Dựng nước - Giữ nước

Thảo luận Lịch sử bảo vệ Tổ quốc => Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước... => Tác giả chủ đề:: qtdc trong 13 Tháng Năm, 2012, 12:59:29 PM



Tiêu đề: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 13 Tháng Năm, 2012, 12:59:29 PM
Mời các bác và các bạn tham gia chủ đề.
Để có thêm tài liệu tham khảo ngoài tài liệu hiện có trên trang, các ấn phẩm về Lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam, thời gian trước mắt tôi sẽ dịch hoàn chỉnh một chương trong sách đề cập trực tiếp đến hoạt động của Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam:
- "Флоты в локальных конфликтах второй половины XX века" (Các hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ nửa sau thế kỷ 20).  
- Tác giả: Vitali Dmitrievitch Dotsenko (Доценко, Виталий Дмитриевич)
- Nhà xuất bản AST; Saint Petersbourg: Terra Fantaslica, 2001. — 512 trang сó minh họa («Издательство ACT»; СПб.: Terra Fantaslica, 2001. — 512с., с ил).
- Nguồn của cuốn sách trên mạng: http://militera.lib.ru/h/dotsenko/index.html
- Tên của chương sách: "Hạm đội chiến đấu vời bờ"

Giới thiệu về tác giả:
DOTSENKO Vitalii Dmitrievich.
Nhà sử học hải quân nổi tiếng và người yêu sách, tiến sĩ khoa học lịch sử (1985), giáo sư (1994), đại tá hải quân (1989). Thành viên Viện hàn lâm St Petersburg về Lịch sử Khoa học và Công nghệ, thành viên chính thức Hiệp hội địa lý Nga, hội viên Hiệp hội các sĩ quan Hải quân Nga. Sinh năm 1948. Tốt nghiệp các trường: năm 1972 - Cao đẳng hải quân mang tên M.V. Frunze (ВВМУ им. М.В. Фрунзе), năm 1980 - Học viện Hải quân (Военно-морскую академию). Trong các năm từ 1972-1978: chỉ huy ngành thủy lôi-pháo hạm trên tàu chiến, trợ lý thuyền trưởng rồi thuyền trưởng một tàu quét mìn Hạm đội Biển Bắc. Từ năm 1980, giảng viên, giảng viên cao cấp, phó giáo sư, giáo sư khoa Lịch sử nghệ thuật chiến tranh hải quân thuộc Học viện Hải quân, và từ năm 2000 phó giáo sư khoa Nghệ thuật chiến dịch Hải quân. Kể từ năm 1989, chủ tịch tiểu ban Lịch sử quân sự Cung khoa học St Petersburg của các nhà khoa học thuộc Viện hàn lâm Khoa học Nga (Петербургского дома ученых РАН, hay, Дом учёных имени М. Горького РАН). Thành viên các Hội đồng khoa học Lưu trữ Hải quân Quốc gia Nga, Bảo tàng Trung ương Hải quân và Thư viện Trung ương Hải quân Nga. Trong giai đoạn 1994-1996: thành viên Hội đồng tư vấn Uỷ ban Công nghiệp Quốc phòng Nhà nước Nga về xuất bản tài liệu khoa học và kỹ thuật. Thành viên Ban biên tập của bộ sách năm tập "Lịch sử ngành công nghiệp đóng tàu trong nước", ba tập "Bách khoa từ điển hàng hải", 6 tập "Bách khoa toàn thư Hàng hải".

Tác giả của hơn 800 ấn phẩm, bao gồm 13 kịch bản phim, 71 đầu sách, 120 bài viết trong các tuyển tập và tạp chí, hơn 500 mục trong các loại từ điển, sổ tay tham khảo và bách khoa toàn thư. Biên tập viên khoa học của 10 cuốn sách, biên soạn tám bộ tuyển tập các bài báo khoa học. Các công trình quan trọng nhất:
- "Bị đánh chìm: Thiệt hại tàu trong chiến đấu sau năm 1945";
- "Phù hiệu và thẻ bài của Hạm đội Đế quốc Nga 1696-1917" (bằng khuyến khích cuộc thi nghệ thuật sách toàn Nga năm 1993);
- "Hải quân Đế quốc Nga 1696-1917";
- "Lễ phục hàng hải Nga 1696-1917";
- "Nhà thờ hàng hải Nga";
- "Hạm đội thiết giáp Nga. 1863-1917";
- "Lịch sử ngành công nghiệp đóng tàu trong nước" (Tập 1);
- "Hạm đội. Chiến tranh. Chiến thắng. 1941-1945" (Ủy ban xuất bản CHLB Nga công nhận cuốn sách tốt nhất năm 1995, được trao bằng chứng nhận hạng 1);
- "Các đô đốc Hải quân Nga";
- "Ba thế kỷ Hải quân Nga 1696-1996" (3 tập);
- "Từ điển tiểu sử nhân vật hàng hải" ( Ủy ban xuất bản CHLB Nga công nhận là cuốn sách tốt nhất của năm 1996, được trao bằng chứng nhận hạng 1);
- "Vsevolod Evghenevitch Egorov";
- "Lịch sử Hạm đội Nga 1696-1917";
- "Từ điển Hải quân dành cho các bạn trẻ";
- "Tấm mộc Đại dương của nước Nga";
- "Thần thoại và huyền thoại trong Lịch sử Hàng hải Nga";
- "Từ điển tiểu sử hàng hải";
- "Lịch sử nghệ thuật chiến tranh hải quân" (tập 1);
- "Lịch sử bộ sưu tập của tôi";
- "Trang phục hàng hải: Lịch sử và Truyền thống";
- "Cuộc tấn công bên bờ Sinai";
- "Thần thoại và huyền thoại Hạm đội Nga";
- "Các hạm đội trong những cuộc xung đột cục bộ".
Đã được tặng thưởng huân chương "Phục vụ Tổ quốc trong LLVT Liên Xô" bậc ba.
.........


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 13 Tháng Năm, 2012, 02:46:58 PM
(tiếp)


Chương 4: HẠM ĐỘI CHIẾN ĐẤU VỚI BỜ
(Флот сражается с берегом)


Mục lục:

1. Dẫn nhập
2. Hạm đội chống lại bờ
3. Thủy binh tấn công bờ
4. Chiến dịch “StarLite” (17-24 tháng 8 năm 1965)
5. Chiến dịch “JackStein” (23 tháng 3 – 5 tháng 4 năm 1966)
6. Chiến dịch “StarLite” (Tháng 8 năm 1966)
7. Chiến dịch “Bold Mariner” (13 tháng 1 – 8 tháng 2 năm 1969)
8. Chiến dịch “Daring Rebel” (Tháng 5 năm 1969)
9. Hạm đội phong tỏa bờ
10. Chiến tranh thủy lôi tại Việt Nam
11. Hạm đội yểm trợ các quân binh chủng
12. “Tàu tốc hành đặc biệt” xuyên đại dương
13. Lực lượng giang thuyền tác chiến
 


Hạm đội chiến đấu với bờ. Dẫn nhập


Chiến tranh Việt Nam 1964 - 1973 là một trong những cuộc xung đột vũ trang lớn nhất kể từ Thế chiến II.
Sau chiến thắng thực dân Pháp, những điều kiện thuận lợi cho việc tái thống nhất hòa bình Bắc và Nam Việt Nam đã được tạo ra. Tuy nhiên, một sự phát triển như vậy ở Đông Nam Á không nằm trong kế hoạch của giới cầm quyền Mỹ. Có bàn tay của người Mỹ, tại Nam Việt Nam đã thành lập một chính phủ bù nhìn, trong đó với sự cộng tác của các cố vấn quân sự Mỹ đã hình thành nên một quân đội và tiến hành các hoạt động đàn áp chống các lực lượng yêu nước.

Đáp trả các biện pháp đàn áp của chế độ Sài Gòn và bọn can thiệp Hoa Kỳ, các lực lượng yêu nước bắt tay xây dựng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (MTDTGPMN), quân số của mặt trận nhanh chóng đạt tới gần 100 nghìn người. Trong tình hình quân sự - chính trị này, ban lãnh đạo Mỹ đã quyết định mở cuộc xâm lược vũ trang chống lại các lực lượng yêu nước miền Nam Việt Nam [118] và hỗ trợ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH). Khởi đầu sự xâm lược đã mang  hình thức của một hành động khiêu khích có chủ ý. Ngày 02 tháng 8 năm 1964, 1 tàu khu trục Mỹ, tàu "Maddox", khi đi vào Vịnh Bắc Bộ để trinh sát các trạm radar ven bờ của Bắc Việt Nam, đã xâm phạm lãnh hải của họ, đúng như chính quyền Bắc Việt Nam thông báo chính thức trong công hàm gửi phía Mỹ, sau khi yêu cầu Mỹ ngừng ngay các hành động thù địch chống lại 1 nhà nước có chủ quyền. Nhưng hai ngày sau đó, 2 tàu khu trục Mỹ ("Maddox" và "S.Terner Joy") lại xâm phạm lãnh hải Bắc Việt Nam và bị các tàu cao tốc của lực lượng bảo vệ bờ biển bắn đuổi.

Màn kịch này được biết đến dưới tên gọi "Sự kiện Vịnh Bắc Bộ". Với danh nghĩa là một "biện pháp trả đũa", buổi sáng ngày 5 Tháng 8 năm 1964, 64 chiếc máy bay từ các tàu sân bay "Constellation" và "Ticonderoga" đã tấn công vào các điểm trú đóng của các tàu cao tốc Bắc Việt Nam, làm cho 24 tàu thuyền bị hư hỏng, và một số bị đánh đắm. Đồng thời chúng còn phá hủy một số công trình cảng. Sau đó, người Mỹ tiếp tục tăng nhanh lực lượng của họ ở Đông Nam Á. Vào đầu năm 1965 ngoài khơi bờ biển Việt Nam đã có 42 tàu chiến, trong đó có ba tàu sân bay với 294 máy bay trên hạm, còn trên lãnh thổ Nam Việt Nam sư đoàn thủy quân lục chiến viễn chinh số 3 của Mỹ (30.000 người) đã đổ bộ lên cùng không đoàn thủy quân lục chiến thứ nhất với 157 máy bay. Kể từ thời gian đó, ngoài khơi bờ biển Việt Nam luôn luôn có mặt hơn phân nửa số tàu chiến của Hạm đội 7 Hải quân Hoa Kỳ. Vậy là, trong năm 1966, tập trung ở vùng biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) đã có đến 100 tàu chiến, trong đó gồm bốn tàu sân bay và 18 tàu đổ bộ, còn số lượng lính thủy quân lục chiến đã lên đến 41 ngàn người.

Gửi quân đội đến Nam Việt Nam tham gia can thiệp còn có các nước Úc, New Zealand, Thái Lan, Philippines và Nam Triều Tiên. Số lượng lớn nhất quân đội của những quốc gia này không quá 72 ngàn người.

Cần lưu ý rằng sự tăng trưởng lực lượng lục quân và không quân diễn ra chậm hơn so với Hải quân. Nhìn chung, trong tổng số binh lính và nhân viên quân sự, [119] có mặt trong không gian chiến trường Đông nam Á, có 20-22% là thủy thủ đoàn các tàu chiến và tàu hậu cần, 30% là lính thủy quân lục chiến, 30-40% - lục quân và đến 20% - các nhân viên của Lực lượng Không quân. Lực lượng Không quân phân ra như sau: từ 20-34% là không quân hải quân, từ 3-20% - Không quân thuộc Thủy quân lục chiến, phần còn lại thuộc lực lượng không quân chiến thuật và chiến lược. Bộ chỉ huy Mỹ lên kế hoạch hoàn thành các hoạt động quân sự ở Đông Nam Á trước ngày 30 tháng 6 năm 1967. Trong kế hoạch chiến lược của họ trù tính rằng, sau khi cô lập hoàn toàn các lực lượng của MTDTGPMNVN với miền Bắc Việt Nam, Lào và Campuchia, họ sẽ tổ chức các chiến dịch tấn công nhằm đánh bại hoàn toàn các lực lượng yêu nước miền Nam Việt Nam.

Theo tính chất của các hành động chiến tranh và theo các kết quả chiến lược- chiến dịch, chiến tranh ở Việt Nam có thể chia thành 2 giai đoạn: giai đoạn leo thang xâm lược (từ 05 tháng 8 năm 1964 - ngày 01 tháng 11 năm 1968) và giai đoạn giảm dần dần quy mô chiến tranh (từ 1 tháng Mười Một năm 1968 đến 27 tháng 1 năm 1973).

Nội dung chính của giai đoạn đầu của cuộc chiến – sự tăng cường ngày càng lớn của các nhóm quân viễn chinh Mỹ và đồng minh của Mỹ, của việc tiến hành các hoạt động chiến tranh chống lại VNDCCH và các lực lượng yêu nước miền Nam Việt Nam. Người đứng đầu các lực lượng can thiệp là tướng Westmoreland. Phạm vi hoạt động chiến tranh rộng nhất chống VNDCCH của Không quân và Hải quân Mỹ đã đạt đến đỉnh điểm vào những năm 1966-1967. Trên lãnh thổ miền Nam Việt Nam thì giai đoạn căng thẳng nhất là thời kỳ 1967-1968. Hành động quân sự chống lại VNDCCH và Nam Việt Nam có khác nhau về ý nghĩa, mục tiêu, phương pháp hành động, các lực lượng và phương tiện được huy động. Chống lại VNDCCH, người Mỹ chỉ sử dụng lực lượng Không quân và Hải quân, họ theo đuổi mục tiêu phá hoại tiềm năng kinh tế quân sự, đàn áp tinh thần của nhân dân và quân đội, và họ tìm cách buộc VNDCCH ngừng trợ giúp những người yêu nước miền Nam Việt Nam. Trong các hoạt động quân sự ở miền Nam Việt Nam, ngoài lực lượng Không quân và Hải quân, người Mỹ còn sử dụng lục quân.

Từ ngày 05 tháng 8 năm 1964 đến 07 tháng 2 năm 1965 Không quân Mỹ tấn công vào các mục tiêu riêng biệt của VNDCCH, [120] chủ yếu là các bến cảng và các đầu mối giao thông đường bộ. Sau đó, bắt đầu từ 07 tháng 2 năm 1965, Không quân Mỹ bắt đầu thực hiện các vụ đánh bom một cách có hệ thống toàn bộ các mục tiêu tên toàn lãnh thổ VNDCCH.

Từ tháng 11 năm 1968 trong mối liên quan với sự kiện bắt đầu các cuộc đàm phán Paris, các cuộc ném bom ồ ạt của Không quân Mỹ xuống các mục tiêu của VNDCCH đã chấm dứt. Nhưng vào tháng Hai-tháng Ba và tháng 12 năm 1972, những cuộc không kích ấy lại tiếp tục. Những cuộc tấn công ấy đã lan đến cả mạng lưới các công trình thủy lợi. Bằng những hành động này họ thành công trong biện pháp khét tiếng phá hoại tiềm năng kinh tế-quân sự của VNDCCH, làm giảm khả năng của VNDCCH trong việc hỗ trợ những người yêu nước miền Nam Việt Nam.

PS: các số trong ngoặc vuông chỉ tài liệu mà tác giả tham khảo, sẽ được thống kê ở cuối chương.

..........


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 13 Tháng Năm, 2012, 11:52:16 PM
(tiếp)

Chiến sự ở miền Nam Việt Nam được triển khai theo cách khác. Trong năm 1966, người Mỹ chuyển hoạt động tác chiến vào quanh khu vực Sài Gòn, tới các căn cứ và thành phố lớn trên bờ biển, theo đuổi mục tiêu - tạo ra một bàn đạp duy nhất dọc miền duyên hải, đấy lực lượng yêu nước vào sâu trong lãnh thổ. Tuy nhiên, kế hoạch này đã bị phá sản. Năm 1967 – 1968, quân đội Mỹ và chế độ Sài Gòn đã có 20 chiến dịch hoạt động, trong mỗi chiến dịch đó có sự tham gia của các cụm quân có quân số từ 30 nghìn đến 100 nghìn người. Họ thành công trong việc phá hủy một loạt các căn cứ của lực lượng yêu nước và chia cắt quân đội của MTDTGPMNVN thành ba cụm biệt lập. Tuy nhiên, khả năng chiến đấu của lực lượng quân giải phóng không hề bị mất: đầu tiên họ tự vệ thành công, tránh được thế lực kẻ thù có lực lượng vượt trội, và vào tháng 1 năm 1968 đã phát động một cuộc tổng tấn công chiến lược và đạt được những thành công lớn.

- Trong giai đoạn thứ hai của chiến tranh Việt Nam, Bộ chỉ huy Mỹ bắt đầu từ từ chuyển gánh nặng của chiến tranh sang cho quân đội Sài Gòn và rút dần quân đội khỏi miền Nam Việt Nam. Tướng Abram, được bổ nhiệm ngày 01 tháng bảy 1968 để thay thế Tướng Westmoreland chỉ huy lực lượng Mỹ ở Nam Việt Nam, chuyển sang chiến thuật tiến hành các chiến dịch tìm và diệt bằng các lực lượng nhỏ, thường là gần các căn cứ và nơi triển khai thường trực quân đội của mình. [121]

Vào mùa xuân năm 1969, quân giải phóng chuyển sang cuộc tấn công chiến lược thứ hai, buộc đối thủ rơi vào thế phòng thủ ở khắp mọi nơi. Từ tháng 11 năm 1969 sau khi công bố "Học thuyết Nixon", Mỹ tiến hành thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa" chiến tranh ở Đông Dương, thực chất của nó nằm ở việc chuyển toàn bộ gánh nặng chiến tranh sang cho quân đội của chế độ bù nhìn, chỉ hỗ trợ dưới các hình thức cung cấp vũ khí và gửi các cố vấn. Trong khi đó, các hoạt động của lực lượng yêu nước ở miền Nam Việt Nam ngày càng trở nên tích cực hơn.

Trong cuộc chiến tranh Việt Nam lực lượng hải quân đã đảm đương một loạt các nhiệm vụ. Chúng tấn công vào các mục tiêu quân sự và công nghiệp trên đất liền, đổ bộ các lực lượng đường biển và đường sông, thực hiện cuộc phong tỏa đường biển vùng duyên hải, yểm trợ lực lượng lục quân trong cả tấn công và phòng thủ, cũng như đảm bảo vận chuyển hàng quân sự bằng đường biển. Bộ chỉ huy Mỹ đã tìm cách áp dụng tối đa các kinh nghiệm của những cuộc chiến tranh trước đó. Tuy nhiên, lãnh thổ, nơi tiến hành cuộc chiến tranh này, đã được họ sử dụng như là một loại bãi thử của mình mà trong đó họ phát triển các phương pháp chiến thuật mới, thử nghiệm các mẫu khí tài kỹ thuật và trang bị tác chiến mới.

Bảng thống kê sử dụng số lượng tàu chiến trong biên chế Hải quân Mỹ tại Đông Nam Á từ 1965 đến 1973.
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang1.jpg)

Bảng thống kê sử dụng số lượng máy bay Hải quân Mỹ tại Đông Nam Á từ 1965 đến 1973.
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang2.jpg)

Bảng số lượng quân đội Mỹ tại Nam Việt Nam (13).
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang3.jpg)

Mùa xuân 1972, quân giải phóng thực hiện 3 cuộc tấn công chiến lược, kết thúc bằng việc giải phóng phần lãnh thổ có hơn 2,5 triệu dân. Chỉ nhờ sự yểm trợ tối đa của Không quân và Hải quân Mỹ mà sự sụp đổ hoàn toàn của quân đội bù nhìn mới không diễn ra. Ngày 27 tháng 1 năm 1973 tại Paris đã ký Hiệp định về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam. [123]
.........


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 14 Tháng Năm, 2012, 04:58:10 PM
(tiếp)

Hạm đội chống lại bờ

Lực lượng Hải quân Mỹ tập trung khá thường xuyên cho việc giải quyết nhiệm vụ phá hủy các mục tiêu quân sự và công nghiệp trên đất liền. Cũng như trong chiến tranh Triều Tiên, đóng vai trò chính thực hiện vấn đề này là các tàu sân bay của lực lượng đặc nhiệm 77 thuộc Hạm đội 7 Hải quân Hoa Kỳ. Tham gia trong các hoạt động quân sự có 15 tàu sân bay tấn công và hai tàu sân bay chống ngầm, thực hiện 66 chiến dịch hành quân trên không gian chiến trường. Trong số 16 tàu sân bay Mỹ số tham dự chiến tranh Việt Nam gồm có "Enterprise", "America", "Independence", "Kitty Hawk", "Constellation", "Ranger", "Saratoga", "Midway", "Koral Sea", "Franklin D. Roosevelt", "Bon Homme Richard", "Oriskany", "Ticonderoga", "Hancock" và "Forrestal". Một số tàu sân bay đã thực hiện 5 đến 7 chuyến hành quân đến bờ biển Việt Nam. Ví như tàu sân bay hạt nhân "Enterprise"! từ 1965-1972 đã thực hiện 6 chuyến hành quân chiến đấu ở vùng Tây Nam Thái Bình Dương. Từ tàu sân bay đó, đã tiến hành hơn 39 nghìn phi vụ xuất kích, tiêu hao 30 nghìn tấn đạn dược và rải 400 trái thủy lôi.

Trong thành phần của lực lượng đặc nhiệm 77, theo quy luật, có 1 - 5 tàu sân bay (2 - 3 nhóm tàu sân bay tấn công), tối đa 5 tàu tuần dương, 15 tàu khu trục và tàu hộ vệ và tối đa 6 tàu tuần tra. Mặc dù thực ra không có sự phản ứng trên biển, bộ tư lệnh Hoa Kỳ luôn tổ chức đầy đủ tất cả các loại biện pháp phòng vệ cho các tàu sân bay. Tuyến bảo vệ gần, gồm có các tàu tuần dương, tàu khu trục và tàu hộ vệ, bố trí trên khoảng cách 20 - 30 kabelt đến tàu sân bay. Trong không trung gần như suốt ngày đêm máy bay cảnh báo sơm AEW (Airbone Early Warning) tuần tra, máy bay tiêm kích bảo vệ có mặt hoặc trong không trung hoặc trong trạng thái sẵn sàng xuất kích. Tuyến phòng thủ chống ngầm được giao cho hoặc một nhóm xung kích đặc biệt chuyên săn tìm - chống tàu ngầm và các máy bay tuần duyên có căn cứ trên bờ, hoặc chỉ [124] giao cho các máy bay tuần duyên "Orion" và "Neptune" thuộc căn cứ bờ làm nhiệm vụ tuần tra trong toàn bộ các khu vực gần và xa.

Sự tham gia hoạt động của các tàu sân bay trong thành phần Hạm đội 7 đạt tới 175 - 250 ngày đêm, trong đó có 5 - 6 lần đi vào khu vực chiến sự với thời gian tối đa một lần là 50 ngày đêm liên tục. Thời gian có mặt của các tàu sân bay trong [125] khu vực hành quân chiến đấu là 108 - 136 ngày đêm, tiêu tốn cho quá trình di chuyển mất trung bình 45 ngày,  tiêu tốn cho thời gian neo đậu trong căn cứ - đến 60 ngày đêm. Tiêu tốn cho duy tu bảo dưỡng và huấn luyện quân sự mất trung bình 170 đến 210 ngày đêm. Việc di chuyển của các tàu sân bay từ bờ biển phía Tây Hoa Kỳ tới vùng hoạt động của Hạm đội 7 mất 14 ngày, còn nếu di chuyển từ bờ biển phía đông – tiêu tốn thời gian gấp hai lần.

Nếu đang ở trong khu vực cơ động chiến đấu, mỗi tàu sân bay sẽ tham gia vào các hoạt động chiến đấu từ 6 đến 11 ngày, sau đó dành một ngày cho nhân viên nghỉ ngơi và bảo dưỡng kỹ thuật hàng không. Nếu ở trong khu vực đang có ba tàu sân bay, một trong số chúng thường làm nhiệm vụ dự bị, từ hai tàu sân bay còn lại các máy bay sẽ hoạt động trung bình 12 giờ một ngày đêm.

Khu vực cơ động chiến đấu ("Yankee") của lực lượng đặc nhiệm 77 từ tháng 2 năm 1965 đến tháng 1 năm 1973 ở trong Vịnh Bắc Bộ. Kích thước của nó là 140x160 dặm, còn giãn cách ranh giới tính đến đường bờ biển khoảng 40 - 80 dặm (cạnh xa nhất - 100 đến 120 dặm).Trong khu vực này có 2 đến 4 nhóm tàu sân bay tấn công, mỗi nhóm trong số đó có một khu vực phụ trợ lân cận. Trong giới hạn khu vực này thì nhiệm vụ của khu vực phụ trợ lân cận là để bổ sung dự trữ vật chất, nơi thường xuyên có một trong các nhóm đơn vị hậu cần hay còn gọi là "hậu cần nổi". Lực lượng không quân Mỹ hoạt động ở tầm xa 200 - 650 km tính từ trung tâm của khu vực cơ động chiến đấu (tuyến tấn công đạt tới 400 - 650 km).

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s30.gif)
Các khu vực bị ném bom ở Bắc Việt Nam.
..........


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 14 Tháng Năm, 2012, 05:25:56 PM
(tiếp)

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s31.gif)
Hoạt động của các đơn vị tàu sân bay xung kích chống lại VNDCCH giai đoạn 1964-1965.

Số lượng biên chế của các máy bay thuộc lực lượng đặc nhiệm 77: khi hai tàu sân bay ở trong vùng chiến sự - 152 - 166 máy bay (bao gồm 86 - 96 máy bay cường kích, 48 máy bay tiêm kích), khi có  3 tàu sân bay - 240 - 250 máy bay (trong đó 130-150 máy bay cường kích, 72 - 84 máy bay tiêm kích), khi có 4 tàu sân bay - 312 - 324 máy bay (trong đó 166-184 máy bay cường kích và 96 máy bay tiêm kích). Sự thay đổi thành phần của không đoàn chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, trong đó có sự kháng cự của đối phương và tổn thất, thường rất ấn tượng. Chỉ từ ngày 07 tháng hai 1965 đến 31 Tháng Ba năm 1968 [126] tổn thất máy bay Mỹ lên đến khoảng 360 máy bay trên hạm bị bắn rơi, gần 1000 chiếc bị thương. Tổng số tính cho toàn bộ thời kỳ thì lực lượng đặc nhiệm 77 đã giảm mất 640 máy bay hiện có.

Đến tháng 8 năm 1964 Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ trên cơ sở số liệu của các cơ quan tình báo Mỹ đã thảo ra một danh sách 94 mục tiêu nằm trên lãnh thổ Bắc Việt Nam, dự tính sẽ bị tiêu diệt trước tiên. Mục tiêu chính là hệ thống giao thông đường bộ, các công trình công nghiệp và nhiên liệu-năng lượng quan trọng và các thành phần của hệ thống phòng không. Đồng thời nhiệm vụ quan trọng nhất trong suốt cuộc chiến là phá hủy mạng lưới đường giao thông bộ. Để thu thập thông tin về các mục tiêu này đã sử dụng máy bay trinh sát chiến lược U-2 và các tàu chiến có thiết bị trinh sát vô tuyến điện tử chuyên dụng.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/0/05/USS_America_%28CV-66%29_with_a_U-2.jpg/800px-USS_America_%28CV-66%29_with_a_U-2.jpg)
U-2 trong thời gian thử nghiệm trên tàu sân bay "America" CV-66 (en.viki).

Khi nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phá hủy mạng lưới giao thông đường bộ trên lãnh thổ Bắc Việt Nam, tư lệnh lực lượng đặc nhiệm 77, chuẩn đô đốc D.Richardson đã viết: "Mục tiêu của chúng tôi là không để đối phương có khả năng sử dụng bất kỳ phần nào của mạng lưới giao thông vận tải của họ, bắt họ phải cho phương tiện thiết bị của mình vận chuyển theo các đường vòng tránh khác, bỏ qua các tổ hợp đã bị đánh hỏng, và do đó làm giảm nỗ lực quân sự tại miền Nam Việt Nam".

Ảnh hưởng thực sự đáng kể nhất lên việc gia tăng khả năng chiến dịch-chiến thuật của lực lượng đặc nhiệm 77 là việc xuất hiện vào tháng Sáu năm 1965 loại máy bay cường kích A-6 "Intruder". Lần đầu tiên trong lịch sử chế tạo máy bay cất hạ cánh trên tàu sân bay, loại máy bay này được thiết kế đặc biệt để hoạt động ở tốc độ cận âm cao, trên độ cao thấp và trong mọi điều kiện thời tiết. Không kém phần quan trọng là sự xuất hiện lần đầu tiên trên thế giới máy bay có radar cảnh báo tầm xa E-2 "Hawkeye" vào tháng 11 năm 1965. Máy bay này đã được sử dụng thành công như là một sở chỉ huy trên không trung.[128]
........


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 14 Tháng Năm, 2012, 10:07:40 PM
(tiếp)

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s32.gif)
Hoạt động của các đơn vị tàu sân bay xung kích chống Việt Nam 1965-1972.

Máy bay trên hạm được sử dụng với tần suất cao. Năm 1966, từ một tàu sân bay trung bình có 111 phi vụ mỗi ngày đêm, từ 2 - 178 phi vụ. Năm 1969 các con số này là 178 và 311, còn năm 1972 con số tương ứng là - 132 và 233. Đồng thời loại máy bay quân sự hoạt động cường độ cao là: đối với máy bay cường kích - 1,2-1,3 phi vụ một ngày đêm; máy bay tiêm kích - 0,5 - 0,9; máy bay tác chiến điện tử - 1,43 - 1,7; máy bay cảnh báo sớm AEW (Airborne Early Warning) - 1,25 - 1,5; máy bay trinh sát - 0,58 - 0,83. Sự có mặt trên mỗi tàu sân bay từ 1,3 - 1,5 phi hành đoàn cho mỗi chiếc máy bay trong biên chế không đưa đến sự gia tăng đáng kể mức độ căng thẳng cho quân số bay khi có sự hoạt động cường độ cao của các máy bay.

Nhìn chung, từ 1964-1973 không quân thuộc lực lượng đặc nhiệm 77 đã thực hiện gần 500.000 phi vụ: đến 70% số đó là thực hiện các nhiệm vụ tấn công và xấp xỉ 30% - làm nhiệm vụ đảm bảo, đến 60% số phi vụ được thực hiện để tấn công các mục tiêu trên đất liền VNDCCH.

Bảng tiến trình leo thang các cuộc tấn công vào các mục tiêu của VNDCCH bởi máy bay thuộc không quân chiến thuật, không quân hải quân trên tàu sân bay và không quân chiến lược Mỹ.
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang3a.jpg)

Tải trọng bom của máy bay thường chiếm 30 - 60% tải trọng tối đa. Trên máy bay cường kích A-6, "Intruder", tải trọng đó đạt 80%. Hạn chế tải trọng được giải thích bởi mong muốn làm nhẹ bớt máy bay nhằm tăng bán kính chiến thuật khi hoạt động ở độ cao thấp và rất thấp đến mức giới hạn, và tăng khả năng cơ động trong khu vực có hệ thống phòng không.

Máy bay thực hiện các cuộc tấn công dưới một hình thức được gọi là "các chiến dịch đường không". "Chiến dịch" đầu tiên như thế đã được thực hiện vào ngày 02 Tháng Ba năm 1965, đến cuối năm 1969 đã diễn ra 60 "chiến dịch không kích". Thông thường, mỗi "chiến dịch" được xác định bởi ngày bắt đầu và độ dài của các cuộc không kích, số lượng của các đối tượng (mục tiêu) bị đánh bom, vị trí và đặc điểm của chúng; thông tin tình báo về các hệ thống vũ khí phòng không bảo vệ các mục tiêu; số lượng và loại máy bay phân bổ cho "chiến dịch"; tổng số các phi vụ chiến đấu, loại và số lượng đạn dược phân bổ; các đường bay của máy bay đến mục tiêu và trở về căn cứ; khả năng giáng đòn không kích, đội hình chiến đấu của máy bay; biện pháp gây nhiễu điện tử; đội hình bảo vệ các máy bay chiến đấu, chỉ huy và hợp đồng tác chiến; sơ tán các máy bay bị hư hỏng và cứu hộ các đội bay. Trách nhiệm tổng chỉ huy tất cả các lực lượng trong "chiến dịch không kích" được giao phó cho Tư lệnh các lực lượng Mỹ tại Thái Bình Dương. Tổ chức kế hoạch hợp đồng  giữa các máy bay của Không lực Mỹ và máy bay của Hải quân Mỹ trong khuôn khổ mỗi chiến dịch là Tư lệnh Không quân Mỹ tại khu vực Thái Bình Dương.
.......


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 15 Tháng Năm, 2012, 09:27:05 AM
(tiếp)

(http://scilib.narod.ru/Avia/Vietnam/images/IV_p56.jpg)
A-4 "Skyhawk" lấy đà trên sàn phóng của tàu sân bay Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, năm 1966.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s34.gif)
Khu vực cơ động tác chiến của các tàu sân bay Mỹ trong chiến tranh Việt Nam.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s35.gif)
Tổ chức phòng thủ chống ngầm của đơn vị tàu sân bay xung kích khi cơ động trong Vịnh Bắc Bộ.
.......


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 15 Tháng Năm, 2012, 10:42:38 AM
(tiếp)

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s36.gif)
Đội hình tác chiến của các máy bay cất hạ cánh trên hạm của Hải quân Mỹ khi tấn công các mục tiêu trên đất liền. Năm 1964.

Sự phát triển của hệ thống phòng không VNDCCH có thể chia thành hai giai đoạn. Từ tháng 8 năm 1964 cho đến đầu năm 1966, đặc trưng bởi số lượng còn hạn chế về lực lượng và phương tiện phòng không, điều này trên thực tế cho phép các phi công Mỹ thực hành ném bom mà không bị trừng phạt trên lãnh thổ VNDCCH. Năm 1966 đáng chú ý bởi sự tăng trưởng quy mô của hệ thống phòng không, trước hết là sự xuất hiện tên lửa phòng không, dẫn đến sự gia tăng thiệt hại và bắt buộc người Mỹ phải có cách tiếp cận mới trong vấn đề hoạt động của các máy bay của họ.[130]

Trong giai đoạn đầu tiên (trước khi hệ thống phòng không được trang bị tên lửa phòng không), để bảo vệ các máy bay cường kích (người Mỹ) thường chỉ phân bổ một lượng nhỏ máy bay tiêm kích (ước tính tỷ lệ khoảng 1: 5). Các máy bay tiêm kích được phép tấn công chỉ dựa theo nhận dạng xác định máy bay. Đội hình chiến đấu bao gồm vài tốp máy bay, khoảng cách giữa các tốp không vượt quá khả năng nhìn thấy được bằng thị giác, giãn cách giữa các máy bay trong tốp ở trong khoảng 100-150 m. Việc triển khai (đội hình) trong khu vực tấn công thực hiện ở độ cao 5.000 - 7.000 m, nghĩa là ngoài phạm vi hỏa lực chống máy bay hiệu quả của pháo phòng không VNDCCH. Cuộc tấn công thường áp dụng trình tự “hàng dọc” («колонна»), với việc thực hiện bổ nhào, và theo quy luật, chỉ từ một hướng. Khi tấn công các mục tiêu có hệ thống phòng không yếu, các máy bay tiếp cận (tấn công) mục tiêu nhiều lần. Tác chiến điện tử trong những tháng này chủ yếu giới hạn trong việc cảnh báo các máy bay tấn công và máy bay trinh sát về việc radar mặt đất phát hiện ra chúng. Đôi khi máy bay tác chiến điện tử cũng bay kèm các máy bay tấn công, nó thực hành gây nhiễu mà không đi vào vùng hỏa lực phòng không có thể vươn tới.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s37.gif)
Đội hình tác chiến của các máy bay cất hạ cánh trên hạm của Hải quân Mỹ khi tấn công các mục tiêu trên đất liền. Năm 1965.
........


