Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Cha ông ta đánh giặc => Tác giả chủ đề:: ùi trong 07 Tháng Mười Hai, 2011, 06:53:36 pm



Tiêu đề: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 07 Tháng Mười Hai, 2011, 06:53:36 pm
Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm


Nguyễn Việt chủ biên
H: Quân đội nhân dân, 1983.

Đây là một công trình khảo cứu khá công phu, giúp cho nhiều người, đặc biệt là bộ đội hải quân hiểu được sự hình thành, tổ chức biên chế và nghệ thuật quân thủy Việt Nam từ thời kỳ dựng nước đầu tiên đến cuối thể kỷ XVIII. Tác giả cũng đã xác định được vị trí quan trọng của quân thủy trong cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.

(http://img97.imageshack.us/img97/2606/chienthangbachdang.jpg)

LỜI NÓI ĐẦU

Năm 1972, một số anh em chúng tôi – những sinh viên năm cuối khoa Sử, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, lần lượt được lên đường tham gia quân đội, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đang ở vào thời kỳ gay go, ác liệt. Có sự trùng hợp ngẫu nhiên là chúng tôi đều được điều về Quân chủng Hải quân anh hùng. Và, không hẹn mà nên, trong chúng tôi đều hình thành một ước muốn được góp phần tham gia viết sử chiến đấu của các lực lượng vũ trang, đặc biệt là được viết về lịch sử quân thủy của tổ tiên ta. Điều ước muốn đó hình như đã trở thành một lẽ tự nhiên đối với mỗi chúng tôi, những chiến sĩ hải quân yêu mến lịch sử đất nước và yêu mến quân chủng mà mình phục vụ.

Bản đề cương cuốn sách này được bắt đầu phác thảo từ ngày 5-8-1972, tức là Ngày truyền thống Hải quân. Nhưng, do những khó khăn khách quan, cộng với những hạn chế của bản thân người viết, phải đến mười năm sau, cũng vào dịp kỷ niệm Ngày truyền thống Hải quân, bản thảo mới được viết xong.

Lịch sử quân thủy là một đề tài nghiên cứu còn mới mẻ ở ta. Cho đến nay, vấn đề quân thủy dường như mới được nói đến rải rác trong các tác phẩm viết về lịch sử chiến tranh hoặc danh nhân quân sự, mà chưa có một công trình chuyên khảo nào. Tình hình đó đã phản ánh một phần những khó khăn, cả về tư liệu cũng như về nhận thức, đối với đề tài.

Chúng ta đều biết, lịch sử quân thủy luôn luôn gắn liền với lịch sử chiến tranh, lịch sử lực lượng vũ trang và lịch sử thuyền bè, sông biển. Ở ta, trước nay đã có nhiều tác phẩm nghiên cứu về lịch sử chiến tranh và trong mỗi tác phẩm ít nhiều đều có xem xét đến tình hình lực lượng vũ trang đương thời. Tuy nhiên, chúng ta lại thiếu những công trình nghiên cứu sâu về binh chế, vũ khí và nghệ thuật quân sự của tổ tiên ta, nhất là thiếu hẳn những tài liệu ghi chép kỹ về quân thủy và nghệ thuật thủy chiến. Riêng những hiểu biết về lịch sử thuyền bè của ta thì vẫn còn một khoảng trống lớn. Cho nên, chỗ dựa chủ yếu của người viết vẫn chỉ là những sử liệu sơ lược và những nhận định khái quát của sử cũ, ngoài ra phần lớn phải căn cứ vào những tư liệu của người nước ngoài.

Việc nghiên cứu lịch sử quân thủy nước ta cũng không thể tách rời việc tìm hiểu lịch sử quân thủy thế giới, trước hết là lịch sử quân thủy phương Đông, đề có sự đối chiếu, so sánh. Thế nhưng, đáng tiếc là quân thủy phương Đông hầu như còn ít được các nhà nghiên cứu thế giới đề cập tới, mặc dầu thực tiễn lịch sử chiến tranh trên mặt nước ở phương Đông cũng rất phong phú, đa dạng và diễn ra hoàn toàn khác với phương Tây.

Trong tình hình khó khăn về nguồn tư liệu như vậy, những người viết cuốn sách này không có tham vọng xây dựng một tác phẩm hoàn chỉnh về lịch sử quân thủy cổ trung đại Việt Nam. Như tên sách đã nêu, chúng tôi chỉ muốn cố gắm tìm hiểu một số vấn đề xoay quanh vai trò quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm của tổ tiên ta. Vì thế, cuốn sách không đi sâu vào tới toàn bộ quá trình phát triển quân thủy Việt Nam trong lịch sử, mà chỉ tập trung trình bày vấn đề trong ba thời kỳ lớn: thời dựng nước, thời Lý Trần và thế kỷ XVIII (chủ yếu là phong trào nông dân Tây Sơn). Theo chúng tôi, có thể coi ba thời kỳ đó như ba cái mốc lớn của quá trình phát triển quân thủy cổ trung đại nước ta.

Sách gồm 12 chương. Chương một giới thiệu khái quát lịch sử phát triển quân thủy thế giới cho đến thế kỷ XVIII. Chương hai trình bày cơ sở hình thành truyền thống thạo thủy chiến của dân tộc ta. Từ chương ba đến chương mười một, trình bày sự phát triển của quân thủy qua ba mốc lớn. Ở mỗi mốc, đều gắng làm rõ hai nội dung: một là, tổ chức biên chế quân thủy và thuyền chiến trong khung cảnh chung của quân đội đương thời; hai là, vai trò của quân thủy trong chiến tranh chống ngoại xâm và vì sự tồn tại, phát triển của đất nước. Chương cuối cùng là chương kết.

Trong khi trình bày, để đảm bảo yêu cầu khoa học, đồng thời đáp ứng nhu cầu của đông đảo bạn đọc, chúng tôi gắng hạn chế những chú thích dài ở cuối trang, mà sắp thành những đoạn in chữ nhỏ, đặt dưới những chỗ cần chú giải, hoặc mở rộng. Một số tên sách, tập san có nhan đề dài được viết tắt cho gọn (xin tra cứu ở bảng chú thích chữ viết tắt).

*

Hoàn thành cuốn sách này, chúng tôi được sự cổ vũ, giúp đỡ rất nhiều của Bộ Tư lệnh Hải quân, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân và sự dìu dắt tận tình của các giáo sư Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn. Giáo sư Trần Quốc Vượng, thượng tá Trịnh Tuần và thiếu tá Trần Hồng Thụy đã đọc kỹ bản thảo và góp nhiều ý kiến quý báu. Chúng tôi xin trận trọng biết ơn tất cả sự dìu dắt và giúp đỡ đó.

Sách ra mắt lần đầu và đây cũng là lần đầu chúng tôi viết sách, nên chắc chắn còn nhiều sai sót. Chúng tôi rất mong đông đảo bạn đọc và các nhà nghiên cứu góp ý xây dựng.

Hà Nội, 5-8-1982
CÁC TÁC GIẢ


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 07 Tháng Mười Hai, 2011, 07:02:56 pm
Chương một

VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ QUÂN THỦY
TRÊN THẾ GIỚI

Người vốn là một động vật sống trên cạn.

Thế giới mặt nước là môi trường “lạ” đầu tiên mà con người quan tâm đến. Cũng như mọi loài sinh vật khác, nước vốn là một nhu cầu sống còn của con người. Dường như không một nơi cư trú nào của người xưa lại hoàn toàn tách rời nguồn nước. Nhưng cũng từ rất sớm, nước là trở ngại thiên nhiên to lớn nhất đóng khung phạm vi hoạt động của người. Những người vượn đầu tiên có thể vượt núi, xuyên rừng, nhưng đành bó tay trước sông, hồ, biển cả…

Cuộc sống lao động đã ban cho con người trí tuệ và đôi bàn tay khéo léo. Họ đã tìm cách vượt qua những trở ngại để vươn tới những miền đất mới lạ đầy hấp dẫn. Những thành tựu đầu tiên của cuộc chinh phục mặt nước đã ra đời trên một thân cây gỗ nổi hoặc chiếc bè đơn giản.

Sự giống nhau của công cụ và cả chính xương cốt con người thời đá cũ trên những địa bàn vốn bị sông nước ngăn cách đã chứng tỏ lịch sử chinh phục mặt nước của con người tồn tại từ cách đây hàng triệu năm. Quá trình chinh phục mặt nước cũng chính là quá trình phát triển các phương tiện hoạt động trên mặt nước: từ chiếc bè đơn giản, chiếc thuyền độc mộc, đến những thuyền đóng ván dùng chèo, dùng buồm đầu tiên; từ chiếc tơ-ri-o ba tầng chèo trong văn minh Hy Lạp – La Mã cổ đại đến những cli-pơ cắt sóng lừng lẫy châu Âu; từ những tàu hơi nước đầu tiên Clê-mông năm 1807 đến những tàu dùng năng lượng nguyên tử ngày nay… Đó cũng đồng thời là quá trình con người chinh phục và phát minh những miền đất mới, như cuộc hành trình chiếm cứ các đảo nam Thái Bình Dương của các thế hệ cư dân từ lục địa châu Á, cuộc vượt Đại Tây Dương sang châu Mỹ của các cư dân Bắc Âu trên những thuyền Vi-kinh thế kỷ IX, X đến những phát kiến vĩ đại của Cri-xtốp Cô-lông năm 1942, của Ma-gien-lăng năm 1519…

(http://img217.imageshack.us/img217/6087/vikings468x364.jpg)

Và, đó còn là quá trình phát triển nghệ thuật chiến tranh trên mặt nước.

  Trong các tài liệu phương Tây, nghệ thuật chiến tranh trên mặt nước thường đồng nghĩa với nghệ thuật hải chiến. Thực ra, dùng thuật ngữ hải chiến không bao quát được hết nội dung chiến tranh trên mặt nước, đặc biệt khi xem xét lĩnh vực này ở phương Đông. Trong sách này, chúng tôi dùng thuật ngữ thủy chiến để chỉ chung các hoạt động quân sự trên mặt nước, bao gồm cả ngoài biển (hải chiến), lẫn trong sông, hồ nước ngọt lục địa. Tương ứng với thủy chiếnthủy quân nhằm chỉ chung các lực lượng vũ trang trên mặt nước, trong đó hải quân chỉ là một bộ phận thường trực ngoài biển.

Mặt nước, từ khi được con người chinh phục, đã dần dần được sử dụng vào những mục đích mang tính chất quân sự. Chiến tranh không chỉ bó hẹp trong phạm vi đất liền, mà còn lan rộng cả trên mặt nước. Đụng độ trên mặt nước càng nhiều đã thúc đẩy sự phát triển của vũ khí và những phương tiện thủy chiến.

Có một thời kỳ dài, vũ khí chính là công cụ của con người trong cuộc sống lao động hàng ngày. Lịch sử vũ khí thủy chiến cũng vậy, nó bắt nguồn trực tiếp từ những dụng cụ và phương tiện hoạt động trên mặt nước của con người. Thoạt đầu, những công cụ đã trở thành vũ khí ở trên cạn được mang nguyên dạng vào thủy chiến. Trong khoảng thời gian khá dài, phương thức chiến đấu của người lính trên thuyền không khác lắm với người lính trên cạn. Nhưng, khi hoạt động chiến đấu trên mặt nước trở nên thường xuyên thì sự chuyên hóa vũ khí và các phương tiện chiến đấu trên mặt nước cũng trở thành xu thế tất yếu. Từ đó, nghệ thuật thủy chiến dần tách thành một hệ thống độc lập trong nghệ thuật quân sự nói chung. Sự phát triển lực lượng vũ trang và trang bị vũ khí của mỗi nước luôn luôn gắn bó với tiềm năng kinh tế của nước đó, đặc biệt rõ nét ở những nước có quân thủy. Số lượng và chất lượng của thuyền chiến luôn luôn là tấm gương phản ánh một nền công nghệ nhất định. Thực tiễn lịch sử đã tỏ rõ một hạm đội mạnh luôn luôn dựa trên cơ sở một nền kinh tế phát triển.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 07 Tháng Mười Hai, 2011, 07:15:38 pm
*

Theo tài liệu hiện biết, những hoạt động quân sự trên mặt nước tồn tại có tổ chức với tư cách độc lập và ít nhiều khác biệt với các hoạt động quân sự trên cạn, đã xuất hiện từ những đụng độ thường xuyên, ác liệt giữa các nước chiếm hữu nô lệ cổ đại, trong đó vùng biển Địa Trung Hải là nơi sôi động nhất. Đó là sự ra đời của các hạm đội quân sự độc lập bên cạnh quân đội, như các hạm đội của Ai Cập, Phê-ni-xi, Các-ta-giơ, Hy Lạp, La Mã…

Đỉnh cao của nghệ thuật hải chiến trong thời cổ đại thuộc về những hạm đội của Hy Lạp, La mã (thế kỷ VIII trước Công nguyên – thế kỷ V sau Công nguyên). Do vị trí và nhu cầu giao thông buôn bán trên vùng biển Địa Trung Hải – cái nôi của nhiều quốc gia chiếm hữu nô lệ cổ đại – sớm có những hoạt động trên biển đặc biệt sôi động. Các nước chủ nô trong vùng đổ xô vào kiếm lợi bằng con đường thương mại trên biển để cướp bóc và chinh phục lẫn nhau. Chưa bao giờ trên biển lại có sự đụng độ thường xuyên và khốc liệt như thời kỳ này. Vì vậy, lần đầu tiên trong lịch sử, lực lượng vũ trang được người ta biên chế ổn định thành hai bộ phận riêng biệt, nhằm đáp ứng hai phạm vi tranh giành của các quốc gia cổ đại Địa Trung Hải: Quân đội (Army) – trên đất liền, và Hạm đội (Flot) – trên biển.

Hạm đội lúc này tổ chức khá chặt chẽ với những thuyền chiến đặc chủng khác hẳn với tàu thuyền thông thường. Kiểu thuyền chiến nổi tiếng và tiêu biểu nhất ở Địa Trung Hải thời này là tơ-ri-ơ-rem (trierem). Đến chiến tranh Pu-nít (246 – 146 trước Công nguyên) trong hạm đội Các-ta-giơ xuất hiện loại thuyền chiến lớn hơn – pen-ti-o (pentior), chạy theo khuynh hướng dùng độ lớn của thuyền để áp đảo đối phương. Đến nội chiến Đông – Tây ở La Mã, hạm đội Ốc-ta-vi-a, nhờ có máy bắn (ca-ta-pun và ba-li-xta) lại phát triển một loại thuyền chiến nhỏ hơn nhưng rất cơ động, có thể dễ dàng tránh các đòn ta-ran, va-rôn của các tơ-ri-o-rem và pen-ti-o để giáng trả bằng các loại đạn của máy bắn. Đó là các li-bua.

  Tơ-ri-o, còn gọi là tơ-ri-ơ-rem (trierem), là các loại thuyền chiến ba tầng chèo bắt nguồn từ chữ la-tin (tres là 3 và remis là mái chèo). Tơ-ri-o Hy Lạp thường có trọng tải 230 tấn, dài 40 – 45m, rộng 6m, mớn nước 2,5m, mái chèo dài 4 – 4,5m. Mỗi thuyền có từ 150 – 170 mái chèo, xếp thành ba tầng. Tốc độ cao nhất đạt 7 – 8 hải lý/giờ khi cả ba tầng chèo hoạt động (mỗi hải lý bằng 1,852km). Tơ-ri-o có thể có thêm một cánh buồm vuông hứng gió.

Biên chế tơ-ri-o thường có 150 – 170 nô lệ chèo thuyền từ 18 – 50 lính chiến đấu, 12 – 16 thủy thủ, 1 thuyền trưởng, 1 lái chính, 1 lái phụ và 1 trưởng chèo. Lính chiến đấu trên thuyền trang bị câu liêm, búa mỏ chim, giáo, kiếm, lao, mộc và cung tên.

Pen-ti-o là loại thuyền có hai tầng chèo ở mũi, ba tầng chèo ở phía lái, mái chèo rất lớn, từ 3-5 người đẩy một mái chèo. Pen-ti-o có lượng chiếm nước 500 tấn, dài 51m, rộng 8m, mớn nước 35m.

Li-bua trung bình có lượng chiếm nước 80 – 100 tấn, dài 30m, rộng 5m, mớn nước 4m, chỉ có một hay hai tầng chèo. Loại thuyền này thường có máy bắn. Những li-bua lớn còn có lầu bắn, vách che đạn có lỗ bắn (lữ tường).


(http://img88.imageshack.us/img88/7915/triremis.jpg)
Triremis



Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 07 Tháng Mười Hai, 2011, 07:32:01 pm
Vũ khí chính của các tơ-ri-o và pen-ti-o là những đòn ta-ran thực hiện bằng cách đâm các mũi nhọn bằng gỗ cứng bọc thép ở mũi thuyền mình vào phá hỏng mạn thuyền đối phương. Sau này, riêng các tơ-ri-o La Mã xuất hiện thêm loại vũ khí mới là va-rôn. Đó là một tấm trục lớn đặt ở mũi thuyền, trên có treo một khối kim loại nặng hình chóp nón, thân cần trục gắn thêm một tấm ván rộng. Khi hai thuyền giáp nhau, cần trục được kéo nên và thả khối kim loại xuống giáng mạnh vào boong tàu đối phương, đồng thời ván cầu hạ xuống, lính giáp chiến trên tấm ván nhảy sang thuyền dịch. Các li-bua thường không có ta-ran và va-rôn, thay vào đó là các máy bắn, gồm cả các ca-ta-pun (catapultae) và ba-li-xta (balistae).

  Ca-ta-punba-li-xta cấu tạo chung giống một chiếc nỏ, tức là có một trục đỡ để làm chỗ đặt tên, đạn và một dây da buộc vào hai đầu tay đòn, dùng sức bật đàn hồi để bắn. Ở những chiếc nỏ bình thường, lực đàn hồi là sức bật của cánh cung, loại này được người Hy Lạp phát minh từ trước với tên là ga-xta-phê. Khác biệt căn bản của ca-ta-pun, ba-li-xta với nỏ hay ga-xta-phê ở chỗ người La Mã đã phát minh ra những cuộn xoắn tạo lực bật thay cho cánh cung đơn giản. Cuộn xoắn làm bằng gân, đuôi ngựa… tết lại, người ta cắm vào hai ống xoắn hai tay đòn thay cho hai cánh nỏ. Dây bị xoắn sẽ tạo ra lực bật của cánh tay đòn. Để tiện sử dụng, máy bắn có một hệ thống điều chỉnh tầm, hướng. Ca-ta-pun gốc từ tiếng Hy Lạp, có nghĩa là mũi tên. Thoát đầu, nó được dùng để chỉ loại máy bắn tên nhằm phân biệt với ba-li-xtamáy bắn đá. Sau này, trên nguyên tắc cuộn xoắn, người La Mã còn chế ra loại máy bắn một tay đòn, gọi là ô-na-grơ. Các loại máy bắn này thường có kích thước rất lớn, thông thường có thể bắn được vật nặng hàng chục ki-lô-gam, đi xa tới 400 – 500 mét. Đột xuất có những máy bắn cỡ lớn của Vi-tơ-ruy-vơ (La Mã), có thể bắn loại đạn nặng tới 162 ki-lô-gam. Ca-ta-pun và ba-li-xta đặt tên thuyền thường chỉ là những máy bắn hạng nhỏ và trung bình.

Nhờ có máy bắn, thuyền chiến có vũ khí công phá thuyền địch từ xa, mở hướng phát triển mới trong nghệ thuật thủy chiến. Lịch sử ghi lại nhiều trận đánh độc đáo của các hạm đội đương thời có trang bị máy bắn. Năm 184 trước Công nguyên, hạm đội Ha-ni-ban dùng ca-ta-pun bắn sang thuyền đối phương những giỏ đựng đầy rắn độc. Năm 11 trước Công nguyên, hạm đội Ốc-ta-vi-a dùng tên gài lửa phóng hỏa. (Xem thêm E.W. Marsden: Greek and Roman Artillery, Oxford, 1969; W. Soedel và V. Foley: Balistes et catapultes de l’ Antiquité, trong Pour la Scienne, số 19, 5-1979).


Với trang bị như vậy, đối thủy thời nay thường diễn ra dưới ba hình thức tác chiến: 1. Dùng những đòn ta-ran và va-rôn phá hỏng thuyền đối phương; 2. Áp mạn đổ bộ đánh giáp lá cà; 3. Dùng máy bắn gây thiệt hại cho thuyền địch từ xa. Tuy nhiên, lúc này máy bắn chưa có hiệu quả cao lắm trong đối thủy, nên thực tế những đòn ta-ran, va-rôn và các trận giáp chiến mới là các thủ đoạn tác chiến phổ biến của Địa Trung Hải. Ph.Ăng-ghen viết: “Cung nỏ, súng bắn đá và những cố máy phóng lao (catapultae) cùng những máy phóng đạn đồ sộ (balistae) là những vũ khí duy nhất để chiến đấu ở cự ly xa. Không thể nào gây được một tổn thất nghiêm trọng cho đối phương ở trên biển chừng nào thuyền chiến hai bên chưa trực tiếp áp sát vào nhau. Và do đó, chỉ có thể có hai phương thức tác chiến trên biển: Phải cơ động như thế nào để cho mũi sắt nhọn, cứng ở đầu mũi thuyền đâm thật mạnh vào mạn thuyền đối phương và đánh chìm nó, hoặc là áp sát vào mạn thuyền đối phương, dùng xung phong đánh giáp lá cà để chiếm tàu, tiêu diệt đối phương” 1.
------------------
 1 Ph. Ăng-ghen, Tuyển tập luận văn quân sự, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1978, t. II, tr. 286. Chúng tôi dựa vào bản tiếng Nga để sửa lại chút ít cho rõ ý tác giả.

(http://img64.imageshack.us/img64/4095/tarany.jpg)
Ta-ran


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 08 Tháng Mười Hai, 2011, 05:50:34 pm
Các vấn đề chiến thuật cũng bước đầu được các nhà lý luận quân sự đương thời đề cập tới, cho thấy thủy chiến lúc đó đã biết khai thác các yếu tố thời tiết, địa hình, tâm lý… Các trận đồ sử dụng trong hành quân, đối thủy, đổ bộ ban đầu thường bắt chước các trận đồ trên bộ, về sau dần dần xuất hiện những trận đồ sáng tạo riêng cho thủy chiến.

 Trong đối thủy, các hạm đội Địa Trung Hải thường dùng đội hình hàng ngang, dàn thành nhiều hàng thuyền liên tiếp thay nhau lên giáp chiến. Cũng thấy xuất hiện phương trận (trận vuông) và viên trận (trận tròn) khi chống lại kẻ địch tiến công. Sau đó, người La Mã sáng tạo ra trận đồ vành trăng khuyết chuyên dùng trong đối thủy và đội hình cái nêm chuyên dùng cho hành quân vượt biển. Xem Lịch sử nghệ thuật hải chiến (tiếng Nga), Nhà xuất bản Quân sự, Mát-xcơ-va, 1953.

Vê-di-xi (Vegee), nhà triết học, nhà sử học, đồng thời cũng là một nhà lý luận quân sự nổi tiếng người La Mã, sống vào cuối thế kỷ IV sau Công nguyên viết: “Tương tự như các trận đánh trên bộ, ở trên biển cũng thường sử dụng lối đánh bất ngờ vào đám thủy thủ thiếu kinh nghiệm hoặc dùng lối đánh phục kích ở gần những nơi thuận tiện, như đoạn đường hẹp qua giữa các đảo… Nếu sự thận trọng của địch giúp chúng tránh được những chỗ phục kích và buộc phải đánh ở chỗ biển rộng, thì khi đó phải bố trí đội hình chiến đấu sao cho những li-bua không xếp thành hàng ngang như những trận đồ trên bộ, mà là dãy uốn cong tựa như trăng lưỡi liềm, với hai cạnh sườn vươn lên phía trước, còn trung tâm đặt ở chỗ lõm nhất, tựa hồ như một cái vịnh vậy. Nếu đối phương muốn chọc thủng đội hình, thì trước sức mạnh của thế trận đó, chúng sẽ bị bao vây và đánh tan. Ở hai bên sườn vì thế cần bố trí những thuyền chiến và binh lính được chọn lọc, đại diện cho tinh hoa và sức mạnh của quân đội. Ngoài ra, muốn có lợi thế, hạm đội phải luôn luôn chiếm vùng biển sâu, thoáng, rộng, ép thuyền đối phương vào sát bờ, khiến chúng chen nhau mà không thể tiến công nhanh được nữa”2.

Nghệ thuật hải chiến Hy Lạp – La Mã là đỉnh cao nhất của nghệ thuật hải chiến cổ đại, nhưng ngày càng rõ ràng, điển hình ấy không phải là hiện tượng phổ biến của toàn thế giới. Dường như đó chỉ là hiện tượng cá biệt của Địa Trung Hải. Trong một khu vực mà chúng ta có thể xem xét, gồm các nước ven bờ tây Thái Bình Dương, đương thời cũng xuất hiện những trung tâm văn minh, những quốc gia cổ đại mà mối giao lưu trên biển giữa chúng đã khá sầm uất, thì tình hình chiến tranh trên mặt nước đã không diễn ra như Địa Trung Hải và sự phát triển quân thủy đã đi theo một con đường riêng.
--------------------------------
2 Vê-di-xi, Lược giải nghệ thuật quân sự, dẫn theo Lịch sử nghệ thuật hải chiến, Mát-xcơ-va, 1953.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 08 Tháng Mười Hai, 2011, 06:04:54 pm
Trong các quốc gia cổ đại ở bờ tây Thái Bình Dương, các nước thuộc khu vực Đông-Nam Á cổ đại (bao gồm từ phía nam sông Dương Tử trở xuống) đặc biệt phát triển quân thủy.

  Sử sách thường nhắc đến quân thủy của các nước Ngô, Việt ở hạ lưu sông Dương Tử vào khoảng thế kỷ V trước Công nguyên hoặc quân thủy Ngô trong cục diện Tam quốc, thế kỷ III sau Công nguyên. Có thể kể thêm quân thủy Văn Lang, Âu Lạc, Cham-pa, Phù Nam…

Nhưng cũng dễ nhận thấy quân thủy của các nước đó lập ra trước hết không phải xuất phát từ những mục tiêu quân sự trên biển, mà nhằm đáp ứng các nhiệm vụ quân sự trong đất liền. Ở đây rất hiếm thấy những trận hải chiến, song những trận thủy chiến lại diễn ra phổ biến trên sông, hồ. Thuyền chiến chủ yếu làm phương tiện cơ động cho quân đội trên sông, hồ, kích thước thường nhỏ, nhưng số lượng lại rất nhiều. Mái chèo vẫn là động lực chính của thuyền, nhưng khác với Địa Trung Hải, ở đây người chèo thuyền đồng thời là lính chiến đấu. Trang bị trên thuyền đơn giản, quân lính có giáo, lao, rìu, qua, cung nỏ và mộc. Có một số chiến thuyền làm thêm các tầng lầu cho lính cung nỏ, một số trang bị những phương tiện đánh hỏa công. Cá biệt có trường hợp xuất hiện những thuyền chiến cực lớn. Thuyền chiến ít có vũ khí riêng của mình như ta-ran và va-rôn ở Địa Trung Hải, nhưng truyền thuyết từng nói tới thuyền bọc đồng (đấu thuyền) và những máy nỏ có thể đã được đưa lên thuyền.

Lâu thuyền thời Hán, theo thư tịch, cao tới 10 trượng. Ngô thuyền (Tam quốc) dài 20 trượng, rộng 3 trượng cao 3 – 4 trượng (một trượng thời Hán bằng 276,5cm) (trong Nam châu kỳ vật chí dẫn theo bài Sơ bộ phục nguyên hải thuyền thời Tống ở vịnh Tuyền Châu, Văn vật, số 10 – 1975, Bắc Kinh, tr.28).

  Nỏ là một loại vũ khí cơ học rất độc đáo, sản phẩm sáng tạo của cư dân Đông-Nam Á cổ đại. Cùng với thời điểm ra đời của những ca-ra-pun, ba-li-xta Hy La, ở khu vực này cũng được sử sách hoặc truyền thuyết nói đến sự ra đời của những máy nỏ. Đó là những chiếc nỏ cỡ lớn như máy nỏ Sở với cánh cung dài gần 2m, tên dài gần 1m, hoặc là nỏ thần của An Dương Vương có thể bắn một phát hàng chục mũi tên, hoặc nỏ liên hoàn của Mạnh Hoạch mà Gia Cát Lượng đã bắt chước. Thuyền chiến khắc trên trống đồng (rõ nhất là Hoàng Hạ) có trang bị những chiếc nỏ rất lớn đó.

Nhiều trận thủy chiến lớn đã xảy ra ở khu vực này, trong đó nhiều trận đã đi vào các tác phẩm sử ký, binh thư đương thời như những kiểu mẫu của nghệ thuật thủy chiến cổ đại phương Đông. Đáng tiếc là chưa có những công trình chuyên khảo về vấn đề này.

(http://img834.imageshack.us/img834/74/notrentrongdong.gif)
Họa tiết trên trống đồng thể hiện máy nỏ


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 08 Tháng Mười Hai, 2011, 06:13:46 pm
*

Sự tan rã của đế quốc La Mã vào thế kỷ V sau Công nguyên cũng đồng thời chấm dứt thời kỳ sôi động và đẫm máu trên biển Địa Trung Hải. Trong suốt thời Trung Cổ, vùng biển này bình ổn trong nhịp điệu của những cánh buồm thương mại. Trong khi đó, vùng biển Bắc Âu lại dội lên những trận hải chiến lớn mà tiêu biểu là hoạt động của các hạm đội Noóc-măng-đi với những thuyền chiến Vi-kinh nổi tiếng. Nước Anh lúc đó cũng bị lôi vào vòng chiến, còn các nước ven Địa Trung Hải hình thành một đối tượng kinh doanh mới: lập những hạm đội đánh thuê.

Về chiến thuyền, đây là thời kỳ tơ-ri-o Hy Lạp – La Mã nhường chỗ cho sự phát triển của những ga-le-rơ (galère) vũ trang, tạo dáng dài, nhiều mái chèo và vì thế rất cơ động.

  Nhanh nhất phải kể đến ga-le-rơ dài 40m, rộng 5,3m, mớn nước 2,5m, có hai mái chèo ở đuôi thuyền. Đến thế kỷ XV xuất hiện những ga-le-rơ có tới 300 mái chèo, mỗi mái hai người đẩy.

  Bác-giơ vốn là loại thuyền tải cỡ lớn, được những người Giê-noa ở thế kỷ XIV – XV cải tiến thành loại thuyền chiến lớn nhất châu Âu đương thời. Bác-giơ trọng tải hàng ngàn tấn, có bốn cột buồm, dùng loại bánh lái bản rộng, nẹp sắt là thành tựu kỹ thuật hàng hải mới nhất đương thời.


Ngoài ga-le-rơ, phải kể đến những thuyền chiến cỡ lớn khác như nép (nef), ca-rắc-cơ (caraque), bác-giơ (barge). Vũ khí trên thuyền lúc này thiếu đi những mũi nhọn ta-ran, cần trục va-rôn hoặc các máy bắn đá, trái lại, tập trung tăng cường vũ khí cá nhân và khả năng tác chiến của lính giáp chiến.

Kỹ thuật tàu thuyền lúc này cũng có những tiến bộ rất căn bản. Đó là sự phát triển kỹ thuật kết hợp loại buồm tam giác (buồm la-tin) lèo lái với buồm vuông hứng gió cổ truyền và việc sử dụng ngày càng rộng rãi bánh lái có trục rời, bản nẹp sắt. Các yếu tố kỹ thuật mới này cùng với sự phát triển của kỹ nghệ đóng vỏ tàu đã cho phép tạo ra những chiếc tàu có khả năng hàng hải tốt ở cuối thế kỷ XV, cho phép thực hiện những cuộc thám hiểm vượt biển chưa từng có trong lịch sử trước đó, của Cri-xtốp Cô-lông và sau đó, của Ma-gien-lăng. Đó cũng chính là tiền đề kỹ thuật của cách mạng tàu buồm trong những thế kỷ sau.

(http://img811.imageshack.us/img811/272/galere.jpg)
Galere


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 08 Tháng Mười Hai, 2011, 06:25:14 pm
Trong lĩnh vực vũ khí, đến thế kỷ XIV – XV đã diễn ra một bước phát triển nhảy vọt: sự ra đời của pháo binh bắn bằng thuốc súng. Thực ra, thuốc súng đã được phát hiện từ lâu và lác đác trong những thế kỷ XI, XII, XIII, một số hỏa khí đã được sử dụng trong lĩnh vực quân sự. Nhưng việc sử dụng phổ biến những khẩu pháo vỏ kim loại vào chiến tranh cả trên bộ lẫn dưới nước thì phải đến tận thế kỷ XIV – XV. Ở cả phương Đông lẫn phương Tây, pháo được đưa lên thuyền vào nửa sau thế kỷ XIV. Thoạt đầu, pháo chỉ được đặt ở phía mũi tàu, nhiều lắm là 4 khẩu. Chỉ đến những thế kỷ sau, ở châu Âu, cách mạng công nghiệp mới tạo ra những tàu chiến có hàng trăm pháo dàn thành nhiều tầng ở hai bên mạn.

Thế kỷ XVI, XVII, XVIII được coi như là những thế kỷ của hạm đội tàu buồm. Cả châu Âu bị cuốn hút và cơn sốt chạy đua trong kỹ nghệ đóng tàu buồm. Đây là thời kỳ kỹ thuật hàng hải được hoàn thiện và những con đường vượt biển được xác lập. Người ta đã xây dựng được con tàu như một thành trì, có thể đảm bảo cuộc sống thực sự đầy đủ và lâu dài trên biển.

Sự phát triển của kỹ nghệ tàu thuyền thời này xuất phát từ nhu cầu phát triển của xã hội phong kiến châu Âu đang chuyển mình mạnh mẽ sang chủ nghĩa tư bản. Nó trở thành công cụ thực hiện chính sách thực dân của các cường quốc châu Âu. Chủ nghĩa thực dân và chế độ thuộc địa cũng từ đây lan rộng khắp thế giới theo những cánh buồm no gió chất đầy hàng hóa và vũ khí.

Tính chất kiếm lợi và cướp bóc của hàng hải thực dân thời này tất không tránh khỏi những cuộc xung đột trên biển. Chiến tranh và cướp bóc trên biển trở nên thường xuyên và khốc liệt hơn bao giờ hết, khiến cho hầu như toàn bộ tàu vượt biển của châu Âu thời này, bất kể là tàu buôn hay tàu chiến, đều trang bị đầy vũ khí. Đó thực sự là thời kỳ của những cuộc chiến tranh trên biển. Hạm đội thường trực xuất hiện phổ biến khắp các cường quốc phương Tây. Ph. Ăng-ghen đã nhận xét: “Cũng bắt đầu từ đó là thời kỳ các trận đánh trên biển trở nên phong phú hơn, các vũ khí trên biển được phát triển hơn bất cứ thời kỳ nào trước đây”3.

Các hạm đội tiêu biểu nhất trong thời kỳ này là của Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan và sau này nổi lên Anh, Pháp… Các hạm đội đó được thành lập và phát triển nhằm một mục tiêu rất rõ là bảo vệ và giành giật các nguồn lợi trên biển cho nước mình, chống cướp biển, đồng thời lại cũng chính là cướp biển. Đó chẳng những là lực lượng đối chọi lẫn nhau giữa các cường quốc trên biển, mà còn là công cụ để thực hiện các cuộc cướp bóc, xâm lược các nước phương Đông.

(http://img32.imageshack.us/img32/8198/shipwp.jpg)
--------------------
3 Ph. Ăng-ghen, Tuyển tập luận văn quân sự, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1978, t. II, tr. 288.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 09 Tháng Mười Hai, 2011, 09:17:23 pm
Sự phát triển của các hạm đội vũ trang thời này chủ yếu biểu hiện trên hai mặt: tàu thuyềnsúng pháo.

Những chiếc ca-ra-ven (caravelle), nổi tiếng châu Âu ở thế kỷ XV, là đỉnh cao của kỹ nghệ đóng tàu thuyền thời trung cổ, cũng là mốc đầu tiên cho một thời kì mới của tàu thuyền châu Âu. Người ta nhanh chóng rời bỏ những kiểu thuyền chiến cồng kềnh, kém cơ động, như bác-giơ, nép, ca-rắc-cơ, và thay vào đó những tàu chiến thân dài, thành tàu cao đều, chia làm nhiều tầng boong để đặt pháo.

Sức cơ động của tàu đặc biệt tăng lên nhờ sự phát triển của kỹ thuật dùng buồm.

  Trước đây, tàu thuyền thường chỉ có hai hoặc ba cột buồm lại ít tầng buồm, diện tích hứng gió không lớn. Lúc này tàu thường có bốn cột buồm, chiếc nhiều nhất có tới bảy cột. Cột cao nhất tới 70 mét. Những cột chính gồm nhiều tầng với vô số những lá buồm lớn nhỏ dùng cho các nhiệm vụ điều khiển tốc độ, hướng đi khác nhau. Theo những thông số kỹ thuật đương thời, đối với loại tàu chiến hạng nặng, trang bị 120 đại bác, thì cứ mỗi tấn trọng tải dãn nước cần phải có 0,65m2 buồm. Phải có 3.140 m2 buồm, tương đương với 4.000 kg buồm cho một chiếc tàu như vậy. Ở những loại tàu như bri-giơ (brige), loại tàu cần cơ động nhanh, tỷ lệ này cao hơn: một tấn dãn nước cần 1,9m2 buồm, hoặc cao hơn nữa phải kể đến chiếc cli-pơ (clipe) mang tên Ca-ti-xắc (Catisac). Với 2,5m2 buồm cho một tấn dãn nước, tàu Ca-ti-xắc có thể vẫn đạt tốc độ 7 hải lý/giờ khi trời hầu như không hề có một gợn gió, hoặc như cách nói của các thủy thủ thời này là khi có thể “cầm ngọn nến đi trên boong mà không tắt”.

Kỹ thuật dùng buồm thời này đạt đến mức tuyệt đỉnh. Từ đây vắng bóng dần những thuyền chiến dùng chèo, nhờ vậy biên chế thủy thủ trên thuyền giảm hẳn xuống, chủ yếu chỉ gồm các thủy thủ mặt boong.

(http://img248.imageshack.us/img248/7480/hmscaledonia.jpg)
Một tàu buồm

Tuy nhiên, một số thuyền chiến hoạt động trong sông vẫn duy trì sức cơ động chính bằng mái chèo. Những ga-le-rơ Hà Lan ở thế kỷ XVI – XVII và hầu hết thuyền chiến ở các nước phương Đông thuộc loại này.

