Dựng nước - Giữ nước

Thảo luận Lịch sử bảo vệ Tổ quốc => Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước... => Tác giả chủ đề:: hoi_ls trong 18 Tháng Bảy, 2012, 10:53:17 am



Tiêu đề: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Bảy, 2012, 10:53:17 am
ANH HÙNG NGUYỄN VĂN TRỖI
(LIỆT SĨ)

(http://img33.imageshack.us/img33/6808/nguyenvantroi.jpg)


  Nguyễn Văn Trỗi, sinh năm 1940, quê ở xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, nhập ngũ ngày 17 tháng 2 năm 1964. Khi hy sinh đồng chí là chiến sĩ biệt động thành phố Sài Gòn, đoàn viên Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh.

   Nguyễn Văn Trỗi là công nhân thợ điện Sài Gòn. Sống giữa xã hội bất công thối nát của Mỹ - ngụy, hàng ngày chứng kiến những hành động tội ác của bọn tay sai bán nước và bộ mặt đểu cáng của giặc Mỹ xâm lược, anh nung nấu mối căm thù chúng. Nguyễn Văn Trỗi đã tìm đến cách mạng và được giáo dục giác ngộ. Sau đó anh tình nguyện gia nhập đội biệt động 65, Quân khu Sài Gòn - Gia Định.

   Là một thanh niên giàu lòng yêu nước và nhiệt tình cách mạng, một chiến sĩ vũ trang gan dạ, Nguyễn Văn Trỗi luôn hăng hái thực hiện mọi công tác của đội biệt động giao cho, vừa hoạt động, vừa tích cực vận động giác ngộ bạn bè tham gia công tác cách mạng.

   Tháng 5 năm 1964, Nguyễn Văn Trỗi được tổ chức giao nhiệm vụ giết tên Bộ trưởng quốc phòng Mỹ, Mác-na-ma-ra, một tên trùm tội ác chiến tranh. Đây là trận đánh mang ý nghĩa chính trị rất lớn. Lợi dụng thế hợp pháp là công nhân, vừa đi làm Nguyễn Văn Trỗi vừa nghiên cứu quy luật đi về của tên bộ trưởng chiến tranh Mỹ, suy nghĩ tím cách đánh phù hợp nhất. Theo kế hoạch chỉ đạo của trên, ngày 9 tháng 5 năm 1964, đồng chỉ thực hiện trận đánh bằng cách dùng mìn điểm hỏa bằng điện đặt ở cầu Công Lý, đón tên Mác-na-ma-ra trên đường đi ra sân bay Tân Sơn Nhất. Nhưng trận đánh chưa thực hiện được thì bị lộ và anh bị bắt.

  Địch giam Nguyễn Văn Trỗi ở khám Chí Hòa và mọi thủ đoạn từ dụ dỗ đến tra tấn dã man vẫn không khuất phục được anh. Trong những ngày bị giam cầm Nguyễn Vàn Trỗi đã đấu tranh quyết liệt với địch bâng mọi lý lẽ và ý chí bất khuất, khiến bọn chúng tức tối và kính nể. Khí phách anh hùng của anh đã cổ vũ anh em trong tù tăng thêm nghị lực đấu tranh.

   Sau 4 tháng giam giữ không làm chuyển được tấm lòng kiên trinh của Nguyên Văn Trỗi, chính quyền Nguyễn Khánh đã kết án tử hình anh. Trong những ngày còn lại của đời mình, Nguyễn Văn Trỗi vẫn lạc quan, tin tưởng và tiếp tục đấu tranh với địch. Ngày 15 tháng 10 năm 1964, chứng đã hèn hạ giết Nguyễn Văn Trỗi.

    9 phút cuối cùng ở pháp trường, Nguyễn Văn Trỗi đã hiên ngang vạch tội quân bán nước và cướp nước, khẳng định việc làm chính đáng của mình, khẳng định cách mạng Việt Nam nhất định thắng lợi. Đồng chí dõng dạc hô to 3 lần: “Hồ Chí Minh muôn năm.” Khi bị trúng đạn ngã xuống Nguyễn Văn Trỗi cố gượng dậy hô: Việt Nam muôn năm!

    Tấm gương hy sinh vô cùng anh dũng của Nguyễn Văn Trỗi đã làm xúc động dư luận trong nước và thế giới.

     Trong phiên họp bất thường ngày 17 tháng 10 năm 1964, Chủ tịch đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam quyết định tặng danh hiệu Anh hùng và Huân chương Thành đồng hạng nhất cho liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi.




ANH HÙNG NGUYỄN VĂN ĐỪNG
(LIỆT SĨ)

   Nguyễn Văn Đừng sinh năm 1938, dân tộc Kinh, quê ở ấp 1, xã Phong Mỹ, huyện Cao Lãnh tỉnh Đồng Tháp nhập ngũ ngày 5 tháng 9 năm 1959. Khi hy sinh đồng chí là tiểu đội trưởng thuộc đại đội 1, tiểu đoàn 261A (tiểu đoàn ghi rông) đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Nguyễn Văn Đừng đã tham dự hơn 30 trận chiến đấu, luôn luôn nêu cao tinh thần kiên quyết, dũng cảm, có tác phong chiến đấu rất mưu trí, linh hoạt, khi tiến công thì mãnh liệt chớp nhoáng, khi bám trụ thì gan góc kiên cường, có ý thức chấp hành chỉ thị, mệnh lệnh một cách kiên quyết, triệt để, được cấp trên tin cậy, thường giao nhiệm vụ quan trọng đột xuất trong những tình huống đặc biệt, được đồng đội yêu mến.

   Nguyễn Văn Đừng là tiểu đội trưởng của “tiểu đội gang thép” ở Ấp Bắc.

   Trong trận đánh vận động ở Thủ Thừa, 1 tiểu đoàn địch lọt vào trận địa của ta. Bộ phận chặn đầu và trinh sát của ta đã nổ súng đánh địch, nhưng chưa có lệnh của cấp trên, Nguyễn Văn Đừng vẫn kiên trì nằm phục, mặc cho địch vào cách 15 mét rồi 10 mét, khi có lệnh mới bất ngờ nổ súng tiêu diệt quân địch. Trận đánh diễn biến gay go, bọn địch triển khai chiếm địa hình có lợi chống trả lại ta rất quyết liệt. Được lệnh, đồng chí đã dũng cảm vác trung liên vượt qua bãi trống dưới làn đạn địch, thọc vào giữa đội hình của chúng, tạo thời cơ thuận lợi cho đợn vị xung phong, đánh bại tiểu đoàn “Cọp đen” nổi tiếng ác ôn.

   Trong trận đánh địch ở Gò Công, đơn vị bố trí phục kích diệt một toán quân địch. Tình huống diễn biến không như dự kiến. Quân địch hành quân hướng khác, chỉ chạm phải khúc đuôi của trận địa ta. Hai bên nổ súng chiến đấu quyết liệt. Đại bộ phận quân ta vẫn giữ được bí mật trận địa. Đại đội trưởng lệnh cho tiểu đội Nguyễn Văn Đừng bí mật vận động lên, đánh tạt sườn quân địch. Đồng chí vác trung liên dẫn đầu tiểu đội cơ động, bất ngờ đột kích mãnh liệt vào bên sườn trái, hất quân địch vào thế trận của ta. Bị đòn bất ngờ, toàn bộ đội hình quân địch rối loạn trước sức tiến công dồn dập của cả đơn vị. Kết thúc trận đánh, ta diệt 145 tên, thu nhiều súng các loại.

   Trong trận Ấp Bắc lịch sử, tiểu đội của Nguyễn Văn Đừng nhận nhiệm vụ hướng phòng ngự chủ yếu. Sau khi đã vận động ra tiêu diệt một cánh quân địch đổ bộ, trở về trận địa, đồng chí động viên anh em: “Dù ác liệt thế nào, cũng kiên quyết giữ vững trận địa, tiêu diệt địch đến cùng...”.

   Bọn địch lại tổ chức những đợt tiến công mới chúng liên tục cho phi pháo và xe M.113 đánh vào trước mặt, rồi cho máy bay lên thẳng đổ quân xuống sau lưng trận địa ta. Địch 5 lần phối hợp xung phong vào, nhưng đều bị tiểu đội của đồng chí đánh bật ra. Cho đến chiều tối,
cả tiểu đội chỉ còn lại 3 người: đồng chí và 2 chiến sĩ nữa. Địch lại tổ chức xe M.113 kết hợp với bộ binh tiến công lên. Đồng chí phân công 2 chiến sĩ tập trung diệt bộ binh, còn đồng chí chuẩn bị lựu đạn đánh xe. Chờ cho chiếc M.113 đi đầu tiến sát tới bờ hào, đồng chí nhảy vọt lên, ném thủ pháo. Chiếc xe đi đầu bốc cháy ngay tại chỗ. Chiếc đi sau vội lủi lại, vừa bắn xối xả vào chỗ đồng chí, vừa tháo lui. Tuy đã bị thương nặng, Nguyễn Văn Đừng vẫn gọi 2 chiến sĩ lại, dặn thêm một lần nữa: Quyết giữ vững trận địa... Đồng chí đã hy sinh ngay trên mép chiến hào, bên xác chiếc M.113 còn đang bốc cháy.

   Trong chiến tháng Ấp Bâc, riêng tiểu đội đồng chí đã diệt 3 xe M.113, bắn bị thương 1 chiếc khác, cùng đơn vị bắn rơi 5 máy bay lên thẳng, bắn bị thương 9 chiếc, diệt 470 tên địch. Nhân dân Ấp Bắc đã tặng tiểu đội đồng chí danh hiệu “Tiểu đội gang thép!”.

  Nguyễn Văn Đừng đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhất và là Chiến sĩ thi đua của quân khu.

  Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Nguyễn Văn Đừng được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Bảy, 2012, 11:04:15 am
ANH HÙNG VÕ NHƯ HƯNG
(LIỆT SĨ)


  Võ Như Hưng (tức Võ Như Trích) sinh ngày 5 tháng 5 năm 1929, dân tộc Kinh quê ở xã Điện Nam, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, nhập ngũ ngày 5 tháng 5 năm 1952. Khi hy sinh đồng chí là trung đội trưởng bộ đội đặc công tỉnh, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, lên 10 tuổi đã phải đi ở cho địa chủ, gia đình lại là cơ sở tốt của ta trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, được cách mạng giáo dục, Võ Như Hưng sớm giác ngộ, nhiều lần đã tình nguyện tòng quân, nhưng vì vóc người nhỏ bé nên không trúng tuyển. Mãi tới năm 1952, đồng chí mới được nhận vào bộ đội, làm chiến sĩ của trung đoàn 303, đã cùng đồng đội chiến đấu trên các chiến trường Quảng Nam, Tây Nguyên... và đã hoàn thành tốt nhiệm vụ. Sau ngày hòa bình lập lại, đồng chí tập kết ra Bắc, đến năm 1960, lại tình nguyện trở về miền Nam chiến đấu. Võ Như Hưng là một trong những dũng sĩ xuất sầc nhất trong 7 dũng sĩ Điện Ngọc.

   Cuối năm 1960, trong trận đánh bốt 6 (vùng Điện Bàn), trước giờ xuất phát mặc dù vừa mới qua cơn sốt nặng, được cấp trên cho nghỉ, nhưng Võ Như Hưng vẫn kiên quyết xin đi bằng được. Giữa lúc tình hình chiến đấu đang diễn biến khẩn trương, đồng chí bị một mảnh pháo phạt ngang làm gãy xương tay trái, nhưng vẫn nén đau cùng đồng đội anh dũng tiêu diệt địch cho tới lúc ta làm chủ hoàn toàn trận địa.

   Năm 1961, trong trận đánh Nam Thành - một trung tâm huấn luyện biệt kích của địch ở Hòa Cam, cách sân bay Đà Nẵng chừng 500 mét, địch bố phòng rất cẩn mật - đồng chí được giao nhiệm vụ phụ trách mũi tiến công chủ yếu.Vừa bước vào chiến đấu, vì nghe nhầm lệnh, đại bộ phận quân ta đều rút ra, riêng mũi của Võ Như Hưng do nhận lệnh đúng, vẫn xông thẳng vào trung tâm, diệt sở chỉ huy bọn cố vấn Mỹ. Giải quyết xong mục tiêu, biết tin cả đơn vị đã lui quân, đồng chí bình tĩnh xử trí, tổ chức cho anh em yểm hộ nhau rút từng bộ phận, dù ít người, vẫn thu 12 súng và dẫn 9 tù binh về đơn vị an toàn.

   Ngày 26 tháng 4 năm 1962, tiểu đội của Võ Như Hưng nhận nhiệm vụ thọc sâu vào lòng địch quấy phá, hỗ trợ cho đợt “phá ấp chiến lược, giải phóng thêm dân, thêm đất” do tỉnh phát động. Tiểu đội đã đi suốt từ vùng Ông Nổi, qua đồn Gò Đá, tới Quảng Lăng, Quảng Hậu, thôn 4 Điện Bàn, về đến Cẩm Sa thì bị 1 tiểu đoàn địch bao vây; và trận đánh nổi tiếng của “Bảy dũng sĩ Điện Ngọc" quanh chiếc giếng cạn đã diễn ra ở đây. Các chiến sĩ thề với nhau: “Quyết chiến đấu tiêu diệt nhiều địch, không chịu để rơi vào tay giặc". Suốt một ngày trời, cả tiểu đoàn địch mở hàng chục đợt xung phong, nhưng lần nào cũng bị đánh bật ra. Cuộc chiến đấu rất không cân sức này càng về chiều càng hết sức gay go quvết liệt. Nhiều lần địch liều chết ùa tới gần, tung lựu đạn xuống lòng giếng; anh em liền chộp lấy, ném trả lại. Tuy nhiên, cũng có quả nổ ngay trong giếng, làm một số hy sinh và hầu hết cả tiểu đội đều đã bị thương.

   Trời tối dần, 4 chiến sĩ còn lại quyết mở đường máu, vượt vòng vây. Sau một đợt tập trung lực lượng, tổ chức xung phong mãnh liệt, bất ngờ, các đồng chí đã rút ra an toàn. Đi được một đoạn, kiểm tra lại thấy còn thiếu một chiến sĩ bị thương nặng không theo kịp đồng đội, đồng chí quyết định quay lại tìm bằng được và dìu bạn vượt qua những chặng đường đầy gian khổ, hiểm nguy, ngày ẩn nấp, đêm lại tiếp tục đi, đưa đồng đội vượt vành đai giặc về đơn vị an toàn.

   Trong trận chống càn ngày 20 tháng 12 năm 1963, khi 2 đại đội địch đã lọt vào trận địa ta, Võ Như Hưng cho nổ súng. Bị đánh bất ngờ, địch hoảng hốt, tán loạn. Quân ta lập tức xung phong, truy kích đến cùng. Trên đường đuổi giặc Võ Như Hưng bị thương nặng ở bụng, đạn xuyên từ phải qua trái, làm đứt nhiều khúc ruột. Mặc dù được đưa đi bệnh viện kịp thời, và đã được tận tình cứu chữa, song vết thương quá nặng, không thể nào cứu nổi. Trên giường bệnh, tới giây phút cuối cùng, đồng chí vẫn kiên trì chịu đựng không hề rên la, luôn luôn lạc quan, tin tưởng vào tiền đồ và thắng lợi của cách mạng.

   Võ Như Hưng là một cán bộ gương mẫu trong chiến đấu củng như trong học tập và công tác; sống thẳng thắn, trung thực, thật thà, hết lòng thương yêu đồng đội, được mọi người mến phục, tin yêu.

  Ngày 5 tháng 5 năm 1965, đồng chí Võ Như Hưng được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.




ANH HÙNG NGUYỄN VIẾT KHÁI
(LIỆT SĨ)

(http://img337.imageshack.us/img337/131/scan0810170002.jpg)


  Nguyễn Viết Khái (tức Nguyễn Văn Huôi) sinh năm 1940 dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Hương Tây, huyện Cái Nước, tỉnh Minh Hải, nhập ngũ tháng 12 năm 1962. Khi hy sinh đồng chí là trung đội phó trung đội 3, đại đội Quyết Thắng, tiểu đoàn U Minh 2, tỉnh Cà Mau, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

  Năm 1954, Nguyễn Viết Khái làm liên lạc của xã. sau chuyển sang công tác thanh niên, tới năm 1961 chính thức gia nhập du kích, làm ấp đội trưởng, sang năm 1962 được cấp trên giao nhiệm vụ chỉ huy toàn bộ lực lượng du kích của xã.

   Suốt quá trình hoạt động, mặc dù gặp nhiều khó khăn, nguy hiểm, bị địch hăm dọa nhiều lần, Nguyễn Viết Khái vẫn luôn luôn vững vàng, trung thành với Đảng, với cách mạng, tích cực xây dựng phong trào, xây dựng cơ sở. Đặc biệt trong chiến đấu, đồng chí rất bình tĩnh, gan dạ, lập nhiều chiến công xuất sắc, đã tham gia trên 50 trận đánh với "nhiều cách đánh linh hoạt, táo bạo, diệt hàng trăm địch, bắn rơi 4 máv bay lên thẳng, là một trong số những dũng sĩ diệt Mỹ đầu tiên tham gia đánh bại chiến thuật “trực thăng vận” của địch ở vùng này.

   Năm 1962, bọn địch ở chi khu Bình Hưng tập trung 600 quân, chia làm 3 cánh, càn vào vùng giải phóng Tân Hưng Tây, định bất ngờ đánh úp cơ quan chỉ huy xã, diệt lực lượng du kích, cướp của cải của nhân dân rồi lùa dân vào ấp chiến lược. Trước tình thế bất ngờ đó, Nguyễn Viết Khái đã chỉ huy một tổ chiến đấu chặn đánh ghìm chân địch suốt từ nửa đêm hôm trước đến hết ngày hôm sau, bảo vệ cho cán bộ rút ra ngoài an toàn, vì bị thiệt hại nặng, địch đã buộc phải rút quân bỏ dở cuộc càn.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1962, địch dùng 40 máy bay các loại bất ngờ đổ quân xuống nhiều địa điểm hòng bao vây, tiêu diệt lực lượng du kích. Đồng chí dẫn đầu một tổ chiến đấu luồn lách khắp nơi, tìm cách đánh địch. Trong lúc đang thi hành nhiệm vụ, vì bị địch phát hiện tổ chiến đấu Nguyễn Viết Khái sa vào vòng vây của chúng. Lực lượng quá chênh lệch (1 đánh với 100), song các đồng chí cơ động chiến đấu rất linh hoạt, địch không làm gì được, càng đánh kéo dài, địch càng bị tiêu hao lực lượng, cả 5 lần địch tổ chức xung phong đều thất bại, chúng phải lủi ra xa, gọi máy bay đến ném bom và xin chi viện thêm quân. Sau 1 giờ bắn phá và ném bom dũ dội, một đoàn máy bay lên thẳng ào tới, đổ quân. Bằng 8 phát đạn tiểu liên, đồng chí đã bắn trúng 4 chiếc, 2 chiếc bốc cháy tại chỗ, 2 chiếc kia cố bay ra tới kênh 5 và khu vực Ông Xe thì rơi nốt. Hơn 60 tên địch trong 4 chiếc máy bay đều tan xác. Số máy bay lên thẳng còn lại hốt hoảng bay lên cao rồi cút thẳng.

   Sau chiến thắng này, đồng chí được quân khu cử đi học, rồi về phụ trách trung đội phó ở đại đội Quyết Thắng bộ đội địa phương tỉnh Cà Mau. Trong lần tiến công đồn Văn Cái Tây (tháng 10 năm 1963) giữa lúc trận đánh đang gay go thì trung đội trưởng hy sinh. Đồng chí đang phụ trách lực lượng dự bị ở bên ngoài, nghe tin đó, liền vào tiếp tục chỉ huy trung đội chiến đấu và dẫn đầu đội hình đơn vị xung phong vào trung tâm đồn địch. Trận đánh sắp kết thúc thì đồng chí bị trúng đạn và đã anh dũng hy sinh.

   Nguyễn Viết Khái là một cán bộ gương mẫu về mọi mặt, chiến đấu anh dũng, có hiệu suất cao, sống khiêm tốn, giản dị, trung thực, thật thà, được cấp trên tin cậy, đồng đội và nhân dân quý mến, tin yêu.

  Đồng chí đã được thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhất, 2 lần được bầu là Chiến sĩ thi đua của tỉnh và quân khu.

   Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Nguyễn Viết Khái được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Bảy, 2012, 11:07:18 am
ANH HÙNG NGUYỄN VĂN TƯ
(LIỆT SĨ)

   Nguyễn Văn Tư (tức Thành Ngọc) sinh năm 1935, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, tham gia du kích từ tháng 1 năm 1960. Khi hy sinh đồng chí là tiểu đội phó du kích của xã, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Đồng chí đã tham gia chiến đấu chống càn, bao vây quấy rối đồn bốt địch hơn 200 trận (riêng năm 1963 đánh 64 trận), diệt 46 tên địch, bắn bị thương 113 tên, bát sống 1 ác ôn, phá 3 xe quân sự, thu và phá hủy nhiều súng, đạn, máy thông tin.

   Là chiến sĩ.du kích hoạt động trong vùng địch tạm chiếm, xung quanh nhan nhản những đồn bốt địch, lực lượng vủ trang của ta ít, súng đạn thiếu Nguyễn Văn Tư đã dũng cảm, mưu trí, phát huy cách đánh độc lập, nhỏ lẻ. Với vũ khí thô sơ, chủ yếu là chông, mìn, bẫy, lựu đạn... lúc thì bí mật phục bắt, diệt những tên lính, ác ôn đi lẻ, lúc thì bố trí bãi chông mìn chặn địch càn vào xã, nhiều lần đồng chí đã bò vào bốt địch quấy rối, bắn trả tiêu hao dần lực lượng chúng, đặc biệt đã sáng tạo ra cách đánh bằng ong vò vẽ.

   Tháng 8 năm 1962, do nắm được những toán địch thường hay đi lẻ vào xóm dọa nạt, cướp bóc tài sản của đồng bào, Nguyễn Văn Tư chỉ huy một tổ du kích bí mật vào nằm phục sát đồn địch, đợi lúc lực lượng địch rời khỏi đồn, liền tranh thủ cơ hội thuận tiện xông vào diệt tên đồn trưởng, thu vũ khí rồi trở về an toàn.

   Tháng 6 năm 1963, lần đầu có lựu đạn, Nguyễn Văn Tư nghĩ ra cách đánh rất sáng tạo và mưu trí: gài lựu đạn ở dưới, đặt mìn giả lên trên, rồi làm như sơ ý rải dây chưa thật kín để nhử địch. Sáng hôm sau, địch đi tuần tra phát hiện ra dấu vết, liền đào gỡ mìn để mang về lĩnh thưởng, nhưng khi kéo quả mìn giả lên, lựu đạn ở dưới nổ tung 1 tên địch chết ngay tại trận và 3 tên khác bị thương nặng... Hoạt động ở hậu địch, vũ khí của du kích thường rất hiếm, nhất là lựu đạn, đồng chí tổ chức chỉ huy anh em bò vào đồn bốt địch tháo gỡ lựu đạn chúng gài ở hàng rào về, dùng lựu đạn của địch giết địch.

   Đồng chí còn nghĩ ra cách dùng ong vò vẽ để đánh địch. Lần đầu chưa có kinh nghiệm, Nguyễn Văn Tư bị ong đốt sưng cả mặt, nhưng thấy cách đánh có hiệu quả, đồng chí đã kiên trì vừa làm vừa rút kinh nghiệm cải tiến cách bố trí xen kẽ chông mìn, cạm bẫy với hệ thống các tổ ong để tiếp tục đánh địch. Sau 30 trận sử dụng ong vò vẽ, tính ra đồng chí đã diệt và làm bị thương hơn 50 tên địch khiến chúng hoang mang lo sợ, không còn dám ngông nghênh ra ngoài bốt đi càn và cướp như trước nứa.

   Ngoài nhiệm vụ chỉ huy và trực tiếp chiến đấu, Nguyễn Văn Tư còn tích cực tuyên truyền vận động bà con đấu tranh, nổi dậy phá ấp chiến lược trở về làng, và tham gia chế tạo vú khí, vót chông, làm bẫy, rào làng chiến đấu để ngăn chặn địch. Trong trận chiến đấu ngày 26 tháng 10 năm 1964, không may Nguyễn Văn Tư bị địch bắn gãy một chân và bị chúng bắt. Mặc dù bị tra tấn rất dã man, đồng chí vẫn nêu cao tinh thần kiên cường, bất khuất, không để lộ bí mật, dũng cảm bảo vệ đồng bào, đổng chí đến hơi thở cuối cùng.

  Nguyễn Văn Tư đã luôn luôn gương mẫu trong mọi mặt công tác, học tập và lao động sản xuất, chú ý xây dựng và phát triển đội du kích vửng mạnh toàn diện, làm nòng cốt cho phong trào đấu tranh cách mạng ở địa phương, được nhân dân tin yêu, đồng đội mến phục.

   Hai năm liền (1963-1964) đồng chỉ ìà Chiến sĩ thi đua của Quân khu.

  Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Nguyễn Văn Tư được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.



ANH HÙNG MAI THANH THẾ
(LIỆT SĨ)

   Mai Thanh Thế (tức Hồng Kiên), sinh năm 1941 dãn tộc Kinh, quê ở xã Mỹ Quới, huyện Thạnh Trị , tỉnh Sóc Trăng, nhập ngũ tháng 6 năm 1961. Khi hy sinh đồng chí là chiến sĩ đặc công của huyện, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, có truyền thống yêu nước (bố, mẹ, anh, em đều tham gia công tác kháng chiến) được gia đình giáo dục và cán bộ dìu dắt, Mai Thanh Thế sớm giác ngộ, tham gia công tác cách mạng từ nhỏ, là một cậu bé liên lạc gan dạ, có nhiều mưu mẹo, sáng kiến.

   Từ ngày nhập ngũ Mai Thanh Thế luôn luôn tỏ ra là một chiến sĩ có tinh thần dũng cảm ngoan cường, thường xung phong đi đầu trong những lúc khó khăn, nguy hiểm, chấp hành nghiêm mệnh lệnh, hoàn thành xuất sâc mọi nhiệm vụ. Bị thương nhiều lần, đồng chí vẫn không rời trận địa, khi bị thương cụt cả hai tay, vẫn tiếp tục động viên, cổ vũ đồng đội xông lên tiêu diệt quân thù.

   Trong trận quấy rối đồn Cầu Trâu năm 1961, lúc rút ra, 1 chiến sĩ trong tổ bỏ quên chiếc mã tấu trong hàng rào, Mai Thanh Thế xin ban chỉ huy cho quay lại lấy. Đồng chí nói: “Đất nước ta còn nghèo, trang bị của quân đội ta còn rất thiếu thốn, vũ khí của Đảng, của nhân dân giao cho, mình bỏ lại là có khuyết điểm lớn, gây thành tác phong xấu trong đơn vị”. Đồng chí bò vào, lấy bằng được, mặc dù lúc đó đạn địch trong đồn đang bắn ra rất dữ.

   Tháng 8 năm 1962, trong một trận đánh đồn, khi hết cả thủ pháo, lựu đạn để mở cửa, Mai Thanh Thế đã kiên quyết dùng mã tấu xông lên chặt hàng rào, dưới hỏa lực dày đặc của địch, mở đường cho bộ đội xung phong.

   Đồn Văn Tiến là nơi địch bố phòng kiên cố, ngoài 4 lớp rào kẽm gai, xen lẫn với mìn, chúng còn đào mương, thả chó, và thắp đèn điện sáng rực suốt đêm. Đồng chí vẫn quyết tâm tìm mọi cách lọt vào điều tra nẳm vững tình hình địch và địa hình, rồi dẫn đường đưa đơn vị vào đánh nhanh, diệt gọn.

   Ngày 28 tháng 7 năm 1962, đơn vị đi đánh đồn Cầu Trâu (một đồn khét tiếng gian ác đã gây nhiều nợ máu ở vùng này), tổ đồng chí được giao đảm nhiệm múi chủ yếu. Mai Thanh Thế đã thề dưới cờ Đảng: “Quyết diệt sạch lũ giặc trong đồn, trả thù cho đồng bào, đồng chí, dù có phải hy sinh cũng quyết hoàn thành nhiệm vụ...” Trận đánh rất ác liệt, gặp khó khăn ngay từ đầu. Vừa vượt qua cửa mở, đồng chí đã bị thương, vào ngực. Khi xung phong, tay trái lại bị mảnh lựu đạn phạt gãy. Không do dự, Mai Thanh Thế nhờ bạn cắt hẳn cho khỏi vướng, băng tạm rồi dẫn tổ mũi nhọn của mình tiếp tục xông lên. Địch vẫn điên cuồng chống cự. Một quả lựu đạn nữa nổ gần, văng mảnh vào trán và cắt gãy nốt cánh tay phải của đồng chí. Ban chỉ huy cho ngay 2 chiến sĩ cáng đồng chí ra ngoài, song đồng chí nhất định không nghe:

   - Nhiệm vụ của tổ tôi chưa hoàn thành, nhất định tôi không rời trận địa, xin cứ cho tôi ở đây với anh em!...

   Và đồng chí tiếp tục vừa quan sát địch, vừa động viên đồng đội chiến đấu tới phút cuối cùng...

   Mai Thanh Thế đã nêu cao tấm gương hy sinh dũng cảm, sống oanh liệt, chết vẻ vang, giữ vững quyết tâm chiến đấu đến cùng, ơ đồng chí, luôn luôn thể hiện tinh thần đoàn kết lập công tập thể và tình thương yêu đồng đội sâu sắc, sẵn sàng nhận khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho bạn.

   Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Mai Thanh Thế được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Bảy, 2012, 11:11:49 am
ANH HÙNG TRỪ VĂN THỐ
(LIỆT SĨ)

   Trừ Văn Thố sinh năm 1936, dân tộc Kinh, quê ở xâ Thanh Hòa, quận Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, vào du kích tháng 10 năm 1961, nhập ngũ tháng 4 năm 1962. Khi hy sinh đồng chí là chiến sĩ trinh sát đặc công, đơn vị Q.272.(sau này là trung đoàn 2 - sư đoàn 9).

   Thời gian ở du kích cũng như khi chuyển sang đơn vị chủ lực, dù nhận bất cứ nhiệm vụ gì Trừ Văn Thố luôn luôn tỏ ra là một chiến sĩ dũng cảm, kiên cường, có quyết tâm cao trong học tập, bình tĩnh, vững vàng trong mọi tình huống ác liệt, khó khăn, đã lấv thân mình lấp lỗ châu mai, dập tắt hỏa điểm địch, tạo điều kiện cho toàn đơn vị xung phong giành thắng lợi hoàn toàn cho trận đánh.

   Năm 1961, trong một trận đánh địch càn vào xã, đồng chí bị thương ở ngực, vẫn bám trận địa chiến đấu, cổ vũ đồng đội kiên cường chặn địch, buộc chúng phải lui quân.

   Năm 1962 đơn vị Trừ Văn Thố hoạt động ở chiến khu Đ gian khổ, bị địch truy quét thường xuyên, ác liệt, đồng chí vẫn vững vàng bám trụ, nắm tình hình địch chính xác, kịp thời giúp cấp trên tổ chức nhiều trận đánh thắng lợi.

   Tháng 4 năm 1963, đồng chí được cử đi học trinh sát, rồi về bổ sung vào đơn vị đặc công Q.272.

   Trong trận đánh bốt Cây Trường (ngày 18 tháng 10 năm 1963), đồng chí đã lập chiến công xuất sắc. Cây Trường là một vị trí án ngữ đường số 13 và khu tam giác Dinh Điền - Cẩm Xe - Văn Hữu. Đó cũng là nơi tập kết để bọn biệt kích, ác ôn xuất phát đi đánh phá chiến khu Long Xuyên, vì vậy, bọn địch bố trí phòng thủ bảo vệ rất chặt chẽ. Hàng tháng ròng, Trừ Văn Thố len lỏi vào vị trí nắm địch tình, giúp trên hạ quyết tâm chiến đấu chính xác. Ngày nổ súng, đồng chí được giao nhiệm vụ cùng tổ đánh khu cố thủ (trên lô cốt cố thủ còn có pháo đài cao 7 mét) ở hướng chủ yếu. Do giữ được bí mật bất ngờ, nên ngay loạt tiếng nổ đầu tiên, quân ta đã đánh sập luôn lô cốt B, C mở xong hàng rào tiền duyên và bắn vỡ pháo đài. Nhưng từ lô cốt A (khu cố thủ), hỏa lực địch vấn quét mạnh cản đường. Nhiều chiến sĩ ở hướng chủ yếu, trong đó có hai tổ viên của tổ đồng chí đã bị thương và hy sinh. Căm thù sôi sục nhưng vẫn hết sức bình tĩnh Trừ Văn Thố quan sát đường tiến rồi ôm bộc phá trườn lên. Một loạt trung liên từ lỗ châu mai bắn ra, đạn xuyên qua đùi, làm đồng chí tê dại cả một bên chân. Đồng chí nghiến răng chịu đau, lê lên đặt bộc phá áp sát vào lô cốt. Một cột lửa bùng lên, tiếp theo một tiếng nổ dậy đất. Lô cốt địch lặng đi vài giây rồi hỏa lực từ lỗ châu mai lại tiếp tục phụt ra. Trừ Văn Thố rút 2 trái thủ pháo ném tiếp vào lỗ châu mai địch, nhưng hỏa điểm vẫn chưa bị dập tắt. Đội hình tiến quân của ta ùn lại, đồng đội tiếp tục bị thương vong. “Bằng giá nào cũng phải diệt được lô cốt địch, mở đường cho xung kích tiến lên”. Chăm chú nhìn lô cốt địch, mắt nảy lửa hờn căm, chợt nhớ đến gương Phan Đình Giót, đồng chí thấy lúc này chính là lúc phải hy sinh dũng cảm, hành động như người anh hùng Điện Biên Phủ năm xưa. Trừ Văn Thố nén đau, ráng sức toài dần lên, rồi bất ngờ bật dậy, lao người vảo lỗ châu mai, dùng thân mình bịt kín họng súng liên thanh của địch, tạo thời cơ cho đồng đội ào ạt xung phong.

   Gương hy sinh dũng cảm, xả thân vì nhiệm vụ của Trừ Văn Thố đã góp phần cống hiến xuất sắc cho trận đánh thắng lợi.

   Khi còn sống, Trừ Văn Thố là một chiến sĩ hiền lành, chất phác, sống giản dị, khiêm tốn, hết lòng thương yêu đồng đội, được mọi người tin cậy, mến yêu.

   Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Trừ Văn Thố được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.




ANH HÙNG NGÔ MINH TRỊ
(LIỆT SĨ)

(http://img14.imageshack.us/img14/163/scan0810170003.jpg)


   Ngô Minh Trị (tức Ba Bảy) sinh năm 1936, dân tộc Kinh, quê ở xã Thanh Tuyền, huyện Bến Cát, tỉnh Sông Bé nhập ngũ năm 1957. Khi hy sinh, đồng chí là tiểu đội phó đơn vị đặc công 60, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

  Gia đình đồng chí rất nghèo, vừa làm ruộng thuê, vừa đi làm ở sở cạo mủ cao su để sinh sống. Sau Cách mạng tháng Tám, Ngô Minh Trị được nuôi dưỡng và lớn lên trong vùng căn cứ kháng chiến cũ của ta, do đó sớm có lòng yêu nước nồng nàn và căm thù giặc sâu sắc.

  Năm 1954, sau ngày ký Hiệp nghị Giơ-ne-vơ Ngô Minh Trị làm công tác ở Đoàn thanh niên xã, rồi được giới thiệu vào lực lượng vũ trang huyện, năm 1957, được chọn vào đơn vị đặc công 60. Đồng chí đã tham gia nhiều trận đánh lớn, lập công xuất sắc.

   Năm 1957, trong trận đánh tiêu diệt 1 tiểu đoàn địch khi chúng định phá rừng, mở đường quân sự ở Sông Bé - Mã Đà, Ngô Minh Trị tỏ ra rất dũng cảm, gan dạ, quyết tâm vượt qua mọi gian khổ khó khăn, thực hiện bằng được nhiệm vụ. Trong trận tập kích đồn Minh Thạnh - Bình Long, đồng chí đã góp phần diệt và làm tan rã hơn 2 đại đội địch. Trong trận đánh quận lỵ Dầu Tiếng (tháng 8 năm 1958) Ngô Minh Trị là tổ trưởng tổ thọc sâu đánh vào khu vực sở chỉ huy của địch, đã cùng với anh em hoàn thành xuất sâc nhiệm vụ, góp phần cùng đơn vị diệt và làm tan rã 5 đại đội địch, thu trên 200 súng các loại...

   Trong trận đánh vào cứ điểm sư đoàn 21 ngụy ở Tua Hai (Tây Ninh) ngày 5 tháng 1 năm 1960, Ngô Minh Trị được chọn vào tổ mũi nhọn, đánh thẳng vào sở chỉ huy sư đoàn địch, phát tiếng nổ đầu tiên làm hiệu lệnh cho toàn đơn vị tiến công. Giữa lúc các mũi, hướng còn đang luồn sâu cách bờ thành khoảng 200 mét, địch “đánh hơi” thấy. Chúng liền thổi kèn báo động tất cả 5 tiểu đoàn, đồng thời điều một đoàn xe chở một trung đoàn từ Tây Ninh xuống ứng cứu. Nhận được lệnh cấp trên cho nổ súng chiến đấu, tổ của đồng chí (lúc này đã vượt qua hàng rào, vào trong bờ thành và qua một con mương sâu 1,5 mét, rộng 3 mét) lập tức xung phong, sở chỉ huy sư đoàn 21 ngụy chỉ còn cách 400 mét, nhưng trước mặt là 2 tiểu đoàn địch đang bố trí dày đặc. Phát hiện quân ta, chúng bắn chặn mãnh liệt. Tổ có 3 người, thì 1 đã hy sinh, 2 người còn lại đều đã bị thương cả. Bằng bất cứ giá nào cũng phải hoàn thành nhiệm vụ, nghĩ vậy Ngô Minh Trị nén đau đớn, ôm trái phá tiếp tục trườn lên. Địch thấy có một mình Ngô Minh Trị liền xô lại định bắt sống. Ngô Minh Trị miệng hô xung phong, tay chuẩn bị rút kíp nổ, xông thẳng vào giữa đội hình địch. Chúng hốt hoảng sợ chết vội tản rộng ra xung quanh. Lợi dụng khoảnh khắc ngắn ngủi ấy, đồng chí vọt thẳng vào khu sở chỉ huy địch, tung trái nổ, phát lệnh cho toàn trận đánh. Hai con chó béc-giê nhảy lại cào cấu, Ngô Minh Trị ném lựu đạn hơi đánh cho chó giạt ra, rồi lại xông lên, ném tiếp trái nổ thứ hai. Trong khói đạn mịt mù, đồng chí xông xáo chiến đấu hết sức dũng cảm, đoạt súng giặc giết giặc, cho tới khi bị thương lần thứ ba, thủng bụng Ngô Minh Trị vẫn không rời tay súng.

   Ngô Minh Trị hy sinh, nhưng đã góp phần tích cực để trận đánh tháng lợi giòn giã. Quân ta đã diệt 800 tên địch, bắn bị thương 700, bắt sống 500, thu 1.540 súng các loại. Trận đánh gây chấn động rất mạnh trong quân ngụy, làm cho cả hệ thống đồn bốt địch ở Y.1 và Y.4 phải rút chạy, vùng giải phóng của ta được mở rộng thêm...

   Ngô Minh Trị là một chiến sĩ sống trung thực, giản dị, chan hòa cùng đồng đội, luôn luôn được mọi người tin cậy thương yêu. Khi đồng chí hy sinh, cả đơn vị đều xót xa, thương tiếc.

   Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Ngô Minh Trị được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Bảy, 2012, 02:05:19 pm
ANH HÙNG HỒ VĂN BÉ

(http://img708.imageshack.us/img708/4130/scan0810170004.jpg)


    Hồ Văn Bé (tức Hồng Hải) sinh năm 1941, dân tộc Kinh, quê ở xã Lương Hòa Lạc, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang, nhập ngũ ngày 6 tháng 4 năm 1963. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung đội trưởng công binh đặc công của huyện, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Trong kháng chiến chống Pháp, cha mẹ Hồ Văn Bé đều tham gia hoạt động cách mạng. Bố làm xã đội trưởng nhiều năm, năm 1949 bị giặc Pháp bắt giam 44 tháng liền, sau ngày ký Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, lại bị Mỹ - Diệm cầm tù 18 tháng nữa, mẹ làm giao liên, cũng bị địch bắt vào tù, tra tấn cho đến chết. Mang truyền thống gia đình cách mạng, lại được cán bộ giúp đỡ, Hồ Văn Bé đã sóm tham gia công tác, làm liên lạc., rải truyền đơn, canh gác bảo vệ cho cán bộ; lớn lên trở thành đội viên du kích rồi gia nhập bộ đội.

   Đồng chí đã tham gia 57 trận, đánh đổ 2 cầu sắt, phá sập và hỏng 9 cầu xi măng, phá hủv 5 xe, diệt 29 tên địch, trong đó có 8 sĩ quan Mỹ, 1 trung tá tỉnh trưởng Mỹ Tho, tỉnh đoàn phó bảo an và 6 sĩ quan khác, làm bị thương 19 tên.

   Trong chiến đấu, đồng chí đã tỏ ra rất dũng cảm. Khi đánh tập kích thường đi đầu tổ mũi nhọn; khi phá cầu, đánh xe dù địch canh phòng cẩn mật đến đâu, đồng chí cũng kiên quyết tìm cách lọt vào được, đánh xong còn bĩnh tĩnh ở lại xem xét kết quả để rút kinh nghiệm.

   Trong trận Trung Hà - Chợ Gạo (1962), trung đội của đồng chí bị 700 quân lính thủv đánh bộ bao vây. Đồng chí tự nguyện xin cho tiểu đội của mình ở ỉại chiến đấu kìm chân địch, yểm hộ cho 2 tiểu đội bạn rút trước. Địch tiến công nhiều lần, nhưng đều bị đánh bật trở ra, Trời tối dần, chúng buộc phải co cụm lại, song tiểu đội đồng chí cũng thương vong gần hết, chỉ còn lại Hồ Văn Bé và một chiến sĩ nữa đã bị thương. Dù rất mệt và đói đồng chí cố gắng cõng bạn vượt vòng vây, đưa về gửi một gia đình cơ sở nhờ chăm sóc, rồi dẫn anh em du kích trở lại tìm kiếm rất cẩn thận, không để sót một tử sĩ nào trên trận địa.

   Trong trận đánh cầu Trịnh Hà, tháng 11 năm 1963. Hồ Văn Bé vào ra 6 đêm liền để nghiên cứu cách đánh. Cách cầu 120 mét có một cơ quan tham mưu Mỹ và 1 tiểu đoàn ngụv đóng. Chúng tuần tra, canh gác suốt đêm, bố trí hỏa lực dày đặc xung quanh để bảo vệ cầu. Xét thấy đánh đêm không ổn, đổng chí quyết định đánh ban ngày. Lợi dụng lúc địch sơ hở giữa hai phiên đổi gác, Hồ Văn Bé đã táo bạo cải trang, đưa mìn vào đặt và đánh sập cầu.

   Cuối tháng 3 năm 1964, chấp hành chỉ thị của cấp trên phải tìm mọi cách diệt bằng được bọn chỉ huy tiểu khu đầu sỏ của địch. Hồ Văn Bé đã theo dõi, điều tra nhiều lần dọc lộ Hòa Tịnh cho tới khi nắm được quy luật của bọn sĩ quan Mỹ, ngụy qua lại lộ này. Ngày 8 tháng 4 năm 1964, Hồ Văn Bé cải trang thành người bắt ếch trà trộn với dân đi làm đồng, chuẩn bị đánh địch. Bỏ qua những xe to chở lính và trang bị, đồng chí kiên trì chờ tới 4 giờ chiều nhằm đúng lúc 2 chiếc xe con (thường chở bọn sĩ quan cao cấp) chạy tới, đồng chí mới nổ mìn, chiếc đi đầu bị đứt làm đôi; 2 tên cố vấn Mỷ, 3 tên sĩ quan ngụy và tên phiên dịch tan xác; chiếc đi sau bị hất quay ngang rồi lao đầu xuống ruộng, thêm 3 tên nữa bỏ mạng.

   Ngày 24 tháng 4 năm 1964, biết tin tên trung tá tỉnh trưởng Trần Hoàng Quân sẽ qua lộ Phú Kiết, Hồ Văn Bé liền đặt mìn mai phục. Bỏ qua các xe cảnh sát, xe chở lính bảo vệ, đồng chí chờ khi chiếc xe con xuất hiện đúng vị trí đặt mìn mới điểm hỏa. Trái mìn nổ đã hất tung chiếc xe con xuống rạch: cả 2 tên tỉnh trưởng vả phó tỉnh trưởng cùng với 2 cố vấn Mỹ cao cấp, cả tên quận trưởng với tên lính bảo vệ đi cùng đều chết ngay tại chỗ.

   Hồ Văn Bé luôn luôn gương mẫu trong mọi công tác, chấp hành nghiêm mọi chì thị, mệnh lệnh cấp trên, đoàn kết, thương yêu, tận tình giúp đỡ đồng đội, nhất là trong những lúc nguy hiểm khó khăn, được anh em tin yêu, mến phục.

  Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng ba, nhiều lần được cấp trên cấp giấy khen, bằng khen.

  Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Hồ Văn Bé được Uy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.




ANH HÙNG LÊ QUANG CÔNG

(http://img20.imageshack.us/img20/4367/lequangcong.jpg)

    Lê Quang Công (tức Thanh Long) sinh năm 1938, dân tộc Kinh, quê ở xã Mỹ Phước Tây, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, nhập ngũ ngày 8 tháng 7 năm 1960. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại đội trưởng đại đội 2 bộ đội địa phương tỉnh Mỹ Tho, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Trước khi vào quân đội, Lê Quang Công là du kích của xã, đã tham gia một số trận đánh, diệt 2 cảnh sát, 18 lần phá thế kìm kẹp của địch, bắt và cảnh cáo 40 tề ngụy, nhiều lần chiến đấu bảo vệ cán bộ qua lộ an toàn.

   Gần 5 năm ở quân đội, đồng chí đã dự 62 trận đánh (không kể các trận nhỏ, lẻ), tự tay diệt 26 tên địch (trong đó có 1 cố vấn Mỹ), làm bị thương 35 tên, bắt sống 12 tên, thu 27 súng, 60 lựu đạn, góp phần cùng đơn vị bán rơi 1 máy bay, bân bị thương 5 chiếc khác và bắn cháy 2 xe lội nước.

   Lê Quang Công là tấm gương tiêu biểu cho tinh thần kiên quyết xung phong, liên tục tiến công quân địch, khi bố trí chặn địch thì ngoan cường, dũng cảm giữ vững trận địa, tìm thế phản công, phát hiện địch sơ hở là nắm thời cơ nhanh chóng phản xung phong tiêu diệt địch, giành thẳng lợi.

  Tháng 11 năm 1963, nắm thời cơ địch vừa đảo chính lật đổ nhau, còn đang hoang mang, đơn vị đồng chí phối hợp với đơn vị bạn đánh địch suốt 6 ngày đêm liền, diệt 10 đồn bốt ở địa phương, phá 6 ấp chiến lược. Sau đợt này, đồng chí lại đưa đơn vị xuống hoạt động ở vùng Chợ Gạo, chiến đấu liên tục 33 ngày đêm nữa.

   Trong trận đánh đồn Tân Thành, đội xung kích một gặp khó khăn không lên được, đồng chí lúc đó đang ở phía sau, nhận được lệnh lên chỉ huy, đã kiên quyết tổ chức xung phong, dẫn đầu đơn vị xông vào cứ điểm, tiêu diệt gọn đồn địch. Trong trận này, đồng chí bị tới 13 vết thương trên lưng, nhưng vẫn bình tĩnh chỉ huy đơn vị cho tới khi hoàn thành được nhiệm vụ.

   Trong trận tập kích bốt Cầu Cả Quới, nhằm mở rộng thắng lợi của đợt hoạt động, đồng chí được phân công chỉ huy tổ xung kích, đánh trong điều kiện ta chưa trinh sát nắm địch. Vừa vào tới hàng rào thứ hai thì bị lộ, địch bắn ra dữ dội, Ngô Quang Công xử trí rất nhanh, bật dậy ném liền 2 quả lựu đạn vào lô cốt đầu cầu, rồi chỉ huy tổ xông lên đánh chiếm, sau đó phát triển thẳng vào trung tâm. Do bị đánh nhanh, mạnh, địch không kịp đối phó nên trận đánh đã dứt điểm nhanh, gọn.

   Trong trận chống càn Mỹ Tịnh An (tháng 7 năm 1963), địch dùng 2 máy bay tiêm kích, 1 máy bay lên thẳng vủ trang, 3 xe bọc thép và 15 xe lội nước bẳn phá dử dội vào trận địa ta, rồi 3 tiểu đoàn bộ binh dàn hàng ngang tiến vào. Ngô Quang Công đã bình tĩnh chỉ huy phân đội, phối hợp với đơn vị bạn chiến đấu, ngăn chặn địch rất quyết liệt. Sau 2 giờ, địch bị đánh bật trở ra, phải củng cố và gọi máy bay đến oanh tạc, sau đó 9 máy bay lên thẳng tới đổ thêm 1 tiểu đoàn, mở tiếp 2 đợt tiến công nửa. Ngô Quang Công vẫn bình tĩnh quan sát và chỉ huy phân đội chiến đấu, bắn rơi thêm 1 máy bay địch, giữ vững trận địa. Đến tối, được lệnh rút, đồng chí đã tổ chức chỉ huy đơn vị vừa đánh địch, vừa đưa toàn bộ thương binh, tử sĩ ra ngoài. Tính chung ngày hôm đó, đơn vị đồng chí đã đánh lui 4 đợt xung phong của 4 tiểu đoàn địch, diệt 50 tên, bắn rơi 1 máy bay.

   Trong trận chống càn Qướn Long ngày 20 tháng 7 năm 1963, địch huy động 8 tiểu đoàn, 27 tàu chiến, 42 xe lội nước, 23 máy bay, 8 khẩu pháo 105 và 155 mi-li-mét, ồ ạt bắn phá và tổ chức liên tiếp 4 đợt xung phong hòng áp đảo quân ta. Ròng rã suốt 1 ngày, chúng không sao đánh chiếm được Qướn Long. Đơn vị Lê Quang Công đã giữ vững trận địa đến tối và rút ra ngoài an toàn theo mệnh lệnh. Trong trận này, địch chết và bị thương 380 tên (có một số Mỹ), mất 1 máy bay HU.1-A và 1 xe lội nước.

   Lê Quang Công luôn luôn gương mẫu trong mọi mặt công tác, ngoài nhiệm vụ chiến đấu, đồng chí còn chú ý xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện.

  Đồng chí đã được thưởng 2 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng ba, 2 giấy khen, bằng khen và được bầu là Chiến sĩ thi đua của quân khu.

  Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Lê Quang Công được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Bảy, 2012, 02:09:21 pm
ANH HÙNG TRẦN DƯỠNG

(http://img36.imageshack.us/img36/3052/tranduong.jpg)

  Trần Dưỡng (tức Trần Phát), sinh năm 1942, dân tộc Kinh, quê ở xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, nhập ngũ ngày 12 tháng 9 năm 1960. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là chiến sĩ trinh sát đơn vị V.10 của tỉnh, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Sinh trưởng trong một gia đình cách mạng, mẹ bị giặc Pháp bắn chết, cha là cán bộ xã, bị Mỹ - Diệm bắt và thủ tiêu trong vụ Vĩnh Trinh năm 1955, Trần Dưỡng ôm mối thù sâu với bọn đế quốc và bè lũ tay sai, đến năm 18 tuổi, đồng chí rủ 4 thanh niên cùng chí hướng đi tìm cách mạng. Nhập ngũ chưa đầy 5 năm, đồng chí đã đánh 29 trận, giết và làm bị thương 59 tên địch, bắt sống 26 tên, thu 19 súng các loại.

   Là một chiến sĩ trinh sát, Trần Dưỡng luôn luôn thể hiện tinh thần dũng cảm, mưu trí, táo bạo, lúc chuẩn bị chiến trường bao giờ cũng tìm mọi cách điều tra nắm chắc tình hình địch và địa hình phục vụ đắc lực cho các trận đánh. Khi chiến đấu, đồng chí thường phụ trách tổ dao nhọn thọc sâu của đơn vị. Trường hợp hãn hữu bị địch vây, đồng chí dũng cảm đánh gần, đánh thọc sườn quân địch, mở đường máu phá vây.

   Trong trận đanh vào trụ sở bảo an, nơi ngụy quyền Sài Gòn tổ chức cuộc bầu cử tổng thống của chúng năm 1961. Mặc dù kẻ địch đã tổ chức canh phòng cẩn mật, Trần Dưỡng vẫn chỉ huy một tổ bí mật, táo bạo, ém vào phục trong một cái tủ lớn ở phòng họp. Khi chúng khởi sự, bất ngờ tổ đồng chí đạp tung cánh tủ lao ra chiến đấu, diệt nhiều địch, phá vỡ cuộc bầu cử. Đồng bào có mặt hôm đó rất phấn khởi và khâm phục.

   Tháng 6 năm 1962, trên đường đi lấy gạo, đơn vị sa vào ổ phục kích của 1 đại đội bảo an và 3 trung đội thuộc tổng đoàn biệt kích ngụy. Tổ đồng chí đi trước, ngav phút đầu, đã hành động nhanh chóng chuyển từ bị động sang tiến công, diệt gọn ổ trung liên địch, rồi dùng luôn súng đó bắn vào giữa đội hình địch bảo vệ cho toàn đơn vị ở phía sau. Phát hiện thấy địch cơ động một bộ phận lực lượng, có đại liên yểm hộ, địch đánh tạt sườn, hòng ép ta ra bờ sông, Trần Dưỡng liền dẫn tổ xông thẳng tới, diệt ổ đại liên, chặn đứng mũi tiến quân của địch, rồi tự nguyện chỉ huy tổ ở lại chặn địch, yểm hộ cho toàn đơn vị rút. Thoát khỏi trận địa phục kích của địch, vừa lui tới đầu cầu, đơn vị lại sa vào ổ phục kích khác của 1 trung đội bảo an. Trần Dưỡng liền nhanh chóng dẫn tổ của mình vận động ra phía sau địch, nổ súng xung phong. Địch không dám đánh, vội vàng bỏ chạy. Đường thông, ta có thể rút được an toàn, nhưng ba thương binh còn nằm trong trận địa. Đồng chí lại xin nhận nhiệm vụ cho tổ của mình trở lại đưa anh em ra, vừa chiến đấu diệt thêm một số địch, vừa cõng được ba thương binh về hậu cứ an toàn.

   Trong trận đánh tổng đoàn Xuân Phú tháng 9 năm 1962, Trần Dưỡng ra vào trinh sát 2 lần. Lần thứ nhất, cải trang thành dân vệ, đi thẳng vào ấp, xem xét công khai. Lần thứ hai, Trần Dưỡng đi trinh sát đêm, luồn qua các hàng rào, vào nắm tình hình tận trong các khu vực địch ở. Đêm thứ ba, đồng chí vừa là người dẫn đường, vừa chỉ huy tổ đảm nhiệm mở hàng rào, đánh sâu tới khu vực trung tâm.

   Do điều tra nắm vững địch, kế hoạch tác chiến chính xác, tỉ mỉ, nên trận đánh diễn ra rất nhanh, ta diệt gọn toàn bộ quân địch.

   Tháng 2 năm 1963, Trần Dưỡng chuyển về đội công tác Quế Xuân, hoạt động trong vùng sầu rất gian khổ và căng thẳng, nhưng đã kiên trì công tác, xây dựng được nhiều cơ sở trung kiên, đào hầm bí mật nuôi giấu cán bộ, diệt trừ ác ôn, tạo điều kiện cho quần chúng nổi dậy đấu tranh. Trần Dưỡng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

   Trong chiến đấu, Trần Dưỡng rất mưu trí, dũng cảm, có tác phong linh hoạt, tiêu diệt được nhiều sinh lực địch, lấy được nhiều vũ khí, xung phong nhận mọi nhiệm vụ khó, nguy hiểm về mình, với đồng đội thì chí nghĩa, chí tình.

   Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Trần Dưỡng được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.




ANH HÙNG HUỲNH VĂN ĐẢNH

(http://img43.imageshack.us/img43/2853/huynhvandanh.jpg)

  Huỳnh Văn Đảnh (tức Thanh) sinh năm 1939, dân tộc Kinh, quê ở xã Đức Tân, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An, tham gia cách mạng từ năm 1955 vào du kích tháng 7 năm 1960 nhập ngũ ngày 18 tháng 10 năm 1963. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là chính trị viên trung đội bộ đội địa phương huyện, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Nhà nghèo, phải đi ở từ năm lên 9 tuổi, lại sống trong hoàn cảnh đất nước bị kẻ thù chia cắt, xã hội miền Nam bị bộ máy cai trị của Ngô Đình Diệm đè nén, cho nên đến năm 16 tuổi, được cán bộ tuyên truyền, Huỳnh Văn Đảnh giác ngộ cách mạng, hăng hái tham gia công tác. Lúc đầu, đồng chí nhận nhiệm vụ làm liên lạc, rồi vào du kích xã, sau được cử làm bí thư chi bộ và chính trị viên trung đội bộ đội địa phương huyện, ở cương vị một người du kích, Huỳnh Văn Đảnh dũng cảm, gan dạ và có tài bắn súng trăm phát trăm trúng, nên đã được mệnh danh là "nhà thiện xạ", ở cương vị người chỉ huy, đồng chí tỏ ra mưu trí, linh hoạt, kiên quyết và là một cán bộ giỏi, có nhiều kinh nghiệm phát động quẩn chúng đấu tranh. Trong thời gian ở du kích xá, đồng chí đã chiến đấu 134 trận, diệt trên 100 tên địch, trong đó có một cố vấn Mỹ, ba sĩ quan ngụy, 1 trưởng đồn và bắn bị thương 1 máy bay lên thẳng. Riêng năm 1963, chỉ với 75 viên đạn, Huỳnh Văn Đảnh đã hạ 78 tên địch.

   Năm 1962, một tiểu đoàn địch càn vào xã thực hiện âm mưu "xúc dân" lập ấp, chúng tàn phá dã man, đốt đi 90 nóc nhà. Để phá tan âm mưu địch, đồng chí đã cùng chi bộ thống nhất lãnh đạo, phát động quần chúng ngay đêm hôm đó làm lại 90 ngôi nhà khác; đồng thời tổ chức rào làng chiến đấu, phát động toàn dân tham gia đánh giặc, đề phòng địch càn trở lại.

   Ngảy 13 tháng 6 năm 1963, địch lại càn vào, lực lượng dân quân lúc đó chỉ còn Huỳnh Văn Đảnh và một du kích nữa, đa số anh em đều đi công tác cả, chưa về. Hai người đã bình tĩnh bàn với nhau kiên quyết tổ chức đánh địch. Lợi dụng đường ngang ngõ tắt, hai anh em cơ động lúc chỗ này, lúc chỗ khác, nổ súng diệt 13 tên địch, riêng Huỳnh Văn Đảnh bắn 8 viên diệt 9 tên (có 1 viên xuyên táo 2 tên), khiến địch hoang mang phải rút chạy.

   Trong trận đánh bốt Tân Trụ, do đã điều tra nắm vững quy luật hoạt động của địch, đồng chí bò vào gài 2 quả mìn ở đầu cầu chợ trước khi ta pháo kích. Quả nhiên lúc súng nổ, bọn địch trong đồn chạy ùa cả ra chiếm địa hình có lợi, tập trung ở đầu cầu chợ khá đông, ta nổ mìn diệt và làm bị thương một số lớn.

  Chấp hành chủ trương của huyện ủy bức bọn địch phải rút khỏi đồn Triêm Đức, Huỳnh Văn Đảnh đã chỉ huy phân đội du kích kiên trì bao vây, bắn tỉa. Địch tuy bị thiệt hại, mất ăn mất ngủ 20 ngày đêm liền, chúng vẫn không chịu bỏ đồn rút chạy. Quân tiếp viện vào thì được nhưng ra là bị đánh. Chúng tức tốc dùng pháo 105 mi-li-mét bắn không ngớt vào các trận địa bao vây của quân ta. Đồng chí đổi cách đánh, càng ngày càng vây lấn vào sát hàng rào, vừa tránh được pháo, vừa tăng cường uy hiếp địch. Từ khoảng cách 300 mét, Huỳnh Văn Đảnh đã tự tay bắn chết tên lính gác, rồi bắn thêm hai phát nữa lần lượt hạ 2 tên chỉ huy trong bọn ra lấy xác, khiến số còn lại hốt hoảng bỏ chạy, chờ đêm xuống mới dám ra nhặt xác đồng bọn. Bị ta ép mạnh, địch không chịu nổi, cuối cùng phải bỏ đồn, rút. Không còn địch kìm kẹp, đồng bào nổi dậy phá ấp chiến lược, trừng trị bọn tề ngụy ác ôn, thành lập chính quyển cách mạng.

  Là một cán bộ cơ sở, Huỳnh Văn Đảnh luôn luôn gương mẫu trong mọi công tác, sâu sát nhân dân, tận tụy với phong trào; là cán bộ chỉ huy, đồng chí chú ý xây dựng phân đội tiến bộ về mọi mặt, bản thân gương mẫu, chiến đấu dúng cảm, có kỹ thuật giỏi nhưng rất khiêm tốn, giản dị, được đồng đội và nhân dân tin yêu.

  Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Huỳnh Văn Đảnh được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 31 Tháng Bảy, 2012, 10:17:14 am
ANH HÙNG NGUYỄN HỘI

(http://img528.imageshack.us/img528/6272/nguyenhoi.jpg)


  Nguyễn Hội (tức Nguyễn Phúc Anh) sinh năm 1931, dân tộc Kinh, quê ở xã Hàm Liêm, huyện Hàm Thuận, tỉnh Bình Thuận, nhập ngủ năm 1948. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí ỉà đại đội trưởng bộ đội địa phương tỉnh Bình Thuận, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo, cha mẹ đều chết sớm, Nguyễn Hội ở với người chị gái, sau vì nhà nghèo quá, đồng chí phải lang thang đi ở hết nơi ngày đến nơi khác.

   Trong những ngày cực kỳ khó khăn của cách mạng miền Nam, Nguyễn Hội luôn luôn thể hiện lòng trung thành với cách mạng, thiết tha với sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Đó là động lực thúc đẩy đồng chí vượt qua mọi khó. khăn, gian nguy, vào sinh ra tử, hoàn thành mọi nhiệm vụ.

   Trưởng thành từ chiến sĩ lên cán bộ trung đội rồi dại đội, Nguyễn Hội đã tham gia chiến đấu 32 trận, diệt và bắt sống hơn 100 tên địch, thu 41 súng các loại. Trong chiến đấu, đồng chí luôn luôn dũng cảm, xôngxáo, nơi nào khó khăn ác liệt nhất đều có mặt, chỉ huy kiên quyết, mưu trí và linh hoạt. Nguyễn Hội thường cùng đi với tổ xung kích mủi nhọn, đánh thọc sâu chia cắt làm rối loạn đội hình địch, tạo điều kiện cho trận đánh dứt điểm nhanh, gọn.

   Trong trận Bắc Ruộng, tuy bị thương từ ngoài, đồng chí vẫn giữ vững quyết tâm, cùng đồng đội lợi dụng địa hình tiến lên dùng tiểu liên, lựu đạn diệt lô cốt đầu cầu, sau đó, lại tiếp tục chỉ huy đơn vị diệt đồn chính, rồi chuyển sang đánh quận ly, giải quyết tháng lợi, nhanh, gọn trận đánh và tổ chức đưa gần 5.000 dân ở khu tập trung về căn cứ an toàn.

   Trong trận Tâm Tân, Nguyễn Hội chỉ huy tổ xung kích đánh chiếm lô cốt đầu cầu, nhưng bờ thành cao, lại gặp chướng ngại vật bất ngờ, anh em không lên được; không chần chừ, chậm trễ, đồng chí lấy thân mình làm thang cho đồng đội nhảy lên qua thành, nhanh chóng tiêu diệt gọn bọn địch trong đồn, rồi chuyển qua đánh nhà tên quận trưởng, giải quyết nhanh trận đánh.

   Suốt 18 năm chiến đấu liên tục, Nguyễn Hội luôn luôn gương mẫu đi đầu, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ chiến đấu và công tác. Đồng chí luôn chăm lo xây dựng đơn vị tiến bộ từng bước chắc chắn, vững vàng, hết lòng thương yêu, giúp đỡ anh em, được mọi người tin yêu, mến phục.

   Nguyễn Hội đã được tặng 2 bằng khen.

   Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Nguyễn Hội được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.



ANH HÙNG PHẠM VĂN HAI

(http://img861.imageshack.us/img861/4759/phamvanhai.jpg)


   Phạm Văn Hai (tức Lam Sơn) sinh năm 1931, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Hòa, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh, nhập ngũ tháng 2 năm 1947. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đội trưởng đội biệt động 65 nội thành Sài Gòn, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, cha, chú đều bị giặc Pháp bắt tù, 12 tuổi Phạm Văn Hai đã phải bỏ học, vào thành phố làm thuê cho một hãng thủy tinh người Hoa. Thù cha mang nặng, lại nhiều năm sống dưới chế độ thuộc địa của thực dân Pháp, đồng chí thấy rõ sự bóc lột và đối xử thậm tệ của bọn chủ, nên khi được gần gũi một cán bộ hoạt động bí mật và được tuyên truyền giáo dục, đồng chí đã sớm giác ngộ cách mạng và tham gia công tác từ năm 14 tuổi. Đến khi 16 tuổi, Phạm Văn Hai vào quân đội, rồi suốt từ đấy (1947) cho đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đồng chí luôn bám trụ ở quê hương, len lỏi trong lòng địch, nhận và hoàn thành xuất sắc mọi công tác được giao: trinh sát, chống càn, đưa đón cơ sở ra vào thành phố, cất giấu tài liệu, vũ khí và bảo vệ cán bộ của Đảng, đột nhập vào trung tâm đô thị gây dựng cơ sở, xây dựng lực lượng vũ trang chiến đấu và chỉ huy chiến đấu, v.v. Trước mọi khó khăn, đồng chí luôn luôn bình tĩnh, vững vàng, dù nguy hiểm vẫn tìm mọi cách đưa thương binh về hậu cứ an toàn ,biết tận dụng chỗ sơ hở của địch để tiến công và bảo toàn lực lượng khi hoạt động; khi không may sa vào tay giặc, dù bị tra tấn dã man, vẫn giữ vững khí tiết người chiến sĩ cách mạng.

   Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 -1954), Phạm Văn Hai đã đánh trên 30 trận, trận nào cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Ngày 8 tháng 6 năm 1950, đồng chí được kết nạp vào Đảng. Sau đó, trong một lần hoạt động, không may bị địch bắt, mặc dù bị cực hình đánh đập rất dã man, đồng chí không hề khai báo, dù lúc ấy Phạm Văn Hai đang giữ một hầm vũ khí và tài liệu quan trọng. Không có chứng cớ cụ thể, địch buộc phải thả đồng chí.

   Trong trận tiêu diệt kho bom Phú Thọ Hòa ngày 1 tháng 6 năm 1954, Phạm Văn Hai cùng tổ trinh sát đặc công từ ngoài vùng căn cứ hành quân bí mật suốt 2 ngày đêm liền, vượt qua 8 con sông, rạch và hàng chục lộ nguy hiểm, vào sát mục tiêu. Bốn lần, đồng chí cùng đồng đội luồn qua 12 lớp kẽm gai, nhiều bãi mìn, chòi gác, trong sự canh giữ cẩn mật của 2 tiểu đoàn địch ở vòng ngoài và 1 đại đội lính Âu Phi (có cả chó béc-giê) ở bên trong, để điều tra nắm vững quy luật tuần tiễu của địch. Các đồng chí đã đếm từng quả bom trong các nhà hầm, khui từng hòm đạn, đo từng bồn xăng, để lên một phương án tác chiến hoàn chỉnh.

   Phạm Văn Hai giữ cương vị mũi trưởng mũi chủ yếu trong trận tập kích kho bom Phú Thọ Hòa. Do chuẩn bị chu đáo, tỉ mỉ nên trận đánh đã thắng lợi giòn giã. Kho bom nổ suốt 2 ngày đêm liền. 9.345 tấn bom đạn các loại, 10 triệu lít xăng dầu, và cả đại đội lính Âu Phi bị thiêu hủy. Gần 400 tên trong lực lượng ứng cứu bị thương vong nặng. Trận đánh đã gây tiếng vang lớn khắp Sài Gòn - Gia Định.

   Trong trận tiêu diệt đồn Gò Đen (tháng 7 năm 1954), giữa lúc tình hình chiến đấu đang diễn biến căng thẳng, địch dồn ra lô cốt 3, điên cuồng chống cự đánh trả ta quyết liệt, đồng chí đã không do dự xông lên, tự tay đánh liền 2 trái đầu đạn, phá tan lô cốt, tạo thời cơ cho toàn trận đánh giành tháng lợi. Trong trận này, đồng chí đã diệt hơn 30 tên địch, thu 11 súng.

   Trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1964), đồng chí đã tham gia hơn 30 trận, đồng thời góp công sức lớn vào việc gây dựng cơ sở, xây dựng lực lượng, phát triển quần chúng, đưa phong trào cách mạng ở địa phương lên cao.

  Ngay từ năm 1954, Phạm Văn Hai đã xây dựng xong đường dây từ chiến khu vào nội thành, tổ chức hoạt động bên lộ 15 (Chợ Lớn) vạch mặt Ngô Đình Diệm, vận động đồng bào không đi bỏ phiếu. Năm 1956, đồng chí đã tổ chức được cơ sở trong một số nghiệp đoàn, chuần bị chỗ cho cán bộ đi về hoạt động.

  Năm 1958, Phạm Văn Hai trở về xây dựng lực lượng quanh khu tỉnh ủy đóng để đảm bảo bí mật an toàn cho cơ quan lãnh đạo chỉ huy đầu não. Năm 1959, đồng chí lại xuống các quận diệt ác ôn, phá kìm kẹp, xây dựng lực lượng ở quận Bình Tân - Gò Môn. Đến tháng 2 năm 1962, đồng chí chuyển hẳn sang làm đội trưởng đội biệt động 65 của thành phố.

   Trong những năm tháng đánh Mỹ, đội biệt động của Phạm Văn Hai đã đánh nhiều trận xuất sắc, như các trận phục kích trên lộ 10, trận đánh vào các đồn Trung An, Tân Thạnh Tây, Tây Nhất, Phú Thọ Hòa, trận đánh Mỹ ở rạp Kinh Đô (ngày 21 tháng 9 năm 1963), trận đánh 73 xe Mỹ và đánh sập kho súng ở Gò Vấp, và trận đánh chìm tàu sân bay Mỹ ngày 2 tháng 5 năm 1964 tại bến Bạch Đằng...

   Phạm Văn Hai là một cán bộ gương mẫu, tận tụy, dũng cảm trong mọi hoàn cảnh, mọi công tác, luôn luôn chăm lo xây dựng lực lượng cách mạng lớn mạnh không ngừng; bản thân đồng chí sống khiêm tốn, giản dị, được đồng đội tin yêu, mến phục.

  Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhất, 1 súng ngắn, nhiều bằng khen, giấy khen.

   Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Phạm Văn Hai được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dận giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 31 Tháng Bảy, 2012, 10:20:29 am
ANH HÙNG TẠ THỊ KIỀU

(http://img29.imageshack.us/img29/3261/tathikieu.jpg)


   Tạ Thị Kiều (tức Mười Lý) sinh năm 1938, dân tộc Kinh, quê xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, tham gia hoạt động cách mạng ở địa phương từ năm 1958, nhập ngũ tháng 11 năm 1963. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là cán bộ ban chỉ huy quân sự huvện Mỏ Cày, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

    Xuất thân từ một gia đình có truyền thống yêu nước (cha, anh đều đi hoạt động cách mạng, gỉa đình là cơ sở nuôi cán bộ bí mật), Tạ Thị Kiều sớm được giác ngộ, căm thù giặc Mỹ và bè lũ tay sai đàn áp nhân dân, chia cầt đất nước, đổng chí đã tích cực, hăng hái hoạt động và trở thành người cán bộ nòng cốt trong phong trào cách mạng ở địa phương. Đồng chí đã tổ chức và tham gia 107 lần đấu tranh chính trị trực diện với địch, chiến đấu 33 trận, diệt 7 tên địch, bắn bị thương 11 tên, bắt sống 13 tên, thu 24 súng các loại. Trong chiến đấu, Tạ Thị Kiều luôn luôn bình tĩnh, dũng cảm, chỉ huy vững vàng, gan dạ và mưu trí.

   Tháng 1 năm 1960, địch tăng cường củng cố khu trù mật Thành Thới để kìm kẹp nhân dân và đánh phá cơ sở của ta. Được phân công gây dựng phong trào, tổ chức cơ sở, đồng chí đã kiên trì vận động nhân dân và xung phong đi đầu trong các cuộc đấu tranh trực diện với địch, khéo léo làm công tác binh, địch vận, tranh thủ người tốt, phân hóa, cô lập bọn ác ôn ngoan cố, tích cực phát triển lực lượng nòng cốt trong hàng ngủ địch. Qua gần 7 tháng, Tạ Thị Kiều đã tổ chức được 107 cuộc đấu tranh chính trị, phát triển được 3 tổ nòng cốt trong lực lượng cách mạng, vận động được 13 gia đình binh sĩ, tuyên truyền được 4 lính ngụy về với nhân dân, tổ chức được 2 người khác giúp ta hoạt động tốt, gây cho địch một số thiệt hại và hạn chế được tác hại do hành động tội ác của chúng.

   Để hỗ trợ cho đấu tranh chính trị, Tạ Thị Kiều tổ chức một tiểu đội du kích, thường xuyên hoạt động: rải truyền đơn, treo băng cờ, khẩu hiệu, phá rào ấp chiến lược, gài mìn, phá đường, đốt chòi canh, cảnh cáo, diệt ác ôn... khiến bọn địch ngày càng hoang mang, nao núng.

   Trong trận đánh bốt An Bình, tuy lực lượng ta ít, nhưng do đồng chí đã xây dựng được cơ sở và nắm địch tốt, mưu trí tìm nhiều cách phân tán và đánh lừa địch, nên tạo điều kiện cho đồng đội xung phong lấy gọn bốt, quân ta an toàn và vẫn giữ được thế đấu tranh hợp pháp.

   Trong trận đánh bốt Kinh Quang, Tạ Thị Kiều đã vạch ra kế hoạch và lại trực tiếp thực hiện, dụ bọn địch ra bờ kênh, tạo cơ hội cho anh em xông vào lấy đồn không tốn một viên đạn.

   Tháng 10 năm 1961, đồng chí chỉ huy đội du kích phục kích đánh xe địch trên đường Mỏ Cày đi Thom, bắn cháy 1 xe ngay khi địch mới lọt vào trận địa. Lực lượng địch còn đông, ỷ thế mạnh, dùng hỏa lực áp đảo, bắn mạnh vào chỗ du kích ta bố trí, đồng thời bọn lính trên xe đi sau cũng triển khai, đánh trả ta quyết liệt. Xét tình thế bất lợi, đồng chí đã bình tĩnh một mình ở lại cơ động, chiến đấu, chặn địch cho anh em rút hết, sau đó, khi rút còn đưa được cả thương binh ra an toàn.

   Tạ Thị Kiều luôn luôn gương mẫu, xung phong đi đầu trong mọi công tác, tận tình gắn bó với nhân dân, doàn kết, thương yêu, giúp đỡ đồng đội, được quần chúng mến phục, tin yêu.

  Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhì và 2 năm liền (1963 - 1964)   là Chiến sĩ thi đua của quân khu.

   Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Tạ Thị Kiều được Uy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.



ANH HÙNG NGUYỄN KIM

(http://img822.imageshack.us/img822/240/nguyenkim.jpg)


    Nguyễn Kim (tức Nguyễn Kích), sinh năm 1935 dân lộc Kinh quê ở xã Hoài Hảo, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định, nhập ngũ năm 1960. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là tiểu đội trưởng bộ đội địa phương tỉnh Bình Định, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam

   Trong 4 năm, từ đầụ năm 1960 đến hết năm 1963, Nguyễn Kim đã trực tiếp chiến đấu 20 trận, diệt hơn 70 tên địch, thu 26 súng các loại, đặc biệt đã chi huy một tổ độc lập thọc sâu phá 13 “ấp chiến lược”, giải tán nhiều khu dồn dân của địch, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Trong các trận đánh, đồng chí đã luôn luôn thể hiện rõ tinh thần chiến đấu dũng cảm ngoan cường, dù trong điều kiện khó khăn, ác liệt thế nào củng kiên quyết tiến công tiêu diệt địch với tác phong chiến đấu rất linh hoạt và xông xáo.

   Trong trận Hòn Câm, Nguyễn Kim bị thương khi vượt qua cửa mở, nhưng vẫn dùng tiểu liên nằm bắn kiềm chế hỏa điểm địch cho đồng đội xung phong. Khi địch ở dưới hầm ngầm ngoan cố chống cự, Nguyễn Kim đã bò đi gom bộc phá của đồng đội bị thương lại, rồi cố lê đến đánh sập hầm ngầm, góp phần quan trọng cùng đơn vị tiêu diệt gọn đồn địch.

  Trong trận đánh vào Mỹ Tho, tổ bộc phá của đồng chí có nhiệm vụ mở cửa đột phá ở hướng thứ yếu và đánh vào lô cốt số 2. Do địa hình hạn chế, lúc đầu các đồng chí phải bố trí khá xa, để bộ phận chính tập trung lực lượng được thuận lợi ở hướng chủ yếu. Khi mũi chính đã nổ súng tiến công, đồng chí bật dậy ôm ống bộc phá lao lên, vượt qua một cái dốc cao và một khoảng trống trải dưới hỏa lực địch. Trong khi đó, lô cốt chính chưa bị đánh sập nên địch càng tập trung bắn về phía đồng chí dữ dội. Đang chạy, Nguyễn Kim bỗng thấy chân trái đau nhói, một bàn chông sắt đã cắm sâu vào ống chân làm cho mỗi bước đi càng thêm đau buốt, nhưng với quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ, đồng chí nghiến răng chịu đựng cố hết sức vượt lên đặt bộc phá, phá tung lớp hàng rào. Tiến vào trong, thấy chiếc bàn chông lủng lẳng ở chân mà không sao rút ra được, đồng chí liền giật phăng cái đế gỗ quẳng đi rồi nén đau, tiếp tục xông lên đánh sập cả lô cốt số 1 và lô cốt số 2, tạo điều kiện cho xung kích ào ạt xông lên tiêu diệt gọn quân địch, làm chủ trận địa.

   Nguyễn Kim luôn luôn gương mẫu trong mọi mặt công tác, sống kiêm tốn giản dị, đoàn kết thương yêu, tận tình giúp đỡ đồng đội, được mọi người quý mến, tin yêu.

  Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 3 năm liền là chiến sĩ thi đua.

  Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Nguyễn Kim được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 31 Tháng Bảy, 2012, 10:25:32 am
ANH HÙNG ĐOÀN THANH LIÊM

(http://img840.imageshack.us/img840/1629/doanthanhliem.jpg)


     Đoàn Thanh Liêm, sinh năm 1928, dân tộc Kinh, quê ở xãTịnh Thiện,huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, nhập ngũ năm 1949. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại đội trưởng bộ đội địa phương, đảng viên Đảng Cộng san Việt Nam.

    Sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo, từ nhỏ Đoàn Thanh Liêm đã phải đi ở, làm thuê để kiếm tiền nuôi gia đình. Cách mạng tháng Tám thành công, đồng chí nhận nhiệm vụ trung đội trưởng du kích xã, đã tham gia chiến đấu và canh gác bảo vệ xóm làng từ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp. Mặc dù thời kỳ này hoạt động cách mạng gặp rất nhiều khó khăn nguy hiểm, Đoàn Thanh Liêm vẫn một lòng trung thành với cách mạng, kiên trì khắc phục mọi gian khổ, khó khăn, tích cực bảo vệ cơ quan lãnh đạo. Đoàn Thanh Liêm cũng là một trong số những người đầu tiên góp sức gây dựng phong trào và xây dựng đơn vị lực lượng vũ trang đầu tiên của Khu 5.

  Trong kháng chiến chống Mỹ, Đoàn Thanh Liêm đã tham gia chiến đấu 26 trận, nhiều lần vào điều tra đồn, bốt địch, bao giờ củng tỏ ra là người cán bộ chỉ huy vững vàng, mưu trí, kiên quyết và dũng cảm.

  Trong trận Nhơn Lộc tháng 7 năm 1962, đồng chí chỉ huy phân đội phụ trách mũi đột kích chủ yếu. Khi đánh chiếm cửa mở, địch tụng lực lượng ra phản kích ác liệt, phân đội bị thương vong nhiều. Trước khó khăn đó, Đoàn Thanh Liêm vẫn giữ vững quyết tâm, động viên anh em và tổ chức lại lực lượng, tự mình dẫn đầu một tổ xung kích kiên quyết đánh chiếm bằng được lô cốt đầu cầu, sau đó, phát triển rộng ra lấy chỗ đứng chân cho đơn vị rồi thọc sâu vào bên trong, nhanh chóng tiêu diệt được hẩm cố thủ, tạo điều kiện cho toàn đơn vị xung phong, tiêu diệt gọn vị trí địch.

  Trong trận Long Lếch tháng 4 năm 1963, đơn vị đồng chí phụ trách hướng chủ yếu. Do địa hình khó khăn nên không tiếp cận được sớm. Sau khi mở cửa đột phá, địch bần ra dữ dội, tổ xung kích 1 bị thương vong nhiều mà vẫn chưa lên được. Đoàn Thanh Liêm liền chỉ huy cho tổ xung kích 1 tổ chức lại hỏa lực bẳn yểm hộ cho nhau, kiềm chế địch, rồi tự mình dẫn tổ xung kích 2 vượt lên đánh thẳng vào bên trong, chia cắt địch ra từng mảnh, nhanh chóng tiêu diệt cơ quan đầu não của chúng, góp phần quan trọng cùng đơn vị tiêu diệt hoàn toàn vị trí này, thu toàn bộ vũ khí.

  Trong mọi hoàn cảnh khó khăn, bất cứ được giao nhiệm vụ gì, từ cần vụ, liên lạc, vận tải, bảo vệ... đên chỉ huy chiến đấu, đồng chí đều hăng hái, tích cực và tìm mọi cách hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

  Đoàn Thanh Liêm luôn luôn cần cù, gương mẫu trong mọi mặt công tác, giản dị, khiêm tốn, thẳng thân, đoàn kết, tận tình giúp đỡ đồng đội. Đoàn Thanh Liêm chú trọng khêu gợi tinh tự giác, vận động mọi người phát huy sức mạnh tập thể xây dựng đơn vị trưởng thành toàn diện, được cấp trên tin tưởng, quần chúng mến phục.

  Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng ba, trong nhiều năm liên tục được bầu là Chiến sĩ thi đua.

   Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Đoàn Thanh Liêm được Uy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.



ANH HÙNG NGUYỄN VĂN QUỲ

(http://img600.imageshack.us/img600/9852/nguyenvanquy.jpg)


   Nguyễn Vãn Quỳ, (tức Ba Cà), sinh năm 1937 dân tộc Kinh, ở xã Tân Quy , quận Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh, nhập ngũ tháng 6 năm 1960. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại đội phó bộ đội địa phương Nhà Bè, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Mồ côi cha từ nhỏ, lên 9 tuổi Nguyễn Văn Quỳ đả phải đi ở đợ, coi trâu cho địa chủ, rồi tiếp đó là cuộc đời đi làm thuê, làm mướn kiếm ăn, lang bạt, ẩn náu trốn quân dịch. Đến năm 1959, được giác ngộ lòng yêu nước và căm thù giặc Mỹ, đồng chí tình nguyện xung phong nhận mọi nhiệm vụ gian khổ, khó khăn do cách mạng giao cho.

   Từ ngày nhập ngủ (1960) tới năm 1965, Nguyễn Văn Quỳ đá tham gia chiến đấu 24 trận cùng đơn vị diệt 149 tên, bắt sống 15 tên, thu 59 súng và nhiều niáy móc, tài liệu. Riêng đồng ehí diệt 10 tên, bắt sống 1 tên thu 11 súng, và trừng trị được 30 tên tề ngụy, ác ôn. Thành tích nổi bật của đồng chí là ở những ngày nằm vùng để xây dựng cơ sở và lực lượng cách mạng.

   Năm 1962, có bọn tề ngụy tiếp tay, địch ở quận Nhà Bè tiến hành càn quét, truy lùng cán bộ ta rất gắt, hòng diệt cơ sở, đánh bật cán bộ ta ra khỏi địa phương, đồng thời khống chế, kìm kẹp nhân dân. Để bảo vệ cơ sở, cán bộ, đưa phong trào quần chúng đấu tranh lên cao và phá tan âm mưu địch, huyện ủy chủ trương phải diệt ác, trừ gian, phá thế kìm kẹp của địch. Đồng chí được giao nhiệm vụ vào sâu hoạt động trong lòng địch. Đường đi xa, lạ, qua nhiều ấp chiến lược, lại phải vượt con sông Soài Rạp rộng mênh mông từ trước ít ai qua sông này trót lọt, nếu không gặp tàu tuần tiễu của địch, thì cũng làm mồi cho đàn cá dữ, đổng chí đã khắc phục mọi gian khổ, khó khăn vào tới nơi và chỉ trong 5 đêm, đồng chí đã nghiên cứu tổ chức diệt được 10 tên ác ôn khét tiếng nhất ở 3 xã gần nhau.

   Năm 1963, đường dây giao liên của ta từ quận về khu bị gián đoạn. Cán bộ đi, về phải vòng tránh quá xa (mất một tháng rưỡi). Nhận lệnh đi mở đường mới, Nguyễn Văn Quỳ đã táo bạo vào hẳn nơi địch đóng đông nhất, ngày ẩn náu trong các lùm cây, đêm mò ra quan sát nám quy luật hoạt động của địch và xây dựng cơ sở. Sau một thời gian ngắn, đồng chí đã mở được con đường giao liên mới, đi từ quận về khu chỉ mất 3 ngày. Trên dọc đường, đồng chí còn cùng 1 tổ bộ đội địa phương đào nhiều hầm bí mật, bảo đảm an toàn cho cán bộ qua lại.

   Cuối năm 1963, Nguyễn Văn Quỳ được cử đi xây dựng phong trào cơ sở ở 3 xã Phước Long, Long Kiến và Tân Quý. Ba xã này nằm ven lộ 36 từ Sài Gòn về Long An, địch đã xây dựng thành các ấp chiến lược rất kiên cố, tổ chức canh phòng nghiêm mật, tạo khu vực này thanh một vành đai trắng, cơ sở ta hầu hết đều bị tan vỡ hoặc bật đi nơi khác. Đường từ căn cứ về lại xa, phải qua nhiều sông rạch, đồn bốt. Suốt 5 tháng nằm vùng, 132 ngày đêm giấu mình dưới hầm tối (trong thùng xăng chôn giữa cánh đồng), đồng chí đã kiên trì vượt qua mọi gian khổ, khó khăn để gặp gỡ, tuyên truyền, vận động nhân dân, dần dần gây dựng lại phong trào. Ba xã Phước Long, Long Kiến và Tân Quý - từ chỗ cơ sở gần như trắng - trở thành những xã có phong trào cách mạng tốt, có chi bộ, chi đoàn khá, có lực lượng dân quân du kích mạnh. Đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị, các trận đánh chông, mìn, phục kích liên tiếp nổ ra. Bốt Phước Long nằm ngay giữa ấp chiến lược, cách quận ly Nhà Bè chưa đầy 2 ki-lô-mét, do một bọn ác ôn đóng giữ, củng bị lực lượng dân quân du kích phối hợp với bộ đội huyện tiêu diệt.

   Nguyễn Văn Quỳ là một cán bộ tận tụy, luôn luôn kiên trì bám dân, bám đất hoạt động, gây dựng phong trào, lập nhiều thành tích xuất sắc, được nhân dân tin yêu, đồng đội mến phục và cấp trên tin tưởng.

   Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Nguyễn Văn Quỳ được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giai phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 31 Tháng Bảy, 2012, 10:28:33 am
ANH HÙNG PI NĂNG TẮC

(http://img833.imageshack.us/img833/4554/pinangtac.jpg)


   Pi Năng Tắc, sinh năm 1910, dân tộc Rắc Lây, sinh quán tại Ma Nai, Phước Thành, huyện Đại Điền, tỉnh Ninh Thuận, trú quán ở Tà Nạt, Phước Bình, huyện Tây An, tỉnh Ninh Thuận, tham gia cách mạng từ năm 1946. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là chính trị viên phó huyện đội, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Gần 20 năm hoạt động cách mạng (tính đến ngày được tuyên dương), trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Pi Năng Tắc là một cán bộ quân sự địa phương dầy dạn kinh nghiệm, luôn luôn trung thành với Đảng, với cách mạng, thiết tha với sư nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, ở trong mọi hoàn cảnh, Pi Năng Tắc luôn luôn vững vàng, kiên trì bám dân, bám đất hoạt dộng tuyên truyền, vận động nhân dân, xây dựng cơ sở, xây dựng khối đoàn kết giữa các dân tộc, chiến đấu dũng cảm, lập nhiều chiến công, góp phần phá tan nhiều âm mưu hiểm độc của kẻ thù.

  Năm 1956, Mỹ - Diệm dồn dân hai thôn của xã Phước Thành về khu tập trung Brâu. Thương bà con bị kìm kẹp khổ cực, gần 6 tháng liền, đồng chí đã kiên trì đến với từng người, nói rõ âm mưu, thủ đoạn địch và bày cách cho đồng bào đoàn kết đấu tranh. Đồng chí còn tổ chức được các lực lượng hạt nhân cách mạng, gài vào các tổ chức địch, lung lạc chúng. Do đó ta đã vạch mặt bọn tề ngụy tay sai, phá tan âm mưu dồn dân lập ấp của địch, bà con hai thôn đã đấu tranh thắng lợi và trở về làng cũ an toàn.

  Sau đợt này, địch nghi ngờ Pi Năng Tắc, chúng rình rập, theo dõi gắt gao. Tổ chức phải điều đồng chí về hoạt động ở xã Phước Bình. Nơi đây, cơ sở của ta còn rất yếu, bọn tề ngụy đàn áp, bóc lột nhân dân rất tàn tệ. Chúng lại khoét sâu mâu thuẫn giữa các dân tộc, rồi tách dân tộc Chu dời xuống khu tập trung, còn dân tộc Gia Rai ở trên núi. Đã vậy, chúng còn tim mọi cách kích động, gây hằn thù giữa hai dân tộc; người Chu không dám lên núi thăm nương rẫy; người Gia Rai không dám xuống chợ mua các thứ cần dùng. Tệ mê tín dị cloan ở đầy còn rất nặng: người chết để trong nhà cúng bái 7 ngày mới chôn, hoặc chôn 1 năm, rồi lại đào lên cho người chết uống rượu... và hàng trăm hủ tục khác nửa. Trong hoàn cảnh ấv, đồng chí đã kiên nhẫn tuyên truyền, thuyết phục, khi ỉên núi ở với người Gia Rai, khi xuống khu tập trung ở với người Chu, vạch rõ âm mưu thâm độc của kẻ thù dân tộc, phân giải những nỗi bất hòa giữa hai dân tộc anh em. Sau một thời gian, bà con hai dân tộc đã đoàn kết, tổ chức lễ uống rượu ăn thề giúp đỡ nhau sản xuất và đấu tranh chống địch. Pi Năng Tắc còn gây dựng được 2 cơ sở bí mật trong xã và vận động được ba tề điệp bỏ hàng ngũ địch về với cách mạng. Tệ mê tín dị đoan củng dần dần được xóa bỏ.

   Thấy quần chúng đã giác ngộ, Pi Năng Tâc đề nghị với trên cho phá khu tập trung, đưa đồng bào người Chu lên núi. Sau đó, để đề phòng địch truy đuổi, càn quét, đồng chí đã cùng bà con làm bẫy đá, vót chông, ná, gài mìn, đào hầm hào phòng tránh và thành lập lực lượng du kích đánh địch. Tháng 5 nãm 1960, địch càn lên, bị chết và bị thương 20 tên, phải rút chạy. Tháng 5 năm 1964, chúng càn lần thứ 2 với lực lượng đông gần 400 quân, song cũng không lên được, mà còn bị thiệt hại lớn, chết và bị thương 80 tên, máy bav lên thẳng đến chở xác cũng bị trúng đạn... Bọn địch rất sợ các vũ khí thô sơ của du kích. Chúng kháo nhau: “Súng đạn còn dễ tránh, chứ hầm chông, bẫy đá thì không biết đâu mà lường...”.

   Ngoài công tác chung, đồng chí còn vận động gia đình mình tích cực tham gia kháng chiến; trong 3 năm 1961-1962-1963, chỉ tính riêng gia đình đồng chí, cũng đã vót được hơn 90.000 cây chông các loại...

   Đối với các mặt công tác khác, Pi Năng Tắc cũng luôn luôn gương mẫu thực hiện để nhân dân noi theo, như: vận động được 18 thanh niên đi bộ đội, trong đó có 2 con mình, 35 người phục vụ chiến dịch Đà Rằng; thành lập được 3 tổ đổi công; trong 3 năm 1961-1962-1963 ủng hộ cách mạng được 130 giạ bắp; nuôi giấu nhiều cán bộ trong mấy năm liền.

   Pi Năng Tác hết lòng giúp đỡ bảo vệ cán bộ, thương yêu, giúp đỡ nhân dân, đến đâu cũng được đồng bào tin yêu, mến phục.

   Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Pi Năng Tác được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.




ANH HÙNG NGUYỄN MINH TUA

(http://img15.imageshack.us/img15/839/nguyenminhtua.jpg)


   Nguyễn Minh Tua (tức Nguyễn Văn Nhịn) sinh năm 1939, dân tộc Kinh, quê ở xã Vinh Châu, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An nhập ngũ tháng 5 năm 1959. Khi đươc tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung đội trưởng thuộc đại đội 1, tiểu đoàn 261 (tiểu đoàn Hi-rông), đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Qua hơn 5 năm ở quân đội (tính đến ngày được tuyên dương) Nguyễn Minh Tua đã chiến đấu 24 trận, tự tay diệt 29 tên địch, bắt sống 14 tên, thu 12 súng các loại, bắn cháy 1 tàu chiến và 4 xe GMC. Đặc biệt trong trận Tân Niên Tây, trung đội do đồng chí chỉ huy đã diệt 170 tên địch, bắt sống 7 tên, thu 32 súng, bắn cháy 3 xe M.113, bắn hỏng 4 xe M.113 khác; trong trận Long Khánh, diệt 25 tên địch, bắt sống 9 tên, thu 35 súng, bắn rơi một máy bay. Trong các trận chiến đấu, Nguyễn Minh Tua thường được giao nhiệm vụ nặng nề, chỉ huy tổ mũi nhọn chiến đấu ở hướng đột kích chủ yếu của đơn vị... Đồng chí luôn luôn thể hiện tinh thẩn chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, mưu trí, linh hoạt, hoàn thành xuất sác mọi nhiệm vụ.

   Trong trận đánh ở Rộc Chanh, giữa lúc tình hình diễn biến gay go ác liệt, đồng chí đã xung phong nhận nhiệm vụ cầm cờ nghi binh thu hút hỏa lực địch để toàn đơn vị cơ động bất ngờ nổ súng tiến công tiêu diệt địch. Hành động mưu trí dũng cảm của đồng chí đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của trận đánh.

   Trận đánh Gò Công (1962), Nguyễn Minh Tua đã chỉ huy tiểu đội dúng cảm vượt dưới làn đạn địch, bò qua một bãi trống, đánh thọc vào sườn đội hình quân địch. Giữa lúc đang xung phong, đồng chí bị thương gãy tay trái nhưng vẫn không dừng bước, tiếp tục xông lên cướp súng giặc giết giặc, làm rối loạn đội hình chúng, tạo điều kiện cho cả đơn vị xung phong tiêu diệt địch, làm chủ trận địa.

   Bốt Chùa Phật Đá ở ngã ba sông khống chế một vùng quan trọng, rất lợi hại và khó đánh. Nguyễn Minh Tua chỉ huy mũi xung kích có nhiệm vụ đánh chiếm đầu cầu làm điểm tựa cho đơn vị phát triển vào bên trong. Dưới hỏa lực bắn ra mãnh liệt của địch, đồng chí đã dũng cảm mưu trí chỉ huy phân đội vượt sông áp sát bờ rồi nhanh chóng đánh chiếm vị trí đầu cầu khống chế địch, tạo thuận lợi cho các hướng xông lên tiêu diệt gọn bốt địch.

  Đồn Thiên Hộ (khu trù mật Hậu Mỹ) nầm sâu trong lòng Đồng Tháp Mười. Nơi đây chúng giam cầm, kìm kẹp rất đông đồng bào ta. Được lệnh chỉ huy mủi chu yếu đánh thẳng vào khu trung tâm, cắm cờ trên nóc hầm chỉ huy của bọn cố vấn Mỹ; đồng chí động viên và chỉ huy phân đội đánh rất mạnh và kiên quyết, nhanh chóng áp sát địch. Bọn địch ngoan cố chống trả, giằng co quyết liệt với ta từng đoạn chiến hào. Phân đội Nguyễn Minh Tua đã giữ vững quyết tâm, chiến đấu rất dũng cảm, chiếm được phòng tuyến quan trọng ở khu trung tâm và cắm lá cờ lên nóc hầm chỉ huy của bọn cố vấn Mỹ.

   Quá trình chiến đấu Nguyễn Minh Tua đã 10 lần bị thương, nhưng lần nào đồng chí cũng ở lại trận địa tiếp tục chỉ huy đơn vị chiến đấu.

  Nguyễn Minh Tua luôn luôn gương mẫu trong mọi mặt công tác, có tác phong tỉ mỉ, sâu sát, đoàn kết, chủ động hiệp đồng, lập công tập thể và rất chú ý xây dựng đơn vị về mọi mặt, được anh em mến phục, tin yêu.

  Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng ba và 2 năm liền là Chiến sĩ thi đua của quân khu.

  Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Nguyễn Minh Tua được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 31 Tháng Bảy, 2012, 10:33:13 am
ANH HÙNG NGUYỄN TRUNG THÀNH

(http://img528.imageshack.us/img528/6637/nguyentrungthanh.jpg)


    Nguyễn Trung Thành (tức Ba Thợ Rèn), sinh năm 1926, dân tộc Kinh, quê ở xã Khánh An, huvện Trần Văn Thời, tỉnh Minh Hải tham gia cách mạng tử tháng 1 năm 1946, nhập ngũ tháng 12 năm 1959. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là phó ban quân giới T.3, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

    Trước khi vào phục vụ trong quân đội, Nguyễn Trung Thành đã trải qua nhiều công tác trong kháng chiến chống Pháp như: đội viên chiến đấu ở chi đội 21 từ những năm đầu kháng chiến ở Nam Bộ, chính trị viên và trưởng ngành đúc xưởng 131 Nam Bộ, chính trị viên và phó ban công an xã... Cuối năm 1959, đồng chí được điều động vào quân đội phụ trách bí thư chi bộ binh công xưởng tỉnh Cà Mau, với nhiệm vụ lảnh đạo, tổ chức, xây dựng binh công xưửng và nghiên cứu sản xuất vũ khí phục vụ cho chiến trường.

   Xuất thân từ thành phần công nhân, ngót 20 năm hoạt động cách mạng (tính đến ngày được tuyên dương), Nguyễn Trung Thành đã luôn nêu cao tinh thần bền bỉ chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Trong những lúc khó khăn gian khổ nhất, đồng chí vẫn một lòng trung thành với Đảng, với cách mạng và đã hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Từ khi phụ trách xưởng quân giới, với tinh thần trách nhiệm cao, “dám nghĩ, dám làm, dám giành thắng lợi”, dựa vào tập thể, dựa vào nhân dân, cùng nhau khắc phục mọi khó khăn nhờ đó đồng chí đã phát minh được nhiều sáng kiến, sản xuất và sửa chữa, cải tiến được nhiều loại vũ khí, đáp ứng kịp với yêu cầu của chiến trường. Với 20 ki-lô-gam đồ nghề, từ những ngày đầu đầy thiếu thốn khó khăn, hoàn cảnh công tác rất gian khổ và nguy hiểm, đồng chí đã góp phần cùng với tập thể xây dựng nên ngành quân giới ở miền Tây Nam Bộ.

   Mặc dù lúc đầu quân số còn rất ít, cả xưởng chỉ có 11 người, trình độ còn thấp, nguyên vật liệu, dụng cụ, phương tiện thiếu, địch vây hãm đánh phá liên tục, đời sống trong chiến khu rất gian khổ, khó khăn, đồng chí đã cùng tập thể kiên trì xây dựng nội bộ vững về ý chí tư tưởng, có quyết tâm cao, vừa tự lực cánh sinh, vừa dựa vào dân để khẳc phục những khó khăn thiếu thốn. Trong sản xuất, vừa làm, vừa nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm bạn bè, được tập thể giúp đỡ, nhờ đó đồng chí đã có 7 phát minh mới và 15 công trình cải tiến kỹ thuật có giá trị.

   Nguyễn Trung Thành đã cùng anh em nghiên cứu thành công việc tận dụng phế liệu trong nhân dân để làm ra chất nổ dùng trong các loại đạn bắn tàu thủy, lô cốt, diệt xe cơ giới địch, v.v. Các loại đạn này đã được sử dụng trong chiến đấu, có hiệu quả cao, giải quyết được những khó khăn lớn lúc đó, phục vụ tốt yêu cầu của chiến trường.

   Đồng chí còn nghiên cứu thành công việc dùng chất hóa học - sau nhiều lần thí nghiệm rất nguy hiểm - để chế đạn lửa trong điều kiện ở xa trung ương, mọi phương tiện cung cấp, vận chuyển đều thiếu thốn.

   Bản thân Nguyễn Trung Thành vừa làm công tác tổ chức, lãnh đạo, vừa nỗ lực nghiên cứu, khó khăn không bó tay, thất bại không nản chí, nguy hiểm không chùn bước, đã cùng tập thể khắc phục nhiều khó khăn, sản xuất được nhiều loại vũ khí phức tạp khác nửa phục vụ chiến trường, và qua lao động đã đào tạo được một đội ngũ công nhân nòng cốt. Từ 11 đồng chí ban đầu, qua 5 năm xưởng đã có hơn 100 công nhân thành thạo, từ một cơ sở binh công xưởng ở Cà Mau đã phát triển thành nhiều cơ sở của 6 tỉnh miền Tây Nam Bộ.

  Nguyễn Trung Thành là một công nhân gương mẫu, luôn luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm của người đảng viên, hết lòng phục vụ Tổ quốc; sống giản dị, khiêm tốn, tận tình giúp đỡ đồng đội, chú ý xây dựng đơn vị trưởng thành toàn diện.

  Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Nguyễn Trung Thành được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG NGUYỄN THỊ ÚT

(http://img651.imageshack.us/img651/9777/nguyenthiuth.jpg)


   Nguyễn Thị Út (tức Út Tịch), sinh năm 1920, dân tộc Kinh, quê xã Tam Ngãi, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh, tham gia cách mạng từ năm 1945. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là du kích xã Tam Ngãi.

    Xuất thân là một cố nông, ngay từ nhỏ Út Tịch đã phải đi ở cho địa chủ, chịu bao cay đắng, áp bức của đế quốc và phong kiến. Khi đã lấy chồng rồi, cả hai vợ chồng vẫn phài chịu cảnh đi ở đợ cho tới ngày Cách mạng tháng Tám thành công. Được giải thoát khỏi cảnh đọa đày tủi nhục, hai vợ chồng đều hết sức phấn khởi, hăng hái, tích cực tham gia hoạt động cách mạng. Từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, mặc dù sức vếu và bận con mọn, đồng chí đã xung phong vào du kích. Khi tải thương, khi đi trinh sát, khi xách súng đuổi địch, đồng chí đã trải qua nhiều công tác cùng với bộ đội tham gia hàng chục trận đánh và đã hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ với hiệu quả công tác và hiệu suất chiến đấu cao.

   Vừa giỏi việc nước, vừa đảm việc nhà, tuy đã sáu con, Út Tịch đánh giặc vẫn rất hăng hái, có nhiều mưu mẹo tài tình, khi có thai 8 tháng, vẫn chỉ huy du kích hạ hai đồn giặc. Hai vợ chồng luôn luôn tâm đâc, cùng hỗ trợ nhau giết giặc, lập công xuất sắc.

   Trong một trận địch càn vào xã, Út Tịch lúc đó mới sinh con 2 tháng, còn đang nghỉ, nhưng vừa nghe tiếng súng, liền đưa con xuống hầm, rồi xách súng đi chiến đấu. Khi giáp trận, Út Tịch nhanh như con sóc chạy hết nơi này đến nơi kia, lợi dụng địa hình nổ súng diệt địch. Trong khi đang trườn lên một bờ đê cao, do sức còn yếu, đồng chí bị trượt, ngã lăn xuống ruộng và ngất xỉu. Cũng may, lại gặp chồng ở đơn vị bộ đội tập trung dẫn quân về cùng phối hợp chống càn. Trận chiến đấu đã nhanh chóng kết thúc thắng lợi.

   Một hôm, trên đường ra chợ, phát hiện thấy 1 đại đội địch đi càn, đồng chí vội chạy tắt đường về tìm đội du kích bàn kế hoạch đánh địch. Bố trí trận địa xong, Út Tịch tranh thủ chạy về cho con nhỏ bú và dắt các con lớn xuống hầm ẩn nấp an toàn rồi lại trở ra trận địa. Chờ quân địch vào gần, đồng chí cùng đồng đội nổ súng mãnh liệt, bất ngờ, buộc chúng phải tháo chạy, bỏ lại một số tên chết và bị thương.

  Nhận nhiệm vụ chuẩn bị đánh đồn Bến Cát, Út Tịch tiến hành điều tra kỹ lưỡng và vạch kế hoạch lấy đồn chu đáo, tỉ mỉ. Sau khi đã tìm cách làm quen được với bọn lính trong đồn, đồng chí dụ chúng ra ăn nhậu ngoài quán cho đến lúc say, cùng lúc đó, theo ám hiệu của đồng chí, du kích xông vào lấy đồn; đoạt súng, Út Tịch cũng nhanh như cắt chĩa súng bắt toàn bộ bọn lính đang ăn uống ngoài quán phải đầu hàng.

   Nguyễn Thị Út là một cán bộ phụ nữ giàu nghị lực, rất mực trung thành, kiên quyết đánh giặc, giữ nước, giữ nhà, tới mức như đồng chí nói: “Còn cái lai quần cũng đánh”. Đối với đồng đội, bà con cô bác, Út Tịch hết sức tận tình thương yêu, giúp đỡ, sẵn sàng nhường cơm sẻ áo khi hoạn nạn khó khăn, nên luôn luôn được đồng đội và nhân dân tin yêu, đùm bọc.

   Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Nguyễn Thị Út được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giãi phóng hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 31 Tháng Bảy, 2012, 10:36:26 am
ANH HÙNG VAI

(http://img18.imageshack.us/img18/4550/vait.jpg)

   Vai (tức Hồ Đức Vai) sinh nãm 1942, dân tộc Pa Cô, quê ở thôn Lê Lốc, xã Hồng Bắc, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên - Huế, vào du kích năm 1961. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là xã đội trưởng, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Mồ côi cha lẫn mẹ từ năm lên 6 tuổi, Hồ Đức Vai sống nhờ bà con đùm bọc, bữa đói, bữa no cho tới lúc trưởng thành. Được cách mạng giúp đỡ và giáo dục, dồng chí đã nhận rõ phải quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng đất nước, nên đã hãng hái tham gia hoạt động kháng chiến.

   Ở địa phương đồng chí, cơ sử cách mạng lúc đầu còn rất yếu, bọn địch thường truy lùng tìm bắt cán bộ và đàn áp, bóc lột nhân dân rất thậm tệ. Công việc đầu tiên đồng chí được giao là vận động nhân dân chống giặc bắt lính, vót chông rào làng và trồng sắn ủng hộ cách mạng. Đồng chí đã làm tốt nhiệm vụ cấp trên giao.

   Sang năm 1961, tiểu đội du kích được thành lập. Hồ Đức Vai được giao nhiệm vụ làm tiểu đội trưởng, vì chưa quen đánh giặc, lúc đầu một số anh em có phần bỡ ngỡ, đồng chí tận tình đi sát, giúp đỡ, chỉ dẫn anh em tỉ mỉ. Lúc chiến đấu củng như khi công tác gặp việc gì khó khăn, nguy hiểm, đồng chí đều đi trước, làm trước. Nhờ có lãnh đạo, chỉ huy chặt chẽ, có tổ chức canh phòng cần mật, nên nhiều lần tiểu đội du kích đã chặn đánh diệt được bọn địch ở đồn A Lưới về quấy phá nhân dân khiến đồng bào yên tâm sản xuất.

   Trong năm 1961, đồng chí đã đánh 22 trận, diệt 32 tên địch, bắn bị thương 9 tên, làm sập hầm chông chết 1 tên và bị thương 50 tên khác. Lợi dụng địa hình rừng núi, đổng chí thường phát huy lối đánh nhỏ lẻ, bất ngờ, tiến công rất táo bạo, dũng cảm gây cho địch nhiều thiệt hại.

   Năm 1962, địch càn vào xã. Mặc dù vết thương từ trận đánh trước chưa lành, đồng chí vẫn thường xuyên có mặt ở vị trí chiến đấu. Trong suốt 3 ngày liền quần nhau với giặc, đồng chí đã góp phần quan trọng đánh bật quân địch, bảo vệ xóm làng.

   Ngày 3 tháng 3 năm 1963, Hồ Đức Vai dẫn một tổ dân quân vào quấy rối đồn A Lưới. Đang bò qua hàng rào thì ta phát hiện được mìn địch gài - một loại mìn mới, chưa ai biết cách tháo gỡ. Đồng chí vẫn giữ vững quyết tâm tiếp tục trận đánh, tạm thời cho anh em lui ra, một mình đồng chí ở lại nghiên cứu tìm cách khắc phục. Cuối cùng, đồng chí đã gỡ được mìn, và tiếp tục chỉ huy anh em tiến vào đánh địch. Khi ra về, tiểu đội còn mang đủ số mìn đã thu được để sau này dùng vào việc huấn luyện và gài xen với chông bẫy bảo vệ xóm làng. Sau trận này, anh em đều phấn khởi và càng thêm tin tưởng ở đồng chí.

   Tháng 7 năm 1963, bọn địch được tăng viện, thường hùng hùng hổ hổ kéo nhau đi càn. Lúc về, chúng hay cụm lại ở Lê Lốc. Hồ Đức Vai dẫn một tổ bí mật bám sát địch, khi còn cách chúng 20 mét mới bất ngờ nổ súng, diệt 4 tên ngay tại chỗ. Từ đó, bọn địch rất hoảng sợ, không còn dám ngông nghênh đi gây tội ác như trước.

   Ngày 11 tháng 7 năm 1963, nghe tin địch càn vào xã A Ninh, lúc đó, đang một mình làm rẫy, để tranh thủ thời cơ đánh địch, đồng chí đã vác súng chạy tắt rừng đón đánh địch. Sau khi tìm được địa hình thuận lợi nhất, đồng chí bí mật nằm phục, chờ cho toán địch đi đầu vào cách 5 mét mới nổ súng, diệt tại chỗ 3 tên. Bọn còn lại hốt hoảng chạy tán loạn, bỏ dở cuộc càn.

  Đêm 27 tháng 5 năm 1969, Hồ Đức Vai dẫn một tổ bò sát đồn A Lưới, kiên trì nằm phục chờ trời sáng khi bọn địch ra sân tập hợp mới đồng loạt nổ súng, bắn chết 3 tên và bắn bị thương một số.

   Trong mọi mặt công tác Hồ Đức Vai đều luôn luôn gương mẫu, việc gì khó khăn nguy hiểm, đồng chí cũng xung phong làm trước cho anh em noi theo, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ đồng đội, khiêm tốn học hỏi đồng chí được anh em tin yêu, nhân dân mến phục.

   Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Hồ Đức Vai được Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.




ANH HÙNG PUIH THU

(http://img171.imageshack.us/img171/1904/puihthu.jpg)


   Puih Thu (tức Puih Banh), sinh năm 1935, dân tộc Gia Rai, quê ở xã Ia Lớp, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai, tham gia cách mạng năm 1961. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là trung đội trưởng du kích xã.

         Puih Thu sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo, sống bằng nghề làm rẫy, từ nhỏ Puih Thu phải ỉàm lụng vất vả nhưng cuộc sống vẫn thiếu đói; thời Mỹ - ngụy quê hương Puih Thu đầy bóng giặc, chúng đàn áp, bóc lột nhân dân thậm tệ, lập ra các trưởng làng, thôn trưởng và ấp trưởng... chúng lập đồn, xây bốt trong làng trong ấp, kiểm soát việc làm ăn ra vào, ngang nhiên cướp của, giết người, bắt lính...

  Người dân Tây Nguyên xưa nay sống tự do, đùm bọc, yêu thương và vui vẻ trong những ngày hội của buôn làng, nay bị tước hết. Lòng căm thù giặc sâu sắc, Puih Thu tình nguyện ra lập đội du kích và trực tiếp làm trung đội trưởng (đầu năm 1963). Với vũ khí thô sơ tự tạo như cung tên, giáo mác, đồng chí đã cùng đội du kích và nhân dân chiến đấu diệt nhiều ác ôn tề điệp.

   Trong trận chiến ngày 18 tháng 4 năm 1964, tại ấp làng Tốt, Puih Thu đã cùng đội du kích mưu trí lợi dụng ngày hội Nhà Ma cho bọn chúng uống rượu say rồi xông lên cướp súng, bắt trói 8 tên và diệt một số tên ác ôn, thu 8 súng trang bị cho đội du kích.

   Cũng trong tháng 4 năm 1964, địch càn vào xã, đồng chí dũng cảm dùng ná tẩm thuốc độc tiêu diệt hàng chục tên địch, làm cho địch bị sa lầy vào thế trận hầm chông, cạm bẫy của nhân dân và du kích, buộc địch phải bỏ dở cuộc càn.