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 15 Tháng Năm, 2012, 01:42:20 PM
(tiếp)

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/0/0b/E-2A_VAW-11_CVA-43_1966.jpg)
Một máy bay cảnh báo sớm E-2A "Hawkeye" của hãng Northrop Grumman thuộc phi đoàn cảnh báo sớm trên tàu sân bay VAW-11 (Carrier airborne early-warning squadron VAW-11 Det. A Early Eleven ) đang chuẩn bị hạ cánh trên tàu sân bay USS Coral Sea (CVA-43). Tàu sân bay này và Không đoàn xung kích trên hạm số 2 (Embarked Attack Carrier Air Wing Two (CVW-2)) tham gia vào chiến sự tại Việt Nam từ 29 tháng 7 năm 1966 tới 23 tháng 12 năm 1967 (en.viki). Ảnh chụp năm 1966.

Chỉ huy trực tiếp các máy bay hải quân hoạt động trên chiến trường là một bộ tham mưu chuyên trách đặc biệt (trung tâm phối hợp hành động), đặt tại Sài Gòn, và bộ tham mưu lực lượng đặc nhiệm 77. Trung tâm điều phối này đề ra các nhiệm vụ chiến đấu, còn bộ tham mưu lực lượng đặc nhiệm 77 thảo kế hoạch sử dụng máy bay hàng ngày, đặt các nhiệm vụ tác chiến cho các nhóm tấn công và yểm trợ. Máy bay đã cất cánh lên không trung được chỉ huy từ các sở chỉ huy chuyên biệt đặt trên các tàu chiến đang nằm gần bờ biển VNDCCH, và từ tháng 11 năm 1965 – đặt trên máy bay E-2A "Hawkeye". Từ tháng 4 năm 1966 để phối hợp hoạt động của các máy bay trên toàn lãnh thổ VNDCCH, người Mỹ đã chia ra một số khu vực trách nhiệm thường trực, mỗi một khu vực trong số đó đã được gắn cho một loại máy bay nhất định. Trong cách phân chia đó, các máy bay cất hạ cánh trên hạm tại các tàu sân bay được giao phụ trách vùng ven biển, điều đó làm đơn giản hóa hoạt động của chúng.

Đến 95% toàn bộ các chuyến bay của máy bay trên tàu sân bay được đảm bảo bởi máy bay AEW E-2A "Hawkeye. [132]

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/7/7f/Hawkeye_DN-SD-02-03997.jpg/800px-Hawkeye_DN-SD-02-03997.jpg)
Bên trong một máy bay AEW E-2C, năm 2001. Một sỹ quan tác chiến điện tử Hải quân Mỹ thuộc phi đoàn cảnh báo sớm VAW-126 đang "vẽ" thông tin lên màn hình hệ thống giám sát lắp đặt bên trong chiếc E-2C Hawkeye khi tuần tra trên không phận Vịnh Ba Tư ngày cuối của chiến dịch SOUTHERN WATCH (en.viki).

Trên các máy bay này lắp đặt thiết bị bán tự động phát hiện và xác định các mục tiêu trên không (ATDS), trong đó gồm có radar phát hiện mục tiêu AN/SPS-70, thiết bị hiển thị tình hình trên không và truyền tải thông tin về nó đến tàu sân bay. Thông thường, các máy bay "Hawkeye" bay tuần tra dọc theo bờ biển VNDCCH ở độ cao 8000 - 8500 mét. Máy bay được sử dụng như sở chỉ huy trên không, cảnh báo và hướng dẫn, cũng như đóng vai trò ngọn hải đăng dẫn đường cho các máy bay trở về tàu sân bay. Một máy bay như vậy quản lý chỉ huy được đồng thời hoạt động của nhiều nhóm máy bay tấn công và yểm trợ.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/e/ed/Lockheed_EC-121D_interior.jpg/776px-Lockheed_EC-121D_interior.jpg)
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/2/23/Lockheed_EC-121K_Rivet_Top_Korat_1968.jpeg)
Đồng thời với E-2A của Hải quân, trong chiến tranh đường không phá hoại miền Bắc, không quân Mỹ sử dụng máy bay cảnh báo sớm EC-121. Ảnh trên chụp các trắc thủ radar trong khoang một chiếc EC-121D Warning Star thuộc Không đoàn cảnh báo sớm và kiểm soát không phận 552 trong thời gian chiến tranh Việt Nam. Ảnh dưới là EC-121K "Rivet Top" (s/n 57-143184) thuộc không đoàn 552 tại căn cứ KQ Korat, Thái Lan giai đoạn 1967/1968 (en.viki).

Để nâng cao hiệu quả của các cuộc không kích vào các mục tiêu mặt đất còn sử dụng các vệ tinh nhân tạo của Trái đất, chủ yếu cung cấp thông tin trinh sát khí tượng. Ở đây, các điều kiện địa - vật lý, đặc biệt là điều kiện thời tiết khí hậu, có vai trò rất quan trọng. Mưa lớn, sương mù, mây thấp và gió bão, đặc trưng tiêu biểu cho giai đoạn từ tháng năm đến tháng mười, không cho phép sử dụng máy bay với cường độ lớn, còn do các cơn bão nhiệt đới có cường độ rất mạnh và dữ dội, tàu sân bay thường buộc phải rời khỏi khu vực cơ động chiến đấu để tránh bão.
.........


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 15 Tháng Năm, 2012, 04:09:44 PM
(tiếp)

Các phương pháp tác chiến chủ yếu của máy bay trên tàu sân bay trong hành động tiêu diệt mục tiêu mặt đất thường là tấn công đồng thời và tấn công lần lượt. Đặc trưng tiêu biểu trong năm đầu của cuộc chiến là tấn công đồng thời bằng nhóm 30 - 60 máy bay. Cho đến giữa tháng 4 năm 1965 phần đông các máy bay tập trung giải quyết nhiệm vụ chính. Nhóm chế áp pháo phòng không bao gồm 4 - 6 máy bay và dự kiến thi hành đòn tấn công chủ yếu trong 1-2 phút. Chuyến bay đến mục tiêu diễn ra theo đường bay ngắn nhất ở chiều cao 800 - 1500 mét trong đội hình chiến đấu chặt chẽ "đội hình biên đội" («колонна звеньев»). Khi tiếp cận mục tiêu các máy bay chuyển sang xếp theo đội hình chiến đấu “đội hình cặp đôi" («колонну пар», tách tốp thành từng đôi một).  Mục tiêu bị tấn công chủ yếu từ một hướng [134] một cách tuần tự bởi tất cả các máy bay, bay chờ đến lượt trên các điểm kiểm tra ngoài vòng hỏa lực pháo phòng không trong khu vực. Cuộc ném bom được thực hiện từ độ cao 800-1000 mét với thao tác bổ nhào.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/5/52/A-6As_VA-196_dropping_Mk_82_bombs_Vietnam.jpg/800px-A-6As_VA-196_dropping_Mk_82_bombs_Vietnam.jpg)
Một tốp 2 chiếc cường kích U.S. Navy Grumman A-6A Intruder (BuNo 154148, 154155) thuộc phi đoàn cường kích VA-196 "Main Battery" đang thả bom Mk 82 227 kg (500 lbs) trên lãnh thổ Việt Nam. VA-196 thuộc không đoàn cường kích trên tàu sân bay số 14 (Attack Carrier Air Wing 14 (CVW-14)) đóng căn cứ trên tàu sân bay USS Constellation (CVA-64) được triển khai tới Việt Nam từ 29 tháng 5 năm 1968 đến 31 tháng 1 năm 1969 (en.viki).

Sự tăng cường lưới lửa phòng không trong thời kỳ tháng Tư - tháng 7 năm 1965 đã dẫn đến sự thay đổi trong phương thức hoạt động của máy bay Mỹ. Vai trò bảo đảm hành động đã lớn hơn:  đã thành lập các nhóm nghi binh số lượng lớn (крупные демонстративные группы); phân bổ thêm sức mạnh cho các tốp máy bay tiêm kích yểm hộ; tăng cường vai trò của trinh sát trước tấn công (доразведки) và tổ chức thực hành tác chiến điện tử. Tại lối vào khu vực hỏa lực các máy bay thực hiện một loạt thao tác cơ động chống hệ thống phòng không. Trình tự trận chiến kéo dài hơn. Chiều cao bay của máy bay trong khu vực mục tiêu được tăng lên đến tầm 4000 - 6000 m. Vào công kích mục tiêu diễn ra từ nhiều hướng khác nhau. Cuộc ném bom được thực hiện với thao tác bổ nhào ở góc 50 - 60 ° (bom được thả từ độ cao 3000-3500 m).

(http://scilib.narod.ru/Avia/Vietnam/images/III_p45_1.jpg)
A-4E của Hải quân Mỹ bổ nhào ném bom vào mục tiêu tại khu vực Hải Phòng năm 1965.

Kể từ năm 1965, nhóm tấn công (cường kích) bao gồm 6 máy bay, còn từ cuối năm 1966 - 4. Tổng số máy bay trong cuộc tấn công gồm từ 15 đến 50 chiếc. Thời gian của phi vụ tấn công kéo dài đến 1 giờ hoặc nhiều hơn. Các đội hình chiến đấu của máy bay trên hạm đã trở thành "vòng xuyến" («ромб»), "cái nêm" («клин», so le), "hướng tâm" («пеленг») với việc tăng giãn cách giữa các máy bay và các cặp đôi 2 chiếc của chúng. Số lượng máy bay làm nhiệm vụ đảm bảo liên tục tăng, đến cuối năm 1966 đạt gần 40% trên tổng số máy bay tham gia các cuộc tấn công. Khi bay trên đất liền chúng thường chiếm độ cao thấp (150 - 300 m) và rất thấp (50 - 100 m). Việc triển khai (đội hình, trình tự chiến đấu) tại khu vực tùy thuộc vào tình hình, thường được thực hiện ở độ cao 700-8.000 m. Khi điều kiện tầm nhìn tốt chúng sẽ tấn công mục tiêu trong đường bay theo mặt phẳng ngang. Trong một số trường hợp, từ cách xa mục tiêu 15 - 20 km, máy bay làm thao tác "xuống dốc" («горку») (từ 1200 - 2000 m) và khai hỏa vũ khí khi bổ nhào hoặc bay bằng. Từ đầu năm 1967, người Mỹ chuyển sang hoạt động ở độ cao trung bình và tiến vào bổ nhào ném bom. Số máy bay đảm bảo được họ sử dụng lên đến 50 - 70%. [135]

(http://scilib.narod.ru/Avia/Vietnam/images/X_p58.jpg)
F-4B VF-21 thuộc không đoàn 2 (CVW-2) trên tàu sân bay Coral Sea đang bổ nhào ném bom Mk-82 xuống mục tiêu mặt đất trên lãnh thổ VNDCCH, năm 1965/1966.

Khi phát hiện được bằng mắt thường tên lửa phòng không phóng lên, các phi công Mỹ thực hiện vòng ngoặt gấp 90-180 ° (cùng với việc tăng tốc độ). Tuy nhiên, động tác cơ động này không phải lúc nào cũng cho phép tránh được các tên lửa đã bắn lên. Hiệu quả hơn là thao tác cơ động chống tên lửa, trong đó máy bay, hoặc chiếm gấp [137] độ cao, hoặc hạ gấp độ cao và sử dụng đồng thời phương tiện tác chiến điện tử. Ví dụ, nhờ thao tác cơ động này, trong tháng 8 năm 1967, trong số 16 chiếc máy bay bị bắn rơi chỉ có 6 chiếc bị tên lửa phòng không bắn hạ. Đồng thời, các phi công Mỹ ghi nhận được 249 tên lửa phòng không phóng lên.

(http://scilib.narod.ru/Avia/Vietnam/images/VII_p57_1.jpg)
Một chiếc "Thần sấm" của không quân Mỹ may mắn tránh được phát tên lửa phòng không.

(http://nevsedoma.com.ua/images/2010/57/8/ee004c08.jpg)
Và một chiếc RF-4C không tránh được tên lửa phòng không khi xâm phạm không phận Hà Nội ngày 12 tháng 8 năm 1967. Kíp bay nhảy dù và bị bắt làm tù binh. Đại úy Edwin Atterbery chết, đại úy Tomas Parrot được trao trả cho phía Mỹ sau chiến tranh.
..........


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 15 Tháng Năm, 2012, 10:01:59 PM
(tiếp)

(http://scilib.narod.ru/Avia/AviaLocWar/images/p011.gif)
Tấn công nhóm với các máy bay tiến vào mục tiêu từ nhiều hướng:
1- Độ hình chiến đấu chặt chẽ của các tiêm kích-ném bom; 2- Vòng ngoặt chuyển đội hình; 3- Biên mở rộng đội hình; 4- Máy bay chuyển tới tư thế bổ nhào sau vòng ngoặt hướng lên cao; 5- Khu vực sát thương mục tiêu của hỏa lực phòng không bảo vệ; 6- Mục tiêu. Sách "Không quân trong các cuộc xung đột cục bộ" - V.K. Babich, NXB Quân sự, Moskva, 1988.


Khi bay lượn tấn công mục tiêu có hỏa lực phòng không mạnh, các hoạt động nghi binh đóng vai trò lớn. Đôi khi đến một nửa số máy bay được phân vào thành phần các tốp nghi binh. Các tốp này từ trên các độ cao trung bình và lớn làm động tác giả tấn công theo các hướng khác nhau, và vì vậy thu hút về mình các cú phóng tên lửa phòng không, thực hiện thao tác cơ động tránh tên lửa và thoát ra khỏi mục tiêu theo đường bay (an toàn) đã được trinh sát trước. Trong khi đó, tốp công kích tiếp cận mục tiêu ở các độ cao thấp và từ các hướng khác nhau. Thường các máy bay tốp tấn công tiến hành tiếp cận mục tiêu ở độ cao rất thấp, triệt để lợi dụng sự mấp mô của địa hình địa vật để tạo bất ngờ.

(http://scilib.narod.ru/Avia/AviaLocWar/images/p013.gif)
Thủ đoạn "xuất hiện bất ngờ":
1- Biên đội tiêm kích-ném bom trong khu chờ; 2- Hạ thấp độ cao lần lượt; 3- Bay tới mục tiêu theo đội hình giãn cách 2 phút bay; 4- Thao tác cơ động chiến đấu "lộn qua vai"; 5- Kết thúc, thoát khỏi công kích.


(http://scilib.narod.ru/Avia/AviaLocWar/images/p015.gif)
Công kích nhóm từ vòng ngoặt tác chiến:
а- Tiến vào mục tiêu trên một hướng; б- Tản đội hình thành "hình quạt" (bàn tay xòe); 1- Biên đội tiêm kích-ném bom trong đội hình chặt chẽ; 2- Tiến tới điểm bắt đầu cơ động; 3- Vòng ngoặt tác chiến; 4- Bổ nhào trong cung kín đối với tầm quét mục tiêu của hỏa lực phòng không.


Để tăng hiệu quả của các cuộc tấn công, có các tốp đặc biệt gây nhiễu chủ động và thụ động, cũng như tấn công hệ thống phòng không của VNDCCH. Nhiễu chủ động (tích cực) là nhiễu ồn tác động (máy ngắm, điều khiển hỏa lực), là tín hiệu điều chế biên độ, hồi đáp xung (hướng theo tầm và tọa độ góc). Nhiễu thụ động (tiêu cực) sử dụng các lưỡng cực phản xạ làm từ các lá nhôm (kích thước từ 2,5 đến 1200 cm), sợi thủy tinh, các bẫy và đĩa mạ kim loại (đường kính đến 30 cm).

(http://nsmsk.ru/4/osnaz/image026.gif)
Tác chiến điện tử khi máy bay Mỹ không kích các mục tiêu trên lãnh thổ VNDCCH.
Chú thích từ trên xuống dưới - từ phải sang trái:
- Các tốp nghi binh thu hút;
- Các tốp tấn công;
- Đường biên khu vực radar phát hiện được mục tiêu trên không;
- EC-121A hoặc EB-66 trinh sát các trận địa TLPK và PPK một ngày trước khi không kích;
- EC-121A hoặc EB-66 gây nhiễu các trạm radar PK 10-15 phút trước khi các tốp không kích bay vào;
- Đường biên khu vực sát thương của TLPK VNDCCH;
- EB-66 - Tốp chế áp TLPK và radar PK.


(http://aviation.watergeek.eu/images/f-4j/f-4j-strobe.jpg)     (http://aviation.watergeek.eu/images/f-4j/f-4s_ecm_warning_lights.jpg)
Trái: Màn hiển thị radar cảnh báo sớm SAM (TLPK) đời đầu phiên bản 1966 AN/APR-25 trên các bảng điều khiển nằm trong buồng lái các máy bay Mỹ (F-4J). Phải: F-4S Electronic Counter Measures (ECM) warning lights assembly: băng đèn đỏ báo hiệu SAM.
........


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 16 Tháng Năm, 2012, 04:43:28 PM
(tiếp)

(http://pentagonus.ru/af/1976/1976-8-PRR-1.gif)
Sơ đồ cấu tạo tên lửa chống bức xạ radar loại "không-đối-đất", trích từ "Авиационные противорадиолокационные управляемые ракеты" - Подполковник-инженер И. Радомиров - Зарубежное военное обозрение, 1976, №8, с. 54-60 (pentagonus.ru) :
1- Bầu chụp khí động đầu tự dẫn; 2- Anten; 3- Bộ khuếch đại đầu tự dẫn; 4- bộ phận tác chiến (đầu đạn); 5- Đế cánh; 6- Tầng động cơ hành trình; 7- Bánh lái; 8- Dẫn động bánh lái; 9- Tầng động cơ khởi động; 10-   Ngòi nổ; 11- Thuốc nổ của đầu đạn tác chiến; 12- Nguồn nuôi; 13- Thiết bị thu của đầu tự dẫn.

Рис. 1. Компоновочная схема противорадиолокационной управляемой ранеты класса "воздух- земля": 1 - обтекатель головки самонаведения; 2 - антенна; 3 - усилитель головки самонаведения; 4 - боевая часть; 5 - консоль крыла; 6 - маршевая ступень двигателя; 7 - руль; в - привод руля; 9 - стартовая ступень двигателя; 10 - взрыватель; 11 - ВВ боевой части; 12 - источник питания; 13 - приемник головни самонаведения.


(http://pentagonus.ru/af/1976/1976-8-PRR-2.gif)
Đồ thị đặc tính hướng của anten (а) và sơ đồ khối đầu tự dẫn với hình nón quét (б):
1- Chùm tia định hướng ; 2- Búp sóng chính của đồ thị định hướng của anten; 3- Anten; 4- Vùng quét; 5- Tín hiệu từ trạm radar mặt đất - mục tiêu; 6- Máy phát tín hiệu tham chiếu; 7- Tín hiệu tham chiếu góc vị trí (góc tà); 8- Tín hiệu tham chiếu góc phương vị; 10- Điện áp chênh; 11 và 12- các bộ phát hiện sai số góc về góc tà và góc phương vị.

Рис. 2. Диаграмма направленности антенны (а) и блок-схема головки самонаведении с коническим сканированием (б): 1 - равно-сигнальное направление; 2 - основной лепесток диаграммы направленности антенны; 3 - антенна головки самонаведения; 4 - зона обзора: 5 - сигналы от РЛС-цели; б - генератор опорных сигналов; 7 - опорный сигнал по углу места; 8 - опорный сигнал по азимуту; 9 - канал приема сигналов от цели; 10 - напряжение рассогласования; 11 и 12 - детекторы угловых ошибок по углу места и азимуту.


(http://pentagonus.ru/af/1976/1976-8-PRR-3.gif)
Đồ thị đặc tính hướng của anten (а) và sơ đồ khối đầu tự dẫn với hình nón quét và phương pháp thu đa xung (б):
1- Chùm tia định hướng; 2- Bốn búp sóng chính đồ thị định hướng anten; 3- Anten; 4- Vùng quét; 5- Tín hiệu từ trạm radar mặt đất - mục tiêu; 6- Sơ đồ cộng tổng; 7 và 8- Các kênh theo góc tà và góc phương vị; 9 và 10- Các bộ phát hiện sai số về góc tà và góc phương vị; 11 và 12- Các tín hiệu saii số về góc tà và góc phương vị.

Рис. 3. Диаграмма направленности антенны (а) и блок-схема головки самонаведения с моноимпульсным приемом |б): 1 - равносигнальное направление; 2 - четыре основных лепестка диаграммы направленности антенны; 3 - антенна; 4 - зона обзора; 5 - сигналы от РЛС-цели; б - схема суммирования; 7 и 8 - каналы по углу места и азимуту: 9 и 10 - детекторы угловых ошибок по углу места и азимуту; 11 и 12 - сигналы ошибок по углу места и азимуту.


(http://pentagonus.ru/af/1976/1976-8-PRR-4.gif)
Sơ đồ chức năng và nguyên lý làm việc ngòi nổ không tiếp xúc của tên lửa chống bức xạ radar:
1- Radar mặt đất-mục tiêu; 2- Búp sóng đồ thị đặc tính hướng của anten trạm radar mặt đất-mục tiêu; 3- Anten ngòi nổ; 4- Anten đầu tự dẫn; 5- máy thu đầu tự dẫn; 6- Sơ đồ so sánh; 7- Tín hiệu sang mở bảo hiểm ngòi nổ; 8- Ngòi nổ.

Рис. 4. Функциональная схема и принцип работы неконтактного взрывателя противорадиолокационной ракеты: 1 - РЛС-цель; 2 - лепесток диаграммы направленности антенны РЛС-цели; 3 - антенна взрывателя 4 - антенн" головки самонаведения; 5 - приемник головки самонаведения; б - схема сравнения; 7 - сигнал на срабатывание взрывателя; 8 - взрыватель.


Các tốp cường kích hải quân tấn công vào các đối tượng hỏa lực phòng không bằng các cú phóng tên lửa "Shrike" đơn độc hoặc theo loạt. Tên lửa phóng ra khi bay bổ nhào hoặc bay bằng, và hiếm hoi hơn là khi bay ngóc lên. Khi tấn công lúc máy bay bổ nhào, tên lửa được phóng theo cánh sóng radar đang làm việc từ độ cao 1500 - 2000 m tại góc bổ nhào 15 - 30 ° (giới hạn tầm xa tối đa phóng khoảng 45 km và tối thiểu 12 km). Sau khi phóng tên lửa máy bay  tiếp tục bay cùng hướng trong khoảng 10-15 giây, dẫn tên lửa tới mục tiêu. Khi tấn công từ [138] tư thế bay ngóc lên, máy bay thoát ly mục tiêu từ độ cao 500 - 1500 m, còn tiếp theo lấy độ cao gấp và từ khoảng cách 24 - 25 km thực hiện phóng tên lửa. [139]

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/7/77/A-7Bs_VA-25_during_Ironhand_mission_1969.jpg/792px-A-7Bs_VA-25_during_Ironhand_mission_1969.jpg)
Một tốp 2 chiếc U.S. Navy Douglas A-7B Corsair II phi đoàn cường kích VA-25 (Attack squadron VA-25 Fist of the Fleet) trong thời gian thực thi phi vụ "Bàn tay sắt" (Ironhand mission) trên không phận miền Bắc Việt Nam năm 1969. VA-25 thuộc không đoàn cường kích 16 (Attack Carrier Air Wing 16 (CVW-16)) đóng trên tàu sân bay USS Ticonderoga (CVA-14) triển khai tham chiến tại Việt Nam từ ngày 1 tháng 2 tới 18 tháng 9 năm 1969. Cả hai chiếc A-7B này đều trang bị bom Mk 82 và tên lửa chống radar "Shrike" (AGM-45 Shrike anti-radiation missiles). Trích từ sách của Robert L. Lawson (ed.): The History of US Naval Air Power. The Military Press, New York (USA), 1985. (Dẫn lại theo en.viki).

(http://nevsedoma.com.ua/images/2010/57/8/552aef66.jpg)
A-4 Skyhawk phóng tên lửa chống radar "Shrike" AGM-45.

(http://scilib.narod.ru/Avia/AviaLocWar/images/p173.gif)
Một phương án tấn công đài radar đối phương, sử dụng tên lửa chống radar (противорадиолокационной ракеты - ПРР):
1- Cơ động nghi binh của chiếc máy bay phối hợp cùng chiếc mang tên lửa chống radar; 2- Máy bay mang tên lửa chống bức xạ radar tiến vào khu vực phát xạ của đài radar; 3- Tạo nhiễu hồi đáp-xung; 4- Phóng tên lửa chống radar và ngoặt ra khỏi mục tiêu; 5- Hành trình tự dẫn của tên lửa chống radar bay tới trạm radar; 6- Trạm radar PK - mục tiêu; 7- Khu vực sát thương của TLPK; 8- Khu vực trạm radar PK phát hiện được mục tiêu.

........


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 16 Tháng Năm, 2012, 08:04:33 PM
(tiếp)

Trình tự đội hình tác chiến, theo quy định, gồm năm nhóm: nhóm tấn công, thanh lọc bầu trời, chế áp tên lửa phòng không có điều khiển, chế áp pháo phòng không [140], yểm trợ. Giãn cách giữa các nhóm thay đổi từ 4800 đến 9000 m, còn giữa các máy bay - từ 150 đến 400 m.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s38.gif)
Đội hình các máy bay cất hạ cánh trên hạm khi tấn công các mục tiêu mặt đất. Năm 1967.
Chú thích tiếng Nga từ trái sang phải:
- Nhóm yểm hộ quần vòng trên mục tiêu;
- Nhóm hộ tống khi tấn công;
- Nhóm tấn công;
- Nhóm hộ tống khi trở về.


(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s39.gif)
Đội hình thể hiện trình tự chiến đấu của máy bay cất hạ cánh trên tàu sân bay khi tấn công các mục tiêu mặt đất. Năm 1968.

Khi tấn công các mục tiêu quan trọng, các đường bay công kích thực hành theo mô hình các làn sóng, với giãn cách thời gian từ 10 phút trở lên. Trong điều kiện có mây dày đặc, các cuộc tấn công do những nhóm nhỏ tiến hành từ sau mây. Quá trình tiến vào mục tiêu và ném bom diễn ra với sự trợ giúp của “TACAN", cũng như theo mệnh lệnh của chiếc máy bay-chỉ huy, sau khi nó tiến vào mục tiêu bằng cách sử dụng thiết bị radar trên máy bay. Thiệt hại tăng lên buộc Bộ chỉ huy Mỹ phải chuyển hướng nhiều hơn sang hoạt động ban đêm. Nếu trong những tháng đầu tiên của cuộc chiến tranh, các chuyến bay đêm chỉ chiếm 20 - 30% tổng số chuyến bay thì đến cuối năm 1965 con số này đã tăng lên 60%. Đồng thời, có một xu hướng tăng dần tỷ trọng chiến đấu ban đêm: đầu năm 1965, tỷ lệ của nó đạt đến 18% tổng số các chuyến bay, trong năm 1967 - 35%, còn đến năm 1972 - 65%. Hoạt động ban đêm [141] hoặc diễn ra với một hai chiếc máy bay độc lập hoặc hoặc một tốp nhỏ. Việc thả bom được thực hiện chủ yếu khi bay bằng, hiếm hơn – khi bổ nhào. Trường hợp này các phi công thực hiện một lần tiến vào mục tiêu. Trong mọi trường hợp, các mục tiêu đều được chiếu xạ.

Kết quả khả quan hơn cả cho người Mỹ diễn ra vào năm 1967.  Trong năm đó, đã có khoảng 50.000 phi vụ được thực hiện, máy bay cất hạ cánh trên hạm đã tiêu diệt 955 mục tiêu và phá hủy 1086 cây cầu, 734 xe ô tô và 410 đầu máy và toa xe, đánh chìm khoảng 3.000 phương tiện nổi. Trong những năm khác, hoạt động của không quân hải quân không thành công được như vậy.

Bộ chỉ huy Mỹ thể hiện mối quan tâm nghiêm túc với việc cứu hộ kíp bay của các máy bay bị bắn rơi. Ngay từ lúc khởi đầu cuộc chiến, họ thành lập một đội công tác đặc biệt để tìm kiếm và cứu nạn (AP), đứng đầu là chuẩn đô đốc Reedy. Đội công tác này có hai nhóm tìm kiếm-cứu hộ, bao gồm máy bay cánh cố định, máy bay trực thăng và các tàu mặt nước. Một trong hai nhóm phục vụ trong khu vực "Yankees", nhóm kia - "Dixie" [142]

Trong thời gian diễn ra các phi vụ chiến đấu của máy bay cất hạ cánh trên tàu sân bay, các nhóm trên có thể tiến tới bờ càng gần càng tốt. Ngày 01 Tháng Bảy năm 1966 ba tàu phóng ngư lôi Bắc Việt Nam đã tấn công một trong những nhóm như vậy (tàu hộ vệ mang vũ khí tên lửa có điều khiển "Kunts" và tàu khu trục "Rogers") tại vị trí 55 dặm về phía đông nam cảng Hải Phòng. Tuy nhiên, những tàu phóng lôi cao tốc này bị máy bay AEW "Hawkeye" phát hiện, sau đó với sự dẫn đường của nó, máy bay cường kích A-6A "Intruder" đã tấn công tiêu diệt những chiếc tàu cao tốc phóng lôi này. Hiệu quả của công tác tìm kiếm-cứu nạn thể hiện qua các con số sau đây: kể từ khi bắt đầu chiến sự cho đến tháng 10 năm 1966 tại Bắc Việt Nam đã có 269 phi công và thành viên kíp bay bị bắn rơi (cả của Hải quân và Không quân), trong đó 103 người được cứu thoát, 75 chết, 46 bị bắt, và số còn lại (45) vẫn đang mất tích. Nhìn chung, 90% các phi công nhảy dù trên biển được cứu thoát.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s33.gif)
Sơ đồ hoạt động của máy bay Mỹ khi cứu nạn phi công của họ bị bắn rơi trên lãnh thổ VNDCCH.
Chú thích các ô chữ nhật ghi chú tiếng Nga theo chiều từ trên xuống, từ giữa ra, từ phải sang trái trên sơ đồ, số thứ tự dưới đây không có ý nghĩa gì về mặt trình tự thời gian của các sự kiện:

1. Tàu sân bay, sau khi xác định được tọa độ phát tín hiệu xin cứu nạn từ máy phát của phi công bị bắn rơi thì cho xuất kích các máy bay tiêm kích làm nhiệm vụ yểm trợ bảo vệ phi vụ cứu phi công.
2. Máy bay tiêm kích yểm trợ dùng hỏa lực tạo lưới lửa ngăn cách đường tiếp cận tới khu vưc phi công đã tiếp đất.
3. Phi công sau khi tiếp đất sử dụng các phương tiện báo hiệu cá nhân sẵn có để phát tín hiệu cấp cứu.
4. Khu chờ của các trực thăng cứu nạn ở ngoài khơi bờ biển VNDCCH.
5. Khu chờ của các trực thăng cứu nạn trên lãnh thổ Lào gần biên giới VNDCCH.
6. Tàu có radar-thu tín hiệu cấp cứu trực chiến trên boong, xác định phương vị và chuyển thông tin phương vị đó sang tàu sân bay.
7. Máy phát tín hiệu cấp cứu của phi công được bật ngay sau khi dù mở.
8. Tiếp theo, trực thăng từ khu chờ bay vào dựa theo phương vị tín hiệu cấp cứu.


(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/1/11/USS_Sterett_CG-31.jpg/800px-USS_Sterett_CG-31.jpg)
USS Sterett (DLG-31, CG-31), Belknap-class cruiser. Tàu được trang bị các radar kiểm soát không lưu AN/SPS-48E, AN/SPS-49, có 1 trực thăng LAMPS Kaman SH-2 Seasprite và trong chiến tranh Việt Nam thường đóng vai trò các trạm PIRAZ (Positive Identification RADAR Advisory Zone), tàu tìm kiếm cứu nạn phi công trên biển (SAR - Sea Air Rescue) và yểm trợ hỏa lực (SSS - Strike Support Ship).
........


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 16 Tháng Năm, 2012, 10:25:25 PM
(tiếp)

Trong thời gian chiến tranh Việt Nam trên tàu sân bay Mỹ do xử lý đạn dược bất cẩn đã gây ra tai nạn hàng không cụ thể là 19 vụ cháy lớn và trung bình và 32 vụ cháy nhỏ. Đồng thời phá hủy 60 máy bay và làm hư hại nặng 80 chiếc khác.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/2/24/USS_Oriskany_%28CV-34%29_on_fire%2C_26_October_1966.jpg)
"Oriskany" đang cháy, vụ cháy giết chết 44 thủy thủ Mỹ, ngày 26 tháng 10 năm 1966, ảnh của Naval History Center (en.viki).

Vụ hỏa hoạn đầu tiên xảy ra sáng ngày 26 tháng 10 năm 1966 trên "Oriskany" tàu sân bay trong thời gian chuẩn bị cho các máy bay cất cánh làm nhiệm vụ chiến đấu. Do sơ suất trong việc sử dụng pháo sáng magiê, nên đã để xảy ra vụ cháy pháo sáng {14}. Trong thời gian rất ngắn, ngọn lửa trùm lên phần mũi của nhà chứa máy bay và các phòng lân cận. Mối nguy hiểm đe dọa phát nổ đạn dược và oxy lỏng bùng lên. Đám cháy được dập tắt trong vòng 8 giờ sau khi phát. Trong thời gian chữa cháy 44 người bị chết, bốn máy bay cường kích "Skyhawk" bị hư hại, và 2 máy bay tiếp tục cháy âm ỉ. Thiệt hại nghiêm trọng thuộc về phần mũi của nhà chứa máy bay và các phòng lân cận, máy phóng, thang nâng và thiết bị điện [143] của tàu chở máy bay. Trong lúc dập tắt đám cháy trên chiếc tàu sân bay, đã phải quẳng hàng tấn bom và đạn dược khác xuống biển.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/9/9b/Uss_franklin_d_roosevelt.jpg)
USS Franklin D. Roosevelt (CVA-42) đang di chuyển trong Vịnh Bắc Bộ trong thời gian tham chiến tại Việt Nam, 19 tháng 10 năm 1966. Một trực thăng UH-2 Seasprite đang bay bên trái. (Photographed by PH1 Hendricks. Official U.S. Navy Photograph. Photo # USN 1120428 - navsource.org).