  Ga-le-rơ Hà Lan dài 38m, rộng 6m, cao từ đáy đến mạn thuyền chỉ 4m, trang bị 36 pháo ở hai mạn, thường có 14 – 16 cặp chèo, mỗi mái chèo dùng 2 – 3 người đẩy, có thể đạt tốc độ 14 – 15 km một giờ.

Vào cuối thời kỳ này, máy hơi nước được phát minh đã nhanh chóng thổi một luồng gió mới vào kỹ nghệ tàu thuyền. Trong các hạm đội quân sự ở phương Tây, xen giữa những cột buồm, bắt đầu lác đác xuất hiện ống khói hơi nước. Tuy nhiên, phải trải qua hàng thế kỷ mầy mò, thử nghiệm, đến nửa thế kỷ XIX các cánh buồm mới thực sự nhường chỗ cho ống khói của tàu hơi nước.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 09 Tháng Mười Hai, 2011, 09:29:16 pm
Song song với cuộc chạy đua về tốc độ và khả năng cơ động, lúc này nổi lên cuộc chạy đua về tăng hỏa lực. Như đã nói, pháo được đưa lên thuyền ở châu Âu từ thế kỷ XIV. Thoạt đầu, nó chỉ được đặt ở mũi thuyền với số lượng rất hạn chế, thường không quá bốn khẩu. Đến cuối thế kỷ XV, người ta khiêng lên thuyền chiến loại lớn rất nhiều pháo, đặt không theo một trật tự nào cả. Đến năm 1500, nhờ phát minh trong thiết kế tàu chiến của Đê-sác-giơ (Descharges), pháo được sắp đặt ổn định hơn, các cỡ súng khác nhau được bố trí ở những vị trí hợp lý, số lượng súng tăng lên nhiều mà không đe dọa làm yếu thành tàu. Tàu chiến với nhiều boong pháo là cơ sở xuất hiện các hạm đội thường trực ở các nước phương Tây.

Ban đầu, sức mạnh hỏa lực tăng theo khuynh hướng nâng ồ ạt số lượng pháo, quy mô pháo (cỡ pháo). Hạm đội nước Anh tiêu biểu cho xu hướng này ở thế kỷ XVII. Tuy nhiên, người ta không thể cứ tùy tiện tăng số lượng pháo lên bao nhiêu cũng được.

  Chiến hạm loại nhỏ nhất của Anh cũng tới 30 khẩu pháo, loại chiến hạm lớn nhất có hơn 100 khẩu. Nổi tiếng là chiếc tàu “Chúa biển” năm 1637 có tới 132 khẩu pháo các cỡ, ước tính hơn 160 tấn sắt thép, chưa kể đến số lượng đạn kèm theo cũng nặng gần như vậy. Chiến hạm Anh thế kỷ XVII bị chính sức nặng của súng đạn đè lên, rất kém cơ động, tầng pháo cuối cùng chỉ ở cách mặt nước không đầy 3 foot (1 foot tương đương 305mm).

Để khắc phục tình trạng đó, người ta bắt đầu xác lập được những công thức phù hợp nhất cho tương quan giữa từng loại tàu chiến với số lượng pháo kèm theo.

(http://img838.imageshack.us/img838/2083/phanloaitau.jpg)

Thông thường pháo hạng nặng (tính theo cỡ đạn, tức cỡ nòng và trọng lượng pháo) được bố trí ở tầng dưới cùng, loại nhẹ hơn thì bố trí ở tầng trên. Trong Bách khoa toàn thư mới của Mỹ (New American Emcyclopedia), Ph. Ăng-ghen có giới thiệu một bảng tổng quát phân phối pháo trên các chiến hạm hạng nhất của Anh như sau:

(http://img850.imageshack.us/img850/6311/phanloaiphao.jpg)

Đến giữa thế kỷ XVIII, người Pháp thực hiện cuộc cải cách nữa trong đóng tàu chiến, nhằm kéo dài tàu ra, nhờ vậy tăng số lượng pháo đặt trên các boong. Cuối thế kỷ XIX, tàu hơi nước chạy bằng cánh quạt trong quá trình thay thế tàu buồm, cho phép giảm dần số lượng pháo mà vẫn đảm bảo hỏa lực, nhờ những hệ quay và hệ thống ray chuyển pháo.

  Một phrê-gát (fregate) hơi nước trang bị 20 pháo có khả năng hỏa lực tương đương với 40 pháo của phrê-gát chạy buồm.



Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 09 Tháng Mười Hai, 2011, 09:32:52 pm
Song song với khuynh hướng tăng số lượng, người ta chú trọng cải tiến chất lượng súng pháo. Đầu tiên là thống nhất trên từng boong và trên toàn tàu một số cỡ đạn nhất định. Sau đó xuất hiện các loại pháo thuyền đặc chủng đảm nhiệm những chức năng công kích riêng biệt. Pháo thuyền ngày càng tách khỏi pháo mặt đất phát triển theo khuynh hướng phục vụ những mục tiêu cụ thể trong các trận đánh trên biển.

  Từ thế kỷ XVI, đạn kép (gồm hai nửa quả đạn rời, nối với nhau bằng một dây xích) đã được dùng phổ biến. Khi bắn, loại đạn này có tác dụng như hai quả đạn bắn một lúc vào cùng một điểm, nhờ vậy phá thủng thành tàu rất hiệu quả. Đến thế kỷ XVIII, các hạm đội Anh dùng phổ biến loại cối ca-rô-nát (caronade) nòng ngắn, cỡ nòng rộng, có thể dùng sự thay đổi liều thuốc phóng để điều chỉnh cự ly, tấm bắn, rất lợi hại trong các trận đánh gần. Đạn nổ và pháo có rãnh xoắn, vừa phát minh cũng được đưa lên ngay trên tàu. Ban đầu, đạn nổ cũng tròn như các loại đạn đặc trước đó, chỉ tiện dùng cho ca-rô-nát, sau này được cải tiến thành đạn có dạng khí động học có hạt nổ ở đầu viên đạn, khiến đạn phát nổ ngay khi chạm mục tiêu, tạo ra chuyển biến rất lớn trong nghệ thuật đấu pháo thuyền.

Thao tác bắn được rút ngắn thời gian. Đến thế kỷ XVIII, thuốc đạn không phải nhồi bằng “xẻng” nữa, mà phổ biến dùng những liều chứa sẵn trong các túi vải – đó chính là tiền thân của cái vỏ đạn (cartouche) sau này. Cải tiến đó đã tăng tốc độ bắn từ 30 phút cho một phát đạn ở thế kỷ XVI lên đến 5 – 10 phút ở thế kỷ XVII, XVIII. Cải tiến thành phần thuốc phóng, dáng đạn và rãnh xoắn trong nòng súng cũng cho phép nâng dần cư ly tầm bắn.

  Ở thế kỷ XVI, tầm bắn tối đa của pháo thuyền chỉ đạt 150 mét, đến thế kỷ XVII đạt 300 mét, đến cuối thế kỷ XVIII tới gần 3.000 mét.

(http://img822.imageshack.us/img822/5388/h90536.jpg)


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 10 Tháng Mười Hai, 2011, 06:45:59 pm
Thay đổi trong động lực và hệ thống vũ khí tiến công kéo theo những thay đổi trong biên chế và tổ chức hạm đội. Đặc biệt, khi ra đời những hạm đội thường trực thì các vấn đề có tính chất công thức hóa trong tổ chức biên chế được ổn định và khoa học quân sự, nhất là lý luận chiến thuật được chú ý phát triển hơn bao giờ hết.

Thành phần binh lính và thủy thủ trên tàu có nhiều thay đổi. Với chiến hạm dùng buồm, thay cho những tay chèo là thủy thủ mặt boong và điều khiển buồm. Số thủy thủ này được giảm nhiều, khi máy hơi nước hoàn thiện trên tàu. Thay cho những đơn vị lính giáp chiến, lúc này là các pháo thủ (pháo cỡ nhỏ nhất cũng phải có hai người, pháo hạng nặng cần tới 14 người phục vụ).

  Trong hạm đội Ban-tích, số thủy thủ phục vụ trên một thiết giáp hạm loại 84 pháo là 420 người. Cũng loại thuyền đã nói trên trong hạm đội Ban-tích, có tới 185 pháo thủ.

Cải tiến phương thức lắp đạn, nạp thuốc cho phép ngày càng giảm dần số pháo thủ phục vụ một khẩu pháo.

(http://img38.imageshack.us/img38/3363/tuongquane.jpg)

Mỗi hạm đội có nhiều loại tàu đặc chủng khác nhau, tùy đối tượng tác chiến, tỷ lệ giữa các loại trong từng hạm đội có khác nhau.

Dưới đây là bảng kê số lượng tàu trong hạm đội Ban-tích (Nga) thế kỷ XVIII:

(http://img832.imageshack.us/img832/1011/luongtau.jpg)

Nét nổi bật của nghệ thuật tác chiến trên biển thời này là đấu pháo. Đây là thủ đoạn hải chiến chủ yếu của các hạm đội phương Tây. Thành bại của trận đánh thường phụ thuộc chủ yếu vào số lượng pháo và khả năng phát huy hỏa lực của chiến thuyền. Tuy nhiên, giáp lá cà vẫn còn là một thủ đoạn thường xuyên, đặc biệt đối với nghệ thuật tác chiến của bọn cướp biển. Từ thế kỷ XVIII, nhờ khả năng xạ kích của pháo thuyền ngày càng tăng, kiểu đánh của cướp biển mất dần hiệu lực, nghệ thuật hải chiến xoay quanh vấn đề đấu pháo và đua tốc độ.

Kỹ thuật hàng hải và sự hoàn thiện của vỏ tàu, với những phương tiện, dụng cụ hàng hải khá tiến bộ như la bàn (chủ yếu là la bàn từ tính), kính thiên văn, các thước đo, bản đồ hàng hải… cho phép mở rộng phạm vi hoạt động của các hạm đội vượt những khoảng cách hàng ngàn ki-lô-mét, trong những hành trình kéo dài nhiều tháng trên biển.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 10 Tháng Mười Hai, 2011, 06:49:34 pm
*

Trong khi thế giới phương Tây thường xuyên nổ ra những trận đấu pháo trên biển của các hạm đội tàu buồm thì mặt biển phương Đông vẫn tỏ ra khá êm đềm, mặc dầu nhìn bề ngoài, sự sầm uất trên biển có tăng lên rõ rệt. Thực chất, đó là bộ mặt mới mẻ của nền thương mại trên biển các nước phương Đông, được kích thích thêm bởi những thuyền buôn phương Tây ngày càng đua nhau kéo sang, mà nổi bật là hoạt động của các công ty Đông Ấn.

Hoạt động quân sự trên biển đáng nói nhất của các nước phương Đông trong suốt thời kỳ từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX có lẽ là những cuộc vượt biển của quân Nguyên thế kỷ XIII xâm lược Nhật Bản (1274 – 1292), Đại Việt (1287) Chiêm Thành (1283), Gia-va (1262, 1294),… và nhất là tám chuyến công du của Trịnh Hòa thời nhà Minh đầu thế kỷ XV1. Ngoài ra, những cuộc hành quân vượt biển, hoặc nhiều hơn, những trận thủy chiến trong sông, hồ giữa các quốc gia phong kiến phương Đông thì rất thường xuyên. Tuy nhiên, có thể dễ dàng nhận thấy một nét lớn là: nhìn chung ở phương Đông lúc này các quốc gia phong kiến hầu như không chú trọng xây dựng những hạm đội thường trực trên biển và thực chất không có những nhu cầu bức thiết tranh giành quyền lợi trên biển.

Từ thế kỷ XVI, đặc biệt là thế kỷ XVIII, hoạt động buôn bán, truyền giáo, và núp dưới đó là mưu đồ thực dân của các nước phương Tây đã khiến các nước phương Đông ít nhiều có sự thay đổi trong chính sách quân sự về biển. Vấn đề bảo vệ chủ quyền lãnh hải, các quyền lợi thuế quan… được đặt ra cấp thiết cho nhiều nước phương Đông, vì vậy ở nhiều nước, một bộ phận quân thủy vốn trước đây là một bộ phận của quân bộ, chủ yếu hoạt động trong đất liền, thì nay được tách ra thành những đơn vị hải quân, có nhiệm vụ chủ yếu hoạt động trên biển. Nhiệm vụ của các đơn vị này chỉ nhằm bảo vệ chủ quyền lãnh hải và những quyền lợi thương mại ven biển, như chống cướp biển, thu thuế, đề phòng những can thiệp từ bên ngoài vào nước mình… Vì vậy, bộ mặt của “hải quân” phương Đông, cả về tổ chức biên chế lẫn nhiệm vụ chiến lược, thủ đoạn tác chiến, vẫn rất khác so với phương Tây dương thời, mặc dầu, từ thế kỷ XVIII, nhiều nước phương Đông đã mua tàu, đóng tàu, thậm chí nhờ các thuyền trưởng, sĩ quan phương Tây giúp trong cả tổ chức, biên chế.

Các trận đụng độ trên biển giữa các nước phương Đông với tàu chiến và tàu buôn vũ trang của các nước phương Tây cũng bắt đầu xuất hiện. Có thể kể ra cuộc đụng độ của hải quân nhà Thanh với Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha ở Đài Loan, Áo Môn, với Anh ở Bắc Hải, giữa hải quân của chúa Nguyễn với một hạm đội nhỏ của Hà Lan, ở ngoài khơi cửa Eo, với tàu chiến của Pháp ở Đà Nẵng… So với chiến tranh trên biển giữa các hạm đội châu Âu thì đó chỉ là những cuộc đụng độ ở quy mô nhỏ và lẻ tẻ.
---------------------
1 Trước đây thường nhắc đến bảy lần vượt biển của Trịnh Hòa. Tài liệu gần đây đã chứng minh có tám lần. (Xem Su Chung Jen: Places in South-East Asia, the widdle East and africa vicited by Cheng Ho and his companions (AD. 1405 – 1433) tr. 148, trong Symposium on Historical, Archeological and linguistic Studies on Southern China, South – East Asia and the Hong Kong Region, F.S. Drake (general Ed). Hong Kong, 1967.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 10 Tháng Mười Hai, 2011, 06:56:16 pm
Đặc điểm chung của quân thủy phương Đông trong thời kỳ này là ít phát triển tàu chiến loại lớn, chính vì khuynh hướng đóng tàu hoạt động trong sông là chủ yếu chứ không phải là trên mặt biển. Tàu chiến thường dài, thấp mạn, cơ động chủ yếu bằng chèo, trừ những chuyến đi vượt biển hoặc hành quân vận tải. Quy mô thuyền nhỏ, vì vậy thường có số lượng rất đông. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, các xưởng đóng tàu ven biển suốt từ đông-nam Trung Quốc đến tận vịnh Thái Lan và một số đảo lớn thuộc In-đô-nê-xi-a vẫn có thể đóng được những thuyền biển cực lớn, khả năng hàng hải rất tốt, mà đỉnh cao có thể kể tới hạm đội của Trịnh Hòa thời nhà Minh (Trung Quốc) đầu thế kỷ XV.

  Theo gia phả Trịnh Hòa, hạm đội có 64 bảo thuyền, La Mậu Đăng trong Tây Dương ký (1597) đã chia số thuyền đó thành 5 loại như sau:

(http://img338.imageshack.us/img338/5986/trinhhoa.jpg)

  Bảo thuyền là chỉ thuyền quý, lớn, dành riêng cho Trịnh Hòa và các quan chức cao cấp trong hạm đội. Mã thuyền là thuyền có tốc độ cao. Lương thuyền là thuyền vận tải lương thực. Tọa thuyền để chở lính. Chiến thuyền đảm nhiệm chức năng đối hải, hộ tống cho hạm đội hành trình trên biển.

  Hạm đội Trịnh Hòa gồm 27.000 người, trong khoảng thời gian hơn 20 năm thực hiện tám chuyến vượt biển, về phía nam tới các đảo thuộc In-đô-nê-xi-a ngày nay, về phía tây đến tận các tiểu quốc ở ven bờ phía đông của lục địa châu Phi. Trung bình mỗi cuộc hành trình kéo dài hai – ba năm. Tất nhiên, đây là những cuộc viễn chinh nhằm tăng cường khả năng nô dịch các dân tộc ở nam Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, phục vụ mưu đồ bành trướng của các hoàng đế triều Minh.


(http://img16.imageshack.us/img16/1918/trinhhoathuyen.gif)
Bản in khắc gỗ đầu thế kỷ 17 của người Trung Quốc, được cho là để miêu ta các con thuyền của Trịnh Hòa


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 10 Tháng Mười Hai, 2011, 07:08:09 pm
Ngay từ những thế kỷ XI, XII, XIII, ở vùng này đã có nhiều phát minh trong lĩnh vực tàu thuyền và kỹ thuật hàng hải, như kỹ thuật sử dụng địa bàn, bánh lái có trụ rời và tay quay, kỹ thuật đóng thuyền nhiều vách ngăn.

Thuyền chiến nhìn chung không lớn, nhưng số lượng rất nhiều. Do chủ yếu hoạt động trong sông, nên quan hệ với quân trên bộ rất chặt chẽ và tổ chức biên chế không khác quân bộ nhiều lắm. Thuyền cơ động trong sông chủ yếu dùng sức chèo, vì vậy biên chế lính chèo thuyền thường đông và khá ổn định. Kỹ thuật dùng buồm chủ yếu phục vụ các thuyền biển, thường cũng là buồm đơn giản (trừ những trường hợp hãn hữu như hạm đội Trịnh Hòa, thuyền lớn nhất ước tính tới 6.500m2 buồm).

Trước thế kỷ XIV, vũ khí trên thuyền chủ yếu là trang bị cá nhân của lính chiến đấu như giáo mác, cung nỏ, mộc, câu liêm… Hỏa khí ra đời và được dùng trong thủy chiến ở phương Đông rất sớm. Từ thế kỷ XI, một số vũ khí phóng hỏa, gây khói… được đưa lên thuyền. Nhưng phải đến khi xuất hiện những khẩu pháo tương đối hoàn thiện ở thế kỷ XIV thì thuyền chiến mới có một loại vũ khí tầm xa riêng của nó. Việt Nam được coi là nước đầu tiên ở phương Đông, trang bị pháo cho thuyền chiến, muộn nhất cũng từ năm 1390. Tuy vậy, sự phát triển của pháo thuyền ở vùng này phát triển chậm, không thấy những cải cách lớn trong nghề đóng thuyền để tạo điều kiện tăng số lượng pháo trên mỗi thuyền. Kỹ thuật súng pháo cũng hầu như không có những phát minh kỹ thuật lớn. Cho đến trước thế kỷ XVIII, hầu như ở vùng này không có chiếc tàu nào có tới hai tầng boong pháo, vì vậy số lượng pháo trên mỗi thuyền chiến phương Đông không vượt quá chục khẩu. Pháo thường được bố trí ở đằng mũi và đuôi thuyền, nhằm theo những mục tiêu cùng chiều với trục thuyền, phù hợp với địa hình tác chiến trong sông. Số pháo thủ vì vậy không nhiều, mà chủ yếu vẫn là lính giáp chiến.

Từ thế kỷ XVIII, đặc biệt là thế kỷ XIX, một số thuyền chiến nhiều tầng pháo kiểu châu Âu lác đác xuất hiện trong hải quân nhà Nguyễn (Việt Nam) và Thanh (Trung Quốc)… Tuy nhiên, đó chỉ là những thuyền tương dương với thuyền loại nhỏ của châu Âu.

Đáng nói nhất trong lĩnh vực này là những chuyển biến lớn trong quân thủy nói riêng và hải quân nói chung của nghĩa quân Tây Sơn thế kỷ XVIII. Kết hợp rất sáng tạo những thành tựu kỹ thuật của châu Âu với nền kỹ thuật nước ta đương thời, đáp ứng những đòi hỏi bức thiết của phong trào nông dân lúc đó, Nguyễn Huệ đã mạnh dạn tạo bước chuyển biến rất lớn trong việc xây dựng một đội pháo thuyền mạnh, mà theo đánh giá của các sĩ quan hải quân phương Tây đương thời, có những thuyền chiến tương đương với pháo thuyền hạng trung và hạng lớn trong các hạm đội phương Tây. Đó là những thuyền chiến trang bị 60 pháo lớn và có biên chế tới 700 người.

(http://img406.imageshack.us/img406/1726/thuyentayson.jpg)
Mô hình chiến thuyền Tây Sơn trong chiến thắng Rạch Gầm-Xoài Mút


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 11 Tháng Mười Hai, 2011, 06:04:54 pm
Do hoạt động chủ yếu trong sông, nên nghệ thuật thủy chiến cũng chủ yếu là tác chiến trên những dòng sông, ít tổng kết nghệ thuật hải chiến. Trong các binh thư không mấy khi thiếu một thiên Thủy chiến, ở đó các yếu tố về thế nước, thế gió, thế trận và các yếu tố tâm lý được khai thác, các loại vũ khí và dụng cụ trang bị cho chiến thuyền được trình bày, đặc biệt chú ý những thuyền đặc chủng như mông đồng, đấu hạm, hải cốt, mông xung, du đĩnh, liên hoàn mẫu tử… Những điều đó chứng tỏ nghệ thuật thủy chiến đã phát triển đến trình độ khá cao. Cũng vì hoạt động trong sông, nên nghệ thuật dùng vật cản đặc biệt phát triển trong nghệ thuật thủy chiến ở vùng này: những bãi cọc, xích sắt, đập đất và cuối cùng là thủy lôi các loại ra đời rất sớm. Nghệ thuật dùng “đặc công nước” cũng ra đời sớm và rất phát triển. Bộ mặt chiến tranh trên mặt nước, rõ ràng rất khác với phương Tây và đặc biệt đa dạng, nó gắn bó chặt chẽ với những hoạt động chiến tranh trên bộ đến mức như một bộ phận của quân bộ, thậm chí đồng thời là quân bộ. Ở các nước phương Đông, trong lực lượng vũ trang nói chung thường khó mà tách được rạch ròi xem đâu là quân bộ và đâu là quân thủy. Vì, cả hai lực lượng đó đều có một mục tiêu hoạt động chung là chiếm đất và giữ đất. Việc tranh giành quyền lợi trên biển rất hạn chế, có chăng chỉ là những hoạt động liên quan đến việc giữ gìn chủ quyền quốc gia hoặc đánh bắt cướp biển. Cho nên, dường như ở các nước phương Đông, người ta hiếm thấy có những đơn vị hải quân thường trực trên biển.

Trong khi đó thì, ngay từ thời Hy Lạp – La Mã, hải quân phương Tây đã có nhiệm vụ hết sức rõ ràng. Ngoài những việc thông thường như chuyển quân, đổ bộ, hỗ trợ cho các hoạt động quân sự trên đất liền, hạm đội thời đó còn có ba nhiệm vụ quan trọng:

- một là, đảm bảo mạch máu giao thông buôn bán trên biển;

- hai là, hoạt động phá hoại tuyến giao thông buôn bán trên biển của đối phương;

- ba là, chiến đấu tiêu diệt hạm đội đối phương4.

Hải quân phương Tây thời tiền tư bản, ngoài các nhiệm vụ nói trên, còn thêm một nhiệm vụ mới rất quan trọng: đó là công cụ chính để xâm chiếm, tranh giành thuộc địa. Đây là thời kỳ mà trên thế giới xuất hiện những hạm đội quân sự ổn định và thường trực trên biển, đồng thời xuất hiện các lực lượng hải quân đánh thuê chuyên nghiệp.

(http://img39.imageshack.us/img39/1190/danangxua1.jpg)
Liên quân Pháp-Tây Ban Nha nổ súng vào Đà Nẵng năm 1859
----------------------
4 Lịch sử nghệ thuật hải chiến, sách đã dẫn.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 11 Tháng Mười Hai, 2011, 06:11:15 pm
Các thế kỷ XVII, XVIII và XIX, đáng ra phải là những thế kỷ của những cuộc hải chiến lớn giữa hạm đội nhiều nước phương Tây và phương Đông, nghĩa là những kẻ đi xâm lược và những người chống xâm lược. Thế nhưng, các cuộc đụng độ trên mặt nước đã diễn ra không nhiều, và nếu có thì quân thủy các nước phong kiến phương Đông đã thất bại nhanh chóng trước chính sách pháo thuyền của các nước tư bản thực dân phương Tây.

Trong toàn bộ các nước phương Đông lúc này, chế độ phong kiến đang lỗi thời và trở thành vật cản bước tiến của xã hội. Trước tiếng còi báo động các cuộc xâm lược của chủ nghĩa thực dân, triều đình phong kiến ở các nước này, đã chọn con đường hòa hoãn để rồi đi tới chỗ đầu hàng hoàn toàn. Hơn nữa, nền kinh tế, kỹ thuật phong kiến trì trệ – kết quả của chính sách kinh tế đầy mâu thuẫn và bảo thủ của nhà nước phong kiến – đã không cho phép ngay tức khắc trong vòng một thời gian ngắn xây dựng được một lực lượng hải quân đủ mạnh để trừng trị có hiệu quả những hành động đe dọa và xâm lược của hải quân phương Tây.

Thất bại của các nước phương Đông trước chính sách thực dân của các nước phương Tây hoàn toàn không chỉ là do sự yếu kém của hải quân, của vũ khí, mà do nhiều nguyên nhân quan trọng hơn bắt nguồn sâu xa từ bản chất phản động của các triều đình phong kiến đương thời. Sự yếu kém của lực lượng vũ trang nói riêng và quân thủy nói chung chỉ là một trong nhiều biểu hiện của nó mà thôi.

  Lịch sử lực lượng vũ trang trên mặt nước trong hai thế kỷ gần đây đã phát triển với tốc độ rất cao nhờ thành tựu cách mạng kỹ thuật và cách mạng công nghiệp. Chưa bao giờ sự phát triển hạm đội quân sự lại gắn bó chặt chẽ với sự phát triển của công nghiệp và khoa học kỹ thuật như thời kỳ này. Mỗi phát minh trong các lĩnh vực đó đều được tìm cách áp dụng cho hạm đội, và trái lại nhu cầu phát triển của hạm đội lại như những lá đơn đặt hàng thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật và các ngành công nghiệp có liên quan. Vì thế, ngay từ giữa thế kỷ XIX, Ph. Ăng-ghen đã có nhận xét: “Tàu chiến hiện đại chẳng những là sản phẩm của nền đại công nghiệp, mà đồng thời còn là biểu tượng của nền công nghiệp đó”.

  Trong hai thế kỷ qua, lịch sử các hạm đội quân sự trên thế giới đã có sự phát triển nhảy vọt, thể hiện trên mấy hướng chính:

  - một là, những biến đổi trong nguyên liệu và kỹ thuật đóng vỏ tàu, từ khung tàu vỏ gỗ đến gỗ bọc thép, rồi đến vỏ thép hoàn toàn;

  - hai là, những biến đổi trong lĩnh vực tạo nguồn sức đẩy của tàu, từ chân tay và buồm đến máy hơi nước, động cơ đi-ê-den cho đến việc dùng năng lượng hạt nhân;

  - ba là, những biến đổi của các vũ khí tiến công trên biển, từ pháo đến ngư lôi, tên lửa, đầu đạn hạt nhân,… cùng những phương tiện hỗ trợ, đảm bảo cho các vũ khí nói trên như ra-đa, pháo và tên lửa phòng không, thủy lội, vũ khí chống tàu ngầm…

  Đặc biệt hạm đội ngày nay không chỉ gồm những tàu mặt nước, mà với sự phát triển của tàu ngầm, tàu sân bay, với những đòn tiến công có hiệu quả từ trên trời xuống, từ dưới đáy biển lớn, bộ mặt của hải quân đã thay đổi rất nhiều. Chiến tranh trên biển còn bao hàm cả hai mặt trận mới nữa là trên khôngdưới nước, với sự tham gia của máy bay và tàu ngầm. Vai trò chiến lược của hải quân hiện đại là những tàu tên lửa mang đầu đạn vượt đại châu và tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa đường đạn.

  Hải quân hiện đại, với những vũ khí tầm xa có hiệu quả không chỉ còn là lực lượng chiến đấu trên biển, mà có thể đủ sức thực hiện những nhiệm vụ chiến lược, uy hiếp và tiêu diệt những mục tiêu ở sâu trong mặt đất. Trái lại, với những vũ khí từ trên không, trên vũ trụ và sâu trong lục địa, người ta lại cũng có khả năng uy hiếp và tiêu diệt các mục tiêu trên biển. Những điều đó, một mặt càng làm phân hóa sâu hơn các lực lượng vũ trang hoạt động trên những môi trường địa lý khác nhau, mặt khác đặt ra yêu cầu gắn bó mật thiết các lực lượng đó với nhau trong khi giải quyết các mục tiêu cụ thể của chiến tranh. Chiến tranh trên mặt nước giờ đây không chỉ bó hẹp trong phạm vi mặt nước mà đã trở thành một hoạt động toàn diện và đa dạng trên nhiều lĩnh vực với nhiều phương tiện chiến tranh khác nhau.


*

Nghiên cứu lịch sử lực lượng vũ trang trên mặt nước cũng là nghiên cứu một bộ phận quan trọng của lịch sử quân sự. Thực tế, không thể tách rời hoạt động trên mặt nước với các hoạt động trên bộ trong lĩnh vực quân sự; chúng là các bộ phận cấu thành nghệ thuật quân sự nói chung. Vì thế, nghiên cứu lịch sử lực lượng vũ trang trên mặt nước cũng là góp phần nghiên cứu toàn bộ lịch sử quân sự.

Lịch sử quân thủy Việt Nam phát triển trong bối cảnh chung của lịch sử quân thủy thế giới, đặc biệt là lịch sử quân thủy phương Đông. Tất nhiên, nó có những nét độc đáo riêng. Hiểu rõ lịch sử quân thủy Việt Nam, vai trò của nó trong lịch sử chiến tranh, sẽ góp phần hiểu rõ hơn bộ mặt và các quy luật chiến tranh ở nước ta, từ đó mà góp phần làm sáng tỏ phần nào bộ mặt và quy luật chiến tranh ở các nước phương Đông trong lịch sử, vốn lâu này dường như bị lãng quên trong các công trình nghiên cứu về lịch sử quân sự thế giới.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 11 Tháng Mười Hai, 2011, 06:12:05 pm
Chương hai

ĐẤT NƯỚC CON NGƯỜI VIỆT NAM
VÀ TRUYỀN THỐNG THẠO THỦY CHIẾN

Truyền thống thạo thủy chiến là một nét nổi bật trong nghệ thuật chiến tranh của cha ông ta. Nói chuyện với bộ đội hải quân nhân dịp kỷ niệm 15 năm thành lập quân chủng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng nhấn mạnh: “Do nước ta có vị trí quan trọng, có bờ biển dài, nhiều sông lớn, nên từ xưa tới nay kẻ địch từ bên ngoài thường lợi dụng biển và sông để xâm lược nước ta. Và ở trên biển, trên sông, trong quá trình lịch sử, dân tộc Việt Nam đã bao lần nêu cao truyền thống chống ngoại xâm anh hùng, bất khuất.

Thật vậy, trong những trang sử vẻ vang của mình kể từ khi vua Hùng dựng nước, dân tộc ta đã ghi biết bao sự tích anh hùng trên non sông nước ta nói chung, trên sông, biển nước ta nói riêng”5.

Truyền thống thạo thủy chiến của dân tộc ta là kết quả tất yếu, được nảy nở trong quá trình hình thành và phát triển của một cộng đồng sống trên địa bàn sông nước, mang đậm nét những truyền thống sông nước, thường xuyên tiến hành những cuộc chiến tranh chống ngoại xâm.

Nghiên cứu truyền thống thạo thủy chiến của dân tộc, phải xét đến những yếu tố hình thành nó, trong đó trước hết phải tìm hiểu những bản chất tự nhiên, là cái mà Mác, Ăng-ghen đã nhấn mạnh: “Mọi lịch sử đều phải xuất phát từ những cơ sở tự nhiên đó và từ sự biến đổi của chúng do tác động của con người trong tiến trình lịch sử”6.
-------------------------
5 Võ Nguyên Giáp, Chiến tranh nhân dân trên chiến trường sông biển, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1972, tr. 10.
6 C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Hệ tư tưởng Đức, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1961, tr. 10.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 11 Tháng Mười Hai, 2011, 06:20:00 pm
*

Lãnh thổ nước ta trong buổi đầu dựng nước nằm trong khoảng miền Bắc nước ta ngày nay. Trong đó địa bàn sinh tụ chủ yếu của dân tộc nằm trên lưu vực các con sông lớn như sông Hồng, sông Mã, sông Cả… Dải đất này đã trải qua một quá trình phát triển địa chất phức tạp. Phải đến sau những hoạt động tân kiến tạo (cụ thể là tạo sơn Hi-ma-lay-a cách nay chừng 25 triệu năm), bộ mặt căn bản của nước ta như ngày nay mới tương đối định hình. Nhìn bao quát, đó là một vùng núi, thềm núi và tiếp liền với biển, Trên đó hình thành những nứt gãy khổng lồ mà vết tích còn lại là những dòng sông lớn chạy dọc theo hướng bắc-nam hoặc tây-bắc – đông-nam. Bộ mặt nham nhở đó, qua nhiều triệu năm đã được bồi tích của lũ từ núi xuống, trầm tích của biển trong những lần tiến vào, san lấp phẳng dần, tạo ra một vùng đồng bằng màu mỡ nằm kẹp giữa một bên là núi lớn và một bên là biển rộng, như một khu đệm của núi và biển.

Đặc điểm “khu đệm” này cần được nhấn mạnh trong tình hình lượng mưa ở đây cao vào loại nhất nhì trên thế giới với trung bình 1.500mm/năm (ở miền núi lên tới 2.000 – 3.000 mm/ năm). Lượng nước đó lại không rải đều trong năm, mà tập trung đổ xuống vào mấy tháng mùa mưa với 85% lượng nước mưa cả năm. Hàng chục triệu mét khối nước mưa đổ dồn dập xuống vùng núi chiếm ba phần tư diện tích đất đai, chen chúc đổ vào những nứt gãy lớn, tràn về đồng bằng, rạch thêm ra ở đây vô vàn những dòng chảy mới – chi lưu của những con sông lớn, lai láng khắp vùng. Và khi mùa mưa đã qua đi, mặt đất khô ráo chỉ nổi lên lỗ chỗ trong một vùng chi chít sông và loang lổ đầm hồ. Trong điều kiện chưa có đê, ước tính 80% diện tích đồng bằng Bắc Bộ bị ngập nước trong mùa mưa và 60% ngập nước trong mùa khô. Cho tới năm 1974, diện tích mặt nước ở miền Bắc vẫn chiếm tới 50 vạn héc-ta. Tính chất sông nước và đầm lầy thể hiện rất rõ trong cảnh quan xưa của nước ta, mà từ đó có thể rút ra hai nét lớn liên quan đến đời sống của con người miền đất này:

1. Hệ thống sông hồ dày đặc, phần lớn đều thông được với nhau. Nhìn chung sông ngắn, liền biển, cùng với biển tạo thành một hệ thống sông nước hài hòa, thống nhất. Trung bình cứ 20 ki-lô-mét bờ biển lại có một cửa sông lớn và vô số cửa lạch nhỏ khác. Nhiều khi ranh giới giữa sông và biển khó tách bạch, khiến cho yếu tố sông nước trong đời sống dân cư vùng này càng trở nên đậm đà, sâu sắc.

2. Lũ tích, phù sa và khí hậu nhiệt đới ven biển đã tạo nên ở đây một thiên nhiên hết sức phì nhiêu với những loài động vật, thực vật ưa nước, trong đó nổi lên là cây lúa và vô vàn các loài thủy sản cùng những loài chim, thú ăn bắt thủy sản. Đó là kho của quý báu giúp nuôi sống con người trong buổi đầu chập chững cũng như trong quá trình phát triển văn minh.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 11 Tháng Mười Hai, 2011, 06:26:05 pm
Thực tế lịch sử đã chứng minh, từ hàng chục vạn năm nay con người đã từng sinh sống ở đây và liên tục cho đến ngày nay, không một thời nào vắng dấu tích cư trú của con người. Quá trình đó nổi lên một đặc điểm rất dễ thấy trong phương thức sinh sống của con người, đó là sự gắn bó mật thiết với sông nước, biển cả và từ đó hình thành những truyền thống văn hóa mang đậm tính chất sông nước.

“Con người trước hết cần phải ăn, uống, có nhà ở và mặc trước khi có thể lo đến chuyện làm chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo…”7. Quả là cái ăn và công cuộc làm ăn đã có những ảnh hưởng rất quyết định đến diện mạo văn hóa của các thế hệ cư dân ở vùng này.

Tư liệu khảo cổ học phản ánh trực tiếp vấn đề ĂN ở nước ta sớm nhất hiện nay còn có thể nói là những di tích chứa trong tầng văn hóa hang Con Moong (Thanh Hóa), có niên đại C14 là 11090 ± 185 năm cách ngày nay. Dấu vết thức ăn còn lại là hàng chục mét khối vỏ nhuyễn thể, một ít xương thú và một ít tài liệu bào tử phấn hoa. Kết quả nghiên cứu cho thấy nguồn đạm chủ yếu của cư dân thời này là nhuyễn thuể, trong đó phần lớn là nhuyễn thể nước ngọt. Tình hình này tiếp tục trong những nghìn năm sau còn thấy phổ biến trong các nơi cư trú của dân cư thuộc văn hóa Hòa Bình – Bắc Sơn. Như vậy, ít ra từ hậu kỳ đá cũ, cư dân sống trên lãnh thổ miền Bắc nước ta đã định hướng hoạt động tìm kiếm đạm để sinh sống vào thủy sản, tức vào những loài động vật cấp thấp, sống ở dưới nước. Mặc dầu trình độ lúc này chỉ hạn chế họ trong phạm vi thu lượm những loài thủy sản dễ bắt nhất (nhuyễn thể) sống trong sông suối và đầm hồ miền núi.

Thời đại đá mới trung kỳ ở nước ta nổi lên sự đổi mới trong phương thức cũng như địa bàn cư trú. Có một bộ phân dân cư rời hang động tràn xuống các miền duyên hải. Khu ven biển đông-bắc là hệ thống Soi Nhụ – Cái Bèo, ven biển bắc Trung bộ là hai hệ thống: văn hóa Đa Bút và văn hóa Quỳnh Văn. Sự di chuyển này chẳng những không thay đổi hướng tìm kiếm đạm mà dường như khẳng định thêm khuynh hướng cũ – đạm thủy sản – bằng sự để lại những núi lớn sò điệp nước mặn hoặc trai hến nước ngọt, song song với nơi này nơi khác vẫn tiếp tục cơ cấu nhuyễn thể xưa của Hòa Bình – Bắc Sơn. Vào cuối thời kỳ này, bắt đầu xuất hiện những tầng văn hóa ken chặt xương cá và trình độ đánh bắt thủy sản đã được đẩy đển mức xuất hiện những quả nặng làm chức năng chì lưới. Nhờ có những tiến bộ trong phương thức đánh bắt thủy sản, cư dân vùng này mở rộng và dần thay đổi cơ cấu trong đạm thủy sản. Những loài thủy sản cao cấp, khó bắt như cá, ba ba,… trở thành đối tượng đạm quan trọng nhất của con người.