  Ngày 14 tháng 5 năm 1964, Puih Thu chỉ huy trung đội du kích cùng nhân dân làng Lan nổi dậy diệt 18 tên (có 4 tên cảnh sát, 2 tên điệp ngầm), đốt nhà hội đồng của địch bắt sống 6 tên, thu 12 súng các loại và nhiều đạn dược. Khi máy bay địch đến oanh tạc, đồng chí đã dùng súng trường bắn rơi 1 máy bay lên thẳng, diệt nhiều tên. Chiến công của Puih Thu được nhân dân địa phương rất khâm phục.

   Puih Thu là một trung đội trưởng du kích chiến đấu dũng cảm, trận nào củng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần xây dựng lực lượng du kích xã trưởng thành, được cán bộ và nhân dân tin yêu.

   Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Puih Thu được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 31 Tháng Bảy, 2012, 10:42:00 am
ANH HÙNG PHẠM VĂN CỘI
(LIỆT SĨ)

(http://img542.imageshack.us/img542/349/phamvancoi.jpg)


   Phạm Văn Cội, sinh năm 1940, dân tộc Kinh, quê ở xã Nhuận Đức. huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh. Khi hy sinh đồng chí là xã đội trưởng, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Phạm Văn Cội sinh ra trong một gia đình nghèo khổ cha và chị gái bị giặc Pháp giết hại, bản thân phải lao động làm thuê cực nhọc từ nhỏ. Sẵn có mối thù sâu sắc với bọn giặc cướp nước và bán nước, cho nên khi được cách mạng giáo dục, đồng chí sớm hiểu rõ chỉ có kiên quyết đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước thì nhân dân ta mới có hạnh phúc, vì thế, Phạm Văn Cội luôn luôn nêu cao tinh thần tích cực tiến công, tìm Mỹ mà diệt, tự tạo ra nhiều vũ khí đẻ đánh bộ binh, diệt cơ giới, bắn máy bay địch, v.v. góp phần đẩy mạnh phong trào du kích chiến tranh trong xã; cổ vũ mọi người tham gia diệt Mỹ khi chúng đổ quân chiếm đóng căn cứ Đồng Dù (Củ Chi). Riêng Phạm Văn Cội diệt 120 tên Mỹ, 8 xe cơ giới và 1 máy bay lên thẳng.

  Năm 1960, nghe tin quê nhà đồng khởi, Phạm Vãn Cội thôi việc cạo mủ ở đồn điền cao su, trở về xã tham gia chiến đấu trong đội tự vệ mật rồi đội du kích ấp.

  Năm 1961, là tiểu đội trưởng du kích, Phạm Vãn Cội dẫn bộ đội đi săn bọn giặc tập nhảy dù, riêng đồng chí đã bắn chết nhiều tên địch bằng súng thô sơ. Trong hoàn cảnh thiếu thốn vũ khí, đồng chí tự sản xuất chông đinh, cung tên để giết giặc.

   Năm 1962, quân chủ lực ngụy mở cuộc càn vào xã, du kích trong ấp đi làm và công tác xa chưa về kịp, tuy chỉ còn một mình, đồng chí vẫn kiên quyết chiến đấu, dùng súng trường, lựu đạn đánh chặn diệt 5 tên giặc, buộc chúng phải bỏ dở cuộc càn.

   Năm 1963, lần đầu tiên địch dùng xe M.113 đi càn trong xã, Phạm Văn Cội cùng một đồng chí nữa đã mưu trí, dũng cảm dùng lựu đạn đánh đứt xích 1 xe, diệt nhiều tên giặc, gây cho anh em lòng tin tưởng với vũ khí tự tạo nhưng có quyết tâm thì vẫn diệt được xe bọc thép của địch. Sau trận này, Phạm Văn Cội được giao phụ trách ấp đội trưởng rồi xã đội phó.

   Trong 2 năm 1964, 1965, Phạm Văn Cội chỉ huy đội du kích xã liên tục bám đánh địch, bảo vệ nhân dân, làm cho bọn ngụy hoang mang không dám càn vào xã. Tuy vẽt thương còn đau, hàng ngày đồng chí vẫn đi nghiên cứu trận địa, củng cố xã chiến đấu, rèn luyện thêm về quân sự cho anh em du kích, sẵn sàng chiến đấu.

  Ngày 8 tháng 1 năm 1966, giặc Mỹ mở cuộc càn quét lớn vào củ Chi. Suốt 8 ngày liền, Phạm Văn Cội đã lãnh đạo và chỉ huy anh em trong đội du kích ngoan cường bám đánh địch, diệt 111 tên, bắn rơi và phá hủy 7 máy bay lên thằng, 1 máy bay khu trục và nhiều xe cơ giới, buộc địch phải rút lui, bỏ dở cuộc càn.

   Tháng 2 năm 1966, đồng chí đã 5 lần chỉ huy anh em khi thì đi tập kích bọn Mỹ, khi chặn đánh cơ giới địch càn vào xã, riêng đồng chí diệt 6 xe bọc thép, giết hàng chục tên giặc, thu vũ khí.

   Tháng 4 năm 1966, Phạm Văn Cội dẫn một số anh em vượt rào gai, bãi mìn, lọt vào căn cứ Mỹ ở Đồng Dù, gài mìn diệt 2 xe, đồng thời gỡ được mìn của địch đem về sử dụng.

  Tháng 9 năm 1966, địch chia làm nhiều mũi mở cuộc càn lớn vào xã kéo dài 12 ngày, chặn các đường liên lạc với phía sau của đội du kích. Trời mưa, công sự đều bị sụt lở. Trong ổ chiến đấu vừa sửa lại không có nắp, trơ trọi giữa chỗ trống, một số đồng chí bị thương vong, Phạm Văn Cội cùng một người nữa kiên quyết chặn địch, bảo vệ thương binh. 2 chiếc xe M.118 bị trúng mìn, nổ tan xác, nhưng các xe khác của chúng ở xung quanh vẫn nổ máy gầm gừ, đồng thời bọn giặc ùa nhau kéo tới. Phạm Văn Cội đã cùng đồng đội dũng cảm, bình tĩnh dùng lựu đạn chiến đấu, chặn đứng 3 đợt xung phong của địch, giết chết 25 tên, bảo vệ đồng đội được an toàn.

  Trong một trận chống càn mùa khô năm 1967, Phạm Văn Cội chỉ huy đội du kích phối hợp với đơn vị chủ lực chiến đấu bẻ gãy cuộc càn của xe cơ giới Mỹ. Sau trận đánh Phạm Văn Cội đi kiểm tra trận địa, giữa đường gặp địch phục kích, đồng chí đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và anh dũng hy sinh.

   Đồng chí đã nêu tấm gương sáng về tinh thần quyết chiến quyết thầng, xứng đáng là ngọn cờ đầu trong phong trào thi đua diệt Mỹ của du kích Củ Chi, tự tạo vũ khí đánh địch, được đồng đội và nhân dân vô cùng thương mến, tin yêu.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Phạm Văn Cội được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.




ANH HÙNG ĐỒNG PHƯỚC HUYẾN
(LIỆT SĨ)


   Đồng Phước Huyến, sinh năm 1946, dân tộc Kinh, quê ở xã Quế Phú, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, nhập ngũ tháng 3 năm 1965. Khi hy sinh đồng chí là tiểu đội trưởng thuộc đại đội 1, tiểu đoàn 72 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Nam.

   Sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo, cha mẹ chết sớm, Đồng Phước Huyến phải đi ở ngay từ khi còn nhỏ. Được giáo dục về lòng yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, lòng căm thù quân cướp nước và bán nước, đồng chí sớm giác ngộ cách mạng và đã tham gia hoạt động bí mật ở xã từ năm 1961, sau đó được chỉ định phụ trách tiểu đội du kích. 7 tháng tham gia chiến đấu, đồng chí đã cùng đội du kích chiến đấu 15 trận, hoàn thành tốt nhiệm vụ, hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị ở địa phương.

  Vào quân đội, Đồng Phước Huyến đã tham gia chiến đấu 53 trận, giết và làm bị thương trên 70 tên địch, bắt sống 15 tên, thu 25 súng các loại, đánh hỏng 3 xe bọc thép. Trong chiến đấu, đồng chí luôn luôn nêu cao tinh thần chiến đấu gan dạ, dũng cảm.

  Vừa vào bộ đội, tham gia trận Mộc Bài (tháng 3 năm 1965), Đồng Phước Huyến đã anh dũng xông lên đánh giáp lá cà vật lộn với địch, giết chết 1 tên, thu súng và bắn chết thêm 2 tên nữa.

   Trong trận Cầu Ông Bộ ngày 20 tháng 6 năm 1965, được phân công trong tổ mũi nhọn đánh thọc sâu, đồng chí đang tiếp cận thì bị lộ. Địch chống cự ác liệt, 5 lần đồng chí cùng tổ xung phong vào đội hình giặc nhưng không được. Đại đội giao cho tổ đồng chí chuyển hướng đánh mạnh vào hướng chính diện. Được lệnh, Đồng Phước Huyến nhanh chóng phát triển đánh ngay vào giữa đội hình địch, cướp trung liên địch, diệt địch, tạo điều kiện cho đơn vị trong 10 phút tiêu diệt gọn 2 trung đội địch, thu toàn bộ vũ khí.

  Trận đánh cầu Tam Kỳ ngày 17 tháng 1 năm 1966, làm nhiệm vụ ở mũi thọc sâu, bị địch ngoan cố chống trả quyết liệt, Đồng Phước Huyến kiên quyết xông lên đánh chiếm lô cốt đầu cầu, thu một trung liên, kiềm chế hỏa lực của địch để đơn vị giành thắng lợi giòn giã.

  Trận Chồi Sũng ngày 14 tháng 2 năm 1966, Đồng Phước Huyến được giao nhiệm vụ ở tổ thọc sâu. Vừa được lệnh nổ súng, đồng chí vượt qua 15 mét rào dây thép gai bùng nhùng, xung phong đánh vào tung thâm, tạo điều kiện cho đơn vị triển khai chiến đấu mau lẹ, diệt 1 đại đội địch. Trong trận này, đồng chí bị thương 2 lần nhưng vẫn không rời trận địa, kiên quyết chiến đấu, diệt 8 tên, mang 1 trung liên và 1 súng trường về vị trí tập kết an toàn.

  Trận đánh cứ điểm Núi Giàng, ngày 17 tháng 3 năm 1966, vừa ở bệnh viện về, sức còn yếu, được đơn vị cho nghỉ, nhưng Đồng Phước Huyến hăng hái xung phong đi chiến đấu, và đã cố gắng mang được 20 quả thủ pháo, lựu đạn. Được giao phụ trách mũi phó thọc sâu, chỉ trong mấy phút, đồng chí đã dung 12 thủ pháo diệt gọn bọn chỉ huy và 3 ổ trung liên, làm tê liệt hỏa lực địch, tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị diệt gọn 1 đại đội địch trong 15 phút. Bị thất bại nặng, địch dùng phi pháo oanh tạc dữ dội vào trận địa ta, làm cho ban chỉ huy và một số đồng chí bị thương vong. Đồng Phước Huyến đã động viên anh em kiểm tra kỹ trận địa và tổ chức chu đáo đưa thương binh, tử sĩ ra ngoài. Một mình đồng chí với 2 súng trên vai, cõng 1 thương binh và vác 1 trung liên chiến lợi phẩm về vị trí an toàn.

   Đêm 25 tháng 6 năm 1966, phối hợp với đơn vị bạn hạ đồn An Hà, Đồng Phước Huyến chỉ huy tiểu đội hoàn thành nhiệm vụ chủ yếu của trung đội, diệt 16 địch tại ấp chiến lược cạnh đồn. Ngày 26 tháng 6 năm 1966, trung đội về vị trí tập kết, vừa ăn cơm xong thì 3 trung đoàn Mỹ, ngụy có 24 xe M.113, M.118 và phi pháo yểm trợ ồ ạt càn vào nơi đóng quân. Sau khi tổ đảng họp hạ quyết tâm chiến đấu, trung đội còn 19 người, đã nhanh chóng triển khai theo kế hoạch. Ta và địch chỉ cách nhau 30 mét, cuộc chiến đấu diễn ra hết sức ác liệt. Một số đồng chí đã bị thương vong, Đồng Phước Huyến vẫn bình tĩnh động viên anh em quyết tâm chiến đấu. Một chiếc xe bọc thép chở đầy lính địch kéo tới, đồng chí bắn mãnh liệt vào đội hình địch và động viên anh em chuẩn bị lựu đạn, thủ pháo để diệt xe cơ giới, trả thù cho đồng đội. Vừa lúc đó, Đồng Phước Huyến bị thương gãy nát cả hai chân. Biết mình không thể sống, đồng chí giao nhiệm vụ chỉ huy đơn vị cho tiểu đội trưởng tiểu đội 2. Sau mấy phút ngất đi, tỉnh dậy, Đồng Phước Huyến vẫn thấy anh em đánh trả quyết liệt với địch. Nhìn chiếc xe M.113 đang lù lù bò đến, đồng chí lợi dụng gò đất, chồm lên ném 2 quả thủ pháo vào xe. Chiếc M.113 bốc cháy, 15 tên Mỹ trên xe phải đền tội. Chiếc thứ 2 bò đến bị một anh em trong tiểu đội dùng thủ pháo đánh hỏng tại chỗ không nhích lên được. Chiếc thứ 3 thấy vậy lao thẳng đến hòng nghiến nát đồng chí. Xe vừa lao tới, Đồng Phước Huyến dùng hết sức lực còn lại, nhoài lên ném quả thủ pháo vào chiếc xe địch. Chiếc xe bị đứt xích gầm rú tại chỗ. Cả đoàn xe địch dồn lại trước gò đất bắn loạn xạ rồi hoảng hốt kéo nhau rút chạy. Đồng Phước Huyến đã hy sinh anh dũng, góp phần chặn đứng mũi tiến công của địch.

   Khi còn sống, đồng chí luôn luôn gương mẫu, đi đầu trong mọi mặt công tác, đoàn kết với nhân dân, tận tình giúp đỡ đồng đội, sống khiêm tốn, được nhân dân tin yêu, đồng đội mến phục.

  Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhất.

  Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Đồng Phước Huyến được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 31 Tháng Bảy, 2012, 10:44:39 am
ANH HÙNG TÔ THỊ HUỲNH
(LIỆT SĨ)

(http://img193.imageshack.us/img193/1536/tothihuynh.jpg)


   Tô Thị Huỳnh, sinh năm 1946, dân tộc Kinh, quê ở xã Lương Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, vào du kích năm 1960. Khi hy sinh đồng chí là xã đội phó xã Lương Hòa, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo, bố bị giặc bắn chết, có lòng căm thù giặc sâu sắc, lại được cán bộ đi sát giúp đỡ, giáo dục, Tô Thị Huỳnh sớm giác ngộ cách mạng. Năm 16 tuổi chị đã hăng hái vận động được 8 bạn gái cùng xin vào du kích và Tô Thị Huỳnh được cử làm đội trưởng. Được tập thể giáo dục; rèn luyện, Tô Thị Huỳnh đã trở thành người chỉ huy trẻ tuổi, luôn luôn nêu cao tinh thần dũng cảm, táo bạo, chỉ huy mưu trí, dẫn đầu đơn vị trong những tình huống khó khăn, phối hợp cùng các đơn vị bạn đánh thắng nhiều cuộc càn quét của địch.

   Đặc biệt, đầu năm 1968, Tô Thị Huỳnh chỉ huy đội du kích dựa vào thế trận chông, mìn, kiên cường chiến đấu đánh bại cuộc càn của 1 tiểu đoàn địch có hỏa lực, cơ giới mạnh yểm hộ, diệt trên 30 tên, giữ vững khu căn cứ Ô Chích. Chiến công của đội nữ du kích do Tô Thị Huỳnh chỉ huy đã góp phần cổ vũ mạnh mẽ phong trào du kích chiến tranh ở địa phương, làm cho nhân dân tin tưởng quyết tâm đánh giặc.

   Tháng 4 năm 1964, Tô Thị Huỳnh được cử làm xã đội phó trực tiếp chỉ huy tiểu đội du kích xã, đã chỉ huy đơn vị nhiều lần tiến công diệt bốt do từng tiểu đội địch đóng giữ, tạo điều kiện cho quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ.

   Tính chung, đồng chí đã tham gia chiến đấu và chỉ huy chiến đấu 150 trận, cùng đơn vị loại khỏi vòng chiến đấu trên 100 tên địch, bắt 20 tên, thu 30 súng các loại. Riêng Tô Thị Huỳnh còn gài chông, đạp lôi, làm bị thương trên 20 tên địch.

   Trong quá trình chiến đấu, đồng chí đã kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động vũ trang với binh vận, đi sát tuyên truyền giải thích 55 gia đình binh sĩ, vận động được 16 lính địch bỏ ngũ; xây dựng được 5 cơ sở làm nội ứng cho du kích đánh chiếm đồn địch, thu 18 súng.

  Tô Thị Huỳnh tích cực tham gia xây dựng các đoàn thể cách mạng trong xã, tuyên truyền được 28 hội viên phụ nữ giải phóng, vận động được 40 thanh niên nam, nữ vào lực lượng vũ trang (có 16 thanh niên vào bộ đội).

   Là một nữ thanh niên trẻ tuổi, Tô Thị Huỳnh đã tỏ ra là một người giàu nghị lực, có lòng yêu nước nồng  nàn, có tinh thần chiến đấu dũng cảm, mưu trí, có phẩm chất trong sáng, được đồng đội và nhân dân tin yêu. Sau khi chị hy sinh, (tháng 12 năm 1966) tiểu đội nữ du kích Lương Hòa mang tên liệt sĩ Tô Thị Huỳnh, tiếp tục lập nhiều chiến công, đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích ở địa phương lên rất cao.

    Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Tô Thị Huỳnh được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.




ANH HÙNG NGUYỄN VĂN LỊCH
(LIỆT SĨ)


   Nguyễn Văn Lịch, sinh năm 1950, dân tộc Kinh, quê ở xã Phước Vĩnh An, huyện củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh, nhập ngũ năm 1964. Khi hy sinh đồng chí là tiểu đội trưởng trinh sát bộ đội địa phương quận Dĩ An, khu Sài Gòn - Gia Định.

   Sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo khổ, cha bị giặc giết chết, Nguyễn Văn Lịch phải đi ở cho địa chủ từ lúc còn bé. Căm thù sâu sắc bọn giặc cướp nước và bè lũ bán nước giết hại đồng bào, chia cắt Tổ quốc, khi được tiếp xúc với cách mạng, đồng chí sớm giác ngộ, mới 12 tuổi đã hãng hái tham gia công tác thông báo tin tức, canh gác, bảo vệ cán bộ. Năm 14 tuổi Nguyễn Văn Lịch vào du kích xã, sau chuyển sang bộ đội tập trung của quận. Đồng chí là một chiến sĩ luôn luôn thể hiện lòng trung thành với cách mạng, có tinh thần chiến đấu dũng cảm, kiên quyết tiến công địch.

   Trong một trận chống càn (năm 1964), được phân công bám địch, nhân lúc bọn địch sơ hở, Nguyễn Văn Lịch ném 1 quả lựu đạn, diệt 1 tên thiếu úy ngụy, làm bị thương một số khác.

   Tháng 5 năm 1965, đồng chí được điều đi học, sau bổ sung về Dĩ An. Tuy mới vào bộ đội, trong trận chiến đấu đầu tiên. Nguyễn Văn Lịch đã tỏ ra rất dũng cảm, mưu trí, ngay phút đầu dồng chí đã cùng đồng đội nổ súng diệt 4 tên, bắn bị thương một số khác, thu 1 súng.

   Trận chống càn ở rừng Cò Mi (tháng 8 năm 1965), đồng chí đã dùng tiểu liên diệt gọn ban chỉ huy đại đội địch, dùng thủ pháo đánh hỏng 1 xe M.113, buộc địch phải dừng lại, bảo vệ cho đơn vị rút ra an toàn.

   Năm 1966, Nguyễn Văn Lịch được điều về đơn vị trinh sát. Một lần đồng chí cùng 2 du kích đi mở đường bị lọt vào ổ phục kích của địch, Nguyễn Văn Lịch bình tĩnh nằm lại nổ súng diệt 1 tên địch, bảo vệ cho 2 du kích rút trước, sau đó thu 1 súng rồi rút ra an toàn. Trong một lần khác, Nguyễn Văn Lịch bị thương vào tay nhưng vẫn bình tĩnh nằm lại, dùng 2 trái lựu đạn diệt ổ trung liên và tên thiếu úy chỉ huy rồi tìm đường trở về đơn vị.

   Ngày 27 tháng 5 năm 1966, trên đường từ đội điều trị về đơn vị, đồng chí bị địch phục kích. Bị thương gãy nát cả 2 chân, nhưng 2 tay vẫn nắm chắc 2 trái lựu đạn, đồng chí trườn đi hướng khác đánh địch. Tới một căn nhà bỏ trống, vì kiệt sức quá, đồng chí phải nghỉ lại. Sáng hôm sau, 2 tên sĩ quan Mỹ và 8 tên sĩ quan Nam Triều Tiên đi qua đấy, vừa khi đó, một bà má từ ngoài đi vào nhà. Thấy Nguyễn Văn Lịch bị thương nặng quá, má giục đồng chí tránh đi kẻo nguy hiểm. Nguyễn Văn Lịch cố thuyết phục má tránh ra xa cho mình tiện đánh địch. Khi bà má đã đi xa, bọn địch thấy có vết máu đang tụm lại xem, Nguyễn Văn Lịch dung hai khuỷu tay cố trườn đến gần và tung 2 trái lựu đạn, diệt cả 10 tên sĩ quan địch. Đồng chí đã anh dũng hy sinh bên đống xác giặc.

   Khi còn sống, Nguyễn Văn Lịch luôn luôn gương mẫu trong công tác, học tập và rèn luyện. Sự hy sinh anh dũng của đồng chí đã nêu tấm gương sáng ngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho đồng đội noi theo giết giặc, cứu nước.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Nguyễn Văn Lịch được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 31 Tháng Bảy, 2012, 10:48:48 am
ANH HÙNG LƯU VĂN LIỆT
(LIỆT SĨ)

(http://img405.imageshack.us/img405/8835/luuvanliet.jpg)


   Lưu Văn Liệt, sinh năm 1943, dân tộc Kinh, quê ở xã Tường Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long, nhập ngũ năm 1965. Khi hy sinh đồng chí là chiến sĩ biệt động thị xã Vĩnh Long. Đồng chí là con út trong gia đình có một anh hy sinh trong kháng chiến chống Pháp và một anh hy sinh trong kháng chiến chống Mý. Khi đồng chí còn nhỏ, cha mẹ cho ra học ở thị xã Vĩnh Long.

   Là một thanh niên học sinh, sống ở thành phố, hàng ngày tai nghe, mât thấy những tội ác của giặc Mỹ, Lưu Văn Liệt sớm giác ngộ cách mạng, có lòng căm thù sâu sắc giặc Mỹ và bè lũ tay sai. Đồng chí đã hăng hái tham gia rải truyền đơn trong khu vực có nhiều căn cứ quân sự, tình báo và công an Mỹ - ngụy. Nhiều lần bị địch đuổi bắt, Lưu Văn Liệt vẫn bình tĩnh, mưu trí, dũng cảm đối phó với địch, hoàn thành tốt nhiệm vụ.

   Năm 1965, đồng chí bỏ học, xin vào bộ đội. Với quyết tâm diệt địch cao, Lưu Văn Liệt say mê rèn luyện nâng cao bản lĩnh chiến đấu. Khi được giao lựu đạn và động viên tìm Mỹ để diệt, đồng chí rất phấn khởi. Suốt nửa tháng, chiều nào Lưu Văn Liệt cũng mang lựu đạn đi về phía căn cứ quân sự Mỹ, nhưng chỉ gặp những tên Mỹ đi lẻ tẻ. Không muốn nổ 1 trái lựu đạn mà chỉ diệt được 1 tên địch, Lưu Văn Liệt kiên trì chờ thời cơ giết được nhiều địch hơn. Một lần, gặp 3 tên Mỹ và bốn tên sĩ quan ngụy đi cùng, đồng chí quan sát đường rút và tháo chốt lựu đạn chuẩn bị ném. Nhưng bất ngờ một chiếc xe quân vụ của địch chạy đến đỗ chắn mất đường, đồng chí phải gài chốt lựu đạn và tìm cách rút ra an toàn.

   Khi được giao nhiệm vụ điều tra nghiên cứu và vạch phương án diệt Mỹ, Lưu Văn Liệt kiên trì ngày đêm bám sát, theo dõi nắm chắc tình hình địch và đề ra phương án tác chiến táo bạo, mang bom vào đặt ở nơi bọn Mỹ thường hay lui tới. Khi được giao nhiệm vụ chiến đấu, Lưu Văn Liệt xung phong nhận khai hỏa bom và chặn hậu khi lui quân. Tối 5 tháng 2 năm 1966, Lưu Văn Liệt và một đồng chí nửa bí mật mang bom vào đặt ở cái quán bọn Mỹ hay tới ăn uống. Bọn Mỹ đến rất lẻ tẻ nên đồng chí phải kiên trì chờ đợi. Mặc dầu biết cảnh sát địch đã nghi ngờ theo dõi, Lưu Văn Liệt vẫn bình tĩnh, nhanh nhẹn châm ngồi nổ rồi chờ đến lúc bom sắp nổ mới vượt ra ngoài. Bom nổ, 17 tên Mỹ và một số cảnh sát tan xác tại chỗ, nhưng Lưu Văn Liệt cũng bị thương. Bọn cảnh sát đuổi theo và bắn đồng chí bị thương lần thứ hai. Biết mình không thể thoát khỏi, đổng chí chờ bọn giặc đến gần, rồi rút chốt quả lựu đạn cuối cùng diệt thêm 2 tên giặc nữa và Lưu Văn Liệt đã anh dũng hy sinh.

   Khi còn sống, Lưu Văn Liệt luôn luôn gương mẫu, xung phong đi đầu trong mọi công tác, vui vẻ nhận phần khó về mình, sẵn sàng nhường thuận lợi cho bạn. Đồng chí Lưu Văn Liệt đã sống xứng đáng với lòng tin yêu, mến phục của đồng đội và đã hy sinh oanh liệt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Lưu Văn Liệt được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.



ANH HÙNG HOÀNG ĐÌNH NGHĨA
(LIỆT SĨ)


   Hoàng Đình Nghĩa, sinh năm 1942, dân tộc Kinh, ở xã Phước Hiệp, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh, nhập ngũ tháng 9 năm 1961. Khi hy sinh đồng chí là tiểu đội trưởng bộ binh đại đội 3, tiểu đoàn 1, trung đoàn 15, sư đoàn 9, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Gia đình Hoàng Đình Nghĩa vốn quê hương ở Nam Hà (miền Bắc), do quá nghèo khổ, phải bỏ làng đi làm ăn khi thực dân Pháp mộ phu. Cha làm phu ở đồn điền cao su cho tới khi ốm chết, một người anh của Hoàng Đình Nghĩa bị giặc giết năm 1964, bản thân đồng chí sinh ra và lớn lên ở miền Nam, sống rất cơ cực từ nhỏ, phải đi ở đợ, làm thuê hết nhà này sang nhà khác cho mãi tới ngày vào bộ đội.

   Đồng chí có lòng căm thù rất sâu sắc bọn thực dân đế quốc và rất tha thiết với sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Lúc nào đồng chí cũng hết lòng hết sức hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, nêu tấm gương sáng cho toàn đơn vị học tập.

   Từ ngày nhập ngũ cho đến lúc hy sinh, Hoàng Đình Nghĩa đã dự 29 trận đánh, luôn luôn thể hiện tinh thần hăng hái, dũng cảm và tác phong chiến đấu mưu trí, linh hoạt, quyết tâm tiêu diệt địch, góp phần xứng đáng vào những chiến công vẻ vang của đơn vị.

   Ngày 29 tháng 12 năm 1964, làm nhiệm vụ dẫn đường đưa đơn vị vào tiêu diệt tiểu đoàn biệt động ngụy vừa đổ xuống phía nam "ấp chiến lược" Bình Giã, mặc cho máy bay địch rà sát, bắn phá dử dội, địa hình vận động lại trống trải, Hoàng Đình Nghĩa vẫn khẩn trương, khéo léo dẫn bộ phận kìm giữ địch đến vị trí triển khai chiến đấu, rồi kịp thời quay lại đón cả đại đội.    Cuộc chiến đấu nổ ra ác liệt. Đồng chí như con thoi lao đi giữa làn đạn địch, nhanh chóng truyền đạt mệnh lệnh của chỉ huy đến các trung đội, lại còn hướng dẫn một khẩu đội súng cối đến chiếm lĩnh vị trí có lợi, bắn tiêu diệt một cụm giặc ngoan cố. Đồng chí đã góp công lớn cùng đơn vị tiêu diệt tiểu đoàn biệt động ngụy này.

   Ngày 31 tháng 12 năm 1964, bọn thủy quân lục chiến ngụy chia thành hai mũi từ "ấp chiến lược" Bình Giã tiến đến sở cao su ở Xuân Sơn. Hoàng Đình Nghĩa đã cùng đơn vị chặn đánh địch, nhiều lần đánh bật chúng trở lại. Địch ỷ thế đông, tập trung hỏa lực bắn dữ dội vào trận địa ta rồi tổ chức phản kích cả chính diện và bên sườn; máy bay địch quần đảo bắn phá vào giữa đội hình, gây cho ta rất nhiều khó khăn. Hoàng Đình Nghĩa không sợ đơn độc, một mình cũng tiến công, dũng cảm nhằm chỗ địch núng thế, thọc sâu vào giữa đội hình địch, dùng tiểu liên, lựu đạn diệt bọn ở gần, rồi xông tới diệt gọn một ổ hỏa lực nguy hiểm đang cản trở quân ta tiến lên. Hoàng Đình Nghĩa dùng ngay khẩu trung liên vừa thu được bắn mãnh liệt, tạo thời cơ cho đại đội xung phong, cùng các đơn vị bạn đánh thẳng vào sở chỉ huy của giặc, tiêu diệt gọn 1 tiểu đoàn thủy quân lục chiến ngụy. Trong trận này, đồng chí diệt 35 tên địch, thu 16 súng (có 1 trung liên), nên được cử đi kể chuyện chiến đấu cho toàn trung đoàn học tập.

   Đánh địch đổ quân xuống sân bay Thuận Lợi ngày 10 tháng 6 năm 1965, Hoàng Đình Nghĩa là tiểu đội trưởng đã linh hoạt chỉ huy tiểu đội đánh mũi vu hồi vào sườn quân địch. Với lối đánh nhanh, mạnh, chia cắt địch, diệt hết cụm giặc này đến cụm giặc khác, đồng chí đã tạo điều kiện thuận lợi cho cả đơn vị chỉ trong vài chục phút bao vây, tiến công, tiêu diệt gọn 1 tiểu đoàn quân ngụy.

   Ngày 12 tháng 6 năm 1965, 1 tiểu đoàn lính dù có máy bay yểm trợ định đánh chiếm lại sân bay. Đồng chí nhanh chóng dẫn tiểu đội vận động vượt qua lưới lửa của địch, chiếm vị trí có lợi, đánh giáp lá cà với địch vô cùng dũng mãnh. Mũi tiến công của giặc bị bẻ gãy; riêng đồng chí đã diệt 30 tên địch. Trong khi truy kích, Hoàng Đình Nghĩa bị trúng đạn và anh dũng hy sinh; nhưng toàn đơn vị đã nắm thời cơ có lợi xung phong, tiêu diệt hoàn toàn tiểu đoàn dù của địch.

   Hoàng Đình Nghĩa rất nhiệt tình và tận tụy, trong chiến đấu cũng như trong công tác và học tập, luôn luôn xung phong nhận việc khó về mình, có ý thức trách nhiệm chung đối với toàn đơn vị. Đồng chí chân thành, hết lòng thương yêu và chăm sóc đồng đội, được anh em rất quý mến, tin yêu.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhì, 6 bằng khen, 13 giấy khen, 2 năm liền 1964 - 1965 là Chiến sĩ thi đua trung đoàn, 2 lần đạt danh hiệu "Chiến sĩ Ấp Bắc".

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Hoàng Đình Nghĩa được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 31 Tháng Bảy, 2012, 10:51:31 am
ANH HÙNG NGUYỄN VĂN QUANG
(LIỆT SĨ)

(http://img100.imageshack.us/img100/6057/nhuyenvanquang.jpg)


   Nguyễn Văn Quang, sinh năm 1942, dân tộc Kinh, quê ở xã Phương Bình, huyện Long Mỹ, tỉnh Cần Thơ, nhập ngũ tháng 7 năm 1964. Khi hy sinh đồng chí là tiểu đội phó thuộc đại đội 2, tiểu đoàn 303, bộ đội chủ lực Tây Nam Bộ.

   Với lòng căm thù quân thù quân cướp Mỹ và bè lũ tay sai, long tha thiết yêu quý độc lập, tự do của Tổ quốc, tháng 7 năm 1964, Nguyễn Văn Quang tạm biệt gia đình ra vùng giải phóng, vào bộ đội.

   Đồng chí là một chiến sĩ luôn luôn tỏ rõ tinh thần dũng cảm, gan dạ, tích cực tiến công địch trong nhiều trận chiến đấu, mặc dù có trận lực lượng địch nhiều hơn ta gấp bội.

   Sáng ngày 8 tháng 2 năm 1966, địch cho 3 tiểu đoàn chia làm 3 mũi càn vào khu vực kênh xáng Cò Tuất - nơi trú quân của đơn vị đồng chí - tiểu đội Nguyễn Văn Quang phụ trách chặn địch ở một hướng của đại đội. Sau khi bị đánh bật ra nhiều lần, bọn địch tập trung 1 mũi đánh vào hướng tiểu đội của Quang để mở lối rút về Tân Hiệp. Với quyết tâm chặn địch lại để tiêu diệt, đồng chí đã động viên anh em kiên trì chờ cho địch vào thật gần mới nổ súng. Địch vào cách 300 mét, 200 mét... 30 mét... rồi 10 mét, Quang mới xiết cò khẩu trung liên và cùng đồng đội diệt nhiều tên, đánh bật bọn địch ra xa, nhưng tiểu đội trưởng hy sinh và Quang cũng bị thương. Bọn địch củng cố lại và tổ chức xung phong tiếp đợt 2. Đồng chí vẫn chờ cho địch vào gần mới chỉ huy anh em nổ súng mãnh liệt đánh bật chúng ra. Bọn địch cụm lại bắn mạnh vào khu vực tiểu đội đồng chí, đồng thời dùng máy bay lên thẳng đổ quân xuống phía sau tiểu đội. Lúc này, trong tiểu đội đã có thêm một số đồng chí nữa bị thương vong. Nguyễn Văn Quang bị thương gãy tay trái, nhưng vẫn bắn trung liên mãnh liệt và trườn lên ném lựu đạn, diệt nhiều tên và đánh bật bọn địch trở ra. Ba vết thương đau nhức làm Nguyễn Văn Quang ngất đi, nhưng khi tỉnh dậy đồng chí lại ôm trung liên bắn dập đầu quân địch xuống. Cánh tay trái giập nát làm vướng quá, đồng chí nhờ đồng đội chặt hộ rồi lại tiếp tục chiến đấu. Tiểu đội chỉ còn 2 người phải chống trả với gần 2 tiểu đoàn địch. Nguyễn Văn Quang quyết định cho đồng chí kia về báo cáo đơn vị và xin bổ sung lực lượng. Bọn địch phát hiện lực lượng ta ít nên ồ ạt xung phong. Còn một mình lại bị thương nặng, Nguyễn Văn Quang vẫn kiên cường chiến đấu, bắn hết 1 băng trung liên, quật ngã nhiều tên giặc. Bọn địch xô đến, đồng chí ném quả lựu đạn thứ nhất, rồi ném quả lựu đạn thứ hai; bọn địch bị chết thêm một số, buộc chúng phải chững lại. Nguyễn Văn Quang bị thương lần thứ tư và đã anh dũng hy sinh, nhưng trận địa vẫn giữ vững, và đơn vị đã kịp thời vận động tới đánh bật bọn địch ra xa.

   Khi còn sống, Nguyễn Văn Quang luôn luôn gương mẫu, xung phong đi đầu trong mọi mặt công tác, học tập và rèn luyện. Đồng chí luôn luôn chú trọng xây dựng tiểu đội lớn mạnh toàn diện, hết lòng thương yêu, giúp đỡ nhân dân và đồng đội, được mọi người tin yêu, mến phục.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng ba, nhiều bằng khen và giấy khen.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Nguyễn Văn Quang được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.




ANH HÙNG HUỲNH VĂN TẠO
(LIỆT SĨ)


   Huỳnh Văn Tạo sinh năm 1946, dân tộc Kinh, quê ở xã Đức Hòa, huyện Đức Hòa. tỉnh Long An, nhập ngũ năm 1965, khi được tuyên dương Anh hùng là tiểu đội phó thuộc đại đội 2, tiểu đoàn 2 bộ đội địa phương tỉnh Long An.

   Sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo, có truyền thống cách mạng, khi 10 tuổi Huỳnh Văn Tạo đã phải đi ở đợ chăn trâu, nên đồng chí sớm giác ngộ cách mạng và hăng hái tòng quân cầm súng giết giặc, giải phóng quê hương, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc.

   Đồng chí ỉà một chiến sĩ xung kích dũng cảm, gan dạ, luôn luôn sẵn sàng xả thân vì cách mạng. Mới hơn 1 tuổi quân, Huỳnh Văn Tạo đã đánh trên 20 trận, trận nào cũng hoàn thành xuất sẳc nhiệm vụ, nêu cao tinh thần kiên quyết, tích cực tiến công tiêu diệt địch, bị thương nặng không rời trận địa, một mình, một mũi cũng tiến công tiêu diệt địch.

   Trận đánh đồn Phú Lộc, đơn vị gặp khó khăn vì một bãi mìn và lựu đạn của địch trước cửa mở. Không ngại hy sinh, Huỳnh Văn Tạo đã xung phong lên trước, khéo léo bò qua bãi mìn, mưu trí dùng 1 bó chà rào kéo cho mìn, lựu đạn nổ, mở đường cho xung kích xung phong tiêu diệt gọn đồn địch.

   Trận đánh đồn Vĩnh Công, khi đơn vị rút ra, bọn địch phản kích ác liệt, một mình đồng chí đã dũng cảm nằm lại chặn địch, chiến đấu ngoan cường suốt mấy giờ liền đẩy lùi nhiều đợt xung phong của địch, bảo đảm cho đơn vị đưa hết thương binh, tử sĩ ra ngoài an toàn. Khi rút lui, bị địch đuổi theo, đồng chí vừa bình tĩnh chiên đấu, vừa mưu trí chuyển được 1 thương binh, 1 tử sĩ và 4 khẩu súng về nơi quy định.

   Trận Nhật Ninh, trong lúc địch đang bắn phá ác liệt, Huỳnh Văn Tạo đã vượt qua bom đạn vào nhà cõng một bác nông dân ra ngoài rồi nhường hầm của mình cho bác. Hành động quên mình cứu dân của đồng chí được nhân dân địa phương hết sức ca ngợi.

   Trong một trận đánh khác, tuy đã bi thương, Huỳnh Văn Tạo vẫn nằm lại tiếp tục chỉ huy phân đội. Bị ngất đi, nhưng khi tỉnh dậy, đồng chí lại tiếp tục chiến đấu.

   Trong trận diệt đồn Tân Quý ngày 8 tháng 10 năm 1966, đồng chí đã dũng mãnh xung phong đánh chiếm lô cốt đầu cầu rồi đánh thọc sâu vào giữa đội hình địch. Khi bị thương rất nặng, Huỳnh Văn Tạo vẫn nêu cao khí phách chiến đấu kiên cường cho đến lúc hy sinh.

   Khi còn sống, Huỳnh Văn Tạo luôn luôn gương mẫu đi đầu trong mọi mặt công tác, sẵn sàng nhận khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho bạn, hết long thương yêu đồng đội, tận tình giúp đỡ nhân dân, được đồng đội tin yêu, nhân dân quý mến.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Huỳnh Văn Tạo được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lựợng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 31 Tháng Bảy, 2012, 10:54:28 am
ANH HÙNG HUỲNH VIỆT THANH
(LIỆT SĨ)

(http://img832.imageshack.us/img832/4300/huynhvietthanh.jpg)


   Huỳnh Việt Thanh (tức Thanh Vân), sinh năm 1926, dân tộc Kinh, quê ở xã Long Khánh, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, trú quán xã Hậu Thạnh, huyện Tân Thanh, tỉnh Long An, vào du kích tháng 7 năm 1957. Khi hy sinh đồng chí là xã đội trưởng xã Hậu Thạnh, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Huỳnh Việt Thanh tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1956, làm liên lạc, tuyên truyền, hướng dẫn đồng bào đấu tranh; sau đó vào du kích, đến tháng 12 năm 1958, bị địch nghi ngờ bắt giam 16 tháng. Chúng dùng đủ mọi thủ đoạn tra tấn dã man, nhưng đồng chí vần giữ trọn khí tiết người chiến sĩ cách mạng. Năm 1960, Huỳnh Việt Thanh đã cùng với anh em trong tù phá nha giam, trở về địa phương, tổ chức, phát triển đội du kích đánh giặc giữ làng.

   Huỳnh Việt Thanh là một cán bộ chỉ huy du kích tài trí, hơn 10 năm tham gia hoạt động cách mạng và chiến đấu, luôn luôn nêu cao tinh thần kiên cường, bất khuất, có mặt ở những nơi khó khăn nguy hiểm nhất, sẵn sàng xả thân, cứu đồng đội. Địa phương bị địch đánh phá quyết liệt, bị chúng gom dân, lập ấp chiến lược, đồng chí đã cùng đội du kích quyết tử bám đất, bám dân, trụ lại đánh địch, diệt trừ ác ôn, phá thế kìm kẹp, góp phần đưa phong trào chiến tranh du kích ở xã tiến lên mạnh mẽ.

   Hai năm 1965 - 1966, đồng chí đã chỉ huy đội du kích chiến đấu trên 100 trận, diệt 400 tên địch, thu nhiều súng các loại. Đồng chí Huỳnh Việt Thanh có nhiều sáng kiến trong việc chế tạo, sử dụng vũ khí thô sơ đánh địch.

   Trận chống càn ở bờ nam kênh Dương Văn Dương, đồng chí tổ chức gài mìn, đặt chông và chỉ huy du kích phục sẵn một đại đội địch đi càn. Chờ cho địch vào thật gần, đồng chí mới ra lệnh cho du kích nổ súng mãnh liệt. Bọn giặc bị đánh bất ngờ nhảy xuống mương chống cự thì đụng phải chông, nhưng cụm lại trên bờ đất cao thì bị mìn, lựu đạn gài nổ, chúng hoang mang tìm đường tháo chạy, bỏ lại 40 xác chết.

   Để diệt tên ác ôn chỉ huy đại đội biệt kích về đóng ở xã, đồng chí tổ chức cho du kích đào hầm bí mật, bố trí sẵn lựu đạn, đạp lôi và kiên trì nằm phục suốt 7 ngày liền. Tên này cùng với 1 trung đội địch đi trên 2 chiếc xuồng máy. Chờ cho chúng đi qua rồi khi trở lại; đồng chí chỉ huy du kích 2 bên bờ bắn mạnh. Hai chiếc xuồng bị chìm, tên ác ôn bị thương nặng, một số lính bị diệt.

   Ngày 21 tháng 9 năm 1966, 3 đại đội địch bất ngờ càn vào khu vực có cán bộ và du kích đang họp. Khi địch vào gần ta mới phát hiện được, Huỳnh Việt Thanh đã dũng cảm, một mình chống một chiếc xuồng ra chiến đấu chặn địch và thu hút hỏa lực về phía mình để đội du kích đưa cán bộ thoát vòng vây an toàn. Bọn địch tập trung bắn mạnh về hướng đồng chí, xuồng chìm, đồng chí bị thương nặng và đã hy sinh oanh liệt.

   Khi còn sống, Huỳnh Việt Thanh luôn luôn hết lòng thương yêu, giúp đỡ đồng đội, bảo vệ nhân dân, được mọi người rất yêu mến, tín nhiệm.

   Đồng chí đã nhiều lần được tặng bằng khen và giấy khen, 3 năm liền (1964 - 1966) là Chiến sĩ thi đua.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Huỳnh Việt Thanh được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng, hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.




ANH HÙNG HUỲNH THÚC BÁ

(http://img209.imageshack.us/img209/6904/huynhthucba.jpg)


   Huỳnh Thúc Bá (tức Huỳnh Ba), sinh năm 1944, dân tộc Kinh, quê ở xã Duy Tân, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, nhập ngũ tháng 10 năm 1962. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là y tá đại đội 1, tiểu đoàn 72 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Nam, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Lớn lên trong một gia đình có nhiều người tham gia cách mạng bị địch giết, bắt tù đầy, tra tấn, Huỳnh Thúc Bá sớm có lòng yêu quý độc lập, tự do của Tổ quốc, lòng căm thù giặc Mỹ sâu sắc. Sau khi hoạt động ở địa phương bị lộ, đồng chí đi bộ đội, làm công tác cứu thương và từ tháng 10 năm 1965 làm y tá đại đội.

   Từ năm 1962 đến năm 1966, đồng chí đả trực tiếp chiến đấu và phục vụ chiến đấu 65 trận, là một y tá rất tận tụy, hết lòng cứu chữa thương binh, quên mình vì đồng đội, vì nhân dân. Ngoài ra Huỳnh Thúc Bá còn là một chiến sĩ dũng cảm, tự tay diệt 55 tên địch, bắt sống 5 tên, thu nhiều vũ khí. Trong nhiều trận đánh gay go, ác liệt, đồng chí đều xông xáo, lên xuống nhiều lần dưới hỏa lực địch, luôn luôn có mặt ở nơi gay go ác liệt để kịp thời động viên và cấp cứu thương binh. Huỳnh Thúc Bá đâ cấp cứu tại chỗ 80 anh em và cùng đơn vị đưa về nơi an toàn 120 thương binh, nhiều lần dũng cảm chiến đấu bảo vệ thương binh, tử sĩ, giữa bom đạn đã lấy thân mình che chở cho thương binh.

   Trong trận cầu Tam Kỳ (tháng 1 năm 1966), giặc chỉ cách ta 35 mét, chúng bắn ra dữ dội, Huỳnh Thúc Bá vẫn bình tĩnh lấy thân mình che đỡ và băng bó cho thương binh, đem ra an toàn rồi tiếp tục cùng đơn vị chiến đấu.

   Trận tiến công đồn Chổi Sũng (tháng 2 năm 1966), mặc cho đạn địch đang bắn tới tấp, đồng chí vẫn bám sát đơn vị, chạy lên chạy xuống kịp thời cứu chữa, băng bó 28 thương binh và đưa ra an toàn, mặc dù bản thân củng bị thương hai lần.

   Trận Núi Giàng (tháng 3 năm 1966), khi cán bộ chỉ huy bị thương vong, máy bay và pháo địch bắn phá dữ dội chuẩn bị cho bộ binh địch phản xung phong Huỳnh Thúc Bá tự động tổ chức và chỉ huy 12 đồng chí còn lại vừa chiến đấu ngăn chặn địch, vừa yểm hộ cho nhau đưa thương binh, tử sĩ lui về phía sau. Khi ra khỏi trận địa, kiểm tra biết còn sót 2 tử sĩ, Huỳnh Thúc Bá lại cùng đồng chí cứu thương quay trở lại tìm bằng được để đưa về chôn cất chu đáo.

   Sau trận Kỳ Sanh, có 7 thương binh không kịp đưa đi, phải đem giấu trong rừng, phi pháo địch đánh liên tục, đồng chí ở lại tìm cách nuôi dưỡng anh em trong 5 ngày rồi tìm đường dìu cả 7 thương binh về bệnh xá an toàn.

   Huỳnh Thúc Bá còn khéo phát động và tổ chức anh em đẩy mạnh phong trào phòng bệnh, chú ý huấn luyện cho các cứu thương thuần thục động tác chuyên môn và có kế hoạch chu đáo trước mỗi trận đánh để làm tốt công tác cứu chữa thương binh. Đồng chí thường ở lại trận địa đến phút cuối củng để kiểm tra, không trận nào bỏ sót thương binh, tử sĩ.

   Trong hoàn cảnh thiếu thốn thuốc men, Huỳnh Thúc Bá chịu khó học hỏi nhân dân, áp dụng các phương pháp chữa bệnh cổ truyền như nấu cám làm thuốc chữa ghẻ, dùng lá vông chế thuốc an thần, tìm nhiều lá, rễ cây khác thay thế thuốc đỏ và làm thuốc chữa ho, kiết lỵ...

   Đồng chí còn có kế hoạch cụ thể giúp đỡ nhân dân các vùng đóng quân về công tác vệ sinh, phòng bệnh, băng bó cho hàng chục người bị thương vì bom, đạn địch. Trận lụt lơn năm 1964 ở Bình Giang, đồng chí một mình bơi thuyền ra giữa dòng nước lũ vớt được 29 đồng bào, cấp cứu 41 người khác khỏi nạn lụt.

   Đồng chí Huỳnh Thúc Bá không sợ gian nguy, tận tình bao vệ tính mạng của đồng đội trong chiến đấu, chăm lo nghiên cứu, cải tiến, nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn, đáp ứng yêu cầu chiến đấu và xây dựng của đơn vị, là ngọn cờ đầu thi đua của ngành quân y Quân khu 5.

   Huỳnh Thúc Bá đã đưực tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhì, là Chiến sĩ thi đua liền 2 năm 1965-1966 và là Dũng sĩ Quyết thắng cấp ưu tú.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Huỳnh Thúc Bá được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 31 Tháng Bảy, 2012, 11:00:48 am
ANH HÙNG NGUYỄN VĂN BÉ

(http://img198.imageshack.us/img198/96/nguyenvanbe.jpg)


   Nguyễn Văn Bé, sinh năm 1941, dân tộc Kinh, quê ở xã Phú Cường, huyện Châu Thành, tỉnh Sông Bé, nhập ngũ tháng 7 năm 1961. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại đội phó đại đội 304, tiểu đoàn bộ đội địa phương Phú Lợi, Thủ Dầu Một, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Trong chiến đấu Nguyễn Văn Bé luôn luôn nêu cao tinh thần kiên quyết, dũng cảm, tích cực chủ động tiến công, bình tĩnh, mưu trí trong mọi tình huống gay go, ác liệt, nhiều lần bị thương, vẫn không rời vị trí, ngoan cường chỉ huy đơn vị giữ vững trận địa, hiệp đồng chặt chẽ với đơn vị bạn, lập công xuất sác. Từ năm 1961 đến đầu năm 1967, đồng chí đã tham gia chiến đấu 60 trận, giết chết 85 tên địch có 30 tên Mỹ), bắt sống 8 tên, thu 30 súng (có 1 đại liên, 2 trung liên).

   Trong trận Bến Súc, tổ Nguyễn Văn Bé có 4 người thì 3 đã bị thương vong, chỉ còn một mình đồng chí. Bị địch ném lựu đạn hất ngã từ trên lô cốt xuống đất, ngất đi, nhưng tỉnh lại, đồng chí vẫn giữ vững quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ, leo lên dùng thủ pháo diệt bằng được hỏa điểm địch.

   Trong trận phục kích Quý Hiệp trên đường số 13, ngày 22 tháng 5 năm 1965, sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ, thấy đơn vị bạn gặp khó khăn, Nguyễn Văn Bé chủ động chỉ huy phân đội đánh sang chi viện cho bạn. Trong lúc xung phong, bị hỏa lực địch ở chính diện ngăn chặn quyết liệt, đồng chí bình tĩnh tổ chức một bộ phận nhỏ bắn kiềm chế, rồi tự mình chỉ huy đại bộ phận đánh thọc sườn và sau lưng địch, hiệp đồng chặt chẽ với đơn vị bạn, tiêu diệt gọn quân địch. Bị thương vào cánh tay, máu chảy nhiều Nguyễn Văn Bé vẫn tiếp tục chỉ huy chiến đấu cho đến khi trận đánh hoàn toàn thắng lợi.

   Tại truông Bồng Bông (cách bâc thị xã Thủ Dầu Một 5 ki-lô-mét), ngày 24 tháng 3 năm 1966, 1 tiểu đoàn Mỹ có xe tăng yểm hộ ồ ạt tiến vào trận địa của ta. Nguyễn Văn Bé bình tĩnh động viên anh em chờ địch tới thật gần mới bất ngờ nổ súng, tiêu diệt nhiều địch ngay từ loạt đạn đầu. Địch cho xe tăng đi trước, xông thẳng vào trận địa ta, đồng chí linh hoạt chỉ huy anh em bắn mạnh, chia cắt bộ binh với xe tăng địch, đồng thời tập trung hỏa lực diệt chiếc xe tăng đi đầu ngay trước chiến hào 10 mét. Chúng chuyển sang hướng khác, Nguyễn Văn Bé lập tức dẫn chiến sĩ B.40 vượt qua làn đạn địch, đến chi viện cho trung đội bạn, bắn cháy thêm một chiếc xe tăng nữa. Sau 5 tiếng đồng hồ bị quân ta đánh trả quyết liệt, giặc Mỹ bị đòn đau buộc phải rút lui. Nguyễn Văn Bé đã góp phần xứng đáng cùng đại đội diệt 185 tên Mỹ, 2 xe tăng, 1 xe bọc thép, thu nhiều vũ khí, giữ vững trận địa.

   Tại Bông Trang ngày 25 tháng 6 năm 1966, 3 lữ đoàn Mỹ có xe tăng, pháo binh và máy bay yểm trợ, tiến vào đánh phá khu vực đóng quân của ta. Giữa làn đạn pháo địch dày đặc, Nguyễn Văn Bé đến với từng chiến sĩ để động viên, kiểm tra công tác chuẩn bị. Địch tiến công vào nhiều đợt nhưng đều bị đơn vị đồng chí đánh bật ra. Thấy phía trung đội bạn gặp khó khăn, Nguyễn Văn Bé dẫn một số anh em tới chủ động phối hợp, vừa tiêu diệt bộ binh địch, giữ vững trận địa, vừa chỉ huy tổ hỏa lực diệt được xe tăng địch. Suốt từ 6 giờ sáng đến 8 giờ tối trong lửa đạn mịt mù, không kịp ăn cơm, uống nước, Nguyễn Văn Bé luôn luôn dẫn đầu anh em, có mặt ở những nơi ác liệt nhất, xông xáo, dũng cảm chiến đấu rất linh hoạt, góp phần cùng cả tiểu đoàn trừng trị đích đáng bọn Mỹ, diệt gọn 1 tiểu đoàn địch và tiêu hao 2 tiểu đoàn khác.

   Nguyễn Văn Bé là một cán bộ xuất sắc toàn diện, không những huấn luyện hay, chỉ huy chiến đấu giỏi, mà còn làm tốt công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, chăm lo xây dựng đơn vị, hết lòng thương yêu, giúp đỡ đồng đội lúc thường củng như khi chiến đấu; sống khiêm tốn, giản dị, được đồng đội yêu mến.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhì, là Chiến sĩ thi đua 2 năm liền (1965-1966), đạt danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ cấp ưu tú.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Nguyễn Văn Bé được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu. Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.




ANH HÙNG NGUYỄN NGỌC BÌNH

(http://img9.imageshack.us/img9/9273/nguyenngocbinh.jpg)


   Nguyễn Ngọc Bình, sinh năm 1930, dân tộc Kinh, quê ở xã Đại Hiệp, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng nhập ngủ tháng 12 năm 1948. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là tiểu đoàn phó tiểu đoàn 409 đặc công thuộc Quân khu 5, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Trong kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Ngọc Bình là trinh sát viên hoạt động trên các chiến trường Quảng Nam, Tây Nguyên, Khánh Hòa, luôn luôn tỏ ra gan dạ, mưu trí, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

   Tháng 5 năm 1955, tập kết ra Bắc được ít ngày Nguyễn Ngọc Bình nhận lệnh trở về miền Nam. Từ tháng 7 năm 1955 đến tháng 4 năm 1961, đồng chí làm nhiệm vụ ở cơ quan Khu ủy Khu 5, vừa là chiến sĩ bảo vệ, liên lạc, cần vụ, vận chuyển, vừa tổ chức đường dầy, xây dựng cơ sở địa phương, được cán bộ tín nhiệm và nhân dân yêu mến.

   Từ tháng 4 năm 1961 đến tháng 1 năm 1967, Nguyễn Ngọc Bình chiến đấu trong đơn vị đặc công, chỉ huy đơn vị đánh 18 trận đều hoàn thành tốt nhiệm vnạ, có nhiều trận xuất sắc.

   Ngày 30 tháng 8 năm 1961, trong trận diệt quận ly Đắc Hà, khi ta nổ súng, địch đối phó mạnh, mũi bạn chưa lên được, đồng chí dẫn một tổ tiến lên, tự tay đánh sập 4 lô cốt, lấy súng địch đánh địch, tạo điều kiện cho đơn vị nhanh chóng diệt gọn 2 trung đội bảo an gian ác, thu toàn bộ vũ khí.

   Tháng 11 năm 1964, trong trận diệt cứ điểm Núi Diêm (xã Phổ Trung - Đức Phổ - Quảng Ngãi), 5 đêm liền tổ trinh sát không vào được vì địch lùng sục và phục kích, Nguyễn Ngọc Bình đã cải trang, lợi dụng lúc trời mưa to, dùng thuyền đi điều tra giữa ban ngày. Nhờ chuẩn bị và tổ chức chu đáo, sau 5 phút nổ súng, đồng chí chỉ huy đơn vị hoàn toàn diệt gọn 1 đại đội lính ngụy, làm chủ trận địa, thu toàn bộ vũ khí.

   Để mờ màn cho đợt hoạt động mùa Xuân năm 1965 trên chiến trường Bình Định, đêm 7 rạng ngày 8 tháng 2 năm 1965, đơn vị đánh cứ điểm Gia Hựu. Trong tình thế hết sức khó khăn, Nguyễn Ngọc Bình đã dẫn đầu một đội dự bị vượt lưới lửa của địch, đánh chiếm đầu cầu. Một mình đồng chí dùng lựu đạn, thủ pháo đánh thốc lên khu chỉ huy của địch, chiếm điểm cao yểm trợ cho từng tổ lần lượt phát triển vào phía trong trận địa. Ba lần địch điên cuồng phản kích hòng chiếm lại điểm cao, cả ba lần đồng chí đều đánh bật địch ra. Đạn hết, bản thân lại bị thương, Nguyễn Ngọc Bình vẫn tiếp tục chỉ huy đơn vị lấy vũ khí của địch đánh địch. Sau 4 giờ liền chiến đấu, đồng chí cùng 7 anh em diệt 70 tên địch, bắt sống 29 tên, phá hủy 1 khẩu pháo 105 mi-li-mét và 1 xe GMC, thu 1 súng cối 60 mi-li-mét, 3 khẩu đại liên và nhiều vũ khí khác. Riêng đồng chí đã diệt được 5 lô cốt, giết 20 tên địch.

   Do nghiên cứu kỹ quy luật hoạt động của địch và có kế hoạch tác chiến chu đáo, đêm 22 tháng 3 năm 1966, Nguyễn Ngọc Bình đã chỉ huy đơn vị tập kích sân bay Chu Lai, phá hủy trên 50 máy bay phản lực, bắn cháy 2 xe M.118, thiêu hủy một kho nhiên liệu, diệt trên 200 tên Mỹ, gồm phần lớn là bọn lái máy bay và nhân viên kỹ thuật.

   Ngoài ra, trong các trận đánh ở Trà Mi (tháng 2 năm 1962), Trà Bồng (tháng 3 năm 1962), Mỹ Trang (tháng 10 năm 1964), An Lão (tháng 2 năm 1965), Kỳ Sanh (tháng 2 năm 1966), Hà Thanh (tháng 9 năm 1966)..., đồng chí đều chỉ huy đơn vị hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

   Nguyễn Ngọc Bình là một cán bộ chỉ huy giỏi, có quyết tâm cao, bình tĩnh xử trí những tình huống phức tạp, xây dựng đơn vị giỏi, đoàn kết và tận tình giúp đỡ đồng đội, vừa là một chiến sĩ giỏi, dũng cảm, mưu trí, được đồng đội tín nhiệm, yêu mến.

   Nguyễn Ngọc Bình đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhất, 2 Huân chương Chiến cóng Giải phóng hạng ba, được Đại hội liên hoan Chiến sĩ thi đua và dũng sĩ lần thứ 2 của Quân khu 5 (tháng 12 năm 1966) công nhận là ngọn cờ đầu “Cán bộ 3 giỏi” (chỉ huy giỏi, chiến đấu giỏi, xây dựng đơn vị giỏi).

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Nguyễn Ngọc Bình được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 24 Tháng Mười Một, 2012, 09:01:28 am
ANH HÙNG LÊ VĂN BẢNG

(http://imageshack.us/a/img443/5704/levanbang.jpg)


   Lê Văn Bảng, (tức Lê Văn Bẻo), sinh năm 1930, dân tộc Kinh, quê ở xã Mỹ Hội, huyện Mỹ Khê, tỉnh Quảng Ngãi, trú quán ở xã Phan Rí, huyện Bẳc Bình, tỉnh Bình Thuận nhập ngũ tháng 6 năm 1948. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại đội trưởng thuộc bộ đội địa phương tỉnh Bình Thuận, Quân khu 6, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Sống trong một gia đình rất nghèo khổ, mẹ chết sớm, cha phải phiêu bạt vào tỉnh Bình Thuận làm ăn. Từ nhỏ Lê Văn Bảng đã phải chịu đựng một cuộc sống rất cực nhọc, lam lũ. Cho nên từ khi giác ngộ cách mạng, hiểu rõ nỗi khổ cực của người dân nô lệ, đồng chí luôn luôn tuyệt đối trung thành với cách mạng hăng hái hoạt động, vững vàng trên mọi vị trí chiến đấu, khác phục mọi gian khổ, khó khăn, kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ.

   Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Lê Văn Bảng đã tham gia chiến đấu gần 100 trận lớn, nhỏ. Sau ngày Hiệp nghị Giơ-ne-vơ năm 1954 được ký kết, đồng chí làm nhiệm vụ giao liên, hoạt động vô cùng gian nan, nguy hiểm trong vùng địch kiểm soát ở tỉnh Bình Thuận. Được ra miền Bắc chữa khỏi bệnh, Lê Văn Bảng tham gia lao động sản xuất ở nông trựờng Sao Vàng, tỉnh Thanh Hóa.

   Trở về miền Nam chiến đấu, từ năm 1961 đến đầu năm 1967, Lê Văn Bảng đã đánh trên 30 trận, tự tay diệt 40 tên địch, bắt sống 16 tên, thu 40 khẩu súng các loại (có hai trung liên), góp phần cùng đơn vị lập công xuất sắc.

   Năm 1961, đánh vào Lương Sơn, một “ấp chiến lược” kiểu mẫu của địch ở tỉnh Bình Thuận, đồng chí dẫn các tổ viên bí mật vượt qua nhiều lớp rào dây thép gai và hào giao thông, lọt vào vị trí giặc, nhanh chóng diệt tên gác, đánh sập 1 lô cốt và 1 căn nhà do 1 trung đội địch đóng giữ, tạo điều kiện thuận lợi cho toàn đơn vị xung phong, hoàn thành nhiệm vụ sau 5 phút chiến đấu.

   Tháng 2 năm 1962, trong trận đánh Đồng Kho, giữa lúc tình hình đang diễn biến hết sức gay go quyết liệt, Lê Văn Bảng tuy bị thương ở tay vẫn dẫn đầu một tổ vượt qua hào sâu 2 mét câm đầy chông, lao nhanh vào trong, liên tiếp dùng lựu đạn, tiểu liên diệt địch, rồi từ bên trong đánh ra, diệt lô cốt, chuyển khó khăn thành thuận lợi, góp sức cùng đơn vị tiêu diệt hoàn toàn 1 trung đội địch, thu hàng chục khẩu súng các loại.

   Trong các trận Tam Tân (tháng 8 năm 1962), Ma Lâm (tháng 1 năm 1964), Lê Văn Bảng đều dũng cảm, mưu trí, thọc sâu đánh mạnh, diệt ngay sở chỉ huy và các hỏa điểm lợi hại của địch, có lần bị thương nặng ở cổ và vai, đồng chí vẫn tiếp tục chiến đấu cho đến khi trận đánh kết thúc thắng lợi. Sau khi chiến đấu xong, bao giờ đồng chí cũng tổ chức và cùng anh em khiêng cáng mang đi hết anh em bị thương, hy sinh và thu dọn chiến lợi phẩm chu đáo.

   Lê Văn Bảng đưực đơn vị tín nhiệm, nhiều lần cử đi nghiên cứu, chuẩn bị chiến trường ở Phú Long, Sông Lúy, Thuận Nghĩa, Xa Ra..., lần nào cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ.

   Đầu năm 1967, cùng ở trong ban chỉ huy trận đánh chi đoàn xe bọc thép M.113 của địch trên đường số 8, Lê Văn Bảng đã khéo léo bố trí trận địa và chỉ huy đơn vị chiến đấu, khóa đuôi địch rất chặt, khiến chúng không sao cơ động đối phó nổi. Đơn vị đã nắm thời cơ nhất tề xung phong, tiêu diệt gọn cả chi đoàn xe M.113 gồm 14 chiếc.

   Lê Văn Bảng là một cán bộ chỉ huy gương mẫu, hết lòng thương yêu đồng đội. Trong các trận đánh, đồng chí có tác phong thường đi trước, về sau, luôn luôn nắm chắc tình hình, xử trí linh hoạt, gặp trường hợp khó khăn, nguy hiểm đến đâu, cũng quvết tâm hoàn thành nhiệm vụ, bao giờ cũng làm tốt công tác thương binh, liệt sĩ.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến thắng hạng ba, 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng ba, 2 lần là Chiến sĩ thi đua của tỉnh.

   Ngày 17 tháng 9 nám 1967, Lê Văn Bảng được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.




ANH HÙNG ĐOÀN VĂN CHIA

(http://imageshack.us/a/img28/1830/doanvanchia.jpg)


   Đoàn Văn Chia, sinh năm 1918, dân tộc Kinh, quê ở xã Hòa Mỹ, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Cần Thơ, nhập ngũ tháng 6 năm 1946. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại đội phó, bộ đội địa phương tỉnh Cần Thơ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam,

   Đoàn Văn Chia luôn luôn nêu cao tinh thần chiến đấu dũng cảm, mưu trí, bền bỉ, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, chịu khó tìm tòi, nghiên cứu, sáng tạo ra nhiều loại vũ khí thô sơ dễ làm, dễ dùng, diệt được nhiều địch, góp phần tích cực đẩy mạnh phong trào chiế tranh du kích của nhân dân trong tỉnh.

   Đoàn Văn Chia tham gia chiến đấu từ năm 1946 đến năm 1954, sau đó lại được phân công ở lại quê hương hoạt động.

   Những năm 1955, 1956, trong hoàn cảnh vũ khí rất thiếu thốn, kẻ thù o ép gắt gao, nhưng do có lòng căm thù sâu sẳc giặc Mỹ và bè lũ tay sai, Đoàn Văn Chia tìm mọi cách làm các loại chông, nỏ, mìn, lựu đạn, súng kíp để sẵn sàng đón thời cơ diệt địch.

   Từ tháng 2 năm 1963, được giao nhiệm vụ đi các nơi trong tỉnh để phổ biến kinh nghiệm làm vũ khí thô sơ, đồng chí tự tạo 33 loại hầm chông, 10 loại mìn; có nhiều loại được sử dụng rộng rãi, có tác dụng tốt. Đoàn Văn Chia làm lựu đạn bằng vỏ chai, tốn ít thuốc nổ nhưng hiệu quả sát thương cao, ngay trận đầu đã diệt 2 tên, bị thương 1 tên; loại vũ khí đó đồng chí phổ biến cách làm và sử dụng cho toàn huyện, diệt được nhiều địch.

   Có lần gỡ được gần 40 quả bom bi chưa nổ, Đoàn Văn Chia tìm tòi, nghiên cứu cách tháo rồi cải tiến thành 4 loại mìn gài, kết quả giết 136 tên giặc. Thấy anh em du kích có súng cối nhưng thiếu đạn, đồng chí lại tìm cách cải tiến bom bi của địch thành đạn súng cối, bắn xa trên 500 mét, diệt hàng chục tên địch ở Long Bình, Gò Quao.

   Thấy máy bay địch rải bom bướm xuống các ấp giữa mùa cày cấy, Đoàn Văn Chia dũng cảm, mưu trí tự mình đi trước thu gỡ bom, sau đó phổ biến kinh nghiệm khắc phục bom bươm bướm cho anh em du kích, giúp nhân dân ổn định đời sống và tiếp tục việc đồng áng. Đoàn Văn Chia không ngại nguy hiểm, tìm cách tháo rời quả bom để nghiên cứu, thay đổi một số bộ phận, cải tiến thành lựu đạn chống bộ binh và mìn chống tăng.

   Đoàn Văn Chia đã thu, gỡ 4 quả bom phá và bom na-pan, 150 quả bom bi, 400 bom bươm bướm, 3 viên đạn cối 60 mi-li-mét, 26 hỏa tiễn để lấy gần 350 ki-lô-gam thuốc nổ làm vũ khí đánh địch; đồng thời hướng dẫn cho 650 cán bộ, chiến sĩ du kích biết cách chế tạo vũ khí thô sơ.

   Đặc biệt Đoàn Văn Chia đã dành nhiều công sức, kiên trì theo dõi cách sinh hoạt của ong vò vẽ, bắt nuôi và huấn luyện cho ong đánh dịch. Bọn giặc bị ong đốt, có đứa chết tại chỗ, nhiều tên khác chạy trốn, vấp phải lựu đạn gài hoặc rơi xuống hố chông. Nhiều nơi được đồng chí hướng dẫn cũng biết cách dùng ong đánh địch. Riêng đồng chí đã bắt nuôi và huấn luyện được hơn 100 tổ ong. Đội “quân ong vò vẽ” của đồng chí gây cho địch nhiều tổn thất, khiến chúng rất hoảng sợ, có lần làm cho cả tiểu đoàn quân ngụy phải bỏ dở cuộc càn. Chúng thấy cờ, khẩu hiệu của du kích treo cũng không dám đến gần để gỡ xuống.

   Đoàn Văn Chia còn chấp hành tốt chính sách dân vận, chính sách thương binh liệt sĩ, đoàn kết tốt nội bộ, được nhân dân và đồng đội rất quý mến.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Đoàn Văn Chia được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 24 Tháng Mười Một, 2012, 09:04:11 am
ANH HÙNG PHAN THANH CHUNG

(http://imageshack.us/a/img163/3438/phanthanhchung.jpg)


   Phan Thanh Chung, sinh năm 1945, dân tộc Kinh, quê ở xả Hải Thượng, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, nhập ngũ tháng 4 năm 1963. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung đội phó thuộc đội 10, bộ đội đặc công tỉnh Quảng Trị, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Sớm được giác ngộ cách mạng, Phan Thanh Chung hiểu rõ lý tưởng cao đẹp của thanh niên lúc này là phải chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Bởi vậy ngay lúc còn đi học, đồng chí đã tích cực tham gia hoạt động ở cơ sở, giúp cán bộ nắm tình hình địch, rải truyền đơn..., nhiệm vụ nào cũng hoàn thành tốt.

   Vào bộ đội, qua rèn luyện thử thách, Phan Thanh Chung trưởng thành nhanh chóng. Trong công tác điều tra, chuẩn bị chiến trường, nhiều lần gặp khó khăn về địch, địa hình và thời tiết, đồng chí vẫn kiên trì vào tận nơi nắm tình hình địch tỉ mỉ, cụ thể, chính xác.

   Là một cán bộ gan dạ, mưu trí, dũng cảm, có tác phong chiến đấu tốt, Phan Thanh Chung thường được giao nhiệm vụ ehỉ huy mũi chủ yếu đánh vào cơ quan đầu não của địch. Với lối đánh thọc sâu, xông xáo, táo bạo, đồng chí đã cùng phân đội tiêu diệt được nhiều sở chỉ huy địch, tạo điều kiện cho toàn đơn vị giành thắng lợi rất giòn giã.

   Đặc biệt, trong trận đánh ở Tân Lệ lần thứ 2 ngày 16 tháng 10 năm 1966, Phan Thanh Chung được giao phụ trách đánh hướng chính. Địch bố phòng ở đây rất cẩn mật, vào đến hàng rào thứ 4, phân đội gặp một cái hào sâu, trên có dây thép gai bùng nhùng, dưới hào có chông và mìn. Giờ nổ súng sắp đến, đồng chí đã táo bạo dùng miếng vãi dù làm đây cho đồng đội thả đồng chí xuống trước, cắt hàng rào và gỡ mìn, mở đường cho đơn vị tiến vào tung thâm. Nghe tiếng chuông điện thoại trong vị trí địch réo, biết mình đã bị lộ, Phan Thanh Chung chủ động đánh luôn mấy quả bộc phá vào hầm ngầm rồi phát triển sang các mục tiêu xung quanh. Các mũi khác cũng kịp thời hiệp đồng chiến đấu. Sau 15 phút, đơn vị làm chủ hoàn toàn trận địa, tiêu diệt và bắt sống 115 tên địch, thu nhiều vũ khí.

   Phan Thanh Chung luôn luôn gương mẫu trong mọi mặt công tác, chú trọng xây dựng đơn vị lớn mạnh toàn diện, đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, chủ động hiệp đồng với đơn vị bạn, lập công tập thể. Đồng chí rất xứng đáng với sự tin cậy của cấp trên, lòng mến yêu của đồng đội và của nhân dân.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công Giai phóng hạng ba, 2 bằng khen.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Phan Thanh Chung được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.




ANH HÙNG BÔNG VĂN DĨA

(http://imageshack.us/a/img141/954/bongvandia.jpg)


   Bông Văn Dĩa, sinh năm 1905, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Minh Hải, nhận ngũ năm 1945, khi tuyên dương Anh hùng là Đoàn phó Đoàn 962 vận tải biển - Quân khu 9, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1934, Bông Văn Dĩa là một trong những chiến sĩ chiến đấu dũng cảm trong trận đánh chiếm Hòn Khoai (Bạc Liêu) trong cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ 1940.

   Hơn 30 năm liên tục hoạt động cách mạng chống đế quốc, phong kiến, Bông Văn Dĩa toàn tâm, toàn ý phục vụ lợi ích của Đảng, của dân tộc. Đồng chí được cấp trên giao phó nhiều công tác đặc biệt, nhiều lần nhận nhiệm vụ tổ chức vận tải tiếp tế vật liệu, vũ khí cho các đơn vị chiến đấu ở chiến trường. Tuy gặp rất nhiều khó khăn, phải qua nhiều chặng đường có địch tuần tra, canh gác, kiểm soát, khám xét rất ngặt nghèo, đồng chí luôn luôn có quyết tâm cao, bình tĩnh, dũng cảm, mưu trí, khéo ngụy trang, tìm cách đối phó với địch, đưa được hàng tới đích, phục vụ tốt cho chiến đấu.

   Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, nhiều lần, trong khi làm nhiệm vụ vận chuyển vũ khí thì gặp địch bao vây, có lần bị chúng bắt giam tù, tra tấn rất dã man, Bông Văn Dĩa vẫn nêu cao khí tiết cách mạng, bất khuất, dũng cảm đấu tranh với địch, buộc chúng phải trả tự do; khi về, đồng chí lại tiếp tục làm nhiệm vụ.

   Trong những năm chống Mỹ, cứu nước, việc vận chuyển trên biển tăng lên nhiều lần, gặp rất nhiều khó khăn, thuyền nhỏ đi ngoài khơi gặp sóng to gió lớn dễ bị đầm, đi gần bờ thường gặp tàu chiến, máy bay phản lực, máy bay lên thẳng của địch tuần tiễu. Nhiều chuyến phải đi hơn nửa tháng liền, thiếu ăn, thiếu ngủ, Bông Văn Dĩa đã bình tĩnh, mưu trí tìm cách vượt tránh, nghi binh lừa địch, bảo đảm vận tải vũ khí cho bộ đội được tốt.

   Bông Văn Dĩa đã hàng chục lần xung phong nhận nhiệm vụ đi thử những chuyến vận chuyển tìm cập bến mới để rút kinh nghiệm và bố trí cung đường đi cho hợp lý và nhanh hơn. Đường lạ, luồng lạch mới, nhiều lần bị địch kiểm tra, lục soát, đe dọa, đồng chí vẫn bình tĩnh, mưu trí đối phó được với chúng và sau đó chuyển được hàng tới đích an toàn.

   Bông Văn Dĩa luôn luôn thể hiện đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, không sợ gian khổ, sẵn sàng hy sinh tính mạng, bảo vệ tài sản của cách mạng, quý trọng, chắt chiu từng viên đạn, hạt gạo để xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. Tuy tuổi già, sức yếu, nhưng đồng chí vẫn say sưa liên tục công tác, nêu gương chiến đấu kiên cường, khiêm tốn, giản dị, được cấp trên rất tin tưởng, đơn vị yêu mến.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Bông Văn Dĩa được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng huân chương Quân công giải phóng hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 24 Tháng Mười Một, 2012, 09:07:42 am
ANH HÙNG HỒ DỤC

(http://imageshack.us/a/img820/1423/hoduc.jpg)


   Hồ Dục, sinh năm 1942 dân tộc Pa Cô, quê ở xã Hồng Kim, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên - Huế, nhập ngũ tháng 3 năm 1961. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung đội phó thuộc Binh trạm trung, phòng hậu cần, Mặt trận Tây Nguyên, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Hồ Dục tham gia hoạt động bí mật ở địa phương từ khi còn nhỏ, hăng hái nhận mọi nhiệm vụ cấp trên giao, như đi rải truyền đơn, tuyên truyền vận động thanh niên tòng quân, vào du kích, tham gia chiến đấu chống càn, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành xuất sắc.

   Vào bộ đội được 1 tháng Hồ Dục xung phong làm liên lạc, chuyển công văn cho đơn vị. Nhiều đêm đồng chí phải chuyển công văn hòa tốc từ Thừa Thiên ra Quảng Trị. Một mình đi trên đoạn đường rừng núi thường có hổ hoặc có địch phục kích, đồng chí vẫn dũng cảm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

   Làm công tác vận tải ở Tây Nguyên, tuy công việc nặng nhọc, gian khổ, nhưng nhận rõ ý nghĩa quan trọng của công tác là phục vụ cho mặt trận đánh thắng giặc Mỹ, giải phóng đồng bào, quê hương, Hồ Dục vẫn hăng hái, kiên trì, lao động quên mình, vui vẻ nhận những việc khó, phát huy sáng kiến trong công tác, bảo đảm thường xuyên năng suất cao. Bốn năm liền làm công tác vận tải ở chiến trường rừng núi, nhiều đèo dốc, sông suối, có nhiều khó khăn, thiếu thốn, đồng chí thường xuyên mang nặng gấp hai lần so với mức quy định. Có năm, Hồ Dục công tác trên đường gần 300 ngày liên tục, có lúc do yêu cầu khẩn trương, đồng chí công tác liên tục trong 3 tháng, mỗi ngày đi tăng chuyến, có chuyến đột xuất mang tới hơn trăm ki-lô-gam.

   Năm 1962, Hồ Dục được điều lên công tác ở Quảng Trị. Điều kiện nơi công tác mới có nhiều khó khăn, phức tạp, đồng chí đã nêu cao tinh thần trách nhiệm và kiên trì làm công tác lãnh đạo tư tưởng, động viên mọi người nên trong vận chuyển anh em đều thường xuyên mang 45 ki-lô-gam trở lên (riêng đồng chí mang 70-75 ki-lô-gam), so với chỉ tiêu trên đề ra là 30 ki-lô-gam/người.

   Năm 1963 Hồ Dục, được chuyển về phụ trách một tổ vận tải ở Thừa Thiên, đồng chí đã cùng anh em trong tổ thường xuyên vận chuyển vượt chỉ tiêu đề ra. Có những đợt mang hàng đặc biệt phải 2 người khiêng 1 hòm, dồng chí đã suy nghĩ cải tiến cách mang nên mỗi người đã mang được một hòm vừa an toàn, vừa tăng năng suất gấp đôi.

   Năm 1966, Hồ Dục được bổ sung về Binh trạm trung, phòng hậu cần B3, phụ trách một tiểu đội vận tải xung kích. Có lần, tổ Hồ Dục nhận nhiệm vụ chuyển 3 kho muối và hàng quan trọng trong thời gian 4 ngày để tránh bọn địch đi càn. Hồ Dục đã quán triệt nhiệm vụ, động viên xây dựng cho anh em trong đơn vị có quyết tâm cao, bản thân gương mẫu nhận việc khó, mang nặng hơn anh em, nên chỉ trong 3 ngày, Hồ Dục đã cùng tiểu đội chuyển hết số hàng trên, vượt thời gian quy định. Sau đó được phân công bám địch, khi thật cấp bách mới nổ súng bảo vệ kho, đồng chí vẫn bình tĩnh giữ được bí mật, nên khi chúng vào cách 15 mét, không phát hiện được vị trí để kho phải quay ra.

   Hồ Dục thường xuyên nêu cao tinh thần đoàn kết thương yêu đồng đội, động viên, giúp đỡ khi khó khăn, nhường cơm khi thiếu thốn, tận tình chăm sóc khi ốm đau, nên được anh em tín nhiệm, yêu mến.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, đồng chí Hồ Dục được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.



ANH HÙNG ĐẶNG VĂN ĐÂU

(http://imageshack.us/a/img191/6421/dangvandau.jpg)


   Đặng Văn Đâu sinh năm 1940, dân tộc Kinh, quê ở xã Phước Hòa, huyện Tân Uyên, tỉnh Sông Bé nhập ngũ năm 1962, khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung đội trưởng thuộc sư đoàn 5, bộ đội chủ lực miền Đông Nam Bộ.

   Sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo, mồ côi cha mẹ từ nhỏ, 11 tuổi Đặng Vãn Đâu đã phải chịu cực khổ của cảnh đi ở đợ, đồng chí sớm mang nặng lòng căm thù bọn cướp nước và bè lũ tay sai bán nước.

   Sáu năm trong quân đội (tính đến ngày tuyên dương) Đặng Văn Đầu đã tham gia trên 40 trận đánh, góp phần tích cực cùng đơn vị tiêu diệt nhiều sinh lực địch, thu nhiều vũ khí, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

   Từ một chiến sĩ trinh sát, liên lạc quả cảm, Đặng Văn Đâu đã tiến bộ nhanh chóng, trở thành một cán bộ chỉ huy xuất sắc, có quyết tâm diệt địch cao, chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh, Đặng Văn Đâu có tác phong chỉ huy xông xáo, linh hoạt, thường chỉ huy mũi tiến công chủ yếu, đánh nhanh, đánh gần, thọc sâu đánh hiểm, đã đánh là kiên quyết dứt điểm.

   Trong trận phục kích địch trên đường số 20, khi nổ súng, đồng chí chỉ huy một tổ xung kích nhanh chóng đánh thẳng vào giữa đội hình, chia cắt địch, tạo thuận lợi cho đơn vị diệt gọn 1 đại đội địch cùng nhiều xe cơ giới.

   Trong trận đánh đồn Gia Ray, sau khi chỉ huy tiểu đội mũi nhọn đánh chiếm được lô cốt đầu cầu, Đặng Văn Đâu đã mưu trí điều một tổ bí mật tiến sát sau lưng quân địch, dùng thủ pháo dập tầt các hỏa điểm bên trong và nhanh chóng cướp thời cơ, chỉ huy phân đội xông vào đánh chiếm ngay sở chỉ huy của bọn cố vấn Mỹ, góp phần quan trọng cùng đơn vị tiêu diệt khu trung tâm huấn luyện hạ sĩ quan, giết và bắt sống 400 tên, thu hàng trăm súng các loại.

   Trong một trận đánh, Đặng Văn Đâu bị thương 2 lần, một mảnh đạn làm thủng ruột, nhưng đồng chí vẫn cố nén đau, tiếp tục diệt nốt hỏa điểm cuối cùng của địch rồi mới để đồng đội băng bó đưa về phía sau.

   Là một cán bộ chỉ huy, Đặng Văn Đâu luôn luôn chú trọng xây dựng đơn vị tiến bộ về mọi mặt, tận tình, chăm sóc, giúp đỡ đồng đội, dũng cảm bảo vệ thương binh, được đồng đội tin yêu, mến phục.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng ba, được bầu là Chiến sĩ thi đua.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Đặng Văn Đâu được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 24 Tháng Mười Một, 2012, 09:11:05 am
ANH HÙNG TRẦN VĂN ĐÌNH

(http://imageshack.us/a/img821/7663/tranvandinh.jpg)


   Trần Văn Đình, sinh năm 1943, dân tộc Kinh, quê ở xã Điện Tiến, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, nhập ngũ tháng 8 năm 1960. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đội phó đặc công thuộc sư đoàn 2, Quân khu 5, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Được cách mạng giáo dục và giác ngộ, tháng 8 năm 1960, Trần Văn Đình đã vận động 2 thanh niên nữa bí mật trốn ra vùng căn cứ của ta tham gia bộ đội. Trong những năm đầu cuộc sống chiến đấu gặp muôn vàn gian khổ, thiếu thốn, đồng chí được điều về đơn vị bộ binh, rồi làm chiến sĩ nuôi quân, đi sản xuất, nhưng vẫn luôn luôn thể hiện rõ tinh thần tích cực, cần cù, tận tụy, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

   Tháng 1 năm 1965, Trần Văn Đình được điều về đơn vị đặc công, đồng chí rất hăng hái luyện tập để nhanh chóng được tham gia chiến đấu. Mới học được 9 ngày, Trần Vãn Đình xin đi làm nhiệm vụ điều tra, chuẩn bị chiến trường.

   Trong 2 năm (1965 - 1966), Trần Văn Đình đã tham gia điều tra, chuẩn bị cho nhiều trận đánh, trực tiếp chiến đấu 9 trận, diệt 36 tên địch (có 7 tên Mỹ), bắt sống 5 tên, thu 21 súng các loại.

   Trong công tác điều tra, Trần Văn Đình có tác phong cụ thể, tỉ mỉ, chính xác. Trong chiến đấu, đồng chí luôn luôn thể hiện rõ tinh thần tiến công dũng cảm, kiên cường, tác phong đánh nhanh, đánh mạnh, đánh thọc sâu, đánh bất ngờ, làm cho địch không kịp trở tay.

   Trong trận đánh đồn Chà Vu (tháng 4 năm 1965), vừa được lệnh nổ súng, Trần Văn Đình đã nhanh chóng đánh thốc vào tung thâm vị trí địch. Bị thương vẩn không rời vị trí, đồng chí đã dũng cảm dùng tiểu liên, thủ pháo tiêu diệt từng hỏa điểm địch, chi viện tốt cho bạn diệt địch. Chỉ sau mấy phút, phân đội đồng chí đã diệt gọn vị trí địch và rút ra an toàn.

   Trong trận Ba Gia (tháng 5 năm 1965), vừa ở bệnh xá ra, vết thương chưa lành hẳn, Trần Văn Đình đã xin đi làm nhiệm vụ. Trận địa ta vừa bố trí xong thì địch phát hiện và nổ súng trước. Đồng chí dũng cảm lao lên như một mũi tên, giành quyền chủ động dùng tiểu liên diệt địch ngay từ đầu, truy kích sát gót địch, diệt 3 tên, bât sống 2 tên nứa. Sau đó đồng chí cùng phân đội làm nghi binh, tạo điều kiện cho đơn vị bạn diệt gọn 1 tiểu đoàn địch.

   Trong trận Chóp Chai (tháng 3 năm 1966), Trần Văn Đình được phân công đi chuẩn bị chiến trường, đồng chí đã kiên trì bám địch và chuẩn bị đường tốt, đưa bộ đội vào nhanh và an toàn. Khi nổ súng, thấy mũi chính diện chưa lên được, Trần Văn Đình dẫn phân đội xông thẳng vào dùng thủ pháo đánh sập ba gian nhà rồi vượt đoạn hào giao thông đánh chiếm ổ đại liên của địch. Hỗ trợ cho mũi chính diện, Trần Văn Đình chủ động, dũng cảm lao vào đánh khu nhà chỉ huy, nhà điện đài, trận địa cối, tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị vào diệt gọn 1 đại đội địch, làm chủ trận địa.

   Trong mọi mặt công tác, Trần Văn Đình luôn luôn gương mẫu đi đầu, sống khiêm tốn, giản dị, đoàn kết thương yêu đồng đội, xây dựng đơn vị mạnh toàn diện, bảo đảm đã chiến đấu là giành thắng lợi.

   Trần Văn Đình đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì và 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 4 bằng khen và giấy khen, đạt danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ cấp 3, Dũng sĩ Quyết thắng, Chiến sĩ thi đua năm 1966 - 1968.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Trần Văn Đình được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.




ANH HÙNG TÔ VĂN ĐỰC

(http://imageshack.us/a/img846/4112/tovanduc.jpg)


   Tô Văn Đực, sinh năm 1942, dân tộc Kinh, quê ở xã Nhuận Đức, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh, vào dân quân tháng 2 năm 1962. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là tổ trưởng tổ sản xuất và sửa chửa vũ khí xã Nhuận Đức, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Tháng 2 năm 1962, Tô Vãn Đực được phân công phụ trách công xưởng của xã. Thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ: "Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân cứu nước", đồng chí kiên trì, nhẫn nại khắc phục rất nhiều khó khăn của những ngày đầu tiên nhận nhiệm vụ. Với cái bễ lò rèn và dăm cái giũa, Tô Văn Đực đã lập được thành tích xuất sắc trong việc nghiên cứu và sản xuất, chế tạo vũ khí diệt địch. Chỉ với những đồ dùng thô sơ, đồng chí đã làm được cả súng trường, súng ngắn, và đặc biệt đã chế tạo ra nhiều loại mìn chống tăng có hiệu quả lớn, giải quyết một phần khó khăn về thiếu vũ khí và góp phần đẩy mạnh phong trào thi đua diệt Mỹ trên đất thép Củ Chi. Ngoài ra, Tô Văn Đực còn dũng cảm chiến đấu phá hủy 13 xe M113, diệt 32 tên Mỹ.

   Lúc mới thành lập công xưởng, các đồng chí chỉ mò mẫm sửa chữa các loại súng bị hỏng hóc ở các nơi gửi về. Sau nhiều lần nghiên cứu, sản xuất thử, Tô Văn Đực sản xuất thành công được hàng chục khẩu súng trường phục vụ kịp thời cho dân quân và bộ đội chiến đấu.

   Đầu năm 1965, địch ném bom xuống ấp Bầu Trong, trong đó có 13 quả chưa nổ; tuy chưa biết cách tháo gỡ, đống chí vẫn một mình dũng cảm, xung phong tìm cách gỡ thử, Tô Văn Đực đã nghiên cứu tháo được quả đầu tiên, sau đó hướng dẫn cho anh em tháo hết 12 quả khác, lấy thuốc đem về chế tạo mìn đánh địch.

   Sản xuất mìn và lựu đạn cũng là công việc mới và khó, đồng chí đã kiên trì và dũng cảm, một mình ra chỗ vắng tháo các quả mìn và lựu đạn ra nghiên cứu, sau đó làm thử. Vừa làm, vừa trực tiếp mang đi đánh địch để nghiên cứu bổ sung, cuối cùng Tô Văn Đực đã cùng anh em sản xuất được nhiều loại mìn chống tăng như mìn gài, mìn giật.

   Năm 1966, bọn Mỹ liên tục dùng xe cơ giới đánh phá vào vùng giải phóng. Tô Văn Đực cùng anh em dũng cảm đánh chận xe cơ giới, phá vỡ nhiều cuộc càn của địch. Qua thực tế chiến đấu đánh xe cơ giới của địch, đồng chí đã suy nghĩ và nghiên cứu cải tiến mìn chập điện thành loại mìn gài, rồi từ mìn gài cải tạo thành loại mìn gạt áp dụng đảnh xe cơ giới địch có sức công phá lớn. Thành công của đồng chí được phổ biến rộng rãi và áp dụng trong toàn quân khu, góp phần thúc đẩy phong trào du kích chiến tranh ở địa phương tiến lên một bước mới.

   Trong khi nghiên cứu và đi đánh thử để rút kinh nghiệm, Tô Văn Đực đã hai lần bị thương, nhưng không hề nản chí. Đồng chí luôn luôn đề cao tinh thần trách nhiệm, ý thức tự lực khắc phục khó khăn, đoàn kết, dìu dắt đồng đội, cùng nhau chung sức hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, Tô Văn Đực luôn luôn chú trọng xây dựng và phát triển công xưởng lớn mạnh toàn diện, đáp ứng kịp thời, các yêu cầu phục vụ cho chiến đấu, được cấp trên tin tưởng, đồng đội mến phục.

   Tô Văn Đực đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 2 năm liền (1965 -1966) là Chiến sĩ thi đua.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Tô Vãn Đực được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 24 Tháng Mười Một, 2012, 09:14:47 am
ANH HÙNG NGUYỄN THỊ HẠNH

(http://imageshack.us/a/img10/8640/nguyenthihanh.jpg)


   Nguyễn Thị Hạnh (tức Trần Thị Bé) sinh năm 1937, dân tộc Kinh, quê ở xã Mỹ Hạnh, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung đội trưởng du kích xã, đảng viên Đảng Cộng sảnViệt Nam.

   Là một cán bộ cơ sở hoạt động trong vùng địch kiểm soát, Nguyễn Thị Hạnh luôn luôn nêu cao tinh thần triệt để cách mạng, kiên cường chống Mỹ và bè lũ tay sai, một lòng một dạ phục vụ nhân dân, chiến đấu dũng cảm, mưu trí, linh hoạt, vượt mọi khó khăn, gian khổ, bền bỉ, kiên trì vận động và tổ chức quần chúng đấu tranh, góp phần xứng đáng vào thành tích chung của địa phương.

   Xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, cha mất sớm, có anh, chị tập kết ra miền Bắc, Nguyễn Thị Hạnh bị địch theo dõi, kiểm soát gắt gao. Mặc dù vậy, đồng chí vẫn không hề nao núng, vừa làm ruộng nuôi mẹ, vừa tfch cực tham gia hoạt động cách mạng. Ngoài nhiệm vụ thường xuyên nuôi giấu cán bộ, Nguyễn Thị Hạnh còn hoạt động trong tổ thanh niên, hăng hái làm nhiệm vụ canh gác, điều tra, phát hiện bọn điệp ngầm trà trộn phá hoại trong xóm, ấp.

   Đầu năm 1963, 3 tiểu đoàn chủ lực và biệt động ngụy về xã càn quét suốt 1 tháng, gom dân lập ấp chiến lược. Xã có 5 ấp thì địch đã gom 4, chỉ còn lại 1. Được cấp trên giao nhiệm vụ tổ chức cơ sở bí mật trong các ấp chiến lược, Nguyễn Thị Hạnh đã tìm mọi cách thực hiện: lúc kiếm cớ đi làm gần các mối đường ra vào ấp chiến lược để tiện gặp bà con, hỏi han tin tức, lúc giả bệnh mất trí, ăn mặc rách rưới, lân la đi hết ấp này sang ấp khác để bắt mối hoạt động. Đồng chí khéo thuyết phục, động viên bà con, nên mặc dù bị địch thường xuyên o ép, hăm dọa, bắt bớ, đánh đập, các gia đình vẫn một lòng tin tưởng ở cách mạng, sẵn sàng cho con em tham gia công tác. Do đó, Nguyễn Thị Hạnh đã xây dựng được đội du kích mật 37 người và hàng chục hạt nhân nòng cốt trong phong trào cách mạng ở địa phương.

   Nhận chỉ thị phá ấp chiến lược, tuy bị địch để ý nghi ngờ, đồng chí vẫn tìm cách phổ biến đầy đủ nhiệm vụ đến từng cơ sở, rổi trực tiếp đi đón bộ đội về phối hợp với đội du kích mật của xã, đánh phá đồn, bốt địch, cảnh cáo và trừng trị bọn tề, điệp, ác ôn, hỗ trợ cho đồng bào nổi dậy phá ấp, dỡ nhà, trở về làng cũ.

   Từ năm 1963 đến năm 1966, Nguyễn Thị Hạnh đã trực tiêp tham gia chiến đấu và phục vụ bộ đội huyện, tỉnh đánh nhiều trận, diệt hơn 300 tên địch, 10 xe cơ giới (có 1 xe M.113), phá hủy 2 khẩu pháo, thu 50 súng các loại. Ngoài ra, đồng chí còn cùng với đội du kích đánh nhỏ, lẻ hàng trăm lần, diệt 345 tên địch, riêng Nguyễn Thị Hạnh diệt 19 tên.

   Trận nào đồng chí củng thể hiện tinh thần gan dạ, dúng cảm, có tác phong tỉ mỉ, thận trọng, mưu trí, linh hoạt. Một lần đi trinh sát, Nguyễn Thị Hạnh ngồi trên xe bò chở lúa quan sát và ghi nhớ kỹ cách bố trí hỏa lực và đội hình quân địch, khi trở về vẽ lại sơ đồ, giúp bộ đội tiến đánh có kết quả; lần khác, đồng chí dắt xe đạp đi qua chỗ địch đóng quân, nhẩm đếm số bước chân để tính cự ly chính xác cho bộ đội pháo kích.

   Đồng chí táo bạo giấu mìn, lựu đạn, truyền đơn... trong làn đựng quần áo rồi mang đi qua mặt lính gác của địch, hoặc tổ chức cho chị em cắt rào thép gai, rải truyền đơn, phục kích địch ngay trong ấp chiến lược. Để phá trò hề bầu cử quốc hội bù nhìn của địch, tổ du kích do Nguyễn Thị Hạnh phụ trách đã khéo léo cải trang lẫn vào dân, gài mìn trên đường và ném lựu đạn vào khu vực đặt hòm phiếu của ấp, khiến chúng rất hoang mang. Thiếu mìn để đánh địch, Nguyễn Thị Hạnh cải tạo đạn pháo 105 mi-li-mét, mang đi phục kích suốt 3 ngày. Trong trận này, ta giết chết 2 tên địch, làm bị thương nặng 3 tên, phá hủy 1 trung liên. Đánh xong, đồng chí còn ở lại kiểm tra kết quả và thu dây, hộp pin đem về cất giấu. Trong một đợt hoạt động vũ trang tuyên truyền, gây thanh thế cho cách mạng, Nguyễn Thị Hạnh vạch kế hoạch chu đáo cho đội du kích để chỉ trong một buổi, vừa phối hợp với bộ đội huyện chặn đánh bọn bảo an, lùng bắt bọn tề, điệp, ác ôn, vừa tổ chức mít tinh đón cán bộ về nói chuyện với đồng bào trong ấp chiến lược.

   Cuối năm 1966, trong khi chờ đợi đi dự Đại hội chiến sĩ thi đua của tỉnh, thấy bộ đội chuẩn bị đánh cứ điểm địch, Nguyễn Thị Hạnh tự nguyện xin được dẫn anh em đi trinh sát trước. Ngày hôm sau, phát hiện 3 tên ác ôn khét tiếng đi xe "gíp" rẽ vào nhà một đồng bào đòi làm thịt gà ăn uống, đồng chí lập tức tổ chức anh em du kích đến đánh úp, giết chết 2 tên, làm bị thương nặng 1 tên.

   Nguyễn Thị Hạnh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ một cán bộ cơ sở hoạt động trong vùng địch tạm chiếm, góp phần làm chuyển biến phong trào đấu tranh của xã trong hoàn cảnh rất khó khăn, bản thân luôn luôn khiêm tốn, gương mẫu, tận tụy, được bà con hết lòng thương yêu, giúp đỡ.

   Đồng chí đá được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng ba, là chiến sĩ thi đua 2 năm liền 1965 - 1966.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Nguyễn Thị Hạnh được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.




ANH HÙNG TRƯƠNG VĂN HÒA

(http://imageshack.us/a/img10/5926/truongvanhoa.jpg)


   Trương Văn Hòa, sinh năm 1937, dân tộc Kinh, quê ở xã Điện Hòa, huyện Điện Bàn, tỉnh QuảngNam-Đà Nẵng, tham gia đội du kích năm 1962. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là xã đội phó trực tiếp làm trung đội trường trung đội du kích tập trung của xã, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Được cán bộ giáo dục, Trương Văn Hòa sớm giác ngộ cách mạng và hăng hái tham gia kháng chiến ở địa phương. Đồng chí là một trong số những du kích hoạt động bí mật đầu tiên của xã. 5 năm liên tục chiến đấu, Trương Văn Hòa tỏ rõ là người đội trưởng du kích mưu trí, sáng tạo, có nhiều cách đánh táo bạo, đạt hiệu suất cao. Đồng chí đã cùng đội du kích giết chết 1.249 tên giặc (có 584 tên Mỹ), bắt sống 108 tên, thu 137 súng các loại, đánh nhào 3 đoàn xe lửa, làm mìn tự tạo diệt 14 xe bọc thép, bắn rơi 6 máy bay. Riêng Trương Văn Hòa đã diệt 440 tên (có 160 tên Mỹ), diệt 13 xe bọc thép, bán rơi một máy bay, thu 16 súng các loại.

   Tháng 2 năm 1962, Trương Văn Hòa cùng đội công tác, vừa diệt tề điệp, vừa tuyên truvền giáo dục, tổ chức nhân dân vùng lên khởi nghĩa. Từ một thôn trong xã được giải phóng, đã tiến lên cả xã được hoàn toàn giải phóng.

   Tháng 3 năm 1963, địch cho 2 tiểu đoàn đến khủng bố, tàn sát nhân dân, lùng bắt cán bộ, phá hoại phong trào du kích trong xã. Đưực sự giúp đỡ của nhân dân, kết hợp với đấu tranh chính trị và binh vận, đồng chí tổ chức lực lượng du kích liên tục tập kích, diệt 163 tên giặc, thu 17 súng, buộc chứng phải co cụm lại rồi sau phải rút hẳn.

   Năm 1964, Trương Văn Hòa cùng đội du kích và nhân dân trong xã củng cố làng xã chiến đấu, đồng thời phối hợp với lực lượng của tỉnh và quận hỗ trợ nhân dân các xã Thanh Phong, Mỹ Ngọc, Hòa Phước, Điện Chính, Điện Phong vùng lên tự giải phóng. Đồng chí trực tiếp chỉ huy đội du kích độc lập, tổ chức nhiều đợt tiên công bọn địch canh gác công trường đường sắt trong khu vực cầu Bến Sâu, La Họ, đánh 3 đoàn tàu, 1 đầu máy, 12 toa xe, tiêu diệt 441 tên, thu 207 súng, cắt đứt giao thông địch, bức rút nhiều đồn bốt.

   Năm 1965, Trương Văn Hòa dũng cảm, mưu trí chỉ huv du kích chống đợt càn quy mô lớn, phá kế hoạch "bình định" của địch, diệt 168 tên địch, thu 34 súng, 2 súng cối 60 mi-li-mét, 4 máy thông tin PRC.10 và 1 xe M.118, buộc địch phải rút khỏi xã, bỏ dở cuộc càn quét, bảo vệ toàn vẹn mùa lúa cho dân. Tình nguyện đi đầu trong phong trào "tìm Mỹ mà diệt", tự tạo vũ khí” để diệt xe cơ giới địch, chỉ trong 4 tháng từ tháng 7 đến tháng 11 năm 1965, riêng Trương Văn Hòa đã phá 2 xe bọc thép, 1 xe "gíp", diệt 78 tên Mỹ. Chỉ 2 tháng sau khi đồng chí đi dự Đại hội Chiến sĩ thi đua về, đội du kích hoạt động mạnh hẳn lên, tiêu diệt và bắt gọn 1 đại đội bảo an 105 tên trong 20 phút giữa ban ngày; 10 ngày đêm liền bao vây, bắn tỉa diệt 142 tên Mỹ, 24 tên ngụy, hạ 1 máy bay, bức rút 1 đồn và 11 lô cốt; đánh phá giao thông bằng mìn tự tạo phá hủy 5 xe M.113, diệt 18 tên Mỹ, 5 tên ác ôn. Riêng Trương Văn Hòa tiêu diệt 33 tên Mỹ, 4 tên ngụy, 5 xe bọc thép chở lính, bắn rơi 1 máy bay.

   Trương Văn Hòa luôn luôn nêu cao tinh thần tự lực vượt mọi khó khăn, chủ động, kiên quyết tiến công địch, bảo vệ tài sản, tính mạng của nhân dân, được đồng bào thương yêu, đồng đội tin tưởng, mến phục.

   Trương Văn Hòa đá được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 3 năm liền là Chiến sĩ thi đua (1964 - 1966), được tặng danh hiệu Kiện tướng diệt Mỹ, 7 lần đạt Dũng sĩ diệt Mỹ cấp ưu tú, 8 lần Dũng sĩ diệt cơ giới, 1 lần Dũng sĩ diệt máy bay; được tặng thưởng 2 bằng khen, 6 giấy khen.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Trương Văn Hòa được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 24 Tháng Mười Một, 2012, 09:21:17 am
ANH HÙNG VÕ LAI

(http://imageshack.us/a/img23/2056/volai.jpg)


   Võ Lai, sinh năm 1939, dân tộc Kinh, quê ở xã Bình Giang, huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định, nhập ngũ tháng 1 năm 1960. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại đội phó thuộc tiểu đoàn 52 bộ đội địa phương tỉnh Bình Định, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Sống trong một gia đình nông dân nghèo, có truyền thống cách mạng bất khuất (bà con đều tham gia công tác cách mạng, ba anh em đều gia nhập bộ đội), Võ Lai hiểu rõ nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Cuối năm 1959, đồng chí trốn khỏi vùng địch tạm chiếm lên căn cứ tham gia lực lượng vũ trang và là một trong số những chiến sĩ giải phóng đầu tiên của tỉnh.

   Võ Lai đã tham gia chiến đấu 48 trận, giết 40 tên giặc, thu 2 súng, trận nào cũng thể hiện rõ tinh thần chiến đấu ngoan cường, dũng cảm, có tác phong chỉ huy mưu trí, xông xáo. Trong nhiều trận chiến đấu chống càn rất gay go, quyết liệt, đồng chí đã bình tĩnh xử lý nhiều tình huống phức tạp rất thông minh và táo bạo.

   Ngày 16 tháng 12 năm 1965, hành quân đến xã Bình Thuận - nơi mới giải phóng - giúp dân củng cố cơ sở và xây dựng làng chiến đấu, đại đội tổ chức đi nghiên cứu địa hình ngay và vạch ra nhiều phương án tác chiến, sẵn sàng đánh địch càn vào xã. 5 giờ 30 ngày 18 tháng 12 năm 1965, sau khi máy bay ném bom và pháo binh bắn dữ dội, từng đàn máy bay lên thẳng tới đổ quân Mỹ càn vào xã. Đại đội trưởng đi vắng, Võ Lai chỉ huy đơn vị vừa chiếm lĩnh vị trí chiến đấu như phương án đã định, vừa cơ động bắn máy bay lên thẳng, bắn rơi liền 2 chiếc khi chúng chưa kịp đổ hết quân. Đồng chí điều thêm lực lượng kịp thời đánh chặn ngay 5 đại đội Mỹ đổ xuống bãi phía bắc trận địa. Phán đoán địch sẽ đổ quân thêm hướng tây nam để đánh vào, Võ Lai dũng cảm băng qua lửa đạn, trực tiếp chỉ huy một phân đội tới trước chiếm vị trí có lợi. Ta vừa bố trí xong, địch đổ quân ngay xuống bãi trước mặt. Bị diệt một số và 1 máy bay lên thẳng, địch phải giãn ra xa, hình thành thế bao vây ta. Suốt cả ngày hôm đó, Võ Lai như một con thoi lao dưới làn đạn của địch, kiểm tra, đôn đốc, chi huy các phân đội, cổ vũ, động viên anh em giữ vững quyết tâm chiến đấu, đánh lui nhiều đợt phản kích điên cuồng của bọn Mỹ. Đại đội của đồng chí đã tiêu diệt 376 tên Mỹ, bắn rơi 10 máy bay lên thẳng, giữ vững trận địa. Đến tối, được lệnh, Võ Lai đã tổ chức cho đơn vị đưa toàn bộ thương binh, tử sĩ về vị trí an toàn.

   Trong trận đánh quân Nam Triều Tiên tại xã Bình An (tháng 4 năm 1966), đồng chí bình tĩnh, dũng cảm đi sát từng phân đội, giành giật từng vị trí với địch, vừa trực tiếp chiến đấu, vừa chỉ huy phân đội xuất kích diệt từng bộ phận địch. Tới 10 giờ, Võ Lai bị thương vào cổ, máu ra nhiều, anh em định đưa về tuyến sau, nhưng đồng chí vẫn kiên quyết ở lại chỉ huy trận đánh, giữ vững trận địa cho đến tối. Được lệnh chuyển đơn vị ra ngoài, đồng chí mưu trí tổ chức cho anh em đưa thương binh và nhân dân ra nơi an toàn.

   Trong công tác chỉ huy và xây dựng đơn vị, cũng như trong việc chấp hành mọi chính sách, giữ nghiêm kỷ luật, Võ Lai đều gương mẫu, xung phong đi đầu, có tác dụng lôi cuốn mọi người. Sống khiêm tốn, giản dị, đoàn kết, tận tình chăm sóc, giúp đỡ đồng đội và nhân dân trong lúc thường cúng như ỉúc chiến đấu gay go, quyết liệt, được mọi người tin yêu, mến phục.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Võ Lai được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.




ANH HÙNG LÝ VĂN LÂM


   Lý Văn Lâm (tức Lý Ngọc Báu) sinh năm 1938, dân tộc Kinh, quê ơ phường 4 thị xã Cà Mau, tỉnh Minh Hải, tham gia du kích năm 1959. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là xã đội trưởng, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Xuất thân từ một gia đình nghèo khổ, lại sống ở vùng địch chiếm, hàng ngày chứng kiến tội ác của kẻ thù, Lý Văn Lâm sớm chịu ảnh hưởng của bố là người kháng chiến cũ, một lòng hướng theo cách mạng, thiết tha với nhiệm vụ chiến đấu giành độc lập, tự do cho Tổ quốc.

   Khi chưa vào du kích, đồng chí đã hăng hái, tự giác làm nhiều việc của cán bộ giao cho: rải truyền đơn của cách mạng, tham gia phá cầu trên đường địch thường đi tuần tra, nắm tình hình hoạt động của chúng báo cáo kịp thời.

   Hoạt động thoát ly từ năm 1959 đến năm 1967, lúc nào Lý Văn Lâm cũng nêu cao quyết tâm diệt địch, vượt qua mọi khó khăn, nguy hiểm, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

   Suốt 8 năm tham gia chiến đấu, Lý Văn Lâm đánh 56 trận, luôn luôn thể hiện tinh thần gan dạ, có nhiều cách đánh mưu trí, táo bạo, đã diệt và làm bị thương 101 tên địch, bắt sống 4 tên, thu nhiều vũ khí.

   Có lần, một mình Lý Văn Lâm táo bạo gỡ dây thép gai và lựu đạn gài, đột nhập đồn giặc, bí mật luồn sâu dùng ét-xăng đốt cháy cơ quan hội đồng xã.

   Nhiều lần đồng chí dẫn anh em du kích đi đánh địch cả trên bộ, trên sông, hoặc vào tận hang ổ của chúng để trừ diệt bọn tề điệp gian ác.

   Từ năm 1959 đến cuối năm 1961, Lý Văn Lâm đã chiến đấu 35 trận, diệt 29 tên địch, làm bị thương 17 tên, bắt sống 4 tên, thu một số vũ khí, tài liệu.

   Tháng 11 năm 1961, trong một trận đánh, đồng chí bị thương mờ cả hai mắt, cụt bàn tay phải, bàn tay trái cũng bị cụt ngón giữa rất khó cử động. Sau khi đi điều trị về, đồng chí một mực xin được tiếp tục chiến đấu. Làm ấp đội trưởng ấp Giồng Kè, Lý Văn Lâm tận tình hướng dẫn anh em cách dùng vũ khí thô sơ để diệt địch, đồng thời kiên trì tập kéo cò súng bằng cùi tay phải. Mỗi lần bắn, súng giật khiến vết thương cũ lại chảy máu, đau nhức, song đồng chí vẫn quyết tâm rèn luyện đến khi bắn được thành thạo.

   Đồng chí thường xuyên dẫn anh em đi phục kích, tập kích địch, làm công tác vũ trang tuyên truyền. Với tài trí linh hoạt, nhiều mưu mẹo đánh địch, trận nào đồng chí cũng giành thắng lợi. Từ sau khi bị thương đến tháng 3 năm 1967, Lý Văn Lâm đánh thêm 21 trận, tự tay diệt 55 tên địch.

   Nắm vững phương châm đánh địch bằng cả quân sự, chính trị và binh vận, từ năm 1960 đến năm 1966, Lý Văn Lâm đã trực tiếp xây dựng nòng cốt và lãnh đạo 180 cuộc đấu tranh chính trị ở xã, ấp chống địch bắt người, đòi bồi thường tài sản; đồng thời vận động 60 binh lính ngụy đấu tranh với bọn chỉ huy, trong đó có một số người nhận làm nội ứng cho cách mạng.

   Lý Văn Lâm còn góp phần xây dựng cơ sở ở ấp tiếp giáp với vùng địch kiểm soát, tuyên truyền, giáo dục hàng chục thanh niên để giới thiệu vào Đoàn, vào Đảng, để bổ sung cho lực lượng du kích và bộ đội.

   Bất kỳ trong hoàn cảnh khó khăn nào, Lý Văn Lâm củng luôn luôn bám đất, bám dân, dũng cảm, ngoan cường, tích cực tiến công địch, lập nhiều thành tích, được đồng chí, đồng bào thương yêu, tin cậy.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Lý Văn Lâm được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 24 Tháng Mười Một, 2012, 09:24:48 am
ANH HÙNG NGUYỄN VĂN LÊN

(http://imageshack.us/a/img443/529/nguyenvanlien.jpg)


   Nguyễn Văn Lên (tức Nguyễn Văn Tới), sinh năm 1942, dân tộc Kinh, quê ở xã Bình Mỹ, huyện Tân Uyên, tỉnh Sông Bé, nhập ngũ tháng 2 năm 1962. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung đội trưởng thuộc, đội trinh sát đặc công huyện Tân Uyên, tỉnh Sông Bé, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Xuất thân từ một gia đinh nông dân nghèo, có cha và anh là bộ đội hy sinh trong chiến đấu, Nguyễn Văn Lên phải ở đợ coi trâu cho địa chủ từ năm lên 6 tuổi. Đến năm 15 tuổi, đồng chí bỏ trốn đi cạo mủ cao su cho đến năm 1961 mới trở về quê làm ruộng, tham gia hoạt động kháng chiến, làm công tác thông tin, liên lạc, rải truyền đơn... Từ năm 1962 đến đầu năm 1967, đóng chí đã chiến đấu 66 trận, giết và làm bị thương trên 760 tên giặc (có hơn 400 tên Mỹ, phá hủy 24 xe cơ giới (có 18 xe tăng), 3 khẩu pháo 105 mi-li-mét, thu 20 khẩu súng các loại, diệt 1 máy bay lên thẳng.

