Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tự dịch => Tác giả chủ đề:: qtdc trong 01 Tháng Sáu, 2012, 12:06:46 AM



Tiêu đề: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 01 Tháng Sáu, 2012, 12:06:46 AM
Nguồn: http://militera.lib.ru/h/dotsenko/index.html


ДОЦЕНКО, Виталий Дмитриевич

ФЛОТЫ В ЛОКАЛЬНЫХ КОНФЛИКТАХ ВТОРОЙ ПОЛОВИНЫ XX ВЕКА


СОДЕРЖАНИЕ
Предисловие
Морская война в Корее
Операция "Мушкетер"
Провал операции "Плутон"
Флот сражается с берегом
Ракеты топят корабли
Атака у берегов Синая
"Шеффилд" просит помощи
Операция "Вспышка ярости"
"Танкерная война" в Персидском заливе
Операция "Огонь в прерии"
Война в Персидском заливе
Уроки локальных войн
Приложения
Послесловие. ВЛАДИСЛАВ ГОНЧАРОВ
Примечания
Список иллюстраций

(http://kotenik.files.wordpress.com/2010/07/152.jpg?w=655&h=1000)


DOTSENKO, VITALY DMITRIEVITCH

HẠM ĐỘI TRONG CÁC CUỘC XUNG ĐỘT CỤC BỘ NỬA SAU THẾ KỶ XX

Mục lục

Lời nói đầu
Chiến tranh trên biển tại Triều Tiên
Chiến dịch “Musketeer”
Thất bại của chiến dịch “Pluton”
Hạm đội chiến đấu với bờ
Tên lửa đánh đắm tàu chiến
Cuộc tấn công gần bờ Sinai
“Sheffield” cầu xin giúp đỡ
Chiến dịch “Urgen Fury”
“Chiến tranh tàu chở dầu” trong vịnh Ba Tư
Chiến dịch “Prairie Fire”
Chiến tranh tại vịnh Ba Tư
Các bài học từ các cuộc chiến tranh cục bộ


Phụ lục
Lời cuối sách. Vladislav Gontcharov
Ghi chú
Danh sách các hình vẽ minh họa

.............


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 01 Tháng Sáu, 2012, 01:05:10 PM
(tiếp)


Lời nói đầu

Trong quá trình phát triển lịch sử của nhiều quốc gia,  khi giải quyết các vấn đề chính trị, quân sự và kinh tế thường phải viện đến lực lượng quân sự. Chỉ trong thế kỷ XX, ngoài hai cuộc chiến tranh thế giới, đã có hơn 350 cuộc chiến tranh cục bộ và xung đột vũ trang. Hơn nữa, nếu trước khi Chiến tranh thế giới thứ Nhất nổ ra, người ta ghi nhận chỉ có 36 cuộc chiến tranh cục bộ và xung đột vũ trang, thì trong thời kỳ giữa các cuộc chiến tranh thế giới có đến 80, còn sau Chiến tranh thế giới thứ Hai - hơn 250. Sau 1945 có đến hơn 12 triệu binh sĩ từ gần 100 quốc gia tham gia các hành động quân sự, và số người chết là hơn 35 triệu người (trong những năm Chiến tranh thế giới thứ Nhất đã có 10 triệu người bị giết chết, và trong Thế chiến II - 54 triệu).

So với các cuộc chiến tranh thế giới, chiến tranh cục bộ đặc trưng bởi số lượng các nước tham gia nhỏ hơn, quy mô không gian hoạt động quân sự nhỏ, thường là có mục tiêu hạn chế về chính trị và quân sự, sử dụng các lực lượng và phương tiện chiến tranh truyền thống. Khác với các cuộc chiến tranh cục bộ, các cuộc xung đột quân sự như là một hình thức đặc biệt cụ thể của cuộc đấu tranh vũ trang có các mục tiêu chính trị thậm chí còn hạn chế hơn, không gian và thời gian xung đột có quy mô còn nhỏ hơn. Thường chúng là các cuộc khởi nghĩa vũ trang, các cuộc nổi loạn, các xung đột vũ trang và sự cố biên giới, và nếu trong quá trình cuộc chiến tranh cục bộ, tình hình xã hội của các quốc gia tham dự có thay đổi về chất, thì khi xung đột quân sự sự chuyển dịch cơ bản cơ cấu quốc gia sẽ không xảy ra, nghĩa là ta không quan sát thấy sự huy động và triển khai các nguồn lực của nền kinh tế sang chế độ thời chiến . [7]

Chiến tranh cục bộ bao gồm các giai đoạn (thời kỳ) sau: giai đoạn đầu, một hoặc một số giai đoạn kế tiếp và giai đoạn cuối cùng. Trong giai đoạn đầu, các bên tham chiến, theo lệ thường tiến hành các hành động quân sự chủ động nhằm đạt được các mục tiêu gần nhất, đồng thời hoàn thành việc triển khai các lực lượng vũ trang và chuyển nền kinh tế sang tình trạng thời chiến. Đặc điểm của giai đoạn này là cuộc đấu tranh dữ dội để giành quyền chủ động trong hoạt động quân sự; trong một số trường hợp thiếu các trận tuyến có tổ chức; tính không đầy đủ trong việc huy động triển khai các lực lượng vũ trang của nạn nhân cuộc xâm lược; quyết tâm của bên tấn công mở nút bất ngờ cho cuộc chiến tranh, và giáng đòn thất bại quyết định cho các lực lượng vũ trang đối phương trước khi họ hoàn thành triển khai; quyết tâm của nạn nhân cuộc xâm lược trong việc đẩy lùi cuộc tấn công và tạo điều kiện thuận lợi để chuyển sang phản công.

Hầu hết các cuộc chiến tranh cục bộ xảy ra mà không hề có tuyên bố. Hoạt động quân sự thường bắt đầu từ các hành động khiêu khích và sự cố trên biên giới, sau đó leo thang thành xung đột vũ trang quy mô lớn. Những kẻ tấn công cố gắng tối đa hóa việc tập trung lực lượng cho một cuộc tấn công bất ngờ khi khởi đầu chiến sự.

Các giai đoạn tiếp theo của cuộc chiến đặc trưng bởi sự gia tăng quy mô các hành động quân sự như việc triển khai và đưa vào tham chiến các đội quân dự bị, các lực lượng và phương tiện chiến tranh bổ sung. Ở những giai đoạn đó, quy mô và cường độ của các hoạt động quân sự lúc tăng lên, lúc giảm đi. Các bên tham gia chiến tranh tiến hành các chiến dịch khác nhau về quy mô và mục tiêu của chiến dịch (hoạt động chiến đấu) trên biển, trên đất liền và trên không trung, có tính đến những kinh nghiệm đã đạt được trong các cuộc chiến tranh trước đây.

Phạm vi các hoạt động quân sự trong giai đoạn cuối của chiến tranh hoặc bị hạn chế do sự kiệt quệ các nguồn lực và sự sụt giảm khả năng của các bên lâm chiến, hoặc đạt cường độ tối đa, dẫn đến sự thất bại của một bên.

Trong các cuộc chiến tranh cục bộ tất cả các loại hình lực lượng vũ trang đều được sử dụng, các mẫu trang thiết bị quân sự và vũ khí, cũng như các loại vũ khí hóa học, sinh học, các phương tiện gây cháy. Không gian chiến trường được xem như là một loại bãi thử để thử nghiệm các mẫu vũ khí và trang thiết bị kỹ thuật quân sự mới nhất, cũng như để thử nghiệm các hình thức và phương thức tiến hành chiến tranh mới. Kinh nghiệm của các cuộc chiến tranh cục bộ có ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển của nghệ thuật chiến tranh hải quân.

Thường xuyên được sử dụng nhất trong các cuộc chiến tranh và xung đột vũ trang cục bộ là lực lượng hải quân. Nó tỏ ra là phù hợp nhất đối với các hoạt động ở các vùng xa xôi. Các tàu chiến và tàu đảm bảo [8], về mặt tác chiến có thể nhanh chóng có mặt trong khu vực phát sinh các tình huống xung đột và ở trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu mức độ cao một thời gian dài, mà không vi phạm trong một thời gian nhất định chủ quyền của các quốc gia khác. Các tính chất đó, ngoại trừ Hải quân ra không có bất kỳ loại hình nào trong các lực lượng vũ trang đạt được.

Chiến tranh rất thường hay bắt đầu hoặc bằng việc đổ bộ thủy quân lục chiến và yểm trợ nó từ phía biển bằng các lực lượng của ham đội, hoặc bằng các đòn không kích từ phía biển của máy bay trên các tàu sân bay và hỏa lực pháo hạm. Thực tế đã bắt đầu như vậy trong các cuộc chiến tranh của Mỹ ở Bắc Triều Tiên (1950-1953), Guatemala (1954), Lebanon (1958), Cuba (1961), Panama (1964), Việt Nam (1964 - 1973), Cộng hòa Dominicana (1965) và Grenada (1983). Trong quá trình các cuộc xâm lăng của Anh-Pháp-Israel chống lại Ai Cập (1956), cuộc xâm lược Hy Lạp-Thổ Nhĩ Kỳ chống lại Síp (1974) và trong cuộc xung đột Anh-Argentina (1982), việc đổ bộ thủy quân lục chiến và việc công kích của máy bay trên tàu sân bay vào các mục tiêu trên đất liền là nội dung chính yếu của các hoạt động quân sự.

Lôi cuốn tham gia vào các cuộc chiến tranh cục bộ là những lực lượng đáng kể của hạm đội. Trong một số trường hợp, số lượng tàu chiến và máy bay hải quân còn lớn hơn cả các nhóm hạm đội tham gia vào các chiến dịch trong Chiến tranh thế giới thứ II. Các lực lượng này rút gọn lại thành các hạm đội hợp nhất hoặc hạm đội chiến dịch, các binh đoàn chiến dịch-chiến thuật hoặc các nhóm chiến thuật; ghi nhận nỗ lực tập trung hóa việc chỉ huy kiểm soát các lực lượng.

Các nhiệm vụ chủ yếu của hạm đội trong các cuộc chiến tranh và xung đột vũ trang cục bộ - yểm trợ pháo binh và không quân cho quân chủng lục quân khi họ tiến hành các chiến dịch (các hoạt động quân sự) tấn công và phòng thủ trong các khu vực ven biển; giáng các đòn tấn công vào các mục tiêu quân sự, các cơ sở công nghiệp và các mục tiêu mặt đất khác; đổ bộ thủy quân lục chiến đường biển ( đường sông); tiến hành phong tỏa đường biển vùng duyên hải, các căn cứ hải quân và bến cảng của địch; tiêu diệt lực lượng hải quân địch ở trên biển và trong các căn cứ, bảo đảm giao thông vận tải đường biển và đại dương; tham gia phòng thủ bờ biển.

Trong cuốn sách này, lần đầu tiên trong sử ký quốc gia, người biên soạn cố gắng tóm tắt kinh nghiệm chiến đấu của lực lượng hải quân trong các cuộc chiến tranh cục bộ và chỉ ra ảnh hưởng của nó đến sự phát triển của nghệ thuật chiến tranh hải quân.
.......


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 01 Tháng Sáu, 2012, 11:16:48 PM
(tiếp)


CHIẾN TRANH TRÊN BIỂN TẠI TRIỀU TIÊN

Dẫn nhập
Hạm đội bảo vệ căn cứ và bến cảng
Phong tỏa đường biển vùng duyên hải
Chiến dịch đổ bộ Inchon
Chiến dịch đổ bộ Wonsan
Chiến dịch đổ bộ Koson-Wonsan
Tấn công các mục tiêu trên đất liền
Hạm đội rải mìn
Hạm đội yểm trợ các quân binh chủng
Hạm đội vận chuyển hàng hóa

Dẫn nhập


(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/0/0f/IncheonLandingMcArthur.jpg/730px-IncheonLandingMcArthur.jpg)
Chuẩn tướng Courtney Whitney, phân ban chính phủ, Bộ tư lệnh Viễn Đông; đại tướng Douglas MacArthur, tổng tư lệnh, Bộ tư lênh Liên hiệp quốc (United Nations Command), và thiếu tướng Edward Almond (ở bên phải, đang chỉ tay), tư lệnh, quân đoàn X (X Corps) tại Triều Tiên, đang quan sát cuộc pháo kích Incheon từ tàu USS Mount McKinley. Ngày 15 tháng 9 năm 1950.
Nguồn: lưu trữ hình ảnh chính thức của quân đội Mỹ về Chiến tranh Triều Tiên NARA FILE #: 111-SC-348438; Tác giả: Nutter (Lục quân) - (dẫn theo en.viki).


Chiến tranh tại Triều Tiên là một trong các cuộc chiến tranh cục bộ đầu tiên và lớn nhất sau năm 1945. Quân đội Liên Xô tháng Tám năm 1945 đã giải phóng phần phía bắc Triều Tiên khỏi ách chiếm đóng của quân phiệt Nhật Bản.

Căn cứ vào thỏa thuận của các quốc gia Đồng Minh, phần lãnh thổ nằm ở phía bắc vĩ tuyến 38, do quân đội Xô Viết chiếm đóng, lãnh thổ phía nam - quân đội Hoa Kỳ chiếm đóng. Để tạo điều kiện cho việc hình thành theo dự kiến chính phủ quốc gia Triều Tiên thống nhất, Liên Xô đã rút quân khỏi Triều Tiên vào năm 1948, nhưng chính phủ Mỹ hoàn toàn giữ vị trí đối lập: họ đang trên đường chia cắt Triều Tiên thành hai quốc gia - Bắc và Nam Triều Tiên. Tháng Tám năm 1948, với sự hỗ trợ của Hoa Kỳ ở Nam Triều Tiên chính phủ bù nhìn của Syngman Rhee (Lý Thừa Vãn) đã được thành lập, quân đội bắt đầu hình thành, còn sau đó là sự chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh công khai chống lại Bắc Triều Tiên. Quân số của quân đội Nam Triều Tiên đến tháng 6 năm 1950 là khoảng 100.000 người, không kể 50 nghìn cảnh sát. Tới thời gian này, vũ khí của họ đã có tới 840 pháo và súng cối, 1.900 súng "bazooka" [12] và 27 xe bọc thép. Ngoài ra, bè lũ Lý Thừa Vãn còn có 20 máy bay và 79 tàu, chủ yếu là các tàu độ choán nước nhỏ.

Từ tháng 5 năm 1949, với sự giúp đỡ của của Mỹ, chính phủ Nam Hàn đã phát triển kế hoạch tấn công Bắc Triều Tiên. Ý đồ của nó là tấn công bằng lục quân; từ phía trước kết hợp cùng các đơn vị đổ bộ được ném vào sau lưng đối phương, bao vây và tiêu diệt các lực lượng chính của Quân đội Nhân dân Triều Tiên (KNA) trong các khu vực Bình Nhưỡng và phía nam Wonsan, sau đó tiến đến biên giới với Trung Quốc.

Mũi tấn công chính theo kế hoạch hướng vào khu vực Bình Nhưỡng. Bộ chỉ huy Mỹ tin tưởng rằng quân đội Nam Hàn có thể tự mình trong vòng một vài ngày chiếm được toàn bộ phần phía bắc của bán đảo, do đó chỉ dự định yểm trợ bằng không quân và hải quân. Các nhóm quân lớn được tung vào không gian chiến trường: lực lượng không quân bản thân đã hơn một nghìn máy bay, còn hải quân - 26 tàu chiến và 200 tàu vận tải. Ngoài ra, tại khu vực này còn có 23 tàu chiến Hải quân Anh. Trong trường hợp can thiệp quân sự trực tiếp, tại lãnh thổ Nhật Bản đã xây dựng một nhóm lục quân rất mạnh quân số hơn 80 nghìn người.

Đầu tháng 5 năm 1950, Bộ chỉ huy Bắc Triều Tiên đã nhận được các dữ liệu đáng tin cậy về việc chuẩn bị chiến tranh của phía Nam Hàn, cho phép họ có thể đề ra những biện pháp cần thiết để bảo vệ đất nước mình bằng lực lượng vũ trang.

(http://i.telegraph.co.uk/multimedia/archive/01666/war_1666150c.jpg)
Một trung đoàn xe tăng quân đội Bắc Triều Tiên trong thời kỳ chiến tranh Triều Tiên 1950-1953 (telegraph.co.uk).
........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 02 Tháng Sáu, 2012, 01:23:40 PM
(tiếp)


(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s03.gif)
Quá trình tấn công của Quân đội Nhân dân Triều Tiên (KNA).

Tương quan lực lượng khi bắt đầu chiến sự có lợi cho KNA, trên hướng chính Bình Nhưỡng, KNA trội hơn đối phương về bộ binh 1,4 lần, về xe tăng – 5,5 lần, máy bay - 1,2 lần. Các hạm đội của các bên đối nghịch tương tự như nhau và chỉ giải quyết vấn đề đảm bảo.

Ngày 23 tháng 6 năm 1950 quân đội Nam Triều Tiên bắt đầu bắn phá các vị trí của KNA, và vào lúc rạng sáng ngày 25 tháng 6, giả thiết rằng sau đợt bắn pháo chuẩn bị kéo dài, các mục tiêu chính của đối phương đã bị phá hủy, họ chuyển qua tấn công. Trên một số đoạn riêng biệt quân đội Nam Hàn đã tiến được [13] 1 - 2 km về phía bắc vĩ tuyến 38. Tuy nhiên, theo một phiên bản ngược lại, bên khai hỏa đầu tiên và phát động tấn công trước là quân đội KNA. {1} [14]

Sau khi chống đỡ những đợt tấn công đầu tiên của đối phương, quân đội KNA chuyển sang phản công. Kẻ thù không trông đợi một đòn trả đũa mạnh mẽ như vậy, bắt đầu rút lui, đến 28 tháng 7 họ buộc phải rời khỏi Seoul. Trong suốt một tháng rưỡi chiến sự sau, quân đội KNA tiến được 240 - 350 km.

Quân Lý Thừa Vãn tổn thất gần 100 ngàn người vừa chết, vừa bị thương và bị bắt làm tù binh. Sự thất bại của các lực lượng Nam Triều Tiên và mối đe dọa sụp đổ chế độ bù nhìn gây nên sự náo loạn trong giới cầm quyền Mỹ. Chính phủ Mỹ quyết định can thiệp vào cuộc xung đột, trong thực tế cuộc xung đột đã phát triển thành một cuộc nội chiến. Người Mỹ khai thác tất cả khả năng ngoại giao qua việc thực hiện nghị quyết của Liên Hợp Quốc, nghị quyết đó tán đồng sự tham chiến của lực lượng vũ trang Mỹ và 15 nước đồng minh của họ. {2} Trong cái gọi là quân đội Liên Hợp Quốc, có 90% là các đơn vị quân đội Mỹ, các binh đoàn, các đơn vị và các phân đội lực lượng vũ trang của Anh, Úc , Bỉ, Hà Lan, Hy Lạp, Canada, Colombia, Luxembourg, New Zealand, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Philippin, Pháp, Ethiopia và Liên bang Nam Phi. Anh và Thổ Nhĩ Kỳ gửi đến Hàn Quốc mỗi nước một lữ đoàn. Các nước còn lại chỉ cử những phân đội nhỏ.

Bất chấp các vụ ném bom của máy bay Mỹ đã bắt đầu, đến giữa tháng Tám, gần 90% lãnh thổ Triều Tiên đã được giải phóng khỏi tay chính quyền Lý Thừa Vãn. Tuy nhiên, do các tuyến giao thông liên lạc trải dài, thiếu nguồn lực dự trữ, lực lượng không quân và hải quân không đủ để yểm trợ, ngày 20 tháng 8 cuộc tấn công của KNA phải dừng lại. Quân đội Nam Hàn đã giữ vững cho mình bàn đạp Pusan có diện rộng 120 km và chiều sâu 100-120 km. Những nỗ lực của KNA trong nửa sau của tháng Tám và nửa đầu tháng Chín nhằm xóa bỏ bàn đạp này đã không thành công. [16]

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/a/ae/Korean-War-june-aug-1950.png) (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/e/eb/Korean_war_1950-1953.gif)
Đợt tấn công đầu tiên của KNA, tháng 6 - tháng 8 năm 1950 (ru.viki). Các ảnh và sơ đồ không chú thích nguồn thuộc về sách của Dotsenko. Sơ đồ minh họa các vùng lãnh thổ chuyển tay nhau kiểm soát giữa các bên trong quá trình xung đột cho đến khi có đường mặt trận ổn định (en.viki).
........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 02 Tháng Sáu, 2012, 07:58:56 PM
(tiếp)


(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/5/57/Korean-War-sep-nov-1950.png) (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/d/df/Korean-War-nov-50-jan-51.png)
Phản công của quân đồng minh Nam Hàn, tháng 9-tháng 11 năm 1950 (ảnh trái), và phản công của quân đồng minh Bắc Triều Tiên tháng 11/1950 - 1/1951 (ru.viki).

Đến đầu tháng Chín đã có 6 sư đoàn quân Mỹ và một lữ đoàn quân Anh được ném vào bàn đạp Pusan. Kết quả đó làm thay đổi cán cân lực lượng đến giữa tháng 9 nghiêng về phía Nam Hàn, và họ chuyển sang phản công.

Bộ chỉ huy Mỹ dự tính đổ bộ chiến dịch các đơn vị thủy quân lục chiến lên cảng Inchon đồng thời với quá trình chuyển sang tấn công của tập đoàn quân Mỹ số 8 từ đầu cầu Pusan nhằm bao vây và tiêu diệt các lực lượng chính của KNA.

Sau những trận giao tranh ác liệt, bắt đầu từ ngày 16 tháng 9, “quân đội LHQ" đã chọc thủng thành công tuyến mặt trận trước đó của đối phương, và đến giữa tháng Mười, đưa khu vực chiến sự di chuyển về phía bắc vĩ tuyến 38. Ngày 24 Tháng Mười năm 1950, quân của tập đoàn quân Mỹ số 8 đã tiến đến khu vực các thành phố Chosan và Kodan trên biên giới Triều Tiên-Trung Quốc. Trong những điều kiện như vậy, quân tình nguyện Xô Viết và Chí nguyện quân Trung Quốc đã đến trợ giúp cho Bắc Triều Tiên {3}.

Ngày 25 tháng 10 năm 1950, các đơn vị tiên phong của Chí nguyện quân Trung Quốc và quân đội KNA đã tung ra đòn phản công, sau đó họ chuyển hẳn vào giai đoạn phản công, và trong tám tháng đã quét sạch kẻ thù trên toàn lãnh thổ Bắc Triều Tiên. Người Nam Hàn và lực lượng LHQ bị buộc chuyển vào thế phòng thủ. Họ phải chịu những tổn thất nặng nề: số người chết, bị thương hoặc bị bắt làm tù binh đã lên đến hơn 500 nghìn người. Đến tháng Giêng năm 1951, trên một số đoạn tuyến, đối phương đã bị đẩy lùi 80-100 km về phía Nam vĩ tuyến 38. Nói về đặc điểm cuộc rút lui, chỉ huy tập đoàn quân số 8 quân đội Mỹ, tướng Matthew Ridgway đã viết: "Chỉ cách vài km về phía bắc Seoul, tôi đã phải đối mặt với một đội quân đang trốn chạy như bay. Cho đến khi đó tôi chưa bao giờ chứng kiến bất cứ điều gì tương tự và tôi cầu Chúa cho mình sẽ không còn phải chứng kiến một cảnh tượng như vậy. Trên đường, những chiếc xe tải đua nhau phóng, chất chật cứng các binh sĩ trong tư thế đứng. Binh sĩ [17] quẳng hết pháo hạng nặng, súng máy và súng cối. Chỉ có một số ít giữ được khẩu súng trường của họ. Tất cả những gì họ nghĩ chỉ là một điều: thoát khỏi đây càng sớm càng tốt, thoát khỏi một kẻ thù khủng khiếp, đang đuổi theo sát gót chân của họ”.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/en/8/8d/China_Crosses_Yalu.jpg)
Chí nguyện quân Trung Quốc qua sông Áp Lục (en.viki).

"Tuy nhiên, do thiếu lực lượng và trang thiết bị, do địa hình không thuận lợi cho tuyến trận địa phòng thủ, từ 20 tháng Hai đến 20 tháng Tư năm 1951 quân đội KNA, Chí nguyện quân Trung Quốc và quân tình nguyện Liên Xô đã rút lui về vĩ tuyến 38 và chuyển sang phòng thủ nghiêm ngặt. Không đật được các mục tiêu đề ra, ngày 10 Tháng 6 năm 1951 cả hai bên buộc phải bắt đầu các cuộc đàm phán, nhưng thỏa thuận ngừng bắn trên bán đảo Triều Tiên chỉ được ký kết vào ngày 27 tháng 7 năm 1953.

Chiến tranh Triều Tiên đã ngốn của Mỹ số tiền 20 tỷ USD. Người Mỹ và các đồng minh của họ đã lôi kéo vào cuộc chiến hơn 1 triệu người, với vũ khí trang bị cho đội quân ấy là 1.000 xe tăng và hơn 1.600 máy bay. Theo thú nhận của người Mỹ, cuộc chiến này xếp thứ tư về quy mô trong lịch sử Hoa Kỳ. Tổn thất của quân nhân Mỹ chỉ tính riêng số bị chết đã là hơn 140 nghìn người. {4}

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/ru/6/63/Picasso_Massacre_in_Korea.jpg)
"Thảm sát ở Triều Tiên" - tranh của Pablo Picasso (1951) tại Bảo tàng Picasso, Paris (ru.viki).

Trong quá trình chiến tranh, cả hai bên đều sử dụng các hình thức và phương pháp tác chiến được phát triển trong thời gian Chiến tranh thế giới thứ Hai, trong đó các hạm đội giải quyết các vấn đề trong một phạm vi rộng lớn. Nhiệm vụ chính của hạm đội có số lượng nhỏ của Bắc Triều Tiên là yểm trợ quân chủng lục quân và bảo vệ bờ biển. Hải quân Mỹ và các đồng minh của nó tham gia cuộc phong tỏa hàng hải tuyến bờ biển, đổ bộ lực lượng thủy quân lục chiến, tấn công các cơ sở công nghiệp và quân sự trên đất liền, yểm trợ lục quân trong tấn công và phòng thủ, cũng như đảm bảo vận chuyển hàng hóa quân sự. [18]

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/0/0c/Korean-War-feb-51-jul-53.png)
Chiến sự trong giai đoạn cuối cuộc chiến tháng 2/1951 - 7/1953 (ru.viki).
...........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 02 Tháng Sáu, 2012, 11:31:48 PM
(tiếp)

Hạm đội bảo vệ căn cứ và bến cảng


(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s02.gif)
Bố trí các hạm đội trước khi bắt đầu chiến tranh tại Triều Tiên.

Hải quân Bắc Triều Tiên vào đầu chiến tranh có 20 tàu chiến, bao gồm ba tàu tuần tra, năm tàu phóng ngư lôi, 4 tàu quét mìn, và một số tàu đảm bảo. Kể từ khi bắt đầu chiến sự người ta đã huy động khoảng 100 tàu từ 60-100 tấn. Lực lượng hải quân đóng tại căn cứ hải quân chính Nampo. Việc phòng thủ ven biển Bắc Triều Tiên đang ở trong giai đoạn hình thành: lúc bắt đầu chiến sự, nó có ba trung đoàn pháo binh, trong đó một trung đoàn cao xạ trang bị dã pháo cỡ nòng 76 và 107 mm. Thủy quân lục chiến gồm hai trung đoàn đóng quân tại Wonsan và Nampo.

Trong bối cảnh ưu thế áp đảo của các hạm đội đối phương trên biển, hạm đội quân số ít ỏi của Bắc Triều Tiên chủ yếu giải quyết vấn đề phòng thủ, bảo vệ bờ biển, bến cảng và căn cứ hải quân, thực hiện rải các bãi mìn phòng thủ, bao gồm cả bãi mìn chống đổ bộ đường biển. Tuy nhiên, vào lúc bắt đầu cuộc chiến, nó cũng tiến hành một số cuộc đổ bộ chiến thuật để hợp đồng hỗ trợ cho cuộc tấn công trên hướng duyên hải của lực lượng lục quân.

Lực lượng thủy quân lục chiến đầu tiên được đổ bộ ngày 25 tháng 6 năm 1950 trên bờ biển phía đông Nam Hàn trong các khu vực Kangneung và mũi Rimuon. Khi đổ bộ lực lượng thủy quân lục chiến này, giá trị lớn nhất của nó gắn liền với yếu tố bất ngờ. Các điểm tập kết đổ bộ chỉ cách 50 - 90 km so với khu đổ bộ, điều đó đảm bảo việc chuyển quân đổ bộ bằng đường biển vào ban đêm. Cả hai đội quân đổ bộ đã được đổ lên bờ mà không cần màn hỏa lực chuẩn bị của pháo binh và không quân.

Sự chống cự lại quân đổ bộ khá yếu. Chính lực lượng đổ bộ đã góp phần gia tăng tốc độ của quân tấn công, đảm bảo sự hợp vây và cầm tù các lực lượng bộ binh của kẻ thù, hạn chế chúng sử dụng các tuyến giao thông trên đất liền, [19] và cũng cản trở việc sử dụng lực lượng dự trữ của Bộ chỉ huy Nam Hàn.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s04.gif)
Cảng Pusan.

Chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động tác chiến của của hạm đội Bắc Triều Tiên là công tác thả mìn phòng thủ. Về cơ bản người ta đặt các bãi chướng ngại vật phòng thủ bằng mìn. Các bãi chướng ngại vật chủ động bằng mìn không được đặt chủ yếu là do thiếu phương tiện tốc độ cao, có khả năng đảm bảo tổ chức bãi mìn bí mật trong khu vực nằm dưới sự kiểm soát [20] của kẻ thù. Do thực tế việc tổ chức thả mìn được thực hiện trong điều kiện ưu thế hoàn toàn của quân địch thể hiện cả trên biển và trên không, quân Bắc Triều Tiên chỉ thả được mìn vào lúc đêm tối.

Tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng thành công vũ khí thủy lôi là các điều kiện địa lý quân sự (phần lớn dải ven biển bán đảo Triều Tiên thuộc vùng nước nông, độ dốc của mặt đất không đáng kể, và độ trong của nước thấp đã che giấu các dây neo của loại mìn tiếp xúc-vướng nổ).

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s01.gif)
Triều Tiên. Bản đồ đo cao theo điểm sôi của nước.
..........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 03 Tháng Sáu, 2012, 01:36:44 AM
(tiếp)

Phương tiện thả mìn chủ yếu là các tàu cá (kungas) và thuyền (schooner) độ choán nước 60-120 tấn, và trong một số trường hợp có cả các thuyền nhỏ và thậm chí cả bè. Cho đến cuối năm 1950 các phương tiện đặt mìn được trang bị là 24 kungas và 11 schooner. Tốc độ của các phương tiện nổi đó không vượt quá 5 hải lý, và thiết bị đạo hàng nghèo nàn của chúng làm giảm tính chính xác của các bãi mìn được bố trí. Ngoài ra còn thiếu các đội chuyên gia đánh mìn (Запальная команда). Chỉ đến vài tháng sau khi bắt đầu chiến tranh người ta mới chuẩn bị được 23 đội, cho phép làm công tác chuẩn bị cuối cùng cho các loại mìn neo và mìn đáy. Đào tạo các chuyên gia mìn đó là các sỹ quan của Hạm đội Thái Bình Dương Liên Xô.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/a/a6/USS_Barton_%28DD-722%29.jpg/800px-USS_Barton_%28DD-722%29.jpg)
USS Barton (DD-722), Allen M. Sumner-class destroyer, năm 1944 trong Thế Chiến 2. Tàu dính đạn pháo bờ biển Bắc Triều Tiên tháng 8 năm 1952 và dính mìn của hải quân Bắc Triều Tiên tháng 9 năm 1952 và bị loại khỏi vòng chiến (en.viki).

Hầu hết mìn được thả trên các hướng có nguy cơ bị đổ bộ hoặc các thủy đạo dẫn vào các căn cứ hải quân và bến cảng. Một số bãi mìn được các đơn vị pháo binh ven biển bảo vệ. Theo luật, người ta thường đặt các hàng mìn gồm 3-6 trái.

Khoảng cách giữa các hàng mìn từ 500 m trở lên. Nói chung, do nguồn cung dự trữ không đủ nên mật độ mìn chướng ngại vật thấp, trung bình 20-38 trái mìn cho mỗi dặm. Việc tổ chức các bãi mìn kiểu như vậy tạo ra sự xuất hiện các ứng dụng quy mô lớn của chúng. Ví dụ, bộ tư lệnh Mỹ tin rằng chỉ riêng ở Wonsan đã có đến 3.000 trái mìn được thả, mặc dù trong thực tế, chúng nhỏ hơn 6 lần. Suốt thời kỳ chiến tranh, hạm đội Bắc Triều Tiên đã thả hơn 3.000 trái mìn, trong đó trên 80% - ở bờ biển phía đông bán đảo Triều Tiên. Số chủ yếu là mìn neo vướng nổ. Người ta đặt [21] cả mìn đáy nổ không tiếp xúc, nhưng với số lượng nhỏ hơn nhiều.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/6/6b/USS_Walke_%28DD-723%29_c1953.jpg)
USS Walke DD-723, Allen M. Sumner-class destroyer, tại Triều Tiên 1952/1953 (en.viki). Tàu vấp mìn khi đi hộ tống làm nhiệm vụ chống tàu ngầm cho các tàu sân bay đơn vị đặc nhiệm 77 ngoài khơi Triều Tiên ngày 12 tháng 6 năm 1951. Tàu bị hư hỏng nặng, và được đưa về Nhật Bản và Mỹ sửa chữa, sau này còn tham gia chiến tranh Việt Nam.

Bất ngờ nhất với Bộ tư lệnh Hải quân Hoa Kỳ là việc sử dụng mìn thả trôi của Hạm đội Bắc Triều Tiên: thay vì dây neo treo giữ một trọng lượng khoảng 100 kg, mìn được giữ ở tư thế chìm trong nước. Những trái mìn này là một mối đe dọa nghiêm trọng. Ở khoảng cách 50-90 km tính từ đường bờ biển, đã phát nổ vì vướng loại mìn này là các tàu khu trục USS "Walke" (12 tháng 6 năm 1951), USS "Ernest G.Small" (ngày 07 tháng 10 năm 1951), USS "Barton" (ngày 16 tháng 9 năm 1952 ), và một số tàu khác v.v...các bãi mìn chướng ngại này gây trở ngại đáng kể đến hoạt động của Hải quân Mỹ, các tàu của hạm đội Mỹ, đặc biệt là các thiết giáp hạm và tàu tuần dương, không dám mạo hiểm tiến vào gần bờ.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/0/0a/USS_Ernest_G._Small%3B0583809.jpg)
USS Ernest G. Small (DD-838), Gearing-class destroyer, trên đường rút lui về Kure, Nhật Bản, sau khi mất mui tàu. Ngoài việc pháo kích vào bờ, tàu tham gia các trận đổ bộ tại Inchon và Wonsan tháng 9-10/1950, trợ giúp sơ tán quân đoàn X quân đội Mỹ (quân đoàn 10) khỏi Hungnam và Inchon tháng 12/1950, đi hộ tống tàu sân bay Rendova CVE-114. Tàu vấp mìn khi hoạt động ngoài khơi Bắc Triều Tiên ngày 7 tháng 10 năm 1951, và phần mui bị thương nặng đã đứt lìa xuống biển 4 ngày sau đó (en.viki). Tàu bị giải nhiệm năm 1952, sau đó được khôi phục và đưa vào danh sách hạm đội dự bị (FRAM).

Để quét các bãi mìn người Mỹ thu hút một lực lượng đáng kể, bao gồm gần như tất cả các tàu quét mìn của Hải quân Nhật Bản, và mặc dù vậy, mối đe dọa về mìn vẫn không được loại bỏ hẳn cho đến những ngày cuối cuộc chiến Triều Tiên.
........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 03 Tháng Sáu, 2012, 06:47:10 AM
(tiếp)


(http://tanky.dovidnyk.info/images/vehicles/f_11/f_11.jpg)
Pháo M-60 107 mm mẫu 1939 của Liên Xô (tanky.dovidnyk.info).

Pháo binh phòng thủ bờ biển đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ các căn cứ hải quân, bến cảng, nó được trang bị các dã pháo 76 và 107 mm. Ngoài ra các khẩu đội pháo cố định, hải quân Bắc Triều Tiên cũng được trang bị các khẩu đội pháo xe kéo và pháo di động trên đường sắt.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/ru/thumb/7/7a/%D0%A1%D0%BE%D0%B2%D0%B5%D1%82%D1%81%D0%BA%D0%B0%D1%8F_76-%D0%BC%D0%BC_%D0%B4%D0%B8%D0%B2%D0%B8%D0%B7%D0%B8%D0%BE%D0%BD%D0%BD%D0%B0%D1%8F_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0_%D0%97%D0%B8%D0%A1-3.JPG/450px-%D0%A1%D0%BE%D0%B2%D0%B5%D1%82%D1%81%D0%BA%D0%B0%D1%8F_76-%D0%BC%D0%BC_%D0%B4%D0%B8%D0%B2%D0%B8%D0%B7%D0%B8%D0%BE%D0%BD%D0%BD%D0%B0%D1%8F_%D0%BF%D1%83%D1%88%D0%BA%D0%B0_%D0%97%D0%B8%D0%A1-3.JPG)
Pháo 76 mm ZiS-3 mẫu 1942 của Liên Xô tại bảo tàng-rừng cấm "Đất Nhỏ" ở thành phố Novorossisk (ru.viki).

Các khẩu đội pháo bờ biển được bố trí một cách cẩn thận và được bảo vệ an toàn trước hỏa lực hải pháo trên chiến hạm kẻ thù. Trong các vách đá dựng đứng hoặc trên các sườn dốc ngược, và thường là trong các hang động, người ta bố trí 3 - 4 cỗ pháo. Các lỗ châu mai được che đậy bằng các lưới ngụy trang màu xanh lục-vàng, bằng các cành cây, các thảm cói dệt, và vào mùa đông - các mặt nạ ngụy trang màu trắng. Những trận địa hỏa lực như vậy rất khó phát hiện và để tiêu diệt chúng còn khó khăn hơn nhiều.

Tàu chiến của quân đồng minh, tham gia đấu súng với các khẩu đội pháo bờ biển kiểu như vậy, hiếm khi đạt được thành công, mà bản thân còn thiệt hại đáng kể. Ví dụ, ngày 14 tháng 6 năm 1951 gần Songjin tàu quét mìn "Thompson" tiến gần bờ [22] ở khoảng 3 km. Đột nhiên 4 khẩu đội pháo khai hỏa vào nó. Nổ súng đáp trả, tàu quét mìn mở tốc độ tối đa rút lui. Tuy nhiên, trước khi con tàu thoát ra khỏi khu vực lưới lửa, nó đã trúng 13 loạt đạn, làm cho ba người thiệt mạng và ba người bị thương, tháp pháo trung tâm, trạm radar, phòng điện đài đều bị hư hỏng nặng.

Các đặc tính chính của pháo binh thuộc lực lượng phòng vệ bờ biển hải quân Bắc Triều Tiên và pháo hạm tàu hải quân Hoa Kỳ
(http://nn3.upanh.com/b1.s28.d2/1efedbc952c49a9cdb522e906ea4e454_45620163.bang6.jpg)

Số phận tương tự cũng xảy ra với khu trục hạm "James S. Owen". Ngày 7 tháng 5 năm 1952, tàu bắn phá tuyến đường ven biển gần Songjin. Ở khoảng cách 2,7 km cách bờ, tàu khu trục trở thành mục tiêu khai hỏa của 10 khẩu đội pháo bờ biển. Trong thời gian 11 phút, khu trục hạm trúng sáu phát đạn trực tiếp. Do bị thương nặng, con tàu buộc phải rời khỏi khu vực.

Theo số liệu của báo chí Mỹ, hỏa lực pháo bờ biển đã làm hư hại 4 thiết giáp hạm, 10 tuần dương hạm, 29 khu trục hạm, 2 tàu khu trục hạng nhẹ, 6 tàu đổ bộ và tàu quét mìn. Tuy nhiên, cỡ pháo và tầm bắn hạn chế không cho phép các khẩu đội pháo tiêu diệt các tàu của đối phương. Khi rơi vào lưới lửa pháo binh bờ biển, các tàu chiến đối phương theo lệ thường chấm dứt nhiệm vụ tác chiến, chúng lấy tốc độ tối đa, vừa bắn trả vừa rút lui dưới sự che chở của màn khói ngụy trang. Đôi khi trên các thủy đạo tiếp cận các căn cứ hải quân và bến cảng, hải quân Bắc Triều Tiên cũng tiến hành chiến đấu bằng các trận địa mìn - pháo, và khi đó kẻ thù cũng phải chịu tổn thất.

Kết quả hoạt động của lực lượng hải quân Bắc Triều Tiên đã làm cho Hải quân Mỹ mất 5 tàu chiến và [23] 1 tàu kéo biển, còn 73 tàu chiến khác, trong đó gồm 4 thiết giáp hạm bị bắn hỏng.

PS: 1 kaben = 1/10 hải lý.
.......


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 03 Tháng Sáu, 2012, 01:33:51 PM
(tiếp)


Phong tỏa đường biển vùng duyên hải

Đầu tháng Bảy năm 1950, Tổng thống Mỹ Harry Truman, khi đề cập đến yêu cầu của Hội đồng Bảo an LHQ hỗ trợ Nam Hàn, đã ra lệnh thiết lập một cuộc phong tỏa đường biển trên toàn bộ miền duyên hải Triều Tiên. Ban đầu, cuộc phong tỏa mang tính chất ngẫu hứng: không xây dựng các đơn vị đặc biệt làm nhiệm vụ phong tỏa, tất cả các tàu đều được giao nhiệm vụ - không cho phép đối phương vận chuyển hàng ven biển và tiến hành bắn phá các mục tiêu trên bờ để gây thiệt hại tối đa về nhân lực và khí tài tác chiến cho KNA. Đồng thời các tàu chiến được bố trí sao cho có thể bao quát một không gian rộng lớn hơn.

Mục tiêu của sự phong tỏa đường biển - cấm vận chuyển hàng hóa quân sự bằng đường biển từ các quốc gia thân thiện với Bắc Triều Tiên, làm suy yếu khả năng phòng thủ của nó, gây khó khăn cho hoạt động của hạm đội nhỏ bé và ngăn chặn tuyến vận tải ven bờ, bao gồm cả tuyến giao thông đường bộ ven biển.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/7/76/KoreanWarNavyGunfire.jpg/791px-KoreanWarNavyGunfire.jpg)
USS Missouri đang nã pháo 16 inches vào bờ biển Chongjin, nhằm cắt đường giao thông của Bắc Triều Tiên. Chongjin chỉ cách biên giới Trung Quốc 39 km (en.viki).

Đến cuối mùa hè năm 1950 các lực lượng phong tỏa được tập hợp thành đơn vị đặc nhiệm 96.5, chỉ huy đơn vị là chuẩn đô đốc Hartman. Lực lượng hỗn hợp này được chia thành hai đơn vị - Mỹ và Anh, quân Mỹ phong tỏa vùng bờ biển phía đông bán đảo Triều Tiên, quân Anh - vùng bờ biển phía tây bán đảo. Đến lượt mình, các tàu chiến Mỹ lại chia thành hai nhóm chiến thuật (96.51 và 96.52), một trong hai nhóm đó được chỉ huy bởi chính chỉ huy trưởng đơn vị, nhóm thứ hai - do chuẩn đô đốc Higgins chỉ huy. Từ các tàu chiến của Hải quân Anh, người ta thành lập một nhóm chiến thuật (96.53) dưới quyền chỉ huy của chuẩn đô đốc Andrews. Tuy nhiên, tổ chức như vậy không tồn tại lâu. Như đã thấy, các lực lượng được phân bổ không đủ để thực hiện sự phong tỏa đường biển, thêm vào đó, họ không có phương cách gì để chống lại mối nguy cơ nghiêm trọng về mìn. Sau khi một số tàu vấp mìn bị nổ [24], tư lệnh đơn vị đặc nhiệm 96.5 đã phải cấm các tàu của mình vượt quá đường đẳng sâu 180 mét tại các khu vực chưa quét mìn, trong khi Bắc Triều Tiên được tự do sử dụng tuyền giao thông liên lạc ven biển.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/9/97/LSD-22-Fort-Marion-LVT-korea.jpg/738px-LSD-22-Fort-Marion-LVT-korea.jpg)
Xe lội nước đổ bộ LVT chở biệt kích TQLC Anh rời tàu đổ bộ mẹ USS Fort Marion (LSD-22) tiến vào bãi biển Sorye Dong, Bắc Triều Tiên, ngày 7 tháng 4 năm 1951. Đội commandos đã đặt mìn thổi bay khoảng 100 yards đường sắt, trong một nỗ lực ngăn chặn tuyến vận chuyển hậu cần của kẻ thù, và sau đó trở lại tàu mẹ an toàn.
Source: US Navy photo # 428316, (vi.viki).

........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 03 Tháng Sáu, 2012, 04:30:21 PM
(tiếp)


(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/05.jpg)
Ảnh: Tàu quét mìn Nam Triều Tiên bị phá nổ do mìn đáy không tiếp xúc.

Ngày 12 Tháng Chín năm 1950, cơ cấu tổ chức lực lượng phong tỏa bờ biển đã có những thay đổi đáng kể. Người Mỹ thành lập lực lượng đặc nhiệm 95, do chuẩn đô đốc Smith chỉ huy. Nó được gọi là "Lực lượng phong tỏa và hộ tống của Liên Hợp Quốc tại Triều Tiên". Trong thành phần đơn vị này có 95.1 Task Force, 95.2 Task Force (cả hai nhóm - làm nhiệm vụ phong tỏa), 95.5 Task Force (hộ tống), 95.6 Task Force (quét mìn) và 95.6 Task Force và 95.7 Task Force lấy từ lực lượng Hải quân Nam Hàn. Các thành phần của lực lượng đặc nhiệm không cố định, theo lệ thường nó bao gồm 2 - 4 tàu sân bay hộ tống hạng nhẹ (escort carrier), 2 - 3 tuần dương hạm, 15 - 20 tàu khu trục, cũng như các tàu tuần tra và tàu quét mìn.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/7/7f/Cve-116-b.jpg/800px-Cve-116-b.jpg)
Tàu sân bay USS Badoeng Strait (CVE-116), Commencement Bay-class escort carrier, thuộc lực lượng đặc nhiệm 95 và 77 tham gia Chiến tranh Triều Tiên. Ảnh chụp tàu ngoài khơi bờ biển Triều Tiên năm 1952 (en.viki).

Mỗi nhóm đặc nhiệm thực hiện một số nhiệm vụ chiến thuật. Chẳng hạn, Task Force 95.1, phong tỏa dải bờ biển phía tây, bao gồm ba nhóm chiến thuật: 95.11 - tàu sân bay, 95.12 - phong tỏa, và 95.15 - phòng thủ các đảo. Trong thực hiện phong tỏa đường biển, các lực lượng hạm đội tiến hành tuần tra trên biển, giám sát các căn cứ hải quân và bến cảng, giáng đòn tấn công vào các điểm đặt căn cứ đối phương, các bến cảng ven biển và đường giao thông ven biển. Việc tuần tra của lực lượng phong tỏa thực hiện chủ yếu ở một vài khu vực. Trong khu vực đầu tiên, vùng trực tiếp sát đường bờ biển, tập trung các lực lượng trang bị nhẹ của hạm đội, gần hơn nữa - các tàu tuần tra và tàu súng cối, cũng như các tàu khu trục, xa hơn một chút - các tuần dương hạm. Trong khu vực thứ hai, ở khoảng cách 60 - 100 dặm tính từ đường bờ biển là khu vực cơ động của các tàu sân bay hạng nhẹ và tàu sân bay hộ tống, khu vực thứ ba, ở khoảng cách 100 đến 130 dặm - tàu sân bay hạng nặng.

(http://www.yellowairplane.com/book_reviews/bernard_peterson/Short_Straw_F4UCorsairsAircraftCarrierDeckKorea.jpg)
F4U-4B Corsairs, phi đoàn 312 (VMF-312) trên boong USS Bairoko (CVE-115) trong biển Hoàng Hải, Triều Tiên (http://www.yellowairplane.com).

Ảnh hưởng lớn đến hoạt động của lực lượng phong tỏa là các đặc điểm địa-vật lý của khu vực. Dòng chảy mạnh, các bãi bùn và vô số đá ngầm cản trở rất nhiều các hoạt động ở bờ biển phía tây [25], đã làm cho nó bị tấn công ít hơn nhiều so với bờ phía đông. Nguy cơ bị phá nổ do mìn cũng không đồng đều.

Để phân bố hợp lý hơn của các lực lượng làm nhiệm vụ, vùng phong tỏa hàng hải được chia thành nhiều phân vùng, mỗi phân vùng trong số đó có nhóm riêng của mình hoạt động. Ví dụ như, khu vực từ Koson đến Chongjin kéo dài hơn 60 dặm được chia thành bốn phân vùng.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/06.jpg)
Ảnh: Frigate "Price" của Hải quân Hoàng gia Thái Lan bị trúng đạn pháo bờ biển Bắc Triều Tiên. Tháng 1 năm 1951.
.........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 03 Tháng Sáu, 2012, 09:35:50 PM
(tiếp)


(http://www.catskillarchive.com/rrextra/korea03p.gif)
Đường sắt Triều Tiên năm 1952 (catskillarchive.com).

Khi tấn công các tuyến giao thông bộ ven biển, các tuyến này cũng bị chia cắt thành các phân đoạn tới 1 km, giao trách nhiệm đánh phá cho các tàu chở máy bay và các pháo hạm. Bằng cách như vậy, đầu năm 1952 nhằm cô lập các tuyến mặt trận trên bộ, bộ tư lệnh Mỹ đã thực hiện hai chiến dịch hoạt động dưới tên mã "Package" và "Derail". Theo kế hoạch chiến dịch "Package", tuyến đường sắt ven biển từ Songjin đến Hyungnam được chia thành năm đoạn, có thể đánh trúng bằng máy bay cũng như bằng hỏa lực các tàu mặt nước. Các đối tượng chính yếu để tiêu diệt là những cây cầu, đường hầm, và những đầu mối dễ bị tổn thương nhất của tuyến đường sắt. Gần mỗi phân đoạn đã thiết lập các phao có gương phản xạ radar, thiết bị đảm bảo cho tàu chiến tiến ra vị trí khai hỏa khi tầm nhìn bị hạn chế. Khi pháo hạm bắn đêm, theo quy luật, một khẩu 127 mm sẽ bắn đạn lửa vạch đường. Trong hầu hết trường hợp, các tàu tiến vào gần bờ cách khoảng từ 1400 - 1800 m, và duy trì tốc độ bắn tối đa, khai hỏa vào các mục tiêu đã phát hiện từ trước. Các tàu chiến đều bắn theo diện và chỉ khi có tầm nhìn tốt mới có quan sát chỉnh pháo. Tuy nhiên, mặc dù chiến dịch này đã lôi kéo một lực lượng lớn tham gia, người Mỹ không hoàn toàn ngăn chặn được việc tiếp tế cho quân đội KNA. Chiến dịch "Derail" cũng không đạt được các mục tiêu của nó.

(http://www.catskillarchive.com/rrextra/korea01p.jpg)
Lối vào một hầm đường sắt bị đánh phá (catskillarchive.com).

Nói chung, trong giai đoạn tháng 6 - tháng 11 năm 1950, lực lượng phong tỏa đường biển đã đạt được những kết quả đáng kể. Điều này trước hết là do tuyến giao thông biển và giao thông bộ của Bắc Triều Tiên kéo quá dài và [26] phòng thủ của họ yếu. Các giai đoạn sau này của cuộc chiến người Mỹ đã không thành công bằng. Tuy nhiên, để loại bỏ hoàn toàn việc vận chuyển hàng hoá quân sự trên tuyến đường biển cũng như trên tuyến đường bộ duyên hải thì người Mỹ chưa lần nào thành công.

(http://nn3.upanh.com/b1.s29.d3/e32574345e3a881d09de66860cb97eb0_45653043.bang7.jpg)
Bảng kết quả hoạt động phong tỏa bờ biển từ 23 tháng 6 đến 15 tháng 11 năm 1950.

Đôi khi việc phong tỏa toàn bộ bờ biển yêu cầu một sự phong tỏa chặt chẽ từng căn cứ hải quân riêng biệt, các bến cảng hoặc các đoạn ven biển, đồng thời khi [27] khu vực phong tỏa hàng hải quá lớn sẽ không có đủ lực lượng đảm trách trọn vẹn nhiệm vụ này. Như vậy, mặc dù thực tế Hạm đội Mỹ phong tỏa tất cả các tuyến bờ biển phía đông bắc Triều Tiên, một lượng lớn hàng hóa quân sự vẫn được giao cho tiền tuyến từ các cảng biển Chongjin và Sọngjin tới Wonsan và Hyungnam. Vì việc này, từ giữa tháng Hai năm 1951, người Mỹ bắt đầu phong tỏa chặt Wonsan, tháng Ba - Songjin và Chongjin, tháng tư - Hyungnam. Để đạt mục đích này, họ đưa vào 4 nhóm chiến thuật của lực lượng đặc nhiệm. Họ chiếm cứ hòn đảo gần đối tượng bị phong tỏa và tạo ra một căn cứ tạm thời cho các lực lượng của họ. Chẳng hạn, trong thời gian phong tỏa đường biển Wonsan, trên 7 hòn đảo bị chiếm đóng giữ vị trí kiểm soát án ngữ khu mặt nước dẫn vào cảng, người Mỹ đã đặt các đài quan sát điều chỉnh hỏa lực và đổ bộ lên đó những đơn vị nhỏ thủy quân lục chiến, một số đảo còn trang bị khu neo đỗ cho tàu chiến, còn trên một đảo thậm chí họ đã xây dựng đường băng cho máy bay. Cần nhấn mạnh rằng lực lượng phong tỏa, mặc dù không gặp phải sức kháng cự trên biển, vẫn bị thiệt hại do hỏa lực pháo binh bờ biển. Trong tháng Tư, tháng Năm và tháng Sáu năm 1953 các khẩu đội pháo bờ biển Wonsan đã 5 lần trong một tháng bắn trúng các tàu chiến Mỹ. Số lượng đạn pháo lớn nhất rơi trúng vào các tàu khu trục đi tuần tiễu. Ngày 16 Tháng 4 tàu khu trục "Maddox" đã dính đạn trực tiếp làm 3 người thiệt mạng. Ngày 19 Tháng 4 đạn pháo bắn trúng phần đuôi tàu khu trục "4 James E.Kis", giết chết chín người, và nhiều trường hợp khác nữa.
........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 04 Tháng Sáu, 2012, 09:56:59 AM
(tiếp)


Chiến dịch đổ bộ Inchon

http://www.youtube.com/watch?v=T_w4Lb9ey2w http://www.youtube.com/watch?v=YpjweSUeXSY

http://www.youtube.com/watch?v=2Dj8o6L0lnM

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s05.gif) (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/a/a2/Incheon_SK.png)
Bàn đạp Pusan tới ngày 15 tháng 9 năm 1950. Inchon (màu hồng) trên bản đồ (en.viki).

Vào đầu tháng Chín năm 1950 quân đội Bắc Triều Tiên đã giữ quyền kiểm soát 95% đất nước với gần 97% dân số. Quân đội Lý Thừa Vãn ở vào một vị thế vô cùng khó khăn.

Đổi lại, bằng cách sử dụng các ranh giới tự nhiên tốt nhất, ưu thế áp đảo trên không và trên biển, quân Đồng minh đã có thể củng cố đầu cầu Pusan và áp dụng các biện pháp khẩn cấp để nhanh chóng [28] tăng cường lực lượng và phương tiện. Đến giữa tháng 9 năm 1950 tại bàn đạp Pusan đã tập trung khoảng 350.000 người, số lượng máy bay đã tăng lên đến con số một nghìn chiếc của Không quân và 500 chiếc của Hải quân, còn tại hạm đội đã có 260 tàu, bao gồm một thiết giáp hạm, 8 tàu sân bay, 10 tàu tuần dương, 40 tàu khu trục và các loại tàu khác.

Cho đến thời gian này khả năng tấn công của Bắc Triều Tiên đã giảm xuống trước hết là do thiếu các lực lượng dự bị được huấn luyện đầy đủ, sự kéo dài các tuyến giao thông bộ từ 450 đến 500 km, và tính dễ tổn thương của chúng, sự thiếu vắng gần như hoàn toàn lực lượng yểm trợ từ phía biển và từ trên không.

Trong hoàn cảnh được sắp đặt một cách thuận lợi về chiến dịch-chiến lược cho quân phía Nam, bộ tư lệnh Mỹ đã quyết định tiến hành chiến dịch Inchon- Seoul, mục đích bao vây và sau đó sẽ tiêu diệt cụm quân chủ lực của Bắc Triều Tiên đang triển khai trước bàn đạp Pusan.

Ý đồ của Bộ tư lệnh Mỹ dẫn tới việc đổ bộ thủy quân lục chiến sâu vào trong hậu phương quân Bắc từ phía biển, đánh chiếm Seoul, thực hành tấn công dồn ép đối phương về phía đông, cắt đứt đường giao thông bộ, phá vỡ tổ chức chỉ huy quân đội của đối phương và nguồn tiếp tế cho họ, và sau đó, đồng thời tiến công từ cả hai phía bắc và nam, bao vây rồi tiêu diệt lực lượng chủ yếu của KNA bằng các đòn tấn công hợp đồng các quân binh chủng lục quân, không quân và hải quân. Trong tương lai tiếp theo, kế hoạch đề ra sự phát triển đến tận biên giới Trung Quốc và kết thúc chiến sự tại Triều Tiên.

Quyết định tổ chức thực hiện chiến dịch đổ bộ Incheon (tên mã là "Chromite") được thông qua bởi Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ ngày 22 Tháng Bảy năm 1950, và ngay lập tức truyền đạt mệnh lệnh sơ bộ về soạn thảo và phát triển kế hoạch chiến dịch. Ngày 16 tháng 8 tại trụ sở Bộ chỉ huy các lực lượng Mỹ vùng Viễn Đông đã thành lập một văn phòng đặc biệt, tiếp tục phát triển kế hoạch chiến dịch "Chromite". Tới ngày 23 Tháng Tám, kế hoạch chiến dịch về cơ bản đã hoàn thành và về nguyên tắc [30] đã được thông qua bởi Tham mưu trưởng Hải quân, đô đốc Sherman và Tham mưu trưởng lục quân Mỹ, đại tướng Collins. Tuy nhiên, do vấn đề chưa được giải quyết liên quan đến sự lựa chọn địa điểm đổ bộ thủy quân lục chiến mà trong kế hoạch còn nhiều sai sót. Chỉ đến ngày 30 tháng Tám mới ban hành mệnh lệnh về việc giao cho thủy quân lục chiến đổ bộ vào cảng Inchon. {5} Chịu trách nhiệm hoàn thiện kế hoạch chiến dịch là tư lệnh các lực lượng thống nhất tác chiến chiến dịch số 7, phó đô đốc Strubl, chỉ huy đơn vị luồn sâu chiến dịch 90, chuẩn đô đốc Doyle và chỉ huy sư đoàn 1 TQLC, thiếu tướng Smith.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/c/c4/Inchon_landing_map.jpg)
Sơ đồ đổ bộ trận Inchon (en.viki).

Trong kế hoạch chiến dịch có những điều cơ bản như sau:

"1. Trước tiên thực hiện đổ bộ lên đảo Volmi-do, dự kiến phải chiếm lĩnh trước khi bắt đầu chiến dịch chính. Hành động này có tầm quan trọng lớn do vị trí bao quát án ngữ của hòn đảo liên quan đến vùng bờ biển gần Inchon. Với mục đích đó, vào ngày đã định trong thời gian nước dâng buổi sáng (khoảng gần 06:30 giờ), sẽ đổ bộ một tiểu đoàn Thủy quân lục chiến lên Volmi-do.

2. Tiếp theo, tiến hành đổ bộ các lực lượng đổ bộ đường bẻn chính - Sư đoàn 1 TQLC với các phương tiện tăng cường (không có cụm tác chiến trung đoàn 1) - đổ bộ lên bãi Đỏ, Vàng, và Xanh Lơ. Thời gian bắt đầu đổ quân phải trùng với thời gian nước bắt đầu lên trong ngày (khoảng 17:00 giờ). Tiếp theo, sự đoàn phải chiếm được bàn đạp đầu cầu trong khu vực Incheon.

3. Nhanh chóng mở rộng bàn đạp nhằm chiếm lấy sân bay Kimpo và tiến tới tuyến sông Hàn phía tây Seoul. Tiếp tục tấn công cho đến khi chiếm được Seoul, các vùng lân cận, làm chủ thành phố và khu vực phía Nam của thành phố. Sư đoàn bộ binh số 7, với các phương tiện tăng cường và một bộ phận quân đoàn 10 trong thời gian quy định không giao chiến mà đổ bộ vào Inchon từ các tàu của thê đội 2 và 3 và hoạt động theo chỉ thị của tư lệnh quân đoàn 10. [31]

4. Các tàu tuần dương và tàu khu trục đảm bảo bắn pháo chuẩn bị trước đổ bộ và yểm trợ hỏa lực trong suốt thời gian hoạt động đổ bộ. Việc yểm trợ không quân từ trên không, giáng đón tấn công tầm xa và yểm trợ trực tiếp tầm gần do các máy bay trên các tàu sân bay hộ tống có tốc độ di chuyển nhanh đảm nhiệm trong các khu vực đã quy định.

Đã ký: A.D. Strubl, phó đô đốc, tư lệnh lực lượng tác chiến chiến dịch thống nhất số 7 và tư lệnh Hạm đội 7.
...........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 04 Tháng Sáu, 2012, 12:35:49 PM
(tiếp)


(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/a/a3/Pre-invasion_bombardment_at_Inchon.jpg)
Bắn phá pháo đài phòng thủ Volmi-do 2 ngày trước khi đổ bộ, ngày 13 tháng 9 năm 1950. Ảnh chụp từ USS Lyman K. Swenson (DD-729), mà một trong các họng súng 40mm chĩa ra phía trước. Đảo Sowolmi-Do, nối với Wolmi-Do bởi một eo nhỏ ở bên tay phải, đằng xa là Inchon (en.viki).

Kế hoạch chiến dịch "Chromite" được phê duyệt ngày 6 tháng 9 năm 1950. Trong thành phần quân đổ bộ có sư đoàn 1 TQLC và sư đoàn 7 bộ binh Hoa Kỳ, một đội commando Anh và một số đơn vị thủy quân lục chiến Nam Hàn. Tổng số quân số đổ bộ lên đến 45 nghìn người. Kế hoạch đổ bộ chia thành ba thê đội. Thê đội đầu tiên là Sư đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến được tăng cường, thê đội thứ hai và thứ ba - Sư đoàn bộ binh 7, một số tiểu đoàn độc lập quân đồng minh, và các đơn vị hậu cần. Cuộc đổ bộ hai thê đội sau theo kế hoạch sẽ thực hiện khi sư đoàn 1 TQLC chiếm được cảng Inchon và mở rộng bàn đạp đã đánh chiếm, đủ để bố trí quân đội.

Tham gia vào hoạt động đổ bộ có hơn 250 tàu, bao gồm 6 tàu sân bay, 7 tàu tuần dương, 34 tàu khu trục, 76 tàu đổ bộ. Các lực lượng hạm tàu được tập hợp thống nhất trong các đơn vị tác chiến như sau: đơn vị đặc nhiệm 90 – thọc sâu, 91 – bảo vệ và yểm trợ, 77 – các tàu sân bay tốc độ cao, 79 – đảm bảo kỹ thuật và 99 - tuần tra và trinh sát. Để đảm bảo cho cuộc đổ bộ và yểm trợ đã phân bổ hơn 500 máy bay ném bom và máy bay tiêm kích.

Trên thực tế, tham gia trong chiến dich đổ bộ Incheon là gần như toàn bộ lực lượng của binh đoàn tác chiến số 7, đứng đầu là Tư lệnh Hạm đội 7 Hoa Kỳ. Việc lãnh đạo chung chiến dịch này do [33] Tư lệnh các lực lượng vũ trang Hoa Kỳ vùng Viễn Đông, đại tướng MacArthur đảm nhận, ông ta cũng chính là tư lệnh các lực lượng trong chiến dịch tấn công Inchon-Seoul. Thuộc quyền ông có tư lệnh binh đoàn tác chiến thống nhất số 7, phó đô đốc Strubl và tư lệnh quân đoàn bộ binh 10, thiếu tướng Almond. Tư lệnh các lực lượng đổ bộ, là tư lệnh lực lượng thọc sâu 90, chuẩn đô đốc Doyle. Sau khi quân đổ bộ trụ vững trên bờ và đã đổ bộ được các lực lượng chủ yếu, quyền lãnh đạo lực lượng vũ trang và lực lượng yểm trợ chuyển sang cho tư lệnh quân đoàn bộ binh số 10.

Bộ tư lệnh tối cao KNA, trong giai đoạn kẻ thù còn đang làm công tác chuẩn bị cho cuộc đổ bộ đường biển, đã thực hiện một số biện pháp tăng cường bảo vệ Inchon. Đặc biệt, bộ tư lệnh phòng thủ bờ biển phía tây từ Kunsan đến Inchon đã được thành lập. Chuyển thuộc quyền chỉ huy của nó có các đơn vị mà đa phần lấy từ các tân binh chưa qua huấn luyện quân sự thậm chí là huấn luyện cơ bản.

Trong cảng Inchon và trên đảo Volmido, làm nhiệm vụ phòng thủ là các phân đội của trung đoàn TQLC độc lập 226. Triển khai phía bắc Inchon có một tiểu đoàn của trung đoàn biên phòng 107, ở phía nam - một tiểu đoàn bộ binh độc lập. Tổng quân số những đơn vị này là hơn 3.000 người. Trên các luồng thủy dẫn vào cảng đã thả 40 trái mìn neo vướng nổ, nhưng do chiều sâu thả của chúng nhỏ, nên khi thủy triều rút các trái mìn bị phát hiện bằng trực quan. Một số mìn do nước chảy mạnh đã bị bứt neo, số còn lại trong thời gian nước cạn đã bị pháo hạm biên đội tiên phong bắn hủy. Nói chung, hoạt động của Bộ chỉ huy KNA về phương diện tổ chức phòng thủ chống đổ bộ lên bờ biển là không đủ kiên quyết, mặc dù thực tế cho thấy nhiều bằng chứng rõ rệt về việc đối phương đang chuẩn bị cho một chiến dịch đổ bộ quy mô lớn.

Trong khu vực đổ bộ quân Đồng minh có ưu thế lớn hơn 20 lần vể lực lượng so với đối phương và sự vượt trội của họ trong không trung và trên biển là tuyệt đối .. [34]

Trong cảng Inchon người ta chia ra 3 phân khu đổ bộ: bãi "Xanh Lục" - trên đảo Volmido, bãi "Đỏ" – nền đê biển nối đảo Volmido với đất liền, và bãi "Xanh Lơ" – phần phía nam của cảng Inchon. [36]

Các đợt đỉnh triều lớn nhất xảy ra trong các ngày 15 Tháng Chín, ngày 11 tháng 10 và 03 tháng 11 (sai số cộng hoặc trừ từ 1 đến 2 ngày).

Chúng ta dừng tại thời điểm gần nhất - 15 tháng 9. Cuộc đổ bộ lên kế hoạch vào thời gian ban ngày. Ban đầu, trong thời gian đỉnh triều buổi sáng, xảy đến lúc 6:30 giờ, kế hoạch là thực hiện cuộc đổ bộ lên đảo Volmido, còn sau đó trong thời gian nước đứng mức cao buổi tối, xảy đến khoảng 17:30 giờ - đổ bộ lên các bãi "Đỏ" và "Xanh Lơ".

Quyết định về thời gian đổ bộ như thế đã được chứng minh bởi thực tế thủy triều trong vùng Inchon đạt chiều cao 7 đến 10 m, còn tốc độ của dòng thủy triều lên-xuống vượt quá 5 hải lý. Những dòng chảy mạnh đã tạo thành các bãi bùn và bãi cát trải dài về phía biển khoảng 5,5 km. Thủy đạo dẫn vào Incheon rất quanh co và rất hẹp, tàu thuyền qua lại rất khó khăn ngay cả ban ngày. Kinh nghiệm đổ bộ trong khu vực có thủy triều cao và dòng chảy mạnh mẽ như vậy thì bộ tư lệnh Mỹ chưa từng có, bởi vậy có một số vấn đề lần đầu tiên họ phải giải quyết (các thang được chế tạo dành cho các tốp xung kích vượt tường (đê biển), việc tiếp ứng quân đổ bộ trong thời gian nước thấp, phân chia các khu vực neo đỗ và việc điều động tàu đổ bộ và vận tải, v.v...). Sau khi đổ bộ thê đội đầu tiên, dự kiến triển khai tấn công ngay vào Inchon. Sau khi chiếm được thành phố và cảng, quân đội sẽ bắt đầu cuộc tấn công chớp nhoáng về hướng Seoul. Cùng với việc đánh chiếm đầu cầu, nhiệm vụ tiếp theo ngay lập tức của thê đội 1 là chiếm sân bay Kimpo, nằm cách khoảng 20 km về phía bắc Inchon. Ngay sau khi giải quyết xong nhiệm vụ này, kế hoạch dự kiến di chuyển cứ lên sân bay đó các máy bay của Thủy quân lục chiến từ hai tàu sân bay hộ tống.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/4/43/F4U-4B_VF-113_CV-47_1950.JPEG/795px-F4U-4B_VF-113_CV-47_1950.JPEG)
Một chiếc Vough F4U-4B Corsair thuộc phi đoàn chiến đấu 113 (fighter squadron VFA-113 Stingers) đang bay trên đầu các tàu chiến Mỹ tại Inchon, Triều Tiên, ngày 15 tháng 9 năm 1950. VF-113 thuộc quân số Carrier Air Group Eleven (CVG-11) đóng trên tàu sân bay USS Philippine Sea (CV-47). USS Missouri (BB-63) đang ở dưới chiếc Corsair (en.viki).

Việc yểm trợ hỏa lực được xem xét rất kỹ. Theo kế hoạch đảm bảo hỏa lực, pháo binh bắn chuẩn bị sơ bộ bắt đầu từ 13 tháng chín, có nghĩa là 2 ngày trước khi đổ bộ, và, nếu cần thiết, kế hoạch dự kiến lặp lại ngày hôm trước khi đổ bộ. Để yểm trợ pháo binh trực tiếp đã phân bổ bốn tuần dương hạm, sáu tàu khu trục và 3 tàu đổ bộ cỡ trung bình có các bệ phóng đạn pháo phản lực. [38]
........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 05 Tháng Sáu, 2012, 12:11:28 AM
(tiếp)


(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s07.gif)
Lối vào cảng Inchon.

Trên các đường thủy dẫn vào cảng đã phân chia ba khu vực cơ động các tàu pháo yểm trợ: một - cho các tàu tuần dương, và hai - cho các tàu khu trục. Vị trí khai hỏa của tàu tuần dương nằm ở khoảng cách 12-13,5 km cách bờ biển và các tàu khu trục - 0,7 - 5,5 km. Ba tàu đổ bộ có dàn phóng đạn phản lực được giao nhiệm vụ yểm trợ hỏa lực gần cho quân đổ bộ, đầu tiên khi đổ quân lên đảo Volmido, còn sau đó 1 tàu – yểm trợ cho các đội xung kích tại bãi "Đỏ", 2 tàu khác - tiếp tục yểm trợ quân đổ bộ tại bãi "Xanh Lục".

Pháo binh bắn chuẩn bị trực tiếp phải bắt đầu 45 phút trước khi đổ bộ, còn các tàu có dàn phóng đạn phản lực phải trước 15 phút. Khi đợt thứ nhất các phương tiện đổ bộ đã tiếp cận đường bờ thì hỏa lực tạm ngừng, và sau khi đổ bộ các toán xung kích, các tàu yểm trợ hỏa lực cho quân đổ bộ theo lệnh gọi. [39]Yểm trợ đường không được giao cho hai phi đội máy bay của TQLC đặt căn cứ trên các tàu sân bay của lực lượng đặc nhiệm 90. Các máy bay trên tàu sân bay thuộc lực lượng đặc nhiệm 77 có nhiệm vụ chiếm thế thượng phong trên không và tấn công vào hậu phương và các nguồn dự trữ của đối phương. Nếu cần thiết, chỉ huy sư đoàn 1 TQLC có thể  yêu cầu lực lượng đặc nhiệm 77 yểm trợ từ trên không. [40]

Kế hoạch đảm bảo về không quân cho cuộc đổ bộ đã được kết hợp thống nhất với việc sử dụng hỏa lực pháo binh hải quân. Thậm chí đã tính toán trước cả các chi tiết khi máy bay và tàu chiến hiệp đồng tấn công vào cùng các mục tiêu tương tự. Để phục vụ cho việc này, đã quy định độ cao bay tối thiểu là 450 m cho máy bay, và chiều cao giới hạn tối đa của quỹ đạo đạn pháo - 330 m.

Khi bộ tham mưu quân đoàn bộ binh 10 chuyển lên bờ và không đoàn 1 TQLC chuyển lên sân bay Kimpo, các máy bay này sẽ chuyển thuộc quyền chỉ huy của tư lệnh quân đoàn. Máy bay trên boong tàu sân bay thuộc lực lượng đặc nhiệm 77 từ thời điểm ấy cũng chuyển sang thuộc quyền điều động của tư lệnh quân đoàn.

Tình báo chiếm tầm quan trọng lớn. Trong giai đoạn chuẩn bị chiến dịch, từ trên máy bay người ta đã chụp hàng trăm bức ảnh trinh sát [41] các khu vực đổ bộ, nghiên cứu cẩn thận các tài liệu về đặc điểm địa lý-quân sự của khu vực, phỏng vấn sỹ quan và binh sỹ của lục quân và hải quân đã quen thuộc Incheon, cũng như thẩm vấn các tù binh chiến tranh. Ngoài ra, trong khu vực Incheon người Mỹ thường xuyên đổ bộ các nhóm biệt kích-thám báo để thu thập thông tin về hệ thống và công tác phòng thủ chống đổ bộ lên bờ biển.

Để đánh lạc hướng tình báo đối phương sang hướng khác, người Mỹ đã đổ bộ một số [42] nhóm quân đổ bộ nghi binh (11 - 14 tháng Chín - Kunsan, Mokpo ngày 12 tháng 9, Phohan 14 tháng chín, Samchon ngày 15 tháng 9). Việc lựa chọn khu vực đổ bộ, các điểm tập kết lực lượng và phương tiện đổ bộ và các tuyến đường triển khai đều đáp ứng các điều kiện bảo đảm bí mật hoạt động.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s06.gif)
Chến dịch Inchon-Seoul.

Vào cuối tháng Tám, lực lượng phân bổ cho chiến dịch bắt đầu tập trung tại các cảng của Nhật Bản và phần phía nam bán đảo Triều Tiên. Các đơn vị của Sư Đoàn 1 TQLC được rút khỏi vị trí tiền tiêu bàn đạp Pusan gửi về Kobe huấn luyện đặc biệt. Các đơn vị của Sư đoàn bộ binh 7 huấn luyện đổ bộ tại Yokohama. Các điểm hình thành các đội đổ bộ là Yokohama, Kobe, và Pusan. Tại Sasebo hình thành  biên đội tàu yểm trợ pháo binh.

Đầu tháng chín, máy bay cất hạ cánh trên tàu sân bay bắt đầu việc bắn phá chuẩn bị đường không, trong đó các máy bay ném bom hầu như hàng ngày thực hiện đến hơn 300 phi vụ. Các đòn tấn công dữ dội nhất tập trung vào các mục tiêu tại cảng Inchon và đảo Volmido. Để không bị lộ sớm các khu vực đổ bộ, các cuộc tấn công cũng được rải khắp các vùng lên kế hoạch đổ bộ nghi binh. Đặc biệt mạnh mẽ là những cuộc không kích trong thời gian 10-15 tháng Chín. Chỉ trong có 3 ngày trước khi bắt đầu cuộc đổ bộ tại Inchon và đảo Volmido, đã ném xuống 246 tấn bom nổ phá, nổ mảnh, bom cháy, 120 quả bom napalm và bắn 979 loạt rocket.

Việc đổ quân và bốc xếp trang bị vũ khí xuống các tàu chiến và tàu vận tải bắt đầu vào đêm 06-ngày 07 tháng 9. Các đội đổ bộ nối đuôi nhau ra khỏi các điểm thành lập. Đã thực hiện chuyên chở sáu đội đổ bộ. Ngoài ra, mỗi đội được phân giao hành trình riêng của mình cùng với các trạm kiểm soát. Các tuyến đường triển khai được chia thành ba khu vực. Trong khu vực đầu tiên, gần bờ biển Nhật Bản, các đội đổ bộ được bảo vệ bởi lực lượng không quân mặt đất cất cánh từ các sân bay Nhật Bản, trong vùng thứ hai – chuyến hành quân được thực hiện vào ban đêm mà không có không quân yểm hộ, và tại vùng 3 giáp với bờ biển Triều Tiên, các binh sĩ đổ bộ được bảo vệ bởi máy bay hải quân trên tàu sân bay và máy bay của Không lực Mỹ từ sân bay [43] trên bàn đạp Pusan. Nói chung, quá trình hành quân di chuyển được bảo vệ bởi hơn 100 máy bay, dù trong điều kiện người Mỹ có ưu thế tuyệt đối trên không và cũng không có nhu cầu đặc biệt gì về điều đó.

Đến cuối ngày 14, tất cả các lực lượng đã đến khu vực chiến dịch. Trước đó, khi trời bắt đầu sáng, đảo Volmido và cảng Inchon đã bị máy bay không kích và bắn phá mạnh mẽ từ 4 tàu tuần dương. Buổi chiều, dưới sự yểm trợ của máy bay và tàu chiến, người Mỹ bắt tay quét mìn các lối vào các khu vực đổ bộ. Trong thời gian quét mìn, các khẩu đội pháo bờ biển từ đảo Volmido đã bắn chìm một tàu quét mìn. Sau khi hoàn thành quét mìn và không phát hiện ra mìn, tiểu đoàn quét mìn đã rời khu vực.

Vào lúc 5:40 giờ ngày 15 tháng 9, bắt đầu chuyển quân và trang thiết bị từ các tàu đổ bộ và vận tải sang các phương tiện đổ bộ. Lúc 5:45 máy bay của lực lượng đặc nhiệm 77 tấn công đảo Volmido. Như kế hoạch dự kiến, pháo binh bắn chuẩn bị trực tiếp trong 45 phút. Tại thời điểm này [44] các phương tiện đổ bộ đã hình thành đợt sóng đổ bộ và bắt đầu di chuyển tới các điểm đổ bộ. Khi các phương tiện đổ bộ tiếp cận tới bờ, hỏa lực chuyển vào sâu tuyến phòng thủ chống đổ bộ.

Các đội xung kích (2 đại đội) được đổ bộ lên đảo Volmido thành hai đợt trên những xuồng đổ bộ kiểu LCVP, đợt thứ ba trên ba xuồng LST đã đổ lên đảo 10 xe tăng. Sức kháng cự chống đổ bộ
là yếu, và tới 8:00 giờ quân đổ bộ đã hoàn toàn chiếm được đảo. Sau 7:00 giờ, do thủy triều rút, cuộc đổ bộ tạm thời dừng lại. Trước khi thủy triều tối lên cao, diễn ra công tác chuẩn bị đổ bộ lên các bãi "Đỏ" và "Xanh Lơ". Đồng thời, các tàu pháo yểm trợ bắn phá các cơ sở đối phương bố trí ở Incheon. Máy bay cũng tấn công với mục đích tiếp tục làm suy yếu tuyến phòng thủ. Đồng thời người Mỹ dành sự chú ý đặc biệt đến các tuyến đường tiếp cận cho lực lượng dự bị của KNA. Máy bay của lực lượng đặc nhiệm 77 tấn công ồ ạt vào sâu tuyến giao thông cách Inchon đến 40 km.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/2/28/Lopez_scaling_seawall.jpg/488px-Lopez_scaling_seawall.jpg)
TQLC Mỹ đổ bộ đang vượt qua đê biển bằng thang.

Lúc 16:45 giờ bắt đầu bắn phá chuẩn bị trực tiếp từ trên không và từ pháo hạm vào các bãi  "Đỏ" và "Xanh Lơ". Đồng thời diễn ra việc hạ thủy các phương tiện đổ bộ, chuyển xuống đó các vũ khí trang thiết bị và quân đổ bộ, hình thành một sóng đổ bộ. Việc đổ quân trên hai bãi đổ bộ bắt đầu gần như đồng thời, khoảng một giờ trước khi mặt trời lặn và bắt đầu nước dâng cao.
.............


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 06 Tháng Sáu, 2012, 11:27:02 PM
(tiếp)


(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/9/92/Battle_of_Inchon.png)
Inchon, Hoàng Hải, Bắc Triều Tiên, một ngày sau cuộc đổ bộ bắt đầu 15 tháng 9 năm 1950.

Trong khu vực bãi "Đỏ" đã đổ bộ 23 đợt trên các xe tác chiến thủy bộ bánh xích loại LVT và LVT/ A từ 8 tàu đổ bộ xe tăng LST tiếp cận trực tiếp đường bờ.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s12.gif)
Cuộc đổ bộ tại bãi "Xanh Lục'.

Trên bãi "Xanh Lơ" cuộc đổ bộ diễn ra cả thảy 15 đợt trên các xe thủy bộ bánh xích loại LVT và LVT/ A và 6 đợt trên các xuồng đổ bộ-bộ binh loại LCVP. Các phương tiện đổ bộ được hạ thủy từ chín tàu đổ bộ loại LST. Việc di chuyển phương tiện đổ bộ từ khu chờ của các tàu LST và tàu vận tải đến điểm đỏ bộ mất khoảng 90 phút [45], cao hơn nhiều so với tiêu chuẩn hiện có lúc đó. Trong các điều kiện khác, việc kéo dài quá lâu sự có mặt của các phương tiện đổ bộ trong khu vực hỏa lực của các khẩu đội pháo bờ biển có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng cho người Mỹ.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s08.gif)
Hoạt động của các tàu sân bay trong chiến dịch Inchon-Seoul tháng 9 năm 1950.

Việc đổ quân tại bãi "Đỏ" và "Xanh Lơ" cũng diễn ra trong điều kiện sự kháng cự yếu, tạo điều kiện cho quân đổ bộ thành công trong việc chiếm được đầu cầu tương đối nhanh chóng và ít tổn thất. Tổng thiệt hại tại Sư Đoàn 1 TQLC là 222 người, trong đó có 196 người bị thương.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s13.gif)
Cuộc đổ bộ vào bãi "Đỏ".

Ngày 16 tháng 9 thê đội đầu tiên đã hoàn thành đổ bộ. Ngay lập tức trên bờ đã triển khai Sở chỉ huy sư đoàn. Từ 18:00 giờ ngày 16 tháng 9, tư lệnh quân đoàn 10 bắt tay vào lãnh đạo các lực lượng trên bờ. Đến cuối ngày 17 tháng 9 các nỗ lực chung của quân đổ bộ đường không và đường biển kết thúc bằng việc chiếm được sân bay Kimpo. Ngày hôm sau, các máy bay của không đoàn 1 TQLC (1st Marine Air Wing) đã chuyển tới sân bay này. Nhiệm vụ chính của các máy bay này là yểm trợ Thủy Quân Lục Chiến trong việc tiến hành các cuộc tấn công về hướng Seoul.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s14.gif)
Cuộc đổ bộ tại bãi "Xanh Lơ".

Bộ tư lệnh Mỹ dành sự quan tâm lớn cho các lực lượng đảm bảo hậu cần-kỹ thuật. Trung bình hàng ngày khối lượng hàng hoá được giao tới Incheon là khoảng 7 ngàn tấn. Để cung ứng hàng hóa quân sự suốt ngày đêm, tiểu đoàn công binh TQLC đã xây dựng và lắp đặt thiết bị một cầu bến, kéo dài 130 m từ đảo Volmido đến phần nước sâu của vũng cảng ngoài.

Đồng thời với các hoạt động của Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến 1 mở rộng vị trí đầu cầu, các cuộc đổ bộ của thê đội thứ hai và ba vẫn tiếp tục. Trong quá trình chiến dịch, người Mỹ đã sử dụng thành công máy bay trực thăng có căn cứ trên bờ và trên tàu làm nhiệm vụ trinh sát, sơ tán thương binh, giao hàng cho quân đổ bộ, điều chỉnh hỏa lực và v.v. Tới ngày 20 tháng 9 kết thúc cuộc đổ bộ binh sỹ và các cơ quan hậu cần của quân đoàn bộ binh 10.

Mặc dù có ưu thế áp đảo về lực lượng và vũ khí trang bị, quân Đồng minh vẫn tiến một cách dè dặt. Trong ngày đầu tiên [46], họ chỉ tiến được 4,8 km, mà khoảng cách từ Inchon đến Seoul (32 km) họ đã phải chinh phục mất 14 ngày. {6} Do nhịp độ tiến thấp nên mục tiêu cuối cùng của chiến dịch Inchon-Seoul đã không đạt được. Quân đội KNA đã biết cách dùng các trận đánh để thoát khỏi vòng vây và tạo ra một tuyến mặt trận vững chắc dọc theo vĩ tuyến 38.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s09.gif)
Tổ chức lực lượng trong chiến dịch Inchon-Seoul.

Nhìn chung, chiến dịch đổ bộ là thành công. Giúp chiến dịch thắng lợi là ưu thế quân số và vũ khí trang bị vượt trội, thiếu sự kháng cự gay gắt trên không và trên biển, sự kháng cự không đáng kể trong quá trình tấn công đổ bộ, các lỗi lầm nghiêm trọng của bộ tư lệnh Bắc Triều Tiên trong đánh giá tình hình cũng như trong tổ chức phòng thủ bờ biển chống đổ bộ.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s10.gif)
Triển khai lực lượng trong chiến dịch Inchon-Seoul.

Chiến dịch đổ bộ Inchon diễn ra sau khi kinh nghiệm của Chiến tranh thế giới thứ II đã được nghiên cứu và tổng kết. Ta biết rằng với sự ra đời của vũ khí hạt nhân, kiến giải của nhiều nhà lý luận quân sự đã lâm vào bế tắc: họ đặt mối nghi ngờ với tất cả các kinh nghiệm thu được trong cuộc chiến vừa qua, còn việc đổ bộ các đơn vị TQLC lớn được xem như là không thể. Quan điểm như vậy trở thành một loại lực cản đối với sự phát triển của không chỉ các lực lượng và phương tiện đổ bộ, mà cả lý thuyết về chiến dịch đổ bộ đường biển. Trong ý nghĩa này, cuộc chiến tranh Triều Tiên, và đặc biệt là kinh nghiệm của chiến dịch đổ bộ Inchon có tầm quan trọng lớn, nó như lời giải đáp cho nhiều vấn đề của nghệ thuật chiến tranh hải quân.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s11.gif)
Chiến dịch Inchon-Seoul.

Thực tế ngay sau cuộc chiến tranh này, tại Hoa Kỳ đã ban hành một chỉ dẫn huấn luyện về đổ bộ đường biển, các điều khoản chủ yếu của nó sau này đã đi vào tài liệu quy định chính thức.

Chiến dịch đổ bộ Inchon về cơ bản vẫn diễn ra theo các nguyên tắc tương tự như trong Chiến tranh thế giới thứ 2, nhưng đã có một số đặc tính riêng, cụ thể là: nếu như trong Chiến tranh thế giới thứ II các chiến dịch đổ bộ tương đối độc lập, tức là không trực tiếp liên quan đến [47] các hoạt động trên tuyến mặt trận tại đất liền, thì chiến dịch chúng ta đang xem xét lại là phần không thể thiếu của một hoạt động chiến lược trên không gian chiến trường trên bộ. Hoạt động của Quân chủng Lục quân, Không quân và Hải quân đều tham gia trong một ý đồ duy nhất của chiến dịch mang tầm vóc chiến lược Inchon-Seoul. Tại tất cả các giai đoạn tiến hành chiến dịch quyền lãnh đạo chung toàn bộ các lực lượng do Tướng MacArthur nắm giữ, ông ta đồng thời là tư lệnh các lực lượng trong chiến dịch Inchon-Seoul. Ở giai đoạn các lực lượng còn hành quân trên biển và cả khi diễn ra trận chiến đổ bộ, quyền lãnh đạo trực tiếp thuộc về một sĩ quan chỉ huy hải quân (tư lệnh Hạm đội 7 Mỹ), còn sau khi các lực lượng thê đội 1 đổ bộ lên bờ xong - quyền đó thuộc về một chỉ huy lục quân (tư lệnh quân đoàn 10 bộ binh).

Một nét đặc biệt của chiến dịch đổ bộ Inchon là quân Đồng minh đã đổ bộ trực tiếp vào một bến cảng, trong khi trong Chiến tranh thế giới thứ 2 các cuộc đổ bộ lớn, theo lệ thường, chỉ được thực hiện tại các bờ biển không có trang thiết bị gì và cách xa các cảng. Nếu trong cuộc chiến tranh vừa qua quân đổ bộ được đổ lên bờ với tính toán sao cho có thời gian ban ngày lớn hơn để nó giải quyết nhiệm vụ chiếm giữ, mở rộng và củng cố bàn đạp, thì trong chiến dịch này, nó lại được đổ bộ vào cuối ngày.

Một nhược điểm lớn trong kế hoạch chiến dịch đổ bộ Inchon cần phải tính đến là việc thiếu dự kiến các bãi đổ bộ thay thế, mặc dù sự cần thiết của nó không gợi ra bất kỳ mối nghi ngờ nào, bởi lẽ các tính chất địa-vật lý của khu vực tạo thuận lợi cho việc sử dụng các loại mìn đáy.

Tính cách tân về nguyên tắc của chiến dịch này là việc sử dụng máy bay trực thăng để chỉ huy lực lượng, tiến hành trinh sát, tải thương, chuyển quân và hàng đến các vùng sâu vùng xa địa hình khó tiếp cận. Bộ chỉ huy Hải quân Mỹ đã có cơ hội rút ra kết luận về tính hợp lý của việc sử dụng máy bay trực thăng trên quy mô khá lớn, bao gồm cả trên tư cách là phương tiện đổ bộ, mà đến lượt mình nó tạo ra sự xuất hiện trong các hạm đội nước ngoài một loại tàu mới - các tàu đổ bộ chở máy bay trực thăng - và hoàn thiện một phương pháp đổ bộ đường biển mới; phương pháp được đặt tên là "chiếm lĩnh theo phương thẳng đứng" («вертикальный охват» - vertical envelopment). [48]

Trong mùa xuân năm 1953 lần đầu tiên tại cuộc tập trận "Desert Rock" đã thực hiện đổ bộ Thủy Quân Lục Chiến từ máy bay trực thăng. Theo kết luận của nhiều chuyên gia hải quân, nhờ kinh nghiệm thu được mà đã xác nhận các giả định lý thuyết về tính hợp lý của việc đổ quân đổ bộ từ các máy bay trực thăng cất hạ cánh trên tàu chiến là có căn cứ.
.........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 08 Tháng Sáu, 2012, 09:46:11 PM
(tiếp)

Chiến dịch đổ bộ Wonsan


(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s15.gif)
Wonsan và vùng phụ cận.

Sau khi kế hoạch bao vây và tiêu diệt các lực lượng chính của KNA trong chiến dịch Inchon-Seoul của bộ tư lệnh Mỹ thất bại, họ bắt tay vào chuẩn bị chiến dịch đổ bộ Vonsan. Với sự giúp sức của lực lượng đổ bộ chiến dịch vào cảng Wonsan {7} người Mỹ dự định cắt đường rút lui của quân đội KNA lên phía bắc và bằng những đòn tấn công hợp đồng từ phía trước và phía sau mặt trận, với sự hỗ trợ của không quân và hải quân nhằm tiêu diệt lực lượng chủ yếu của nó. Mục đích của chiến dịch được đề xuất là không khác gì nhiều so với mục đích mà người Mỹ theo đuổi khi đổ bộ đường biển tại Inchon.

Để tiến hành chiến dịch đã điều động vẫn cùng một quân đoàn lục quân số 10 (hơn 60.000 quân), hơn 400 máy bay và 283 tàu chiến các loại. Trên thực tế vẫn sử dụng các lực lượng tham gia trong chiến dịch Inchon, và tổ chức của họ. Việc chuẩn bị cho chiến dịch này cũng không khác nhiều chiến dịch trước đó. Điểm đặc biệt của chiến dịch đổ bộ Wonsan là trận địa mìn-pháo mà Hạm đội Bắc Triều Tiên tạo ra để làm thất bại cuộc đổ bộ, nó biến thành một cuộc vận chuyển thông thường bằng đường biển. Vì vậy, việc có tầm quan trọng nhất trong chiến dịch này là tổ chức đảm bảo công tác chống mìn phục vụ cuộc đổ bộ.

Các đặc điểm địa-vật lý của Wonsan và vũng cảng ngoài tạo thuận lợi cho việc xây dựng một trận địa mìn pháo mạnh. Độ sâu tại vịnh ngoài và lối vào bến cảng khoảng 14 - 16 m, chiều cao đỉnh triều không [49] lớn hơn 20 cm. Những điều kiện như vậy cho phép sử dụng cả mìn neo và mìn đáy không tiếp xúc. Trong khu vực chiến dịch, lần đầu tiên các quả mìn đã được phát hiện gần một tháng trước khi đổ bộ. Ngày 27 tháng Chín, cách vài dặm về phía đông Wonsan, người Mỹ đã tìm thấy và phá hủy một mìn nổi. [50]

Ban đầu, tại bờ biển phía đông Triều Tiên một tàu khu trục phát nổ do trúng mìn, còn sau đó là một chiếc khác. Tuy nhiên, điều đó không cảnh báo bộ tư lệnh Mỹ phải thận trọng, họ vẫn cho rằng cũng như ở Inchon, có thể đối phó tương đối dễ dàng với hiểm họa thủy lôi.

Trong 10 ngày trước đổ bộ (10 tháng 10) sáu tàu quét mìn, dưới sự che chở của các tàu khu trục đã có mặt tại Wonsan để bắt đầu quét khu mặt nước giữa mũi Ilari và đảo Iodo. Nếu không kể việc phát hiện mìn bằng trực thăng (ngày 9 tháng 10), người Mỹ không có bất kỳ số liệu nào về tình hình mìn trong khu vực sẽ diễn ra chiến dịch đổ bộ sắp tới, bởi vì họ không tổ chức được công tác thăm dò trinh sát mìn.

Hoạt động quét mìn được thực hiện như sau. Bốn tàu quét mìn đội hình hàng dọc thả lưới quét tiếp xúc tạo ra một lối đi qua bãi mìn chướng ngại. Một tàu quét được phân giao nhiệm vụ xác định ranh giới của khu mặt nước quét qua, một tàu khác bắn hủy các trái mìn được quét lên. Bay phía trước các tàu quét mìn ở độ cao thấp là một máy bay trực thăng thực hiện thăm dò bằng thị giác các quả mìn đặt nông. Đến tối ngày 10 tháng 10 đã quét được khu mặt nước dài 12 dặm và rộng 1,5 dặm. Trong quá trình quét có 21 mìn neo bị phá hủy. Công tác quét mìn tiếp tục buổi sáng ngày 11 tháng 10. Trong khoảng đường đẳng sâu 55 m, máy bay trực thăng đã phát hiện một bãi mìn dày đặc, sau đó bãi này được kiểm tra bởi các thủy thủ lặn-phá mìn dưới nước (подводники-подрывники: UDT — Underwater Demolition Team), vào cuối ngày họ đã đánh dấu được bằng phao 50 trái mìn neo.

(http://1.bp.blogspot.com/-rHJK57j87MA/Tw72_0ymRLI/AAAAAAAAAUk/HkYeJ5HrWhc/s1600/protectedimage.php.jpeg)(http://4.bp.blogspot.com/-BymgBnDV6CI/Tw73rlOXNZI/AAAAAAAAAVM/ZiyQ_BO1TSQ/s1600/normandy.jpg)(http://4.bp.blogspot.com/-qCLSBROXcwE/Tw73HHehHpI/AAAAAAAAAUs/wMwKh3d9Oeo/s1600/colby34-vi.jpg)(http://4.bp.blogspot.com/--MXIw7xtb1s/Tw74NdoVsPI/AAAAAAAAAVk/Q6Pfoxq-FEM/s1600/1945UDT21WelcomesMarines.jpg)
UDT Hải quân Mỹ trong Thế chiến 2.

Ngày 12 tháng 10, người Mỹ đã cố gắng phs hủy bãi mìn này từ trên không, bằng cách sử dụng 31 máy bay ném bom "Skyraider" và 16 máy bay tiêm kích "Corsair". Mỗi máy bay ném bom mang ba trái bom nổ phá 450 kg, máy bay tiêm kích - một bom như vậy. Tất cả các quả bom được lắp ngòi nổ thủy tĩnh cho phép chúng nổ ở độ sâu 7,5 m. Các máy bay phải thả bom thành hai vệt dài 5 dặm, với giãn cách giữa các quả bom thả là 200 m. Khoảng cách giữa hai dải thả bom cũng là 200 m. [52]

Việc phân bố các quả bom ném xuống sao cho đều nhau dự kiến đạt được thông qua sự hiệp đồng thả bom của hai máy bay, một chiếc xác định vị trí của mình bằng radar và chiếc kia bay phía dưới nó, thả bom theo tín hiệu định hướng từ phao khói của chiếc thứ nhất. Người Mỹ cho đó là phương pháp chống mìn mới và cho rằng do sự kích nổ mà tất cả các trái mìn sẽ phát nổ - đường dẫn vào các điểm đổ bộ sẽ an toàn.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/en/3/3b/Wonsan_Harbor_during_the_Korea_War%2C_1950.jpg)
Hoạt động quét mìn ở Wonsan từ 10/10/1950 đến 2/11/1950 trong Chiến tranh Triều Tiên (en.viki).
........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 09 Tháng Sáu, 2012, 12:16:47 AM
(tiếp)


(http://www.kmike.com/KWjpg/Wonsland.jpg)
Sư đoàn 1 TQLC, Wonsan ngày 26/10/1950.

Tuy nhiên, cuộc tấn công đường không là không hiệu quả, bởi các phao khói thả xuống không làm việc. Các đợt máy bay tỏ ra bị kéo quá dài, các quả bom thả xuống theo tín hiệu bằng giọng nói trên mạng radio truyền tin chiến thuật. Tất cả những điều này dẫn đến sự phân bố rất không đồng đều của các trái bom trên vệt ném bom. Các phi công Mỹ chỉ phá hủy thành công không quá 10% số mìn.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/0/01/USSPirate%26otherAdmirableClassMinesweeper.jpg)
USS Pirate AM-275 và một tàu quét mìn lớp Admirable (en.viki).

Vào chiều ngày 12 tháng 10 dưới sự bảo vệ của hai tàu tuần dương hạng nhẹ và vài tàu khu trục, người Mỹ bắt đầu phá các bãi mìn nằm ngay tại cửa vào cảng. Trong quá trình rà quét, một trái mìn đáy phát nổ dưới sống tàu quét mìn USS "Pirat”, khiến tàu vỡ làm đôi, và sau một vài phút cả hai nửa tàu đều bị chìm. Tiến theo vệt rẽ nước, tàu quét mìn USS "Pledge" giảm tốc độ và thả thuyền máy xuống nước nhằm giải cứu các thành viên của con tàu đang chìm. Các khẩu đội pháo binh bờ biển từ đảo Sindo khai hỏa vào tàu “Pledge”, ngay lập tức một số loạt đã trúng đích. Sau đó khi đội thủy thủ cắt lưới quét, tàu bắt đầu di chuyển ra khỏi khu vực, nhưng khi ngoặt nó lại vấp phải một quả mìn. Vụ nổ xảy ra dưới thân tàu từ mạn phải đúng tại mức hầm máy đằng mũi tàu! Tàu quét mìn bị thương rất nặng, và chẳng mấy chốc bị chìm.

Cùng ngày, quân đội KNA buộc phải rời Wonsan lui về tuyến phòng ngự mới. Nhưng bộ chỉ huy Mỹ không từ bỏ quyết định đổ bộ tại Wonsan. Hoạt động quét mìn được nối lại. Do vướng mìn và hỏa lực pháo bờ biển [53] đã có thêm 2 tàu quét mìn bị tiêu diệt và một tàu tuần tra bị hư hỏng nặng. Chỉ tới ngày 25 Tháng Mười người Mỹ mới có thể làm được một tuyến đường đi qua các bãi mìn. Tuy nhiên, ngày 19 các đơn vị đổ bộ đã có mặt tại khu vực đổ bộ và họ bị buộc phải cơ động dọc theo bờ biển phía đông Triều Tiên chờ công tác quét mìn kết thúc.