Một vài ngày sau hỏa hoạn lại bùng lên trên tàu sân bay xung kích "Franklin D. Roosevelt". Cuộc chiến đấu chữa cháy bắt đầu mau lẹ và rất tích cực. Ngọn lửa bị dập tắt sau 15 phút. chỉ vì nó phát sinh trong khi tiếp nhận nhiên liệu và tất cả các phương tiện dùng dập lửa đang ở trong trạng thái sẵn sàng cao.

(http://scilib.narod.ru/Avia/Vietnam/images/V_p50_1.jpg)
Vụ cháy trên tàu sân bay "Forrestal". Ngày 29 tháng 7 năm 1967.

Thảm họa lớn nhất trong toàn bộ lịch sử sau chiến tranh của Hải quân Mỹ xảy ra trên tàu sân bay "Forrestal" vào ngày 29 tháng 7  năm 1967. Đám cháy xảy ra khi người ta đang làm công tác chuẩn bị cất cánh cho một nhóm gồm 12 chiếc cường kích A-4 "Skyhawk", 7 tiêm kích F-4 "Con Ma" và 2 chiếc trinh sát RA-5C “Vigilance” trên sàn đáp. Nguyên nhân theo tuyên bố của ủy ban đặc biệt điều tra vụ tai nạn, là việc tháo thiết bị bảo an cho (rocket) tên lửa không điều khiển "Zuni" 127 mm, treo dưới cánh của một chiếc F-4 "Phantom". Rocket "Zuni" phóng ra trúng thùng chứa nhiên liệu dưới cánh của chiếc A-4 "Skyhawk" đứng phía trước và phát nổ. Nhiên liệu tràn ra trên boong tàu sân bay đã bén lửa bùng lên tức khắc. Nhóm cứu nạn ngay lập tức bắt tay vào dập đám cháy.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/2/2a/USS_Rupertus%3B025916.jpg)
Trích lưu trữ tàu sân bay Mỹ: Khu trục hạm USS Rupertus (DD-851), được chuẩn đô đốc Harvey P. Lanham chỉ huy, cơ động tàu của ông ta đến cách USS Forrestal (CVA-59) một khoảng 20 feet để các vòi chữa cháy có thể phun nước một cách hiệu quả sang tàu sân bay. Hơn 130 người trong thủy thủ đoàn tàu sân bay Mỹ bị giết trong vụ hỏa hoạn ngày 29-7-1967 (29 July 1967) gần bờ biển Việt Nam. U.S. Navy photograph (en.viki).
..........


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 17 Tháng Năm, 2012, 02:00:02 AM
(tiếp)

Các máy bay đã chuẩn bị sẵn sàng cất cánh trên tàu sân bay và đạn dược dành cho chúng được quẳng hết xuống biển. Đến trợ giúp “Forrestal” có các tàu sân bay "Oriskany", "Bon Homme Richard" và các khu trục hạm hộ tống "Mackenzie", "Rupertus". Các thuyền trưởng tàu khu trục, mặc dù bom và tên lửa đang nổ đã tiếp cận "Forrestal" rất gần và đưa sang đó hơn hai chục vòi nước cực mạnh để chữa cháy.

Do sự chậm trễ trong việc đóng kín các phòng, khói nhanh chóng lan rộng ra khắp tàu sân bay, và sau đó ngọn lửa bắt đầu thâm nhập vào các phòng bên trong. Cuộc đấu tranh sinh tồn cho tàu sân bay diễn ra mất hơn 18 giờ. Khi đám cháy được dập tắt, dường như "Forrestal" vừa ra khỏi một cuộc chiến khủng khiếp. Trong số 10 sàn, đã có 6 sàn bị hư hỏng. Do các vụ nổ bom mà trong sàn đáp bọc thép hình thành nên bảy lỗ thủng có đường kính lên đến 7 m [144] mỗi lỗ. Hậu quả đám cháy trên  "Forrestal" là 29 máy bay bị đốt cháy, 42 máy bay bị thương nặng. Thủy thủ đoàn mất 132 người thiệt mạng, 64 người bị bỏng và bị thương. Thiệt hại do hỏa hoạn ước tính khoảng 135 triệu USD.

Việc sửa chữa phục hồi "Forrestal" mất gần một năm. Những lý do chính dẫn đến chữa cháy không thành công là hiệu quả thấp của thiết bị chữa cháy, đội ngũ nhân viên được huấn luyện kém và thiếu một tổ chức minh bạch rõ ràng lãnh đạo cuộc đấu tranh sinh tồn. Đô đốc Russell nhận xét không phải không có cơ sở: "Trong những năm qua, chúng tôi đã đánh mất trên quy mô đáng kể khả năng đấu tranh chống những vụ hỏa hoạn lớn".

(http://nm2.upanh.com/b5.s27.d1/89c2bfe2333925735a14a9f907ef7e50_44866442.2705144180687usshigbeetorre5in.jpg)
USS Higbee DD-806 sau khi trúng bom từ Mig-17 của phi công Lê Xuân Dị (biên đội Lê Xuân Dị-Nguyễn Văn Bảy B) thuộc trung đoàn không quân tiêm kích Yên Thế ngày 19 tháng 4 năm 1972 ngoài khơi Đồng Hới, Quảng Bình (mycity-military.com).

Liên quan đến tai nạn trên tàu sân bay, nảy sinh nhiều vấn đề với các chuyên gia đấu tranh sinh tồn. Kết luận rút ra là các phương tiện chống cháy có hiệu quả thấp và mức độ nguy hiểm về cháy nổ của các tàu sân bay khá cao. Vào cuối năm 1967, trên tàu sân bay đã trang bị hệ thống dựa trên một khung xe tự hành, trên đó lắp đặt bồn chứa 180 kg bột khô "Purple-K" kháng cháy và bình chứa dung tích 190 lít, chứa đầy "nước nhẹ" 6%. Khi thử nghiệm hệ thống này, nhiên liệu máy bay bị đốt cháy trên một diện tích 50 m2 được dập tắt chỉ trong vòng 21 giây.

Mặc dù thực tế là Hải quân Mỹ hoạt động gần như không gặp sự kháng cự, nhưng họ vẫn không thành công trong việc tránh tổn thất. Các tàu chiến rất thường xuyên chịu hỏa lực của các đại đội pháo bờ biển. Ví như chỉ trong năm 1972 họ đã phải hứng chịu hơn 80 phát đạn pháo và bom, bao gồm cả tàu tuần dương hạng nhẹ "Oklahoma City" và "Boston", các tàu khu trục "Higbee" và "Hanson" bị thương nặng, hai tàu pháo cao tốc bị đánh chìm. Trên mỗi tàu chiến đều có thủy thủ thiệt mạng và bị thương.

(http://www.usshanson832.org/images/haiphong.jpg)
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/5/5a/Hitonhanson.jpg/640px-Hitonhanson.jpg)
Một trang báo Mỹ nói về sự kiện tàu chiến hạm đội 7 Mỹ pháo kích Hải Phòng trước khi rải thủy lôi năm 1972. Vết đạn rocket bắn trúng USS Hanson khi con tàu này tham gia pháo kích Hải Phòng và các tỉnh miền trung Bắc Việt Nam tháng 5, 6 năm 1972 (en.viki).

Do khuyết điểm trong tổ chức công tác nhận dạng địch - ta, người Mỹ còn bị tấn công bởi chính lực lượng của họ. Ví dụ, ngày 15 tháng Sáu năm 1968 các máy bay cường kích hạm còn dùng tên lửa tấn công các tàu chiến của mình khi những tàu đó đang pháo kích vào bờ biển. Kết quả là cả hai tàu chiến cruiser "Boston", [145] tàu khu trục Úc "Hobart" đều bị thương, và hai tàu tuần tra cao tốc kiểu "Swift" PCF-12 và PCF-19 bị đánh chìm.

(http://nm0.upanh.com/b2.s28.d3/b71b3c070e9ec31c601c933afe02686e_44887290.04010241.jpg)
Tuần dương hạm USS Canberra CA-70/CG-2 trong một đợt pháo kích ban đêm bắn phá hoại giao thông trên bờ ở ngoài khơi bờ biển gần khu phi quân sự miền Bắc Việt Nam tháng 3 năm 1967 (chiến dịch Sea Dragon của hải quân Mỹ), trong đợt hoạt động này USS Canberra trúng hai phát đạn pháo của đại đội 8 pháo bờ biển tỉnh đội Quảng Bình ngày 2 tháng 3 năm 1967 (en.viki).

(http://nm0.upanh.com/b1.s27.d2/b88920a2ecaaf5428a54ecfb826d0421_44888960.dougdick.jpg)(http://nm8.upanh.com/b3.s26.d1/8bb3279e8996d60526ac31080e9aaf52_44888968.hegdahl.gif)
Ngày 6 tháng 4 năm 1967 thủy thủ Doug Hegdahl (E-2 Seaman Apprentice) trên tàu USS Canberra bị sóng xung kích vụ nổ ụ pháo 5" thổi rơi xuống biển ở vị trí cách bờ khoảng 3 dặm và hôm sau được ngư dân Quảng Bình vớt, đưa về đất liền trở thành khách của Hanoi Hilton. Doug Hegdahl cùng 2 tù binh Mỹ khác được Nhà nước VNDCCH phóng thích ngày 5 tháng 8 năm 1969. Ảnh trong trại giam do các nhà làm phim CHDC Đức chụp khi làm phim "Phi công trong bộ quần áo ngủ" (talesofseasia.com).
..........


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 17 Tháng Năm, 2012, 12:35:20 PM
(tiếp)

Năm 1972, các máy bay cường kích hạm trên tàu sân bay còn sử dụng tên lửa chống radar "Shrike" tấn công khu trục hạm hạng nhẹ trang bị tên lửa có điều khiển "Worden” (CG-18). Tên lửa phát nổ ở độ cao 25-30 m trực tiếp ngay trên boong tàu. Mảnh vỡ của đầu đạn và thân tên lửa vương vãi đầy trên tàu. Thiết bị bảo vệ ngắn mạch trên con tàu đã hoạt động. Hầu hết các thiết bị và cơ cấu bị ngắt nguồn. Con tàu bất lực trôi dạt về phía bờ khoảng nửa giờ. Khi "Worden" được khởi động lại, khả năng chiến đấu của nó, theo đánh giá của thuyền trưởng, giảm khoảng 60% so với đề án quy định và chỉ có thể được khôi phục hoàn toàn khi sửa chữa dài ngày tại nhà máy đóng tàu.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/9/93/USS_Worden_%28DLG-18%29.jpg)
USS Worden CG-18, Leahy-class cruiser, trúng 2 phát tên lửa AGM-45 từ một chiếc Phantom Wild Weasel trong biên đội yểm trợ ngày 15 tháng 4 năm 1972 trong vịnh Bắc Bộ khi con tàu này đang làm nhiệm vụ hộ tống tàu sân bay Coral Sea CVA-43.


Các boong thượng của tàu bị các mảnh đạn nhỏ nhất chụp xuống, nhưng phần thấp hơn của boong thượng liên tục không bị dính mảnh nào. Độ kín nước của vỏ bền không bị phá hủy. Tuy nhiên gần như toàn bộ anten tê liệt, các ống dẫn sóng và đường cáp hư hỏng nặng. Hóa ra chính là các đường cáp xếp chồng lên nhau tại những vị trí hở đã bị hư hại. Các nhà đóng tàu tính rằng điều đó sẽ không làm giảm tính ổn định tác chiến của con tàu. Các mảnh đạn tên lửa đã gây ra không ít thiệt hại cho các thiết bị hàng hải trên tàu, khi nó văng vào các trung tâm thông tin chiến đấu và cầu điều hướng đài chỉ huy. Sau khi thu thập lại tất cả các mảnh vỡ, người ta mới té ngửa ra rằng 2/3 số đó là mảnh nhôm của bản thân con tàu, vốn được sử dụng như loại vật liệu phổ biến nhất trong ngành đóng tàu. Trước các nhà thiết kế đặt ra một tình thế tiến thoái lưỡng nan: hy sinh điều gì - sự ổn định của con tàu, hay bố trí lại vũ khí trên các boong thượng. Họ dừng lại ở vấn đề sau cùng, nhưng để giảm tải cho cấu trúc thân tàu, người ta quyết định áp dụng hợp kim nhẹ ở mọi nơi.

Vụ việc với USS "Worden" CG-18 gieo mối nghi ngờ về việc sử dụng nhôm. Nhưng trước khi cuộc xung đột Falklands năm 1982 xảy ra, mọi việc vẫn còn theo cách cũ. [146]

Cũng như trong chiến tranh Triều Tiên, khi tiêu diệt các mục tiêu mặt đất Không lực Hoa Kỳ đã hoạt động phối hợp cùng các pháo hạm. Những mục tiêu bị tấn công nằm cách bờ biển khoảng 20 km. Từ tháng 2 năm 1967 để giải quyết nhiệm vụ này, người Mỹ đã thành lập nhóm đặc nhiệm pháo hạm OG 70.8. Việc phối hợp hoạt động giữa máy bay và tàu chiến được thực hiện bởi Tư lệnh Hạm đội 7 Mỹ. Khi thi hành nhiệm vụ hỏa lực, các chỉ huy biên đội luôn duy trì liên lạc vô tuyến thường xuyên với Trung tâm kiểm soát tình huống trên mặt nước của Lực lượng đặc nhiệm 77 và trung tâm phòng không của đơn vị này.

(http://www.bb62museum.org/images/h90639.jpg)
USS New Jersey BB-62 tại bờ biển Tuy Hòa, Nam Việt Nam, năm 1969 (bb62museum.org).

Việc bắn phá các mục tiêu trên bờ được tiến hành khi trời trong, tàu di chuyển ở tốc độ thấp hoặc đang ở trong chế độ thả trôi. Hầu hết các cuộc pháo kích tiến hành theo diện, ít khi có hỗ trợ chỉnh pháo từ trên không và cực hiếm - theo các trạm quan trắc pháo binh đổ bộ lên bờ chỉnh pháo. Tiêu thụ bình quân hàng tháng về đạn pháo tại một số thời điểm lên đến 6.000 phát bắn. Chẳng hạn, trong 120 ngày có mặt trực tiếp trong khu vực chiến đấu, thiết giáp hạm "New Jersey" đã thực hiện 434 trận pháo kích, bắn vào các mục tiêu 5688 viên đạn cỡ 406-mm và 13 nghìn viên đạn cỡ 127 mm. Mục tiêu bắn phá là các cầu, phà, bến cảng nhỏ, đường giao thông, v.v…. Để làm tê liệt một nhà ga đường sắt, trung bình tốn 500 viên trái phá, để phá hủy một cây cầu - 120 viên.

(http://nm2.upanh.com/b1.s27.d2/adaeeea61650fb73c74132d66762dcc0_44896842.13372480341965932147574574.jpg)
Đấu pháo với tàu chiến Mỹ, đại đội nữ pháo binh Ngư Thủy, Quảng Bình.

(http://nm0.upanh.com/b5.s28.d3/c77c523ac80a4a390b96e848fb632c05_44867240.ussboston1967offcoastvn.jpg)
USS Boston CA-69, Baltimore-class heavy cruiser, dưới hỏa lực pháo binh bờ biển Bắc Việt Nam bắn đuổi tàu chiến Mỹ năm 1967 (navsource.org).
.........


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 17 Tháng Năm, 2012, 05:38:40 PM
(tiếp)

Lính thủy tấn công bờ

Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, Bộ chỉ huy Mỹ, theo quy luật, đã đổ bộ các toán thủy quân lục chiến "đột kích" lên bờ làm nhiệm vụ trinh sát, biệt kích phá hoại, trả đũa, hoặc với các mục đích nghi binh phô trương thanh thế. Hầu hết các cuộc đổ bộ của thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đều mang đặc điểm là các chiến dịch trả đũa tàn khốc chống lại những nhóm nhỏ người yêu nước Việt Nam, và trong một số trường hợp chúng chống lại cả những người dân thường yêu hòa bình. Tổng cộng có đến hơn 60 cuộc đổ bộ như vậy. [147]

Việc chuyển các đơn vị thủy quân lục chiến và thiết bị kỹ thuật từ các điểm đóng quân thường trú tới khu vực chiến sự bắt đầu từ tháng 3 năm 1965. Để vận chuyển quân và thiết bị đã sử dụng ba tàu đổ bộ-chở máy bay trực thăng (LHA - Landing Helicopter Assault; LPH - Landing Platform Helicopter), một tàu dok nổi-chở máy bay trực thăng (LHD - Landing Helicopter Dock), 15 tàu đổ bộ-dok nổi (Dock Landing Ship - LSD), 19 tàu đổ bộ xe tăng cỡ lớn (LST - Landing Ship Tank) và 26 tàu đổ bộ-vận tải (LPD). Một số đơn vị thủy quân lục chiến được chuyển sang đáp các máy bay vận tải quân sự. Việc bốc xếp thiết bị chiến tranh và quân đổ bộ tiến hành tại các hải cảng Long Beach và San Diego (Mỹ), Pearl Harbor (Hawaii), Yokosuka, Sasebo và Iwakuni (Nhật Bản), Naha và Buckner Bay (đảo Okinawa), Subic Bay (Philippines), Pusan và Inchon (Nam Triều Tiên). Thời gian bốc lên phương tiện vận chuyển một tiểu đoàn thủy quân lục chiến là 1 ngày đêm, một trung đoàn - 2 ngày đêm, một sư đoàn – từ 4-6 ngày đêm. Thời gian hạ tải các tàu đổ bộ và tàu vận tải tùy thuộc vào loại tàu và thường phải mất từ 6 đến 30 giờ.

(http://www.talkingproud.us/Military/BreakerPatrol/BreakerPatrolKheSanh/files/marineslandtokyo.jpg)(http://www.talkingproud.us/Military/BreakerPatrol/BreakerPatrolKheSanh/files/landingdanang.jpg)
Nhóm đổ bộ thuộc tiểu đoàn 3 lữ đoàn 9 TQLC Mỹ đổ bộ lên bãi biển phía bắc Đà Nẵng (RED Beach 2) ngày 8 tháng 3 năm 1965, sóng to làm cho việc đổ bộ kéo trễ 1 giờ. Tàu LPU 1476 đang đổ xe tăng lên bờ từ USS Vancouver (takingproud.us).

(http://www.talkingproud.us/Military/BreakerPatrol/BreakerPatrolKheSanh/files/marinesc130danang.jpg)(http://www.talkingproud.us/Military/BreakerPatrol/BreakerPatrolKheSanh/files/hawksdanang.jpg)
Lính TQLC Mỹ thuộc tiểu đoàn 1, trung đoàn 3, sư đoàn TQLC số 3 đổ bộ từ máy bay C-130 của KQ Mỹ xuống sân bay Đà Nẵng ngày 8 tháng 3 năm 1965, toán này được không vận từ Okinawa tới. Một dàn hỏa tiễn HAWK chống máy bay đối phương bay thấp của TQLC Mỹ tại căn cứ KQ Đà Nẵng. Đại đội này tới Đà Nẵng tháng 2 năm 1965 (takingproud.us).

Bảng số lượng tàu đổ bộ và vận tải cần thiết để điều chuyển các đơn vị Thủy quân lục chiến trên những khoảng cách không gian xa

(http://nm7.upanh.com/b3.s26.d2/d99f812fe3a509254e4e43b569d4046d_44862597.bang4.jpg)
.........


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 18 Tháng Năm, 2012, 12:14:05 PM
(tiếp)

(http://nm6.upanh.com/b6.s29.d3/c85231aac4b5490abe9e580e5b75ed60_44949576.mapofdanangareaspring1965.jpg)
Bản đồ Đà Nẵng, mùa xuân 1965, có đánh dấu bãi đổ bộ đầu tiên của TQLC Mỹ.

Tàu đổ bộ và vận chuyển thực hiện chuyển các nhóm quân (2-6 đơn vị), không có hộ tống, trong trình tự phân tán [148]. Khoảng cách giữa tàu đổ bộ (tàu vận tải) đạt đến 50 dặm. Trên chuyến đi xuyên qua đại dương các binh sỹ thủy quân lục chiến nỗ lực tham gia huấn luyện chiến đấu. Chỉ huy các đơn vị TQLC nghiên cứu chiến trường tương lai và làm các bài tập chiến thuật theo kế hoạch đổ bộ TQLC của bộ tham mưu chiến thuật.

Dỡ tải tàu đổ bộ và tàu vận tải được tiến hành tại các cảng miền Nam Việt Nam: Đà Nẵng, Sài Gòn, Nha Trang, Cam Ranh, Quy Nhơn và Chu Lai. Đến cuối năm 1965 đã chuyển xong đến Việt Nam các sư đoàn TQLC 1 và 3 (1st and 3 rd Marine Division), không đoàn TQLC thứ nhất, cũng như các đơn vị yểm trợ và các bộ phận phục vụ, bảo dưỡng. Người Mỹ đã phát triển một bộ tiêu chuẩn cần thiết về số lượng các tàu chiến và tàu vận tải để chuyển tới các vùng sâu vùng xa một tiểu đoàn, trung đoàn và sư đoàn TQLC. Nói chung, những tiêu chuẩn này hầu như không khác biệt mấy so với những thứ đã có từ thời Thế chiến II.

Các tốp lính TQLC được đổ bộ từ các tàu đổ bộ và vận tải của đơn vị hành động 76 thuộc lực lượng TQLC.  Trong đơn vị này, có đến 30 lá cờ hiệu, trong đó có một tàu chỉ huy, 1-2 tàu đổ bộ chở máy bay trực thăng, 1-2 tàu đổ bộ-dok nổi chở máy bay trực thăng, 2 – 3 tàu vận tải đổ bộ-dok nổi, 10-12 tàu đổ bộ chở xe tăng và 4 -8 tàu vận tải. Trong đơn vị hành động 76 thường hình thành hai nhóm tác chiến thủy bộ, cơ động ngoài khơi bờ biển Việt Nam (tại vĩ độ Đà Nẵng), sẵn sàng đổ bộ theo lệnh. Thành phần các nhóm này không phải bất biến. Thông thường, một nhóm tác chiến đổ bộ bao gồm 6 - 8 tàu đổ bộ và vận tải, trong đó có tàu đổ bộ chở máy bay trực thăng, tàu dock đổ bộ chở máy bay trực thăng, tàu đổ bộ chở xe tăng, 1-2 tàu đổ bộ vận tải-dok nổi, và 2 - 3 tàu đổ bộ chở quân.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/6/68/US_Amphibious_Ready_Group_TG_76-5_underway_1965.jpg/800px-US_Amphibious_Ready_Group_TG_76-5_underway_1965.jpg)
Các tàu thuộc nhóm sẵn sàng tác chiến thủy bộ của Hạm đội 7 Mỹ (The U.S. Navy 7th Fleet Amphibious Ready Group) đang thi hành nhiệm vụ tháng 3 năm 1965. Trên ảnh từ trái sang : USS Bexar (APA-237), USS Princeton (LPH-5), USS Thomaston (LSD-28), and USS O'Bannon (DD-450). Các máy bay lên thẳng Sikorsky UH-34D thuộc phi đoàn trực thăng vận tải hạng trung HMM-365 của TQLC Mỹ (Marine Medium Helicopter Transport Squadron HMM-365) đang bay trên đầu các con tàu trong khi thủy thủ trên tàu USS Princeton đang kẻ chữ ký hiệu tên nhóm "TG 76.5/79.5" (nhóm lực lượng đặc nhiệm 76.5/79.5) trên sàn đáp máy bay (en.viki).

Lực lượng đổ bộ được lấy từ thành phần đơn vị TQLC số 79, hình thành trên cơ sở binh đoàn TQLC viễn chinh số 3 (The III Marine Expeditionary Force - III MEF; III Marine Amphibious Corps - III MAF), một tổ chức chiến đấu [149] mà trong suốt cuộc chiến tranh này vẫn tương đối ổn định.Trong binh đoàn viễn chinh có sư đoàn TQLC 1 và 3, không đoàn TQLC thứ nhất (1st Marine Aicraft Wing), các đơn vị yểm trợ và hậu cần bảo trì. Binh đoàn có quân số lên đến 56 ngàn người. Vũ khí bao gồm 90 xe tăng, 36 bệ phóng TLPK có điều khiển "Hawk", hơn 450 khẩu pháo và súng cối. Không đoàn máy bay TQLC có 130 máy bay cánh cố định và 216 trực thăng.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/en/1/10/Magtf.gif)
Sơ đồ cấu trúc lực lượng đặc nhiệm (Marine Air-Ground Task Force (MAGTF)) TQLC Mỹ. Binh đoàn TQLC Viễn chinh Mỹ số 3 là một ví dụ cụ thể cho việc tổ chức lực lượng này của TQLC Mỹ (en.viki).

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/d/d5/M50_on_Chu_Lai_Beach%2C_1965.jpg/539px-M50_on_Chu_Lai_Beach%2C_1965.jpg)
Một xe thiết giáp chống tăng M50 Ontos trang bị súng không giật 6 nòng M40 106 mm (M40 106 mm recoilless rifles) của một đơn vị TQLC Mỹ đang đi tìm vị trí phòng thủ trên bãi biển Chu Lai ngay sau khi được LCU đổ xuống từ USS Thomaston, tháng 6 năm 1965 (en.viki).

Để yểm trợ pháo binh, chống tàu ngầm, phòng không và chống thủy lôi cho lực lượng đổ bộ đã trưng tập các tàu của đơn vị hành động 70, trong thành phần của nó hình thành nên các nhóm nhiệm vụ chuyên sâu: nhóm 70.4 – nhóm tàu sân bay xung kích-truy tìm chống tàu ngầm (1 tàu sân bay, 2 tàu khu trục và 3 - 4 tàu tuần tra); 70.5 – nhóm rải và quét thủy lôi (6 - 8 tàu quét mìn); 70.8 – nhóm yểm trợ pháo binh (2-3 tuần dương hạm, 2 - 3 frigate mang tên lửa có điều khiển hoặc tàu khu trục mang tên lửa có điều khiển, 7 - 8 tàu khu trục và tàu tuần tra, và 2 - 3 ngư lôi hạm). Tùy thuộc vào quy mô của các nhiệm vụ phải giải quyết mà nhóm tàu yểm trợ pháo binh tách ra làm 2-3 biên đội (70.8.5, 70.8.8, 70.8.9).

Yểm trợ đường không cho quân đổ bộ đường biển được giao cho các máy bay cường kích trên hạm thuộc lực lượng đặc nhiệm 77 và không đoàn máy bay TQLC (1st Marine Aircraft Wing).

Quyền chỉ huy chung các lực lượng trong các cuộc đổ bộ đường biển được thực thi bởi nhân vật ra mệnh lệnh đổ bộ. Trong hầu hết trường hợp, đó là người chỉ huy binh đoàn TQLC viễn chinh. Việc chỉ huy trực tiếp các lực lượng trong quá trình đổ bộ được giao cho người chỉ huy đơn vị đổ bộ hợp nhất, hoặc người chỉ huy nhóm tác chiến thủy bộ.
.........


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 19 Tháng Năm, 2012, 03:23:13 AM
(tiếp)

Chiến dịch “StarLite” (17-24 tháng 8 năm 1965)

Vào đầu năm 1965 trên bán đảo Phước Thuận đã tập trung lực lượng cỡ một trung đoàn quân giải phóng, thực hiện có hệ thống các hoạt động phá hoại trên các tuyến đường bộ và đường sắt dẫn đến căn cứ không quân Mỹ Chu Lai. Để bảo vệ tuyến giao thông bộ của họ [150] Bộ chỉ huy Hoa Kỳ đã quyết định tiến hành một "chiến dịch" nhằm tảo thanh các lực lượng này.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/9/9b/Operation_Starlite.jpg)
Bản đồ chiến dịch "Starlite" (theo vi.viki).

Để chống lại một đội quân, chỉ trang bị vũ khí hạng nhẹ, người Mỹ đã dồn vào những lực lượng đáng kể. Trong quân số lính thủy đánh bộ tham chiến có nhóm đổ bộ cỡ trung trung đoàn, bao gồm ba tiểu đoàn TQLC tăng cường với tổng cộng hơn 5.000 người. Vũ khí gồm các xe tăng M48, các xe tăng phun lửa M-67 (M-67 zippo - a flamethrower tank variant of the M48 Patton tank), các đại đội pháo 155 mm và đại đội súng cối 106,7 mm. Nếu trước đây tuyến đầu tiên của nhóm tiểu đoàn đổ bộ thường có có 5 - 6 xe tăng bơi và 2 - 3 xe lội nước bọc thép vận chuyển, thì bây giờ người Mỹ từ chối sử dụng xe tăng bơi.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/c/cb/USS_Galveston_%28CLG-3%29_bombarding_shore_1965.jpg/458px-USS_Galveston_%28CLG-3%29_bombarding_shore_1965.jpg)
USS "Galveston" CLG-3, Cleveland class light cruiser, đang pháo kích các mục tiêu trên bờ tại Việt Nam năm 1965 (en.viki).

Đóng vai trò quan trọng là hỏa lực yểm trợ quân đổ bộ đường biển. Để phục vụ mục đích này, họ phân bổ một nhóm các tàu yểm trợ hỏa lực pháo hạm (tuần dương hạm hạng nhẹ mang tên lửa có điều khiển USS CG-3 "Galveston" và hai khu trục hạm USS Orleck DD-886 và USS Prichett DD-561). Đảm bảo đường không là nhiệm vụ của hai phi đội cường kích và ba phi đội tiêm kích (40 cường kích A-4 "Skyhawk" và 45 tiêm kích F-4 "Phantom"), cùng phi đội máy bay trực thăng vũ trang yểm trợ hỏa lực. Các máy bay đóng tại các căn cứ không quân Chu Lai và Đà Nẵng.

(http://nm2.upanh.com/b2.s28.d1/febfb480c81bc6d876f1db69754197fc_44945172.ussorleckdd886vungtau1966.jpg)
USS Orleck DD-886, Gearing-class destroyer, đang bắn phá các mục tiêu trên bờ, tàu ở tại vị trí cửa sông Sài Gòn đoạn gần Vũng Tàu, tháng 3 năm 1966 (Photo by J. L. Means, NPC K-31267-navsource.org).

(http://nm8.upanh.com/b4.s27.d2/bf716aa0fd17b32403ec68ae08934ee7_44945048.ussprichettdd561frommidwaytokore.jpg)
USS Prichett DD-561, Fletcher-class destroyer, tại Midway trên đường tới tham chiến ở Triều Tiên năm 1953 (Harry Galbraith-navsource.org).
.......


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 19 Tháng Năm, 2012, 06:51:27 PM
(tiếp)

(http://nm1.upanh.com/b1.s27.d1/4ef101aa8e689ed40e6edd71404ba62d_44946391.ussbayfieldapa331954vietnam1.jpg)
USS "Bayfield" APA-33 trong bước đầu sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam sau khi Pháp bại trận: tháng 9 năm 1954 trên đường từ Hải Phòng đi Sài Gòn (navsource.org).

Nhóm tác chiến thủy bộ (Amphibius Assault Group) gồm tàu đổ bộ chở quân USS APA-33 "Bayfield", tàu đổ bộ chở quân USS Talladega APA-208, tàu chở máy bay trực thăng đổ bộ USS "Iwo Jima" LPH-2, 2 tàu dok-vận tải LSD (USS Cabildo LSD-16 và USS Point Defiance LSD-31) và tàu đổ bộ chở xe tăng LST (USS Vemon County LST-1161). Hoạt động tác chiến của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ có tên mã "Chiến dịch Starlite". Việc chuẩn bị cho chuyến đổ bộ bắt đầu vào ngày 09 Tháng 8 và kéo dài 7 ngày. Theo ý đồ kế hoạch ban đầu sẽ đổ một đại đội thủy quân lục chiến lên bờ biển phía bắc bán đảo để tạo ra một trận địa hỏa lực tại một điểm cao thống trị toàn bộ địa hình trong vùng, đồng thời ngăn chặn bộ đội Việt Nam từ phía bắc. Sau đó, kế hoạch là đổ quân đường không bằng trực thăng và đường biển xuống vị trí yết hầu bán đảo nhằm mục đích xâm chiếm sâu vào khu du kích Việt Nam, cắt đứt các lối thoát hiểm có thể có về phía đường ô tô. Ở giai đoạn cuối cùng của "Operation Starlite" người Mỹ lên kế hoạch [151] dội hỏa lực khu vực và lùng sục khu vực đó.

(http://nm0.upanh.com/b5.s29.d4/2733cc68fb0fe6c38aae0c04c9c7bc84_44953340.usstalladegavn1965.jpg)
USS Talladega APA-208 neo tại Nam Việt Nam, năm 1965.

Để đạt được bất ngờ chiến thuật người Mỹ từ chối dùng hỏa lực chuẩn bị trước khi tấn công. Các tuyến đường chuyển quân đổ bộ được lựa chọn và thời gian chuyển quân phải đáp ứng các yêu cầu giữ bí mật. Để tránh thu hút sự chú ý của các lực lượng yêu nước Việt Nam với sự chuẩn bị đổ bộ của thủy quân lục chiến, việc trinh sát được tiến hành trên một diện rộng.

(http://nm8.upanh.com/b6.s26.d1/bf1156a762738aec42f8b93ceaf50e22_44947248.lst1161vemoncountyinchulai1965.jpg)
USS Vemon County LST-1161 tại Chu Lai, 1965 (navsource.org).
.........


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 19 Tháng Năm, 2012, 11:03:08 PM
(tiếp)

Vào ngày hôm trước cuộc đổ bộ đã tiến hành hướng dẫn các chỉ huy các phân đội đổ bộ và các thuyền trưởng, giao nhiệm vụ tác chiến và thảo luận các vấn đề tổ chức hợp đồng của các lực lượng tham chiến. Sau cuộc họp hướng dẫn từ 11:00 đến 15:00 giờ, những người tham gia đã bay trực thăng kiểm tra khu vực chiến sự sắp tới.

(http://nm1.upanh.com/b3.s26.d2/491da043f5a96f794ab1d11a6b7699a6_44946931.lsd16cabildo1964hawaii.jpg)
USS Cabildo LSD-16 neo đậu ngoài bở biển Hawaii trong một chiến dịch di tản năm 1964 (navsource.org).

Hoạt động tác chiến bắt đầu ngày 17 tháng 8. Lúc 10:00 giờ đại đội thủy quân lục chiến trên xe thiết giáp bơi đã đổ bộ lên bờ biển phía bắc của bán đảo Phước Thuận. Các xe thiết giáp vận tải lội nước này tự mình đến khu đổ bộ từ căn cứ Chu Lai. Cùng ngày từ 14:00 đến 22:00 giờ tại bến cảng Chu Lai, lính thủy đánh bộ xuống tàu đổ bộ và tàu vận tải.