   Nguyễn Văn Lên nêu tấm gương sáng về tinh thần tích cực, chủ động tiến công tiêu diệt địch, chiến đấu dũng cảm, mưu trí, táo bạo, hết lòng thương yêu, giúp đỡ đồng đội và nhân dân.

   Trận đánh "ấp chiến lược" Bình Mỹ tháng 9 năm 1963, khi phát triển vào sâu gặp khó khăn, đồng đội bị thương vong, Nguyễn Văn Lên một mình ở lại đánh chặn địch và cử 3 chiến sĩ ra ngoài lấy thêm thủ pháo vào tiếp tục chiến đấu. Kết quả, tổ vượt qua được 3 tuyến phòng thủ, chiếm sở chỉ huy của địch, phối hợp cùng đơn vị tiêu diệt hoàn toàn 1 đại đội lính ngụy, hỗ trợ cho nhân dân nổi dậy phá ấp chiến lược.

   Trận đánh bốt Tống Bảng tháng 6 năm 1964, trong lúc đang cắt rào thì cả tổ bị thương vì địch ném lựu đạn ra, Nguyễn Văn Lên bình tĩnh động viên đồng đội quyết tâm chiến đấu. Tiến vào một đoạn nữa, tuy chỉ còn một mình và vết thương chảy máu nhiều, đồng chí vẫn kiên quyết xông lên ném lựu đạn đánh chiếm lô cốt. Phát hiện địch có hầm ngầm, đồng chí gọi trung liên của ta ở bên ngoài bắn chi viện rồi dùng thủ pháo diệt hỏa điểm, tạo điều kiện cho đơn vị xung phong diệt địch và hoàn toàn làm chủ trận địa. Sau trận đánh, tuy rất mệt vì bị thương, chảy nhiều máu, Nguyễn Văn Lên vẫn cố gắng cõng anh em thương binh nặng hơn đến trạm cấp cứu.

   Cuối tháng 11 năm 1966, giặc Mỹ mở cuộc càn quét dọc đường số 16. Suốt 7 ngày đêm, đồng chí dẫn anh em trong tổ liên tục đi bám địch, dùng mìn định hướng, lựu đạn tập kích, diệt trên 100 tên, 2 khẩu pháo 105 mi-li-mét, 5 xe tăng và xe bọc thép.

   Tháng 1 năm 1967, giặc Mỹ lại càn lớn vào căn cứ của ta. Nguyễn Văn Lên đã dũng cảm, mưu trí chỉ huy đơn vị liên tục đánh nhiều trận, có ngày đồng chí bị ngất đến hai lần vì quá mệt, nhưng khi tỉnh dậy lại tiếp tục chiến đấu, bẻ gãy nhiều đợt tiến công của giặc. Qua 6 ngày chống càn, Nguyễn Văn Lên đả chỉ huy đơn vị giết và làm bị thương 450 tên Mỹ, thu nhiều súng, đạn.

   Nguyễn Văn Lên nhiều lần mưu trí, linh hoạt dùng mìn định hướng diệt máy bay lên thẳng, dùng thủ pháo, lựu đạn diệt xe tăng và xe bọc thép.

   Đồng chí rất chú trọng xây dựng đơn vị, chăm sóc giúp đỡ đồng đội lúc thường củng như trong chiến đấu hết lòng bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân.

   Nguyễn Văn Lên đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 2 lần Chiến sĩ thi đua tỉnh, 1 lần Chiến sĩ thi đua quân khu, 4 lần đạt các danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ cấp ưu tú Dũng sĩ diệt Mỹ cấp I, Dũng sĩ Quyết thắng, Dũng sĩ diệt cơ giới.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Nguyễn Văn Lên được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.




ANH HÙNG KPA-KƠ-LƠNG

(http://imageshack.us/a/img593/8505/kpaklong.jpg)


   Kpa-Kơ-Lơng, sinh năm 1948, dân tộc Gia Rai, quê ở xã I-a Pia, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai, nhập ngũ tháng 3 năm 1965. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là tiểu đội phó trinh sát quận 5, Gia Lai, Quân khu 5.

   Sống trong một gia đình nông dân nghèo, cha mất sớm, hai anh bị giặc đánh đập tàn phế, Kpa-Kơ-Lơng sẵn có lòng căm thù sâu sác giặc Mỹ và bè lũ tay sai. Năm 15 tuổi, đồng chí vào du kích. Trong quá trình hiến đấu, đồng chí đã cùng đội du kích đánh địch 32 trận, tự tay diệt 124 tên giặc (trong đó có 6 tên Mỹ), phá hủy 7 xe quân sự, 25 lần tham gia phá đường giao thông, phá ấp chiến lược, khi vào bộ đội chiến đấu 7 trận, cùng đơn vị diệt 18 tên giặc, 1 xe M.113, thu 4 súng.

   Khi còn ít tuổi chưa được chấp nhận vào du kích, Kpa-Kơ-Lơng một mình tự động vót chông, đào hầm, làm cạm bẫy, dùng ná, tên thường và tên thuốc dộc diệt 8 tên giặc. Năm 15 tuổi khi được vào du kích, nhiều lần đồng chi xin nhận vũ khí, tự chọn lấy trận địa, kiên trì phục kích, bám địch diệt 32 tên, bắn bị thương 22 tên, phá hủy 1 xe, thu nhiều vũ khí mang về trang bị cho du kích. Thành tích đánh xe của đồng chí đả thúc đẩy mạnh mẽ phong trào du kích diệt xe địch trong vùng.

   Kpa-Kơ-Lơng là một chiến sĩ trinh sát gan dạ, đánh mìn giỏi, bắn súng tài, phục vụ chiến đấu tốt, là một trong những người đạt thành tích diệt nhiều địch nhất trên chiến trường Tây Nguyên.

   Trong trận phục kích 1 trung đội địch trên đường dinh điền Lệ Ngọc, bọn địch phát hiện trận địa của ta trước. Thấy nguy hiểm, đồng chí nhanh chóng giật mìn, diệt một số tên. Khi đơn vị rời khỏi trận địa, đồng chí rút sau và bị thương nên phải dừng lại trên đường. Bọn giặc hò hét, kêu nhau lần vết máu đuổi theo. Mặc cho vết thương đau nhói, Kpa-Kơ-Lơng bình tĩnh ném một quả lựu đạn diệt 3 tên đi đầu. rồi bần liên tiếp vào đội hình chúng. Bọn địch thấy bắn rát liền hốt hoảng rút lui. Đồng chí tự băng bó vết thương rồi trở về căn cứ.

   Trong các trận chống càn, đồng chí dũng cảm bám sát địch. Có lần, với 3 viên đạn còn lại, Kpa-Kơ-Lơng bám riết địch từ sáng đến chiều, đứng núp cách 5 mét, chờ chúng tập hợp hàng dọc mới bắn diệt 7 tên, làm bị thương 1, rồi băng rừng chạy về phía sau. Một lần khác, khi đang làm nhiệm vụ canh gác trên rẫy thì phát hiện địch kéo vào, Kpa-Kơ-Lơng mưu trí tìm vị trí có lợi bắn 2 phát diệt 4 tên, bọn còn lại hoảng hốt tháo chạy.

   Kpa-Kơ-Lơng quyết tâm diệt Mỹ khi chúng vừa đặt chân lên chiến trường Tây Nguyên. Biết bọn Mỹ khi chiến đấu thường hay chiếm điểm cao, đồng chí bố trí nìn trên đường, rồi chiếm điểm cao trước nằm phục vích. Bọn địch từ Plây Me hành quân bị trúng mìn, chết một số tên. Một tốp xách súng chạy lên điểm cao bị đồng chí ném lựu đạn, diệt 4 tên.

   Tháng 3 năm 1965, Kpa-Kơ-Lơng vào bộ đội huyện làm trinh sát; trong điều kiện ác liệt của chiến trường Plây Me, đồng chí dũng cảm, không ngại khó khăn, nguy hiểm, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Một lần trên đường đi công tác, thấy đơn vị bạn đang đánh địch, đồng chí chủ động ghép mình vào đơn vị bạn chiến đấu, tự tay diệt 2 tên Mỹ và 2 tên ngụy. Đến nơi làm nhiệm vụ lại gặp quân Mỹ đi càn, Kpa-Kơ-Lơng cùng du kích địa phương tổ chức đánh mìn, phá hủy 1 xe địch trên đường số 19.

   Tháng 5 năm 1966, địch càn vào khu căn cứ, đồng chí cùng tổ trinh sát vừa bám địch, vừa chiến đấu tiêu diệt 5 tên ngụy và 1 tên Mỹ.

   Kpa-Kơ-Lơng là một chiến sĩ trẻ luôn luôn xông xáo, gương mẫu trong mọi công tác, vui vẻ nhận khó khăn về mình, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ cán bộ, đồng đội, nhân dân. Đoàn kết, tận tình giúp đỡ nhau, đồng chí được đồng đội yêu mến. Mấy năm liền, đồng chí được bầu là Chiến sĩ thi đua ở cơ sở, là Chiến sĩ thi đua miền Trung Trung Bộ, được thưởng 3 bằng khen và giấy khen, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Kpa-Kơ-Lơng được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 24 Tháng Mười Một, 2012, 09:27:22 am
ANH HÙNG KAN LỊCH

(http://imageshack.us/a/img812/5499/kanlich.jpg)


   Kan Lịch sinh năm 1943, dân tộc Tà Ôi (Pa Cô), quê ở xã Hồng Bắc, huyện A Lưới tỉnh Thừa Thiên Huế. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là chính trị viên phó huyện đội vùng B, tỉnh Thừa Thiên, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ một cô gái nghèo khổ người dân tộc thiểu số, được sự giáo dục của cách mạng, Kan Lịch giác ngộ nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước, giải phóng quê hương, thống nhất đất nước và trở thành một cán bộ xuất sắc, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, tận tụy phục vụ nhân dân, luôn luôn hăng hái, đi đầu trong mọi nhiệm vụ, chiến đấu dũng cảm, linh hoạt, có quyết tâm cao tiêu diệt địch, góp phần tích cực đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích của địa phương.

   Kan Lịch đã chiến đấu nhiều trận, tự tay bắn chết 49 tên địch (chưa kể số địch thương vong vì chông, mìn và số địch bị diệt trong các trận đồng chí chỉ huy đánh tập trung), bắn rơi 1 máy bay vận tải và bắn hỏng 1 chiếc khác, phá sập 2 nhà ở của địch.

   Năm 1961, vào du kích, lúc đầu được phân công làm nhiệm vụ canh gác và phục vụ cơm nước cho anh em, Kan Lịch vui vẻ chấp hành nhiệm vụ, đồng thời tranh thủ thời gian hăng say luyện tập quân sự và vận động chị em làm chông, bẫy, tham gia chiến đấu, dần dần gây được lòng tin trong bà con buôn làng là con gái cũng đánh được giặc.

   Năm 1963, trong một trận đánh, mặc dù chân bị chông đâm bị thương, Kan Lịch vẫn Kiên quyết xin được nhận nhiệm vụ. Cùng tổ du kích lọt vào bốt địch giữa lúc chúng đang ngủ, nhưng do đêm tối khó nhìn, Kan Lịch dùng mưu cất tiếng gọi to, làm chúng hốt hoảng ngồi dậy. Lập tức, các đồng chí nổ súng tiêu diệt được 4 tên, riêng đồng chí bắn chết 1 tên.

   Hai ngày sau khi địch càn lên khu căn cứ, Kan Lịch cùng tổ bò vào nơi địch đóng quân để cắm chông, gài lựu đạn, khiến chúng bị thương vong một số, sau đó đợi địch đến thật gần các đồng chí mới nổ súng, diệt tại chỗ 2 tên và tiếp tục đánh lui các đợt tiến công của địch.

   Tháng 5 năm 1964, Kan Lịch dẫn tổ du kích vào nằm phục sát sân bay A Lưới, giữa đồi tranh nắng gắt như thiêu, nhịn đói, khát liền 2 ngày rưỡi, kiên trì chờ bắn rơi chiếc máy bay vận tải, diệt cả bọn, trong đó có tên đại tá Mỹ, đồng thời bắn chết 4 tên địch trong sân bay.

   Tháng 3 năm 1965, sau một đêm vào điều tra trong sân bay A Lưới, khi trở ra, tổ du kích bị giặc phục kích bất ngờ, bắt mất một tổ viên. Qua phút bị động ban đầu, đồng chí bình tĩnh tổ chức chiến đấu giành lại chủ động giết chết 3 tên địch, cứu thoát đồng đội từ tay giặc, đưa cả tổ trở về hậu cứ an toàn.

   Từ tháng 5 đến tháng 9 năm 1965, chỉ huy cụm du kích các xã Hồng Bắc, Hồng Nam, Hồng Trung và 1 trung đội bộ đội địa phương bao vây đồn A Lưới, Kan Lịch đã lãnh đạo anh chị em khắc phục mọi khó khăn, gian khổ giữa mùa mưa, liên tục vây hãm địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại, khiến chúng hoảng sợ không dám ra khỏi chỗ đóng quân.

   Trong trận đánh lô cốt Tà Rê, do tính toán kỹ và tổ chức hiệp đồng chặt chẽ, đồng chí chỉ huy rất tài tình, diệt tên gác và đồng loạt nổ súng tiến công đúng lúc bọn địch tập trung giữa sân ăn cơm chiều, diệt gọn 1 trung đội địch (trong đó có 2 tên Mỹ).

   Bị thua đau, địch xây lại lô cốt kiên cố và canh gác nghiêm ngặt hơn. Sau khi đã điều tra, nghiên cứu kỹ lưỡng tình hình địch, đồng chí lại dẫn tổ du kích đi đánh tiếp trận nữa, diệt thêm hàng chục tên, buộc địch phai bỏ chạy khỏi lô cốt Tà Rê. Kan Lịch còn nhiều lần dẫn các tổ nam, nữ du kích còn ít kinh nghiệm chiến đấu đi đánh bọn địch tuần tiễu, hoặc bí mật lọt vào lô cốt của chúng để rải truyền đơn, cắt dây điện thoại..., lần nào cũng thu được thắng lợi, khiến anh chị em rất phấn khởi, tin tưởng, trưởng thành mau chóng.

   Kan Lịch luôn luôn chú ý xây dựng đội du kích ngày càng vững mạnh, góp phần thúc đẩy phong trào cách mạng ở địa phương phát triển không ngừng. Đồng chí thường xung phong nhận làm trước những việc khó khăn, lấy kết quả để động viên mọi người cùng tin tưởng làm theo. Ngoài nhiệm vụ đánh giặc, giữ làng, Kan Lịch còn gương mẫu và vận động nhân dân tích cực tăng gia sản xuất, được bà con rất tin yêu, mến phục.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Kan Lịch được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.




ANH HÙNG TRẦN VĂN LƯ

(http://imageshack.us/a/img825/8656/tranvanlu.jpg)


   Trần Văn Lư sinh năm 1928, dân tộc Kinh, quê ở xã An Trường, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh, nhập ngủ tháng 5 năm 1947. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là bác sĩ, đội trưởng đội phẫu thuật sư đoàn 5, bộ đội chủ lực Đông Nam Bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Đồng chí sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo, cha bị bọn ấp trưởng bắt đánh chết, mấy mẹ con phải đi ở đợ, làm thuê kiếm sống. Cách mạng tháng Tám thành công, được giác ngộ cách mạng, 5 anh em đều lần lượt gia nhập quân đội cầm súng giết giặc. Vào bộ đội, Trần Văn Lư được điều về bệnh xá thuộc chi đội 20 làm liên lạc. Căm thù sâu sắc bọn đế quốc, phong kiến, suốt những năm kháng chiến chống Pháp, đồng chí không quản gian khổ, khó khăn, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Đồng chí còn luôn luôn chịu khó học tập để phục vụ cách mạng nhiều hơn nữa.

   Cuối năm 1954, đồng chí tập kết ra Bắc. Trong những năm ở miền Bắc, Trần Văn Lư gương mẫu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ và kiên trì học tập văn hóa và chuyên môn. Vừa học tập trung, vừa tự học, từ trình độ lớp 3, đồng chí học xong lớp 10 và tốt nghiệp bác sĩ y khoa trong nhà trường xã hội chủ nghĩa.

   Sau khi học xong, ra công tác (năm 1963), Trần Văn Lư xin tình nguyện trở về miền Nam tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu, góp phần vào công cuộc chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Đồng chí tham gia phục vụ 8 chiến dịch và nhiều trận đánh lớn ở chiến trường, luôn luôn nêu cao tinh thần dũng cảm, bám sát đơn vị chiến đấu, kịp thời cứu chữa thương binh ở hỏa tuyến. Trong hoàn cảnh chiến đấu gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn, Trần Văn Lư nêu cao quyết tâm phục vụ thương binh, bệnh binh vô điều kiện, nỗ lực khác phục khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

   Tháng 10 năm 1964, lần đầu tiên Trần Vãn Lư được giao phụ trách tổ phẫu thuật phục vụ trận đánh đồn Gò Dầu. Tuy chưa có kinh nghiệm tổ chức và hoạt động trong chiến đấu, người phục vụ ít, thương binh dồn về nhiều, đồng chí kiên trì động viên đồng đội hoàn thành tốt nhiệm vụ, bản thân đồng chí đứng mổ liên tục 1 ngày, 1 đêm, bảo đảm an toàn tuyệt đối các ca mổ.

   Trong chiến dịch Bình Giã, đội phẫu thuật của Trần Văn Lư đi phục vụ một mũi của chiến dịch. Có lúc bị địch cản, đội mất liên lạc với trên, đồng chí cùng 4 y tá, phục vụ hơn 200 thương binh suốt 4 đêm ngày. Đặc biệt có một số ca cấp cứu thương binh nặng vượt quá khả năng của mình, nhưng đồng chí kiên trì tìm mọi cách để cứu sống đồng đội. Ca phẫu thuật một đồng chí bị vết thương ở túi phồng động mạch cổ, khi mổ tới phần trong túi, máu chảy ra nhiều, tưởng như thương binh có thể chết trên bàn mổ, Trần Văn Lư tỉnh táo, bình tĩnh tìm được động mạch, kẹp lại rồi khâu bảo đảm an toàn ca mổ.

   Trong trận Bù Đốp, do yêu cầu cấp bách phải giải quyết tại chỗ, Trần Văn Lư mạnh bạo tiến hành ca mổ cho một đồng chí thương binh vỡ gan 15 cen-ti-mét, thủng 4 lỗ ruột. Suốt 2 giờ liền, đồng chí mổ, khâu gan, cắt nối lại ruột, cứu sống được đồng chí thương binh, được sự tin yêu và cảm phục của toàn đơn vị.

   Có lúc gặp khó khăn thiếu gạo, hoặc trời mưa, không đủ vải ni-lông che, Trần Văn Lư gương mẫu làm trước và vận động anh em nhân viên ăn cháo, nhường gạo cho thương binh, chịu ướt, rét để bảo đảm cho thương binh có vải che mưa.

   Trong cuộc sống, đồng chí có tác phong khiêm tốn, giản dị, chịu khó học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, hết lòng thương yêu đồng đội, giúp đỡ, hướng dẫn những đồng nghiệp, xây dựng phân đội tiến bộ toàn diện.

   Trần Văn Lư đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì và 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 10 bằng khen và giấy khen, 3 năm (1964 - 1965 - 1966) là Chiến sĩ thi đua.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967; Trần Văn Lư được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 24 Tháng Mười Một, 2012, 09:31:28 am
ANH HÙNG ĐOÀN HOÀNG MINH

(http://imageshack.us/a/img4/7628/doanhoangminh.jpg)


   Đoàn Hoàng Minh (tức Đoàn Văn Tới) sinh năm 1938, dân tộc Kinh, quê ở xã Hương Mỹ, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, nhập ngũ tháng 2 năm 1961. Khi được tuyên dương Anh hùng đổng chí là trung đội trưởng thông tin, bộ đội chủ lực miền Đông Nam Bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Xuất thân trong gia đình nông dân nghèo, ở một địa phương có phong trào cách mạng và kháng chiến cao, Đoàn Hoàng Minh sớm giác ngộ và tích cực tham gia hoạt động ở cơ sở, đấu tranh chống giặc Mỹ và bè lũ tay sai, chống bọn địa chủ ngóc đầu dậy cướp đất của nông dân.    Cuối năm 1959, đồng chí vào du kích, chiến đấu 22 trận, diệt ác ôn, trừ tề điệp, hỗ trợ tích cực cho đồng bào trong xã đồng khởi, giải phóng quê hương. Năm 1961, Đoàn Hoàng Minh vào bộ đội chủ lực được phân công làm chiến sĩ thông tin liên lạc, sau đó được chọn đi học trường huấn luyện kỷ thuật thông tin chiến đấu. Ra trường, phục vụ đơn vị, đồng chí đã tham gia đánh 29 trận lớn nhỏ, luôn luôn tỏ ra một chiến sĩ dũng cảm khác phục khó khăn, kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ, đảm bảo nghiệp vụ luôn luôn thông suốt, phục vụ đắc lực cho chỉ huy chiến đấu.

   Một lần, Đoàn Hoàng Minh cùng đi trong đoàn gần 100 cán bộ, chiến sĩ chuẩn bị chiến trường. Sau khi vượt qua những đoạn đường sát đồn bốt địch trên đường số 20, khi đến sông Bé thì nước sông đang dâng lên cuồn cuộn, trong đêm tối không có một chiếc thuyền. Nhiệm vụ chuẩn bị chiến trường khẩn trương, lúc này gặp nhiều khó khăn chưa có gì khác phục, Đoàn Hoàng Minh xung phong băng sông lặn lội tìm kiếm mang về một chiếc xuồng, sau đó tự tay chèo chống lần lượt đưa hết đoàn cán bộ, chiến sĩ vượt lủ sang sông an toàn, trước trời sáng.

   Phụ trách một tổ thông tin vô tuyến điện, đồng chí cùng anh em trong tổ nhiều lần mưu trí linh hoạt, tìm đặt vị trí có lợi nhất phục vụ đắc lực cho cấp trên nắm chắc tình hình diễn biến khẩn trương, điều động lực lượng chủ động đánh địch giành thắng lợi.

   Đặc biệt, trong 2 trận liền 3 ngày từ 10 đến 12 thang 5 năm 1965, ở Thuận Lợi, tổ thông tin vô tuyến điện của đồng chí có 2 người làm đài liên lạc giữa trung đoàn và các tiểu đoàn, đã bí mật trèo lên chiếm lĩnh một điểm cao đột xuất rất bất ngờ đối với địch ở sát sân bay, ở đó có thể quan sát rộng bao quát toàn khu vực dự kiến tác chiến. Địa điểm rất hẹp, không đủ chỗ ngồi cho 2 người, đặt chân rất vướng, bốn bề nắng chói chang hun nóng, lại rất dễ bị địch phát hiện, nhưng tổ của đồng chí khắc phục khó khăn, nguy hiểm, bám vững ở đó. Sau khi địch đổ quân xuống, trận chiến đấu diễn ra rất ác liệt ngay chung quanh vị trí của tổ thông tin. Có lúc hàng đàn máy bay lên thẳng quần đảo, rà sát ngay dưới chỗ các đồng chí đang nép mình, đạn bay chéo qua trên đầu, bom nổ dưới chân.

   Trong tình huống như vậy, Đoàn Hoàng Minh kịp thời báo cáo về sở chỉ huy trung đoàn nhiều tin tức quan trọng để cấp trên ra mệnh lệnh cho bộ binh, pháo binh diệt nhiều địch mới đổ xuống. Có lần, phát hiện 1 đại đội địch hoảng loạn đang rút về phía tây sân bay, đồng chí thấy tình huống rất khẩn trương, phải giải quyết thật nhanh, nên qua làn sóng điện, Đoàn Hoàng Minh vừa báo cáo về sở chỉ huy trung đoàn, vừa đề nghị thẳng với tiểu đoàn ở gần đấy nhất vận động kịp thời đến, nên đã diệt gọn đại đội này trong vòng 7 phút. Đến ngày thứ 3, lúc trận đánh đang diễn biến mau lẹ, quan sát thấy quân địch đang rút vào khu rừng cao su, đồng chí vừa báo cáo về trung đoàn, vừa đề nghị một cánh quân của ta đánh vào bên sườn và một đơn vị khác vòng ra lộ khóa đuôi, diệt gọn bọn địch này.

   Liền trong 3 ngày đêm, trụ bí mật trên "điểm cao" theo dõi, nắm chắc tình hình địch vận động như nhìn trên bàn cờ, Đoàn Hoàng Minh báo cáo kịp thời, chính xác tình hình và truyền đạt mệnh lệnh của trung đoàn chỉ huy tiến công, bao vây, chặn địch, truy kích, bắn súng cối đúng mục tiêu, diệt gọn 1 tiểu đoàn địch trong trận chặn viện ở Thuận Lợi. Có lần máy liên lạc bị hỏng, Đoàn Hoàng Minh bàn bạc cùng đồng chí tổ viên bí mật lợi dụng đêm tối vượt qua nhiều chỗ địch bố trí, trở về sở chỉ huy lấy máy khác lên vị trí tiếp tục nhiệm vụ.

   Sau trận chiến đấu, Đoàn Hoàng Minh bị cảm nắng, khắp mình tê dại, nhưng đồng chí vẫn vui vẻ vì tổ thông tin đã giữ vững làn sóng điện phục vụ liên tục cuộc chiến đấu thắng lợi giòn giã.

   Đoàn Hoàng Minh nêu cao tinh thần quên mình vì nhiệm vụ, sẵn sàng vượt mọi khó khăn, không kể ntruy hiểm đến tính mạng để hoàn thành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu thắng lợi, luôn luôn đoàn kết thương yêu đồng đội, gương mẫu, khiêm tốn, được cấp trên tin tưởng, đồng đội mến phục.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 6 bằng khen, 8 giấy khen, là Chiến sĩ thi đua trung đoàn, Dũng sĩ Quyết thắng.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Đoàn Hoàng Minh được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.




ANH HÙNG NGUYỄN VĂN MỐT

(http://imageshack.us/a/img100/8039/nguyenvanmot.jpg)


   Nguyễn Văn Mốt sinh năm 1941, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Thới Trung, huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh, nhập ngũ tháng 1 năm 1961. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung đội phó thuộc đoàn 149, Cục hậu cần Miền, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Sớm giác ngộ cách mạng, Nguyễn Văn Mốt tham gia hoạt động bí mật ở thành phô Sài Gòn, đến tháng 7 năm 1960 cơ sở bị lộ, đồng chí được tổ chức cho thoát ly. Sau một thời gian, bị địch bắt, đồng chí tìm cách trốn thoát và sau đó được điều lên công tác tại khu căn cứ và được giao nhiệm vụ quân lương, vận tải lương thực, thực phẩm. Nhận công tác mới, gặp nhiều khó khăn, lúng túng, đồng chí luôn luôn đề cao tinh thần trách nhiệm, khắc phục mọi khó khăn, tìm nhiều biện pháp tốt hoàn thành nhiệm vụ, khi đánh địch để bảo vệ tài sản, kho tàng của cách mạng, thì tỏ ra dũng cảm, mưu trí, linh hoạt, lập công xuất sắc.

   Trong công tác, Nguyễn Văn Mốt tìm cách cải tiến để hợp lý hóa động tác, đỡ lãng phí thời gian và sức người. Hàng ngày, đồng chí tranh thủ mọi lúc chuẩn bị sẵn sàng tranh, tre, lạt, cây cột để khi làm kho là có đủ, khỏi mất thời gian chờ đợi, rút ngắn thời gian làm kho xuống còn 1, 2 ngày. Khi chuyển hàng, mặc dù ít người, phải đảm bảo mỗi đêm từ 80 đến 100 xe, nếu gặp trời mưa, mỗi người chỉ vận tải được 25 đến 30 ki-lô-gam lương thực, Nguyễn Văn Mốt nghĩ cách cải tiến mang vác và tìm ra con đường mới vừa gần, vừa khô ráo, dễ đi, nên đưa năng suất vận chuyển lên 120 ki-lô-gam/chuyến, đảm bảo vượt mức kế hoạch vận chuyển.

   Trong lúc giữ kho, đồng chí không quản ngại nắng, mưa thường xuyên kiểm tra, ngăn chặn kịp thời mối mọt, chuột bọ phá hoại. Nguyễn Văn Mốt thường nghĩ: "Đây là tài sản của cách mạng, người giữ kho phải biết bảo vệ cho tốt, để phục vụ bộ đội được đầy đủ". Khi kho bị máy bay địch oanh tạc, đồng chí không sợ hy sinh, vượt qua lửa đạn, xông vào cứu kho, đồng thời động viên anh em phải bám chắc lấy kho, phải bảo vệ kho. Nguyễn Văn Mốt đào hào giao thông tránh máy bay oanh tạc ở ngay tại kho để khi ngớt bom lại tiếp tục công tác và nhanh chóng sửa chửa lại kho tàng. Việc làm gương mẫu của đồng chí lôi cuốn anh em trong đơn vị làm theo, nên mỗi khi ngớt bom đạn, kho vẫn giao hàng kịp thời cho các đơn vị.

   Ngày 22 tháng 6 năm 1966, địch cho máy bay đánh phá khu vực kho rồi bất ngờ đổ xuống 2 tiều đoàn hòng phá hoại căn cứ hậu cần của ta. Mặc dù hầu hết anh em chưa trải qua chiến đấu, nhưng đồng chí bình tĩnh, mưu trí phán đoán các hướng tiến công của địch, căn cứ vào kế hoạch tác chiến, bố trí các tổ chiến đấu. Nguyễn Văn Mốt đi sát các tổ, động viên anh em kiên quyết bám địch, đánh địch, bảo vệ kho tàng. Suốt cả ngày 23 tháng 6, tiểu đội Nguyễn Văn Mốt đã kiên cường chiến đấu đánh lui 8 đợt xung phong của địch, bảo vệ được kho, diệt được nhiều địch. Đến ngày 24 tháng 6, tiểu đội Nguyễn Văn Mốt được lệnh rút, nhưng lúc đó địch lại mở đợt tiến công mới, đồng chí động viên 11 anh em trong tiểu đội quyết tâm chiến đấu đánh lui 4 đợt tiến công của địch, diệt 30 tên, phá hủy 1 đại liên. Đến chiều, đồng chí đã cùng một tổ bí mật ở lại bám địch, chờ cho địch kéo vào cách 20 mét, mới nổ súng. Bị đánh bất ngờ, địch chết nhiều, phải dùng máy bay lên thẳng đến chở xác. Sau khi địch rút, đồng chí và tổ lạị xông lên cứu chữa kho, thu nhặt tài sản.

   Nguyễn Văn Mốt luôn luôn gương mẫu đi đầu trong mọi mặt công tác và chiến đấu, nêu cao tinh thần không ngại gian khổ, khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ, dũng cảm, mưu trí đánh địch bảo vệ kho tàng, tài sản của cách mạng. Đồng chí vui vẻ, cởi mở và thương yêu đồng đội nên được anh em trong đơn vị và khách hàng tin yêu, quý mến.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 3 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng ba, 12 giấy khen, 4 năm liền là Chiến sĩ thi đua và Dũng sĩ diệt Mỹ cấp I.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Nguyễn Văn Mốt được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Mười Một, 2012, 04:06:36 pm
ANH HÙNG NGUYỄN ĐỨC NGHĨA

(http://imageshack.us/a/img27/5297/nguyenducnghia.jpg)


   Nguyễn Đức Nghĩa, sinh năm 1945, dân tộc Kinh quê ở xã Hoằng Phú, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa, nhập ngũ năm 1964. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung đội phó thuộc đại đội 2, tiểu đoàn 7, trung đoàn 16 bộ đội chủ lực miền Đông Nam Bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Đồng chí vừa là một chiến sĩ bộc phá xuất sắc, vừa là một chiến sĩ xung kích dũng cảm, mưu trí, táo bạo, cùng đơn vị tham gia nhiều trận đánh địch trong công sự vững chắc, nhiều trận tập kích với quy mô lớn. Trong tình huống chiến đấu gay go, Nguyễn Đức Nghĩa dũng cảm, mưu trí tìm cách vượt qua khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Cuối năm 1964, trong trận đầu đánh quân địch ở trong công sự vững chắc, đồng chí dũng cảm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đánh bộc phá, phá thong cửa mở, sau đó tiếp tục cùng tổ xung kích đánh mạnh, thọc sâu, tạo điều kiện cho đơn vị đánh nhanh, diệt gọn đồn địch.

   Đầu năm 1965, đánh chi khu của địch ở Tây Nguyên, tuy đồng chí đã bị thương nhưng vẫn bình tĩnh, dũng cảm vượt qua lưới lửa của địch, nhiều lần xông vào đánh bộc phá, mở được cửa mở cho đơn vị tiến lên diệt địch. Mặc dù bị sức ép của bộc phá làm chảy máu, Nguyễn Đức Nghĩa vẫn cùng tổ xung kích tiếp tục lao vào chiến đấu cho đến khi tiêu diệt toàn bộ quân địch.

   Trong một trận khác, đơn vị đang gặp khó khăn ở cửa mở vì địch ngoan cố dùng hỏa lực đại liên kiềm chế mạnh, ngăn chặn xung kích của ta, đồng chí kịp thời phát hiện và báo cáo với ban chỉ huy xin lên diệt hỏa điểm địch. Được lệnh, đồng chí dũng cảm mưu trí tìm cách đến gần tiêu diệt hỏa điểm lợi hại của địch, tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị tiến lên diệt gọn đồn địch, giảm bớt được thương vong cho đồng đội.

   Trận đầu đánh Mỹ ở Chà Dơ (Dương Minh Châu - Tây Ninh), trong 2 ngày 8 và 9 tháng 11 năm 1966, Nguyễn Đức Nghĩa chỉ huy trung đội chặn đánh một cánh quân Mỹ tiến công vào trận địa. Tuy địch đông gấp bội và có máy bay, pháo binh đánh phá rất ác liệt mở đường, đồng chí vẫn bình tĩnh đến từng công sự động viên anh em chờ địch đến thật gần mới nổ súng, đánh lui nhiều đợt xung phong của địch. Trận đánh kéo dài 2 ngày, Nguyễn Đức Nghĩa động viên anh em lấy súng địch để tiếp tục chiến đấu. Riêng đồng chí bò dưới làn đạn địch, cướp được khẩu đại liên bắn diệt hàng chục tên, góp phần đánh lui nhiều đợt tiến công của địch. Trung đội Nguyễn Đức Nghĩa đã cùng toàn trung đoàn đánh quỵ lữ đoàn 196 Mỹ, diệt trên 800 tên, góp phần đánh bại cuộc càn lớn của Mỹ vào vùng căn cứ kháng chiến.

   Nguyễn Đức Nghĩa là một cán bộ gương mẫu, luôn luôn nêu cao ý chí quyết tâm tiêu diệt quân xâm lược, sẵn sàng nhận khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho bạn, hết lòng thương yêu, giúp đỡ đồng đội, chú ý xây dựng phân đội trưởng thành toàn diện, được anh em yêu mến, tín nhiệm.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhì và 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng ba, 5 bằng khen và được tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ cấp II.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Nguyễn Đức Nghĩa được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG PHẠM ĐÌNH NGHIỆP

(http://imageshack.us/a/img204/6917/phamdinhnghiep.jpg)


   Phạm Đình Nghiệp, sinh năm 1943, dân tộc Kinh, quê ở xã Phổ Cường, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, nhập ngũ tháng 2 năm 1962. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại đội phó đại đội đặc công bộ đội địa phương tỉnh Quãng Ngãi, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Được sự giáo dục của cán hộ cách mạng và gia đình (cha va mẹ đều là đảng viên), Phạm Đình Nghiệp rất thiết tha với sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Với lòng yêu nước nồng nàn đó, đồng chí tham gia hoạt động ở cơ sở, góp phần diệt tề, phá ấp chiến lược, giải phóng nhân dân.

   Vào bộ đội, từ năm 1962 đến năm 1966, Phạm Đình Nghiệp tham gia chiến đấu 30 trận, tự tay diệt và bắt sống 79 tên giặc, thu 33 khẩu súng các loại, đánh hỏng một xe M.113. Đồng chí có quyết tâm chiến đấu rất cao, dám xả thân mình để cứu đồng đội, trận đánh nào cũng tỏ ra ngoan cường, dũng cảm, mưu trí, xử trí linh hoạt những tình huống khó khăn, đảm bảo đơn vị đánh thắng.

   Trận Bến Thóc (xã Đức Thọ, huyện Mộ Đức), ngày 5 tháng 2 năm 1964, tuy địch đông gấp nhiều lần, Phạm Đình Nghiệp và anh em trong tổ vẫn quyết tâm tập kích. Bò tới cách địch 10 mét, đồng chí một tay lựu đạn, một tay thủ pháo ném liên tiếp vào quân địch, phối hợp với anh em tiêu diệt một số tên giặc ngay từ phút đầu. Đang đuổi theo tốp địch trước mặt, chợt thấy phía sau có 1 tên giặc cầm trung liên, Phạm Đình Nghiệp định bắn nhưng súng hết đạn. Đồng chí nhanh trí hô nghi binh, đồng thời ra hiệu cho tổ trưởng vòng sau lưng diệt tên này, lấy súng địch tiếp tục chiến đấu. Kết qua chỉ có 4 người đã tiêu diệt gọn 2 trung đội biệt kích địch, riêng đồng chí giết chết 8 tên, bắn bị thương 6 tên, bắt sống 2 tên, thu 8 khẩu súng, 1 máy bộ đàm.

   Đêm 15 tháng 1 năm 1965, đánh địch ở Liên Trì (huyện Bình Sơn), Phạm Đình Nghiệp chỉ huy tiểu đội diệt Sở chỉ huy địch. Sau khi dẫn tiểu đội bí mật vào cách địch 20 mét, Phạm Đình Nghiệp cùng một đồng chí nữa luồn qua toán lính gác, dùng bộc phá, lựu đạn, tiêu liên đánh mạnh từ trong ra. Lúc này đồng đội bị thương, lại chưa bắt được liên lạc với anh em bên ngoài, nhưng khi nghe thấy bọn địch trao đổi, nói lộ mật khẩu, đồng chí bình tĩnh mưu trí, dùng mật khẩu của địch để tiến gần chúng, diệt hết toán này đến toán khác, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ tiến vào. Trận này, tiểu đội của đồng chí diệt gọn 1 trung đội địch, thu nhiều súng, đạn.

   Đêm 28 tháng 11 năm 1965, đánh đồn Đầu Voi (xã Sơn Mỹ, huyện Sơn Tịnh) ở trên đồi cao, dốc đứng, Phạm Đình Nghiệp bình tĩnh, lên xuống nhiều lần theo con đường độc nhất mà địch thường báo động bắn ra, dẫn từng chiến sĩ vào vị trí chiến đấu. Khi ta nổ súng, địch đối phó mạnh. Phát hiện 2 khẩu trung liên bắn ra cửa mở, đồng chí dùng lựu đạn diệt ngay rồi cùng anh em đánh thẳng vào sở chỉ huy. Phạm Đình Nghiệp nhanh như sóc, lúc nhặt lựu đạn địch ném trở lại, diệt địch dưới chiến hào, lúc dùng tiểu liên quét bọn đang nhốn nháo chạy trên sân. Sau 20 phút chiến đấu, trung đội của đồng chí diệt 75 tên và 1 sở chỉ huy đại đội địch. Riêng đồng chí diệt 17 tên, thu 7 khẩu súng (có 1 súng cối, 1 đại liên).

   Đêm 12 tháng 9 năm 1966, đánh trận Núi Giàng (cách quận lỵ Đức Phổ 1 ki-lô-mét về phía đông bắc), Phạm Đình Nghiệp dẫn một tổ đột phá đi trước cắt rào, gỡ mìn, rải lộ tiêu rồi đưa đơn vị bí mật tới bố trí sát hàng rào thứ nhất. Đồng chí bắn một phát B.40 làm cho hỏa lực chính của địch tê liệt ngay từ phút đầu, rồi nhanh chóng chỉ huy các tổ đánh vào sở chỉ huy, khu điện đài và trận địa pháo binh địch. Chỉ trong 7 phút, trung đội của đồng chí hoàn toàn làm chủ trận địa, tiêu diệt 6 trung đội địch, thu 85 súng các loại, phá hủy 2 khẩu pháo 105 mi-li-mét, 2 đại liên, 2 kho đạn, phá tan 10 lô cốt, 2 hầm ngầm.

   Phạm Đình Nghiệp thường xuyên sâu sát chiến sĩ, tận tình giúp đỡ đồng đội, tranh thủ mọi thời gian để huấn luyện đơn vị, gương mẫu chấp hành chính sách dân vận, chính sách chiến lợi phẩm, phát huy bản chất tốt đẹp của quân đội cách mạng, được đồng đội và đồng bào tin yêu, mến phục.

   Phạm Đình Nghiệp đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì và 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, là Chiến sĩ thi đua liền 2 năm 1965 - 1966.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Phạm Đình Nghiệp được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Mười Một, 2012, 04:09:06 pm
ANH HÙNG ĐINH NGHÍT


   Đinh Nghít, sinh năm 1941, dân tộc Hrê, quê ở xã Sơn Kỳ, huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi, nhập ngũ tháng 10 năm 1961. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung đội phó thuộc đại đội 2, tiểu đoàn 20, Quân khu 5, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Nhà nghèo, cha mất sớm, lại được cách mạng giáo dục và giác ngộ, Đinh Nghít hiểu rõ nhiệm vụ thiêng liêng đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất Tố quốc. Năm 17 tuổi, đồng chí bắt đầu tham gia kháng chiến, trước làm giao liên, rồi vào du kích, sau lên bộ đội huyện. Từ tháng 10 năm 1961, Đinh Nghít chuyển về tiểu đoàn 20 trực thuộc Quân khu 5.

   Đồng chí đã chiến đấu 59 trận, diệt 38 tên giặc, thu 25 súng các loại, bắn rơi 1 máy bay lên thẳng, phá hủy 1 xe vận tải. Những lần được giao nhiệm vụ số 1 trong tiểu đội bộc phá hoặc nhiệm vụ xung kích bám giữ đầu cầu, hoặc nhiệm vụ đánh thọc sâu, Đinh Nghít đều nêu cao tinh thần bình tĩnh, dũng cảm, kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ, lập công xuất sắc, tạo thuận lợi cho đơn vị diệt gọn cứ điểm địch, hạn chế thương vong.

   Tháng 1 năm 1965, đánh đồn Ruộng Khoai (Sơn Hà), khi dẫn tiểu đội bộc phá bí mật lọt vào đồn địch thì có lệnh nổ súng, đồng chí vừa đánh bộc phá mở đường, vừa tiến công mãnh liệt, diệt gọn bọn lính gác, tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị xung phong trong 5 phút đã hạ xong đồn, cả tiểu đội không ai bị thương vong.

   Tháng 2 năm 1965, Đinh Nghít chỉ huy tiểu đội đánh chặn đầu 1 đại đội địch trên đường từ Hà Thành đi đèo Eo Gió. Bất ngờ, địch chia làm 2 cánh hành quân băng ruộng tiến vào. Đồng chí linh hoạt chỉ huy tiểu đội chặn đánh cả 2 cánh quân, buộc cả đội hình địch phải nằm phơi giữa ruộng, để đơn vị nổ súng xung phong tiêu diệt gọn cả đại đội địch, thu 47 súng (có 7 trung liên).

   Tháng 4 năm 1965, đánh đồn Hòa Một lần thứ nhất, Đinh Nghít dũng cảm dẫn đầu tiểu đội đánh thọc sâu, góp phần đác ỉực cùng đơn vị tiêu diệt gọn toàn bộ quân địch.

   Tháng 12 năm 1965, đánh đồn Hòa Một lần thứ hai, Đinh Nghit làm nhiệm vụ mở cửa ở hướng đột kích chủ yếu, vừa mới bí mật mở được một lớp rào thì có lệnh nổ súng, Đinh Nghít lập tức chỉ huy tiểu đội đánh bộc phá liên tục, nhanh chóng mở thông cửa mở. Địch tập trung hỏa lực bắn chặn, đồng chí liền cùng các tổ viên công kênh nhau vượt hào sâu lút đầu người, rộng 2 mét rưỡi, dùng lựu đạn diệt bọn địch đang dựa vào bờ thành đối phó quyết liệt với ta. Tuy bị thương ở mặt và đùi, Đinh Nghít vẫn tiếp tục chiến đấu, thừa thắng xông lên cắm cờ trên nóc lô cốt, cùng đơn vị nhanh chóng tiêu diệt cả đại đội địch, thu toàn bộ vũ khí, giải phóng hoàn toàn xã Tịnh Giang. Trận này, riêng đồng chí diệt 10 tên địch, bắt 1 tên, thu 5 súng, được binh công đầu.

   Tháng 2 năm 1966, đánh đồn Hùng Vờ lần thứ hai, tiểu đội của Đinh Nghít lại được giao nhiệm vụ mở cửa và sau đó chuyển sang xung kích. Giữa lúc trận chiến đấu còn đang diễn ra quyết liệt ở cửa mở, địch điên cuồng phản kích lại ta, đồng chí dẫn đầu tiểu đội, cơ động sang hướng khác, lợi dụng lỗ tường thủng, xông thẳng vào đồn địch, đánh chiếm lô cốt, diệt bọn giặc đang chạy hỗn loạn trên sân và trong các hào giao thông, phối hợp chặt chẽ với đơn vị đang đánh mạnh ở hướng chủ yếu, tiêu diệt toàn bộ quân địch.

   Ngoài thành tích chiến đấu, Đinh Nghít còn tích cực, góp nhiều công trong các công tác vận chuyển, tăng gia sản xuất. Đồng chí hết lòng thương yêu đồng đội, bao giờ cũng nhận phần việc khó khăn, vất vả về mình. Trong hoàn cảnh thiếu thốn ở chiến trường, có quần áo mới, đồng chí nhường cho anh em, bản thân chỉ mặc đồ cũ vá lại. Có lần đi trinh sát, một đồng chí bị vướng mìn địch, Đinh Nghít cõng đồng đội bị thương suốt 4 ngày liền đưa về tới đơn vị.

   Đinh Nghít là một chiến sĩ xuất sầc toàn diện, gương mẫu chấp hành các chính sách dân tộc, thương binh, liệt sĩ, được đồng bào các dân tộc và đồng đội rất tin yêu, mến phục.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì và 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, là Dũng sĩ Quyết thắng cấp ưu tú, Dũng sĩ diệt máy bay, Dũng sĩ diệt cơ giới.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Đinh Nghít được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG NGUYỄN VIẾT PHONG

(http://imageshack.us/a/img221/2268/nguyenvietphong.jpg)


   Nguyễn Viết Phong, sinh năm 1945, dân tộc Kinh, quê ở xã Mỹ Thủy, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là xã đội trưởng, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Nguyễn Viết Phong sống dưới ách kìm kẹp của Mỹ -ngụy, tận mắt chứng kiến tội ác của chúng đối với đồng bào, trong gia đình có cha bị giặc bắt mang đi biệt tích và anh hy sinh trong chiến đấu, đồng chí mang nặng lòng căm thù địch. Năm 16 tuổi, được cán bộ hướng dẫn, đồng chí bắt đầu hăng hái tham gia kháng chiến. Đứng trong hàng ngũ cách mạng, Nguyễn Viết Phong luôn luôn nêu cao dũng khí tiến công, chiến đấu vô cùng gan dạ, mưu trí, lập nhiều thành tích xuất sắc, góp phần tích cực đẩy mạnh phong trào du kích chiến tranh của địa phương.

   Nguyễn Viết Phong đã chiến đấu 45 trận, diệt 112 tên địch (có 34 tên Mỹ), cùng anh em đánh sập 2 trụ sở xã, 3 chiếc cầu xe lửa, 12 cột điện cao thế, phá hủy 10 xe quân sự, thu nhiều vũ khí, tài liệu.

   Nhiệm vụ đầu tiên Nguyễn Viết Phong được giao là bí mật theo dõi tình hình địch, rải truyền đơn, tổ chức cơ sở... Khi vào đội du kích, đồng chí đã cùng anh em liên tiếp diệt tề, trừ gian và đến tháng 7 năm 1964 phát động nhân dân nổi dậy phá ấp chiến lược, giải phóng toàn xã Mỹ Thủy, xây dựng chính quyền và các đoàn thể cách mạng. Được bổ sung vào tổ biệt động của huyện, đồng chí nhiều lần cùng tổ đột nhập vùng địch kiểm soát giữa ban ngày, cảnh cáo, bắt đi cải tạo, trừ diệt hàng trăm tên tề, điệp, ác ôn, khiến giặc rất hoang mang, khiếp sợ.

   Đầu năm 1965, Nguyễn Viết Phong phụ trách trung đội du kích của xã, thường xuyên bám sát cơ sở, đánh địch trên các trục đường giao thông, đồng thời vận động nhân dân góp tiền nuôi quân, giúp đỡ bộ đội và các cơ quan tỉnh, huyện, vận chuyển lương thực, thực phẩm lên căn cứ.

   Trưa ngày 18 tháng 4 năm 1965, sau trận đánh vào trụ sở xã, đồng chí cùng tổ phục kích trên đường, diệt 3 xe GMC, 7 tên địch (có 5 tên Mỹ). Gần 1 giờ sau, 5 xe bọc thép cùng 2 đại đội lính ngụy đến tiếp viện, chiếc xe đi đầu bị trúng mìn nổ tan xác, chết 9 tên giặc. Đây cũng là trận đánh phủ đầu ngay khi bọn lính thủy đánh bộ Mỹ mới đặt chân tới Phú Bài, có ảnh hưởng chính trị rất lớn vào các thành phố Huế, Đà Nẵng.

   Tháng 5 năm 1965, anh ruột Nguyễn Viết Phong là xã đội trưởng xã Mỹ Thủy hy sinh trong một trận chống càn. Sáng sớm ngày 13 tháng 7 năm 1965, 2 đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ có máy bay lên thẳng yểm hộ lại càn vào ấp 5, xã Mỹ Thủy. Đồng chí cùng 2 tổ viên đang trên đường công tác lập tức triển khai chiến đấu. Đợi địch đến chỉ cách 10 mét, Nguyễn Viết Phong mới ra lệnh đồng loạt nổ súng, giết chết một số tên. Địch cậy đông, vây ba mặt ép lại, nhưng chúng liên tiếp bị đánh bật ra. Đồng chí linh hoạt chỉ huy anh em nhanh chóng cơ động, khi trên đồi cao, khi dưới mương cạn, dũng cảm quần nhau với địch. Một tổ viên bị hóc súng phải về phía sau, một đồng chí nữa bị thương rồi hy sinh, tuy còn một mình, Nguyễn Viết Phong vẫn kiên quyết chặn đánh địch suốt đến buổi chiều, diệt 25 tên Mỹ. Trận đánh này của các đồng chí đã mở đầu cho phong trào "tìm Mỹ mà đánh, gặp Mỹ là diệt" trong toàn huyện và các đơn vị bạn.    Trong đợt hoạt động từ cuối tháng 7 đến đầu tháng 9 năm 1966, Nguyễn Viết Phong chỉ huy chiến đấu 7 trận, diệt 18 tên địch (có 14 tên Mỹ). Có trận, đồng chí cùng 2 tổ viên táo bạo ra giữa đường số 1 chỉ cách đồn địch 200 mét, phục kích 1 chiếc xe "gíp", diệt 2 tên sĩ quan Mỹ. Có trận, đồng chí tổ chức đánh mìn trên đường phố, diệt 6 tên Mỹ đi trên xe. Trận khác, Nguyễn Viết Phong và anh em trong tổ cải trang đến gần vị trí địch, diệt bọn lính gác cổng rồi xộc thẳng vào trong, đánh lên các tầng lầu, giặc không kịp trở tay đối phó. Với lối đánh dũng cảm, tài trí, đồng chí đã làm cho kẻ thù liên tiếp bị phục kích, tập kích trên các đường giao thông và cả trong căn cứ, nhiều cầu xe lửa bị đánh sập, nhiều ô tô bị phá hủy. Giặc Mỹ vì hoảng hốt, tinh thần bạc nhược, mà bắn nhầm nhau.

   Đồng chí còn rất chú trọng xây dựng đội du kích làm nòng cốt cho phong trào đấu tranh ở địa phương, được nhân dân hết lòng thương yêu, giúp đỡ.

   Nguyễn Viết Phong đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì và 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 2 năm là Chiến sĩ thi đua của tỉnh.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Nguyễn Viết Phong được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Mười Một, 2012, 04:21:10 pm
ANH HÙNG TỪ VĂN PHƯỚC

(http://imageshack.us/a/img706/4075/tuvanphuoc.jpg)


   Từ Văn Phước (tức Từ Văn Phao), sinh năm 1936, dân tộc Kinh, quê ở xã Bình Chuân, huyện Thuận An, tỉnh Sông Bé, nhập ngũ tháng 9 năm 1963. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung đội trưởng trinh sát đặc công quận Lái Thiêu (Thủ Dầu Một), đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Lòng yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, ý chí quyết thẳng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước luôn luôn là động lực thúc đẩy Từ Văn Phước chiến đấu lập công.

   Thời kỳ còn ở địa phương, đồng chí hoạt động trong tổ chức tự vệ bí mật, làm các công tác: thông tin, dẫn đường đưa đón cán bộ, tham gia phá ấp chiến lược. Từ năm 1963 đến đầu năm 1967, Từ Văn Phước đã chiến đấu 37 trận, diệt 266 tên địch (có 105 tên Mỹ), bắt sống 6 tên, diệt 14 xe cơ giới, đánh sập 2 cầu, 4 công sở ngụy quyền.

   Năm 1964, chấp hành nhiệm vụ luồn sâu phá ấp chiến lược, đồng chí đả cùng cán bộ địa phương vào hoạt động ở vùng yếu xã An Thạnh, suốt nửa tháng trời ăn cơm vắt, ban ngày nằm hầm bí mật, tối đến lại đi bắt mối xây dựng cơ sở, phát động quần chúng nổi dậy đấu tranh trừ diệt bọn ác ôn và giải tán các tổ chức chính trị phản động. Kết quả, ấp chiến lược đã bị phá, địa phương được giải phóng, có điều kiện xây dựng đội du kích bám trụ hoạt động, phong trào ngày một lên cao.

   Lần khác, Từ Văn Phước dẫn một tổ vào vùng yếu xã Tân Ba hoạt động, do không có cơ sở quần chúng, nên gặp rất nhiều khó khăn, nguy hiểm, đồng chí đã động viên anh em trong tổ giữ vững quyết tâm, tích cực điều tra, nghiên cứu tình hình, tìm cách đánh địch. Sau một thời gian ngắn, bằng những hoạt động nhỏ lẻ, tổ đồng chí đã giết chết và làm bị thương 19 tên địch, số sống sót co lại, sau phải rút chạy. Từ đó, thế kìm kẹp của địch bị phá vỡ, cơ sở địa phương được xây dựng, phong trào quần chúng có bước phát triển mới.

   Tháng 11 năm 1965, giặc Mỹ huy động lực lượng lớn có cả không quân, pháo binh và cơ giới mở cuộc càn vào khu vực Thuận Giao. Từ Văn Phước đã hướng dẫn đồng đội cơ động chiến đấu theo địa đạo bám sát địch, dũng cảm chiến đấu, tiêu diệt lính bộ binh và xe bọc thép của chúng. Khi được lệnh rút quân, do địa đạo bị xe tăng địch đè sập nhiều đoạn, bịt mất lối đi, đồng chí phải kiên trì dùng tay moi đất để mở lối. Nhiều đoạn gặp rễ cây, đồng chí phải dùng dao cắt dần từng chút một. Suốt mấy tiếng đồng hồ kiên trì mở lối trong địa đạo, thiếu không khí, thiếu ánh sáng, phía trên thì xe cơ giới địch liên tiếp gầm rú, đồng chí có lúc mệt lả, ngất đi, khi tỉnh dậy lại tiếp tục làm nhiệm vụ. Cuối cùng, Từ Văn Phước đã mở được lối thoát thông lên mật đất, chỉ cách bọn lính Mỹ có 10 mét và đưa được tất cả anh em về vị trí an toàn.

   Năm 1966, Từ Văn Phước nhiều lần đi nghiên cứu thực địa, tổ chức những trận gài mìn phá đường giao thông của địch, hoặc đánh úp bọn lính Nam Triều Tiên; có trận, Từ Văn Phước cải trang làm dân thường, bất ngờ diệt địch ngay trên những đoạn đường trống trải.

   Tháng 2 năm 1967, đổng chí dẫn một số anh em lọt vào vùng Bình Nhâm, đào hầm bí mật, bám sát địch trong ngót một tuần lễ, sau đó đánh liên tiếp 2 trận phá vỡ kế hoạch bình định của chúng.

   Trải qua chiến đấu trên chiến trường trọng điểm bình định của địch, Từ Văn Phước luôn luôn nêu cao ý thức phục vụ nhân dân và tinh thần cách mạng tiến công "tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt", bển bỉ, kiên trì khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, chiến đấu dũng cảm, sáng tạo, góp phần làm thất bại âm mưu bình định của kẻ thù, xây dựng địa phương trở thành ngọn cờ đầu của phong trào diệt Mỹ trong toàn quân khu miền Đông Nam Bộ.

   Từ Văn Phước đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng ba, là Chiến sĩ thi đua 2 năm 1965 - 1966, 17 lần đạt các danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, Dũng sĩ diệt cơ giới, Dũng sĩ Quyết thắng.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Từ Văn Phước được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG NGUYỄN VĂN QUANG

(http://imageshack.us/a/img231/8848/nguyenvanquang.jpg)


   Nguyễn Văn Quang (tức Sên), sinh năm 1944, dân tộc Kinh, quê ở xã Phước Lai, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, nhập ngũ tháng 10 năm 1964. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là tiểu đội trưởng đại liên thuộc đại đội 1, tiểu đoàn 445, bộ đội địa phương tỉnh Bà Rịa, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo khổ, Nguyễn Văn Quang phải đi ở cho địa chủ ngay từ bé, sống cuộc đời vô cùng cơ cực. Cha, mẹ và chị gái đồng chí đã bị bọn thực dân Pháp bắn chết.

   Căm thù sâu sắc bọn đế quốc, phong kiến, năm 1960 dồng chí trốn khỏi nhà địa chủ để đi theo cách mạng. Năm 1964, đồng chí xung phong vào lực lượng vũ trang để được trực tiếp cầm súng giết giặc đền nợ nước, trả thù nhà.

   Nguyễn Văn Quang tham gia chiến đấu 20 trận (tính đến khi tuyên dương). Là một xạ thủ súng máy, đồng chí luôn luôn nêu cao tinh thần gan dạ, chủ động tiến công rất mãnh liệt, tiêu diệt địch, thu vũ khí, chi viện cho đồng đội, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Nguyễn Văn Quang đã diệt được 180 tên địch (có 73 lính Mỹ và 25 lính Úc), diệt 1 xe M.41 và 1 xe quân sự địch, thu 27 súng các loại và 2 máy thông tin.

   Trong trận An Ngãi (tháng 5 năm 1965), khẩu đội súng máy của Nguyễn Văn Quang có nhiệm vụ bảo vệ sườn và chi viện cho đơn vị đánh chia cắt đội hình địch. Khi chiến đấu, đội hình địch lại tiến thẳng về hướng khẩu đội. Đồng chí cùng đồng đội dũng cảm đánh trả địch, sau loạt đạn đầu diệt 4 tên, đồng chí xông lên thu 1 trọng liên và 1 máy thông tin. Khẩu đội tiếp tục chi viện cho đơn vị đánh tan cuộc hành quân của địch.

   Trận Đá Giàng (tháng 1 năm 1966), được lệnh đi phục kích, Nguyễn Văn Quang cùng đồng đội khẩn trương chuẩn bị và hăng hái hành quân suốt hai ngày đêm liền tới vị trí tập kết. Được lệnh nổ súng, đổng chí nhanh chóng vận động lên trước, đặt súng bắn diệt một số tên địch và chỉ huy đồng đội xông lên lấy được 2 khẩu trung liên. Bọn bộ binh địch cụm lại ngoan cố chống cự, làm cho đội hình đơn vị ùn lại, Nguyễn Văn Quang ôm nòng súng xông lên trước, nhưng đồng chí vác chân đại liên chưa lên kịp, Nguyễn Văn Quang đã kê nòng đại liên vào cây bắn diệt 15 tên, kịp thời chi viện cho đồng đội tiến lên diệt địch và thu được 3 trung liên. Trận chiến đấu vẫn tiếp diễn, khẩu đại liên bắn nhiều bị đỏ nòng, Nguyễn Văn Quang liên tiếp sử dụng 3 khẩu trung liên lấy được của địch tiếp tục chiến đấu, góp phần cùng đơn vị hoàn thành thắng lợi trận đánh.

   Trận đánh chống càn tại Sông Cầu (tháng 5 năm 1966), bọn địch bắn pháo dữ dội vào khu vực, sau đó cho máy bay lên thẳng đổ 2 tiểu đoàn quân Mỹ xuống đi càn quét. Tuy khẩu đội đại liên còn bố trí ở xa, nhưng khi được lệnh, đồng chí cùng đồng đội lập tức rời công sự, vận động trên địa hình trống dưới làn đạn của địch. Bọn địch phát hiện ta trước, ồ ạt xông tới, Nguyễn Văn Quang bình tĩnh đặt súng bắn quyết liệt quét diệt nhiều tên địch, bọn còn lại tháo chạy về phía sau. Trận chiến đấu vẫn diễn ra gay go, quyết liệt, khẩu đội bị thương vong chỉ còn lại hai người, rồi sau chỉ còn lại một mình đồng chí. Bị địch đánh cả hai phía, nhưng Nguyễn Văn Quang vẫn kiên cường đánh lui 8 đợt tiến công của địch, đến khi súng hết đạn, còn dùng lựu đạn tiếp tục chiến đấu rồi tìm đường rút về đơn vị an toàn.

   Trong trận phục kích xe địch ở Cà Mum (tháng 4 năm 1967), do địa hình khó khăn, đồng chí trèo lên một cây cao chờ địch. Hai xe địch (1 xe M.41 và 1 xe "gip") dừng lại sát nhau cách đồng chí 40 mét. Bất chấp nguy hiểm phía sau 2 chiếc xe địch đang kéo tới, đồng chí bắn 1 phát B.40 diệt cả 2 xe rồi nhanh chóng tụt xuống cùng tổ rút về an toàn.

   Trong mọi mặt công tác, đồng chí luôn luôn gương mẫu đi đầu, đoàn kết, thương yêu, tận tình giúp đỡ đồng đội trong lúc thường củng như khi chiến đấu nguy nan.

   Nguyễn Văn Quang đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng ba, 3 lần Dũng sĩ diệt Mỹ cấp ưu tú, 3 lần Dũng sĩ Quyết thắng cấp ưu tú, 1 lần là Dũng sĩ diệt cơ giới, 2 năm liền (1965 -1966) là Chiến sĩ thi đua.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Nguyễn Văn Quang được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Mười Một, 2012, 04:24:00 pm
ANH HÙNG NGÔ VĂN RẠNH

(http://imageshack.us/a/img33/5493/ngovanranh.jpg)


   Ngô Văn Rạnh, sinh năm 1922, dân tộc Kinh, quê ở xã Phước Lợi, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, nhập ngũ tháng 3 năm 1956. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại đội bậc phó, trợ lý công binh thuộc đoàn 149, Cục hậu cần Miền, đảng viên Đảng Cộng sản ViệtNam.

   Ngô Văn Rạnh là một cán bộ tích cực hoạt động từ những năm đầu xây dựng lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ.

   Trong những năm đầu có rất nhiều khó khăn, gian khổ, đồng chí kiên trì, lăn lộn nhiều năm ròng rã trong rừng lao động, công tác phục vụ cách mạng. Sáu năm phụ trách một tổ công binh mở đường, bắc cầu phục vụ việc vận chuyển, đồng chí có nhiều sáng tạo, chỉ huy đồng đội hoàn thành xuất sấc nhiệm vụ, mở được 29 con đường rừng dài gần 200 ki-lô-mét, bắc 55 cầu to, nhỏ.

   Tháng 11 năm 1955, Ngô Văn Rạnh bị địch bắt vào quân đội Cao Đài và bị mất liên lạc với cơ sở của ta. Được bọn địch giao cho giữ một số vũ khí, Ngô Văn Rạnh đã đem vũ khí vào rừng cất giấu cho ta. Đồng chí còn vừa tìm cách bắt liên lạc với cơ sở cách mạng, vừa vận động anh em binh lính Cao Đài làm binh biến. Khi thời cơ đến, đồng chí cùng anh em bắt trói bọn chỉ huy địch, thu vũ khí, trở về hàng ngũ tiếp tục hoạt động.

   Năm 1956, Ngô Văn Rạnh được phân công ở lại trong rừng giữ kho súng. Suốt 5 tháng ở rừng, không có gạo, đồng chí phải tự lao động: lượm vỏ chai, làm cây gió... đổi lấy gạo ăn. Tuy vậy, đồng chí vẫn kiên trì và hoàn thành tốt nhiệm vụ.

   Năm 1960, Ngô Văn Rạnh được phân công đi làm kho chứa lúa. Tổ chỉ có 7 người, nguyên vật liệu chưa có, đồng chí động viên anh em khắc phục khó khăn, đi xa chặt tre, lấy tranh về làm được ba nhà kho chứa sáu ngàn giạ lúa, bảo đảm tránh được hao hụt, mất mát.

   Năm 1962, Ngô Văn Rạnh được phân công cùng 5 người khác đi làm cầu đường với một cái khoan, mấy con dao rựa và một cái cưa. Yêu cầu thì khẩn trương, bức thiết, mọi người đều chưa quen với công việc này, khi làm thì nước lũ lại tràn về. Ngô Văn Rạnh đã bàn bạc với anh em, động viên lẫn nhau, chung sức vượt qua khó khăn, hoàn thành bằng xong nhiệm vụ được giao. Vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, phát huy nhiều sáng kiến, chỉ trong 10 ngày đêm, tổ của đồng chí đã hoàn thành bắc xong cầu dài 43 mét.

   Khi chuẩn bị cho chiến dịch Đường số 13, Ngô Văn Rạnh được giao phụ trách một bộ phận đi làm đường. Công việc nặng nhọc, phức tạp, ăn uống thiếu thốn, nhưng đồng chí không hề nản lòng. Trong khi mở đường, đồng chí thường tìm cách mở những đoạn đường gần nhất, hoặc tránh những chỗ trống để bảo đảm bí mật, mặc dù làm như vậy bản thân và đội công binh sẽ phải chịu những khó khăn tăng lên gấp bội. Ngô Văn Rạnh luôn luôn đặt yêu cầu làm đường phải bảo đảm vận chuyển hàng hóa và thương binh đi được dễ dàng, nhanh chóng và an toàn. Qua một thời gian, đồng chí đã cùng đồng đội mở được những con đường rừng dài gần 200 ki-lô-mét, phục vụ kịp thời yêu cầu chiến đấu.

   Ngô Văn Rạnh luôn luôn nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, gương mẫu trong mọi mặt công tác, đồng chí còn chăm lo cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho đơn vị, thương yêu, tận tình giúp đỡ anh em, sống khiêm tốn, giản dị, được đồng đội tin yêu, mến phục.

   Ngô Văn Rạnh đã được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 5 bằng khen và giấy khen, 5 năm liền là Chiến sĩ thi đua.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Ngô Văn Rạnh được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG NGUYỄN VĂN TĂNG

(http://imageshack.us/a/img211/5725/nguyenvantang.jpg)


   Nguyễn Văn Tăng, sinh năm 1932, dân tộc Kinh, quê ở xã Tăng Nhơn Phú, huyện Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh, nhập ngũ tháng 6 năm 1947. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là tiểu đoàn phó biệt động Sài Gòn -Gia Định, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Mang nặng mối thù với bọn đế quốc xâm lược tàn sát đồng bào, giết hại cha, chị gái và anh rể, năm 15 tuổi Nguyễn Văn Tăng tình nguyện vào bộ đội, làm liên lạc, tình báo, rồi về đội biệt động công tác nội thành, sau chuyển sang bộ đội đặc công.

   Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Văn Tăng chiến đấu 46 trận, giết chết 50 tôn địch, bắt sống 18 tên, thu 9 súng. Tập kết ra miền Bắc, đồng chí qua nhiều công tác: tiểu đội trưởng nuôi quân, tiếp phẩm, quản lý, lao động sản xuất ở nông trường... Tháng 9 năm 1963, trở về miền Nam chiến đấu, Nguyễn Văn Tăng luôn luôn nêu cao tinh thần kiên quyết tiến công, xung phong gương mẫu, khắc phục mọi khó khăn, chiến đấu rất dũng cảm, táo bạo ngay tại trung tâm sào huyệt địch ở nội thành Sài Gòn, tiêu diệt nhiều sinh lực quan trọng và những cơ sở trọng yếu của địch, lập công xuất sắc, gây cho bọn Mỹ - ngụy nhiều thiệt hại nặng nề.

   Ngày 26 tháng 12 năm 1965, Nguyễn Văn Tăng là chỉ huy phó trận tập kích vào khu vực liên trường thiết giáp và sĩ quan ngụy ở Thủ Đức. Khi trận đánh gặp khó khăn, đồng chí trực tiếp dẫn một bộ phận nhanh chóng thọc sâu, dùng tiểu liên, lựa đạn diệt bọn địch ngoan cố chia cắt đội hình của ta, đồng chí lập tức chỉ thị cho đơn vị dùng B.40 diệt cơ giới địch, bản thân cũng dùng thủ pháo diệt tại chỗ 1 xe M.118. Khi được lệnh rút ra, Nguyễn Văn Tăng đã tìm mọi cách tổ chức cho đơn vị vượt sông, đưa thương binh về căn cứ an toàn. Kết quả trận này, ta tiêu diệt hơn 300 địch, phần lớn là bọn chuyên viên kỹ thuật, phá hủy 4 xe M.113 và M.118.

   Được giao nhiệm vụ nghiên cứu và trực tiếp chỉ huy trận đánh cư xá Mỹ Vích-tô-ri-a ở Sài Gòn, Nguyễn Văn Tăng động viên anh em khẩn trương chuẩn bị rất công phu, tỉ mỉ, với phương án tác chiến tốt nhất. Ngày 1 tháng 4 năm 1966, vừa tới mục tiêu, đồng chí nổ súng diệt ngay 2 tên gác, cùng lúc chiếc xe chở thuốc nổ xộc thẳng qua cổng vào trong sân. Khi 1 chiếc xe "gip" chở bọn lính Mỹ ập tới chận đường, Nguyễn Văn Tăng dùng tiểu liên diệt gọn những tên ở trên xe, yểm hộ cho anh em rút ra ngoài. Dọc đường rút quân qua các ngã tư, bị bọn cảnh sát ngụy tung lực lượng ngăn chặn, mặc dù bị thương ở tay, đồng chí vẫn bình tĩnh chỉ huy anh em dùng lựu đạn, súng ngắn tiêu diệt địch, nhanh chóng trở về hậu cứ an toàn. Trận tiến công chớp nhoáng và táo bạo này đánh sập 5 tầng nhà cư xá Vich-tô-ri-a, diệt hơn 280 tên giặc Mỹ lái máy bay và chuyên viên kỹ thuật không quân.

   Để chuẩn bị trận pháo kích lễ đài của bọn chóp bu ngụy quyền Sài Gòn bày trò duyệt binh phô trương lực lượng vào ngày 1 tháng 11 năm 1966, đồng chí nghiên cứu kỹ đường vào, đường rút, vị trí đặt pháo và trực tiếp chỉ huy trận đánh. Nguyễn Văn Tăng động viên anh em bình tĩnh làm tốt công tác ngụy trang và giữ vững quyết tâm chiến đấu, mặc cho máy bay lên thẳng của địch nhiều lần quần đảo, rà sát trận địa. Đồng chí hạ lệnh nổ súng đúng thời cơ, bắn trúng mục tiêu, khiến kẻ địch vô cùng hoảng loạn.

   Nguyễn Văn Tăng đã nhiều lần cải trang đi lại hoạt động ngay giữa Sài Gòn; có lần bị bọn cảnh sát ngụy kèm riết rồi xô vào bắt, đồng chí bình tĩnh, dũng cảm đánh địch giữa đường phố và thoát vây. Đồng chí còn tích cực huấn luyện, xây dựng các đội hoạt động vũ trang trong lòng địch, chỉ đạo đánh nhiều trận, diệt hàng trăm tên Mỹ.

   Nguyễn Văn Tăng là một cán bộ chỉ huy xuất sắc, tiêu biểu cho tấm gương chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, mưu trí, sáng tạo, có trách nhiệm xây dựng đơn vị, hết lòng thương yêu, giúp đỡ đồng đội, được anh em tin cậy, mến phục.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì và 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 11 bằng khen và giấy khen.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Nguyễn Văn Tăng được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Mười Một, 2012, 04:26:34 pm
ANH HÙNG NGÔ LÊ TÂN

(http://imageshack.us/a/img716/5434/ngoletan.jpg)


   Ngô Lê Tân (tức Hầu Sĩ Đô), sinh năm 1933, dân tộc Kinh, quê ở xã Cát Khánh, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, nhập ngũ tháng 9 năm 1950. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trưởng xưởng thông tin Quân khu 5, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Ngô Lê Tân luôn luôn nêu cao tinh thần lạc quan cách mạng, tận tụy, say mê với nhiệm vụ, giàu óc sáng tạo, mạnh bạo đi sâu vào chuyên môn kỹ thuật, chịu khó tìm tòi, nghiên cứu, góp phần bảo đảm công tác thóng tin liên lạc phục vụ cho lãnh đạo, chỉ huy trên một chiến trường vô cùng gian khổ, ác liệt trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn.

   Trong kháng chiến chống Pháp, Ngô Lê Tân công tác tại xưởng thông tin Khu 5, sửa chữa máy vô tuyến điện phục vụ cho Bộ Tư lệnh, Khu ủy và các đơn vị chiến đấu.

   Sau năm 1955, đồng chí ở lại hoạt động bí mật, trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, thiếu thốn, một mình phụ trách việc sửa chửa máy vô tuyến điện cho cả 7 tỉnh miền Trung Trung Bộ, Ngô Lê Tân đã thể hiện quyết tâm cao, tự lực khắc phục khó khăn, tranh thủ mọi thời gian làm việc hết sức mình, hoàn thành xuất sác nhiệm vụ.

   Tuy trình độ chuyên môn có hạn, nhưng với ý nghĩ làm sao có đủ máy móc, trang bị thông tin liên lạc thích hợp với điều kiện của chiến trường để anh em làm việc đỡ vất vả, tiết kiệm được khí tài, vật liệu, Ngô Lê Tân vừa công tác, vừa tìm tòi, nghiên cứu, học tập, phát huy sáng kiến, sửa chữa, lắp ráp những bộ phận máy móc thông tin phức tạp, phù hợp với điều kiện chiến trường; góp phần phục vụ chiến đấu thắng lợi.

   Năm 1960, bằng những vật liệu thu nhặt được, dùng cả vỏ thùng pin làm khung máy, ống nứa và lọ thủy tinh thay cho ống sứ để quấn dây..., đồng chí tự làm ra chiếc máy phát sóng vô tuyến điện đầu tiên lấy tên "Giải phóng".

   Năm 1962, Ngô Lê Tân tìm ra phương pháp điều chỉnh sóng máy bộ đàm PRC.10 (Mỹ) nhanh và chính xác, giúp các đơn vị chiến đấu sử dụng tốt trang bị thu được của địch.

   Ngô Lê Tân còn có nhiều sáng kiến trong việc tận dụng nguồn pin vốn rất thiếu thốn, sửa chữa và cải tiến các máy phát điện, phát sóng, làm động cơ thủy điện, ống đo bức xạ ăng-ten, bộ phận tăng âm trong máy điện thoại...

   Ngô Lê Tân rất chịu khó học hỏi và nhiệt tình phổ biến kinh nghiệm của mình cho anh em, động viên mọi người tiết kiệm từng cái ốc vít, từng mẩu dây điện, thường xuyên nhường thuận lợi cho bạn, nhận khó khăn về mình, luôn luôn suy nghĩ bảo đảm yêu cầu cao nhất trong công tác thông tin liên lạc, phục vụ chiến đấu thắng lợi.

   Ngô Lê Tân rất mực thương yêu và tận tình giúp đỡ đồng chí, đồng bào trong mọi việc, gắn bó với chiến trường, chấp hành tốt chính sách dân tộc, chính sách thương binh tử sĩ, chú ý làm công tác xây dựng cơ sở, nêu tấm gương sáng về lòng kiên trì rèn luyện, dám nghĩ dám làm, dũng cảm vượt mọi khó khăn phục vụ cho lãnh đạo, chỉ đạo, nhất là trong thời gian đầu của cuộc kháng chiến có nhiều khó khăn, gian khổ, ác liệt.

   Ngô Lê Tân đã được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng ba, nhiều bằng khen và giấy khen, 4 năm là Chiến sĩ thi đua.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Ngô Lê Tân được ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG LÊ THỊ THANH

(http://imageshack.us/a/img201/5151/lethithanh.jpg)


   Lê Thị Thanh (tức Nguyễn Thị Lan), sinh năm 1932, dân tộc Kinh, quê ở xã Điện Hòa, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam - Đà Nâng. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là xã đội phó xã Điện Hòa, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Lê Thị Thanh là một cán bộ cơ sở xuất sắc toàn diện, liên tục, bền bỉ hoạt động và chiến đấu trong vùng địch tạm chiếm, qua hai cuộc kháng chiến, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, hết lòng phục vụ nhân dân.

   Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, đồng chí tham gia du kích, đi bao vây, bắn tỉa nhiều trận địa và phối hợp với bộ đội tiêu diệt hai đồn địch.

   Từ năm 1955 đến 1961, trong hoàn cảnh bị địch kìm kẹp gắt gao, cả gia đình nhà chồng đều bị địch bắt vì hoạt động cách mạng, Lê Thị Thanh vẫn tìm mọi cách đấu tranh hợp pháp chống lại âm mưu tố cộng, diệt cộng, dồn dân, lập ấp chiến lược của kẻ thù.

   Đầu năm 1962, gia đình Lê Thị Thanh là một trong những cơ sở bí mật đầu tiên của xã. Chồng đồng chí đi thoát ly rồi đưa cán bộ về hoạt động tại địa phương. Mặc dù địch luôn luôn lùng sục, đồng chí vẫn vừa nuôi dưỡng, bảo vệ cán bộ tại nhà mình, vừa làm liên lạc dẫn đường và theo dõi tình hình địch. Lê Thị Thanh còn vận động, tổ chức cả cha và anh ruột mình làm cơ sở bí mật, phục vụ cán bộ hoạt động. Đồng chí hai lần dẫn đội công tác về đốt cơ quan hội đồng xã và nhà tập trung của địch; có lần lợi dụng sơ hở của chúng, đồng chí đem cờ và truyền đơn của Mật trận dán ngay ở cơ quan hội đồng xã giữa ban ngày, khiến đồng bào thêm tin tưởng, kẻ địch rất hoang mang.

   Tháng 12 năm 1962, chồng Lê Thị Thanh hy sinh vì địch phục kích, sau đó cơ sở bị địch khủng bố gắt gao, đội công tác phải tạm thời rút ra ngoài. Biến đau thương thành sức mạnh, đồng chí vận động 3 người em chồng tham gia công tác cách mạng và đi bộ đội, bản thân tiếp tục xây dựng cơ sơ bí mật, tạo điều kiện cho đội công tác trở về lãnh đạo nhân dân phá ấp chiến lược.

   Tháng 2 năm 1964, địch đưa quân chủ lực về đóng tại xã làm chỗ dựa cho bọn tề, ác ôn, dân vệ khủng bố, đàn áp nhân dân. Lê Thị Thanh vẫn tìm mọi cách nuôi dưỡng, bảo vệ cán bộ, đồng thời lập đội nữ du kích bí mật, vừa chiến đấu bầng vũ khí thô sơ, tự tạo, vừa làm công tác binh vận, làm cho hai trung đội ngụy đấu tranh với bọn chí huy đòi về nhà làm ăn, một trung đội khác hoang mang bỏ đồn rút chạy, hệ thống ngụy quyền tan rã, toàn xã được giải phóng.

   Khi địch cho xe M.113, M.118 càn vào xã, phá hoại hoa màu, Lê Thị Thanh vận động đồng bào ra đấu tranh, vừa dùng lý lẽ, vừa cùng bà con dũng cảm nằm ra đường cản xe địch, buộc chúng phải lùi lại và bồi thường thiệt hại. Thắng lợi này có tác dụng mở đầu cho những trận đấu tranh cản xe địch trong toàn tỉnh.

   Tám năm bền bỉ làm cơ sở bí mật và 3 năm cùng đội du kích chiến đấu, Lê Thị Thanh đã tham gia và chỉ huy thắng lợi hơn 200 cuộc đấu tranh chính trị tại xóm, quận và đồn, bốt địch; trực tiếp chiến đấu 37 trận, diệt 69 tên địch (có 54 tên Mỹ), góp phần tích cực xây dựng xã thành đơn vị cơ sở xuất sâc nhất toàn khu.

   Lê Thị Thanh vừa là một du kích dũng cảm mưu trí, một cán bộ cơ sở đấu tranh chính trị xuất sắc, vừa là một phụ nữ sản xuất giỏi. Một mình đồng chí nuôi hai con, bảo đảm sản xuất tốt, ngoài việc nhà, đồng chí còn cày, bừa, giúp các gia đình neo đơn khác, vận động phong trào phụ nữ đảm đang việc đồng áng thay thế cho nam giới đi thoát ly hoạt động, được cấp trên tin cậy, bà con rất tín nhiệm, thương yêu.

   Đồng chí đã đượe tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất và 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 2 lần đạt danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ cấp ưu tú, 3 năm liền (1963 - 1965) là Chiến sĩ thi đua của xã, năm 1966 là Chiến sĩ thi đua công - nông - binh của tỉnh và được Đại hội phụ nữ tỉnh bầu là chiến sĩ "Bốn đảm đang" khá nhất toàn tỉnh.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Lê Thị Thanh được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Mười Một, 2012, 04:29:52 pm
ANH HÙNG NGUYỄN VĂN THỂ

(http://imageshack.us/a/img20/3012/nguyenvanthe.jpg)


   Nguyễn Văn Thể, sinh năm 1947, dân tộc Kinh, quê ở xã Mỹ Thạnh Đông, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, nhập ngũ tháng 4 năm 1965. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là tiểu đội trưởng thuộc đại đội 1, tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh Long An, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Nguyễn Văn Thể là một chiến sĩ liên lạc dũng cảm, mưu trí, một chiến sĩ xung kích xông xáo, linh hoạt, mặc dù nhiều lần bị thương, vẫn hăng hái xung phong đảm nhận những nhiệm vụ khó khăn, trận nào cũng tiêu diệt nhiều địch. Trong 2 năm 1965, 1966, đồng chí đánh 26 trận, góp phần xứng đáng cụng đơn vị tiêu diệt 1 tiểu đoàn, 13 đại đội, 12 trung đội địch. Riêng Nguyễn Văn Thể diệt 34 tên giặc (có 3 tên Mỹ), bắt sống 12 tên, thu 19 khẩu súng các loại.

   Ngày 27 tháng 5 năm 1965, đánh trận Thanh Hà (Bến Lức), Nguyễn Văn Thể bị thương vỡ xương mắt cá, đứt cả gân gót chân, không đi được, nhưng để đồng đội tâp trung diệt địch, đồng chí cố sức tự bò về phía sau. Ở bệnh xá, đồng chí kiên trì luyện tập để trở về đơn vị chiến đấu.

   Đêm 26 tháng 10 năm 1965, sau mấy ngày đêm liền hành quân, tuy chân bị đau lại, nhưng khi đơn vị đánh vào Đức Lập, Nguyễn Văn Thể kiên quyết xin được tham gia. Đồng chí chuyển đạt mệnh lệnh rất nhanh chóng, chính xác ngay giữa lúc trận đánh đang gay go, ác liệt. Khi cần đến chiến sĩ xung kích, Nguyễn Văn Thể 3 lần xông lên, 3 lần bị thương, vẫn tiếp tục chiến đấu. Hết đạn, hết thủ pháo, đồng chí tự đi tìm thêm vũ khí, cùng đồng đội đánh chiếm sở chỉ huy của địch, tạo điều kiện cho đơn vị diệt gọn 1 tiểu đoàn giặc. Sau trận đánh, trong lúc máy bay địch đang bắn phá dữ dội, bản thân đã bị thương, Nguyễn Văn Thể vẫn tìm mọi cách đưa được hai thương binh về nơi an toàn.

   Trong trận đánh đồn Rạch Chanh, khi đơn vị chưa qua được cửa mở, đồng chí dũng cảm lao tới chiếm vị trí đầu cầu diệt địch ở trong hầm ngầm, tạo điều kiện cho xung kích chiếm đồn, diệt gọn 1 đại đội địch.

   Trong trận tiến công chi khu Đức Huệ, ngay phút đầu, Nguyễn Văn Thể dẫn một tổ xung kích lên đánh ụ súng cối. Phát hiện ổ đề kháng của địch, đồng chí dùng thủ pháo đánh chiếm được lô cốt. Biết trong hầm ngầm còn tên quận trưởng chỉ huy bọn lính đang ngoan cố chống lại, đồng chí áp sát, dùng thủ pháo diệt gọn. Trong trận này, Nguyễn Văn Thể bị thương vào cổ nhưng vẫn cố gắng tự mình trở về căn cứ.

   Tháng 10 năm 1966, đánh đồn Hưng Long, địch ngoan cố chống cự, làm cho xung kích chưa lên được. Nguyễn Văn Thể bò sát bờ thành, đánh từ công sự 1 đến công sự 4, gọi những tên địch còn lại ra hàng. Sau khi giao tù binh cho anh em, thấy mũi tiến công của trung đội bạn gặp khó khăn, đồng chí lập tức quay sang chi viện, diệt ổ đại liên của địch, góp phần cùng đơn vị kết thúc thắng lợi trận đánh trong vòng 15 phút, diệt gọn 1 đại đội.

   Nguyễn Văn Thể luôn luôn nêu cao tinh thần tiến công địch, ngoan cường, quả cảm chiến đấu, gương mẫu trong sinh hoạt, học tập và công tác, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ cấp trên giao cho, khiêm tốn, giản dị, được đồng đội yêu mến.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Nguyễn Văn Thể được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG NGUYỄN CÔNG TÒNG


   Nguyễn Công Tòng, sinh năm 1935, dân tộc Kinh, quê ở xã Tam Nghĩa, huyện Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, nhập ngũ tháng 1 năm 1953. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đại đội trưởng thuộc tiểu đoàn 93, trung đoàn 2, sư đoàn 3, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Căm thù bọn đế quốc xâm lược tàn sát đồng bào, tha thiết với độc lập, tự do của Tổ quốc, Nguyễn Công Tòng nêu tấm gương sáng về nhiệt tình cách mạng, tận tâm, tận lực chấp hành bất cứ nhiệm vụ gì cấp trên giao cho. Trong kháng chiến chống Pháp, đồng chí tham gia chiến đấu 5 trận, khi tập kết ra miền Bắc, rất chịu khó rèn luyện, học tập và tham gia lao động sản xuất.

   Tháng 1 năm 1961, Nguyễn Công Tòng trở về miền Nam chiến đấu. Là chiến sĩ bắn súng cối, chiến sĩ nuôi quân hay chỉ huy đơn vị tác chiến, trong hoàn cảnh nào, ở cương vị nào, đồng chí cũng đều hoàn thành tốt nhiệm vụ.

   Từ năm 1961 đến năm 1966, Nguyễn Công Tòng chiến đấu 31 trận, góp phần cùng đơn vị tiêu diệt nhiều đại đội, tiểu đoàn Mỹ, rgụy. Riêng đồng chí diệt 12 tên địch, bắt sống 1 tên (không kể số giặc bị diệt trong các hầm ngầm), thu và phá hủy nhiều vũ khí. Trận nào Nguyễn Công Tòng cũng chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, nêu cao ý chí kiên quyết tiến công tiêu diệt địch, nhiều lần đã chỉ huy phân đội lập công xuất sắc.

   Trong trận Thuần Mẫn tháng 6 năm 1965, khi trung đội trưởng bị thương, Nguyễn Công Tòng là trung đội phó lên thay, tiếp tục chỉ huy anh em đánh thẳng vào sở chỉ huy chiến đoàn dù ngụy. Trong lúc máy bay địch bần phá dữ dội, đồng chí động viên anh em kiên quyết chiến đấu, đồng thời tổ chức đưa thương binh về phía sau an toàn. Thấy phân đội bạn gặp khó khăn, Nguyễn Công Tòng chủ động dẫn anh em đánh sang chi viện, bẻ gãy 3 đợt phản kích của địch, quét sạch chúng trong các hào giao thông và đánh vào trận địa pháo. Từ 7 giờ sáng đến 5   giờ chiều, trung đội của Nguyễn Công Tòng đã diệt gọn ban chỉ huy chiến đoàn dù ngụy, 1 trung đội thông tin, phá hủy 7 xe "gíp" và xe GMC, bắn rơi 1 máy bay L.19, cùng phân đội bạn diệt gọn 1 đại đội pháo gồm 5 khẩu đội 105 mi-li-mét.

   Trận tập kích Gò Riêng tháng 11 năm 1965, mặc dù địch đóng trên đỉnh đồi cao, có chỗ dốc đứng phải chồng người mới lên được, Nguyễn Công Tòng đi trước quan sát địa hình rồi quay xuống dẫn đầu đơn vị bí mật tập kích vào chỗ địch tập trung, thực hiện khẩu hiệu "sờ được đầu địch mới nổ súng". Chỉ sau 15 phút chiến đấu, ta hoàn toàn làm chủ trận địa, diệt gọn 1 đại đội biệt kích địch. Riêng đơn vị đồng chí diệt được 43 tên, bắt sống 7 tên, thu nhiều vũ khí và đồ dùng quân sự.

   Trong trận Đông Cháy tháng 5 năm 1966, Nguyễn Công Tòng đi trinh sát bám địch, chuẩn bị chiến trường từ 4 ngày trước, đồng chí mưu trí chọn đường xuất kích theo hướng bất ngờ chỗ dốc đứng lên đỉnh đồi và bí mật nhổ chông dọn trước đường tiến quân. Khi ta nổ súng, địch chạy dồn về hướng chúng ít phòng bị nhất, cũng vừa lúc Nguyễn Công Tòng dẫn đầu đơn vị từ hướng dốc đứng đánh mạnh lên, tiêu diệt gọn. Thừa thắng, quân ta đánh thẳng vào bên trong, diệt bọn còn lại trong các công sự, hoàn toàn làm chủ trận địa. Cuối trận đánh, máy bay và pháo địch điên cuồng bắn phá, Nguyễn Công Tòng như con thoi lao đi giữa trận địa, chỉ huy đơn vị bắn máy bay địch và tổ chức vận chuyển thương binh, thu chiến lợi phẩm. Trận này, đại đội của Nguyễn Công Tòng góp phần quan trọng cùng đơn vị bạn diệt gọn 1 đại đội Mỹ và 1 trung đội súng cối.

   Nguyễn Công Tòng là một cán bộ quân sự rất quan tâm đến việc giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng đơn vị, chăm lo cải thiện đời sống cho anh em, nêu gương chấp hành tốt chính sách thương binh, liệt sĩ và chính sách chiến lợi phẩm, hết lòng giúp đỡ, bảo vệ nhân dân, được đồng đội rất tin yêu, mến phục.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất và 10 bằng khen, giấy khen.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Nguyễn Công Tòng được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Mười Một, 2012, 04:32:22 pm
ANH HÙNG NGÔ THANH TRANG

(http://imageshack.us/a/img37/3034/ngothanhtrang.jpg)


   Ngô Thanh Trang, sinh năm 1943, dân tộc Kinh, quê ở xã Bình Đông, huyện Bình Sơn, tinh Quảng Ngãi, vào du kích tháng 10 năm 1961. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung đội trưởng du kích, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Được giác ngộ cách mạng Ngô Thanh Trang tham gia hoạt động cơ sở bí mật từ cuối năm 1961, tích cực giúp đỡ bộ đội diệt bọn ác ôn, và góp sức vào việc giải phóng xã nhà cùng 2 xã bạn (tháng 9 năm 1964),

   Vào du kích từ tháng 10 năm 1964 đến tháng 12 năm 1966, đồng chí đánh 115 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 512 tên giặc (có 480 lính Mỹ, 22 lính Nam Triều Tiên), diệt 7 xe quân sự, 2 xe bọc thép, 4 ca nô và thuyền chiến đấu, bắn rơi 1 máy bay. Riêng đồng chí diệt 93 tên Mỹ, 8 tên ngụy, 1 xe GMC.

   Ngày 18 tháng 8 năm 1965, hai cánh quân Mỹ từ căn cứ Chu Lai và từ ngoài biển mở cuộc càn lớn qua Bình Sơn để phối hợp với bọn đổ bộ ở Vạn Tường. Pháo binh, máy bay của chúng bắn phá dữ dội vào xã. Tuy ốm đã 2 ngày, Ngô Thanh Trang kiên quyết xin đi chiến đấu, cùng đồng chí xã đội phó bí mật phục kích sát biển, bình tĩnh chờ địch tới gần mới nổ súng. Bị đánh bất ngờ, bọn địch hoang mang, đội hình rối loạn. Hai người đã liên tục bám đánh địch, diệt 17 tên, tạo điều kiện cho đơn vị bạn diệt trên 200 tên địch. Đồng chí đã lập công xuất sắc trong trận đầu đánh Mỹ.

   Từ tháng 8 năm 1965 đến tháng 6 năm 1966, Ngô Thanh Trang chỉ huy đội du kích “quyết tử” của xã, đánh nhiều trận táo bạo cả ban ngày và ban đêm, diệt 250 tên Mỹ.

   Tháng 8 năm 1966, đồng chí dẫn tiểu đội bí mật bố trí cạnh đồn địch, cách mặt đường 2 mét, lợi dụng lúc chúng sơ hở, đồng chí bất ngờ xông ra diệt 14 tên đi trên xe “gip” và xe GMC.

   Tháng 8 năm 1966, địch tăng cường càn quét., lùng sục trong xã, bắt dân đi làm đường và đưa bọn “bình định” về để o ép đồng bào. Ngô Thanh Trang đã nhiều lần chỉ huy anh em phục kích dọc đường, trên bến phà và đánh vào những nơi tập trung xe cộ của Mỹ - ngụy, diệt nhiều tên, hỗ trợ đắc lực cho bà con đấu tranh, buộc bọn ‘‘bình định” phải rút khỏi xã.

   Tháng 9 năm 1966, Ngô Thanh Trang tự mình đi điều tra cụ thể tình hình bọn lính Nam Triều Tiên vừa đến đóng quân và chỉ huy trận đánh. Khi 2 trung đội địch vừa kéo ra khỏi cổng đồn, tiểu đội đồng chí lập tức nổ súng diệt 22 tên.

   Ngày 7 tháng 12 năm 1966, phối hợp với bộ đội huyện đánh đồn Chàm, Ngô Thanh Trang cùng đồng chí xã đội phó bí mật cắt 4 lớp rào kẽm gai, và khi có lệnh, nhanh chóng dẫn đầu đội du kích xông lên diệt 2 lô cốt và 1 tiểu đội Mỹ, tạo thuận lợi tiêu diệt đồn này.

   Ngoài nhiệm vụ chiến đấu, Ngô Thanh Trang còn tích cực vận động và cùng với nhân dân đấu tranh với địch, góp phần đẩy mạnh ba mũi tiến công trong xã.

   Ngô Thanh Trang là một cán bộ chỉ huy xuất sắc, chiến đấu dũng cảm, táo bạo, thường xuyên phát động căm thù địch, khêu gợi truyền thống, hết lòng giúp đỡ, thương yêu đồng đội và nhân dân, góp phần xứng đáng xây dựng phong trào du kích chiến tranh xã Bình Đông thành ngọn cờ đầu đánh Mỹ của quân khu. Đội du kích của Ngô Thanh Trang có 34 anh em thì 31 người đạt danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ.

   Đồng chí là Chiến sĩ thi đua 2 năm liền (1965-1966), 6 lần đạt danh hiệu Dúng sĩ diệt Mỹ cấp ưu tú, được tặng thưởng 1 huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Ngô Thanh Trang được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG BÀNH VĂN TRÂN

(http://imageshack.us/a/img35/893/banhvantran.jpg)


   Bành Văn Trân (tức Năm Vững), sinh năm 1933, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Sơn Nhì, quận BìnhTân, tỉnh Gia Định, nhập ngũ năm 1965. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là chính trị viên đội 2, đại đội 10 bộ đội đặc công Khu Sài Gòn - Gia Định, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Bành Văn Trân liên tục hoạt động cách mạng từ năm 16 tuổi, trong những năm khó khăn nhất của cách mạng miền Nam (1954-1959), đồng chí vẫn kiên trì chịu đựng gian khổ, xông pha trong vùng địch kiểm soát đánh phá ác liệt, bám dân bám đất, xây dựng và phát triển cơ sơ cách mạng ở địa phương.

   Năm 1965, Bành Văn Trân chuyển sang bộ đội, phụ trách công tác chính trị ở đơn vị mới thành lập có nhiều khó khăn, phức tạp, đồng chí đã nêu cao trách nhiệm, ra sức tăng cường công tác chính trị, tư tưởng, góp phần xây dựng đơn vị tiến bộ mau chóng, trong một thời gian ngắn đã trở thành đơn vị có sức chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu khẩn trương nhận nhiệm vụ của cấp trên.

   Là một cán bộ chính trị nhưng Bành Văn Trân đã tham gia tổ chức, chỉ huy nhiều trận đánh lớn rất táo bạo ngay trong lòng địch.
 
   Trận tập kích sân bay Tân Sơn Nhất (lần đầu tiên), Bành Văn Trân được giao nhiệm vụ chuẩn bị chiến trường. Không quản ngại gian khổ nguy hiểm, đồng chí dựa vào cơ sở nhân dân ngày đêm len lỏi, cùng đồng đội điều tra, nghiên cứu nẳm chắc tình hình địch, đặt kế hoạch chu đáo, chính xác. Trong một thời gian ngắn đồng chí vừa làm tốt công tác chuẩn bị chiến trường, vừa chăm lo giáo dục quán triệt nhiệm vụ, xây dựng quyết tâm cho đơn vị, bảo đảm cho trận đánh giành thắng lợi. Khi chiến đấu, tình hình diễn biến gay go, ác liệt, đánh xong các mục tiêu, địch vây chặn tất cả các cửa dự kiến của đơn vị sẽ rút ra. Bành Văn Trân mưu trí, bình tĩnh dẫn đầu đơn vị nghi binh địch, vượt qua 11 hàng rào dây thép gai, đưa đơn vị về nơi tập kết an toàn. Trận này, đồng chí đã góp phần chỉ huy đơn vị phá hủy 100 máy bay các loại, đốt cháy 2 triệu lít xăng, diệt 300 tên địch, phần lớn là sĩ quan, giặc, lái máy bạy và nhân viên kỹ thuật.

   Tháng 2 năm 1966, đơn vị nhận nhiệm vụ tập kích sân bay Tân Sơn Nhất (lần thứ hai). Lần này, địch bố phòng rất nghiêm ngặt, nhưng do công tác điều tra chiến trường tỉ mỉ, chuẩn bị, luyện tập thuần thục và công tác tư tưởng, xây dựng quyết tâm đánh địch tốt, đơn vị vượt qua được mọi khó khăn, chiến đấu trong 2 giờ liền, giành thắng lợi lớn. Bành Văn Trân tham gia chỉ huy đơn vị phá hủy trên 200 máy bay các loại, tiêu diệt hàng trăm tên địch (có nhiều sĩ quan và nhân viên kỹ thuật Mỹ), phá hủy 17 xe quân sự, 1 nhà ga, 300 tấn bom bi.

   Bành Văn Trân luôn luôn gương mẫu đi đầu trong mọi mặt công tác, chú trọng xây dựng đơn vị trưởng thành toàn diện, thường xuyên sâu sát, chăm lo dìu dắt đồng đội, tận tình giúp đỡ thương yêu chiến sĩ, xứng đáng là tấm gương tiêu biểu về tinh thần quyết chiến quyết thắng trong đơn vị, được đồng đội tin yêu, mến phục.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Bành Văn Trân được Ủy han trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Mười Một, 2012, 04:34:19 pm
ANH HÙNG TẠ QUANG TỶ

(http://imageshack.us/a/img87/3493/taquangty.jpg)


   Tạ Quang Tỷ, sinh năm 1925, dân tộc Hoa, quê ở xã Dị Thành, huyện Long Mỹ, tỉnh Cần Thơ. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 4, trung đoàn 2, sư đoàn 9, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Tạ Quang Tỷ là cán bộ chỉ huy xuất sắc, đã cùng đơn vị chiến đấu 34 trận, có nhiều trận lớn: Tập kích, phục kích, công kiên... lập nhiều chiến công, gắn liền với quá trình trưởng thành nhanh chóng và thắng lợi vẻ vang của bộ đội chủ lực miền Đông Nam Bộ.

   Đồng chí luôn thể hiện lòng trung thành, tận tụy với cách mạng, kiên cường dũng cảm trong chiến đấu, khiêm tốn giản dị và hết lòng thương yêu chiến sĩ. Đồng chí rất xứng đáng với những danh hiệu mà anh em đã yêu mến tặng cho: “Đại đội trưởng chặn đầu”, “Đại đội trưởng khóa đuôi”, “Đại đội trưởng đột phá”, “Chưa hết thương binh, tử sĩ Tạ Quang Tỷ chưa về”.

   Tạ Quang Tỷ đã được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công giải phóng hạng nhì, nhiều Huân chương Chiến công và bằng khen, giấy khen, dũng sĩ các loại.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Tạ Quang Tỷ, được ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG THANH MINH TÁM


   Thanh Minh Tám, sinh năm 1935, dân tộc Hrê, quê ở làng Măng Za, xã Miếu, huyện Kon Plông, tỉnh Gia Lai, nhập ngũ tháng 9 năm 1953. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung đội bậc trưởng, đại đội phó đặc công khu 9 Gia Lai, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo, cha mất sớm, hàng ngày Thanh Minh Tám theo mẹ lên nương rẫy, làm lụng vất vả, mà cuộc sống của gia đình vẫn thiếu đói. Khi cách mạng về làng, người dân Hrê nói chung và gia đình Tám có cơm ăn, áo mặc; nhân dân trong làng có cái nương cái rẫy làm ăn. Mới 15 tuổi, Tám đi theo cách mạng, làm liên lạc cho huyện đội Kon Plông. Trong 3 năm làm liên lạc, Tám không quản ngại vất vả khó khăn, liên tục chuyển công văn chỉ thị của huyện đội đến nơi an toàn để kịp thời chỉ đạo phong trào du kích chiến tranh giành thắng lợi.

   Đến tháng 9 năm 1953, Thanh Minh Tám chính thức gia nhập bộ đội của huyện. Năm 1954, đồng chí tập kết ra Bắc, được trên cho đi học lớp đặc công. Đến tháng 8 năm 1960 Thanh Minh Tám trở lại miền Nam công tác chiến đấu, được bổ sung về đại đội đặc công khu 9 Gia Lai làm tiểu đội phó.

   Từ năm 1960 đến năm 1966, Thanh Minh Tám liên tục chiến đấu ở chiến trường Gia Lai, trưởng thành từ tiểu đội lên đại đội phó. Ở cương vị nào Thanh Minh Tám cũng luôn hoàn thành nhiệm vụ, chiến đấu mưu trí, dũng cảm, táo bạo, chỉ huy đơn vị tiêu diệt nhiều sinh lực địch, lập công xuất sắc ở sân bay Plây Cu góp phần cùng đơn vị phá hủy 42 máy bay, diệt 70 tên Mỹ.

   Chỉ tính từ 1960 đến năm 1966, Thanh Minh Tám đã đánh và chỉ huy chiến đấu 16 trận lớn, nhỏ, cùng đơn vị tiêu diệt 3 trung đội bảo an, 2 tiểu đội dân vệ, 1 đoàn bình định và 42 tên Mỹ. Đặc biệt là trận đánh vào sân bay Plây Cu, Thanh Minh Tám chỉ huy phá huy 42 máy bay diệt 70 tên Mỹ. Riêng đồng chí diệt 12 tên, thu 13 súng các loại, 3 lựu đạn, 1 thùng đạn, 3 máy thông tin PRC-10, đánh sập 1 nhà, diệt 1 đại tá Mỹ chỉ huy sân bay, phá hủy 8 máy bay.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 7 bằng và giấy khen, Dũng sĩ diệt Mỹ cấp ưu tú, Dũng sĩ diệt máy bay.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Thanh Minh Tám được Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Mười Một, 2012, 09:04:00 am
ANH HÙNG BÙI NGỌC DƯƠNG
(LIỆT SĨ)


   Bùi Ngọc Dương, sinh năm 1943, dân tộc Kinh, quê ở số 13 phố Trần Nhân Tông, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, nhập ngũ tháng 10 năm 1967. Khi hy sinh là chuẩn úy, kỹ sư trung đội phó công binh, trung đoàn 7, binh chủng Công binh, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Được giáo dục dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, sau khi tốt nghiệp đại học, Bùi Ngọc Dương hiểu rõ nhiệm vụ của thanh niên đối với Tổ quốc và quyết tâm thực hiện lời dạy của Bác Hồ: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Khi vào bộ đội, đồng chí luôn thể hiện nhiệt tình, hăng hái rèn luyện bản lĩnh, trình độ nghiệp vụ, tha thiết xin được vào chiến trường miền Nam giết giặc để giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất Tổ quốc. Trong chiến đấu, Bùi Ngọc Dương dũng cảm vượt qua mọi nguy hiểm, ác liệt, mở đường cho bộ binh và xe tăng đánh chiếm vị trí địch. Đồng chí trực tiếp diệt nhiều hỏa điểm, diệt 9 tên địch, tạo thuận lợi cho đơn vị phát triển tiến công.

   Trận Huội San (Quảng Trị) ngày 23 tháng 1 năm 1968, sau khi hoàn thành nhiệm vụ hạ độ dốc, làm bến lội để vận chuyển thương binh, Bùi Ngọc Dương lại chỉ huy trung đội lên phá bốn bãi mìn, mỗi bãi dài gần 400 mét, rộng 20 mét. Mặc dù hỏa lực từ trong vị trí địch và máy bay bắn phá rất ác liệt hòng ngăn chặn quân ta tiến, đồng chí vẫn bình tĩnh quan sát địa hình, nắm thời cơ lao lên đánh quả bộc phá đầu tiên và đi sát hướng dẫn từng chiến sĩ phá tiếp các bãi mìn.

   Sau khi mở thông đường Bùi Ngọc Dương nhanh chóng theo xe tăng tiến đánh địch ở sâu trong vị trí của chúng. Đồng chí bình tĩnh đứng trên xe quan sát và dùng súng 12,7 mi-li-mét diệt một số hỏa điểm địch, tạo thuận lợi cho xe tăng phát triển đột kích sâu. Quá trình chiến đấu bị thương gãy tay, Bùi Ngọc Dương nén đau tự băng bó và không bỏ lỡ thời cơ, tiếp tục chỉ huy đơn vị diệt địch, không rời vị trí. Lần thứ hai bị thương vào chân, tuy chỉ còn một cuộn băng, Bùi Ngọc Dương vẫn nhường cho đồng đội.

   Trận đánh kết thúc thắng lợi, trước khi được chuyển đi quân y, đồng chí còn động viên đơn vị nỗ lực hoàn thành tốt nhiệm vụ. Do vết thương quá nặng, Bùi Ngọc Dương đã hy sinh tại bệnh viện.

   Bùi Ngọc Dương là một cán bộ có tác phong gương mẫu trong mọi công tác, có tinh thần đoàn kết, thương yêu đồng đội, tự nhận phần khó khăn, nhường thuận lợi cho bạn, được anh em rất yêu mến.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1969, Bùi Ngọc Dương được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền .Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG TẠ VĂN THIỀU

(http://imageshack.us/a/img90/4850/tavanthieu.jpg)


   Tạ Văn Thiều (tức Mai Năng), sinh năm 1930, dân tộc Kinh, quê ở xã Ngũ Phúc, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng, nhập ngũ năm 1950. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại úy, đội trưởng đội 1 đặc công nước, Đoàn 126, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Trong thời gian kháng chiến chống Pháp, Tạ Văn Thiều chiến đấu trên chiến trường đồng bằng Bắc Bộ và đã lập nhiều thành tích. Đồng chí đã tham gia trận đánh sân bay Cát Bi (năm 1954). Đơn vị phá hủy 64 máy bay địch, được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba.

   Từ năm 1967, Tạ Văn Thiều được giao nhiệm vụ nghiên cứu đánh các tàu địch tại quân cảng Cửa Việt (Quảng Trị). Đây là một quân cảng lớn do địch mới cấp tốc xây dựng nhằm tiếp tế các phương tiện chiến tranh cho các lực lượng Mỹ tại chiến trường Đường số 9 - Khe Sanh. Tại cảng thường xuyên có hàng chục tàu các loại và xà lan đỗ, bốc dỡ hàng, quân sự. Do có tầm quan trọng như vậy, quân cảng Cửa Việt được địch bố trí một hệ thống canh phòng rất nghiêm ngặt với nhiều phương tiện bảo vệ hiện đại cả trên bờ lẫn dưới nước.

   Sau khi đưa đơn vị vào vị trí giấu quân an toàn, đồng chí đã nhiều lần khi công khai, khi bí mật trực tiếp ra vào thị xã Đông Hà, cảng Cửa Việt để nắm tình hình địch, nghiên cứu các phương án chiến đấu. Để lọt qua các hệ thống bố phòng nhiều tầng của địch, nhiều lần đồng chí phải bơi lặn liền từ 5 đến 8 giờ dưới nước sâu, có khi lại phải vùi mình trong cát nóng để theo dõi mọi hoạt động của địch. Có lần Tạ Văn Thiều đang điều tra vị trí các loại tàu địch đỗ ở cảng thì bị bọn địch đi tuần thả lựu đạn xuống nước thăm dò. Mặc dù bị nhiều mảnh lựu đạn cắm vào đùi, tay và lưng, đồng chí vẫn bình tĩnh và dũng cảm tiếp tục làm nhiệm vụ, nhìn tận mắát, sờ tận tay từng mục tiêu, quyết tìm ra phương án đánh tốt nhất rồi mới chịu thoát ra ngoài khu vực nguy hiểm.

   Coi trọng giáo dục nhân dân và dựa vào lòng yêu nước của đồng bào, Tạ Văn Thiều tổ chức hành quân và trú quân cho đơn vị được an toàn tuyệt đối. Với ý thức trách nhiệm cao và phong cách chiến đấu mưu trí, dũng cảm, táo bạo; Tạ Văn Thiều đã trực tiếp chỉ huy đơn vị đánh chìm và đánh hỏng 30 tàu địch, diệt hàng trăm sĩ quan và nhân viên kỹ thuật của bọn xâm lược Mỹ, phá hủy hàng vạn tấn vũ khí và đồ đùng quân sự. Chiến công của cán bộ và chiến sĩ đội 1 đã góp phần vào thắng lợi vang dội của quân và dân ta trên chiến trường Đường số 9 - Khe Sanh

   Vì những thành tích chiến đấu đó, đội 1 đặc công đã được tuyên dương Đơn vị ạnh hùng.

   Tạ Văn Thiều không những chỉ huy đơn vị chiến đấu giỏi mà còn chú trọng xây dựng đơn vị tiến bộ về mọi mặt, hết lòng thương yêu chiến sĩ, dìu dắt anh em nhanh chóng trưởng thành. Trong sinh hoạt, đồng chí là một cán bộ có đạo đức tốt, khiêm tốn, giản dị, trong chiến đấu đồng chí luôn luôn gương mẫu nhận phần khó khăn nguy hiểm về mình, nhường thuận lợi cho đồng đội, được mọi người mến phục, tin yêu.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1969, Tạ Văn Thiều được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Mười Một, 2012, 09:06:23 am
ANH HÙNG NGUYỄN VĂN TÌNH

(http://imageshack.us/a/img42/1685/nguyenvantinh.jpg)


   Nguyễn Văn Tình, sinh năm 1945, dân tộc Kinh, quê ở xã Giao Yến, huyện Xuân Thủy, tỉnh Nam Hà, nhập ngũ năm 1963. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là thiếu úy, phân đội trưởng đặc công đội 1, Đoàn 126, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ khi nhập ngũ, Nguyễn Văn Tình luôn luôn tích cực công tác và huấn luyện, sẵn sàng đi bất kỳ chiến trường nào để góp phần đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Do đó, đồng chí khắc phục nhiều khó khăn, say mê luyện tập kỹ thuật chiến đấu của đặc công, luôn luôn suy nghĩ tìm tòi rèn luyện bản lĩnh, nâng cao hiệu suất chiến đấu, tiêu diệt được nhiều địch.

   Từ năm 1967 đến năm 1969, Nguyễn Văn Tình làm nhiệrn vụ đánh tàu địch ở Cửa Việt, một căn cứ hậu cần quan trọng của Mỹ - ngụy, nơi chúng tích trữ lực lượng, vũ khí, đạn dược, lương thực để càn quét đánh phá khu Trị - Thiên. Đồng chí nêu cao quyết tâm, chiến đấu mưu trí, táo bạo, nhiều lần vào ra bến cảng, nghiên cứu tình hình. Trên cơ sở đó, lập kế hoạch tác chiến chính xác, Nguyễn Văn Tình đã đánh nhiều trận vang đội, phá hủy hàng ngàn tấn vũ khí, xăng dầu, gây cho địch nhiều thiệt hại về phương tiện chiến tranh và sinh lực.