Vậy là một chiến dịch đổ bộ cỡ lớn, được lên kế hoạch theo tất cả các quy tắc của nghệ thuật quân sự đã không thành công. Người Mỹ không thể lần thứ hai lặp lại một kế hoạch, mà trong đó dự kiến bao vây và tiêu diệt quân đội KNA, còn lực lượng hải quân của họ đã hoàn toàn không được chuẩn bị để đối phó với các loại mìn, ngay cả trong trường hợp không có sự kháng cự mạnh mẽ. Gần 300 tàu các loại với quân đổ bộ trên tàu đã bị buộc phải làm những chuyến di chuyển con thoi trong sự chờ đợi công tác quét mìn kết thúc, mà để làm điều đó họ đã mất đến 15 ngày đêm, thay vì 5 ngày đêm theo kế hoạch. Trong những hoàn cảnh như vậy, nếu bên phòng thủ có lực lượng không quân và hải quân mạnh mẽ hơn thì có thể sẽ dẫn đến sự phá sản hoàn toàn cuộc đổ bộ.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s16.gif)
Hoạt động của hạm đội Mỹ trong chiến dịch Wonsan từ 10-26/10/1950.

Bài học chiến dịch đổ bộ Vonsan nhắc ta rằng mối hiểm họa về mìn không thể không tính tới. Ngay sau chiến dịch, các nhà lãnh đạo quân sự Mỹ đã đặt hàng phát triển các loại mìn biển mới, và năm tiếp theo đã khôi phục lực lượng thả-quét mìn của Hải quân Hoa Kỳ và đặt đóng 125 tàu quét mìn. Khi xuất hiện vũ khí hạt nhân, ở Mỹ lực lượng thả-quét mìn đã bị giải tán, còn mìn với tư cách một vũ khí hải quân hiện đại đã bị lãng quên, bị coi là vũ khí của ngày hôm qua.

Trong chiến dịch này lần đầu tiên trong lịch sử các hoạt động chống mìn có sự tham gia của các máy bay trực thăng trên hạm. Mặc dù thực tế rằng chúng chỉ giải quyết được vấn đề trinh sát mìn, tại Mỹ đã có kết luận về tính khả thi của việc sử dụng trực thăng cả để phá các bãi mìn. Sau chiến tranh Triều Tiên, tại Hoa Kỳ bắt đầu phát triển các máy bay trực thăng-quét mìn và các lưới quét mìn tiếp xúc (vướng nổ) và không tiếp xúc sử dụng từ máy bay trực thăng.[54]
......


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 09 Tháng Sáu, 2012, 10:41:47 AM
(tiếp)


Chiến dịch đổ bộ Wonsan-Koson


(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s17.gif)

Chiến dịch đổ bộ Wonsan-Koson, có tên mã "Trojan Horse", được thực hiện với các mục đích nghi binh, từ ngày 08 - 15 tháng 10 năm 1952. Trong quá trình thực hiện nó, có tất cả các giai đoạn trừ việc đổ quân đội lên bờ.

Tháng 10 năm 1952, bằng một cuộc nghi binh đổ bộ lớn trong vùng từ Wonsan đến Koson, bộ chỉ huy Mỹ lên kế hoạch lôi kéo khỏi tuyến mặt trận trung tâm một lực lượng lớn của KNA, sau đó sẽ kích hoạt các hoạt động của quân đội mình trên đất liền, khai thác sự thành công, buộc các đại diện Bắc Triều Tiên và Trung Quốc nhượng bộ trên [57] bàn đàm phán. Ngoài ra, bộ tư lệnh Hoa Kỳ khi thực hiện cuộc đổ bộ này dự kiến cho tất cả các quân binh chủng LLVT thực hành càng nhiều càng tốt việc chuẩn bị và tiến hành các chiến dịch đổ bộ.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s18.gif)
Phong tỏa chặt cảng Wonsan.

Cơ bản không có gì mới trong nghệ thuật tác chiến hải quân trong chiến dịch này, nó được lên kế hoạch và thực hiện theo cùng một phương pháp như hai chiến dịch trước đó - Inchon và Vonsan. Tính đặc thù của nó chỉ là trong nó có kế hoạch diễn tập đổ bộ. Ngày 13 tháng 10, cách 35 - 45 dặm về phía nam tuyến mặt trận, dưới sự bảo vệ của các máy bay tiêm kích và một biên đội tàu chiến, người Mỹ đã có một cuộc diễn tập thực binh đổ bộ quân đội và bốc dỡ một phần thiết bị quân sự lên bờ. Vào cuối cuộc diễn tập, quân đội và các thiết bị quân sự này lại được đưa lên các tàu chiến và tàu vận tải, và vào cuối ngày 14 tháng Mười đã có mặt tại khu vực chiến dịch.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s19.gif)
Bố trí lực lượng trong chiến dịch Wonsan-Koson.

Do trận diễn tập đổ bộ tiến hành trong thời gian trời sáng ban ngày và tập trung 1 số lượng rất lớn các lực lượng, phương tiện, và khu vực được lựa chọn nằm trong vùng lân cận tiền tuyến, bộ tư lệnh Bắc Triều Tiên có thể đánh giá một cách chính xác các tình huống và tính chất của các hoạt động quân sự sắp tới.

Chiến dịch Wonsan-Koson đã không đạt được mục tiêu của nó, người Mỹ không thành công trong mưu đồ thay đổi cán cân sức mạnh có lợi cho họ. Những bài học của chiến dịch này cho thấy các hoạt động nghi binh quá lộ liễu trước sự đánh giá toàn diện tình hình cho phép ta có thể phân biệt những hoạt động giả so với hoạt động thực và làm cơ sở để ra quyết định.
.............


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 09 Tháng Sáu, 2012, 02:06:12 PM
(tiếp)


Tấn công các mục tiêu trên mặt đất


(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s20.gif)
Hoạt động của các tàu sân bay trong chiến tranh Triều Tiên, tháng 7 năm 1950.

Việc tiêu diệt các mục tiêu công nghiệp và quân sự trên mặt đất của Bắc Triều Tiên là một trong những nhiệm vụ cơ bản của Hải quân Mỹ và các đồng minh của họ. Để giải quyết nhiệm vụ đó thường sử dụng không quân trên hạm một cách độc lập hoặc phối hợp với không quân chiến thuật và chiến lược [58], cũng như với các tàu mặt nước. Tiêu diệt một số mục tiêu cận bờ là nhiệm vụ của các thiết giáp hạm, tuần dương hạm, còn trong một số trường hợp là các khu trục hạm.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/a/ad/F4U-4_VF-884_CV-21_4Sep1951.jpeg/800px-F4U-4_VF-884_CV-21_4Sep1951.jpeg)
F4U-4 phi đoàn 884 thuộc Liên đoàn KQ trên tàu sân bay 101 bay qua tàu sân bay mẹ USS Boxer trong Chiến tranh Triều Tiên, ngày 4 tháng 9 năm 1951 (en.viki).

Nhưng trong tiến trình Chiến tranh Triều Tiên 1950—1953 để tiêu diệt các mục tiêu mặt đất thường sử dụng các lực lượng khác của các tàu sân bay thuộc lực lượng đặc nhiệm 77 thuộc Hạm đội 7 Mỹ. Đơn vị này gồm 3 cụm tác chiến đặc nhiệm : 77.1 — yểm trợ (tuần dương hạm hạng nặng và hạng nhẹ, các thiết giáp hạm); 77.2 — bảo vệ (các khu trục hạm); 77.3 — tàu sân bay. Thành phần đơn vị đặc nhiệm 77 có thể thay đổi. Trong những tháng chiến tranh đầu tiên trong lực lượng này có 1—2 tàu sân bay và 10 tàu bảo vệ. Về sau thành phần của nó : ổn định một cách tương đối: lực lượng trung bình có 3 — 4 tàu sân bay, 1 thiết giáp hạm, 1—2 tuần dương hạm hạng nhẹ, 14—19 khu trục hạm.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/5/53/USS_Boxer_HN-SN-98-07246.jpg/480px-USS_Boxer_HN-SN-98-07246.jpg)
USS Boxer CV-21 ngoài khơi bờ biển Triều Tiên ngày 1 tháng 7 năm 1953 (en.viki).

Những tàu sân bay đầu tiên có mặt gần bờ biển Triều Tiên là các tàu sân bay USS «Valley Forge», USS «Philippine Sea» và USS «Leyte», còn ngày 15 tháng chín năm 1950 — USS «Boxer». Những tàu đó tạo thành hạt nhân của đơn vị đặc nhiệm 77. Trong quân số biên chế trung bình của máy bay trên hạm thuộc lực lượng đặc nhiệm 77 (3 — 4 tàu sân bay) có khoảng 160 — 220 máy bay chiến đấu và 40 — 60 máy bay tiếp tế đảm bảo. Bù đắp tổn thất bằng cách chuyển các máy bay tới không gian chiến trường bằng các tàu sân bay hộ tống hoặc các tàu sân bay hạng nhẹ.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/a/a8/F2H_on_USSEssex_elevator1951.jpeg/750px-F2H_on_USSEssex_elevator1951.jpeg)
F2H VF-172 được máy nâng đưa lên sàn cất hạ cánh trên tàu sân bay USS Essex trong Chiến tranh Triều Tiên ngày 25 tháng 8 năm 1951 (en.viki).

Trong thành phần không đoàn có các máy bay tiêm kích phản lực F9F-2 «Panther», máy bay tiêm kích động cơ piston F4U-4 «Corsair» và máy bay cường kích hạng nặng АD-4 «SkyRaider». Từ tháng 8 năm 1951 trên không gian chiến trường đã xuất hiện máy bay tiêm kích phản lực cất hạ cánh trên hạm F2H-2 «Banshee». Trong những tuần lễ đầu tiên của chiến tranh tương quan giữa máy bay tiêm kích và cường kích là 4:1, từ tháng 12 năm 1950 là — 3:1, còn giữa tiêm kích phản lực và piston trong năm chiến tranh đầu tiên là 1:1, còn sau đó — 2:1.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/f/ff/AD_Skyraider_VA-195_USS_Princeton.jpg/780px-AD_Skyraider_VA-195_USS_Princeton.jpg)
AD-4 Skyraider thuộc phi đoàn cường kích VA-195 Hải quân Mỹ đang chạy đà cất cánh trên tàu sân bay USS Princeton CV-37 trong Chiến tranh Triều Tiên. VA-195 thuộc Liên đoàn không quân tàu sân bay số 19 - Carrier Air Group 19 (CVG-19) - và đã 2 lần tham gia Chiến tranh Triều Tiên trên USS Princeton trong giai đoạn 1950-1952 (en.viki).

Đầu chiến tranh, Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân soạn thảo kế hoạch cho máy bay ném bom, trong đó dự kiến phá hủy 18 mục tiêu chiến lược [62] trên lãnh thổ Bắc Triều Tiên. Đồng thời các cuộc không kích ồ ạt ban ngày của các máy bay được định hướng chủ yếu vào việc tiêu diệt các mục tiêu đã xác định mà không phải các mục tiêu công nghiệp nói chung. Khi tiêu diệt các mục tiêu giá trị nhất, bộ chỉ huy Mỹ theo đuổi mục đích phá hoại tiềm năng chiến tranh của Bắc Triều Tiên, không phân tán lực lượng có hạn.
..........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 09 Tháng Sáu, 2012, 06:01:47 PM
(tiếp)


(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s21.gif)
Hoạt động của lực lượng tàu sân bay Mỹ trong Chiến tranh Triều Tiên, tháng 8 năm 1950.

Khi thực hiện tấn công vào các mục tiêu trên mặt đất trong thành phần các Liên đoàn Không quân thường có 14 đến 16 máy bay đặc nhiệm (phục vụ các hoạt động ban đêm, trinh sát ảnh, tác chiến điện tử, phát hiện và cảnh báo tầm xa bằng radar), ngoại trừ khả năng sử dụng không kích để giải quyết các nhiệm vụ không phù hợp với nó và nói chung nâng cao tính hiệu quả của các cuộc tấn công. Nhược điểm lớn nhất trong các hoạt động của máy bay hải quân Mỹ là số lượng phi hành đoàn được đào tạo bay đêm còn ít: trung bình không quá 5 phi hành đoàn trong mỗi liên đoàn. Do vậy khi bắn phá các tuyến giao thông trên bộ, máy bay hải quân Mỹ chủ yếu hoạt động ban ngày. Có thể quan sát được sự mệt mỏi của các kíp thủy thủ boong trên tàu sân bay, làm công tác huấn luyện và đảm bảo, cất cánh và tiếp nhận hạ cánh do cường độ hoạt động rất cao. Về ban đêm, hiệu quả hoạt động của pháo phòng không – phương tiện phòng không chủ yếu của KNA giảm hẳn, bởi vậy, khi hoạt động về đêm, các phi công Mỹ thường thu được thành công lớn hơn ban ngày, hơn nữa đối phương cũng chủ yếu thực hiện vận chuyển khi trời tối.

(http://www.korean-war.com/images/KWAircraft/US/Navy/F9F.jpg)
F-9F Panther trên bầu trời Triều Tiên năm 1953 (korean-war.com).

Hình thức hoạt động chủ yếu của đơn vị đặc nhiệm 77 là hoạt động tác chiến, còn phương pháp cơ bản tiến hành nó — như ta gọi «tập kích», hay là đột kích, thường có độ dài lên đến 2 tuần lễ. Các khu vực cơ động của các tàu sân bay trong những tháng đầu tiên của Chiến tranh Triều Tiên được ấn định trong khu mặt nước biển Hoàng Hải. Các chỉ huy các nhóm xung kích tàu sân bay cố gắng thường xuyên nhất theo khả năng có thể, thay đổi khu vực cơ động chiến đấu, cách nhau một khoảng từ 40 đến 60 dặm. Thỉnh thoảng khu vực cơ động chiến đấu cũng phân bố trong khu mặt nước biển Nhật Bản. [64]

Từ tháng 10 năm 1950 đến tháng 7 năm 1953, đơn vị đặc nhiệm 77 tiến hành các hoạt động chiến đấu một cách có hệ thống, khi ở trong vịnh Đông-Triều Tiên. Thường các khu vực cơ động chiến đấu có dạng tam giác với các cạnh 20—30 dặm. Trung tâm của khu vực như vậy thường nằm cách bờ 40—80 dặm. Khoảng cách đến các mục tiêu tấn công được xác định trong dải từ 90—240 dặm, nghĩa là từ 20 đến 50% bán kính chiến thuật của máy bay cất hạ cánh trên hạm tàu.

Khi tấn công vào các mục tiêu trên đất liền các phi công Mỹ phải giải quyết 2 nhiệm vụ: tiêu diệt các cơ sở quân sự và công nghiệp và phá hủy hệ thống giao thông đường bộ của KNA. Tùy thuộc hoàn cảnh đặt ra, họ sẽ thực hiện hoặc nhiệm vụ này hoặc nhiệm vụ kia. Trong từng thời kỳ riêng biệt việc phá hủy hệ thống giao thông đường bộ là nhiệm vụ quan trọng nhất của Hải quân Mỹ. Các đối tượng bị tấn công chủ yếu là các cầu, chúng là những nút giao thông trọng yếu nhất của hệ thống giao thông. Nhiệm vụ này cũng được giải quyết dưới hình thức các hoạt động tác chiến có hệ thống. Suốt thời gian chiến tranh, bộ chỉ huy Mỹ chỉ hai lần tiến hành các chiến dịch mà mục tiêu chủ yếu của chúng là phá hủy hệ thống giao thông đường bộ.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/e/e0/Korean_War%2C_train_attack.jpg/779px-Korean_War%2C_train_attack.jpg)
Không lực Mỹ tấn công đường sắt phía nam Wonsan trên bờ biển phía đông Bắc Triều Tiên (en.viki).

Сần nêu rõ rằng các cuôc tấn công vào các công trình cầu được tiến hành với cường độ cực cao. Chỉ trong thời kỳ từ 9 đến 21 tháng 11 năm 1950, các máy bay đã thực hiện 593 phi vụ chiến đấu (8 cuộc công kích theo nhóm) trong khu vực sông Áp Lục, ném xuống các cầu 232 nghìn trái bom. Tuy nhiên mục đích của các cuộc ném bom không kích này vẫn không đạt được. Bộ chỉ huy Bắc Triều Tiên đã biết cách ngụy trang các công trình cầu và đường dẫn tới cầu, xây dựng các bến phà mới, các công trình cầu giả và v.v. Khi bắt đầu tới mùa băng giá, bộ chỉ huy Mỹ nói chung từ chối thực hiện các cuộc tấn công vào các mục tiêu đó.
.......


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 09 Tháng Sáu, 2012, 08:54:11 PM
(tiếp)


(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/d/da/USS_Princeton_CV-37.jpg)
USS Princeton CV-37 và các máy bay F-9F-2 Panther thuộc phi đoàn 191 đang bay tiêu dầu trước khi hạ cánh trên tàu mẹ. Chiến tranh Triều Tiên, 1951 (en.viki).

Mùa xuân năm 1951 bộ chỉ huy Mỹ có ý định phá hủy đập chắn hồ chứa nước Hwachon và phá hoại một loạt cầu phà. [65]

(http://www.ibiblio.org/hyperwar/OnlineLibrary/photos/images/g420000/g428678.jpg)
Máy bay hải quân Mỹ phi đoàn 195 (VA-195) trên tàu sân bay USS "Princeton" tấn công hồ chứa nước Hwachon năm 1951 (lbiblio.com).

Vào lúc 16:00 giờ ngày 30 tháng 4, 6 chiếc «Skyraider» từ tàu sân bay USS «Princeton», mang theo 2 trái bom 900 kg, hộ tống là 5 chiếc «Corsair», có nhiệm vụ chế áp pháo phòng không, đã tấn công đập nước. Ngày hôm sau các máy bay tiếp tục phóng ngư lôi vào cũng con đập đó. Tham gia tấn công có 8 «Skyraider», mỗi chiếc mang một trái ngư lôi, hộ tống là 20 chiếc «Corsair». Các máy bay hợp thành cặp 2 chiếc một tiến vào công kích. Lần này hoạt động của chúng thành công hơn [66]. Có 6 trong 8 quả ngư lôi đã trúng đích, tuy nhiên người Mỹ không thành công trong việc phá hủy hệ thống các cầu phà.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s22.gif)
Hoạt động quân sự trong chiến tranh Triều Tiên, tháng 10/1950 - 7/1953.

Từ tháng 7 năm 1951 bắt đầu sang một giai đoạn chiến tranh mới tại Triều Tiên: thay đổi về nguyên tắc mục đích ném bom các đối tượng trên đất liền. Nhiệm vụ đặt ra trước các máy bay Mỹ: hạn chế khả năng tấn công của lực lượng lục quân đối phương, tiếp tục không kích mãnh liệt vào các cơ sở quân sự và công nghiệp Bắc Triều Tiên và bằng cách ấy tạo ra điều kiện để ký kết thỏa thuận ngừng bắn có lợi. Các lý thuyết gia quân sự Mỹ gọi giai đoạn chiến tranh này là “Mặt trận trên không” («воздушной кампанией»), bởi vì đóng vai trò quyết định trong đấu tranh vũ trang là các trận oanh tạc đường không. Cần nhận xét rằng lúc đó các nỗ lực cơ bản của lực lượng không quân chủ yếu hướng vào việc cách ly các khu vực có chiến sự với hậu phương đất nước và cắt đứt nguồn tiếp tế hàng quân sự cho quân đội đối phương. Điều đó có ảnh hưởng trực tiếp đến tính chất hoạt động của quân đội КNA, mà vì thế họ lập kế hoạch tác chiến vào thời gian trời tối và thực hiện vận chuyển quân sự vào ban đêm.
.......


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 09 Tháng Sáu, 2012, 10:00:46 PM
(tiếp)


(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/f/f8/Sui-ho_Dam_under_construction.JPG)
Hồ chứa nước và nhà máy thủy điện Sui-ho trên sông Áp Lục đang được người Nhật xây dựng tháng 7 năm 1942 (en.viki).

Trong tiến trình «chiến tranh đường không» ngày 23 tháng 6 năm 1952 các máy bay từ các tàu sân bay USS “Boxer”, «Princeton» và «Philippine Sea» thực hành tấn công quy mô lớn vào nhà máy thủy điện Sui-ho. Tham gia công kích có đến 150 máy bay (trong số đó hơn 50% — tiêm kích). Trong vòng 5 phút trước khi nhóm tấn công (35 máy bay ném bom bổ nhào AD «Skyraider») tiếp cận mục tiêu, 35 máy bay tiêm kích phản lực “Panther” đã công kích các cơ sở phòng không. Tiếp theo, từ độ cao gần 1000 m, các máy bay AD «Skyraider» đã bổ nhào ném các trái bom 450 và 900 kg. Trên chiều cao 500 m các máy bay cường kích bổ nhào chuyển sang bay bằng và tiếp tục bắn phá các mục tiêu bằng hỏa lực pháo-súng máy. Chỉ trong vòng khoảng 3 phút người Mỹ đã ném xuống nhà máy thủy điện gần 90 tấn bom. Cuộc tấn công được sự bảo vệ của 84 máy bay tiêm kích F-86 «Sabre» thuộc tập đoàn quân không quân 5. Tổng số tham gia ngày hôm đó vào các cuộc tấn công 4 nhà máy điện có 230 máy bay cất hạ cánh trên hạm của hải quân và 270 máy bay của không quân thuộc tập đoàn không quân số 5. [67]

(http://www.kmike.com/TruceTent/jpg/321.jpg)
Không kích nhà máy điện Sui-ho (kmike.com).

Ngày 11 tháng 7 năm 1952, 91 máy bay từ tàu sân bay «Bonne Homme Richard» và «Princeton» dưới sự bảo vệ của các máy bay tiêm kích F-86 «Sabre» tấn công Bình Nhưỡng; Ngày 27 tháng 7 máy bay hải quân tấn công nhà máy kẽm-chì ở Sindok và nhà máy magiê ở Kilchu; Ngày 1 tháng 9 diễn ra cuộc ném bom oanh tạc của 144 máy bay từ các tàu sân bay USS «Essex», «Princeton» và «Boxer» vào nhà máy chế biến dầu mỏ ở Aoji.

(http://www.kmike.com/TruceTent/jpg/323.jpg)
B-29 ném bom Bình Nhưỡng.

Do mức độ tổn thất tăng cao bộ chỉ huy Mỹ buộc phải khởi động hoạt động bay đêm và tìm kiếm các phương thức chiến thuật mới. Để thực hiện tấn công, các máy bay bắt đầu tiếp cận ở các độ cao thấp, chủ yếu từ phía mặt trời, đôi khi dưới sự che phủ của các màn khói. Trong thời gian trời tối thường sử dụng bom chiếu sang và các đèn chiếu. Tấn công vào các đối tượng được lực lượng phòng không bảo vệ có 2 nhóm: nhóm thứ nhất — tấn công vào các phương tiện phòng không, nhóm thứ hai (với các giãn cách tối thiểu) — vào các mục tiêu. Để gây khó khăn cho việc khôi phục công việc người Mỹ sử dụng bom nổ chậm, phụ thuộc vào việc cài đặt ngòi nổ chậm, bom có thể phát nổ sau 72 giờ.

Về ban đêm các máy bay hải quân, thường hoạt động theo tốp 2 chiếc, theo phương pháp «đi săn tự do». Mỗi tốp được giao một đoạn đường có độ dài đến 250 km. Một máy bay khi tiếp cận mục tiêu hạ thấp độ cao trinh sát trước, còn chiếc thứ hai tiếp tục bay trên độ cao cũ. Khi phát hiện mục tiêu theo dẫn đường của máy bay bay trước ở độ cao nhỏ, chiếc bay trên cao sẽ nhào xuống công kích. Khi cần thiết mục tiêu sẽ được chiếu sáng. Vào cuối cuộc chiến, bộ chỉ huy Mỹ soạn ra kế hoạch có tên mã “No dose”, theo đó có kế hoạch sử dụng chuyên biệt cho các hoạt động ban đêm không đoàn của tàu sân bay USS “Princeton”. Trên tàu sân bay này có toàn bộ các kíp bay đã được huấn luyện bay đêm. Tuy nhiên ý định của người Mỹ đã không thể thành hiện thực vì chiến sự đã chấm dứt.

Trách nhiệm lãnh đạo việc phá hoại hệ thống giao thông bộ được trao cho tư lệnh tập đoàn không quân 5 Không lực Mỹ [68], người sẽ tổ chức phối hợp tác chiến (trên mức độ chiến dịch và cả chiến lược) với không quân hải quân. Việc tổ chức hợp đồng về cơ bản là phân chia các khu vực trách nhiệm của các loại máy bay: bộ chỉ huy Mỹ lựa chọn kỹ càng các đối tượng để tấn công; thường xuyên tổ chức trinh sát đường không, trong đó có việc chụp không ảnh các tuyến đường quan trọng nhất. Từ một tàu sân bay hạng nặng hàng ngày có đến 120 máy bay thực hiện các phi vụ, trong đó 25% — các phi vụ trinh sát. Tổng cộng trong thời kỳ từ 1950 đến 1953 máy bay của hải quân và thủy quân lục chiến đã thực hiện gần 27 ngàn chuyến bay. Tháng 9 năm 1951 người Mỹ lập danh sách 10 cầu đường sắt và 17 cầu đường bộ, cần phải phá hủy trước tiên. Về cơ bản cuộc tấn công vào các cầu diễn ra một cách đồng thời hoặc nối tiếp nhau: đồng thời có thể là ồ ạt (có sự tham gia của các máy bay từ tất cả các tàu sân bay của lực lượng đặc nhiệm 77), hoặc theo nhóm (với sự tham gia của các máy bay chỉ từ một tàu sân bay); tấn công nối tiếp, theo lệ thường, diễn ra trong suốt thời gian trời sáng của một ngày đêm.
.......


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 10 Tháng Sáu, 2012, 12:49:10 AM
(tiếp)


(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s23.gif)
Biểu đồ sử dụng các tàu sân bay trong Chiến tranh Triều Tiên.

Trong nhóm tấn công có 8 — 10 chiếc cường kích và 8—16 tiêm kích hộ tống: nhóm thứ nhất, sử dụng bom 450 hoặc là 900 kg, tấn công vào các cầu, còn nhóm thứ hai — chế áp hỏa lực vũ khí phòng không bằng bom 45 và 225 kg hoặc rocket 127-mm. Tương quan giữa máy bay tấn công và máy bay yểm trợ đầu chiến tranh là 1:2, còn về sau — 1:4.

Do sự tham gia tấn công nhóm của cả máy bay động cơ cánh quạt piston và máy bay động cơ phản lực nên đòi hỏi phải có sự hoàn thiện tổ chức nhất định cho việc tác chiến hợp đồng của chúng. Các máy bay động cơ piston cất cánh khỏi tàu sân bay đầu tiên, sau đó đến lượt các biên đội máy bay tiêm kích phản lực: biên đội thứ nhất sau 50 phút (sau khi đuổi kịp trên đường bay các máy bay động cơ piston, biên đội sẽ hộ tống họ đến mục tiêu), biên đội thứ 2 và 3 — giãn cách thời gian 15 phút (biên đội thứ 2 yểm hộ các máy bay tấn công trong khu vực mục tiêu, còn biên đội thứ 3 — hộ tống họ trên đường trở về). Từ đầu chiến tranh [69] và đến trước tháng 12 năm 1951 quan hệ giữa các phi vụ của máy bay động cơ phản lực và cánh quạt là 1:2, từ tháng 12 năm 1951 đến tháng 6 năm 1952 — 2:3, từ tháng 6 năm 1952 đến tháng 3 năm 1953 — 1:1, từ tháng 2 năm 1953 đến tháng 7 năm 1953 — 4:3.

Để giảm tổn thất do hỏa lực pháo phòng không các đòn tấn công trước xuống các trận địa pháo cao xạ thường được phát động trước khi nhóm tấn công tiếp cận mục tiêu; các cuộc tấn công lặp vào mục tiêu bị bãi bỏ; độ cao tối thiểu cắt bom khi bổ nhào được nâng lên đến 2000 m; sự quan tâm lớn hơn được dành cho yếu tố bất ngờ, đặc biệt khi hoạt động tác chiến ban đêm. Các biện pháp này dẫn đến giảm tổn thất máy bay. Từ tháng 4 đến tháng 6 năm 1952 các máy bay của lực lượng đặc nhiệm 77 đã thực hiện 7000 phi vụ tấn công vào các đường giao thông trên đất liền, trong đó chỉ một tháng rưỡi đầu họ đã làm hư hại mạng đường sắt trên 3000 đoạn và phá hủy 80 chiếc cầu. Thực sự tổn thất đã giảm: nếu từ tháng 12 năm 1951 đến tháng 6 năm 1952 trong thành phần một không đoàn (tàu sân bay USS «Valley Forge») đã có 551 máy bay bị thương hoặc bị bắn rơi, thì trong thời kỳ từ tháng 6 — 12 năm 1952 tổn thất của một không đoàn (tàu sân bay USS «Bon Homme Richard») có tất cả 97 máy bay bị bắn rơi và bị thương.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s24.gif)
Chiến sự giai đoạn 3 của Chiến tranh Triều Tiên, 10/1950 - 7/1953.

Cần nhận xét rằng từ đầu chiến tranh và cho đến giữa 1952 máy bay hải quân tấn công các mục tiêu đất liền một cách độc lập, nghĩa là không có sự hiệp đồng với các loại không quân khác. Sau 18 tháng đầu tiên của cuộc chiến, các máy bay hải quân của lực lượng đặc nhiệm 77 đã thực hiện 20 567 phi vụ, các máy bay của Thủy quân lục chiến — 25 266 phi vụ, còn các máy bay của Không lực — 126 702 phi vụ. Khi tiêu diệt các mục tiêu quan trọng đại bản doanh đã sử dụng trên quy mô lớn không quân lục quân và không quân hải quân, dù phương pháp này người Mỹ thường ít khi dùng đến.

Từ 5 tháng 6 đến 20 tháng 9 năm 1951 không quân thuộc lực lượng đặc nhiệm 77 tham gia vào chiến dịch “Strangle”. Mục tiêu của chiến dịch là chia cắt mặt trận với hậu phương Bắc Triều Tiên. Lãnh đạo chiến dịch là tư lệnh Không lực Mỹ vùng Viễn Đông. Ý đồ chiến dịch như sau: tập trung nỗ lực của không quân chiến thuật Không lực Mỹ [70], không quân của lực lượng đặc nhiệm 77 và không quân Thủy quân lục chiến vào việc phá hoại dài ngày việc vận chuyển trên các tuyến đường xe bánh xích trong dải giữa 38'15" и 39'15" của vĩ tuyến Bắc, xa mặt trận 15 —40 km, tiếp theo cô lập nhóm quân KNA trên mặt trận. Tuyến được chia thành 8 đoạn, trong đó 3 đoạn phía Tây thuộc trách nhiệm tập đoàn không quân số 5 Không lực Mỹ, hai phân đoạn trung tâm — lực lượng đặc nhiệm 77, ba đoạn phía đông — không đoàn 1 TQLC. Trong thời gian 3,5 tháng, người Mỹ “cày ải” một cách có phương pháp bằng các cuộc ném bom vào tuyến đã định, nhưng họ cũng không thu được kết quả mình mong muốn. Đến cuối hè nhìn thấy rõ chiến dịch «Strangle» đã sụp đổ.
.......


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 10 Tháng Sáu, 2012, 02:35:22 AM
(tiếp)


Toàn bộ các tuyến đường, các cầu, các tuy-nen đều được lực lượng pháo cao xạ bảo vệ. Ngoài ra bộ chỉ huy KNA đã ngụy trang tốt các mục tiêu; xây dựng được các mẫu mô phỏng việc hư hỏng các cầu, các nền đường sắt, các tuy-nen và v.v… Xe lửa và ô tô chỉ di chuyển về đêm, ban ngày chúng được cất giấu hoặc ngụy trang. Thường thường khi máy bay Mỹ công kích, các tài xế xe tải làm ra vẻ bị hư hại khi đôt cháy các bó giẻ lau ngấm đầy dầu mỏ. Các công trình bị phá hoại đã được khôi phục một cách linh hoạt. Việc khôi phục các nền đường sắt dài 100 m chỉ tốn không đến một ngày đêm.

Từ ngày 9 tháng 10 năm 1952 đến tháng 6 năm 1953 người Mỹ đã phá hủy các mục tiêu trên đất liền theo kế hoạch chiến dịch «Cherokee», trong đó dự kiến tiêu diệt các công trình có nhiệm vụ khác nhau trong một dải rộng 20 km, gần tuyến mặt trận nhưng ở ngoài tầm bắn của pháo binh dã chiến. Trong tháng 10, tham gia các hoạt động đó chỉ có máy bay của TF 77, từ tháng 11 có thêm lực lượng của tập đoàn quân không quân 5 không lực Mỹ. Lãnh đạo các hoạt động của lực lượng tham gia kế hoạch «Cherokee» được giao cho tư lệnh tập đoàn không quân 5. [71]

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s25.gif)

Các cuộc tấn công của máy bay hải quân Mỹ theo kế hoạch "Cherokee".

Trong những tháng riêng biệt, chỉ riêng máy bay trên tàu sân bay đã thực hiện hơn 1000 phi vụ. Tuy nhiên chiến dịch này không cho những kết quả rõ rệt dù nó kéo dài đến khi gần kết thúc cuộc chiến.

Kết quả hoạt động chiến đấu trong chiến dịch "Cherokee" của máy bay thuộc lực lượng đặc nhiệm 77:
(http://nn1.upanh.com/b2.s26.d1/94e5397dc6d472d969621546a7e9f34e_45960961.bang8.jpg)

Từ tháng 4 năm 1952 người Mỹ thực hành các cuộc tấn công bắn phá phối hợp không quân-pháo binh. Thông thường trong ngày luôn có vài cuộc tấn công như vậy. Đầu tiên là pháo trên chiến hạm khai hỏa, sau đó khi đã làm suy yếu lực lượng phòng thủ đường không thì không quân sẽ giáng đòn chủ yếu.

Tính bất ngờ của cuộc tấn công được coi là yếu tố quan trọng nhất cho thành công. Vì vậy các đường bay triển khai cho máy bay được chọn bên ngoài khu kiểm soát của radar, chuyến bay thực hiện trên các độ cao nhỏ, sử dụng các nếp gấp địa hình, mây và v.v. Phương pháp sử dụng vũ khí cơ bản là ném bom khi bổ nhào. Được ưa thích hơn cả là xạ kích có điều chỉnh, thông qua các trạm quan sát điều chỉnh hỏa lực trên đất liền, trên trực thăng và máy bay cánh cố định. Trách nhiệm tổ chức hoạt động phối hợp khi thực hiện tấn công hợp đồng được giao cho tư lệnh lực lượng đặc nhiệm 77.

Ngày 11 tháng 1 năm 1952 bộ chỉ huy Mỹ lập kế hoạch chiến dịch phá hoại tuyến giao thông bộ ven biển [72], sau khi đặt tên mã cho kế hoạch là «Package». Theo kế hoạch chiến dịch vùng chạy dọc bờ biển của tuyến đường sắt từ Songchjin đến Hungnam được chia ra 5 phân đoạn, mỗi phân đoạn đó được giao cho một nhóm chiến thuật gồm các tàu mặt nước và máy bay. Trong khu vực của mỗi phân đoạn đều thiết lập các phao có gương phản xạ radar để xác định chính xác vị trí cho các tàu chiến về đêm và trong lúc tầm nhìn hạn chế. Điều đó cho phép các tàu chiến đến gần bờ ở khoảng cách 1400 — 1800 m và bắn ngắm trực tiếp. [73] Cũng như trước đây, hoạt động của tàu chiến và máy bay luân phiên xen kẽ nhau. Việc bắn phá giao thông diễn ra trong thời gian các cuộc không kích ngắn. Các tàu chiến cũng tiến hành bắn phá dai dẳng gây khó khăn cho công tác khôi phục.

Theo số liệu của người Mỹ, trong thời gian từ tháng 7 năm 1951 đến tháng 6 năm 1953 họ đã tiêu diệt hoặc làm hư hại:
— xe ô tô — 75 000;
— đầu máy hơi nước — 1000;
— toa xe đường sắt — 16000;
— cầu — 2000;
— sà lan và các loại tàu khác — 600;
— xe tăng — 300;
— trận địa pháo và trận địa hỏa lực nói chung
— hỏa điểm kiên cố — 15 000.
Tổng cộng trong toàn thời kỳ Chiến tranh Triều Tiên, các máy bay thuộc lực lượng đặc nhiệm 77 đã thực hiện hơn 250 000 phi vụ chiến đấu. Trong đó từ tháng 7 năm 1950 đến tháng 12 năm 1951 chúng đã tiến hành 3276 phi vụ một tháng, từ tháng 12 năm 1951 đến tháng 6 năm 1952— 4024, từ tháng 6 năm 1952 đến tháng 2 năm 1953 — 4483, từ tháng 2 năm 1953 đến tháng 7 năm 1953— 5174. Trung bình để tấn công vào các mục tiêu trên đất liền đã thực hiện từ 67,5 đến 73% số phi vụ. Trong những năm chiến tranh, các máy bay trên tàu sân bay đã tấn công 850 114 mục tiêu, tiêu tốn 176 929 tấn bom, 271 890 đạn rocket, 73 888 000 viên đạn pháo-súng máy.
........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 14 Tháng Sáu, 2012, 10:21:08 PM
(tiếp)


Hạm đội quét mìn


Một đặc điểm đáng lưu ý trong Chiến tranh Triều Tiên là việc Hải quân Bắc Triều Tiên sử dụng rộng rãi thủy lôi trên biển, điều tất nhiên sẽ là sự đòi hỏi Hải quân Mỹ và các đồng minh phải có công tác bảo đảm chống thủy lôi rất nghiêm túc. Vào đầu chiến tranh, cuộc chiến đấu chống hiểm họa mìn chiếm vị trí trọng yếu trong tiến trình hoạt động đổ bộ, còn từ cuối năm 1950 các hoạt động cơ bản là công tác bảo đảm chống thủy lôi của các tàu pháo yểm trợ hỏa lực, của các lực lượng phong tỏa bờ biển [74] và quét sạch thủy lôi (mìn) tại các cảng và các khu mặt nước qua đó diễn ra sự tiếp tế hàng hóa cho quân đội.

Ví dụ, tháng 10 — 11 năm 1950 người Mỹ phải tiêu hủy bãi mìn trong khu vực cảng Nampho. Việc quét mìn rất khó khăn do các điều kiện địa-vật lý không thuận lợi. Cao độ đỉnh triều trong khu vực lên tới 3,5 m, tốc độ dòng chảy cao hơn 3 hải lý. Độ trong của nước kém làm cho việc phát hiện từ trên không các trái mìn đặt nông trở nên khó khăn.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/d/df/125.39255E_38.73470N_Port_of_Nampho.png)
Cảng Nampho (hay Chingnampo) phía nam Bình Nhưỡng, Bắc Triều Tiên (en.viki).

Trong bãi mìn phòng thủ mà Hải quân Bắc Triều Tiên bố trí tại vũng cảng ngoài và trên khu mặt nước dẫn vào cảng, người ta tính có đến 212 trái mìn, sắp thành 6 tuyến, trong đó một tuyến là các trái mìn đáy từ tính, các tuyến khác là mìn neo tiếp xúc (vướng nổ). Ngoài ra, cảng được bảo vệ từ phía bắc bởi 3 tuyến mìn neo.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/7/7c/USS_Catamount%3B10121701.jpg)
USS Catamount LSD-17 cùng một chiếc LCVP trong chiến dịch quét mìn ở Chinnampo, Bắc Triều Tiên, khoảng tháng 11 năm 1950, Ở đằng xa bên trái là kỳ hạm của chiến dịch này - USS Forrest Royal DD-872 (en.viki).

Để phá hủy bãi mìn, người Mỹ đã thành lập nhóm tác chiến đặc nhiệm 95.69 dưới sự chỉ huy của thiếu tá hải quân Аrcher. Trong thành phần của nó có 2 tàu quét mìn cao tốc và 7 tàu quét mìn căn cứ. Một toán người nhái-phá mìn được đưa tới khu vực trên tàu vận tải USS «Hоrace A. Bass». Nhóm đặc nhiệm sử dụng tàu dok-đổ bộ USS "Catamount" làm tàu căn cứ-tiếp tế.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/en/3/34/USS_Horace_A._Bass_%28APD-124%29.jpg)
USS Horace A. Bass APD-124.

Khi lập kế hoạch hoạt động chống mìn, việc tiến hành trinh sát bãi mìn và đánh giá điều kiện địa-vật lý của khu vực đóng vai trò lớn. Các tù binh quân sự, các hoa tiêu biết rõ cảng Nаmpo đã được thẩm vấn, đồng thời cũng tiến hành thu thập các sổ tay hàng hải về khu vực này. Việc trinh sát mìn được tiến hành bằng các máy bay «Маrtin» và «Sunderland», các trực thăng trên hạm và các biệt kích-phá mìn. Kết quả trinh sát mìn đã xác định trong khu vực có đến 300 trái mìn. Trong quá trình trinh sát mìn các thợ lặn đã phá nổ 44 mìn, còn 9 quả khác bị pháo binh bắn hủy. Đối với các bãi mìn thưa, người Mỹ ném xuống đó vài trái bom.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/2/20/461_Sqn_Sunderland_%28AWM_P01520.001%29.jpg)
S-25 Sunderland của RAAF.

Chẳng hạn, ngày 28 tháng 11 máy bay đã ném xuống bãi mìn 32 trái bom chìm 50 kg. Tuy nhiên trận bom đó chỉ kích nổ được [75] một thủy lôi. Ngày hôm sau, các máy bay «Neptune» ném tiếp 16 trái bom chìm và phá được 3 thủy lôi.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/0/0e/Hero_Youth_Highway_in_DPRK.jpg/800px-Hero_Youth_Highway_in_DPRK.jpg)
Đường cao tốc nối Bình Nhưỡng với cảng Nampho hiện nay (en.viki).
...........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 15 Tháng Sáu, 2012, 11:26:15 AM
(tiếp)


(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/0/0c/USS_Thompson_%28DD-627%29.jpg)
USS Thompson DD-627 tiếp dầu từ USS Arkansas BB-33 trong cuộc đổ bộ Normandy tháng 4 năm 1944, Chiến tranh thế giới thứ Hai (en.viki).

Ngày 29 tháng 10 hai tàu quét cao tốc USS «Carmick» và USS «Thompson» bắt đầu quét khu mặt nước dẫn vào cảng. Các tàu quét mìn căn cứ bắn hủy các trái mìn đã bị nhổ lên và xác định ranh giới khu mặt nước đã quét qua. Đến cuối tháng 11 đã quét được gần 200 dặm và tiêu hủy được 80 mìn: 36 — bằng máy bay, 27 — do lực lượng người nhái-phá mìn, 5 — do các tàu quét mìn, 12 mìn bị giật đứt neo trong thời gian có bão đã được pháo trên tàu bắn hủy.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/a/ae/493carmick_01.jpg/800px-493carmick_01.jpg)
USS Carmick DD-493.

Từ năm 1951 các nhóm quét mìn trên tàu đã thường xuyên thực hiện quét trinh sát và kiểm tra các khu mặt nước chủ yếu dọc theo duyên hải phía đông và tây Triều Tiên, các khu vực trận địa hỏa lực, tiến hành giám sát phong tỏa cả các nơi tàu thuyền neo đậu. Để quét mìn nước nông thường hay sử dụng các thuyền cao tốc quét mìn, làm tàu căn cứ mẹ cho chúng là các tàu đổ bộ kiểu LST. Các khu vực trận địa hỏa lực và các điểm tàu thuyền neo đậu được quét mìn sạch sẽ.

Công tác quét lại kiểm tra khu mặt nước các cảng chính diễn ra định kỳ 1 lần 1 tuần. Để làm điều đó đã phải huy động những lực lượng quét mìn lớn. Tại các thủy đạo dẫn vào cảng, người Mỹ bố trí các trạm quan sát chống mìn. Độ dài tổng cộng khu mặt nước thường xuyên được quét mìn là hơn 300 dặm (Nampho — 70, Hachjmin — 73, Inchon — 61, Моkpho — 73 dặm và v.v.).

So sánh với kinh nghiệm Thế chiến 2, cái mới trong tổ chức đảm bảo lực lượng chống mìn là việc sử dụng rộng rãi máy bay cánh cố định và trực thăng để trinh sát mìn. Kinh nghiệm sử dụng tàu đổ bộ LST làm căn cứ tiếp vận tạm thời cho lực lượng quét mìn cũng xứng đáng giành được sự quan tâm. Kinh chiến tranh tại Triều Tiên đã chỉ ra vai trò lớn mạnh của công tác đảm bảo chống mìn, mà việc không đánh giá đúng vị trí của nó đã thấy ngay sau Thế chiến Hai.

Ngày 3 tháng 1 năm 1951 người Mỹ bắt buộc phải [76] khôi phục lại Bộ chỉ huy lực lượng quét-thả mìn của Hạm đội Thái Bình Dương (Mỹ). Tư lệnh lực lượng này là chuẩn đô đốc Higgins đã nói: «Từ kinh nghiệm chiến tranh thủy lôi, mà chúng ta tham gia trong thời gian chiến tranh Triều Tiên, có thể thấy rất rõ ràng rằng thứ vũ khí chết người này có thể và sẽ được sử dụng thành công vô điều kiện với mọi kẻ thù mà ta gặp trong tương lai. Một thực tế hiển nhiên là khả năng của bất kỳ cường quốc biển nhỏ nào, chỉ cần làm chủ các phương tiện vận chuyển cơ bản, kinh nghiệm kỹ thuật không lớn và một số lượng tối thiểu các thiết bị không chuẩn bị trước, cũng có khả năng ngăn chặn những lực lượng hải quân lớn mạnh hiện đại xâm nhập vào các cảng của mình và khu nước nông gần bờ bằng cách sử dụng rộng rãi thậm chí chỉ những loại mìn đơn giản nhất ».
.......


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 15 Tháng Sáu, 2012, 05:14:16 PM
(tiếp)


Hạm đội hỗ trợ các quân binh chủng


Ngược lại với Thế chiến Hai, yểm trợ hỏa lực cho quân đội bằng không quân và pháo binh thường được tiến hành khi đổ bộ đường biển, trong cuộc Chiến tranh Triều Tiên dạng công tác đảm bảo này có một ý nghĩa độc lập.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/d/d7/Mosquito_600pix.jpg)
DH-98 Mosquito của Không lực Hoàng gia Anh trong Thế chiến 2 (en.viki).

Yểm trợ không quân cho quân chủng lục quân là nhiệm vụ chủ yếu được giao cho các máy bay thuộc lực lượng đặc nhiệm 77 và Không đoàn 1 TQLC. Ưu thế thống trị tuyệt đối trên không và trên biển cho phép lực lượng đặc nhiệm 77 có thể nhanh chóng bố trí trên một khoảng cách không xa bờ biển, trong một khu vực cơ động tác chiến gần như không thay đổi, nghĩa là các tàu sân bay được sử dụng như là một loại sân bay nổi. Toàn bộ tuyến mặt trận được chia thành một loạt các cung, chúng được đảm bảo chỉ bằng một chiếc máy bay “Mosquito” và một số nhóm dẫn đường mặt đất. Sư đoàn Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ có 13 nhóm dẫn đường cho máy bay yểm trợ trực tiếp - 1 nhóm cho mỗi tiểu đoàn và trung đoàn - và 1 nhóm tại bộ tham mưu sư đoàn, trong khi đó Không lực Mỹ chỉ dùng một nhóm dẫn đường cho mỗi trung đoàn, nghĩa là trong một sư đoàn có cả thảy 4 nhóm. [77]

Nhóm dẫn đường của Hải quân tham gia trực tiếp trong đội hình tác chiến của lục quân, còn nhóm của Không lực, theo lệ thường, tác nghiệp dẫn đường từ trên các máy bay. Bộ chỉ huy Mỹ tính rằng nếu sau 10-15 phút, kể từ khi phát yêu cầu yểm trợ trực tiếp đường không mà không thực hiện được, thì sau đó hiệu quả của nó sẽ bị giảm sút. Yểm trợ trực tiếp từ trên không có nghĩa là "tác động từ trên không vào các mục tiêu của kẻ thù trên đất liền và trên biển, các mục tiêu đó nằm gần với trận địa quân mình, việc mà trong mọi trường hợp cần phải dàn xếp cẩn thận các cuộc tấn công của máy bay với hỏa lực và sự cơ động của quân chủng lục quân".

(http://inapcache.boston.com/universal/site_graphics/blogs/bigpicture/koreanwar_06_23/k30_N9806704.jpg)
Close Air Support: TQLC Mỹ tấn công Wonsan, phía trước là cột khói của các cuộc không kích yểm trợ gần của F4U-5 Corsair vào các trận địa của Chí nguyện quân Trung Quốc, ngày 26 tháng 12 năm 1950 (U.S. Department of Defense/CPL. P. McDonald) #.

Lực lượng tham gia yểm trợ trực tiếp đường không có các máy bay động cơ piston: tiêm kích F4U-4B «Corsair" và cường kích AD-4 "Skyraider". Vũ khí chính của các máy bay này là bom 500 - 1.000 pound, rocket 127 mm, đạn pháo 20-mm và các bình chứa napalm. Khi độ dài chuyến bay lên đến 4 giờ các máy bay có thể ở trên chiến trường từ 2 - 3 giờ.

(http://2.bp.blogspot.com/-RSnXTJGERRI/TVVMRwiYgbI/AAAAAAAAAfQ/AOhtwXGw5sw/s1600/u146845.jpg)
Thiếu úy hải quân Jesse Brown, phi công hải quân Mỹ gốc Phi đầu tiên. Trong Chiến tranh Triều Tiên, thiếu úy hải quân Brown bay với VF-32 một phi đoàn F-4U Corsair đóng căn cứ tại Oceana Naval Air Station và bị bắn hạ trong một phi vụ yểm trợ gần trong trận đánh Hồ chứa nước Chosin tháng 11 năm 1950 (Hampton Roads Naval Museum).

Các đối tượng chính của các cuộc tấn công là binh lính, các cỗ pháo và súng cối trên các trận địa hỏa lực, các xe tăng, v.v., trong khoảng từ 50 m đến 16 km cách các đơn vị tuyến đầu (của quân mình). Một tiểu đoàn được hỗ trợ chủ yếu bởi hai phi đội gồm đến 40 máy bay. Các cuộc tấn công thực hiện bằng các tốp nhỏ, 4 -8 máy bay, trong một số trường hợp riêng - 12 đến 18 máy bay, có và không có tiêm kích yểm hộ.

Do thông tin liên lạc không đáng tin cậy giữa các máy bay và các toán dẫn đường, các máy bay "Skyraider" và "Corsair" thường phải hơn một tiếng đồng hồ bay lượn vòng tròn trên chiến trường chờ đợi truyền chỉ thị mục tiêu. Cuộc tấn công các mục tiêu thường được thực hiện trong quá trình bổ nhào từ độ cao 3000 m, tiếp theo là bắn phá mục tiêu bằng pháo-súng máy từ độ cao không nhỏ hơn 300 m. Trong giai đoạn căng thẳng gia tăng trong các hoạt động tác chiến trên bộ, nhiệm vụ yểm trợ hỏa lực cho lục quân trở thành nhiệm vụ chính yếu của các máy bay thuộc đơn vị đặc nhiệm 77. Ví dụ, chỉ tính đến trước ngày 3 tháng 9 năm 1950, các máy bay của lực lượng này [78] đã tiến hành gần 2.500 phi vụ. Trong 583 trường hợp, việc dẫn đường được thực hiện bởi máy bay "Mosquito", còn trong những trường hợp khác - do các nhóm dẫn đường mặt đất, đôi khi các phi công tấn công các mục tiêu mình tự chọn.

(http://www.ibiblio.org/hyperwar/OnlineLibrary/photos/images/h97000/h97039.jpg)
Korean War Close Air Support, 1951:
Không ảnh của thiếu tá hải quân Richard C. Merrick, sỹ quan chỉ huy, Liên đoàn không quân 19, đóng căn cứ trên USS Princeton (CV-37), 11 tháng 5 năm 1951, với những nét vẽ và đoạn văn mô tả được người trình bày ảnh thêm vào. Chúng cho thấy hiệu quả của yểm trợ gần đường không hải quân (Navy close air support) lên các lực lượng Chí nguyện quân Trung quốc đang chiến đấu với các đơn vị quân Mỹ ở phía đông bắc Seoul.
Photo #: NH 97039 (extended caption).


Không quân của Thủy quân lục chiến trong cùng thời kỳ đã thực hiện 1359 phi vụ. Cần lưu ý rằng trong trường hợp không có hướng dẫn từ mặt đất, theo lệ thường, nói chung các cuộc tấn công thường không hiệu quả và không đạt được mục tiêu. Một trong những chỉ huy lực lượng đặc nhiệm 77, chuẩn đô đốc Juan về việc này đã viết: "Việc tiếp tục yểm trợ đường không theo các phương pháp hiện có là lãng phí và không hiệu quả. Theo tôi, trong việc đảm bảo yểm trợ trực tiếp trong khu vực Taegu tiềm năng của Hạm đội 7 chỉ được sử dụng dưới 30%".
........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 15 Tháng Sáu, 2012, 10:37:04 PM
(tiếp)

Chiếm ưu thế thống trị trên biển và trên không, để giải bài toán yểm trợ đường không trực tiếp người Mỹ phải huy động một lực lượng lớn, trong khi không phải lo sợ cho sự an toàn của các tàu sân bay. Ngoài ra, các hoạt động của không quân được đơn giản hóa do sức chống cự yếu của máy bay tiêm kích và hệ thống phòng không đối phương. Bộ tư lệnh Bắc Triều Tiên phải dành đến 75% lực lượng và trang bị phòng không bảo vệ các tuyến giao thông liên lạc trên đất liền và các cơ sở công nghiệp, chỉ còn có 25% - để bảo vệ cho quân đội mình. Họ tìm cách khai thác những điểm yếu của đối phương. Ví dụ, các phi công Mỹ không thể giải quyết vấn đề yểm trợ cho quân đội của mình vào ban đêm và trong điều kiện thời tiết bất lợi. Lưu ý rằng từ tháng Bảy - tháng Tám năm 1950, bộ tư lệnh Bắc Triều Tiên khi tiến hành các hoạt động chiến đấu thường ưu tiên cho thời điểm trời tối trong ngày.

Pháo hạm yểm trợ các đơn vị lục quân được thực hiện bởi các nhóm tàu chiến chuyên biệt xây dựng từ lực lượng đặc nhiệm 70, 77 và 95. Trong các nhóm này có các loại tàu chiến khác nhau - từ các tàu khu trục [79] với các cỗ pháo 127 mm đến các thiết giáp hạm có các cỗ pháo cỡ nòng 406 mm.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/f/f1/Wisconsin_in_Korea.JPG)
USS Wisconsin BB-64 khai hỏa các cố pháo 16"/50 vào các mục tiêu trên bờ của phía Bắc Triều Tiên trong Chiến tranh Triều Tiên, ảnh chụp ngày 30 tháng 1 năm 1952 (en.viki).

Cường độ tác xạ của pháo binh hải quân là rất cao. Ví dụ, trong năm 1952, thiết giáp hạm USS "Wisconsin", tàu tuần dương hạng nặng USS "Saint Paul" và USS "Rochester", tàu tuần dương hạng nhẹ USS "Manchester" trong khoảng 2,5 tháng đã liên tục trút lửa vào các trận địa của KNA để yểm trợ các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến. Trong thời gian này các tàu chiến đó đã tiêu tốn 977 viên đạn cỡ 406-mm (với khoảng cách tác xại trung bình 16 dặm), đạn 203 mm - 1.661 viên (với khoảng cách tác xạ trung bình 11 dặm), 152 mm - 470 viên (với khoảng cách tác xạ trung bình 11 dặm). Kết quả của cuộc tấn công đó là phía Bắc Triều Tiên có 470 người bị chết, 450 người bị thương, có 6 khẩu đội pháo bị tiêu diệt và 18 khẩu đội bị hư hại, cuộc tấn công còn phá hủy 225 và làm hư hại 252 hỏa điểm kiên cố và hầm trú ẩn. Bộ chỉ huy Mỹ đánh giá cao hoạt động của các nhóm tàu chiến trong thời kỳ này. Tổng cộng trong Chiến tranh Triều Tiên, các tàu chiến đã bắn vào các đối tượng trên bờ hơn 4 triệu viên đạn pháo.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/0/06/USS_Wisconsin_%28BB-64%29_in_formation_1952.jpg)
Photo # 80-G-440021:  USS Buck, USS Wisconsin & USS St. Paul ngoài khơi bờ biển Triều Tiên, năm 1952; USS Buck (DD-761), USS Wisconsin (BB-64) và USS Saint Paul (CA-73) đang di chuyển ổn định trong đội hình chặt chẽ trong thời gian một chiến dịch ngoài bờ biển Triều Tiên.
Ảnh chụp ngày 22 tháng 2 năm 1952 (en.viki).


Tài liệu chính khi yểm trợ pháo binh là bảng kế hoạch hỏa lực. Trong các điều kiện hoạt động phòng ngự các tàu chiến bắn theo "lệnh gọi". Các tàu chiến có mặt yểm trợ sẽ phái đại diện của mình đến ban tham mưu các sư đoàn. Các đại diện này thông báo cho các bộ chỉ huy lục quân về cơ số đạn hiện có, thời gian tàu ở trong khu vực yểm trợ, v.v. Ngược lại, ban tham mưu sư đoàn sẽ cung cấp cho tàu chiến các bản đồ cần thiết, giới thiệu cho các thuyền trưởng về địa hình của khu vực, thông báo tần số để liên lạc vô tuyến và gọi bắn.

Các vị trí xạ kích được quy định theo khả năng tới càng gần bờ càng tốt, trong khu vực đã quét mìn từ trước. Khoảng cách trung bình tới mục tiêu cho tàu tuần dương là 10 dặm, thiết giáp hạm - 16 dặm. Trong trường hợp không gặp phải kháng cự, các tàu khu trục sẽ tiếp cận bờ ở khoảng cách 700 - 800 mét và ngắm bắn trực tiếp. [80]

Điều chỉnh hỏa lực thường được thực hiện qua các trạm chỉnh pháo trên đất liền. Trong tháng 8 năm 1950 lần đầu tiên để điều chỉnh hỏa lực cho tàu tuần dương USS "Helena" đã sử dụng máy bay trực thăng thuộc biên chế trên tàu, trên trực thăng đó có một sĩ quan pháo binh.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/d/d8/USS_Helena_%28CA-75%29.jpg)
USS Helena CA-75 trên đường tới Triều Tiên thực hiện nhiệm vụ chiến đấu lần thứ 3 trong cuộc chiến này năm 1952 và ghé cảng Apra trên đảo Guam (tháng 12 năm 1952), trên đường đi tàu chở theo Tổng thống Mỹ mới được bầu D.Eisenhower và bộ sậu của ông ta từ Guam tới Trân Châu Cảng (en.viki).
......


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 16 Tháng Sáu, 2012, 01:23:12 AM
(tiếp)


Hạm đội tiếp vận hàng hóa


Việc vận tải quân sự đến không gian chiến trường được thực hiện bằng đường biển và đường không. Vận chuyển đường biển từ Mỹ đến Nhật Bản tiến hành chủ yếu trên các tàu chiến và phương tiện nổi thuộc cơ quan tiếp vận hải quân Mỹ, còn từ Nhật Bản đến Hàn Quốc – bằng các tàu chiến và phương tiện nổi của Hải quân Hoa Kỳ và của các quốc gia khác tham gia cuộc chiến tranh chống lại Bắc Triều Tiên. Trong những ngày đầu của Chiến tranh Triều Tiên đã phát lộ những sự thiếu trọng tải của các loại tàu thuộc cơ quan tiếp vận hải quân. Do vấn đề này mà trong thời gian ngắn đã mở lại niêm cất 65 tàu loại "Victory" và thuê các tàu buôn thuộc các chủ sở hữu tư nhân, điều đó cho phép tới tháng 11 năm 1950 đã tăng được số lượng tàu lên con số 300, tới tháng 8 năm 1951 - lên đến 410, còn khi kết thúc chiến tranh - 658 tàu. Việc lập kế hoạch vận tải quân sự do bộ tham mưu tiếp vận hải quân đảm nhiệm, cơ quan này đóng tại Trân Châu Cảng (quần đảo Hawaii) và nó có 28 chuyên viên quân sự và 73 chuyên viên dân sự, nhiều người trong số họ đã thu nhận nhiều kinh nghiệm trong Chiến tranh Thế giới thứ II. Nhờ công tác của bộ tham mưu này mà khối lượng vận tải kế hoạch hóa đã lên đến 80%, phần 20% còn lại là vận tải ngoài kế hoạch.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s26.gif)
Vận chuyển hàng đường biển và đường không trong thời kỳ Chiến tranh Triều Tiên.

Tuyến giao thông chính đi theo ba hướng: tuyến trung tâm - từ các cảng miền trung trên bờ biển phía Tây Hoa Kỳ đến các cảng trên bờ biển phía Đông Nhật Bản, tuyến phía nam - từ các cảng trong vịnh California tới các cảng phía Nam Nhật Bản thông qua quần đảo Hawaii, tuyến phía bắc - từ Canada và từ Alaska tới các cảng miền Bắc Nhật Bản. Những con tàu đi riêng lẻ thì nối nhau xuyên đại dương mà không có tàu hộ tống bảo vệ, còn các tàu vận tải đi thành nhóm - được hộ tống bởi các tàu khu trục, tàu tuần tra và các đoàn công voa tàu sân bay. [82]

Tổng kết cuộc Chiến tranh Triều Tiên, các nhà sử học quân sự Mỹ đã lập luận rằng "nếu không có ưu thế thống trị trên các tuyến đường biển giữa phương Tây và Triều Tiên, cũng như trong các vùng biển bao quanh bán đảo, cuộc chiến tranh này chắc chắn sẽ thua trên mọi khía cạnh. Và hậu quả của sự thất bại bây giờ sẽ là vô cùng hiển nhiên với mỗi người Mỹ. Các chiến dịch của các lực lượng lục quân và không quân Mỹ hoàn toàn phụ thuộc vào dòng chảy liên tục cung ứng quân mới, vật chất mới được chuyển vận chủ yếu thông qua Thái Bình Dương rộng lớn".

Kết luận như vậy được họ rút ra không phải không có cơ sở. Sáu trong số bảy binh sĩ đã được đưa đến Triều Tiên bằng đường biển, còn tổng số đã chuyển giao bằng tàu biển đến khoảng 5 triệu người, 52 triệu tấn hàng khô và 22 triệu tấn sản phẩm xăng dầu. Đối với mỗi người lính đổ bộ lên bán đảo, phải kèm theo 4 tấn thiết bị quân sự khác nhau, còn bổ sung hàng ngày là 29 kg các loại hàng hóa khác nhau cho một đầu người. Ứng với mỗi tấn tài nguyên vật chất, vận chuyển qua Thái Bình Dương bằng đường hàng không, có đến 270 tấn hàng hóa được giao đến không gian chiến trường bằng đường biển. Ngoài ra, đối với mỗi tấn hàng hóa vận chuyển bằng máy bay, phải có 4 tấn xăng dầu hàng không vận chuyển đến bằng đường biển.

Sự gia tăng lượng tiêu thụ các nguồn tài nguyên vật chất đã gây ra nhu cầu ngày càng tăng về trọng tải cần chuyển giao đến không gian chiến trường cho mỗi đầu người lính. Nếu trong Chiến tranh thế giới thứ Hai, con số này là 5 - 7 GRT (Gross Register Tonnage), thì với Chiến tranh Triều Tiên - 10 GRT.

Để vận chuyển nhanh chóng con người, vũ khí, đạn dược và các hàng hóa khác đã sử dụng dịch vụ của cơ quan tiếp vận hàng không quân sự Mỹ. Trung bình trong một tháng hơn 7,6 nghìn quân nhân được vận chuyển theo đường hàng không từ Mỹ đến Nhật Bản. Để vận chuyển đã sử dụng đến 430 máy bay của cơ quan tiếp vận hàng không quân sự Mỹ và 70 máy bay của các hãng hàng không dân sự Mỹ. Chuyến bay từ Mỹ đến Nhật Bản chiếm từ 33 đến 45 giờ bay. [83]

Tổng kết Chiến tranh Triều Tiên, rất dễ thấy rằng cả hai bên đều sử dụng các hình thức và phương pháp tác chiến phát triển trong thời kỳ Chiến tranh Thế giới thứ II. Mặc dù cuộc chiến ở Triều Tiên mang tính chất lục địa, Hải quân vẫn đóng một vai trò lớn trong đó. [84]

Cuộc chiến tranh này đã chứng minh tính sai lầm trong quan điểm của các đại diện trường phái tư tưởng quân sự "tân tiến", họ lập luận rằng với chiến tranh trong tương lai, vai trò của hạm đội sẽ giảm xuống chỉ còn để hộ tống các tàu và tuần tra vùng biển ven bờ. Sau Chiến tranh Triều Tiên, ở Hoa Kỳ đã thông qua học thuyết về "các lực lượng cân bằng", dự kiến đạt được thắng lợi bằng nỗ lực chung của các lực lượng Lục quân, Không quân và Hải quân.

Cuộc chiến tranh này cũng tạo ra động lực cho sự phát triển các lực lượng tác chiến thủy bộ, thả-quét mìn và hàng không hải quân. Đã gạt bỏ hoàn toàn sự nghi ngờ rằng trong điều kiện có mối đe dọa sử dụng vũ khí hạt nhân thì việc đổ bộ các lực lượng lớn bằng đường biển là không thể.

Tổn thất nhân sự của Hải quân Hoa Kỳ là 2043 người, trong đó 279 chết tại trận, 23 chết vì bị thương quá nặng, 165 người mất tích và 1.576 người bị thương. Do vấp mìn Hải quân Mỹ đã mất 5 tàu chiến và tàu tiếp vận, còn 73 tàu, bao gồm cả bốn thiết giáp hạm đã bị bắn hỏng. Thiệt hại trong chiến đấu của máy bay Hải quân và Thủy quân lục chiến tổng cộng là 564 chiếc (5 máy bay bị bắn rơi trong không chiến, còn 559 chiếc bị tiêu diệt bằng hỏa lực pháo cao xạ). {8}

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s27.gif)
Vị trí bị tiêu diệt của các tàu chiến "quân đội LHQ" trong Chiến tranh Triều Tiên (từ 1950 đến 1952).

HẾT CHƯƠNG 1
.........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 17 Tháng Sáu, 2012, 05:39:09 PM
(tiếp)


"Chiến dịch Musketeer" hay "Chiến dịch Ngự Lâm Quân"




(http://www.britains-smallwars.com/Yahia2/MAP-01.jpg)
Bản đồ chiến dịch Musketeer (britains-smallwars.com).

Vào đầu những năm 1950, ở Trung Đông, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đã phát triển đến một quy mô đặc biệt rộng rãi. Đóng vai trò hàng đầu trong cuộc đấu tranh này là Ai Cập, nước đã hơn 70 năm nằm dưới ách thống trị của người Anh, những kẻ coi Ai Cập là điểm tựa kiên cố cho sự thống trị của chúng ở Trung Đông. Tháng 10 năm 1954, chính phủ Ai Cập đã buộc nước Anh ký thỏa thuận về việc rút quân khỏi khu vực kênh đào Suez, và tháng 6 năm 1956 những người lính Anh cuối cùng đã rời khỏi lãnh thổ Ai Cập. Đồng thời, chính phủ Ai Cập thông báo họ không có ý định tham gia vào liên minh quân sự với các cường quốc đế quốc, mà sẽ định hướng tới Liên Xô, và gây ra một phản ứng dữ dội của thế giới tư bản chủ nghĩa. Ví dụ, Mỹ từ chối cung cấp cho Ai Cập các trang thiết bị quân sự và vũ khí đã hứa hẹn từ trước, những thứ cần thiết cho việc thành lập lực lượng vũ trang quốc gia. Tháng 7 năm 1956, dưới áp lực từ Mỹ và Vương quốc Anh, Ngân hàng Tái thiết và Phát triển quốc tế tước đoạt của Ai Cập các khoản vay được hứa hẹn dùng cho việc xây dựng tổ hợp thủy điện Aswan. [88]

Các đồng minh của Ai Cập là Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác. Chẳng hạn, từ Liên Xô, Cộng hòa Ai Cập đã nhận được xe tăng, pháo binh, máy bay phản lực, tàu khu trục, tàu ngầm và các loại vũ khí khác.

Ngày 26 tháng 7 năm 1956 tuyên bố của Chính phủ Ai Cập về quốc hữu hóa kênh đào Suez, khiến một số nước phản ứng tiêu cực. Đặc biệt, Hoa Kỳ, Anh, Pháp và Israel đã chiếm vị trí thù địch mạnh mẽ trong mối quan hệ với Ai Cập. Ngày 2 tháng 8 năm 1956 chính phủ Hoa Kỳ, Anh và Pháp đã công bố mở một hội nghị quốc tế ở London để thảo luận các bước đi nhằm mục đích "đảm bảo tự do và an ninh của kênh đào Suez". Trong một tuyên bố chung của các nước này, họ cho rằng kênh đào Suez là  "một định chế quốc tế" («международным институтом»),  vì vậy không thể để chủ nghĩa quốc gia lây lan lên kênh đào. Ban lãnh đạo quân sự-chính trị Anh-Pháp đã quyết định khôi phục lại tình trạng thuộc địa của Khu vực kênh đào Suez bằng vũ lực. Israel cũng ủng hộ hai nước này, đất nước Israel không hài lòng với sự tăng trưởng nhanh chóng của cả sức mạnh quân sự lẫn kinh tế của Ai Cập và sự đoàn kết của các nước trong thế giới Ả Rập.

(http://britains-smallwars.com/cyprus/Davidcarter/americanview/(10)%20Op%20Musketeeer%20Nicosia%20Airport.jpg)
Không lực Anh tại sân bay Nicosia, đảo Chypre, chuẩn bị cho chiến dịch Musketeer (britains-smallwars.com).

Để chuẩn bị cho các hành động quân sự chống lại Ai Cập, Anh và Pháp theo đuổi một số mục tiêu: chiếm khu vực Suez Canal và đưa nó trở lại trạng thái bán-thuộc địa; lật đổ chính phủ G.Nasser và thiết lập thay vào đó một chính quyền thân đế quốc; củng cố các vị trí của mình ở Trung Đông vì lợi ích của cuộc chiến chống lại phong trào giải phóng dân tộc; phá hoại uy tín và ảnh hưởng của Liên Xô trong thế giới Ả Rập. Israel dự kiến trong cuộc chiến tranh này sẽ chiếm bán đảo Sinai với tất cả các căn cứ quân sự trên đó và khai thác quyền sử dụng ưu đãi kênh đào Suez.

Ngày 08 tháng 8 năm 1956 tại London, dưới sự lãnh đạo của Tướng Stokwel đã thành lập Bộ tham mưu thống nhất Anh-Pháp phục vụ lập kế hoạch chiến tranh chống Ai Cập. Theo [89] kế hoạch được phát triển, các hành động quân sự sẽ được thực hiện thành hai giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất bắt đầu với sự tấn công của quân đội Israel vào bán đảo Sinai với mục đích kềm giữ các nhóm quân lớn của Ai Cập. Trong giai đoạn hai theo kế hoạch, sẽ đổ bộ đường biển quân Anh-Pháp vào Port Said và Cảng Fuad (chiến dịch "Ngự Lâm Quân"), nhằm đánh chiếm bàn đạp; sau khi tập kết đủ lực lượng và trang bị tại đó sẽ tiếp tục phát động một cuộc tấn công dọc theo kênh đào Suez, để đạt được mục tiêu cuối cùng của chiến tranh.

Vì vậy, trọng tâm của các hoạt động tác chiến của các hạm đội Anh và Pháp là chiến dịch đổ bộ Suez.

(http://static.newworldencyclopedia.org/thumb/c/c5/HM_Ships_Eagle%2C_Bulwark%2C_and_Albion_.jpg/800px-HM_Ships_Eagle%2C_Bulwark%2C_and_Albion_.jpg)
HMS Eagle, Bulkward, Albion của Hải quân Hoàng gia Anh trong cuộc "Khủng hoảng Suez" năm 1956 (newworldencyclopedia).

Công tác chuẩn bị cho chiến dịch "Musketeer" tiến hành cẩn thận trong gần ba tháng. Kế hoạch quy định như sau: sau khi Israel phát động chiến tranh và cầm giữ chặt trên bán đảo Sinai các cụm quân chính của các lực lượng vũ trang Ai Cập, sẽ diễn ra cuộc ném bom ồ ạt lên các cơ sở quân sự và công nghiệp của Ai Cập, rồi sau đó tiến hành xâm lược. Người ta coi các sân bay là các mục tiêu chính.

(http://www.clivejames.com/files/images/vertical.jpg)
Vertical envelopment.

Sáng ngày 5 tháng 11 năm 1956 kế hoạch là ném các đơn vị đổ bộ đường không lớn xuống các khu vực nhằm cô lập các bãi đổ bộ, và vào lúc bình minh ngày 06 Tháng Mười Một sau khi hỏa lực chuẩn bị dội bão lửa mạnh mẽ, các lực lượng thủy quân lục chiến sẽ đổ bộ theo đường biển. Cuộc đổ bộ được lập kế hoạch thực hiện theo phương pháp "vertical envelopment" ("chiếm lĩnh theo phương thẳng đứng"), nghĩa là dự kiến đổ bộ bằng máy bay trực thăng vào chiều sâu chiến thuật hệ thống phòng thủ chống đổ bộ của đối phương, nhằm ngăn chặn các đường tiếp cận của quân đội Ai Cập tới bờ biển. Nhiệm vụ trước mắt của các lực lượng quân dù Anh là đánh chiếm và tổ chức giữ vững sân bay Gamal, còn quân dù Pháp - các cây cầu đường sắt và đường bộ cao tốc phía nam Port Said. Các khu vực đổ bộ của quân dù được lựa chọn gần các cơ sở này.

Xuất phát từ các mục tiêu của cuộc chiến mà khu vực kênh đào Suez [90] được coi là khu vực thích hợp nhất dành cho việc đổ bộ. Cuối cùng đã quyết định chọn vị trí đổ bộ ở Port Said và Cảng Fuad,. Khu vực này gần như hoàn toàn cô lập với đất liền bằng một bàn đạp, bàn đạp đó nối với đất liền qua một eo đất hẹp nhân tạo duy nhất, việc chiếm giữ nó đảm bảo sự cách ly hoàn toàn cho các bãi đổ bộ. Trong khu vực người Anh (Port Said) đã ấn định hai bãi đổ bộ còn trong khu vực người Pháp (Port Fouad) - 1. Tuyến mặt trận chung của cuộc đổ bộ rộng 6 km.

(http://phobos.ramapo.edu/~theed/Cold_War/c_Khrushchev_era/b_Berlin/Images/c_Suez_Crisis/4806as09aswandam.jpg)
Đập thủy điện Aswan.

Để lãnh đạo chung các hoạt động quân sự đã thành lập Bộ chỉ huy thống nhất Anh-Pháp đặt trụ sở chính trên đảo Síp. Tướng Anh Keightley được bổ nhiệm tổng tư lệnh và phó của ông ta là phó đô đốc Pháp Barjo. Tại bộ tham mưu của Bộ tư lệnh thống nhất này đã lập ra ban chiến tranh tâm lý. Bộ tư lệnh Israel không nằm trong bộ tham mưu Anh-Pháp, nhưng hành động của họ phụ thuộc kế hoạch chung của chiến dịch quân sự này.

Khi lập kế hoạch chiến dịch, đóng một vai trò lớn là các hoạt động đảm bảo kiểu như hoạt động trinh sát và nghi binh. Trong quá trình chuẩn bị cho cuộc đổ bộ, không quân Anh-Pháp đã thường xuyên tiến hành trinh sát đường không, đồng thời để không tiết lộ kế hoạch chiến dịch, việc trinh sát được thực hiện trên một tuyến mặt trận rộng lớn - gần như dọc theo toàn bộ bờ biển Địa Trung Hải của Ai Cập. Hệ thống tình báo viên đã cung cấp những thông tin đầy đủ nhất về khả năng chống đổ bộ của người Ai Cập trong khu vực dự kiến đổ bộ. Việc tập trung quân đội và hải quân Anh-Pháp ở vùng biển Địa Trung Hải được thực hiện dưới chiêu bài chuẩn bị cho một cuộc tập trận chung. Sự lựa chọn các khu vực tập trung đáp ứng các điều kiện quan sát bí mật. Sau đó, các hành động nghi binh được tổ chức rầm rộ, nhờ chúng mà người ta cố gắng tạo ra vẻ có khả năng xuất hiện cuộc đổ bộ trong khu vực Alexandria.

Nhiều chiếc máy bay của đồng minh sơn lại sang màu vàng-nâu, một số khác mang dấu hiệu nhận dạng của Lực lượng Không quân Ai Cập. [91]
.......


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 17 Tháng Sáu, 2012, 07:02:10 PM
(tiếp)

Nguyên tắc bắt buộc là phải đạt được ưu thế về quân số và vũ khí trang bị. Trong hạm đội thống nhất Anh-Pháp có 130 tàu, gồm bảy tàu sân bay, ba tàu tuần dương hạng nhẹ, 13 khu trục hạm, 14 tàu tuần tra, 6 tàu ngầm, 11 tàu đổ bộ, 8 tàu quét mìn, 60 tàu vận tải cùng các tàu và phương tiện nổi khác. Thành phần tàu chiến được tổ chức thành lực lượng đặc nhiệm 345, gồm các nhóm chiến thuật chuyên biệt: 345.4 - tàu sân bay; 345.5 - đổ bộ; 345.7 - Thủy quân lục chiến; 345.2 - nhóm bảo trì và phục vụ. Để tạo đường đi lại qua các bãi mìn tiềm tàng đã thành lập một nhóm tàu quét mìn.

Trong Không lực thống nhất có 461 máy bay, gồm 70 máy bay ném bom, 228 máy bay tiêm kích, 81 máy bay trinh sát và 82 [92] máy bay vận tải. Các máy bay được tổ chức thành 5 không đoàn: 2 không đoàn máy bay ném bom, một không đoàn hỗn hợp và hai không đoàn vận tải. Ngoài ra, đặt căn cứ trên các tàu sân bay của đơn vị xung kích tàu sân bay 345.4 còn có 290 máy bay. Các lực lượng không quân Anh-Pháp có tổng cộng 751 máy bay.

(http://www.rafmuseum.org.uk/milestones-of-flight/images/pc1994-201-570.jpg)
Không quân Hải quân Anh trong cuộc khủng hoảng Suez, 1956.

Với tư cách lực lượng đổ bộ của Vương quốc Anh người ta đưa vào một sư đoàn thiết giáp, một sư đoàn bộ binh, 3 lữ đoàn dù và bộ binh, hai trung đoàn xe tăng độc lập, hai cụm pháo binh lục quân, một trung đoàn ô tô bọc thép độc lập, sáu trung đoàn pháo binh độc lập và ba tiểu đoàn bộ binh độc lập. Tổng quân số lực lượng Anh khoảng 45 nghìn người.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/6/62/FM_Alexander_on_HMS_Ocean_1952.jpeg/726px-FM_Alexander_on_HMS_Ocean_1952.jpeg)
HMS Ocean R68 - Royal Navy Colossus-class light fleet aircraft carrier, chuẩn bị lên đường tham gia Chiến tranh Triều Tiên, năm 1952 (en.viki).

Quân đội Pháp bao gồm sư đoàn cơ giới hóa và sư đoàn đổ bộ đường không, lữ đoàn dù độc lập và một trung đoàn xe tăng độc lập. Số lượng quân Pháp là hơn 20 nghìn người. Để đổ bộ bằng máy bay trực thăng đã thành lập một nhóm đặc biệt, gồm hai tàu sân bay HMS "Theseus" và HMS "Ocean" với 22 máy bay trực thăng trên tàu. Chuẩn bị cho cuộc đổ bộ còn có tiểu đoàn "commando" số 45 quân số khoảng 600 người. Ngày 04 tháng Mười, các lực lượng này thực hiện tập trận. Trong giai đoạn chuẩn bị cho chiến dịch đổ bộ Suez Bộ chỉ huy Anh-Pháp đã thực hiện 10 cuộc tập trận đổ bộ và quét mìn ở các vùng khác nhau của biển Địa Trung Hải, và hai cuộc tập trận nhảy dù thực với những đơn vị đổ bộ đường không khá lớn. Ngoài ra, cũng có một số cuộc tập trận về thông tin liên lạc.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/8/85/HMS_Theseus_%28R64%29_off_Japan_1951.jpg)
HMS Theseus R64, Royal Navy Colossus-class light fleet aircraft carrier,  gần cảng Sasebo - Nhật Bản, trong Chiến tranh Triều Tiên, 1951 (en.viki).

Khi phát triển kế hoạch chiến dịch phát sinh vấn đề về việc đổ bộ của các đội đổ bộ hỗ trợ. Đặc biệt, đã lên kế hoạch đổ bộ một đội đổ bộ như vậy ở Biển Đỏ (chiến dịch "Toreador") trong khu vực Suez.

Chính phủ Ai Cập đã nhận được những thông tin đáng tin cậy về cuộc xâm lược sắp xảy ra, họ đã thực hiện một số biện pháp cấp bách để tăng cường khả năng quốc phòng của đất nước. Quân đội đã được báo động, thực hành động viên cục bộ, triển khai huấn luyện quân sự [93] cho công dân thường và bắt đầu thành lập các đơn vị dân quân. Tuy nhiên, khả năng của đất nước đẩy lùi các cuộc tấn công của kẻ thù còn hạn chế: thiếu trầm trọng cán bộ được đào tạo quân sự cơ bản, lực lượng vũ trang không có đủ số lượng các mẫu trang thiết bị quân sự và vũ khí hiện đại. Bộ chỉ huy Ai Cập coi việc đổ bộ đường biển tại cảng Said không đáng tin và đã không xây dựng hệ thống phòng thủ chống đổ bộ tại khu vực này. Trong thời kỳ có mối đe dọa bị tấn công, các thiết bị quân sự, đặc biệt là máy bay, không được phân tán và cất giấu. Trong số 128 máy bay của lực lượng không quân Ai Cập, chỉ có 30 máy bay tiêm kích và 12 máy bay ném bom ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu.

Trước khi bắt đầu chiến tranh, quân đội Ai Cập có 140 ngàn người, cùng với lực lượng Cận vệ Quốc gia và tình nguyện viên - 240 nghìn người. Tất cả các lực lượng này phân bổ trong các lữ đoàn thiết giáp, bộ binh và pháo cao xạ.

Nói chung, ở khu vực Port Said các lực lượng Đồng Minh trội hơn người Ai Cập hơn 5 lần về quân số, trong khi ưu thế của họ trên không và trên biển là tuyệt đối. Đến cuối tháng Mười, các lực lượng Đồng Minh đã kết thúc triển khai ở phía đông Địa Trung Hải, họ đã sẵn sàng bắt đầu chiến tranh.
........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 17 Tháng Sáu, 2012, 09:41:01 PM
(tiếp)

Ngày 29 Tháng 10 năm 1956 rất bất ngờ cuộc tấn công khởi đầu các hành động quân sự của Israel chống lại Ai Cập đã nổ ra. Tới ngày 5 tháng 11, quân đội Israel đã chiếm toàn bộ bán đảo Sinai. Quân đội Ai Cập chết và bị thương gần 3.000 người, hơn 5.000 người bị bắt làm tù binh. Quân đội Israel chiếm được 100 xe tăng và xe bọc thép, hơn 200 cỗ pháo, hơn 1.000 xe ô tô và rất nhiều trang thiết bị quân sự khác. Tồn thất của quân đội Israel tất cả khoảng 900 người chết và bị thương. Phi công Israel đã bắn rơi 22 máy bay Ai Cập trong không chiến, trong khi chỉ bị mất có 9 chiếc.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/b/b1/Ibrahim_al-Awwal1956.jpg/420px-Ibrahim_al-Awwal1956.jpg)
Ibrahim al-Awal, vốn là HMS Mendip (L60), bị Hải quân Israel bắt sống từ tay quân Ai Cập năm 1956. Sau đó được đổi tên thành INS Haifa (K-38) - (en.viki).

Thắng lợi của quân đội Israel là do đạt được tính bất ngờ trong tấn công, tạo lập được ưu thế về lực lượng [94] và phương tiện quân sự trên các hướng tấn công chính, nhưng cũng còn do những tính toán sai lầm của bộ chỉ huy Ai Cập.

(http://static.newworldencyclopedia.org/9/96/1956_Suez_war_-_conquest_of_Sinai.jpg)
Quân Anh-Pháp đổ bộ và quân Israel tấn công Sinai.

Hải quân Israel yểm trợ cho lực lượng lục quân trong tấn công: họ thực hiện việc vận chuyển hàng hoá quân sự vào vịnh Aqaba, yểm trợ hỏa lực pháo binh cho quân đội, và đổ bộ các lực lượng đổ bộ chiến thuật trên các đảo Tiran và Sinnafir.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/9/9b/Tiran_Guns_IMG_0937.JPG/767px-Tiran_Guns_IMG_0937.JPG)
Một người lính Israel đứng gần một cỗ pháo Ai Cập phong tỏa eo Tiran (en.viki).

Ngày 30 tháng 10 chính phủ Vương quốc Anh và Pháp đã ban hành một tối hậu thư yêu cầu bộ tư lệnh Ai Cập rút quân ra cách kênh đào Suez một khoảng 16 dặm, còn sau đó họ sẽ đưa quân đội của mình vào khu vực kênh đào với mục đích tự xùn là bảo vệ nó tránh khỏi mọi thiệt hại. Cần lưu ý rằng tối hậu thư đã bỏ qua hoàn toàn sự thực về cuộc tấn công của Israel và giữ im lặng về thực tế rằng trong những điều kiện như thế này, đòi hỏi duy nhất công bằng là việc rút ngay lập tức quân đội Israel khỏi các vùng lãnh thổ Ai Cập bị chúng chiếm đóng. Ban lãnh đạo Ai Cập, hiểu tính không thực tế của việc thực hiện yêu cầu đó, còn chưa trả lời tối hậu thư, thì ngay sau đó, vào buổi sáng ngày 31 Tháng Mười, Anh và Pháp không hề tuyên bố chiến tranh đã bắt đầu các hành động quân sự chống lại Ai Cập.

Theo kế hoạch dự kiến từ trước của chiến dịch "Musketeer", lực lượng không quân Anh-Pháp bắt đầu ném bom các cơ sở quân sự và công nghiệp của Ai Cập, sử dụng đến 300 máy bay Anh và 240 máy bay Pháp. Các cuộc tấn công đầu tiên giáng xuống các sân bay Almaz, Abu Sueyr, Inhas, Cabrit. Kết quả của các cuộc tấn công này là đã có hơn 100 máy bay Ai Cập bị phá hủy.

Trong một vụ ném bom vào khu vực kênh đào Suez, frigate "Akka" của Ai Cập đã bị đánh chìm, và do đó giao thông trên kênh đã bị tê liệt. Từ đó về sau còn một vài tàu thuyền nữa bị đánh chìm trong kênh.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/1/1d/Tanks_Destroyed_Sinai.jpg/800px-Tanks_Destroyed_Sinai.jpg)
Thiết bị quân sự của Ai Cập bị phá hủy trên bán đảo Sinai (en.viki).

Tổng cộng từ 31 Tháng Mười-5 Tháng 11, các máy bay Anh-Pháp đã thực hiện hơn 2.000 phi vụ tấn công các mục tiêu tại Ai Cập. Các vụ ném bom đã mang tính chất của một cuộc chiến tàn bạo đẫm máu và tạo ra vô số nạn nhân là dân thường. Các khu vực đông dân cư của Cairo, Ismailia, Alexandria, Suez và đặc biệt Port Said đã bị tàn phá nặng nề. [95]

Không có bất kỳ sự cần thiết nào về quân sự, nhiều khu phố ở Port-Said đã hoàn toàn bị phá hủy. Hàng chục ngàn người bị mất nhà cửa, bị chết hoặc bị thương. Một cuộc chiến tranh tâm lý rộng khắp đã được tiến hành chống Ai Cập. Chẳng hạn, vào đêm 03 và 04 tháng 11 tại Cairo đã thả xuống hơn 500.000 tờ rơi trong đó kêu gọi người dân Ai Cập chấp nhận các điều kiện của Anh và Pháp đối với Kênh đào Suez. Các tờ rơi ghi như sau: "Xin vui lòng chấp nhận các đề nghị của quân Đồng minh, nếu không các bạn sẽ phải chịu những hậu quả của chính sách của Nasser, mà các kết quả nặng nề đó là: không chỉ tác động đến một số thủ phạm, mà còn liên quan đến nhiều người dân vô tội. Hãy nhớ rằng chúng tôi có đủ sức mạnh để đạt được mục tiêu của chúng tôi, và chúng tôi sẽ sử dụng nó đầy đủ, nếu cần thiết"{9}.

Đài phát thanh từ đảo Cyprus phát sóng liên tục vào Ai Cập, các bản tin của chúng mang tính chất chia rẽ và đe dọa.

Ngày 1 Tháng 11, các máy bay trên tàu sân bay của lực lượng đặc nhiệm 345 bắt đầu hoạt động. Trong ngày đầu tiên chúng đã thực hiện 355 phi vụ chiến đấu. Các đối tượng chính của cuộc tấn công là các sân bay Ai Cập và các máy bay đóng căn cứ tại đó. Tham gia các cuộc tấn công có từ 4 đến 8 máy bay. Bom nổ phá (cỡ 112,5 kg) được ném xuống từ tư thế bổ nhào và hiếm hơn - trong tư thế bay bằng. Sau khi cắt bom các máy bay còn sử dụng pháo-súng máy, rocket. Sự kháng cự là yếu ớt. Trong ngày này, quân đồng minh đã tiêu diệt 90% máy bay của Ai Cập, {10} hậu quả của nó là sau đó họ chiếm ưu thế thóng trị trên không trung. [96]

Ngày 02 Tháng 11, chính phủ Anh công bố việc phong tỏa hàng hải bờ biển Ai Cập. Tàu buôn của tất cả các nước trên thế giới bị cấm vào khu vực phía đông biển Địa Trung Hải, giới hạn bởi vĩ tuyến 35 ° bắc và bờ biển Ai Cập và các kinh tuyến 27 ° và 35 ° độ kinh Đông, cũng như phía bắc Biển Đỏ. {11} Trong khu vực căn cứ hải quân chính của Ai Cập - Alexandria - đã thiết lập sự phong tỏa hàng hải gần. Tại đây hạm đội đồng minh trước khi kết thúc các hoạt động quân sự đã thực hiện các cuộc tuần tra phong tỏa. Các nhóm chiến thuật gồm các tàu chiến và máy bay tiến hành các cuộc tuần tra trong các khu vực phong tỏa khác.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/9/94/Dayan_9th_Brigade_1956.jpg/466px-Dayan_9th_Brigade_1956.jpg)
Tướng "độc nhãn" Moshe Dayan và Avraham Yoffe, chỉ huy Lữ đoàn 9 quân Israel tại Sharm el-Sheikh sau trận Sinai (en.viki).
.........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 18 Tháng Sáu, 2012, 12:37:25 AM
(tiếp)

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/en/d/df/Suez_101956_2eRPC_portsaid.png)
Quân dù Pháp tại Port Said tháng 10/1956 (en.viki).

Ngày 31 tháng 10 trong các khu vực tập trung đã bắt đầu chuyển quân đổ bộ và trang thiết bị lên các tàu đổ bộ và vận tải. Ngày 01 Tháng Mười Một, hạm đội thống nhất Anh-Pháp với 5 tàu sân bay, ba tàu tuần dương hạng nhẹ, 6 khu trục hạm, bốn tàu tuần tra và tám tàu quét mìn đã chiếm lĩnh khu chờ, cách 30-100 dặm về phía bắc Port Said. Các biên đội tàu đổ bộ đã có mặt trong khu vực vào đêm ngày 04-rạng ngày 05 tháng 11 và tiếp tục cơ động tại đó đến trước bình minh ngày 06 tháng 11. Ngày 05 tháng 11 lúc 7:30 giờ sáng không quân Anh và Pháp bắt đầu thả lính dù, cuộc thả dù này được đi trước bởi một màn chuẩn bị hỏa lực đường không mạnh mẽ. Tham gia cuộc tấn công có đồng thời hơn 200 chiếc máy bay.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/c/ce/British_tanks_in_Port_Said.jpg)
Quân dù Anh tại Port Said và Su-100 của quân Ai Cập bị quân Anh chiếm, bên phải là xe chiến đấu thủy bộ Buffalo của quân commandos (en.viki).

Không quân cũng thực hiện yểm trợ cuộc đổ bộ đường không. Chỉ riêng máy bay trên tàu sân bay vào ngày này đã thực hiện hơn 470 phi vụ, trong đó có 400 phi vụ - yểm trợ trực tiếp cho quân đội. Máy bay hoạt động theo các nhóm nhỏ 6 - 9 máy bay. Các cuộc tấn công mục tiêu được thực hiện từ các hướng và độ cao khác nhau. [97]

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/4/44/Suez_Sea_Venom.jpg/781px-Suez_Sea_Venom.jpg)
Một chiếc Sea Venom phi đoàn 893 bị thương hạ cánh trên tàu sân bay HMS Eagle (en.viki).

Tới 14:30 giờ đã thả được một lữ đoàn dù quân số hơn 3.000 người. Lính nhảy dù lập tức chiếm sân bay Gamal và chặn tất cả các con đường dẫn đến cảng. Điều kiện thuận lợi cho cuộc đổ bộ đường biển đã được tạo ra.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/8/8d/Suez_Canal%2C_Port_Said_-_ISS_2.jpg/800px-Suez_Canal%2C_Port_Said_-_ISS_2.jpg)
Port Said và lối vào kênh Suez năm 2006 (en.viki).

Việc thả quân dù được thực hiện từ độ cao 100 - 200 m. Các máy bay vận tải bay thành tốp ba, mỗi chiếc đổ bộ được 30 lính chiến. Máy bay vận tải được hộ tống bởi máy bay tiêm kích. Khu vực đổ bộ có kích thước 150x800 m đã được đánh dấu bằng các mốc định hướng. Trước khi đổ quân người ta thả xuống từ máy bay các thùng chứa hàng quân sự. Người Ai Cập nổ súng vào chúng, và do đó làm lộ các vị trí hỏa điểm của họ. Các máy bay được lựa chọn đặc biệt lập tức công kích vào các trận địa này. Điều này làm giảm thiệt hại của quân đội và làm giảm thời gian đưa quân dù vào tư thế sẵn sàng chiến đấu. Như vậy, thời gian tập hợp và đưa các đại đội lính dù vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu chỉ mất tất cả có 15 - 30 phút. Thời gian đó là ít hơn nhiều so với trong Chiến tranh Thế giới thứ II.

Vào giữa ngày 5 tháng 11 bộ chỉ huy Anh-Pháp gửi cho thống đốc quân sự Port Said một tối hậu thư với yêu cầu giao nộp thành phố. Đồng thời, quân đội Ai Cập phải hạ vũ khí. Tối hậu thư đã bị phía Ai Cập bác bỏ, và cuộc chiến tiếp tục trở lại lúc 23:30 giờ. Vào rạng sáng ngày 06 Tháng Mười Một sau một đợt hỏa lực chuẩn bị đường không và pháo binh mạnh mẽ kéo dài 45 phút, cuộc đổ bộ đường biển bắt đầu. Trong khu vực của người Anh, cuộc đổ bộ thực hiện theo hai thê đội. Thê đội thứ nhất gồm hai tiểu đoàn Thủy quân lục chiến, được tăng cường xe tăng, đổ lên hai bãi đáp: "bãi đỏ" - có chiều rộng 400 m và "bãi xanh lục" - 350 m. Sự kháng cự chống đổ bộ khá yếu. Đồng thời với các tốp xung kích thê đội 1 cũng đã đổ bộ nhóm chỉ huy không quân có nhiệm vụ phát lệnh gọi và phân bổ các đòn tấn công của máy bay vào các mục tiêu, điều này làm tăng hiệu quả yểm trợ đường không lên rất nhiều. [98]

(http://newsimg.bbc.co.uk/media/images/41916000/gif/_41916320_troop_move_map416.gif)
Các mũi tấn công của liên quân Anh-Pháp-Israel (http://2eyeswatching.com).
........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 18 Tháng Sáu, 2012, 05:51:44 PM
(tiếp)


(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/5/5a/HMS_Theseus_(R64)_with_helicopters_during_Suez_Crisis_1956.jpg)
Nền sau ảnh là tàu quân y Pháp, phía trước là tàu sân bay Hải quân Hoàng gia Anh HMS Theseus (R64) với các trực thăng Westland Whirlwind và Bristol Sycamore của một đơn vị hỗn hợp KQ/LQ Anh đang tập hợp cạnh các trực thăng hải quân.
Thời gian khoảng giữa tháng 11 năm 1956 và tháng 12 năm 1956 (commons.wiki).


Gần như đồng thời, cuộc đổ bộ bằng máy bay lên thẳng diễn ra trong tung thâm chiến thuật của tuyến phòng thủ chống đổ bộ của đối phương theo bốn đợt sóng. Đợt đổ quân đầu tiên và các đợt đổ quân tiếp theo gồm có 22 chiếc trực thăng (6 chiếc “Sycamore" và 6 chiếc "Whirlwind" xuất phát từ tàu sân bay HMS "Ocean" và 10 chiếc "Whirlwind" từ tàu sân bay HMS "Theseus”). Trong mỗi đợt các máy bay trực thăng đi theo tốp ba chiếc một. Sau hai chuyến bay, các máy bay trực thăng được nạp bổ sung nhiên liệu. Tổng cộng sau 1 giờ 29 phút các máy bay trực thăng đã đổ bộ được 415 binh sỹ thủy quân lục chiến và đưa lên bờ được 23 tấn đạn dược, vũ khí và thực phẩm. Sai lầm thô thiển trong tính toán là ở chỗ trong thành phần đổ bộ bằng máy bay trực thăng không có các sĩ quan liên lạc không quân, vì thế các máy bay cánh cố định đã có vài cuộc tấn công nhầm vào chính quân của mình.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s28.gif)
Chiến dịch đổ bộ Suez năm 1956.

Trong khu vực người Pháp, sư đoàn cơ giới hóa và một trung đoàn xe tăng độc lập cũng được đổ bộ lên bờ theo hai thê đội. Việc đổ bộ diễn ra mà không có sự kháng cự. Cũng như trong khu của người Anh, việc đổ quân của thê đội thứ hai bắt đầu vào bình minh ngày 07 tháng 11. Tổng cộng sau hai ngày đã có 13,5 nghìn quân Anh và 8,5 nghìn quân Pháp được đổ bộ.

Ngày 7 tháng 11 quân đội Anh - Pháp đã chiếm xong Port Said và tiến dọc theo kênh đào Suez được 35 km. Các máy bay từ các sân bay trên đảo Síp, đảo Malta và từ các tàu sân bay đã bảo vệ cho cuộc đổ bộ, phong tỏa các cảng hàng không của đối phương, công kích vào các nơi tập trung quân và thiết bị quân sự. Từ ngày 08-20 tháng 11 thê đội 2 đã đổ bộ tại Port Said. Trong thời gian này, đã đổ bộ được 25 nghìn người, bốc dỡ 76 xe tăng, 100 xe bọc thép và hơn 50 cỗ pháo cỡ nòng lớn. Tổng quân số đã đổ bộ hơn 40 ngàn người.

Trong những điều kiện như vậy, đại đa số các nước trong thế giới Ả Rập, với sự hỗ trợ của Liên Xô, đã dứt khoát đứng về phía Ai Cập. Các chính phủ Anh, Pháp và Israel đã phải nhận những công hàm phản đối. {12} Phía Đồng Minh đã buộc phải ngừng bắn, và [99] sau đó từ ngày 23 tháng 11 bắt đầu rút quân đội của họ ra khỏi các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng.

Cuộc chiến tranh của Anh-Pháp-Israel chống lại Ai Cập một lần nữa cho thấy rằng trong các cuộc chiến tranh nhỏ, Hải quân đóng một vai trò rất lớn trong việc đạt được các mục tiêu chính trị-quân sự quan trọng. Trong cuộc chiến ngắn ngủi này, các lực lượng của hạm đội đã đổ bộ thủy quân lục chiến, đã thực hiện hiệp đồng hỏa lực yểm trợ cho quân đổ bộ, không kích và pháo kích vào các mục tiêu trên bờ, thực hiện phong tỏa hàng hải, cũng như đảm bảo công tác tiếp vận đường biển.