(http://nm1.upanh.com/b4.s29.d4/46532beb574a628cea1e13abc4085ada_44953341.usspointdefianceatvantuong1965.jpg)
USS Point Defiance LSD-31: các xe thiết giáp lội nước LVTP-5 (Amtrac’s) đang tiến hành đổ bộ tại Vạn Tường ngày 18 tháng 8 năm 1965 trong chiến dịch Starlite.

Nhóm tác chiến thủy bộ thực hiện điều quân tới khu vực đổ bộ vào ban đêm. Các tuyến đường chuyển quân loại trừ khả năng phát hiện tàu từ phía bờ.

Ngày 18 tháng 8 lúc 4:30 giờ nhóm tàu yểm trợ hỏa lực đã chiếm lĩnh vị trí xạ kích, còn sau 2 giờ bắt đầu màn hỏa lực chuẩn bị trực tiếp của pháo binh và không quân dội bão lửa kéo dài 15 phút. Điều chỉnh tác xạ được thực hiện từ máy bay. Nhiệm vụ hỏa lực của mỗi pháo hạm xác định theo các tài liệu chính xác là kế hoạch để yểm trợ hỏa lực cho quân đổ bộ; nhiệm vụ của vị trí xạ kích và khu vực hỏa lực; số lượng và loại đạn dược được phân bổ; chỉ dẫn về đội hình và trình tự của các cuộc tấn công; tổ chức điều chỉnh hỏa lực và các yếu tố xạ kích. Máy bay sẽ ném bom và không kích [152] vào các mục tiêu được phát hiện và xác định từ trước, công kích các vị trí giả thiết là có quân đối phương.

(http://img.photobucket.com/albums/v670/bobtate/chu%20lai/1srA4toeverlandatChuLai-1.jpg)
A-4C BuNo 147779 của phi đoàn 225 (VMA-225) chiếc đầu tiên hạ cánh tại Chu Lai ngày 1 tháng 6 năm 1965 khi Liên đoàn KQ chiến thuật TQLC số 12 (MAG-12 - Marine Aicraft Group 12) thuộc Không đoàn 1 TQLC Mỹ bố trí ở căn cứ này (a4skyhawk.org). Trong trận Vạn Tường, máy bay có cánh cố định của TQLC Mỹ tham chiến thuộc các Liên đoàn KQ TQLC 11 (MAG-11) đóng tại Đà Nẵng và Liên đoàn KQTQLC 12 (MAG-12) đóng tại Chu Lai, máy bay trực thăng còn có các phi đội vận tải UH-34 (Marine Medium Helicopter Squadrons 261 and 361) thuộc MAG-16 đóng tại căn cứ Đà Nẵng.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/7/76/F-4B_Phantom_VMFA-531_DaNang_Apr1965.jpg)
F-4B-18-MC Phantom II (BuNo 151456) thuộc phi đoàn tiêm kích-ném bom 531 của TQLC Mỹ (VMFA-531 Grey Ghosts) tại căn cứ Đà Nẵng, tháng 4 năm 1965. Dưới cánh và dưới thân đã đeo AIM-9 Sidewinder và AIM-7 Sparrow (vikimedia.common).
......


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 20 Tháng Năm, 2012, 02:29:00 AM
(tiếp)

2 giờ trước cuộc đổ bộ, các tàu chiến và tàu vận tải thuộc nhóm tác chiến thủy bộ đã chiếm lĩnh khu vực bên trong khu neo đậu. Các tàu đổ bộ đang thả neo trong hai tuyến đầu tiên (2-4 dặm tính từ bờ biển), tiếp theo về hướng biển – các tàu chở quân đổ bộ. Tàu đổ bộ chở máy bay trực thăng thả neo ngoài khơi cách bờ 15 dặm.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/d/dd/USS_Iwo_Jima_%28LPH-2%29_aft.jpg)
LPH-2 USS "Ivo Jima" tại bờ biển miền Trung Nam Việt Nam, năm 1965 (en.viki -Photo by LT. Richard Dawson USS Renville-navsource.org ). Trong trận Vạn Tường, khi đại đội I cơ động qua An Cuong (2) gặp phải sự kháng cự dữ dội, đại tá chỉ huy Peatross đã cho một đại đội của tiểu đoàn dự bị vào trận. Tàu của lực lượng đổ bộ đặc biệt, LPH-2 Iwo Jima cùng đại đội I và đại đội L, tiểu đoàn 3, trung đoàn 7 TQLC Mỹ và phi đoàn trực thăng HMM-163 trên boong tàu sân bay đã áp bờ ngay sau 09:30 giờ.

Lúc 5:30 đợt sóng thủy quân lục chiến đầu tiên tiến ra từ tuyến triển khai chiến thuật. Khi kết thúc đợt hỏa lực bắn chuẩn bị trực tiếp thì cuộc đổ bộ cũng bắt đầu. Trong tiến trình đổ bộ, các tàu chiến tiến hành pháo kích yểm trợ nhằm cô lập điểm đổ bộ. Đồng thời với cuộc đổ bộ đường biển, từ căn cứ không quân Chu Lai các máy bay trực thăng đổ ba đại đội thủy quân lục chiến xuống vị trí yết hầu bán đảo Phước Thuận. Trong điều kiện địa hình rừng- núi,  và không có mạng lưới đường bộ, máy bay trực thăng là phương tiện vận tải duy nhất để đưa lính thủy quân lục chiến đến khu vực này. Lúc 8:10 giờ, bộ tham mưu hành quân nhóm đổ bộ cấp trung đoàn cũng đã đổ bộ lên bờ sau khi tiếp nhận quyền chỉ huy các lực lượng. Cũng như quân đổ bộ đường biển, quân đổ bộ bằng máy bay trực thăng đã đổ bộ xuống đúng vị trí mà không gặp kháng cự. Chỉ đến giữa ngày, quân du kích mới bắn vào bộ tham mưu và xe bọc thép chở quân đang di chuyển bằng pháo và súng cối.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s40.gif)
Chiến dịch "Starlite" (Vạn Tường) từ ngày 17-24 tháng 8 năm 1965 (minh họa trong sách của Dotsenko).
........


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 20 Tháng Năm, 2012, 03:16:24 PM
(tiếp)

(http://nm5.upanh.com/b4.s28.d1/e2e85e43c644f348371eb6e354bb38ef_44945055.p071vantuong1965.jpg)
Vạn Tường 1965, một chiếc M50 Ontos của TQLC đi tuần trên bãi biển trong thời gian diễn ra chiến dịch "Starlite". Dân chài vẫn đi biển như thường lệ - USMC Photo A185826 - (USMC in Vietnam; 1965: The Landing and the Buildup).

Tới 09:00 giờ ngày 19 tháng 8 cuộc đổ bộ của thủy quân lục chiến và bốc dỡ trang thiết bị kỹ thuật đã hoàn thành. Bắt đầu cuộc lùng sục khu vực. Thủy quân lục chiến tiến hành tấn công theo các hướng hội tụ, dồn ép quân du kích ra bờ biển, tại đó quân du kích sẽ rơi vào lưới lửa từ các tàu chiến yểm trợ hỏa lực. Khi phát hiện du kích, lính thủy quân lục chiến sẽ dừng lùng sục, gọi pháo hạm bắn vào nơi có lực lượng đối phương bị phát hiện và chỉ điểm cho máy bay không kích, và chỉ sau khi hoả lực đã chà sát khu vực họ mới tấn công tiếp. Khi xác định được cuộc đột phá của du kích tại ranh giới kiểm soát giữa quân đổ bộ đường biển và đường không, "theo điện gọi" 2 đại đội thủy quân lục chiến từ tàu sân bay trực thăng đổ bộ "Iwo Jima" [153] được đổ xuống khu vực này. Phương pháp đó được người Mỹ sử dụng nhiều lần. Theo quy định, trên các tàu chiến của nhóm tác chiến thủy bộ luôn có 2 - 3 đại đội thủy quân lục chiến sẵn sàng được đổ bộ ngay lập tức trong trường hợp có tình hình không lường trước được theo kế hoạch. Nhóm này là một loại lực lượng dự bị.

(http://www.a-1-6.org/1-6th%20Site/1st%20Bn%206th%20Inf%20Web%20Site%20Off%20Line/EGmap150.JPG)
Tấm bản đồ này được mang theo trong thời gian chiến dịch Starlite bởi một lính TQLC Mỹ, Ed Garr. Bản đồ cho thấy các bãi đáp LZs (Red, White, & Blue), điểm đổ bộ tại bãi Xanh (Green beach), các đường biên cho các đơn vị, các đường thể hiện giai đoạn dự kiến kiểm soát của chiến dịch. Nhiều trận kịch chiến đã xảy ra tại đồi 43 và khu vực giữa Nam Yên (3) and An Cường (2) (a-1-6.org).

Chiến dịch "Starlite" kết thúc vào ngày 24 Tháng Tám. Sau khi kết thúc chiến sự, việc thu quân đổ bộ được thực hiện trong 7 giờ. Kết quả chiến dịch hoạt động người Mỹ chỉ có tính cách tạm thời mở rộng khu vực an ninh quanh căn cứ không quân Chu Lai. Đúng một năm sau đó vẫn trong cùng một khu vực, người Mỹ lại phải đổ bộ thủy quân lục chiến với các mục đích tương tự. [154]

(http://nm0.upanh.com/b5.s28.d1/fd6fe1e53b687a8e93aa9db016a9f7c6_44975280.bkhill43rt50.jpg)
Một hầm ngầm bị lính Mỹ phát hiện trong thôn gần đồi 43 thời kỳ 1970-1971. Ảnh của Bill Klee, lính Mỹ tiểu đoàn 1, trung đoàn 6, lữ đoàn 198 thuộc sư đoàn bộ binh Mỹ số 23 America, tham chiến tại khu vực đồi 43 Vạn Tường, Quảng Ngãi, giai đoạn 1970-1971 (a-1-6.org).

Theo đánh giá của bộ chỉ huy Mỹ, trong quá trình chiến dịch này, họ đã giết và làm bị thương trên một ngàn du kích Việt Nam, phá hủy vài trăm mét đường hầm và boong-ke ngầm dưới đất, các kho chứa vũ khí và đạn dược. Người Mỹ có 45 quân thiệt mạng, 203 người bị thương. Bảy máy bay trực thăng và một máy bay làm nhiệm vụ quan sát điều chỉnh hỏa lực của Mỹ bị bắn rơi.
........


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 20 Tháng Năm, 2012, 08:17:59 PM
(tiếp)

Chiến dịch "Jack Stay" (23 tháng Ba - 5 tháng Tư, 1966)


(http://24.media.tumblr.com/tumblr_m1mntmEYor1qzibzio1_400.jpg)
Một cảnh trong chiến dịch Jackstay, 1966. Chiến dịch Jackstay là chiến dịch của nhóm tác chiến thủy bộ thứ nhất của Hải quân Mỹ (Navy’s first amphibious assault) vào vùng sông nước trong đất liền Việt Nam. Chiến dịch JACKSTAY bắt đầu bằng cuộc tấn công thủy bộ lên bán đảo Long Thạnh bởi TQLC Mỹ. Hỗ trợ phối hợp còn có hai tiểu đoàn TQLC VNCH. Vào cuối tháng 2 và đầu tháng 3 QGP Miền Nam đã tấn công đánh đắm 2 tàu vận tải trên con sông dẫn vào cảng Sài Gòn và MACV yêu cầu lực lượng này phải được sử dụng để tảo thanh các căn cứ của QGP Miền Nam ở khu vực trên. Chiến dịch diễn ra ở địa điểm cách 39 dặm về phía đông nam Sài Gòn, trong Đặc khu Rừng Sát, là chiến dịch có quy mô lớn nằm xa về phía nam nhất tính đến thời điểm đó. Quân Mỹ tuyên bố ít nhất tiêu diệt 63 kẻ thù trong khi chịu tổn thất: 5 chết (5 US KIA), 2 mất tích (2 US MIA) và 25 bị thương (25 US WIA) - (seawolf.org).

Quân đội của các lực lượng yêu nước Việt Nam đã phá hoại một cách có hệ thống các tuyến giao thông đường sông và đường bộ, làm gián đoạn việc tiếp tế của quân đội Mỹ, họ đang hoạt động ở khu vực cửa sông Soài Rạp. Để bảo vệ tuyến giao thông của họ, bộ chỉ huy Mỹ lên kế hoạch "chiến dịch JackStay". Trong kế hoạch chiến dịch dự kiến đổ bộ TQLC lên bờ biển phía tây-nam bán đảo Long Thành ban đầu bằng phương tiện đổ bộ đường biển, sau đó bằng máy bay trực thăng. Bàn đạp đánh chiếm được trên bờ dự kiến sẽ được sử dụng như là một căn cứ, để từ đó có thể tiến hành các cuộc đổ bộ "tập kích" bằng một lực lượng nhỏ, nhằm tiêu diệt các cứ điểm của lực lượng yêu nước miền Nam Việt Nam.Từ phía của eo đất của bán đảo cần phải phong tỏa bằng lực lượng giang thuyền tuần tra.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s41.gif)
Bản đồ chiến dịch Jackstay - 26 tháng 3 đến 5 tháng 4 năm 1966 tại khu vực Rừng Sát.

Lực lượng đổ bộ được sử dụng là một tiểu đoàn thủy quân lục chiến tăng cường (tiểu đoàn 1, trung đoàn 5, sư đoàn 1 TQLC Mỹ). Ngoài ra, trong các hoạt động chiến đấu cần phải sử dụng một toán người nhái-thám báo. Nhóm tác chiến thủy bộ hình thành từ tàu sân bay trực thăng đổ bộ USS Princeton LPH-5, tàu dok-vận tải đổ bộ USS "Alamo" LSD-33, 3 tàu đổ bộ vận tải và tàu chỉ huy đổ bộ (USS Pickaway APA-222, USS Weiss APD-135; USS Merrick AKA-97). Nhóm pháo hạm yểm trợ bao gồm tàu khu trục mang tên lửa có điều khiển USS "Robison" DDG-12 và một tàu cao tốc trang bị pháo và súng cối. Yểm trợ trên không là một phi đội máy bay trực thăng vũ trang từ tàu sân bay trực thăng đổ bộ "Princeton", các máy bay cường kích và tiêm kích từ các tàu sân bay "Hancock" và "Kitty Hawk". Để bảo vệ lực lượng đổ bộ, việc tuần tiễu vùng cửa sông [155] được giao cho hơn 40 giang thuyền pháo cối của đơn vị đặc nhiệm số 115 thuộc lực lượng tuần tra đường thủy.

(http://1.bp.blogspot.com/_4VXrkZe4WmU/TUHLFby36AI/AAAAAAAAM0w/SBDPGMfhbzg/s1600/Operation+Jackstay%252C+involving+1%252C200+Marines.%252C+03%252C26%252C1966.gif)
Thủy quân lục chiến Mỹ từng nhóm 4-5 người trên thuyền máy đang tiếp cận bờ trong chiến dịch Jackstay (Rung Sat Zone, March 1966, photo: National Archives, from record group), chiến dịch này đã huy động đến 1200 lính thủy đánh bộ Mỹ, ảnh chụp ngày bắt đầu chiến dịch 26/3/1966.
.......


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 20 Tháng Năm, 2012, 10:22:53 PM
(tiếp)

(http://seawolf.org/history/lsd2.jpg)
Tiểu đoàn máy bay tấn công 145 thuộc Lục quân Mỹ, có căn cứ tại sân bay Biên Hòa đang luyện tập trên USS Belle Grove LSD-2 ngày 11 tháng 3 năm 1966, chuẩn bị tham gia vào chiến dịch Jackstay (seawolf.org). Trong chiến dịch, các trực thăng vũ trang của tiểu đoàn làm nhiệm vụ yểm trợ hỏa lực trực tiếp cho các giang thuyền PBR thuộc lực lượng đặc nhiệm 115 Hải quân Mỹ tuần tiễu trên các sông, các kênh rạch của Đặc khu Rừng Sát.

Sau khi đến khu vực, các tàu chiến và tàu vận tải của nhóm tác chiến thủy bộ thả neo cách bờ 5 dặm. 3 giờ trước khi TQLC đổ bộ, nhóm thám báo-người nhái kiểm tra lại khu vực dự kiến đổ bộ. Không phát hiện được lưới chống đổ bộ đường biển.

Hai ngày trước khi đổ bộ TQLC, các tàu chiến và tàu vận tải bắt đầu được triển khai từ các căn cứ Đà Nẵng và Cam Ranh. Công tác chuyển quân được lên kế hoạch sao cho tất cả các lực lượng [156] đều tập trung ở khu vực bán đảo Long Thành (trong đêm hôm trước ngày đổ bộ). Một ngày trước khi TQLC đổ bộ, máy bay B-52 từ Guam bay tới và máy bay cường kích từ tàu sân bay "Hancock" đã rải thảm và tấn công toàn khu vực này.

(http://www.history.navy.mil/photos/images/k30000/k31422.jpg)
Trực thăng TQLC Mỹ xuất phát trên USS Princeton trong chiến dịch Jackstay.

Sau màn hỏa lực trực tiếp dội bão lửa dọn bãi thực hiện bởi các máy bay trực thăng vũ trang và tàu khu trục mang tên lửa có điều khiển USS "Robison", cuộc đổ bộ TQLC bắt đầu. Đợt đổ bộ đầu tiên trên ba tàu LCM tới bờ sau 45 phút, muộn hơn kế hoạch. Sự chậm trễ này do sự cố của một trong các tàu đổ bộ gây ra. Thủy triều bắt đầu xuống không cho phép dỡ pháo xuống kịp thời và làm chậm cuộc đổ bộ các phân đội TQLC sau cùng. Việc đổ bộ bằng trực thăng bị trì hoãn vì đột nhiên gió mạnh nổi lên. Cuộc đổ bộ đường biển và đường không bằng máy bay trực thăng diễn ra mà không thấy có sự kháng cự.
.........


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 20 Tháng Năm, 2012, 11:19:31 PM
(tiếp)

(http://www.history.navy.mil/photos/images/h93000/h93799.jpg)
Tướng Mỹ Westmoreland tư lệnh MACV và hạm trưởng LPH-5 đại tá Paul J. Knapp, đang đi cùng nhau trên sàn đáp USS Princeton, cuối năm 1964, nhân dịp mang lương thực đi cứu trợ lũ lụt phía bắc Nam Việt Nam, bên phải hình, tức bên tay trái của Paul J. Knapp và lùi lại đằng sau một chút, ta có thể nhìn thấy tư lệnh vùng 1 chiến thuật VNCH thời điểm đó, thiếu tướng Nguyễn Chánh Thi trong bộ quân phục dù.

Đến buổi chiều SCH tiểu đoàn đã di chuyển lên bờ biển. Đồng thời trạm chỉ huy hỏa lực pháo hạm yểm trợ cũng chuyển lên đó, riêng trạm chỉ huy không quân yểm trợ vẫn ở lại trên tàu sân bay trực thăng đổ bộ USS "Princeton".

Trong giai đoạn thứ hai của chiến dịch, bắt đầu từ 31 tháng 3, hai đại đội (trong số năm đại đôi đã đổ bộ lên bờ biển) được tập trung xuống tàu đổ bộ LST thực hiện "cuộc đột kích chiến dịch” vào các khu vực nơi thám báo phát hiện ra các căn cứ du kích (sông Vàm Sát). Hai đại đội để lại phòng thủ bàn đạp, một đại đội bảo vệ sở chỉ huy tiểu đoàn. Theo người Mỹ đánh giá, "chiến dịch Jackstay" kéo dài 11 ngày, mục tiêu chiến dịch không đạt. Khéo léo sử dụng địa hình, quân du kích Việt Nam tránh được các cuộc đối đầu trực diện với các lực lượng kẻ thù vượt trội.[157]

(http://history1900s.about.com/library/graphics/viet64.jpg)
Một xạ thủ súng máy 50 caliber hải quân Mỹ trên giang thuyền cao tốc PBR tuần tra khu Rùng Sát trong chiến dịch Jackstay.

(http://www.navsource.org/archives/05/pix2/05011248.jpg)
USS Robinson DDG-12, Charles F.Adam class guided missile armed destroyer (giữa), và USS Hancock (CV-19) đang được tiếp dầu tại biển Tây Thái Bình Dương bởi USS Sacramento (AOE-1) ngày 10 tháng 1 năm 1965 (navsource.org).
...........


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 21 Tháng Năm, 2012, 01:08:37 AM
(tiếp)

Chiến dịch "Starlite" (tháng 8 năm 1966)


(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s42.gif)
Sơ đồ chiến dịch Starlite thứ 2, thời gian tháng 8 năm 1966.

Hoạt động tác chiến của Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ trong tháng 8 năm 1966 trên bán đảo Phước Thuận có khác một chút so với những hoạt động trước đây một năm.

Đặc điểm chiến dịch năm 1966 là ở chỗ việc đổ TQLC theo đường biển và bằng trực thăng trên toàn bộ bốn khu chiến được tiến hành đồng thời. Bộ chỉ huy Mỹ tin rằng nguyên nhân thất bại của chiến dịch trước đó là do một ngày trước cuộc đổ bộ của các lực lượng chủ yếu, một đại đội TQLC đã đổ bộ lên bờ biển phía bắc của bán đảo. Một sự tách biệt cách quãng về thời gian như vậy giữa cuộc đổ bộ TQLC nhóm chính và nhóm hỗ trợ, theo quan điểm của Bộ chỉ huy Mỹ, đã cho phép quân du kích Việt Nam thực hiện bố trí lại lực lượng và thu quân tránh đòn tấn công mạnh mà chỉ chịu những mất mát không lớn.

Chiến dịch "Starlite" bắt đầu vào đêm ngày 17 sang ngày 18 tháng 8 với việc tung các đại đội lính thủy đánh bộ ngồi trên các xe thiết giáp bơi xuất phát từ căn cứ Chu Lai đến điểm cực bắc bán đảo Phước Thuận. Đại đội gặp du kích từ phía bắc lại và lâm trận ngay. Đồng thời ở bờ biển phía đông nam của bán đảo lực lượng đổ bộ thủy quân lục chiến cỡ gần một tiểu đoàn đã tấn công quân du kích theo hướng phía bắc. Trong lúc ấy trên bờ biển phía tây căn cứ không quân Chu Lai hai tiểu đoàn thủy quân lục chiến được chuyển đến bằng trực thăng. Tất cả các lực lượng đổ bộ bắt đầu đẩy quân du kích Việt Nam tới bờ biển phía đông của bán đảo, nơi họ hứng chịu lưới lửa hạng nặng của pháo hạm. Hình thức tấn công này được gọi là "búa và đe", trong đó "búa" là các đơn vị thủy quân lục chiến, dồn ép đối phương ra đường bờ biển – ra chiếc "đe", nơi cần phải cho họ nếm mùi thất bại hoàn toàn.

Khoảng 12:00 giờ ngày 18 tháng 8, du kích đã phát động một cuộc phản công mạnh mẽ và bắt đầu thoát ra khỏi vòng vây về hướng [158] Nam. Trong một nỗ lực nhằm loại bỏ cuộc đột phá chọc thủng vòng vây, các máy bay trực thăng tấn công "được gọi đến" đã đổ bộ thêm một tiểu đoàn thủy quân lục chiến. Thực tế gần một giờ sau, tiểu đoàn mới chiếm lĩnh được các vị trí chiến đấu.

Trong đêm 18 sang ngày 19 tháng 8, khu vực du kích bị bao vây đã bị ném bom bắn phá dữ dội từ trên không và từ pháo hạm ngoài biển. Sáng 19 tháng 8, người Mỹ bắt đầu một cuộc tấn công diện rộng về phía bờ. Tuy nhiên, phần lớn các du kích Việt Nam vẫn biết cách ra khỏi vòng vây và rút lui theo các hướng phía nam và phía bắc. Không đạt được mục đích của chiến dịch, bản thân người Mỹ còn chịu tổn thất nặng nề về nhân mạng, ngoài ra những người Việt Nam yêu nước đã bắn rơi 12 máy bay trực thăng của đối phương. [159]
.......


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 21 Tháng Năm, 2012, 06:26:31 PM
(tiếp)

Chiến dịch "Bold Mariner" (13 tháng 1 - 8 Tháng 2 năm 1969)


(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s43.gif)
Sơ đồ chiến dịch "Bold Mariner" năm 1969.

Trên bán đảo Ba Làng An (Batangan Peninsula) có một số kho vũ khí và đạn dược của quân du kích Việt Nam hoạt động dọc theo bờ biển. Phòng thủ khu căn cứ là hai tiểu đoàn quân số đến 800 người (các đơn vị của trung đoàn chủ lực 38, tiểu đoàn địa phương 48, đại đội địa phương độc lập 31, đại đội công binh 95). Bộ chỉ huy Mỹ quyết định hủy diệt khu kho tàng này và quét sạch quân đội của MTDTGPMNVN ra khỏi bán đảo bằng các lực lượng lính thủy đánh bộ và lục quân.

(http://3.bp.blogspot.com/_4VXrkZe4WmU/TREJkv7BlkI/AAAAAAAALPk/e9GTSONx0ZQ/s1600/2nd+Battalion%252C+26th+Marines%252C.gif)
Lính Mỹ tiểu đoàn 2, trung đoàn 26 TQLC chuẩn bị tấn công đồi 37 trong chiến dịch Bold Mariner phía nam Chu Lai năm 1969. (2nd Battalion, 26th Marines, prepares to assault Hill 37 during Operation Bold Mariner south of Chu Lai. 1969
Photo, Courtesy of the National Archives. Record Group 127. ARC Identifier 532505 / Local Identifier 127-N-A800458).


Kế hoạch của bộ chỉ huy Mỹ dự kiến đòn tấn công vu hồi từ phía biển và đất liền vào các nhóm quân đội Việt Nam đã bị phát hiện để tiêu diệt và thu giữ các kho vũ khí đạn dược. Trên bờ biển phía bắc và trên yết hầu của bán đảo, kế hoạch là đổ bộ TQLC (chiến dịch "Bold Mariner"), về phía nam – trực thăng sẽ đổ hai tiểu đoàn bộ binh quân đội Nam Việt Nam ("chiến dịch Russell Beach"). Xét thực tế trong các chiến dịch đã tiến hành trước đó, những người yêu nước Việt Nam vẫn thoát được ra khỏi vòng vây, các đơn vị của sư đoàn 23 bộ binh Mỹ - sư đoàn Americal sẽ phong tỏa trận địa từ phía đất liền. Lực lượng tuần tra ven biển với các tàu pháo cối cao tốc cũng phải tham gia yểm trợ hỏa lực cho quân đổ bộ.

(http://farm3.staticflickr.com/2428/3757314676_faaaf4aba3_o.jpg)
Thủy quân lục chiến Mỹ và người dân địa phương trong chiến dịch "Bold Mariner" tại mũi Ba Làng An:
BE081516

05 Feb 1969, Da Nang, S.Vietnam --- 2/5/1969-Da Nang, South Vietnam- Children with them, women suspected of being Viet Cong file past U.S. Marines. The women were among more than 100 suspects found in a tunnel during "Operation Bold Mariner," a sweep of the Batagnan Peninsula about 65 miles south of Da Nang recently. Marines put ropes around the necks of male suspects during the evacuation. Hands of the women (who sometines carry weapons) were tied behind their backs. --- Image by © Bettmann/CORBIS.


Để thực hiện chiến dịch có quy mô chiến thuật này, người ta phân bổ một số phương tiện chiến tranh và lực lượng đáng kể từ tất cả các quân binh chủng thuộc lực lượng vũ trang. Lục quân tham gia chiến dịch có năm tiểu đoàn của sư đoàn bộ binh Mỹ số 23 "Americal" (các tiểu đoàn của trung đoàn bộ binh 46 thuộc lữ đoàn bộ binh nhẹ 198 sư đoàn bộ binh Mỹ số 23, máy bay trực thăng của sư đoàn kỵ binh bay số 1) và hai tiểu đoàn của sư đoàn bộ binh 2 quân đội Nam Việt Nam. Thủy quân lục chiến có hai tiểu đoàn tăng cường tổng cộng 4.000 người (tiểu đoàn 2 và 3 thuộc trung đoàn 26 TQLC Mỹ).
.........


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 21 Tháng Năm, 2012, 09:28:44 PM
(tiếp)

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/8/83/USS_Tripoli_LPH10_a.jpg)
USS Tripoli LPH-10, Iwo-Jima class amphibious assault ship. Không rõ địa điểm và thời gian (navsource.org).

Yểm trợ hỏa lực có 10 tàu pháo cối cao tốc [160], thiết giáp hạm USS "New Jersey", tuần dương hạm hạng nặng USS "Newport News", 6 khu trục hạm và các tàu chiến khác. Những lực lượng này hợp thành hai biên đội pháo hạm yểm hỗ trợ.

Nhiệm vụ đổ bộ TQLC được thực hiện bởi hai nhóm tác chiến thủy bộ (76.4 và 76.5). Trong mỗi nhóm có một tàu sân bay trực thăng đổ bộ (USS "Tripoli" và USS "Okinawa") và các loại tàu đổ bộ khác nhau.

Yểm hộ từ trên không do các máy bay không lực Mỹ và không đoàn 1 TQLC, có căn cứ ở Chu Lai, cũng như các máy bay hải quân trên các tàu sân bay xung kích "Coral Sea" và "Hancock".

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/f/f9/Operation_Piranha_D-Day.jpg/428px-Operation_Piranha_D-Day.jpg)
Bản đồ mũi Ba Làng An tỉnh Quảng Ngãi trong một chiến dịch khác của quân đội Mỹ: chiến dịch Piranha tháng 9 năm 1965 với lực lượng của trung đoàn 7 và trung đoàn 3 TQLC Mỹ làm chủ lực.

(http://24.media.tumblr.com/tumblr_ly2f43CkdW1r18o95o1_1280.jpg)
Lính trung đoàn 7 TQLC Mỹ đổ bộ lên mũi Ba Làng An năm 1965. Ảnh Paul Schutzer, tạp chí Life.
.........


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 21 Tháng Năm, 2012, 11:08:50 PM
(tiếp)

(http://www.navsource.org/archives/10/11/10110308.jpg)
USS Okinawa (LPH-3) cơ động trong đội hình Yankee Station ngoài khơi bờ biển Việt Nam, khoảng tháng 5/6 năm 1972. Các trực thăng trên boong tàu Okinawa thuộc phi đoàn HMM-164 TQLC (Marine Medium Helicopter Squadron HMM-164). Ảnh chụp từ tàu St. Louis (LKA-116) - (nguồn: navsource.org).

Cuộc đổ bộ TQLC được lên kế hoạch thi hành lúc bình minh, ngay sau khi màn hỏa lực trực tiếp bắn chuẩn bị. Để đảm bảo tính bất ngờ người Mỹ từ chối việc bắn dọn bãi chuẩn bị trước.

Việc triển khai lực lượng được thực hiện với tính toán sao cho tập kết đến khu vực đổ bộ 2 giờ trước khi bình minh. Chiều dài của các lộ trình cho phép hoàn thành chuyển quân vào thời gian đêm tối trong ngày.

Chiến dịch "Bold Mariner" bắt đầu lúc bình minh ngày 13 tháng 1 với màn bắn pháo chuẩn bị và máy bay oanh tạc. Các hạm tàu yểm trợ pháo binh bắn phá dọn bãi đổ bộ của TQLC, còn máy bay cường kích trên hạm ném bom các vị trí nghi ngờ thuộc quân giải phóng. Sau khi chấm dứt màn chuẩn bị hỏa lực, một đại đội thủy quân lục chiến dùng phương tiện đổ bộ đường biển đổ xuống bờ biển phía bắc bán đảo Ba Làng An. Đồng thời tại khu yết hầu của bán đảo,  hai tiểu đoàn thủy quân lục chiến được các máy bay trực thăng không vận đổ xuống. Khu đáp của quân đổ bộ đường không nằm cách bờ biển từ 10-12 km. Đợt đổ quân đầu tiên là 20 - 30 máy bay trực thăng, đợt tiếp theo gồm 12 - 18 chiếc. Giãn cách các đợt cất cánh của máy bay trực thăng vào khoảng 2 phút, sau đó các máy bay trực thăng tiếp tục bay vào khu vực hình thành các đợt đổ quân (4 - 6 đại đội trên một tàu sân bay trực thăng). Khoảng thời gian giữa các đợt đổ bộ trực thăng kế tiếp [161] từ 5 - 10 phút. Đợt đổ quân cuối cùng gồm toàn bộ ban tham mưu tiểu đoàn.

Trước khi đợt đầu tiên hạ cánh đổ quân khoảng 3 - 5 phút là cuộc pháo kích dọn bãi. Thời điểm bắt đầu và kết thúc màn chuẩn bị bằng pháo binh được thỏa thuận với người chỉ huy cuộc đổ bộ bằng máy bay trực thăng.

(http://farm3.staticflickr.com/2520/3757318846_f3d5323864_o.jpg)
USS New Jersey BB-62, Iowa-class battleship tại Nam Việt Nam năm 1969.
..........


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 22 Tháng Năm, 2012, 12:10:42 AM
(tiếp)

(http://3.bp.blogspot.com/_4VXrkZe4WmU/TUHJnLA2P2I/AAAAAAAAM0s/Gaf8419k0I4/s1600/Leathernecks+of+the+26th+Marine+Regiment+vietnam.gif)
Lính Mỹ trung đoàn 26 TQLC ngồi nghỉ dưới mưa trong chiến dịch Bold Mariner (A couple of Marines of the 26th Marine Regiment take a break, during Operation Bold Mariner, Batangan Peninsula in Quang Ngai Province. Photo: National Archives, from record group 127. ARC Identifier 532462 / Local Identifier 127-N-A192611).

Nhóm tiểu đoàn đổ bộ được đổ xuống tại 6 - 3 bãi hạ cánh, khoảng cách giữa các bãi đáp từ 30-60 mét. Để dọn sạch các bãi đáp các tiểu đội công binh được đổ xuống đầu tiên. [162]

Trong quá trình trực thăng đáp xuống hỏa lực yểm trợ từ tàu chiến bắn vào các con đường mà quân đội đối phương có thể sử dụng để tiếp cận khu vực máy bay trực thăng hạ cánh. Thời gian cần để một đợt không vận trực thăng đáp xuống, đổ quân, dỡ trang thiết bị, trung bình là 5 phút. Các binh lính được huấn luyện thuần thục để ra khỏi trực thăng trong vòng 10 giây đồng hồ, điều đó rất quan trọng, vì cần giải phóng chỗ cho các máy bay trực thăng đến sau.

Trong chiến dịch "Bold Mariner" máy bay trực thăng được sử dụng rộng rãi. Chỉ trong 3 ngày tác chiến đầu tiên, từ các tàu sân bay trực thăng đổ bộ "Tripoli" và "Okinawa" các máy bay trực thăng đã bay hơn 1.500 phi vụ.

