trở về với đời thường và đã ngoài 70 tuổi, khi viết lại hồi ký này, tôi rất bằng lòng với những tháng năm sống trong quân đội. Tôi không có gì để nuối tiếc, trái lại rất tự hào.

Sống nhiều với nội tâm, nhớ nhiều về quá khứ, tôi không khỏi có lúc buồn da diết. Tình đồng chí, tình đồng đội trong chiến tranh, không chỉ nồng ấm mà vô cùng cao cả: giành nhau cái chết, chia nhau từ lon gạo, hạt muối, viên thuốc... vào những lúc gian nan nhất..

Tình người bây giờ khác xưa quá. Cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc mới 30 năm mà xem ra đã xa lạ với nhiều người...

Tôi sống trung thực, trước hết với chính mình. Tôi không đồng tình với các mối quan hệ tầm thường. Có người khi thăng tiến dễ đánh mất mình, có quyền lực trong tay dễ đổi khác. Cái tâm tôi không hề ác ý với ai. Song tôi không thể là loại người như vậy. Tôi quý sự trung thực, càng không thể cư xử thiếu tình người.

Giờ đây, sống trong khung cảnh hòa bình, ai không thích mình giàu lên. Yêu cầu này là chính đáng sau quá nhiều năm cơ cực. Song, không ít người nghĩ rằng muốn được như vậy thì phải có nhiều tiền. Và họ lao vào kiếm tiền bằng mọi giá, bất chấp giữ gìn nhân cách, giữ gìn đạo đức, giữ gìn phẩm giá. Và tham nhũng trở thành quốc nạn.

Xã hội phân hóa, khoảng cách giàu nghèo trong nhân dân ngày càng rõ. Tôi trăn trở nhiều trước hiện tượng này. Bởi chăng vì nó mà quan hệ giữa người với người bây giờ không còn mặn mà, keo sơn như trước? Tình người nếu như nhạt nhòa thì cái mục tiêu dân giàu nước mạnh bao giờ mới với tới được!.

Ta có nhiều thành tựu những năm gần đây về kinh tế. Tuy nhiên về xã hội có nhiều điều đáng ngại, không thể xem thường. Những biểu hiện suy đồi trong lối sống, cách sống xem ra không thể là của những con người xã hội chủ nghĩa.

Đừng quên, chỉ có những con người giác ngộ vai trò của mình mới làm nên sự nghiệp như đã làm trong chiến tranh. Cần nhìn thẳng vào sự thật. Đi lên chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnh cơ hội và thách thức đan xen như hiện nay còn không ít gian truân. Đời con, đời cháu chúng ta rất cần cống hiến nhiều hơn cha anh chúng trong chiến tranh, mới mong đưa nước ta sớm thoát khỏi tình trạng kém phát triển, mới mong vượt qua được nghèo nàn và lạc hậu...

Con đường trước mặt thật mênh mông...

*
*                    *

Cả cuộc đời tôi không có một ngày vui sướng của tuổi trẻ, không có sự ấp ủ trìu mến của gia đình. Đến cuối đời, vợ con là niềm an ủi, nguồn sống tình cảm của tôi. Thành công của tôi trong cuộc đời có phần động viên rất lớn của vợ tôi, Tuyết đối với tôi là người thân nhất.

Cuối đời nhìn lại, tôi mãn nguyện với những gì mình đã làm được cho nhân dân, cho đất nước. Dù nó chỉ như một giọt nước giữa đại dương.

Tuy nhiên, tôi vạn lần biết ơn Đảng và quân đội làm thay đổi cả cuộc đời tôi, đã tạo điều kiện cho tôi được xứng đáng làm NGƯỜI.

(http://i1337.photobucket.com/albums/o677/anhdn1988/10-22-20121-09-14PM_zpsc0c078c6.jpg)


Tiêu đề: Re: Một đời chinh chiến - thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng
Gửi bởi: fantomasft trong 22 Tháng Mười, 2012, 01:21:35 PM
PHỤ LỤC

Hà Nội, 25-01-1975

Má Tuyết Hà, vợ thương yêu của anh và mẹ hiền của các con,

Anh được thư em ngày 22.01.1975. Do anh Tám Hòa gởi máy bay nên nhanh, còn thư gửi cho Lâm chưa tới. Mỗi lần được thư em, anh rất mừng. Mở thư ra thấy ảnh em Thoại, anh ngỡ là em.

Đọc thư, anh lo cho em nhiều. Em ốm đau là một việc, kèm theo là hà tiện nữa thì em sẽ gầy ốm đi mãi. Ráng chữa bệnh. Không tiền, có ít đồ tư trang thì bán đi để bồi dưỡng. Sức khỏe là quý nhất. Mong em khỏe, anh mừng.