Trong trình tự thực hiện chiến dịch đổ bộ đường biển này ta có thể quan sát thấy một khuôn mẫu được phát triển qua kinh nghiệm của Chiến tranh Thế giới thứ II: đổ bộ với ưu thế áp đảo về lực lượng và vũ khí trang bị, chiếm lĩnh bàn đạp đầu cầu và cô lập nó tạm thời, tích tụ lực lượng trên bàn đạp đã đánh chiếm, rồi sau đó chuyển sang tấn công để giải quyết các nhiệm vụ mà vì chúng phải đổ bộ đường biển. Một tính chất đặc biệt của chiến dịch đổ bộ Suez là khi chọn khu vực đổ bộ, bộ chỉ huy liên quân đã từ bỏ các qui tắc chung được chấp nhận về việc đổ bộ trên vùng bờ biển không trang bị và có sự phòng thủ chống đổ bộ yếu nhất hoặc ở nơi hoàn toàn không có điều đó, và họ đổ quân đổ bộ trực tiếp xuống cảng, nhờ vậy họ đảm bảo giải quyết nhanh nhất nhiệm vụ đánh chiếm kênh đào Suez. Giải pháp đó được tính toán với sự thành công không thể ngờ nhờ ưu thế đạt được về lực lượng và vũ khí trang bị.

Trong chiến dịch "Musketeer", lần đầu tiên trong lịch sử, việc đổ bộ đường biển được thực hiện theo phương pháp "chiếm lĩnh theo phương đứng". Kinh nghiệm của cuộc đổ bộ cho thấy phương pháp này đảm bảo những ưu thế rất lớn cho bên tấn công. Đầu tiên, nó làm tăng đáng kể tốc độ [100] đổ bộ. Thứ hai, việc đổ quân bằng máy bay trực thăng vào trong tung thâm chiến thuật của tuyến phòng thủ chống đổ bộ cho phép đồng thời tấn công đối phương từ nhiều hướng, cũng như để giải quyết các vấn đề cụ thể của việc đánh chiếm các mục tiêu trên hệ thống phòng vệ chống đổ bộ dọc bờ biển, ngăn chặn đường tiếp cận của các lực lượng dự bị của đối phương, v.v. Đồng thời, việc đổ bộ bằng máy bay trực thăng cũng cho thấy các máy bay trực thăng thông thường không thật phù hợp với các hoạt động như vậy: cần phải tổ chức các máy bay trực thăng vận tải-đổ bộ đặc biệt, chúng có thể tiếp nhận được quân số lớn hơn cũng như các trang bị tác chiến loại nặng hơn. Tổn thất nhân mạng của các bên là tương đối nhỏ. Điều này chủ yếu do thời gian chiến sự khá ngắn. Tổn thất của quân đội Ai Cập khoảng gần 800 người, của người Anh và người Pháp - 320. Đáng kể hơn cả là tổn thất của dân thường. Kết quả các vụ ném bom dã man xuống các khu dân cư tập trung đã gây ra cái chết của gần 3.000 người dân. Tổn thất về tàu chiến cũng tương đối nhỏ. Hải quân Ai Cập bị mất sáu tàu chiến, gồm một tàu khu trục và bốn tàu cao tốc phóng ngư lôi, quân Đồng minh mất ba tàu chiến và một tàu vận chuyển quân. Những tổn thất lớn nhất là của không quân: Không lực Ai Cập bị mất tới 90% máy bay, Anh và Pháp - tổng cộng 13%. Tổn thất cao như vậy của Không lực Ai Cập là hậu quả của sự bê trễ và coi thường công tác ngụy trang và cất giấu máy bay. Trong giai đoạn đã xuất hiện mối đe dọa nguy hiểm, các máy bay vẫn ở nguyên trên các sân bay tại các vị trí đậu chính thức của chúng. Công tác phân tán và di chuyển máy bay đến nơi trú ẩn không được thực hiện, còn các biện pháp ngụy trang chỉ được thực hiện một cách hình thức.

Ảnh hưởng đến kết quả cuộc chiến còn có những sai lầm của bộ chỉ huy Ai Cập, khi họ coi cuộc đổ bộ vào Port Said là ít có khả năng xảy ra, và do đó đã không tổ chức phòng thủ chống đổ bộ cho nó, cũng như bố trí các bãi mìn chướng ngại.

HẾT CHƯƠNG 2
........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 06 Tháng Tám, 2013, 07:47:40 PM
(tiếp)

CHƯƠNG 3

THẤT BẠI CỦA CHIẾN DỊCH "PLUTO"


(http://www.paperlessarchives.com/BayofPigsCIAHistory-6.gif)
Phác thảo kế hoạch trong tài liệu giải mật của CIA (http://www.paperlessarchives.com/bay_of_pigs_cia_history.html)

Tháng Giêng năm 1959, trên hòn đảo Cuba diễn ra một cuộc cách mạng, kết quả của nó đã đưa chính phủ do Fidel Castro cầm đầu lên nắm quyền. Chính sách của ban lãnh đạo mới của Cuba sớm mâu thuẫn với các lợi ích của Washington. Đầu năm 1960, sau thất bại của những nỗ lực giải quyết "vấn đề Cuba" bằng các biện pháp trừng phạt kinh tế và chính trị, giới lãnh đạo quân sự và chính trị Hoa Kỳ chuyển hướng sang âm mưu lật đổ chính phủ hiện tại ở Cuba bằng biện pháp vũ trang. Tổng thống Mỹ trong mệnh lệnh ngày 17 tháng 3 năm 1960 đã giao nhiệm vụ cho CIA và Lầu Năm Góc chuẩn bị và thực hiện hành động quân sự chống Cuba nhằm lật đổ chính phủ. Việc chịu trách nhiệm soạn thảo và thực hiện kế hoạch dự kiến trên được giao cho tướng Bissell - Phó Giám đốc CIA phụ trách công tác lên kế hoạch các "chiến dịch hoạt động bí mật". Trong các tài liệu của CIA chiến dịch hành động này được đặt tên mã "Chiến dịch Pluto". Trực tiếp phát triển kế hoạch xâm lược vũ trang là chuyên gia Lầu Năm Góc về các hoạt động biệt kích-đổ bộ, đại tá Alcott, người có những kinh nghiệm đáng kể về công tác huấn luyện và chuẩn bị cho đổ bộ trong những năm Chiến tranh Thế giới thứ II. [104]

Việc chuẩn bị dụ kiến hoàn tất vào đầu tháng 12 năm 1960. Tổng hàn dinh đặt cược vào những tên lính đánh thuê. Trong nửa sau tháng Ba năm 1960 CIA thành lập một nhóm đặc nhiệm làm công tác lên kế hoạch và chuẩn bị cho cuộc can thiệp từ số những người trong các thời điểm khác nhau đã từng phục vụ ở Cuba và hiểu biết đất nước này. Ban đầu, nhóm có 10 người, nhưng chẳng bao lâu sau quân số nhóm tăng gấp 4 lần. Trung tâm huấn luyện nằm ở Miami (bang Florida). Tổng thống mới của Mỹ John F. Kennedy đã xem xét kế hoạch của cuộc tấn công Cuba ngay trong thời gian diễn ra chiến dịch tranh cử và về tổng thể ông ta đồng ý với nó. Ngày 22 tháng Giêng năm 1961 diễn ra phiên họp đầu tiên của nội các mới của Mỹ về vấn đề "Cuba", tại đó đã quyết định thực hiện cuộc xâm lược vũ trang vào Cuba không muộn quá thời điểm mùa xuân 1961. Cuộc họp có sự tham dự của Giám đốc CIA, Bộ trưởng Quốc phòng, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ, Bộ trưởng Ngoại giao, Bộ trưởng Bộ Tư pháp và các quan chức khác.

(http://www.fofweb.com/Electronic_Images/Maps/BayoPigs-e.gif)
Cuộc can thiệp Vịnh Con Heo 1961 (http://wrd-hsty-jp.wikispaces.com/Cuban+Missile+Crisis+-+Bay+of+Pigs+Invasion)

Việc huấn luyện lính đánh thuê được tổ chức trong các trại đặc biệt do CIA dựng lên trên bờ biển các nước Guatemala (Rotaluleo và San Jose), Nicaragua (Puerto Cabezas) và Mỹ (New Orleans, Fort Myer và Miami). Nhóm đặc nhiệm lập kế hoạch đã tiến hành thành lập các đơn vị bán quân sự lấy từ số những người lưu vong Cuba và đào tạo họ. Với tư cách là lực lượng thê đội thứ nhất người ta chọn ra được hơn 1.400 người, tập hợp trong cái gọi là "Lữ đoàn 2506". Mỗi người lính đánh thuê được mang một số hiệu. Trong đó, việc đánh số bắt đầu từ số 2000. Điều này nhằm tạo ra viễn cảnh của một nhóm lính đánh thuê lớn hơn nữa. "Lữ đoàn 2506" bao gồm 4 tiểu đoàn bộ binh, cơ giới hóa và nhảy dù, một đại đội xe tăng, một chi đội thiết giáp và một tiểu đoàn pháo binh hạng nặng. Đứng đầu "Lữ đoàn 2506" là San Roman - cựu đại úy quân đội Batista.

(http://www.autentico.org/brigada2.gif)
Phù hiệu của lữ đoàn 2506 (http://www.autentico.org/index13.php)

Tại cảng Puerto Cabezas đã hình thành cái gọi là "lực lượng hải chiến chiến thuật", mà trong đó [105] gồm có 5 tàu vũ trang của công ty vận tải biển cũ của Cuba "Garcia Line Corporation" ("Houston", "Lake Charles," "Rio Eskandido", "Caribe" và "Atlantique") và hai tàu đổ bộ bộ binh, đóng trong thời gian Chiến tranh Thế giới thứ II (" Barbara Jane" và "Blagar ") của Hải quân Mỹ, được chuyển giao cho lực lượng lính đánh thuê. Để bốc xếp vận chuyển vũ khí hạng nặng, người Mỹ đã lên kế hoạch đưa vào khu vực đổ bộ 7 tàu đổ bộ xe tăng cao tốc.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s29.gif)
Cuộc xâm lược vũ trang chống Cuba năm 1961

BCH Không quân Mỹ đã cho lực lượng lính đánh thuê sử dụng 8 máy bay vận tải quân sự C-46 và 6 chiếc C-54. Các máy bay này, cùng với 24 máy bay ném bom B-26 thuộc quyền CIA điều động, được tập trung tại sân bay Puerto Cabezas.

Ý đồ kế hoạch của "Operation Pluton" dự kiến triển khai lực lượng một cách bí mật tại vùng bờ biển phía Nam Cuba rồi đổ bộ bất ngờ để cướp chính quyền và tạo ra một lý do ngoại giao cho việc hình thành một "chính phủ lâm thời", được Mỹ công nhận và cung cấp viện trợ quân sự. Theo kế hoạch của Washington, sau khi phe phản cách mạng kêu gọi giúp đỡ, các nước khối OAS (Tổ chức các quốc gia châu Mỹ - Organization of American States) sẽ phải hỗ trợ chúng bằng các nhóm vũ trang có tổng quân số lên đến 15 ngàn người. Các lực lượng này tạo thành thê đội đổ bộ thứ 2 mà CIA và Lầu Năm Góc đã chuẩn bị rất kỹ lưỡng.

Từ lúc khởi sự cuộc xâm lược vũ trang vào Cuba, theo tín hiệu từ đảo Swan, tại các vùng khác nhau của đất nước cũng sẽ bắt đầu cuộc nổi dậy vũ trang được các nhóm phản cách mạng chuẩn bị từ trước. Chiếm một vị trí quan trọng trong kế hoạch "Chiến dịch Pluto" là việc triển khai các nhóm này vào lãnh thổ của Cuba. Đúng ngày đổ bộ thê đội 1, chúng phải cho nổ phá các tuyến đường sắt, cầu cồng, phong tỏa các tuyến đường cao tốc chính, vô hiệu hóa các trạm biến áp, phá hủy dự trữ nhiên liệu, đặc biệt tại các địa điểm [106] tập trung quân đội và trang thiết bị quân sự. Tàu cao tốc "Tehan" từ Key West trong vòng một vài đêm sẽ chuyển vũ khí tới cho các nhóm này.

Việc đổ bộ lực lượng đổ bộ đường biển dự kiến sẽ diễn ra sau khi tiến hành các cuộc không kích bất ngờ vào các mục tiêu quân sự trọng điểm ở Cuba. Trong đó các sân bay được xác định là các mục tiêu chính. Kế hoạch ban đầu là 16 máy bay ném bom sẽ thực hiện tấn công ba đợt - hai đợt trước khi mở màn chiến dịch và một đợt trong khi diễn ra cuộc đổ bộ đường biển. Tuy nhiên, một vài ngày trước khi đổ bộ, để tránh gây ấn tượng rằng Hoa Kỳ tham gia vào cuộc can thiệp, đã có quyết định số máy bay ném bom thực hiện các cuộc không kích vào ngày 15 sẽ là 8 thay vì 16. Một tuần trước khi bắt đầu cuộc xâm lược vũ trang, cũng vì lý do này, người ta đã hủy bỏ cuộc ném bom thứ hai vào hòn đảo, vốn đã lên kế hoạch tiến hành vào ngày 16 tháng 4.
.........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 08 Tháng Tám, 2013, 01:03:38 AM
(tiếp)

(http://www.latinamericanstudies.org/bay-of-pigs/trinidad-plan-map.gif)
Kế hoạch "Trinidad" ban đầu (http://www.latinamericanstudies.org/baypigs-maps.htm)

Ban đầu nó cuộc đổ bộ theo kế hoạch sẽ tiến hành trong khu vực thành phố Trinidad. Tuy nhiên, do việc đổ bộ trong khu vực này có thể dẫn đến thương vong cho thường dân và làm họ nổi lên chống lại những kẻ xâm lược, kế hoạch đã bị gạt bỏ. Tổng thống Mỹ cũng cho rằng việc đổ bộ đường biển ở khu vực Trinidad sẽ dễ bị chú ý, vì vậy ông ta đòi hỏi phải đổ bộ bí mật, tốt nhất là vào ban đêm, tại địa điểm xa các khu vực đông dân cư, nhằm không để việc tham gia của Mỹ vào cuộc xâm lược chống Cuba trở thành quá lộ liễu. Sau khi thảo luận một số phương án, người ta dừng lại ở phương án đổ bộ vào Vịnh Con Heo. Khu vực lựa chọn đáp ứng được các yêu cầu cơ bản: tại đó thiếu sự phòng thủ chống tác chiến đổ bộ, còn trên bờ có một bãi diện tích lớn có khả năng sử dụng được làm sân bay. Ở cự ly cách đường bờ biển từ 4 đến 12 km bắt đầu một khu vực đầm lầy, từ đó dẫn vào sâu nội địa hòn đảo [108] chỉ có một con đường. Điều này góp phần tăng cường khả năng bảo vệ thành công đầu cầu đã đánh chiếm để tích lũy đủ quân số. Những bãi biển cát khiến cho các phương tiện đổ bộ tiếp cận dễ dàng hơn.

Trong Vịnh Con Heo, người ta chọn ba điểm đổ bộ: trong khu vực Playa Giron - "bãi xanh lam" và "bãi xanh lục", còn tại khu vực Playa Larga - "bãi đỏ".

Kế hoạch này cũng dự kiến triển khai thả lính nhảy dù xuống con đường dẫn vào sâu nội địa. Đội đổ bộ đường không có nhiệm vụ: phong tỏa các con đường tiếp cận của quân đội Cuba tới các địa điểm đổ bộ đường biển.

(http://www.autentico.org/batalla.gif)
Bản đồ diễn biến chiến sự tại bãi biển Giron (http://www.autentico.org/index13.php)

Mối bận tâm lớn được giành cho việc đạt bằng được tính bất ngờ trong việc đổ bộ. Thông tin chi tiết của kế hoạch "Chiến dịch Pluto" chỉ có 4 người thuộc hàng ngũ lãnh đạo những người lưu vong Cuba được biết. Với mục đích làm sai lệnh thông tin tới bộ chỉ huy Cuba, người ta dự kiến tổ chức các hoạt động đánh lạc hướng tại tỉnh Pinar del Rio (đổ bộ đường biển khoa trương) và trong khu vực căn cứ Mỹ ở Guantanamo (các hoạt động biệt kích). Việc di chuyển của tàu thuyền vào khu vực Vịnh Con Heo cần phải được thực hiện một cách tự lập, đi theo các hướng thay đổi, ban đêm đi tắt đèn hàng hải, ban ngày đi dưới cờ Liberia. Nơi tập hợp của chúng cách bờ biển Cuba 50 dặm. Việc đổ bộ vào ban đêm cũng góp phần vào việc đạt được tính bất ngờ. Ngoài ra, để lôi kéo sự chú ý của tình báo Cuba vào hướng nghi binh, các tàu chiến Mỹ sẽ cơ động trên vùng bờ biển phía bắc Cuba, liên tục xâm phạm lãnh hải của đất nước này.

Để biện minh cho hành động quân sự trước mặt cộng đồng quốc tế và thậm chí trình bày Cuba như một kẻ xâm lược, CIA đã lên kế hoạch một cuộc tấn công giả [109] vào căn cứ Mỹ tại Guantanamo. Để đạt mục đích này, họ điều động con tàu "Santa Ana" mà toàn bộ thủy thủ đoàn cải trang trong quân phục các lực lượng vũ trang Cuba. Tuy nhiên, nhận ra tính phi lý của sự dàn cảnh này, một vài ngày trước khi diễn ra cuộc đổ bộ họ đã từ bỏ cuộc đổ bộ khoa trương, còn con tàu thì họ quyết định sử dụng vào các hoạt động nghi binh khoa trương ở tỉnh Oriente.

(http://www.latinamericanstudies.org/bay-of-pigs/d-day-morning-map.gif)
D-Day lúc 1 giờ sáng (http://www.latinamericanstudies.org/baypigs-maps-1.htm)
Ngày 04 tháng 4 năm 1961 tại Nhà Trắng, Tổng thống Mỹ đã gặp gỡ với các cố vấn bàn về công tác chuẩn bị các hành động chống Cuba, tại đây kế hoạch "Chiến dịch Pluto" đã được thông qua. Ngày đổ bộ được ấn định vào đêm 17 tháng 4. Người Cuba đã đoán được việc chuẩn bị cho cuộc xâm lược. Bộ tham mưu các lực lượng vũ trang Cách mạng đã thông qua một loạt biện pháp chuẩn bị đánh trả cuộc đổ bộ của nhiều nhóm ở các khu vực khác nhau của đất nước. Trên các hướng có nguy cơ bị đổ bộ người ta đã lập nên các khu vực phòng thủ tăng cường. Vũ khí và trang thiết bị đã được phân tán và chuyển vào nơi cất giấu.

Cuộc xâm lược Cuba đã bắt đầu theo đúng kế hoạch đã soạn thảo. Ngày 14 tháng 4 máy bay gián điệp Mỹ U-2 chụp ảnh toàn bộ lãnh thổ Cuba. Việc trinh sát ảnh đã xác nhận sự hiện diện trên mặt đất của 15 chiếc máy bay. Ngày hôm sau, 8 chiếc B-26 với các dấu hiệu nhận dạng của Không quân Cuba đã tấn công các mục tiêu quân sự trên lãnh thổ Cuba; 3 máy bay của nhóm "Linda" ném bom sân bay San Antonio-de-Los Banos, 3 máy bay của nhóm "Puma" - sân bay Campo Columbia và 2 máy bay của nhóm "Gorilla" - sân bay Santiago de Cuba. Lãnh đạo CIA nhận định rằng các vụ ném bom rất thành công, họ cho là phần lớn các máy bay Cuba đã bị phá hủy. Nhưng ngay trước khi có các cuộc tấn công trên, tất cả máy bay đã được phân tán, còn trên các địa điểm đậu cũ của chúng còn lại là các mô hình. Trong số 24 chiếc máy bay của KQ Cuba, lực lượng lính đánh thuê chỉ tiêu diệt được 2 xe ô tô. [110]

(http://www.latinamericanstudies.org/bay-of-pigs/seafury-1.jpg)
Lính Cuba lưu vong nạp bom cho một chiếc Hawker Seafury tại căn cứ (http://www.latinamericanstudies.org/baypigs-airforce.htm)

Đêm ngày 16 tháng 4, trên bờ biển tỉnh Oriente, bọn lính đánh thuê đã hai lần cố gắng đổ quân khoa trương, nhưng cả hai lần nỗ lực đều bị đánh bật lại, và con tàu "Santa Ana" đã được gửi đến Vịnh Con Heo. Không phân tích thấu đáo tình hình, bộ chỉ huy Cuba coi hành động khoa trương tại tỉnh Oriente là cuộc đổ bộ thực và họ phái đến khu vực này 12 tiểu đoàn bộ binh. Chỉ vào lúc bình minh, bộ chỉ huy Cuba mới có khả năng đánh giá đúng tình hình.

Vào cuối ngày 14 Tháng 4 nhiều tàu xuồng của bọn can thiệp đã xuất phát từ căn cứ Puerto Cabezas. Ngày hôm trước chúng đã nhận 2,5 tấn vũ khí và đạn dược, 5 xe tăng M41 "Sherman", 10 xe bọc thép, 18 pháo chống tăng, 30 súng cối, 70 súng chống tăng "bazooka". Đồng thời các tàu yểm hộ cũng xuất phát từ căn cứ nằm trên đảo Vieques.Buổi tối ngày 16 tháng 4 người Mỹ đã đưa các tàu đổ bộ xe tăng LCT (tank landing craft) đến khu vực đổ bộ. Các tàu sân bay Mỹ "Essex" và "Shangri-La" cũng như tàu đổ bộ chở trực thăng "Boxer" với một tiểu đoàn thủy quân lục chiến trên tàu cũng được triển khai đến khu vực.

(http://www.latinamericanstudies.org/bay-of-pigs/d-day-morning-map-1.gif)
D-Day lúc 10 giờ sáng (http://www.latinamericanstudies.org/baypigs-maps-1.htm)
........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 08 Tháng Tám, 2013, 10:47:56 PM
(tiếp)

(http://www.latinamericanstudies.org/bay-of-pigs/d-day-afternoon-map.gif)
D-Day buổi trưa (http://www.latinamericanstudies.org/baypigs-maps-1.htm)

Trong đêm 17 tháng 4, "nhóm hải chiến chiến thuật" đã vào Vịnh Con Heo. Các tàu, thuyền neo đậu lại cách bờ biển một dặm. Kỳ hạm "Blagar" đã thả các thuyền cao su xuống biển, các nhóm trinh sát-phá hoại đã dùng các thuyền đó để đổ bộ. Chúng thực hiện trinh sát bổ sung bờ biển và đôt các đống lửa tín hiệu định hướng để đánh dấu các điểm đổ bộ. Hồi 1:15 sáng, từ đảo Swan một bức điện mã hóa được chuyển đến địa chỉ lực lượng phản cách mạng Cuba báo hiệu khởi đầu cuộc xâm lược vũ trang. Vào lúc 3:00 thê đội 1 bắt đầu đổ bộ. Do có quá nhiều rạn san hô ở dải duyên hải, một số phương tiện đổ bộ bị mắc cạn. Kết quả là cuộc đổ bộ bị trì hoãn một thời gian.

Vào lúc bình minh, lính nhảy dù đã được thả xuống. Khu vực đổ bộ của lính dù nằm gần con đường, [111] dẫn vào sâu bên trong hòn đảo cách đường bờ biển 10 - 12 km.

(http://www.latinamericanstudies.org/bay-of-pigs/d-day-evening-map.gif)
D-Day buổi chiều tối (http://www.latinamericanstudies.org/baypigs-maps-1.htm)

Một chi đội cảnh sát Cuba đang ở trong khu vực đổ bộ quân dù đã bước vào cuộc chiến với lực lượng đối phương trội hơn mình 10 lần và đã trì hoãn được đà tiến của chúng.

Sau khi nhận được tin tức đầu tiên về cuộc đổ bộ đang bắt đầu, bộ tham mưu bọn can thiệp nhanh chóng phổ biến một bản phúc trình quân sự của "Hội đồng Cách mạng Cuba", trong đó nói rằng "... các lực lượng nổi dậy đã bắt đầu xâm nhập vào Cuba, và hàng trăm người đã đổ bộ lên đất liền tại tỉnh Oriente". Thông báo này nhằm mục đích gây sự hiểu lầm cho bộ chỉ huy Cuba. Tại trụ sở chính, CIA không biết rằng con tàu "Santa Ana", sau khi không hoàn thành nhiệm vụ của mình, đã được phái đến Vịnh Con Heo. Ban lãnh đạo Cuba đến lúc này đã hiểu được tình huống hiện tại và ngay lập tức gửi các lực lượng đầy đủ đến khu vực đổ bộ thực để đánh trả.

(http://www.latinamericanstudies.org/bay-of-pigs/kennedy-2506-flag.jpg)
Tổng thống Mỹ John Kennedy tiếp nhận cờ của lữ đoàn 2506 tại Miami ngày 29.12.1962 và hứa: "Tôi có thể chắc chắn với các bạn rằng lá cờ sẽ trở về với lữ đoàn này trong một Havana tự do" ("I can assure you that this flag will be returned to this brigade in a free Havana."). (http://www.latinamericanstudies.org/baypigs.htm)

Quân đổ bộ bắt đầu tấn công trên ba hướng đồng thời: ba tiểu đoàn - bãi biển Giron, một tiểu đoàn - bãi biển Larga và một tiểu đoàn dù - San Blas. Một phần lực lượng được phân công chiếm giữ sân bay ở khu vực bãi biển Giron và chuẩn bị để nó tiếp nhận các máy bay của mình.

Bộ Tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang Cách mạng Cuba quyết định chặn đà tiến của những kẻ xâm lược vào sâu trong đất nước, dùng các đòn không kích phá vỡ cuộc đổ bộ trên bờ biển, sau đó phong tỏa các lực lượng đã đổ bộ từ phía biển và đất liền rồi bắt đầu tấn công hợp vây khu vực Playa Giron và Playa Larga để đè bẹp chúng. Để giải quyết nhiệm vụ này người ta đã điều động 7 tiểu đoàn bộ binh, 20 xe tăng, 10 pháo tự hành cỡ 100-mm, 14 đại đội pháo và súng cối cùng các tàu tuần tra. [112]

(http://www.latinamericanstudies.org/bay-of-pigs/d-2-map.gif)
D+2: kết thúc trận đánh (http://www.latinamericanstudies.org/baypigs-maps-1.htm)

Vào lúc bình minh một phần các lực lượng này đã chiếm lĩnh được vị trí xuất phát. Máy bay thực hiện một số cuộc tấn công vào lực lượng đổ bộ và phá hủy bốn phương tiện vận tải, bao gồm cả việc đánh chìm tàu đổ bộ "Houston", trên đó có toàn bộ một tiểu đoàn và con tàu "Rio Eskandido" đang vận chuyển phần lớn đạn dược và vũ khí hạng nặng. Trong các trận không chiến 5 máy bay địch bị bắn rơi. Đến giữa ngày trên tất cả các hướng, quân đội Cuba đã chặn được đà tiến của đối phương, và sau đó bắt đầu đẩy chúng ra bờ biển. Buổi tối ngày 18 tháng 4, khi sự việc đã trở nên rõ ràng là cuộc xâm lược Cuba sắp thất bại, Tổng thống Mỹ đã tổ chức một cuộc họp khẩn cấp tại đó đã quyết định quân đội Mỹ sẽ bắt tay hành động, trước tiên là các máy bay từ tàu sân bay "Essex". Những chiếc máy bay này phải phối hợp với các máy bay ném bom B-25 tấn công quân đội Cuba, đang xiết chặt vòng vây xung quanh bọn can thiệp. Tuy nhiên, trong các chỉ thị gửi tới căn cứ không quân ở Puerto Cabezas và tàu sân bay "Essex" đã không tính đến sự khác biệt thời gian giữa các múi giờ, đó là lý do tại sao các máy bay ném bom và máy bay tiêm kích không gặp nhau tại điểm quy định. Cuộc tấn công phối hợp không xảy ra. Các phi công máy bay ném bom đã được quyết định không có máy bay tiêm kích hộ tống thì không bay vào khu vực chiến sự.

(http://www.latinamericanstudies.org/survivor-map.gif)
Tìm cứu những người sống sót (http://www.latinamericanstudies.org/baypigs-maps-1.htm)

Quân đội Cuba trong cùng buổi sáng ngày 19 tháng 4 sau khi pháo bắn chuẩn bị 30 phút đã tấn công và phá vỡ sức kháng cự của kẻ thù, chúng đã buộc phải hạ vũ khí.

Như vậy, cuộc xâm lược của Mỹ chống Cuba đã thất bại, lực lượng lính đánh thuê đổ bộ trong Vịnh Con Heo đã bị đập tan trong vòng 72 giờ.

Tổn thất của chúng gồm có 82 người chết và 1.200 người bị bắt làm tù binh. Các phi công Cuba đã phá hủy 4 tàu và bắn rơi 12 máy bay. Chiến lợi phẩm gồm có 5 xe tăng [113] M41 "Sherman", 10 xe bọc thép, đã bốc dỡ xuống bãi biển, các khẩu pháo, và gần như toàn bộ vũ khí bộ binh.

(http://www.latinamericanstudies.org/bay-of-pigs/battle-map.gif)
Bản đồ chung của trận đánh (http://www.latinamericanstudies.org/baypigs-maps.htm)

Tính toán của Mỹ về các cuộc bạo động phản cách mạng trong nước đã chứng tỏ là không đúng. Sự phản đối của Liên Xô và và sự hỗ trợ của các nước xã hội chủ nghĩa cho nhân dân Cuba đã không cho phép Mỹ mở rộng cuộc xâm lược bằng việc sử dụng lực lượng vũ trang của chính họ. Mặc dù chiến dịch "Pluto" không phải là một hoạt động đổ bộ theo kiểu cổ điển, nó vẫn cho phép ta rút ra một số kết luận hữu ích. Chẳng hạn xu hướng nâng cao vai trò của không quân trong các hoạt động đổ bộ trở nên hiển nhiên. Trước khi đổ bộ người ta thực hiện các đòn tấn công vào các sân bay để nhằm đạt được ưu thế trên không. Tuy nhiên, bộ chỉ huy Cuba đã có những biện pháp kịp thời phân tán và cất giấu các máy bay của mình, và không cuộc tấn công nào đạt được mục tiêu của nó. Cuối cùng, ưu thế trên không lại nằm về phía Không quân Cuba. Những sự kiện này, tiếp theo là cuộc xâm lăng của các thế lực Anh-Pháp-Israel chống Ai Cập, một lần nữa nhắc nhở sự cần thiết phân tán sớm và cất giấu các trang bị hàng không trong điều kiện có sự đe dọa một cuộc tấn công bất ngờ của kẻ địch.

Kết quả của cuộc xâm lược Cuba đã khẳng định việc tăng cường vai trò về tính bất ngờ chiến dịch và chiến thuật trong các hoạt động đổ bộ. Tuy nhiên, những kẻ xâm lược chỉ đạt được sự bất ngờ chiến thuật. Cuộc đổ bộ khoa trương trước thời hạn và hung hăng tại khu vực tỉnh Oriente không đạt được mục tiêu của nó, trái lại nó cảnh báo bộ chỉ huy Cuba phải tăng cường sự sẵn sàng cho các lực lượng vũ trang của mình nhằm đẩy lùi cuộc đổ bộ.

Trên phương diện lựa chọn địa điểm và thời gian đổ bộ đường biển rõ ràng ta quan sát thấy các nguyên tắc được phát triển trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai. Tuy nhiên ở đây lực lượng lính đánh thuê đã phạm phải sai lầm thô thiển [114] : khu vực đổ bộ được đánh giá theo bản đồ đã cũ, không đánh dấu các rạn san hô, những rạn san hô đó đã trở thành những chướng ngại lớn cho việc đổ bộ.

Kết quả cuộc xâm lược khẳng định kết luận về vai trò ngày càng tăng của yếu tố tinh thần trong cuộc đấu tranh vũ trang.

HẾT CHƯƠNG BA

..............

CHƯƠNG BỐN

HẠM ĐỘI CHIẾN ĐẤU VỚI BỜ (http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,24544.0.html)
........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 09 Tháng Tám, 2013, 09:25:40 PM
(tiếp)

CHƯƠNG 5

TÊN LỬA BẮN CHÌM TÀU CHIẾN

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s50.gif)
Bố trí các hạm đội trước khi xảy ra xung đột vũ trang Ấn-Pakistan năm 1971

Dưới tác động của phong trào giải phóng dân tộc trên tiểu lục địa Ấn Độ, chính phủ Anh vào năm 1947 đã phải trao trả độc lập cho Ấn Độ. Sau đó, Ấn Độ được phân chia theo tôn giáo thành hai phần - một nhà nước Ấn Độ theo Ấn giáo và một nhà nước theo Hồi giáo là Pakistan. Đồng thời Pakistan được chia thành hai phần Đông và Tây, giữa chúng là lãnh thổ Ấn Độ. Cả hai quốc gia đều nhận quy chế xứ tự trị thuộc Anh. Tuy nhiên, kết quả quá trình phân chia đã không hoàn toàn xây dựng được các quốc gia đồng nhất về thành phần tôn giáo, điều này dẫn đến những yêu sách lẫn nhau về nhiều vấn đề khác nhau. Đặc biệt nghiêm trọng là các vấn đề về lãnh thổ, do khi phân chia Ấn Độ, người Anh đã cố ý không phân định rõ toàn bộ tuyến biên giới Ấn Độ-Pakistan. Pakistan bắt đầu đưa yêu sách về một loạt khu vực thuộc Ấn Độ, nơi mà sinh sống ở đó chủ yếu là người Hồi giáo: công quốc Jammu và Kashmir, phần phía đông bang Punjab, phần phía bắc [200] khu vực Kutch (bang Gujarat) và một số vùng khác. Theo thời gian, một số vấn đề riêng biệt đã được giải quyết, những vấn đề khác đã mất tính gay gắt của nó. Tuy nhiên, vấn đề Kashmir trong những năm qua đã trở thành một trong những yếu tố chính làm nên sự căng thẳng giữa Ấn Độ và Pakistan. Chính phủ Pakistan đòi hỏi Ấn Độ trả Kashmir về thành phần Pakistan trên cơ sở là 80% dân số khu vực là người Hồi giáo. Giữa Pakistan và Ấn Độ đã nhiều lần xảy ra các cuộc xung đột về vấn đề Kashmir. {16}

Khi lập kế hoạch hoạt động quân sự, bộ chỉ huy Pakistan dự định dùng những đòn tấn công chia cắt cô lập băng Jammu và Kashmir với Ấn Độ, sau đó đánh chiếm nó. Họ cũng lên kế hoạch đàn áp phong trào của nhân dân Đông Bengal và các chi đội thuộc lực lượng giải phóng, những người muốn tách Đông Pakistan khỏi Tây Pakistan và giành độc lập chính trị. Ban lãnh đạo quân sự-chính trị Ấn Độ coi nhiệm vụ chính của các lực lượng vũ trang của họ là gìn giữ sự toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia và hỗ trợ phong trào của lực lượng giải phóng Đông Pakistan. [201]

Các sự cố nghiêm trọng trên biên giới Ấn Độ-Pakistan, bắt đầu ngày 21 tháng 11 năm 1971, và đến ngày 3 tháng Mười Hai máy bay Pakistan đã ném bom các thành phố và các sân bay Ấn Độ tại tiểu bang Jammu và Kashmir, bang Punjab, vv. Những cuộc tấn công này là màn khởi đầu các hoạt động chiến tranh, kéo dài hai tuần lễ và kết thúc bằng thất bại của Pakistan.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/b/ba/Bangladesh_War_1971_Movements.png)
Chiến tranh Ấn-Pakistan năm 1971: sự di chuyển của dân tị nạn và quân đội Ấn Độ (http://ru.wikipedia.org/wiki/%D0%A2%D1%80%D0%B5%D1%82%D1%8C%D1%8F_%D0%B8%D0%BD%D0%B4%D0%BE-%D0%BF%D0%B0%D0%BA%D0%B8%D1%81%D1%82%D0%B0%D0%BD%D1%81%D0%BA%D0%B0%D1%8F_%D0%B2%D0%BE%D0%B9%D0%BD%D0%B0)

Trong tình huống này, Mỹ đã thực hiện hỗ trợ quân sự trực tiếp cho Pakistan. Ngày 14 tháng Mười Hai một đơn vị đặc nhiệm của Hạm đội 7 có trong thành phần tàu sân bay chạy bằng năng lượng nguyên tử "Enterprise", 7 frigate và khu trục hạm trang bị tên lửa có điều khiển, tàu đổ bộ chở máy bay trực thăng "Tripoli" với 800 lính thủy quân lục chiến trên tàu đã khởi hành đến khu vực vịnh Bengal, mang theo mệnh lệnh "thực hiện các chiến dịch trên không và trên biển nhằm bảo vệ quyền lợi của Mỹ" ở khu vực Ấn Độ Dương.

Liên Xô kêu gọi giải quyết hòa bình cuộc xung đột và cảnh báo chống lại sự can thiệp từ bên ngoài, như đã nói trong tuyên bố của TASS ngày 06 tháng 12 và tuyên bố của Bộ Ngoại giao Liên Xô ngày 18 tháng 12 năm 1971. Những cảnh báo trên đã đóng một vai trò quan trọng trong việc kết thúc chiến tranh.

Các lực lượng hải quân của Ấn Độ trong thành phần của mình có hơn 80 tàu chiến và tàu phụ trợ, bao gồm một tàu sân bay, hai tuần dương hạm, sáu khu trục hạm, bốn tàu ngầm và sáu tàu cao tốc mang tên lửa. Tàu sân bay "Vikrant", vốn là tàu cũ của Anh, thuộc lớp "Majestic", được Ấn Độ mua vào năm 1961, có lượng rẽ nước 19.500 tấn, tốc độ tối đa 24,5 hải lý. Trên tàu sân bay có 1 phi đội cường kích-trinh sát "Sea Hawk" (10 máy bay), một phi đội máy bay chống tàu ngầm "Alize" (4 máy bay) và 4 máy bay trực thăng "Alouette" chống ngầm. Hai tuần dương hạm hạng nhẹ "Mysore" và "Delhi" cũng là tàu cũ của Anh, được trang bị với pháo chính 152-mm, pháo vạn năng 102-mm và hơn 10 súng máy PK. Ưu thế lớn của phía Ấn Độ nằm ở chỗ trong thành phần hạm đội của nó [202] có các tàu cao tốc mang tên lửa chống hạm.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/8/84/INS_Vikrant_Mar_1962.jpg/800px-INS_Vikrant_Mar_1962.jpg)
INS Vikrant (R-11) nhìn từ HMS Centaur năm 1962 (http://en.wikipedia.org/wiki/INS_Vikrant_(R11))

Đây là những tàu do Liên Xô đóng thuộc đề án 205. Người ta bắt đầu đóng chúng năm 1957. Lượng choán nước toàn thể của tàu là 216 tấn, tốc độ 30 hải lý. Tại tốc độ hành trình 30 hải lý, tàu có tầm hoạt động 800 dặm, còn khi đạt dự trữ nhiên liệu tối đa và đi ở tốc độ 14 hải lý - cự y đó là 2000 dặm. Dự trữ thực phẩm và nước của tàu để hoạt động độc lập - 5 ngày đêm. Vũ khí của tàu : 4 ống phóng kiểu hangar cho tên lửa chống hạm P-15, radar phát hiện mục tiêu bề mặt và truyền chỉ thị mục tiêu cho vũ khí tên lửa "Rangout", hai pháo PK tự động hai nòng cỡ 30-mm AK-230 với radar điều khiển hỏa lực "Rys". Tên lửa P-15 đi vào phục vụ năm 1960, cự ly bắn của nó là 40 km. Đầu đạn nổ phá 450 kg có thể phá hủy tàu có lượng choán nước cỡ trung bình.Tên lửa có đầu tự dẫn radar chủ động.

Trong thành phần không quân hải quân của Ấn Độ có 20 máy bay Anh "Sea Hawk" (trong đó 10 chiếc đóng căn cứ trên tàu sân bay), 10 máy bay chống ngầm "Alize" của Pháp và các máy bay trực thăng "Alouette II».

Về mặt tổ chức Hải quân Ấn Độ gồm có Bộ Tư lệnh Hải quân miền Tây, miền Đông và miền Nam. Trong thành phần của Bộ chỉ huy miền Tây và miền Đông có hạm đội miền Tây (tư lệnh là Phó Đô đốc Kohli) và hạm đội miền Đông (tư lệnh là Phó Đô đốc Krishnan).

Bộ chỉ huy Hải quân miền Nam có một tiểu đoàn tàu tuần tra và tàu hỗ trợ.

Tính đến tính chất phân tán của không gian chiến trường, người ta đã lấy từ Hạm đội miền Tây và miền Đông của Hải quân Ấn Độ ra thành lập 2 đơn vị hợp thành tạm thời, đơn vị "Đông", có nhiệm vụ hoạt động ở Vịnh Bengal, và đơn vị "Tây" - hoạt động trong khu vực biển Ả Rập [203]

Thành phần Hải quân Ấn Độ và Pakistan{17}
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang1-c5-hamdoi_zps53a9721c.png) (http://s1185.photobucket.com/user/qtdc2/media/bang1-c5-hamdoi_zps53a9721c.png.html)

Trong thành phần của binh đoàn "Đông" có tàu sân bay Vikrant, 1 tàu khu trục, 3 tàu tuần tra và 2 tàu chống ngầm. Binh đoàn này đặt căn cứ tại cảng Vizagapatam.

Vào đêm trước các hoạt động chiến tranh, bộ chỉ huy Ấn Độ đã chuyển căn cứ cho tàu sân bay "Vikrant" từ Vizagapatama tới quần đảo Andaman, nơi có ít mối đe dọa bị các tàu ngầm Pakistan tấn công hơn.

Binh đoàn "Tây" (căn cứ Bombay) gồm có tàu tuần dương "Mysore", 6 tàu tuần tra, 3 tàu huấn luyện và 6 tàu cao tốc mang tên lửa. Binh đoàn được đảm bảo bởi một tàu căn cứ nổi cho tàu ngầm và hai tàu chở dầu.

Trước phân hạm đội tàu ngầm diesel trang bị ngư lôi ("Kanheri", "Calvary", "Karanja" và "Khader") đặt ra nhiệm vụ phong tỏa bờ biển Pakistan (2 tàu ngầm trong vùng biển Ả Rập và 2 tàu ngầm trong vịnh Bengal). [204]

Hạm đội tàu buôn Ấn Độ có 400 tàu với tổng trọng tải khoảng gần 2,4 triệu BRT.

Các lực lượng hải quân Pakistan có tổng số 30 tàu, gồm có 1 tuần dương hạm, 5 tàu khu trục, 4 tàu ngầm và các tàu khác. Quân số - 9870 người, trong đó có 870 sỹ quan.

Một trong những thiếu sót nghiêm trọng của Hải quân Pakistan - không có lực lượng không quân hải quân trong thành phần của họ. Vì vấn đề này, bộ chỉ huy Pakistan đã sử dụng các máy bay dân sự có khả năng hạn chế để do thám.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s52.gif)
Các hoạt động trên biển Ả-rập

Hải quân Pakistan được tổ chức thành các Hạm đội Đông và Tây Pakistan. Trong Hạm đội Tây Pakistan có một phân hạm tàu mặt nước, một hải đoàn tàu quét mìn và khu trục hạm và một chi đội tàu ngầm. Các tàu chiến đó đóng tại căn cứ hải quân Karachi. Hạm đội Đông Pakistan có 1 phân hạm tàu sông và 1 chi đội tàu tuần tra cao tốc độc lập, đóng căn cứ tại các căn cứ hải quân Chittagong và Khulna.

Hạm đội thương thuyền Pakistan có tổng cộng 179 tàu với tổng trọng tải khoảng 500 nghìn BRT.

Như vậy, các lực lượng hải quân Ấn Độ có ưu thế đáng kể về số lượng so với Hải quân Pakistan và có sự cân bằng tốt hơn. Ngoài ra, các tàu của Hải quân Ấn Độ cũng được trang bị các vũ khí tốt hơn.

Vào giữa tháng Mười, hải quân Pakistan được đặt trong tình trạng báo động cao. Ngày 21 tháng 11, họ thiết lập quyền kiểm soát sự qua lại của các tàu buôn. Các tàu khu trục và tàu tuần tra bắt đầu tuần tiễu quanh căn cứ hải quân chính Karachi.

Trong nửa thứ hai của tháng Mười Một, Hải quân Pakistan bắt đầu triển khai các tàu ngầm của mình đến bờ biển Ấn Độ: hai tàu ngầm triển khai trên các lối vào căn cứ hải quân chính ở Ấn Độ [205] tại Bombay và hai tàu ngầm - trong vịnh Bengal. Các tàu khác được tập trung ở các căn cứ hải quân Karachi, Khulna và Chittagong.

Nhiệm vụ chính của Hải quân Pakistan là bảo vệ các căn cứ hải quân, bến cảng (bao gồm cả phòng không) và bờ biển trước sự tấn công của tàu chiến Ấn Độ và các cuộc đổ bộ đường biển. Một nhiệm vụ quan trọng khác của Hải quân Pakistan là bảo vệ các tuyến đường hàng hải của mình trong Biển Ả Rập và Vịnh Bengal. Nhiệm vụ đặt ra là chỉ bằng lực lượng tàu ngầm phải tấn công - phá hoại đường hàng hải của đối phương và tiêu diệt các tàu chiến của nó. [206]

Bộ chỉ huy Hải quân Ấn Độ vào đầu tháng 11 bắt đầu thực hiện các biện pháp tăng cường sự sẵn sàng chiến đấu của lực lượng hải quân. Tất cả các tàu lấy đủ dự trữ theo tiêu chuẩn quy định. Vào giữa tháng 10 các tàu chống ngầm và máy bay chống ngầm bắt đầu tuần tra vùng lãnh hải của họ.

Nhiệm vụ chính của Hải quân Ấn Độ - phá hoại tuyến hàng hải của Pakistan. Họ cũng lập kế hoạch thiết lập sự kiểm soát tuyến hàng hải trung lập để ngăn chặn việc cung cấp hàng hóa quân sự cho Pakistan từ các nước đồng minh. Nói chung, bộ chỉ huy Hải quân Ấn Độ có ý đồ phong tỏa bờ biển của cả Đông và Tây Pakistan.

Trước Hải quân Ấn Độ cũng đặt ra nhiệm vụ phải làm sao tiêu diệt được tàu địch trên biển và tại căn cứ. Người ta dự kiến giáng các đòn tấn công bằng không quân và pháo-tên lửa vào các cơ sở trên bờ cũng như đổ bộ chiến thuật để hỗ trợ các lực lượng lục quân trên bộ. Trong thời bình, Hải quân Ấn Độ trong các cuộc tập trận tham mưu-chỉ huy và tập trận thực binh đã luyện tập nhiệm vụ tiến hành các cuộc không kích mạnh mẽ vào Karachi.

Hải quân Ấn Độ còn có nhiệm vụ phòng thủ: bảo vệ các tuyến đường biển của mình ở Biển Ả Rập và Vịnh Bengal, bảo vệ các căn cứ hải quân, bến cảng và vùng duyên hải trước các cuộc tấn công từ hướng biển.

Như vậy, Hải quân Ấn Độ cần phải tiến hành các hoạt động tấn công tích cực.

Trong những ngày đầu tháng 12, các tàu của binh đoàn "Tây" Hải quân Ấn Độ đã ra khơi và bắt đầu triển khai sẵn sàng cho các hoạt động chiến đấu cách bờ biển Pakistan khoảng 100 dặm. Các tàu ngầm tiến ra tuyến hàng hải của đối phương và các tàu cao tốc mang tên lửa đã được chuyển căn cứ đến cảng Okha (Vịnh Kutch).

Buổi tối, ngày 03 tháng 12 năm 1971 nhằm đạt được ưu thế tuyệt đối trên không, không quân Pakistan đã ném bom 12 sân bay Ấn Độ. Tuy nhiên, do các đơn vị không quân Ấn Độ biết cách phân tán và ngụy trang khéo léo, các đợt tấn công của không quân Pakistan [207] đã không có kết quả như ý. Nỗ lực ném bom lần thứ hai vào đêm sau, cũng không thành công. Tiếp nối các cuộc không kích, lục quân Pakistan chuyển sang tấn công.

Đêm ngày 04 tháng 12 tại Ấn Độ, theo sắc lệnh của tổng thống tình trạng khẩn cấp đã được tuyên bố, quân đội được lệnh bắt đầu các hoạt động chiến tranh trên đất liền, trên biển và trên không.

Như vậy, ngày 3 tháng 12 năm 1971 đã mở màn cuộc xung đột quân sự giữa Ấn Độ và Pakistan. {18}

Tại biển Ả Rập đã tập trung lực lượng hải quân của các bên liên quan đến cuộc xung đột vũ trang. Vì vậy, ở đây đã diễn ra các hoạt động chiến tranh chủ yếu trên biển.

Khi bắt đầu cuộc xung đột, các tàu của Hạm đội Miền Tây Ấn Độ đã tiến hành phong tỏa căn cứ hải quân Karachi, và sau đó đến lượt các căn cứ và các cảng khác của Tây Pakistan [208]. Chính thức thì phía Ấn Độ đưa ra tuyên bố về việc thiết lập cuộc phong tỏa đường biển miền duyên hải Pakistan vào ngày 04 Tháng 12. Lực lượng phong tỏa đã chặn và kiểm tra tất cả các tàu trên đường đến và đi khỏi các cảng ở Pakistan, không phân biệt quốc tịch của tàu. {19} Một giờ sau khi có lệnh bắt đầu chiến tranh, tàu ngầm Ấn Độ đã đánh chìm một tàu vận tải của đối phương đang trên đường vào cảng Karachi, và các tàu mặt nước đã bắt giữ một tàu vận chuyển hàng hóa quân sự, đi từ Karachi đến Chittagong.

Vào đêm ngày 04-sang ngày 05 tháng 12 nhằm làm suy yếu Hải quân Pakistan, Hải quân Ấn Độ đã tấn công vào căn cứ hải quân Karachi. Nhóm xung kích gồm các tàu cao tốc mang tên lửa "Nirghat", "Nipat" và "Veer", lực lượng đảm bảo - các tàu tuần tra "Katchall" và "Kilton". Các tàu tuần tra thực hiện yểm hộ các tàu cao tốc mang tên lửa trong giai đoạn triển khai và thực hành tấn công tên lửa, chúng cũng bắn pháo vào căn cứ để khuếch trương thắng lợi. Lãnh đạo các lực lượng tham chiến là đại diện bộ tham mưu hải quân thiếu tướng hải quân BB.Yadav.

5 giờ trước cuộc tấn công tên lửa-pháo binh, không quân Ấn Độ đã ném bom một sân bay Pakistan mà từ đó người ta xuất phát bảo vệ không phận căn cứ.

Khi màn đêm buông xuống, tuân thủ sự im lặng vô tuyến hoàn toàn, các tàu chiến Ấn Độ tiến gần đến bờ biển Pakistan. Ở một cự ly cách Karachi 20 dặm, các tàu tuần tra thả trôi, các tàu tên lửa đi tốc độ thấp, cải trang thành tàu đánh cá tiếp tục di chuyển về hướng bờ biển.

Mục tiêu đang tiếp cận đã bị radar dân sự Pakistan ven biển phát hiện ở khoảng cách cách bờ 40 dặm. Tàu khu trục làm nhiệm vụ tuần tra "Khyber" của Pakistan được phái đến để nhận dạng mục tiêu. [210]
........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 10 Tháng Tám, 2013, 12:43:10 AM
(tiếp)

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s53.gif)
Các hoạt động trong Vịnh Bengal

Sau khi phát hiện ra một mục tiêu lớn đang lại gần, chiếc tàu cao tốc mang tên lửa đầu đàn của Ấn Độ tấn công nó bằng một loạt phóng 2 đạn tên lửa. Trúng cả 2 phát tên lửa, chiếc tàu khu trục đã bị chìm. Một chiếc tàu cao tốc khác bắn một tên lửa trúng tàu quét mìn tuần tra Pakistan "Muhafiz", quả đạn tên lửa thứ hai bắn trúng tàu khu trục "Badr", giết chết toàn bộ ban chỉ huy con tàu này.

Sau đó các tàu cao tốc mang tên lửa tấn công một mục tiêu lớn đang đậu trong cảng, mà các trắc thủ radar đã xác định đó là tàu tuần dương Pakistan. Trong thực tế, đạn tên lửa chống hạm đã làm hư hại một tàu vận tải. Sau đó, các tàu tên lửa tiến gần vào bờ và bắn hai đạn tên lửa vào các công trình bến cảng, còn các tàu tuần tra đi tốc độ lớn đã đến thì dùng pháo bắn phá tiếp căn cứ, kết quả làm một tàu quét mìn hư hỏng.

Hoàn thành xong nhiệm vụ, các tàu Ấn Độ trở về căn cứ hải quân tại Bombay. Sự thành công của Hải quân Ấn Độ là kết quả của sự hành động táo bạo, cũng như hiệu suất cao của tên lửa chống hạm. Góp phần vào sự thành công còn là những lỗ hổng lớn của bộ chỉ huy Pakistan trong tổ chức bảo vệ căn cứ hải quân từ hướng biển, những thiếu sót trong việc thực hiện trinh sát và sự hoàn toàn không chuẩn bị của công tác phòng thủ chống tên lửa.

Cuộc đột kích này có ý nghĩa rất quan trọng đối với quá trình tiếp tục hoạt động chiến đấu trên biển. Sau khi phá hủy được các tàu khu trục và tàu quét mìn, Hải quân Ấn Độ đã làm thay đổi cán cân quyền lực trong vùng biển Ả Rập về phía có lợi cho mình. Những thành công đầu tiên đạt được trên biển, giúp nâng cao tinh thần cho các thủy thủ Ấn Độ, khi đó họ đã đánh giá đúng khả năng của các tàu cao tốc mang tên lửa.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s51.gif)
Hoạt động đột kích của Hải quân Ấn Độ vào căn cứ Hải quân Karachi của Pakistan

Sau những mất mát nghiêm trọng như thế, bộ chỉ huy Pakistan đã rút tất cả các tàu chiến trở về căn cứ hải quân Karachi, tại đó chúng được sử dụng như là phương tiện phòng không bổ sung.

Ngày 05 tháng 12 tàu huấn luyện Ấn Độ "Cadmus" và tàu tuần tra "Trishul" trong khu vực bán đảo Kathiawar [211] đã phát hiện 1 tàu ngầm Pakistan và tấn công nó bằng bom chìm. Tuy nhiên, cuộc tấn công không thu được thành công. Ngày hôm sau, một tàu ngầm Pakistan bị tàu tuần tra "Kukri" tấn công trong khu vực căn cứ hải quân Bombay.

Ngày 08 tháng 12 các tàu tàu ngầm Ấn Độ triển khai gần căn cứ hải quân Karachi đã tấn công ba tàu khu trục Pakistan đang làm nhiệm vụ tuần tra gần căn cứ. Tuy nhiên các tàu khu trục không chỉ tránh ngư lôi thành công, mà còn phản công lại các tàu ngầm, làm bị thương một tàu trong số đó.

Trong đêm 8 sang ngày 9 tháng 12, không quân Ấn Độ đã thực hiện một loạt các cuộc tấn công vào căn cứ hải quân Karachi, trong thời gian đó pháo PK trên hạm của Pakistan đã bắn rơi bốn máy bay Ấn Độ.

Rút ra được một số kinh nghiệm, bộ chỉ huy Ấn Độ lên kế hoạch ngày 09 tháng 12 sẽ tổ chức các hoạt động chiến tranh có quy mô lớn hơn nhằm vào các căn cứ hải quân, bến cảng và các cơ sở ven biển của Pakistan. Để đạt mục đích trên họ thành lập một đơn vị đặc biệt gồm hai nhóm xung kích. Một trong số đó có các tàu khu trục và các tàu cao tốc mang tên lửa, nhóm kia - 1 tàu tuần dương, 1 tàu khu trục và 1 tàu tuần tra.

Nhóm xung kích thứ nhất thực hành một cuộc tấn công bất ngờ bằng tên lửa-pháo binh vào Karachi, phóng 4 tên lửa vào các kho chứa dầu mỏ và pháo kích căn cứ hải quân bằng pháo hạm. Tên lửa đã thiêu cháy 12 trên tổng số 34 bồn nhiên liệu. Ngoài ra, các tàu cao tốc mang tên lửa đã tấn công các tàu buôn đang đậu trong cảng Karachi, đánh chìm 3 tàu và làm hư hỏng 2 tàu.

Các tàu nhóm xung kích thứ hai đi dọc bờ biển và pháo kích một số công trình quân sự của Pakistan.

Hải quân Ấn Độ không có thiệt hại nào.

Các hoạt động tấn công chủ động của Hải quân Ấn Độ đã thành công trong việc vô hiệu hóa hải quân Pakistan [212], và hoàn toàn đáp ứng được nhiệm vụ phong tỏa bờ biển của đối phương. Mối đe dọa thực đối với Hải quân Ấn Độ chỉ còn là tàu ngầm Pakistan. Về vấn đề này, bộ chỉ huy Ấn Độ dành mối quan tâm lớn cho cuộc chiến tranh chống tàu ngầm.

(http://www.ussdiablo.com/images/479atsearestored.jpg)
Tàu ngầm diesel Mỹ lớp Tench-class USS Diablo SS-479 ảnh chụp trước khi cho Pakistan thuế năm 1964 và mang tên PNS Ghazi. Bị Hải quân Ấn Độ đánh đắm trong chiến tranh Ấn Độ - Pakistan năm 1971 (4.12.1971, bị dính 2 trái bom chìm của tàu khu trục hải quân Ấn). (http://www.ussdiablo.com/)

Để giải quyết nhiệm vụ quan trọng này đã huy động nhiều lực lượng khác nhau: các tàu tuần tra, các tàu cao tốc chống ngầm, cũng như các máy bay cánh cố định chống ngầm và trực thăng săn ngầm.

Các máy bay chống ngầm thực hiện săn tìm tàu ngầm trên biển, còn trực thăng săn ngầm tìm kiếm tàu ngầm trong khu vực các căn cứ hải quân và cảng biển. Trên các thủy đạo dẫn vào các căn cứ hải quân, các tàu  tuần tra và tàu cao tốc săn ngầm liên tục săn lùng các tàu ngầm. Các tàu cao tốc chống ngầm thường xuyên tuần tra xung quanh các tàu buôn đậu ở vũng cảng ngoài.

Để đấu tranh chống tàu ngầm trong khu vực Bombay, bộ chỉ huy Ấn Độ đã tổ chức vào ngày 8 và 9 tháng 12 một chiến dịch săn tìm tàu ngầm quy mô lớn. Trong quá trình diễn ra các hoạt động chống tàu ngầm ngày 9 tháng 12, ở cự ly cách cảng Diu về phía tây nam 50 km, tàu ngầm Pakistan "Hangor" đã dùng 9 đạn ngư lôi thủy âm tấn công nhóm tàu chiến xung kích-săn tìm gồm 3 tàu tuần tra "Kukri", "Coutard" và "Kirpan". Trong cuộc tấn công này, tàu tuần tra "Kukri" bị đánh chìm. Người chỉ huy con tàu đại tá hải quân M.N. Mullah đã trở thành người anh hùng dân tộc. Ông đã đưa áo phao cứu nạn của mình cho một thủy thủ sắp chìm.

Cuộc truy lùng quy mô tàu ngầm Pakistan đã không thành công. Mặc dù trong quá trình tìm kiếm và truy kích đã thả hơn 150 trái bom chìm để tiêu diệt tàu ngầm nhưng không kết quả.

Như vậy, các lực lượng hải quân của Ấn Độ trong biển Ả Rập đã hành động khá tích cực: [213] họ đã phong tỏa các căn cứ hải quân và các cảng Pakistan, hoàn toàn vô hiệu hóa hạm đội đối phương.

Từ lúc khởi đầu chiến tranh, Hải quân Ấn Độ đã phong tỏa bờ biển Đông Pakistan. Để giải quyết nhiệm vụ này từ Hạm đội Miền Đông người ta lập ra hai nhóm tàu chiến - "Alpha" và "Beta". Nhóm đầu tiên gồm một tàu sân bay, 5 tàu tuần tra và 2 tàu chống tàu ngầm. Nhóm này tuần tra trong vịnh Bengal giữa các cảng Kokss- Bazar và Chittagong. Nhóm thứ hai, gồm các tàu cao tốc chống ngầm và các tàu tuần tra cao tốc của lực lượng biên phòng, phong tỏa cửa sông Hằng và hoạt động trên các dòng sông. [214]

Ngày 03 tháng 12, lúc gần 21:00 giờ tàu khu trục Ấn Độ "Rajput" đã thực hiện thả bom chống tàu ngầm phòng ngừa gần căn cứ hải quân Vizagapatam. Ban ngày trong khu vực này các tàu buôn đã phát hiện kính tiềm vọng của 1 tàu ngầm. Sau khi thả một loạt lớn bom chìm, trên bề mặt biển xuất hiện vết dầu loang và các dấu hiệu khác, chứng tỏ đã có một tàu ngầm chìm. Công tác lặn khảo sát cho thấy tàu ngầm Pakistan "Ghazi" đã bị phá hủy. Phía Pakistan tuyên bố rằng tàu ngầm bị nạn do vấp thủy lôi của chính nó đã thả.

Vào đêm 05 tháng 12, các tàu của Hải quân Ấn Độ đã tìm thấy và tấn công một tàu ngầm trong vịnh Bengal trên lối vào cảng Calcutta. Tuy nhiên, chiếc tàu ngầm đã tránh được cuộc tấn công, sau đó dứt được sự truy kích của các tàu chiến Ấn Độ.

Ngày 04 tháng 12 các máy bay cường kích hạm "Sea Hawk" từ tàu sân bay Vikrant đã thực hành 2 cuộc tấn công (lúc 11 và 14 giờ) xuống căn cứ hải quân chính của Đông Pakistan ở cảng Chittagong. Trong mỗi lần tấn công có sự tham dự của 8 máy bay. Kết quả hai tàu tuần tra cao tốc bị đánh chìm, các công trình bến cảng và tuyến đường sắt vào cảng bị hư hại. Tổng cộng từ ngày 05-11 tháng 12 máy bay trên tàu sân bay đã bay 400 phi vụ chiến đấu tấn công các căn cứ hải quân và các cảng. Hai tàu vận tải, 8 tàu cỡ vừa, nhiều tàu nhỏ, tàu cao tốc, xuồng máy, sà lan và phà bị phá hủy. Các máy bay cường kích hạm "Sea Hawk" tấn công theo nhóm (thường đến 8 máy bay) vào ban ngày.  Các máy bay chống ngầm "Breguet Alizé" ném bom vào ban đêm, hoạt động đơn lẻ hoặc theo nhóm nhỏ.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s54.gif)
Vị trí các tàu bị đánh chìm trong chiến tranh Ấn-Pakistan 1971

Các tàu của binh đoàn "Đông" trong các ngày 5 và 9 tháng 12 pháo kích cảng Chittagong.

Ngày 10 Tháng 12 các tàu cao tốc Ấn Độ đã cố gắng thực hiện một cuộc đổ bộ tại cửa sông Hằng để hỗ trợ các lực lượng mặt đất đang tiến tới từ phía tây. Tuy nhiên, các khẩu đội pháo bờ biển Pakistan[215] đã đẩy lùi cuộc tấn công đổ bộ: 3 tàu bị hỏa lực pháo binh ven biển tiêu diệt, một tàu bị phía Pakistan chiếm.

Từ ngày 10-14 tháng 12 trên các thủy đạo tiếp cận căn cứ hải quân Chittagong Hải quân Pakistan đã thiết lập một bãi mìn chống đổ bộ, bao gồm 80 mìn neo kích nổ bằng điện. Tuy nhiên, bãi min thiết lập tuỳ tiện, và trong suốt thời gian chiến tranh không có tàu Ấn Độ nào bị vấp nổ bởi bãi mìn đã đặt. [216]

Tồn thất tàu nổi và tàu ngầm trong cuộc xung đột Ấn Độ-Pakistan {20}
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang2-c5_zps70ba407c.png) (http://s1185.photobucket.com/user/qtdc2/media/bang2-c5_zps70ba407c.png.html)

Ngày 16 tháng 12 Hải quân Ấn Độ đã đổ bộ đường biển vào Kokss- Bazaar với thành phần một tiểu đoàn bộ binh tăng cường. Tiểu đoàn được vận chuyển đến khu vực đổ bộ bằng tàu buôn "Vishvavidzhayya" và sau đó khi đến gần Kokss-Bazar họ được chuyển sang các tàu đổ bộ. Do sai sót trong việc lựa chọn địa điểm đổ bộ, tiểu đoàn không đổ bộ kịp thời. Nó chỉ được đổ bộ sau khi kết thúc trận chiến tại Kokss-Bazaar và không có ảnh hưởng gì đến quá trình đấu tranh vũ trang ở Đông Pakistan.

Nói chung, Hải quân Ấn Độ đã thực hiện thành công nhiệm vụ của mình ở vịnh Bengal, cũng như trong Biển Ả Rập. Họ đã hoàn toàn phong tỏa bờ biển Đông Pakistan. Chỉ có một tàu tuần tra cao tốc "Rajshahi" của Pakistan chọc thủng được phong tỏa và ngày 21 tháng 12 đến được Penang (Malaysia). [217]

Ngày 17 Tháng 12 chiến tranh trên biển đã chấm dứt. Các lực lượng hải quân của Ấn Độ đã giải quyết thành công các nhiệm vụ của mình: họ đã phá vỡ tuyến hàng hải giữa các vùng phía tây và phía đông của Pakistan. Trong thời gian phong tỏa các cảng Pakistan, Hải quân Ấn Độ bắt giữ và kiểm tra 712 tàu, có khoảng 50 tàu buôn bị phá hủy hoặc hư hỏng nghiêm trọng, 4 tàu vận tải bị chiếm giữ.

Trong quá trình chiến đấu, Hải quân Ấn Độ đánh chìm được tàu ngầm "Ghazi", tàu khu trục "Khyber", 1 tàu quét mìn và 3 tàu tuần tra. Một số tàu của Pakistan bị hư hỏng.  Hải quân Ấn Độ mất tàu tuần tra "Kukri", 4 tàu tuần tra cao tốc và 1 máy bay cánh cố định chống tàu ngầm. Một tàu khu trục và 1 tàu cao tốc mang tên lửa bị thương. [218]

Các hoạt động chính của Hải quân Ấn Độ trong cuộc xung đột là các cuộc tấn công của các nhóm tàu tên lửa-pháo và máy bay trên tàu sân bay vào các căn cứ hải quân, bến cảng và các cơ sở ven biển của đối phương, thực hiện phong tỏa đường biển, tìm kiếm và tiêu diệt tàu ngầm đối phương và đổ bộ chiến thuật.

Các cuộc tấn công thường được thực hiện vào ban đêm theo nguyên tắc bất ngờ. Triển khai các nhóm tấn công và nhóm hỗ trợ thực hiện ở tốc độ nhỏ, gây khó khăn cho việc phân loại mục tiêu của đối phương. Trong quá trình di chuyển tuân thủ sự im lặng vô tuyến. Các cuộc tấn công diễn ra chớp nhoáng.

Khi thực hiện phong tỏa đường biển, bộ chỉ huy Ấn Độ lên kế hoạch cho các lực lượng phong tỏa tuần tra dọc theo bờ biển Pakistan, tuần phòng cạnh các căn cứ hải quân và bến cảng của kẻ thù và tấn công vào các mục tiêu ven biển. Tổ chức hoạt động chống ngầm qua các chiến dịch săn tìm tàu ngầm Pakistan quy mô lớn sử dụng các lực lượng hỗn hợp khác nhau của hạm đội trong các khu vực căn cứ hải quân và cảng biển.

Đáng chú ý là khuynh hướng của bộ chỉ huy Ấn Độ tổ chức hiệp đồng chiến đâu không chỉ giữa các lực lượng khác nhau của hạm đội, mà còn với các quân binh chúng khác của lực lượng vũ trang.

Hải quân Pakistan đã hành động một cách thụ động trong cuộc xung đột. Nó không được chuẩn bị để đối phó với tên lửa hành trình, không chuẩn bị cho công tác bảo vệ các căn cứ hải quân từ hướng biển, chủ yếu do tổ chức trinh sát kém.

Kinh nghiệm sử dụng các tàu cao tốc mang tên lửa trong cuộc xung đột này đã cho thấy tiềm năng to lớn của chúng không chỉ trong việc tiêu diệt các tàu trên biển, mà còn cả trong việc phá hủy các cơ sở ven biển. Trong tương lai, kinh nghiệm này sẽ được sử dụng rộng rãi tại cuộc chiến tranh Ả Rập-Israel năm 1973.

HẾT CHƯƠNG 5
........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 12 Tháng Tám, 2013, 12:37:57 AM
(tiếp)

CHƯƠNG 6

CUỘC TẤN CÔNG BÊN BỜ BIỂN BÁN ĐẢO SINAI


(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/1/10/1973_sinai_war_maps2.jpg/781px-1973_sinai_war_maps2.jpg)
Mặt trận Sinai 15-24.10.1973

Sau cuộc chiến tranh năm 1967, giới cầm quyền Israel cố gắng củng cố những vùng đất Ả rập đã chiếm đóng được bằng cách dựa vào sự hỗ trợ chính trị, quân sự và kinh tế của Hoa Kỳ và các đồng minh khác. Phương tiện chính để đạt được mục tiêu này là không ngừng phát triển sức mạnh quân sự. Để trang bị cho lực lượng vũ trang Israel, Hoa Kỳ đã chở đến các vũ khí và trang bị quân sự mới, tất cả các loại vũ khí cũ được hiện đại hóa. Lực lượng vũ trang của Israel khi chiến tranh bùng nổ vào năm 1973 có quân số khoảng 415.000 người, 1.700 xe tăng, 690 máy bay, 84 trực thăng và 47 tàu chiến. Kế hoạch của bộ chỉ huy Israel dự kiến đẩy lùi các đòn tấn công của quân đội Ả Rập từ các tuyến phòng thủ được chuẩn bị trước; không cho phép họ đột phá vào sâu đất nước, trong trường hợp có sự đột phá của đối phương - giáng những đòn phản công mạnh mẽ để đánh bại họ và khôi phục tình hình. Trong trường hợp thuận lợi dự kiến sẽ mở cuộc tấn công vào Cairo và Damascus. Ai Cập và Syria, gần như ngay sau cuộc chiến tranh năm 1967 đã bắt tay chuẩn bị [222]  nhằm giải phóng các vùng đất bị chiếm đóng. Lực lượng vũ trang Ai Cập vào đầu chiến tranh có quân số khoảng 833.000 người, 2.200 xe tăng, 590 máy bay, 190 trực thăng, 122 tàu chiến, còn Syria - 332.000 quân, 1.350 xe tăng, 321 máy bay chiến đấu, 21 tàu. Như vậy, các lực lượng vũ trang của Ai Cập và Syria có tổng cộng 1 triệu 165 nghìn người, 3.550 xe tăng, 1.011 máy bay và 143 tàu chiến. Lực lượng vũ trang của các quốc gia Ả Rập vượt trội lực lượng vũ trang Israel về quân số và số tàu chiến gần 3 lần. Kế hoạch của bộ chỉ huy Syria là bằng một đòn tấn công bất ngờ sẽ làm chủ cao nguyên Golan và đến cuối ngày thứ hai của cuộc chiến tranh tiến đến sông Jordan, tại đó chuyển sang phòng thủ vững chắc. Bộ chỉ huy Ai Cập dự tính với sự hỗ trợ của pháo binh và không quân sẽ vượt kênh đào Suez ở phía nam và phía bắc Hồ Đắng Lớn (Great Bitter Lake), chọc thủng tuyến phòng thủ của đối phương và tấn công làm chủ phần lớn bán đảo Sinai vào ngày chiến tranh thứ bảy-thứ tám, buộc Israel đàm phán và thu hồi hết đất đai bị chiếm giữ trong cuộc chiến tranh năm 1967. Để chuẩn bị cho cuộc tấn công, các bộ chỉ huy Syria và Ai Cập hy vọng vào sự bất ngờ của đòn đánh đầu tiên.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/4/4a/1973_Yom_Kippur_War_-_Golan_heights_theater.jpg/784px-1973_Yom_Kippur_War_-_Golan_heights_theater.jpg)
Mặt trận cao nguyên Gô-lan

Vào hồi 15h00 ngày 06 tháng 10 năm 1973 sau khi một giờ pháo binh và không quân bắn phá chuẩn bị và không kích, quân đội Syria chuyển sang tấn công và đã đạt thành công đáng kể. Tuy nhiên, bằng cách gia tăng liên tục lực lượng trên mặt trận Syria, tới ngày 10 tháng 10, bộ chỉ huy Israel đã đánh chặn được đội quân tiên phong và đẩy lui quân đội Syria về tuyến đình chiến. Sáng ngày 11, sau khi tạo ra ưu thế vượt trội về lực lượng trên hướng tấn công chính, quân đội Israel tiếp tục tấn công và ở một số nơi họ tiến được từ 10 đến 20 km. Đà tiến quân tiếp của họ bị chặn lại bởi lực lượng quân đội Syria hoạt động phối hợp với một sư đoàn xe tăng Iraq và một lữ đoàn thiết giáp Jordanie vừa tới tiếp ứng. Trong ngày 13 và 14 tháng 10, quân đội Israel cố gắng phá vỡ sự kháng cự của đối thủ, nhưng không có được tiến bộ đáng kể. Trong [223] những ngày sau vì cùng kiệt sức, các bên tham chiến không có hành động gì, và đến ngày 24 tháng 10, theo quyết định của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, chiến sự tại mặt trận Syria đã ngừng lại.

Đồng thời với cuộc tấn công của quân đội Syria, sau màn pháo kích và không kích mạnh mẽ, quân đội Ai Cập bắt đầu vượt kênh đào Suez. Cuối ngày 05 Tháng 10, họ đã vượt qua kênh và chiếm được các cứ điểm của trận địa đầu tiên trên tuyến phòng thủ "Bar-Lev" của Israel, và vào cuối ngày trên 6 Tháng 10 đã chiếm được hai bàn đạp mà mỗi trận địa bàn đạp có chiều sâu 10-12 km. Cuộc giao tranh trên mặt trận Sinai diễn ra với những thành công luôn thay đổi và kết thúc vào ngày 25 tháng 10. Tuy nhiên, đạt thành công đáng chú ý hơn cả là quân đội Israel, họ đã chiếm được trên bờ phía tây kênh đào Suez một đầu cầu rộng 100 km có chiều sâu tới 30 km. Mặc dù Ai Cập và Syria không đạt được mục tiêu của họ, kết quả cuộc chiến tranh đối với họ không thể đánh giá là không đáng an ủi. Quân đội Ả Rập đã xua tan huyền thoại bất khả chiến bại của Israel, chứng tỏ họ hoàn toàn có khả năng chiến đấu với quân đội Israel. Một lần nữa Liên Xô và các nước khác thuộc khối xã hội chủ nghĩa anh em lại đứng ra bảo vệ Ai Cập và Syria. Cuộc chiến tranh năm 1973 là cuộc chiến tranh cục bộ lớn nhất ở Trung Đông, cả về số lượng quân đội và thiết bị quân sự tham chiến, cả về số lượng thiệt hại. Tham dự chiến tranh có 1 triệu 700 nghìn người, 6.000 xe tăng, 1.800 máy bay chiến đấu và 200 tàu thuyền các loại. Các cuộc đụng độ của các lực lượng các bên được đặc trưng bởi cuộc đấu của xe tăng và vũ khí chống tăng, máy bay và tên lửa PK, dẫn đến tổn thất rất lớn về trang thiết bị quân sự. Các bên tham chiến đã mất ít nhất 50% số xe tăng và máy bay. Hoạt động của hải quân trong cuộc chiến tranh có tính chất hạn chế và không thực sự ảnh hưởng đến tiến trình cuộc chiến. Lực lượng của các hạm đội tham chiến đã làm nhiệm vụ bảo vệ bờ biển của mình, thực hiện đột kích bằng các tàu cao tốc mang tên lửa vào bờ biển của đối phương nhằm tấn công các [224] mục tiêu trên mặt đất. Trong quá trình giải quyết những nhiệm vụ này, đã xảy ra những trận hải chiến giữa các tàu cao tốc mang tên lửa, trang bị các tên lửa loại "hạm-đối-hạm".

Thành phần của Hải quân Ai Cập, Syria và Israel {21}
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang1-c6_zpsb6e15633.png) (http://s1185.photobucket.com/user/qtdc2/media/bang1-c6_zpsb6e15633.png.html)

Các hướng chính trong sự phát triển lực lượng hải quân Israel sau cuộc chiến tranh Ả Rập-Israel năm 1967 là sự gia tăng trong cơ cấu tàu các tàu cao tốc cơ động cao độ choán nước nhỏ trang bị vũ khí tên lửa và pháo hạm, có phương tiện vô tuyến điện tử hiện đại. Theo quan điểm của bộ chỉ huy Israel, các nhóm xung kích bao gồm các tàu như vậy, phối hợp với không quân sẽ giải quyết thành công nhiệm vụ chiếm ưu thế trên biển trong vùng ven bờ. Vào đầu cuộc chiến, Hải quân Israel có tổng cộng 47 tàu, tập trung trong hai nhóm - biển Địa Trung Hải và Hồng Hải. Nhóm Địa Trung Hải đóng tại căn cứ hải quân chính [225] Haifa căn cứ hải quân tại Ashdod, nhóm Hồng Hải - tại căn cứ hải quân Eilat, và điểm căn cứ Sharm el-Sheikh. Ngoài ra, Hải quân Israel có hai tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến, một chi đội biệt kích-hải quân và 12 đại đội pháo bờ biển (43 cỗ pháo). Làm nền tảng cho Hải quân Israel là 12 tàu cao tốc của "Saar" mang tên lửa nhận được từ nước Pháp những năm 1968 - 1970. Trên 3 tàu đổ bộ nhỏ có sân đậu cho trực thăng, hoạt động kết hợp với các tàu cao tốc phóng tên lửa đang chuẩn bị cho cuộc tấn công chống các tàu mặt nước và các căn cứ bờ của đối phương. Trong quá trình huấn luyện chiến đấu, Hải quân Israel đã chuẩn bị sẵn sàng giải quyết nhiệm vụ phá hủy các tàu của đối phương trên biển và trong căn cứ, giáng đòn tấn công tên lửa-pháo vào các cơ sở bờ, bảo vệ các tuyến giao thông trên biển trong khu vực hoạt động của mình, phòng thủ bờ biển, đổ bộ các nhóm biệt kích chiến thuật- trinh sát lên bờ biển đối phương. Mục tiêu chính của Hải quân Israel là tiêu diệt lực lượng hải quân Ai Cập và Syria trên biển và trong các căn cứ; giáng đòn tấn công xuống các mục tiêu quân sự và công nghiệp trên mặt đất; đổ bộ biệt kích, bảo vệ các tuyến đường hàng hải của mình; hỗ trợ sườn phía biển của lục quân.

Các lực lượng hải quân của Ai Cập gồm có 122 tàu chiến các lớp khác nhau, trong đó có 5 tàu khu trục, 6 frigate và corvette, 12 tàu ngầm diesel phóng ngư lôi. Thành phần quan trọng trong sức mạnh chiến đấu của Hải quân Ai Cập là 20 tàu cao tốc phóng tên lửa. Do việc phát triển các cơ sở sửa chữa còn yếu kém và thiếu sót trong việc bảo trì phần vật chất, các tàu cao tốc phóng tên lửa có thể đạt tốc độ không quá 24 hải lý (thay vì 30 hải lý như thiết kế của đề án). Tên lửa chống hạm mà các tàu Ai Cập được trang bị có tầm xa quỹ đạo khoảng 40 km, còn đầu tự dẫn radar chủ động cho nó khả năng cơ động sau bắn loạt ngay tức khắc sau khi đạn tên lửa được phóng đi. Phần lớn [226] các tàu Hải quân Ai Cập ở trong các căn cứ hải quân thuộc Địa Trung Hải. Các căn cứ hải quân chính là Alexandria, Port Said và Suez. Sự hiệp đồng của Hải quân Ai Cập với các quân binh chủng khác trong lực lượng vũ trang chưa được nhuần nhuyễn. Có những thiếu sót nghiêm trọng trong việc tổ chức quản lý chỉ huy các lực lượng và công tác tình báo. Ít có sự chú ý đến các vấn đề như phòng không và phòng thủ chống tên lửa và tác chiến điện tử trong hải chiến.

Các lực lượng hải quân của Syria đang trong giai đoạn xây dựng và có tổng cộng 21 tàu, trong đó có 6 và 10 tàu cao tốc phóng tên lửa và 10 tàu cao tốc phóng ngư lôi, 2 tàu quét mìn, 3 tàu tuần tra. Trong quá trình huấn luyện chiến đấu chủ yếu thao luyện nhiệm vụ đánh lui các cuộc đổ bộ đường biển của kẻ địch. Nhiệm vụ của lực lượng hải quân các nước Ả Rập là bảo vệ các căn cứ hải quân và bến cảng, phòng thủ chống đổ bộ miền duyên hải, bảo vệ các đường hàng hải, giáng đòn tấn công vào các mục tiêu quân sự và công nghiệp ven biển, đổ bộ chiến thuật và phá họai đường hàng hải của đối phương. Nói chung, hải quân Ả Rập có quân số cao hơn hải quân Israel đến 3 lần.Tuy nhiên, xét về số lượng ống phóng tên lửa chống hạm thì Hải quân Israel có một lợi thế nhỏ. Các tàu cao tốc Ả Rập có cự ly phóng tên lửa cao hơn so với tàu Israel 2 lần. Cần lưu ý rằng mức độ được huấn luyện của đội ngũ quân nhân Hải quân Israel cao hơn một chút so với Hải quân Ai Cập và Syria.

Chiến tranh trên biển bắt đầu ngay từ những ngày mở màn cuộc chiến. Dưới vỏ bọc của một cuộc huấn luyện quân sự theo kế hoạch đã định, lực lượng hải quân của các nước Ả Rập đã thực hiện triển khai. Tàu chiến Syria bắt đầu tuần tra trong các khu vực Latakia và Tartus, tàu chiến Ai Cập - các khu vực Alexandria, Port Said và Suez. Lực lượng hải quân Israel cũng được chuyển sang tình trạng sẵn sàng chiến đấu cao nhất. Trên lối vào các căn cứ hải quân Israel và các bến cảng [227], các tàu tuần tra cũng đã được triển khai. Cả hai bên đều tiến hành một loạt biện pháp để bảo vệ tàu thuyền của mình lưu thông và tăng cường trinh sát hàng hải. Vào chiều ngày 06 tháng 10 các lực lượng chính của hải quân các bên tham chiến đã ở trên biển, và đã sẵn sàng bước vào chiến đấu. Các cuộc đụng độ đầu tiên diễn ra ở biển Địa Trung Hải vào đêm ngày 7 tháng 10. Một nhóm chiến thuật gồm 7 tàu cao tốc mang tên lửa của Ai Cập đã bắn tên lửa vào các mục tiêu của đối phương trên phía bờ biển của bán đảo Sinai, trong khu vực Runa. Để đánh lừa trinh sát của đối phương, các tàu cao tốc Ai Cập tiến ra khơi từ nhiều điểm đóng quân khác nhau. Sự yểm trợ cho tàu chiến từ trên không trên hành trình triển khai cũng như tại các khu chiến là không có, kết quả là sau đòn tấn công tên lửa trên, các tàu cao tốc Ai Cập bị máy bay cánh cố định và trực thăng của Israel tấn công. Khi phản công lại, người Ai Cập đã bắn hạ một máy bay trực thăng của Israel, còn chính họ bị mất 1 tàu cao tốc phóng tên lửa. Sau vụ đụng độ quân sự này, bộ chỉ huy Ai Cập hướng những nỗ lực chính của hạm đội của mình vào việc bảo vệ các căn cứ hải quân và miền duyên hải.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s55.gif)
Trận đánh tại căn cứ hải quân Latakia
   
Trận hải chiến đầu tiên của Hải quân Israel được tổ chức ngay khi bắt đầu chiến tranh, vào đêm ngày 06 sang ngày 07 Tháng Mười tại căn cứ hải quân Latakia của Syria. Nhóm chiến thuật gồm 5 tàu cao tốc tên lửa được giao nhiệm vụ tấn công vào cảng và căn cứ hải quân tại Latakia: hai tàu tấn công từ phía tây bắc, các tàu khác - từ phía tây nam. Hoạt động của các tàu cao tốc được đảm bảo bởi 4 trực thăng đóng căn cứ trên hai tàu đổ bộ nhỏ. Các máy bay trực thăng được giao nhiệm vụ: tìm kiếm các tàu của đối phương, dẫn đường cho các lực lượng tấn công tới chỗ đối phương đã bị phát hiện và truyền chỉ thị mục tiêu, giáng đòn tấn công bổ trợ, gây nhiễu cho các phương tiện radar cảnh giới của đối phương.

Cách bờ biển Syria khoảng 25 dặm, tàu quét mìn tuần tra "Yarmuk" phát hiện một tàu cao tốc đang đến gần, nó đã báo cáo về sở chỉ huy bờ. Để nhận dạng mục tiêu người ta phái ra [228] một tàu cao tốc phóng lôi. Do cả hai mục tiêu đều ở trong vùng phóng của tên lửa "Gabriel", sau khi nhận được chỉ thị mục tiêu, các tàu cao tốc Israel tấn công tàu tuần tra. Trúng ba tên lửa, tàu quét mìn bị đánh chìm và một tên lửa - trúng tàu phóng ngư lôi. Sau một vài phút, trực thăng phát hiện 3 tàu cao tốc Syria đang đi vào cảng Tartus. Các tàu cao tốc mang tên lửa Syria nhờ radar cũng phát hiện thấy trực thăng, nhưng nhầm chúng là các mục tiêu mặt nước. Một tàu cao tốc Syria được phái ra trinh sát bổ sung.

Tuy nhiên, không chờ kết quả trinh sát, chỉ huy nhóm chiến thuật quyết định tấn công kẻ thù. Từ khoảng cách 13-19 dặm họ phóng tất cả các tên lửa đã sẵn sàng chiến đấu trong một loạt phóng. Các trực thăng của Israel sau khi phát hiện ra việc phóng tên lửa, đã lấy độ cao gấp bay ra khỏi khu vực quan sát của radar. Các trắc thủ phân loại sự biến mất của các dấu hiệu mục tiêu trên màn hình radar như là sự thể hiện mục tiêu bị đánh chìm. Các tàu cao tốc Syria bắt đầu rút lui với tốc độ 24 hải lý dưới sự che chở của pháo binh ven biển. Tàu Israel đuổi theo với tốc độ hơn 30 hải lý. Sau khi tiến gần đến cự ly xạ kích, họ tấn công các tàu cao tốc Syria đang phân tán bằng tên lửa "Gabriel": 2 tàu bị phá hủy bởi trúng trực tiếp tên lửa, tàu thứ ba né tránh được tên lửa và đạn pháo, lao vào bờ, tại đó nó bị trực thăng tiêu diệt. Trong trận hải chiến kéo dài khoảng 2 giờ, Hải quân Syria bị mất 1 tàu quét mìn, 3 tàu cao tốc mang tên lửa và một tàu cao tốc phóng ngư lôi. Trong đó, 4 trong số 5 tàu bị phá hủy bởi tên lửa chống hạm, điều này tiếp tục nâng cao uy tín của loại vũ khí nói trên.

Sau trận đánh này Hải quân Israel chuyển trọng tâm các hoạt động chiến tranh trên biển sang chiến đấu với Hải quân Ai Cập. Vào buổi tối ngày 08 tháng 10 một nhóm tàu hải quân Israel gồm 5 tàu cao tốc mang tên lửa và hai tàu đổ bộ với 4 máy bay trực thăng trên tàu xuất phát đi đến bờ biển Ai Cập ở khu vực Damietta - Baltim. Các trực thăng bay ở độ cao thấp dọc theo bờ biển Ai Cập (trong khu vực [229] quan sát của radar), mô phỏng sự di chuyển của các tàu mặt nước và đồng thời tiến hành trinh sát. Nhóm xung kích theo hướng song song đi xa hơn ra ngoài khơi (ngoài tầm quan sát của radar). Các tàu đổ bộ ở cự ly xa bờ hơn so với các tàu cao tốc phóng tên lửa.
......


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 13 Tháng Tám, 2013, 02:02:28 PM
(tiếp)

Để tiêu diệt kẻ thù bị radar bờ biển phát hiện, bộ chỉ huy Ai Cập [230] phái đi một nhóm chiến thuật gồm 4 tàu cao tốc tên lửa, các tàu Ai Cập bắt đầu tiếp cận đối phương khi đi dọc bờ biển và cải trang thành tàu đánh cá. Radar tàu Ai Cập phát hiện trực thăng của Israel ở khoảng cách 17 - 20 dặm và đã coi chúng như các mục tiêu tàu mặt nước. Từ cự ly khoảng 17 dặm họ phóng một loạt 6 tên lửa. Phat hiện tên lửa phóng, trực thăng Israel lấy độ cao gấp bay ra khỏi khu vực quan sát của radar. Sự biến mất của các dấu hiệu trên màn hình radar được các trắc thủ Ai Cập coi như các mục tiêu bị đánh chìm, và các tàu bẻ hướng rút về. Có tốc độ lớn, theo sự dẫn đường từ trực thăng, các tàu cao tốc của Israel bắt đầu tiếp cận các tàu Ai Cập. Sau khi chiếm lĩnh vị trí bắn, ở cự ly khoảng 17 dặm, tàu Israel tấn công đối phương đang rút lui bằng tên lửa "Gabriel". Kết quả cuộc tấn công này là ba tàu Ai Cập bị chìm. Trong trận này, cũng như trong trận hải chiến với các tàu Syria, phía Israel đã sử dụng thành công trực thăng của tàu để tạo ra các mục tiêu giả tàu mặt nước, cũng như để trinh sát và dẫn đường cho nhóm xung kích tàu tên lửa đến chỗ kẻ thù. Bộ chỉ huy Ai Cập đã để xảy ra những sai lầm tương tự như bộ chỉ huy Syria. Chỉ huy nhóm chiến thuật không thực hiện trinh sát bổ sung nhóm mục tiêu do radar phát hiện đã vội quyết định - mở cuộc tấn công tên lửa lớn, sử dụng số lượng tối đa đạn tên lửa trong một loạt phóng. Lỗi lầm này đã được bộ chỉ huy Israel khéo léo tận dụng. Cùng ngày, khi trở về căn cứ của mình, tàu Israel bị tấn công bởi tàu cao tốc phóng tên lửa Ai Cập phóng loạt tên lửa từ cự ly tối đa (20 dặm) phá hủy tàu của đối phương. Cuộc tấn công này chứng minh hiển nhiên rằng bằng cách sử dụng lợi thế của mình về tầm bắn của tên lửa, phía Ai Cập có thể đạt được thành công trong một trận thủy chiến. Tuy nhiên, do thiếu sót trong tổ chức trinh sát và thiếu phương tiện đáng tin cậy truyền chỉ thị mục tiêu [231] bộ chỉ huy Ai Cập không phải lúc nào cũng thực hiện được lợi thế này.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s56.gif)
Trận đánh gần căn cứ hải quân Alexandria

Trong đêm 10 sang ngày 11 tháng 10 tàu hải quân Israel đã đột kích căn cứ hải quân Tartus và Latakia và điểm đóng quân Banias. Tàu chiến Israel chia thành ba nhóm chiến thuật để hoạt động. Khi phản công, các tàu cao tốc tên lửa Syria đã sử dụng tám tên lửa chống hạm, nhưng chúng đều bắn vào các mục tiêu giả. Trong đêm [232] ngày 15 tháng 10, nhóm xung kích các tàu cao tốc Israel (3 tàu cao tốc mang tên lửa và 1 tàu cao tốc phóng lôi) phát hiện trong vịnh Aboukir hai mục tiêu đối phương và họ tiếp cận để tấn công. Các tàu cao tốc Ai Cập, lợi dụng ưu thế về cự y xạ kích, đã tấn công người Israel đầu tiên và bằng 5 tên lửa chống hạm họ đánh chìm 1 tàu cao tốc phóng lôi và 2 tàu cao tốc tên lửa. Một tàu cao tốc tên lửa sống sót của Israel đã bắn trúng tàu cao tốc của đối phương. Tuy nhiên, thủy thủ đoàn tàu Ai Cập đã dập được lửa và đưa tàu về đến căn cứ. Theo nhận định của bộ chỉ huy hạm đội Ai Cập, đó là cuộc tấn công thành công nhất trong toàn bộ thời gian chiến tranh. Các cuộc đụng độ quân sự khác của các bên về cơ bản không nổi bật hơn so với những trường hợp xem xét ở trên.

Trong số 20 tàu cao tốc mang tên lửa có sẵn trong biên chế Hải quân Ai Cập, số tham chiến ở Địa Trung Hải chỉ có 8 tàu. Các tàu thường hoạt động theo các nhóm chiến thuật nhỏ (2 - 4 tàu). Việc triển khai tàu vào khu vực chiến đấu được thực hiện qua các tuyến ven biển ở tốc độ 10-12 hải lý với mục đích ngụy trang làm các tàu đánh cá. Trong thời gian triển khai tuân thủ tuyệt đối sự im lặng vô tuyến. Việc dẫn đường cho các tàu cao tốc Ai Cập hướng đến kẻ thù thực hiện từ các sở chỉ huy bờ theo số liệu của các trạm radar cảnh giới.

Các đài radar trên tàu của người Ai Cập phát hiện được kẻ thù ở cự ly lên đến 27 dặm. Tên lửa phóng theo loạt, 2 đến 6 tên lửa cùng một lúc. Sau loạt phóng, tàu cơ động lui về ở tốc độ 20-24 hải lý dưới sự bảo vệ của các đại đội pháo binh bờ biển. Mặc dù lúc bắt đầu còn ở ngoài tầm bắn của tên lửa "Gabriel", các tàu cao tốc của Israel có tốc độ lớn vẫn bắt kịp đối thủ đang rút lui và phản công bằng đòn tên lửa-pháo. Công tác trinh sát bổ sung thường là không được tiến hành. Các trắc thủ radar hay nhầm mục tiêu trực thăng bay thấp là các mục tiêu trên bề mặt nước. Do đó các cuộc tấn công này chỉ thành công khi phía Israel không sử dụng trực thăng và các phương tiện chiến tranh điện tử. [233]

Trong 3 trận hải chiến các tàu cao tốc Ai Cập đã tiêu diệt được một tàu cao tốc phóng ngư lôi và 3 tàu cao tốc mang tên lửa của kẻ thù, đồng thời họ mất bốn tàu của mình. Một tàu cao tốc Ai Cập bị hư hỏng. Tổng cộng trong suốt chiến tranh, Hải quân Ai Cập mất bảy tàu cao tốc mang tên lửa.

Các hoạt động chiến đấu của các tàu chiến Israel nổi bật ở chỗ có cường độ cao hơn đáng kể. Ngay ngày đầu tiên của chiến tranh đã có 12 tàu cao tốc mang tên lửa được triển khai trên biển. Trong toàn bộ thời gian chiến sự, chúng đã thực hiện hơn 100 lần xuất kích ra khơi.

Tổn thất các loại tàu mặt nước trong cuộc chiến tranh Ả Rập-Israel năm 1973 {22}
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang2-c6_zpsd95d78cc.png) (http://s1185.photobucket.com/user/qtdc2/media/bang2-c6_zpsd95d78cc.png.html)

Tàu cao tốc Israel hoạt động hiệp đồng cùng trực thăng và máy bay cánh cố định, cũng như sử dụng rộng rãi các phương tiện chiến tranh điện tử. Các nhóm chiến thuật có số lượng 5-6 tàu cao tốc tên lửa và tàu cao tốc phóng lôi, thường hoạt động thành hai-ba nhóm một, tấn công [234] từ các hướng khác nhau. Việc triển khai được thực hiện với sự tuân thủ sự im lặng vô tuyến hoàn toàn trên các tuyến hành trình đi qua bên ngoài tầm quan sát của radar. Các đài radar chỉ được bật trên tàu của chỉ huy nhóm chiến thuật trong một thời gian ngắn. Trong khi trận đánh diễn ra, phương tiện thông tin liên lạc và radar được sử dụng không hạn chế.
   
Để làm sai lệch các thông tin về thành phần và các đội hình chiến đấu của nhóm xung kích, các tàu Israel sử dụng các đám nhiễu phản xạ lưỡng cực được bắn ra từ pháo cỡ 76mm, cũng như từ ống phóng đạn phản lực. Khi nằm trong vùng giám sát của radar kẻ thù, các tàu Israel gần như liên tục phóng nhiễu. Khoảng thời gian gián cách giữa các đợt gây nhiễu là 2 - 3 phút, điều đó tạo ra sự xuất hiện của một mục tiêu thực di động. Thời gian sống của các đám mây trên màn hình radar là 3 - 4 phút. Trên màn hình radar lúc đầu xuất hiện một vệt sáng trong khoảng 1-2 phút, sau đó nó bắt đầu tan rã, tạo khả năng khi sử dụng các màn hình radar quy mô lớn, có thể phân loại mục tiêu một cách chính xác.

Bộ chỉ huy Israel trong các trận hải chiến thường sử dụng phổ biến máy bay trực thăng có gương phản xạ radar chuyên dụng, bay ở độ cao 100 - 200 m với vận tốc 50 km / h, mô phỏng các mục tiêu trên mặt nước. Các trắc thủ đài radar trên tàu và trạm radar trên bờ của lực lượng hải quân các nước Ả Rập đã phân loại chúng như những mục tiêu trên mặt nước. Sau khi các tàu Ả Rập phóng tên lửa, trực thăng lấy độ cao 300 - 400 m gấp để tránh tên lửa, sau đó cùng với các tàu cao tốc của mình bắt đầu truy kích kẻ thù đang rút lui.

Với tốc độ 35 - 40 hải lý, các tàu Israel tiến gần đến cự ly xạ kích tên lửa "Gabriel" và thực hành phóng đơn đạn tên lửa với gián cách khoảng 10 giây. Tính đến sức phá hủy không cao của đầu đạn tên lửa "Gabriel", người Israel phóng ba hoặc bốn tên lửa vào cùng một mục tiêu. Sau khi làm suy yếu đáng kể [235] lực lượng hải quân của các nước Ả Rập, bộ chỉ huy Israel chuyển nỗ lực chủ yếu của mình sang việc tấn công các cơ sở trên bờ, sử dụng các cuộc đột kích ban đêm. Hầu như mỗi đêm các tàu cao tốc tên lửa của họ đều tấn công vào các kho chứa dầu mỏ, các trận địa phòng không và các trạm radar, các công trình khác nhau trong các khu vực căn cứ hải quân và các cảng Latakia, Banias, Tartous, Damietta, Port Said, Alexandria và Rosetta. Tàu cao tốc mang tên lửa hoạt động trong các nhóm xung kích quân số 3 - 5 tàu. Trong một số trường hợp, đặc biệt là vào ban ngày, các tàu cao tốc được sự hỗ trợ của máy bay cánh cố định và trực thăng.

Trong quá trình các cuộc đột kích, bộ chỉ huy Israel dành sự chú ý lớn cho công tác trinh sát, ngụy trang, chỉ huy lực lượng một cách bí mật, tác chiến điện tử, tổ chức tất cả các hình thái phòng thủ và đặc biệt là hỗ trợ về hậu cần. Các tàu tuần tra cao tốc, máy bay cánh cố định và trực thăng tiến hành trinh sát trong các khu vực lân cận bờ biển, các phương tiện giám sát trên bờ theo dõi tình hình trên biển và trên không. Công tác chỉ huy các lực lượng được thực hiện một cách tập trung, việc chỉ huy trực tiếp tàu thuyền trong một trận hải chiến - được tiến hành với sự trợ giúp của các hệ thống tự động hóa chỉ huy, được trang bị trên các tàu cao tốc phóng tên lửa.

Để cắt đứt sự giám sát của radar đối phương và đánh lạc hướng nó về vị trí của các lực lượng xung kích chính, cũng như cắt đứt quá trình tự dẫn của tên lửa đối phương, phía Israel sử dụng phương tiện tác chiến điện tử.

Cần lưu ý rằng đối phó với các tàu cao tốc mang tên lửa của Israel, đang thực hiện tấn công vào vùng duyên hải các nước Ả Rập chỉ có các đại đội pháo bờ biển.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s57.gif)
Vị trí các tàu chiến bị đánh chìm trong các cuộc chiến tranh ARập-Israel năm 1967 và 1973

Hoạt động của các lực lượng khác của hải quân các nước tham chiến còn ở mức hạn chế. Trong số 10 tàu ngầm Ai Cập chỉ có một nửa ra khơi tuần tra chiến đấu, thực hiện tổng cộng 10 chuyến xuất kích. Tàu ngầm hoạt động chủ yếu trên các tuyến hàng hải của đối phương, một trong số đó [236], vào ngày 23 tháng 10, đã đánh chìm một tàu chở hàng ở cách 40 dặm về phía tây bắc Alexandria.
   
Các tàu khu trục, các frigate và corvette không tham chiến. Tàu đổ bộ chở hàng phục vụ lục quân.

Hoạt động của lực lượng hải quân ở Biển Đỏ mang tính hạn chế và tập trung chủ yếu vào phòng thủ các căn cứ hải quân và bến cảng, đổ bộ các nhóm biệt kích-trinh sát, đảm bảo công tác vận chuyển hàng hải và thực hiện phong tỏa bờ biển.