Đồng thời với việc đổ bộ TQLC, máy bay trực thăng không vận hai tiểu đoàn của sư đoàn 2 quân Nam Việt Nam ("chiến dịch Russell Beach") đổ xuống bờ biển phía nam bán đảo. Lính sư đoàn bộ binh 23 tham gia chiến dịch áp sát bán đảo, hoàn thành việc khép vòng vây các lực lượng yêu nước. Sau đó bắt đầu quá trình càn quét khu vực.

Mặc dù diện tích khu vực chỉ khoảng 8 cây số vuông, chiến sự trong quá trình càn quét còn tiếp tục trong 26 ngày. Khi xuất hiện một sự kháng cự dù nhỏ nhất, thủy quân lục chiến lập tức ngừng tấn công và gọi pháo hạm bắn phá, hoặc chỉ điểm vị trí đối phương cho máy bay cánh cố định và trực thăng vũ trang không kích. Mỗi ngày, các trận địa của quân giải phóng chịu 20 - 25 cuộc bắn phá của pháo hạm, khoảng 15 cuộc không kích từ các máy bay cường kích trên tàu sân bay.

(http://nm4.upanh.com/b3.s26.d1/a5b5193a05026a6ceb2d2d9be50524b5_45066174.0414842.jpg)
USS Newport News CA-149, Des Moines-class heavy cruiser, đang bắn phá Miền Bắc Việt Nam năm 1967 (navsource.org).
........


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 22 Tháng Năm, 2012, 01:56:20 AM
(tiếp)

Chiến dịch "Daring Rebel" (tháng 5 năm 1969)


(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s44.gif)
Chiến dịch Daring Rebel, tháng 5 năm 1969.

Trên một đảo cồn cát (Berrier Island) (nằm ở vị trí 35 km về phía đông nam căn cứ Đà Nẵng) có hai đại đội du kích Việt Nam thường xuyên tấn công các căn cứ quân sự Mỹ nằm trong vùng lân cận Đà Nẵng. Để loại bỏ khu căn cứ của du kích Việt Nam, bộ chỉ huy Hoa Kỳ quyết định [163] đổ bộ thủy quân lục chiến lên đảo (cù lao Hội An ?), càn quét khu vực này và tiêu diệt các lực lượng đối phương. Theo ý đồ của bộ chỉ huy Mỹ dự kiến dùng máy bay trực thăng đổ một tiểu đoàn TQLC (tiểu đoàn 1 trung đoàn 26 TQLC Mỹ) quân số khoảng 2.500 người xuống  mũi phía bắc hòn đảo, trong khi đó xuồng đổ bộ cao tốc sẽ đổ lên bờ biển phía đông của hòn đảo hai đại đội TQLC với các phương tiện tăng cường. Ở mũi phía bắc đảo, dự kiến đổ bộ bằng xe thiết giáp bơi bốn đại đội TQLC Nam Việt Nam. Từ phía tây (tứ trên bờ), các trận địa ngăn chặn sẽ được các đơn vị của sư đoàn bộ binh 23 "Americal" (và một số đơn vị của lữ đoàn "Rồng Xanh" Nam Hàn, trung đoàn 51 bộ binh sư đoàn 2 VNCH) thiết lập, phong tỏa từ phía nam [164] – hai tiểu đoàn biệt kích – thám báo quân đội Nam Việt Nam. Việc phong tỏa hòn đảo được giao cho các tàu cao tốc thuộc lực lượng đặc nhiệm tuần duyên 115.

(http://www.ussfortmarionlsd22.com/OPERATION%20DARING%20REBEL.jpg)

Việt Nam, năm 1969, chiến dịch Daring Rebel.

Để đổ bộ TQLC có các tàu đổ bộ và tàu vận tải của nhóm tác chiến thủy bộ 76.4 trực thuộc tàu sân bay trực thăng đổ bộ USS "Okinawa" LPH-3, tàu dok-đổ bộ USS "Duluth" LPD-6, tàu dok-vận tải đổ bộ USS "Tortuga" LSD-26, tàu đổ bộ vận tải USS "Winston" AKA-94 và một số tàu khác.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/d/d9/LSD-26-Tortuga-disgorges-LVTs.jpg)
USS Tortuga LPD-26, Casa Grande-class dock landing ship, trong một cuộc thử nghiệm tại vịnh Sagami, Nhật Bản.
...........


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 22 Tháng Năm, 2012, 11:34:36 AM
(tiếp)

(http://nm2.upanh.com/b6.s28.d1/4d426c5ac4d8c08ed290db015ff8b411_45071482.023135.jpg)
USS Bon Homme Richard CV/CVA-31 tại Vịnh Bắc Bộ ngày 19/6/1969 trong đợt hoạt động thứ 5 tại Việt Nam từ 18/3 - 29/10/1969. Đậu trên tàu là các máy bay Ạ-4 và F-8 (navsource.org).

Pháo hạm yểm trợ có hai tàu khu trục (USS Tausig DD-746) và một tàu súng cối. Không quân yểm trợ có không đoàn 1 TQLC, đóng tại căn cứ không quân Đà Nẵng, và các máy bay cường kích hải quân trên tàu sân bay xung kích USS "Bon Homme Richard".

Chiến sự bắt đầu vào buổi sáng ngày 05 tháng 5 năm 1969 với màn hỏa lực chuẩn bị từ máy bay và pháo hạm. Hai tàu khu trục và tàu súng cối bắn phá ồ ạt các trận địa của quân du kích Việt Nam, còn các máy bay cường kích-tiêm kích A-6 "Intruder" và F-4 "Con Ma" trên tàu sân bay "Bon Homme Richard" dội bom xuống các bãi đổ bộ đường biển và bãi đáp trực thăng. Ngay sau mà chuẩn bị hỏa lực trực tiếp cuộc đổ bộ đường biển bắt đầu. Tại khu đổ bộ đường biển, quân đội Việt Nam không thể hiện sự kháng cự. Hai đại đội TQLC đã đổ bộ xuống bờ biển phía đông mà không gặp phản kích và họ củng cố khu vực đã chiếm được.

Cuộc đổ bộ trực thăng được đáp trả bằng hỏa lực súng máy của những người yêu nước Việt Nam. Một máy bay trực thăng bị bắn rơi, dẫn đến trì hoãn cuộc đổ quân trước khi các hỏa điểm của đối phương bị máy bay trên tàu sân bay ném bom chế áp.

Đồng thời với việc trực thăng đổ quân, bốn đại đội thủy quân lục chiến Nam Việt Nam ngồi trên xe thiết giáp bơi vượt qua sông và hoàn thành bao vây [165] đối phương, sau đó những kẻ đột nhập bắt đầu thắt chặt "vòng vây". Thuyền cao tốc của lực lượng tuần tra, đã phong tỏa đảo từ phía tây, bắn phá các lối có thể rút lui của những người Việt Nam yêu nước.

(http://nm1.upanh.com/b4.s28.d2/8644228404a2df967967c45d69f59dfd_45066081.0574603.jpg)
USS Tausig DD-746, Allen M. Sumner-class destroyer, gần khu phi quân sự, năm 1969 (navsource.org).
.........


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 22 Tháng Năm, 2012, 01:50:13 PM
(tiếp)

Chiến dịch kéo dài trong 9 ngày đêm mà không cho được kết quả đáng kể nào.

Khi lập kế hoạch chiến dịch "Daring Rebel", bộ chỉ huy Mỹ đã sử dụng kinh nghiệm của các chiến dịch đổ bộ trước đây. Một đặc điểm vượt trội trong chiến dịch này là việc sử dụng máy bay trực thăng với cường độ cao. Nếu các cuộc đổ bộ trước đó hầu hết đều chuyển TQLC bằng các phương tiện đổ bộ đường biển, thì tại cù lao này các thuyền cao tốc chỉ đổ bộ hai đại đội TQLC. Lực lượng đổ bộ chính được các máy bay trực thăng vận tải không vận đổ bộ xuống.

(http://assets.marines.com/assetmgr/image/disp/inline/size/460x259/id/253142)

Các hoạt động của TQLC Mỹ mang tính chất của chiến dịch săn lùng-càn quét theo kiểu "đột kích". Ưu thế trội hơn hẳn về nhân lực, ưu thế tuyệt đối về máy bay và tàu chiến, cũng như việc phòng thủ chống đổ bộ ven bờ biển yếu đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc hoàn thành nhiệm vụ tác chiến và góp phần giảm tổn thất.

Tất cả các cuộc đổ bộ TQLC được tiến hành theo phương pháp "chiếm lĩnh theo phương đứng” («вертикальный охват» - vertical envelopment), trong đó ta thấy được chiều hướng ổn định của quá trình tăng quân số thủy quân lục chiến, được chuyển lên bờ bằng máy bay trực thăng.

(http://nm8.upanh.com/b4.s26.d1/cda726aca135367cf17a49a71ac6c6b4_45066008.50662230armyaerialcombatreconnai.jpg)
Marines - Vertical envelopment.

Về mặt chiến thuật, hành động của quân đội Mỹ cho ta thấy tính chất rập theo khuôn mẫu. Khi đổ bộ đường biển, tùy thuộc vào đặc điểm địa hình và bố trí lực lượng đối phương, người Mỹ sử dụng hai hình thức tấn công "thắt túi" và "búa và đe".

(http://www.amtrac.org/1atbn/Battles/OpHickory01/photos/hickory01.JPG)

(http://www.amtrac.org/1atbn/Battles/OpHickory01/photos/hickory02.JPG)

(http://www.amtrac.org/1atbn/Battles/OpHickory01/photos/hickory03.JPG)

(http://www.amtrac.org/1atbn/Battles/OpHickory01/photos/hickory04.JPG)

(http://www.amtrac.org/1atbn/Battles/OpHickory01/photos/hickory05.JPG)

Chiến dịch "Hickory" của TQLC Mỹ ở khu vực Con Thien (Cồn Tiên) Quảng Trị từ 18/5 - 28/5/1967 (amtrac.org).

Ở giai đoạn đổ bộ của cuộc chiến, thường người Mỹ không gặp phải sự chống trả. (Chỉ có một lần trong quá trình chiến dịch "Hickory" tháng 5 năm 1967, các lực lượng yêu nước vũ trang của MTDTGPMNVN mới có sự chống trả kịch liệt cuộc đổ bộ). Đó là do hầu hết các trường hợp, người Mỹ đạt được bất ngờ chiến thuật, và các khu vực đổ bộ [166] lại ở những nơi thiếu sự phòng thủ chống đổ bộ. Ngoài ra, địa hình hiểm trở ngăn chặn các chỉ huy Việt Nam có thể nhanh chóng điều động lực lượng, do vậy việc tăng số quân đổ bộ sẽ nhanh hơn nhiều so với việc bố trí lại quân của lực lượng phòng thủ bờ biển.

Tổ chức lực lượng khi đổ bộ đường biển tương đối ổn định. Nhóm đổ bộ cấp tiểu đoàn là nhóm cơ bản (1500 - 2000 người). Theo quy định, một đơn vị đổ bộ lớn được xây dựng bao gồm 1 - 2 nhóm tác chiến thủy bộ, nhóm (biên đội) tàu yểm trợ hỏa lực, và 1 - 2 liên đoàn máy bay. Xây dựng những nhóm tác chiến thủy bộ, luôn luôn có mức độ sẵn sàng cao cho cuộc đổ bộ đường biển ở quy mô chiến thuật, là một yếu tố mới trong hoạt động đổ bộ của Hải quân Hoa Kỳ.
.......


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 22 Tháng Năm, 2012, 04:16:56 PM
(tiếp)

Hạm đội phong tỏa bờ


(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s45.gif)

Bộ chỉ huy Mỹ đặt ý nghĩa lớn vào việc phong tỏa đường biển đối với duyên hải Nam Việt Nam. Mục đích của nó là không cho phép đưa hàng hóa quân sự từ các cảng miền Bắc Việt Nam tới các khu vực có hoạt động chiến đấu của quân giải phóng. Việc thực hiện phong tỏa đường biển có tính đến kinh nghiệm của cuộc chiến tranh Triều Tiên.

Hoạt động phong tỏa của người Mỹ bắt đầu từ tháng 3 năm 1965. Chính phủ Hoa Kỳ chính thức tuyên bố khu vực chiến tranh, cấm các tàu chiến và tàu của các nước trung lập đi vào khu vực đó. Ban đầu cuộc phong tỏa mang tính chất ngẫu hứng, còn từ ngày 25 tháng 4 năm 1965 bản hướng dẫn đặc biệt cho các tàu của Hạm đội 7 Hải quân 7 Hoa Kỳ về vấn đề tổ chức phong tỏa đã có hiệu lực. Trong bản hướng dẫn này đã thiết lập cái gọi là các vùng phòng vệ biển. Khi lập nên các vùng này, bộ chỉ huy Mỹ hy vọng sẽ cô lập hoàn toàn các lực lượng quân giải phóng từ phía biển.

(http://mrfa.org/images/tf115b.jpg)(http://mrfa.org/images/tf115d.jpg)
Chuẩn đô đốc Norvell G. Ward, trưởng nhóm yểm trợ hải quân (Chief of the Naval Advisory Group, thuộc MACV), tư lệnh đầu tiên lực lượng hải quân này, đang cùng bộ tham mưu của ông ta thảo luận việc QGP thâm nhập đường biển bán đảo Cà Mau, ảnh chụp tại Việt Nam. Tàu hộ tống (Radar picket excort ship) Lowe (DER 325) của đơn vị 115.

Cho đến giữa năm 1966 các hoạt động phong tỏa đã thu hút tổng cộng 12 tàu khu trục và tàu quét rải mìn [167], một số máy bay tuần biển có căn cứ trên bờ. Và chỉ trong mùa hè năm 1966 đã thành lập đơn vị đặc nhiệm 115 thuộc lực lượng tuần tra ven biển, có nhiệm vụ chính là phong tỏa đường biển đối với vùng duyên hải Nam Việt Nam. Đơn vị này gồm một hải đoàn tàu tuần tra, hai hải đoàn xuồng tuần tra cao tốc, [168] một hải đoàn tàu quét mìn, một tiểu đoàn tàu cánh ngầm và một biên đội máy bay tuần biển căn cứ bờ. Ngoài ra, trong thành phần lực lượng đặc nhiệm 115 còn có lực lượng bảo vệ cảng, các bến cảng, các công trình kỹ thuật thủy lực biển, các vũng neo đậu v.v… Toàn bộ biên chế của nó có đến 130 tàu, thuyền cao tốc, 10 - 15 máy bay tuần biển căn cứ bờ. Chỉ huy đơn vị lớn này là chuẩn đô đốc Ward. Ông ta ở cùng với bộ tham mưu của mình trên một con tàu chỉ huy tại cảng Ông Đội.

(http://www.vietnamgear.com/Imagevwr.aspx?img=ACV.jpg)
Xuồng đệm khí của sư đoàn 9 bộ binh Mỹ cơ động vào vị trí hỗ trợ hỏa lực cho trung đội 1, đại đội C, tiểu đoàn 4, trung đoàn 47, sư đoàn 9.

Lực lượng cơ động đường sông (The Mobile Riverine Force) phối hợp với lữ đoàn 2 sư đoàn bộ binh Mỹ số 9 cùng lực lượng tấn công đường sông (the Navy’s Riverine Assault Force (Task Force 117)) tiến hành các chiến dịch dọc theo các tuyến đường sông đồng bằng Cửu Long. Trong khoảng giữa tháng 2 năm 1967 và giữa năm 1968 các xuồng máy chở quân Armored Troop Carriers (ATC), được bảo vệ bởi các xuồng máy vũ trang (Monitor gunboats) và các xuồng tuần tra Assault Support Patrol Boats (ASPB), đã chở lính bộ binh Mỹ đi đánh nhau với QGP.

Tháng 11 năm 1968 lực lượng cơ động đường sông (MRF) được tích hợp với lực lượng phòng vệ bờ biển (Coastal Surveillance) và lực lượng tuần tra trên sông (River Patrol Forces). Trong chiến dịch Sealords (South East Asia Lake, Ocean, River and Delta Strategy), mô hình hạm đội hỗn hợp kiểu mới này (the newly combined brown water fleet) đã phần nào phong tỏa thành công sự xâm nhập và tiếp tế cho QGP từ Campuchia và các vùng yên bình rộng lớn khác của châu thổ sông Cửu Long. Các thuyền máy vận tải vũ trang (Armored craft) của đơn vị 117 (TF-117) được chuyển dần cho hải quân VNCH từ tháng 2 năm 1969 đến khi lực lượng MRF giải nhiệm tháng 8 cùng năm.

.......


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 22 Tháng Năm, 2012, 08:35:34 PM
(tiếp)

(http://www.vietnamgear.com/Imagevwr.aspx?img=VNNjunk.jpg)
Thuyền tuần tra làm bằng gỗ Sau của hải quân Nam Việt Nam tuần tra trong vùng nước gần bờ. Từ năm 1970 trở đi họ bắt đầu được trang bị thuyền làm bằng xi măng lưới thép, ảnh chụp tháng 4 năm 1970 (vietnamgear.com).

Do những người yêu nước Nam Việt Nam sử dụng rộng rãi giao thông đường sông, người Mỹ đã lập ra đơn vị giang tuần đặc nhiệm 116. Thu hút vào hoạt động phong tỏa đường sông còn có các tàu xuồng của đơn vị giang tuần đặc nhiệm 117.

(http://www.vietnamgear.com/Imagevwr.aspx?img=SwiftBoat.jpg)
Từ tháng 11 năm 1968, bắt đầu chiến dịch Sealord trở đi, các xuồng cao tốc Swift Boat Hải quân Mỹ trước đây tuần tiễu bờ biển nay chuyển sâu vào tuần tiễu các sông lớn của châu thổ Mekong.

Tổng chiều dài của khu vực phong tỏa đường biển đạt đến gần 1.100 dặm, còn chiều sâu của nó là 110 - 150 dặm. Để phân bổ hợp lý lực lượng của hải đoàn đặc nhiệm 115, toàn bộ khu vực phong tỏa được chia thành năm vùng, mỗi vùng có một liên đoàn đặc nhiệm. Liên đoàn này thường gồm có 1-2 tàu tuần tra, 3 - 4 tàu quét mìn, 5 xuồng cảnh vệ bờ biển và 1 tiểu đoàn xuồng tuần duyên cao tốc. Hải quân Nam Việt Nam thực thi nhiệm vụ trong khu vực phong tỏa của bờ biển thứ năm.

(http://www.vietnamgear.com/Imagevwr.aspx?img=ATC_Pad.jpg)
Cảnh chụp trên xuống một thuyền hỗ trợ hậu cần (an Aid Boat - an Armored Troop Carrier (ATC)) có sàn đáp trực thăng trên nóc. Thuyền thuộc lực lượng đặc nhiệm 117 (Mobile Riverine Force) đóng căn cứ chính tại Đồng Tâm - Mỹ Tho.
Chiếc thuyền máy này phục vụ như một trạm quân y cho đon vị 117 ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Ảnh chụp: 1 tháng 12 năm 1967.


Lực lượng phong tỏa thực hiện tuần tra trong các khu vực suốt ngày đêm với tính toán sao cho dù chỉ một lần trong ngày và một lần ban đêm cũng khám xét được tất cả các vịnh trên bờ biển miền Nam Việt Nam. Các xuồng nhẹ tuần tra vùng gần bờ biển hơn, còn ở khoảng cách 15 - 20 dặm - tàu tuần tra và tàu quét mìn sẽ tuần tiễu. Tổng chiều sâu khu vực tuần tra của các lực lượng tàu thuyền mặt nước là 40 dặm. Máy bay tuần duyên căn cứ thực hiện bay tuần tiễu ở độ cao 300 mét với tốc độ 290 km / h. Các cuộc tuần tra có thời gian tối đa từ 7 đến 10 giờ. Trong thời gian tuần tra, từ trên máy bay sẽ tiến hành giám sát bằng cả mắt thường và giám sát bằng kỹ thuật vô tuyến điện tử. Người ta báo cáo về tất cả các tàu thuyền phát hiện được từ trên máy bay với trung tâm giám sát trên bờ [169], kể cả về các tàu mặt nước đang tuần tra trong khu vực.

(http://www.vietnamgear.com/Imagevwr.aspx?img=USNP3.jpg)
Máy bay cảnh giới và giám sát biển tầm xa P-3 "Orion" của Hải quân Mỹ đến Nam Việt Nam như một hợp phần của chiến dịch Market Time. Các máy bay này bay tuàn tiẽu từ các căn cứ tại vịnh Cam Ranh, Tân Sơn Nhất, Utapao hay Sangley Point ở Philippine.

Tại các nút của tuyến vận tải biển gần bờ các tàu chiến của đặc nhiệm 115 tiến hành các cuộc tuần tra phong tỏa, còn trong một số khu vực đã rải các bãi mìn phong tỏa. Trên biển đồng thời tất cả có đến 70 tàu thuyền và 4 hoặc 5 máy bay.

Do thực tế vào đầu năm 1972 tất cả các tuyến đường biển ven bờ đã bị dừng, các tàu chiến của lực lượng đặc nhiệm 115 được thu hút tham gia tấn công vào các tuyến đường giao thông bộ ven biển.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s47.gif)
Sơ đồ chung đổ bộ đường sông trong chiến tranh Việt Nam.
.......


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 22 Tháng Năm, 2012, 10:16:59 PM
(tiếp)

(http://www.vietnamgear.com/Imagevwr.aspx?img=CementSwift.jpg)
Người Việt Nam bắt đầu có phiên bản Swift Boat bằng xi măng lưới thép vào tháng 12 năm 1969. Trong khi Swift Boat của người Mỹ thân bằng nhôm, thuyền của Việt Nam chế bằng khung cốt thép đan với lưới mắt cáo và xi măng hóa.

Để tham gia vào các hoạt động phong tỏa khu vực ven biển, người Mỹ đã chế tạo một cách đặc biệt thuyền pháo "Asheville". Vũ khí của các thuyền máy này gồm một cỗ pháo 76mm, súng tự động 40 mm và hai khẩu 12,7 mm hai nòng. Tầm bơi xa của thuyền máy khoảng 1.700 dặm, còn với tốc độ 35 hải lý – 325 dặm; Trong nửa sau năm 1967, tại Việt Nam có 17 thuyền pháo "Asheville”. Từ tháng 3 năm 1967, các tàu tuần tra bảo vệ bờ biển “Kasko” bắt đầu gia nhập thành phần lực lượng đặc nhiệm 115, chúng được trang bị pháo vạn năng 127 mm và bốn súng tự động 40 mm. Trong các hành động phong tỏa, người Mỹ lần đầu tiên sử dụng xuồng đệm khí SK-5. Loại tàu này cho thấy khả năng chiến đấu cao, hoạt động trong các khu vực do mức nước nông nên không thể tuần tra bằng các loại tàu thuyền trọng tải lớn.

(http://www.vietnamgear.com/Imagevwr.aspx?img=LST.jpg)
Landing Ship Tanks (LST) được dùng để chuyển các PBR đến khu vực tuần tra và phục vụ như một căn cứ nổi, tiếp dầu liệu cho các giang thuyền tuần tiễu và các máy bay trực thăng vũ trang "Sói biển".
LST-821, the USS Harnett County, được chuyển cho hải quân VNCH tháng 10 năm 1970 và đổi tên thành chiến hạm Mỹ Tho.


Tốc độ cao (60 hải lý) của chúng cho phép trong thời gian ngắn kiểm tra được các khu vực lớn. Khi đi tuần tra vùng đồng bằng sông Cửu Long thường có 2 xuồng như vậy. Sau khi di chuyển gần 150 dặm từ căn cứ ở Cát-Lở (cách Sài Gòn 40 km) tới khu vực làm nhiệm vụ chiến đấu, tàu tuần tra mất 5 ngày và sau 24 giờ lại trở về căn cứ. Hoạt động chiến đấu của chúng được đảm bảo bởi tàu dock-đổ bộ. Sau 8 tháng hoạt động chiến đấu tích cực, các xuồng đệm khí cao tốc này được gửi về Mỹ để sửa đổi hoàn thiện. [170]

(http://www.vietnamgear.com/Imagevwr.aspx?img=RPFsailors.jpg)
Đại tá hải quân Arthur Price, chỉ huy River Patrol Force (Task Force 116), và một thủy thủ tiểu đoàn xung kích 54 (River Assault Division 54).

Cho thấy hiệu quả chiến đấu cao là các thuyền cao tốc kiểu "Swift". Năm 1967, 104 thuyền tuần tra thuộc loại này đã được chế tạo bởi công ty "Seawolf Seacraft" theo thiết kế đặc biệt cho sử dụng tại Việt Nam. Ưu điểm chính của thuyền là tốc độ cao (25 hải lý), mớn nước nhỏ (1,35 m), có hỏa lực pháo – cối mạnh mẽ, bao gồm súng máy hai nòng cỡ nòng lớn và súng cối 81mm. Nhờ có tốc độ cao mà khu vực kéo dài 200 dặm có độ sâu đến 10 dặm chỉ cần tất cả 6 thuyền là bao quát được.

(http://www.vietnamgear.com/Imagevwr.aspx?img=PatrolCraft.jpg)
Thuyền cao tốc Fast Patrol Craft (Swift Boat) PCF-38 của tiểu đoàn bảo vệ bờ biển 11 tuần tiễu trong kênh Cái Ngay, ảnh chụp tháng 4 năm 1970.
.......


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 23 Tháng Năm, 2012, 05:07:09 PM
(tiếp)

(http://3.bp.blogspot.com/_rUHyHq68ak0/S90LVcYyyQI/AAAAAAAA7yE/-rBA602rYWU/s1600/marlin-bia.jpg)
P-5 Marlin của LLPV bờ biển Mỹ.

Sau khi phát hiện mục tiêu, tàu (thuyền) sẽ tiếp cận và nếu cần thiết thì tiến hành giám sát và báo cáo cho trung tâm trên bờ biết về sự quan sát và kiểm tra tình hình trên mặt nước tại vị trí và thời gian phát hiện, hướng, tốc độ, tên gọi, kiểu và quốc tịch của tàu, tính chất của hàng hóa chở theo, cảng đi và cảng đến. Một số trong các tàu được phát hiện đã bị tiêu diệt. Chỉ tính từ tháng 8 năm 1965 đến tháng 11 năm 1966, các tàu Mỹ đã tiến hành giám sát 84.000 lượt chiếc thuyền Việt Nam, và 40.500 trong số đó bị khám xét. Nhiệm vụ này thực hiện gặp những khó khăn rất lớn, vì vào ban ngày lưu lượng thông thuyền qua lại ở vùng ven biển không ít hơn 4000, còn vào ban đêm - khoảng 2.000 phương tiện nổi. Hàng tháng hỏa lực pháo binh tiêu diệt và gây thiệt hại gần 300 tàu thuyền nhỏ và phương tiện nổi. Ví dụ, tháng 5 năm 1967 trong số 635 tàu bị phát hiện đã có 257 chiếc bị phá hủy và làm hư hại. Trung bình, để bắn trúng một mục tiêu phải tiêu tốn đến 7 viên đạn.

(http://www.vietnamgear.com/Imagevwr.aspx?img=PBRsearch.jpg)
Xuồng cao tốc PBR của lính Mỹ lực lượng đặc nhiệm 116 dừng ghe của người dân để khám xét tại đồng bằng sông Cửu Long.

Lần đầu tiên máy bay tuần biển căn cứ bờ được áp dụng rộng rãi trong các hoạt động phong tỏa, chúng kết hợp với các tàu mặt nước. Để giải quyết bài toán này đã dùng tới các máy bay P-2 "Neptune", P-3 "Orion", và trước năm 1968 - thủy phi cơ P-5B "Marlin" (sau này giải trừ khỏi biên chế vũ khí). Người  Mỹ sử dụng phương pháp tuần biển [171] bằng các máy bay bay đơn trong một khu vực có độ dài đến 1.100 dặm và có độ sâu (bề rộng) lên đến 110 dặm. Đồng thời trong không trung thường có 2 - 4 máy bay, và trong một ngày đêm có đến 10 phi vụ. Để tiêu diệt các tàu phát hiện ra, thường sử dụng pháo-súng máy và tên lửa "Bullpup".

(http://www.vietnamgear.com/Imagevwr.aspx?img=Gunships%20Seawolf.jpg)
Hỗ trợ trinh sát và hỏa lực cho các PBR thân composit có hai động cơ thủy lực phụt nước Jacuzi thay cho chân vịt, có các máy bay lên thẳng phi đoàn trực thăng tấn công hạng nhẹ số 3 "Seawolf" và máy bay OV-10 Bronco phi đoàn xung kích hạng nhẹ số 4 ("Black Ponies). Sau khi đon vị 116 giải thể năm 1970, các xuồng PBR được chuyển giao cho phía VNCH. Trong ảnh là 2 trực thăng phi đoàn 3 đang thi hành nhiệm vụ tìm và diệt trên khu vực rừng U Minh.

Mức độ hoạt động phong tỏa có thể được đánh giá bởi các con số: đến đầu năm 1971 các lực lượng phong tỏa đã phát hiện hơn 700 nghìn phương tiện nổi, trong đó 100 nghìn bị bắt giữ và khám xét. Kết quả là đầu thập niên 70 lượng vận chuyển ven biển giảm mạnh. Tuy nhiên, trang thiết bị quân sự và vũ khí, mặc dù ở một mức độ hạn chế, vẫn đều đều đến tay quân giải phóng bằng đường biển và đường bộ. Do vấn đề này, bộ chỉ huy Mỹ quyết định thả thủy lôi các cảng Bắc Việt Nam.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s46.gif)
Sơ đồ dẫn tàu vận tải vào sông Sài Gòn.
.......


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 23 Tháng Năm, 2012, 07:59:55 PM
(tiếp)

Chiến tranh thủy lôi ở Việt Nam


(http://www.americancenturies.mass.edu/activities/oralhistory/cappics_lrg/romer1972_vietnam.jpg)

Để tăng cường phong tỏa đường biển, từ ngày 9 tháng 5 năm 1972 Hạm đội 7 Hải quân Mỹ bắt đầu chiến dịch thả thủy lôi (mìn) ồ ạt (Pocket Money Operation). Trong một đêm theo kế hoạch đã định trước, các máy bay cất hạ cánh trên tàu sân bay Mỹ đã rải các bãi mìn trên các tuyến đường thủy dẫn vào các cảng Bắc Việt Nam như CẩmPhả, Hòn Gai, Hải Phòng, Vinh, Đồng Hới, Thanh Hóa và những cảng khác, mà qua đó Việt Nam nhận được hàng hoá từ các quốc gia thân thiện. Đồng thời mìn còn được rải xuống các tuyến đường thủy nội địa. Để ngụy trang, đồng thời với việc rải mìn, các máy bay Mỹ còn đồng loạt ném bom và các tàu chiến bắn phá các mục tiêu trên bờ.

Việc thả mìn được thực hiện bởi các máy bay cường kích trên hạm A-6A "Intruder" (của TQLC Mỹ) và A-7E "Corsair" (của Hải quân Mỹ), được bảo vệ bởi máy bay tiêm kích F-4 "Phantom", các tàu khu trục mang TLPK "Talos", hỗ trợ bởi máy bay tiếp dầu EKA-3B và máy bay cảnh báo sớm trên không EC-121 xuất phát từ Đà Nẵng. Các tàu sân bay "Kitty Hawk", "Coral Sea" và "Constellation", từ đó xuất phát các máy bay mang mìn, cơ động ở khoảng 80-100 dặm (trong khu vực "Yankee") cách các khu vực thả mìn. Máy bay thực hiện thả mìn theo đội hình chính diện hoặc chéo vào lúc triều thấp. [172]

Độ cao đường bay là 150 - 300 m, tốc độ 550 - 650 km / h. Mỗi máy bay mang từ 2-6 mìn đáy Mk 36, Mk 50, Mk 52 hoặc Mk 53, được ném theo tín hiệu từ chiếc máy bay dẫn đầu. Mìn rơi trên cạn hoặc trong khu vực có mức nước sâu nhỏ hơn 3 m sẽ tự hủy.

Tại các tuyến đường thủy nơi mức nước sâu không quá 15 m, người Mỹ thả bằng máy bay những loại bom-mìn mới. Đó là loại bom ("Destructor") Mk 81 hoặc Mk 82, lắp ngòi nổ không tiếp xúc cỡ nhỏ (cảm ứng).

(http://www.navweaps.com/Weapons/WAMUS_Mines_mk36_pic.jpg)(http://www.navweaps.com/Weapons/WAMUS_Mines_mk52_pic.jpg)
Mk-36 gắn dưới cánh A-7 năm 1966. Mk-52

(http://www.navweaps.com/Weapons/WAMUS_Mines_mk53_pic.jpg)(http://www.navweaps.com/Weapons/WAMUS_Mines_mk551_pic.jpg)
Mk-53. Mk-55 gắn dưới cánh A-7 trên USS Coral Sea CV-43 năm 1972 (navweaps.com).Mk-52 có nhiều kiểu:
Mk 52 mod 1 sử dụng cơ cấu kích nổ thủy âm;
Mk 52 mod 2 sử dụng cơ cấu kích nổ từ trường có hiệu quả trên nhiều dải chiều sâu của mìn;
Mk 52 mod 3 sử dụng cơ cấu kích nổ phối hợp giữa áp suất và từ trường;
Mk 52 mod 5 sử dụng cơ cấu kích nổ thủy âm và từ trường;
Mk 52 mod 6 phối hợp cả 3 cơ cấu kích nổ thủy âm, áp suất và từ trường;
Mk 52 mod 11 sử dụng hoặc cơ cấu kích nổ từ trường hoặc từ trường-chấn động....

........


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 24 Tháng Năm, 2012, 01:13:46 AM
(tiếp)

(http://vnexpress.net/Files/Subject/3b/bc/aa/13/vo-nguyen-giap-1.jpg)
Trên boong tàu hải quân, đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định quyết tâm bảo vệ toàn vẹn vùng biển, hải đảo của tổ quốc. Bên cạnh đại tướng gồm có thiếu tướng Phạm Kiệt, Thứ trưởng Bộ Công an và đại tá Nguyễn Bá Phát, Tư lệnh hải quân tháp tùng đại tướng đi kiểm tra vùng biển Quảng Ninh sau chiến dịch rà phá thủy lôi thành công, tháng 3/1973-(vnexpress.net).

Mật độ trung bình của các bãi mìn là 70 - 80 mìn cho mỗi dặm của tuyến chướng ngại, và ở một số vị trí mật độ đó lên đến 150 trái mìn. Mặc dù thực tế số mìn đã thả lên đến khoảng 11 ngàn trái, người Mỹ vẫn không đạt được mục đích. Bộ chỉ huy Việt Nam đóng cửa các khu vực nguy hiểm cho tàu thuyền qua lại. Các tàu vận tải đến được dỡ hàng trên các vũng cảng bên ngoài, ngoài giới hạn bãi mìn, hàng hóa chuyển vào bờ trên các phương tiện nổi kích cỡ nhỏ, theo lẽ thường, không có từ tính. Sự tổn thất do thủy lôi, tổng cộng khoảng 30 tàu nhỏ. Bản thân người Mỹ cũng bị mất một tàu khu trục, USS "Warrington" do hai trái Mk 36 nổ gây ra.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/c/ca/Dd-843-warrington.jpg)
USS Warrington (DD-843), Gearing-class destroyer, dính hai trái Mk-36 tại bờ biển miền trung Bắc Việt Nam khi tham gia chiến dịch Linebacker.