Có thể nói rằng, trước khi tiến vào thời đại đồng – thời đại định hình những nét chủ yếu của truyền thống Việt, thì định hướng đạm thủy sản đã được khẳng định, và cùng với thiên hướng về lúa trong định hướng bột, trở thành cái nền LÀM ĂN cơ bản cho người Việt sau này. Đó là hướng làm ăn gắn liền với NƯỚC.

(http://img560.imageshack.us/img560/2111/conmoong.jpg)
Di chỉ khảo cổ Con Moong
-----------------------
7 C.Mác và Ph.Ăng-ghen, Toàn tập (bản tiếng Nga), NXB Chính trị, Mát-xcơ-va, t. 19, tr. 350.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 11 Tháng Mười Hai, 2011, 06:34:19 pm
Sự tham gia của lúa tới mức trở thành chủ yếu trong thành phần lương thực và sự tiến bộ của các phương thức đánh bắt, chế biến đạm thủy sản đã làm thay đổi những “đống rác bếp” cửa cư dân thời đại đồng đến mức gần như không để lại ít rác rưởi nào có liên quan đến đạm thủy sản. Nhưng sàng lọc thật kỹ một số mẫu đất trong tầng văn hóa, các nhà khảo cổ học đã nhặt ra nhiều xương nhỏ li ti, hầu hết đó là xương cá. Điều này hoàn toàn phù hợp với sự phong phú và tỷ lệ gần như tuyệt đối của các dụng cụ biển hiện cho hướng khai thác đạm thủy sản trong các hoạt động tìm kiếm đạm động vật nói chung như chì lưới, lao ngạnh, lưỡi câu… Truyền thuyết dân gian và thư tịch cũng ghi nhận thiên hướng đó trong khi đang mô tả những đặc điểm sinh hoạt nổi bật của cư dân thời này, đó là tục xăm mình theo hình giao long được giải thích bằng hoạt động đánh bắt thủy sản, thói quen làm mắm thủy sản và ăn canh cá…

Nếu như định hướng đạm thủy sản được khẳng định trong thời đá mài, thì trong thời đại đồng, định hướng đó xác lập một truyền thống đánh bắt, chế biến và sử dụng đạm thủy sản. Truyền thống đó được bảo tồn vững chắc trong suốt nhiều thế kỷ đầy biến động sau đó, với hình tượng con cò, con vạc, con nông lặn lội bắt cá, cua, tôm, tép,… từ trên trống đồng Đông Sơn đến mọi thế hệ ca dao, tục ngữ, văn nghệ dân gian Việt Nam, như một sợi dậy xuyên suốt.

Trong suốt thời phong kiến, cho đến tận ngày nay đạm thủy sản vẫn là nguồn đạm chủ yếu trong dân gian. Thậm chí qua một số tài liệu (như chế độ ban thưởng và cấp phát bổng lộc cho quan lại và binh lính từ Lý – Trần đến Lê, Nguyễn…) thì mắm thủy sản và cá khô còn là thức ăn thường xuyên và phổ biến cho cả tầng lớp trên của xã hội nữa. Ngày nay, đạm thủy sản vẫn chiếm địa vị chủ đạo ở mọi vùng nông thôn đồng bằng, nhất là ở những miền ven biển. Thậm chí trên nhiều vùng miền núi, nơi có thành phần thịt thú do chăn nuôi và săn bắn mang lại cao hơn các vùng khác, thì đạm thủy sản cũng không bao giờ lui xuống hàng thứ yếu.

(http://img214.imageshack.us/img214/5038/bai639062010.jpg)


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 12 Tháng Mười Hai, 2011, 07:37:59 pm
Sự gắn bó với nước của nhân dân ta không chỉ biểu hiện trong hoạt động tìm kiếm đạm mà còn trong hoạt động làm ra bột. Đặc biệt bắt đầu từ khi cây lúa trở thành nguồn bột chủ yếu của cư dân, từ thời đại đá mới. Bản chất của cây lúa là một loài sống nhờ nước – nhất nước. Vì vậy, bao trùm lên toàn bộ hoạt động trồng lúa là cuộc đấu tranh, vật lộn với nước để nương nhờ, để cầu xin và cả để đánh đuổi…

Sự hội tụ của hai truyền thống nền tảng nhất trong hoạt động sinh sống của con người ở vùng này – truyền thống đạm thủy sản và truyền thống trồng lúa nước – càng làm gắn bó chặt chẽ giữa người và nước. Đó chính là nền tảng quyết định những khuynh hướng văn hóa khác của cư dân vùng này.

Phù hợp với những hoạt động trong lĩnh vực làm ăn, cư dân vùng này, trong lĩnh vực Ở cũng bám rất chắc những nguồn nước. Ở theo nguồn nước là đặc điểm chung cho mọi nhóm người, vì người sống không thể thiếu nước. Nhưng gắn bó của cư dân thời cổ nước ta với nước không chỉ đơn thuần nhằm bảo đảm nguồn nước sống cho người hay thú nuôi mà còn nhằm đảm bảo nguồn đạm chủ yếu, thường xuyên; nguồn nước và miền đất ẩm nước cho trồng lúa.

Giao thông thời cổ, trung đại ở nước ta chủ yếu là giao thông thủy và sông ngòi trở thành mạch máu, trục sống của toàn xã hội. Trục sống này có ảnh hưởng rất quyết định tới phân bố cư trú thời cổ. Sống bám theo các trục giao thông, với người Việt, là cư trú ven sông, ven biển và đầu mối của các dòng sông chính trở thành những trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa…

Cư trú theo những dòng sông trong điều kiện chưa có đê ngăn nước tất yếu dẫn đến những nhà sàn tránh nước và thói quen ở thuyền mà mãi đến thế kỷ XVII – XVIII vẫn còn được người phương Tây ghi nhận như một đặc điểm độc đáo của người Việt: “Họ rất thích ở nước, thích ở trên nước hơn là ở trên cạn. Cho nên phần nhiều sông ngòi thì đầy thuyền. Những thuyền đó thay cho nhà cửa của họ. Thuyền rất sạch sẽ, ngay cả khi họ nuôi gia súc ở trong đó”8.

(http://img406.imageshack.us/img406/5223/langchai.jpg)
------------------------
8 J. B. Tavernier, Relation nouvelle et singuliève du royaume de Tonkin, trong Revue indochinoise, 1908 – 1909.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 12 Tháng Mười Hai, 2011, 07:48:38 pm
Cư trú theo nguồn nước còn dẫn đến đặc điểm đặt địa danh theo tên nước. Người Thái có cách gọi đơn vị cư trú căn bản của họ là “nậm” (nước), ở người Việt, cách gọi đó bây giờ hàm nghĩa một đơn vị hành chính lớn hơn nhiều (quốc gia), nhưng rất có thể thời xưa cách gọi đó cũng đã được áp dụng cho những đơn vị cư trú căn bản nhất. Thời Lý – Trần, rất nhiều đơn vị hành chính được gọi là giang (sông) và cũng rất nhiều tên sông, tên đất thay thế cho nhau. Đọng lại của cách gọi đó, điển hình nhất là từ NƯỚC đồng nghĩa với từ QUỐC GIA hiện nay, là một trong số hiện tượng hiếm thấy trên thế giới.

Làm ăn (ĂN) và cư trú (Ở) phản ánh rất rõ nét trong ĐI LẠI (giao thông). Đất đai bị chia cắt nhằng nhịt và phần lớn thường xuyên lầy lội không cho phép phát triển giao thông bộ. Trong thời tiền sử cũng như lịch sử cổ - trung đại ở nước ta, những biểu hiện của giao thông bộ rất hạn chế. Hệ thống đường sá, cầu lớn vượt sông và các phương tiện vận chuyển trên bộ đều phát triển muộn và rất yếu ớt. Trái lại, điều kiện địa hình ấy lại hết sức thuận tiện cho giao thông thủy. Hơn nữa, như đã nói, cuộc sống làm ăn và cư trú có như cầu tự nhiên đi lại trên sông biển. Tư liệu lịch sử phản ánh rất rõ ưu thế tuyệt đối của giao thông thủy trong đời sống của mọi xã hội Việt xưa bên cạnh sự có mặt tương đối yếu ớt của giao thông bộ.

Bằng chứng phổ biến và rõ nét nhất của giao thông thủy được bắt đầu với tư liệu của thời kỳ Hùng Vương. Trên đồ đồng Đông Sơn, lần đầu tiên xuất hiện những phương tiện giao thông thì chúng hoàn toàn là phương tiện của giao thông thủy: thuyền. Ở đâu cũng thấy thuyền, thuyền là một trong những đề tài trang trí phổ biến và ổn định nhất của nghệ thuật đương thời. Thuyền trên trống, thạp, rìu đồng với hàng trăm tiêu bản và nhiều thể loại phong phú, chứng tỏ trình độ giao thông thủy đã phát triển đến mức cao. Quan tài hình thuyền với mái chèo chôn cùng bên trong là một trong những đặc trưng văn hóa nổi bật của người Việt.

(http://img171.imageshack.us/img171/5210/quantaihinhthuyen.jpg)
Quan tài hình thuyền Châu Can

Trong suốt thời phong kiến, giao thông thủy vẫn là chủ đạo. Đầu thế kỷ 18, dưới mắt người phương Tây, tình hình giao thông ở nước ta vẫn còn được mô tả như sau: “Xứ này không có đường cái lớn, lại chằng chịt ruộng đồng. Muốn đến Huế cũng như bất cứ nơi nào đều phải đi đường thủy hay đường sông”9. Phải đến tận đầu thế kỷ này, bộ mặt giao thông mới có những đổi thay đáng kể.

ĂN, Ở và ĐI LẠI đã làm nền để mọc lên từ đó một hệ thống văn hóa tinh thần đậm đà màu sắc sông nước. Đó là vô số những thần linh lo toan, độ trì trong lĩnh vực sông nước với hai mảng chính: mưa – cầu an cho mùa màng và sông hồ, biển – cầu an cho đi lại làm ăn trên sông nước. Đó cũng là những hội nước muôn hình muôn vẻ mà nổi bật trong đó là những hội đua thuyền. Đó là hệ thống ca dao, tục ngữ và các loại hình văn nghệ dân gian bắt nguồn từ những cảm hứng trong quá trình lao động tiếp xúc với sông nước. Đó cũng là nền nghệ thuật phản ánh sông nước mà tiêu biểu đầu tiên là nghệ thuật trang trí trên đồ gốm và đồ đồng thời dựng nước.

Không còn nghi ngờ gì nữa, một truyền thống sông nước đã sớm được hình thành và ổn định vững chắc ở vùng này. Truyền thống đó, với những vật lộn thường xuyên cùng sông nước để làm ra cơm, tìm ra cá, để thông thương, trao đổi… đã tạo nặn lên một dân tộc rất thông thạo nghề sông nước. Truyền thống này được định hình cùng với những nét khắc họa đầu tiên của dân tộc – thuở các vua Hùng dựng nước – đã phát triển và ngày càng phong phú hơn trong suốt các thời kỳ sau. Biểu hiện cụ thể của truyền thống đó là có thể được tóm tắt trong mấy nét: giỏi bơi lội, thông luồng lạch, nắm vững chế độ nước và thạo sử dụng thuyền.

Chiến tranh và nghệ thuật chiến tranh ở nước ta cũng bị truyền thống thạo sông nước chi phối rất mạnh và chính truyền thống thạo thủy chiến và sự phản ánh và tác động của truyền thống đó vào trong thực tế lịch sử chiến tranh, lịch sử quân sự của dân tộc.
----------------------
9 Dẫn theo Thomazi, La Conquête de L’Indochine, Paris, 1934.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 12 Tháng Mười Hai, 2011, 07:51:30 pm
*

Thường xuyên phải tiến hành các cuộc kháng chiến chống xâm lược là một đặc điểm có tính chất quy luật trong lịch sử dân tộc ta. Quy luật này được biểu hiện rõ nét bắt đầu từ thời Hùng Vương với sự xuất hiện một tỷ lệ rất cao các loại hình vũ khí bằng đồng thau. Thống kê ở các di chỉ và khu mộ táng, tỷ lệ vũ khí thường chiếm tới 60 – 70%. Ảnh xạ của tình hình chiến tranh trong thời kỳ này còn đọng lại rất đậm nét trên những truyền thuyết dân gian và thần thoại – anh hùng ca. Những cuộc xâm lược dồn dập của kẻ thù bên ngoài đối với vùng đất này được sử sách chính thức ghi lại cũng bắt đầu từ cuối thế kỷ III trước Công nguyên. Và liên tục từ đó đến nay hầu như không mấy thế kỷ mà ông cha ta không phải tiến hành những cuộc chiến tranh chống xâm lược. Nhìn lại lịch sử, kẻ thù xâm lược lớn, thường xuyên và hiểm độc là các đội quân từ phương Bắc tràn xuống thực hiện mưu đồ bành trướng của các thế hệ vua chúa Trung Hoa. Con đường biển ngay từ đầu đã là con đường hành quân thuận lợi cho các đạo quân xâm lược đó.

Do đặc điểm địa hình và truyền thống cư trú cũng như truyền thống giao thông của nước ta, nên kẻ xâm lược đánh Việt Nam tức là phải tác chiến trên một địa hình bị sông ngòi chia cắt chằng chịt, xung quanh có núi cao, biển lớn che chở, là phải đương đầu với những đội quân quen nghề sông nước và cơ động chủ yếu bằng thuyền. Vì vậy, kẻ thù xâm lược nước ta, ở xa cũng như ở gần, thường phải dùng đến quân thủy. Triệu Đà đánh nước Âu Lạc có Nhâm Ngao mang thuyền đậu ở Tiểu Giang. Năm 42, Mã Viện mang quân sang đàn áp cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng có Đoàn Chí mang 2.000 thuyền đi theo. Trần Bá Tiên của nhà Lương mang quân đi đánh nước Vạn Xuân của Lý Nam Đế cũng đi theo đường thủy. Năm 938, Hoằng Thao con vua Nam Hán, cũng dùng một đạo quân thủy mò vào cửa Bạch Đằng. Năm 981, tướng Tống đánh Lê Hoàn cũng cử Lưu Trừng mang theo một đạo quân thủy. Năm 1077, nhà Tống lần nữa cử bọn Quách Quỳ mang hàng chục vạn quân xâm lược nước ta vẫn không quên kèm theo 200 chiến thuyền của Dương Tùng Tiên. Thế kỷ XIII, nhà Nguyên bốn lần tổ chức đội quân xâm lược Việt Nam thì, chỉ trừ một lần đầu tiên từ Vân Nam xuống là không có quân thủy, còn cả ba lần sau (1285, 1287, 1294) đều quan tâm xây dựng đội quân thủy đi kèm, với mức độ quân thủy ngày càng được chú trọng hơn. Năm 1784, Nguyễn Ánh cầu cứu quân Xiêm, thì lực lượng chính mà Xiêm giúp Nguyễn Ánh là 200 chiến thuyền với 30.000 quân thủy. Năm 1789, trong kế hoạch xâm lược nước ta, nhà Thanh chủ trương dùng một mũi quân thủy đánh vòng xuống Phú Xuân, cùng quân bộ của Tôn Sĩ Nghị ép quân Tây Sơn vào giữa. Vì kiêu căng, khinh địch, Tôn Sĩ Nghị đã không dùng mũi quân thủy này… Những tên xâm lược mới từ phương Tây sang trong hai thế kỷ vừa qua cũng không đứng ngoài quy luật đó.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 12 Tháng Mười Hai, 2011, 07:59:03 pm
Đánh vào đất nước ta, kẻ thù thường sử dụng đường thủy và quân thủy; cho nên chiến trường sông biển và nghề sông nước lại càng có vị trí quan trọng đặc biệt. Tình hình đó làm cho bộ mặt chiến tranh ở nước ta thường rất đậm màu sắc thủy chiến. Quân thủy, với tư cách là lực lượng vũ trang sử dụng thuyền trong chiến đấu, và đặc biệt trong cơ động, hình thành sớm và phát triển mạnh.

Quân thủy đã tham gia tất cả các cuộc chiến tranh trong lịch sử dân tộc và đã đem lại nhiều võ công hiển hách nhất. Quân thủy Âu Lạc ở thành Cổ Loa đã đẩy lùi bao cuộc tiến công quân sự của Triệu Đà. Quân thủy của nữ tướng Lê Chân làm khốn đốn Mã Viện ở cửa Bạch Đằng. Quân thủy Lý Bí anh dũng chặn Trần Bá Tiên trên sông Tô Lịch, hồ Điển Triệt. Quân thủy của Triệu Quang Phục ở đầm Dạ Trạch khiến quân Lương mất ngủ lao đao. Quân thủy Mai Phúc Loan làm quân Đường vất vả lo âu. Quân thủy Ngô Quyền diệt Nam Hán ở cửa Bạch Đằng. Chiến thuyền Lê Hoàn bịt Bạch Đằng khiến Lưu Trừng sợ mà ốm chết. Quân thủy thời Lý năm 1075 náo động Khâm, Liêm, năm 1077 chặn thuyền Tống từ ngoài hải giới, cùng quân bộ chặn đứng Quách Quỳ trước sông Cầu. Quân thủy thời Trần quét sạch quân Mông ở Đông Bộ Đầu, diệt quân Nguyễn ở Chương Dương, Hàm Tử, Vân Đồn, Bạch Đằng… Quân thủy Tây Sơn lừng danh với Rạch Gầm – Xoài Mút đại phá quân Xiêm, với Lỗ Giang, Thúy Ái đánh tan quân Trịnh.

Thực tế lịch sử đã tỏ rõ: Kẻ thù dùng quân thủy, đi bằng đường thủy và nhân dân ta cũng sử dụng chiến trường sông biển và quân thủy để đánh địch trong các cuộc chiến tranh chống xâm lược là quy luật tất yếu của chiến tranh cổ đại Việt Nam. Thắng địch trên chiến trường sông nước là một trong những quy luật giành thắng lợi trong nghệ thuật quân sự nước ta thời xưa.

(http://img21.imageshack.us/img21/1592/tranhdao.jpg)

Truyền thống thạo nghề sông nước trong lòng một dân tộc kiên cường bất khuất, có giá trị sáng tạo liên tục tiến hành những cuộc chiến tranh giành và giữ độc lập dân tộc, đã được phát triển thành truyền thống thạo thủy chiến.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 13 Tháng Mười Hai, 2011, 07:19:47 pm
Chương ba

QUÂN THỦY THỜI DỰNG NƯỚC

Lịch sử lực lượng vũ trang chuyên nghiệp gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của nhà nước. Thành tực nghiên cứu của các ngành sử học, khảo cổ học đã chứng minh sự hình thành của “nhà nước sơ khai” đầu tiên ở nước ta – nhà nước Văn Lang – từ cách ngày nay khoảng 4.000 năm. Quá trình hình thành nước Văn Lang cũng đồng thời là quá trình hình thành dân tộc. Văn hiến Việt Nam bắt đầu từ đây, lịch sử dân tộc Việt Nam được tính từ đây… Và chính đây cũng là mốc xuất phát của chuỗi lịch sử lực lượng vũ trang anh hùng của dân tộc.

Nước Văn Lang ra đời là kết quả sự hòa hợp của các bộ lạc nông nghiệp đã phát triển đến trình độ cao, sống trên phạm vi miền bắc nước ta hiện nay. Các bộ lạc đó, vào khoảng 4.000 năm trước đây, đã nắm được các kỹ thuật đúc đồng và đạt đến trình độ rất cao của kỹ nghệ chế tác đồ đá, đồ gốm. Đặc biệt quan trọng là họ đã nắm trong tay một nền nông nghiệp trồng lúa khá phát triển, có thể tạo ra một nguồn lương thực không những đủ nuôi sống toàn bộ xã hội, mà còn bằng thặng dư của mình cho phép tách ra một số lao động dành cho các hoạt động không phải làm ra sản phẩm trực tiếp nuôi sống con người. Đó là sự xuất hiện những nhóm thợ lớn chuyên sản xuất ra các vật dụng mang tính chất trang sức như các xưởng chế tác vòng Tràng Kênh, Bãi Tự, Hồng Đà…

(http://img526.imageshack.us/img526/1483/vongtrangkenh.jpg)
Hiện vật vòng trang sức ở Tràng Kênh, Hải Phòng

Phân công lao động đã hình thành trên mấy ngành chính trong xã hội nước ta chủ yếu là nông nghiệp: nghề lúa, nghề đá, nghề đồng và nghề gốm. Trao đổi, buôn bán tồn tại song song với nền tảng chính của xã hội là sản xuất tự cấp tự túc. Sự chênh lệch về số lượng và chất lượng cũng như giá trị tài sản cá nhân giữa các thành viên trong xã hội đã xuất hiện, đặc biệt dễ quan sát trong bộ tùy táng ở các khu mộ cổ. Tuy nhiên, sự chênh lệch đó mới dừng ở mức đầu tiên của sự phân hóa xã hội. Về căn bản chưa thấy những dấu hiệu chứng tỏ sự phân chia thành các tầng lớp thân phận theo tài sản, cũng như chưa rõ sự phân biệt thành các giai cấp đối kháng.

Trình độ văn minh tương đối cao và những điều kiện lịch sử, địa lý cụ thể đã gắn bó các bộ lạc nông nghiệp sống ở vùng này, mà về nguồn gốc xa xưa có thể cùng chung trong một “bọc”, thành một hình thức cộng đồng mới, bề ngoài mang tính chất liên minh bộ lạc, nhưng chứa bên trong bản chất của nhà nước sơ khai với những yếu tố manh nha nhưng đầy đủ và đặc thù của nó.

Các bộ lạc trồng lúa đó cùng chung nhau mối lợi, mối hại của nước. Sông ngòi chi chít đã gắn họ với nhau trong cuộc làm ăn sinh sống. Những liên minh bộ lạc đầu tiên là những liên minh về nước: dùng nước và trị nước, để rồi sau đó phát triển thành NƯỚC như một cộng đồng mang tính chất quốc gia.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 13 Tháng Mười Hai, 2011, 07:32:03 pm
Nhờ có kỹ thuật đồng phát triển rực rỡ và một nghề lúa phát đạt, lưu vực sông Hồng sớm trở thành một trung tâm văn minh giàu có ở Đông-Nam Á đương thời với dân cư đông đúc, sản lượng lúa cao và nhiều đồ đồng quý. Thống kê di tích của các nhà khảo cổ học cho biết hiện có gần 400 địa điểm khảo cổ học thời này đã được phát hiện ở đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Thống kê số dân ghi chép hồi đầu công nguyên ghi chép trong Tiền hán thư cho biết riêng số dân ở đồng bằng sông Hồng đã lên đến 746.160 người. Đó là một mật độ dân số vào loại rất cao trên thế giới đương thời. Số thóc thuế nhà Hán vơ vét ở Giao Chỉ là 13.600.000 hộc thóc. Một người Trung Quốc ít lâu sau có nhận xét: so với số thuế này thì “tất cả thuế các châu Mân, Quảng, Điền, Kiềm cũng không bằng”10.

Tính số thóc đó, theo đơn vị đo lường hiện nay (đổi từ đơn vị đo lường thời Đông Hán) tương đương với 272.000.000 ki-lô-gam. Có thể qua đó, hình dung phần nào số thóc thặng dư của nghề lúa đương thời, chứng tỏ đây là một vùng lúa có sản lượng rất cao. Thống kê di vật đồng – thứ của cải biểu tượng cho sự giàu có đương thời – cho biết tới con số hàng vạn, với những rìu, giáo, dao găm, giáp che ngực, vòng trang sức, lưỡi cày, lưỡi liềm… và tiêu biểu nhất là những đồ đựng lớn được trang trí rất tinh vi, trong đó hàng trăm trống đồng là một bằng chứng hùng hồn về sự giàu có của cư dân vùng này. Tuy nhiên, cần nhớ rằng đó mới chỉ là những di vật đã được phát hiện, chưa kể đến vô số đồ đồng quý báu khác đang nằm trong lòng đất mà hàng năm, sau mỗi mùa đào, các nhà khảo cổ học lại tìm thấy thêm hàng chục, hàng trăm. Cần phải nhấn mạnh sự giàu có đó, vì chính nó đã khiến vùng này từ rất sớm đã trở thành mục tiêu ăn cướp, xâm lược của các bộ lạc và các nước ở xung quanh. Truyền thuyết, sử sách còn ghi lại, đó là giặc Ân, giặc Mũi đỏ, giặc Hồ Tôn, giặc Tần, Thục, Triệu…

(http://img832.imageshack.us/img832/5777/dongson931063x360jpg094.jpg)
Hiện vật khảo cổ chất liệu đồng

Là ngã ba đường của các cuộc thiên di, là một miền đất giàu có, màu mỡ, chiến tranh cướp bóc từ bên ngoài đến là một hiện tượng thường xuyên. Để tồn tại, các bộ lạc trồng lúa ở lưu vực sông Hồng, rồi sau đó cả sông Mã, sông Cả, vốn đã có nhu cầu và nguồn gốc gắn bó từ lâu đời, trước họa cướp bóc, xâm lăng ngày càng cấp thiết phải liên minh với nhau. Chiến tranh lúc này cũng thường xuyên như lũ lụt hàng năm, tỉ lệ vũ khí trong số các di vật luôn chiếm tới 60 – 70%. Vì vậy, từ đó cộng đồng về nước càng được gắn bó hơn trên cơ sở cộng đồng sống còn chống xâm lăng.
------------------------
10 Mân là Phúc Kiến, Quảng Đông; Quảng là Quảng Tây; Điền là Vân Nam; Kiềm là Quý Châu, đều ở miền Nam Trung Quốc hiện nay.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 13 Tháng Mười Hai, 2011, 07:41:10 pm
“Nhà nước sơ khai” với tư cách là cơ quan tổ chức, điều khiển và quản lý các hoạt động chung của xã hội đã hình thành dần trong quá trình liên minh nói trên. “Nhà nước” đó có hai nhiệm vụ cơ bản là trị thủy để phát triển nghề lúa và tổ chức lực lượng vũ trang để tự vệ. Truyền thuyết kể rằng, các bộ lạc đã chịu khuất phục và tôn tù trưởng của bộ lạc mạnh nhất là bộ Văn Lang ở miền trung du sông Hồng lên làm “vua”, với vương hiệu cha truyền con nói là Hùng Vương.

Lực lượng vũ trang, như một lực lượng do “nhà nước” tổ chức, hoặc ít ra cũng là hoạt động dưới sự điều khiển thống nhất của “nhà nước”, đã ra đời từ đó.

Do phân hóa giai cấp và mâu thuẫn đối kháng trong nội bộ xã hội còn ở mức độ thấp, cho nên “nhà nước” không cần phải thường xuyên nắm trong tay một lực lượng vũ trang chuyên nghiệp thường trực có số lượng lớn lắm. Có thể lúc này đã xuất hiện một lực lượng vũ trang chuyên nghiệp tồn tại dưới dạng thân binh, đó là những chiến binh có tổ chức, thông thạo võ nghệ, chiến trận, tập hợp xung quanh các thủ lĩnh quân sự trực tiếp hoặc gián tiếp quản lý “nhà nước”, quản lý bộ lạc. Lực lượng này có số lượng không lớn, biên chế giản đơn, vừa làm nhiệm vụ bảo vệ thủ lĩnh và thực thi những quyền hành của thủ lĩnh với tư cách những thủ lĩnh đó đại diện cho bộ lạc, cho “nhà nước”, đồng thời làm nhiệm vụ một bộ khung, khi có chiến tranh, tổ chức và chỉ huy dân binh đánh giặc.

Cơ sở của lực lượng vũ trang này về mặt số lượng là các dân binh tự vũ trang hoặc sử dụng vũ khí chung của bộ lạc. Cuộc sống của họ gắn chặt với ruộng đồng, họ hoạt động theo sự chỉ huy của các thủ lĩnh bộ lạc và khi cần, tất cả đều đặt dưới sự chỉ huy thống nhất của Hùng Vương. Đây mới là lực lượng chủ yếu khi chiến tranh nổ ra.

Bản chất sâu xa của nhu cầu xây dựng lực lượng vũ trang và cơ cấu tổ chức của nó khiến ngay từ đầu lực lượng vũ trang thời này đã mang tính chất nhân dân khá rõ nét. Trong mọi khu mộ táng như là những nghĩa địa của làng nhỏ trong bộ lạc, chúng ta bắt gặp một hiện tượng khá phổ biến: người chết ở mọi lứa tuổi đều mang theo vũ khí như một cái “mốt” thời đại. Những vũ khí này khá đồng đều trong kiểu dáng và hình loại, hoặc ngọn giáo, cây rìu, hoặc chiếc dao găm…, sự khác biệt hầu như không đáng kể. Rõ ràng đó không phải là những khu mộ lính, mà là bằng chứng của một nếp sống vũ trang toàn dân. Có thể hình dung rất rõ vai trò của những nông dân vũ trang này trong truyền thuyết về chàng Gióng đánh giặc Ân hay trong khởi nghĩa Hai Bà Trưng chống Hán. Chiến tranh toàn dân, vũ trang toàn dân là nét độc đáo nhất trong lịch sử chiến tranh nước ta, đã có thể thấy cơ sở phôi thai từ những ngày đầu dựng nước.

Bên cạnh việc xác lập truyền thống vũ trang toàn dân, chiến tranh toàn dân, thì lực lượng vũ trang chuyên nghiệp, theo đà phát triển của lịch sử - một mặt phân hóa xã hội ngày càng gay gắt, mặt khác nguy cơ ngoại xâm ngày càng thường xuyên và to lớn hơn – cũng không ngừng phát triển, hoàn thiện. Mốc phát triển cao nhất về tính chất thường trực và về số lượng trong thời kỳ này, phải kể đến quân đội của An Dương Vương (nước Âu Lạc), với biểu tượng tập trung cao độ của nó ở thành Cổ Loa, trang bị, tổ chức biên chế khá thống nhất trên những chiến thuyền ở trống đồng Ngọc Lũ, Hoàng Hạ… chứng tỏ lực lượng vũ trang thường trực là do nhà nước tổ chức, trang bị đồng loạt. Xu hướng phát triển chung của lực lượng vũ trang thường trực là giảm dần tính chất thân binh và ngày càng được tổ chức chặt chẽ, quy củ hơn. Đáng chú ý là sự hình thành khá rõ nét hai bộ phận khác nhau nhưng gắn liền với nhau trong lực lượng vũ trang, đó là quân bộquân thủy.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 13 Tháng Mười Hai, 2011, 07:54:32 pm
*

Kết cấu của lực lượng vũ trang thời Hùng Vương không giống kết cấu điển hình của các quốc gia cổ đại Địa Trung Hải. Nó không phân chia rạch ròi thành hai bộ phận độc lập là quân đội (army) và hạm đội (flot) tương ứng với hai phạm vi hoạt động hoàn toàn tách biệt nhau là trên bộ và trên biển. Lực lượng vũ trang thời này là một lực lượng thống nhất lấy đất làm địa bàn hoạt động chủ yếu của mình. Nhưng dù hoạt động trong đất là chính. Lực lượng vũ trang thời này vẫn không giống hoàn toàn cái gọi là quân đội ở phương Tây.

Như đã nêu, địa bàn sinh sống chủ yếu của cư dân Văn Lang là ở những đồng bằng bị sông ngòi đầm hồ bao bọc, chia cắt, đất luôn gắn liền với nước. Người ta chỉ có thể hoạt động, đi lại trên một phạm vi rộng nhờ nước, và vì vậy ngay cả trong lục địa, chiếc thuyền vẫn là phương tiện cơ động chủ yếu. Hoạt động quân sự trên vùng này, dù là quân bộ hay quân thủy, đều phải dùng thuyền như phương tiện cơ động chính. Dùng thuyền nhưng phục vụ những hoạt động trên mặt đất. Mục tiêu và kết cục của các trận đánh thường ở trên bộ. Do đó có thể nói, về căn bản, lực lượng vũ trang thời này hình thức là quân thủynội dung là quân bộ. Không có một quân thủy thuần túy chỉ hoạt động trên mặt nước và thực hiện những mục tiêu quân sự trên mặt nước, cũng không có một quân bộ theo nghĩa hoàn toàn tách khỏi chiến thuyền, sông nước. Mặc dầu, với đội quân thường trực ở thành Cổ Loa của An Dương Vương, đã có sự khác biệt ở mức độ nhất định giữa quân bộ và quân thủy, nhưng đó chỉ là những manh nha đầu tiên mang tính chất cục bộ trong cái nền tảng chung của toàn bộ lực lượng vũ trang mà dân binh chiếm vai trò chủ yếu, vẫn không có sự tách bạch rõ ràng quân bộ và quân thủy thành hai lực lượng riêng biệt.

Khảo sát quân thủy trong chương này cũng gần như là khảo sát toàn bộ hình thức của lực lượng vũ trang đương thời. Biểu tượng, cũng đồng thời là lõi cốt của quân thủy, là chiến thuyền. Đồ đồng Đông Sơn đã giữ lại cho chúng ta hàng trăm hình thuyền các loại, trong đó cạnh những thuyền thông thường dùng trong đi lại, còn có một số thuyền rõ ràng có chức năng chuyên dùng trong chiến đấu. Tuy nhiên, với truyền thống vũ trang toàn dân, chiến tranh nhân dân, thì khi có chiến tranh, những chiếc thuyền hàng ngày chỉ dùng trong đi lại thông thường cũng sẽ trở thành phương tiện phục vụ chiến đấu. Khi đó, thủy quân dân gian được hình thành, thuyền chủ yếu là phương tiện cơ động. Chiến tranh nhân dân ngay cả trong lĩnh vực quân thủy là một nét đáng chú ý trong lịch sử chiến tranh ở nước ta.

(http://img560.imageshack.us/img560/3557/thpngothnhngsn.jpg)


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 15 Tháng Mười Hai, 2011, 06:37:56 pm
Bước đầu nghiên cứu có thể chia những hình thuyền thời này làm ba loại chính. Nhỏ nhất và đơn giản nhất là loại thuyền độc mộc hoặc thuyền thúng. Thuyền độc mộc được làm rất đơn giản từ một thân cây khoét rỗng, mũi thuyền thường trạm khắc đơn giản hình chim thú kỳ dị. Thuyền trông như một cái máng lớn, không gắn thêm bộ phận phụ nào. Thuyền loại này thường chở được từ 4 đến 6 người. Đo theo luật tương quan, thuyền dài trung bình 6 – 7 mét, chiếc dài nhất khoảng 10 mét, chiếc ngắn chỉ 3 mét. Đây là loại thuyền thông dụng nhất để đi lại ở những cự ly ngắn, chuyên chở nhẹ, ngày nay còn thấy ở nhiều dân tộc miền núi. Trên đồ đồng Đông Sơn, loại thuyền này cũng thường thấy ở các trống đồng phân bố ở vùng núi, như trống Đồi Ro, Làng Vạc… Dĩ nhiên, với những quan tài hình thuyền độc mộc cũng như ghi chép của sử sách về việc nghĩa quân Triệu Quang Phục dùng thuyền độc mộc chống giặc Lương ở đầm Dạ Trạch thế kỷ V và việc phát hiện một chiếc thuyền độc mộc trong thời gian gần đây ở Hà Bắc, chứng tỏ loại thuyền này được dùng phổ biến cả ở đồng bằng.

Thuyền thúng mới chỉ thấy trên một số rìu đồng vùng sông Mã. Những vết nan đan tìm thấy trong mộ thuyền hoặc vô số trên đáy các đồ gốm và hình ảnh khắc trên rìu cho thấy thuyền thúng thời này không khác thuyền thúng hiện nay là bao. Đó là một chiếc thúng lớn hình bầu dục, có vành cạp tre ở miệng và mấy thanh tre buộc ngang. Người ngồi trong thuyền, hai tay cầm hai mái chèo nhỏ chải xuống nước. Qua hình khắc trên rìu đồng, chưa thấy chiếc thuyền nào thuộc loại này chở quá ba người. Cũng như trên thuyền độc mộc, đây có lẽ chỉ là loại phương tiện đi lại trên sông nước dùng cho từng hộ gia đình, phục vụ sinh hoạt hàng ngày là chính.

Loại thuyền lớn hơn thấy trên các trống Miếu Môn, Phú Phương, Hữu Chung… một số thuyền loại này được thể hiện như kiểu thuyền độc mộc nhưng lớn và cấu tạo phức tạp hơn. Một số khác như thuyền trên trống Hữu Chung, Quảng Xương, được thể hiện như loại thuyền đóng ván, là kỹ thuật làm thuyền hiện đại nhất đương thời. Loại thuyền này khác thuyền độc mộc và thuyền thúng ở chỗ có kích thước lớn hơn và cấu tạo phức tạp hơn. Thông thường, chúng đều có một chèo lái ở đuôi, chứng tỏ sức đẩy của thuyền là một hệ thống nhiều mái chèo quạt nước hoặc là những cánh buồm. Dưới đấy thuyền thường thấy một hoặc hai tấm ván rẽ nước có tác dụng chống sóng và giữ thăng bằng cho thuyền. Trên thuyền thường có thêm một số cọc phụ. Người ngồi chèo thuyền loại này phần lớn mặc quần áo khá chỉnh tề, trong đó thường thấy một người ngồi ở đầu thuyền cầm rìu làm nhịp. Thản hoặc một vài chiếc thuộc loại này có thêm một vật như chiếc trống da ở giữa thuyền, thậm chí có cả một sạp lầu. Đây là những thuyền vận tải, tuy nhiên cũng có một số thuyền thể hiện như thuyền có vũ trang (thuyền trên trống Miếu Môn I và II). Thuyền loại này được trang trí tương đối đẹp và ở mũi thuyền không bao giờ thiếu hình đầu một loài thú kỳ dị. Đo theo luật tương quan, thuyền thường dài khoảng 10 – 15 mét.

(http://img560.imageshack.us/img560/2908/hoavantrongdongmm.jpg)
Hình thuyền trên trống đồng Miếu Môn


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 15 Tháng Mười Hai, 2011, 06:49:03 pm
Loại thuyền lớn nhất, trang trí đẹp nhất và cấu tạo cũng hoàn chỉnh nhất là những thuyền chiến. Số lượng loại này không nhiều nhưng tiêu biểu cho kỹ nghệ thuyền bè thời này cũng như cho nghệ thuật trang trí đương thời tượng trưng cho bộ mặt lực lượng vũ trang thời dựng nước đầu tiên.