Các lực lượng hải quân chính của Israel nằm ở Địa Trung Hải. Tại Biển Đỏ, họ có hơn 20 tàu cao tốc tuần tra, phóng lôi và đổ bộ. Hạm đội Ai Cập tại không gian chiến trường này mạnh hơn rất nhiều.

Nhiệm vụ chính mà bộ chỉ huy Ai Cập giao cho lực lượng hải quân của mình trong khu vực Biển Đỏ là phong tỏa bờ biển và các cảng của kẻ thù. Phương thức hoạt động của lực lượng phong tỏa Ai Cập - các nhóm tàu chiến tuần tra trong khu vực lân cận các cảng của đối phương, và trên các nút giao thông hàng hải cũng như thiết lập các bãi thủy lôi ngăn chặn. Ví dụ, trong khu vực eo biển Tiran, hạm đội Ai Cập đã thiết lập một trận địa thủy lôi, trong đó một tàu chở dầu của Israel bị nổ tung và chìm. Sau đó, phía Israel đã ngừng chở hàng qua Biển Đỏ, mà sử dụng các đường liên lạc bên ngoài các cảng Địa Trung Hải.

Đối phó với sự phong tỏa của Hải quân Ai Cập, bộ chỉ huy Israel thực hiện đánh chặn các tàu cao tốc Ai Cập trên biển, cũng như tấn công vào các điểm đóng quân của họ. Vào đêm 15 tháng 10, các tàu cao tốc Israel tấn công điểm đóng quân Ras Gharib (Vịnh Suez), làm hư hỏng và đánh chìm nhiều tàu đổ bộ nhỏ của Ai Cập. Đồng thời, bộ chỉ huy Israel cố gắng đổ bộ thủy quân lục chiến lên phía bắc khu vực Ras Gharib, nhưng không đạt kết quả. Cuộc đổ bộ [237] bị đẩy lui bởi hỏa lực pháo binh và pháo bờ biển đã bắn chìm một tàu tuần tra Israel.

Vì thiếu lực lượng quét mìn trên diện rộng, bất chấp thực tế đã thả một khối lượng lớn thủy lôi, bộ chỉ huy Israel không thể đảm bảo phòng thủ chống mìn cho lực lượng của mình.

Một điểm đặc trưng của chiến tranh trên biển trong cuộc chiến Ả Rập-Israel năm 1973 là việc [238] so với các cuộc chiến tranh ở các khu vực khác, tại đây tên lửa chống hạm được sử dụng rộng rãi nhất. Trong quá trình chiến đấu, các bên tham chiến đã mất 30 tàu chiến, trong đó 50% bị đánh chìm do trúng tên lửa chống hạm.

Chủ động trong các hoạt động chiến đấu trên biển thuộc về hạm đội của Hải quân Israel, hạm đội Ả Rập chủ yếu là chiến đấu phòng thủ. Tại Biển Đỏ, cả hai bên đều tỏ ra thụ động.

Hải quân Israel thường tổ chức tấn công bờ biển của Syria và Ai Cập, trong quá trình đó thường có các cuộc tao ngộ chiến của các lực lượng nhẹ. Trời tối, kết hợp với ngụy trang và tác chiến điện tử góp phần tạo được thời điểm bất ngờ. Các tàu cao tốc mang tên lửa có xu hướng chiếm lĩnh vị trí hỏa lực trong thời gian ngắn nhất và ở tốc độ tối đa. Đã diễn ra một cuộc chạy đua mạnh mẽ giành quyền bắn loạt đầu tiên. Các đòn tấn công tên lửa từ các tầm bắn hiệu quả nhất (50 - 70% tầm bắn tối đa), từ một hoặc nhiều hướng. Trong quá trình trận đánh, các loạt phóng tên lửa được lặp lại, trong một số trường hợp, người ta sử dụng pháo hạm. Mối quan tâm đặc biệt là tổ chức hợp đồng chiến thuật giữa các tàu cao tốc mang tên lửa của nhóm xung kích với các lực lượng hỗ trợ đảm bảo, phân công mục tiêu rõ ràng, đặc biệt là vào ban đêm và khi có nhiều mục tiêu trong cùng khu vực.

HẾT CHƯƠNG 6
........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 14 Tháng Tám, 2013, 01:35:05 PM
(tiếp)

Chương 7

"Sheffield" yêu cầu giúp đỡ


http://www.youtube.com/watch?v=IUZu8bvxJs4

Quần đảo Falkland (Malvinas) là một quần đảo, trong đó có hai đảo lớn - Đông Falkland (Soledad) và Tây Falkland (Malvinas Grand), và 200 đảo nhỏ và đá nổi ở phía tây nam Đại Tây Dương, cách bờ biển Argentina khoảng 500 km và cách nước Anh 12 triệu km.

Năm 1833, người Anh chiếm lĩnh quần đảo này, và kể từ đó Falklands trở thành lãnh thổ tranh chấp giữa Anh và Argentina. Cả hai bên đều chứng minh mình là người đầu tiên mở mang quần đảo, tạo cơ sở cho chủ quyền của mình với quần đảo. Ở Anh, họ khẳng định G.Davids đã phát hiện quần đảo vào năm 1592, năm 1690, thuyền trưởng người Anh G.Strong đã ghé thăm địa điểm này, phát hiện ra eo biển ngăn cách hai hòn đảo lớn nhất, và lấy tên Lord Falkland của mình đặt cho nó. Sau đó, tên gọi trên được người Anh gắn cho toàn bộ quần đảo. [242]

Ở Argentina, người ta cũng cho rằng quần đảo được khai mở từ trước đó khá lâu bởi người Tây Ban Nha E.Gomes (1520), vì vậy người thừa kế hợp pháp của đế chế thực dân Tây Ban Nha ở Nam Mỹ là Argentina, vậy thì các hòn đảo bị người Anh chiếm đóng phải được chuyển sang cho Argentina. Trong một thời gian dài như vậy, tranh chấp lãnh thổ giữa hai nước có phần mờ nhạt, sau đó lại bùng lên một lần nữa. Vấn đề chủ quyền quần đảo đã được thảo luận tại một số phiên họp của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, tại đó người ta kêu gọi chính phủ của các quốc gia liên quan hãy bắt đầu đàm phán về một giải pháp hòa bình cho vấn đề trên.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/4/4e/Falkland_Islands_topographic_map-en.svg/769px-Falkland_Islands_topographic_map-en.svg.png)
Bản đồ quần đảo Malvinas (Falklands)

Tuy nhiên, vào giữa thập niên 70. tình hình đã thay đổi đáng kể bởi vì người ta phát hiện thềm lục địa của quần đảo Falkland chứa cực nhiều dầu mỏ. Một số chuyên gia nước ngoài nói rằng trữ lượng dầu Falklands cao hơn so với trữ lượng dầu Biển Bắc 13 lần. Ngoài ra, hòn đảo này chiếm một vị trí chiến lược quan trọng, nằm gần những tuyến hàng hải dẫn từ Đại Tây Dương vào Thái Bình Dương. Giữa thế kỷ XIX, thống đốc Anh Moody viết: "vị trí địa lý của quần đảo là rất thuận tiện ... những lợi ích mà nó có thể cung cấp cho giao thương hàng hải ở vùng biển này luôn luôn gây ấn tượng sâu sắc cho những người quan tâm đến điều đó". Ngày hôm nay, các chiến lược gia của Mỹ và Vương quốc Anh tin rằng để đạt mục đích trên sẽ là rất lợi thế khi xây dựng một căn cứ quân sự trên quần đảo Falkland, đó sẽ là trung tâm sức mạnh quân sự ở Nam Đại Tây Dương, ví dụ như căn cứ tiền tiêu của Mỹ ở Diego Garcia trên Ấn Độ Dương. Vì vấn đề này, nước Anh đã mạnh mẽ tăng cường các hoạt động củng cố quyền sở hữu quần đảo. Trong các cuộc đàm phán ngoại giao, họ đặt cao các yêu cầu đến mức rõ ràng Argentina không thể chấp nhận vì nó vi phạm quyền lợi của nước này. Quá trình tiếp theo của các sự kiện cho thấy chính phủ của đảng Tory có ý định tiến hành các cuộc đàm phán về [243] quần đảo Falkland chỉ từ quan điểm sức mạnh.

Mỹ đóng vai trò không kém phần quan trọng trong việc làm gay gắt tình hình xung đột, dù ban đầu Mỹ cố gắng đảm nhận vai trò trung gian hòa giải các tranh chấp, đồng thời tăng cường ảnh hưởng của mình trong khu vực, và sau đó, họ khai mào cấm vận cùng các thành viên khối NATO, tạo điều kiện bùng nổ của "cuộc chiến tranh nhỏ".

Ngày 19 tháng 3 năm 1982 vài chục công nhân Argentina của một công ty chế biến sắt vụn đến đảo Nam Georgia để tháo dỡ một trạm đánh bắt cá voi cũ. Theo các thỏa thuận năm 1971, họ được sự cấp phép nhập cảnh từ Đại sứ quán Anh tại Buenos Aires. Tuy nhiên, nhà chức trách tại Nam Georgia từ chối công nhận quyền của người lao động Argentina được ở trên đảo. Tình hình còn tệ hơn bởi chuyện người Argentina đã kéo lên trên đảo lá cờ quốc gia của mình. Thực tế này được London coi như một "thách thức", "sự hiện diện bất hợp pháp", đại diện cho một mối nguy hiểm tiềm tàng và đòi hỏi phải có các "biện pháp an ninh."

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/1/17/PALVdeMayoV-2.jpg/800px-PALVdeMayoV-2.jpg)
ARA Veinticinco de Mayo (V-2) - tàu sân bay của Argentina, vốn là tàu sân bay của Anh chế tạo, từng phục vụ trong Hải quân Anh (HMS Venerable (R63)) và Hải quân Hoàng gia Hà Lan (HNLMS Karel Doorman (R81)) trước khi được Hà Lan bán cho Argentina năm 1968. Ảnh chụp quãng 1978-1980. (http://en.wikipedia.org/wiki/ARA_Veinticinco_de_Mayo_(V-2))

Ngày 30 tháng 3, lực lượng hải quân Argentina đã được phái tới khu vực quần đảo Falkland, bao gồm một tàu sân bay, 1 tàu tuần dương, 2 tàu khu trục mang tên lửa có điều khiển, 1 frigate mang tên lửa có điều khiển và một tàu ngầm, một chi đội đổ bộ gồm ba tàu đổ bộ và ba tàu vận tải chở lính thủy quân lục chiến trên tàu. Ngày 02 tháng 4 tại Đông Falkland họ đã đổ bộ đường biển (750 người) và đổ bộ đường không (500 người). Sau một trận đánh kéo dài 3 giờ, các đơn vị đồn trú Anh đầu hàng. Cùng ngày, Chính phủ Anh cắt đứt quan hệ ngoại giao với Argentina, và 3 ngày sau đó phái đến bờ biển quần đảo một nhóm lực lượng lớn của Hải quân Anh nhằm khôi phục lại tình trạng thuộc địa của lãnh thổ này. Ngược lại, phía Argentina cũng bắt đầu tăng cường lực lượng trong khu vực, để không [244] cho phép đối phương chiếm quần đảo. Vậy là giữa Argentina và Vương quốc Anh đã ở trong tình trạng đối đầu quân sự. Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc trong bị vong lục số 502 ngày 03 tháng 4 năm 1982 kêu gọi cả hai bên để chấm dứt tình trạng chiến tranh, rút quân khỏi quần đảo Argentina và bắt đầu đàm phán hòa bình. Tuy nhiên, cả hai bên không chấp nhận lời kêu gọi này.

Như vậy, nguyên nhân của cuộc xung đột là những tranh chấp lãnh thổ giữa một cường quốc đế quốc hàng đầu, một thành viên của khối quân sự NATO là nước Anh, một bên là một đất nước đang phát triển tư bản chủ nghĩa, một thành viên của Tổ chức các nước châu Mỹ, nước Argentina - mặt khác là cả sự miễn cưỡng của chính phủ Tory trong việc từ bỏ chính sách thuộc địa của nó {23}

Mặc dù thời gian của cuộc chiến tranh tương đối ngắn (74 ngày), quy mô và mục đích hạn chế, nước Anh đã đưa vào tham chiến các đơn vị cơ sở, các phân đội và đơn vị hợp thành của tất cả các quân binh chủng lực lượng vũ trang cùng sự huy động các con tàu của các công ty tư nhân. Tuy nhiên, Hải quân Hoàng gia đóng vai trò chính, họ giải quyết một loạt các nhiệm vụ: phong tỏa đường biển và đường không quần đảo Falkland, tiêu diệt các tàu chiến và tàu vận tải của đối phương, yểm trợ các đơn vị hợp thành tác chiến thủy bộ khi di chuyển trên biển, đổ bộ đường biển, hỗ trợ hỏa lực trong các cuộc đổ bộ quân đội lên đảo và khi thực hành chiến đấu trên bờ, bảo vệ các tuyến hàng hải trên đại dương trước lực lượng trên không và trên mặt nước của đối phương.

Tổng cộng tham gia trong các hoạt động chiến tranh từ cả hai phía có 60.000 quân nhân, hơn 180 tàu chiến, 350 máy bay chiến đấu cánh cố định và trực thăng. [245]

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/b/b6/Falklands%2C_Campaign%2C_%28Distances_to_bases%29_1982.jpg/460px-Falklands%2C_Campaign%2C_%28Distances_to_bases%29_1982.jpg)

Xung đột quân sự giữa Argentina và Anh bắt đầu vào giữa tháng 3 năm 1982 sau khi nhóm công nhân Argentina đổ bộ xuống đảo Nam Georgia và kéo lá cờ quốc gia Argentina trên đảo.

Vào đầu tháng Tư, các lực lượng vũ trang Argentina thực hiện "Chiến dịch Rosario" chiếm quần đảo Falkland. Đầu tiên biệt kích-người nhái Argentina trên những chiếc thuyền cao su đổ bộ lên Cape Pembroke (Đông Falkland), chiếm ngọn hải đăng ở lối vào cảng Stanley, theo sau là 300 lính thủy quân lục chiến đổ bộ từ tàu đổ bộ "Cabo San Antonio". Phần thứ hai của lực lượng đổ bộ quân số 450 người đã đổ bộ trực tiếp vào cảng Stanley.

Gần như đồng thời với việc đổ bộ lính thủy đánh bộ, quân đổ bộ đường không được ném xuống sân bay Port Stanley (500 người), họ được 6 máy bay "Hercules" chở đến khu vực từ căn cứ không quân Commodore Rivadavia và Rio-Gallegos.

Sau một cuộc giao tranh 3 giờ đồng hồ, đội quân Anh đồn trú khoảng 80 người hạ vũ khí, và sau đó họ được chuyển vượt biển tới Uruguay.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/9/94/British_Surrender.jpg)
Thủy quân lục chiến Hoàng gia Anh giao nộp vũ khí, đầu hàng quân commandos Argentina ngày 2 tháng 4 năm 1982. Bắt đầu cuộc chiến tranh Malvinas. (http://en.wikipedia.org/wiki/1982_invasion_of_the_Falkland_Islands)

Các diễn biến phát triển tiếp như sau. Sau khi cắt đứt quan hệ ngoại giao với Argentina, từ ngày 05 Tháng 4 lực lượng viễn chinh Anh bắt đầu triển khai đến Nam Đại Tây Dương. Từ 5 tháng 4 - 15 Tháng 6, người Anh đã triển khai trong khu chiến gần 100 tàu chiến các loại, trên đó chở khoảng 9.000 quân đổ bộ, 70 máy bay cất hạ cánh thẳng đứng, và hơn 80 trực thăng.

Tới ngày 30 tháng 4, quân số các đơn vị đồn trú Argentina trên quần đảo Falkland đã lên đến 11 nghìn người.

Cùng với việc các tàu chiến của quân viễn chinh Anh tiếp cận quần đảo Falkland, cuộc phong tỏa đường không và đường biển quần đảo bắt đầu. Không có các nỗ lực nghiêm túc từ phía Argentina để chọc thủng sự phong tỏa trên [246]. Sau vụ chìm tuần dương hạm Argentina "General Belgrano" (2 tháng 5), quyền chủ động trên biển đã hoàn toàn chuyển sang người Anh. {24} Trước hết sự thụ động của Hải quân Argentina đã cho phép người Anh dễ dàng đạt được sự cách ly hoàn toàn quần đảo Falkland. Trong tiến trình chiến sự, mối đe dọa thực sự cho lực lượng viễn chinh Anh duy nhất chỉ là lực lượng không quân Argentina, thường xuyên tấn công các tàu chiến và tàu hỗ trợ của đối phương. Ngày 25 tháng 4, sau khi đổ bộ chiến thuật lên đảo Nam Georgia, người Anh chiếm được đảo và tạo ra tại đây một căn cứ tiền đồn.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/7/73/Operation_Azul.jpg/800px-Operation_Azul.jpg)
Chiến dịch "Rosario" của quân đội Argentina chiếm quần đảo Malvinas

Ngày 21 tháng 5 lúc 2:00 giờ sáng giờ địa phương, tại một khu vực không được bảo vệ ở San Carlos Bay thủy quân lục chiến Anh đã đổ bộ. Ngày hôm sau tại đầu cầu chiếm được. thê đội 2 quân đội Anh được đổ bộ cùng với vũ khí pháo binh và tên lửa, vũ khí chống tăng và xe tăng hạng nhẹ "Scorpion". Cuộc đổ bộ thê đội thứ ba quân đội Anh được thực hiện trong quá trình cuộc chiến giành đảo, tại đây quyền chủ động cũng thuộc về người Anh. Bộ chỉ huy Argentina không tiến hành các hoạt động tấn công, hạn chế ở công tác phòng thủ và hy vọng sẽ giành chiến thắng trong trận chiến quyết định giành Port-Stanley.

Ngày 02 Tháng 6 quân đội và hạm đội Anh đã hoàn toàn phong tỏa các đơn vị đồn trú Argentina trong [247] khu vực Port-Stanley và bắt đầu chuẩn bị đánh chiếm nó. Các cuộc tấn công quyết định vào Port Stanley được tiến hành ngày 12 tháng 6, với sự hỗ trợ của không quân và pháo hạm. Trong hoàn cảnh phức tạp này, ngày 14 tháng 6 các đơn vị đồn trú Argentina đã phải đầu hàng.


Hạm đội Anh vượt đại dương

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s58.gif)
Sự triển khai lực lượng viễn chinh Anh tại Nam Đại Tây Dương

Kế hoạch hành động của lực lượng viễn chinh Anh ở Nam Đại Tây Dương, dựa trên sự việc thực tế là thiếu các căn cứ gần quần đảo Falkland. Do đó, bộ chỉ huy Anh lập kế hoạch ban đầu đánh chiếm đảo Nam Georgia, xây dựng trên đảo một căn cứ tiền tiêu, thiết lập sự phong tỏa đường biển và đường không quần đảo Falkland, bằng các cuộc không kích và pháo kích sẽ bắn phá làm suy yếu khả năng phòng thủ và làm mất tinh thần các đơn vị đồn trú Argentina, tiếp theo là đổ bộ quân đội lên quần đảo để đánh chiếm nó.

Nỗ lực tạo ra một ưu thế áp đảo về lực lượng và trang bị, người Anh gửi đến Nam Đại Tây Dương một nửa số tàu sẵn sàng chiến đấu trong tổng số các tàu thuộc lực lượng hải quân của họ. Về tổ chức chúng tập hợp trong đơn vị đặc nhiệm số 317, thành phần của đơn vị hợp thành này khá cân bằng. Đơn vị chia thành các nhóm tàu sân bay 317.8 và 317.9. Chỉ huy binh đoàn là tư lệnh phân hạm tàu mặt nước số 1, Chuẩn Đô đốc D. Woodward (trước đây ông chỉ huy các tàu ngầm, tàu khu trục mang tên lửa có điều khiển "Sheffield", từng là trưởng phòng tác chiến Bộ tham mưu Hải quân Anh).

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/a/aa/HMS_Hermes_1982_DN-SN-82-04757s.jpg/615px-HMS_Hermes_1982_DN-SN-82-04757s.jpg)
Tàu sân bay Anh - HMS "Hermes" (R12), ngày 16 tháng 3 năm 1982. Năm 1986 được bán cho Ấn Độ và chuyển thành tàu sân bay INS Viraat (R22), hiện còn hoạt động. (http://en.wikipedia.org/wiki/INS_Viraat)

Trong đơn vị đặc nhiệm 317 có 2 tàu sân bay, 11 tàu khu trục (trong số đó có 8 khu trục hạm mang tên lửa có điều khiển kiểu "Sheffield"), 27 frigate, 3 tàu ngầm nguyên tử và 1 tàu ngầm diesel, 2 tàu dok-đổ bộ chở trực thăng, 6 tàu đổ bộ chở xe tăng, hai tàu quét mìn và các loại tàu khác. Binh đoàn bao gồm các tàu hiện đại nhất mà mới đưa vào biên chế gần đây, hoặc được hiện đại hóa trong thập kỷ vừa qua. Trên một số tàu [248] còn có vũ khí hạt nhân, sẵn sàng để sử dụng ngay lập tức.

Để đảm bảo và tăng cường tàu cho lực lượng đặc nhiệm chính phủ đã thuê 70 tàu thủy dân sự các loại khác nhau.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/5/51/HMS_Invincible_%28R05%29_Norfolk.jpg/640px-HMS_Invincible_%28R05%29_Norfolk.jpg)
HMS "Invincible" (R-05), tại Mỹ năm 1990 (http://en.wikipedia.org/wiki/File:HMS_Invincible_(R05)_Norfolk.jpg)

Hạt nhân của lực lượng đặc nhiệm là các tàu sân bay chống tàu ngầm "Hermes" và "Invincible", cùng với các tàu hộ tống tạo thành nhóm xung kích tàu sân bay. Tùy thuộc vào các nhiệm vụ phải giải quyết, bộ chỉ huy Anh đã thành lập các nhóm đặc nhiệm cho các mục đích khác nhau: tàu hỗ trợ, yểm hộ quân đổ bộ, lực lượng quét-thả mìn, lực lượng tác chiến thủy bộ, bổ sung dự trữ trên biển (hậu cần nổi) và đảm bảo hậu cần. Đội hình chiến đấu và hành quân, tổ chức tất cả các dạng phòng thủ tuân thủ các tiêu chuẩn trong bộ tiêu chuẩn chung của lực lượng hải quân NATO. Thường xuyên trong thành phần nhóm hộ tống các tàu sân bay có một tàu ngầm hạt nhân đa năng.
........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 15 Tháng Tám, 2013, 11:03:50 AM
(tiếp)

Tàu các loại của Argentina và Vương quốc Anh, tham gia trong các hoạt động chiến đấu
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang1-c7_zps345c15a5.png) (http://s1185.photobucket.com/user/qtdc2/media/bang1-c7_zps345c15a5.png.html)

Để lãnh đạo chung nhóm quân đội và lực lượng hạm đội đã thành lập một bộ tham mưu đặc biệt đứng đầu là Tư lệnh Hải quân Anh đô đốc G.Fildhaus. Trong bộ tham mưu có Tư lệnh Không quân Anh nguyên soái không quân G.Curtis, tham mưu trưởng hải quân phó đô đốc D.Halifaxs, tư lệnh lực lượng tàu ngầm phó đô đốc P.Herbet, tư lệnh thủy quân lục chiến thiếu tướng J.Мoore, Tổng cục trưởng Tổng cục Đảm bảo vật chất-kỹ thuật Hải quân Anh chuẩn đô đốc P.Hammersly. Đồng thời bộ tham mưu là cơ quan tư vấn cho chính phủ về các vấn đề quân sự của cuộc xung đột. Bộ tham mưu đóng tại Norwood gần London. Lãnh đạo trực tiếp các lực lượng trong khu vực xung đột là tư lệnh đơn vị đặc nhiệm 317 chuẩn đô đốc D.Woodward.

Để đảm bảo thông tin liên lạc cho bộ tham mưu làm công tác lãnh đạo chỉ huy từ trên kỳ hạm «Hеrmes» người ta đưa lên quỹ đạo địa tĩnh vệ tinh nhân tạo của Anh «Gefiller». Việc chỉ huy các lực lượng đảm bảo cũng thông qua các vệ tinh nhân tạo Hoa Kỳ và hệ thống liên lạc quân sự duyên hải phía đông của Canada, mà các đồng minh NATO giúp bộ chỉ huy Anh trong thời gian xung đột.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/13.jpg)
Tàu "Atlantic Conveyor" sau khi cải tạo. Sau bức tường chắn là boong bay.

Ta có thể nhận thấy tính hiệu quả cao trong việc triển khai các lực lượng viễn chinh Anh. Chẳng hạn, lực lượng thê đội thứ nhất  rời các căn cứ hải quân ở chính quốc ngày 05 tháng 4, nghĩa là 3 ngày sau khi chính phủ quyết định phái chúng đến Nam Đại Tây Dương, với nhiều tàu thuyền được bổ sung hậu cần-trang bị chỉ mới ở mức 80%. Cung cấp bổ sung cho các lực lượng này được thực hiện qua việc ghé vào căn cứ trung gian, nằm trên đảo Ascension. Dự trữ hàng hóa cần thiết được máy bay  vận tải quân sự chuyển tới đảo Ascension trước khi các lực lượng thê đội 1 đến đảo. Tất cả các tàu, thuyền đều ghé vào căn cứ trên để tiếp tế bổ sung dự trữ các loại, sửa chữa phần trang bị vật chất và cho đội ngũ quân nhân nghỉ ngơi. [250]

Việc triển khai được thực hiện theo ba thê đội. Một số tàu thuyền đã tự thân di chuyển. Trong thời gian này, trên các con tàu đã tổ chức huấn luyện chiến đấu rất khẩn trương. Trong giai đoạn triển khai Hải quân Argentina không hề có biện pháp đối phó nào.

Thê đội đầu tiên (25 tàu chiến và 16 tàu hỗ trợ) bao gồm các lực lượng đang sẵn sàng chiến đấu vào thời điểm đó, chúng đang tập trung ở các căn cứ đô thị, tại Gibraltar, cũng như đang huấn luyện quân sự ở khu vực quần đảo Bahamas. Nền tảng của thê đội 2 là các tàu sân bay chống ngầm "Hermes" và "Invincible", trên boong của chúng có 20 máy bay cất-hạ cánh thẳng đứng "Sea Harrier". Trên các tàu vận tải có các đơn vị Thủy quân lục chiến mà quân số lên đến 3.500 người. Thời gian triển khai của thê đội thứ nhất là 27 ngày đêm.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s59.gif)
Sự gia tăng lực lượng quân viễn chinh Anh ở Nam Đại Tây Dương

Thê đội thứ hai gồm 14 tàu chiến và 9 tàu phụ trợ​​. Trên 9 tàu đó có 1.500 quân đổ bộ. Trên tàu container "Atlantic Conveyor" người ta chuyên chở đến vùng chiến sự 20 máy bay "Harrier" và "Sea Harrier". Việc triển khai thê đội thứ hai chiếm mất 28 ngày (từ 18 tháng 4 - 15 tháng 5).

Trong thê đội thứ ba có 7 tàu chiến và 11 tàu hỗ trợ. Có đến 20 máy bay "Harrier" và "Sea Harrier" đặt căn cứ trên tàu container đã được trang bị lại "Atlantic Causeway". Trên các tàu hỗ trợ người ta chuyển tới ba ngàn người thuộc biên chế một lữ đoàn bộ binh cơ giới. Thê đội thứ ba di chuyển mất tất cả 35 ngày (từ 10 Tháng 5 - 15 tháng 6).

Đồng thời, người Anh di chuyển căn cứ một cụm không quân lớn sang căn cứ không quân Mỹ nằm trên đảo Ascension, còn một phi đoàn máy bay cất hạ cánh thẳng đứng cùng với một số máy bay tiếp dầu trên không thực hiện các chuyến bay từ quần đảo Anh quốc đến Nam [251] Đại Tây Dương (với điểm dừng chân trên đảo Ascension). Việc tiếp nhiên liệu trên không do các máy bay Mỹ KC-135 thực hiện.

Nhìn chung, việc triển khai các lực lượng viễn chinh Anh đã được tiến hành có tổ chức và diễn ra với tốc độ trung bình khá cao (khoảng 15 hải lý). Với chiều dài của tuyến hành trình 7100 dặm [252], thời gian di chuyển của một thê đội dao động từ 27-35 ngày (12-14 ngày - đi đến đảo Ascension, 3 - 4 ngày - bổ sung dự trữ vật chất và nghỉ ngơi cho đội ngũ quân nhân viên tại hòn đảo này, 10 - 12 ngày - di chuyển từ đảo Ascension đến quần đảo Falkland).

Như vậy, Vương quốc Anh đã chứng minh khả năng trong một thời gian ngắn xây dựng và triển khai đến một khu vực hẻo lánh một cụm lớn các lực lượng vũ trang của mình, được trang bị các loại vũ khí hiện đại nhất. Tổng cộng để tiến hành các hoạt động chiến đấu ở Nam Đại Tây Dương, Vương quốc Anh, trong khi tăng cường lực lượng một cách nhất quán và trực quan, đã có thể triển khai trong 2 tháng rưỡi đến 100 tàu các loại, trên đó chở 9 nghìn quân đổ bộ, 50 máy bay cất hạ cánh thẳng đứng, trên 80 trực thăng.

Trong giai đoạn triển khai lực lượng, chính phủ Anh đã thực hiện một loạt biện pháp chính trị đối với Argentina. Họ thành công trong việc lôi kéo về phía mình phần lớn các đồng minh NATO và EEC. Đã ban bố lệnh cấm vận các sản phẩm quân sự cho Argentina, cấm xuất khẩu từ Argentina đến các nước EEC. Chỉ riêng hành động sau cũng gây tổn hại cho Argentina số tiền 40 triệu USD trong một tuần.

(http://www.combatreform.org/atlanticconveyorharrierlanding.jpg)
"Sea Harrier" cất cánh từ "Atlantic Conveyor"

Chính phủ Argentina, nhìn thấy công tác chuẩn bị chiến tranh thực tế của người Anh, đã tiến hành tổng động viên một phần, bố trí lại các đơn vị lục quân và không quân độc lập ở phía nam của đất nước, cũng như tăng quân đồn trú trên quần đảo Falkland. Bằng đường hàng không và đường biển họ đã chuyển giao đến các đảo khoảng 11 nghìn người, 17 xe tăng hạng nhẹ AMX-13, 77 xe bọc thép, gần 70 khẩu pháo và súng cối, các hệ thống phòng không "Roland" và "Tigercat", pháo PK 20 mm và 35 mm và các đài radar. Ngoài ra, quần đảo Falkland còn được cung cấp đủ dự trữ vật chất, cho phép nó chiến đấu trong sự cô lập hoàn toàn khoảng một tháng rưỡi. [253]

Để đấu tranh chống lại những kẻ thù trên biển, người Argentina đã xây dựng 2 nhóm tàu chiến (16 chiếc, bao gồm tàu sân bay "Veintiicinco de Mayo" và tàu tuần dương "General Belgrano") để tuần tra chiến đấu dọc theo bờ biển lục địa của đất nước. Tổng cộng, tham gia chiến đấu chỉ có 25 tàu chiến, ít hơn 30% biên chế chiến đấu của Hải quân. [254]

Trên các hướng có nguy cơ đổ bộ đã thiết lập các bãi mìn neo tiếp xúc sản xuất tại Đức (thời Chiến tranh Thế giới thứ Hai). Tuy nhiên, các khu vực bố trí của chúng được lựa chọn không hoàn toàn đúng đắn, và số lượng mìn cũng còn nhỏ.

Lãnh đạo chung các hoạt động chiến đấu của quân đội Argentina do Bộ Tổng tham mưu các lực lượng vũ trang Argentina thực hiện, đứng đầu là tổng thống nước này, tướng L.Galtieri. Để trực tiếp chỉ huy các lực lượng, từ ngày 10 đã có thêm hai bộ chỉ huy hải quân bổ sung - trong khu vực Nam Đại Tây Dương, có ban tham mưu đóng tại Puerto Belgrano và chiến trường phía Nam, có ban tham mưu tại Commodore Rivadavia. Đã thiết lập ranh giới của không gian chiến trường phía Nam. Chỉ huy quân đội tại quần đảo Falkland, được tuyên bố là tỉnh thứ 24 của Argentina, được giao cho tướng M.Menendes (ông cũng là Thống đốc quần đảo Falkland).

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s60.gif)
Hoạt động của các lực lượng thuộc các nhóm tàu sân bay xung kích trong cuộc xung đột Anh - Argentina

Nhìn chung, hoạt động của bộ chỉ huy Argentina không đủ kiên quết và có tổ chức, điều này không cho phép tạo được sự phòng thủ chắc chắn cho quần đảo Falkland.

Đối diện với đơn vị đặc nhiệm hùng mạnh của nước Anh, Argentina chỉ có thể phản ứng bằng lực lượng Hải quân tụt hậu khá xa của mình, cốt lõi của nó là tàu sân bay hạng nhẹ "Veinticinko de Mayo" vốn do Anh đóng, có lượng dẫn nước toàn bộ 19.896 tấn, và tàu tuần dương cũ do Mỹ đóng "General Belgrano" lượng dẫn nước 10.300 tấn. Chỉ có hai tàu khu trục mang tên lửa có điều khiển đề án 42 của Anh "Hercules" và "Santísima Trinidad" xét về đặc điểm kỹ-chiến thuật có thể so sánh với các tàu của Anh. Để tiếp nhiên liệu cho tàu trên biển, họ chỉ chuẩn bị được một tàu chở dầu - "Punta Medanos".

Hạn chế lớn nhất của Hải quân Argentina - tính chất phân tán của các dạng tàu và các hệ thống vũ khí, được mua tại Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Israel và các nước khác. Tàu có khả năng [255] chống tàu ngầm thấp. Do thiếu cơ sở đào tạo mức độ huấn luyện của đội ngũ quân nhân cũng thấp.

Đơn vị đặc nhiệm Anh vượt trội so với Hải quân Argentina về số lượng thiết bị phóng tên lửa chống hạm gấp 1,5 lần, còn tính theo số lượng bệ phóng tên lửa phòng không - gấp 7 lần.

Người Anh có ưu thế áp đảo về cơ cấu tàu chiến trong khu vực xung đột, bởi vì vụ đánh chìm tàu tuần dương "General Belgrano" trong những ngày đầu của cuộc xung đột và mối đe dọa thường xuyên thể hiện của tàu ngầm hạt nhân Anh đã dẫn Hải quân Argentina đến sự bế tắc hoàn toàn, tàu Argentina hầu như không ra khỏi giới hạn lãnh hải của họ.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/1/19/Super_Etendard_ARA_204.jpg)
Máy bay Super Etendard của Hải quân Argentina (có sơn ký hiệu ghi nhận chiến tích tiêu diệt tàu Atlantic Conveyor của Anh). (http://en.wikipedia.org/wiki/Argentine_air_forces_in_the_Falklands_War)

Vào đầu cuộc xung đột ưu thế về lực lượng không quân nằm về phía Argentina. Trong LLKQ của họ có 450 phương tiện bay (278 máy bay chiến đấu, trong đó 90% sẵn sàng chiến đấu). Thực tế người Anh phải đối phó với không hơn 200 máy bay chiến đấu: 6 máy bay cường kích "Super Étendard", 21 máy bay tiêm kích "Mirage" 3E và 23 máy bay "Dagger" 34M, 75 cường kích "Skyhawk" A-4P, 10 máy bay trinh sát "Canberra" B-62, 14 máy bay "Skyhawk» A-4Q trong thành phần hải quân (trên tàu sân bay).

Lực lượng không quân Argentina được trang bị chủ yếu loại bom lỗi thời Mk 82 và Mk 84, tên  có điều khiển R.550 "Magique" và R.530 "Matra" và một số lượng nhỏ bom Mỹ loại hiện đại Mk 83. Hầu hết các máy bay có thiết bị điện tử đã lạc hậu, điều đó hạn chế rất nhiều hoạt động của chúng trong điều kiện thời tiết bất lợi.

Người Anh chỉ có thể đối phó bằng 20 máy bay "Sea Harrier", nằm trên tàu sân bay chống tàu ngầm "Hermes" (12 chiếc) và "Invincible" (8 chiếc). Tuy nhiên, lợi thế của KQ Argentina đã nhanh chóng giảm về không. Các tàu chở container được trang bị lại [256] thành tàu sân bay đã chuyển đến khu vực xung đột 30 máy bay "Harrier" và "Sea Harrier" và 1 phi đoàn máy bay cùng loại với một số máy bay tiếp nhiên liệu trên không đã thực hiện chuyến bay từ quần đảo Anh quốc đến Nam Đại Tây Dương. Ngoài ra, chính phủ Mỹ cho phép các máy bay của Không quân Anh hạ cánh và tiếp dầu tại căn cứ không quân Mỹ nằm trên đảo Ascension. Xuất phát hoạt động từ căn cứ có các máy bay ném bom chiến lược "Vulcan" của Anh (10 chiếc), máy bay tuần biển "Nimrod» MR-2 (5 chiếc), máy bay tiếp dầu "Victor" (15 chiếc), máy bay trinh sát "Canberra", vào giữa tháng Năm còn có thêm 14 chiếc "Sea Harrier" gia nhập lực lượng này.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/7/74/FAA_Air_Bases_1982a.gif)
Các sân bay Argentina năm 1982 (http://en.wikipedia.org/wiki/Argentine_air_forces_in_the_Falklands_War)

Hơn 80 máy bay trực thăng thuộc tám loại ("Lynx", "Wessex", "Sea King", "War Sea", "Chinook", "Gazelle", "Commando" và "Scout") đóng căn cứ trên các tàu của lực lượng đặc nhiệm.

Ảnh hưởng tới quá trình đấu tranh giành quyền kiểm soát trên không là những dự tính sai lầm của bộ chỉ huy Argentina trong việc sử dụng KQ và trình độ huấn luyện chưa đủ cao của các phi công Argentina. Ngay cả khi mọi việc đã chứng tỏ rõ ràng rằng nước Anh có ý định giải quyết xung đột bằng biện pháp quân sự, bộ chỉ huy Argentina cũng không thực hiện bất kỳ biện pháp để kéo dài các đường băng trên các đảo và xây dựng nơi trú ẩn cho máy bay. Ba đường băng có sẵn trên quần đảo Falklands không đảm bảo cho việc cất hạ cánh của các loại máy bay hiện đại, đặc biệt là trong điều kiện thời tiết bất lợi (Port-Stanley - chiều dài đường băng bê tông 1.200m, Goose-Green và đảo Pebble - đường băng đất nện). Do đó, các phi công Argentina buộc phải cất cánh từ các sân bay trên lục địa và hoạt động trên giới hạn của bán kính chiến thuật, do vậy máy bay cất cánh với những hạn chế về tải trọng chiến đấu và chỉ có thể hoạt động trong khu vực xung đột trong vòng vài phút. Chính bởi nguyên nhân trên, [258] Không quân Argentina gần như chỉ có thể thực hiện 1 cuộc tấn công lớn trong vòng 3 ngày. Ngoài ra, các phi công Argentina  không thể xuất kích tấn công lặp lại và bị hạn chế trong việc tự mình tìm kiếm mục tiêu cho riêng mình, đó là lý do tại sao hầu hết các cuộc tấn công của không quân Argentina được thực hiện vào các mục tiêu trong các giới hạn trực quan hoặc trong tầm nhìn của radar từ quần đảo Falkland. Đến lượt mình, khi tính đến sự yếu kém đó của không quân Argentina, bộ chỉ huy Anh đã tìm cách giữ các tàu của mình trong khu vực phía đông quần đảo, còn việc chuyển quân từ các tàu dân sự sang các tàu đổ bộ (để ngăn ngừa tổn thất các đối tượng có giá trị) được thực hiện ngoài vòng bán kính chiến thuật của máy bay đối phương.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/6/6c/FAA_Air_Bases_1982.gif)
Các căn cứ KQ Argentina năm 1982 (http://en.wikipedia.org/wiki/Argentine_air_forces_in_the_Falklands_War)

Máy bay Anh "Sea Harrier" được trang bị hai tên lửa "Sidewinder» AIM-9L, cho phép khai hỏa ngay vào các mục tiêu tao ngộ. Máy bay tiêm kích của Argentina trang bị bản sửa đổi lần đầu tên lửa "Sidewinder", mà các phi công Anh có thể tránh khá dễ dàng.

Bộ chỉ huy Argentina còn phạm sai lầm vì đã không cố gắng để đưa tàu sân bay của mình vào chiến đấu, từ đó có thể cất cánh xuất kích 14 máy bay cường kích "Skyhawk", 6 máy bay chống ngầm "Tracker" và 4 máy bay trực thăng. Các kíp bay máy bay cường kích "Super Étendard" chưa được huấn luyện để bay từ tàu sân bay.

Một trong những mặt yếu của không quân Argentina là trong biên chế của họ chỉ có 2 máy bay tiếp dầu "Hercules", do đó một phần máy bay chiến đấu được sử dụng như máy bay tiếp dầu. Chẳng hạn, máy bay tiêm kích chiến thuật "Mirage" treo hai thùng dầu chứa 1700 lít nhiên liệu, còn trên máy bay "Dagger" - hai thùng như vậy hoặc ba thùng 1300 lít, điều đó tất nhiên làm giảm tải trọng chiến đấu. Cụ thể trên một chiếc máy bay, [259] thường chỉ treo hai quả bom cỡ 500 £. Để đảm bảo tiếp nhiên liệu trên không cho các máy bay công kích, người ta sử dụng các máy bay chiến đấu chỉ treo thùng nhiên liệu mà không mang vũ khí, sau khi tiếp dầu chúng quay trở lại căn cứ không quân. Việc sử dụng các máy bay chiến đấu như máy bay tiếp dầu đã làm giảm số lượng các máy bay tấn công, cũng như gây trở ngại cho việc bổ sung nhanh chóng tổn thất máy bay trực tiếp công kích.

Một thực tế cũng không kém phần quan trọng là chưa chuẩn bị được các phi công Argentina chiến đấu ban đêm. Các phi công Anh có thể hoạt động thành công cả ngày lẫn đêm, còn tàu sân bay của họ triển khai trực tiếp trong khu chiến, cho phép các máy bay "Sea Harrier" và "Harrier" ở trên không trong khoảng 1,5 giờ, hoạt động ở cự ly cách tàu sân bay đến 150 km.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/18.jpg)
Sân bay Mỹ trên đảo Ascension. Đây là căn cứ được LLKQ Anh sử dụng làm điểm trung gian trên đường tới quần đảo Falkland.
..........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 15 Tháng Tám, 2013, 07:58:32 PM
(tiếp)

Nói chung, sau khi xây dựng cụm không quân, có quân số trang bị lên đến 200 máy bay và trực thăng, người Anh đã giành quyền kiểm soát không trung trước khi đổ bộ tấn công và duy trì nó cho đến khi chiếm được hoàn toàn quần đảo Falkland.

Tương quan tổng thể về các lực lượng mặt đất là 1:1,3 nghiêng về phía Argentina. Tuy nhiên, các vũ khí tốt nhất của lực lượng vũ trang Anh cân bằng được lợi thế nhỏ về quân số này. Người Anh được trang bị xe tăng hạng nhẹ "Scorpion" (30 chiếc), pháo 105 ly và súng cối 81 mm (khoảng 100 khẩu), hỏa tiễn chống tăng có điều khiển "Milan", hệ thống phòng không vác vai "Blow Pipe", tên lửa PK lục quân trên xe kéo "Rapier" và các xe bọc thép chở quân. Một ưu thế đặc biệt hữu ích là quân đội Anh có các thiết bị nhìn đêm, mà đối phương không có. Ngoài ra, sự hiểu biết chi tiết về các đặc tính kỹ-chiến thuật của các trang thiết bị thuộc lực lượng vũ trang Argentina, phương thức hoạt động và thủ đoạn chiến thuật của họ cũng đặt người Anh vào một vị trí thuận lợi. [260]

Khi đánh giá tương quan lực lượng các bên nói chung, cần chỉ ra một ưu thế đáng kể về chất lượng các loại vũ khí và trang bị của người Anh. Xem xét tất cả các yếu tố trên, cần thừa nhận rằng ưu thế về cả lực lượng và trang bị trong khu vực chiến đấu nằm ở phía người Anh.


Tàu ngầm phong tỏa Falkland


(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/en/2/29/HMS_Conqueror_%28S48%29.jpg)
Tàu ngầm nguyên tử Anh, HMS Conqueros (S-48), Churchill-class submarine, tại căn cứ tàu ngầm Clyde (Faslane) ở Scotland sau khi trở về từ cuộc chiến tranh Malvinas, ngày 4 tháng 7 năm 1982. (http://en.wikipedia.org/wiki/HMS_Conqueror_(S48))

Khi lập kế hoạch tác chiến, bộ chỉ huy Anh coi việc cô lập quần đảo Falkland có một ý nghĩa lớn. Dự kiến chỉ bắt đầu chiến dịch đổ bộ sau khi thiết lập sự phong tỏa quần đảo cả về đường không lẫn đường biển.

Ngày 08 Tháng 4 năm 1982 chính phủ Anh thông báo rằng từ ngày 12 tháng 4, vùng nước trong vòng bán kính 200 dặm xung quanh quần đảo Falkland sẽ thuộc "khu vực chiến tranh" và mỗi con tàu bị phát hiện trong khu vực, sẽ bị quân đội Anh tấn công. Sau đó, khu vực này được mở rộng. Mỗi tàu Argentina, bị phát hiện ở khoảng cách hơn 12 hải lý tính từ bờ biển Argentina, cũng được coi như là kẻ thù với tất cả các hậu quả tiếp theo. Đáp lại, Argentina công bố khu vực phong tỏa 200 dặm. Hành động của cả hai bên không có cơ sở pháp lý và là một sự vi phạm trắng trợn luật pháp quốc tế.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/17.jpg)
Nạn nhân của HMS "Conqueror": "General Belgrano". ARA General Belgrano (ARA 17 de Octubre), vốn là USS Phoenix (CL-46) tàu số 6 trong lớp Brooklyn-class light cruisers, được Mỹ bán cho Argentina năm 1951. Bị tàu ngầm nguyên tử Anh HMS Conqueror bắn chìm ngày 2 tháng 5 năm 1982 trong cuộc chiến tranh Malvinas bằng 3 trái ngư lôi đầu đạn thông thường 21 inch Mk 8 mod 4 (trúng đích 2 trái).

Trong thực tế, các hoạt động chiến đấu để phong tỏa trên biển và trên không đối với quần đảo Falklands bắt đầu vào ngày 30 tháng 4 với sự xuất hiện trong khu chiến các lực lượng của thê đội đầu tiên. Trước đó các tàu ngầm hạt nhân đa năng Anh đã trinh sát tình hình trong khu vực các đảo và thiết lập sự theo dõi các nhóm tàu của Hải quân Argentina.

Tính đặc thù cuộc phong tỏa của người Anh nằm ở chỗ việc phong tỏa diễn ra không phải chỉ với một căn cứ riêng biệt hoặc một phần bờ biển, mà với toàn bộ quần đảo. Với sự khởi đầu hoạt động phong tỏa những nỗ lực chủ yếu của người Anh [261] hướng vào việc phá hủy và ép tàu chiến và tàu dân sự đối phương ra khỏi "khu vực chiến tranh" đã tuyên bố. Những tổn thất lớn đầu tiên của cả hai bên nằm trong giai đoạn phong tỏa và phá phong tỏa. Chẳng hạn, vào đầu tháng 5 ba nhóm đặc nhiệm (79.1, 79.2 và 79.3) được phái đến khu vực quần đảo Falkland. Trong thành phần nhóm lực lượng đặc nhiệm Nam có tàu tuần dương "General Belgrano" và hai tàu hộ tống, tàu khu trục "Hipolito Bouchard" và tàu khu trục "Pedro Buena" trang bị tên lửa "Exocet". Nhóm này cần phải tấn công các lực lượng phong tỏa của Anh từ phía nam.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s61.gif)
Phong tỏa quần đảo Falkland

Trên hướng trung tâm lãnh trách nhiệm tấn công là 3 corvett cũng được trang bị tên lửa "Exocet", còn phía bắc - tàu sân bay "Veinticinko de Mayo" được hộ tống bởi hai tàu khu trục. Tuy nhiên, do điều kiện thời tiết xấu, các nhóm hướng Bắc và hướng Trung tâm đã trở về căn cứ của họ, còn nhóm hướng Nam tiếp tục di chuyển về phía đông.

Lúc 23:00 giờ ngày 30 tháng 4 bằng phương tiện trinh sát thủy âm tàu ngầm hạt nhân đa năng "Kẻ chinh phục" (HMS "Conqueror") đã xác định được sự làm việc của sonar 2 tàu khu trục. Giả định rằng đó là các tàu hộ tống, người chỉ huy tàu ngầm giữ hướng tiếp cận. Trong thời gian ngày 1 tháng 5, ban đầu họ thiết lập được tiếp xúc thủy âm với tàu tuần dương "General Belgrano", sau đó là tiếp xúc bằng trực quan. Lúc 23:00 giờ ngày 1 tháng 5, tàu tuần dương và 2 tàu khu trục hộ tống tiến hành tiếp nhiên liệu và khi đó họ nằm trong khu vực tiếp xúc trực quan với tàu ngầm. Lúc 9:00 giờ sáng ngày 2 tháng 5 nhóm Nam cũng nhận được mệnh lệnh đi về căn cứ và tàu lấy hướng 270 °.

Đang ở trong phiên liên lạc 2 giờ, tàu ngầm liên tục thông báo về bộ chỉ huy tình hình trong khu vực. Tàu chiến Argentina chưa lần nào phát hiện được tàu ngầm Anh. Lúc 14:00 giờ lệnh tiêu diệt tàu tuần dương đã tới. Lúc 20:00 giờ tàu ngầm phóng loạt ba [262] đạn ngư lôi Mk 8. Tàu tuần dương trúng hai quả ngư lôi, một - trúng phần đuôi, trái thứ hai - trúng ngay giữa thân tàu, sau đó con tàu đã bị chìm. Trong số các thành viên trên tàu có 368 người thiệt mạng. {25}

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/2/25/ARA.Belgrano.sunk.svg/500px-ARA.Belgrano.sunk.svg.png)
Phân bố lực lượng hải quân trong các ngày 1–2 tháng 5 năm 1982 tại Nam Đại Tây Dương (http://en.wikipedia.org/wiki/ARA_General_Belgrano)

Đây là trường hợp đầu tiên trong lịch sử một tàu mặt nước bị tàu ngầm hạt nhân bắn chìm. Đáng chú ý là việc dẫn đường tàu ngầm tiến đến các tàu Argentina nhóm phía Nam được thực hiện theo dữ liệu trinh sát từ vệ tinh không gian của Mỹ. Cuộc tấn công xảy ra bên ngoài giới hạn "vùng chiến tranh" 200 dặm mà người Anh tuyên bố, gần sát đảo Estados  (Staten Island) của Argentina.

Nỗ lực phá vỡ phong tỏa, các máy bay Argentina đã thực hiện một loạt cuộc tấn công tên lửa và bom vào lực lượng Anh phong tỏa quần đảo. Ngày 4 tháng 5, phi công Argentina phóng tên lửa đánh chìm tàu khu trục Anh "Sheffield". Sau tổn thất trên, người Anh bắt đầu giữ tàu thuyền của họ trong phần phía đông bắc khu vực bị phong toả - trên giới hạn bán kính tác chiến chiến thuật của không quân Argentina.

(http://rbase.new-factoria.ru/sites/default/files/artice/article_pkr/images/ris21.jpg)
Sơ đồ cuộc tấn công HMS Sheffield của KQ Argentina (http://rbase.new-factoria.ru/pub/article_pkr/page6_3.shtml)

Từ phía các lực lượng Argentina không có những nỗ lực nghiêm túc để phá vỡ sự phong tỏa. Chẳng hạn, ngày 11 tháng 5, một tàu hàng Argentina không có tàu hộ tống đã cố gắng chuyên chở hàng hóa quân sự đến quần đảo Falkland, nhưng bị lực lượng quân đội Anh làm nhiệm vụ phong tỏa phát hiện và đánh chìm.

Để ngăn chặn việc chuyển quân và hàng hóa của Argentina bằng máy bay, không quân Anh đã thực hiện một số cuộc tấn công vào đường băng tại các sân bay Port-Darwin và Goose-Green. Máy bay [263] "Sea Harrier" đã phong tỏa không phận quần đảo.

Các hoạt động tích cực của lực lượng phong tỏa Anh đã buộc phía Argentina chấm dứt việc vận chuyển hàng hóa quân sự vào quần đảo Falkland. Trong quá trình phong tỏa của người Anh, ngoại trừ 1 tàu tuần dương, họ còn phá hủy một tàu tuần tra cao tốc, 1 tàu chở dầu, 1 tàu vận tải, làm hư hỏng 2 tàu vận tải và 1 tàu tuần tra cao tốc. Trong thời kỳ  bao vây, các tàu chiến Anh thường xuyên bắn phá các hòn đảo với mục đích vô hiệu hóa các sân bay, khám phá các hệ thống phòng thủ chống đổ bộ trên bờ biển, cũng như gây tác động tâm lý đối với đội ngũ quân nhân của đối phương. [264]

(http://i44.photobucket.com/albums/f34/rhcp04/Malvinas/ARASanLuisARA25deMayo.jpg)
ARA San Luis (S-32) (type 209) tại căn cứ Puerto Belgrano. Trong chiến tranh Malvinas là tàu duy nhất biết cách chọc thủng sự phong tỏa của hải quân Anh. (http://patrullerasargentinas.blogspot.com/2011_03_01_archive.html)

Chỉ có một tàu ngầm trong số 4 tàu hiện có trong biên chế, là hoạt động chống lại các lực lượng viễn chinh Anh. Theo mệnh lệnh chiến đấu cho tàu ngầm "San Luis" có hướng dẫn, trong khi tuân thủ bí mật tối đa, phần lớn thời gian ở ngầm dưới mặt nước, tàu ngầm phải tấn công tàu địch trong khu vực phía bắc quần đảo Falkland. Trong thời gian ở trên biển, tàu ngầm "San Luis", trang bị ngư lôi điều khiển bằng dây dẫn SST4 Tây Đức, cũng như ngư lôi chống tàu ngầm Mk 37 của Mỹ, đã tiến hành ba cuộc tấn công.

Cuộc tấn công đầu tiên diễn ra vào ngày 01 tháng 5 theo số liệu sonar. Có tiếp xúc thủy âm đáng tin cậy, người chỉ huy tàu ngầm từ cự ly 10 nghìn m đã dùng ngư lôi SST4 tấn công một tàu chiến Anh. Tuy nhiên, sau khi ra khỏi ống phóng ngư lôi bị mất liên lạc. Cuộc tấn công thất bại.

Các tàu Anh phát hiện ra tàu ngầm và truy đuổi nó trong vòng 20 giờ, áp dụng vũ khí chống tàu ngầm. Khéo léo sử dụng các phương tiện đối phó thủy âm, tàu ngầm Argentina đã cắt được cuộc truy kích.

Khoảng 19 giờ ngày 08 tháng 5, sonar tàu ngầm lại phát hiện mục tiêu mới. Và dù tàu ngầm đang ở cự ly 2.800 m với tốc độ 5-8 hải lý, việc phân loại tiếp xúc không thành công. Người chỉ huy tàu ngầm quyết định tấn công mục tiêu bằng ngư lôi chống tàu ngầm Mk 37. Tuy nhiên cả cuộc tấn công này cũng không kết quả.

Cuộc tấn công cuối cùng của "San Luis" diễn ra vào đêm 11 tháng 5, vào khoảng 1 giờ 30 phút. Tàu ngầm bị kẹp giữa hai frigate của Anh. Xác định được các yếu tố chuyển động của mục tiêu, người chỉ huy tàu ngầm từ cự ly 4600 m phóng ngư lôi tấn công tàu khu trục hạng nhẹ. Một lần nữa, cuộc công kích lại không thành công.

Lực lượng không quân Argentina thể hiện sự đối kháng nghiêm trọng hơn với lực lượng phong tỏa. Trong giai đoạn từ 30 Tháng Tư đến 21 Tháng 5, máy bay của Không quân và Hải quân Argentina [265] đã ồ ạt tấn công bốn tàu của Anh, kết quả họ phá hủy được tàu khu trục mang tên lửa có điều khiển "Sheffield", đánh bị thương 1 tàu khu trục và 2 frigate trang bị tên lửa có điều khiển.

Nói chung, người Anh đã đạt kết quả mong muốn trong việc phong tỏa quần đảo Falkland cả về đường biển và đường không. Gây kiệt quệ đơn vị đồn trú bằng các cuộc bắn phá và ném bom có hệ thống, làm mất nguồn cung cấp cho họ, người Anh chuẩn bị các điều kiện cho việc đánh chiếm thành công quần đảo Falkland với "ít xương máu". Bị phong tỏa đường biển và đường không, đơn vị đồn trú Argentina gặp phải những khó khăn nhất định, hậu quả của nó là sức chiến đấu và tinh thần của binh sĩ và chỉ huy bị xói mòn trước khi người Anh đổ bộ lên đảo.

(http://3.bp.blogspot.com/-rZx7I7kQBG4/TY40Gx1PdII/AAAAAAAABM4/5B4XRc0yC7M/s1600/Tripulaci%25C3%25B3n%2Bal%2Barribar%2Bnuestromar.org.jpg)
Thuyền trưởng Moya duyệt đội ngũ thủ thủ đoàn râu ria bơ phờ xếp hàng trên boong San Luis, tàu ngầm vừa trở về căn cứ Puerto Belgrano ban đêm sau một cuộc tuần tra chiến đấu trong thời gian chiến tranh (nuestroma,org). (http://patrullerasargentinas.blogspot.com/2011_03_01_archive.html)

Các tàu ngầm hạt nhân đa năng chứng tỏ khả năng chiến đấu cao trong các hoạt động phong tỏa, chúng được sử dụng kết hợp với các lực lượng tàu mặt nước và không quân. Tàu ngầm hạt nhân đã tạo ra mối đe dọa cho Hải quân Argentina, ,ột mối đe dọa không sao chống lại được. Chính nhờ sự hiện diện của các tàu ngầm hạt nhân mà Vương quốc Anh có thể tuyên bố vùng nước xung quanh quần đảo Falkland là vùng cấm trước khi lực lượng chính của thê đội đầu tiên tiếp cận khu vực xung đột.

Từ quan điểm thuần túy quân sự, các hoạt động phong tỏa của đội quân viễn chinh Anh ít có tính giáo hóa, bởi vì phía phòng thủ không có lực lượng hải quân thực tế có khả năng thể hiện sức đề kháng đầy đủ.
.......


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 16 Tháng Tám, 2013, 01:13:34 AM
(tiếp)

Hạm đội tấn công Falkland

Nội dung chính của các hoạt động tác chiến trong cuộc xung đột Anh-Argentina là các chiến dịch đổ bộ, bởi vì mục tiêu cuối cùng của lực lượng viễn chinh Anh là đánh chiếm quần đảo Falkland.

Ý đồ của bộ chỉ huy Anh đổ bộ quân lên quần đảo Falkland nằm trong việc triển khai bí mật [266] các lực lượng và bất ngờ đổ bộ ban đêm trong khu vực có sự phòng thủ chống đổ bộ yếu nhất. Dự kiến các hành động khoa trương thu hút sự chú ý của đối phương vào hướng nghi binh. Nhiệm vụ trước mắt của bộ đội thê đội 1 là chiếm một đầu cầu đủ để tích tụ lực lượng trên nó đến mức có thể giải quyết nhiệm vụ tấn công đánh chiếm các đảo.

(http://1.bp.blogspot.com/-4xJzXcX-spo/TX7PHSO33VI/AAAAAAAABJ4/A7MPqz6wwKM/s1600/Daniel_WASP_Santa_Fe--SSS.jpg)
Tranh vẽ miêu tả thời điểm trực thăng Westland Wasp XS527 HAS.1 xuất phát từ chiến hạm HMS Endurance phóng tên lửa AS-12 vào tàu ngầm ARA Santa Fe (Tranh của Daniel Bechennec - Nguồn: http://yellowairplane.com) (http://patrullerasargentinas.blogspot.com/2011_03_01_archive.html)

Để làm lực lượng quân đổ bộ, bộ chỉ huy Anh phái đến khu vực chiến tranh các đơn vị và phân đội hạt nhân của lực lượng triển khai nhanh từ thành phần lữ đoàn TQLC số 3, trung đoàn nhảy dù số 2 và lữ đoàn bộ binh cơ giới số 5 (tổng cộng khoảng 9 ngàn người). Nòng cốt của đội quân đổ bộ là các đơn vị lữ đoàn TQLC 3 (bốn nghìn), được coi là có mức độ huấn luyện chuẩn bị tốt nhất để hoạt động trong thành phần các chi đội xung kích đổ bộ đường biển.

Bộ chỉ huy Anh giành một vai trò quan trọng cho các hoạt động trinh sát và biệt kích. Trong thành phần các lực lượng viễn chinh có trung đoàn biệt kích-trinh sát độc lập số 22, các phân đội bơi lội chiến đấu và các phân đội trinh sát của lữ đoàn TQLC số 3. Họ trinh sát địa điểm đổ bộ đường biển, điều chỉnh hỏa lực pháo hạm và dẫn đường cho máy bay cánh cố định và trực thăng tới các mục tiêu, tiến hành hoạt động biệt kích nhằm phá hủy các trang thiết bị quân sự, kho chứa nhiên liệu và đạn dược, phá vỡ đường thông tin liên lạc, trinh sát sự bố phòng đơn vị đồn trú của đối phương, đóng vai trò là đội quân xung kích trong đổ bộ đường biển.

Phù hợp với các kế hoạch hành động đã định, ngày 25 tháng 4 người Anh đã dùng trực thăng đổ quân xuống đảo Nam Georgia. Việc đổ quân được đi trước một bước bằng các hoạt động của các nhóm biệt kích-trinh sát, được tàu ngầm nguyên tử chở đến hòn đảo. Cuộc chiến chinh phục Nam [267] Georgia kéo dài 2 giờ, sau đó đơn vị đồn trú Argentina quân số 102 binh sĩ và 32 dân thường đầu hàng. Phía Argentina có 3 người chết, người Anh không có thiệt hại. Đánh chiếm được đảo này, Vương quốc Anh tiến hành xây dựng trên đó căn cứ tiền phương của họ, trong trường hợp nếu cuộc chiến giành Falklands kéo dài. Trong tiến trình chiếm đảo, 2 máy bay trực thăng "Lynx" bằng tên lửa AS 12 và bom chìm đã đánh đắm tàu ngầm Argentina "Santa Fe", đang ở trong tư thế nổi. Tàu ngầm bị chìm ở vùng nước nông trong vịnh Grytviken.

(http://4.bp.blogspot.com/-xQH62VL27QA/TXxSQBDZxsI/AAAAAAAABJQ/U_-Jdnz57fQ/s1600/Santa%2BFe%2Bhundido%2Bgacetamarinera.jpg)
ARA "Santa Fe" (S-21), tàu ngầm của hải quân Argentina kiểu " Balao-class submarine" do Mỹ chế tạo trong Thế chiến 2 (USS "Catfish"), bị đánh chìm bởi người Anh trong chiến tranh Malvinas, ảnh chụp trên nền những ngọn núi tuyết của đảo Nam Georgia. (Nguồn: www.gacetamarinera.com.ar) (http://patrullerasargentinas.blogspot.com/2011_03_01_archive.html)

Vào đầu tháng 5, các tàu chiến của lực lượng đặc nhiệm Anh với sự hỗ trợ của máy bay cánh cố định và trực thăng bắt đầu bắn phá các mục tiêu quân sự tại quần đảo Falkland. Hỏa lực mạnh nhất tập trung vào các vị trí có radar, đường băng và các đài phát thanh. Ghi nhận được bốn chuyến không kích của các máy bay ném bom chiến lược "Núi Lửa" vào quần đảo Falklands. Ngày 01 tháng 5 máy bay "Vulkan", vượt khoảng cách 5600 km, ném bom sân bay Port-Stanley. Nó được tiếp dầu bổ sung trên đường bay, lần tiếp nhiên liệu cuối cùng thực hiện ở cự ly cách quần đảo Falkland 320 km. Vụ ném bom diễn ra từ độ cao 3500 m, ở một góc nhỏ so với trục đường băng. Chỉ có một quả bom rơi trúng mục tiêu, và nó không ngăn được các máy bay Argentina tiếp tục sử dụng sân bay. Chiếc máy bay "Núi Lửa" thứ hai, thả xuống sân bay một loạt 21 quả bom, nhưng một lần nữa thất bại trong việc vô hiệu hóa đường băng.

Các máy bay "Vulcan" còn ném bom quần đảo Falklands thêm 3 lần, 2 lần tấn công vào các máy bay đậu tại sân bay Port-Stanley và kho tàng; lần thứ ba - tấn công trạm radar, bố trí gần Port-Stanley. Trong trường hợp sau, chúng sử dụng tên lửa chống radar "Shrike". [268]

(http://www.combatreform.org/portstanleyrunwayaftervulcanattack.jpg)
KQ chiến lược Anh và các phi vụ "Black Buck" tấn công đường băng sân bay Port-Stanley ngày 1 và 4 tháng 5 năm 1982 (http://www.combatreform.org/falklandslessonsnotlearned.htm)

Sau những đòn tấn công trên, để chuyển thông tin giả cho tình báo Anh, tình báo Argentina đổ những đống cát lớn trên đường băng mà trên không ảnh trinh sát trông giống như những hố bom. Bộ chỉ huy Anh cho rằng sân bay đã bị phá hỏng. Khi máy bay "Vulcan" tấn công, nhiễu chủ động đã chế áp hoạt động của radar hệ thống phòng không "Roland" và "Tigercat", thực hiện phòng thủ sân bay. Người Argentina cũng liên tục thay đổi vị trí các trận địa SAM, và khi máy bay Anh đến gần thì radar bị tắt.

Các tàu quét mìn tiến hành trinh sát dò mìn ở khu vực đảo Nam Georgia, sau đó làm việc gần quần đảo Falkland. Trong trường hợp này, một tàu quét mìn được sử dụng như một máy phá bãi mìn, dùng các cơ cấu máy móc của mình tạo ra một trường âm thanh đủ lớn, bắt buộc các quả thủy lôi có kíp nổ âm thanh phải làm việc.

(http://www.combatreform.org/vulcaninflight.jpg)
Máy bay ném bom chiến lược "Aero Vulcan" của KQ Anh

Đồng thời bộ chỉ huy Anh tiến hành các biện pháp tác động tâm lý tới đội ngũ quân nhân đơn vị đồn trú Argentina qua các chương trình phát thanh đặc biệt, thả truyền đơn vào vị trí đóng quân của quân đội Argentina.

Vào đêm ngày 14 tháng 5, người Anh đổ bộ lính biệt kích vào đảo Pebble, nằm trên đường tiếp cận từ phía bắc đến eo biển giữa Đông và Tây Falkland. Việc đổ bộ, cũng như tại đảo Nam Georgia, được thực hiện với sự hỗ trợ của máy bay trực thăng và tàu khu trục "Glemorgan". Trên đảo Pebble họ đã phá hủy kho đạn, tiêu diệt một trạm radar dẫn đường hàng không di động và 11 máy bay tuabin cánh quạt "Pucara".

Để chuẩn bị cho cuộc đổ bộ lên đảo, cùng với việc sử dụng hỏa lực đánh trúng các hạng mục quan trọng nhất và chế áp tâm lý đơn vị đồn trú Argentina, người Anh còn rất quan tâm đến việc tổ chức và tiến hành trinh sát, công tác ngụy trang, [269] đảm bảo hậu cần và tác chiến điện tử.

Vào đêm trước cuộc xâm lược quần đảo Falkland, các toán trinh sát đã được đổ bộ lên đảo, họ xác định thành công những địa điểm không có phòng thủ chống đổ bộ, tình hình bố phòng của quân đội Argentina, trinh sát các tuyến đường có thể cho quân đổ bộ tiến quân trên bờ, tìm các vị trí phù hợp cho trực thăng hạ cánh. Không quân của họ liên tục bay trinh sát. Ngoài ra, các cơ quan tình báo Mỹ cung cấp cho người Anh các dữ liệu trinh sát từ vệ tinh không gian và truyền thông tin dự báo khí tượng khu vực quần đảo Falkland, những điều đó giữ một vai trò quan trọng trong việc lập kế hoạch các hoạt động quân sự.

Mục đích của hoạt động ngụy trang nhằm đưa địch thủ đễn chỗ lạc hướng về địa điểm và thời điểm tấn công đổ bộ đường biển. Để không thu hút sự chú ý của người Argentina đến các địa điểm đổ bộ, các cuộc tấn công ban đầu diễn ra trên diện rộng, và thể hiện cường độ mạnh mẽ hơn trong những hướng nghi binh. Các thay đổi liên tục về ngày giờ và địa điểm đổ bộ giữ bộ chỉ huy Argentina trong sự thiếu hiểu biết về các kế hoạch sắp tới của người Anh. Để không bị rò rỉ thông tin trên báo chí công khai, chúng phải chịu sự kiểm duyệt sát sao và chặt chẽ.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s62.gif)
Chiến dịch đổ bộ Falkland

Để đánh lừa đối phương, một nhóm trinh sát đã tổ chức diễn màn kịch "mất mát" một số "tài liệu mật", trong đó có thông tin địa điểm đổ bộ nằm ở khu vực phía nam Port-Stanley. Thông tin sai lệch này được hỗ trợ thêm bởi các bức điện vô tuyến trao đổi giữa các tàu chiến và các toán biệt kích-trinh sát đã đổ bộ lên bờ.

Một hành động tung tin giả tiếp theo được tổ chức vào đêm trước cuộc xâm lược. Ngày 20 Tháng Năm, Bộ Quốc phòng Anh chính thức tuyên bố rằng không có kế hoạch tiến hành một hoạt động đổ bộ đầy đủ quy mô lớn, mà chỉ giới hạn [270] thực hiện ở các hoạt động biệt kích-phá hoại. Thậm chí người Anh còn cố gắng sử dụng các cuộc thương lượng một giải pháp hòa bình cho cuộc xung đột trước hết như một màn khói ngụy trang để che giấu ý định thật sự nghiêm túc.

Trong tiến trình của cuộc xung đột, bộ chỉ huy Anh áp dụng phổ biến các hành động phô trương. Nói chung, người Anh đã thành công trong việc đánh lừa đối phương, vì bộ chỉ huy Argentina coi khu vực bị tấn công đổ bộ đường biển có khả năng nhất nằm ở phía nam Port-Stanley.

(http://www.britishempire.co.uk/images4/falklandswarmountkent.jpg)
SAS và 42 commando trong chiến tranh Falkland: Lữ đoàn trưởng Julian Thompson, thiếu tướng Jeremy Moore và đại tá Pennicot bàn bạc trước khi hạ lệnh tấn công. (http://www.britishempire.co.uk/forces/armycampaigns/southamerica/falklands/falklandswarmountkent.htm)

Khi đánh giá khu vực chiến sự, bộ chỉ huy Anh đã trải qua rất nhiều khó khăn do thiếu các bản đồ chi tiết về quần đảo Falkland. Chỉ một ngày trước khi đổ bộ những bản đồ như vậy mới được làm xong và chuyển tới trên các tàu chiến Anh.

Khi điều động lực lượng viễn chinh đến Nam Đại Tây Dương, các bộ tham mưu Anh không có các bản đồ chi tiết và những mô tả về quần đảo Falkland. Lập tức đã phát sinh rất nhiều vấn đề liên quan đến việc đánh giá khu vực tác chiến. Một trường hợp cứu cánh: người ta nhớ rằng nhiều năm trước đây, một thiếu tá lực lượng vũ trang Anh, khi đi nghỉ phép tại Falkland, ông ta đã mô tả chi tiết quần đảo. Tuy nhiên, bản mô tả này không ai muốn xuất bản nó, họ cho rằng đó là nơi ngàn dặm xa xôi, lạnh lẽo, gió lồng lộn suốt ngày, một nơi cằn cỗ và hầu như không có ai quan tâm. Và bây giờ đột nhiên người ta nhớ lại bản thảo bị lãng quên. Cơ quan tình báo đã nhanh chóng tìm ra tác giả và bản thảo của ông, nhân bản nó lên, cung cấp tài liệu rất cần thiết này cho lực lượng viễn chinh.

Coi trận đánh để đổ bộ là quan trọng nhất và đồng thời là giai đoạn khó khăn nhất của chiến dịch đổ bộ đường biển, bộ chỉ huy Anh đặc biệt chú ý đến việc lựa chọn địa điểm và thời gian đổ bộ. Họ quyết định tổ chức đổ bộ trong khu vực vịnh San Carlos (cách Port Stanley đến 100 km), tại đây thực tế không có sự phòng thủ chống đổ bộ [271]. Khu vực này được xem là an toàn về mặt đạo hàng, kín gió, những bãi biển cát - thuận tiện cho việc đổ bộ, bàn đạp trên bờ - địa hình bằng phẳng (đất cứng), phía bắc và phía đông địa hình viền quanh bởi đồi núi, rất khó tiếp cận cho cả bộ đội và trang bị kỹ thuật. Ngoài ra, ở đó không có các khu định cư có thể trở thành các điểm nút hệ thống phòng thủ.

Người ta quyết định đổ bộ khi trời tối, để gần như hoàn toàn loại bỏ được khả năng đối phó của không quân Argentina, vốn là mối đe dọa thực sự cho cuộc đổ bộ. Đổ bộ ban đêm cũng làm giảm hiệu quả phản ứng của các lực lượng lục quân Argentina, những người không có thiết bị nhìn đêm, và đạt được tính bất ngờ chiến thuật. Đối với lực lượng xâm nhập, họ được trang bị kính nhìn ban đêm, bóng tối không phải là một mối phiền toái đặc biệt với họ.

Vậy là, thời gian và địa điểm cuộc đổ bộ được người Anh lựa chọn là rất thành công trong giai đoạn khó khăn nhất của một chiến dịch đổ bộ.

Cuộc đổ bộ quân đội lên đảo tiến hành theo ba cấp thê đội: lực lượng chính đổ bộ trong thê đội đầu tiên với nhiệm vụ chiếm giữ đầu cầu và các hoạt động tiếp theo trên bờ, với thê đội thứ 2 người ta dự kiến bốc dỡ xuống bàn đạp đầu cầu các trang bị, vũ khí hạng nặng, thê đội thứ 3 làm dự bị.

Ngày 20 tháng 5, chính phủ Vương quốc Anh ra lệnh cho Chuẩn Đô đốc D.Woodward thực hiện chiến dịch đổ bộ đường biển. Ngay lập tức từ bên ngoài bán kính hoạt động chiến thuật của không quân Argentina, lính đổ bộ được chuyển từ các tàu vận tải quân sự sang các tàu đổ bộ. Sau khi hoàn thành chuyển quân, ba chi đội quân đổ bộ (một chính và hai phô trương) bắt đầu triển khai. Đến cuối ngày 20 tháng 5, họ đã tới cách khu vực đổ bộ dự định từ 30 - 90 dặm. [272]

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s63.gif)
Sơ đồ cuộc đổ bộ của quân Anh tại vịnh San Carlos ngày 21 tháng 5 năm 1982

Cuộc đổ bộ đường biển được dạo trước bằng màn chuẩn bị hỏa lực mạnh mẽ. Hỏa lực pháo binh và bom từ máy bay dội xuống cảng Darwin, Port Stanley, San Carlos Bay và Fox Bay. Hoạt động của không quân bắn phá Port-Stanley có khó khăn vì sự hiện diện các dàn SAM "Roland" và "Tigercat". Theo số liệu của người Argentina, tên lửa "Roland" trong khu vực Port Stanley đã bắn rơi bốn máy bay Anh.

Đêm ngày 21 tháng 5, bằng phương pháp "vertical enveloppe" bất ngờ với đối thủ, người Anh đổ bộ thủy quân lục chiến trong khu vực vịnh San Carlos. Mặc dù cuộc đổ bộ thực hiện trên một chính diện tương đối hẹp, trên một bờ biển không có trang bị và trong điều kiện thời tiết bất lợi, nhờ việc sử dụng làm phương tiện đổ bộ các xuồng cao tốc và trực thăng đổ bộ-chở quân, trong 2 giờ hai nghìn quân đã đổ bộ lên đảo Đông Falkland. Để vận chuyển binh lính và trang bị vào bờ người ta sử dụng các phương tiện đổ bộ tốc độ thấp loại LCU và LCVP. Tổng cộng trên các tàu của lực lượng tác chiến thủy bộ có 8 xuồng đổ bộ loại LCVP, 4 - loại LCU và 30 trực thăng vận tải-đổ bộ.

Đồng thời với các hoạt động trên hướng chính, 2 đội đổ bộ nghi binh bắt đầu hành động của họ trong khu vực Cảng Darwin và Fox Bay. Tuy nhiên, khi nhận được tín hiệu về cuộc đổ bộ trên hướng chủ yếu đã thành công, họ liền dừng hoạt động của mình.

Cuộc đổ bộ tại hướng chính diễn ra gần như không gặp phản ứng đối kháng. Chỉ có ở một điểm đổ quân (trong số bốn điểm), một nhóm 30 binh sĩ Argentina đã chống cự lại, trong đó họ dùng các tên lửa "Blow pipe" do Anh sản xuất bắn hạ 2 trực thăng đổ quân. Cuộc đổ bộ TQLC từ hướng biển được nhóm đặc nhiệm yểm trợ gồm 5 frigate bảo vệ. Trên khu vực đổ bộ, các máy bay "Sea Harrier" liên tục quần vòng.

Tính bất ngờ chiến thuật của cuộc đổ bộ đường biển và việc thiếu phòng thủ chống đổ bộ bảo vệ bờ biển [273] đã đảm bảo việc đánh chiếm bàn đạp diễn ra với tổn thất tối thiểu.

(http://cdn1.pix.avaxnews.com/avaxnews/6c/5f/00005f6c_medium.jpeg)
Đại đội M lực lượng TQLC Anh, đơn vị tham gia chiếm lại đảo Nam Georgia ngày 25 tháng 4 năm 1982. Ảnh chụp ngày 19 thán 5 năm 1982. (http://avaxnews.net/educative/Falklands_War.html)
........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 16 Tháng Tám, 2013, 07:33:09 PM
(tiếp)

Các lực lượng vũ trang Argentina chỉ có thể áp dụng các biện pháp đáp trả nghiêm túc hơn vào lúc bình minh. Không quân Argentina đã tấn công các tàu yểm trợ, kết quả là hai tàu khu trục bị hư hại. Ngày hôm sau, lực lượng không quân Argentina lặp lại cuộc tấn công vào các tàu thuộc nhóm yểm trợ đặc nhiệm. Trong trường hợp này, 15 máy bay cùng một lúc tấn công frigate "Ardent", dẫn đến sự mất tổ chức trong xạ kích TLPK có điều khiển và đảm bảo cho việc ngắm bắn cắt bom chính xác. Do trúng bốn quả bom có trọng lượng 225 kg mỗi quả, con tàu bị đánh chìm.

Bộ chỉ huy Argentina phải thừa nhận sai lầm là các cuộc không kích đã không đánh đúng tàu đổ bộ và tàu vận tải, mà lại đánh vào các tàu hộ tống. [274]

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/f/f3/Land.ops.2.en.svg/640px-Land.ops.2.en.svg.png)
Bộ binh triển khai tại Đông Falklands sau khi đổ bộ trong vịnh San Carlos (http://en.wikipedia.org/wiki/Falklands_War)

Trong thời gian một ngày, người Anh mở rộng đầu cầu đến 13 cây số vuông, và chuyển lên đó số quân đến 5000 người. Với thê đội thứ hai,  xe tăng hạng nhẹ "Scorpion", tên lửa PK "Rapier", pháo 105 ly và súng cối 81 mm được đưa lên đảo. Trong một thời gian tương đối ngắn tại vị trí đổ bộ người ta đã dùng thép tấm trang bị một khu vực cất hạ cánh (20 mét vuông) cho máy bay trực thăng và máy bay "Harrier" và "Sea Harrier". Trong các container chôn dưới đất, người ta dự trữ nhiên liệu và nước ngọt cho 3 ngày đêm.

Ngày 23 Tháng Năm, máy bay Argentina thực hiện một cuộc tấn công lớn vào các tàu Anh. Frigate "Antilope" trúng hai quả bom, nhưng những trái bom không phát nổ. Đội thủy thủ được sơ tán khỏi tàu, và sau đó khi chập điện một trái bom nổ. Do vụ nổ hệ thống điện của tàu bị hỏng, một đám cháy bùng lên, tiếp theo đến đạn dược phát nổ, rồi con tàu bị chìm. Một ngày sau, 4 máy bay cường kích "Skyhawk" Argentina trong khi tiến từ bờ ra trên độ cao chỉ 15m, đã tấn công tàu khu trục mang tên lửa có điều khiển "Coventry", đang ở vị trí phía bắc eo biển Falkland. Những chiếc máy bay trên bị radar của tàu phát hiện ở khoảng cách 18 km. Vì phát hiện máy bay chậm, người Anh chỉ bắn hạ được 2 chiếc "Skyhawk", những chiếc còn lại đã ném bom chính xác. Tàu khu trục trúng ba quả bom, sau 5 phút độ nghiêng của tàu bên mạn trái đạt đến 50 °, 15 phút sau thì nó bị chìm.

Chỉ sau khi 6 bệ SAM kéo "Rapier" của PK lục quân được triển khai tại đầu cầu đã chiếm được, người Anh mới đưa các tàu của nhóm đặc nhiệm yểm trợ ra khỏi eo biển Falkland chật hẹp. Tiếp theo người ta thiết lập các hệ thống SAM này tại Teal-Inlet, Goose-Green và trong vùng vịnh Fitzroy, nơi diễn ra cuộc đổ bộ đội quân hỗ trợ. Tuy nhiên, do độ sâu nhỏ nên các tàu đổ bộ "Sir Galahad" và "Sir Tristram" không thể [276] neo đậu trong khu vực được SAM "Rapier" bao bọc, điều này làm tăng rất nhiều tính dễ tổn thương của họ trước các cuộc không kích của đối thủ. Chỉ có một "Skyhawk" khi tiến vào công kích từ phía đất liền, rơi vào vùng hoạt động của hệ thống phòng không "Rapier" và bị bắn rơi. Cần lưu ý rằng thời gian giữa thời điểm khóa mục tiêu và tiêu diệt mục tiêu đối với hệ thống SAM này tính trung bình chỉ 5 giây.

(http://warsonline.info/images/stories/news/11/dec11/foklend/skayhowk2.jpg)
A-4 "Skyhawk" của KQHQ Argentina (http://warsonline.info/voyni-xx-veka/analiz-deystviy-boevoy-aviatsii-v-folklendskim-konflikte.html)

Do trong khu vực đổ bộ không có các bến cảng cho phép dỡ hàng khỏi tàu tại bến, trực thăng được người Anh sử dụng để chuyển hàng và chuyển quân lên đảo. Dỡ bốc dỡ các trang thiết bị quân sự hạng nặng người ta lên kế hoạch sử dụng trực thăng "Chinook", có tải nâng trên 10 tấn. Khi tái triển khai đội ngũ quân nhân từ các tàu đổ bộ vào bờ, những chiếc trực thăng này đã chở theo tới 80 lính TQLC vũ trang đầy đủ. Tuy nhiên, 3 trong số 4 chiếc trực thăng đã bị mất theo cùng với con tàu container "Atlantic Conveyor", mà các máy bay Argentina "Super Étendard" đã đánh chìm. Đối với người Anh, tổn thất trên là đặc biệt nghiêm trọng, vì nó làm giảm đáng kể tốc độ chuyển hàng vào đảo. Chính vì lý do này mà vào ngày 8 tháng 6 trong khi dỡ hàng, các tàu đổ bộ chở xe tăng cỡ lớn "Sir Galahad" và "Sir Tristram" vì hiện diện thời gian dài bên trong tầm nhìn trực quan và radar từ quần đảo Falkland, đã bị máy bay "Skyhawk" Argentina tấn công. Kết quả, "Sir Galahad" bị phá hủy, còn "Sir Tristram" bị hư hỏng nghiêm trọng. Tổn thất chung là 59 người thiệt mạng và 74 người bị thương.

Để bù đắp cho sự mất mát trực thăng vận tải hạng nặng "Chinook", người Anh sử dụng một phần số trực thăng "Sea King" làm phương tiện vận tải, sau khi tháo dỡ vũ khí săn ngầm khỏi chúng.

Sau khi tích tụ đủ lực lượng trong bàn đạp. quân đội Anh phát động tấn công dọc theo duyên hải phía bắc và phía nam [277] đảo Đông Falkland theo hướng đến Port-Stanley. Cuộc tấn công dọc theo bờ biển phía bắc gặp khó khăn do địa hình gồ ghề và khó đi, do đó hoạt động trên hướng này là các đơn vị được chuẩn bị tốt nhất về mặt tác chiến và được huấn luyện hành động trong các điều kiện khó khăn thuộc lữ đoàn TQLC số 3. Ngày 29 tháng 5 đội đổ bộ trực thăng quân số tổng cộng 500 người đã được đổ xuống trong khu vực bến cảng nhỏ Teal-Inlet. [278]

Hai tiểu đoàn của trung đoàn nhảy dù tấn công theo hướng nam, dọc theo con đường đất nối liền San Carlos với điểm dân cư Port-Darwin và sân bay Goose-Green. Tới ngày 29 tháng 5 cả hai điểm này đều đã bị đánh chiếm. Máy bay Anh đã chuyển căn cứ đến sân bay Goose-Green: tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiến quân tiếp về phía đông.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s64.gif)
Sơ đồ cuộc tấn công của các máy bay Argentina vào tàu vận tải máy bay "Atlantic Conveyor" của Anh

Người Anh chỉ tổ chức hoạt động tấn công tích cực vào ban đêm, sau khi pháo binh và không quân bắn phá ồ ạt, thực hiện theo hướng dẫn của các sỹ quan liên lạc nằm trong đội hình chiến đấu của các phân đội tấn công. Thông thường, việc thực hiện nhiệm vụ đặt ra được hoàn thành trong nửa đầu tiên của ngày. Một số khẩu 105 mm đã bắn đến 500 phát đạn mỗi ngày. Sự yểm trợ hỏa lực trên tàu cũng đóng một vai trò quan trọng trong cuộc chiến Falklands: chỉ từ một khẩu pháo hạm 114-mm đã bắn đi 8.000 phát đạn.

Khi tiến hành các hoạt động chiến đấu, người Anh cũng hay áp dụng các cuộc tấn công bất ngờ ban đêm mà không có màn pháo kích hay không kích chuẩn bị trước.

Các cuộc tấn công xuống các mục tiêu mặt đất tiến hành từ máy bay "Harrier", có hệ thống dẫn đường-ngắm bắn chính xác hơn và các máy đo cự ly laser, sau khi thực hiện chức năng của máy bay đầu đàn, và từ các máy bay "Sea Harrier" bay sau.

Trong quá trình các trận đánh giành đảo, các cuộc đổ bộ ban đêm bằng trực thăng đã tăng lên nhanh chóng, quân đổ bộ được đổ xuống nhiều địa điểm và họ kết thúc chiến đấu khi trời sáng. Do địa hình phức tạp và mạng lưới đường sá kém phát triển, máy bay trực thăng được sử dụng để vận chuyển trang thiết bị quân sự, đạn dược, các vật tư khác nhau.

(http://www.combatreform.org/falklands105mmgunners.jpg)
Pháo 105 ly của quân Anh trong trận đánh trên quần đảo Falklands (http://www.combatreform.org/falklandslessonsnotlearned.htm)

Cố gắng đạt ưu thế về lực lượng ngay trước cuộc tấn công vào Port-Stanley, tại đó [279] tập trung các nhóm quân chủ yếu của quân đội Argentina, người Anh đã đổ hai đội đổ bộ đường biển tổng quân số khoảng 3 ngàn người. Một đội được đổ bộ về phía nam Port Stanley - trong Vịnh Fitzroy, một đội đổ bộ ở phía bắc - trong Vịnh Berkeley.

Ngày 02 Tháng Sáu, quân đội Anh đã hoàn toàn phong tỏa đơn vị đồn trú Argentina từ phía đất liền và phía biển và bắt đầu xử lý trận địa của đối phương bằng không kích và pháo kích. Ngày 12 tháng 6, chiếc tàu khu trục "Glemorgan" đang bắn phá các vị trí của quân đội Argentina trong khu vực Port-Stanley, bị tấn công bởi hai tên lửa "Exocet" MM-38. Từ con tàu người ta đã kịp phát nhiễu thụ động và đồng thời thực hiện cơ động chống tên lửa. Chỉ có một đạn tên lửa bắn trúng tàu khu trục. Đạn rơi vào phần đuôi tàu đã vô hiệu hóa sân đáp trực thăng và hangar chứa máy bay. Chỉ vì đầu đạn không phát nổ, mà con tàu bị thương tương đối nhẹ.

Trong điều kiện thiếu đạn dược và bị cô lập hoàn toàn, người Argentina đã không thể đẩy lùi quân đội Anh, bắt đầu vào đêm ngày 13 tháng 6 và vào buổi chiều ngày 14 tháng 6 họ đã buộc phải đầu hàng. Cả hai bên trong quá trình chiến đấu đều bị thiệt hại đáng kể. Khoảng 200 lính Anh chết và gần 300 người bị thương {26}. Lực lượng vũ trang Argentina có gần 1.300 người thiệt mạng.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/30.jpg)
Quân đổ bộ Anh tại Port-Stanley

Sau khi chiếm quần đảo Falkland, bộ chỉ huy Anh thu được các tài liệu đánh dấu giới hạn bãi mìn tiếp xúc trên bến cảng ngoài của Port-Stanley, [280] tại đó độ sâu là 50 - 80 m. Bằng cách sử dụng lưới kéo đôi tiếp xúc, người Anh dễ dàng phá hủy bãi mìn. Những trái mìn đứt neo bị pháo hạm bắn phá hủy.

Kinh nghiệm đổ bộ đường biển tại quần đảo Falkland cho phép rút ra một số kết luận liên quan đến xu hướng phát triển của nghệ thuật tác chiến hải quân trong các hoạt động đổ bộ.

Việc cô lập hoàn toàn khu vực diễn ra các hoạt động chiến đấu, chế áp tối đa đối phương trước khi bắt đầu chiến dịch đổ bộ đường biển, cũng như ưu thế đạt được về lực lượng và trang bị là những điều kiện quan trọng nhất của việc đổ bộ thành công của người Anh tại quần đảo Falkland.

Trong cuộc xung đột Anh-Argentina đã phát lộ xu hướng tăng cường vai trò các hoạt động chiến đấu ban đêm và sử dụng các thiết bị nhìn đêm. Sự hiện diện của các thiết bị như vậy phục vụ trong quân đội Anh cho phép thực hiện thành công đổ bộ đường biển ban đêm, còn sau đó trong các trận đánh chiếm đảo đã sử dụng thời gian trời tối trong ngày ở mức độ tối đa để giải quyết các nhiệm vụ chiến đấu.

Trong quá trình cuộc xung đột phương pháp đổ bộ "bao vây theo phương thẳng đứng" đã được phát triển thêm bước nữa. Lần đầu tiên tại đây, trong tình huống chiến đấu, bằng phương pháp như vậy người ta đã thực hiện đổ bộ ban đêm.

Thủy quân lục chiến là binh chủng được huấn luyện và chuẩn bị tốt nhất để hoạt động trong thành phần các chi đội xung kích khi chiếm lĩnh bàn đạp trên bờ.

(http://www.combatreform.org/ch53dslingloadscorpion.jpg)
Xe tăng nhẹ "Scorpion" đổ bộ bằng trực thăng TQLC (http://www.combatreform.org/falklandslessonsnotlearned.htm)

Một phương tiện quan trọng và không thể thiếu của sự yểm trợ hỏa lực trong chiến dịch đổ bộ đường biển là pháo hạm. Khi đổ bộ lên quần đảo Falkland, người ta phát hiện ra rằng, các nguyên tắc chính của việc chuẩn bị và tiến hành nó là: việc lập kế hoạch phải kỹ lưỡng tỉ mỉ và có hỗ trợ toàn diện cho lực lượng đổ bộ; tạo ra ưu thế vượt trội gấp nhiều lần so với đối phương trên hướng chủ yếu; có sự thống nhất chỉ huy tất cả các lực lượng tham gia vào chiến dịch; [281] đạt được ưu thế trên không trước khi đổ bộ và duy trì nó cho đến khi kết thúc chiến dịch; cố gắng đổ bộ với nhịp độ tối đa có thể; cố gắng cô lập bàn đạp và củng cố chắc chắn hai bên sườn trước khi kết thúc đổ bộ lực lượng chính; nghệ thuật ngụy trang và tung tin giả lừa địch phải cao cường; sử dụng tối đa đổ bộ bằng máy bay trực thăng; trình độ huấn luyện chuẩn bị của bộ đội và lực lượng đổ bộ phải thật cao.
.........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 17 Tháng Tám, 2013, 01:43:40 AM
(tiếp)

Không quân bắn chìm tàu chiến

Bộ chỉ huy Anh giành một vai trò lớn trong các hoạt động chiến đấu cho không quân, lực lượng gánh vác một loạt các nhiệm vụ đa dạng. Họ phải tiến hành trinh sát chiến dịch và chiến thuật; đảm bảo giành thế thượng phong trên không trung, phòng không và phòng thủ chống tàu ngầm cho lực lượng đặc nhiệm; tiến hành các cuộc đổ bộ đường không; thực hiện không kích chuẩn bị và yểm trợ đổ bộ đường biển; vận tải quân và chở hàng; tham gia phong tỏa đường không quần đảo Falkland.

Không quân Argentina chủ yếu giải quyết nhiệm vụ phá hủy các tàu thuyền trên biển, ngoài ra, nó còn tấn công quân đổ bộ lên đảo và chiến đấu với lực lượng không quân Anh.

(http://www.ausairpower.net/NATO/HMS-Sheffield-MoD-S.jpg)
HMS "Sheffield" bốc cháy sau kh trúng "Exocet" AM39 vào giữa thân, trên đường mớn nước (http://www.ausairpower.net/Warship-Hits.html)

Cần lưu ý rằng không quân trong cuộc xung đột phải hoạt động trong điều kiện thời tiết bất lợi. Tốc độ gió đạt 50 m / giây. Nhiệt độ không khí giữ trong phạm vi giữa -5 ° và + 5 °. Sóng biển mạnh gây phức tạp cho công việc của các trạm ra đa, mây thấp thường xuyên (khoảng 30 m) và khả năng hiển thị đường chân trời hạn chế gây khó khăn cho việc hoàn thành các chuyến bay theo mặt cắt " chiều cao lớn - chiều cao nhỏ - chiều cao lớn".

Chiến thuật tấn công đường không của không quân Argentina ở một mức độ không nhỏ dựa vào sự hiện diện trên các tàu chiến thuộc lực lượng đặc nhiệm Anh hệ thống phòng không "Sea Dart" có vùng xạ kích diệt mục tiêu 50 km. [282]

Kết quả là, các phi công Argentina tiến hành tấn công ở độ cao thấp, sử dụng bom, tên lửa và pháo (mà không sử dụng phương tiện tác chiến điện tử).

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s65.gif)
Cuộc tấn công khu trục hạm "Sheffield"

Phương pháp hoạt động chính của không quân đối với các mục tiêu trên bờ cũng như với các tàu chiến là tấn công bằng các tốp máy bay theo thê đội. Trong các trận đánh, lực lượng không quân Argentina tấn công ồ ạt nhiều đợt vào các tàu địch. Các cuộc tấn công lớn nhất diễn ra ngày 21 tháng 5. Tham chiến có hơn 70 máy bay, tấn công các tàu chiến Anh trong suốt thời gian một giờ theo ba đợt. Tương quan giữa máy bay tấn công và hỗ trợ trong các nhóm là 2:1.

Phi công Argentina thực hành thay đổi đường bay đến mục tiêu, thực hiện tiếp cận các đảo từ các hướng khác nhau (thường là từ phía nam), nhưng khả năng cơ động rộng của họ bị hạn chế. Các phi công Argentina thường khắc phục tuyến cảnh giới radar tầm xa bằng cách bay ở độ cao thấp có huy động các tốp nghi binh, các tốp đó thường lôi kéo máy bay tiêm kích "Sea Harrier" của Anh vào không chiến hoặc truy kích. Để dẫn đường cho máy bay của mình tới mục tiêu, người Argentina sử dụng hệ thống radar ven biển AN/TPS-43, đảm bảo phát hiện các mục tiêu trên không ở cự ly đến 400 km.

Để khắc phục hệ thống PK, người Argentina sử dụng những thủ đoạn như xuất kích số lượng lớn máy bay nhằm làm bão hòa tình huống vượt ra ngoài giới hạn khả năng của phương tiện phòng không. Kỹ thuật này được người Argentina sử dụng khi tấn công frigate "Ardent".

Để tăng bán kính hoạt động cho máy bay của mình, vào đầu cuộc xung đột bộ chỉ huy Argentina lệnh tổ chức cho máy bay tiếp dầu KC-130 trực chiến trên không. Nhưng, sau khi các máy bay chiến đấu của Anh bắn hạ một máy bay tiếp dầu, bộ chỉ huy Argentina đã từ bỏ cách tổ chức đảm bảo như vậy cho máy bay của họ. [283]

Việc các tàu chiến và máy bay AWACS của đối thủ tiến vào phía đất liền đã buộc các phi công Argentina vượt qua khu vực này ở các độ cao thấp, làm tăng tiêu thụ nhiên liệu và đòi hỏi cần phải tiếp nhiên liệu trên không. Để làm việc này, một phần máy bay chiến đấu thay vì bom phải mang các thùng chứa nhiên liệu. Chẳng hạn, để hoàn thành nhiệm vụ máy bay "Mirage" đã mang theo trên thân hai hoặc ba bom 500 kg và hai thùng nhiên liệu treo bên ngoài chứa 1700 lít mỗi thùng. Tuy nhiên, việc tổ chức tiếp nhiên liệu trên không được thực hiện kém, do đó vì thiếu nhiên liệu 6 máy bay Argentina trên đường trở về sân bay trước khi bay tới bờ, đã bị rơi xuống biển.

(http://combatreform.org/hmssheffieldattackmap.jpg)
Đường bay tấn công HMS Sheffield (http://www.combatreform.org/falklandslessonsnotlearned.htm)

Đối với người Anh, điều hoàn toàn bất ngờ là việc các phi công Argentina sử dụng rất thành công tên lửa chống hạm "Exocet". Những tên lửa này cùng với các vật mang chúng - máy bay cường kích "Super Étendard" được Argentina mua của Pháp. Tuy nhiên, tới lúc khởi đầu cuộc xung đột, việc giao hàng các trang thiết bị huấn luyện-đào tạo, đạn tên lửa và máy bay đã không được thực hiện đầy đủ. Người Anh cho rằng nếu không có sự giúp đỡ của các chuyên gia Pháp, phi công Argentina sẽ không thể sử dụng được những tên lửa này. Rõ ràng, vì sự đánh giá thấp này về đối phương, người Anh đã không chuẩn bị phòng thủ chống tên lửa. Do đó, các cuộc tấn công đầu tiên của không quân Argentina đã thành công.

Ngày 4 tháng 5, một tốp 5 máy bay Argentina - hai chiếc tấn công, dưới cánh bên phải mỗi chiếc treo tên lửa chống hạm "Exocet" và dưới cánh bên trái - bình nhiên liệu dung tích 1100 lít, 1 máy bay làm dự bị với cách trang bị hệt như vậy, 2 chiếc chỉ có các thùng nhiên liệu dưới thân (làm chức năng máy bay tiếp dầu), đã bay đến khu vực quần đảo Falkland. Theo chỉ thị mục tiêu của một máy bay do thám P-2 "Hải Vương tinh" đang bay ngoài phạm vi hoạt động của các hệ thống tên lửa chống máy bay trên các tàu chiến Anh, 2 máy bay "Super Étendard" trong phiên bản mang tên lửa đã được dẫn đường bay tới các tàu chiến Anh. [284]

(http://www.artenchant.com/images/HMSArdent.jpg)
HMS Antelope (F170) nổ tung ngày 24 tháng 5 năm 1982 sau khi trúng bom của 4 chiếc A-4B Skyhawk Argentina ngày 23 tháng 5 năm 1982

Việc tiếp cận khu vực được máy bay thực hiện ở độ cao 40 - 50 m với tốc độ 900 km/ h. Radar trên máy bay được tắt. Thời tiết ủng hộ việc đạt được thời điểm bất ngờ, tầm nhìn phương ngang trong khu vực là 400 m, chiều cao của mép mây dưới ở cao độ 150 m. Tại cự ly cách mục tiêu 46 km độ cao đường bay được nâng lên 150 m và phi công tiến hành bật radar nhất thời (chỉ 30 giây), kết quả phát hiện hai mục tiêu (khu trục hạm "Sheffield" và frigate "Plymouth"), góc giữa chúng là 40 °. Sau khi nhập dữ liệu chỉ thị mục tiêu vào máy tính trên máy bay, phi công phóng vào mỗi mục tiêu một đạn tên lửa. Trong thời gian tấn công thiết bị trên máy bay ghi được sự làm việc của radar frigate "Plymouth". Radar tìm kiếm trên tàu khu trục "Sheffield" tại thời điểm đó không làm việc, để không gây nhiễu đến hệ thống thông tin vệ tinh "Skynet", thông qua đó người ta đàm thoại với London. Sau khi phóng tên lửa, các máy bay thực hiện vòng ngoặt theo hướng ngược lại và giảm độ cao đột ngột xuống 30 m, bay ra khỏi khu vực trận đánh.