   Cuối năm 1967, mặc dù thời tiết rét buốt, địch bố phòng rất nghiêm ngặt, Nguyễn Văn Tình nhiều lần bơi lội dưới nước lạnh giá để nghiên cứu tình hình, Do điều tra công phu, tỉ mỉ, nắm chắc tình hình mọi mặt, đồng chí đề xuất phương án tác chiến chính xác. Thực hiện kế hoạch đã được cấp trên phê chuẩn, Nguyễn Văn Tình bơi lặn dưới sông sâu 8 đến 9 tiếng đồng hồ liền, vượt qua nhiều tuyến phòng thủ của địch, vào sâu trong cảng đánh chìm 1 tàu quân sự có sức chở trên 5.000 tấn.

   Tháng 6 năm 1968, sau nhiều lần bị đánh đau, địch phòng thủ cẩn mật hơn trên bộ và dưới nước, tăng cường nhiểu lực lượng chủ lực, an ninh và phòng vệ dân sự, hòng phát hiện và ngăn chặn mọi sự xâm nhập vào cảng. Nhưng với quyết tâm giành thắng lợi cao nhất, với kỹ thuật điêu luyện, với tinh thần chịu đựng dẻo dai mọi thử thách, không chủ quan, khinh địch, Nguyễn Văn Tình nhiều lần mưu trí, táo bạo đột nhập bến cảng, điều tra nghiên cứu tỉ mỉ, thận trọng nắm vững mục tiêu. Nhờ vậy khi vào đánh, đồng chí đặt bộc phá vào đúng vị trí khoang máy, đánh chìm 1 tàu vận tải cỡ lớn của địch.

   Nguyễn Văn Tình là một cán bộ gương mẫu, xung phong nhận mọi nhiệm vụ khó khăn, có tác phong giản dị, khiêm tốn, đoàn kết thương yêu đồng đội, được anh em trong đơn vị yêu mến, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện để đồng chí hoàn thành nhiệm vụ.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì và 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 3 lần Chiến sĩ Quyết thắng, 4 lần Chiến sĩ thi đua, 12 lần Dũng sĩ cấp ưu tú, 8 bằng khen.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1969, Nguyễn Văn Tình được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG NGUYỄN HỮU QUYỀN

(http://imageshack.us/a/img248/3882/nguyenhuuquyen.jpg)


   Nguyễn Hữu Quyền, sinh năm 1945, dân tộc Kinh, quê ở xã Phù Ninh, huyện Phong Châu, tỉnh Vĩnh Phú, nhập ngũ năm 1966. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là thượng sĩ, trung đội trưởng đại đội 9 tiểu đoàn 3 thuộc trung đoàn 246 Mặt trận Trị - Thiên, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Năm 1968, đơn vị của Nguyễn Hữu Quyền được giao nhiệm vụ chiến đấu tại Đường số 9 - Khe Sanh, một chiến trường gian khổ, ác liệt. Vượt qua bom đạn địch, chịu đựng mọi thiếu thốn, đồng chí đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu.

   Ngày 1 tháng 7 năm 1968, tiểu đoàn của Nguyễn Hữu Quyền được lệnh chờ đánh địch trên điểm cao 689. Mặc dù qua 3 ngày nhịn đói, chịu rét, thiếu ngủ, quân địch lại pháo kích và giội bom thường xuyên, đồng chí vẫn động viên anh em trong tiểu đội kiên trì chờ địch. Khi địch đổ quân xuống, hòa trong tiếng sung tiến công của toàn đơn vị, đồng chí chỉ huy tiểu đội đánh mãnh liệt, bản thân dùng tiểu liên và thủ pháo diệt 20 tên giặc Mỹ xâm lược, cùng tiểu đội diệt 26 tên khác. Khi địch phản kích vào trận địa của đơn vị, Nguyễn Hữu Quyền cùng tiểu đội đánh bật 4 đợt phản công, chặn địch lại, tạo thuận lợi cho tiểu đoàn đánh tiêu diệt. Trong trận này, đồng chí góp phần xứng đáng vào thành tích chung của toàn tiểu đoàn: diệt 287 tên Mỹ, đánh thiệt hại nặng 1 đại đội khác ở điểm cao 845.

   Sau đó 3 ngày, đơn vị tổ chức đánh một vị trí đóng quân của địch. Nguyễn Hữu Quyền chỉ huy tiểu đội bí mật vào sát trận địa địch, lọt qua cửa mở rồi bất ngờ nổ súng đánh địch. Sau vài phút chiến đấu, riêng đồng chí diệt 27 tên. Địch điên cuồng chống cự làm cho trận đánh trở nên quyết liệt. Đang chỉ huy tiểu đội vận động diệt hỏa điểm sâu trong đồn địch, đồng chí bị thương vào vai, sườn và bụng, nhưng vẫn bình tĩnh tổ chức đưa những anh em khác bị thương ra trước và bàn giao nhiệm vụ cho người thay thế rồi mới rút. Khi về tuyến sau, mặc dù bị nhiều vết thương, đồng chí vẫn nhường cáng cho đồng đội, tự mình đi về trạm quân y, mang theo một khẩu súng của đồng đội đã hy sinh.

   Sau một thời gian điều trị Nguyễn Hữu Quyền trở lại đơn vị và tham gia trận đánh Động Tiên (Cam Lộ, Quảng Trị), ngày 21 tháng 11 năm 1968. Trong trận này, đơn vị của Nguyễn Hữu Quyền kiên trì chờ đánh địch trên điểm cao suốt 2 ngày. Trước khi đổ quân, địch bắn pháo dồn dập xuống điểm cao. Đồng chí cùng anh em trong đơn vị bình tĩnh tránh pháo và luôn luôn bám sát mọi hoạt động của địch. Sau khi địch đổ quân, Nguyền Hữu Quyền mưu trí lừa chúng đến gần, giật mìn định hướng rồi cùng tiểu đội bắn mãnh liệt vào giữa đội hình chúng, bọn địch hoảng loạn tháo chạy, bỏ lại 36 xác đồng bọn. Nguyễn Hữu Quyền chỉ huy tiểu đội liên tục tiến công, diệt thêm nhiều địch. Sau trận đánh này, chi bộ nhất trí kết nạp đồng chí vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Qua 6 tháng chiến đấu trên mặt trận Đường số 9, tham dự 3 trận đánh lớn, đồng chí diệt 83 tên Mỹ, thu 1 súng AR.15, chỉ huy tiểu đội, trung đội diệt 348 tên (trong đó diệt gọn 1 đại đội, 1 trung đội, đánh thiệt hại nặng 1 đại đội).

   Nguyễn Hữu Quyền có tinh thần gương mẫu, xung phong trong mọi công tác xây dựng đơn vị, có ý thức khiêm tốn, đoàn kết với mọi người, được anh em trong đơn vị tin tường và yêu mến.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 3 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ cấp ưu tú.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1969, Nguyễn Hữu Quyền được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Mười Một, 2012, 09:09:37 am
ANH HÙNG TRẦN TIẾN LỰC
(LIỆT SĨ)

(http://imageshack.us/a/img87/7022/trantienluc.jpg)


   Trần Tiến Lực (tức Trần Bá Quát), sinh năm 1930, dân tộc Kinh, quê ở xã Lộc An, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế, nhập ngũ tháng 3 năm 1954. Khi hy sinh đồng chí là chính trị viên tiểu đoàn 12 đặc công, trung đoàn 6, mặt trận Trị - Thiên, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Trong kháng chiến chống Pháp, Trần Tiến Lực tham gia du kích xã, chiến đấu nhiều trận ở địa phương, lập nhiều thành tích. Từ tháng 6 năm 1960 đến tháng 5 năm 1968 đồng chí hoạt động ở chiến trường Trị - Thiên, đã góp nhiều công sức xây dựng đơn vị từ một trung đội phát triển thành tiểu đoàn liên tục đánh địch, giúp đỡ địa phương xây dựng cơ sở cách mạng, đẩy mạnh phong trào du kích chiến tranh. Trần Tiến Lực luôn luôn nêu cao tinh thần tích cực tiên công, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giaơ, chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, chỉ huy mưu trí, linh hoạt, thường xuyên đi sát mũi tiến công chủ yếu, góp phần lãnh đạo và chỉ huy đơn vị đánh thắng nhiều trận lớn.

   Trận ngày 6 tháng 4 năm 1967, đồng chí chỉ huy đơn vị phối hợp với đơn vị bạn đánh căn cứ Từ Hạ (Thừa Thiên), diệt gọn trung đoàn bộ trung đoàn 3 ngụy, loại khỏi vòng chiến đấu 5 đại đội và 6 trung đội địch, gồm hơn 800 tên, phá hủy gần 100 xe quân sự.

   Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968, Trần Tiến Lực cùng tập thể xây dựng đơn vị có quyết tâm cao, chuẩn bị tốt, khi nổ súng hiệp đồng chặt chẽ với đơn vị bạn đánh chiếm nội thành Huế, lập nhiều chiến công, góp phần xứng đáng vào thành tích chung của quân và dân Thừa Thiên - Huế. Tính chung trang cả đợt hoạt động, đơn vị đồng chí diệt 1 đại đội địch ở khu vực Đại Nội, diệt một số địch ở Mang Cá và phá hủy hơn 60 máy bay địch ở sân bay Tây Lộc.

   Trận ngày 20 tháng 5 năm 1968, chỉ huy đơn vị đánh trung đoàn thiết giáp Mỹ ở Động Toàn (Thừa Thiên), đồng chí trực tiếp phụ trách bộ phận đi nghiên cứu trận địa. Sau khi nắm tình hình mọi mặt về địch, địa hình tại thực địa, khi trở về, đồng chí cùng tập thể ban chỉ huy và các cán bộ tổ chức chiến đấu và xây dựng quyết tâm cho đơn vị. Do nắm chắc tình hình, theo sự phân công chung, khi chiến đấu, đồng chí đi với mũi chủ yếu, chỉ huy hiệp đồng chặt chẽ với các mũi khác, đột phá nhanh, tiêu diệt gọn hơn 1.000 tên Mỹ, phá hủy gần 100 xe quân sự (có 50 xe tăng và xe bọc thép). Trận đánh kết thúc thắng lợi, Trần Tiến Lực hy sinh trong khi đang làm nhiệm vụ kiểm tra trận địa, tổ chức đưa thương binh, tử sĩ về phía sau.

   Trần Tiến Lực là một cán bộ có tinh thần trách nhiệm cao, gương mẫu, nghiêm chỉnh chấp hành chính sách, kỷ luật chiến trường, có tác phong giản dị, cùng tập thể ban chỉ huy thường xuyên gần gũi, giúp đỡ cấp dưới, chăm lo xây dựng đơn vị vững mạnh mọi mặt.    

Ngày 20 tháng 12 năm 1969, Trần Tiến Lực được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG NGUYỄN THỊ LÀI

(http://imageshack.us/a/img27/3561/nguyenthilai.jpg)


   Nguyễn Thị Lài (tức Nguyễn Thị Quyển), sinh nãm 1945, dân tộc Kinh, quê ở thôn Liễu Nông, xã Mỹ Thủy, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là xã đội trưởng dân quân xã Mỹ Thủy, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Sinh ra trong một gia đình đánh cá, có ba anh em hoạt động dân quân, từ nhỏ Nguvễn Thị Lài đã sớm có lòng yêu nước, yêu dân. Đầu năm 1964, phong trào cách mạng trong xã phát triển, được cán bộ giáo dục và giác ngộ cách mạng, đồng chí tham gia dân quân, vận động gia đình đào hầm bí mật nuôi cán bộ. Tháng 7 năm 1964 có lệnh đồng khởi, toàn xã nhất tề nổi dậy đập nát bộ máy ngụy quyền, thành lập chính quyền cách mạng, đồng chí ngày đêm đi vận động chị em tham gia phá ấp chiến lược, cùng nhân dân diệt ác, trừ gian, riêng đồng chí bắt được 2 tên địch, thu 2 súng.

   Sau khi thành lập chính quyền xã, Nguyễn Thị Lài được cử làm tiểu đội trưởng dân quân. Mặc dù địch đánh phá để bình định, đồng chí cùng anh chị em dân quân và nhân dân dấy lên phong trào đánh Mỹ, diệt ngụy. Đầu năm 1966, đồng chí diệt 7 tên địch (có 3 tên Mỹ). Tháng 7 năm 1966, đồng chí cùng 2 dân quân diệt 1 tên Mỹ rồi sau đó dùng lựu đạn diệt 6 tên Mỹ khác trong tiệm ăn gần đồn Dạ Lê giữa ban ngày.

   Bị dân quân đánh liên tục cả ngày lẫn đêm, địch đưa lính chủ lực về càn quét và đưa 3 đoàn “bình định” về xã Mỹ Thủy làm trọng điểm đàn áp của chúng. Cả 3 đoàn “bình định” đều lấy trường Dạ Lê để ở. Nguyễn Thị Lài cùng 2 dân quân gái đặt mìn diệt 95 tên. Sau đó đồng chí còn vận động bà con đấu tranh bắt chúng phải bồi thường và không cho chúng ở nhờ nhà. Kế hoạch bình định của địch bị thất bại. Đồng chí còn chỉ huy tiểu đội đánh địch vận chuyển, phá hủy 3 xe GMC, diệt 20 tên (có 13 Mỹ).

   Đang hoạt động hợp pháp Nguyễn Thị Lài bị địch bắt. Mặc dù bị chúng tra tấn dã man suốt 20 ngày, chết đi sống lại nhiều lần, nhưng đồng chí vẫn không khai báo; cuối cùng chúng phải thả.

   Năm 1966, Nguyễn Thị Lài cùng một đồng chí nữa nuôi giấu 12 thương binh dưới hầm trong khi địch càn quét. Khi chuyển anh em về tuyến sau thì gặp địch đi càn, đồng chí tìm cách nghi binh, dùng lựu đạn đánh lạc hướng địch để anh em thương binh thoát ra an toàn.

   Tháng 9 năm 1967, Nguyễn Thị Lài vừa vận động bà con tẩy chay không đi bầu cử do địch tổ chức, vừa dùng lựu đạn đánh vào nơi bỏ phiếu làm cho địch chết một số, cuộc bầu cử thất bại.

   Cuối năm 1967, đồng chí được cử sang thị trấn Hương Thủy xây dựng cơ sở làm bàn đạp chuẩn bị tiến công vào Huế.

   Mùa Xuân năm 1968, khi bộ đội ta đánh vào Huế, Nguyễn Thị Lài tổ chức lực lượng diệt ác trừ gian, bao vây bức địch phải bỏ đồn Dạ Lê. Ở cơ sở của đồng chí có 455 thanh niên nam nữ vào bộ đội, nhân dân đóng góp 5.000 thùng gạo và 55 vạn đồng (tiền ngụy) cho kháng chiến. Khi địch nống ra phản kích, đồng chí bám dân, bám đất, vừa tổ chức chiến đấu, vừa vận động bà con đấu tranh, giữ vững phong trào.

   Sau khi bị lộ, phải hoạt động bất hợp pháp, Nguyễn Thị Lài vấn kiên cường bám trụ tại cơ sở, tổ chức đấu tranh, giữ vững phong trào. Các tổ dân quân đánh lẻ bọn địch khi chúng lùng sục trong xã tìm phá các ống dẫn dầu của ta. Bà con và các em thiếu nhi lấy được hơn 2.000 quả lựu đạn của địch cho dân quân chiến đấu. Có lần đồng chí khéo léo tổ chức nghi binh, quấy rối địch để chúng bắn lẫn nhau chết hàng chục tên, hoặc chỉ huy tập kích diệt 15 tên bình định ác ôn.

   Suốt 4 năm hoạt động gian khổ, ác liệt trong vùng địch tạm chiếm, Nguyễn Thị Lài luôn luôn giữ vững ý chí kiên cường, bất khuất của người cán bộ cách mạng, trung với nước, hiếu với dân, anh dũng giết giặc, lập những thành tích xuất sâc, đã diệt hơn 200 tên địch (có 19 tên Mỹ), xây dựng 7 cơ sở đoàn thể, 9   tổ nông hội, 6 tổ phụ nữ, 10 tổ thiếu nhi và 15 tổ dân quân.

   Nguyễn Thị Lài được bầu là Chiến sĩ thi đua, được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ và Dũng sĩ Quyết thâng cấp ưu tú.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1969, Nguyễn Thị Lài được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Mười Một, 2012, 09:16:18 am
ANH HÙNG NGUYỄN CHÍ PHI

(http://imageshack.us/a/img17/7175/nguyenchiphi.jpg)


   Nguyễn Chí Phi (tức Nguyễn Chí Ngọc) sinh năm 1931, dân tộc Kinh, quê ở xã Trung Giang, huyện Gio Linh tỉnh Quảng Trị, nhập ngũ tháng 2 năm 1962. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là chính trị viên tiểu đoàn 10   đặc công tỉnh Quảng Trị, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Sinh trưởng ở một địa phương có truyền thống cách mạng bất khuất, kiên cường, được cách mạng giáo dục, Nguyễn Chí Phi nhận rõ kẻ thù của dân tộc là đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai bán nước.

   Trước cảnh Mỹ - ngụy giết hại đồng bảo, tàn phá quê hương, đồng chí xung phong tòng quân chiến đấu để giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, vì vậy, từ khi nhập ngũ, Nguyễn Chi Phi luôn luôn nêu cao tinh thần tích cực tiến công, chiên đấu dũng cảm, táo bạo, chỉ huy mưu trí, linh hoạt, luôn luôn có mặt ở những mũi nhọn chủ yếu, dẫn đầu đơn vị đánh mạnh, thọc sâu diệt địch. Đồng chí đã chỉ huy đơn vị đánh hàng trăm trận trên đất Quảng Trị, trận nào cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ. Đơn vị do Nguyễn Chí Phi chỉ huy đã diệt hơn 4.000 tên địch, diệt gọn 2 chi đoàn cơ giới Mỹ, hàng chục đại đội địch, phá hủy hàng trăm xe quân sự, nhiều kho vũ khí, xăng dầu, gây cho địch nhiều thiệt hại lớn.

   Trận tiến công một vị trí địch ở Triệu Phong (Quảng Trị) cuối năm 1967, đồng chí trực tiếp chỉ huy mũi chủ yếu, đánh mãnh liệt, tiến sâu vào trong căn cứ địch. Địch điên cuồng chống cự, có hỏa lực mạnh yểm hộ, hòng đánh bật mũi thọc sâu của ta. Quá trình chiến đấu tuy 2 lần bị thương, Nguyễn Chí Phi vẫn không rời vị trí, tiếp tục chỉ huy đơn vị đánh liên tục, đánh áp đảo địch cho đến khi diệt hoàn toàn sở chỉ huy của chúng, kết thúc trận đánh thắng lợi.

   Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1968, Nguyễn Chí Phi xây dựng đơn vị có quyết tâm cao, vượt qua mọi khó khăn, đánh 19 trận vào các mục tiêu quan trọng ở trong và ở vùng ven thị xã Quảng Trị, diệt gần 1.500 tên địch (có hơn 1.300 Mỹ), phá hủy gần 100 xe quân sự, hơn 20 kho vũ khí, xăng dầu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mặt trận giao cho.

   Nguyễn Chí Phi là một cán bộ gương mẫu, luôn luôn chăm lo xây dựng đơn vị vững mạnh mọi mặt, bản thân có tác phong sâu sát, đoàn kết, khiêm tốn, nghiêm chỉnh chấp hành chính sách, kỷ luật chiến trường, được cấp trên tin cậy, đồng đội yêu mến.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1969, Nguyễn Chí Phi được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG HỒ VĂN BIỂN

(http://imageshack.us/a/img90/3410/hovanbien.jpg)


   Hồ Văn Biển (tức Nguyễn Cậy), sinh năm 1903, dân tộc Kinh, quê ở xã Điện Dương, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, tham gia dân quân từ trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là chiến sĩ dân quân xã Điện Dương, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Là một nông dân nghèo ở một địa phương có truvền thống đấu tranh cách mạng kiên cường, tuy tuổi cao, Hồ Văn Biển vẫn nêu cao tinh thần chống Mỹ, cứu nước, quyết tâm chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Hăng hái tham gia kháng chiến, đồng chí đã trực tiếp đánh địch bằng vũ khí thô sơ tự tạo, diệt 67 tên Mỹ, phá hủy 2 xe bọc thép của địch. Đặc biệt, đồng chí còn tích cực tham gia đấu tranh chính trị, binh vận, vận động mọi người cùng tham gia phong trào đấu tranh chung.

   Từ cuối năm 1965, Hồ Văn Biển hăng hái tuyên truyền, giáo dục bà con nêu cao lòng căm thù giặc Mỹ và bè lũ tay sai, vận động mọi người phá ấp chiến lược, sẵn sàng tiêu diệt địch, phá tan âm mưu của chúng càn quét, dồn dân, cướp của, bắt thanh niên đi lính. Đồng chí gương mẫu tự tay dựng hàng trăm mét rào, đào 50 mét hào giao thông và vận động bà con cùng nhau biến xóm ấp thành trận địa kiên cường chống giặc. Không có vũ khí, đồng chí tổ chức vót chông tre làm các hầm hố chông, hoặc tìm đạn pháo không nổ, lấy thuốc về làm mìn, lựu đạn để đánh địch. Trận ngày 20 tháng 2 năm 1968, địch càn vào xã có 5 tên sập hầm chông do đồng chí gài. Trận ngày 23 tháng 3 năm 1968, đồng chí mưu trí chôn 3 quả mìn chặn đúng hướng đoàn xe cơ giới địch, phá hủy 2 xe bọc thép, diệt hàng chục tên Mỹ. Công tác vận động quần chúng và gương chiến đấu của Hồ Văn Biển đã góp phần thúc đẩy phong trào nhân dân tham gia đánh địch bẳng vũ khí thô sơ.

   Tuy tuổi già, sức yếu, nhưng Hồ Văn Biển vẫn nhiều lần xung phong đi dân công, phục vụ hỏa tuyến, có đợt đi 3, 4 tháng liền, mỗi chuyến mang tới 30, 40 ki-lô-gam hàng. Đối với bộ đội khi về hoạt động trong xã, đồng chí không quản khó khăn vất vả cùng anh em dân quân tận tình giúp đỡ, phục vụ, hiệp đồng đánh địch. Có thời gian đồng chí nuôi giấu 12 thương binh trong nhà, sát đồn bốt địch mà vẫn bảo đảm chu đáo, an toàn.

   Trong phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân, Hồ Văn Biển hăng hái vận động, tuyên truyền và 16 lần dẫn đầu quần chúng trực diện đấu tranh với địch ở thị xả Hội An. Đồng chí còn chú trọng làm công tác binh vận, tham gia rải trên 4.000 truyền đơn và vận động được một số binh lính địch bỏ ngũ trở về với cách mạng.

   Gương mẫu bền bỉ trong mọi công tác kháng chiến, Hồ Văn Biển được nhân dân, cán bộ, bộ đội trong vùng thương yêu, quý trọng. Trong Đại hội liên hoan Chiến sĩ thi đua và dũng sĩ tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng năm 1968, đồng chí được tuyên dương là “Lá cờ đầu trong hàng ngũ dân quân già của tỉnh”.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, danh hiệu Dũng sĩ diệt cơ giới, Dũng sĩ diệt Mỹ cấp ưu tú.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1969, Hồ Văn Biển được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Mười Một, 2012, 09:29:47 am
ANH HÙNG LÊ VĂN CAO

(http://imageshack.us/a/img542/6822/levancao.jpg)


   Lê Văn Cao, sinh năm 1943, dân tộc Kinh, quê ở xã Phổ Cường, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, vào bộ đội tháng 12 năm 1963. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại đội trưởng đại đội 3, tiểu đoàn 1 thuộc trung đoàn 2, sư đoàn 3, Quân khu 5, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Xuất thân gia đình rất nghèo, cha mất sớm, anh em đều đi ở từ nhỏ, khi mới 6 tuổi, Lê Văn Cao phải đi ăn xin để nuôi mẹ ốm. Vào Sài Gòn bán kem đến khi 15 tuổi, Lê Văn Cao lại trở về quê đi ở. Sống nghèo khổ trong xã hội bị đế quốc và tay sai bóc lột đàn áp dã man, đồng chí sớm giác ngộ cách mạng, có lòng yêu nhân dân, vêu đất nước. Năm 16 tuổi, Lê Văn Cao nhập ngũ vào bộ đội địa phương huyện Đức Phổ.

   Sau một năm trực tiếp chiến đấu, tham gia 3 trận đánh đều hoàn thành tốt nhiệm vụ, đồng chí được cử đi học lớp đào tạo cán bộ sơ cấp. Tháng 4 năm 1967, Lê Văn Cao được điều về sư đoàn 3, chiến đấu trên mặt trận Quảng Ngãi, Bình Định. Từ đó cho đến hết năm 1968, đồng chí đã chỉ huy đơn vị đánh 8 trận (4 trận ở cương vị chỉ huy trung đội, 4 trận ở cương vị chỉ huy đại đội) đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

   Trong trận Trung Xuân (huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định) tháng 12 năm 1967, khi đánh đến hàng rào thứ nhất, bị hỏa lực địch bắn chận dữ dội, trung đội chưa tiến được, Lê Văn Cao bình tĩnh chỉ huy hỏa lực kiềm chế, dẫn đầu đơn vị đạp rào đánh thẳng vào giữa căn cứ địch, cùng đơn vị bạn tiêu diệt toàn bộ địch ở đầy. Sau đó đem vị nhận nhiệm vụ trụ lại trong cứ điểm vừa chiếm được. Mờ sáng hôm sau, địch phản kích có xe tăng, pháo và máy bay yểm hộ. Chúng oanh tạc dữ dội vào vị trí quân ta, Lê Văn Cao bị thương ở ngực, máu ra nhiều, được anh em đưa vào hầm cùng đồng chí trung đội phó cũng bị thương, Với sự yểm trợ của 10 xe tăng, bọn địch vây đánh, ném lựu đạn vào hầm. Hai anh em động viên nhau quyết tâm chiến đấu. Ba lần địch ném lựu đạn vào hầm, hai người nhanh tay nhặt ném ra ngoài. Lần thứ tư, chưa kịp ném trả thì lựu đạn nổ, đồng chí trung đội phó hy sinh, cửa hầm sập, Lê Văn Cao bị ngất. Khi tỉnh dậy thấy đã im tiếng súng, đồng chí cố gắng moi đất bò lên và tìm về đến đơn vị.

   Ngày 5 tháng 5 năm 1968, đơn vị Lê Văn Cao chặn đánh địch ở Đèo Nhông. Khi đoàn xe cơ giới được máy bay và tàu chiến yểm trợ tiến vào trận địa, đồng chí bình tĩnh chỉ huy tổ B.41 diệt 2 chiếc M.118. Nắm vững thời cơ địch đang rối loạn, đồng chí dẫn đầu đơn vị xung phong vượt qua đồng trống, tiến đến một chiếc xe M.118. Địch dùng trọng liên trên xe đánh trả. Đồng chí tổ chức hỏa lực bắn dữ dội buộc 2 tên Mỹ điều khiển trọng liên trên xe phải thụt xuống. Lê Văn Cao tranh thủ thời cơ có lợi nhất, cùng với một chiến sĩ nhảy lên thành xe. Một đường đạn từ xa bay tới, người chiến sĩ hy sinh. Lê Văn Cao lấy ngay quả thủ pháo từ tay đồng đội, giật nụ xòe, thả vào thùng xe, rồi nhảy xuống đất. Thủ pháo nổ, xe địch bốc cháy. Lê Văn Cao lại xách súng và 2 quả lựu đạn nhảy lên đánh chiếc xe thứ hai gần đó. Hai tên Mỹ vừa chạy ra khỏi xe thì bị đồng chí diệt luôn. Chiếm được chiếc xe đó, Lê Văn Cao dùng trọng liên 12,7 mi-li-mét, rồi đại liên trên xe bắn mạnh, yểm hộ đơn vị tiến công. Tin chiếm được 2 xe bọc thép truyền khắp trận địa làm đơn vị rất phấn khởi. Anh em động viên nhau “Học tập Lê Văn Cao bắt sống xe địch”. Liền sau đó, một đồng chí khác lại chiếm được 1 chiếc xe nữa. Địch cho máy bay oanh tạc ác liệt xuống trận địa. Đồng chí đứng thẳng trên xe dùng đại liên bắn trả máy bay, chi viện đắc lực cho đơn vị truy kích, giải quyết chiến trường.

   Trận này đơn vị Lê Văn Cao phá hủy và bát sống 5 xe bọc thép, diệt 10 tên Mỹ, thu 14 súng. Riêng đồng chí dùng thủ pháo đánh cháy 1 xe và chiếm 1 xe, diệt 6 tên Mỹ, được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì.

   Trận đánh nêu lên nhiều bài học tốt về đánh xe cơ giới trong toàn sư đoàn, động viên sôi nổi phong trào diệt và bắt xe tăng địch.

   Qua 8 trận đánh, Lê Văn Cao đã chỉ huy đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, diệt gần 100 tên địch, diệt gọn 2 trung đội địch, bắn cháy và bắt 5 xe bọc thép, thu 17 súng (có 4 trọng liên và đại liên), 2 máy thông tin, 1 máy thu thanh.

   Lê Văn Cao là một cán bộ có bản lĩnh chỉ huy chiến đấu vững vàng, có tác phong sâu sát, đoàn kết tốt, học tập tốt, được anh em tin yêu, mến phục.

   Năm 1968, trong Đại hội Chiến sĩ thi đua toàn sư đoàn, Lê Văn Cao được nêu gương là một trong những ngọn cờ đầu của sư đoàn 3 và được tặng Huy hiệu Bác Hồ.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1969, Lê Văn Cao được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì và tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG A NUN

(http://imageshack.us/a/img819/6605/anune.jpg)


   A Nun, sinh năm 1945, dân tộc Pa Cô, quê ở xã Hồng Bắc, huyện A Lưới tỉnh Thừa Thiên-Huế, tham gia cách mạng ngày 1 tháng 7 năm 1961 nhập ngũ tháng 3 năm 1962. Khi được tuyên dương Anh hùng là trung đội trưởng vận tải gùi thồ thuộc đại đội 2 tiểu đoàn 224 trung đoàn 2, Cục hậu cần Quân khu 5, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Xuất thân từ gia đình nghèo, có truyền thống cách mạng (anh hùng Vai là chú, anh hùng Lịch là chị), từ năm 11 tuổi, đã có lòng căm thù địch sâu sắc, A Nun tình nguyện làm liên lạc bảo vệ tuyến đường và nắm tình hình địch báo cho cán bộ. Năm 14 tuổi, A Nun tham gia vận chuyển hàng cho mặt trận ở tuyến đường A Lưới. Có lần trên đường vận chuyển gặp địch, đồng chí khéo cải trang giữ được bí mật tuyến đường, bảo vệ được hàng. Tháng 7 năm 1961, sau khi hoàn thành nhiệm vụ chuyển hàng từ Quảng Trị vào Quảng Nam, đồng chí xung phong ở lại tuyến vận tải tiếp tục công tác. Trong mọi hoàn cảnh, A Nun đều an tâm công tác, tận tụy, không ngại khổ, luôn luôn suy nghĩ tăng hiệu suất công tác, phục vụ được nhiều hơn. Từ những ngày đầu chỉ mang được 20 ki-lô-gam, A Nun bền bỉ phấn đấu nâng dần lên 50 ki-lô-gam, rồi 70, 80 ki-lô-gam. Năm 1968, thường mang 90 kí-lô-gam, có lần đột xuất A Nun vác được khối lượng hàng tới 190 ki-lô-gam.

   Đồng chí phát huy nhiều sáng kiến, đưa năng suất vận chuyển không những của bản thân mà còn của toàn đơn vị ngày càng lên cao. Đồng chí nghiên cứu cách làm bè qua sông, cải tiến dây mang bảo đảm chắc, bền, đỡ tốn người lại mang được nhiều. Có lần nòng pháo nặng phải 8 người khiêng gặp đường hẹp khó đi, A Nun nghĩ ra cách khiêng chỉ cần 3 đến 4 người, mang được nòng pháo qua được những quãng đường hẹp và cầu nhỏ. Trong chiến dịch Plây Me (1965) đơn vị phải chuyển dây điện thoại - một loại hàng khó mang, nên năng suất thấp,A Nun nghĩ ra cách kẹp hàng chắc gọn, mỗi chuyến mang được 150 ki-lô-gam, đi được cả ban đêm, nên đơn vị kịp thời phục vụ yêu cầu của tiền tuyến.

   Cùng với việc cải tiến mang, vác, A Nun còn vận động anh em tranh thủ thời gian sửa đường cho dễ đi, tìm các tuyến đường mới nên đỡ phải leo dốc và hàng vận chuyển đến sớm hơn từ nửa giờ đến hai giờ. Mùa mưa, nước lũ cản đường vận chuyển, đồng chí đề xuất ý kiến làm cầu treo và xung phong cùng anh em bơi qua sông làm được cầu treo đảm bảo đưa hàng nhanh chóng cho các đơn vị phía trước.

   Có lần đơn vị chuyển một máy nổ nặng 173 ki-lô-gam, nếu khiêng phải dùng 4 đòn và phải để bớt các hàng khác lại. A Nun nghĩ: “Chiến trường đang rất cần hàng. Nghị quyết chi bộ là không để hàng phải nằm lại. Mình là đảng viên phải làm cho đúng”. Rồi A Nun nghiên cứu cách mang và xung phong mang máy nổ một mình để anh em khác chuyển hàng. Hôm ấy phải đi từ 4 giờ sáng, khi vượt qua khu rừng vừa bị máy bay B.52 ném bom, đồng chí lại cùng anh em chữa cầu bị phá, đến nơi giao hàng là 5 giờ chiều, giao hàng xong và trở về kho là 8 giờ tối.

   Cuối năm 1967, khối lượng hàng rất nhiều, tuyến vận chuyển bị địch đánh phá dữ dội nên một số ít anh em ngại đi hoặc có đi cũng chỉ muốn mang nhẹ để đi cho nhanh, đồng chí vừa gương mẫu mang nhiều mặc dù qua những tuyến nguy hiểm, vừa nghiên cứu cải tiến cách buộc hàng sao cho vừa nhiều, gọn vừa bảo quản chu đáo.

   Noi gương đồng chí, toàn đơn vị đã dấy lên một cao trào xung phong vận chuyển nhiều hàng trên các tuyến đường ác liệt, nên 7 tháng đầu năm 1968, trung đội của A Nun dẫn đầu năng suất toàn ngành vận tải bộ.

   Đơn vị vận tải có nam nữ thuộc nhiều dân tộc, từ nhiều địa phương họp lại, trung đội của đồng chí luôn luôn đoàn kết, giúp đỡ nhau rất thân ái. A Nun thường quan tâm đến mọi người từ chiếc dây buộc hàng đến củ mài, mớ rau rừng lúc đói, hoặc may vá quần áo rách cho chiến sĩ. Đồng chí làm tốt công tác dân vận nên các nơi đóng quân, đồng bào đều yêu mến đơn vị của A Nun.

   A Nun được bầu là Chiến sĩ thi đua 4 năm liền (1965-1968), được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1969, A Nun được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Mười Một, 2012, 09:33:06 am
ANH HÙNG PHAN HÀNH SƠN

(http://imageshack.us/a/img37/8959/phanhanhson.jpg)


   Phan Hành Sơn, sinh năm 1947, dân tộc Kinh, quê ở xã Hòa Quý , huyện Hòa Vang tỉnh Quảng Nam - Đà Nẫng, nhập ngũ ngày 22 tháng 2 năm 1965. Khi được tuyên dương Anh hùng đổng chí là đại đội trưởng đại đội 3 tiểu đoàn 2 bộ binh, bộ đội địa phương tỉnh Quảng Nam, mặt trận Trung Trung Bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Xuất thân trong một gia đình có thành tích tham gia kháng chiến chống Pháp, ở một địa phương có truyền thống cách mạng kiên cường, năm 18 tuổi Phan Hành Sơn nhập ngũ với nguyện vọng thiết tha chiến đấu, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

   Đứng trong hàng ngũ quân đội, được tập thể giáo dục, rèn luyện, Phan Hành Sơn đã chiến đấu với một tinh thần dũng cảm, mưu trí, luôn luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Đặc biệt trong các trận đánh các căn cứ lớn, đánh sâu vào hang ổ bọn ác ôn ở Xuyên Phú (năm 1966), quận ly Vĩnh Điện, thị trấn Nam Phước (mùa thu năm 1967), đồng chí nêu cao dũng khí tiến công, có lối đánh mưu trí linh hoạt, xông xáo, đánh áp đảo, đánh mãnh liệt, tiêu diệt những mục tiêu quan trọng, góp phần đưa các trận đánh đến thắng lợi hoàn toàn.

   Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968, Phan Hành Sơn tham dự các trận đánh vào hang ổ, sào huyệt của địch ở Trung Lương, Cồn Dầu (tháng 2 năm 1968) và Non Nước (tháng 8 năm 1968) là những căn cứ quan trọng được chúng bảo vệ chu đáo. Ở cương vị cán bộ đại đội, đồng chí chỉ huy đơn vị hành quân bí mật, đưa đơn vị luồn sâu qua các tuyến canh gác, tuần tra của địch đến vị trí sẵn sàng nổ súng một cách an toàn. Tác phong sâu sát, kiểm tra tỉ mỉ của đồng chí làm cho cán bộ và chiến sĩ luôn luôn sẵn sàng ở tư thế chủ động tiến công địch. Khi chiến đấu, Phan Hành Sơn luôn có mặt ở mũi nhọn ác liệt bình tĩnh phán đoán, nhanh chóng xử trí các tình huống và chỉ huy đơn vị chủ động đánh vào chỗ hiểm yếu của địch, tiêu diệt nhiều sinh lực của chúng. Trong trận Non Nước, đánh một tiểu đoàn biệt kích ác ôn ngay tại sào huyệt của chúng, đồng chí nêu cao quyết tâm chiến đấu, cổ vũ đơn vị nắm thời cơ đánh rất mạnh, làm quân địch rối loạn ngay từ đầu, bị chia cắt từng mảng, nhanh chóng bị đại đội đồng chí tiêu diệt hoàn toàn. Trong năm tổng tiến công và nổi dậy 1968, hòa nhịp với phong trào lập công tập thể, Phan Hành Sơn góp phần với đơn vị lập công xuất sắc, riêng đồng chí diệt 212 tên địch, trong đó có 64 Mỹ.

   Qua 4 năm chiến đấu, nhờ sự hiệp đồng chặt chẽ và sức mạnh tổng hợp của tập thể, Phan Hành Sơn đã tự tay loại khỏi vòng chiến đấu 452 tên địch (có 143 tên Mỹ), bắn rơi 1 máy bay bắng súng bộ binh, phá hủy 1 pháo 105 mi-li-mét, 1 kho đạn, 4 xe vận tải quân sự GMC, đánh sập 8 lô cốt, 4 dãy nhà, thu 7 súng.

   Được Đảng giáo dục và tập thể hết lòng bồi dưỡng, từ một chiến sĩ trưởng thành qua các cương vị tiểu đội phó (nãm 1965), tiểu đội trưởng (năm 1966), trung đội trưởng (năm 1967), đại đội trưởng (năm 1968), Phan Hành Sơn là một chiến sĩ dũng cảm luôn luôn tiến công tiêu diệt địch, là một cán bộ chỉ huy có bản lĩnh vững vàng, bình tĩnh, chủ động trong mọi tình huống, tìm mọi cách vượt qua gian khổ, khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ. Cùng tập thể ban chỉ huy, đồng chí luôn luôn chăm lo xây dựng đưn vị vững mạnh mọi mặt, được cấp trên nêu gương cho đơn vị học tập. Những chiến công của đơn vị Phan Hành Sơn đã góp phần thúc đẩy mạnh mẽ phong trào đấu tranh chính trị, binh vận của đồng bào địa phương.

   Từ năm 1965 đến năm 1967, Phan Hành Sơn liên tục được bầu là Chiến sĩ thi đua, năm 1968 được tuyên dương là ngọn cờ đầu xung kích của mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng.

   Phan Hành Sơn đã 28 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ (1 lần Dũng sĩ diệt máy bay, 7 lần Dũng sĩ diệt Mỹ, 20 lần Dũng sĩ Quyết thắng).

   Đồng chí đã được tặng thưởng 13 giấy khen, 13 bằng khen, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất và 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1969, Phan Hành Sơn được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG ĐINH TÍA

(http://imageshack.us/a/img221/7742/dinhtia.jpg)


   Đinh Tía, sinh năm 1943, dân tộc Hrê, quê ở xã Sơn Thành, huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi, nhập ngũ tháng 3 năm 1959. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung độị phó đơn vị giao thông liên lạc thuộc đại đội 14 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Ngãi, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Xuất thân trong gia đình cách mạng, cha mẹ bị địch khủng bố bắt đi biệt tích từ năm 1959, bản thân còn nhỏ, đã phải đi ở cho tên ấp trưởng, làm lụng rất cực nhọc, Đinh Tía có mối thù sâu sắc với giặc và quyết tâm chiến đấu chống Mỹ - ngụy, giải phóng đồng bào, quê hương. Với nhiệt tình cách mạng và ý chí chiến đấu cao, đồng chí luôn luôn bền bỉ, kiên trì vượt qua mọi gian khổ, khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ.

   Năm 1959, lực lượng bộ đội huyện mới chỉ có một trung đội, vũ khí còn rất thiếu, Tía hướng dẫn anh em làm chông, đánh lại bọn địch đi càn, buộc chúng phải rút chạy.

   Năm 1960, được phân công về hoạt động ở vùng Hà Thành, Đinh Tía ngày đêm lo xây dựng cơ sở, phát triển phong trào du kích chiến tranh, chống quân địch thường xuyên đi lùng sục, giết hại đồng bào. Một lần vào ấp chiến lược hoạt động, khi trở về đồng chí bị địch phục kích, bắn cụt mất một tay.

   Với ý nghĩ “còn hơi thở, còn phục vụ cách mạng" Đinh Tía xin tiếp tục ở lại hàng ngũ quân đội. Được bố trí công tác tại trại sản xuất, đồng chí chịu khổ công rèn luyện, hăng hái nhận làm cả những việc khó khăn, nặng nhọc, cày bừa ruộng, nêu gương tốt trong đơn vị.

   Năm 1962, nhận công tác ở đại đội thông tin của tỉnh, đồng chí phụ trách việc giao thông liên lạc khắp 6   huyện miền núi. Đường đi rất gian khó, hiểm nguy, nhiều chỗ phải qua các “ấp chiến lược” và đồn bốt địch, hoặc phải vượt sông sâu suối lũ, nhưng Đinh Tía luôn luôn bảo đảm chuyển nhanh chóng, kịp thời các công văn, thư từ đến nơi quy định, không bao giờ để sai sót nhầm lẫn, chậm trễ. Có lần nhỡ bị nước lũ cuốn trôi hoặc bị giặc phục kích ngang đường, đồng chí vẫn bình tĩnh, dũng cảm xử trí linh hoạt để vượt qua, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Càng ngày các trục đường liên lạc càng bị địch thường xuyên đánh phá dữ dội và đổ quân ngăn chặn, nhưng nghẽn đường này Đinh Tía tìm đường khác, luôn luôn giữ vững đường dây liên lạc thông suốt. Một lần, giữa đường công tác gặp địch càn, đồng chí cho người trở lại đơn vị báo cáo, còn mình tìm mọi cách vượt qua để đi đến trạm; nhưng tới nơi, trạm lại đã sơ tán đi nơi khác. Mấy ngày liền toàn ăn rau rừng, đồng chí vẫn quyết tâm bám dân, nắm chắc tình hình địch, mở đường, tìm đưa mệnh lệnh đến tận nơi trước thời gian quy định. Trong nhiều lần đi công tác, khi trở về Đinh Tía còn tự nguyện làm nhiệm vụ gùi hàng, mỗi chuyến nặng tới 70, 80 ki-lô-gam.

   Từ năm 1962 đến năm 1969, chỉ tính riêng công văn hỏa tốc, Đinh Tía chuyển được 3.780 bì. Trên tuyến đường công tác của mình, đồng chí tìm 150 con đường mới, hoàn thành tốt nhiệm vụ giao liên trong những điều kiện rất phức tạp, khó khăn.

   Đối với đồng đội Tía hết lòng chăm sóc, giúp đỡ. Có lần vừa đi công tác về thì gặp lúc đơn vị bị địch đổ quân xuống bao vây, đồng chí quên hết mệt nhọc, chạv thẳng vào doanh trại cõng một chiến sĩ bị ốm nặng vượt ra khỏi vòng vây của giặc. Đồng chí còn thường xuyên làm tốt công tác dân vận, nhiều lần tự nguyện ăn đói, mặc rách để nhường cơm sẻ áo cho đồng bào. Tấm gương sáng của đồng chí được đồng đội, đồng bào rất ca ngợi, mến phục.

   Đinh Tía đã được tặng thưởng Huy hiệu của Bác Hồ, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 6 năm liền là Chiến sĩ thi đua của tỉnh.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1969, Đinh Tía được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 13 Tháng Mười Hai, 2012, 02:42:53 pm
ANH HÙNG A XÂU

(http://imageshack.us/a/img38/5299/axau.jpg)


   A Xâu, sinh năm 1944, dân tộc Hrê, quê ở xã Đăc Pét, huyện Đăc Lây, tỉnh Kon Tum, nhập ngũ tháng 1 năm 1963. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại đội phó thuộc tiểu đoàn 406 đặc công bộ đội địa phương tỉnh Kon Tum, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Sinh ra trong một gia đình nghèo là cơ sơ cách mạng, A Xâu sớm được giáo dục lòng căm thù quân xâm lược, quyết tâm chiến đấu giải phóng đồng bào, quê hương. Năm 1960, vào dân quân, tuy vóc người nhỏ bé nhưng đồng chí rất hăng hái dũng cảm. Có lần diệt ác phá kìm, ta bắt một tên ác ôn và giao cho A Xâu giải nó lên huyện. Dọc đường tên này thấy đồng chí nhỏ bé nên tháo chạy. Quyết không cho nó thoát, đồng chí đã đuổi theo và đâm chết tên ác ôn.

   Kể từ khi vào bộ đội cho đến đầu năm 1968, A Xâu đã tham dự 22 trận đánh và đều hoàn thành tốt nhiệm vụ.

   Một lần ở Ngọc Bành, đang dẫn tổ 3 người đi lấy gạo thì gặp địch, đồng chí cùng anh em chủ động mưu trí đánh địch, diệt 20 tên, riêng đồng chí diệt 6 tên.

   Trận đánh ban ngày vào ấp Bờ Rao (năm 1965), ta đang mở rào thì bị lộ, địch bắn ra dữ dội. Nếu chần chừ, anh em sẽ bị thương vong nhiều, đồng chí nảy ra sáng kiến ném bộc phá phá tung ba lớp rào, tạo điều kiện cho đơn vị xung phong diệt 89 tên địch, giải phóng nhân dân trong ấp.

   Trận đánh khu Nguyễn Huệ (thị xã Kon Tum), sau khi đơn vị đã luồn qua 9 lớp rào mà vẫn chưa thấy cổng, được lệnh lên phía trước trinh sát, đồng chí vượt qua 6 lớp rào vào tận vị trí địch nắm tình hình rồi mới trở ra đưa đơn vị vào đánh. Kết quả ta diệt 120 tên quân cảnh, phá 2 xe, thu nhiều vũ khí. Trong trận này, riêng A Xâu dùng bộc phá diệt hết địch trong ba nhà ngủ xong quay ra diệt thêm 1 xe thì hết thủ pháo, đồng chí dùng ngay vũ khí địch diệt thêm 2 tên nữa.

   Đặc biệt trong trận đánh vào thị xã Kon Tum Tết Mậu Thân (1968), đồng chí nêu cao tinh thần chiến đấu anh dũng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong tình huống cực kỳ gay go ác liệt.

   Trong trận nàv, đồng chí chỉ huy một mũi tiến công phát triển rất nhanh, chỉ trong 30 phút làm chủ một góc tiểu khu Kon Tum, diệt 40 tên địch, 1 lô cốt. Sau khi phát trịển sang khu cảnh sát và diệt hết địch trong ba dãv nhà thì trời sáng. Địch phản kích điên cuồng, phân đội của đồng chí mất liên lạc với đại đội, đồng chí chỉ huy anh em độc lập tác chiến tại khu cảnh sát rồi phát triển sang khu chợ.

   Sáng hôm sau địch tổ chức phản kích. Lúc này mũi do A Xâu phụ trách chỉ có 4 người. Trước sức tiến công của gần một đại đội địch, đồng chí động viên anh em kiên quyết làm tròn nhiệm vụ do cấp trên giao, cả 4 người đều quyết tâm cùng nhau chiến đấu, đánh tan đợt phản kích đầu tiên của địch.

   Đợt phản kích thứ hai, địch chia làm nhiều mũi bao vây rồi áp dần vào trận địa ta, dùng lựu đạn tiến công. Bây giờ cả tổ chỉ còn 3 người, A Xâu động viên anh em noi gương “Bảy dũng sĩ Điện Ngọc”, nhặt lựu đạn ném trả tiêu diệt địch.

   Địch củng cố lực lượng và tiến công lần thứ ba. Chúng tập trung lựu đạn rồi đồng loạt ném vào các ụ chiến đấu của ta làm 2 đồng chí hy sinh. Chỉ còn lại một mình, A Xâu nghĩ: “Chiến sĩ cách mạng còn hơi thở thì còn chiến đấu”. Địch ném lựu đạn tới tấp. Đồng chí nằm xuống, nhanh nhẹn dùng chân và tay gạt lựu đạn ra. Lựu đạn nổ cách đồng chí một vài mét, khói mù mịt bốc lên. Tưởng A Xâu đã hy sinh, địch ùa vào. Đồng chí rất bình tĩnh chờ chúng đến gần rồi bất ngờ nổ súng. Nhiều tên bị diệt, bọn còn lại tháo chạy. Lúc đó trời đã tối, địch phải rút ra khỏi khu chợ, bao vây bên ngoài. Sáng hôm sau, địch tổ chức đợt phản kích thứ tư. Còn lại một mình, đồng chí tiếp tục chiến đấu kiên cường, diệt nhiều tên địch. Khi thấy đồng chí bị thương, ngã xuống, chúng hò nhau vào bắt sống. Tên chỉ huy lao vào trước bị A Xâu nổ súng bắn chết ngay tại chỗ làm cho bọn lính hoảng hốt chạy tán loạn.

   Đồng chí nhặt lựu đạn và tập trung súng lại, củng cố trận địa tiếp tục chiến đấu. Sau đợt tiến công thứ 6 trời tối, địch phải rút bỏ.

   Lợi dụng đêm tối, đồng chí rút ra sau khi đã dùng thủ pháo phá hủt súng của đồng đội đã hy sinh. Trên đường rút, gặp 3 tên địch đi tuần, đồng chí bắn chết 1 tên, làm bị thương 1 tên khác.

   Sau 3 ngày, 2 đêm diệt địch ở tiểu khu Kon Tum, khu cảnh sát và đánh bật 6 đợt phản kích của địch tại khu chợ, mũi đồng chí hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc. Riêng A Xâu diệt 30 tên tại khu chợ, chưa kể ở tiểu khu và ty cảnh sát.

   A Xâu đã được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất và được bầu là Chiến sĩ thi đua toàn tỉnh.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1969, A Xâu được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG NGUYỄN TRỌNG NGHĨA

(http://imageshack.us/a/img69/153/nguyentrongnghia.jpg)


   Nguyễn Trọng Nghĩa, sinh năm 1946, dân tộc Kinh, quê ở xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, nhập ngũ ngày 25 tháng 5 năm 1965. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại đội phó bộ binh, đại đội 3, tiểu đoàn 840, Quân khu 6, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Sinh trưởng trong một gia đình nghèo, có nhiều thành tích trong kháng chiến chống Pháp, bản thân phải đi làm thuê từ nhỏ, Nguyễn Trọng Nghĩa sớm giác ngộ cách mạng, có lòng căm thù giặc Mỹ và bè lũ tay sai, có quyết tâm chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Vào bộ đội, đổng chí luôn luôn nêu cao tinh thần tích cực tiến công tiêu diệt địch, chiến đấu dũng cảm, mưu trí, trong hoàn cảnh khó khăn nào cũng quyết tìm mọi cách chấp hành mệnh lệnh nhanh chóng và chính xác. Trưởng thành từ chiến sĩ trinh sát lên cán bộ đại đội, được tập thể bồi dưỡng, ở cương vị nào Nguyễn Trọng Nghĩa cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ. Tham gia chiến đấu trên 30 trận, riêng đồng chí diệt 180 tên địch (có hơn 30 tên Mỹ), thu 9 súng.

   Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1968, Nguyễn Trọng Nghĩa chỉ huy tổ trinh sát chặn địch cho đơn vị đánh vào thị xã Phan Thiết (Bình Thuận). Địch tập trung khoảng 3 đại đội tung ra phản kích, hòng ngăn chặn mũi tiến công của ta vào thị xã. Đồng chí bình tĩnh chỉ huy tổ chiến đấu liên tục 4 tiếng đồng hồ, đẩy lùi nhiều đợt tiến công của địch, diệt trên 50 tên ngụy. Riêng Nguyễn Trọng Nghĩa diệt 16 tên, tạo điều kiện cho đơn vị phát triển tiến công được thuận lợi vào thị xã.

   Trận ngày 17 tháng 2 năm 1968, đánh vào thị xã Phan Thiết lần thứ hai, Nguyễn Trọng Nghĩa chỉ huy tổ trinh sát đánh một đại đội địch án ngữ trên đường tiến công, mở đường đưa đơn vị vào đúng mục tiêu, phá nhà lao, giải thoát hơn 800 đồng bào bị địch giam giữ. Sau đó, cùng đơn vị trụ lại trong thị xã đánh địch phản kích, đồng chí đi với một trung đội giữ một hướng. Quá trình chiến đấu, một số đồng chí bị thương vong, bản thân bị thương, nhưng Nguyễn Trọng Nghĩa vẫn bình tĩnh động viên và chỉ huy anh em chiến đấu, giữ vững trận địa. Kết quả trong trận này, đồng chí cùng đơn vị đẩy lùi gần 20 đợt phản kích của địch, bản thân diệt 35 tên.

   Trận đánh địch phản kích ở Xuân Phong, vùng ven thị xã Phan Thiết, ngày 2 tháng 8 năm 1968, Nguyễn Trọng Nghĩa chỉ huy 1 phân đội nhỏ chặn đánh bọn Mỹ - ngụy có lực lượng đông gấp nhiều lần, lại được xe tăng và máy bay yểm hộ. Trận đánh diễn ra rất ác liệt, kéo dài từ sáng đến tối, trong phân đội 2 đồng chí hy sinh, 2 bị thương nặng. Dù chỉ còn 2 người Nguyễn Trọng Nghĩa vẫn bình tĩnh động viên đồng đội chiến đấu thu gom súng đạn, lựu đạn, mưu trí lợi dụng địa hình địa vật ẩn nấp, cơ động linh hoạt, phát huy hỏa lực chính xác, liên tiếp đánh bại nhiều đợt tiến công của địch. Trong trận này, phân đội chỉ có 6 người mà đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn ngụy và 1 đại đội Mỹ, diệt hơn 190 tên, bắn cháy 2 xe tăng, bắn rơi 1 máy bay lên thẳng, riêng đồng chí diệt hơn 40 tên địch, bắn cháy 1 xe tăng.

   Nguyễn Trọng Nghĩa là một cán bộ có tác phong gương mẫu, nghiêm chỉnh chấp hành chính sách, kỷ luật, đoàn kết với anh em, được đồng đội yêu mến, tin tưởng, giúp đỡ hoàn thành nhiệm vụ.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất và 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1969, Nguyễn Trọng Nghĩa được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 13 Tháng Mười Hai, 2012, 02:44:52 pm
ANH HÙNG PI NĂNG THẠNH

(http://imageshack.us/a/img839/6200/pinangthanh.jpg)


   Đồng chí Pi Năng Thạnh (tức Pi Năng Sầu), sinh năm 1935, người dân tộc Rát-lay, quê ở xã Phước Trung, huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận, tham gia cách mạng từ kháng chiến chống Pháp, nhập ngũ tháng 9 năm 1968. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là huyện đội trưởng huyện Bác Ái, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ khi còn nhỏ, Pi Năng Thạnh đã sớm tiếp thu truyền thống cách mạng của quê hương, của đồng bào dân tộc vốn có lòng yêu nước nồng nàn, kiên cường đấu tranh chống đế quốc thực dân. Qua hai cuộc kháng chiến, nhất là trong kháng chiến chống Mỹ, đồng chí nêu cao lòng trung với nước, hiếu với dân, tinh thần bất khuất anh dũng chống quân xâm lược.

   Từ năm 1954 đến năm 1960, địch khủng bố tràn lan, mở các chiến dịch tố cộng, dồn dân lập khu tập trung. Kiên cường đi đầu trong mọi cuộc đấu tranh quyết liệt với kẻ thù, Pi Năng Thạnh tập hợp thanh niên, dùng các câu chuyện kể hoặc hát các bài ca kháng chiến để khêu gợi lòng yêu nước, yêu quê hương, giáo dục truyền thống hào hùng cách mạng của ông cha. Quần chúng được giác ngộ cách mạng đã đấu tranh thắng lợi chống các âm mưu, thủ đoạn khủng bố, đàn áp của địch và bọn tay sai ở địa phương. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng chí tuyên truyền, giáo dục và gâv được cả cơ sở cách mạng trong lực lượng dân vệ. Pi Năng Thạnh nhiều lần đưa cán bộ Đang vào khu tập trung nói chuyện để đồng bào thấy Đảng luôn luôn ở bên mình, từ đó mà tin tưởng vào cách mạng. Sau một thời gian kiên trì vận động và hướng dẫn nhân dân mua gạo, muối chuyển ra cất giấu trong rừng, đồng chí tổ chức bà con vùng lên phá khu tập trung. Khi dân đã về núi, đồng chí kịp thời động viên mọi người vừa tích cực sản xuất vừa xây dựng làng chiến đấu để phòng địch đánh phá.

   Năm 1965, đê quốc Mỹ lập sân bay Thành Sơn ở gần xã Phước Trung và liên tục bắn phá buôn làng của đồng bào, là xã đội trưởng kiêm bí thư chi bộ, phối hợp chặt chẽ với dân quân bám lấy vành đai quanh sân bay liên tục đánh Mỹ, Pi Năng Thạnh tổ chức nhân dân trụ lại. Nhiều lần đồng chí dẫn đường cho đặc công vào tận sân bay Thành Sơn để nắm tình hình và đánh sân bay thắng lợi. Xã Phước Trung trở thành lá cờ đầu của quân khu về phong trào toàn dân đánh giặc ở miền núi.

   Đồng chí cùng tập thể chi bộ kiên trì vận động bà con vừa chiến đấu vừa sản xuất, bám làng bám rẫy, tổ chức bắn máy bay Mỹ tại chỗ. Lợi dụng địa hình ở địa phương có nhiều điểm cao, Pi Năng Thạnh cùng người em ruột đã bán rơi một chiếc L.19 và một chiếc phản lực, mở đầu phong trào săn máy bay của dân quân địa phương. Phong trào bắn máy bay địch phát triển rất mạnh: chỉ riêng năm 1968, dân quân xã đã bắn rơi 32 máy bay các loại. Máy bay địch mỗi khi bay ngang qua xã đều phải vọt lên cao và địch phải xây đường băng khác cho sân bay Thành Sơn. Hai năm 1967 - 1968 là 2 năm địch càn quét, bắn phá quyết liệt nhất, lại là 2 năm phong trào sản xuất và chiến đấu ở xã Phước Trung đạt những thành tích rực rỡ nhất.

   Pi Năng Thạnh luôn luôn nêu cao ý chí chiến đấu, tiến công quân địch, kiên trì vận động giáo dục nhân dân, bản thân gương mẫu đi đầu khắc phục khó khăn gian khổ trong chiến đấu và lao động sản xuất, góp phần tích cực xây dựng truyền thống vẻ vang của địa phương, được chi bộ và đồng bào yêu mến, tin tưởng.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1969, Pi Năng Thạnh được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất và tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG NGUYỄN VĂN SƠ
(LIỆT SĨ)



   Nguvễn Văn Sơ, sinh năm 1927, dân tộc Kinh, quê ở xá Thái Mỹ, huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh, nhập ngũ tháng 1 năm 1948. Khi hy sinh đồng chí là phó chính ủy trung đoàn 1, sư đoàn 9, bộ đội miền Đông Nam Bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Sinh ra và lớn lên trong một địa phương có truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường, Nguyễn Văn Sơ sớm giác ngộ, nên tình nguyện vào bộ đội từ năm 16 tuổi, tham gia kháng chiến chống Pháp ở chiến trường Đông Nam Bộ, đã đánh hơn 30 trận, trận nào cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ. Năm 1954, đồng chí tập kết ra Bắc.

   Cuối năm 1961, thể theo nguyện vọng của đồng chí, tổ chức cử đồng chí trở lại chiến trường chiến đấu góp phần vào công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Nguyễn Văn Sơ đã tham gia hầu hết các trận đánh lớn, các chiến dịch của trung đoàn 1, đoàn Bình Giã trên chiến trường miền Đông trong những năm từ năm 1962 đến năm 1967. Đồng chí luôn luôn nêu cao tinh thần tích cực tiến công, chiến đấu dũng cảm, thường có mặt ở những nơi nhiều khó khăn, góp sức xây dựng đơn vị trưởng thành, lập nhiều chiến công xuất sắc.

   Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968, đơn vị Nguyễn Văn Sơ nhận nhiệm vụ đánh vào trung tâm huấn luyện Quang Trung và là một trong những căn cứ lớn của địch ở sát Sài Gòn. Ngày 31 tháng 1 năm 1968, đồng chí trực tiếp chỉ huy một bộ phận vượt qua mọi khó khăn, luồn lách qua tuyến phòng thủ của địch ở vùng ven, áp sát mục tiêu trong khi đại bộ phận đơn vị chưa đến kịp, lực lượng địch đông gấp rất nhiều lần. Để đảm bảo phối hợp chiến trường chung, Nguyễn Văn Sơ quyết tâm nổ súng đúng giờ quy định. Trận đánh ác liệt diễn ra trong vòng 5 tiếng đồng hồ. Trước tình hình đó, đồng chí vẫn bình tĩnh động viên anh em chiến đấu và tổ chức đơn vị vừa đánh bộ binh, bắn máy bay địch, giữ vững trận địa, vừa bố trí thương binh nặng và tử sĩ về phía sau. Trong trận chiến đấu này, đơn vị Nguyễn Văn Sơ hoàn thành tốt nhiệm vụ, phối hợp chặt chẽ với các đơn vị bạn đánh mạnh vào hang ổ địch, diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của chúng, đặc biệt là gây được ảnh hưởng lớn của cách mạng trong nhân dân nội thành Sài Gòn. Riêng đơn vị đồng chí đã diệt hơn 300 tên địch, phá hủy đài phát thanh của quân đội ngụy. Trong một tình huống chỉ huy chiến đấu hết sức ác liệt, Nguyễn Văn Sơ đã anh dũng hy sinh, nêu một tấm gương sáng của người cộng sản biết xả thân vì nước.

   Nguyễn Văn Sơ sống trung thực, giàu nhiệt tình, có tác phong sâu sát, gương mẫu về mọi mặt, đoàn kết, khiêm tốn, được đồng đội yêu mến, tin tưởng.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhì.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1969, Nguyễn Văn Sơ được Chính phủ cách mạng lâm thời Gộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 13 Tháng Mười Hai, 2012, 02:46:44 pm
ANH HÙNG BẾ VĂN CẮM
(LIỆT SĨ)


   Bế Văn Cắm, sinh năm 1945, dân tộc Nùng, quê ở Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, nhập ngũ tháng 2 năm 1964, vào chiến trường tháng 1 năm 1966. Khi hy sinh đồng chí là trung đội phó bộ binh, thuộc đại đội 3, trung đoàn 14, sư đoàn 7, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Sinh trưởng trong một gia đình nông dân ở Pác Pó là căn cứ địa vững chắc của Đảng ta từ trước Cách mạng tháng Tám, Bế Văn Cắm sớm tiếp thụ truyền thống đấu tranh cách mạng, có lòng yêu nước, yêu độc lập tự do, căm thù sâu sắc đế quốc và phong kiến, tha thiết với sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Đi bộ đội, đồng chí tích cực rèn luyện mọi mặt, có ý thức kỷ luật tốt, tinh thần tập thể cao, đạt danh hiệu bắn trung liên giỏi của trung đoàn và được tặng 2 bằng khen.

   Hành quân vào chiến trường miền Nam, suốt dọc Trường Sơn, Bế Văn Cắm luôn luôn gương mẫu, tự nguyện nhận việc khó về mình mặc dù đã mang vác nặng. Những lúc đơn vị gặp khó khăn, thiếu gạo, đồng chí xung phong vào rừng đảo củ mài, hái rau nuôi anh em, nhường cơm cho bạn yếu mệt. Khi hành quân, đồng chí thường vác ba lô, súng đạn đỡ người đau yếu. Có lần tiểu đội bạn có nhiều người yếu mệt, đồng chí động viên tiểu đội mình giúp đỡ bạn để đảm bảo tất cả hành quân đều đến đích.

   Khi đến vị trí tập kết, bị ốm nặng rồi bị liệt hai chân, đồng chí cầm hai tay hai gậy, kiên trì phấn đấu, tập đi từng bước. Với nghị lực bền bỉ và tinh thần lạc quan quyết thắng bệnh tật, sau một thời gian, đồng chí khỏi bệnh và trở lại đội ngũ chiến đấu.    Qua 6 tháng chiến đấu liên tục từ tháng 7 năm 1967 đến ngày 7 tháng 1 năm 1968, Bế Văn Cắm tham gia 6 trận đánh, trận nào cũng lập công xuất sắc. Trong trận đánh căn cứ Tân Hưng đêm 10 tháng 7 năm 1967, sau khi hoàn thành nhiệm vụ diệt lô cốt số 6, đồng chí diệt hỏa điểm bên phải cửa mở tạo thời cơ cho đơn vị tiến lên. Sau đó đồng chí bắn sập ổ đề kháng chặn đường đơn vị, rồi dùng quả đạn cuối cùng diệt lô cốt số 5, tạo thuận lợi cho đơn vị diệt gọn căn cứ địch. Lúc giải quyết chiến trường, đồng chí cõng một thương binh, rồi tham gia cáng 2 thương binh và mang 3 súng cá nhân về tuyến sau.

   Trong trận Cần Lê (ngày 6 tháng 8 năm 1967), Bế Văn Cắm chỉ huy một tổ hỏa lực sang phối hợp chiến đấu cùng trung đoàn bạn đánh căn cứ của 400 tên biệt kích. Thấy địch chống trả quyết liệt làm cho tổ bộc phá chưa phá được hàng rào, đồng chí dũng cảm bò lên sát hàng rào, bất ngờ nổ súng chính xác, diệt hỏa điểm đầu cầu, gây khí thế cho đồng đội tiến lên phá rào để bộ đội đánh sâu vào giữa căn cứ. Đơn vị đang tiến qua bãi đất trống thì 1 đại liên địch xuất hiện bắn sát mặt đất, gây thương vong cho mũi xung kích. Không ngại nguy hiểm hy sinh, Bế Văn Cắm lợi dụng địa hình, áp sát mục tiêu, chỉ dùng một quả đạn diệt hỏa điểm địch. Sau trận đánh thắng lợi này, đồng chí được đơn vị bạn đề nghị tặng thưởng Huân chương.

   Bế Văn Cắm là lá cờ đầu của sư đoàn trong phong trào diệt xe tăng địch. Trận Lộc Ninh, tháng 11 năm 1967, lần đầu tiên gặp xe tăng địch, đồng chí diệt 1 xe M.41. Tiếp đó, trong một trận phục kích, Bế Văn Cắm diệt 1 xe tăng nữa trên đường Cà Tum - Bổ Túc. Tháng 12 năm 1967, theo kế hoạch của đại đội, đồng chí luồn sâu vào sân bay Cà Tum vào sát bãi để xe diệt 5 xe tăng địch. Bế Văn Cắm đã góp được nhiều kinh nghiệm trong phong trào tổ săn diệt xe tăng, cơ giới của toàn sư đoàn.

   Trong trận đánh quân đổ bộ đường không của Mỹ tại Trảng Rộm (Tây Ninh), ngày 7 tháng 1 năm 1968, Bế Văn Cắm nêu cao tinh thần dũng cảm, ngoan cường, xuất kích đánh gần, diệt nhiều địch. Sau khi Bế Văn Cắm hy sinh, toàn tiểu đoàn phát động phong trào thi đua học tập gương sáng của đồng chí: sống khiêm tốn, chất phác, cần cù, giản dị; đoàn kết hết lòng thương yêu đồng chí, đồng đội; chiến đấu dũng cảm, kiên cường, lập công xuất sắc.

   Trong gần 4 năm công tác và chiến đấu, đồng chí Bế Văn Cắm được tậng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 3 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 6 bằng khen, 1 lần đạt danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ cấp ưu tú, nhiều lần đạt Dũng sĩ diệt cơ giới.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1969, Bế Văn Cắm được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG NGUYỄN VĂN CHÁNH


   Nguyễn Văn Chánh, sinh năm 1946, dân tộc Kinh, quê ở xã Ninh Qưới, huyện Hồng Dân, tỉnh Minh Hải, nhập ngũ tháng 9 năm 1964. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại đội phó đại đội 6 bộ binh, tiểu đoàn 2, trung đoàn 5, sư đoàn 5 bộ đội miền Đông Nam Bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ năm 1964, chiến đấu ở chiến trường vùng sâu, có nhiều gian khổ, thường xuyên địch đánh phá ác liệt nhưng Nguyễn Văn Chánh vẫn luôn luôn nêu cao quyết tâm, chiến đấu dũng cảm, mưu trí, tiến công kiên quyết, đã chỉ huy đơn vị đánh nhiều trận hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, bản thân diệt hơn 50 tên địch (có hơn 30 Mỹ), bắn cháy 8 xe tăng, xe bọc thép, thu 2 súng.

   Ngày 21 tháng 7 năm 1967, trong trận đánh đoàn xe cơ giới địch trên đường số 20, đồng chí chỉ huy trung đội bình tĩnh, dũng cảm xông ra đúng thời cơ, chặn đầu đoàn xe địch, nổ súng chính xác diệt 5 xe đi trước và 15 tên địch, tạo thuận lợi cho đơn vị xung phong, chia cắt đội hình địch, diệt gọn 26 xe quân sự khác.

   Trận hiệp đồng tiến công vào sân bay Biên Hòa ngày 31 tháng 1 năm 1968, Nguyễn Văn Chánh chỉ huy trung đội đảm nhiệm một hướng tiến công. Dù địch đông gấp bội, lại được pháo binh và xe tăng yểm hộ, liên tục phản kích quyết liệt, đồng chí vẫn bình tĩnh chỉ huy đơn vị kiên quyết giữ vững trận địa, đánh lui 11 đợt phản kích của địch, tiêu diệt nhiều địch, hiệp đồng chặt chẽ với toàn bộ trận đánh. Trung đội đã cùng các đơn vị bạn hoàn thành tốt nhiệm vụ đánh sân bay Biên Hòa, bản thân đồng chí diệt 1 xe quân sự và 13 tên Mỹ.

   Trận Chà Là (Tây Ninh) ngày 21 tháng 8 năm 1968, ngay khi vừa dứt tiếng pháo, Nguyễn Văn Chánh nhanh chóng dẫn đầu trung đội xông lên, dưới hỏa lực chống cự điên cuồng của địch, diệt xe bọc thép án ngữ ở vòng ngoài, đưa đơn vị phát triển vào sâu trong vị trí địch, phối hợp chặt chẽ với các mủi, nhanh chóng chia cắt đội hình, diệt gọn từng tốp địch. Khi đang phát triển gặp xe tăng địch ngăn chặn ở chỗ đội hình không có lợi đối với ta, Nguyễn Văn Chánh bình tĩnh đứng bần chính xác diệt được xe, mở đường cho đơn vị tiếp tục phát triển thuận lợi, làm chủ trận địa. Kết quả riêng trung đội do Nguyễn Văn Chánh chỉ huy diệt 12 xe quân sự và nhiều lính địch, bản thân đồng chí diệt 4 xe và 20 tên Mỹ.

   Nguyễn Văn Chánh luôn luôn gương mẫu trong mọi việc, cùng tập thể chăm lo xây dựng đơn vị, bản thân nghiêm chỉnh chấp hành chính sách, kỷ luật, đoàn kết, khiêm tốn, được đồng đội tin yêu, tận tình giúp đỡ.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì và 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1969, Nguyễn Văn Chánh được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 13 Tháng Mười Hai, 2012, 02:50:34 pm
ANH HÙNG NGUYỄN VĂN BÍCH
(LIỆT SĨ)


   Nguyễn Văn Bích, sinh năm 1947, dân tộc Kinh, quê ở xã Trung An 2, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh, nhập ngũ tháng 2 năm 1964. Khi hy sinh đồng chí là trung đội phó công binh đánh cầu, thuộc phân khu I, miền Đồng Nam Bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Xuất thân từ gia đình nông dân nghèo, cha mẹ mất sớm, Nguyễn Văn Bích phải đi ở từ khi mới 13 tuổi. Sống trong một xã hội do đế quốc phong kiến áp bức, bóc lột nặng nề, đồng chí sớm có lòng yêu Tổ quốc, năm thù sâu sắc quân xâm lược và bè lũ tay sai, nên vừa tròn 17 tuổi (1964) đồng chí vào quân đội và tham gia nhiều trận chiến đấu trong đơn vị chuyên đánh phá cầu. Từ năm 1964 đến năm 1968, đồng chí đã lăn lộn trên các sông rạch chiến trường miền Đông Nam Bộ, đánh sập các cầu Bà Bếp (1965), Phú Hòa Đông (2 lần trong năm 1966), Lái Thiêu (1967), gây cho địch nhiều tổn thất, khó khăn. Những mục tiêu Nguyễn Văn Bích tiên công đều là những điểm then chốt trên các tuyến giao thông quan trọng nên địch canh phòng rất chặt chẽ. Nhưng trong mọi trận đánh, đồng chí đều nêu cao ý chí kiên định, vững vàng, có tinh thần trách nhiệm cao, kiên trì vượt mọi khó khăn, có tinh thần xả thân vì nước, quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

   Năm 1968, phối hợp với các đơn vị toàn miền đang đánh mạnh trong khí thế tiến công và nổi dậy, Nguyễn Văn Bích nhận nhiệm vụ đánh cầu Bình Dương. Cầu này thuộc loại lớn nhất tỉnh, bắc ngang sông Sài Gòn, nối liền hai tỉnh Bình Dương và Hậu Nghĩa trên trục đường số 8. Do tuyến đường này trực tiếp uy hiếp vùng giải phóng cảa ta nên địch bố phòng rất cẩn mật nhiều tầng, nhiều lớp. Tổ đánh cầu do đồng chí làm tổ trưởng đã gặp nhiều khó khăn trở ngại trong khi tiến hành nhiệm vụ. Trong quá trình điều tra tình hình, nghiên cứu cách đánh đã có đồng chí thương vong. Nguyễn Văn Bích kiên trì giữ vững quyết tâm, gương mẫu và động viên anh em chịu đựng mọi gian khổ để làm tròn nhiệm vụ. Nhiều lần đồng chí lọt qua những tuyến tuần tra canh gác của địch, ngâm mình dưới sông rạch để tìm cách đánh.

   Đêm 6 tháng 11 năm 1968, tổ Nguyễn Văn Bích xuất kích lần thứ ba. Đến cầu thì trong tổ chỉ còn 2 người, nhưng đồng chí vẫn kiên quyết, bình tĩnh và mưu trí thực hiện phương án đánh cầu và đã nhận chìm chiếc cầu Bình Dương xuống đáy sông Sài Gòn. Trung đội lính ngụy làm nhiệm vụ gác cầu cũng bị diệt hết. Bọn địch huy động một lực lượng lớn bao vây truy quét. Đồng chí rút sau, vừa rời khỏi mục tiêu được 20 mét thì bị sức ép của lựu đạn địch ném xuống sông nên phải trồi lên mặt nước. Địch phát hiện, chúng tập trung bắt sống. Lúc đó trời sáng, Nguyễn Văn Bích phải trụ lại trong vòng vây của địch. Trong người chỉ còn lại một trái lựu đạn, đồng chí rút chốt đưa lên khỏi mặt nước. Bọn địch hoảng sợ bỏ chạy. Nhưng không may lựu đạn lại không nổ. Chúng hoàn hồn quay lại dồn tất cả các loại súng bắn vào đồng chí. Nguyễn Văn Bích đã anh dũng hy sinh lúc 10 giờ ngày 7 tháng 11 năm 1968, sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

   Khi còn sống, Nguyễn Văn Bích luôn luôn đề cao ý thức tổ chức, kiên quyết vượt mọi khó khăn, làm tròn nhiệm vụ, giữ nghiêm kỷ luật, hết lòng thương yêu đồng đội, sống khiêm tốn, giản dị, được mọi người tin yêu, mến phục.

   Nguyễn Văn Bích đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 3 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 6 bằng khen, 4 giấy khen, 3 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ đánh giao thông, 3 năm liền (năm 1965, năm 1966, năm 1967) được bầu là Chiến sĩ thi đua của đơn vị, đồng chí được cử đi dự Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua và dũng sĩ toàn miền lần thứ 2 (năm 1967).

   Ngày 20 tháng 12 năm 1969, Nguyễn Văn Bích được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG TRỊNH XUÂN BẢNG

(http://imageshack.us/a/img715/1697/trinhxuanbang.jpg)


   Trịnh Xuân Bảng sinh nám 1945. dân tộc Kinh, quê ở xã Quảng Hưng, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, nhập ngũ tháng 5 năm 1965. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung đội trưởng đặc công, đội 5, đoàn 10, bộ đội miền Đông Nam Bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Được giáo dục trong chế độ xã hội chủ nghĩa, xác định rõ lý tưởng chiến đấu vì độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, Trịnh Xuân Bảng rất phấn khởi khi được lên đường vào chiến trường miền Nam trực tiếp giết giặc, cứu nước.

   Từ cuối năm 1967, Trịnh Xuân Bảng tham gia chiến đấu ở Rừng Sát (Đông Nam Bộ) là nơi có nhiều khó khăn gian khổ, hệ thống đồn bốt địch dày đặc. Đồng chí đã trực tiếp phá hủy nhiều cầu trên tuyến đường giao thông quan trọng phía bác Sài Gòn, như cầu Bình Dương, cầu Lái Thiêu.

   Đặc biệt là những trận đánh chìm tàu quân sự địch trên sông Đồng Nai, Trịnh Xuân Bảng luôn luôn nêu cao quyết tâm, có kỹ thuật điêu luyện bơi lặn và đánh mìn, chiến đấu dũng cảm, mưu trí, gây cho địch nhiều thiệt hại rất nặng về người và phương tiện chiến tranh.
   Trận ngày 23 thảng 2 năm 1968, đồng chí chỉ huy một tổ luồn lách qua tuyến phòng thủ của địch, dũng cảm bám mục tiêu, đánh chìm tại chỗ 1 tàu trên 10 ngàn tấn.

   Trận ngày 10 tháng 10 năm 1968, Trịnh Xuân Bảng chỉ huy một tổ bơi 8 tiếng đồng hồ, vật lộn với sóng to, gió lớn, vượt qua hệ thống bố phòng nghiêm ngặt của địch, đánh chìm 1 tàu trọng tải trên 10 ngàn tấn.

   Sau nhiều lần bị đánh đau, địch bố phòng cẩn mật hơn, tăng thêm quân tuần tra lùng sục từ xa, thêm tàu tuần tiễu trên sông, suốt đêm chiếu đèn pha, ném lựu đạn. Nhưng đồng chí vẫn dũng cảm đột nhập bến cảng nhiều lần điều tra, nghiên cứu, nắm tình hình mọi mặt để chọn phương án đánh tiêu diệt lớn. Ngày 4 tháng 12 năm 1968 ở cảng Nhà Bè, khi vào gần mục tiêu, với quyêt, tâm giành thắng lợi cao nhất, Trịnh Xuân Bảng bỏ qua chiếc tàu thứ nhất để đưa khối thuốc nổ gần vào chiếc thứ hai, tuy có khó khăn hơn, nhưng lại là chiêc tàu lớn hơn. Kết quả, chiếc tàu có sức chở 12 ngàn tấn, chờ đầy vũ khí, dụng cụ quân sự và bọn lính trên tàu bị chìm xuống đáy sông.

   Trịnh Xuân Bảng luôn luôn gương mẫu trong mọi công tác, nghiêm chỉnh chấp hành chính sách, kỷ luật chiến trường, đoàn kết, tận tình giúp đỡ đồng đội, được anh em yêu mến.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất và 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1969, Trịnh Xuàn Bảng được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 13 Tháng Mười Hai, 2012, 02:53:03 pm
ANH HÙNG NGUYỄN QUYẾT CHIẾN

(http://imageshack.us/a/img832/6057/nguyenquyetchien.jpg)


   Nguyễn Quyết Chiến (tức Nguyễn Sâm) sinh năm 1942, dân tộc Kinh, quê ở xã Phú Hữu, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai, vào dân quân năm 1960. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là xã đội trưởng xã Phú Hữu, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Biên Hòa, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Lớn lên trong một vùng bị địch tạm chiếm, hàng ngày trông thấy giặc Mỹ và bè lủ tay sai đàn áp, tàn sát dã man đồng bào, Nguyễn Quyết Chiến có lòng căm thù giặc sâu sắc. Quê hương đồng chí là nơi Mỹ - ngụy đóng quân dày đặc; cùng với hệ thống kho tàng lớn, nhiều bến cảng quan trọng trên sông Lòng Tàu như kho Nhà Bè, Cát Lái. Dũng cảm, mưu trí và táo bạo, đồng chí đã trực tiếp đánh và chỉ huy anh em dân quân đánh trên 100 trận, diệt hàng trăm tên địch, thu trên 20 súng các loại.

   Ngày 5 tháng 6 năm 1967, Nguyễn Quyết Chiến bám sát theo dõi chặt chẽ mọi hoạt động của một đại đội Mỹ càn vào xã. Ban đêm, đồng chí bò vào đặt mìn định hướng giữa đội hình trú quân của địch. Thấy địch rất sơ hở, đồng chí bí mật lấy 8 khẩu súng chuyển ra ngoài cho đồng đội, xong mới quay vào điểm hỏa mìn, diệt gần 1 trung đội Mỹ.

   Trận ngày 18 tháng 12 năm 1967, Nguyễn Quyết Chiến bí mật đột nhập nơi địch đóng quân dã ngoại. Sau khi đồng chí lấy được 4 khẩu súng chuyển ra ngoài thì bỗng nhiên địch sục sạo chung quanh nơi trú quân. Nguyễn Quyết Chiến táo bạo và mưu trí vào hẳn bên trong, trà trộn nằm cạnh địch vờ ngủ, chờ đến khi đã yên tĩnh mới đánh mìn diệt hơn 200 tên địch.

   Trận ngày 20 tháng 8 năm 1968, Nguyễn Quyết Chiến chỉ huy một tổ dân quân tập kích bọn địch trú quân trong xã. Sau khi bố trí mìn xong, thấy điều kiện thời gian còn thuận lợi, đồng chí bàn với anh em cố gắng vào lấy khẩu đại liên. Nguyễn Quyết Chiến xung phong vào lấy súng và quy định nếu trường hợp bị lộ, anh em dân quân cứ điểm hỏa mìn, còn đồng chí sẽ tìm cách đánh địch. Kết quả đồng chí bí mật vác được khẩu đại liên ra rồi cùng anh em nổ mìn diệt 40 tên Mỹ.

   Nguyễn Quyết Chiến luôn luôn nêu cao trách nhiệm xây dựng lực lượng dân quân trong xã lớn mạnh, góp phần đẩy mạnh phong trào toàn dân đánh giặc, hỗ trợ cho quần chúng đấu tranh chính trị. Đồng chí còn luôn luôn chủ động và tích cực phục vụ cho bộ đội chủ lực trong các trận đánh vào cảng Nhà Bè, Cát Lái, bắn pháo vào dinh "Độc Lập" ngụy quyền, do đó tạo được địa bàn đứng chân vững chắc cho bộ đội hoạt động ở phía đông Sài Gòn, được cán bộ, chiến sĩ tin tưởng, nhân dân yêu mến.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1969, Nguyễn Quyết Chiến được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG LÊ XUÂN SINH

(http://imageshack.us/a/img259/205/lexuansinh.jpg)


   Lê Xuân Sinh, sinh năm 1944, dân tộc Kinh, quê ở xã Nông Trường, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, nhập ngũ ngày 14 tháng 4 năm 1962. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là tiểu đoàn phó tiểu đoàn 7 bộ binh, trung đoàn 16, phân khu 1 Mặt trận Đông Bác Sài Gòn, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Sinh trưởng trong gia đình có bố và mẹ đều tham gia công tác kháng chiến chống Pháp ở địa phương, lại được nhà trường xã hội chủ nghĩa giáo dục nên Lê Xuân Sinh hiểu rõ nghĩa vụ thanh niên hăng hái đi đầu trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước. Năm 18 tuổi nhập ngũ, sau 2 năm huấn luyện, công tác tại miền Bẳc, cuối năm 1964 đồng chí cùng đơn vị vào miền Nam chiến đấu. Lê Xuân Sinh luôn luôn có quyết tâm diệt địch cao, có tác phong chiến đấu và chỉ huy mưu trí, linh hoạt, dũng cảm, đánh thọc sâu, đánh táo bạo.

   Lê Xuân Sinh đã tham gia 42 trận, diệt 125 tên Mỹ, ngụy. Trung đội do đồng chí chỉ huy được 4 lần công nhận là trung đội anh dũng diệt Mỹ.

   Trong trận đánh đầu tiên ở Đắc Long (năm 1965), sau khi hoàn thành nhiệm vụ bộc phá mở hàng rào, thấy thời cơ thuận lợi, Lê Xuân Sinh dẫn đầu tổ thọc sâu chiếm lô cốt đầu cầu rồi đánh thẳng vào sở chỉ huy diệt tên đồn trưởng, tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị làm chủ trận địa.

   Trong trận đánh chi khu Đắc Tô (năm 1965), khi bắt đầu trận đánh, có 2 tổ viên bị thương, đồng chí dùng ngay lựu đạn, thủ pháo của các đồng chí bị thương yểm hộ cho trung đội đánh bộc phá mở rào. Chưa mở hết hàng rào, một số đồng chí của tổ bộc phá bị thương vong, Lê Xuân Sinh liền lấy bộc phá của anh em tiếp tục đánh đến hàng rào thứ 4 thì bị thương. Cấp trên cho rút ra ngoài nhưng đồng chí xin tiếp tục chiến đấu và dẫn tổ thọc sâu đánh thẳng vào nhà tên quận trưởng, nhanh chóng cùng đơn vị tiêu diệt địch, thu vũ khí.

   Trận Chà Dơ (năm 1966) là trận đánh Mỹ đầu tiên của đơn vị. Trận tập kích đang diễn ra thuận lợi thì trung đội trưởng hy sinh, Lê Xuân Sinh lên thay thế chỉ huy đơn vị tiếp tục tiến công địch. Anh em đều phục tùng đồng chí và kiên quyết chiến đấu trả thù cho đồng đội. Địch phản kích điên cuồng, mặc dù 3 lần bị thương, Lê Xuân Sinh vẫn bình tĩnh chỉ huy và động viên anh em chiến đấu đến khi trận đánh kết thúc.

   Tháng 11 năm 1967, đơn vị Lê Xuân Sinh nhận nhiệm vụ tập kích tiểu đoàn Mỹ ở Gò Sỏi. Trời sáng địch phản kích, trung đội bị mất liên lạc, đồng chí chỉ huy anh em chiến đấu giữa vòng vây, dùng hỏa lực mưu trí đánh lạc hướng địch, tạo thuận lợi cho anh em rút ra. Khi thấy còn anh em bị thương nằm lại trận địa, đồng chí bò vào cõng anh em về đến vị trí tập kết an toàn.

   Đầu Xuân năm 1968, vừa ở bệnh viện trở về đơn vị, Lê Xuân Sinh chỉ huy trung đội luồn sâu tiến công 1 tiểu đoàn địch tại ngã ba Cây Xoài. Bị thiệt hại nặng, địch phải cho 1 đại đội tiếp viện. Lúc này vừa lên thay thế đại đội trưởng mới hy sinh, Lê Xuân Sinh đã mưu trí chỉ huy đơn vị nhử địch vào trận địa và diệt gọn. Sau đó, mặc dù bị thương, đồng chí kiên cường cùng anh em bám trận địa suốt hai ngày liền, đánh bật mọi đợt phản kích của 2 tiểu đoàn địch.

   Bước vào đợt tiến công thứ ba năm 1968, Lê Xuân Sinh chỉ huy đại đội chủ công trong trận Khu Trảng. Khi mở hàng rào, đơn vị gặp nhiều khó khăn, đồng chí lên kiểm tra và trực tiếp dùng B.40 phá tan lô cốt đầu cầu và chỉ huy anh em dùng bộc phá phá rào. Mặc dù bị thương hai lần, đồng chí vẫn dũng cảm chỉ huy đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ.

   Lê Xuân Sinh là một cán bộ gương mẫu chấp hành nghiêm chính mọi mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên, khiêm tốn học hỏi đồng đội, chân thành đoàn kết với mọi người, nêu cao tinh thần trách nhiệm cùng tập thể xây dựng đơn vị tiến bộ, được cấp trên tin tưởng, cấp dưới mến phục.

   Đồng chí đã 4 lần được tặng thưởng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, được khen thưởng 8 bằng khen, 2 giấy khen, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1969, Lê Xuân Sinh được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 13 Tháng Mười Hai, 2012, 02:56:41 pm
ANH HÙNG ĐOÀN VĂN THÁI

(http://imageshack.us/a/img846/3255/doanvanthai.jpg)


   Đoàn Văn Thái, sinh năm 1948, dân tộc Kinh, quê ở xã Long Nguyên, huyện Bến Cát, tỉnh Sông Bé, nhập ngũ năm 1965. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại đội trưởng bộ đội địa phương tỉnh Thủ Dầu Một, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo, được sự giáo dục của cán bộ, Đoàn Văn Thái sớm giác ngộ cách mạng, tha thiết với sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Căm thù sâu sắc giặc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai, năm 16 tuổi, Đoàn Văn Thái vào dân quân, tích cực hoạt động ở địa phương. Năm 17 tuổi Đoàn Văn Thái vào bộ đội, tham gia chiến đấu 51 trận và đều hoàn thành tốt nhiệm vụ.

   Trong chiến đấu, đồng chí nêu cao ý chí dũng cảm, ngoan cường, chủ động tiến công, quyết tâm tiêu diệt địch. Tác phong chiến đấu “nắm thắt lưng địch mà đánh”, đánh áp đảo, đánh bọc sườn của đồng chí được anh em tin tưởng, học tập. Đồng chí được cấp trên tín nhiệm thường giao cho nhiệm vụ diệt những mục tiêu quan trọng. Trong trận đánh Mỹ đầu tiên của đơn vị, Đoàn Văn Thái hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, dẫn đầu tiểu đội đánh mạnh, đánh nhanh, thọc sâu tiêu diệt những hỏa điểm nguy hiểm của địch, tạo thuận lợi cho đơn vị diệt gọn chúng. Từ trận đánh thành công đó, toàn đơn vị rút được nhiều bài học kinh nghiệm tốt, củng cố thêm quyết tâm và niềm tin đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

   Chỉ trong một năm Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt của quân và dân ta (1968), Đoàn Văn Thái cùng đơn vị đánh 19 trận và lập nhiều chiến công oanh liệt. Trong trận đánh thành Công Binh (thị xã Bình Dương), địch phát hiện ta từ xa chúng bắn chặn rất ác liệt, gây nên nhiều tình huống gay go phức tạp ngoài phương án chiến đấu đã dự kiến của đơn vị. Đoàn Văn Thái dẫn đầu tiểu đội mũi nhọn vượt qua nhiều tuyến phòng thủ kiên cố, đánh thẳng vào sở chỉ huy của địch. Tiểu đội thọc sâu của đồng chí không những đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà còn nhân lúc địch hỗn loạn, chủ động chi viện cho phân đội bạn, tạo thuận lợi cho cả đơn vị tiêu diệt quân địch.

   Trong đợt 2, đánh vào thành phố Sài Gòn, Đoàn Văn Thái cùng đơn vị liên tục tiến công chọc thủng nhiều tuyến phòng thủ kiên cố của địch, táo bạo thọc sâu vào nội đô, cùng đồng đội trụ lại giữa hang ổ địch gần nửa tháng. Địch phản kích điên cuồng, chúng trút xuống tuyến phòng thủ của ta hàng chục tấn bom đạn hòng tiêu diệt và đẩy quân ta bật khỏi nội thành. Tuy bị thương từ ngày đầu tiến công, nhưng với tinh thần quyết đánh thắng giặc Mỹ và tay sai, đồng chí đã kiên cường không rời trận địa, liên tục có mặt ở những nơi khó khăn ác liệt, sử dụng nhiều loại vũ khí diệt nhiều tên địch. Tấm gương chiến đấu ngoan cường của Đoàn Văn Thái đã góp phần cổ vũ tinh thần chiến đấu của anh em trong đơn vị. Có những ngày đồng chí cùng đồng đội đánh bật hàng chục đợt phản kích của địch, tiêu diệt nhiều tên, giữ vững trận địa ngay giữa Sài Gòn, góp phần xứng đáng vào thâng lợi chung của quân và dân ta.

   Đoàn Văn Thái đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 3 bằng khen, giấy khen.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1969, Đoàn Văn Thái được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG TỪ VĂN TƯ
(LIỆT SĨ)

(http://imageshack.us/a/img507/8333/tuvantu.jpg)


   Từ Văn Tư sinh năm 1947, dân tộc Kinh, quê ở xã Xa Ra, huyện Thuận Phong, tỉnh Bình Thuận, nhập ngũ tháng 1 năm 1965. Khi hy sinh đồng chí là trung đội trưởng đặc công bộ đội địa phương của tỉnh, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Căm thù sâu sắc giặc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai bán nước, theo tiếng gọi thiêng liêng của sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, năm 18 tuổi Từ Văn Tư xung phong nhập ngũ.

   Trong chiến đấu, Từ Văn Tư rất dũng cảm, có tác phong sâu sát, có lối đánh táo bạo, mưu trí. Trong những tình huống hiểm nghèo, Từ Văn Tư luôn luôn có mặt ở các mũi nhọn xung kích, nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, thể hiện tinh thần cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh.

   Chỉ tính trong Đông Xuân 1967 - 1968, Từ Văn Tư đã đánh 15 trận lớn, bản thân diệt 77 tên Mỹ - ngụy, riêng đợt Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968, Từ Văn Tư đã bám trụ suốt 3 ngày đêm trong lòng thị xã Phan Thiết, diệt 27 tên địch (có 7 tên Mỹ).

   Trong trận Bà Gò (tháng 2 năm 1967), Từ Văn Tư dẫn đầu một tổ luồn sâu qua các lô cốt địch, đặt mìn đánh khu nhà ở và trận địa pháo, diệt 125 tên Mỹ và phá hủy 2 khẩu pháo 105 mi-li-mét. Sau đó, lợi dụng thời cơ thuận lợi, đồng chí tiếp tục dẫn tổ luồn sâu vào căn cứ, đánh mìn diệt thêm 75 tên Mỹ và làm hư hại nặng 2 khẩu pháo 105 mi-li-mét. Trong trận này, riêng đồng chí diệt 30 tên Mỹ.

   Trong trận đánh vào dinh tỉnh trưởng ngụy quyền Bình Thuận (ngày 1 tháng 2 năm 1968), khi đơn vị vượt qua lớp rào thứ nhất thì gặp địch đi tuần. Từ Văn Tư chỉ huy một tổ dùng thủ pháo và B.40 tiêu diệt bọn chúng rồi nhanh chóng chiếm lô cốt đầu cầu, phát triển vào sâu bên trong, làm chủ trận địa tạo thuận lợi cho các mũi khác tiến công sâu vào thị xã. Hôm sau, từ Phan Thiết, địch tổ chức phản kích nhiều đợt, có máy bay, pháo binh yểm hộ. Từ Văn Tư bình tĩnh động viên anh em kiên cường chiến đấu giữ vững trận địa, hiệp đồng chặt chẽ với các tổ khác. Khi đơn vị được lệnh chuyển ra ngoại ô thị xã, theo sự phân công, Từ Văn Tư còn hám trụ lại trong thị xã suốt 7 ngày đêm, tham gia các trận đánh đồn Đinh Công Tráng, kho xăng, đồn Trịnh Tường.

   Trong trận đánh thị xã Phan Thiết lần thứ hai (ngày 17 tháng 2 năm 1968), Từ Văn Tư phụ trách múi đánh biệt khu Bình Lâm. Khi trận đánh bắt đầu, anh dẫn đầu tổ bộc phá 6 người đánh các lớp hàng rào. Mới mở được các lớp rào phía ngoài thì địch dùng hỏa lực bắn chặn dữ dội làm 4 đồng chí hy sinh. Quyết trả thù cho đồng đội, Từ Văn Tư khéo léo lợi dụng địa hình địa vật, dùng bộc phá lên đánh tan 2 lớp rào còn lại, tạo điều kiện cho đơn vị phát triển. Khoảng 5 giờ rưỡi sáng, địch tổ chức phản kích, có xe cơ giới đi trước, thọc vào đội hình của đơn vị ta. Từ Văn Tư áp sát xe địch, dùng thủ pháo đánh cháy 2 xe và dùng tiểu liên diệt 6 tên Mỹ trên xe. Bộ binh địch vẫn liều lĩnh xông lên. Mặc dù cả hai chân đều bị thương, Từ Văn Tư vẫn dũng cảm đánh lui các đợt tiến công của địch và động viên anh em kiên quyết làm tròn nhiệm vụ. Số anh em còn lại rất ít nhưng đều noi gương đồng chí giữ vững trận địa đánh lui 3 đợt tiến công của địch. Đến 3 giờ chiều, địch tổ chức tiến công về phía tổ bạn. Thấy đồng đội gặp khó khăn, Từ Văn Tư cắn răng chịu đau, bò lên miệng hầm, nổ súng tiêu diệt 2 tên Mỹ, phối hợp với bạn đánh lui đợt tiến công của địch. Đồng chí bị một mảnh cối xuyên vào bụng, không thể chiến đấu được nữa. Khi đơn vị tải thương đến, Từ Văn Tư nói với anh em: "Các đồng chí hãy đưa anh em khác ra, còn tôi chắc không thể sống được nữa. Hãy cho tôi 2 quả thủ pháo, tôi nằm lại đây tiếp tục chiến đấu với kẻ thù". Tấm gương kiên cựờng của anh đã cổ vũ anh em giữ vững trận địa suốt ngày hôm đó.

   Từ Văn Tư trong chiến đấu dù ác liệt đến thế nào cũng luôn luôn tìm mọi cách thực hiện bằng được mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên, lúc gian khổ khó khăn, xung phong gương mẫu, đi đầu hoàn thành nhiệm vụ, trong sinh hoạt đoàn kết, khiêm tốn học tập mọi người, được đồng đội yêu thương, mến phục.

   Đồng chí đã 3 lần được bầu là Dũng sĩ diệt Mỹ, 5 lần được bầu là Dũng sĩ Quyết thắng, 5 lần được tỉnh cấp giấy khen và bằng khen, được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất.

   Ngày 10 tháng 2 năm 1970, Từ Văn Tư được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 13 Tháng Mười Hai, 2012, 02:59:03 pm
ANH HÙNG NGUYỄN HỮU TRÍ
(LIỆT SĨ)

(http://imageshack.us/a/img109/917/nguyenhuutri.jpg)


   Nguyễn Hữu Trí, sinh năm 1933, dân tộc Kinh, quê ở xã Xà Phiên huyện Long Mỹ, tỉnh Cần Thơ, nhập ngũ năm 1949. Khi hy sinh đồng chí là tiểu đoàn phó đặc công đoàn 429 Bộ tư lệnh Miền, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Được cách mạng giáo dục về nhiệm vụ đấu tranh chống đế quốc, phong kiến, giành độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc, từ năm 13 tuổi (1946), Nguyễn Hữu Trí vào dân quân, đến năm 1949 vào bộ đội làm chiến sĩ trinh sát trên các chiến trường miền Tây và miền Trung Nam Bộ. Năm 1951, Nguyễn Hữu Trí được điều sang đặc công và chiến đấu ở Gia Định cho đến ngày tập kết ra Bắc. Năm 1960, đồng chí được cử vào quân tình nguyện làm nhiệm vụ quốc tế chiến đấu ở Lào. Đến tháng 3 năm 1967, Nguyễn Hữu Trí được trở về chiến trường miền Đông Nam Bộ.

   Qua hơn 20 năm chiến đấu liên tục trong hai cuộc kháng chiến cứu nước, Nguyễn Hữu Trí đã tham gia trên 60 trận đánh, luôn luôn nêu cao tinh thần tích cực tiến công tiêu diệt địch, sẵn sàng xả thân vì nước, khi chuẩn bị kế hoạch tác chiến điều tra, nghiên cứu tỉ mỉ tình hình, tìm tòi, sáng tạo các phương án thích hợp nhất, khi đánh địch thì dũng cảm, ngoan cường, táo bạo, chỉ huy đánh quyết liệt, đạt hiệu quả chiến đấu cao.

   Trong trận đánh thị xã Tây Ninh (10 tháng 7 năm 1967), đơn vị Nguyễn Hữu Trí có nhiệm vụ diệt trung tâm chiêu hồi. Mặc dù địch bố phòng nghiêm mật rất khó lọt vào, đồng chí xung phong đảm nhận điều tra nghiên cứu địch. Chỉ qua 2 đêm, đồng chí đột nhập vị trí địch, nắm được đủ yếu tố để đơn vị lập phương án đánh dịch. Sau đó, Nguyễn Hữu Trí đưa đơn vị vào diệt 6 mục tiêu trong thị xã, diệt 500 tên địch.

   Tháng 12 năm 1967, Nguyễn Hữu Trí được giao nhiệm vụ cùng một số cán bộ tổ chức và xây dựng liên đội 1 gồm 30 người đau yếu của tiểu đoàn và một số chiến sĩ mới, đồng chí góp sức xây dựng đơn vị trưởng thành nhanh. Khi giặc Mỹ đổ quân mở cuộc càn vào căn cứ, đồng chí chỉ huy đơn vị bám đánh địch liên tục 1 tháng, diệt 300 tên Mỹ, phá hủy 25 xe cơ giới, bắn cháy 12 máy bay.

   Trong trận đánh trung tâm truyền tin của Mỹ trên núi Bà Đen (tháng 5 năm 1968), Nguyễn Hữu Trí bàn bạc, thảo luận cách đánh với anh em, trực tiếp đi kiểm tra mục tiêu. Khi đơn vị bí mật luồn sâu vào vị trí, Nguyễn Hữu Trí chỉ huy các tổ cắt rào, điều lực lượng qua cửa mở. Khi trận đánh nổ ra, đồng chí luôn luôn có mặt ở các điểm quyết liệt, kịp thời xử trí tình huống và động viên anh em. Kết quả: đại đội 33 - một đơn vị mới xâv dựng - tiêu diệt 200 tên Mỹ, gồm 1 đại đội kỹ thuật thông tin và 1 đại đội bảo vệ, phá hủy toàn bộ thiết bị.

   Trên đường hành quân đến ngã ba Bà Chiêm, tổ đi đầu lọt vào giữa đội hình địch, Nguyễn Hữu Trí đi sau nghe súng nổ liền vượt lên, dùng tiểu liên bắn lướt sườn vào đội hình địch rồi chỉ huy anh em tiến công quyết liệt. Do xử trí linh hoạt, táo bạo của Nguyễn Hữu Trí, nên ta chỉ có 5 người đã làm tan tác đội hình 1 đại đội Mỹ, diệt 40 tên. Trong một trận đánh tiếp theo, do nắm chắc những hoạt động của địch và phán đoán chính xác rằng chúng đang rút, Nguyễn Hữu Trí tổ chức một cuộc tập kích táo bạo, giữa ban ngày, diệt 40 tên Mỹ, phá hủy 3 xe tăng, 5 khẩu pháo, bắn cháy 1 máy bay lên thẳng.

   Nhận nhiệm vụ đánh trung tâm truyền tin Bà Đen lần thứ hai, đêm 17 tháng 8 năm 1968, Nguyễn Hữu Trí chỉ huy đơn vị tiếp cận, cắt rào và lọt qua cửa mở. Ngay sau khi nổ súng, đồng chí đưa sở chỉ huy vào hẳn bên trong vị trí địch chỉ đạo chiến đấu. Giữa lúc các mũi tiến công của ta đang đánh sâu vào trong, địch từ các hầm ngầm bất ngờ bắn vào đội hình ta, làm cho tình huống trở nên phức tạp. Trước giờ phút quyết liệt đó, lực lượng dự bị trong tay không còn nữa, Nguyễn Hữu Trí bình tĩnh tổ chức anh em ở sở chỉ huy lại rồi chỉ huy anh em dùng bộc phá xông lên diệt hầm ngầm. Nguyễn Hữu Trí anh dũng hy sinh trong khi chỉ huy diệt hỏa điểm cuối cùng của địch.

   Nguyễn Hữu Trí là một tấm gương chiến đấu kiên cường, một cán bộ tổ chức chỉ huy tài giỏi, có ý thức tổ chức kỷ luật cao, tinh thần đoàn kết tốt, tác phong sâu sát, được anh em tin yêu, mến phục.

   Đồng chí nhiều lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ cấp ưu tú, Dũng sĩ diệt máy bay, Chiến sĩ thi đua, được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì.

   Ngày 10 tháng 2 năm 1970, Nguyễn Hữu Trí được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG BÙI VĂN HÒA
(LIỆT SĨ)


   Bùi Văn Hòa (tức Bùi Văn Hai), sinh năm 1940, dân tộc Kinh, quê ở xã Nhị Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, nhập ngũ ngày 16 tháng 5 năm 1961. Khi hy sinh đồng chí là trung đội phó, đội biệt động 238 thị xã Biên Hòa, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Được cách mạng giáo dục và giác ngộ, Bùi Văn Hòa hiểu rõ chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng của mọi người Việt Nam yêu nước. Vì vậy, ngay khi bắt đầu phong trào đồng khởi, đồng chí đã tham gia lực lượng vũ trang cách mạng ở địa phương, lúc đầu làm dân quân xã, sau vào bộ đội thị xã Biên Hòa.

   Bùi Văn Hòa dã tham gia 21 trận đánh, trong đó có 9 lần trực tiếp đánh vào khu vực tổng kho Long Bình (Biên Hòa). Chỉ tính 4 trận đánh kho Long Bình, Bùi Văn Hòa đã cùng đồng đội phá hủy 48 nhà kho gồm 1.240.397 quả đạn pháo các cỡ, 3.570 thùng thuốc nổ, 3 máy phát điện, 300 tấn nhiên liệu, 1 bể xăng lớn, 47 xe vận tải và xe bọc thép, diệt 705 tên Mỹ, ngụy.

   Trong chiến đấu, đồng chí nêu cao tinh thần khắc phục khó khăn, vượt qua nguy hiểm, tìm mọi cách để tiêu diệt địch, đánh táo bạo, mưu trí, luôn luôn hoàn thành xuất sác mọi nhiệm vụ.

   Trong trận đánh tổng kho Long Bình đêm 17 tháng 11 năm 1966, mặc dù địch đã rút kinh nghiệm bố trí thêm bãi mìn, xây thêm hàng rào, tăng cường sục sạo, nhưng do đã điều tra nghiên cứu, thông thạo địa hình, nắm vững các mục tiêu, Bùi Văn Hòa cùng các tổ nhanh chóng cắt rào, vượt qua các bãi mìn. Khi đã lọt vào khu vực kho địch, đồng chí nhường cho tổ bạn đánh kho mà mình đã điều tra và dẫn tổ mình đánh sang mục tiêu khác. Sau khi gài mìn định giờ, thấy còn thừa mìn và có điều kiện, đồng chí đề đạt ý kiến xin đánh thêm kho thuốc nổ và được chỉ huy trực tiếp đồng ý. Trận đánh tiến hành thuận lợi, ta phá hủy 3 kho (riêng đồng chí đánh 2 kho) gồm 144.000 quả đạn 105 và 203 mi-li-mét, 10.000 đạn rốc-két, 17 xe cơ giới (có 9 xe bọc thép), diệt 50 tên Mỹ.

   Trong trận đánh tổng kho Long Bình lần thứ tư (đêm 1 tháng 2 năm 1967), do địch thay đổi cách bố trí các kho, tăng cường lực lượng bảo vệ, quá trình điều tra nhiều lần bị lộ. Nếu cứ như những lần trước, đưa lực lượng đánh vào chính diện thì sẽ bị thất bại. Vì vậy Bùi Văn Hòa mạnh dạn đề đạt lên cấp trên một phương án tác chiến táo bạo. Đồng chí sẽ dẫn anh em đi vòng ra phía địch sơ hở, nhanh chóng lọt hẳn vào căn cứ địch, rồi từ trong luồn ra bám mục tiêu, đặt mìn xen kẽ để khi nổ sẽ phá được nhiều kho. Ý kiến của Bùi Văn Hòa được tập thể bàn bạc kỹ càng, cấp trên đồng ý. Trận đánh diễn ra tốt đẹp. Theo phân công, tổ đồng chí đánh 2 khu vực, đạt hiệu suất chiến đấu cao: phá hủy 40 nhà kho, 889.680 đạn pháo các loại, 23 xe cơ giới, 3 máy phát điện, giết 107 tên Mỹ, làm bị thương 243 tên khác.

   Chỉ trong 4 ngày cuối tháng 12 năm 1967, Bùi Văn Hòa cùng tổ 3 lần đánh khu vực kho Long Bình, đốt cháy 300 tấn nhiên liệu hóa chất và 1 bể xăng lớn, phá hủy 8 xe ủi đất, diệt tiểu đoàn lính Mỹ bảo vệ kho.

   Trong đêm mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968, Bùi Văn Hòa chỉ huy một mũi 6 người đánh điểm cao 53, phá hủy 24 kho đạn lớn và làm hư hại nhiều kho khác.

   Đêm 17 tháng 2 năm 1968, tổ Bùi Văn Hòa lại nhận nhiệm vụ đánh một khu kho khác ở điểm cao 53. Do địch bố phòng dày đặc không thể lọt vào kho, đồng chí cho đơn vị luồn sát cứ điểm địch, chọn địa hình có lợi rồi dùng B.40, B.41 và cối 60 mi-li-mét bắn thẳng vào khu kho, phá hủy 200 nhà để đạn, trong đó có một kho lớn.

   Bùi Văn Hòa đã anh dũng hy sinh ngày 28 tháng 2 năm 1968 trong khi đi điều tra nghiên cứu chuẩn bị một trận đánh mới.

   Bùi Văn Hòa là một người có phẩm chất tốt đẹp, luôn luôn gương mẫu trong công tác và sinh hoạt, sẵn sàng hy sinh vì nhiệm vụ, chân thành đoàn kết với mọi người, khiêm tốn học tập đồng đội, được anh em mến phục, cấp trên tin cậy.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 6 bằng khen và giấy khen.

   Ngày 10 tháng 2 năm 1970, Bùi Văn Hòa được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 13 Tháng Mười Hai, 2012, 03:02:50 pm
ANH HÙNG VŨ VĂN HUYNH

(http://imageshack.us/a/img687/3567/vuvanhuynh.jpg)


   Vũ Văn Huynh, sinh năm 1947, dân tộc Kinh, quê ở xã Quỳnh Hồng, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, nhập ngũ tháng 12 năm 1965. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2, trung đoàn 2, sư đoàn 1 chủ lực Đông Nam Bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Sinh trưởng trong một địa phương có truyền thống cách mạng, được giáo dục của nhà trường xã hội chủ nghĩa, Vũ Văn Huynh sớm nhận thức được nhiệm vụ của người thanh niên phải đi đầu trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước. Tháng 12 năm 1965, đồng chí xung phong nhập ngũ, tha thiết được đi chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

   Vũ Văn Huynh đã tham gia những chiến dịch lớn ở Khe Sanh, Bắc Tây Nguyên, Nam Tây Nguyên, đánh 10 trận lớn trên cương vị chỉ huy từ tiểu đội đến tiểu đoàn, riêng bản thân diệt 60 tên Mỹ.

   Trong chiến đấu, Vũ Văn Huynh luôn luôn dũng cảm, kiên cường, có tác phong chỉ huy quyết đoán, chính xác, táo bạo, ở cương vị nào củng hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc.

   Trong trận đánh điểm cao 845 trên Mặt trận Đường số 9 - Khe Sanh (tháng 6 năm 1967), Vũ Văn Huynh chỉ huy một tiểu đội bám sát, đánh mãnh liệt, diệt nhiều địch. Trận chiến đấu diễn ra rất ác liệt, đơn vị bị thương vong nhiều, dồng chí trung đội trưởng hy sinh. Vũ Văn Huynh bị đạn vào chân nhưng vẫn dùng tiểu liên, lựu đạn, B.40 đánh địch, thay thế trung đội trưởng động viên anh em dũng cảm chiến đấu diệt nhiều địch. Đến 4 giờ chiều, số địch còn lại giạt sang bên phải đồi, ở đó chúng vấp phải mìn của tổ công binh nên bị tiêu diệt hết. Trung đội xông lên chiếm hoàn toàn ngọn đồi. Như vậy là trong suốt 1 ngày chiến đấu, trung đội với lực lượng 15 người cùng một tổ công binh đã tiêu diệt 1 đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ gồm 150 tên; sức mạnh chung của tập thể đã tạo điều kiện cho đồng chí diệt 32 tên.

   Vào chiến trường Tây Nguyên, đại đội Vũ Vãn Huynh được giao nhiệm vụ đánh cứ điểm Ngọc Hồi (tháng 5 năm 1968). Đồng chí trực tiếp đi trinh sát tỉ mỉ, cụ thể, lập kế hoạch tác chiến đúng. Khi đánh vào cứ điểm, Vũ Văn Huynh dẫn tiểu đội mủi nhọn xốc thẳng vào sở chỉ huy địch, tạo thuận lợi cho đại đội chia cắt địch ra từng mảng để diệt. Nắm vững thời cơ địch bị thiệt hại nặng, số còn lại hoang mang dao động, đồng chí nhảy lên lô cốt kêu gọi đại đội biệt kích ngụy, bắt 18 tên, thu nhiều súng các loại.