Thuyền trên trống đồng Ngọc Lũ, Hoàng Hạ tiêu biểu cho loại trên. Mọi kết cấu kỹ thuật có thể thấy trên thuyền thời này đều được thể hiện trên các thuyền chiến đó. Thuyền nào cũng có chèo lái ở đuôi thuyền, hơn nữa còn phổ biến chèo lái ở mũi, thậm chí thuyền trên trống Hoàng Hạ có tới hai mái chèo lái ở đằng mũi. Chèo lái ở đuôi dài, ở mũi ngắn nhưng rộng bản, rất giống những lái mũi trên thuyền chiến của quốc gia Ki-ép cổ đại thế kỷ XIII. Hầu như rất ít thuyền thể hiện người chèo đẩy nước11, khiến có thể nghĩ đây là những thuyền chạy buồm. Ở đáy thuyền, cả đuôi lẫn mũi, đều có những tấm rẽ nước được trang trí đẹp. Trên thuyền xuất hiện nhiều cọc phụ, ổn định. Trang trí đẹp nhất thường là những cọc phụ ở phía đuôi, gần người điều khiển lái đuôi. Thuyền nào cũng có một vật như chiếc trống da ở giữa thuyền và một sạp lần cao chừng 1,5 mét, đặt hơi chếch về phía đuôi thuyền, trên sạp lầu là một vị trí ổn định của một xạ thủ bắn cung hoặc nỏ, dưới đó là nơi cất những đồ đồng quý. Thuyền được thể hiện như một loại thuyền độc mộc loại cực lớn. Đo theo luật tương quan dài ước khoảng 20 – 30 mét. Đầu và đuôi thuyền trang trí rất đẹp, vẫn là hình đầu thú kỳ dị, nhưng tô vẽ cầu kỳ hơn. Người trên thuyền có tư thế và vị trí ổn định như là đã chuyên hóa trong chức năng. Tính chất thuyền chiến thể hiện rõ nhất qua hình người vũ trang trên thuyền và chiếc sạp lầu với người xạ thủ.

(http://img402.imageshack.us/img402/200/trongdongngoclu.jpg)

Thống kê vũ khí trên thuyền có thể nhận thấy mấy loại sau: rìu, giáo, lao, dao găm, mộc, cung nỏ. Trong đó, tính theo tổng số vũ khí được trang bị thì giáo là loại chiếm tỉ lệ cao nhất (60%), sau đó là rìu (30%). Đây cũng là hai loại vũ khí thường thấy nhất ở các địa điểm khảo cổ học. Những người cầm rìu thường đứng ở đầu mũi thuyền như để sẵn sàng nhảy sang đánh giáp lá cà. Không một thuyền nào thiếu cung hoặc nỏ ở trên sạp lầu. Rất có thể lúc này máy nỏ đã được phát minh mà phản ánh của nó đọng lại trong truyền thuyết Cao Lỗ, Rùa vàng, Mỵ Châu – Trọng Thủy và ghi chép thật về máy nỏ ở nước Sở đương thời. Phải chăng cũng như việc đưa catapul lên thuyền ở Địa Trung Hải, thuyền chiến của Hùng Vương và An Dương Vương đã được trang bị những máy nỏ đầy hiệu lực và thần bí đó. Một vài chiến binh được trang bị thêm ngọn lao có thể phi sang thuyền đối phương hoặc chiếc mộc che thân trong những trận giáp chiến. Một vài thủ lĩnh nào đó có thể có thêm lưỡi dao găm trên tay.

Giáo trên thuyền khá dài. Đo theo luật tương quan, giáo ở thuyền trên trống đồng Hoàng Hạ dài khoảng 2 – 2,5 mét. Điều này khá phù hợp với chiếc giáo tìm được trong mộ Việt Khê mà chủ nhân của nó nằm trong chiếc quan tài hình thuyền bên cạnh chiếc mái chèo sơn son, như một thủ lĩnh chuyên nghề sông nước. Chiếc giáo đó dài cả cán là 2,37 mét (đã bị gãy một phần). Kích thước dài của giáo ở trên thuyền chỉ phù hợp với chức năng phòng ngự, chống lại thủ đoạn giáp lá cà cướp thuyền của quân thủy đối phương.

Rìu chiến được tra cán như kiểu rìu thợ mộc hoặc đúng hơn, như rìu chiến của chiến binh Tây Nguyên hiện nay. Đó chính là “thanh gươm” của người Lạc Việt, một vũ khí giáp chiến cực kỳ lợi hại. Những chiến binh mang rìu trên thuyền là những người lính năng động nhất, họ luôn đứng ở mũi thuyền trong tư thế sẵn sàng chiến đấu.
-------------------
11 Riêng thuyền trên thạp đồng tìm thấy trong mộ Việt Khê có khắc một dãy người ngồi chèo theo tư thế hai tay đẩy hai mái.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 15 Tháng Mười Hai, 2011, 06:52:43 pm
Có một điều đáng chú ý là vị trí của chiến binh, thủy thủ trên thuyền khá ổn định, chứng tỏ biên chế, tổ chức đã phát triển đến mức độ nhất định, và có lẽ chiến thuật sơ khai đã hình thành: cung nỏ, trong quá trình tiến đến đối phương trước khi giáp chiến, có nhiệm vụ tiêu diệt địch từ xa, giáo dài và lao ném sát thương địch ở tầm gần hơn và không cho địch nhảy sang thuyền mình. Khi đổ bộ, giáo và lao trở thành những mũi nhọn dọn đường; khi giáp chiến, là vai trò của những tay rìu với tấm mộc che đỡ.

Quan sát chung cả ba loại thuyền cho thấy đã có sự phân công chức năng khá cụ thể ở trên những thuyền chiến hiện đại nhất, ít ra cũng chia thành lính thủy thủlính chiến đấu. Còn nhìn chung, trên những thuyền nhỏ, khi chiến tranh thường do dân binh đảm nhiệm, thì dường như không có sự phân biệt đó: lính chiến đấu làm luôn nhiệm vụ của những thủy thủ.

Trên những thuyền loại lớn, vị trí của người cầm lái rất ổn định, chứng tỏ đó là một chức vụ chuyên nghiệp mà không phải bất cứ người nào cũng có thể tranh phần được. Những thuyền khắc trên thạp Đào Thịnh, Việt Khê, trống Miếu Môn… cho thấy rõ những người lính cầm vũ khí đứng tách hoàn toàn với những người chèo thuyền và một người cầm rìu thường ngồi ở đầu mũi thuyền làm nhiệm vụ như một viên trưởng chèo, tức người cầm nhịp cho các tay chèo. Đây là một xu hướng tất yếu trong quá trình chuyên nghiệp hóa lực lượng vũ trang mặt nước. Song ở nước ta, ngay từ thời dựng nước cho đến tận thế kỷ XVII, xu hướng đó tồn tại song song với một tình trạng phổ biến khác là trên những thuyền vũ trang loại nhỏ của dân binh hoặc của các đơn vị bán chuyên nghiệp địa phương, thậm chí cả trong một số đơn vị quân đội chính quy của nhà nước, lính chiến đấu đồng thời là thủy thủ.

Chiến thuật phổ biến nhất trong thủy chiến thời này có lẽ chỉ là giáp chiến. Về bản chất, đó là thủ đoạn tác chiến trên bộ được sử dụng trong một loại “địa hình” đặc biệt – trên những thuyền chiến. Ở châu Âu, phải đến tận thế kỷ XVI – XVII, thủ đoạn tác chiến này mới được coi như hoàn toàn rút khỏi chiến thuật hải chiến. Trong khi đó, ở phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng, thủ đoạn đó còn được tiếp tục đến tận thế kỷ XVIII – XIX. Trong chiến thuật này, vai trò của những cánh tay gân guốc và sự sắc bén của ngọn giáo, cây rìu, lòng dũng cảm và số lượng đông là những yếu tố quyết định thành bại của trận đánh. So với trình độ và trang bị chung của quân thủy đương thời, quân thủy nước ta không hề thua kém, thậm chí có thể đứng vào hàng những quân thủy vào loại mạnh trên thế giới. Dựa vào thư tịch và truyền thuyết về sự tích thuyền bọc đồng của vua Việt có thể giả thuyết rằng đấu thuyền cũng đã tồn tại trong chiến thuật thủy chiến của quân thủy thời này.



Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 15 Tháng Mười Hai, 2011, 07:15:31 pm
Sự phát triển của quân thủy thường trực và nghệ thuật thủy chiến tất yếu dẫn đến các căn cứ thủy quân. Như đã nói, đến thời An Dương Vương, do những nhu cầu bức thiết mới, lực lượng vũ trang chuyên nghiệp phát triển lên một bước cao hơn mà biểu hiện tập trung nhất là sự xuất hiện tòa thành đầu tiên, cũng là trung tâm quân sự đầu tiên trong lịch sử quân sự Việt Nam. Đó là thành Cổ Loa. Kết cấu thành Cổ Loa mang những nét rất điển hình của một căn cứ quân thủy.

Thành Cổ Loa xây dựng trên thềm bậc hai của sông Hồng, vốn là một khu đất cao. Địa thế đó với những doi đất chạy dài, những hồ đầm và sông ngòi bao bọc đã tạo nên ở đây một căn cứ quân sự hết sức thuận lợi. Quân dân Âu Lạc đã đem sức lao động của mình hòa cùng với cảnh vật thiên nhiên dựng lên một tòa thành mà trải qua hàng chục thế kỷ vẫn không hề mất ý nghĩa chiến lược của nó.

Chỗ dựa chính của tòa thành này là sông Hoàng Giang, thời đó là một nhánh rất lớn của sông Hồng, nối hai hệ thống sông lớn nhất miền Bắc nước ta là hệ thống sông Hồng và hệ thống sông Thái Bình. Sông Hoàng Giang làm thành hào nước thiên nhiên che chở mặt nam thành, đồng thời là mạch giao thông chính nối tòa thành này với mọi trục giao thông thủy của đất nước. Nghiên cứu vết tích thành lũy còn lại hiện nay, chúng ta thấy các thế hệ người xưa bắt đầu từ những người dân Âu Lạc, đã kiến thiết lại bộ mặt thiên vùng này, đào đất đắp nối các dẻo đất cao sẵn có thành ba vòng thành kiên cố, vừa như con đê lớn ngăn nước lũ hàng năm, vừa là tường lũy chống giặc. Tài nghệ không phải chỉ ở chỗ khéo lợi dụng các rẻo đất cao thiên tạo, mà chính ở chỗ tính toán làm sao để đất moi lên nối với hệ thống đầm lạch sẵn có làm thành một mạng lưới giao thông liền hoàn, xứng đáng là một căn cứ quân thủy tốt nhất đương thời.

Thành Cổ Loa hiện nay còn lại ba vòng thành đất, tổng cộng 16 ki-lô-mét chiều dài. Theo những nghiên cứu mới nhất, thì có thể tòa thành đầu tiên do quân dân Âu Lạc xây dựng chỉ có hai vòng thành ngoài lớn nhất mà thôi. Song song với hai vòng thành đó là hai lớp hào sâu được khéo léo nối liền với nhau mà điểm nút là khu đầm Cả (theo truyền thuyết thuyết là nơi tập kết của toàn bộ thuyền bè trong khu thành này). Thành Cổ Loa mang tính chất một căn cứ thủy quân chính là ở hệ thống đầu hồ và sông ngòi liên hoàn đó.

(http://img846.imageshack.us/img846/6433/damca2.jpg)

Có thể nói trung tâm của căn cứ thủy quân này chính là đầm Cả. Đầm Cả (còn gọi là đầm Thủy Quân) với năm nhánh cụt như năm ngón tay kín đáo rất thuận lợi cho việc che giấu thuyền bè, tất cả nằm gọn trong vòng thành thứ hai. Từ đầm Cả có một đường nối với hai vòng thành ngoài và thông ra Hoàng Giang, có thể dùng thuyền chiến tỏa ra hỗ trợ quân bộ đang bảo vệ mặt thành hoặc truy kích quân rút chạy. Quân thủy từ bên ngoài cũng không dễ vào được đầm Cả. Con đường thủy duy nhất vào trong vòng thành thứ hai, nơi có đầm Cả, bị án ngữ bởi một cửa thành. Sông Hoàng Giang có thể nối với hệ thống sông Hồng, Thái Bình, khiến cho căn cứ Cổ Loa còn có ý nghĩa “toàn quốc”. Từ đây quân thủy có thể đi tới mọi miền đất nước, hoặc ra biển tới những miền đất xa khác nữa. Chắn chắn không chỉ có nỏ thần và những chiến binh Âu Lạc trên lũy đất đã làm cho Triệu Đà mất vía mà còn có những chiến thuyền từ căn cứ đầm Cả. Với những tay nỏ thiện xạ và những cây rìu chiến sắc bén đã giúp quân trên lũy đuổi xa nhiều lần quân xâm lược.

Ưu việt của căn cứ Cổ Loa về mặt quân sự đã khiến cho Mã Viện ba thế kỷ sau – vốn nổi tiếng là một viên tướng tài ba nhất của triều đình Đông Hán – mặc dầu đã có thành Luy Lâu bề thế vẫn chọn Cổ Loa làm nơi giấu quân, cả thủy lẫn bộ, sau khi đã đàn áp xong khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Trải gần ngàn năm Bắc thuộc, Cổ Loa vẫn luôn được các nhà chỉ huy quân sự nước ta lẫn bọn thống trị phương Bắc ưu ái. Hoàn toàn không phải ngẫu nhiên, một trong những đội quân đầu tiên nổi tiếng nhất của kỷ nguyên độc lập, một đội quân có một lực lượng thủy quân rất hùng mạnh, đã từng nhuộm máu quân Nam Hán ở Bạch Đằng, đội quân của Ngô Quyền, sau khi đánh thắng giặc đã chọn Cổ Loa làm thủ phủ cho nền độc lập đầu tiên còn trong trứng nước.

Từ thế kỷ X về sau, căn cứ Cổ Loa mới dần dần mất vai trò chiến lược của nó. Một trong những nguyên nhân quan trọng là sự thu hẹp và cạn dần của sông Hoàng Giang, kéo hỏng theo toàn bộ hệ thống hào nước của tòa thành. Từ đó ngoài những yếu tố về chính trị, kinh tế, Cổ Loa còn thiếu luôn cả yếu tố là một căn cứ quân thủy nữa.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 16 Tháng Mười Hai, 2011, 08:18:43 pm
*

Quân thủy thời dựng nước hoạt động trong sông, hồ, tức những miền nước ngọt trong đất liền là chính. Tuy nhiên, có những biểu hiện chứng tỏ nhu cầu và tiềm năng hoạt động ngoài biển của quân thủy thời đó. Những công trình nghiên cứu về thuyền bè thời này cho thấy lúc ấy thuyền sông là chủ yếu, nhưng đã xuất hiện những yếu tố kỹ thuật chứng tỏ khả năng đi biển của chúng, như tấm rẽ nước, phao, ghép thuyền… Bằng chứng thuyết phục hơn cả là hình ảnh những thuyền vũ trang có chở nhiều đồ đồng quý như trống, bình đồng… mà rải rác ở hầu khắp các đảo lớn thuộc Indonesia và ven bờ biển Malaysia, Thái Lan, người ta đã thu lượm được. Ở một nơi ven bờ biển Malaysia, người ta đã đào được một trống đồng Đông Sơn còn nguyên trạng thái trên một tấm ván, được các nhà nghiên cứu ngờ là một tấm ván thuyền. Phải chăng chính những chiếc thuyền chở trống khắc trên trống đồng Ngọc Lũ, Hoàng Hạ là những chiếc thuyền đã vượt biển đem trao đổi với các dân tộc anh em ở Đông Nam Á sản phẩm tuyệt diệu của kỹ nghệ đồng Lạc Việt, và để bảo đảm an toàn cũng như tính chất trang nghiêm cho các chuyến đi đó, cần có những thuyền chiến hiện đại nhất đi theo hộ tống.

Đối với cư dân thời dựng nước thì biển chẳng có gì là xa lạ. Cách nay khoảng 4.000 năm, biển còn len lỏi vào sâu tận ven Hà Nội, làm thành một cái vịnh mà các nhà địa lý thường gọi là vịnh Hà Nội. Bên cạnh số đông dân cư bám sông hồ trồng lúa, còn khá nhiều làng xóm sinh sống theo nghề biển. Thậm chí có cả những cộng đồng dân cư lớn sống gần như hoàn toàn ở biển, làm thành một hệ thống văn hóa biển rất độc đáo – văn hóa Hạ Long với điểm cư trú xa nhất hiện biết là Ngọc Vừng cách bờ ngày nay hơn 100 ki-lô-mét. Các nhà nghiên cứu đã chứng minh rất rõ ràng rằng quá trình hình thành quốc gia, dân tộc đồng thời là quá trình đan xen hòa hợp giữa các yếu tố đất liền và biển. Hình ảnh đó được đọng lại sâu đậm nhất trong truyền thuyết về truyền thống dân tộc – sự kết hợp và phân giải giữa Bố Rồng (Lạc Long Quân) với Mẹ Tiên (Âu Cơ).

Dòng máu người Lạc Việt đã chứa sẵn vị mặn của biển. Ý thức về biển, khả năng về biển của tổ tiên ta ngay từ đầu đã rất dồi dào. Vì vậy, mặc dầu lịch sử đã đặt cái nền sống chính của dân tộc ta trong đất, với thiên hướng lấy nghề nông làm chính (dĩ nông vi bản), nhưng do hình thế của đất do cội nguồn sâu xa cấu thành dân tộc, do cả những nhu cầu về biển không bao giờ cạn, cuộc sống của người Việt vẫn rất gắn bó với biển, ý thức về chủ quyền biển và và bảo vệ biển hình thành rất sớm. Đó chính là nguồn gốc sâu xa của tiềm năng biển sẵn chứa trong quân thủy Việt Nam ngay từ buổi đầu dựng nước.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 16 Tháng Mười Hai, 2011, 08:22:27 pm
Truyền thuyết ở nhiều vùng ven biển nước ta đã ghi lại những cuộc chiến đấu ven biển của quân dân thời Hùng Vương, chứng tỏ hoạt động vũ trang trên mặt nước thời kỳ này chẳng những chỉ diễn ra trong sông hồ nước ngọt, mà còn khá sôi động ở ven biển, thậm chí cả trên biển nữa.

  Có thể kể hai truyền thuyết còn lưu lại trong dân gian vùng Hải Phòng, do phòng Bảo tồn bảo tàng thuộc Sở Văn hóa Thông tin Hải Phòng sưu tầm:

  Chuyện rằng, vào thời Hùng Vương thứ 6, nhân dân sống ở ven bờ biển Hải Phòng rất khốn khổ vì nạn giặc giã từ đảo Quỳnh Châu (Hức Hải Nam ngày nay) hàng năm vào cướp phá. Họ bèn kêu cứu Hùng Vương. Vua Hùng liền đem quân về, theo truyền thuyết, đóng ở một cái hang mà nay dân gian còn gọi là hang Vua. Dưới sự lãnh đạo của Hùng Vương, nhân dân ven biển Hải Phòng đã đánh tan nhiều cuộc cướp phá của giặc biển và cuối cùng, đóng thuyền chiến vượt biển sang tận đảo Quỳnh Châu, phá tan sào huyệt địch rồi rút về. Từ đó giặc biển không dám vào cướp phá nữa.

  Một chuyện khác cũng xảy ra vào khoảng thời gian này. Hằng năm, giặc Hồ Tôn từ phía Nam vượt biển vào cướp phá các làng xóm ven biển Hải Phòng. Sau mỗi lần tràn vào, chúng chẳng những mang đi mọi của cải cướp được mà còn bắt rất nhiều người về nước làm nô lệ. Một lần, trong số những người bị bắt, có một người con gái trẻ, đẹp. Khi về đến nước Hồ Tôn, người con gái đó đã tổ chức những nô lệ bị bắt đứng dậy khởi nghĩa, phá xiềng, cướp thuyền trở về quê hương.


Bằng chứng lịch sử rất sinh động là sự tồn tại của một loạt di tích thời Hùng Vương ở vùng ven biển Hải Phòng, như Tràng Kênh, núi Voi, núi Đèo, Việt Khê,…trong đó ngôi mộ Việt Khê với những kiếm, rìu, giáo dài, lao nhọn, dao găm bên cạnh chiếc mái chèo sơn son biểu hiện như quan tài của một viên thủ lĩnh quân thủy. Bằng chứng đó cũng được thư tịch nhắc đến với đội quân thủy rất tài giỏi của nữ tướng Lê Chân trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, người đã đảm nhiệm trọng trách chặn đánh thủy quân của Mã Viện từ biển Bắc tiến vào.

(http://img528.imageshack.us/img528/1920/madamlechanstatue.jpg)
Tượng nữ tướng Lê Chân ở Hải Phòng

Quân thủy thời dựng nước, cái nền của quân thủy Đại Việt sau này, ngay từ đầu đã chứa trong mình nó những tiềm năng và những nhu cầu hoạt động trên biển. Ý thức và chủ quyền vùng biển, yêu cầu bảo vệ chủ quyền đó và đồng thời là nhiệm vụ với biển của quân thủy đã được đặt ra và thực hiện từ rất sớm. Những mầm mống của hải quân và nghệ thuật hải chiến đã được chuẩn bị từ trong lòng quân thủy trong những điều kiện như vậy.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 16 Tháng Mười Hai, 2011, 08:25:18 pm
*

Châu thổ sông Hồng phì nhiêu, vào thời đại đồng cách nay khoảng 4.000 năm, đã hình thành một trung tâm văn minh rực rỡ trên cái nền NÔNG NGHIỆP – SÔNG NƯỚC trù phú, với kỹ nghệ đồng, đá… phát triển cao. Trên cái nền ấy, vận động của văn minh trong điều kiện lịch sử riêng biệt đã làm nhú mầm một “nhà nước sơ khai”. Sự nảy mầm đó kéo theo một mầm mới nữa, đó là lực lượng vũ trang của “nhà nước”, lúc này để giữ nước hơn là trấn áp giai cấp.

Văn minh Việt buổi đầu dựng nước vốn là một nền văn minh sông nước. Quân đội Việt, vì vậy, từ buổi đầu là một đội quân sông nước. Ở đất Việt, nước gắn bó và chở che cho đất. Quân thủy Việt, do đó, cũng hoạt động trước hết nhằm mục tiêu giữ đất. Quân thủy cũng là quân bộ trong cái nghĩa mục tiêu hoạt động, và quân bộ cũng đồng thời là quân thủy trong cái nghĩa hình thức hoạt động hay thủ đoạn tác chiến.

Bám giữ đất là chính, quân thủy Việt từ đầu đã là quân thủy hoạt động chủ yếu trong sông hồ. Nhưng đất Việt thời đó gần như hòa vào biển cả với tư cách là dải đồng bằng ven biển. Nếu mẹ người Việt là đất với mẹ tiên Âu Cơ, thì bố người Việt là nước, hàm cả nghĩa lớn là biển, với bố rồng Lạc Long Quân. Những người con của bố rồng ấy, khi có chiến tranh thì trở thành quân thủy giữ đất mẹ là chính, nhưng dồi dào sức biển. Tính chất sông, lục địa không mâu thuẫn với biển. Thuyền trên sông cũng có thể trở thành thuyền trên biển khi cần thiết.

Quân thủy Việt Nam, ngay từ ngày dựng nước đã là quân thủy giữ nước, quân thủy bảo vệ Tổ quốc. Với truyền thống vũ trang toàn dân, chiến tranh nhân dân, từ những ngày này, quân thủy đã gồm 2 bộ phận: quân thủy chuyên nghiệp và quân thủy dân binh. Chiến tranh nhân dân trên chiến trường sông nước là quy luật độc đáo có tính chất truyền thống của quân thủy nước ta. Truyền thống đó bắt đầu từ quân thủy giữ nước thời Hùng Vương. Do đó, tính nhân dân, tính dân tộc là quy luật hình thành và phát triển của quân thủy cổ đại Việt Nam. Chỉ có như vậy, nghĩa quân Hai Bà Trưng mới có thể từ hai bàn tay trắng, nhanh chóng xây dựng được một đội thủy quân hùng mạnh đương đầu với quân thủy Mã Viện ở Bạch Đằng, ở hồ Lãng Bạc…

Quân thủy thời dựng nước chính là những mầm chín đầu tiên để từ đó phát triển thành quân thủy Đại Việt sau này.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 16 Tháng Mười Hai, 2011, 08:30:35 pm
Chương bốn

SỰ HÌNH THÀNH QUÂN THỦY ĐẠI VIỆT
VÀ TRUYỀN THỐNG BẠCH ĐẰNG

Trong đêm trường Bắc thuộc, sức sống Văn Lang, Âu Lạc vẫn như ngọn lửa hừng hực không bao giờ tắt. Một Tổ quốc Việt, một dân tộc Việt, một cái nghiệp xưa Việt đã định hình trong tiềm thức mỗi người dân mất nước. Tiềm thức đó hòa với những truyền thống Việt đã định hình trong thời mở nước đầu tiên, cùng được ấp ủ trong các làng quê Việt, truyền tay nhau qua bao thế hệ, trở thành vũ khí sắc bén chống lại chính sách đồng hóa hiểm bạo của kẻ thù ngoại tộc. Biểu hiện tập trung nhất của sức sống đó là những cuộc nổi dậy liên tục của nhân dân ta nhằm “rửa sạch nước thù”, nhằm “lập lại nghiệp xưa họ Hùng”. Chính nhờ những cuộc nổi dậy đó, mặc dầu chưa đem lại thắng lợi quyết định và lâu dài, nhưng là điều kiện bảo tồn và trưởng thành tốt nhất của ý thức độc lập tự chủ.

Cũng như nhiều truyền thống tốt đẹp khác của thời dựng nước đầu tiên, truyền thống đánh thủy và lực lượng vũ trang trên mặt nước không có điều kiện phát triển trong tình trạng Tổ quốc bị nô dịch. Nhưng nhờ chuỗi khởi nghĩa liên tục, truyền thống đó không những không bị mất đi mà còn thường xuyên được thử thách, và trong thực tế tiếp tục đóng vai trò tích cực trong lịch sử chiến tranh giành độc lập dân tộc. Đó là quân thủy của Hai Bà Trưng đánh Hán ở Bạch Đằng, Lãng Bạc, quân thủy của nước Vạn Xuân đánh Lương ở sông Tô Lịch, hồ Điển Triệt, là đội quân du kích trong đầm nước Dạ Trạch của Triệu Quang Phục. Đó cũng là quân thủy của ông “vua đen” họ Mai trên dòng sông Lam, của Bố Cái Đại Vương trong trận vây thành Đại La bức chết Cao Chính Bình… Nghệ thuật đánh thủy của dân tộc không ngừng trưởng thành, đã chuẩn bị vật chất cho những cuộc nổi dậy có tính chất quyết định của nhân dân ta ở thế kỷ X và hòa với thắng lợi cực lớn của quân thủy thời đó khắc họa lên những nét căn bản nhất của quân thủy Đại Việt.

(http://img641.imageshack.us/img641/8936/chongluong545500.jpg)


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 16 Tháng Mười Hai, 2011, 08:35:21 pm
Như vậy, nếu như chính cậu Gióng Việt thời Văn Lang, Âu Lạc đã vươn mình trở thành Đại Việt, thì quân thủy Đại Việt cũng là sự tiếp tục truyền thống quân thủy thời dựng nước sau hàng ngàn năm tôi luyện, thử thách, trưởng thành trong ngọn lửa đấu tranh giành độc lập dân tộc. Tuy nhiên, quá trình trưởng thành của sức sống dân tộc trong ngàn năm Bắc thuộc cũng đồng thời là quá trình dân tộc ta, dưới những hình thức mới, tiếp tục trao đổi văn hóa với các dân tộc xung quanh, tiếp thu sáng tạo những thành tựu văn hóa mới để làm cường tráng thêm cơ thể Việt, góp phần tạo nặn một Đại Việt khỏe khoắn. Quân thủy Đại Việt một mặt duy trì những truyền thống căn bản thời dựng nước, mặt khác đã trưởng thành với nhiều yếu tố mới tiếp tục trong quá trình tiếp xúc hay đụng độ với bên ngoài. Ví dụ, đó là sự trưởng thành của kỹ thuật đóng thuyền do nhu cầu phục vụ những mục đích chiến tranh, buôn bán của bọn thống trị và trong quá trình buôn bán trao đổi kinh nghiệm với các nhóm thợ của các tộc Việt ở ven biển đông – nam Trung Quốc đã và đang trong quá trình Hán hóa. Hoặc đó là thuyền bè, vũ khí của nghệ thuật thủy chiến của các tộc sống ở ven biển và hải đảo phía nam, qua vô số lần họ tràn vào cướp phá các vùng ven biển nước ta, thậm chí có lần vào vây tận phủ thành Tống Bình (Hà Nội ngày nay). Đó cũng là chính những kinh nghiệm về mặt tổ chức, biên chế, thậm chí cả chiến thuật được tổng kết trong nghệ thuật quân sự Trung Quốc, đặc biệt là nghệ thuật thủy chiến của các nước Việt tộc cũ ở vùng hạ lưu và phía nam sông Dương Tử, thông qua những cuộc đụng độ trực tiếp với kẻ thù phương Bắc hoặc qua con đường sách vở.

Cuối thế kỷ IX đầu thế kỷ X, thể chế Trung Hoa tan rã thành hàng chục mảnh cát cứ, khiến cho bộ máy thống trị của chúng ở nước ta không còn chặt chẽ và mạnh như trước nữa. Lợi dụng thời cơ đó, nhiều hào trưởng người Việt đã tự tổ chức quân đội, hô hào nhân dân đứng lên giành lấy quyền tự quản đất nước. Khúc Thừa Dụ, hào trưởng Hồng Châu là người đầu tiên giành được quyền hành trước đó nằm trong tay các tiết độ sứ Trung Quốc. Về mặt hình thức, nước ta bấy giờ vẫn là một đơn vị hành chính của Trung Quốc, nhưng thực chất đã là một cơ cấu độc lập, trong đó mọi hoạt động xã hội là do người Việt quản lý. Quân đội người Việt, được tổ chức là “con nuôi” trong nhà các hào trưởng, đã thay thế hoàn toàn bộ máy quân sự của phong kiến Trung Quốc. Đội quân đó bảo vệ quyền lực của các hào trưởng trông coi đất nước, đứng trước áp lực của phong kiến Trung Quốc lăm le đặt lại ách thống trị của chúng, thì lại cũng đồng thời làm nhiệm vụ bảo vệ những yếu tố độc lập vừa giành được. Đó là quân đội đã cùng Khúc Thừa Mỹ chống quân Nam Hán năm 930, là quân đội của Dương Đình Nghệ đuổi quân Nam Hán, khôi phục nền tự chủ năm 931, là quân đội của Ngô Quyền giết phản tặc Kiều Công Tiễn, nhận chỉm Hoằng Thao ở Bạch Đằng năm 938. Đó không còn là những đội quân mang tính chất khởi nghĩa nữa, mà đã thực sự trở thành những đội quân vệ quốc của một nhà nước đang vươn lên độc lập, tự chủ, chống lại kẻ xâm lược. Đó là sự tích tụ của sức sống Việt trong ngàn năm Bắc thuộc, đồng thời mang bóng dáng đầu tiên của quân đội Đại Việt sau này.

(http://img855.imageshack.us/img855/8219/ngoquyenuo3.jpg)
Ngô vương Quyền đại phá Hoằng Thao


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 16 Tháng Mười Hai, 2011, 08:39:02 pm
Quân thủy của thời tự chủ này là sự chuẩn bị rất căn bản cho quân đội Đại Việt. Nhìn chung, đó vẫn là một đội quân cơ động trên thuyền là chính. Quân đội của Khúc Thừa Dụ dấy lên từ Hồng Châu, một miền đất ven biển, sông ngòi chằng chịt, chỉ có thể là đội quân thiên về thủy. Quân đội của Dương Đình Nghệ với cái lõi là 3 000 “con nuôi” mang họ Dương, vốn là những người dân sông nước sinh sống ở vùng ngã ba sông Mã, sông Chu dày đặc ngòi lạch, cũng có thể chủ yếu là quân thủy. Chính đội quân của Ngô Quyền đã thừa kế hoàn toàn đặc tính sông nước của quân đội Dương Đình Nghệ, khi ông được họ Dương gả con gái và cử vào trông coi châu Ái. Dấu vết của các khu mộ táng mang đặc trưng văn hóa thời Tùy, Đường tập trung ở khu vực ngã ba sông Mã, sông Chu chứng tỏ thủ phủ của châu Ái đóng ở vùng này. Đội quân thủy của Ngô Quyền năm 938 đã dựng lên võ công đầu tiên rất oanh liệt trên sông Bạch Đằng, đã ra đi từ miền đất đó. Hoàn toàn không phải ngẫu nhiên, chiến công hiển hách vào bậc nhất lịch sử quân sự của dân tộc ta lần đầu tiên lại do quân thủy làm nên.

Nghệ thuật quân sự nói chung trong thời này chính là nghệ thuật thủy chiến mà đỉnh cao của nó là chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền năm 938.

Cha con họ Khúc bắt đầu nền tự chủ từ năm 906. Năm 930, Nam Hán cất quân sang xâm lược, họ Khúc chống không nổi đành chịu bị bắt, nhưng liền sau đó, năm 931, một tướng cũ của họ Khúc là Dương Đình Nghệ đang cai quản châu Ái, đã đem quân ra vây thành Đại La, đuổi bọn thứ sử Nam Hán về nước, giành lại quyền tự chủ. Đến năm 937, Kiều Công Tiễn, một viên tướng thân cận của Dương Đình Nghệ, đã giết chết chủ tướng để cướp quyền. Vốn là một kẻ tham lam, hèn nhát, lại sẵn có những liên hệ ngấm ngầm từ trước với Nam Hán, nên ngay sau khi tiếm quyền, sợ bị các tướng cũ của họ Dương trừng phạt, Kiều Công Tiễn đã nhờ Nam Hán che chở.

Kiều Công Tiễn lúc này mới chỉ làm chủ được miền đất thuộc lưu vực sông Hồng, còn toàn bộ miền Hoan, Ái12 thuộc về các tướng lĩnh trung thành với họ Dương mà tiêu biểu nhất là Ngô Quyền, một viên tướng giỏi đồng thời là con rể Dương Đình Nghệ, đang cai quản châu Ái. Biết việc họ Kiều làm loạn và mưu mô bán nước, tháng 11 năm 938, Ngô Quyền tập hợp lực lượng đem quân từ châu Ái ra đánh Kiều Công Tiễn.

Thực chất cuộc hành quân của Ngô Quyền từ châu Ái ra không phải chỉ nhằm đánh Kiều Công Tiễn, mà rõ ràng đã có ý định chuẩn bị lực lượng để đối chọi với quân Nam Hán.
--------------------------
12 Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh hiện nay.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 16 Tháng Mười Hai, 2011, 08:43:25 pm
Nam Hán vốn là một triều đình cát cứ ở vùng ven biển đông-nam Trung Quốc, do họ Lưu cầm đầu, nhân chính quyền trung ương suy yếu, muốn dấy lại nghiệp Hán Cao Tổ xưa. Nhưng khác căn bản với tổ tiên, họ Lưu lần này lại chiếm cứ ở một vùng nhiều sông ngòi, kề với biển, do đó đã kết hợp được cái thiện nghệ đánh bộ của dân miền Bắc, với tài sông nước của dân miền Nam. Nhờ vậy, về phía Bắc, họ Lưu, cũng như thời Lưu Bang mở nước, một lần nữa lại đánh thắng thế lực quý tộc Sở cũ cũng đang ngoi lên cát cứ bành trướng. Về phía tây, Nam Hán giao kết với Nam Chiếu ở Vân Nam, về phía nam, năm 930, cử quân tranh giành Giao Châu với họ Khúc, nhưng chưa đầy 1 năm đã bị Dương Đình Nghệ xua về nước. Từ đó Nam Hán vẫn rắp tâm, chờ thời cướp nước ta lần nữa. Được lời mời của Kiều Công Tiễn, vua Nam Hán đã cử ngay con là thái tử Hoằng Thao làm Giao Vương (vua Giao Châu) mang quân thủy vội vã lợi dụng gió mùa đông bắc vượt biển tiến sang nước ta. Đó là những ngày cuối năm 938. Ngoài đạo binh thuyền của Hoằng Thao, để bảo đảm chắc chắn, đích thân vua Nam Hán chỉ huy một đạo quân thủy nữa đóng ở Hải Môn (ven biển Quảng Đông).

Do tình hình trong nước có nội chiến, Ngô Quyền chủ trương không cho quân thủy Nam Hán vào sâu trong đất liền. Một mặt, ông tìm cách tiêu diệt Kiều Công Tiễn càng sớm càng tốt, mặt khác cho quân động viên nhân dân vùng ven biển Hải Phòng, Quảng Ninh chuẩn bị chiến trường đánh giặc Nam Hán. Chiến trường chính được chọn là vùng cửa Sông Cấm hiện nay, bấy giờ có tên gọi chung là Bạch Đằng13.

Về trận này thư tịch cho hay: Ngô Quyền đoán trúng được hướng hành quân của quân Nam Hán đã cho quân đóng cọc gỗ nhọn đầu bịt sắt ở lòng sông. Khi thủy triều lên, quân ta ra khiêu chiến rồi giả thua, nhử địch tiến sâu vào bãi cọc. Lợi dụng nước thủy triều xuống làm bãi cọc nhô dần lên khỏi mặt nước, quân ta tập trung lực lượng đánh quật lại, hất quân địch ra biển, quân địch bỏ chạy vướng vào bãi cọc, bị quân ta tiêu diệt hết, chủ tướng là Hoằng Thao cũng chết tại trận.

Chúng ta không có tư liệu để kiểm tra mức độ chính xác của thư tịch, như nếu quả đúng như vậy thì có thể hình dung Ngô Quyền đã có một đạo quân thủy rất mạnh. Vì chiến thuật đánh địch bằng bãi cọc đòi hỏi sự ăn khớp rất cao về mặt thời gian, tốc độ và hướng hành quân của đối phương. Bãi cọc trong thực tế chỉ phát huy tác dụng trong một khoảng thời gian rất ngắn, tức là khi mặt nước rút xuống chỉ còn cách mũi hàng cọc một khoảng bằng độ sâu mớn nước của thuyền, cho đến khi bãi cọc bị nhô lộ ra khỏi mặt nước. Cũng có những bằng chứng chứng tỏ Ngô Quyền đã chuẩn bị đến mức có thể chứng tỏ được sự ưu thế quân sự nghiêng về phía mình trong trận này. Toàn thư có chép một đoạn nhận định rất tự tin của Ngô Quyền khi chuẩn bị đánh Nam Hán: “Hoằng Thao là một đứa trẻ dại, đem quân từ xa đến, quân lính mỏi mệt, lại được tin Công Tiễn đã chết, không có người làm nội ứng, đã mất vía trước rồi. Quân ta sức mạnh, đối địch với quân mỏi mệt, tất phá được. Song họ lợi ở thuyền, nếu ta không phòng bị trước thì chuyện được thua chưa thể biết được. Nếu ta sai người đem cọc lớn đóng ngầm ở cửa biển trước, vạt nhọn đầu mà bịt sắt vào, thuyền của họ khi nước triều lên tiến vào bên trong hàng cọc, bấy giờ ta dễ bề chế ngự. Không kế gì hơn kế ấy cả”14.
--------------------------
13 Hiện nay, tư liệu vẫn còn quá ít để tìm hiểu về diễn biến chi tiết của cuộc chiến tranh này. Tài liệu thư tịch của cả Trung Quốc lẫn Việt Nam đều chỉ nói đến một trận đánh duy nhất, cũng là trận đánh quyết định thành bại của cuộc chiến tranh, đó là trận Bạch Đằng. Dựa vào tình hình phân bố các đền thờ Ngô Quyền và các tướng lĩnh của ông tham gia trận này có thể dự đoán chiến trường chính đã diễn ra ở vùng cửa sông Cấm phía Nam Hải Phòng, chứ không phải đích thực là sông Bạch Đằng ngày nay, như tình hình đã diễn ra năm 1288 trong cuộc chiến tranh chống Nguyên lần thứ ba. Theo hướng giả thuyết trên, vừa qua phòng Bảo tồn bảo tàng thuộc Sở Văn hóa Thông tin Hải Phòng kết hợp với khoa Sử trường Đại học tổng hợp đã phát hiện được một số bãi cọc ở khu vực này, được ngờ là của Ngô Quyền. Kết hợp với nhận định của một số ngành khoa học khác, như địa mạo, thủy văn, giả thiết trên càng có thêm sức thuyết phục. Tuy nhiên, cho đến nay đó vẫn chỉ là một giả thuyết mà thôi.