Kinh nghiệm hoạt động đặt chướng ngại-thủy lôi trong chiến tranh Việt Nam cho thấy máy bay có thể nhanh chóng thực hiện thả mìn quy mô lớn. Đồng thời để giữ bí mật, trong mức độ tối đa có thể, người Mỹ sử dụng ban đêm và tầm nhìn thấp, cũng như thực hành thả min đồng thời với các vụ ném bom không kích. Tuy nhiên, cùng với nó có một thiếu sót nghiêm trọng là máy bay với tư cách vật mang mìn lại có độ chính xác trong thả mìn thấp. Kinh nghiệm cho thấy rằng trong các hành động phong tỏa có thể sử dụng rộng rãi mìn-bom, điều đó làm giảm đáng kể chi phí của hoạt động gây chướng ngại bằng mìn và cho phép thả ồ ạt quy mô lớn [173], tạo ra một diện tích nguy hiểm rộng lớn.

Do thực tế Hải quân miền Bắc Việt Nam không có tàu quét mìn và lưới quét không tiếp xúc, cuộc chiến đấu chống mìn được tiến hành bằng những phương pháp nguyên thủy. Ví dụ người Việt Nam sử dụng các thuyền chèo tay để quét mìn, họ kéo theo các lưới đánh cá và để lôi mìn nổi lên bề mặt nước. Để phá hủy loại mìn có ngòi nổ cảm ứng trên sông, người ta kéo các bè chất đầy kim loại hoặc kéo các tấm sắt dọc đáy sông. Bằng phương pháp này họ đã vô hiệu đến 50 quả bom "kẻ hủy diệt". Đã có những nỗ lực phá hủy mìn bằng cách dùng pháo bờ biển bằn vào nơi có mìn và ném bom chìm từ xuồng cao tốc. Tuy nhiên, kết quả của những hành động này là không đáng kể.

(http://www.hartshorn.us/Navy/mk52aa.gif)
(http://www.hartshorn.us/Navy/mk52a.gif)
Thủy lôi (mìn) Mk-52 (hartshorn.us).
.......


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 24 Tháng Năm, 2012, 09:14:27 AM
(tiếp)

(http://nm1.upanh.com/b5.s29.d4/6269d6035f298377e56577267b3df222_45149281.10090819.jpg)
Thuyền đánh cá theo sát USS Conquest (MSO-488) và USS Dubuque (LPD-8) tại cảng (Hatching (?) Harbor), Bắc Việt Nam, hè 1973 (navsource.org).

Sau khi ký kết Hiệp định về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình tại Việt Nam ở Paris (1973), các tàu của Hạm đội 7 Hoa Kỳ bắt đầu phá hủy các bãi mìn trong vùng lãnh hải VNDCCH. Để giải quyết vấn đề này, họ lập ra đơn vị đặc nhiệm 78 (25 tàu các loại), bao gồm 2 tàu đổ bộ chở máy bay trực thăng LPH, 3 tàu dok-đổ bộ chở máy bay trực thăng LPD, 7 tàu quét mìn trên biển MSO, 1 tàu đổ bộ chở xe tăng LST, 2 tàu cứu hộ, 2 tàu kéo biển, 7 tàu hộ vệ và 48 trực thăng quét mìn CH-53D ("Sea Stallione"). Các tàu được hợp thành năm nhóm chiến thuật. Soái hạm của tư lệnh các lực lượng quét mìn của Chuẩn Đô đốc McCauley là tàu đổ bộ chở máy bay trực thăng "New Orleans" LPH-11. Trên tàu  còn có một bộ tham mưu gồm 14 sĩ quan. Hoạt động của Hải quân Mỹ được thực thi dưới tên mã chiến dịch "End Sweep". Chiến dịch được lên kế hoạch thực hiện qua ba giai đoạn. Trong giai đoạn đầu (từ ngày 01 tháng 11 năm 1972 đến tháng 1 năm 1973) là quá trình hình thành lực lượng đặc nhiệm 78 ở vịnh Subic (Philippines) và tổ chức huấn luyện chiến đấu cho nó. Đồng thời, người chỉ huy lực lượng quét mìn và [174] các sỹ quan bộ tham mưu đi thăm Hà Nội và Hải Phòng để nghiên cứu tình hình tại chỗ.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/f/f0/USS_New_Orleans_%28LPH-11%29_off_Haiphong_1973.jpg)
USS New Orleans (LPH-11) của Hải quân Mỹ và các máy bay RH-53A Sea Stallion của Hải quân và CH-46 Sea Knight của TQLC Mỹ trên boong, chuẩn bị quét mìn tại cảng Hải Phòng trong chiến dịch End Sweep, 28 tháng 3 năm 1973.
........


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 24 Tháng Năm, 2012, 10:05:12 AM
(tiếp)

(http://www.navsource.org/archives/10/11/10111225.jpg)
USS Inchon (LPH-12), Iwo Jima Class Amphibious Assault Ship (Helicopter), đang hành quân tháng 6 năm 1973 cùng với các trực thăng RH-53A Sea Stallions trên boong, được trang bị để quét mìn ở các cảng và các tuyến đường thủy Bắc Việt Nam.

Trong giai đoạn hai, bắt đầu từ 1 tháng 2 năm 1973, chuẩn bị nơi neo đậu cho các tàu của lực lượng đặc nhiệm 78. Các tàu quét mìn USS “Engage” MSO-433, USS “Impervious” MSO 449, USS "Fortify" MSO-446 và USS "Force" MSO-445 rà quét khu vực nằm ở vị trí cách 35 dặm về phía đông nam Hải Phòng. Các tàu quét mìn được tàu khu trục USS "Epperson" DD-719 và khu trục hạng nhẹ (frigate) mang tên lửa có điều khiển USS "Worden" DLG-18 hộ tống. Trong giai đoạn rà quét kiểm tra địa điểm neo đậu có ba tàu quét mìn di chuyển đổi Hawaii tới khu vực của Việt Nam. Trong vịnh Subic tiếp tục công tác huấn luyện chuẩn bị quét mìn cho các phi hành đoàn máy bay trực thăng CH-53D từ các phi đội 462 và 463. Một thời gian sau đó, các phi đội máy bay trực thăng 164 và 166 của TQLC cũng đến gia nhập lực lượng này. Trên bờ triển khai hệ thống dẫn đường vô tuyến "Raydist".

(http://www.navweaps.com/Weapons/WAMUS_induction_sketch_pic.jpg)
Sơ đồ chức năng thủy lôi cảm ứng từ (navweap.com).

Giai đoạn thứ ba của "End Sweep" bắt đầu từ 26 tháng 2 năm 1973. Tương ứng với ý đồ chiến dịch, vai trò chính trong chiến dịch này được giao cho các máy bay trực thăng quét mìn, các tàu chiến phải đảm bảo cho chúng hoạt động. Trong quá trình rà quét, các máy bay trực thăng-quét mìn sử dụng các lưới quét Mk 104, Mk 105, Mk 106 và MOP.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/3/3b/RH-53A_off_Vietnam_Ops_Endsweep_1973.jpg/800px-RH-53A_off_Vietnam_Ops_Endsweep_1973.jpg)
Trực thăng U.S. Navy Sikorsky RH-53A thuộc phi đoàn trực thăng dò quét mìn HM-12 "Sea Dragons" kéo lưới quét mìn Mk 105 ngoài bờ biển Bắc Việt Nam trong chiến dịch "End Sweep" năm 1973. Chú ý rằng trực thăng nguyên bản RH-53A được chuyển đổi từ phiên bản vận tải CH-53 lấy từ phi đoàn trực thăng hạng nặng của TQLC Mỹ HMH-463 Pegasus. Chiếc trực thăng này vẫn còn mang mã đuôi của HMH-463 là "YH" và biển hiệu của TQLC - "MARINES" (U.S. Navy Naval Aviation News March 1982 - en.viki).
........


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 24 Tháng Năm, 2012, 12:05:16 PM
(tiếp)

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/9/9b/CH-53_minesweeping.jpg/398px-CH-53_minesweeping.jpg)
MH-53E của phi đoàn HM-15 kéo lưới quét Mk-105 tại vịnh Ba Tư ngày 6 tháng 11 năm 2006 (en.viki).

Tiên tiến nhất trong số đó là lưới quét phóng từ Mk 105. Nó là một chiếc bè trên các cánh ngầm được trang bị máy phát điện tua bin khí "Herret". Hai dây cáp nổi được gắn vào bè, qua đó dòng điện từ máy phát điện tua bin khí sẽ truyền vào. Nhờ sự giúp sức của bàn điều khiển, phi công máy bay trực thăng có thể mô phỏng các trường từ của các con tàu khác nhau. Xung dòng điện phóng vào các dây cáp của lưới quét gây nên sự kích nổ ngòi mìn từ trường. Lưới kéo Mk 105 nặng khoảng 3 tấn được vận chuyển đến bằng tàu dok-đổ bộ chở máy bay trực thăng (LPD). Chiều dài bè-lưới quét 8,23 m, chiều cao khi cánh ngầm nâng lên 3,66 m, khoảng cách giữa các biên cánh ngầm gần 4 m. Mệnh lệnh cho lưới quét được chuyển theo đường cáp nhiều lõi bên trong đặt ống nhiên liệu có đường kính khoảng 50 mm. Trong hai ponton rỗng của bè đặt [175] các thùng nhiên liệu có thể chứa 408 kg nhiên liệu lỏng. Số lượng ấy đủ cho 4 giờ làm việc của máy phát điện tuabin khí. Ngoài ra, nhiên liệu ch lưới quét còn có thể truyền xuống từ thùng chứa nằm ở đuôi máy bay trực thăng kéo lưới quét mìn. Nếu máy bay trực thăng đã tiêu hao hết nhiên liệu, dây cáp được chuyển giao cho máy bay trực thăng khác, và lưới quét lại làm việc tiếp tục.

(http://www.globalsecurity.org/military/library/policy/navy/ntsp/Image2359.gif)
Hình vẽ Mk 105 mod 4 trong tài liệu huấn luyện NAVY TRAINING SYSTEM PLAN FOR THE MK-105 MOD 4 MAGNETIC MINESWEEPING SYSTEM N75-NTSP-P-30-9902/A APRIL 2001 (globalsecurity.org). Loại Mỹ dùng năm 1973 ở miền Bắc là Mk 105 mod 2.

Việc chuẩn bị lưới quét Mk 105 để đưa vào sử dụng được tiến hành trong khoang dok của tàu đổ bộ chở máy bay trực thăng LPD. Thời gian để nối và ngắt lưới qua cửa dok  mất trung bình khoảng 30 phút. Sau đó, tại độ cao 30-50 m  ở tốc độ 8 - 10 hải lý máy bay trực thăng đi vào khu vực quét.

(http://nm3.upanh.com/b4.s28.d3/bae8137406af99f22dfb3751b2af2d0d_45149173.10090818.jpg)
Trực thăng MH-53 (HM-12) đang tiếp cận USS Dubuque (LPD-8) khi tàu này neo ngoài khơi cảng Hải Phòng, Bắc Việt Nam, mùa hè 1973 trong chiến dịch EndSweep (navsource.org).
.........


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 24 Tháng Năm, 2012, 02:54:55 PM
(tiếp)

(http://www.rear-admiral-rc-robinson.com/images/565_11-18-2005-1.jpg)
Chuẩn đô đốc Rembrandt C. Robinson, Hải quân Mỹ, ở tuổi 47, là chỉ huy phân hạm đội tuần dương-khu trục 11 và chỉ huy nhóm tàu tuần dương-khu trục hoạt động tại Việt Nam thuộc Hạm đội 7 (CTF 75). Chuẩn đô đốc Robinson bị chết trong tai nạn trực thăng tại vịnh Bắc Bộ ngày 8 tháng 5 năm 1972, trong chuyến hạ cánh đêm cuối cùng gần kỳ hạm của ông ta, tuần dương hạm hạng nhẹ USS Providence (CLG-6) ngay trước khi diễn ra cuộc bắn phá của nhóm tàu tuần dương-khu trục vào bán đảo Đồ Sơn và Hải Phòng, Bắc Việt Nam. Cùng chết với ông ta là đại tá hải quân Edmund B. Taylor, Jr. tham mưu trưởng và trung tá hải quân John Leaver sỹ quan tác chiến. Sự kiện diễn ra ngay trước khi chiến dịch rải thủy lôi Pocket Money bắt đầu. Ảnh: Rembrandt C. Robinson trên kỳ hạm của ông ta tại Trân Châu Cảng Hawaii trên đường tới Việt Nam.

Đồng thời máy bay trực thăng cứu hộ cũng cất cánh lên không trung. Việc quét mìn, theo luật, được thực hiện bằng máy bay trực thăng. Dải quét rộng từ 150-180 m. Điều phối công việc quét mìn thực hiện bằng trạm radar trên bờ "Raydist" (tại Cát Bi). Sau 2 - 3 giờ quét, máy bay trực thăng bay đến tàu dok-đổ bộ chở máy bay trực thăng và hạ cánh xuống tàu, sau đó hệ tời trên tàu sẽ kéo lưới quét vào khoang dok.

Để quét mìn có ngòi nổ kiểu áp suất thủy âm, người Mỹ sử dụng lưới quét thủy âm loại nhẹ Mk 104. Lưới quét này được thực hiện dưới hình thức ống Venguri, bên trong ống đặt một đĩa quay, có chiều dài 0,91 m và nặng khoảng 15 kg. Người ta đặt nó trực tiếp trên máy bay trực thăng-quét mìn.

Khi đến gần khu vực quét, máy bay trực thăng thả lưới nhờ tời, dây kéo được thả ra ở một chiều dài cần thiết và gắn với xà kéo, đặt trên thang tải của máy bay trực thăng. Để kéo lưới quét Mk 104 sử dụng dây polypropylene đường kính gần 15 mm. Lưới quét này được sử dụng kết hợp với lưới kéo Mk 105, kết quả nhận được một lưới quét kết hợp gọi là Mk 106.

Mìn neo được quét bằng lưới quét tiếp xúc Mk 103. Mìn bị lưới này giật lên, bị bắn hủy từ súng máy gắn trên máy bay trực thăng-quét mìn. [176]

(http://www.navweaps.com/Weapons/WAMUS_mk2_sketch_pic.jpg)
Mìn neo Mk 2 của Mỹ (navweap.com).

Hàng ngày các máy bay trực thăng thực hiện 16 - 17 phi vụ quét mìn. Họ đã quét qua diện tích khoảng 27 nghìn dặm vuông. Trong thời gian quét mìn, người Mỹ đã bị mất 3 máy bay trực thăng.

Để phá mìn ngòi nổ thủy động lực người Mỹ sử dụng các bộ ngắt mạch (sà lan) chiều dài đến 100 m, được kéo bởi các tàu có lượng choán nước nhỏ. Chiều dài dây kéo khoảng 200 mét. Lưới quét MOP được sử dụng trong các vùng nước nông và để quét bề mặt. Chỉ tới ngày 19 tháng 7 năm 1973, người Mỹ mới hoàn thành việc quét mìn lãnh hải VNDCCH. Tuy nhiên họ không thành công trong việc hoàn toàn loại bỏ được các mối nguy hiểm về thủy lôi.

(http://www.rear-admiral-rc-robinson.com/images/565_11-18-2005-3.jpg)
Bức ảnh cuối cùng của Rembrandt C. Robinson chụp khi lên đường rời tàu sân bay USS Coral Sea (CVA-43) tới kỳ hạm của ông ta ngày 8 tháng 5 năm 1972 (rear-admiral-rc-robinson.com).
.......


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 25 Tháng Năm, 2012, 12:56:11 AM
(tiếp)

Hạm đội yểm trợ các quân binh chủng


(http://www.globalsecurity.org/military/agency/navy/images/cargru5.gif)(http://www.globalsecurity.org/military/agency/navy/images/ctf70.gif)
Phù hiệu của lực lượng xung kích, lực lượng tàu mặt nước xung kích, lực lượng tàu sân bay xung kích Hạm đội 7 Mỹ.

Chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động tác chiến của Hạm đội 7 Hoa Kỳ là hoạt động yểm trợ bằng không quân và pháo binh hỗ trợ cho quân chủng lục quân trong tấn công và phòng thủ. Thu hút lực lượng giải quyết vấn đề này có không quân hải quân trên tàu sân bay, không quân của thủy quân lục chiến, và các nhóm xung kích tàu tên lửa-pháo. Đặc biệt có tầm quan trọng rất lớn là nhiệm vụ yểm trợ lục quân của các máy bay trên tàu sân bay giai đoạn 1965 - 1966, khi mà do mạng lưới sân bay trên không gian chiến trường còn kém phát triển, làm hạn chế việc sử dụng các máy bay trên các căn cứ ở đất liền.

Máy bay cất hạ cánh trên tàu sân bay của đơn vị đặc nhiệm 77 bắt đầu yểm trợ lực lượng mặt đất (close air support) tại miền Nam Việt Nam từ tháng 4 năm 1965. Theo quy luật, để giải quyết vấn đề này đã phân bổ một nhóm tàu sân bay xung kích, còn trong thời kỳ chiến sự căng thẳng gia tăng trên các trận tuyến ở đất liền, việc yểm trợ có hẳn vài nhóm xung kích tại chỗ, chúng cơ động trong 2 tiểu khu vực “Dixie”. Để giảm thời gian chuyến bay tới khu chiến, các tàu sân bay tiến gần đến bờ ở khoảng cách gần 40 dặm.

(http://flitetime.net/dixiestation.jpg)
Dixie Station.

Do các điều kiện địa lý cụ thể của không gian chiến trường, cũng như chiến thuật du kích của lực lượng quân giải phóng, các máy bay hoạt động chủ yếu theo các nhóm nhỏ và vào ban ngày, mặc dù số lượng các chuyến bay đêm [177] dần dần tăng lên và đến một lúc đạt 40% tổng số các phi vụ. Một vài phút trước khi các máy bay cất cánh, tàu sân bay lấy hướng ngược gió và tăng tốc độ. Đồng thời hai máy bay trực thăng cứu hộ cất cánh lên không trung, bay kè 2 bên mạn phải và mạn trái tàu sân bay ở khoảng cách đến 5 kabelt, trên độ cao 50 m.

Việc cất cánh, theo luật, được thực hiện từng chiếc máy bay một, bằng máy phóng. Nhịp độ cất cánh trung bình của máy bay ban ngày lên đến 1 phút, còn ban đêm - 1 phút 30 giây. Đầu tiên các máy bay làm nhiệm vụ đảm bảo cất cánh (AWACS, chiến tranh điện tử, trinh sát và máy bay tiêm kích), rồi sau đó đến máy bay cường kích. Tổng thời gian cất cánh của một nhóm lớn các máy bay đến 40 phút. Sau khi cất cánh, các máy bay lấy độ cao 1500 - 2500 m, xếp thành đội hình chiến đấu và bay vào khu vực làm nhiệm vụ.

Chuyến bay của máy bay tới mục tiêu thực hiện ở tốc độ đến 900 km / h trên độ cao 5.000 mét. Dẫn đầu đội hình ("mũi tên”, "bàn tay xòe", "hàng ngang") là các máy bay do thám và tiêm kích. Trình tự chiến đấu có chiều sâu đến 1500 m và rải trên một diện đến 1.300 m.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/0/01/EA-1F_VAW-13_CVA-43.jpg/776px-EA-1F_VAW-13_CVA-43.jpg)
Chuẩn bị phóng máy bay cảnh báo sớm EA-1F ECM aircraft, phi đoàn cảnh báo sớm trên không VAW-13 thuộc không đoàn tấn công số 15 (Attack Carrier Air Wing Fifteen - CVW-15) trên tàu sân bay Coral Sea CVA-43 trong chiến tranh Việt Nam, máy bay mang theo radar tìm kiếm APS-31C và thùng phóng nhiễu ALT-2. Khoảng 1967/68 (usscoralsea.net ).
.........


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 25 Tháng Năm, 2012, 02:52:02 AM
(tiếp)

Các cuộc tấn công diễn ra theo nhiều cách khác nhau. Thường các phi công sử dụng động tác đánh lạc hướng, khi giả vờ tiếp cận mục tiêu khác, hoặc cố tình bay qua mục tiêu, sau đó làm vòng ngoặt gấp lao vào tấn công mục tiêu. Việc ném bom thực hiện theo từng tốp 2 chiếc, chủ yếu bằng cách bổ nhào với góc 70 - 80 độ. Khá hiếm là cách ném bom khi đang bay bằng hoặc đang bay ngóc lên. Khoảng cách giữa các máy bay trong tốp hai chiếc đến 450 m. Phi công Mỹ thoát khỏi bổ nhào thường ở độ cao 800-1,000 m. Giãn cách 10-15 giây sau, một tốp 2 chiếc cường kích khác lại tiếp cận tấn công mục tiêu. Trong khi thực hiện công kích vào các mục tiêu có lực lượng phòng không yếu, chúng cơ động theo vòng tròn, lần lượt tiến vào công kích, chúng bổ nhào ở góc 45 độ. Một số phi công vào công kích đến ba lần. Việt máy bay thoát tư thế bổ nhào được thực hiện [178] tại độ cao 200 - 300 m. Như trong chiến tranh Triều Tiên, các phi công Mỹ hoạt động trong điều kiện phòng không yếu. Chỉ vào năm 1972, trong biên chế vũ khí của những người yêu nước miền Nam Việt Nam mới có hệ thống tên lửa phòng không di động "Strela-2". Trước đó vũ khí chống trả máy bay chỉ có súng máy phòng không.

Các máy bay trở về tàu sân bay, theo luật, ở độ cao 800 - 3000 m một cách đơn lẻ, theo cặp hoặc tốp nhỏ. Nhịp độ hạ cánh trung bình trên tàu sân bay trong lúc trời sáng là 1 - 1,5 phút, trời tối – đến 3 phút.

Do sự gia tăng mạnh mẽ các chiến dịch mặt đất, sự thay đổi tình hình nhanh chóngi và tính di động khá lớn của trận tuyến, đòi hỏi phải có sự thay đổi thực sự chiến thuật không quân. Yểm trợ được coi là hiệu quả, nếu các máy bay bay đến có mặt tại khu chiến trong vòng 10-15 phút sau khi người ta gọi yêu cầu. Sự phản ứng nhanh chóng với cuộc gọi từ tiền tuyến và sự xuất hiện kịp thời của máy bay trên đầu đối tượng tấn công đạt được nhờ nơi đặt căn cứ không quân của Thủy quân lục chiến gần tuyến mặt trận và việc tổ chức truyền yêu cầu yểm trợ theo kênh liên lạc đặc biệt. Ví dụ, trong năm 1965 gần Chu Lai, sau 30 ngày người Mỹ đã tạo ra một căn cứ không quân với một đường băng cất hạ cánh lát bằng tấm nhôm (dura). Tháng 10 năm 1966, tại căn cứ không quân này, họ đã hoàn thành xây dựng đường băng bê tông. Trong tiến trình chiến tranh, tại các địa điểm khác nhau của miền Nam Việt Nam, đã sinh ra nhiều căn cứ như vậy.

(http://www.globalsecurity.org/military/library/policy/army/fm/6-20-40/Img-22.gif)

(http://www.globalsecurity.org/military/library/policy/army/fm/6-20-40/Img-23.gif)

Các hoạt động của không quân nằm dưới sự lãnh đạo của Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang Hoa Kỳ tại Việt Nam thông qua tư lệnh tập đoàn không quân số 7. Trong thời gian ngắn, người Mỹ đã tạo ra một hệ thống các cơ cấu chỉ huy không quân, trong bản thân nó có các trung tâm yểm trợ đường không trực tiếp (close air support), chỉ huy và báo cáo, các trạm dẫn đường mặt đất và trên không, v.v…

Yểm trợ không quân cho lục quân được chia thành yểm trợ trực tiếp và yểm trợ tổng quát. Việc tổ chức yểm trợ không quân trực tiếp diễn ra [179] vào năm 1965. Các máy bay hoạt động theo "cuộc gọi" từ tư thế "trực chiến trên boong" (tàu sân bay). Để tăng hiệu quả yểm trợ, từ cuối năm 1965 các máy bay cất hạ cánh trên tàu sân bay bắt đầu hoạt động theo "cuộc gọi" từ trạng thái "trực chiến trên không". Trong trường hợp này, rút ngắn được thời gian từ lúc có yêu cầu yểm trợ cho đến lúc thực hiện nó. Năm 1966, số lượng các cuộc tấn công như vậy là khoảng 50%.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/4/4d/Close_air_support_strikes_of_the_1st_Marine_Aircraft_Wing_during_the_Vietnam_War.jpg/800px-Close_air_support_strikes_of_the_1st_Marine_Aircraft_Wing_during_the_Vietnam_War.jpg)
Tấn công yểm trợ trực tiếp (close air support strike) của không đoàn 1 TQLC trong chiến tranh Việt Nam, năm 1968 (Official USMC Photograph A421953).


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 25 Tháng Năm, 2012, 12:08:01 PM
(tiếp)

(http://www.victoryinstitute.net/blogs/utb/wp-content/uploads/2010/06/korea-006.jpg)
Một tốp lính TQLC Mỹ làm nhiệm vụ quan sát dẫn đường cho F-4U Corsair yểm trợ hỏa lực trong chiến tranh Triều Tiên thập kỷ 50 thế kỷ 20.

Dẫn đường cho các máy bay hướng tới mục tiêu là các đài (người) dẫn đường không quân yểm trợ (chúng (họ) cũng kiểm tra kết quả không kích). Trong mỗi tiểu đoàn lục quân hoặc thủy quân lục chiến đều có một chiến sỹ dẫn đường không quân yểm trợ. Với các phương tiện quan sát và thông tin liên lạc được trang bị, anh ta nằm ở tuyến trước của mặt trận. Trách nhiệm của anh ta gồm có việc xin yểm trợ không quân theo kế hoạch hoặc khẩn cấp ("theo lời gọi"), tham mưu cho chỉ huy tiểu đoàn về các vấn đề sử dụng không quân trong chiến đấu, hướng dẫn máy bay bay tới các mục tiêu mặt đất và xác định kết quả cuộc công kích. Người (gọi và) dẫn đường yểm trợ không quân có mối quan hệ trực tiếp với Trung tâm yểm trợ không quân, bộ tham mưu sư đoàn (lữ đoàn) và các máy bay trong không trung. Đề nghị yểm trợ không quân cho bộ đội mặt đất được chuyển qua trung tâm yểm trợ không quân. Trong những thời kỳ chiến sự căng thẳng nhất trên đất liền, người ta thành lập các trung tâm chỉ huy bổ sung trên mặt đất và từ trên không trên các máy bay trực thăng. Với tổ chức vận hành tốt từ lúc nhận được yêu cầu yểm trợ không quân đến khi thực hiện nó mất 10 phút hoặc ít hơn.

(http://nm6.upanh.com/b3.s27.d1/e69635cf0139fdf9d686a40da18c6cbe_45242216.avianavodchik.jpg)
Xe chiến đâu và dẫn đường không quân yểm trợ mặt đất cuối thập kỷ 80 thế kỷ 20 (thử nghiệm) của quân đội Liên Xô ("Боевая машина авианаводчика").

(http://www.181msp.ru/_ph/44/2/481988924.jpg)
Một binh sỹ Liên Xô (Aleksandr) làm công tác gọi, dẫn đường yểm trợ không quân trực tiếp (Авианаводчик) trong chiến tranh Afghanistan, trung đoàn BBCG 181, năm 1980 (181msp.ru). Trong ảnh dưới là xe R-975 (M/M1) - xe tham mưu-chỉ huy cho không quân yểm trợ mặt đất quân đội Xô Viết thời kỳ đó.

(http://russianarms.mybb.ru/uploads/000f/85/b8/1722-1-f.jpg)

Yểm trợ không quân tổng quát được thực hiện trên cơ sở kế hoạch chuẩn bị trước phù hợp với các yêu cầu từ bộ chỉ huy lục quân chuyển đến. Máy bay xuất phát hoạt động từ trạng thái "trực ban chiến đấu trên boong tàu sân bay”. Các cuộc công kích có thể tiến hành theo dẫn đường của các chiến sỹ dẫn đường không quân yểm trợ hoặc không có họ. Trong một số trường hợp, các phi công bay tìm mục tiêu theo kiểu "săn mồi tự do".

(http://nm3.upanh.com/b1.s1.d4/fb9a9147ccfb9df5fa51d9af7e0d6462_45238053.avianavodchikgerman.gif)
Ví dụ về sơ đồ chỉ huy và phối hợp với không quân chi viện trực tiếp của quân Đức thời Thế chiến 2 (riadovoi.ru).

Lần đầu tiên trong chiến tranh Việt Nam, việc dẫn đường của không quân Mỹ tới công kích đối phương được đảm bảo bởi các pha vô tuyến dẫn hướng. Dữ liệu của chúng được đưa vào máy tính gắn trên máy bay cường kích A-6 “Intruder", [180] nhằm đảm bảo độ chính xác cao cho các vụ ném bom trong thời tiết xấu và ban đêm. Những máy bay này thường hoạt động theo kiểu "lời gọi". Các máy bay không có máy tính gắn trên khoang, thường hoạt động theo kế hoạch.

Để yểm trợ lực lượng mặt đất, Mỹ đã lập ra lực lượng đặc nhiệm 70.8, bao gồm 15 tàu tên lửa-pháo, trong đó có một thiết giáp hạm, 2 - 3 tuần dương hạm, 10 tàu khu trục và frigate. Trong thời gian Quân Giải phóng hoạt động tích cực, quân số nhóm này được tăng lên.

Do không tồn tại tuyến mặt trận tập trung dày đặc, người Mỹ buộc phải gửi 2 - 3 tàu đến những khu vực nơi chiến sự diễn ra. Việc bắn phá tập trung vào trận địa các đại đội pháo phòng không, các tuyến đường giao thông trên bộ, nơi tập trung bộ đội, các sở chỉ huy và kho tàng của đối phương.
.......


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 25 Tháng Năm, 2012, 03:19:57 PM
(tiếp)

(http://dic.academic.ru/pictures/polytechnic/0101-46.jpg)

Đạn pháo phản lực-chủ động:
1 – ngòi nổ;  2 – đầu đạn; 3 – liều nổ phản lực (nhiên liệu rắn), 4 – miệng phun phản lực; 5 – vùng đai xoắn dẫn động của quả đạn; 6 – thân đạn; 7 – thuốc nổ.
1 - взрыватель; 2 - боевая часть; 3 реактивный заряд (твёрдое топливо); 4 - сопло; 5 - ведущий поясок снаряда; 6 - корпус; 7 - заряд взрывчатого вещества.


Khi thực hiện yểm trợ pháo binh cho quân đội, các tàu chiến bắn phá từ khoảng cách 9 - 11 km, còn từ năm 1967, khi sức chống trả của lực lượng phòng thủ bờ biển QGP mạnh lên, tầm bắn phá của pháo hạm tăng lên đến 10 - 20 km. Các tàu chiến có đạn pháo phản lực chủ động cỡ 127 mm, bắn vào các mục tiêu trên bờ từ khoảng cách 25 - 30 km. Sau khi chiếm lĩnh vị trí bắn, thuyền trưởng thiết lập đường liên lạc với đài quan sát hiệu chuẩn pháo binh. Từ đài quan sát thông báo về tàu số mục tiêu, đặc điểm và tọa độ vị trí của nó, số lượng các phát bắn cần thiết để phá hủy mục tiêu và thời gian thực hiện nhiệm vụ hỏa lực. Người Mỹ thường xuyên tiến hành ném (bằng cách thả dù hay cho đổ bộ từ trực thăng) vào hậu phương QGP các toán thám báo-hiệu chỉnh pháo. Các đợt bắn phá thi hành theo số liệu từ các nhóm trên gây bất ngờ cho những người du kích Việt Nam, buộc họ phải thay đổi vị trí đóng quân và căn cứ của họ. Các tàu chiến thường bắn loạt hiệu chỉnh từ 2 đến 4 viên đạn, sau đó thực hành cuộc bắn phá mục tiêu với tốc độ tối đa. Các cuộc bắn phá diễn ra ở tốc độ thấp, và hiếm hoi – khi đang neo hoặc thả trôi tàu. Các tàu chiến pháo kích vào các khu vực có khả năng đặt các khẩu đội pháo bờ biển của quân du kích Việt nam [181], trong tư thế cơ động thay đổi hướng (dích dắc, chữ chi) với tốc độ 10 - 12 hải lý.

(http://nm0.upanh.com/b2.s28.d2/5c7a87758ac4dc86a758fb9ac36d1709_45210630.bang5b.jpg)

Đặc điểm hệ thống pháo hạm các tàu chiến Hải quân Mỹ (trong chiến tranh Việt Nam).

Khi bị rơi vào lưới lửa từ các khẩu đội pháo bờ biển, tàu chiến Mỹ dừng thực hiện nhiệm vụ tác chiến và nhờ màn khói ngụy trang che phủ mà bắn trả bằng ụ pháo đuôi tàu, trong khi rút lui ra xa bờ ở tốc độ 30 hải lý: Theo sự dẫn đường từ chính chiếc tàu chiến bị rơi vào vùng hỏa lực pháo bờ biển, chỉ 5 – 6 phút sau, các máy bay cường kích trên tàu sân bay sẽ tấn công các khẩu đội pháo đang bắn vào tàu chiến. Điều này đạt được nhờ thực tế trong thời gian duy trì hỏa lực pháo hạm, gần khu vực chiến sự có các máy bay quần vòng [182]. Trên các tàu chiến, theo luật, cũng có các binh sỹ (đài) dẫn đường không quânyểm trợ. Không quân Thủy quân lục chiến trong những trường hợp tương tự như vậy chỉ có mặt tại khu vực sau 30 phút. Vì vậy, cuộc tấn công của TQLC sẽ kém hiệu quả hơn.
..........


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 25 Tháng Năm, 2012, 09:22:08 PM
(tiếp)

(http://www.navsource.org/archives/05/0584306.jpg)
USS Warrington DD-843 trong vịnh Subic chờ bán cho Hải quân Đài Loan phá sắt vụn (navsource.org).