   Tại miền Đông Nam Bộ, Vũ Văn Huynh chỉ huy tiểu đoàn đánh trận tập kích táo bạo vào cụm quân Mỹ đóng ở Cầu Khởi (ngày 2 tháng 4 năm 1969), diệt 347 tên, phá hủy 24 xe bọc thép, 4 máy bay. Tinh thần chiến đấu dũng cảm, mưu trí của đồng chí lại biểu hiện rõ trong trận chống càn ở Bàu Trâm, quận Dương Minh Châu ngày 9 tháng 6 năm 1969. Lực lượng ta ở mặt này chỉ có 5 đồng chí liên lạc, trinh sát và một bộ phận của sở chỉ huy trung đoàn mà quân địch thì dùng 60 xe tăng và xe bọc thép cùng nhiều bộ binh xông vào. Trước tình huống rất gay go, Vũ Văn Huynh xác định quyết tâm phải bảo vệ sở chỉ huy trung đoàn. Đồng chí vừa động viên, vừa phân công anh em lợi dụng địa hình có lợi chiến đấu, vừa trực tiếp dùng tiểu liên, B.40 chặn địch. Trong một lần quân địch đã đến gần, Vũ Văn Huynh dũng cảm ra lệnh cho súng cối bắn thẳng vào vị trí chiến đấu của mình để vừa tiêu diệt địch vừa kéo hỏa lực của chúng sang phía mình nhằm cứu nguy cho sở chỉ huy trung đoàn. Lực lượng bên ta tuy ít, nhưng có công sự tốt, bắn chính xác nên đánh bật nhiều đợt tiến công của địch, diệt nhiều tên. Địch dùng súng M.79 bắn mạnh về phía hầm. Khi thấy 1 quả lựu đạn lọt vào hầm chỉ huy, Vũ Văn Huynh bình tĩnh và gan dạ nhảy xuống hầm nhặt ném ra ngoài, lựu đạn rời khỏi tay thì nổ, đồng chí bị thương vào mắt, tay, nửa người bên phải và ngất đi. Hành động dũng cảm đó của Vũ Văn Huynh đã cứu được các đồng chí chỉ huy trung đoàn và 3 thương binh trong hầm.

   Vũ Văn Huynh là một cán bộ có đức tính khiêm tốn, giản dị, đoàn kết nội bộ, sẵn sàng hy sinh thân mình bảo vệ đồng đội. Đồng chí gương mẫu và động viên mọi người làm tốt công tác thương binh, chăm lo xây dựng đơn vị nên được cấp trên tin cậy, anh em mến phục.

   Đồng chí đã được khen thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 6 bằng khen và giấy khen, 3 lần đạt danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, 2 lần đạt Chiến sĩ Quyết thắng.

   Ngày 10 tháng 2 năm 1970, Vũ Văn Huynh được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG PHAN CÔNG NAM

(http://imageshack.us/a/img715/3656/phancongnam.jpg)


   Phan Công Nam, sinh năm 1945, dân tộc Kinh, quê ở xã Kỳ Lạc, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, nhập ngũ tháng 8 năm 1964. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại đội trưởng thuộc tiểu đoàn 24 phòng không, sư đoàn 1 chủ lực Đông Nam Bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Lớn lên từ quê hương Xô-viết Nghệ Tĩnh, trong một gia đình cách mạng  có cha tham gia phong trào Xô-viết năm 1930 - 1931, Phan Công Nam sớm được giáo dục lòng yêu nước, thương dần, lòng căm thù sâu sắc bọn cướp nước và bè lũ bán nước. Sau khi vào bộ đội, tháng 12 năm 1964, đồng chí được phân công vào miền Nam chiến đấu.

   Phan Công Nam đã tham gia 174 trận đánh, trực tiếp bắn rơi 10 máy bay (có 3 tiêm kích phản lực), cùng khẩu đội bắn rơi 12 chiếc khác. Ngoài ra đồng chí còn chỉ huy trung đội, đại đội bẳn rơi hàng loạt máy  bay địch trong những trận chúng đổ bộ đường không, và đánh bộ binh địch 2 trận, diệt 60 tên.

   Trong trận Plây Me (1965), đơn vị chiếm lĩnh trận địa ở bãi trống, chưa kịp đào công sự thì máy bay, pháo binh địch bắn phá dữ dội vào trận địa. Bất chấp nguy hiểm, Phan Công Nam bình tĩnh chữa lại súng bị hóc rồi cùng đồng đội bắn chính xác, hạ 2 máy bay lên thẳng địch.

   Trong trận đánh bên bờ sông Sa Thầy (tháng 11 năm 1966), mặc dù đang bị sốt, Phan Công Nam kiên quyết bám trụ, cùng đồng đội hạ 7 máy bay địch. Khi được lệnh di chuyển trận địa, đồng chí một mình vác nòng súng nặng 34 ki-lô-gam đang nóng bỏng, nhanh chóng đến vị trí mới tiếp tục chiến đấu.

   Đầu mùa Xuân năm 1968, trong khẩu đội có một số đồng chí bị ốm, Phan Công Nam tình nguyện mang vác một khối lượng súng đạn khoảng 50 ki-lô-gam trong suốt 10 ngày hành quân, góp phần bảo đảm đơn vị đến vị trí mới ở Ngọc Cung đúng kế hoạch. Đang chuẩn bị công sự chiến đấu thì pháo địch bắn dữ dội. Nếu đợi ngớt rồi mới phát quang xạ giới thì sẽ lỡ thời cơ diệt địch, Phan Công Nam bất chấp hoàn cảnh ác liệt, nhảy lên khỏi hầm và vận động anh em đốn cây to trước mặt. Việc làm kịp thời đó tạo thuận lợi cho đơn vị chiến đấu quyết liệt với địch suốt 3 ngày đêm, bắn rơi 10 máy bay Mỹ (có 5 tiêm kích, 4 lên thẳng và 1 trinh sát L.19).

   Khi ở cương vị cán bộ chỉ huy, Phan Công Nam tích cực suy nghĩ tìm tòi nhiều cách đánh mưu trí, táo bạo, giành thắng lợi giòn giã. Trong đợt vây ép Plây Cần, gặp tình huống khẩn trương, sau khi chọn hướng chính xác, Phan Công Nam quyết định đặt pháo trên mặt đất bắn. Máy bay lên thẳng địch bị hòa lực bất ngờ của đơn vị đồng chí bắn rơi trong một đợt 7 chiếc chở đầy quân tiếp viện.

   Ở Bàu Cỏ miền Đông Nam Bộ (tháng 1 năm 1969), Phan Công Nam nghiên cứu kỹ địa hình, cùng tập thể ban chỉ huy đề ra phương án chiến đấu thích hợp. Khi trận đánh diễn ra, các khẩu đội di chuyển linh hoạt, hiệp đồng chặt chẽ, đón đúng đường bay, đánh một trận đạt hiệu suất cao, Đại đội đồng chí phối hợp với một đại đội bạn bắn rơi 70 máy bay địch.

   Phan Công Nam chấp hành nghiêm mọi chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên, thực hiện tốt kỷ luật dân vận, đoàn kết, tận tình giúp đỡ đồng đội, xây dựng đom vị, nên được tập thể yêu mến, tạo điều kiện cho đồng chí hoàn thành nhiệm vụ, trưởng thành nhanh chóng.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 5 bằng khen, 9 giấy khen, 6 lần đạt danh hiệu Dũng sĩ bắn máy bay, 1 lần Dũng sĩ diệt Mỹ, 1 lần Dũng sĩ Quyết thắng.

   Ngày 10 tháng 2 nãm 1970, Phan Công Nam được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 13 Tháng Mười Hai, 2012, 03:05:56 pm
ANH HÙNG LÊ THỊ SÁU

(http://imageshack.us/a/img21/6245/lethisau.jpg)


   Lê Thị Sáu (tức Trần Thị Biết), sinh năm 1929, dân tộc Kinh, quê ở xã Đức Hòa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là cán bộ đại đội bậc trưởng thuộc phòng 2, cục tham mưu Quân khu 7, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Sớm được giác ngộ cách mạng, ngay từ khi mới 17 tuổi (năm 1947) Lê Thị Sáu đã tham gia kháng chiến chống Pháp. Sau ngày ký Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, đồng chí được Đảng phân công ở lại miền Nam làm các nhiệm vụ liên lạc, giao thông, xây dựng cơ sở, lấy tin tức từ vùng địch báo cáo lên cấp trên.

   Do yêu cầu công tác, Lê Thị Sáu đã làm nhiều nhiệm vụ ở nhiều vùng khác nhau, nhưng ở đâu đồng chí cũng thể hiện bản lĩnh kiên cường, vượt mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Gần 20 năm công tác, đồng chí chưa hề làm mất một tài liệu hoặc làm lộ một bí mật nào của tổ chức.

   Mùa Đông năm 1967, trong khi bọn xâm lược Mỹ mở cuộc phản công mùa khô lần thứ 2, Lê Thị Sáu được tổ chức điều đến hoạt động ở một chiến trường rừng núi, rất xa lạ với đồng chí. Để giữ bí mật cho công tác theo dõi địch, nắm tình hình và truyền tin tức, Lê Thị Sáu được bố trí vào làm công trong một gia đình giàu có. Đồng chí khéo léo làm việc tránh được mọi sự nghi ngờ của địch mà vẫn liên lạc được với cơ sở lấy tin tức và báo cáo lên trên. Trong điều kiện như vậy, đồng chí liên tục hoạt động, phục vụ đắc lực cho chiến dịch mùa đông năm 1967 của bộ đội chủ lực miền Đông Nam Bộ.

   Đầu năm 1968, Lê Thị Sáu được điều vào Sài Gòn vừa ỉảm chiến sĩ giao thông vừa làm trinh sát phục vụ cho các đơn vị mũi nhọn đánh vào thành phố. Ngày 28 Tết Mậu Thân, trên đường đi công tác chẳng may bị lọt vào trận địa phục kích của địch, Lê Thị Sáu bị thương nặng, trong người còn mang theo tài liệu. Nếu để sa vào tay giặc sẽ bị lộ bí mật, cho nên mặc dù vết thương ở chân rất nặng, đồng chí vẫn cố lết đến nhà cơ sở (địa điểm hộp thư liên lạc bí mật) báo cáo tình hình, bàn giao tài liệu rồi mới để cơ sở chuyển mình đến một nhà thương trong thành phố. Sau 2 tháng điều trị, Lê Thị Sáu ra viện với thương tật rất nặng nề: đi đứng không vững, tay chân cử động khó khăn. Lòng quyết tâm trở lại đội ngũ chiến đấu đã thúc đẩy đồng chí khổ công luyện tập khắc phục thương tật. Sau 3 tháng kiên trì rèn luyện, Lê Thị Sáu đi lại được tương đối vững vàng. Rất sung sướng vớì kết quả luyện tập, đồng chí báo cáo xin tổ chức cho nhận công tác. Được tổ chức đồng ý, Lê Thị Sáu trở lại làm nhiệm vụ giao thông liên lạc giữa lúc cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968 đang tiêp diễn. Lúc này tình hình trong thành phố Sài Gòn rất căng thẳng, hoạt động của đồng chí có nhiều khó khăn. Mặc dù địch tăng cường kiểm soát, lùng sục cả trong thành phố, vùng ven và khu tiếp giáp, đồng chí vẫn khéo léo mang tài liệu vượt qua tất cả các chặng kiểm soát, làm tròn mọi nhiệm vụ được giao.

   Liên tục công tác ở trong vùng địch, Lê Thị Sáu không những kiên cường, dũng cảm, mưu trí, mà còn là một tấm gương kiên định, vững vàng, cần kiệm, gian dị. Phải sống ở giữa nơi xa hoa để hoại động, lại phải nuôi bố, mẹ chồng và 6 con nhỏ ở Sài Gòn. nhưng Lê Thị Sáu rất tiết kiệm, tằn tiện từng đồng bạc của tổ chức. Đồng chí vui vẻ tự nguyện rút bớt kinh phí chi tiêu của cấp trên cho và tự lực kiếm thêm tiền bằng nghề bán cháo rong. Cùng với gia đình sống kham khổ nhưng Lê Thị Sáu luôn luôn quan tâm lo lắng đến đồng đội, tiền bán cháo và tiền chăn nuôi gia cầm, đồng chí gom góp lại rồi mua quà cho anh em.

   Lê Thị Sáu là một cán bộ tận tụy, trung thành với sự nghiệp cách mạng, là một tấm gương trong sáng về phẩm chất, đạo đức cán bộ cách mạng. Đồng chí luôn luôn phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Thương yêu nhân dân, giúp đỡ đồng đội, đồng chí được quần chúng cách mạng cơ sở tin tưởng che chở, được anh em mến phục, quý trọng.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì và 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba.

   Ngày 10 tháng 2 năm 1970, Lê Thị Sau được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG NGUYỄN XUÂN TÌNH

(http://imageshack.us/a/img835/5117/nguyenxuantinh.jpg)



   Nguyễn Xuân Tình, sinh năm 1943, dân tộc Kinh, quê ở xã Cẩm Mỹ, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, nhập ngũ năm 1961. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là tiểu đoàn phó đặc công đoàn 429, Quân khu 7, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Được chế độ mới nuôi dưỡng và giáo dục, Nguyễn Xuân Tình sớm giác ngộ lý tưởng cao đẹp của thanh niên, hiểu rõ nghĩa vụ của tuổi trẻ đối với Tổ quốc và nhân dân. Nãm 18 tuổi, đồng chí xung phong vào bộ đội và đến năm 1965 được phân công vào Nam chiến đấu.

   Qua hơn 3 năm ở chiến trường, Nguyễn Xuân Tình đã diệt 180 tên địch (có 120 tên Mỹ), bắt 2 tù binh, thu 2 súng, phá hủy hơn 30 hầm ngầm, lô cốt, 3 kho xăng, diệt 11 xe cơ giới (có 9 xe tăng và xe bọc thép).

   Nguyễn Xuân Tình là một tấm gương dũng cảm và mưu trí trong chiến đấu, xung phong đi đầu khi gặp khó khăn nguy hiểm, luôn luôn tìm tòi, sáng tạo cách đánh tốt, có tác phong sâu sát, tỉ mỉ, xây dựng đơn vị chiến đấu, đạt hiệu suất diệt địch cao.

   Trong trận đánh phối hợp chi viện cho anh em binh sĩ yêu nước trung đoàn 1 thiết giáp ngụy khởi nghĩa (ngày 3 tháng 3 năm 1966 tại Bình Dương), đồng chí mưu trí chiếm 1 xe tăng M.41 của địch rồi dùng súng 12,7 mi-li-mét trên xe bắn vào toán địch phản kích. Địch cho 2 xe M.41 từ sở chỉ huy ra phản công, Nguyễn Xuân Tình bình tĩnh chiếm địa hình có lợi, dùng B.40 bắn chính xác lần lượt diệt cả 2 xe. Sau đó, theo lệnh cấp trên, đồng chí sang chi viện cho mũi bạn đánh khu xe M.113, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

   Tháng 7 năm 1967, trong trận đánh căn cứ Téc-ních mở màn cho chiến dịch Bình Long, Nguyễn Xuân Tình được phân công làm mũi phó phụ trách mở cửa cho đơn vị tiến công. Sau khi phá hết các lớp rào, còn hàng rào cuối củng, bộc phá không nổ, đổng chí nhanh trí ôm ống bộc phá đè hàng rào xuống, cho anh em kịp thời nhảy qua đánh sâu vào căn cứ, Nguyễn Xuân Tình thay thế đồng chí mũi trưởng hy sinh, chỉ huy anh em đánh vào bãi xe cơ giới. Khi đánh vào giữa căn cứ, thấy tổ bạn đánh sở chỉ huy gặp khó khăn, Nguyễn Xuân Tình dùng B.40 trực tiếp diệt hỏa điểm, chi viện đắc lực cho đồng đội diệt sở chỉ huy địch. Trận đánh đã hoàn thành mục đích đề ra, đồng chí cùng một số anh em được phân công ở lại kiểm tra chiến trường và yểm hộ cho các mũi rút ra ngoài. Lúc này, địch tiếp viện 60 xe tăng và xe bọc thép phản kích hòng bao vây bộ phận các đồng chí ở lại sau. Cả tổ chỉ còn 1 khẩu B.40 với 6 quả đạn và một ít đạn tiểu liên. Nguyễn Xuân Tình bình tĩnh tổ chức, động viên anh em chiến đấu rồi dùng B.40 bắn 5 quả, diệt 4 xe, mở đường ra ngoài căn cứ. Nhưng khi ra đến cửa mở, các đồng chí gặp 3 xe địch bắn ác liệt hòng bịt lối ra. Trong tay lúc này chỉ còn 1 quả đạn chống tăng, Nguyễn Xuân Tình sực nhớ lúc vào có một chiến sĩ mang đạn B.40 bị thương ở cửa mở. Đồng chí quay lại và tìm được 2 quả. Phối hợp với tổ giữ cửa mở, Nguyễn Xuân Tình bắn diệt 2 xe (còn 1 xe bỏ chạy), các đồng chí phá vỡ vòng vây của địch, rút ra ngoài.

   Tháng 12 năm 1967, Nguyễn Xuân Tình hoàn thành xuất sầc nhiệm vụ điều tra căn cứ Lai Khê, rồi căn cứ Dầu Tiếng. Riêng ở căn cứ Dầu Tiếng, đã gần đến ngày nổ súng mà vẫn còn 1 hướng chưa điều tra được. Đơn vị cấp tốc cử Nguyễn Xuân Tình dẫn 2 chiến sĩ nửa đi nghiên cứu hướng này. Dọc đường, cả 2 chiến sĩ kia bị ốm, phải nằm lại. Để đảm bảo triệt để chấp hành mệnh lệnh, Nguyễn Xuân Tình một mình đột nhập qua 5 lớp rào trong 1 đêm, vượt các lô cốt canh phòng, vào tận mục tiêu chính của trận đánh để xác định hướng đánh. Kết quả công tác điều tra của đồng chí phục vụ cho cấp trên tổ chức 2 trận đánh thắng lợi.

   Tháng 4 năm 1968, tuy vừa đi điều trị ở bệnh viện về, nhưng thấy thời điểm nổ súng đánh trại biệt kích Cà Tum đã gần mà bộ phận điều tra nghiên cứu vẫn chưa vào được vị trí chính, Nguyễn Xuân Tình nhận nhiệm vụ dẫn tổ điều tra luồn qua 16 lớp rào, vào trong nắm tình hình, xác định cách đánh. Đồng chí được phân công chỉ huy mũi chủ yếu của trận đánh. Trong khi các mũi đều phát triển thuận lợi đánh vào căn cứ địch, thì mũi chủ yếu bị hỏa lực địch ngăn chặn ác liệt. Nguyễn Xuân Tình kịp thời cho tổ dự bị đánh vòng vào sở chỉ huy địch làm bọn địch rối loạn từ trong, do đó đơn vị thọc sâu, đánh nhanh diệt gọn sở chỉ huy địch cùng một đại đội biệt kích gồm 185 tên.

   Nguyễn Xuân Tình chấp hành nghiêm chỉnh mọi mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên, luôn luôn đi đầu trong mọi công tác, có tác phong sâu sát, hết lòng thương yêu giúp đỡ anh em lúc thường cũng như lúc chiến đấu, được cấp trên tin tưởng và đồng đội mến phục, giúp đỡ đồng chí hoàn thành nhiệm vụ.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì và 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 16 bằng khen và giấy khen, 19 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, Dũng sĩ Quyết thắng, Dũng sĩ diệt xe cơ giới.

   Ngày 10 tháng 2 năm 1970, Nguyễn Xuân Tình được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 13 Tháng Mười Hai, 2012, 03:09:17 pm
ANH HÙNG TRƯƠNG VĂN THÀNH

(http://img844.imageshack.us/img844/7247/truongvanthanh.jpg)


   Trương Văn Thành, sinh năm 1948, dân tộc Kinh, quê ở xã Tăng Nhơn Phú, huyện Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh, nhập ngũ tháng 7 năm 1962. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung đội phó thông tin thuộc bộ đội chủ lực miền Đông Nam Bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo ở địa phương có truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường chống đế quốc và phong kiến, bản thân thấy rõ cảnh đồng bào bị Mỹ - ngụy đàn áp, bóc lột dã man, nên khi mới 14 tuổi, Trương Văn Thành đã tình nguyện xin vào bộ đội với ý nghĩ được góp phần chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, giải phóng Tô quốc. Hoạt động trên một chiến trường có nhiều gian khổ, khó khăn, ác liệt, làm nhiệm vụ thông tin, đồng chí luôn luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, tận tụy với nhiệm vụ, kiên trì chịu đựng gian khổ, dũng cảm vượt mọi khó khăn, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

   Là một chiến sĩ thông tin vận động, trong 7 năm công tác, Trương Văn Thành hàng trăm lần xuyên rừng vượt suối, có khi đi mấy ngày đêm liền chuyển công văn hỏa tốc đến các đơn vị. Trên đường đi có nhiều lần phải len lỏi sát đồn, bốt địch, qua những nơi địch thường phục kích, dù hoàn cảnh khó khăn thế nào, Trương Văn Thành củng đảm bảo đưa công văn đúng thời gian quy định, an toàn, phục vụ kịp thời yêu cầu chiến đấu.

   Đặc biệt trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968, Trương Văn Thành chỉ huy một tổ chốt trên đường dây ở vùng ven Sài Gòn làm nhiệm vụ đảm bảo thông tin liên lạc và đưa đón cán bộ, bộ đội, thương binh vào và ra nội thành Sài Gòn. Khu vực tổ đồng chí làm nhiệm vụ là nơi địch cho máy bay, pháo binh đánh phá liên tục nẹày, đêm rất ác liệt. Trương Văn Thành cùng đồng đội kiên cường bám trụ gần 100 ngày trên địa bàn được giao, tìm mọi cách khác phục khó khăn gian khổ, phát huy sáng kiến, hoàn thành nhiệm vụ. Đồng chí nhiều lần ngụy trang bằng rạ, bò trên đồng trống giữa ban ngày trong lúc máy bay địch đang bắn phá để nối dây điện thoại đảm bảo thông tin thông suốt kịp thời. Nhiều đêm chở bộ đội qua sông bị máy bay địch rà thấp lùng sục, đồng chí vẫn bình tĩnh, mưu trí chèo chống đưa thuyền cập bến an toàn. Suốt mùa Xuân 1968, tổ công tác do Trương Văn Thành chỉ huy đã đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt, kịp thời, phục vụ đắc lực cho công tác chỉ huy và cho các đơn vị đánh địch ở vùng ven và nội thành Sài Gòn. Ngoài ra, tổ của đồng chí còn làm tốt công tác hiệp đồng chiến đấu với dân quân xã, tích cực giúp đỡ nhân dân, do đó tạo điều kiện bám trụ được dài ngày trên địa bàn vô cùng ác liệt.

   Trương Văn Thành có tác phong khiêm tốn, giản dị, đoàn kết quý trọng đồng đội, thường xuyên nhận việc khó về mình, gương mẫu trong công tác và sinh hoạt, được đồng đội hết lòng yêu mến và giúp đỡ, cấp trên tin tưởng.

   Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhất và 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng ba, 7 năm liền được bầu Chiến sĩ thi đua.

   Ngày 10 tháng 2 năm 1970, Trương Văn Thành được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG NGÔ VĂN NHẠC
(LIỆT SĨ)


   Ngô Văn Nhạc, sinh năm 1931, dân tộc Kinh, quê ở xã Mỹ Lợi, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, tham gia cách mạng tháng 12 năm 1959. Khi hy sinh đồng chí là chính trị viên xã đội xã Mỹ Lợi, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Ngô Văn Nhạc sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo giàu lòng yêu nước. Ngay trong những năm Mỹ - Diệm điên cuồng tàn sát đồng bào, gia đình đồng chí vẫn một lòng hướng về cách mạng, không sợ hiểm nguy đã bí mật nuôi 6 cán bộ cách mạng. Đồng chí cũng hăng hái tham gia hoạt động từ năm 1959, lúc đầu làm giao thông liên lạc, sau tham gia phong trào đồng khởi ở địa phương. Năm 1960, đồng chí gia nhập lực lượng vũ trang.

   Đồng chí là một tấm gương tận trung với nước, tận hiếu với dân, chiến đấu anh dũng, kiên cường, quyết tâm tiêu diệt địch đến hơi thở cuối cùng.

   Năm 1964, trong thời gian làm trung đội trưởng trung đội địa phương của huyện đội Cái Bè, Ngô Văn Nhạc đã 2 lần bị thương trong chiến đấu. Do sức yếu, đồng chí dược huyện đội điều về phụ trách tổ trưởng dân quân huyện Cái Bè. Đến năm 1965, trong một lần đi công tác, bị mìn nổ, cụt một chân, Ngô Văn Nhạc được cấp trên điều về công tác ở xã, phụ trách công tác trị an. Năm 1967, đồng chí làm chính trị viên xã đội xã Mỹ Lợi vả thường trực ban quân sự xã, trực tiếp phụ trách 3 ấp loại yếu của xã nằm ở ven đường số 4.

   Lúc mới về xã, phong trào quần chúng còn chưa mạnh do địch khủng bố đàn áp. Ngô Văn Nhạc kiên trì cùng cán bộ cơ sở củng cố dân quân, phát động phong trào tận dụng mọi vũ khí tự tạo, vũ khí thô sơ đánh địch. Đội dân quân từ chỗ diệt ít địch, dần dần có kinh nghiệm diệt được nhiều địch hơn. Phong trào đánh giặc trừ gian phát triển ra khắp xã và sang cả xã bạn. Ngô Văn Nhạc đã góp phần chỉ đạo đội dân quân xã diệt 250 tên địch, làm bị thương 179 tên khác, phối hợp với xã An Thới Đông diệt gọn 1 trung đội lính ngụy, phá hủy 55 xe các loại. Riêng đồng chí dù thương tật nặng nề cũng tham gia đánh địch bằng chông, mìn, lựu đạn, diệt 3 tên, làm bị thương 6 tên.

   Khi phong trào toàn dân đánh giặc ở 3 ấp yếu nằm ven đường số 4 đã tiến mạnh. Ngô Văn Nhạc được phân công trở về chỉ đạo các ấp trong vùng giải phóng chống địch càn phá. Lúc này địch mở chiến dịch giải toả đường số 4. Chúng càn quét liên miên, có đợt càn liền 25 ngày, nhưng do phong trào được kịp thời củng cố, không những xã đánh địch tại chỗ mà còn huy động nhân lực đi phục vụ bộ đội trong đợt tổng tiến công và nổi dậy đầu năm 1968. Tháng 5 năm 1968,đồng chí tình nguyện đón một đồng chí thương binh cụt 2 chân về bảo vệ và nuôi dưỡng. Sau khi bàn bạc trong cấp ủy Đảng, đồng chí thành lập tổ thương binh gồm 3 người: Ngô Văn Nhạc thương binh, con trai anh cũng bị thương được giải ngũ và một thương binh nữa. Tổ đồng chí tận dụng các loại pháo lép, lựu đạn hỏng chế tạo thành các loại cạm bẫy kết hợp với hầm hố chông chiến đấu có hiệu quả, diệt nhiều địch. Những trận đánh thắng lợi của tổ thương binh đã góp phần thúc đẩy phong trào toàn dân giết giặc bằng các loại vũ khí thô sơ của toàn xã. Riêng tổ thương binh của đồng chí Ngô Văn Nhạc từ tháng 6 năm 1968 đến tháng 2 năm 1969, đã diệt được 85 tên địch. Trong một trận chống càn quy mô lớn của địch, có máy bay, pháo binh yểm hộ, Ngô Văn Nhạc đã anh dũng hy sinh.

   Ngô Văn Nhạc sống giản dị, hết lòng thương yêu đồng bào, đồng chí, gương mẫu đi đầu trong mọi hoàn cảnh khó khăn, gian khổ, được bà con và đồng đội rất mến phục, tin yêu.

   Ngày 10 tháng 2 năm 1970, Ngô Văn Nhạc được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 23 Tháng Tư, 2013, 03:58:43 pm
ANH HÙNG NGUYỄN VĂN CHO


   Nguyễn Văn Cho, sinh năm 1949, dân tộc Kinh, quê ở xã Mỹ Nhơn, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre, nhập ngũ ngàv 11 tháng 11 năm 1964. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung đội trưởng thuộc tiểu đoàn đoàn 261 (tiểu đoàn Hi-rôn), đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Sinh trưởng trong một gia đình nghèo, anh em, họ hàng đều tham gia kháng chiến, ở một địa phương Mỹ -ngụy khủng bố tàn sát dã man đồng bào, Nguyễn Văn Cho sớm có lòng căm thù bọn cướp nước và bè lũ bán nước. Năm 15 tuổi, đồng chí xin phép gia đình xung phong nhập ngũ giết giặc, cứu nước.

   Nguyễn Văn Cho đã tham gia 35 trận đánh, diệt 138 tên địch, bắt 5 tù binh (trong đó có 1 trung úy), bắn cháy 3 xe GMC, bắn hỏng 2 xe M.113.

   Trong chiến đấu, Nguyễn Văn Cho là một tay súng xuất sắc dù gặp địch nhiều cũng kiên quyết tiến công, bị thương, không rời trận địa.

   Trong trận đánh thị trấn Cai Lậy (năm 1967), đồng chí dùng đại liên chi viện rất đắc lực cho bộ binh tiến công thuận lợi sâu vào trong thị xã. Giữa cuộc chiến đấu thì bị thương vào đùi, nhưng vì nhiệm vụ cấp bách đang chế áp hỏa điểm địch, Nguyễn Văn Cho không kịp băng, mà nén đau không rời tay súng, bắn chính xác đến khi diệt mục tiêu xong mới tự băng bó vết thương. Khi rút ra ngoài thị xã, đồng chí nhường cáng cho đồng đội bị thương, cố sức tự trở về căn cứ.

   Đặc biệt, trong trận đánh thị xã Mỹ Tho (đầu Xuân 1968), Nguyễn Văn Cho là khẩu đội trưởng chỉ huy đại liên dũng mãnh yểm hộ bộ binh, diệt nhiều địch, phối hợp với súng B.41 bẳn cháy 4 xe M.113, rồi phát, triển đánh dinh tỉnh trưởng ngụy. Sang ngày thứ hai, địch phản kích dữ dội, mặc dù bị mất liên lạc với đại đội, theo mệnh lệnh của cấp trên, đồng chí vẫn chỉ huy anh em kiên trì bám trụ, diệt địch. Máy bay và pháo binh địch tập trung bắn vào chốt khẩu đội làm cho khẩu đội có 5 người thì 2 hy sinh, 1 bị thương nặng. Sau khi chuyển thương binh, tử sĩ ra vòng ngoài cho dân công, Nguvễn Văn Cho cùng một chiến sĩ kiên quyết quay lại giữ vị trí. Vừa lúc địch cho 2 xe GMC chở đầy lính đến phản công. Đồng chí lập tức nổ súng, khoảng 30 phút diệt một số lớn địch, 10 tên còn lại vội giơ tay xin hàng. Nhưng khi bọn địch thấy ta chỉ có 2 người xông lên, chúng bắn lại. Nguyễn Văn Cho hạ nòng súng đại liên quét một loạt, diệt tại chỗ 6 tên và làm 2 xe GMC bốc cháy, chỉ có 4   tên chạy thoát. Lúc này đạn chỉ còn 50 viên, 2 anh em nhảy lên xe kiếm đạn. Vừa lắp đạn vào súng thì 1 xe GMC chở lính chạy đến. Bình tĩnh để địch đến gần, Nguyễn Văn Cho bất ngờ nổ súng mãnh liệt diệt gọn trung đội trên xe. Hai anh em lại thu nhặt đạn của địch và khi bắt liên lạc được với đại đội, Nguyễn Văn Cho tiếp tục dùng đại liên, chi viện cho đơn vị tiến công. Thấy hỏa điểm đại liên của ta rất nguy hiểm cho chúng, địch cho 1 đại đội đánh thẳng vào vị trí của khẩu đại liên Nguyễn Vãn Cho. Lúc này tuy vẫn chỉ còn 2 người, các đồng chí dũng cảm chiến đấu, cơ động vị trí, đánh bật nhiều đợt xung phong của địch khiến chúng cuối củng phải bỏ chạy. Đến trưa ngày hôm sau, địch huy động một lực lượng lớn đánh vào trận địa ta, có 1 đại đội đánh vào khẩu đại liên của đồng chí. Dũng cảm chiến đấu trước số quân rất đông của giặc, Nguyễn Văn Cho bị thương thêm 2 vết ở đầu và khóe mắt làm cho mắt phải không nhìn được. Đồng chí dùng mắt trái ngắm bắn địch, diệt tại chỗ gần 20 tên, làm chúng phải bỏ chạy, bảo vệ được sở chỉ huy tiểu đoàn. Tuy trên người đã có 5 vết thương, Nguyễn Văn Cho còn tiếp tục tham gia nhiều trận đánh trong thị xã, diệt nhiều địch, hoàn thành tốt nhiệm vụ.

   Nguyễn Văn Cho luôn luôn nêu cao tinh thần triệt để chấp hành mọi chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên, đoàn kết tốt, khiêm tốn, giản dị, được đồng đội tin yêu, cấp trên tin tưởng.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giai phóng hạng nhì, được bầu là Chiến sĩ thi đua quân khu, nhiều lần được cấp giấy khen, bằng khen.

   Ngày 10 tháng 2 năm 1970, Nguyễn Văn Cho được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG NGUYỄN THẾ ĐOÀN

(http://imageshack.us/a/img585/1/nguyenthedoan.jpg)


   Nguyễn Thế Đoàn ( tức Hai Thủy), sinh năm 1938, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Phú A, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, nhập ngũ nãm 1953. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là y sĩ, đội phó đội phẫu thuật tiền phương tỉnh Bến Tre, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Sinh trưởng trong một gia đình có cha và em tham gia kháng chiến, năm 14 tuổi Nguyễn Thế Đoàn đã tham gia dân quân ở địa phương, năm 15 tuổi vào quân đội. Thời gian đầu, đồng chí được phân công làm các nhiệm vụ liên lạc, trinh sát ở Đồng Tháp Mười, sau được cấp trên cho đi học cứu thương. Năm 1954, đồng chí tập kết ra miền Bắc, được đào tạo trở thành quân y sĩ. Năm 1962, Nguyễn Thế Đoàn trở về Bến Tre, làm đội trường đội phẫu thuật tiền phương của tỉnh.

   Đồng chí đã cùng anh em trong đội cứu chữa hơn 1.000 thương binh trong đó có trên 400 trường hợp bị thương vừa và nặng, tiến hành 55 ca giải phẫu; góp sức xây dựng tổ phẫu thuật cấp cứu và đào tạo được 17 người có trình độ chuyên môn tốt. Nguyễn Thế Đoàn đã cùng đội phẫu thuật nhiều lần dũng cảm chiến đấu, bảo vệ thương binh, toàn đội diệt 45 tên địch (có 22 tên Mỹ), làm bị thương 30 tên khác, bắn rơi 6 máy bay lên thẳng, bắn bị thương 6 chiếc khác. Riêng Nguyễn Thế Đoàn, với sự phối hợp chiến đấu của đồng đội, đã diệt được 6 tên Mỹ, 4 tên ngụy, bắn rơi 1 máy bay lên thẳng và bắn bị thương 4 chiếc khác.

   Do trình độ chuyên môn có hạn, dụng cụ thiếu thốn, trong mấy năm đầu Nguyễn Thế Đoàn phải ra sức vượt qua biết bao khó khăn về dụng cụ và trình độ chuyên môn để đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ. Năng lực chuyên môn nhanh chóng tiến bộ, đồng chí đã thành công trong các ca mổ khó khăn như thủng ruột, vỡ thận và đưa tỷ lệ tử vong giảm hẳn xuống.

   Trong trận tiến công thị xã Bến Tre đầu mùa Xuân năm 1968, khi được tin có thương binh bị kẹt trong thị xã, đồng chí đã xin cấp trên cho đưa một tốp mổ vào phục vụ. Trên đường vào thị xã, địch phản kích chặn đường rất gắt gao, nhưng đồng chí vẫn cùng một số anh em len lỏi vào được vị trí quy định. Mặc dù thiếu hẳn một nửa tốp mổ không vào được Nguyễn Thế Đoàn vẫn kiên quyết tổ chức, động viên anh em làm việc và vận động bà con trong thị xã giúp đỡ, lo liệu chỗ nghỉ cho anh em thương binh. Đồng chí không quản khó khăn nguy hiểm xông pha dưới bom đạn địch, cùng với anh em trong tổ băng bó cho 82 thương binh và tổ chức đưa anh em ra vùng giải phóng an toàn.

   Trong đợt tiến công vào thị xã Bến Tre lần thứ 2, lúc Nguyễn Thế Đoàn đang mổ một ca vỡ lá lách thì bom nổ rất gần, hất anh ngã xuống đất. Khi vùng dậy được, Nguyễn Thế Đoàn tiếp tục mổ. Ngay sau đó, trong một ca mổ vết thương ở bụng, công việc đang tiến hành thì một quả bom na-pan nổ, nhà bị cháy. Nguyễn Thế Đoàn buộc phải cùng kíp mổ tạm khép vết mổ lại rồi làm những động tác kỹ thuật cần thiết, sau đó di chuyển sang hầm khác tiếp tục mổ. Hành động mau lẹ, bình tĩnh của anh đã cứu sống được đồng đội trong hoàn cảnh cực kỳ ác liệt. Suốt 5 ngày đêm liền, thiếu ăn, thiếu ngủ, Nguyễn Thế Đoàn vẫn không ngừng làm việc. Có lúc cần phải cấp tốc tiếp máu cho thương binh, đồng chí không ngần ngại đã tự trích máu mình tiếp cho đồng đội.

Không những làm công tác chuyên môn giỏi, Nguyễn Thế Đoàn còn là một chiến sĩ dũng cảm, mưu trí, tích cực diệt địch, bảo vệ thương binh. Trong trận Mỹ Long (tháng 10 năm 1967), đang giải phẫu thì 1 tiểu đoàn địch đổ xuống gần trạm. Tình thế hết sức khẩn trương Nguyễn Thế Đoàn xử trí mau lẹ và dũng cảm: tạm khâu vết mổ, tổ chức chiến đấu và chuyển thương binh về địa điểm phía sau, đến vị trí mới cuộc giải phẫu sẽ tiếp tục. Trong cuộc di chuyển thắng lợi đó, đồng chí luôn luôn có mặt ở chỗ khó khăn nhất.

   Hôm sau, địch lại sục sạo đến gần khu rừng đội trú quân. Đồng chí tổ chức và động viên mọi người sẵn sàng chiến đấu bảo vệ thương binh. Không chịu bị động ngồi chờ địch đến gần, Nguyễn Thế Đoàn phân công người ở nhà chỉ huy đơn vị, rồi tự mình xách tiểu liên đi bám sát địch. Đến gần bãi thu quân của địch ở bìa rừng, lợi dụng chúng sơ hở, Nguyễn Thế Đoàn bất ngờ nổ súng vào máy bay lên thẳng, bắn cháy 3 chiếc, diệt 2 tên ngụy, làm 3 tên khác bị thương. Số máy bay còn lại phải bay vọt lên, chuyển sang thu quân ở một bãi khác xa hơn. Do đó địa điểm trú quân giữ được bí mật, thương binh an toàn. Trong quá trình làm công tác chuyên môn gần mặt trận, thường gặp quân địch, Nguyễn Thế Đoàn đã nhiều lần dẫn đầu tổ xung kích của đội phẫu thuật đánh địch, chặn đứng cả đại đội địch để bảo vệ thương binh.

   Nguyễn Thế Đoàn luôn luôn gương mẫu trong mọi công tác và sinh hoạt, nghiêm chỉnh chấp hành mọi mệnh lệnh của trên, hết lòng thương yêu đồng đội, tận tình giúp đỡ nhân dân, được anh em tin yêu, đồng bào mến phục.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 6 bằng khen, 3 lần được bầu là Chiến sĩ thi đua của tỉnh.

   Ngày 10 tháng 2 năm 1970, Nguyễn Thế Đoàn được Chmh phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 23 Tháng Tư, 2013, 04:02:03 pm
ANH HÙNG NGUYỄN VĂN TÒNG

(http://imageshack.us/a/img854/2118/nguyenvantong.jpg)

   Nguyễn Văn Tòng (tức Nguyễn Công Sanh), sinh năm 1943, dân tộc Kinh, quê ở xã Phú Quý, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là thôn đội trưởng dân quân xã Phú Quý, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Xuất thân trong một gia đình tích cực tham gia kháng chiến, cha bị giặc Pháp giết năm 1948, anh là dân quân hy sinh trong kháng chiến, Nguyễn Văn Tòng còn có lòng căm thù sâu sắc bọn đế quốc và phong kiến. Tháng 7 năm 1963, đồng chí nhập ngũ với quyết tâm chiến đấu đền nợ nước, trả thù nhà. Nhưng vì bị thương trong khi hành quân, tháng 12 năm 1963, Nguyễn Văn Tòng được giải ngũ về tham gia phong trào dân quân xã.

   Nguyễn Văn Tòng đã tham gia 69 trận, diệt và làm bị thương 92 tên Mỹ, ngụy, bắt 1 tên, thu 1 súng. Trong chiến đấu, đồng chí dũng cảm, luôn luôn xung phong đi đầu trong mọi khó khăn gian khổ, động viên anh em nêu cao tinh thần tích cực, chủ động tiến công địch.

   Tháng 6 năm 1968, giặc từ lộ 4 càn quét lớn vào xã. Đi đến đâu chúng tàn sát, phá phách rất dã man đến đó. Lúc này, trong tay chỉ có 2 trái lựu đạn, Nguyễn Vãn Tòng bí mật bò theo kênh, ra đón đầu đoàn xe chở bộ binh địch và gài lựu đạn. Bọn địch từ trên xe nhảy xuống, bị lựu đạn nổ làm cho 2 tên bỏ mạng và 1 tên khác bị thương. Đoàn xe của chúng phải dừng lại. Quan sát hành động của địch, phát hiện một cánh quân từ xã Long Điền đang kéo vào ấp, Nguyễn Văn Tòng nhanh chóng về nhà lấy thêm lựu đạn gài đón đầu. Sau đó, đồng chí mưu trí làm động tác nghi binh giả chạy để cho chúng đuổi theo. Bọn địch mắc mưu, ùa theo đuổi bắt. Chúng vấp phải bẫy lựu đạn, 2 tên chết và 4 tên khác bị thương.

   Nhiều lần bị dân quân đánh đau, địch rất hoảng sợ, co lại trong đồn bốt. Một lần, tên đồn trưởng ác ôn đứng trên nóc lô cốt, dùng loa kêu gọi dân quân chiêu hồi. Nguyễn Văn Tòng trèo lên cây me đầu ấp, giương súng bắn vỡ đầu tên ác ôn này. Ngay ngày hôm sau, bọn địch cử một tên ác ôn có rất nhiều nợ máu với đồng bào ta ở Ba Dừa về thay để chống phá phong trào đấu tranh của nhân dân. Nghe tin này Nguyễn Văn Tòng hạ quyết tâm diệt nó để cảnh cáo bọn chúng và để gây lòng tin cho nhân dân. Nguyễn Văn Tòng cùng một tổ dân quân nằm phục sẵn trước bốt. Đợi đến 5 giờ sáng, khi tên này vừa ra khỏi bốt, Nguyễn Văn Tòng nổ súng bắn xuyên ngực, diệt tên này, làm cho đồng bào hết sức phấn khởi và tin tưởng, còn kẻ địch thì hoang mang khiếp sợ.

   Nguyễn Văn Tòng cùng đơn vị dân quân trong thôn tích cực tuyên truyền vận động nhân dân rào làng, đào hầm chông, dùng vũ khí thô sơ đánh địch, do đó đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị và binh vận phá tan nhiều âm mưu thâm độc của Mỹ, ngụy “bình định”, càn quét trong thôn.

   Tháng 12 năm 1969, Nguyễn Văn Tòng cùng 3 dân quân chiến đấu chống gần 2 trung đội địch có hỏa lực mạnh yểm trợ. Trong tổ đã có 1 đồng chí hy sinh và 2 bị thương. Nguyễn Văn Tòng bình tĩnh cơ động, thu hút hỏa lực địch, yểm hộ cho các đồng chí bị thương mang tử sĩ ra trước. Quân địch bao vây và tập trung bắn vào ngôi nhà trong đó đồng chí đang chiến đấu. Đồng chí mưu trí đánh lạc hướng địch, trèo lên mái nhà thoát ra ngoài, mang theo cả 4 khẩu súng.

   Nguyễn Văn Tòng gần bó mật thiết với phong trào đấu tranh của quần chúng, chăm lo xây dựng vả bồi dưỡng cho lực lượng dân quân trong thôn lớn mạnh, được nhân dân tin cậy, anh em mến phục.

   Đồng chí đã được tặng 3 bằng khen, 2 giấy khen. 1 Huy hiệu của Bác Hồ.

   Ngày 10 tháng 2 năm 1970, Nguyễn Văn Tòng được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG NGUYỄN THỊ VIỆT HỒNG
(LIỆT SĨ)

(http://imageshack.us/a/img208/1387/nguyenthiviethong.jpg)

   Nguyễn Thị Việt Hồng, sinh năm 1951, dân tộc Kinh, quê ở xã Long Tri, huyện Long Mỹ, tỉnh Cần Thơ, nhập ngũ năm 1968. Khi hy sinh đồng chí' là chiến sĩ biệt động thành đội Cần Thơ, Quân khu 9, đoàn viên Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.

   Sinh ra và lớn lên trong một gia đình cách mạng, có cha bị Mỹ - ngụy giết hại, hàng ngày lại thấy rõ quân địch khủng bố tàn sát dã man nhân dân, Việt Hồng sớm có lòng căm thù địch sâu sắc và quyết tâm chiến đấu đền nợ nước, trả thù nhà. Đồng chí xin phép mẹ rời ghế nhà trường giữa năm 17 tuổi để đi tìm cách mạng. Được cách mạng đón nhận, Việt Hồng vô cùng sung sướng và thiết tha xin được gia nhập quân đội, trực tiếp cầm súng giết giặc. Năm 1968, được nhận vào đơn vị biệt động hoạt động bí mật ở nội thành Cần Thơ, nơi địch phòng thủ rất nghiêm ngặt, đồng chí đã luôn luôn nêu cao ý chí kiên cường, dũng cảm, mưu trí, bình tĩnh vượt qua mọi khó khăn thử thách, làm tròn những công tác được cấp trên giao. Hoạt động giữa sào huyệt địch, đầy hiểm nguy, Việt Hồng vẫn lạc quan, tin tưỡng, giữ vững phẩm chất trong sáng của người đoàn viên thanh niên Cộng sản, không sợ gian khổ, hy sinh, luôn luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

   Đặc biệt đầu năm 1969, phối hợp với kế hoạch chiến đấu của mặt trận, Việt Hồng nhận nhiệm vụ đánh vào ty cảnh sát ngụy trong thành phố Cần Thơ, nơi tập trung bọn đầu sỏ ác ôn có rất nhiều nợ máu với nhân dân. Mặc dù địch bố phòng cẩn mật, Việt Hồng mưu trí vượt qua nhiều trạm kiểm soát của địch, đặt mìn vào nơi đã nghiên cứu kỹ và rút ra ngoài an toàn. Nhưng không may, mìn không nổ. Mặc dù lọt vào hang ổ địch lần thứ hai là rất nguy hiểm, nhưng quyết tâm giữ bí mật cho trận đánh, Việt Hồng tìm cách vào ty cảnh sát ngụy, lấy quả mìn ra với ý định để sửa chữa rồi sẽ đánh lại một lần nữa. Rất mưu trí và bình tĩnh vượt bao khó khăn, đồng chí lấy được quả mìn đem ra một phố bên cạnh. Nhưng bất ngờ mìn nổ làm Việt Hồng bị thương nặng ở hai chân. Bà con trong phố chạy ra vực đồng chí dậy, nhưng bọn cảnh sát ngụy cũng lao tới cướp Việt Hồng mang đi. Dù bị kẻ thù dùng cực hình tra tấn rất dã man, đồng chí vẫn kiên cường giữ vững khí tiết cách mạng, không khai một lời. Bọn chúng đưa Việt Hồng vào bệnh viện để điều trị, hòng dụ dỗ, mua chuộc, nhưng đồng chí giữ vững lòng trung kiên, bất khuất, tiếp tục vạch trần tội ác của lũ bán nước và quân cướp nước, hiên ngang tiến công địch đến hơi thở cuối cùng. Nguyễn Thị Việt Hồng đã anh dũng hy sinh ngày 17 tháng 3 năm 1969.

   Nguyễn Thị Việt Hồng nêu tấm gương sáng về lòng trung thành vô hạn với dân, với nước và tinh thần chiến đấu anh dũng tuyệt vời, được nhân dân cảm phục, khiến kẻ thù phải khiếp sợ.

   Ngày 10 tháng 2 năm 1970, Nguyễn Thị Việt Hồng được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 23 Tháng Tư, 2013, 04:06:05 pm
ANH HÙNG NGUYỄN VĂN TRƯỜNG

(http://imageshack.us/a/img29/3559/nguyenvantruong.jpg)


   Nguyễn Văn Trường, sinh năm 1942, dân tộc Kinh, quê ở xã An Bình, thành phố Cần Thơ, tỉnh Cần Thơ nhập ngũ năm 1961. Khi được tuyên đương Anh hùng đồng chí là tiểu đoàn phó đặc công thuộc mặt trận miền Tây Nam Bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam,

   Căm thù bè lũ Mỹ, ngụy tàn sát dã man đồng bào, Nguyễn Văn Trường có quyết tâm chiến đấu cao để giành độc íập, tự do cho Tổ quốc. Đồng chí đã trực tiếp tham gia 15 trận đánh, cùng đơn vị tiêu diệt 936 tên địch, chủ yếu là sĩ quan, nhân viên kỹ thuật và giặc lái máy bay, thu 70 súng, phá hủy 85 máy bay và nhiều xe quân sự.

   Nguyễn Văn Trường là một chiến sĩ dũng cảm, mưu trí, tiến công địch quyết liệt, là một cán bộ chỉ huy có tác phong sâu sát, tỉ mỉ, linh hoạt, chủ động trong mọi tình huống. Đi nghiên cứu các mục tiêu được phân công để chuẩn bị cho các trận đánh, Nguyễn Văn Trường đã vượt mọi khó khăn nguy hiểm, lọt qua hệ thống phòng thủ bảo vệ của địch, vào tận các cãn cứ quân sự, sân bay của địch điều tra nắm chắc tình hình mọi mặt, có kết luận chính xác, xây dựng phương án tác chiến tỉ mỉ, cụ thể, đảm bảo đã đánh là nắm chắc thắng lợi.

   Tháng 2 năm 1968, trong trận đánh sân bay Trà Nóc (Cần Thơ), sau khi đơn vị hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt nhiều mục tiêu trong sân bay, địch phản kích rất ác liệt. Nguyễn Văn Trường cùng một đồng chí khác dũng cảm trụ lại chiến đấu chặn địch để cho đơn vị rút ra ngoài trận địa an toàn. Bị kẹt lại trong sân bay, suốt ngày 2 người mưu trí, linh hoạt, cử động rất khôn khéo làm cho quân địch dùng 1 đại đội và 14 xe M.113 càn đi quét lại nhiều lần mà không phát hiện được.

   Tháng 1 năm 1969, trong trận đánh sân bay Lộ Tẻ (Cần Thơ), do điều tra nắm chắc đặc điểm địa hình, cách bố phòng của địch, Nguyễn Văn Trường táo bạo đưa cả đội hình lọt vào tận bãi để máy bay mới nổ súng. Trong chiến đấu gặp lúc có tình huống phức tạp, đồng chí vẫn bình tĩnh xử trí, điều động lực lượng, động viên đơn vị quyết tâm tiêu diệt địch. Trong trận này, Nguyễn Văn Trường chỉ huy 24 đồng chí phá hủy 75 máy bay, 8 lô cốt, diệt 200 tên địch, chủ yếu là giặc lái và nhân viên kỹ thuật không quân.

   Nguyễn Văn Trường luôn luôn xung phong đi đầu trong những lúc khó khăn, gian khổ, ác liệt, có ý thức tổ chức kỷ luật cao, có tinh thần khắc phục khó khăn, tìm ra cách tốt nhất để hoàn thành nhiệm vụ, Có tác phong sâu sát, hết lòng bồi dưỡng chiến sĩ, nhất là các đồng chí mới, được tập thể mến yêu và ủng hộ.

   Đồng chí đã được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất và được đi dự Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua toàn Miền lần thứ 2.
   Ngày 10 tháng 2 nãm 1970, Nguyễn Văn Trường được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG NGUYỄN VĂN HÙNG
(LIỆT SĨ)


   Nguyễn Văn Hùng (tức Nguyễn Văn Hộ) sinh năm 1945, dân tộc Kinh, quê ở xã An Phú, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh, nhập ngũ năm 1964. Khi hy sinh là trung đội phó công binh, bộ đội địa phương Sài Gòn - Gia Định, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Lớn lên trong lúc nhân dân ta kháng chiên chống thực dân xâm lược Pháp, Nguyễn Văn Hùng sớm được bồi dưỡng lòng yêu nước và chí căm thù giặc. Sau ngày hòa bình lập lại, 1954 đế quốc Mỹ phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ, hất cẳng thực dân Pháp, nhảy vào xâm lược đất nước ta. Chúng tàn phá quê hương, giết hại đồng bào ta, đồng chí càng nung nấu ý chí căm thù quân xâm lược, quyết tâm chiến đấu vì sự nghiệp độc lập, tự do của Tổ quốc.

   Nguyễn Văn Hùng đã đánh 9 trận lớn nhỏ, phá sập 6 cầu, trong đó có cầu Bến Lức, đánh chìm 3 tàu, diệt nhiều tên địch.

   Trong chiến đấu, đồng chí luôn luôn xung phong nhận bất cứ nhiệm vụ gì, dù khó khăn, nguy hiểm cũng tận tâm, tận lực hoàn thành một cách xuất sắc.

   Lần đầu tiên đánh địch trên sông Sài Gòn, Nguyễn Văn Hùng ngày đêm miệt mài nghiên cứu tình hình, tìm ra cách đánh tốt nhất, luyện tập rất công phu từ cách bơi lặn, đến cách thả thuốc nổ, khi vào trận thì dũng cảm, mưu trí, lọt qua các vọng gác của địch, đánh trúng mục tiêu. Do đó, trong 3 trận đầu, đồng chí đánh chìm 3 tàu địch.

   Đầu năm 1967, Nguyễn Văn Hùng làm tổ trưởng chịu trách nhiệm đánh cầu Ông Nhiên ở Thủ Đức. Cầu sắt này dài 80 mét, nằm giữa ấp chiến lược, lúc nào địch cũng có 1 đại đội canh gác. Địch chặt hết cây cối quanh cầu nên việc điều tra, nghiên cứu rất dễ bị lộ. Sau một tuần lặn lội, kiên trì điều tra tỉ mỉ tình hình, Nguyễn Văn Hùng xác định được phương án tác chiến, vì thiếu mìn, đồng chí cùng 2 tổ viên đi thu nhặt bom bi của địch, gom góp được hơn 100 ki-lô-gam thuốc nổ đem về tự chế tạo mìn để đánh cầu. Kết quả cầu bị đánh sập, giao thông bị cắt đứt, địch gặp rất nhiều khó khăn trở ngại giữa lúc chúng chuẩn bị những cuộc càn quét lớn.

   Cách 1 tháng sau, chữa xong cầu, địch bố trí canh gác tuần tra nghiêm ngặt hơn ở hai đầu cầu và dọc hai bờ sông. Chúng cho đèn pha quét mặt sông suốt đêm và bắn súng bừa bãi xưống nước bất kể lúc nào. Lại nhận nhiệm vụ phá cầu, Nguyễn Văn Hùng cùng 2 tổ viên chỉ trong vòng 3 đêm điều tra, nghiên cứu đã lập xong phương án tác chiến. Đúng 7 giờ sáng ngày thứ tư, khi tên quận trưởng bắt đầu tuyên bố lễ khánh thành, cắt băng cho xe chạy qua thì một tiếng nổ long trời phá hủy hoàn toàn chiếc cầu này.

   Tháng 10 năm 1968 Nguyễn Văn Hùng nhận nhiệm vụ phá cầu Bến Lức. Chiếc cầu này nối Sài Gòn với miền Tây Nam Bộ cầu dài 530 mét, có 8 trụ , đã 2 lần bị quân ta đánh sập, được xây lại. Ngoài một lực lượng lớn canh gác và một hệ thống đèn điện bảo vệ, địch còn rào trên và dưới mặt nước một hệ thống dây dẫn điện cao thế mà sức mạnh của dòng điện có thể giật chết người. Trên sông thường xuyên có 1 tàu lớn và 3 tàu nhỏ túc trực bảo vệ, tuần tra. Vượt qua mọi khó khăn, nguy hiểm, Nguyễn Văn Hùng cùng tổ vào điều tra, nghiên cứu tình hình và chuẩn bị cách đánh cầu. Công việc khó khăn nhất là phải chuyển ngược dòng nước khối thuốc nổ nặng 500 ki-lô-gam cách xa mục tiêu 2 ki-lô-mét. Vì vậy khi đến cách mục tiêu 700 mét, trời đã gần sáng, anh em phải kéo khối thuốc nổ lên bờ chôn giấu và chờ 2 hôm sau mới tiếp tục nhiệm vụ được. Sau khi đặt khối thuốc nổ vào đúng vị trí Nguyễn Văn Hùng không kể nguy hiểm, ở lại sau cùng kiểm tra thật tỉ mỉ. Do đó khi rút ra khoảng 300 mét thì mìn nổ, đồng chí bị hất văng lên bờ và ngất đi. Chiếc cầu kiên cố vững chắc nhất trên lộ 4 bị phá hủy hoàn toàn.

   Trong một trận chiến đấu cuối tháng 5 năm 1969, Nguyễn Văn Hùng đã anh dũng hy sinh trong khi làm nhiệm vụ.

   Nguyễn Văn Hùng là một chiến sĩ dũng cảm, mưu trí, đánh cầu rất tài giỏi. Đồng chí chịu khó học tập, nghiên cứu tìm ra cách đánh tốt nhất, trong công tác luôn luôn vui vẻ nhận phần khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho bạn, đoàn kết chân thành, được anh em yêu mến.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 2 bằng khen, 3 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì.

   Ngày 10 tháng 2 năm 1970, Nguyền Văn Hùng được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 23 Tháng Tư, 2013, 04:08:12 pm
ANH HÙNG VŨ TIẾN TRUNG
(LIỆT SĨ)


   Vũ Tiến Trung (tức Vũ Hữu Bảy) sinh năm 1944, dân tộc Kinh, quê ở xã Ninh Hải, huvện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa, nhập ngũ năm 1962. Khi hy sinh đồng chí là trung đội trưởng bộ binh, bộ đội địa phương Sài Gòn - Gia Định, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Lớn lên trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa, được giác ngộ về nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước, năm 18 tuổi Vũ Tiến Trung vào bộ đội hải quân. Năm 1965, đồng chí được vào chiến trường miền Nam và chiến đấu trên địa bàn Sài Gòn - Gia Định.

   Vũ Tiến Trung đã tham gia nhiều trận đánh lớn nhỏ, đánh sập 2 cầu (trong đó có cầu Bến Lức), đánh chìm 1 tàu, diệt 17 tên địch.

   Trong chiến đấu, Vũ Tiến Trung rất dũng cảm, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc, kiên quyết khắc phục mọi khó khăn gian khổ, linh hoạt, sáng tạo, suy nghĩ tìm mọi cách để hoàn thành nhiệm vụ được giao.

   Năm 1966, trận đầu tiên nhận nhiệm vụ đánh một đoàn tàu 7 chiếc trên sông Nhà Bè, Vũ Tiến Trung cùng tổ hành quân từ địa điểm cách địch 6 ki-lô-mét, mỗi người mang ngầm dưới nước một trái mìn nặng 100 ki-lô-gam. Tuy thời gian nghiên cứu chỉ một đêm, nhưng với quyết tâm tiêu diệt địch cao, đánh bí mật bất ngờ, các đồng chí đã đánh chìm 5 chiếc, làm bị thương 2 chiếc khác, tiêu diệt nhiều địch và phương tiện chiến tranh của chúng.

   Trong trận địch càn vào xã Long Đức, huyện Nhà Bè, chúng đổ bộ 1.000 quân có máy bay, pháo binh yểm hộ khá mạnh. Đơn vị Vũ Tiến Trung đã hiệp đồng với đơn vị bạn chống càn suốt một ngày, diệt 500 tên. Đồng chí bám trận địa, cơ động, linh hoạt đánh địch suốt ngày, tiết kiệm từng viên đạn, bắn chính xác diệt 17 tên địch. Khi có lệnh rút quân, phát hiện địch có sơ hở, Vũ Tiến Trung dũng cảm, bí mật một mình lọt sâu vào nơi địch đóng quân lấy về 2 súng máy và 1 máy thông tin.

   Trong đợt Tổng tiến công và nổi dậy lần thứ 2 của quân và dân ta tháng 6 năm 1968, Vũ Tiến Trung nhận nhiệm vụ đánh cầu Bến Lức (cầu này quân ta đã có một lần đánh sập). Chiếc cầu quan trọng nhất trên lộ 4, từ Sài Gòn đi miền Tây Nam Bộ, được địch phòng thủ rất chu đáo. Các trụ cầu rất lớn, muốn đánh sập phải dùng lượng thuốc nổ đến hàng tạ, đưa ngầm dưới nước từ xa vào. Lần đầu khi đến cách mục tiêu 200 mét, nước xoáy mạnh làm dây tời bị đứt. Lúc này khối thuốc nổ đã gắn kíp, chỉ còn 45 phút nữa thì nổ, chìm xuống đáy sông. Quyết không để lộ nhiệm vụ, Vũ Tiến Trung bình tĩnh, lặn xuống 3 lần tháo 3 kíp nổ ở độ sâu hơn 7 mét. Khi tháo xong kíp trời đã gần sáng, đồng chí nhanh chóng buộc khối thuốc nổ vào chân cầu để giữ khỏi trôi và chờ đến đêm hôm sau, một mình đồng chí lặn lội vượt mọi nguy hiểm đưa khối thuốc về căn cứ an toàn. Ba ngày sau, nhận nhiệm vụ tiếp tục đánh cầu Vũ Tiến Trung lại cùng tổ bơi lặn đưa thuốc nổ buộc vào trụ cầu. Không quản nguy hiểm vì địch đang đi tuần tra trên cầu và kíp đang chờ nổ, đồng chí bình tĩnh kiểm tra tỉ mỉ, áp thật sát khối thuốc nổ vào trụ cầu được chắc chắn rồi mới thoát ra. Khi ra cách mục tiêu khoảng 300 mét thì mìn nổ, anh bị ngất đi cạnh bờ sông, nhưng chiếc cầu bị phá hủy hoàn toàn.

   Ngày 28 tháng 8 năm 1968, trong một trận chiến đấu với lực lượng địch đông gấp bội Vũ Tiến Trung đã anh dũng hy sinh bảo vệ an toàn cho đồng đội.

   Vũ Tiến Trung rất giản dị, khiêm tốn trong công tác, luôn luôn nhận khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho bạn, hết lòng đoàn kết, thương yêu đồng đội, được anh em mến phục.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 1 bằng khen, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất và 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba.
   Ngày 10 tháng 2 năm 1970, Vũ Tiến Trung được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG NGUYỄN THANH PHÚ


   Nguyễn Thanh Phú, sinh năm 1944, dân tộc Kinh, quê ở xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, nhập ngũ tháng 4 năm 1964. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 6 bộ binh, bộ đội địa phương Sài Gòn - Gia Định, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cha Nguyễn Thanh Phú bị giặc bắn chết. Được cách mạng giáo dục, đồng chí có lòng căm thù sâu sãc bọn đế quốc xâm lược và bè lũ tay sai, nên đã hăng hái hoạt động dân quân trước khi vào bộ đội.

   Từ khi nhập ngũ cho đến cuối năm 1969, đồng chí đã tham gia chiến đấu 65 trận, diệt nhiều địch, thu 18 súng, 1 máy thông tin.

   Nguyễn Thanh Phú có quyết tâm chiến đấu cao, chỉ huy bình tĩnh, gan dạ, xử trí các tình huống linh hoạt, kiên quyết, đánh nhanh, đánh mạnh, chủ động hiệp đồng tiêu diệt địch.

   Trận đánh Đức Lập đêm 27 tháng 5 năm 1965, phối hợp với đơn vị bạn chiến đấu, giữa lúc tình huống diễn biến gay go ác liệt, đồng chí mưu trí tập trung lựu đạn, trực tiếp dẫn 1 tổ bí mật đánh vào sau lưng địch, diệt một ổ đề kháng, thu 1 súng và 1 máy thông tin, chuyển thành thế có lợi cho quân ta phát triển.

   Tháng 11 năm 1966, trong trận đánh một đồn cảnh sát ở quận 6 Sài Gòn, Nguyễn Thanh Phú được giao nhiệm vụ chỉ huy đơn vị đi trên đường phố. Khi cách đồn địch 50 mét thì một mũi bị lộ, đồng chí lập tức ra lệnh cho đơn vị xung phong vượt qua hàng rào vật cản, đánh bọc sườn. Riêng Nguyễn Thanh Phú trực tiếp chỉ huy một mũi đánh qua cửa lớn của đồn, phát triển vào trong. Sau 10 phút chiến đấu, đơn vị làm chủ trận địa, diệt 20 tên, thu 38 súng các loại, riêng Phú thu 9 súng.

   Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy vào Sài Gòn đợt 2, Nguyễn Thanh Phú chỉ huy 1 đại đội chọc thủng hệ thống phòng thủ bên ngoài, sau đó nhanh chóng đánh chiếm toàn bộ khu vực Nhị Tỳ. Mặc dù địch nhiều lần phản kích bằng cơ giới và bộ binh hòng đánh bật ta ra, nhưng đại đội vẫn kiên cường bám trụ trong 2 ngày, đẩy lùi nhiều đợt phản kích của chúng, diệt 145 tên.

   Đêm 24 tháng 5 năm 1969, trong đội hình của tiểu đoàn đánh địch tại Phú Định, Nguyễn Thanh Phú được giao trách nhiệm chỉ huy đại đội 1, đánh bọn địch ở hướng trọng yếu. Địch chiếm 5 nhà lầu, bố trí hỏa lực nhiều tầng chống cự ác liệt. Đồng chí cho B.40 và B.41 đánh bọc phía sau, đồng thời cho các mũi xung kích tiếp cận sát lầu đánh thốc từ dưới lên. Kết quả ta tiêu diệt hoàn toàn 1 đại đội lính thủy đánh bộ ngụy. Trong trận này, Nguyễn Thanh Phú bị thương ở chân nhưng vẫn không rời trận địa, tiếp tục chỉ huy đơn vị chiến đấu và chủ động hỗ trợ cho đơn vị bạn đang gặp khó khăn.

   Nguyễn Thanh Phú là một cán bộ chỉ huy gương mẫu về mọi mặt, chấp hành nghiêm chỉnh mọi mệnh lệnh của cấp trên, có tác phong sâu sát, tỉ mỉ, cùng tập thể xây dựng đơn vị vững mạnh mọi mặt. Đồng chí đoàn kết săn sóc anh em, làm tốt công tác thương binh, tử sĩ, được cấp dưới yêu mến, cấp trên tin tưởng.

   Đồng chí đã được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, được bầu là Chiến sĩ thi đua số 1 của phân khu, được tặng 5 bằng khen.

   Ngày 10 tháng 2 năm 1970, Nguyễn Thanh Phú được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 23 Tháng Tư, 2013, 04:12:43 pm
ANH HÙNG PHẠM NGỌC KHÁNH
(LIỆT SĨ)

(http://imageshack.us/a/img843/6885/phamngockhanh.jpg)


   Phạm Ngọc Khánh sinh năm 1942, dân tộc Kinh, quê ở xã Nam Nhuế, huyện Nam Thanh, tỉnh Hải Hưng, nhập ngũ tháng 10 năm 1962. Khi hy sinh đồng chí là thiếu úy, trung đội trưởng bộ binh đại đội 10, tiểu đoàn 3, trung đoàn 246, Mặt trận Đường số 9, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Sinh ra và lớn lên trong một gia đình cách mạng, lại được rèn luyện dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, Phạm Ngọc Khánh được bồi đưỡng lý tưởng chiến đấu cao đẹp của người thanh niên, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Khi vào bộ đội anh luôn luôn thể hiện nhiệt tình cao, hăng hái học tập, công tác, tha thiết được vào chiến trường miền Nam, giết giặc Mỹ, góp phần vào sự nghiệp thiêng liêng chống Mỹ, cứu nước. Trong chiến đấu, Phạm Ngọc Khánh nêu cao tinh thần tích cực tiến công, dũng cảm, kiên quyết, bị thương không rời vị trí chiến đấu, trận đánh nào cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ.

   Đặc biệt, trong trận đánh chiếm điểm cao 689, ngày 28 tháng 6 năm 1968 trong chiến dịch Khe Sanh, hỏa lực địch từ trong căn cứ, từ trên máy bay bắn rất ác liệt hòng ngăn chặn đường tiến của đơn vị. Vượt qua bom đạn, bãi mìn Phạm Ngọc Khánh nhanh chóng dẫn đầu một tổ xông lên phá 2 lớp rào dây thép gai, rồi chỉ huy trung đội liên tục phát triển sâu vào trong căn cứ dịch. Mặc dù địch đối phó quyết liệt bán chặn từ nhiều hướng, đồng chí vần bình tĩnh quan sát phán đoán tình huống, chỉ từng hỏa điểm địch cho các tiểu đội tiêu diệt. Bị thương vào đầu, Phạm Ngọc Khánh vẫn xông xáo chỉ huy đơn vị chiến đấu thọc sâu chia cắt địch, bản thân dùng lựu đạn, tiểu liên đánh vào hầm ngầm diệt địch. Bị thương lần thứ hai, Khánh ngất đi, nhưng khi tỉnh dậy, anh tiếp tục chỉ huy đơn vị phát triển. Từ trong hầm ngầm, 1 đại liên địch bắn ra chặn đường tiến của quân ta. Phạm Ngọc Khánh cố trườn đến gần ổ đại liên địch, ném lựu đạn dập tắt hỏa điểm này, tạo thuận lợi cho đơn vị phát triển chiến đấu. Phạm Ngọc Khánh bị thương lần thứ ba vào lúc quân ta đánh chiếm hoàn toàn điểm cao 689 và anh đã anh dũng hy sinh. Kết quả trận đánh, trung đội do đồng chí chỉ huy đã diệt 60 tên Mỹ, phá hủy 5 lô cốt, 13 hầm, góp phần tích cực vào thắng lợi chung. Riêng Phạm Ngọc Khánh diệt 26 tên Mỹ, phá hủy 4 hầm, nêu gương sáng cho đơn vị học tập về tinh thần chiến đấu dũng cảm, kiên quyết tiến công địch, vượt mọi hy sinh, gian khổ, hoàn thành nhiệm vụ.

   Phạm Ngọc Khánh đã được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất.

   Ngày 15 tháng 2 năm 1970, Phạm Ngọc Khánh được Chinh phủ cách mạng lầm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG NGUYỄN VĂN NUÔI

(http://img405.imageshack.us/img405/687/nguyenvannuoi.jpg)


   Nguyễn Văn Nuôi, sinh năm 1949, dân tộc Kinh, quê ở xã Vân Trường, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, nhập ngũ ngày 30 tháng 4 năm 1966. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là chuẩn úy đại đội phó vận tải, Mặt trận B5, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Trước cách mạng, gia đình Nguyễn Văn Nuôi nghèo đói, chuyên đi làm ruộng thuê, ông bà đều chết trong nạn đói năm 1945. Sau cách mạng, gia đình được chia ruộng, vào hợp tác xã, cuộc đời được thay đổi. Nguyễn Văn Nuôi lớn lên trong chế độ xã hội chủ nghĩa và được giáo dục trong các tập thể nên anh sớm nhận thức được vai trò và nhiệm vụ của người thanh niên trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước. Khi vừa tròn 17 tuổi, Nguyễn Văn Nuôi tình nguyện nhập ngũ sẵn sàng làm tròn bất cứ nhiệm vụ gì của quân đội giao cho.

   Tháng 11 năm 1966, đơn vị Nguyễn Văn Nuôi nhận lệnh lên đường chiến đấu, anh được phân công về đơn vị vận chuyển hậu cần. Đồng chí vừa nêu gương sáng về sự nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ, vừa tổ chức, động viên đơn vị làm tròn mọi đợt vận chuyển trong các chiến dịch.

   Hơn 2 năm phục vụ chiến trường, Nguyễn Văn Nuôi nêu cao tinh thần xung phong gương mẫu trong mọi công tác khó khăn, gian khổ cũng như trong chiến đấu ác liệt, hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc. Trong những đợt vận chuyển luồn sâu phục vụ chiến đấu cho các trung đoàn 270, 138, 27, Nguyễn Văn Nuôi vượt qua bom đạn, bám sát tuyến giao thông góp phần xứng đáng vào thành công của các trận đánh.

   Với ý thức chuyển được một cân gạo, một viên đạn là góp phần diệt một tên Mỹ, trả thù cho đồng bào hai miền Nam Bác, nên khi bốc vác loại bao nặng 50 ki-lô-gam trên chặng đường 500 đến 1.000 mét, Nguyễn Văn Nuôi vác một mình một bao, trong khi bình thường phải 2 người khiêng. Đột xuất khi có loại bao 100 ki-lô-gam, đồng chí cũng vác một mình. Trên các cung đường dài, đồng chí luôn luôn đảm nhiệm khối lượng hàng vận chuyển nặng từ 40 đến 50 ki-lô-gam, liên tục đạt năng suất cao nhất trong đại đội. Hành động của anh thúc đẩy khí thế hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị, anh em đã phát động thi đua phấn đấu đạt năng suất cao như đồng chí.

   Ngày 20 thảng 5 năm 1967, trong đợt phục vụ cho trưng đoàn 2 chiến đấu ở bờ nam sông Bến Hải, khi địch đổ bộ đánh ra khu phi quân sự, Nguyễn Văn Nuôi chỉ huy tiểu đội chiến đấu bảo vệ trung đoàn bộ tại An Xuân. Mặc dù địch có lực lượng đông, có phi pháo bắn phá ác liệt, nhưng tiểu đội gồm 7 chiến sĩ do anh chỉ huy vẫn bám sát chiến hào, kiên cường chiến đấu. Trong hoàn cảnh mất liên lạc với đại đội, tiểu đội chiến đấu suốt 6 giờ , đánh lui 5 đợt tiến công, diệt 150 tên Mỹ, ngụy, trong đó đồng chí diệt 23 tên, đạt Dũng sĩ diệt Mỹ cấp I. Trận đánh đó đã ghìm địch tại chỗ suốt 6 tiếng đồng hồ không cho chúng vào làng An Xuân, bảo vệ được hậu cứ của trung đoàn, tạo điều kiện cho bà con trong làng sơ tán an toàn.

   Trong đợt phối thuộc phục vụ trung đoàn 270 tháng 5 năm 1968 tại khu đông đường số 9, một chiến trường ác liệt, mặc dù nhiều lần bị địch pháo kích chặn đường, Nguyễn Văn Nuôi vẫn tổ chức chỉ huy trung đội đưa đạn, gạo ra tuyến trước kịp thời. Có lần địch đánh thẳng vào đội hình từ 6 giờ sáng đến 12 giờ trưa, Nguyễn Văn Nuôi bình tĩnh động viên anh em sẵn sàng làm tròn nhiệm vụ. Bom đạn địch vừa dứt, anh em lại lên đường tiếp tục chuyển gạo cho đơn vị chiến đấu. Suốt 4 đêm liền mất ngủ, Nguyễn Văn Nuôi vẫn gắng sức bò vào tận trận địa chuyển thương binh ra tuyến sau, làm gương cho anh em trung đội noi theo. Đêm thứ 5, Nguyễn Văn Nuôi bị thương nhưng vẫn tiếp tục chỉ huy đơn vị vận chuyển thương binh đầy đủ và kịp thời.

   Từ tháng 2 năm 1969 đến tháng 9 năm 1969, Nguyễn Văn Nuôi hai lần chỉ huy đơn vị phục vụ chiến đấu cho trung đoàn 27 với cương vị đại đội phó. Do đơn vị chiên đấu liên tục làm nhiệm vụ luồn sâu vào sau lưng địch, bộ phận phục vụ phải vượt qua nhiều vùng có thám báo, biệt kích địch hoạt động. Nguyễn Văn Nuôi dũng cảm, kiên quyết chỉ huy đơn vị thay đại đội trưởng đi vắng, bám sát trung đoàn, bất chấp mọi hoàn cảnh khó khăn, ác liệt, làm tròn nhiệm vụ tải đạn, gạo ra chiến hào, đưa thương binh về tuyến sau.

   Nguyễn Văn Nuôi nêu cao tinh thần bảo vệ nhân dân. Trong trận chiến đấu ở làng An Xuân, khi nhận được lệnh rút về phía sau, anh tổ chức tiểu đội đưa 30 đồng bào đi sơ tán. Mặc dù địch giội bom đạn chặn đường, đồng chí bơi qua lại 6 lượt trên sông Bến Hải để đưa hết các em thiếu nhi và cụ già về vị trí an toàn.

   Nguyễn Văn Nuôi gương mẫu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, chấp hành nghiêm mọi mệnh lệnh cấp trên giao, thương yêu, tận tình giúp đỡ đồng đội trong mọi hoàn cảnh, được anh em tin yêu, mến phục.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, nhiều giấy khen và bằng khen.

   Ngày 15 tháng 2 năm 1970, Nguyễn Văn Nuôi được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 23 Tháng Tư, 2013, 04:15:24 pm
ANH HÙNG HOÀNG KIM NÔNG

(http://imageshack.us/a/img443/3071/hoangkimnong.jpg)


   Hoàng Kim Nông, sinh năm 1945, dân tộc Kinh, quê ở xã Thanh Sơn, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa, nhập ngũ ngày 26 tháng 6 năm 1963. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là phân đội phó đội 1 đặc công, Đoàn 126, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Trưởng thành dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, được Đảng và Bác Hồ giáo dục, nhận rõ nhiệm vụ vẻ vang của thanh niên đối với sự nghiệp chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, năm 18 tuổi Hoàng Kim Nông gia nhập quân đội với quyết tâm sẵn sàng hoàn thành bất kỳ nhiệm vụ nào, chiến đấu ở bất kỳ chiến trường nào.

   Năm 1965, Hoàng Kim Nông làm nhiệm vụ lái tàu vận tải trên biển, anh đã tham gia hơn 50 trận đánh máy bay và tàu chiến địch, trận nào cũng dũng cảm, mưu trí hoàn thành tốt nhiệm vụ. Có trận tuy bị thương, nhưng Hoàng Kim Nông vẫn tiếp tục chiến đấu không rời vị trí trên tàu.

   Được vào miền Nam chiến đấu Hoàng Kim Nông ra sức luyện tập kỹ thuật, chiến thuật đặc công nhằm nâng cao hiệu suất chiến đấu, tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Chiến đấu ở Cửa Việt (Quảng Trị), Hoàng Kim Nông thể hiện lòng dũng cảm và mưu trí, đã vượt qua các tuyến phòng thủ nghiêm ngặt của địch, hơn 20 lần vào ra bến cảng điều tra nghiên cứu, nắm chắc tình hình trên bộ, dưới nước, quy luật đi lại, bố phòng của địch. Trên cơ sở đó anh lập phương án tác chiến chính xác và đã đánh chìm 2 tàu vận tải của địch trong năm 1968.

   Trận ngày 20 tháng 2 năm 1969, trời rét buốt, tàu địch tuần tiễu liên tục trên sông và ném lựu đạn xuống nước, Hoàng Kim Nông khắc phục mọi khó khăn, bình tĩnh, bí mật bơi lặn ngược dòng sông, tiếp cận bến cảng, rồi luồn lách qua 4 chiếc tàu nhỏ, đến chiếc thứ 5 có trọng tải lớn hơn cả mới gắn mìn vào khoang máy, phá hủy chiếc tàu này.

   Trận ngày 13 tháng 4 năm 1969, dù địch tăng cường đối phó, bố trí hệ thống đèn pha chiếu sáng suốt đêm, tàu tuần tiễu liên tục ném lựu đạn, bắn súng xuống nước, Hoàng Kim Nông dùng kỹ thuật điêu luyện bơi lặn vẫn đưa được mìn vào bến cảng, đánh chìm tại chỗ chiếc tàu chở 8.000 tấn vũ khí, đạn dược.

   Hoàng Kim Nông là một cán bộ gương mẫu, khiêm tốn, chiến đấu anh dũng, đoàn kết chân thành, chịu khó học tập, được anh em trong đơn vị yêu mến, sẵn sàng tạo điều kiện cho đồng chí hoàn thành nhiệm vụ.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất và 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì.

   Ngày 15 tháng 2 năm 1970, Hoàng Kim Nông được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG LÊ TRUNG KIÊN
(LIỆT SĨ)


   Lê Trung Kiên, sinh ngày 10 tháng 2 năm 1941, dân tộc Kinh, quê ờ xã Hòa Hiệp, huyện Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, nhập ngũ ngày 20 tháng 10 năm 1960. Khi hy sinh đồng chí là đại đội trưởng đại đội 202 đặc công, bộ đội địa phương của tỉnh, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Lê Trung Kiên sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo sống bằng nghề đánh cá và làm ruộng. Được cán bộ giáo dục, anh sớm giác ngộ nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước, hăng hái tham gia công tác cách mạng ở địa phương. Trước khi vào bộ đội đồng chí đã xây dựng được 7 cơ sở, vận động 15 thanh niên địa phương gia nhập lực lượng vũ trang.

   Lê Trung Kiên luôn dũng cảm, không sợ hy sinh gian khổ, xông xáo vào những nơi khó khăn nhất, mặc dù trong chiến đấu đã 5 lần bị thương, anh vẫn bám sát chiến trường, liên tục chiến đấu. Nhờ có chuẩn bị chiến trường kỹ càng, có phương án chiến đấu tốt, có tinh thần anh dũng, luôn luôn có mặt trong các mũi nhọn tiến công, cho nên trong các trận đánh do Lê Trung Kiên chỉ huy, đơn vị của anh đều hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ cấp trên giao phó.

   Qua 48 trận đánh, với những cương vị khác nhau, nhưng trận nào Lê Trung Kiên cũng đem hết sức mình góp phần vào thắ   ng lợi của đơn vị, riêng bản thân đã diệt được 150 tên địch, thu 15 súng các loại.

Trong trận đánh ấp Phú Cần (tháng 7 năm 1964), khi mở cửa đột phá, bị địch chống trả quyết liệt, Lê Trung Kiên vừa bình tĩnh chỉ huy đơn vị, vừa kiên quyết xông lên dập tắt hỏa điểm địch. Trận đánh phát triển thuận lợi, đơn vị anh diệt toàn bộ bọn tề ngụy ác ôn trong ấp, tạo thời cơ cho bà con nổi dậy giành quyền làm chủ, mở rộng thêm vùng giải phóng.

   Tháng 10 năm 1964, Lê Trung Kiên chỉ huy một tổ bộ đội đặc công của tỉnh luồn sâu vào vùng địch kiểm soát để đánh sân bay Tuy Hòa. Trận đánh diễn biến gay go, địch chống trả quyết liệt với ý định đến sáng sẽ phản kích. Lê Trung Kiên một mình mưu trí và dũng cảm xông lên dùng bộc phá và thủ pháo phá hủy hoàn toàn kho đạn địch đặt trong sân bay, tạo thuận lợi cho đơn vị phát triển tiêu diệt địch.

   Trong đợt Tổng tiến công và nổi dậy đầu năm 1968, Lê Trung Kiên hai lần chỉ huy đơn vị đánh vào sở chỉ huy của trung đoàn 47 ngụy đóng ở thị xã Tuy Hòa. Đây là trung đoàn chủ lực của ngụy có nhiệm vụ kìm kẹp đồng bào Phú Yên, càn quét và đánh phá vùng giải phóng. Trong cả hai trận đánh này, đơn vị do Lê Trung Kiên chỉ huy diệt nhiều địch, gây khí thế cho đồng bào thị xã nổi dậy giành quyền làm chủ. Lê Trung Kiên đã anh dũng hy sinh ngày 3 tháng 3 năm 1968, trong trận đánh sở chỉ huy trung đoàn 47 ngụy lần thứ 2 tại thị xã Tuy Hòa.

   Lê Trung Kiên luôn luôn nêu cao ý chí tiến công quyết tâm tiêu diệt địch, giải phóng đồng bào, dù khó khăn gian khổ củng kiên quyết chấp hành mọi mệnh lệnh chỉ thị của cấp trên, giành khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho đồng đội, sống khiêm tốn, giản dị, được anh em tin yêu, mến phục.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 4 năm liền được bầu là Chiến sĩ thi đua, được tặng 23 bằng khen, 11 giấy khen.

   Ngày 15 tháng 2 năm 1970, Lê Trung Kiên được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 23 Tháng Tư, 2013, 04:18:51 pm
ANH HÙNG LÊ VĂN QUÝ
(LIỆT SĨ)

(http://imageshack.us/a/img856/6940/levanquy.jpg)


   Lê Văn Quý, sinh năm 1926, dân tộc Kinh, quê ở xã Hoài Đức, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định, nhập ngũ tháng 10 năm 1948. Khi hy sinh đồng chí là tiểu đoàn trưởng đặc công, bộ đội địa phương tỉnh Bình Định, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo ở, địa phương có phong trào cách mạng và kháng chiến cao, lại trưởng thành qua hai cuộc kháng chiến, nên Lê Văn Quý có tinh thần chiến đấu kiên cường chống quân xâm lược, có quyết tâm giải phóng đồng bào, giành độc lập, tự do và thống nhất cho đất nước.

   Lê Văn Quý là một cán bộ chỉ huy có tác phong linh hoạt, kiên quyết, mưu trí, triệt để chấp hành mọi mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên.

   Những ngày cuối năm 1967, Lê Văn Quý chỉ huy đơn vị đánh chiếm quận ly Tuy Phước, diệt hơn 200 xe địch, diệt gọn 2 trung đội, thu 48 súng, phá hủy nhiều kho tàng, vũ khí, các kho chứa xăng của giặc, giải thoát hàng trăm cán bộ bị địch bât. Sau đó, đơn vị phát triển đánh vào ấp Vĩnh Quan, diệt 1 trung đội bảo an, 18 dân vệ và hầu hết bọn ác ôn ở các xã Phước Sơn, Phước Lý, Phước Hải, gồm 58 tên, thu 26 súng, giải phóng 3.000 đồng bào.

   Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đầu Xuân 1968, đơn vị Lê Văn Quý nhận lệnh của Bộ chỉ huy mặt trận đánh bọn ngụy quân, ngụy quyền trong thị xã Quy Nhơn. Tuy gặp nhiều khó khăn về quân số, vũ khí, thời gian chuẩn bị, Lê Văn Quý cùng tập thể ban chỉ huy hạ quyết tâm tổ chức đơn vị chia làm 2 cánh quân đánh vào thị xã: một cánh đánh chiếm dinh tỉnh trưởng, một cánh do anh trực tiếp chỉ huy đánh thọc sâu vào thị xã. Sau khi cánh này chiếm được đài phát thanh, nhà thông tin, ty cảnh sát, quân vụ thị trấn, Lê Vãn Quý được báo cáo là cánh quân thứ nhất gặp khó khăn chưa tiến lên được. Đồng chí nhận định thời cơ đang có lợi cho ta cần phải liên tục chủ động tiến công địch, nên chỉ huy cánh thứ hai đánh chiếm luôn dinh tỉnh trưởng. Đơn vị Lê Văn Quý chiếm giữ các mục tiêu trong mấy ngày, riêng đài phát thanh trong 7 ngày, và liên tục đánh lui nhiều đợt phản kích của địch, diệt hàng trăm tên tại chỗ, bắt giáo dục 200 tên rồi thả về. Khi được lệnh rời khỏi thị xã, Lê Văn Quý tổ chức đánh kiềm chế địch, chỉ huy các bộ phận lần lượt chuyển ra ngoài, đảm bảo cho đại bộ phận di chuyến an toàn. Trên đường hành quân trở về căn cứ, Lê Văn Quý đã anh dũng hy sinh trong sự thương tiếc, cảm phục của tất cả anh em trong đơn vị và đồng bào thị xã Quy Nhơn.

   Lê Văn Quý là một cán bộ trưởng thành từ cơ sở, qua hai cuộc kháng chiến, có tác phong khiêm tốn, giản dị, luôn luôn gương mẫu dẫn đầu đơn vị trong các trận đánh, cùng ban chỉ huy đơn vị có mặt, ở những nơi khó khăn nhất để động viên và chỉ huy đơn vị giành chiến thắng vẻ vang. Đồng chí hết lòng thương yêu và chân thành giúp đỡ anh em nên được cấp dưới mến phục. Anh đã có nhiều đóng góp tích cực vào việc xây dựng đại đội đặc công đầu tiên của tỉnh Bình Định.

   Trong kháng chiến chống Pháp, đồng chí đã được 4 lần khen thưởng. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất và 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba.

   Ngày 15 tháng 2 năm 1970, Lê Văn Quý được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG NGUYỄN CHƠN

(http://imageshack.us/a/img62/6772/nguyenchon.jpg)


   Nguyễn Chơn, sinh năm 1927 dân tộc Kinh, quê ở xã Hòa Thắng, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, nhập ngũ tháng 2 năm 1946. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là sư đoàn phó sư đoàn 2 bộ binh, Quân khu 5, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Trong kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Chơn chiến đấu ở Quảng Nam, lập nhiều thành tích, được tặng thưởng I Huân chương Chiến công hạng ba.

   Sau một thời gian học tập ở miền Bắc, tháng 4 năm 1959, đồng chí trở lại chiến trường cũ với ý nghĩ mãnh liệt: quyết chiến thắng giặc Mỹ xâm lược, sẵn sàng hy sinh, vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, vì thống nhất Tổ quốc. Trưởng thành từ cán bộ đại đội lên sư đoàn phó, ở cương vị nào Nguyễn Chơn cũng đều hoàn thành tốt nhiệm vụ. Anh luôn luôn có tinh thần kiên quyết tiến công địch, chiến đấu dũng cảm, chỉ huy mưu trí, có tác phong tỉ mỉ, sâu sát làm việc có kế hoạch. Ở các cương vị đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn, được sự giúp đỡ của cấp trên và tập thể, Nguyễn Chơn đã chỉ huy đơn vị đánh nhiều trận xuất sắc, diệt gọn 1 tiểu đoàn và 10 đại đội địch, đánh thiệt hại nặng 1 trung đoàn, 7 chiến đoàn và tiểu đoàn khác. Đồng chí đã đóng góp xứng đáng vào chiến công chung đó.

   Trận Ba Gia (Quảng Ngãi) tháng 5 năm 1965, với cương vị tiểu đoàn trưởng, Nguyễn Chơn chỉ huy đơn vị tiến cồng kiên quyết và mưu trí diệt 1 tiểu đoàn ngụy, bắt 217 tên địch, có tên chỉ huy tiểu đoàn, thu 180 súng các loại.

   Trận Quang Thanh năm 1967, Nguyễn Chơn chỉ huy tiểu đoàn khắc phục nhiều khó khăn trong hành quân, trú quân, đến vị trí đúng thời gian quy định. Khi nổ súng, anh chỉ huy và động viên đơn vị tiến công kiên quyết đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn lính Nam Triều Tiên, đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của chiến dịch.

   Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968, Nguyễn Chơn chỉ huy trung đoàn hiệp đồng chặt chẽ với đơn vị bạn tiến công giải phóng các quận lỵ Duy Xuyên, Khâm Đức (Quảng Nam). Trong trận này, tuy quân Mỹ đông lại có ưu thế tuyệt đối về máy bay và pháo binh, Nguyễn Chơn vẫn kiên quyết chỉ huy đơn vị táo bạo thọc sâu một mũi vào sở chỉ huy lữ đoàn địch, đánh thiệt hại nặng 3 đại đội Mỹ.

   Được tập thể bồi dưỡng trưởng thành nhanh chóng, Nguyễn Chơn là một cán bộ gương mẫu, tích cực rèn luyện nâng cao bản lĩnh chỉ huy, chịu khó học tập đường lối chủ trương chính sách của Đảng, những kinh nghiệm tổng kết trong các chiến dịch, các trận đánh và kinh nghiệm chiến đấu của bản thân. Đồng chí luôn nghiêm chỉnh chấp hành chính sách, kỷ luật chiến trường, đoàn kết thương yêu đồng đội, tích cực xây dựng đơn vị trưởng thành, lập công xuất sắc.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công giải phóng hạng ba, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất và 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba.

   Ngày 15 tháng 2 năm 1970, Nguyễn Chơn được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 24 Tháng Năm, 2013, 10:32:33 am
ANH HÙNG NGUYỄN HỮU QUANG

(http://imageshack.us/a/img402/3643/nguyenhuuquang.jpg)


   Nguyễn Hữu Quang, sinh năm 1943, dân tộc Kinh, quê ở xã Cát Hanh, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, nhập ngũ tháng 9 năm 1961. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 90 công binh, sư đoàn 3, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Xuất thân từ một gia đình có bố, mẹ và em đều tham gia công tác cách mạng, bản thân thấy rõ tận mắt bè lũ Mỹ - ngụy tàn sát đồng bào rất dã man, Nguyễn Hữu Quang sớm có lòng căm thù sâu sắc quân giặc và quyết tâm chiến đấu giành tự do, độc lập cho Tổ quốc.    Nguyễn Hữu Quang đã tham gia 54 trận đánh, bản thân diệt 105 tên địch (trong đó có 29 tên Mỹ, 5 ác ôn), bắt 2 tù binh, phá 18 xe quân sự, thu 16 súng và chỉ huy đơn vị phá sập 7 cầu lớn, 1 đoàn xe lửa quân sự 13 toa.

   Trong chiến đấu và chỉ huy đơn vị, Nguyễn Hữu Quang bình tĩnh, mưu trí, có quyết tâm cao tiêu diệt địch, gan dạ, xung phong vào những nơi ác liệt, cổ vũ đơn vị noi theo.

   Năm 1965, đơn vị Nguyễn Hữu Quang được giao nhiệm vụ đánh sập cầu Phú Phong và cắt đứt đường số 19 trong 15 ngày. Lúc đó đơn vị anh hầu hết là chiến sĩ mới. Tin tưởng ở sức mạnh tiềm tàng của quần chúng, Nguyễn Hữu Quang ra sức huấn luyện kỹ thuật bơi lặn cho anh em. Và sau một thời gian ngắn anh em thành thạo kỹ thuật đánh cầu. Nhờ vậy đơn vị của anh đã hoàn thành nhiệm vụ đánh sập chiếc cầu dài 120 mét, có 8 trung đội địch canh gác. Ngay sau trận đánh, địch gấp rút sửa cầu nhằm khôi phục lại tuyến giao thông quân sự quan trọng này. Quyết không cho địch thực hiện âm mưu nối lại tuyến đường, với số thuốc nổ còn lại, sau khi xin ý kiến tập thể, Nguyễn Hữu Quang quyết định đánh thêm cầu Bà Lá. Kế hoạch đã được thực hiện. Cầu Bà Lá bị sập, đơn vị anh đã thực hiện được nhiệm vụ cắt đứt đường số 19, vượt thời gian quy định.

   Năm 1967, sau khi hoàn thành nhiệm vụ điều tra cầu Bồng Sơn, lúc trở ra Nguyễn Hữu Quang bị địch phát hiện. Lính địch chạy dọc theo sông, trên trời máy bay lên thẳng bắn pháo sáng, dưới sông ca nô đuổi theo ném lựu đạn. Tình thế hết sức hiểm nghèo. Khi ca nô đuổi kịp, bọn địch xúm lại định kéo anh lên để bắt sống. Quyết không chịu sa vào tay giặc, Nguyễn Hữu Quang bình tĩnh nổ súng ngắn diệt ngay tên Mỹ rồi tiếp tục lặn. Bọn địch lại đuổi theo. Chúng vừa bắn vừa ném lựu đạn để chặn đường, cố tình bắt sống đồng chí. Biết rõ ý đồ đen tối đó của địch, Nguyễn Hữu Quang vừa đánh trả địch vừa tìm cách vượt vòng vây. Để cho một chiếc ca nô đến gần, Nguyễn Hữu Quang nổ tiếp 3 phát súng ngắn, diệt 1 tên Mỹ nữa. Trong lúc bọn địch hốt hoảng vớt tên giặc này lên, anh nhanh nhẹn lặn vào bờ và lấy rơm đắp lên người và ngất đi. Khi tỉnh lại, thấy mắt mình không mở ra đứợc vì sức ép của lựu đạn dưới nước, anh tìm đường ra, không may lại sa vào hố chông, chân bị thương. Tuy vậy, Nguyễn Hữu Quang vẫn kiên trì tìm về được với đơn vị.

   Năm 1968, đơn vị Nguyễn Hữu Quang nhận nhiệm vụ đánh sập cầu Ông Diệu, khơi ngòi nổ cho chiến dịch, với thời gian chuẩn bị chỉ có một đêm. Đồng chí tự vào tận nơi nghiên cứu địa hình, chuẩn bị phương án tác chiến, do đó đã góp phần với đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ đánh sập cầu, diệt gọn trung đội bảo an, mở màn cho chiến dịch.

   Nguvễn Hữu Quang là một cán bộ gương mẫu, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu và chỉ huy. Trong mọi hoàn cảnh, đồng chí luôn luôn có ý thức tổ chức, kỷ luật, có tinh thần khiêm tốn học tập, được tập thể hết lòng bồi dưỡng, được anh em yêu mến, tin cậy.

   Đồng chí nhiều lần được bầu là Chiến sĩ thi đua, được tặng thưởng 2 giấy khen, 4 bằng khen, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba.

   Ngày 15 tháng 2 năm 1970, Nguyễn Hữu Quang được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.




ANH HÙNG NGUYỄN HỒNG QUẢNG

(http://imageshack.us/a/img521/8201/nguyenhongquang.jpg)


   Nguyễn Hồng Quảng, sinh năm 1942, dân tộc Mường, quê ở xá Phú Long, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình, nhập ngũ tháng 4 năm 1962. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại đội trưởng đại đội 48 cao xạ, tiểu đoàn 44, Mặt trận Tây Nguyên, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Được sự giáo dục của chế độ xã hội chủ nghĩa, Nguyễn Hồng Quảng hiểu rõ nghĩa vụ vẻ vang của tuồi trẻ các dân tộc trên đất nước phải cùng nhau đoàn kết, sản sàng đi bất cứ đâu khi Tổ quốc cần. Khi vào bộ đội, anh nguyện hoàn thành bất cứ nhiệm vụ gì cấp trên giao cho.

   Nguyễn Hồng Quảng đã tham gia 330 trận, cùng đơn vị bân rơi nhiều máy bay địch.

   Trong thời gian làm nhiệm vụ quốc tế, phối hợp chiến đấu với lực lượng vũ trang cách mạng Lào, Nguyễn Hồng Quảng nêu cao tinh thần dũng cảm tiến công tiêu diệt địch, gương mẫu động viên anh em chiến đấu trong những điều kiện rất gay go ác liệt.

   Ngày 19 tháng 2 năm 1965, ở Sầm Nưa, đơn vị hành quân vừa nghỉ lại thì máy bay địch ập đến đánh thẳng vào đội hình. Các khẩu đội khác sau một hồi chiến đấu đều có thương vong nặng, chỉ còn khẩu đội của Nguyễn Hồng Quảng, anh tiếp tục nổ súng đánh trả địch, trả thù cho đồng đội. Đồng chí cùng chính trị viên đơn vị động viên khẩu đội còn lại kiên quyết chiến đấu. Kết quả các anh bắn rơi 8 chiếc F.105, trong đó có 1   chiếc rơi cách trận địa 500 mét.

   Hồi 17 giờ ngày 15 tháng 6 năm 1965, trong khi đơn vị làm nhiệm vụ bảo vệ khu căn cứ của bạn, máy bay địch chia làm nhiều tốp đến bắn phá dữ dội. Đơn vị kịp thời nổ súng, nhưng một loạt bom rơi vào giữa trận địa làm cho chính trị viên và trung đội trưởng hy sinh, một số anh em khác bị thương, chỉ còn ba khẩu súng chiến đấu được. Trong tình thế hết sức khó khăn đó, Nguyễn Hồng Quảng động viên 3 khẩu đội chiến đấu, bắn mãnh liệt, chính xác vào lũ máy bay địch. Đồng chí chỉ huy anh em kịp thời đào đất cứu đại đội trưởng và anh em khác bị vùi lấp. Trận chiến đấu kết thúc lúc trời tối, ta bắn rơi 3 phản lực Mỹ, bảo vệ được mục tiêu căn cứ của bạn.

   Trở về nước, thạm gia bảo vệ khu vực Hàm Rồng -Thanh Hóa, Nguyễn Hồng Quảng chỉ huy đại đội chiến đấu hơn 200 trận bắn rơi nhiều máy bay giặc, có trận diệt 5 chiếc.

   Đầu năm 1968, đại đội Nguyễn Hồng Quảng hành quân vào chiến trường miền Nam.

   Trong trận ngày 24 tháng 2 năm 1969, đơn vị Nguyễn Hồng Quảng chiến đấu bảo vệ trận địa pháo 85 và 105 mi-li-mét, đơn vị anh chiến đấu suốt từ 12 giờ đến 17 giờ. Nguyễn Hồng Quảng bình tĩnh chỉ huy, ra lệnh nổ súng kịp thời, bắn rơi 1 máy bay địch ngay loạt đạn đầu.

   Ngày 4 tháng 3 năm 1969, địch sử dụng 56 lần chiếc máy bay ném 42 tấn bom, phóng 3 quả tên lửa xung quanh trận địa. Nguyễn Hồng Quảng đứng vững trên công sự theo dõi mục tiêu, hạ lệnh nổ súng kịp thời, chính xác. Một quả bom nổ gần hất anh xuống đất ngất đi, Khi tỉnh dậy, Nguyễn Hồng Quảng đứng ngay vào vị trí, chỉ huy đơn vị tiếp tục chiến đấu. Trong trận này, đơn vị bắn rơi 4 máy bay địch (3 F.105 và 1 AD.6).

   Ngày 10 tháng 5 năm 1969, chỉ huy đơn vị đánh bọn biệt kích, Nguyễn Hồng Quảng để cho bọn chúng đến gần mới hạ lệnh nổ súng bất ngờ, đồng loạt, diệt 44 tên. Sau đó, đơn vị đánh lui 9 đợt phản kích của địch, bắn rơi 2 trực thăng, thu 4 súng.

   Nguyễn Hồng Quảng liên tục chiến đấu ở nhiều chiến trường, luôn luôn nêu cao tinh thần triệt để chấp hành mệnh lệnh, chỉ thị. Trong những tình huống gay go, ác liệt, Nguyễn Hồng Quảng đi sát cổ vũ anh em lập công xuất sắc. Đồng chí đã góp phần tích cực xây dựng và giữ vững danh hiệu Đơn vị anh hùng cho đại đội, nên được anh em tin yêu, mến phục, cấp trên tin tưởng.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng ba, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 7 bằng khen, 2 giấy khen, 3 năm liền là Chiến sĩ thi đua, 1 lần Chiến sĩ Quyết thắng, đạt danh hiệu Dũng sĩ Quyết thắng, Dũng sĩ diệt máy bay.

   Ngày 15 tháng 2 năm 1970, Nguyễn Hồng Quảng được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dần giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 24 Tháng Năm, 2013, 10:36:00 am
ANH HÙNG LÊ HỮU TỰU

(http://imageshack.us/a/img19/4204/lehuutuu.jpg)

   Lê Hữu Tựu, sinh năm 1944, dân tộc Kinh, quê ở xã Nguyên Khê, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội, nhập ngũ tháng 4 nãm 1965. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại đội phó đại đội 3, tiểu đoàn 14 phòng không, thuộc sư đoàn 2, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Trong kháng chiến chống Pháp, gia đình Lê Hữu Tựu là cơ sở cách mạng, cha là đảng viên, cán bộ xã, anh đi bộ đội. Được giáo dục trong chế độ xã hội chủ nghĩa và phát huy truyền thống của gia đình, trước sự xâm lược của đế quốc Mỹ đối với Tổ quốc, đang làm nhiệm vụ người công nhân tham gia xây dựng chủ nghĩa xã hội, anh xung phong tòng quân trực tiếp cầm súng đánh giặc, cứu nước.

   Lê Hữu Tựu đã tham gia 13 chiến dịch, đánh hơn 50 trận (trong đó có 28 trận trực tiếp bắn máv bay),  bắn rơi 31 chiếc trực thăng, diệt 64 tên giặc lái và lính bộ binh.

   Lê Hữu Tựu là một xạ thủ mưu trí, linh hoạt, dũng cảm, trong hoàn cảnh nào cũng tích cực tiêu diệt địch, bắn rơi máy bay địch.

   Mùa Thu năm 1967, qua quá trình rèn luyện, thử thách, Lê Hữu Tựu được xếp vào chân xạ thủ phụ. Tuy là xạ thủ phụ nhưng anh rất hăng hái. Có lần trận địa bị máy bay địch đánh phá, thêm vào đó, lại bị cây to che khuất nên không đánh trả được. Bất chấp nguy hiểm, Lê Hữu Tựu trèo lên cây chặt cành, tạo thuận lợi cho khẩu đội nổ súng đánh địch, bảo vệ trận địa. Trong trận này, riêng anh bắn rơi 8 mấy bay lên thẳng, vì thế được chuyển lên làm xạ thủ chính.

   Mùa Đông năm 1967, đơn vị Lê Hữu Tựu chiến đấu với bọn không quân Mỹ trong 5 ngày. Ngay từ ngày đầu, khi 3 chiếc máy bay lên thẳng lao đến, bằng 2 loạt đạn chính xác, Lê Hữu Tựu bắn rơi 2 chiếc, chiếc còn lại tháo chạy. Hôm sau địch rải chất độc hóa học xuống trận địa và cho 2 trung đội bộ binh đánh lên chốt. Đơn vị dùng nước uống để rửa mắt khắác phục chất độc, vừa xong thì đã thấy địch ở phía sau. Lê Hữu Tựu nhanh trí cùng đồng đội hạ nòng súng xiết cò diệt nhiều tên Mỹ. Địch bỏ chạy tán loạn, các đồng chí nhanh chóng chiếm lại điểm cao. Buổi chiều, địch dùng 4 chiếc máy bay lên thẳng bắn rốc két vào trận địa. Lê Hữu Tựu bình tĩnh với 3 điểm xạ ngắn, diệt 3 chiếc rơi tại chỗ. Khẩu đội bạn nắm thời cơ diệt chiếc còn lại. Sau trận này Lê Hữu Tựu được đề bạt làm khẩu đội trưởng.

   Mùa Hè năm 1968, đại đội chốt trên núi ngang. Trận địa được bố trí giữa 2 cứ điểm địch. Lê Hữu Tựu đã chỉ huy khẩu đội chiến đấu suốt 40 ngày đêm khi bắn máy bay địch tại chỗ, lúc cơ động săn máy bay địch sát cứ điểm của chúng. Bị thương Lê Hữu Tựu vẫn chống gậy hành quân cùng khẩu đội. Nhưng khi máy bay địch đến là anh lại nén đau cùng khẩu đội bắn rơi 2 chiếc máy bay lên thẳng.

   Lê Hữu Tựu đã gương mẫu rèn luyện, khiêm tốn học tập, đoàn kết và chăm lo xây dựng khẩu đội tiến bộ về mọi mặt, góp phần xây dựng đại đội thành đơn vị Anh hùng.

   Lê Hữu Tựu đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba.
   Ngày 15 tháng 2 năm 1970, Lê Hữu Tựu được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG RƠ CHĂM ỚT

(http://imageshack.us/a/img24/9104/rochamot.jpg)

   Rơ Chăm Ớt, sinh năm 1949, tại làng Ó, B5 khu 4 nay là xã Yasao, Chưpâh, Gia Lai, dân tộc Gia Rai, tham gia cách mạng năm 1965. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là xã đội phó xã B5. Đảng viên đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ đầu năm 1969 đến năm 1970, Ớt đã chiến đấu 51 trận, diệt 124 địch, có 70 Mỹ, bắn cháy 12 xe quân sự, có 9 xe bọc thép, bắn rơi 2 máy bay, có chiếc bị bắn rơi bằng 2 viên đạn súng trường, đánh sập 13 lô cốt, 5 nhà kho, nhà lính, nhà xe, 19 lần đạt danh hiệu Dũng sĩ, được biểu dương ở Hội nghị du kích toàn huyện. Đại hội thi đua tỉnh và được mặt trận B3 tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất.

   Trong trận đánh ngày 16 tháng 4 năm 1969, chỉ huy 2 tổ du kích tập kích vào nhà chiếu bóng (khu điện ảnh của quân đoàn 2 ngụy), Ớt phân công một tổ ở lại cảnh giới sẵn sàng đánh địch, còn mình và ba đồng chí nhanh chóng thọc vào bên trong. Ớt lướt qua lô-cốt 2 tầng ở ngoài cùng vào đến nhà chiếu bóng thấy bọn địch đang ngồi xem liền bắn một quả B40 vào nhà, ba đồng chí khác, dùng lựu đạn, thủ pháo lần lượt đánh sập 3 lô-cốt rồi bắn luôn 3 quả B40 diệt 3 xe bọc thép đang nổ máy chuẩn bị chạy trốn. Địch bắn loạn xạ, anh em nhanh chóng lợi dụng tường đất ẩn mình lúc địch ngừng bắn, Ớt lao lên ném thủ pháo vào lô-cốt ngoài cùng rồi rút an toàn. Trong trận này với 7 quả đạn B40, 1 thủ pháo Ớt đã diệt 8 mục tiêu địch.

   Ngày 24 tháng 4 năm 1969, du kích phối hợp với bộ đội chủ lực chiến đấu, Ớt chỉ huy 6 đồng chí tập kích vào vị trí Cơ-ty-pơ-rông. Để nắm chắc địch, Ớt cải trang đi xe đạp ở mép rào để điều tra và tối dẫn tổ vào. Sau khi phân công cụ thể từng mục tiêu, chỉ trong ít phút chiến đấu ta đã làm chủ trận địa. Trận này, Ớt diệt 4 lô cốt và 3 xe M113. Khi rút ra, không may bị mảnh đạn bắn vào mắt, vào lưng và tay, không đi được đồng chí được anh em du kích cõng về đơn vị. Sau một thời gian nằm viện một mắt bị hỏng, vết thương vừa lành, Ớt xin ra viện, trở lại chiến đấu.

   Tháng 6 năm 1969, vừa ở viện về, đồng bào báo cho du kích biết có 3 xe địch chốt trên đường. Ớt dẫn 4 đồng chí ra đánh. Lần này, Ớt giao súng B40 cho Nhợi để Nhợi cũng bắn được như mình. Nhợi kê súng lên ngắm chiếc xe đầu bóp cò, chiếc xe bị diệt tại chỗ, chiếc thứ hai bị thương nhẹ tháo chạy, chiếc thứ ba bò qua chỗ Ớt nằm. Ớt nhanh chóng cầm thủ pháo lao ra xe, hai tên Mỹ nhìn thấy sợ quá nhảy ra ngoài không kịp lấy súng. Ớt dùng thủ pháo tung vào thùng xe rồi nhảy xuống nép vào phía dưới. Thủ pháo nổ, xe bị diệt, khẩu đại liên trên xe bị gẫy nòng, hai tên Mỹ trong xe cũng bị diệt, Ớt đuổi theo 2 tên Mỹ vừa chạy trốn diệt nốt.

   Rơ Chăm Ớt là xã đội phó du kích chiến đấu gan dạ, lập công xuất sắc trên vành đai diệt Mỹ Plây Cu, dẫn đầu phong trào du kích chiến tranh các tỉnh Tây Nguyên, được bà con buôn làng và anh chị em du kích mến phục.

   Ngày 15 tháng 2 năm 1970, Rơ Chăm Ớt được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 24 Tháng Năm, 2013, 10:40:15 am
ANH HÙNG VÕ VĂN TĂNG

(http://imageshack.us/a/img842/8951/vovantang.jpg)


   Võ Văn Tăng, sinh năm 1944, dân tộc Kinh, quê ở xã Thuận Vĩ, huyện Châu Thành, tỉnh Long An, nhập ngũ tháng 6 năm 1963. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung đội trưởng pháo mặt đất, tiểu đoàn 22, sư đoàn 5 bộ đội chủ lực miền Đông Nam Bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo, cha, mẹ tham gia đoàn thể eách mạng, anh em đều đi bộ đội hoặc dân quân, Võ Văn Tăng được ảnh hưởng tốt của giáo dục gia đình nên sớm có lòng căm thù bè lũ Mỹ-ngụy và rất thiết tha với sự nghiệp giải phóng quê hương, thống nhất Tổ quốc.

   Đồng chí đã chiến đấu 22 trận, bản thân diệt 4 xe tăng và xe bọc thép, bắn sập 10 lô cốt và diệt hơn 100 tên Mỹ, ngụy. Trận chiến đấu nào võ Văn Tăng cũng dũng cảm, bình tĩnh, mưu trí, luôn luôn xung phong vào nơi khó khăn ác liệt. Khi ở cương vị chỉ huy, đồng chí là một người cán bộ có tinh thần triệt để chấp hành mệnh lệnh cùng tập thể khẩu đội hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu.

   Trong trận Bàu Cối năm 1963, 2 đại đội biệt kích có 4 xe M.113 yểm hộ đánh thẳng vào căn cứ của ta. Tuy là pháo thủ số 3, Võ Văn Tăng phải thay thế pháo thủ số 1 bị ốm. Sau khi đợt tiến công thứ nhất bị đẩy lùi, bọn giặc tập trung hỏa lực pháo, bộ binh cùng 4 xe bọc thép mở đợt tiến công mới vào trận địa ta. Tuy đây là lần đầu tiên đánh xe bọc thép, đồng chí bình tĩnh, tự tin, để cho địch đến gần mới nổ súng chính xác, liên tiếp diệt 2 xe M.113 của địch, làm cho 2 chiếc khác quay đầu tháo chạy, bỏ rơi bọn bộ binh lại phía sau. Diệt xong xe địch, Võ Văn Tăng được lệnh tiếp cận tiêu diệt bộ binh địch. Với tư thế vác súng ĐKZ quỳ bắn thành thạo, đồng chí diệt nhiều hỏa điểm và 30 tên địch làm cho chúng tê liệt không chống cự nổi, tạo thời cơ cho bộ binh ta tiến lên diệt gọn 2 đại đội biệt kích địch.