14 Đại Việt sử ký toàn thư, NXB Khoa Học Xã Hội – Hà Nội, 1967, t. I, tr. 146.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 16 Tháng Mười Hai, 2011, 08:51:58 pm
Vậy là trước khi quân Nam Hán sang, nội chiến đã được kết thúc và Ngô Quyền có thể dồn sức ở một mũi đánh giặc. Quân ta vốn sẵn là một đội quân thủy thiện chiến, được kích thích bởi thắng lợi trong nội chiến và truyền thống thắng quân Nam Hán của Dương Đình Nghệ từ bảy năm trước, đã chủ động giăng bẫy lớn chờ diệt giặc. Chắc hẳn loại thuyền chiến Mông đồng với 32 tay chèo và 25 lính chiến đấu15 cũng tham gia trong trận đánh đó. Sau này, Phạm Sư Mạnh, thời Trần, theo trí nhớ của nhân dân đã từng mô tả:

  Hung hung Bạch Đằng đào
  Tưởng tượng Ngô Vương thuyền
  Ưu tịch Trùng Hưng đế
  Diệu chuyển khôn cán kiền (Khắc chuyển khôn oát kiền)
  Hải phó thiên Mông đồng
  Hiệp Môn vạn tinh chiên…


Tạm dịch:

  Sóng Bạch Đằng cuồn cuộn
  Tưởng như thuyền Ngô Vương
  Gợi nhớ Trùng Hưng đế
  Khéo chuyển đất thay trời
  Cửa biển ngàn thuyền chiến (thuyền Mông đồng)
  Hiệp Môn vạn cờ bay…

Bài thơ trên mà Phạm Sư Mạnh đã khắc trong hang Kích Chủ (Chí Linh), chủ yếu ca ngợi trận Bạch Đằng năm 1288 của nhà Trần đánh quân Nguyên. Qua đó, ta có thể thấy rằng cho đến tận thế kỷ XIII, thuyền Mông đồng vẫn là loại thuyền chiến chủ yếu trong quân thủy nước ta mà việc sử dụng nó phổ biến thấy từ năm 807 – 809. Nếu so với thuyền thời Lê sau này, thì loại thuyền Mông đồng đó tương ứng với thuyền chiến hạng trung, chiều dài khoảng trên 20 mét, rộng gần 4 mét. Đó là những thuyền vừa có khả năng hoạt động trong sông, vừa có khả năng hoạt động ngoài biển.

(http://img69.imageshack.us/img69/3506/thuyenmongdong.jpg)
Thuyền mông đồng khắc trên Chương đỉnh

Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 có ý nghĩa lịch sử cực kỳ lớn, vượt ra ngoài phạm vi một trận đánh, vượt ra ngoài phạm vi một thắng lợi quân sự. Nó là thắng lợi đánh mốc thời đại của một dân tộc, là kết cục tất yếu của cuộc đấu tranh giằng dai hàng ngàn năm nhân dân ta chống lại chính sách thôn tính, đồng hóa của các triều đại phong kiến Trung Quốc. Đó là tinh hoa được kết lại về mặt kinh tế, văn hóa, ý thức dân tộc và nghệ thuật quân sự của một ngàn năm đấu tranh, đánh mốc trưởng thành của sức sống dân tộc, mở đầu một kỷ nguyên hoàn toàn độc lập tự chủ. Chính vì vậy, nó đi vào lịch sử dân tộc với tư cách là một biểu tượng của sức sống Việt, biểu tượng của ý chí độc lập tự chủ.
-----------------------
15 Năm 907 – 809, Trương Chu, tiết độ sứ thời thuộc Đường, đã huy động thợ thuyền nước ta đóng 400 thuyền chiến loại Mông đồng trang bị nhất loạt cho quân đội để chống lại giặc biển phương Nam. Loại thuyền này thường được nhắc đến trong lịch sử nước ta.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 16 Tháng Mười Hai, 2011, 08:56:18 pm
Riêng đối với lịch sử nghệ thuật quân sự dân tộc, chiến thắng Bạch Đằng khắc họa một truyền thống, với tư cách là quy luật giành thắng lợi trong chiến tranh. Đó là cái tất yếu đánh giặc bằng quân thủy, giành thắng lợi trên chiến trường sông nước. Đó cũng là cái tất yếu thắng lợi của nghệ thuật quân sự Bạch Đằng, với tư cách là nghệ thuật vận dụng thế hiểm của đất nước trong chiến tranh, cái mà trong binh thư cổ thường gọi là địa lợi, thiên thời, là nghệ thuật để tạo nên những chướng ngại nhân tạo, để hoàn chỉnh cái thế thiên hiểm, ở đây là bãi cọc có gắn bó chặt chẽ với nhịp điệu lên xuống của con nước triều. Và, cuối cùng là sự chuẩn bị đầy đủ những con người điều khiển và quyết định thắng lợi cuối cùng của trận đánh. Truyền thống Bạch Đằng, nghệ thuật quân sự Bạch Đằng trong suốt kỷ nguyên Đại Việt là một trong những yếu tố chi phối mạnh nhất đến sự phát triển nghệ thuật quân sự Đại Việt nói chung và nghệ thuật thủy chiến nói riêng. Nó là yếu tố chỉ đạo, động viên, cổ vũ các nhà chiến lược, các tướng lĩnh cầm quân và tới từng người lính, người dân trong mỗi cuộc chiến tranh. Không phải ngẫu nhiêu, chỉ hơn bốn chục năm sau, Lê Hoàn lại chọn Bạch Đằng làm chiến trường chặn quân thủy Tống. Trong suốt thời Lý – Trần, chiến lược đánh thủy vẫn là chủ đạo trong các cuộc chiến tranh, mặc dầu với toàn những đối tượng đánh bộ là chính. Và, khi quân Nguyên gắng sức nhất để tạo ra một đội binh thuyền rất mạnh hòng đối phó thắng lợi với chiến thuật đánh thủy của ta, quyết thôn tính nước ta thì một Bạch Đằng lớn hơn đã diễn lại, không khác là bao Bạch Đằng năm 938.

Trong tâm thức nhân dân Đại Việt, Bạch Đằng là hội tụ của sức sống dân tộc. Điển hình của lối nghĩ như vậy có thể dẫn ra câu thán tuyệt diệu của Phạm Sư Mạnh:

  Vũ trụ kỳ quan Dương Cốc nhật
  Giang san vượng khí Bạch Đằng thâu


Tạm dịch:

  Kỳ quan của vũ trụ là mặt trời lên từ hang Dương Cốc,
  Khí thiêng sông núi đọng lại ở chốn Bạch Đằng.

Trận Bạch Đằng năm 938 của Ngô Quyền không những đặt nền một truyền thống cho nghệ thuật quân sự Đại Việt, mà còn trở thành một kiểu đánh thủy có tính chất giáo trình trong binh thư của chính những kẻ thảm bại vì nó. Vũ bị chế thắng chí là một cuốn binh thư Trung Quốc nổi tiếng, do người đời Minh soạn. Cứ theo đề sách thì đây là cuốn cẩm nang dạy cho tướng lĩnh cầm quân của “thiên triều” các mưu mẹo, phép tắc và trang bị dùng trong chiến tranh để bảo đảm giành thắng lợi. Cuốn sách đã tổng kết kinh nghiệm gần hai ngàn năm tranh cướp nhau và đi xâm lược trước đó của các triều đại phong kiến Trung Quốc, chọn ra những trận đánh mẫu mực nhất trong lịch sử để minh họa. Trong thiên Thủy chiến (quyển 13), khi “dạy” về nghệ thuật dùng cọc để chống thuyền địch, sách ấy đã phải mượn đến Bạch Đằng 938: “Họ Ngô ở Giao Châu nhân nước triều ra khiêu chiến mà giả cách chạy trốn, đợi thuyền địch vì nước triều rút mà vướng cọc, nhân đấy mà đánh. Thế mới biết có thể dùng nạn mắc cạn để đánh quân địch được”. Rõ ràng, kiểu mẫu Bạch Đằng không còn trong phạm vi Đại Việt nữa, mà đã trở thành một hiện tượng tiêu biểu cho nghệ thuật thủy chiến ở phương Đông đương thời.

Quân thủy Đại Việt ngay từ đầu đã thừa hưởng một gia tài hết sức quý báu, đó là những yếu tố căn bản của quân thủy thời dựng nước đầu tiên được bảo lưu và phát triển trong suốt ngàn năm đấu tranh chống lại chính sách bóc lột và đồng hóa của phong kiến Trung Quốc, bằng chiến thắng Bạch Đằng xác lập một truyền thống mới, bộ mặt mới, một sức sống mới cho quân thủy nước ta. Đó chính là nguồn gốc sự trưởng thành và những kỳ công tiếp theo của quân thủy Đại Việt trong sự nghiệp giữ gìn nền độc lập dân tộc.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 17 Tháng Mười Hai, 2011, 09:14:03 pm
Chương năm

QUÂN THỦY THỜI LÝ TRONG KHÁNG CHIẾN
CHỐNG TỐNG

Về mặt thời gian, kỷ nguyên Đại Việt có thể tính từ sau chiến thắng của Ngô Quyền ở Bạch Đằng năm 938. Nhưng phải đến thời nhà Lý (1009-1225), mới có thể nói đến một Đại Việt định hình, có nền văn hóa rực rỡ riêng, có bản sắc dân tộc rõ ràng; một Đại Việt cường thịnh, đủ sức phục hồi sức sống dân tộc vốn bị kẻ thù tìm cách dìm đắm, làm nền và đẩy đà cho một thời kỳ phát triển mới của lịch sử dân tộc.

Bộ máy nhà nước độc lập tự chủ, với cơ chế ngày càng hoàn chỉnh, đã tỏ ra có hiệu lực trong việc điều khiển các hoạt động của đất nước tiến vào một thời kỳ mới. Đất nước đã có những bước chuyển mình to lớn trong mọi lĩnh vực. Kết quả của những chuyển biến đó đọng lại trong cuộc nảy nở văn minh Lý – Trần rất rực rỡ.

Sự phát triển toàn diện của đất nước thời này là cơ sở vật chất để xây dựng một đội quân mạnh – nhu cầu rất bức thiết để gìn giữ nhà nước phong kiến đang có tác dụng tốt trong việc phát triển đất nước, chống lại những âm mưu chiếm quyền, cát cứ, đi ngược xu hướng thống nhất đang rất cần cho sự phát triển của dân tộc. Nhu cầu ấy lại càng bức thiết hơn nữa khi triều đình nhà Tống đang câu kết với phong kiến Chiêm Thành lăm le xâm lược nước ta.

Cuộc chuyển hóa quyền quản lý đất nước từ tay nhà Tiền Lê sang họ Lý diễn ra trong một không khí hòa bình. Lý Công Uẩn, từ thân phận một người lính bình thường trong cấm quân, sớm bộc lộ tài năng trong quân ngũ, đã được cất nhắc lên làm phó chỉ huy sứ cai quản quân Tứ sương, rồi điện tiền chỉ huy sứ quản quân Tả thân vệ, chức quan võ cầm quân to nhất đương thời. Trong tình hình vua Ngọa Triều mới chết, bên ngoài kẻ thù đang dòm ngó xâm lược, bên trong con vua còn quá nhỏ tuổi, được sự ủng hộ của các quan lại và binh lính, Lý Công Uẩn đã thay họ Lê điều khiển công việc đất nước, trở thành vị vua đầu tiên của triều Lý.

Bối cảnh lịch sử đó khiến cho lực lượng vũ trang của nhà Lý về cơ bản là sự chuyển hóa trực tiếp và gần như hoàn toàn từ bộ máy quân sự của nhà Tiền Lê, mà trước đó chính Lý Công Uẩn là một trong những người đứng đầu. Đó là một đội quân mà hơn hai chục năm trước, dưới sự chỉ huy của Lê Hoàn, đã từng đánh tan đạo quân xâm lược thủy bộ của nhà Tống, trong đó cũng lặp lại một Bạch Đằng với hàng cọc ngăn sông khiến Lưu Trừng phải ốm mà chết. Đội quân đó có nòng cốt là ba ngàn quân cấm vệ tuyển từ những dân đinh khỏe mạnh nhất trong nước, chứ không còn là những “con nuôi” như trong những đội quân của họ Dương và họ Ngô trước nữa. Tống Cảo, một sứ giả của nhà Tống, được cử sang nước ta năm 990, khi về nước có thuật lại cho vua Tống như sau về quân đội của Lê Hoàn: “Trong thành không có dân, chỉ có mấy trăm khu nhà tranh làm trại lính… Số binh sĩ có độ ba ngàn người (có bản chép là năm ngàn – T.G.) đều thích ba chữ Thiên tử quân vào trán. Lương thì phát lúa để tự làm ra gạo mà ăn. Vũ khí chỉ có cung nỏ, mộc gỗ, giáo, lao bằng tre…”16.

Binh chế thời Tiền Lê còn cho phép các vương hầu có quân đội riêng, gọi là quân vương phủ. Quân vương phủ còn mang nặng tính chất thân binh, như kiểu các “con nuôi” làm lính trong nhà họ Dương trước đây. Các vương hầu này, cũng như một số viên quan to trong triều khi đi trấn trị ở đâu thì mang theo quân riêng của mình, làm thành lực lượng thường trực, nòng cốt của quân các địa phương.
------------------------
16 Tống sử, Lê Trắc cũng chép lại (có chút ít khác biệt) trong An Nam chí lược.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 17 Tháng Mười Hai, 2011, 09:25:16 pm
Cấm quân và quân vương hầu là cái khung cơ bản của lực lượng vũ trang thường trực thời Tiền Lê. Khi có việc chinh chiến mới huy động dân đinh làm lính.

Cấm quân là lực lượng bảo vệ vua, thời Tiền Lê đã chia làm tả hữu vệ do một viên tướng võ tin cậy chỉ huy, với tên gọi là Điện tiền chỉ huy sứ. Lực lượng này lại chia thành một số bộ phận nhỏ hơn, bảo vệ vua thành nhiều vòng. Quân tùy long túc trực quanh điện nơi vua ở và làm việc, số còn lại chia nhau tuần phòng bảo vệ vòng ngoài cấm thành. Rất có thể vào thời Tiền Lê, quân tứ sương cũng do cấm quân đảm nhiệm luôn, vì thành Hoa Lư không lớn lắm, lại hầu như không có dân, bản thân nó gần như một cấm thành mở rộng. Do đó có thể hiểu chức Tứ sương quân phó chỉ huy sứ mà Ngọa Triều ban cho người lính Lý Công Uẩn vì lòng trung với vua cũ, là chức trong cấm quân, chỉ huy đơn vị cấm quân có nhiệm vụ tuần phòng, bảo vệ ở vòng thành ngoài cùng. Càng vào bên trong các đơn vị cấm quân càng tinh nhuệ hơn, được tin cẩn hơn và chức quan chỉ huy càng to hơn. Có thể thấy điều này khi theo dõi con đường quan tước của Lý Công Uẩn.

Biên chế tổ chức cấm quân như vậy còn tương đối thô sơ, có thể thấy nó có nguồn gốc sâu xa hơn, từ quân điện tiền (hay quân thân vệ) của nhà Đinh, mà chính Lê Hoàn, ông vua đầu tiên của nhà Tiền Lê, là chỉ huy sứ. Có khác chăng chỉ là lúc đó (thời Đinh), cấm quân mới chỉ có 2.000 lính và chỉ huy cấm quân, với chức Thập đạo tướng quân điện tiền chỉ huy sứ, có thể đảm nhiệm toàn bộ việc quân trong nước. Đến thời Tiền Lê, cấm quân chẳng những tăng về số lượng mà trách nhiệm của nó cũng rõ ràng hơn: bảo vệ kinh thành là chính. Vì vậy, chức chỉ huy cấm quân không đồng thời cai quản toàn bộ việc quân, mà thông thường chức đó trao cho các vương hầu.

Lực lượng chính của quân đội Tiền Lê vẫn là quân thủy. Lê Hoàn đã nhiều lần dùng quân thủy vượt biển vào nam đánh phong kiến Chiêm Thành. Một kỳ công lớn nhất của mấy đời vua Tiền Lê, do chính Lê Hoàn khởi sự, là đã cho khai đào hệ thống sông ngòi xuyên suốt từ Ninh Bình ra Thanh Hóa (ngày nay tên sông nhà Lê còn rất nhiều ở vùng này). Hệ thống sông đó cho phép hành trình đường thủy vào nam tránh được nhiều trở ngại trên biển. Thời sau, nhà Lý và nhà Trần tiếp tục kéo dài dần hệ thống sông đó về phía nam.

(http://img828.imageshack.us/img828/4461/kenhnhale.jpg)

Để phát huy truyền thống sông nước trong nhân dân, Lê Hoàn chính thức lấy lễ đua thuyền hàng năm làm thành quốc lễ, với ý thức rất rõ, rằng nước Việt (Nam Sơn) như một hòn núi đặt ở trên thuyền bồng bềnh sông nước17. Khi đón tiếp sứ giả Tống, Lê Hoàn rất có ý thức khuếch trương quân thủy và tài đánh thủy của ta. Trong Hành lục tập, sứ giả Tổng Cảo đã viết: “Cuối thu năm ngoái, bọn Cảo chúng tôi đi đến hải giới Giao Chỉ, Nha Nội đô chỉ huy sứ của Hoàn là Đinh Thừa Chính (có bản chép là Đinh Phụng Trực – T.G.) đem 9 thuyền và 300 quân đến Thái Bình trường (tức là Liêm Châu, thời đó là nơi dùng để buôn bán, giao dịch giữa ta và Tống, thời Lý mới chuyển sang Khâm Châu – T.G.) để đón. Từ cửa biển đi ra biển lớn, xông pha sóng gió, trải bao nguy hiểm, đi nửa tháng trời đến sông Bạch Đằng (?) (thực ra từ Thái Bình trường đến Bạch Đằng nếu thuận gió chỉ đi chừng 3 – 4 ngày, lúc này vào cuối thu có thể do gặp bão hoặc quân ta cố tình vòng vèo để làm như đường sá xa xôi lắm – T.G.). Vào ngã ba sông, theo nước triều lên mà đi. Những chỗ đỗ thuyền ngủ đêm đều có ba gian nhà tranh mới làm gọi là trạm sứ quán. Đến Trường Châu thì đã gần (kinh đô) nước ấy. Hoàn đem hết thủy quân và chiến cụ ra để thị uy. Từ đó đi đêm đến bờ biển, cách Giao Châu chừng hơn 10 dặm, có lẽ là đô Hoa Lư… Hoàn đem dân chúng mặc các áo màu, trà trộn với binh lính, đi thuyền đánh trống reo hò và kéo cờ trắng dàn thành trận thế…18. Với ý thức như vậy, Lê Hoàn đã xác lập trong thực tế hải giới của nước ta gồm toàn bộ miền biển đông bắc cho tới tận các cửa cảng Khâm, Liêm, làm cơ sở cho các cuộc đấu tranh ngoại giao sau này của nhà Lý với Tống.
-----------------------------
17 Toàn thư, t. I, tr. 169.

18 Tống sử, An Nam chí lược, đã dẫn.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 17 Tháng Mười Hai, 2011, 09:31:01 pm
Như vậy, trình bày về quân đội thời Lý chính là sự chi tiết hóa theo xu hướng ngày càng hoàn thiện cơ cấu của lực lượng vũ trang thời Tiền Lê. Có thể nói nhà Lý đã quy chế hóa và cụ thể hóa một bức rất cao bộ máy quân sự thời trước, khiến nó ngày càng giảm tính chất tùy tiện của thân quân trước đây mà trở thành một bộ máy quy củ và tương đối hoàn chỉnh.

Lực lượng vũ trang chuyên nghiệp thời Lý vẫn được tổ chức theo nguyên tắc thân quân, tức là quân đội được tổ chức ra trước hết nhằm bảo vệ và thực hiện quyền lực của một cá nhân. Trong chế độ phong kiến quân chủ, nhà vua, với tư cách là một cá nhân, vẫn đại diện cho cả bộ máy đất nước lẫn toàn bộ đất nước. Theo quan điểm phong kiến, vua cũng đồng nghĩa với đất nước. Vì vậy, lực lượng vũ trang chính thức của nhà nước, của đất nước cũng chính là lực lượng bảo vệ vua và thực hiện quyền lực của vua. Tên gọi loại quân này phản ánh rất rõ tính chất của nó: quân thân vệ, quân điện tiền, quân tùy long, quân cấm vệ… Vì vua luôn ở kinh thành nên lực lượng này bảo vệ vua có nghĩa là bảo vệ cả kinh thành, trong đó chứa cả bộ máy quan lại thực hiện chức năng quản lý đất nước của nhà vua, đó là triều đình. Bộ máy nhà nước ngày càng hoàn thiện thì tính chất nhà nước hóa về mặt tổ chức và kèm theo đó là cả chức năng của quân đội cũng ngày càng tăng, tính chất thân quân giảm dần, mặc dầu về mặt ý thức nó vẫn tồn tại trong suốt chế độ phong kiến quân chủ chuyên chế.

Cũng theo nguyên tắc thân quân, từ đời nhà Hồ trở về trước, nhà nước cho phép các vương hầu và sau đó cả các quan chức to, thân cận trong triều, được tự tổ chức cho mình một đội quân riêng, dưới dạng như kiểu các “con nuôi”, các “gia khách” hoặc những gia nô trong nhà. Tất nhiên không được kẻ nào tổ chức đội quân riêng của mình đông hơn và mạnh hơn đội quân của vua, tức của nhà nước. Tuy nhiên, tổng cộng số lượng của các đội quân ấy thì không phải là một con số nhỏ19. Hơn nữa, khi có chiến tranh, đội quân này được tùy sức phát triển. Tuy không chính thức nằm trong biên chế nhà nước, nhưng đây cũng là loại quân mang tính chất chuyên nghiệp và thường trực. Về văn bản, họ không gắn bó chặt chẽ lắm với lao động sản xuất như những người dân bình thường. Họ bảo vệ chủ của mình và làm công cụ thực hiện quyền lực của chủ. Tính chất nhà nước của họ thể hiện ở chỗ chủ họ đồng thời là những quan lại của nhà nước và quyền lực của chủ họ là một bộ phận quyền lực của nhà nước. Tất cả trên nguyên tắc đều thuộc quyền sai khiến của nhà vua. Điều đó thể hiện rõ nhất trong chiến tranh, khi đó quân vương hầu, theo chủ tướng của họ được biên chế thành các đơn vị thống nhất dưới quyền chỉ huy chung của một viên tướng đại diện cho nhà vua. Hoặc khi một vương hầu nào đó được cử đi trấn trị các địa phương, thì đội quân riêng của họ lập tức trở thành khung thường trực chính thức của địa phương đó – những “cấm quân” địa phương.
---------------------------------
19 Vào thời Trần, khi quân vương hầu thịnh đạt nhất, quy định của nhà nước hạn chế về mặt số lượng các đội quân này không được vượt quá 1.000 người; số vương hầu được quyền tổ chức loại quân đó cũng có tới hàng trăm.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 19 Tháng Mười Hai, 2011, 07:43:55 pm
Trong thời Tiền Lê và Lý, có khá nhiều cuộc đảo chính thực hiện bằng quân vương hầu. Ngay trong cuộc kháng chiến chống Tống năm 1077, khi thái tử Hoằng Chân được giao chỉ huy đội binh thuyền chốt ở Vạn Xuân, thì lực lượng nòng cốt của Hoằng Chân chính là 500 “quân riêng”. Loại quân này được tổ chức, huấn luyện và trang bị theo phương thức riêng của chủ tướng họ. Chỉ khi có chiến tranh, nhà nước mới huy động để tập luyện chung mà thực chất là để thống nhất hiệu lệnh chỉ huy. Tôn Thăng, một người Tống, có viết trong sách Đàm phố của mình như sau về đội quân riêng của Hoằng Chân: Hoằng Chân nuôi riêng 500 quân đặc biệt, cấm mọi thị dục, dạy cho trận pháp. Đội quân riêng ấy rất giỏi, hiệu lệnh rất nghiêm. Người nào cũng cầm một cái kim bài làm hiệu riêng cho nhau20.

Như vậy, quân vương hầu, thực chất là một loại thân binh, là hình thức tổ chức lực lượng vũ trang rất phổ biến và cổ điển. Tính chất giống nhau giữa quân nhà vua với quân vương hầu là chỗ đó. Nó chỉ khác ở chỗ nhà vua là người đại diện cho đất nước, vì vậy quân vua là quân chính thức của nhà nước. Xu hướng phát triển của bộ máy nhà nước phong kiến tập quyền sẽ ngày càng hạn chế hình thức tổ chức quân đội theo kiểu này. Ở nước ta, có thể nói đến thời nhà Hồ (1400 – 1407), hình thức quân vương hầu hoàn toàn bị xóa bỏ về mặt pháp lý.

Nói đến lực lượng vũ trang tồn tại trong xã hội với tư cách là một lực lượng chuyên nghiệp, tách khỏi lao động sản xuất hàng ngày thì phải kể đến số quân vương hầu với số lượng đáng kể. Nhưng nói đến bộ phận quân đội thường trực của nhà nước, với thể chế, tổ chức ổn định, chức năng rõ ràng, có quan hệ trực tiếp đến lịch sử đất nước, ngày càng phát triển, hoàn thiện thì lại chỉ gồm bộ phận cấm quân của nhà vua và bộ máy quân sự trong triều đình.

Ở trong triều, thay mặt cho vua trông nom về việc quân sự có đặt chức thái úy. Đây là một trong ba chức quan lớn nhất trong triều. Thái úy là người quyết định và điều khiển các hoạt động quân sự ở trong nước, khi có chiến tranh mới trực tiếp cầm quân đánh dẹp. Hỗ trợ cho thái úy còn có một số chức thiếu úy nữa.
------------------------------
20 Dẫn theo Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt, in lần thứ 2, Sài Gòn, 1966, tr.303.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 19 Tháng Mười Hai, 2011, 07:57:16 pm
Cấm quân thời Lý được một viên quan thời Tống sống ở vùng Quảng Đông, Quảng Tây là Chu Khứ Phi mô tả trong Lĩnh ngoại đại đáp (1178) như sau: “Có tám quân như Ngự Long quân, Vũ Thắng quân… đều ở liền bên tả hữu. Mỗi quân có 200 người, thích ngang trên trán ba chữ Thiên tử binh… Hằng năm, ngày 7 tháng giêng, mỗi binh được chi tiền 300, trừu, lụa, vải đều một tấm. Binh sĩ hàng tháng được cấp 10 bó lúa. Ngày tết nguyên đán dùng cơm gạo đại hòa (cơm nếp), cá kho khao quân…”21. Tám quân nói trên mỗi quân đều chia làm hai đơn vị tả, hữu, tổng cộng thành 16 quân. Cầm đầu mỗi quân là một chỉ huy sứ. Tùy theo phạm vi bảo vệ, các quân này lại có thể chia nhỏ hơn thành các đô, các hỏa do các quan chức đô hay hỏa đầu cai quản.

Thời Lý Thánh Tông (1054 – 1072), quân cấm vệ có khoảng 3.200 người, chia làm 16 quân, mỗi quân có 200 người được đặt quân hiệu như sau: Ngự Long (tả, hữu), Vũ Thắng (tả, hữu), Long Dực (tả, hữu), Thần Điện (tả, hữu), Bổng Chánh (tả, hữu), Bảo Thắng (tả, hữu), Hùng Lược (tả, hữu), Vạn Tiệp (tả, hữu)22. Các quân này tùy theo độ tin cậy và tài nghệ mà chia nhau bảo vệ thành nhiều vòng từ trong ra ngoài. Những đơn vị thị vệ ở sát vua thường nhỏ, biên chế thành các hỏa, các đô độc lập. Quân bảo vệ quanh nơi vua ở làm thành quân ngự tiền; bảo vệ cả khu vua ở và làm việc, tức cả cấm thành là những đơn vị quân điện tiền. Tất cả thường được gọi chung là quân điện tiền hay cấm quân, vì thực chất thì những đơn vị điện tiền là đông nhất, hơn nữa điện tiền chỉ huy sứ là người cai quản chung.

Cấm quân được tuyển mộ không định kỳ từ người có sức khỏe và giỏi võ nghệ trong dân gian, nhưng chú trọng nhất vào con em tôn thất, quan lại. Đặc biệt, chỉ huy các đơn vị cấm quân thì dứt khoát chọn trong hàng tôn thất, chỉ trừ những trường hợp rất ngoại lệ đối với những người có công đặc biệt như Lê Phụng Hiểu… Phải đến cuối thời Trần, năm 1375, khi Hồ Quý Ly lên làm tri khu mật viện tham mưu quân sự, mới chính thức cho phép “chọn những quan viên người nào có tài năng, luyện tập võ nghệ, thông hiểu thao lược, thì không cứ là tôn thất, đều cho làm tướng coi quân”23.
-------------------------
21 Lĩnh ngoại đại đáp, bản dịch của Trần Duy Tiếp, tư liệu Khoa Sử, Đại học Tổng hợp, Hà Nội.

22 Toàn thư, t. I, tr. 231, trong đó không ghi rõ số quân như Lĩnh ngoại đại đáp.

23 Toàn thư, t. II, tr. 185.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 19 Tháng Mười Hai, 2011, 08:02:34 pm
Ngoài cấm quân, trong thời Lý còn có một lực lượng quân đội bán chuyên nghiệp nữa, đó là sương quân. Theo cách hiểu thông thường, sương quân là quân phục dịch và canh gác cổng thành. Nếu cấm quân và quân vương hầu lấy quân sự làm nghiệp suốt đời, thì sương quân chỉ là nghĩa vụ của những trai tráng đối với nhà nước về mặt quân sự mà thôi. Về nguyên tắc, đó là một thứ thuế bắt buộc đối với mọi nam công dân trong lứa tuổi từ 18 đến 60 mà không bị đui, què hoặc bệnh tật nặng. Những người này theo định kỳ phải khai tên trong sổ quân (sổ màu vàng, vì vậy còn gọi họ là hoàng nam). Tùy theo tình hình sức khỏe và số trai tráng trong gia đình mà có chế độ tuyển mộ, phân bổ thành các loại quân khác nhau. Có thể lúc này cũng đã chia số đinh đó thành hai bậc quân như kiểu thổ đinh, bảo đinh của Tống, hoặc như hai hạng quân, binh thời Lê sau này. Hạng trên được biên chế thành đơn vị, thuộc các chỉ huy sứ địa phương, hàng tháng thay phiên nhau lên phục dịch việc quân và luyện tập, hết hạn lại về làm ruộng, đến kỳ hạn lại làm lính. Kỳ hạn có thể là một tháng hoặc hai tháng. Ở các phủ thành, quân loại này thường được dùng để tuần phòng, canh gác vòng thành ngoài nên còn có tên gọi là quân tứ sương. Khi có chiến sự, theo đội ngũ đã biên chế, hạng quân này phải đăng lính trước tiên. Chỉ khi quân số hạng trên không đủ đáp ứng mới gọi tới hạng dưới.

Trong Lĩnh ngoại đại đáp, sương quân là: “Lại có chín quân Hùng Lược, Dũng Kiện để sung việc sai khiến… Binh sĩ cứ hàng tháng đổi một lần, lúc nhàn hạ thì cấy trồng để tự túc”24.

Lê Trắc trong An Nam chí lược (cuối thế kỷ XIII) cũng viết về sương quân đời Trần: “Việc lấy quân không có số nhất định, chỉ chọn dân đinh nào khỏe mạnh thì lấy. Cứ 5 người một ngũ, 10 ngũ làm một đô, lại chọn 2 người nhanh giỏi dạy tập võ nghệ. Khi nào có việc điều động thì gọi ra, khi không có việc thì trở về nhà làm ruộng”25.

Chính phép tuyển sương quân đó là cái mà sau này sử sách thường ca ngợi là phép “ngụ binh ư nông”. Có thể thấy ý đồ của phép ngụ binh ư nông này từ thời Đinh, với ước muốn tổ chức đội quân hàng triệu người của Đinh Bộ Lĩnh. Đó là quy luật của chiến tranh nhân dân hình thành tất yếu và sớm có trong hoàn cảnh đặc biệt của lịch sử dân tộc ta. Và như vậy lực lượng vũ trang có tính chất nhà nước của thời Lý, ngoài cấm quân thì chủ yếu là loại quân này. Ở các địa phương, sương quân họp với “cấm quân” của các lộ, thực chất là bộ khung quân riêng của các vương hầu, quan lại cai quản địa phương đó, được nhà nước hóa, làm thành bộ máy và lực lượng quân sự ở các lộ mà người cầm đầu gọi là chỉ huy sứ.

Đó chính là toàn cảnh bộ mặt quân đội thời Lý trên phương diện tổ chức, nó cũng có thể chung cho cả quân đội nhà Trần khi ở mức độ cao hơn. Có thể nói, kết cấu quân đội với hai hình thức tuyển mộ: thân binh và binh dịch; với ba bộ phận: cấm quân, sương quân và quân vương hầu là đặc điểm về mặt tổ chức của dân tộc Đại Việt buổi đầu, cụ thể là quân đội Lý – Trần.
------------------------
24 Lĩnh ngoại đại đáp, đã dẫn.

25 Lê Trắc, An Nam chí lược, bản dịch của Trần Duy Tiếp, Tư liệu Khoa Sử, Đại học Tổng hợp, Hà Nội.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 19 Tháng Mười Hai, 2011, 08:11:22 pm
Vẫn như trước, quân đội thời Lý phần lớn cơ động bằng thuyền. Vì vậy, về mặt hình thức, nó là một đội quân thủy. Chúng ta có thể thấy rất nhiều trong chính sử hoạt động chuẩn bị cho mỗi lần chinh chiến của triều Lý cũng như các triều đại khác mãi sau này chủ yếu chỉ là “sắm sửa binh khí, đóng chiến thuyền”. Tuy nhiên, trong thành phần quân đội thời Lý những yếu tố thuần túy quân bộ đã phát triển khá rõ ràng. Trong tờ chiếu gửi cho Quách Quý vua Tống từng nhắc đến việc Lý Thường Kiệt những năm chuẩn bị chống Tống đã: “ngày ngày ông say sưa tụ tập binh lính để tập trận, nhóm họp voi ngựa, tập duyệt phép chạy, phép xung phong” (Trường biên, 276/6b)26.

Đến cuối thời Lý, ý thức bộ chiến ngày càng được quan tâm hơn trong việc vua lập Xạ đình, hàng ngày cùng các quan tập cưỡi ngựa, bắn cung và luyện pháp đánh giặc, phá trận27. Thực ra thì những yếu tố đó đã có từ trước, nhưng đến thời Lý thì được phát triển một cách rõ nét và có tổ chức hơn. Chính nhu cầu hoàn thiện mọi khả năng tác chiến của quân đội để chống lại có hiệu quả kẻ địch là quân Tống vốn rất thạo đánh bộ đã thúc đẩy sự phát triển đó. Hơn nữa, lúc này, nhà Lý với chính sách tranh thủ, đoàn kết các dân tộc thiểu số miền núi đã đưa vào trong thành phần quân đội của mình một số lượng không nhỏ tướng lĩnh và binh sĩ có khả năng đánh bộ, đánh bằng kỵ binh ở miền rừng núi như Tông Đản, Thân Cảnh Phúc… Vì vậy, chiến lược chung của quân thời Lý căn bản vẫn là đánh thủy, nhưng đây đó yếu tố đánh bộ cũng được vận dụng khá rõ ràng.

Trong một số cuộc hành quân vào cuối thời Lý đã thấy tồn tại song song hai mũi thủy, bộ cùng tiến đánh giải quyết một mục tiêu. Đó chính là những yếu tố tiến bộ trong nghệ thuật quân sự nước ta thời này. Nhưng, cần nhấn mạnh rằng đó vẫn chỉ là những yếu tố chứ chưa phải sự phân hóa thành quân chủng, binh chủng riêng biệt.

Như đã nói, quân đội thời Lý căn bản vẫn là quân thủy, chiến lược thời Lý vẫn chủ yếu là đánh thủy. Những cuộc hành quân đánh Chiêm, đánh Ung, Khâm, Liêm 1075 và chống Tống 1077 căn bản toát lên chiến lược dùng quân thủy là chính. Thực hiện ý đồ đó, nhà Lý đã tiếp tục những công trình khai đào sông ngòi của Tiền Lê, đồng thời nạo vét, đào thêm nhiều cửa cảng, đoạn kênh khác nữa. Năm 1049, đào ngòi Ngự, 1052 đào kênh Lẫm, 1089 đào sông Lãnh Kinh, 1192 khơi sông Tô Lịch. Hệ thống sông ngòi, cửa biển và hải đảo được nhà nước chú ý xây dựng thành địa đồ hoàn chỉnh. Chủ quyền vùng biển tiếp tục được xác lập tận ven biển nam Trung Quốc, đồng thời với ý thức quan tâm bảo vệ và khai thác các nguồn lợi của biển, như việc lập trang Vân Đồn năm 1149, vẽ hải đồ, chép sản vật các đảo năm 1171…

  Chính quan lại nhà Tống ở Quảng Đông, Quảng Tây cũng phải xác nhận chủ quyền vùng biển của ta đến tận cửa cảng Khâm và gọi vùng biển nam Trung Quốc là biển Giao Chỉ. Phần Thiên Phân Dao trong Lĩnh ngoại đại đáp chép: “Sông ở Khâm Châu đi về phía nam chảy ra biển có tất cả 72 chỗ rẽ ngoắt. Người phương nam gọi chỗ rẽ ngoắt ấy là dao, cho nên có 72 dao. Trong 72 dao có dòng nước chia làm hai nhánh sông, một nhánh đi về phía tây-nam chảy ra biển Giao Chỉ, một nhánh đi về phía đông-nam chảy vào biển Quỳnh Liêm. Người đời nói: “Năm châu xưa cùng Giao Chỉ vạch định giới ở đây” ý như là trời phân như thế vậy. Nay Giao Chỉ đã tự chiếm lấy Thiên Phân Dao, lại lập cột tiêu địa giới về phía đông Ngô Bà Tảo, trông giới cõi vài trăm dặm rồi hải củi, bắt cá ở đấy. Thuyền bè của người Khâm Châu ít đến đấy”.