Đầu tự dẫn radar chủ động trên một tên lửa ở cự ly khoảng 12-15 km đã khóa vào khu trục hạm "Sheffield". Khi tiếp cận mục tiêu tên lửa hạ độ cao xuống còn 2 - 3 mét. Từ trên tàu người ta nhận thấy tên lửa chỉ một vài giây trước khi nó lao trúng con tàu. Rơi trúng tàu, tên lửa khoan vào thân ở vị trí 1,8 m trên đường mớn nước. Kích thước của lỗ thủng là 4,5 x 1,2 m.

Trên "Sheffield" một đám cháy dữ dội bùng lên. {27} Sau 5 giờ đấu tranh sinh tồn không kết quả, thủy thủ đoàn đã rời khỏi tàu. Người Anh đã thực hiện những nỗ lực tuyệt vọng để cứu chiếc tàu khu trục, nhưng khi cứu kéo trên biển đang động mạnh, ngày 10 tháng 5 "Sheffield" đã chìm. [285]

Quả đạn tên lửa thứ hai, từ frigate "Plymouth" người ta phát hiện được khi còn 40 giây. Nhiễu thụ động được phóng ra dưới hình thức màn che bằng các lưỡng cực phản xạ và đầu tự dẫn trên tên lửa đã bị chúng tác động.

Sau khi mất "Sheffield" người Anh tăng cường đáng kể công tác phòng không và chống tên lửa của lực lượng đặc nhiệm. Trên các máy bay trực thăng chống tàu ngầm, "Linh miêu" ("Lynks") người ta cài đặt thiết bị gây nhiễu bẫy tên lửa "Exocet". Khi phản công chống đòn đánh của phương tiện tấn công đường không của đối thủ, người Anh bắt đầu sử dụng hỏa tiễn không điều khiển kiểu "Corsus", "Sea fan" và "Stokkaid" nhồi đầy lưỡng cục phản xạ làm từ sợi thủy tinh kim loại hóa, lá nhôm và các vật liệu khác. Trong các điều kiện thời tiết bình thường, hiệu quả của nhiễu duy trì trong 6 phút. Theo báo chí nước ngoài tuyên bố, tất cả các phương tiện đối kháng vô tuyến điện tử đều đạt hiệu quả và làm việc rất hoàn hảo. Tàu chiến của lực lượng đặc nhiệm gần như liên tục phóng ra các đám mây nhiễu nếu phát sinh một nguy cơ bị tấn công đường không.

(http://www.ausairpower.net/NATO/Atlantic-Conveyor-MoD-S.jpg)
"Tàu "Atlantic Conveyor" sau khi trúng "Exocet" ngày 25 tháng 5 năm 1982

Ngày 25 tháng 5, 2 máy bay "Super Etendard", sau khi tiếp nhiên liệu trên đường bay, theo chỉ thị mục tiêu của radar ven biển bí mật bay vào khu vực triển khai của các tàu sân bay Anh. Việc xâm nhập khu vực mục tiêu của các máy bay diễn ra như sau. Sau khi cất cánh từ căn cứ không quân Rio Grande, cả hai máy bay ban đầu lấy hướng bay về phía bắc, sau đó bay về phía đông (trên phân đoạn hành trình này đã tiến hành tiếp nhiên liệu từ máy bay C-130), sau đó họ quay về phía nam, sau một thời gian - bay về phía tây, và rất bất ngờ với người Anh, họ bay đến phía các tàu chiến Anh từ phía đông.

Đảm bảo việc xâm nhập vào khu vực có các tàu Anh là chiếc máy bay C-130 thứ hai. Ở cự ly cách vị trí dự kiến của các tàu sân bay 80 km, các phi công Argentina bật radar trên máy bay và phát hiện 2 mục tiêu lớn có đội bảo vệ. Sau khi phóng 2 [286] tên lửa ở cự ly cách các mục tiêu 48 km, các máy bay "Super Étendard" ngay lập tức hạ xuống độ cao cực thấp bay về lục địa. Người Anh, phát hiện ra các máy bay Argentina, phóng lên một màn nhiễu thụ động rất mạnh. Trái đạn tên lửa, đang bay tới tàu sân bay "Hermes" đã bị nhiễu làm lệch hướng, nhưng sau khi ra khỏi đám mây nhiễu, đầu tự dẫn của tên lửa đã bắt được một mục tiêu lớn ở cự ly cách tàu sân bay5-6 km. Mục tiêu này là "Atlantic Conveyor", mà các phi công Argentina nhận lầm là tàu sân bay. {28} Trúng hai tên lửa chống hạm "Exocet", tàu container bị chìm.

Do các phi công Argentina thực hiện các cuộc tấn công ở độ cao nhỏ - phương pháp ném bom trên đỉnh cột buồm, những quả bom thường không kịp thời gian chuyển sang tư thế chiến đấu, vì vậy 80% các quả bom rới trúng các tàu Anh, đã không phát nổ. Ví dụ, ngày 8 tháng 6, 05 máy bay Argentina "Mirage" ném bom frigate Anh "Plymouth." Bốn trái bom trong số bom mang đi được ném trúng con tàu, nhưng không trái nào phát nổ. Sự thất bại này bắt người Argentina trả giá đắt, vì trong cuộc xung đột, từ frigate "Plymouth" đã phóng lên 9 tên lửa PK "Sea Cat" và bắn 900 viên đạn pháo cỡ 114 mm, kết quả là 5 máy bay bị bắn rơi và nhiều máy bay Argentina bị thương. Trái bom 450-kg rơi trúng tàu khu trục "Glasgow" cũng không phát nổ.

Mặc dù tất cả những hạn chế nêu trên, lực lượng không quân Argentina đã gây thiệt hại nhiều nhất cho quân viễn chinh Anh: họ đã thành công trong việc đánh chìm hai tàu khu trục kiểu "Sheffield", 2 frigate kiểu "Amazon", [287] tàu đổ bộ "Sir Galahed" và tàu chở container "Atlantic Conveyor", cũng như làm thiệt hại nghiêm trọng hơn 10 tàu (trong đó có cả hai tàu sân bay).

Phi hành đoàn các máy bay Argentina thực hiện bay ở độ cao thấp và sử dụng địa hình để ngụy trang ẩn khuất, họ hành động khá thành công chống lại các tàu chiến Anh tại eo biển Falkland. Kỹ thuật này làm giảm cự ly phát hiện của radar lên đến 10 - 16 km, và tương ứng là giảm thời gian chuẩn bị của các khẩu đội tên lửa PK và pháo phòng không để khai hỏa. Các cuộc tấn công, theo lệ thường, diễn ra từ phía tây, tây nam và phía nam, vào cuối ngày, từ phía mặt trời khi ánh sáng của nó làm chói mắt các khẩu đội tác chiến trên hạm tàu, đang thực hiện hướng dẫn hệ thống phòng không với sự hỗ trợ của máy ngắm quang học. [288]

Tổn thất máy bay cánh cố định và máy bay trực thăng của Không quân Argentina do các loại phương tiện phòng không {29}
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang2-c7_zps8d5dfc81.png) (http://s1185.photobucket.com/user/qtdc2/media/bang2-c7_zps8d5dfc81.png.html)

Các máy bay "Super Étendard" hoạt động hiệu quả nhất trong số các loại máy bay của không quân Argentina,  chúng đã phóng sáu tên lửa "Exocet". Ba tên lửa trúng mục tiêu, hai bị bắn hạ bởi tên lửa PK "Sea Wolf", một tên lửa bị sa bẫy nhiễu thụ động bắn ra từ frigate "Plymouth". Trong mọi trường hợp, các máy bay tiến vào công kích dưới sự yểm trợ của máy bay tiêm kích và phóng tên lửa (từ một phương tiện mang), mà không bay vào khu vực phòng thủ chống máy bay của đơn vị tàu chiến. Sau khi phóng tên lửa, các máy bay thực hiện vòng ngoặt ngược bay trở về. Độ cao thấp của đường bay của máy bay và của chính tên lửa, cũng như bề mặt nhỏ của sự phản xạ radar hiệu dụng của các đài radar trên các chiến hạm [289] không cho phép phát hiện kịp thời cuộc tấn công. Tổng cộng thì các máy bay "Super Étendard" đã thực hiện 26 phi vụ chiến đấu, trong đó một máy bay bị bắn rơi và một bị thương.

(http://2.bp.blogspot.com/_lEtkuz8ScYM/SdtEmYmf3YI/AAAAAAAACPE/QTzriDR48-Q/s1600/HMS+Coventry+6.jpg)
Máy bay A-4 Skyhawk Argentina đang tấn công HMS Coventry (D118) bằng bom ngày 25 tháng 5 năm 1982.

Tổng cộng các máy bay của Không quân Argentina đã xuất kích gần 500 phi vụ, trong đó có 261 trường hợp phi công trở về mà không hoàn thành nhiệm vụ do hỏa lực đối kháng của phương tiện phòng không cua người Anh hoặc do thiếu nhiên liệu. Thường thì bộ chỉ huy Argentina hay phạm sai lầm khi lựa chọn mục tiêu để hủy diệt. Ví dụ, thay vì tập trung mọi nỗ lực của lực lượng không quân của mình vào việc các tàu chiến địch, mà trước hết là các tàu sân bay, họ lại tìm cách tiêu diệt tối đa máy bay Anh. Tổn thất máy bay của không quân Argentina lên tới hơn 100 máy bay cánh cố định và trực thăng, trong đó máy bay "Super Étendard" - 1, "Mirage" và "Dagger" - 26, "Pucara" - 23, trực thăng - 18, v.v. Thiệt hại lớn nhất mà không quân Argentina phải chịu là do tên lửa phòng không (45 máy bay), 31 máy bay bị mất trong không chiến {30}, 30 - trên mặt đất.

Bộ chỉ huy Argentina sử dụng rộng rãi máy bay vận tải C-130 và máy bay "Boeing-707" để làm công tác trinh sát. Từ ngày 1 tháng 5 - 19 tháng 6, chúng đã thực hiện được 466 chuyến bay trinh sát trên không với hơn 2.200 giờ bay. Để giữ bí mật, các chuyến bay này được thực hiện trong điều kiện tắt radar trên máy bay, bay ở độ cao rất thấp (đến 15m). Khi tiến vào khu vực đang có các tàu Anh, máy bay trinh sát lấy độ cao đột ngột lên mức 150 m, bật radar trên máy bay trong thời gian ngắn, sau khi bắt dấu mục tiêu lại hạ độ cao một lần nữa.

(http://3.bp.blogspot.com/_lEtkuz8ScYM/SdtEqAPJT9I/AAAAAAAACPM/XzoRGEaV8Aw/s1600/HMS+Coventry+5.jpg)
HMS Coventry (D118), trong khi đang tiến về phía tây bắc quần đảo Falkland, phóng 1 tên lửa PK có điều khiển ("Sea Dart" missile) vào các máy bay phản lực Argentina đang bay tới, ngày 25 tháng 5 năm 1982.
...........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 17 Tháng Tám, 2013, 09:40:31 PM
(tiếp)

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/0/0f/Invincible_1982.JPG/800px-Invincible_1982.JPG)
HMS "Invincible" chở theo các máy bay "Sea Harrier" tại Nam Đại Tây Dương trong chến tranh Falkland

Máy bay Anh hoạt động thường theo các tốp nhỏ.  Tấn công các mục tiêu ven biển thường là [290] tốp 2 - 3 máy bay "Harrier" hay "Sea Harrier" bay ở độ cao 100 - 300 m, chúng công kích từ tư thế bay bằng hoặc bổ nhào, khi rút lui chúng thực hiện thao tác cơ động chống tên lửa PK kiểu "dốc gù", "rắn lượn", ngoặt về sau sang bên phải, bên trái. Để giảm nguy cơ tổn thất khi công kích mục tiêu mặt đất, các phi công người Anh sử dụng chiến thuật ném bom khi bay ngóc lên. Trong đó việc tiếp cận mục tiêu được thực hiện ở độ cao thấp. Ở cự ly 5 km cách mục tiêu tấn công, phi công chuyển máy bay sang chế độ bay dốc đứng ngóc lên và cắt bom. Ngoài ra, việc ném bom từ máy bay "Harrier" thường diễn ra ở độ cao trung bình - đầu tiên từ 3600 m, sau đó là 5000 m. Các máy bay sử dụng hỏa tiễn có điều khiển "Martel", bom 1000 và 500 pound (ban đêm sử dụng máy ngắm laser).

Để chế áp hỏa lực pháo bờ biển, các máy bay "Harriers" đã tấn công đối tượng này bằng bom Mỹ có hệ dẫn đường laser. Việc chiếu xạ mục tiêu, như đã nêu trong các báo chí nước ngoài, được thực hiện bởi chỉ điểm viên dẫn đường mặt đất, còn cặp máy bay cắt bom sau khi đầu tự dẫn laser bán chủ động đã bắt được tia phản xạ từ mục tiêu.

Vì số lượng nhỏ, không quân Anh phải hoạt động với cường độ rất căng thẳng. Chẳng hạn, chỉ riêng máy bay "Sea Harrier" đã bay hơn 1.500 phi vụ (trung bình 6 chuyến bay một ngày), còn phi đội máy bay trực thăng "Sea King" số 880 riêng tháng Năm đã bay 1.560 giờ, hoặc 270 giờ bay cho mỗi phi hành đoàn, tương đương với tải của một năm. Tổng cộng, các máy bay "Harrier" và "Sea Harrier" đã thực hiện 2376 phi vụ, bao gồm 282 phi vụ bay đêm. Tổng thời gian bay của họ là 2.675 giờ.

Mỗi phi công Anh hàng ngày thực hiện 3 - 4 chuyến xuất kích có thời gian tổng cộng 10 giờ. Số lượng phi công trên một máy bay vào giai đoạn đầu cuộc xung đột bằng 1.2, sau này lên đến 1.4. [291]

Trên các máy bay "Harrier" và "Sea Harrier" không có vũ khí chống bức xạ radar. Vì lý do này, người Anh trang bị tên lửa chống radar "Shrike" cho máy bay "Vulcan", có nhiệm vụ tiêu diệt các trạm radar tại khu vực Port-Stanley. Các máy bay trên hạm được trang bị máy phát hiện sự chiếu xạ của radar, máy tự động phóng nhiễu lưỡng cực phản xạ và bẫy hồng ngoại. Trên các máy bay này có các máy phát nhiễu tích cực, được sử dụng rất thành công trong việc chống lại radar điều khiển hỏa lực pháo phòng không.

(http://www.combatreform.org/attackonhmsinvincible.jpg)
Trận đánh tàu sân bay HMS Invincible của 2 máy bay Super Étendard ("Ala") mang tên lửa chống hạm "Exocet", phối hợp với biên đội 4 chiếc A-4C Skyhawk "Zonda" Argentina và còn gây nhiều tranh cãi về kết quả giứa 2 bên tham chiến ngày 30 tháng 5 năm 1982. (http://www.combatreform.org/falklandslessonsnotlearned.htm)

Máy bay "Sea Harrier" cho thấy khả năng chiến đấu cao, trong các trận không chiến nó còn vượt qua ngay cả máy bay "Mirage". Trong quá trình tấn công đường không, các máy bay "Sea Harrier" đã bắn 27 loạt tên lửa "Sidewinder", 24 trong số đó trúng mục tiêu, chúng bắn rơi 7 máy bay bằng pháo 30-mm "Aden". Trong số 31 máy bay bị chúng bắn rơi, 19 chiếc là tiêm kích "Mirage". Trong khi đó không hề có một chiếc "Sea Harrier" nào bị bắn hạ trong không chiến.

Khi tấn công các máy bay Argentina, người Anh thường sử dụng chiến thuật sau đây. Chiếc "Sea Harrier" dẫn đầu hạ xuống độ cao đường bay của mục tiêu, vừa đuổi theo vừa bắn bằng pháo 30-mm "Aden", chiếc "Harrier" bay sau chiếm vị trí từ trên cao, thực hiện khóa máy bay đối phương bằng đầu tự dẫn tên lửa "Sidewinder" và chờ đợi kết quả xạ kích của chiếc đầu đàn. Trong trường hợp bỏ lỡ cơ hội, chiếc đầu đàn bay sang một bên, chiếc đi sau sẽ phóng tên lửa vào mục tiêu.

Trong không chiến tầm gần người Anh sử dụng có hiệu quả việc điều khiển vector lực đẩy khi bay bằng. Vì người Argentina chủ yếu sử dụng tên lửa "Sidewinder" với đầu tự dẫn hồng ngoại lỗi thời, để tấn công hiệu quả nhất định phải tiến được vào bán cầu phía sau của đối phương. Tuy nhiên, ngay sau khi phi công Anh phát hiện phía sau có "Mirage" của Argentina [292] hoặc tên lửa đã phóng, anh ta lập tức đảo ngược lực đẩy động cơ bằng cách chuyển hướng dòng khí thải phản lực, và "Sea Harrier" hoặc "Harrier" được hãm đột ngột, thay đổi vị trí góc của mình. Kết quả là máy bay đối phương hoặc tên lửa sẽ trượt về phía trước, phi công người Anh sẽ thấy mình chiếm được một vị trí thuận lợi để có thể tấn công. Đến lượt mình, để thoát khỏi bị máy bay của Anh bám đuôi, các phi công Argentina sử dụng các động tác cơ động phòng thủ với việc bật tăng lực, làm giảm đáng kể lượng dự trữ nhiên liệu.

Theo đánh giá của người Anh, các máy bay tuần biển "Nimrod" đã tự chứng tỏ mình rất tốt, chúng đã thực hiện 110 phi vụ. Độ dài thời gian bay trung bình 15 giờ. Máy bay "Nimrod" thực hiện phòng thủ chống tàu ngầm cho lực lượng đặc nhiệm trong quá trình di chuyển, rải trường vô tuyến thủy âm kiểm soát qua các phao định vị vô tuyến thủy âm trên các tuyến di chuyển của các tàu sân bay, cũng như trong khu vực cơ động chiến đấu của chúng. Để đánh trúng các mục tiêu mặt nước bị phát hiện, trên giá treo dưới cánh của máy bay có treo các tên lửa chống hạm "Harpoon", và để tự vệ - tên lửa "Sidewinder". Theo ý kiến của người Anh, tên lửa chống hạm "Harpoon" sẽ là vũ khí chính của máy bay tuần biển. Trong tương lai dự kiến sẽ trang bị những tên lửa như vậy cho 34 máy bay "Nimrod".

Trong cuộc xung đột Anh-Argentina máy bay trực thăng được sử dụng rất rộng rãi. Trên các tàu chiến của lực lượng đặc nhiệm Vương quốc Anh có 80 trực thăng. Chúng tấn công mục tiêu mặt đất và các tàu đối phương, tiến hành trinh sát, chuyển phương tiện vật chất, thực hiện thông tin liên lạc, đổ bộ quân, đảm bảo phòng thủ chống tàu ngầm cho lực lượng đặc nhiệm. Hầu hết trực thăng được trang bị súng máy, một số - trang bị các ống phóng hỏa tiễn không điều khiển. Trên trực thăng "Chinook" còn cài đặt máy phát hiện sự chiếu xạ radar và máy tự động [293] thả các lưỡng cực phản xạ và các bẫy hồng ngoại.

Trong cuộc xung đột, ghi nhận hai trường hợp sử dụng máy bay trực thăng chống lại các mục tiêu mặt nước. Ngày 02 tháng 5 một cặp máy bay trực thăng "Lynx" mang tên lửa "Sea Skua" đã tấn công hai tàu tuần tra của Argentina. Cuộc tấn công thực hiện trong điều kiện thời tiết bất lợi (tàu có độ choán nước 900 tấn liên tục khuất đằng sau những con sóng), nhưng đã đạt được thành công. Một tàu tuần tra bị hư hại, tàu kia - "Commodoro Somellera" - bị đánh chìm. Trước đó, vào ngày 25 tháng 4, bằng tên lửa AS-12 và bom chìm, các máy bay trực thăng đã đánh chìm 1 tàu ngầm Argentina (tàu ngầm ARA Santa Fe). Trong cả hai trường hợp, việc phóng tên lửa diễn ra trong điều kiện quan sát trực quan được mục tiêu. Mỗi máy bay trực thăng đã phóng một tên lửa.

Tổn thất máy bay của Không quân Anh {31}
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang3-c7_zps07bfed2a.png) (http://s1185.photobucket.com/user/qtdc2/media/bang3-c7_zps07bfed2a.png.html)

Tổn thất máy bay của người Anh lên tới 34 máy bay cánh cố định và trực thăng, trong số đó 9 chiếc bị hỏa lực PK mặt đất bắn rơi, số còn lại - là kết quả của các cuộc không kích của không quân Argentina, đồng thời còn do tai nạn và sự cố. [294]

Kinh nghiệm tác chiến không quân trong cuộc xung đột Anh-Argentina cho phép rút ra một số kết luận.

Thứ nhất, hơn 80% số tàu bị đánh chìm bởi máy bay. Điều này cho thấy, ngay từ trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai, không quân vẫn còn là một lực lượng đáng sợ trong hoạt động chiến đấu trên biển. Đồng thời, cùng với không quân của hải quân, để tấn công các mục tiêu trên biển người ta còn sử dụng không quân của lục quân. Vì vậy, cần đạt được sự hiệp đồng tác chiến chính xác giữa không quân lục quân và không quân hải quân và huấn luyện đội ngũ bay cho các hoạt động này.

Thứ hai, cuộc đấu tranh giành quyền khống chế trên không tiếp tục là nhiệm vụ ưu tiên trên hết, còn bản thân cuộc chiến đấu giành quyền khống chế - là điều kiện tiên quyết quyết định sự thành công cho các hoạt động chiến đấu trên biển.

Thứ ba, kinh nghiệm của người Anh trong việc cải tạo các tàu container thành tàu chở máy bay xúng đáng được quan tâm. Điều này cho phép họ vốn không có trong biên chế hải quân các tàu sân bay xung kích, nay đạt được sự tập trung trong một khu vực xa xôi đến 70 máy bay và chiến đấu giành ưu thế thống trị trên không.

Kinh nghiệm chiến đấu cũng cho phép phát hiện các điểm mạnh và điểm yếu trong hoạt động của không quân và xác định con đường nâng cao khả năng chiến đấu của nó.

Thuộc mặt yếu kém của không quân Argentina cần phải kể đến việc thiếu máy bay tác chiến điện tử và máy bay tiếp nhiên liệu trong đội hình chiến đấu; công tác đảm bảo hậu cần kém (thiếu phụ tùng và đạn dược); số lượng các quân nhân bảo trì và đội ngũ bay có trình độ còn ít và không đủ bù đắp cho các thiệt hại; mức độ thấp trong tổ chức chỉ huy lực lượng, đội ngũ phi công không được huấn luyện bay chiến đấu ban đêm; kỹ năng kém của các phi công lực lượng không quân trong việc tấn công các mục tiêu mặt nước; tổ chức trinh sát không tốt. [295]

Những nhược điểm chính của không quân Anh - có thể kể ra sự thiếu vắng máy bay AWACS và máy bay tiêm kích đánh chặn siêu âm có bán kính hoạt động lớn; tốc độ thấp, bán kính hoạt động ngắn và không đủ tải trọng chiến đấu của các máy bay "Sea Harrier" trên tàu sân bay.

Để đảm bảo công tác phòng không cho quân đội viễn chinh, bộ chỉ huy Anh đã thành lập ba khu vực phòng không.

Khu vực đầu tiên - khoảng không gian xung quanh quần đảo Falkland - nằm trong khu vực với tới được của Không quân Argentina. Việc giám sát radar tầm xa trong khu vực được thực hiện bởi các tàu khu trục kiểu "Sheffield" có các frigate mang tên lửa có điều khiển hộ tống, chúng trang bị hệ thống TL phòng không "Sea Wolf." Những chiếc tàu này bố trí cách lực lượng chính 120 dặm trên các hướng dễ bị đe dọa. Sử dụng các tàu mặt nước làm các trạm radar tuần tiễu là một biện pháp bắt buộc vì Anh không có máy bay AWACS, mà sử dụng cho nhiệm vụ này những chiếc "Harrier" và "Nimrod" thì lại không hợp lý. Mặc dù các tàu trên đóng một vai trò nhất định trong hệ thống phòng không, chúng đã trở thành những tấm bia dễ dàng cho không quân Argentina tấn công. Tất cả ba tàu khu trục cùng thực hiện một nhiệm vụ đó, đều bị đối phương vô hiệu hóa: "Sheffield" và "Coventry" bị đánh chìm, còn "Glasgow" chỉ đơn giản là thoát chết do may mắn sau khi bị trúng bom, xuyên qua cả hai bên mạn tàu. Ở trong cùng khu vực trên cự ly cách tàu sân bay 140 dặm một cặp "Sea Harrier" liên tục quần đảo trên không. Việc thay phiên tuần tra không phận được thực hiện 40 phút một lần. Ngoài ra, trên các tàu sân bay trong thời gian 3 phút các máy bay "Sea Harrier" sẵn sàng cất cánh xuất kích theo từng biên đội.

Khu vực PK thứ hai tiếp giáp trực tiếp quần đảo Falkland. Cuộc chiến đấu chống đối thủ đường không trong khu vực này do các tàu tiến hành chủ yếu bằng phương tiện PK của bản thân (SAM "Sea Slag" và "Sea [296] Dart"), theo yêu cầu của họ các máy bay "Sea Harrier" thuộc nhóm yểm trợ đường không có thể cất cánh.

Khu vực PK thứ ba - không gian trên phần phía bắc eo biển Falkland và vịnh San Carlos (khu vực đổ bộ đường biển). Phòng không trong khu vực này được đảm bảo bởi các hệ thống SAM "Rapier" và tên lửa PK mang vác "Blow pipe" đã triển khai trên vị trí bàn đạp, trong eo biển có các tàu nhóm đặc nhiệm yểm trợ thường là frigate, có trang bị hệ thống TL phòng không "Sea Wolf". Tất cả các tàu đều sử dụng súng máy PK 20 và 40 mm, các frigate lớp "Amazon" - SAM "Sea Cat".

TLPK đóng một vai trò quan trọng trong công tác phòng không và phòng thủ chống tên lửa của quân viễn chinh, riêng phần nó chiếm hơn 50% số máy bay và trực thăng bị bắn rơi. SAM "Sea Wolf" đã chứng tỏ khả năng chiến đấu cao, thống kê kết quả chiến đấu của nó có 5 máy bay cánh cố định và hai tên lửa "Exocet" bị bắn hạ. Tổ hợp PK này được đưa vào trang bị cho quân đội Anh năm 1979 và trang bị trên các frigate mang tên lửa có điều khiển để chống lại các mục tiêu bay thấp có bề mặt phản xạ hiệu dụng đến 0,1 mét vuông. Phi công Argentina cố gắng tránh tiếp xúc với các tàu có hệ thống TL phòng không "Sea Wolf", người Anh cũng tìm cách bố trí các tàu như vậy trên các hướng bị đe dọa và trong khu vực phòng không gần các tàu sân bay, họ than vãn tiếc rẻ về chuyện không phải tất cả các tàu đều được trang bị các hệ thống SAM kiểu này. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng thực chiến đã phát hiện những thiếu sót nghiêm trọng của hệ thống SAM "Sea Wolf". Vì góc phương vị của mục tiêu thường nhỏ hơn 1,5 °, việc sử dụng radar bám sát mục tiêu và tên lửa là điều không thể. Ngoài ra, người ta thấy rằng tổ hợp SAM trên không phù hợp để đánh trả những mục tiêu đang tiến tới con tàu từ các hướng khác nhau. Trong trường hợp này, ống phóng được đặt ở vị trí trung tâm, mà điều đó đòi hỏi quá trình tái tạo xử lý số liệu xạ kích. Cả hai hạn chế đó cần phải loại bỏ bởi các nhóm kỹ sư công ty chế tạo tên lửa (các kỹ sư này được chuyển đến khu vực xung đột trên các tàu đảm bảo). [297]

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s66.gif)
Sơ đồ bố trí PK của lực lượng viễn chinh Anh

TLPK cơ bản của Hải quân Anh "Sea Dart" khác với "Sea Wolf" lại có khả năng chiến đấu thấp. Biết được điểm yếu của nó - có vùng chết lớn (4,5 km) và thời gian đáp ứng lớn (20 giây), các phi công Argentina thực hiện các cuộc tấn công ở độ cao cực thấp, do đó mà loại trừ được việc bị tên lửa "Sea Dart" bắn. TLPK cũng không hữu dụng để đối phó với các mục tiêu nhóm.

Đặc biệt nhược điểm lớn là các radar kiểu "909" không đảm bảo cung cấp được cho hệ thống TL phòng không "Sea Dart" dữ liệu chính xác khi xạ kích trong điều kiện có sóng biển mạnh. Sai sót trong việc xác định cự ly lên tới 16 km. [298]

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s67.gif)
Vị trí các tàu bị đánh chìm trong cuộc xung đột Anh-Argentina năm 1982

Người Anh tin rằng việc tạo ra các lớp bảo vệ theo chiều sâu chống máy bay đối phương, vốn bị hạn chế trong việc lựa chọn các đường bay, sẽ đảm bảo sự an toàn cho các loại tàu của lực ượng đặc nhiệm. Tuy nhiên, kinh nghiệm cho thấy người Anh đã không thể giải quyết vấn đề phòng không và phòng thủ chống tên lửa cho lực lượng viễn chinh của họ. Tất cả các thiệt hại về tàu của họ đều do máy bay Argentina. Nhiều yếu tố bất lợi như thiếu máy bay mang radar cảnh giới trên tàu sân bay và máy bay tiêm kích siêu âm tầm xa, việc không đủ SAM "Sea Wolf" và pháo PK tốc độ bắn cao để trang bị cho các tàu, thời gian đáp ứng dài và vùng chết lớn của hệ thống TL phòng không "Sea Dart".

Trong cuộc xung đột Anh-Argentina, tên lửa, nhờ đặc tính chiến đấu cao của mình đã vững chắc tiến vào hàng ngũ những vũ khí công phá hiệu quả nhất trên biển, làm tăng cường đáng kể khả năng chiến đấu của các hạm đội. Đồng thời nảy sinh vấn đề về việc bảo vệ các tàu trước tên lửa đối phương: phòng không và phòng thủ chống tên lửa đã trở thành một trong những dạng quan trọng nhất của công tác bảo đảm chiến đấu của lực lượng vũ trang.

Tổn thất tàu mặt nước các loại và tàu ngầm {32}
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang4-c7_zps50df7289.png) (http://s1185.photobucket.com/user/qtdc2/media/bang4-c7_zps50df7289.png.html)
........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 19 Tháng Tám, 2013, 09:41:52 PM
(tiếp)

Công tác đảm bảo hậu cần


(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/QIA025_zps68af151b.jpg) (http://s1185.photobucket.com/user/qtdc2/media/QIA025_zps68af151b.jpg.html)

Nhóm lực lượng bảo trì (hậu cần nổi), có nhiệm vụ đảm bảo và tăng cường cho lực lượng đặc nhiệm 317, có tổng cộng 16 tàu phục vụ trong biên chế hải quân và hơn 70 tàu thuê từ các công ty tư nhân.

Để đưa máy bay cánh cố định và trực thăng vào khu vực tác chiến người Anh sử dụng các tàu vận tải Container- Ro-ro. Việc cải tạo chúng diễn ra theo đề án Arapaho, phát triển tại Hoa Kỳ. Để máy bay cất cánh, tại phần mũi con tàu người ta gia cường thép tấm cho mặt boong và kết thúc bằng một tấm viền (cầu bật), đảm bảo cho việc cất cánh bằng  một bước dậm nhảy. Boong được trang bị đèn hiệu cất-hạ cánh và chỉ thị sàn đáp. Các module container được trang bị thành các cabin cho đội ngũ quân-nhân viên, các buồng bảo quản và bảo trì trang bị hàng không, lắp đặt các bồn chứa nhiên liệu máy bay và dầu mỡ, ở phần đuôi tàu người ta xây dựng sân đáp trực thăng. Trên tàu container "Atlantic Conveyor" trang bị hai pháo cỡ nòng 40mm. Ngoài tàu container " Atlantic Conveyor", các tàu "Atlantic Causeway" và "Contender Bezant" cũng được cải tạo thành tàu vận tải chở máy bay. Tất cả các công việc cần tiến hành để chuyển đổi một tàu chở container sang tàu chở máy bay chiếm mất 7-9 ngày. Đó là trường hợp thực tế đầu tiên của kế hoạch Arapaho trong hoàn cảnh chiến đấu.

(http://www.combatreform.org/harrieroveratlanticconveyorcontainership.jpg)
"Atlantic Conveyor" sau khi chuyển đổi thành tàu vận tải chở máy bay

Phà và tàu chở hàng theo phương thức vận tải phương ngang (ro-ro) được người Anh sử dụng vào việc chuyên chở đến quần đảo Falkland các trang bị kỹ thuật có bánh xe, xe tăng hạng nhẹ kiểu "Scorpion", pháo 105 ly, hệ thống TL phòng không lục quân "Rapier", tức là những hàng hóa không phù hợp với phương thức vận tải container. [301]

Với thông báo của phía Argentina về việc thả mìn phong tỏa các vùng biển xung quanh quần đảo Falkland, người Anh cải tạo 5 tàu đánh bắt cá lưới quét thành các tàu quét mìn và bổ sung cho nó các đội thủy thủ quân sự, phái đến khu vực xung đột.

Một kinh nghiệm đáng chú ý là việc sử dụng tàu chở khách đường dài để tăng tốc độ chuyển đến khu vực chiến tranh một đội quân đồn trú lớn. Có 3 tàu loại này hoạt động: tàu chở khách lớn nhất của Anh "Queen Elizabeth 2", "Canberra" và "Norland". Sức chứa của con tàu đầu tiên là 3.150 chỗ ngồi,tàu thứ hai - 2000 và tàu thứ ba - 1200. Việc cải tạo tàu khách sang tàu vận tải quân chỉ mất 48 giờ. Trên các con tàu này đều trang bị các sân đáp trực thăng và các thiết bị phục vụ việc chuyển giao hàng hóa trên biển, lắp đặt phương tiện thông tin liên lạc bổ sung. Chỉ mất 16 ngày để người Anh dùng tàu "Queen Elizabeth 2" đưa đến khu chiến ba ngàn lính thủy quân lục chiến.

Tàu chở khách "Uganda" trong vòng 65 giờ đã được chuyển đổi thành quân y viện, trên tàu người Anh bố trí được hơn 1.000 giường bệnh, chứa được 90 tấn thiết bị y tế và tiếp nhận 100 nhân viên y tế làm việc. Phòng hồi sức cấp cứu được trang bị có gần 100 chỗ. Chỉ từ 16 Tháng Năm - 13 Tháng Bảy trên tàu "Uganda" đã thực hiện chăm sóc y tế có chất lượng 730 binh sĩ, 92% trong số đó bị thương trong cuộc chiến. 500 người trong số họ được các tàu vận tải-y tế sơ tán đến Montevideo (Uruguay), và sau đó theo đường không được chuyển về Vương quốc Anh.

Việc sử dụng tàu khách "Uganda" làm tàu bệnh viện đã có thể thực hiện được là do trong thời bình nó được đóng cho mục đích này. Tốc độ của tàu (hơn 20 hải lý) cho phép nhanh chóng ra khỏi khu vực chiến đấu. Nó có những phòng lớn, thuận tiện để bố trí chỗ nằm cho thương binh và các trang bị y tế, rất nhiều thiết bị hoạt động không thể chê trách được để hạ [302] các thuyền cao tốc, xuồng cứu sinh, máy điều hòa không khí, các khả năng rất tốt để trang bị các sân đáp trực thăng.

(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/FpxAscCanberraoffAscension_zpsb873117d.jpg) (http://s1185.photobucket.com/user/qtdc2/media/FpxAscCanberraoffAscension_zpsb873117d.jpg.html)
Tàu chỏ quân "Canberra" (chuyển đổi) đến Ascension ngày 19 tháng 4, cùng tàu vận tải Elk và 5 tàu Landing Ship Logistics (LSL) vận chuyển phần lớn lữ đoàn commando số 3 đến khu chiến. (http://www.naval-history.net/FpxAAscension.htm)

Khi chuyển đổi các tàu thuê phải tuân thủ một trình tự nhất định của các loại công việc: đặt các bồn bổ sung chứa nhiên liệu và nước, bố trí các phòng ở, trang bị các phương tiện thông tin liên lạc và xây dựng các sân đáp trực thăng. Trên một số tàu - phà ro-ro - lắp đặt thêm các vách ngăn kín nước và các lỗ lastpforte phần mũi được bịt kín bằng hàn điện. Ví dụ, trên phà "Rangatira" được thiết kế cho việc vận chuyển các trang thiết bị kỹ thuật công binh và 1.000 binh lính có trang bị hai vách ngăn kín nước (từ tính toán duy trì tính không chìm và duy trì sự ổn định khi ngập nước hai ngăn).

Hầu như tất cả các tàu đều cung cấp các thiết bị phục vụ truyền - nhận nhiên liệu lỏng qua thân hoặc đuôi tàu trên hành trình. Phần lớn các tàu đều lắp đặt máy lọc khử muối hiệu suất cao. Các phòng ở trang bị thêm bồn tắm, nhà vệ sinh, giường treo; bổ sung trang bị cứu sinh, chủ yếu là phao bè. Để nâng cao độ tin cậy của thông tin liên lạc, trên một số tàu còn lắp đặt thiết bị liên lạc không gian.

Trên các con tàu ở lâu trong khu vực chiến sự, có lắp đặt pháo PK tự động (40mm "Bofors" và 20mm "Oerlikon") và cả tổ hợp tên lửa PK.

Việc cải tạo các tàu này được tiến hành suốt ngày đêm các xưởng đóng tàu Southampton, Portsmouth, Devonport và Rosyt. Tại Gibraltar và Charleston (Mỹ) mỗi nơi có một tàu được chuyển đổi. Để tham gia công việc đã thu hút hơn 200 công ty cung ứng dich vụ.

Trong số tất cả các tàu tham chiến, chỉ có trên các tàu đánh cá [303], đôi thủy thủ dân sự được thay thế hoàn toàn bởi đội thủy thủ quân sự, trên các tàu khác sử dụng đội thủy thủ hỗn hợp.

Trong cuộc xung đột Anh-Argentina các tàu dân sự là dự trữ quan trọng nhất của Hải quân Hoàng gia. Theo ý kiến các chuyên gia Anh, các tàu này hình thành cơ sở hậu cần nổi cho Hải quân của họ.

Trong quá trình chuẩn bị và tiến hành chiến dịch đánh chiếm quần đảo Falkland, bộ chỉ huy quân sự Anh giành cho công tác hậu cần ý nghĩa rất lớn, việc tổ chức nó rất phức tạp do khoảng cách tới khu vực chiến đấu quá xa chính quốc, lực lượng tham gia chiến dịch rất đông, và tại Nam Đại Tây Dương họ không có các căn cứ hải quân tiền tiêu.

Công tác lập kế hoạch và tổ chức đảm bảo hậu cần được thực hiện dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tổng cục trưởng Tổng cục Đảm bảo Hậu cần Hải quân Hoàng gia Chuẩn Đô đốc P. Hammersly, ông cũng đồng thời là thành viên ban lãnh đạo chiến dịch.

(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/QIA026_zpsb6a1a7c9.jpg) (http://s1185.photobucket.com/user/qtdc2/media/QIA026_zpsb6a1a7c9.jpg.html)
SS Uganda (1952) trong chiến tranh Falkland (http://www.qarnns.co.uk/falklands-war.asp)

Đảm bảo vật chất là quan trọng nhất trong quá trình chiến sự. Các tàu hậu cần nổi, nằm ở Nam Đại Tây Dương, chở theo hơn 100 ngàn tấn hàng hóa và hơn 500 nghìn tấn nhiên liệu tàu. Khi ta tính rằng binh đoàn đặc nhiệm 317 bao gồm chủ yếu các tàu có thiết bị năng lượng kiểu tuabin khí, chi phí nhiên liệu rất đáng kể: nhu cầu hàng tháng đạt đến 135 tấn. Vì vậy trong khu vực xung đột liên tục có ít nhất 10 tàu chở dầu. Tổng cộng trong quá trình chiến đấu, các tàu hậu cần nổi đã hơn 2.000 lần tiếp dự trữ cho các tàu của lực lượng đặc nhiệm (trong đó có 1.500 lần tiếp nhiên liệu). Việc tiếp nhiên liệu cho tàu đang hành trình thực hiện theo phương pháp song song từ cả hai phía mạn. Thời gian tiếp nhiên liệu cho tàu khu trục trung bình mất 1 giờ, frigate - hơn 1 giờ. Thường người ta bơm được khỏi tàu chở dầu 450 tấn nhiên liệu mỗi giờ. [304]

Tàu chở dầu "British Tamar" đã chuyển 18 nghìn tấn nhiên liệu trong 52 giờ 40 phút.

Đóng vai trò quan trọng trong công tác đảm bảo vật chất cho các lực lượng viễn chinh là không quân vận tải quân sự, họ chuyên chở được hơn 10 ngàn tấn hàng hóa các loại. Máy bay vận tải C-10 và "Hercules" đã bay hơn 600 phi vụ, chuyển đến đảo Ascension hơn 5.800 người và 6.600 tấn hàng hóa. Hàng ngày ít nhất 2 máy bay vận tải "Hercules" bay từ đảo Ascension tới quần đảo Falkland, chuyển hàng tiếp tế cho các lực lượng viễn chinh. Hàng hóa đóng trong container kín nước được thả bằng dù xuống biển, sau đó máy bay trực thăng vớt đưa lên tàu. Việc tổ chức cung ứng hàng hóa như vậy có thể thực hiện được là nhờ tổ chức tốt tiếp nhiên liệu trên không. Cự ly chuyến bay từ đảo Ascension đến khu vực chiến sự và bay về là 12.800 km, thời gian bay 24 - 25 giờ. Trong thời kỳ có những chuyến bay trên đã ghi nhận gần 600 lần tiếp nhiên liệu trên không, và chỉ có sáu trường hợp do vấn đề kỹ thuật mà việc tiếp dầu không thành công. Thời gian trung bình của một lần tiếp nhiên liệu là khoảng 15 phút, trong thời gian đó có 11,3 tấn nhiên liệu được bơm. Đồng thời người Anh cảm thấy không đủ máy bay tiếp dầu. Vì vậy, ngoài 15 máy bay tiếp dầu "Victor", để làm tàu chở dầu trên không người ta còn sử dụng 5 máy bay vận tải "Hercules" và 6 máy bay ném bom chiến lược "Vulcan". Quy mô của loại hình đảm bảo này còn được đặc trưng bởi một con số khác: máy bay tiếp dầu "Victor" đã thực hiện 375 phi vụ trong quá trình diễn ra cuộc xung đột.

(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/FpxAscHMSHermesandescortarrivingatASC-01_zpsf1db9bd4.jpg) (http://s1185.photobucket.com/user/qtdc2/media/FpxAscHMSHermesandescortarrivingatASC-01_zpsf1db9bd4.jpg.html)
Nhóm tàu sân bay xung kích: "Hermes" và 2 tàu hộ tống đến Ascencion vào thứ 6 ngày 16 tháng 4, sau khi "bổ sung theo chiều đứng" (vertrep - vertical replenishment) bằng trực thăng, tiếp tục đi vào ngày Chủ nhật 18 tháng 4 đến khu vực chiến sự. (http://www.naval-history.net/FpxAAscension.htm)

Hỗ trợ đồng minh của mình trong khối NATO, Hoa Kỳ đã yểm trợ vật chất cho các lực lượng đặc nhiệm Anh. Tàu chở dầu Mỹ đã chuyển đến đảo Ascension hơn 60 ngàn tấn nhiên liệu hàng không. Ngoài ra, họ còn có ý định cung cấp cho người Anh [305] các tên lửa phòng không, các trạm radar di động, đạn dược, v.v.

Trong cuộc xung đột, tiêu thụ vật chất cho một người lính chiến là khoảng 100 kg mỗi ngày. Chỉ riêng thực phẩm cần chuyển tới khu vực chiến sự đã hơn 60 tấn hàng ngày. Ngoài ra, cần cung cấp cho các tàu, các máy bay và quân đổ bộ các loại đạn dược, phụ tùng thay thế, nhiên liệu, v.v. Lính đổ bộ Anh không cảm thấy thiếu nguồn cung cấp. Phải đối mặt với điều kiện khí hậu khắc nghiệt, họ kịp thời đưa đến khu chiến quân phục đặc biệt (áo gi-lê giữ nhiệt), cho phép dễ dàng chịu đựng được nhiệt độ thấp. Tất cả những điều trên cho thấy sự gia tăng tiêu thụ trung bình hàng ngày các nguồn vật chất trong hoạt động tác chiến, và do đó, dẫn đến gia tăng tầm quan trọng của loại hình đảm bảo này. Có thể quan sát thấy chiều hướng ổn định trong sự gia tăng trọng tải cần thiết cho mỗi lính đổ bộ: nếu trong Thế chiến II chỉ số này là 5-7 BRT, thì tại cuộc xung đột Anh-Argentina - hơn 50 BRT.

Công tác đảm bảo cứu hộ-cứu nạn được thực hiện bởi nhóm các tàu cứu hộ được thành lập một cách đặc biệt và đội ngũ quân nhân-thủy thủ các tàu chiến và tàu vận tải. Để thực hiện hoạt động cứu hộ đã phái tới Falkland ba tàu kéo Anh mạnh nhất và 2 tàu công nghiệp dầu khí ngoài khơi chuyên dụng 'Steen Sispred "và" Steein Prospector ", được trang bị các thiết bị lặn và cần cẩu 150 tấn. Ngoài ra, trên các tàu này còn lắp đặt bổ sung thiết bị công nghệ hạng nặng để phục vụ sửa chữa kết cấu thân tàu, các máy tiện, máy phay, máy cuộn, uốn, cắt thép, v.v.

(http://www.combatreform.org/SCADStn.jpg)
Chuyển đổi Container Ship sang Aircraft Carrier (Arapaho, SCADS and SkyHook)

Trên tàu công binh xưởng nổi "Steen Sispred" đã làm các công tác sửa chữa cho 11 tàu chiến và loại trừ các hỏng hóc cho 24 tàu vận tải. Đội ngũ nhân viên tàu công binh xưởng nổi [306] "Steen Prospector" cũng sửa chữa một số tàu bị hư hỏng và đảm bảo trục vớt tàu ngầm Argentina "Santa Fe" bị người Anh đánh chìm.

Đánh giá theo tổn thất của lực lượng viễn chinh Anh, có thể kết luận công tác tổ chức không đạt yêu cầu của loại hình đảm bảo này và sự không đạt hiệu quả đủ cao của các phương tiện cứu hộ hiện tại của Hải quân Vương quốc Anh. Có thể thấy rằng vật liệu nhôm được sử dụng để giảm trọng lượng phần cấu trúc boong thượng rất dễ chảy (khi hỏa hoạn). Do kết quả bị đốt nóng, cấu trúc thượng tầng của tàu chuyển thành kim loại nóng chảy, làm cho việc đấu tranh chống hỏa hoạn rất khó khăn. Một số vật liệu được sử dụng trong cấu trúc tàu, khi bị nung nóng sinh ra khói đặc và các chất ăn mòn độc hại, cũng gây thêm trở ngại cho việc chữa cháy. Thường thì tình hình trầm trọng thêm bởi các phi công Argentina thực hiện phóng tên lửa "Exocet" từ cụ ly 50 - 70% mức tối đa, và nhiên liệu chưa cháy hết của tên lửa do vụ nổ mà lan ra một khu vực rộng lớn, gây thêm vô số vụ cháy.

Một kinh nghiệm đáng chú ý nữa của người Anh là việc đưa đến khu vực xung đột một nhóm kỹ sư của các công ty chế tạo tên lửa, đóng tàu và các công ty khác. Họ đã sửa chữa, và thậm chí nâng cấp vũ khí và trang thiết bị ngay trong quá trình chiến sự. Chẳng hạn, khi di chuyển qua các đại dương, trên tàu sân bay "Invincible" đã tổ chức sửa chữa lớn cho tuabin khí, còn các kỹ sư công ty chế tạo tên lửa đã thực hiện cải tiến thiết kế hệ thống SAM "Rapier" và "Sea Wolf".
......


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 21 Tháng Tám, 2013, 12:12:18 AM
(tiếp)

(http://farm5.staticflickr.com/4146/4833884426_18b0d7c695_z.jpg)
SAM Rapier bắn lên từ Falklands (http://www.flickr.com/photos/hectorpatrick/4833884426/in/set-72157624345000506/lightbox/)

Việc xây dựng được hậu cần nổi hùng mạnh cho phép bộ chỉ huy Anh giải quyết nhiều vấn đề liên quan đến việc duy trì và phục hồi khả năng chiến đấu của các lực lượng của mình (tương quan "tàu chiến đấu - tàu hỗ trợ" khoảng 1:1). Tuy nhiên, người Anh không thể vượt qua mà không sử dụng vùng lãnh thổ các đảo [307]. Đóng vai trò rất lớn trong đảm bảo hậu cần cho lực lượng viễn chinh Vương quốc Anh là căn cứ quân sự Mỹ trên đảo Ascension, cũng như căn cứ tiền phương thiết lập trong quá trình chiến sự trên đảo Nam Georgia. Tuy nhiên, việc thiếu sự đối kháng mạnh mẽ từ phía Hải quân Argentina cũng cho phép người Anh dễ dàng giải quyết các vấn đề hậu cần phức tạp.

Xung đột quân sự Anh-Argentina, kéo dài 74 ngày, đã kết thúc mà không loại trừ được các nguyên nhân cơ bản dẫn các bên tham gia vào một cuộc chiến tranh không tuyên bố. Bằng vũ lực, người Anh đã thành công trong việc giữ được chế độ thống trị thuộc địa của họ trên quần đảo Falkland.

Mặc dù quy mô và mục tiêu cuộc xung đột có giới hạn, cả hai bên đều huy động tham chiến một bộ phận quan trọng các lực lượng vũ trang của mình. Tổng cộng, tham gia các hoạt động chiến đấu có 60.000 quân nhân, hơn 180 tàu chiến và tàu vận tải, 350 máy bay chiến đấu và trực thăng. Tổn thất về tàu trong cuộc xung đột này là cao nhất trong toàn bộ lịch sử các cuộc xung đột cục bộ sau Chiến tranh Thế giới. Tổng trọng tải của các tàu bị đánh chìm là hơn 50 nghìn tấn. Có đến 20 tàu chiến và tàu vận tải, trong đó có cả hai tàu sân bay của Anh đã bị hư hỏng nặng. Các bên đã mất gần 2 nghìn người.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/20.jpg)
Frigate "Аrrow" hỗ trợ dập lửa trên "Sheffield". 21 tháng 5 năm 1982.

Sự thành công của các lực lượng vũ trang của Anh có cơ sở ở việc tạo ra được ưu thế gấp nhiều lần về cả nguồn nhân lực và trang bị so với đối phương và sự hỗ trợ trên quy mô lớn mà Hoa Kỳ và các đồng minh NATO khác cung cấp cho họ, cũng như những thiếu sót nghiêm trọng trong việc bảo vệ quần đảo Falkland của lực lượng vũ trang Argentina. Cuộc xung đột quân sự Anh-Argentina một lần nữa chứng minh rằng lực lượng hải quân là công cụ sức mạnh hiệu quả nhất của [308] chính sách, chính nó giải quyết những vấn đề lớn trong cuộc xung đột.

Cuộc xung đột cũng có tác dụng như một cú hích mới để phát triển Hải quân.

Cần lưu ý tốc độ đặc biệt mau lẹ mà người Anh đã thể hiện trong các hoạt động huy động lực lượng. Chỉ cần 3 ngày đêm họ đã phái đến Nam Đại Tây Dương thê đội thứ nhất. Phi đoàn "Sea Harrier", đóng trên tàu sân bay "Hermes" đã được huy động trong vòng 24 giờ (trong thời gian đó số lượng máy bay trong phi đoàn đã tăng từ 5 lên 12, còn các nhân viên bảo trì - từ 100 lên đến160 người). Công tác huy động và cải tạo chuyển đổi các tàu buôn sang dùng cho mục đích quân sự cũng được thực hiện nhanh chóng như vậy.

Căn cứ quân sự Mỹ trên đảo Ascension đóng một vai trò quan trọng, nó cho phép người Anh thực hiện thành công chiến dịch Falkland trong một khu vực xa chính quốc hàng ngàn dặm. Các chuyên gia quân sự Mỹ sau cuộc xung đột tuyên bố rằng, thực tế đã xác nhận chiến lược "đảo" (hoặc chiến lược "căn cứ") của họ, họ dự kiến sẽ thành lập tiếp các căn cứ của mình ở các vùng khác nhau trên Địa Cầu. Chỉ cần nhớ Hoa Kỳ đã có hơn 300 căn cứ chính và hơn hai nghìn cơ sở quân sự khác nhau nằm tại 30 quốc gia.

(http://www.naval-history.net/FpxAiraVulcan.JPG)
Máy bay ném bom chiến lược Anh "Aero Vulcan" tại căn cứ KQ trên đảo Ascension trong giai đoạn cuộc chiến tranh Falklands năm 1982. (http://www.naval-history.net/FpxAAscension.htm)

Trong tiến trình cuộc xung đột, trong tình huống chiến đấu đã áp dụng các mẫu thiết bị quân sự và vũ khí hiện đại nhất cùng các thủ pháp chiến thuật sử dụng chúng. Điều này cho phép xác định những mặt mạnh và yếu của vũ khí trang bị hiện có và triển vọng phát triển tiếp theo của nó và phương pháp ứng dụng chiến đấu.

Theo kinh nghiệm của cuộc xung đột Anh-Argentina cho thấy trong các điều kiện có sự đe dọa thường xuyên của các cuộc không kích của đối phương mà không có hệ thống radar phát hiện mục tiêu trên không ở tầm xa đáng tin cậy, một binh đoàn mạnh dù bao gồm ngay cả những tàu mặt nước tiên tiến nhất [309], cũng có tính ổn định trong chiến đấu khá thấp. Do người Anh không có máy bay tuần thám radar chuyên dụng, phần lớn các cuộc không kích của phía Argentina là bất ngờ đối với họ. Nỗ lực khắc phục điểm yếu này, bằng cách đặt nhiệm vụ cảnh giới radar tầm xa AWACS lên các máy bay "Sea Harrier" và "Nimrod" và thậm chí cả các tàu khu trục kiểu "Sheffield", đã không thành công. Đó là lý do tại sao Bộ trưởng Hải quân Hoa Kỳ Lehman ủng hộ việc xây dựng các tàu sân bay độ choán nước lớn, các tàu đó, theo ý kiến của ông ta, không chỉ có các máy bay chiến đấu siêu âm, mà còn trang bị cả các máy bay mang radar cảnh giới tầm xa, có thể đảm bảo công tác phòng không đáng tin cậy bảo vệ nhóm tàu ở bất kỳ khu vực nào trên các đại dương Thế giới.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/21.jpg)
Tàu chiến Anh cố gắng cứu frigate "Ardent"

Từ kinh nghiệm chiến đấu ở Nam Đại Tây Dương cần nhớ rằng máy bay cường kích và tiêm kích-bom có thể đánh trúng thành công các mục tiêu mặt nước bằng bom thông thường từ tư thế bay bằng ở độ cao thấp. Quan niệm sai lầm của các chuyên gia quân sự Argentina về vai trò và vị trí của các máy bay ném bom-phóng ngư lôi trong hải chiến hiện đại đã tác động tiêu cực tới các kết quả cuối cùng của cuộc chiến. Nếu Hải quân Argentina có các phương tiện phóng ngư lôi, những tổn thất hạm đội Anh gánh chịu còn lớn hơn nhiều. Trong thời gian xung đột, vũ khí thủy lôi chỉ có thể mang lại thành công nếu sử dụng nó với số lượng lớn.

Trong quá trình tác chiến, các tàu mặt nước Hải quân Anh rất dễ bị tổn thương: chúng bị hư hỏng ngay cả với bom thông thường, đặc biệt là trong các cuộc không kích ồ ạt trong thời tiết xấu và ở độ cao thấp. Để đẩy lùi thành công các cuộc không kích lớn cần phải có hệ thống điều khiển tự động phương tiện PK của một tàu đơn lẻ cũng như của toàn binh đoàn và nâng cao hiệu quả của hệ thống TL phòng không bằng cách tăng cự ly xạ kích, [310], tốc độ bắn, giảm vùng chết và thời gian phản ứng. Cũng cần trang bị trên các tàu hệ pháo phòng không có tốc độ bắn cao. Quỹ đạo bay thẳng, tốc độ cao và hệ số phản xạ thấp của các tên lửa chống hạm hiện đại chỉ ra tính hợp lý của việc tiêu diệt các máy bay đối phương - mang TLCH trước khi chúng tiến đến giới hạn cự ly khai hỏa vũ khí. Máy bay tiêm kích đánh chặn tầm xa có thể làm được điều này.

Phân tích tổn thất chỉ ra khả năng sống sót rất yếu của các tàu chiến hiện đại, cũng như các lực lượng cứu hộ và trang thiết bị cứu nạn hiện có không đáp ứng được các yêu cầu đặt ra.

Việc người Anh sử dụng các trang bị đối kháng điện tử đã làm giảm đáng kể hiệu quả các loại vũ khí tên lửa của đối phương. Đồng thời, kinh nghiệm cho thấy tên lửa chống hạm, trong một số trường hợp, chỉ được phát hiện trong một vài giây trước khi đạn tiếp cận mục tiêu và thời gian truyền chỉ thị mục tiêu vẫn còn rất thấp, vì vậy cần thiết phải có một hệ thống tự động hóa phát nhiễu lưỡng cực phản xạ có các đặc tính kỹ-chiến thuật cải tiến đạt hiệu quả cao.

Kinh nghiệm chiến đấu khẳng định tầm quan trọng của việc tuân thủ các yêu cầu tương thích về điện từ của khí tài vô tuyến điện tử, tạo điều kiện làm việc không bị nhiễu cho tất cả các loại radar, khí tài thông tin liên lạc vô tuyến điện và hệ thống điều khiển vũ khí.

Ban lãnh đạo Mỹ và NATO tìm cách sử dụng tối đa các tàu dân sự phù hợp với nhu cầu chiến tranh. Vai trò và mức độ huy động tàu vận tải trong chiến tranh đã tăng lên. Chẳng hạn, trong Thế chiến 1, nước Anh huy động 5 ngàn tàu, sau đó trong Thế chiến 2 con số này vượt quá 12 nghìn đơn vị. Tại cuộc xung đột Falklands, trong một thời gian rất ngắn đã [311] huy động hơn 70 tàu. Trong khi trước đây để cải tạo chuyển đổi tàu vận tải cần phải hàng tháng và hàng năm, hiện nay thời hạn này chỉ còn giới hạn bằng một số ngày và giờ.

Kinh nghiệm sử dụng sức mạnh không quân cho thấy việc tiếp nhiên liệu cho máy bay trên không có vai trò to lớn như thế nào. Do quy mô không gian của khu vực chiến đấu, nhu cầù loại hình đảm bảo trên lớn đến mức người Anh phải chuyển đổi trang bị một phần máy bay "Vulcan" và "Hercules" để làm máy bay tiếp dầu, còn người Argentina sử dụng cho mục đích này các máy bay cường kích và máy bay ném bom, thay vì treo bom thì mang thùng nhiên liệu.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/23.jpg)
"Ardent" chìm

Trong cuộc xung đột Anh-Argentina, mặc dù có sự trang bị cực kỳ cao cho lực lượng vũ trang của các bên tham chiến các mẫu vũ khí thiết bị quân sự mới nhất, yếu tố tinh thần vẫn là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong cuộc đấu tranh vũ trang.

Một điểm đặc trưng của cuộc xung đột này là người Anh chỉ phải phòng thủ chống phương tiện tấn công đường không của đối phương, và chỉ vào ban ngày. Các lực lượng Argentina khác tỏ ra thụ động, điều đó cho phép người Anh vẫn giữ được thế chủ động và giải quyết thành công nhiệm vụ đặt ra.

Chi phí của London cho cuộc chiến tranh ở Nam Đại Tây Dương là khá đáng kể, đặc biệt trong hoàn cảnh tỷ lệ thất nghiệp và lạm phát đang cao. Trong báo chí Anh ta có thể thấy nhận xét về tính không cân xứng giữa chi phí và mục tiêu - chiếm giữ một nhóm các hòn đảo nhỏ. Chỉ riêng việc điều động đơn vị đặc nhiệm 317 tới Falkland, ước tính chi phí từ 200 - 300 triệu £ (360-540 triệu đô la Mỹ). Để duy trì các lực lượng viễn chinh Anh tại Nam Đại Tây Dương một ngày tốn 3 triệu bảng Anh. Một tên lửa trị giá 10 triệu bảng Anh (18 triệu USD), ngư lôi - 500 triệu bảng Anh (900 triệu USD), một máy bay "Harrier" - [312] 5-6 triệu bảng Anh (9-10 triệu đô la ). Tàu khu trục kiểu "Sheffield" có chi phí xây dựng 20-25 triệu bảng (38-47 triệu USD), trong năm 1982 lạm phát ước tính 120 triệu bảng Anh (230 triệu USD). Sau khi kết thúc cuộc xung đột, giá của cuộc chiến đối với Vương quốc Anh ước tính £ 1,5 tỷ. Tuy nhiên, số liệu trên còn xa mới đầy đủ.

(http://farm2.staticflickr.com/1154/4729874021_bfa8e09262_z.jpg)
Falkland, chim cánh cụt trên bãi biển Volunteer (http://)

HẾT CHƯƠNG 7
.........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 21 Tháng Tám, 2013, 11:52:05 PM
(tiếp)

Chương 8

Chiến dịch Urgent Fury

Vào tháng Ba năm 1979, nhân dân Grenada - một quốc gia nhỏ trong vùng biển Caribbean - đã lật đổ người đứng đầu chính quyền Eric Gairy. Trong nước đang triển khai một chương trình cải cách kinh tế-xã hội, bị gián đoạn vào mùa thu năm 1983 bởi cuộc xâm lược vũ trang của Hoa Kỳ đối với Grenada.

Grenada - thuộc địa cũ của Anh, nằm trên một hòn đảo cùng tên trong nhóm quần đảo Antilles, cách bờ biển phía bắc Venezuela khoảng 36 dặm, cách Hoa Kỳ 1750 dặm. Một dãy núi trải dài trên toàn bộ chiều dài hòn đảo từ Bắc vào Nam, độ cao dãy núi 600 - 700 m. Địa hình trên đảo gây nhiều khó khăn cho việc cơ động quân đội và trang bị quân sự.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/9/94/Op_Urgent_Fury_Invasion_Map.jpg/640px-Op_Urgent_Fury_Invasion_Map.jpg)
Khu vực các nhóm đầu tiên đổ bộ xâm lược (http://en.wikipedia.org/wiki/Invasion_of_Grenada)

Tổng diện tích quốc gia là 344 km vuông (dài 54 km, rộng 30,9 km). Năm 1974, Grenada được trao quyền độc lập với tư cách một quốc gia trong Khối thịnh vượng chung do Vương quốc Anh cầm đầu. Trong năm 1979, quyền lực trong nước chuyển qua chính quyền cách mạng của nhân dân do Thủ tướng Chính phủ M.Bishop lãnh đạo. Chính phủ mới [316] bắt tay tiến hành cải cách. Họ mở rộng hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là với Cuba và Liên Xô. Nhưng đầu năm 1983, trong ban lãnh đạo đảng cầm quyền Grenada có sự xung đột do bất đồng quan điểm về lịch trình và phương pháp cải tạo diễn ra trong đất nước và đấu tranh giành quyền lực. Trong quá trình cuộc đấu tranh quyền lực này, M.Bishop đã bị cách hết khỏi các chức vụ đang nắm giữ, dẫn đến một cuộc biểu tình lớn (ngày 19 tháng 10) của những người ủng hộ ông, kết quả là một cuộc đụng độ vũ trang với các phân đội quân đội. Trong cuộc bắn nhau, M.Bishop đã bị giết chết. Quyền lực trong nước chuyển qua Hội đồng Quân sự Cách mạng, đứng đầu là Thiếu tướng Austin. Trong bối cảnh đó, ngày 20 tháng 10 tại Mỹ, theo chỉ đạo của Tổng thống, đã thành lập một ủy ban đặc biệt giám sát các sự kiện ở Grenada, đứng đầu là Phó Tổng thống Mỹ George W. Bush, và vào buổi tối cùng ngày Ronald Reagan tổ chức một cuộc họp bàn giải quyết "vấn đề Grenada". Ngày hôm sau, Tổng thống Mỹ, sau khi thảo luận về tình hình ở Grenada với các trợ lý thân cận đã đưa ra quyết định cuối cùng về cuộc xâm lược vũ trang.

Để biện minh cho hành động gây hấn, tại cuộc họp báo ở Nhà Trắng ngày 25 tháng 10 Ronald Reagan hoàn toàn vô căn cứ cho rằng, tại Grenada đã xảy ra một tình huống trong đó "cuộc sống của 1.000 người Mỹ ở đất nước này đang bị đe dọa".

Ngoài ra, khi chuẩn bị dư luận xã hội, trước cuộc xâm lược, Ronald Reagan đã nhiều lần nói rằng dưới bề ngoài của một sân bay quốc tế đang được xây dựng ở Grenada là "căn cứ quân sự chiến lược Liên Xô-Cuba", bị cáo buộc đe dọa Hoa Kỳ.

Trong thực tế, khi lập kế hoạch xâm lược quân sự vào Grenada, ban lãnh đạo quân sự-chính trị Hoa Kỳ theo đuổi mục đích lật đổ chính phủ và thiết lập một chế độ thân Mỹ ở Grenada, biến hòn đảo này thành một căn cứ quân sự, và [317] cũng đồng thời giảm thiểu ảnh hưởng của các nước xã hội chủ nghĩa đối với khu vực và tăng cường đàn áp phong trào giải phóng dân tộc trong vùng biển Caribbean nói chung.

Tín hiệu cho việc chuẩn bị xâm lược Grenada là việc lật đổ Thủ tướng M.Bishop (ngày 12 tháng 10 năm 1983). Số lượng người tham gia xây dựng kế hoạch "chiến dịch" có tên mã "Cơn thịnh nộ bùng nổ" rất hạn chế. Cụ thể, kế hoạch được soạn thảo tại Hội đồng An ninh Quốc gia bởi Chuẩn Đô đốc Poindexter. Kế hoạch chiến dịch "Urgent Fury" được đích thân Tổng thống Hoa Kỳ phê chuẩn với tư cách Tổng tư lệnh tối cao các lực lượng vũ trang Hoa Kỳ, và được thống nhất với Bộ trưởng Ngoại giao George Shultz, Bộ trưởng Quốc phòng Caspar Weinberger và Giám đốc CIA Wlliam Casey. Công tác chuẩn bị xâm lược thực hiện trong vòng bí mật. Để đánh lừa dư luận xã hội Mỹ và quốc tế, thậm chí cả Quốc hội Mỹ, người ta đã áp dụng tất cả các biện pháp có thể, bao gồm cả bố trí cho Ronald Reagan đi nghỉ tại Augusta.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/c/cb/USPlanGrenadaUrgentFury.svg/575px-USPlanGrenadaUrgentFury.svg.png)
Chiến dịch Urgent Fury 1983 (http://en.wikipedia.org/wiki/File:USPlanGrenadaUrgentFury.svg)

Tại Hoa Kỳ người ta bắt đầu chuẩn bị cho một hành động như vậy đã từ lâu. Bộ chỉ huy khu vực các LLVT Hoa Kỳ tại vùng biển Caribbean nhiều năm ròng đã thực hành đổ bộ Thủy quân lục chiến lên lãnh thổ hải đảo. Ví dụ, vào tháng 8 - tháng 10 năm 1981 trong thời gian diễn tập "Ocean Ventures" với sự tham gia của 120.000 binh sĩ, 240 tàu và một nghìn máy bay đã thực hiện một cuộc đổ bộ lớn lên đảo Vieques gần Puerto Rico. Báo chí nhiều quốc gia thời đó đã gọi các hoạt động này là "cuộc diễn tập xâm lược Grenada". Chứng minh rõ ràng cho điều này là việc lựa chọn nơi đổ bộ, thành phần lực lượng tham gia diễn tập và những nhiệm vụ đặt ra cho họ. Với lý do bảo vệ cuộc sống của các công dân Hoa Kỳ họ dự tính lật đổ một "chính phủ thù địch" và chiếm đóng hòn đảo cho đến khi thành lập được ở đây "một nền dân chủ [318] theo mô hình của Mỹ". Các cuộc diễn tập với mục đích tương tự còn tiến hành trong những năm tiếp theo.

Trong kế hoạch chiến dịch "Urgent Fury" dự kiến như sau: bất ngờ đổ bộ đường biển và đường không, đánh chiếm các cơ sở quân sự và hành chính quan trọng nhất của Grenada, sau đó phá vỡ các ổ kháng cự còn lại và tiếp tục loại trừ khả năng triển khai của phong trào giải phóng. Quân đổ bộ đường biển được lên kế hoạch đổ bộ lên bờ biển phía đông-bắc của đảo, trong khu vực sân bay Perls-Airport và quân đổ bộ đường không - tại bờ biển phía tây nam, trên lãnh địa sân bay Point Salines đang được xây dựng. Thời gian đổ bộ được ấn định vào 5:00 ngày 25 tháng 10 năm 1983. Cả hai đội đổ bộ phải được đổ xuống đồng thời. Hòn đảo được chia thành hai khu vực - phía bắc và phía nam. Ranh giới giữa chúng đi qua dọc con đường nối St George và Grenville. Sự lựa chọn địa điểm đổ bộ như thế này được xác định trươc hết bởi thực tế các khu vực đổ bộ khả dĩ trên đảo quá ít.

Tham gia cuộc xâm lược chống Grenada là một lực lượng lớn của Hải quân, Lục quân và Không quân. Từ thành phần Hạm đội 2 của Mỹ, người ta lập ra nhóm tàu sân bay và nhóm tác chiến thủy bộ, gồm 11 tàu chiến. Trong nhóm xung kích tàu sân bay có tàu sân bay "Independence", tuần dương hạm mang tên lửa có điều khiển (URO) "Richmond K. Turner", khu trục hạm URO "Kunz", các khu trục hạm "Musbrager" và "Caron" và frigate "Clifton Sprague". Nhóm tấn công thủy bộ gồm tàu đổ bộ chở trực thăng "Guam" với một tiểu đoàn thủy quân lục chiến trên tàu, tàu dok-đổ bộ "Trenton", 2 tàu đổ bộ chở xe tăng "Menitouk" và "Bernstable County" tàu dok-vận tải và đổ bộ "Fort Spelling". Trên các tàu của nhóm tác chiến thủy bộ có gần 9.000 lính đổ bộ được trang bị súng cối, pháo binh, xe bọc thép chở quân và xe tăng M60A. Đại tá D.Faulkner chỉ huy lực lượng trên. [320]

Để làm phương tiện đổ bộ, người Mỹ có thể sử dụng hơn 30 trực thăng vận tải-đổ bộ và hơn 20 tàu đổ bộ cao tốc chở quân và xe tăng.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/c/cf/UH-60a_damaged_on_USS_Guam_%28LPH-9%29_Grenada_1983.JPEG/640px-UH-60a_damaged_on_USS_Guam_%28LPH-9%29_Grenada_1983.JPEG)
Kíp quân nhân Hải quân Mỹ phục vụ boong bay ghìm vòi nước phun vào một trực thăng Lục quân Mỹ Sikorsky UH-60A Black Hawk khi nó đang hạ cánh xuống mặt sàn tàu tấn công thủy bộ USS Guam (LPH-9) trong chiến dịch xâm lược Grenada "Operation Urgent Fury". Động cơ trực thăng đã trúng hỏa lực súng PK trên đảo Grenada vào ngày 25 tháng 10 năm 1983. (http://commons.wikimedia.org/wiki/File:UH-60a_damaged_on_USS_Guam_(LPH-9)_Grenada_1983.JPEG)

Nòng cốt của quân đổ bộ đường biển là tiểu đoàn thủy quân lục chiến tăng cường số 22, lực lượng được coi là có sự chuẩn bị tốt nhất để hành động trong số các chi đội đột kích.

Tất cả lực lượng thuộc hạm đội được quy tụ vào một binh đoàn tác chiến, đứng đầu là Tư lệnh Hạm đội 2 Hải quân Mỹ Phó Đô đốc J.Metkalf III. Quân đổ bộ đường không gồm hai tiểu đoàn "Rangers" (700 người) thuộc trung đoàn bộ binh 75 và hai lữ đoàn của sư đoàn dù 82 (3100 người), cũng như các đơn vị và các phân đội đảm bảo. Tổng quân số đổ bộ là 5 ngàn người. Chỉ huy họ là Thiếu tướng N.Schwarzkopf. Chỉ huy tất cả các lực lượng đổ bộ vào Grenada là tướng J.Farris.

Trong khoảng thời gian từ 23 tháng 9 - 2 tháng 10 năm 1983 tại vùng ngoại ô thành phố cảng Ephrat (bang Washington) tiểu đoàn "Rangers" thao luyện nhiệm vụ đánh chiếm sân bay. Việc huấn luyện thực hiện trong điều kiện gần với tình hình hiện tại ở khu vực sân bay Point-Salines của Grenada. Vào ban đêm, lính "Rangers" được thả từ trên không xuống, đánh chiếm đường băng, quét sạch các chướng ngại vật dựng lên trước đó, rồi tổ chức phòng thủ vòng tròn. Sau đó, theo tín hiệu của họ, các máy bay của không quân vận tải hạ cánh đổ xuống các trang thiết bị quân sự và đội ngũ quân nhân.

Không quân phân bổ cho chiến dịch 20 máy bay tiêm kích chiến thuật, 3 máy bay AWACS, khoảng 60 máy bay vận tải quân sự C-5A, C-141 và C-130, các máy bay trinh sát RC-135, SR-71 và U-1, cũng như các máy bay chuyên dụng AC-130 và EC-130. [321]

Quyền tổng chỉ huy tất cả các lực lượng vũ trang được huy động tham gia vào cuộc xâm lược Grenada được giao phó cho Tư lệnh các lực lượng Mỹ khu vực Đại Tây Dương Đô đốc V.McDonald.

Để thực hiện chức năng sen đầm tại Grenada đã thành lập một chi đội thuộc lực lượng đa quốc gia các nước Đông Caribbea, do Đại tá Ken Burns từ Jamaica tới lãnh đạo. Trong cái gọi là "lực lượng gìn giữ hòa bình Caribbean", có quân số 400 người, nhưng người ta không dự tính sự tham gia của họ vào các hoạt động chiến đấu.

Trong lực lượng vũ trang của Grenada, có khoảng một ngàn người nằm trong biên chế 1 tiểu đoàn đủ và năm tiểu đoàn khung bộ binh. Trên đảo còn có khoảng 700 công nhân Cuba tham gia đẩy lùi cuộc xâm lược. Tàu chiến, máy bay, xe tăng và pháo hạng nặng của LLVT thì Grenada không có: binh sĩ Grenada chỉ được trang bị súng trường và súng tự động. Trong khu vực sân bay đang được xây dựng tại thủ đô Grenada, và trên một ngọn đồi gần sân bay Perls-Aiport có lắp đặt một số súng máy cỡ nòng 12,7 mm và súng máy phòng không 23 mm.

Ngày 17 tháng 10 nhóm tác chiến thủy bộ rời căn cứ Hải quân Norfolk, còn ngày 19 Tháng 10 - nhóm xung kích tàu sân bay. Trên đường di chuyển sự im lặng vô tuyến được hoàn toàn tuân thủ. Trong một tuyên bố chính thức cho biết, các nhóm này được phái đến Địa Trung Hải. Tuyên bố như vậy được thực hiện để đánh lừa giới lãnh đạo Grenada. Hoa Kỳ muốn chứng tỏ rằng họ không chuẩn bị trước cho cuộc xâm lược, và quyết định thực hiện cuộc xâm lược vũ trang phát sinh rất đột ngột.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/6/6c/UH-60As_over_Port_Salines_airport_Grenada_1983.JPEG/640px-UH-60As_over_Port_Salines_airport_Grenada_1983.JPEG)
UH-60A lần đầu tiên được sử dụng tại cuộc xâm lược Grenada, đang chuẩn bị hạ cánh xuống sân bay Point-Salines ngày 25 tháng 10 năm 1983. (http://en.wikipedia.org/wiki/Invasion_of_Grenada)

Tại thời điểm này, một số máy bay KQ chiến thuật bay tới sân bay Bridgetown (đảo Barbados), nằm cách Grenada225 km, nhằm mục đích tăng cường nhóm KQ chiến thuật; tại căn cứ không quân Roosevelt Rhodes (đảo [322] Puerto Rico), cách xa Grenada hơn 1000 km, đã triển khai 8 máy bay tiêm kích chiến thuật F-15 và 8 máy bay cường kích A-10. Hai máy bay tiếp dầu KC-10A đã có mặt tại căn cứ. Đồng thời diễn ra sự tập trung quân đội và trang thiết bị quân sự trong các khu vực Hunter (bang Georgia) và Paul (bang Bắc Carolina).

Một vài ngày trước khi bắt đầu cuộc xâm lược, các chuyến bay do thám thường xuyên diễn ra. Giám sát chung tình hình ở Grenada là các máy bay AWACS đóng tại căn cứ không quân Roosevelt Rhodes của Hải quân Mỹ. Một số thông tin về các lực lượng vũ trang Grenada được thu thập từ số khách du lịch Mỹ đến thăm hòn đảo này trước đó.

Ngày 23 tháng 10 các sỹ quan liên lạc của Bộ chỉ huy Hạm đội Đại Tây Dương Hoa Kỳ được chuyển tới tàu đổ bộ chở trực thăng "Guam", và ngày hôm sau Phó Đô đốc Metcalf và bộ tham mưu của mình có mặt trên tàu kỳ hạm.

Trong đêm từ 23 sang ngày 24 tháng 10 một số nhóm trinh sát-biệt kích tổng cộng 50 người được đưa tới đảo Barbados và cùng đêm đó 3 máy bay trực thăng được triển khai đến Grenada trinh sát địa điểm đổ bộ sắp tới. Tới 03:00 (trong "D-Day") tất cả các nhóm đã báo cáo kết quả trinh sát.

Lúc 16:00 ngày 24 tháng 10 có lệnh mở màn cuộc xâm lược Grenada (xác nhận thời gian đổ bộ đường biển và đường không - 5: X0 ngày 25 tháng 10).

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/9/9e/A-7E_over_Port_Salines_airfield_Grenada_1983.jpg/640px-A-7E_over_Port_Salines_airfield_Grenada_1983.jpg)
Một chiếc A-7E từ tàu sân bay USS "Independence" bay trên sân bay Point Salines

Đêm đến, binh đoàn đặc nhiệm đột ngột đổi hướng đi về phía bờ biển Grenada. Ở phía bắc đảo lực lượng đặc nhiệm được tách ra: nhóm tác chiến thủy bộ khởi hành tới bờ biển phía đông trong khu vực sân bay Pearls-Aiport, nhóm xung kích tàu sân bay - tới phần phía tây nam của đảo. Trước khi nhóm tác chiến thủy bộ tới cự ly quan sát được trực quan từ trên bờ, các trực thăng vận tải-đổ bộ đã cất cánh lên không trung chở theo lính [323] thủy quân lục chiến trên tàu. Do sương mù dày đặc làn sóng đổ bộ đầu tiên bằng trực thăng chỉ tới được bờ lúc 05:25. Phương tiện radar giám sát ven biển tại khu vực này không có. Phương pháp đổ bộ như thế đảm bảo một sự bất ngờ về chiến thuật. Chỉ trong vòng hơn 1 giờ 18  trực thăng "Sea Knight" được yểm trợ bởi các trực thăng vũ trang "Cobra" đã đổ bộ 400 lính thủy quân lục chiến. Cuộc đổ bộ diễn ra tại hai địa điểm - một trong khu vực sân bay Pearls-Aiport, một - về phía nam, trong khu vực có con đường chạy dọc bờ biển đến Grenville, mặc dù ban đầu kế hoạch là đổ quân trực tiếp trên đường băng sân bay. Nhưng sau khi các trinh sát viên báo cáo có hai súng máy 12,7 mm bố trí ở phần phía bắc sân bay, điểm đổ bộ được dịch chuyển 700 m về phía nam.
.........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 22 Tháng Tám, 2013, 05:58:43 PM
(tiếp)

Việc chuyển trang thiết bị quân sự, bao gồm cả xe tăng M60A, được thực hiện sau khi chiếm được đầu cầu. Không có sự kháng cự nào chống lại cuộc đổ bộ. Sau một cuộc chiến ngắn, một đại đội thủy quân lục chiến chiếm được sân bay, trên đó còn 2 máy bay chở khách, đại đội thứ hai phong tỏa Grenville và con đường dẫn đến thủ đô.

Sau khi quân đổ bộ đã cố thủ vững chắc trên bờ, tàu của nhóm tác chiến thủy bộ (trừ tàu dok-đổ bộ chở máy bay trực thăng "Trenton") tiến đến phần phía nam hòn đảo.

Với sự bùng nổ chiến sự, bộ chỉ huy của Mỹ công bố việc thiết lập vùng phong tỏa hàng hải có bán kính 50 dặm xung quanh Grenada.

Cùng với việc đổ bộ đường biển, các nhóm trinh sát-phá hoại bắt đầu hoạt động để đánh chiếm đài phát thanh "Grenada tự do" và giải phóng các "tù nhân chính trị" ra khỏi nhà tù "Richmont Hill".

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/1/14/US_Army_Rangers_parachute_into_Grenada_during_Operation_Urgent_Fury.jpg)
Lực lượng đặc biệt Mỹ "Rangers") nhảy dù xuống Grenada trong chiến dịch "Urgent Fury" (http://en.wikipedia.org/wiki/Invasion_of_Grenada)

Việc thả dù các chi đội đột kích đổ bộ đường không ("Rangers") xuống sân bay Point-Salines được thực hiện chậm 30 phút, sự chậm trễ này [324] xảy ra do hệ thống dẫn đường của chiếc máy bay đầu đàn bị lỗi và sức kháng cự tổ chức một cách bất ngờ đối với bộ chỉ huy Mỹ của những người bảo vệ hòn đảo. Khi tiếp cận khu vực đổ bộ, chiếc máy bay đầu đàn của tốp C-130 bay theo đội hình chiến đấu "một hàng dọc", phát hiện lỗi trong hệ thống dẫn đường và bay chệch ra khỏi hành trình, muốn quay về cuối hàng, nhường chức năng dẫn đầu nhóm cho chiếc máy bay bay tiếp theo. Tuy nhiên, không hiểu động tác cơ động đó, cả nhóm bay theo chiếc đi đầu, và từng chiếc một thực hiện nhiều vòng lượn trên khu vực đổ bộ của lính dù, sơ suất của các phi công Mỹ cho phép các phân đội Grenada đưa hệ thống phòng không tại sân bay Point-Salines, gồm tất cả bảy khẩu đội súng PK 23 mm và 12.7 mm vào trạng thái SSCĐ.

Do sự bất ngờ chiến thuật đã mất, để tránh tổn thất cho lính nhảy dù, việc thả quân dù được giảm xuống độ cao 150 m thay vì độ cao 450 m theo kế hoạch. Quyết định này được đưa ra vì, gió tăng tốc độ đến 14 m / s khi thả dù từ độ cao lớn, có thể đưa người lính nhảy dù rơi xuống biển.

Các toán đột kích "Ranger" được ném xuống sân bay, sau khi dàn đội hình phòng thủ vòng tròn, đã bắt tay dọn sạch đường băng và chuẩn bị để nó tiếp nhận các máy bay vận tải quân sự. Đồng thời, hai đại đội "Rangers" thực hiện đóng vòng tròn trên các điểm cao khống chế địa hình, với sự hỗ trợ của máy bay trên tàu sân bay và AC-130 {33} tiến hành chế áp LLPK bảo vệ sân bay.

Bộ chỉ huy Mỹ cho rằng cuộc xâm lược vũ trang Grenada sẽ diễn ra mà không gặp sức đề kháng. Tuy nhiên, điều này không xảy ra [326], ở khắp mọi nơi người Mỹ đều gặp phải sức kháng cự mạnh mẽ. Những trận đánh đặc biệt ác liệt diễn ra tại các khu vực tiếp giáp với Point-Salines và St Georges, tại đó hỏa lực PK bắn rơi 3 trực thăng Mỹ. Lúc 10:00 nhóm đổ bộ đầu tiên thuộc sư đoàn không vận 82 được thả xuống. Hai tiểu đoàn nhảy dù được máy bay C-141 chở tới, trên mỗi chiếc bố trí 140-150 lính dù.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s69.gif)
Hoạt động của quân đội Mỹ trong khu vực mũi Salines (25 - 29 tháng 10 năm 1983).

Tới 12:00 sự kháng cự của những người bảo vệ sân bay Point Salines đã bị chế áp. Vào cuối ngày, đường băng đã thông và sẵn sàng tiếp nhận máy bay hạng nặng. Sau đó quân đội và các khí tài thiết bị quân sự được đổ bộ bằng phương pháp hạ cánh xuống Grenada.

Các căn cứ không quân tiền tiêu Roosevelt Rhodes và Bridgetown đóng vai trò rất lớn trong sự phát triển nhanh chóng lực lượng, từ các căn cứ đó đã có hơn 100 chuyến bay vận tải quân sự chuyển đến Grenada 4500 người và 1 nghìn tấn hàng hóa.

Nhóm tác chiến thủy bộ, sau khi di chuyển tốc độ cao sang phía tây nam của đảo, lúc 7:30 đã đổ bộ thủy quân lục chiến lên vịnh Morne Rouge, và sau một thời gian, đổ bộ trong vịnh Black Bay. Tổng cộng trên cả hai khu vực trong 3 giờ đã đổ được 800 lính thủy quân lục chiến, đưa lên bờ 5 xe tăng M60A, 13 xe bọc thép chở quân, 6 cỗ pháo 155-mm và 40 đơn vị khí tài quân sự khác.

Một lực lượng lớn những kẻ xâm lược phong tỏa St George và ở đó diễn ra một trận đánh đặc biệt khốc liệt. Chỉ vào ngày 29 tháng 10, với sự hỗ trợ của pháo hạm, máy bay cánh cố định và trực thăng, người Mỹ mới dồn được người Grenada ra khỏi thủ đô. Những người bảo vệ Grenada rút lui sâu vào nội địa đảo, ẩn náu trên núi, điều đó làm phức tạp thêm rất nhiều việc thực hiện nhiệm vụ của những kẻ chiếm đóng - đè bẹp cuộc kháng chiến trong thời gian ngắn nhất có thể. [327]

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/f/f5/CH-53D_HMM-261_Grenada_Okt1983.jpeg/640px-CH-53D_HMM-261_Grenada_Okt1983.jpeg)
Một trực thăng thủy quân lục chiến Mỹ Sikorsky CH-53D Sea Stallion bay lượn trên mặt đất gần một cỗ súng PK 2 nòng của Liên Xô ZU-23-2 trước khi cẩu nó lên trong "Chiến dịch Urgent Fury", cuộc xâm lược Grenada của Mỹ vào tháng 10 năm 1983. Các máy bay Sea Stallion thuộc phi đội trực thăng hải quân cỡ trung HMM-261 Bulls Raging, được triển khai trên tàu sân bay trực thăng USS Guam (LPH-9). (http://en.wikipedia.org/wiki/File:CH-53D_HMM-261_Grenada_Okt1983.jpeg)

Người Mỹ giành một vai trò lớn trong việc tác động tinh thần người dân và quân đội Grenada: qua loa phóng thanh trên các xe ô tô tuyên truyền đặc biệt, qua các máy bay trực thăng và các thiết bị cố định họ "giải thích mục đích hòa bình của cuộc xâm lược", đổ lỗi cho việc buộc phải thực hiện theo yêu cầu của các quốc gia láng giềng để giải cứu công dân Mỹ và "khôi phục hòa bình và trật tự trên đảo" . Đồng thời họ phát đi lời kêu gọi đầu hàng.

Sau khi chiếm đóng Grenada, hai đại đội thủy quân lục chiến Hoa Kỳ ngày 01 tháng 11 hồi 5:30 đã đổ bộ mà không gặp sự kháng cự trên hòn đảo lớn thứ hai của đất nước - Korriaku (12 dặm về phía bắc Grenada), trên đó có một phân đội quân đội Grenada quân số tổng cộng 17 người.

Hành động hung hãn của Mỹ chống lại Grenada bị nhiều quốc gia và các tổ chức xã hội lên án nặng nề. Trong một tuyên bố của TASS ngày 27 tháng 10 năm 1983 có ghi nhận rằng "Liên bang Xô Viết phản đối mạnh mẽ cuộc xâm lược của Hoa Kỳ chống lại Grenada và lên án nó như là một tội ác chống lại hòa bình và nhân loại".

Như vậy, cuộc xâm lược vũ trang của Mỹ ở quốc đảo này lần đầu tiên trong giai đoạn sau chiến tranh đã tiến hành một chiến dịch đổ bộ đường không-đường biển, trong đó hơn 30% quân đội được đổ bộ bằng đường không. Góp phần vào sự thành công của nó, trước hết là ưu thế khổng lồ về lực lượng và trang bị. Trên biển và trên không người Mỹ thống trị không bị thách thức.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/b/b6/M102_howitzers_during_Operation_Urgent_Fury.jpg/640px-M102_howitzers_during_Operation_Urgent_Fury.jpg)
Pháo M102 của sư đoàn dù 82 trong chiến dịch "Urgent Fury" (http://uk.wikipedia.org/wiki/%D0%92%D1%82%D0%BE%D1%80%D0%B3%D0%BD%D0%B5%D0%BD%D0%BD%D1%8F_%D0%A1%D0%A8%D0%90_%D0%B2_%D0%93%D1%80%D0%B5%D0%BD%D0%B0%D0%B4%D1%83_(1983))

Đáng chú ý là cuộc đổ bộ đường biển xuống sân bay Pearls-Aiport, tại khu vực sân đậu và việc cơ động các tàu đổ bộ nằm ngoài đường chân trời. Phương pháp này cho phép đạt được tính bất ngờ chiến thuật, và rõ ràng, với sự tái trang bị các lực lượng tác chiến thủy bộ Mỹ sẽ chủ yếu sang các trực thăng vận tải-đổ bộ hạng nặng và các tàu đổ bộ cao tốc có đệm không khí. [328]

Mặc dù cuộc chiến trên đảo kéo dài hơn một tuần, các mục tiêu chính bị những kẻ xâm lược chiếm ngay từ ngày đầu tiên của cuộc xâm lược vũ trang. Điều này trở thành có thể là do đạt được tính mau lẹ, và ở một số nơi tính bất ngờ chiến thuật, chọn khu vực đổ bộ đường biển và đường không thích hợp và khoảng cách tương đối của Grenada sơ với Hoa Kỳ, và đặc biệt là nhờ các căn cứ tiền phương.

Tổn thất của các bên gồm hơn 130 người Mỹ chết và bị thương và gần 400 người bảo vệ đảo. Sự khác biệt trong tổn thất này trước hết được giải thích bởi sự vượt trội quá lớn cả về số lượng và chất lượng của lực lượng Hoa Kỳ.

HẾT CHƯƠNG 8
.........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 23 Tháng Tám, 2013, 01:29:32 AM
(tiếp)

Chương 9

"Chiến tranh tàu chở dầu" trong vịnh Ba Tư

Cuộc chiến tranh Iran-Iraq bùng nổ vào tháng 9 năm 1980 do tranh chấp lãnh thổ giữa hai nước láng giềng - Iran và Iraq - về chủ quyền đối với khu vực biên giới dọc theo sông Shatt-el-Arab, chảy vào vịnh Ba Tư. Tuy nhiên, nguyên nhân của chiến tranh không chỉ là tranh chấp lãnh thổ, mà còn có một số mâu thuẫn chính trị và kinh tế to lớn. Ngày 22 tháng 9 năm 1980, ban lãnh đạo Iraq chính thức tuyên bố tình trạng chiến tranh với Iran và ra lệnh cho quân đội tập trung trước đó trong các khu vực biên giới chuyển sang tấn công nhằm mục đích lật đổ chế độ Khomeini. Vào đầu cuộc chiến tranh, trên biên giới với Iran đang tập trung gần 140 nghìn người, 1.300 xe tăng, 1.700 khẩu pháo và súng cối, 350 máy bay chiến đấu. Đối lại từ phía Iran là cụm quân đội gần 70 nghìn người, được trang bị 620 xe tăng, 710 pháo và súng cối, 150 máy bay chiến đấu. Do đó, các lực lượng vũ trang Iraq có ưu thế về lực lượng và xe tăng gấp 2 lần, máy bay - 2.3 lần, pháo binh và súng cối - 2.4 lần. Lực lượng hải quân tương đối cân bằng. [332]

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s70.gif)
Chiến tranh tàu chở dầu trong vịnh Ba Tư

Các cuộc giao tranh bắt đầu với các đòn không kích ồ ạt của KQ Iraq vào các trung tâm quân sự kinh tế và hành chính của Iran, cũng như các sân bay, bến cảng và căn cứ hải quân của nước này. Vào cuối ngày chiến tranh đầu tiên, phía Iraq đã thành công trong việc thâm nhập vào lãnh thổ đối phương 20 km, và sau 10 ngày quân đội Iran bị đẩy lùi 40 km. Một loạt thành phố biên giới như Bustan, Mehran, Dechlorane, v.v bị đánh chiếm. Tuy nhiên, đến cuối tháng 11 năm 1980 cuộc tấn công của quân đội Iraq phải dừng lại. Tại tất cả các khu vực ta đều thấy sự kháng cự bền bỉ đôi khi cuồng tín của quân đội Iran. Từ thời gian này cho đến mùa thu năm 1981 chiến tranh mang tính chất trận địa. Cả hai bên đều không thể chiếm ưu thế. Phải mãi đến đầu tháng 9 năm 1981, khi tạo ra quân số vượt trội, quân đội Iran đã tấn công và giải phóng một phần lãnh thổ bị chiếm đóng. Trong cuộc tấn công này, Iran chịu thiệt hại lớn. Trong tháng Ba và tháng Tư năm 1982 họ đã có một cuộc tấn công mới và tới tháng 5 đã tiến đến tuyến biên giới quốc gia. {34}

Thành phần lực lượng hai bên vào đầu những năm 80.
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang1-c9_zps9d6ba572.png) (http://s1185.photobucket.com/user/qtdc2/media/bang1-c9_zps9d6ba572.png.html)

Bắt đầu một giai đoạn mới trong cuộc chiến tranh Iran-Iraq. Ban lãnh đạo Iraq, sau khi mất quyền chủ động, cố gắng giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán hòa bình. Tuy nhiên, ban lãnh đạo quân sự và chính trị Iran đưa ra điều kiện không thể chấp nhận với Iraq, kết quả các cuộc đàm phán không đi đến đâu. Chuẩn bị một cuộc tấn công mới với mục đích cắt đường ra Vịnh Ba Tư của Iraq, Iran đã tập trung trên mặt trận 120.000 quân, 600 xe tăng, 900 pháo và súng cối. Nhưng mục tiêu của cuộc tấn công này đã không đạt được.

Kể từ cuối năm 1982, hai bên đã chuyển sang chiến thuật từng bước "gặm nhấm" tuyến phòng thủ của nhau. Quân đội tiến quân thường vào ban đêm. Mặc dù tổn thất nặng nề, không ai trong số hai bên vượt qua được tuyến phòng thủ của đối phương.

Lực lượng hải quân của Iran và Iraq trước năm 1984 không hoạt động nhiều, hành động của họ bị hạn chế bởi các cuộc tấn công không thường xuyên vào các căn cứ hải quân, bến cảng, các nỗ lực nửa vời nhằm phong tỏa bờ biển của đối thủ của mình.

Từ mùa xuân năm 1984, lực lượng không quân Iraq bắt đầu tấn công các tàu chở dầu của Iran đi qua Vịnh Ba Tư. Tới tháng 10 năm 1984 có 40 tàu chở dầu đã bị tấn công. Lực lượng không quân của Iran cũng bắt đầu tấn công tàu chở dầu vận chuyển dầu từ Kuwait và Saudi Arabia (về Iraq). Vì thế mà bùng nổ "cuộc chiến tranh tàu chở dầu", tham gia trong đó là lực lượng không quân và hải quân, không chỉ của Iran và Iraq, mà còn của các nước khác. Cuối cùng các bên phải chịu tổn thất lớn về kinh tế và mất hơn 1,5 triệu người. Năm 1988, cuộc chiến tranh vô nghĩa giữa Iraq và Iran đã kết thúc.

Vào lúc bắt đầu chiến tranh phía Iraq tuyên bố khu vực cấm phía bắc vịnh Ba Tư, sau khi tấn công các tàu chở dầu và tàu chở hàng khô đi vào các cảng của Iran. Về phần mình, Iran dùng các cuộc tấn công vào các tàu xuất khẩu dầu từ các nước Ả Rập, để [334] gây áp lực đối với Iraq. Cả hai bên chính thức tuyên bố giới hạn khu vực hoạt động quân sự trong vùng Vịnh Ba Tư. Nếu, trước năm 1984 các cuộc tấn công tàu chở dầu diễn ra không thường xuyên, thì từ mùa xuân năm 1984, chúng đã trở thành hệ thống. Theo số liệu Liên hợp quốc, được công bố trên báo chí nước ngoài, từ tháng chín năm 1980 cho đến khi ký hiệp định đình chiến (tháng 8 năm 1988), trong Vịnh Ba Tư đã có gần 400 tàu, tổng trọng tải lên tới hơn 30 triệu BRT bị tấn công và hư hại.

Quy mô đặc biệt lớn của "Chiến tranh tàu chở dầu" diễn ra trong khoảng thời gian từ tháng 4 năm 1984 đến tháng 12 năm 1987. Cứ 3 ngày một lần lại có báo cáo về một nạn nhân mới của "Chiến tranh tàu chở dầu". Tổng cộng có 451 cuộc tấn công được ghi nhận, trong đó có 283 là do Hải quân và Không quân Iraq, số 168 còn lại - do phía Iran. Thường các cuộc tấn công hay rơi vào các tàu chở dầu. Trong số 340 tàu bị thương, thiệt hại là 3%. Năm 1984 ghi nhận 3 tàu bị đánh chìm, năm 1986 - 2, năm 1987 - 6. Tổn thất đội ngũ thủy thủ đoàn của các tàu bị tấn công là rất đáng kể: theo dữ liệu còn xa mới đầy đủ - hơn 300 người. Để tiến hành "chiến tranh tàu chở dầu" cả hai bên đã thu hút các lực lượng hỗn hợp khác nhau: tàu mặt nước, máy bay, tên lửa bờ biển và pháo binh bờ biển. Trong những thời kỳ riêng các nút giao thương hàng hải đã bị đặt thủy lôi.

Số lượng tàu bị đánh hư hỏng trong vùng Vịnh Ba Tư thời kỳ "Chiến tranh tàu chở dầu" (1984-1987)
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang21-c9_zpsa2438cb9.png) (http://s1185.photobucket.com/user/qtdc2/media/bang21-c9_zpsa2438cb9.png.html)
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang22-c9_zpsc77f068c.png) (http://s1185.photobucket.com/user/qtdc2/media/bang22-c9_zpsc77f068c.png.html)

Trong số lực lượng mặt nước các tàu xuồng cao tốc hoạt động với cường độ cao hơn, hiệu quả hơn (xuồng cao tốc phóng tên lửa, phóng ngư lôi, pháo binh và súng cối). Các tàu khu trục, frigate và corvett rất hiếm khi xuất kích để phá hoại giao thương hàng hải.

Tàu cao tốc mang tên lửa "Hazirani" của Iraq (12 chiếc đóng từ 1972 - 1988) đóng quân tại căn cứ hải quân Basra và Umm Qasr. Vì bán kính chiến thuật nhỏ mà chúng chỉ có thể hành động duy nhất trong vùng phía Bắc Vịnh Ba Tư. Tàu cao tốc mang tên lửa Iran kiểu "Kombattant-2" (12 chiếc đóng từ 1977 - 1981), đóng quân tại căn cứ hải quân chính Bandar Abbas, nằm ở eo biển Hormuz, căn cứ hải quân Bushehr và điểm neo đậu Bandar Shahpur và Bandar Lange, dọc theo bờ biển phía đông vịnh Ba Tư, có thể hoạt động thành công trong toàn bộ chiều sâu khu vực "Chiến tranh tàu chở dầu". Để làm các điểm neo đậu đóng quân tạm thời cho tàu Hải quân Iran, người ta sử dụng các giàn khoan dầu, cũng như căn cứ hải quân Chabahar đang xây dựng trên bờ biển Vịnh Oman.