   Trận Kim Long năm 1967, khẩu đội Võ Văn Tăng được phối thuộc với đại đội bạn. Sau khi diệt 2 xe tăng địch, trận địa pháo của đồng chí bị lộ, bọn Mỹ tập trung hỏa lực bắn dữ dội làm cho pháo thủ số 1 và khẩu đội trưởng by sinh. Theo dự kiến phân công thay thế từ trước, đồng chí lên thay làm khẩu đội trưởng. Võ Văn Tăng bình tĩnh cùng khẩu đội, lấy thước ngắm chính xác, bắn liên tiếp hai phát đạn diệt 2 xe tăng địch. Sau đó, đồng chí bị thương nặng nhưng vẫn cùng anh em giứ vững trận địa. Đến khi được lệnh rút ra ngoài, Võ Văn Tăng động viên anh em khỏe vác súng ĐKZ ra trước, còn bản thân sau khi băng bó vết thương, đồng chí tự bò ra sau cùng. Trong trận này, khẩu đội Võ Văn Tăng diệt 6 xe tăng, riêng bản thân đồng chí diệt 2 chiếc.

   Trong trận Tân Hiệp, tháng 5 năm 1968, đơn vị súng cối 82 mi-li-mét của đồng chí phối hợp với đơn vị đặc công đánh 1 tiểu đoàn Mỹ đi càn. Sau khi vượt qua nhiều đồng trống lầy lội, trời đã sáng, đơn vị phải trụ lại Tân Hiệp. Khoảng 9 giờ sáng, địch dùng 1 tiểu đoàn Mỹ có nhiều xe tăng yểm hộ từ lộ 26 chia làm 3 mũi mở nhiều đợt tiến công vào Tân Hiệp. Trận chiến đấu đang diễn ra gay go, ác liệt thì bên ta súng cối bị hỏng, nhiều đồng chí bị thương vong. Võ Văn Tăng cùng 4 đồng chí khác trong khẩu đội dùng súng trường, súng máy, lựu đạn cùng đơn vị bạn chiến đấu ngoan cường chống lại 1 tiểu đoàn Mỹ cho đến 6 giờ chiều. Trong trận chống càn này, quân ta diệt hơn 100 tên Mỹ.

   Võ Văn Tăng chiến đấu dũng cảm, có tinh thần đoàn kết, thương yêu đồng đội, gương mẫu trong mọi lúc khó khăn ác liệt, được mọi người yêu mến, tin cậy, được tập thể bồi dưỡng trưởng thành.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 13 bằng khen, 28 giấy khen, 2 lần Dũng sĩ diệt cơ giới và 1 lần Dũng sĩ diệt Mỹ cấp ưu tú, 4 năm là Chiến sĩ thi đua.

   Ngày 5 tháng 9 năm 1970, Vô Văn Tăng được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG NGUYỄN VĂN MƯỜI
(LIỆT SĨ)


   Nguyễn Văn Mười (tức Mười Đấu) sinh năm 1934 dân tộc Kinh, quê ở xã Hòa Hưng, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang nhập ngũ năm 1963 phục viên năm 1968. Khi hy sinh đồng chí là tổ viên tổ dân quân thương binh tỉnh Mỹ Tho, mặt trận Trung Nam Bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Được cán bộ cách mạng tuyên truyền giáo dục Nguyễn Vãn Mười sớm có lòng yêu nước và căm thù đế quốc phong kiến. Năm 1952, đồng chí' tham gia công tác kháng chiến ở địa phương, làm chiến sĩ tự vệ giữ nhiệm vụ giao thông liên lạc, hoàn thành tốt nhiệm vụ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

   Năm 1963, Nguyễn Văn Mười nhập ngũ, làm việc ở công trường lò than của ban quân sự huyện Cái Bè. Tuy bị thương cụt một chân, trong lao động sản xuất, đồng chí rất cần cù, chăm chỉ, luôn luôn vượt chỉ tiêu sản xuất than, phục vụ nhiệm vụ chế tạo vũ khí của địa phương.

   Trong chiến đấu, Nguyễn Văn Mười rất dũng cảm, không quản ngại hy sinh nguy hiểm, mặc dù có thương tật, vẫn luôn luôn tích cực chủ động tìm địch mà diệt bằng vũ khí tự chế tạo.

   Cuối năm 1967, địch càn quét nhiều lần vào công trường của đồng chí, nhưng lần nào bọn chúng củng bị thất bại thảm hại. Vừa bảo vệ sản xuất, vừa chiến đấu, đơn vị Nguyễn Văn Mười, đã diệt 200 tên địch, riêng đồng chí diệt 8 tên.

   Trong thời gian này, tuy bị thương cụt một chân, đồng chí vẫn hăng hái lao động sản xuất, tích cực chống giặc đi càn quét, bảo vệ cơ sở. Tháng 5 năm 1968, do bị thương một lần nữa, cả hai chân bị cụt, Nguyễn Văn Mười được chuyển ra ngoài quân đội, về tham gia hoạt động kháng chiến trong tổ thương binh ở xã Mỹ Lợi.

   Các đồng chí tích cực tuyên truyền vận động nhân dân làm xã chiến đấu, rào làng, đào hầm, chế tạo mìn, lựu đạn đánh giặc. Tuy thương tật rất nặng, Nguyễn Văn Mười vẫn rất gương mẫu tự tay làm được 15 hầm chông, gài được 5 lựu đạn, 30 đạp lôi, đào công sự. Đặc biệt, đồng chí rất tích cực đi thu tìm lựu đạn về cài bẫy diệt địch. Do đó, địch đánh hàng chục lần nhưng không vào được trong xã. Trong một lần chống càn, Nguyễn Văn Mười đeo một thùng lựu đạn ở cổ, dũng cảm luồn lách, lội xuống mương cài bẫy lựu đạn trong lúc địch đang bắn phá. Suốt 4 ngày chiến đấu, tổ thương binh 3 người đã diệt 15 tên địch. Có lần địch dùng máy bay lên thẳng bắn rồi đổ quân vào nơi tổ dân quân thương binh ở. Các đồng chí bình tĩnh, nhanh chóng bò ra gài thêm lựu đạn, đạp lôi và chuyển 3 em nhỏ cùng tài liệu ra ngoài an toàn. Địch xông vào bị lựu đạn nổ làm một số tên chết, số còn lại bỏ chạy tán loạn.

   Tính trong 3 tháng cuối năm 1968, xã chiến đấu đã diệt trên 100 tên địch, tổ thương binh diệt 49 tên, riêng đồng chí diệt 9 tên. Đồng chí đã anh dũng hy sinh trong một trận chống địch càn quét.

   Nguyễn Văn Mười là một thương binh kiên cường bám đất, bám dân, cùng tổ dân quân thương binh hăng say đánh giặc nêu tấm gương sáng tận trung, tận hiếu, chiến đấu đến hơi thở cuối cùng vì Tổ quốc, vì nhân dân. Đồng chí hết lòng đoàn kết, giúp đỡ đồng đội và bà con trong thôn xã, được mọi người rất yêu mến.

   Đồng chí đã được khen thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì.

   Ngày 5 tháng 9 năm 1970, Nguyễn Văn Mười được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 24 Tháng Năm, 2013, 10:43:03 am
ANH HÙNG LÊ VĂN PHÍCH

(http://imageshack.us/a/img443/3131/levanphich.jpg)


   Lê Văn Phích, sinh năm 1949, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, nhập ngũ tháng 1 năm 1968. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung đội phó thuộc đại đội A (Đơn vị Anh hùng), bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ năm 15 tuổi Lê Văn Phích đã tham gia các phong trào cách mạng ở địa phương, vào tự vệ ấp, xây dựng làng chiến đấu. Năm 17 tuổi đồng chí vào đội dân quân xã trực tiếp cầm súng bảo vệ quê hương. Do bơi lội giỏi, tháng 1 năm 1968, đồng chí được bổ sung vào đội công binh bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre.

   Đồng chí đã tham gia nhiều trận đánh, phá hủy cầu, phà, đánh chìm tàu chiến, tiêu diệt nhiều địch và phương tiện chiến tranh của chúng. Trong chiến đấu, Lê Văn Phích rất dũng cảm, bình tĩnh dùng kỹ thuật bơi lặn giỏi, tìm mọi cách vượt khó khăn nguy hiểm, hoàn thành nhiệm vụ.

   Tháng 9 năm 1968, ban chỉ huy đại đội giao cho Lê Văn Phích nhiệm vụ điều tra, nghiên cứu đề xuất phương án đánh đoàn 4 chiếc tàu chiến Mỹ, trong đó có 1 tàu chiến nhỏ mang 6 khẩu pháo, đóng ở đầu kênh Chẹt Sậy. Cách chỗ đoàn tàu chiến đậu 50 mét, có một chiếc cầu trên đó có 1 trung đội ngụy tuần tra, ở móng cầu có bốt gác chiếu đèn pha suốt đêm khắp mặt sông. Trên bờ bọn Mỹ đóng rải rác. Qua 2 đêm dàv công bơi lặn nghiên cứu, đồng chí vào sờ từng chiếc tàu, xác định điểm đặt mìn và lập phương án chiến đấu. Được cấp trên chuẩn y kế hoạch, đêm 24 tháng 9, tổ của Lê Văn Phích phải đưa trái mìn đi dưới sông từ xa 600 mét và phải qua một ngã ba rộng 200 mét nước xoáy mạnh. Lợi dụng lúc đèn pha quét sang hướng khác, cả tổ vượt qua ngã ba và áp vào tàu buộc mìn xong không đầy 5 phút. Nhưng không may, mìn bị hỏng, chữa đi chữa lại hàng tiếng đồng hồ vẫn không được, cả tổ phải bí mật rút về căn cứ. Đêm sau, các đồng chí lại tiếp tục đánh. Lần này tuy địch có bắn súng và ném lựu đạn quanh tàu mấy lần, nhưng với kỹ thuật điêu luyện và tinh thần dũng cảm, mưu trí, các đồng chí đặt được mìn vào nơi đã định và rút ra an toàn. Mìn nổ dìm xuống sông chiếc tàu chiến có 6 khẩu pháo và toàn bộ bọn lính trên tàu.

   Tháng 11 năm 1968, Lê Văn Phích tham gia trận đánh tàu chiến trên sông Hàm Luông. Một đoàn 7 chiếc tàu chiến cùng 300 tàu, xuồng lớn nhỏ kéo đến sông Hàm Luông để yểm hộ cho trận càn lớn vào Giồng Trôm. Nhận nhiệm vụ đánh đoàn tàu này, Lê Văn Phích và 3 đồng chí khác phải hành quân cách 10 ki-lô-mét và chuyển mìn dưới nước 3 ki-lô-mét. Địch nhiều lần bắn súng, ném lựu đạn bừa bãi vào các đám bèo, tàu tuần tra của chúng chạy sát cách đồng chí 5 mét làm cho tổ xáo động đội hình, liên lạc với nhau rất khó khăn. Lợi dụng thời cơ địch mải theo dõi bắn ra vòng ngoài, Lê Văn Phích áp sát vào mục tiêu đặt mìn và cả tổ nhanh chóng rút ra ngoài khu vực nguy hiểm. Sau 10 phút, mìn nổ tung dìm 1 tàu chiến cùng 14 tàu khác với hàng trăm tên giặc Mỹ xâm lược xuống sông.

   Cuối năm 1969, tiểu đội Lê Văn Phích nhận nhiệm vụ đánh cầu Bình Chánh. Cầu này dài 100 mét, nầm trên đường Bến Tre - Giồng Trôm, được rào bằng 2 lớp kẽm gai dày, có bốt gác ở hai đầu cầu và dưới trụ cầu. Đồng chí điều tra nghiên cứu 3 tháng liền mới lập xong phương án đánh.

   Lần đánh thứ nhất, Lê Văn Phích củng một đồng chí khác đem mìn vào. Nhưng không may, địch bắn súng vu vơ xuống nước làm đồng đội hy sinh, mìn chìm xuống đáy sông, kế hoạch phải hoãn lại.

   Sau 2 tháng điều tra, nghiên cứu lại quy luật hoạt động của địch, Lê Văn Phích đề nghị và được chuẩn y cho đánh cầu vào lúc bắt đầu sáng, là lúc địch đổi gác và rút bớt lính gác cầu. Đúng 5 giờ 30 sáng Lê Văn Phích bí mật, khéo léo đặt mìn phá 2 nhịp cấu, diệt 15 tên địch, cắt giao thông của chúng trong 2 tháng.

   Lê Văn Phích chiến đấu mưu trí, dũng cảm, không chịu lùi bước trước khó khăn, luôn luôn suy nghĩ tìm mọi sáng kiến thực hiện chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên giao cho. Đồng chí có tinh thần đoàn kết nội bộ tốt, khéo léo tuyên truyền, giáo dục nhân dân, gây cơ sở để hoạt động bí mật.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 4 bằng khen, 7 giấy khen, Huân chương Quân công giải phóng hạng ba, Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 9 lần đạt danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, được bầu là lá cờ đầu của đại đội A, Đơn vị Anh hùng.

   Ngày 5 tháng 9 năm 1970, Lê Văn Phích được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG LÊ THANH

(http://imageshack.us/a/img811/8780/lethanh.jpg)


   Lê Thanh (tức Lê Văn Phòng), sinh năm 1932, dân tộc Kinh, quê ở xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, nhập ngũ tháng 10 năm 1960. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là chính trị viên phó tiểu đoàn 516 bộ binh, đơn vị Anh hùng, Mặt trận Trung Nam Bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ năm 16 tuổi, trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Lê Thanh đã tham gia các hoạt động cách mạng ở địa phương. Với ý chí tiến công cao, đồng chí vượt qua mọi khó khăn gian khổ, liên tục bám đất, bám dân, xây dựng phong trào đấu tranh chống Mỹ-ngụy. Năm 1960, trước yêu cầu phát triển lực lượng vũ trang, Lê Thanh xung phong gia nhập quân đội.

   Trên mặt trận đấu tranh vũ trang, đồng chí đã tham gia 121 trận đánh lớn nhỏ: đánh đồn, tập kích, chống càn, phục kích và đánh vào thị xã, thị trấn. Lê Thanh là một cán bộ chỉ huy kiên cường, xông xáo, dũng cảm và mưu trí, 5 lần bị thương vẫn không rời vị trí, tiếp tục chỉ huy chiến đấu.

   Ngày 13 tháng 4 năm 1966, sau 6 đêm đi điều tra, nghiên cứu, đồng chí phụ trách đại đội múi chính đánh vào trường huấn luyện ngụy ở Phú Hưng. 5 đại đội ngụy có công sự kiên cố, có hỏa lực nhiều tầng, điên cuồng chống cự, làm cho các mủi tiến công của ta có lúc bị dừng lại. Tuy bị thương, Lê Thanh vẫn củng cố bộ đội rồi dẫn đầu đơn vị tiếp tục thọc sâu, diệt toàn bộ hầm ngầm của bọn chỉ huy, góp phần to lớn vào thắng lợi của toàn đơn vị, tiêu diệt 5 đại đội địch, thu nhiều vũ khí.

   Tháng 10 năm 1966, đơn vị vừa hành quân đến Bình Khánh thì gặp địch đi càn. Máy bay và pháo binh địch bắn phá dữ dội để dọn đường cho bộ binh đánh vào. Lúc này công sự của ta đều bị ngập nước và chưa liên lạc được với tiểu đoàn. Lê Thanh bình tĩnh đến từng chiến hào động viên anh em chiến dấu. Sau khi đánh lui 6 đợt tiến công của địch, diệt nhiều tên tại chỗ, đại đội được lệnh chuyển ra ngoài. Đồng chí tổ chức hiệp đồng tốt, đưa đơn vị rời khỏi trận địa an toàn trong lúc địch tập trung xe bọc thép cùng bộ binh đánh bao vây quân ta.

   Trong đợt 1 cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968, đơn vị Lê Thanh nhận nhiệm vụ đánh vào 4 mục tiêu trong thị xã Bến Tre. Mặc dù địch bố trí phòng thủ dày, có nhiều ổ đề kháng ngăn chặn quân ta phát triển, đồng chí mưu trí chỉ huy đơn vị hiệp đồng chặt chẽ, diệt từng ổ, đánh chiếm trại Kim Sắt và sở chỉ huy tiểu khu của địch, thu và phá hủy 1.000 súng các loại.

   Tháng 11 năm 1968, Mỹ-ngụy cho 9 tiểu đoàn, 20 đại đội cùng hàng trăm tàu lớn nhỏ càn vào vùng giải phóng Sơn Phú - Giồng Trôm. Chúng cho máy bay giội bom và pháo bắn suốt ngày. Mặc dầu ác liệt như vậy, Lê Thanh vẫn bình tĩnh cùng ban chỉ huy đại đội phán đoán tình hình, linh hoạt xử trí, chỉ huy các mủi bẻ gãy 20 đợt xung phong của địch, chặn đứng 12 chiếc M.113, không cho chúng tiếp cận trận địa ta, góp phần cùng với tiểu đoàn tiêu diệt hơn 500 tên địch, giữ vững trận địa.

   Được tập thể bồi dưỡng trưởng thành nhanh chóng, Lê Thanh là một cán bộ có tác phong gương mẫu đi sâu đi sát, luôn luôn có mặt ở những nơi khó khăn ác liệt, cổ vũ anh em. Cùng tập thể ban chỉ huy xây dựng đơn vị hoàn thành xuất sác nhiệm vụ, đồng chí được anh em yêu mến, cấp trên tin tưởng.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba.

   Ngày 5 tháng 9 năm 1970, Lê Thanh được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 24 Tháng Năm, 2013, 10:46:31 am
ANH HÙNG VÕ VIẾT THANH

(http://imageshack.us/a/img839/6846/vovietthanh.jpg)


   Võ Viết Thanh, sinh năm 1943, dân tộc Kinh, quê ở xã Lương Phú, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, nhập ngũ tháng 2 năm 1960. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại đội phó, thuộc xưởng sản xuất vũ khí, bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Sinh ra và lớn lên ở một địa phương có phong trào đấu tranh sôi nổi chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, năm 17 tuổi, Võ Viết Thanh nhập ngũ với quyết tâm sẵn sàng làm bất cứ nhiệm vụ gì để góp phần chống Mỹ, cứu nước. Trong cao trào đồng khởi của địa phương, được phàn công hoạt động trong thị xã, Võ Viết Thanh vận động bạn bè cùng mình dùng lựu đạn diệt địch. Cuối năm 1960, bị địch bắt, dù chúng dùng mọi cực hình tra tấn và mọi thủ đoạn dụ dỗ, mua chuộc hơn 8 tháng, đồng chí vẫn giữ vững khí tiết kiên cường và ý chí chiến đấu bất khuất của người chiến sĩ cách mạng.

   Từ tháng 8 năm 1961, thoát khỏi nhà tù của địch, Võ Viết Thanh nhận công tác ở xưởng sản xuất vũ khí của tỉnh. Tuy trình độ văn hóa thấp, lại chưa biết nghề, song với nhiệt tình phục vụ và quyết tâm diệt địch cao, đồng chí nỗ lực tìm tòi, học tập, miệt mài nghiên cứu cải tiến kỹ thuật dám nghĩ dám làm, sản xuất được nhiều loại mìn, lựu đạn, vừa dễ làm vừa đỡ tốn kém đạt hiệu quả diệt địch cao.

   Trong hoàn cảnh địch đánh phá ác liệt, nguyên vật liệu thiếu thốn, yêu cầu phục vụ ngày càng cao, Võ Viết Thanh đã góp sức lãnh đạo đơn vị vượt qua khó khăn ác liệt, trực tiếp phụ trách một bộ phận của xưởng, bám sát chiến trường, trong 2 năm 1967, 1968 vừa sản xuất vừa chiến đấu, tự lực tìm bom, đạn lép của địch để sản xuất vủ khí tại chỗ, kịp thời cung cấp cho bộ đội đánh địch. Trước yêu cầu chiến đấu ngày càng cao, cần có hỏa lực mạnh để diệt đồn, bốt địch, Võ Viết Thanh tìm tòi nghiên cứu, thử nghiệm công phu và đã chế tạo thành công những khẩu súng cối và đại bác không giật, kịp thời trang bị cho các đơn vị bộ đội tỉnh đánh địch trong mùa Xuân 1968. Ngoài ra, võ Viết Thanh đã có trên 50 sáng kiến lớn nhỏ, trong đó có những sáng kiến dùng nguyên liệu dễ tìm kiếm, dễ làm, để sản xuất các loại lựu đạn, mìn. Sáng kiến dùng vỏ đồ hộp làm vỏ lựu đạn đã tăng năng suất từ 150 đến 500%, tiết kiệm cho công quỹ hàng chục vạn đồng trong một năm, cung cấp thêm nhiều vũ khí, đẩy mạnh phong trào toàn dân đánh giặc trong tỉnh.

   Vừa sản xuất vừa chiến đấu, luôn luôn nêu cao tinh thần dũng cảm, tích cực tiến công, Võ Viết Thanh đã chỉ huy đội tự vệ của xưởng đánh nhiều trận, diệt hơn 180 tên Mỹ - ngụy, bắn hỏng 1 tàu chiến, bắn rơi và phá hủy 5 máy bay lên thẳng của địch, góp phần bảo vệ căn cứ, đảm bảo sản xuất liên tục.

   Võ Viết Thanh có đức tính giản dị, khiêm tốn, chịu khó học tập và giúp đỡ đồng đội học tập nâng cao trình độ chuyên môn, chăm lo xây dựng xưởng tiến bộ mọi mặt, được đồng đội và nhân dân nơi đóng quân yêu mến.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba.

   Ngày 5 tháng 9 năm 1970, Võ Viết Thanh được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG HUỲNH PHI HÙNG
(LIỆT SĨ)


   Huỳnh Phi Hùng, sinh năm 1950, dân tộc Kinh, quê ở xã Khánh Bình Đông, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Minh Hải, nhập ngũ tháng 6 nărn 1966. Khi hy sinh đồng chí ỉà trung đội phó, đại đội 3, tiểu đoàn 303, Mặt trận Tây Nam Bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Xuất thân gia đình rất nghèo, được cách mạng chăm sóc, cho đi học tại trường Lý Tự Trọng trong vùng giải phóng, Huỳnh Phi Hùng sớm được bồi dưỡng lòng yêu nước nồng nàn, lòng căm thù sâu sắc giặc Mỹ và bè lũ tay sai. Năm 16 tuổi, đồng chí tình nguyện nhập ngũ để trực tiếp giết giặc, cứu nước.

   Trong 3 năm chiến đấu, Huỳnh Phi Hùng tham gia 26 trận, diệt 74 tên giặc, bắn rơi 3 máy bay, phá hủy 2 xe quân sự, bắn chìm 1 tàu chiến và bắn cháy 3 chiếc khác, đồng chí luôn luôn nêu cao tinh thần sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, chiến đấu dũng cảm, khắc phục khó khăn, đánh giặc mưu trí, táo bạo, diệt nhiều địch.

   Trong trận tập kích Xà Xiêm, một hỏa điểm địch bố trí rất kín bắn chặn bước tiến của đơn vị. Được lệnh của ban chỉ huy đại đội lên trinh sát tìm ụ súng nguy hiểm đó, Huỳnh Phi Hùng dũng cảm, khéo léo bò lên quan sát địa hình chung quanh, nhanh chóng chiếm địa hình có lợi. Từ vị trí đó, đồng chí bấm đèn pin chỉ mục tiêu cho hỏa lực của ta tập trung dập tắt ụ đề kháng. Hỏa điểm chặn đường bị diệt tạo điều kiện cho đại đội xung phong tiêu diệt 1 tiểu đoàn địch.

   Trận chống càn ở Thác Lác cuối năm 1967, sau khi đẩy lùi 7 đợt tiến công ồ ạt của địch, hầu hết các công sự của ta bị sập. Anh em vừa bắn mãnh liệt diệt những tốp địch đến gần, vừa củng cố lại công sự. Địch ỷ vào lực lượng đông, mặc dù đã bị chết khá nhiều, vẫn cố dốc sức đánh vào. Trận chiến đấu diễn ra quyết liệt, Huỳnh Phi Hùng mưu trí, cơ động như con thoi trên phạm vi 150 mét trận địa, sử dụng 3 khẩu súng, bắn chính xác, tiết kiệm đạn, diệt nhiều tên địch ngay trước công sự. Cuộc càn quét lớn của địch bị thất bại thảm hại trước sức chiến đấu ngoan cường của đại đội đồng chí. Trong trận chống càn này, riêng đồng chí tiêu diệt 40 tên địch.

   Đầu Tết Mậu Thân, Huỳnh Phi Hùng nhận nhiệm vụ dẫn mũi chủ yếu của đại đội đánh vào sân bay Lộ Tẻ. Sau khi phá 3 hàng rào dầy thép gai, tuy bị thương vào đầu, đồng chí vẫn đỡ rào gai cho anh em đánh thọc sâu vào sân bay. Huỳnh Phi Hùng tự băng lấy vết thương, rồi cố bò vào trong trận địa tham gia chiến đấu cùng đồng đội. Đồng chí dùng thủ pháo diệt 2 ụ súng của địch, góp phần cùng đại đội tiêu diệt gọn 1 đại đội và 1 trung đội Mỹ.

   Trong nhiệm vụ đánh tàu địch trên sông Cái Lớn, đơn vị đồng chí bắn cháy nhiều tàu của chúng nhưng chưa bắn chìm được chiếc nào. Huỳnh Phi Hùng quyết tâm tìm ra cách đánh tốt hơn. Sau một thời gian nghiên cứu, đồng chí mạnh dạn đưa công sự ra tận mép nước, ngụy trang kín đáo, làm nạng tỳ súng nên đã bắn chìm 1 tàu địch. Kinh nghiệm tốt đó được phổ biến rộng rãi trong đơn vị. Đợt chiến đấu tiếp sau, toàn tiểu đoàn giành được thắng lợi to lớn: bắn chìm 56 tàu địch.

   Tháng 5 năm 1969, trong một trận chiến đấu với lực lượng địch đông gấp bội, Huỳnh Phi Hùng đã anh dũng hy sinh.

   Huỳnh Phi Hùng là một cán bộ xuất sắc, có ý thức tổ chức, kỷ luật cao, triệt để chấp hành mọi mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên, hết lòng chăm lo xây dựng đơn vị, đoàn kết thương yêu đồng đội, được anh em mến phục.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công giải phóng hạng ba, 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhì, 8 giấy khen, 5 bằng khen.

   Ngày 5 tháng 9 năm 1970, Huỳnh Phi Hùng được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 24 Tháng Năm, 2013, 10:49:22 am
ANH HÙNG NGUYỄN VĂN BỬU

(http://imageshack.us/a/img809/5442/nguyenvanbuu.jpg)


   Nguyễn Văn Bửu (tức Hai Tân) sinh năm 1934 dân tộc Kinh, quê ở xã Tam Ngãi, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh, nhập ngũ tháng 4 năm 1956. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là quân y sĩ, chính trị viên đại đội quân y, Mặt trận Tây Nam Bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Khi còn ở địa phương, Nguyễn Văn Bửu đá hăng hái tham gia công tác cách mạng, làm giao thông liên lạc bí mật cho cán bộ.

   Sau khi nhập ngũ, Nguyễn Văn Bửu tham dự một số trận chiến đấu đều hoàn thành tốt nhiệm vụ, cuối năm 1959 đồng chí được cấp trên cho đi học cứu thương.

   Trong công tác quân y phục vụ mặt trận, Nguyền Văn Bửu đã trưởng thành từ người chiến sĩ cứu thương lên y tá, rồi làm quân y sĩ, sau đó được cấp trên giao nhiệm vụ phụ trách chính trị viên đội quân y. Ở cương vị công tác nào, đồng chí cũng nêu tấm gương tận tụy, dũng cảm công tác với ý nghĩ “Thà hy sinh mình, quyết không để thương binh rơi vào tay giặc”.

   Trong trận chiến đấu tại thị xã Cần Thơ, Nguyễn Văn Bửu nhường hầm cho thương binh, bản thân đứng ở cửa hầm cầm súng cùng đơn vị chiến đấu quyết liệt với quân địch, giữ từng tấc đất để bảo vệ thương binh. Trận đánh kết thúc, sau khi đơn vị đã rút, cùng với bộ phận làm công tác thương binh mặt trận, đồng chí không quản mệt nhọc, len lỏi lội sông, lội ruộng suốt đêm sát bốt địch tìm được 2 chiếc thuyền để chở 18 thương binh về căn cứ an toàn.

   Sau trận Bình Thủy, đơn vị vượt nhiều kênh rạch, nhiều đồn bốt địch suốt 2 đêm mới đưa được thương binh đến mương lộ thì trời vừa sáng. Vừa lúc gặp địch càn vào. Nguyễn Văn Bửu nhanh chóng và khéo léo cùng anh em trong đơn vị đưa thương binh đi cất giấu, chỉ còn một chiến sĩ bị chấn thương sọ não chưa kịp đưa đi thì địch đã ập đến. Đổng chí bình tĩnh và nhanh trí đặt thương binh xuống công sự, ngụy trang kín đáo rồi cùng đơn vị chiến đấu suốt 1 ngày tiêu diệt nhiều địch. Bọn địch được tăng thêm quân, trụ lại tại chỗ củng cố lực lượng hòng tiếp tục trận càn vào sáng hôm sau. Đến tối, đơn vị rút quân khỏi trận địa và đem theo các thương binh đã cất giấu. Được phân công tìm đồng chí thương binh sọ não, đồng chí đã không quản nguy hiểm, mưu trí và gan dạ trà trộn vào chỗ địch trú quân tìm bằng được và cõng đồng chí thương binh ra ngoài an toàn.

   Một lần khác, đang chuyển thương binh đi bằng thuyền thì gặp địch chặn sông. Đồng chí bình tĩnh nghiên cứu tình hình địch và địa hình chung quanh rồi nhanh chóng quyết định đổi hướng hành quân. Nguyễn Văn Bửu cùng một số anh em trong đội kiên trì kéo thuyền suốt đêm trên ruộng bùn lầy, đi vòng xa gần 1 ki-lô-mét, đưa thương binh vượt qua vùng đóng quân của địch về căn cứ an toàn.

   Là chính trị viên đội quân y, Nguyễn Văn Bửu gương mẫu cùng tập thể xây dựng đội hoàn thành xuất sác nhiệm vụ. Vì vậy, đơn vị được cấp trên tặng lá cờ “Quên mình phục vụ thương binh”.

   Nguvễn Văn Bửu luôn luôn tận tụy trong công tác, dũng cảm trong chiến đấu để bảo vệ thương binh, đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân tốt, được anh em và đồng bào địa phương nơi đội đóng quân yêu mến.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 5 giấy khen, 7 bằng khen, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì và 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, được bầu là Chiến sĩ thi đua 2 năm liền.

   Ngày 5 tháng 9 năm 1970, Nguyễn Văn Bửu được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vủ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG HOÀNG ĐẠO CẬT

(http://imageshack.us/a/img580/6913/hoangdaocat.jpg)


   Hoàng Đạo Cật, sinh năm 1947, dân tộc Kinh, quê ở thôn Trạch Lỗi, xã Trạch Mỹ Lộc, huyện Tùng Thiện, tỉnh Hà Tây, nhập ngũ tháng 5 năm 1965. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là chính trị viên phó đại đội 2, trung đoàn 2 bộ đội đặc công Tây Nam Bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Hoàng Đạo Cật xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, có cha là dân quân đã hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Pháp và anh tham gia Quân giải phóng miền Nam. Được giáo dục trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa về nghĩa vụ vẻ vang của người thanh niên đối với sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, năm 18 tuổi Hoàng Đạo Cật nối bước cha, anh, lên đường vào miền Nam chiến đấu.

   Trong 2 năm 1968 - 1969, đồng chí trực tiếp tham gia 17 trận, diệt 110 tên địch (trong đó có 32 tên Mỹ), phá hủy 2 pháo 105 và 155 mi-li-mét, thu 5 súng M.72 và nhiều đạn dược.

   Trong chiến đấu, Hoàng Đạo Cật rất linh hoạt, tháo vát, gặp khó khăn gian khổ thì xung phong đi đầu không hề nao núng, có quyết tâm tiêu diệt địch cao, rất nhiều lần hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

   Sau khi hoàn thành nhiệm vụ trong đợt 1 và 2 của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968, bước vào đợt 3, Hoàng Đạo Cật nhận nhiệm vụ dẫn 1 tiểu đội vào quận 6 Sài Gòn bắt liên lạc với cơ sở xây dựng hầm bí mật, tạo ra một căn cứ ngay trong lòng địch để nắm tình hình và thường xuyên báo tin tức về trung đoàn. Sau khi bắt liên lạc, cơ sở báo tin ra là hầm bí mật chỉ chứa được 3 người, Hoàng Đạo Cật liền cùng 1 đại đội phó và 1 tiểu đội trưởng vượt các vành đai đồn bốt của giặc vào cơ sở. Suốt 5 tháng, 3 người ở trong một căn hầm giữa một lung bùn lầy, rộng mỗi chiều không quá 1 ki-lô-mét. Ngày nào địch cũng bắn pháo, ném lựu đạn bừa bãi vào lung, ngày nào cũng có địch ở cách từ 50 -100 mét, có lúc chúng ngồi ngay trên nóc hầm. Bởi vậy các đồng chí chỉ có thể đi gặp cơ sở nắm tình hình vào ban đêm. Càng về sau địch đánh phá càng ác liệt làm cho tổ Hoàng Đạo Cật mất liên lạc với trung đoàn. Hai trong nhóm 3 người ra bắt liên lạc, 1 đồng chí hy sinh, 1 bị thương nặng không quay lại được. Còn một mình Hoàng Đạo Cật kiên trì vượt qua những khó khăn, thiếu thốn để hoạt động. Hàng ngày tuy phải kiếm rau bầu bí ăn và quần áo thì đã rách nát, nhưng đồng chí vẫn nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh, kiên quyết bám cơ sở, nắm tình hình. Khi được lệnh rút ra, Hoàng Đạo Cật mưu trí vượt qua hàng chục đồn bốt, bãi mìn, trở về đơn vị an toàn.

   Núi Sam là một điểm cao 300 mét có 1 trung đội giặc tăng cường chốt giữ, có 3 khẩu pháo khống chế cả một vùng. Dưới chân núi là “ấp chiến lược” trong đó có một bọn ác ôn mang nhiều nợ máu với nhân dân. Vành ngoài còn có 1 căn cứ hải thuyền và 2 tiểu đoàn ngụy. Hoàng Đạo Cật nhận nhiệm vụ trinh sát cho trận đánh điểm cao này với thời gian chuẩn bị chỉ có 3 ngày. Đêm thứ nhất, vì không biết đường nên mới đến “ấp chiến lược” thì trời sắp sáng, đồng chí phải rút ra. Đêm thứ hai, Hoàng Đạo Cật vượt qua nhiều dốc đá cheo leo, khi tới đỉnh núi thì đã 12 giờ đêm. Sau khi nghiên cứu địa hình rất tỉ mỉ, thăm dò lực lượng bố trí của địch, đồng chí đề nghị lên cấp trên một phương án tác chiến. Được chuẩn y, Hoàng Đạo Cật đắp sa bàn cho 20 người cùng nhau nghiên cứu thật tỉ mỉ. Đêm 19 tháng 5 năm 1969,   đồng chí hướng dẫn đơn vị lên núi Sam, bí mật luồn qua các lớp rào thép gai, bãi mìn, vào sâu bên trong vị trí địch. Sau khi ném 1 quả lựu đạn vào sở chỉ huy của địch làm lệnh công kích, Hoàng Đạo Cật cùng các mũi phát triển rất nhanh theo đúng kế hoạch hiệp đồng. Bởi vậy chỉ sau 40 phút chiến đấu, các đồng chí diệt 80 tên địch, phá hủy 3 khẩu pháo, nhiều nhà ở của lính, hầm ngầm, lô cốt, pháo đài của địch. Trong đội không một ai bị thương.

   Cuối năm 1969, ở Hòn Me, Hoàng Đạo Cật được trung đoàn giao nhiệm vụ chỉ huy 130 thương, bệnh binh từ nhiều đơn vị ghép lại trú quân ở đây. Địch dùng 2 trung đoàn bao vây, có máy bay B.52 ném bom và thả hóa chất độc xuống Hòn Me. 72 ngày đêm ở trên đảo là những ngày đêm vô cùng gian khổ,, ác liệt, vừa đánh địch, bảo vệ thương, bệnh binh, vừa tổ chức lấy gạo, kiếm thực phẩm nuôi anh em. Đến khi có lệnh rút khỏi đảo, Hoàng Đạo Cật tổ chức anh em đi mượn xuồng của đồng bào, mưu trí dựa vào dân, giành đi giật lại với địch mấy lần mới có xuồng đưa anh em rời đảo an toàn.

   Hoàng Đạo Cật là một cán bộ gương mẫu, luôn luôn có dũng khí tiến công tiêu diệt địch, kiên cường vượt mọi gian khổ, ác liệt, tìm mọi cách để chiến thắng quân địch, đối với đồng đội thì hết lòng thương yêu, tận tình giúp đỡ, bao giờ cũng nhận phần khó khăn về mình, nên được anh em tin yêu, mến phục.

   Đồng chí đã được tặng 3 giấy khen, 8 bằng khen, 3 lần là Dũng sĩ diệt Mỹ, 4 lần Dũng sĩ Quyết thắng, 2 năm là Chiến sĩ thi đua, được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất và 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba.

   Ngày 5 tháng 9 năm 1970, Hoàng Đạo Cật được Chmh phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 24 Tháng Năm, 2013, 10:52:48 am
ANH HÙNG LÊ VĂN TUÂN

(http://imageshack.us/a/img51/2351/levantuan.jpg)


   Lê Văn Tuân, sinh năm 1947, dân tộc Kinh, quê ở xã Hòa Thuận, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang, nhập ngũ ngày 20 tháng 6 năm 1963. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung đội trưởng bộ binh thuộc tiểu đoàn 207, bộ đội địa phương tỉnh Rạch Giá, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Sinh trưởng trong một gia đình nghèo, có anh ruột tham gia bộ đội trong kháng chiến chống Pháp, Lê Văn Tuân sớm có tinh thần yêu nước và lòng căm thù sâu sắc đế quốc xâm lược. Vào bộ đội từ năm 16 tuổi và liên tục chiến đấu ở một chiến trường có nhiều khó khăn gian khổ, Lê Văn Tuân luôn luôn thể hiện quyết tâm cao, tích cực tiến công, mưu trí, táo bạo. Tham gia chiến đấu hàng trăm trận, riêng đồng chí diệt hơn 200 tên địch, thu 5 súng, bắn rơi 1 máy bay lên thẳng.

   Trong trận mở đầu đợt tiến công Tết Mậu Thân (31 tháng 1 năm 1968), nhận nhiệm vụ chỉ huy 1 tổ chặn đánh 1 tiểu đoàn địch phản kích ban ngày trong thị xã Rạch Giá, Lê Văn Tuân phán đoán đúng chỗ yếu, sơ hở của địch táo bạo bất ngờ, cùng tổ xông vào giữa đội hình địch, nổ súng mãnh liệt, ngay từ phút đầu diệt hàng chục tên. Bị đánh bất ngờ, rối loạn đội hình, địch hoang mang vội vàng dừng lại và xin quân tiếp viện. Lê Văn Tuân mưu trí chỉ huy tổ cơ động sang hướng khác, chiếm trước địa hình có lợi, chặn đánh phủ đầu toán quân mới đến làm cho chúng hoảng hốt bắn lẫn nhau. Kết quả trong trận này, tổ đồng chí diệt và làm cho chúng bắn nhau chết trên 100 tên địch, thu 5 súng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chặn địch, hỗ trợ đắc lực cho đơn vị bạn phát triển tiến công vào thị xã. Riêng Lê Văn Tuân diệt hơn 40 tên địch, thu 2 súng.

   Trận ngày 16 tháng 3 năm 1969 ở kênh xáng Tân Hội, khi phát hiện địch phục kích căn cứ của bộ phận hậu cần, trong đó có một số thương binh, đồng chí nhanh chóng chỉ huy anh em vòng phía sau nổ súng, buộc địch phải quay lại đối phó, tạo thời cơ cho anh em thương binh chuyển địa điểm. Thấy lực lượng ta ít, địch đổ thêm quân tiếp viện hòng vây gọn quân ta. Lê Văn Tuân bình tĩnh, linh hoạt chỉ huy đơn vị lợi dụng địa hình đánh địch quyết liệt, bảo vệ thương binh, bảo vệ kho. Địch tiếp tục tăng quân và gọi máy bay lên thăng đên định bốc đi một số hàng chúng lục soát được. Đồng chí và anh em vẫn kiên cường chiến đấu, vừa bắn bộ binh vừa bắn máy bay, buộc máy bay địch không hạ cánh được. Trận đánh kéo dài đến tối, địch bị diệt 50 tên phải rút chạy trước sức chiến đấu bền bỉ, kiên cường của đơn vị đồng chí. Nhờ đó thương binh và kho tàng của ta được bảo vệ tốt.

   Lê Văn Tuân luôn luôn gương mẫu trong mọi công tác, nghiêm chỉnh chấp hành chính sách, kỷ luật chiến trường, làm tốt công tác dân vận, đoàn kết giúp đỡ đồng đội, được anh em và đồng bào tin yêu.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất và 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba.

   Ngày 5 tháng 9 năm 1970, Lê Văn Tuân được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG LÂM TƯƠNG

(http://imageshack.us/a/img607/8093/lamtuong.jpg)


   Lâm Tương, sinh năm 1942, dân tộc Khơ Me, quê ở xã Vĩnh Châu, huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, nhập ngũ tháng 6 năm 1962. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đội phó công binh, bộ đội địa phương tỉnh Sóc Trăng, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Căm thù sâu sắc chế độ áp bức bóc lột của đế quốc, phong kiến đối với gia đình cũng như đối với đồng bào, với quê hương đất nước, Lâm Tương một lòng một dạ đi theo cách tnạng, quyết tâm chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

   Trong chiến đấu, những lúc gay go ác liệt nhất, Lâm Tương vẫn luôn luôn nêu cao quyết tâm khắc phục kho khăn, kiên quyết hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

   Chỉ tính trong 2 năm 1968 - 1969, đồng chí đã tham gia 28 trận, diệt 150 tên địch, phá hủy 12 xe quân sự, loại khỏi vòng chiến đấu 70 tên phòng vệ dân sự, đánh sập 2 cầu sắt, 15 cống, phá hủy 1 khẩu pháo 105 mi-li-mét.

   Bước vào cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968, tổ công binh của Lâm Tương có 5 người được giao nhiệm vụ cắt đứt đường số 38, không cho địch chi viện lẫn nhau. Liên tục chiến đấu với địch, tổ đồng chí đã tiêu diệt 31 tên, đẩy lui hàng chục đợt phản công của giặc, cắt đứt và làm chủ đoạn lộ dài 1 ki-lô-mét trong 2 tháng.

   Trong một trận càn, địch đưa 2 khẩu pháo 105 mi-li-mét về bắn bừa bãi vào ấp, gây nhiều tội ác đối với nhân dân. Đồng chí nghiên cứu tình hình, lập kế hoạch chu đáo, cùng tổ tiến công địch, phá hủy 1 khẩu pháo và làm hỏng khẩu kia, diệt 2 xe và 28 tên địch, làm thất bại cuộc càn quét của địch.

   Cầu Vĩnh Châu là một cầu lớn, nước sông chảy xiết, địch canh gác hết sức cẩn mật. Được giao nhiệm vụ đánh sập cầu, Lâm Tương điều tra nghiên cứu 15 ngày đêm, tính toán phương án đánh bằng cách đưa một quả bom 500 ki-lô-gam cách cầu 4 ki-lô-mét và khi vào cách cầu 50 mét, phải hạ bom xuống dưới mặt nước rồi lặn đẩy vào. Đồng chí còn tính chỗ đặt bom tốt nhất, sao cho đánh sập cầu mà vẫn có luồng nước chảy cho thuyền bè nhân dân đi lại được. Đúng như dự kiến, vào lúc 4 giờ sáng, bom nổ làm sập cầu về một phía, thuyền bè của nhân dân sau đó vẫn qua lại bình thường.

   Trận ấp Na Dong, tổ Lâm Tương chỉ có 5 người chống lại 400 tên địch đi càn. Anh em chiến đấu rất dũng cảm, diệt một số tên và tuy cả 5 người đều bị thương, song anh em đều dìu nhau mang đủ vũ khí vượt vòng vây của địch trở về căn cứ an toàn.

   Đơn vị đồng chí luôn luôn bám chắc địa phương, tích cực vận động nhân dân phá kế hoạch bình định của địch. Sau khi tổ chức diệt 8 tên ác ôn, Lâm Tương vận động quần chúng đi vạch rõ tội ác của bọn ác ôn này và tuyên truyền chính sách của Mặt trận giải phóng, làm tan rã đơn vị phòng vệ dân sự gồm 70 tên, thu toàn bộ súng đạn.

   Lâm Tương chỉ huy 1 phân đội nhỏ mà lập được thành tích lớn, hỗ trợ đắc lực cho phong trào kháng chiến ở địa phương. Biết dựa vào dân, vào tập thể, đồng chí có nhiều sáng kiến, không ngừng nâng cao hiệu suất tiêu diệt địch, được bà con và anh em yêu mến, tin cậy.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất và 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba.

   Ngày 5 tháng 9 năm 1970, Lâm Tương được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 24 Tháng Năm, 2013, 02:32:58 pm
ANH HÙNG LÊ MINH XUÂN
(LIỆT SĨ)

(http://imageshack.us/a/img9/19/leminhxuan.jpg)


   Lê Minh Xuân, sinh năm 1932, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Mỹ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, nhập ngũ tháng 4 năm 1959. Khi hy sinh đồng chí là trung đoàn phó bộ binh bộ đội chủ lực, mặt trận Sài Gòn, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Trước khi nhập ngũ, ở địa phương Lê Minh Xuân đã tham gia nhiều phong trào của quần chúng đòi Mỹ-ngụy phải thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, chống âm mưu chia cắt đất nước và đấu tranh đòi thống nhất nước nhà. Năm 1959, đồng chí nhập ngũ và được cấp trên điều về bộ đội địa phương tỉnh Long An. Lê Minh Xuân nêu cao quyết tâm chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, đồng chí liên tục chiến đấu 10 năm vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tố quốc.

   Trưởng thành từ chiến sĩ lên cán bộ trung đoàn, đồng chí đã tham gia hơn 100 trận lớn nhỏ, phần nhiều đánh sâu vào trong thành phố, cùng đơn vị tiêu diệt nhiều địch. Trong chiến đấu, Lê Minh Xuân rất dũng cảm, thường có mặt nơi gay go ác liệt nhất, không sợ nguy hiểm, hy sinh, chỉ huy và cổ vũ đơn vị tiến công tiêu diệt địch.

   Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968, Lê Minh Xuân nhận lệnh chỉ huy tiểu đoàn tiến công vào Sài Gòn. Trên đường hành quân thọc sâu vào thành phố, đơn vị đồng chí chiến đấu quyết liệt với địch ở lộ 14, trường đua Phú Thọ, diệt hàng trăm tên, phá hủy nhiều xe tăng. Sau đó, đơn vị phát triển đến khám Chí Hòa và trụ lại đánh địch suốt 12 ngày đêm ở đó. Trong cuộc chiến đấu tiến công này, Lê Minh Xuân bị thương vào đầu và tay, nhưng đồng chí vẫn giữ vững vị trí chỉ huy, tổ chức và động viên anh em chiến đấu.

   Suốt đợt 1 tiến công vào Sài Gòn, tiểu đoàn do Lê Minh Xuân chỉ huy đã tiêu diệt khoảng 1.700 tên Mỹ, ngụy, phá hủy nhiều xe tăng, xe bọc thép, thu nhiều súng đạn.

   Sang đợt 2, tối 29 tháng 5 năm 1968, tiến quân vào quận 5, đơn vị ở mũi này chỉ còn 55 đồng chí đánh một lực lượng địch khoảng 1 sư đoàn trong thành phố. Trong đợt này, tuy bị thương một lần nữa, song Lê Minh Xuân vẫn bình tĩnh, sáng suốt, cùng ban chỉ huy tiểu đoàn tổ chức đơn vị đánh lui nhiều đợt phản kích của địch, diệt nhiều tên và chỉ huy đơn vị phát triển theo đúng phương án tác chiến của mặt trận. Khi quân ta tiến đến lộ Nguyễn Trãi, một hỏa điểm địch bất ngờ bắn xối xả chặn đường tiến của đơn vị. Nhanh chóng phát hiện chỗ sơ hở của hỏa điểm địch, đồng chí một mìh dùng tiểu liên AK chiến đấu trước mặt kiềm chế hỏa lực địch và thu hút sự chú ý của chúng, đồng thời cho một phân đội bí mật vòng phía sau đánh vào chỗ sơ hở của địch, dập tắt hỏa điểm này.

   Trong đợt 2 tiến công vào Sài Gòn, Lê Minh Xuân cùng ban chỉ huy tiểu đoàn có lần bị lạc đơn vị trong lúc đạn và lương thực đã hết, mà quân địch thì tăng lực lượng bao vây hòng truy tìm mũi thọc sâu của quân ta vào thành phố. Các đồng chí mưu trí và gan dạ dựa vào quần chúng cách mạng, tìm cách thoát được ra ngoài vòng nguy hiểm bắt liên lạc được với đơn vị.

   Là cán bộ tham mưu của mặt trận, tháng 12 năm 1968, đồng chí xuống vùng 2 chỉ đạo xây dựng cơ sở đánh địch. Trong một trận chiến đấu chống 1 tiểu đoàn Mỹ để bảo vệ lực lượng của cơ sở, Lê Minh Xuân dũng cảm đánh thu hút địch ra ngoài thôn, diệt 10 tên Mỹ và đồng chí đã anh dũng hy sinh.

   Lê Minh Xuân là một cán bộ chỉ huy luôn luôn chăm lo xây dựng đơn vị lớn mạnh (tiểu đoàn của đồng chí đã được tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng nhì). Gần bó với tập thể, đồng chí được tập thể bồi dưỡng trưởng thành nhanh chóng. Đồng chí có tác phong đi sâu đi sát đơn vị trong mọi lúc, chăm sóc anh em, nêu gương tốt chấp hành kỷ luật, chính sách chiến trường, được anh em mến phục, cấp trên tin tưởng.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 2 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng ba, 9 bằng khen và 2 năm (1965-1966) được bầu là Chiến sĩ thi đua.

   Ngày 5 tháng 9 năm 1970, Lê Minh Xuân được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG BÙI VĂN CƯỜNG


   Bùi Văn Cường (tức Bùi Văn Sợi), sinh năm 1946, dân tộc Kinh, quê ở xả Đức Lập Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là xã đội trưởng xã Đức Lập Hạ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Sinh trưởng ở địa phương có phong trào kháng chiến cao, ở trong một gia đình có nhiều người thân tham gia công tác kháng chiến, Bùi Vãn Cường được giác ngộ cách mạng, được bồi dưỡng lòng căm thù sâu sắc quân cướp nước và bè lũ bán nước. Do đó đồng chí có quyết tâm chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

   Từ khi là chiến sĩ dân quân đến khi là xã đội trưởng, Bùi Văn Cường đã tham gia chiến đấu tại địa phương 190 trận lớn nhỏ, cùng anh em tiêu diệt 134 tên (trong đó có 35 tên Mỹ và 3 tên ác ôn bị diệt giữa ban ngày), bản thân trực tiếp diệt 1 xe tăng, 1 xe M.113, 1 xe GMC và chỉ huy đơn vị diệt hàng chục xe quân sự các loại của địch. Bùi Văn Cường tích cực góp phần cùng cấp ủy Đảng và cán bộ xây dựng lực lượng dân quân lớn mạnh, do đó đẩy mạnh phong trào kháng chiến ở xã, hỗ trợ tích cực cho đồng bào đấu tranh chính trị làm công tác binh vận. Đồng chí còn vận động hàng trăm gia đình bỏ “ấp chiến lược” trở về quê cũ làm ăn, bám đất, bám làng, phá tan âm mưu bình định gom dân của Mỹ - ngụy. Trong chiến đấu, đồng chí luôn luôn nêu cao tinh thần tiến công tiêu diệt địch, xung phong đi đầu làm gương cho mọi người noi theo.

   Trận đánh đoàn bình định số 5 của địch gần sân bay Đức Lập, do nắm chắc tình hình địch, Bùi Văn Cường chỉ huy trận đánh thành công tốt đẹp: diệt 22 tên ác ôn bình định, phá hủy 12 súng, đốt cháy 3 nhà lính. Thắng lợi của trận này không những phá tan âm mưu gom dân của địch, mà còn đẩy mạnh phong trào toàn dân đánh giặc ở xã, thúc đẩy công tác xây dựng lực lượng ta lớn mạnh.

   Trong năm 1969, Bùi Văn Cường thực hiện nhiệm vụ do cấp ủy Đảng phân công là phải trừng trị bọn ác ôn đầu sỏ, bọn có nhiều nợ máu với nhân dân. Được cơ sở nhân dân báo tin, che giấu, đồng chí đã mưu trí đánh mấy trận thành công: diệt tên ấp trưởng ác ôn giữa nhà hắn; cùng tổ dân quân cải trang giả địch giết chết 1 tên thám báo dẫn đường cho bọn địch vào càn quét ấp Đức Hạnh; kiên trì mai phục rồi bí mật bò vào sát chỗ tên hạ sĩ an ninh đã từng giết hại hơn 60 cán bộ, chiến sĩ, đồng bào, bắn chết hắn tại chỗ, trả thù cho đồng bào, đồng chí. Những trận diệt bọn ác ôn đầu sỏ nguy hiểm đã góp phần phá thế kìm kẹp của địch ở địa phương, làm cho đồng bào rất phấn khởi, tin tưởng ở cách mạng.

   Bùi Văn Cường là một cán bộ quân sự địa phương, suốt 7 năm bám dân, bám đất, vượt qua mọi hy sinh, gian khổ, hết lòng vì nhân dân phục vụ. Đồng chí được đồng bào tin yêu, che chở, giúp đỡ, tạo điều kiện để đồng chí hoạt động. Đối với đồng đội, đồng chí thương yêu đoàn kết chân thành, xung phong gương mẫu nên được, mọi người tin yêu, mến phục.

   Đồng chí 2 năm liền được bầu là Chiến sĩ thi đua của tỉnh, được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, nhiều bằng khen và giấy khen, 2 lần là Dũng sĩ Quyết thầng cấp ưu tú.

   Ngày 5 tháng 9 năm 1970, Bùi Văn Cường được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 24 Tháng Năm, 2013, 02:35:15 pm
ANH HÙNG NGUYỄN HÙNG LỄ
(LIỆT SĨ)

(http://imageshack.us/a/img341/1907/nguyenhungle.jpg)


   Nguyễn Hùng Lễ, sinh năm 1942, dân tộc Kinh, quê ở xã Quảng Tường, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa, nhập ngũ năm 1961. Khi hy sinh, đồng chí là thiếu úy, phân đội trưởng phân đội 1 thuộc đoàn 126 Bộ tư lệnh Hải quân, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ năm 1965 đến tháng 2 năm 1968, Nguyễn Hùng Lễ tham gia chiến đấu nhiều trận bắn máy bay Mỹ ở Lạch Trường, cửa Hội, sông Gianh và đánh tàu địch trên sông cửa Việt. Trong chiến đấu, đồng chí luôn dũng cảm, kiên cường, dù khó khăn gian khổ thế nào củng vượt qua. Nguyễn Hùng Lễ đã cùng đơn vị đánh chìm, đánh hỏng hàng chục chiếc tàu chiến của địch. Riêng đồng chí đánh chìm 3 chiếc.

   Trận đánh tàu địch ở cảng cửa Việt đêm 29 tháng 6 năm 1967, Nguyễn Hùng Lễ vượt qua nhiều trạm gác của địch, dùng kỹ thuật bơi nhái đưa khối thuốc nổ vào áp sát mục tiêu. Anh là người đầu tiên trong đơn vị dùng kỹ thuật bơi này đánh chìm tàu địch, rút được nhiều kinh nghiệm cho đoàn chỉ đạo chung.

   Tháng 9 năm 1967, Nguyễn Hùng Lễ làm nhiệm vụ trinh sát tàu địch ở cảng Đông Hà, hơn 10 đêm liền lặn lội, tuy bị sức nước ép, bị choáng, nhưng anh vẫn cố gắng bơi, lặn để điều tra nghiên cứu. Sau khi nắm chác cách bố phòng và vị trí tàu địch đậu, Nguyễn Hùng Lễ dẫn đầu tổ vào đánh chìm 5 tàu và đánh hỏng nặng 2 chiếc khác.

   Đêm 5 tháng 2 năm 1968, Nguyễn Hùng Lễ chỉ huy tổ vào đánh cầu Đông Hà. Bọn địch tổ chức canh phòng rất nghiêm ngặt. Chúng thường xuyên quét đèn pha, bắn súng và ném lựu đạn xuống nước. Tổ Nguyễn Hùng Lễ tiến cách cầu 30 mét thì bị lộ, địch bắn ra dữ dội, anh bị thương nặng. Trước tình huống khó khăn, phức tạp, Nguyễn Hùng Lễ nói: "Bằng mọi giá, phải hoàn thành nhiệm vụ, đồng thời phải hạn chế thương vong. Các đồng chí lùi ra ngay"... Anh em định đưa Nguyễn Hùng Lễ ra ngoài băng bó, nhưng anh kiên quyết ở lại, cố hết sức kéo khối thuốc nổ vào sát chân cầu, đánh sập cầu. Nguyễn Hùng Lễ đã anh dũng hy sinh sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

   Đồng chí được, tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba.

   Ngày 20 tháng 9 năm 1971, Nguyễn Hùng Lễ được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG NGUYỄN VĂN THÁI


   Nguyễn Văn Thái sinh năm 1944, dân tộc Kinh, quê ở xã Phú Hưng, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế, nhập ngũ năm 1964. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại đội trưởng đại đội 21 đặc công thuộc tiểu đoàn 21 thành phố Huế, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ năm 1964 đến tháng 5 năm 1969, Nguyễn Văn Thái tham gia chiến đấu ở chiến trường Trị - Thiên. Trưởng thành từ chiến sĩ lên cán bộ đại đội, ở cương vị nào anh cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

   Năm 1967, Nguyễn Văn Thái được lệnh chuẩn bị đánh địch ở khách sạn Hương Giang (Huế), anh đã nhiều lần vào trinh sát, điều tra tình hình, sau đó chỉ huy đơn vị vượt qua nhiều khu vực canh phòng nghiêm ngặt vào đánh địch. Bằng cách đánh táo bạo, bất ngờ, đơn vị Nguyễn Văn Thái đã diệt 400 tên Mỹ (có nhiều sĩ quan cao cấp và nhân viên kỹ thuật). Trận đánh thắng lợi đã cổ vũ được tinh thần nhân dân, đồng thời làm bọn địch hoang mang, lo sợ.

   Trận đánh trung đoàn 7 thiết giáp ngụy ở Tam Thai cuối năm 1967, Nguyễn Văn Thái phụ trách mũi chủ yếu. Khi vào đến hàng rào cuối cùng, địch bắn ra mãnh liệt, đơn vị không tiến lên được. Chiến sĩ giữ súng ĐKZ bị thương. Nguyễn Văn Thái cũng bị thương nhưng anh vẫn nhanh chóng dùng ĐKZ, bắn 2 phát đạn làm sập lô cốt, diệt được hỏa điểm của địch. Địch cho xe tăng và thiết giáp ra phản kích. Chỉ 1 quả đạn, Nguvễn Văn Thái bắn cháy chiếc M.113 đi đầu. Chớp thời cơ, anh dẫn đầu đơn vị xung phong, cùng các đơn vị bạn tiêu diệt gọn trung đoàn thiết giáp ngụy.

   Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968, Nguyễn Văn Thái bị thương trong lúc đánh địch ở khách sạn Thuận Hóa. Được đi điều trị, vết thương chưa khỏi hẳn, nhưng nghĩ đến nhiệm vụ chiến đấu khẩn trương, anh kiên quyết xin về đơn vị, Nguyễn Văn Thái được giao nhiệm vụ chỉ huy tổ tập kích cụm cơ giới địch ở Khê Xá. Khi tiến đánh, anh bò gần tới mục tiêu thì bị lộ. Tên lính gác hỏi, Nguyễn Văn Thái bình tĩnh trả lời rồi nhanh chóng thủ tiêu tên này. Sau đó, anh chỉ huy tổ xung phong tiêu diệt gọn quân địch trong cụm cơ giới, phá toàn bộ 17 xe tăng.

   Trận đánh địch ở quận ly Hữu Ngạn cuối năm 1968, anh em dùng quả bộc phá 7 ki-lô-gam đánh nhà để tài liệu của địch, nhưng khi ném, bộc phá vướng cánh cửa sổ văng ra ngoài. Không sợ nguy hiểm, Nguyễn Văn Thái xông lên ôm quả bộc phá đang cháy, ném rất mạnh qua cửa sổ, lọt hẳn vào trong nhà. Bộc phá nổ làm căn nhà và toàn bộ tài liệu của địch bị thiêu hủy. Nguyễn Văn Thái bị sức ép văng ra ngoài, ngất đi, khi tỉnh dậy lại tiếp tục chỉ huy đơn vị chiến đấu.

   Tháng 5 năm 1969, đơn vị đánh địch càn quét ở Lê Xá, Nguyễn Văn Thái chỉ huy linh hoạt, mưu trí, dũng cam, luôn dẫn đầu đơn vị xung phong tiêu diệt địch, đồng chí bị thương nặng và bị địch bắt. Mặc dù phải chịu mọi cực hình tra tấn của Mỹ - ngụy, Nguyễn Văn Thái vẫn một lòng trung thành với cách mạng, được các đồng chí trong nhà tù của địch cảm phục.

   Đồng chí được tặng thường 1 Huân rhương Chiến công giải phóng hạng nhất, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì. 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ha, 3 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua.

   Ngày 20 tháng 9 năm 1971, Nguyễn Văn Thái được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 24 Tháng Năm, 2013, 02:38:41 pm
ANH HÙNG LÊ THỊ HỒNG GẤM
(LIỆT SĨ)

(http://imageshack.us/a/img19/1006/lethihonggam.jpg)


   Lê Thị Hồng Gấm sinh năm 1951, dân tộc Kinh, quê ở xã Long Hưng, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, Khi hy sinh, đồng chí là trung đội phó bộ binh thuộc bộ đội địa phương quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ tháng 12 năm 1967 đến tháng 5 năm 1968, Hồng Gấm làm giao liên cho xã, cùng tổ 3 người (đều là nữ) có nhiệm vụ đưa công văn, tài liệu từ huyện xuống các cơ sở. Địa bàn hoạt động hẹp nhưng vô cùng gian khổ, nguy hiểm. Mỗi lần làm nhiệm vụ, chị đều phải vượt qua các khu căn cứ và vành đai của địch. Cuối năm 1968, trong tổ có 1 người hy sinh, 1 người thấy khó khăn, gian khổ quá, không hoạt động nữa, chỉ còn mình Hồng Gấm, có ngày phải chuvển tới 7 chuyến công văn, nhưng vẫn cố gắng hoàn thành nhiệm vụ. Trong công tác, trên 10 lần Hồng Gấm gặp nguy hiểm như chạm mặt địch trên đường, bị địch phục kích, đang bơi trên kênh gặp tàu địch tuần tra..., lần nào chị cũng bình tĩnh đối phó với địch kịp thời, chuyển thế bị động thành chủ động. Có lần đang trên đường làm nhiệm vụ, gặp bọn Mỹ đi tuần, biết không thể tránh được, Hồng Gấm buộc tài liệu vào bắp chân, bôi bùn đất lên quần áo, giả làm người đi làm đồng về. Khi bị chúng bắt, chị khôn khéo tranh thủ tên phiên dịch, cuối cùng bọn Mỹ phải để Hồng Gấm đi.

   Tháng 12 năm 1968, Hồng Gấm được huyện chỉ định làm xã đội phó xã Long Hương. Trong giai đoạn này, địch tăng cường khủng bố, đàn áp nhân dân, cơ sở cách mạng của ta còn rất ít. Trong nhân dân, một số người hoang mang, lo sợ, không dám tham gia hoạt động hoặc bỏ làng đi nơi khác. Trước khó khăn đó, Hồng Gấm bàn bạc với ban lãnh đạo xã, kiên trì thuvết phục nhân dân bám làng, bám đồng ruộng sản xuất và ủng hộ cách mạng. Chị xuống từng ấp vận động nhân dân tham gia du kích, chiến đấu giết giặc, trừ gian, bảo vệ xóm làng.

   Qua một thời gian tuyên truyền vận động quần chúng, Hồng Gấm đã góp phần cùng ban lãnh đạo xã xây dựng được 5 trung đội dân quân tự vệ, 5 tổ du kích. Đồng chí đã cùng du kích xã chiến đấu 49 trận, giết và làm bị thương 217 tên địch (có 22 tên Mỹ, 4 tên ác ôn). Nhiều lần, Hồng Gấm đặt mìn giết hàng chục tên Mỹ, ngụy. Chị thường xuyên dẫn đầu trung đội đi phục kích, tập kích địch, hoặc vào tận nhà trừng trị những tên ác ôn có nhiều nợ máu với nhân dân.

   Tháng 8 năm 1969, do yêu cầu phát triển lực lượng và nhiệm vụ chiến đấu, Hồng Gấm được điều làm trung đội phó du kích vành đai liên xã. Tháng 3 năm 1970, trung đội sáp nhập vào bộ đội địa phương huyện. Hơn 8 tháng chiến đấu, Hồng Gấm đã cùng đơn vị đánh 10 trận, diệt 63 tên địch, bắn rơi 1 máy bay, thu 4 súng.

   Đặc biệt, ngày 18 tháng 4 năm 1970, để chuẩn bị cho trận đánh ban đêm, Hồng Gấm cùng 2 nữ du kích ra tiệm mua sắm thức ăn cho trung đội. Khi ra giữa cánh đồng (cách căn cứ Bình Đức 500 mét) thì bị máy bay địch phát hiện. 2 chiếc máy bay lên thẳng HU1A sà thấp định đổ quân bắt sống cả 3 người. Trước tình hình nguy hiểm đó, Hồng Gấm nói với hai chị kia: "Tôi có thể chạy thoát được nhưng nguy hiểm cho hai chị, nếu cả ba người cùng ở lại chiến đấu thì không đủ vũ khí, thương vong vô ích. Tôi có súng sẽ ở lại chiến đấu, đồng thời thu hút hỏa lực của chúng, còn hai chị chạy thoát ngay đi !". Nói xong, Hồng Gấm chỉ hướng cho hai chị chạy vào vườn, còn mình lợi dụng địa hình chiến đấu với địch. 2 chiếc máy bay lên thẳng lượn quanh bắn uy hiếp hòng buộc chị đầu hàng. Nhưng Hồng Gấm bắn lại rất anh dũng, 1 chiếc bị trúng đạn rơi tại trận. Chiếc thứ hai sà xuống đổ quân, vừa bao vây vừa gọi hàng. Hồng Gấm bình tĩnh chiến đấu, diệt thêm 3 tên địch. Cho tới khi hết đạn, Hồng Gấm hủy súng và anh dũng hy sinh.

   Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công giải phóng hạng ba, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 1 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt máy bay, 3 lần là Dũng sĩ diệt Mỹ, 4 bằng khen và giấy khen.

   Ngày 20 tháng 9 năm 1971, Lê Thị Hồng Gấm được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG LÊ MÃ LƯƠNG

(http://imageshack.us/a/img59/8947/lemaluong.jpg)


   Lê Mã Lương sinh năm 1950, dân tộc Kinh, quê ở xã Trung Thành, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, nhập ngũ năm 1967. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là thượng sĩ, chính trị viên phó đại đội 7 bộ binh thuộc tiểu đoàn 4, trung đoàn 24, sư đoàn 304, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ năm 1968 đến năm 1971, Lê Mã Lương tham gia chiến đấu ở chiến trường Trị - Thiên. Trưởng thành từ chiến sĩ lên cán bộ đại đội, ở cương vị nào anh củng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Lê Mã Lương đa tham gia đánh 14 trận, góp phần cùng đơn vị diệt hàng trăm tên địch. Riêng anh diệt 37 tên, bắn cháy 1 xe tăng, phá hủy 1 đại lien, thu 1 súng.

   Trong trận đánh Làng Vây năm 1968, Lê Mã Lương bị thương hỏng mắt trái. Sau khi điều trị, đơn vị cho anh chuyển về hậu phương nhưng Lê Mã Lương thiết tha xin ở lại chiến đấu.

   Ngày 28 tháng 6 năm 1969, Lê Mã Lương chỉ huy trung đội đánh địch phản kích ở Pa Trang. Địch tổ chức nhiều đợt tiến công dữ dội. Lê Mã Lương cùng trung đội chiến đấu quyết liệt, diệt 55 tên Mỹ, riêng anh diệt 10 tên.

   Ngày 13 tháng 2 năm 1971, Lê Mã Lương là chính trị viên phó đại đội, trực tiếp chỉ huy 1 tiểu đội chốt giữ chân điểm cao 863, chặn bọn địch từ đỉnh điểm cao này nống xuống. Sau khi dùng không quân và pháo binh đánh dữ dội, từ trên điểm cao địch ồ ạt đánh xuống hòng chiếm chốt của ta. Lê Mã Lương động viên tiểu đội chiến đấu kiên cường giữ vững chốt. Khi chiến sĩ bắn trung liên bị thương, anh chạy dưới làn đạn địch đến băng bó cho đồng đội, rồi dùng trung liên bắn mãnh liệt vào quân địch. Trung liên bị tắc, Lê Mã Lương vừa dùng lựu đạn đánh địch vừa chữa súng. Bị thương vào gáy và hông, anh không rời trận địa, kiên cường chỉ huy tiểu đội đánh lui nhiều đợt tiến công của địch, giữ vững chốt, diệt hàng trăm tên địch. Riêng Lê Mã Lương diệt 15 tên.

   Ngày 19 tháng 3 năm 1971, đơn vị Lê Mã Lương phục kích chặn đánh, địch rút chạy gần cầu Ka Ki. Khi nhận lệnh, đại đội trưởng đi vắng, Lê Mã Lương chỉ huy đơn vị vận động đến vị trí phục kích, bố trí trận địa bí mật, bất ngờ. Địch lọt vào trận địa, đại đội xuất kích nhanh, đánh chận quyết liệt, diệt gần 100 tên, phá hủy 15 xe tăng và xe bọc thép. Riêng anh diệt 7 tên, bắn cháy 1 xe tăng.

   Lê Mã Lương luôn chăm lo xây dựng đơn vị tiến bộ về mọi mặt. Bản thân tích cực rèn luyện, tận tụy công tác, gương mẫu trong mọi việc, khiêm tốn, giản dị, được mọi người tin yêu.

   Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 4 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ.

   Ngày 20 tháng 9 năm 1971, Lê Mã Lương được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 24 Tháng Năm, 2013, 02:46:47 pm
ANH HÙNG PHÙNG QUANG THANH

(http://imageshack.us/a/img547/691/phungquangthanh.jpg)


   Phùng Quang Thanh sinh năm 1949, dân tộc Kinh, quê ở xã Thạch Đà, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phú, nhập ngũ năm 1967. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là thượng sĩ, trung đội trưởng thuộc đại đội 9, tiểu đoàn 9, trung đoàn 64, sư đoàn 320, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Năm 1968, Phùng Quang Thanh tham gia chiến đấu tại chiến trường Quảng Trị, làm nhiệm vụ trinh sát. Nhiều lần đồng chí cùng tổ trinh sát vào căn cứ địch điều tra tình hình, giúp cấp trên chỉ huy tác chiến thắng lợi.

   Tháng 2 và tháng 3 năm 1971, Phùng Quang Thanh tham gia chiến dịch Đường số 9 - Nam Lào, chỉ huy trung đội đánh 2 trận đều đạt hiệu suất cao, góp phần tích cực cùng tiểu đoàn diệt gọn 1 tiểu đoàn và 1 đại đội địch. Đồng chí luôn nêu cao tinh thần chủ động hiệp đồng và tạo thuận lợi cho đơn vị bạn chiến đấu tốt. Phùng Quang Thanh vừa chỉ huy, vừa chiến đấu dũng cảm, diệt 12 tên địch, bắt 1 tên, thu 1 súng.

   Ngày 10 tháng 2 năm 1971, Phùng Quang Thanh trực tiếp chỉ huy 1 tiểu đội chốt giữ đồi Không Tên. Địch đùng 1 đại đội có máy hay yểm trọ, chia làm hai mũi tiến công chốt. Anh bình tĩnh chỉ huy từng tổ chờ địch vào thật gần mới nổ sung. Kết quả tiêu diệt 38 tên địch, giữ vững chốt. Riêng Phùng Quang Thanh diệt 8 tên. Hai ngàv sau, địch lại tiến công chốt, tuy bị thương, một mảnh pháo găm vào bả vai trái, tay trái không cử động được, cấp trên cho về tuyến sau, nhưng anh xin ở lại chiến đấu. Để khắc phục khó khăn do vết thương gây nên, Phùng Quang Thanh nhờ chiến sĩ tháo sẵn nắp 17 quả lựu đạn cho vào túi đeo quanh người, nhờ y tá băng treo cánh tay trái cho đỡ vướng rồi dẫn đầu đơn vị xung phong đánh tạt sườn quân địch, phối hợp chặt chẽ với đơn vị bạn diệt gọn 1 đại đội địch. Riêng trung đội Phùng Quang Thanh diệt 37 tên, bắt 1 tên, thu 2 súng.

   Phùng Quang Thanh luôn gương mẫu, nêu cao tinh thần trách nhiệm, chỉ huy linh hoạt, dù khó khăn gian khổ cũng không lùi bước, kiên quyết tiến công quân địch, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

   Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì và 1 Huân chương Chiến công hạng ba, được tặng thưởng danh hiệu Dũng sĩ ưu tú, 3 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua, nhiều bằng khen và giấy khen.

   Ngày 20 tháng 9 năm 1971, Phùng Quang Thanh được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG LÊ VĂN ỨC

(http://imageshack.us/a/img12/6605/levanuc.jpg)


   Lê Văn Ức, sinh năm 1951, dân tộc Kinh; quê ở xã Hoằng Quỳ, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa, nhập ngũ năm 1968. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là thượng sĩ, phân đội trưởng thuộc đại đội 2 đặc công đoàn 126 Bộ Tư lệnh Hải quân, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ đầu năm 1969 đến năm 1971, Lê Văn Ức tham gia chiến đấu tại chiến trường Quảng Trị, dự 30 trận, đánh trận nào củng dũng cảm, mưu trí, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, Lê Văn Ức đã góp phần cùng đơn vị đánh chìm, đánh hỏng hàng chục tàu địch. Riêng anh đánh chìm 3 tàu. Trong chiến đấu, dù khó khăn ác liệt thế nào, Lê Văn Ức cũng kiên quyết đưa được thương binh ra nơi an toàn.

   Đêm 19 tháng 3 năm 1969, Lê Văn Ức phụ trách một tổ đánh tàu địch đậu trên sông Cửa Việt. Khi đến cồn cát giữa sông thì bị lộ, địch ở trên tàu bắn như vãi đạn. Trên bờ bắc sông Cửa Việt, bộ phận cảnh giới của ta đang đánh bọn bộ binh và xe tăng địch chặn đường. Khu vực này quân địch đã rất chú ý, Lê Văn Ức vẫn kiên quyết đưa tổ ra đánh, lúc này tàu địch thường cơ động luôn, không đánh được, Lê Văn Ức nhanh chóng cùng đồng đội vượt sang bờ nam, ra khỏi khu vực địch đang theo dõi, vận động đến đánh chìm chiếc tàu LCU của địch. Đêm đó và cả ngày hôm sau, tổ chiến đấu Lê Văn Ức nằm lại trong vùng kiểm soát của địch, đêm sau về đơn vị an toàn.

   Đêm 9 tháng 3 năm 1971, Lê Văn Ức chỉ huy phân đội đánh tàu địch ở Xuân Khánh. Phân đội đang xuất kích thì phát hiện có địch phục kích, anh bình tĩnh tìm đường đi tắt, dẫn phân đội ra bờ sông, bố trí đánh địch. Sự chỉ huy linh hoạt và kiên quyết đó của Lê Văn Ức đã góp phần cùng phân đội đánh chìm 3 tàu chiến địch.

   Đêm 17 tháng 7 năm 1969, Lê Văn Ức làm nhiệm vụ trinh sát dẫn đường cho đơn vị đánh tàu. Khi hoàn thành nhiệm vụ trở về, địch bắn chặn đường dữ dội, anh bò sau phát hiện thấy một đồng chí bị thương, mặc dù đang lúc nguy hiểm, Lê Văn Ức kiên quyết cõng thương binh ra ngoài an toàn. Sau đó cùng tổ trở lại tìm 2 thương binh nữa đưa về đơn vị.

   Đêm 19 tháng 12 năm 1969, đơn vị đang trên đường đi chiến đấu thì gặp địch phục kích; khi rút ra vị trí an toàn thấy còn thiếu 2 người, Lê Văn Ức xung phong cùng tổ trở lại, tìm đưa về 1 thương binh và 1 tử sĩ.

   Đồng chí được tặng thưởng 5 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 2 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ Quyết thắng.

   Ngày 20 tháng 9 năm 1971, Lê Văn Ức được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 25 Tháng Năm, 2013, 04:06:32 pm
ANH HÙNG TRIỆU TIẾN XUÂN

(http://imageshack.us/a/img854/7075/trieutienxuan.jpg)


   Triệu Tiến Xuân sinh năm 1947, dân tộc Mán, quê ở xã Đắc Xuân, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang, nhập ngũ năm 1966. Khi được, tuyên dương Anh hùng, đồng chí là hạ sĩ, pháo thủ số 1, thuộc đại đội 3 pháo 130 tiểu đoàn 1 trung đoàn 204 Bộ tư lệnh Pháo binh, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ năm 1967 đến cuối năm 1968, Triệu Tiến Xuân chiến đấu tại Quảng Trị, anh trực tiếp tham gia đánh nhiều trận vào các cứ điểm, kho tàng của địch ở bờ nam sông Bến Hải. Trận đánh nào Triệu Tiến Xuân cũng bình tĩnh, dũng cảm, hiệp đồng chặt chẽ cùng đồng đội bắn chính xác. Triệu Tiến Xuân đã góp phần cùng đại đội diệt gần 500 tên Mỹ, phá hủy 7 máy bay và nhiều phương tiện chiến tranh của địch.

   Ngày 6 tháng 3 năm 1968, đơn vị tập kích địch ở Hà Thôn, Triệu Tiến Xuân vừa làm pháo thủ số 1, vừa làm pháo thủ số 3, vẫn thao tác kịp thời, hiệp đồng chặt chẽ cùng đồng đội bắn chính xác vào mục tiêu. Khi máy bay, pháo binh địch đánh vào trận địa, Triệu Tiến Xuân bị sức ép nặng, nhưng anh vẫn cố gắng giữ vững vị trí chiến đấu. Khi được lệnh bắn gấp, Triệu Tiến Xuân đã nạp liên tục 34 quả đạn (lúc bình thường chỉ nạp liên tục được 8 quả), góp phần tích cực cùng khẩu đội phát huy hỏa lực mạnh mẽ, bắn trúng kho đạn của địch, cháy suốt 6 giờ liền.

   Ngày 20 tháng 6 năm 1968, khẩu đội Triệu Tiến Xuân bắn vào căn cứ Đông Hà, anh bình tĩnh nạp đạn cùng khẩu đội bắn, diệt nhiều tên địch. Saư đó, anh em trong khẩu đội về nghỉ ở tuyến sau; Triệu Tiến Xuân được phân công ở lại trực pháo. 10 giờ đêm, khẩu đội nhận được lệnh bắn gấp, anh em lên chưa kịp, một mình anh vẫn nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh. Triệu Tiến Xuân tự điều chỉnh pháo, bắn 4 quả đạn đều trúng mục tiêu. Kho địch bốc cháy dữ dội, nhiều tên địch bị chết. Tính chung trong ngày, Triệu Tiến Xuân đã góp phần cùng khẩu đội và đại đội diệt hàng trăm tên Mỹ, bắn hỏng 8 khẩu pháo, bắn cháy 7 máv bay, 12 kho đạn và xăng dầu của địch.

   Triệu Tiến Xuân luôn luôn xung phong gương mẫu trong mọi công việc, tích cực học tập, giúp đỡ mọi người, khiêm tốn, giản dị, được anh em yêu mến.

   Đồng chí được tặng thương 1 Huân chương Chiến công giải nhóng hạng ba, 2 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ quyết thắng.

   Ngày 20 tháng 9 năm 1971, Triệu Tiến Xuân được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG TRỊNH TỐ TÂM

(http://imageshack.us/a/img196/2847/trinhtotam.jpg)


   Trịnh Tố Tâm sinh năm 1945, dân tộc Kinh, quê ở xã Đồng Tân, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây, nhập ngũ năm 1964.   Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đại đội trưởng đại đội 21 công binh thuộc đoàn 4 Quân khu Trị -Thiên, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ năm 1967 đến năm 1970,   Trịnh Tố Tâm tham gia chiên đấu ở chiến trường Trị -Thiên. Trưởng thành từ chiến sĩ lên cán bộ đại đội, ở cương vị nào, anh cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ. Trịnh Tố Tâm đã chỉ huy đơn vị đánh 58 trận, diệt 1.000 tên địch (có 700 tên Mỹ); phá huỷ 61 xe quân sự, đánh lật 19 đoàn tàu hoả, đánh sập 28 cầu, cống. Riêng anh diệt 272 tên địch, trong đó cỏ 185 tên Mỹ, bắn rơi và phá hủy 3 máy bay lên thẳng.

   Trịnh Tố Tâm hoạt động ở địa bàn sa căn cứ ta, địch thường xuyên càn quét nhằm đẩy lực lượng vũ trang của ta ra xa để bảo vệ giao thông của chúng. Điều kiện hoạt động vô cùng khó khăn, gian khổ, nhưng anh luôn kiên định, vững vàng; chỉ huy đơn vị bám đất, bám dân; kết hợp chặt chẽ giữa chiến đấu với phát động quần chúng, xây dựng cơ sở cách mạng; tận tình giúp đỡ bộ đội địa phương và du kích đánh giặc.

   Năm 1968, có lần Trịnh Tố Tâm đị trinh sát 3 đêm liền ở đèo Hải Vân. Phát hiện bọn lính Mỹ đi tuần, gần sáng chúng thường về cụm lại tại một điểm cao cạnh đường, anh dẫn một tổ lên đặt mìn sẵn trên điểm cao đó. Gần sáng, trung đội Mỹ về tập trung trên bãi mìn. Trịnh Tố Tâm điểm hỏa, diệt 60 tên, tổ rút về an toàn.

   Đầu năm 1970, Trịnh Tố Tâm là đại đội phó. Khi đi nghiên cứu trận địa để đánh đoàn tàu hỏa địch, anh phán đoán khi đoàn tàu bị đánh thế nào địch cũng đổ quân chặn đường rút của ta. Trịnh Tố Tâm cho đơn vị gài mìn vào bãi địch có thể đổ quân. Quả nhiên, khi đoàn tàu bị đánh lật, máy bay lên thẳng của chúng liền đổ quân xuống bãi mìn. Trịnh Tố Tâm chỉ huy đơn vị cho mìn nổ và nổ súng vào cụm quân Mỹ, diệt 2 trung đội, phá hủy 2 máy bay lên thẳng.

   Trịnh Tố Tâm được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 3 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua, 5 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ.

   Ngày 20 tháng 9 năm 1971, Trịnh Tố Tâm được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 25 Tháng Năm, 2013, 04:08:41 pm
ANH HÙNG LƯƠNG TẤN THỊNH


   Lương Tấn Thịnh sinh năm 1946, dân tộc Kinh, quê ở xã Hòa Hiệp, huyện Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, nhập ngũ năm 1963. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đại đội trưởng đại đội 202 đặc công bộ đội địa phương thuộc tỉnh đội Phú Yên, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Trưởng thành từ chiến sĩ lên cán bộ đại đội, Lương Tấn Thịnh thường xuyên bám sát cơ sở, len lỏi vào các tuyến phòng thủ của địch để trinh sát; chỉ huy chiến đấu dũng cảm, mưu trí, kiên quyết tiến công tiêu diệt quân địch. Đồng chí đã tham gia đánh 120 trận, trực tiếp chỉ huy đơn vị đánh 24 trận, diệt 1.000 tên địch, phá hủy 13 kho đạn, 10 khẩu đại bác, 15 xe quân sự. Riêng Lương Tấn Thịnh diệt 225 tên, phá hủy 1 xe, thu 1 súng.

   Đêm 7 tháng 7 năm 1969, Lương Tấn Thịnh đánh địch ở Mò O, một mũi gặp khó khăn không lên được, anh vừa động viên đơn vị, vừa dẫn một tổ thọc sâu, đánh thẳng vào vị trí địch, tạo thuận lợi cho toàn đơn vị xung phong tiêu diệt gọn 1 đại đội địch.

   Trong trận Xuân Phước ngày 28 tháng 8 năm 1970, Lương Tấn Thịnh chỉ huy đơn vị luồn qua 18 lớp rào, bãi chông, mìn của địch, bí mật thọc sâu, bất ngờ đánh từ trong ra, diệt gọn một đại đội và 3 trung đội địch. Lương Tấn Thịnh luôn luôn chăm lo xây dựng đơn vị tiến bộ về mọi mặt, gương mẫu, khiêm tốn, giản dị, được mọi người tin yêu.

   Đồng chí được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công giải phóng, 2 bằng khen.

   Ngày 20 tháng 9 năm 1971, Lương Tấn Thịnh được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG BÙI ĐỨC SƠN

(http://imageshack.us/a/img24/9051/buiducson.jpg)


   Bùi Đức Sơn sinh năm 1948, dân tộc Kinh, quê ở xã Hoài Hảo, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định, nhập ngũ tháng 5 năm 1965. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đại đội trưởng đại đội 72 đặc công thuộc trung đoàn 12 Quân khu 5, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ năm 1965 đến năm 1971, Bùi Đức Sơn tham gia chiến đấu ở chiến trường thuộc Quân khu 5, đã trực tiếp đánh 50 trận, trận nào cũng bình tĩnh, dũng cảm, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Khi làm y tá, anh chiến đấu đến cùng để bảo vệ thương binh, băng bó kịp thời và cõng 24 thương binh từ trận địa ra nơi an toàn. Khi làm cán bộ, Bùi Đức Sơn chỉ huy linh hoạt, nhiều tình huống khó khăn, ác liệt vẫn kiên quyết tiến công địch, tích cực góp phần vào chiến công chung của đơn vị. Riêng Bùi Đức Sơn đã diệt 70 tên địch (có 41 tên Mỹ), bắn rơi 1 máy bay, phá hủy 1 kho vũ khí, thu 15 súng.

   Ngày 7 tháng 2 năm 1966, Bùi Đức Sơn tham gia đánh trận Chợ Cát, diệt 12 tên Mỹ, bắn rơi một máy bay, bị thương vẫn tiếp tục chiến đấu.

   Ngày 17 tháng 12 năm 1968, Bùi Đức Sơn làm y tá, cùng đơn vị đánh địch ở An Định, anh vừa băng bó, cấp cứu thương binh, vừa dũng cảm chiến đấu, diệt 9 tên địch. Khi đơn vị cơ động, Bùi Đức Sơn ở lại bảo vệ thương binh. Địch tiến công, một mình anh chiến đấu diệt thêm 3 tên. Sau đó, Bùi Đức Sơn cho nổ lựu đạn khói để che mắt địch, rồi anh cõng 1 thương binh ra nơi an toàn. Trời gần sáng, Bùi Đức Sơn cõng thương binh lên núi cất giấu, hái rau, đào củ rừng nuôi thương binh, ban đêm lại cõng thương binh tìm về đơn vị.

   Trong trận đánh ở Gò Ú, Bùi Đức Sơn làm đại đội phó, chỉ huy đơn vị vào đến hàng rào thì bị lộ. Địch bắn ra ác liệt, Bùi Đức Sơn kịp thời chỉ huy bộ đội nhanh chóng thọc sâu, tạo thuận lợi cho đơn vị diệt gọn quân địch. Anh vừa chỉ huy, vừa chiến đấu dũng cảm, đánh sập 3 nhà, 1 lô cốt, diệt hàng chục tên địch, thu 1 đại liên.

   Đêm 29 tháng 8 năm 1970, với nhiệm vụ đại đội trưởng, Bùi Đức Sơn dẫn đầu đơn vị đánh địch ở Kiến An. Khi gần tới vị trí chiến đấu, phát hiện địch phục kích, anh để đơn vị tạm dừng ở ngoài, còn mình bò vào kiểm tra lại tình hình địch cụ thể. Nhờ có quyết tâm cao, Bùi Đức Sơn đã động viên và chỉ huy đơn vị diệt gọn 1 đại đội và 1 trung đội địch.

   Có lần Bùi Đức Sơn xông vào khu vực máy bay địch đang đánh bom, cứu sống 1 cụ già, 1 em bé, được nhân dân và đồng đội tin yêu.

   Đồng chí được tặng thưởng 4 Huân chương Chiến công giải, phóng, 3 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua, 7 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ.

   Ngày 20 tháng 9 năm 1971, Bùi Đức Sơn được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 25 Tháng Năm, 2013, 04:12:04 pm
ANH HÙNG BÙI VĂN THUYÊN

(http://imageshack.us/a/img836/1853/buivanthuyen.jpg)


   Bùi Văn Thuyên (tức Bùi Văn Quẹo), dân tộc Kinh, quê ở xã Thái Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, nhập ngũ tháng 1 năm 1961, xuất ngũ năm 1963. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là xã đội phó xã Thái Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ năm 1961 đến năm 1963, Bùi Văn Thuyên chiến đấu ở một đơn vị bộ đội tỉnh Tây Ninh, anh đã tham gia đánh 13 trận, cùng đơn vị diệt hàng trăm tên địch. Riêng Bùi Văn Thuyên diệt 8 tên, thu 3 súng.

   Năm 1964, do yêu cầu công tác, Bùi Văn Thuyên được điều về xã Thái Bình, cùng cán bộ cơ sở thành lập đội du kích, tuyên truyền vận động nhân dân bám đất, bám làng sản xuất và chiến đấu. Đồng chí kiên trì chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, xây dựng phong trào du kích vững mạnh, chiến đấu kién cường, lập nhiều thành tích xuất sắc.

   Trong 2 năm 1969 và 1970, Bùi Văn Thuyên đã cùng đội du kích đánh hàng chục trận, diệt 260 tên địch. Riêng đồng chí diệt 71 tên Mỹ, thu 5 súng, phá hủy 4 xe quân sự.

   Bùi Văn Thuyên đã nhiều lần gài mìn trên đường 13 và 22, đánh sập 4 cầu, cống, diệt hàng chục tên địch.

   Đặc biệt, trận đánh địch ở Bàu Sen giữa tháng 1 năm 1970, Bùi Văn Thuyên cùng một du kích đi lọt vào trận địa phục kích của địch. Vừa nổ súng thì đồng đội hy sinh, Bùi Văn Thuyên bị thương khắp người và bị ngất. Khi tỉnh dậy, thấy một khúc ruột lòi ra ngoài bụng, anh định băng thì phát hiện 3 tên Mỹ đang xáp tới. Bùi Văn Thuyên chưa kịp bắn thì 3 tên Mỹ đã nổ súng, lại bị thêm 2 vết thương nữa: 1 viên đạn xuyên từ ngực qua lưng, 1 viên vào khớp chân, anh dùng hết sức lực bắn 2 quả M79, diệt 3 tên Mỹ rồi nhét đoạn ruột vào bụng, băng lại. Bọn Mỹ đem đại liên bắn xả vào khu vực đồng chí đang nằm. Quyết chiến đấu đến cùng để bảo vệ tử sĩ, Bùi Văn Thuyên tiếp tục bắn hàng chục quả M79, diệt khẩu đại liên và nhiều tên địch. Bọn còn lại phải tháo chạy. Bị nhiều vết thương khắp người, sức yếu, anh gắng sức bò trên đoạn đường 400 mét tìm về đơn vị. Trong khi bò, 8 lần bị ngất, nhưng Bùi Văn Thuyên kiên quyết giữ khẩu M.79 và 3 quả lựu đạn.

   Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 3 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua, 7 bằng khen và giấy khen.

   Ngày 20 tháng 9 năm 1971, Bùi Văn Thuyên được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vủ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG MAI DINH

(http://imageshack.us/a/img442/3627/hungmaidinh.jpg)

   
   Mai Dinh sinh năm 1947, dân tộc Kinh, quê ở xã Hương Sơn, huyện Lạng Giang, tỉnh Hà Bắc, nhập ngũ năm 1966. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đội trưởng đặc công đoàn Quyết Thắng, thành phố Hồ Chí Minh, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ năm 1968 đến năm 1971, Mai Dinh tham gia chiến đấu ở chiến trường Nam Bộ. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt năm 1968, đồng chí cùng đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ đánh vào các mục tiêu phía bắc nội thành Sài Gòn. Sau đợt này, đơn vị rút ra và bám trụ tại vùng ven, ngay sát nách Sài Gòn. Suốt 2 năm trời bám trụ trên đồng nước, làm nhiệm vụ đánh các mục tiêu chiến lược nằm trong tuyến phòng thủ ngoại vi, Mai Dinh luôn nêu cao tinh thần khắc phục khó khăn, gian khổ, chấp hành nghiêm chỉnh chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên, vượt qua mọi nguy hiểm, hoàn thành tốt nhiệm vụ.

   Mặc dù quanh năm phải sống trên đồng nước, địch càn quét liên miên, cuộc sống bị thiếu thốn mọi thứ, Mai Dinh vẫn luôn tỏ ra vững vàng, kiên định, động viên anh em trong đơn vị bám trụ làm nhiệm vụ. Trong công tác điều tra, nghiên cứu tình hình địch, nhiều khi phải lội sình, nhịn đói hai, ba ngày, anh vẫn kiên trì chịu đựng, trinh sát kỹ lưỡng, tạo điều kiện cho đơn vị tác chiến thắng lợi.

   Mai Dinh đã tham gia nhiều trận đánh trong nội thành; có trận gặp tình huống gay go, anh bình tĩnh, phát huy hết sở trường và kinh nghiệm của mình, xử trí linh hoạt, kịp thời, hoàn thành nhiệm vụ với hiệu suất cao.

   Đặc biệt trong trận đánh kho bom Gò Vấp, Mai Dinh được giao nhiệm vụ cùng tổ 3 người vào đánh kho. Cả tổ bám sát từ tối đến quá nửa đêm vẫn không lọt được vào khu kho. Nếu cứ ở khu cửa mở lâu thì chẳng những không đánh được mà có thể bị phát hiện. Thời gian quy định đặt mìn đã sắp hết. Trước tình hình phức tạp đó Mai Dinh hội ý anh em trong tổ, rồi quyết định để anh em ở ngoài, mình anh ôm khối thuốc nổ nặng 10 ki-lô-gam, bất chấp mọi nguy hiểm, vượt qua tường cao, lọt vào khu kho. Mai Dinh bình tĩnh tìm đúng kho bom, đặt khối thuốc nổ vào nơi có khả năng phá hủy nhiều nhất, gắn kíp hẹn giờ, rồi nhanh chóng thoát ra ngoài. Kết quả, kho bom nổ tung, đồng thời kích thích nổ sang các kho khác. Tiếng nổ kéo dài 2 ngày đêm liền, phá hủy 35.000 tấn bom đạn của địch.

   Mai Dinh luôn đi đầu trong mọi công tác, thường xuyên chăm lo xây dựng đơn vị tiến bộ về nhiều mặt, khiêm tốn, giản dị, được quần chúng tin yêu.

   Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng ba, 3 bằng khen và giấy khen.

   Ngày 20 tháng 9 năm 1971, Mai Dinh được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 25 Tháng Năm, 2013, 04:16:01 pm
ANH HÙNG VÕ THỊ HUYNH

(http://imageshack.us/a/img837/3402/vothihuynh.jpg)


   Võ Thị Huynh sinh năm 1940, dân tộc Kinh, quê ở xã An Điền, huyện Bến Cát, tỉnh Sông Bé, nhập ngũ tháng 6 năm 1968. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là trung đội phó kiêm y tá thuộc đội quân y, bộ đội địa phương huyện Bến Cát, tỉnh Sông Bé, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ năm 1960, Võ Thị Huynh đã tham gia hoạt động du kích tại địa phương, đưa đón cán bộ vào hoạt động trong vùng địch an toàn. Trong gia đình, lần lượt từ bố, anh em ruột, chồng con đều bị địch giết hại, chị chịu 8 cái tang trong vòng 4 năm, nhưng Võ Thị Huynh vẫn kiên trì hoạt động. Tháng 6 năm 1968, chị vừa làm hộ lý vừa học y tá tại quân y huyện Bến Cát, công tác có nhiều khó khăn, gian khổ, nhưng Võ Thị Huynh luôn hết lòng phục vụ thương binh, bệnh binh. Nhiều lần, chị nhận hàng chục thương binh, vừa điều trị vừa nuôi dưỡng dưới địa đạo. Trong điều kiện khó khăn, ác liệt, lương thực, thuốc men thiếu thốn, Võ Thị Huynh tìm mọi biện pháp khắc phục, điều trị cho thương binh mau khỏi, trở về đơn vị chiến đấu. Nhiều lần máy bay, pháo binh địch đánh vào đội điều trị, chị dũng cảm cứu chữa và bảo vệ thương binh an toàn. Có thời kỳ Võ Thị Huvnh phải đi đào củ rừng nuôi thương binh hơn một tháng liền. Nhiều lần Võ Thị Huynh tham gia đi khiêng thương binh từ trận địa về trạm phẫu và từ trạm phẫu ra tuyến ngoài. Hoạt động trong vùng địch kiểm soát, chị vẫn vững vàng ý chí, dũng cảm, kiên cường, luôn gương mẫu đi đầu trong khó khăn, ác liệt.

   Có lần được giao nhiệm vụ đưa gần hai chục thương binh ra tuyến ngoài, trong tay không có một hạt gạo, Võ Thị Huynh vẫn vui vẻ nhận nhiệm vụ, rồi tự mình tìm kiếm lương thực cho thương binh ăn trên đường đi. Kết quả, đồng chí đã đưa được thương binh qua vùng địch kiểm soát, về tới đích an toàn.

   Võ Thị Huynh luôn thể hiện tinh thần cách mạng triệt để, chịu đựng gian khổ, ác liệt, thiếu thốn dài ngày, tích cực học tập văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ, sống giản dị, khiêm tốn, được mọi người tin yêu.

   Đồng chí được tặng thương 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 1 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua, 2 bằng khen.

   Ngày 20 tháng 9 năm 1971, Võ Thị Huynh được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG NGUYỄN HỮU TRÍ

(http://imageshack.us/a/img191/797/nguyenhuutri1.jpg)

   
   Nguyễn Hữu Trí (tức Nguyễn Văn Bốn), sinh năm 1926, dân tộc Kinh, quê ở xã Vĩnh Lợi, huyện Gò Công, tỉnh Tiền Giang, nhập ngũ tháng 10 năm 1948. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung đoàn phó thuộc Cục Tham mưu, Bộ Tư lệnh Miền, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Ba năm đầu nhập ngũ, Nguyễn Hữu Trí ở đơn vị chiến đấu. Những năm sau, đồng chí được điều động công tác ở phòng tham mưu. Trong lúc thi hành nhiệm vụ bị địch bắt, chúng tra tấn nhiều đòn ác hiểm hòng khuất phục đồng chí, nhưng Nguyễn Hữu Trí vẫn giữ vững lòng trung thành với cách mạng.

   Kháng chiến chống Pháp, đồng chí đã lập nhiều thành tích và được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng ba. Năm 1954 đồng chí được ra Bắc tập kết, sau đó được chuyển về miền Nam tham gia hoạt động bí mật.

   Với tinh thần chủ động tiến công địch, dựa vào quần chúng tốt, dựa vào người thân trong gia đình, Nguyễn Hữu Trí đã nhanh chóng hợp pháp hóa, mạnh dạn mở quan hệ "đánh" vào các đối tượng hợp với nhu cầu công tác. Chỉ một thời gian ngắn đồng chí đã cung cấp nhiều tin tức và tài liệu có ý nghĩa chiến lược đối với cuộc chiến đấu ở miền Nam cũng như chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ ở miền Bắc.

   Nguyễn Hữu Trí đã xây dựng được một "lưới" tình báo tin cậy đối với cơ quan chỉ đạo. Quá trình hoạt động, khi thấy "lưới" có khả năng bị nguy hiểm, không quản gian nguy, vượt mọi trở ngại, ra sức xây dựng tổ chức mới thay thế kịp thời để giữ nguồn tin liên lạc cho chỉ huy và lãnh đạo.

   Đồng chí rất chú trọng giác ngộ cơ sở từ thấp đến cao, dám nhận công việc khó khăn nguy hiểm. Đồng chí đã bí mật đưa điện đài vào nội thành đặt ở những gia đình tin cậy, hoạt động trong thời gian dài, bảo đảm thông tin nhanh chóng với cấp trên.

   Suốt 8 năm liền hoạt động giữa đô thành, Nguyễn Hữu Trí vẫn giữ vững phẩm chất, đạo đức của người cán bộ, đảng viên. Trong công tác, đồng chí luôn hăng hái, mạnh dạn; có năng lực tổ chức, bình tĩnh xử trí nhiều tình huống lúc khó khăn và làm công tác vận động quần chúng giỏi.

   Nguyễn Hữu Trí đã góp nhiều kinh nghiệm tốt cho ngành, đồng chí đả được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công hạng nhì, 2 Huân chương Chiến công hạng ba.

   Ngày 20 tháng 9 năm 1971, Nguyễn Hữu Trí được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 25 Tháng Năm, 2013, 04:19:28 pm
ANH HÙNG TRẦN KIM CẦU


   Trần Kim Cầu, sinh năm 1944, dân tộc Kinh, quê ở xã Thanh Hải, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, nhập ngũ tháng 7 năm 1967. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đại đội trưởng đại đội 12 bộ binh thuộc tiểu đoàn 6, trung đoàn 12, sư đoàn 7, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Trần Kim Cầu trưởng thành từ chiến sĩ lên. Ở cương vị nào đồng chí cũng luôn luôn nêu cao ý chí và quyết tâm chiến đấu, tích cực tiến công tiêu diệt địch, xung phong gương mẫu dẫn đầu đơn vị, luôn có mặt ở những nơi khó khăn nguy hiểm. Khi làm cán bộ chỉ huy, nhiều trận bị thương nặng, đồng chí vẫn tiếp tục ở lại chỉ huy đơn vị chiến đấu đến thắng lợi.

   Từ năm 1968 đến năm 1971, Trần Kim Cầu đã diệt hơn 100 tên, phá hủy 13 xe quân sự của địch.

   Trần Kim Cầu đã được khen thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 3 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 3 năm liền được công nhận là Chiến sĩ thi đua.

   Ngày 20 tháng 9 năm 1971, Trần Kim Cầu được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG LÊ XUÂN TẤU

(http://imageshack.us/a/img845/855/exuantau.jpg)


   Lê Xuân Tấu (tức Kim Thanh) sinh năm 1944, dân tộc Kinh, quê ở xã Đôn Nhân, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phú, nhập ngũ năm 1963. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đại đội trưởng đại đội 3 xe tăng thuộc tiểu đoàn 3 trung đoàn 203 Bộ tư lệnh Thiết giáp, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ năm 1968 đến năm 1972, Lê Xuân Tấu tham gia đánh 5 trận, trận nào cũng dũng cảm, xông xáo, tích cực tiến công tiêu diệt địch, chỉ huy mưu trí, linh hoạt, chi viện tốt cho bộ binh chiến đấu.

   Trận đánh Tà Mây (Quảng Trị) ngàv 24 tháng 1 năm 1968, đồng chí làm trưởng xe đi đầu. Khi tiến đến cửa mở, xe bạn bị hỏng, đồng chí nhanh chóng cho xe xông thẳng vào vị trí địch, bắn sập nhiều lô cốt và ụ súng. Mặc cho địch chống cự điên cuồng, Lê Xuân Tấu bình tĩnh, dũng cảm lái xe vượt qua làn đạn địch, dẫn dắt bộ binh thọc sâu, chia cắt, tiêu diệt gọn 1 tiểu đoàn địch.

   Trận đánh Làng Vây (Quảng Trị) ngày 7 tháng 2 năm 1968, Lê Xuân Tấu chỉ huy trung đội chi viện tốt cho bộ binh diệt gọn quân địch trong khu vực được phân công; sau đó phát triển sang khu vực khác, chi viện đắc lực cho đơn vị bạn diệt và bắt 1.000 tên địch.

   Trận đánh Y Tu - Bản Nhích ngày 10 tháng 6 năm 1971, đồng chí làm đại đội trưởng, chỉ huy 3 xe tăng cùng bộ binh tiêu diệt gọn quân địch ở Y Tu. Cuối trận đánh, 2 xe bị hỏng, Lê Xuân Tấu cùng đồng đội trong xe nhanh chóng thọc sâu vào Bản Nhích, chi viện cho đơn vị bạn chiến đấu, tiêu diệt toàn bộ 2 tiểu đoàn, 1 đại đội và 2 trung đội ngụy Lào, giải phóng cao nguyên Bô Lô Ven.

   Có lần máy bay địch đánh vào vị trí trú quân, đồng chí bị thương vào mặt, vẫn chỉ huy đơn vị dập tắt lửa, bảo vệ xe an toàn.

   Lê Xuân Tấu luôn chăm lo xây dựng đơn vị tiến bộ nhiều mặt, chịu khó học tập nâng cao trình độ chỉ huy, trình độ kỹ thuật, chiến thuật, sống giản dị, khiêm tốn, được mọi người tin yêu.

   Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 1 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua.

   Ngày 19 tháng 5 năm 1972, Lê Xuân Tấu được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 25 Tháng Năm, 2013, 04:22:06 pm
ANH HÙNG ĐOÀN KHẮC LUẬN

(http://imageshack.us/a/img19/6485/doankhacluan.jpg)


   Đoàn Khắc Luận sinh năm 1948, dân tộc Kinh, quê ở xã Thọ Tiến, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa, nhập ngũ tháng 9 năm 1965. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là thượng sĩ, đại đội trưởng đại đội 23 (súng máy cao xạ 12,7) thuộc tiểu đoàn 75 trung đoàn 84 Bộ tư lệnh Mặt trận B5, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ năm 1966 đến năm 1972, Đoàn Khắc Luận tham gia chiến đấu ở Quảng Trị. Khi làm pháo thủ số 1, đồng chí đã bắn rơi 13 máy bay và diệt 25 tên lính bộ binh địch. Khi làm khẩu đội trưởng, cán bộ trung đội, đại đội, đồng chí nêu cao tinh thần trách nhiệm, xông xáo, linh hoạt, thường có mặt ở nơi khó khăn, ác liệt, chỉ huy đơn vị bắn rơi 26 máy bay, chi viện tốt cho bộ binh chiến đấu. Tính chung, Đoàn Khắc Luận đã bắn rơi và chỉ huy đơn vị bắn rơi 39 máy bay địch, góp phần tích cực vào thành tích chung của đại đội (từ năm 1966 đến năm 1976) bắn rơi trên 100 máy bay địch các loại.

   Ngày 21 tháng 1 năm 1968, ở Lâm Xuân Động, địch dùng máy bay và pháo binh bắn phá ác liệt, yểm hộ cho xe tăng và bộ binh chúng tiến đánh trận địa ta. Là pháo thủ số 1, đồng chí đã góp phần tích cực cùng trung đội bần rơi 2 máy bay, bắn cháy 2 xe M.113, diệt 50 tên địch. Bọn địch bỏ chạy, Đoàn Khắc Luận cùng khẩu đội tích cực chi viện cho bộ binh truy kích địch, bắn rơi thêm 2 máy bay. Nhờ sự chi viện tốt của khẩu đội đồng chí, đơn vị bộ binh diệt thêm 250 tên địch, bắn cháy 6 xe tăng.

   Ngày 23 tháng 1 năm 1968, bọn địch nống ra Do Hà. Chúng bắn phá dữ dội và tiến công lên chốt của ta. Đồng chí cùng khẩu đội kiên cường chiến đấu, giữ vững chốt và truy kích địch, diệt 25 tên, góp phần tích cực cùng bộ binh đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn địch.

   Từ tháng 6 đến tháng 8 năm 1969, phục kích máy bay địch ở vùng điểm cao 333, Đoàn Khắc Luận chỉ huy khẩu đội bắn rơi 4 máy bay và góp phần cùng trung đội bắn rơi 2 chiếc khác.

   Ngày 3 tháng 4 năm 1970, trung đội Đoàn Khâc Luận được giao nhiệm vụ chi viện cho bộ binh vận động tiến công tiêu diệt địch tại điểm cao 182. Đồng chí chỉ huy trung đội chiến đấu dũng cảm, bắn rơi 3 máy bay, diệt 40 tên Mỹ. Khi bị thương, Đoàn Khắc Luận vẫn giữ vững vị trí chiến đấu, chỉ huy đơn vị góp phần tích cực cùng bộ binh đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn Mỹ.

   Từ ngày 5 tháng 6 đến ngày 23 tháng 6 năm 1971, đại đội đồng chí chi viện cho bộ binh chiến đấu tại vùng điểm cao 402 và 544. Đoàn Khắc Luận khắc phục nhiều khó khăn, kiên quyết chấp hành mệnh lệnh, chỉ huy đơn vị bắn rơi 13 máy bay Mỹ, chi viện tốt cho bộ binh chiến đấu.

   Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 4 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 2 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ Quyết thắng, 5 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua.

   Ngày 19 tháng 5 năm 1972, Đoàn Khắc Luận được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG HỒ SOI

(http://imageshack.us/a/img707/1720/hosoir.jpg)


   Hồ Soi sinh năm 1943, dân tộc Pa-cô, quê ở xã Kỳ Nơi, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Bình, nhập ngũ năm 1962. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đại đội trưởng đại đội 4 vận tải gùi thồ thuộc Cục Hậu cần Quân khu Trị - Thiên, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ năm 1962 đến năm 1965, Hồ Soi ỉàm nhiệm vụ gùi hàng ở mặt trận Trị -Thiên. Tuy nhiệm vụ có nhiều gian khổ, địch đánh phá ác liệt, đồng chí vẫn tận tụy, bền bỉ công tác. Đồng chí tích cực rèn luyện thể lực, cải tiến cách mang vác, đưa năng suất gùi hàng từ 30 ki-lô-gam lên 80 ki-lô-gam một chuyến, có tác dụng cổ vũ mọi người thi đua nâng cao năng suất vận chuyển.

   Từ năm 1966 đến năm 1967, Hồ Soi làm nhiệm vụ thồ hàng bằng xe đạp, tuy đường xấu, dốc cao, có nhiều khe, suối đồng chí vẫn thồ 150 ki-lô-gam một chuyến, dẫn đầu năng suất trong đơn vị.

   Năm 1968 Hồ Soi làm cán bộ đại đội, đồng chí đã phát huy trách nhiệm, chịu khó rút kinh nghiệm, đưa năng suất gùi toàn đơn vị lên cao (bình quân đầu người đạt 40 ki-lô-gam một chuyến). Hồ Soi luôn đi sát chỉ huy đơn vị làm nhiệm vụ, đồng thời mang vác như mọi người, thường xuyên gùi 60 ki-lô-gam mỗi chuyến.

   Đồng chí chỉ huy đơn vị đánh địch nhiều lần để bảo vệ kho hàng và mở đường đưa hàng ra phía trước. Có lần trên đường vận chuyển, bị địch phục kích bất ngờ, Hồ Soi nhanh chóng chỉ huy đơn vị chuyển thành thế chủ động, tiến công tiêu diệt địch, bảo vệ tốt hàng vận chuyển. Đơn vị đồng chí diệt 470 tên địch, bắn rơi 15 máy bay, riêng đồng chí diệt 35 tên.

   Tháng 9 năm 1971, đơn vị Hồ Soi được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Đơn vị anh hùng.

   Đồng chí được tặng thưởng 4 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 7 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua.

   Ngày 19 tháng 5 năm 1972, Hồ Soi được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 25 Tháng Năm, 2013, 04:25:46 pm
ANH HÙNG NGUYỄN BÁCH Y

(http://imageshack.us/a/img12/3900/nguyenbachy.jpg)


   Nguyễn Bách Y sinh năm 1949, dân tộc Kinh, quê ở xã Hoàng Phương, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa, nhập ngũ năm 1966. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là trung đội trưởng thuộc đại đội 6 vận tải Cục hậu cần Bộ tư lệnh Mặt trận B5, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ năm 1967 đến năm 1968, Nguyễn Bách Y làm liên lạc, luôn nêu cao tinh thần tích cực, khắc phục khó khăn, đảm bảo liên lạc kịp thời, chính xác, phục vụ tốt cho chỉ huy.

   Từ năm 1969 đến năm 1971, đồng chí làm cán bộ tiểu đội, sau lên cán bộ trung đội. Quá trình làm nhiệm vụ có nhiều khó khăn, gian khổ, ác liệt, hàng chục lần máy bay địch đánh vào đội hình đơn vị, lần nào Nguyễn Bách Y cũng bình tĩnh chỉ huy đơn vị vượt qua.

   Trong công tác, đồng chí tận tụy, gương mẫu, vận chuyển đạt năng suất cao. Chỉ tiêu gùi 30 ki-lô-gam một chuyến, có lần Nguyễn Bách Y gùi tới 60 ki-lô-gam một chuyến. Đơn vị đồng chí phụ trách chuyển được hàng trăm tấn hàng và hàng trăm thương binh đến đích an toàn.