----------------------------
26 Theo Hoàng Xuân Hãn, sách đã dẫn, tr. 198.

27 Toàn thư, t. 1, tr. 290.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 21 Tháng Mười Hai, 2011, 07:00:02 pm
Biểu hiện rõ rệt của thiên hướng phát triển quân thủy trong thời Lý còn ở chỗ nhà Lý rất chú trọng việc đóng thuyền. Có thể dẫn ra đây bản thống kê những lần nhà Lý đóng thuyền được ghi lại trong Việt Sử lượcToàn thư. Tất nhiên, những ghi chép đó chủ yếu nói về những lần đóng thuyền cho vua thôi và một vài lần đóng thuyền chiến. Nhưng qua thái độ ghi chép của sử gia đương thời, đủ thấy ý nghĩa quan trọng của việc đóng thuyền trong những hoạt động có tính chất quốc gia.

(http://img846.imageshack.us/img846/2643/dongthuyenly.jpg)

Theo ghi chép trong Việt Sử lược thì nhà nước nắm độc quyền việc đóng thuyền chiến và các loại thuyền lớn28. Khả năng xuất xưởng tương đối lớn, có thể trong một thời gian ngắn, khoảng gần một năm, các xưởng thuyền nhà nước huy động đã cho xuất xưởng vài ba trăm chiếc thuyền chiến. Đó là những chiến thuyền mà theo Hoàng Xuân Hãn ước tính, có thể chở được trên hai trăm người và lương thảo, khí giới, thực hiện tốt những chuyến vượt biển xa hàng ngàn ki-lô-mét.

Có thể biết một số loại thuyền chính trong quân đội nhà Lý đã được sử sách nhắc đến. Loại thuyền chiến phổ biến nhất có lẽ vẫn là thuyền Mông đồng. Ngoài ra khi vua thân chinh đánh giặc bao giờ cũng có một đội thuyền ngự, quy mô lớn, trang trí đẹp vừa có tính chất là những cung điện nổi, vừa có tính chất thuyền chiến với các tên gọi rất hay như Kim Phượng, Cảnh Thăng, Vĩnh Xuân, Thanh Lan… Có hai loại thuyền đặc chủng được sử sách nhắc đến là thuyền lầu (lâu thuyền) và thuyền hai lòng (lưỡng phúc thuyền).
------------------------
28 Việt Sử lược, bản dịch của Trần Quốc Vượng, Nhà xuất bản Sử học, Hà Nội, 1963, tr. 119.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 21 Tháng Mười Hai, 2011, 07:10:10 pm
Từ thời Tần Hán ở Trung Quốc đã thấy sử sách nhắc đến tên một loại thuyền chiến là thuyền lầu. Năm 219 trước Công nguyên, quân Tần do Đồ Thư chỉ huy đánh các nước phương nam có thuyền lầu trong đội quân thủy. Năm 43, Mã Viện nhà Hán mang theo một cánh quân thủy do Đoàn Chí chỉ huy, trong đó cũng gồm những thuyền lầu. Có thể nói đây là một loại thuyền chiến xuất hiện từ khá sớm. Cái tên gọi cũng phản ánh đặc điểm của thuyền: gồm những tầng lầu cao, chưa được nhiều lính và ưu thế về vũ khí tầm xa như cung, nỏ. Theo Sử Đức Bân, thuyền lầu thời Hán có chiếc cao tới 10 trượng, tức vào khoảng 27 mét (?)29. Trong các binh thư của Việt Nam cũng như Trung Quốc, khi chép về những thuyền đặc chủng đều có nhắc đến thuyền lầu. Thậm chí đến tận thế kỷ XIX, theo ý nghĩa hình khắc trên chín đỉnh linh thiêng của triều Nguyễn, thì thuyền lầu được chọn như một loại thuyền chiến tiêu biểu cho vũ khí mặt nước, bên cạnh những đại bác, xa luân pháo, súng điểu thương, đạn hồ điệp tử… là những vũ khí hiện đại, tiêu biểu nhất đương thời. Sự xuất hiện của thuyền lầu phản ánh một nhu cầu chiến thuật giành tầm cao có lợi cho quan sát và phát huy hiệu quả các vũ khí tầm xa, tức là mở rộng được diện bố trí lực lượng trên thuyền. Nước ta cũng là một trong những nước xuất hiện thuyền lầu sớm trong quân thủy, đó là những thuyền lầu đơn giản khắc trên trống đồng. Chức năng của những lầu cao trên các thuyền đó được xác định rất rõ ràng và ổn định với hình ảnh người lính luôn luôn sẵn sàng cung nỏ trong tay.

(http://img259.imageshack.us/img259/7918/lauthuyen.jpg)
Lâu thuyền (thuyền lầu)

Trong thời Lý, thuyền lầu được nhắc đến năm 1205: “Trước đây (chắc là khoảng tháng 11 năm 1204, khi Đàm Dĩ Mông được lệnh đem quân các đạo đắp lũy từ kênh Bà Câu đến trại Văn Lôi để chống người Đại Hoàng – T.G.), Dĩ Mông đắp lũy xong, làm vài chục chiếc thuyền lầu, sai những tay bắn cung giỏi ở Phú Lương nấp trên thuyền ấy, lấy dây dài buộc ở đằng sau thuyền rồi hạ lệnh: “Giặc tới thì chèo thuyền qua sông mà bắn, nếu bất lợi thì kéo thuyền về”. Rồi Dĩ Mông bị triệu về kinh…”30. Ở đây, thuyền lầu gắn chặt với chiến thuật dùng cung nỏ trong đánh thủy. Phú Lương là một phủ thuộc miền đất Thái Nguyên hiện nay, đương thời được coi như một miền rừng núi có gắn bó mật thiết nhất với đồng bằng trung tâm đất nước, được nhà Lý, nhà Trần rất chú trọng khai thác. Chính các dân tộc thiểu số sống trong vùng này đã đạo tạo và cung cấp cho quân đội nhà Lý những tay cung nỏ tài ba.
------------------------------
29 Một trượng thời Hán tương đương 276,5cm. Các don vị đo lường Trung Quốc trong sách này được đổi ra đơn vị đo lường quốc tế, dựa theo Ngô Thừa Lạc: Trung Quốc đo lường hoành sử, Bắc Kinh, 1957.
 
30 Việt Sử lược, tr. 170.





Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 21 Tháng Mười Hai, 2011, 07:24:14 pm
Một loại thuyền đặc chủng khác được nhắc đến là thuyền chiến hai lòng. Việt Sử lược chép đến hiện tượng này vào năm 1106: “Tháng 11, vua sắp có việc lôi thôi với nhà Tống, sai đóng thuyền Vĩnh Long hai đáy và đóng chiến hạm”31. Toàn thư, nhắc đến một hiện tượng khác vào năm 1124: “Tháng giêng nhuận, đóng thuyền Tường Quang, kiểu hai lòng”32. Chưa rõ cấu tạo loại thuyền này như thế nào. Trong Võ bị chế thắng chí có nói đến loại thuyền Mẫu tử mà có lẽ Binh thư yếu lược vào đời Nguyễn đã chép lại. Đây là loại thuyền chuyên dùng để đánh hỏa công, gồm một khung thuyền giả to (thuyền mẹ) bọc ngoài, ở phía trước một chiếc thuyền thật nhỏ hơn (thuyền con). Trên khung thuyền to, người ta chất củi lửa và thuốc cháy, mũi thuyền có những đinh nhọn. Khi đánh địch, người ngồi núp trong thuyền nhỏ chèo thật nhanh, lao mạnh vào thuyền đối phương, khiến cho những đinh sắt nhọn ở mũi khung thuyền giả cắm vào mạn thuyền đối phương. Sau đó người ta đốt chất cháy trên thuyền giả đó rồi rút thuyền con khỏi khung thuyền to chạy về. Thuyền giả cháy sẽ đốt luôn thuyền đối phương. Một loại thuyền khác vào thời nhà Hồ, cũng có thể hiểu là thuyền hai lòng hay hai đáy, đó là thuyền đinh sắt có hiệu là Trung tàu tải lương. Theo mô tả, nếu thuyền bình thường có một đáy, thì thuyền loại này làm thêm một “đáy” nữa; tức một tầng sàn ở trên, chia bụng thuyền làm hai phần: phần dưới để lính chèo thuyền, phần trên giấu lính chiến đấu. Loại thuyền này khá lớn, phải hai người đầy một mái chèo. Chưa rõ thuyền chiến hai lòng của nhà Lý có điểm gì giống hai loại thuyền trên hay không?

(http://img440.imageshack.us/img440/7962/hoathuyen.jpg)
Hỏa thuyền

Thuyền chiến thời Lý có khả năng trọng tải và hành trình rất tốt. Những cuộc hành quân đánh Chiêm Thành, vượt biển đánh Khâm, Liêm… đã chứng tỏ điều đó. Thuyền chiến còn có khả năng chở voi vượt biển làm quà trong những lễ nghi ngoại giao hoặc tăng sức đánh bộ trong những trận tập kích vượt biển. Năm 1155-1156, nhà Lý cử sứ giả mang 5 con voi, theo đường biển vào cảng Khâm Châu làm quà cho vua Tống33. Trong trận tập kích vào cảng Khâm năm 1075, từ Vĩnh An (khu vực Trà Cổ hiện nay) thuyền chiến của quân Lý đã đảm bảo chuyển hàng vạn quân bí mật vượt biển, tập kích rất bất ngờ vào cảng, khiến cho quan quân Tống chưa kịp đề phòng đã bị quân ta tiêu diệt, bắt sống gần như toàn bộ. Điều cần lưu ý ở đây là quân Lý có thể đã vượt biển trong đêm, qua một đoạn đường hàng trăm cây số trong mùa gió ngược. Lúc này, vào khoảng cuối năm, theo thống kê của các nhà khí tượng học, thì vào tháng 12, khi cuộc tập kích đó diễn ra (29-12-1075), các đợt gió mùa đông-bắc tập trung dày nhất. Lặc dầu có những trở ngại về thời tiết và những đòi hỏi khắt khe về thời gian, về yếu tố bất ngờ, nhưng thắng lợi rất giòn giã của quân Lý ở cảng Khâm đã chứng tỏ khả năng phục vụ chiến dịch rất cao của quân thủy Lý. Hơn thế nữa, vào năm 1228, khi nhà Trần lên thay nhà Lý, một tướng thủy cấp cao trong triều đình cũ của nhà Lý là Lý Long Tường đã dùng thuyền chiến đem gia đình và quân bản bộ vượt biển lên phía bắc. Cuộc hành trình đã kết thúc tại một bến cảng thuộc vùng đất thời đó còn vô cùng xa xăm với đất nước ta, đó là bờ biển Triều Tiên34.

Không những có khả năng trong hành trình, chuyên chở, quân thủy thời Lý còn lập được nhiều thành tích trong các trận đối hải. Đó là trận thắng quân thủy Chiêm Thành ở cửa Nhật Lệ năm 1069 và hàng chục trận thắng quân thủy Tống ở vùng biển Quảng Ninh.

----------------------------
31 Việt Sử lược, tr. 122.

32 Toàn thư, t. 1, tr. 253. Trong bản chữ hán, nguyên văn là Lưỡng phúc thuyền, tức thuyền hai bụng, cũng có thể hiểu tương tự như hai đáy.

33 Tống sử, Lĩnh ngoại đại đáp, Việt Sử lược.

34 Nguyễn Lương Bích, Nghiên cứu lịch sử, số 7 – 8 năm 1970, tr. 34.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 21 Tháng Mười Hai, 2011, 07:42:00 pm
Về trang bị vũ khí, lúc này vẫn chưa có chuyển biến gì lớn trong quân đội nói chung và quân thủy nói riêng. Vũ khí chủ yếu vẫn là các loại bạch khí, tức gươm, giáo, lao, cung tên, mộc. Trận công thành Ung Châu năm 1075 đã đặt ra cho quân Lý nhiều vấn đề lý luận cũng như về trang bị bộ chiến. Đáng nói là việc quân Lý dùng máy ném công thành. Máy ném đã xuất hiện đầu tiên trong quân đội Tống với tên gọi phổ biến là pháo thạch cơ, và sau đó chính thức được dùng chữ pháo để chỉ (chữ pháo một bên có bộ thạch). Loại pháo này “bắn” theo nguyên lý đòn bẩy, gồm một giá đỡ và một cần bật. Ở một đầu cần bật, người ta buộc buộc những cái quang đựng đạn. Theo Phùng Gia Thăng đầu cần buộc quang gọi là sảo, theo số quang đạn buộc ở đầu, người ta định ra các cỡ pháo, như tam sảo pháo, ngũ sảo pháo… tức là loại máy ném mà ở đầu có ba hay năm quang đựng “đạn”. Ở đầu kia, thời Tống người ta buộc nhiều sợi dây dài để khi “bắn” dùng sức người bám vào dây đó mà giật, tạo lực bật ném các viên đạn ở đầu cần bên kia đi. Đối với những dàn pháo lớn, có khi phải dùng tới hàng trăm người giật. Muốn bắn một hòn đạn nặng 2 cân (một cân thời Tống tương đương 596,82g) phải dùng sức lực 40 người giật (?)35.Tùy theo đạn đá hay đạn chất cháy mà người ta gọi là hỏa pháo hay thạch pháo.

Trong chiến tranh Lý – Tống năm 1075 – 1077, đã hai lần thấy xuất hiện loại máy ném này. Lần thứ nhất, quân Lý vây Ung châu (1075) đã dùng máy đó để bắn những giỏ đựng chất cháy vào thành. Lần thứ hai, quân Tống dùng bắn đá xuống sông Như Nguyệt năm 1077 để chống lại cuộc tập kích đổ bộ của quân thủy ta. Đây là một loại vũ khí rất lợi hại trên thế giới đương thời, đặc biệt trong nghệ thuật công thành.

Vì vậy, từ Trung Quốc máy ném truyền sang các nước Hồi giáo ở Trung và Tây-Á. Tại đây, máy ném được người Hồi Hồi thực hiện một cải cách rất căn bản, đó là việc dùng một vật nặng treo cố định ở đầu cần, nơi mà trước đó người Tống buộc dây để giật, gọi là hậu tọa hay đối trọng. Nhờ vật nặng này, người ta giảm bớt được rất nhiều sức người tạo lực bật. Hơn nữa, nếu trước đây dùng sức người, lực bật không tuyệt đối nhất loạt nên việc đảm bảo chính xác tầm bắn đến mục tiêu gặp rất nhiều khó khăn. Với khối lượng năng treo sẵn, khó khăn này có thể khắc phục được. Cuối cùng, do có thể dễ dàng tăng trọng lượng của khối nặng, người ta chế ra được những máy ném cực lớn đủ sức bắn đi những “viên đạn” nặng tới 150 cân (ước khoảng 90 ki-lô-gam), nên còn gọi loại pháo đó là cự thạch pháo. Từ Trung Á, máy ném cải tiến của người Hồi Hồi truyền vào châu Âu (trebuchet), và theo cuộc viễn chinh của quân Mông Cổ thế kỷ XIII, nó lại được truyền vào Trung Quốc, xuất hiện trong trận quân Mông Cổ đánh Tống ở Tương Dương và Phàn Thành. Từ đó, ngoài tên cự thạch pháo, nó còn có tên là Tương Dương pháo hay Hồi Hồi pháo.

(http://img834.imageshack.us/img834/3325/saophao.jpg)
Sảo pháo thời Tống


Như vậy, quân Lý cũng đã nắm được loại vũ khí đó từ khá sớm và sử dụng rất hữu hiệu trong trận công thành Ung. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển rất hạn chế của nghệ thuật thành lũy ở nước ta, loại vũ khí này cũng không phát triển lắm. Sau này, chúng ta còn thấy chúng dưới dạng đã được người Hồi Hồi cải tiến ở Chiêm Thành và có thể cả trong quân đôi nhà Trần nữa. Trong quân thủy, chưa từng thấy ở đâu loại vũ khí này được sử dụng. Có lẽ vì quy mô của nó quá lớn và luôn đòi hỏi một mặt bằng ổn định tuyệt đối.
------------------------
35 Vũ Kinh tổng yếu.

VMH sửa bài (thay tranh minh họa) theo đề nghị của bạn ùi.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 24 Tháng Mười Hai, 2011, 06:47:21 pm
Về mặt biên chế, quân thủy thời Lý cũng chưa có thay đổi đáng kể. Trong những thuyền chuyên làm nhiệm vụ đối thủy, như thuyền mông đồng, lâu thuyền… vẫn có sự phân biệt tương đối giữa lính chèo thuyền và lính chiến đấu. Trong những thuyền chuyên làm nhiệm vụ vận chuyển quân đổ bộ hoặc tải lương thì chỉ ổn định số lính chèo thuyền (gồm cả thủy thủ mặt boong, tức điều khiển buồm lẫn đà công – người lái thuyền).

Nghệ thuật “đặc công nước” chắc chắn đã tồn tại, dưới dạng những người lính thủy giỏi nghề bơi lặn, dùng dùi sắt nhọn đục thuyền đối phương, hoặc dùng thuyền đặc chủng bí mật bất ngờ đánh hỏa công. Trong một tờ khải tâu lên vua Tống góp bàn về việc tiến binh đánh nước ta, Triệu Bổ Chi đã viết: “Vả lại người Giao giỏi thủy chiến. Từ xưa truyền lại rằng người Việt lội xuống nước đội thuyền địch để lật úp. Đỗ Mục nói chúng có kẻ đi chìm dưới đáy bể 50 dặm mà không thở. Vả nay, thuyền buôn thường gặp giặc bể, bị chúng lặn dưới nước đục thuyền”36.

Trong đối thủy thời Lý, có thể đã phổ biến nghệ thuật kết thuyền (liên hạm). Về mặt kỹ thuật, kết thuyền giải quyết được vấn đề chống sóng, đặc biệt cho thuyền sông khi hoạt động ở vùng nước có sóng lớn hoặc khi gió bão. Về mặt chiến thuật, kết thuyền cho phép tạo ra mặt phẳng tương đối rộng và ổn định trên mặt nước, nhờ đó dễ phát huy khả năng đánh bộ trên thuyền, dễ bố trí và triển khai lực lượng, chống kẻ địch giáp lá cà cướp thuyền. Tuy vậy, kết thuyền lại có nhược điểm rất lớn trong cơ động và dễ bị đối phương dùng hỏa công chống lại. Trong lịch sử, trận Xích Bích giữa Ngô – Ngụy đời Tam Quốc với phản kế liên hoàn hạm của Bàng Sĩ Nguyên có thể coi là tiêu biểu cho tính chất của hai mặt đó của nghệ thuật kế thuyền. Ở nước ta sau này, khi thuyền được trang bị pháo, thì kết thuyền thường được dùng trong những trận đấu pháo.

Văn bia Sùng thiên diên linh có đoạn: “Hiền thánh mưu chi thần diệu, chế ngự bách chi tinh kỳ. Trước trạng, thiết liên hạm tráng hùng, lập cách tạo thiêu sưu tú lệ”. Tạm dịch: “Làm sáng tỏ sự kỳ diệu của mưu thần, làm ra sự tinh vi kỳ lạ của thuyền vua. Theo hình mà đặt liên hạm tráng hùng, tìm cách mà dựng nghìn thuyền tú lệ”37. Có thể hiểu chữ liên hạm ở đây là sự phản ánh nghệ thuật kết thuyền của quân thủy Lý vào nghi lễ triều đình.

Trong thời Lý, hoạt động của quân thủy chủ yếu là chuyển quân, vì vậy rất phổ biến trong những trận đổ bộ, trong đó lớn nhất phải kể đến trận Tu Mao (1069), những trận đổ bộ chiếm cảng Khâm, cảng Liêm (1075), trận đổ bộ ở chân núi Nham Biền ở bờ bắc sông Cầu (1077)… Theo những ghi chép ở thời Trần thì thông thường trong các trận đổ bộ như vậy, quân chèo thuyền trở thành quân giữ thuyền, là chỗ dựa rất quan trọng cả về tinh thần lẫn vật chất cho trận chiến đấu trên bờ.
------------------------
36 Hoàng Xuân Hãn, Sách đã dẫn, tr. 257.

37 Thơ văn Lý – Trần, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977, tập I, tr. 390.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 24 Tháng Mười Hai, 2011, 06:52:22 pm
Cuối cùng, cần điểm qua vài nét về các căn cứ quân thủy hoặc các chốt quan trọng đường thủy. Cũng như Cổ Loa thời Âu Lạc và thời Ngô, Hoa Lư thời Đinh – Lê, Thăng Long ngay từ ngày mới dời đô từ Hoa Lư đã nhanh chóng trở thành một căn cứ quân thủy quan trọng nhất với hệ thống sông bao quanh chằng chịt, trong đó quan trọng nhất là sông Hồng. Hồ Tây (lúc đó có tên là hồ Dâm Đàm) trở thành hồ của thủy quân với núi Nùng nơi vua thường lên điều khiển và xem tập thủy trận. Từ Hồ Tây, có đường nước thông với sông Nhuệ, đó là nửa phía tây của sông Tô Lịch làm thành hào nước thiên nhiên cho vòng thành ngoài – La Thành. Nửa phía đông của Tô Lịch nối Hồ Tây với sông Hồng, che nốt vòng thành phía Bắc của Thăng Long. Cùng với Hồ Tây, Tô Lịch, trên đoạn sông Hồng từ Thăng Long về phía nam hình thành một loạt bến sông mới rất can hệ đến các mặt hoạt động của quân thủy. Đông Bộ Đầu, hoặc còn gọi là bến Triều Đông, bắt đầu được nhắc đến như một bến cảng lợi hại của Thăng Long. Bến này ở khoảng dốc Hàng Than phía trên cầu Long Biên hiện nay38. Vị trí chiến lược của Đông Bộ Đầu được nhắc đến nhiều nhất từ khoảng giữa thời Lý cho đến suốt thời Trần sau đó. Ngoài ra, về phía dưới còn phải nhắc đến bến Đại Thông, Tây Kết, Bãi phù sa Đà Mạccửa sông Thiên Mạc.

Cuối thời Lý, các tập đoàn phong kiến cát cứ có thế lực đều nổi lên dọc theo hai bờ sông Hồng từ Thăng Long ra biển, vì vậy trục sông Hồng đó thường xuyên xảy ra thủy chiến. Điều đó làm mọc thêm một loạt bến sông quan trọng, trở thành những chốt quân thủy luôn luôn có tranh chấp mà sau này trong thời Trần, chúng trở thành những điểm đụng độ giữa quân Trần và quân Nguyên. Cửa biển cực nam của nhà Lý đương thời là cửa Nam Giới (cửa Sót), được coi như tiền đồn chống các loại giặc biển từ phương nam lên, được nhà Lý quan tâm phong thủ.

Về phía Bắc, đối phó với các cuộc xâm lược của Tống, nhà Lý đã chủ động xây dựng một số chốt quân thủy khá lớn. Ngoài Bạch Đằng, nhà Lý bắt đầu chú trọng đến Vân Đồn, mặc dầu ban đầu mới chỉ nhằm thu món lợi buôn bán. Có lẽ sau thắng lợi của quân thủy Lý Kế Nguyên với quân thủy Tống, Vân Đồn mới ngày càng được chú trọng hơn về mặt quân sự. Cùng với Vân Đồn phải kể đến tiền đồn Vĩnh An, nơi xuất phát của mọi cuộc hành trình ngoại giao hoặc tiến công quân sự vượt biển vào cảng Khâm, nơi xuất phát của 5 vạn quân thủy Lý ngược gió đông – bắc xuyên đêm đổ bộ thắng lợi vào cảng Khâm năm 1075, nơi quân Tống chọn làm trận mở màn cho cuộc xâm lược năm 1077. Sâu trong đất liền một chút, chốt Vạn Xuân (Lục Đầu) bắt đầu được chú ý như chốt quân thủy quan trọng nhất án ngữ quân giặc từ phía bắc xuống, cả đường thủy lẫn đường bộ. Chính quân thủy của Hoằng Chân, Chiêu Văn ở chốt này trong chiến tranh chống Tống năm 1077 đã đóng vai trò rất quan trọng vào mọi thắng lợi của quân Lý trên chiến tuyến sông Cầu.

Trong quan hệ của nhà Lý với các dân tộc thiểu số ở miền núi phía bắc, thì bến Lãnh Kinh, cửa quan Bình Lỗ là những điểm có ý nghĩa quan trọng với quân thủy.

Ngoài ra, về phía bắc phải kể đến sông Thiên Đức (sông Đuống), sông Cà Lồ thông đến sông Như Nguyệt (sông Cầu), tụ ở Vạn Xuân, rồi sau đó hoặc ra biển theo cửa Bạch Đằng, hoặc lên phía bắc tới Lạng Giang theo dòng sông Thương (sông Đào Hoa). Về phía nam, từ sông Hồng qua một số dòng sông nhỏ phía hữu ngạn vùng Hà Nam Ninh hiện nay sang sông Đáy, ra cửa Đại An, là mạch máu nối đồng bằng sông Hồng với vùng Thanh Hóa, từ đây theo đường biển hoặc theo hệ thống kênh nhà Lê đi tiếp vào Hoan Châu (Nghệ Tĩnh), thông xuống Chiêm thành. Hành trình của quân thủy Lý vào Chiêm năm 1044 và 1068 – 1069 có thể cho phép hình dung khá cụ thể đường giao thông xuống phía nam thời này.
-----------------------
38 Trần Quốc Vượng và Vũ Tuấn Sán, Xác định địa điểm Đông Bộ Đầu, trong Nghiên cứu lịch sử, số 77.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 24 Tháng Mười Hai, 2011, 07:02:14 pm
CÁC TRẬN ĐỔ BỘ CHIẾM CẢNG KHÂM
VÀ CẢNG LIÊM NĂM 1075

Khâm và Liêm là hai cảng biển lớn của nhà Tống nằm kề biên giới phía đông – bắc nước ta. Do vị trí chiến lược quan trọng, nơi đây từ lâu được xây dựng thành một pháo đài ven biển nhằm khống chế, kiểm soát sự đi lại buôn bán của nước ta và các nước phương nam khác với Trung Quốc. Trong mưu đồ uy hiếp, xâm lược nước ta, nhà Tống biến hai cảng này cùng với thành Ung (nay là Nam Ninh) nằm sâu hơn trong lục địa, thành một cụm cứ điểm liên hoàn làm bàn đạp cho mọi cuộc hành quân xuống phía nam. Trong đó, chốt quan trọng nhất là thành Ung.

Khi biết được âm mưu của Tống thì trước mắt nhà Lý, thành Ung là một cái nhọt mà quân Tống càng tích trữ lương thảo, ngày càng tăng cường số quân bao nhiêu, càng làm cho nhà Lý ngứa ngáy lo âu bấy nhiêu. Chủ trương “Tiên phát chế nhân” của Lý Thường Kiệt đã ra đời trong hoàn cảnh đó. Ông nói: “Ngồi yên đợi giặc không bằng ra trước để chặn thế mạnh của giặc”39. Nhà Lý đã bí mật chuẩn bị một chiến dịch đánh hẳn sang đất Tống, triệt phá sự chuẩn bị của Tống về mọi mặt trên toàn vùng Lưỡng Quảng, trong đó trọng điểm là thành Ung, cảng Khâm và cảng Liêm. Chiến dịch được chia làm hai bước và thực hiện bằng hai mũi tiến công thủy bộ. Bước một, cánh quân bộ, chủ yếu gồm lực lượng quân miền núi do các thủ lĩnh dân tộc thiểu số chỉ huy, từ châu Quảng Nguyên và Tô Mậu (vùng biên giới Cao Bằng, Lạng Sơn hiện nay) tiến công, bóc các đồn trại vòng ngoài của Ung Châu. Trong khi đó cánh quân thủy, gồm chủ yếu quân đồng bằng tuyển theo chế độ binh dịch và một bộ phận quân thường trực sẽ vượt biển đổ bộ và chiếm hai cảng Khâm, Liêm và tiêu diệt các đồn trại ven biển khác về phía đông – bắc nhằm cô lập hoàn toàn thành Ung. Bước hai, cả hai cánh quân thủy bộ họp lực vây đánh Ung Châu.

Như vậy, tuy mục tiêu cuối cùng của chiến dịch nhằm vào thành Ung, nhưng rõ ràng việc chiếm hai cảng Khâm, Liêm có vị trí cực kỳ quan trọng. Thứ nhất, để cô lập hoàn toàn thành Ung, đảm bảo an toàn cho mặt lưng khi quân ta vây đánh thành; thứ hai, để biến hai cảng này, đặc biệt là cảng Khâm, thành cầu chuyển quân của ta, bời vì hành quân đường biển, đại quân ta đỡ được rất nhiều thời gian và sức lực. So với đường bộ, chỉ cần đến cảng Khâm, ta đã đỡ được hơn nửa đường. Hơn nữa, đường từ Khâm đến Ung khá thuận tiện, không phải qua nhiều núi như con đường bộ phía tây. Chính vì vậy, đại quân, lực lượng chủ yếu của chiến dịch do đích thân Lý Thường Kiệt chỉ huy đã đảm đương nhiệm vụ này.
---------------------------
39 Lý Tế Xuyên, Việt điện u linh.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 24 Tháng Mười Hai, 2011, 07:09:59 pm
Thành Khâm nằm ngay ở cửa sông Khâm đổ ra biển qua một cửa vịnh rất sâu và kín cũng có tên gọi là cảng Khâm (từ thời Minh, Thanh đổi thành cảng Long Môn). Vì đây là một vịnh ăn sâu vào trong đất liền nên có nhiều lạch nước nhỏ đổ vào khiến dòng chảy ở đây rất phức tạp. Chu Khứ Phi cho biết có tới 72 chỗ nước ngoặt trên đường từ trong vịnh ra và chỗ phân thủy lớn nhất ở ngay cửa vịnh (thiên phân dao)40. Nước trong vịnh đổ ra đến thiên phân dao thì chia làm hai dòng. Một dòng chảy sang phía tây vào vùng biển nước ta, dòng kia chảy sang phía đông vào vùng biển Quỳnh Liêm. Như vậy, khi nước triều lên, từ vùng biển nước ta, vào cảng Khâm khá thuận tiện, trái lại rất khó khăn khi nước triều rút.

Trong quan hệ buôn bán, ngoại giao giữa nước ta với Tống, thành Khâm được coi như một trung tâm lớn nhất. Quan hệ đi sứ cũng như lái buôn nước ta thường qua cảng này, “thuyền bè đi lại không ngớt”41. Trước năm 1075, đã mấy lần quân thủy Tiền Lê và Lý tiến công cảnh cáo cảng Khâm vì những xích mích biên giới (995, 1022, 1058…). Vì vậy đối với quân ta, cảng Khâm không có gì xa lạ. Tuy nhiên, để đảm bảo chắc thắng, Lý Thường Kiệt vẫn cho người giả làm lái buôn, đánh cá sang dò la kỹ càng phòng thủ của cảng này42.

(http://img703.imageshack.us/img703/7131/khamchau.png)
Vị trí Khâm Châu tại Quảng Tây

Lực lượng quân Tống ở cảng Khâm không đông lắm. Cậy vào thành lũy kiên cố, nhà Tống chỉ bố trí ở đây 500 quân thường trực, chia làm ba bộ phận: quân Trừng Hải, đông nhất, chốt giữ trong thành, còn lại quân tuần kiểm Quân Giới và quân Duyên Hải chia nhau đóng ở ngoài cảng, kiểm soát thuyền bè và phòng bị từ xa. Để bảo vệ thành Khâm từ vòng ngoài, quân Tống lập thêm hai trại lớn Để Trạo, Như Tích do lính thú đồn trú, mỗi trại khoảng hơn một trăm lính. Ngoài ra, dọc về phía tây, châu Khâm còn có bảy động nữa, với hàng vạn động đinh tự vũ trang, mà khi cần nhà Tống có thể huy động. Ngoài ra, còn phải kể tới hàng ngàn thổ đinh, bảo đinh, với tư cách là những dân binh được luyện tập theo mùa. Vì vậy, tuy số quân thường trực trong thành Khâm không đông, nhưng khả năng huy động của Tống lại khá lớn, nên muốn thắng dễ dàng, quân Lý phải đánh rất bất ngờ, khiến quân Tống không kịp tổ chức động đinh và dân binh chống lại.
--------------------------
40 41 Lĩnh ngoại đại đáp.

42 Hoàng Xuân Hãn, trong Lý Thường Kiệt, đã đưa ra những tờ dụ của vua Tống nhắc nhở bọn quan lại địa phương về việc này. Một trí thức thời Tống, vì bất mãn cũng nhận cung cấp tin tức cho ta.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 24 Tháng Mười Hai, 2011, 07:26:13 pm
Thành Liêm nằm trên cửa sông Nam Lưu, đoạn chảy qua thành cũng gọi là sông Liêm. Sông này đổ ra một vịnh kín làm thành một cửa cảng khá đẹp. Đây chính là thủ phủ quận Hợp Phố thời Hán. Cho đến tận thế kỷ X, Liêm Châu vẫn còn là một trường buôn bán lớn và trung tâm đối ngoại của Trung Quốc với các nước phương nam hải ngoại. Nhưng sang thế kỷ XI, Khâm Châu đã lấn át dần vị trí của Liêm Châu, đặc biệt trong quan hệ với nước ta. Tuy nhiên, với thành lũy kiên cố, bố trí lực lượng lực lượng còn mạnh, lại quan hệ chặt chẽ với Khâm, nên mặc dầu trong chiến dịch đổ bộ lần này, cảng Khâm là mục tiêu quan trọng hơn, nhưng việc quân Lý đổ bộ vào cảng Liêm là một thủ đoạn chiến thuật tất yếu.

Tình hình chung của hai cảng này có thể tóm lại trong mấy dòng ghi chép của Chu Khứ Phi: “Khâm, Liêm đều gọi là nơi cực biên, cách cõi nước An Nam không xa. Ngày trước thuyền bè của An Nam đến nhiều ở Liêm, sau vì thuyền đắm mới lại đi đến Khâm. Nay Liêm Châu không cai quản các khê động, mà còn kiêm chức sự khê động là vì phòng bị An Nam mà thôi. Phía tây Liêm là Khâm phía tây Khâm là An Nam. Người Giao mà đến, đại để thường dùng thuyền nhỏ. Đã vào cảng thì theo dọc bờ mà đi không đầy nửa dặm thì đến ngay cảng của Khâm. Nếu đến Liêm tất phải qua cảng Khâm, trong lúc sang ngang dòng nước, sóng gió nhiều khi dữ. Người Giao từ châu Vĩnh An ở cõi nước ấy đi đến Khâm, sáng đi thì tối đến. Ở cửa cảng có đặt trại Đề Trạo để những cõi gần nào có thuyền biển sang thì tiết chế. Một ti tuần kiểm ở Duyên Hải đón và đưa thuyền ấy. Đó là cách phòng bị ở đường biển ấy. Còn trong đất liền có bảy động, ở động Như Tích có đặt đồn trú để giữ vững bờ cõi của ta”43.

Như vậy, khả năng phòng thủ của quân Tống không phải là vấn đề gay cấn lắm cho quân độ bộ Lý. Vấn đề quan trọng hơn là phải chiếm cảng một cách hết sức bất ngờ, nhanh gọn để từ đó phát triển lên Ung Châu mà quân Tống không kịp đối phó.
----------------------
43 Lĩnh ngoại đại đáp.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 24 Tháng Mười Hai, 2011, 07:35:55 pm
Khoảng tháng 11 năm 1075, đại quân ta tập kết ở Vĩnh An. Quân Tống có biết việc này và cấp báo về Quế Châu: “Người Giao Chỉ họp quân thủy ở Triều Dương (tức Vĩnh An – T.G.), sắp sửa đi lại hai đường vào cướp”44. Chu Khứ Phi còn cho biết, trước khi đánh Khâm, dường như ta có tung tin khiến cho địch hoang mang không hiểu thực hư thế nào: “Trước đó có người Giao Chỉ bảo người Khâm rằng: “nước ta sẽ đánh úp lấy châu của nhà ngươi đấy”45. Nhưng rõ ràng là quân Tống vẫn hết sức bất ngờ. Bất ngờ ở chỗ quân ta đã đánh nhanh hơn chúng dự đoán và có lẽ chúng cũng không ngờ quân thủy Lý dám thực hiện cuộc chuyển quân rất lớn (với khoảng năm vạn quân) vượt biển trong mùa gió ngược, lại là tháng gió rất nhiều và mạnh nhất. Ngày 30 tháng 12, cảng Khâm bị chiếm, vậy mà tờ cấp báo nói trên đúng nửa tháng sau mới tới Quế Châu! (Từ Ung đến Quế không quá 300 ki-lô-mét đường chim bay).

Tài liệu mô tả chi tiết trận này rất thiếu, nhưng qua lời kể lại của dân gian mà Chu Khứ Phi ghi lại sau đó đúng một thế kỷ, thì quân thủy Lý đã đổ bộ rất thành công mà nguyên nhân chính là đạt được yếu tố bất ngờ: “Thuyền của người Giao vào cõi rất nhanh, Vĩnh Thái (tức Trần Vĩnh Thái, quan coi Khâm Châu lúc bấy giờ - T.G) đang yến ẩm trong màn. Có người nói họ (tức quân Lý – T.G) đã đến thành. Vĩnh Thái không tin. Quân Giao Chỉ vào thành, bèn tóm được ngay thừa chế (tức Vĩnh Thái – T.G.) cùng các quan thuộc hạ ở dinh”46.

(http://img215.imageshack.us/img215/5141/danhungchau.jpg)
Lý Thường Kiệt đổ bộ Khâm, Liêm

Ba ngày sau (2-1-1076), quân ta đổ bộ chiếm nốt cảng Liêm. Ở Liêm, quân Lý bắt 8.000 thổ đinh chuyển lương thực, của cải thu được trong thành xuống thuyền chở đi rồi từ đó mở rộng về phía đông-bắc, phá thành Bạch, thành Dung và nhiều thành khác nữa, làm tê liệt hoàn toàn mọi phản ứng của quân Tống ở khu vực này, tạo điều kiện cho đại quân từ Khâm tiến lên bao vây thành Ung đã bị cô lập. Nhắc đến hai trận này, Trương Phương Bình đã phải thú nhận: “Khi chiến hạm chúng tới bờ bến ta, đại quân chúng tới sát thành ta, không khác gì vào chỗ không ngưòi”47.
-----------------------------
44 Trường Biên, quyển 270, tờ 5a. Theo Hoàng Xuân Hãn, Sách đã dẫn, tr. 187.

