Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 10:18:10 am



Tiêu đề: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 10:18:10 am
Hồi ký của Thượng tướng Nguyễn Thế Trị
Người thực hiện: Trần Danh Bảng
Nhà xuất bản QDND- 2011


Số hóa: lixeta
(http://i627.photobucket.com/albums/tt353/datavehu/nGUYENtHEtrI.jpg)

                                                         
LỜI TÒA SOẠN



       Bạn đọc đang có trên tay cuốn hồi ký của Thượng tướng PGS-TS Nguyễn Thế Trị, nguyên Ủy viên TƯ Đảng, Giám đốc Học viện Quốc phòng.
      Kể từ ngày đầu nhập ngũ trong lớp chiến sĩ thực hiện nghĩa vụ quân sự đầu tiên của đất nước năm 1958, Nguyễn Thế Trị trở thành một quân nhân, một cán bộ trải qua hơn 50 năm chiến đấu phục vụ không ngừng nghỉ.
       Cuộc đời công tác, chiến đấu của Thượng tướng Nguyễn Thế Trị gắn liền với các chiến trường Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ, biên giới phía Bắc Tổ quốc. Sau khi công tác ở  cương vị Tư lệnh Quân khu 3, ông trở về là Giám đốc Học viện Quốc phòng.
    Suốt quá trình công tác, ông vừa là cán bộ chính trị, vừa là cán bộ quân sự, sau là giảng viên, giáo sư, nhà nghiên cứu khoa học quân sự, nhà quản lý huấn luyện đào tạo cán bộ quân sự-quốc phòng ở bậc cao.
     Dù ở địa bàn công tác nào hay ở cương vị công tác nào, qua cuốn hồi ký, chúng ta thấy đồng chí Nguyễn Thế Trị luôn là người không ngừng tư duy sáng tạo, không ngừng khám phá, tìm tòi đổi mới, kiên quyết không đi theo dấu cũ, nếp cũ. Sự sáng tạo trong công việc, giải pháp mới trong hành động đã mang về cho ông những thành công trong xử lý các tình huống, có khi rất cam go, quyết liệt, đòi hỏi phải trả giá bằng xương máu.
     Dụng mưu, lập thế, bày kế, điều binh… vốn là hành động của cấp chỉ huy, không chỉ thế, trong nhiệm vụ nghiên cứu, đào tạo, huấn luyện, ông cũng có nhiều đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám “dấn thân” chịu trách nhiệm, dám đối mặt với lời đàm tiếu, óc hẹp hòi, điều tai tiếng.
     Với bản chất ham học, tìm tòi, ông đã giành nhiều thành công trong nhiệm vụ ở cương vị khác nhau, cho dù cũng có không ít những thử thách, gian truân cả sức ép về tinh thần và bất đồng trong công việc. Ở vị chỉ huy, nhà quản lý giáo dục này còn có một phẩm chất quý là “đôi mắt tinh đời” trong sử dụng người, biết phát huy, “kích hoạt” được những “bộ óc” biết sáng tạo, “nối mạng” được rộng rãi nhiều tác nhân hợp thành trong nhiệm vụ. Có thể khái quát: Nguyễn Thế Trị là người đóng góp xứng đáng cho tư tưởng xây dựng nền Quốc phòng-Quân sự trong thời kỳ Xây dựng và Bảo vệ Tổ quốc với những yêu cầu mới, đòi hỏi mới.
       Trong hàng trăm trang ký ức về các thời kỳ chiến đấu, công tác của ông, có không ít những khoảnh khắc, giây phút tràn đầy xúc cảm, ưu tư, toát ra từ con người nặng tình yêu thương đồng đội, trách nhiệm với gia đình, cộng đồng.
      Từ nhiều điểm nhìn, hồi ức của ông dẫn chúng ta tới những vùng đất khói lửa, từ vòng cung Chư-tan-kra, nơi nảy lửa những trận đánh một chọi một, buộc chấp nhận cuộc tỷ thí giữa tiểu đoàn quân Mỹ với tiểu đoàn Quân giải phóng. Rồi đường 13 máu lửa với trên 150 ngày đêm chốt chặn ngoan cường của chiến sĩ Trung đoàn 209 dưới pháo, bom khét lẹt.
       Cũng hợp lô-gíc, khi ông viết những đoạn chiến tranh sôi động, hừng hực tinh thần chiến đấu, quả cảm, ngoan cường, cuốn hút người đọc bao nhiêu, thì chúng ta cũng đọc những chương viết về thời bình, viết về huấn luyện đào tạo, không tránh được nhiều ngôn từ chuyên môn để luận giải công việc. Điều này có thể làm bạn đọc kém cuốn hút, nhưng bù lại, tư liệu chân thực, tính tư tưởng của nó lại khiến nhiều người chỉ huy tìm đọc.
      Dẫu thế nào, cuốn sách nhỏ này cũng chỉ gói được một phần trong muôn vàn sự kiện, mà cuộc đời Thượng tướng Nguyễn Thế Trị đã trải nghiệm. Giữa hai dòng chữ còn muôn vàn những câu chuyện, những hồi ức của ông cùng đồng đội, trên con đường binh nghiệp vốn luôn không suôn sẻ, bằng an.
     Xin dành lời đánh giá cao nhất, đầy đủ nhất về ông cho những đồng đội, học trò của ông và bạn đọc cuốn sách này. Bởi ngày nay, con đường tiệm cận chân lý có không ít kênh, không ít luồng thông tin để minh chứng, kiến giải.
       Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc hồi ký của Thượng tướng Nguyễn Thế Trị, một vị tướng ưu tú của quân đội.

                   

                                                       NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN 



Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 10:19:48 am
                                                
LỜI GIỚI THIỆU



          Đồng chí Nguyễn Thế Trị sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống yêu nước ở vùng quê Kim Thành, Hải Dương, một vùng đất địa-linh-nhân-kiệt. Năm 19 tuổi, Nguyễn Thế Trị nhập ngũ trong lớp nghĩa vụ đầu tiên của tỉnh Hải Dương. Suốt chặng đường 50 năm trong quân ngũ, đồng chí đã được rèn luyện, thử thách trong chiến đấu ác liệt trên các chiến trường: Tây Nguyên, Đông Nam bộ, Biên giới phía Bắc. Trưởng thành từ chiến sĩ đến cán bộ sư đoàn, chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh, Phó tư lệnh về chính trị, Tư lệnh Quân khu 3, Giám đốc Học viện Quốc phòng, đồng chí là Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng các khóa VII, VIII, IX.
        Dù ở cương vị công tác nào, quân sự hay chính trị, đơn vị chiến đấu hay nhà trường, đồng chí luôn là một cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân; dũng cảm, mưu trí, linh hoạt, quyết đoán trong chiến đấu; đổi mới, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trong xây dựng đơn vị và trong huấn luyện, đào tạo cán bộ, nhất là những năm làm giám đốc Học viện Quốc phòng, đồng chí đã cùng tập thể Đảng ủy, Ban giám đốc tham mưu cho Đảng, Nhà nước nhiều vấn đề chiến lược về Quốc phòng-Quân sự trong thời kỳ xây dựng và Bảo vệ Tổ quốc. Đồng chí có lối sống mẫu mực, khiêm tốn, giản dị, có tình cảm sâu sắc đối với đồng chí, đồng đội, được cấp trên tin tưởng, cấp dưới yêu quý… Khi về nghỉ hưu đã thể hiện nghĩa cử cao đẹp với đồng chí, đồng đội đã hy sinh; tình cảm, trách nhiệm với quê hương và gia đình, được Đảng, chính quyền và nhân dân địa phương đánh giá cao.
        Cuốn Hồi ký “Đời binh nghiệp” của Thượng tướng, Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thế Trị đã ghi lại nhiều ký ức và tư liệu, thể hiện sinh động một nghị lực, ý chí vươn lên của thế hệ thanh niên thời đại Hồ Chí Minh, phấn đấu theo lý tưởng cách mạng của Đảng. Một tấm gương sáng cho thanh niên và con cháu trong gia đình, dòng tộc noi theo.
    Với tình cảm yêu mến đồng chí Nguyễn Thế Trị, một trong những cán bộ ưu tú của quân đội ta, tôi xin giới thiệu cuốn Hồi ký của đồng chí với bạn đọc
                                            
Hà Nội, ngày 01 tháng 10 năm 2011

Đại tướng Nguyễn Quyết
Nguyên Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư TƯ Đảng,
Phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước
Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐNDVN



Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 10:21:32 am
I


TUỔI THƠ GIAN KHÓ


     Như bao làng quê ở Bắc bộ, làng Cổ Phục của tôi nghèo, mấy chân ruộng lúa xen ít thửa trồng màu. Lứa chúng tôi lớn lên, những đứa con luôn bên mẹ, bởi cha thường vắng nhà. Đàn ông có vợ ở quê tôi nếu không đi Vệ quốc đoàn thì cũng ít ở quê. Nhiều nhà, đàn ông đi làm thợ mỏ mãi ngoài Quảng Yên, Hồng Gai, hoặc bốc vác ngoài bến Sáu Kho, Hải Phòng. Hồng Gai thì xa, người lớn nói thế, còn Hải Phòng thì đêm đêm chúng tôi vẫn thấy. Đó là nơi vầng sáng bồn chồn rực đỏ hướng đông, chừng vài chục cây số. Người lớn kể, ở đó có bến tàu, có cả ga xe lửa. Những con tàu to hơn đình làng, cao như cây cổ thụ, nó chở rất nhiều hàng mang đi ngoại quốc. Nếu chở gạo thì cả tỉnh tôi cũng không đủ cho nó “ăn “một chuyến… Câu chuyện về những con tàu, những ga xe lửa cứ chập chờn trong giấc ngủ. Đêm thôn dã chìm trong tiếng chó sủa eo óc cuối làng.
       Trong làng khi ấy toàn trẻ con và người già. Tôi thương bá Thí (chị mẹ tôi) gia đình neo đơn. Tôi tập đi cày từ lúc chưa đầy 14 tuổi. Chiều mưa, xác xơ đồng rạ trắng, mưa phùn rét căm căm. Với tôi, cày ruộng là việc không khó, nhưng người tôi thấp, vác cày trên vai ra đồng thật khó khăn. “Gánh cày” thì mũi cày cứ lê sát sàn sạt lối đi, không khéo chân vấp phải. Bá thấy thế thương con, thường ưu tiên cho tôi cưỡi trâu ra đồng, Bá lẽo đẽo theo sau vác cày hộ. Trưa, Bá lại vác cày về. Tôi giong trâu, nhiều hôm đói hoa cả mắt. Mùa cấy chẳng mấy qua mùa gặt… Cứ thế, làng quê nghèo cũng yên ả trôi đi trong tiếng giục trâu, trong mùi cỏ ngai ngái, hay khi rơm mới thơm dậy mùa vàng trong bếp lửa bập bùng.
        Lâu lắm mới có gánh hát chèo về hát ở làng bên, trai gái mấy làng rủ nhau tới xem đông lắm. Từ chiều, tiếng trống chèo đã thúc dồn trong ngực trẻ. Trong ánh sáng của ngọn đèn măng sông, những cô gái áo mớ bảy, mớ ba giọng ngọt lịm trong tiếng sáo dìu dặt: “Con cò bay lả bay la, bay từ cửa phủ, bay ra cánh đồng… tình tính tang, tang tính tình”… Nhịp điệu dân ca chậm rãi, như ăn nhập với nhịp chân trâu bì bọp trên ruộng cày. Tôi thấy rõ lắm nhịp điệu chậm chạp nghề canh nông trong câu hát, những cánh cò trắng vẫy cánh khoan thai, mờ dần về phía sông Kinh Thầy. Nhịp điệu làng quê thôn dã năm hai mùa lúa, đơn điệu, thế thôi. Tôi, đứa trẻ thôn quê, không khác gì trăm ngàn đứa trẻ ở nhiều vùng quê nghèo khác.
     Bên nội, họ tôi cũng nghèo, nhưng bên ngoại thì khá hơn. Ông ngoại tôi có nghề gia truyền cắt thuốc bắc và dạy học. Bà ngoại buôn hàng tấm. Bố tôi đi xa trên chiến khu, tôi sống nhiều nhờ bên ngoại… Chiến tranh, giặc dã liên miên.


                                                               *  *  *

       Làng Cổ Phục, nơi tôi sinh ra có nhiều dòng họ, trong đó có dòng họ Nguyễn Văn của tôi. Họ Nguyễn Văn định cư vào loại sớm nhất, do cụ Thủy Tổ Nguyễn Huy Ích người xứ Sơn Nam khởi nghiệp. Cụ đã chọn nơi này làm nơi dừng chân cư trú sinh cơ lập nghiệp từ cuối thế kỷ thứ 16. Trải qua nhiều thế kỷ, đến đời thứ VII vào thế kỷ thứ 18, cụ tổ họ Nguyễn là Nguyễn Phúc Thọ kết hôn với 4 bà vợ, sinh được 17 người con gồm 12 trai, 5 gái. Sau này, 12 người con trai phát triển thành 12 chi tồn tại đến ngày nay. Dòng họ nay có hàng nghìn con cháu sinh sống trên mọi miền đất nước.
Sinh thời, cụ tổ Nguyễn Phúc Thọ học cao, biết rộng. Vào cuối đời Vua Quang Trung thứ 5 năm 1792 (thế kỷ thứ 18), cụ được Quốc triều sắc phong làm Khâm sai Bắc biên tiết chế (1); Bộ Thủy chư doanh, kiêm binh dân thư vụ Tước (2) hoành tử khang Công. Đến triều Gia Long thứ I năm 1801, cụ lại được Quốc triều sắc phong Chu Thị Hàng ký thuộc Tước thọ Trường Nam.
      Dưới thời vua Minh Mạng, cụ Nguyễn Thế Trị, đời thứ VIII, là con thứ 7 của cụ Nguyễn Phúc Thọ, văn võ song toàn. Cụ tham gia quân đội của triều đình, trưởng thành từ người lính tới chức “Quyền Thuỷ sư”, Binh đoàn tam đội, được Nhà vua tin cậy, cử đi trấn ải Lạng Sơn. Cụ luôn lo lắng tìm mọi cách tăng cường phên giậu quốc gia, giữ gìn vững chãi giang sơn trên hướng Bắc. Tôi thật vinh dự được trùng  tên cụ Nguyễn Thế Trị, bậc Tổ đường của dòng họ.
      Để tồn tại Thủy Tổ, các cụ tổ họ Nguyễn Văn đã phải chống chọi với thiên tai khắc nghiệt, giặc cướp, giặc ngoại xâm hàng thế kỷ của nhiều triều đại phong kiến phương Bắc, gần một thế kỷ trong chế độ thực dân. Đời sống của người dân vô cùng cực khổ. Năm 1945, nhiều người dân họ Nguyễn đã chết đói, chết ngay trên mảnh ruộng của mình, chết tha hương xứ người, bởi họ đã phải rời bỏ quê hương đi làm phu đồn điền ở Nam Kỳ - đi Tân Đảo. Ra đi đói khổ, tha hương, không có ngày trở về, nhiều người cho đến nay không rõ lang bạt nơi đâu? Còn sống hay đã chết. Họ hàng ngày ngày mong tin, vô vọng.
      Bố mẹ tôi sinh được 3 người con. Trên tôi là một anh trai, anh Nguyễn Thế Sử. Anh Sử sinh năm 1938. Dưới tôi là em gái, em là Nguyễn Thị Thành, sinh năm 1942. Cả gia đình đến thời chúng tôi chỉ có 11 thước vườn để ở, nguồn sống chính làm nghề cấy rẽ và làm hàng xáo (chế biến nông phẩm) để sống. Năm 1939, tôi sinh. Sau này bố tôi kể, tôi luôn để đầu húi cua, tóc để chỏm trông không đến nỗi gày gò, được cái nhanh tay, nhanh mắt lắm.
     Tuổi thơ của 3 anh em chúng tôi tuy vật chất khó khăn, song chúng tôi đã có những ngày hạnh phúc trong vòng tay yêu thương của bố, mẹ. Tôi và anh trai được bố, mẹ cho đi học. Chúng tôi học cùng lớp. Hai chúng tôi luôn được thầy khen “sáng dạ”. Tuy kém anh trai tôi một tuổi, nhưng tôi vóc lớn hơn, khỏe mạnh, nhanh nhẹn và nghịch ngợm, đôi lúc cũng “hay lý sự”. Tôi mải chơi, nhiều khi về ăn cơm muộn, vừa ăn vừa len lén nhìn trộm bố, dò xét xem bố có giận mình không. Nhìn ngoại hình tôi, bố mẹ tôi đều nhận xét: Thằng Trị có đôi mắt xếch, thằng này không rèn ngay từ bây giờ sau lớn lên không khéo thành “Tướng cướp” cũng nên! Biệt hiệu mắt xếch “Tướng cướp” nhiều năm sau vẫn được bạn bè cùng trang lứa hay nhắc tới với vẻ thán phục tôi là “tướng”. “Tướng nghịch” hay bắn chim bằng súng cao su rất khá.


                                                               
  *  *  *


Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 10:22:24 am
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, chấm dứt thời kỳ phong kiến đế quốc, đất nước đã được độc lập, anh em tôi lại được cắp sách đến trường. Chúng tôi đã là học trò của đất nước tự do. Tôi chứng kiến những ngày đầu của chính quyền thuộc về nhân dân, các đoàn thể thanh niên, phụ nữ, mặt trận được thành lập, nhiều cuộc mít tinh biểu dương lực lượng được tổ chức tại sân đình. Hoà trong không khi náo nức ấy, những đứa trẻ chúng tôi không thể nào vắng mặt. Mấy đứa chúng tôi cùng trang lứa chạy lăng xăng, khi sân đình, khi ngõ xóm.
    Cuộc đấu tranh giành độc lập cho Tổ quốc bước vào thời kỳ khẩn trương, phức tạp. Việt Minh phát triển lực lượng khắp vùng. Tháng 12-1945, bố tôi tòng quân vào Trung đoàn 64, thuộc Sư đoàn Đồng Bằng sau này.
      9 năm kháng chiến gian lao, chống Pháp càn quét, địa bàn hoạt động của bố tôi là chiến trường “xôi đỗ”, Đồng bằng Bắc Bộ. Ông tham gia nhiều trận chống càn, trận đánh tiến công vùng sau lưng quân Pháp. Ông hăng say cùng đồng đội phát triển du kích, hỗ trợ quần chúng vùng địch hậu, phá tề, xây dựng chính quyền nhân dân. Thế hệ ông lăn lộn cùng nhân dân đồng cam cộng khổ, hoạt động, quần lộn với địch ngày đêm, khiến chúng luôn nơm nớp lo sợ. Những cố gắng của ông và đồng đội đã khiến địch không được rảnh tay mà chi viện, ứng cứu cho các mặt trận phía Bắc, Tây Bắc. Nơi chúng đang lún dần vào thế sa lầy, thất bại.
          Có một sự kiện trọng đại chúng tôi nhớ lắm. Nhân dân 3 huyện Kim Thành, Kinh Môn, Thanh Hà được đón Bác Hồ đi thăm nước Pháp sau khi ký tạm ước 14-9-1946 từ Pháp trở về. Ngày ấy, Người đi tàu hoả qua ga Phú Thái.
        Từ Hải Phòng lên Hà Nội, theo lịch trình, tàu chở Bác dừng ngắn ở ga Phú Thái để nhân dân 3 huyện được đón Bác, được nhìn thấy Bác. Chúng tôi có mặt ở Phú Thái từ sáng sớm, song không thể nào chen vào gần nơi tàu sẽ đỗ, bởi rừng người cờ và hoa đông nghịt. Đang lúc loay hoay chưa biết xoay xở ra sao, bỗng thấy hai chú vệ quốc đoàn đứng gác gần đó đi về phía chúng tôi, xốc anh em chúng tôi lên vai, khi tàu đang từ từ tiến vào ga. Ôi, Bác Hồ đó! Râu tóc Bác đã bạc! Bác tay cầm mùi xoa trắng tươi cười vẫy mọi người. Tiếng hô: Bác Hồ muôn năm! như sầm rền không ngớt. Chúng tôi hô theo. Giờ hạnh phúc quá ngắn ngủi, tàu tiếp tục chuyển bánh. Tình cảm yêu quý, kính trọng đối với Bác ai ai cũng chỉ biết biểu lộ bằng tiếng hô vang: Bác Hồ muôn năm! Bác Hồ muôn năm!
     Trong cuộc đời quân ngũ sau này, tôi nhiều lần được gặp Bác Hồ khi Bác đến thăm đơn vị. Hình ảnh Người trở thành sức mạnh tinh thần giúp tôi vượt khó khăn hoàn thành nhiệm vụ. Nhưng 65 năm đã trôi qua, hình ảnh Bác Hồ tại ga Phú Thái ngày ấy vẫn hiện lên đẹp đẽ, thiêng liêng, vẹn nguyên như mới ngày nào. Với tôi, đây là ngày hạnh phúc có một không hai trong quãng đời thơ ấu của mình.



Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 10:22:58 am
Dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa thực dân Pháp không những không thực hiện Hiệp định sơ bộ 6-3-1946  mà còn trắng trợn phản bội Tạm ước 14-9-1946. Chúng liên tục vi phạm lấn chiếm trên tuyến đường 5, con đường huyết mạch từ Hải Phòng đi Hà Nội. Tháng 11-1946, thực dân Pháp đánh chiếm Hải Phòng và Lạng Sơn. Ở Hà Nội, chúng liên tiếp nổ súng, ném lựu đạn ở nhiều nơi. Đặc biệt ngày 17-12-1946, chúng đã tàn sát đẫm máu đồng bào ta ở Hàng Bún và Yên Ninh (Hà Nội).
        Ngày 20-12-1946, quân Pháp từ Hải Phòng tiến đánh Kim Thành - Hải Dương bằng hai đường thuỷ, bộ. Đường bộ, chúng tấn công theo đường 5 bằng xe cơ giới, xe bọc thép; đường thuỷ bằng ca-nô, tàu chiến theo sông Kinh Môn. Tới đây, chúng bị quân dân Kim Thành chống trả quyết liệt, phải rút lui về Hải Phòng.
       Ngày 12-01-1947  (tức ngày 21 tháng Chạp năm Bính Tuất), quân Pháp mở trận càn lớn vào xã Vạn Thọ nay là xã Kim Khê, nơi có nhiều đồng bào xã Nhật Tân nay là xã Kim Lương tản cư ở đó. Trận khủng bố này địch đã bắn chết 300 người dân vô tội, trong đó có 121 người dân xã Nhật Tân, phần lớn người già và trẻ em. Ngày 21 tháng Chạp hằng năm đã trở thành ngày giỗ trận và cũng là ngày nhân dân không bao giờ quên tội ác của kẻ thù đã gây ra cho nhân dân hai xã Vạn Thọ và Nhật Tân. Trận càn quét này, gia đình tôi may mắn không bị thiệt hại về người và của do nhờ ông bà ngoại đưa đi tản cư sang xã khác trước đó vài ngày.
         Quê tôi, ngọn lửa chiến tranh ngùn ngụt đã len đến từng nhà, cuộc sống tinh thần và vật chất đảo lộn. Trẻ con bị thất học. Ông bà già, phụ nữ vừa chạy loạn vừa mưu sinh. Trai tráng trong làng đi bộ đội. Nhà cửa bị đốt phá. Ruộng vườn bị bỏ hoang. Thời điểm gay go đó, bố tôi đi xa, ông bà nội mất lúc chúng tôi chưa sinh, bác ruột và các cô ruột cũng phải nhọc nhằn kiếm sống. Mẹ tôi đưa ba anh em theo ông bà ngoại chạy tản cư cùng với gia đình các bác, bà, cậu, dì. Lớn, bé, già, trẻ, tổng số theo bà ngoại tới 30 người. Tất cả đều tuân theo chỉ dẫn của ông bà và các bác, các cậu. Trẻ con chúng tôi mỗi đứa được ông bà mua cho cái bị cói để đựng quần áo cá nhân. Bất cứ đêm hay ngày, mưa hay nắng “có lệnh” là phải đi cùng cái bị “tuỳ thân” luôn bên người. Vất vả nhất là những ngày chạy giặc, tản cư ban đêm (để tránh máy bay địch). Nhiều đêm mưa rét, đường trơn, băng qua ruộng lầy, cắt ngang luống cày vỡ, gió rét căm căm, áo xống phong phanh, anh trai tôi bị ốm. Mẹ cho anh tôi ngồi vào một bên thúng, thúng bên kia đựng đồ, gánh gồng, tất tưởi chạy theo mọi người. Bao năm qua đi, hình ảnh mẹ gồng gánh anh tôi chạy giặc đã hoá thạch trong ký ức.
        Suốt mấy năm liền, chúng tôi chạy giặc, chuyển chỗ nhiều nơi, song chưa lần nào bị giặc bao vây sát sạt. Đó là nhờ ông ngoại tôi rất tỉnh táo, có kinh nghiệm, nắm được quy luật của giặc. Ông rút ra, trước khi đánh chiếm xã nào, vùng nào, Pháp đều cho máy bay L19 thám thính từ 1 đến 3 ngày. Chỉ ngay ngày đầu, có máy bay do thám, ông ngoại đã lệnh cho cả nhà di chuyển đi nơi khác, tránh xa vùng “nguy hiểm”.
        Chiến tranh! Cái chết không phải chỉ bởi súng đạn của kẻ thù mà cả cuộc sống phiêu bạt, trong đói rét, khốn khó. Khắc nghiệt trong hoàn cảnh sống đói cơm, thiếu thuốc, ly hương, đã cướp đi của tôi hai người thân yêu nhất.
Em gái tôi vì chạy tản cư bị cảm lạnh, sưng phổi, thiếu thuốc kháng sinh, không thể nào chữa chạy kịp thời, em đã ra đi oan uổng.
       Năm 1948, một năm gian khó của mọi vùng quê, bất hạnh lớn lại ập đến gia đình tôi. Mẹ tôi sinh em gái thứ hai, do không kiêng khem, đói khát, thiếu thuốc, mẹ mắc chứng “hậu sản”. Không bao lâu sau, rồi mẹ lại theo em tôi ra đi. Đó là ngày 29 tháng 8 năm Mậu Tý. Tôi còn nhớ, trước lúc lâm chung, mẹ gọi anh em chúng tôi vào dặn dò hai đứa con dại, trong nước mắt lưng tròng, mẹ nói: Sau khi mẹ chết “thằng Sử ở với ông bà ngoại, thằng Trị ở với Bá”. Nói xong mẹ ra đi mãi mãi. Mẹ tôi mất năm ấy mới có ngoài 30 tuổi, tôi mới 9 tuổi, anh trai tôi 10 tuổi. Với chúng tôi, sự mất mát đau thương đó là quá lớn. Hình ảnh mẹ tần tảo, lam lũ, nhân hậu, chịu thương chịu khó, có miếng ngon thì nhường cho chồng con, việc nặng nhọc dành lấy cho mình, cuộc đời ngắn ngủi của mẹ đã dành trọn cho anh em chúng tôi.
       Khi mẹ khuất núi, theo lời trăng trối của mẹ, anh trai tôi ở với ông bà ngoại. Tôi về ở với Bá (chị mẹ). Bá là Hoàng Thị Thí, sinh năm 1910, Bá ở vậy nuôi con cho dù khi goá chồng Bá mới 28 tuổi. Sống trong vùng tạm chiếm, dù tản cư liên miên, nhưng ông bà ngoại tôi và Bá cũng như anh em tôi vẫn “ăn cùng mâm, ngủ cùng nhà” với ông bà. Đại gia đình bên nhau, cho đến khi hoà bình trở lại, cha con tôi khi ấy mới đoàn tụ về một mái ấm.
      Anh trai con Bá là con độc nhất. Hai anh em chúng tôi bên nhau vừa là anh em, lại như bầu bạn, hoà thuận tri âm, tri kỷ. Anh là Nguyễn Xuân Nghiệm, sinh năm 1938, bằng tuổi anh Sử tôi một tuổi. Anh Nghiệm được Bá cho lên chiến khu học hành từ năm 1953. Sau hoà bình, anh Nghiệm đi học khóa trung cấp sư phạm, sau đó lại gắng học đại học, về làm giáo viên Trường học sinh Miền Nam tập kết số 21. Sau này anh là Hiệu trưởng Trường cấp 3 huyện Kim Thành, rồi nghỉ hưu từ đó.
      Sau này, đi khắp miền quê đất nước, gặp những người mẹ tảo tần, xứ Bắc, xứ Nam, dẫu đã trưởng thành, đôi khi chiều về, khi chạng vạng tối, lòng tôi vẫn nao nao nhớ mẹ. Khắc khoải trong lòng, hình ảnh mẹ còn mãi vĩnh hằng, thiêng liêng cao cả. Sau này khi là Tư lệnh Quân khu 3, khi phác thảo bức tượng “Bà mẹ Sông Hồng”, người nghệ sĩ tạc tượng lại chạm sâu vào ký ức của tôi hình ảnh mẹ. Tôi thấy mẹ hiển hiện trước mắt tôi, một dáng tảo tần, kiên nghị, bao dung, càng làm tôi khẳng định, chủ trương của các thế hệ chỉ huy Quân khu 3, sau đó tôi là người chỉ đạo, thực hiện tạc bức tượng Bà mẹ Sông Hồng, đặt trang trọng trong sân Bộ tư lệnh là chủ trương đúng đắn, mang ý nghĩa phổ quát, nhân văn sâu sắc. Bà mẹ Sông Hồng là hiện thân của đức hy sinh, nghị lực lớn lao. Trong mỗi người lớn, hay con trẻ, trong mỗi cán bộ, chiến sĩ, ai cũng có trong tim bóng hình người mẹ. Vì mẹ, chúng con xin dâng tất cả, kể cả tính mạng và tài sản của mình.
        Mẹ tôi qua đời trong lúc cuộc kháng chiến chống Pháp đang trong giai đoạn cam go, khốc liệt nhất. Anh em chúng tôi thấm thía sự thiếu vắng người mẹ, từ bữa ăn từ giấc ngủ. Khi còn mẹ, “miếng ngon mẹ nhường khi ăn, chỗ ướt mẹ giành khi ngủ”. Anh em tôi tiếp tục theo ông bà ngoại và đại gia đình tản cư quanh co đến nhiều làng trong huyện Tứ Kỳ. Nắng hạ, mưa rào, những bóng người liêu xiêu đi trong chiều kháng chiến, không ai có thể biết ngày mai thế nào. Một ngày đầu mùa Đông se lạnh, lần cuối cùng, đoàn tản cư gia đình chúng tôi dừng ở phố Măng, thôn La Giàng, xã Văn Tố. Nói là phố, song đó là con đê ngăn lụt, các gia đình tản cư được chính quyền xã cho phép dựng lều, lán, dựa lưng vào con đê. Những liếp phên tranh tre xen nhau, vừa để ở và mở cửa hàng mưu sinh. Cuộc sống tạm gọi ổn định. Tại đây, ông ngoại tôi rất nhanh đã liên hệ được với thầy giáo làng, cho anh em chúng tôi tiếp tục đi học. Trong cuộc trường chinh ly hương chạy loạn, những năm đầu kinh tế ít khó khăn. Càng về sau, cuộc sống mưu sinh càng thêm khốn khó. Các bác, các chú tôi đều phải đi buôn hàng vặt, từ vùng tạm chiếm (vùng tề) mang ra vùng tự do bán. Tôi nhớ, anh em chúng tôi tuy còn nhỏ cũng được gia đình giao cho công việc phù hợp. Hàng ngày, tôi và anh Sử mang hai chai dầu hỏa, vài tập giấy từ Tứ Kỳ sang huyện Ninh Giang để bán. Lúc trời khô ráo mọi chuyện suôn sẻ, khi trời mưa gió, chúng tôi ngã “vồ ếch” oành oạch, vỡ cả chai dầu, lấm cả giấy, bán không ai mua. Chúng tôi rất sợ. Khi về nhà thưa lại với gia đình, ông bà tỏ ra thương xót các cháu, không hề mắng mỏ gì! Sau này đọc thơ của nhà thơ Hoàng Cầm, bài “Bên kia sông Đuống”, tôi thấy nhà thơ quá tinh tế khi mô tả gánh hàng nghèo của người mẹ sông Đuống: “Mẹ già nua, còm cõi gánh hàng rong/ Dăm miếng cau khô, mấy lọ phẩm hồng, vài xếp giấy dầm hoen sương sớm”… lại thấy những ngày thơ bé trong kháng chiến, làng xưa thật khốn khó, dễ nào quên.
        Lại nói, đến khi kinh tế đại gia đình gặp khó khăn, ông bà tôi quy định cả người lớn và trẻ con, mỗi ngày ăn hai bữa, mỗi bữa hai bát, thức ăn chỉ có bì lợn thái nhỏ trộn lẫn với muối to. Bản thân chúng tôi tuy còn nhỏ nhưng đã ý thức được khó khăn của gia đình. Dẫu sao, nhìn ra xung quanh, nhiều đứa trẻ  khác, gia đình họ còn đứt bữa, nên anh em tôi rất biết ơn, cảm thông cho ông bà.
        Ông bà ngoại là người sống đức độ, được mọi người rất kính trọng, với con, với cháu rất đỗi thương yêu đùm bọc, đặc biệt là hai anh em chúng tôi. Những lúc ông ngoại rỗi hay gọi các cháu (nội ngoại) tới bắt tập viết chữ đẹp và hướng dẫn làm toán. Ông rất chú ý rèn các cháu phải học thuộc bảng cửu chương, bất kỳ lúc nào, đột nhiên ông kiểm tra và hỏi “bảy lần tám là bao nhiêu?” lúc sau đột nhiên ông lại hỏi: “tám lần bảy là bao nhiêu”; mấy anh em chúng tôi đều trả lời chính xác. Riêng có anh cháu nội lười học hay bị ông phạt. Tôi biết, ông ngoại đã sớm tiên liệu, chỉ có con đường học hành, may ra mới cứu thoát con cháu khỏi cảnh nghèo, giữa vùng quê nheo nhóc, gian khổ này. Chúng tôi từ nhỏ đến lúc trưởng thành đều rất gắn bó, được ông bà ngoại, và Bá cưu mang. Đức độ của ông bà, sự quan tâm săn sóc dạy giỗ của ông bà ngoại và của Bá, để lại trong tôi tình cảm và lòng hiếu dễ sâu sắc. Ở trong tình cảnh xa bố, thiếu mẹ, chúng tôi nhủ lòng, không thể nào quên được công ơn đó.
         Năm 1950, thực dân Pháp mở rộng chiến tranh ra các tỉnh Đồng bằng Bắc Bộ, đại gia đình tôi quay về vùng tạm chiếm Kim Lương, Kim Thành, Hải Dương. Tuy các gia đình nhỏ tách ra từ gia đình lớn, nhưng vẫn sống quây quần gần ông bà ngoại.
       Hằng ngày, ngoài công việc vặt gia đình, đến việc chăn trâu cắt cỏ, tôi vẫn được Bá cho đi học trường làng (anh trai con Bá vào chiến khu học). Tuy sống ở vùng địch hậu, ban ngày giặc có thể càn quét, nhưng ban đêm giặc đóng trong bốt. Chính quyền Việt Minh hoàn toàn làm chủ. Đêm đến, các đoàn thể thanh niên phụ nữ, du kích, mặt trận tổ quốc, thiếu nhi hoạt động rất chặt chẽ. Bản thân tôi tham gia đội thiếu nhi, thường xuyên được phân công canh gác theo dõi lính trong đồn. Hễ khi lính ra khỏi đồn vào làng, tôi kịp chạy báo cho cán bộ sơ tán, hoặc xuống hầm bí mật. Việc này với tôi hứng thú lắm, nên chạy đi chạy lại trong làng rất nhanh nhẹn. Lứa thiếu nhi trong thôn bấy giờ thì nhiều, nhưng số người được các bác tin cậy giao cho canh gác, bảo vệ cán bộ có anh Nguyễn Xuân Nghiệm, Nguyễn Văn Sử, cùng bạn của tôi như Nguyễn Văn Tĩnh, Hoàng Văn Huỳnh, Nguyễn Văn Thấn, Nguyễn Văn Ruyến, Hoàng Văn Rinh… Đó là những thanh thiếu niên nhiệt huyết một thời cùng thế hệ.
         Đêm đêm, trong luỹ tre làng, bên ánh đèn dầu, trai gái xóm tôi ghé đầu bên nhau hát những bài ca trữ tình trong chiến đấu, từ trên chiến khu Đông Triều mù sương, ai đó chép về, đại loại như bài “Chiều nay trên chiến khu, trong rừng chiều”… “Chinh chiến mắt quay về xóm cũ làng xưa/Chiều lên mù trong khói súng... /Nơi ấy có con đường tắm nắng vàng tươi/ Bờ tre nhà tranh vách mới/ Nơi ấy có cánh đồng mênh mông ngát hương/ Mùa lúa chín tiếng hát vang khắp đường…”.
         Tôi và mấy bạn trai gái trong thôn thuộc lắm  “Nhà anh có đàn em mắt ngây thơ má hồng/ Những chiều ngồi hát vui trên mình trâu/ Em bé dắt trâu về/ Gia đình làng mạc yên ấm/Tăng gia cày cấy đời đầy thanh bình...”.
          Đã qua gần 9 năm kháng chiến gian lao, từ người chiến sĩ đến người dân quê, ai cũng khát khao, ao ước sớm có một ngày thanh bình không còn tiếng súng.



Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 10:23:41 am
Đình chiến! Đình chiến! Hoà bình rồi! Hòa bình rồi!  Tin vui như lửa cháy rần rật khắp các thôn xóm đồng bằng. Trước đó, tin chiến thắng từ Điện Biên loan về, cán bộ thôn xóm đã đoán non, đoán già ngày Kháng chiên thắng lợi đến gần, bọn tề ngụy hoặc những kẻ liên quan đến thực dân ở quê tôi xẹp như gián. Khí thế các đoàn thể quần chúng dâng cao, thanh niên, thiếu niên náo nức họp hành. Tiếng trống đội cà rình, tiếng loa tay oang oang khắp xóm. Thấm thía những nhọc nhằn trong chiến tranh, chạy giặc, kiếm ăn, tin vui, đất nước thanh bình, khiến anh em tôi rạng rỡ mặt mày, trong lòng lâng lâng niềm vui, nhưng chúng tôi cũng da diết nhớ mẹ, nhớ em gái. Mẹ và em Thành không còn được chứng kiến những ngày vui của quê hương… Còn bố, bố đã bặt tin, không biết ông có còn sống? Có ai ngờ, trong Chiến dịch Thu Đông 1953, từ một trận đánh không cân sức, bố tôi bị thương, Pháp bắt làm tù binh đày ra đảo Phú Quốc, sau đưa ra Côn Đảo.
     Thế rồi ông đã trở về! Một buổi chiều sau ngày hòa bình, dễ đến hai năm sau, người lính bước xuống ga Phú Thái rồi đi bộ về làng như bao người lính phục viên khác. Thế hệ ông không có gì kỳ vọng hơn là làng xóm yên vui, đất nước thanh bình. Họ lại trở về với lũy tre, cày cuốc và gia đình. Thanh thản như làm xong bổn phận, “vui vẻ như cày xong thửa ruộng”. Chuyện về bố tôi, số là: Bố tôi được trao trả tù binh ở Sầm Sơn, Thanh Hóa. Ông trở lại quân đội, đến đầu năm 1956 ông phục viên về địa phương, tiếp tục công tác.
         Làng xóm thanh bình. Dẫu vậy, xóm thôn vẫn còn nghèo. Những người lính vệ quốc đoàn, bộ đội tình nguyện như bố tôi lần lượt phục viên về làng.  Những bài hát về một thời chiến đấu gian lao trên chiến khu cũng theo các anh về. Trai gái lại gọi nhau chép tay, khe khẽ hát: “Màn đêm xuống không trăng sao, lòng tôi nhớ tới hôm nào, trở về làng, tôi vẫn nhớ, đời bộ đội quen với gian lao...”. Nghèo! Nhiều người lại ly hương, đi khắp mọi miền mưu sinh, kiếm sống.
     Năm 1956, làng xóm đang cải cách ruộng đất, nhịp sống đang phục hồi. Nhưng nhịp điệu chậm rãi của làng quê vẫn là nhịp điệu nghề nông, theo bước chân trâu, khiến đời sống hương quê không bật lên mạnh mẽ được.
      Ngay sau khi phục viên, bố tôi tham gia công tác ở xã. Dùng số tiền phụ cấp xuất ngũ, ông mua vật liệu, làm được ba gian nhà tre lợp rạ để đón con cái về đoàn tụ. Thời gian này, gia đình tôi được xếp vào thành phần bần nông, được chia góc con trâu và 11 sào đất để trồng cấy. Bố tôi tuy bị giặc bắt, nhưng còn khỏe, ông đi bước nữa.
           Anh em tôi đang tràn sức trai, khát vọng làm một  cái gì đó lớn lao hơn, nhưng không rõ hướng. Năm 1956, tôi học hết cấp một. Thời gian này ở huyện chưa có cấp hai. Tôi năng nổ vận động bạn bè cùng lứa tuổi, tổ chức lớp bổ túc văn hóa cấp hai, mời thầy giáo về dạy. Xã ủng hộ chúng tôi ngay. Chúng tôi đuợc địa phương đánh giá là lớp thanh niên có học, tiến thủ, nên đã giao cho chúng tôi giúp xã làm thống kê, tính thuế nông nghiệp, đo đạc ruộng đất cho dân.
           Được làm việc có ích, lại được đánh giá cao, anh em chúng tôi say sưa “công tác”. Những ngày ấy, bây giờ tôi vẫn nhớ, lòng người phơi phới, nhiệt huyết dâng trào. Những năm 1980 sau này, tôi cứ ao ước, làm sao thanh niên ta, con em tôi có được những khát khao dâng hiến, làm việc, như những ngày sau hòa bình ấy. Nghèo lắm, ai cũng nghèo mà niềm vui được làm việc lâng lâng đến thế!
      Với cuốn sổ trong túi ngực, cây bút máy Pa-ke gài bên, tôi đi các xóm suốt ngày, không biết mệt. Tôi tự hỏi và tự trả lời: Hạnh phúc là gì? Hạnh phúc chưa hẳn đã cần sự đầy đủ, mà nằm trong một tương quan nào đó, rất cụ thể. Nó thúc dục người ta khát khao bước tới, dấn thân tự nguyện, đam mê làm việc, giúp người. Năm 1957, tôi được kết nạp vào Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam. Tháng 5-1958, miền Bắc thực hiện đợt Nghĩa vụ quân sự đầu tiên (năm 1957 làm thí điểm ở Vĩnh Phúc).
      Chiều chiều tôi nhìn về phía Bắc, vòng cung Đông Triều mờ trong sương, núi Yên Tử thi thoảng mới ló ra trong mây mỏng như chiếc khăn voan trắng, rồi mờ đi bí ẩn trong mây. Bên kia núi là đâu? Miền đất ấy có gì hấp dẫn? Tôi cũng nghe bố nói về Quảng Yên, Móng Cái, về bến Sáu Kho, cảng Hải Phòng... cả đời tôi loanh quanh trong lũy tre mấy xã cùng huyện, chưa một lần qua sông Kinh Thầy, chưa một lần đi xa… Khát vọng được “thoát ly”, ngao du đây đó cứ đầy dần lên, thì đúng lúc có đợt tuyển quân. Rất may, tôi khám tuyển đủ tiêu chuẩn để nhập ngũ. Tôi lên đường làm nghĩa vụ quân sự một cách tự giác, lòng đầy quyết tâm. Trai làng nhìn chúng tôi thèm thuồng, còn tôi lòng đầy tự hào… “còn phải nói !!!”


Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 10:24:30 am
II



TRƯỞNG THÀNH TRONG QUÂN NGŨ



       Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta đã kết thúc thắng lợi bằng Chiến dịch Điện Biên Phủ, hòa bình được lập lại ở miền Bắc, nhưng đất nước vẫn còn chia cắt làm hai miền. Năm 1958, Chính phủ thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự, huy động lớp thanh niên ưu tú vào xây dựng Quân đội chính quy, hiện đại, để bảo vệ miền Bắc, tiếp tục sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc.
Lớp thanh niên làm nghĩa vụ quân sự đầu tiên ở miền Bắc, khi đó được thực hiện tại ba tỉnh (Hải Dương, Thanh Hóa, Nghệ An). Tôi vinh dự được tham gia lớp nghĩa vụ quân sự đầu tiên của tỉnh Hải Dương. Chúng tôi nhập ngũ vào ngày 19-5-1958 tại Lai Khê - Kim Thành.
       Sau lũy tre làng, quanh năm đếm đủ mười hai mùa trăng, tầm nhìn của tôi bị khuất dưới dãy núi Yên Tử xanh mờ phía Bắc. Những câu chuyện hằng ngày quanh quẩn với cấy trồng, cày bừa, họp đoàn thanh niên, bàn chuyện “nước, phân, cần, giống”… nay được đi xa, khác gì bơi quanh ao làng, bây giờ ra sông, ra bể lớn.
       Những năm tháng “rèn binh luyện cán” ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa là thời kỳ đáng nhớ của tôi. Nó đã đặt những “viên gạch” nền móng vững chãi để suốt 50 năm tôi tư duy, hành động, trưởng thành trong quân ngũ.
       Sau một tuần rèn luyện những “nghi thức” đầu đời chiến sĩ, đơn vị kiểm tra lại sức khỏe, cho anh em nhận quân trang, tập đội ngũ và dự Lễ Tuyên thệ để trở thành Bộ đội Cụ Hồ. Buổi tuyên thệ thật xúc động. Lời thề của lứa trai nguyện làm người chiến sĩ Cách mạng còn in đậm trong tâm trí lớp chúng tôi. Phía trước tôi sẽ là những thử thách cả về ý chí, tinh thần và nỗ lực rèn luyện trong công tác. Cũng phải nói thật, lúc đó, tôi chưa nhận thức đủ về việc trau dồi trí tuệ, coi trọng việc nâng cao kiến thức, mà nặng về quyết tâm khắc phục khó khăn, hăng hái lao động công tác. Thế thôi! Những nhận thức còn cảm tính, mang hơi hướm nặng về sách vở, khẩu hiệu. Trai làng vào bộ đội thế là tốt rồi.
      Ngay sau đó, chúng tôi lên đường hành quân về đơn vị mới. Đó là Sư 316 đóng quân ở huyện Tam Nông - tỉnh Phú Thọ. Ban đầu, nhìn cấp chỉ huy đại đội, uy nghiêm, gương mẫu, chúng tôi “tâm phục, khẩu phục” lắm! Ít khi chúng tôi thấy cán bộ trung đoàn. Trong suy nghĩ, cán bộ trung đoàn chắc “to” lắm, còn cấp sư đoàn thì… không hình dung nổi các chỉ huy và cơ quan “hoành tráng” đến mức nào. Tôi nhủ mình phải chấp hành nghiêm mệnh lệnh, từ Tiểu đội trưởng.
Lần đầu tiên xa nhà, xa quê hương, tình cảm của những người lính mới thật khó tả, vui buồn lẫn lộn. Vui vì đã chính thức là anh Bộ đội Cụ Hồ, mà bạn bè cùng lứa không phải ai cũng có vinh dự này. Còn buồn vì tình cảm vương vấn, nhớ nhung gia đình, quê hương, người thân. Một thằng con trai lần đầu xa quê, có lẽ ai cũng thế. Tôi đã có bạn gái thân thiết ở quê, cứ mỗi khi chiều về, sương viền bờ lũy, ven đồi cọ sương giăng bảng lảng, thấy bếp nhà ai bập bùng lửa đỏ, lòng tôi khôn nguôi nhớ mẹ, khắc khoải nhớ cha. Tôi lớn lên cha đã đi bộ đội, khi ông phục viên, tôi chỉ ở với ông được có hai năm. Mọi công việc gia đình tề gia nội trợ, ông phải làm thay mẹ chúng tôi,  nếu tôi còn ở nhà, có thể gánh vác giúp ông khi sớm tối.
 Còn bạn gái của tôi, thực sự chúng tôi chưa thề ước điều gì, chỉ cảm mến nhau, khi ấy thường gọi là đôi lứa đã “có cảm tình”. Hai đứa cùng học một trường. Tôi được nhập ngũ, em cũng mừng cho tôi, nhưng cả hai chúng tôi không ai nói về sự xa cách. Tôi chắc em cũng buồn. Hồi ấy, bọn con gái hay chép cho nhau bài thơ của nhà thơ Vũ Cao, có mấy câu hay, ai cũng thuộc “Anh đi bộ đội sao trên mũ, mãi mãi là sao sáng dẫn đường. Em mãi là hoa trên đỉnh núi, bốn mùa thơm mãi ngát hương thơm”…
Nhớ tới em gái miền quê, tôi tranh thủ  khi nghỉ, viết thư về luôn, dẫu mới xa nhà có ít ngày… Con tem quân đội nối hai niềm thương nhớ. Tôi nhớ như in, trên phong bì thư gửi cho người thương, tôi luôn kỳ công vẽ trang trí, thể hiện tình cảm tha thiết. Bây giờ ít thấy trai gái gửi thư, vì có điện thoại di động và nhắn tin, “chát” qua mạng. Tình cảm đôi khi chỉ là sự liên lạc đơn điệu. Hồi ấy, từng nét chữ cũng ẩn chứa nhiều thông điệp yêu thương. Một chiếc phong bì thôi, có nét riêng, không chỉ trao nỗi niềm, mà còn thể hiện sự ân cần, văn hoá, đôi khi còn “khéo” thể hiện “có hoa tay”, cả sự hào hoa.
Ngày đơn vị chuyển quân lên Phú Thọ, hôm ấy cha tôi bận công tác, anh Sử (anh trai tôi), thay cha lên thăm. Câu chuyện giữa hai anh em chủ yếu nhắc tới cha. Tôi bảo anh rằng, anh cố gắng giúp đỡ cha thay em. Giọng tôi lạc đi, mắt cay cay chực khóc. Anh Sử đặt tay lên vai tôi an ủi, động viên hãy yên lòng.
    Anh Sử của tôi, tuy chỉ lớn hơn tôi chút ít, nhưng anh luôn thể hiện mình là người anh, gương mẫu, tận tụy. Anh em tôi đều biết cuốc cày từ tấm bé, giúp Bá. Nhà có người đi bộ đội, bố phục viên, xã xét cho anh đi học Bổ túc công nông ở Đông Triều, Quảng Ninh. Có văn hóa cao, anh được gọi học Đại học sư phạm. Nhưng lên trường, đang học dở, vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, anh phải bỏ ngang chừng. Anh lại về quê, vì thương bố vất vả, lại xa nhà. Về quê, anh theo phục vụ đội chiếu phim, được cái gần nhà, đỡ bố khi yếu đau. Thế rồi anh được trên phát hiện có văn hóa, cho đi học ở Liên Xô 7 năm. Về nước, anh là giáo viên Trường Điện ảnh Việt Nam. Thời gian sau, anh về làm Trưởng phòng kế hoạch Cục Điện ảnh. Trước lúc về nghỉ, anh là Tổng Giám đốc Fafilm Việt Nam. Những công việc ở hậu phương khi tôi đi chiến đấu, anh quan tâm thay tôi rất nhiều. Sau này, những sự kiện lớn ở làng xã, tôi đề xuất, anh Sử học cao hiểu rộng nên đều ủng hộ tôi, cùng tôi thực hiện bằng được.
       Sáu tháng huấn luyện tân binh, tuy khó nhọc, phải lăn lê bò toài, dầm nắng giãi mưa ở thao trường, nhưng so với khi còn ở nhà lăn lộn việc nhà nông, tôi thấy nhẹ nhàng, không có gì căng thẳng
      Tháng 11 năm ấy, kết thúc khóa huấn luyện tân binh, nhiều gia đình ở quê có điều kiện kinh tế lên thăm con em. Còn tôi, tuy bố và anh Sử không lên, tôi được ông cậu ruột đang học lớp chính trị viên đại đội ở Trường Sĩ quan tận trên Sơn Tây lên thăm, nên lòng tôi cũng thanh thản. Cậu tôi là Hoàng Văn Định, ông sinh năm 1932, trước anh Sử đến 7 tuổi, là con út của ông bà ngoại. Ông Định sau này tham gia chiến đấu chống Mỹ. Ông giữ cương vị Chính uỷ Lữ đoàn Pháo binh trực thuộc Bộ, ông cũng tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, trước khi nghỉ ông là Phó Tư lệnh chính trị Binh chủng Pháo binh.

       Rồi đơn vị được lệnh chính thức chuyển lên Tây Bắc. Lên Tây Bắc, quê nhà càng xa thêm, nhưng tôi nghĩ đơn giản, mình mới biết Tây Bắc qua phim ảnh, ở đó có hoa ban, có các cô gái Thái trắng múa xòe rất xinh đẹp… nên tôi rất háo hức chờ đón nhiệm vụ.
Từ Phú Thọ lên Yên Bái được đi bằng xe lửa nên các anh lính trẻ rất phấn chấn. Bên khung cửa con tàu, nhiều cậu khe khẽ hát theo nhịp rung muôn thuở của bánh sắt “cạch cạch”, “cạch cạch” rộn ràng.  Đến chặng từ Yên Bái đi Điện Biên, phải hành quân bộ, lúc này nhiều lính trẻ tỏ ra ngao ngán. Không biết từ tiểu đội nào, lính ta có thơ truyền miệng cho nhau: “Ai đi Vụ Bản, Trường Nề, Ngày đi thì có ngày về thì không”.  Một số cán bộ khung trêu chúng tôi: Hành quân qua đèo Tạ Khoa, ai tụt lại sẽ bị hổ nó vồ… Tôi tự nhủ, trong kháng chiến, lớp bộ đội cha anh lên Điện Biên Phủ bằng con đường này, dọc đường còn bị máy bay và thổ phỉ bắn lén, cha chú vẫn hoàn thành nhiệm vụ. Bây giờ mình hành quân trong hòa bình, đi ban ngày, đây là dịp để biết Sơn La, Điện Biên, “có người có ta”, nhất quyết không tụt lại sau.
      Hàng chục ngày xuyên núi, lội suối, leo dốc, vác nặng, chúng tôi hành quân tới thị xã Sơn La. Đây rồi, một thị xã miền rừng. Đã thấy phố núi thấp thoáng bóng khăn piêu trên đầu sơn nữ. Ai cũng ao ước có một ngày được ra chợ tỉnh, xem sản vật vùng sơn lâm, ngắm các cô gái dân tộc, cánh tay trần trắng ngần.
      Một sớm mai, sương chưa tan, thì đột nhiên đơn vị tôi có lệnh cắt một trăm tân binh cho Trung đoàn 148, đơn vị này đóng ở Nà Sản. Tôi có tên trong số đó, thế là bên lòng lấn cấn, cứ tiếc mãi vì không lên được Điện Biên Phủ, một địa danh nổi tiếng. Lên được tới Điện Biên sẽ là niềm vui lớn, khi viết thư về kể cho bạn bè dưới quê, tự hào lắm chứ!
      Từ đó tới tháng 3-1959, trong đội hình Trung đoàn 148, chúng tôi dừng huấn luyện, hăng say lao động xây dựng sân bay Nà Sản.  Sân bay Nà Sản nằm ven đường số 6, cách Hà Nội 300 km về phía Tây Bắc. Sân bay này được Pháp xây dựng vào khoảng năm 1950, phục vụ cho nhu cầu đi lại của thực dân, sau khi họ chiếm lại được quyền kiểm soát vùng Sơn La từ tay Việt Minh.
       Ban đầu, sân bay có một đường băng ngắn, chỉ là nền đất nện. Về sau được mở rộng kéo dài thêm và có nền lát ghi sắt, có thể đáp ứng cho loại máy bay Dakota cất và hạ cánh.
     Cuối tháng 10-1952, trước sự uy hiếp của Quân đội nhân dân Việt Nam ở vùng Nghĩa Lộ, có khả năng gây nên sự sụp đổ của tuyến phòng thủ ở phía tây sông Đà, Tướng Salan, Tổng chỉ huy quân đội Pháp tại Đông Dương, đã quyết định rút tất cả lực lượng còn lại về Nà Sản. Người Pháp đã xây dựng một tập đoàn cứ điểm tại đây, xung quanh sân bay Nà Sản, nhằm ngăn chặn sức tiến công của Việt Minh. Từ ngày 30-11 đến ngày 2-12-1952, quân ta tấn công Nà Sản và đã đánh chiếm được một số cứ điểm, nhưng không đánh chiếm dứt điểm tập đoàn này. Sân bay Nà Sản trở thành nơi tiếp vận hàng không hữu hiệu, giúp cho quân Pháp cầm cự trước sức tấn công của ta. Vì vậy, Tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp đã quyết định chuyển sang thế bao vây, cô lập quân Pháp tại đây, cho đến khi quân Pháp rút lui khỏi Nà Sản. Lúc đó là đầu năm 1953.
      Ở quê tôi, hồi kháng chiến, tôi đã thấy máy bay Dakota, bây giờ mới biết sân bay, dài, rộng thế. Chúng tôi tới đây đào đắp rãnh thoát nước, tu sửa đường sá, đường băng… Khi nghe tin sân bay sẽ kéo dài đường băng để đón máy bay dân dụng lên, chúng tôi phấn khởi lắm, lao động say mê. Lúc ấy, chúng tôi đâu có hiểu ý đồ lâu dài, chiến lược, nhìn xa của trên. Sân bay này sẽ hỗ trợ toàn vùng Tây Bắc, cả tới Bắc Lào, lại là sân bay dự bị cho Điện Biên. Nghe nói từ đây sang Lào cũng chỉ trên trăm cây số.
      Tôi nhìn theo những dãy núi xanh, núi mờ chen núi đậm, rừng xa chen rừng gần. Không ai biết trước được, cuộc đời tôi sau này gắn với núi rừng nhiều như thế. Ban đầu là rừng núi Tây Bắc, rồi suốt dải rừng núi Tây Nguyên, rừng miền Đông Nam bộ. Sau này lật cánh hoạt động suốt dải núi rừng Đông Bắc. Trai đồng bằng xả thân với núi rừng mọi miền nhiều đến thế.



Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 10:25:04 am
Một ngày đầu năm mới, năm 1959, lúc hoa ban vừa e ấp sườn đồi, tôi được chọn đi học lớp Tiểu đội trưởng ở Lữ đoàn 335 dưới Mộc Châu. Chín tháng huấn luyện lớp “đầu binh, cuối cán”,  khi ra trường, tôi được phong hạ sĩ với chức vụ Tiểu đội phó (vì lúc này trong đơn vị, số tân binh chỉ chiếm một phần ba, còn các chiến sĩ tình nguyện chiếm hơn hai phần), nên chúng tôi cứ hát trêu nhau: “Lính cựu binh là lính Giơ ne, còn lính nghĩa vụ là lính tò toe” . Hát để tự hào chính  mình. Với cương vị cán bộ đầu tiên ấy, tôi tham gia huấn luyện cấp tiểu đội được một năm. Đến tháng 10-1960, tôi vui sướng, khi được chọn đi ôn văn hóa để đầu năm 1961 thi vào Trường Sĩ quan Lục quân. Từ lâu, nhìn những cán bộ chững chạc, “súng ngắn sao vành”, bước đi oai phong, tôi thầm mong ngày vào trường mau tới. Niềm vui ham học lại được hâm nóng, tôi gắng tiếp thu kiến thức, vì nhận thức rất rõ: Văn hóa là chìa khoá mở cửa vào khám phá những chân trời mới lạ. Ngay lúc đó tôi đã nhận thức được việc dốt văn hoá sẽ không cho mình đi đến đâu. Nếu muốn tiến bộ, phải có trình độ văn hoá cao.
     Ngày tôi có thư, thật là vui, biết anh Sử ở quê được xét đi học lớp Bổ túc công nông tại Đông Triều vì có bố là bộ đội, em trai đi nghĩa vụ quân sự. Những niềm vui, niềm vinh dự nhỏ nhoi ấy khuyến khích chàng trai trẻ như tôi rất nhiều trong học tập, công tác.
      Cuối năm 1960, kỳ phép đầu tiên đời quân ngũ đã đến với tôi. Đây cũng là bước ngoặt của cuộc đời. Lấy vợ! Em là Lê Thị Chiên, chúng tôi cùng trong một xã, những lúc gặp nhau tôi bối rối hơn. Chiên có phần mạnh bạo, nhưng ánh mắt ấy đã nói lên tất cả. Thầm thương, nhưng bố tôi rất nhạy cảm, ông biết tình cảm của chúng tôi. Khi tôi nhập ngũ, ở nhà ông lặng lẽ “canh giữ” cho con trai. Ông mong có  cô con dâu tương lai.  Bố tôi và mẹ kế ở nhà đã thỏa thuận xếp đặt ngầm với gia đình nhà Chiên, khi tôi về phép, các cụ quyết định tổ chức cưới cho chúng tôi.
       Nói là xếp đặt của gia đình, nhưng thực tế tôi và Chiên đã thương nhau. Ngoài chuyện khi còn nhỏ, hai đứa học chung một trường, trong những năm tháng xa nhau, nỗi nhớ về nhau cứ lớn dần lên, tôi cảm tưởng nếu không có Chiên thì cuộc đời tôi thiếu đi điều gì lớn lao lắm. Tôi hiểu Chiên như chính người thân của mình. Bố Chiên bị địch bắn chết từ năm 1948, mẹ đi bước nữa. Lớn lên, Chiên cũng ở với  bà ngoại như tôi. Khi tôi nhập ngũ, họ hàng ép Chiên lấy chồng, chỉ vì Chiên đang thì xuân sắc, lại có nhiều nơi ”dòm ngó”. Khi tôi nhập ngũ, Chiên trốn nhà xuống Hải Phòng làm công nhân may mặc. Về phép lần đầu, đây là lúc chúng tôi được bên nhau.
     Đám cưới thời bình thật đơn sơ mà tình cảm. Hai chúng tôi, bạn bè cho là: “ Đôi lứa xứng đôi”, cùng đi ”thoát ly” (ra ngoài), lại cùng làng xã, thành phần cơ bản, bộ đội lấy công nhân, còn gì bằng!
      Vui duyên mới không quên nhiệm vụ, câu nói như khẩu hiệu. Chúng tôi xác định lớn hơn thế nhiều. Chiên luôn nhủ tôi gắng công tác, không lo lắng gì hết. Dẫu sao công nhân cũng có lương hàng tháng, bộ đội cấp bé còn nghèo, nhưng nhu cầu khi đó cũng không nhiều, có cái xe đạp là sang trọng hơn người, với lại chúng tôi chưa có con, nên bằng an với hiện tại.
      Sau này, những năm tháng hậu bao cấp, thành phố Hải Phòng thông thương với nhiều cảng biển nước ngoài, mức sống dân nghèo, cán bộ công nhân chênh lệch, tôi thấy Chiên vất vả hơn nhiều, bởi khi đó con còn bé, khi đó đã có một lớp người buôn bán giàu nhanh, xã hội ganh đua làm giàu… Nghĩ đến thời ấy, mới cưới mà thấy lòng nhẹ nhõm. Xa nhau, chúng tôi luôn ở bên nhau trong tâm tưởng.


Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 10:25:39 am
     Ba năm tôi rèn luyện trong quân trường, bên xã Cổ Đông, thuộc huyện Tùng Thiện, Sơn Tây, bên đường sỏi đỏ. Những đêm đào hầm ven đồi, đá ong chọi xẻng tóe lửa. Những ngày gió núi hun hút thử thách ý chí học viên trong bài chiến thuật, trên tuyến xuất phát tiến công… Lại cả những ngày đi mò rong nuôi lợn cho nhà bếp, mãi tận đập tràn Trung Sơn Trầm, rét tê tái, chúng tôi mới thấm thía câu hát của ai “Rét nào bằng rét Sơn Tây, có cái nắng nào bằng nắng nơi đây, ơ hò…!!!”.  Câu hò loang trong nắng hanh vàng chiều trung du, lẩn trong những bức tường đá ong cổ xưa, hoang dã.  Những kỷ niệm về làng quê xứ Đoài ấy dễ gì quên. Đó là những cổng làng ngõ sâu hun hút, “tường đá ong âm thầm xây lời đất”, bạt ngàn là đồi sắn. Sắn xòe năm ngón lá như bàn tay dễ thương vẫy gọi người học viên Lục quân ra thao trường. Loài sắn luôn xanh tốt, gần gũi với xứ nghèo ở mọi miền. Sau này vào nam chiến đấu, nhìn năm ngón lá sắn (củ mì) rung rinh trong chiều, bên trận địa còn vương mùi khói súng, tôi lại nhớ Sơn Tây, nhớ xứ Đoài những tháng năm rèn tập.
       Học ở trường, chúng tôi vẫn lĩnh phụ cấp Hạ sĩ quan, nhưng bù lại, chúng tôi được cấp quân trang áo bốn túi và giày đen. Là lứa tuổi thanh niên, chúng tôi rất hào hứng và hãnh diện với quân phục mới (khi ấy sĩ quan mới có áo bốn túi. Bao vất vả, nhọc nhằn trong quá trình rèn luyện, chúng tôi đều quyết tâm vượt qua. Mỏ Chén đã trải, Đồng Gioi đã từng, năm 1961, lớp chúng tôi vinh dự được cấp trên cho tham gia duyệt binh ở Quảng trường Ba Đình - Hà Nội nhân dịp Quốc khánh 2-9. Lần duyệt binh đầu tiên tôi được tham dự. Nhìn lên lễ đài, nhìn Quốc kỳ bay trong gió sớm, người tôi run lên một cảm xúc mạnh mẽ. Từ lễ Quốc khánh đáng nhớ ấy, đánh dấu bước chuyển biến nhận thức của tôi một cách rõ ràng, mạch lạc, về bổn phận bảo vệ Tổ quốc của tuổi trẻ.
      Hơn một ngàn ngày rèn luyện ở Trường Sĩ quan Lục quân, chúng tôi đã tải một khối lượng kiến thức khá lớn, không ít vất vả. Về chiến thuật: Học chiến thuật học ba cấp cả trong tiến công, trong phòng ngự trên các địa hình (đồng bằng, trung du, miền núi, thành phố) cách đánh địch trong công sự vững chắc, đánh tập kích, phục kích, đánh giao thông và đánh cả đổ bộ đường không… Về kỹ thuật: Chúng tôi phải học sử dụng các loại súng trang bị cho bộ binh từ (súng ngắn, súng trường, súng trung liên, thượng liên, đại liên, cối 60 ly, cối 82 ly và DKZ). Ngoài ra, chúng tôi còn học sử dụng các loại súng địch trang bị cho quân ngụy và quân Mỹ ở chiến trường. Riêng môn bắn súng, chúng tôi phải học 28 bài, từ bắn cá nhân đến bắn tiểu đội, trung đội, đại đội trong chiến đấu. Cuối khóa học đều được diễn tập chiến đấu dưới điều kiện có vũ khí nguyên tử. Tôi không thể kể hết được những môn khác nữa, như thể thao, chính trị, tổ chức hậu cần, quản lý bộ đội. Nói chung, được đào tạo như vậy trong nhưng năm 60, có thể nói là khá bài bản.
     Tháng 4-1964, bế mạc khóa 13, chúng tôi rất vinh dự được đón Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp về thăm và giao nhiệm vụ. Trong số học viên học giỏi toàn khóa được giữ lại, tôi được phong quân hàm thiếu úy (Khóa 13 có tới 40% học viên tốt nghiệp chỉ phong quân hàm chuẩn úy, dù học tới 3 năm). Vinh dự tự hào biết bao, chúng tôi rủ nhau ra Sơn Tây chụp ảnh, tấm ảnh sĩ quan trẻ, tô màu, trông chững chạc lắm. Lại chia tay nhau, kẻ ở người đi bịn rịn. Tôi ở lại trường, được bổ sung về Khoa giáo viên quân sự. Bước đầu ở khoa, tôi lo nhất về kiến thức sư phạm, làm sao vừa giảng bài, vừa thị phạm cho thuyết phục. Nhìn các thầy giáo giảng bài mạch lạc, bình tập, tôi nghĩ, làm sao để theo kịp các thầy lớp trước.



Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 10:26:14 am
Mồng 5 tháng 8 năm 1964, Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại ra Hải Phòng, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An và sau đó là toàn miền Bắc. Tất cả đội ngũ cán bộ giáo viên Trường Sĩ quan Lục quân đều viết đơn xin được ra đơn vị nhận quân đi chiến đấu. Lòng tôi bồn chồn khó tả, đây là cơ hội được đi chiến đấu. Chiến tranh phá hoại đã lan ra toàn miền. Tuy nhiên, trong lòng tôi cũng chen lẫn tâm trạng lo âu rằng vợ tôi đang ở Hải Phòng, trọng điểm đánh phá, liệu có an toàn? Dẫu sao cũng còn chính quyền, địa phương… nghĩ vậy lòng tôi tạm yên.
      Mong được, ước thấy, tháng 5-1965, tôi và nhiều giáo viên Trường Sĩ quan lục quân được điều về Trung đoàn 209, Sư đoàn 312 nhận công tác. Đời bộ đội, nhiều người liên tục chuyển đơn vị, khi thì ở sư đoàn này, khi về Binh chủng khác. Cũng không ngờ, kể từ tháng 5-1965 cháy bỏng chiến tranh ở hai miền, tôi lại gắn bó với “Hai linh chín” và từ đó cho đến cận ngày chiến thắng, tôi nằm trong đội hình 209 lâu thế, cùng với 209 chứng kiến những năm tháng gian nan, vất vả, nhưng đầy tự hào. Những năm tháng hào hùng, cùng Trung đoàn bộ binh danh tiếng.
     Được giao làm trung đội trưởng, khi đó tôi luôn cố gắng thực hành huấn luyện, quản lý bộ đội, sao cho sức chiến đấu luôn được tăng cường. Có lệnh là trung đội lên đường ngay. Miệng nói tay làm, xem ra tôi cũng có khiếu thuyết phục anh em bằng lý lẽ và hành động. Tháng 11-1965, từ trung đội trưởng, tôi được cử đi học lớp chuyển loại cán bộ quân sự sang cán bộ chính trị. Lý luận chính trị tôi không ngại, nhưng cái mới là thực hành làm công tác chính trị tôi còn hổng nhiều, bước vào soạn thảo nghị quyết, phân tích tình hình, nắm bắt tư tưởng bộ đội là các vấn đề tôi luôn chăm chú. Ngay từ những ngày ấy, tôi đã hiểu và tự nhủ, với bộ đội phải nói rõ khó khăn, thuận lợi, không được lên gân, tuy nói thẳng có thể hay mất lòng.
       Chẳng bao lâu, đã tới tháng 5-1966. Thành tích học tập của tôi xếp loại khá. Hết khoá, tôi được bổ nhiệm là Chính trị viên Đại đội 7, Tiểu đoàn 8, thuộc trung đoàn cũ của tôi, Trung đoàn 209.
     Gần một năm qua nhanh. Đầu năm 1967, đại đội tôi về nhận quân ở huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội. Số anh em này sức khoẻ khá, văn hoá cũng cao, anh em được huấn luyện kỹ trong một năm, cuối năm 1967, toàn Trung đoàn 209 được trang bị mũ sắt, mang súng AK báng gập, có lưỡi lê đồng thời là kìm cắt rào gai B41. Lần đầu tiên trung đoàn được trên trang bị súng chống tăng B41, hoả lực đi kèm khá mạnh, trông rất oách. Tiếp đó, cả Trung đoàn tham gia cuộc diễn tập “Hành quân đường dài chiến đấu liên tục” qua 4 tỉnh: Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Sơn Tây rồi Hòa Bình. Sau đó đơn vị dừng lại ăn Tết Mậu Thân 1968 ở Kim Bôi,  Hòa Bình.
     Nhìn đoàn quân ăn mặc chính quy, kỷ luật nghiêm, nhiều chỉ huy lớp trên của chúng tôi bảo, lần đầu tiên mới có một đơn vị trang bị mạnh như thế, lính được huấn luyện “ngon” như thế! Các anh tiên đoán, sớm muộn chúng tôi sẽ được điều đi chiến trường. Quả nhiên giữa năm 1967, cấp trên cho chúng tôi tranh thủ về thăm nhà được một tuần.
     Tôi linh cảm lần này sẽ đi xa, đi lâu, vào sâu. Phương tiện đi lại lúc bấy giờ chủ yếu là đi bộ, ai khá hơn có xe đạp. Tôi mượn được xe đạp, phải đạp từ Thái Nguyên về Hải Phòng. Cả đi lẫn về đều đi ban đêm, tránh máy bay, với lại lính về phép phải tranh thủ từng giờ. Con trai đầu của tôi, cháu Nguyễn Mai Sơn sinh năm 1962, lúc này đã 5 tuổi. Sơn mắt đen láy, ngô nghê nói chuyện với bố, tay mân mê ngôi sao vàng gắn trên mũ. Chúng tôi đặt tên cháu là Sơn, kỷ niệm năm tháng về xứ Đoài, Sơn Tây rèn luyện. Nhìn con, tôi thầm mong, đơn vị sẽ đi nhanh vào chiến trường chiến đấu, chiến thắng, để trở về. Cũng không ngờ cuộc chia tay năm 1967 ấy kéo dài tới năm 1976, cũng lại một cuộc trường chinh 9 năm gian nan, xa cách.
      Đêm chia tay vợ và con, tôi cố tỏ ra cứng rắn để Chiên yên lòng. Làm sao không xao xuyến, đi chiến trường đâu phải đi dạo. Vừa đạp xe vừa ngoái lại, vầng sáng bến Sáu Kho Hải Phòng cứ mờ dần trong đêm. Sau này ở Miền Đông Nam bộ, về Dầu Tiếng, nhìn về hướng Sài Gòn thấy vầng sáng chập chờn trong ánh hoả châu, tôi lại da diết nhớ Hải Phòng đêm ấy, lại liên tưởng về nơi vợ con tôi ở đó. Câu thơ của nhà thơ Lê Anh Xuân lúc đó, nghe trên Đài Giải phóng, qua giọng ngâm của chị Linh Nhâm thấy tim đập xốn xang niềm xúc động.
      Lại cả khi tôi về Đặc khu Quảng Ninh, nhiều đêm về đợi Phà Rừng, Phà Khuể, nhìn về vầng sáng Hải Phòng vẫn thấy còn nguyên cảm xúc ngày xa nhà đi chiến đấu. Cái thành phố nằm xuôi với biển, có nét riêng rất nhớ, mỗi khi ta vắng xa nơi này. Đúng là: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/ Khi ta đi, đất bỗng hóa tâm hồn”.



Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 10:27:56 am
III

                         
TÂY NGUYÊN – LỬA THỬ VÀNG


        Trung đoàn 209, Sư đoàn 312 là đơn vị có truyền thống trong kháng chiến chống thực dân Pháp, đơn vị tham gia nhiều chiến dịch lớn của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đặc biệt là Chiến dịch Điện Biên Phủ, đơn vị tiến công trên một hướng đánh vào Mường Thanh bắt sống Tướng Đờ-cát và cơ quan tham mưu của Pháp ở Điện Biên Phủ. Được Bác Hồ tặng cho 6 chữ vàng “Đoàn kết - Anh dũng - Chiến thắng”. Từ năm 1960 đến năm 1966, đơn vị luôn là đơn vị cơ động của Bộ trong đội hình Sư đoàn 312. Kết thúc huấn luyện hàng năm, đơn vị cử nhiều phân đội và cán bộ, chiến sĩ cho các đơn vị vào Nam chiến đấu.
      Năm 1968, cuộc tổng tiến công và nổi dậy quân dân toàn miền Nam nổ ra 30-01-1968, thì tới ngày 04-02-1968, Trung đoàn “Hai linh chín” được lệnh vào Tây Nguyên. Tin chiến thắng nức lòng quân dân cả nước, tôi và anh em ai nấy nóng lòng đi chiến đấu.
    “Hai linh chín” xuất quân từ Hòa Bình, đúng ngày Chiến thắng Đống Đa mồng 5 Tết. Anh em da diết nhớ quê, vẫn dằn lòng động viên nhau vững bước. Lần hành quân này “Hai linh chín” được đi bằng ô tô, thuận lợi hơn hai trung đoàn 141 và 165. Hai trung đoàn này vào từ trước, gần 5 tháng đi bộ vượt Trường Sơn.
   Sau 10 ngày hành quân, đơn vị đầu của 209 đã có mặt ở (B3) Tây Nguyên. Qua sông Sa Thầy, hết đường cơ giới “Hai linh chín” rồi cũng lại hành quân bộ. Ngày đi, đêm nghỉ. Dốc ngược! Từng người nối nhau, níu dây song nhích từng mét “thượng sơn”.  Đại đội trinh sát đi đầu, chân mỏi, miệng khô, phía trước núi cao ngất trời, rừng xanh dây leo, cây đổ. Lính Hà Nội bảo, đọc truyện của Tàu, hình dung rừng già ghê gớm lắm. Bây giờ mới thấy “núi cao dốc đứng”, người sau “đội đít” người trước, xảy chân là nhào xuống… hiểm trở hơn truyện Tàu nhiều. Sao mà lắm núi, nhiều rừng thế! Cây cổ thụ chen lẫn dây leo, tầng tầng, lớp lớp, đúng là muôn loài thực vật cộng sinh. Rồi núi cũng thua con người. Cao nguyên Kon Tum cũng cao đến thế là cùng. Lên cao thoáng gió hơn, nhưng rừng vẫn che tầm mắt, tiếng máy bay ì ầm. Địch đã sát gần.         
       Trải qua hai mùa chiến dịch (1965 - 1966, 1966 - 1967), quân Mỹ với tư tưởng chiến lược “tìm diệt” rất hung hăng, dùng bom đạn hủy diệt và lực lượng cơ động nhanh của máy bay lên thẳng ào ạt đổ sau lưng đối phương để thực hiện chiến thuật "cất vó”. Lực lượng ta ở Tây Nguyên đã giáng cho quân Mỹ những đòn rất đau, như chiến dịch "Đắc Tô 1”. Trung tướng tư lệnh Sư đoàn bộ binh 4 Mỹ đã phải rên rỉ: "… Sau này sẽ không cho sư đoàn mình đánh sâu vào hậu phương của đối phương như thế nữa”. Điều này cũng có nghĩa rằng, quân Mỹ tới thời điểm này đang gặp bế tắc cả chiến thuật lẫn chiến lược.
 Như đã nói trên đây, Trung đoàn 209 là lực lượng chủ lực, được cấp toàn mũ sắt, lần đầu tiên được trang bị súng B41, súng phun lửa của Liên Xô, mang đủ mặt nạ phòng độc, tuyển chọn toàn anh em sức khỏe loại A1, A2.  Tiểu đoàn 7 và 8 phần đông là anh em người Hà Nội. Giờ đây, họ đã có mặt tại chiến trường nóng bỏng này. Người chỉ huy nào nhìn thấy lính “đẹp” thế đều trầm trồ ước ao, có được binh lực như quân 209.
       Nhiệm vụ của Trung đoàn lúc đầu được giao đánh sân bay Cà Leng, cách huyện lỵ Sa Thầy 2km. Sau khi cán bộ đơn vị điều nghiên về đã lên kế hoạch tác chiến. Ít ngày sau, trinh sát lại đưa đoàn cán bộ trở lại Cà Leng nắm địch. Trung đoàn trưởng Trần Huy Toàn cùng cán bộ sư đoàn được anh em dẫn vào sát căn cứ để nhìn tận mắt. Sau này mới biết Trung tướng Lê Hữu Đức, lúc đó là Trung tá, Sư đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng Sư đoàn 1 cũng có mặt trong tốp này. Ông theo trinh sát, trực tiếp vào tận nơi nắm địch để chuẩn bị đánh Cà Leng. Đoàn trinh sát vào Cà Leng đêm thứ ba thì bị lộ, có lẽ do đêm trước để lại nhiều dấu lạ và ai đó sơ ý làm rơi vật dụng gì chăng? Lính Mỹ, ngụy trong trại biệt kích hò hét rồi bắn cối 81 ra các hướng như mưa. Máy bay cũng tới bắn loạn xạ. Thế rồi B52, máy bay chiến thuật thay nhau quần lộn, xới tung cả một vùng sơn địa, tưởng như hỏa lực ấy có thể làm tan nát cả trung đoàn.
    Sau này trinh sát kể lại, chính đồng chí Toàn đã đánh rơi gần căn cứ một cây bút Trường Sơn và bao thuốc lá Điện Biên. Chắc địch tuần tra phát hiện ra. Cùng với kết quả trinh sát kỹ thuật của Mỹ, hệ lụy từ bao thuốc lá và cây bút cũng không nhỏ. Nó minh chứng rằng, bộ đội chính quy miền Bắc có mặt ở đây. May mà chuyến đó, anh em trinh sát đưa đoàn cấp trên rút nhanh, nếu không tổn thất nặng.
      Lộ ở Cà Leng, địch phán đoán có quân chính quy tới gần. Lập tức, ngay sau đó chúng bung ra xung quanh Cà Leng 4 cao điểm mới, chặn đường ta. Địch cảnh giác giăng mọi biện pháp trinh sát nắm ta. Trên các cao điểm, chúng có pháo binh chi viện cho nhau và ứng phó khi Cà Leng bị vây hãm. Trinh sát nắm được, đó là cao điểm Chư-tăng-Kra, Chư Pen, Chư Đô… ta gọi dãy Chư-tăng-Kra là M2. Có tài liệu xác định mỏm cao nhất 1.198m. Dãy phòng ngự này án ngữ đường 14 và thị xã Kon Tum cách đó hơn 30km về phía đông.
         Đêm cao nguyên bí ẩn và hoang dã, càng bí ẩn hoang dã thêm, khi nhìn về phía Kon Tum, ánh đèn vàng vọt, chập chờn, cùng hỏa châu chốc chốc lại phọt lên sáng trắng. Nhìn tàn lửa pháo sáng bay như tua rua, trinh sát biết được hướng gió. Đêm cao nguyên giấu trong im lặng nhiều bất ổn.   
        Quân Mỹ giàu, hậu cần mạnh. Để lập cứ điểm, chúng lập tức cho ném bom phát quang, đốt cháy, “làm sạch” các cao điểm lân cận. Tại M2, M3… trực thăng Chi-núc cẩu máy ủi xuống đỉnh cao, công binh Hoa Kỳ san phẳng, lấy mặt bằng, sau đó cưa gỗ, chở kẽm gai, bao cát, nhà bạt và quân cụ tới. Mọi sinh hoạt của chúng đều do trực thăng mang lại, từ đạn dược, đồ ăn, cả tắm giặt, thay quân… Chỉ khoảng hai ngày hoàn thành một cứ điểm.

        Bộ đội “hai linh chín” hành quân hàng dọc, như con rắn vắt qua các yên ngựa, sườn đồi. Địch sử dụng trinh sát kỹ thuật và phán đoán hướng hành quân. Thấy động gần, hàng trăm lượt trực thăng đổ các đại đội Mỹ xuống đỉnh 995, ngay trên đầu đội hình của Tiểu đoàn 7. Quân Mỹ nhanh chóng củng cố trận địa rồi thúc quân sang các đỉnh xung quanh thám sát. Quân ta né xuống các vạt rừng. Từ ngày 20 đến 22-3, hai bên đụng nhau, đều có thương vong. Từ bên này, nhìn sang 995 thấy rõ, nào Mỹ đen, Mỹ trắng, nhà bạt giăng dãy bên các ụ súng, bao cát chồng lấp dày dặn.
       Trinh sát 209 đoán chẳng sai, một ngày trời mưa, trung đoàn trưởng Toàn giao nhiệm vụ đi điều nghiên M2 - Chư-tăng-Kra. Năm trinh sát, 7 ngày ăn, mũ sắt chỉnh lại quai da, tiếp tục vượt dốc cắt rừng. Càng tới gần, mũ sắt chạm cây rừng leng keng, dễ lộ, đành bỏ lại. Chiều, nghỉ lấy sức, đêm bò vào gần. Nhưng ác thay, không bò lên được, đất đá mới ủi tràn ra, bám cây leo lên bị đất xối xuống ào ào, đá lăn văng mảnh, trơn tuột. Đành chịu!
        Hai ngày sau, tìm cách sang hướng khác, vào dễ hơn, trinh sát bôi đất đỏ người, lẫn vào màu đất, nghe rõ tiếng địch ho, thấy địch ném bơ lon loảng xoảng. Nhiều giờ công phu quan sát, ước lượng, thấy rõ hai súng đại liên, pháo, kho đạn. Tất cả thu trong bản vẽ… Chư-tăng-Kra, đó là dãy núi hình vòng cung ôm một phần thung lũng Cà Leng. Núi có 7 đỉnh, đỉnh chính giữa cao nhất. Từ trên sườn đông, Chư-tăng-Kra có thể quan sát được sân bay và chi khu quân sự Cà Leng phía dưới. Trận đánh Mỹ đầu tiên của Trung đoàn ở cao điểm 995 ngày 26-3-1968 do d7 đảm nhiệm chính. Trận đánh diễn ra hết sức ác liệt.

(http://i627.photobucket.com/albums/tt353/datavehu/chtankra.jpg)


Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 10:28:36 am
     Tôi kể kỹ trận này để rút ra lối đánh của ta, ban đầu chưa tổ chức thật chu đáo nên thương vong lớn, khác nào trận tỷ thí. Không như cách đánh “vây điểm diệt viện” của các hướng khác những năm trước đó.
      Tại Sở chỉ huy, sau khi trinh sát chuẩn bị xong, Trung đoàn trưởng Toàn phân tích cho các đơn vị, yếu điểm của M2 - Chư-tăng-Kra là công sự còn sơ sài, hàng rào không sâu, địch lại mới đặt chân tới, nên phải tiến công nhanh. Càng đánh sớm, càng bớt xương máu. Trên cho phép 3 đại đội của Tiểu đoàn 7 mật tập, đánh vào công sự dã chiến.
       2 giờ sáng ngày 26-3-1968, pháo hiệu bay vụt lên bầu trời, phá tan màn đêm cao nguyên. Đúng như hiệp đồng, mìn phá rào DH10 phát hỏa, thổi tung hàng rào dây thép gai trống hoang hoác. Cửa đã mở thông . các cánh quân tiến đánh theo ba hướng. Hướng chính đánh từ yên ngựa sang, mũi đặc công, mũi súng phun lửa cũng đồng loạt nổ súng chiếm các hỏa điểm. Tiếng kèn đồng lanh lảnh cất lên, thúc quân xung phong. Tiếng thét xung phong vang lên bốn phía. Pháo cối 60, cối 82 thi nhau rót vào cao điểm, tiểu liên AK nổ đanh gọn từng loạt ngắn, tiếng đại liên bắn lên như xé vải, tiếng lựu đạn, rồi tiếng thủ pháo chuyên dùng để diệt hầm ngầm thi nhau nổ. Có trái B41 “bắt” trượt lô cốt phụt thẳng lên trời. Dũng mãnh sao, súng phun lửa tạo nên các quầng sáng chói mắt chạy loằng ngoằng trong công sự. Bộ đội xung phong, lớp nọ đến lớp kia. Đại đội 1 chỉ sau 10 phút đã tiêu diệt tuyến phòng ngự của bộ binh địch, phát triển vào trung tâm trận địa pháo, nhét lựu đạn, thủ pháo vào từng nòng pháo. Pháo thủ Mỹ chạy tán loạn. Đại đội 2 đánh vượt qua 3 tuyến chiến hào, công sự địch, bị chặn lại trước đỉnh cao 995. Pháo địch từ Cà Leng lúc này bắn đến dồn dập quanh đỉnh núi. Sau 20 phút, ta làm chủ gần như hoàn toàn căn cứ Mỹ. Trên trời, C130 bay tới thả đèn dù sáng trưng, bắn xuống như vãi đạn. Căn cứ M2 dài hơn 500 mét ngổn ngang xác Mỹ. Những tên lính còn lại co cụm lên mỏm cao, nơi chúng đặt chỉ huy sở... Trời mỗi ngày một sáng, từ đây, với hỗ trợ quá mạnh của máy bay, pháo Mỹ yểm trợ, từ bốn phía bắn tới, dập tơi bời, cày xới trận địa. Có cả C130 bắn pháo liên thanh rống “ồ ồ”, đường đạn căng xả xuống. Trận Chư tan Kra huyền thoại, trận tỷ thí một chọi một bi hùng kết thúc khi trời sáng rõ. Từng đàn trực thăng đổ quân tới chi viện...
       Anh em nhà báo sau này cho tôi tài liệu ghi phía Mỹ là tiểu đoàn 3, trung đoàn 8, sư đoàn 4, quân đội Mỹ. Những người sống sót còn ở Hoa Kỳ thừa nhận tính quyết liệt, tinh thần dũng cảm của người “hai linh chín” tại trận “cao điểm 995” này.
      Một tài liệu tổng kết của Sư đoàn 4 Mỹ thừa nhận, lực lượng chủ lực của Việt cộng đánh rất quyết liệt. Chính Thiếu tá Mỹ tên là Robert B. Simpson, khi đó là sĩ quan tác chiến thuộc Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 8, Sư đoàn 4 (Mỹ), kể về trận đánh này: “Khu vực tác chiến của chúng tôi là một cánh rừng, cây cối mọc um tùm. Khoảng thời gian đó thời tiết ấm áp và ẩm, không có mưa. Vào sáng sớm sương mù dày đặc, hạn chế tầm nhìn chỉ còn 1-2km. Tình báo của chúng tôi phát hiện sự chuyển quân của đối phương từ tây sang đông, xuyên qua khu vực hoạt động của tiểu đoàn. Đơn vị tham chiến với chúng tôi có hai tiểu đoàn của Trung đoàn 209 Bắc Việt, được pháo binh hỗ trợ. Đơn vị này vừa mới vào chiến trường, được trang bị tốt một cách khác thường. Chúng tôi đã tìm thấy mũ sắt, súng phun lửa, lựu đạn CS và đế cối 82mm.
Khoảng 1 giờ 15 phút, ngày 26-3-1968, chúng tôi phát hiện Trung đoàn 209 chuyển quân vây quanh căn cứ. Khoảng 3 giờ 20 phút, chúng tôi nghe tiếng nổ của bộc phá ở phía tây, tây bắc vành đai phòng thủ. Khu vực đóng quân của chúng tôi rung lên bởi những tiếng nổ dữ dội, liên tiếp của tiếng mìn ĐH10, súng B41.
Sau khi chọc thủng lớp rào thép gai vành đai phòng thủ, với hỏa lực dày đặc, các mũi cơ động của Trung đoàn 209 nhanh chóng đánh chiếm các công sự của chúng tôi. Bị đánh quá bất ngờ, chúng tôi không kịp trở tay. Đạn cối 60mm, đạn cối 82mm thi nhau rót vào cao điểm, tiểu liên AK nổ đanh gọn từng loạt ngắn, tiếng đại liên bắn lên như xé tai, lựu đạn lao vun vút về phía chúng tôi.
Tai tôi ù đặc, mắt hoa lên bởi những quầng sáng của súng phun lửa chạy loằng ngoằng. Tôi không thở được vì khói, tôi chỉ cảm nhận thấy quanh mình lửa cháy đỏ rực, khét lẹt. Trong ký ức của tôi mãi mãi không thể quên được đêm hôm đó.  Cuộc giao tranh diễn ra ở đây rất ác liệt. Đại đội D bị thương vong nặng, cơ số đạn gần hết nên buộc chúng tôi phải rút lui về khu công sự pháo binh. Khoảng 4 giờ, chu vi phòng thủ phía nam và trận địa pháo ở vành đai phía tây bị tấn công lần thứ hai. Đơn vị chúng tôi hỗn loạn, tiếng la hét hòa lẫn trong tiếng đạn nổ.
Nửa tiếng sau, chúng tôi được chi viện hỏa lực và pháo sáng. Pháo dù bắn lên bốn phía sáng như ban ngày, mìn định hướng Claymore thổi ngược xuống chân núi, pháo bầy tới tấp dập xuống chân núi, máy bay tiêm kích lao xuống cắt bom, máy bay C130 chở súng máy điên cuồng vãi đạn. Đến 6 giờ 30 phút sáng, máy bay trực thăng của chúng tôi đổ thêm quân, tái chiếm cao điểm. Tình báo cho biết, những người lính Bắc Việt đã rút.



Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 10:29:15 am
     Đúng vào thời điểm Trung đoàn 209 tổ chức đánh trận đầu tiên, tiêu diệt quân Mỹ ở Chư-tan-Kra, là lúc Tiểu đoàn 8 của tôi gấp rút hành quân vào sâu. Xe ô tô không vào sâu được, do địa hình hiểm trở, hành quân bộ là tất yếu. Dốc cao, lính trẻ không ngại khó, người khỏe hỗ trợ người yếu, tốc độ hành quân duy trì đều. Nhìn dấu mòn của đơn vị đi trước, ai nấy hăm hở bước đi, không chịu thua kém đơn vị bạn.
          Lúc này, tin chiến thắng của các đợt Tổng tiến công nổi dậy toàn Miền Nam liên tục truyền về, khích lệ anh em tiểu đoàn tôi thêm hăng hái. Đặc biệt, tin Tiểu đoàn 7, Tiểu đoàn 9 lần đầu đã đánh Mỹ trực diện tại Chư-tan-Kra, chọi địch trong công sự, tiêu diệt hằng trăm tên Mỹ, khiến anh em tôi hướng về phía trước, mong được sáp trận, mong được tham chiến sớm.
    Chỉ sau ít ngày, Trung đoàn tổ chức đánh Mỹ ở Chư-tan-Kra, khoảng gần một tháng sau, tiểu đoàn tôi đã vượt hơn 200 cây số “rừng sâu, núi cao” tới sát mặt trận, nhập vào đội hình sẵn sàng chiến đấu của trung đoàn.
    Lại nói đến quân Mỹ, sau đòn Chư- tan-Kra, chúng đánh phá ác liệt khu vực Tây bắc vòng cung bao quanh M,M2,M3,M4. Quân Mỹ sử dụng tất cả hỏa lực của không quân, pháo binh, tạo ra sức mạnh của cả hỏa lực, cơ động cao, đột kích mạnh. Máy bay tiêm kích, trực thăng vũ trang ném bom, bắn rốc-két. Biệt kích, thám báo, chụp xuống bất ngờ, hòng phát hiện, ngăn chặn quân ta từ xa. Dường như chưa yên lòng, chúng dùng B52, ngày đêm, không theo quy luật nào, ném nhiều BOX (ô vuông trải thảm) xuống rừng núi, bất cứ đâu nghi có đường mòn, nghi nơi trú quân, hòng cắt đứt đường tiếp tế từ hậu phương tới đây. Cả một vùng rộng lớn cây đổ, “rừng xiêu”, núi sạt hoang hoác màu bazan đỏ quạch, trông gớm ghiếc. Thật nguy hiểm, Trung đoàn 209 rơi vào tình thế bị chia cắt với mặt trận, với hậu phương. Ngay trong trung đoàn, các đơn vị cũng bị chia cắt với nhau.
    Bị chia cắt đồng nghĩa với đói. Lương thực cạn dần, trợ lý quân lương liên tục thông báo tin chẳng lành, các bộ phận đi lĩnh gạo về mặt ai nấy nhợt nhạt vì thất vọng. Trận đói đầu tiên giữa chiến trường, không ai là không nhớ. Mấy tuần liền, cấp ủy, chỉ huy đôn đáo tổ chức anh em canh gác, tuần tra, nắm địch, phân công sẵn sàng chiến đấu. Một mặt cử các mũi đi tìm rau môn thục, cây búng báng về nấu cháo chống đói. Bộ đội ta cũng sáng tạo, nào trái bứa, hạt gắm, rau rừng, miễn là chống đói, sao cho lành dạ.
Trong buổi sáng bước vào tuổi hai lăm,
Cổ đắng khô ngồi thở trên đỉnh dốc.
Bạn mở bi đông, nhường hớp nước cuối cùng,
Hớp nước cuối cùng, trong cơn khát đầu tiên, tuổi hai lăm mình được uống.
        Sau này, tôi đọc câu thơ viết về những ngày gian khó, đói, khát trong chiến tranh của thế hệ tôi, vẫn thấy cổ họng mình đắng chát, tôi lại nhớ đến những cơn đói giữa rừng Tây Nguyên. Năm 1968 sau Tết Mậu Thân, khó có thể quên...
         Một ngày khó xác định là ngày nào, ban chỉ huy tiểu đoàn tôi bừng lên tiếng cười nói. Tin lành! Bộ tư lệnh Tây Nguyên đã tổ chức soi đường, suốt nửa tháng trời, lực lượng vận tải của cấp trên đưa được lương thực vào cho 209. Chấm dứt mấy tuần đói “vàng mắt”. Sau trận đói giữa mùa hè, lính ta có ngay ca dao:
Ai chưa môn thục, búng bàng (búng báng),
chưa thể trình làng là lính Tây Nguyên.

      Lại nói về Tiểu đoàn 8, đang khi hành quân vất vả, trú quân gặp đói, thiếu lương, thử thách đầu tiên không phải giặc mà là ... đói. Đến đầu tháng 5-1968, một buổi sáng nắng tràn khắp các tán cây, tiếng bom đạn nổ gần, tiếng máy bay gấp gáp, cấp trên triệu tập cán bộ đại đội thông báo tin khẩn: Toàn tiểu đoàn sẵn sàng nhận nhiệm vụ. Đánh địch nống ra Chư beeng.
       Chư beeng! Chư beeng! Lính Tiểu đoàn 8 truyền tin cho nhau, quên cả đói, khát, mệt nhọc, ai nấy háo hức chờ lệnh, háo hức mong sớm xuất kích để đánh địch, lập công. Trinh sát mất hút, các phân đội hỏa lực lau súng, chỉnh ống ngắm. Bộ binh chia đạn, buộc lại thủ pháo, rừng núi cao nguyên bình lặng vẫn tràn nắng, biếc xanh màu lá... nhưng lòng người chộn rộn, họ chuẩn bị cho những điều hệ trọng sắp diễn ra.
        Như đã nói ở trên, đối tượng tác chiến của chúng tôi là Sư đoàn 4 lục quân Mỹ. Sau khi tổ chức chiếm dải núi Chư Toác làm căn cứ chính, đặt sở chỉ huy, quân Mỹ tung một đại đội bộ binh ra phía trước, nhằm chặn ta từ xa. Căn cứ vòng ngoài xa đó là cao điểm phòng ngự Chư Beeng. Lợi thế của địch là ở trên cao. Công sự gỗ, đắp đất dày. Bên ngoài độ dốc còn có hàng rào dây thép, bãi mìn hỗn hợp vướng nổ, bẫy mìn sáng. Phía sau và xa một chút, hỗ trợ cho cao điểm này là các trận địa pháo. Chẳng lạ gì Mỹ, con nhà giàu, chúng có thể gọi máy bay tiêm kích bom và trực thăng vũ trang chi viện bất cứ lúc nào. Đêm thì có pháo sáng soi rõ từng lùm cây, ngọn cỏ.
        Lực lượng của tiểu đoàn tôi, có Tiểu đoàn 8, thiếu Đại đội 6. Tôi, Chính trị viên và Đại đội trưởng Đại đội 7 được giao đánh hướng chủ yếu lên cao điểm Chư Beeng. Khi trinh sát trên và dưới có các số liệu, lúc này chúng tôi tổ chức hội nghị dân chủ quân sự, mở rộng đến cấp tiểu đội thống nhất cách đánh địch. Không khí thẳng thắn, trách nhiệm từ hội nghị này khiến chỉ huy đại đội rất tự tin. Tinh thần chiến đấu lên rất cao trong các tay súng, từ đồng chí hỏa lực đến mũi xung kích. Thống nhất cách đánh như sau: Bí mật đưa mìn ĐH-10 vào sát rào để mở cửa. Sử dụng B-41 diệt bằng được lô cốt đầu cầu, các khâu hiệp đồng giữa C7 và C8 cũng thống nhất cao. Các trung đội A, B mở cửa, phát triển vào trong... đã bàn bạc kỹ.
    Giữa lúc này, tin giặc Mỹ tàn sát đàn bà, trẻ con ở Bình Sơn, Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi đến với chiến sĩ tiểu đoàn, khiến cho lòng căm phẫn trong anh em dâng lên. Cấp trên và đài ta thông tin, khi màn đêm chưa tan, đồng bào còn đang ngon giấc, quân Mỹ như bầy hổ đói tràn vào tàn sát đồng bào. Nhiều cái chết oan uổng, thê thảm diễn ra. Các phân đội đều thể hiện quyết tâm chiến đấu trả thù cho đồng bào. Chúng tôi tổ chức lễ phát động lòng căm thù, quyết tâm tiêu diệt quân Mỹ, mỗi đồng chí có một băng trắng đeo trên tay, để tang đồng bào. Trên mũ đều có dòng khẩu hiệu, thể hiện quyết tâm trả thù cho nhân dân Bình Sơn-Sơn Tịnh.
       Đêm 15, rạng ngày 16-5-1968, chiến sĩ Đại đội 7 và Đại đội 8 lặng lẽ hành quân chiếm lĩnh trận địa. Hỏa lực, bộ binh ém sẵn dưới Chư Beeng bí mật hoàn toàn.
      Giờ G, 1 giờ 45 phút, ĐH-10 của đại đội tôi nổ tung hàng rào, của mở toang hoác, B41 tiêu diệt lô cốt đầu cầu. Đến khi đó địch mới phản ứng, bắn hoảng loạn. Trung đội A do Trung đội trưởng Hiệp chỉ huy xông lên tức thời chiếm lô cốt đầu cầu. Trung đội B do đồng chí Đen chỉ huy đánh phát triển vào tung thâm. Nhưng... hai ổ hỏa lực từ lô cốt mẹ và bên sườn bắn chặn lại. Đại đội trưởng Thất bị thương vào vai. Đạn địch lia chát chúa, hòng đè bộ binh ta xuống. Tình thế khiến chỉ huy lúng túng, chững lại. Tôi quyết định điều thê đội 2 lên, lệnh cho súng phun lửa đi cùng  dập lô cốt mẹ càng nhanh càng tốt... Trong đêm nhằng nhịt ánh lửa đạn, khói thuốc súng cay xè, quầng lửa như con rồng xanh phụt dọc theo giao thông hào, đi tới đâu đốt cháy quân Mỹ tới đó. Tiếng la ó “Vi ci”... “Vi ci”, khiến anh em phấn khích băng lên, hỏa lực nã vào lô cốt mẹ giữa tung tâm dồn dập, Trung đội 3 chiếm ngay vị trí có lợi làm chủ hỏa điểm vừa dập tắt. Bóng chiến sĩ c7 băng lên kiên quyết, tự tin, tiếng AK điểm xạ đanh, chắc, rồi rộ lên khắp 4 hướng.
      Tại hướng thứ yếu, đơn vị bạn là C8 cũng hoàn thành nhiệm vụ, đánh thốc địch trở lại. Mất hỏa điểm lợi hại ở lô cốt chính bởi C7, địch ở xung quanh mau chóng tan rã. Tiếng súng chống đỡ lắng xuống, đúng lúc đồng chí Quyên, chỉ huy phó Đại đội 8 đánh hướng thứ yếu băng lên hợp điểm với chúng tôi. Chúng tôi gặp nhau hân hoan giữa trận địa địch vừa bị tiêu diệt, cảm xúc sung sướng ấy khiến tôi còn giữ nguyên đến hôm nay.
      Một bộ phận địch tháo chạy về căn cứ phía sau, bị bộ binh C8 bắn chặn, chúng lăn cả xuống núi hoảng loạn. Mọi cố gắng chống trả của quân Mỹ không còn hiệu lực, cho dù mật độ pháo tăng lên rất nhanh. Chúng biết, trận địa đã mất, đạn pháo không chừa một chỗ nào trùm lên, mảnh pháo bay xoèn xoẹt, chém vào kim loại nảy lửa. Chúng tôi nhanh chóng làm chủ toàn bộ trận địa. Nhưng đúng lúc này VTĐ bị bắn hỏng, liên lạc với tiểu đoàn bị ngắt. Pháo địch còn làm đứt dây hữu tuyến. Thế là chúng tôi bị cô lập, phải tự chủ tình thế. Tôi nghĩ ngay tới việc đưa thương binh vào chính các công sự của địch để bảo đảm an toàn, trước mắt tránh phi pháo. Các lô cốt được phân công chiếm giữ, sẵn sàng đánh phản kích. Cả trận địa lúc này mù mịt pháo, khói, không biết đâu là giao thông hào, hố bắn.
     Trời sáng dần, Chư Beeng tiếp tục chịu đựng màn mưa bom, bão đạn từ nhiều trận địa bắn tới. Một mảnh đất núi nhỏ nhoi, không chỉ pháo, mà bom, mà rốc-két từ máy bay dần đi, xới lại, tưởng chừng xay đất núi Chư Beeng ra cám.
       Chúng tôi cảm nhận đối phương giàu có, nhiều bom đạn bằng chính đôi tai, thân thể ám tro của mình. Bản hòa tấu tội ác chát chúa inh tai, tởm lợm. Không tránh được hy sinh, tiếp tục có đồng đội ngã xuống...
      Kể thì nhanh, nhưng một phút trôi qua tôi cảm giác dài như một thế kỷ. Tới 17 giờ, chắc chúng tưởng bom đạn của chúng đã khuất phục được chúng tôi, tiếng pháo, tiếng bom ngớt dần. Kia rồi, đội vận tải của trung đoàn đã lên, hỗ trợ chúng tôi đưa thương binh, tử sĩ ra ngoài trận địa.
       Kết quả trận đánh, ta diệt 68 tên Mỹ, làm chủ Chư Beeng, nhưng ta cũng hy sinh 50 đồng chí. Điều đau xót là phần lớn anh em hy sinh vì địch tập kích hỏa lực, đánh vào trận địa, khi đã làm chủ trận địa, buộc phải trụ lại.

       Tuy nhiên, sau này phân tích, việc chốt giữ trận địa trong khi ta không khống chế được máy bay và trận địa pháo địch là việc làm nguy hiểm. Sau trận đánh đó, đơn vị tôi tham gia đánh trận (M4) và một số trận nữa trong đợt hoạt động ở vòng cung Chư-tang-kra. Tinh thần của 209 là như thế! “Thắng không kiêu, bại không nản”, câu khẩu hiệu rút ra từ xương máu, không phải nói suông.


Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 10:29:57 am
Sau trận đánh Chư Beeng, tôi được đơn vị cử đi dự Hội nghị rút kinh nghiệm công tác Đảng, công tác chính trị trong chiến dịch và trong chiến đấu ở Bộ tư lệnh (B3). Trong đoàn đi dự, Trung đoàn 320 có anh Quán, Trung đoàn 66 có anh Diệp, Trung đoàn 209 có tôi. Đồng chí Thái Bá Nhiệm lúc bấy giờ là chủ nhiệm chính trị mặt trận, chủ trì hội nghị. Tôi đưa báo cáo kết quả trận đánh Chư Beeng và công tác Đảng, công tác chính trị trước, trong, sau trận đánh…
Trong hội nghị, chủ nhiệm chính trị mặt trận B3 đã nhiệt liệt biểu dương. Ông đánh giá cao chiến công của Trung đoàn 209, lần đầu tiên ở mặt trận Tây Nguyên, 209 đã chủ động tiến công,  tiêu diệt quân Mỹ trong công sự, trên điểm cao. Từ hệ lụy này, quân Mỹ phải tung quân ngụy Sài Gòn lên ứng cứu cho Mỹ. Thế là có cơ hội cho Trung đoàn 66 và Trung đoàn 24 diệt gọn một tiểu đoàn ngụy, đánh thiệt hại 2 tiểu đoàn khác.
Thế chiến trường đã đổi khác, chiến công không còn đơn lẻ của đơn vị A đơn vị B. Tác chiến ở trận này là tiền đề cho chiến công ở đơn vị khác, đòi hỏi tư duy chiến đấu phải nâng tầm cao hơn trong thế toàn cục. Tôi nhận thức như thế.
Ngồi trong hội nghị, gặp bạn bè ở các đơn vị, tôi là người của 209 mở mày mở mặt. Đêm nằm, tôi nghĩ tới hàng trăm đồng chí đã hy sinh trong những trận đánh tháng 3, tháng 4. Chính đó là chiến công của các anh, những người lính 209 quả cảm, mới vào Tây Nguyên đã kiên cường tiến công quân Mỹ trong công sự, khi chúng chốt tại các điểm trên cao.
     Cuối hội nghị, chúng tôi được Chính ủy mặt trận B3 là đồng chí Trần Thế Môn, chiêu đãi văn công và tặng cho mỗi đại biểu một bao thuốc (Ara). Đây là loại thuốc lá thơm, tôi chỉ hút một điếu, còn để dành làm quà cho anh em trong đơn vị. Sau hội nghị về, tôi được bổ nhiệm chính trị viên phó Tiểu đoàn 7 (anh Cống là tiểu đoàn trưởng, anh Dỹ là chính trị viên trưởng tiểu đoàn). Lúc này, đơn vị hành quân chuyển xuống hoạt động ở Gia Lai. Trong đợt hoạt động ở Gia Lai, đơn vị tham gia với Sư đoàn đánh quận lý Đức Cơ và quận lý Đức Lập mà đối tượng là quân ngụy.
      Lúc này, Nam Tây Nguyên đang vào mùa mưa. Địch co cụm lại. Chúng cũng cho rằng, mùa mưa đối phương cũng giảm hoạt động do địa hình bị chia cắt bởi sông suối, vả lại cũng gặp những khó khăn do tiếp tế. Nhằm làm cho địch rối loạn, phán đoán sai, “không biết đằng nào mà lần”, trên chủ trương tổ chức quấy rối địch, ngay trong mùa mưa, mà chúng cho rằng ta giảm hoạt động tác chiến (theo quy luật). Tôi được trung đoàn phân công chỉ huy một phân đội mang theo súng cối, trong số đó có trợ lý trinh sát trung đoàn là anh Đoàn Nhiên. Nhiệm vụ tác chiến là ban ngày giấu quân, ban đêm tập kích hỏa lực vào các trận địa pháo và căn cứ của địch khiến chúng hoang mang, hoảng loạn “Ăn không ngon, ngủ không yên”. Mỗi khi nhìn thấy mục tiêu địch bùng lên trong đêm, chúng tôi phấn khởi, còn địch thì không biết lối nào mà lần. Nhiều khi trời mưa, địch chủ quan, 3 giờ sáng chúng cũng bị pháo kích. Uy thế của Quân giải phóng được nâng cao, bà con ở Nam Tây Nguyên phấn khởi. Địch rối loạn phán đoán, tâm lý hoang mang rõ rệt.
       Trên đường trở về, chúng tôi băng qua những hố bom B52 chồng lên nhau. Có khi thấy mộ đồng đội mình bị cày xới, đất nấm mộ trồi lên, lòng đau cắt ruột. Các anh chết rồi chúng vẫn không để yên. Sau này về ngoài Bắc, tôi đọc được câu thơ của các nhà thơ từng qua chiến đấu, viết về bãi bom mà máy bay B52 Mỹ dập vùi, làm những ngôi mộ trồi lên, có đoạn:
            Mộ bạn bây giờ đã được đắp cao hơn
            Dẫu chúng mình biết bạn không còn ở đó,
            Đời thanh niên chúng mình như ngọn gió
            Chắc gì bạn chịu nằm yên!
Vận vào những gì mắt thấy, tôi thầm cảm phục các nhà thơ chiến trường. Trước cái chết, các anh nhìn hiện thực tuy đau đớn, nhưng không yếu ớt. Bom đạn cày xới nhiều lần, thì chỗ ngôi mộ cũng có thể đất vun cao lên, xới tung lên. Nhưng ý tứ câu thơ viết Mộ bạn bây giờ đã được đắp cao hơn, đã nâng tầm vóc hy sinh ở cấp độ cao hơn hẳn. Hương hồn lính trẻ tan vào mây, gió, đất, trời, cây, cỏ. Sức vóc của tuổi trẻ, dù là thực thể hay linh hồn lúc nào cũng hừng hực sức trai, vẫy vùng. Cảm xúc của người trong cuộc, không bi lụy mà bi tráng.
             Nhớ lại một chuyện khác, xin kể ra đây. Cũng đợt công tác ấy, khi chúng tôi qua một vùng, gặp nương dưa của dân quả chín mọng. Anh em lính trẻ thích lắm. Họ xin ý kiến tôi, muốn mang về “chút ít” cho anh em ở nhà. Tôi không đồng ý. Trinh sát Đoàn Nhiên lý sự, dưa mọc dại đầy ra, nếu anh không cho thì nó cũng thối, hỏng anh ạ! Nể anh em, tôi đành “lờ” đi. Chẳng biết tại ai, khi về anh em ăn dưa ngọt, kháo nhau, đến tai anh Dỹ, Chính trị viên trưởng. Tôi bị phê bình là hữu khuynh, để anh em vi phạm chính sách dân vận. Một thiếu sót mà tôi nhớ mãi. Ở chiến trường là như vậy, rất cần giữ gìn uy tín với dân. Nếu không, khi bị mất lòng tin ở dân, sẽ gây khó khăn rất nhiều trong công tác. Thương anh em, nhưng không giữ nguyên tắc cũng là sai lầm trong chỉ huy.



Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 10:30:34 am
Trải qua mùa hè chiến đấu ác liệt, đêm nằm tôi suy nghĩ, nói gì thì nói, sức chiến đấu cho bộ đội có được dẻo dai, kiên cường hay không, không chỉ động viên suông. Bằng chứng là anh em Đảng viên, tư tưởng tốt, quyết tâm cao, nhưng đời sống khó khăn, giảm sút nhiệm vụ là thực tế. Điều đó càng chứng tỏ, chân lý là cụ thể. Đói! Sức bộ đội không thể mạnh. Thiếu thốn! Tư tưởng bộ đội khó vững vàng.
     Thực tế chiến đấu, lực lượng bị chia cắt. Bộ đội hết lương ăn. Đúng là tại đói, ai cũng hay ngáp vặt, uống nước sạch thấy ngọt mà đi tiểu thì đặc, rồi sốt rét… run cầm cập vẫn phải cố ăn để tiêm thuốc sốt rét. Phần lớn chiến sĩ như thế, tôi khỏe hơn, cùng các cán bộ gương mẫu giúp anh em chiến sĩ ốm.
     Về tác chiến ở cao nguyên, tiếp tế khó khăn, đánh địch không có pháo yểm trợ. Pháo đi kèm thì ít đạn, hỏa lực địch lại nhiều, sức cơ động cao, nên những ngày đầu vào Tây Nguyên, Trung đoàn 209 góp công lớn, nhưng cũng bị tổn thất. Thời kỳ đó, chỉ tổ chức được một trận đánh cấp trung đoàn thiếu, khó khăn muôn vàn. Cán bộ, chiến sĩ bị thương nhiều. Vào sâu, có lúc thiếu gạo, tư tưởng chiến sĩ cũng ít nhiều sa sút. Đó là hiện thực! Hiện thực thắt ngặt thử thách ý chí và bản lĩnh người chiến sĩ.



Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 10:44:26 am
IV

CHIẾN TRƯỜNG MỚI
                                                      
                         
   9 tháng chiến đấu ở Tây Nguyên với chiến công vang dội đánh Mỹ ở Chư-tan-Kra, Chư Gô Tông, Chư Toác, Chư Beeng rồi đến hè thu 1968 ở Đức Lập, đơn vị chúng tôi được cấp trên cho mang mật danh mới "Đoàn Hải Yến" với trang bị gọn nhẹ, cơ động nhanh. Chúng tôi được lệnh hành quân vào chiến trường mới, chiến trường "Miền đông gian lao mà anh dũng". Chặng đường hành quân dù không dài, chỉ khoảng 500km. Đây là cuộc hành quân thứ hai của “hai linh chín”.
   Từ miền Bắc xã hội chủ nghĩa vào chiến trường, trung đoàn hành quân bằng cơ giới (Tiểu đoàn 8 phải đi bộ chặng cuối khoảng 200km). Nay cả đơn vị di chuyển bằng đường bộ dọc theo biên giới (Việt Nam – Cam-pu-chia). Cán bộ chiến sĩ trung đoàn quán triệt tốt tư tưởng chỉ đạo "Thần tốc, bí mật, bất ngờ". Tuy hành quân trang bị gọn nhẹ, nhưng lính ta sau 9 tháng chiến đấu, gian khổ, vất vả, thiếu thốn, cái đói, cái mệt là môi trường thuận lợi cho ký sinh trùng sốt rét xâm nhập vào cơ thể. Lính trẻ “ngã” vì sốt rét khá nhiều, việc thu dung bộ đội dọc đường hành quân thật vất vả... Chúng tôi thường xuyên đánh giá tình trạng sức khỏe bộ đội, phân loại những chiến sĩ yếu, phân công anh em đảng viên, chiến sĩ khỏe hỗ trợ số yếu, tổ chức nghỉ ngơi, chăm sóc người yếu, bảo đảm thuốc men, ăn uống hợp lý trong khả năng có thể để bảo đảm quân số khỏe cao nhất. Ngày 18-11-1968, toàn đơn vị chúng tôi đã hành quân tới trạm Nguyễn Văn Trỗi, căn cứ sông Măng an toàn.
   Sau một tuần nghỉ ngơi, rút kinh nghiệm, đơn vị nhận bổ sung quân số, trang bị, lại được xem Văn công của Sư đoàn 7 và Văn công Quân giải phóng, cảm giác mọi hoạt động của đơn vị rất bình thường, như không hề có chiến tranh xảy ra. Dẫu sao cũng đã xa rừng núi, tầm mắt nhìn thoáng đãng, có lực lượng hậu cần bảo đảm tốt hơn, cánh lính trẻ thì túm năm tụm ba tán gẫu, có phụ nữ ở gần, gặp dân, lại có mấy em Văn công Sư đoàn 7 xinh đẹp, lính Hà Nội “tươi tắn” hẳn lên. Tâm lý bộ đội cũng phấn khởi. Chúng tôi tích cực củng cố biên chế, trang bị lại những vật chất, vũ khí còn thiếu. Thế rồi chúng tôi nhận được lệnh bổ sung cho Sư đoàn 7.
        Ba năm xa cách, nay Trung đoàn 209 cùng với Trung đoàn 141 và Trung đoàn 165 của Sư 312 (Sư đoàn 312 năm xưa) nay cùng đứng chân trong đội hình chiến đấu với Sư đoàn 7. Nhiều người gặp nhau, nhận ra bạn cũ, đồng hương, tình đồng chí keo sơn ấm áp.
   Sư đoàn 7 thành lập ngày 13-6-1966 tại căn cứ tỉnh Bình Phước. Bộ tư lệnh Sư đoàn gồm có đồng chí Nguyễn Thế Bôn là Sư đoàn  trưởng, đồng chí Vương Thế Hiệp là Chính uỷ Sư đoàn, đồng chí Lê Nam Phong là Tham mưu trưởng. Đơn vị tôi, Trung đoàn 209 được mang mật danh (V19) hoặc đoàn 42, tập kết tại rừng Buông, thuộc mỏm Ken Nơ đi, gần cửa khẩu Nam Bích.
       Lúc này, tôi được cấp trên điều về làm Chính trị viên Tiểu đoàn 8. Chúng tôi cùng các đơn vị khác của trung đoàn tranh thủ huấn luyện bổ xung kỹ chiến thuật phù hợp với cách đánh đối tượng mới, chiến trường mới và chuẩn bị ăn tết Kỷ Dậu 1969. Do được tiếp cận với nguồn hàng từ hậu phương, nên Tết này chúng tôi có đủ bánh chưng, trà Hồng Đào, thuốc lá Tam Đảo. Tết trong không khí yên bình hiếm hoi, ai cũng nao nao nỗi nhớ quê nhà. Những khi chiều xuống, tôi nhớ cha lòng se sắt thương ông đã già, nhớ Chiên tần tảo nơi thành phố...
   Đầu xuân1969, tiểu đoàn tôi được cấp trên điều xuống khu vực Hớn Quản làm quen với chiến trường, tổ chức đánh các trận nhỏ, lẻ (cấp đại đội và tiểu đoàn thiếu) với đối tượng mới là bộ binh cơ giới và các sư đoàn của Mỹ. Trận đánh đầu tiên của Tiểu đoàn 8 ở chiến trường mới mà tôi cứ nhớ mãi. Dịp ấy, đồng chí tiểu đoàn trưởng đi chuẩn bị chiến trường cho hoạt động mùa khô, tôi tham mưu trưởng tiểu đoàn là anh Nguyễn Văn Chưởng đưa đơn vị tác chiến ở khu vực Tân Khai, Hớn Quản trên Quốc lộ 13.
      Sau nhiều ngày nghiên cứu quy luật hoạt động của địch, đêm 16-02-1969, chúng tôi bí mật cho bộ đội chiếm lĩnh trận địa phục kích. Tới 7 giờ 20 phút ngày 17-02-1969, một đoàn xe tăng, thiết giáp gồm 7 chiếc rầm rập chạy từ Chơn Thành lên Hớn Quản. Chờ đoàn xe lọt vào trận địa phục kích, ai nấy ngực căng như dây đàn, chờ lệnh. Nhưng, không may do thông tin trục trặc, lệnh nổ súng không được thực hiện. Tôi nhanh chóng trao đổi với anh Hà Cảnh, tham mưu phó trung đoàn đi đốc chiến, rồi lệnh rất nhanh cho bộ đội giữ bí mật, quyết định thay cách đánh. Khi địch quay về ta mới tiêu diệt, chuyển khoá đuôi thành chặn đầu.
     Cả trận địa lặng yên, những phút lặng yên đến ngạt thở. Gió miền Đông lay động cành ngụy trang, chúng tôi phập phồng nhịp thở, dán mình xuống đất, căng mắt quan sát, ra hiệu cho nhau bằng mắt.
     Quả nhiên 45 phút sau, đoàn chiến xa thản nhiên quay trở lại hướng Chơn Thành, chúng hành quân chủ quan hơn khi sáng. Kỷ luật giữ bí mật trận địa được thực thi đến phút chót. Lệnh phát ra, ĐKZ chặn đầu, B41 khoá đuôi. Cả đơn vị đồng loạt nổ súng. Đạn nổ ầm vang, khí thế trận đánh lên rất cao, tinh thần anh em phấn chấn. Toàn trận địa đã nổ súng rất nhanh, tiêu diệt gọn 6 xe, còn 1 xe thục mạng chạy thoát. Chúng tôi lệnh cho bộ đội băng qua khói súng khét lẹt, thu gom vũ khí và chiến lợi phẩm, nhanh chóng rút quân khỏi trận địa, để tránh phi pháo của địch. Bài học nhanh chóng rút khỏi trận địa theo hướng có lợi đã được người lính 209 thực hiện nhanh chóng, rút ra từ trận đánh ở Tây Nguyên. Với quân Mỹ-ngụy ở chiến trường mới này, mật độ hỏa lực, phi pháo rất cao, không thể lơ là, coi thường tính mạng.
   Sau trận đánh đó, tuy đơn vị tôi chưa tiêu diệt gọn quân địch, chúng tôi vẫn được trung đoàn biểu dương, khen ngợi và phát động các đơn vị khác học tập.
   Sau trận đánh của Tiểu đoàn 8, các đơn vị Tiểu đoàn 7 và Tiểu đoàn 9 tổ chức đánh nhiều trận nhỏ lẻ khác trên Quốc lộ 13. Quân địch bị đánh liên tiếp, bị đánh đau ở một vùng mà Mỹ, nguỵ xưa nay yên trí cho là "Việt cộng không có chỗ đứng chân".  Chúng vô cùng hoang mang và hoảng sợ. Đây đã giáp ranh vùng trung tuyến, đường chim bay về Sài Gòn đâu còn xa.
Sau  thời gian đó, địch tập trung các đơn vị Sư đoàn 1 (Anh cả Đỏ), Sư 25 (Tia chớp nhiệt đới) cùng Trung đoàn thiếp giáp 11 độc lập của Mỹ mở cuộc càn (A.lem-Atlat) vào khu vực Dầu Tiếng, mục đích là giải toả khu ực bị uy hiếp, đẩy “Việt cộng” khỏi vùng trung tuyến, đánh phá căn cứ kho tàng, thực hiện gom dân "bình định". Chúng tôi nhận thức rất rõ, đối tượng quân Mỹ có cơ giới hỏa lực rất mạnh, chúng tôi phải đối mặt trực tiếp với chúng.
Cả ba yếu tố: Sức cơ động cao, hỏa lực mạnh, đột kích mạnh, bất ngờ, chúng đều có tiềm năng. Không thể chủ quan.
   Qua những đợt hoạt động nhỏ, lẻ làm quen với chiến trường, tôi được cấp trên điều trở lại làm chính trị viên Tiểu đoàn 7, cùng xuống đường hoạt động trong đội hình chiến đấu của trung đoàn và các đơn vị trong đội hình Sư đoàn 7 đối phó với cuộc càn (A.len- Atlát).
    Tiểu đoàn 7 do anh Công là tiểu đoàn trưởng, anh Vui là tiểu đoàn phó, anh Huy là chính trị viên phó tiểu đoàn, đơn vị tôi được giao nhiệm vụ phục kích ở rừng cao su, nam đường Lệ Xuân. Trong tháng 3 và đầu tháng 4 năm 1969, nhiều trận đánh đã xảy ra ở khu vực Dầu Tiếng giữa các đơn vị Sư đoàn 7 với Trung đoàn Thiết giáp 11 Mỹ.  Đơn vị tôi tham gia trận đánh ngày 27-3, dùng tiểu đoàn thiếu tập kích cụm xe tăng của Mỹ ở Làng 3, gần cầu Thị Tính. Nơi đây địch phòng ngự dày đặc, lại được chi viện hoả lực tối đa (phi, pháo). Trận đánh này, tuy ta tiêu diệt hơn chục xe tăng và thiết giáp nhưng không dứt điểm, bộ đội có thương vong. Với cán bộ chúng tôi, đã rút được bài học xương máu để đánh tốt các trận sau này.
    Cuối tháng 4 năm 1969, tiểu đoàn tôi được lệnh lui về suối Sa Cam, Sa Quýt. Trước khi rút, đồng chí Phùng Vị, chính uỷ Trung đoàn xuống giao nhiệm vụ trực tiếp cho anh Công - tiểu đoàn trưởng và tôi là chính trị viên. Tiểu đoàn tôi, khi cơ động đến vị trí mới, để lại một đại đội, cử đồng chí tiểu đoàn phó ở lại chỉ huy, và chính trị viên phó tiểu đoàn ở lại trực tiếp chỉ đạo tổ chức đánh nhỏ lẻ, giam chân địch. Do chiến sĩ ta chưa quen chiến đấu trong rừng cao su, anh em bám trụ công sự phòng ngự, nên bị xe tăng đè bẹp một số hầm. Đại đội thương vong đến một phần hai. Đồng chí Vui, tiểu đoàn phó bị xe tăng đè lên hầm, nhưng nhờ gỗ sập tạo ra “tứ giác” nên còn sống.
   Sau trận đánh, chúng tôi nghiêm khắc rút kinh nghiệm với đội ngũ cán bộ chỉ huy các cấp, từ đó đúc rút kinh nghiệm xương máu: Khi tác chiến với đối tượng là xe tăng thiết giáp, cứ một khẩu B40 hoặc B41 cộng 2 khẩu AK trang bị gọn nhẹ, bộ đội cơ động nhanh thì hiệu quả chiến đấu cao, ít thương vong. Hỏa lực đi kèm mà cơ động  nhanh, địch rất khó phán đoán. Sau đợt hoạt động xuân hè 1969, tôi được bổ nhiệm lên chức Phó chủ nhiệm chính trị Trung đoàn.
      Từ tháng 4-1970, bọn phản động LonNon-Xi Rích Ma Tắc tăng cường khiêu khích biên giới Việt Nam – Cam-pu-chia gây cho ta nhiều khó khăn, tổn thất. Trong nội địa, chúng đàn áp phong trào cách mạng của nhân dân Cam-pu-chia. Theo chỉ đạo của quan thầy Mỹ, bọn nguỵ Sài Gòn phối hợp với bọn nguỵ LonNon mở cuộc càn quét sang biên giới Việt Nam – Cam-pu-chia, bọn nguỵ Sài Gòn đánh sâu vào đất Cam-pu-chia.
Tướng Đỗ Cao Trí trực tiếp chỉ đạo quân ngụy trên toàn tuyến thọc sâu. Chúng sử dụng một lực lượng lớn chưa từng thấy.
   Chúng tôi nhận định, đây là dịp tốt để cho Quân giải phóng nói chung và các đơn vị Sư đoàn 7, trong đó có Trung đoàn 209 lập công.
   Sau một năm trung đoàn tham gia tác chiến ở Miền Đông Nam Bộ với đối tượng Sư 1, Sư 25 và Trung đoàn thiết giáp 11 của Mỹ, đơn vị đã có bước trưởng thành về mọi mặt. Nay lại đối phó với đối tượng là quân nguỵ, đây là điều kiện tốt để thực hành tác chiến. Điển hình là trận đánh ngày 12-10-1970, trung đoàn phục kích trên Quốc lộ 22. Trận đánh do Trung đoàn trưởng Khang và Chính uỷ Trần Tường chỉ huy. Trận phục kích này cách Sa Mát 3 km. Tinh thần chiến đấu của anh em rất cao, các tay súng 209 rất gan góc, can trường, mưu trí. Ta tiêu diệt gọn Tiểu đoàn 2, đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 1 chiến đoàn 50 quân nguỵ Sài Gòn, bắt sống nhiều tù binh, thu hàng trăm vũ khí các loại, cả trận đánh ta hy sinh 4 đồng chí.
   Đây là trận đánh giành thắng lợi lớn của trung đoàn, có ý nghĩa củng cố lòng tin cho cán bộ, chiến sĩ, vì mùa khô 1969 đơn vị chỉ đánh được các trận nhỏ lẻ, quy mô cấp tiểu đoàn trở xuống. Cuối năm tổng kết nhiệm vụ, Bộ tư lệnh sư đoàn đánh giá Trung đoàn 209 hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 1970.
   Thất bại nặng nề trong cuộc hành quân "Toàn thắng 1-1971",  giữa năm 1971, quân nguỵ Sài Gòn dùng lữ dù và Trung đoàn thiết giáp 18 từ "Kan-Đra-Chrun" hành quân đường tỉnh lộ 2 để cứu nguy bọn nguỵ LonNon ở Quốc lộ 6 và ngoại vi Nông Pênh. Trung đoàn 209 nằm trong đội hình chiến đấu của Sư đoàn 7 chặn đánh Trung đoàn thiết giáp 18 ở khu vực "Đầm Be-ớt Thơ Mây". Lần đầu tiên Sư đoàn 7 thắng lớn, coi như xoá sổ Trung đoàn 18 thiết giáp nguỵ Sài Gòn. Một số xe của địch bị bắn cháy, một số chưa bị trúng đạn, nhưng bọn lái xe sợ quá bỏ cả xe chạy tháo thân vào rừng. Tin thắng trận làm nức lòng chiến sĩ, lại càng nức lòng hơn khi Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài phát thanh Quân giải phóng loan rộng thông tin chiến thắng này.
   Lúc này tôi được bổ nhiệm là Chủ nhiệm chính trị Trung đoàn 209 (V19). Tôi và Trung đoàn Trưởng Vũ Việt Hồng cùng bộ đội xung phong ra mặt đường. Một kỷ niệm mà tôi còn nhớ mãi trong đời lính chiến, đó là lần đầu tiên được chứng kiến quân ta bắt sống xe tăng địch. Vì chiến sĩ ta chưa có kinh nghiệm, thấy xe tăng còn nổ máy cứ tưởng địch còn trong xe, để "ăn chắc", anh em dùng B40 và B41 bắn cháy vài xe nữa. Đáng lẽ ra "Bắt sống xe mang về" sử dụng được.
     Một lúc sau, chúng tôi gặp Sư trưởng Ba Nguỵ (Đàm Văn Nguỵ), được tin suýt thu được xe tăng “còn sống”, ông vừa tức giận vừa tiếc để tuột "chiến lợi phẩm sống" trong tầm tay. Ông ứa nước mắt khóc như mất một cơ hội quý trong đời. Anh Việt Hồng-Trung đoàn trưởng giật áo bảo tôi "Lảng ngay chỗ khác không vạ vào thân bây giờ".
   Sư đoàn trưởng Đàm Nguỵ nổi tiếng là người kỹ tính, nóng nảy và kiên quyết. Tôi hiểu thủ trưởng mình nhiều năm chiến đấu ở chiến trường, đêm nằm lo từng viên đạn, từng khẩu súng, sao cho có hoả lực mạnh, phát huy hiệu quả trong tác chiến. Nếu có xe tăng, pháo lớn trong tay thì chiến đấu bớt đi xương máu của bộ đội. Ở thời điểm này, làm sao hậu phương miền Bắc mang vào đây được xe tăng, pháo lớn. Trong khi đó trên xe tăng Mỹ - nguỵ có pháo 75 ly, rất nhiều đạn. Có đủ đạn phá, đạn sát thương, đạn xuyên. Đúng là tiếc thật !


Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 10:45:02 am
Chiến đấu ở Miền Đông, đêm ở Bình Long-Tây Ninh mát mẻ, ban ngày thì nóng bức. Dẫu không giáp dân trực tiếp, nhưng tin về đời sống của người dân xung quanh cũng tác động hàng ngày dễ làm cho chúng tôi nhung nhớ quê hương đất Bắc. Vì gần Bộ chỉ huy Miền, nên tin tức từ hậu phương cũng nhanh tới. Vậy mà mãi giữa năm 1971 tôi mới nhận được thư của Chiên, vợ tôi gửi từ hậu phương vào.  Cầm thư, tôi mừng lắm, chỉ sợ đọc nhanh hết. Chiên kể, Chiên và con tôi ở hậu phương vẫn mạnh khỏe. Con đã lớn, đang học lớp 2. Tuy chiến tranh phá hoại bằng đường không của Mỹ rất ác liệt, trên tuyến đường 5 quê tôi, nhưng làng xóm, họ hàng tôi ngoài đó vẫn an toàn. Đọc tới đây tôi thở phào, hít một hơi, yên lặng. Ơn trời! Nhưng… mắt tôi bỗng nhòe đi, khi từng dòng chữ tiếp tục hiện ra. Tin dữ! Cha tôi bị bệnh trọng, đau gan, nên cha đã mất năm 1970, thọ 53 tuổi. Như vậy cha đã  “đi“ được một năm trời mà tôi không hay biết. Cha ơi? Tôi bất giác gọi ông. Ngay từ đó, những kỷ niệm về cha cứ ào ạt hiện về. Đêm nằm tôi khắc khoải nhớ cha, không ngủ được. Ở chiến trường, cái sống, cái chết cận kề, ngày nào cũng có đồng đội ra đi. Lòng ai cũng se sắt khi nghe tin đồng đội nằm xuống. Chiến tranh khắc nghiệt lắm. Thương tiếc, nhưng không cho phép người lính uỷ mị. Tôi lại là cán bộ chính trị, lại càng phải nhủ lòng cứng rắn, vững vàng trong lời nói và hành động, để đơn vị vững vàng. Nhưng… lần này, được tin cha không còn, tôi da diết nhớ ông. Nhìn vào cuốn sổ ghi chép, đã là năm 1971, cuộc chiến đấu đang vào thời kỳ quyết liệt. Tôi vừa thương cha vừa rất nhớ Chiên và con trai. Tôi chỉ còn biết biên thư ra động viên Chiên vững lòng, đợi ngày toàn thắng.
     Do nhiệm vụ chiến đấu khẩn trương, ác liệt, tình thế căng thẳng ở chiến trường chi phối, tình cảm thương nhớ gia đình như bát nước nóng, rồi cũng nguôi dần. Không thể uỷ mị mãi được. Bên cạnh người chỉ huy, sinh mạng anh em, cuộc sống của các thương binh nặng còn đó. Phải vững lòng, không vững không được, vững để mà tồn tại, tồn tại phải khoẻ cả về sức, khoẻ cả về tinh thần để đánh thắng.
      Sau này đọc thơ viết về chiến tranh, tôi ngấm lắm những cảm xúc mà các nhà thơ nói hộ thế hệ chúng tôi:
                Tin một đồng đội vừa nằm xuống
                 Đến với tôi từ một giọng bình thường
                 gió quần quật trên nóc hầm buổi sáng…
                 cỏ sắc mà đắng quá phải không em?
      Một bài khác:
                    Nếu một mai mình không trở về
                   Cậu có nhớ lối về nhà mình không cậu
                   Dậu mồng tơi có bướm vàng đến đậu
                    mẹ mình thường ở đó nhìn ra…
Đã dấn thân vào cuộc chiến đấu này, nay sống, mai có thể chết, là sự xác định thường trực trong lòng người lính chiến. Dù trong lòng ai đi nữa, nơi sâu thẳm, đều có bóng hình người mẹ, người cha thân thương.



Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 10:45:35 am
Cuối năm 1971, tôi ở cương vị Chủ nhiệm chính trị trung đoàn và anh Vũ Việt Hồng - Trung đoàn trưởng 209 được cấp trên gọi đi trinh sát thực địa chuẩn bị cho mùa khô năm 1972. Đoàn trinh sát của Sư đoàn 7 gồm 180 cán bộ, chiến sĩ, đủ thành phần tham mưu, chính trị, hậu cần và lực lượng trinh sát, vệ binh, bảo vệ…
        Từ rừng già. Căn cứ đứng chân trên đất Cam-pu-chia, đến Sông Sài Gòn, khu vực biên giới, hai bên vực sông Sài Gòn sâu thẳm, nước đục ngàu màu đỏ ba zan. Anh em tản ra nắm địch theo chức trách. Tôi còn nhớ mãi đồng chí tham mưu trưởng Sư đoàn 7 là anh Mười Thứ. Một lần, anh dẫn đoàn trinh sát vượt sông. Giữa lúc hành quân qua trảng (khu rừng thưa ít cây lớn), thấy máy bay L-19 lượn trên đầu,  Mười Thứ che mắt ngang trán, nhìn lên trời. Mười Thứ vốn tính nóng nảy, hay nói bậy, anh nhìn lại phía sau đội hình, thấy bộ đội ta mặc quần áo đủ các màu xanh, vàng, trắng, nâu… (vì lúc bấy giờ quân nhu mua được vải gì may quần áo cho bộ đội thứ nấy).  Anh Mười sợ lộ, tức quá hô tất cả nằm xuống và buột miệng chửi tục “Đ.mẹ thằng hậu cần này giết ông rồi…”.  Cũng may là địch không phát hiện được. Đoàn đi tiếp, an toàn.
      Đi trinh sát, luồn khe, rúc bụi, gai đâm đầy người, không gai tre thì gai cây mai dương, móc nhọn mà buốt. Tối về đầy người mưng mủ. Bóp ra cả mủ và mũi gai nhỏ tí như đầu kim. Thật khó chịu!  Nhưng cũng may, nhờ nguỵ trang tốt nên tổn thất không đáng kể. Tôi càng phục và thông cảm cho anh em trinh sát, suốt chiến dịch lăn lộn nắm địch. Trong lòng tôi cũng luôn dành cho anh em trinh sát tình cảm ưu ái,  sự chăm lo lặng lẽ, thậm chí tới mức thiên vị.
       Ngày 30-3-1972, Trung đoàn làm Lễ xuất quân từ đất Cam-pu-chia trở về. Khi đoàn trinh sát trở về căn cứ, anh em chúng tôi nhận được quà Tết đơn vị để dành. Vì anh em sợ ướt, quà được bọc nilon khá kỹ, khi mở ra, nào bánh chưng, nào giò… nhưng tất cả đã thối như xác con vật bị rữa, đành phải vất đi. Tiếc đứt ruột !
       Đầu tháng 4-1972, Trung đoàn 209 tới vị trí mới, được lệnh cấp trên phái tăng cường cho Sư 9 (lúc này anh Nguyễn Thới Bưng là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 9, sau này ông là Tư lệnh Quân khu 7 rồi lên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng). Sư đoàn trưởng giao nhiệm vụ cho trung đoàn 209 bao vây chiến đoàn 52 ở ngã ba Hồng Tâm (gần cầu Cần Lê).
     Trong chiến dịch Nguyễn Huệ, đánh châm ngòi (đánh trận mở màn) do Trung đoàn 2 Sư đoàn 5 đảm nhiệm đánh chi khu Lộc Ninh, khi đó anh Quân là Trung đoàn trưởng, sau này chúng tôi đi học ở H14 mới biết nhau. Đây là trận đánh thắng lợi giòn giã, diệt gọn, bắt tù binh, thu nhiều vũ khí.
      Xin kể lại trận vây ép chiến đoàn 52, tiêu diệt chúng, trước khi Sư 9 đánh An Lộc. Lúc này chiến thắng Lộc Ninh lẫy lừng. Chiến thắng này có tác dụng cổ vũ rất lớn các trận tiếp sau. Trung đoàn 209 chúng tôi, vào lúc 9 giờ sáng ngày 5-4-1972 được lệnh nổ súng khống chế chiến đoàn 52. Vì quận lỵ Lộc Ninh đã bị thất thủ, nên bọn sĩ quan và binh lính rất hoang mang. Chúng tôi chỉ đạo, kết hợp cả tiến công quân sự với tiến công binh vận (dùng loa kêu gọi binh lính chiến đoàn 52 bỏ vũ khí quay về với nhân dân, đầu hàng Quân giải phóng). Địch ngoan cố đáp trả bằng các đợt đạn pháo rót vào trận địa của Trung đoàn. Chúng tôi dùng DKZ, cối 82, rốc-két H12 đánh mạnh vào Sở chỉ huy Lữ đoàn và trận địa pháo của địch. Một số nhà kho, xe pháo của địch bị cháy, binh sĩ địch rất hoang mang, nhưng vẫn ngoan cố chống cự.
       Tới 17 giờ ngày 7-4-1972, quân địch bỏ căn cứ tháo chạy. Chúng tôi lập tức bố trí đại đội 12,8 ly hạ thấp nòng bắn chặn. Trời! Địch quá đông, cả xe tăng thiết giáp cũng gầm rú, tràn qua trận địa, chạy thục mạng. Hỏa lực, liên thanh, thủ pháo của ta bắn mãnh liệt, bắn như chưa bao giờ được bắn , khí thế hừng hực giết giặc lập công. Kết cục, xác giặc nằm ngổn ngang trước trận địa 12,8 ly của trung đoàn. Chiến đoàn 52 bị tiêu diệt, 500 tên đền tội, ta bắt sống 334 tên.
        Khi quân ta vào chiếm trận địa và thu chiến lợi phẩm, trong số đó, thấy có một  trung tá Ngụy, tên hắn là Điền - Lữ đoàn phó, chết tại trận. Quân ta thu được khẩu súng ngắn (ru-lô) của hắn cùng rất nhiều chiến lợi phẩm, tất cả còn chất đầy các hầm chiến đấu, nhiều đến nỗi tới ngày 8-4-1972 chúng tôi chưa thu hết chiến lợi phẩm. Sau này quân sử ghi lại, ta thu 12 pháo, bắn cháy 162 xe, thu 287 súng, gần 100 máy thông tin các loại. Tiếng tăm 209 vang xa.
        Hân hoan trong niềm vui chiến thắng, tôi ngẫm nghĩ, các thầy giáo chiến thuật giảng rất kỹ và khẳng định “Đánh địch bằng mưu chứ không đánh bằng sức. Muốn lập mưu, phải tạo thế. Trong trận này, Trung đoàn 209 đã khôn khéo dồn ép chiến đoàn 52 ra ngã ba Hồng Tâm - đường 13, quãng phía bắc cầu Cần Lê. Tại địa bàn này, tương quan lực lượng chỉ là một chọi một. Nhưng địch ở đây, trong bối cảnh An Lộc nguy ngập, tinh thần chiến đấu “xuống tận mắt cá chân”. Lập tức, Trung đoàn 209 đã xông ra, hoả lực rất mạnh, trong tầm sát thương hiệu quả. Ta đã tiêu diệt gần hết chiến đoàn 52 trên đoạn đường đó, bằng một trận vận động tấn công quyết liệt.
      Vui vì chiến thắng, tôi nhủ lòng, công tác chính trị, động viên bộ đội đúng lúc, sẽ luôn khích lệ anh em quyết tâm chiến đấu. Đó là khi có sức cộng hưởng từ ý chí tinh thần, khó có thể hình dung sức mạnh được nhân lên. Người lính  “hai linh chín” khi đó làm sao quên được khẩu hiệu: “47 Sông Lô cuộn sóng chìm tàu giặc, 72 Sông Lô xốc tới diệt xâm lăng”. Truyền thống Trung đoàn Sông Lô được thổi bùng giữa Miền Đông gian lao anh dũng.



Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 10:46:10 am
Càng ngày chúng tôi càng vào sâu, những trảng lớn miền Đông được thay dần bằng rừng cao su xen kẽ ruộng lúa. Đô thị cách không còn xa, tinh thần chiến sĩ ta phấn chấn. Đã 5 năm, từ miền Bắc vào Nam, người còn, người mất, anh em lính Hà Nội, Thái Nguyên của “hai linh chín” đều tiến bộ, có nhiều người được Huân chương chiến công, trở thành cán bộ đại đội, tiểu đoàn dày dạn kinh nghiệm.
        Với chiến công tiêu diệt Chiến đoàn 52 cùng thành tích khá nổi trong các chiến dịch trước, chỉ huy Trung đoàn 209 ai cũng tin rằng, trung đoàn sẽ được nhận một mũi, trên một hướng quan trọng trong trận công kích vào thị xã An Lộc. Bởi lẽ, Trung đoàn 209 đã áp sát thị xã này, đã sẵn sàng tất cả để tham gia vào trận quyết chiến chiến dịch. Nhưng đùng một cái, Trung đoàn trưởng Vũ Việt Hồng được lệnh ngừng ngay nhiệm vụ trinh sát thị xã, đưa toàn trung đoàn cấp tốc thọc xuống vùng Bàu Lồng. Hướng ấy là phía cuối phạm vi chiến dịch. Thật tiếc cho 209!
       Không bao lâu, ta đánh An Lộc không dứt điểm. Giữa tháng 4-1972, địch kịp tập trung cố thủ tới 5 lữ đoàn, lực lượng không quân Mỹ dùng B52, tiêm kích bom, trực thăng vũ trang chi viện tăng cường tại đây binh lực gấp nhiều lần, trong khi ta bị thương vong hao hụt, sức tiến công giảm sút. Rõ ràng thời cơ dứt điểm Bình Long không còn, ta buộc chuyển sang bao vây cô lập.

                                           
                                         


      Lại nói về phía quân nguỵ. Chúng huy động các lữ đoàn dù cùng sự chi viện rất mạnh của không quân, nên vành đai bảo vệ thị trấn An Lộc được mở rộng, trực thăng có thể đáp an toàn để tải thương, đồng thời tiếp viện và tiếp tế cho các căn cứ đang bị vây. Hàng chục ngàn lính nguỵ được đổ vào An Lộc với đầy đủ lương thực để thay thế bớt cho những tên lính đã kiệt sức, hoặc quá mệt mỏi…. Ngày 9-6-1972, lần đầu tiên sau hai tháng cô lập, một đoàn trực thăng 23 chiếc hạ cánh được xuống An Lộc, vừa tiếp tế, vừa đổ quân, để rồi bốc thương binh ra.
        Thượng tướng Trần Văn Trà sau này nhận xét về trận An Lộc: "Trận An Lộc, quân giải phóng đã chịu nhiều bất lợi: Hành quân gấp; vũ khí, đạn dược thiếu thốn; công tác tiếp vận kém. Địch có hỏa lực áp đảo do Hoa Kỳ hỗ trợ, đặc biệt là máy bay B-52. Quân giải phóng đã chịu một thiệt hại không nhỏ, nhưng từ đó chúng ta đã rút ra được những bài học vô giá cho các chiến dịch sau này”.
       Thời điểm này, cấp trên điều Trung đoàn 165 và 141 thành 2 trung đoàn cơ động của Sư đoàn 7. Nhiệm vụ trước mắt 209 chúng tôi là vu hồi và ngăn chặn Sư đoàn 21 ngụy đang từ Lai Khê tiến lên Chơn Thành.
       Ngày 09-4-1972, Trung đoàn 209 được lệnh cơ động về khu vực Bầu Lồng Quốc lộ 13 - phía Nam Chơn Thành để chốt chặn, tạo ra các chốt thép trên đường, cùng với Trung đoàn 165 chốt cứng ở Tầu Ô, xóm Ruộng khóa đường 13, không cho chiến xa địch kéo lên tiếp ứng bằng đường bộ, tạo thuận lợi cho Sư đoàn 9 tiếp tục đánh vào An Lộc.


Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 10:46:48 am
Anh Vũ Việt Hồng, trung đoàn trưởng đi bộ đội từ năm 1950. Kết thúc Chiến dịch Điện Biên Phủ, anh làm trung đội phó. Năm 1954, anh đi học Trường sĩ quan Lục quân, ra trường mang quân  hàm thiếu uý. Năm 1960, anh được đề bạt trung uý, làm trợ lý tác chiến trung đoàn. Năm 1966, anh chỉ huy đại đội bộ binh, đi trong đội hình Trung đoàn 141 vào chiến trường miền Đông trước 209. Từ đó đến nay, lúc ở đơn vị chiến đấu, lúc lên cơ quan, Vũ Việt Hồng luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ, được đề bạt đều đều. Chiến dịch mùa mưa năm 1970, Vũ Việt Hồng thôi giữ chức trưởng ban tác chiến sư đoàn, xuống làm trung đoàn phó. Cuối năm 1971, Vũ Việt Hồng được bổ nhiệm làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 209. Trong sự chỉ huy của anh, Trung đoàn 209 trưởng thành trong cách đánh, quy mô tầm cỡ tác chiến cũng cao hơn. Anh em trên dưới đồng lòng. Ai cũng muốn tham gia đánh trận “có đẳng cấp” để “hai linh chín” thể hiện đẳng cấp của mình giữa chiến trường Miền Đông, không thua kém các trung đoàn bạn.


Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 10:50:29 am
V

CHỐT CHẶN ĐƯỜNG 13 MÁU LỬA



        Lịch sử của các cuộc chiến đấu luôn ẩn chứa những đột biến, bất ngờ. Không ai có thể nói trước được, khúc đường 13, chỉ trải dài chưa đầy 10 cây số, tại khu vực Chơn Thành, Tàu Ô, Xóm Ruộng này, không ngờ lại là một địa danh khốc liệt như thế. Cũng không ai có thể đoán trước được, “Cái trung đoàn 209” được đi ô-tô vào Nam chiến đấu, lính ta ngồi xe vào đến tận Sa Thày, tưởng thế là “nhàn”, là “may” so với hai trung đoàn đi bộ là 165, 141 (mấy tháng trời đi bộ mới tới Tây Nguyên)…thế mà sứ mệnh lịch sử lại trao cho nó cái then cửa chiến dịch, cháy lửa chiến trường, đội bom, nghênh đạn, suốt 150 ngày can trường chốt chặn tại đường 13.  
       Đúng thế! Tháng 5 –1972, Trung đoàn 209 được lệnh tức tốc chuyển về thay thế Trung đoàn 165 chốt ở khu vực Cống Ông Tề, Tàu Ô, xóm Ruộng. Khẩu hiệu là:  “Chốt cứng, chặn đứng, không cho 1 xe, 1 tên địch qua trận địa” từ Bình Long chạy về Sài Gòn và ngược lại”.
       Tại sao lại chọn khúc Tàu Ô? Tôi càng hiểu ra và phổ biến công khai cho anh em mục đích trên chọn nơi này, quyết thực hiện bằng được lệnh: Không cho 1 xe, 1 tên địch qua trận địa. Bởi khu vực Tàu Ô, phía bắc chi khu quân sự Chơn Thành 3km, có con suối chảy từ tây sang đông, đường rộng 20 - 30 mét, nước nông nhưng là vật cản thiên nhiên tốt. Hai bờ bắc, nam của con suối là những vạt đồi thoải, quá trình mở rộng đường 13, địch san ủi vẫn còn những ụ đất cao từ 1 đến 1,5 mét, lâu ngày đất rắn, có thể cải tạo thành những ụ chiến đấu tốt. Nam suối Tàu Ô khoảng 500 mét có cống Ông Tề rộng 8 mét. Địa thế khu vực này tương đối cao, càng về phía nam địa thế càng thấp dần, đứng ở Tàu Ô ta có tầm nhìn khống chế được phía nam.
      Trong 150 ngày đêm đơn vị chốt chặn trên Quốc lộ 13 là 150 ngày đọ sức so tài, đấu trí giữa ta và địch (nói rộng ra là cả chính quyền ngụy Sài Gòn và quân giải phóng), về ý chí quyết tâm, về thủ đoạn tác chiến, về sức bền bỉ chịu đựng và tài nghệ điều binh.
       Về lực lượng của địch thay nhau lên phá chốt gồm các đơn vị Sư đoàn 7, Sư đoàn 9, Sư 21, Sư 25, các liên đoàn biệt động ngụy Sài Gòn.
     Lực lượng của ta lúc đầu có hai Trung đoàn 165 và 209. Sau một tháng, 165 rút ra, chỉ có 209 đảm nhiệm. Tới cuối chiến dịch, cấp trên tăng cường cho 209 Tiểu đoàn 3 của Trung đoàn 141. Cuộc chốt chặn 150 ngày đêm diễn ra hết sức ác liệt.
      Diễn biến trận này, tóm tắt như sau:  
      Đường 13, Lai Khê, Chơn Thành, ngược lên An Lộc, giữa năm 1972 dần trở lên nóng bỏng. Nói như mấy sĩ quan nguỵ: Quốc lộ 13 đã bị “cộng quân” kiềm toả. Lúc này An Lộc bị cô lập, quân ngụy muốn chi viện chỉ còn cách dụng đường không.
(http://i627.photobucket.com/albums/tt353/datavehu/ng13.jpg)

     Các phân đội trong Sư đoàn 7 vào lúc này rất hăng hái thực hiện việc xây dựng bằng được các “Đại đội mạnh, Đại đội chiến đấu giỏi”.  Tôi đi các đại đội, động viên anh em, tổ chức biên chế lại, củng cố trang bị sao cho đại đội nào cũng đủ sức đánh địch, giữ chốt.
     Trời miền Đông vẫn xanh thắm, không gian ngập tràn nắng và gió. Anh em trinh sát không nghỉ, liên tục nắm địch.  Báo cáo cho thấy, đoạn từ Lai Khê lên thị xã Bình Long địa hình tương đối bằng phẳng, trong đó đoạn từ ngã ba Xóm Ruộng tới nam Tân Khai là khu vực “có giá trị nhất”. Muốn “chặn đứng địch ở đây, phải “chốt cứng”!  
     Gian nan nắm địch, trinh sát sư đoàn gồm trinh sát mặt trận, trinh sát kỹ thuật B12 rất sáng tạo, mưu trí đã phát hiện từng thủ đoạn điều quân của quân nguỵ. Địch điều lữ 3 dù từ Tây Nguyên về Sài Gòn; ngày 26 đổ xuống Tân Khai, Núi Gió hình thành ba cụm ở đông và tây đường 13.  

   Chiêu đầu tiên, tướng Nguyễn Vĩnh Nghi đổ 2 trung đoàn xuống Tân Khai bằng trực thăng, thực hiện “kiểu nhảy cóc” của quan thầy Mỹ. Một thiết đoàn xe tăng số 9, vòng qua Tàu Ô, bỏ qua khu chốt, tránh chỗ mạnh, lao lên Tân Khai, làm căn cứ bàn đạp hòng nống lên An Lộc. Nhưng chúng không ngờ, ta có lực lượng lót ổ xung quanh Tân Khai, đó là Trung đoàn 141, Trung đoàn 165… Địch bị đánh phủ đầu, bộ binh bị vây hãm, ta diệt hầu hết các chi đoàn thiết giáp của chiến đoàn 9. Cắt bộ binh với chiến xa, khiến chiêu đầu tiên bị gãy! Công của trinh sát, thiết giáp trận này không nhỏ.

      Mùa hè năm 1972, Trung đoàn 15 thuộc Sư đoàn 9 (*) được tăng phái cho lực luợng giải tỏa An Lộc vào trung tuần tháng 5-1972, sau Trung đoàn 15 Bộ binh của Sư đoàn 9 tăng viện cho Sư đoàn 5 Bộ binh của Chuẩn tướng Lê Văn Hưng ở khu vực Tân Khai hòng cứu An Lộc đang bị nguy khốn.
       Sau này tại Hoa Kỳ, các sĩ quan bại trận còn cố nói "hay" về Trung đoàn 15 của Sư đoàn 9 thế này:
       “Ý đồ của Công Trường 7 (sư đoàn 7) Bắc Việt là dùng Trung đoàn 165 và 209 cầm chân Sư đoàn 21 Bộ binh ngay tại Tàu Ô, phía dưới Tân Khai, nếu quân ta không qua khỏi Tàu Ô thì Tân Khai dù có bỏ trống cũng không ảnh hưởng gì đến trận thế của chúng. Nhưng Bộ tư lệnh tiền phương Quân đoàn 3 (ngụy Sài Gòn) đã “nhìn thấy” ở Tân Khai một đặc điểm chiến lược có thể gây khó khăn cho quân cộng, mặt khác, có thể làm xoay chuyển được tình thế để mở thông đường vào An Lộc, nên Chiến đoàn 15 nhận lệnh bất ngờ tiến vào Tân Khai, Núi Gió. Bộ binh, kỵ binh và pháo binh nhanh chóng thiết lập căn cứ yểm trợ hỏa lực. Dĩ nhiên, cấp chỉ huy mặt trận An Lộc của địch phải thức tỉnh và bằng mọi cách phải nhổ cho được cái gai kỳ dị này. Tình hình rất trầm trọng. Sư đoàn 9 và Sư đoàn 7 Bắc Việt điều động hai trung đoàn (165 và 141) tiến đánh quyết tiêu diệt chiến đoàn 15. Hàng chục chiến xa T54, T59 ầm ầm lăn bánh xích về căn cứ hỏa lực Tân Khai để hủy diệt những chiếc thiết vận xa M-113 nhỏ bé của quân ta. Chiến xa T59 do Trung Cộng biến cải từ loại chiến xa T54 của Liên Xô, trang bị thêm súng đại liên dưới chân tài xế nên quân ta rất khó xông đến gần để ném lựu đạn. Rất ít tài liệu diễn tả lại trận đánh kinh hồn nàỵ. Chỉ biết rằng, Chiến đoàn 15 giữ vững được căn cứ Tân Khai cho đến ngày 24-6-1972. Chiến đoàn 15 đã ở trong cái ốc đảo Tân Khai hơn một tháng trường, chiến đoàn 15 bị thiệt hại rất nặng”.

………………………………………

     (*)  Sư đoàn 7 ngụy Sài Gòn được thành lập tại Bùi Chu (Nam Định) Bắc Việt Nam. Đầu tiên có tên là Trung đoàn 31 Biệt Lập, gồm 3 Tiểu đoàn: 701, 702, 703 biệt lập. Chỉ huy trưởng lúc đó là Nguyễn Hữu Có… Sư đoàn này liên tục qua sự chỉ huy của Tôn Thất Xứng, Ngô Dzu, Huỳnh Văn Cao, liên tục hoạt động miền Đông Nam bộ, sau đó trở thành Sư đoàn 7 hoạt động suốt tại Khu 41 chiến thuật Tiền Giang, tăng cường họat động khu 42 chiến thuật và các tỉnh miền Đông năm 1972.
    
    (*)  Sư đoàn 9 Bộ binh ngụy Sài Gòn được thành lập vào ngày  9-1-1962 tại Quy Nhơn, sau di chuyển về đồn trú tại căn cứ Bà Gi, thuộc quận Phù Cát, tỉnh Bình Định. Không lâu sau đó, do tình hình chiến trường, Sư đoàn 9 BB được di chuyển về vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Bộ tư lệnh đồn trú tại Sa Đéc. Năm 1972, hậu cứ Sư đoàn một lần nữa được dời về Vĩnh Long, tiếp nhận phi trường Vĩnh Long tức là trại Nguyễn Viết Thanh, được bàn giao lại từ quân đội Hoa Kỳ.




Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 10:52:32 am
      Lợi dụng ta thay quân, 209 vào chốt thay cho 165,  ngay sau đó địch tiến đánh, chiếm khu cống Ông Tề hòng nhổ chốt. Trinh sát ta nắm chắc, báo cáo chỉ huy. Ta điều ngay Trung đoàn 141 từ Tân Khai xuống hỗ trợ 209 giành lại khu vực vừa bị mất, khôi phục thế ban đầu.
       Từ ngày 21-6, thế trận ác liệt mới thật sự bắt đầu. Địch tập trung binh lực, hỏa lực, gồm hai trung đoàn bộ binh, thuộc Sư đoàn 21, một lữ đoàn dù, một Thiết đoàn số 3, tiến đánh thẳng vào Tàu Ô, nhằm nhổ bằng được chốt đường 13. Sư đoàn 21 nguỵ coi chốt này là cái gai rất khó chịu.
     Chính diện của đợt tiến công nhổ chốt rộng tới một ki-lô-mét. Máy bay, pháo binh, xe tăng gầm rú, đột phá liên tục vào trận địa cả ngày và đêm. Cho đến ngày 23-6, với chiến thuật vận động tiến công kết hợp chốt, ta đã bẻ gãy từng đợt tiến đánh của chúng. Không nhổ được chốt, lại bị đánh trả, địch phải lui về phía Nam 4km.
     Khi đó, về phía ta không ai muốn nhắc tới chữ phòng ngự. Các cấp chỉ huy sáng tạo trong chốt chặn, bởi thực tế chiến trường là người thầy dạy chính xác nhất. Sư đoàn 7 sáng tạo ra phương thức “Chốt chặn kết hợp vận động tiến công”.
        Lúc này, điều ta quan tâm, lo lắng là địch dùng hỏa lực rất mạnh, gồm pháo, bom, rốc két và cả B52 đánh vào khu chốt. Tướng Lê Văn Tư thay tướng Nghi, cho pháo từ Chơn Thành bắn vào trận địa mỗi ngày 10 vạn viên trước chính diện chỉ rộng khoảng 2.000 mét vuông; dài 3.500m; sâu 5.000m. Máy bay chiến thuật AD-6, A37 xuất kích mỗi ngày 40 lượt chiếc! Máy bay B52 trải nhiều BOX  bom phá. Mỗi "Box" B-52, bề dài 3 km, bề ngang một ki-lô-mét, được thả bằng 3 chiếc B-52 chứa trên 100 quả bom đủ loại, từ 100 lbs đến 500 lbs. B52 ném cả ngày và đêm, khiến một vùng đất hẹp bị cày xới đảo lộn…
     Cuộc chiến ở Tàu Ô - Xóm Ruộng lúc này kéo dài hơn hai tháng. Quân đội của tướng Cao Văn Viên đã tung ra hơn một nửa lực lượng cơ động Vùng 4 chiến thuật và một bộ phận lực lượng tổng trù bị chiến lược. Tổng số có tới 100 lần chiếc pháo đài bay B52 Mỹ yểm trợ, 7.500 lần chiếc máy bay chiến thuật, ném khoảng 39.300 tấn bom, có tới 4.500 lần chiếc trực thăng vũ trang của Mỹ và hơn 60 khẩu đại bác các loại, trực tiếp bắn yểm trợ cho mặt trận này; chúng gọi những lần kích pháo kinh hoàng đó là “ Dàn nhạc Tân Tây lan”.
        Cùng với những thủ đoạn đánh phá tàn bạo, quân địch khi thì dùng đội hình lớn có xe tăng mở đường, khi thì dùng chiến thuật nhảy cóc đổ chụp, khi lại chia thành nhiều hướng chia cắt, hợp vây chốt Tàu Ô. Trinh sát của ta trong bụi đất, trong “bạt ngàn pháo đạn” nắm chắc địch hàng giờ, nhiều đồng đội của anh em trung đoàn đã ngã xuống.
Vai trò của chiến sĩ công binh không nhỏ. Hai bên đường từ Bắc Lai Khê đến lộ đi Rạch Thị Tính, anh em đã gài mìn chống tăng dày đặc, xe tăng, xe bọc thép cứ rời lộ là vấp mìn. Phía Đông đường 13 lắm sình lầy, lắm suối, lại có rừng le, khiến cơ giới không phát huy tác dụng. Phía Tây đường hễ xuất kích là ta chặn đánh quyết liệt, tản khai rộng thì vướng mìn. Hỏa lực B40, B41 xuất quỷ nhập thần, các chốt giữ vững, lực lượng bắn tỉa có mặt khắp nơi, từ đông đường đến Nam Sâm Rớt, thấy địch là bắn, bắn cả xe GMC, khiến quân ngụy hoang mang, không dám liều lĩnh.
Từ sở chỉ huy, chúng tôi nắm chắc tình hình địch hàng giờ. Đó là nhờ trinh sát đặt 3 đài quan sát, một ở sình lầy phía đông đường 13, nơi quyết chiến điểm ác liệt hằng ngày. Một đài ở nam Sâm Rớt, một đài ở Bắc Lai Khê, địch đi đến đâu trinh sát có bộ đàm nắm chắc báo cáo kịp thời. Mọi hoạt động trên không, trên lộ, các trận địa pháo khai hỏa trinh sát không để sót hành động nào. Nhiều lần tôi thống nhất cùng chỉ huy trung đoàn biểu dương trinh sát, chuyển lời động viên tới pháo binh sư đoàn dùng pháo 122ly DKB khống chế pháo binh để 209 trụ vững ở quyết chiến điểm.
        Bom đạn dường như ngày càng dày thêm, thủ đoạn chống trả của quân ngụy càng cay cú, thâm hiểm hơn. Ác liệt như vậy, nhưng vẫn không có một tên lính nào, một chiếc xe nào vượt qua khỏi Tàu Ô. Ngược lại, nhiều tiểu đoàn, chi đoàn xe tăng, xe bọc thép bị tổn thất nặng nề, một số trung đoàn, chiến đoàn đã phải lui về phía sau củng cố. Số thương vong của địch mỗi ngày một tăng vọt.
        Tàu Ô chính là một sự thách đố trớ trêu, một nỗi nhục giày vò tướng tá ngụy. Tướng ngụy Nguyễn Vĩnh Nghi, Sư đoàn trưởng Sư 21 cũng phải thốt lên: “Mặt đất Tàu Ô bị bắn phá còn loang lổ ghê gớm hơn cả hình ảnh Mặt trăng, nơi phi hành đoàn Hoa Kỳ đã chụp được. Tôi không hiểu sao cộng sản lại sống được ở đó, để rồi chặn đứng được tất cả các cuộc tiến công!”.
      Sau những chiêu đầu tiên bất thành, tướng ngụy Lê Văn Tư chỉ huy phá chốt đổi ngay chiến thuật. Y chủ trương đánh vào phía sau chốt phòng ngự của ta tại Tàu Ô. Chúng thực hiện phân bố rộng đội hình, chặn đường tiếp tế từ phía sau, khiến ta nguy ngập. Mặt khác, phía trước chúng tập trung từng đợt bộ binh xe tăng tập kích ào ạt, liên tục, kéo dài, nhiều hướng. Địch ỷ thế có trực thăng, cơ giới, khả năng cơ động nhanh, tung vào một chiến đoàn biệt động cùng các Chiến đoàn 46, 49, 50, trong đó Chiến đoàn 49 vòng lên Tân Khai, đánh úp sau Trung đoàn 209 của chúng tôi, gây khó khăn cho ta về tiếp tế. Trinh sát nắm nhanh thủ đoạn địch. Trên động viên anh em thay nhau bám trụ, 209 vẫn chốt vững.
       Nhớ lại, lần thứ ba, từ 19-6, địch tập trung lực lượng gồm Trung đoàn 46 Sư đoàn 25, Trung đoàn 33 Sư đoàn 21 ngụy, tức tối lại đổi chiến thuật. Chúng phân tán thành các cụm, dàn đội hình đóng xen kẽ với các chốt của ta, kiềm chế, phá thế liên hoàn mà ta thường yểm trợ cho nhau, chặn phía sau ta lên tiếp ứng. Trinh sát ta bám nắm, nhanh chóng phát hiện ra rằng chính chúng cũng cần tiếp ứng. Chúng tôi bàn nhau, tổ chức các phân đội triển khai khóa các đường mòn địch tiếp tế ban đêm. Cách đánh quần lộn, phong tỏa các con đường này rất hiệu quả. Bị triệt nguồn cung cấp, địch hoang mang, không chịu được thiếu thốn, phải rút, từ bỏ lối đánh xen kẽ!
      Tại cơ quan chính trị trung đoàn, tôi tìm mọi cách truyền đạt xuống từng phân đội để anh em nắm chắc tinh thần: Kiên quyết chiến đấu, nắm chắc địch, không cho địch ”co cụm”, “móc nối”, đập tan mọi ý đồ giải toả, ứng cứu. Mỗi chiến sĩ “hai linh chín” là một mũi lao nhọn; mỗi công sự là một pháo đài, một bàn đạp tiến công lợi hại. Thực sự Tiểu đoàn 8 như pháo đài thép phía đông, Tiểu đoàn 7 là cánh cửa thép phía tây, tiểu đoàn 9 là mũi lao thép bén, nhọn, ở đâu xung yếu là có mặt chia lửa mãnh liệt. Tôi vẫn nhớ, một mình một mũi, chiến sĩ Trương Văn Nhã cũng kiên quyết một mình tiến công. Một tổ của Nguyễn văn Quý cũng mưu trí đánh lướt sườn, xuyên hông cả tiểu đoàn địch. Chiến sĩ trinh sát pháo Nông Văn Tiệp, đôi mắt thật tinh tường, điều chỉnh từng viên đạn pháo của đồng đội rót vào đội hình quân thù. Nhiều tấm gương can trường, dũng mạnh không kể hết.. Những Lê văn Thanh, chiến sĩ nuôi quân, luôn bám sát các mũi, hướng tiếp cơm, mang nước cho bộ đội trong làn bom đạn dày đặc. Chiến sĩ vận tải Vũ Ngọc Miên suốt mấy tháng trời, đêm nào cũng cõng 30 đến 40 kg đạn dược, hậu cần ra phía trước. Sự có mặt của “hậu phương nhỏ” ngay sau lưng động viên tinh thần bộ đội thêm vững vàng nơi công sự. Tôi và các cán bộ luôn nắm tình hình tư tưởng bộ đội, động viên anh em. Xuất hiện trước mắt chúng tôi là những trận đánh điển hình, hiệu suất chiến đấu tăng lên hằng ngày, nhiều tấm gương ”một thắng 50”, rồi “một thắng 100”, nức lòng người lính giữ chốt .
          Lần thứ tư, địch cay lắm, tiếp tục thay chiến thuật. Lần này lính Sư đoàn 7, Sư đoàn 9 và Sư đoàn 25 thực hiện thủ đoạn gây căng thẳng thường xuyên trên diện rộng toàn tuyến phòng ngự. Ban ngày, chúng sử dụng hỏa lực bắn bừa bãi. Nhiều xe tăng cùng bộ binh liên tục tổ chức những đợt đột kích hòng chọc thủng tuyến phòng ngự; ban đêm, nhiều tốp biệt kích thám báo xâm nhập trận địa khiến bộ đội ta mất ăn mất ngủ, căng thẳng, sức khỏe giảm sút nhanh.   Địch tung ngay các nhóm biệt kích kiểm soát khoảng trống giữa các chốt của ta. Trinh sát ta đã phát hiện ra, phân tích đúng hành động của địch. Chỉ huy chúng tôi chuyển đổi phương thức: Chủ động tổ chức bộ đội đón lõng phục kích bên ngoài chốt, phát huy sở trường đánh đêm, đánh quần lộn, gan góc chặn địch từ sớm, nhanh chóng kiểm soát khoảng trống giữa các chốt.
    Yên tâm có lực lượng bên ngoài truy quét thám báo, biệt kích, bộ đội trong các chốt thay nhau nghỉ ngơi, tranh thủ dưỡng sức, để ban ngày thay nhau diệt địch. Lại một thủ đoạn nữa của địch bị thất bại!  Lúc này một số chốt của phía ta tạm thời bị cô lập, chúng gọi B52 đánh phá liên tục ba ngày liền. “Bom cày đạn xới” không còn là thuật ngữ văn chương, mà là hiện thực khốc liệt. Có cả bom dù nặng 7 tấn cũng được trút xuống, địch tìm mọi cách, hòng làm ta thối chí.       

Dưới mưa bom, các chiến sĩ “hai linh chín” và đơn vị bạn thuộc Sư đoàn 7 động viên nhau đào hầm, kiên cường trụ vững. Ta đã lường được thủ đoạn mới lần thứ 5 của địch “sau bom là tấn kích”. Đúng như ta dự đoán, hàng chục xe tăng và xe bọc thép, khi ngớt bom, không biết chúng ém từ đâu, từ bao giờ, bất ngờ xông lên bao vây các chốt. Nhưng chúng không tiến vào tầm bắn hiệu quả của B40, B41 như trước, mà đứng từ xa nã pháo vào. À! Chúng sợ hoả lực chống chiến xa. Chúng cũng thuộc tính năng binh khí ta (dừng xa trận địa chốt trên 500m).
       Những chiếc lô cốt di động này vừa bắn vừa quan sát, phát hiện khá chính xác các hỏa điểm của ta, sau đó chỉ điểm cho pháo tự hành cùng bắn thẳng, bắn “trực xạ” phá chốt. Chỉ khi nào thấy chốt của ta bị bom, pháo hủy diệt chúng mới cho bộ binh tràn lên.
      Thủ đoạn mới này của địch đã gây cho ta thương vong khá nhiều. Có đại đội sau một ngày chiến đấu chỉ còn bốn, năm tay súng. Nguy cơ mất chốt có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Chúng động viên lính tráng: “Cộng quân chỉ còn ngót trăm tay súng thôi”, gắng xông lên, thưởng lớn!
      Ban chỉ huy Trung đoàn 209 vắt óc tìm cách đối phó. Sáng kiến lúc này có giá trị ngàn vàng. Thì có ngay đây! Vũ Việt Hồng và tôi lúc đó ở sở chỉ huy, nghe các hướng báo cáo, chỉ huy trung đoàn lệnh cho các phân đội tổ chức nghi binh, bằng hầm chốt giả, treo mũ sắt nhấp nhô, thấp thoáng trong các chiến hào để lừa địch. Trong khi đó, các chốt thật được cải tạo lại, hạ thấp độ cao, ngụy trang khôn khéo, khiến tầm quan sát từ xa trên xe tăng của địch bị mất hút. Chốt được lẩn khuất trong những đám cây, mặt ruộng bình thường. Cán bộ quân sự và chính trị ra tận chốt (ban đêm) động viên bộ đội đào, san công sự. Quả nhiên địch bị thu hút hỏa lực mạnh vào các mục tiêu giả, tự chúng bộc lộ lực lượng. Đây là cơ hội để các nhóm bắn tỉa của ta diệt chúng chính xác. Chưa hết sáng kiến. Các chốt còn tổ chức bộ đội thành nhóm nhỏ, thoát ly công sự, đêm tối phục kích, tập kích xe tăng và bộ binh địch. Cách đánh gần của ta đã gây cho địch hoảng sợ, không còn phân biệt thực hư ra sao. Tự chúng cũng bắt đầu nảy sinh khó khăn do căng thẳng vì bị đánh lẻ. Tuy chưa rút hoàn toàn nhưng lần thứ năm chiến thuật phá chốt bị phá sản.
      Ngày 27-8, Tổng thống ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu điện cho tướng Minh: "Quãng đuờng An Lộc - Chơn Thành chưa giải toả được thì đường 13 lại bị cắt ở Bàu Bàng. Sư đoàn 18 chết cứng ở An Lộc, Sư đoàn 5 còn chưa được tái chỉnh trang. Lực lượng tổng trù bị còn phải tái chiếm tỏa Quảng Trị. Ông liệu mà đối phó".
     Ngày 28-8, bức điện của tướng Nguyễn Văn Minh gửi Lê Văn Tư ra lệnh đưa Sư đoàn 25 rút khỏi về phía sau ứng cứu Lai Khê. Bức điện này bị trinh sát kỹ thuật của Quân giải phóng thu được.
Ngày 30-8, Tư lệnh mặt trận Hoàng Cầm và Tư lệnh Sư đoàn 7 Đàm Văn Nguỵ dùng toàn bộ sư đoàn tổ chức phục kích tại địa đoạn Bàu Bàng - Bầu Lồng. Sư đoàn 25 ngụy trên đường rút phải vừa đánh vừa lùi. Chiến đoàn 49 rút sau cùng bị thiệt hại 684 quân, mất 170 súng các loại. Kế hoạch giải toả đuờng 13 của tướng Nguyễn Văn Minh và tướng Lê Văn Tư phá sản.

     Tiểu thuyết đất Miền Đông của nhà văn Nam Hà, người từng lăn lộn cùng chiến sĩ 209 chúng tôi đã viết về lúc cuối trận chốt oai hùng này: “Tướng nguỵ Lê Văn Tư nghiến răng. Hắn nguyền rủa mọi tai ương đã cùng một lúc ập xuống đầu hắn. Bước vào mảnh đất Tàu Ô rất khó. 5 lần thay đổi chiến thuật, đều thất bại. “Rút khỏi mảnh đất Tàu Ô cũng không dễ! Dường như “Cộng quân” đoán biết ý đồ, phát hiện được hành động chuẩn bị của quân Cộng hòa, nên đã chủ động tiến công vào đội hình rút lui của cả ba chiến đoàn. Cộng quân tung ra những màn hoả lực chưa từng thấy ở Tàu Ô, chụp xuống những khu vực hiểm yếu quân Cộng hòa chạy qua. Bộ binh chúng bám sát gót các chiến đoàn, Chiến đoàn 50, Chiến đoàn 46 phải bảo vệ hai bên sườn cho Chiến đoàn 49 luồn qua bãi lửa Tàu Ô nên bị thiệt hại rất nặng. Mỗi chiến đoàn mất gọn một tiểu đoàn. Chín chiếc xe bọc thép nằm lại giữa bãi sình. Không đem về được cây pháo nào, không đem về được tên lính bị  thương nào”.
            Con đường 13, trước đây đã là “con đường đáng sợ” của các Sư đoàn “Anh cả đỏ”, “Tia chớp nhiệt đới”, “Ky binh bay”, đối với bọn lính Mỹ.
              Đường 13 là con đường “máu và nước mắt” của bọn lính Sư đoàn số 5 bộ binh ngụy. Giờ đây, đường 13 là con đường khủng khiếp nhất đối với tất cả những sư đoàn, lữ đoàn quân ngụy Sài Gòn bị ném vào chiến trường này.
             Đúng như bài “Thiên anh hùng ca đường 13” đăng trên Báo Quân đội nhân dân ngày ấy đã viết: “Chiến sĩ Quân giải phóng trên đường 13 đã chiến đấu liên tục, bền bỉ dài ngày với một niềm lạc quan cách mạng. Với ý chí và quyết tâm cao, quân và dân miền Đông Nam bộ anh hùng đã biến con đường này thành con đường sấm sét và máu lửa của Mỹ - ngụy, đã gieo khiếp sợ cho kẻ thù và làm kinh ngạc cả thế giới...”.
            Những chiến sĩ của “hai linh chín” tự hào từ những ngày đêm nằm sương, bới đất, nhịn đói chịu khát kiên gan nắm địch, nào Cà Tum, Bổ Túc (Tây Ninh), Bắc Lai Khê, Tân Phú Trung… đến Sông Bé, Bình Long, nay là đường 13 kiên cường, quả cảm. Tất cả đã gắn với lịch sử hào hùng Trung đoàn anh hùng 209, Sư đoàn 7 ngoan cường.

--------------------------------
(*) Sư đoàn 25 Bộ binh được thành lập năm 1965, nâng tổng số sư đoàn bộ binh của ngụy Sài Gòn tới lúc này lên 10 sư đoàn. Cũng trong năm này, Lữ đoàn dù phát triển thành Sư đoàn nhảy dù.
    Mùa hè 1972, Sư đoàn 25 tham chiến ở Đông Nam bộ , khu vực đường 13, tướng Lê Văn Tư chỉ huy phá chốt với yểm trợ hỏa lực rất mạnh. Tư và thuộc hạ đã dùng nhiều thủ đoạn, nhưng vẫn thất bại.




Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 10:55:30 am
Bài học chúng tôi rút ra qua 150 ngày đêm chốt chặn là: Để có lực lượng chiến đấu lâu dài, phải biết tổ chức cho anh em thay nhau nghỉ ngơi. Chúng tôi có nhiều giải pháp đồng bộ cả quân sự, chính trị tư tưởng và hậu cần để làm việc này.
      Về tổ chức lực lượng chốt, chúng tôi chỉ để mỗi đơn vị hai phần ba ở phía trước, còn một phần ba lực lượng ở phía sau (cách chốt khoảng 1km đường chim bay) nhằm thay nhau nghỉ ngơi và làm công tác hậu cần, hàng ngày chi viện tiếp tế cho phía trước vào ban đêm. Về xây dựng căn cứ hậu cần tại chỗ ngay phía trước là một sáng tạo trong chiến đấu chốt chặn dài ngày. Ngoài nhiệm vụ chỉ huy, sâu sát các đơn vị tác chiến, chúng tôi còn tổ chức lực lượng bảo đảm hậu cần trực tiếp ngay phía trước. Đó là khu hậu cứ ngay sau chốt, nơi bộ đội thay nhau về nghỉ ngơi. Tại đây, chúng tôi động viên thương binh nhẹ ở lại, tăng gia sản xuất, bảo vệ cứ, sẵn sàng tiếp ứng người ra chốt.
           Nguồn cây, con giống tăng gia, chúng tôi cử trợ lý hậu cần mua tận Cam-pu-chia về. Bộ đội ở phía trước về cứ nghỉ ngơi, có rau xanh, thịt gia cầm, đời sống khá tốt, rất phấn khởi.
           Tuy ở phân tán, nhưng công tác tư tưởng được quán triệt đến tận chiến sĩ. Chúng tôi xác định tư tưởng cho bộ đội: Quyết tâm bám trụ, quyết giữ bằng được chốt cho đến khi Giải phóng Bình Long, sau đó sẵn sàng ở lại, bảo vệ Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà MNVN. Chúng tôi còn khuyến khích anh em ở phía sau, làm thơ gửi ra các chốt chiến đấu phía trước, động viên anh em, động viên lẫn nhau. Trợ lý quân lực Phùng Khắc Bắc, sau này là nhà thơ quân đội, tại chốt ngày ấy anh có bài thơ “Chốt chặn”, phản ánh rất thực tế, cuộc sống ở đây:

Tôi lại viết bài thơ chốt chặn,
Khi luống rau xanh ba bận nảy chồi
Đậu trên giàn đã buông đũa thành đôi
Hầm trực chiến cỏ lên xanh từng đám
Hố bom khoan thành giếng nước in trời
Đã trăm lần mây bạc ghé đây soi
Đường pháo bắn đã bao lần cắt lại
Bãi bom phạt lại xanh màu lá mới,
Rừng già lại hóa rừng non
Măng đã thành tre, người còn chốt chặn.
           
Công tác chính trị tư tưởng trong chiến đấu đã biết gắn những việc làm cụ thể, thiết thực và trực tiếp với các chốt phía trước.
      Chúng tôi còn dùng lực lượng phía sau hàng ngày tiếp tế cho phía trước, đó cũng chính là lực lượng thông báo tin chiến thắng cho các chốt, tới tận các hầm. Muốn thế, cán bộ tham mưu phải tổng hợp tình hình, cán bộ chính trị hàng ngày trực tiếp truyền đạt cho các lực lượng đi tiếp tế tới các cụm chốt phía trước.
      Thực hiện khẩu hiệu “đi có, về có”, không chỉ với bộ đội mả cả các sĩ quan chỉ huy, sĩ quan chính trị, sĩ quan hậu cần, khi ra trận địa nếu không phải đưa đạn, đưa súng, cơm nước thì vác gỗ chuyển ra phía trước để bộ đội sửa hầm sau một ngày chiến đấu. Ai cũng có thể làm chiến sĩ vận tải.
       Để đối phó với lực lượng địch hàng ngày tổ chức tiến công vào trận địa, ngoài lực lượng chiến đấu ở chốt, chúng tôi được các đơn vị củaíư đoàn, đánh ở vòng ngoài, chặn địch từ xa, cho đặc công và pháo binh đánh vào các căn cứ kho tàng của địch ở phía sau, khu trung tuyến, buộc địch phải chi phối đối phó, không dồn hết lực lượng để phá chốt.
       Quá trình chiến đấu, tuy là cấp dưới nhưng chúng tôi rất biết tác phong chỉ huy của Thủ trưởng cấp trên. Hàng ngày, các anh chỉ huy đánh địch tiến công vào chốt. Nếu hôm nào chúng tôi biết Sư trưởng Ba Ngụy chỉ huy, thì khi địch cách xa 300m chúng tôi đã xin pháo chi viện của Sư đoàn, vì ông rất tiết kiệm đạn dược, mỗi lần “xin”, ông chỉ cho 3 quả H12 hoặc nhiều lắm là 5 đến 7 quả là cùng.  Hôm nào Sư đoàn phó Lê Nam Phong chỉ huy, chúng tôi rất yên tâm. Ông có tác phong đã đánh là hiệp đồng chặt chẽ giữa bộ binh và binh chủng, tạo điều kiện cho cấp dưới diệt địch thu vũ khí. Mỗi lần ông cho pháo chi viện thì phải là nã hàng trăm quả pháo và rốc két, nên chúng tôi thường để địch vào gần cách 50-70m mới xin pháo nện gần. Đánh như vậy hiệu suất cao, ta có thêm chiến lợi phẩm, đạn dược thu lại ở ngay phía trước. Địch bị đánh gần, tinh thần hoang mang, suy sụp nhanh, bỏ lại nhiều vũ khí, vật dụng.
    Ban chỉ huy trung đoàn lúc này có 4 đồng chí. Anh Vũ Việt Hồng là Trung đoàn trưởng, anh Trần Nhạn là Trung đoàn phó, anh Tiến là Chính ủy, anh Tân là Phó chính ủy. Bước vào chiến dịch, anh Tiến chính ủy sức khỏe yếu, nên phụ trách đơn vị ở hậu cần phía sau, anh Nhạn, anh Tân và anh Hồng thống nhất  phân công, mỗi anh đi đốc chiến một tiểu đoàn, đề phòng thông tin bị tắc. Còn ở Sở chỉ huy tiền phương, từ đầu tới cuối chiến dịch thường xuyên chỉ có Trung đoàn trưởng và tôi là Chủ nhiệm chính trị Trung đoàn.
      Từ khi hậu phương lớn (miền Bắc) tăng cường hỏa lực mới (A-72 và B72) nhất là B72, tên lửa điều khiển bằng dây điện, bắn xa được 3km, xe tăng địch phải lùi xa, trận địa chốt được an toàn hơn.
       Địch dùng máy bay đánh phá chốt, khi ta có A-72 (tên lửa vác vai) (*)  máy bay địch sợ, không dám bay sà thấp, phải vọt lên cao thả bom chiếu lệ, không trúng, chốt an toàn hơn   Để giải quyết vấn đề thiếu lương thực thực phẩm, do địch dùng phi pháo đánh chặn và cho biệt kích phục kích các đoàn tiếp tế hậu cần của ta từ phía sau ra, chúng tôi tổ chức mỗi chốt ban đêm một lực lượng nhỏ kết hợp lính trinh sát của tiểu đoàn, đi phục kích ngay các đoàn tiếp tế của địch, ta thu được nhiều vũ khí, đạn dược và lương thực thực phẩm để dự trữ cho mỗi chốt.
      Khắc phục thiếu hụt quân số, trên bổ sung không kịp, chúng tôi coi trọng việc động viên các thương binh nhẹ ở lại điều trị tại phẫu phía trước của Sở chỉ huy tiển phương trung đoàn. Đây là lực lượng gần trận địa, là lực lượng bảo vệ cứ. Anh em luôn được tin chiến thắng hàng ngày ngoài chốt cổ vũ. Khi quân số phía trước thiếu là có anh em tự nguyện xung phong ra chiến đấu ngay, vừa kịp thời bổ sung quân số, anh em lại thông hiểu tình hình, thông hiểu địa hình, chất lượng bổ sung tốt.
     Chiến thắng đường 13, Trung đoàn “hai linh chín” cùng đơn vị bạn loại khỏi vòng chiến 1.000 tên, bắt 137 tên, phá huỷ 34 pháo, 84 xe tăng, thiết giáp, bắn rơi 62 máy bay. Tạc nên Tượng đài chiến thắng đường 13, có hàng ngàn người con của các trung đoàn thuộc Sư đoàn 7 anh hùng đã ngã xuống. Tôi chợt nhớ bài thơ của Lê Đức Mậu, chiến sĩ Sư đoàn 312:  “Nếu hôm nay các anh về đông đủ/ Sư đoàn ta đông bằng mấy sư đoàn”, đọc xong thấy cay cay nơi khoé mắt.

(*)  Tên lửa -72: Đó là loại tên lửa vác vai do Liên Xô (trước đây) sản xuất, tên gọi là 9K32 Strela-2, có nghĩa là “Mũi tên”, bộ đội ta gọi là A-72. Tên lửa có kích thước dài 1,4m, đường kính 70mm, nặng 9,97kg, khi bắn vác trên vai, tầm bắn của A-72 là 500 đến 5.500m. Tên lửa A-72 áp dụng nguyên lý đầu dò tầm nhiệt, bám theo luồng khí xả của động cơ máy bay hoặc sức nóng của động cơ trực thăng.
      Tên lửa A-72 (Mỹ-ngụy gọi là SA-7A) xuất hiện năm 1972, trong chiến dịch Quảng Trị. Những năm sau đó, A-72 đã góp phần không nhỏ vào chiến thắng của Quân giải phóng, đặc biệt trong việc chống máy bay cường kích và trực thăng của Mỹ-ngụy.
     Là vũ khí do Liên Xô viện trợ, tên lửa A-72 trong tay các xạ thủ Việt Nam đã phát huy cao hiệu quả tác chiến. Xạ thủ Nguyễn Văn Thoa thuộc Đại đội 3, Tiểu đoàn172 Phòng không, với tên lửa vác vai A-72 đã bắn rơi tổng cộng 13 máy bay địch, trong đó có chiếc máy bay cuối cùng của Mỹ-ngụy bị bộ đội ta bắn hạ.

 (*)  B72  là loại hoả tiễn chống tăng…Quân ngụy và khối NATO gọi B72 là hỏa tiễn Sagger hoặc AT3. Nó là loại hỏa tiễn chống chiến xa, phá hoả điểm, điều khiển bằng dây dẫn. Tên lửa B72, loại vũ khí có uy lực mạnh được Trung đoàn 66 sử dụng trong chiến dịch Đắc Tô-Tân Cảnh, phát huy rất có hiệu quả. B72 lần đầu tiên có mặt tại chiến trường Tây Nguyên trong “Mùa hè đỏ lửa” năm 1972.



Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 10:56:57 am
Vào những năm 1990, khi trở thành cán bộ chiến dịch, chiến lược, tôi giành nhiều thời gian nghiên cứu lại Chiến dịch Nguyễn Huệ 1972, thấy rằng: Quá trình phát triển chiến dịch tiến công không phải lúc nào ta cũng gặp thuận lợi. Khi địch phản ứng nhanh, mạnh và quyết liệt có thể ta bị dồn vào thế bất lợi, thế trận không đạt như ý muốn, tình thế đảo lộn, từ chủ động chuyển thành bị động .
         Năm 1972, Chiến dịch Nguyễn Huệ đã rơi vào tình thế ấy. Đúng vậy, sau khi đánh thắng trận then chốt mở màn, tiêu diệt cụm cứ điểm Lộc Ninh đầu tháng 4, ta đã tạo được thế và thời cơ để tiến công thị xã An Lộc, tỉnh Bình Long. Tiếc là do triển khai các động thái cần thiết chậm trễ, nên địch có thời gian tăng cường lực lượng, củng cố lại thế  trận, vì thế cả hai lần tiến công thị xã An Lộc, Bình Long, ta đều không thành công (lần thứ nhất từ 13 đến 15 tháng 4, lần hai từ 11 đến 15 tháng 5). Lực lượng ta ở đó bị phản kích quyết liệt. Kẻ thù cay cú, bằng mọi cách dùng phi pháo, không quân, bộ binh tăng cường, cay cú chiếm lại Lộc Ninh, làm cho thế trận của ta bị đảo lộn. 
       Sau này, tôi có trong tay những tư liệu về sự điên cuồng chống trả của Mỹ và ngụy quân bằng không quân lên An Lộc. Binh lực ấy quả là rất lớn. Tập sách tài liệu của không quân Hoa Kỳ “Air Power in Three Wars” do Tướng không quân William Momyer viết :

   “...Cộng quân siết chặt vòng vây quanh An Lộc và chỉ còn một đường duy nhất để tiếp tế cho Lực lượng trú phòng VNCH là dùng máy bay. Lúc đầu chúng ta thử sử dụng các trực thăng CH-47 để chuyển đồ tiếp liệu, nhưng phòng không của địch quá mạnh. Địch quân đã đặt súng cao xạ dọc theo các hàng cây nên rất khó oanh kích: Các xạ thủ Cộng quân thiết lập các vị trí súng máy trên các cành cây cao, nhắm bắn rất chính xác vào các bãi đáp của trực thăng… Khi tình hình tiếp vận trở nên căng thẳng hơn, các phi cơ C-123 của KQVN đã bay vào và dùng phương pháp thả dù ở cao độ thấp, nhưng phòng không dày đặc đã khiến phương pháp này phải ngưng sau 3 tuần… Không đoàn 7 Hoa Kỳ dùng các C-130s..” “...trung bình mỗi ngày, 185 phi suất tiếp vận cho phòng thủ An Lộc. Các phi suất này thường phát xuất từ Biên Hòa và từ các căn cứ đặt tại Thái Lan. KQVNCH bay mỗi ngày 41 phi suất. Hỏa tiễn SA-7 và Súng phòng không Cộng quân đã buộc các A-37 (của không quân Hoa Kỳ) phải thả bom ở cao độ cao hơn F-4 rất nhiều...”. (*)

“Tiếp tục bắc tiến, sư đoàn khai triển Trung đoàn 32 đến khu vực suối Tàu Ô, cách 5km xa hơn về phía Bắc.  Những trận đánh ở đây diễn ra rất gay go và lâu dài nhất. Địch đã tăng cường Trung đoàn 209 của Sư đoàn 7 Việt cộng đến cố thủ tại những vị trí chốt (blocking positions), được sắp xếp theo chiều sâu, đã cầm chân được Trung đoàn 32 trong một thời gian dài. 
       Vị trí ngăn chặn được gọi là "chốt" thường là một cái hầm dài hình chữ A được sắp xếp theo hình móng ngựa với những vị trí tiền tiêu thường chỉ định cho mỗi toán. Cứ 3 ngày chúng được thay đổi cho một toán khác để lui về sau nghỉ ngơi.
      Những vị trí này được tổ chức theo một hình tam giác được gọi là "kiềng" (tripod) để hổ tương yểm trợ và bảo vệ lẫn nhau.  Cả một hệ thống chốt kiềng này được đặt nằm theo đường ray xe lửa chạy song song với Quốc lộ 13 và tập trung lại ở những đầm sâu trong suối Tàu Ô.
      Hệ thống này cũng được liên lạc với một đường giao thông hào đến tận đồn điền cao su ở phía tây. Hỏa lực trang bị cho mỗi chốt rất mạnh gồm B40, B41, thượng liên RPD và súng trường có máy nhắm để bắn sẻ (bắn tỉa).  Những chốt địch từ những vị trí tưởng chừng như không thể phá hủy được đã cầm chân sự tiến quân của Sư đoàn 21 trong suốt 38 ngày liên tục.  Mặc dầu ta đã sử dụng B52, không quân chiến thuật và pháo binh, Trung đoàn 32 đã không thể trục địch ra khỏi những vị trí này.
Sự bế tắc tiếp tục cho đến khi Trung đoàn 209 được kéo ra khỏi vùng để tham dự cuộc tấn công vào An Lộc lần thứ hai. Mặc dầu thất bại không thể nhổ địch ra khỏi khu vực suối Tàu Ô. Theo các tướng tá ngụy ghi nhận, trận An Lộc chính thức bắt đầu vào ngày 5-4 và chấm dứt vào tháng 6-1972.
     Không Quân VNCH đã buộc phải dùng các C-123 và một số ít C-119 đã tìm cách thả các kiện hàng ở cao độ thấp từ 700 đến 5000 ft, dưới hỏa lực phòng không dày đặc. Các phi vụ thả hàng
được thực hiện vào ban ngày, đường bay vào An Lộc đều từ hướng Nam, dọc theo Quốc lộ 13. Khi thả ở cao độ 5000 ft, đa số các kiện hàng bị lạc vào vùng kiểm soát của đối phương. Trong hai ngày, các phi cơ VNCH đã thả được 27 chuyến với 135 tấn tiếp liệu nhưng chỉ 34 tấn đến được tay lực lượng trú phòng. Ngày 15-4, một C-123 bị hạ, toàn bộ phi hành đoàn hy sinh… Ngày 19-4, một C-123 khác chở đạn tiếp vận đã trúng đạn phòng không nổ tung…     Kể từ 15-4, Không quân Hoa Kỳ tiếp tế bằng cách dùng các C-130 để thả dù cho An Lộc. Trong phi vụ đầu tiên, họ dùng 2 chiếc C-130 dự trù sẽ thả các kiện hàng ở cao độ 600 ft. Chiếc thứ nhất khi bay vào điểm thả đã bị súng phòng không bắn hỏng phần đuôi lái, phi công đành thả các kiện hàng mang theo. Chiếc C-130 thứ nhì khi bay vào đã bị phòng không bắn, phi cơ đành phóng thả các kiện hàng để bay về đáp khẩn câp tại Tân Sơn Nhất. 26 tấn hàng do hai phi cơ mang theo đã không đến tay quân trú phòng.
           Ngày 16-4, dùng hai chiếc C-130 để thả tiếp 26 tấn hàng khác, nhưng do trục trặc tính toán nên số hàng này lại rơi vào vùng đối phương kiểm soát. Ngày 18-4, một C-130 khác bị hư hại nặng khi dự định thả dù vào sân bóng An Lộc. Phi cơ lết về được vùng Bắc Pleiku, nhưng phải đáp khẩn cấp xuống ruộng. Ngày 19-4, sau khi một C-123 cùa KQ VNCH bị bắn hạ, KQ HK hoàn toàn đảm nhận việc tiếp tế cho An Lộc…
Nhà văn quân đội VNCH (ngụy) Kiều Mỹ Duyên, một cây bút nữ viết:
     “Tuy nhiên, việc tiếp tế này cũng không được dễ dàng vì phần lớn lượng hàng tiếp tế đã rơi vào tay quân giải phóng. Pháo đài B52 tiếp tục giội bom chung quanh. Không quân VNCH dồn dập yểm trợ và tiếp tế. Nhưng trước một hàng rào phòng không dày đặc đủ loại, từ đại liên 12,7 ly, các đại bác 37 ly và 100 ly, hỏa tiễn tầm nhiệt cầm tay SA-7 lố nhố trong rừng cao su bao vây An Lộc, dù các viên phi công cố gắng đến mức tối đa, chịu nhiều tổn thất, nhưng cũng chỉ có thể tiếp tế nhỏ giọt cho chiến trường.
  Phần lớn kiện hàng tiếp tế từ phi cơ thả xuống đều rơi tạt ra ngoài hàng rào phòng thủ. Nguồn tiếp tế bị cản trở, Quốc lộ 13 vẫn tắc nghẽn. Quân trú phòng bị bao vây trong hơn hai tháng rưỡi như thế. Không khí ngột ngạt và căng thẳng đến độ có một trung tá trưởng phòng 2 của Sư đoàn 5 bộ binh phải thốt lên: "Đây là chiến trường cô đơn, và mãi đến ngày thứ 60 của cuộc chiến, các cánh quân tiếp viện cũng chỉ le lói ở cuối đường số 13".
            Khi trời hửng sáng, tiếng pháo gần như đã dứt. Tuyến phòng thủ của quân dù vẫn y nguyên. 5 chiếc T-54 nằm như 5 đống sắt trước phòng tuyến. Điều đáng nói là Ty cảnh sát Bình Long đã bị 4 chiếc T-54 tiến vào trước BCH rồi. Phòng tuyến của địa phương quân, nghĩa quân thiệt hại ít. Một sĩ quan cố vấn quân sự của Mỹ cho biết, để yểm trợ cho An Lộc trong ngày hôm qua, đã có tất cả 26 phi vụ B-52 được thực hiện. Có những phi vụ yểm trợ cho chiến trường Trị Thiên và Cao Nguyên, đang giữa đường phải đổi hướng, bay về An Lộc. B-52 hủy diệt trên 75 km2. Có thể nói, đây là một ngày "trải thảm" lớn nhất trong lịch sử pháo đài bay B-52. Đại tá Nhựt (ngụy) cho rằng, B-52 là không quân chiến lược, nhưng được sử dụng tại An Lộc như không quân chiến thuật!!!
         Qua những tư liệu tham khảo trên đây, thấy địch vận chuyển tăng cường cho An Lộc rất ráo riết, nhanh chóng, với một con số người và vũ khí rất lớn. Ta không chớp thời cơ đánh dứt điểm, quân địch với sức cơ động đông và nhiều như thế, binh lực được tăng cường nhanh như thế, rất khó có thể giải quyết nhanh nhiệm vụ chiến dịch. Trước tình thế ấy, buộc ta phải dựa vào các khu chốt chặn trên đường 13, không cho chúng tiếp ứng bằng đường bộ lên vùng mới giải phóng (Lộc Ninh). Trung đoàn 209 đã hoàn thành suất sắc nhiệm vụ nặng nề này.
          Một trang web của tàn quân “biệt động” ở hải ngoại cũng viết than thở như sau:     
       Một nhu cầu cấp thiết hiện nay là cung cấp yểm trợ pháo binh tăng cường cho cả An Lộc và Sư đoàn 21 đang tấn công địch tại suối Tàu Ô.  Để thực hiện điều này, Quân đoàn 3 đã quyết định thành lập một căn cứ hỏa lực ở Tân Khai nằm ngay trên Quốc lộ 13, khoảng 10km phía Nam An Lộc và 4 cây số phía bắc của vùng đang giao tranh là suối Tàu Ô.
     Quân đoàn 3 đã sử dụng một lực lượng đặc nhiệm gồm Trung đoàn 15 của Sư đoàn 9 đã lên đường từ vùng châu thổ sông Cửu Long và Thiết đoàn 9 kỵ binh.
      Ngày 15-5, một tiểu đoàn của lực lượng đặc nhiệm này đã mở cuộc hành quân về phía Bắc, tiến qua theo phía Đông của Quốc lộ 13 và vòng qua theo những vị trí của địch. Đồng thời, một tiểu đoàn khác và BCH của LLĐN đã được trực thăng vận thành công vào Tân Khai.  Trong ngày kế tiếp, căn cứ hỏa lực đã được thiết lập và sẵn sàng yểm trợ cho quân bạn. Sự tiến quân mới từ phía Nam này đã lôi kéo sự chú ý của địch…
     Mặc dầu chỉ đạt được một sự thành công nhỏ nhưng Quốc lộ 13 vẫn còn bị chốt cứng ở đoạn Chơn Thành và An Lộc. 

   ………………………………………………..
  (*) Tập Quân sử của Không quân Hoa Kỳ : The Vietnamese Air Force, 1951-1975, An Analysis of its Role in Combat’  tóm lược cuộc chiến mùa hè 1972 bằng các con số thống kê Không quân VNCH :
- Số các phi xuất oanh kích yểm trợ bộ binh: 4651
- Số các phi suất ngăn chặn:      340
- Số các phi suất thám sát:        474
- Số các binh sĩ chuyển vận:   40,484
- Số tiếp liệu chuyển vận:        3,388 tấn
- Số phi cơ thiệt hại:                 36 chiếc
- Số phi cơ sử dụng:                1,366
- Số quân nhân tham chiến:     47, 000.



Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 10:57:31 am
Tuy ta đã đánh lui, tiêu hao một bộ phận địch, khống chế đường 13, nhưng ta cũng tổn thất và không phục hồi được thế tiến công của chiến dịch. Khu vực chốt chặn của ta ở Tàu Ô đứng trước tình thế bị đe dọa nghiêm trọng cho dù Trung đoàn 209 ở đây chiến đấu rất can trường. Lúc này, chỉ huy cấp trên  đã quyết định rất đúng, mở các hướng đánh phối hợp, ở bên sườn, ở trung tuyến, ở phía sau rất thành công. Đó là kiểu chuyển hướng thế trận nhằm “chia lửa”.  Gần 150 ngày, trong khi 209 chốt chặn, cấp chiến dịch lúc này đã tổ chức tác chiến phía sau lưng địch, bất ngờ tiến công vào căn cứ Lai Khê - hậu cứ của Sư đoàn 5 và Chơn Thành - Sở chỉ huy Sư đoàn 25 bị đe doạ, buộc địch phải đưa lực lượng trở lại đối phó. Trên lại sử dụng lực lượng mạnh gồm các đơn vị thuộc Sư đoàn 7 và Trung đoàn 205 đón đánh địch trên đường Chơn Thành đi Lai Khê, diệt hai tiểu đoàn biệt động quân từ Biên Hòa lên tăng viện. Lúc này không thể nào khác, Sư đoàn 25 nguỵ phải cay đắng rút khỏi khu vực Tàu Ô, ta tạo được thế có lợi để phát triển xuống phía nam, lập tức uy hiếp vành đai phía bắc “Thủ đô” Sài Gòn.
         Sài Gòn bị uy hiếp trực tiếp, quân nguỵ tức khắc tắt ngay ý định phản công. Ta trở lại thế tiến công sau hơn 150 ngày liên tục phải chốt chặn, mang nặng tính phòng thủ, cho dù được gọi là “Vận động tiến công kết hợp chốt” trên con đường 13 máu lửa.
      Máu xương của 1.062 chiến sĩ Sư đoàn 7 đã can trường chiến đấu, giành lại thế tiến công vào năm 1972, trên chiến trường Miền Đông gian lao, anh dũng.
     Chuyện chiến đấu trên đường 13 có nhiều giai thoại. Mỗi năm gặp gỡ, anh em Sư đoàn 7 lại có thêm nhiều chuyện mới. Tôi nhớ lại chuyện đấu trí với ngụy Sài Gòn trên trận địa chốt đường 13. Cuối tháng 7-1972, khi Hội nghị Pari về Việt Nam đang đấu tranh gay go, thắng lợi ở chiến trường trong nước có tác dụng thúc đẩy Hội nghị theo hướng có lợi cho ta.
      Ở Quảng Trị, năm 1972, quân ta chốt được 82 ngày đêm. Còn ở miền Đông Nam bộ, trên quốc lộ 13 quân ta đã chốt được 150 ngày. Giành đất để gây ảnh hưởng trên bàn hội nghị là điều quân ngụy ra sức làm. Quân ngụy Sài Gòn tạo “thắng lợi” trên chiến trường bằng mẹo vặt. Chúng cho lính ngụy trang là thường dân, bí mật luồn vào khoảng cách giữa các chốt của ta trên quốc lộ 13 rồi cắm cờ, sau đó  tuyên bố đã giải tỏa trên Quốc lộ 13, mời các nhà báo đi bằng máy bay lên tham quan, chụp hình.
       Được tin này, tôi và anh Vũ Việt Hồng Trung đoàn trưởng cùng cơ quan tham mưu bàn bạc, thống nhất đối phó. Ngay trong đêm đó, chúng tôi đưa Đại đội 12,8 ly bố trí đón lõng trước trên không. Hai bên sườn chốt, bố trí  trận địa bộc phá. Khi máy bay ngụy chở đoàn nhà báo bay lên, ta dùng 12,8 ly bắn chặn, buộc chúng nâng độ cao, kết hợp đúng lúc, ta giật bộc phá khói mù mịt. Cánh nhà báo từ trên rất cao, không quan sát thấy cờ ba que của ngụy quyền Sài Gòn đâu cả. Một hành động sáng tạo, có tính chất chiến thuật, nhưng qua “mồm” nhà báo loang ra thế giới, hiệu quả rất cao, rằng: Quân đội VNCH tạo chiến công “zỏm”. Các nhà báo chứng kiến sự thất bại, bọn ngụy quyền Sài Gòn bẽ mặt.
        Sau mỗi trận đánh, trung đoàn thu được nhiều chiến lợi phẩm, chủ yếu là thắt lưng Mỹ, bi đông đựng nước, gạo sấy… Chúng tôi gửi cho mỗi trạm thông tin hữu tuyến điện của cấp trên từ hậu cứ ra chốt chút chiến lợi phẩm, “quà chiến công” kèm theo tin chiến thắng hàng ngày. Chúng tôi không ngờ việc làm đó có một tác dụng rất lớn. Chính lực lượng thông tin của cấp trên đã tuyên truyền rất đắc lực  tin chiến thắng cho Trung đoàn 209 ở chốt.
       Trước khi quân địch rút chạy khỏi Bình Long, chúng thăm dò, điều tra trận địa của ta ở khu vực chốt, bằng cách cho một số vợ con sĩ quan ngụy quân và ngụy quyền vờ tháo chạy qua trận địa chốt. Chúng dụng ý, nếu ta nổ súng thì lập tức vu cáo quân giải phóng bắn vào dân thường… Nếu ta để họ đi qua sẽ lộ trận địa chốt. Lúc này, ngoài chốt gọi điện về xin ý kiến. Tôi và anh Hồng trao đổi gấp và quyết định cho lực lượng trinh sát và trợ lý địch vận chặn họ trước trận địa, giải thích cho họ rằng có mìn phía trước, rất nguy hiểm và dẫn họ đi vòng qua bên sườn chốt về hậu cứ. Ta phải nuôi họ hơn một ngày để xin ý kiến chỉ đạo của cấp trên.
      Có một trường hợp tôi nhớ mãi. Trong số “người chạy loạn”, có một nữ nhà báo của chính quyền Sài Gòn. Bà ta có con là sĩ quan ngụy, khi chạy khỏi Bình Long, bà này mang theo quyển sách ảnh gia đình, trong đó có ảnh con trai. Chắc bà ta sợ liên lụy, sợ Quân giải phóng trả thù, nên khi đi từ chốt vào căn cứ, bà ta khôn ngoan vất quyển (album) sách ảnh đó đi. Chiến sĩ trinh sát ta rất nhạy cảm, đã nhặt và đưa quyển sách ảnh cho tôi. Sau khi xem xong, thấy đây là hình ảnh của một gia đình sĩ quan ngụy quân, không có gì quan trọng. Lúc chúng tôi được lệnh thả đoàn người này về Sài Gòn, tôi hỏi bà ta:  “Vì sao quyển album có nhiều ảnh quý của gia đình, bà lại bỏ đi?”. Bà ta thành thật trả lời: “Vì sợ “quý anh” Quân giải phóng trả thù gia đình sĩ quan ngụy”. Tôi giải thích chính sách của Quân giải phóng và đưa trả bà ta quyển album. Bà ta tròn xoe mắt, nhìn tôi cảm động, trân trọng. Bị nhồi sọ, nói xấu Quân giải phóng quá nhiều, bà ta bất ngờ là phải. Không ngờ Quân giải phóng lại cư xử nhân văn như thế.
    Sau chiến thắng “Đường 13 máu lửa”, thế chiến cuộc Miền Đông cuối năm 1972 chuyển sang trang mới. Quân giải phóng lập lại thế tiến công, duy trì lực lượng, đến khi Hiệp định Pa-ri ký kết, quân Mỹ buộc phải rút dần ra khỏi chiến tranh ở Việt Nam. Thế và lực của cách mạng miền Nam vững vàng trong tương quan mới.   



Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 10:58:45 am
VI

TỪ CÔNG-PÔNG-THƠM ĐẾN SÀI GÒN
   


       Cuối năm 1972, kết thúc chiến dịch chốt chặn ở Tàu Ô - Xóm Ruộng, địch tháo chạy khỏi Bình Long. Vùng ải phóng của ta được mở rộng, không chỉ Lộc Ninh, An Lộc, mở về tới Chơn Thành, sau này là Vùng hoạt động chính của Chính phủ cách mạng lâm thời. Cả một vùng đất tiếp nối từ biên giới Cam-pu-chia về, mênh mông, rộng lớn. Đó là vùng đồi núi phía Tây của miền Đông Nam bộ. Xa xa, nhìn về phía Đông là hướng chiến khu khu Đ, Mã Đà, Định Quán, Đồng Nai Thượng không còn bao xa. Phía Tây là thị xã Tây Ninh. Núi Bà Đen in đậm, trầm nghiêm một khoảng trời. Hồ Dầu Tiếng chếch phía Nam phả hơi nước, chúng tôi có thể cảm nhận được trong những ngày gió mạnh. Địa hình miền Đông thấp dần về phía Tây và Tây Nam, cây cối ngắt xanh, trải dài giáp tít về tận Tân Uyên, Thủ Dầu Một. Lòng tôi phấn khởi, mỗi sáng ra vươn vai, hít mạnh, như muốn hút cả không gian vào lồng ngực. Mới ngày nào còn lăn lộn trên rừng, leo dốc núi, mà giờ đây… Địa bàn của địch thu hẹp dần, mơ ước có một ngày về đồng bằng không còn bao xa.
       Một ngày nắng nóng, Sư đoàn 7 được lệnh chuyển xuống vùng ven Sài Gòn để hoạt động. Tôi và anh Tân, anh Nhạn cùng được chọn đi học lớp bổ túc trung, sư đoàn H14 tận Kông-pông-thơm – Cam-pu-chia để nâng cao trình độ, đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ mới của cách mạng.


       Sáu tháng học trong trường, chúng tôi nghiên cứu học tập tương đối toàn diện hệ thống, những kiến thức về Nghệ thuật quân sự Việt Nam, về Công tác Đảng - Công tác chính trị trong chiến dịch và trong chiến đấu. Quá trình học tập, tôi được Nhà trường mời giới thiệu chiến lệ, kinh nghiệm chốt chặn ở Tàu Ô - Xóm Ruộng và Công tác Đảng-Công tác chính trị trong chiến dịch, chiến đấu. Chiến lệ ấy không chỉ phổ biến cho lớp bổ túc trung sư đoàn, mà còn cho cả các lớp đào tạo cán bộ cấp tiểu đoàn. Tôi thực sự tự hào về chiến công lẫy lừng ấy. Trong đó, tôi được trực tiếp chỉ huy, tại SCH Trung đoàn cùng đồng chí Trung đoàn trưởng Vũ Việt Hồng. Còn nhớ, hồi đó trong khóa học bổ túc có cả đồng chí Tư Thân - Tư lệnh phó Quân khu 9, anh Sáu Nam Chủ nhiệm chính trị Quân khu 9; còn anh Năm Cang, anh Hai Mạnh (dân tình báo), cũng về đây học. Anh Hai Mạnh từng là quản gia của gia đình Tổng thốngThiệu, nhưng sau này, để bảo toàn, trên bố trí anh rút ra chiến khu. Cùng khóa học với tôi còn anh Ba Kiên học lớp cán bộ tiểu đoàn, sau này anh là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.
       Những kiến thức tại trường, mang tính hệ thống, nâng tầm lý luận, càng làm cho tôi nhận thức sâu sắc hơn về những thành công, thất bại trong chiến đấu ở Tây Nguyên năm 1968, ở miền Đông 1969-1972. Tôi nhận thức rõ hơn về trận Chư-tan-kra, ở đó yếu tố bí mật, bất ngờ không còn ngay từ đầu trận đánh; về vấn đề tương quan lực lượng trong tấn công Mỹ ở rừng núi, khi địch trong công sự, năng lực cơ động cao, ứng cứu nhanh… Về cả vấn đề thời cơ chiến dịch, như ở Bình Long, đầu năm 1972 v.v.. Tôi ghi chép kỹ, lưu ý những vấn đề chưa kết luận, tiếp tục nghiên cứu.
     Có điều là, lớp học có nhiều cán bộ từng trải qua chiến đấu về đây, qua thảo luận, qua sinh hoạt hằng ngày, càng thấy rõ, thực tiễn rất đa dạng, thực tiễn là người thầy nghiêm khắc, không cho phép người chỉ huy chủ quan, tự mãn. Một mệnh lệnh thiếu cân nhắc sẽ gây tổn hại biết bao xương máu chiến sĩ; một ý tưởng cục bộ, lợi ích hẹp hòi, không vì lợi ích chung, sẽ làm mất thời cơ quý giá, đồng nghĩa với nó là mất chủ động chiến trường, tổn hao binh lực. Thế và lực của cách mạng suy giảm. Lịch sử không có sự “nếu như”.  Nhưng qua phân tích, rút kinh nghiệm, có thể giúp người chỉ huy sáng suốt, tránh “vết xe đổ”.
       Dẫu sao, những nỗ lực máu xương của toàn miền, giữa và cuối năm 1972 cũng đã tạo thế tiến công cho các chiến trường, mở ra thời kỳ tiến công liên tục.
       Khi kết thúc khóa học, điều mà các học viên rất ngại là phải giữ lại trường. Điều gì sẽ đến thì đã đến, tôi được giữ lại làm giáo viên ở Trường Quân chính B2. Khóa trước tôi, đồng chí Chủ nhiệm chính trị Trung đoàn 141 là anh Phạm Ngọc Nghinh cũng có tên trong số giữ lại. Nhưng nhờ có chị Ba Định đỡ đầu, can thiệp, nên “đánh tháo” được về đơn vị chiến đấu.
       Lần này tôi ở lại, không có ai đỡ đầu, bài học rút ra là tự mình thích nghi, tự làm tư tưởng, yên tâm làm nhiệm vụ. Tôi cũng tự động viên mình, nhiều đồng chí cán bộ ở đơn vị còn khó khăn hơn, họ vẫn vượt qua. Tôi đâu sợ khó, sợ khổ, sợ hy sinh ở đơn vị, nhưng quả thật ở Trường thường “kinh viện” “sách vở”, mà tôi thì thích thực tiễn sinh động, ham sáng tạo.
       Khi giải phóng miền Nam năm 1975, Trường Quân chính chúng tôi được phân công tiếp thu Trường Cao đẳng quốc phòng của chính quyền Sài Gòn, sau đó đi tiếp quản Trường Sĩ quan tham mưu ở Long Bình, rồi Sĩ quan Đà Lạt…
      Cuối năm 1975, đầu năm 1976 Khoa Giáo viên chúng tôi được cấp trên chỉ định tham gia làm giáo viên cải tạo sĩ quan ngụy (từ cấp thiếu tá và đại úy tâm lý chiến đến cấp trung tướng) ở suối Râm - Biên Hòa - Long Khánh và quận Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.



Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 10:59:27 am
        Nội dung chính các đối tượng cải tạo được học là 10 bài theo quy định của cấp trên, sau đó viết thu hoạch cá nhân. Nếu chỉ nhìn ở góc độ kết quả trên trang giấy họ viết, ta có thể cho họ đạt giỏi tới 70-80%. Nhưng nhận thức thực trong lòng họ thì sao? Câu hỏi này có thể trả lời qua chính họ kể, ngoài văn bản, ngoài lớp học rằng, bộ máy tuyên truyền của chế độ cũ, khiến họ ác cảm với cách mạng, cho rằng chế độ Cộng sản là ác bá, trả thù tàn bạo. Nên việc họ viết thu hoạch “tốt”, là do đối phó, lo sợ trả thù. Thật là sai lầm.
        Sau này có dịp đọc các bài báo mà các sĩ quan ngụy đi Mỹ mô tả các lớp học tập, cải tạo, họ nói khác hẳn với những gì họ viết, thậm chí còn xuyên tạc, phóng đại “sự gian khổ” trong  khi cải tạo. Cũng dễ hiểu, đó là bản chất của những kẻ lệ thuộc ngoại bang, bại trận. Với lại họ mô tả sự gian khổ một cách cường điệu, cũng là cách để làm “oai” mình lên, theo mô-típ “yêng hùng” cá nhân, “Hùm thiêng sa bẫy”… mà các tích tuồng Tàu vẫn thường diễn tả.
        Họ không nói đủ một sự thật mà họ biết, chính chúng tôi, những người giảng bài, giáo dục họ, và biết bao nhiêu cán bộ quản giáo, cũng sống trong khó khăn. Khó khăn của đất nước vừa thu về một mối, không có nguồn viện trợ. Hậu phương lớn cũng dốc sức dốc lòng cho chiến thắng, cho thống nhất non sông. Những bà mẹ, người chị, người cha ở hậu phương lớn, đã thắt lưng tới những “nút” cuối cùng, hạt gạo chia đôi, chia ba.
        Trong thời gian đó, chúng tôi đề nghị cấp trên cho một số cán bộ giáo viên đi nghiên cứu thực tế (tìm hiểu) đời sống các gia đình sĩ quan ngụy từ cấp thiếu tá đến trung tướng. Từ thực tế đời sống của họ do chế độ cũ tạo ra cho, mức sống ấy, chúng tôi đều có chung nhận xét là khá giả. Chúng tôi hiểu, sĩ quan “Việt Nam cộng hòa” ít nhiều đều có vốn văn hóa khá cao. Không ít người là sinh viên, học sinh vào đào tạo sớm thành sĩ quan. Chế độ Mỹ-ngụy cũng giành đặc ân, ưu ái cho sĩ quan trung, cao cấp. Sĩ quan cấp úy cũng có mặt bằng lương bổng, đủ nuôi cả gia đình. Trong khi đó, sĩ quan cấp tá của Quân đội nhân dân, cũng do dân nuôi, đời sống khiêm tốn. Khi đó, ai có chiếc xe máy Honda 67 là khá giả. Rất nhiều gia đình cán bộ trung cấp chưa có ti-vi, còn nói chi tủ lạnh, máy lạnh… như gia đình họ. Vào các khu gia binh của sĩ quan cấp úy khi đó ta thấy, mức sống của gia đình sĩ quan so với sĩ quan Cách mạng khá chênh lệch.
       Tiện đây cũng nói, so với bây giờ thật  khác. Sĩ quan cấp tá ở các quân khu bây giờ, nhà cửa xây cất còn hơn nhiều sĩ quan ngụy thời ấy. Thế mới biết, đất nước thanh bình, ổn định, mới có cơ hội để đổi đời. Còn chiến tranh, xung đột thì không thể nói ấm no, hạnh phúc. Chân lý là cụ thể.
        Thời điểm ấy, các sĩ quan ngụy quyền không dễ gì một chốc lát họ đã quên đi và phủ định quá khứ dễ dàng. Chế độ viện trợ Mỹ và sự ưu ái nhằm tư sản hoá đội ngũ sĩ quan, ấy là căn cốt để họ trung thành, bám lấy những lợi ích vật chất được hưởng qúa ưu đãi.
         Sau chuyến đi đó, chúng tôi nhìn kết quả của sĩ quan ngụy trong học tập khách quan hơn và đề nghị cấp trên tìm giải pháp hiệu quả cải tạo họ, trở về là công dân, bình đẳng hòa hợp với cộng đồng. Không thể chỉ trông vào giáo dục, đất nước mạnh lên, dân giàu, nước mạnh. Họ ở đâu, dù trên đất Mỹ, không thể không thừa nhận chân lý đúng đắn, mục tiêu đúng đắn của Cách mạng.

         Trong quá trình cải tạo sĩ quan ngụy, tôi được chứng kiến hai trường hợp thật khó hiểu, một cách đau lòng. Trường hợp thứ nhất: Có một cán bộ cao cấp của của ta có cháu ngoại là trung tá sĩ quan ngụy. Trước khi giải phóng, họ bên kia chiến tuyến, sau giải phóng họ là sĩ quan tập trung cải tạo. Quy định của cách mạng: Khi gia đình tiếp xúc phải đủ 3 thành phần (sĩ quan ngụy - gia đình - quản giáo). Đồng chí nọ phản đối chúng tôi, không chịu gặp ba bên. Tới bữa tối, họ tổ chức liên hoan với cán bộ khung. Rượu vào lời ra, rồi vi phạm quy chế của trại cải tạo. Là người sống có nguyên tắc, tôn trọng mệnh lệnh, mệnh lệnh là pháp lệnh, với tôi đã là nguyên tắc thì phải “Thượng tôn pháp luật”.       
        Trường hợp thứ hai, có ông bạn chiến đấu với tôi ở căn cứ cũ. Sau giải phóng miền Nam lên tới chức cán bộ trung đoàn, phụ trách một khung cải tạo sĩ quan ngụy. Vì có cái tật (mắc rượu), vợ sĩ quan Ngụy mời cán bộ nọ về Sài Gòn, vào nhà chơi. Sau chuyến thăm đó, khi về đơn vị, anh ta nhắm mắt bảo lãnh cho chồng cô ta là sĩ quan ngụy ra khỏi trại. Sau khi ra, người ấy đã trốn sang Mỹ, viết thư về tố cáo. Cuối cùng anh ta bị kỷ luật khai trừ ra khỏi Đảng, giáng cấp từ thiếu tá xuống thượng úy, cho ra quân. Với chúng tôi, luôn tự nhủ  mình, dù hết chiến tranh, phải giữ đúng lập trường, bản lĩnh kiên định, không thể để vật chất mua chuộc hay một chút bả hư vinh mà sa ngã.
Ngay sau chiến tranh, đã có những cán bộ hư hỏng, đó là quy luật đào thải của cuộc sống. Chiến tranh, cũng có kẻ hèn nhát quay súng, chiêu hồi, sợ chết. Ai bảo trong thời bình không còn bom đạn, không có thương vong?
     Sau đợt chúng tôi đi cải tạo sĩ quan ngụy, trở về đơn vị cũ (H14). Lúc này Trường H14 chuyển về Quân khu 7, đổi tên thành Trường Quân sự Quân khu 7, tôi được bổ nhiệm Phó Khoa giáo viên chính trị, rồi lên Phó chủ nhiệm chính trị Trường Quân sự Quân khu.



Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 11:00:02 am
       Sau ngày giải phóng, nhiều người lính trở về hậu phương. Hình ảnh quen thuộc là một một anh chiến sĩ vai khoác ba lô, trên lưng có con búp bê, vai đeo đôi khung xe đạp nhôm, hồn nhiên bước trên hè phố ra tàu về Bắc. Anh nhìn lên những toà nhà cao tầng, tưởng như thành phố luôn mỉm cười với anh.
       Không phải tất cả như thế. Quy luật của cuộc sống thời bình tuôn theo dòng chảy của lợi ích, nhu cầu, của sự sáng tạo, có sáng tạo thuận chiều với lợi ích cộng đồng, đóng góp cho cộng đồng. Nhưng cũng có “sáng tạo” khôn ngoan, luồn lách, mánh lới, bất chấp đồng loại, lách kẽ hở pháp luật làm bừa vì lợi ích vị kỷ, cá nhân, có thể gọi đó là những thủ đoạn. Chỉ có điều xã hội điều hoà tốt lợi ích của nhiều tầng lớp dân chúng, lại có nhiều giải pháp chế tài được những tiêu cực phát sinh, trong đó tấm gương của đội ngũ cán bộ có vai trò rất quan trọng. Kỷ cương nghiêm, cán bộ tốt, dân đồng lòng thì đất nước và cộng đồng phát triển.
       Thống nhất hai miền, tôi luôn sống trong tâm trạng vui. Vui vì cuộc trường chinh đến đích. Sài Gòn, nơi cột cây số cuối cùng trong cuộc hành quân cứu nước, chúng tôi đã được đặt chân. Nhiều cán bộ có xuất xứ từ chiến khu về, từ ngoài Bắc đi chiến đấu, nhìn chung anh em đều giữ được phẩm chất đạo đức. Số bị kỷ luật cũng có, nhưng không nhiều. Nhưng tôi lại thấy một số người từ thức thời, đến thực dụng đang tăng lên, tăng dần khi chiến tranh lùi càng xa.
      Tôi đã thấy những cán bộ lợi dụng chức quyền từ sau giải phóng, tôi đã thấy lối sống sa đoạ của một số cán bộ ngang cấp và trên cấp mình, tôi đã thấy những mầm mống của sự chia rẽ, cục bộ, lòng se sắt buồn.
       Anh em giáo viên trong chiến tranh, anh em văn nghệ sĩ ở Miền về trụ lại Sài Gòn khá đông. Tôi ra ngoại thành chơi, lòng hướng về chân trời cũ. Ơi miền Đông! Ơi cao nguyên! Tôi đi trên những con lộ thanh bình, bên tai vẳng lên câu thơ da diết: “Ngày dân tộc tụ về đường số Một, lòng bỗng thương những cánh rừng này, nơi những đứa con nằm lưng đèo cuối dốc, hay khuất chìm lúp xúp những rừng cây”. Trên cao nguyên, ven rừng Bù Đốp, bên trảng cỏ, bên suối Sa Mát, Tây Ninh, lộ 13, Bình Long, đồng đội “hai linh chín” của tôi còn nhiều người nằm ở trên đó. “Nếu đồng đội tôi còn đông đủ, sư đoàn ta thành mấy sư đoàn”.   Lịch sử không có chữ nếu để nuối tiếc.
       Trở về Trường Quân chính quân khu, tôi thường lấy câu chuyện chiến đấu, tình cảm trong chiến tranh để truyền đạt cho học viên. Với học viên quê trong Nam, hay miền Bắc, tôi luôn nêu vấn đề đoàn kết Nam Bắc, vấn đề chi viện lớn của hậu phương, sự hy sinh và trực tiếp chiến đấu của chiến sĩ đồng bào miền Nam trải qua 30 năm chống Mỹ, để có ngày đất nước, non sông liền một dải.


Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 11:01:03 am
VII



ĐẤT MẸ SÔNG HỒNG

Hơn mười năm biền biệt xa miền Bắc, xa quê hương, xa vợ con đi chiến trường, nay đất nước thanh bình, mong ước trở về quê, thăm lại nơi bước chân ra đi, thăm lại “đường xưa lối cũ”… nghĩ đến điều này, tôi khắc khoải chờ ngày đi phép. 
Ngày ra Bắc, tôi không đi theo đường quân vận mà đi xe “đò”. Hãng xe đò “Phi Long” có những lái xe kỳ cựu, kinh nghiệm “phi” đường trường rất tốt. Họ thay nhau chạy suốt ngày đêm ngược đường số 1 với tốc độ rất cao, ai không quen cảm giác mạnh thì nhiều pha “thót tim”.
 Dọc hai bên đường, phố thị, thôn ấp trở lại nhịp sống thanh bình. Đất nước thống nhất, người dân lao vào làm ăn, lo cuộc sống. Dải đất miền Trung đúng là dài thật. “Khu năm dằng dặc, khúc ruột miền Trung”, nhà thơ Tố Hữu tả không sai.
Tôi vào Nam năm 1968 theo ngả đường Trường Sơn, trở ra Bắc theo lộ 1. Suốt dọc đường nhìn cảnh, nhìn người, lòng miên man suy ngẫm. Những đồng đội của tôi, chiến đấu trên núi rừng Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, rồi Thượng Đức, Nông Sơn… Họ cũng như chúng tôi, giáp mặt bom, đạn, giáp mặt sốt rét rừng, thiếu thuốc, thiếu lương thực… Tất cả cho ngày toàn thắng. Trên hướng Quảng Trị, mùa hè đỏ lửa 1972, bên dòng Thạch Hãn, trong Thành cổ… hàng ngàn chiến sĩ đã ngã xuống. Chiến công và lòng quả cảm của cán bộ, chiến sĩ ở mặt trận Quảng Trị thật đáng tôn vinh. Sử sách nói về các anh chưa hết… Tôi chạnh lòng nghĩ tới mùa hè đỏ lửa, chốt chặn trên đường 13 Chơn Thành Tàu Ô-Xóm Ruộng, cũng hàng ngàn chiến sĩ của 165, của 209 ngã xuống, trên một dải đất hẹp ven lộ miền Đông. Các nhà văn, nhà thơ, nhà báo còn mắc nợ với chiến công này. Có thể do chúng tôi có lỗi, chưa làm mọi việc để các “nhà” truyền thông, nhà văn hóa thấy tầm vóc, sự hy sinh quả cảm, can trường của các chiến sĩ 209, của Sư đoàn 7, của chiến sĩ Miền Đông… Tôi mong ước có nhiều ca khúc mang xúc cảm về Miền Đông, nhiều bài thơ sâu nặng về Miền Đông, những tượng đài về Tàu Ô, Chơn Thành… Dẫu rằng tượng đài chiến thắng, tượng đài về lòng quả cảm của chiến sĩ đã xây trong ký ức nhân dân, nhưng còn mai sau, dài lâu nữa, cần có những tác phẩm, hình tượng văn hóa phi vật thể về vùng đất, chiến công, con người nơi đây.
Đêm Miền Trung trôi đi trong giấc ngủ chập chờn. Nửa đêm, có ai đó nói “đã qua sông Hiền Lương”. Con sông nhân chứng sự cắt chia hai miền, tôi đã không qua nó khi vào, bây giờ trở về  hai bờ là một. “Đã qua sông Hiền Lương”, câu nói bình thản mà mấy chục năm trời bao lòng dân mơ ước có ngày thanh thản qua dòng sông hiền hòa này. Ngày bình yên trả bằng bao xương máu.
 … Những ký ức vụn vặt, chắp vá trên xe đò lại bị đánh thức bởi một cơn gió sớm thổi từ biển vào. Gió tươi mát rượi đến tỉnh táo. Vươn cổ nhìn ra ngoài, tôi thảng thốt nhận ra một chiếc vó bè treo trong sương sớm, một bóng người nhỏ thó đang rướn lên kéo vó, vẻ nhọc nhằn. Ôi quê Bắc nghèo khó đây rồi! Về đến đất Bắc rồi! Tôi bất giác kêu lên thành tiếng. Mắt tôi đỏ hoe, chực khóc. Đồng đội của tôi có quá nhiều người không được trở về như tôi. Họ nằm lại chân đèo cuối dốc, nằm lại trảng cỏ, lòng bưng… Lòng tôi xốn xang một niềm vui khó tả, chen lẫn một nỗi buồn se sắt. Qua cuộc chiến đấu cam go, cả nước dốc lòng đánh giặc, quê Bắc mình vẫn nghèo quá. Nhìn trên đồng qua khung cửa, chiếc đòn gánh vẫn trĩu vai người chị, người mẹ thôn quê. Dáng lưng còng người phụ nữ nông dân vẫn thế, khiến ta da diết nhớ mẹ, nhớ em. Tôi kín đáo chùi mắt, nhìn sang bên, hai người lính vào Nam ngồi ghế bên, nay trở về cũng thẫn thờ nhìn ra con đường. Dường như mắt họ cũng cay đỏ như tôi.
 Dọc đường ra Bắc, mọi miền quê sao giống nhau đến thế, những con đường mòn từ thôn xa chạy ra đường số một, cắt ngang đường sắt. Trên đường, bóng mẹ ai còm cõi gánh vài bó mạ, một chú chó nhỏ, gầy thó chạy theo. Bó mạ gầy như eo lưng mẹ thắt ngang sợi rơm, phơ phất manh áo vải… Trời sáng rõ, trên đường một, những con người cần lao gò lưng đạp xe cọc cạch về phố huyện, về làng. Vụt qua khung cửa là những trái núi đá trơ trọi, những mái rạ bên khóm chuối, bờ tre.
Chuyến về phép ấy, tôi chịu khó vác theo mấy cái khung xe đạp. Hôm về làng, mọi người đến chơi thăm hỏi, ai cũng bảo tôi rắn chắc, khỏe mạnh. Tôi vui vì làng xóm từ nay sẽ không cần phải có nhiều lứa trai lần lượt ra trận. Sẽ bớt những mẹ già sụt sùi khóc, thương nhớ con không về. Làng xóm sẽ có nhiều trai đinh cày ruộng, vượt ao làm giàu. Trẻ được vào các trường chuyên nghiệp.
Vợ tôi vẫn đi làm nhà nước. Tuy nhiên, sống giữa đất Hải Phòng, có bến cảng giao thương, người đất Cảng năng động, rất sớm tiếp cận với thị trường tự do, vợ tôi lương thấp, tôi là quân nhân, cuộc sống cũng đạm bạc. Vì vậy, làm theo bạn bè, vợ tôi tranh thủ ngày nghỉ, khuya sớm cũng hoạt động “thương trường” tự do kiểu cò con. Mua bán lại tem phiếu, cất hàng, giao hàng vặt, nên cuộc sống cũng giảm căng thẳng. Trở vào Nam trả phép, tôi xúc động lắm khi Chiên chắt bóp, đưa tôi được chút tiền. Số tiền này cộng với sự tiết kiệm của tôi, rồi cũng mua được chiếc xe máy hai thì chạy xăng pha nhớt. Bộ đội có xe máy khi đó cũng là loại “năng động”.


Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 11:01:48 am
Giữa năm 1977, tôi được cấp trên cho ra miền Bắc học ở Trường Văn hóa quân đội. Theo kế hoạch, sau khi học hết chương trình văn hoá cấp 3, chúng tôi học ngoại ngữ rồi đi đào tạo Chỉ huy quân sự hoặc học Quân chính ở Liên Xô. Lòng ham học của tôi lại được đốt nóng. Phía trước, tôi hình dung những thử thách về nhận thức, lòng tự nhủ phải gắng vượt qua.
Những biến cố của thời cuộc luôn tạo bước ngoặt cho cả đời người. Khi chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra, cũng là lúc chúng tôi tốt nghiệp văn hóa cấp III. Cả lớp chúng tôi ở Trường Văn hóa quân đội chuyển về học đào tạo cán bộ Sư đoàn ở Học viện Quân sự cấp cao tại Hà Nội (khóa II). Thời gian học trong 2 năm.
Hai năm học ở Bưởi-Hà Nội. Hồi ấy chưa có phường Nghĩa Đô, đường Hoàng Quốc Việt. Học ở Học viện Quân sự cấp cao “trên Bưởi” là cách gọi thông thường khi đó. Các thầy giáo của chúng tôi đều là các cán bộ dày dạn kinh nghiệm chỉ huy, điều binh, tác chiến ở chiến trường. Một số lớn các thầy còn được đào tạo lý luận quân sự ở các Học viện bên Liên Xô như Học viện Ph.runde, Vô-lô-si-lốp… Những kinh nghiệm trong thực tế công tác, chiến đấu, chỉ huy bộ đội của chúng tôi ở chiến trường, giờ đây được rọi sáng, hệ thống hóa qua lý luận, khiến cho tôi nhìn rõ, hiểu sâu hơn đường lối quân sự, phương thức tác chiến chiến lược và nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.
       Một  trong những vị tướng ở Học viện khi đó, tôi và nhiều sĩ quan cao cấp thực sự ngưỡng mộ và kính phục là Thượng tướng Hoàng Minh Thảo. Ông tên thật là Tạ Thái An, sinh năm 1921 tại xã Bảo Khê, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Ông tham gia cách mạng năm 1937. Ông được phong quân hàm Thượng tướng vào năm 1984. Tháng 3-1975, ông là Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên và là chỉ huy trưởng trận đánh Buôn Ma Thuột.  Sau ngày đất nước hòa bình, năm 1976, ông là giáo viên ở Học viện Lục quân. Từ năm 1977-1989, ông là Viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng). Năm 1990, ông là Viện trưởng Viện Chiến lược quân sự Bộ Quốc phòng. Đến năm 1996, ông là Phó trưởng ban chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam. Thượng tướng Hoàng Minh Thảo là tác giả của nhiều tác phẩm có giá trị về đường lối quân sự, nghệ thuật quân sự, lịch sử quân sự Việt Nam. Ông được phong Giáo sư ngành khoa học quân sự (1986), Nhà giáo nhân dân (1988). Ông đã được trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh
Khi ở Học viện, ông thường say sưa phân tích cho chúng  tôi về năm chữ TRÍ, DŨNG, TÍN, LIÊM, TRUNG. Ông bảo, trước khi làm tướng phải làm người. Đạo làm tướng cũng là đạo làm người. Ông nói, đời ông sợ nhất phải nghe câu: “Nhất tướng công thành vạn cốt khô!”.
Là thế nên phải tu dưỡng không ngừng, học hỏi không ngừng. Tu dưỡng học hỏi trong mọi điều kiện. Ông bảo, cuốn sách Tổ tiên ta đánh giặc - một trong những công trình của ông được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh được ông viết trên đường hành quân.
Ông nói thêm, thời đại ngày nay không nắm được công nghệ thông tin, không hội nhập không làm gì ra hồn được, càng không thể làm tướng. Ông tâm sự, ông rất buồn khi nghe nói có một số tướng trẻ hiện nay ít chịu rèn luyện, học tập; sống lối sống chạy theo đồng tiền, rượu chè trai gái, coi cấp dưới như kẻ ăn người ở! Thói nịnh bợ, nói theo cấp trên để được lòng là điều ông rất ghét.
Ông nói, các nhà trường quân đội tiến tới phải tăng cường hơn nữa công tác “trồng người” vì rằng, suy cho cùng, cái quyết định mọi công việc vẫn là ở con người. Đạo làm tướng cũng là đạo làm người. “Làm tướng mà không có Trí, Dũng, Tín, Liêm, Trung như lời Bác Hồ dạy thì hỏng!”.
      Thướng tướng Nguyễn Hữu An cũng là một người chỉ huy mà tôi và anh em cùng khóa rất ngưỡng mộ. Ông sinh năm 1926, ông mất năm 1995, là một tướng lĩnh quân sự. Ông tham gia kháng chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mỹ và Chiến tranh biên giới Tây Nam. Ông là người trực tiếp chỉ huy trận đánh đồi A1 trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Năm 1965, Nguyễn Hữu An lúc đó mang quân hàm thượng tá, tham mưu phó mặt trận B3, là người chỉ huy trực tiếp trận đọ sức với quân viễn chinh Mỹ tại thung lũng Ia-Drang năm 1965.
Nguyễn Hữu An tham gia và trưởng thành trong quân đội từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, ông là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 174, thuộc Đại đoàn 316, 3 lần tấn công đồi A1 và sáng 7-5-1954 Trung đoàn 174 dưới sự chỉ huy của ông đã tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm A1, mở đường đánh vào cánh đồng Mường Thanh, kết thúc Chiến dịch Điện Biên Phủ.
      Trong Chiến tranh Việt Nam thời chống Mỹ, năm 1964, trên cương vị Sư đoàn trưởng, ông dẫn Sư đoàn 325 vào miền Nam chiến đấu. Ông đã trực tiếp chỉ đạo và chỉ huy Trung đoàn 101 diệt gọn tiểu đoàn biệt động “Cọp đen”, rồi lại đánh thiệt hại nặng Trung đoàn 44 chủ lực quân lực Việt Nam Cộng hòa, diệt Trung tá Trung đoàn trưởng trung đoàn này.
    Năm 1965, Thượng tá Nguyễn Hữu An trực tiếp chỉ huy Trận Ia Đrăng, trận đánh nổi tiếng ở thung lũng Ia Đrăng đã tiêu diệt hoàn toàn 1 tiểu đoàn và làm thiệt hại nặng 1 Tiểu đoàn kỵ binh không vận Mỹ. Trận đánh phủ đầu và chiến thắng lực lượng kỵ binh bay khi quân Mỹ vừa vào Việt Nam, một trận thắng mà chính các tướng lĩnh của Mỹ phải thừa nhận "Ia Đrăng - trận đánh đã làm thay đổi cuộc chiến tranh ở Việt Nam".
Năm 1971, ông là Tư lệnh Sư đoàn 308 tham gia chiến đấu và góp phần cùng các đơn vị khác trong chiến thắng ở mặt trận đường 9-Nam Lào, sang giúp mặt trận Pa-thét Lào chiến đấu lấy lại Cánh đồng Chum. Đến cuối tháng 6-1972, ông chỉ huy Sư đoàn 308 chiến đấu ở mặt trận Quảng Trị.
Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, năm 1975, Thiếu tướng Nguyễn Hữu An là Tư lệnh Quân đoàn 2 (Binh đoàn Hương Giang). Quân đoàn 2 dưới sự chỉ huy của ông đã lần lượt giải phóng tỉnh Quảng Trị, thành phố Huế, Đà Nẵng. Sau đó, ông đã chỉ huy toàn bộ quân đoàn hành quân gần 1.000km tuyến duyên hải. Tướng Nguyễn Hữu An chỉ huy một trong 5 cánh quân đã nhanh chóng cắm lá cờ đỏ lên nóc dinh Độc Lập lúc 11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975.
Sau này ông là Giám đốc Học viện Quốc phòng. Ông luôn là một người chỉ huy trận mạc, có bản lĩnh, chính kiến, dám chịu trách nhiệm, người thầy thẳng thắn, nhân ái, đáng để nhiều sĩ quan cấp dưới kính nể.
       Tôi học trong Học viện Quân sự cấp cao vào đúng lúc đất nước đang bước vào thời kỳ cam go, khó khăn về nhiều mặt. Trong cơn hoài thai của lịch sử, đất nước vặn mình qua cơ chế bao cấp, bước vào thời kỳ giải phóng sức lao động của cơ chế thị trường, đổi mới tư duy… với biết bao chật vật. Vậy mà khi đó, trên biên giới phía Bắc, phía Nam, phên giậu quốc gia bị đe dọa. Đồng đội của tôi lại tiếp tục lên đường đi xa.
Công cuộc bảo vệ Tổ quốc đặt ra những yêu cầu mới với các cán bộ quân đội. Đêm nằm, tôi suy nghĩ nhiều về hình thái tác chiến bảo vệ địa bàn, khu vực, có không ít những câu hỏi còn bỏ ngỏ. Hai năm sau, tháng 8-1981, tôi ra trường, trở thành cán bộ cấp sư đoàn.
Những bạn bè cùng khóa với tôi ở Học viện Quân sự cấp cao, khóa II năm 1979-1981, đều là những cán bộ trải qua chiến đấu ở các chiến trường máu lửa. Sau này các anh đều trở thành các tướng lĩnh, giữ cương vị chủ chốt ở Bộ hay Quân khu, Quân đoàn như anh Đào Trọng Lịch, trung tướng, Tổng Tham mưu trưởng QĐNDVN; anh Nguyễn Văn Rinh, Thượng tướng, thứ trưởng Bộ Quốc phòng hay anh Hoàng Kỳ, anh Phạm Xuân Thệ, anh Dương Đình Thanh, anh Năm Bé …
     Ra trường, tôi được bổ sung về Đặc khu Quảng Ninh với chức vụ là Sư đoàn phó Tham mưu trưởng Sư đoàn 323, đóng quân ở hai huyện Quảng Hà và Hải Ninh


Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 11:03:09 am
 Sư đoàn 323 là đơn vị sẵn sàng chiến đấu, lúc nào chúng tôi cũng phải gắng sức rèn binh, luyện cán, chủ động đối phó với các động thái gây chiến tranh dọc biên giới và tham gia xây dựng công trình quốc phòng dọc tuyến biên giới phía Bắc. Trong lòng tôi luôn tự nhắc mình, nói gì thì nói, “luyện quân ba năm, dụng binh một giờ”, không thể xao nhãng, khi có tình huống khẩn trương là lực lượng trong tay mình phải luôn sẵn sàng. Không có lời nào có thể bao biện cho chỉ huy, khi cấp dưới thực hành tác chiến kém cỏi để lỡ thời cơ, không hoàn thành nhiệm vụ. Tôi thường xuyên coi trọng công tác nắm chắc đơn vị, kiểm tra sát sao, bởi  “ở đâu có bộ đội hoạt động, ở đó phải có kiểm tra”. Tôi rất tâm đắc lời của người xưa: Người ta thường chết ở chỗ mà mình bất lực, thường thất bại ở chỗ bất tiện cho mình. Cho nên trong phép dùng binh, sự tập luyện phải đứng đầu. Bởi một người học đánh, dạy lại vạn người biết đánh. Vạn người học đánh, dạy lại thành ba quân biết đánh.
     Tôi cũng thường nhắc anh em cấp dưới:  Chỉ huy cấp tiểu đội trở lên phải biết tổ chức huấn luyện cho cấp mình, nhưng dạy chưa đủ, phải là tấm gương về nếp sống chính quy, giữ nghiêm kỷ luật.
    Những năm 80, kinh tế đất nước đang thời kỳ khó khăn, kẻ thù rình rập biên giới, đời sống bộ đội rất đạm bạc. Dù huấn luyện hay làm công trình, hàng ngày chúng tôi chỉ được ăn bo bo (hạt mì chưa chế biến) hoặc bát mì đen luộc lên ăn (không có điều kiện chế biến thành bánh mì). Tôi không bao giờ quên hình ảnh người chiến sĩ gày guộc, trên vai vác nặng một cấu  kiện bê tông hình cung, anh đưa lên điểm tựa, lắp ghép để làm công sự. Áo anh sũng mổ hôi, nhưng vẫn nhoẻn nụ cười, cùng đồng đội lao động quên cả mệt nhọc. Tấm gương Lê Đình Chinh, Nguyễn Thị Hồng Gấm khi đó là động lực cho chúng tôi trong huấn luyện, công tác.
Mặc dù đất nước đã hòa bình được 6 năm (1975-1981), tôi đi học quân sự xong rồi lại ra biên giới, với đồng lương trung tá, quá nhỏ bé, không đủ để nuôi vợ con, nên giai đoạn này đành phải để cho vợ nghỉ việc cơ quan chạy chợ thêm để lo cuộc sống cho gia đình ở hậu phương. Là cán bộ cấp sư đoàn, nhưng mỗi khi đi họp về qua nhà, vẫn phải thanh toán tiêu chuẩn gạo để hỗ trợ “bếp hậu phương”. Nhiều gia đình giàu có thường đổi gạo tem phiếu lấy gạo quê để ăn cho có “chất”, nhưng gia đình tôi vẫn “kiên trì” dùng gạo mậu dịch để lâu, mất chất dinh dưỡng nặng, khác nào “mất mùa ngay trong nồi”. Nhưng không có cách nào khác, nhiều cán bộ cấp dưới của tôi cũng thế. Gia đình quân nhân nào cũng thế. Thời bình vợ, con vẫn tiếp tục khắc phục khó khăn. Biết làm thế nào, khi đất nước còn khó khăn, biên giới phía bắc, phía nam chưa bình yên.
   Thấm thoắt đã qua 7 mùa xuân trên quê hương Đông Bắc. Dải đất Quảng Hà và Hải Ninh bán sơn địa, thổ nhưỡng nghèo dinh dưỡng, dải đất này cũng nghèo cả về tiềm năng sản xuất công nghiệp. Nước lợ pha lẫn nước ngọt, trồng trọt rất dễ nhiễm phèn. Con đường quốc lộ rất hẹp, chạy qua những ngầm nước từ xa xưa, hạn chế khả năng cơ động. Mạng lưới đường sá thiếu tính vu hồi. Biên giới còn hoang vu, khi đó chưa có các công trình quân sự kiến trúc mang tính tác chiến cơ bản bền lâu.
Đơn cử, các cung đường còn nhiều khúc cua, hạn chế tính cơ động của xe kéo pháo lớn, khí tài, vũ khí hiện đại. Hệ thống kho tàng chiến dịch cũng mới hình thành, mang nặng tính dã chiến, cấp thời…
     Trong 7 năm, tôi làm Sư đoàn phó TMT Sư đoàn 323 phục vụ cho 3 đồng chí Sư đoàn trưởng. Có đồng chí cả trí tuệ và tấm gương đạo đức luôn để tôi nhủ lòng học tập. Có đồng chí trí đức cũng có thể “đong đếm”… còn khiêm tốn. Tổ chức chưa bổ nhiệm, cho dù tôi cũng trải qua nhiều “thử thách” ở chức trách mình, và có khi đảm nhiệm một số trường hợp ở cương vị cấp đứng đầu sư đoàn, tôi đều hoàn thành tốt nhiệm vụ. Nhưng tôi vẫn lặng lẽ sống, làm việc, công tác sinh hoạt bình thản, tìm mọi cách khắc phục khó khăn thực tế hoàn thành chức trách ở mức cao. Sau này có thời gian chiêm nghiệm, tôi thấy một trong những nguyên nhân mà cấp trên chưa tín nhiệm tôi, là do tính thẳng thắn và tác phong “năng động sớm” của tôi mà “các cụ” cho là “vượt mặt” .
      Một đơn cử có thật,  đa số cán bộ ra biên giới là những đồng chí đều trưởng thành trong chống Mỹ cứu nước, được học hành bài bản. Trong các Hội nghị dù có cấp trên dự họp, chúng tôi vẫn phát biểu chân thành, thẳng thắn, xây dựng, ưu khuyết rõ ràng. Khi phát hiện vấn đề còn bất cập, của cả trên cả dưới, tôi không nói vòng vo, được lòng nhau, đẹp lòng nhau, mà nêu đúng sự việc, nêu đích danh “địa chỉ”, cố nhiên nêu rất thiện chí, để cùng khắc phục, tháo gỡ. Tôi tâm niệm, vì lợi ích công phải nói thẳng.
     Sau này tôi mới biết, tâm lý cấp trên trực tiếp của mình, khi có cấp trên cao hơn (Thủ trưởng Bộ) dự họp, họ không thích cấp dưới nói thật thiếu sót của mình. Nói thật mất lòng đã đành, nhưng nói thật có khi còn bị coi là bóc mở nhược điểm của họ, bất lợi cho họ. Thế thì họ không thiện chí với mình là đương nhiên.
       Trong vấn đề chiến đấu đánh trả pháo binh của phía gây hấn biên giới, những năm (1984-1986) ở hướng Sư đoàn tôi đảm nhiệm phòng ngự. Đối phương bắn pháo sang đất ta. Đối phương chuẩn bị trước kỹ, ta muốn bắn trả phải chọn thời cơ bất ngờ. Khi đối phương bắn pháo sang đất ta, các đồng chí cơ quan tác chiến chiến dịch sốt ruột điện xuống nhắc. Tuy nhiên tôi bàn với đồng chí Sư đoàn trưởng, tìm nhiều cách nắm đối phương, trinh sát kỹ, rút ra quy luật . Những trận chiến đấu tiếp sau của chúng tôi có mục tiêu cụ thể đánh trả, khá chính xác, có kết quả  được trên đánh giá cao.
Lại điều này nữa, tôi bị coi là “tự ý quan hệ với lãnh đạo tỉnh” (quan niệm của cấp trên là cấp Sư đoàn đóng quân ở huyện, chỉ quan hệ với chính quyền ở huyện là đủ). Vì Sư đoàn 323 thành lập tháng 3-1979, tiền thân của Sư đoàn là các đơn vị địa phương của tỉnh Quảng Ninh, Sư đoàn trưởng đầu tiên là Tỉnh đội trưởng, các cơ quan sư đoàn là các cơ quan tỉnh đội cũ (khi có đặc khu, tỉnh, giải thể cơ quan quân sự tỉnh).
Trong thực tế, chúng tôi dù là Sư đoàn 323 thuộc Đặc khu Quảng Ninh, cán bộ tỉnh Quảng Ninh vẫn gắn bó quý mến, coi các đơn vị của Sư đoàn 323 là con em của tỉnh mình. Khi Sư đoàn chúng tôi chuẩn bị kỷ niệm 5 năm ngày truyền thống (3/1979-3/1983), tôi Sư đoàn phó, Tham mưu trưởng và anh Quán, Sư đoàn phó chính trị vào gặp lãnh đạo tỉnh xin ý kiến chỉ đạo và xin địa phương chi viện kinh phí (hồi ấy sư đoàn không có quỹ vốn như các đơn vị bây giờ). Chúng tôi vừa vào chỗ đồng chí Phạm Hoành - Chủ tịch tỉnh, đột nhiên thấy Tư lệnh đặc khu vào, chúng tôi lúng túng chưa biết phân trần như thế nào thì đồng chí Chủ tịch tỉnh đã đỡ lời: Tôi gặp hai đồng chí ở dọc đường, gọi vào đây uống nước. Chúng tôi đành cáo Tư lệnh xin về trước (lảng sang văn phòng UBND tỉnh chờ đó).
 Khi Tư lệnh đặc khu về, văn phòng lại đưa chúng tôi tới gặp Chủ tịch tỉnh. Mọi đề nghị của Sư đoàn, các đồng chí lãnh đạo tỉnh đều ủng hộ giải quyết, giúp đỡ vượt yêu cầu.
Xin kể tiếp chuyện này: Vào năm 1982, đồng chí Lê Đức Thọ Uỷ viên Bộ Chính trị, Trưởng ban tổ chức Trung ương Đảng ra thăm Đặc khu Quảng Ninh tại cứ Ba Chẽ. Vào thời điểm này, trên tuyến biên giới gặp nhiều khó khăn về lương thực thực phẩm. Công việc của chiến sĩ hằng ngày rất nặng nhọc, vừa sẵn sàng chiến đấu, vừa xây dựng công trình công sự rất vất vả. Mỗi Sư đoàn chỉ được cử có 2 đại biểu đến gặp đồng chí cấp trên. Lúc chúng tôi chờ ở Nhà khách đặc khu, tôi đề xuất, mấy khi chúng ta gặp được Bộ Chính trị tới thăm, vì chiến sĩ biên giới, ai phát biểu phải nói đúng sự thật, nếu ngại thì để người khác phát biểu. Thế là đoàn cán bộ đại diện các sư đoàn cử tôi phát biểu. Tôi mừng lắm, chuẩn bị ý tứ sao cho ngắn gọn để cấp trên hiểu thực chất.
Khi đồng chí Lê Đức Thọ hỏi về đời sống Bộ đội Biên giới, tôi thực hiện đúng lời hứa, báo cáo với đồng chí rằng:  Bộ đội ta khi chiến đấu ở chiến trường từng làm thơ: “Bộ đến thì Bộ rất thương, Bộ ra đến đường thì Bộ lại quên”. Còn bây giờ chiến sĩ ta ở biên giới khái quát: “Cơm toàn cục, canh toàn quốc, nước chấm đại dương” (Cơm toàn cục bột mì luộc, canh toàn quốc là canh toàn nước, nước chấm đại dương là muối). Đồng chí Lê Đức Thọ phá lên cười và động viên chúng tôi, các đồng chí đã qua chiến tranh giải phóng, có nhiều kinh nghiệm lo cho bộ đội để bộ đội giảm bớt khó khăn trong cuộc sống. Những gì nhà nước đã có chi viện ra biên giới là cố gắng cao nhất của Đảng và Nhà nước cho quân đội. Sau này, trong những năm 80 của thế kỷ XX, Đồng chí lê Đức Thọ đã cảm thông, nắm bắt ý của chúng tôi báo cáo, đưa vào trong bài thơ, có câu “Bát canh toàn quốc, nước chấm đại dương đỡ lúc đói lòng” (thơ Lê Đức Thọ). Câu chuyện này nhiều cán bộ biết, nhưng có người không thích phong cách nói thẳng, nói thật của tôi. Cũng như bây giờ, còn có nhiều chuyện bất cập, Đảng ta cũng đã kết luận tiêu cực, tham nhũng đã cản trở quá trình đi lên của cách mạng, ai cũng bức xúc.
 Nhưng điều đó không phải ai cũng nói mạnh trong hội nghị. Nhưng có ai nói, chỉ ra thẳng thắn thì có người lại tỏ ra không thích vì bệnh thành tích của đơn vị mình, ngành mình. Phải chăng đó cũng là nhược điểm của người Việt mình, còn trầm tích nhiều tư tưởng nông dân, phong kiến, hẹp hòi, đố kỵ. Mong sao trong tiến trình đi lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa, những chuyện đó phải là chuyện xa lạ với phong cách tư duy hiện đại, hội nhập. Tôi nhớ lời người xưa:
 Đức tánh của người tướng giỏi là: Cứng rắn mà không bị bẻ gẫy, mềm mỏng mà không bị vày vò. Cho nên có thể dùng yếu để chống mạnh, dùng mềm để chống cứng. Mềm mãi, yếu mãi thì sẽ bị tước đoạt. Cứng mãi mạnh mãi thì sẽ bị thất bại. Không cứng, không mềm, đó là lẽ thường của đạo.


Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 11:03:36 am
Cuối năm 1987, quan hệ giữa Việt Nam và “láng giềng” có dấu hiệu tích cực. Bộ Quốc phòng quyết tâm điều chỉnh thế bố trí chiến lược. Đặc khu Quảng Ninh được cùng với Quân khu 3 thành lập Quân khu 3 mới (thực chất sáp nhập  Đặc khu Quảng Ninh vào Quân khu 3).
Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ninh được khôi phục lại. Trong số 4 Sư đoàn trưởng và 8 Sư đoàn phó quân sự, các đồng chí lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh xin đích danh tôi (Sư đoàn phó TMT Sư đoàn 323) về làm Tỉnh đội trưởng. Rất may, tôi được Thủ trưởng Bộ tư lệnh Đặc khu ủng hộ. Nhưng trên chưa thật yên tâm, cho đồng chí Tư lệnh phó số 1 của Đặc khu là Thiếu tướng Phạm Xưởng kèm cặp tôi 8 tháng tiếp theo nữa mới giao cho tôi chức Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ninh.
Từ miền Đông đến Miền Tây của tỉnh, tôi nắm chắc đặc điểm địa hình, con người… nói chung là mọi mặt, từ đó đưa ra các kế hoạch, giải pháp, triển khai các nhiệm vụ quân sự-quốc phòng cho sát hợp với từng huyện, thị, sát với thế trận phòng thủ khu vực địa bàn.
Tôi nghiên cứu tình hình địa bàn mình phụ trách: Quảng Ninh là một tỉnh có điều kiện tự nhiên đa dạng, phong phú về nhiều mặt. Đó là những tiềm năng to lớn để Quảng Ninh phát triển một nền kinh tế khá toàn diện từ sản xuất công, nông, ngư nghiệp đến phát triển thương mại, dịch vụ. Đặc biệt là Quảng Ninh có tiềm năng phát triển du lịch rất lớn. Chính vì vậy mà Quảng Ninh đang là một trọng điểm trong chiến lược phát triển kinh tế của vùng tam giác Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh.
Về công nghiệp: Thế mạnh của tỉnh là ngành công nghiệp khai khoáng, trong đó, quan trọng nhất là than đá. Tỉnh có nhiều mỏ than lớn nhất cả nước như Hòn Gai, Hà Tư, Cẩm Phả, Uông Bí, Cái Bàn. Mỏ than Quảng Ninh sản xuất 90% sản lượng than toàn quốc, cung cấp cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Ngoài ra, tại Uông Bí còn có mỏ sắt, Hoành Bồ có mỏ đá chứa dầu, Lệ Viên có mỏ đồng, đảo Hai Sông có nhiều mỏ đá vôi và nhà máy xi măng, khu Hoành Bồ có mỏ đất sét.
Trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng kỹ thuật - xã hội, Quảng Ninh là một trong những tỉnh phát triển thông tin liên lạc vào loại nhanh và hiệu quả. Hiện nay, Quảng Ninh là một trong những tỉnh dẫn đầu cả nước về mật độ sử dụng điện thoại với 5 máy/100 dân.
Văn hoá không chỉ có lịch sử lâu đời, Quảng Ninh còn là nơi hội tụ văn hoá của nhiều dân tộc khác nhau. Ngoài người Kinh còn có nhiều tộc thiểu số khác như Dao, Tày, Sán Dìu, Sán Chay, Hoa, Nùng... Họ di cư chủ yếu từ phương Bắc đến cư trú ở Quảng Ninh trên dưới ba bốn trăm năm nay, trải cư ở hầu khắp các địa bàn, thuộc các huyện Hoành Bồ, Vân Đồn, Ba Chẽ, Tiên Yên, Hải Hà, Bình Liêu, Móng Cái, Đông Triều, thị xã Uông Bí, Cẩm Phả, với tỷ lệ 10,8% dân số toàn tỉnh. Mỗi dân tộc đều có những truyền thống văn hoá riêng. Hiện nay, những giá trị văn hoá truyền thống đó còn hiện diện trong các tộc thiểu số ở Quảng Ninh. Mỗi loại hình văn hoá đều mang sắc thái riêng của mỗi dân tộc, nó thể hiện rõ nhu cầu và bản sắc lối sống của họ. Là cái riêng, cái lạ mà du khách muốn được chứng kiến cảnh sinh hoạt, cảnh sắc thiên nhiên, phong tục tập quán của những vùng thôn dã, bản làng còn lưu giữ được những gì là “nguyên bản”, là “huyền bí” của thiên nhiên và con người. Đây là một tiềm năng dồi dào để phát triển du lịch văn hoá ở Quảng Ninh.

Quảng Ninh là vùng đất của nhiều lễ hội độc đáo và hấp dẫn như Hội chùa Yên Tử diễn ra hằng năm vào mùa xuân, thu hút đông đảo du khách từ các tỉnh lân cận ở Bắc Bộ về tham dự. Hội Trà Cổ được tổ chức từ ngày 30-5 đến 7-6 âm lịch hằng năm tại làng Trà Cổ. Hội đền Đức Ông diễn ra vào ngày 24-3 âm lịch. Hội đền Cửa Ông diễn ra vào ngày 3-2 âm lịch hằng năm. Hội đình Quan Lạn diễn ra vào ngày 26-6 âm lịch. Đến Quảng Ninh vào những dịp lễ hội, du khách sẽ được tham gia các hoạt động văn hoá dân gian mang đậm bản sắc văn hoá của các dân tộc cư  trú trên địa bàn tỉnh.

Giao thông Quảng Ninh là một tỉnh công nghiệp, lại ở vị trí biên giới nên giao thông vận tải của tỉnh vừa có ý nghĩa kinh tế, vừa có ý nghĩa quốc phòng.

Hệ thống giao thông của Quảng Ninh khá mở mang, sự liên lạc trong tỉnh cũng như các thị trấn được dễ dàng về cả đường bộ lẫn đường thủy. Những bến Hồng Gai, Cẩm Phả và Vạn Hoa có những đoạn thiết lộ nối với các kỹ nghệ khai thác quặng, lại có khả năng cho cập bến những tàu lớn nên thương mại Quảng Ninh rất phát đạt.

Quốc lộ 18 chạy dọc phía Đông của tỉnh từ Đông Triều đi Móng Cái, qua tỉnh Hải Dương và lên tới tận Trung Quốc. Quốc lộ 10 đi Hải Phòng và các tỉnh khác của Bắc Bộ, qua địa bàn huyện Yên Hưng và thị xã Uông Bí nối thông với Quốc lộ 18. Quốc lộ 279 từ thành phố Hạ Long lên huyện Hoành Bồ, qua tỉnh Bắc Giang. Quốc lộ 18C từ thị trấn Tiên Yên đi Bình Liêu, lên Trung Quốc.
    Trong 5 năm tôi làm Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ninh, tôi không phụ lòng tin cậy của các đồng chí lãnh đạo tỉnh. Các việc lớn của tỉnh giao cho Bộ chỉ huy quân sự, LLVT tỉnh đều triển khai có kết quả. Có thể khái quát như:   
Điều chỉnh thế trận phòng thủ phù hợp lực lượng vũ trang địa phương, thông qua tham mưu trưởng Quân khu 3, đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Hữu Sở đánh giá cao và chỉ thông qua một lần là xong.
Tỉnh đội đã tổ chức rà phá gỡ mìn tuyến biên giới Quảng Ninh an toàn tuyệt đối, không trường hợp nào thương vong, vì chúng tôi thực hiện đầy đủ các biện pháp kỹ thuật và thực hành nghiêm ngặt quy trình rà phá bom, mìn. Đó là: Dùng xăng, dầu đốt khu vực dự định dò. Kẻ hàng ngang, hàng dọc từng ô vuông nhỏ cho chiến sĩ trước khi dò. Dùng thuốn dò kỹ, từng xăng-ti-mét, khi có mìn, vật lạ đánh dấu lại. Nếu thấy mìn chống tăng không tháo (đề phòng mìn bẫy ở dưới) đánh dấu, để cuối ngày cho bộc phá tiêu huỷ. Cuối mỗi ngày đồng loạt cho nổ bộc phá, phá hết, không cho bộ đội tận thu thuốc nổ trong mìn mang đi nơi khác, dễ gây mất an toàn, phát sinh tiêu cực.
Tôi thường giáo dục, kiểm tra, nhắc nhở anh em cán bộ rằng: Mỗi gia đình chỉ có hai đứa con, nếu đặt vào hoàn cảnh của mình, có đứa con trai duy nhất trong thời bình, đi bộ đội, rà phá mìn, chẳng may sơ sảy bị thương, thậm chí hy sinh thì nỗi đau đó lớn thế nào, có gì bù đắp được? Do đó, phải hết sức có trách nhiệm với nhiệm vụ khắc phục bom mìn, bảo đảm an toàn cao nhất. Ở đâu có chiến sĩ, ở đó phải có cán bộ chỉ huy, giám sát. Việc khó, cán bộ phải trực tiếp làm, làm mẫu cho anh em.
        Về chính sách cán bộ, tôi nghĩ và trao đổi với cơ quan, cần quan tâm sâu sắc đến việc lo bảo đảm chính sách cho các đồng chí sĩ quan công tác, chiến đấu ở đặc khu nghỉ hưu. Khi còn đặc khu, để giải quyết chính sách, cơ quan cán bộ thường chỉ biết mang tiền về xuôi mua hàng, chia cho cán bộ, vừa đắt, chất lượng thấp, số lượng lại ít ỏi. Với tư cách là Chỉ huy trưởng, tôi suy nghĩ, việc chăm lo chính sách cho cán bộ không chỉ là việc của cơ quan quân sự, còn phải là trách nhiệm của lãnh đạo địa phương. Tôi mạnh dạn đưa vấn đề này ra thường vụ tỉnh ủy Quảng Ninh, được các đồng chí ủng hộ ngay. Đây cũng là một bài học thuyết phục bằng thực tế, miễn là không vụ lợi, không mang lợi ích nhóm. Thế là tỉnh đồng ý bán cho “công tác chính sách” này hàng trăm mét khối gỗ lim “tận dụng” ở rừng Ba Chẽ - Tiên Yên. Chúng tôi mua về Bộ chỉ huy quân sự tỉnh  thuê thợ các tỉnh đồng bằng ra đóng tủ, giường, bàn, ghế. Cách làm như vậy vừa rẻ vừa chất lượng, lại đồng đều. Trong vòng 3 năm, chúng tôi giải quyết cấp đầy đủ cho các đối tượng. Trong đó, cán bộ cao cấp được 3 thứ (bàn ghế + tủ đứng + giường đôi). Trung cấp: 2 thứ (bàn ghế + tủ đứng). Sơ cấp: 1 thứ (giường đôi). Đúng là, chăm lo cho con người sẽ được rất nhiều. Những sĩ quan đang tại ngũ sẽ công tác, chiến đấu hết mình, khi thấy lớp trước được chăm lo công bình, chu đáo.
       Với mặt bằng mức sống chung của sĩ quan những năm 1980, có quà tặng chính sách về nghỉ như vậy là tốt, vừa tình nghĩa đồng đội, mới cũ, người ra đi, người ở lại… Sau này, tôi có dịp gặp gỡ, về thăm quê hương các cán bộ được nhận tiêu chuẩn “đồ gỗ chính sách”, các bác, các anh vẫn nhắc và nói, họ vẫn dùng giường tủ, sinh hoạt hằng ngày, cho dù đời sống có thể mua được nhiều thứ tốt hơn, đẹp hơn nhưng họ vẫn giữ, vì nó rất bền, còn vì đó là kỷ vật đời quân ngũ, những năm bao cấp còn khốn khó.


Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 11:04:08 am
Trước tình trạng cán bộ cấp cơ sở, nhất là ở thôn bản vùng sâu còn thiếu và yếu, thiếu cả về số lượng, yếu cả về chất lượng nhân lực. Trong đó phải nói đến yếu trình độ văn hóa, trình độ quản lý, nhận thức về hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ địa bàn. Tôi tham mưu cho tỉnh chọn lọc đầu vào, là con em đồng bào dân tộc thiểu số, địa bàn xa, nơi biên giới, hải đảo để mở lớp đào tạo tại Trường Quân sự tỉnh. Thời gian học 18 tháng, bằng nguồn kinh phí của tỉnh.
Nội dung tôi đề xuất phân bổ: Học kiến thức quân sự một phần ba thời gian, do giáo viên tỉnh đội giảng; học quản lý tài chính - Trường Hành chính tỉnh giảng; học công tác Đảng, công tác chính trị - Trường Đảng của tỉnh giảng. Trong 18 tháng học ở Trường Quân sự, ngoài học chuyên môn, các cháu còn được học văn hóa, giao lưu, tham quan với các ban ngành ở địa bàn, nhằm mở rộng kiến thức xã hội, điều rất quan trọng là nuôi dưỡng tình yêu quê hương Quảng Ninh giàu đẹp, niềm tự hào phát huy truyền thống sản xuất và bảo vệ từng tấc đất thân yêu của quê hương mình. Cuối khóa học cho học viên đi tham quan các địa danh như: Vĩnh Mốc - Quảng Bình và Củ Chi - TP Hồ Chí Minh. Như vậy, vừa nâng kiến thức, vừa mở rộng tầm nhìn, tri giác thực tế. Đối tượng này rất cần thực tế: “Tai nghe, mắt nhìn, tay sờ trực tiếp”. Đúng như quy luật nhận thức, phải theo tiến trình như sau: “Nhận thức sự vật - Cải tạo tư tưởng - Chuyển biến hành động”.
 Trong khóa học, anh em học viên phát biểu: Trong kháng chiến chống Mỹ, Củ Chi là đồng bằng, gần địch, gần Sài Gòn thế, các bác, các chú vẫn bám trụ được, chúng cháu có rừng, có núi, nếu chiến tranh xảy ra chúng cháu học tập Củ Chi quyết  bảo vệ quê hương của mình. Đúng là từ thực tiễn, nâng tầm nhận thức, chuyển biến tư tưởng, dẫn dắt hành động.
Giờ đây, số học viên ngày nào đã có người trưởng thành, giữ cương vị cán bộ cấp huyện ở Quảng Ninh, đang ngày đêm cùng nhân dân các dân tộc của địa phương thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược trên địa bàn.
Tôi cũng tham mưu cho tỉnh triển khai thực hiện Nghị quyết 02/BCT “Đảng lãnh đạo, chính quyền điều hành, cơ quan quân sự làm tham mưu, thống nhất chỉ huy các lực lượng vũ trang” bằng cuộc diễn tập phòng thủ tỉnh được quân khu đánh giá tốt. Khi đó còn cố vấn Liên Xô, các đồng chí đã cho cuộc diễn tập điểm 10+. Trong 4 năm tôi công tác ở Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ninh, trong khối nội chính của tỉnh, 3 năm liền Bộ chỉ huy quân sự tỉnh liên tục giành được cờ thi đua luân lưu.


Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 11:04:38 am
Trong thời gian công tác tại Quảng Ninh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng Đoàn Khuê luôn quan tâm đến tuyến phòng thủ phía Đông Bắc. Ông luôn chăm lo đến việc xây dựng tiềm lực quốc phòng-quân sự ở hướng chiến lược. Nhiều lần ông được tỉnh ủy, Ủy ban tỉnh Quảng Ninh báo cáo về công tác xây dựng lực lượng, thế trận quốc phòng ở đây, trong đó có thế trận lòng dân, công tác dân vận, xây dựng cơ sở, giáo dục quốc phòng. Các cơ quan của Bộ cũng đánh giá Bộ CHQS tỉnh và cá nhân tôi coi trọng công tác chính trị-quân sự trên địa bàn một tỉnh địa đầu, có rừng núi, biển đảo dài và hiểm yếu. Điều ông chăm lo có lý là Đặc khu Quảng Ninh mới giải thể, sát nhập vào Quân khu. Nhưng với nỗ lực của Bộ CHQS tỉnh Quảng Ninh trên các mặt xây dựng lực lượng, mà khi đó tôi là chỉ huy trưởng, ông đã thực sự yên tâm. Đó cũng là cơ sở đánh giá của cá nhân ông khi ông quyết định đề xuất tôi về Quân khu ba, thay thế thủ trưởng Đỗ Mạnh Đạo làm Phó tư lệnh chính trị Quân khu sau đó.
       Đại tướng Đoàn Khuê là tấm gương cho tôi học tập trong cuộc đời binh nghiệp. 16 tuổi, ông đã tham gia phong trào Thanh niên phản đế. Đầu năm 1963, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở miền Nam bước vào thời kỳ quyết liệt, ông được Đảng cử vào chiến trường Khu 5, một địa bàn trọng điểm, nơi đế quốc Mỹ và tay sai tập trung đánh phá ác liệt. Đồng chí Đoàn Khuê đã cùng Quân khu ủy chỉ đạo hiệu quả công tác tư tưởng, xây dựng bản lĩnh, ý chí quyết tâm "Dám đánh và quyết đánh thắng giặc Mỹ xâm lược" của toàn quân khu. Trưởng thành qua chiến đấu, nhiều năm đảm nhiệm công tác đảng, công tác chính trị, đồng chí đã nghiên cứu công phu nội dung giáo dục chính trị, tư tưởng, phát huy truyền thống chủ nghĩa anh hùng cách mạng, động viên bộ đội nêu cao tinh thần dũng cảm, quyết tâm tiêu diệt kẻ thù. Trên cơ sở vững vàng về chính trị, tư tưởng, cán bộ, chiến sĩ các đơn vị đã nghiên cứu tìm ra cách đánh hiệu quả, góp phần đánh bại chiến thuật "Chiến xa vận" của địch. Khi đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân vào miền Nam, đồng chí góp phần cùng tập thể Khu ủy, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 5 lãnh đạo quân và dân Khu 5 chiến đấu kiên cường, trở thành nơi "đi đầu diệt Mỹ" với những trận đánh nổi tiếng như Vạn Tường (tháng 8-1965), Plây Me (tháng 9-1965), Đồng Dương (tháng 12-1965), Xuân Sơn (năm 1966)... Vào thời điểm Hiệp định Pa-ri được ký kết (tháng 1-1973), trong một số đơn vị xuất hiện tư tưởng hòa bình chủ nghĩa, mất cảnh giác trước các âm mưu, thủ đoạn thâm độc của kẻ thù, với cương vị Phó chính ủy Quân khu 5, đồng chí đã chỉ đạo các cấp phải nắm vững quan điểm bạo lực cách mạng của Đảng, chống ảo tưởng, mất cảnh giác, lỏng lẻo ý chí chiến đấu; đồng thời cùng tập thể lãnh đạo quân khu đề ra chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị tiến công địch, giữ vững vùng giải phóng và xây dựng lực lượng mạnh để tiếp tục chiến đấu, giành thắng lợi to lớn trong các chiến dịch năm 1974 và Xuân 1975 lịch sử.
        Đối với nhiệm vụ quốc tế giúp cách mạng Cam-pu-chia, tháng 1-1979, Quân khu 5 đảm nhiệm một hướng chiến lược, đồng chí Đoàn Khuê trực tiếp làm Tư lệnh chiến dịch, đã khẩn trương chuẩn bị lực lượng, chuẩn bị chiến trường, chỉ huy tiến công địch giành thắng lợi.  Được Đảng phân công giữ chức Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Bộ tư lệnh 719, Phó trưởng đoàn chuyên gia giúp bạn Cam-pu-chia (năm 1983), được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tư lệnh Bộ tư lệnh 719. Trong công cuộc đổi mới đất nước, với cương vị là Ủy viên Bộ Chính trị, Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam và tiếp đó là Phó bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, đồng chí Đoàn Khuê đã đề ra và tổ chức thực hiện thành công cuộc điều chỉnh chiến lược quân sự quan trọng. Trên cơ sở đó, bố trí lực lượng và tổ chức phòng thủ phù hợp trên các hướng, các địa bàn, vùng biển đảo, biên giới đất liền…



Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 11:05:18 am
VIII

TƯ LỆNH QUÂN KHU

       Giữa năm 1992, tôi đang giữ cương vị Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ninh, được cấp trên gọi đi học lớp bổ túc (A) ở Học viện Chính trị-quân sự. Đầu năm 1993, tôi được bổ nhiệm Tư lệnh phó chính trị Quân khu 3 thay đồng chí Đỗ Mạnh Đạo - Trung tướng về nghỉ hưu. Cuộc đời hiến thân cho binh nghiệp cách mạng, được trên tin quần chúng ủng hộ, từ trung đội trưởng làm quân sự, sang làm chính trị viên, giáo viên, chủ nhiệm chính trị, sau trở lại làm tham mưu trưởng sư đoàn… nay lại về chăm lo công tác Đảng, công tác chính trị của Quân khu, tôi luôn nghĩ làm sao giữ vững trận địa tư tưởng cho các đơn vị, cho cán bộ các cấp. Chưa tròn một năm sau, tháng 12-1993, tôi được Nhà nước bổ nhiệm chức Tư lệnh Quân khu 3. Sau đó ít lâu, được tín nhiệm bầu là Ủy viên Trung ương Đảng, liên tục các khóa cho đến năm 2006. Tôi nhẩm lại những câu không thể quên:
   “Ai bị nguy khốn thì làm cho họ yên ổn, ai sợ sệt thì làm cho họ vui lòng, ai phản nghịch thì đem họ trở về, ai bị oan ức thì giải cứu họ, ai cường thằng thì đè nén họ, ai yếu đuối thì nâng đỡ họ, ai nhiều mưu kế thì gần gũi họ, ai dèm pha thì lật tẩy họ, ai được của cải thì cho họ, không ỷ sức mạnh mà khinh địch, không cậy giàu có để tỏ vẻ kiêu ngạo đối với người, không cậy được yêu mến để thị uy, tính toán trước rồi sau mới dấy binh, biết chắc thắng rồi sau mới đánh được, ngọc lụa không được dùng làm của riêng, được con trai, con gái không được tự sai dùng. Như thế, khi sửa trị và ban bố mệnh lệnh mọi người đều tình nguyện chiến đấu, dùng binh không đổ máu nhiều mà địch tự thất bại vậy”. Lời các bậc tiền nhân không hề cũ.
   Khi còn thơ bé, nhìn từ ao làng về phía đông, nơi có Cảng Hải Phòng, tôi choáng ngợp vì sự lớn lao của sông biển, lòng hằng mong có một lần cưỡi sóng trên con thuyền buồm ra đến cửa biển Long Châu, nghe nói ngoài đó có sóng cao, đánh vọt qua thuyền buồm.
   Giờ đây, ở vị trí Tư lệnh một Quân khu lớn, có vị trí chiến lược cực kỳ then chốt trong thế trận Bảo vệ tổ quốc, tôi suy nghĩ lung lắm. Tôi tâm đắc trước lời của Tổng Tư lệnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết trong Tạp chí Lịch sử Quân sự tháng 6 năm 1992:
   “Quân khu 3, Quân khu đồng bằng án ngữ Thủ đô, dựa vào Tây Bắc và Việt Bắc, nối liền đất Thanh, Nghệ, miền Trung, lại nhìn ra biển cả, giàu tài nguyên và quan trọng về chiến lược. Thời bình, đây là một trong những vùng đất căn bản để xây dựng và phát triển, là cửa ngõ giao lưu quốc tế của đất nước. Thời chiến, đây là hậu phương quốc gia, đồng thời là mặt trận chống xâm lược, nhiều tên làng, tên đất, tên sông đã trở thành tên gọi của những chiến công hiển hách”.
       Đúng vậy: Quân khu ba có đầy đủ các dạng địa hình của đất nước, đô thị, cửa sông, biển đảo, rừng núi, đồng bằng, trung du, bán sơn đạo, có vị trí chiến lược rất quan trọng trong thế trận phòng thủ.
   Gần 4 năm tôi làm Tư lệnh “sớm dậy khuya nằm”, tôi đã cùng các đồng chí trong Bộ tư lệnh Quân khu tập trung chỉ đạo quân khu thực hiện chức năng chính của Lực lượng vũ trang Quân khu là sẵn sàng chiến đấu, xây dựng, huấn luyện các đơn vị tập trung của quân khu thành lực lượng “Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”. Chúng tôi xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt trong mọi hoạt động của đơn vị, là một yêu cầu cấp bách, nhiệm vụ trọng yếu để nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội.
       Với LLVT địa phương (tỉnh, thành phố), chúng tôi coi trọng chỉ đạo xây dựng LLVT ba thứ quân (bộ đội tập trung, lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ) và làm tốt vai trò tham mưu để lãnh đạo các địa phương vận dụng sáng tạo NQ 02/BCT: “Đảng lãnh đạo, chính quyền điều hành, quân sự làm tham mưu, thống nhất chỉ huy các LLVT”. Không chỉ tập trung đối phó chiến tranh chống xâm lược mà còn vận dụng cơ chế ấy vào trong xử lý các điểm nóng ở mỗi địa phương. Vận hành tốt cơ chế “Đảng lãnh đạo, chính quyền điều hành, các ban ngành làm tham mưu, LLVT là nòng cốt”. Phấn đấu các địa phương (chính trị trong sạch, kinh tế phát triển, QP-AN vững mạnh) để thực hiện quan điểm của Đảng trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc là làng giữ làng, xã giữ xã, huyện giữ huyện, tỉnh giữ tỉnh khi có chiến tranh xảy ra.
   Một hoạt động có ý nghĩa cơ bản là tôi chỉ đạo, điều hành cuộc diễn tập phòng thủ toàn quân khu, với lực lượng vũ trang quân khu và các tỉnh (thành phố) tham gia để cụ thể hóa NQ 02/BCT trên địa bàn Quân khu (đây là cơ sở để tôi bảo vệ thành công Luận án Tiến sĩ khoa học quân sự tại Học viện Quốc phòng).
   Về lý thuyết, chúng ta đã nói rất nhiều về sự “phối kết hợp” giữa LLVT quân khu và các tỉnh, thành phố, nhưng qua thực tế diễn tập mới thấy không phải ở đâu cũng quán triệt và thực hiện tốt. Khối chủ lực quân khu cũng phải rút kinh nghiệm nhưng khối địa phương (tỉnh, thành phố) còn nhiều bất cập cả về cơ chế, cả về chính sách và thực lực.
       Điều tôi lo lắng là lớp cán bộ lãnh đạo mới các địa phương có quan tâm và làm tốt các vấn đề quân sự, quốc phòng, an ninh như thế hệ trước hay không? Có thực coi trọng vấn đề Bảo vệ Tổ quốc hay xao nhãng làm kinh tế bằng mọi giá? Vào cuối những năm 2000, tôi đã thấy có địa phương ở biên giới cho nước ngoài thuê đất, thuê rừng, xâm hại đến lợi ích an ninh quốc gia. Điều đáng mừng là điều tôi lo lắng đó chưa xảy ra ở địa bàn chiến lược Quân khu 3. Ý thức quốc phòng toàn dân của người dân cùng các cấp chính quyền ở Châu thổ sông Hồng luôn được quán triệt tốt.
      Mong sao các thế hệ chỉ huy của Quân khu 3, các tỉnh và thành phố mãi mãi sau này không bao giờ khinh suất việc xây dựng thế trận “sâu rễ bền gốc” trong lòng người, trong tư tưởng nhận thức và cả trong thực tế bảo vệ vững chắc địa bàn được nhân dân, nhà nước giao phó.


Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 11:05:49 am
   Việc điều chỉnh các đơn vị LLVT quân khu nơi đứng chân, phối hợp phương án tác chiến phòng thủ quân khu thời kỳ mới, đó là việc khi triển khai tôi cũng rất thận trọng . Song tôi lại nghĩ, mỗi giai đoạn cụ thể có yêu cầu lịch sử khác nhau, nếu vì tư tưởng cá nhân (sợ va chạm) không có chính kiến, làm trái với lương tâm, chức trách của mình, đó cũng là thiếu sót! Khi tổ chức điều chỉnh thế trận, tôi phải tạo và chọn thời cơ cho phù hợp. Dự kiến của Bộ Quốc phòng điều Trung đoàn 43 về T.Y, mà T.Y cách hai huyện xa . Nhìn về địa quân sự, với một đơn vị bố trí phía trước, là chỗ dựa và hậu thuẫn cho địa phương khi có chuyện khởi sự, xa thế thì không ổn, kể cả đơn vị cơ động bằng cơ giới. Nhân dịp đồng chí Trung tướng Nguyễn Thới Bưng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng về thăm quân khu, tôi mời Thứ trưởng ra thăm biên giới. Tôi biết Trung tướng Thới Bưng từ 1972 trong Chiến dịch Nguyễn Huệ. Sau chuyến thăm và kiểm tra đó, thủ trưởng bộ đồng ý cho Trung đoàn 43 ở lại vị trí cũ (huyện Hải Hà). Đến bây giờ thế trận chiến dịch ấy vẫn rất đắc địa, nhất là khi thành phố Móng Cái thành khu kinh tế mở, giao thương mạnh mẽ hai bên, đường biên giới phát triển, từ Quảng Hà có thể triển khai cơ động khá thuận lợi, khi có tình huống, càng thấy đề xuất của chúng tôi là chính xác.
           Từ kinh nghiệm điều chỉnh Trung đoàn 43, tôi dự kiến điều chỉnh Lữ cao xạ 214 đứng chân từ cầu Phú Lương về (phía Tây thành phố Hải Dương), Trung đoàn thông tin 603 quân khu Từ Duồn (An Lão) về gần Sở chỉ huy, Tiểu đoàn hóa học từ Quỳnh Phụ, Thái Bình về gần Quân khu bộ… Tôi chọn thời cơ khi đồng chí Đại tướng Đoàn Khuê, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng xuống thăm quân khu, khi nghe tôi đề xuất phương án bố trí lực lượng, ông rất vui vẻ và cũng thận trọng. Ông giao cho Cục tác chiến nghiên cứu, tôi đã tranh thủ được sự ủng hộ của Cục tác chiến Bộ Tổng tham mưu, trong đó có vai trò Cục trưởng của Trung tướng Vũ Cao. Thực tế cho đến nay các đơn vị đã phát huy được khả năng hoạt động, phát triển, khang trang, chính quy. Đến đơn vị nào cũng có hệ thống kho tàng, trận địa, nhà ở, góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu, nuôi dưỡng bộ đội, bảo đảm sức chiến đấu tốt. Từ doanh trại chính quy, ý nghĩa sâu xa hơn là rèn luyện được đội ngũ sĩ quan, chiến sĩ, đáp ứng yêu cầu của tác chiến hiện đại.
           Quá trình chỉ huy, lãnh đạo quân khu, ngoài việc  tôi quan tâm công tác huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu của LLVT quân khu, công tác xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện… tôi cũng tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp. Tôi xác định đây là khâu then chốt, là lực lượng quan trọng, tạo cho người chỉ huy hoàn thành chức trách của mình. Trước khi tôi được bổ nhiệm Tư lệnh Quân khu, tôi có thời gian gần một năm làm Phó tư lệnh chính trị quân khu, có thời gian dài đi sát cơ sở, nằm đó, nắm chắc được mạnh yếu của đội ngũ cán bộ.
           Sau 5 năm thành lập Quân khu 3 “mới”, trên cơ sở Quân khu 3 và Đặc khu Quảng Ninh (thực chất là sáp nhập Đặc khu Quảng Ninh vào Quân khu 3). Trong thời gian ngắn ấy, Quân khu đã cho ra quân, chuyển ngành, về hưu trên 5.000 sĩ quan các cấp (thống kê này đồng chí Tư, Phó phòng cán bộ cùng tôi tổng hợp). Nếu so sánh số sĩ quan cho ra quân với số sĩ quan đương chức, về mọi tiêu thức (tuổi trung bình, chất lượng chiến đấu, học vấn, từng trải qua chiến đấu) thì số đương chức “đuối” hơn.
   Để khắc phục tình trạng trên, tôi chủ động bàn với các đồng chí trong Thường vụ và Tư lệnh Quân khu đi liên hệ các Học viện, nhà trường quân đội gửi cán bộ đi học (ngoài kế hoạch của Bộ). Tôi trực tiếp đi liên hệ tại Học viện Quốc phòng, Học viện Chính trị. Anh Thành, Thiếu tướng, Phó tư lệnh Chính trị đi liên hệ Học viện Lục quân. Chúng tôi được các đồng chí lãnh đạo  các học viện, nhà trường ủng hộ cao.
   Trong vòng 3 năm (1994 - 1996), chúng tôi tự tổ chức bồi dưỡng cho cán bộ sơ cấp ở Trường Quân sự quân khu và gửi đi học ở các nhà trường của Bộ được trên 600 cán bộ các cấp bằng nguồn ngân sách của Quân khu, trích từ kết quả hoạt động kinh tế đầu tư cho cán bộ. Số cán bộ được Quân khu cử đi học (ngoài luồng) sau này về đơn vị đã đóng góp không nhỏ cho nhiệm vụ xây dựng, huấn luyện và nâng sức mạnh chiến đấu LLVT Quân khu.


Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 11:06:20 am
    Từ lâu, Quân khu 3 đã có truyền thống kết hợp quốc phòng với kinh tế, kinh tế với quốc phòng. Khẩu hiệu “làm giàu đánh thắng” có từ thời đồng chí Nguyễn Quyết làm Tư lệnh. Tư tưởng đó được các thế hệ Tư lệnh Quân khu sau này kế thừa và vận dụng. Trước đây, lực lượng làm kinh tế của quân khu lên tới trên 30 đầu mối, khi tôi làm làm Tư lệnh chỉnh đốn lại, rút xuống còn hơn chục đầu mối. Trước đây, các đơn vị làm kinh tế chỉ cần nộp đủ thuế cho Nhà nước là được, không cần phải đóng góp gì cho Quân khu.
      Khi tôi làm Tư lệnh, tôi suy nghĩ, cũng là sĩ quan trong quân đội, số anh em làm nhiệm vụ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu quá vất vả, nhưng hậu phương gia đình rất khó khăn. Trong khi đó, số sĩ quan phân công làm kinh tế, “thương trường là chiến trường”;  tuy cũng vất vả, song đời sống kinh tế hơn hẳn. Tôi bàn với thường vụ Đảng ủy Quân khu, giao thêm nhiệm vụ cho lực lượng làm kinh tế, ngoài việc nộp thuế cho Nhà nước hằng năm phải nộp thêm chỉ tiêu cho Quân khu để Quân khu điều tiết cho các đơn vị phía trước và làm nhiệm vụ huấn luyện. Chủ trương này được các đồng chí phụ trách các công ty, xí nghiệp hoan nghênh. Hoan nghênh vì trước đây “nói là không đóng góp cho Quân khu”, song thực tế vẫn phải chi viện cho các đơn vị (nhưng không có “tên tuổi” gì), nay có chỉ tiêu rõ ràng, cuối năm tổng kết, Quân khu lại biểu dương, thấy rõ được sự đóng góp thiết thực, các công ty, xí nghiệp thấy vinh dự, được đánh giá đúng. Đơn vị chiến đấu, đồng đội, đồng chí thừa nhận.
       Tôi ngẫm ra rằng, người ta có thể nhiều tiền, cũng có thể còn nghèo, có người thích biểu dương, thích địa vị cao, có người lại không thích khuyếch trương thành tích… Nhưng uy tín thì ai cũng cần, được đánh giá đúng, công bằng thì ai cũng cần. Người chỉ huy rất cần sự công tâm, công bằng, đánh giá đúng, không thiên vị. Thiên vị là mầm mống nảy sinh ganh ghét, đố kỵ, nguyên nhân gây mất đoàn kết, bằng mặt không bằng lòng. Tính công tâm, thẳng thắn của tôi có thể có người không thích, nhưng với số đông, với sự nghiệp và cộng đồng, tôi cho rằng cần phải giữ vững và phát huy phẩm chất ấy.
              Nghiên cứu trên hải đồ, trên ảnh vệ tinh, tôi thực sự cuốn hút về dãy đảo nằm trong tuyến biển đảo Đông Bắc. Trong thế quân sự-quốc phòng nơi đây, tạo hóa ban cho Tổ quốc những vùng địa linh, trường tồn, khác nào những tàu sân bay, những chiến hạm không bao giờ đắm, bảo đảm cho Tổ quốc không bị bất ngờ, khi từ tuyến đảo này thế trận kinh tế quốc phòng vững chãi. Những tên gọi dễ nhớ Cô Tô, Ngọc Vừng, Vĩnh Thực, Cái Bầu… đó khác nào phên giậu, những tiền đồn xa, canh giữ vùng biển đảo của Tổ quốc. Dẫu sao đời sống bộ đội ở đây còn cực nhọc, chỗ ở còn nhếch nhác, kho tàng cũng không khá hơn. Khí hậu biển đảo thì mưa ẩm, gió biển mặn cùng hơi nước, tạo sự ăn mòn rất tác hại cho việc bảo quản vũ khí, khí tài quang học, độ chính xác của súng ống, đạn dược…
      Thời anh Phạm Văn Trà làm Tư lệnh Quân khu, anh đã tổ chức xây, ngói hóa được một đảo, đó là Ngọc Vừng. Khi tôi lên Tư lệnh ra kiểm tra tuyến đảo tôi suy nghĩ nhiều lắm: Làm sao, làm thế nào? Để rút ngắn thời gian ngói hóa doanh trại cho bộ đội ở tuyến đảo, một đời làm Tư lệnh (5 năm) anh Trà ngói hóa được một đảo, nếu cứ tốc độ này phải 20 năm sau mới ngói hoá toàn bộ tuyến đảo Quân khu!!!
      Tôi cùng các cơ quan nghiên cứu kỹ chủ trương phát triển kinh tế của nhà nước, trong đó chúng tôi chú ý tới văn bản đề cập đến Chương trình Biển Đông. Tôi giao cho cơ quan Khoa học Công nghệ môi trường bước đầu nghiên cứu về biển đảo trên địa bàn. Chúng tôi phân công Cục hậu cần làm công văn xin Vụ I của Ủy ban kế hoạch Nhà nước, xin Nhà nước chi viện ngân sách để Quân khu xây dựng tuyến đảo Đông Bắc. Được Bộ ủng hộ, sau đó tôi trực tiếp lên mời anh Cẩn Vụ trưởng vụ I, cùng anh Sáng Vụ phó vụ này xuống thăm Quân khu, ra thăm thực tế tuyến đảo Đông Bắc.
   Tận mắt thấy thế chiến lược biển đảo, thực trạng tiềm lực kinh tế, thế trận quốc phòng trên khu vực rộng lớn này, Vụ I đã đưa vấn đề xây dựng cơ sở quân sự các tuyến đảo vào kế hoạch của Nhà nước. Thế là Quân khu được đầu tư 20 tỷ đồng. Đó là nguồn lực rất đúng lúc, rất có giá trị để xây dựng 4 đảo còn lại, đó là: Đảo Trần, Cô Tô, Vĩnh Thực, Cái Bầu. Mỗi viên gạch, bao xi măng, tấn thép mang ra đảo là một kỳ công. Tôi động viên anh em ở Cục Hậu cần, Phòng doanh trại, vận tải Quân khu, cảng Đông Hải, cùng nhiều cơ quan khác tích cực tham gia chiến dịch này. Sư đoàn xây dựng 319, cán bộ chiến sĩ Đoàn 242 đã tranh thủ ngày đêm, mùa mưa, tận dụng có nước ngọt bền bỉ 3 năm xây cất các công trình, để có cơ ngơi khang trang, sẵn sàng chiến đấu cao như bây giờ.


Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 11:06:56 am
       Sở chỉ huy Quân khu nằm trên địa bàn quận Kiến An. Thế cao, hướng phát triển tốt về duyên hải Thái Bình, Hà – Nam – Ninh, hoặc ngược lên Quảng Yên - Ba Chẽ - Tiên Yên - Móng Cái. Từ đây hỗ trợ các vùng đảo, vịnh rất tốt. Nhưng chính tại nơi đô thị này, cơ sở vật chất, ăn ở, hệ thống thông tin liên lạc, sở chỉ huy chưa chính quy.  Để chuẩn bị kỷ niệm Quân khu 50 năm ngày truyền thống, tôi cùng các cấp triển khai hàng loạt các chương trình, hạng mục, trong đó có chỉ đạo xây dựng cổng Quân khu bộ quay ra đường Kamen (hướng Nam). Khi khánh thành ai cũng phấn khởi, được đi lại đàng hoàng. Bộ mặt quân khu hoành tráng, thể hiện được sức mạnh của LLVT trên địa bàn, tương xứng với sức mạnh thực chất trong thế trận An ninh quốc phòng Khu vực đồng bằng, biển đảo rộng lớn.
       Thời gian làm Tư lệnh Quân khu, tôi có quan hệ chặt chẽ với các đồng chí lãnh đạo các tỉnh, thành phố trong địa bàn. Tôi ủng hộ và tạo điều kiện cho các địa phương phát triển kinh tế xã hội để đời sống nhân dân ngày một cải thiện, nhưng quá trình phát triển kinh tế xã hội phải gắn với quốc phòng an ninh. Việc liên doanh liên kết các địa phương với nước ngoài cơ bản là thuận lợi, đúng hướng, phát huy tốt tiềm năng thế mạnh của các khu vực.
 Riêng ở Hải Phòng, do lịch sử để lại, khu vực phòng thủ quân khu ở địa bàn có 3 khu vực rất quan trọng nhưng cả 3 khu vực ấy đều “có vấn đề”.
Nhà máy xi măng Chinfon xây dựng trùm lên hầm phòng thủ khu vực (chỗ Phà Rừng). Đó là hầm pháo để khóa cửa song Bạch Đằng. Lãnh đạo TP Hải Phòng nói đã lỡ rồi, xin bỏ qua. Khu thứ hai là đảo Đình Vũ, địa phương định phát triển khu liên doanh liên kết, chiếm hết cả khu vực quân sự. Khu thứ ba là huyện đảo Cát Bà, lấy đường hầm pháo làm đường xuyên đảo, để dân du lịch xuyên tắt ra bãi Cát Cò, Cát Cụt, một khu bãi tắm có giá trị văn hóa, cảnh quan đẹp.
Tôi đã kiên quyết đấu tranh, chủ động xin ý kiến Thủ trưởng Bộ Quốc phòng. Cấp trên đã chỉ đạo kiên quyết khắc phục tồn tại trên. Nhà máy xi măng Chinfon đã phải bỏ ra 10 tỷ đồng để công binh quân khu xây lại công trình phòng thủ.
     Cảng Đình Vũ nay giữ lại được khu đất trận địa đoạn gần bến phà. Nơi đây được đánh giá có vị trí chiến lược quan trọng. Để khóa cửa biển vào Hải Phòng, một bên là đảo Cát Bà, một bên là Đồ Sơn, Đình Vũ được ví là then cài. Nơi đây có vị trí chiến lược trong tác chiến phòng không tuyến đầu và tác chiến phòng thủ khu vực từ xa.
      Khu đảo Cát Bà trong phát triển du lịch lấy đoạn hầm pháo làm đường đi qua, quân khu phải xẻ núi cho dân đi ra Cát Cò, Cát Cụt thu lại các hầm pháo trên. Tôi cho rằng, những biểu hiện cụ thể về coi nhẹ công tác quân sự-quốc phòng trong cơ chế thị trường luôn phải được kiểm tra, chấn chỉnh.
        Cồn Thoi là tên một xã thuộc địa bàn hoạt động của LLVT Quân khu 3. Trong hàng chục năm trời, bộ đội đã tham gia lao động, quai đê lấn biển phía Nam huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Xã này được thành lập năm 1964, trên cơ sở xã Tô Hiệu. Trụ sở xã nằm cách trung tâm thành phố Ninh Bình 45 km. Diện tích là  8,23 km²; dân số: 8042 người. Phía Bắc xã giáp các xã Kim Tân và Kim Mỹ; phía Đông giáp sông Đáy, phía Nam giáp thị trấn Bình Minh.
Cồn Thoi là xã vùng trũng có diện tích tự nhiên 742,5 ha, xã có tới 87% dân số theo đạo thiên chúa giáo. Xã có bến xe Cồn Thoi là điểm nút giao thông quan trọng phía Nam của huyện Kim Sơn. Hiện nay, Cồn Thoi phát triển rất nhanh, những con đường lớn đã được trải nhựa, tất cả các đường đều được đổ bê tông. Năm 2004, Cồn Thoi đã đầu tư hàng tỷ đồng để xây dựng nhà văn hóa cùng với sân bóng đá. Hiện Ninh Bình đang dự kiến thành lập khu kinh tế biển đảo Kim Sơn tại vùng biển bãi ngang - cồn nổi và 7 xã ven biển Kim Sơn, trong đó có Cồn Thoi
       Vịnh Cửa Lục nằm giữa “trung tâm” TP Hạ Long và huyện Hoành Bồ.  Xuất xứ tên của vịnh Cửa Lục là do có 6 con sông từ huyện Hoành Bồ cùng đổ vào, trong đó có những sông lớn như các sông Trới, Mỹ, Mằn, Thành, Diễn Vọng... nên lượng phù sa bồi lấp hằng năm vào vịnh khá lớn: Diễn Vọng (29.000 tấn); Mằn (10.600 tấn) và Trới (20.300 tấn). Nhiều năm qua, LLVT Quân khu 3 đã lao động quên mình tạo nên một vùng quỹ đất canh tác, sản xuất bằng cả quỹ đất vốn có của huyện Hoành Bồ.
     Giờ đây, trên sông Cửa Lục, từng đoàn tàu biển vào ra. Cảng Cái Lân mở rộng, cầu Bãi Cháy hoành tráng bắc ngang sông, cả một vùng biển hoang vu năm xưa nay sôi động kinh tế, du lịch… Nhìn thấy ai cũng vui mừng, Hạ Long, Quảng Ninh đang khởi sắc, bừng lên… Lại nhớ những năm tháng cả vạn chiến sĩ cán bộ Quân khu 3 đã dầm mình nơi đây.
      Để chuẩn bị cho ngày kỷ niệm 50 năm thành lập Quân khu 3, 25-10-1945/25-10-2011, chúng tôi đã cùng lúc triển khai nhiều công việc, huy động nhiều lực lượng tham gia, cùng với những phong trào thi đua triển khai trước đó… Tập trung cao nhất là: Cuộc diễn tập phòng thủ Quân khu là cuộc diễn tập lớn nhất trong vòng mấy chục năm, tôi cùng BTL chỉ đạo tốt, rút kinh nghiệm, đúc rút nhiều bài học quý.
         Đội quân nhạc của Quân khu, trên chỉ cho biên chế một tiểu đội, tôi chủ trương tăng biên chế cỡ trung đội. Quân khu tự bỏ kinh phí hoạt động. Anh em có chỉ huy, quản lý chặt chẽ. “Trống năng rèn, kèn năng thổi”, giờ đây trong các dịp lễ kỷ niệm ý nghĩa lớn của Quân khu và khu vực, đội quân nhạc này phục vụ rất nghiêm túc và “hoành tráng”, nâng tầm uy tín và sự trang trọng cho LLVT Quân khu.
         Đoàn nghệ thuật của Quân khu cũng như Báo Quân khu 3, Truyền hình Quân khu 3 cũng được tôi cùng Bộ tư lệnh chăm lo củng cố, phát triển. Nhà văn hóa được tăng kinh phí hoạt động. Dịp kỷ niệm Quân khu ra đời có mấy tập sách được in cùng các sách lịch sử, tổng kết được phát hành trong những năm tháng ấy, hàng loạt hội thảo về Khoa học công nghệ-lịch sử trận đánh được tổ chức... góp phần vào khẳng định sức mạnh và truyền thống của Quân khu 3 trong lòng dân Đồng bằng sông Hồng.
         Chúng tôi đã làm tốt việc phối hợp với các địa phương, tổ chức phối hợp với các trường đại học trên địa bàn, tổ chức diễu binh LLVT Quân khu 3 và các hoạt động chào mừng, dạ hội thanh niên trong và ngoài quân đội…

       Một câu chuyện khác: Cần phải có Nhà tang lễ của khu vực Hải Phòng, đó là nguyện vọng của nhiều cựu chiến binh trong địa bàn mong ước có được. Xuất phát từ suy nghĩ là trên địa bàn, có nhiều sĩ quan cấp tướng, cấp tá và cán bộ viên chức ở Hải Phòng… khi lâm sự, cần có nơi viếng và tiễn đưa trang trọng.
        Đón nhận mong muốn này, tôi nghĩ đến một nơi có diện tích và vị trí phù hợp là mảnh đất tại Phân viện 7, gần lối ra phà Bính (Hải Phòng). Nơi đây, khi Quân khu 3 rút gọn, lãnh đạo thành phố có ý muốn xin lại, làm việc khác, bởi nguồn gốc xa xưa là đất của thành phố. Tôi thăm dò và đề xuất với Thành ủy, Ủy ban, hướng xây một nơi làm nhà tang lễ. Thành phố nhất trí ngay. Tôi trao đổi trong Lãnh đạo chỉ huy Quân khu, trích nguồn vốn xây dựng ngay một khu làm nơi cử hành tang lễ, giao cho Bộ CHQS thành phố Hải Phòng quản lý, điều hành. Từ đây, những cựu chiến binh trong khu vực, khi qua đời được cử hành tang lễ tại một nơi khang trang, nghiêm túc. Điều này trước đây chỉ có ở hai thành phố lớn của đất nước.
   
     Tôi đọc và ghi nhớ lời người xưa, qua Binh thư yếu lược thường nhắc nhở:
Các điều gian lao của quân đội, tướng súy phải nếm trải trước đã. Trời nắng không che lọng, trời lạnh không mặc áo cầu dầy, gặp chỗ đường khó thì xuống đi chân; giếng nước trong quân đào xong, tướng mới được uống nước; cơm của lính nấu chín rồi, tướng mới được ăn; lũy trong quân xây xong rồi tướng mới được nghỉ; khi cực nhọc hoặc khi nhàn hạ, tướng phải cùng sống với quân lính: Như thế tuy dùng binh lâu ngày mà quân đội vẫn mạnh mẽ, hăng hái.
       Một chuyện nhỏ, nhưng tới nay nhiều sĩ quan vẫn nhắc khi gặp tôi. Số là trong những lần đi công tác, dọc ngang địa bàn quân khu, vào chiều thứ Sáu, tôi thấy các sĩ quan thuộc Quân khu bộ, mang mũ kê-pi, mặc quân phục mới, trong mưa giông, gió rét, hay nắng hè nhễ nhại mồ hôi gò lưng đạp xe đạp, lên xuống phà từ Ruồn về Quý Cao, xuôi Thái Bình, hay lếch thếch ghìm xe xuống phà Bến Bính, phà Rừng về nghỉ cuối tuần. Đất nước giải phóng hơn hai chục năm mà bộ đội vẫn vất vả. Tôi bàn với Bộ tư lệnh, xuất quỹ cho mỗi sĩ quan Quân khu bộ vay 10 triệu đồng, không lấy lãi, sẽ trả dần để anh em có vốn ban đầu mua xe máy. Tôi không còn nhớ rõ tổng số chi bao nhiêu, nhưng vào những năm đó 10 triệu đồng rất có giá trị. Hầu hết sĩ quan đã mua được xe máy để cải thiện sinh hoạt, bớt dần cảnh nhếch nhác đạp xe ngược gió, về thăm vợ con ở xa, yên tâm công tác. Gần đây có thông tin từ cơ quan tài chính, có sĩ quan cho đến nay vẫn chưa trả hết đận vay 10 triệu ấy. Tôi không buồn mà thấy vui, ít nhất anh em đã có một cơ hội. Lo gì, khi về hưu anh em sẽ có món để trả Quân khu cơ mà!


Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 11:08:15 am
IX

CƯƠNG VỊ  MỚI

     Những ngày hè oi ả của năm Bính Tý rồi cũng qua đi.  Tôi ngồi trên xe Toyota hai cầu, lướt trên con đường lượn quanh làng quê thuộc địa bàn quân khu. Tháng Tám, gió heo may se se làm rạp ngọn lúa tạo nên những đợt sóng trải đồng, khiến tôi chợt nhớ về những ngày thơ ấu. Mới đấy mà đã hơn 45 năm, từ những ngày theo ông bà ngoại đi tản cư, chạy giặc, tháng Tám ngày ấy cũng xanh, mát dịu thế này.
      Trở về Kiến An, tôi nhận được tin triệu tập về Bộ. Lại có việc mới! Tôi nghĩ thế. Số là ngày 25-9-1996, Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt ký Quyết định số 702/TTg bổ nhiệm tôi, Thiếu tướng, Phó tiến sĩ Nguyễn Thế Trị, Uỷ viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân khu 3 giữ chức Giám đốc Học viện Quốc phòng. Thật ra, phương án này của trên, tôi đã biết. Thậm chí, tôi còn biết có những phương án khác, có thể tôi làm chỉ huy quân sự, hoặc chỉ huy chính trị ở cấp cao. Bây giờ không làm chỉ huy chính trị và quân sự, lại về chỉ huy nhà trường, học viện… Tôi nhẩm lại lời thề của người lính “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành…” lòng thấy thanh thản trở lại.
      Được phép của Bộ, tôi đã nhanh chóng hoàn thành nốt một số công việc ở Quân khu để về nhận nhiệm vụ tại Học viện Quốc phòng vào đầu năm1997. Ngay khi nhận được quyết định, tôi có cảm xúc vừa mừng lại vừa lo. Mừng vì được Đảng, Nhà nước, Quân đội tín nhiệm, tin tưởng, lo vì cách đây 16 năm tôi mới là học viên đào tạo ở đó. Hiện Trung tướng Nguyễn Hải Bằng đang làm quyền Giám đốc Học viện, người mà 26 năm về trước (1971) là cấp trên của tôi (anh Bằng khi đó là Tham mưu trưởng Sư đoàn 7, tôi là Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn 209 thuộc Sư đoàn 7). Tôi lo nhất là kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ huy điều hành công tác nhà trường còn mỏng. Đây là một Học viện lớn, liệu mình có hoàn thành tốt được trọng trách mà Đảng, Quân đội giao cho?
         Những lúc rảnh rỗi, hay đêm về, trước khi giấc ngủ ập đến, tôi lặng yên suy nghĩ về hai năm học tập ở Học viện Quân sự cao cấp, hồi ức về những năm tháng ấy cứ hiển hiện như mới ngày nào… Ngày ấy, chúng tôi về học khoá 2 đào tạo Sư đoàn trưởng binh chủng hợp thành, khai giảng vào cuối tháng 8 năm 1979. Khoá học có 125 học viên. Chúng tôi rất đỗi tự hào vì được là học viên những khoá học đầu tiên của Học viện cao cấp nhất của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Nơi đây, nơi hội tụ những cán bộ, giảng viên là các tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp mà tên tuổi, sự nghiệp của họ đã gắn với những chiến công hiển hách của quân và dân ta trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, như: Lê Trọng Tấn, Hoàng Minh Thảo, Nguyễn Hữu An, Lê Tự Đồng, Đỗ Trình, Phạm Hồng Sơn, Hoàng Đan, Nguyễn Năng, Lê Linh v.v… Các ông là người thầy trên giảng đường, còn là cán bộ nghiên cứu khoa học tầm cỡ.
       Theo Nghị định 188/CP của Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt ký ban hành ngày 20-12-1994 về việc "Thành lập Học viện Quốc phòng trên cơ sở Học viện Quân sự cấp cao” xác định: Học viện Quốc phòng trực thuộc Chính phủ, là trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cao cấp quân sự, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước và đoàn thể, nghiên cứu khoa học quân sự. Chính phủ giao cho Bộ Quốc phòng trực tiếp quản lý. Học viện Quốc phòng là một tổ chức có tư cách pháp nhân, có con dấu mang hình quốc huy, có tài khoản riêng và có biểu tượng riêng.
   Về nhiệm vụ huấn luyện-đào tạo, bồi dưỡng của Học viện gồm 4 nhóm đối tượng chính. Một là đào tạo, bồi dưỡng sĩ quan chỉ huy tham mưu cao cấp, chiến dịch, chiến lược (học dài hạn và học ngắn hạn); cán bộ cao cấp quân sự địa phương, cán bộ cao cấp các quân binh chủng, ngành, cán bộ giảng dạy ngiên cứu khoa học ở cấp chiến dịch chiến lươc. Hai là bồi dưỡng kiến thức quốc phòng-an ninh cho cán bộ chủ chốt các tỉnh, thành phố, các thứ trưởng, bộ trưởng và tương đương. Ba là đào tạo cao học, nghiên cứu sinh về khoa học nghệ thuật quân sự cấp chiến dịch, chiến lược. Bốn là hợp tác quốc tế về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cao cấp quân sự-quốc phòng.
.
(http://i627.photobucket.com/albums/tt353/datavehu/HVQP2.jpg)


Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 11:09:07 am
X

NÂNG TẦM TƯ DUY QUỐC PHÒNG-QUÂN SỰ

 
     Giữa tiết Xuân năm 1997, trời còn  se lạnh, tôi về Học viện Quốc phòng nhận nhiệm vụ. Tôi trao đổi với Đảng ủy, Ban giám đốc, đề nghị anh Hải Bằng vẫn đứng trên cương vị quyền Giám đốc điều hành công việc giúp tôi, nhất là về công tác huấn luyện-đào tạo thêm 6 tháng nữa. Với cương vị là Uỷ viên Thường vụ sau buổi họp tháng 3, có hai vấn đề lớn trong nghị quyết cứ trăn trở mãi trong tôi, đó là nâng cao chất lượng huấn luyện, đào tạo cho các đối tượng học viên của Học viện, tập trung đột phá vào hai khâu: Viết giáo trình, đổi mới phương pháp dạy-học và xúc tiến khẩn trương mọi công tác, nhằm nâng mục tiêu đào tạo ở Học viên lên tầm chiến dịch, chiến lược.
                Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam, đòi hỏi công tác đào tạo tại Học viện phải Nâng tầm tư duy nghệ thuật quân sự từ tư duy chiến thuật - chiến dịch lên chiến dịch - chiến lược. Đó là điều tôi cùng Ban giám đốc chú tâm chỉ đạo các cơ quan suy nghĩ. Đổi mới dạy và học là vấn đề lớn, vừa là nhiệm vụ cấp bách, vừa là nhiệm vụ thường xuyên lâu dài.
      Tôi luôn luôn suy nghĩ, Học viện Quốc phòng muốn trở thành một Học viện mang tầm cỡ quốc gia và quốc tế thì việc đầu tiên phải là bồi dưỡng đội ngũ giáo viên. Đây là lực lượng chủ chốt, có vai trò chủ thể trong giảng dạy ở Học viện.
    Tình trạng chung của nhiều học viện, nhà trường trong quân đội lúc này là thiếu một hệ thống giáo trình các môn học. Các tài liệu tham khảo cũng chưa được chú ý biên soạn đầy đủ và sắp xếp đồng bộ. Đổi mới dạy - học không chỉ hô hào quyết tâm mà phải đổi mới cả người dạy, người học và phải có cơ sở vật chất bảo đảm đầy đủ, đồng bộ. Trước hết, phải xây dựng được hệ thống giáo trình chuẩn của các môn học, đồng thời biên soạn, sưu tầm sắp xếp các tài liệu tham khảo (có tham khảo sát, tham khảo rộng) để học viên tự học. Bởi vậy, nhiệm vụ viết giáo trình đã trở thành cấp bách và trọng tâm của Học viện lúc này. Học viện cũng đã có vài ba bộ môn của một vài khoa triển khai viết giáo trình môn học. Khi triển khai, toàn Học viện có ngót 20 khoa với gần 40 bộ môn cùng viết, mới thấy khối lượng công việc thật đồ sộ và phức tạp. Cũng có đồng chí phân vân về chất lượng giáo trình, tính hiệu quả khi triển khai cùng viết một cách "ồ ạt".
      Để đảm bảo tính khoa học, hệ thống của giáo trình, tôi cùng Ban giám đốc nhất trí chủ trương mời những giáo sư, nhà giáo chuyên sâu, có kinh nghiệm viết giáo trình lớn vào Học viện giới thiệu về phương pháp viết giáo trình: Từ mục đích, yêu cầu, trình tự các bước triển khai viết; nội dung, cách thức thể hiện của một môn học, một đơn vị học trình, đơn vị kiến thức, một vấn đề huấn luyện… tương ứng với từng cụm bài, bài giảng, tiết giảng. Các khoa, bộ môn chọn giảng viên có thâm niên nghiên cứu, giảng dạy và có kinh nghiệm viết tốt được giao từng nội dung cụ thể để viết và định các bước thông qua, thời gian hoàn thành. Kết quả đáng mừng: Phấn đấu quyết liệt trong hơn 3 năm, các khoa hoàn thành hệ thống giáo trình các môn học.
      Một sự phát triển mới là Học viện tăng cường trang thiết bị hiện đại ở các giảng đường, phòng học và thư viện, công tác đào tạo đã có bước đột phá mạnh mẽ vào đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng: Giảm giờ lên lớp của giảng viên, tăng giờ trao đổi, hội thảo và giờ tự học của học viên, tăng học tập thực hành, thực tế… theo phương châm lấy người học làm trung tâm, kết hợp nghiên cứu lý luận gắn với thực tiễn, học tập với rèn luyện, nhằm nâng cao toàn diện cả trình độ lý luận, phương pháp, phong cách lãnh đạo, chỉ huy, điều hành cơ quan của người cán bộ cấp chiến dịch - chiến lược. Cũng từ đây, công tác huấn luyện-đào tạo ở Học viện ngày càng tăng cường tính chính quy, hiện đại, mẫu mực đồng bộ từ khâu tuyển sinh, xây dựng chương trình, nội dung, phương pháp dạy - học cho đến thi tốt nghiệp ra trường.
   Theo Nghị định 188/CP của Thủ tướng Chính phủ, Học viện Quốc phòng có nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng 4 nhóm đối tượng: Cán bộ chiến dịch - chiến lược; bồi dưỡng kiến thức quốc phòng; cao học, nghiên cứu sinh và hợp tác đào tạo học viên quốc tế. Trong đó, nhóm đối tượng đào tạo thường xuyên và trọng tâm nhất là sĩ quan chỉ huy - tham mưu cao cấp chiến dịch, chiến lược. Nhóm đối tượng này lại chia thành 4 đối tượng được tuyển sinh theo Quyết định của Bộ Quốc phòng.
   Cũng cần phải làm rõ thêm, đến năm 1998, hệ thống trường, học viên đào tạo sĩ quan của quân đội ta có 3 bậc 4-5 năm + 2 năm + 2 năm = 8-9 năm. Thời gian này so với các ngành đào tạo khác thì dài hơn. Quân đội của nhiều nước trên thế giới, hệ thống trường quân sự tương ứng của họ, có mức thời gian là: 4 năm + 1-2 năm + 1 năm = 6-7 năm. Thời gian học tập tại trường của một sĩ quan có điều kiện phát triển cao nhất là hơn 7 năm. So sánh để thấy thời gian học cả 3 cấp trường, sĩ quan quân đội ta dài hơn của họ từ 2 năm trở lên. Học viện thực hiện nhiệm vụ mới từ năm học 2000-2001, theo phân cấp chỉ tập trung huấn luyện-đào tạo sĩ quan chỉ huy tham mưu cao cấp chiến dịch, chiến lược. Nhiệm vụ huấn luyện đào tạo sư đoàn trưởng bàn giao cho Học viện Lục quân.   
      Đầu vào của đào tạo cán bộ chiến dịch - chiến lược là những đồng chí giữ chức vụ Sư đoàn trưởng, Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, Phó tham mưu trưởng, Phó chủ nhiệm chính trị quân đoàn, quân khu và tương đương, quân hàm cấp đại tá; thời gian học 1 năm, học quân sự khoảng 50-55%, học chính trị khoảng 35-40% thời gian, còn lại nghiên cứu các môn cần thiết khác. Trong học quân sự: Học nghệ thuật chiến dịch Việt Nam khoảng 45-50%, thời gian học chiến lược quân sự lấy rèn luyện phong cách lãnh đạo chỉ huy tác chiến chiến lược - nghệ thuật tác chiến chiến lược là chủ yếu và học chiến lược quốc phòng khoảng 50% thời gian...
       Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đào tạo, tôi lo lắng cùng Ban giám đốc chủ trương trước hết phải đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, giảng viên lên tầm cao mới cả về tư duy và năng lực tư duy, từ tư duy chiến thuật - chiến dịch lên tư duy chiến dịch - chiến lược và quân sự, quốc phòng. Đây thực sự là một bước chuyển biến về chất của Học viện Quốc phòng. Nâng cao năng lực trí tuệ cho đội ngũ cán bộ, giảng viên ở Học viện lúc này, thực chất là nâng tầm tư duy của họ cho xứng tầm đào tạo.
        Tư duy chiến thuật với phạm vi hẹp, tác động không lớn từ những hành động cụ thể của đối phương, tìm ra giải pháp nhằm giành quyền chủ động trong những tình huống cụ thể, thời gian ngắn - tư duy cụ thể. Tư duy chiến dịch với phạm vi tương đối lớn, ảnh hưởng khá rộng, tư duy đón trước, chuẩn bị giải quyết những vấn đề sẽ đến nhưng chưa đến, thời gian tương đối ngắn - tư duy bộ phận. Tư duy chiến lược phạm vi rất rộng lớn, ảnh hưởng đến mọi mặt trong nước, khu vực, quốc tế; từ việc thu thập, phân tích xử lý, tổng hợp thông tin, dự báo những vấn đề sẽ xảy ra và tìm giải pháp đối phó với những vấn đề ấy trong thời gian tương đối dài, nhằm chuyển hoá về chất ở phạm vi vĩ mô - tư duy toàn cục.
Sự phân biệt giữa ba cấp tư duy chỉ tương đối, bởi tính tương đối về ranh giới giữa chiến thuật, chiến dịch và chiến lược trong chiến tranh thời hiện đại, sử dụng vũ khí công nghệ cao. Nó còn phân biệt tương đối, bởi mối quan hệ gắn bó giữa ba bộ phận hợp thành của nghệ thuật quân sự là chiến thuật, chiến dịch và chiến lược.


Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 11:09:54 am
          Nội dung lớp đào tạo cán bộ chiến dịch - chiến lược được xây dựng từ các ý tưởng nào? Được sự đồng ý của Bộ Quốc phòng, Học viện tổ chức khảo sát đội ngũ cán bộ chủ trì ở cấp quân đoàn, quân chủng, quân khu. Tôi thay mặt Ban giám đốc giao nhiệm vụ cho một số đồng chí cán bộ ở Cục Huấn luyện - Đào tạo, Cục Chính trị, Viện Khoa học nghệ thuật quân sự và một số khoa trực tiếp đến các Bộ tư lệnh và các cơ quan cấp chiến lược trao đổi, nghiên cứu tìm hiểu. Những đơn vị ở xa không có điều kiện đến trực tiếp, Học viện gửi phiếu trưng cầu ý kiến về các vấn đề nêu trên và tổ chức gặp mặt những tướng lĩnh đã qua cương vị  lãnh đạo, chỉ huy chiến dịch, chiến lược để xin ý kiến. Những thông tin thu thập được tổng hợp về Ban giám đốc Học viện cho ý kiến. Trên cơ sở đó, Học viện tiến hành trao đổi để xác định rõ những tiêu chí về phẩm chất và năng lực của cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược làm cơ sở để xác định mục tiêu đào tạo, xây dựng chương trình, nội dung, kiến thức trang bị cho người học.
Sau một số lần trao đổi, hội thảo, chương trình, nội dung lớp đào tạo cán bộ chiến dịch - chiến lược được xây dựng gồm 5 khối kiến thức: Khối kiến thức cơ bản và cơ sở; khối kiến thức về quốc phòng - an ninh; khối kiến thức về khoa học nghệ thuật quân sự - chủ yếu về nghệ thuật tác chiến chiến dịch, chiến lược bao gồm cả sử dụng quân, binh chủng, ngành; các kiến thức cần thiết khác và cuối cùng là viết luận án về chiến dịch, chiến lược thì tốt nghiệp.
Từ xác định bước đầu, Học viện xác định viết các chuyên đề để giảng cho lớp chiến dịch, chiến lược. Học viện triển khai viết gần 70 chuyên đề, đòi hỏi cao, yêu cầu có chất lượng tốt. Bước vào năm học 2000 – 2001, các chuyên đề được lần lượt thông qua về cơ bản. Chưa có thời kỳ nào mà Ban giám đốc Học viện, các hội đồng khoa học và các khoa, cơ quan của Học viện làm việc "hết công suất" như thời gian này. Cũng chính các lần thông qua này mà mỗi cán bộ, giảng viên được dự đã tự bồi dưỡng cho mình những kiến thức cần thiết cấp chiến dịch, chiến lược.
Thách thức khó khăn lớn nhất của Học viện lúc ấy là nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, giảng viên. Thường vụ và Ban giám đốc chúng tôi lại bàn bạc nhất trí tập trung vào mấy khâu chính: Động viên nâng cao nhận thức, trách nhiệm cán bộ, đảng viên; xác định những nội dung, đối tượng cần bồi dưỡng cùng phương pháp và thời gian bồi dưỡng. Tôi được phân công dự Đại hội Đảng bộ Cục Huấn luyện - Đào tạo và Khoa Chiến lược. Đại hội Đảng bộ Cục Huấn luyện - Đào tạo lần thứ VII, nhiệm kỳ 2000 - 2005 thảo luận rất sôi nổi và nhất trí cao.
Cùng với việc đào tạo, bồi dưỡng trong nội bộ Học viện, Ban giám đốc đã mời những tướng lĩnh đã qua lãnh đạo, chỉ huy ở các cơ quan chiến lược, chỉ huy tác chiến chiến dịch đến phổ biến, trao đổi kinh nghiệm. Đại tướng, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phạm Văn Trà nói về tình hình, nhiệm vụ của lực lượng vũ trang, của quân đội ta trong giai đoạn cách mạng mới; Thượng tướng, Giáo sư Hoàng Minh Thảo nói về kinh nghiệm chỉ huy điều hành chiến dịch tiến công, phương pháp gạn lọc, xử trí tình huống chiến dịch; Trung tướng, Phó giáo sư Lê Hữu Đức trao đổi kinh nghiệm làm kế hoạch tác chiến chiến lược; Cục tác chiến Bộ Tổng tham mưu nói về tác chiến trong điều kiện địch sử dụng vũ khí công nghệ cao ở Cô-xô-vô, Nam Tư 1999 v.v... Qua đó, cán bộ, giảng viên có điều kiện đối chiếu nhận thức lý luận với kinh nghiệm thực tiễn để hình thành nhận thức mới, phát triển tư duy.
Sau gần hai năm nỗ lực phấn đấu (9/1999 - 7/2001), các mặt công tác chuẩn bị cho lớp đào tạo cán bộ chiến dịch, chiến lược đã cơ bản hoàn thành. Tôi hồi hộp và vui khi phía sau là những công việc bộn bề đã được chuẩn bị kỹ. Tranh thủ cuối dịp nghỉ hè 2001, Học viện tổ chức tập huấn cán bộ, giảng viên về tác chiến chiến lược.  Đầu tháng 9-2001, Học viện tổ chức trọng thể lễ khai giảng năm học, trong đó có khoá 1 đào tạo cán bộ chiến dịch - chiến lược. Thời gian khoá học 10 tháng với khoảng 2.500 tiết.
Với người dạy, khối lượng nội dung học tập nhiều, hướng chung trong đào tạo, chúng tôi chỉ đạo là giảm giờ lên lớp, giảng viên chỉ tập trung vào trọng tâm, trọng điểm, “nêu vấn đề”, tổ chức các xê-mi-na, gợi mở hướng nghiên cứu để học viên tự tìm lời giải đáp, khẳng định chân lý.
Với người học, trên cơ sở hướng dẫn của giáo viên, học viên tìm đọc các tài liệu, tự nghiên cứu, luận giải, chứng minh vấn đề chuẩn bị cho thảo luận ở tổ, hội thảo ở lớp. Giảng viên kết luận những vấn đề đã thảo luận thống nhất, gợi mở những nội dung cần tiếp tục nghiên cứu phát triển cho phù hợp với tình hình mới; định hướng nghiên cứu các vấn đề còn tranh luận để làm sáng tỏ vào các buổi thảo luận sau.
Phương pháp dạy học đã phát huy dân chủ, tích cực, trí tuệ của người học, làm cho mỗi tiết học, buổi học trở nên hứng thú, sinh động, cuốn hút mọi người tự giác, chủ động tham gia, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo. Để đi đến thống nhất và kết luận khoa học, người học không chỉ tiếp thu qua người giảng mà còn tham gia vào quá trình hoàn thiện của lý luận, đường lối, nâng cao năng lực tư duy và lãnh đạo, chỉ huy của mình.
Năng lực tư duy là sản phẩm tổng hợp của nhiều yếu tố hợp thành, gồm: Bản lĩnh chính trị, bản lĩnh lãnh đạo chỉ huy, vốn tri thức, khả năng nắm bắt thực tiễn, năng lực tư duy trừu tượng, khái quát, tư duy lý luận khoa học; phong cách tư duy khoa học. Theo đó, chất lượng và hiệu quả tư duy của học viên ngày càng được nâng cao, đáp ứng yêu cầu thực tiễn ở tầm chiến dịch, chiến lược. Quá trình nâng cao năng lực tư duy phải hướng vào việc hoàn thiện và phát triển các yếu tố hợp thành năng lực tư duy.  Chúng tôi luôn cho rằng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chiến dịch - chiến lược phải có tầm "bao khắp không gian, xuyên suốt thời gian", biết "dĩ bất biến, ứng vạn biến"; học mười có thể thâu tóm thành một, biết một có thể suy ra mười. Phải theo 6 đức tính của người tướng: Nhân, Trí, Tín, Dũng, Liêm, Trung như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy.
Để có một cuốn sách tham khảo chuyên sâu về nâng cao năng lực tư duy... theo đề nghị của Học viện, Cục Khoa học, Bộ Quốc phòng đã đồng ý cho mở đề tài nghiên cứu cấp Bộ về "Nâng cao năng lực tư duy cho cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược" do tôi làm Chủ nhiệm đề tài. Trên cơ sở đó, Học viện đã viết thành một chuyên đề về vấn đề này để giảng dạy cho các lớp đào tạo cán bộ chiến dịch - chiến lược nắm vững về mặt lý luận để vận dụng vào học tập, rèn luyện trong quá trình học tập tại Học viện và ra đơn vị công tác sau này.
Để tạo sự đồng bộ trong các Bộ tư lệnh, giữa cán bộ chỉ huy, lãnh đạo và cán bộ tham mưu chủ trì các cơ quan, Học viện Quốc phòng mở lớp bồi dưỡng tham mưu chiến dịch - chiến lược. Thời gian học một học kỳ - 5 tháng. Đây là những cán bộ cấp phòng thuộc các bộ tham mưu và các cục của cấp chiến dịch, chiến lược.
Chủ động bồi dưỡng đội ngũ giảng viên huấn luyện chiến dịch, chiến lược, từ năm học 2001 - 2002 trở đi, hằng năm Học viện đều mở lớp Bồi dưỡng giảng viên chiến dịch, chiến lược. Những đồng chí là giảng viên Học viện Quốc phòng chưa qua đào tạo, bồi dưỡng chiến dịch, chiến lược và những đồng chí mới được điều về làm giảng viên ở Học viện đều phải qua lớp bồi dưỡng giảng viên này.
Ngày 3-1-2002, Học viện Quốc phòng tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 25 năm ngày Truyền thống (03/01/1977 - 03/01/2002). Nhân dịp này, Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trần Đức Lương đã ký Quyết định tặng thưởng Học viện Quốc phòng Huân chương Độc lập hạng nhất.
         Sau một năm phấn đấu quyết liệt, ngày 16-7-2002, Học viện long trọng tổ chức Lễ bế giảng cho 4 khoá đào tạo. Điểm nổi bật trong lễ bế giảng năm nay có tới 3 trên 4 khoá tốt nghiệp theo mục tiêu đào tạo mới, đó là: Khoá 1 đào tạo cán bộ chiến dịch, chiến lược; khoá 1 đào tạo giảng viên chiến dịch - chiến lược và Khoá 1 bồi dưỡng tham mưu chiến dịch - chiến lược. Để đảm bảo chất lượng cho các khoá đào tạo, lần đầu tiên khoá học được đi nghiên cứu, học tập dài ngày trên các địa bàn chiến lược của cả nước, được nghiên cứu thực tế ở Đại học Quốc phòng Trung Quốc và một số cơ sở khác của bạn, được luyện tập tác chiến chiến lược một số loại hình tác chiến trên từng chiến trường Bắc, Trung, Nam của Việt Nam, tác chiến trong điều kiện địch sử dụng vũ khí công nghệ cao, diễn tập tác chiến phòng thủ quân khu.
Kết quả huấn luyện - đào tạo năm học 2001 - 2002 đã được Đảng uỷ Học viện đánh giá: Đối với lớp đào tạo chiến dịch - chiến lược, Đảng uỷ đã lãnh đạo chặt chẽ từ việc xây dựng chương trình, nội dung, giáo trình chuyên đề giảng dạy được nghiên cứu biên soạn công phu, phương pháp dạy và học thường xuyên được tổ chức rút kinh nghiệm và đổi mới. Trong lãnh đạo học tập đã phát huy tốt động cơ, trách  nhiệm, tính tự giác, tinh thần làm chủ và tư duy độc lập sáng tạo của người học... So với ngày đầu vào học, học viên đã tiếp thu và nâng cao trình độ của mình lên một bước khá lớn. Khoá học đã được thực hiện đúng mục tiêu, yêu cầu đề ra, qua tổng kết khoá học, học viên đánh giá cao, đơn vị thừa nhận. 


Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 11:10:27 am
   Thực hiện đổi mới về huấn luyện-đào tạo các đối tượng là cán bộ cao cấp của quân đội ta, trong 10 năm từ 1997 đến 2007, Học viện đã  đào tạo, bồi dưỡng hơn 70 khoá học tốt nghiệp ra trường với trên 5.000 học viên. Số khoá đào tạo và số học viên tốt nghiệp trong thời gian này đã xấp xỉ với số khoá đào tạo và số học viên ra trường của 20 năm trước (1977 - 1997). Đặc biệt, có những khoá đào tạo theo mục tiêu mới cao hơn như đào tạo cán bộ cấp chiến dịch-chiến lược, cán bộ tham mưu chiến dịch - chiến lược, giảng viên chiến dịch - chiến lược; bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước cho các đồng chí là quân nhân trúng cử đại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương… Hầu hết các đồng chí tốt nghiệp ở Học viện ra công tác đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, nhiều đồng chí phát triển, trưởng thành đã và đang đảm nhiệm những trọng trách quan trọng của Đảng, quân đội. Trong đó có đào tạo 11  khoá cao học khoa học quân sự (từ khoá 4 đến khoá 14) với gần 500 thạc sĩ và 10 khoá nghiên cứu sinh, có gần một trăm đồng chí đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ; 6 giáo sư, 40 phó giáo sư… có những đồng chí là nhà khoa học đầu ngành về khoa học nghệ thuật quân sự của quân đội và của quốc gia.
      Như vậy, chủ trương nâng tầm tư duy từ tư duy chiến thuật - chiến dịch lên tư duy chiến dịch - chiến lược ở Học viện Quốc phòng đã được thực hiện khẩn trương, quyết liệt từ năm 1999 đến năm 2002, trước hết là nâng tầm tư duy và năng lực trí tuệ cho đội ngũ cán bộ, giảng viên của Học viện nhằm đáp ứng chuyển đổi mục tiêu đào tạo, từ đào tạo sư đoàn trưởng lên đào tạo cán bộ chiến dịch - chiến lược. Nâng tầm tư duy thành công đã thực sự làm chuyển biến về chất công tác đào tạo ở Học viện Quốc phòng. Từ đó về sau, nhiệm vụ nâng cao năng lực tư duy đã trở thành việc làm thường xuyên phù hợp với quy luật phát triển, đổi mới của các thế hệ cán bộ, giảng viên ở Học viện Quốc phòng, làm cho trình độ năng lực tư duy của đội ngũ cán bộ đảng viên ở đây ngày càng sâu sắc, tiếp cận gần với chân lý.
Sau hơn 20 năm, tới năm 1997, với nỗ lực phấn đấu, trình độ giảng viên ở Học viện đã có bước tiến quan trọng, gần 100 % số anh em được đào tạo, bồi dưỡng tại học viện, có trình độ đại học trở lên, 65% là phó giáo sư, 20% là tiến sĩ...Trong đó có 17 nhà giáo ưu tú.
Tôi vui mừng vì chủ trương nâng tư duy lên tầm cao mới đã đáp ứng nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cao cấp của quân đội ta để có đủ phẩm chất, năng lực trí tuệ lãnh đạo, chỉ huy đơn vị cấp chiến dịch - chiến lược thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đưa Học viện Quốc phòng xứng với vị trí, tầm cỡ là một trong những Học viện lớn của quốc gia, ngày càng có vị trí, uy tín trong khu vực và trên thế giới.



Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 11:11:16 am
XI


                         
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC


   Để Học viện Quốc phòng phát triển toàn diện trong thời kỳ cách mạng khoa học công nghệ nói chung và cách mạng khoa học trong lĩnh vực quân sự nói riêng trên thế giới đang phát triển như vũ bão, đa dạng, đột biến nhanh chóng, tôi đã cùng Ban giám đốc Học viện đầu tư mọi nguồn lực, thời gian, nhằm nâng tầm nghiên cứu khoa học lên tầm cao mới, để Học viện Quốc phòng trở thành một Trung tâm khoa học Quốc phòng-quân sự của quân đội và của quốc gia.
   Chính vì lẽ đó, tôi đã tìm hiểu và nghiên cứu kỹ Nghị định 188/CP của Thủ tướng Chính phủ: Nghiên cứu khoa học là một trong hai chức năng chủ yếu và là một trong 4 nhiệm vụ của Học viện Quốc phòng. Nghiên cứu khoa học ở học viện, nhà trường ở bậc đào tạo đại học đều có vị trí rất quan trọng, luôn gắn bó mật thiết và quyết định đến chất lượng giáo dục - đào tạo. Học viện Quốc phòng là học viện cao nhất trong các học viện, nhà trường quân đội thì vị trí, vai trò của nghiên cứu khoa học lại càng quan trọng, không chỉ đáp ứng cho nhiệm vụ huấn luyện-đào tạo của học viện, mà còn đóng góp cho sự phát triển của nghệ thuật quân sự Việt Nam, của khoa học quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.   Theo quy chế tổ chức và hoạt động của Học viện Quốc phòng do Thủ tướng Võ Văn Kiệt ký ban hành ngày 07-11-1995 về nghiên cứu khoa học, quy chế xác định: Học viện Quốc phòng thực hiện chức năng, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học quân sự và quốc phòng, trong đó chủ yếu là nghiên cứu các vấn đề nghệ thuật quân sự, tham gia nghiên cứu để giải quyết các vấn đề về xây dựng tiềm lực quốc phòng, kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với an ninh và ngoại giao, góp phần đưa những thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến vào phục vụ sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước.
   Trải qua 20 năm thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học (1977- 1997), Học viện đã hoàn thành nhiều đề tài nghiên cứu: 2 đề tài cấp Nhà nước, hơn 100 đề tài cấp bộ, cấp ngành (Tổng cục) và hàng trăm đề tài cấp cơ sở (Học viện). Điển hình như đề tài cấp Nhà nước "Kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá" (1996). Đề tài cấp Bộ có: "Tổ chức hội đồng quốc phòng, tổ chức chuẩn bị đất nước chống xâm lược” (1988); "Xây dựng nền quốc phòng toàn dân và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN" (1989); "Vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh về tạo lực, lập thế, tranh thời trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc" (1997)... Nhiều đề tài được Hội đồng nghiệm thu đánh giá đạt loại xuất sắc, được vận dụng vào thực tiễn xây dựng, huấn luyện đạt hiệu quả cao.
   Những thành tựu về nghiên cứu khoa học của Học viện nêu khái quát ở trên rất đáng khâm phục, tự hào và trân trọng. Song so với nhiệm vụ, yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng của Học viện trong giai đoạn mới còn nhiều bất cập cả về tổ chức nghiên cứu và trình độ nghiên cứu. Về tổ chức, phòng nghiên cứu khoa học tuy đã được nâng lên thành Viện khoa học nghệ thuật quân sự vào giữa năm 1996, gồm có 3 ban chuyên môn, nhưng nhân sự bố trí vừa mỏng vừa yếu, năng lực mới thực hiện chức năng quản lý khoa học. Về trình độ nghiên cứu nhìn chung còn nhiều hạn chế, chủ yếu nghiên cứu về đấu tranh quân sự trong chiến tranh, về nghệ thuật tác chiến ở tầm chiến thuật, chiến dịch.
     Những nội dung mới về bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh, về nghệ thuật tác chiến ở tầm chiến dịch, chiến lược đang đặt ra bức thiết đối với Học viện, không ngoài ai khác mà chính là đội ngũ cán bộ, giảng viên Học viện phải tự nghiên cứu biên soạn.
   Thực trạng trên không khỏi làm cho tôi và cả Học viện băn khoăn, lo lắng. Sau những suy tư, trao đổi, học hỏi, tôi đưa ra bàn trong Thường vụ và Ban giám đốc tìm cách tháo gỡ. Các anh đều nhất trí, trước hết phải củng cố và tăng cường cán bộ cho Viện khoa học nghệ thuật quân sự, tổ chức lại lực lượng nghiên cứu khoa học của Học viện, bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiên cứu và có cơ chế thoả đáng, bảo đảm, động viên mọi người hăng hái tham gia nghiên cứu khoa học.
   Đối với Viện khoa học, bước đầu thường vụ Đảng uỷ và Ban giám đốc phân công đồng chí Thiếu tướng Vũ Văn Kiều, Phó giám đốc Học viện phụ trách khoa học kiêm Viện trưởng Viện Khoa học nghệ thuật quân sự; đến đầu năm 1999, theo đề nghị của Học viện, đồng chí Đại tá Phạm Văn Giới chủ nhiệm Khoa Nghệ thuật chiến dịch được Bộ bổ nhiệm giữ chức Viện trưởng Viện khoa học nghệ thuật quân sự; đồng chí Đại tá Lại Quốc Thịnh, Phó khoa Phương pháp được bổ nhiệm Phó viện trưởng Viện Khoa học và Học viện điều động nhiều cán bộ, giảng viên có năng lực nghiên cứu về Viện Khoa học; 3 ban của Viện Khoa học được nâng lên thành 3 phòng: Phòng Kế hoạch, Phòng Nghiên cứu và Phòng Phương pháp. Với tổ chức mới, nhân sự mới, Viện Khoa học có đủ khả năng làm tròn chức năng quản lý khoa học và là nòng cốt trong nghiên cứu khoa học, có nhiệm vụ tham mưu đề xuất những vấn đề nghiên cứu khoa học, tổ chức đôn đốc kiểm tra thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học, trực tiếp  tham gia nghiên cứu và giảng dạy về lý luận nghiên cứu khoa học quân sự.
   Ở Học viện, tôi xét thấy lúc này phải tổ chức thành hai Hội đồng khoa học: Hội đồng khoa học nghệ thuật quân sự và Hội đồng khoa học xã hội - nhân văn quân sự. Đến năm 2003, Học viện Quốc phòng thực hiện theo biểu biên chế mới của Bộ. Học viện từ 19 khoa, tổ chức biên chế thành 10 khoa giáo viên, số giảng viên có học vị và chức danh tăng lên. Nhiều khoa đã tổ chức được Hội đồng chuyên ngành của khoa. Tổ chức nghiên cứu khoa học ở các lớp học, nhất là những lớp đào tạo dài hạn được củng cố và duy trì hoạt động có hiệu quả. Được sự đồng ý của trên, Học viện thành lập Phòng Thông tin khoa học công nghệ - môi trường (1998), nâng nội san Nghiên cứu nghệ thuật quân sự lên thành Tạp chí Nghệ thuật quân sự, củng cố thư viện… đảm bảo cung cấp thông tin đầy đủ cho nghiên cứu khoa học.
   Cùng vối việc củng cố và tăng cường về mặt tổ chức, Học viện còn tổ chức các buổi bồi dưỡng nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học cho đội ngũ cán bộ, giảng viên. Phòng Phương pháp của Viện Khoa học truyền đạt về lý luận nghiên cứu khoa học quân sự. Các chuyên gia đầu ngành về nghiên cứu khoa học được mời đến giới thiệu kinh nghiệm viết một chuyên đề, viết một công trình (đề tài khoa học quân sự). Những công trình khoa học đã nghiên cứu nghiệm thu đạt loại xuất sắc được đưa ra nghiên cứu tham khảo, học hỏi…, những thông tin mới nhất được cập nhật kịp thời, đồng thời Học viện tích cực động viên, nêu cao tinh thần trách nhiệm của mọi người và thực hiện đúng chế độ trả thù lao cho các công trình nghiên cứu khoa học. Tất cả việc làm trên đã tạo nên nguồn lực mới, động lực mới với quyết tâm mới cho nghiên cứu khoa học ở Học viện phát triển.
   Kế thừa kinh nghiệm của các thế hệ lãnh đạo trước, trong quá trình chỉ đạo công tác nghiên cứu khoa học, tôi luôn nắm vững nhiệm vụ huấn luyện - đào tạo của Học viện để gắn kết chặt chẽ với nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, lấy yêu cầu mới về huấn luyện đào tạo để thúc đẩy phát triển nghiên cứu khoa học và kết quả nghiên cứu khoa học phục vụ thiết thực nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng; đồng thời có cơ chế khích lệ, động viên mọi người cả cán bộ, giảng viên, học viên hăng hái tham gia nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, đi vào tổ chức thực tiễn đã gặp không ít khó khăn, thách thức. Nhiều nội dung huấn luyện, bồi dưỡng cho đối tượng học viên mới như bồi dưỡng kiến thức QP - AN, đặt ra phải nghiên cứu biên soạn nhiều chuyên đề có nội dung hoàn toàn mới. Có những chuyên đề nghiên cứu vào lĩnh vực mà cán bộ, giảng viên của Học viện chưa thông hoạt động thực tiễn, ít hiểu biết, thậm chí có vấn đề còn xa lạ. Khi đưa vấn đề này ra, có nhiều ý kiến băn khoăn không biết đội ngũ cán bộ của Học viện có “kham” nổi không? Chất lượng chuyên đề, tài liệu có được bảo đảm? Cũng có ý kiến, nên báo cáo cấp trên để cấp trên phân công cho các cơ quan chức năng nghiên cứu biên soạn, Học viện chỉ tiếp thu nghiên cứu đưa vào giảng dạy.
   Mục tiêu đào tạo mới đòi hỏi phải nghiên cứu những vấn đề mới, đặt ra nhiều thách thức, khó khăn lớn, song tôi nghĩ đó cũng là cơ hội để Học viện thể hiện khả năng, ý chí phấn đấu vượt lên chính mình, đưa trình độ NCKH của Học viện lên tầm cao mới. Các bộ môn, cán bộ, giảng viên được giao nghiên cứu biên soạn các chuyên đề mới đã bàn thảo tìm hướng, tìm cách tiếp cận, tìm hiểu các nguồn thông tin của nội dung nghiên cứu đến từng cơ quan chức năng để học hỏi, xem xét thực tiễn, trao đổi, xin ý kiến của các đồng chí đã từng lãnh đạo, điều hành ở các lĩnh vực đó để hình thành nên đề cương, bàn thảo. Tiếp tục suy ngẫm, tiếp thu sửa chữa, bổ sung nâng cao chất lượng chuyên đề, tài liệu vừa có tính lý luận vừa có tính thực tiễn và tính thuyết phục. Trao đổi với các đồng chí nghiên cứu biên soạn, tôi luôn nhắc nhở phải quán triệt sâu sắc những quan điểm đổi mới của Đảng về bảo vệ Tổ quốc XHCN vào trong chuyên đề, tính lý luận phải sâu sắc, tính thực tiễn phải phong phú; viết sao phải có tính thuyết phục, định hướng rõ cách vận dụng tổ chức thực hiện, không lý luận chung chung. Một số chuyên đề có nội dung chuyên ngành cao như về an ninh và ngoại giao… Học viện chủ động đến đặt bài với cơ quan chức năng hoặc chuyên gia viết theo nội dung, quy cách. Nhờ chủ động tích cực trong nhiệm vụ nghiên cứu biên soạn các chuyên đề, xây dựng chương trình nội dung phục vụ cho các lớp đối tượng học viên mới đã đảm bảo cho Học viện tổ chức khai giảng các lớp đó kịp thời gian theo đúng yêu cầu cấp trên giao. Trải qua công tác thực tiễn, trình độ nghiên cứu khoa học của Học viện được nâng lên rõ rệt.
   Một vấn đề khác trong chỉ đạo công tác NCKH ở Học viện là phải động viên tổ chức được mọi cán bộ, giảng viên, học viên say mê NCKH, phát huy trí tuệ tạo nguồn lực khoa học lớn. Đội ngũ cán bộ, giảng viên của Học viện, NCKH đã được tổ chức và hoạt động khá nề nếp, hiệu quả, song với các lớp học viên còn nhiều hạn chế. Với những lớp: Đào tạo chiến dịch - chiến lược, bồi dưỡng kiến thức QP – AN, học viên là những đồng chí đã trải qua nhiều trường lớp, giàu kinh nghiệm thực tiễn, điều hành, chỉ huy đơn vị, địa phương, ngành nên hiểu biết sâu lĩnh vực công tác. Nếu khai thác được trí tuệ của các đồng chí này sẽ bổ khuyết được nhiều phần kiến thức chuyên ngành mà Học viện còn thiếu. Tuy nhiên, thời gian học tập của các lớp đó thường không dài, học viên phải tập trung vào tiếp thu kiến thức của chương trình nội dung đào tạo, bồi dưỡng. Để khai thác trí tuệ của học viên, Học viện đã tìm hiểu kỹ từng học viên về quá trình công tác, học tập để giao đề tài thu hoạch (lớp bồi dưỡng kiến thức QP- AN), đề tài luận án (lớp chiến dịch - chiến lược) viết thu hoạch, luận án theo những vấn đề mà Học viện yêu cầu. Nhờ kết hợp chặt chẽ giữa huấn luyện, bồi dưỡng với nghiên cứu khoa học, “biết phát huy nội lực là chính và quan tâm khai thác ngoại lực”. Học viện đã đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học cả bề rộng và chiều sâu, chất lượng nghiên cứu ngày càng cao.
   Theo quy luật, hằng năm Học viện đều có những đồng chí hết tuổi phục vụ tại ngũ, được trên báo nghỉ chuẩn bị hưu. Năm tôi về Học viện cũng là năm có lớp cán bộ “ba thời kỳ” cuối cùng và một số đồng chí lớp nghĩa vụ đầu tiên thời kỳ chống Mỹ đến tuổi nghỉ hưu. Hầu hết những đồng chí này đã qua chiến đấu ở các cương vị lãnh đạo, chỉ huy binh đoàn, quân binh chủng, giàu thực tiễn kinh nghiệm chiến đấu, huấn luyện, giảng dạy và đều là cán bộ chủ trì các cơ quan, khoa, hệ của Học viện. Nếu tận dụng được trí tuệ của những đồng chí này thì việc thẩm định cán bộ giáo trình và cả những chuyên đề, nội dung giảng dạy khác sẽ được bảo đảm. Với ý tưởng đó,  tôi trao đổi với các đồng chí  trong Thường vụ và Ban giám đốc, các anh đều tán thành, nhất trí. Tôi báo cáo và đề nghị Thường vụ Đảng uỷ Quân sự Trung ương, Bộ Quốc phòng ra quyết định kéo dài thời gian phục vụ tại ngũ cho các “bác” thêm 3, 4 năm nữa. Tiêu thức để lựa chọn gồm: Năng lực chuyên môn, khả năng nghiên cứu, khả năng viết, sức khoẻ tốt và tự nguyện. Các đồng chí được Học viện yêu cầu ở lại đều vui vẻ nhận lời và hứa sẽ làm việc hết trách nhiệm. Từ đó, ở Học viện Quốc phòng có một bộ phận mới “Tổ chuyên gia” trực thuộc Ban giám đốc. Ban giám đốc giao cho Viện Khoa học nghệ thuật quân sự quản lý về mặt hành chính.
    “Tổ chuyên gia” đã đem lại nhiều hiệu quả và được thực tiễn khẳng định. Hiện nay, Bộ Quốc phòng đã có chế độ rõ ràng với đối tượng này và xem như đó là một nguồn lực để thực hiện chức năng nghiên cứu khoa học của Học viện.
       Các đề tài khoa học ở Học viện nghiên cứu, khi được Bộ nghiệm thu, đều được đưa vào làm tài liệu tham khảo và biên soạn thành tài liệu phục vụ huấn luyện-đào tạo cho Học viện và cho toàn quân. Song phải thấy rằng, vẫn còn một số tồn tại là: Các đề tài Bộ giao cho Học viện nghiên cứu số lượng còn ít, Học viện muốn mở một số đề tài nghiên cứu về khoa học giáo dục và những vấn đề phát triển mới của chiến lược... nhưng không có kinh phí.   Riêng về tài liệu huấn luyện ở Học viện, tôi suy nghĩ, tại đây không có sách giáo khoa từ trên đưa xuống mà chính đội ngũ giáo viên phải tự biên soạn tài liệu để giảng dạy. Đây là điều rất khó khăn, đòi hỏi phải chỉ đạo thực hiện rất công phu. Ban chỉ đạo biên soạn tài liệu huấn luyện của Bộ gọi tắt là ‘‘Ban Chỉ đạo 30’’ . Ban này chỉ đạo Học viện biên soạn tài liệu huấn luyện với yêu cầu rất cao, đòi hỏi tài liệu huấn luyện phải đạt tính chính quy, thống nhất; khoa học, cập nhật tình hình. Tôi đề cử anh Trần Hùng,  Phó giám đốc Học viện là Trưởng Ban chỉ đạo biên soạn tài liệu của Học viện. Đồng thời thường xuyên chỉ đạo sâu sát Viện Khoa học tổ chức biên soạn tài liệu với một quy trình rất chặt chẽ; các Hội đồng khoa học của Học viện phát huy vai trò hướng dẫn và thẩm định thường xuyên, liên tục.
Hàng nghìn tài liệu được Ban giám đốc chỉ đạo biên soạn mới, phục vụ trực tiếp cho nghiên cứu, giảng dạy. Ngoài ra, còn tham gia biên soạn hàng trăm mục từ của cuốn Bách khoa quân sự Việt Nam; sưu tầm, xuất bản các tập "Kinh nghiệm chiến đấu" và nhiều sách chuyên khảo dùng cho đào tạo sau đại học tổ chức hàng trăm cuộc hội thảo khoa học cấp Bộ Quốc phòng và cấp Học viện v.v.. Đến năm 2006, cơ bản hệ thống tài liệu giáo trình huấn luyện, giảng dạy ở Học viện được đổi mới, biên soạn với chất lượng cao, góp một phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng huấn luyện, đào tạo, một số tài liệu phục vụ cho huấn luyện, diễn tập của toàn quân.


Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 11:11:49 am
   Rất nhiều đề tài khoa học được Học viện nghiên cứu thành công. Uy tín và vị thế của Học viện được nâng lên, cấp trên “tín nhiệm” và giao cho Học viện nhiều đề tài mới như: Nghiên cứu biên soạn hệ thống tài liệu về các hình thức chiến thuật của sư đoàn bộ binh, các loại hình chiến dịch của nghệ thuật chiến dịch Việt Nam trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và nhiều tài liệu khác được Bộ Tổng tham mưu lấy làm tài liệu chuẩn để giảng dạy trong các học viện, nhà trường quân đội, huấn luyện, diễn tập sẵn sàng chiến đấu của các đơn vị trong toàn quân.
      Học viện không chỉ hoàn thành các đề tài khoa học phục vụ cho huấn luyện - đào tạo của Học viện và các đề tài khoa học do Bộ Quốc phòng giao mà còn vươn tới nghiên cứu các đề tài có tính thời sự của quân đội và quốc gia ở tầm chiến lược. Nhớ lại, trong những năm cuối của thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, tình hình khu vực và thế giới có những diễn biến phức tạp: Tranh chấp biển đảo ở Biển Đông; Mỹ và NATO gây chiến tranh xâm lược Nam Tư (1999), xâm lược Áp-ga-ni-xtan (2001); kích động, hỗ trợ các thế lực phản động gây chính biến bằng “cách mạng màu” ở một số nước, lợi dụng “dân chủ”, “nhân quyền” và chống khủng bố để hăm doạ, gây sức ép với các nước không theo Mỹ. Những diễn biến trên được Đảng, Nhà nước ta theo dõi sát. Tôi được dự các kỳ họp của Ban chấp hành TƯ Đảng và Đảng ủy Quân sự TƯ, thấy được những vấn đề bức thiết đòi hỏi phải được nghiên cứu chuẩn bị trước để bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống. Một mặt, tôi giao cho Viện Khoa học chuẩn bị luận chứng khoa học để tham mưu đề xuất với trên, có những vấn đề tôi gặp trao đổi  trực tiếp với cơ quan khoa học chủ quản xin đề tài nghiên cứu. Song, có nội dung rất cấp thiết nhưng kinh phí có hạn, nên trên chưa giao như: Nghiên cứu về chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Trao đổi với các anh trong Thường vụ và Ban giám đốc, tôi quyết định Học viện tự bỏ kinh phí để nghiên cứu “Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới” (đề  tài cấp Học viện HV01). Tuy là đề tài cấp Học viện, song nội dung nghiên cứu của nó là sự đi trước một bước cho việc hoạch định chiến lược của Đảng, Nhà nước ta. Lúc đó, Học viện còn rất khó khăn về kinh phí nhưng đã mạnh dạn bỏ ra hơn 200 triệu đồng để nghiên cứu. Đề tài do anh Nguyễn Ngọc Thanh, PGĐ Học viện làm chủ nhiệm. Đề tài đã thu hút được các nhà khoa học và các đồng chí giảng viên lâu năm, có bề dày nghiên cứu về chiến lược, tập trung về Viện Khoa học để nghiên cứu. Khi đề tài được nghiệm thu, một số cơ quan của Ban chấp hành Trung ương Đảng, Nhà nước đã nhiệt liệt hoan nghênh và tham khảo để soạn thảo Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 8, khoá IX về “Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”. Kết quả nghiên cứu đề tài này không chỉ dừng lại ở việc làm tài liệu tham khảo cho Nghị quyết TƯ 8, khoá IX, mà nó còn mở ra một hướng mới về sử dụng trí tuệ các nhà khoa học đầu ngành của Học viện Quốc phòng.
   Cuối năm 2002, Nhà nước có chương trình KX-06, nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực, có nhiều bộ, ngành tham gia.
Tôi đề xuất với Nhà nước nghiên cứu đề tài KH - 06 - 03 là “Phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam đánh thắng chiến tranh kiểu mới của địch”. Đây là loại đề tài lý luận về sự phát triển nghệ thuật quân sự sao cho phù hợp với chiến tranh tương lai. Đề tài phải giải quyết được vấn đề làm thế nào với lực lượng ít hơn địch, vũ khí trang bị kém hiện đại hơn địch mà vẫn giành chiến thắng.
    Phát triển lý luận về bảo vệ Tổ quốc, tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc là: Ngăn ngừa không để xảy ra chiến tranh, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định chính trị là phương thức giành thắng lợi tốt nhất cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Muốn ngăn ngừa được chiến tranh phải làm tốt cả hai khâu trọng yếu: Một là, xây dựng đất nước thực sự ổn định và vững mạnh mọi mặt từ bên trong. Vì vậy, việc bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó, LLVT làm nòng cốt. Hai là, hiểu thấu đáo âm mưu, thủ đoạn của địch, cảnh giác, tìm cách hạn chế và loại trừ các chiêu bài của các thế lực thù địch. Đồng thời xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh vững mạnh và ra sức xây dựng LLVT nhân dân chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, sẵn sàng và đủ sức đánh thắng địch trong điều kiện chiến tranh thông thường và chiến tranh công nghệ cao.
  Về phát triển lý luận chiến tranh nhân dân trong điều kiện mới gồm nhiều vấn đề, song biểu hiện chủ yếu là tạo sức mạnh tổng hợp. Về phát triển nghệ thuật kết hợp các mặt đấu tranh trong chiến tranh, là tiến hành các mặt đấu tranh phù hợp với điều kiện tình hình cụ thể của từng thời kỳ kết hợp đấu tranh chính trị; đấu tranh ngoại giao; đấu tranh kinh tế; đấu tranh trên mặt trận văn hoá, tư tưởng và đấu tranh quân sự.
      Về phát triển phương thức tiến hành chiến tranh, tiến hành chiến tranh toàn dân, toàn diện; đánh địch trrên các môi trường tác chiến, tập trung sức đánh bại địch trên hướng (khu vực) trọng điểm, lấy đánh địch trên bộ, giành thắng lợi trên đất liền là chính…
   Về tác chiến chiến lược: Tập trung nghiên cứu các loại hình và phương thức tác chiến chiến lược trong điều kiện mới: Đó là sự phát triển trên nền tảng phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện. Hình thành từng hướng chiến lược để đảm bảo chủ động đánh địch trên từng hướng chiến lược theo ý định chung của cấp chiến lược trên cả nước để chống chia cắt. Tuỳ hình thức, quy mô, mức độ cuộc chiến tranh do địch gây ra để xác định phương thức, loại hình tác chiến chiến lược chủ yếu trong từng hướng, từng giai đoạn, kết hợp chặt chẽ với các phương thức và loại hình tác chiến khác để giành thắng lợi.
   Để đánh thắng chiến tranh kiểu mới của địch, ta có thể vận dụng các loại hình tác chiến chiến lược cơ bản như: Tác chiến phòng thủ chiến lược, phản công và tiến công chiến lược. Trong đó, lấy tiến công và phản công chiến lược là chính, tác chiến phòng thủ chiến lược là đặc biệt quan trọng...
        Như vậy, tuỳ theo tình hình cụ thể của từng thời kỳ chiến tranh, khả năng và điều kiện mọi mặt của đất nước, kết quả và sự phát triển của hoạt động đấu tranh vũ trang để xác định quy mô tác chiến phù hợp trên từng khu vực, từng chiến trường, từng vùng chiến lược. Sự phát triển mới đó thể hiện mọi hoạt động của tác chiến phòng thủ chiến lược đều nằm trong khu vực phòng thủ. Vai trò của KVPT mang tính cơ sở nền tảng để tiến hành tác chiến chiến lược. Chú trọng tác chiến quy mô nhỏ và vừa là chính, khi có điều kiện và thời cơ tiến hành tác chiến quy mô lớn trên các chiến trường trọng điểm.
   Về nghệ thuật chiến dịch: Trong tương lai, số lượng chiến dịch có thể không nhiều như hai cuộc kháng chiến trước đây; quá trình chiến tranh có thể đồng thời xuất hiện một số loại hình chiến dịch với các quy mô và địa bàn khác nhau. Trong đó, nổi lên vấn đề: Xác định số lượng các trận then chốt, then chốt quyết định và nghệ thuật điều hành các trận then chốt có kết hợp với các hoạt động tác chiến rộng khắp của các lực lượng khác để đánh thắng các trận then chốt, đặc biệt là trận then chốt quyết định tạo đột biến chiến dịch, hoàn thành mục đích, nhiệm vụ chiến dịch đã đề ra. Trong điều kiện bị địch chia cắt, tuy phải độc lập tổ chức, điều hành các trận then chốt và then chốt quyết định, nhưng luôn luôn theo ý đồ chung của chiến lược và gắn chặt với KVPT.
   Về chiến thuật: Đó là sự phát triển về lãnh đạo điều hành các hình thức chiến thuật cơ bản của binh chủng hợp thành, tìm cách đánh thích hợp với từng đối tượng, từng địa điểm, thời gian, chiến trường, chiến tranh, trong đó, nổi lên vấn đề: Tổ chức thực hiện các hình thức chiến thuật của binh chủng hợp thành; của từng quân chủng, binh chủng trong tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng và tác chiến độc lập của từng quân chủng, binh chủng.
   Lãnh đạo thực hiện các hình thức chiến thuật riêng phục vụ cho các phương thức tác chiến chiến lược như: Chống bạo loạn vũ trang, chống tập kích đường không, đường biển; tiêu diệt quân đổ bộ đường không, đường biển; đánh phá các căn cứ, cơ sở hậu cần kỹ thuật của địch… Lãnh đạo việc tổ chức thực hiện các hình thức chiến thuật trong tác chiến của LLVT địa phương và của chiến tranh nhân dân địa phương như: Tác chiến trong làng (bản), xã (phường), nông, lâm trường, xí nghiệp, trong cụm làng xã chiến đấu, trong KVPT huyện (thị), tỉnh (thành phố)…
   Phát triển về xây dựng lực lượng vũ trang trong điều kiện mới, vấn đề này bao gồm: Một là, phát triển về tổ chức biên chế: tổ chức biên chế xây dựng LLVT trong điều kiện mới phải phù hợp với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, đánh thắng chiến tranh kiểu mới của địch.
   Phát triển về vũ khí trang bị: Tôi cho rằng phải có ưu tiên trọng điểm cho từng quân chủng, binh chủng để đủ sức hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ vùng trời, vùng biển, biên giới, hải đảo ngay trong thời bình và sẵn sàng phát triển đánh thắng chiến tranh kiểu mới của địch khi chúng liều lĩnh gây ra.
   Tư tưởng này cho đến nay hết sức đúng khi bước vào năm 2011, quân đội ta được Nhà nước đầu tư lớn về khí tài phòng không, không quân, tàu ngầm, tàu nổi của hải quân… được toàn dân ủng hộ. Đặc biệt, khi tình hình Biển Đông có diễn biến phức tạp.
        Về phát triển huấn luyện: Huấn luyện phải đáp ứng với cách đánh của sự phát triển NTQS để đánh thắng chiến tranh kiểu mới của địch, trong đó cần phải kết hợp huấn luyện phổ thông đại trà cho tất cả các lực lượng với huấn luyện trọng tâm, trọng điểm và nâng cao cho từng đối tượng cụ thể. Đặc biệt chú trọng huấn luyện cho lực lượng trực tiếp sẵn sàng chiến đấu có đủ khả năng về kỹ, chiến thuật tinh nhuệ, có sức dẻo dai, chịu đựng gian khổ cường độ lớn. Huấn luyện sát thực tế và phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa bàn chiến lược. Đồng thời phải gắn huấn luyện với nhiệm vụ chính trị của từng đơn vị, địa phương. 
   Về phát triển về lãnh đạo chỉ huy thống nhất trên các địa bàn chiến lược để phát huy sức mạnh tổng hợp.
   Để đánh thắng chiến tranh kiểu mới của địch phải phát huy sức mạnh tổng hợp. Muốn phát huy sức mạnh tổng hợp phải có nhiều yếu tố, song quan trọng nhất là phải có lãnh đạo, chỉ huy thống nhất các lực lượng trong từng khu vực. Vì vậy, ngay từ thời bình phải tiến hành nghiên cứu và tổ chức vận hành thử "cơ chế lãnh đạo của Đảng uỷ quân sự các cấp, nhất là cấp quân khu, cấp tỉnh, cấp chiến dịch, chiến thuật...; cơ chế lãnh đạo chỉ huy thống nhất của các LLVT và phi vũ trang thông qua các cuộc diễn tập để các cơ chế trên ngày càng hoàn thiện, đồng bộ, hoạt động một cách khoa học, có hiệu quả nhằm tập trung được cả tinh thần và mọi lực lượng, nhân lực cũng như vật lực, hành động thống nhất khi xử trí từng tình huống cụ thể của từng loại hình chiến tranh...

        Như vậy, từ năm 2004 đến năm 2006, cùng với các anh trong Ban giám đốc, tôi đã chỉ đạo nghiên cứu lý luận phát triển NTQS Việt Nam trong điều kiện mới. Đó là: Tìm phương thức để ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, đồng thời tiến hành các biện pháp hữu hiệu nhằm chuẩn bị cho đất nước, chuẩn bị LLVT về mọi mặt, sẵn sàng và đánh thắng mọi cuộc chiến tranh kiểu mới của địch khi chúng liều lĩnh gây ra, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Trong đó nổi bật là những nội dung NTQS chỉ đạo và thực hành đấu tranh vũ trang ở các quy mô chiến lược, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật nhằm đáp ứng yêu cầu của chiến tranh nhân dân trong điều kiện mới.
   Đây là một trong những đề tài trọng điểm nằm trong chương trình KX-06 của Nhà nước được Học viện nghiên cứu thành công đạt loại xuất sắc; nó góp phần đổi mới tư duy về NTQS cho toàn bộ đội ngũ giáo viên của Học viện. Đó là tư duy từ chiến thuật - chiến dịch, lên tư duy về chiến dịch - chiến lược và nâng tầm tư duy về quốc phòng - quân sự và QP-AN; làm cơ sở khoa học cho biên soạn các loại tài liệu huấn luyện ở HVQP và cho toàn quân.


Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 11:12:23 am
   Phải nói rằng, sau khi nghiên cứu thành công các đề tài khoa học mới, Học viện đã đẩy mạnh việc nghiên cứu khoa học, nâng tầm tương xứng với nhiệm vụ huấn luyện-đào tạo ở một Học viện hàng đầu quốc gia về NTQS và quốc phòng - quân sự. Viện Khoa học NTQS được sánh ngang các Viện Khoa học trong quân đội và các Viện của Nhà nước. Đội ngũ giáo viên cũng thấy được rằng muốn giảng dạy tốt trước hết phải nghiên cứu khoa học và nhiệm vụ nghiên cứu khoa học luôn luôn phải đi trước một bước.
   Từ những năm 2005 trở đi, hằng năm, Học viện được Bộ giao cho nghiên cứu từ 4 đến 7 đề tài cấp Bộ, 1 đến 2 đề tài cấp Nhà nước và hàng chục đề tài cấp ngành.
    Đầu năm 2006, Học viện được giao đề tài độc lập cấp nhà nước “Nghiên cứu hoạt động của Đảng và Nhà nước, chuyển đất nước từ thời bình sang thời chiến, nhằm đánh thắng chiến tranh xâm lược kiểu mới của địch” do tôi làm chủ nhiệm đề tài.
      Đến cuối năm 2007 đầu năm 2008, trước khi nghỉ hưu, đề tài đã thực hiện khá tích cực. Tôi bàn giao cho đồng chí Phạm Xuân Hùng thay tôi làm Giám đốc Học viện tiếp tục... Giờ đây theo tôi được biết, năm 2011 đề tài nói trên đã được Hội đồng khoa học cấp nhà nước nghiệm thu.


Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 11:14:01 am
XII

ĐỐI NGOẠI QUÂN SỰ-QUỐC PHÒNG




      Tôi cùng Ban giám đốc quan tâm đến phát triển Tư duy mới trong đối ngoại quân sự của Học viện. Đây là một nhiệm vụ quan trọng, tạo thời cơ và vị thế mới cho Học viện cùng cả nước củng cố môi trường quốc tế thuận lợi đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
        Ngày 11-12-2003, Học viện  mở lớp đào tạo tại chức tiếng Anh theo chương trình đại học cho 20 cán bộ, giảng viên. Chương trình đào tạo, tài liệu và giảng viên do Học viện Khoa học quân sự đảm nhiệm. Tuy học tại chức, nhưng tôi và Ban giám đốc chủ trương bố trí thời gian học liên tục trong tuần và quản lý chặt chẽ, nghiêm túc mọi hoạt động của khóa học, tuân thủ đúng theo quy chế và những quy định đào tạo, bảo đảm chất lượng dạy và học tốt nhất. Việc mở được lớp học tiếng Anh tại chức tạo ra khả năng mới để nâng cao trình độ ngoại ngữ, hiện đang là khâu yếu nhất trong công tác đối ngoại của Học viện. Lớp học tiến hành trong 2 năm, anh chị em đã thi tốt nghiệp vào quý I năm 2006. Kết quả khả quan. Đây là nhân cốt cho các hoạt động đối ngoại, nghiên cứu khoa học của Học viện lâu dài.
Việc đón các đoàn Quốc tế đến thăm Học viện là một nhiệm vụ có ý nghĩa sâu sắc. Các đoàn đến thăm, làm việc với Học viện Quốc phòng Việt Nam được đón trên tinh thần hữu nghị và trọng thị như: Đoàn Tổng tư lệnh Bộ Chỉ huy Thái Bình Dương Mỹ (2 lần), Cục phòng vệ Nhật Bản, Chủ tịch Uỷ ban Tham mưu trưởng quân đội Ấn Độ, 3 đoàn quân sự Mỹ, 3 đoàn quân sự In-đô-nê-xi-a, 2 đoàn quân sự Cộng hòa Pháp, Đoàn Tham mưu trưởng Lục quân Anh, Đoàn  Bộ Quốc phòng Ai Cập, Bộ Quốc phòng Ăng-gô-la... Các đoàn đại biểu Học viện Quốc phòng và trường quân sự các nước đến thăm và làm việc với Học viện Quốc phòng Việt Nam gồm: Học viện Quốc phòng Mỹ, Học viện Quốc phòng Hoàng gia Anh, Học viện Quốc phòng In-đô-nê-xi-a, Học viện Liên quân Phi-líp-pin,Trường Sĩ quan Tham mưu Cục phòng vệ Nhật Bản, Học viện Tham mưu Hàn Quốc....
Số lượng các đoàn thông thường có từ 10 đến 20 thành viên, riêng đoàn Học viện Chỉ huy-Tham mưu Xin-ga-po có tới 101 thành viên (năm 2004).
      Những nội dung đoàn quân sự quốc tế thường quan tâm: Thăm dò thái độ Việt Nam với các nước đã từng tham chiến tại cuộc chiến tranh ở Việt Nam trước đây; thăm dò thái độ Việt Nam đối với các nước láng giềng; tìm hiểu quan điểm của Việt Nam với các vấn đề thời sự quốc tế (Chiến tranh Nam Tư, I-rắc, vụ khủng bố 11/9, tình hình bán đảo Triều Tiên…); tìm hiểu chiến lược quốc phòng, quân sự Việt Nam…
Thông qua trao đổi, chúng tôi thu được nhiều thông tin bổ ích từ các nước về đối tượng, mục tiêu, nội dung đào tạo ở các Học viện Quốc phòng của bạn; một số quan điểm, nhận định tình hình thế giới, khu vực hiện nay, nhất là những vấn đề hợp tác quốc tế về đào tạo mà chúng ta quan tâm.
     Trong 10 năm (1997-2007), có trên 70 đoàn đến thăm và làm việc với HVQP. Riêng trong thời gian từ năm 2001 đến năm 2004, Học viện Quốc phòng đã đón tiếp 49 đoàn quân sự của 18 quốc gia tới thăm và làm việc. Đây là sự phát triển nhanh trong quan hệ đối ngoại phù hợp với thời kỳ đổi mới, thời kỳ mở cửa, hội nhập “Việt Nam muốn là bạn, là đối tác tin cậy của các nước”.
      Cũng trong gần 10 năm, Học viện Quốc phòng đã cử hàng chục đoàn và cá nhân cán bộ, giảng viên đi thăm, nghiên cứu về QP-QS và dự Hội nghị, hội thảo quốc tế tại hơn 20 nước trên thế giới và trong khu vực.
     Tôi luôn quan tâm sao cho tư thế của đoàn trong mỗi lần “xuất ngoại” đều đĩnh đạc, đường hoàng, xứng tầm tư thế của người chiến thắng những đối phương sừng sỏ. Đơn cử như việc phát biểu không lệ thuộc văn bản, hay việc kết luận khái quát các vấn đề rõ ràng, dễ hiểu... Đoàn đại biểu Học viện Quốc phòng Việt Nam đã đi thăm và làm việc với Học viện Quốc phòng/Trường Đại học Quốc phòng/Viện Nghiên cứu Quốc phòng của những nước như: Mỹ, Trung Quốc, Pháp, Anh, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Liên bang Nga, Ô-xtrây-li-a, Pa-ki-xtan, Mông Cổ... và các nước trong khối ASEAN như: Xin-ga-po, In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Phi-líp-pin, Thái Lan, Lào, Cam-pu-chia....
       Đoàn đại biểu hoặc cá nhân cán bộ giảng viên Học viện Quốc phòng Việt Nam đi tham dự hội nghị, hội thảo quốc tế, trại hè,... tại các nước như: Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ô-xtrây-li-a, Xin-ga-po, In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a...
Một trong những diễn đàn quốc tế có ý nghĩa lớn mà Học viện Quốc phòng rất quan tâm và mong muốn cử cán bộ đi tham dự là “Hội nghị về hoạt động lực lượng tác chiến đặc biệt  (PASOC) ở khu vực Thái Bình Dương”. Đây là Hội nghị thường niên do Bộ Chỉ huy lực lượng tác chiến đặc biệt khu vực Thái Bình Dương  thuộc Bộ Chỉ huy Thái Bình Dương tổ chức hằng năm ở Hô-nô-lu-lu, Ha-oai (Hoa Kỳ), một quần đảo nổi tiếng - căn cứ  chính của Bộ Chỉ huy Thái Bình Dương và Hạm đội Thái Bình Dương.
Được phép của Bộ Quốc phòng, lần đầu tiên Học viện cử Đại tá TS Phạm Ngọc Hùng, Viện trưởng Viện Khoa học Nghệ thuật quân sự tham dự Hội nghị  tác chiến đặc biệt PASOC-2001 do Bộ Chỉ huy các lực lượng tác chiến đặc biệt Thái Bình Dương (SOCPAC) tổ chức từ ngày 12 đến ngày 16 tháng 2-2001 tại Ha-oai (Hoa Kỳ). Qua Hội nghị, Đoàn đã tiếp thu được nhiều thông tin rất quan trọng và bổ ích cho nghiên cứu chiến lược. Sau này, Học viện còn cử một số cán bộ giảng viên tham dự  Hội nghị các lần tiếp sau. Học viện đã giao cho các cán bộ đi dự Hội nghị (do Đại tá TS Phạm Ngọc Hùng chủ trì) biên soạn các sách chuyên đề về lực lượng tác chiến đặc biệt (Special Operations forces – SOF).

.............
         Hội nghị về tác chiến đặc biệt khu vực Thái Bình Dương- Pacific Area Special Operation Conference, viết tắt là PASOC.
        Bộ Chỉ huy lực lượng tác chiến đặc biệt khu vực Thái Bình Dương-Special Operations  Command Pacific-  viết tắt là SOCPAC.



Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 11:15:01 am
Trong các hoạt động đối ngoại quân sự của Học viện Quốc phòng, lần đầu tiên, Học viện được cử học viên khóa I Đào tạo chiến dịch-chiến lược đi nghiên cứu học tập ở Trung Quốc. Đoàn gồm 24 người do Thiếu tướng Trần Hùng, Phó giám đốc Học viện dẫn đầu. Đoàn tới thăm một số cơ quan đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng và Trường Đại học Quốc phòng Trung Quốc. Tiếp sau sự thành công của đoàn học viên chiến dịch – chiến lược khóa 1, Học viện tổ chức cho khóa 2 đào tạo chiến dịch – chiến lược gồm 29 học viên và một số cán bộ giảng viên của Học viện đi tham quan nghiên cứu tại Thái Lan, do Đại tá,  Tiến sĩ Trần Thái Bình, Phó giám đốc Học viện làm trưởng đoàn, thời gian từ ngày 13 đến ngày 19-6-2004. Tuy đoàn đi quân số đông nhưng tổ chức chặt chẽ, chuẩn bị chu đáo, các thành viên rất tích cực cố gắng, nên đã thực hiện đúng kế họach.
   Với tình cảm đặc biệt giữa hai nước, hai quân đội và hai Học viện Quốc phòng  Việt Nam - Lào, năm 2001, Học viện đã cử 6 đồng chí cán bộ giảng viên do Đại tá Lại Quốc Thịnh phụ trách sang giúp Học viện Quốc phòng Lào về xây dựng chương trình, nội dung giảng dạy cán bộ cao cấp Quân đội nhân dân Lào tại Học viện Quốc phòng. Sau thời gian 6 tháng, đoàn đã thực hiện xong kế hoạch, được Học viện Quốc phòng Lào đánh giá cao.
   Trong thời gian làm Giám đốc Học viện, được Bộ Quốc phòng chỉ định, tôi đã 7 lần trực tiếp làm trưởng đoàn đi nghiên cứu, tham quan, học tập kinh nghiệm, trao đổi, tọa đàm về quốc phòng, quân sự ở 7 nước (Ấn Độ, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Ô-xtrây-li-a, Phi-líp-pin). Trong quá trình làm việc, khi tiếp xúc với phía bạn, có những ấn tượng sâu đậm mãi trong ký ức tôi. Trong chuyến thăm, làm việc tại Học viện Quốc phòng Ấn Độ, tôi vẫn nhớ:
   Đại tướng Cadic, Tổng Tham mưu trưởng Liên quân kiêm Tư lệnh Lục quân ngỏ ý mời đoàn HVQP Việt Nam buổi tối tới nhà riêng của ngài để tâm tình. Sau này thì tôi mới biết, thực sự họ muốn tìm hiểu, khai thác ta về nghệ thuật quân sự trong cuộc chiến tranh biên giới. Ngài Đại tướng Cadic lúc đầu có vẻ giữ kẽ, sau hỏi thật tình tôi là, bí quyết gì giúp Việt Nam đánh thắng trong chiến tranh bảo vệ biên giới năm 1979? Tôi chưa trả lời trực tiếp mà hỏi lại ngài Đại tướng về thái độ của nhân dân Ấn Độ đối với cuộc chiến tranh Ấn - Trung ra sao? Ông ta nhún vai và nói, đại ý: Chiến tranh là việc của Quân đội mà!
   Tôi giải thích cho ngài Đại tướng về quan điểm chiến tranh nhân dân Việt Nam. Ông ta cảm ơn và hẹn sau 3 tháng nữa sẽ sang thăm Việt Nam và làm việc với Học viện Quốc phòng Việt Nam.
   Đúng 3 tháng sau, vào trung tuần tháng 1-1999, Ngài Đại tướng Cadic có sang thăm và làm việc với Bộ Quốc phòng Việt Nam. Khi đến thăm Học viện Quốc phòng Việt Nam, tôi đã giới thiệu với Ngài một số nét chính về nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và khuyên Ngài nên đi thăm một số di tích về chiến tranh nhân dân Việt Nam. Tôi được biết, sau đó Ngài Đại tướng Cadic đã đi thăm Địa đạo Củ Chi, Vĩnh Mốc… khi về nước, Ngài đã điện sang cảm ơn Học viện Quốc phòng Việt Nam
   Từ ngày 19 đến ngày 26-9-2000, đoàn đại biểu HVQP Việt Nam do tôi dẫn đầu đi thăm và làm việc tại Học viện Quốc phòng Trung Quốc (National Defence University of China) tại Thủ đô Bắc Kinh.
   Trong thời gian một tuần tại Bắc Kinh, chúng tôi đề nghị phía Trung Quốc tạo điều kiện để nghiên cứu kỹ nhiều vấn đề mà bạn có kinh nghiệm, như: Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức QP-QS cho công chức dân sự của Đảng và Nhà nước Trung Quốc; Vấn đề đào tạo bồi dưỡng học viên quân sự quốc tế và xây dựng Trung tầm đào tạo quốc tế (Hệ Quốc tế) thuộc Học viện Quốc phòng Trung Quốc. Nghiên cứu kỹ cả nội dung, chương trình, vấn đề ăn, ở, học phí, quản lý... đối với học viên quốc tế (Trung tâm này được xây dựng ở ngoại ô Bắc Kinh, cách Học viện Quốc phòng Trung Quốc khoảng 20km); Vấn đề quân đội kết hợp làm kinh tế với quốc phòng; Nghiên cứu kỹ mô hình đào tạo sĩ quan quân đội 4-2-1 (đào tạo sĩ quan cấp phân đội 4 năm, sĩ quan cấp tá 2 năm và sĩ quan cao cấp 1 năm); Vấn đề đưa tin học vào giảng dạy cho cán bộ cấp chiến dịch – chiến lược và xây dựng Trung tâm mô phỏng cho HVQP, ứng dụng kỹ thuật bản đồ số, mô phỏng 3D để tập bài tác chiến chiến lược cho học viên sát thực tế địa hình chiến trường.
      Từ ngày 4 đến ngày 12-5-2002, tôi làm trưởng đoàn đi thăm, làm việc tại Học viện Quốc phòng Ô-xtrây-li-a.
Tại Melboure, Đoàn đã đến thăm và nghiên cứu tại Tập đoàn công nghiệp đóng tàu TENIX, xem quy trình công nghệ đóng tàu ANZAC- một trong những loại tàu chiến nổi tiếng trên thế giới. Đoàn đến thăm Trung tâm đào tạo quốc tế DITC (Defence International Traning  Centre), nơi đang có học viên của quân đội 22 nước theo học, trong đó có học viên Việt Nam.
Tại Canberra, đoàn đã đến thăm và nghiên cứu kỹ về nội dung, quy trình đào tạo, phương pháp giảng dạy và hệ thống giảng đường của HVQP Ô-xtrây-li-a (National Defence College of the Australia). Hiện nay, thường xuyên Việt Nam  có 1-2 sĩ quan (quân hàm từ trung tá đến đại tá) học tập tại đây theo Chương trình một năm.
Ngoài ra, đoàn đã gặp gỡ, trao đổi với cấp lãnh đạo Bộ Quốc phòng, đi thăm và nghiên cứu tại Trường Đại học Chỉ huy-Tham mưu (ACSC), thăm Bộ Tư lệnh chiến trường và Trung tâm huấn luyện Lục quân tại Xít-ni.
Qua chuyến công tác tại Ô-xtrây-li-a, tôi đã thu nhận được nhiều thông tin rất bổ ích về chương trình, nội dung đào tạo các quan chức chính phủ, đào tạo học viên quốc tế, đặc biệt là vấn đề phương pháp “học tập tích cực” và việc kết nối Internet cho hệ thống giảng đường đã góp phần nâng cao chất lượng đào tạo.
   Làm việc, thăm Học viện Quốc phòng Hoa Kỳ
Tôi đã đi thăm và làm việc tại nhiều nước, nhưng có lẽ, ấn tượng sâu đậm nhất và cũng là căng thẳng nhất trong các chuyến công tác nước ngoài của tôi đó là chuyến đi công tác tại Hoa Kỳ năm 2004. Được Bộ Quốc phòng cho phép, Học viện tổ chức đoàn cán bộ giảng viên gồm 9 thành viên do tôi làm trưởng đoàn sang thăm và làm việc với Học viện Quốc phòng Mỹ tại Oa-sinh-tơn từ ngày 20 đến ngày 30-8-2004.
   Trong thời gian một tuần làm việc tại Oa-sinh-tơn, tôi đã phải 8 lần phát biểu với các tổ chức, đơn vị của Hoa Kỳ (Phát biểu trong buổi làm việc với: Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ, Văn phòng về Quân nhân Mỹ mất tích và tù binh chiến tranh-POW/MIA, Hội thảo bàn tròn với Văn phòng Chính sách Bộ Quốc phòng Mỹ, Viện Nghiên cứu Chiến lược quốc gia Mỹ, Đại diện chương trình IMET, Đại học Quốc phòng Mỹ NDU (National Defence University), Học viện Hải quân Hoa Kỳ, Bộ tư lệnh đa Binh chủng và Căn cứ Thủy quân Lục chiến Quantico).
 Đoàn cũng đã giành nhiều thời gian nghiên cứu mô hình đào tạo sĩ quan quân đội Hoa Kỳ theo công thức 5-2-1 (đào tạo 5 năm cấp phân đội, 2 năm trung cấp và 1 năm cao cấp).
   Trên cơ sở nhiệm vụ mà Bộ trưởng giao, tôi đã phải mất nhiều công sức để nghiên cứu kỹ hai vấn đề mà trước đó, những vấn đề này ở HVQP hầu như chưa được đề cập đến, đó là vấn đề IMET và Dự luật Nhân quyền. Chương trình IMET (U.S. International Military Education & Training, viết tắt tiếng Anh là IMET) là Chương trình giáo dục và huấn luyện quân sự quốc tế đã được Quốc hội Mỹ thông qua. Theo đó Mỹ sẽ đào tạo, huấn luyện miễn phí cho sĩ quan các nước đồng minh và thân hữu. Cho đến thời điểm hiện tại (năm 2003), Mỹ triển khai thực hiện Chương trình IMTET, đã đào tạo hàng nghìn sĩ quan cho quân đội khoảng trên 40 nước khác nhau. Chi phí đào tạo cũng không hề rẻ, mỗi sĩ quan (tùy chuyên ngành) được đào tạo từ 6 tháng đến 1 năm với mức chi phí hàng trăm nghìn USD/người. Từ năm 2001, Mỹ đã “giới thiệu” chương trình IMET với Việt Nam, vì như Mỹ nói, Mỹ coi Việt Nam thuộc diện ”thân hữu”, Mỹ muốn Việt Nam tham gia nhiều hơn trong khuôn khổ Chương trình IMET.


Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 11:16:36 am
       Tôi nhớ mãi các sự kiện Hội nghị thường niên HDUCIM. Tại Diễn đàn ARF -4 ( tháng 7-1997), theo sáng kiến các nhà lãnh đạo thành viên ARF, từ năm 1997 bắt đầu tổ chức một hoạt động thường niên của Diễn đàn ARF về quốc phòng-an ninh với tính chất không chính thức (còn gọi là kênh 2), đó là Hội nghị của Những người đứng đầu các trường Đại học Tổng hợp Quốc phòng/ Học viện Quốc phòng/Viện nghiên cứu Quốc phòng các nước thành viên ARF-The ARF for Heads of Defence Universities /Colleges /Institutions Meeting,  viết tắt là  HDUCIM.
   Hội nghị HDUCIM lần thứ nhất được tổ chức tại Phi-líp-pin năm 1997 và từ đó luân phiên hằng năm được tổ chức tại các nước thành viên ARF. Đến năm 2008, đã tổ chức thành công 12 Hội nghị HDUCIM.

                                            *   *   *

    Để chuẩn bị cho Hội nghị lần thứ 9 - ARF-HDUCIM tại Hà Nội, Việt Nam vào cuối năm 2005, Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đã chính thức giao nhiệm vụ cho Học viện Quốc phòng phối hợp với nhóm ARF - Bộ Quốc phòng và các cơ quan chức năng Bộ Ngoại giao đề xuất kế hoạch thực hiện, báo cáo Bộ Quốc phòng. Với cương vị là Giám đốc Học viện, tôi hiểu rằng mình sẽ là người chủ trì và điều hành mọi hoạt động đối ngoại liên quan đến Hội nghị. Tuy đã vài chục lần chủ trì các buổi làm việc, trao đổi đối với các đoàn đại biểu quốc phòng, quân sự các nước, nhưng lần này, trên cương vị là người Chủ tọa Hội nghị, đối với tôi đây thực sự là nhiệm vụ nặng nề và vô cùng khó khăn, khiến tôi rất lo lắng, băn khoăn, suy tư.
   Không chỉ đối với riêng tôi, đối với Học viện Quốc phòng cũng vậy, đây là lần đầu tiên, Học viện được Bộ Quốc phòng giao cho nhiệm vụ tổ chức Hội nghị quốc tế “Những người đứng đầu các Học viện Quốc phòng (ARF) lần thứ 9 tại Hà Nội, thời gian 3 ngày từ 11 đến 13-10-2005”. Học viện cũng như cá nhân tôi chưa có kinh nghiệm về lĩnh vực này. Tuy nhiên, tất cả đều hiểu rõ rằng, đây là nhiệm vụ rất quan trọng, là dịp để các nước hiểu rõ Việt Nam và Học viện Quốc phòng Việt Nam hơn; tạo điều kiện thuận lợi mới trong quan hệ quốc tế trên lĩnh vực “Hợp tác quốc tế về đào tạo” và những vấn đề khác mà các bên đều quan tâm.
   Để chủ động chuẩn bị, tôi đã thống nhất trong Ban giám đốc: Mời cơ quan chức năng của Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng đến giới thiệu kinh nghiệm về tổ chức Hội nghị quốc tế và thông tin chuyên đề về Diễn đàn ARF và HDUCIM; Tổ chức cho các đồng chí của HVQP đã đi dự Hội nghị ARF-HDUCIM ở các nước giới thiệu lại nội dung và kinh nghiệm; mời tùy viên Quốc phòng một số nước ở Hà Nội đến trao đổi để thăm dò và học hỏi kinh nghiệm; thông qua Chương trình, chủ đề Hội nghị và dự kiến những vấn đề đưa ra Hội nghị thảo luận cũng như dự kiến phản ứng của các nước; chọn địa điểm tổ chức Hội nghị và thống nhất công tác trang trí, phục vụ, bảo đảm Hội nghị, Hiệp đồng với đại diện Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an về công tác tổ chức, an ninh, nghi thức....
Kết quả, Hội nghị lần  thứ  9
- The 9th ARF Heads of Defence Universities/Colleges/Institutions Meeting - The 9th ARF-HDUCIM đã diễn ra tại Hà Nội từ ngày 10 đến ngày 13-10-2005 do Học viện Quốc phòng Việt Nam tổ chức và Thượng tướng, PGS,TS Nguyễn Thế Trị, Giám đốc Học viện làm Chủ tịch Hội nghị. (*)


Hội nghị tiến hành các phiên họp toàn thể tại Hội trường, tập trung vào trao đổi các chủ đề:
Tình hình an ninh khu vực, xu thế hoà bình, ổn định và phát triển ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, triển vọng và hợp tác Vai trò các lực lượng vũ trang trong giải quyết các vấn đề an ninh phi truyền thống, khắc phục thiên tai và dịch bệnh;
Mối quan hệ và kết quả hợp tác giữa các Học viện Quốc phòng, Đại học tổng hợp quốc phòng và Viện Nghiên cứu quốc phòng các nước thành viên ARF trong những năm đầu của thế kỷ XXI.
Ngoài ra, trong chương trình Hội nghị, các đại biểu đã tới thăm Trường Sĩ quan Lục quân 1 tại Hà Tây, xem bắn trình diễn tính năng súng bộ binh với các bài bắn của Quân đội ASEAN. Các đại biểu cũng đã tới thăm Học viện Quốc phòng Việt Nam, thăm Văn Miếu Quốc Tử giám Hà Nội và dự buổi chiêu đãi của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Giám đốc Học viện Quốc phòng Việt Nam
Các phiên họp của Hội nghị diễn ra trong không khí cởi mở, thẳng thắn, hữu nghị. Những nội dung do Việt Nam đề xuất đều là những vấn đề thời sự cấp thiết trong diễn đàn an ninh của ARF, được tất cả các đoàn tham gia với tinh thần xây dựng và thiện chí.
Có thể nói, Hội nghị lần thứ 9 Những người đứng đầu các Học viện Quốc phòng, Đại học Tổng hợp quốc phòng và Viện Nghiên cứu quốc phòng các nước thành viên ARF đã thành công rất tốt đẹp. Mặc dù đây là lần đầu tiên Quân đội ta và Học viện Quốc phòng Việt Nam tổ chức một Hội nghị quốc tế đa phương có quy mô lớn với số lượng tham dự rất cao, có tới 23/25 thành viên ARF tham dự. Có đại biểu của Đại sứ quán và Tuỳ viên Quốc phòng 22 nước tại Hà Nội tham dự. Hội nghị được tất cả các đoàn đồng thuận đánh giá là một Hội nghị thành công nhất trong lịch sử của HDUCIM. Hội nghị đã gây được những ấn tượng tốt đẹp về đất nước, con người và QĐND Việt Nam đối với bạn bè quốc tế. Đây là thắng lợi quan trọng trong việc tăng cường mối quan hệ quốc phòng với các nước nói riêng và công tác đối ngoại của nước ta nói chung, nâng cao được vị thế của Quân đội ta, của Học viện Quốc phòng Việt Nam.
        Tôi còn cùng Ban giám đốc chỉ đạo việc đào tạo cán bộ cho quân đội Lào và Cam-pu-chia: Từ năm 1997, Học viện đã triển khai xây dựng chương trình, kế hoạch đào tạo, chuẩn bị nội dung tài liệu, xác định giảng viên giảng dạy và làm tốt công tác chuẩn bị cơ sở vật chất phục vụ cho dạy và học cho học viên Lào và Cam-pu-chia. Trong giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2006, Học viện Quốc phòng Việt Nam đã tiếp nhận hàng trăm học viên QĐND Lào sang học đào tạo giáo viên, cao học, nghiên cứu sinh, quân sự địa phương và đào tạo binh chủng hợp thành ngắn hạn.
Năm 2001, chấp hành chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Học viện khẩn trương xây dựng chương trình, nội dung bồi dưỡng sĩ quan cao cấp Quân đội Hoàng gia Cam-pu-chia. Sau hơn 2 tháng học tập, lớp Bồi dưỡng sĩ quan cao cấp Quân đội Hoàng gia Cam-pu-chia đã hoàn thành xong chương trình. ngày 30-7-2002, Học viện thay mặt Bộ Quốc phòng tổ chức lễ công bố tốt nghiệp cho lớp Bồi dưỡng sĩ quan cao cấp Quân đội Hoàng gia Cam-pu-chia tại phòng 615 nhà N1 một cách trang trọng, đầy tình nghĩa anh em. Các học viên là sĩ quan cấp tướng và đại tá của quân đội Hoàng gia Cam-pu-chia rất cảm động, họ mang cả vợ con sang để trực tiếp chứng kiến buổi lễ trao bằng tốt nghiệp trang trọng này.

       Để chuẩn bị cho nhiệm vụ hợp tác quốc tế về đào tạo, Học viện gặp rất nhiều khó khăn, như: Phải nhanh chóng dịch toàn bộ tài liệu (gồm 36 chuyên đề chính thức và khoảng 20 tài liệu tham khảo) sang tiếng Anh với yêu cầu chuẩn xác theo đúng ngôn ngữ quân sự trong thời gian rất cấp bách. Chúng tôi cũng nhanh chóng xây dựng Thư viện cho người nước ngoài để tự nghiên cứu, tham khảo (với hàng nghìn đầu sách, tạp chí bằng tiếng nước ngoài, chủ yếu là tiếng Anh);
Trước những khó khăn, tôi đã chủ động gặp và báo cáo Thủ trưởng Bộ. Thượng tướng Phùng Quang Thanh, Tổng Tham mưu trưởng lúc đó đã kết luận. Chấp hành chỉ thị của Bộ, xác định cụ thể lưu lượng học viên quốc tế là 30 học viên, trước mắt là học viên các nước Trung Quốc, Nhật Bản và khối ASEAN. Thực hiện chỉ đạo của Bộ Quốc phòng, tôi đã chủ trì buổi họp tập thể Ban giám đốc cùng thủ trưởng các cơ quan, bàn Khóa đào tạo Quốc tế, đối tượng là sĩ quan cao cấp đến từ quân đội 18 nước thuộc ASEAN và các nước khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Cuộc họp cũng thông qua dự án xây dựng nhà ở cho Học viên quốc tế tại Học viện Quốc phòng.
 Được phép của Bộ Quốc phòng, Học viện Quốc phòng đã trọng thể làm Lễ khai giảng lớp Hợp tác đào tạo cán bộ quân sự nước ngoài khóa 1. Khai giảng 20 tháng 9 năm 2007; Bế giảng: 19 tháng 12 năm 2007, với 30 học viên là sĩ quan cao cấp đến từ quân đội 18 nước thuộc  ASEAN và các nước khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Tuy vậy, đến khi chiêu sinh và khai giảng thì tôi được báo nghỉ, không tiếp tục chỉ đạo nữa.

.................................................................................
 (*) Có 53 đại biểu của 24 nước thành viên và tổ chức quốc tế tham dự, trong đó có 23 sĩ quan cấp tướng.
 - Lào (Học viện Lục quân);
- Malaisia (Học viện các LLVT quốc phòng);
-Philippines (Học viện Quốc phòng);
-Thái Lan (Học viện Quốc phòng);
-Singapore (Viện Quân sự  SAFTI);
-Myanmar (Tuỳ viên Quốc phòng tại Hà Nội);
-Việt Nam (Học viện Quốc phòng).
-Indonesia (Tuỳ viên Quốc phòng);
-Brunei (Trung tâm đào tạo các LLVT Hoàng gia)
-Campuchia (Đại họcTổng hợp Quốc phòng);
-Australia (Học viện Quốc phòng);
-Canada (Viện Nghiên cứu Chiến lược Canada);
-Trung Quốc (Đại họcTổng hợp Quốc phòng);
-Ấn Độ (Học viện Quốc phòng);
-Nhật Bản (Viện Nghiên cứu Quốc phòng);
-EU (Học viện Chỉ huy-Tham mưu QĐ Hoàng gia Anh);
-CHDCND Triều Tiên (Tuỳ viên Quốc phòng);
-Hàn Quốc (Đại học tổng hợp Quốc phòng);
-Mông Cổ (Đại học tổng hợp Quốc phòng)
-Niu Dilân (Học viện Chỉ huy Tham mưu RNZAF);
-Liên bang Nga (Học viện Quân sự Bộ Tổng Tham mưu);
-Mỹ (Đại học tổng hợp Quốc phòng);
-Pakistan ( Học viện Quốc phòng).
-Đại diện của Ban thư ký ARF.



Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 11:17:24 am
XIII

BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC QUỐC PHÒNG

      Đầu năm 1997, tôi cùng Ban giám đốc nhất trí cao về Sự cấp thiết phải tổ chức bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh cho cán bộ, công chức cao cấp của Đảng, Nhà nước và đoàn thể Trung ương. Nó là đòi hỏi khách quan lúc này.   
      Ý tưởng trên xuất phát từ thực tiễn là QP-AN nước ta được tăng cường; các LLVTND cùng với toàn dân đã hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia, chế độ XHCN, giữ vững hoà bình, ổn định, tạo môi trường thuận lợi cho xây dựng đất nước và phát triển kinh tế - xã hội. Tuy vậy, so với yêu cầu BVTQ trong tình hình mới thì QP-AN của nước ta cũng còn bộc lộ nhiều bất cập và hạn chế. Nhận thức về nhiệm vụ BVTQ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân ta nói chung chưa đầy đủ, nhất là trong đánh giá, nhận thức về âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch vẫn còn có biểu hiện mơ hồ, chủ quan, mất cảnh giác, có nơi còn lúng túng, khi có những tình huống phức tạp, bất trắc xảy ra. Việc chuẩn bị LLVT và chuẩn bị đất nước về mọi mặt sẵn sàng đối phó với tình huống chiến tranh xâm lược các quy mô, hình thức còn nhiều bất cập... Công tác bảo đảm an ninh mọi mặt của đất nước, trước hết là an ninh nội bộ, an ninh kinh tế, tư tưởng, văn hoá và an ninh biên giới vẫn còn nhiều tiềm ẩn, có thể gây nên những bất ổn khó lường. Vấn đề trật tự an toàn xã hội, nhất là ở các thành phố, thị xã còn biểu hiện buông lỏng pháp chế, kỷ cương... chưa có những biện pháp phòng ngừa và ngăn chặn có hiệu quả nạn tham nhũng, tiêu cực và các tệ nạn của xã hội, đó cũng là điều làm cho lòng dân chưa thật yên.
Đầu năm 1997, khái niệm “bồi dưỡng kiến thức quốc phòng-an ninh “đối với Học viện cũng như cá nhân tôi còn rất “mỏng” cả về nhận thức, quan điểm, chương trình, nội dung và phương pháp bồi dưỡng. Cần làm gì đây để một mặt làm tham mưu cho Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng, mặt khác, phải tự mình tổ chức, điều hành Học viện thực hiện để có thể mở được lớp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng-an ninh khóa 1 vào giữa năm 1998, như ý định Bộ đã đề ra. Đó là điều tôi luôn suy tư, trăn trở rất nhiều.
   Ban giám đốc chúng tôi bàn nhau, phải Chủ động chuẩn bị trước chương trình khung và các chuyên đề, có thể nói gọn là Học cái gì?
Ban Giám đốc đã giao nhiệm vụ cho các khoa xây dựng chương trình, nội dung. Tuy có nhiều khó khăn, song đây là nhiệm vụ trọng tâm của Học viện, nên mọi người được giao nhiệm vụ nghiên cứu đều rất phấn khởi.
Ngày 26-6-1997, lần đầu tiên tôi chủ trì Hội thảo khoa học về nội dung, chương trình khung bồi dưỡng kiến thức QP-AN. Căn cứ vào tính chất, đối tượng, mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ và thời gian từng lớp học, Học viện đã xác định 3 khối kiến thức cơ bản: Khối kiến thức chung, Khối kiến thức quốc phòng-an ninh, Khối kiến thức quân sự. Học viện còn xác định được 42 chuyên đề cơ bản làm cơ sở để biên soạn tài liệu và bài giảng.
   Tôi trực tiếp làm việc với Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Tổng Bí thư để xin chủ trương mở lớp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng-an ninh. Tôi có thuận lợi rất lớn, trên cương vị Uỷ viên Trung ương Đảng từ khóa 7, nên có điều kiện có thể gặp trực tiếp Tổng Bí thư Đỗ Mười, các đồng chí trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư và một số cơ quan của Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng để trình bày chính kiến, cũng như xin ý kiến chỉ đạo, tạo sự ủng hộ, đồng tình cao của cấp trên. Tôi đã báo cáo Về chương trình, nội dung bồi dưỡng Học viện chủ trương bồi dưỡng theo 3 khối kiến thức và đi học thực tế. Thời gian bồi dưỡng, tôi và Ban giám đốc đề xuất 3 phương án cơ bản: Đào tạo cơ bản, chuyên sâu: 1 năm; Đào tạo ngắn hạn: 6 tháng; Bồi dưỡng kiến thức (chương trình bổ túc): 3 tháng. Thành phần đối tượng học viên: Đối  tượng 1, diện cán bộ do Trung ương quản lý. Cụ thể là: Các đồng chí là Ủy viên Trung ương Đảng (gồm cả các đồng chí Ủy viên dự khuyết) chưa bồi dưỡng kiến thức QP-AN tại HVQP. Ở Trung ương: Các đồng chí là Bộ trưởng, Thứ trưởng; trưởng, phó ban, ngành, đoàn thể trung ương; chánh, phó các Văn phòng Trung ương Đảng, Chủ tịch nước, Quốc hội và Chính phủ. Ở địa phương: Các đồng chí là bí thư, phó bí thư, thường vụ; chủ tịch, phó chủ tịch UBND, HĐND các tỉnh, thành phố trực thuộc TƯ. Việc chiêu sinh  do Ban Tổ chức Trung ương đảm nhiệm. Dự kiến khóa đầu tiên bồi dưỡng kiến thức QP-AN khai giảng vào giữa năm 1998.
    Ai sẽ giảng dạy? Những khóa đầu tiên, Học viện đề nghị mời các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước; các tướng lĩnh quân đội, công an; các cán bộ, nhà khoa học đầu ngành trong và ngoài quân đội có trình độ lý luận, có nhiều kinh nghiệm thực tiễn trực tiếp lên lớp. Về sau, đội ngũ cán bộ, giảng viên của Học viện sẽ từng bước tự đảm nhiệm. Giảng viên, dù trong hoặc ngoài Học viện, nhất thiết chuẩn bị kỹ giáo án, phải giảng thử trước Hội đồng khoa học giáo dục Học viện để rút kinh nghiệm.
    Bảo đảm huấn luyện như thế nào? Học viện đề nghị ngân sách bảo đảm cho bồi dưỡng kiến thức QP-AN (bao gồm chi phí tổ chức lớp học, tiền ăn ở, trang thiết bị, xăng xe luyện tập, dã ngoại...) đều do ngân sách Nhà nước bảo đảm trực tiếp. Các đề xuất trên của Học viện Quốc phòng đều được Tổng Bí thư Đỗ Mười, Thường trực Ban Bí thư – đồng chí Phạm Thế Duyệt và một số đồng chí trong Bộ Chính trị xem xét, cho ý kiến cụ thể và giao cho Ban Bí thư quyết định. Rất mừng, tất cả các đề xuất của Học viện Quốc phòng đều được Ban Bí thư đồng ý, riêng về thời gian học tập, căn cứ vào tình hình thực tế, Bộ Chính trị chọn phương án 3 tháng. Ngay sau đó, tôi cùng Ban giám đốc đã báo cáo Bộ Quốc phòng về kế hoạch mở lớp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng-an ninh vào năm 1998. Tôi trực tiếp lên báo cáo cho Thượng tướng Phạm Văn Trà, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và các thủ trưởng Bộ. Sau khi thảo luận, Bộ Quốc phòng đều đồng ý với tất cả các ý kiến đề xuất của chúng tôi. Riêng thời gian khóa học, Bộ trưởng quyết định, trước mắt học theo chương trình từ một đến một tháng rưỡi với lý do: Đây là chương trình mới, tâm lý cán bộ dân sự còn ngại học về quốc phòng, công việc cơ sở nhiều...
      Chỉ còn một năm làm công tác chuẩn bị. Đó là thời gian ngắn, trong khi công việc còn bề bộn. Tôi đã suy nghĩ kỹ, lên kế hoạch, xác định những công việc nhất thiết tự mình phải chủ trì và trực tiếp kiểm tra; đồng thời phân công từng đồng chí trong Ban Giám đốc đảm nhiệm các công việc theo chức trách từng người. Sau gần 2 năm tích cực chuẩn bị, giữa năm 1998, Học viện đã hoàn thành toàn bộ công tác chuẩn bị cho mở khóa học đầu tiên bồi dưỡng kiến thức QP-AN tại Học viện, vấn đề chưa từng có tiền lệ trong hệ thống giáo dục-đào tạo của nước ta.


Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 11:20:36 am
Không thể quên được ngày 8-6-1998, lớp học khóa 1 khai giảng có 44 học viên là những cán bộ chủ chốt các Bộ, Ban, Ngành trung ương và cán bộ chủ chốt các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương(*) . Đồng chí Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã tới dự và phát biểu ý kiến chỉ đạo, động viên lớp học. Sau gần một tháng tích cực học tập, lớp học đã được nghiên cứu, trao đổi 14 chuyên đề lý luận thuộc 3 khối kiến thức, tham quan cuộc diễn tập tác chiến phòng thủ quân khu tại Học viện Quốc phòng, tham quan quân chủng PK-KQ và thực hành bắn súng ngắn quân dụng K.54 tại trường bắn. Kết quả thu hoạch, toàn khóa có 15 đồng chí giỏi (34%), 29 đồng chí khá (66%). Ngày 27-6-1998 Học viện tổ chức trọng thể Lễ bế giảng và trao giấy chứng nhận tốt nghiệp cho học viên.
Hoàn thành lớp bồi dưỡng kiến thức QP-AN đầu tiên, vị thế và uy tín của Học viện được nâng cao ở trong nước và quốc tế, tạo cơ sở, tiền đề để Học viện phát triển nhanh và bền vững bước sang thế kỷ XXI.
Khóa 1 bồi dưỡng kiến thức QP-AN đã kết thúc tốt đẹp. Tôi cảm thấy nhẹ người và sung sướng sau hơn 2 năm lo lắng, suy tư và hồi hộp chờ đợi. Đây là sự thắng lợi của đột phá về nhận thức, của trên và dưới, sự nỗ lực trong tư duy và hành động của toàn thể Học viện. Tuy nhiên, tôi đã nhận thấy cần phải khẩn trương làm tiếp nhiều công việc để chuẩn bị cho các khóa tiếp sau. Trên cương vị là Giám đốc Học viện, tôi rất vui mừng, từ tháng 6-1998 đến đầu năm 2007 (thời điểm tôi được thông báo nghỉ hưu), Học viện đã tổ chức tốt 22 khoá bồi dưỡng kiến thức QP - AN cho 1.247 cán bộ chủ chốt từ 63 tỉnh, thành phố trực thuộc TƯ, các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể Trung ương, các sĩ quan cấp tướng Quân đội và Công an (đối tượng1); các cục, vụ, viện, hiệu trưởng các trường đại học, tổng giám đốc và chủ tịch HĐQT các tổng công ty 90, 91 (đối tượng 2).
Qua 22 khoá, tổng số có 123 đồng chí là Uỷ viên Trung ương Đảng tham dự bồi dưỡng kiến thức QP-AN, trong đó có 5 Uỷ viên dự khuyết. Đã 32 lần các đồng chí lãnh đạo cao nhất xuống dự khai giảng, bế giảng, xuống thăm và chỉ đạo lớp học như: Các đồng chí Tổng Bí thư Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh; Chủ tịch nước Trần Đức Lương, Nguyễn Minh Triết; Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh, Nguyễn Văn An; Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải, Nguyễn Tấn Dũng; Uỷ viên Bộ Chính trị: Phạm Thế Duyệt, Trương Tấn Sang...
    Tôi rất tâm đắc, trong quá trình bồi dưỡng, Học viện coi trọng việc đi học tập nghiên cứu thực tế. Gần chục năm chiến đầu ở chiến trường Tây Nguyên và miền Nam, một trong những địa bàn chiến lược tôi quan tâm nhất và mong muốn học viên được đi nghiên cứu tìm hiểu đó là Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ. Tôi cũng rất chú trọng tới địa bàn chiến lược miền Trung, đặc biệt là mảnh đất Quảng Trị-Đường 9, nơi đây trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước trở thành chiến trường ác liệt nhất, giờ đây với quá nhiều di tích chiến tranh mà cán bộ cần phải biết đến. Gần chục năm công tác ở đặc khu Quảng Ninh và Bộ tư lệnh Quân khu 3, tôi đã thấy rõ tầm quan trọng của tuyến biên giới, vùng biển đảo phía Đông Bắc của Tổ quốc và mong muốn đưa học viên đi nghiên cứu dọc tuyến biên giới, ra nghiên cứu ngoài đảo xa (Cô Tô, Minh Châu, Vĩnh Thực, Ngọc Vừng...).
Để gắn chặt giữa lý luận và thực tế, nhà trường với thao trường, Học viện đã xây dựng được chương trình nghiên cứu thực tế chuẩn bị rất chu đáo, kỹ lưỡng cho mỗi lần đưa học viên đi học tập thực tế. Chẳng hạn như: Khi đi học về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, Học viện tổ chức cho đi nghiên cứu thực tế tình hình biên giới, hải đảo trên tuyến biên giới phía Bắc để học viên thấy rõ hơn dân tình ở những nơi hiểm yếu, còn rất thưa thớt, đời sống vô cùng khó khăn. Qua đó để mọi người hiểu rõ thêm, việc thực hiện nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước còn quá chậm chạp. Chẳng hạn như Kế hoạch của Nhà nước đưa dân ra sát vùng biên giới để phát triển kinh tế-xã hội kết hợp bảo vệ đường biên giới với mức đầu tư khoảng 2.000 tỷ, nhưng sau 5 năm thực hiện, vốn cấp chưa đạt tới 20% (trong khi đó, khi đầu tư cho khu TDTT Mỹ Đình khoảng 5.000 tỷ, Nhà nước tập trung cao độ, chỉ hơn một năm đã xong công trình). Trượt giá lên 7500 tỷ.
   Khi học về xây dựng QĐNDVN, Học viện tổ chức cho đi nghiên cứu thực tế việc huấn luyện của Lữ đoàn xe tăng 201 thuộc Binh chủng Tăng - Thiết giáp, cho học viên thực hành ngồi trên xe tăng như pháo thủ, chạy thử 10 phút vào mùa hè, dọc địa hình đồi núi; hoặc đưa học viên đi thăm quan Trường Sĩ quan Đặc công vào mùa đông, thấy rõ việc huấn luyện đặc công nước vất vả, công phu, nặng nhọc vô cùng, trong khi đó tiêu chuẩn bồi dưỡng ăn thêm chỉ có 10.000đồng/người/ ngày. Sau các chuyến đi thực tế đó, được biết mức ăn của bộ đội đặc chủng được tăng thêm lên 12.000đ/người/ngày.
          Học viện cũng đưa học viên đi thăm quan Trường Sĩ quan Lục quân 1, để hiểu rõ thêm quy trình đào tạo người sĩ quan lục quân bài bản, vất vả, cực nhọc thế nào. Nhưng sau khi tốt nghiệp về đơn vị (với sự khắc nghiệt của quy luật đào thải, cứ 3 sĩ quan có một người phát triển lên, còn 2 người phải chờ đợi), nên nhiều sĩ quan đại úy, tuổi đời khoảng 35 đã phải ra quân về quê, thất nghiệp. Vấn đề đặt ra là Nhà nước khổ công đào tạo đội quân có chất lượng, đội ngũ đã được thử thách ấy sử dụng ra sao để khỏi lãng phí?
   Khi học về kết hợp phát triển KT-XH với tăng cường củng cố QP-AN, Học viện tổ chức cho đi nghiên cứu thực tế tại Binh đoàn 15, Binh đoàn16 ở Tây Nguyên, để thấy được những nỗ lực cao độ của các binh đoàn trong việc thực hiện chính sách xã hội rất tốt, giúp dân yên tâm sản xuất, gắn bó với vùng biên và tham gia bảo vệ biên giới quốc gia. Học viện còn tổ chức đưa học viên tham quan Vành đai biên giới, để thấy rõ thêm sự tương phản giữa hai bên, cũng như  bất cập của ta. Ví dụ như: Nước láng giềng lấn chiếm bãi 2 bụi tre khu vực cửa khẩu Hoành Mô, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh (**) ; xây kè nắn dòng chảy sang đất ta ở khu vực cửa Thông quan Đồng Văn, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh (***) . Trong khi phía họ thì luôn kè sông sát mép nước, tận dụng từng doi đất, thậm chí còn kè sông nắn dòng chảy xói sang phía Việt Nam, thì bên phía ta, toàn xây kè chỗ dễ, bỏ quá nhiều đất đai, có chỗ xa mép nước tới hàng trăm mét .. Phía láng giềng việc kè sông đường biên đều do Công binh đảm nhiệm, còn ta thì giao cho Bộ NN&PTNT làm, nên khi xử trí những đoạn kè phức tạp cũng bị hạn chế.
Học viện cũng tổ chức đưa học viên thăm quan các huyện miền núi vùng biên còn nhiều khó khăn của Hà Giang. Một mặt cũng để học viên tự hào về một công trình vĩ đại, đó là con đường được mang tên “Hạnh phúc” vắt qua sườn núi của 4 huyện miền núi vùng biên (Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc), bước đầu đã đem lại sự đổi đời cho nhân dân vùng cao; mặt khác cũng thấy rõ thêm những khó khăn cực nhọc của đồng bào vùng cao, đặc biệt là các cháu học sinh ở các “Trường bán trú dân nuôi”. Món ăn chủ lực vẫn là “mèn mén” (ngô bung), quần áo thì phong phanh giữa mùa rét cắt da thịt. Thực tiễn ấy đã gây xúc động lớn đối với học viên. Sau này, nhiều cá nhân, cơ quan, đơn vị đã gửi quà tặng trị giá hàng trăm triệu đồng và hàng nghìn bộ quần áo ủng hộ vùng cao.
Quá trình các lớp học bồi dưỡng kiến thức QP-AN đi nghiên cứu thực tế,  tại các đơn vị, khi có điều kiện, lớp học có quà tặng cho đơn vị, địa phương sở tại (như đã làm ở Đảo Cô Tô, Hà Giang, Trường Sĩ quan Đặc công) nhằm động viên, cổ vũ những địa bàn xa xôi, khó khăn (****) .
Các khóa học cũng đã tạo điều kiện cho học viên tham gia diễn tập, xử trí một số tình huống chính trị, trong đó tập trung vào diễn tập, tập bài về vấn đề chuyển đất nước từ thời bình sang thời chiến, tác chiến phòng thủ quân khu, luyện tập xử lý một số tình huống bạo loạn chính trị, gây rối có thể xảy ra; tập bài về đấu tranh quốc phòng nhằm bồi dưỡng cho học viên về phương pháp công tác, phương pháp xem xét và hạ quyết tâm xử trí. Ví dụ Khóa 13: Đây là lớp bồi dưỡng cho đối tượng 2 là cán bộ thuộc các vụ, viện, ban ngành ở Trung ương, các Tổng công ty 90, 91, cán bộ chủ chốt các trường đại học. Lần đầu tiên lớp được tập bài “Xử lý tình huống chính trị” - tình huống bạo loạn, gây rối ở Tây Bắc. Khóa 14, gồm 60 học viên được tham gia diễn tập xử trí tình huống chính trị, tập trung vào xử trí tình hình thực tiễn ở Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và có dự báo những diễn biến mới của tình hình để chủ động đề xuất hướng xử trí... Điều quan trọng là chú trọng thu hoạch cuối khóa.  Học viên chủ yếu viết trong giờ tự học và tự nghiên cứu của mình. Thông qua bài viết thu hoạch, Học viện sẽ khai thác trí tuệ của người học, đồng thời những kiến thức đó cũng là nguồn thông tin có giá trị thực tiễn và khoa học để sau từng khoá Học viện có thể bổ sung dần hoàn thiện các chuyên đề, bài giảng và chương trình học tập cho các khoá sau
Sau 22 khoá học, tuyệt đại bộ phận học viên đánh giá chương trình bổ ích, thiết thực, cần thiết cho tất cả các đối tượng cán bộ của các địa phương và các ban, ngành ở TƯ. Các học viên đều thống nhất nhận thức: Nếu không có sự ổn định về chính trị, xã hội, không có môi trường hoà bình cho mọi miền đất nước, thì mọi sự phát triển không có tính bền vững lâu dài, nguy cơ thiếu lòng tin là điều không tránh khỏi. Do đó, việc kết hợp chặt chẽ giữa 2 nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN là một nhiệm vụ thường xuyên, cơ bản và lâu dài của tất cả các địa phương, bộ, ban, ngành ở Trung ương.
Trong cả 22 khóa học, khóa nào cũng vậy, tôi cùng Ban giám đốc Học viện đều theo dõi, chỉ đạo sát sao suốt thời gian khóa học, kể cả khi lên lớp, thảo luận, tập bài, diễn tập cũng như đi dã ngoại.
Có thể nói, kết quả thu được lớn nhất sau 22 khoá bồi dưỡng kiến thức QP-AN chính là tạo ra sự chuyển biến sâu sắc trong nhận thức của đội ngũ cán bộ chủ trì các cơ quan đoàn thể của Đảng, Nhà nước ở trung ương và  địa phương về công tác QP-AN, tạo sự chuyển biến thực sự trong công tác chỉ đạo, quản lý, điều hành và xây dựng nền QPTD ngày càng vững mạnh ở cấp cơ sở cũng như trong phạm vi cả nước.
       Tại Học viện hiện còn lưu giữ những lời đánh giá tốt đẹp, chân thành, thẳng thắn về hiệu quả của 22 khoá bồi dưỡng kiến thức QP-AN. Trong đó có không ít lời ngợi khen của các lãnh đạo Đảng, nhà nước, Bộ quốc phòng. Tại các Quân khu, Tỉnh thành, chúng tôi cũng nhận được nhiều lời động viên đánh giá khách quan, khẳng định hiệu quả của các khóa học. Còn học viên thì...có cả hàng chục cuốn kỷ yếu, ghi lại những cảm tưởng và lời đánh giá tốt đẹp của hàng trăm học viên. Điều đáng mừng là các “học viên” trở về đã vận dụng và chỉ đạo điều hành tốt nhiệm vụ Quốc phòng-quân sự ở địa phương mình.
     Quá trình bồi dưỡng cũng để lại cho tôi những kỷ niệm sâu sắc, không bao giờ quên. Những điều đã làm được thực sự hiệu quả, chất lượng, bổ ích và thiết thực.
Trong quá trình chỉ đạo bồi dưỡng kiến thức QP-AN, có những sự việc, tuy không lớn, nhưng khi giải quyết nó cũng để lại cho tôi nhiều điều thú vị như: Quyết định trang bị quân phục dã chiến cho học viên khi đi dã ngoại là áo “dã chiến rằn ri”, hay việc đưa nội dung bắn súng ngắn quân dụng K.54 vào chương trình. Có thể nói, tuyệt đại đa số học viên đều cho rằng, luyện tập và bắn súng ngắn quân dụng K.54 là nội dung thiết thực, bổ ích và hấp dẫn.
       Những điều trăn trở tới khi tôi về hưu chưa thực hiện được, đó là: Chương trình bồi dưỡng kiến thức QP-AN lúc đầu được Ban Bí thư Trung ương Đảng nhất trí là 3 tháng, nhưng sau khi báo cáo Bộ Quốc phòng, Thủ trưởng Bộ rút xuống còn một đến một tháng rưỡi. Trên cương vị là Giám đốc, tôi đã nghiêm chỉnh chấp hành ý kiến của Thủ trưởng Bộ, song cho đến nay, tôi vẫn còn băn khoăn, trăn trở về thời gian khóa học. Với thời gian như vậy, việc bồi dưỡng kiến thức QP-AN cho công chức cao cấp của Đảng, Nhà nước, Đoàn thể kết quả sẽ rất hạn chế, nhất là đối tượng học viên ngày càng trẻ, càng về sau đều chưa qua thử thách chiến đấu, chưa được chứng kiến chiến tranh... Tôi cho rằng, cần nâng thời gian đào tạo bồi dưỡng kiến thức QP-AN (từ 3 đến 6 tháng), phải chú trọng chất lượng, không chạy theo số lượng (như Nghị quyết của Bộ chính trị khóa 8 đã kết luận).
   Trong suốt 10 năm gắn bó với nhiệm vụ bồi dưỡng kiến thức QP-AN, tôi đã được cấp trên và cán bộ các cơ quan của Bộ Quốc phòng tận tình giúp đỡ, quan tâm động viên tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ mới mẻ và trọng đại này. Nhưng đôi lúc, tôi vẫn cảm nhận thấy một số cán bộ của cơ quan Bộ Quốc phòng mặc cảm với HVQP cũng như với cá nhân tôi. Cũng có thể do cá tính tôi thẳng thắn, hay nói thẳng, nói mạnh, e làm mất lòng nhiều người. Nhưng tôi linh cảm thấy, nhiều người cho rằng, nếu không cẩn thận, ông ấy (HVQP hoặc cá nhân tôi) sẽ qua mặt cơ quan cấp trên, qua mặt bộ. Đó là điều đáng buồn. Đáng lẽ các đồng chí đó phải khuyến khích, tạo điều kiện, để Học viện quốc phòng tranh thủ sự giúp đỡ nhiều hơn, từ cơ quan Đảng, Nhà nước, với quân đội. Trong đó có Học viện quốc phòng.
   Một điều nữa, cho đến bây giờ vẫn làm tôi day dứt, trong khi các nước quanh ta, người ta thực hiện “4 dám”, trong xây dựng học viện, nhà trường. Đó là: Dám điều cán bộ giỏi về làm giáo viên; dám đầu tư tiền của để huy động các chuyên gia hàng đầu đất nước về viết giáo trình; dám đưa khí tài mới về làm giáo cụ, mang chiến thuật  mới về giảng dạy; dám đưa giáo viên, chuyên gia đào tạo đi nước ngoài học tập các lý luận mới về quân sự hiện đại. Trong khi chất lượng đội ngũ giảng viên của Học viện Quốc phòng phần nào chưa thực sự đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đào tạo. Sau nhiều bài giảng, chúng tôi vẫn nhận được những lời “chê khéo” của học viên về chất lượng của bộ môn, hoặc giáo viên nào đó. Cá nhân tôi và tập thể Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện nhiều năm qua đã dốc sức xây dựng đội ngũ giảng viên, song nghiêm túc nhìn lại, vẫn cảm thấy còn quá nhiều điều bất cập. Trong khi nhiệm vụ chính trị của Học viện ngày càng nặng nề thì quy chế, chính sách, điều kiện thu hút giáo viên về Học viện Quốc phòng chưa thật hấp dẫn, Học viện chưa đủ khả năng để thu hút, chiêu nạp, giữ chân những người giỏi về trường làm thầy...

(*) Khóa 1 Bồi dưỡng kiến thức QP-AN có 44 đồng chí, trong đó có 7 đồng chí là Ủy viên Trung ương Đảng, 8 đồng chí bí thư tỉnh ủy, 15 phó bí thư thường trực tỉnh ủy, 12 chủ tịch tỉnh và 2 phó chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
        (**) Năm 1979, bộ đội ta trồng 2 bụi tre trên đất bãi ven sông Bắc Luân thuộc lãnh thổ nước ta. TQ đã bí mật và nhanh chóng ( trong 1-2 đêm) xây kè sông và xây “mỏ vịt” nắn dòng chảy, đẩy đường biên lấn sâu sang đất ta hàng trăm mét và chiếm giữ luôn khu bãi  2 bụi tre.
       (***)    Dọc sông Bắc Luân, ở những khu vực nhạy cảm, TQ đều chủ động, bí mật và nhanh chóng xây kè sông nắn dòng chảy, đẩy đường biên lấn sâu sang đất ta để chiếm giữ các bãi đất  ven sông có lợi cho xây mốc biên giới.
        (****) Cửa khẩu quốc tế Móng Cái, TP Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh: TQ luôn xây kè bê tông sát mép sông Bắc Luân, còn phía ta, đôi chỗ xây kè quá sâu trong đất liền, để trống đất bãi ven sông, không có lợi cho công tác QP-AN vùng biên giới.




Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 11:21:45 am
XIV


XÂY DỰNG CƠ BẢN HỌC VIỆN

       Song hành với những nhiệm vụ lớn lao về đổi mới, nâng tầm huấn luyện đào tạo, nghiên cứu khoa học, đối ngoại quốc phòng… tôi cùng Ban giám đốc cũng tìm mọi cách tập trung thực hiện dự án “Nâng cấp, cải tạo, xây dựng Học viện Quốc phòng” và chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, giáo viên, học viên, hạ sĩ quan, chiến sĩ, công nhân viên trong Học viện.
       Đầu tháng 3-1997, tôi về làm Giám đốc Học viện quốc phòng thì dự án “Nâng cấp, cải tạo, xây dựng Học viện Quốc phòng” được Thủ tướng Chính phủ đầu tư với số tiền ban đầu là  97 tỷ đồng; dự án đã được các đồng chí trong Ban giám đốc cũ khởi công xây dựng ngày 30-10-1996, đã xây được nhà N2 (nhà làm việc của cơ quan) và nhà N3 (nhà 5 tầng làm giảng đường). Còn hội trường đang xây dựng dở dang, số tiền được trên cấp năm 1997 mới chi hết 12 tỷ đồng; vì tiến độ chậm và giải ngân không kịp, nên cuối năm 1997 tiền chi không hết đã trả lại Nhà nước cả chục tỷ đồng.
       Sau một thời gian tìm hiểu, tôi rút ra một số kết luận như sau:
   Việc thực hiện dự án Ban giám đốc không trực tiếp điều hành, chỉ đạo mà khoán trắng cho Ban quản lý dự án. Đây là nguyên nhân cơ bản dẫn đến mọi hoạt động bất ổn và có nhiều sai sót trong thực hiện dự án. Năng lực chuyên môn, quản lý, điều hành và mối quan hệ với các cơ quan Nhà nước, Bộ Quốc phòng, địa phương của Ban quản lý dự án là rất yếu kém, có dấu hiệu tham nhũng. Một biểu hiện tâm lý là các cơ quan cấp trên của Bộ Quốc phòng ngại không muốn xuống kiểm tra và giúp đỡ, vì cho rằng đây là dự án của Chính phủ trực tiếp đầu tư cho Học viện Quốc phòng.
       Những lý do trên đã dẫn đến: Chất lượng, hiệu quả và tiến độ của dự án chưa đúng kế hoạch, một số công trình như: Hội trường hình thức thì xấu, số ghế ngồi chỉ đảm bảo 300 chỗ mà nhu cầu cần có là 500 chỗ; do vậy phải cải tạo bổ xung thêm.
   Tôi có suy nghĩ, theo nghị định số 188/CP của Chính phủ ngày 20-12-1994 đã quyết định thành lập Học viện Quốc phòng, việc xây dựng cơ bản của Học viện phải có một diện mạo mới ngang tầm với Học viện Quốc phòng của các nước trong khu vực và một số nước trên thế giới; Học viện phải được xây dựng khang trang, đàng hoàng, to đẹp, có giá trị thẩm mỹ và văn hoá cao.
   Với những kinh nghiệm điều hành, chỉ đạo xây dựng cơ bản, khi tôi còn làm tỉnh đội trưởng tỉnh Quảng Ninh và Tư lệnh Quân khu 3, cùng với những lần đi tham quan, nghiên cứu Học viện Quốc phòng của một số nước khiến tôi càng có quyết tâm phải xây dựng Học viện khang trang, to đẹp vừa là trung tâm bồi dưỡng, đào tạo cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước và quân đội, vừa là một điểm sáng văn hoá của Thủ đô Hà Nội
   Để đẩy nhanh tiến độ, tôi tập trung vào mấy việc chính sau: Chấn chỉnh lại ngay Ban quản lý dự án. Đụng chạm vào đây có thể sẽ gây nên phản ứng bất lợi đối với tôi, khi vừa mới về Học viện; trước hết phải làm tốt công tác tư tưởng ngay trong Đảng ủy và Ban giám đốc Học viện để tạo sự đồng thuận. Rất mừng, những vấn đề tôi phát hiện và đề xuất đều được các đồng chí trong Đảng uỷ và Ban giám đốc Học viện cơ bản nhất trí và thấy là cần thiết phải thay đổi;    ngay sau đó, tôi và anh Trịnh Đình Thắng Thiếu tướng, Phó giám đốc về chính trị, Bí thư Đảng ủy (cũng mới được điều về Học viện Quốc phòng giữa năm 1997). Anh Thắng tuổi hơn tôi vài năm, nhưng là một cán bộ chính trị có nhiều kinh nghiệm, có năng lực, sống có tâm, có tinh thần trách nhiệm cao, năng động, sáng tạo, đổi mới tư duy, quyết đoán, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, luôn ủng hộ cái mới… Giữa tôi và  anh Thắng tuy mới làm việc cùng nhau, nhưng những vấn đề lớn có tính nguyên tắc đều được thống nhất. Chúng tôi cùng sang làm việc với Đảng ủy, Ban giám đốc Học viện Kỹ thuật quân sự, trực tiếp là anh Nguyễn Đình Luyện Thiếu tướng, Giám đốc. Chúng tôi xin hai đồng chí là Thượng tá Đỗ Lũy và Trung tá Trịnh Hoài Thanh, kỹ sư xây dựng, có kinh nghiệm, đã điều hành dự án xây dựng lớn của Học viện Kỹ thuật quân sự.
       Khi có quyết định điều động hai đồng chí Lũy và Thanh về Học viện Quốc phòng, Thường vụ Đảng ủy Học viện Quốc phòng đã xét và ra quyết định bổ nhiệm đồng chí Đỗ Lũy làm Trưởng ban, đồng chí Trịnh Hoài Thanh làm Phó ban dự án thay đồng chí Thượng tá Hà Ngọc Quảng nguyên Trưởng ban và đồng chí Trung tá Phan Duy Tư Phó ban dự án đi làm nhiệm vụ khác. Học viện cũng bổ nhiệm Trung tá Vũ Như Lăng làm phó ban thay Trung tá Vũ Quý Bộ.
        Tôi yêu cầu đồng chí Lũy lập ngay cho tôi một kế hoạch tổng thể thực hiện dự án “Nâng cấp, cải tạo xây dựng Học viện Quốc phòng” bao gồm: Kế hoạch xây dựng từng hạng mục công trình, kế hoạch thời gian từng giai đoạn và toàn bộ công trình, kế hoạch rải ngân trong từng năm, kế hoạch giải phóng mặt bằng… khâu nào Ban quản lý dự án tự giải quyết được, khâu nào Ban giám đốc Học viện phải ra tay tháo gỡ.
        Trong kế hoạch của Ban quản lý dự án mới do đồng chí Lũy trình bày, tôi thấy có 2 vấn đề lớn mà thủ trưởng Học viện phải trực tiếp ra tay tháo gỡ đó là: Việc giải phóng mặt bằng và huy động nguồn ngân sách, vì đến thời điểm này việc giải phóng mặt bằng vẫn chưa có chuyển động, nguồn ngân sách được cấp chi tiêu năm 1997 không hết nguyên tắc phải trả lại, nhưng đến năm 1998 trở đi khai thác sẽ khó khăn, tiến độ xây dựng so với yêu cầu là quá chậm, nếu không tích cực chủ động hoàn thành nhanh dự án thì không thực hiện được.



Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 11:22:21 am
          Việc tập trung giải phóng mặt bằng không thể coi nhẹ. Từ năm 1994-1996, nhiều lần Thủ trưởng Học viện Quốc phòng đã làm việc với Bộ Công nghiệp. Quan điểm Bộ Công nghiệp là nhất trí di rời 6 cơ quan của Bộ Công nghiệp, song dưới cơ sở, các cơ quan của Bộ Công nghiệp lại không đồng thuận, họ cho là đã làm thủ tục xin thành phố Hà Nội và thành phố đã cấp sổ đỏ, Nhà nước muốn thu hồi phải cấp đất khác cho họ.
   Từ năm 1998-2000, tôi đã nhiều lần làm việc với Thủ trưởng Bộ Công nghiệp. Tôi ý thức được, để giải quyết tận gốc, thu lại đất cũ, nếu chỉ nói lý thì không ổn mà phải chú ý đến lợi ích kinh tế của họ mới tạo được tiếng nói chung. Tôi chỉ đạo làm văn bản trình thành phố xin 5.000m2 đất thuộc xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm (cạnh đường Phạm Văn Đồng, đường ra cầu Thăng Long) để chuyển 6 cơ quan của Bộ Công nghiệp ra đó, còn 225 hộ dân cần di dời, đã được thành phố cấp đất giãn dân ở Trung Hoà - Nhân Chính.
      UBND thành phố Hà Nội nhất trí phê duyệt đề nghị của Học viện Quốc phòng, thì lại phát sinh ra mâu thuẫn mới, các hộ dân ở khu dự án mới (thuộc xã Cổ Nhuế) lại muốn nhận tiền đền bù trực tiếp từ quân đội; còn xã Cổ Nhuế thì xin một bệnh xá khoảng 800 triệu đồng bằng tiền mặt... Tôi bàn với các đồng chí trong Ban giám đốc Học viện cần triệu tập ngay một cuộc họp mời các đồng chí Chủ tịch xã Cổ Nhuế, Chủ tịch huyện Từ Liêm và Phó chủ tịch thành phố Hà Nội phụ trách giải phóng mặt bằng.
   Sau khi nghe Ban quản lý dự án của Học viện Quốc phòng trình bày những khó khăn, phức tạp của việc giải phóng mặt bằng; còn Ban giám đốc Học viện Quốc phòng nêu quan điểm là nên chấp nhận đề nghị của địa phương và các hộ dân ở khu đất mới đường Phạm Văn Đồng, tôi đề nghị đồng chí Phó chủ tịch thành phố và Chủ tịch huyện Từ Liêm cho hướng giải quyết.
   Anh Đôn, Phó chủ tịch thành phố là bạn cùng chiến đấu với tôi hồi ở chiến trường miền Đông Nam Bộ rất nhiệt tình ủng hộ Học viện. Anh cho ý kiến: Tiền của Học viện Quốc phòng ủng hộ xã nên chuyển về kho bạc Nhà nước để tiện theo dõi việc chi tiêu, sử dụng. Còn anh Chí - Chủ tịch huyện Từ Liêm là lính đặc công thời đánh Mỹ - thấy đề nghị của dân không có gì là quá đáng đã nhất trí để Học viện Quốc phòng chi tiền đền bù trực tiếp cho các hộ dân; các cơ quan Bộ Công nghiệp họ cũng cảm thấy như vậy là thỏa đáng, do đó, đã nhất trí di chuyển nhanh và trả lại mặt bằng sớm hơn cho Học viện.   
        Tuy nhiên, trong quá trình tiến hành giải phóng mặt bằng không phải tất cả đều diễn ra suôn sẻ, thuận lợi mà cũng gặp rất nhiều khó khăn, cản trở, phức tạp, vì đây là vấn đề kinh tế, vấn đề quyền lợi, đòi hỏi đền bù được càng nhiều càng tốt, do vậy tôi đã chỉ đạo  anh em trong cơ quan Cục Chính trị và Ban quản lý dự án là phải hết sức làm tốt cả công tác chính trị tư tưởng, công tác tổ chức, công tác chính sách, thậm chí cả lợi ích kinh tế nhỏ có thể chấp nhận được, để giải phóng mặt bằng càng nhanh càng tốt; một ví dụ điển hình là gia đình Đại tá PTP khi động chạm đến lợi ích cá nhân đều có phản ứng lại rất gay gắt. Để tháo gỡ khó khăn tôi quyết định trực tiếp ra thăm gia đình anh. Tôi về trao đổi với Cục Chính trị và Ban giám đốc Học viện cấp thêm cho gia đình anh 10m2 đất nữa theo nguyện vọng, không dùng lệnh cưỡng chế, vì đều là đồng đội, đồng chí. Việc giải phóng mặt bằng giai đoạn 1 đã hoàn thành tốt đẹp.
   Đến lượt giải phóng mặt bằng giai đoạn 2 sát mặt đường Hoàng Quốc Việt thì tính chất khó khăn, phức tạp, quyết liệt lại càng tăng, đặc biệt là những hộ ở sát mặt đường đang kinh doanh, buôn bán có thu nhập cao, họ đã tập trung lại dựa vào những người có uy tín để đấu tranh, đòi quyền lợi.
   Sau khi tôi nghiên cứu, xem xét việc đền bù cho các hộ dân ở đây đều là đúng chính sách, đúng quy định, đúng pháp luật, nhưng có hai trường hợp phải nghiên cứu vận dụng. Nắm vững thực chất của vấn đề, tôi đã chỉ đạo cho đồng chí Luỹ, Trưởng ban quản lý dự án làm văn bản báo cáo với Ban giải phóng mặt bằng và UBND thành phố Hà Nội đề nghị vận dụng chính sách đền bù cho hai cụ thuộc diện đối tượng chính sách và đã được thành phố nhất trí cấp cho gia đình cụ Đ 240m2 đất ở khu Trung Hoà-Nhân Chính bằng diện tích hiện gia đình cụ đang ở. Còn gia đình cụ T được cấp 2 hộ với diện tích bằng 120m2 ở Yên Hoà, Cầu Giấy. Sau khi nhận được quyết định, cả 2 cụ đều vui vẻ, phấn khởi vận động bà con nhanh chóng di chuyển để trả lại mặt bằng cho Học viện, không một trường hợp nào phải dùng áp lực cưỡng chế. 
         Đó là thắng lợi lớn, sau này việc giải phóng mặt bằng ngày càng khó khăn do quỹ đất hiếm và giá trị đất tăng cao. Nếu những ngày đó không làm được, có thể nói sau này khó có thể làm được…
         Trong công lao xin đất để giải phóng mặt bằng của Dự án “Nâng cấp, cải tạo, xây dựng Học viện Quốc phòng” ngoài công lao chung của Đảng ủy, Ban giám đốc, các cơ quan chức năng của Học viện, còn phải kể đến công lao của đồng chí Đại tá Đỗ Lũy, Trưởng ban quản lý dự án (năm 2004, đồng chí Đỗ Luỹ đã được đề bạt Đại tá) và Thượng tá Nguyễn Công Hoan, Phó Giám đốc Công ty Đông Đô của Học viện Quốc phòng, là những đồng chí có kinh nghiệm, đã tích cực, chủ động giúp Ban giám đốc Học viện giải quyết được những khó khăn trên.


Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 11:23:13 am
Lúc này, nhiệm vụ còn lại là tích cực, chủ động khai thác ngân sách để đẩy nhanh tiến độ, chất lượng của dự án.
   Kỷ niệm lần thứ 55 ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt nam, ngày hội Quốc phòng toàn dân (22/12/1944 – 22/12/2000); Học viện Quốc phòng mời Thủ tướng Phan Văn Khải xuống thăm Học viện. Để tranh thủ được sự đồng tình và giúp đỡ của Thủ tướng, trước đó tôi đã lên làm việc với Vụ 1 thuộc Bộ Kế hoạch đầu tư, trình bày những khó khăn trong việc hoàn thành dự án “Nâng cấp, cải tạo, xây dựng Học viện Quốc phòng” vì vật tư, sắt, thép, xi măng, gạch… và các thiết bị khác đều trượt giá, đặc biệt là tiền đền bù cho các hộ dân để giải phóng mặt bằng theo quyết định mới của Chính phủ đã thay đổi, tăng nhiều so với trước. Các đồng chí Vụ 1 thuộc Bộ Kế hoạch đầu tư đều nhất trí là phải bổ sung thêm ngân sách và có tham mưu cho Học viện, nếu Học viện báo cáo với Thủ tướng Phan Văn Khải, được Thủ tướng đồng ý họ sẽ điều chỉnh kế hoạch tăng thêm ngân sách trình lên Thủ tướng
   Khi Thủ tướng tới thăm Học viện, tôi báo cáo với Thủ tướng về kết quả học tập, nghiên cứu của các lớp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh đối với cán bộ cơ quan Đảng, Nhà nước ở trung ương và địa phương và kết quả, tiến độ của dự án “Nâng cấp, cải tạo, xây dựng Học viện Quốc phòng”; tôi đã trình bày kỹ với Thủ tướng vì sao đến năm 2000 chưa hoàn thành dự án: Là vì giá vật tư trang thiết bị tăng, tiền đền bù giải phóng mặt bằng tăng, nếu chỉ với ngân sách cũ là 97 tỷ đồng thì không hoàn thành được dự án; tôi đề nghị Thủ tướng cho bổ xung thêm ngân sách dự án. Thủ tướng vui vẻ và nói “Tôi đồng ý về nguyên tắc còn cụ thể các đồng chí làm việc với Vụ 1, Bộ Kế hoạch đầu tư ”. Sau chuyến thăm của Thủ tướng Phan Văn Khải, ngân sách đã được điều chỉnh  từ 97 tỷ đồng lên 130,7 tỷ đồng (bổ sung thêm 33,7 tỷ đồng), đây là một cố gắng lớn, đủ đảm bảo những điều kiện cần thiết cho dự án được hoàn thành.
   Với bản lĩnh quyết đoán và kinh nghiệm nhiều năm chỉ đạo làm công tác xây dựng, tôi quyết định dỡ bỏ một số ngôi nhà cũ nằm ở trung tâm Học viện; tuy nhiên, còn ngôi nhà dài như mọi người thường gọi là “ngôi nhà dài nhất Hà Nội” dành cho học viên, tôi quyết định vẫn giữ nguyên chỉ cải tạo, nâng cấp; cho đến bây giờ những quyết định ấy vẫn hoàn toàn chính xác.
   Trong khuôn viên 8,8ha của Học viện, còn một công trình ngoài dự án, rất được trân trọng và tự hào, đó là nhóm tượng đài “Bác Hồ trong Chiến dịch Biên giới 1950”. Có thể khẳng định, nhóm tượng đài được đặt giữa trung tâm quảng trường của Học viện, từ ngoài đường Hoàng Quốc Việt có thể nhìn thấy rõ toàn bộ quang cảnh quảng trường và nổi bật là nhóm tượng đài thật uy nghiêm và hoành tráng, tôn vinh những giá trị lịch sử, truyền thống oai hùng của quân đội và Học viện.
        Sở dĩ có nhóm tượng đài này là sau khi dự án được xây dựng xong, Học viện có một quảng trường vừa có chiều rộng lại vừa có chiều sâu rất đẹp; hiếm có một cơ quan nào lại có được một quảng trường rộng, đẹp như thế. Từ trên phòng làm việc ở ngôi nhà 7 tầng ngắm nhìn ra quảng trường, tôi bật ra suy nghĩ: Trên khuôn viên này nên xây dựng một nhóm tượng đài, nhưng nhóm tượng đài này phản ánh gì về lịch sử, truyền thống gắn với Học viện, tôi đem ý định đó trao đổi với các đồng chí trong Đảng uỷ, Ban giám đốc Học viện và cán bộ, giáo viên. Có ý kiến cho rằng, nên dựng tượng đài những bậc vĩ nhân, anh hùng dân tộc trong lịch sử dựng nước và giữ nước; một số ý kiến khác lại cho rằng nên dựng tượng đài về Chủ tịch Hồ Chí Minh mà dựa vào phiên bản Bác Hồ nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 308 trước cửa đền Hùng với câu nói nổi tiếng “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Một số ý kiến khác lại đề xuất, nên dựng tượng đài “Bác Hồ trong Chiến dịch Biên giới 1950”; đề xuất này hoàn toàn trùng với suy nghĩ của tôi, vì Bác Hồ vừa là người sáng lập ra quân đội, vừa là người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân, đồng thời Bác Hồ còn là hiện thân của nền nghệ thuật quân sự Việt Nam. Học viện Quốc phòng là học viện cao nhất của quân đội, là nơi giảng dạy, nghiên cứu, phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam; vậy dựng tượng đài “Bác Hồ trong Chiến dịch Biên giới 1950” đó là tư tưởng lớn, chỉ đạo mọi hoạt động của Học viện .
        Với ý tưởng đó, tôi đã báo cáo trực tiếp với thủ trưởng Bộ. Được thủ trưởng Bộ Quốc phòng cấp cho 7 tỷ. Tổng công ty Dầu khí Việt Nam tài trợxây dựng sân quảng trường. Dự án được tiến hành từ tháng 6-2003 (tính từ khi đắp mẫu), đến tháng 12-2006 thì hoàn thành. Những nhà điêu khắc nhóm tượng đài đã được Bộ Văn hoá-Thông tin và Du lịch cấp bằng khen xuất sắc.
          Như vậy là sau 9 năm thực hiện Dự án “Nâng cấp, cải tạo, xây dựng Học viện Quốc phòng” của Chính phủ đã được khánh thành. Từ một Học viện cơ sở vật chất rất nghèo nàn, nay Học viện có một diện mạo mới, một cơ ngơi khang trang, đàng hoàng, tương đối hiện đại, ngang tầm với Học viện Quốc phòng của các nước trong khu vực và thế giới. Ủy ban thành phố Hà Nội đánh giá cao về công tác đền bù, giải phóng mặt bằng, nhanh gọn, dứt điểm, có nhiều kinh nghiệm quý để thành phố nghiên cứu, vận dụng, là một dự án đã hoàn thành xuất sắc.

(http://i627.photobucket.com/albums/tt353/datavehu/HVQP.jpg)


Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 11:23:45 am
Giải quyết chính sách và chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, giáo viên, học viên, hạ sĩ quan, chiến sĩ công nhân viên ở Học viện cũng là việc tôi cùng Ban giám đốc hết sức chăm lo, trên tinh thần coi trọng sự cống hiến của các thế hệ.
        16 năm về trước (năm 1981), tôi là học viên đào tạo khóa 2 ở Học viện Quân sự cấp cao nay là Học viện Quốc phòng, phần nào tôi đã hiểu được những khó khăn về đời sống của cán bộ, giáo viên, công nhân viên ở đây. Năm 1988, tôi là chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ninh, thấy được những khó khăn của Học viện, tôi đã gửi tặng Học viện Quân sự cấp cao 200 tấn than và bán thêm 200 tấn theo giá nội bộ để thủ trưởng Học viện lo chính sách cho cán bộ, giáo viên, công nhân viên Học viện.
   Tôi về làm Giám đốc, sau 6 tháng tìm hiểu, tôi rất yên tâm và tin tưởng ở đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý, đội ngũ công nhân viên phục vụ ở Học viện Quốc phòng. Ngoài nhiệt tình, tâm huyết với công việc, gắn bó với Học viện, họ còn có khả năng giảng dạy, kinh nghiệm nghiên cứu khoa học và chuyên sâu nghiệp vụ. Nhưng điều tôi băn khoăn nhất  lại là đời sống của đội ngũ cán bộ, giáo viên, công nhân viên Học viện còn rất nhiều khó khăn so với đồng cấp ở các Quân khu, Quân đoàn, Quân binh chủng, đặc biệt là vấn đề nhà ở và các chính sách đãi ngộ. Quỹ vốn của Học viện không có, khi tôi về nhận bàn giao đã âm 2,2 tỷ đồng, sau 4 năm tôi về mới xóa được hết nợ.
   Năm 1998, Bộ Quốc phòng có ý định cắt ngân sách xây dựng nhà công vụ của Học viện; nắm bắt được ý định của Bộ, tôi cùng anh Trịnh Đình Thắng - Phó giám đốc về chính trị - đã tranh thủ lên làm việc với thủ trưởng Nguyễn Trọng Xuyên, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, lúc bấy giờ phụ trách về ngân sách và xây dựng cơ bản… Sau khi nghiên cứu đề nghị của Học viện, Bộ Quốc phòng đã cấp cho Học viện Quốc phòng 8 tỷ đồng, quá trình xây dựng được bổ sung thêm 2 tỷ đồng, tổng cộng là 10 tỷ đồng. Học viện đã xây dựng được hai đơn nguyên 6 tầng với 74 hộ trên quỹ đất của Học viện ở ngõ 61 đường Phùng Chí Kiên.
           Như vậy, sau khi có nhà công vụ đã giải quyết được rất nhiều khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ, cũng như gia đình cán bộ khi được điều động về Học viện nhanh chóng ổn định cuộc sống, yên tâm công tác.
         Về giải quyết chính sách nhà ở, theo báo cáo đến năm 2000, số chưa có nhà ở là trên 300 hộ. Quỹ đất của Học viện còn lại rất ít, mà nhu cầu nhà, đất ở rất lớn; tôi đã bàn với các đồng chí trong Đảng ủy và Ban giám đốc, xác định giải quyết nhà ở cho cán bộ là một chủ trương, chính sách lớn, phải có lãnh đạo chặt chẽ, có quyết tâm cao và phải có một chiến lược tổng thể, phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi nguồn lực để giải quyết nhà ở cho cán bộ, có như vậy anh chị em mới yên tâm công tác, gắn bó lâu dài với Học viện.

   Tôi tính toán: Quỹ đất còn lại của Học viện nếu chia thật tiết kiệm sẽ được 10 hộ và cải tạo nâng cấp nhà 12 sẽ được 80 hộ, dỡ bỏ nhà 13 xây mới theo tỷ lệ Công ty kinh doanh phát triển nhà đất Bộ Quốc phòng 30%; Học viện 70% sẽ được 53 căn hộ.
         Về giải quyết phân đất đợt cuối và căn hộ tập thể của Học viện cho cán bộ, giáo viên, công nhân viên, tôi đã cho cơ quan chính trị đưa ra các tiêu chuẩn để chấm điểm, đây là một căn cứ khoa học để đạt tới sự công bằng và tránh những thắc mắc.
         Về phân đất đợt cuối, hiện thời trong Học viện có 4 đồng chí là cán bộ, giáo viên 3 thời kỳ và 6 con liệt sĩ, so với thang điểm có nhiều trường hợp không đủ điểm; tôi đã hội ý trong thường vụ và Ban giám đốc đề nghị đây là lần cấp đất cuối cùng của Học viện nên có chính sách ưu tiên các đồng chí 3 thời kỳ và con liệt sĩ, nên khi thông qua Ban giám đốc nhất trí, cho nên cả 4 đồng chí 3 thời kỳ và 6 con liệt sĩ đều được cấp đất đợt cuối cùng.
        Việc cải tạo nhà tập thể 4 tầng số 12 thành các căn hộ để phân cho cán bộ, giáo viên, công nhân viên, cuối năm 2001, tôi nắm được thông tin Bộ Quốc phòng còn một nguồn tiền dư, nếu Học viện Quốc phòng muốn cải tạo, sửa chữa công trình nào thì làm kế hoạch báo cáo, vì đã vào cuối năm nên thời gian làm kế hoạch phải rất khẩn trương. Tôi đã hội ý trong Ban giám đốc và nhanh chóng cho cơ quan hậu cần, kỹ thuật làm dự án báo cáo với Bộ Quốc phòng, đồng thời cùng triển khai kế hoạch xây dựng song song nên đã tranh thủ được nguồn ngân sách trên cấp là 2 tỷ đồng. Chớp được thời cơ đó nên cán bộ, giáo viên chỉ phải đóng góp trung bình 60 triệu đồng/căn hộ. Nhiều gia đình rất khó khăn đã có căn hộ.
   Việc xây dựng nhà 13, trước là nhà ăn tập thể. Cục quản lý nhà đất muốn được tham gia xây dựng với tỷ lệ 30/70; Bộ triển khai nhanh chóng, đôi bên cùng có lợi
   Việc xây dựng nhà 14: Học viện có làm công văn xin thêm miếng đất kẹt trong khu dân cư ở ngõ 106 đường Hoàng Quốc Việt. Tập thể thường vụ, Ban giám đốc Học viện chấp nhận phương án của Vinaconex, Học viện hưởng 75% số căn hộ; theo thiết kế nhà N14 là 108 căn hộ. Quá trình xây dựng, Ban giám đốc cử đồng chí Thiếu tướng Trần Hùng, Phó giám đốc trực tiếp chỉ đạo; đồng chí Đại tá Nguyễn Minh Thú, Chủ nhiệm hậu cần, kỹ thuật làm Trưởng ban dự án; đồng chí Đại tá Mạc Duy Phận, Phó chủ nhiệm hậu cần, kỹ thuật làm Phó ban; kể cả khi đồng chí Thú nghỉ chờ hưu nhưng vẫn làm Trưởng ban dự án cho đến khi công trình kết thúc.
   Rất tiếc nhà 14 chưa hoàn thành và chưa quyết toán xong thì cả tôi, đồng chí Trần Hùng, đồng chí Thú, đồng chí Phận đều được báo nghỉ hưu. Các đồng chí Ban giám đốc mới không theo dõi từ đầu nên khi quyết toán cũng có nhiều phiền toái. Có những ý kiến, dư luận khác nhau về xây dựng nhà 14. Tuy nhiên, cái được chung là cán bộ, giáo viên, công nhân viên được phân một căn hộ đều được hưởng giá có lợi chỉ từ 300 triệu đồng đến 1 tỷ đồng.
   Trong suốt 10 năm tôi làm Giám đốc Học viện Quốc phòng cùng với tập thể Ban giám đốc đã cải tạo, xây dựng được 194 căn hộ cấp cho cán bộ, giáo viên, công nhân viên. Thực sự đây là một cố gắng rất lớn, vấn đề này đã được cuốn lịch sử Học viện Quốc phòng ghi nhận: “Học viện đã lãnh đạo và thực hiện nghiêm túc các chế độ, chính sách đối với các đối tượng, có nhiều chủ trương, biện pháp tích cực để cải thiện và nâng cao đời sống của cán bộ, giáo viên, công nhân viên. Trong 5 năm 2001-2005, khi cán bộ, giáo viên, công nhân viên của Học viện gặp khó khăn về nhà ở, được sự giúp đỡ của Bộ Quốc phòng và thành phố Hà Nội, Học viện đã chủ động cải tạo, xây dựng mới được 194 căn hộ bán cho cán bộ, giáo viên, công nhân viên theo giá chính sách, làm lợi cho gia đình cán bộ, nhân viên được mua từ 200 đến 300 triệu đồng và toàn Học viện lợi gần 50 tỷ đồng so với thị trường.
Điều vui nhất là hầu hết cán bộ, nhân viên có 15 năm phục vụ trở lên đều được Học viện giải quyết nhà ở, góp phần ổn định và nâng cao đời sống.
      Nhân tiện nói thêm về gia đình tôi, cũng nằm trong hàng ngũ tướng lĩnh của Quân đội nhân dân, phần lớn các gia đình tướng lĩnh được trên quan tâm, hoặc đề xuất với cấp trên xin đất, xin nhà. Hầu hết các đề xuất được Bộ Quốc phòng quan tâm, giải quyết ưu ái đặc biệt, đáp ứng theo yêu cầu. Cho đến giờ này, nhiều người vẫn cho rằng, tưởng rằng gia đình tôi được trên chăm lo, có hàng trăm mét vuông đất ở Mỹ Đình, hay ở “đâu đó”.
       Tôi nghĩ rằng, là cán bộ cao cấp trong quân đội, trước hết phải chăm lo cho cấp dưới, còn gia đình mình, nếu là chính sách chung, cấp trên sẽ chăm lo. Nhưng thực tế cho tới khi tôi nghỉ hưu, gia đình tôi không hề nhận, hoặc được nhượng bán một mét vuông đất nào của quân đội.
       Tôi nhẹ lòng hơn, mỗi khi thấy trong hoàn cảnh “tấc đất tấc vàng” theo nghĩa đen và nghĩa rộng hiện nay, có thêm nhiều gia đình đồng đội của tôi, những chiến hữu đã từng chia nhau điếu thuốc, củ mì, viên thuốc trong chiến trường, giờ có đất ở Thủ đô, để con cái có điều kiện học hành, tuổi già tĩnh dưỡng.


Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 11:24:19 am
             Việc chăm lo đời sống, vật chất tinh thần cho cán bộ, giáo viên, công nhân viê:. Quá trình thực hiện dự án “Nâng cấp, cải tạo, xây dựng Học viện Quốc phòng” với ngân sách là 130,7 tỷ đồng; trong cơ chế trong hoạt động xây dựng hiện nay, người ta thường nghĩ ngay đến cơ chế ngầm thoả thuận giữa bên A và bên B, nếu công trình được ký kết thì người chỉ huy và đơn vị sẽ được hưởng tỷ lệ phần trăm theo “cơ chế”, do vậy sẽ có cán bộ, giáo viên hiểu lầm. Nhưng thực chất việc xây dựng dự án của Học viện không phải như vậy; không có đấu thầu, mà các công ty vào xây dựng ở Học viện đều do Bộ Quốc phòng chỉ định thầu, vì thế không có tỷ lệ “hoa hồng” nào  “lại quả” cho Học viện.
     Để giải quyết trợ cấp cho cán bộ hằng năm, với lực lượng gần 1.000 người đây là một nhiệm vụ cũng hết sức khó khăn và phức tạp. Tôi suy nghĩ là phải vận dụng sức mạnh tổng hợp, để mỗi năm phải có được 500-600 triệu đồng giải quyết chính sách. Một mặt, hằng năm tôi đều động viên các công ty, xí nghiệp xây dựng Học viện ủng hộ Học viện trong các dịp lễ, tết. Mặt khác, phát huy khả năng của các lực lượng làm kinh tế của Học viện như: Công ty Đông Đô, các công trình thể dục, thể thao, các ki-ốt bán hàng, đều tận thu để đóng góp cho Học viện. Do vậy, Học viện hằng năm trung bình trợ cấp cho cán bộ, giáo viên ít nhất là 500 nghìn đồng, nhiều nhất là 1 triệu đồng/ người/năm.
   Ngoài ra, hằng năm đều tổ chức cho toàn thể cán bộ, giáo viên gần 1.000 người ăn tết tất niên, tập trung tại Học viện và tặng một túi quà thường là văn hóa phẩm. Đây là một tư duy mới được cán bộ, giáo viên trong Học viện rất đồng tình, vừa tạo được không khí vui tươi, phấn khởi, đoàn kết, thống nhất cùng nhau xây dựng Học viện ngày càng đổi mới, phát triển. 
         Để đảm bảo phương tiện đi lại cho cán bộ, giáo viên và làm  chính sách hậu phương, tôi đã trực tiếp làm việc với cơ quan Bộ Quốc phòng, xin thêm xăng, dầu, đủ đảm bảo cho cán bộ từ cấp thượng tá trở lên một năm được một chuyến xe về thăm quê, vẫn tổ chức xe tuyến đưa đón cán bộ hằng ngày đến Học viện làm việc và xe tuyến hằng tháng đối với cán bộ có gia đình còn ở quê.
         Tôi và Ban giám đốc còn cho cơ quan Cục Chính trị đi quan hệ với các đoàn an dưỡng trong và ngoài quân đội và đảm bảo xăng, xe đưa đón 100% gia đình cán bộ đến các đoàn an dưỡng nghỉ 3-5 ngày, chủ trương này tổ chức được vài năm, được cán bộ, giáo viên và các gia đình hết sức phấn khởi.
           Ngoài việc quan tâm nâng cao đời sống vật chất, tôi đã cùng các đồng chí trong Đảng uỷ, Ban giám đốc hết sức coi trọng nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần cho cán bộ, giáo viên, công nhân viên như: Mở rộng giao lưu văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao với các học viện, nhà trường trong và ngoài quân đội thuộc khu vực Hà Nội và các địa phương thuộc các tỉnh, thành phố thuộc địa bàn phía Bắc; tổ chức kết nghĩa với các trường trong và ngoài quân đội như Trường Đại học văn hóa nghệ thuật quân đội, Trường Múa Việt Nam, Trường Chu Văn An… Đã duy trì tốt chế độ hằng tháng xem phim, hằng năm xem biểu diễn văn công và tổ chức hội diễn văn nghệ toàn Học viện, đồng thời tham gia hội diễn khu vực và toàn quân. Quan tâm đến xây dựng thư viện, nhà truyền thống, môi trường cảnh quan sinh thái, xanh, sạch, đẹp trong toàn Học viện. Tích cực tạo nguồn kinh phí mua sắm trang thiết bị làm việc cho cán bộ, giáo viên, học viên, công nhân viên như: Bàn ghế, tủ, máy điều hoà không khí, tủ lạnh… Tranh thủ được sự giúp đỡ của các doanh nghiệp kinh tế hảo tâm ủng hộ, giúp đỡ Học viện như Tân cảng Sài Gòn ủng hộ 500 triệu đồng để mua phương tiện nghe, nhìn.
        Để nâng cao sức khỏe cho cán bộ, giáo viên, học viên... tôi đã chỉ đạo cơ quan văn phòng duy trì chặt chẽ giờ thể thao buổi chiều. Để có sân bãi luyện tập, tôi đã vận động các cơ quan Nhà nước giúp đỡ, tài trợ ngân sách xây thêm từ 2 sân tenis lên 5 sân, xây thêm một bể bơi mini, một số sân bóng chuyền, một sân bóng đá mini để cho cán bộ, giáo viên, công nhân viên rèn luyện sức khoẻ; các đồng chí cán bộ dân chính về học lớp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng khi trực tiếp nhìn thấy không khí tập luyện thể thao buổi chiều của toàn Học viện đã phát biểu: “Đúng là chỉ có ở môi trường trong quân đội mới có một không khí vui tươi, khoẻ, lành mạnh như vậy”.
   Người ta thường nói: “Cán bộ thế nào, phong trào thế ấy”, tôi cũng như các đồng chí trong Ban giám đốc Học viện tuy là ở lứa tuổi cao nhưng đều ra sân luyện tập cùng anh em và thường xuyên tổ chức thi đấu nên đã cuốn hút được mọi người cùng tham gia.
Có thể khẳng định, trong suốt quá trình điều hành, chỉ đạo dự án “Nâng cấp, cải tạo, xây dựng Học viện Quốc phòng” cũng như chỉ đạo công tác hậu cần, kỹ thuật, giải quyết chính sách, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ. giáo viên, công nhân viên, cũng như mọi hoạt động khác, tôi luôn giữ vững tính Đảng, tính dân chủ tập thể, tính kỷ luật, chấp hành nghiêm nghị quyết của Đảng uỷ, tôn trọng ý kiến của Ban giám đốc; song tôi không bao giờ dựa dẫm, ỷ lại, luôn luôn đổi mới tư duy, phát huy tính tích cực, chủ động, năng động, sáng tạo, quyết đoán, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Đặc biệt là trong công tác chỉ huy, tôi luôn quan tâm đến công tác tổ chức thực hiện; một khi đã có chủ trương đúng phải có quyết tâm và có nhiều biện pháp thực hiện cho bằng được; kiên quyết đấu tranh với những tư tưởng, hành vi tiêu cực cản trở đến việc thực hiện nhiệm vụ. Tư duy đó cơ bản đã được cán bộ, giáo viên, học viên, công nhân viên toàn Học viện ghi nhận và đồng tình.


Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 11:24:47 am
       Hơn 10 năm công tác ở Học viện Quốc phòng, tôi đã hết mình đóng góp trí tuệ, công sức, sự công tâm, xây dựng Học viện, để lại những thành quả trên tất cả các lĩnh vực như: Đổi mới, nâng tầm tư duy trong huấn luyện, đào tạo, bồi dưỡng kiến thức Quốc phòng-quân sự, nghiên cứu khoa học, xây dựng cơ bản, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho  cán bộ, giáo viên, công nhân viên, mở rộng mối quan hệ chặt chẽ với các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các bộ, ban, ngành trung ương, cấp uỷ, chính quyền, nhân các địa phương; tăng cường và mở rộng quan hệ đối ngoại quân sự quốc tế; chăm lo xây dựng Đảng bộ, xây dựng Học viện vững mạnh toàn diện. Cùng với công sức của nhiều thế hệ cán bộ để lại, Học viện Quốc phòng đã đạt danh hiệu đơn vị anh hùng LLVT. Đó là những năm tháng đáng gi nhớ và để lại trong tôi những kỷ niệm sâu sắc về tình đồng chí, đồng đội và tình cảm sâu sắc của tôi đối với các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước như: Nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười, Nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu, nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An, nguyên Chủ tịch Quốc hội, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh, nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải… và các đồng chí lãnh đạo bộ, ban ngành Trung ương và các địa phương trong thời kỳ tôi công tác ở Học viện Quốc phòng. 10 năm đó là một khoảnh khắc tuyệt vời.
       Tôi được trên cho nghỉ hưu vào năm 2007.
       Ngay sau khi  “gác kiếm”,  tôi đã hoạch định cho cá nhân mình những nhiệm vụ còn lại mà suốt cuộc đời binh nghiệp mình chưa làm được, nay phải làm nốt.
     “Kế hoạch hậu chiến” của tôi cứ hoàn thiện dần. Trong những chuyến xe rong ruổi khắp các vùng đất nước, tôi lặng lẽ ngồi suy nghĩ, tĩnh tâm chiêm nghiệm lại những khó khăn, gian nan đã từng nếm trải, kinh qua, càng thông cảm, chia sẻ với những bạn bè đồng đội, họ còn khó khăn trong cuộc sống đời thường.



Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 11:25:53 am
XV

NGHĨA TÌNH ĐỒNG ĐỘI


   
 

       Mỗi lần có dịp trở về Tây Nguyên, đi trên vùng đất Bắc Kon Tum, xe chạy êm êm trên những con lộ ngoằn nghèo đã trải thảm nhựa phẳng lỳ, lòng tôi chất chứa nhiều nỗi niềm. Đây lộ 14, cách không bao xa phía trước là thị xã Kon Tum. Nhìn về bên phải, nắng chiều hanh vàng như thắp hương trên các sườn đồi. Xa xa, những đỉnh núi của vòng cung Chư-tan-kra thấp thoáng ẩn hiện trong mây mỏng. Chiến tranh đã lùi xa, dấu vết của chiến tranh trôi về dĩ vãng, đất trời, con người và xã hội biết bao sự thay đổi. Nhưng nỗi lòng người lính vẫn đau đáu một nỗi khắc khoải nhớ chiến trường xưa, nhớ đồng đội gian nan ngày ấy. Các bạn không về, các bạn mãi mãi tuổi hai mươi, hiến dâng cả tuổi xuân cho đất nước.
        Tôi, đồng đội của các anh, các bạn nay đã ngót 70 tuổi, sắp “thất thập niên” rồi. Nếu như các thế hệ đã tham gia cuộc chiến không dốc sức cùng với Đảng, Nhà nước, Quân đội làm mọi cách tìm các anh về, thì chút còn lại của đồng đội chúng ta hy sinh trong chiến tranh sẽ thất lạc, thời gian khắc nghiệt sẽ xóa hết dấu vết. Dần dà những gì còn nằm trong đất sẽ rơi vào quên lãng..
      Ý thức được nỗi xót xa đó, tháng 5-2009, những Cựu chiến binh mũ sắt Trung đoàn 209, Sư đoàn 312 A, phần lớn là con em Hà Nội tự đứng lên tổ chức Ban liên lạc, đặc biệt là Ban liên lạc của các Tiểu đoàn 7, Tiểu đoàn 8, Tiểu đoàn 9 để tìm lại dấu tích đồng đội với mục đích: Vận động cấp ủy, chính quyền các đoàn thể và quân dân Hà Nội đầu tư xây dựng khu tưởng niệm những chiến sĩ Hà Nội, chiến sĩ mũ sắt chiến đấu hy sinh ở Chư-tan-kra thuộc Sa Thầy, Kon Tum mùa xuân Mậu Thân 1968 ở Tây Nguyên (chương trước).
     Lòng người đã quyết tâm, nhưng thực lực thì tính sao? Về tài chính: Khi chưa có nguồn tài trợ, Ban liên lạc hoạt động bằng kinh phí tự nguyện của các thành viên trong ban. Ban này sẽ tự giải thể sau khi vận động xây dựng xong khu tưởng niệm và cố gắng đưa được nhiều nhất những liệt sĩ về nghĩa trang.
     Thành phần của Ban liên lạc gồm: Trưởng ban là tôi, Thượng tướng Nguyễn Thế Trị; Phó Trưởng ban là Nguyễn Huy Diến – Bí thư huyện Đông Anh (thành phố Hà Nội), Lê Huy Toàn - nguyên Phó Văn phòng Bộ Quốc phòng, Hồ Đại Đồng, Chiến sĩ mũ sắt Hà Nội (trong chiến đấu, Hồ Đại Đồng là trinh sát pháo binh của Tiểu đoàn 7); các ủy viên Ban liên lạc là Nguyễn Xuân Lành, nguyên là Mặt trận tổ quốc Gia Lâm, Nguyễn Anh Hùng, nguyên ban TBXH huyện Đông Anh, Ngô Bao nguyên là Đại đội trưởng C15/29. Ban liên lạc làm việc theo nguyên tắc tập thể và tự nguyện dưới sự điều hành của Trưởng ban.
    Lần trở lại của đoàn cựu binh chúng tôi, không khí đã vợi bớt phần nào nỗi đau xót cho những vong hồn đồng đội hơn 40 năm không một nén nhang, không một lời thăm viếng. Nhưng suy tư của chúng tôi lại nặng trĩu bội phần, bởi nhiệm vụ phải tìm bằng được những hố chôn đã vùi lấp xương cốt của hơn 200 chàng trai Hà Nội năm xưa.
      Sự kiện “Lính mũ sắt” Hà Nội, năm 2010-2011, được các diễn đàn trên mạng và nhiều nhà báo viết rất rõ. Vào dịp Hà Nội kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, trên Báo Quân đội nhân dân cũng có loạt bài ký sự “Chư-tan-kra, trận đánh can trường của “lính Hà Nội” của nhà báo  vốn là sinh viên nhập ngũ năm 1972 người Hà Nội. Bài viết có đoạn:
        “Họ xông lên trong tiếng kèn đồng lanh lảnh thúc bộ đội xung phong, vượt hỏa lực dày đặc chiếm các hỏa điểm. Đây là trận đầu tiên bộ đội ta có kèn đồng đốc chiến và cũng là trận duy nhất trên chiến trường đánh Mỹ ta có kèn đồng thúc quân xung trận. Người lính đốc chiến bằng kèn xung phong ấy là anh Thạc, quê huyện Gia Lâm. Anh ngã xuống lúc nào? Đã 42 mùa rừng thay lá, tiếng kèn ấy còn vọng mãi trong ký ức người lính “hai linh chín”. Hơn 200 chiến sĩ Hà Nội cùng đồng đội đã nằm lại trên đỉnh Chư-tăng-kra đổi lấy một tiểu đoàn quân Mỹ. Trận đánh này, các cựu chiến binh “hai linh chín” không thể nào quên… “.
       Đọc bài viết ấy, tôi khôn nguôi nhớ thời trai trẻ của mình, cùng đồng đội chiến đấu trên Tây Nguyên.
     Đây nữa, một đoạn tôi đọc thấy rất thực về đoàn đi tìm đồng đội: “Một sĩ quan của huyện đội Sa Thầy, Kon Tum khẳng định, Chư-tan-kra ở đây. Bản đồ quân sự tuyệt mật được mở ra để cùng nhau xác định lại cao điểm mà Mỹ đã từng đổ quân chặn hướng tấn công. Hóa ra, Chư-tan-kra hùng vĩ dài tới gần chục ki-lô-mét và có tới 7 đỉnh núi lớn. Chiến trường xưa ở chỗ nào? Huyện cắt cử hai trung úy và hai binh nhất vừa để dẫn đường vừa mang vác hộ đồ đạc tới bất cứ nơi nào mà các anh muốn tới. Dốc ngược. 5 người thương binh dè sẻn từng bước một. Nắng gắt, xói đỏ những phần da thịt để trần. Ngày 25-3-2009, chúng tôi chia nhau thành hai hướng, lang thang trên triền Chư-tan-kra, đi qua hết cơn mồ hôi này đến cơn mồ hôi khác. Các ký ức được lục soát, mọi giác quan được đánh thức. Hồi ấy tớ chuyên lấy góc phương vị cho cối 82 từ dưới chân ngắm lên đỉnh, sau trận này tớ còn đi vòng quanh nã hơn trăm phát vào cứ điểm trả thù, tớ đi điều nghiên trinh sát tớ nhớ thế này; hôm ấy tớ là liên lạc cho thủ trưởng đại đội… Có phải đây không, giữa vùng đất bạt ngàn cổ thụ ngày nào giờ chỉ còn là một thung lũng hoang tàn đất đỏ. Chỉ còn 24h nữa thôi, phải tìm cho được, ngày mai đã là cái giỗ đầu tiên sau 41 năm hiu quạnh của “tụi nó” rồi.”
          Đoạn này tôi đọc trên mạng do các nhà báo trẻ viết:
“Tây Nguyên giữa mùa mưa, thời tiết bấp bênh, lúc nắng lúc mưa. Dòng Crơng-pơ-cơ ắp nước xanh ngắt, vậy mà thoắt mưa đã ngầu bùn đất. Mới hơn 7 giờ sáng, nắng như đổ lửa xuống cao nguyên. 29 người, trong đó 16 thân nhân liệt sĩ chủ yếu là người già, còn lại "lính mũ sắt" Hà Nội đều là thương binh đã tập kết tại làng kinh tế mới gần dưới chân Chư-tan-kra. Đó cũng là nơi Đội K53, đơn vị làm nhiệm vụ quy tập mộ liệt sĩ của tỉnh đội Kon Tum đứng chân.  Tăng, võng, áo mưa đi rừng, nước uống và cả hoa quả, vàng, nến, hương trầm, đồ lễ viếng được chiến sĩ K53 gùi theo.

Đoàn người men theo đường yên ngựa giữa hai đỉnh cao 1124 và 996 tiến lên đỉnh Chư-tan-kra. Cánh rừng loang lổ, chỗ trơ trọi đồi nương, chỗ rậm rạp ướt át, chỗ trơn tuột. 3 tiếng đường rừng thử thách. Như hành trình đến vùng đất thiêng, càng lên cao thì ký ức về những người đã nằm xuống càng da diết. Câu chuyện dọc đường rừng, nuớc mắt rơi cùng với mồ hôi.
     Anh Tạ Quốc Bình ở 17 Hàng Điếu, là chú ruột liệt sĩ Tạ Tương Thuận, cách đây 4 năm đã cùng chị gái lặn lội vào Sa Thầy suốt 20 ngày. Lúc đó, anh Bình chỉ biết đi tìm tất cả các nghĩa trang ở huyện Sa Thầy. Vì Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 209, Sư đoàn 312 đổi tên liên tục và trận đánh diễn ra bí mật bất ngờ, nên ngay cả sổ tang của Quân đoàn 3 cũng không có tên Liệt sĩ Thuận. Anh Bình sang Sư đoàn 10 rồi liên hệ với Sở LĐTB&XH Kon Tum cũng không có. Anh quay trở lại nghĩa trang Sa Thầy, chỉ biết ôm những bó hương khóc mà không biết tìm người thân ở nơi nào. 4 năm từ đó trôi đi, cho đến đầu năm vừa rồi, anh tìm được người đồng đội mà trước đây đến nhà anh báo tin, đó là chú Thạch, “lính mũ sắt” ở ngõ Phất Lộc. Trong trận Chư-tan-kra, trong cùng một chiến hào, Thạch là người ôm khẩu cối và Thuận ôm khẩu AK, anh Thạch bị thương còn anh Thuận hi sinh tại chỗ. Qua đó gia đình mới biết liệt sỹ Thuận hy sinh ở Sa Thầy.
     Trong đoàn có anh Nguyễn Văn Ngọc đi tìm hài cốt anh trai. Khi đi, mẹ anh dặn đi dặn lại, cố tìm được anh để bà cụ mất còn nhắm mắt. Vậy mà, đang ở giữa đường lên đỉnh Chư-tan-kra, anh nhận được điện thoại báo tin mẹ mất. Anh bần thần như mất hồn, miệng lẩm nhẩm: "Mong mẹ yên lòng nhắm mắt xuôi tay". Không ai cầm được nước mắt.  Đỉnh Chư-tan-kra còn lưu giữ xương cốt của những người là anh em ruột thịt trong gia đình. Năm 1968, cả 3 anh em nhà họ Trương ở làng Yên Phụ, Tây Hồ là Trương Văn Khánh, Trương Đức Chính và Trương Công Dũng đã cùng sát cánh trên đỉnh núi khốc liệt này, để ngày hôm nay chỉ còn thương binh Trương Công Dũng đi tìm hai người anh cùng đơn vị “lính mũ sắt” giữa đỉnh cao gió lộng.  9 giờ 51 phút sáng, sau gần 3 tiếng vượt đường rừng, mâm lễ nhỏ đã được soạn ra tại một nương lúa bên sườn gần đỉnh Chư-tan-kra. Mâm lễ có rượu, thuốc lá và bó hoa cúc trắng. Lần đầu tiên sau 41 năm. Liệu vong hồn những thanh niên Hà thành có cảm nhận được nước mắt của những người ruột thịt? Mong mỏi của các thân nhân liệt sĩ là dù được tìm thấy hay chưa thì những vong hồn liệt sĩ cũng có được nén hương tưởng nhớ đúng nơi các anh đã hy sinh. Và nguyện vọng cuối cùng mà họ nung nấu là một ngày gần đây, tất cả các anh sẽ được Nhà nước quy tập về lại quê hương, trong lòng đất quê.
          Ròng rã gần hai năm trời lặn lội trên những đỉnh núi nay đã trơ trọi, dốc ngược, khát cháy, nắng gắt nướng chín những phần da thịt để trần, mưa rừng sầm sập đổ xuống đầu, mọi ký ức được lục soát, mọi giác quan được đánh thức, tháng 12-2010, những cựu chiến binh mắt mờ chân chậm nhưng nhiệt tình có thừa, với sự giúp đỡ của Ban chỉ huy Quân sự tỉnh Kon Tum, huyện Sa Thầy, Quân đoàn 3 và Quân khu 5, Ban Liên lạc Cựu Chiến binh Trung đoàn 209 đã quy tập được hơn 100 hài cốt liệt sĩ tại các cao điểm M1, M2 thuộc dãy núi Chư Pen và Chư-tan-kra.
     Xúc động nhất là có 81 hài cốt liệt sĩ Tiểu đoàn 7 bị lính Mỹ chôn trong một ngôi mộ tập thể tại núi Chư-tan-kra. 4 trong số 81 hài cốt liệt sĩ sau đó đã xác định được danh tính là các anh Nguyễn Đình Tâm, Lê Văn Xuyên, Lưu Văn Cập và Nguyễn Văn Tạo, đều ở Gia Lâm, Hà Nội. Giờ đây các anh đã được đưa về an táng tại quê nhà, còn 77 hài cốt liệt sĩ chưa xác định danh tính đã được UBND TP Hà Nội, tỉnh Kon Tum làm lễ truy điệu trọng thể và an táng tại Nghĩa trang liệt sĩ xã Ya Xiêr, huyện Sa Thầy. Một đêm ở Tây Nguyên giữa thời bình, tôi nghĩ: Nếu tôi có tài làm thơ, viết nhạc, nhất định tôi sẽ có tác phẩm mang tên là “hoa cúc trắng” để viết về những người lính còn trinh trắng tuổi hai mươi, Trung đoàn 209 của tôi.
        Một việc làm đã thành hiện thực, tôi và anh em đã tham mưu cho Thành ủy, UBND thành phố Hà Nội chủ trương kế hoạch xây dựng khu tưởng niệm các Liệt sĩ con em Hà Nội chiến đấu hy sinh năm 1968 (Mậu Thân) ở khu vực Chư-tan-kra, Sa Thầy, Kon Tum đưa vào trong chương trình hoạt động tiến tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội. Hà Nội cử một đồng chí Phó chủ tịch (đồng chí Trần Bình) và cơ quan chức năng vào chiến trường năm xưa của con em Hà Nội, khảo sát thực tế, từ đó thông qua được dự án xây dựng khu tưởng niệm. Bước đầu xác định đầu tư 19 tỷ, giao cho Bộ Tư lệnh thành phố Hà Nội trực tiếp chỉ đạo thi công. Ban liên lạc cử các đoàn  Cựu chiến binh 209 vào chiến trường. Chúng tôi xác định được vị trí xây dựng khu nhà tưởng niệm tại xã Ya Xiêr, tạo thuận lợi cho các cơ quan, thành phố Hà Nội và Kon Tum làm xong thủ tục bàn giao và nhận đất, khoảng 2 ha. Tôi phân tích cho anh em, làm tại xã này, vì còn tạo điều kiện cho người dân địa phương hưởng chút phúc lợi từ đường, nhà văn hóa. Khu tưởng niệm các liệt sĩ Hà Nội, tại Chư-tan-kra, mặt trận Bắc Kon Tum sẽ có tượng đài, bia ghi tên các anh hùng liệt sĩ, nhà đón tiếp thân nhân liệt sĩ (đồng thời là Nhà Văn hóa xã Ia Xiêr) và đường giao thông liên thôn...
          Tháng 3-2011, Ban liên lạc và các CCB của Hà Nội Đông Anh, Gia Lâm vào dự lễ truy điệu 81 hài cốt liệt sĩ đã tìm thấy trong năm 2009 và tiếp tục mở một đợt tìm kiếm các liệt sĩ ở các trận đánh khác...
Mặt khác, thông qua Hội CCB Việt Nam, chúng tôi tiếp tục liên hệ hội CCB Hoa Kỳ để tìm hiểu thêm các tọa độ có chiến sĩ ta hy sinh mà họ biết được, để thuận lợi trong tìm kiếm.
      Giờ đây, Ban liên lạc “lính mũ sắt” “hai linh chín” vẫn tiếp tục hoạt động. Xúc động biết bao, mỗi khi điện thoại của tôi lại rung lên khi được tin “tìm thêm được đồng đội trở về”.
      Không chỉ tìm đồng đội của Trung đoàn 209, ngay từ lúc tôi còn công tác ở Quân khu, cả sau này khi đã nghỉ hưu, tôi còn tạo điều kiện, tra cứu thông tin, nối các nhân mối, giúp đỡ trực tiếp qua mối quan hệ rộng của mình, để nhiều gia đình ở các miền quê và quê hương Kim Lương (xã tôi) tìm được con em của họ ở các chiến trường về.
      Từ năm 2003, gia đình tôi tổ chức một chuyến đi vào Nam, tìm hài cốt liệt sĩ cho các gia đình ở địa phương chưa có điều kiện tổ chức đi xa. Anh tôi là ông Nguyễn Xuân Nghiệm cùng lái xe Nguyễn Xuân Chất đã “nghiên cứu” qua nhiều nguồn tin, nhưng rất ít hy vọng. Nhưng rồi, được sự tận tình của tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị cùng cơ quan quân sự của các tỉnh, chúng tôi đã tìm được đúng phần mộ của 3 liệt sĩ quê xã Kim Lương là Hoàng Văn Nhã, Hoàng Văn Cộng, Cao Văn Thanh. Di cốt của các anh đã được địa phương long trọng tổ chức lễ đón nhận, đưa các anh về an nghỉ tại nghĩa trang quê nhà. Làng xã đón các anh trong trong niềm xúc động, tri ân sâu sắc.
     Nhiều khi, tôi cũng nhận được những cuộc điện thoại và thư của các gia đình yêu cầu giúp đỡ và “bắc cầu thông tin” để các gia đình tìm con em mình ở các đơn vị thuộc Tây Nguyên và miền Đông. Tôi thấy nhẹ lòng đi nhiều, mỗi khi có tin, tìm  thêm đồng đội về quê an nghỉ.
(http://i627.photobucket.com/albums/tt353/datavehu/chtankra2.jpg)


Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 11:26:37 am
TƯỚNG ĐỜI THƯỜNG

                                    

Xây nhà thờ dòng họ Nguyễn

Đây  là công việc lớn, tôi luôn quan tâm, từ trước khi nghỉ hưu. Lịch sử dòng họ Nguyễn Văn, thôn Cổ Phục, xã Kim Lương, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương quê tôi có bề dày truyền thống. Tổ tiên dòng tộc đã đóng góp không nhỏ cho sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước qua các thời đại. Thủy cơ Tổ khảo dòng họ Nguyễn Văn là cụ Nguyễn Huy Ích người xứ Sơn Nam tới sinh cơ lập nghiệp tại xóm Vối, thôn Cổ Phục.
      Tới thế kỷ 16 (1592) nhà thờ họ của chúng tôi được xây dựng. Cụ Nguyễn Phúc Thọ, đời thứ 7 có công lớn với đất nước mang lại uy danh cho dòng họ được vua Quang Trung phong tước Hoàng tử Khang Công . Dưới Triều Minh Mạng, cụ Nguyễn Thế Trị (đời thứ 8) là con thứ 7 cụ Nguyễn Phúc Thọ, văn võ song toàn, cụ tham gia quân đội của Triều đình, trưởng thành từ người lính tới chức “Quyền thủy Sư” binh đoàn tam đội  . Được nhà vua tin cậy cử đi Trấn ải ở Lạng Sơn.
     Thời đại Hồ Chí Minh (thế kỷ 20), dòng họ Nguyễn Văn có cụ Nguyễn Thế Dũng tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1936-1939, được nhà nước phong danh hiệu “gia đình có công với nước”.
 Cha tôi, ông Nguyễn Văn Mưu thế hệ thứ 12 là lớp thanh niên tham gia quân đội sớm nhất của địa phương (12-1945), còn tôi thế hệ thứ 13 tham gia lớp NVQS đầu tiên của tỉnh Hải Dương (19-5-1958).
Trải qua 60 năm của thế kỷ 20, do điều kiện chiến tranh, nhà thờ họ Nguyễn Văn chỉ được xây dựng tạm thời, dạng nhà cấp 4, chưa có điều kiện xây dựng kiên cố với nhiều lý do: Thời chống Pháp (1946-1954), đáp lời kêu gọi kháng chiến cứu quốc của Bác Hồ, thực hiện Tiêu thổ kháng chiến (các đình chùa, miếu mạo, nhà thờ to) đều dỡ đi, không để cho Pháp đóng quân, nhà thờ họ Nguyễn Văn cũng trong tình trạng đó. Hòa bình, nhà nước thực hiện CCRĐ, thành lập Hợp tác xã. Năm 1960, gia đình ông Trưởng họ tôi đã đổi “đất phần trăm” giữ lại đất hương hỏa của dòng họ.
      Ý thức được truyền thống của dòng họ và khó khăn thực tế cả về nhận thức, cả về điều kiện kinh tế, tôi và anh trai (ông Nguyễn Văn Sử) về vận động gia đình bác trưởng họ và các cụ cao niên, xin được đứng ra lo việc xây dựng lại nhà thờ dòng họ Nguyễn Văn. Anh trai tôi chịu trách nhiệm sưu tầm tài liệu ở Viện Hán Nôm, Ban Trị sự Phật giáo của huyện và tỉnh Hải Dương dịch lại bia họ Nguyễn và sưu tầm gia phả.
Sau hơn hai năm chuẩn bị, tới ngày 8-5-2006, nhà thờ bắt đầu khởi công. Sau 6 tháng 10 ngày, 18-11-2006, công trình xây dựng hoàn thành: Diện tích xây dựng 69m2 (gồm 3 gian tiền tế và hậu cung) kiến trúc chữ Đinh; diện tích sân nhà thờ 200m2; sập thờ, bài vị, đại tự, câu đối, sắm sửa đầy đủ kinh phí chi hết 169 triệu, gia đình tôi tài trợ chính. Nhìn vào nhà thờ hôm nay, mỗi thành viên trong họ chúng tôi đều phấn khởi tự hào, tuy nhà thờ không to, nhưng đây là công trình đánh dấu bước ngoặt lịch sử dòng họ. Đây là nơi tôn nghiêm để tiếp tục thờ phụng tổ tiên có công sáng lập duy trì dòng họ, là trung tâm cội nguồn tiêu biểu cho nét đẹp văn hóa truyền thống để giáo dục con cháu nối tiếp truyền thống cha ông


Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 11:27:17 am
Khôi phục di tích lịch sử văn hóa Chùa Sy

Đây là sự kiện đáng ghi nhớ. Chùa Sy quê tôi vốn là ngôi chùa cổ, có niên đại hàng trăm năm. Chùa là một trong 72 ngôi chùa thuộc Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Chùa Sy được khắc ghi dấu ấn vua tôi nhà Trần cùng công sức các dòng họ định cư trên mảnh đất này từ ngàn xưa. Dẫu trong kháng chiến chống Pháp, bị giặc Pháp tàn phá nhưng trong tâm khảm bà con trong xóm ngoài làng không hề quên lãng tài sản tâm linh quý giá này.
    Chính tại ngôi chùa này, hơn 60 năm về trước, ngày (7-11-1945) chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên xã Minh Tân (nay là xã Kim Lương và Kim Khê) được thành lập. Nơi đây “Du kích đường 5” luôn luôn là nỗi kinh hoàng của Pháp mỗi khi vận chuyển quân lính, phương tiện chiến tranh, thường bị quân ta chặn đánh trên Quốc lộ 5 quê tôi.
    Ý thức được giá trị lịch sử văn hóa của ngôi chùa và nguyện vọng khát khao của các đồng chí cán bộ, đảng viên lão thành và bà con trong xóm, ngoài làng là gắng sức khôi phục lại ngôi chùa, tôi và anh trai chủ động đặt vấn đề với các đồng chí lãnh đạo xã, đề nghị địa phương cấp cho 3.000m2 đất cũ của Chùa Sy và chi viện một nửa kinh phí, gia đình chúng tôi đứng ra tổ chức xây dựng lại di tích.
     Ngày 26-12-2005, đồng chí Đỗ Văn Chiến - Chủ tịch xã - trực tiếp cùng các cơ quan chức năng ra thực địa bàn giao đất cho Tiểu ban xây dựng Chùa Sy do ông Dinh trưởng thôn cùng gia đình chúng tôi. Sau 6 tháng chuẩn bị, từ việc khảo cứu các tài liệu ở Viện Hán Nôm, Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Hải Dương và huyện Kim Thành, chúng tôi đứng ra khôi phục di tích lịch sử văn hóa ở xã Kim Lương (Chùa Sy).
Việc khôi phục lại di tích lại nảy sinh, khó khăn. Dự kiến kinh phí xây dựng xã chi viện một nửa, vì mắc cơ chế và nguyên tắc, nên địa phương không tham gia được, bà con địa phương nhiệt tình đóng góp bằng khả năng hạn hẹp trên tinh thần tự nguyện. Tuy nhiên, công trình vẫn được động thổ vào ngày 9-3-2006 có sự chứng kiến của các đồng chí lãnh đạo xã và bà con phật tử, đại diện đơn vị thi công (Sư 319/QK3) và đại diện gia đình tôi. Đại đức Thích Thanh Dũng chủ trì buổi lễ.
Sau 13 tháng xây dựng, tới ngày 15-4-2007 khánh thành công trình Chùa Sy. Chùa được xây dựng trên khuôn viên Nhà Tam Bảo kiến trúc chữ đinh có diện tích 179m2, sân rộng 463m2, giá trị xây dựng ước tính dưới một tỷ. Đại tự, câu đối do Đại đức Thích Thanh Dũng cung tiến.  Lễ khánh thành được tổ chức long trọng trong hai ngày (ngày 14-4-2007). Ngày 15-4-2007, khánh thành di tích lịch sử, nơi thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên của xã, cũng tại Chùa Sy. Thành phần tới dự hôm khánh thành đông đảo, có các cơ quan huyện do đồng chí Nguyễn Huy Thể, Bí thư huyện ủy dẫn đầu, Đại diện Hội Phật giáo tỉnh Đại đức Thích Thanh Dũng. Đại diện tướng lĩnh QK3 và Học viện Quốc phòng do Trung tướng Nguyễn Ngọc Thanh, cán bộ đảng viên toàn Đảng bộ xã Kim Lương, con em quê hương sinh sống mọi miền đất nước về dự và các phật tử thập phương, có đội quân nhạc của Quân khu 3 về phục vụ.
Từ nay nơi đây là nơi thờ phụng và duy trì giá trị đích thực giáo lý của Đức Tôn đạo phật, với tinh thần “Đạo pháp, dân tộc, Xã hội chủ nghĩa”. Chùa Sy hôm nay là hình ảnh của Chùa Sy xưa nơi hướng thiện nhân dân địa phương nơi ghi dấu son lịch sử Đảng bộ xã Kim Lương, đây là niềm tự hào của Đảng bộ nhân dân xã Kim Lương.



Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 11:27:50 am
Tìm mộ mẹ

Một sự kiện xúc động là suốt 20 năm, tôi cùng gia đình bền bỉ tìm kiếm hài cốt mẹ tôi bị thất lạc. Năm 1946, thực dân Pháp đánh chiếm Hải Phòng sau đánh lên Hải Dương (quê tôi nằm ven Quốc lộ 5), gia đình tôi (mẹ và 3 anh em) đều tản cư theo gia đình ông bà ngoại, qua các xã trong huyện, rồi sang huyện Thanh Hà, huyện Tứ Kỳ. Mẹ tôi bị bệnh và mất ngày 29-8-1948 tại thôn La Tỉnh, xã Chí Minh, huyện Tứ Kỳ (nay là thị trấn Tứ Kỳ).  Năm 1950-1951, thực dân Pháp chiếm Đồng bằng Bắc Bộ, thị trấn Tứ Kỳ thành vùng tạm chiếm của Pháp. Khu nghĩa trang chôn mẹ tôi, địch xây đồn bốt trùm lên.  Năm 1954 hòa bình lập lại, ông ngoại tôi tổ chức một đoàn sang Tứ Kỳ tìm mộ mẹ tôi, nhưng đợt tìm kiếm đó không kết quả.
Năm 1958 tôi đi bộ đội, năm 1973 huyện Tứ Kỳ xây bệnh viện huyện lên khu vực nghĩa trang có phần mộ của mẹ tôi. Địa phương thông báo các gia đình có mộ phải di chuyển, mộ không có người nhận, địa phương gom vào nghĩa trang của xã... (lúc này tôi đang ở chiến trường, anh tôi đi học ở Liên Xô chưa về).
 Năm 1989, đang công tác ở Quảng Ninh tôi quyết định tổ chức một đoàn trong gia đình tới gia đình ông Triều (ông Triều là con cụ chủ nhà lúc gia đình tạm trú khi tản cư), cùng ra nghĩa trang và vào bệnh viện tìm, không có thông tin gì. Tôi không chỉ tin nhà ngoại cảm, mà còn có cơ sở thực tế, từ gia đình ông chủ nhà (lúc mẹ tôi chết, ông Triều 17 tuổi).
Dựa vào nhiều nguồn tin, trong đó có cả các nguồn tin từ các nhà ngoại cảm, tâm linh, gia đình tôi đã “giao hội” được vị trí dự báo nơi có mộ. Khi đội khai quật, đưa xẻng xuống 20cm chạm vào tiểu, chúng tôi đào rộng ra, lấy nước rửa sạch. Đúng như dự đoán, theo các suy luận tâm linh. Tôi cho mở nắp tiểu, nhặt một mảnh xương sọ và một răng hàm, xin mang về Hà Nội thử ADN.
Hôm ấy cả gia đình tôi vui vẻ về nhà ông Triều ăn mừng. Đột nhiên phát hiện trong túi không thấy gói xương mang xét nghiệm ADN nữa! Cả nhà bỏ bữa ăn, phóng xe ra nghĩa trang. May sao tôi tìm lại được (chẳng là tôi đánh rơi khi khấn hàn long mạch). Tại Viện Công nghệ sinh học, anh em chúng tôi được Viện lấy mẫu, phục vụ công tác xét nghiệm ADN và thông báo 30 ngày sau có kết quả.
 
Tối 19-12 âm lịch năm 2008, Trung tâm khoa học ở 18 Hoàng Quốc Việt, Hà Nội (Viện công nghệ sinh học ) thông báo đã có kết quả, mẫu thực nghiệm đúng huyết thống. Như vậy là tìm thấy đúng mộ mẹ tôi. Chúng tôi mừng khôn tả. Ngay tối hôm đó, gia đình tổ chức bốc cốt mẹ tôi về quê, để xum họp cùng dòng tộc. Quá trình tìm hài cốt của bà, gia đình đã chủ động mua đất ở quê (65m2) xây mộ cho bố mẹ và những người thân đã quá cố.
              Đây là một quá trình khổ công, tập trung trí tuệ. Trong quá trình tìm mộ, gia đình nhờ tới 20 người là nhà ngoại cảm, tâm linh và nhà khoa học, trong đó có tới quá nửa người nói hài cốt mẹ tôi ở trong bệnh viện. Tôi tự rút ra 3 nguyên nhân tìm thấy hài cốt của mẹ tôi:  Người đi tìm  phải có tâm; kiên trì nhẫn nại, biết sàng lọc thông tin; có sức khỏe, điều kiện kinh tế và có vai trò quyết đoán cao, khó khăn không dao động.


Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 11:28:20 am
       Ra đi từ làng quê nghèo, tôi cùng lớp lớp thanh niên miền Bắc theo đuổi binh nghiệp, chiến đấu, cùng toàn dân trong đó có biết bao đồng đội, liệt sĩ, giành lại đất nước từ tay đế quốc và bọn tay sai. Non sông thu về một mối. Ngày mẹ tôi mất, gia đình nghèo khó, lang bạt tản cư khắp các vùng. Bố tôi già yếu, khi tôi đã lớn khôn không được bên ông. “Công cha, nghĩa mẹ sinh thành” ăn sâu vào tâm trí, tôi và anh Sử lúc này cũng đã về già, nguyện vọng có một nơi, tại quê để xây dựng từ đường thờ cúng cha mẹ. Lấy đây là nhịp cầu nối các con, các cháu với quê hương. Nguyện vọng ấy suốt 20 năm (từ những năm 1990-2009) tới nay tôi không thực hiện được...
Đầu năm 2010, nguyện vọng đó tôi mới thực hiện được, nhờ chính quyền địa phương bán cho 450m2  đất theo giá quy định của nhà nước, lại có thuận lợi là bà nội (mẹ kế) cắt cho 200m2 đất hương hoả để xây nhà từ đường. Công việc xây dựng được xúc tiến theo kế hoạch. Khởi công ngày 25-1-2010 năm Canh Dần, khánh thành vào ngày 24-8-2010 đúng vào ngày 01-10-2010 Đại lễ 1000 năm Thăng Long-Hà Nội. Các hạng mục có thể mô tả là: Nhà từ đường: 96 m2 (ba gian hậu cung); nhà ngang: 65m2; nhà bếp 24m2; diện tích sân: 265m2; diện tích nhà bà nội 70m2, với chất lượng, giá thành hợp lý. Nhà thờ xây dựng trong khuôn viên rộng 650m2 có quy hoạch khang trang, hợp lý.
Gia đình tôi không thuộc hàng khá giả, trong họ còn nhiều người khó khăn về kinh tế, cũng có ý kiến nên giành tiền của lo trước mắt cho các hộ trong họ... chưa nên xây cất tốn kém. Nhưng tôi nghĩ, giá trị vật chất thì hữu hạn, giá trị văn hóa tinh thần của dòng họ, cộng đồng là vô hạn, nếu bây giờ không xây dựng, lấy chỗ tôn vinh, tri ân, nhằm giáo dục con cháu thì liệu nay mai có ai làm? Có cơ hội nữa hay không? Số đông đồng tình với tôi là làm lúc này rất đúng lúc.
         Cuộc đời binh nghiệp khi tuổi “thất thập” đã cận kề, về đời thường, tôi có đầy đủ nhà ở, tìm được mộ mẹ, giúp đỡ được các con, lại lo lắng được từ đường thờ cúng cha mẹ... Với đất nước, với dòng tộc, với đồng đội bạn bè tôi đã gắng hết mình để có thể làm được những gì như mong muốn. Không ai có trọn đời hạnh phúc, nhưng tôi đã có những ngày hạnh phúc.
       Giờ đây, mỗi khi “có việc”,  tôi  về quê, thắp nén nhang, trong ngan ngát khói hương, lòng tôi lại bâng khuâng nhớ về những người quá cố. Cha mẹ tôi, bạn bè, đồng đội… họ đã quá vãng. Trên những vùng quê đất nước, hương hồn cha mẹ tôi, bạn bè, đồng đội đã tan vào cây cỏ, vào đất, vào nước. Những thế hệ tiếp theo lại tiếp tục bươn trải, gắng công, góp trí để di dưỡng và đắp xây cho quê hương dấu yêu mãi mãi trường tồn.


Tiêu đề: Re: Đời binh nghiệp
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Năm, 2012, 11:30:32 am
LỜI KẾT


       Từ con chữ đầu tiên dò dẫm, lang thang trên cánh rừng bạt ngàn sự kiện đời mình, cho tới lúc này tôi đã có trên trang cả vạn chữ.
     Trong suốt những ngày lần lượt viết như “tằm nhả tơ” ký ức về một thời trai trẻ, về những năm tháng dấn thân, bươn trải của mình, tôi cảm nhận trọn vẹn niềm hạnh phúc, vì có được một thời kỳ dài, chung sức cùng nhiều đồng chí, đồng đội hoàn thành nhiều nhiệm vụ. Bởi thế, tôi luôn thấy quanh mình có những người thân thiết, đó là cha mẹ tôi, các anh em, những người bạn, đặc biệt là những đồng đội trẻ, cùng những người chỉ huy, nhiều người nay đã không còn nữa.
      50 năm theo đường binh nghiệp, tôi biết rằng nửa thế kỷ ấy “mình luôn là mình”, trung thực, tự tin, không ngừng khám phá những điều mới mẻ. Những gì nghĩ được, làm được thành công, từ trong chiến đấu nơi chiến hào, đến cơ quan hay giảng đường, tôi luôn được sự ủng hộ của các anh, các chị, những người tâm huyết vì sự nghiệp chung của quân đội và đất nước. Có những người ủng hộ tôi vì hiểu tính cách tôi, cách sống thẳng thắn, rõ ràng.
      Đời người ngắn ngủi trong dòng chảy dài lâu của sự nghiệp, của đất nước. Tôi mong muốn gói trong cuốn sách này, tri ơn tới ông bà, cha mẹ tôi, ông bà ngoại, Bá và những người thầy, đã trao cho tôi ý chí và tri thức. Nếu không có cha mẹ và những người thầy, dẫu cuộc đời thảy nhiều cơ hội, tôi cũng chẳng thể làm được gì.
       Qua ký ức của mình, tôi biết ơn, tri ân đồng chí, bạn bè, bà con, cô bác từng gắn bó với tôi suốt những năm tháng chiến đấu gian khổ, hy sinh từ Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Đông Bắc và cả những năm tháng tôi cống hiến ở đồng bằng, thành phố… đã chia sẻ niềm vui, nỗi buồn cùng tôi trong suốt cuộc đời binh nghiệp.  
     Tôi không bao giờ quên và mang ơn những người lính Trung đoàn “hai linh chín”, thời “lính mũ sắt”, những đồng đội, những liệt sĩ, thương binh, một thời sát cánh bên nhau từ Bắc Tây Nguyên đến miền Đông gian lao anh dũng.
         Xin cảm ơn cán bộ chiến sĩ từng phục vụ, chiến đấu ở Sư đoàn 323, Tỉnh đội Quảng Ninh, Quân khu 3, các nhà giáo, cán bộ, công nhân viên ở Học viện Quốc phòng. Đó là quãng thời gian mà tôi có nhiều cơ hội cống hiến, vững tin đề xuất các ý tưởng, được nhiều sự đồng thuận thực thi ý tưởng ấy. Các đồng chí đã đồng cảm, chung lưng, chung sức nhiều năm xây dựng sư đoàn, quân khu, nhà trường; trong đó tôi mãi nhớ đến anh em thư ký, văn phòng, lái xe, công vụ. Tôi biết nhiều người trong số đó còn là tấm gương về lòng độ lượng, họ khiến tôi sẽ còn phải day dứt mãi, giá như tôi có thể giữ được sự điềm tĩnh hơn, bớt thẳng tính hơn trong công việc!
                   Xin cảm ơn các đồng chí: Thiếu tướng, PGS, Tiến sĩ khoa học quân sự Phạm Ngọc Hùng; Đại tá, PGS, Tiến sĩ khoa học quân sự Phạm Huy Dương; Đại tá, PGS, Tiến sĩ khoa học quân sự Nguyễn Hùng Sinh; Đại tá, Thạc sĩ Nguyễn Ngọc Oanh ở Học viện Quốc phòng đã tổng hợp, biên tập bước đầu, cung cấp nhiều tư liệu, giúp tôi có cuốn hồi ký này; Cảm ơn Đại tá Nhà báo Trần Danh Bảng đã giúp tôi hoàn thiện cuốn hồi ký.
Dẫu thế nào thì tôi vẫn ý thức rằng, cuốn hồi ký còn nhiều khiếm khuyết, bởi tư liệu “tam sao thất bản”, bởi thời gian qua đi luôn bào mòn sự kiện thật đáng sợ, mà cũng còn vì khả năng của mình. Xin bạn đọc lượng thứ, rất mong được đóng góp để chỉnh sửa, hy vọng có lần tái bản.
      Xin cảm ơn Nhà xuất bản Quân đội nhân dân đã giúp đỡ và ngay từ đầu đã thiện chí động viên tôi viết cuốn hồi ký này.


Mùa Đông năm Tân Mão
Nguyễn Thế Trị