   Nhiều lần Nguyễn Bách Y chỉ huy tiểu đội, trung đội xông vào trận địa (do bộ binh ta vừa đánh địch xong) khiêng thương binh về tuyến sau. Địch ở các trận địa khác, điên cuồng bắn pháo, phản kích, đồng chí vẫn bình tĩnh, dũng cảm chỉ huy đơn vị tìm và chuyển hết thương binh đến nơi an toàn. Trên đường vận chuyển, gặp chỗ khó đi, đồng chí thường cõng thương binh để đảm bảo an toàn. 2 lần máy bay địca đánh vào đội hình vận chuyển, đồng chí đã lấy thân mình che cho thương binh.

   Có lần 3 chiến sĩ đơn vị bạn bị nước lũ cuốn trôi. Nước chảy rất mạnh, Nguyễn Bách Y không quản nguy hiểm, bơi theo, lần lượt cứu được cả 3 người. Sau đó đồng chí lại lặn xuống nước, mò được 3 khẩu súng. Hành động dũng cảm của Nguyễn Bách Y được mọi người khâm phục và học tập.

   Đồng chí được tặng thưởng 5 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 4 lần được tặng danh hiệu chiến sĩ Quyết thắng, 5 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua.

   Ngày 19 tháng 5 năm 1972, Nguyễn Bách Y được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG LÊ XUÂN SÊNH

(http://imageshack.us/a/img16/9314/lexuansenhy.jpg)


   Lê Xuân Sênh (tức Lê Văn Sênh) sinh năm 1941, dân tộc Kinh, quê ở xã Duy Tân, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Hưng, nhập ngũ năm 1965. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là phân đội trưởng phân đội 3 thuộc đại đội 2, đặc công nước đoàn 126 Bộ tư lệnh Hải quân, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ năm 1969 đến năm 1972, Lê Xuân Sênh làm nhiệm vụ đánh tàu địch ở cảng Cửa Việt. Qua nhiều lần bị ta đánh thiệt hại nặng, bọn địch ở cảng Cửa Việt canh phòng rất cẩn mật. Chúng bố trí hệ thống đèn pha chiếu sáng và cho tàu tuần tiễu suốt đêm; thỉnh thoảng ném lựu đạn xuống nước. Đồng chí không quản ngại khó khăn, nguy hiểm đã ra, vào cảng 30 lần để trinh sát, nắm tình hình địch và chỉ huy đơn vị đánh chìm 13 tàu địch. Riêng Lê Xuân Sênh đánh chìm 3 chiếc.

   Trận đánh tàu đêm 13 tháng 11 năm 1969, khi tổ Lê Xuân Sênh đang tiếp cận mục tiêu thì địch ném lựu đạn xuống nước, đồng chí bị choáng, nhưng vẫn cố gắng bơi vào sát tàu đặt thuốc nổ. Kết quả, Lê Xuân Sênh đánh chìm 1 tàu trọng tải 5.000 tấn. Khi tàu bị đánh, bọn địch lùng sục và bắn rất dữ dội, Lê Xuân Sênh bình tĩnh dìu một đồng đội bị đuối sức ra khỏi khu vực nguy hiểm.

   Trận đánh đêm 5 tháng 9 năm 1970, khi tổ đồng chí đang bơi thì gặp sóng to, gió lớn. Tuy khó tiếp cận mục tiêu, nhưng lại gây bất ngờ cho địch. Lê Xuân Sênh động viên anh em giữ vững quyết tâm, hoàn thành nhiệm vụ. Kết quả, tổ đồng chí đã đánh chìm 2 tàu và trở về an toàn.

   Trận đánh Cồn Tòng đêm 21 tháng 3 năm 1971, đồng chí chỉ huy đơn vị luồn lách qua khu vực địch phục kích. Bọn thám báo phát hiện thấy quân ta, chúng gọi pháo bắn. Đồng chí cùng tổ nhanh chóng đuổi đánh bọn thám báo, và tiếp tục chỉ huy đơn vị tiếp cận mục tiêu, đánh chìm 1 tàu LCM.

   Lê Xuân Sênh đã góp phần tích cực xây dựng phân đội thành phân đội khá nhất của đơn vị, tích cực học tập và giúp đỡ mọi người.

   Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 3 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 1 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ Quyết thắng.

   Ngày 19 tháng 5 năm 1972, Lê Xuân Sênh được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 25 Tháng Năm, 2013, 04:30:16 pm
ANH HÙNG DƯƠNG QUANG BỔ

(http://imageshack.us/a/img703/4070/duongquangbo.jpg)


   Dương Quang Bổ sinh năm 1950, dân tộc Kinh, quê ở xã Việt Ngọc, huyện Tân Yên, tỉnh Hà Bắc, nhập ngũ tháng 4 năm 1968. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là tiểu đội phó bộ binh thuộc đại đội 2 tiểu đoàn 7 trung đoàn 8 sư đoàn 324, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Dương Quang Bổ vào chiến trường tham gia chiến đấu từ tháng 8 năm 1968. Khi trực tiếp chiến đấu, đồng chí dũng cảm, kiên cường, diệt được nhiều địch; khi làm trinh sát, luôn tìm mọi cách điều tra, nghiên cứu tình hình địch chính xác, kịp thời, phục vụ tốt cho đơn vị chiến đấu. Từ năm 1969 đến năm 1971, Dương Quang Bổ đã diệt 30 tên địch, bắn rơi 1 máy bay, phá hủy 1 khẩu pháo 105 và 1 khẩu đại liên.

   Trong trận tập kích tại điểm cao 325, ngày 10 tháng 3 năm 1971, lúc đơn vị xung phong, đồng chí dùng trung liên xông lên bắn mãnh liệt vào quân địch, dùng lựu đạn diệt địch trong công sự, tạo thuận lợi cho đơn vị giải quyết trận đánh. Trận này, Dương Quang Bổ diệt 8 tên địch. Khi lui quân, đồng chí còn cõng 1 thương binh ra khu vực an toàn.

   Trận đánh điểm cao 916 ngày 18 tháng 5 năm 1969, sau khi diệt 4 tên địch, đồng chí bị thương nặng, vẫn động viên đồng đội hăng hái chiến đấu, không để đơn vị phải tổ chức khiêng cáng.

   Trận phục kích địch ở gần sông Bổ tháng 3 năm 1970, Dương Quang Bổ tích cực truy kích địch, diệt 8 tên Mỹ, bắn rơi 1 máy bay, phá hủy 1 đại liên.

   Trong chiến dịch Cốc Bai mùa Hè năm 1970, làm nhiệm vụ trinh sát, đồng chí dũng cảm, mưu trí, kiên trì bám địch, có lần nhịn đói và thức 2 ngày đêm liền vẫn tìm mọi cách nắm tình hình địch chính xác. Khi chiến đấu, Dương Quang Bổ dẫn đường cho đơn vị vào đánh địch kịp thời. Đồng chí tham gia chiến đấu cùng đơn vị diệt nhiều địch; khi lui quân còn cõng 1 thương binh ra nơi an toàn.

   Trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào tháng 2 và 3 năm 1971, đồng chí hoàn thành tốt nhiệm vụ trinh sát nắm địch, phục vụ đơn vị đánh thắng địch ở điểm cao 550. Khi chiến đấu đồng chí dũng cảm, xông xáo, diệt và bắt hàng chục tên địch, phá hủy 1 khẩu pháo 105.

   Đồng chí được tặng thưởng 3 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 2 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua, 3 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ.

   Ngày 19 tháng 5 năm 1972, Dương Quang Bổ được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG TRẦN THỊ TÂM
(LIỆT SĨ)

(http://imageshack.us/a/img542/3720/tranthitam.jpg)


   Trần Thị Tâm sinh năm 1948, dân tộc Kinh, quê ở xã Hải Khê, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Khi hy sinh, đồng chí là chính trị viên xã đội, bí thư chi bộ xã Hải Khê, huyện Hải Lăng, tỉnh Bình Trị Thiên, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Trần Thị Tâm tham gia cách mạng từ năm 17 tuổi. Từ năm 1968 đến năm 1971, địch ra sức càn quét, triệt phá xóm làng, dồn dân vào khu tập trung, đồng chí kiên trì bám đất, bám dân, xây dựng, củng cố cơ sở, củng cố phong trào, tổ chức đánh địch, bảo vệ nhân dân. Hai lần bị địch bắt tra tấn dã man, đồng chí kiên trì chịu đựng, giữ vững khí tiết cách mạng, không hề xưng khai.

   Đồng chí đã góp phần tích cực cùng cán bộ địa phương xây dựng được đội du kích từ 7 người lên 100 người, tổ chức các đoàn thể quần chúng: thanh niên, phụ nữ, thiếu nhi...; đẩy mạnh phong trào quần chúng đấu tranh chống phá kìm kẹp, đồng thời làm công tác binh vận, địch vận đạt nhiều kết quả tốt.

   Trong nhiệm vụ chiến đấu, Trần Thị Tâm luôn dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, có nhiều cách đánh hay. Nhiều lần thấy máy bay lên thẳng địch bay thấp sát mặt đồi, đồng chí nghĩ cách làm bù nhìn trong có gài mìn, đặt trên đỉnh đồi. Một máy bay lên thẳng Mỹ bay đến, luồng gió do cánh quạt máy bay tạo thành làm bù nhìn lay động, mìn nổ, máy bay rơi, 3 tên Mỹ chết.

   Trần Thị Tâm đã cùng tổ du kích diệt 180 tên địch, phá hủy 4 xe quân sự. Riêng đồng chí diệt 30 tên, phá hủy 2 xe ô tô, 1 máy bay lên thẳng.

   Trần Thị Tâm tích cực vận động nhân dân cất giấu, nuôi dưỡng 100 thương binh được chu đáo, an toàn.

   Ngày 22 tháng 2 năm 1972, Trần Thị Tâm cùng tổ du kích chiến đấu dũng cảm với lực lượng địch đông gấp bội và đã hy sinh sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

   Trần Thị Tâm được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 2 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua.

   Ngày 19 tháng 5 năm 1972, Trần Thị Tâm được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 25 Tháng Năm, 2013, 04:33:15 pm
ANH HÙNG TRẦN PHƯỚC YÊN


   Trần Phước Yên sinh năm 1947, dân tộc Kinh, quê ở xã Thạch Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình, nhập ngũ năm 1965. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là tiểu đội phó thuộc đại đội 42 súng máy cao xạ 12,7 tiểu đoàn 30 trung đoàn 40 Bộ tư lệnh mặt trận Tây Nguyên, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ cuối năm 1965 đến năm 1972, Trần Phước Yên hoạt động ở chiến trường Tây Nguyên. Trong chiến đấu, đồng chí luôn nêu cao tinh thần dũng cảm, mưu trí, góp phần tích cực cùng khẩu đội bắn rơi 35 máy bay Mỹ (trong đó có 6 trận, mỗi trận bắn rơi 4 chiếc).

   Đầu năm 1969, khẩu đội Trần Phước Yên làm nhiệm vụ chi viện bộ binh vây ép địch tại Plây Cần. Máy bay địch đánh phá ác liệt, đổng chí bình tĩnh giữ vững quyết tâm đánh địch. Có lần bị thương, đồng chí vẫn chiến đấu, trực tiếp bắn rơi 3 máy bay. Trong chiến dịch, đồng chí đã bắn rơi 9 máy bay, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chi viện cho bộ binh chiến đấu.

   Trận đánh quân địch đổ bộ đường không tại ngã ba Đắc Song ngày 2 tháng 11 năm 1969, lúc máy bay xuống thấp thăm dò, Trần Phước Yên cùng khẩu đội kiên trì giữ bí mật, tạo thế bất ngờ. Khi chiếc máy bay thứ nhất hạ cánh, chiếc thứ hai xuống cách mặt đất 6 mét, Trần Phước Yên bắn loạt đạn đầu, hạ chiếc thứ 2, rồi cùng đơn vị bắn cháy chiếc thứ nhất. Sau đó, hơn 30 máy bay đến đánh phá để cứu giặc lái và đồng bọn, đồng chí cùng đơn vị chiến đấu dũng cảm, bắn rơi 5 chiếc. Riêng đồng chí được công nhận bắn rơi 4 chiếc.

   Trong chiến dịch Đắc Siêng tháng 4 năm 1970, đồng chí là khẩu đội phó, đã thay thế khẩu đội trưởng, chỉ huy khẩu đội chiến đấu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Có trận đồng chí trực tiếp làm pháo thủ số 1, bắn rơi 2 máy bay Mỹ.

   Ngoài nhiệm vụ chiến đấu, khi được phân công phụ trách tổ vận chuyển và tăng gia sản xuất, Trần Phước Yên luôn gương mẫu đi đầu trong mọi công việc. Đồng chí chỉ huy tổ vận chuyển đạt năng suất cao, đưa hàng tới đích đầy đủ, kịp thời và kiên trì vận động tổ phát nương rẫy, trồng tỉa các loại cây lương thực và rau xanh, bảo đảm vượt kế hoạch trên giao.   

   Đồng chí được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 1 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua, 7 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ.

   Ngày 19 tháng 5 năm 1972, Trần Phước Yên được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG HỒ THỊ KỶ
(LIỆT SĨ)

(http://imageshack.us/a/img89/9439/hothikyqs.jpg)


   Hồ Thị Kỷ sinh năm 1949, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Lộc, huyện Thới Bình, tỉnh Minh Hải, vào biệt động năm 1969. Khi hy sinh, đồng chí là tổ trưởng tổ biệt động bộ đội địa phương thị xã Cà Mau, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Hồ Thị Kỷ tham gia cách mạng từ năm 12 tuổi, làm liên lạc cho xã, đồng chí đã dự nhiều cuộc biểu tình từ ấp, xã kéo ra thị xã Cà Mau. Trong một số cuộc đấu tranh ở thị xã, đồng chí làm liên lạc giữa các nhóm. Hồ Thị Kỷ góp phần quan trọng vào việc xây dựng cơ sở đoàn ở xã, hăng hái tham gia xây dựng xã, ấp chiến đấu, gài mìn tiêu diệt địch.

   Năm 1969, Hồ Thị Kỷ được bổ sung vào đội biệt động của thị xã. Trong thởi gian này, ông thân sinh ra chị chết, anh ruột là bộ đội hy sinh, gia đình chỉ còn một mẹ già, hai em gái nhỏ, chị dâu và một cháu nhỏ. Hoàn cảnh khó khăn như vậy, nhưng với lòng yêu quê hương, làng xóm, và căm thù địch cao độ, Hồ Thị Kỷ quyết định ở lại thị xã cải trang đi làm công để hoạt động.

   Trong vòng một năm ở đội biệt động thị xã, lúc nào đồng chí củng tỏ rõ nhiệt tình, dũng cảm đánh địch. Hồ Thị Kỷ đã mưu trí vượt qua sự canh phòng, ngăn chặn của địch, đánh 7 trận trong thị xã, trận nào cũng tiêu diệt được nhiều địch và phương tiện chiến tranh của chúng. Đặc biệt, trận đánh ty cảnh sát ngụy ngày 3 tháng 4 năm 1970, Hồ Thị Kỷ cải trang, trinh sát mục tiêu nhiều lần, tìm hiểu kỹ quy luật hoạt động của địch. Theo kế hoạch, tổ đồng chí có nhiệm vụ đem quả bom nổ chậm vào diệt bọn cảnh sát ác ôn; khi nào tổ rút ra an toàn thì mìn mới nổ, nhưng đề phòng tình huống bất trắc có thể xảy ra, đồng chí tích cực tập động tác cho mìn nổ ngay và sẵn sàng hy sinh cho trận đánh thắng lợi.

   Sáng ngày 3 tháng 4 năm 1970, Hồ Thị Kỷ dẫn tổ vào gần mục tiêu thì bọn cảnh sát đang tập trung để hành quân. Trước tình hình địch có sự thay đổi, xét thấy thời cơ diệt địch rất tốt, đồng chí quyết định cho tổ lùi lại, còn mình ôm mìn lao thẳng vào đội hình địch. Mìn nổ, 27 tên cảnh sát khét tiếng gian ác bị tiêu diệt, 3 xe quân sự bị cháy. Hồ Thị Kỷ anh dũng hy sinh. Tinh thần vì nước quên mình của chị đã để lại cho đồng bào, đồng chí sự khâm phục và kính trọng.

   Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 5 bằng khen và giấy khen.

   Ngày 19 tháng 5 năm 1972, Hồ Thị Kỷ được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 25 Tháng Năm, 2013, 04:36:04 pm
ANH HÙNG NGUYỄN MINH CHỮ

(http://imageshack.us/a/img541/8770/nguyenminhchu.jpg)


   Nguyễn Minh Chữ sinh năm 1946, dân tộc Kinh, quê ở xã Thới Lai, huyện Ô Môn, tỉnh Cần Thơ, nhập ngũ tháng 5 năm 1964. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là chính trị viên phó tiểu đoàn 6 bộ binh bộ đội chủ lực miền Đông Nam Bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Nguyễn Minh Chữ tham gia du kích từ tháng 10 năm 1963, đến tháng 5 năm 1964 đồng chí vào bộ đội tỉnh, tháng 5 năm 1965 chuyển lên bộ đội chủ lực miền Đông Nam Bộ.

   Tháng 10 năm 1969, sau khi học lớp y tá, Nguyễn Minh Chữ được điều về đại đội 12, tiểu đoàn 6, bộ đội miền Đông. Trong thời gian làm y tá, đồng chí đâ tham gia đánh 19 trận, trận nào cũng làm tốt công tác băng bó, cấp cứu, vận chuyển thương binh, nhiều trận trực tiêp tham gia tiêu diệt địch.

   Tháng 6 năm 1970, đồng chí được giao nhiệm vụ làm chính trị viên phó đại đội 12, sau lên chính trị viên. Nguyễn Minh Chữ đã chỉ huy đơn vị đánh nhiều trận, trận nào cũng dũng cảm, kiên cường tiến công địch. Khi bị thương nặng vẫn không rời trận địa. Đơn vị đồng chí đã diệt hàng trăm tên địch, được tặng Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba. Riêng Nguyễn Minh Chữ diệt 70 tên, bắt sống 9 tên, phá hủy 3 xe quân sự, thu 11 súng các loại.

   Đặc biệt, trong trận đánh Ta Xết tháng 3 năm 1970, Nguyễn Minh Chữ được giao nhiệm vụ làm trung đội trưởng, kiêm y tá đại đội. Khi đơn vị đang tiếp cận trận địa thì bị lộ, địch bắn ra dữ dội, 2 trung đội bị lạc, đồng chí băng qua hỏa lực địch, tìm bộ phận lạc trở về đội hình chiến đấu kịp thời. Khi nổ súng, Nguyễn Minh Chữ chỉ huy nhanh nhẹn, dũng cảm, vừa tiêu diệt địch, vừa băng bó, cấp cứu cho đồng đội. Trận đánh kết thúc, địch bắn pháo vào trận địa như đổ đạn, đồng chí ở lại tìm kiếm, băng bó, cấp cứu và lần lượt chuyển 4 thương binh ra nơi an toàn, đưa được cả súng của thương binh về đơn vị.

   Đồng chí được tặng thưởng 3 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 1 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua, 2 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ.

   Ngày 19 tháng 5 năm 1972, Nguyễn Minh Chữ được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG PHAN HỮU GIẢNG
(LIỆT SĨ)

(http://imageshack.us/a/img443/5121/phanhuugiang.jpg)


   Phan Hữu Giảng sinh năm 1949, dân tộc Kinh, quê ở xã Lê Hồng, huyện Ninh Thanh, tỉnh Hải Hưng, nhập ngũ năm 1967. Khi hy sinh, đồng chí là trung đội phó bộ binh thuộc đại đội 12 tiểu đoàn 4 trung đoàn 2 sư đoàn 9, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ tháng 9 năm 1967 đến tháng 7 năm 1971, Phan Hữu Giảng tham gia chiến đấu ở chiến trường Nam Bộ, đã đánh 7 trận lớn, trận nào cũng dũng cảm, kiên quyết vượt mọi khó khăn, ác liệt để tiêu diệt địch. Nhiều trận đồng chí bị thương nhưng vẫn ở lại chiến đấu cho tới khi trận đánh kết thúc.

   Trong trận đánh Gò Nổi ngày 8 tháng 9 năm 1969, Phan Hữu Giảng bị sốt rét nên thể lực rất yếu. Đơn vị cho đi viện, nhưng đồng chí xin ở lại tham gia chiến đấu. Được lệnh nổ súng, đồng chí dùng trung liên bắn manh liệt vào đội hình địch, tạo thuận lợi cho đơn vị xung phong áp đảo địch ngay từ phút đầu. Phan Hữu Giảng bị thương vào chân, tay và sườn, nhưng vẫn bám sát đội hình đơn vị, đánh địch suốt đêm. Khi đơn vị rút ra, Phan Hữu Giảng bị lạc, gặp một đồng đội bị thương nặng. Mặc dù bản thân đang bị thương, đồng chí vẫn cố gáng dìu đồng đội tìm về đơn vị.

   Trận đánh địch càn quét ở Bàu Châu É ngày 5 tháng 10 năm 1969, Phan Hữu Giảng chỉ huy trung đội cùng đại đội chiến đấu suốt một ngày. Địch ngoan cố tổ chức nhiều đợt tiến công và bắn phá rất dữ dội. Đơn vị chiến đấu tới trưa chỉ còn 6 tay súng. Đồng chí dùng cả trung liên, B.40, tiểu liên, lựu đạn... để diệt địch. Bắn hết đạn của thương binh, Phan Hữu Giảng đi thu súng đạn của địch để đánh địch. Sau một ngày chiến đấu quyết liệt, đồng chí góp phần quan trọng cùng đại đội đánh tan 1 tiểu đoàn lính Mỹ, giữ vững trận địa, bảo vệ được thương binh. Riêng đồng chí diệt 40 tên Mỹ.

   Trận đánh Công Pông Thơm ngày 31 tháng 7 năm 1971, khi chiếm được trận địa, trung đội đồng chí bị địch bắn pháo trúng đội hình. Một số anh em bị thương, số còn lại do Phan Hữu Giảng chỉ huy vẫn tiếp tục vọt lên, lao thẳng vào đồn địch. Vào đến công sự tiền duyên, đồng chí bị thương gãy một chân, được phép lui về phía sau, nhưng đồng chí xin ở lại chỉ huy chiến đấu. Còn một chân, đồng chí vừa bò, vừa phát hiện mục tiêu cho trung đội diệt địch. Bản thân đồng chí dùng thủ pháo đánh sập 4 hầm, diệt nhiều tên địch. Sau 15 phút chiến đấu quyết liệt Phan Hữu Giảng lại bị thương gãy tiếp chân còn lại. Thấy đồng chí bị gãy cả hai chân, anh em định dìu về phía sau, Phan Hữu Giảng chỉ tay về phía trước và nói: "Nhiệm vụ của các đồng chí lúc này là nhanh chóng diệt sở chỉ huy địch; tôi sẽ đánh bọn địch ở gần". Nói xong, Phan Hữu Giảng lê đến bên một đồng đội bị hy sinh, lấy súng và lựu đạn, rồi trườn dưới làn hỏa lực địch, tiêu diệt một số hỏa điểm. Lời nói và hành động đầy khí phách anh hùng của Phan Hữu Giảng đã động viên, cổ vũ toàn đơn vị xông lên tiêu diệt địch, làm chủ trận địa. Đồng chí đã anh dũng hy sinh sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

   Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 1 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua, 3 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ.

   Ngày 19 tháng 5 năm 1972, Phan Hữu Giảng được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 27 Tháng Năm, 2013, 04:23:49 pm
ANH HÙNG NGUYỄN VĂN PHÙNG

(http://imageshack.us/a/img198/8605/nguyenvanphung.jpg)


   Nguyễn Văn Phùng sinh năm 1948, dân tộc Kinh, quê ở xã Đức Long, huyện Quế Võ, tỉnh Hà Bắc, nhập ngũ tháng 5 năm 1967. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là y tá, trung đội phó đại đội 7 tiểu đoàn 2 trung đoàn 141 sư đoàn 7, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ năm 1968 đến năm 1972,   Nguyễn Văn Phùng đã tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu 19 trận; trận nào củng dũng cảm, vừa làm tốt chức trách y tá, cứu chữa thương binh kịp thời, vừa chiến đấu diệt 42 tên địch, bắn cháy 2 xe tăng, phá hủy 3 đại liên, bắt 5 tù binh.

   Khi chiến đấu Nguyễn Văn Phùng luôn bám sát đơn vị, dúng cảm vượt qua mọi khó khăn, nguy hiểm, kịp thời băng bó và chuyển thương binh đến nơi an toàn.

   Trong trận đánh Crếp ngày 25 tháng 7 năm 1970, đơn vị đang chiến đấu thì một đồng chí bị thương vào mắt, Nguyễn Văn Phùng nhanh chóng vượt qua pháo đạn, băng bó và cõng thương binh ra nơi an toàn.

   Cùng ngày, đang băng bó cho thương binh thì địch phản kích, Nguyễn Văn Phùng dùng súng của thương binh chiến đấu diệt 5 tên địch.

   Ngày 9 tháng 10 năm 1971, trong lúc đang băng bó cho 3 đồng đội bị thương nặng thì địch tiến đến. Nguyễn Văn Phùng nhanh chóng dùng lê đâm chết 1 tên địch, sau đó nổ súng diệt thêm 4 tên, thu 2 súng, bảo vệ thương binh an toàn.

   Nguyễn Văn Phùng đã băng bó, cấp cứu cho hơn 40 thương binh tại trận địa (có 7 ca trọng thương), đồng chí hết lòng chăm sóc thương bệnh binh, chấp hành tốt chính sách thương binh tử sĩ trong những điều kiện gay go, quyết liệt nhất.

   Đồng chí được tặng thưởng 3 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 2 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua, 4 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ, 10 bằng khen, giấy khen.

   Ngày 19 tháng 5 năm 1972, Nguyễn Văn Phùng được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG VI VĂN VINH

(http://imageshack.us/a/img811/9451/vivanvinh.jpg)


   Vi Văn Vinh sinh năm 1938, dân tộc Kinh, quê ở xã Phú Hòa, huyện Tân Yên, tỉnh Hà Bắc, nhập ngũ tháng 9 năm 1966. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đại đội trưởng đại đội 5 pháo mặt đất thuộc tiểu đoàn 10 trung đoàn 96 Đoàn 75, bộ đội chủ lực Đông Nam Bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Tháng 8 năm 1967, Vi Văn Vinh hành quân cùng đơn vị từ miền Bắc vào chiến trường Tây Nguyên, sau chuyển vào miền Đông Nam Bộ. Trưởng thành từ chiến sĩ lên cán bộ đại đội, ở cương vị nào đồng chí cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Vi Văn Vinh đã tham gia chiến đấu và chỉ huy đơn vị đánh 116 trận. Trận đánh nào đồng chí cũng dũng cảm, chỉ huy kiên quyết, táo bạo, bị thương không rời trận địa, bảo vệ tốt thương binh tử sĩ. Vi Văn Vinh đã trực tiếp đánh bộ binh, cơ giới, tàu chiến và máy bay địch (riêng đánh bằng súng bộ binh diệt 70 tên). Đơn vị do đồng chí chỉ huy đã diệt hàng nghìn tên địch, bắn rơi hàng chục máy bay, bắn chìm hàng chục tàu chiến và phá hủy nhiều xe quân sự địch.

   Trong chiến đấu, Vi Văn Vinh luôn dũng cảm đi đầu, dù khó khăn gian khổ đến mức nào đồng chí cũng tìm cách khâc phục, bảo đảm thắng lợi cho trận đánh.

   Đặc biệt ngày 31 tháng 1 năm 1968, Vi Văn Vinh cùng đơn vị pháo kích vào Lai Khê. Sau khi trung đoàn rút về hậu cứ, tổ đồng chí được giao nhiệm vụ ở lại chốt giữ trận địa. Mặc cho địch tập trung máy bay và pháo bắn vào trận địa, tổ đồng chí vẫn kiên trì bám trụ. Suốt 5 ngày chiến đấu liên tục, tổ Vi Văn Vinh diệt 300 tên Mỹ, bắn cháy 12 máy bay, bảo vệ tốt mục tiêu.

   Trận đánh vào dinh "Độc Lập" ngày 18 tháng 5 năm 1968, đồng chí chỉ huy tiểu đội vượt qua nhiều đồn bốt, vào cách mục tiêu 500 mét. Sau khi nổ súng, Vi Văn Vinh kiểm tra thấy 5 quả đạn còn nằm trên bệ phóng. Pháo địch bắn như đổ đạn, không thể vác đạn quay ra, cũng không được bỏ phí đạn, đồng chí đề nghị đại đội cho ở lại sửa chửa bộ phận điện để phóng nốt 5 quả đạn. Cuối cùng, 5 quả đạn đã phóng trúng mục tiêu.

   Đêm 11 tháng 5 năm 1969, Vi Văn Vinh được giao nhiệm vụ chỉ huy khẩu đội cối 82 chi viện cho bộ binh tiêu diệt bọn lính Mỹ ở Bến Cát. Khi nổ súng, địch phản pháo dữ dội. Khẩu đội bắn được 20 quả đạn thì một quả pháo địch nổ gần, đồng chí bị ba vết thương, nòng pháo bị thủng. Tuy máu ra nhiều, Vi Văn Vinh vẫn nén chịu, chỉ huy khẩu đội kết hợp cùng khẩu đội bạn đánh địch. Nhờ đặt cối sát hàng rào địch, nên bắn rất chính xác, chi viện đắc lực cho bộ binh nhanh chóng tiêu diệt địch, làm chủ chiến trường. Khi khẩu đội hoàn thành nhiệm vụ, Vi Văn Vinh phân công anh em khỏe khiêng thương binh, còn mình vác nòng cối và dìu 2 thương binh về nơi an toàn.

   Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 4 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thí đua, 9 bằng khen, giấy khen.

   Ngày 19 tháng 5 năm 1972, Vi Văn Vinh được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 27 Tháng Năm, 2013, 04:26:18 pm
ANH HÙNG ĐINH CÔNG CHẤN

(http://imageshack.us/a/img268/4941/dinhcongchan.jpg)


   Đinh Công Chấn sinh năm 1947, dân tộc Kinh, quê ở xã Quảng Nham, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa, nhập ngũ tháng 9 năm 1965. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là trung đội trưởng thuộc đại đội 2 tiểu đoàn 49 vận tải Cục hậu cần Bộ tư lệnh 559, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ tháng 7 nám 1966 đến năm 1971, Đinh Công Chấn liên tục làm đường và tham gia vận tải bằng xe đạp trên tuyến đường thuộc Bộ Tư lệnh 559. Đồng chí vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ, liên tục bám đường, lảm việc không kể ngày đêm đưa năng suất làm đường từ 25 mét lên 52 mét một ngày.

   Tháng 9 năm 1968, Đinh Công Chấn chuyển sang công tác vận tải, thường xuyên dẫn đầu đơn vị về năng suất thồ hàng. Trong năm 1968, đồng chí đi sâu nghiên cứu cách thồ, tải, từ chỗ thồ 280 ki-lô-gam lên 350 ki-lô-gam mỗi chuyến. Năm 1970, Đinh Công Chấn chỉ huy trung đội đưa năng suất thồ bình quân lên 415 ki-lô-gam mỗi chuyến. Riêng đồng chí thồ nhiều chuyến lên tới 550 ki-lô-gam.

   Trên đường vận chuyển, địch đánh phá liên tục, thời tiết khắc nghiệt, Đinh Công Chấn luôn bền bỉ, hăng say làm việc, có ý thức trách nhiệm bảo vệ tốt hàng hóa, xe, thuyền. Trong 3 năm làm công tác vận chuyển, đồng chí chưa hề để mất mát, hư hỏng một thứ gì. Trên đường vận chuyển dù khó khăn, ác liệt đến đâu, đồng chí cũng kiên quyết đưa hàng đến đích, đúng thời gian quy định. Những lúc gặp nguy hiểm, đồng chí sẵn sàng lao vào cứu đồng đội.

   Năm 1969, có lần Đinh Công Chấn đang chuyển hàng qua sông thì máy bay địch đến đánh phá, thuyền đắm, đồng chí nhanh chóng dìu được 1 người không biết bơi vào bờ, sau đó, tiếp tục ngâm mình dưới nước 8 giờ liền, mò bằng được 4 khẩu súng và 1 chiếc xe đạp.    Tháng 9 năm 1970, trong lúc Đinh Công Chấn chèo chiếc thuyền không đến giữa sông thì gặp thuyền của đơn vị bạn chở đầy hàng có nguy cơ đâm. Đồng chí nhanh chóng làm đắm thuyền mình để khỏi va vào thuyền bạn, rồi bơi đến kéo thuyền bạn vào bờ. Sau đó lại ra vớt thuyền mình lên.

   Trên đường vận chuyển, Đinh Công Chấn thường xuyên chỉ huy trung đội đánh biệt kích, bảo vệ hàng. Riêng đồng chí diệt được 10 tên địch.

   Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 14 bằng khen, giấy khen.

   Ngày 19 tháng 5 năm 1972, Đinh Công Chấn được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG TRẦN VĂN CHÍN

(http://imageshack.us/a/img829/5327/tranvanchin.jpg)


   Trần Văn Chín sinh năm 1946, dân tộc Kinh, quê ở xã Hàm Liêm, huyện Hàm Thuận, tỉnh Bình Thuận, nhập ngũ năm 1966. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đại đội phó bộ binh, thuộc tiểu đoàn 1 trung đoàn 4, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ năm 1966 đến năm 1971, Trần Văn Chín đá tham gia đánh 63 trận, trận nào cũng dũng cảm, mưu trí, linh hoạt, kiên quyết tiến công địch, khâc phục mọi khó khăn, gian khổ để hoàn thành nhiệm vụ. Đơn vị do đồng chí phụ trách đã diệt hàng nghìn tên địch. Riêng Trần Văn Chín diệt 95 tên (có 51 tên Mỹ), bắn rơi 1 máy bay, thu 4 súng và nhiều đồ dùng quân sự.

   Tháng 6 năm 1966, Trần Văn Chín tham gia đánh trận đầu tiên ở Tam Bo, làm nhiệm vụ vác đạn trung liên. Khi đơn vị đang chiến đấu, một đồng đội hy sinh, đồng chí nhanh chóng lấy khẩu AK để đánh địch. Với khẩu AK đó, đồng chí xung phong mãnh liệt vào đội hình quân địch, diệt gần chục tên. Bị thương vào tay, Trần Văn Chín tự băng bó rồi tiếp tục chiến đấu cho tới khi trận đánh kết thúc.

   Trận đánh Kim Long tháng 4 năm 1967, Trần Văn Chín làm nhiệm vụ vác đạn trung liên. Khi chiến đấu, đồng chí bắn trung liên hy sinh, đồng chí lập tức thay thế. Thấy địch vào gần, đồng chí dùng thủ pháo ném liền 3 quả, diệt nhiều tên; sau đó dùng trung liên diệt bọn còn lại, tạo thuận lợi cho đơn vị diệt gọn 1 đại đội địch.

   Đầu năm 1968, Trần Văn Chín tham gia đánh sân bay Biên Hòa. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, đồng chí bị lạc. Trên đường tìm về đơn vị, đồng chí gặp một đồng đội bị thương. Mặc dù bị đói 4 ngày, đồng chí vẫn kiên trì cõng thương binh về đơn vị.

   Ngày 6 tháng 6 năm 1970, địch tập kích vào một cơ quan của ta. Cơ quan ít người nên việc đánh trả địch gặp khó khăn. Đồng chí được lệnh cùng một tổ đến chi viện. Đồng chí cùng tổ kiên trì chiến đấu, đẩy lùi 4 đợt tiến công của địch. Bị thua đau, địch cho máy bay đến đánh phá dữ dội, Trần Văn Chín dùng súng bộ binh bắn rơi 1 chiếc ngay tại chỗ.

   Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 3 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua, 55 bằng khen, giấy khen.

   Ngày 19 tháng 5 năm 1972, Trần Văn Chín được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 27 Tháng Năm, 2013, 04:29:24 pm
ANH HÙNG NGÔ XUÂN ĐỆ

(http://imageshack.us/a/img850/5545/ngoxuande.jpg)


   Ngô Xuân Đệ sinh năm 1942, dân tộc Kinh, quê ở xã Nguyễn Úy, huyện Kim Bảng, tỉnh Nam Hà, nhập ngũ tháng 1 năm 1961, xuất ngũ tháng 4 năm 1963, tái ngũ tháng 6 năm 1965. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là chính trị viên phó tiểu đoàn 810 thuộc Quân khu 6, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Mùa khô năm 1961 - 1962, Ngô Xuân Đệ hoạt động ở chiến trường Lào, đã tham gia đánh 2 trận đều hoàn thành tốt nhiệm vụ.

   Từ năm 1966 đến năm 1972, Ngô Xuân Đệ đã chỉ huy đơn vị đánh 31 trận, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Ở cương vị chỉ huy, những trận đánh nào gặp khó khăn, đồng chí cũng xông lên hàng đầu, trực tiếp giải quyết khó khăn, tạo thuận lợi cho đơn vị tiến lên tiêu diệt địch. Đồng chí đã chỉ huy đơn vị diệt hàng nghìn tên địch. Riêng đồng chí diệt 270 tên.

   Trong trận đánh sân bay Liên Khương, Ngô Xuân Đệ là chính trị viên đại đội. Khi đơn vị tiến sát mục tiêu, đồng chí bò lên trước quan sát, thấy địch đông và đi lại nhốn nháo. Để đảm bảo bí mật, đồng chí đã cùng một chiến sĩ bò lên cắt 5 lớp rào dây thép gai, mở cửa cho đơn vị bí mật luồn vào gần địch. Khi được lệnh nổ súng, Ngô Xuân Đệ dẫn đầu đơn vị nhanh chóng thọc sâu, chia cắt địch làm chúng không kịp trở tay. Sau 7 phút chiến đấu, đơn vị diệt 150 tên địch, làm chủ trận địa, thu hàng chục súng các loại.

   Trận đánh yếu khu Đùn Pao tháng 11 năm 1969, khi đơn vị tiếp cận trận địa, đồng chí được anh em trinh sát báo địch mới đổ thêm quân, hướng ta định mở cửa địch treo một ngọn đèn dầu. Nhiều người phán đoán là đã bị lộ. Để nắm chắc tình hình địch, Ngô Xuân Đệ bò vào tận hàng rào quan sát, đồng thời làm tắt đèn mà địch vẫn không phản ứng. Đồng chí về bàn với ban chỉ huy và quyết định đánh. Lợi dụng chỗ sơ hở của địch, đồng chí điều một tổ luồn vào diệt sở chỉ huy của địch rồi đánh từ trong ra. Đại bộ phận đơn vị từ ngoài đánh vào, chỉ sau 7 phút chiến đấu, 1 đại đội địch bị diệt gọn.

   Ngô Xuân Đệ được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 1 Chiến sĩ thi đua, 3 bằng khen và giấy khen.

   Ngày 19 tháng 5 năm 1972, Ngô Xuân Đệ được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG TRẦN VĂN CÔI
(LIỆT SĨ)


   Trần Văn Côi, sinh năm 1947, dân tộc Kinh, quê ở xã Đức Phong, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, nhập ngũ tháng 4 năm 1968. Khi hy sinh, đồng chí là đại đội phó đại đội 5 đặc công thuộc tiểu đoàn 810, bộ đội địa phương tỉnh Tuyên Đức, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Trong chiến đấu Trần Văn Côi có quyết tâm diệt địch cao. Từ năm 1968 đến tháng 1 năm 1970, đồng chí đã diệt 180 tên địch. Trần Văn Côi luôn dẫn đầu đơn vị thọc sâu, những lúc khó khăn sẵn sàng xả thân để hoàn thành nhiệm vụ. Có trận đánh hết lựu đạn, thủ pháo đồng chí nhanh chóng tự mình ra ngoài lấy thêm lựu đạn, thủ pháo vào tiếp tục chiến đấu góp phần hoàn thành thắng lợi trận đánh. Có trận đánh giáp lá cà, tay không vật lộn với địch, đồng chí dùng răng cắn địch làm cho nó bật ra, tạo thời cơ tiêu diệt.    Trong trận đánh điểm A tháng 1 năm 1970, Trần Văn Côi chỉ huy một bộ phận đánh lui nhiều đợt phản kích của 1 tiểu đoàn địch trong ngày. Đồng chí bị thương nặng vẫn gắng hết sức mình bò đến từng chiến sĩ, động viên anh em và đã anh hũng hy sinh trong khi làm nhiệm vụ.

   Trần Văn Côi đã được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công giải phóng hạng ba, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba.

   Ngày 19 tháng 5 năm 1972, Trần Văn Côi được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 27 Tháng Năm, 2013, 04:33:33 pm
ANH HÙNG NGUYỄN TẤN ĐỊNH
(LIỆT SĨ)

   
   Nguyễn Tấn Định sinh năm 1952, dân tộc Kinh, quê ở xã Hồng Thịnh, quận Thuận Phong, tỉnh Bình Thuận, nhập ngũ tháng 3 năm 1968. Khi hy sinh, đồng chí là tiểu đội trưởng đặc công thuộc đại đội 5, tiểu đoàn 840, mặt trận Nam Trung Bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Sinh trưởng trong vùng giải phóng, trên quê hương có truyền thống cách mạng, gia đình Nguyễn Tấn Định có người tham gia kháng chiến: 2 anh đi tập kết ra miền Bắc, 4 anh là du kích xã. Từ năm 14 tuổi, đồng chí được các cô chú cán bộ cho tham gia du kích, làm liên lạc cho huyện. Đến tháng 3 năm 1968, đồng chí nhập ngũ vào đại đội 5, tiểu đoàn 840 Nam Trung Bộ.

   Đồng chí đã tham gia đánh hàng chục trận, trận nào cũng hoàn thành nhiệm vụ. Từ tháng 3 năm 1968 đến tháng 3 năm 1970, Nguyễn Tấn Định đã tiêu diệt 140 tên địch, trong đó có 40 tên Mỹ, phá hủy 10 xe tăng và nhiều lô cốt, hầm ngầm của địch.

   Một số trận tiêu biểu:

   - Trận đánh vào căn cứ Sông Mao (5-1969). Trận này đồng chí là tổ trưởng tổ thọc sâu. Đến giờ nổ súng, Nguyễn Tấn Định dẫn đầu tổ bộc phá phá nốt 3 hàng rào cuối cùng, mở đường cho đơn vị tiến vào căn cứ địch. Địch phản kích quyết liệt. Một người trong tổ bị thương, đồng chí băng bó và động viên chiến sĩ đó nằm lại ở một vị trí an toàn, còn mình tiếp tục dẫn đầu cả tổ tiến vào sở chỉ huy địch. Đồng chí đặt khối thuốc nổ lớn vào ngay nhà lầu, nơi làm việc của bọn chỉ huy và giật nổ, phá hủy phần lớn ngôi nhà, tạo thuận lợi cho cả đơn vị xông lên diệt các mục tiêu khác trong căn cứ. Khi có lệnh rút, Nguyễn Tấn Định đã quay ra tìm chiến sĩ bị thương và dìu về căn cứ an toàn. Sau trận này đồng chí được anh em gọi là "mũi dao nhọn của đơn vị".

   - Tháng 12 năm 1969, đồng chí tham gia đánh trận An Phước (trung tâm huấn luyện bọn bảo an, dân vệ ở Ninh Thuận). Đồng chí được giao làm mũi phó kiêm tổ trưởng tổ thọc sâu. Mũi chiến đấu gồm 7 đồng chí nhưng khi đi đến gần đường sắt thì 4 đồng chí bị lạc. Lúc này đã gần đến giờ hiệp đồng nổ súng. Đồng chí bàn với mũi trưởng là cứ đánh theo phương án đã xác định. Khi tiếp cận mục tiêu, mũi trưởng và một chiến sĩ nữa bị thương. Đồng chí nghĩ: “Còn một mình vẫn tấn công" và yêu cầu đồng chí mũi trưởng ở lại cửa mở, yểm hộ cho mình đánh vào trong. Đồng chí lấy tất cả thủ pháo, lựu đạn của cả tổ, vọt lên đánh vào các dãy nhà, hầm ngầm và lô cốt của địch. Khi có lệnh lui quân, đồng chí trở vào, đến hàng rào thì lại phát hiện có một hỏa điểm của địch "còn sót", đang bắn ra phía cửa mở. Đồng chí liền quay lại, dùng thủ pháo tiêu diệt nốt hỏa điểm này, rồi đi tìm đồng chí mũi trưởng và chiến sĩ bị thương dìu về căn cứ.

   - Ngày 31 tháng 3 năm 1970, trong trận đánh căn cứ Sông Mao lần thứ năm, Nguyễn Tấn Định lại được giao nhiệm vụ làm tổ trưởng tổ thọc sâu. Khi có lệnh nổ súng, đồng chí phá nốt hàng rào cuối cùng, rồi dẫn tổ lao lên tiêu diệt 1 xe M.113 của địch. Địch tập trung hỏa lực bắn chặn quyết liệt. Chiến sĩ xạ thủ B.40 bị thương, Nguyễn Tấn Định liền lấy khẩu B.40 của chiến sĩ đó bắn xe tăng địch, tạo thời cơ cho đơn vị đánh phá những cụm xe khác của địch. Nguyễn Tấn Định đã anh dũng hy sinh trong khi chiến đấu tiêu diệt cụm xe cuối cùng của địch trong căn cứ Sông Mao.

   Nguyễn Tấn Định luôn luôn sẵn sàng nhận khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho bạn, trong cuộc sống đồng chí có tác phong gương mẫu, giản dị, khiêm tốn, được anh em quý mến.

   Nguyễn Tấn Định đã được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công giải phóng hạng ba, 3 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 8 bằng khen và giấy khen, nhiều lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, Dũng sĩ diệt xe cơ giới, 1 lần Chiến sĩ thi đua.

   Ngày 19 tháng 5 năm 1972, Nguyễn Tấn Định được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG KIỀU NGỌC LUÂN
(LIỆT SĨ)

(http://imageshack.us/a/img96/5364/kieungocluan.jpg)


   Kiều Ngọc Luân (tức Kiều Cục) sinh năm 1942, dân tộc Kinh, nhập ngũ tháng 3 năm 1966, quê ở xã Bình Thuận, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Khi hy sinh, đồng chí là đại úy tiểu đoàn phó tiểu đoàn 9 bộ binh, trung đoàn 64 sư đoàn 320, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ tháng 3 năm 1966 đến năm 1968, Kiều Ngọc Luân chiến đấu ở 2 tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, đánh trên 50 trận, diệt 100 tên Mỹ, phá hủy 3 xe tăng, thu 4 súng AR15.

   Từ tháng 3 năm 1969 đến tháng 6 năm 1970, Kiều Ngọc Luân học tại trường quân chính Quân khu Hữu Ngạn, chịu khó học tập, thường xuyên đạt loại giỏi về các môn kỹ thuật, chiến thuật.

   Trong chiến dịch Quảng Trị năm 1972, khi làm trợ lý tác chiến của tiểu đoàn, đồng chí thường xuyên xuống trận địa chốt tham gia kế hoạch tác chiến với các đại đội. Khi trực tiếp chiến đấu, đồng chí chỉ huy đơn vị đánh 7 trận, trận nào cũng dũng cảm, mưu trí, linh hoạt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Riêng Kiều Ngọc Luân diệt được 105 tên địch.

   Trận đánh ngày 8 tháng 7 năm 1972, Kiều Ngọc Luân chỉ huy một mũi 18 người, đánh chiếm lại làng Linh Chiểu (Quảng Trị). Tuy lực lượng địch đông gấp nhiều lần, trận đánh không có pháo cấp trên chi viện, Kiều Ngọc Luân vẫn kiên quyết chỉ huy đơn vị đánh. Ngày hôm sau (9 tháng 7 năm 1972), địch cho gần 1 tiểu đoàn bộ binh, có xe tăng yểm hộ, chia làm 3 mũi, nhiều lần phản kích hòng đánh chiếm lại làng Linh Chiểu. Trận này đơn vị Kiều Ngọc Luân đánh lùi 7 đợt tiến công của địch, giữ vững trận địa. Riêng anh diệt 50 tên.

   Trận đánh Tri Bưu từ ngày 22 đến ngày 25 tháng 7 năm 1972, Kiều Ngọc Luân chỉ huy đại đội chiến đấu suốt 4 ngày liền, giành thắng lợi trước lực lượng địch đông gấp nhiều lần, diệt 150 tên, bắt 1 tù binh, thu 5 súng.

   Trận đánh ngày 26 tháng 7 năm 1972, địch huy động gần 1 tiểu đoàn, chia làm nhiều mũi đánh vào chốt, Kiều Ngọc Luân bình tĩnh chỉ huy đơn vị đánh lui 5 đợt tiến công của chúng, giữ vững chốt.

   Ngày 16 tháng 9 năm 1972, Kiều Ngọc Luân chỉ huy đơn vị đánh lui nhiều đợt phản kích ác liệt của địch, diệt nhiều tên. Trong một đợt chiến đấu quyết liệt anh đã anh dũng hy sinh.

   Khi còn sống, Kiều Ngọc Luân luôn gương mẫu trong mọi việc, đi sát giúp đỡ mọi người, luôn nhận phần khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho bạn.

   Đồng chí được tặng thưởng 5 Huân chương Chiến công giải phóng các hạng, 7 bằng khen và giấy khen, 8 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ.

   Ngày 23 tháng 9 năm 1973, Kiều Ngọc Luân được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 27 Tháng Năm, 2013, 04:36:32 pm
ANH HÙNG HOÀNG ĐĂNG MIỆN
(LIỆT SĨ)

(http://imageshack.us/a/img826/1522/hoangdangmien.jpg)


   Hoàng Đăng Miện sinh năm 1953, dân tộc Kinh, quê ở xã Thịnh Đức, huyện Gia Lương, tỉnh Hà Bắc, nhập ngũ tháng 2 năm 1971, Khi hy sinh, đồng chí là thượng sĩ, trung đội trưởng bộ binh, thuộc đại đội 9 tiểu đoàn 6 trung đoàn 165 sư đoàn 312, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ tháng 6 năm 1971. đến tháng 9 năm 1972, Hoàng Đăng Miện làm nhiệm vụ chiến đấu ở chiến trường Lào và Quảng Trị. Khi là chiến sĩ, anh đã dũng cảm, mưu trí, luôn xông xáo, táo bạo, tìm mọi cách tiêu diệt nhiều địch. Khi làm trung đội trưởng Hoàng Đãng Miện chỉ huy bình tĩnh, linh hoạt, xung phong mãnh liệt, chốt giữ kiên cường; dù khó khăn gian khổ, ác liệt thế nào cũng kiên quyết hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đơn vị do anh chỉ huy đã diệt hàng trăm tên địch. Riêng Hoàng Đăng Miện diệt 70 tên.

   Ngày 17 tháng 12 năm 1971, ở điểm cao 1664 (Xiêng Khoảng), khi có lệnh nổ súng, Hoàng Đăng Miện đã bắn 2 quả đạn B.40, diệt 2 hỏa điểm địch, diệt 12 tên, tạo điều kiện cho đơn vị bạn tiêu diệt gọn 42 tên địch trong 15 phút. Hoàng Đăng Miện sử dụng rất thành thạo súng B.40, mỗi lần bóp cò là mục tiêu bị tiêu diệt. Từ mùa mưa năm 1971, ở chiến trường Lào, Hoàng Đăng Miện được anh em trong đơn vị yêu mến tặng cho biệt danh “Bông sen thép”.

   Ngày 13 tháng 3 năm 1972, ở Ta Can (Xiêng Khoảng), mặc cho máy bay, pháo binh địch đánh rất ác liệt vào trận địa, Hoàng Đăng Miện bình tĩnh động viên mọi người chờ địch vào cách 25 mét mới nổ súng. Kết quả đơn vị đánh lui hàng chục đợt tiến công của địch, giữ vững chốt. Riêng anh diệt 23 tên.

   Ngày 9 tháng 9 năm 1972, trong khi tiến công Đồi Cháy, một điểm cao nằm ở phía đông nam Như Lệ (Quảng Trị), trước sự chống cự quyết liệt của địch, đại đội trưởng hy sinh, Hoàng Đăng Miện vừa lên thay chỉ huy đơn vị thì bị thương ngay từ đợt xung phong thứ nhất. Mặc cho máu ướt đẫm vạt áo, anh vẫn dẫn đầu mũi đột kích, xông lên. Với khẩu B.41 trong tay không có hỏa điểm nào của địch tránh khỏi quả đạn của Hoàng Đăng Miện. Giữa đợt xung phong thứ ba, anh bị thương lần thứ hai vào chân, đồng đội định băng bó nhưng Hoàng Đăng Miện nói: “Đánh, đánh kẻo mất thời cơ”. Phút chiến thắng gần đến thì một quả pháo địch nổ trước mặt, anh ngã xuống, tay vẫn ôm chặt khẩu B.41.

   Trước tấm gương hy sinh của Hoàng Đăng Miện, toàn đơn vị đã xông lên chiến đấu kiên cường, diệt 150 tên lính ngụy, làm chủ Đồi Cháy.

   Khi còn sống Hoàng Đăng Miện luôn gương mẫu đi đầu trong mọi việc, chăm lo xây dựng đơn vị tiến bộ, đoàn kết thương yêu đồng đội, khiêm tốn, giản dị, được mọi người tin yêu.

   Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 1 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ Quyết thắng, 2 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua.    Ngày 23 tháng 9 năm 1973, Hoàng Đăng Miện được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG ĐINH VĂN HÒE
(LIỆT SĨ)

(http://imageshack.us/a/img690/4292/dinhvanhoe.png)


   Đinh Văn Hòe sinh năm 1950, dân tộc Kinh, quê ở xã Xuân Hải, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, nhập ngũ tháng 6 năm 1968. Khi hy sinh, đồng chí là trung sĩ, trung đội phó đại đội 2 bộ binh cơ giới, tiểu đoàn 66 trung đoàn 202 Bộ tư lệnh Thiết giáp, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ năm 1969 đến năm 1971, Đinh Văn Hòe là chiến sĩ súng máy 12,7 mi-li-mét ở sư đoàn 304. Anh đã đánh 3 trận, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, diệt 75 tên địch, bắn rơi 2 máy bay.

Trong chiến dịch Quảng Trị năm 1972, Đinh Văn Hòe tham gia đánh 4 trận, trận nào củng kiên cường, dũng cảm, vượt mọi khó khăn, ác liệt, kiên quyết tiến công địch. Đồng chí đã cùng khẩu đội diệt 134 tên địch, bắn rơi 4 máy bay.

   Trận đánh ngày 28 tháng 4 năm 1972, mặc cho máy bay và hỏa lực bắn thẳng của địch bắn dữ dộị, Đinh Văn Hòe đã dũng cảm đưa súng lên nắp xe để bắn cho chính xác và đã diệt hơn chục tên địch. Khi thấy đồng chí chỉ huy 14,5 mi-li-mét bị thương, Đinh Văn Hòe nhanh chóng thay thế và đã bắn rơi 2 máy bay. Trận này, Đinh Văn Hòe góp phần cùng đơn vị diệt 200 tên địch, bắn cháy 7 xe tăng, bắn rơi 3 máy bay lên thẳng.

   Trận đánh ngày 30 tháng 4 năm 1972, khi cùng tổ đi nắm tình hình địch thì máy bay ập đến bắn phá. Đinh Văn Hòe nhanh chóng đến chiếc xe M.113 của địch bỏ lại từ hôm trước, dùng súng 12,7 trên xe, bắn rơi tại chỗ 1 máy bay.

   Ngày 24 tháng 5 năm 1972, máy bay địch đến đánh phá vào đội hình đơn vị, Đinh Văn Hòe dùng trung liên bắn rơi tại chỗ 1 chiếc và chỉ huy tiểu đội bắn rơi 1 chiếc khác. Số máy bay địch còn lại tháo chạy, nhờ vậy đã hạn chế được thiệt hại cho đơn vị.

   Ngày 26 tháng 5 năm 1972, mặc cho địch trong vị trí bắn ra dữ dội, Đinh Văn Hòe chỉ huy xe nhanh chóng xông vào đội hình địch, dùng cả lựu đạn, tiểu liên diệt địch, tạo thuận lợi cho các xe khác trong đại đội tiến lên. Trận đánh này, đồng chí lập công xuất sâc, diệt 84 tên địch, và đã anh dũng hy sinh.

   Khi còn sống, đồng chí thường xuyên chăm lo xây dựng đơn vị tiến bộ về mọi mặt, khiêm tốn, giản dị, luôn nhận khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho đồng đội, được đơn vị tin yêu.

   Đồng chí được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 3 bằng khen.

   Ngày 23 tháng 9 năm 1973, Đinh Văn Hòe được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 27 Tháng Năm, 2013, 04:43:06 pm
ANH HÙNG PHẠM VĂN VƯỢNG

(http://imageshack.us/a/img832/2336/phamvanvuong.jpg)


   Phạm Văn Vượng sinh năm 1943, dân tộc Kinh, quê ở xã Đồng Lý, huvện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam Ninh nay là tỉnh Nam Hà, nhập ngũ tháng 2 năm 1961, xuất ngũ tháng 4 năm 1963, tái ngũ tháng 2 năm 1967. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là trung đoàn phó trung đoàn bộ binh 66, sư đoàn 10 thuộc Mặt trận Tây Nguyên, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Tháng 4 năm 1963, sau khi hoàn thành tốt nghĩa vụ quân sự, Phạm Văn Vượng phục viên về địa phương; đến tháng 2 năm 1967, tái ngũ.

   Từ năm 1967 đến năm 1973, Phạm Văn Vượng chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên, trưởng thành từ chiến sĩ lên cán bộ trung đoàn, ở cương vị nào, anh củng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đã trực tiếp chiến đấu và chỉ huy chiến đấu nhiều trận. Đơn vị do Phạm Văn Vượng phụ trách đã diệt được hàng nghìn tên địch.

   Trận đánh điểm cao 883 ở Pu Prăng, Thu Đông năm 1969, Phạm Văn Vượng chỉ huy 1 đại đội (có 28 chiến sĩ) chiến đấu suốt 2 ngày liền với 1 tiểu đoàn địch. Khi mất liên lạc với trên, anh bình tĩnh chỉ huy đơn vị, kiên quyết tiến công địch, diệt gọn 2 trung đội, thu 13 súng, 2 máy vô tuyến điện, bọn địch còn lại phải bỏ chạy.

   Trận đánh điểm cao 935 ở Ngọc Tô Ba, ngày 27 tháng 2 năm 1971, Phạm Văn Vượng chỉ huy mưu trí, sáng tạo, phát huy mạnh mẽ hỏa lực được trang bị để vây ép địch. Địch bỏ chạy, đồng chí nhanh chóng chỉ huy đơn vị truy kích. Trận này đơn vị đồng chí đã góp phần quan trọng cùng đơn vị bạn diệt gọn 1 tiểu đoàn địch.

   Trong trận đánh điểm cao 1001 (Ngọc Rinh Rua) ngày 31 tháng 3 năm 1971, 1 tiểu đoàn địch lợi dụng công sự vững chắc, bắn ra dữ dội và nhiều lần phản kích nên các mũi của ta chưa tiến vào được; Phạm Văn Vượng nắm chắc thủ đoạn của địch, hạ quyết tâm chính xác, tổ chức lực lượng đánh vào chỗ sơ hở của địch, chia cắt địch ra từng bộ phận để diệt. Kết quả trận này, đơn vị Phạm Văn Vượng đã diệt 1 tiểu đoàn địch.

   Trận đánh Tân Cảnh ngày 24 tháng 5 năm 1972. Địch đóng ở đây 1 trung đoàn và sở chỉ huy tiền phương của sư đoàn 22 ngụy, có nhiều hầm ngầm, công sự vững chẳc, nhiều hàng rào, bãi mìn; Phạm Văn Vượng bình tĩnh, dũng cảm chỉ từng mục tiêu cho đơn vị đánh: khi bị thương, đồng chí không rời trận địa, tiếp tục chỉ huy đơn vị cho tới khi trận đánh kết thúc. Trận này đơn vị Phạm Văn Vượng đã góp phần tích cực cùng trung đoàn diệt gọn sở chỉ huy sư đoàn và 1 trung đoàn địch.

   Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba.

   Ngày 23 tháng 9 năm 1973, Phạm Văn Vượng được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG NGUYỄN THẾ THAO

(http://imageshack.us/a/img14/904/nguyenthethao.jpg)


   Nguyễn Thế Thao sinh năm 1944, dân tộc Kinh, quê ở xã Quỳnh Hoàng, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, nhập ngũ tháng 4 năm 1962, xuất ngũ tháng 3 năm 1964, tái ngũ tháng 8 năm 1967. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là thượng úy, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 6 bộ binh, trung đoàn 165 sư đoàn 312, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Tháng 4 năm 1962, Nguyễn Thế Thao nhập ngũ, tháng 3 năm 1964 chuyển ra công tác tại Khu gang thép Thái Nguyên. Tháng 6 năm 1967, theo tiếng gọi chống Mỹ, cứu nước của Đảng, đồng chí tái ngũ. Sau 2 năm huấn luyện, cuối năm 1969, Nguyễn Thế Thao được đi trong đội ngũ của sư đoàn 312 sang làm nhiệm vụ quốc tế ở chiến trường Lào. Tháng 7 năm 1972, sư đoàn được lệnh trở về chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị, đồng chí lại cùng đơn vị trở về Tổ quốc. Trong 16 trận trực tiếp tham gia chiến đấu, trận nào Nguyễn Thế Thao củng bình tĩnh, dũng cảm, mưu trí, dù khó khăn gian khổ thế nào cúng cùng đơn vị kiên quyết vượt qua, giành thắng lợi. Hai lần bị thương trong lúc đang chiến đấu, đồng chí đều không rời trận địa. Trong quá trình chỉ huy chiến đấu, đơn vị Nguyễn Thế Thao đã diệt gần 800 tên địch, bắt 10 tên. Riêng đồng chí diệt 10 tên, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

   Trận tập kích sân bay Lũng Mạc (Xiêng Khoảng) ngày 8 tháng 4 năm 1970, Nguyễn Thế Thao dẫn đầu trung đội đánh vào khu vực được phân công, diệt gọn 1 trung đội địch (32 tên). Sau đó, đồng chí phụ trách một tổ chốt giữ trận địa, bảo vệ thương binh. Ngày hôm sau, 1 tiểu đoàn địch có máy bay, pháo binh yểm trợ, phản kích lên chốt. Tuy bị thương, Nguyễn Thế Thao vẫn không rời trận địa, chỉ huy tổ chiến đấu suốt ngày, đánh lui hơn chục đợt phản kích của địch, diệt hàng chục tên, riêng đồng chí diệt 4 tên. Chốt được giữ vững, thương binh được bảo vệ an toàn.

   Trận phục kích ở chân điểm cao 1300 (Cánh Đồng Chum) ngày 19 tháng 3 năm 1972, khi thấy địch ở cứ điểm bên cạnh tháo chạy, Nguyễn Thế Thao đã mưu trí dùng các-bin của địch, bắn phát một để lừa địch. Địch tưởng là đồng bọn, xô nhau chạy về hướng trận địa phục kích của ta. Đồng chí dẫn đầu đơn vị xông lên diệt hốt tốp này đến tốp khác. Trận này, toàn đại đội của anh diệt 89 tên địch, thu nhiều vũ khí.

   Trong trận Đồi Cháy (Quảng Trị), một cứ điểm ta đánh nhiều lần chưa giải quyết được, Nguyễn Thế Thao đã nhiều đêm cùng tổ trinh sát tiểu đoàn bò vào nắm tình hình địch trong cứ điểm. Đồng chí chủ động xin cấp trên cho đơn vị mình đánh. Đêm 9 tháng 9 năm 1972, trận đánh diễn ra rất quyết liệt. Địch bắn dữ dội ngăn chặn đường tiến quân của ta. Nguyễn Thế Thao kịp thời dẫn đầu đơn vị đánh vào giữa vị trí địch. Sau 20 phút chiến đấu, đơn vị làm chủ trận địa, diệt 195 tên, trong đó có 1 đại đội lính dù bị diệt gọn.

   Nguyễn Thế Thao luôn chú trọng xây dựng đơn vị về mọi mặt, tích cực học tập, rút kinh nghiệm để nâng cao trình độ tổ chức, chỉ huy.

   Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 4 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua, 3 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ Quyết thắng.    Ngày 23 tháng 9 năm 1973, Nguyễn Thế Thao được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 27 Tháng Năm, 2013, 04:48:02 pm
ANH HÙNG VŨ TRUNG THƯỚNG

(http://imageshack.us/a/img189/3361/vutrungthuong.jpg)


   Vũ Trung Thướng sinh năm 1944, dân tộc Kinh, quê ở xã An Mỹ, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây, nhập ngũ tháng 2 năm 1961, xuất ngũ tháng 1 năm 1963, tái ngũ tháng 4 năm 1965. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là thiếu úy, chính trị viên đại đội 5 bộ binh tiểu đoàn 2 trung đoàn 48 sư đoàn 320, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Trong giai đoạn huấn luyện và công tác ở miền Bắc, Vũ Trung Thướng luôn chịu khó học tập, nỗ lực phấn đấu, rèn luyện trở thành người chiến sĩ có kỷ luật, có quyết tâm chiến đấu cao, trình độ chiến thuật, kỹ thuật thành thạo.

   Trong chiến đấu, đồng chí luôn nêu cao tinh thần dũng cảm, mưu trí, đi đầu, trong mọi khó khăn ác liệt, động viên mọi người hăng hái chiến đấu. Đơn vị do đồng chí chỉ huy đã diệt 450 tên địch, riêng đồng chí diệt 43 tên.

   Trong chiến dịch Quảng Trị năm 1972, Vũ Trung Thướng luôn làm tốt công tác chính trị chiến đấu, đi sát mọi người, quan tâm giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, góp phần xây dựng đơn vị có quyết tâm cao, chiến đấu giỏi, càng đánh càng mạnh, trưởng thành vững chắc, toàn diện.

   Trận đánh ngày 12 tháng 7 năm 1972, 1 tiểu đoàn bộ binh địch có xe tăng, pháo binh yểm hộ, bắn rất ác liệt, hòng đánh chiếm ngã ba Long Hưng (nam Thành Cổ Quảng Trị) do đại đội Vú Trung Thướng chiếm giữ. Trong khó khăn ác liệt, đồng chí cùng cán bộ chỉ huy đơn vị luôn đi sát động viên, giúp đỡ anh em giữ vững quyết tâm bảo vệ trận địa. Hơn mười lần bọn địch, tiến công, lần nào Vũ Trung Thướng cũng ở nơi khó khăn, nguy hiểm nhất, kịp thời động viên đơn vị chiến đấu. Kết quả, đại đội đồng chí đã diệt được 100 tên địch, giữ vững trận địa.

   Ngày 18 tháng 7 năm 1972, 1 đại đội địch chia nhiều mũi đánh vào Chi Bưu - nơi đơn vị đồng chí chiếm giữ. Mặc cho bom đạn địch đánh phá ác liệt, Vũ Trung Thướng động viên mọi người chờ địch vào thật gần mới nổ súng. Sau mỗi lần đánh lui đợt tiến công của địch, đồng chí đến từng vị trí chiến đấu, động viên từng người, nhanh chóng củng cố trận địa. Trận này đơn vị Vũ Trung Thướng đánh lui 7 đợt tiến công của địch diệt 80 tên, giữ vững chốt. Riêng đồng chĩ diệt 38 tên.

   Vũ Trung Thướng luôn chú trọng góp phần xây dựng đơn vị tiến bộ về nhiều mặt, gương mẫu trong mọi công tác, đoàn kết, khiêm tến, giản dị, được quần chúng tin yêu.

   Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất.

   Ngày 23 tháng 9 năm 1973, Vũ Trung Thướng được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG PHẠM VĂN ĐỠ

(http://imageshack.us/a/img401/9769/phamvando.jpg)


   Phạm Văn Đỡ sinh năm 1952, dân tộc Kinh, quê ở xã Thụy An, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, nhập ngũ tháng 8 năm 1970. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là trung sĩ, trung đội phó thuộc đại đội 11 bộ binh tiểu đoàn 6 trung đoàn 88 sư đoàn 308, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Phạm Văn Đỡ tham gia chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1971 và chiến dịch Quảng Trị năm 1972; đánh 5 trận đều dũng cảm, mưu trí, gặp khó khăn, ác liệt đồng chí đều tìm cách vượt qua, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Trong chiến đấu, Phạm Văn Đỡ bị thương 2 lần đều không rời trận địa, nêu tấm gương tiêu biểu cho toàn đơn vị học tập. Đồng chí đã diệt 36 tên địch, phá hủy 8 ụ đại liên.

   Trận đánh điểm cao 500 ngày 13 tháng 2 năm 1971 trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, khi nổ súng, hỏa lực địch bắn chận đội hình xung phong của đơn vị, đồng chí dũng cảm bò dưới làn đạn địch, nhanh chóng diệt ụ đại liên, tạo thuận lợi cho đơn vị tiến đánh điểm cao, diệt 1 đại đội địch trong vòng 20 phút.

   Trận đánh điểm cao 500 lần thứ hai, ngày 18 tháng 2 năm 1971, sau khi dùng mìn định hướng mở cửa, Phạm Văn Đỡ nhanh chóng xông thẳng vào vị trí địch, dùng thủ pháo, lựu đạn tiêu diệt các hỏa điểm, tạo thuận lợi cho đơn vị xung phong. Trong lúc đang vận động đánh địch, đồng chí bị thương đã tự băng bó rồi tiếp tục đánh cho tới khi bị ngất. Trận này, Phạm Văn Đỡ diệt 20 tên địch phá hủy 6 ụ đại liên, góp phần vào thành tích chung của đại đội diệt 1 đại đội địch.

   Trận đánh điểm cao 35 (đông nam Mỹ Chánh) ngày 27 tháng 4 năm 1972, trước khi đánh, đồng chí đã 4 đêm bò vào vị trí địch trinh sát tỉ mỉ, trong điều kiện địch canh gác rất nghiêm ngặt. Khi nổ súng, địch bán dử dội vào cửa mở. Thấy đơn vị chưa lên được, Phạm Văn Đỡ nhanh chóng dùng B.40 diệt một hỏa điểm. Địch tập trung hỏa lực bắn dữ dội về phía đồng chí, Phạm Văn Đỡ vẫn bình tĩnh dùng tiểu liên bắn trả, nhờ đó, đơn vị vượt qua cửa mở được thuận lợi. Trận này, đơn vị đã diệt gọn 96 tên. Riêng đồng chí diệt 16 tên.

   Phạm Văn Đỡ luôn gương mẫu, di đầu trong mọi công việc, hăng say chiến đấu, dũng cảm, mưu trí. Hai lần bị thương, sức khỏe giảm sút, đơn vị cho phục viên, đồng chí vẫn thiết tha đề nghị đơn vị cho ở lại chiến đấu.

   Đồng chí được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 1 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua, nhiều bằng khen.

   Ngày 23 tháng 9 năm 1973, Phạm Văn Đỡ được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 27 Tháng Năm, 2013, 04:51:01 pm
ANH HÙNG HOÀNG ĐÌNH KIỀN

(http://imageshack.us/a/img28/3342/hoangdinhkien.jpg)


   Hoàng Đình Kiền sinh năm 1945, dân tộc Kinh, quê ở xã Thanh Cát, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, nhập ngũ tháng 10 năm 1964. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là thượng úy, tiểu đoàn phó đặc công, trung đoàn 10, Quân khu 9, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ tháng 11 năm 1964 đến nãm 1973, Hoàng Đình Kiền tham gia chiến đấu ở chiến trường miền Nam, đã trực tiếp đánh hơn 100 trận. Trận đánh nào đồng chí cũng dũng cảm, mưu trí, kiên quyết tiến công địch, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Hoàng Đình Kiền đã chỉ huy đơn vị diệt hàng nghìn tên địch, riêng đồng chí diệt 130 tên, thu 15 súng các loại, bắn rơi 4 máy bay.

   Từ năm 1965 đến năm 1969, đồng chí hoạt động ở Bình Định, Phú Yên, tham gia chiến đấu hàng chục trận, diệt 75 tên địch.

   Trận đánh cầu Nguyên Sơn tháng 6 năm 1967, Hoàng Đình Kiền chỉ huy tiểu đội chiến đấu suốt 1 ngày, diệt gọn 1 trung đội địch đi càn quét (25 tên, thu 3 súng).

   Tháng 9 năm 1967, Hoàng Đình Kiền tham gia cùng đại đội đánh tập kích 1 đại đội địch ở Tuy An. Trong trận đánh, đồng chí được giao nhiệm vụ dùng khối bộc phá 6 ki-lô-gam đánh hầm chỉ huy. Khi đơn vị mở cửa vào trận địa, gặp hàng rào bùng nhùng không vào được, đồng chí được lệnh dùng bộc phá phá hàng rào cho bộ đội xung phong. Bộc phá nổ, nhưng hàng rào không bị phá hết. Địch từ trong đồn bắn ra như vái đạn. Bất chấp nguy hiểm, Hoàng Đĩnh Kiền nhanh chóng nằm đè lên hàng rào, làm thang cho toàn đại đội vượt qua. Khi đơn vị vượt hết, đổng chí bị thương và bị dây thép gai cào khắp người, vẫn tiếp tục xung phong cùng đơn vị diệt địch. Hành động dũng cảm của đồng chí đã giúp đơn vị nhanh chóng chuyển từ khó khăn thành thuận lợi, tiêu diệt 1 đại đội địch. Riêng đồng chí diệt 5 tên, bắt 1 tù binh.

   Tháng 12 năm 1969, đơn vị Hoàng Đình Kiền vừa chuyển vào đồng bằng sông Cửu Long thì bị địch càn quét. Vì chưa quen địa hình, chưa nắm chắc tình hình thủ đoạn địch nên đơn vị bị thương vong nhiều. Đồng chí kiên trì bám trụ trận địa chỉ huy đơn vị đánh lui hàng chục đợt xung phong của địch. Máy bay lên thẳng đến đổ quân, đồng chí dùng súng tiểu liên bắn rơi 1 chiếc. Sau khi đơn vị tiêu diệt 50 tên địch, bọn còn lại hốt hoảng bỏ chạy, trận địa của ta được giữ vững.

   Trong chiến đấu, Hoàng Đình Kiền bị thương tới 16 lần nhưng vẫn kiên trì trụ bám chiến trường, bám đơn vị khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Đồng chí luôn chăm lo xây dựng đơn vị tiến bộ về mọi mặt; đại đội và tiểu đoàn do đồng chí phụ trách đều được tuyên dương Đơn vị anh hùng.

   Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 4 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 5 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua, 12 bằng khen, giấy khen.

   Ngày 23 tháng 9 năm 1973, Hoàng Đình Kiền được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG NGUYỄN VĂN HOẠT

(http://imageshack.us/a/img841/3482/nguyenvanhoat.jpg)


   Nguyễn Văn Hoạt sinh năm 1952, dân tộc Kinh, quê ở xã Cẩm Xá, huyện Mỹ Văn tỉnh Hải Hưng, nhập ngũ tháng 8 năm 1969. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là thượng sĩ, trung đội trưởng đặc công thuộc đại đội 1 tiểu đoàn 31 Bộ tư lệnh Đặc công, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ tháng 5 đến tháng 10 năm 1972, Nguyễn Văn Hoạt chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị. Tuy có nhiều khó khăn, gian khổ, ác liệt, đồng chí vẫn kiên trì bám địch, nắm tình hình cụ thể, giúp trên hạ quyết tâm chính xác. Trong chiến đấu, đồng chí luôn mưu trí, linh hoạt, dũng cảm, kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ. Nguyễn Văn Hoạt đã phá hủy 9 kho đạn pháo 105 và 155 mi-li-mét (gồm 4 vạn quả), chỉ huy đơn vị diệt hàng trăm địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh.

   Trận đánh Đồng Lâm ngày 24 tháng 7 năm 1972, Nguyễn Văn Hoạt làm tổ trưởng một tổ đánh độc lập. Khi nổ súng ngay phút đầu đồng chí đã diệt hỏa điểm được phân công, sau đó tiếp tục chỉ từng mục tiêu cho đồng đội đánh chiếm. Khi có lệnh rút, để bảo đảm an toàn cho đơn vị, đồng chí xung phong ở lại, bắn đạn phát sáng thu hút hỏa lực địch về phía mình. Nhờ đó, đơn vị rút an toàn.

   Trận đánh Đồng Lâm lần thứ hai, ngày 5 tháng 8 năm 1972, sau nhiều lần bị đánh, địch canh phòng rất nghiêm ngặt, Nguyễn Văn Hoạt xung phong đi nắm địch. Sau 2 đêm luồn vào vị trí, đồng chí đã nắm chắc tình hình địch. Đêm 5 tháng 8 năm 1972, đồng chí dẫn đầu một tổ đột nhập vào vị trí địch, phá hủy được 10 kho đạn pháo, diệt hàng chục tên. Riêng đồng chí phá 5 kho.

   Trong trận đánh Đồng Lâm lần thứ ba, tuy hàng tuần liền phải ăn đói, nhưng Nguyễn Văn Hoạt vẫn kiên trì điều tra, nám chắc tình hình địch. Đêm 3 tháng 9 năm 1972, đồng chí dẫn một tổ vượt qua bãi trống gần 500 mét, luồn qua 7 lớp rào và mưu trí đối phó với 5 lần địch báo động bắn ra dữ dội, đưa được toàn tổ vào căn cứ. Đêm ấy, tổ Nguyễn Văn Hoạt đã phá hủy 7 kho đạn chứa khoảng 3 vạn quả đạn pháo, riêng đồng chí phá 3 kho.

   Trận đánh Đồng Lâm lần thứ tư, ngày 5 tháng 10 năm 1972, mặc dù địch rào thêm nhiều hàng rào kẽm gai, bố trí thêm các bái mìn, tăng cường canh gác, đồng chí vẫn dẫn được một tổ vào khu kho. Sau khi chỉ các mục tiêu cho tổ viên thì bất ngờ một đồng chí làm nổ mìn, địch bắn rất dữ dội. Nguyễn Văn Hoạt bị thương nhưng vẫn đi tìm đồng đội bị thương để đưa ra ngoài, sau đó lại nhanh chóng trở lại đánh địch. Kết quả, đồng chí đã phá được gần một vạn quả đạn pháo 175 mi-li-mét.

   Nguyễn Vãn Hoạt luôn gương mẫu đi dầu trong mọi công tác, chịu khó học hỏi đồng đội, nghiêm chỉnh chấp hành kỷ luật, khiêm tốn, giản dị, được mọi người tin yêu.

   Đồng chí được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua.

   Ngày 23 tháng 9 năm 1973, Nguyễn Văn Hoạt được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 27 Tháng Năm, 2013, 04:53:33 pm
ANH HÙNG PHẠM THANH QUYẾT

(http://imageshack.us/a/img690/4218/phamthanhquyet.jpg)


   Phạm Thanh Quyết sinh năm 1950, dân tộc Tày, quê ở xã Hồng Định, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng, nhập ngũ tháng 8 năm 1970. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là thượng sĩ, trung đội trưởng đặc công thuộc đại đội 91 tiểu đoàn 35 Bộ tư lệnh Đặc công.

   Năm 1971 và năm 1972, Phạm Thanh Quyết làm nhiệm vụ trinh sát nắm địch, cùng đơn vị chiến đấu ở chiến trường Trị - Thiên. Địch ráo riết càn quét, ngăn chặn ta từ vòng ngoài, bố trí chặt chẽ ở vòng trong, dùng máy bay và pháo binh đánh phá ác liệt, tuy hai lần bị thương, đồng chí vẫn nêu cao tinh thần hăng say chiến đấu, dũng cảm, mưu trí, vượt qua khó khăn, nguy hiểm, nắm địch cụ thể, giúp cấp trên hạ quyết tâm đánh địch chính xác. Riêng đồng chí phá hủy 9 kho xăng, đạn, 2 khẩu pháo 105, diệt 15 tên địch, hoàn thành xuất sâc nhiệm vụ được giao.

   Năm 1971, hoạt động ở Trị - Thiên, mặc dù địch tổ chức nhiều chặng phục kích và ra sức lùng sục các thôn xóm hống đẩy ta ra xa, Phạm Thanh Quyết vẫn kiên trì bám đất, bám dân, dũng cảm vượt qua mọi nguy hiểm, 4 lần vào căn cứ Đông Hà và hàng chục lần vào căn cứ Ái Tử, Đồng Lâm để nắm tình hình địch, giúp tiểu đoàn xây dựng phương án tác chiến tốt.

   Đồng chí vào vị trí Đồng Lâm 6 lần, trong 6 đêm liền để nắm tình hình địch. Có lần đang trinh sát thì bị thương vào lưng, đồng chí vẫn tiếp tục làm nhiệm vụ. Trong trận đánh căn cứ Đồng Lâm đêm 8 tháng 5 nãrn 1971 Phạm Thanh Quyết dẫn tổ vượt qua 9 hàng rào, nhiều vọng gác, tiến sâu vào căn cứ, phá hủv 11 kho xăng, đạn. Riêng đồng chí phá hủy 6 kho.

   Trận đánh trận địa pháo dã chiến ở điểm cao 28 (bắc sông Mỹ Chánh) ngày 26 tháng 10 năm 1972, địch bố trí ở vòng ngoải trận địa nhiều tuyến bộ binh chốt giữ, bên trong lại luôn thay đổi vị trí đặt pháo, Phạm Thanh Quyết mưu trí dẫn phân đội vừa trinh sát nắm địch, vừa tiến đánh địch. Khi nổ súng, ngay phút đầu đã diệt khu trung tâm và sau 20 phút chiến đấu, phân đội đã diệt 200 tên địch, phá hủy 9 khẩu pháo, 15 xe quân sự. Riêng đồng chí phá hủy 2 khẩu pháo, diệt 15 tên.

   Trận đánh khu kho Tân Điền, sau nhiều ngày chịu đựng mưa rét để trinh sát, ngày 7 tháng 11 năm 1972 Phạm Thanh Quyết dẫn một tổ vượt qua 7 lớp rào có gài mìn vướng nổ, vào phá hủy được 10 kho xăng, đạn. Riêng đồng chí phá hủy 3 kho đạn, chứa 1 vạn quả đạn pháo.

   Phạm Thanh Quyết luôn gương mẫu đi đầu trong mọi việc, chịu khó học hỏi mọi người, tích cực giúp đỡ chiến sĩ mới nhanh chóng nắm được kỹ thuật, sống khiêm tốn, giản dị, được mọi người yêu mến.

   Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhi, 1 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua.

   Ngày 23 tháng 9 năm 1973, Phạm Thanh Quyết được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG ĐỖ VIẾT CƯỜNG

(http://imageshack.us/a/img24/6434/dovietcuong.jpg)


   Đỗ Viết Cường sinh năm 1950, dân tộc Kinh, quê ở xã Mỹ Sơn, huyện Quảng Hà, tỉnh Quảng Ninh, nhập ngũ tháng 4 năm 1968. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là thượng sĩ, phân đội trưởng đặc công nước thuộc đội 1 đoàn 126 Bộ tư lệnh Hải quân, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ năm 1970 đến năm 1972, Đỗ Viết Cường làm nhiệm vụ đánh địch ở Cửa Việt. Địch bố phòng rất chặt chẽ: dọc mép nước có rào thép gai, gài mìn; trên dòng sông thường xuyên có tàu đi tuần tiễu; ở khu vực tàu đậu có đèn pha chiếu sáng; địch trên tàu thỉnh thoảng bắn tiểu liên ném lựu đạn xuống nước... Đồng chí đã nêu cao tinh thần dũng cảm, mưu trí, vượt mọi khó khăn gian khổ, kiên quyết đánh địch. Hai lần trong lúc đang chiến đấu bị thương, Đỗ Viết Cường vẫn tiếp tục làm nhiệm vụ. Đồng chí đã trực tiếp đánh chìm đánh hỏng 7 tàu và xà lan của địch, chỉ huy phân đội đánh chìm 7 chiếc khác.

   Ngày 2 tháng 8 năm 1970, ở cảng Cửa Việt, sau khi bị đánh nhiều lần, địch canh phòng rất nghiêm ngặt, Đỗ Viết Cường cùng 2 đồng đội vượt qua nhiều lớp rào trên bờ, dưới nước, vào được trong cảng. Khi cách tàu 5 mét, thấy tên lính gác đứng trên mạn tàu, đồng chí nhanh chóng lặn xuống đặt mìn vào khoảng giữa xà lan và tàu. Kết quả, trận này tổ đồng chí đánh chìm 2 tàu, 1 xà lan. Riêng đồng chí đánh chìm 1 tàu, 1 xà lan.

   Ngày 19 tháng 3 năm 1971, 1 đoàn tàu địch đậu ở cảng Cửa Việt, Đỗ Viết Cường xung phong dẫn đơn vị vượt qua nhiều chặng gác, đến từng chiếc tàu. Kết quả, phân đội đồng chí đánh chìm 2 tàu trọng tải 360 tấn, làm tắc cửa sông, mấy ngày liền địch không đi tiếp tế được.

   Ngày 19 và 20 tháng 8 năm 1971, địch càn quét vùng xung quanh cảng ráo riết và liên tục thay đổi vị trí đậu tàu trong đêm. Đỗ Viết Cường xung phong dẫn một tổ đi đánh. Trong khi đi tìm tàu, có lúc bị địch bắn dữ dội, đồng chí vẫn bình tĩnh dẫn tổ bám địch và đã đánh chìm 3 tàu vận tải loại lớn của chúng. Riêng đồng chí đánh chìm 1 tàu.

   Năm 1972, 2 lần bị thương nặng, lần nào Đỗ Viết Cường củng băng bó cho đồng đội trước rồi mới băng bó cho mình, sau lại tiếp tục làm nhiệm vụ. Khi vừa ra viện, đồng chí xung phong đi đánh cầu Ngô Xá Đông. Cầu này địch canh gác rất cẩn mật, xung quanh trụ cầu có nhiều rào dây thép gai, ta đánh nhiều lần không được. Đêm 3 tháng 11 năm 1972, tổ đồng chí đã đánh sập được cầu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

   Đỗ Viết Cường luôn gương mẫu trong mọi công tác chú trọng xây dựng đơn vị tiến bộ về mọi mặt, sống giản dị, khiêm tốn, được đồng đội tin yêu.

   Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 3 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ Quyết thắng.

   Ngày 23 tháng 9 năm 1973, Đỗ Viết Cường được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Năm, 2013, 02:23:02 pm
ANH HÙNG CAO VĂN HẬU

(http://imageshack.us/a/img35/9622/caovanhau.jpg)


   Cao Văn Hậu sinh năm 1950, dân tộc Kinh, quê ở xã Khai Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An, nhập ngũ tháng 4 năm 1968. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là trung sĩ, tiểu đội trưởng công binh thuộc đại đội 4 tiểu đoàn 2 trung đoàn 229 Bộ tư lệnh Công binh, đoàn viên Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.

   Từ năm 1969 đến tháng 5 năm 1970, Cao Văn Hậu chiến đấu ở Quảng Nam, là chiến sĩ bộ binh thuộc sư đoàn 2. Trong chiến đấu, đồng chí bị thương nặng, sức khỏe bị giảm nhiều. Sau khi điều trị và an dưỡng, đơn vị giải quyết cho về phục viên, nhưng Cao Văn Hậu xin ở lại phục vụ quân đội.

   Từ tháng 4 năm 1971 đến tháng 2 năm 1972, Cao Văn Hậu tham gia mở đường 13, đường 9B. Tuy sức khỏe yếu, công việc chuyên môn bỡ ngỡ, nhưng Cao Văn Hậu luôn dẫn đầu về ngày công, phát huy nhiều sáng kiến như làm bàn trang cào đất, làm cào kéo đá...., đưa năng suất bình quân đầu người của tiểu đội từ 5 mét khối lên 9 mét khối một ngày công. Tiểu đội đồng, chí đạt năng suất làm đường cao nhất trung đoàn.

   Trong khi làm đường, địch thả nhiều mìn vướng nổ. Việc phá mìn rất nguy hiểm, thường xuyên đe dọa tính mạng đồng đội. Cao Văn Hậu luôn xung phong dẫn đầu tổ phá mìn, đồng chí đã phá được gần một trăm quả, có tác dụng động viên lôi cuốn mọi người noi theo.    Từ tháng 3 năm 1972 đến tháng 11 năm 1972, Cao Văn Hậu chiến đấu ở Quảng Trị. Trong điều kiện địch đánh phá ác liệt, đồng chí không quản ngại gian khổ, hy sinh, tham gia chiến đấu hàng chục trận, trận nào cũng dũng cảm, mưu trí, hoàn thành xuất sẳc nhiệm vụ. Ba lần bị bom vùi lấp, bị sức ép nặng, đồng chí đều không rời trận địa, tiếp tục chiến đấu. Cao Văn Hậu đã góp phần cùng đơn vị tiêu diệt hàng trăm tên địch. Riêng đồng chí diệt 7 tên, bắt 1 tên.

   Đầu tháng 5 năm 1972, tiểu đội Cao Văn Hậu làm nhiệm vụ dẫn xe tăng vào đánh điểm cao 21. Khi qua ngầm, mặc cho pháo địch bần dứ dội, để bảo đảm an toàn cho xe tăng, đồng chí vẫn xung phong lội trước dò mìn và dẫn đường. Khi bước vào chiến đấu, trước hỏa lực địch bắn rất dữ, đồng chí đã gỡ được 4 quả mìn chống tăng. Khi pháo thủ số 2 trên xe tăng bị thương, Cao Văn Hậu nhanh chóng vào thay thế và thao tác tốt.

   Đợt chốt giữ thành Quảng Trị từ ngày 12 đến ngày 25 tháng 7 năm 1972, mặc cho địch đánh hàng trăm quả bom, hàng nghìn quả đạn pháo vào trận địa, đồng chí bị bom vùi lại vùng dậy, động viên anh em, dũng cảm chiến đấu, đánh lui nhiều đợt phản kích của địch.

   Đặc biệt, ngày 23 tháng 7 năm 1972, khi thấy một toán địch mặc giả bộ đội ta, đang bò sát vào thành định cắm cờ, Cao Văn Hậu dẫn 2 chiến sĩ xuất kích, bất ngờ tiến công địch, diệt 7 tên, bắt 2 tên, đập tan âm mưu của chúng.

   Nhiều lần, đồng chí xông vào nơi địch đang đánh phá, bới hầm sập, cứu được 7 đồng chí. Trong khi đang chiến đấu, đồng đội bị thương, mặc cho quân địch bắn dữ dội, Cao Văn Hậu vẫn bình tĩnh băng bó cho 9 đồng chí và cõng về phía sau an toàn. Có lần đạn pháo nổ gần, Cao Văn Hậu lấy thân mình che cho thương binh. Nhiều lần, đồng chí cõng thương binh vượt qua sông Quảng Trị dưới làn đạn pháo địch, bảo đảm an toàn.

   Cao Văn Hậu luôn chú trọng xây dựng đơn vị tiến bộ về mọi mặt, khiêm tốn, giản dị, được mọi người yêu mến.

   Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhì, nhiều bằng khen, giấy khen.

   Ngày 23 tháng 9 nãm 1972, Cao Văn Hậu được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG BÙI ĐÌNH ĐỘT

(http://imageshack.us/a/img515/8871/buidinhdot.jpg)


   Bùi Đình Đột sinh năm 1942, dân tộc Kinh quê ở xã Hiệp Lực, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Hưng, trú quán ở xã Hồng Giang, huyện Lục Ngạn, tỉnh Hà Bâc, nhập ngũ tháng 8 năm 1964. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là trung úy, đại đội trưởng, đại đội tăng thuộc trung đoàn 201 Bộ tư lệnh Thiết giáp, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào tháng 2 năm 1971, Bùi Đình Đột là đại đội phó, phụ trách kỹ thuật. Bom đạn địch đánh phá ác liệt, đồng chí vẫn luôn đi sát, kiểm tra các xe, kịp thời phát hiện hỏng hóc, tự tay sửa chữa và hướng dẫn cho đơn vị sửa chửa được 33 lần chiếc xe tăng hỏng, bảo đảm chất lượng tốt. Tuy chưa được học về xe tăng địch, đồng chí vẫn tìm mọi cách vào nơi có xe tặng địch bị ta đánh mạnh bỏ lại, nghiên cứu cách sử dụng. Bùi Đình Đột đã lần lượt lái 4 chiếc xe tăng và xe bọc thép địch về tuyến sau an toàn.

   Trận đánh địch rút chạy từ Bản Đông về Huội San ngày 23 tháng 3 năm 1971, Bùi Đình Đột được giao nhiệm vụ chỉ huy đại đội truy kích địch, đã chiến đấu rất dũng cảm, linh hoạt, bình tĩnh, mưu trí trong mọi tình huống, có nhiều hành động táo bạo, chỉ huy đơn vị đạt hiệu suất chiến đấu cao. Đơn vị đồng chí đã diệt hàng trăm tên địch.

   Năm 1972, Bùi Đình Đột phụ trách 1 đại đội hành quân vào Tây Nguyên. Mặc dù địch đánh phá ác liệt, đồng chí đã cùng cán bộ đại đội, chỉ huy đơn vị tới đích, bảo đảm quân số một trăm phần trăm người vàxe an toàn.

   Trận đánh Đác Tô - Tân Cảnh ngày 14 tháng 4 năm 1972, Bùi Đình Đột luôn xông xáo, chỉ huy dũng cảm, mưu trí, đánh thẳng vào giữa vị trí địch. Đồng chí bị thương vào đầu, vai, tay, chân, nhưng vẫn kiên quyết giữ vững vị trí, chiến đấu suốt 6 tiếng đổng hồ, góp phần cùng đơn vị bộ binh tiêu diệt toàn bộ căn cứ địch, do sư đoàn 22 ngụy , 1 thiết đoàn xe tăng và 1 đại đội bảo an chiếm giữ. Riêng xe đồng chí đã diệt 10 khẩu pháo 105.

   Bùi Đình Đột luôn xung phong, gương mẫu trong mọi việc và quan tâm xây dựng đơn vị tiến bộ về nhiều mặt, được mọi người tin yêu.

   Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 1 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ Quyết thắng, 2 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua, 1 bằng khen, 6 giấy khen.

   Ngày 23 tháng 9 năm 1973, Bùi Đình Đột được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Năm, 2013, 02:25:28 pm
ANH HÙNG LỤC VĨNH TƯỞNG

(http://imageshack.us/a/img849/4237/lucvinhtuong.jpg)


   Lục Vĩnh Tưởng sinh năm 1948, dân tộc Thái, quê ở xã Thanh Lâm, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa, nhập ngũ tháng 4 năm 1966. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là trung sĩ, khẩu đội trưởng hỏa tiễn chống tăng thuộc đại đội 15 tiểu đoàn 371 Bộ tư lệnh Pháo binh, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Lục Vĩnh Tưởng đã tham gia chiến đấu liên tục 6 năm ở chiến trường Trị - Thiên, trực tiếp đánh 40 trận, trận nào cũng bình tĩnh, dũng cảm, mưu trí, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

   Đặc biệt, năm 1972, sau 3 tháng học sử dụng hỏa tiễn chống tăng B.72, đồng chí đã nắm được kỹ thuật và tham gia chiến đấu ngay. Trong chiến dịch Quảng Trị, Lục Vĩnh Tưởng đã bắn 11 quả đạn, diệt 11 xe tăng, góp phần cùng đơn vị chi viện đắc lực cho bộ binh bẻ gãy nhiều đợt phản kích của địch.

   Trận đánh ngày 23 tháng 4 năm 1972, một chi đoàn xe tăng địch từ Đông Hà dẫn bộ binh ra phản kích. Đồng chí bình tĩnh chờ địch vào tầm bắn, ngay phát đạn đầu đã diệt 1 xe tăng. Tiếp đó, Lục Vĩnh Tưởng bắn 5 quả đạn, diệt 5 chiếc tăng nữa. Trận này, đơn vị đồng chí đã diệt gọn 1 chi đội xe tăng 10 chiếc của địch.

   Trận đánh Đông Hà ngày 25 tháng 4 năm 1972, tuy mang vác nặng, Lục Vĩnh Tưởng vẫn theo sát bộ binh. Đến vị trí chiến đấu đồng chí chuẩn bị trận địa suốt đêm và hôm sau tham gia chiến đấu cả ngày. Mặc cho pháo binh, máy bay địch đánh phá ác liệt vào trận địa, đồng chí bình tĩnh theo dõi xe tăng địch. Thấy 2 chiếc vừa từ công sự tiến ra phản kích, đồng chí phóng 2 quả đạn, diệt cả hai.

   Ngày 29 tháng 9 năm 1972, 3 xe tăng địch từ Tích Tường có hỏa lực mạnh yểm trợ, phản kích vào trận địa của đơn vị, Lục Vĩnh Tưởng bình tĩnh, bí mật chờ địch vào gần, bắn 3 quả đạn, diệt gọn cả 3 chiếc, tạo điều kiện cho bộ binh ta xuất kích tiêu diệt nhiều địch.

   Ngày 6 tháng 11 năm 1972, địch dùng pháo bắn rất dữ dội vào trận địa ta và lợi dụng khói đạn mù mịt cho bộ binh xuất kích. Thấy địch ném lựu đạn vào hầm, đồng chí nhanh chóng vọt ra khỏi hầm, dùng tiểu liên diệt 4 tên.

   Lục Vĩnh Tưởng luôn xung phong, gương mẫu trong mọi việc có tinh thần chịu khó học tập cầu tiến bộ, tích cực góp phần xây dựng tiểu đội tiến bộ về mọi mặt, khiêm tốn, giản dị, được mọi người yêu mến.

   Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 3 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 3 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ Quyết thắng, 3 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua.

   Ngày 23 tháng 9 năm 1973, Lục Vĩnh Tưởng được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG LÊ VĂN TRUNG

(http://imageshack.us/a/img195/49/levantrung.jpg)


   Lê Văn Trung sinh năm 195‘2, dân tộc Kinh, quê ở xã Linh Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An nhập ngũ tháng 4 năm 1970. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là trung sĩ, tiểu đội trưởng hỏa tiễn chống tăng, thuộc đại đội 6 tiểu đoàn 371 Bộ tư lệnh Pháo binh. Đoàn viên Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.

   Năm 1972, Lê Văn Trung tham gia chiến dịch Quảng Trị, dự 9 trận đánh, trận nào cũng đều bình tĩnh, dũng cảm, mưu trí; dù khó khăn, gian khổ, ác liệt thế nào đồng chí củng cùng tiểu đội kiên quyết vượt qua. Tiểu đội đồng chí đã diệt 21 xe tăng, xe bọc thép, 1 xe ô tô của địch. Riêng đồng chí với 24 quả đạn, diệt 18 chiếc.

   Ngày 28 tháng 4 năm 1972, tiểu đội Lê Văn Trung làm nhiệm vụ diệt xe tăng địch chi viện cho bộ binh đánh vào Ái Tử. Máy bay địch đánh phá dữ dội vào trận địa, đồng chí bình tĩnh, mưu trí điều khiển 6 quả đạn, diệt 6 xe tăng, phá vỡ tuyến phòng ngự bằng xe tăng của địch, tạo điều kiện cho bộ binh tiến đánh Ái Tử.

   Từ ngày 20 đến ngày 25 tháng 5 năm 1972, tiểu đội Lê Văn Trung cùng với bộ binh làm nhiệm vụ giữ chốt phía bắc cầu Mỹ Chánh, hàng chục lần địch cho bộ binh, có máy bay, xe tăng yểm trợ, tiến công vào trận địa, đồng chí bình tĩnh chỉ huy tiểu đội dũng cảm chiến đấu, đánh lui tất cả các đợt tiến công của địch. Riêng Lê Văn Trung bắn 7 quả đạn, diệt 6 xe tăng địch.

   Trận đánh ngày 6 tháng 7 năm 1972, ở Cầu Nhì (nam sông Mỹ Chánh), sau khi điều khiển 1 quả đạn diệt 1 xe M.113, Lê Văn Trung bị thương vào đầu, máu chảy nhiều. Đơn vị cho về phía sau, đồng chí xin ở lại băng bó tại chỗ, cố nén đau đớn tiếp tục chiến đấu cho tới khi trận đánh kết thúc. Hành động của đồng chí đã góp phần cố vũ đơn vị hăng hái chiến đấu, giữ vững trận địa.

   Lê Văn Trung tích cực học hỏi mọi người, tận tình giúp đỡ, hướng dẫn đồng đội nhanh chóng sử dụng thành thạo vũ khí và hết lòng thương yêu đồng đội, nhiều lần cõng thương binh vượt bom đạn về nơi an toàn.

   Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chuơng Chiến công Giải phóng hạng nhất, 3 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng ba.

   Ngày 23 tháng 9 năm 1973, Lê Văn Trung được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Năm, 2013, 02:28:55 pm
ANH HÙNG TRẦN DUY HOAN

(http://imageshack.us/a/img707/426/tranduyhoan.jpg)


   Trần Duy Hoan sinh năm 1950, dân tộc Kinh, quê ở xã Vũ Bản, huyện Bình Lục, tỉnh Nam Hà, nhập ngũ tháng 2 năm 1968. Khi được tuyên dương Anh hùng, đổng chí là trung sĩ, tiểu đội trưởng thông tin thuộc đại đội 5 tiểu đoàn 8 trung đoàn 134 Bộ tư lệnh Thông tin Liên lạc, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Là chiến sĩ thông tin đường đây, tuy sức khỏe yếu, nhưng Trần Duy Hoan luôn cố gắng công tác, khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ quốc tế trên chiến trường Lào và chiến đấu ở Trị - Thiên.

   Đặc biệt, trong chiến dịch Quảng Trị năm 1972, Trần Duy Hoan phụ trách một tổ bảo đảm 15 ki-lô-mét đường đâv, địch đánh phá ác liệt, đồng chí luôn có mặt ơ các trọng điểm, cùng đồng đội kiên trì bám máy, bám dây. Trần Duy Hoan đã đi nối dây 157 lần trong lúc địch đánh phá ác liệt, có lần bị thương vẫn tiếp tục làm nhiệm vụ. Trần Duy Hoan đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giữ vững thông tin, liên lạc, bảo đảm cho cấp trên chỉ huy đơn vị chiến đấu kịp thời.

   Ngày 29 tháng 3 năm 1972, máy bay, pháo binh địch đánh phá dữ dội, đường dây bị đứt hai khoảng cột, Trần Duy Hoan bị 3 vết thương. Tuy máu ra nhiều, nhưng do yêu cầu bảo đảm thông tin chỉ huy chiến đấu, đồng chí vẫn cố gắng nối dây.

   Ngày 15 tháng 5 năm 1972, máy bay địch đánh phá liên tục từ 6 giờ đến 18 giờ vào đường dây do tổ Trần Duy Hoan phụ trách. Đổng chí đề xuất ý kiến và cùng tổ mắc dây vòng qua trọng điểm. Trong quá trình mắc dây, Trần Duy Hoan phá hàng chục quả bom bi để dọn đường, bảo đảm an toàn cho đồng đội.. Nhờ đó thông tin liên lạc được thông suốt.

   Từ ngày 10 đến ngày 28 tháng 6 năm 1972, nhiệm vụ thông tin liên lạc rất khẩn trương, bòm đạn địch đánh phá ác liệt, có ngày dây bị đứt tới 10 lần. Bất kể nguy hiểm, Trần Duy Hoan lặn lội ngày đêm đi nối dây, bảo đảm cho đơn vị liên lạc kịp thời.

   Ngày 6 tháng 8 năm 1972, nhiều lần máy bay B.52 đánh bom đứt nhiều đoạn dây, Trần Duv Hoan động viên tổ quyết tâm nối, chữa. Riêng đồng chí, đi nối dây 1 ngày 1 đêm không nghỉ. Sau khi làm xong phần việc của tổ mình, Trần Duy Hoan còn tiếp tục giúp tổ bạn nhanh chóng khôi phục đường dây, kịp thời bảo đảm cho chỉ huy chiến đấu.

   Trần Duy Hoan tích cực học hỏi đồng đội, trình độ kỹ thuật ngày một nâng cao, nhiệt tình giúp đỡ anh em mới nhanh chóng nắm vững kỹ thuật.

   Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba, 2 bằng khen và nhiều giấy khen.

   Ngày 23 tháng 9 năm 1973, Trần Duy Hoan được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG MAI NGỌC THOẢNG

(http://imageshack.us/a/img854/5793/maingocthoang.jpg)


   Mai Ngọc Thoảng sinh năm 1953, dân tộc Mường, quê ở xã Ngọc Trạo, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa, nhập ngũ tháng 1 năm 1971. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là hạ sĩ, tiểu đội trưởng thông tin thuộc đại đội 18, trung đoàn 48, sư đoàn 320, Mặt trận B5, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Năm 1972 Mai Ngọc Thoảng tham gia chiến dịch Quảng Trị, trong điều kiện bom đạn hết sức ác liệt, đồng chí đã chỉ huy và dẫn đầu tiểu đội, dũng cảm, mưu trí vượt qua mọi khó khàn, nguy hiểm để sửa chữa đường dây; nhiều lần gặp địch anh đã tích cực đánh lui chúng. Hàng chục lần, Mai Ngọc Thoảng nằm ngay ở bãi bom, pháo để nối dây nhiều khí bị bom vùi, tỉnh dậy lại tiếp tục làm nhiệm vụ. Đồng chí đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, nêu tấm gương tiêu biểu cho toàn đơn vị học tập.

   Đêm 3 tháng 4 năm 1972, cùng một chiến sĩ đi kiểm tra đường dây (đoạn gần Cam Lộ) gặp địch, Mai Ngọc Thoảng nhanh chóng nổ súng diệt 2 tên, gọi hàng 1 tên. Bọn còn lại hốt hoảng bỏ chạy, đường dây được bảo vệ an toàn.

   Ngày 5 tháng 7 năm 1972, trong Thành cổ Quảng Trị, sau 12 giờ làm việc liên tục, đường dây được sửa chữa xong, vừa về đến hầm thì bị pháo bắn đứt; mặc cho bộ binh địch phản kích, Mai Ngọc Thoảng lao ra khỏi hầm, vượt qua bom đạn đi nối dây. Sau 10 phút, đường dây được thông suốt, phục vụ tốt cho chỉ huy chiến đấu.

   6 giờ sáng ngày 13 tháng 7 năm 1972, địch bắn phá ác liệt vào Thành cổ Quảng Trị, đường, dây bị đứt nhiều đoạn, Mai Ngọc Thoảng lợi dụng những hố bom, pháo bò đi nối dây, kịp thời phục vụ cho chỉ huy chiến đấu.

   5 lần Mai Ngọc Thoảng xung phong vượt sông Thạch Hãn dưới làn bom đạn địch để nối, chữa đường dây, lần nào đồng chí cũng hoàn thành nhiệm vụ.

   Đặc biệt, ngày 14 tháng 7 năm 1972, khi đang vượt sông thì hàng chục quả pháo bắn tới, có quả nổ cách 10 mét, nâng bổng người lên rồi nhấn chìm xuống, Mai Ngọc Thoảng vẫn cắn chặt dây vào miệng, tiếp tục bơi vào bờ. Đồng chí bị ngất, khi tỉnh dậy lại tiếp tục nối, sửa dây.

   Cuối tháng 7 năm 1972, tiểu đội Mai Ngọc Thoảng còn 5 người. Địch đánh phá ngày thêm ác liệt, trời mưa nhiều, nhiệm vụ bảo đảm đường dây trong Thành cổ gập nhiều khó khăn, đồng chí đã động viên anh em: "Dù khó khăn ác liệt thế nào, cũng cương quyết giữ vững thông tin liên lạc". Tiểu đội Mai Ngọc Thoảng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong suốt giai đoạn cuối của chiến dịch.

   Mai Ngọc Thoảng luôn chú trọng xây dựng đơn vị tiến bộ về nhiều mặt, gương mẫu đi đầu trong mọi công tác, lúc nào cũng nhường thuận lợi cho bạn, nhận khó khăn về mình; nhiều lần làm thay nhiệm vụ cho anh em khác ngủ. Những lúc thiếu thốn, đồng chí nhường cơm, sẻ áo cho thương binh; khiêm tốn, giản dị, được mọi người yêu mến.

   Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 bằng khen.

   Ngày 23 tháng 9 năm 1973, Mai Ngọc Thoảng được Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Năm, 2013, 02:31:38 pm
ANH HÙNG BÙI TRUNG THÀNH

(http://imageshack.us/a/img822/6006/buitrungthanh.jpg)


   Bùi Trung Thành sinh năm 1943, dân tộc Kinh, quê ở xã Yên Minh, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Hà, nhập ngũ tháng 2 năm 1961, xuất ngũ tháng 4 năm 1964, tái ngũ tháng 9 năm 1965. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là thiếu úy, đại đội trưởng đại đội 16 súng máy 12,7 mi-li-mét thuộc trung đoàn 48 sư đoàn 320 Mặt trận B5, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Năm 1968, Bùi Trung Thành tham gia chiến đấu ở Khe Sanh (Quảng Trị), đồng chí đã chỉ huy trung đội chiến đấu dũng cảm, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Trung đội Bùi Trung Thành đã bắn rơi 17 máy bay Mỹ.

   Trong chiến dịch Quảng Trị năm 1972, đồng chí làm đại đội phó, sau lên đại đội trưởng, ở cương vị nào Bùi Trung Thành cũng hoàn thành nhiệm vụ chỉ huy đơn vị hạ nhiều máy bay Mỹ, chi viện đắc lực cho bộ binh. Nhiều lẩn bị phản kích vào trận địa, đổng chí dẫn đầu đơn vị, dùng súng bộ binh xung phong tiêu diệt địch, đánh lui nhiều đợt phản kích của chúng, giữ vững trận địa. Đơn vị Bùi Trung Thành đã bắn rơi 12 máy bay Mỹ, diệt 70 tên, bắt 6 tên. Riêng anh bắn rơi tại chỗ 1 máy bay, diệt 5 tên địch, bắt 1 tên, thu 2 súng, 1 xe mô tô, 1 máy vô tuyến điện.

   Tháng 5 năm 1972, ở Ái Tử, Bùi Trung Thành làm đại đội phó, đi cùng một trung đội. Khi chuẩn bị chiến đấu, địch tập trung máy bay, pháo binh đánh phá ác liệt vào trận địa, đồng chí đi sát động viên từng người và trực tiếp chiến đấu, chi viện tốt cho bộ binh tiêu diệt địch.

   Ngày 14 tháng 7 năm 1972, ở nam Thành Quảng Trị, trong lúc pháo địch đang đánh phá ác liệt vào trận địa, thấy một máy bay lên thẳng bay qua, Bùi Trung Thành hạ lệnh bắn nhưng chiến sĩ thao tác chậm, sợ lỡ mất thời cơ, đồng chí trực tiếp bắn, hạ tại chỗ chiếc máy bay. Trong máy bay có tên đại tá Nguyễn Trọng Bảo sư đoàn phó ngụy.

   Trong tháng 7 năm 1972, nhiều lần địch sử dụng lực lượng từ đại đội đến tiểu đoàn phản kích lên trận địa của đơn vị. Ngoài việc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chỉ huy đơn vị chiến đấu, Bùi Trung Thành còn làm phần việc của chính trị viên (vì chính trị viên hy sinh), đi sâu sát, động viên xây dựng quyết tâm cho mọi người. Đại đội Bùi Trung Thành đã trở thành một tập thể chiến đấu kiên cường, bền bỉ trong suốt giai đoạn khó khăn nhất của chiến dịch.

   Bùi Trung Thành luôn chú trọng xây dựng đơn vị tiến bộ về mọi mặt, chịu khó rút kinh nghiệm trong chiến đấu, không ngừng nâng cao trình độ tổ chức, chỉ huy; gương mẫu về mọi mặt, nghiêm chỉnh chấp hành kỷ luật, khiêm tốn, giản dị, được mọi người tin yêu.

   Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng hai, 1 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt máy bay.

   Ngày 23 tháng 9 năm 1973, Bùi Trung Thành được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền, Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG ĐẶNG ĐÌNH KHANH
(LIỆT SĨ)

(http://imageshack.us/a/img196/2562/dangdinhkhanh.jpg)


   Đặng Đình Khanh, dân tộc Kinh, quê ở xã Xuân Hòa, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, nhập ngũ tháng 2 năm 1965. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đại đội phó đại đội 6 đặc công, đoàn 8, Bộ Tư lệnh Miền, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ năm 1969, Đặng Đình Khanh, làm nhiệm vụ đánh tầu địch ở sông Năm Căn (Cà Mau), ở khu vực tầu đậu, địch bố trí hệ thống đèn pha rất sáng, đặt nhiều chất nổ và vật chướng ngại ở dọc hai bên mép nước; dưới sông chúng đặt máy thu tiếng động; trên bờ địch đi tuần tra canh gác, thỉnh thoảng địch bắn súng và ném lựu đạn xuống xưng quanh tầu; dùng xà lan chặn ngang dòng nước chảy mạnh để tạo dòng nước xoáy lớn gây khó khăn cho ta khi tiến đánh...

   Với quyết tâm chiến đấu cao đồng chí đã dũng cảm, mưu trí nhiều lần bơi lội 5, 6 tiếng đồng hồ liền vào khu vực tầu đậu để trinh sát, và tổ chức đánh địch. Đặng Đình Khanh 3 lân cùng đồng đội đặt thuốc nổ áp sát vào tầu địch đánh chìm 3 chiếc, diệt hàng trăm tên, trong đó có nhiều sĩ quan, nhân viên kỹ thuật, phá hủy nhiều hàng hóa.

   Trận ngày 18 tháng 8 năm 1970, thấy một tầu địch chở 8.000 tấn hàng đậu ở bến, Đặng Đình Khanh xung phong đi đánh. Tuy địch canh phòng rất nghiêm ngặt, dọc hai mép nước địch bố trí nhiều mìn, cứ 10 phút chúng lại ném lựu đạn và dùng súng trọng liên bắn xuống nước ngăn chặn đường ra vào khu tầu đậu... Đặng Đình Khanh nghiên cứu cách đánh, chờ lúc địch ngừng bắn, cùng đồng đội nhanh chóng đấy thuốc nổ áp sát vào tầu địch và cho nổ; kết quả đánh chìm tầu này, diệt gần 100 tên địch. Đồng chí đã anh dũng hy sinh sau khi làm tròn nhiệm vụ.

   Đặng Đình Khanh lúc còn sống thường xuyên chăm lo xây dựng đơn vị tiến bộ mọi mặt, đi sát giúp đỡ anh em, tạo điều kiện thuận lợi cho đồng đội lập công. Đồng chí đã nêu cao phẩm chất cao quý của người chiến sĩ cách mạng.

   Đặng Đình Khanh được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công giải phóng hạng ba, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 2 lần là Chiến sĩ thi đua.