45, 46 Lĩnh ngoại đại đáp.

47 Trường biên, theo Hoàng Xuân Hãn, sách đã dẫn, tr. 259.



Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 24 Tháng Mười Hai, 2011, 07:42:23 pm
Như vậy, quân thủy Lý đã chia làm hai bộ phận: một bộ phận đổ bộ chiếm cảng Khâm, sau đó tiến lên phía bắc hợp với quân bộ của các thủ lĩnh miền núi từ biên giới phía tây tiến vào, bao vây hạ thành Ung, giải quyết mục tiêu chiến dịch. Bộ phận quân thủy này do Lý Thường Kiệt trực tiếp chỉ huy, là nòng cốt của chiến dịch. Bộ phận quân thủy thứ hai, có lẽ do tướng Lý Kế Nguyên chỉ huy, có nhiệm vụ đánh chiếm cảng Liêm và phá hủy toàn bộ hệ thống phòng thủ của quân Tống ở vùng ven biển phía đông Quảng Đông, không cho quân Tống ở vùng này chi viện cho thành Ung. Nhờ đổ bộ bất ngờ, quân ta đã giành thắng lợi rất nhanh. Chỉ trong khoảng gần 20 ngày, quân ta đã tiến đến vây chặt thành Ung và sau hơn 40 ngày công phá, quân ta đã triệt hạ thành này, tiêu diệt toàn bộ đạo quân tiếp viện của Trương Thủ Tiết từ Quế Châu kéo xuống, giải quyết triệt để các mục tiêu mà chiến dịch đề ra. Tháng 3 năm đó, có lẽ cũng xuất phát từ cảng Khâm, Liêm, những thuyền chiến căng buồm no gió lại đưa đội quân chiến thắng trở về.

(http://img508.imageshack.us/img508/4172/phaungchau.jpg)
Phá Ung châu

Thắng lợi của toàn bộ cuộc chiến, có thể nói, được mở ra từ những trận đổ bộ bất ngờ ở hai cảng Khâm, Liêm. Đầu cầu và bàn đạp của Tống ngay lập tức trở thành căn cứ bàn đạp và cầu chuyển quân của ta tỏa đi chiếm cả vùng duyên hải phía đông-nam Lưỡng Quảng và tiến lên phía bắc vây Ung Châu. Toàn bộ hậu cần cho đạo quân hàng chục vạn người vây Ung Châu trong vòng hơn 40 ngày tất phải lấy từ các kho lương của những thành vừa chiếm được, chủ yếu do thắng lợi của hai cánh quân thủy đổ bộ vào cảng Khâm, Liêm mang lại. Quân ta ở thành Ung cũng chỉ giành được thắng lợi trong tình huống quân Tống ở các mặt đông và nam thành này đã bị quân đổ bộ tiêu diệt. Những thành lũy đó, lẽ ra phải chi viện cho Ung Châu, thì chính quân đổ bộ đã biến chúng thành nơi chi viện cho quân Lý vây đánh Ung Châu. Chỉ có thể bằng đổ bộ đường thủy, quân ta mới nhanh chóng tập trung quân, tạo thế bất ngờ đối với quân Tống, nhờ vậy luôn áp đảo tiêu diệt chúng. Những trận đổ bộ vào hai cảng Khâm, Liêm, chứng tỏ khả năng rất lớn của quân thủy Lý trong vận chuyển đổ bộ. Thắng lợi giòn giã của những trận đó là một kiểu mẫu trong nghệ thuật đổ bộ đường biển của lịch sử quân thủy nước ta.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 25 Tháng Mười Hai, 2011, 06:12:31 pm
QUÂN THỦY TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG TỐNG NĂM 1077

Về hình thức bề ngoài, nhà Tống cố làm cho việc viễn chinh đánh nước ta lần này có vẻ như một đòn trừng phạt, trả thù sau chiến dịch đại phá Ung, Khâm, Liêm của quân Lý năm 1075. Nhưng thực chất đó là một hành động tiếp theo của những âm mưu xâm lược đã được chuẩn bị từ trước, mà chính việc xây dựng Ung, Khâm, Liêm thành những bàn đạp tiến công là một trong những âm mưu đó. Có điều đáng chú ý là quân Lý đã đặt vua tôi nhà Tống vào một tình thế hết sức bị động. Sự bị động này đã tạo ra những chỗ yếu rất căn bản cho đội quân viễn chinh Tống và vì vậy, quân ta có thể thực hiện một chiến lược chống Tống có hiệu quả. Đó cũng chính là ý nghĩa sâu xa của chiến dịch đánh sang đất Tống năm 1075.

Ngay khi quân ta đang vây Ung Châu, nhà Tống đã vội vã tổ chức một đội quân, không phải để cứu Ung Châu, mà như lời Tống Thần Tôn dặn Quách Quỳ: “Sau khi bình Giao Châu, sẽ đặt châu huyện như nội địa”. Qua mấy lần thay binh đổi tướng, ngày 9-3-1076, bộ khung của An Nam hành doanh đã chính thức hình thành, do Quách Quỳ làm chánh, Triệu Tiệt làm phó, chủ yếu coi việc quân lương, Yên Đạt làm phó đô tổng quản cùng Quách Quỳ lo việc chiến trận. Lúc này, Tống đang phải đối phó với quân Liêu, Hạ ỏ phía Bắc, quân tinh nhuệ dồn cả ở đó. Nhưng để chắc thắng trong cuộc nam chinh lần này, nhà Tống hoàn toàn ưu tiên cho Quách Quỳ những đơn vị tinh nhuệ nhất nước Tống lúc đó. Trong tình thế hoàn toàn bị động, Quách Quỳ đã chọn chín tướng48 tinh nhuệ nhất, đã từng cùng y khiến quân Liêu, Hạ khiếp nhược trên chiến trường phía bắc, làm nòng cốt cho đội quân nam chinh. Ngoài 9 tướng nói trên, Quách Quỳ đã mộ thêm quân ở các tỉnh phía bắc và một số quận ở miền nam, tổng cộng lên đến 10 vạn quân (trong đó 1 vạn quân kỵ). Ngoài ra, để phục dịch cho đạo quân này, nhà Tống phải huy động khoảng gần 30 vạn dân đinh khuân vác. Phải thừa nhận rằng, trong tình hình đất nước lúc đó, xây dựng một đội quân nam chinh như vậy là nỗ lực to lớn của nhà Tống. Rõ ràng vua tôi nhà Tống đã đặt vào đây nhiều hy vọng.

Nhưng nhà Tống ra quân đã phạm sai lầm căn bản. Chính đám mưu thần Tống đã phát hiện rất chính xác và rất sớm sai lầm đó. Nhưng trong tình thế vội vã, bị động, nhà Tống không thể có cách nào khắc phục. Hình mẫu xây dựng đội quân xâm lược của Quách Quỳ rõ ràng là hình mẫu truyền thống của quân Tống đương thời. Đó là đội quân của sông Hoàng mà từ gần một thế kỷ nay, do sức ép thường xuyên của Liêu, Hạ (những quốc gia du mục phía bắc), đã phải đặt chiến lược của nó cả về tổ chức biên chế cũng như nghệ thuật tác chiến theo khuynh hướng lấy đánh bộ là chính, trong đó kỵ binh được đặc biệt chú ý. Đối tượng tác chiến quen thuộc của nó là đội quân kỵ bộ rất mạnh của Liêu, Hạ; địa hình, khí hậu quen thuộc lại là miền thảo nguyên khô, lạnh. Thống kê tiểu sử tóm tắt của những viên tướng Tống tham gia cuộc viễn chinh này được ghi lại trong phần Liệt truyện của Tống sử, ta có thể thấy hầu hết chúng đều sinh ra ở các tỉnh phía bắc và trưởng thành trong trận mạc chống Liêu, Hạ. Vì vậy, cái nóng nực, ẩm thấp của phương nam, sự mệt mỏi của cuộc hành quân gần vạn dặm, và đặc biệt, địa hình tác chiến dày đặc sông ngòi, đối tượng tác chiến là đội quân rất giỏi đánh thủy, đã khiến cái mạnh trong hình mẫu quân đội Tống xâm lược ngày càng tiêu tan trên chiến trường Đại Việt.
-----------------------
48 Tướng là một đơn vị quân đội thời Tống, gồm 5.000 người.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 25 Tháng Mười Hai, 2011, 06:23:24 pm
Một số mưu thần đã bày cách cho vua Tống khắc phục nhược điểm căn bản này, có phần xác đáng là ý kiến của Trương Phương Bình, trong đó y nhấn mạnh những bất lợi nói trên và kiến nghị dùng quân phương nam, ngựa phương nam là chính trong cuộc viễn chinh này49. Tuy nhiên, đề nghị đó của quân sư họ Trương không thể nào được vua Tống chấp nhận. Lý lẽ rất đơn giản là đề nghị đó không có cơ sở thực tế. Đối với nhà Tống lúc này (Bắc Tống), bộ máy quân sự ở miền nam sông Dương Tử tương đối yếu ớt. Chỉ cần xem khả năng chống chọi của quân Tống ở vùng này với cuộc nổi dậy của Nùng Trí Cao trước đó hơn hai chục năm cũng đủ rõ sự yếu đuổi đó, đến nỗi phải nhờ quân của Địch Thanh từ miền bắc xuống, chờ sai lầm của họ Nùng khi tung lực lượng ra thi thố đánh bộ với Địch Thanh ở một vùng đồng bằng có lợi cho kỵ binh thì quân Tống mới tạm giành thắng lợi. Hơn nữa, toàn bộ khu bàn đạp cũng như như những chốt bàn đạp cụ thể ở Lưỡng Quảng đều đã bị quân Lý phá sạch, đến nỗi nhà Tống chẳng những không thể dựa vào mà còn phải tốn rất nhiều tiền của để mong phục hồi trở lại, với hy vọng chỉ cần đảm bảo cho sự “đi qua” của đội quân nam chinh. Vì vậy, cuối cùng đội quân bất hợp lý đó vẫn phải đảm đương trọng trách nam chinh với những khắc phục rất cố gắng của triều đình nhà Tống về mặt thuốc men, tiền thưởng và những lời động viên.

Tuy nhiên, có một cố gắng lớn nhằm khắc phục những nhược điểm nói trên của quân Tống đáng được quan tâm. Đó là việc xây dựng cấp tốc một đội thuyền chiến như một cánh quân độc lập, theo đường biển tiến vào hỗ trợ cho quân bộ. Có thể nói đây là cố gắng duy nhất quân Tống đạt được, mà về lý thuyết, có thể giúp mang lại hiệu quả trong cuộc chiến tranh này. Thực tế diễn biến chiến tranh chứng tỏ rằng, đạo quân thủy ấy đã trở nên vô cùng cần thiết cho quân Tống trên chiến tuyến sông Cầu.

Ban đầu, mục đích xây dựng đội thuyền chiến này chỉ nhằm vượt biển xuống Chiêm Thành, Chân Lạp để xúi bẩy hai nước này đem quân phối hợp đánh Đại Việt từ phía nam lên. Nhưng khi nhận ra nhược điểm của quân bộ thì quân tướng nhà Tống càng thấy rõ vị trí chiến lược của đạo quân thủy này: “Trên đường bộ, tiến binh đến kinh thành giặc còn bị cách sông lớn. Người Giao lại giỏi thủy chiến. Sợ rằng thuyền giặc giữ các chỗ hiểm, đại binh ta khó lòng qua được. Rồi đêm đến, giặc xông tới đánh thì việc ta hỏng mất… Vậy xin hạ lệnh cho các ty kinh lược, chuyển vận Quảng Đông phải tuyển thủy binh, chọn những người dũng cảm rồi dạy thủy chiến cho chúng. Sau này sẽ từ Quảng Châu theo bờ bể, chỉ tiến tới Liêm, Khâm, rồi đậu thuyền ở đó đợi. Lúc nào đại binh tiến sẽ hẹn ngày sai thủy quân cùng vào Giao Châu đánh giặc. Thủy quân sẽ tách ra một phần thuyền ghé vào bờ bắc sông để chở đại quân sang”50.
-------------------------
49 Hoàng Xuân Hãn, sách đã dẫn, tr. 258 có tóm dịch những đoạn căn bản bài sớ khá dài của Trương Phương Bình.

50 Trường Biên, quyển 276, tờ 10a. Theo Hoàng Xuân Hãn, sách đã dẫn, tr. 250.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 25 Tháng Mười Hai, 2011, 06:31:36 pm
Phải nói rằng, bọn quân sư Tống dự đoán khá chính xác diễn biến cuộc chiến. Nhưng, việc xây dựng một đội quân thủy đủ mạnh để thực hiện những nhiệm vụ đó lại không phải là việc dễ dàng. Như đã biết, quân đội thời Bắc Tống hầu như không hề có quân thủy, chứ chưa nói đến một truyền thống đánh thủy. Theo Triệu Bổ Chi thì quân Tống rất sợ sóng gió: “Hoặc Giao Chỉ chạy ra biển, theo thì quân Tống nhát sóng, hơi có gió đã sợ rồi, không biết liệu sẽ đánh đấm ra làm sao?”51.

Quân Tống chỉ có quân thủy khi nhà Tống buộc phải rời đô xuống phía nam lập ra triều Nam Tống ở lưu vực sông Dương Tử. Vì vậy, khi cuộc nam chinh đặt ra vấn đề quân thủy thì vua tôi nhà Tống hết sức lúng túng, cả trong việc chọn tướng lẫn việc sắm sửa chiến thuyền, đến nỗi giữa năm 1076, khi đạo quân bộ của Quách Quỳ đã vượt hàng ngàn ki-lô-mét từ miền bắc xuống đến tận Quế Châu, thủ phủ Quảng Tây bây giờ, thì quân thủy Tống vẫn chưa có một chiếc thuyền nào. Thậm chí triều đình Tống vẫn chưa chọn dứt khoát được kế sách đánh thủy cũng như tướng cầm quân.

(http://img835.imageshack.us/img835/7885/thuyentong.jpg)
Chiến thuyền thời Tống

Có lẽ trong khoảng những tháng cuối năm 1076, tức là chỉ vài tháng trước khi quân Tống chính thức tràn qua biên giới nước ta, đội quân thủy Tống mới tạm ra mắt, do Dương Tùng Tiên, kẻ chủ trương kế sách dùng quân thủy vượt biển vào Chiêm Thành vốn đã bị triều đình Tống gạt bỏ, làm Chiến trạo đô giám, và Tô Tử Nguyên (con Tô Giám), kẻ chủ trương đem thuyền vào hỗ trợ cho quân thủy vượt sông mà triều đình Tống đã chính thức chấp nhận, làm phó. Người chánh phải thực hiện ý của kẻ phó, hơn nữa vì không có sẵn thuyền chiến, Tô Tử Nguyên phải vơ vét những thuyền vận tải, thuyền đánh cá ở ven biển đông-nam Trung Quốc dùng làm thuyền chiến và bắt dân chài làm lính thủy, khiến cho đạo quân thủy đó chỉ là một bộ khung yếu ớt. Đứng trước quân thủy Đại Việt, quân thủy Tống càng trở nên vô cùng kém cỏi, làm sao có thể thực hiện được trọng trách của nó! Điều này càng làm lộ rõ tính chất bị động của Tống trong lần xâm lược này.
-----------------------
51 Hoàng Xuân Hãn, sách đã dẫn, tr. 257.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 25 Tháng Mười Hai, 2011, 06:41:02 pm
*

Đoán trước được phản ứng của nhà Tống, ngay khi rút quân khỏi Lưỡng Quảng, Lý Thường Kiệt đã bí mật gài lại rất nhiều người của ta để tình báo mọi hoạt động của quân Tống. Ví dụ ở Ung Châu, có hàng trăm nhà sư là người của ta đóng giả hành đạo. Ở các châu ven biển, quân ta giả làm con buôn, dân chài, mượn cớ buôn bán, làm ăn để thâm nhập. Ngoài ra, nhà Lý còn tranh thủ được một số quan lại, trí thức, nhà buôn bất mãn làm tai mắt cho ta, như Từ Bá Tường, kẻ đã từng cung cấp nhiều tin tức quan trọng cho ta trong chiến dịch đánh Ung Châu năm trước, nay vẫn chưa bị lộ, lại được Tống giao làm chức tuần kiểm dọc suốt ven biển Khâm, Liêm, Bạch. Các hoạt động do thám này mạnh đến nỗi ngày 12-4-1076, vua Tống phải xuống chiếu hô hào: “Ta nghe nói Giao Chỉ sai nhiều kẻ gian tới do thám Lưỡng Quảng. Vậy các chỉ huy, các tướng phải coi chừng. Đừng để nó dò được phép công thủ của ta”.

Tuy nhiên, Lý Thường Kiệt vẫn nắm được chính xác kế hoạch xâm lược của Tống. Một mặt, ông tăng cường huấn luyện khả năng đánh bộ của quân đội, trong đó chủ trương khai thác sở trường đánh bộ của các đội quân miền núi, nhưng mặt khác, chủ yếu hơn, ông đã quyết định chọn chiến lược đánh Tống bằng quân thủy, bằng chiến trường sông nước.

Trong tình hình giao thông thời này cũng như những tin tức tình báo nắm được quân ta dễ dàng xác định đúng hướng tiến quân của Tống đó là con đường từ thành Ung tiến vào các cửa quan phía đông-bắc nước ta, còn quân thủy tất không còn con đường nào khác là con đường từ Khâm, Liêm men theo đường biển vào cửa sông Bạch Đằng. Vì vậy, Lý Thường Kiệt đã chia quân thành hai tuyến phòng thủ trong một hệ thống phòng thủ liên hoàn: phòng thủ từ xaphòng tuyến chiến lược. Trên hướng chặn đánh quân bộ Tống, lực lượng chính của cuộc xâm lược, thì tuyến phòng thủ từ xa là chặn các cửa ải, các đường độc đạo trên miền rừng núi phía đông-bắc. Toàn bộ quân đội của các tù trưởng miền núi mà nhà Lý đã đoàn kết được như Lưu Kỷ, Thân Cảnh Phúc, Hoàng Kim Mãn, Vi Thủ An… chia nhau chốt giữ tuyến phòng thủ này. Trên hướng chặn đánh quân thủy Tống, tuyến phòng thủ nữa được chuẩn bị ở ngay cửa con đường biển từ Trung Quốc vào nước ta, khoảng vùng biển Móng Cái hiện nay. Nhiệm vụ này được giao cho đội quân của Hành quân chiêu thảo sứ Lý Kế Nguyên, viên tướng thủy lão luyện đã từng tham gia chỉ huy cuộc vượt biển độ bộ lên cảng Khâm, Liêm năm 107552.
-------------------------
52 Về Lý Kế Nguyên, có thể tham khảo Hoàng Xuân Hãn, sách đã dẫn, tr. 290, chú thích 7.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 25 Tháng Mười Hai, 2011, 06:53:15 pm
Dự đoán điểm hội quân của cả quân bộ lẫn quân thủy Tống không đâu khác là bờ bắc sông Cầu, lúc này còn là một con sông rất lớn, nhận nước của sông Hồng qua sông Cà Lồ (xem bản đồ Hồng Đức). Lý Thường Kiệt thân chinh chỉ huy đại quân xây dựng một hệ thống phòng thủ kết hợp thủy bộ rất kiên cố ở bờ nam sông này. Đó chính là tuyến phòng thủ chiến lược đối phó với quân Tống khi chúng có thể vượt được hai tuyến phòng thủ từ xa.Về mặt hình thức, tuyến phòng thủ này nổi lên như một chủ trương dùng đánh bộ để chống Tống, với hệ thống lũy đất dài, có nhiều dãy cọc làm rào rộng hàng trăm mét trước mặt lũy đất, nhất là với đại đội quân bộ dàn trận chờ sẵn sau lũy… Nhưng, thực chất Lý Thường Kiệt đã khéo léo tạo ra một thế trận phòng thủ, bắt quân Tống phải tiếp nhận với ta chiến lược đánh thủy, nhằm buộc đạo quân kỵ bộ Tống vào thế bất lợi mà chúng lo sợ nhất. Chiến lược đó cho phép phát huy sở trường của ta, bắt quân Tống đánh theo cách đánh của ta, không phải bằng sở trường, mà lại bằng chính cái sở đoản của chúng, đặt quân Tống vào tình thế phải tác chiến trên mặt sông trước khi có thể thi thố tài nghệ đánh bộ. Vì vậy, tính chất đánh thủy sẽ nổi lên rất rõ trong hoạt động của cả hai bên, trên chiến tuyến này.

Để quân Tống bó tay trước sông lớn, Lý Thường Kiệt đã cho nhân dân bên bờ bắc sơ tán hết sang bờ nam, không để lại một chiếc thuyền nào, trái lại quân ta dàn thuyền dày đặc bên bờ nam sẵn sàng đánh địch vượt sông. An Nam chí lược chép rằng quân ta bày 300 thuyền chiến ở bờ nam. Khả năng vượt sông duy nhất của Tống là đợi quân thủy của Dương Tùng Tiên vào hoặc phải tự tạo ra những phương tiện vượt sông đơn giản trong thời gian rất ngắn. Quyết buộc quân Tống vào một tình thế hoàn toàn bó tay, Lý Thường Kiệt chẳng những cử đạo quân thủy mạnh do chính phó tướng Lý Kế Nguyên chỉ huy lên tận vùng hải giới chặn quân thủy Tống, mà còn thận trọng xây dựng một chốt quân thủy rất lớn ở Vạn Xuân (Lục Đầu). Chốt quân thủy này gồm khoảng 500 thuyền chiến do hai thái tử Hoằng Chân và Chiêu Văn chỉ huy.

Vạn Xuân chính là điểm cuối cùng của sông Cầu gặp gỡ ba con sông khác là sông Thương, sông Lục Nam đổ từ phía bắc xuống và sông Đuống từ tây-nam vào, rồi từ đây lại chia nước ra biển theo hai dòng là sông Thái Bình và sông Kinh Thầy. Lục Đầu là chỗ hội tụ của sáu con sông ấy. Đoạn này khá rộng, lại nhiều bến đậu tốt, có thể từ đây tỏa đi bốn phương, và cũng vì thế mà chốt ở đây cũng bịt được một đầu mối giao thông quan trọng, đặc biệt có ý nghĩa trong việc chặn các hướng chính từ Trung Quốc vào nước ta đương thời. Trong lịch sử nước ta, có thể nói đây là lần đầu tiên chốt quân thủy được đặt ở Lục Đầu. Suốt trong thời Trần sau đó, nơi đây luôn là một căn cứ quân sự chiến lược, không những chỉ với quân ta, mà cả với quân Nguyên. Chính Trần Hưng Đạo đã trực tiếp trông coi vùng này như một lãnh địa riêng và cùng với các con mình xây dựng vùng này thành một căn cứ quân sự quan trọng vào bậc nhất trong lịch sử chống Mông Nguyên. Lý Thường Kiệt chính là người có công phát hiện ra vị trí chiến lược của đoạn sông này.

Nằm trong ý đồ chung, đội quân thủy ở Vạn Xuân có hai nhiệm vụ chính: một là, hỗ trợ quân ta ở lũy sông Cầu đánh địch khi chúng vượt sông và đổ bộ tập kích địch bên bờ bắc trong trường hợp cần thiết; hai là, chặn không cho quân thủy Tống vào tiếp ứng quân bộ vượt sông, nếu chúng lọt qua tuyến phòng ngự của quân thủy Lý Kế Nguyên. Như vậy, có thể hình dung chốt Vạn Xuân còn có ý nghĩa như một phòng tuyến thứ hai về mặt đường thủy, cũng như hào lũy sông Cầu là phòng tuyến thứ hai của tuyến phòng thủ đường bộ. Thiên tài của Lý Thường Kiệt chính là ở chỗ ông đã khéo léo kết hợp hai tuyến phòng thủ thủy, bộ “thứ hai” ấy thành một hệ thống liên hoàn, nhằm vào đối tượng chính của cuộc kháng chiến là quân bộ Tống.

Chúng ta đã nói đến sự phán đoán khá chính xác của bọn quân sư nhà Tống về khả năng quân bộ Tống bị quân thủy ta chặn lại khi chúng gặp sông lớn. Không tiến được, bị cầm chân lâu trên đất ta thì những khó khăn về cung cấp lương thảo, bệnh tật, tinh thần của quân Tống sẽ ngày càng lớn. Cố gắng duy nhất mà nhà Tống đạt được hòng khắc phục tình trạng đó chính là đội thuyền chiến của Dương Tùng Tiên. Nhưng rõ ràng có một điều mà không một mưu thần Tống nào có thể nhận ra được, đó là khả năng quân ta biến cái “cố gắng duy nhất” ấy trở thành hoàn toàn vô dụng và bằng một thế phòng thủ rất chặt chẽ, kiên cố, buộc quân bộ Tống vào tình thế khó khăn nhất, ngoài dự kiến của chúng.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 26 Tháng Mười Hai, 2011, 07:39:38 pm
*

Trận đánh đầu tiên của Tống để chuẩn bị cho cuộc viễn chinh lần này bắt đầu tính từ trận tập kích của quân Tống vào trại Ngọc Sơn (nay là khu vực Trà Cổ) khoảng trung tuần tháng 6 năm 1076. Chiếm Ngọc Sơn, quân Tống hòng ngăn chặn một cuộc đột kích đường biển của quân ta như năm 1075, đồng thời làm chỗ dựa cho quân thủy Tống tiến vào.

Đầu tháng 10, đại quân Tống đóng ở Tư Minh. Sau một loạt trận ở biên giới như Quảng Nguyên, Quyết Lý, Tô Mậu, Đâu Đinh… quân Tống vượt qua được phòng tuyến biên giới, tràn xuống đồng bằng, sau khi đã phải trả một giá khá đắt. Khoảng những ngày đầu năm 1077, quân Tống tụ lại trên bờ bắc sông Cầu. Sông lớn, không có thuyền, lại thấy quân ta rào lũy, chiến thuyền bày sẵn bên bờ nam, quân Tống buộc phải dừng lại lập đồn trại chờ quân thủy vào hỗ trợ, vượt sông theo kế hoạch đã định. Từ đây, quân Tống bị đặt vào tình thế một cuộc chiến tranh trên mặt nước. Kế hoạch của chúng thật mỏng manh, vì cho dù có cánh, đám quân thủy Tống cũng không thể vượt qua được phòng tuyến của đội quân thủy thiện chiến Lý Kế Nguyên và chốt quân thủy vững chắc của Hoằng Chân, Chiêu Văn. Trước tình hình đó, quân Tống chỉ có hai phương sách: chờ thuyền một cách tuyệt vọng để thời gian và khí hậu ngày càng khoét sâu những nhược điểm vốn có, hoặc vượt sông với hai bàn tay trắng trong khi quân thủy ta làm chủ mặt sông. Đây là hai vấn đề lớn nhất đã chi phối mọi hoạt động của quân Tống trong thời gian hơn 40 ngày chết dí ở bờ bắc sông Cầu.

Trên hướng phòng thủ đường biển, quân thủy Lý Kế Nguyên, có lẽ cũng như quân thủy của Trần Khánh Dư năm 1287, đã đặt căn cứ ở vùng đảo Vân Đồn. Đường biển từ Trung Quốc vào nước ta từ xưa thuận tiện nhất vẫn là con lạch thiên tạo nhờ những đảo đá đã chạy dài dài song song với bờ biển suốt từ Ngọc Sơn qua Vân Đồn vào vịnh An Bang (vùng biển Quảng Yên). Từ đây, có mấy cửa sông vào trung tâm đất nước thời đó là đồng bằng sông Hồng, trong đó con đường thuận tiện nhất là theo cửa sông Bạch Đằng lên Lục Đầu rồi tỏa đi các nơi. Với ý chí kiên quyết không để quân thủy Tống lọt vào đất ta bằng bất cứ cửa biển nào, với lòng tự tin về sức mạnh hơn hẳn của quân thủy ta, Lý Kế Nguyên đã không tổ chức chặn giặc ở cửa sông Bạch Đằng và Lê Hoàn trước đó, mà đem chiến thuyền chặn giặc tận ngoài hải giới. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, quân thủy nước ta tổ chức chặn đánh quân thủy xâm lược ngay trên đường biển.

Theo sử sách Tống ghi lại thì hơn 10 cuộc đụng độ đã diễn ra trên mặt trận đường biển. Đáng tiếc, không có tài liệu nào ghi chép tỉ mỉ về diễn biến của các trận đánh đó. Vua Tống nhận xét: “Dương Tùng Tiên tuy không giết được nhiều giặc nhưng cũng không đến nỗi thua!”53. Ngày 3-4-1077, viên quan coi Liêm Châu biết khá tường tận tình hình chiến sự trên biển đã tâu lên triều đình, rằng quân Tống thua luôn và thương vong nhiều. Chính Dương Tùng Tiên, cũng vào khoảng tháng ba, tháng tư năm ấy, trong một tờ trình gửi về đất liền đã tự thú nhận đánh không nổi quân ta, thậm chí còn sợ quân thủy ta đánh vào đất liền nữa. Dương viết: “Vừa rồi, tôi gặp quân liên lạc của giặc mang lệnh của viên hành quân chiêu thảo sứ bên giặc là Lý Kế Nguyên. Sau đó nhiều lần tôi đánh chúng, nhưng chúng không có ý khuất phục. Vậy xin hãy ra lệnh phòng bị nghiêm ngặt ở biên giới để tránh sự bất ngờ”54.

Bất lực trước phòng tuyến trên biển kiên cường của quân thủy Lý, bọn Dương Tùng Tiên chỉ còn cách luẩn quẩn ở ven biển Khâm Châu, Vĩnh An chờ kết thúc chiến tranh và cố cắt ra một tốp binh thuyền nhỏ, giao cho hai viên hiệu dụng là Phàn Thực và Hoàng Tông Khánh liều mạng vòng ra ngoài khơi, vượt biển vào Chiêm Thành, thực hiện cái mưu mẹo cũ kỹ và bị vứt bỏ của họ Dương.

Như vậy bằng cách đập tan kế hoạch dùng thuyền vượt sông của quân Tống, quân thủy Lý Kế Nguyên đã góp phần trực tiếp bảo đảm thắng lợi của quân ta trên phòng tuyến sông Cầu. Muốn tiếp tục chiến tranh, quân Tống buộc phải chấp nhận một cuộc chiến đấu trên mặt nước trong tình thế hoàn toàn bất lợi cho chúng.
--------------------------
53 Trường Biên, quyển 288 tờ 6a, theo Hoàng Xuân Hãn, sách đã dẫn, tr. 305.

54 Trường Biên, quyển 281 tờ 2a, theo Hoàng Xuân Hãn, sách đã dẫn, tr. 290, chú thích 7.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 26 Tháng Mười Hai, 2011, 07:48:20 pm
Trên mặt trận sông Cầu, sử sách cho biết quân Tống có hai lần tổ chức vượt sông sang bờ nam và cả hai lần đều thất bại. Hoạt động của quân Lý chủ yếu là chặn đánh không cho quân Tống vượt sông, vượt lũy và thỉnh thoảng đổ bộ sang bờ bắc quấy rồi, tiêu diệt quân Tống chờ thời cơ tổng công kích. Trận đổ bộ của quân Lý sang bờ bắc ở mé núi Nham Biền và bến đò Như Nguyên là một trận có tính chất quyết chiến chiến lược, tác động đến chiều hướng diễn biến chiến tranh55. Trong tất cả những hoạt động đó, tính chất thủy chiến rất rõ ràng, quân thủy luôn đóng vai trò to lớn và trở thành yếu tố quyết định thành bại cho cả hai bên.

QUÂN TỐNG VƯỢT SÔNG LẦN THỨ NHẤT

Trận đụng độ lớn đầu tiên xảy ra vào khoảng hạ tuần tháng giêng năm 1077, ít ngày sau khi quân bộ Tống đã dàn xong đội hình trên bờ bắc sông Cầu. Đồn trại Tống nằm rải dọc theo bờ bắc sông Cầu, từ bến đò Như Nguyệt đến gần sườn phía tây của núi Nham Biền, tức là gần đường số 1 hiện nay, chỗ qua cầu Thị Cầu. Hai đầu hệ thống đồn trại đó trở thành hai cứ điểm tập trung đông nhất, trong đó đại bản doanh của Quách Quỳ và các tướng chỉ huy khác như Triệu Tiết, Yên Đạt cụm lại ở đầu phía đông, trên con đường thiên lý vào Thăng Long lúc đó. Theo Trường Biên (Tục tự trị thông giám Trường Biên, 281/14a), từ đại bản doanh của Quách Quỳ đến bến đò Như Nguyệt khoảng 60 dặm (một dặm Tống bằng 1.800 xích, một xích Tống bằng 30,70 cen-ti-mét. Như vậy khoảng cách này chừng hơn 30 ki-lô-mét). Lúc này, trong quân Tống nổi lên hai xu hướng trái ngược nhau: Quách Quỳ, vốn rụt rè, thận trọng, muốn theo đúng bài bản là tạm dừng quân, dò la tình hình phòng thủ của ta, chờ quân thủy vào phối hợp đánh qua sông. Số đông tướng lĩnh khác sợ thiếu lương, muốn đang thừa thắng, đánh thốc vào Thăng Long kết thúc chiến tranh. Sau ít ngày đắn đo và dò la tình hình ta, lại không thấy tăm hơi quân thủy, Quách Quỳ đồng ý cho Miêu Lý là tướng chỉ huy cụm quân đóng ở bến đò Như Nguyệt bắc, đem một đạo quân kỵ bộ dùng cầu phao vượt sông. Có lẽ, nếu Miêu Lý thành công ở đầu phía đông, Quách Quỳ cũng nhân đà đó mà tung đại quân tràn sang đánh thốc vào Thăng Long.

Theo báo cáo của Miêu Lý với Quách Quỳ: “Giặc đã trốn đi rồi, xin cho quân vượt sông”, và thực tế tình hình khác hẳn, khi tiền quân của Miêu Lý qua đến bờ nam, có thể quân ta ở bến Như Nguyệt nam đã chủ động giấu lực lượng, làm như đã rút quân để nhử quân Tống sang phục binh tiêu diệt. Đó chính là một kiểu phòng thủ tích cực. Với ý định như vậy, quân thủy ta ở bờ nam cũng như ở Vạn Xuân đã làm ngơ mặc cho quân Tống bắc cầu phao qua sông tương đối dễ dàng.

Quân Tống đã xử lý trận này đúng như phương châm mà binh pháp Trung Quốc đã tổng kết: “Hỏi: Đằng trước có sông to, quân ta muốn vượt mà không có thuyền ghe, quân địch chặn mất đường về, quân xích hậu của nó canh luôn, những nơi hiểm trở bị giữ hết, quân dũng sĩ địch đánh cả trước, sau thì ta nên làm thế nào? Trả lời: Thế thì phải chia quân làm ba: tiền quân làm hào cao lũy sâu như là cố thủ, hậu quân tích trữ lương thảo khiến địch không biết ý ta, rồi bất ngờ tung quân tinh nhuệ đánh úp vào chỗ nó không phòng bị. Không cách nào hay hơn thế” (Võ Kinh)56. Chính với sự chỉ dẫn của Hoàng Kim Mãn, một tù trưởng miền núi đã hàng giặc, quân Tống tưởng chừng đã phát hiện được chỗ “không phòng bị” của ta để “bất ngờ” bắc cầu phao tung quân tinh nhuệ sang sông. Nhưng quân Tống đã mắc bẫy.
-------------------------
55 Phan Huy Lê, Bùi Đăng Dũng…, Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1976, tr. 23 – 81.

56 Dẫn theo Binh thư yếu lược, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1970, tr. 217.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 26 Tháng Mười Hai, 2011, 08:01:37 pm
Quân Tống không giỏi về thủy chiến, nhưng lại rất thành thạo trong nghệ thuật bắc cầu phao. Theo tổng kết của binh pháp thời Minh thì cầu phao thời Tống do Phàn Nhược Thủy chế ra, được coi như một phát hiện quan trọng trong phép hành quân đánh bộ. Theo đó, có thể hình dung cầu phao quân Tống sử dụng để vượt sông lúc này làm theo kiểu ghép các bè gỗ với nhau57. Khi cầu phao đã xong, tiền quân Tống do Vương Tiến chỉ huy tràn sang, nhưng vừa đến bờ nam đã bị quân Lý đổ ra vây đánh.

(http://img256.imageshack.us/img256/1769/nhunguyet.jpg)
Tranh vẽ trận đánh quân Tống đổ bộ

Sử Tống có nhắc đến một chi tiết là Vương Tiến sợ quân ta dùng cầu phao vượt sang bờ bắc, nên đã vội vã chặt đứt cầu, khiến hậu quân Miêu Lý không sang được, vì vậy quân Tống mới thua. Nhiều người cũng nhận thấy sự vô lý của cách giải thích này, cũng như cách giải thích của các thất bại của quân “thiên triều” thường thấy trong sử sách Trung Quốc. Cũng đã có người giải thích lại bằng việc Vương Tiến muốn tranh công, tự mình đánh chiếm Thăng Long! Thực ra, Vương Tiến chỉ là một viên tướng nhỏ, lực lượng hắn không đông lắm, làm sao cả gan chặt cầu để một mình chiếm Thăng Long? Vương Tiến là tướng dưới quyền của Miêu Lý, mà bản thân Miêu Lý, trong Liệt truyện của Tống sử cũng vốn chỉ là một tiểu tướng ở phương nam, lúc đó y vẫn là một viên tướng chưa ngoi đến tước tử, một tước thấp trong triều Tống.

Rõ ràng, không có chuyện Vương Tiến phá cầu để tự hãm quân mình và gây khó khăn cho hậu quân, sau đó phải tìm cách sang cứu (chính Miêu Lý được phong tước tử sau đó là nhờ có công cứu Vương Tiến trong trận này).

Theo binh pháp Trung Quốc: “Phàm khi vượt sông, chiến đội phải lên bờ trước, quay ngựa làm phương trận”58 để làm chỗ dựa cho hậu quân tiến sang. Rất có thể do bị quân ta đánh mạnh, bọn Phương Tiến đã không giữ được đầu cầu, để quân thủy ta phá mất, khiến hậu quân của Miêu Lý không sang được. Theo bài bản một trận phục binh thì có lẽ chính quân thủy ta đã cắt đứt cầu phao, nhằm cô lập, tiêu diệt gọn bọn Vương Tiến.

Quân thủy Lý đã tham gia rất tích cực trong trận này. Nếu trước đó quân thủy Lý làm ngơ cho quân Tống bắc cầu phao thì lúc này, sau khi đã cắt được cầu phao làm đứt đội hình địch, lại tiếp tục cản phá hậu quân của Miêu Lý đang dùng bè (có lẽ chính là những đoạn cầu phao còn lại) ào ạt tràn sang cứu bọn tiền quân.