Tàu cao tốc của cả 2 phía đều sử dụng các tên lửa chống hạm "Harpoon", "Exocet", "Sea Killer", pháo 40 mm và 76-mm, súng phóng lựu phản lực và hỏa tiễn không điều khiển. Họ hành động độc lập hoặc theo các nhóm chiến thuật nhỏ, dùng các phương pháp "phục kích" hoặc "đi săn tự do". Có lợi thế về cự ly phát hiện các tàu lớn bằng các phương tiện quan sát thị giác, các tàu xuồng cao tốc thường từ vị trí "phục kích" tiến ra giáng những cú đòn bất ngờ cho các tàu vận tải. Có những trường hợp các tàu thuyền cao tốc được dẫn thẳng đến mục tiêu theo số liệu radar ven biển, đôi khi lại theo số liệu radar lắp đặt trên các giàn khoan dầu.

Các tàu thuyền cao tốc của Iran cũng như Iraq không mạo hiểm tấn công các tàu có đội tàu chiến hộ tống. Chúng tấn công chủ yếu vào các tàu không có bảo vệ trong các giờ buổi sáng hoặc buổi tối. còn hiếm hơn - vào ban đêm. Vị trí bắn phụ thuộc vào loại vũ khí được sử dụng và nằm ở cự ly cách mục tiêu từ 1-50 km. [337]

Sau khi hoàn thành tấn công bằng tên lửa hoặc pháo, các tàu cao tốc này tăng tốc độ tối đa chạy khỏi khu vực. Để đạt được tính bất ngờ cho cuộc tấn công, tàu cao tốc thường tuân thủ chế độ im lặng vô tuyến, tiến vào khu vực trong trạng thái đèn hành trình tắt, và đôi khi không bật dấu hiệu nhận dạng. Trong thời gian ban ngày, để giảm khả năng bị phát hiện do vệt rẽ nước, việc xích gần mục tiêu thực hiện ở tốc độ thấp.

Hoạt động đặc biệt hiệu quả là các tàu xuồng cao tốc trang bị tên lửa chống hạm chế tạo tại Italy "Sea Killer". Những tên lửa này đã bắn trúng hơn 50 tàu. Ví dụ, ngày 17 tháng 10 năm 1987 tên lửa "Sea Killer" đã bắn bị thương tàu chở dầu Hồng Kông "Five Brooks". Rất khó khăn, đội thủy thủ tàu chở dầu mới dập được hỏa hoạn. Trong trường hợp này, năm thành viên thủy thủ đoàn thiệt mạng và 13 người bị mất tích. Trong khi đó, trọng lượng đầu đạn tên lửa "Sea Killer" chỉ có 70 kg, ít hơn so với tên lửa "Exocet" và "Harpoon", tương ứng là từ 2-3 lần.

Thông thường, các tàu bị đánh hỏng ở cấu trúc thượng tầng. Thường các đội thủy thủ có thể dùng sức mình để dập lửa thành công. Trong trường hợp có thiệt hại nghiêm trọng, tàu được kéo đến cảng gần nhất, tại đó nó được đưa vào âu tàu để sửa chữa.

Trong toàn bộ thời gian chiến tranh, hạm đội của Iran và Iraq đã mất 21 tàu chiến.

Phân loại các tàu vận tải bị đánh hỏng theo lớp
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang3-c9_zpse3b509e4.png) (http://s1185.photobucket.com/user/qtdc2/media/bang3-c9_zpse3b509e4.png.html)

Tổn thất về người của các thủy thủ đoàn các tàu bị đánh trúng
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang4-c9_zps377fb4d6.png) (http://s1185.photobucket.com/user/qtdc2/media/bang4-c9_zps377fb4d6.png.html)

Phân loại tàu bị đánh trúng theo loại vũ khí
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang5-c9_zps82ee23e7.png) (http://s1185.photobucket.com/user/qtdc2/media/bang5-c9_zps82ee23e7.png.html)

Tổn thất LLHQ trong chiến tranh Iran-Iraq 1980 - 1988
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang6-c9_zps26479a88.png) (http://s1185.photobucket.com/user/qtdc2/media/bang6-c9_zps26479a88.png.html)

Từ mùa xuân năm 1987, phía Iran bắt đầu sử dụng phổ biến hơn vũ khí thủy lôi. Trước đó cũng đã có việc thả các bãi mìn biển. Nhưng nó có tính chất không thường xuyên. Trong giai đoạn mới mìn được bố trí một cách có hệ thống từ các tàu đổ bộ [339] và máy bay vận tải, và thường được thả vào ban đêm. Mìn được đặt tại các nút giao thông đường biển - trên đường tới Kuwait, cạnh đảo Farsi trong Vịnh Oman. Nhưng sau khi vào tháng 9 năm 1987, các máy bay trực thăng Mỹ tấn công thành công một tàu đổ bộ của Iran và một máy bay vận tải đang thả mìn, việc rải mìn trong Vịnh Ba Tư đã chấm dứt.
........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 24 Tháng Tám, 2013, 02:07:41 PM
(tiếp)

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s71.gif)
Đoàn hộ tống khi "Bridgeton" vấp mìn

Các chuyên gia quân sự nước ngoài nhận xét rằng, trước khi lực lượng quét mìn có mặt tại  khu vực "Chiến tranh tàu chở dầu", giao thông hàng hải trong Vịnh Ba Tư về cơ bản đã bị tê liệt. Tổng cộng người ta quan sát được 10 trường hợp tàu vận tải vấp mìn. Trong tất cả các trường hợp đều thấy có sự phá hoại nghiêm trọng phần thân chìm dưới nước, mức độ thiệt hại có khác nhau, phụ thuộc vào loại tàu, trọng tải của tàu, nơi bị nổ, v.v. Một vụ nổ mìn đi kèm theo sóng âm truyền trong kim loại và tạo ra sự rung động thân tàu. Kết quả là, các vách ngăn, đường ống bị phá hủy, các máy móc trên tàu bị dịch chuyển vị trí. Lỗ thủng có kích cỡ và cấu hình khác nhau. Ví dụ, ngày 16 tháng 5 năm 1987 trên đường tới Kuwait tàu chở dầu Liên Xô "Marshal Chuikov" vấp mìn. Tàu chở dầu bị thủng phần dưới nước có diện tích 40 mét vuông Nhờ tình trạng kín nước tốt của vách ngăn mà tàu không chìm. Tàu chở dầu "Marshal Chuikov" vẫn tự mình đến được cảng đích.

Tại phía tây đảo Farsi ngày 24 tháng 7 năm 1987 cùng chịu chung một số phận là tàu chở dầu Kuwait "Bridgeton" (401.382 tấn) cắm cờ Mỹ đi cùng các tàu hộ tống của Mỹ. Một vụ nổ mìn xảy ra dưới đáy phần mũi tàu chở dầu. Dấu hiển thị trên máy đo sâu cho thấy độ sâu là 30 m. Thuyền trưởng "Bridgeton" Frank Seitz tại một cuộc họp báo cho biết:

"Tôi hiểu đó là mìn. Cảm giác như một chiếc búa 600 tấn giáng vào chúng tôi từ bên dưới. Đầu tiên, [340] vang lên tiếng kim loại giáng vào kim loại, sau đó là cảm giác toàn thân tàu rúng động, như trong một cơn bão lớn. Sóng truyền trên thân tàu, nhiều vật bay ra khỏi vị trí của mình. Tôi dừng máy, nhưng con tàu vẫn tiếp tục di chuyển về phía trước thêm 30 phút và 3 dặm ngay cả với vết thương ở phần mũi tàu. Nhưng trong vòng 5 phút, chúng tôi nhận ra rằng nguy hiểm không phải là quá lớn, và vẫn có thể đi tiếp. Sức mạnh của vụ nổ ném văng một số mảnh vỏ tầu lên phía trên. Phần lớn khí tài đạo hàng đã hư hỏng do chấn động lớn".

Tàu chở dầu đi tốc độ thấp về đến Kuwait, tại đó nó được tổ chức lặn kiểm tra tàu và sửa chữa những hư hại nhẹ. Theo đánh giá của các nhân viên tình báo hải quân Hoa Kỳ, tàu chở dầu vấp phải mìn mẫu năm 1906. Có chiều dày vỏ tàu 27 mm, "Bridgeton" bị một lỗ thủng dài 10 m, rộng 5 mét.

Khi thả mìn, bản thân Iran cũng tạo ra mối nguy cơ cho chính việc chuyên chở dầu xuất khẩu của mình. Một ví dụ về chuyện này - tàu chở dầu Mỹ "Texaco", nạp dầu của Iran, bị thương vì trúng mìn ngày 11 tháng Tám năm 1987.

Có ghi nhận nhiều trường hợp máy bay trực thăng căn cứ bờ của Iran hoạt động trên các tuyến hàng hải. Tháng 8 năm 1986 hai trực thăng dùng tên lửa AS-12 tấn công một tàu chở dầu Hy Lạp, nhưng đầu đạn tên lửa dù bắn trúng tàu đã không phát nổ. Cuộc tấn công tiếp theo, được thực hiện đúng một tháng sau bởi một cặp trực thăng đã thành công. Máy bay trực thăng tấn công con tàu "Pony" đang đi dưới cờ nước Anh. Lần này, vụ nổ đã phá hủy cấu trúc thượng tầng của tàu. Đám cháy kéo dài hơn 3 giờ. Trên tàu nhiều người bị thương.

Bộ chỉ huy Iraq sử dụng rộng rãi không quân đặt căn cứ trên bờ. Máy bay hoạt động đơn lẻ hoặc từng cặp, theo phương thức "đi săn tự do". Các phi công không quyết định tấn công các tàu được hộ tống bảo vệ, do đó chỉ có các tàu đi lẻ trúng đòn của máy bay Iraq. [341]

Một số tàu vận tải bị tên lửa bờ biển và pháo binh bờ biển Iran tấn công. Ngày 15 tháng 10 năm 1987, tàu chở dầu Mỹ "Sungari" đang đi qua Vịnh Ba Tư dưới cờ Liberia, thì bị tên lửa "Silkworm" từ bán đảo Fao tấn công bất ngờ. Kết quả là tàu chở dầu bị thương khá nặng. Ngày hôm sau trong khu vực này, tên lửa bờ còn tấn công tàu chở dầu "Sea Isle City", làm bị thương 18 thành viên thủy thủ đoàn, trong đó có thuyền trưởng. Sau đó, thuyền trưởng quyết định không đi vào khu vực có khả năng bị tấn công từ phía bờ biển.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/d/d0/Silkwormmissile.750pix.jpg/600px-Silkwormmissile.750pix.jpg)
Tên lửa chống hạm Silkworm của Trung Quốc, sao chép từ P-15 Termit của Liên Xô, được cất giữ tại Umm Quasr - Iraq. (http://en.wikipedia.org/wiki/Silkworm_(missile))

Bài học "Chiến tranh tàu chở dầu" được các chuyên gia quân sự phương Tây phân tích một cách toàn diện. Rất nhiều ấn phẩm chứng minh cho điều này. Theo quan điểm của họ, các sự kiện trong Vịnh Ba Tư một lần nữa nhắc nhở tầm quan trọng ngày càng gia tăng của vũ khí thủy lôi và sự cần thiết phải thường xuyên sẵn sàng chiến đấu với nó. Các lực lượng nhẹ của hải quân đã cho thấy hiệu quả chiến đấu cao, điều đó chỉ ra sự cần thiết phải phát triển và cải thiện hơn nữa chiến thuật sử dụng chúng. Trong cuộc chiến tranh này, đóng một vai trò quan trọng là các dạng đảm bảo như trinh sát và ngụy trang. Khi nhận xét tỷ lệ các tàu bị phá hủy hoàn toàn khi bị đánh trúng không cao, các bình luận viên nước ngoài đã rút ra kết luận về tính khả thi của việc sử dụng ngư lôi chống các tàu trọng tải lớn.

Vào hồi cao trào của "Chiến tranh tàu chở dầu", để bảo vệ thông thương tàu thuyền trong vùng Vịnh Ba Tư, một nhóm lớn Hải quân Mỹ đã được điều động đến. Trong những điều kiện bình thường, nhóm gồm có 20-25 tàu chiến và tàu hỗ trợ, trong đó có cả tàu sân bay đa chức năng, tuần dương hạm URO, khu trục hạm URO, các frigate. Toàn bộ lực lượng trên nằm trong thành phần binh đoàn đặc nhiệm 109.

Để chỉ huy các lực lượng triển khai ở vùng Vịnh Ba Tư, tháng 9 năm 1987 đã thành lập bộ chỉ huy thống nhất Hải quân Mỹ ở Trung Đông, đứng đầu là Chuẩn Đô đốc D.Brooks, thuộc quyền ông [342] có cả lực lượng đặc nhiệm 109 (lực lượng quân đội Mỹ trong vùng Vịnh Ba Tư). Tuần tra trong biển Ả Rập là binh đoàn đặc nhiệm 70 (lực lượng Mỹ tại biển Ả Rập). Đơn vị này cũng trực thuộc Chuẩn Đô đốc D. Brooks, người mà đến lượt mình lại thuộc quyền Tư lệnh Bộ chỉ huy Thống nhất Trung ương các lực lượng vũ trang Mỹ tướng D. Crist, và ông này trực thuộc - Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân.

Nhiệm vụ chính của Hải quân Hoa Kỳ trong suốt thời gian lưu trú trong khu vực chiến sự là bảo vệ đường hàng hải trên biển. Tuy nhiên, như đã nêu trong các ấn phẩm nước ngoài, tiểu đoàn thủy quân lục chiến viễn chinh quân số khoảng hai nghìn người luôn ở trong trạng thái sẵn sàng trong vòng 6 giờ đổ bộ lên bờ.

Khi tổ chức bảo vệ đường giao thông trên biển, bộ chỉ huy Mỹ kết hợp hai phương pháp: hộ tống đoàn tàu vận tải và bảo vệ khu vực tàu thuyền qua lại. Để dễ dàng chỉ huy các lực lượng, Vịnh Ba Tư được chia thành ba khu vực - Bắc, Trung tâm và Đông. Mỗi khu vực gắn với một lực lượng của nó. Trong khu vực công tác trinh sát đường không liên tục được tiến hành bởi các máy bay trên tàu sân bay và máy bay AWACS, xuất phát hoạt động từ căn cứ không quân El-Riyadh (Saudi Arabia). Tình hình trên không và trên mặt nước luôn luôn được theo dõi và giám sát chặt chẽ từ tàu tham mưu-chỉ huy "La Salle".

Việc hộ tống các tàu chở dầu thực hiện từ cảng xếp hàng (dỡ hàng) cho đến lối ra khỏi Vịnh Ba Tư vào Vịnh Oman. Đoàn công-voa thường là nhỏ - 2 đến 3 tàu chở dầu và từng ấy tàu hộ tống. Trên một số đoạn đoàn công-voa được máy bay trên hạm bảo vệ. Tàu sân bay với các tàu hộ tống cơ động trong biển Ả Rập. Trong các khu vực có nguy hiểm về mìn người ta tổ chức phòng thủ chống mìn. Nhằm mục đích trên, người Mỹ đưa vào Vịnh Ba Tư 8 máy bay trực thăng quét mìn RH-53D, 4 tàu cao tốc quét mìn loại MSB [346] và 6 tàu quét mìn đại dương kiểu "Agressive". Trong đội hình có 2 tàu quét mìn, triển khai trên các góc hướng vắt ngang với tàu chiến (tàu vận tải) đi đầu và thực hiện tìm kiếm mìn nhờ sự trợ giúp của các sonar. Trong các khu vực nguy hiểm nhất tổ chức dẫn dắt tàu vận tải đi sau lưới quét. Trong trường hợp này, các tàu quét bằng lưới quét đi trước trong đội hình đa giác lồi khép kín.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s72.gif)
Phương án hộ tống khi dẫn các tàu chở dầu ra khỏi El-Kuwait

Công tác đảm bảo hậu cần của Hải quân Mỹ ở vùng Vịnh Ba Tư được thực hiện với sự giúp đỡ của các căn cứ nổi chuyên dụng, đó là các sà lan trọng tải lớn. Hai trong số những căn cứ nổi được thiết lập cách 30 dặm về phía tây và phía nam đảo Farsi. Trên mỗi căn cứ đó có đến 200 lính thủy quân lục chiến và đội ngũ nhân viên phục vụ, 2 máy bay trực thăng, các bồn chứa nhiên liệu, dự trữ vật chất, v.v. Sà lan cũng phục vụ như điểm căn cứ tạm thời cho các tàu quét mìn, tàu xuồng của các phân đội biệt kích-đổ bộ.

Có ghi nhận một số vụ đụng độ vũ trang giữa tàu Hải quân Mỹ với Hải quân Iran. Ngày 22 Tháng Chín năm 1987 máy bay trực thăng Mỹ từ frigate "Jarrett" bắn tên lửa vào tàu "Iran-Algeria" của Iran, gây ra một đám cháy trên tàu, 4 thành viên thủy thủ đoàn thiệt mạng. Ngày 19 tháng 10 năm 1987 các tàu khu trục Mỹ "Kidd", "Leftuich", "Young" và "Hoel" bắn phá các giàn khoan dầu của Iran, trút vào chúng khoảng 1.000 viên đạn. Hoạt động của các tàu khu trục được máy bay trên tàu sân bay bảo vệ.

Sự kiện được quan tâm đặc biệt là sự cố xảy ra với tàu khu trục URO Mỹ "Stark". Nhân chứng kể lại và báo cáo của thuyền trưởng đã công bố trên báo chí nước ngoài, cho phép tái tạo trường đoạn này trong "Chiến tranh tàu chở dầu".

Ngày 17 tháng 5 năm 1987 lúc 9 giờ 10 phút, frigate URO Mỹ "Stark" rời cảng Manama (Bahrain), tại đó nó đã được bổ sung đầy đủ nước, nhiên liệu và thực phẩm. Lúc 13:30 tàu chiếm lĩnh tuyến tuần tra và [347] bắt đầu đi tuần trong khu vực cách 65-85 dặm về phía đông bắc bờ biển Bahrain. Tàu ở trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu cấp 3, trong đó chỉ có 30% quân nhân thuộc thủy thủ đoàn trực ở vị trí chiến đấu. Frigate liên tục duy trì thông tin liên lạc với tàu chỉ huy "La Salle", khu trục hạm URO "Kunz", máy bay AEW và ban chỉ huy máy bay E-3 thuộc hệ thống AWACS Không quân Ả Rập Saudi, đang quần vòng trên bán đảo Ả Rập để kiểm soát tình hình không - biển trong khu vực vùng Vịnh Ba Tư.

Lúc 20:00 máy bay E-3 phát hiện một máy bay Iraq P-1 "Mirage" cất cánh, lúc đầu bay về hướng nam, sau đó tiếp tục bay dọc theo [348] Vịnh Ba Tư. Thông tin đầu tiên nhận được trên mạng CICS qua tàu khu trục URO "Kunz": máy bay Iraq trong mạng thông báo được nhận dạng là "mục tiêu số 2202". Lúc 20:15 thuyền trưởng frigate trung tá hải quân G. Brindel đang ở trên CIC, nhận được báo cáo của sỹ quan trực ban trung úy B.Monkrif rằng chiếc máy bay Iraq đang bay theo hướng đông nam, và hiện tại đang ở cách "Stark" 200 dặm.

Lúc 20:43 tàu khu trục URO "Kunz" phát hiện máy bay "Mirage" trên phương vị 285 ° ở cự ly 120 dặm cách frigate URO "Stark". Máy bay bay ở độ cao 915 m với tốc độ 540 km / h. Trên màn hình radar phát hiện các mục tiêu trên không AN/SPS-49 của frigate chưa quan sát thấy mục tiêu. Tuy nhiên, sau 3 phút, trắc thủ radar "Stark" phát hiện máy bay đang tiếp cận. Cự ly đến nó là 70 dặm, phương vị - 260 °.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/31.jpg)
Frigate "Stark". Nơi trúng phát tên lửa thứ hai.

Lúc 21:00 người chỉ huy khu trục hạm "Kunz" thông báo cho frigate "Stark" rằng "Mirage" đang bay hướng 73 ° và tăng vận tốc lên 620 km / h. Frigate vào thời điểm đó ở tọa độ 26 ° 47 ' vĩ độ Bắc, 51 ° 45' kinh độ Đông. Với tốc độ 10 hải lý frigate đi theo hướng 300 °.

Lúc 21:05 trắc thủ đài vô tuyến và trinh sát vô tuyến với trợ giúp của đài AN/SQL-32 chặn được tín hiệu làm việc của radar tìm kiếm trên máy bay "Mirage", lúc này cách frigate "Stark" 27 km. Lúc 21:09 từ trên frigate "Stark" phát đi bức điện như sau: "Gửi máy bay lạ - đây là tàu chiến của Hải quân Mỹ. hướng của anh là 78 độ, khoảng cách là 12 dặm. Xin vui lòng cho chúng tôi biết ý định của anh". Gần như đồng thời sĩ quan trực ra lệnh chuẩn bị sử dụng bệ phóng rốc két phóng nhiễu phản xạ chống radar và bẫy hồng ngoại. Quân nhân đánh tín hiệu đang đứng trên cầu điều hướng mạn trái con tàu, báo cáo rằng anh ta quan sát trực quan thấy trên đường [349] chân trời có chớp flash lóe sáng. Frigate tuyên bố "báo động chiến đấu". Đồng thời, tàu phát lặp lại cho chiếc máy bay bức điện cảnh báo tình thế nguy hiểm.

Lúc 21:10, sau khi phóng quả tên lửa thứ hai, chiếc "Mirage" đột ngột ngoặt trái, tăng tốc độ, thoát về hướng lãnh thổ Iraq. Trong vòng 1-2 phút nhiều lần tín hiệu viên báo cáo về việc tên lửa đến gần từ bên trái frigate. Từ đài chỉ huy chính phát ra mệnh lệnh: "Đặt nhiễu thụ động! Bắn vào tên lửa", nhưng khẩu lệnh đã muộn. Đúng lúc này, quả đạn đầu tiên lao vào mạn trái frigate, nhưng không có vụ nổ. Sau một vài giây, cao hơn một chút chỗ trước, quả đạn thứ hai lao vào. Lúc bấy giờ một vụ nổ lớn mới bùng lên làm rung chuyển toàn bộ con tàu.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s73.gif)
Cuộc tấn công frigate URO "Stark"

Trên frigate bùng lên một đám cháy lớn: cabin hạ sỹ quan bốc cháy. Kim loại nóng chảy và khói cay làm khó khăn cho việc chữa cháy. Thêm vào đó tuyến ống chủ chữa cháy đằng mũi lại hỏng. Đội cứu hộ khẩn cấp, mặc dù nhiệt độ rất cao, vẫn cố gắng dập lửa. Khi các tàu khu trục "Waddell" và "Cunningham" tiến đến bên "Stark" thì đám cháy đã được dập tắt, họ chỉ còn việc kéo frigate bị hư hỏng về cảng Manama, nhưng đầu tiên phải bơm hết nước ra ngoài, vì nảy sinh nguy cơ mất ổn định của "Stark". Trong khi nước được bơm ra, các sỹ quan tên lửa thu đầu đạn tên lửa "Exocet" chưa nổ, vô hiệu hóa nó và chuyển lên trực thăng đưa về tàu chỉ huy "La Salle".

Lỗ thủng hơn 12 mét vuông được bịt chặt lại bằng bạt. Các chuyên gia ngay lập tức chỉ ra rằng cho dù cuộc tấn công không phải ở trong "điều kiện môi trường xung quanh" là Vịnh Ba Tư, mà đâu đó ở Đại Tây Dương, frigate vẫn có thể chịu chung số phận của "Sheffield". Đồng thời họ ghi nhận rằng con tàu "sống sót" được chỉ bởi vì tính chống chìm vốn có của nó được đảm bảo bởi sự bảo vệ bằng kết cấu đã được tính toán rất tốt. Trong quá trình thiết kế [350] đã dự kiến một số khu vực hỏa hoạn, đều có phương tiện tự lực để chữa cháy. Một số thậm chí còn nói rằng tàu của lớp này có sự trùng lặp quá nhiều và đã bão hòa phương tiện đấu tranh sinh tồn.

Trớ trêu thay, 3 ngày trước sự cố "Stark", trong khu vực Puerto Rico, người Mỹ đã tiến hành một thí nghiệm nghiên cứu khả năng tàu chiến loại này đánh bại tên lửa chống hạm kiểu "Exocet". Nhìn chung, thử nghiệm thành công. Đã có báo cáo rằng công tác phòng thủ con tàu là "thích hợp trước mối đe dọa của tên lửa chống hạm "Exocet" phiên bản mới nhất". Kết luận này làm yên lòng bộ chỉ huy Mỹ, khi đó đang tỏ ra nghi ngờ tính bền vững của các tàu chiến của họ sau cuộc xung đột Anh-Argentina năm 1982.

Các nhà thiết kế tàu và các chuyên gia trong lĩnh vực này đã khảo sát đến từng chi tiết nhỏ nhất tất cả các khía cạnh của vụ việc. Việc tổ chức cuộc đấu tranh sinh tồn cho con tàu được thừa nhận đã thỏa đáng hơn. Nhưng hành động của người thuyền trưởng và kíp tác chiến sở chỉ huy chính không đủ khẩn trương. Trong các biên bản của ủy ban điều tra thường lặp đi lặp lại từ "nếu", "nếu gây nhiễu thụ động một cách kịp thời", "nếu còi báo động vang lên kịp thời", v.v. Vì sự sơ suất trên thuyền trưởng đã bị đưa ra tòa xét xử.

Cuối cùng, các chuyên gia quân sự chỉ trích mạnh mẽ công ty đóng tàu vì sử dụng nhôm quá phổ biến và không hợp lý.

HẾT CHƯƠNG 9
........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 25 Tháng Tám, 2013, 02:34:07 PM
(tiếp)

CHƯƠNG 10

CHIẾN DỊCH "PRAIRIE FIRE"

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s74.gif)
Chiến dịch "Prairie Fire"

Trong nhiều thế kỷ, Libya ở dưới ách thống trị của thực dân: trong thời cổ đại - dưới quyền lực của Carthage và Rome, vào thế kỷ XVI - Đế chế Ottoman. Trước Thế chiến 1 Libya bị người Ý xâm chiếm, còn trong Thế chiến tiếp theo quyền quản lý đất nước nằm trong tay người Anh và người Pháp. Vào giữa thế kỷ XX, người Mỹ đến trên lãnh thổ của của đất nước Bắc Phi nhiều đau khổ này. Năm 1969 Libya mới giành được độc lập.

Vào tháng 3 và tháng 4 năm 1986 với lý do chống khủng bố quốc tế, Không quân và Hải quân Mỹ đã tiến hành hai cuộc không kích lớn vào các mục tiêu của Libya, gồm cả thủ đô Tripoli. Những cuộc tấn công này được thực hiện trong các điều kiện Mỹ có ưu thế thống trị cả về lực lượng và phương tiện. Chỉ tính tàu tuần dương và tàu khu trục mang tên lửa có điều khiển, theo số lượng các bệ phóng các loại tên lửa khác nhau [354] và cơ số đạn, đã gấp 10 lần so với toàn bộ lực lượng hải quân Libya. Khi lập kế hoạch hành động quân sự chống lại Libya, bộ chỉ huy Mỹ theo đuổi mục tiêu hành động chung giữa máy bay trên tàu sân bay của Hải quân và máy bay chiến thuật của Không quân nhằm tiêu diệt các mục tiêu mặt đất của đối phương trong giai đoạn đầu cuộc chiến. Công tác soạn thảo kế hoạch chiến sự diễn ra một thời gian dài: kế hoạch chiến dịch đầu tiên đã sẵn sàng vào cuối tháng 1, còn lần thứ hai - vào giữa tháng 3. Để bổ sung kế hoạch và nghiên cứu những người thực hiện vẫn còn gần một tháng. Tại thời điểm này các lực lượng dành riêng cho chiến dịch đang tích cực huấn luyện chiến đấu.

Hành động quân sự đầu tiên chống Libya của Hạm đội 6 Mỹ diễn ra ngày 24-25 tháng 3 năm 1986. Trong các tài liệu chính thức nó nhận tên mã "Fire in Prairie". Trong khi chuẩn bị kỹ lưỡng cho sự kiện này, vào giữa tháng 3 người Mỹ triển khai ở trung tâm Địa Trung Hải các tàu sân bay "America" (nhóm tàu sân bay 60.3), "Coral Sea" (nhóm tàu sân bay 60.1) và "Saratoga" (nhóm tàu sân bay 60.2), trên boong các tàu sân bay này có hơn 300 máy bay, trong đó gần một nửa - máy bay tấn công. Bảo vệ các tàu sân bay có các tuần dương hạm, khu trục hạm và frigate. Lực lượng điều động được tập hợp trong binh đoàn xung kích tàu sân bay 60. Trong thành phần đơn vị hợp thành trên có cả các tàu ngầm hạt nhân đa chức năng. Năm tàu đổ bộ chở thủy quân lục chiến liên tục cơ động trong khu vực. Chỉ huy tất cả các lực lượng là Tư lệnh Hạm đội 6 Hải quân Mỹ từ trên tàu tham mưu-chỉ huy "Coronado", cải tạo từ một tàu dok-đổ bộ chở máy bay trực thăng. Thiết bị iên lạc vệ tinh của con tàu cho phép duy trì thông tin liên lạc liên tục không chỉ với các tàu của Hạm đội 6, mà còn với Lầu Năm Góc, thậm chí cả với Tổng thống Hoa Kỳ. [355]

Thành phần tàu của Hải quân Mỹ và Libya tại Địa Trung Hải các ngày 24-25 tháng 3 năm 1986
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang1-c10_zps35cd7c49.png) (http://s1185.photobucket.com/user/qtdc2/media/bang1-c10_zps35cd7c49.png.html)

Ngày 21 tháng 3 lực lượng của binh đoàn đặc nhiệm 60 cùng với các tàu của đơn vị đảm bảo hậu cần đặc nhiệm 63 bắt đầu triển khai từ biển Tyrrhenia vào khu vực hoạt động. Ngày 22-23 tháng 3, tất cả các lực lượng đã chiếm lĩnh các khu vực cơ động tác chiến và dàn thành đội hình chiến đấu.

Lúc nửa đêm ngày 24 tháng 3, một số máy bay trên tàu sân bay và một biên đội tàu chiến thực hiện các hoạt động phô trương nhằm trinh sát bổ sung hệ thống phòng không của Libya. Máy bay AEW E-2C "Hawkeye" cất cánh lên không trung, từ đó tiến hành chỉ huy toàn bộ các nhóm tấn công và các nhóm đảm bảo. Chiếc máy bay này ở cự ly 300 km cách bờ biển trên độ cao 4.000-6.000 m. Máy bay trên tàu sân bay ngày hôm đó không xâm phạm không phận Libya. Chúng tuần tiễu trong cự ly từ HO đến 130 km cách bờ biển, liên tục giữ các hệ thống phòng không Libya [356] trong trạng thái căng thẳng. Trong nửa thứ hai ngày 24 tháng 3 người Libya dù sao cũng vẫn thực hiện phóng ba loạt mỗi loạt 2 tên lửa vào các máy bay Mỹ. Nhưng tất cả các quả đạn này đều bay trượt mục tiêu.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s75.gif)
Cuộc tấn công căn cứ hải quân Sirte ngày 25 tháng 3 năm 1986

Vào đêm 24 sang ngày 25 tháng 3, người Mỹ giáng đòn tấn công "trả đũa". Trong đợt tấn công đầu tiên họ đánh chìm hai tàu tên lửa Libya, còn tại cảng Benghazi, bom cát-sét chính xác cao "Rocky" đánh hóng 1 tàu đổ bộ. Một số nhà phân tích quân sự cho rằng máy bay trên hạm đã đánh chìm một tàu tên lửa cỡ lớn "Ein Mara". Nhưng, như sau này được biết, tên lửa chống hạm "Harpoon" không rơi trúng tàu: do hệ thống tự dẫn sai nó đã rơi xuống biển chỉ cách đích 5 - 6 m mà không làm cho con tàu ảnh hưởng gì, ngoài ra đầu đạn tên lửa cũng không phát nổ. Trong số các mục tiêu trên bờ chỉ có hai trạm radar bị hư hại nhẹ. Khi đánh trả cuộc tấn công người Libya đã bắn bị thương 1 máy bay tiêm kích hạm F-14A «Tomcat"của Mỹ.

Vụ đánh chìm các tàu Libya diễn ra như sau. Tối ngày 24 tháng 3 vào khoảng 23:00 theo số liệu của máy bay AEW và chỉ huy "Hawkeye", 2 máy bay cường kích "Kẻ đột nhập" từ tàu sân bay "America" được dẫn đường tới tàu cao tốc tên lửa "Vokhid" đang trên đường tuần tra ở cách Misurata 80 dặm về phía đông bắc.

Cuộc tấn công được thực hiện theo một sơ đồ tự động hóa: nhận chỉ thị mục tiêu từ máy bay trinh sát, xác định chính xác cự ly đến mục tiêu bằng radar trên máy bay, đo có kiểm soát cự ly nhờ trợ giúp của máy đo xa laser, phóng tên lửa.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/9/98/F14Libya.JPEG/640px-F14Libya.JPEG)
Một F-14 thuộc VF-74 hạ cánh trên USS Saratoga trong chiến dịch không kích Lybia năm 1986 (http://en.wikipedia.org/wiki/Operation_Prairie_Fire)

Tại điểm tính toán đầu tự dẫn của tên lửa "Harpoon" khóa mục tiêu và đảm bảo đạn rơi trúng cấu trúc thượng tầng. Vụ nổ đầu đạn nổ phá-mảnh khối lượng nổ 227 kg đã phá hủy hoàn toàn phần trên của [357] cấu trúc thượng tầng và tháp chính. Tất cả những người đang ở trên các vị trí chiến đấu bố trí trong cấu trúc thượng tầng, trong đó có cả thuyền trưởng, đại úy hải quân Sakulela, đều chết. Như sau này được biết phi hành đoàn trên tàu có 16 người thiệt mạng. Các động cơ chính vẫn còn hoạt động, và nếu như không bị cháy, con tàu bằng sức của mình sẽ có thể đi đến bến cảng gần nhất. Nhưng điều đó đã không xảy ra, bởi vì hệ thống ống chữa cháy chính đã hỏng, và thủy thủ đoàn ít người không thể đối phó với ngọn lửa đang bốc mạnh hơn với chỉ một số bình chữa cháy. Ngọn lửa nhanh chóng lan đến nơi chứa đạn dược. Sau khi nhận ra trong tình huống này hy vọng cứu tàu không còn, những người sống sót nhanh chóng hạ thuyền cứu sinh và [358] rời khỏi tàu. Các hoạt động cứu hộ diễn ra không quá 5 phút. Trong khi đó, 1 máy bay cường kích Mỹ bay ở độ cao rất thấp trên con tàu và xả súng máy xuống chiếc tàu đang cháy.
.........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 25 Tháng Tám, 2013, 06:30:25 PM
(tiếp)

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/5/54/Burning_Libyan_Corvette.jpg/640px-Burning_Libyan_Corvette.jpg)
Một corvett Libya lớp Nanuchka trong Vịnh Sidra, ngày 24 tháng 3 năm 1986. Máy bay Hải quân Mỹ Grumman Intruder A-6E thuộc các phi đoàn cường kích VA-55 và VA-85 tấn công hai tàu hộ tống Nanuchka bằng bom chùm Rockeye và tên lửa Harpoon AGM-84. Một chiếc bị đánh chìm, chiếc kia được kéo về cảng. Máy bay A-6E thuộc VA-34 còn phá hủy một xuồng cao tốc tấn công nhanh La Combattante IIa của Libya. (http://en.wikipedia.org/wiki/Operation_Prairie_Fire)

Sau vài phút ngọn lửa đã nhấn chìm toàn bộ phần mũi tàu. Đạn 76 mm bắt đầu phát nổ. Khi thuyền cứu sinh di chuyển ra cách tàu hơn một dặm, người ta nghe thấy tiếng một vụ nổ lớn. Rõ ràng, đó là tên lửa "Otomat" phát nổ. Sau một lúc "Vokhid" chìm xuống biển.

Vào buổi tối cùng ngày, tách khỏi hạt nhân lực lượng đặc nhiệm 60, tuần dương hạm URO "Yorktown" tiến về phía vịnh Sidra. Có lẽ nó được giao nhiệm vụ tấn công tên lửa vào một trong những mục tiêu bờ tại Benghazi. Trang bị vũ khí của tàu tuần dương gồm hai cụm ống phóng 4 nòng để phóng tên lửa chống hạm "Harpoon" với cự ly xạ kích 110 km. Ngoài ra, tuần dương hạm có hai ống phóng tên lửa PK "Aegis", pháo hạm 127-mm, súng máy phòng không 20 mm và ngư lôi. Độ choán nước của tàu tuần dương là 9.200 tấn. Khi cách bờ biển khoảng 70 dặm, radar trên "Yorktown" đã tìm thấy mục tiêu. Lúc đầu, nó được phân loại như một tàu đánh cá. Tuy nhiên, thuyền trưởng tuần dương hạm ra lệnh tiếp tục theo dõi. Hóa ra, đó là một tàu lớn của Hải quân Libya, tàu tên lửa "Ein Zagut", đang tuần tra cách 20 dặm về phía tây Benghazi. Tuân thủ quy tắc bí mật, tàu cơ động ở tốc độ thấp, tất cả các phương tiện vô tuyến điện tử của nó đều tắt, đèn hàng hải không bật.

Khi giữa "Yorktown" và tàu tên lửa khoảng cách giảm xuống còn 11 dặm, thuyền trưởng tàu tên lửa bật radar một thời hạn ngắn. Ăng ten chỉ mới quay vòng thứ hai đã tắt ngay. Nhưng thế cũng đủ để trên tuần dương hạm, nhờ đài trinh sát vô tuyến người ta phân loại được mục tiêu. Bây giờ thuyền trưởng "Yorktown" không còn nghi ngờ rằng thẳng hướng trước ông ta không phải 1 tàu đánh cá mà là tàu tên lửa [360] của đối phương, nó bất cứ lúc nào cũng có thể thực hiện một cuộc tấn công tên lửa. Đánh giá tình hình mau lẹ, thuyền trưởng tàu tuần dương ra lệnh phóng tên lửa. Trong gián cách vài giây, hai tên lửa "Harpoon" đã bắn vào tàu Lybia.

Cả hai tên lửa đều trúng mục tiêu. Tên lửa thứ nhất khoan thủng mạn tàu trên đường mớn nước, lao vào nổ bùng trong phòng máy tàu. Tàu lập tức mất tốc độ và không còn lái được. Thông qua lỗ thủng lên đến 20 m2 nước chảy vào tàu. Sau khi quả đạn tên lửa thứ hai đánh trúng, gần như toàn bộ con tàu bị nhấn chìm trong biển lửa, bởi vì nhiên liệu tên lửa chưa cháy hết còn đến một nửa bị vụ nổ tưới lên khắp tàu. Việc chữa cháy là vô ích, ngọn lửa nhanh chóng bốc mạnh, và sau 5 phút con tàu giống như một bó đuốc sáng rực. Đuôi tàu chúi hẳn, tàu nhanh chóng chìm xuống, và sau 15 phút thì hoàn toàn chìm. Toàn bộ thủy thủ đoàn của tàu thiệt mạng.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s76.gif)
Cuộc tấn công các tàu cao tốc mang tên lửa "Vokhid" và "Ein Zagut"

Trong chiến dịch này, Không quân Mỹ đã tấn công 2 trạm radar nằm trong khu vực thành phố Sirte. Trong đợt tấn công này lần đầu tiên tên lửa chống radar AGM-88M "Harm" được sử dụng. Trong thời gian tấn công, 14 máy bay đảm bảo cho hoạt động của một máy bay cường kích hạm A-7E. Khi vào công kích chiếc cường kích A-7E liên tục cơ động chống tên lửa PK theo số liệu của hệ thống cảnh báo gắn trên máy bay về việc radar đối phương chiếu xạ mình. Trong hai quả đạn tên lửa phóng đi, một đạn đánh trúng khu vực ăng ten trạm radar, quả đạn kia trượt mục tiêu.

Vào rạng sáng ngày 25 tháng 3, các tàu của lực lượng đặc nhiệm 60 di chuyển vào trung tâm biển Địa Trung Hải. Trong quá trình chiến dịch, phòng không Libya chỉ bắn bị thương một máy bay tiêm kích Mỹ F-14A. Binh đoàn đặc nhiệm ở lại khu vực trong vòng một vài ngày, trong khi tuân thủ tất cả các biện pháp bảo vệ. Biên đội tàu chiến cùng với tuần dương hạm URO "Yorktown" nhiều lần tiếp gần bờ biển Libya ở cự ly 12 dặm. Ngày 29 Tháng Ba, lực lượng binh đoàn đặc nhiệm 60 rời khỏi vùng trung tâm biển Địa Trung Hải.

Như người Mỹ đánh giá, mục tiêu của chiến dịch "Prairie Fire" đã đạt được. Trong quá trình cuộc tấn công này họ [361] đã thành công trong việc đánh chìm hai tàu và phá hỏng một trạm radar. Nhưng quan trọng nhất, như ghi nhận của các chuyên gia Mỹ, họ đã khám phá được hệ thống phòng không của đối phương và chuẩn bị cho các hoạt động có quy mô lớn hơn.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s77.gif)
Đảm bảo cho chiến dịch "Canyon Eldorado" (14-15 tháng 4 năm 1986).

Trong đêm 14 sang ngày 15 tháng 4, người Mỹ đã thực hiện một hành động có tên mã "Eldorado Canyon". Tham dự có khoảng 100 máy bay của Không quân Mỹ và Hải quân Mỹ thuộc đơn vị đặc nhiệm tàu sân bay xung kích 60 và tập đoàn không quân số 3 Không quân Hoa Kỳ, đóng quân trên các sân bay Vương quốc Anh. Người ta đã vạch ra 5 mục tiêu để tấn công, 3 trong số nằm ở khu vực Tripoli (Doanh trại của Bab al-Azizia, căn cứ huấn luyện người nhái Sidi Bilala và khu quân sự sân bay Tripoli) và 2 - trong khu vực Benghazi (doanh trại Al-Dzhamahariya-Barras và sân bay "Benin"). Như cuộc tấn công trước đó, cuộc tấn công này cũng được dự tính thực hiện vào lúc trời tối, khi hoạt động theo nguyên tắc bất ngờ. [364]

Trong trường hợp này, đòn tấn công các đối tượng trong khu vực Tripoli cần do các máy bay F-111, hoạt động từ các căn cứ không quân của Anh, thực hiện. Chuyến bay của chúng đến khu vực hoạt động được bảo đảm bởi các máy bay tiếp dầu KC-10A và KC-135 (28 máy bay tiếp nhiên liệu). Tổng cộng đã ghi nhận 5 lần tiếp dầu trên không.

Trong thời gian 15 phút trước cuộc tấn công. các máy bay AEW chiếm lĩnh khu vực tuần tra nằm ở cự ly 50 - 100 km cách bờ biển. Sau 2 phút, các máy bay tác chiến điện tử cất cánh lên không trung, chúng bắt đầu gây nhiễu chủ động kết hợp. Trong 6 phút trước đòn tấn công chủ yếu, nhóm đảm bảo tấn công vào các trạm radar. Tên lửa chống radar được phóng từ cự ly 40 - 60 km.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s78.gif)
Chiến dịch "Canyon Eldorado" (15 tháng 4 năm 1986).

Hồi 4:00 máy bay trên tàu sân bay của lực lượng đặc nhiệm 60 đã giáng đòn chủ yếu xuống các mucj tiêu tại Benghazi. Trong thành phần đơn vị hợp thành này có các tàu sân bay "Coral Sea" (nhóm xung kích tàu sân bay 60.1) và "America" (nhóm xung kích tàu sân bay 60.2). Cuộc tấn công các mục tiêu tiếp tục 25 phút, sau đó nhóm xung kích rút lui về phía bắc cùng với việc lấy độ cao 500 -. 1000 m. Việc dẫn đường cho các máy bay bay tới các mục tiêu do máy bay AEW "Hawkeye" thực hiện. Tương quân giữa máy bay công kích và máy bay hỗ trợ trong các nhóm là 1:2,3 (trực tiếp có mặt trong khu vực công kích - 1:1,1). Việc cắt bom thực hiện từ độ cao dưới 150 m với tốc độ bay hơn 800 km / h.

Theo ý kiến của các chuyên gia Hoa Kỳ, mục đích của chiến dịch đã đạt được. Tất cả các đối tượng đều bị hư hại nghiêm trọng, trên sân bay có 17 máy bay chiến đấu, 10 máy bay vận tải và máy bay trực thăng bị phá hủy hoặc bị thương. Người Mỹ có một máy bay chiến đấu bị bắn rơi và 1 - bị thương.

Trong chiến dịch "Đốt lửa trên thảo nguyên" và "El Dorado Canyon", sự quan tâm lớn được giành cho công tác trinh sát, ngụy trang và chiến tranh điện tử. Việc phòng thủ của lực lượng đặc nhiệm 60 được tổ chức tuân theo tất cả các quy tắc.

HẾT CHƯƠNG 10
........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 27 Tháng Tám, 2013, 03:04:43 PM
(tiếp)

CHƯƠNG 11

CHIẾN TRANH TRONG VỊNH BA-TƯ


(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/7/78/Kuwait_burn_oilfield.png/640px-Kuwait_burn_oilfield.png)
Mỏ dầu Kuwait cháy trong Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất (http://en.wikipedia.org/wiki/Invasion_of_Kuwait)

Vào đêm ngày 1 sang ngày 2 tháng 8 năm 1990, với lý do bảo vệ các quyền lợi kinh tế của mình, các lực lượng vũ trang Iraq đã xâm lược quốc gia độc lập Cô-oét (Kuwait). Kuwait diện tích tổng cộng 20,2 km vuông, dân số - gần 1,7 triệu người, thủ đô - El Kuwait. Sự giàu có chủ yếu của đất nước - dầu mỏ. Nó đóng góp 92% thu nhập quốc dân của nhà nước này. Theo một số dữ liệu, trữ lượng dầu mỏ Kuwait là 9 tỷ tấn.

Hành động hiếu chiến của Iraq được dạo trước bởi 1 chiến dịch cổ động và tuyên truyền chính trị và đe dọa Kuwait, buộc tội nước này "ăn cắp" dầu mỏ khai thác trong lãnh thổ của mình, rồi cố ý thổi phồng giá dầu để làm suy yếu nền kinh tế của Iraq.

Cụm quân đội Iraq 120.000 người, vượt qua sự kháng cự của quân đội Kuwait, bao gồm chỉ 20 300 người, đến cuối ngày 02 tháng 8 đã chiếm toàn bộ lãnh thổ Cô-oét. Trong quá trình xâm lược, các tàu hải quân Kuwait đã bị bắt giữ, gồm [368] 6 tàu cao tốc mang tên lửa như "Al-Eum", hai tàu pháo "Istiqlal", 16 tàu tuần tra ven biển (10 - loại "Aman", 3 - loại "Dastur" và 1 - loại "Mahrous") và 10 tàu đổ bộ. Cùng với việc bùng nổ chiến sự, các cuộc đàm phán với Italia về vấn đề mua sắm bốn tàu khu trục kiểu "Lupo" và các corvett mang tên lửa cũng bị đình chỉ. Trong biên chế lực lượng hải quân Kuwait có 1.200 người, trong thành phần hạm đội tàu buôn Kuwait có 240 tàu, một phần trong đó cũng bị đối phương chiếm giữ.

Cộng đồng thế giới đã ngay lập tức lên án hành động quân sự của Iraq. Tổng thống Mỹ gọi đó là hành động nguy hiểm, và ngày hôm sau khi nổ ra chiến sự, Quốc hội Mỹ phê chuẩn quyết định của tổng thống về việc áp dụng các biện pháp trừng phạt kinh tế nghiêm ngặt đối với Iraq. Mỹ cắt đứt hoàn toàn quan hệ kinh tế với kẻ xâm lược, và sẵn sàng đi đến bất kỳ biện pháp nào nhằm bảo vệ các lợi ích của mình trong Vịnh Ba Tư. Tổng thống Mỹ tin rằng, bằng những biện pháp trừng phạt, có thể thay đổi chính sách của Iraq và buộc nước này rút quân khỏi Kuwait. Tuy nhiên, khả năng giải quyết cuộc xung đột bằng cả biện pháp quân sự cũng không bị loại trừ.

Ngày 10 Tháng Tám, tại phiên họp bất thường của Hội đồng NATO, biện pháp trừng phạt chính trị và kinh tế đối với Iraq và tuyên bố ủng hộ toàn diện chính sách của Mỹ đã được thông qua. Tất cả các đại biểu tham dự phiên họp bày tỏ sự sẵn sàng của họ để đóng góp vào việc giải quyết cuộc xung đột.

Ngày 6 tháng 8, cùng với sự xuất hiện mối đe dọa thực sự đối với an ninh nước Saudi Arabia láng giềng của Kuwait, Tổng thống Mỹ quyết định triển khai tới khu vực xung đột một đội quân đồn trú lớn. Đặc biệt quan trọng là lập luận rằng, kể từ khi xâm chiếm Kuwait, Iraq đã lập tức có thể kiểm soát 10% sản lượng khai thác dầu mỏ hàng ngày của thế giới, còn nếu trong trường hợp Ả Rập Saudi bị thôn tính, con số này sẽ tăng gấp đôi. [369]

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/4/40/Multinational_group_of_fighter_jets_during_Operation_Desert_Shield.JPEG/800px-Multinational_group_of_fighter_jets_during_Operation_Desert_Shield.JPEG)
Không quân Đồng minh tuần tra chung trong "Operation Desert Shield" (http://ru.wikipedia.org/wiki/%D0%9E%D0%BF%D0%B5%D1%80%D0%B0%D1%86%D0%B8%D1%8F_%C2%AB%D0%A9%D0%B8%D1%82_%D0%BF%D1%83%D1%81%D1%82%D1%8B%D0%BD%D0%B8%C2%BB)

Anh và Pháp khẳng định quyết tâm phái đến vùng Vịnh Ba Tư các cụm lực lượng vũ trang lớn của họ. Sau đó, các nước NATO khác cũng bày tỏ sẵn sàng, theo yêu cầu của Saudi Arabia, gửi đến khu vực xung đột, một lực lượng quân đội của mình. Chỉ có CHLB Đức, nơi hiến pháp không cho phép sử dụng lực lượng vũ trang ngoài phạm vi ảnh hưởng của khối NATO, lúc đầu đã kìm giữ việc ra quyết định đó.

Tại phiên họp người ta cũng ra một tuyên bố rằng, bất kỳ hành động nào chống lại Thổ Nhĩ Kỳ của Iraq sẽ được coi như một cuộc tấn công vào các đồng minh NATO với tất cả các hậu quả tiếp theo. Kết quả phân tích tình hình cho thấy rõ ràng rằng, trong mọi trường hợp, khối Bắc Đại Tây Dương sẽ thực hiện một cuộc phong tỏa đường biển Iraq và Kuwait, và nếu cần thiết sẽ áp dụng lực lượng quân sự chống lại kẻ xâm lược. Vào cuối tháng Tám, trong khuôn khổ các chương trình hành động của NATO đã hình thành một trung tâm phân tích tình hình trong vùng Vịnh Ba Tư, đồng thời đã phân định ranh giới phong tỏa đường biển và các khu vực có khả năng xảy ra chiến sự trên đất liền. Ngày 09 tháng 9 tại một cuộc họp của đại diện các lực lượng vũ trang Hoa Kỳ, NATO và các quốc gia Ả Rập để cho mỗi quốc gia thuộc Liên minh chống Iraq xác định được khu vực hoạt động phong tỏa. Chẳng hạn, các khu vực hành động chính của Hải quân Mỹ là Biển Đỏ, Vịnh Oman và vịnh Ba Tư, cũng như phần phía đông Địa Trung Hải, các khu vực của Pháp - phần phía nam Biển Đỏ, Vịnh Aden, eo biển Bab-el-Mandeb, v.v.

Lực lượng phong tỏa được giao nhiệm vụ giám sát giao thông hàng hải của các tàu nước ngoài để tuân thủ Nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc từ ngày 6 tháng 8 năm 1990 về việc áp đặt các biện pháp trừng phạt kinh tế đối với Iraq, cũng như hộ tống tàu thuyền qua lại, thực hiện vận chuyển quân sự bằng đường biển đến các khu vực tiềm tàng khả năng [370] nguy hiểm do các hoạt động khủng bố từ phía các nước có lập trường ủng hộ Iraq.

Ban đầu phía Hải quân Mỹ tham gia hoạt động phong tỏa có tổng cộng 8 frigate và khu trục hạm mang tên lửa có điều khiển (URO). Tiếp theo, các lực lượng này phát triển thành các tàu hộ tống trong thành phần các nhóm xung kích tàu sân bay: chúng có đến 20 cờ hiệu. Tham gia hoạt động phong tỏa còn có máy bay tuần biển. Từ các căn cứ không quân Diego Garcia, Masirah và Djibouti máy bay P-3C "Orion" đã tiến hành đến 100 phi vụ mỗi tháng. Từ căn cứ không quân Sigonella Địa Trung Hải, máy bay tuần biển thực hiện 2-6 chuyến bay mỗi ngày.

Không muộn hơn ngày 23 tháng 8, tất cả các lực lượng tham gia phong tỏa bờ biển Iraq và Kuwait đã hợp nhất trong một nhóm đặc nhiệm, các tàu nhóm này chỉ trong 3 tháng đầu tiên của cuộc chiến đã chặn khoảng 3.000 tàu, trong đó có 340 bị lục soát và 14 tàu bị đuổi trở về. Có 240 trường hợp tàu bị giữ và đoàn kiểm tra đã đổ bộ lên tàu cùng các tàu của Hải quân Mỹ. Tổng cộng cho đến khi chiến sự kết thúc đã có hơn 7.000 tàu bị chặn, trong đó có 860 tàu bị kiểm tra và 32 tàu bị đuổi trở về. Hoạt động phong tỏa vẫn tiếp tục sau khi chiến sự kết thúc và chấm dứt ngày 23 tháng 8 năm 1991.

Để thực hiện ý đồ và kế hoạch của mình, người Mỹ và các đồng minh của họ trong giai đoạn từ ngày 07 tháng 8 năm 1990 đến tháng Giêng năm 1991 tiến hành một chiến dịch có tên mã là "Desert Shield". Trong quá trình chiến dịch diễn ra bên ngoài nước Mỹ tại vùng Vịnh Ba Tư đã xây dựng một cụm quân đội và lực lượng hải quân hùng mạnh nhất kể từ sau cuộc chiến tranh Việt Nam 1964 - 1973. Nội dung của "Operation Desert Shield" là tập trung và tăng cường lực lượng quân đội và tàu của các nước đồng minh thuộc Liên minh chống Iraq trong khu vực xung đột. Nhiệm vụ nằm trong công tác điều động [371] vũ khí nặng và thiết bị quân sự, phương tiện đảm bảo hậu cần-kỹ thuật cho các binh đoàn và đơn vị của tất cả các quân binh chủng lực lượng vũ trang, cũng như trong việc tổ chức cung ứng theo kế hoạch cho quân đội và các lực lượng được triển khai ở vùng Vịnh Ba Tư. Bản thân chiến dịch được thực hiện trong một thời gian gấp gáp và là một cuộc kiểm tra thực tế kế hoạch điều động có tính chất chiến lược lực ượng triển khai nhanh của Mỹ và NATO ở Trung Cận Đông.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/2/2d/French_AMX-10RC_in_the_desert.JPEG/800px-French_AMX-10RC_in_the_desert.JPEG)
Xe bọc thép trinh sát Pháp AMX-10RC triển khai qua sa mạc. (http://ru.wikipedia.org/wiki/%D0%9E%D0%BF%D0%B5%D1%80%D0%B0%D1%86%D0%B8%D1%8F_%C2%AB%D0%A9%D0%B8%D1%82_%D0%BF%D1%83%D1%81%D1%82%D1%8B%D0%BD%D0%B8%C2%BB)

"Operation Desert Shield" được thực hiện trong bốn giai đoạn. Trong giai đoạn đầu tiên, kéo dài từ 7-9 tháng Tám, thực hiện điều chuyển đến lãnh thổ Saudi Arabia các lực lượng thê đội thứ nhất, gồm một lữ đoàn tăng cường của sư đoàn không vận 82, hai phi đoàn không quân chiến thuật (các máy bay F-15C và D), một nhóm 5 máy bay AEW và chỉ huy (máy bay AWACS E-3C) và hai toán nhân viên (20 chuyên gia mỗi toán) các trạm di động mặt đất của hệ thống liên lạc vệ tinh. Các tàu của hạm đội 6 và 7 Hoa Kỳ tái triển khai vào Biển Đỏ và Biển Ả Rập, Vịnh Oman và Vịnh Ba Tư. Giai đoạn thứ hai của "Operation Desert Shield" tiến hành từ 10 đến 30 tháng Tám: diễn ra cuộc điều chuyển mạnh mẽ không quân đến Ả Rập Saudi và tiếp tục tăng cường lực lượng cho các nhóm xung kích tàu sân bay. Người ta ghi nhận sự gia tăng tất cả các loại hình hoạt động tình báo và thiết lập sự kiểm soát suốt ngày đêm tình hình trên không trong khu vực xung đột. Trong giai đoạn thứ ba, diễn ra từ 31 Tháng Tám - 7 tháng 11, các lực lượng chính được điều động đến khu vực xung đột bằng cả đường không và đường biển: sư đoàn kỵ binh thiết giáp số 1, sư đoàn tăng thiết giáp số 2, sư đoàn cơ giới hóa số 24, sư đoàn dù 82 và sư đoàn không vận 101; lữ đoàn cơ giới độc lập 197 và trung đoàn tăng thiết giáp độc lập số 3 quân chủng lục quân; các lữ đoàn TQLC viễn chinh 1, 4 và 7. Giai đoạn thứ tư bắt đầu ngày 08 tháng 11 và kéo dài cho đến đầu năm 1991. Tại thời điểm này, các nước Đồng minh tiếp tục không chỉ tăng cường lực lượng và phương tiện mà còn [372] điều chuyển đến không gian chiến trường cả nhiên liệu, thực phẩm, vật tư y tế, phụ tùng thay thế, v.v.

Hơn một nghìn máy bay chiến thuật được điều chuyển từ các căn cứ không quân Mỹ với các điểm dừng chân trung gian tại các sân bay châu Âu. Trong hoàn cảnh chiều dài hành trình bay từ 12 ngàn-16 ngàn km, độ dài chuyến bay chuyển cứ của một phi đoàn máy bay là 15 - 20 giờ. Trong đó các máy bay phải 12 lần tiếp nhiên liệu trên không. Vào đầu chiến sự, các đồng minh đã thành lập được một cụm không quân mạnh, trong đó có đến 2.000 máy bay chiến đấu, gồm cả 82 máy bay thuộc không quân chiến lược, 1240 máy bay không quân chiến thuật, 470 máy bay trên tàu sân bay, hơn 200 máy bay của LL Thủy quân lục chiến và máy bay AEW.

Để vận chuyển binh lính và hàng hóa đã huy động 269 tàu của Bộ chỉ huy tiếp vận Hải quân Mỹ và các tàu thuê của hạm đội tàu buôn (18 quốc gia đã cung cấp 50 tàu buôn).

Pháp và Vương quốc Anh thực hiện vận chuyển trên các tàu của mình và cả các tàu thuê. Ví dụ, Pháp sử dụng 11 tàu, chủ yếu là tàu cắm cờ quốc gia, còn Vương quốc Anh, ngoài các tàu vận tải của họ, đã điều động thêm 15 tàu thuê của các công ty vận tải biển Đan Mạch, Hà Lan, Síp, Italia, Canada, Thụy Điển và các nước khác. Hàng vận chuyển trên các tàu - các kho vũ khí, thiết bị quân sự, dự trữ vật chất cung ứng cho Thủy quân lục chiến, cho Lục quân và lực lượng triển khai nhanh của Mỹ, các tàu này làm việc bằng phương pháp vận tải theo phương ngang kiểu "ro-ro", các tàu chở dầu, tàu chở container, tàu chở hàng, phà biển, tàu bệnh viện, tàu cần cẩu và các loại tàu khác. Tàu xếp tải tại các cảng Bờ Đông duyên hải Hoa Kỳ và Vịnh Mexico. Thời gian trung bình xếp tải 1 tàu là 2-4 ngày. Việc si chuyển từ bờ biển Đại Tây Dương nước Mỹ sang khu vực Biển Đỏ và Vịnh Ba Tư [373] có tổng chiều dài từ 10 đến 12 ngàn dặm, tàu đi biển độc lập hoặc theo nhóm. Sau khi qua kênh đào Suez họ đi trong sự hộ tống của các tàu chiến. Về cường độ vận chuyển hàng hải có thể đánh giá qua những thực tế sau đây: trên biển mỗi ngày có tới 100 tàu, đi qua kênh đào Suez mỗi ngày đêm có 10-12 tàu và cập cảng của Saudi Arabia mỗi ngày đêm có 6 - 7 tàu. Đi với tốc độ 12-15 hải lý, tàu đến cảng dỡ hàng sau 25 - 30 ngày. Tàu container đi với tốc độ 30-33 hải lý mất thời gian di chuyển tổng cộng 12 - 15 ngày. Tổng số, trong chiến dịch "Desert Shield" đã hoàn thành khoảng 550-600 chuyến di chuyển đường biển.

Thời gian dỡ hàng trung bình của 1 tàu là 1-4 ngày. Ngay từ đầu chiến dịch, mỗi tháng có 300-330 ngàn tấn hàng hóa được giao nhận qua tàu thủy, sau đó con số này tăng lên 450-600 ngàn tấn. Trong đó một ngày đêm bốc dỡ được 20 tấn hàng hóa quân sự. Vào đầu chiến sự, đã xây dựng dự trữ đảm bảo phương tiện vật chất 60 ngày đêm cho Hải quân. Nó gồm 148,7 ngàn tấn đạn dược, 525 ngàn tấn nhiên liệu tàu biển, 130 ngàn tấn nhiên liệu hàng không, và 9 ngàn tấn lương thực. Dự trữ xây dựng cho Lục quân và Không quân cho phép hoạt động đến 30 ngày.

(http://www.navyemporium.com/ship_photos/images/carriers/saratoga-cv60/uss_saratoga_cv60_10.jpg)
Máy bay F/A-18C Hornet thuộc VFA-74 bay trên tàu sân bay lớp Forrestal, USS SARATOGA (CV 60) trong  "Operation Desert Shield" -1990 (http://www.navyemporium.com/ship_photos/files/carriers/uss_saratoga_cv60_info.htm)

Vào cuối tháng 1 năm 1991 Hoa Kỳ và Châu Âu đã đưa vào khu vực vùng Vịnh Ba Tư bằng tàu biển gần 7,3 triệu tấn hàng hóa quân sự, trong đó có 1,5 triệu tấn thiết bị quân sự, khoảng 700 ngàn tấn sản phẩm dầu mỏ và 100 nghìn lính và nhân viên quân sự thuộc các quân chủng Lục quân và Thủy quân lục chiến. Trong số các thiết bị quân sự đã được chuyển tới có 1.500 trực thăng, 2.100 xe tăng, 1.400 súng và 990 xe bọc thép. Ví dụ, một tuần sau khi bắt đầu "Operation Desert Shield" bằng tàu biển đã chuyển tới Ả Rập Saudi 400 xe tăng (trọng lượng xe tăng chiến đấu chủ lực của Mỹ [374] M60A1 là 48 tấn). Tổng số có khoảng 95% hàng hóa quân sự phục vụ chiến trường được giao bằng đường biển, trong đó nhiên liệu và dầu mỡ bôi trơn - hoàn toàn chỉ bằng đường biển.
........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 29 Tháng Tám, 2013, 11:28:32 PM
(tiếp)

(http://www.lib.utexas.edu/maps/historical/kuwait_invasion_1990.jpg)
Cuộc xâm lược Kuwait tháng 8 năm 1990 của Iraq (http://www.lib.utexas.edu/maps/kuwait.html)

Ngay ở giai đoạn đầu tiên của chiến dịch "Desert Shield" đã phát lộ những nhược điểm trong các tàu chuyên dùng để vận chuyển thiết bị quân sự hạng nặng, đó chính là lý do phải cấp bổ sung chi phí để duy trì và bảo dưỡng tàu đang nằm trong quân số trù bị của Bộ chỉ huy Tiếp vận hàng hải, cũng như xem xét lại thủ tục đưa chúng vào lực lượng hiện dịch. Người Mỹ buộc phải viện đến việc sử dụng tàu của các công ty tàu thủy tư nhân, cũng như các đồng minh và các nước thân thiện khác.

Ngoài việc vận chuyển bằng đường biển, một phần lớn hàng hóa quân sự được chuyển tới chiến trường theo đường hàng không ("Chiến dịch Gió tự do"). Để làm việc này, người Mỹ sử dụng tới 80% không quân vận tải của họ (250 máy bay C-5 và C-141). Hơn 3.500 chuyến bay bằng các máy bay này đã chuyên chở 150 nghìn người và 80 nghìn tấn hàng hóa. Để điều động đường không chỉ một sư đoàn với đầy đủ trang thiết bị cần thiết phải thực hiện 1538 chuyến bay C-141 và 269 chuyến bay C-5, người Mỹ quyết định vận chuyển quân nhân qua đường không mang theo vũ khí cầm tay, còn trang thiết bị quân sự hạng nặng - sẽ đi đường biển. Điều này trên một mức độ nhất định giảm được gánh nặng cho không quân vận tải. Việc triển khai quân đội từ Tây Âu do 50 máy bay vận tải quân sự C-130 đảm nhiệm. Vì thiếu máy bay vận tải quân sự đã huy động vào công tác chuyên chở 50 máy bay vận tải của các hãng hàng không dân sự Mỹ.

Chiều dài của chuyến bay từ Mỹ đến Ả Rập Saudi là 11,2-15 ngàn km, và thời gian trong bay - 20-25 giờ. [375]

Các máy bay thực hiện hạ cánh ở quần đảo Azores, cũng như trên các vùng lãnh thổ của Tây Đức và Tây Ban Nha. Quy mô vận chuyển quân và hàng hóa bằng đường hàng không và nhịp độ của nó rất to lớn: trong 3 tuần đã vận chuyển khối lượng hàng hóa nhiều hơn số tương ứng trong cuộc chiến tranh Triều Tiên trong vòng 3 tháng. Cứ 10-15 phút lại có một chuyến hạ cánh xuống sân bay. Tổng cộng người Mỹ đã sử dụng đến 20 căn cứ không quân. Máy bay đến được bốc hàng một cách nhanh chóng và ngay lập tức lại cất cánh. Việc tiếp dầu trên không cho chúng được thực hiện bằng các máy bay KC-10 và KC-135. Cường độ bay của máy bay vận tải là 100 phi vụ một ngày. Tổng thể, máy bay vận tải đã thực hiện khoảng 11.000 chuyến bay. Vào cuối tháng 1 năm 1991 qua đường hàng không đã chuyển đến Saudi Arabia gần 380.000 quân, nhân viên và 318 ngàn tấn hàng hóa quân sự.

Như báo chí nước ngoài đã đề cập, mặt yếu của cầu hàng không chiến lược trên là việc không đủ năng lực thông quan của các sân bay, đặc biệt là các sân bay trung gian, dẫn đến phá vỡ kế hoạch vận chuyển; sự quá tải của các phi hành đoàn, đã dẫn đến tai nạn cho các chuyến bay; việc buộc phải hoạt động cường độ cao của máy bay và sự cần thiết thường xuyên thay thế và sửa chữa động cơ.

Việc triển khai lực lượng hải quân bao gồm tái phối trí từ biển Địa Trung Hải và Tây Thái Bình Dương sang khu vực xung đột các lực lượng xung kích và đảm bảo thuộc thành phần các hạm đội cơ động số 6 và 7 của Mỹ; việc triển khai các đơn vị thủy quân lục chiến từ phần lục địa nước Mỹ và từ Okinawa; huy động các đơn vị trù bị của hạm đội, của Thủy quân lục chiến và phòng vệ bờ biển, các tàu thuộc hạm đội trù bị của LL phòng vệ quốc gia; triển khai từ Mỹ các nhóm tàu sân bay và nhóm tàu tấn công tên lửa, lực lượng đổ bộ, các tàu mặt nước và tàu ngầm [376], bao gồm cả các tàu mang tên lửa hành trình "Tomahawk". Bộ Chỉ huy Thống nhất tìm cách trong thời hạn sớm nhất có thể sẽ tạo ra một lực lượng hải quân có khả năng trước khi kết thúc chiến dịch "Desert Shield" thì ban đầu đảm bảo kiềm chế các lực lượng vũ trang Iraq, đối phó được với các hành động tấn công có thể của họ, thực hiện phong tỏa nó về đường biển, sau đó chuyển sang hành động quân sự trực tiếp.

Việc triển khai các lực lượng hải quân trong khu vực xung đột bắt đầu 4 ngày trước khi ra quyết định thực hiện chiến dịch "Desert Shield."

Tính đến 3 tháng 8, trong khu vực xung đột cụm lực lượng Hải quân đã có 15 tàu chiến, trong đó có 6 - trong khu vực Vịnh Ba Tư và Vịnh Oman, 2 - trong phần phía bắc biển Ả Rập (khoảng 300 dặm về phía đông đảo Masirah), 7 - ở Ấn Độ Dương (500 dặm về phía nam đảo Srilanka) và 76 máy bay chiến đấu.

(http://www.lib.utexas.edu/maps/historical/timing_of_attack.jpg)
Chiến dịch "Desert Shield" (http://www.lib.utexas.edu/maps/kuwait.html)

Trong khoảng thời gian từ ngày 03-05 Tháng 8 nhóm tàu sân bay xung kích (AVM "Independence") thực hiện di chuyển từ Yokosuka sang Vịnh Oman và đã có mặt tại đó ngày 03 tháng 11. Đến thay phiên nó là nhóm AUG (AVM "Midway") từ Hạm đội 7 Hoa Kỳ và ở trong các Vịnh Oman và Ba Tư đến khi chiến sự kết thúc. Tàu sân bay "Independence" từ 23-ngày 26 tháng 11 ở tại Hồng Kông, và sau đó đi về căn cứ hải quân San Diego. Đồng thời một nhóm lớn các tàu của binh đoàn đặc nhiệm 801 đã đến vùng Vịnh Ba Tư. Nó gồm tàu chỉ huy "La Salle", 1 tàu tuần dương URO, 1 tàu khu trục, 4 frigate URO và không URO. Ở giai đoạn này, nhóm AUG (AVM "Dwight D. Eisenhower") với 6 tàu hộ tống và bốn tàu phụ trợ di chuyển từ Địa Trung Hải vào Biển Đỏ, và ở đó đến 24 tháng 8. Sau đó, với sự xuất hiện các tàu sân bay khác trong khu vực, nhóm AUG này trở về biển Địa Trung Hải, còn đến ngày 13 tháng 9 nhóm có mặt tại căn cứ hải quân Norfolk.

Ngày 07 tháng 8 từ căn cứ hải quân Mayport nhóm AUG (AVM "Saratoga") xuất phát và từ ngày 23 tháng 8 nó bắt đầu [377] tuần tra chiến đấu ở phía bắc Biển Đỏ. Từ 27 tháng 10 - 2 tháng 12, nhóm ở phía đông Địa Trung Hải, sau đó lại chiếm lĩnh khu vực trách nhiệm tác chiến ở phía bắc Biển Đỏ. Ngày 23 tháng 8 từ Norfolk nhóm AUG (AVM "John Kennedy") xuất phát đến Địa Trung Hải, và từ 31 tháng 8 - 15 tháng 9 và từ 27 tháng 10 - 2 Tháng 12, nhóm ở phía đông Địa Trung Hải, thời gian còn lại - trong phần phía Bắc Biển Đỏ. Từ ngày 12 Tháng 12 năm 1990 đến 14 tháng 1 năm 1991 nhóm AUG (AVM "Ranger") thuộc Hạm đội 3 Hải quân Hoa Kỳ di chuyển từ khu vực San Diego tới Vịnh Ba Tư và ở đó cho đến khi chiến sự kết thúc, cuối tháng 12 từ Norfolk tàu sân bay"America" xuất phát đi tới bắc Biển Đỏ, còn trong Vịnh Aden - AVM "Theodore Roosevelt". Cả hai tàu sân bay đến được khu vực làm nhiệm vụ quân sự chỉ vào ngày 16 Tháng 1 năm 1991. Cần phải nhấn mạnh rằng chiến sự bắt đầu khi chưa có sự triển khai đầy đủ các lực lượng tấn công trong các khu vực trách nhiệm tác chiến của họ. Ví dụ, tàu sân bay "Theodore Roosevelt" vào lúc đó còn đang di chuyển từ Vịnh Aden sang Vịnh Ba Tư, và việc sử dụng các máy bay đóng căn cứ trên tàu sân bay này chỉ bắt đầu ngày 20 tháng 1 năm 1991. Đáng chú ý là việc tái phối trí từ Biển Đỏ ban đầu nhằm đến Vịnh Aden, rồi sau đó vào Vịnh Ba Tư của tàu sân bay này được thực hiện ở tốc độ 32 hải lý.

Tốc độ gia tăng LLHQ các nước Đồng Minh trong khu vực xung đột
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/b1-c11_zpscfa11473.png) (http://s1185.photobucket.com/user/qtdc2/media/b1-c11_zpscfa11473.png.html)

LLHQ Đồng Minh lúc mở màn chiến sự
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/b2-c11_zps62bd5db6.png) (http://s1185.photobucket.com/user/qtdc2/media/b2-c11_zps62bd5db6.png.html)

Trong giai đoạn triển khai các lực lượng hạm đội, không quân trênn tàu sân bay đã tích cực huấn luyện chiến đấu để làm chủ không gian chiến trường, cũng như kiểm soát không trung nhằm mục đích không cho phép xảy ra các đòn tấn công từ phía không quân Iraq. Như các chuyên gia Mỹ nhận xét, ngay từ đầu chiến dịch «Desert Shield» và trước 26 tháng 9, dù cường độ bay cao, không ghi nhận sự cố chuyến bay nào nghiêm trọng, dù trong ngày này có một trực thăng «Sea King» (từ tàu sân bay đa chức năng АVМ «J.Кеnnedy») rơi xuống biển, trên trực thăng đó một động cơ không hoạt động. Vào tháng 8 năm 1990, sau khi tàu sân bay đa chức năng «J.Кеnnedy» đã vào Biển Đỏ, một nhóm 6 phi công trải qua một cuộc huấn luyện ngắn ngày về sử dụng tên lửa mới nhất kiểu SLAM. Trước khi ứng dụng vào tác chiến các tên lửa này người ta đã thực hiện 10 lần phóng thử-tập huấn vào các mục tiêu được trang bị đặc biệt. [379]

Trong quá trình chuẩn bị cho lực lượng đa quốc gia của Liên minh chống Iraq bước vào các hoạt động tác chiến khả thi, tháng 10 năm 1990, tại  phần phía đông Địa Trung Hải, trên nền phát triển thực tế các sự kiện tại khu vực vịnh Ba Tư đã tiến hành một cuộc tập trận lớn của các LLVT thống nhất «Display Determination» với sự huy động các đơn vị hợp thành và cơ sở thuộc quân chủng Lục quân, Không quân, Hải quân Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Italia, Thổ nhĩ kỳ, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Pháp. LLHQ Thống nhất gồm có gần 110 tàu chiến và tàu hỗ trợ, còn KQ — có 190 máy bay chiến thuật, máy bay tuần biển và không quân đóng căn cứ trên tàu sân bay. Ngoài ra, trên thao trường, mô phỏng diện tích và cấu hình Kuwait, người ta thực hành thao luyện các phương pháp sử dụng không quân quy mô lớn. Trong quá trình các cuộc tập trận «Red Flag» và «Desert Flag» đã thực hiện 22 ngàn phi vụ, ném và phóng hàng trăm tấn bom và tên lửa. Đồng thời với việc triển khai lực lượng xung kích tàu sân bay trong khu vực vịnh Ba Tư đã có mặt các nhóm tàu tấn công tên lửa, nòng cốt của chúng là các tàu chiến cỡ lớn kiểu tuần dương hạm hạng nặng «Wisconsin» và «Мissouri» (cơ số đạn mỗi tàu gồm 32 tên lửa «Tomahawk» và 16 tên lửa «Harpoon») và các lực lượng đổ bộ. Ngày 9 tháng 8 từ điểm căn cứ tiền duyên Diego-Garcia [380] có 10 tàu vận tải đã xuất phát đi tới khu vực xung đột — đây là các tàu kho nổi chở vũ khí và trang bị quân sự. Biên đội thuộc lực lượng đảm bảo triển khai nhanh này có mặt trong vịnh Ba Tư ngày 17 tháng 8 và ở khu vực trên đến khi chiến sự kết thúc.

Ngày 01 tháng 9 năm 1990 tàu chỉ huy "Blue Ridge" đến vùng Vịnh Ba Tư, trên tàu người ta triển khai SCH kỳ hạm của các LLHQ Thống nhất. Việc lãnh đạo cụm lực lượng đa quốc gia Liên minh chống Iraq do Tư lệnh Bộ chỉ huy Liên quân tướng N.Schwarzkopf thực hiện, chỉ huy LL Không quân của Liên quân - Tướng Ch.Horner, chỉ huy LL Lục quân - Tướng G.Lan và LL Hải quân - Phó Đô đốc H.Mauz (Tư lệnh Hạm đội 7 Mỹ).

Như vậy, kết quả của chiến dịch "Desert Shield", một chiến dịch được lập kế hoạch cẩn thận và tổ chức thực hiện tốt của Liên minh các quốc gia chống Iraq dẫn đầu là Hoa Kỳ, là đã có thể nhanh chóng xây dựng được một cụm các các lực lượng vũ trang hùng mạnh đủ loại quân binh chủng, và chuẩn bị cho nó tiến hành hoạt động quân sự quy mô lớn. Lực lượng đa quốc gia đại diện trực tiếp hoặc gián tiếp cho 34 quốc gia và bao gồm hơn 700 nghìn người, hơn 4 ngàn xe tăng, hơn 3.700 dã pháo và súng cối, gần 2 ngàn máy bay, 200 tàu chiến và tàu phụ trợ. Đáng chú ý là lần đầu tiên kể từ sau năm 1945, đồng thời tham gia các hoạt động chiến đấu là 50% số tàu sân bay Mỹ ( 6 trong số 12 tàu sân bay hiện dịch trong Hải quân Hoa Kỳ). Khoảng 80 % các LL và phương tiện này thuộc về Mỹ. Ngoài quân đội Mỹ, đáng kể nhất là các cụm Lục quân Vương quốc Anh, Pháp, Ai Cập và Syria.
........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 02 Tháng Chín, 2013, 02:03:49 PM
(tiếp)

Cụm hải quân của 14 quốc gia Liên minh chống Iraq gồm hơn 170 ngàn người (hơn 30% quân số các lực lượng đa quốc gia ), 145 tàu chiến và hơn 50 tàu phụ trợ [ 381 ], gồm 92 tàu Hải quân Mỹ, trong đó có 6 tàu sân bay đa mục đích, 2 thiết giáp hạm, 5 tàu đổ bộ chở trực thăng, hai tàu đổ bộ đa năng, 8 tàu ngầm hạt nhân đa chức năng, 24 tàu đổ bộ, v.v. Trong thành phần của nó có hơn 20 tàu mang tên lửa hành trình "Tomahawk" (khoảng 500 quả đạn tên lửa).

Tính đến khả năng cao trong việc Iraq sử dụng thủy lôi ở Vịnh Ba Tư, Mỹ và các đồng minh ngay từ đầu chiến sự đã triển khai trong khu vực 16 tàu quét mìn, trong đó tàu của Hải quân Hoa Kỳ - 7, Vương quốc Anh - 5 , Bỉ - 2 , Đức - 5. Tuy nhiên, mặc dù có một lực lượng quét mìn hùng mạnh như vậy, tàu chở máy bay trực thăng "Tripoli" và tàu tuần dương "Princeton" vẫn vấp mìn.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/8/8d/USS_Princeton_%28CG-59%29_hull_crack.jpg/404px-USS_Princeton_%28CG-59%29_hull_crack.jpg)
Hậu quả vụ vấp mìn MN-103 do Ý chế tạo ngày 18 tháng 2 năm 1991 của USS Princeton CG-59, tuần dương hạm mang tên lửa có điều khiển lớp Ticonderoga. (http://en.wikipedia.org/wiki/USS_Princeton_(CG-59))

Cụm không quân hải quân của lực lượng đa quốc gia bao gồm sáu không đoàn máy bay (470 chiếc), 260 máy bay không quân Thủy quân lục chiến, 20 máy bay tuần biển, tất cả hơn 700 chiếc, chiếm hơn 30 % tổng số lực lượng không quân của Liên minh.

Lính Thủy Quân Lục Chiến (cơ sở của nó là các sư đoàn TQLC viễn chinh Hoa Kỳ số 1 và 3) có tổng quân số 90.000 người, trang bị khoảng 220 máy bay cường kích và cường kích-tiêm kích, 290 trực thăng, khoảng 270 xe tăng, hơn 530 pháo và súng cối, 800 bệ phóng tên lửa chống tăng có điều khiển và gần 280 bệ phóng TLPK. Trên 50 % quân số Thủy quân lục chiến được chuyển đến Saudi Arabia bằng đường hàng không sử dụng không dưới 150 chuyến bay vận tải quân sự. Về tổ chức lực lượng thủy quân lục chiến được tập hợp trong 5 lữ đoàn viễn chinh.

Khả năng tác động quân sự của Iraq vào đội hình tác chiến cụm Hải quân Thống nhất dự kiến diễn ra từ ba hướng - [ 382 ] từ Vịnh Ba Tư, phía bắc Biển Đỏ và phía đông Địa Trung Hải. Các lực lượng tấn công chính của hạm đội thống nhất hoạt động trong vùng Vịnh Ba Tư. Cơ sở của cụm này là đơn vị tàu sân bay xung kích ("Zulu"), 2 nhóm tấn công tên lửa và các lực lượng đổ bộ.

Cụm các lực lượng vũ trang Iraq bao gồm hơn 700 ngàn người (42 sư đoàn bộ binh), trang bị khoảng 5.000 xe tăng, hơn 8.000 dã pháo và súng cối, 700 máy bay chiến đấu và 60 tàu chiến và thuyền chiến, gồm cả các tàu tịch thu của Kuwait. Hải quân Iraq gồm frigate "Ibn Haldoum", 7 tàu cao tốc mang tên lửa "Osa-1" và "Osa - 2", 3 tàu tuần tra cao tốc kiểu SO- 1, 6 tàu cao tốc phóng ngư lôi kiểu R-6, 4 tàu tuần tra kiểu "Polukhat - 1" và bốn tàu tuần tra kiểu "Zhuk", 5 tàu quét mìn, 3 tàu đổ bộ kiểu "Polnotchnyi - 1", 1 frigete huấn luyện, 1 tàu chở dầu, v.v. { 35 } Số lượng quân, nhân viên Hải quân - khoảng 5 nghìn người. Căn cứ chủ yếu Basra, Umm Qasr và Kuwait.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/6/6e/USS-Tripoli-mined.jpg/800px-USS-Tripoli-mined.jpg)
USS Tripoli LPH-10 trên dok tại Bahrain sau khi vấp thủy lôi của Iraq ngày 18 tháng 2 năm 1991. Mất 30 ngày và 5 triệu US$, USS Tripoli trở về tiếp tục thi hành nhiệm vụ. (http://en.wikipedia.org/wiki/USS_Tripoli_(LPH-10))

Ban lãnh đạo quân sự-chính trị Iraq, sử dụng kinh nghiệm cuộc chiến tranh tám năm với Iran, trong phạm vi khả năng của mình đã chuẩn bị đẩy lùi cuộc tấn công. Các hoạt động ngụy trang trên quy mô lớn đã được tổ chức, bao gồm cả việc sử dụng các mục tiêu giả chuẩn bị trước và mạng liên lạc vô tuyến, các sân bay dự bị, các trận địa hỏa lực và trận địa bệ phóng. Công tác công binh trên không gian chiến trường được tổ chức một cách thích hợp bằng cách chuẩn bị một mạng lưới bom mìn và vật liệu nổ ở quy mô rộng rãi, chướng ngại [ 383 ] dây thép gai, hào chống tăng và chống BB đổ đầy dầu, các chướng ngại vật nhân tạo khác nhau; xây dựng các chiến hào cho xe tăng và các công trình trú ẩn khác.

Nhìn chung, xét khả năng chiến đấu, và trên hết là chất lượng của vũ khí và đạn dược, lợi thế nằm về phía Mỹ và các đồng minh của họ.

Nếu tỷ lệ về lục quân là gần xấp xỉ nhau, thì về xe tăng kiểu mới quân Đồng Minh có ưu thế gấp bốn lần, còn không quân - gần gấp ba lần, hải quân - ưu thế tuyệt đối (dù tính số lượng, tàu của quân Đồng Minh đã vượt Iraq 4,4 lần). Chỉ trong lĩnh vực pháo binh thì quân đội Iraq mới có lợi thế gấp đôi.


CHIẾN DỊCH "BÃO TÁP SA MẠC"

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s79.gif)
Tổ chức chỉ huy và thông tin-liên lạc trong chiến dịch "Bão táp Sa mạc"

Những nỗ lực tích cực của cộng đồng quốc tế, hướng đến giải quyết hòa bình cuộc khủng hoảng gây ra bởi sự chiếm đóng Kuwait của Iraq, đã kết thúc không đạt kết quả. Ngày 17 tháng 1 năm 1991, theo quyết định của Hội đồng Bảo an LHQ, lực lượng đa quốc gia của Liên minh chống Iraq bắt đầu các hoạt động quân sự dưới tên mã "Bão táp sa mạc".

Các mục tiêu chính trị của chiến dịch này là giải phóng Kuwait và lập lại chính phủ hợp pháp, khôi phục sự ổn định trong khu vực vùng Vịnh Ba Tư, khẳng định các nguyên tắc của "Trật tự thế giới mới", cũng như thay đổi ban lãnh đạo Iraq và chính sách của nó. { 36 } Các mục tiêu quân sự của chiến dịch nhằm tiêu diệt tiềm năng quân sự của Iraq, mà [ 384 ] sức mạnh quân sự của nó đe dọa Israel và một số nước Trung Đông; làm cho Iraq mất khả năng sản xuất vũ khí hạt nhân, vũ khí hóa học và sinh học.

Trong "Chiến dịch Bão táp sa mạc", bắt đầu vào ngày 17 tháng 1, người ta dự kiến sử dụng vào chiến đấu lực lượng quân sự đa quốc gia trong các khuôn khổ "chiến trận trên không - trên đất liền - và trên biển", trong đó bao gồm việc tiến hành chiến dịch tấn công đường không, chiến dịch tấn công không-địa (kết hợp) và chiến dịch đổ bộ đường biển. Trong ý đồ của cuộc chiến này dự định: ở giai đoạn đầu tiên - chỉ tổ chức chiến dịch tấn công đường không trên quy mô lớn bằng tên lửa hành trình và máy bay vào các mục tiêu quân sự và công nghiệp tại Iraq và Kuwait; ở giai đoạn thứ hai - giải phóng Kuwait bằng lực lượng của quân chủng lục quân và thủy quân lục chiến với sự hỗ trợ trực tiếp của máy bay và tàu chiến, có nghĩa là thực hiện chiến dịch tân công không-địa kết hợp và đổ bộ đường biển; ở giai đoạn thứ ba - hoàn thành việc đập tan lực lượng mặt đất của Iraq trên lãnh thổ của nó, nếu sau khi giải phóng Kuwait, Iraq không chịu đầu hàng. Người ta đã Đỏ và Vịnh Ba Tư. Theo kế hoạch, thời gian tực hiện chiến dịch "Bão táp sa mạc" phải từ vài tuần cho đến 3 - 6 tháng.

Như đã nêu, người ta dự kiến khả năng tác động quân sự từ phía Iraq vào đội hình hoạt động của lực lượng hải quân đa quốc gia sẽ đến từ ba hướng - từ Vịnh Ba Tư, phía bắc Biển Đỏ và phía đông Địa Trung Hải. Hoạt động trong vùng Vịnh Ba Tư có hơn một nửa toàn bộ lực lượng hải quân Đồng Minh, trong đó ban đầu có 3, sau đó là 4 nhóm xung kích tàu sân bay (đon vị xung kích tàu sân bay "Zulu"), [ 386 ] hai nhóm tấn công tên lửa, tất cả các tàu đổ bộ và tàu vận tải của binh đoàn tác chiến thủy bộ. Tại Biển Đỏ ban đầu có 3, sau đó là 2 nhóm AUG (đơn vị xung kích tàu sân bay "Yankee") và 2 tàu ngầm hạt nhân đa chức năng; có 6 tàu ngầm hạt nhân đa chức năng cơ động trong vùng biển Ả Rập và Địa Trung Hải.

Trong "Chiến dịch Bão táp sa mạc" lực lượng hải quân đa quốc gia giải quyết nhiệm vụ chiếm và duy trì ưu thế tuyệt đối trong vùng Vịnh Ba Tư bằng cách tiêu diệt các lực lượng hải quân đối phương trên biển và trong các căn cứ; tham gia chiếm và duy trì ưu thế trên không bằng cách giáng các đòn không kích bằng máy bay và tên lửa xuống các sân bay Iraq và tiêu diệt máy bay của nước này trong không trung; tham gia chiến dịch tấn công đường không bằng cách không kích bằng máy bay và tên lửa xuống các mục tiêu quân sự và công nghiệp ở Iraq, vào các công trình cầu, phà, nhà kho và các lực lượng mặt đất; tham gia chiến dịch hiệp đồng tấn công không-địa bằng cách yểm trợ hỏa lực cho Lục quân và Thủy quân lục chiến; tiến hành hoạt động rải mìn - quét mìn nhằm loại bỏ mối đe dọa về mìn trong vùng Vịnh Ba Tư và đảm bảo an toàn hàng hải. Ngoài ra, máy bay trên tàu sân bay của Hải quân Mỹ giải quyết nhiệm vụ phòng không và chống ngầm cho lực lượng tàu chiến và đảm bảo tính ổn định tác chiến cho máy bay ném bom chiến lược B-52 trong không trung. Các máy bay cảnh giới radar và kiểm soát tầm xa E-2C "Hawkeye" đóng trên tàu sân bay cùng với các máy bay AWACS E-3C thực hiện làm rõ tình hình trên không và trên mặt nước trong vùng Vịnh Ba Tư và chỉ huy tất cả các loại máy bay trong khu vực trách nhiệm của chúng. Điểm mấu chốt của các hành động quân sự là trông cậy vào việc các nước đồng minh sử dụng trên quy mô lớn sức mạnh trên không của họ, điều đó dẫn đến giảm thiểu tối đa thiệt hại trên mặt đất. [ 387 ]

Trong giai đoạn đầu tiên của chiến dịch "Bão táp sa mạc" dự kiến thực hiện các biện pháp chế áp điện tử và áp dụng đòn tấn công phối hợp với sự trợ giúp của cả không quân chiến lược, không quân chiến thuật, không quân trên tàu sân bay và tên lửa hành trình "Tomahawk" vào các phương tiện trong hệ thống phòng không của Iraq, các sân bay, căn cứ không quân, các trận địa bệ phóng tên lửa chiến dịch-chiến thuật loại "đất - đối - đất", các trung tâm đầu não chỉ huy quốc gia và quân sự quan trọng nhất, các đầu mối thông tin liên lạc lớn, các trung tâm hạt nhân và hóa học. Tiếp theo dự định sẽ áp dụng các đòn tấn công xuống các nhà máy sản xuất vũ khí và trang thiết bị quân sự, các cụm quân chủ yếu của lực lượng vũ trang Iraq, đặc biệt là các binh đoàn xe tăng và cơ giới hóa triển khai dọc theo biên giới Ả-rập Xê - Kuwait và trong khu vực thành phố Basra. Mối quan tâm đặc biệt trong tất cả các giai đoạn chiến dịch là tìm kiếm và phá hủy các bệ phóng tên lửa chiến dịch-chiến thuật "Scud".

Ngày 16 tháng 1 lúc 2:30 bộ chỉ huy lực lượng đa quốc gia tổ chức trực liên tục tại SCH trên không, đặt trên 1 máy bay cảnh giới radar và chỉ huy tầm xa AWACS E-3C. Các máy bay E-2C "Hawkeye" cất cánh lên không trung để kiểm soát không phận vùng Vịnh và dọc theo biên giới Iraq. Bắt đầu gây nhiễu vô tuyến điện tử trong các kênh liên lạc của cơ quan tác chiến-chiến lược chỉ huy các lực lượng vũ trang Iraq, thiết lập hoạt động trinh sát đường không suốt ngày đêm, các máy bay không quân chiến thuật chuyển căn cứ tới một căn cứ không quân ở phía bắc Ả Rập Saudi. Trong khoảng thời gian 5:30-06:30 tất cả quân đội và các lực lượng hải quân được chuyển trạng thái sãn sàng chiến đấu hoàn toàn.

Lúc 8:00 lực lượng và phương tiện khu vực phía đông hệ thống PK Thổ Nhĩ Kỳ được chuyển sang mức độ sẵn sàng chiến đấu cao nhất "Delta". Tư lệnh lực lượng đa quốc gia, tướng Schwarzkopf ra mệnh lệnh liên tục lắng nghe [ 388 ] mạng radio UKV của các lữ đoàn tên lửa thuộc lực lượng vũ trang Iraq. Bộ chỉ huy các lực lượng NATO ở châu Âu và trên không gian chiến trường Nam Âu ra mệnh lệnh cho tất cả các cơ quan chỉ huy lúc 14:00 ngày 16 tháng 1 sẵn sàng chờ lệnh chiến đấu.

Lúc 10:00 Bộ Quốc phòng Pháp, tính đến khả năng sử dụng vũ khí hóa học của Iraq, đã ra lệnh dừng việc truyền dữ liệu khí tượng trên khu vực Vịnh Ba Tư.

Lúc 11:00 các thủy thủ Iraq dẫn vào cảng El-Kuwait 5 tàu chở dầu nhằm làm nổ tung chúng trong trường hợp đối phương đổ bộ.

Từ 11:30 các chi đội trinh sát radio và trinh sát VTĐT di động của các lực lượng đa quốc gia bắt đầu tiến vào khu vực biên giới với Cô-oét. Đồng thời có sự gia tăng các nhóm biệt kích-trinh sát thâm nhập vào Iraq và Kuwait.

Lúc 16:00 Iraq đóng cửa biên giới với Thổ Nhĩ Kỳ, bắt đầu rải mìn những con đường mà đối phương có thể di chuyển trên lãnh thổ của mình. Đại sứ Iraq tại Mỹ rời Washington. Đồng thời, các nhà ngoại giao của Mỹ và các nước khác nằm trong lực lượng đa quốc gia cũng đã rời Baghdad.
Lúc 17:30 tại căn cứ không quân Diego Garcia bắt đầu chuẩn bị cho 16 máy bay ném bom chiến lược B-52 cất cánh nhằm mục tiêu tấn công Iraq.

Lúc 19:30 quyết định tiến hành chiến dịch "Bão táp sa mạc". Các phương tiện tác chiến điện tử bắt đầu được sử dụng ồ ạt. Một máy bay trên đó đặt SCH các máy bay ném bom chiến lược B-52 cất cánh lên không trung.

Lúc 20:30, 16 máy bay ném bom chiến lược B-52 cất cánh từ căn cứ không quân Diego Garcia nhằm hướng Ả Rập Saudi.

Lúc 21:00 tùy viên quân sự Đại sứ quán Liên Xô tại Damascus được tùy viên quân sự Mỹ thông báo về sự mở màn chiến sự hồi 5:00 ngày 17 tháng 1. [ 389 ]

Từ 13:30 ngày 16 tháng 1 đến 0:30 ngày 17 tháng 1, Bộ chỉ huy tối cao các lực lượng Không quân, Hải quân và Lục quân được giao các nhiệm vụ chiến đấu.

(http://www.nycaviation.com/newspage/wp-content/uploads/2012/03/b52-carrier-flyby-630-620x413.jpg)
B-52 (?) trong vịnh Ba Tư gần tàu sân bay USS "Ranger" năm 1990 (http://)
..........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 04 Tháng Chín, 2013, 12:15:17 AM
(tiếp)

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/1/1a/USS_Louisville_%28SSN-724%29.jpg)
USS "Louisville" SSN-724 (Los Angeles-class submarine), tàu ngầm nguyên tử đầu tiên nổ súng trong chiến dịch "Desert Storm", phóng tên lửa hành trình "Tomahawk" vào mục tiêu của Iraq. (http://en.wikipedia.org/wiki/USS_Louisville_(SSN-724))

Chiến sự bắt đầu vào 2 giờ 30 phút ngày 17 tháng 1 với một đòn tấn công bất ngờ bằng tên lửa và không quân của lực lượng đa quốc gia xuống các mục tiêu quân sự và công nghiệp Iraq. Đợt tấn công bằng không quân và tên lửa đầu tiên kéo dài từ 2:30-05:00. Tham gia đợt không kích có 600 máy bay, trong đó có 12 máy bay ném bom chiến lược B-52. Tên lửa "Tomahawk" phóng đi từ các tàu mặt nước và tàu ngầm đang triển khai trong vịnh Ba Tư, Biển Đỏ và phần phía đông biển Địa Trung Hải. Các cuộc không kích giáng xuống các đối tượng trong hệ thống phòng không, các vị trí đầu não của nhà nước và các SCH quân sự quan trọng nhất, các khu vực tập trung quân đội Iraq, các trung tâm thông tin liên lạc, máy bay đậu trên các sân bay, các vị trí bệ phóng tên lửa "đất-đối-đất", các trung tâm hạt nhân và hóa học. Từ 6:00-9:00 cơ quan trinh sát xác định kết quả của cuộc tấn công đầu tiên.

Từ 10:45-12:45, 400 máy bay của lực lượng đa quốc gia thực hiện cuộc tấn công thứ hai xuống các cơ sở cung cấp năng lượng, sản xuất và tồn trữ các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt. Từ 15:00 tàu quét-rải mìn bắt đầu hoạt động tìm kiếm-quét mìn trong khu vực phía tây vùng Vịnh Ba Tư. Các thiết giáp hạm "Wisconsin" và "Missouri" dùng pháo hạm bắn phá cụm quân đội Iraq đóng tại khu vực Kuwait.

Trong khoảng 19:00-21:40, 300 máy bay gồm cả 8 máy bay ném bom chiến lược giáng đòn tấn công thứ ba xuống các cơ sở thuộc tiềm năng quân sự và kinh tế của Iraq.

Từ 22:46 ngày 17 tháng 1 đến 0:46 ngày 18 tháng 1, từ các khu vực vịnh Oman và vịnh Ba Tư, Biển Đỏ và Địa Trung Hải đã có 80 tên lửa hành trình "Tomahawk" được bắn vào các mục tiêu tại Iraq. Trong khoảng 0:00-2:00, 400 máy bay gồm cả 7 máy bay ném bom chiến lược B-52 đã tấn công vào các mục tiêu được chỉ định. Từ 0:36 [ 390 ] đến 02:36 diễn ra một đợt tấn công nữa của 80 tên lửa "Tomahawk". Tổng cộng trong 4 đợt tấn công đã sử dụng 160 tên lửa "Tomahawk" và 400 máy bay. Các đối tượng bị tấn công là các kho đạn dược, nhiên liệu, dầu nhờn, vật tư hậu cần. Một số tên lửa bắn vào thủ đô Baghdad và thành phố Basra. Từ 6:00-10:30 cơ quan trinh sát xác định kết quả của cuộc tấn công bằng máy bay-tên lửa thứ tư.

Lúc 11:30 từ căn cứ không quân Diego Garcia 14 máy bay ném bom chiến lược B-52 cất cánh tham gia vào các cuộc không kích thứ năm. Hơn 700 máy bay thực hiện tấn công theo 4 đợt : 15:30 - 16:00, 17:30-18:00, 19:30-20:00, 22:00-22:30. Hứng chịu các đọt tấn công là những mục tiêu ần trước chưa bị đánh trúng hoặc các đối tượng đã khôi phục lại của hệ thống phòng không và chỉ huy, các đầu mối giao thông liên lạc, các tổ hợp lọc dầu, các trung tâm phát thanh và truyền hình Iraq.