Do trong vũ khí của du kích Việt Nam thiếu những khẩu đội pháo bờ biển cỡ lớn, các tàu chiến Mỹ thường chỉ bị thương nhẹ. Tuy nhiên, họ cũng không thể tránh những tổn thất nghiêm trọng. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ hỏa lực gần hòn đảo Hòn-La, do vụ nổ hai trái thủy lôi mà người Mỹ bị mất tàu khu trục USS "Warrington” DD-843. Trái thủy lôi đầu tiên nổ ở khu vực tháp pháo mũi tàu. Tàu bị chấn động mạnh: một phần vỏ bọc thân tàu lõm vào bên trong từ sống mũi đến vách ngăn ngang thứ 40; nhiều khung ngang chịu lực bị vặn xoắn; một số vách ngăn kín nước bị biến dạng. Nhiều cơ cấu bị hư hại nặng; các hộp giảm tốc các máy tàu chính bị dịch chuyển; một số lượng lớn các đường ống dẫn ở phần mũi tàu bị nứt rạn; một phần các cơ cấu máy phụ trợ bị dịch chuyển khỏi các bệ máy.

(http://www.hartshorn.us/Navy/mk25-36.gif)
Mk 25 và Mk 36 (hartshorn.us).

"Warrington" tiếp tục di chuyển theo quán tính. Nó đi được khoảng 200 mét, rồi từ dưới phần thân giữa quả thủy lôi thứ hai phát nổ. Kết quả là, ở một số vị trí đã xuất hiện rò rỉ qua thân tàu. Từ những vụ nổ chấn động trên, hầu hết các cơ cấu của tàu, thiết bị điện, phương tiện thông tin liên lạc và radar đều bị hư hại.

Con tàu hư hỏng được kéo về vịnh Subic. Cùng ngày, tư lệnh Hạm đội 7 Mỹ, phó đô đốc Holloway, người đang giữ một cánh trên tuần dương hạm “Newport News", ra mệnh lệnh: "Tất cả các tàu ở biển Nam Trung Hoa tạm thời không được vào gần bờ biển dưới 3 dặm". Ủy ban đặc biệt được thành lập đã kết luận rằng con tàu bị phá nổ bởi hai trái thủy lôi Mk 36, bị máy bay Mỹ "Skyhawk" ném xuống "vô tình" trong thời gian thả thủy lôi ồ ạt phong tỏa bờ biển Bắc Việt Nam. Kiểm tra cẩn thận USS "Warrington" thì phát hiện ra rằng tàu không thể phục hồi. Theo tính toán thô sơ [183] ước tính việc sửa chữa có thể đắt gần gấp đôi chi phí ban đầu của tàu khu trục. Người ta quyết định bán "Warrington" làm phế liệu.

(http://www.hartshorn.us/Navy/mk36.jpg)
Mk 36 (hartshorn.us).
..........


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: VMH trong 25 Tháng Năm, 2012, 09:41:17 PM
Bác qtdc:

- Cái chú thích về Rembrandt C. Robinson có vẻ không ổn lắm trong cách dùng từ, em thấy "bị giết trong tai nạn" nghe không thuận tai lắm. ;D

- Cái hình anh lính Nga ở Afghanistan là đang ngắm bắn tên lửa chống tăng, có vẻ vênh với chú thích ở dưới. ;D


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 25 Tháng Năm, 2012, 09:46:38 PM
Bác qtdc:

- Cái chú thích về Rembrandt C. Robinson có vẻ không ổn lắm trong cách dùng từ, em thấy "bị giết trong tai nạn" nghe không thuận tai lắm. ;D

- Cái hình anh lính Nga ở Afghanistan là đang ngắm bắn tên lửa chống tăng, có vẻ vênh với chú thích ở dưới. ;D
Thứ nhất:
- Cám ơn đ/c admin: - sẽ sửa ngay.
Cãi cố một tý:
1. Hình anh lính Nga còn nhiều, sẽ thay, nó nằm trong một vụ anh ta phải làm avianavodchik "miễn cưỡng".
2. Vì ông đô đốc Robinson bị "killed in helicopter crash".


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 26 Tháng Năm, 2012, 06:48:39 AM
(tiếp)

(http://nm7.upanh.com/b2.s29.d3/5490e886da906f7114022657dddd677e_45229847.ussprebledlg1529672pearlharbor.jpg)
USS Preble DLG-15/DDG-46, Farragut-class destroyer, khu trục hạm yểm trợ mặt đất thuộc nhóm đặc nhiệm 70.8 hoạt động tại vùng khu phi quân sự Việt Nam từ giữa năm 1972 đến đầu năm 1973. USS Preble bị các đơn vị pháo bờ biển QGP loại 122 mm chặn đánh từ ngày 27 tháng 12 năm 1972. Đến ngày 24 tháng 1 năm 1973, khi đang bắn phá giao thông thì bị trúng một loạt đạn pháo cỡ 130 mm của QGP. Ăng ten trên tháp chính bị phá hủy. Đạn pháo phá nhiều lỗ bên sườn khối boong thượng phần giữa tàu, ống phóng lôi, làm hư hại nặng cabin thuyền trưởng. Trong 4 ngày liên tiếp sau đó, USS Preble vẫn tiếp tục pháo kích vào đất liền ở khu vực Quảng Trị, yểm hộ cho các tiểu đoàn quân VNCH trong chiến dịch Tango City lấn chiếm cảng Cửa Việt và gặp sự chống trả mãnh liệt của pháo bảo vệ bờ biển; đài quan sát trên tàu đếm được 169 phát đại bác rơi quanh tàu. Đây có thể là tàu chiến cuối cùng của Hải quân Mỹ trúng đạn của pháo binh bảo vệ bờ biển Bắc Việt Nam. Sau giờ ngừng bắn theo hiệp định Paris, tàu được lệnh chấm dứt tham chiến ở Việt Nam và rút quân. Ảnh chụp tàu USS Preble tại Pearl Harbor ngày 29 tháng 6 năm 1972 (navsource.org).

Yểm trợ hỏa lực cho lục quân được phân chia thành yểm trợ gần và yểm trợ xa. Trong yểm trợ gần bằng pháo hạm, các tàu chiến bắn vào các mục tiêu nằm không gần hơn 50 mét tính từ mép tiền duyên của quân mình. Yểm trợ từ xa được thực hiện trong các giới hạn tầm bắn xa tối đa của pháo hạm. Các tàu tên lửa-pháo được sử dụng với cường độ cao khi thời tiết xấu, khi đó hoạt động của không quân gặp khó khăn.

Trong tổ chức pháo binh yểm trợ, người Mỹ cố gắng tránh gây trùng lặp các cuộc tấn công vào cùng một mục tiêu, giảm tối đa sự nhiễu loạn lẫn nhau, quy định dạng hỏa lực điển hình được chọn, giữ cho được tính tập trung trong công tác chỉ huy tất cả các phương tiện hỏa lực, họ áp dụng một hệ thống thống nhất các ký hiệu mục tiêu và sử dụng rộng rãi các bảng tín hiệu quy ước.

Từ kinh nghiệm trong chiến tranh Việt Nam người ta rút ra kết luận rằng, các cố gắng thay thế pháo hạm bằng tên lửa không mang đến thành công. Trong một số trường hợp, chỉ pháo binh mới có thể giải quyết hiệu quả các nhiệm vụ tác chiến. Tính hiệu quả của nó nằm ở tính sẵn sàng khai hỏa cao, khả năng hoạt động liên tục trong thời gian dài và trong cả các điều kiện thời tiết bất lợi, tốc độ bắn cao và cơ số đạn dược lớn, tính chống nhiễu cao cũng như độ chính xác cao, chi phí thấp hơn của vũ khí pháo binh so với vũ khí tên lửa.

Khi yểm trợ lục quân, bộ chỉ huy Mỹ cố gắng tổ chức sự hợp đồng giữa máy bay của lực lượng đặc nhiệm 77 và các pháo hạm của nhóm đặc nhiệm 70.8. Đôi khi, họ đã thành công. Đồng thời cố gắng tránh các cuộc tấn công trùng lặp vào cùng một mục tiêu, tránh các cuộc tấn công vào chính quân đội của mình, giảm tối đa [184] sự cản trở lẫn nhau, xác định chính xác loại và số lượng đạn dược, đặt trách nhiệm quản lý chỉ huy các lực lượng yểm trợ và phối hợp hành động của chúng lên cá nhân các chỉ huy của các đơn vị chiến thuật, áp dụng hệ thống thống nhất các ký hiệu mục tiêu, v.v…
............


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 26 Tháng Năm, 2012, 11:27:36 AM
(tiếp)

“Tàu tốc hành đặc biệt" vượt đại dương


(http://nm7.upanh.com/b6.s27.d2/4c7b00afc0e4b15094866abf50642bef_45251147.0301305.jpg)
USNS Core (T-AKV 41, ex-T-CVU 13, ex-CVHE 13, ex-CVE 13, ex-ACV 13) chở máy bay cánh cố định và 15 trực thăng Bell HU-1A Huey đến cập bến Sài Gòn tháng 9 năm 1962 phục vụ một đơn vị phát triển cơ động đường không tại sân bay Tân Sơn Nhất, Nam Việt Nam. USN/MSTS photo (navsource.org).

Đóng vai trò quan trọng trong chiến tranh Việt Nam là việc vận tải quân sự bằng đường biển (Military Sealift, Military Sea Transportation Service: MSC, MSTS). Trong suốt thời gian chiến tranh, tới 98% tổng số hàng hóa Mỹ và 60% nhân viên Mỹ được chở tới khu vực Đông Nam Á bằng tàu biển. Kế hoạch tổng thể vận tải hàng quân sự do bộ tham mưu hải vận của Hải quân Mỹ thực hiện, còn việc vận chuyển hàng quân sự tới vùng biển Tây Thái Bình Dương do một phòng hải vận đóng trụ sở tại Yokohama (Nhật Bản) đảm nhiệm. Tuy nhiên, các cơ quan này không thể kham nổi khối lượng quá lớn hàng hóa vận chuyển, do đó vào năm 1965 đã thành lập tại Sài Gòn một Văn phòng hải vận riêng.

(http://nm0.upanh.com/b3.s27.d1/8847d958ef7544c8dedace07b543f52b_45251170.0301303.jpg)
USNS Core gần một cầu tàu cảng Sài Gòn ngày 17 tháng 6 năm 1965, tàu chở các máy bay Douglas EA-1F Skyraider cho không lực VNCH (navsource.org).

Thường xuyên tham gia vận chuyển có khoảng 300 tàu. Đó là tàu của MSTS, tàu chở hàng cỡ lớn, thuê từ các công ty tư nhân, cũng như tàu thuộc hạm đội dự bị của cơ quan quốc phòng Hoa Kỳ. Từ năm 1967, việc vận tải đường biển đã được 400 - 500 tàu và nhiều hơn nữa thực hiện. Lần đầu tiên trong chiến tranh Việt Nam, người Mỹ đã sử dụng các container để chở hàng. Việc sử dụng chúng giúp tăng tốc quá trình dỡ hàng tại cảng. Ví như thời gian dỡ một container vận chuyển hàng hóa quân sự tại cảng Đà Nẵng vào năm 1968 mất 18 giờ thay vì 5 - 7 ngày cần thiết để dỡ từ tàu chở hàng khô thông thường.

Các cảng bốc hàng chính là Los Angeles và San Francisco, còn các cảng dỡ hàng - Sài Gòn, Cam Ranh, Quy Nhơn và Đà Nẵng. Hầu hết hàng hoá giao tại Sài Gòn. Trong thương cảng lớn nhất này, cùng một lúc có thể đồng thời bốc dỡ đến 35 tàu đậu tại bến [185] và 12 tàu thả neo ở vũng cảng ngoài. Mỗi ngày, có 20 tàu đến cảng. Khi đi vào cảng Sài Gòn, tàu phải tiếp tục đi trong khoảng gần 4 giờ trong khu mặt nước của một khúc sông quanh co, nơi tàu thường rơi vào lưới lửa của các loại pháo, súng máy, và thậm chí cả súng bộ binh. Đôi khi tại các đoạn sông người ta đặt thủy lôi tiếp xúc (chạm nổ). Để dẫn luồng cho tàu, người Mỹ buộc phải phân bổ 10-12 thuyền máy. Phía trước đoàn công voa 1000 m là 2 xuồng máy quét mìn, tiếp theo hai thuyền pháo-cối. Những thuyền máy đi sau có trách nhiệm chế áp những điểm hỏa lực của kẻ thù bị phát hiện trước khi các tàu bảo vệ tiến vào vùng xạ kích của đoàn công voa. Bảo vệ trực tiếp cho con tàu gồm 4 -8 thuyền máy. [186]
........


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 26 Tháng Năm, 2012, 02:08:45 PM
(tiếp)


(http://nm1.upanh.com/b1.s26.d2/1e90fe3f19864c650bd47ab9854ef740_45251161.0301131.jpg)
USS Card (ACV-11) trong thời gian phục vụ tại Việt Nam. Tàu chở đến các nhà quân dụng dã chiến, các xe kéo, máy bay cánh cố định, trực thăng và các tổ lái, chở về các máy bay bị hư hại v.v.(navsource.org).

Trên đường đi từ Mỹ tới Biển Đông, dù tàu biển tăng tốc độ đến 15 hải lý và trên nữa cũng mất đến 20 ngày đêm, và do tham gia vận chuyển hàng quân sự chủ yếu là các tàu cũ kiểu "Liberty", nên tốc độ chung không vượt quá 11 hải lý, thời gian đi đường tăng ít nhất 30% và trung bình mất từ 20 - 27 ngày. Do vấn đề này, để giao hàng đến chiến trường nhanh chóng, bộ chỉ huy hải vận Mỹ buộc phải đưa vào một tuyến giao thông "tốc hành đặc biệt". Phục vụ tuyến này là các tàu có tốc độ lớn hơn 18 hải lý. Như vậy, thời gian vận chuyển đi từ Mỹ đến miền Nam Việt Nam đã giảm xuống đến 16 ngày.

Nói chung, việc giao hàng hóa quân sự đến chiến trường mất tới 270 ngày đêm. Việc chuyển đề nghị các mặt hàng quân sự tới các cơ quan trách nhiệm của Bộ Quốc phòng và lấy hàng trong các kho chiếm mất 30-80 ngày. Gần hai tháng mất vào việc tập trung của hàng hóa tại các cảng bốc xếp hàng lên tàu. Thời gian trung bình lưu giữ hàng hóa tại các cảng tới 120 ngày đêm. Vận tải hàng hoá bằng đường biển và giao hàng đến khu vực đóng quân chiếm đến 60 ngày đêm. Đến cuối cuộc chiến các đơn hàng được đáp ứng có phần nhanh hơn. Tổng thời gian giao hàng đã giảm được hơn 2 tháng.

(http://nm8.upanh.com/b3.s29.d1/c68bf61d39a1dfcf4d96f69a8fccec47_45251168.0301132.jpg)
Tem thư lịch sử liên quan đến USS Card (navsource.org).

Các phương tiện vật chất được giao tới cảng bốc hàng bởi bộ chỉ huy vận tải quân sự của quân chủng lục quân Mỹ, còn từ cảng dỡ hàng - do một bộ chỉ huy hậu cần được thành lập đặc biệt đảm nhiệm, đơn vị này có các văn phòng tiếp vận tại 4 vùng tiếp vận ở miền Nam Việt Nam. Trong suốt cuộc chiến tranh, tại các cơ quan khác nhau của bộ chỉ huy hải vận Mỹ có khoảng 10,5 nghìn thủy thủ dân sự và 420 - 450 quân nhân làm việc.
.........


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 26 Tháng Năm, 2012, 09:05:25 PM
(tiếp)


(http://mw2.google.com/mw-panoramio/photos/medium/68291216.jpg)
Cảng Cam Ranh 1966/67 ảnh của Don Griffin.

Bộ chỉ huy Mỹ coi vòng quay tàu là tiêu chí chính đánh giá hiệu quả vận tải biển. Tàu từ các bến cảng nước Mỹ ra khơi theo đúng tiến độ vận chuyển được phê duyệt. Trong tiến độ dự kiến ngày tàu đến [187] cảng miền Nam Việt Nam không sớm hơn 5 ngày trước khi các đơn vị quân đội được nhận hàng có mặt tại đó, không muộn hơn 2 ngày sau khi các đơn vị quân đội có mặt trong khu vực này. Điều trên đây giúp tránh sự cần thiết phải tổ chức lưu giữ lâu dài hàng hóa tại các cảng đến. Tuy nhiên, sự thiếu vắng các cảng lớn ở miền Nam Việt Nam làm giảm con số này, bởi lẽ một số tàu phải neo đậu chờ dỡ hàng đến 2 tháng. Thời gian neo đỗ trung bình của các tàu khi dỡ hàng tại các cảng lớn (Sài Gòn và Cam Ranh) là từ 10 đến 22 ngày, còn tại các cảng kém phát triển hơn - lên đến 40 ngày. Đôi khi, tại các cảng trong và các vũng cảng ngoài của miền Nam Việt Nam trong cùng lúc dồn đến 100 tàu chưa bốc dỡ.

(http://mw2.google.com/mw-panoramio/photos/medium/68298201.jpg)
Sông Lòng Tàu 1966/67 ảnh của Don Griffin.

Để rút ngắn thời gian xử lý tàu trong một số khu vực nhất định, người Mỹ đã đưa đến các cầu cảng lắp ghép, sử dụng để dỡ hàng các LST loại nhỏ và các tàu chạy tuyến ven biển. Khi thực hiện hoạt động dỡ hàng việc sử dụng máy bay trực thăng đã cho thấy kết quả. Thông thường, trên con tàu biển bố trí 2 trực thăng vận tải. Việc dỡ hàng được thực hiện với sự giúp đỡ của chúng. Đồng thời hàng hóa đã được chuyển trực tiếp đến nơi quân đội đóng căn cứ.

(http://1.bp.blogspot.com/_tX5QsEFCZwE/TT9Ekw2zN9I/AAAAAAAAAFI/H67KCosMdNA/s640/Slide35.JPG)
Ngày 21 tháng 6 năm 1965, tại cảng Sài Gòn (ủa cảng SG có núi hồi nào?, đây có thể là Quy Nhơn hoặc Cam Ranh), sỹ quan quân đoàn vận tải lục quân Mỹ Richard P.Clark Jr, trợ lý chuyên trách cho J-4 MACV về vận tải ven biển, trưởng tiểu ban vận tải J-4 MACV (vietnamwarclerksdiary.blogspot.com).

Trong tiến trình chiến tranh, người Mỹ tìm cách tạo ra tối thiểu 90 ngày dự trữ phương tiện vật chất, một nửa số đó nằm trong các kho của miền Nam Việt Nam, số còn lại nằm trong các căn cứ tiền phương hoặc trung gian. Để thực hiện việc này, hàng tháng có đến 85 ngàn tấn đạn dược, 320 nghìn mét khối nhiên liệu và 15 triệu khẩu phần hàng ngày về thực phẩm được vận chuyển vào miền Nam Việt Nam. Lượng vận chuyển hàng năm là 7,5 triệu tấn và 4 triệu tấn sản phẩm xăng dầu. Trong suốt thời kỳ chiến tranh, theo các dữ liệu đến nay chưa đầy đủ, người Mỹ đã vận chuyển (tới Nam Việt Nam) hơn 66 triệu tấn hàng hóa quân sự, 27 triệu tấn dầu và hơn 2 triệu người.

(http://grambo.us/pollybag_files/image004.jpg)(http://grambo.us/pollybag_files/image007.jpg)

(http://grambo.us/pollybag_files/image005.jpg)(http://grambo.us/pollybag_files/image011.jpg)

Tàu hàng Mỹ trên sông Sài Gòn, 1967. Trại của tiểu đoàn vận tải 11 thuộc quân đoàn vận tải quân sự lục quân Mỹ tại cảng Cát Lái. Từ các cảng Nam Việt Nam trở đi, hàng chuyển đến các đơn vị lục quân Mỹ trên đất liền thuộc trách nhiệm của họ. Tại đây còn có doanh trại lữ đoàn bộ binh nhẹ số 199 lục quân Mỹ và năm 1967, trực thăng chở tướng chỉ huy lữ đoàn này bị bắn rơi vào ban đêm khi bay qua sông.
Ảnh dưới: Sỹ quan Mỹ tại Cát Lái 1967. Trại sau khi bị tấn công bằng súng cối dịp Tết Mậu Thân 1968.

..............


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 26 Tháng Năm, 2012, 11:22:47 PM
(tiếp)


(http://nm0.upanh.com/b2.s26.d2/2e0883f2de03be7b740db96725b45e02_45281250.0582431.jpg)
USS Sacramento AOE-1 (giữa), Sacramento Class Fast Combat Support Ship, đang tiếp tế cho USS Ticonderoga CVA-14 và USS Basilone DD-824 ngày 13 tháng 6 năm 1966 tại Biển Đông. Tàu kết hợp trong một thân 3 chức năng của các tàu logistic: tiếp dầu (fleet oiler), tiếp đạn (ammunition ship) và kho lạnh ( refrigerated stores ship).

Phần lớn hàng hóa quân sự chở đến chiến trường ở trên tàu hậu cần nổi. Để tiếp vận cho các tàu của Hạm đội 7 ở biển Đông thường xuyên có [188] 10 tàu vận tải và tàu chở dầu đi đến, theo phiên 15 ngày một lần. Việc chuyển giao hàng lên tàu thực hiện bằng phương pháp song song và theo lệ vào ban đêm, ở tốc độ 8-16 hải lý khi biển có sóng đến cấp 6. Trong một số trường hợp, sau một đêm một pháo hạm tiếp nhận đến 200 tấn đạn. Tốc độ, khả năng bơi độc lập, tầm bơi xa và tính năng hàng hải của tàu hậu cần di động cho phép chúng bơi trong thành phần các đơn vị hành động của Hạm đội 7, do đó loại trừ sự mất thời gian để di chuyển tàu chiến vào khu vực chờ đón các đơn vị phục vụ.

Vị trí đặc biệt trong việc đảm bảo vật chất được dành cho các tàu tiếp vận đa năng đóng sau Chiến tranh thế giới thứ II. Ví dụ, một tàu loại này - USS "Sacramento", sau 5 tháng ở trong đội hình Hạm đội 7 Hải quân Mỹ, đã thực hiện 570 lần bơm nhiên liệu, truyền được 131,7 nghìn tấn nhiên liệu tàu biển và 91 ngàn tấn nhiên liệu hàng không, tiếp tế 2 ngàn tấn thực phẩm và hàng hoá khác, 1.125 tấn nước ngọt, 23 tấn thư tín bưu phẩm. Nó cũng chở đến cho các tàu chiến 930 binh sỹ và sỹ quan.

(http://nm2.upanh.com/b6.s29.d3/b288ed2a5e553a6157d27de22b4b4ac6_45281322.09590163.jpg)
Trực thăng H-46 Sea Knight đang cẩu một giỏ thực phẩm từ USS Sacramento (AOE-1) để chuyển tới tàu sân bay xung kích USS Bon Homme Richard (CVA-31) trong hành trình bổ sung tiếp vận ngoài khơi bờ biển Việt Nam tháng 6 năm 1967.
US Navy photo # USN 1124568 by JOC R.D. Moeser (navsource.org).


Trong nửa đầu thập niên 60, trên các trang báo chí nước ngoài có nhận xét rằng tàu sân bay xung kích trong điều kiện không cần tiếp nhiên liệu, nước uống, và thức ăn, vẫn có thể bơi độc lập đến 90 ngày. Tuy nhiên, quá trình 6,5 tháng tham gia của tàu sân bay xung kích "Midway" tại cuộc chiến tranh Việt Nam cho thấy rằng trong thời gian này, nó đã phải 43 lần bổ sung dự trữ vật chất trên biển, có nghĩa là, trung bình cứ 4 - 5 ngày một lần, nó tiếp nhận 8.000 tấn đạn dược, khoảng 60 nghìn tấn nhiên liệu tàu biển, khoảng 38 nghìn tấn nhiên liệu hàng không và 1.200 tấn hàng hoá khác. Thủy thủ đoàn (4.200 người) tiêu thụ hơn 9 tấn thức ăn trong mỗi ngày đêm.
..........


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 27 Tháng Năm, 2012, 12:43:00 AM
(tiếp)


(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/en/d/d1/Usscard1.jpg)
USNS Card chụp tại cảng Sài Gòn ngày 2 tháng 5 năm 1964 sau khi bị QGP tấn công tại cầu cảng Sài Gòn (en.viki).

Khi xây dựng kế hoạch vận chuyển đường biển, bộ chỉ huy Mỹ tôn trọng các nguyên tắc tương tự như trong Chiến tranh ở Triều Tiên. Người ta gắn với nó sự tiếp vận đảm bảo liên tục cho các nhóm tàu và quân đội, đang hoạt động trên tuyến mặt trận, từ đạn dược, nhiên liệu, thực phẩm, vật tư y tế; [189] tạo ra các nguồn dự trữ tất cả các loại vật chất cần thiết, tiết giảm hợp lý chi tiêu nguồn vật chất, bao gồm cả đạn dược; vận chuyển cung ứng từ các cảng đất nước mình tới khu vực chiến sự, nghĩa là không ghé tàu biển vào các căn cứ trung gian. Dựa trên những kinh nghiệm của chiến tranh Việt Nam, có thể kết luận rằng vận tải biển là thuận tiện hơn nhiều và kinh tế hơn nhiều nữa so với đường hàng không. Điều đó trước hết nằm ở chỗ giá thành chi phí vận chuyển đường biển thấp hơn và khả năng vận chuyển trên các tàu vận tải các loại hàng hoá có kích thước lớn và trọng lượng lớn.

Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, khác với Chiến tranh Triều Tiên, hầu hết các tàu đi tiếp vào khu vực chiến sự mà không cần bảo vệ hộ tống. Chỉ có một số tàu vận tải nhằm mục đích hoàn thiện việc bảo vệ tuyến khai thác hàng hải mới được các tàu chiến bảo vệ.

(http://nm2.upanh.com/b2.s26.d1/66541f982ef67c2736fd0c8a8fe6bdeb_45282792.0311902.jpg)
USNS Point Cruz (CVE-119/T-AKV 19), một trong những con tàu vận tải đến Nam Việt Nam sớm nhất, sau khi tham gia chiến tranh Triều Tiên, ảnh chụp tại cảng Nhật Bản.
..........


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 27 Tháng Năm, 2012, 01:59:38 AM
(tiếp)

Các lực lượng đường sông lâm trận


(http://www.warboats.org/StonerBWN/The%20Brown%20Water%20Navy%20in%20Vietnam_Part%203_files/image002.gif)(http://www.warboats.org/StonerBWN/The%20Brown%20Water%20Navy%20in%20Vietnam_Part%203_files/image003.gif)(http://www.warboats.org/StonerBWN/The%20Brown%20Water%20Navy%20in%20Vietnam_Part%203_files/image005.gif)
Phù hiệu của đơn vị 117. Trong hoạt động nó kết hợp chặt chẽ với các lực lượng của sư đoàn bộ binh Mỹ số 9 đóng căn cứ tại Đồng Tâm, Mỹ Tho.

(http://www.warboats.org/StonerBWN/The%20Brown%20Water%20Navy%20in%20Vietnam_Part%203_files/image008.jpg)
(http://www.warboats.org/StonerBWN/The%20Brown%20Water%20Navy%20in%20Vietnam_Part%203_files/image009.jpg)

(http://www.warboats.org/StonerBWN/The%20Brown%20Water%20Navy%20in%20Vietnam_Part%203_files/image006.gif)
Vùng hoạt động của đơn vị 117 với căn cứ hải-lục quân đóng tại Đồng Tâm, Mỹ Tho. Trong hình ở giữa lục lượng 117 đóng tại bồn trũng, lực lượng lục quân đóng ở nền sau của hình.

(http://www.tf116.org/images/logo.gif)(http://www.gingerb.com/VIETNAM%20Can%20Tho%20Map.jpg)(http://www.tf116.org/vietnam_photos/RDaugherty/3.jpg)

(http://www.gingerb.com/VIETNAM%20Binh%20Thuy%20Admiral%20Zumwalt.jpg)
Căn cứ của lực lượng 116 tại Bình Thủy, Cần Thơ (tỉnh Phong Dinh theo tên cũ) (gingerb.com).

Lực lượng đường sông chiếm vị trí đáng kể trong các hoạt động tác chiến của Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam. Gần như ngay thời kỳ mở đầu chiến tranh, người Mỹ đã thành lập hai đơn vị hành động số 116 và 117 để hoạt động trên vùng sông nước, trong các đơn vị đó có đến 500 tàu, thuyền các loại. Các tàu thuyền của lực lượng đặc nhiệm 116 làm nhiệm vụ phá hoại tuyến giao thông thủy của đối phương và bảo vệ việc vận chuyển đường sông của mình, còn tàu thuyền của lực lượng đặc nhiệm 117 hỗ trợ quân chủng lục quân bằng cách đổ bộ các lực lượng đổ bộ đường sông và chi viện hỏa lực pháo binh và súng cối. Thành phần và tổ chức của các đơn vị này thay đổi định kỳ. Đặc nhiệm 117 có hai giang đoàn đổ bộ và giang đoàn bảo trì. Trong đó, mỗi giang đoàn đổ bộ bao gồm 26 tàu vận chuyển quân bọc thép, 5 pháo thuyền đường sông, hai thuyền máy chỉ huy, 16 thuyền yểm trợ hỏa lực và một tàu chở dầu. Giang đoàn bảo trì có 2 tàu doanh trại nổi tự hành và 1 không tự hành, 2 tàu kéo, hai tàu đổ bộ LST, 2 tàu cứu hộ và một tàu công binh xưởng nổi. [190]


(http://www.tf116.org/vietnam_photos/JBandy/5_lg.jpg)
(http://www.tf116.org/vietnam_photos/JBandy/12_lg.jpg)
Tàu công binh xưởng nổi USS Tutuila ARG-4 tại căn cứ Nhà Bè và các PCF trên dok của ARG-4 (ảnh trên).

Để làm căn cứ cho các lực lượng đường sông, người Mỹ chế tạo ra các xà lan bơi di động. Trên các sà lan này, các giang thuyền có thể được sửa chữa, lên dok khô, bổ sung tất cả các loại vật chất. Trên sà lan còn các khoang thủy thủ để các thành viên nghỉ ngơi giải trí, kiểm tra sức khỏe, và thậm chí có sân cất hạ cánh cho máy bay trực thăng. Để làm căn cứ cho lực lượng đường sông còn sử dụng các tàu đổ bộ LST.

(http://www.gingerb.com/VIETNAM%20Binh%20Thuy%20PBR%20view%202.jpg)
(http://www.gingerb.com/VIETNAM%20Binh%20Thuy%20PBR.jpg)
Hai loại thuyền máy tuần sông PBR (Mark I và II) được Bassac River Patrol Group of Navy Task Force 116 sử dụng. Khác biệt chủ yếu nhìn thấy giữa 2 loại trên là cấu trúc thượng tầng nhô cong lên phía trên hơn của Mark II (ảnh dưới) so với Mark I. Khối trụ tròn phía trên cột buồm là radar Raytheon 1900/W dùng để đi tuần ban đêm.
........


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 27 Tháng Năm, 2012, 10:48:22 AM
(tiếp)

Việc đổ bộ lực lượng đường sông được thực hiện nhằm loại bỏ các khu lán trại căn cứ, kho tàng và công trình của du kích Việt Nam, cũng như để đối phó với các hình thức quân đội của MTDTGPMNVN. Hầu như tất cả các cuộc đổ bộ đường sông đều diễn ra theo một sơ đồ duy nhất. Lực lượng đổ bộ được phân bổ từ Lữ đoàn bộ binh 2 hoặc Sư đoàn Bộ Binh 9. Theo quân số mà xét, lực lượng đổ bộ đường sông không vượt quá 1 - 2 tiểu đoàn.

(http://www.tf116.org/vietnam_photos/JBeery/4_lg.jpg)

(http://www.tf116.org/vietnam_photos/JBeery/8_lg.jpg)
Đây là PBR số 60, tối hôm qua nó đã dính 2 phát B-40 khi đi tuần ở cù lao Mây (Cần Thơ, sông Hậu) và bây giờ trông thế này.

Để phục vụ thời kỳ các hoạt động đổ bộ người ta thành lập một đơn vị hỗn hợp đặc nhiệm gồm 30 - 50 thuyền. Đơn vị đổ bộ bao gồm các nhóm chỉ huy, quét mìn, hộ tống, yểm trợ hỏa lực và nhóm vận tải, và nhóm chỉ huy – hình thành từ hai thuyền truyền tin. Đồng thời trên một chiếc thuyền máy có người chỉ huy đơn vị tàu thuyền hỗn hợp (người chỉ huy chung các lực lượng đổ bộ), chỉ huy quân đổ bộ, các sĩ quan chỉ huy không quân, pháo binh, và ban tham mưu. Chiếc thuyền máy thứ hai phục vụ như là một trạm truyền tin tiếp sức. Nhóm thuyền-quét mìn dành để rà quét toàn bộ luồng tàu trên sông và khu vực đổ bộ đến độ sâu cho phép. Nhóm vận tải thực hiện việc chuyển giao tới khu vực và đổ bộ quân đổ bộ cùng các phương tiện tác chiến lên bờ sông không được trang thiết bị. Trong mọi trường hợp người ta cố gắng tiếp nhận toàn thể một phân đội đổ bộ trên một thuyền đổ bộ. Nhóm hộ tống có nhiệm vụ đối phó với các cuộc phục kích và che chở cho khu vực đổ bộ, còn nhóm yểm trợ hỏa lực – chế áp sức đề kháng chống đổ bộ và hỗ trợ quân đổ bộ trên bờ.

(http://www.tf116.org/vietnam_photos/JBeery/2_lg.jpg)
Toán SEAL số 2 trên chiếc xuồng nhôm giữa ảnh cùng lực lượng 116 và quân VNCH làm nhiệm vụ trên một con kênh hẹp điển hình của miền Tây Nam Bộ.

Biên đội đổ bộ di chuyển theo đội hình hành quân dày đặc. Đi trước là thuyền quét mìn. Trên tất cả các đoạn hành trình máy bay trực thăng đều bay kèm hộ tống đội đổ bộ [192]. Trong một số trường hợp, để trinh sát vị trí đổ bộ, người ta ném trước vào trong khu vực đó đội biệt kích-đổ bộ.

(http://www.tf116.org/vietnam_photos/MDavidson/seal12_lg.jpg)
Nhóm SEAL 2 tại Mộc Hóa, Long An (khi đó gọi là Kiến Tường) trong chiến dịch Giant Slingshot trên sông Vàm Cỏ Tây (tf116.org).

(http://www.warboats.org/StonerBWN/The%20Brown%20Water%20Navy%20in%20Vietnam_Part%203_files/image032.jpg)
Thuyền máy tấn công ASPB, được thiết kế chuyên dụng cho chiến tranh sông nước tại Việt Nam. Nó dài 50 feet, rộng 15 feet, có 2 động cơ 12V71 (diesel engines) và 2 chân vịt. Boong thượng sử dụng giáp cách đều và sau này là các giáp thanh. Kíp thủy thủ 5 người. Những thuyền đầu tiên có súng cối Hải quân 81 hoặc 2 súng máy 7.62mm Mk 21 hoặc một súng máy .50. Tháp pháo thiết kế để lắp được các loại súng 20mm, .50, 7.62mm, và súng phóng lựu tự động 40mm. Thuyền máy tấn công ASPB có một số cải tiến về giáp bảo vệ và vũ khí trong thời kỳ từ 1967 đến 1971.