Em thương yêu,

Nhìn cảnh các con, anh vô cùng thương xót. Không biết rồi đây các con có may mắn được hưởng hạnh phúc sống trong tình thương yêu đùm bọc của cha mẹ chúng?

Hùng có vẻ trầm ngâm tư lự. Có lẽ Hùng mang một tâm tư buồn tủi như cha nó lúc tuổi còn thơ như nó? Hải có vẻ lanh hơn anh, nghịch ngợm hơn anh. Nhưng trong ánh mắt vẫn không tránh khỏi một nét buồn như anh nó, vì chưa bao giờ được sống gần cha mẹ. Còn gái Hà xem chừng vui hơn cả, sau này có thể cũng lanh lợi hơn cả, Hà đẹp và thông minh sẽ là nữ hoàng của ba, má.

Ngày tháng cứ trôi qua, các con cứ sống trong tình thương yêu đùm bọc của ông bà ngoại, của các dì rồi chúng sẽ ra sao? Nỗi lo âu đè nặng lòng anh. Sống với ông bà các dì, các con sẽ không bao giờ đói, rách, được nuông chiều, nhưng lớn lên sẽ đưa đẩy các con tới đâu? Các con sẽ đóng góp được gì cho Tổ quốc mai sau.

Với tất cả vì tương lai các con, anh suy nghĩ nhiều. Rồi đây trong cuộc sống mái với kẻ thù để giành độc lập cho non sông đất nước nào ai đoán được chữ ngờ. Rằng con có phải mang cảnh mồ côi chăng hay lại giống như cha nó thời thuở bé? Anh nghĩ cảnh của anh mà xót xa cho các con.

Ngày nay, các con được ông bà đùm bọc, dì cậu nuông chiều... ơn này cha mẹ nó ngàn năm không trả được, nhất là cha nó. Anh và em phải nhớ ơn này. Các con lớn lên phải nói cho chúng biết. Các con phải ăn ở thế nào để bù đáp lại công lao ấy.

Em thương yêu,

Em là nguồn nghị lực vô tận đối với anh. Em là người vợ đảm đang, nhất mực thương yêu chồng, có lòng tự trọng, em đã chịu đựng hy sinh để chồng yên tâm làm nhiệm vụ trong hoàn cảnh chiến tranh gian khổ, ác liệt. Gần 10 năm xây dựng với nhau, chúng mình có sống với nhau được mấy ngày đâu. Anh thương em vạn lần. Sự chịu đựng ấy của em đã tăng thêm sức mạnh cho anh lao vào việc chung...

Anh đã nhiều lần tâm sự với em. Trong chiến tranh anh đã chứng kiến không biết bao nhiêu cảnh tàn phá. Nhưng không có cảnh tàn phá nào bằng cảnh tàn phá tâm hồn và tình cảm, bằng cảnh chia ly, vợ xa chồng, con lìa cha. Năm 1969, em có thai con Hùng 6 tháng, trong hoàn cảnh ác liệt của chiến trường, anh phải xa em đi làm nhiệm vụ mãi. Có người vợ nào không đau nhói tim gan, song em đã vững dạ tiễn chồng rồi sau đó em phải xa con, gửi về ngoại. Năm 1971, em có thai con Hải, trong hoàn cảnh đói khổ hơn, anh lại đi xa thăm thẳm, lên tận đất Campuchia. Rồi được tin anh chết. Em tự sanh, tự gửi con về ngoại, lại xa con. Năm 1972. em có thai con Hà, em ở đất Campuchia, anh đi tận đồng bằng sông Cửu Long, lại được tin anh chết. Lúc con Hà hơn 5 tháng, trong hoàn cảnh tương đối dễ dàng, tưởng rằng sẽ sống gần nhau dù rằng gian khổ còn hơn chia ly nhưng nào được đâu. Anh nhớ mãi đêm cuối cùng trước khi xa em và con, Hà thức không chịu ngủ, cứ đến với ba. Rồi sau đó em phải gởi Hà về ngoại... Anh nhắc lại, anh nhớ tất cả...


*
*   *

Hà Nội, giao thừa Tết Ất Mão

Má Tuyết Hà thương yêu,

Với anh, tuy chưa làm được gì nhiều lắm đối với Tổ quốc, với nhân dân nhưng cũng không đến nỗi sống thừa trong những ngày đen tối của dân tộc. 13 tuổi anh đã lao vào cuộc chiến tranh đến nay chưa mỏi mệt. Từ tuổi xanh đến nay mớ tóc mẹ cho đã bạc màu. Anh đã sống không đến nỗi hổ thẹn với non sông đất nước, với mẹ hiền nơi chín suối, với bà con làng nước thân yêu.