Trong khoảng 2:15 -3:15 ngày 19 tháng 1, từ các tàu mặt nước triển khai trong Vịnh Ba Tư và Biển Đỏ, từ các tàu ngầm đang tuần tra ở Biển Đỏ và khu vực phía đông biển Địa Trung Hải và Vịnh Oman, đã có 50 tên lửa hành trình "Tomahawk" được phóng đi vào các mục tiêu bao gồm cả các mục tiêu trong khu vực Walia và Mosul. Trong khoảng 2:30-4:30, 400 máy bay tấn công vào cụm quân đội Iraq tại Kuwait và dọc theo biên giới Ảrab Saudi - Iraq. Trong khoảng 7:30-00:00 cơ quan trinh sát xác định kết quả đòn tấn công không quân-tên lửa thứ sáu.

Trong khoảng 14:30-18:00, 500 máy bay giáng đòn tấn công thứ bảy vào cụm quân đội Iraq tại Kuwait và các đường giao thông nhằm cô lập khu vực chiến sự.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s80.gif)
Sử dụng tên lửa hành trình "Tomahawk" trong chiến dịch "Bão táp sa mạc".

Tổng số từ ngày 17- 19 tháng 1, lực lượng đa quốc gia đã tiến hành 7 cuộc tấn công đồng thời bằng không quân-tên lửa quy mô lớn, trong đó có ba đợt vào ban đêm. Cuộc tấn công đầu tiên kéo dài 2 giờ 30 phút. Sau 4-5 giờ tiếp đến cuộc tấn công thứ hai, kéo dài khoảng 2 giờ. Cần lưu ý rằng trong mỗi đợt tấn công máy bay hoạt động theo hai thê đội. [ 391 ] Mỗi cuộc tấn công có sự tham gia của từ 300 đến 700 máy bay. Cuộc tấn công thứ ba diễn ra sau 6 giờ và kéo dài từ 19:00-21:40. Trong thành phần các thê đội tấn công có các máy bay ném bom chiến lược B-52, các máy bay tiêm kích mới nhất F-117A, F - 15 "Eagle", F -16 "Fighting Falcon", F -111, máy bay cường kích A- 6E "Intruder", máy bay tiêm kích-cường kích F/A18A "Hornet", tiêm kích chiến thuật "Jaguar" và "Tornado". Các cuộc tấn công không quân quy mô lớn được thực hiện theo các đợt máy bay kế tiếp nhau tiến vào từ các hướng khác nhau, theo quy luật, thường từ các độ cao lớn, không đi vào phạm vi tác động của khí tài phòng không mặt đất Iraq. Các máy bay chiến tranh điện tử EF- 111, EA-6B "Prowler" và F- 4C được sử dụng để chọc thủng hệ thống phòng không và làm sai lạc thông tin cho hệ thống chỉ huy và thông tin liên lạc. Trong 6-7 giờ trước khi tấn công, có tới 200 chiếc máy bay như vậy gây nhiễu chế áp hệ thống cảnh báo sớm, chế áp radar dẫn đường cho máy bay tiêm kích và mạng liên lạc vô tuyến chỉ huy.

Chỉ riêng máy bay trên tàu sân bay khi tham gia 7 cuộc tấn công đầu tiên, đã thực hiện 1.200 phi vụ, trong đó ít nhất một nửa là các phi vụ tấn công. Tổng số trong quá trình chiến dich tấn công đường không, không quân hải quân thực hiện khoảng 29.000 lần xuất kích, chiếm khoảng 26% toàn bộ số phi vụ của LLKQ Đồng Minh. Máy bay trên tàu sân bay thực hiện 12.000 phi vụ, chiếm 17% số phi vụ chiến đấu của các loại máy bay. Máy bay trên tàu sân bay trung bình thực hiện 80-300 phi vụ mỗi ngày đêm.

Đặc biệt hiệu quả là các cuộc tấn công bằng tên lửa hành trình "Tomahawk" phóng từ căn cứ trên biển. Trong cuộc tấn công đầu tiên được thực hiện làm 2 đợt, 114 tên lửa đã được bắn đi. Các đòn tấn công được tung ra từ Địa Trung Hải, Biển Đỏ và Vịnh Ba Tư. Cự ly phóng tên lửa từ Địa Trung Hải lên tới 1100-1400 km, thời gian bay - 1 giờ 20 phút-1 giờ 45 phút; một cách tương ứng: tên lửa phóng từ Biển Đỏ - 900-1.300 km và 1 giờ 15 phút-1 giờ 40 phút, từ Vịnh Ba Tư - 550-1.300 km và [ 392 ] 40 phút-1 giờ 10 phút. Khoảng cách giữa các tàu mang tên lửa khi phóng là từ 10 - 25 dặm, còn giữa các nhóm chiến thuật - 60-150 dặm. Các tàu mang tên lửa tiến gần đường bờ biển khoảng từ 20 - 50 dặm. Các tàu ngầm phóng tên lửa từ tư thế bơi ngầm. Chúng cơ động ở độ sâu khoảng 50 mét với tốc độ gần 5 hải lý.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/e/ee/Missouri_missile_BGM-109_Tomahawk.JPG)
"Tomahawk" phóng đi từ USS "Missouri" khi mở màn "Bão táp sa mạc", đây là cuộc chiến cuối cùng mà các thiết giáp hạm còn được sử dụng triển khai tác chiến. (http://en.wikipedia.org/wiki/Gulf_War)

Đòn tấn công kết hợp tiếp sau (nghĩa là tấn công kết hợp không quân-tên lửa) được các lực lượng đa quốc gia tung ra vào đêm ngày 18 sang ngày 19 tháng 1 (80 đạn tên lửa trong một loạt bắn), còn buổi sáng ngày 19 là loạt bắn 50 đạn tên lửa. Tổng cộng trong bảy đợt tấn công, người Mỹ sử dụng gần 280 tên lửa "Tomahawk", trong đó có hơn 40 đạn phóng đi từ tàu ngầm. Báo chí nước ngoài ghi nhận chỉ riêng thiết giáp hạm "Wisconsin" đã phóng 19 tên lửa, tức 60% cơ số đạn tên lửa của nó. Phía Iraq tuyên bố phương tiện PK và chống tên lửa của họ bắn hạ được 29 tên lửa "Tomahawk". Người Mỹ cho rằng con số này là quá cao, nếu hệ thống PK Iraq bắn hạ thành công những tên lửa đó, thì số lượng không quá 2 - 3 tên lửa.

Kết quả các đòn tấn công pháo binh-tên lửa vào ngày đầu tiên của cuộc chiến trên một mức độ nhất định đã thành công trong việc làm "mù" (phá vỡ sự làm việc của 95% đài radar), làm "điếc" một phần (chế áp nhiều đầu mối thông tin liên lạc) và "chặt đầu" đối phương, có nghĩa là phá hỏng sự kiểm soát đất nước và chỉ huy lực lượng vũ trang của Iraq. Máy bay của họ bị phong tỏa ngay trên mặt đất, SAM bị vô hiệu hóa, một phần bệ phóng tên lửa "Scud" bị tiêu diệt và nguồn cung cấp điện bị phá hủy.

Vào ngày thứ hai của chiến tranh, đã giành được ưu thế trên không, các cuộc ném bom bằng máy bay ném bom chiến lược vẫn tiếp tục và bắt đầu nhiệm vụ cô lập khu vực chiến sự.

Ưu thế giành được trên không cũng như việc tổ chức tốt các hoạt động đảm bảo đã làm giảm tổn thất trong chiến đấu của máy bay trên tàu sân bay. Tổng thể con số đó là 0,4 chiếc cho mỗi 1.000 phi vụ. Chỉ số tương tự cho Không quân Hoa Kỳ là 0.22, với KQ lực lượng đa quốc gia - 0,4, và không quân TQLC [ 393 ] là - 0,81. Mức độ tổn thất cao hơn của KQ TQLC là do nó hoạt động trong khu vực có hệ thống PK mạnh hơn (khi giải quyết nhiệm vụ trực tiếp yểm hộ đường không). Xét về con số tuyệt đối, hạm đội bị mất 15 máy bay (trong đó có 6 máy bay trên tàu sân bay - tổn thất trong chiến đấu và 3 - tổn thất phi chiến đấu). Tổng số lực lượng không quân đa quốc gia bị mất 44 máy bay và 9 trực thăng. { 37 }
..........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 05 Tháng Chín, 2013, 12:31:54 AM
(tiếp)

(http://old.vko.ru/jpg/2005/24/17_16_01.jpg)
Kế hoạch chiến dịch tấn công đường không trong "Bão táp sa mạc"

Kết quả các đòn tấn công tên lửa-không quân của lực lượng đa quốc gia trong giai đoạn đầu tiên chiến dịch tấn công đường không là đã thành công trong việc phá vỡ hệ thống chỉ huy không chỉ các lực lượng vũ trang Iraq mà còn của cả đất nước này nói chung. Ngày 20 tháng 1 bắt đầu giai đoạn thứ hai của chiến dịch. Trong 3 ngày liên tục không quân thực hiện đến 2000 phi vụ, trong đó không quân trên tàu sân bay hoàn thành tới 900 phi vụ một ngày đêm. Ngày 23 và 24 cường độ các cuộc tấn công có giảm nhẹ. Những ngày đó máy bay tiến hành từ 150-200 phi vụ. Đồng thời xác định kết quả các cuộc tấn công trước và lên kế hoạch các mục tiêu mới. Từ ngày 25 tháng 1, không quân lại tung ra các đòn tấn công quy mô lớn, bao gồm cả nhiệm vụ cô lập khu vực của chiến dịch tấn công sắp tới.

Trong 2 tuần, không quân Đồng minh đã bay hơn 30.000 phi vụ - (3.500 phi vụ do máy bay trên tàu sân bay). Đồng thời đã sử dụng 260 tên lửa "Tomahawk" phiên bản phóng từ căn cứ trên biển. Kết quả các đợt tấn công làm cho trong số 44 sân bay chính của Iraq có 25 sân bay ( 57%) bị vô hiệu hóa hẳn, các sân bay còn lại - đều bị hư hỏng. Ngay lập tức cường độ xuất kích chiến đấu của không quân Iraq giảm mạnh. Nếu ngày chiến sự đầu tiên KQ Iraq thực hiện 116 phi vụ, những ngày còn lại - chỉ 30-40 phi vụ, còn trong mười ngày đầu tiên của tháng Hai chỉ có một phi vụ duy nhất. Từ 11 tháng 2, lực lượng không quân Iraq hoàn toàn không hoạt động.

Trong hai tuần trên đã có 327 trong 594 hầm trú ẩn bê tông cốt thép cho máy bay bị phá hủy, hơn 100 máy bay bị tiêu diệt cả ở trên không và trên mặt đất. Đã đạt được thành công trong việc [ 394 ] phá hủy 100% cơ sở sản xuất và lưu trữ các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt, tiêu diệt tất cả các bệ phóng cố định tên lửa "Scud", một phần số bệ phóng di động và dự trữ đạn tên lửa, dẫn đến việc giảm số lượng đợt phóng tên lửa từ 35 trong tuần đầu tiên của chiến tranh xuống 4 - ở tuần thứ ba. Iraq nói chung chỉ có thể sử dụng ít hơn 15% số tên lửa "Scud" có sẵn của mình.

Vào giữa tháng Hai sau 30 ngày bị máy bay ném bom chiến lược dội bom, người ta cho rằng các nhà máy lọc dầu của Iraq đã giảm sản kượng từ 50 - 90%, các cơ sở năng lượng điện đã bị đánh hỏng 25%, tiềm năng quân sự giảm 50% , tiêu diệt khoảng 25 % cơ quan chỉ huy lực lượng vũ trang Iraq và phương tiện thông tin liên lạc của họ, còn 50 % - bị đánh hư hại. Tuy nhiên, sự chỉ huy kiểm soát các lực lượng vũ trang chưa bị phá hủy hoàn toàn như các đồng minh vẫn nghĩ.

Mối quan tâm lớn trong tất cả các giai đoạn của chiến dịch "Bão táp sa mạc" của quân đồng minh là công tác trinh sát. Liên tục có 6-7 vệ tinh nhân tạo của Mỹ hoạt động trinh sát. Phục vụ công tác trinh sát hàng ngày không quân thực hiện đến 200 phi vụ (10 - 15 % tổng số các chuyến bay). Nhiệm vụ trọng yếu nhất là truyền chỉ thị mục tiêu các bệ phóng cố định và di động của tên lửa chiến thuật loại "Scud". Khi phát hiện một cuộc phóng tên lửa, thông tin trinh sát vệ tinh về thời gian và địa điểm phóng có độ chính xác lớn được chuyển đến các sở chỉ huy và kiểm soát hệ thống phòng không và không quân trong vòng 5 phút. Trong trường hợp này, các kíp chiến đấu hệ thống SAM "Patriot" có không dưới 1,5 phút để chuẩn bị cho việc đánh chặn tên lửa và một biên đội tiêm kích-ném bom được phái ngay đến khu vực có vụ phóng. Để giải quyết nhiệm vụ này không quân đã thực hành 1.500 phi vụ (vào những ngày riêng biệt đã họ được phân bổ 30 % tổng số các phi vụ xuất kích). Đồng minh chỉ sau 2 tuần đã thành công trong việc tiêu diệt 100% bệ phóng cố định và một số lượng đáng kể các bệ phóng di động.

Để loại trừ việc tăng cượng cho cụm lực lượng Lục quân ở miền nam Iraq và trên [ 395 ] lãnh thổ của Kuwait, đồng minh bắt đầu phá hủy các cây cầu, bến phà, đường giao thông, kho tàng, đặc biệt là các kho nhiên liệu và dầu mỡ bôi trơn. Kết quả của các cuộc không kích đã làm giảm 90% công tác chuyên chở cung cấp vật chất và phá hủy hơn 125 kho nhiên liệu-dầu mỡ. Đồng thời, các đòn tấn công được giáng xuống các cụm quân đội Iraq đã bị cô lập. Để giải quyết nhiệm vụ trên, trong tháng 1 đã giành ra 12 - 14 %, đầu tháng hai - lên đến 25 %, và vào giữa tháng hai - 30-40 % tổng số các phi vụ xuất kích của không quân. Kết quả của những đòn tấn công trên, tính đến lúc khởi đầu chiến dịch tấn công không-địa là trong khu vực tiến hành chiến dịch, đồng minh đã tiêu diệt khoảng 40% xe tăng, hơn 30 % số xe bọc thép chuyển quân và xe chiến đấu bộ binh và đến 50% pháo binh của Iraq.

Lực lượng xung kích tàu sân bay của Hải quân Mỹ hoạt động trong thành phần hai đơn vị đặc nhiệm (154 và 155), gồm 2 - 4 nhóm tàu sân bay xung kích. Hoạt động trong vùng vịnh Ba Tư là các tàu sân bay đa nhiệm "Theodore Roosevelt", "Ranger" , "Midway" , "America", ở phía bắc Biển Đỏ - "John F. Kennedy" và "Saratoga". Diện tích khu vực cơ động chiến đấu của tàu sân bay là 60 nhân 60 dặm, các cuộc tấn công được thực hiện trên chiều sâu từ 500 đến 1.200 km. Máy bay thường hoạt động theo nhóm 6 - 12 hoặc 15 - 22 chiếc. Trung bình 1 ngày đêm, 1 nhóm xung kích tàu sân bay tiêu thụ 1700 tấn đạn, 6.600 tấn nhiên liệu tàu biển, 2,0 ngàn tấn nhiên liệu hàng không và 0,2 ngàn tấn lương thực thực phẩm.

Lực lượng đặc nhiệm tàu sân bay Hải quân Mỹ tham gia hoạt động chiến đấu kết hợp với lực lượng máy bay Không lực Mỹ để giáng đòn không kích-bom xuống các mục tiêu quân sự tại Iraq và Kuwait; dùng máy bay tiêm kích F -14 "Tomcat" hộ tống máy bay ném bom chiến lược B-52 khi thực hiện các cuộc tấn công tiếp theo xuống lực lượng Lục quân Iraq; đảm bảo công tác PK của các đơn vị tàu chiến trong các khu vực vận động chiến đấu của họ; tấn công lực lượng hải quân đối phương trên biển và trong các căn cứ; trinh sát đường không bằng máy bay cảnh giới radar và kiểm soát tầm xa [ 396 ] E-2C "Hawkeye"; thực hiện yểm trợ trên không cho lục quân và thủy quân lục chiến. Trong số các nhiệm vụ đa dạng, Bộ chỉ huy Mỹ đặt lên hàng đầu việc phá hủy các cơ sở quân sự và công nghiệp trên đất liền.

Các vật mang tên lửa hành trình ở phần phía đông Địa Trung Hải
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang3-c11_zps4bc501d2.png) (http://s1185.photobucket.com/user/qtdc2/media/bang3-c11_zps4bc501d2.png.html)

Thành phần các vật mang và số lượng tên lửa hành trình trong vùng Vịnh Ba Tư
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang4-c11_zpsc6ed2485.png) (http://s1185.photobucket.com/user/qtdc2/media/bang4-c11_zpsc6ed2485.png.html)

Thành phần các vật mang tên lửa hành trình trong khu vực Biển Đỏ
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang5-c11_zps4350e332.png) (http://s1185.photobucket.com/user/qtdc2/media/bang5-c11_zps4350e332.png.html)

Để đảm bảo hoạt động của các máy bay ném bom chiến lược B-52, người ta cho 10 - 15 máy bay trên tàu sân bay cất cánh lên không trung. Chẳng hạn, lúc 15 giờ 50 phút ngày 19 tháng 1 để đảm bảo hoạt động của máy bay ném bom chiến lược, 13 máy bay đã cất cánh từ tàu sân bay "Ranger", gồm sáu chiếc F- 14 "Tomcat", 4 F/A-18 "Hornet", 2 chiếc C-3A "Viking" và một chiếc E-2C "Hawkeye". Khi giải quyết nhiệm vụ này, máy bay trên tàu sân bay đã thực hiện trung bình 270 chuyến bay mỗi ngày, chiếm 12% tổng số các phi vụ của lực lượng không quân đa quốc gia. Trong trường hợp trên, 53 % số máy bay trong mỗi đợt xuất kích là máy bay tấn công, còn 47% - máy bay đảm bảo (máy bay tiêm kích, trinh sát , tác chiến điện tử, v.v.).

Trong những ngày chiến tranh đầu tiên, việc tăng cường máy bay cường kích trên tàu sân bay tập trung vào các cuộc tấn công xuống các mục tiêu quân sự và công nghiệp, cũng như các vị trí của thê đội 2 thuộc lực lượng vũ trang Iraq (trong toàn bộ thời gian chiến tranh có 53% số phi vụ của máy bay trên tàu sân bay là tấn công các mục tiêu mặt đất). Tiếp theo, đối tượng của các cuộc tấn công là sự tăng cường phòng thủ chống đổ bộ của Iraq trên bờ biển Kuwait, vị trí của các đơn vị lục quân trên lãnh thổ Kuwait, các tàu thuyền [ 399 ] của Hải quân Iraq trong vùng phía Bắc Vịnh Ba Tư, các bệ phóng di động tên lửa chiến thuật "Scud" ở miền tây Iraq (đối với các máy bay hoạt động từ các tàu sân bay ở Biển Đỏ).

Chiến sự trên biển bắt đầu vào ngày 18 và mang đặc điểm của những cuộc xung đột riêng biệt, bởi vì bộ chỉ huy Iraq không có những hoạt động tích cực và có mục tiêu nhằm chống lại lực lượng hải quân đối phương trong vùng Vịnh Ba Tư. Trong suốt thời gian chiến sự, chỉ ghi nhận hai trường hợp phía Iraq sử dụng tên lửa bắn vào các tàu của lực lượng đa quốc gia. Tên lửa "Exocet" phóng đi từ máy bay F -1 "Mirage" đã bị một tên lửa PK "Sea Dart " bắn hạ, còn một tên lửa bờ đối hạm "Silkworm" phóng từ bờ đã bị nhiễu thụ động làm lệch quỹ đạo.

Đồng minh cũng sử dụng rất thành công tên lửa chống hạm "Sea Skua" và "Harpoon". Chẳng hạn, bằng các đòn tấn công của máy bay trên tàu sân bay và các tên lửa "Harpoon" phóng từ tàu mặt nước, tính đến 03 tháng 2 đã có 7 tàu chiến và 14 tàu cao tốc Iraq bị tiêu diệt, tạo cơ sở để bộ chỉ huy Mỹ tin rằng đối phương đã bị mất khả năng tiến hành các hoạt động tấn công trên biển. Đồng thời bộ chỉ huy lực lượng hải quân đa quốc gia cho rằng đối thủ có thể chuyển sang các phương pháp chiến đấu phi truyền thống trên biển. Bản chất của chúng, theo quan điểm của bộ chỉ huy Mỹ, có thể dẫn tới việc thực hiện các cuộc tấn công từ các tàu cao tốc trang bị hỏa tiễn không điều khiển và thậm chí súng phóng lựu chống tăng, như đã xảy ra trong "Chiến tranh tàu chở dầu", hoặc dẫn tới việc sử dụng các phương tiện nổi có lượng choán nước nhỏ chống máy bay và trực thăng trên tàu sân bay, hoặc sử dụng biệt kích nhái chống tàu chiến và tàu vận tải đang đậu tại các cảng trong và cảng ngoài.

Điều này buộc họ phải áp dụng một loạt các biện pháp nhằm bảo vệ các tàu chiến và tàu vận tải trong khu vực vịnh Ba Tư. [ 400 ]

Mặc dù không gặp sự kháng cự mạnh mẽ trên biển, với mục đích hoàn thiện người Mỹ đã tổ chức tất cả các loại phòng thủ cho các nhóm xung kích tàu sân bay của họ. Trong trường hợp này, phòng thủ chống ngầm được xây dựng theo nguyên tắc khu vực, tập trung nỗ lực vào các hướng nhiều nguy cơ và thực hiện bằng lực lượng và phương tiện của nhóm xung kích tàu sân bay tại các khu vực cự ly gần và trung bình, còn trong khu vực cự ly xa - bằng các máy bay của LLKQ tuần tra trên biển, các máy bay cánh cố định chống ngầm và trực thăng săn ngầm đóng trên tàu sân bay và tàu ngầm hạt nhân đa nhiệm trong thành phần lực lượng hộ tống. Trong khu vực gần ở cự ly cách tàu tàu sân bay 20-30 dặm có các tàu chiến thuộc lực lượng hộ tống trực tiếp và máy bay trực thăng chống tàu ngầm đóng trên tàu sân bay; ở khu vực giữa - tại cự ly cách các tàu sân bay từ 30-60 dặm có các máy bay chống tàu ngầm S-3B "Viking" (thường 3 chiếc), nhóm tàu chiến xung kích-tìm kiếm (2-3 tàu) và một tàu ngầm hạt nhân đa nhiệm làm nhiệm vụ tuần tra; ở khu vực xa - tại cự ly cách tàu sân bay 150 - 200 dặm, có các máy bay tuần biển và nhóm tàu sân bay xung kích-tìm kiếm.

(http://www.navynucweps.com/images/Archives/tomahawkVertLaunch.jpg)
Tên lửa hành trình "Tomahawk" phóng từ tàu ngầm Mỹ trong "Desert Storm"
.........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 06 Tháng Chín, 2013, 12:13:35 AM
(tiếp)

http://www.youtube.com/watch?v=xBIWLUHBGeI
USS Jacinto CG-56, tàu tuần dương mang tên lửa có điều khiển lớp Ticonderoga, khai màn "Bão táp sa mạc" bằng loạt phóng "Tomahawk" BGM-109.

Phòng thủ đường không cho nhóm tàu sân bay xung kích dựa trên nguyên tắc đối tượng-vùng, cho phép tạo ra sự bảo vệ nhiều tầng nhiều lớp cho các lực lượng chủ yếu trươc các cuộc không kích. Mục tiêu trên không được phát hiện từ mọi hướng, với từ hai hoặc ba tầng bảo vệ ở chiều sâu đến 1000 km tính từ trung tâm đội hình của lực lượng, sử dụng các phương tiện của bản thân nhóm xung kích tàu sân bay và máy bay AWACS E-3. Kiểm soát tình hình trên được đảm bảo bởi sự có mặt liên tục trên không của 2-3 máy bay E-3 AWACS và đến 5 máy bay E-2C "Hawkeye" đóng trên tàu sân bay. Các tàu mang radar cảnh giới được phái đi về phía Iraq. Nhìn chung, hệ thống phát hiện mục tiêu đường không lập nên được phân bố dọc vùng duyên hải Iraq và lãnh thổ [ 401 ] Cô-oét , đảm bảo phát hiện máy bay đối phương ở cự ly 300 - 400 km trước khi tiếp cận tuyến ranh giới sử dụng vũ khí trên các tàu của đơn vị xung kích tàu sân bay.

Thành phần lực lượng và phương tiện tác chiến điện tử của đơn vị xung kích tàu sân bay Hải quân Mỹ
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang46-c11_zpsc54ccf7e.png) (http://s1185.photobucket.com/user/qtdc2/media/bang46-c11_zpsc54ccf7e.png.html)

Việc tiêu diệt mục tiêu trên không được đảm bảo bằng các phương tiện thường gọi là hàng rào các tàu phòng không hải quân và máy bay tiêm kích trên tàu sân bay. Cho đến ngày 17 Tháng 1 năm 1991, hai hàng rào như vậy được tạo ra gồm 4 đến 5 tàu mang TLPK có bán kính hoạt động ở tầm trung và tầm gần. Những chiếc tàu này đã được đưa vào các hướng bị đe dọa trên cự ly cách nhóm AUG từ 90-130 km. Trong hình thức rõ rệt nhất của nó, những hàng rào này tồn tại trong ngày chiến sự đầu tiên, khi mức độ đe dọa từ trên không còn chưa được xác định. Sau đó, nhu cầu về những hàng rào phòng không này đã mất đi.

Máy bay tiêm kích trên tàu sân bay hoạt động theo hai cách - "trực chiến trên không" và "trực chiến trên tàu sân bay". Với sự bùng nổ chiến sự, phương pháp đầu tiên được ưu tiên. Trên không trung cùng một lúc có tới 10 máy bay tiêm kích hạm F/A-18A "Hornet" và F-14A "Tomcat". Sau nữa người ta huy động 2-5 máy bay tiêm kích "trục chiến trên không". [ 402 ]

Các cuộc đụng độ đã xác định
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang56-c11_zps20a3a148.png) (http://s1185.photobucket.com/user/qtdc2/media/bang56-c11_zps20a3a148.png.html)

Để giải quyết nhiệm vụ PK, máy bay trên tàu sân bay thực hiện 80-300 phi vụ mỗi ngày đêm. Thời gian trung bình chuyến bay của các máy bay tiêm kích hạm thường là 3 giờ, và tối đa - đến 5 giờ. Máy bay cảnh giới radar tầm xa và chỉ huy E-2C "Hawkeye" ở trên không trung đến 7 giờ. Để tiếp dầu cho máy bay trên tàu sân bay người ta huy động không chỉ máy bay thuộc không quân trên tàu sân bay KA- 6D "Kẻ đột nhập", mà còn cả máy bay của Không lực Mỹ KC-135. Máy bay trên tàu sân bay, hoạt động trong khu vực Biển Đỏ, đóng trên các tàu sân bay "Saratoga" và "John F. Kennedy". Thời gian chuyến bay của máy bay đến từ các khu vực này là 5 giờ. Trong trường hợp này, việc tiếp nhiên liệu trên không thực hiện hai lần - một lần khi bay đến mục tiêu tấn công, lần thứ hai - khi trở về tàu sân bay. Từ các khu vực phía Bắc Biển Đỏ, máy bay trên tàu sân bay chỉ có thể thực hiện hai đợt tấn công nhóm trong một ngày đêm. Trong các nhóm, thường có từ 20 đến 30 máy bay. Tương quan giữa máy bay tấn công và yểm trợ là 1:2.

Trong đội hình hộ tống các tàu sân bay có từ 1-2 tuần dương hạm URO lớp "Ticonderoga" với hệ thống tác chiến đa chức năng "Aegis", điều đó tăng cường đáng kể khả năng đẩy lùi các cuộc tấn công quy mô lớn của máy bay và tên lửa chống hạm. Cơ số đạn của các tàu tuần dương này bao gồm 64 tên lửa PK "Standard-2" với tầm bắn 70 km. Theo đánh giá của bản thân người Mỹ, sự hiện diện trong đội hình hộ tống 2 tuần dương hạm URO lớp "Ticonderoga" đảm bảo đẩy lùi không ít hơn 100 tên lửa chống hạm tấn công đồng thời.

Trong quá trình chiến đấu, máy bay trên tàu sân bay được sử dụng với cường độ tối ưu, đảm bảo cho nó hoạt động được trong một khoảng thời gian dài. Để làm điều này, việc thực hiện bổ sung kịp thời các thiệt hại về máy bay, cũng như thiết lập một trật tự nhất định trong việc sử dụng các tàu sân bay : cứ 5 ngày hoạt động tác chiến tích cực, sau đó đến 2 ngày hoạt động ở cường độ giảm thấp. [ 405 ]

Thành phần các không đoàn trên tàu sân bay (số lượng, chiếc)
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang5-c11_zpsb2d21061.png) (http://s1185.photobucket.com/user/qtdc2/media/bang5-c11_zpsb2d21061.png.html)

Sự linh hoạt lớn nhất trong sử dụng các máy bay trên tàu sân bay đã đạt được trong hai tuần chiến tranh cuối cùng, khi ở phần phía bắc Vịnh Ba Tư tập trung đến 4 nhóm AUG (các tàu sân bay "Theodore Roosevelt", "Midway", "America", "Ranger"). Bởi vì đến thời gian đó cự ly đến mục tiêu đã được giảm xuống [ 406 ] đến mức không cần phải tiếp nhiên liệu trên không. Máy bay trên tàu sân bay bước vào cái gọi là "các chiến dịch hoạt động theo chu kỳ", trong qua trình đó hàng ngày mỗi giờ trong 18 giờ liên tục có các nhóm đến 20 máy bay cất cánh lên không trung từ tàu sân bay. Trong nhóm có các tiêm kích hộ tống F -14 "Tomcat", máy bay tác chiến điện tử EA-6B "Prowler", cường kích A- 6E "Intruder", tiêm kích-cường kích F/A-18 "Hornet" và máy bay kiểm soát không trung và cảnh giới radar tầm xa E-2C "Hawkeye". Độ chính xác của việc vào công kích mục tiêu đạt được nhờ sử dụng hệ thống dẫn đường vệ tinh NAVSTAR, và trong một số trường hợp riêng - nhờ hệ thống "Fleetsatcom" (khi đảm bảo cho máy bay ném bom chiến lược B-52).

(http://www.fas.org/spp/military/program/com/comm_an.gif)

Cường độ chiến đấu của không quân trên tàu sân bay là 0,4-1,5 phi vụ cho 1 máy bay trong 1 ngày đêm (tiêu chuẩn 2 phi vụ cho 1 máy bay). Tỷ lệ thấp này có nguyên nhân ở  vấn đề kỹ thuật thường xuyên xảy ra trong các chi tiết riêng và trong tổng thành máy bay, mức độ kỷ luật thấp của thành phần đảm bảo kỹ thuật-bay, cũng như mức độ chưa đủ cao trong kỹ năng và sự chuẩn bị về tinh thần và tâm lý còn yếu.

Để tấn công mục tiêu dạng diện, máy bay trên tàu sân bay sử dụng bom Mk 117 và bom cát-sét Mk 58, còn để tiêu diệt các mục tiêu được bảo vệ vững chắc - dùng bom có điều khiển bằng tia laser CBB-109B (BLU-109/B?) cỡ 900 KG. Ngoài ra, không quân còn sử dụng tên lửa có điều khiển, chưa được tiếp nhận vào trang bị, loại SLAM "không-đối- đất" (AGM-84E Standoff Land Attack Missile (SLAM)), có tầm hoạt động 120 km. Những tên lửa này đã cho thấy hiệu quả chiến đấu cao. Ví dụ, ngày 19 tháng 1, khi tấn công phân xưởng tua bin 1 nhà máy thủy điện máy bay A.6E "Kẻ đột nhập" đã phóng 2 tên lửa SLAM. Quả đạn đầu tiên sử dụng để phá một lỗ hổng trong tường nhà khối năng lượng, quả đạn thứ hai phóng đi 2 phút sau quả đạn đầu tiên, được dẫn chính xác vào qua lỗ hổng đã tạo ra và phá hủy các thiết bị bên trong tòa nhà. Nhưng dù sao tất cả các máy bay trên tàu sân bay đã sử dụng [ 407 ] một lượng tương đối nhỏ các loại bom và tên lửa có độ chính xác cao (khoảng 2 % tổng số đạn dược tiêu thụ), do thiếu các loại vũ khí có độ chính xác so với máy bay của Không lực Mỹ (9%). Trong toàn bộ thời gian tác chiến [ 408 ] máy bay hải quân trên tàu sân bay và máy bay của lực lượng Thủy quân lục chiến tiêu thụ hết 23 ngàn tấn đạn dược, trong đó chỉ có 652 tấn là thuộc các loại vũ khí có độ chính xác cao. Nói chung, theo đánh giá của Bộ chỉ huy Hải quân Mỹ, hiệu quả các cuộc tấn công của máy bay trên tàu sân bay thấp hơn giá trị tính toán. Lý do là ở việc đối phương đã sử dụng rộng rãi các biện pháp ngụy trang khác nhau, việc rút sớm các đơn vị máy bay tránh các đòn tấn công; mục tiêu có quá nhiều bụi và khói do các cuộc tấn công trước đó, còn trên lãnh thổ Kuwait là từ việc đốt các giếng dầu; mức trang bị vũ khí chính xác cao còn thấp. Đạt hiệu quả chiến đấu lớn là các máy bay tiêm kích-cường kích F/A-18B "Hornet", đưa vào trang bị năm 1984 và thay thế cho các máy bay "Skyhawk" và "Corsair-2".
.........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 08 Tháng Chín, 2013, 03:46:56 AM
(tiếp)

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s81.gif)
Chiến sự trong vịnh Ba Tư

Lần đầu tiên trong thực tế chiến đấu, tên lửa hành trình "Tomahawk" phóng từ biển đã được sử dụng trên quy mô lớn, bao gồm các thiết giáp hạm "Missouri" và "Wisconsin", các tàu ngầm hạt nhân tấn công nhanh SSN lớp "Los Angeles". Các vật mang tên lửa hành trình "Tomahawk" được triển khai trong vùng Vịnh Ba Tư, Biển Đỏ và khu vực đông Địa Trung Hải. Trong trường hợp này, đã áp dụng 2 phiên bản tên lửa "Tomahawk" - BCM-109C và BCM-109D với tầm bắn 1.400 km, được trang bị các đầu đạn nửa xuyên giáp (trọng lượng 443 kg) và đầu đạn cát-sét (166 bom có trọng lượng 1,5 kg); tên lửa có tốc độ bay 885 km / h và độ chính xác - dưới 10 m. Độ cao quỹ đạo tên lửa dao động từ 15 đến 60 m so với mực nước biển. Tên lửa được dẫn đường bằng hệ thống điều khiển quán tính đồng thời theo sự hiệu chỉnh các khu vực cụ thể ban đầu, mà từ đó nó đi tới các phân đoạn điều chỉnh kế tiếp để vượt qua các trận địa phòng không. Tại phân đoạn bay cuối cùng, hệ thống quang-điện tử với trợ giúp của videocamera sẽ kiểm tra khu vực tiếp giáp với mục tiêu và đưa hình ảnh khu vực thu được [ 410 ] vào máy tính trên thân tên lửa. Hình ảnh này tiếp tục được so sánh với "bức tranh kỹ thuật số" của cùng khu vực, nhận được từ vệ tinh tình báo. Kết quả sẽ sinh ra lệnh cho tên lửa cơ động vào công kích mục tiêu với độ chính xác 3-4 m.

Một vấn đề đặc biệt đối với Bộ chỉ huy Đồng Minh là sự phối hợp các cuộc không kích chung bằng máy bay và tên lửa hành trình "Tomahawk" phóng từ biển. Để chuẩn bị nhiệm vụ chuyến bay và tính toán cho tên lửa vào công kích mục tiêu, đã sử dụng các máy tính có phần mềm phát triển chuyên dụng. Vào đầu chiến tranh, Hải quân Mỹ đã có sự đảm bảo, bằng chương trình phần mềm cải tiến khá hoàn chỉnh, tính toán đường tiếp cận đồng thời tới các mục tiêu cho các tên lửa hành trình phóng từ các khu vực khác nhau, và với giáng đòn không kích quy mô lớn bằng máy bay, với giãn cách thời gian tối thiểu.

Quỹ đạo của đạn tên lửa do tàu ngầm phóng đi từ các khu vực Biển Đỏ và Địa Trung Hải, đi qua lãnh thổ các nước Thổ Nhĩ Kỳ, Israel, Ai Cập và Ả Rập Saudi. Khi chuẩn bị cho chiến dịch "Bão táp sa mạc " đã ấn định các mục tiêu mà tên lửa phải hủy diệt và soạn chương trình bay cho 700 đạn tên lửa. Trong những ngày đầu cuộc chiến đã có 114 tên lửa phóng đi, đánh trúng 50 trong số 51 đối tượng ấn định cần tiêu diệt. Trong vòng 3 ngày chiến tranh đã phóng 244 tên lửa. Sau đó, mỗi ngày phóng trung bình từ 3 đến 18 đạn tên lửa. Trong toàn bộ thời gian chiến sự đã sử dụng khoảng 280 tên lửa hành trình "Tomahawk", hiệu quả đánh trúng là 80%. Ngoài các đối tượng được ấn định từ trước, các cuộc tấn công bằng tên lửa còn nhằm vào các mục tiêu mới được xác định, chủ yếu nằm trong khu vực các thành phố Bashra và Baghdad.

Chiến dịch tấn công đường không của các lực lượng đa quốc gia về nhiều mặt đã góp phần đánh bại Iraq, nhưng không dẫn đến sự rút lui của quân đội Iraq [ 411 ] khỏi các vùng lãnh thổ bị họ chiếm đóng. Điều này đòi hỏi phải tiến hành cả chiến dịch kết hợp tấn công mặt đất-đường không, bắt đầu vào ngày 24 tháng 2 năm 1991. Nó được thực hiện bằng các lực lượng lục quân của Liên minh chống Iraq và Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ với sự hỗ trợ của các lực lượng không quân và hải quân trong thời gian 100 giờ ( 4:00 ngày 24 - 8:00 ngày 28 tháng 2). Liên quan đến việc diễn ra chiến dịch này, mà thực chất là cuộc thử nghiệm thực tế đầu tiên một khái niệm mới của người Mỹ "chiến dịch không - địa", có mục đích hoàn thành việc đánh bại quân đội Iraq và giải phóng Kuwait, tạo ra các điều kiện thuận lợi cho bản thân và Israel trong việc tiếp tục giải quyết bằng con đường chính trị cuộc xung đột tại Trung Đông.

Khu vực chiến dịch giới hạn phía đông bởi bờ biển vịnh Ba Tư, phía bắc - các con sông Shatt-el-Arab và Euphrates, phía tây - tuyến Rafha-Samawah, ở phía nam - biên giới Kuwait-Ả Rập Saudi và Iraq- Ả Rập Saudi. Chiều rộng dải hoạt động của lực lượng đa quốc gia là 500 km, chiều sâu - 250 km. Cụm lực lượng lục quân Iraq bao gồm 42 sư đoàn, trong đó do kết quả của các đòn tấn công trước đã có 15 - 30 % quân nhân và 30 - 50 % trang thiết bị quân sự đã bị tiêu diệt hoặc loại khỏi vòng chiến đấu. Tới khi bắt đầu tấn công, Đồng Minh đã đạt ưu thế lực lượng so với đối phương 1,5 lần.

Theo ý đồ kế hoạch chiến dịch không-địa, dự kiến bằng một đòn tấn công trực diện mạnh mẽ của Lục quân và Thủy quân lục chiến đồng thời tác động hỏa lực vào sâu thê đội thứ hai của đối phương để gây cho họ thiệt hại tối đa, sau đó phối hợp cùng các hoạt động của các đơn vị đổ bộ đường không, không vận, đổ bộ đường biển và các đơn vị đặc nhiệm chia cắt, bao vây và tiêu diệt quân đội Iraq trên lãnh thổ miền nam Iraq và Kuwait.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s82.gif)
Kế hoạch đổ bộ trong chiến dịch "Thanh kiếm sa mạc"

Đã xây dựng các cụm lực lượng và xác định hướng các đòn tấn công : mũi duyên hải (dọc theo bờ biển Kuwait [ 412 ]) - các sư đoàn TQLC viễn chinh số 1 và 2 của Mỹ, các binh đoàn lục quân của quân đội Ả Rập Saudi, Kuwait, Ai Cập và Syria; mũi trung tâm - quân đoàn BB số 7 Mỹ, sư đoàn thiết giáp số 1 Hoàng gia Anh; mũi phía Tây - sư đoàn không kỵ số 4 và sư đoàn thiết giáp số 6 quân đội Pháp. Dự bị của lực lượng đa quốc gia có quân đoàn đổ bộ đường không 18 Mỹ ( sư đoàn dù 82 và sư đoàn đột kích đường không 101). Với Hải quân nhiệm vụ là tiến hành chiến dịch đổ bộ, còn máy bay của Không quân, Hải quân và Thủy quân lục chiến - có nhiệm vụ cô lập khu vực chiến sự và yểm trợ đường không trực tiếp cho cuộc tấn công. Tại các mũi trung tâm và phía tây, sau một màn hỏa lực chuẩn bị mạnh mẽ, lực lượng quân đội đồng minh bắt đầu tiến nhanh về phía trước trong sự chống cự yếu ớt của đối thủ.

Trên hướng duyên hải, với tổn thất tối thiểu, quân đội Đồng Minh sau 4 ngày đã đến El-Kuwait. Vào thời điểm cuối của đợt 4 ngày đầu, lực lượng đa quốc gia đã khép xong vòng vây và bắt tay thanh toán cụm quân đội Iraq bị bao vây.

Đồng thời không quân tham gia hỗ trợ trực tiếp của quân đội đang tiến công, tiếp tục giáng đòn không kích xuống các cơ sở quân sự và công nghiệp, cũng như giải quyết nhiệm vụ cô lập các khu vực chiến sự. Các tàu mặt nước thực hành tập trung hỏa lực tiêu diệt quân đối phương trên hướng duyên hải. Vị trí khai hỏa của các thiết giáp hạm bố trí cách bờ biển 5-7 km. Trong một ngày đêm, các thiết giáp hạm bắn đi từ 50-80 viên đạn pháo cỡ 406 mm. Tổng cộng, họ tiêu thụ một ngày đêm hơn một nghìn trái phá. Một số cuộc xạ kích pháo binh có hiệu chỉnh hỏa lực, lần đầu tiên thực hiện nhờ các phương tiện bay không người lái kiểu "Pioneer". Hoạt động quét mìn cũng diễn ra dọc theo bờ biển phía nam Kuwait để đảm bảo cho các cuộc đổ bộ đường biển. [ 413 ]

Để đạt được mục tiêu cuối cùng của chiến dịch "Bão táp sa mạc", Bộ chỉ huy lực lượng đa quốc gia, cùng với chiến dịch tấn công đường không và tấn công không-địa đã lên kế hoạch một chiến dịch đổ bộ đường biển, có tên mã "Thanh kiếm sa mạc". Lực lượng điều động đổ bộ đường biển là 2 lữ đoàn tăng cường Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ quân số tổng khoảng 22 ngàn người (đóng trên các tàu đổ bộ). Để đảm bảo hoạt động cho cuộc đổ bộ (đổ bộ lính TQLC, dùng hỏa lực tiêu diệt sự phòng thủ chống đổ bộ, hỗ trợ hỏa lực cho lực lượng đổ bộ trên bờ, cung cấp các nguồn lực vật chất), trong vịnh Ba Tư đã tập trung một nhóm lớn lực lượng tác chiến thủy bộ, thống nhất trong một binh đoàn tác chiến chiến dịch. Đơn vị này bao gồm 5 tàu đổ bộ chở máy bay trực thăng lớp "Iwo Jima", 2 tàu đổ bộ vạn năng lớp "Tarawa" và "Wasp", 7 tàu đổ bộ chở xe tăng lớp "Newport", 5 tàu dock-đổ bộ chở máy bay trực thăng lớp "Austin" và "Raleigh", 4 tàu dok-vận tải đổ bộ lớp "Whitby-Island", 4 tàu đổ bộ chở hàng lớp "Charleston" và những tàu khác. Trên các tàu tập hợp trong 3 nhóm tác chiến thủy bộ "Alpha", "Bravo" và "Charlie", có số lượng đầy đủ các phương tiện đổ bộ cả bằng đường không và đường biển. Để yểm trợ đổ bộ đã điều động hơn 200 máy bay cánh cố định và trực thăng vũ trang. Để chuẩn bị cho cuộc đổ bộ lớn này, các lực lượng trên đã tiến hành năm bài tập trận đặc biệt. Ban đầu kế hoạch là đổ bộ hoặc một lực lượng đặc nhiệm gồm hai lữ đoàn tăng cường thủy quân lục chiến, hoặc hai binh đoàn chiến dịch-chiến thuật. Mục tiêu cuối cùng của lực lượng đổ bộ đặc nhiệm là đánh chiếm El-Kuwait với đòn tấn công hợp vây tiếp theo dọc theo biên giới (hướng về phía cụm lực lượng lục quân phía Tây) để hoàn thành khép chặt vòng vây bao quanh đối phương. Mục đích của lực lượng đổ bộ chiến dịch-chiến thuật cũng là chiếm El-Kuwait và tấn công vào sườn và hậu phương chỉ của cụm quân duyên hải của đối phương [ 414 ] với sự phối hợp tác động tiếp theo của các lực lượng đang tiến công trên hướng này.
.........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 11 Tháng Chín, 2013, 10:10:24 PM
(tiếp)

Trong khu vực El-Kuwait chỉ có một cảng lớn mà người Mỹ có thể sử dụng để bốc dỡ trang bị nặng và đổ bộ quân trực tiếp xuống bến tàu. Nhưng cảng ở cách tiền tuyến gần 80 km, nằm gần cảng có 1 hòn đảo, nếu không làm chủ hòn đảo việc đổ bộ quân thẳng xuống cảng sẽ gặp vấn đề. Đảo được phòng thủ kiên cố nhất là Failaka, bảo vệ nó là một bộ phận sư đoàn TQLC Iraq có quân số hơn bốn ngàn người.

Có khả năng chống lại quân đổ bộ đường biển là 1 cụm vũ trang tương đối mạnh, bao gồm bốn sư đoàn bộ binh và một sư đoàn TQLC trải dài dọc theo 200 km bờ biển. Mặc dù các lực lượng này dựa vào một hệ thống công trình chướng ngại chống đổ bộ phát triển tốt bố trí cả trên nước và trên bờ, nhưng vì chất lượng kém của vũ khí và công tác huấn luyện, nói chung việc phòng thủ chống đổ bộ không đáp ứng được yêu cầu đặt ra cho nó.

Theo kế hoạch "Operation Desert Saber", tới ngày 3 tháng 2 đã hoàn thành việc chuyển lính TQLC lên các tàu đổ bộ, các tàu đó ngày hôm sau sẽ di chuyển vào khu vực đổ quân trong thành phần chi đội đổ bộ. Khi họ bắt đầu tiến quân, thiết giáp hạm "Missouri" tiến hành bắn pháo chuẩn bị, và ngày 06 tháng 2 thiết giáp hạm "Wisconsin" tới tham gia cùng với nó. Ngoài các tên lửa "Harpoon" và "Tomahawk", các tàu chiến này còn sử dụng pháo hạm 406 mm tầm bắn 39 km bố trí tại 3 tháp pháo ba nòng (hai tháp phần mũi và một tháp phía đuôi). Đồng thời cường độ các phi vụ xuất kích của máy bay trên tàu sân bay và máy bay của LL TQLC cũng tăng lên để giáng đòn tấn công vào các mục tiêu của quân đội Iraq trong vùng duyên hải. Tới lúc này, lực lượng quét mìn của Liên minh đã hoàn thành quét mìn [ 415 ] khu vực đổ bộ và các tuyến đường biển mà lực lượng đổ bộ triển khai. Các tàu quét mìn hoạt động theo biên đội (2 - 3 chiếc) và sử dụng cả lưới quét tiếp xúc và không tiếp xúc (lưới thủy âm và lưới điện từ). Tốc độ quét là 6-8 hải lý. Trước khi đổ đội đổ bộ đầu tiên (ngày 24 tháng 2) đã quét được 112 thủy lôi.

"Operation Desert Sabre" bắt đầu ngày 24 với việc đánh chiếm các đảo nhỏ Karoo, Umi El Marada và El Kubra. Nhưng người Mỹ từ chối đổ bộ lực lượng chính. Lý do từ chối có lẽ là việc nghi ngờ khả năng thành công do sự hiện diện cụm quân đối phương mạnh, triển khai trong hệ thống bảo vệ chống đổ bộ, cũng như cuộc tấn công nhanh chóng của lực lượng lục quân đa quốc gia trên tất cả các hướng, trong đó có hướng duyên hải. Với nhịp độ đạt được của cuộc tấn công, cuộc đổ bộ TQLC có thể được hoàn thành sau khi giải phóng El-Kuwait từ đất liền. Người Mỹ cho rằng việc tiến hành hỏa lực chuẩn bị trước khi đổ bộ không đáp ứng được mong đợi : việc hủy diệt hoàn toàn các đối tượng của hệ thống phòng thủ chống đổ bộ đã không đạt được. Sau khi ngừng hỏa lực bắn phá, TQLC Mỹ từ trực thăng đã đổ xuống đảo Saydak tiếp nhận sự đầu hàng của 1,4 ngàn binh sĩ Iraq. Để hỗ trợ các đơn vị TQLC tấn công trên hướng duyên hải, hai nghìn người đã được đổ bộ từ các tàu của của nhóm tác chiến thủy bộ.

(http://www.globalsecurity.org/military/ops/images/cpgw_2942.gif)
Giai đoạn tấn công mặt đất trong chiến dịch "Bão táp sa mạc"

Nỗ lực đổ bộ thủy quân lục chiến của phía Iraq cũng không thành công. Ngày 29 tháng 1, khi tấn công thành phố Ras-Al-Khafji để hỗ trợ lục quân, người Iraq cố gắng đổ bộ thủy quân lục chiến, nhưng bị đồng minh đánh bật lại. Trong đó 5 tàu, thuyền của Hải quân Iraq đã bị phá hủy.

Vào cuối ngày 27 tháng 2, trong số 42 sư đoàn Iraq, đang trực tiếp ở trong khu chiến, có 29 sư đoàn đã bị đánh tan. Quân đồng minh bắt [ 416 ] tù binh 50 nghìn người, phá hủy và bắt giữ 3008 xe tăng (71% trang bị hiện có), 1856 xe bọc thép và xe chiến đấu bộ binh (64%), 2.140 pháo (69%), khoảng 30% binh sĩ Iraq đã đào ngũ. Trong không trung và trên mặt đất đã có 123 máy bay cánh cố định và trực thăng bị tiêu diệt, còn 137 máy bay đã bay sang Iran. { 38 }

Trong quá trình diễn ra các chiến dịch không kích và tấn công không-địa, kéo dài từ 17 tháng 2 - 28 tháng 2 năm 1991, máy bay Đồng Minh (khoảng 2.000 chiếc) đã thực hiện hơn 110 nghìn phi vụ chiến đấu (riêng ngày 06 tháng 2 là hơn 75.000 phi vụ) tiêu tốn cho 4 nghìn mục tiêu cố định và di động hơn 88 ngàn tấn đạn dược hàng không, trong đó có 81.900 tấn bom không điều khiển. Cường độ trung bình một ngày đêm là 2,7 ngàn phi vụ. Mức tổn thất trong chiến đấu - một máy bay bị bắn hạ ứng với 3.000 phi vụ. Không quân đa quốc gia tham gia các phi vụ chiến đấu phân theo tỷ lệ như sau : Hoa Kỳ - 86,5 %, Anh 5 % , Pháp - 1,5% , Saudi Arabia - 6,5% . Trong số 110.000 phi vụ khoảng một nửa (47%) giành cho các hoạt động đảm bảo, số còn lại (53 %) - các phi vụ trực tiếp công kích mục tiêu.

Nửa triệu quân đội Iraq bị bao vây tới 8:00 giờ ngày 28 tháng 2, sau khi mất gần như tất cả các trang thiết bị quân sự, đã ngừng chống cự. Tổn thất của đồng minh gồm cả số chết, bị thương, bị bắt và mất tích không qua 1 ngàn người.

Sự thành công của chiến dịch tấn công không-địa có sự góp phần của nhiều yếu tố. Chẳng hạn, diễn ra trước nó là một màn chuẩn bị [ 417 ] quy mô lớn và có định hướng mục tiêu - từ sự phong tỏa kinh tế, sự lên án của cộng đồng quốc tế đối với cuộc xâm lược và áp lực mạnh mẽ cho đến tận trước khi khai chiến. Các biện pháp ngụy trang và tung tin giả cho đối phương tỏ ra hiệu quả. Cuộc đổ bộ khoa trương quy mô lớn của quân đồng minh đã ghìm chân 25 % sư đoàn lục quân quân đội Iraq trong vùng duyên hải, về thực chất đã loại trừ sự tham gia của chúng vào trận đánh trên hướng chủ yếu. Đồng minh đã tiến hành tập trung bí mật một cụm lớn lực lượng xe tăng và quân đổ bộ đường không trên sườn trái. Sau khi bằng cách đó tạo ra được trên hướng này sự vượt trội đáng kể về cả trang bị và quân số, họ nhanh chóng phá vỡ tuyến phòng thủ của Iraq và tiến về phía trược rất mau lẹ. Sự kiện chính là cuộc tấn công (chiến dịch) đường không vô tiền khoáng hậu về thời gian (hơn 1 tháng), kết quả của nó đưa đến việc hoàn toàn làm chủ trên không và trên biển, làm tê liệt sự chỉ huy có tổ chức toàn bộ đất nước cũng như lực lượng vũ trang Iraq, vô hiệu hóa 70% các cơ sở quân sự - công nghiệp và các thành tố trang bị cơ bản của khong gian chiến trường, phá hủy hệ thống đảm bảo hậu cần, gây tổn thất lớn về sinh lực và trang bị quân sự cho lực lượng vũ trang Iraq. Ngoài ra, trong thành công của các nước đồng minh còn có sự đóng góp hiệu quả của công tác tác chiến điện tử, công tác nghi binh chiến dịch, tổ chức tốt công tác chỉ huy và hiệp đồng. Ngoài ra, việc Iraq lựa chọn chiến thuật phòng ngự trận địa một cách thụ động cũng là nguyên nhân đưa đến thất bại. Ảnh hưởng xấu còn là sự phức tạp về cấu trúc tổ chức của các binh đoàn và đơn vị vũ trang Iraq, sự không ổn định của hệ thống đảm bảo tác chiến và hậu cần. [ 418 ]

Khi tiến hành các chiến dịch "Lá chắn sa mạc" và "Bão táp sa mạc", Mỹ và các đồng minh của họ đã đạt được mục tiêu chính : không chỉ giải phóng Kuwait, mà còn chiếm được một phần lớn lãnh thổ miền Nam Iraq. Đối với Hoa Kỳ, đây là một cuộc chiến tranh ngắn hạn và thắng lợi, trở thành ví dụ điển hình cho việc sử dụng lực lượng quân sự trong các khu vực thuộc "lợi ích sống còn", cho phép củng cố ảnh hưởng của họ ở Trung Đông.

Chiến tranh ở vùng Vịnh Ba Tư cho thấy Hải quân - là dạng lực lượng vũ trang đa năng linh hoạt và cơ động nhất, có khả năng giải quyết một loạt các nhiệm vụ cả trên biển cũng như trên đất liền : kết quả của cuộc chiến tranh này đã nâng cao thêm uy tín của hạm đội. Cuộc chiến một lần nữa chứng minh sự cần thiết phải huấn luyện kỹ thuật cho đội ngũ tác chiến, cho thấy tầm quan trọng của công tác đảm bảo hậu cần, hiệu quả chiến tranh điện tử, giá trị của công tác tình báo và ngụy trang, tính hiệu quả của thủ đoạn quân sự, triển vọng của vũ khí có độ chính xác cao và có sức công phá tầm xa, tác động của ưu thế trên không và trên biển đến tiến trình và kết quả của một cuộc chiến tranh hiện đại, lợi thế của đòn tấn công phòng ngừa trước, v.v.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s83.gif)
Đội hình cơ động tác chiến của đơn vị đặc nhiệm tàu sân bay Mỹ trong vịnh Ba Tư.

Mặc dù hạm đội đa quốc gia hoạt động trong điều kiện thực tế gần như không có sự kháng cự từ phía lực lượng vũ trang Iraq, kinh nghiệm chiến đấu của nó có tính giáo khoa rất cao, đặc biệt là vấn đề hoạt động của lực lượng tàu sân bay và vật mang tên lửa hành trình "Tomahawk". Trong cuộc chiến tranh này có sự hoạt động của cụm xung kích tàu sân bay lớn nhất thuộc Hải quân Mỹ, bao gồm 6 tàu sân bay đa mục đích ("Theodore Roosevelt", "Ranger", "Midway", "America", "John F. Kennedy" và "Saratoga"). Chúng ta lưu ý rằng ở Chiến tranh Việt Nam, trong một khu vực chiến sự đồng thời không có qua 4 tàu sân bay (chỉ vào năm 1972 mới có đồng thời 5 tàu sân bay hoạt động một thời gian ngắn). Sự hoạt động thành công của lực lượng tàu sân bay được xác định trước hết bởi mức trang bị cao cho các tàu và máy bay các phương tiện trinh sát, giám sát và tác chiến điện tử, cho phép [ 419 ] chúng có khả năng rất cao trong việc phát hiện và phân loại mục tiêu đối phương kịp thời. Trong Vịnh Ba Tư, các tàu chiến và máy bay đối phương đều bị phát hiện trước khi chúng vào đến ranh giới sử dụng vũ khí, còn phát hiện sớm tên lửa - cho phép có các biện pháp hữu hiệu đánh trả chúng từ xa.

Khi tổ chức giám sát tình hình trên không, người Mỹ đã tính đến kinh nghiệm của cuộc xung đột Anh-Argentina, liên quan đến việc tàu khu trục mang tên lửa có điều khiển "Sheffield" của Anh trúng tên lửa chống hạm "Exocet". Trong cuộc chiến tranh này, toàn bộ không phận vịnh Ba Tư nằm trọn trong sự giám sát hai-ba tầng, bao gồm cả ở độ cao cực thấp. Được huy động giải quyết nhiệm vụ này là các máy bay AWACS E-3C và máy bay cảnh giới radar tầm xa trên tàu sân bay E-2C "Hawkeye" cùng hàng rào phòng không của các tàu chiến. Trong tiến trình chiến tranh, không hề có một trường hợp nào phát hiện chậm phương tiện tấn công đường không của đối phương.

Dựa trên kinh nghiệm sử dụng máy bay trên tàu sân bay vào chiến dịch tấn công đường không, có thể kết luận rằng những máy bay tốc độ cận âm, hoạt động ở độ cao cực thấp, có khả năng tìm kiếm và tấn công các mục tiêu dạng điểm hiệu quả hơn, bao gồm cả các bệ phóng tên lửa chiến dịch-chiến thuật loại "Scud". Đồng thời, do máy bay trên tàu sân bay còn ít được trang bị vũ khí có độ chính xác cao, mà dẫn đến giảm hiệu suất của các đòn tấn công.

Các đặc điểm quan trọng nhất trong việc sử dụng Hải quân Mỹ tiêu diệt các mục tiêu mặt đất cần được xem xét là : quy mô hoạt động lớn cả về không gian và thời gian; hiệp đồng tác chiến diễn ra không chỉ giữa các loại lực lượng trong hạm đội, mà còn giữa các loại quân binh chủng thuộc lực lượng vũ trang; tập trung lực lượng ồ ạt; quyết tâm hủy diệt các cơ sở quan trọng đặc biệt, có giá trị [ 420 ] quân sự và giá trị kinh tế cao nhất; linh hoạt cao trong công tác chỉ huy lực lượng; vai trò các hoạt động ban đêm gia tăng; vai trò của hoạt động đảm bảo thường xuyên được nâng cao.

Kinh nghiệm sử dụng trên quy mô lớn tên lửa hành trình "Tomahawk" và máy bay trên tàu sân bay hợp đồng trong một đòn tấn công duy nhất xứng đáng được nghiên cứu kỹ lưỡng. Người Mỹ có khả năng phối hợp rất chính xác về địa điểm và thời gian các hoạt động của máy bay trên tàu sân bay xuất phát trong vùng Vịnh Ba Tư và phía bắc Biển Đỏ, với việc sử dụng ồ ạt tên lửa hành trình "Tomahawk" từ vật mang trên biển, phóng đi từ các khu vực khác nhau. Theo các chuyên gia Mỹ, đòn tấn công đó, xét về nhiều mặt, đã xác định sự phát triển thành công của chiến dịch "Bão táp sa mạc".

Trong vùng Vịnh Ba Tư, trên thực tế đã kiểm tra được tính hiệu quả trong chiến đấu của các mẫu trang bị và vũ khí mới : tuần dương hạm URO lớp "Ticonderoga", tên lửa hành trình loại "Tomahawk" phóng từ biển, tên lửa có điều khiển loại SLAM và v.v.

Đã khẳng định sự phụ thuộc giữa tính hiệu quả của việc sử dụng lực lượng và vũ khí vào mức độ chuẩn bị về tâm lý-tinh thần, tính kỷ luật và trình độ được đào tạo của đội ngũ quân nhân. Những yếu tố này ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ tai nạn tương đối cao và làm giảm hệ số căng thẳng trong hoạt động của các máy bay trên tàu sân bay, dẫn đến sự không kết quả trong việc sử dụng vũ khí tên lửa của phía Iraq chống lại các tàu của lực lượng đa quốc gia trong vùng vịnh Ba Tư.

HẾT CHƯƠNG 11
........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 16 Tháng Chín, 2013, 11:51:05 PM
(tiếp)

CHƯƠNG 12

BÀI HỌC CỦA CÁC CUỘC XUNG ĐỘT CỤC BỘ

Kinh nghiệm của các cuộc chiến tranh cục bộ ảnh hưởng lớn đến sự phát triển nghệ thuất tác chiến hải quân, nó cho phép kiểm tra tính chính xác của các khái niệm lý thuyết và quan điểm quân sự hiện có, xác nhận hoặc bác bỏ chúng. Các cuộc chiến tranh cục bộ cũng ảnh hưởng lớn đến việc xây dựng và tổ chức lực lượng hải quân.

Theo ý kiến của nhiều chuyên gia quân sự, kinh nghiệm của chúng đóng góp vào sự lựa chọn khuynh hướng mà dựa trên nó diễn ra việc phát triển và cải tiến vũ khí và trang bị kỹ thuật của Hải quân. Những vấn đề sau được coi là chủ yếu:
- Phổ quát hóa thiết bị và vũ khí Hải quân với việc tính đến khả năng tiến hành các hoạt động quân sự trong các điều kiện địa lý khác nhau ;
- Nâng cao chất lượng các loại vũ khí để tăng hiệu quả chiến đấu và hoàn thiện các phương pháp sử dụng nó ;
- Xây dựng và phát triển các phương tiện tự động chỉ huy các tàu chiến, máy bay và thủy quân lục chiến khi họ tiến hành các hoạt động chiến đấu; [ 424 ]
- Phát triển vũ khí và trang bị của thủy quân lục chiến, tạo điều kiện nâng cao tính cơ động của các đơn vị và binh đoàn nhằm triển khai nhanh chóng đến các vùng sâu vùng xa.

Phân tích kinh nghiệm sử dụng lực lượng hải quân trong các cuộc chiến tranh cục bộ cho phép xác định các nét đặc trưng và tính chất của nghệ thuật chiến tranh hải quân hiện đại. Trong đa số trường hợp, hoạt động chiến đấu của các hạm đội được thực hiện nhằm đảm bảo cho các chiến dịch của lực lượng lục quân, đồng thời cũng như trong Thế chiến 2, theo lệ thường, hoạt động của lực lượng hải quân cũng vẫn mang tính chất độc lập. Để thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu, đã thành lập các cụm đặc nhiệm từ các binh đoàn, đơn vị thuộc tất cả các quân binh chủng lực lượng vũ trang, thường dưới sự lãnh đạo của lực lượng hạm đội. Chẳng hạn, trong các cuộc chiến tranh Triều Tiên, Việt Nam, trong xung đột Anh- Argentina và các cuộc chiến tranh khác, lực lượng hải quân thường được sử dụng trong điều kiện bên tấn công thống trị hoàn toàn trên biển và trên không, hiệp đồng chặt chẽ với các loại quân binh chủng lực lượng vũ trang thông qua các chiến dịch chung và tổ chức tác chiến đồng thời trên tất cả các không gian chiến trường - trên đất liền và trên biển, trên không trung và dưới mặt nước. Các cụm lực lượng hải quân hoạt động phục vụ lực quân, được thành lập để đổ bộ đường biển, yểm trợ bằng máy bay và pháo binh cho quân đội trong cả tấn công và phòng thủ, phong tỏa duyên hải và đảm bảo công tác vận chuyển quân sự. Các cụm hoạt động trên các vùng biển mở được xây dựng hiếm hơn nhiều (Xung đột vũ trang Ấn Độ-Pakistan năm 1971, xung đột Anh- Argentina năm 1982).

Các hình thức chủ yếu trong việc sử dụng Hải quân là tổ chức các chiến dịch, các hoạt động chiến đấu có hệ thống và những trận hải chiến. Quy mô của một số chiến dịch tương ứng với quy mô của các chiến dịch tương tự trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai, và trong một số trường hợp còn vượt quá chúng. Trong các cuộc chiến tranh cục bộ những năm 50 - 70, các nước tham chiến đã sử dụng về cơ bản các hình thức và phương pháp sử dụng lực lượng hải quân trong [ 425 ] Chiến tranh Thế giới thứ Hai. Tuy nhiên, sự xuất hiện các phương tiện mới về nguyên lý (máy bay phản lực, tàu ngầm và tàu mặt nước chạy bằng năng lượng hạt nhân, tàu đệm khí, v.v), vũ khí và trang bị chiến đấu (tên lửa các loại, các khí tài vô tuyến điện tử mới, hệ thống tự động hóa công tác chỉ huy, v.v) không thể không ảnh hưởng đến tính chất các hoạt động chiến đấu của các hạm đội. Những ví dụ đầu tiên về việc ứng dụng thành công vũ khí tên lửa trong cuộc chiến tranh Ả Rập-Israel năm 1967 và các cuộc chiến tranh khác sau đó, đã buộc các chuyên gia quân sự đánh giá lại các hình thức lực lượng và phương tiện chiến đấu khác nhau của hạm đội và tìm tòi các hình thức và phương pháp mới sử dụng chúng.

TẤN CÔNG CÁC MỤC TIÊU MẶT ĐẤT

Các loại lực lượng khác nhau sau được huy động tấn công các mục tiêu mặt đất: máy bay trên tàu sân bay, các pháo hạm, các tàu tên lửa. Mức độ sử dụng chúng phụ thuộc vào độ dài của cuộc chiến tranh cục bộ, phạm vị các hoạt động chiến đấu, và tình hình hiện hành. Các hình thức cơ bản trong sử dụng lực lượng hải quân khi tấn công các mục tiêu quân sự, công nghiệp trên bờ và các đối tượng khác là các chiến dịch và các hành động tác chiến có hệ thống. Nếu như trong chiến tranh Triều Tiên lực lượng hải quân thường được sử dụng dưới hình thức chiến dịch, thì trong chiến tranh Việt Nam - dưới hình thức các hoạt động thường xuyên, còn trong các cuộc xung đột Ấn Độ-Pakistan (1971) và cuộc chiến tranh Ả Rập-Israel (1973) - dưới hình thức được gọi là "chiến dịch đánh phá".

Lực lượng chính giải quyết nhiệm vụ là đơn vị (cụm) xung kích tàu sân bay. Hình thức sử dụng chính của máy bay trên tàu sân bay là tập trung, phân theo nhóm và tấn công riêng lẻ - một cách độc lập cũng như phối hợp với không quân chiến lược và chiến thuật (các chiến dịch đường không).

Một trong những khuynh hướng hiệp đồng tác chiến của máy bay trên tàu sân bay và lực lượng không quân là phân chia khu vực hoạt động. Không quân của Hải quân [ 426 ] hoạt động chủ yếu ở các hướng ven biển. Lãnh đạo lực lượng máy bay hoạt động tác chiến hiệp đồng là bộ chỉ huy không lực.

Trong các cuộc chiến tranh cục bộ, hầu như tính di động cao của các tàu sân bay  không được sử dụng, trên thực tế chúng được sử dụng như các sân bay nổi, từ đó suốt ngày đêm các máy bay cất cánh tiến hành các phi vụ tấn công các mục tiêu của đối phương.

Chiến tranh Việt Nam đã ảnh hưởng ở một mức độ lớn đến sự phát triển của trang bị kỹ thuật hàng không. Trên cơ sở kinh nghiệm của nó, tại Hoa Kỳ đã phát triển máy bay phản lực trên tàu sân bay, máy bay do thám không người lái, các loại đạn dược mới ra đời.

Trong các hoạt động chiến đấu của tàu sân bay cho thấy rõ ràng xu hướng chuyển dịch từ chiến thuật của các phương tiện mang vũ khí riêng lẻ sang nhóm, dựa trên việc sử dụng tích hợp các vũ khí hủy diệt khác nhau bởi tất cả các nhóm chiến thuật trong cuộc đột kích và dựa trên sự "chuyên môn hóa" hẹp của mỗi nhóm trong số đó. Khi máy bay trên tàu sân bay tấn công các mục tiêu mặt đất tại Việt Nam, mỗi nhóm tấn công khi giải quyết các nhiệm vụ cụ thể của họ, đồng thời đảm bảo hoạt động cho hành động của các nhóm khác sau khi sử dụng vũ khí. Xu hướng tương tự có thể thấy trong hoạt động của các tàu tên lửa tại các cuộc xung đột Ấn Độ- Pakistan và chiến tranh Ả Rập-Israel.

Cường độ sử dụng máy bay trên tàu sân bay trong chiến tranh Triều Tiên và Việt Nam
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/b1-c12_zps0e03dba8.png) (http://s1185.photobucket.com/user/qtdc2/media/b1-c12_zps0e03dba8.png.html)

Các pháo hạm cũng được huy động rộng rãi tham gia tấn công các mục tiêu mặt đất. Theo xác nhận của các chuyên gia quân sự nước ngoài, cường độ sử dụng chúng trong các cuộc chiến tranh cục bộ cao hơn nhiều so với trong Thế chiến II.

Bộ chỉ huy Hải quân Mỹ khi đánh giá hoạt động của các thiết giáp hạm tại Việt Nam, lưu ý đến khả năng hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết, độ chính xác và hiệu quả cao của hỏa lực khi hủy diệt các mục tiêu được bảo vệ, họ đặt thiết giáp hạm lên vị trí đầu tiên khi so sánh với pháo binh dã chiến, máy bay ném bom và máy bay cường kích mặt đất. Khi tiến hành các cuộc chiến tranh cục bộ, theo các chuyên gia phương Tây, trong tương lai cần phải tăng cường sức mạnh tấn công của pháo binh cho các tàu chiến để giáng đòn công kích các cơ sở trên bờ.

PHÁO BINH VÀ KHÔNG QUÂN YỂM TRỢ LỤC QUÂN

Khác với Chiến tranh Thế giới thứ Hai, khi mà không quân và pháo binh thường yểm trợ các cuộc đổ bộ đường biển, trong các cuộc chiến tranh cục bộ, hinh thức yểm trợ lục quân như vậy mang ý nghĩa độc lập.

Từ kinh nghiệm của các cuộc chiến tranh cục bộ, cần thấy rằng, trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ vũ khí tên lửa, vai trò của vũ khí pháo binh trên tàu chiến bị giảm xuống một cách không xứng đáng, làm cho việc thể hiện khả năng pháo kích của tàu chiến nói chung bị ảnh hưởng xấu nói chung. Trong quá trình các cuộc chiến tranh cục bộ, đã thực hiện các bước cần thiết để cải thiện tốc độ bắn của pháo hạm, tầm bắn xa, cũng như để tạo ra hệ thống pháo hạm tự động hóa phổ quát (có đặc tính kỹ-chiến thuật cao) cỡ nòng trung bình và nhỏ.

Tính định hướng tăng cường hoạt động "hướng bờ" của lực lượng hải quân ảnh hưởng đến sự thay đổi trong huấn luyện tác chiến-chiến thuật của các tàu chiến Hải quân Mỹ, thể hiện trong việc họ thực hiện các hành động [ 428 ] pháo kích các đối tượng diện và điểm khác nhau trong mọi điều kiện thời tiết.

Kinh nghiệm sử dụng các tàu pháo yểm trợ hỏa lực cho lục quân ở các hướng ven biển đã được tính đến khi phát triển các hệ thống pháo hạm mới cỡ nòng trung bình và lớn, nhằm trang bị các lực lượng hiện đại cho hạm đội mặt nước của Mỹ và các nước NATO. Năm 1975 ở Hoa Kỳ, sau 11 năm gián đoạn việc đóng mới các khu trục hạm, tàu khu trục "A.Spruence" đầu đàn (trong loạt 30 tàu) với hai hệ thống pháo 127 mm Mk 45 có tầm bắn lên tới 24 km đã được đưa vào biên chế trang bị. Tại Anh năm 1975, sau một thời gian gián đoạn 22 năm trong việc đóng mới các khu trục hạm, tàu khu trục "Sheffield" với pháo 114 mm tự động Mk 8 của công ty "Vickers" có tầm bắn 20 km, tốc độ bắn 25 phát / phút, mức sẵn sàng nổ súng là 15 giây.

Ngoài các tàu pháo, để yểm trợ hỏa lực cho lực lượng lục quân còn sử dụng rộng rãi máy bay trên tàu sân bay và máy bay của thủy quân lục chiến.

Để tăng hiệu quả yểm trợ của pháo binh và không quân, bộ chỉ huy Mỹ rất chú ý đến sự hiệp đồng giữa máy bay, tàu chiến và lực lượng mặt đất. Đã thành lập các nhóm phối hợp đặc biệt để phối hợp hành động của tàu chiến, máy bay và các đơn vị mặt đất, phân chia ranh giới giữa các vùng và khu vực hoạt động tác chiến của họ, cũng như xác định các đối tượng để tấn công. Sự chú ý đặc biệt cũng giành cho việc đảm bảo an toàn cho lực lượng mặt đất và không quân trước hỏa lực pháo hạm của chính mình. Nhằm đảm bảo an toàn đã thiết lập chiều cao giới hạn quỹ đạo bay của đầu đạn pháo và độ cao bay cho phép tối thiểu của các máy bay.

Trong quá trình cuộc chiến tranh Triều Tiên đã hiện rõ hơn một khuynh hướng bắt đầu ngay từ những năm cuối của [ 429 ] Chiến tranh Thế giới II : sự thay thế máy bay ném bom bằng máy bay tiêm kích-ném bom (trên các tàu sân bay - là máy bay cường kích).

Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, do tính dữ dội của trận chiến trên mặt đất gia tăng đột ngột, do tình hình thay đổi nhanh chóng, cũng như do tuyến mặt trận có sự di chuyển rất lớn, đòi hỏi phải thay đổi đáng kể chiến thuật không quân. Để phản ứng nhanh trước yêu cầu của tuyến trước và làm cho không quân có mặt kịp thời tại mục tiêu cần tấn công, máy bay của Thủy quân lục chiến được bố trí trên các sân bay nằm gần tiền duyên, cũng như việc tổ chức xin yểm trợ được thực hiện qua các kênh liên lạc đặc biệt.

Việc hiệp đồng giữa không quân trên tàu sân bay và lực lượng mặt đất tiến hành dưới hình thức yểm trợ đường không trực tiếp hoặc thể hiện trong việc chủ động tổ chức sớm và đưa vào một số khu vực nhất định các cụm đặc nhiệm Hải quân phục vụ hoạt động của lực lượng mặt đất.

Khi thực hiện các cuộc không kích người ta cố gắng gây rối loạn trước cho sự làm việc của các phương tiện VTDT của đối phương, cũng như để bảo vệ mình khỏi sự tấn công của tên lửa phòng không có điều khiển và tác động của các khí tài chiến tranh điện tử. Điều này đạt được thông qua công tác trinh sát kỹ lưỡng (phát hiện các đặc tính cần thiết, vị trí đặt các trạm radar đối phương), che dấu việc sử dụng trên quy mô lớn và bất ngờ các khí tài tác chiến điện tử phục vụ hoàn thành nhiệm vụ chủ yếu. Sử dụng nhiễu một cách rộng rãi với các máy bay gây nhiễu chuyên dụng từ một số khu vực quần vòng để ngụy trang cho các nhóm tấn công, điều này cản trở hoạt động của lực lượng phòng không, nhưng đồng thời cũng kìm hãm sự cơ động của nhóm tấn công, còn bản thân máy bay gây nhiễu thuộc loại dễ bị tổn thương : máy bay tiêm kích có thể đuổi kịp chúng.

Để nâng cao hiệu quả hoạt động của không quân, trong năm 1967 máy bay tiêm kích Mỹ được trang bị máy gây nhiếu mới dạng container, mà theo đánh giá của các chuyên gia quân sự Mỹ, làm giảm đến 50 [ 430 ] lần xác suất đánh trúng mục tiêu của hệ thống tên lửa PK. Tính liên tục của sự yểm trợ đường không cho lực lượng mặt đất cả ngày và đêm, trong bất kỳ thời tiết nào cũng là nguyên tắc của trận chiến binh chủng hợp thành đã phát lộ trong những năm Chiến tranh Thế giới II và thể hiện đặc biệt rõ trong quá trình cuộc chiến tranh Việt Nam.
Đặc tính hoạt động vào ban đêm của máy bay : có sự khó khăn đáng kể hoặc loại trừ hẳn các hoạt động theo nhóm; một số dạng tấn công được tính toán trên cự ly phát hiện và bám sát mục tiêu cụ thể (2,5 - 5 km vào ban ngày); các phương thức sử dụng vũ khí đối với mục tiêu không quan sát được trực quan; các biện pháp tìm kiếm và chỉ thị mục tiêu, được các nhân viên dẫn đường trên không sử dụng.

Trong các cuộc chiến tranh cục bộ ở Trung Đông và trong tiến trình cuộc xung đột Anh- Argentina, vào thời gian trời tối trong ngày, có không quá 2% tổng số phi vụ là các phi vụ thực hiện nhiệm vụ yểm trợ.

Theo ý kiến các chuyên gia nước ngoài, vấn đề không quân hoạt động ban đêm phục vụ lực lượng lục quân vẫn chưa được giải quyết.
........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 18 Tháng Chín, 2013, 11:11:14 PM
(tiếp)

ĐỔ BỘ ĐƯỜNG BIỂN

Sự ra đời của vũ khí hạt nhân làm lung lay niềm tin của giới quan chức và các nhà lý luận quân sự khối quốc gia tư bản chủ nghĩa vào khả năng thành công của các chiến dịch đổ bộ đường biển lớn, gây hoài nghi đối với toàn bộ những kinh nghiệm thu được trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai.

Những quan điểm như vậy là "bộ phanh" trong sự phát triển không chỉ của LL và phương tiện ĐBĐB, mà còn cả lý thuyết chiến dịch đổ bộ đường biển. Chỉ phân tích kinh nghiệm thử vũ khí hạt nhân và kinh nghiệm sử dụng các lực lượng đổ bộ đường biển trong cuộc chiến tranh Triều Tiên, cũng cho phép các chuyên gia quân sự nước ngoài rút ra kết luận rõ ràng về vai trò ngày càng tăng của các chiến dịch đổ bộ và có được câu trả lời cho nhiều vấn đề nghệ thuật quân sự, bao gồm cả sự phát triển lý thuyết chiến dịch đổ bộ đường biển. [ 431 ]

"Inchon một lần nữa chứng minh ý nghĩa vô giá của các chiến dịch đổ bộ", - các học giả Mỹ nghiên cứu chiến tranh Triều Tiên nhận xét. Kinh nghiệm này là động lực cho sự hồi sinh nghệ thuật đổ bộ. Nó đồng thời chỉ ra vai trò ngày càng tăng của quân chủng Thủy quân lục chiến trong các chiến dịch đổ bộ. Vì vậy, ở Hoa Kỳ, quân số thu gọn sau Thế chiến II của Thủy quân lục chiến, trong giai đoạn sau tăng lên đến 300 nghìn người. Ngoài ra, 60 % các loại tàu đổ bộ được đóng trong thời gian Thế chiến II, đã chuyển sang trang bị dự trữ sau khi kết thúc Thế chiến, nay lại được đưa vào sủ dụng.

Tính đến kinh nghiệm chiến đấu và các cuộc tập trận đã thực hiện đầu thập niên 50 thế kỷ 20, tại Hoa Kỳ đã phát triển các quy định cơ bản về việc thực hiện các chiến dịch đổ bộ, được đưa vào các hướng dẫn chính thức. Một hướng dẫn tương tự như vậy cũng xuất hiện ở Anh và các nước NATO khác. Tùy thuộc vào thành phần các lực lượng huy động và nhiệm vụ mà họ phải giải quyết, các chuyên gia quân sự Mỹ đã chia các chiến dịch đổ bộ thành ba loại chính - "xâm nhập", "chiếm giữ" và "đột kích".

Theo thành phần của nó, hầu hết các cuộc đổ bộ thực hiện trong các cuộc chiến tranh và xung đột vũ trang cục bộ, không vượt quá mức độ chiến thuật và đôi khi là chiến dịch. Tuy nhiên, một số trong đó theo đuổi các mục tiêu chiến lược (chiến dịch đổ bộ Incheon).

Trong quá trình các cuộc chiến tranh và xung đột quân sự cục bộ của thời kỳ hậu Thế chiến 2, việc đổ bộ đường biển diễn ra dưới hình thức các chiến dịch đổ bộ đường biển và các hoạt động chiến đấu khi đổ bộ đường biển. Cuộc xâm lược vũ trang Grenada của lực lượng Mỹ tiến hành dưới hình thức một chiến dịch đổ bộ không-biển.

Trong một số trường hợp, đổ bộ đường biển mang đặc trưng đòn phản công từ hướng biển vào hậu phương quân địch đang tấn công (chiến dịch đổ bộ Incheon), trong trường hợp khác đó là một đòn tấn công phủ đầu để phá vỡ [432] cuộc tấn công của quân đội đối phương trong vùng duyên hải (các hoạt động đổ bộ tại Việt Nam).

Trong nhiều cuộc chiến tranh và xung đột quân sự cục bộ, với sự trợ giúp của quân đổ bộ đã diễn ra sự chiếm đóng hoàn toàn hoặc một phần đất nước bị xâm lược, hoặc các khu vực quan trọng nhất của đất nước đó (Grenada, Síp , Lebanon, Guatemala, Panama).

Thành phần và quân số đổ bộ đường biển trong mỗi trường hợp riêng được xác định từ nhiệm vụ chiến đấu, nguồn nhân lực và phương tiện sẵn có để giải quyết nó, thành phần quân đội và lực lượng phòng thủ chống đổ bộ của đối phương, tương quan cần thiết giữa lực lượng các bên để đổ bộ đường biển thành công và giải quyết được nhiệm vụ trên bờ.

Trong tiến trình các cuộc chiến tranh cục bộ, các phân đội chiến thuật cơ bản của TQLC là các nhóm đổ bộ cấp tiểu đoàn, bao gồm một tiểu đoàn lính thủy đánh bộ với các phân đội tăng cường và đảm bảo quân số đến 2.500 người. Đội đổ bộ cấp tiểu đoàn (tiểu đoàn TQLC viễn chinh) trở thành đơn vị chiến thuật chính khi lập kế hoạch và thực hiện các tính toán trong quá trình chuẩn bị cho các chiến dịch đổ bộ.

Để thực hiện thành công các hoạt động đổ bộ, cũng giống như trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai, cần phải có các điều kiện sau : cô lập các khu vực chiến sự; xây dựng ưu thế lực lượng trên đất liền, trên biển và trên không; làm suy yếu đến mức tối đa sự phòng thủ chống đổ bộ của đối phương trước khi đổ quân; giữ được bí mật qua trình chuẩn bị và sự bất ngờ cho cuộc đổ bộ. Các chiến dịch đổ bộ Incheon, kênh đào Suez, Falklands và các chiến dịch đổ bộ khác được tổ chức đúng như vậy.

Việc đổ bộ của phần lớn các đội quân đổ bộ đường biển trong các cuộc chiến tranh và xung đột quân sự cục bộ được thực hiện trong sự tuân thủ nghiêm ngặt các tài liệu hướng dẫn, quy định công tác chuẩn bị và tiến hành các chiến dịch đổ bộ với việc sử dụng tất cả các lực lượng và phương tiện để đổ quân, đảm bảo chiến đấu và yểm trợ cho lực lượng đổ bộ ngay cả khi không có sự kháng cự của đối phương tại tất cả các giai đoạn của chiến dịch hoặc trong một số giai đoạn riêng lẻ. [ 433 ]

Nhìn chung, các chiến dịch đổ bộ được lên kế hoạch và thực hiện theo các giai đoạn: lập kế hoạch; đưa quân và bốc xếp trang bị vũ khí, vật tư lên các phương tiện vận tải-đổ bộ; diễn tập đổ bộ; vận chuyển quân đổ bộ bằng đường biển; chiến đấu khi đổ bộ và quân đổ bộ giải quyết nhiệm vụ trên bờ.

Số lượng các cuộc đổ bộ đường biển được thực hiện trong tiến trình các cuộc chiến tranh cục bộ và xung đột quân sự kể từ sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang2-c12_zps114a917e.png) (http://s1185.photobucket.com/user/qtdc2/media/bang2-c12_zps114a917e.png.html)

Cơ cấu tổ chức của các lực lượng tham gia vào các chiến dịch đổ bộ phụ thuộc quy mô của nó. [ 434 ]
Trong các chiến dịch đổ bộ có sự tham gia của tất cả các quân binh chủng lực lượng vũ trang người ta trù tính thành lập lực lượng xâm nhập (lực lượng đổ bộ hợp nhất) trong thành phần binh đoàn (đơn vị hợp thành) thuộc hải quân, binh chủng dù và không quân. Trong các chiến dịch quy mô nhỏ hơn người ta thành lập binh đoàn đổ bộ tác chiến thủy bộ (các chi đội đổ bộ hợp nhất). Nó bao gồm các đơn vị của hạm đội và Thủy quân lục chiến cùng các đơn vị hợp thành và đơn vị cơ sở phối thuộc.

Trong trường hợp chung, các mục tiêu của cuộc đổ bộ đường biển là phối hợp hành động với lực lượng trên bộ khi thực hiện các chiến dịch phòng thủ và tấn công; lật đổ chính phủ của các quốc gia độc lập, khôi phục lại tình trạng thuộc địa, chiến đấu chống lại quân du kích, đàn áp phong trào giải phóng dân tộc, hỗ trợ cho các chế độ phản động; giải quyết các tranh chấp lãnh thổ.

Sau cuộc chiến tranh Triều Tiên trong thành phần lực lượng đổ bộ đường biển, ngoài các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến và lục quân, một thành phần bắt buộc là thê đội đường không gồm các đơn vị và phân đội thuộc binh chủng đổ bộ đường không có quân số đến 3.000 người như trong chiến dịch đổ bộ tại kênh đào Suez, cỡ tiểu đoàn trong cuộc xâm lược Cuba và 5.000 lính trong cuộc xâm lược của Mỹ vào Grenada.

Không phụ thuộc vào thành phần quân đội và lực lượng phòng thủ chống đổ bộ, những kẻ xâm lược luôn luôn tìm cách tạo ra và duy trì trong khu vực đổ bộ ưu thế áp đảo  so với đối phương về quân binh chủng, lực lượng và phương tiện. Từ ví dụ về các cuộc chiến tranh cục bộ đã hiện rõ xu hướng ổn định theo hướng tập trung hóa công tác chỉ huy các lực lượng. Lãnh đạo chung các lực lượng trong chiến dịch đổ bộ đường biển thường do Tư lệnh lực lượng vũ trang trên chiến trường thực hiện, còn chỉ huy trực tiếp - tư lệnh binh đoàn tác chiến hợp nhất Hải quân hoặc binh đoàn đổ bộ tác chiến thủy bộ (đại diện của Hải quân). Được bổ nhiệm chỉ huy lực lượng đổ bộ, thường là chỉ huy cụm quân tác chiến thủy bộ [ 435 ], đơn vị hợp thành hoặc binh đoàn đổ bộ tác chiến thủy bộ, tùy thuộc vào quy mô các hoạt động đổ bộ.

Trách nhiệm tiến hành các hoạt động chiến đấu của quân đổ bộ trên bờ do người chỉ huy quân đổ bộ nắm giữ. Trong các chiến dịch quy mô lớn, thường người ta chỉ định người thuộc bộ chỉ huy lục quân, còn trong các hoạt động đổ bộ quy mô chiến thuật - người ta trao trách nhiệm đó cho người thuộc Thủy Quân Lục Chiến.

Binh đoàn đổ bộ tác chiến thủy bộ, thường gồm một số đơn vị hoặc chi đội tác chiến (chi đội yểm trợ, chi đội tiên phong, chi đội tàu đổ bộ, tàu vận tải, tàu chỉ huy, yểm trợ hỏa lực), cũng như các đơn vị hợp thành và đơn vị cơ sở của không quân trên tàu sân bay, không quân thuộc Thủy quân lục chiến và bộ tư lệnh không quân.
.......


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 22 Tháng Chín, 2013, 12:38:17 AM
(tiếp)

Đặc điểm của một số cuộc đổ bộ đường biển, thực hiện trong tiến trình các cuộc chiến tranh cục bộ và xung đột quân sự
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang3-c12_zpsb57a082a.png) (http://s1185.photobucket.com/user/qtdc2/media/bang3-c12_zpsb57a082a.png.html)
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang3b-c12_zps2548a8cb.png) (http://s1185.photobucket.com/user/qtdc2/media/bang3b-c12_zps2548a8cb.png.html)
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang3c-c12_zps08c0258b.png) (http://s1185.photobucket.com/user/qtdc2/media/bang3c-c12_zps08c0258b.png.html)
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang3d-c12_zps8e9e8432.png) (http://s1185.photobucket.com/user/qtdc2/media/bang3d-c12_zps8e9e8432.png.html)
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang3e-c12_zps68cd6e4c.png) (http://s1185.photobucket.com/user/qtdc2/media/bang3e-c12_zps68cd6e4c.png.html)
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang3f-c12_zpsd9f32a60.png) (http://s1185.photobucket.com/user/qtdc2/media/bang3f-c12_zpsd9f32a60.png.html)

Một trong những thành tố quan trọng của binh đoàn đổ bộ tác chiến thủy bộ là đội tiên phong, phải có mặt trong khu vực đổ bộ sớm, trước khi lực lượng chính đến nơi, làm nhiệm vụ trinh sát bổ sung khu vực đổ quân, dọn các lối đi qua các bãi mìn tới các điểm đổ bộ, chuẩn bị trước bãi đổ bằng không quân và pháo binh, tiến hành công tác phá nổ ngầm dưới nước để tiêu hủy các chướng ngại công binh phòng chống đổ bộ cả dưới nước và trên bờ, thực hành các hành động phô trương. Để giải quyết những vấn đề nêu trên, trong đội tiên phong có đưa vào các chi đội và các nhóm lực lượng cũng như phương tiện phù hợp. Để không sớm làm lộ khu vực sẽ diễn ra chiến dịch đổ bộ sắp tới hoặc hướng đổ bộ đường biển chính yếu, người ta tiến hành các hoạt động nghi binh phô trương tại các khu vực khác. Ví dụ, trong quá trình chuẩn bị hỏa lực trước khu vực đổ bộ và khi quét mìn tại cảng Incheon, người ta đã đổ bộ một số chi đội hư trương thanh thế, còn các địa điểm dễ đổ bộ phải chịu những đòn tấn công đánh lạc hướng.

Đôi khi, để đạt được tính bất ngờ, các hoạt động sớm của đơn vị tiên phong không được lên kế hoạch trước, đơn vị sẽ thực hiện nhiệm vụ của mình trong quá trình đổ bộ. Kinh nghiệm của các cuộc chiến tranh cục bộ cho thấy đối với hoạt động của đội tiên phong cần dự kiến đủ thời gian để đơn vị hoàn thành đầy đủ nhiệm vụ của mình. Nếu không làm được như vậy sẽ dẫn đến sự rối loạn cuộc đổ bộ đường biển. Chẳng hạn, trong quá trình chiến dịch đổ bộ Wonsan, bộ chỉ huy của Mỹ đã phái đội tiên phong tới khu vực Wonsan 10 ngày trước khi bắt đầu cuộc đổ bộ đường biển. Thời gian trên không đủ cho công tác phá hủy các các bãi mìn chống đổ bộ của đơn vị. Đội tiền phong mạnh đã đảm bảo cho cuộc đổ bộ của người Anh lên quần đảo Falkland, đơn vị này trong 30 ngày đã làm suy yếu đáng kể sự phòng thủ chống đổ bộ của đối phương và khám phá được toàn thể [440] hệ thống phòng thủ của quần đảo, điều đó cho phép đánh chiếm đảo với thiệt hại nhỏ.

Trong các cuộc đổ bộ đường biển, đóng vai trò lớn là các dạng bảo đảm như trinh sát, ngụy trang, tác chiến điện tử. Hầu như bao giờ trước các cuộc đổ bộ của lực lượng chính, người ta đều tung ra các nhóm trinh sát-biệt kích nhằm trinh sát sự phòng thủ chống đổ bộ của đối phương, phá hoại thông tin liên lạc, đột nhập tiêu diệt các sở chỉ huy, các kho đạn dược, trang thiết bị quân sự, hiệu chỉnh hải pháo và chỉ điểm cho không quân tới các mục tiêu.

Trong quá trình các cuộc chiến tranh cục bộ, đã hiện rõ một xu hướng rất ổn định trong việc sử dụng các biện pháp khác nhau nhằm đạt tính bất ngờ cho cuộc đổ bộ. Điều này đạt được bằng cách giữ bí mật công tác chuẩn bị chiến dịch đổ bộ, các kế hoạch của nó, tăng cường bảo vệ địa điểm tập trung quân đội và ban tham mưu, sử dụng các định danh mã hóa, thiết lập cấp bảo mật thích hợp cho các loại tài liệu, hạn chế nhóm người được phép tham gia soạn thảo kế hoạch chiến dịch và các tài liệu khác, giảm việc sử dụng phương tiện thông tin liên lạc, đấu tranh chủ động chống trinh sát của đối phương, cũng như thực hiện các hoạt động đánh lạc hướng, hư trương thanh thế và thông tin sai lạc.

Trong tất cả các hoạt động đổ bộ, tầm quan trọng đặc biệt được gắn liền với công tác đảm bảo chắc chắn đánh bại sự phòng thủ chống đổ bộ của đối phương thông qua việc tiến hành hỏa lực không quân và pháo binh hiệu quả chuẩn bị cho cuộc đổ bộ và yểm trợ các hoạt động của quân đổ bộ trên bờ. Trong trường hợp này trước hết phải đánh bại sự phòng thủ chống đổ bộ gây trở ngại cho các hành động của đội tiên phong. Qua các ví dụ của các cuộc chiến tranh cục bộ, đã chứng minh tính hợp lý của việc áp dụng rộng rãi pháo hạm để chế áp và tiêu diệt các nhóm quân đội và các mục tiêu trong hệ thống phòng thủ chống đổ bộ trên một bàn đạp đầu cầu ở chiều sâu đến 20 km tính từ bờ biển. Trong khi đó, việc sử dụng hiệu quả của hải pháo được xác định bởi khả năng [ 441 ] nhanh chóng cơ động các quỹ đạo, di chuyển và tập trung hỏa lực vào các đối tượng nguy hiểm nhất ; đạt được trong thời gian ngắn mức độ tập trung hỏa lực cần thiết tại những khoảnh khắc quan trọng nhất của hoạt động trên bờ của quân đổ bộ, theo yêu cầu của các chỉ huy phân đội.

Khi ấn định ngày giờ và thời gian đổ bộ đường biển, đã tính đến những đặc điểm có thể trong sự kháng cự của đối phương; mức độ sẵn sàng các lực lượng của mình; thời hạn mà bộ chỉ huy cấp trên thiết lập; khả năng sử dụng hiệu quả lực lượng không quân và hải quân yểm trợ; độ dài của thời gian sáng và tối trong ngày cùng các điều kiện khí tượng ở địa phương, v.v. Trong hầu hết các trường hợp, cuộc đổ bộ thực hiện vào lúc bình minh, điều đó cho phép sử dụng tối đa thời gian sáng trong ngày để giải quyết nhiệm vụ trên bờ. Tuy nhiên, với việc đưa vào trang bị các khí tài nhìn đêm, việc  đổ bộ ban đêm đã trở nên có thể thực hiện được như trong cuộc xung đột Anh-Argentina.

Người ta tin rằng cuộc đổ bộ ban đêm đảm bảo đạt tính bất ngờ chiến thuật, loại trừ khả năng can thiệp của máy bay đối phương, cũng như ngăn chặn bộ chỉ huy Argentina đánh giá đúng tình hình và có biện pháp đối phó kịp thời. Ngoài ra, thời gian sáng trong ngày ngay sau khi đổ bộ ban đêm sẽ tạo khả năng phát triển nhanh chóng cho các chiến dịch đổ bộ.

Tuy nhiên, vào ban đêm khả năng yểm trợ hỏa lực bằng không quân và pháo binh sữ hạn chế, đòi hỏi một mức độ cao trong công tác chuẩn bị lực lượng hiệp đồng tác chiến trên đất liền và trên biển. Trong các điều kiện ban đêm, tốc độ tăng quân, tăng lực lượng và phương tiện của quân đổ bộ trên bờ nhờ trợ giúp của máy bay trực thăng sẽ giảm xuống.

Chiến tranh Triều Tiên đã tạo động lực tiếp tục phát triển lực lượng và phương tiện tác chiến thủy bộ. Chính từ thời kỳ này [ 442 ] đã bắt đầu quá trình dịch chuyển từ sự chuyên môn hóa hẹp các loại tàu đổ bộ sang sự vạn năng hóa chúng. Ban đầu xuất hiện các tàu đổ bộ chở máy bay trực thăng, sau đó là các tàu dok-đổ bộ chở máy bay trực thăng, trong đó, không giống các tàu dok-đổ bộ đóng trong thời chiến, chúng có thể tiếp nhận không chỉ các phương tiện đổ bộ mà còn cả các máy bay trực thăng.

Tương quan lực lượng các bên trong một số chiến dịch đổ bộ
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/b4-c12_zps1ff771ed.png) (http://s1185.photobucket.com/user/qtdc2/media/b4-c12_zps1ff771ed.png.html)

Một hiện tượng mới trong chiến dịch đổ bộ Suez (1956) là lần đầu tiên đã thực hiện đổ bộ đường biển theo phương pháp "bao vây theo phương thẳng đứng" ("vertical enveloppe"). Việc sử dụng trực thăng trong chiến dịch này dẫn đến ý tưởng rằng máy bay trực thăng thông thường không phù hợp với các hành động như vậy, cần phải chế tạo các máy bay trực thăng chiến đấu và vận tải chuyên biệt, có khả năng tiếp nhận một số lượng quân đáng kể và trang bị quân sự hạng nặng. Tàu đổ bộ chở trực thăng đầu tiên của Hải quân Mỹ "Tethys Bay" đã được chuyển đổi trong thời gian 1955 - 1956 từ tàu sân bay hộ tống lớp "Anzio" mà thành. Tuy nhiên, kinh nghiệm của những cuộc tập trận cho thấy các tàu sân bay trực thăng như vậy kém hữu dụng cho việc bố trí trên chúng những chiếc trực thăng chở quân - đổ bộ hạng nặng. Sự hiện diện trên sàn bay toàn bộ bốn đường băng và một máy nâng không đáp ứng được cường độ mong muốn của cuộc đổ bộ.

Có thể kết luận rằng cần đóng mới các tàu đổ bộ chở trực thăng có thiết kế đặc biệt. Trong khi đang phát triển thiết kế một con tàu như vậy, tại Mỹ năm 1956 [ 443 ] người ta đã hoán cải các HKMH chống ngầm hạng nặng "Boxer" và "Princeton", nhưng các tàu này cũng không đáp ứng được yêu cầu, mặc dù trên chúng có thể bố trí 30 - 40 máy bay trực thăng đổ bộ và một tiểu đoàn tăng cường quân chủng Thủy quân lục chiến quân số đến 1.000 người.