(http://www.warboats.org/StonerBWN/The%20Brown%20Water%20Navy%20in%20Vietnam_Part%203_files/image036.jpg)(http://www.warboats.org/StonerBWN/The%20Brown%20Water%20Navy%20in%20Vietnam_Part%203_files/image038.jpg)
Ảnh trái: Cuối 1969 nhiều thuyền ASPB được lắp 8 (4x2) máy phóng rocket 3.5-inch loại Mk 47. Loại thuyền này đã có tháp pháo Mk 48 Mod 2 với đại liên .50.  Rocket là loại HEAT (high-explosive, anti-tank) hoặc phốt pho trắng WP (white phosphorus).  [Photo: Tom Lefavour] . Ảnh phải: Tháp pháo Mk 48 Mod 2 với các ống phóng 3.5-inch rocket Mk 47. Người xạ thủ da đen giữ trái 3.5-inch rocket đang giải thích những điểm mới của vũ khí cho kíp thủy thủ. Cục “u” đằng sau ống phóng rocket là chốt contactor nhóm.  Mỗi chôt giữ rocket trong ống phóng và nối mạch tiếp xúc cho motor ống phóng.  [Photo: Tom Lefavour].

(http://www.warboats.org/StonerBWN/The%20Brown%20Water%20Navy%20in%20Vietnam_Part%203_files/image042.jpg)
Thuyền quét mìn MSR (Minesweeper, River) của lực lượng 117, cải biên từ ASPB chuẩn.
Chúng được sử dụng như thuyền chỉ huy và kiểm soát cho các xuồng quét mìn không người lái MSD (Minesweeping Drone). MSD là xuồng quét mìn 23-foot điều khiển từ xa lắp một động cơ xăng Chevrolet 327. MSR khác ASPB tiêu chuẩn bằng cách lắp thêm bánh xe quét mìn và các thiết bị điện tử. Ngoài ra, tháp pháo 20mm boong trên được thay thế bằng hai súng máy 7,62 mm. Tiểu đoàn quét rải mìn 113 của giang đoàn quét rải mìn 11 sử dụng các thuyền MSR. Đây là thuyền MSR-7. [Ảnh: Jack T. Walker]


(http://www.warboats.org/StonerBWN/The%20Brown%20Water%20Navy%20in%20Vietnam_Part%203_files/image044.jpg)

(http://www.warboats.org/StonerBWN/The%20Brown%20Water%20Navy%20in%20Vietnam_Part%203_files/image046.jpg)
Ảnh trên: Ba MSD của tiểu đoàn mìn 113. MSD được thiết kế để quét các loại mìn sông khác nhau mà không gây nguy hiểm cho kíp thủy thủ. Nó được thiết kế để chạy từ xa qua sự điều khiển từ thuyền chỉ huy và kiểm soát và được coi là có thể bị phá hủy. MSD cũng có khả năng điều khiển trực tiếp bằng tay. Ảnh: Tom Lefavour].

Ảnh dưới:  
Các MSD của tiểu đoàn mìn 113 hoạt động trong chế độ điều khiển tay với kíp thủy thủ trên xuồng. Giữ cho các tuyến đường thủy chính sạch mìn là một công việc nóng bỏng, dơ bẩn, mệt mỏi, tẻ nhạt và ngắt quãng bởi những khoảnh khắc khủng bố tinh thần. Ảnh: Tom Lefavour.

..........


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 27 Tháng Năm, 2012, 04:53:36 PM
(tiếp)


(http://www.warboats.org/StonerBWN/The%20Brown%20Water%20Navy%20in%20Vietnam_Part%203_files/image094.jpg)
Giang thuyền pháo số 2 (ảnh chụp đầu năm 1970) với pháo 105 mm và đại liên .50 trên nóc thuyền.

(http://www.warboats.org/StonerBWN/The%20Brown%20Water%20Navy%20in%20Vietnam_Part%203_files/image082.jpg)(http://www.warboats.org/StonerBWN/The%20Brown%20Water%20Navy%20in%20Vietnam_Part%203_files/image084.jpg)
Các giang thuyền pháo M92-2 Program 4 thuộc giang đoàn xung kích 9 - RAS 9 (River Assault Squadron 9) lực lượng 117. Phía sau súng máy 40 mm lắp thêm súng phun lửa M10-8 làm nhiệm vụ phun lửa đốt cháy cây cỏ trên bờ, tìm các hầm bí mật dọc bờ sông và bờ kênh của QGP.

(http://www.vietnamgear.com/Imagevwr.aspx?img=Monitor.jpg)
(http://www.vietnamgear.com/Imagevwr.aspx?img=ATCs.jpg)
Các giang thuyền pháo của đơn vị 117 hành quân trên kênh rạch Nam Bộ. Ảnh dưới là các thuyền chở quân ATC (Navy Armored Troop Carriers) thường dùng chở quân sư đoàn BB số 9 lục quân Mỹ và lính TQLC của VNCH đi càn ở ĐB Sông Cửu Long.

Đến khu vực đổ bộ đầu tiên là các thuyền máy và trực thăng yểm trợ hỏa lực với mục đích chuẩn bị trước chỗ đổ quân và chặn các lối thoát có thể của du kích Việt Nam. Để giải quyết nhiệm vụ này người ta dành ra các giang thuyền pháo, chúng được xây dựng dựa trên một loại thuyền đổ bộ kiểu LCM-6. Những giang thuyền loại đó có độ choán nước tổng cộng 90 tấn được trang bị pháo 105-mm, súng máy 40 mm, 20 mm và 7,62 mm. Để yểm trợ hỏa lực còn có các giang thuyền pháo loại ASPB (hai súng máy 40 mm) và FSPB Mk2 (pháo 105 mm) và sà lan-sân đáp kéo theo, trên đó đặt hai lựu pháo 105 mm. Trong một số cuộc đổ bộ, người ta đưa vào yểm trợ hỏa lực cả các đại đội pháo bờ biển và súng cối 82 mm, bố trí ở phía bờ đối diện. Để điều chỉnh hỏa lực pháo binh, mỗi đại đội cử ra một trinh sát quan sát-chỉnh pháo.

Yểm trợ hỏa lực quân đổ bộ đường sông còn có các phi đội máy bay trực thăng tấn công ("Sea Wolves"), đóng căn cứ chính cách đông nam Sài Gòn 65 km (tức căn cứ Đồng Tâm - Mỹ Tho). Biên chế của nó có hơn 20 trực thăng vũ trang.

(http://www.gingerb.com/VIETNAM%20Binh%20Thuy%20Seawolf%20301%20on%20Display.jpg)
Trực thăng của đội Sea Wollf tại Bình Thủy, Cần Thơ năm 1968/69. Vào năm 1970, phi đội này sẽ tái bố trí về căn cứ Đồng Tâm khi kết thúc thời hạn phục vụ tại Việt Nam.

(http://www.tf116.org/vietnam_photos/GBusic/39_lg.JPG)
Trực thăng của HAL-3 Sea Wollf cất cánh khỏi sàn đáp tàu đổ bộ Garrett County LST-786 trên sông Hậu (Bassac).

(http://www.gingerb.com/VIETNAM%20Binh%20Thuy%20%20Black%20Pony%2010.jpg)
Các chú Ngựa Non Đen "Black Ponies" thuộc phi đoàn VA(L)-4 mới đến thị trấn quân sự này (Bình Thủy) 2 tuần trước vào ngày 19 tháng 4 năm 1969. Họ là phi đoàn tấn công duy nhất bằng những chiếc máy bay cánh cố định, động cơ cánh quạt trong Hải quân Mỹ. Sứ mệnh chủ yếu nhất của họ là bảo đảm an ninh đường không cho các cuộc hành binh trên sông. Ngựa Đen bay máy bay Bắc Mỹ Rockwell OV-10A Broncos.
.........


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 27 Tháng Năm, 2012, 09:00:07 PM
(tiếp)

Trên các hướng có khả năng tiếp cận của lực lượng đường sông của đối phương, người Mỹ bố trí các thuyền bảo vệ cho khu vực đổ bộ. Việc đổ quân thực hiện bằng các thuyền đổ bộ ATC. Trên các thuyền kiểu này có thể chở 40 người với vũ khí bộ binh, súng phóng lựu, súng máy và súng cối, hoặc một chiếc xe ô tô hoặc xe bọc thép. Một phần các thành viên được máy bay trực thăng đổ bộ. Cuộc đổ bộ thực hiện theo sơ đồ sau (xem trang 4): từ đường tiếp cận song song với điểm đổ bộ, các thuyền đổ bộ ngoặt gấp “đột ngột” 90 ° theo hướng bờ. Sau khi cập bờ, các thành viên đội đổ bộ nhanh chóng rời thuyền, các thuyền rút sang hướng khác nhường đường vào cho đợt đổ bộ thứ hai. Nếu trong kế hoạch không dự kiến đón quân thì các thuyền sẽ quay trở lại nơi đóng quân. Nếu không, chúng tập kết tại một khu vực đặc biệt [193] trên bờ đối diện (cho đến khi kết thúc các hoạt động của quân đổ bộ trên bờ). Một phần quân số (gần một tiểu đoàn) làm đội dự bị trên các thuyền đổ bộ. Những binh sĩ này được đổ bộ khi cần thiết theo "lệnh gọi".

(http://www.tf116.org/vietnam_photos/MDavidson/mach4_lg.jpg)
Lực lượng 116 lập chốt phong tỏa.

(http://www.tf116.org/vietnam_photos/MDavidson/OnPatrol_lg.jpg)
PBR của đơn vị 116 đi tuần.

(http://www.tf116.org/vietnam_photos/BoppCates/7_lg.jpg)
Gây tội ác: tra hỏi xong rồi giết.

(http://www.tf116.org/vietnam_photos/GBusic/31_lg.JPG)
Chuẩn bị sắp vào một trận đánh.

(http://www.tf116.org/vietnam_photos/Clouse/04_lg.jpg)
Thuyền số 140 ăn đạn B-40.

(http://www.tf116.org/vietnam_photos/Clouse/23_lg.jpg)
Còn đây là tình trạng chiếc PBR số 750.

(http://www.tf116.org/vietnam_photos/Clouse/68_lg.jpg)
... các thuyền khác trở về căn cứ.

(http://www.tf116.org/vietnam_photos/GBusic/43_lg.JPG)
Lại tiếp tục ngày cũng như đêm: Trực thăng được sửa chữa ban đêm trên USS Garrett County LST-786.

Cuộc chiến trên các tuyến đường tàu sông do lực lượng đặc nhiệm 116 tiến hành. Biện pháp hoạt động chủ yếu của lực lượng này là tuần tra. Nó được thực hiện suốt ngày suốt đêm bằng các tốp 2 chiếc thuyền bơi ở tốc độ thấp. Khoảng cách giữa các thuyền từ 400-500 m. Chúng kiểm tra tất cả các phương tiện nổi phát hiện được. Ở những bến đò ngang và bến phà, các thuyền máy quân sự của Mỹ tiến hành tuần tra phong tỏa. Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, trong các con sông của miền Nam Việt Nam người Mỹ đã khám xét hơn 100 nghìn chiếc ghe và tàu sông.

Ở giai đoạn "Việt Nam hóa" chiến tranh, các đơn vị đường sông bị giải tán, và hầu hết các tàu thuyền (khoảng 500 đơn vị) đã được chuyển giao cho Hải quân Nam Việt Nam.

(http://www.tf116.org/vietnam_photos/Clouse/09_lg.jpg)
Chợ ở Mỹ Tho trong chiến tranh.

(http://www.tf116.org/vietnam_photos/GBusic/75_lg.JPG)
Bờ sông Tiền phía Vĩnh Long.

(http://www.tf116.org/vietnam_photos/Clouse/01_lg.jpg)
Hoàng hôn miền sông nước lúc tạm ngớt tiếng súng đạn.
.........


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: VMH trong 27 Tháng Năm, 2012, 09:44:33 PM
Những binh sĩ này được đổ bộ khi cần thiết theo "lời gọi".
-----------------------
 Trong quân sự thì thường dùng là theo "lệnh gọi", bác ạ. Pháo bắn theo lệnh gọi, máy bay ném bom theo lệnh gọi, đổ bộ lực lượng dự bị/thê đội 2 theo lệnh gọi. ;D


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 27 Tháng Năm, 2012, 10:27:18 PM
Những binh sĩ này được đổ bộ khi cần thiết theo "lời gọi".
-----------------------
 Trong quân sự thì thường dùng là theo "lệnh gọi", bác ạ. Pháo bắn theo lệnh gọi, máy bay ném bom theo lệnh gọi, đổ bộ lực lượng dự bị/thê đội 2 theo lệnh gọi. ;D
Nghe "lệnh gọi" như thế thì có vẻ đúng từ quân sự nhưng thực chất người truyền tin ở dưới gọi xin (theo lệnh của người chỉ huy trực tiếp tại chỗ) người chỉ huy chung hoặc chỉ huy hỏa lực ở tuyến sau (có xin thì cho mà cũng có thể không cho hoặc cho ít cho nhều chẳng hạn). Thằng ở trên sẽ cho lệnh thằng trực hỏa lực chi viện, khi đó là lệnh thật theo nghĩa cấp trên lệnh cấp dưới. Đ/c admin thấy thế nào ạ? Đ/c đọc đến đấy xong rồi muốn tưởng tượng là lệnh gọi hay là đá đít bảo bắn cũng được. Hay là để "theo yêu cầu".


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: VMH trong 27 Tháng Năm, 2012, 10:57:28 PM
Người chỉ huy cao nhất trên chiến trường là người chỉ huy binh chủng hợp thành, các quân binh chủng khác đều là đơn vị trực thuộc, chuyển thuộc, tăng cường, phối thuộc. Giả sử, sĩ quan đại diện của sư đoàn không quân tiêm kích bom mà đi theo sở chỉ huy của trung đoàn trưởng bộ binh thì anh ta cũng sẽ phát "lệnh gọi" cho máy bay của sư đoàn mình theo lệnh của tay trung đoàn trưởng bộ binh mà không phải gọi ném bom theo lệnh của sư đoàn trưởng bộ binh, lại càng không phải xin lệnh của sư đoàn trưởng không quân. Pháo binh của cấp quân đoàn do quân đoàn quản lý và thành lập các cụm pháo chi viện cho từng hướng, những cụm pháo này nếu được lệnh chi viện cho sư đoàn bộ binh thì cũng sẽ chỉ bắn theo "lệnh gọi" của sư đoàn trưởng bộ binh, bác ạ! ;D

Vì vậy, dù là áp dụng vào trường hợp cụ thể này - đổ bộ đường biển - thì người chỉ huy lực lượng đổ bộ cũng ở trên đất liền cùng với lực lượng tiến công chủ yếu/thê đội 1 và nếu cần thiết anh ta sẽ "lệnh gọi" lực lượng dự bị/thê đội 2 của mình đổ bộ tiếp để tăng cường cho lực lượng tiến công chủ yếu/thê đội 1. Lực lượng dự bị của đơn vị nào đương nhiên thuộc quyền chỉ huy của đơn vị đó, không phải của cấp trên nên không phải xin. ;D


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 27 Tháng Năm, 2012, 11:08:42 PM
VMH: đã sửa, đ/c admin nói có lý. Tôi đặt địa vị người lính truyền tin nên không dám để ông linh ra lệnh cho ông tướng. Nhưng cậu lính gọi theo lệnh chỉ huy thôi.

(tiếp)

***
Cuộc chiến tranh ở Đông Dương là cuộc xung đột vũ trang lớn nhất kể từ Thế chiến II. Trong những thời kỳ chiến sự căng thẳng nhất có đến 3 triệu người ở cả hai bên tham gia, họ được trang bị hơn 600 xe tăng, hơn 7.000 khẩu pháo và súng cối cỡ nòng lớn, 5.000 máy bay cánh cố định và trực thăng. Đồng thời trong vùng biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) có đến 100 tàu thuộc các loại chủ chốt, còn trên các con sông và vùng ven biển miền Nam Việt Nam - 2.000 thuyền chiến. Suốt thời gian chiến sự đã có hơn 2,5 triệu binh lính và sĩ quan Mỹ tham gia. Từ năm 1964 đến 1973 trên lãnh thổ miền Bắc Việt Nam có hơn 250 nghìn cuộc tấn công đường không và đường biển, khoảng 7,7 triệu tấn bom đã được ném xuống. Người Mỹ và các đồng minh của họ đã thực hiện khoảng 100 cuộc đổ bộ đường biển và đường sông, còn khi tiến hành các hoạt động phong tỏa, họ đã kiểm tra khoảng 180 nghìn tàu, thuyền trên biển và trên sông.

Tổn thất trong cuộc chiến này tỏ ra rất ấn tượng: theo số liệu của Lầu Năm Góc, họ có khoảng 1 triệu người chết và bị thương (360.000 người - quân nhân Hoa Kỳ). Tại Đông Nam Á [196] người Mỹ mất 8.612 máy bay cánh cố định và trực thăng, bao gồm cả số mất trên lãnh thổ VNDCCH - 4125 máy bay. Trong tổng số máy bay bị mất có 640 - máy bay cất hạ cánh trên tàu sân bay và 425 máy bay cánh cố định và trực thăng của không quân thủy quân lục chiến. Trong số tàu lớn bị mất chỉ có một tàu khu trục.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s48.gif)
Đồ thị số lượng tàu chiến Mỹ trong biên chế tham gia vào chiến sự tại Việt Nam.

Trong tiến trình cuộc chiến tranh Việt Nam, Hải quân Mỹ đã có được nhiều kinh nghiệm đáng kể trong việc đổ quân đổ bộ, trong việc thực hiện phong tỏa đường biển, trong yểm trợ hỏa lực cho quân chủng lục quân trong tấn công và phòng thủ, giáng đòn tấn công vào các mục tiêu công nghiệp và quân sự trên đất liền. Khi giải quyết tất cả những vấn đề này, bộ chỉ huy Mỹ đã tìm cách sử dụng tối đa các kinh nghiệm của Chiến tranh thế giới thứ II, cũng như kiểm tra các chiến thuật mới và thử nghiệm các mẫu thiết bị quân sự và vũ khí mới. Bài học rút ra từ chiến tranh Việt Nam có một tác động đáng kể vào việc hoàn thiện Hải quân Hoa Kỳ, công tác huấn luyện chiến đấu và tác chiến chiến dịch của họ. Đã khẳng định được khả năng chiến đấu cao của các tàu sân bay, đặc biệt tàu sân bay sử dụng năng lượng hạt nhân, trước hết chúng có tầm bơi xa lớn và khả năng hoạt động và hành trình độc lập, tính cơ động cao (trong một ngày đêm các tàu sân bay hoàn thành chuyến di chuyển đến 1000 km) và khả năng nhanh chóng tập trung các nhóm máy bay lớn trong các khu vực có mạng lưới sân bay (trên đất liền) kém phát triển. Do vậy các tàu sân bay đã đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn đầu và cuối chiến tranh.

(http://militera.lib.ru/h/dotsenko/s49.gif)
Sự tham gia của các tàu sân bay Mỹ trong chiến tranh Việt Nam.

Các bài học của chiến tranh Việt Nam có tác động đáng kể đến sự phát triển của lực lượng tác chiến thủy bộ và Thủy quân lục chiến Mỹ. Như chính người Mỹ thừa nhận, họ có những kinh nghiệm độc đáo về tiến hành chiến tranh trên các dòng sông. Kinh nghiệm đó họ đã dựa vào khi phát triển "học thuyết các chiến dịch đường sông".

Theo đánh giá của các nhà kinh tế Mỹ, chiến tranh ở Việt Nam tiêu tốn của Hoa Kỳ tổng cộng 111 tỷ đô la, nghĩa là 2 lần lớn hơn so với chi phí cho chiến tranh ở Triều Tiên. Ngoài ra, tổng số tiền viện trợ quân sự và kinh tế của Mỹ cho chính phủ bù nhìn miền Nam Việt Nam đạt con số tổng cộng 20 tỷ đô la.


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 17 Tháng Mười Một, 2012, 06:41:47 PM
SP2E-Neptune, cảnh từ sân bay Tân Sơn Nhất. Trong chiến tranh Việt Nam nó được Hải quân Mỹ sử dụng trong các chiến dịch ngăn chặn vận chuyển tiếp tế dọc bờ biển từ bắc vào nam:
http://www.youtube.com/watch?v=cWUR2xEf6vU

Thiết giáp hạm New Jersey BB-62 và trong chiến tranh Việt Nam:
http://www.youtube.com/watch?v=jHtsBgJBoiU

http://www.youtube.com/watch?v=4ym56jMZMoQ

http://www.youtube.com/watch?v=9U0Mex36J_4


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 17 Tháng Mười Một, 2012, 08:34:47 PM
PCF Mỹ và Navy SEAL trong chiến tranh Việt Nam, năm 1968:
http://www.youtube.com/watch?v=YGeLz6SSKks

http://www.youtube.com/watch?v=JRg2xurpL1Q

http://www.youtube.com/watch?v=4fexE6SjUJ0

USS Midway trong LinebackerII:
http://www.youtube.com/watch?v=UmfhW6DEbqw


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: chiangshan trong 17 Tháng Mười Một, 2012, 09:29:46 PM
Hôm nay tình cờ thấy vụ này cũng ngộ:

Tóm tắt lại: trong thời gian 16-17/6/1968, ở khu vực bờ biển gần DMZ đã xảy ra 2 sự kiện:

Sự kiện thứ nhất: rạng sáng ngày 16-6-1968, PCF-19, 1 tàu tuần tiễu của HQ Mỹ hoạt động gần khu vực DMZ được báo cáo là trúng 2 phát rocket từ 1 "máy bay địch" nổ tung. 2 tàu Mỹ là PCF-12 (HQ) và Point Dume (Phòng vệ bờ biển) đến kiểm tra tình hình phát hiện nhiều mảnh vỡ và vết dầu loang, sau đó 2 tàu này cũng bị 2 máy bay bắn pháo sáng và tấn công suốt gần 2 giờ nhưng sau đó rút về được.

Sự kiện thứ hai: cũng ở khu vực trên, khu trục hạm HMAS Hobart HQ Úc và USS Edson của HQ Mỹ đang phối hợp tuần tra do có thông tin về hoạt động của trực thăng đối phương thì bị máy bay tấn công. Hobart trúng tên lửa, bị một số hỏng hóc và chết 3, bị thương 6 thủy thủ. 1 tàu khác của HQ Mỹ trong khu vực là tuần dương hạm hạng nặng USS Boston cũng bị trúng tên lửa. Mảnh vỡ từ tên lửa sau đó được xác định là của Mỹ, đi đến kết luận là các tàu trên bị F-4 của KQ bắn nhầm.

Các tài liệu của Mỹ viết về 2 sự kiện này vẫn còn chưa đồng nhất. 1 số cho rằng cả 2 sự kiện diễn ra cùng thời gian, và vụ tấn công các tàu PCF cũng là do máy bay Mỹ bắn nhầm (đây cũng là quan điểm chính thức của HQ Mỹ). Trong khi số khác, trong đó có thủy thủ PCF-12 cho rằng sự kiện tấn công các tàu khu trục diễn ra vào ngày hôm sau, 17-6 và ở thời điểm PCF bị tấn công không có máy bay Mỹ hoạt động trong khu vực.

Các máy bay tấn công PCF được mô tả là bay chậm, bật đèn sáng vòng lượn và đôi lúc có thể đứng yên trên không. Theo mô tả của 1 thủy thủ PCF-12 thì đó là trực thăng Mi-4, nhưng 1 số khác lại mô tả là máy bay cánh cứng.

Về phía ta thì chưa tìm được tài liệu nào nhắc đến hoạt động đánh tàu mặt nước của KQ vào thời gian này.

Tham khảo:
Swift Boat Down: The real story of the sinking of PCF-19 (http://books.google.com.vn/books?id=F4Q_Dusmz-EC&pg=PA1&lpg=PA1&dq=Swift+Boat+Down:+The+real+story+of+the+sinking+of+PCF-19+pdf&source=bl&ots=e4C3T-GahJ&sig=LLnlBhUXFFND2QVTE-aATvAFR-Y&hl=vi&sa=X&ei=vHynUMitIqqyiQeUzoEw&ved=0CFYQ6AEwBg#v=onepage&q=Swift%20Boat%20Down%3A%20The%20real%20story%20of%20the%20sinking%20of%20PCF-19%20pdf&f=false) (hồi ký của 1 thủy thủ trên PCF-12).
THE SINKING OF PCF-19 AS SEEN FROM PCF-12 (http://www.gunplot.net/vietnam/hobartvietnamandpcf19.html)
HMAS HOBART - attacked by US Airforce June 1968 Vietnam (http://www.gunplot.net/vietnam/hobartvietnam.html)


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 17 Tháng Mười Một, 2012, 10:57:06 PM
Giang thuyền Mỹ PBR trong chiến tranh Việt Nam:
http://www.youtube.com/watch?v=7BpZgeObTfg

http://www.youtube.com/watch?v=vNEdmwa5RpA

Navy SEAL trong chiến tranh Việt Nam:
http://www.youtube.com/watch?v=gk0p4nNife4

http://www.youtube.com/watch?v=sOSAjfE7SK8

Một cuộc tấn công ở châu thổ sông Cửu Long:
http://www.youtube.com/watch?v=fEmNWTAtTrU


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 19 Tháng Mười Một, 2012, 12:38:06 AM
USS Independence CV-62 trong chiến tranh Việt Nam:
http://www.youtube.com/watch?v=0tFUoaIVfW0

USS Ticonderoga tháng 12 năm 1965:
http://www.youtube.com/watch?v=JEHI9GqUIjo

USS Kitty Hawk 1970-71:
http://www.youtube.com/watch?v=BjTC4gDpiWU


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 19 Tháng Mười Một, 2012, 01:09:02 AM
USS Franklin D.Roosevelt 1966-1967:
http://www.youtube.com/watch?v=09MXqUyXXrY

USS Enterprise, 1969:
http://www.youtube.com/watch?v=b2CCC_OI498

http://www.youtube.com/watch?v=P4YyAStIXAw


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 19 Tháng Mười Một, 2012, 01:19:46 AM
Vụ nổ trên USS Forrestal trong vịnh Bắc Bộ, 1967:
http://www.youtube.com/watch?v=Ag3wg_i3vcI

Vụ cháy trên USS Oriskany 1966:
http://www.youtube.com/watch?v=kCNVBFFARkE

USS Newport News CA-148 và USS Lynde McCormick DDG-8 đấu pháo cùng các khẩu đội pháo bờ biển Bắc Việt Nam, tháng 12 năm 1967:
http://www.youtube.com/watch?v=lRAggmkeDg4


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 19 Tháng Mười Một, 2012, 02:23:00 AM
USS Highbee sau khi bị Mig-17 tấn công 19.4.1972:
http://www.youtube.com/watch?v=81PvgMvDs5Q

USS Oklahoma City ở khu phi quân sự 1972:
http://www.youtube.com/watch?v=2nmWMvN3i68

USS Albert David DE 1050 tháng 3/4 năm 1972:
http://www.youtube.com/watch?v=0kct5lqr2tk


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 21 Tháng Sáu, 2013, 12:09:55 PM
(http://www.navsource.org/archives/05/pix2/0573140.jpg)
Vết đạn súng máy từ các tàu phóng lôi cao tốc HQND Việt Nam để lại trên bệ Mk56 USS Maddox DD-731 trong trận ngày 2 tháng 8 năm 1964. Ảnh chụp ngày 10 tháng 8 năm 1964 của một thợ ảnh trên tàu sân bay Ticonderoga USS CVA-14. (http://www.navsource.org/archives/05/731.htm)

(http://www.navsource.org/archives/05/0573128.jpg)
Một sỹ quan hải quân Mỹ thuộc biên chế tàu khi trục Maddox quỳ bên lỗ đạn súng máy của trận ngày 2 tháng 8 năm 1964. Viên đạn đã xuyên bệ Mk56 lọt vào trong. (http://www.navsource.org/archives/05/0573128.jpg)

(http://www.navsource.org/archives/05/0573127.jpg)
Trên boong Maddox ngày 13 tháng 8 năm 1964. Trái: sư trưởng sư đoàn khu trục hạm 192, và phải: chỉ huy khu trục hạm Maddox. (http://www.navsource.org/archives/05/731.htm)

(http://www.navsource.org/archives/05/0587428.jpg)
Cứu phi công Mỹ bị bắn rơi trên biển Đông năm 1967. Ảnh chụp từ USS Duncan DD-874.

(http://www.navsource.org/archives/04/070/04010240.jpg)
USS Canberra CA-G2 dưới làn đạn đánh trả của pháo bờ biển QK 4. Tháng 3 năm 1967. (http://www.navsource.org/archives/04/070/04070.htm)


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 21 Tháng Mười Một, 2015, 10:48:01 PM
Chúng tôi đã gặp họ (http://www.38brrzk.ru/photo/)
(Tư liệu của các tàu trinh sát lữ đoàn đặc nhiệm độc lập 38 Hạm đội Thái Bình Dương)

(http://www.38brrzk.ru/photos/original_2232.jpg)
USS Maddox

(http://www.38brrzk.ru/photos/original_2210.jpg)
Yankee Station

(http://www.38brrzk.ru/photos/original_2142.jpg)
Task Force 77 tại Biển Đông, năm 1965

(http://www.38brrzk.ru/photos/original_2217.jpg)
USS Constellation

(http://www.38brrzk.ru/photos/original_2216.jpg)
Kitty Hawk năm 1964

(http://www.38brrzk.ru/photos/original_2214.jpg)
Kitty Hawk năm 1964

.........

(http://www.38brrzk.ru/photos/original_2152.jpg)
USS Enteprise trong Vịnh Bắc Bộ tháng 6 năm 1966

(http://www.38brrzk.ru/photos/original_2166.jpg)
USS Enteprise trong Vịnh Bắc Bộ năm 1968

(http://www.38brrzk.ru/photos/original_2167.jpg)
USS Boston pháo kích bờ biển Bắc Việt Nam tháng 9 năm 1968

(http://www.38brrzk.ru/photos/original_2222.jpg)
USS Coral Sea và tàu trinh sát "Ghidrofon" trong Vịnh Bắc Bộ năm 1969

(http://www.38brrzk.ru/photos/original_1632.jpg)
Prowler

(http://www.38brrzk.ru/photos/original_1633.jpg)
Tiếp dầu trên Vịnh Bắc Bộ, năm 1972

(http://www.38brrzk.ru/photos/original_1581.jpg)
"Ghidrofon" và "Ampemetr" trong Vịnh Bắc Bộ, ảnh chụp của phía Mỹ

(http://www.38brrzk.ru/photos/original_1575.jpg)
Thuyền buồm trong Vịnh Bắc Bộ

(http://www.38brrzk.ru/photos/original_1556.jpg)

(http://www.38brrzk.ru/photos/original_1560.jpg)

(http://www.38brrzk.ru/photos/original_1562.jpg)

(http://www.38brrzk.ru/photos/original_1541.jpg)

(http://www.38brrzk.ru/photos/original_1557.jpg)
USS Lloyd Thomas và một tàu ngầm Mỹ

(http://www.38brrzk.ru/photos/original_1650.jpg)

(http://www.38brrzk.ru/photos/original_1642.jpg)

(http://www.38brrzk.ru/photos/original_1542.jpg)
P-3

(http://www.38brrzk.ru/photos/original_1634.jpg)
Phantom

(http://www.38brrzk.ru/photos/original_1544.jpg)
P-2

(http://www.38brrzk.ru/photos/original_1545.jpg)
E-1B

(http://www.38brrzk.ru/photos/original_1651.jpg)
Kitty Hawk trong Vịnh Bắc Bộ tháng 3 năm 1972

(http://www.38brrzk.ru/photos/original_1641.jpg)
Trực thăng của Hải quân Hoàng gia Anh trong Vịnh Bắc Bộ năm 1972

(http://www.38brrzk.ru/photos/original_1636.jpg)
A-5 (A-3J) Vigilante, Vịnh Bắc Bộ 1972

(http://www.38brrzk.ru/photos/original_1635.jpg)

(http://www.38brrzk.ru/photos/original_1637.jpg)
A-7, Vịnh Bắc Bộ 1972

(http://www.38brrzk.ru/photos/original_1508.jpg)
Cường kích hạm "Vigilante" cất cánh khỏi "Constellation"

(http://www.38brrzk.ru/photos/original_1511.jpg)

(http://www.38brrzk.ru/photos/original_1510.jpg)
USS Coral Sea
.........


Tiêu đề: Re: Hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam 1964-1973
Gửi bởi: qtdc trong 24 Tháng Mười Một, 2015, 06:29:00 AM
USS Grayback 574 (http://ussgrayback574.com/)

(http://ussgrayback574.com/Pictures/Grayback/grayback.jpg)

(http://ussgrayback574.com/ibsrecovery.jpg)

(http://ussgrayback574.com/ibslaunch.jpg)

(http://ussgrayback574.com/AGback05.JPG)

(http://ussgrayback574.com/AGback17.jpg)

(http://ussgrayback574.com/AGback03.JPG)

(http://ussgrayback574.com/AGback31seattle4.jpg)

(http://ussgrayback574.com/sdvlaunch.jpg)

(http://ussgrayback574.com/sdvapproach.jpg)

(http://ussgrayback574.com/AGback12.jpg)
Grayback tại căn cứ Subic

(http://callforphotos.vvmf.org/PhotoEffort/AssociatedImages/Medium/13996_Dry_Melvin_Spence_DOB_1946b.jpg)
NavySEAL trong một phiên tập chuẩn bị cho chiến dịch Thunderhead

(http://callforphotos.vvmf.org/PhotoEffort/AssociatedImages/Medium/13996_Dry_Melvin_Spence_DOB_1946c.jpg)

(http://callforphotos.vvmf.org/PhotoEffort/AssociatedImages/Medium/13996_Dry_Melvin_Spence_DOB_1946a.jpg)
Trung úy Melvin Dry, người duy nhất tử trận của nhóm SEAL đổ bộ vào cửa Ba Lạt tháng 6 năm 1972

(http://ussgrayback574.com/dry860a.JPG)
Những người tham gia chiến dịch năm xưa được tưởng thưởng sau 36 năm, dù đây là một chiến dịch không thành công của Biệt kích Hải quân Mỹ

(http://ussgrayback574.com/dry866a.JPG)
Một trong hai phi công Không lực Mỹ mà Navy SEAL từng muốn giải cứu trong chiến dịch Thunderhead tháng 6 năm 1972 nhưng thất bại: trung tá không quân John Dramesi (lái F-105, bị bắn rơi năm 1967), dự kiến sẽ trốn trại Hilton, cướp thuyền dân bơi ra cửa sông Hồng cho toán biệt kích hải quân đón