   Ngày 23 tháng 9 năm 1973, Đặng Đình Khanh được Chinh phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Năm, 2013, 02:35:03 pm
ANH HÙNG NGUYỄN CHẤT XÊ
(LIỆT SĨ)

(http://imageshack.us/a/img59/7943/nguyenchatxe.jpg)


   Nguyễn Chất Xê, sinh năm 1947, dân tộc Kinh, quê ở xã Nguyên Xá, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, nhập ngũ tháng 6 năm 1965. Khi hy sinh, đồng chí là đại đội phó đại đội 5, đoàn 10 đặc công, Bộ Tư lệnh Miền, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Nguyễn Chất Xê vào chiến trường năm 1965, làm nhiệm vụ đánh tầu địch tại bến cảng Nhà Bè và trên sông Lòng Tầu, đoạn sát vùng ven thành phố Sài Gòn.

   Tại bến cảng Nhà Bè và dọc sông Lòng Tầu, địch tuần tra canh gác nghiêm ngặt, đêm có hệ thống đèn pha rất sáng, hai mép nước chúng bố trí nhiều mìn, thỉnh thoảng lại ném lựu đạn và bắn tiểu liên xuống nước, tầu tuần tiễu ngày đêm hoạt động trên sông hòng ngăn chặn các đưòng vào bến, vào chỗ tầu đậu... Nhưng với quyết tâm diệt địch, đồng chí đã dũng cảm, mưu trí tìm mọi cách để tiếp cận khu tàu địch đậu; nhiều lần ngâm mình dưới nước hơn 10 tiếng đồng hồ liền để điều tra, nghiên cứu cách đánh tầu địch có hiệu quả cao nhất.

   Tính từ đầu năm 1968 đến tháng 5 năm 1971, đồng chí đã tham gia đánh 18 trận, cùng tổ đánh chìm 12 tầu có trọng tải từ 8.000 đến 13.000 tấn, đánh trọng thương 4 tầu có trọng tải từ 10.000 tấn đến 12.000 tấn; phá hủy 15 triệu lít xăng.

   Trong trận đánh đêm 10 tháng 5 năm 1971, Nguyễn Chất Xê cùng tổ vào sát mục tiêu nhưng chưa áp được thuốc nổ vào tầu địch thì bị lộ. Địch cho tầu, thuyền máy bao vây, lùng sục bắn súng, ném lựu đạn xuống nước và kêu gọi đầu hàng. Đồng chí lệnh cho tổ viên bí mật vượt vòng vây của địch, còn Nguyễn Chất Xê vẫn bình tĩnh ném lựu đạn lên tầu diệt địch, thu hút hỏa lực địch về phía mình, tạo thuận lợi cho đồng đội vượt khỏi vòng vây địch an toàn. Mặc cho hỏa lực địch bắn dữ dội về phía mình, đồng chí vẫn bình tĩnh cho hủy khối thuốc nổ để giữ được bí mật của vũ khí và anh dũng hy sinh.

   Nguyễn Chất Xê trong chiến đấu dũng cảm, kiên cường, trong cuộc sống thì khiêm tốn, giản dị, gương mẫu, luôn xung phong nhận nhiệm vụ khó; chăm lo xây dựng đơn vị tiến bộ về mọi mặt.

   Nguyễn Chất Xê đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 30 bằng và giấy khen, 18 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ đánh giao thông, 2 lần là Chiến sĩ thi đua.

   Ngày 23 tháng 9 năm 1973, Nguyễn Chất Xê được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG BÙI VĂN NÊ
(LIỆT SĨ)

(http://imageshack.us/a/img94/1260/buivanne.jpg)


   Bùi Văn Nê sinh năm 1947, dân tộc Mường, quê ở xã Hưng Thị, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình, nhập ngũ tháng 9 năm 1965. Khi hy sinh, đồng chí là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 7 bộ binh trung đoàn 3 sư đoàn 5 Bộ chỉ huy Miền.

   Bùi Văn Nê đã tham gia chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Tây Bắc Cam-pu-chia. Trưởng thành từ chiến sĩ lên cán bộ tiểu đoàn, ở cương vị nào đồng chí cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Bùi Văn Nê đã trực tiếp đánh 45 trận, trận nào cũng bình tĩnh, mưu trí, dũng cảm linh hoạt, chỉ huy đơn vị diệt hàng ngàn tên địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh. Riêng Bùi Văn Nê diệt 105 tên, bắt sống 15 tên, phá huỷ 3 xe quân sự (có 1 xe tăng), bắn rơi 1 máy bay, thu 8 súng.

   Trận phục kích đoàn xe địch trên đường 14 (đoạn Bàu Na - Phước Long) tháng 1 năm 1969, Bùi Văn Nê là đại đội phó, chỉ huy một mũi tiến công. Mặc cho máy bay, đại bác địch đánh phá ác liệt, đồng chí dũng cảm dẫn đầu và động viên đơn vị xông lên chia cẳt đội hình địch để thực hiện đánh tiêu diệt. Trận này, đơn vị Bùi Văn Nê diệt hàng chục xe chở đầy lính. Riêng Bùi Văn Nê diệt 1 xe tăng và 20 tên địch.

   Trận tập kích tiểu đoàn dù ở bến đò Na Hoa, tỉnh Long Khánh ngày 19 tháng 5 năm 1969, Bùi Văn Nê chỉ huy trung đội đánh thọc sâu, khi nổ súng, trước hỏa lực địch bắn rất mạnh, đồng chí dẫn trung đội đánh thẳng vào giữa đội hình địch, làm chúng rối loạn không yểm trợ được cho nhau, tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị diệt gọn tiểu đoàn dù địch. Riêng đồng chí diệt 10 tên.

   Tháng 4 năm 1970, Bùi Văn Nê là trợ lý tác chiến của trung đoàn, xuống nắm tình hình một đại đội. Vừa tới đơn vị thì 1 đại đội Mỹ phản kích vào vị trí đóng quân. Đồng chí nhanh chóng cùng một mũi đánh tạt sườn đội hình quân địch. Sau 15 phút chiến đấu quyết liệt, đơn vị diệt, gọn đại đội lính Mỹ. Riêng đồng chí diệt 25 tên.

   Có lần Bùi Văn Nê dìu 2 thương binh về phía sau, gặp máy bay địch bắn phá, đồng chí dũng cảm bắn trả, hạ tại chỗ 1 máy bay lên thẳng, bảo vệ thương binh an toàn.

   Trận đánh chi khu Lộc Ninh ngày 5 tháng 4 năm 1972, mặc cho bom đạn địch đánh phá, chặn hựớng tiến công của ta, Bùi Văn Nê dẫn đầu đơn vị vượt qua sân bay, đánh thẳng vào sở chỉ huy chiến đoàn 9, phối hợp chặt chẽ với đơn vị bạn diệt gọn chiến đoàn này. Đồng chí bị trúng đạn và hy sinh trong tư thế của người chỉ huy anh dũng.

   Khi còn sống, Bùi Văn Nê luôn chăm lo xây dựng đơn vị về mọi mặt, hết lòng thương yêu đồng đội.

   Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 3 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 2 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua, 5 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1973, Bùi Văn Nê được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Năm, 2013, 02:37:39 pm
ANH HÙNG HOÀNG THẾ CAO
(LIỆT SĨ)

(http://imageshack.us/a/img46/8324/hoangthecao.jpg)


   Hoàng Thế Cao sinh năm 1936, dân tộc Tày, quê ở xã Đa Vi, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang, nhập ngũ tháng 1 năm 1968. Khi hy sinh, đồng chí là tiểu đoàn phó tiểu đoàn 2 bộ binh trung đoàn 1 sư đoàn 5 Bộ chỉ huy Miền, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ tháng 1 năm 1968 đến tháng 3 năm 1973, Hoàng Thế Cao làm nhiệm vụ quốc tế chiến đấu ở chiến trường Đông Bắc Cam-pu-chia. Trưởng thành từ chiến sĩ lên cán bộ tiểu đoàn, ở cương vị nào, đồng chí cũng hoàn thành xuất sác nhiệm vụ.

   Hoàng Thế Cao dự 70 trận đánh, trận nào đồng chí cũng bình tĩnh, dũng cảm, mưu trí, linh hoạt, chỉ huy đơn vị vượt qua mọi khó khăn, ác liệt, kiên quyết tiêu diệt địch. Hoàng Thế Cao đã chỉ huy đơn vị diệt gần 1000 tên địch, thu và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh.. Riêng đồng chí diệt 135 tên (có 25 tên Mỹ), bắt 5 tên, bắn cháy 7 xe tăng, thu 22 súng, 3 máy thông tin.

   Trận Suối Long (Bình Long) tháng 3 năm 1969, Hoàng Thế Cao dẫn đầu tiểu đội hỏa lực B.40 đánh vào giữa đội hình địch, diệt nhiều tên, góp phần cùng đơn vị diệt gọn 1 đại đội địch. Khi rút quân, đồng chí ở lại kiểm tra trận địa, 1 đại đội địch bất ngờ phản kích. Mặc dù chỉ có một mình, đồng chí vẫn kiên quyết đánh, dùng cả lựu đạn, tiểu liên, B.40 để diệt địch. Trong trận đánh quyết liệt này, đồng chí diệt được 40 tên. Bọn địch còn lại bỏ chạy tan tác.

   Trận Xnun (Cam-pu-chia) ngày 29 tháng 5 năm 1970, sau khi diệt gọn sở chỉ huy tiểu đoàn quân ngụy, đơn vị Hoàng Thế Cao được lệnh trụ lại. Mặc cho máy bay, pháo binh địch đánh phá ác liệt yểm trợ cho 2 tiểu đoàn bộ binh phản kích, đồng chí đã dũng cảm, linh hoạt chỉ huy đại đội đẩy lùi 7 đợt tiến công của địch, diệt 100 tên, trận địa được giữ vững. Riêng đồng chí diệt 10 tên.

   Trận Thạch Đông (Thủ Dầu Một) ngày 21 tháng 3 năm 1973, sau 1 ngày chiến đấu đơn vị được lệnh rút lui, bộ phận khiêng cáng thương binh đang chuẩn bị rời khỏi trận địa thì 1 đại đội địch phản kích. Hoàng Thế Cao động viên anh em khẩn trương khiêng thương binh về phía sau, còn mình đồng chí trụ lại đánh địch để anh em rút an toàn. Đồng chí chiến đấu ngoan cường, đẩy lùi nhiều đợt phản kích của địch và đã anh dũng hy sinh.

   Khi còn sống, Hoàng Thế Cao luồn chú trọng xây dựng đơn vị tiến bộ về mọi mặt, hết lòng thương yêu đồng đội. Nhiều lần đơn vị gặp khó khăn về lương thực đồng chí đã ăn rau rừng để nhường phần cơm cho thương binh.

   Đồng chí được tặng thưởng 3 Huân chương Chiến công giải phóng hạng 3, 1 huy hiệu Chủ tịch Hồ Chí Minh, 2 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua, 22 bằng khen, giấy khen.

   Ngày 20 tháng 12 nãm 1973, Hoàng Thế Cao được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG TRẦN XUÂN LAI
(LIỆT SĨ)


   Trần Xuân Lai sinh năm 1942, dân tộc Kinh, quê ở xã Văn Phú, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái, nhập ngũ tháng 4 năm 1968. Khi hy sinh, đồng chí là tiểu đoàn phó tiểu đoàn 9 bộ binh trung đoàn 3 sư đoàn 9 Bộ chỉ huy Miền, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ tháng 6 năm 1969 đến tháng 4 năm 1972, Trần Xuân Lai tham gia chiến đấu ở chiến trường Đông Nam Bộ và làm nhiệm vụ quốc tế ở Đông Bắc Cam-pu-chia. Trưởng thành từ chiến sĩ lên cán bộ tiểu đoàn, ở cương vị nào đồng chí củng hoàn thành xuất sầc nhiệm vụ. Trong chiến đấu, dù khó khăn, ác liệt thế nào, địch đông gấp mấy, đồng chí củng bình tĩnh, dũng cảm, mưu trí dẫn đầu đơn vị vượt qua, giành tháng lợi cho trận đánh. Đơn vị Trần Xuân Lai đã diệt hàng nghìn tên địch. Riêng Trần Xuân Lai diệt 120 tên (có 40 tên Mỹ), bắt 5 tên ngụy, bắn cháy 7 xe tăng phá hủy 2 khẩu pháo, 3 đại liên, thu 15 súng các loại.

   Trận phục kích trên đoạn đường Bổ Túc - Bà Chiêm tháng 3 năm 1970, khi đoàn xe địch lọt vào trận địa, đồng chí bắn 2 quả đạn B.40 diệt 2 xe tăng, rồi nhanh chóng dẫn đầu tiểu đội đánh mạnh vào đội hình xe, tạo thuận lợi cho đại đội xuất kích, diệt gọn đoàn xe 30 chiếc.

   Trận đánh căn cứ Chi Rum (Cam-pu-chia) ngày 26   tháng 5 năm 1970, Trần Xuân Lai dẫn đầu đơn vị thọc sâu vào giữa căn cứ địch, diệt sở chỉ huy tiểu đoàn và đánh thiệt hại nặng trận địa pháo địch. Khi bị thương gãy bốn chiếc răng, đồng chí vẫn ở lại vị trí chiến đấu cho đến khi trận đánh kết thúc.

   Ngày 5 tháng 4 năm 1972, Trần Xuân Lai chỉ huy đại đội làm nhiệm vụ chốt, chặn trung đoàn thiết giáp ngụy ở Lộc Ninh, bị thương hai lần, đồng chí vẫn kiên trì bám trụ, chỉ huy đơn vị đánh địch, tạo thuận lợi cho trung đoàn vận động tiến công tiêu diệt gọn trung đoàn thiết giáp địch. Riêng Trần Xuân Lai bắn cháy 4 xe tăng, diệt 20 tên địch, thu 4 súng.

   Trận đánh điểm cao 128 (gần sân bay Bình Long) ngày 16 tháng 4 năm 1972, đồng chí là tiểu đoàn phó, trực tiếp chỉ huy đại đội 10. Bị đứt liên lạc với trên 11 tiếng đồng hồ, đồng chí bình tĩnh chỉ huy đơn vị thọc sâu vào thị xã Bình Long, đánh chiếm nhiều mục tiêu, diệt nhiều địch và chủ động bắt liên lạc với đơn vị bạn, đánh chiếm dinh tỉnh trưởng. Trần Xuân Lai đã anh dũng hy sinh sau khi hoàn thành nhiệm vụ.

   Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 2 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua, 5 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ, 4 bằng khen.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1973, Trần Xuân Lai được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Năm, 2013, 02:41:43 pm
ANH HÙNG NGUYỄN NHÂN BIỂU
(LIỆT SĨ)


   Nguyễn Nhân Biểu sinh năm 1950, dân tộc Kinh, quê ở xã Nam Hùng, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, nhập ngũ tháng 7 năm 1968. Khi hy sinh, đồng chí là chính trị viên đại đội 11 bộ binh tiểu đoàn 9 trung đoàn 31, sư đoàn 2, Quân khu 5, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ năm 1969 đến tháng 8 năm 1972, Nguyễn Nhân Biểu tham gia chiến đấu ở chiến trường Quảng Nam, Quảng Ngãi. Trưởng thảnh từ chiến sĩ lên cán bộ đại đội, ở cương vị nào đồng chí cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Nguyễn Nhân Biểu đã đánh 43 trận, trận nào cũng dũng cảm, mưu trí, dẫn đầu đơn vị vượt qua mọi khó khăn, ác liệt, giành thắng lợi. Đơn vị đồng chí đã diệt hàng trăm tên địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh. Riêng Nguyễn Nhân Biểu diệt 88 tên địch (có 23 tên Mỹ), bắt 1 tên, phá hủy 5 xe bọc thép, thu 7 súng.

   Trận Sơn An (Quế Sơn) ngày 19 tháng 5 năm 1970, Nguyễn Nhân Biểu dẫn đầu trung đội xông lên đánh đoàn xe thiết giáp Mỹ. Trong lúc hỏa lực địch bắn rất mạnh vào đội hình trung đội, Nguyễn Nhân Biểu nhanh chóng vòng sang phải, bắn 2 quả B.40, diệt 2 xe M.41 giết 12 tên Mỹ, làm đội hình xe địch rối loạn, tạo thuận lợi cho đơn vị xông lên diệt địch.

   Trận Bàn Thùng (Quảng Nam) ngày 23 tháng 6 năm 1972, Nguyễn Nhân Biểu chỉ huy đại đội chốt giữ điểm cao 729. Mặc cho máy bay Mỹ đánh phá ác liệt yểm trợ cho bộ binh đánh chiếm điểm cao, đồng chí bình tĩnh đến từng hầm động viên chiến sĩ giữ vững ý chí chiến đấu. Suốt 1 ngày, đơn vị Nguyễn Nhân Biểu chiến đấu ngoan cường, đánh lui nhiều đợt tiến công của địch, diệt nhiều tên, giữ vững chốt. Riêng đồng chí diệt 3 tên.

   Trận Thuận An (Quảng Nam) ngày 12 tháng 8 năm 1972, Nguyễn Nhân Biểu chỉ huy đại đội diệt 1 tiểu đoàn địch, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Riêng đồng chí diệt 6 tên, bắn cháy 1 xe bọc thép, thu 1 súng, bắt 1 tù binh.

   Trận đánh điểm cao 381 (Quế Sơn) ngày 30 tháng 8 năm 1972, khi nổ súng, địch bắn mạnh vào khu vực cửa mở, đơn vị không lên được, Nguyễn Nhân Biểu dũng cảm xông lên diệt một số hỏa điểm. Hành động của đồng chí cổ vũ đơn vị vượt qua cửa mở, đánh thẳng vào vị trí địch, làm chủ trận địa. Nguyễn Nhân Biểu đã anh dũng hy sinh sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

   Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạngba, 2 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1973, Nguyễn Nhân Biểu được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vú trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG ĐỖ VĂN ĐẠO
(LIỆT SĨ)

(http://imageshack.us/a/img707/3053/dovandao.jpg)


   Đỗ Văn Đạo sinh năm 1951, dân tộc Kinh, quê ở xã Thượng Cốc, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây. Trú quán tại xã Thượng Cốc, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây, nhập ngũ tháng 6 năm 1968. Khi hy sinh, đồng chí là đại đội trưởng đại đội 1 bộ binh thuộc tiểu đoàn 1 trung đoàn 2 sư đoàn 3 Quân khu 5, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Năm lần Đỗ Văn Đạo đi khám tuyển bộ đội đều không đủ cân, lần thứ sáu cũng không đủ điều kiện nhập ngũ, đồng chí thiết tha xin đi bằng được. Được vào bộ đội, Đỗ Văn Đạo tích cực luyện tập quân sự, rèn luyện sức khỏe và xung phong đi chiến trường. Hành quân vào tới Quảng Nam, đồng chí bị ốm, khi điều trị khỏi, viện quân y cho ra Bắc, Đỗ Văn Đạo kiên quyết xin ở lại, tìm về đơn vị tham gia chiến đấu.

   Trưởng thành từ chiến sĩ lên cán bộ đại đội, ở cương vị nào, Đỗ Văn Đạo cũng nêu cao tinh thần chiến đấu dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, tích cực đánh địch. Đỗ Vàn Đạo đã đánh 15 trận, 11 lần bị thương lần nào củng ở lại trận địa tiếp tục chiến đấu cho tới khi trận đánh kết thúc. Đồng chí đã diệt 61 tên địch, bắt 9 tên, bắn rơi 1 máy bay lên thẳng, bắn cháy 1 xe thiết giáp, thu 9 súng. Đơn vị do Đỗ Văn Đạo chỉ huy đã diệt gần 1000 tên địch, phá hủy và thu nhiều phương tiện chiến tranh.

   Trận Phù Mỹ (Bình Định) tháng 4 năm 1970, Đỗ Văn Đạo lần đầu tham gia chiến đấu, thấy địch tháo chạy, đồng chí nhanh chóng chạy đón đầu, một mình chặn địch, bát 8 tên, thu 3 súng.

   Trận Mỹ Lộc (Bình Định) tháng 4 năm 1970, Đỗ Văn Đạo chỉ huy tiểu đội. Sau khi diệt được 8 tên, đồng chí bị thương vào tay, tự băng bó rồi tiếp tục xông lên diệt địch và động viên mọi người chiến đấu. Kết quả trận này, tiểu đội đồng chí diệt gọn 1 đại đội địch. Riêng Đỗ Văn Đạo diệt 20 tên.

   Tháng 4 năm 1971, trên đường đi điều trị về, gặp du kích đang chuẩn bị đánh địch, Đỗ Văn Đạo chủ động đề nghị được tham gia chiến đấu. Trước khi đánh đồng chí bí mật bò vào ấp, bắt tên trung đội trưởng bảo an mang ra ngoài khai thác tình hình, sau đó dẫn anh em du kích vào đánh. Trận này, Đỗ Văn Đạo cùng với 6 du kích diệt gọn 1 trung đội địch.

   Trận Vạn Thiết (Bình Định) tháng 5 năm 1971, sau khi diệt 10 tên địch, Đỗ Văn Đạo lấy xác địch xếp thành vật che đỡ, chờ địch đến gần mới đánh. Khi địch bỏ chạy đồng chí bị thương nát ngón tay trỏ, vẫn dẫn đầu đơn vị truy kích địch.

   Tháng 8 năm 1971, trên đường đi điều trị về, Đỗ Văn Đạo phát hiện 1 tiểu đội lính Nam Triều Tiên, đồng chí lợi dụng vườn cây ẩn nấp chờ địch đến gần, xông ra cướp khẩu M.79, bắn vào đội hình chúng. Bọn địch sống sót hốt hoảng chạy tán loạn.

   Trận Đầu Tượng (Bình Định) ngày 8 tháng 1 năm 1973, Đỗ Văn Đạo chỉ huy bộ đội chiến đấu rất dũng cảm, mưu trí, diệt gọn 1 đại đội địch. Đồng chí Đỗ Văn Đạo hy sinh trong tư thế của người chỉ huy quả cảm.

   Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 2 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ Quyết thắng, 1 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt máy bay.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1973, Đỗ Văn Đạo được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Năm, 2013, 02:48:51 pm
ANH HÙNG HÀ KIỆN TOÀN
(LIỆT SĨ)


   Hà Kiện Toàn sinh năm 1952, dân tộc Kinh, quê ở xã Trị Quận, huyện Phù Ninh, tỉnh Vĩnh Phú, nhập ngũ tháng 8 năm 1968. Khi hy sinh, đồng chí là trung đội trưởng thuộc đại đội 3 bộ binh, tiểu đoàn 261A, trung đoàn 1 Bộ chỉ huy Miền, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ tháng 12 năm 1968 đến tháng 7 năm 1971, Hà Kiện Toàn chiến đấu ở chiến trường Nam Bộ, đồng chí đã đánh 55 trận, chỉ huy đơn vị diệt hàng trăm tên địch. Riêng Hà Kiện Toàn diệt 91 tên (có 1 sĩ quan Mỹ, 1 sĩ quan ngụy), bắt 4 tên, thu 8 súng, 1 máy vô tuyến điện, bắn cháy 6 xe quân sự.

   Trận đánh địch càn quét ở Thạnh Phú (Mỏ Cày, Bến Tre), Hà Kiện Toàn làm nhiệm vụ trinh sát, đồng chí liên tục bám đánh địch 4 ngày đêm, cung cấp tình hình địch cho đơn vị chính xác, kịp thời. Ngày 13 tháng 3 năm 1970, khi bám sát địch, bị chúng phát hiện, Hà Kiện Toàn đã dũng cảm, mưu trí, nổ súng kịp thời, diệt 13 tên, bắt 2 tên, thu 2 súng.

   Ngày 27 tháng 7 năm 1971, đồng chí chỉ huy trung đội đánh bọn biệt kích ở Kiến Tường. Trước khi đánh, Hà Kiện Toàn nhiều lần vào vị trí địch điều tra tình hình để có phương án đánh địch chính xác. Khi nổ súng Hà Kiện Toàn bình tĩnh chỉ mục tiêu cho từng tổ đánh. Thấy địch chuẩn bị lực lượng phản kích, đồng chí kịp thời tổ chức đơn vị đánh nhanh, đánh mạnh vào bộ phận này và diệt hết các hỏa điểm mới xuất hiện. Do có sự chỉ huy bình tĩnh, mưu trí linh hoạt, anh em chiến đấu dũng cảm, nên đơn vị Hà Kiện Toàn đã diệt gần hết 1 đại đội biệt kích khét tiếng gian ác. Đồng chí đã anh dũng hy sinh sau khi hoàn thành nhiệm vụ.

   Khi còn sống, Hà Kiện Toàn luôn tích cực góp sức xây dựng đơn vị tiến bộ về mọi mặt. Đóng quân ở đâu, đồng chí củng chú trọng làm công tác tuyên truyền, vận động quần chúng, tổ chức huấn luyện cho du kích về kỹ thuật, chiến thuật. Trận đánh nào Hà Kiện Toàn cũng ở lại sau cùng để giải quyết thương binh, tử sĩ, không để sót trường hợp nào.

   Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1973, Hà Kiện Toàn được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG TRẦN VĂN DẦN
(LIỆT SĨ)

(http://imageshack.us/a/img405/5358/tranvandan.jpg)


   Trần Văn Dần sinh năm 1948, dân tộc Kinh, quê ở xã Xuân Phố, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, nhập ngũ tháng 7 năm 1965, Khi hy sinh, đồng chí là trung đội trưởng thuộc đại đội 5 đặc công đoàn 10 Bộ tư lệnh Đặc eông, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ năm 1969 đến tháng 6 năm 1971, Trần Văn Dần hoạt động ở chiến trường Nam Bộ, đồng chí vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ, chiến đấu dũng cảm, công tác tận tụy, luôn nhận khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho bạn. Trần Văn Dần đã cùng tổ đánh chìm 7 tàu dịch trọng tải từ 10.000 đến 12.000 tấn, đánh trọng thương 1 tàu 10.000 tấn, làm cháy 15 triệu lít xăng, dùng mìn ĐH.10 diệt 2 tiểu đội bộ binh địch, phá hủy 1 khẩu pháo 105.

   Trong những năm khó khăn, địch đánh phá ác liệt và canh phòng cẩn mật, Trần Văn Dần cùng tổ kiên trì bám chiến trường, tìm hiểu kỹ cách bố phòng và quy luật hoạt động của địch nên đã xuất kích là chiến thắng.

   Trận đánh tàu ngày 25 tháng 5 năm 1970, khi tổ áp trái nổ vào mục tiêu, đồng chí phát hiện cách 300 mét có 1 chiếc tàu lớn hơn. Mặc dù khối thuốc nổ đã sắp đến giờ nổ, Trần Văn Dần vẫn kiên quyết đưa sang áp vào chiếc tàu lớn. Đồng chí bơi ra cách tàu không xa thì khối thuốc nổ. Chiếc tàu chở 12.000 tấn dầu bị cháy và chìm ngay tại chỗ.

   Trận tập kích trận địa pháo An Thịnh cuối năm 1970, tuy phải vượt qua sông lớn, ngâm mình dưới nước 3 giờ liền, phải luồn qua nhiều lớp rào và bãi mìn, Trần Văn Dần vẫn kiên quyết khắc phục và với quả mìn ĐH.10, đồng chí đã diệt 2 tiểu đội bộ binh, phá hủy 1 khẩu pháo 105.

   Trong trận đánh địch càn quét tháng 6 năm 1971, đồng chí đã anh dũng hy sinh sau khi hoàn thành tốt nhiệm vụ.

   Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 2 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua, 11 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ, 28 bằng khen và giấy khen.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1973, Trần Văn Dần được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Năm, 2013, 03:52:22 pm
ANH HÙNG ĐẶNG TIẾN LỢI
(LIỆT SĨ)

(http://imageshack.us/a/img401/2140/dangtienloi.jpg)


   Đặng Tiến Lợi sinh năm 1953, dân tộc Kinh, quê ở xã Quang Minh, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, nhập ngũ tháng 1 năm 1971. Khi hy sinh, đồng chí là trung đội phó đặc công nước thuộc đại đội 2 tiểu đoàn 471 Quân khu 5, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Năm 1972 Đặng Tiến Lợi chiến đấu ở Quảng Nam - Đà Nẵng, đánh 4 trận, dù khó khăn, nguy hiểm thế nào, đồng chí củng kiên quyết vượt qua và chỉ huy tổ chiến đấu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đồng chí đã chỉ huy tổ phá sập 3 cầu lớn (dài 100 mét trở lên), 1 khu trung tâm ra-đa, diệt 20 tên. Riêng đồng chí phá sập 2 cầu.

   Cầu Liên Chiểu (Hòa Vang) dài hơn 100 mét, nằm trên đường số 1 (đoạn Đà Nẵng đi đèo Hải Vân). Địch ở đây canh phòng rất nghiêm ngặt, thường xuyên có 1 tiểu đội gác cầu, thỉnh thoảng chúng lại bắn và ném lựu đạn xuống nước. Sau khi trinh sát kỹ, ngày 10 tháng 5 năm 1972, Đặng Tiến Lợi xung phong mang 80 ki-lô-gam bộc phá vào đánh. Khi vào gần đến chân cầu, khối thuốc nổ mắc cạn, địch bắn xuống sông dữ dội, đồng chí bình tĩnh kéo khối thuốc nổ ra khỏi chỗ cạn, tìm mọi cách đưa vào trụ cầu. Cầu bị đánh sập, Đặng Tiến Lợi trở về an toàn.

   Trận đánh cầu Thủy Tú (Hòa Vang) ngày 14 tháng 5 năm 1972, mặc dù đèn điện thắp sáng suốt đêm, địch thường xuyên tuần tra quanh trụ cầu, đồng chí dẫn một tổ đem khối bộc phá 100 ki-lô-gam vào đánh. Ba nhịp cầu dài 150 mét bị sập, giao thông địch trên đường số 1 bị tắc một thời gian.

   Trận đánh vào khu trung tâm ra-đa ở bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) tháng 8 năm 1972, Đặng Tiến Lợi dẫn một tổ trinh sát bơi hàng chục ki-lô-mét trên biển, tiến vào vị trí. Ở đây địch tổ chức canh phòng rất nghiêm ngặt. Đường vào bán đảo, chúng bố trí nhiều vọng gác và thường xuyên đi lại tuần tra. Gần 1 tháng ăn gạo rang bám địch, tổ trinh sát đã kiên trì nghiên cứu được cách bố phòng và quy luật hoạt động của địch. Khi về đơn vị báo cáo, thấy người yếu nên trên cho nghỉ, nhưng đồng chí vẫn xin đi đánh vì lo thời tiết thay đổi, khó vượt biển. Khi đi đánh, ra tới biển gặp bão lớn, tổ phải đợi 4 ngày. Bão tan, tổ đồng chí vượt biển, vào được Sơn Trà, đặt mìn phá hỏng nặng khu trung tâm ra-đa của địch.

   Trong trận chiến đấu Thủy Tú lần thứ hai, ngày 8 tháng 11 năm 1972, khi Đặng Tiến Lợi đặt mìn vào chân cầu, bọn địch phát hiện được, chúng bắn rất dữ dội. Đồng chí bình tĩnh cho mìn nổ, phá cầu và hy sinh anh dũng.

   Đồng chí được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, nhiều bằng khen và giấy khen.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1973, Đặng Tiến Lợi được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG NGUYỄN VĂN O
(LIỆT SĨ)

(http://imageshack.us/a/img209/8369/nguyenvano.jpg)


   Nguyễn Văn O sinh năm 1946, dân tộc Kinh, quê ở xã Duy Tân, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Hưng, nhập ngũ tháng 7 năm 1967. Khi hy sinh, đồng chí là tiểu đội trưởng trinh sát, thuộc tiểu đoàn 7 trung đoàn 33 Bộ chỉ huy Miền, đoàn viên Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.

   Đồng chí Nguyễn Văn O là con duy nhất của gia đình, bố mẹ già yếu nên được tạm hoãn đi làm nghĩa vụ quân sự nhưng đồng chí vẫn quyết tâm xin được nhập ngũ.

   Từ tháng 4 năm 1968 đến tháng 5 năm 1969, Nguyễn Văn O tham gia chiến đấu tại chiến trường Đông Nam Bộ, đồng chí đã đánh 3 trận đạt hiệu suất chiến đấu cao, diệt 65 tên địch (có 45 tên Mỹ, 5 lính Thái Lan) thu 8 súng. Đồng chí là tấm gương tiêu biểu về tinh thần kiên quyết tiến công địch lấy ít thắng nhiều và tinh thần hy sinh vì thắng lợi, có tác dụng cổ vũ mọi người hăng hái chiến đấu.

   Tháng 1 năm 1969, Nguyễn Văn O cùng 2 đồng chí khác làm nhiệm vụ giữ kho của trung đoàn ở nam Sông Bé. 2 đại đội Mỹ càn quét vào khu kho, đồng chí bình tĩnh chỉ huy tổ, bí mật chờ địch vào thật gần mới nổ súng.

   Ngay loạt đạn đầu, tổ đã diệt một số tên, buộc chúng phải lui ra xa. Sau đó, Nguyễn Văn O phân công 2 người đánh sang hai bên sườn địch, còn mình đảm nhiệm hướng chính. Lúc dùng tiểu liên, lựu đạn chờ địch vào thật gần mới đánh, lúc bắn tỉa địch từ xa, đồng chí đã cùng tổ chiến đấu ngoan cường suốt cả ngày với 2 đại đội Mỹ, diệt 90 tên, trận địa được giữ vững. Riêng đồng chí diệt 45 tên, thu 8 súng.

   Tháng 3 năm 1969, Nguyễn Vãn O tham gia đánh địch ở Cầu Cối (Biên Hòa), đồng chí dẫn đầu tổ trinh sát vượt qua nhiều khó khăn, nguy hiểm, điều tra nắm chắc tình hình địch, giúp tiểu đoàn hạ quyết tâm đánh địch chính xác. Khi đánh, đồng chí dẫn một mũi, đánh thẳng vào đồn địch góp phần quan trọng cùng tiểu đoàn diệt gọn 1 tiểu đoàn lính Thái Lan. Riêng đồng chí diệt 5 tên.

   Trận An Lộc (Long Khánh) ngày 17 tháng 5 năm 1969, đơn vị vừa tới hàng rào cứ điểm, địch phát hiện, bắn ra rất dữ dội. Đồng chí nhanh chóng vòng sang phải đội hình, luồn qua hàng rào phía sau địch, bất ngờ dùng lựu đạn diệt hỏa điểm. Nhờ hành động dũng cảm và xử trí kịp thời của Nguyễn Văn O, đơn vị đã vượt qua hàng rào, đánh thẳng vào vị trí địch, diệt gọn 1 đại đội ngụy, 2 trung đội tính bảo an. Đồng chí hy sinh anh dũng.

   Khi còn sống, Nguyễn Văn O luôn xung phong, gương mẫu trong mọi việc, hết lòng thương yêu đồng đội. Có lần gặp một đồng chí bị thương nặng, đồng chí đã cõng đi suốt đêm, kịp về tuyến sau cấp cứu.

   Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 2 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua, 1 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ, 5 bằng khen.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1973, Nguyễn Văn O được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Năm, 2013, 03:55:01 pm
ANH HÙNG NGUYỄN HUY HIỆU

(http://imageshack.us/a/img705/1281/nguyenhuyhieu.jpg)


   Nguyễn Huy Hiệu sinh năm 1947, dân tộc Kinh, quê ở xã Hải Long, huyện Hải Hậu tỉnh Nam Hà, nhập ngũ tháng 2 năm 1965. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đại úy, trung đoàn phó trung đoàn 27 bộ binh sư đoàn 320, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ năm 1968 đến tháng 6 nãm 1972, Nguyễn Huy Hiệu chiến đấu ở chiến trường Trị - Thiên. Trưởng thành từ chiến sĩ lên cán bộ trung đoàn, ở cương vị nào đồng chí cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đồng chí đã đánh 60 trận, diệt 60 tên, phá hủy 18 súng các loại và chỉ huy đơn vị diệt trên hai nghìn tên (có 500 tên Mỹ), bắt sống 100 tên, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh. Ba lần bị thương, Nguyễn Huy Hiệu không rời trận địa, tiếp tục chỉ huy đơn vị chiến đấu.

   Trận đánh đồi Độc Lập (Quảng Trị) năm 1968, Nguyễn Huy Hiệu dẫn đầu trung đội tiến công 1 trung đội thám báo Mỹ giữa ban ngày. Sau 15 phút chiến đấu quyết liệt, đơn vị đồng chí diệt gần hết trung đội này. Địch vội vã đổ thêm 2 trung đội nữa xuống đồi bên cạnh để chi viện. Mặc dù bị thương vào tay trái, máu chảy nhiều, Nguyễn Huy Hiệu vẫn dũng cảm dẫn đầu trung đội nhanh chóng đánh mạnh vào bọn địch mới đổ xuống, chia cắt chúng để diệt. Kết quả, trung đội diệt gọn 2 trung đội Mỹ, thu 5 súng. Riêng đồng chí diệt 7 tên.

   Trận đánh cụm bộ binh cơ giới ở Tân Kim (Quảng Trị) ngày 5 tháng 4 năm 1970, trước khi đánh, đồng chí đã đi trinh sát 5 đêm liền. Đêm thứ 5 Nguyễn Huy Hiệu bị thương, nhưng vẫn tiếp tục nhiệm vụ. Khi đánh, đồng chí dẫn đầu đại đội xông lên chia cắt đội hình địch làm đôi, diệt từng cụm xe và bộ binh địch. Sau 30 phút chiến đấu, đại đội đồng chí diệt gọn 1 đại đội Mỹ, phá hủy 10 xe tăng, xe bọc thép. Riêng đồng chí diệt 10 tên.

   Trong chiến dịch Đường số 9 - Nam Lào, trận phục kích đoàn xe địch trên đường số 9 ngày 19 tháng 3 năm 1971, mặc cho máy bay, pháo binh địch đánh phá ác liệt, Nguyễn Huy Hiệu vẫn chờ cho đoàn xe địch lọt vào trận địa mới dẫn đầu mũi chủ yếu của tiểu đoàn đánh mạnh vào giữa đoàn xe, tạo thuận lợi cho tiểu đoàn xông lên diệt gọn đoàn xe địch 28 chiếc, diệt gần trăm tên Mỹ, ngụy.

   Từ 30 tháng 3 đến 2 tháng 4 năm 1972, Nguyễn Huy Hiệu chỉ huy tiểu đoàn đảm nhiệm hướng chủ yếu của trung đoàn, chiến đấu hiệp đồng binh chủng ở các khu vực điểm cao 288, 241, 544 (Quảng Trị). Mặc dù địch tập trung máy bay, pháo binh đánh phá ác liệt, đồng chí vẫn bình tĩnh chỉ huy đơn vị chiến đấu, hiệp đồng chặt chẽ với các đơn vị bạn diệt địch. Tiểu đoàn do Nguyễn Huy Hiệu chỉ huy đã đánh thiệt hại nặng 3 tiểu đoàn địch, bắt 158 tên, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

   Nguyễn Huy Hiệu luôn chú trọng học tập nâng cao trình độ tổ chức, chỉ huy và xây dựng đơn vị tiến bộ về mọi mặt, khiêm tốn học hỏi quần chúng, giản dị, được đồng đội tin yêu.

   Đồng chí được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 2 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua, 4 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1973, Nguyễn Huy Hiệu được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG TRẦN CÔNG ĐOÀN

(http://imageshack.us/a/img580/8579/tranvandoan.jpg)


   Trần Công Đoàn sinh năm 1947, dân tộc Kinh, quê ở xã Hoằng Thanh, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa, nhập ngũ tháng 3 năm 1967. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là thượng úy, chính trị viên phó tiểu đoàn 9 bộ binh thuộc trung đoàn 66 sư đoàn 304, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ năm 1968 đến năm 1972, Trần Công Đoàn tham gia chiến đấu ở Quảng Trị. Trường thành từ chiến sĩ lên cán bộ tiểu đoàn, ở cương vị nào đồng chí củng nêu cao tinh thần dũng cảm, mưu trí, linh hoạt, hăng say đánh giặc, vượt mọi khó khăn ác liệt, kiên quyết hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đồng chí đã đánh 23 trận, diệt 62 tên (có 17 tên Mỹ), bắt 2 tên, phá hủy 3 đại liên, thu 10 súng.

   Trận đánh điểm cao 622 (bắc Quảng Trị) ngày 4 tháng 4 năm 1968, tuy là chiến sĩ mới chưa được giao nhiệm vụ chiến đấu, Trần Công Đoàn đã xin đơn vị cho đi đánh địch. Lần đầu tham gia chiến đấu, đồng chí bình tĩnh, chờ địch vào thật gần mới ném lựu đạn, bắn súng. Thấy địch bỏ chạy, đồng chí lập tức truy kích, diệt 6 tên.

   Trận đánh điểm cao 300 (tây Tân Lâm) ngày 4 tháng 5 năm 1968, Trần Công Đoàn phụ trách khẩu đội súng cối 60. Địch cho 1 tiểu đoàn tiến công vào chốt, đồng chí vừa chỉ huy khẩu đội, vừa dùng tiểu liên, trung liên bắn vào đội hình địch. Kết quả, đại đội Trần Công Đoàn diệt 67 tên Mỹ. Riêng đồng chí diệt 9 tên.

   Trận Cồn Tiên ngày 2 tháng 6 năm 1970, trước khi đánh, Trần Công Đoàn chuẩn bị rất chu đáo; khi nổ súng, đồng chí nhanh chóng dẫn đầu trung đội, đánh thẳng vào sở chỉ huy địch. Sau 15 phút chiến đấu, trung đội Trần Công Đoàn diệt gần hết 1 đại đội địch. Riêng đồng chí diệt 16 tên.

   Trận đánh điểm cao 35 (bắc Mỹ Chánh) ngày 24 tháng 6 năm 1972, sau khi chỉ huy đại đội diệt gọn 1   trung đội địch, biết thế nào địch cũng phản kích, Trần Công Đoàn nhanh chóng động viên đơn vị củng cố trận địa, giữ vững quyết tâm chiến đấu bảo vệ chốt. Đúng như dự đoán, địch tổ chức tiến công chốt nhiều đợt. Đồng chí vừa chỉ huy đơn vị, vừa dùng AK, trung liên, B.40... đánh địch. Trận này, đơn vị diệt gần 100 tên địch. Riêng đồng chí diệt 13 tên, thu 3 súng.

   Trần Công Đoàn luôn gương mẫu, giản dị, khiêm tốn, chú trọng xây dựng đơn vị về mọi mặt, được mọi người tin yêu.

   Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 3 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ Quyết thắng, 4 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1973, Trần Công Đoàn được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Sáu, 2013, 02:21:52 pm
ANH HÙNG ĐINH BANH

(http://imageshack.us/a/img33/2659/dinhbanh.jpg)


   Đinh Banh sinh năm 1942, dân tộc Re, quê ở xã Sơn Thành, huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi, nhập ngũ tháng 6 năm 1959. Khi được tuyên đương Anh hùng, đồng chí là đại đội trưởng đại đội 5 bộ binh tiểu đoàn 20 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Ngãi, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Đinh Banh đã tham gia chiến đấu 200 trận, trận đánh nào củng bình tĩnh, tích cực đánh địch, kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ. Đồng chí đã chỉ huy đơn vị diệt nhiều địch, riêng đồng chí diệt 54 tên, thu 28 súng, phá hủy một xe quân sự địch. Trong quá trình chiến đấu, đồng chí bị thương 13 lần, lần nào cũng không rời trận địa cho tới khi trận đánh kết thúc. Trên người Đinh Banh đã có hơn 20 vết thương (có nhiều vết thương nặng như hỏng một mắt, vỡ xương hàm, xương chậu, thủng nhiều đoạn ruột, đạn còn nằm trong ngực). Nhiều lần trên cho về tuyến sau nghỉ, nhưng đồng chí vẫn thiết tha xin ở lại đơn vị chiến đấu.

   Trận đánh Hòn Một (Quảng Ngãi) ngày 31 tháng 12 năm 1965, mặc cho hỏa lực địch bắn dữ dội, Đinh Banh bị thương vẫn nhanh chóng xông lên diệt lô cốt đầu cầu, đánh vào vị trí, tiêu diệt các hỏa điểm quan trọng của chúng, tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị diệt gọn 1 đại đội địch.

   Ngày 28 tháng 2 năm 1969, đánh bọn biệt kích đóng ở Sơn Hà (Quảng Ngãi), Đinh Banh bị thương thủng ruột, vỡ xương chậu, vẫn ở lại trận địa động viên đồng đội hăng hái chiến đấu cho đến khi trận đánh kết thúc.

   Tháng 2 năm 1973, có lần 1 đại đội địch nống lấn ra vùng Tà Bua (Quảng Ngãi), đồng chí chỉ huy 18 anh em nhanh chóng vận động đánh địch, diệt 47 tên, thu 7 súng. Riêng đồng chí diệt 7 tên.

   Đinh Banh luôn gương mẫu trong mọi việc, đi sát giúp đỡ mọi người, khiêm tốn, giản dị, được đồng đội tin yêu.

   Đồng chí được tặng thưởng 5 Huân chương Chiến công giải phóng các hạng, 9 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1973, Đinh Banh được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG NGUYỄN THỊ PHÚC

(http://imageshack.us/a/img153/7131/nguyenthiphuc.jpg)


   Nguyễn Thị Phúc sinh năm 1952, dân tộc Kinh, quê ở xã Mỹ Lợi, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định, nhập ngũ tháng 5 năm 1968. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là chính trị viên phó đại đội 3 đặc công, bộ đội địa phương huyện Phù Mỹ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Năm 1967, Nguyễn Thị Phúc tham gia du kích, bị địch bắt 6 tháng. Trong thời gian ở tù, đồng chí chịu đựng mọi tra tấn dã man của địch, giữ vững khí tiết cách mạng, không khai báo một lời, cùng chị em trong tù tích cực đấu tranh, đòi địch trả lại tự do cho người tù.

   Năm 1968 ra tù, đồng chí xung phong vào bộ đội. Nguyễn Thị Phúc đã tham gia chiến đấu 58 trận, trận nào cũng bình tĩnh, dũng cảm, mưu trí; đã chỉ huy đơn vị diệt hàng trăm tên địch. Riêng đồng chí diệt 127 tên, thu 16 súng, phá hủy 1 xe quân sự. Bị thương 3 lần, sức khỏe giảm sút, đơn vị bố trí công tác nhẹ ở phía sau, Nguyễn Thị Phúc thiết tha xin ở lại trực tiếp chiến đấu.

   Trong trận Hưng Khánh (Bình Định) tháng 5 năm 1968, đồng chí phá sập 3 lô cốt, diệt 13 tên, thu 3 súng, góp phần cùng đơn vị diệt gọn 2 trung đội bảo an ác ôn.

   Trận Phù Mỹ ngày 2 tháng 9 năm 1969, vừa đi điều trị về, vết thương chưa lành hẳn, người còn yếu, nhưng Nguyễn Thị Phúc vẫn xin đi chiến đấu. Khi nổ súng, đồng chí dũng cảm vượt qua làn đạn địch đánh thẳng vào khu vực được phân công. Sau khi diệt được 6 tên, Nguyễn Thị Phúc lấy luôn khẩu trung liên của địch, bắn mãnh liệt vào các hỏa điểm địch, tạo thuận lợi cho mũi bạn tiến đánh. Kết quả, trận này, đồng chí đã diệt 21 tên, thu 5 súng.

   Ngày 17 tháng 2 năm 1971, Nguyễn Thị Phúc đổi tên vào sống hợp pháp trong quận lỵ Phù Mỹ để nắm tình hình địch. Nhờ điều tra chính xác tình hình địch, đơn vị nhanh chóng diệt gọn 1 trung đội địch. Riêng đồng chí diệt 11 tên.

   Trận Nghĩa Tào (Phù Mỹ) ngày 27 tháng 7 năm 1972, Nguyễn Thị Phúc phụ trách một tổ, cải trang làm lính địch, vào vị trí địch giữa ban ngày, diệt 9 tên ác ôn.

   Trận Mỹ Quang (Phù Mỹ) ngày 29 tháng 10 năm 1972, đồng chí có nhiệm vụ giả đi thăm người nhà trong đồn rồi tùy thời cơ đánh địch. Đến nơi, lợi dụng được sơ hở của địch, đồng chí đặt mìn, phá hủy một kho đạn, 1 xe giép, diệt 19 tên. Trận đánh thắng có ảnh hưởng lớn, thúc đẩy phong trào quần chúng ở địa phương nổi dậy giành quyền làm chủ.

   Đóng quân ở đâu, Nguyễn Thị Phúc cũng tích cực vận động thanh niên tham gia Quân giải phóng. Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 2 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ Quyết thắng, 3 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1973, Nguyễn Thị Phúc được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Sáu, 2013, 02:26:25 pm
ANH HÙNG NGUYỄN ĐỨC QUÂN

(http://imageshack.us/a/img703/4819/nguyenducquan.jpg)


   Nguyễn Đức Quân sinh năm 1945, dân tộc Kinh, quê ở xã Hòa Hiệp, huyện Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, nhập ngũ tháng 9 năm 1965. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 7 đặc công, trung đoàn 10 Bộ chỉ huy Miền, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Nguyễn Đức Quân tham gia du kích xã từ năm 15 tuổi (1960), đã đánh nhiều trận, trận nào đồng chí cũng dũng cảm, mưu trí, tích cực tiêu diệt địch; đồng chí đã diệt 20 tên, đánh chìm 1 tàu, thu 21 súng, góp phần cùng du kích xã diệt nhiều sinh lực địch, giữ vững và phát triển phong trào chiến tranh du kích ở địa phương.

   Từ năm 1965, Nguyễn Đức Quân cùng đơn vị chiến đấu trên chiến trường Khu 5 và Nam Bộ. Trưởng thành từ chiến sĩ lên cán bộ tiểu đoàn ở cương vị nào, đồng chí cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Trong chiến đấu ác liệt, Nguyễn Đức Quân luôn bình tĩnh, mưu trí, linh hoạt, dẫn đầu đơn vị giành thắng lợi trong trận đánh. Bốn lần bị thương, bị ngất, khi tỉnh dậy lại tiếp tục chỉ huy chiến đấu, nêu tấm gương tiêu biểu cho toàn đơn vị học tập. Nguyễn Đức Quân đã chỉ huy đơn vị diệt hàng nghìn tên địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh. Riêng đồng chí diệt 345 tên, bắt 7 tên, phá hủy 3 xe tăng, thu 16 súng.

   Trận Bến Đá (Tuy Hòa) tháng 3 năm 1966, khi đơn vị tiến đánh vào giữa vị trí địch, Nguyễn Đức Quân nhanh chóng vòng sang cánh phải, bất ngờ đánh thọc sườn, chia cắt đội hình địch ra làm hai bộ phận, tạo điều kiện cho đơn vị tiến công làm chủ cứ điểm. Kết quả, đơn vị đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn quân Mỹ. Riêng đồng chí diệt 17 tên.

   Trận Hòa Cò (Tuy An) tháng 4 năm 1967, Nguyễn Đức Quân chỉ huy tiểu đội chiến đấu ngoan cường, giữ vững chốt. Bị thương vào đầu, nhiều lần bị ngất, khi tỉnh dậy Nguyễn Đức Quân lại tiếp tục chỉ huy tiểu đội đánh địch. Tiểu đội đồng chí đã chiến đấu quyết liệt với địch suốt 13 giờ liền, giữ vững chốt, tạo điều kiện thuận lợi cho tiểu đoàn diệt gọn 2 đại đội địch. Riêng Nguyễn Đức Quân diệt 25 tên.

   Trận đánh thị xã Quy Nhơn Xuân 1968, Nguyễn Đức Quân bị thương lần thứ nhất vào sườn vẫn tiếp tục chỉ huy đơn vị đánh địch. Bị thương lần thứ hai vào mắt, bị ngất, đơn vị chuyển ra ngoài, khi tỉnh đậy, đồng chí lại trở vào trận địa, chỉ huy đơn vị chiến đấu cho tới khi trận đánh kết thúc. Kết quả, đại đội Nguyễn Đức Quân diệt 270 tên địch, phá hủy 12 khẩu pháo, 3 xe tăng. Riêng đồng chí diệt 27 tên, phá hủy 3 xe tăng.

   Trận đánh căn cứ Bà Thầy (Cà Mau) đêm 6 tháng 7 năm 1972, tiểu đoàn Nguyễn Đức Quân đảm nhiệm hướng chủ yếu của trung đoàn. Khi tiến vào vị trí địch, đơn vị gặp khó khăn, còn một hàng rào cuối cùng chưa mở được vì hết bọc phá. Mặc cho hỏa lực địch bắn mạnh, Nguyễn Đức Quân nhanh chóng nằm đè lên hàng rào thép gai, làm thang cho bộ đội xông lên, hăng hái chiến đấu. Sau đó, Nguyễn Đức Quân lại xông vào vị trí địch, tiếp tục chỉ huy đơn vị. Tiểu đoàn đồng chí đã góp phần tích cực cùng trung đoàn diệt gọn 2 tiểu đoàn, 1 sở chỉ huy trung đoàn,diệt 500 tên. Riêng đồng chí diệt 15 tên.

   Đồng chí luôn tích cực học tập, rút kinh nghiệm, nên trình độ chỉ huy, lãnh đạo ngày càng được nâng cao.

   Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạn nhất, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 4 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 4 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua, 8 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1973, Nguyễn Đức Quân được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG DƯƠNG CÔNG SỬU

(http://imageshack.us/a/img839/803/duongcongsuu.jpg)


   Dương Công Sửu sinh năm 1950, dân tộc Tày, quê ở xã Bắc Sơn, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn, nhập ngũ tháng 7 năm 1967. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là tiểu đoàn phó tiểu đoàn 28 đặc công thuộc sư đoàn 7 bộ chỉ huy Miền, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ năm 1968 đến năm 1973, Dương Công Sửu chiến đấu ở chiến trường Nam Bộ. Trưởng thành từ chiến sĩ lên cán bộ tiểu đoàn, ở cương vị nào đồng chí cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Dương Công Sửu đã tham gia đánh 31 trận, diệt 149 tên dịch (có 30 tên Mỹ), bắt 1 tên, phá hủy 4 xe tăng, 12 lô cốt, 12 nhà lính, thu 3 súng.

   Trận đánh địch ở Suối Ngô ngày 29 tháng 4 năm 1970, trước khi nổ súng, địch phát hiện, bắn dữ dội vào đội hình của đơn vị. Dương Công Sửu nhanh chóng cho đơn vị lui ra củng cố, tổ chức lực lượng, động viên mọi người giữ vững quyết tâm; sau đó lại dẫn đầu đơn vị tiếp tục đánh địch. Đơn vị đã diệt 70 tên, phá hủy 9 xe bọc thép.

   Trận đánh đoàn xe địch ngày 18 tháng 10 năm 1970, trước khi đánh, Dương Công Sửu vượt qua nhiều chặng gác, hàng rào thép gai vào trinh sát địch. Khi dẫn đơn vị vào đánh, bọn địch xảo quyệt đưa xe hỏng vào bãi để nghi binh và đưa xe tốt ra nơi khác, đồng chí dẫn đơn vị vượt qua nhiều hàng rào, trạm gác, tìm bãi xe mới. Kết quả, Dương Cồng Sửu đã cùng đơn vị diệt 19 xe.

   Trận đánh ngày 28 tháng 3 năm 1971 ở Suông (Lộc Ninh), địch cho máy bay, pháo binh đánh phá dữ dội và cho 3 tiểu đoàn bộ binh đánh vào trận địa ta. Dương Công Sửu bình tĩnh chỉ huy, lợi dụng thời cơ cho đơn vị xuất kích, diệt hàng trăm tên, phá hủy 3 xe tăng. Địch bị thiệt hại nặng, không dám tiến lên nữa. Khi có lệnh rút, đơn vị đồng chí bị máy bay bắn phá chặn đường và bắn trúng đội hình. Sau khi tổ chức đưa 10 thương binh đến khu vực an toàn, Dương Công Sửu ở lại một mình, ra bãi trống bắn máy bay, thu hút hỏa lực địch về mình, bảo đảm an toàn cho đơn vị.

   Tháng 6 năm 1972, mặc dù địch canh phòng rất cẩn mật, Dương Công Sửu vẫn hai lần dẫn đầu một bộ phận tập kích vào trận địa pháo địch ở Cây Cầy (Bình Long) phá hủy 14 xe bọc thép và 4 khẩu pháo.

   Trận đánh ngày 11 tháng 8 năm 1972, đồng chí chỉ huy đơn vị luồn rừng, vượt qua nhiều chặng kiểm soát của địch, đánh vào Lai Khê (Bình Long), diệt 300 tên, phá hủy 5 khẩu pháo, làm chủ trận địa. Qua trận thắng vang dội này, bọn địch ở địa phương càng hoang mang, dao động.

   Dương Công Sửu luôn gương mẫu trong mọi việc, chú trọng xây dựng đơn vị tiến bộ; lúc khó khăn, gian khổ thường đi đầu, động viên mọi người quyết vượt qua để hoàn thành nhiệm vụ.

   Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 5 bằng và giấy khen, 15 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1973, Dương Công Sửu được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Sáu, 2013, 02:31:01 pm
ANH HÙNG HỒ SĨ NHẤT

(http://imageshack.us/a/img845/5738/hosinhat.jpg)


   Hồ Sĩ Nhất sinh năm 1946, dân tộc Kinh, quê ở xã Quỳnh Long, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, nhập ngũ tháng 2 năm 1965. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là chính trị viên đại đội 6 đặc công nước thuộc tiểu đoàn 6, đoàn 8 Bộ chỉ huy Miền, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ tháng 2 năm 1965 đến năm 1969, Hồ Sĩ Nhất ở bộ đội hải quân, năm 1970 vào chiến trường Tây Nam Bộ làm chính trị viên đại đội 6 Hồ Sĩ Nhất đã góp nhiều thành tích xây dựng đại đội trở thành Đơn vị anh hùng.

   Năm 1972, Hồ Sĩ Nhất trực tiếp chỉ huy đơn vị đánh 6 trận, trận nào cũng bình tĩnh, dũng cảm, mưu trí, táo bạo, dẫn đầu đơn vị vượt qua mọi khó khăn, nguy hiểm, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đơn vị đồng chí đã phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của địch. Riêng Hồ Sĩ Nhất đã đánh chìm 4 tàu, đánh sập 3 cầu dài 100 mét, phá hủy 2 súng cối 81, 14 đại liên, diệt gần 100 tên địch.

   Trận Bến Cầu (Rạch Giá) ngày 17 tháng 4 năm 1972, đồng chí cùng một chiến sĩ bí mật vượt qua nhiều chặng gác của địch. Khi vào đến bến cảng, chiếc tàu định đánh đã di chuyển, Hồ Sĩ Nhất cho chiến sĩ ẩn nấp, còn mình bơi đi tìm mục tiêu. Địch phát hiện được, chúng bắn rất dữ, đồng chí dũng cảm bơi đến 2 chiếc tàu đặt mìn. Kết quả, đồng chí đánh chìm cả 2 chiếc và cùng đồng đội rút về hậu cứ an toàn.

   Trận đánh cầu Rạch Sỏi ngày 7 tháng 8 năm 1972, Hồ Sĩ Nhất cùng một chiến sĩ bơi dìu một khối thuốc nổ lớn vượt qua nhiều chặng gác của địch trên sông. Khi gần đến cầu, để bảo đảm an toàn, đồng chí ra lệnh cho chiến sĩ đi cùng rút ra xa, còn mình đưa khối thuốc nổ vào đặt ở chân cầu. Kết quả, cầu bị đánh sập, giao thông của địch bị cắt trên 10 ngày.

   Bị đánh nhiều, tàu địch trên sông Rạch Giá không đậu tại bến mà cứ chạy chậm suốt đêm trong khu vực có tổ chức canh phòng nghiêm ngặt. Nhiều đơn vị chưa tìm ra cách đánh. Ngày 23 tháng 10 năm 1972, Hồ Sĩ Nhất dẫn đầu tổ 3 người mang mìn, bơi đón đầu đoàn tàu, nhanh chóng gài mìn, rồi lặn vào bờ. Kết quả, 3 tàu địch bị đánh chìm. Trận đánh thắng đã rút được nhiều kinh nghiệm cho các đơn vị bạn.

   Cùng với lối đánh trên, đêm 24 tháng 10 năm 1972, đồng chí chỉ huy một tổ 12 người, đánh chìm 12 chiếc tàu các loại. Riêng đồng chí đánh chìm 1 chiếc.

   Hồ Sĩ Nhất luôn chú trọng xây dựng đơn vị tiến bộ về mọi mặt, tích cực giúp đỡ chiến sĩ mới nhanh chóng thành thạo cách đánh tàu địch.

   Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 3 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 7 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1973, Hồ Sĩ Nhất được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG HỒ TRUNG THÀNH

(http://imageshack.us/a/img839/8329/hotrungthanh.jpg)


   Hồ Trung Thành sinh năm 1952, dân tộc Kinh, quê ở xã Phú Hòa, huyện Cái Nước, tỉnh Minh Hải, nhập ngũ tháng 5 năm 1970. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là thượng úy đại đội trưởng đại đội 19 đặc công thuộc đoàn 8 Bộ chỉ huy Miền, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ năm 15 tuổi, Hồ Trung Thành đã làm liên lạc cho bộ đội. Đồng chí luôn tìm mọi cách khắc phục khó khăn, vượt qua nguy hiểm, hoàn thành nhiệm vụ bất kể ngày đêm. Nhiều lần gặp địch, đồng chí đều bình tĩnh, mưu trí vượt qua.

   Từ năm 1970 đến năm 1972, Hồ Trung Thành đã tham gia đánh 10 trận; có lần bị thương vẫn kiên quyết ở lại làm nhiệm vụ. Đổng chí đã góp phần cùng đơn vị diệt hàng nghìn tên địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh. Riêng Hồ Trung Thành diệt 47 tên, phá hủy 9 máy bay, 3 kho đạn chứa 15.000 tấn, 27 xe quân sự, 1 kho xăng trên một triệu lít.

   Trong trận đánh sân bay Trà Nóc (Cần Thơ) đêm 16 tháng 5 năm 1972, sau 3 tháng nằm hầm bí mật, xây dựng cơ sở, điều tra sân bay, Hồ Trung Thành cùng một chiến sĩ vượt nhiều lớp rào vào sân bay thì trời vừa sáng. Nếu đánh ngay thì không rút ra được, mặc dù hết sức nguy hiểm đồng chí kiên quyết nằm lại một ngày để đêm sau đánh. Kết quả, tổ đồng chí đã phá hủy 5 máy bay, làm cho bọn địch ở khu vực này hoang mang, lo sợ.

   Sau khi bị đánh lần thứ nhất, địch thay đổi toàn bộ hệ thống canh phòng sân bay và ráo riết đánh phá cơ sở của ta ở xung quanh. Một tháng trước khi đánh sân bay Trà Nóc lần thứ hai, Hồ Trung Thành nhiều lần bí mật ra vào sân bay để nắm tình hình. Đêm 11 tháng 9 năm 1972, đồng chí dẫn được tổ vào, nhưng chưa thể đánh ngay được. Mặc dù cả tổ đều đói và khát, đồng chí bình tĩnh động viên anh em nằm lại trong sân bay đế đêm hôm sau đánh. Kết quả, cả tổ đã phá hủy được 10 máy bay.

   Trận đánh kho Vị Thanh (Rạch Giá) đêm 13 tháng 10 năm 1972, khi dẫn tổ vượt gần hết hàng rào thì gặp khó khăn không thể đưa cả tổ vào được, mình Hồ Trung Thành mang 4 quả mìn vào đánh. Kết quả, đồng chí phá hủy được 27 xe quân sự, 15.000 tấn đạn, diệt 47 tên.

   Trong trận đánh kho Vị Thanh lần thứ hai đêm 14 tháng 11 năm 1972, nhận nhiệm vụ gấp, tuy chưa điều tra kỹ tình hình địch, Hồ Trung Thành vẫn động viên tổ quyết tâm đánh. Khi vào gần mục tiêu, thấy địch gác, trời lại sắp sáng, sợ nguy hiểm cho đồng đội, đồng chí động viên anh em ở ngoài, một mình bò vào đặt mìn phá hủy một kho xăng trên một triệu lít.

   Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 3 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1973, Hồ Trung Thành được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Sáu, 2013, 02:33:24 pm
ANH HÙNG NGÔ VĂN LŨI

(http://imageshack.us/a/img24/4296/ngovanlui.jpg)


   Ngô Văn Lũi sinh năm 1950, dân tộc Kinh, quê ở xã Thái Sơn, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, nhập ngũ tháng 10 năm 1968. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đại đội phó đại đội 3 đặc công thuộc tiểu đoàn 27 đoàn 367 Bộ tư lệnh Đặc công, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ năm 1971 đến năm 1973, Ngô Văn Lũi đã tham gia chiến đấu 10 trận, trận nào cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đồng chí luôn thể hiện tinh thần chiến đấu dũng cảm, khắc phục mọi khó khăn gian khổ, bình tĩnh, mưu trí, lợi dụng từng sơ hở nhỏ của địch để tiến công tiêu diệt địch. Đồng chí đã cùng đơn vị diệt trên một nghìn tên, phá hủy nhiều kho đạn lớn và nhiều phương tiện chiến tranh. Riêng Ngô Văn Lũi phá hủy 8 máy bay, 1 nhà phát thanh, nhiều kho bom đạn và diệt hàng trăm tên địch. Năm 1971, đi làm nhiệm vụ quốc tế ở Cam-pu-chia Ngô Văn Lũi tham gia đánh trận đầu tiên vào sân bay của quân ngụy Lon Non, cách Phnôm Pênh 8 ki-lô-mét. Tuy mới tham gia chiến đấu trận đầu, đồng chí đã tỏ ra bình tĩnh, dũng cảm, cùng tổ vượt qua nhiều lớp rào vào áp sát mục tiêu. Khi Ngô Văn Lũi cho bộc phá nổ, diệt được mục tiêu thì bị thương vào đầu. Đồng chí cố gắng tự băng bó rồi tiếp tục chiến đấu, diệt thêm 2 nhà lính, 8 máy bay và 1 ô tô. Khi rút ra, bị địch bao vây, đồng chí cùng tổ bình tĩnh đánh lui 3 đợt phản kích của 1 đại đội địch.

   Trong trận đánh địch ở nhà máy cao su của ngụy Cam-pu-chia, tháng 6 năm 1972, Ngô Văn Lũi nhiều lần vào điều tra, nghiên cứu mục tiêu và quy luật hoạt động của địch. Khi đánh đồng chí cùng tổ vượt qua nhiều vùng sình lầy, đồn bốt địch, và mặc cho địch tuần tra nghiêm ngặt, đồng chí bình tĩnh đặt thuốc nổ phá hủy hoàn toàn mục tiêu; sau đó còn dùng B.40 bắn sập 2 lô cốt, 3 nhà lính và 1 hầm ngầm, rồi mới cùng tổ rút ra ngoài.

   Trận đánh tổng kho Mon Duôn lần thứ nhất, ngày 30 tháng 10 năm 1972, Ngô Văn Lũi phụ trách mũi phó, dẫn tổ vào gần đến mục tiêu thì đã 11 giờ đêm. Lúc này trăng rất sáng, nếu cả tổ cùng vào thì dễ bị lộ, khó hoàn thành nhiệm vụ, Ngô Văn Lũi bàn với anh em trong tổ để lại 4 người ở ngoài làm lực lượng dự bị, còn mình và đại đội trưởng luồn qua nhiều lớp hàng rào, đặt bộc phá vào các kho. Kết quả, 15 kho lớn bị phá hủy, 1000 quả bom phá, 2.000 quả bom xăng và hàng vạn quả đạn pháo bị nổ, hàng trăm tên địch bị diệt.

   Trận đánh tổng kho Mon Duôn lần thứ hai, tháng 6 năm 1973, Ngô Văn Lũi phụ trách 1 tổ gồm 6 người, tiến sát vào mục tiêu. Thấy địch canh phòng nghiêm ngặt, đồng chí đề nghị với cán bộ tiểu đoàn đi cùng, để anh em ở ngoài, còn mình vượt qua nhiều hàng rào, trạm gác vào đánh. Kết quả, kho bị cháy và nổ 10 giờ liền, hàng vạn tấn vũ khí, đạn dược của địch bị phá hủy, hàng trăm tên địch bị diệt.

   Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 3 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 1 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua, 5 bằng khen và giấy khen.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1973, Ngô Văn Lũi được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG PHẠM THANH TÂM

(http://imageshack.us/a/img832/7983/phamthanhtam.jpg)


   Phạm Thanh Tâm sinh năm 1952, dân tộc Kinh, quê ở xã Nghi Tân, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, nhập ngũ tháng 8 năm 1969. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là thượng sĩ, trung đội phó đặc công thuộc đại đội 1 tiểu đoàn 35 đoàn 305, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ năm 1971 đến năm 1972, Phạm Thanh Tâm làm nhiệm vụ trinh sát chiến đấu ở chiến trường Trị - Thiên. Đã 20 lần vào cứ điểm Ái Tử, nhiều lần gặp những tình huống rất nguy hiểm, lần nào đồng chí cũng bình tĩnh, dũng cảm, mưu trí vượt qua, nắm địch được chính xác. Đồng chí đã chỉ huy đơn vị phá hủy 20 kho đạn và chất nổ, 7 xe quân sự, diệt 50 tên địch. Riêng Phạm Thanh Tâm phá hủy 18 kho đạn (khoảng 15.000 tấn).

   Trận đánh kho Ái Tử ngày 21 tháng 5 năm 1971, khi dẫn tổ vượt qua 10 lớp rào vào đến khu kho thì gặp 4 tên Mỹ đứng gác, đồng chí mưu trí lợi dụng bóng tối dẫn tổ bò nhanh vào khu kho, đặt mìn. Tổ Phạm Thanh Tâm đã phá hủy 16 kho đạn. Riêng đồng chí phá 8 kho.

   Tháng 6 năm 1971, nhiều lần ra vào cứ điểm Ái Tử để nắm địch, lần nào Phạm Thanh Tâm cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đặc biệt, ngày 19 tháng 6 năm 1971, trong lúc đang bò đi tìm khu kho mới thì bị địch phát hiện, chúng bắn rất dữ dội và thả chó lùng sục. Mặc dù bị thương vào tay, đồng chí vẫn tiếp tục tìm các khu kho. Kết quả, Phạm Thanh Tâm đã phát hiện được toàn bộ khu kho mới và cách bố phòng của địch. Ngày 22 tháng 6 năm 1971, khi dẫn tổ vượt qua hàng rào, thấy địch đã thay đổi cách bố trí, đồng chí quyết định đột nhập khu kho bằng hướng khác. Sau 3 tiếng đồng hồ, Phạm Thành Tâm dẫn được tổ vào đặt mìn. Kết quả, tổ đồng chí phá được 20 kho đạn, 7 xe quân sự, diệt 50 tên lính. Riêng đồng chí phá hủy 10 kho.

   Đầu tháng 3 năm 1972, Phạm Thanh Tâm được phân công đi trinh sát ở khu vực Ái Tử. Trời rét buốt, nhiều lúc chân tay tê cóng, đồng chí vẫn kiên trì ra vào cứ điểm nhiều lần. Có lần đồng chí bị thương vào chân, vẫn bình tĩnh, mưu trí, bí mật lẩn tránh, không để địch phát hiện. Phạm Thanh Tâm đã nắm chắc được tình hình địch và trận đánh ngày 19 tháng 3 năm 1972, đồng chí đã phá hủy 15 bể xăng (1 triệu 50 vạn lít) và 3 máy bay địch.

   Phạm Thanh Tâm luôn gương mẫu, khiêm tốn, giản dị, hết lòng thương yêu đồng đội. Có lần đi trinh sát gặp địch, bản thân bị thương, đồng chí vẫn cố gắng tìm 2 đồng chí cùng bị thương, băng bó chu đáo rồi dìu về đơn vị. Hai lần bị thương, đi viện điều trị, sức khỏe còn chưa bình phục hẳn, Phạm Thanh Tâm vẫn xin bằng được trở về đơn vị chiến đấu.

   Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 2 Huân chương Chiên công giải phóng hạng ba, 2 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ Quyết thắng, 1 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1973, Phạm Thanh Tâm được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Sáu, 2013, 02:38:32 pm
ANH HÙNG NGUYỄN MINH THẮNG

(http://imageshack.us/a/img585/1755/nguyenminhthang.jpg)


   Nguyễn Minh Thắng sinh năm 1953, dân tộc Kinh, nhập ngũ tháng 1 năm 1968, quê ở xã Trung Lập Thượng, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là trung đội phó trinh sát tiểu đoàn 1 Bộ chỉ huy Miền, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ năm 1968 đến năm 1973, Nguyễn Minh Thắng làm liên lạc, sau chuyển sang trinh sát. Ở cương vị nào, nhiệm vụ nào, đồng chí cũng khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Hai lần bị địch bắt, chúng tra tấn dã man, Nguyễn Minh Thắng không hề xưng khai một lời, kiên quyết đấu tranh buộc địch phải trả lại tự do.

   Khi làm liên lạc, thường xuyên phải đưa tài liệu qua vùng địch kiểm soát, bất kể ngày đêm, đồng chí tìm mọi cách đưa tài liệu hoặc truyền đạt mệnh lệnh đầy đủ, kịp thời.

   Khi làm trinh sát, Nguyễn Minh Thẳng luôn bám sát địch, nhiều lần cải trang vào vùng địch kiểm soát ở hàng tuần, có khi vào hẳn khu vực địch chiếm đóng để nắm địch chính xác, kịp thời, phục vụ cho cấp trên chỉ huy chiến đấu.

   Quá trình làm nhiệm vụ trinh sát, Nguyễn Minh Thắng đã diệt được 86 tên địch, thu 7 súng, 40 lựu đạn.

   Tháng 4 năm 1970, làm nhiệm vụ đưa đường cho bộ binh vào đánh địch ở ấp Phú Hòa Đông, mặc cho hỏa lực địch bắn ra ác liệt, đồng chí bình tĩnh, nhanh chóng gỡ mìn, mở rào, đưa đơn vị vào chiến đấu đúng thời gian quy định.

   Tháng 10 năm 1972, tổ trinh sát do Nguyễn Minh Thắng phụ trách đang dẫn một đơn vị bộ binh vào ấp Tân Thạnh Đông thì 1 đại đội địch phản kích ra chặn đường tiến của ta. Chúng bắn rất dữ dội. Tổ có 5 người thì 2 đồng chí bị thương, 2 đồng chí hy sinh. Nguyễn Minh Thắng bình tĩnh cất giấu thương binh vào nơi an toàn, rồi dùng cả tiểu liên, B.40, lựu đạn, cùng đơn vị bộ binh đánh lui 8 đợt phản kích của chúng, giữ vững trận địa.

   Ngày 27 và 28 tháng 1 năm 1973, Nguyễn Minh Thắng chỉ huy tổ trinh sát chốt ở đường số 8 (đoạn Hòa Phú - Bình Long). Mặc cho địch đông gấp bội, đồng chí bình tĩnh, dũng cảm chỉ huy tổ đánh trả địch quyết liệt, thu hút hỏa lực địch về mình, tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị bạn tiêu diệt chúng.

   Nguyễn Minh Thắng luôn xung phong gương mẫu trong mọi việc, đóng quân ở đâu cũng tích cực làm công tác tuyên truyền, vận động quần chúng. Nhiều lần địch càn, nhà dân bị cháy, đồng chí nhanh chóng xông vào dập tắt lửa, cứu được 10 nhà và cất giấu được 39 tạ gạo, không để lọt vào tay địch.

   Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 45 bằng khen và giấy khen, 5 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1973, Nguyễn Minh Thắng được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG TRẦN THANH HẢI

(http://imageshack.us/a/img849/6164/tranthanhhai.jpg)


   Trần Thanh Hải sinh năm 1953, dân tộc Kinh, quê ở xã Thọ Dân, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa, nhập ngũ tháng 9 năm 1971. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là thượng sĩ, trung đội trưởng, thuộc đại đội 6 hỏa tiễn chống tăng, tiểu đoàn 371 Bộ tư lệnh Pháo binh, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ tháng 4 năm 1972 đến tháng 11 năm 1973, Trần Thanh Hải tham gia chiến đấu ở Quảng Trị, đánh 8 trận, trận nào củng dũng cảm, mưu trí. Mặc cho bom đạn địch đánh phá ác liệt, đồng chí bình tĩnh điều khiển đạn chính xác, bắn 26 quả đạn diệt 17 xe tăng, xe bọc thép, 1 xe ủi đất, 1 ô tô, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

   Trận đánh ngày 24 tháng 7 năm 1972 ở Cầu Nhi, quá trình chiến đấu, tiểu đội bị thương và hy sinh, chỉ còn một mình, Trần Thanh Hải quyết tâm bám sát bộ binh đánh địch. Khoảng 11 giờ trưa, địch cho 5 xe tăng bắn mãnh liệt vào trận địa ta. Trần Thanh Hải bắn 4 quả đạn, diệt 3 xe, 2 chiếc còn lại bỏ chạy.

   Ngày 27 tháng 7 năm 1972, cũng tại khu vực Cầu Nhi, xe tăng và bộ binh địch tiến đánh trận địa ta, Trần Thanh Hải kịp thời phóng 3 quả đạn, diệt 2 xe. Bộ binh địch chạy tán loạn, trận địa được giữ vững.

   Ngày 19 tháng 1 năm 1973, ở Long Quang (Triệu Phong), khi 2 xe tăng địch xuất hiện, đồng chí bắn 2 quả đạn, diệt cả 2 chiếc.

   Ngày 27 tháng 1 năm 1973, địch cho nhiều xe tăng và xe bọc thép đánh chiếm Long Quang. Tuy tiểu đội chỉ còn một quả đạn, đồng chí động viên anh em quyết giữ vững trận địa. Tình thế rất nguy hiểm, Trần Thanh Hải vẫn bình tĩnh chờ địch vào thật gần, nhằm chiếc xe đi đầu chở đầy lính, phóng đạn. Chiếc xe và cả bọn lính ngồi trên đều tan xác. Những chiếc đi sau hốt hoảng lùi lại; lính trên xe chạy tán loạn.

   Ngày 29 và 30 tháng 1 năm 1973, địch cho nhiều xe tăng và bộ binh lấn chiếm Cửa Việt. Mặc cho máy bay địch bắn phá ác liệt vào khu vực trận địa, đồng chí bình tĩnh điều khiển đạn, diệt từng xe tăng địch, bẻ gãy nhiều đợt phản kích bằng xe tăng của chúng, tạo thuận lợi cho bộ binh ta xung phong. Kết quả, Trần Thanh Hải phóng 9 quả đạn, diệt 7 xe tăng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

   Trần Thanh Hải luôn gương mẫu về mọi mặt, khiêm tốn, giản dị, tích cực phổ biến kinh nghiệm bắn xe tăng địch cho đồng đội. Có lần bị ốm và bị sức ép, đi viện điều trị mới được 3 ngày, đồng chí đã xin bằng được trở về đơn vị chiến đấu.

   Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 1 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ Quyết thắng, 1 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1973, Trần Thanh Hải được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Sáu, 2013, 02:41:04 pm
ANH HÙNG NGUYỄN THẾ CỰ

(http://imageshack.us/a/img259/379/nguyenthecu.jpg)


   Nguyễn Thế Cự sinh năm 1952, dân tộc Kinh, quê ở xã Hoàng Nam, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Hà, nhập ngũ tháng 8 năm 1969. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là tiểu đội trưởng, thuộc đại đội 20 thông tin, trung đoàn 3 sư đoàn 5 Bộ chỉ huy Miền, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ tháng 6 năm 1970 đến năm 1973, Nguyễn Thế Cự làm nhiệm vụ bảo đảm thông tin liên lạc cho trung đoàn. Đồng chí đã tham gia 38 trận đánh, trận nào cũng dũng cảm, mưu trí theo sát đơn vị, phục vụ tốt cho chỉ huy chiến đấu. Nhiều lần bị sốt rét, sức khỏe yếu, đơn vị cho nghỉ điều trị nhưng vì thiết tha với nhiệm vụ, Nguyễn Thế Cự vẫn xin đi chiến đấu bằng được.

   Trận Lộc Ninh ngày 25 tháng 12 năm 1970, trong lúc Nguyễn Thế Cự đang thu dây thì bọn địch nống ra. Mặc cho hỏa lực địch bẳn ác liệt, đồng chí khẩn trương thu dây trước khi địch sục đến. Nhờ đó, sở chỉ huy vẫn giữ được bí mật, an toàn.

   Trận Lộc Ninh ngày 5 tháng 4 năm 1972, Nguyễn Thế Cự phụ trách đường dây ở hướng chủ yếu của trung đoàn dài 6 ki-lô-mét. Máy bay địch đánh phá ác liệt, đường dây bị đứt hàng chục lần, lần nào đồng chí củng dũng cảm vượt qua bom đạn đi nối dây kịp thời. Có lần bom nổ gần, đất lấp kín người, đồng chí ngất đi, khi tỉnh dậy, lại tiếp tục đi nối dây. Đường dây do Nguyễn Thế Cự phụ trách bảo đảm thông suốt, phục vụ đâc lực cho chỉ huy chiến đấu.

   Có lần Nguyễn Thế Cự đang làm nhiệm vụ ở sở chỉ huy với tham mưu trưởng trung đoàn thì máy bay địch đến đánh phá. Một quả bom bi rơi ngay chỗ làm việc, Nguyễn Thế Cự nhanh chóng nằm đè lên quả bom. Quả bom không nổ, nhưng hành động dũng cảm của đồng chí được mọi người mến phục tin yêu.

   Đồng chí được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 1 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1973, Nguyễn Thế Cự được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG ĐẶNG VĂN LỢI

(http://imageshack.us/a/img35/1212/dangvanloi.jpg)


   Đặng Văn Lợi (tức Văn Lồi) sinh năm 1937, dân tộc Dao, quê ở xã Vinh Tiền, huyện Thanh Sơn, tỉnh Vĩnh Phú, nhập ngũ tháng 6 năm 1968. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là hạ sĩ, tiểu đội phó thông tin, đại đội 18 trung đoàn 1 sư đoàn 324 Quân khu Trị Thiên, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ năm 1969 đến năm 1972, Đặng Văn Lợi tham gia chiến đấu tại chiến trường Trị Thiên. Trong điều kiện bom đạn ác liệt, đồng chí đã chỉ huy và dẫn đầu tổ dũng cảm, mưu trí vượt qua mọi khó khăn, nguy hiểm, bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt. Nhiều lần Đặng Văn Lợi bị ngất vì sức ép của bom, tỉnh dậy lại tiếp tục làm nhiệm vụ; hàng chục lần chưa kịp ăn, nhịn đói vẫn đi nối dây. Đặng Văn Lợi đã nối dây gần một nghìn lần trong lúc địch đang đánh phá, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, bảo đảm thông tin liên lạc phục vụ chiến đấu, nêu gương cho toàn đơn vị học tập.

   Tháng 7 năm 1969, trong chiến dịch A Bia (tây Thừa Thiên), địch dùng phi pháo đánh hàng trăm lần vào đoạn đường dây và 6 lần bộ binh địch nống ra cắt dây, lần nào Đặng Văn Lợi cũng dẫn đầu tổ đi nối chữa. Có lần bơi qua sông A Sáp, nước chảy mạnh cuốn đồng chí vào đá, ngất đi, được anh em dìu vào bờ, khi tỉnh dậy, đồng chí lại tiếp tục làm nhiệm vụ.

   Tháng 7 năm 1970, phục vụ cho trận đánh điểm cao 935 (Cốc Bai), Đặng Văn Lợi đảm nhiệm đoạn đường dây hơn 2 ki-lô-mét. Địch đánh phá rất ác liệt, trung bình mỗi ngày đường dây bị đứt 10 đến 12 lần, có ngày đứt 27 lần. Suốt 23 ngày đêm liên tục bám trọng điểm, đồng chỉ đã vượt qua mọi khó khăn, nguy hiểm, giữ vững đường dây thông suốt. Đặc biệt, ngày 12 tháng 7, trong khi làm nhiệm vụ, bị bom nổ gần, đất vùi gần kín người Đặng Văn Lợi bị ngất. Khi tỉnh dậy, không đi được, đồng chí dùng hết sức lực còn lại bò đi tìm hai đầu dây đứt nối lại. Nhờ đó thồng tin liên lạc được giữ vững.

   Trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (1971), tuy sức khỏe giảm sút Đặng Văn Lợi vẫn quyết tâm xin đi chiến đấu. Hành động của đồng chí đã cổ vũ và động viên mọi người trong đơn vị hăng hái chiến đấu.

   Trong chiến dịch Trị Thiên năm 1972, Đặng Văn Lợi không hề nghỉ một ngày. Nhiều đợt, liền trong 10 ngày đồng chí ăn, ngủ ngay trên đường rải dây. Hàng trăm lần máy bay địch đánh phá ác liệt, Đặng Văn Lợi vẫn lao vào chỗ nguy hiểm nối dây phục vụ tốt cho chỉ huy chiến đấu.

   Đặng Văn Lợi luôn xung phong; gương mẫu trong mọi công việc và tích cực giúp đỡ mọi người cùng tiến bộ.

   Đồng chí được tặng thưởng 5 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 3 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1973, Đặng Văn Lợi được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Sáu, 2013, 03:06:31 pm
ANH HÙNG PHẠM VĂN DẪN

(http://imageshack.us/a/img801/8946/phamvandan.jpg)


   Phạm Văn Dẫn sinh năm 1948, dân tộc Kinh, quê ở xã Thái Dương huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, nhập ngũ tháng 8 năm 1965. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đại đội trưởng đại đội 1 súng máy cao xạ 12,7 ly thuộc tiểu đoàn 24 sư đoàn 7 Bộ chỉ huy Miền, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ năm 1966 đến năm 1973, Phạm Văn Dẫn chiến đấu ở chiến trường Nam Bộ, đã tham gia gần 400 trận. Đồng chí luôn bình tĩnh, dũng cảm, chỉ huy đơn vị đánh máy bay, đánh bộ binh đều giỏi. Riêng Phạm Văn Dẫn trực tiếp bắn rơi 12 máy bay và diệt nhiều bộ binh địch.

   Ngày 12 tháng 3 năm 1969, đồng chí chỉ huy khẩu đội bắn rơi 4 máy bay địch.

   Ngày 11 tháng 9 năm 1969, mặc cho máy bay địch đánh phá ác liệt vào trận địa, Phạm Văn Dẫn chỉ huy khẩu đội đánh trả địch quyết liệt, thu hút hỏa lực địch về phía mình để hạn chế thiệt hại cho đơn vị bạn, chi viện đắc lực cho bộ binh chiến đấu thắng lợi. Trận này, đại đội đồng chí bắn rơi 3 máy bay. Riêng Phạm Văn Dẫn dùng súng AK bắn rơi 1 chiếc.

   Trận đánh ngày 13 tháng 6 năm 1972, đồng chí chỉ huy đại đội chiến đấu rất dũng cảm, lúc đánh máy bay, lúc đánh bộ binh địch, hạ 1 máy bay AD6 diệt 40 tên. Riêng đồng chí diệt 15 tên. Trận đánh thắng lợi đã làm thất bại âm mưu của địch đến giải tỏa An Lộc.

   Trận Đức Vinh ngày 19 và 20 tháng 9 năm 1972, địch cho máy bay, pháo binh bắn phá ác liệt và bộ binh địch từ ba hướng tiến đánh trận địa của đơn vị. Ngay ngày đầu, Phạm Văn Dẫn chỉ huy đơn vị bắn rơi 4 máy bay, đánh lui các đợt phản kích của bộ binh địch. Ngày hôm sau, máy bay địch lại đến đánh vào trận địa, đồng chí phán đoán chính xác đường bay, chỉ huy linh hoạt, ngay từ những loạt đạn đầu đã bắn rơi 3 chiếc. Số máy bay địch còn lại bỏ chạy. Kết quả, trong 2 ngày, đơn vị Phạm Văn Dẫn đã bắn rơi 7 máy bay địch, giữ vững trận địa.

   Ngày 16 tháng 10 năm 1972, đơn vị đồng chí làm nhiệm vụ yểm trợ cho bộ binh đánh địch ở Vĩnh Tường. Phạm Văn Đẫn chỉ huy mưu trí, vừa đánh trả máy bay quyết liệt, vừa tổ chức lực lượng đánh bộ binh địch khi chúng phản kích vào trận địa. Đơn vị đồng chí bắn rơi 1 chiếc AD6, diệt 30 tên địch. Riêng Phạm Văn Dẫn diệt được 10 tên, thu 1 súng.

   Phạm Văn Dẫn luôn chú trọng xây dựng đơn vị tiến bộ về mọi mặt; bản thân gương mẫu trong mọi việc, tích cực học tập, khiêm tốn giản dị, được mọi người yêu mến.

   Đồng chí được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công giải phóng hậng ba, 5 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua, 9 bằng khen và giấy khen, 4 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1973, Phạm Văn Dẫn được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG HOÀNG VĂN VẺ

(http://imageshack.us/a/img842/2008/hoangvanve.jpg)


   Hoàng Văn Vẻ sinh năm 1947, dân tộc Mường, quê ở xã Thu Cúc, huyện Thanh Sơn, tỉnh Vĩnh Phú, nhập ngũ tháng 6 năm 1967. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là chuẩn úy, đại đội phó đại đội 1 súng phun lửa, tiểu đoàn 961 Cục hóa học Bộ Tổng Tham mưu, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ năm 1968 đến năm 1972, Hoàng Văn Vẻ tham gia chiến đấu tại chiến trường Quảng Trị. Tuy có nhiều khó khăn, gian khổ, địch đánh phá ác liệt, đồng chí luôn nêu cao tinh thần tích cực tiến công địch, chiến đấu dũng cảm, mưu trí, bị thương không rời trận địa. Hoàng Văn vẻ đã chỉ huy đơn vị diệt gần hai trăm tên địch, bẳn cháy 8 xe tăng, phá hủy 15 đại liên, 20 nhà bạt. Riêng đồng chí diệt 30 tên, bắn cháy 2 xe tăng, phá hủy 2 đại liên, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Trận đánh ngày 27 tháng 4 năm 1968, khi nổ súng, hỏa lực địch bắn mạnh cản đường tiến của bộ binh ta, Hoàng Văn Vẻ dẫn đầu tổ thọc thẳng vào vị trí địch, dùng súng phun lửa diệt các hỏa điểm của chúng, tạo thuận lợi cho bộ binh xông lên. Khi gần địch không dùng được súng phun lửa, đồng chí dùng lựu đạn, thủ pháo diệt địch. Trận này, đồng chí diệt 6 tên, phá hủy 1 đại liên.

   Trận phục kích địch bỏ chạy từ đường 9 về Bản Đông ngày 18 tháng 3 năm 1971, Hoàng Văn Vẻ bị thương vào gáy, máu chảy nhiều, nhưng đồng chí vẫn chiến đấu cho tới khi trận đánh kết thúc. Tổ Hoàng Văn Vẻ diệt 57 tên địch, bắn cháy 4 xe tăng. Riêng đồng chí diệt 24 tên, bắn cháy 2 xe tăng.

   Hoàng Văn Vẻ luôn chú trọng xây dựng đơn vị tiến bộ về nhiều mặt, hết lòng thương yêu đồng đội. Nhiều lần ngay trong lúc đang chiến đấu, hỏa lực địch bắn rất mạnh, đồng chí vẫn bình tĩnh băng bó chu đáo cho đồng đội bị thương.

   Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 2 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ Quyết thắng, 1 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua, 3 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1973, Hoàng Văn Vẻ được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Sáu, 2013, 03:10:15 pm
ANH HÙNG ĐỖ HOÀI NAM

(http://imageshack.us/a/img841/6489/dohainam.jpg)


   Đỗ Hoài Nam sinh năm 1931, dân tộc Kinh, quê ở xã Hội Cư, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, nhập ngũ tháng 12 năm 1950. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là bác sĩ, viện trưởng viện quân y Đ.72 thuộc Cục Hậu cần Bộ chỉ huy Miền, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ năm 1961 đến năm 1973, Đỗ Hoài Nam đảm nhiệm nhiều cương vị công tác. Ở cương vị nào, đồng chí cũng luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, làm việc hết sức mình. Thời gian phụ trách bệnh viện, đồng chí hết lòng phục vụ, dù khó khăn gian khổ, ác liệt thế nào cũng tìm mọi cách vượt qua, giành lại sự sống cho thương binh, bệnh binh. Đỗ Hoài Nam đã mổ 1.200 trường hợp an toàn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

   Quá trình làm nhiệm vụ, đồng chí tích cực rút kinh nghiệm, học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ nghiệp vụ, chuyên môn, mổ giỏi các vết thương lồng ngực, bụng, chân tay và sọ não. Đỗ Hoài Nam đã mổ nhiều trường hợp thương binh có vết thương rất hiểm nghèo, như mổ hộp sọ não lấy ngoại vật, khâu vá màng não; mổ vết thương cột sống, hồi phục hai chân của thương binh đã bị liệt; khâu nối mạch máu lớn, cứu sống nhiều trường hợp vết thương đứt mạch máu; mổ xử trí bọc phòng mạch máu, cứu sống 148 thương binh; mổ vết thương vừa vỡ gan vừa thủng dạ dày ở tình trạng nguy kịch; mổ lồng ngực, xử trí những trường hợp vết thương phổi, cứu sống 32 thương binh; khâu nối thần kinh ngoại vi, thanh toán được nhiều trường hợp tàn tật; khâu thận bảo tồn cho một thương binh vỡ thận; đóng đinh nội tủy cứu sống được thương binh bị gãy cả 2 xương đùi.

   Với những thành công trên, Đỗ Hoài Nam đã đúc kết thành tài liệu khoa học và kinh nghiệm giúp trên phổ biến cho toàn ngành quân y của Miền thực hiện đạt kết quả tốt.

   Ngoài nhiệm vụ chủ yếu, Đỗ Hoài Nam còn tích cực tham gia giảng dạy ở trường đào tạo bác sĩ, tích cực hướng dẫn kèm cặp hàng chục y sĩ làm được phần lớn công việc của bác sĩ.

   Đồng chí được tặng thưởng 3 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 7 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua, 17 bằng khen và giấy khen.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1973, Đỗ Hoài Nam được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG NGUYỄN NGỌC ĐẮC

(http://imageshack.us/a/img593/3879/nguyenngocdac.jpg)


   Nguyễn Ngọc Đắc sinh năm 1935, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Ước, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây, nhập ngũ tháng 3 năm 1947. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đại úy, bác sĩ đội trưởng đội phẫu thuật tiểu đoàn 24 sư đoàn 308, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ khi nhập ngũ đến năm 1973, Nguyễn Ngọc Đắc phục vụ trong ngành quân y, trưởng thành từ chiến sĩ cứu thương lên bác sĩ, luôn nêu cao tinh thần tận tụy phục vụ. Ở cương vị nào, đồng chí cúng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

   Năm 1971 và năm 1972, Nguyễn Ngọc Đắc phụ trách đội phẫu thuật phục vụ chiến dịch Đường 9 -Nam Lào và chiến dịch Quảng Trị. Tuy có nhiều khó khăn, gian khổ, ác liệt, đồng chí luôn tận tụy phục vụ thương binh, bệnh binh, không kể ngày đêm; nhiều ngày làm việc từ 14 đến 15 giờ; có lúc đứng mổ cho thương binh 5, 6 giờ liền. Nhiều khi đang mổ, bom đạn địch nổ gần, Nguyễn Ngọc Đắc vẫn bình tĩnh, tiếp tục làm việc. Có lần bị thương gãy một xương sườn, ho ra máu, đơn vị cho về tuyến sau, đồng chí vẫn xin ở lại làm nhiệm vụ.

   Nguyễn Ngọc Đắc chịu khó học tập, đi sâu nghiên cứu khoa học, kỹ thuật nên trình độ chuyên môn ngày càng được nâng cao. Nguyễn Ngọc Đắc đã mổ hơn 200 trường hợp an toàn, có trên 70 trường hợp vết thương hiểm nghèo như ruột bị thủng nhiều lỗ; vỡ lách, chảy máu bên trong, sau 48 tiếng đồng hồ mới đưa về đội điều trị; phổi nát và bị đứt động mạch; gan bị giập và ruột bị thủng 18 lỗ; vết thương sọ não có triệu chứng bị liệt... cũng được chữa khỏi.

   Nguyễn Ngọc Đắc luôn quan tâm bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuật cho mọi người trong đội phẫu thuật, đã kèm cặp 2 y sĩ làm được nhiều phần việc của bác sĩ, 3 y tá làm được nhiều phần việc của y sĩ và đã góp phần chủ yếu đào tạo được 100 y tá, bổ sung cho các đơn vị trong sư đoàn.

   Đồng chí luôn chú trọng xây dựng đơn vị tiến bộ về mọi mặt, khiêm tốn, giản dị, được mọi người tin yêu. Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 18 bằng khen và giấy khen, 2 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1973, Nguyễn Ngọc Đắc được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Sáu, 2013, 03:14:00 pm
ANH HÙNG NGUYỄN THỊ E

(http://imageshack.us/a/img266/1968/nguyenthie.jpg)


   Nguyễn Thị E (tức Dân Đoàn), sinh năm 1950, dân tộc Kinh, quê ở xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, nhập ngũ tháng 9 năm 1966. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là y tá bộ đội địa phương quận Giồng Trôm tỉnh Bến Tre, Bộ chỉ huy miền, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ năm 1964 đến tháng 8 năm 1966, Nguyễn Thị E tham gia dân quân tại địa phương. Khi làm quân báo, đồng chí thường ra vào các quận Giồng Trôm, Bình Đại, Châu Thành và thị xã Bến Tre nắm tình hình địch. Nhiều lần máy bay, pháo binh địch đánh vào ấp, xã, đồng chí nhanh chóng đi cứu chữa cho đồng bào bị thương.

   Từ cuối năm 1966 đến năm 1968, làm y tá ở quận Giồng Trôm, Nguyễn Thị E luôn đi sát các đơn vị chiến đấu, không kể ngày đêm, lúc nào có thương binh đến là cứu chữa ngay. Có lần đi cứu chữa thương binh, bị địch phục kích bắt được, tra tấn rất dã man, nhưng đồng chí không khai báo gì, buộc chúng phải thả về.

   Từ năm 1969 đến năm 1973, Nguyễn Thị E phụ trách trạm thu dung thương binh. Trạm có 3 người, đồng chí là y tá và 2 hộ lý, thường xuyên phục vụ trên 20 thương binh (có lúc trên 30 thương binh). Đồng chí luôn nêu cao tinh thần tận tụy phục vụ, làm việc không kể ngày đêm, chăm sóc thương binh chu đáo. Nhiều lần máy bay, pháo binh địch đánh phá ác liệt vào khu vực trạm, đồng chí bình tĩnh, nhanh chóng dìu, cõng thương binh xuống hầm. Nhiều lần địch càn vào khu vực trạm, Nguyễn Thị E động viên các đồng chí khác cùng mình chuyển kịp thời tất cả thương binh đến nơi an toàn.

   Quá trình điều trị cho thương bệnh binh, với kiến thức được bồi dưỡng và học tập các đồng chí khác, Nguyễn Thị E đã tận dụng những dược liệu sẵn có ở địa phương, pha chế một số thuốc đông y phục vụ người bệnh, tiết kiệm cho công quỹ hàng nghìn đồng.

   Vừa làm tốt công tác điều trị, vừa làm tốt công tác nuôi dưỡng thương binh, đồng chí tranh thủ những giờ nghỉ, đi bắt cá, hái rau... cải thiện bữa ăn cho anh em.

   Đóng quân ở đâu, đồng chí cũng tích cực giúp đỡ nhân dân, chữa bệnh cho người ốm. Nhiều lần Nguyễn Thị E cải trang, vào sát vị trí địch, chửa cho đồng bào bị các bệnh hiểm nghèo, Nguyễn Thị E còn tích cực làm công tác dân vận, vận động nhân dân góp người, góp của cho cách mạng, bất cứ lúc nào cũng tích cực làm công tác địch vận, đã vận động được 25 gia đình binh sĩ ngụy gọi chồng con bỏ hàng ngũ địch trở về nhà làm ăn.

   Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 26 bằng khen và giấy khen, 3 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua, 11 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1973, Nguyễn Thị E được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vú trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG BÙI VĂN QUẢNG

(http://imageshack.us/a/img837/6780/buivanquang.jpg)


   Bùi Văn Quảng sinh năm 1947, dân tộc Kinh, nhập ngũ tháng 9 năm 1965, quê ở xã Hải Long, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Hà. Khi được tuyên dương Anh hừng, đồng chí là trung đội trưởng vận tải (xe đạp thồ) đại đội 3 tiểu đoàn 44 Cục hậu cần Bộ chỉ huy Miền, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ năm 1966 đến năm 1973 Bùi Văn Quảng làm nhiệm vụ phục vụ chiến đấu tại chiến trường Đông Nam Bộ. Khi là chiến sĩ nuôi quân, đồng chí luôn chịu khó công tác, thức khuya dậy sớm nấu nướng, bảo đảm sức khỏe cho anh em.

   Khi làm nhiệm vụ vận chuyển hàng, Bùi Văn Quảng luôn nêu cao tinh thần vượt mọi khó khăn, ác liệt, dũng cảm bám đường, bám tuyến bền bỉ công tác. Mỗi tháng đồng chí có mặt trên tuyến đường từ 28 đến 29 ngày. Chiến dịch vận chuyển nào đồng chí cũng tham gia từ đầu đến cuối và luôn dẫn đầu đơn vị về năng suất thồ hàng. Bùi Văn Quảng đả chuyển được 35 tấn hàng tới đích đầy đủ. Dù nắng mưa, nguy hiểm, hàng vẫn được bảo quản tốt. Đồng chí còn kết hợp vận chuyển hai chiều, đưa được trên 300 thương binh về phía sau an toàn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

   Đặc biệt, trong chiến dịch Xuân - Hè năm 1972, làm nhiệm vụ vận chuyển phục vụ các đơn vị chiến đấu ở Lộc Ninh, mặc cho địch đánh phá ác liệt, Bùi Văn Quảng động viên và dẫn đầu trung đội vượt qua mọi khó khăn, nguy hiểm, bám sát các đơn vị chiến đấu, đưa hàng đến kịp thời. Suốt 6 tháng liền, đồng chí không nghỉ một ngày nào, luôn dẫn đầu tiểu đoàn về năng suất (trung bình mỗi chuyến 400 ki-lô-gam). Trung đội đồng chí cũng luôn dẫn đầu tiểu đoàn về năng suất. Trong chiến dịch này, Bùi Văn Quảng đã chuyển được 11 tấn hàng ra phía trước, phục vụ chiến đấu và chuyển 94 thương binh về tuyến sau an toàn.

   Bùi Văn Quảng hết lòng thương yêu đồng đội, ba lần xông vào lửa đạn cứu được 4 đồng chí bị thương ra khỏi khu vực địch đang đánh phá.

   Đồng chí được tặng thưởng 3 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 5 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua, 28 bằng khen.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1973, Bùi Văn Quảng được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lương vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Sáu, 2013, 03:16:10 pm
ANH HÙNG BÙI VĂN MINH

(http://imageshack.us/a/img89/909/buivanminh.jpg)


   Bùi Văn Minh sinh năm 1950, dân tộc Kinh, quê ở xã Hải Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa, nhập ngũ tháng 1 năm 1968. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là thượng sĩ, trung đội phó thuộc đại đội 6 vận tải, tiểu đoàn 231 trung đoàn 230 cục hậu cần Quân khu 5, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ năm 1968 đến năm 1973, Bùi Văn Minh làm nhiệm vụ vận tải ở chiến trường Tây Nguyên, tuy có nhiều khó khăn, gian khổ, địch đánh phá ác liệt, đồng chí luôn bền bỉ khắc phục khó khăn, tận tụy phục vụ. Năm nào Bùi Văn Minh củng tham gia vận chuyển hàng trung bình 270 ngày, tích cực cải tiến cách mang vác để tăng cân, tăng chuyến, đưa năng suất ngày một cao. Đồng chí thường nhận chuyển những hàng cổng kềnh, nhường hàng gọn, dễ mang cho đồng đội. Năng suất vận chuyển bình quân của Bùi Văn Minh là 80 ki-lô-gam một chuyến.

   Nhiều khi do yêu cầu gấp, đồng chí đã mang 130 ki-lô-gam mỗi chuyến trong gần một tháng liền; có chuyến một mình mang 4 viên đạn ĐKB nặng 184 ki-lô-gam.

   Năm 1971, vận chuyển bằng xe đạp, đường hẹp, dốc cao, chỉ tiêu 100 ki-lô-gam mỗi chuyến Bùi Văn Minh thường đạt 125 ki-lô-gam một chuyến, có chuyến đạt 230 ki-lô-gam.

   Tính chung trong 5 năm, đồng chí đã chuyển được 100 tấn hàng, giao đủ, kịp thời gian quy định, hàng được bảo quản tốt.

   Tháng 7 năm 1970, địch càn vào khu căn cứ của ta. Để bảo vệ hàng, tổ đồng chí đã chiến đấu rất dũng cảm. Quá trình chiến đấu, anh em bị thương, chỉ còn một mình Bùi Văn Minh vẫn kiên trì bám trận địa, đánh địch. Sau một ngày chiến đấu quyết liệt, đồng chí đánh lui 5 đợt tiến công của địch, diệt nhiều tên, giữ vững được khu kho và bảo vệ thương binh an toàn.

   Bùi Văn Minh luôn khiêm tốn, giản dị, chịu khó học hỏi mọi người được đồng đội tin yêu.

   Đồng chí được tặng thưởng 3 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 4 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua, 8 bằng khen và giấy khen.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1973, Bùi Văn Minh được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG Y BUÔNG

(http://imageshack.us/a/img854/743/ybuong.jpg)


   Y Buông sinh năm 1946, dân tộc Xê-đăng, quê ở xã Đắc Na, huyện Đắc Tô, tỉnh Kon Tum, nhập ngũ tháng 3 năm 1960. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là trung đội phó nuôi quân thuộc đại đội 1 tiểu đoàn 304 bộ đội địa phương Công Tum, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Y Buông tham gia phục vụ cách mạng từ khi còn nhỏ, 13 tuổi đã làm liên lạc đưa đường cho cán bộ ra vào vùng tạm chiếm hoạt động. Trong khi làm nhiệm vụ, nhiều lần gặp nguy hiểm, đồng chí vẫn bình tĩnh, linh hoạt bảo vệ cán bộ an toàn .

   Từ năm 1960 đến năm 1973, Y Buông làm công tác nuôi quân. Công việc gặp nhiều khó khăn, đồng chí vẫn kiên trì, bền bỉ, tận tụy phục vụ, không quản ngại. Đồng chí làm việc quanh năm suốt tháng không nghỉ, năng suất có lúc bằng hai người. Những khi thiếu thốn lương thực, thực phẩm, Y Buông tích cực tìm kiếm củ rừng rau rừng, bát cua, ốc... để cải thiện bữa ăn cho đơn vị. Những đồng chí ốm được đồng chí chăm sóc chu đáo, nhiều khi nhường cả khẩu phần ăn của mình cho đồng đội, còn mình ăn đói hoặc ăn rau rừng trừ bữa.

   Ngoài việc khắc phục khó khăn bảo đảm bữa ăn hàng ngày, Y Buông còn tìm mọi cách kiếm thức ăn nuôi thường xuyên 5, 6 con lợn và hàng chục con gà, cung cấp thêm mỗi năm hơn 3 tạ thịt lợn và trên 100 con gà góp phần cải thiện đời sống cho đơn vị.

   Đặc biệt, từ năm 1968, làm nhiệm vụ nuôi quân ở đơn vị chiến đấu, phải hành quân cơ động vất vả, Y Buông luôn bám sát đơn vị. Nhiều khi hành quân 5, 6 đêm liền; ban ngày không nghỉ, đồng chí đào bếp, kiếm củi, nấu cơm cho đơn vị ăn đầy đủ, kịp thời.

   Quá trình phục vụ chiến đấu, hàng trăm lần trong hoàn cảnh bom đạn địch đánh phá ác liệt, Y Buông vẫn tìm mọi cách nấu được cơm và mang đến trận địa cho bộ đội.

   Y Buông luôn gương mẫu về mọi mặt, hăng say với nhiệm vụ, hết lòng thương yêu đồng đội, sống giản dị, khiêm tốn, được mọi người yêu mến.

   Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 16 bằng khen và giấy khen, 3 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1973, Y Buông được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Sáu, 2013, 03:18:19 pm
ANH HÙNG TRƯƠNG QUANG THỌ

(http://imageshack.us/a/img442/2259/truongquangtho.jpg)


   Trương Quang Thọ sinh năm 1948, dân tộc Kinh, quê ở xã Gio Hải, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là xã đội trưởng xã Gio Hải, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Trương Quang Thọ tham gia du kích từ năm 1965, qua nhiều cương vị công tác: chiến sĩ du kích, thôn đội trưởng, xã đội phó, xã đội trưởng; ở cương vị nào cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đồng chí đã tham gia chiến đấu 23 trận, trận nào củng dũng cảm, mưu trí, tích cực tiêu diệt địch; đơn vị do đồng chí chỉ huy đã diệt hàng trăm tên địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh. Riêng Trương Quang Thọ diệt 65 tên, bắt 1 trung úy tình báo, bắn cháy 14 xe tăng, xe bọc thép, đánh chìm, đánh hỏng 7 tàu, thu 2 súng.

   Nơày 13 tháng 7 năm 1967, thấy xe tăng địch đi về hướng Diên Hà (Quảng Trị), đồng chí cải trang làm người đi đánh cá, nhanh chóng đặt mìn đón xe địch. Một chiếc xe đi qua trúng mìn bốc cháy.

   Trận đánh tàu ở cảng Cửa Việt ngày 12 tháng 3 năm 1970 Trương Quang Thọ cùng 3 đồng đội hành quân 15 ki-lô-mét, vượt qua nhiều tuyến phòng thủ của địch, phục kích một tàu vận tải và 1 tàu tuần tiễu từ ngoài khơi chạy vào. Đồng chí bình tĩnh chờ cho chúng vào thật gần mới nổ súng, với 2 quả đạn B41, bắn chìm cả 2 chiếc tàu địch.

   Trận đánh tàu ở cảng Cửa Việt lần thứ hai ngày 12 tháng 3 năm 1970, tổ Trương Quang Thọ bơi từ ngoài biển vào cảng. Phát hiện một chiếc tàu vận tải, đồng chí bắn 1 quả đạn trúng buồng lái; chiếc tàu bốc cháy rồi chìm ngay. Bọn địch lập tức điều xe tăng và bộ binh đến bao vây khu cảng. Chúng bắn phá và tìm rất gắt gao, tổ đồng chí vẫn mưu trí, bí mật rút về hậu cứ an toàn.

   Trận ngày 14 tháng 12 năm 1971, tổ của Trương Quang Thọ đã diệt được tên Thí là một nhân viên tình báo ác ôn, có nhiều nợ máu với nhân dân trong xã. Sợ bị giết, ban đêm nó thường ngủ trong khu tập trung, có lính canh phòng cẩn mật. Đồng chí dẫn đầu một tổ, cải trang làm lính địch, vào tận chỗ ngủ giết chết tên này. Khi trở ra tổ Trương Quang Thọ còn tiến công bọn lính gác, làm chúng chạy tán loạn. Diệt được tên Thí, nhân dân địa phương rất phấn khởi.

   Suốt quá trình công tác, Trương Quang Thọ tích cực chăm lo xây dựng phong trào dân quân du kích ở địa phương, luôn xung phong, gương mẫu về mọi mặt, khiêm tốn, giản dị, được nhân dân tin yêu.

   Đồng chí được tặng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba,’ 3 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua, 6 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1973, Trương Quang Thọ được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG VĂN THỊ XUÂN

(http://imageshack.us/a/img705/7955/vanthixuan.jpg)


   Văn Thị Xuân sinh năm 1948, dân tộc Kinh, quê ở xã Hải Phú, huyện Hải Lăng, tỉnh Bình Trị Thiên. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là xã đội phó xã Hải Phú, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Văn Thị Xuân tham gia phục vụ cách mạng từ khi còn nhỏ. Lúc ít tuổi, đồng chí làm liên lạc dẫn đường cho du kích, cán bộ hoạt động trong vùng và dẫn đường cho bộ đội đánh địch ở các căn cứ La Vang, Mai Lĩnh... Từ năm 1967 đến đầu năm 1973, đồng chí tham gia du kích, hoạt động lúc bí mật, lúc công khai tại địa phương, vận động quần chúng xây dựng cơ sở, trực tiếp chỉ huy du kích chiến đấu. Mặc dù địch ra sức lùng sục, càn quét tại địa phương nhiều lần, hoạt động có nhiều khó khăn, đồng chí kiên quyết bám đất, bám dân. Văn Thị Xuân đã chỉ huy tổ du kích bí mật chiến đấu hơn 100 trận, diệt 300 tên địch, phá hủy 4 xe quân sự, gần một trăm súng các loại.

   Trong quá trình làm nhiệm vụ, Văn Thị Xuân bị địch bắt giam 15 lần. Mặc cho chúng dùng mọi cực hình, đánh đập, tra tấn, nhiều lần bị ngất, đồng chí vẫn kiên cường chịu đựng, không khai báo gì.

   Tháng 2 năm 1970, địch bắt được Văn Thị Xuân, đánh đập rất tàn nhẫn rồi liên tục bơm nước xà phòng lẫn ớt vào mồm và đạp vào bụng cho nước chảy ra hậu môn; sau đó lại buộc thừng vào chân treo ngược lên xà nhà, mỗi lần hạ xuống, chúng thả đồng chí ngập mặt vào thùng nước xà phòng. Cứ như thế trong 5 giờ đồng hồ liền, vẫn một mực không khai. Cuối cùng, địch phải thả đồng chí. Tấm gương kiên cường, bất khuất của Văn Thị Xuân đã cổ vũ nhiều chị em khác trong trại giam và nhân dân địa phương noi gương học tập.

   Văn Thị Xuân luôn chú trọng xây dựng lực lượng dân quân du kích ở địa phương, gương mẫu trong mọi công tác, ngoài nhiệm vụ chủ yếu, đồng chí còn tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân bán gạo cho bộ đội, tham gia đi dân công phục vụ chiến đấu... Riêng đồng chí đã góp 120 ngày công vận tải đạn phục vụ bộ đội chiến đấu, mua được 14 tấn gạo cho bộ đội.

   Đồng chí được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 2 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua, 4 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ.

   Ngày 20 tháng 12 năm 1973, Văn Thị Xuân được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.