Sau đó tại Mỹ trong giai đoạn 1961-1969 đã đóng mới 7 tàu đổ bộ chở máy bay trực thăng là: "Iwo Jima" (1961 ), "Okinawa" (1968), "Guadalcanal" (1963), "Guam" (1965), "Tripoli" (1966 ), "New Orleans" (1968) và "Incheon" (1969), (LPH-2, 3, 7, 9-12, tương ứng), có khả năng mang trên boong 26 máy bay trực thăng. Trên các tàu đổ bộ chở trực thăng hiện đại có thể bố trí ở một thời gian dài một tiểu đoàn tăng cường Thủy quân lục chiến với các phương tiện vận tải và vũ khí thích hợp, có khả năng đưa chúng lên bờ bằng trực thăng, cùng các tải trọng, các cơ số đạn dược và dự trữ vật chất cần thiết. Nhóm trực thăng cất cánh đồng thời từ một con tàu như vậy có thể triển khai lên bờ trong một chuyến bay duy nhất đến 300 lính Thủy quân lục chiến. Trong giai đoạn 1962-1971 tại Hoa Kỳ đã đóng mới 2 tàu dok-đổ bộ chở máy bay trực thăng lớp "Raleigh" (LPD-1, 2) và 11 tàu lớp "Austin" (LPD-4 đến 10, 12 đến 15), chúng  mang được trên boong 6 máy bay trực thăng.

Trong hoạt động chiến đấu của các nhóm đổ bộ tác chiến thủy bộ trong chiến tranh Việt Nam, vì thiếu sự phối hợp hành động của các tàu thuộc các nhóm này, đôi khi tính tổ chức của cuộc đổ bộ bị vi phạm.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/2/21/USS_Tarawa_operations.jpg/800px-USS_Tarawa_operations.jpg)
USS "Tarawa" LHA-1 tại vịnh Péc-xích năm 2003 (http://en.wikipedia.org/wiki/File:USS_Tarawa_operations.jpg)

Trên cơ sở đó người Mỹ nảy sinh ý tưởng chế tạo ra một loại tàu đổ bộ đa năng, kết hợp đồng thời những phẩm chất của cả tàu chở máy bay trực thăng, tàu dok-vận tải và tàu chỉ huy. Một chiếc tàu như vậy, theo bộ chỉ huy Mỹ, sẽ trở thành hạt nhân của nhóm đổ bộ cấp tiểu đoàn, có khả năng giải quyết độc lập [ 444 ] các nhiệm vụ chiến thuật trong một chiến dịch đổ bộ đường biển. Không tồn tại tại thời điểm đó một loại tàu đổ bộ nào có khả năng giải quyết nhiệm vụ như vậy. Hợp đồng đóng mới tàu đầu đàn lớp tàu đổ bộ vạn năng "Tarawa" (LHA) đã được ký kết trong thời gian chiến tranh Việt Nam, tổng cộng trong giai đoạn từ 1976 đến 1980, Hải quân Mỹ đã nhận được 5 tàu (các LHA đánh số từ 1 đến5), trên đó dự tính bố trí đến 30 trực thăng vận tải-đổ bộ, các trực thăng yểm trợ hỏa lực và những máy bay trực thăng khác, cũng như 6 xuồng cao tốc đổ bộ. Ngoài ra, các tàu này có thể mang cả các máy bay cánh cố định cất hạ cánh thẳng đứng hoặc cất hạ cánh đường băng ngắn. Tất cả các phương tiện đổ bộ của loại tàu trên cho phép đồng thời đưa lên bờ 1,5 ngàn người. Một tàu đổ bộ lớp "Tarawa" có thể thay thế một tàu đổ bộ chở trực thăng lớp "Iwo Jima" và một tàu dok-đổ bộ chở trực thăng lớp "Austin". Sự hiện diện trên con tàu loại trên các trực thăng đổ bộ-vận tải và các xuồng đổ bộ cho phép đổ bộ một tiểu đoàn TQLC theo phương pháp "bao vây theo phương thẳng đứng". Năm tàu đổ bộ đa năng có thể giải quyết những vấn đề tương tự mà 8 tàu vận tải đổ bộ, 4 tàu chở hàng và 2 tàu đổ bộ chở trực thăng phải đồng thời thực hiện : đổ lên vùng bờ biển không được trang thiết bị theo phương pháp "bao vây phương thẳng đứng" một lữ đoàn TQLC viễn chinh cùng các trang bị quân sự, khí tài chiến đấu và các phương tiện vật chất-kỹ thuật

Các hoạt động chiến đấu của Hải quân Hoa Kỳ tại Việt Nam trở nên một thao trường độc đáo, tại đó thử nghiệm các mẫu vũ khí thiết bị quân sự mới của các loại tàu và của lực lượng Thủy quân lục chiến, phát triển các khái niệm mới về hoạt động đổ bộ, sau này được phản ánh trong các giáo trình huấn luyện chính thức và các hướng dẫn của Thủy quân lục chiến và lực lượng tác chiến thủy bộ. Các hoạt động đổ bộ của Hải quân Hoa Kỳ vào thời điểm đó mang tính chất của các hành động đổ bộ tìm kiếm-tảo thanh trong thời gian ngắn theo kiểu "đột kích". Tất cả các lực lượng đổ bộ đường biển đều được đổ bộ theo phương pháp [ 445 ] "bao vây theo phương thẳng đứng", trong đó quan sát thấy khuynh hướng gia tăng ổn định thành phần của Thủy quân lục chiến, được đổ bộ bằng máy bay trực thăng.
.........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 23 Tháng Chín, 2013, 06:50:01 PM
(tiếp)

Các yếu tố mới trong hoạt động đổ bộ đường biển tại Việt Nam là việc thành lập và ứng dụng lần đầu bởi người Mỹ các nhóm đổ bộ tác chiến thủy bộ cơ động. Một hoặc hai nhóm như vậy cùng với quân đổ bộ và các trang thiết bị quân sự trên tàu liên tục cơ động dọc theo bờ biển Việt Nam, sẵn sàng đổ bộ chiến thuật vào khu vực quy định.

Khi đổ bộ đường biển người Mỹ sử dụng hai phương pháp hành động - "búa và đe", "thòng lọng". Trong phương pháp "búa và đe" một nhóm (lực lượng lục quân và các pháo hạm) chiếm vị trí phong tỏa chốt chặn, thực hiện chức năng chiếc "đe", nhóm kia, nhóm xung kích (thủy quân lục chiến), là chiếc "búa", tiến hành tấn công để buộc đối phương dồn về phía tuyến trận địa chốt chặn, nơi mà họ sẽ bị đánh bại hoàn toàn. Phương pháp "thòng lọng" là tiến hành cuộc đổ bộ đường biển TQLC sao cho đối phương bị bao vây. Sau đòn hỏa lực ồ ạt bằng pháo binh, trực thăng vũ trang và máy bay cánh cố định, việc đập tan các lực lượng trên kết thúc.

Chiến tranh Việt Nam giúp tăng sức mạnh hỏa lực cho Thủy quân lục chiến Mỹ. Người Mỹ từ chối sử dụng các xe tăng bơi vì khả năng chiến đấu thấp của chúng. Sự từ chối này là do các xe tăng bơi ở trong làn sóng đổ bộ đầu tiên, và tốc độ nhỏ trên mặt nước của nó làm giảm tốc độ đổ bộ. Ngoài ra, người ta thấy rằng độ chính xác xạ kích của xe tăng khi bơi là thấp, chiếc xe tăng loại này chỉ có thể lên bờ trong trường hợp bãi biển dốc thoai thoải, có nền đất chắc. Xe tăng chiến đấu chủ lực của Thủy quân lục chiến là M60, trong thời gian chiến tranh ở Việt Nam được hiện đại hóa có tính đến các kinh nghiệm thu được. Các pháo tự hành [ 446 ] cỡ 203,2 và 155 mm trở thành vũ khí pháo binh chủ yếu của thủy quân lục chiến.

Từ kinh nghiệm của các cuộc đổ bộ đường biển tại Việt Nam người ta thấy các phương tiện đổ bộ hiện có không đáp ứng các yêu cầu đối với chúng. Tốc độ thấp (9-12 hải lý), thiếu khả năng đi biển (sóng không vượt qua cấp 3), thiếu các phẩm chất tác chiến thủy bộ đã tác động tiêu cực đến việc thực hiện các chiến dịch đổ bộ đường biển.

Hoạt động của các tàu đổ bộ nhỏ (xuồng) chạy trên đệm không khí (KVP - катер на воздушной подушке - КВП) được bộ chỉ huy Mỹ đánh giá tích cực. Thời đó đã có kết luận về tính hợp lý của việc sử dụng các xuồng loại này với tư cách là phương tiện đổ bộ lên bờ. Tốc độ cao của chúng cho phép đạt được tính bất ngờ chiến thuật và nâng cao đáng kể tốc độ cuộc đổ bộ, còn chất lượng tác chiến thủy bộ của chúng - chúng vượt qua các chướng ngại chống đổ bộ bố trí trong nước một cách thành công, chúng hoạt động được trong điều kiện có lớp băng bao phủ, hoạt động ở vùng nước nông, trên các khu vực địa hình đồng bằng và đầm lầy, thậm chí cơ động được trong chiều sâu chiến thuật khu phòng thủ của đối phương. Chuyển động tách khỏi bề mặt nước làm giảm đáng kể các tổn thương của KVP do các mẫu mìn và ngư lôi thông dụng và hiện có.

Việc sử dụng các KVP làm phương tiện đổ bộ cũng cho phép giảm tổn thất của các tàu đổ bộ và tàu vận tải, triển khai tại khu vực bên ngoài và bên trong khu tập kết của chúng trong quá trình cuộc đổ bộ trên một cự ly cách xa đáng kể tính từ bờ biển (25 - 30 dặm), có nghĩa là vượt ra ngoài phạm vi tác xạ hiệu quả của pháo binh thuộc hệ thống phòng thủ chống đổ bộ. Ngoài ra, KVP cũng tạo ra cơ hội lớn trong việc lựa chọn khu vực đổ quân cho các phân đội quân đổ bộ. Đây là cơ sở cho sự bắt đầu triển khai tại Hoa Kỳ các công tác thiết kế-thử nghiệm về chế tạo các phương tiện đổ bộ lên bờ biển chạy trên đệm không khí và trang bị chúng cho [ 447 ] các tàu đổ bộ hiện đại. Kết quả của những nghiên cứu này là năm 1983 tại Mỹ đã bắt đầu sản xuất hàng loạt xuồng đổ bộ chạy trên đệm không khí loại LCAC.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/2/2b/LCAC.JPG/640px-LCAC.JPG)
Một LCAC đang cơ động vào hầm tàu (well-deck) của tàu tấn công thủy-bộ USS Kearsarge (LHD-3) (http://en.wikipedia.org/wiki/Landing_Craft_Air_Cushion)

Như vậy, tính đến kinh nghiệm của các hoạt động đổ bộ đường biển trong chiến tranh Việt Nam, quan điểm lý luận về các chiến dịch đổ bộ đường biển, về sự phát triển của lực lượng tác chiến thủy bộ và vũ khí của Thủy quân lục chiến Mỹ đã thay đổi đáng kể.

Trong thời kỳ cuộc xung đột Anh- Argentina, với sự có mặt của các thiết bị nhìn đêm, việc đổ quân ban đêm đảm bảo được trên một mức độ lớn tính bất ngờ và sự thành công cho trong việc quân đổ bộ hoàn thành nhiệm vụ trên bờ. Kinh nghiệm đổ bộ không-biển dẫn đến sự xuất hiện một hình thức mới trong công tác hiệp đồng của các quân binh chủng lực lượng vũ trang khác nhau - chiến dịch đổ bộ không-biển.

Kết quả của các cuộc chiến tranh cục bộ khẳng định tầm quan trọng lớn lao của công tác đảm bảo chống mìn trong các hoạt động đổ bộ. Chẳng hạn, các hành động chống thủy lôi không có tổ chức, thực hiện không kịp thời, đã dẫn đến sự phá vỡ chiến dịch đổ bộ Wonsan (năm 1951), một chiến dịch được người Mỹ lên kế hoạch theo tất cả các quy tắc của nghệ thuật chiến tranh. Hải quân Mỹ hoàn toàn không được chuẩn bị để đối phó với nguy cơ về thủy lôi, ngay cả khi không gặp sự phản kháng từ phía kẻ thù. Gần 300 tàu các loại chở quân trên boong đã buộc phải chờ quét xong thủy lôi khu vực đổ bộ, công việc ngốn mất 15 ngày thay vì 5 ngày theo kế hoạch.

Sự thành công của các cuộc đổ bộ đường không và đường biển trong một số chiến dịch trước hết bắt nguồn từ công tác tổ chức hiệp đồng thành công (chiến dịch đổ bộ Suez năm 1956, cuộc xâm lược vũ trang vào Grenada năm 1983). Ngoài việc xây dựng các kế hoạch hiệp đồng chi tiết, vào đêm trước cuộc đổ bộ, đã kịp thời định hướng hoạt động tác chiến, trong đó xác định chính xác các nhiệm vụ đặt ra, trình tự và thời gian thực hiện của chúng. Tuy nhiên, không phải lúc nào sự hiệp đồng chuẩn xác cũng đạt được [ 448 ] (cuộc xâm lược vũ trang chống Cuba năm 1961, và những chiến dịch khác).

Khi phân tích nhiều chiến dịch đổ bộ, có thể giả định rằng việc hoàn thiện về sau các phương pháp đổ bộ đường biển sẽ được thực hiện bằng cách đưa vào trang bị các phương tiện đổ bộ lên bờ tốc độ cao kiểu mới, trước hết là các xuồng đổ bộ chạy trên đệm không khí, các xuồng lướt cao tốc, các trực thăng vận tải-đổ bộ hạng nặng và các máy bay cất hạ cánh thẳng đứng (hoặc cất hạ cánh đường băng ngắn), cũng như các tàu đổ bộ kiểu mới với dung tích đổ bộ lớn hơn và tầm bơi xa hơn.

Việc sử dụng các phương tiện đổ bộ lên bờ chạy trên đệm không khí sẽ mở rộng miền bờ biển có thể đổ bộ lên từ 17-70 % tổng chiều dài đường bờ biển, tăng cường khả năng đổ quân trên bờ biển không có trang bị và đẩy nhanh tốc độ đổ quân lên bờ biển, cũng như sẽ đảm bảo việc phát triển tiếp theo các phương pháp đổ bộ " bao trùm theo phương ngang" và " bao trùm theo phương thẳng đứng". Việc hạ thủy các phương tiện đổ bộ lên bờ sẽ xảy ra ở cự ly cách bờ biển 30 - 35 dặm (hiện giờ là 2 - 3 dặm), tức là ở ngoài tầm bắn hiệu quả của pháo binh chống đổ bộ (phương pháp đổ bộ "tấn công từ ngoài đường chân trời").

Sự thay đổi thật sự sẽ diễn ra trong công tác tổ chức chuẩn bị pháo binh và yểm trợ trong các chiến dịch đổ bộ. Theo ý kiến của các chuyên gia quân sự Mỹ, việc thiếu pháo hạm cỡ nòng lớn trên các tàu chiến không cho phép yểm trợ pháo binh hiệu quả cho quân đổ bộ.

Việc nâng cao hiệu quả hỏa lực pháo hạm dự kiến sẽ thực hiện bằng cách sử dụng đạn phản lực cỡ 155 và 203,2 mm, có hệ thống dẫn đường bán chủ động ở pha cuối của quỹ đạo, đưa vào trang bị hệ thống pháo hạm kiểu mới [449] cỡ 203,2 mm có tầm bắn đến 28 км, cũng như hiện đại hóa và đưa vào hoạt động các pháo hạm đang ở trong biên chế dự trữ. Theo ý kiến của các chuyên gia nước ngoài, trong các điều kiện hiện đại vai trò của đổ bộ đường biển đã tăng lên rất lớn.

Đối với một số chiến trường và hướng riêng biệt, việc đổ quân đổ bộ có thể là nội dung chủ yếu của các hoạt động quân sự. Xu hướng huấn luyện chiến đấu của NATO chứng tỏ tầm quan trọng của đổ bộ đường biển. Gần như trong tất cả các cuộc tập trận của khối này, một trong những vị trí quan trọng nhất là các chiến dịch đổ bộ quy mô lớn, số lượng của chúng trong 15 năm gần đây đã tăng lên 3,5 lần.
........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 01 Tháng Mười, 2013, 11:30:58 PM
(tiếp)

PHONG TỎA ĐƯỜNG BIỂN

Một trong những hình thức tham gia của các hạm đội vào các cuộc chiến tranh và xung đột vũ trang cục bộ thời kỳ sau chiến tranh (thế giới 2) là phong tỏa đường biển. Các hoạt động phong tỏa phổ biến nhất diễn ra trong thời gian chiến tranh Triều Tiên, Việt Nam, và Nam Đại Tây Dương. Trong tất cả các cuộc chiến tranh và xung đột vũ trang cục bộ, chúng đều mang tính chất bất hợp pháp. Đặc điểm của các hành động phong tỏa là bên bảo vệ thường không có lực lượng hải quân đủ khả năng chống lại kẻ thù vốn có một hạm đội hùng mạnh. Ngoại lệ duy nhất là cuộc xung đột Anh- Argentina mà ở đó các bên có lực lượng Hải quân có phần tương đương về quân số.

Trong một số cuộc chiến tranh cục bộ, việc phong tỏa đường biển đóng vai trò quan trọng bậc nhất. Ví dụ, khi đánh chiếm quần đảo Falkland, lực lượng thủy quân lục chiến chỉ đổ bộ sau khi thiết lập phong tỏa.

Tùy thuộc nhiệm vụ và quy mô phong tỏa đường biển, người ta có thể đạt được không chỉ những mục tiêu chiến dịch mà còn cả mục tiêu chiến lược. Vào lúc bắt đầu chiến tranh [ 450 ], phe tấn công chính thức tuyên bố thiết lập sự phong tỏa đường biển với việc chỉ ra ngày giờ bắt đầu hoạt động phong tỏa và giới hạn của nó (nó được gọi theo một cách khác như "vùng chiến sự", "khu vực hải chiến", "khu vực chiến dịch", "vùng cách ly", v.v...), được tổ chức trên cự ly cách bờ biển bị phong tỏa từ hàng chục đến hàng trăm dặm. Chẳng hạn, chiều sâu khu vực phong tỏa đường biển khi Hoa Kỳ xâm lược Grenada là 50 dặm, trong chiến tranh Triều Tiên - từ 100-130 dặm, còn trong cuộc xung đột Anh-Argentina là 200 dặm. Chiều dài các khu vực phong tỏa trong một số trường hợp lên tới 2000 dặm. Trong một số cuộc chiến tranh, người ta chỉ phong tỏa một số đoạn bờ biển riêng biệt, một số bến cảng và căn cứ hải quân riêng. Thông thường, đây là những khu vực đổ bộ TQLC hoặc khu ven biển tiếp giáp với nơi triển khai các cụm lực lượng mặt đất. Để tiến hành phong tỏa đường biển vùng duyên hải, các căn cứ hải quân và các cảng, người ta huy động các tàu mặt nước, tàu ngầm (gồm cả tàu ngầm hạt nhân), không quân hải quân (máy bay trên tàu sân bay, máy bay tuần biển và máy bay của thủy quân lục chiến), thường được kết hợp trong một lực lượng có mục đích nhất định.

Trong chiến tranh Triều Tiên, sau khi tuyên bố phong tỏa, bộ chỉ huy Mỹ không hề có một kế hoạch rõ ràng, không có một quan điểm nhất quán về việc tổ chức thực hiện nó. Lúc đầu, nó mang tính chất tạm thời. Các tàu đang tuần tra ngoài khơi bờ biển Bắc Triều Tiên, được trao nhiệm vụ ngăn chặn việc vận tải đường biển của đối phương và đồng thời bắn phá các cơ sở trên bờ nhằm mục đích gây thiệt hại về nhân lực và trang bị kỹ thuật cho họ. Lực lượng lớn nhất được huy động là trong cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba (tháng Mười-Tháng Mười Một 1962) để phong tỏa đường biển chống Cuba. Theo báo chí nước ngoài, tham gia phong tỏa có hơn 180 tàu, trong đó có 8 tàu sân bay, tức là gần như toàn bộ Hạm đội Đại Tây Dương của Mỹ. [ 451 ]

Khi tiến hành phong tỏa đường biển thường sử dụng ba phương pháp hoạt động của các lực lượng như sau : tuần tra trong các khu vực phong tỏa đường biển và tuần tra giám sát các căn cứ hải quân và các cảng của đối phương; tấn công bằng tên lửa và pháo binh vào các điểm đóng quân, các bến cảng và đường giao thông bộ ven biển; rải mìn phong tỏa các căn cứ hải quân, các cảng và đường hàng hải.

Các cuộc chiến tranh và xung đột quân sự cục bộ đã đóng góp đáng kể cho nghệ thuật tác chiến phong tỏa đường biển. Phân tích kinh nghiệm các hoạt động phong tỏa cho thấy công tác tổ chức và các phương pháp tiến hành được xác định bởi các mục tiêu quân sự-chính trị, thành phần và tương quan lực lượng các bên đối lập; tính chất của việc áp dụng và các khả năng chiến đấu của các lực lượng trong việc duy trì phong tỏa và chống phong tỏa; các điều kiện địa lý và khí tượng thủy văn của khu vực chiến sự.

Mặc dù phong tỏa đường biển không trực tiếp dẫn đến chỗ đạt được các mục tiêu của chiến tranh, nó vẫn góp phần to lớn cho việc giải quyết thành công nhiệm vụ đặt ra trước không chỉ lực lượng Hải quân, mà còn cả các lực lượng vũ trang của các nước tham chiến. Để đạt được các mục tiêu chiến dịch-chiến lược của cuộc chiến tranh (cuộc xung đột), và trên hết làm suy yếu tiềm năng kinh tế - quân sự của đối thủ, hoạt động phong tỏa sẽ vẫn tiếp tục là một bộ phận không thể thiếu của các hoạt động trên biển và là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của Hải quân.
......


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 09 Tháng Mười, 2013, 11:40:07 PM
(tiếp)

Trong hầu hết các cuộc chiến tranh và xung đột quân sự cục bộ : mục đích của các cuộc phong tỏa đường biển đạt được chủ yếu thông qua việc xây dựng ưu thế áp đảo về lực lượng so với đối phương. Nhưng ngay cả trong trường hợp như vậy, lực lượng phong tỏa vẫn phải chịu những thiệt hại đáng kể mà thường là phi lý. Ví dụ, trong giai đoạn từ tháng Tư đến tháng Sáu năm 1952 các khẩu đội pháo bờ biển Wonsan trong vòng 1 tháng đã 5 lần bắn trúng tàu chiến Mỹ. Trong các cuộc chiến tranh cục bộ người ta tiếp tục phát triển hơn nữa [ 452 ] việc kết hợp sử dụng các lực lượng và phương tiện khác nhau của hạm đội trong việc tiến hành các hoạt động phong tỏa. Việc tăng quy mô không gian của các hoạt động đó, tăng phạm vi các nhiệm vụ phải giải quyết, mục tiêu và phạm vi các hoạt động phong tỏa, tăng mật độ lực lượng phong tỏa, giá trị của các hoạt động đảm bảo cũng tăng lên.

Khi tiến hành phong tỏa hàng hải, tầm quan trọng của vũ khí mìn trở nên rất lớn, trong đó ngoài việc phá hủy các loại tàu thuyền, nó còn gây tác động tâm lý tới đội ngũ quân nhân và đòi hỏi phải huy động những lực lượng và phương tiện phòng thủ chống mìn đáng kể để đối phó. Phong tỏa hàng hải trong các cuộc chiến tranh và xung đột quân sự cục bộ gần như luôn luôn được bổ sung bằng các biện pháp trừng phạt kinh tế- chính trị. Không coi nhẹ tầm quan trọng của các phương pháp hoạt động phong tỏa khác, nhiều chuyên gia quân sự cho rằng xu hướng tấn công các mục tiêu bố trí trên miền duyên hải và trong nội địa của đối phương đang phát triển mạnh. Đồng thời họ nhấn mạnh vai trò trong việc giải quyết những nhiệm vụ trên của các thiết giáp hạm được hiện đại hóa và đưa vào biên chế Hải quân Mỹ thuộc lớp "Iowa", những tàu chiến mà theo ý kiến của các chuyên gia quân sự Mỹ là phương tiện "lý tưởng" cho các cuộc tấn công vào các mục tiêu nằm trên bờ biển.

Cần lưu ý rằng kinh nghiệm hoạt động phong tỏa của lực lượng hải quân trong các cuộc chiến tranh và xung đột quân sự cục bộ đã được sử dụng trong thực hành huấn luyện quân sự và chuẩn bị tác chiến cho LLHQ của nhiều quốc gia cũng như LLHQ của liên quân đa quốc gia. Chẳng hạn, trong những năm gần đây, số lượng các cuộc tập trận có thao luyện hoạt động phong tỏa tại các khu vực khác nhau của thế giới đã tăng mạnh, đặc biệt trong các khu vực eo biển của Biển Đen và biển Baltic, gần bờ biển Nhật Bản, trên Biển Bắc, Biển Na Uy và Địa Trung Hải. Trong đó, để thực hành thao luyện các nhiệm vụ phong tỏa người ta đã huy động mọi loại tàu mặt nước, máy bay và tàu ngầm. [ 453 ]


TIÊU DIỆT LLHQ ĐỐI PHƯƠNG TRÊN BIỂN VÀ TRONG CÁC CĂN CỨ

Các hình thức tác chiến cơ bản khi tiêu diệt lực lượng hải quân trên biển và trong các căn cứ là hải chiến, tấn công vào các tàu chiến trong các căn cứ và rải mìn. Các hoạt động đó đã làm tổn thất hơn 150 tàu chiến và tàu hậu cần đảm bảo.

Vai trò hàng đầu trong việc tiêu diệt các lực lượng hải quân đối phương trên biển và trong các căn cứ thuộc về các phương tiện tấn công đường không. Nếu trong Thế chiến 1 có 1 - 2 % tổng số tàu bị đánh chìm là do KQ, thì con số tàu chiến tổn thất do các cuộc không kích trong Thế chiến II đã lên tới 35,7%. Không quân đã phá hủy ngay tại các căn cứ hải quân 126 tàu mặt nước và tàu ngầm trên tổng số 158, chiếm tới 80% tổng số thiệt hại. Trong quá trình các cuộc chiến tranh và xung đột quân sự cục bộ, bằng các phương tiện tấn công đường không đã tiêu diệt 54 % số tàu chiến và tàu phụ trợ, trong đó sử dụng bom ném từ máy bay - 37%, tên lửa chống hạm - 17%.

Trong cuộc xung đột Anh- Argentina, tổn thất tàu các loại do phương tiện tấn công đường không tăng đáng kể và chiếm 80% số lượng tàu bị đánh chìm và 93% số lượng tàu bị đánh hỏng của cả hai bên. Những lý do chính làm người Anh bị tổn thất nặng về tàu là do tính không đủ tin cậy của hệ thống phòng không của các cụm tàu của họ do trong thành phần của các cụm này thiếu máy bay cảnh báo sớm tầm xa và chỉ huy "Nimrod" để phát hiện sớm các mục tiêu trên không, cũng như thiếu các máy bay cánh cố định và trực thăng làm nhiệm vụ giám sát trên không bằng radar. Lý do nữa là không đủ số lượng tàu có trang bị hệ thống TLPK "Sea Wolf ", hệ thống mà đã chứng tỏ bản thân một cách tích cực trong chiến đấu bởi vì nó có tốc độ phản ứng rất cao. [ 454 ]

Phân tích tổn thất của tàu chiến và tàu hỗ trợ trong các cuộc chiến tranh cục bộ cho thấy hầu hết các tàu đều bị tiêu diệt bởi bom hàng không, một điều hoàn toàn bất ngờ đối với các chuyên gia quân sự nước ngoài. Người ta tin rằng với việc trang bị các tên lửa PK, các hệ thống pháo phòng không tốc độ bắn nhanh, cũng như các hệ thống điều khiển tự động vũ khí, máy bay sẽ không thể tiếp cận các tàu để thực hiện ném bom.

Hiệu quả sử dụng bom hàng không được xác nhận trong cuộc xung đột Anh- Argentina (1982), khi sử dụng bom thông thường các phi công Argentina đã đánh chìm bốn tàu chiến mới nhất của Hải quân Anh và đánh bị thương hơn 20 tàu khác. Trong đó, cả các tàu bị đánh chìm cũng như các tàu bị thương đều trang bị các phương tiện mới nhất phát hiện mục tiêu trên không, các hệ thống tên lửa PK và pháo phòng không, các hệ thống tác chiến điện tử tiên tiến, các hệ thống thể hiện tình hình tự động hóa v.v. Đặc biệt hiệu quả là các đòn đánh khi tấn công ồ ạt với số đông trong thời tiết xấu và ở các độ cao thấp. Trên cơ sở phân tích các kinh nghiệm của cuộc xung đột Anh- Argentina, các chuyên gia phương Tây đi đến kết luận bom hàng không là phương tiện tiêu diệt tàu hiệu quả, đặc biệt khi hoạt động trong khu vực các hòn đảo và những vùng núi đá, dưới tác động mạnh mẽ của chiến tranh điện tử của đối phương và các tàu chiến có vỏ giáp mạnh bọc mạn và bọc mặt boong. Nhìn chung, việc đánh trúng tiêu diệt các tàu chiến khi sử dụng bom hàng không được đặc trưng bởi một thực tế là trong số tất cả các tàu bị máy bay tấn công bằng bom, có 25% bị tiêu diệt và 75% bị thương. Thường khi trúng bom, các tàu đều bị mảnh bom phá làm hư hại các vị trí chiến đấu lộ thiên và phần kết cấu thượng tầng. Việc trúng bom trực tiếp trong một số trường hợp dẫn đến phá hủy phần thân tàu dưới nước [ 455 ]. Có 80% số tàu bị tiêu diệt đã bị phá hủy do các đám cháy mạnh bùng phát khi trúng bom, sau đó tàu phát nổ khiến độ kín của thân tàu bị mất, và hệ quả là tàu mất ổn định hoặc mất khả năng nổi. Bài học của các cuộc chiến tranh cục bộ cho thấy để tiêu diệt tàu chiến thuộc các lớp như tàu khu trục, frigate, tàu đổ bộ cỡ lớn, các con tàu đó phải trực tiếp trúng 2-3 trái bom cỡ 500 kg. So với với kinh nghiệm của Thế chiến 2 việc sử dụng từ cuối thập niên 60 tên lửa chống hạm (PKR) là một phương pháp mới trong việc tiêu diệt lực lượng hải quân đối phương trên biển và trong căn cứ. Mặc dù việc sử dụng còn hạn chế, TLCH đã đánh chìm 22 tàu chiến và tàu phụ trợ, chiếm 17% số tàu bị tiêu diệt. Kết quả việc sử dụng tên lửa chống hạm trong cuộc chiến tranh Ả Rập-Israel năm 1967 đánh dấu hiệu quả đáng kể của nó. Việc tàu khu trục "Eilat" của Israel bị tên lửa Ả Rập đánh chìm trong quá trình cuộc chiến này và các hoạt động thành công sau đó của các tàu cao tốc mang tên lửa đã thu hút sự quan tâm lớn của các chuyên gia hải quân với lớp tàu này, góp phần tăng cường xây dựng chúng, cũng như đánh giá lại các loại lực lượng, các lớp tàu và phương tiện chiến tranh. Kinh nghiệm ứng dụng chiến đấu của TLCH trong các cuộc chiến tranh cục bộ tạo nên động lực triển khai các công việc quy mô sâu rộng nhằm hoàn thiện chúng. Trong những năm 70 đã bắt đầu quá trình đánh giá lại vai trò và giá trị của tàu mặt nước trong việc giải quyết các nhiệm vụ tấn công của hạm đội. Nó được tăng tốc bằng cách tạo ra các loại vũ khí và trang bị mới, trong đó trước hết phải kể các tên lửa chống hạm: ở Mỹ - "Harpoon" và "Tomahawk", tại Pháp - là "Exocet", tại Na Uy - "Pingwin", ở Ý - "Sea Killer", ở Israel - "Gabriel". Trang bị TLCH cho các tàu chiến đảm bảo nâng cao đáng kể khả năng tấn công của chúng. [ 456 ]
.........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 16 Tháng Mười, 2013, 10:46:14 PM
(tiếp)

Phân bố các trường hợp bị đánh đắm của các tàu chiến và tàu phụ trợ, phân theo loại vũ khí được sử dụng để tiêu diệt chúng
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/b5-c12_zpsd0ed10d9.jpg) (http://s1185.photobucket.com/user/qtdc2/media/b5-c12_zpsd0ed10d9.jpg.html)

1. Trong bảng có tính đến tổn thất 17 tàu quét mìn trong quá trình quét mìn sau chiến tranh thời kỳ 1945-1951.
2. Bảng không tính đến thiệt hại tàu thuyền trong cuộc chiến Iran - Iraq 1980-1988  và Chiến tranh vùng Vịnh năm 1991 do thiếu thông tin đáng tin cậy về việc chúng bị tiêu diệt bởi các loại vũ khí cụ thể.[ 457 ]

Phân tích nguyên nhân tổn thất của các tàu chiến và tàu phụ trợ lớn trong các cuộc chiến tranh và xung đột quân sự cục bộ thời kỳ sau chiến tranh (Thế chiến II)
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/b61-c12_zps5dfa891b.jpg) (http://s1185.photobucket.com/user/qtdc2/media/b61-c12_zps5dfa891b.jpg.html)
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/b62-c12_zpsc93bc00c.jpg) (http://s1185.photobucket.com/user/qtdc2/media/b62-c12_zpsc93bc00c.jpg.html)
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/b63-c12_zpsec6fd200.jpg) (http://s1185.photobucket.com/user/qtdc2/media/b63-c12_zpsec6fd200.jpg.html)
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/b64-c12_zps4533d77d.jpg) (http://s1185.photobucket.com/user/qtdc2/media/b64-c12_zps4533d77d.jpg.html)
.........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 17 Tháng Mười, 2013, 07:54:30 PM
(tiếp)

Mức độ thiệt hại của tuần dương hạm, khu trục hạm, frigate, tàu quét mìn, tàu ngầm, tùy thuộc vào loại bom đạn sử dụng để tiêu diệt chúng
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/b7-c12_zpsffb3ebb4.jpg) (http://s1185.photobucket.com/user/qtdc2/media/b7-c12_zpsffb3ebb4.jpg.html)

Trong cuộc xung đột Ấn Độ-Pakistan (1971), chiến tranh Ả Rập-Israel (1973) và cuộc xung đột Anh- Argentina (1982), tên lửa hành trình chống hạm do đặc tính chiến đấu cao đã vững bước tiến vào đội hình những phương tiện hiệu quả nhất để tiêu diệt tàu mặt nước và các mục tiêu trên bờ biển. Mức độ tiêu diệt các loại tàu của nó là 77,7 % tổng số các mục tiêu bị phá hủy khi tấn công chúng bằng tên lửa chống hạm, và 22,3 % tàu bị hư hại. Từ kinh nghiệm của các cuộc chiến tranh cục bộ người ta thấy rằng để tiêu diệt tàu chiến loại khu trục hạm thì tàu phải trúng hai đến ba tên lửa, loại tàu tuần tra, frigate, tàu quét mìn có độ choán nước đến 600 tấn, tàu đổ bộ cỡ lớn - mục tiêu cần phải trúng một hoặc hai tên lửa, còn với tàu trọng tải nhỏ hơn - chỉ cần trúng một đạn. Trường hợp ngoại lệ là trong cuộc chiến tranh Ả Rập-Israel (1973 ), để đánh chìm một tàu cao tốc cỡ nhỏ độ choán nước khoảng 200 tấn, người Israel đã tiêu tốn đến 4 tên lửa "Gabriel". Nhưng điều đó có nguyên nhân ở sức công phá thấp của đầu đạn tên lửa Israel. Ngay sau khi chiến sự kết thúc, nhược điểm này đã bị loại bỏ.

Thông thường, khi bắn trúng thân tàu, tên lửa chống hạm tạo ra một lỗ phá lớn, đôi khi lên đến 8 m2.  Sau khi đầu đạn tên lửa phát nổ thường là trên tàu sẽ bùng lên đám cháy mạnh, trong một số trường hợp kèm theo các vụ nổ [ 462 ] đạn dược và nhiên liệu chứa trên tàu. Đám cháy đặc biệt mạnh khi tên lửa phóng đi từ khoảng cách gần. Trong những trường hợp như thế, nhiên liệu tên lửa chưa cháy hết sẽ bị vụ nổ phân tán đi trên diện rộng, gây ra rất nhiều vụ cháy thứ phát. Trong một số trường hợp do trúng tên lửa mà độ bền vững của con tàu bị phá hủy. Tàu mất dự trữ nổi và chìm.

Được trang bị tên lửa chống hạm, các tàu mặt nước, máy bay và tàu ngầm có khả năng giải quyết trong thời đại hiện nay một loạt các nhiệm vụ đa dạng trong hoạt động tác chiến trên biển và tạo nên mối đe dọa tiềm tàng cho tất cả các loại tàu mặt nước.

Sự khẳng định kỷ nguyên tàu mặt nước đã kết thúc tỏ ra vô căn cứ. Việc trang bị cho chúng những vũ khí hiện đại và các phương tiện chiến đấu có mục đích khác nhau đã làm chúng trở thành những tàu chiến đa năng nhất trong số tất cả các loại lực lượng của hạm đội. Bằng chứng về vai trò ngày càng tăng của tàu mặt nước là sự phục hồi tốn kém bốn thiết giáp hạm của người Mỹ dựa trên cơ sở kỹ thuật mới và sự triển khai tại nhiều quốc gia việc đóng mới các tàu tuần dương, tàu khu trục và frigate.

Việc sử dụng các tên lửa hành trình dẫn đến sự thay đổi cơ bản trong nghệ thuật tác chiến và chiến thuật hải chiến trên biển, tạo cho nó một nội dung tấn công hiện đại, làm cơ sở cho việc xây dựng các quy tắc chiến đấu mới cho các lực lượng trong hải chiến.

Khi phân tích kinh nghiệm sử dụng vũ khí tên lửa tác chiến trong các cuộc chiến tranh và xung đột vũ trang cục bộ, có thể thấy rằng việc ứng dụng có hiệu quả loại vũ khí này chỉ xảy ra khi lực lượng thực hiện nhiệm vụ chiến đấu được huấn luyện với chất lượng tốt, ra quyết định một cách có cơ sở trong việc đưa lực lượng vào trạng thái SSCĐ và áp dụng tên lửa chống hạm, triển khai lực lượng trong các điều kiện ngụy trang chiến dịch và chiến thuật khi nhanh chóng tiến gần đối phương [ 463 ] và giáng xuống đối thủ đòn tấn công tên lửa phủ đầu, khi khuếch trương chiến quả bằng các đòn tấn công tiếp theo sử dụng tên lửa chống hạm và các loại vũ khí khác. Để đạt được thành công trong một trận hải chiến hiện đại sẽ không thể thiếu sự đảm bảo toàn diện, đặc biệt là của các lực lượng trinh sát và tác chiến điện tử. Theo nhiều chuyên gia quân sự, một trong những lý do chính cho sự thành công trong hoạt động của Hải quân Israel và sự thất bại của Hải quân Syria và Ai Cập có liên quan đến việc đảm bảo kịp thời cho các tàu chiến những thông tin tình báo về đối phương và công tác chỉ huy các lực lượng trên biển được tập trung hóa, cũng như việc chỉ huy trực tiếp các tàu cao tốc tên lửa cỡ nhỏ trong trận chiến có sự trợ giúp của các hệ thống tự động hóa hiện đại.

Các yêu cầu trước tiên đặt ra cho công tác trinh sát là cần phải đảm bảo việc áp dụng tên lửa hành trình chống hạm ở cự ly ngoài đường chân trời. Ngoài ra, còn nảy sinh yêu cầu phải phát hiện được vật mang tên lửa ở các cự ly lớn hơn tầm bắn của vũ khí tên lửa, vì vậy thiếu hiểu biết về tình huống chiến thuật ngoài đường chân trời sẽ làm tăng nguy cơ bị TLCH tấn công bất ngờ.

Đặc điểm điển hình nhất đối với cuộc xung đột Anh- Argentina là việc sử dụng kết hợp tất cả các loại hình trinh sát của Vương quốc Anh và sự hiệp đồng hoạt động của họ với các cơ quan đặc biệt và các hệ thống không gian của Hoa Kỳ.

Lần đầu tiên dữ liệu ảnh chụp từ vũ trụ, dữ liệu trinh sát radio và trinh sát vô tuyến điện tử đã được sử dụng rộng rãi. Các vệ tinh nhân tạo Mỹ trinh sát bằng quang học từ trên không gian ("Key Hole 11"), vệ tinh trinh sát ảnh và trinh sát vô tuyến điện tử ("Big Bird"), đã thu thập và chuyển giao cho bộ chỉ huy Anh một lượng thông tin vô cùng to lớn.

Về các phương pháp sử dụng phương tiện tác chiến điện tử, các chuyên gia quân sự đã kết luận rằng các khí tài này nên được sử dụng theo một kế hoạch soạn thảo cẩn thận, có tính chất kết hợp toàn diện, tính đến tình huống chiến thuật hiện tại, khả năng của đối thủ [464] và các lực lượng của bản thân. Đồng thời phải quan tâm đến sự chính xác trong việc gây nhiễu chủ động và thụ động với TLCH. Ví dụ, việc hình thành vội vã đám mây nhiễu thụ động nhờ các lưỡng cực phản xạ khi đáp trả cuộc tấn công của không quân Argentina ngày 25 tháng 5 năm 1982 mà không tính đến thứ tự đội hình các tàu chiến đã gạt tên lửa "Exocet" khỏi tàu sân bay Anh "Hermes" bay sang trúng vào tàu chở container "Atlantic Conveyor" đang có mặt gần đó.

Dựa trên kinh nghiệm của các cuộc chiến tranh cục bộ, vấn đề bảo vệ các con tàu chống lại các cuộc tấn công đường không của đối phương đã trở thành một trong những vấn đề chính yếu. Các chuyên gia quân sự cho rằng công tác PK phải bao gồm trong bản thân nó việc phòng thủ chống máy bay và chống tên lửa, cũng như công tác đó phải nằm trong một hệ thống phức hợp được chỉ huy tập trung hóa thống nhất cùng với các lực lượng và phương tiện phát hiện các mục tiêu trên không, cảnh báo mục tiêu, các khí tài hỏa lực phòng không, các máy bay tiêm kích bảo vệ và các phương tiện tác chiến điện tử.

Nhóm tàu tấn công sử dụng tên lửa chống hạm, được hình thành trong quá trình các cuộc chiến tranh cục bộ có thành phần đồng nhất hoặc không đồng nhất. Trong trường hợp sau, thành phần của các nhóm đó, ngoài các tàu cao tốc mang tên lửa và các tàu mặt nước trang bị tên lửa, còn có các khu trục hạm, frigate, tàu tuần tra. Khi phân tích kinh nghiệm của các cuộc chiến tranh cục bộ, các chuyên gia quân sự chỉ ra sự cần thiết khi tổ chức tấn công vào đơn vị tàu chiến hợp thành của đối phương bằng không quân sử dụng tên lửa chống hạm sẽ có các tốp như sau trong thành phần đội hình chiến đấu của các nhóm máy bay tấn công : trinh sát, hoạt động phô trương, chế áp phương tiện phòng không, tác chiến điện tử, dẫn đường và chỉ huy, yểm trợ trên không và các tốp trực tiếp tấn công. Họ cũng cho rằng TLCH vẫn có những thiếu sót nhất định, trong đó có tốc độ cận âm của hành trình bay, tính dễ tổn thương bởi hệ thống vũ khí PK trên tàu, sự hạn chế trong lựa chọn mục tiêu, tính kháng nhiễu còn kém của [ 465 ] đầu tự dẫn, sự cần thiết phải huy động các lực lượng đặc biệt nhằm đảm bảo chỉ thị mục tiêu ngoài đường chân trời và tạo tính ổn định chiến đấu cho phương tiện mang. Một phân tích so sánh các khả năng chiến đấu của TLCH cho thấy hạn chế của loại vũ khí hải quân này hoàn toàn có thể bù đắp được bởi những phẩm  chất của nó. Chính vì vậy nó được trang bị cho các tầu chiến của nhiều quốc gia. Việc trang bị TLCH cho hải quân, xét trên một mức độ lớn, đã ảnh hưởng đến việc thay đổi tính chất các hoạt động tác chiến trên biển, ảnh hưởng đến sự hoàn thiện chiến thuật hải chiến.

Trong thời kỳ sau chiến tranh đã có 27 tàu bị chìm vì trúng mìn (22%). Ngay sau khi kết thúc Thế chiến II, để đối phó với mối nguy hiểm do thủy lôi còn sót lại, người ta đã thành lập "Tổ chức quét mìn quốc tế", tập hợp 1.600 tàu quét mìn. Từ tháng 8 năm 1945 đến năm 1951 họ đã quét được một diện tích mặt nước lên đến 250 ngàn dặm vuông và tiêu hủy được 38.973 trái thủy lôi. Trong quá trình đó đã có 17 tàu quét mìn bị đắm, 12 tàu bị hư hại. Trong cùng thời gian trên có 218 tàu buôn vấp mìn chìm, 186 tàu bị thương. Mìn có các tính năng hủy diệt cao và xét về hiệu quả thì nó chỉ nhường bước trước tên lửa chống hạm. Trong tổng số tất cả các trường hợp, các tàu vấp mìn có 60 % bị đắm, 40 % bị hư hại.

Khi vấp mìn các tàu độ choán nước từ 1 nghìn tấn trở xuống thường bị chìm. Trong đó tàu quét mìn độ choán nước nhỏ hơn và bằng 500 tấn bị chìm chỉ trong một vài phút. Vũ khí mìn có một tác động tâm lý rất lớn đối với đội ngũ quân nhân và đòi hỏi huy động những lực lượng và phương tiện chống mìn đáng kể để đối phó với chúng. Tuy nhiên, số lượng các tàu vấp mìn nổ có thể còn lớn hơn, bởi vì các bên tham chiến đã rải hơn 20 nghìn trái mìn.

Tổn thất tương đối nhỏ như trên được giải thích bởi thực tế các khu vực xác định có mối nguy hiểm về mìn phát sinh đã được đóng luồng hàng hải đối với các loại tàu thuyền, và luồng chỉ được mở lại sau khi phá hủy hết mìn. [ 466 ]

Ví dụ , ngay cả với một số lượng mìn không lớn được rải trong kênh đào Suez năm 1967, cũng đã làm gián đoạn gần 6 năm đường vận chuyển hàng hải quốc tế quan trọng nhất liên kết các đại dương Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương.

Cũng như trong thời gian Chiến tranh Thế giới thứ Hai, trong các cuộc chiến tranh cục bộ, pháo hạm và pháo binh bờ biển không đóng vai trò quan trọng đặc biệt trong việc tiêu diệt các tàu chiến.

Hỏa lực pháo binh đã tiêu diệt tổng cộng 20 tàu (16%): chủ yếu là các tàu chiến nhỏ (tàu quét mìn và tàu phóng ngư lôi, 17 chiếc). Đạn pháo chỉ phá hủy hai tàu lớn - frigate Ai Cập "Domait" (1956) và frigate Thái Lan "Price" (1951). Trong tổng số các tàu bị pháo binh bắn phá hoại, số bị tiêu diệt ít hơn 5 %. Trong cuộc chiến tranh Triều Tiên, hỏa lực các khẩu đội pháo bờ biển đã bắn bị thương hơn 60 tàu chiến, trong số đó chỉ có hai tàu bị tiêu diệt hoàn toàn.

Với sự giúp sức của ngư lôi đã có 5 tàu chiến bị tiêu diệt (4%), trong đó chỉ có hai tàu lớn - tuần dương hạm Argentina "General Belgrano" và tàu tuần tra Ấn Độ "Kukri". Tỷ lệ phần trăm khá nhỏ các tàu chiến bị ngư lôi tiêu diệt có nguyên nhân chủ yếu do sự hạn chế trong sử dụng nó.

Vì thực tế trong các cuộc chiến tranh cục bộ, hiếm khi diễn ra các trận hải chiến có sự tham gia của các lực lượng khác nhau, tổn thất do ảnh hưởng kết hợp các loại vũ khí chỉ là 4 tàu (3%). Một ví dụ là trận chiến trên trận địa pháo-thủy lôi gần Wonsan : các tàu quét mìn "Payret" và "Plage" của Mỹ đã bị đánh chìm.

Kinh nghiệm của các cuộc chiến tranh và xung đột quân sự cục bộ khi giải quyết nhiệm vụ tiêu diệt lực lượng hải quân trên biển và trong các căn cứ đã ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển của ngành đóng tàu quân sự.

Việc sử dụng thành công tên lửa hành trình dẫn đến sự xuất hiện của các lớp tàu chiến mới, các tàu tên lửa (các tàu trang bị tên lửa có điều khiển) và các tàu cao tốc cỡ nhỏ mang tên lửa. Trong các ấn phẩm tiếng Anh, các chuyên gia quân sự [ 467 ] chỉ ra rằng "Falklands đã cứu hạm đội mặt nước của Vương quốc Anh". Vấn đề là trong những năm đầu thập kỷ 80 đã tồn tại các kế hoạch giảm dần số lượng tàu mặt nước do sự phân bố lại các nguồn tài chính, chủ yếu dồn cho việc đóng mới các tàu ngầm và chế tạo các máy bay tuần biển đóng trong căn cứ bờ. Một ủy ban đặc biệt đã đi đến kết luận rằng trong thành phần hạm đội Anh phải có không ít hơn 50 khu trục hạm và frigate.

Để cải thiện khả năng sống sót cho các vị trí cơ bản của tàu người ta dự tính sử dụng các tấm giáp composite. Các nhà đóng tàu Mỹ ủng hộ việc áp dụng giáp động lực (Динамическая защита, ДЗ (Explosive Reactive armour, Взрывная реактивная броня, hay còn gọi giáp phản ứng nổ)) bảo vệ các vị trí có tầm quan trọng sống còn của con tàu và loại bỏ việc sử dụng trong ngành đóng tàu (theo khả năng) các loại vật liệu dễ cháy và độc hại.

Chẳng hạn, theo báo chí quân sự, tàu khu trục mang tên lửa có điều khiển đang đóng mới "Arleigh Burke" của Mỹ lần đầu tiên trong thực tế gần như hoàn toàn được làm bằng thép, còn hợp kim nhôm chỉ sử dụng trên con tàu này với số lượng rất hạn chế. Các phòng quan trọng nhất, các hầm chứa đạn dược, các hầm phóng đạn tên lửa có điều khiển, các vị trí điều khiển chỉ huy sẽ được bảo vệ bằng giáp.

Các nhà công nghiệp đóng tàu phương tây còn áp dụng nhiều biện pháp khác nhằm tăng cường khả năng sống còn như tăng số lượng các khoang kín nước, các vòi chữa cháy và máy bơm, các phương tiện bảo vệ cá nhân (mặt nạ chống độc và bộ quần áo cách nhiệt), giảm mức các trường vật lý, phong kín các tuyến cáp trong các vách ngăn kín nước, đặt ở các vị trí nằm trên đường mớn nước, chia các phòng bên trong con tàu thành các khu vực chống cháy độc lập, giảm sử dụng các vật liệu dễ cháy và sinh khói, giảm độc tính của chúng trong quá trình cháy. [ 468 ]

Tính đến các trường hợp hảo hoạn xảy ra trong cuộc xung đột Anh- Argentina, trên tàu chiến Anh bắt đầu đưa vào sử dụng mặt nạ cách ly chống khí độc, đảm bảo cho đội ngũ quân nhân có thể ở trong một phòng đầy khói với khoảng thời gian 45 phút. Các máy thở cấp cứu ELSA, hoạt động ngắn hạn được trang bị trên tàu, sẽ được sử dụng vào việc sơ tán nhân viên ra khỏi các khoang ngạt khói. Để tăng hiệu quả bảo vệ chống cháy cho tàu, dự kiến sẽ trang bị các hệ thống bọt cách ly và dập tắt đám cháy mới hơn, hiệu quả hơn. Đội cứu hộ của tàu nhận được các camera ảnh nhiệt cầm tay, cho phép nhanh chóng tìm ra nguồn phát cháy và các nạn nhân, cũng như cho phép tìm đường đi trong các khoang ngập đầy khói.

Yêu cầu của Bộ Hải quân Anh - nâng cao khả năng sống sót của con tàu - được phản ánh trong đề án đóng mới các frigate loại "Norfolk", bắt đầu từ năm 1985. Con tàu này có lượng choán nước tổng cộng 3.900 tấn được chia thành năm khu vực độc lập với các thiết bị phòng cháy chữa cháy, máy phát điện diesel và các máy bơm nước biển dùng riêng cho trường hợp khẩn cấp, các phương tiện cứu hộ cá nhân được bố trí trên tàu dọc theo tuyến mà đội ngũ quân nhân hay qua lại.
........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 26 Tháng Mười, 2013, 11:51:00 PM
(tiếp)

CÔNG TÁC ĐẢM BẢO VẬN TẢI QUÂN SỰ ĐƯỜNG BIỂN VÀ VIỄN DƯƠNG

Đảm bảo vận tải quân sự đường biển và viễn dương trong các cuộc chiến tranh cục bộ là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất.

Ý nghĩa của nó tăng lên trong các cuộc chiến tranh kéo dài với sự tham gia trên quy mô lớn của các cụm binh chủng LLVT khác nhau (trong các cuộc chiến tranh ở Triều Tiên, Việt Nam, trong cuộc xung đột Anh- Argentina). Cường độ và quy mô của hoạt động vận tải quân sự phụ thuộc vào tầm vóc của cuộc đấu tranh vũ trang và cự ly cách xa từ chiến trường đến chính quốc. [ 469 ]

Ví dụ, khối lượng vận tải viến dương hàng tháng ở Nam Việt Nam là 1,5 - 2 triệu tấn, trong đó có 85 nghìn tấn đạn dược, 320 nghìn tấn nhiên liệu, 15 triệu khẩu phần thực phẩm hàng ngày. Lượng vận chuyển hàng năm là 7,5 triệu tấn hàng hóa, 4 triệu tấn sản phẩm xăng dầu.

Trong cuộc xung đột Anh- Argentina làm nhiệm vụ vận tải biển có hơn 54 tàu, tổng trọng tải khoảng 700 nghìn tấn, trong đó có 16 tàu chở dầu. Chúng đã vận chuyển hơn 100 nghìn tấn hàng, 9.000 quân nhân và 95 máy bay. Tàu chở dầu hàng tháng cung cấp đến nơi 150 nghìn tấn nhiên liệu.

Nhằm nâng cao tốc độ vận tải biển và viễn dương người ta đã sử dụng các tàu vận tải có thiết kế mới nhất, trong đó có các tàu container, điều đó làm tăng năng suất bốc dỡ hàng lên 6-8 lần. Trong cuộc xung đột Anh- Argentina, để vận chuyển đến khu vực xung đột các máy bay cánh cố định và trực thăng, lần đầu tiên người Anh đã sử dụng các tàu chở container được hoán cải thành các tàu chở máy bay theo dự án Arapaho. Tính năng đặc trưng của vận tải biển và viễn dương là qua trình đi biển và dỡ hàng khỏi tàu diễn ra không có tác động cản trở, vì vậy hầu hết các tàu hành trình mà không có hộ tống, và nếu như có thì cũng chỉ nhằm mục đích thao luyện các biện pháp bảo vệ hàng hải.

Đặc điểm của vận tải viễn dương trong cuộc xung đột Anh- Argentina là do không có các căn cứ hải quân và các cảng tiền tiêu, người Anh buộc phải giữ một phần các tàu cùng với hàng hoá trong các khu vực được bảo vệ cách xa chính quốc hơn 7000 dặm.

Trong quá trình các cuộc chiến tranh cục bộ, Bộ chỉ huy Hải quân Hoa Kỳ và Anh đã xác định chỉ tiêu trung bình của nhu cầu sử dụng các tàu phụ trợ và tàu dân sự nhằm đảm bảo việc cung cấp lực lượng và hậu cần cho quân đội trong các khu vực chiến sự [ 470 ]. Lấy ví dụ trong cuộc xung đột Anh- Argentina, người ta thấy rằng tương quan giữa các tàu chiến và tàu đảm bảo nên ở khoảng 1:1 để đáp ứng được tất cả các yêu cầu cung cấp phương tiện vật chất kỹ thuật cho binh đoàn đặc nhiệm.

Trong các cuộc chiến tranh cục bộ lực lượng hải quân cũng phải thực hiện các nhiệm vụ đảm bảo tập kết bộ đội, sơ tán họ khỏi các đầu cầu bị cô lập.

Chẳng hạn trong giai đoạn đầu chiến tranh Triều Tiên, quân đội Mỹ và Nam Hàn tránh được thất bại chung cuộc tại bàn đạp Pusan chỉ nhờ người Mỹ đã có thể vội vã ném vào bàn đạp này năm sư đoàn lục quân theo đường biển từ Nhật Bản. Trong tháng 12 năm 1950, khi rút lui khỏi Bắc Triều Tiên, bộ tư lệnh Mỹ để cứu quân đội của mình khỏi bị thất bại hoàn toàn, đã thực hiện di tản bằng đường biển khỏi Nampo, Hungnam, Sonchzhin khoảng 90 nghìn người. Đối sơ tán quân đội họ điều động khoảng 200 tàu vận tải và tàu đổ bộ. Được yểm trợ di tản họ sử dụng 6 tàu sân bay, một thiết giáp hạm, hai tuần dương hạm hạng nặng và 45 khu trục hạm.

Ngoài vận tải biển và viễn dương, trong các cuộc chiến tranh cục bộ việc vận chuyển quân nhân và hàng hóa bằng đường không cũng rất phát triển. Phương thức này đạt đến quy mô lớn trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Lượng vận chuyển trung bình hàng năm bằng đường không các loại hàng hóa quân sự trong giai đoạn 1965-1968 lên tới hơn 450.000 tấn.

Khối lượng vận tải biển và viễn dương, thực hiện bởi Hải quân Mỹ trong thời kỳ chiến tranh Triều Tiên và Việt Nam
(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/bang8-c12.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/bang8-c12.jpg.html)


PHÒNG THỦ BỜ BIỂN

Nhiệm vụ bảo vệ bờ biển trong các cuộc chiến tranh cục bộ thường được giải quyết bởi lực lượng hải quân các quốc gia bị tấn công, phối hợp với các binh đoàn và các đơn vị quân chủng lục quân và không quân. [ 471 ]
Để giải quyết nhiệm vụ này người ta sử dụng pháo binh bờ biển, máy bay và vũ khí thủy lôi. Các hình thức sử dụng lực lượng chủ yếu là chiến đấu phòng thủ trên các trận địa bố trí mìn-pháo, thiết lập những bãi mìn phòng thủ, tấn công bằng không quân, pháo binh và tên lửa từ phía bờ biển.

Từ kinh nghiệm cuộc chiến tranh Triều Tiên, có thể khẳng định rằng việc sử dụng vũ khí thủy lôi trên quy mô lớn có thể dẫn đến những kết quả tức thì. Ngay cả những bãi mìn nhỏ được pháo binh bờ biển bảo vệ, cũng tỏ ra rất hiệu quả trong việc bảo vệ bờ biển. Kết quả của việc thiết lập các bãi mìn trên các thủy đạo dẫn vào cảng Wonsan đã phá vỡ chiến dịch đổ bộ của Mỹ tháng 10 năm 1950. Hải quân Mỹ hoàn toàn không được chuẩn bị để đối phó với mìn, ngay cả trong trường hợp không có sự kháng cự từ phía đối phương. Dựa trên kinh nghiệm này, bộ chỉ huy Hải quân Hoa Kỳ vào năm 1951 đã phục hồi lực lượng rà phá mìn và [ 472 ] đặt hàng ngành công nghiệp đóng mới 125 tàu quét mìn. Vào cuối những năm 50, Hải quân Mỹ có tổng cộng hơn 200 tàu khu trục và tàu rải mìn ven biển và khoảng 100 tàu dò-phá mìn. Ngoài ra, bộ chỉ huy Hải quân Hoa Kỳ còn đặt hàng chế tạo các mẫu vũ khí thủy lôi mới.

HẾT CHƯƠNG 12
.........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 27 Tháng Mười, 2013, 02:18:33 AM
PHỤ LỤC

1. Tổ chức hoạt động tác chiến của các tàu sân bay Mỹ trong Chiến tranh vùng Vịnh Ba Tư 1991
(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s84.gif)

2. Kế hoạch đổ bộ một tiểu đoàn thủy quân lục chiến bằng phương pháp "Vertical envelope"
(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s85.gif)

3. Kế hoạch đổ bộ một tiểu đoàn thủy quân lục chiến bằng phương pháp "Tấn công từ ngoài đường chân trời"
(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s86.gif)

4. Triển khai các cụm tàu sân bay Mỹ trong Chiến tranh vùng Vịnh Ba Tư 1991
(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s87.gif)

5. Tên lửa chống hạm "Exocet" của Pháp
(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s88.gif)

6. Tên lửa chống hạm "Harpoon" của Mỹ
(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s89.gif)

7. Tên lửa chống hạm "Gabriel" của Israel
(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s90.gif)

8. Tổ chức tiểu đoàn TQLC viễn chinh
(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s91.gif)

Ghi chú cho sơ đồ tổ chức: từ trên xuống dưới, trái sang phải:
- Ban tham mưu tiểu đoàn - tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn thủy quân lục chiến;
- Nhóm máy bay hỗn hợp - nhóm đổ bộ cấp tiểu đoàn - nhóm bảo đảm hậu cần cấp tiểu đoàn;
- Đại đội chỉ huy và đại đội bảo trì phục vụ - đại đội thủy quân lục chiến - đại đội vũ khí - đại đội pháo binh dã chiến;
- Trung đội xe bọc thép lội nước - trung đội xe tăng.


Biên chế trang bị và lực lượng tiểu đoàn TQLC viễn chinh
(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/b9-c12.jpg) (http://s668.photobucket.com/user/qtdc/media/b9-c12.jpg.html)

1. Thời gian lập kế hoạch đổ bộ tiểu đoàn TQLC viễn chinh : 1-16 ngày
2. Để triển khai một tiểu đoàn TQLC viễn chinh cần 5-6 tàu đổ bộ và vận tải
3. Thời gian đổ bộ xong một tiểu đoàn TQLC viễn chinh : 24 giờ
4. Thời gian đổ bộ thê đội xung kích của tiểu đoàn TQLC viễn chinh : 50 phút

HẾT PHỤ LỤC


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 27 Tháng Mười, 2013, 11:41:19 PM
(tiếp)

Lời bạt

Thế chiến thứ Hai đã không dẫn đến việc hoàn toàn chấm dứt các cuộc chiến tranh, mà chỉ đánh dấu sự phân chia mới của thế giới - một thế giới toàn cầu hóa hơn nhiều so với thế giới sau Thế chiến thứ Nhất. Và với sự xuất hiện của vũ khí hạt nhân, không ai trong số các quốc gia dẫn đầu thế giới còn có thể hy vọng giành chiến thắng trong một trận chiến công khai - mà điều đó chỉ thúc đẩy chuỗi xung đột ngoại vi mới nhằm tranh giành khu vực ảnh hưởng.

Do cuộc đối đầu giữa các siêu cường ngay từ đầu đã được tuyên bố là cuộc đối đầu ý thức hệ, không có gì đáng ngạc nhiên khi phần lớn các cuộc chiến tranh cục bộ đều mang sắc thái ý thức hệ. Ở một mức độ nào đó, điều này giúp cả hai bên che dấu lợi ích địa chính trị thực sự của họ. Nhưng cái đuôi con chó bắt đầu vẫy rất nhanh chóng: một quốc gia tuyên bố mình chọn "con đường phát triển xã hội chủ nghĩa", có thể mong đợi nhận được viện trợ kinh tế và quân sự của Liên Xô, và bất kỳ chế độ độc tài quân sự nào, khi tuyên bố mình là người mang "những giá trị tự do phương Tây" và là thành trì của chúng trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cộng sản, lập tức được nằm dưới sự bảo trợ của Hoa Kỳ . [ 485 ]

Đương nhiên, sự hiện diện của những "đồng minh" như vậy rất thường xuyên và chúng chỉ làm xói mòn uy tín của cả hai siêu cường và không thể tạo điều kiện nâng cao ảnh hưởng của họ trong "thế giới thứ ba".

Nhưng đó chưa phải là kết thúc. Như ta biết, một quốc gia có cách để bất kỳ cuộc chiến tranh nào cũng đạt tới các mục tiêu trong chính sách đối ngoại, trong đó việc giữ gìn sự độc lập của một quốc gia khác và cuộc sống của người dân của đất nước ấy không được coi là điều kiện hạn chế cần thiết. Tuy nhiên, cuộc đối đầu về ý thức hệ cũng giống như cuộc đối đầu về tôn giáo : nó không thiết lập cho mình những mục tiêu "vụ lợi", mà đòi hỏi tiêu diệt đức tin thù địch. Thường thì cùng với các đại diện của mình, những người vì một lý do nào đó không thành công trong việc hướng về đức tin của mình. Nghía là, cuộc chiến tranh tiến hành theo mô-típ ý thức hệ, chắc chắn sẽ biến thành một cuộc chiến tranh toàn diện - định hướng chống lại dân lành và cơ sở hạ tầng công nghiệp và kinh tế hỗ trọ hoạt động sinh tồn của họ. Đầu tiên là những cuộc "ném bom rải thảm" lãnh thổ kẻ địch, sau đó xuất hiện "các sự kiện bạo lực vô căn cứ" chống lại dân lành, rồi "vì ủng hộ quân du kích" người ta bắt đầu tàn sát cả ngôi làng. Đương nhiên, cuộc chiến tranh du kích sẽ chỉ bùng nổ tiếp với một sức sống mới - và cái vòng xoay khủng bố vẫn tiếp tục quay cuồng, kéo theo cả hai bên tham chiến. Hai trong ba cuộc chiến tranh lớn nhất và đẫm máu nhất trong nửa sau của thế kỷ này - chiến tranh Triều Tiên và Việt Nam, đã diễn ra theo sơ đồ như vậy.

Sự cách xa "thế giới văn minh" và các trung tâm hạ tầng quân sự-công nghiệp của các chiến trường chiến tranh cục bộ trong nửa sau của thế kỷ XX đã tạo điều kiện cho việc tham gia đặc biệt rộng rãi của các lực lượng hải quân vào các hoạt động tác chiến. Trước tiên hạm đội được sử dụng cho các mục đích vận tải - để nhanh chóng triển khai bộ đội và các trang thiết bị. Mà trang bị đòi hỏi lại rất nhiều : các đất nước có nền kinh tế phát triển [ 486 ], khi dốc sức tận dụng tối đa ưu thế công nghiệp và kỹ nghệ của mình, cố gắng tiến hành chiến tranh bằng các phương tiện hiện đại nhất của họ. Lực lượng tấn công chủ lực là không quân - thường là máy bay trên tàu sân bay, bởi vì để sử dụng nó không cần phải có các căn cứ trên bộ và đường băng. Ngoài ra, máy bay trên hàng không mẫu hạm có sự phù hợp tối đa cho nhiệm vụ tấn công chính xác xuống các đối tượng kích thước nhỏ. Ngược lại, máy bay ném bom chiến lược về chung cuộc lại thể hiện là vũ khí "tâm lý" đặc biệt được sử dụng để áp đảo ý chí kháng cự của đối thủ, cũng như nâng cao tinh thần chiến đấu của bản thân. Lô gích quân sự của chúng thường là không có - cơ sở hạ tầng kinh tế của các nước kém phát triển rất phân tán, thậm chí cả các trận ném bom ồ ạt cũng chẳng thể gây cho nó nhiều thiệt hại. Do hầu như tất cả các trang bị chiến đấu của bên phòng thủ đều đến từ nước ngoài, ngành công nghiệp theo đúng nghĩa của họ ở ngoài tầm với của bên tấn công.

Tình thế này trên một mức độ đáng kể đã cân bằng các cơ hội và làm cho ngay cả một quốc gia yếu cũng có thể chống lại một cách thành công bộ máy quân sự hiện đại của bất kỳ siêu cường hàng đầu nào trên thế giới. Liệu rằng Nhật Bản có đầu hàng vào năm 1945, nếu nó vẫn có cơ hội nhận được một số lượng không giới hạn nhiên liệu và trang bị quân sự từ một cường quốc trung lập. Còn việc sử dụng tất cả các nguồn lực của mình (kể cả công nghiệp và con người) để giành chiến thắng, thì quốc gia-xâm lược { 39 } đơn giản là không thể làm được - bởi vì trong trường hợp đó, giá [ 487 ] của chiến thắng kiểu như vậy sẽ không tương xứng với những thiệt hại phải gánh chịu.

Sự khác biệt trong các nhiệm vụ mà cả hai bên tham chiến phải đối mặt, là cơ sở cho sự khác biệt quan trọng trong các biện pháp và phương tiện tiến hành chiến tranh. Bên bị tấn công thường không thiếu nguồn nhân lực và vũ khí dã chiến : súng trường tự động, súng máy, lựu đạn cầm tay, pháo binh hạng nhẹ, thiết bị phóng hỏa tiễn mang vác - và thường họ có cả xe tăng. Ngược lại, bên tấn công sử dụng đầy đủ các loại vũ khí công nghệ cao và vũ khí có độ chính xác cao (họ dùng cả đến các loại tên lửa có điều khiển và các bom "chân không") - nhưng lại bị hạn chế bởi đòi hỏi phải tránh những tổn thất nghiêm trọng về sinh lực.

Trong chiến tranh trên biển, phương tiện chính của bên yếu hơn có tính truyền thống là vũ khí thủy lôi, pháo binh bờ biển, các tàu phóng lôi cỡ nhỏ và các loại tàu ngầm nhỏ hoạt động ở vùng ven biển. Với sự phát triển của các phương tiện chống ngầm, tàu ngầm dần dần bị gạt ra khỏi danh sách trên. Thực tế trong chiến tranh Việt Nam, Hải quân Mỹ có tiến hành tuần tra chống tàu ngầm - nhưng điều đó chỉ được thực hiện trong trình tự tập huấn tổng thể. Vũ khí thủy lôi thoạt đầu được sử dụng rất rộng rãi - đặc biệt là trong chiến tranh Triều Tiên bởi cả hai bên tham chiến. Đồng thời để ngăn ngừa việc rà quét mìn người ta sử dụng rộng rãi pháo binh bờ biển. Tuy nhiên, [ 488 ] chẳng mấy chốc người ta thấy rằng pháo binh trên bờ sẽ dễ dàng bị chế áp bởi các cuộc ném bom từ trên không, hoặc bởi các cỡ pháo chính của các thiết giáp hạm, và sự phát triển hệ thống vũ khí đã cho phép bên mạnh hơn giáng đòn tấn công, trong khi không cần tiến gần bờ biển, không cần phải đi vào khu vực có bãi thủy lôi. Vì vậy, khu vực chủ yếu để sử dụng thủy lôi là đường sông. Mìn biển sau chiến tranh Triều Tiên hiếm được sử dụng hơn trong các cuộc xung đột cục bộ - chủ yếu chúng được dùng cho mục đích phòng thủ chống đổ bộ, cũng như để phá hoại sự giao thương hàng hải. Trong trường hợp sau, thủy lôi được bố trí khá thường xuyên bên ngoài lãnh hải của quốc gia có chiến tranh, đó là sự vi phạm trắng trợn luật pháp quốc tế.

Việc sử dụng các tàu phóng ngư lôi (và sau đó là tàu tên lửa) cao tốc cỡ nhỏ đã cho những kết quả nhiều ý nghĩa. Một mặt, người ta nhanh chóng thấy rõ rằng việc sử dụng những con tàu đơn độc chống lại nhóm xung kích của đối phương được trang bị các phương tiện phát hiện hiện đại là điều vô nghĩa - bất kỳ nỗ lực nào như vậy chỉ dẫn đến những thiệt hại không cần thiết (các cuộc xung đột Suez , Libya). Mặt khác, khi có sự cân bằng tương đối về lực lượng trên biển và trên không của các bên (xảy ra trong các cuộc chiến tranh Ả Rập-Israel và Ấn Độ-Pakistan) thì việc sử dụng các nhóm tàu tên lửa và tàu phóng lôi cỡ nhỏ lại cho các kết quả đặc biệt tốt. Đồng thời kết quả của vụ va chạm trước nhất phụ thuộc không phải vào mức độ trang bị kỹ thuật, mà là tính chuyên nghiệp của các bên và khả năng làm chủ vũ khí trang bị của họ.

Về mặt này có thể giả định rằng, việc sử dụng tích cực và ở quy mô lớn các tàu tấn công cỡ nhỏ chống các đơn vị tàu lớn có thể là một phương pháp đấu tranh tốt cho bên yếu hơn - tất nhiên khi các hành động như vậy được tổ chức một cách chuyên nghiệp, các thủy thủ được huấn luyện ở mức độ cao và việc gây nhiễu radar đối phương đạt hiệu quả tốt. Chẳng hạn, nếu như trong quá trình [ 489 ] cuộc xung đột Suez năm 1956 mà người  Ai Cập quyết định tổ chức một cuộc tấn công tương tự vào phân hạm đội của phe đồng minh, họ có thể đạt được một thành công rực rỡ. Với ý đồ này bộ chỉ huy Anh-Pháp tỏ ra thiếu tính chuyên nghiệp một cách đáng sợ. Ta hãy nhớ lại - binh đoàn tàu chiến trực tiếp tham gia chiến dịch chống Ai Cập, với 5 tàu sân bay và 3 tàu tuần dương hạng nhẹ, họ chỉ có 10 tàu hộ tống - 6 tàu khu trục và 4 corvette (không tính 8 tàu quét mìn). Kinh nghiệm của Thế chiến thứ Hai cho thấy, với một lực lượng tương tự, việc tổ chức phòng thủ chống tàu ngầm và chống tàu nhỏ cao tốc một cách đáng tin cậy cho binh đoàn như trên là điều không thể. Cuộc tấn công phối hợp ban đêm do bộ chi huy Ai Cập tiến hành với sự tham gia của các tàu phóng ngư lôi, tàu ngầm và máy bay (ít nhất là để gây nhiễu và làm đối phương mất tập trung) có thể gây ra thiệt hại đáng kể cho những kẻ xâm lược - thậm chí có khả năng tiêu diệt được một hoặc một số tàu sân bay. Sau đó, việc tiến hành những hoạt động đổ bộ sẽ trở thành không thể - và không chỉ vì tổn thất tàu chiến hay quân nhân TQLC, mà còn vì phản ứng không thể tránh khỏi của dư luận ở Anh và Pháp do mức thương vong như thế.
.......


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 29 Tháng Mười, 2013, 11:07:28 PM
(tiếp)

Cần đặc biệt dừng lại xem xét các lý do theo đó những tình huống tương tự có thể xảy ra. Sự bất tương xứng cùng cực về lực lượng trên biển, diễn ra trong tất cả các cuộc xung đột cục bộ sau Thế chiến có sự tham gia của các cường quốc lớn, dẫn đến sự mất mát kinh nghiệm chiến đấu của hạm đội với kẻ thù có sức mạnh tương đương. Ngành đóng tàu quân sự và công nghệ hàng hải không đứng yên tại chỗ, các con tàu mới được đóng, các phương tiện tấn công và phòng thủ mới xuất hiện - nhưng tất cả những chuyện đó xảy ra trong "nhà kính", trong điều kiện "phòng thí nghiệm". Triển vọng phát triển của các hệ thống vũ khí được xác lập một cách trừu tượng, chỉ dựa vào kinh nghiệm của cuộc Chiến tranh Thế giới thứ Hai, hoặc thậm chí không tính đến kinh nghiệm thực tế, còn hiệu quả [ 490 ] của vũ khí chỉ được xác định duy nhất theo kết quả thử nghiệm trên thao trường.

Đã có những cuộc va chạm đầu tiên trên biển giữa các kẻ thù bằng nhau "theo vai vế" dẫn đến những kết quả bất ngờ. Cuộc chiến tranh Ả Rập-Israel năm 1967 và năm 1973 khẳng định tính hiệu quả của máy bay và tên lửa chống hạm trong cuộc đấu tranh chống tàu mặt nước - nhưng đồng thời cũng chỉ ra rằng chìa khóa chính cho thành công không phải là sự hoàn hảo của vũ khí, mà là tính chuyên nghiệp trong việc sử dụng nó -hoặc sự cực kỳ bất cẩn của một bên đối lập. Cuộc xung đột Ấn Độ - Pakistan năm 1971 đã chứng minh việc từ bỏ pháo cỡ nòng lớn (hơn 100-127 mm) là quá sớm. Hóa ra đó là một phương thức rẻ hơn nhiều để chiến đấu chống các mục tiêu trên bờ biển, và đồng thời cũng không phải kém hiệu quả hơn tên lửa chống hạm có điều khiển. Thực tế cũng xác nhận rằng tàu ngầm vẫn là một vũ khí hải quân đáng tin cậy - cũng như ngư lôi không điều khiển và bom chìm "truyền thống".

Nhưng cú sốc thực sự đối với các chuyên gia hải quân là cuộc xung đột Anh- Argentina năm 1982. Có vẻ như sự chênh lệch rõ ràng về lực lượng trên biển đã ngăn cản Hải quân Argentina đạt được bất kỳ thành công lớn nào. Tuy nhiên, người Anh đã không thể tập trung trong khu vực xung đột một lực lượng lớn không quân cường kích-tấn công trên tàu sân bay - trên các tàu sân bay và tàu vận tải chở máy bay chỉ có 42 máy bay tiêm kích-ném bom cất hạ cánh đường băng ngắn "Harrier". Nhưng điều này được bù đắp dư dật bởi sự hiện diện một số lượng lớn các trực thăng đổ bộ và chống tàu ngầm của phía Anh, cũng như các máy bay hạng nặng (máy bay ném bom và máy bay trinh sát), hoạt động từ đảo Ascension. Ngược lại, Argentina lại có thể tập trung vào khu vực quần đảo Falkland một lực lượng bờ biển quan trọng - [ 491 ] không quân (trừ mười một máy bay cường kích hạng nhẹ bị người Anh phá hủy trên đảo Pebble). Các máy bay đặt căn cứ trên lục địa cũng đã hoạt động trong vùng bán kính cực hạn. { 40 }

Tuy nhiên, thực tế vượt quá cả sự mong đợi : thành công của Không quân Argentina trong hải chiến là không thể tin nổi. Họ đã đánh chìm 2 tàu khu trục, 2 frigate, 1 tàu vận tải và 1 tàu đổ bộ lớn có tổng trọng tải hơn 35.000 tấn ! Và chuyện đó xảy ra trong điều kiện phần lớn bom và tên lửa trúng mục tiêu của họ không phát nổ. Do việc ném bom "từ đỉnh cột buồm" được thực hiện ở độ cao thấp, việc bom chưa nổ có thể lý giải bởi thiếu thời gian để ngòi bom kích nổ (mặc dù trong thời Thế chiến Hai, vấn đề như vậy không hiểu sao không phát sinh trước không quân). Nhưng thứ hiện đại hơn, tên lửa chống hạm nhồi đầy mạch điện tử, thường xuyên đóng vai trò khuôn mẫu học tập, cũng đưa đến những điều phải suy nghĩ. Giá mà vấn đề này chỉ xảy ra trong các hạm đội sử dụng hệ thống vũ khí nhập khẩu ! Nhưng không - những sự kiện gần đây nhất tại Vịnh Ba Tư đã xác nhận rằng tên lửa cực kỳ hiện đại và đắt tiền, do các máy bay và tàu chiến Anh hoặc Mỹ bắn ra, cũng có xu hướng không phát nổ. Ngược lại, trang bị kỹ thuật thời hai cuộc Thế chiến - đạn không điều khiển và ngư lôi - lại hoạt động [ 492 ] khá tốt. Điều này gợi nhớ đến ngòi thủy âm ngư lôi Đức, nhờ các khuyết tật của nó trong giai đoạn đầu tiên Thế chiến thứ Hai, rất nhiều con tàu của người Anh đã được sống sót!

Thành công duy nhất của người Anh trong hải chiến quanh quần đảo Falklands là vụ tàu ngầm Anh đánh chìm chiếc tuần dương hạm "General Belgrano" cũ nát, mà khi vừa trúng một trái ngư lôi đã lập tức sụp phần mũi tàu. Không nghi ngờ gì nữa, việc sử dụng con tàu này trong tác chiến là một sai lầm nghiêm trọng của bộ tư lệnh Argentina - không chỉ vì giá trị chiến đấu của nó (gần bằng không), mà còn do tổn thất con người và ảnh hưởng tinh thần gây ra bởi sự mất mát một con tàu lớn như vậy. Hơn nữa, chiếc tàu ngầm Anh, lợi dụng việc thiếu vắng sự phòng thủ chống tàu ngầm thực sự, đã tấn công chiếc tàu tuần dương Argentina từ cự ly của "súng lục" - khoảng cách chỉ 1.400 feet (430 mét). Điều này cho phép sử dụng ngư lôi không điều khiển rất đáng tin cậy với liều nổ lớn, ngoài ra trong bốn ngư lôi phóng đi có đến 3 ngư lôi đánh trúng mục tiêu. Ngược lại, tàu ngầm Argentina "San Luis" đã ba lần tấn công các tàu đối phương từ khoảng cách 10.000 mét (54 kabelt), 4600 mét (25 kabelt) và 2.800 mét (15 kabelt). Cả ba lần ngư lôi có điều khiển do Mỹ và Tây Đức sản xuất hoặc là không trúng mục tiêu hoặc trúng mà không nổ. Hoàn toàn có thể là, nếu trên tàu ngầm Argentina có các ngư lôi không điều khiển kiểu cũ, kết quả sẽ khác (khi bắn loạt từ một dặm rưỡi rất khó mà không trúng quả nào vào tàu khu trục).

Đúng là người Argentina cuối cùng vẫn thất bại - khi cuộc va chạm xảy ra giữa các đối thủ quá khác nhau về "cân nặng", xét trên nguyên tắc, một kết quả khác là không thể có. Lực lượng không quân Argentina bị tổn thất nặng - cả do hỏa lực phòng không và trong không chiến. Tuy nhiên, trong số các máy bay chiến đấu thành công nhất của không quân Argentina - máy bay cường kích [ 493 ] " Super Étendard " sản xuất tại Pháp - chỉ có một chiếc bị rơi. Nói chung, cả phi công Anh và Argentina cũng như các thủy thủ của họ đều thể hiện trong cuộc chiến tính chuyên nghiệp tuyệt vời và phẩm chất chiến đấu ở phẩm cấp cao nhất trên bình diện chiến thuật. Nhưng việc chỉ huy tác chiến của cả hai bên thì để lại nhiều điều đáng phải mong muốn hơn. Ví dụ, tàu khu trục "Sheffield" bị đánh chìm do sự luộm thuộm rõ ràng của bộ chỉ huy, họ không tranh thủ tổ chức phòng thủ xung quanh tàu, tắt hệ thống theo dõi điện tử, thủ tục cơ bản của hệ thống phòng không. Và thực tế là các con tàu hiện đại được làm bằng hợp kim magiê nhẹ, thậm chí khi trúng tên lửa và bom chưa nổ cũng bùng cháy như pháo hoa mừng năm mới, đã trở thành bài giảng đầu lưỡi quá quen thuộc.

Trái ngược với cuộc xung đột Falklands, các hoạt động chiến đấu trong vùng Vịnh Ba Tư không mang lại cho nghệ thuật hải chiến điều gì mới. Một lần nữa thực tế lại khẳng định tính hiệu quả của thủy lôi biển chống lại giao thương hàng hải và sức sống vô cùng thấp của các tàu chiến hiện đại. Thật không may, với sự kết thúc của Chiến tranh Thế giới III (ý nói Chiến tran Lạnh), những hy vọng chấm dứt các cuộc chiến tranh cục bộ và thiết lập nền hòa bình hoàn toàn trên hành tinh đã trở thành khó nắm bắt hơn nữa. Thứ nhất, sự đối lập kinh tế và chính trị không biến mất. Thế vào chỗ Liên Xô và cái gọi là "cộng đồng xã hội chủ nghĩa", đã xuất hiện các lực lượng địa chính trị mới cũng đòi hỏi chỗ đứng dưới mặt trời cho bản thân mình. Còn thế chỗ mâu thuẫn ý thức hệ, lại xuất hiện những mâu thuẫn dân tộc-tôn giáo. Như vậy phải nói rằng tình hình còn nguy hiểm nhiều hơn, bởi vì nó ít phụ thuộc hơn nhiều vào bất kỳ logic nào (bao gồm cả logic địa chính trị). Nghĩa là, tại thời điểm chuyển giao thiên niên kỷ, chúng ta có thể tự tin dự đoán sẽ có một sự bùng nổ mới của các cuộc chiến tranh cục bộ. Một vấn đề nữa là mức độ tham gia của các "siêu cường" vào các cuộc chiến tranh kiểu đó sẽ nhỏ hơn - có nghĩa là các cuộc chiến đó diễn ra [ 494 ] sẽ ở mức độ công nghệ thấp hơn, và mức độ này đối với các bên tham chiến đối địch nhau sẽ là xấp xỉ. Có thể giả định rằng các cuộc xung đột đó sẽ tác động lớn hơn đến sự phát triển của nghệ thuật hải chiến, chứ không như các cuộc chiến tranh "ngoại vi" trong nửa sau thế kỷ XX.

Vladislav Goncharov
........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 31 Tháng Mười, 2013, 11:47:32 PM
GHI CHÚ

{1} Vấn đề ai là người khởi đầu chiến tranh Triều Tiên là một trong những bí ẩn chính của lịch sử hiện đại. Các báo cáo được lưu trữ trong kho lưu trữ nước ta của Đại sứ quán Liên Xô tại Bắc Triều Tiên khẳng định các sự kiện được mô tả nhiều lần trong sách báo Xô viết về việc quân đội Nam Triều Tiên vượt vĩ tuyến 38 và tiến sâu vào lãnh thổ Bắc Triều Tiên một đến hai cây số thực sự đã diễn ra - nhưng không phải trong năm 1950, mà là vào tháng 7 - tháng 8 năm 1949. Do văn khố lưu trữ Bắc và Nam Triều Tiên hiện còn đóng với các nhà nghiên cứu, không chắc bây giờ ta có thể tìm hiểu những gì thực sự đã xảy ra vào ngày 23-25 tháng 6 năm 1950 tại vĩ tuyến 38. Theo George Blake thời đó là phó lãnh sự Anh tại Seoul và người đứng đầu của cơ quan "Intelligence Service" tại chỗ, các cuộc bắn nhau qua lại trên biên giới đã được biết đến một tuần trước khi nổ ra chiến tranh. Tuy nhiên, tại các sứ quán Anh cũng như Mỹ ở Nam Triều Tiên, người ta không có thông tin chính xác về những gì đã xảy ra. Tại Seoul, có tin đồn về cuộc tấn công của người miền Bắc cũng như của người miền Nam. (Ghi chú của biên tập viên).

{ 2 } Điều này xảy ra do đại diện Liên Xô vắng mặt trong cuộc họp Hội đồng Bảo an để phản đối sự hiện diện tại Hội đồng Bảo an viên đại diện Đài Loan (tức là Quốc Dân Đảng Trung Quốc). (Ghi chú của biên tập viên).

{3} Trong chiến tranh Triều Tiên, Liên Xô bị mất 335 máy bay và 120 phi công, tổng thiệt hại là 299 người.

{4} Người ta cho rằng con số này chưa phải là cuối cùng vì các dữ liệu đầy đủ về số thương vong của quân đội Mỹ đã không được công bố tại Mỹ cho đến bây giờ. (Ghi chú của biên tập viên).

{5} Tên Nhật Bản - Chemulpo. (Ghi chú của biên tập viên).

{6} Ngày 25 tháng 9, quân đội Mỹ tiến đến ngoại ô Seoul, thành phố cuối cùng đã bị đánh chiếm vào ngày 29 tháng Chín. (Ghi chú của biên tập viên).

{7} Tên tiếng Nhật - Wonsan. (Ghi chú của biên tập viên).

{8} Các số liệu chính thức tuyên bố không phản ánh tình hình thực tế. (Ghi chú của biên tập viên).

{9} tuyên bố này cho thấy bộ tư lệnh Anh-Pháp đã vi phạm có ý thức và cố tình Các công ước Hague năm 1907 (Công ước 4 và 9) có hiệu lực thời điểm này - đó là một tội ác chiến tranh phải bị truy tố hình sự (Ghi chú của biên tập viên).

{10} Theo báo cáo tác chiến của quân đội Anh. Trong thực tế, hầu hết các máy bay chiến đấu đã được người Ai Cập kịp chuyển đến phía nam của đất nước và vùng đồng bằng châu thổ sông Nile cũng như sang các sân bay của Syria và Ả Rập Saudi. (Ghi chú của biên tập viên).

{ 11 } Việc cấm tất cả các loại tàu thuyền đi lại trong một vùng biển bên ngoài lãnh hải (bao gồm cả vùng nước trung lập) chẳng được ai áp dụng, ngay cả trong thời Thế chiến thứ Hai - mà trong thực tế đây là cuộc chiến không được chính thức tuyên bố. Luật pháp quốc tế đánh giá những hành động như vậy là cướp biển. (Ghi chú của biên tập viên).

{ 12 } Chính phủ Mỹ phát biểu lên án sự xâm lược, trước đó họ hứa không chính thức sẽ hỗ trợ Anh và Pháp. Vậy là Mỹ cố tình sử dụng cuộc xung đột để thỏa hiệp với các "đồng minh" châu Âu của mình và phá hoại uy tín của họ trên trường quốc tế. (Ghi chú của biên tập viên).

{13 } Từ năm 1968 (?), Mỹ bắt đầu rút các lực lượng quân sự của mình. Tới cuối năm 1972 tại miền Nam Việt Nam còn 22 nghìn lính Mỹ, đến đầu năm 1973 - tổng còn khoảng 13 nghìn người. (Ghi chú của tác giả).

{14} Một trong những thủy thủ, học kém môn vật lý tại trường phổ thông, cố gắng dập nhanh ngọn lửa do hỏa tiễn chế tạo từ magiê gây ra bằng cách đổ một thùng nước. (Ghi chú của biên tập viên).

{ 15 } Đạn phản lực chủ động cỡ 127 mm có tầm bắn 35,2 km.
........


Tiêu đề: Re: Hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20
Gửi bởi: qtdc trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 12:03:19 AM
{ 16 } Cuộc xung đột vũ trang đầu tiên giữa Pakistan và Ấn Độ bắt đầu tháng 10 năm 1947 và kết thúc năm 1949. Theo Hiệp định ngừng bắn ngày 27 tháng 7 năm 1949, Pakistan kiểm soát phần phía tây và tây bắc của công quốc Jammu và Kashmir; Ấn Độ kiểm soát phần phía đông, phía nam và trung tâm, bao gồm cả thung lũng Kashmir. Năm 1965 cuộc xung đột nảy sinh lần thứ hai do giành giật nhau phần phía bắc sa mạc Kach và thung lũng Kashmir. Những nguyên nhân chính dẫn đến nổ ra xung đột vũ trang giữa Ấn Độ và Pakistan vào tháng 12 năm 1971 là các tranh chấp lãnh thổ chưa được giải quyết, những mâu thuẫn chính trị và kinh tế bên trong Pakistan, mâu thuẫn giữa phần phía tây và phía đông của nó; chính sách của Hoa Kỳ và một số nước khác, hỗ trợ chính quyền quân sự Pakistan (đàn áp phong trào giải phóng dân tộc ở tỉnh miền Đông) và sự căng thẳng trong quan hệ Ấn Độ-Pakistan.

{ 17 } Bảng lập theo dữ liệu của Rivista Marittima ra năm 1972, № 2 , trang 17-29.

{18} Đông Pakistan là nơi sinh sống của người Hồi giáo thuộc một nhóm dân tộc khác và nói một ngôn ngữ khác (tiếng Bengali) so với cư dân Pakistan nói chung. Chiến tranh du kích bùng lên tại đây mùa hè năm 1971, sau đó ngày 25 tháng 3 chính phủ trung ương Pakistan cấm đảng "Liên đoàn nhân dân" chiến thắng trong cuộc bầu cử Tháng Mười Hai năm trước. Ấn Độ đã tích cực hỗ trợ quân nổi dậy "Mukti Bahini" (quân đội Đông Pakistan ở địa phương đã sát nhập với họ), cung cấp cho họ vũ khí và cho họ đặt căn cứ trên lãnh thổ của mình. Để đáp lại, quân đội gửi từ Pakistan đến đã thi hành cuộc khủng bố ồ ạt chống lại người dân Đông Pakistan. Tới tháng 11 năm 1971, số lượng người tị nạn đến Ấn Độ đã đạt 7.000.000 người. Ngày 21 tháng 11 năm 1971 quân chính quy Ấn Độ đến trợ giúp quân nổi dậy đã vượt qua biên giới vào Đông Pakistan. Ngày 03 tháng 12 Pakistan chính thức tuyên chiến với Ấn Độ và mưu toan tấn công vào biên giới phía tây. Ngày 06 tháng 12 thủ đô Đông Pakistan - Dhaka bị đánh chiếm, ngày 16 tháng 12 tàn quân Pakistan dưới sự chỉ huy của tướng Niazi đầu hàng tại khu vực Chittagong. Ngày hôm sau, Ấn Độ và Pakistan ký thỏa thuận ngừng bắn. Kết quả của cuộc chiến tranh Đông Pakistan là sự ra đời một quốc gia có chủ quyền - Bangladesh. (Ghi chú của biên tập viên).

{ 19 } Luật hàng hải quốc tế cho phép những hành động như vậy. (Ghi chú của biên tập viên).

{ 20 } Trong bảng gồm các tàu có độ choán nước trên 300 tấn. Bảng được biên soạn theo : Marine Rundschau, 1974, № 1.

{ 21 } Bảng lập theo dữ liệu của Rivista Marittima, 1973 , № 1, trang 43-55.

{ 22 } Bảng được lập theo số liệu : Tạp chí Hàng hải, 1984 , № 1.

{ 23 } Khi bùng nổ chiến sự, hầu hết cư dân quần đảo Falkland thậm chí chưa có quyền công dân đầy đủ của vương quốc Anh. (Ghi chú của biên tập viên).

{ 24 } Năm 1982, không phải bản thân tuần dương hạm, cũng không phải cái chết của nó có giá trị quân sự thực sự và cũng không thể có. Martin Middlebrook trong cuốn sách của ông "Trận chiến Falklands" kể về cuộc nói chuyện với một cựu sĩ quan cao cấp-kỹ sư điện trên tuần dương hạm Jorge Shottinheym : " ... chúng tôi so sánh sự sụp đổ của hệ thống điện trên tàu "Belgrano" với những gì xảy ra trên thiết giáp hạm "Hoàng tử xứ Wales" của người Anh khi con tàu đó bị các tàu phóng ngư lôi Nhật Bản đánh đắm năm 1941. Tôi nói rằng, "Hoàng tử xứ Wales" bị đánh chìm từ bốn mươi năm trước rồi. "Vâng, - Jorge đáp, - nhưng ngài đừng quên "Belgrano" được đóng cùng thới với chiến hạm kia". (Ghi chú của biên tập viên).

{ 25 } Thông tin trích dẫn ở các nguồn khác nhau về các vị trí trúng đạn ngư lôi, cũng như số nạn nhân là thủy thủ Argentina rất bất nhất. Theo thông tin đã kiểm chứng, trái ngư lôi thứ hai bắn trúng phần đuôi tàu, chỉ cách phần mép cuối giáp thép một-hai mét, và phát nổ trong khoang máy, dẫn đến số lượng nạn nhân rất lớn. Tổng cộng có 321 người thuộc đội thủy thủ của tuần dương hạm đã tử nạn, trong đó chỉ có 3 sĩ quan. (Ghi chú của biên tập viên).

{ 26 } Đây lại là số liệu thống kê chính thức của người Anh. Dưới đây đề cập đến việc từ ngày 16 tháng 5 đến ngày 13 tháng 6, chỉ trên tàu quân y viện "Uganda" người ta đã trợ giúp 730 quân nhân Anh, trong đó 92% (tức là 672 người) bị thương trong chiến đấu. Tôi nghĩ rằng nếu chúng ta có thể tìm ra số quan tài kẽm được đặt hàng theo yêu cầu của người Anh, chúng sẽ nhiều hơn con số hai trăm rất nhiều ... (Ghi chú của biên tập viên).

{ 27 } Bản thân tên lửa không phát nổ - như hầu hết các tên lửa "Exocet" sử dụng trong cuộc xung đột này. (Ghi chú của biên tập viên).

{ 28 } Trong thực tế, nó là một tàu sân bay phụ trợ - nhờ boong gia cường và trang bị phù hợp, con tàu container này có thể tiếp nhận và cho cất cánh các trực thăng vũ trang và máy bay tiêm kích-bom cất / hạ cánh đường băng ngắn "Sea Harrier". Như vậy, "Atlantic Conveyor" là tàu chiến lớn nhất bị tiêu diệt trong các cuộc giao tranh kể từ sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai. (Ghi chú của biên tập viên).

{ 29 } Bảng được lập theo dữ liệu : USNIP , 1983, № 5, trang 130.

{30 } Theo dữ liệu khác, trong không chiến (với máy bay Anh "Sea Harrier") chỉ có 28 thiết bị bay Argentina bị bắn hạ, 25 trong số đó - bị bắn hạ bởi tên lửa có điều khiển "Sidewinder» AIM - 9L. (Ghi chú của biên tập viên).

{ 31 } Bảng lập theo dữ liệu : USNIP, 1983, № 5, trang 130.

{ 32 } Bảng lập theo dữ liệu : USNIP, 1983, № 5.

{ 33 } Máy bay AC-130 "Gunship" được trang bị một pháo 105 mm, hai pháo 40 mm - "Bofors", hai pháo 20 mm "Vulcan" và hai súng máy 7.62 mm.

{ 34 } Theo số liệu khác, Iraq tự rút quân về biên giới, sau khi rời bỏ lãnh thổ tranh chấp. (Ghi chú của biên tập viên).

{ 35 } Hầu như tất cả các tàu đều do Liên Xô đóng. Nhưng ở đây không đề cập đến bốn frigatec kiểu "Lupo" và sáu corvett kiểu "Assad" được đóng cho Iraq trong những năm 1985 -1987. Ngoài ra, tài liệu không nói về 5 mà là 2 tàu quét mìn và sáu xuồng quét mìn. (Ghi chú của biên tập viên).

{ 36 } Mục tiêu này được công bố nhưng chưa thực hiện. Hơn nữa, sau sự thất bại của quân đội Iraq đã nảy sinh một cơ hội thực sự để lật đổ Saddam Husssein bằng các lực lượng nổi dậy thống nhất, nên ban lãnh đạo chính trị Mỹ quyết định hạ thấp các hạn chế đã đặt ra với Iraq về việc sử dụng máy bay chiến đấu. Việc để phe đối lập lên nắm quyền ở Iraq không phù hợp với lợi ích của Mỹ trong khu vực. (Ghi chú của biên tập viên).

{ 37 } Người ta cho rằng những con số này đã bị hạ thấp một cách nghiêm trọng. (Ghi chú của biên tập viên).
{ 38 } Có thông tin rằng phần lớn xe bọc thép bị "tiêu diệt" là mô hình giả làm bằng gỗ dán. Sự quan tâm đến vấn đề này là ở chỗ những tổn thất tương đối nhỏ (đối với một cuộc chiến không cân sức) trong không quân Iraq, so với những thiệt hại của Argentina ở cuộc xung đột Falklands. (Ghi chú của biên tập viên).

{ 39 } Trong trường hợp này, chúng ta cần hiểu "kẻ xâm lược" là phía mà hành động của họ không phát sinh bởi mối đe dọa trực tiếp với lãnh thổ của mình hoặc họ có các cam kết quân sự trực tiếp được ký kết từ trước khi nổ ra chiến sự - nghĩa là họ không có bất cứ cơ sở pháp lý nào. Trên quan điểm này, hành động của Israel trong tất cả các cuộc chiến tranh với người Ả Rập (sau năm 1949) không phải là xâm lược theo ý nghĩa đầy đủ của từ này - thay vào đó, ở đây chúng ta có thể nói đến một "cuộc chiến phòng ngừa". Ngược lại, trong cuộc xung đột Anh- Argentina năm 1982 vấn đề liên quan đến quyền chủ quyền đối với quần đảo Falkland gây tranh cãi nhiều hơn. Tuyên bố của Argentina về lãnh thổ này là khá đủ cơ sở, và có thể còn hấp dẫn hơn nữa (ít nhất là đối với giới pháp lý quốc tế) nếu tại thời điểm đó trong đất nươc này đang tồn tại chế độ dân chủ nghị viện truyền thống.

{ 40 } Các nhà bình luận người Anh (và theo sau họ là một số nhà bình luận nước ta) đặc biệt nhấn mạnh ưu thế "đáng kể" của phía Argentina về máy bay, trong khi quên đề cập đến trong tính toán của họ số máy bay ném bom của Anh, xuất phát hoạt động từ đảo Ascension, cũng như tất cả các phương tiện trinh sát và máy bay trực thăng. Trong khi đó, các máy bay của Anh từ căn cứ trên đảo Ascension đã thực hiện 466 phi vụ - gần tương đương với tất cả các máy bay Argentina trong cuộc xung đột (500 lần xuất kích).

HẾT
........