Tuy nhiên, nhìn lại cuộc đời riêng tư của anh, có nhiều điều anh cứ trăn trở mãi. Mồ côi mẹ từ lúc lên 2, xa cha từ lúc lên 10, mất anh, xa tất cả bà con thân tộc, cuộc chiến tranh có thể còn kéo dài, đời người chưa biết bị xô đẩy tới đâu, liệu anh có diễm phúc tìm lại những người thân, tìm về lại nơi cội rễ của mình? Cả một đời anh chưa một lần biết nũng nịu với mẹ, chưa hề được cha dạy bảo, được chị, được bà âu yếm. Anh hoàn toàn thiếu tình cảm gia đình.

Anh đã tâm sự với em nhiều lần. Vì anh muốn gởi gắm vào vợ anh tất cả những gì thầm kín của cuộc đời mình. Anh mong tìm ở em một nguồn an ủi êm ấm cho vơi đi nỗi niềm trống vắng đó. Mọi sự chăm sóc của em đối với anh thật đã thèm. Em đã trợ lực cho anh thêm sức mạnh, là nguồn động viên tình cảm lớn với cuộc đời anh. Cám ơn em, người vợ thân yêu của anh.

Em còn nhớ ngày mình xây dựng với nhau không? Trước khi làm lễ tuyên hôn anh lại hành quân đi đánh Vạn Kiếp. Trước ngày vui mà lao vào cuộc sống chết, ai không sợ. Hôm làm lễ tuyên hôn tại Tiểu đoàn 1, cái đơn vị đối với anh thật trọn tình trọn nghĩa, hôm ấy anh không cầm được nước mắt. Ngày vui ấy má lại vào căn cứ ngoài dự kiến. Vì thương con mà má vào, tưởng đâu chết vì pháo địch bắn ở Suối Xoài. Lại nữa, đoàn công tác của anh hai Hồng Lâm cũng bất ngờ đến dự. Ngày tuyên hôn ấy vô tình lại trùng với ngày thành lập Mặt trận, 20 tháng 12. Thật có nhiều cái đáng để nhớ!

Rồi các con lần lượt ra đời. Mẹ nó phải khắc phục bao thiếu thốn, gian khổ để bảo vệ nó từ lúc còn thai nghén... Nguyễn Nam Hùng được mẹ sanh ra ngày 31.12.1969, năm Kỷ Dậu; Nguyễn Nam Hải sinh 12.05.1971, năm Tân Hợi và Nguyễn Tuyết Hà 07.11.1973, năm Quý Sửu. Ba con đều cầm tinh các loại con vật nuôi trong nhà - gà, heo, trâu - có lẽ lớn lên sẽ thuần tính, sẽ không bao giờ xa nhà, xa ba má nó.

Em thân yêu,

Còn mấy giờ nữa là giao thừa, là tết năm Giáp Dần bước sang năm Ất Mão. Mọi người, mọi nhà của Hà Nội đang chuẩn bị đón năm mới trong hòa bình và hạnh phúc. Anh đón giao thừa bằng viết thư cho em.

                                                           Thư một bức nghìn lời tâm huyết.
                                                           Đêm canh dài thức viết cho em
                                                           Bồn chồn máu chảy về tim
                                                           Chảy theo ngòi bút hiện lên thư này...

Chồng em không phải nhà thơ, không phải nhà văn. Cả một đời cho đến bây giờ chỉ quay cuồng với súng đạn, mưa bom. Bên ngoài tưởng là sắt thép lắm, song trong tình cảm riêng tư lại chứa chất bao nhiêu u hoài, bao nhiêu xót xa, buồn tủi, vì vậy càng thêm thương yêu vợ, càng lo lắng cho các con... Làm sao anh mở được trái tim mình ra xem nó bao nhiêu đường thương nhớ giành cho em và các con?

Mồng một Tết Ất Mão.

Ngày đầu năm mới, anh viết tiếp cho em. Mong rằng sang năm mới em mạnh khỏe, cố gắng nhiều, vượt qua mọi khó khăn, hoàn thành mọi công tác lúc xa anh.

Mồng năm tết, ngày 15 tháng 2, anh vào học. Anh sẽ tiếp tục học tốt. Tình hình cách mạng sắp tới có nhiều thuận lợi. Ngày thắng lợi đã gần. Nhưng trên mặt trận quân sự sẽ ác liệt hơn, mật độ phi pháo cao, đề phòng B52 tái diễn. Em cố gắng chịu đựng và vượt qua trong trận cuối cùng sắp tới...