Quân Tống hoàn toàn thất bại trong trận này. Quách Quỳ càng bảo thủ hơn trong chủ trương đợi thuyền, dường như thực tế thất bại của quân Tống trên mặt sông khiến Quách Quỳ càng nhận rõ tính chất đánh thủy của cuộc chiến. Quỳ ra lệnh sẽ chém đầu bất kỳ tướng nào bàn đến một trận vượt sông nữa. Nhưng, sau một thời gian khá lâu án binh bất động, hoạt động quân sự duy nhất chỉ là dùng máy ném đá bắn phá thuyền ta, lương thảo ngày càng thiếu thốn, bệnh dịch ngày càng tăng, quân thủy Tống thì chờ mãi không thấy, lại thêm bị các đội dân binh của Thân Cảnh Phúc luôn luôn đánh phá ở phía sau, đồng thời bị quân thủy ta thường xuyên bất ngờ đột kích, khiêu chiến, Quách Quỳ buộc phải liều mạng, đích thân tổ chức một trận vượt sông nữa, hòng gỡ thế bí.
--------------------------
57 Binh thư yếu lược, sách đã dẫn, tr. 216.

58 Binh thư yếu lược, sách đã dẫn, tr. 226.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 28 Tháng Mười Hai, 2011, 07:43:35 pm
QUÂN TỐNG VƯỢT SÔNG LẦN THỨ HAI

Kế hoạch dùng cầu phao đã thất bại, thuyền vẫn không có, lần này quân Tống dùng bè vượt sông. Quân Tống cũng rất thạo lối vượt sông này. Vũ bị chế thắng chí tổng kết được khá nhiều kiểu bè dùng cho quân bộ vượt sông, như bè sậy, bè chum, bè cán giáo, trong đó bè cán giáo khéo làm có thể chở được tới 500 quân. Cách thức dùng bè vượt sông cũng được dạy chi tiết: “Trước tiên, sai những quân bơi lội giỏi sang bờ bên kia dựng cột to, buộc hai dây lớn căng qua sông… một dây buộc vào bè để người trên bờ kia kéo qua sông, một dây để người trên bè giữ cho nước khỏi làm trôi mất”59. Để chống lại được quân thủy ta tiến công trên sông khi bè chưa vào đến bờ, đồng thời nhanh chóng tạo ra một lực lượng đông, đủ sức chống trả quân ta trên lũy bờ nam, Quách Quỳ ra lệnh đóng những bè gỗ rất lớn, đủ chở mỗi chuyến một đơn vị lính chừng 500 người, ngựa và đầy đủ vũ khí để khi sang đến bờ bên kia có thể chiến đấu được ngay.

(http://img822.imageshack.us/img822/8425/h23begiao.jpg)
Bè giáo

Như vậy, một lần nữa quân Tống lại phải tiếp chiến với quân thủy ta trên mặt sông bằng những chiếc bè kém cơ động. Hoạt động của quân thủy khiến cho quân Tống không dễ dàng nhất loạt đổ bộ, vì vậy, tạo điều kiện cho quân ta ở trên lũy có thể tập trung tiêu diệt từng tốp quân Tống đổ bộ. Hơn nữa, quân Tống không tính đến việc quân thủy ta có thể tiêu diệt và phá hủy những bè gỗ khi chúng đã đổ hết quân,. Quay trở về bờ bắc chở quân tiếp viện, nên nhiều bè đã không về đến bờ bắc. Quân tiếp ứng không sang kịp, quân Tống ở bờ nam trở nên cô lập.

Kế hoạch vượt sông không thuyền lần thứ hai của quân Tống hoàn toàn thất bại. Trận này làm cho quân Tống hết sức chán chường, bế tắc, cả triều đình Tống xôn xao. Qua lời kể của Tô Bình, được anh em họ Trình dẫn lại trong sách của mình, ta có thể hình dung phần nào diễn biến trận đánh: “Quân [Tống] kéo vào đất giặc sâu quá, dùng bè chở 500 quân sang sông, vừa chặt, vừa đốt phá rào trại địch bằng tre mà mấy lần không được, khi chở bè không về đem viện binh sang thì lại bị giặc hợp binh bắt giết. Quân ta không có quân cứu, hoặc chết, hoặc trốn, nên không thành công”60.

Thế trận sông Cầu, lúc đó đang phát triển theo đúng dự kiến của Lý Thường Kiệt. Quân Tống buộc phải dùng sở đoản của chúng chọi với sở trường của ta và đã hoàn toàn thất bại về chiến thuật. Từ đó quân Tống dứt khoát thực hiện phương án đợi thuyền. Điều đó cũng có nghĩa rằng sẽ không thể tổ chức một đợt vượt sông nào nữa, vì quân thủy Tống không bao giờ đưa thuyền vào được đến sông Cầu. Quân Tống hoàn toàn hết hy vọng giành thắng lợi, mặc dầu “sau đó lại muốn mang quân sang, nhưng thuyền không có để qua sông, lương cũng không đủ để đóng giữ”61.
-----------------------
59 Binh thư yếu lược, sách đã dẫn, tr. 226.

60, 61 Nhị Trình di thư. Hai anh em họ Trình là Trình Hựu, Trình Di đều sống ở thế kỷ XI, là những danh nho thời Tống. Xem Hoàng Xuân Hãn, sách đã dẫn, tr. 301, hoặc Lê Quý Đôn, Vân đài loại ngữ, Nhà xuất bản Văn Hóa, Hà Nội, 1962, t. I, tr. 175.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 28 Tháng Mười Hai, 2011, 07:50:54 pm
QUÂN LÝ ĐỔ BỘ QUYẾT CHIẾN CHIẾN LƯỢC

Chủ trương chung trong cuộc kháng Tống lần này của nhà Lý là phòng thủ giữ nước. Nhưng ngay từ trận đầu ở bến đò Như Nguyệt nam, đã thấy rõ phương châm của quân Lý trên tuyến sông Cầu là phòng thủ tích cực, tức là luôn luôn chủ động đánh địch để phòng thủy. Dò theo ghi chép của sử sách Tống, ta có thể thấy được nhiều hoạt động tích cực của quân Lý sang phía bờ bắc, mà phần lớn do quân thủy đảm nhiệm. Có lần quân Tống bên bờ bắc đang mong ngóng quân thủy của chúng từ biển vào, thấy hàng trăm thuyền chở đầy lính từ phía Vạn Xuân ngược lên, tưởng thuyền Tống đã đến, nhưng chưa kịp mừng, đã nhận ra quân ta trên thuyền la hét, chửi mắng khiêu chiến (Trường Biên, 279, 22b)62. Một lần khác, quân ta dùng thuyền nhỏ bí mật đổ bộ lên bờ bắc, đánh vào tướng do Diêu Tư chỉ huy, khiến chúng phải lao đao đối phó (Đông đô sự lược)63

Cuộc tiến công lớn nhất của quân Lý sang bờ bắc xảy ra vào khoảng gần cuối tháng giêng năm 1077, tức là cuối thời gian hai bên cầm cự nhau trên phòng tuyến sông Cầu. Cuộc tiến công này mang tính chất một trận quyết chiến chiến lược.

Sử sách nước ta nói về chiến tranh Lý – Tống trên sông Cầu dường như chỉ nói đến trận này làm tiêu biểu: “Hai quân giữ nhau ở sông Như Nguyệt hơn một tháng. Lý Thường Kiệt biết rằng quân Tống sức lực đã khốn, ban đêm sang sông đánh úp, đại phá được. Quân Tống mười phần chết năm, sáu, bèn lui giữ châu Quảng Nguyên”64. Sử sách Tống cũng chép nhiều về một trận thắng rất lớn ở sông Cầu, coi như tiêu biểu cho cuộc nam chinh của Tống. Đó là trận “phục binh” ở núi Kháo Túc (tức núi Nham Biền)65. Như vậy, cả hai nguồn sử liệu đều xác nhận có một trận đánh rất lớn ở bờ bắc sông Cầu, trong đó quân Lý đại thắng mà quân Tống cũng đại thắng! Muốn xem hư thực thế nào, phải nhìn vào hệ quả lịch sử mà trận đánh này mang lại.
--------------------------
62, 63 Hoàng Xuân Hãn, sách đã dẫn, tr. 301 – 302.

64 Việt sử lược, tr. 111.

65 Xem thêm: Hoàng Xuân Hãn, sách đã dẫn, tr. 302. Phan Huy Lê, Bùi Đăng Dũng…, sách đã dẫn, tr. 68 – 72.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 28 Tháng Mười Hai, 2011, 07:56:57 pm
Với quân Tống, trận này được coi như một trận phục binh nhử quân ta sang đánh, nhằm mục đích bắt ta “phải hàng”. Với quân Lý, trận này cũng như các trận trước, đều nhằm mục đích đuổi quân Tống giữ nước. Kết cục của trận đánh được lịch sử xác nhận: quân Tống rút khỏi sông Cầu một cách hốt hoảng, hỗn loạn đạp xéo lên nhau, lui về giữ châu Quảng Nguyên, sau khi đã bắt quân ta “hàng”. Thực chất của cuộc viễn chinh hao người tốn của đến gần như liều mạng này của nhà Tống không phải để cuối cùng nhận được sự “đầu hàng” suông của quân Lý. Như lời Tống Thần Tông đã dặn Quách Quỳ, cuộc ra quân lần này nhằm đổi tiền của và xương máu người Trung Quốc lấy cả dải đất Đại Việt giàu có. Nhưng, vua tôi nhà Tống đã không lường hết được sức mạnh của quân dân Đại Việt. Sau hai trận vượt sông hòng giành thế chủ động, bị thất bại hoàn toàn, quân Tống hầu như hết khả năng giành thắng lợi, rơi vào tình thế bị động. Tính mạng đội quân xâm lược Tống bị tình trạng bệnh tật, thiếu lương đe dọa. Trước tình hình đó, Lý Thường Kiệt với ý chí “Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm, nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!” (Nếu quân bay xâm phạm đất này, thì chúng mày sẽ được chứng kiến thất bại), đã chuyển từ thế thủ sang thế công và quyết định tập kích lớn sang bờ bắc66.

Việt sử lược cũng như các sách Tống đều nhắc đến việc hai thái tử là Hoằng Chân và Chiêu Văn tham gia và anh dũng hy sinh. Điều đó chứng tỏ quân thủy đóng vai trò rất lớn trong trận này.

Dựa vào sử sách cũng như kết quả điều tra thực địa, có thể nhận ra hai khu vực bên bờ bắc đã diễn ra xung đột lớn, đó là bến Như Nguyệt bắc và chân núi Nham Biền – hai điểm trú quân lớn nhất của quân Tống67.

Tôn Thăng, người thời Tống, trong Đàm phố nói đến một chi tiết là quân do thám Tống phát hiện bên bờ nam, đoạn đối diện với núi Nham Biền quân Lý sơ hở68; Quách Quỳ bèn tức tốc đem theo một tướng toàn kỵ binh (khoảng 5.000 quân) tới đó quan sát, lập trại vào có ý lợi dụng sơ hở đó vượt sông, nhưng còn ngờ là nghi binh để đánh phục. Dường như bên bờ nam, quân ta có sự chuyển quân nào đó từ đầu phòng tuyến phía đông về đầu phía tây, tức là đến bến đò Như Nguyệt. Có thể đoán rằng, Lý Thường Kiệt cũng nhận thấy cụm quân Tống ở phía này yếu hơn.
--------------------------
66 Chúng tôi trình bày trận này theo quan điểm của Lịch sử Việt Nam, t. I, Hà Nội, 1971, và Một số trận quyết chiến chiến lược…, sách đã dẫn. Có những quan điểm khác về trận này, ví dụ: Hoàng Xuân Hãn, sách đã dẫn, tr. 302 – 304.

67 Kết quả điều tra thực địa của Khoa Sử, Trường Đại học Tổng hợp, năm 1975, 1976. Tư liệu Khoa Sử, Đại học Tổng hợp. Có thể xem trong Một số trận quyết chiến chiến lược, sách đã dẫn, tr. 68 – 72.

68 Hoàng Xuân Hãn, sách đã dẫn, tr. 303.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 28 Tháng Mười Hai, 2011, 08:03:39 pm
Để ngăn chặn quân Tống có thể lợi dụng chỗ yếu của ta ở bờ nam đối diện với Nham Biền mà đổ quân sang, Lý Thường Kiệt đã lệnh cho quân thủy ở Vạn Xuân đổ bộ đánh vào cụm quân kỵ 5.000 quân ở chân núi Nham Biền đang chuẩn bị vượt sông. Cũng theo sách trên, quân thủy Lý từ Vạn Xuân kéo lên có 400 thuyền, chở vài vạn quân. Có thể hình dung đó là những thuyền chiến kiểu Mông đồng, mỗi thuyền cả thủy thủ lẫn lính chiến đấu có khoảng 50 – 60 người. Trận đánh của quân đổ bộ Lý ở chân núi Nham Biền đã giành được thắng lợi lớn nhờ ưu thế về số lượng. Quân Tống tan tác. Thừa thắng, Hoằng Chân, Chiêu Văn tung quân đánh sâu vào hướng đại bản doanh Tống. Trên bờ, càng vào sâu đất liền, khả năng đánh bộ của quân đổ bộ Lý không thắng nổi quân kỵ bộ thiện chiến của Tống, lại bị rơi vào thế đã phòng bị sẵn sàng của Tống, nên càng đánh càng bất lợi. Quân Tống dùng máy bắn đá khống chế không cho thuyền ta ghé vào bờ đón quân đổ bộ. Trong tình thế ấy, quân độ bộ quyết một trận sống mái với quân giặc, khiến Quách Quỳ phải  huy động gần như toàn bộ những đơn vị tinh nhuệ nhất quanh đại bản doanh vào trận69.

Chớp thời cơ quân Tống đang bị tập trung hỗn loạn ở mé núi Nham Biền, Lý Thường Kiệt đang đêm tung đại quân vượt sông đánh thẳng vào cụm quân Tống ở bên bờ bắc bến Như Nguyệt. Nhờ bất ngờ và tập trung lực lượng, trong khí thế “nhữ đẳng hành khan thủ bại hư” của “Nam quốc sơn hà”, quân ta đã tiêu diệt quân Tống đến “năm, sáu phần mười”.

(http://img694.imageshack.us/img694/9881/luocdotranchienthangnhu.jpg)
Lược đồ trận Như Nguyệt năm 1077

Trong trận này, tuy quân thủy Lý ở căn cứ Vạn Xuân thiệt hại khá nặng, nhưng đã chặn âm mưu vượt sông của Tống và tạo điều kiện cho đại quân của Lý Thường Kiệt tiêu diệt cụm quân Tống bên bờ bắc bến đò Như Nguyệt. Sách Đàm phố ghi lại nhiều chi tiết về trận này, đã không quên nhắc đến tấm gương hy sinh anh dũng của Hoằng Chân và đội quân riêng của ông: Khi thuyền trúng đạn đá bị đắm, tất cả đã không rời khỏi thuyền, tay cầm chắc những tấm thẻ màu vàng là quân hiệu riêng của Hoằng Chân, cho đến khi chết70.

Chiến tuyến sông Cầu là một kiểu mẫu về thế trận phòng thủ kết hợp thủy bộ. Chính nhờ có quân thủy tham gia, tuyến phòng thủ phát huy được hết ưu điểm của nó, gây rất nhiều khó khăn cho quân địch vượt sông và quan trọng hơn nữa, đã biến hệ thống phòng thủ đó thành một hệ thống phòng thủ tích cực. Chiến lược đánh thủy một lần nữa lại góp phần biến ý chí độc lập của nhân dân ta thành sức mạnh vật chất đánh bại đội quân xâm lược hàng chục vạn quân Tống thiện chiến, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Đại Việt vừa hồi sinh.
--------------------------
69 Theo Trường Biên, quyển 279 tờ 22a và quyển 281, tờ 14a (Hoàng Xuân Hãn, sách đã dẫn, tr: 303 – 304), thì toàn bộ võ tướng chỉ huy cuộc xâm lược này cũng như phần lớn các tướng chỉ huy các đon vị kỵ bộ tinh nhuệ nhất ở phương Bắc đều có mặt. Đó là Quách Quỳ, chánh tướng, Yên Đạt, phó tướng, Trương Thế Cự, tướng Phong Châu, Vương Mãn, tướng Hà Đông…

70 Theo Hoàng Xuân Hãn, sách đã dẫn, tr. 304.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 29 Tháng Mười Hai, 2011, 06:53:35 pm
Chương sáu

QUÂN THỦY THỜI TRẦN
TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MÔNG – NGUYÊN

Năm 1226, nhà Trần thay nhà Lý, mở đầu một thời kỳ tiếp tục phát triển của Đại Việt sau mấy chục năm tình hình chính trị đất nước hỗn loạn, quyền hành quản lý đất nước bị chia sẻ vào tay các thế lực phong kiến khác nhau đang nắm những cương vị chủ chốt trong triều.

Nhà Trần lên, với sức bật của một triều đại mới, đã nhanh chóng sắp đặt lại xã hội trong một thể chế thống nhất mới, một tình trạng ổn định mới. Về căn bản, xã hội lúc đó chưa có những biến động lớn mang tính chất cách mạng, nhưng sự thống nhất và ổn định ấy như một luồng gió mới, đẩy tiếp cánh buồm Đại Việt đi lên theo quy luật chung của lịch sử.

Với đà tiếp tục vươn lên của phục hưng Lý – Trần, vượt qua những thử thách mới, nhà Trần đã đưa sự nghiệp quân sự của Đại Việt tới bước phát triển chưa từng có trước đó. Nếu như trước đây, quân đội Tiền Lê căn bản thoát thai từ thân quân của họ Đinh, quân đội Lý thoát thai từ thân quân của họ Lê, thì lần này quân đội Trần là sự thay mới tương đối lớn trong thành phần binh lính cũng như trong đội ngũ tướng lĩnh. Sự thay mới này đã dần dần được thực hiện từ khi họ Trần len lỏi vào nắm giữ binh quyền trong triều Lý với những điện tiền chỉ huy sứ như Trần Tự Khánh, Trần Thủ Độ… Đặc biệt, khi ngai vàng chính thức chuyển từ tay bà vua cuối cùng của triều Lý là Chiêu Thánh sang tay người chống trẻ của bà là Trần Cảnh, thì cuộc thay mới này càng quyết liệt hơn. Nhiều tướng lĩnh họ Lý bị sát hại hoặc phải bỏ trốn ra nước ngoài71. Cấm quân dần được thay thế hoàn toàn bằng trai tráng thuộc những hương ấp quanh quê hương của họ Trần. Sự thay mới này đã tạo ra những phát triển đáng kể trong quân đội họ Trần.

(http://img191.imageshack.us/img191/9416/tranthudo.gif)
Tranh thờ Trần Thủ Độ

Họ Trần là một nhóm tộc mới phát đạt vào những năm cuối thế kỷ XII ở vùng cửa sông Hồng, nhờ khai khẩn những vùng đất mới ven biển và thành thạo trong nghề biển. Khi lên cầm quyền, đứng trước tình trạng cát cứ, nội chiến còn đang trực tiếp đe dọa, đặc biệt tình hình “thiên hạ” quanh Đại Việt đang có những chuyển biến cực kỳ to lớn dưới vó ngựa quân Mông Cổ, nhà Trần đã phải thực hiện một sự đoàn kết cao độ trong dòng họ, lấy đó làm cơ sở quản lý và điều khiển đất nước. Sức mạnh vật chất của sự thống trị dòng họ đó là đội thân quân đông đảo hơn trước nhiều lần, bao gồm thân quân của vua – triều đình và của mọi quý tộc trong dòng họ. Bằng những chính sách tiến bộ về kinh tế, văn hóa… nhà Trần đã được nhân dân ủng hộ và trước nguy cơ xâm lược khủng khiếp của Mông Nguyên, họ Trần dựa vào bộ khung thân quân đó đã huy động sức người, sức của của cả dân tộc làm cơ sở cho những đỉnh cao chói lọi trong sự nghiệp quân sự của mình.

Cho đến đời Trần, những dấu hiện phản ánh nhu cầu tách bạch quân đội thành các quân chủng, binh chủng, đặc biệt là quân bộ và quân thủy ngày càng nhiều, nhưng nhìn chung, quân đội thời Trần vẫn là một đội quân hỗn hợp thủy bộ. Thủy là hình thức, bộ là nội dung. Do đó, nghiên cứu quân thủy thời này vẫn không tách khỏi việc nghiên cứu toàn thể quân đội. Điều đó càng có ý nghĩa đối với nhà Trần, vì điểm xuất phát của tướng lĩnh và quân thường trực nhà Trần phần lớn là vùng cửa sông, ven biển; miền đất cần chú trọng quản lý và bảo vệ đương thời chủ yếu là vùng đồng bằng gần biển, sông ngòi nhiều. Chiến lược tổ chức và xây dựng quân đội nhà Trần rất đậm nét quân thủy. Diễn biến của ba cuộc kháng chiến chống Mông Nguyên cũng như các cuộc đụng độ với Chiêm Thành sau đó càng cho thấy rõ chiến lược đánh thủy của nhà Trần. Chiến lược này, truyền thống này được phát huy song song với khuynh hướng mới tách dần quân thủy thành một lực lượng độc lập với quân bộ.
---------------------
71 Như trường hợp Lý Long Tường cùng binh thuyền vượt biển đến tận bán đảo Triều Tiên. Tuy nhiên, một số tướng sĩ cũ, trong nội chiến phục vụ phe phái họ Trần vẫn tiếp tục được trọng dụng.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 29 Tháng Mười Hai, 2011, 07:01:19 pm
*

So với quân đội các triều đại trước, có thể tổng quát sự phát triển của quân đội thời Trần trong mấy hướng chính như sau:

- Tăng cường số lượng quân thường trực cũng như khả năng huy động quân đội khi có chiến tranh.

- Hoàn thiện hơn tổ chức, biên chế, chú trọng nâng cao chất lượng binh lính cũng như tướng cầm quân.

- Phát triển lý luận quân sự, kỹ thuật quân sự.

Tăng cường số lượng quân thường trực là xu hướng chung của các triều đại trước nữa (thời Đinh có khoảng 2.000, thời Tiền Lê 3.000, thời Lý 5.000), nhưng phải đến thời Trần mới có sự nhảy vọt về số lượng quân thường trực. Quan niệm về quân thường trực ở đây bao gồm quân chuyên nghiệp, tức những người lính lấy binh nghiệp làm nguồn sống chính của mình, và một bộ phận quân thường trực gồm những tráng đinh luân phiên nhau đăng lính, làm nghĩa vụ binh dịch.

Quân chuyên nghiệp thời Trần chủ yếu vẫn được tổ chức theo nguyên tắc thân quân. Đó là quân của vua – cũng đồng thời là quân của dòng họ, của triều đình và quân riêng của các vương hầu. Quân của vua là quân biên chế chính thức của nhà nước, thường được gọi là cấm quân, về cơ bản không khác với cấm quân thời Lý nhưng được mở rộng nhiều. Cấm quân trung ương có 8 quân, mỗi quân 30 đô, mỗi đô 80 người72. Theo số đó mà tính ra thì cấm quân ngay từ những chục năm đầu khi nhà Trần mới lên đã có tới 12.000 – 20.000 người. Số quân này chia nhau bảo vệ cả ở Thăng Long – nơi vua và Triều đình ở và Long Hưng, Thiên Trường – nơi thượng hoàng ở.

Ngoài số quân nói trên, triều đình còn tuyển chọn một số đinh tráng khỏe mạnh ở các lộ chưa thật tin cẩn như cấm quân làm quân cấm vệ các lộ, có nhiệm vụ bảo vệ và là công cụ quyền lực cho bộ máy quan liêu địa phương. Như vậy ở các lộ, ngoài số quân binh dịch, còn có một số quân chuyên nghiệp nữa, trước kia thường do quân riêng của vương hầu hoặc quan trấn trị đảm nhiệm.

Bộ phận quân chuyên nghiệp thứ ba là quân vương hầu. Điểm khác biệt với thời Lý là quân vương hầu lúc này trở thành một hiện tượng phổ biến, phát triển rất mạnh và do vậy chiếm số lượng đáng kể trong thành phần quân chuyên nghiệp thời Trần. Số vương hầu lập quân riêng đông hơn (hầu như vương hầu nào cũng có lãnh địa và quân riêng). Số lượng quân cũng nhiều hơn73.

Như vây, nét riêng về số người lấy binh nghiệp làm chính thì rõ ràng trong thời Trần đã có một bước nhảy vọt về số lượng. tất nhiên, không phải số người đó chỉ chuyên làm một việc là luyện tập và chinh chiến mà đôi khi một bộ phận, thường là của quân vương hầu, thản hoặc của quân thường trực nhà nước, được sử dụng trong lao động sản xuất. nhưng xu hướng chung là họ tiến tới tách thành một lực lượng xã hội riêng biệt, khác với những người dân làm binh dịch, luân phiên trực việc quân theo chính sách mà sử cũ thường gọi là “ngụ binh ư nông”.
--------------------------
72 Toàn thư, t. II, tr. 39. An Nam chí lược chép mỗi đô có 10 ngũ, mỗi ngũ 5 người, như vậy mỗi đô chỉ 50 người.

73 Nếu như trước đây, thái tử Hoằng Chân mới chỉ có 500 quân riêng thì nay một tước hầu như Trần Quốc Toản cũng mộ một đạo quân riêng hàng ngàn người. Tổ chức quân vương hầu được dựa vào chính sách của nhà nước. năm 1254, nhà Trần quy định số lượng “quân theo hầu” của các vương hầu và quan đại thần nhiều thì 1.000 người, ít thì 100 người (Toàn thư, t. II, tr. 26).


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 29 Tháng Mười Hai, 2011, 07:12:01 pm
Ngoài số quân chuyên nghiệp làm nhiệm vụ thường trực như đã trình bày ở trên, nhà Trần vẫn duy trì một lực lượng thường trực luân phiên theo chế độ binh dịch. Trai tráng trong diện binh dịch được phân loại và tuyển chọn những người mạnh khỏe đưa vào phiên chế chính thức thành đô, ngũ, hằng năm được nhà nước luyện tập võ nghệ sau đó lại về làm ruộng, chờ khi có việc mới gọi ra74. Một số trong diện binh dịch thay nhau làm sương quân cho các phủ, thành. Số này có trong sổ quân, nhưng có lẽ không được phiên chế thành các đơn vị chiến đấu chính thức như loại trên. Tất nhiên khi quân thiếu, họ cũng được điều động75.

Điểm khác với thời Lý là nhà Trần có ý thức rất rõ trong việc tăng cường khả năng huy động binh dịch. Điều này thể hiện ra bằng các chủ trương làm số quân, định hạng quân và tăng số người đăng trong sổ quân. Đáng chú ý là việc nhà Trần ra sức đưa số cư dân Thanh, Nghệ và một số vùng núi ngoại vi đồng bằng Bắc Bộ vào phạm vi quản lý và huy động của mình76.

Theo ước tính của Phan Huy Chú, quân thường trực của nhà Trần có tới khoảng gần chục vạn người77. Khi xảy ra chiến tranh, khả năng huy động của nhà Trần có thể tới 50 vạn quân78.

Mở rộng quân thường trực, tăng cường khả năng huy động binh dịch đã tạo điều kiện cho nhà Trần phát triển sự nghiệp quân sự của mình, làm cơ sở vật chất chống trả thắng lợi ba cuộc tiến công xâm lược của quân Mông Nguyên.
------------------------
74 An Nam chí lược.

75 Sự phân hạng này có thể tương tự như cách phân hạng bảo đinh, thổ đinh đời Tống hoặc là tiền đề cho cách phân hạng thành tráng, quân, binh trong chế độ binh dịch thời Lê sau này.

76 Chính nhờ những hoạt động của Trần Thủ Độ, Phùng Tá Chu, Trần Quốc Khang ở Hoan, Ái… mà trong cuộc kháng chiến chống Mông Nguyên lần thứ hai, sau khi mặt trận Vạn Kiếp bị vỡ, vua tôi nhà Trần vẫn yên tâm: “Cối Kê việc cũ người nên nhớ, Hoan, Ái vẫn còn chục vạn quân”. Sau này, những năm đầu thế kỷ XV (ở đây sách sai chính xác thì phải thế kỷ XIV - ùi), nhờ những hoạt động của Trần Khánh Dư, nhân tài vật lực của châu Diễn (vùng nam Nghệ Tĩnh) cũng chính thức được nhà Trần quản lý và khai thác như các lộ đồng bằng.

77 Phan Huy Chú, Lịch Triều hiến chương loại chí, Nhà xuất bản Sử học, Hà Nội, 1964, t. IV, tr. 5.

78 Chỉ trong một thời gian ngắn, cha con Trần Quốc Tuấn đã huy động được 20 vạn quân trong một vùng không rộng lắm thuộc các tỉnh Hà Bắc, Hải Hưng ngày này.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 29 Tháng Mười Hai, 2011, 07:33:44 pm
Nhu cầu phát triển của sự nghiệp quân sự thúc đẩy nhà Trần không ngừng hoàn thiện bộ máy tổ chức và chức năng, biên chế quân đội.

Công việc trên thể hiện rõ nét nhất trong lực lượng cấm quân, hoặc nói chính xác hơn là quân triều đình đặt trực tiếp dưới quyền điều khiển của vua. Trước đây, lực lượng này vừa giữ nhiệm vụ bảo vệ vua và triều đình, vừa là công cụ quyền lực, thực hiện những nhiệm vụ đánh dẹp. Từ cuối thời Lý, đặc biệt trong thời Trần, nó được tách dần thành hai bộ phận lớn, đảm nhiệm hai chức năng khác nhau, có sự phân biệt tương đối rõ ràng. Một bộ phận chuyên bảo vệ nơi vua, triều đình ở, tức Thăng Long và hành cung Thiên Trường. Bộ phận còn lại cũng do vua trực tiếp điều khiển nhưng đóng ở ngoài kinh thành, thường ở mấy lộ Hồng, Khoái… có nhiệm vụ bảo vệ vòng ngoài, cùng quân kia gìn giữ Thăng Long và khi triều đình cần đi đánh dẹp, thì đây là lực lượng cấm quân nòng cốt được huy động. Các quân này đều được huấn luyện tinh nhuệ, khác chăng chỉ phản ánh mức độ tin cậy của họ Trần.

Năm 1246 – một thời điểm mốc đánh dấu sự tiến bộ trong tổ chức biên chế của quân Trần – triều đình xuống chiếu tuyển quân và định quân ngũ. Tráng đinh được phân làm ba hạng thượng, trung, hạ theo sức khỏe và võ nghệ, nhưng đồng thời cũng được phân theo các lộ, và quân ngũ dựa vào đó mà thiết lập. Theo quân hiệu, có thể thấy nhà Trần định ra ba mức quân: Thiên (gồm có Thiên ThuộcThiên Cương tả hữu), Thánh (gồm có Chương ThánhThánh Dực tả hữu), Thần (gồm có Củng ThầnThần Sách tả hữu)79. Trai tráng của các lộ Thiên Trường, Long Hưng là các lộ bản bộ của họ Trần đều được vào các quân Thiên Thuộc, Thiên Cương, những quân này bảo vệ vòng trong cùng nơi vua ở, làm việc80, một bộ phận quân Thiên Thuộc trông nom hành cung Thiên Trường, nơi Thượng hoàng ở81. Một số trai tráng Thiên Trường, Long Hưng, có lẽ thuộc hạng quân thấp hơn, được bổ vào quân Chương Thánh, Củng Thần cũng bảo vệ bên trong kinh thành, nhưng có thể chỉ là vòng ngoài Cấm thành82.

Trai tráng thuộc các lộ Hồng, Khoái, Trường Yên, Kiến Xương, tức là những lộ ở quanh đất bản bộ của họ Trần, đã từng cùng họ Trần chinh chiến trong những năm cuối thời Lý, được sung vào các quân Thánh Dực, Thần Sách. Những quân này đóng ở ngoài thành, vẫn trực tiếp do vua điều khiển83.

Trai tráng thuộc các lộ còn lại sung làm quân cấm vệ ở các lộ sở tại, tức quân trông nom phủ thành và thừa hành quyền lực của quan lại trong lộ. Hạng quân thứ ba, không khỏe lắm, sung vào lực lượng quân khiêng vác, chèo thuyền.

Việc tách trong cấm vệ quân ra một bộ phận du quân có ý nghĩa rất lớn trong việc chuyên hóa chức năng quân thường trực. Đó là một bước tiến trong tổ chức quân thường trực của triều đình.
-------------------------
79 Toàn thư, t. II, tr. 20 – 21, trong đó gọi chung là Tứ Thiên, Tứ Thánh, Tứ Thần (hai chữ thần trong Củng thần, Thần sách dùng không giống nhau.

80 Năm 1281, Sài Xuân vào thành, qua cửa Dương Minh vào nơi vùa làm việc, bị quân sĩ Thiên Trường giữ lại (An Nam chí lược).

81 Toàn thư, t. II, tr. 51 chép việc lập nhà học ở phủ Thiên Trường, cấm quân Thiên Thuộc học vì sợ kém khí lực.

82 Toàn thư, sách đã dẫn, t. II, tr. 20 – 21.

83 Thống kê hoạt động của các quân này, thường gặp trong các hoạt động chinh chiến. Lần theo con đường thăng quan tước của Phạm Ngũ Lão, có thể thấy vị trí của quân Thánh Dực thấp hơn các quân khác trong cung cấm. Cũng dễ nhận thấy điều này khi xem xét cách điều quân hồi cuối thời Trần. Phải chăng đây không phải là quân “bên trong” như Toàn thư chép, nhưng cũng không phải là “thân quân” như An Nam chí lược ghi, mà đó là quân “bên ngoài”, “du quân” như các sách trên đã nói tới.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 29 Tháng Mười Hai, 2011, 07:50:53 pm
Biên chế chi tiết trong các quân thường trực của triều đình cũng chặt chẽ hơn. Bình thường, các quân chịu sự điều hành của một viên chỉ huy sứ điện tiền hay điện súy. Khi có chiến tranh, các quân được điều động đặt dưới sự chỉ huy chung của một vị tiết chế, làm nòng cốt ở bên cạnh các quân vương hầu và quân binh dịch khác. Cấm quân thời Trần (kể cả thân quându quân) thường có tám quân hiệu, nhưng mỗi quân hiệu lại thường chia làm hai đơn vị quân tả hữu. Đứng đầu mỗi quân là một viên đại tướng quân. Dưới quân thường có 30 đô, đứng đầu mỗi đôchánh, phó đô, dưới nữa là các ngũ (mỗi đô có 10 ngũ) – đơn vị nhỏ nhất trong quân đội. Mỗi ngũ có 5 người do một đầu ngũ cai quản. Ngoài ra, đôquân còn có một số chức quan nhỏ lo việc sổ sách, cấp phát lương bổng và chữa bệnh. Theo lệ cũ, quân triều đình thích ba chữ thiên tử quân trên trán và tùy quân hiệu mà thích vào đùi hoặc ngực các loài vật biểu thị quân hiệu đó.

Nhà Trần rất chú trọng nâng cao chất lượng quân đội thông qua chính sách tuyển quân, tuyển tướng. Tráng đinh tuyển lựa được phân hạng tỉ mỉ cả về sức khỏe lẫn hoàn cảnh xuất thân. Tùy theo thứ hạng mà phân bổ vào các đơn vị trọng yếu hay không. Tướng chỉ huy quân đội, từ cấp đô trở lên thì ngoài tiêu chuẩn sức khỏe, nhà nước còn ra những quy định rõ ràng về lý lịch, nhưng phải chọn trong hàng ngũ vương hầu là chính, sau nữa là những người thân cận. Về tài năng, bên cạnh sức khỏe còn yêu cầu thông thạo binh pháp. Nhiều tướng lĩnh nhà Trần rất thông thạo thơ văn, địa lý… Xu hướng chung của việc tuyển tướng trong thời Trần là trọng tài năng, nhưng cũng khá ngặt nghèo trong quan niệm đẳng cấp. Tuy nhiên, càng về sau xu hướng trọng tài năng càng thắng thế84. Xu hướng trọng võ nghệ trở thành phương châm sống của vua quan nhà Trần. “Bấy giờ các vương hầu phần nhiều lấy đánh nhau bằng tay không và một mình đi ăn cướp là dũng cảm”85. Năm 1299, thượng hoàng từng dạy vua: “Nhà ta vốn là người ở hạ bạn, đời đời ưa chuộng hùng dũng thường trổ hình rồng vào đủi; nếp nhà theo nghề võ, nên trổ rồng vào đùi là để tỏ ra là không quên gốc”86. Chính khuynh hướng đó đã sản sinh ra trong thời Trần bao danh tướng giỏi võ nghệ, thấu binh thư như Lê Phụ Trần, Trần Hưng Đạo, Trần Khánh Dư, Phạm Ngũ Lão…

Các thời trước, tiêu chuẩn cho một người lính, một vị chỉ huy giỏi mới chỉ dừng ở sức mạnh cơ bắp, dần dần được đưa thêm vào nghệ thuật vận dụng cơ bắp, đó là võ nghệ. Đến thời Trần, ngoài sức khỏe và võ nghệ, còn đòi hỏi họ thêm sức mạnh trí tuệ – đó là thông binh pháp.

Xu hướng trọng tài năng đã khiến nhà Trần mạnh dạn sử dụng một số tướng sĩ “ngoại bang” đầu hàng, như tướng sĩ Tống trong quân của Trần Nhật Duật, tướng Nguyên là Trương Hiến, các tướng Chiêm Thành là Ca Biệt, Ca Diệp… Họ đã trung thành với nhà Trần và góp phần làm phong phú thêm kho tàng nghệ thuật quân sự thời Trần.
-----------------------------
84 Năm 1375, nhà Trần xuống chiếu “chọn các quan viên người có tài năng, luyện tập nghệ võ, thông hiểu thao lược, thì không cứ là tôn thất đều cho làm tướng coi quân” (Toàn thư, t. II, tr. 184).

85 Toàn thư, t. II, tr. 26.

86 Toàn thư, t. II, tr. 86.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 30 Tháng Mười Hai, 2011, 09:38:15 pm
Bước tiến nổi bật trong sự nghiệp quân sự thời Trần là sự chú trọng nghiên cứu và thực hành lý luận quân sự, kỹ thuật quân sự.

Trong lịch sử chiến tranh của dân tộc ta, đến thời Trần mới thấy những công trình tổng kết và phổ biến thành hệ thống lý luận quân sự. Xu hướng chú trọng lý luận quân sự có thể thấy rõ từ cuối thời Lý, khi vua Lý chính thức cho lập xạ đình, bắt các quan văn, võ tập võ nghệ và binh pháp (1170)87. Trước đó mười năm (1160), vua Lý từng xuống chiếu chọn những người giỏi binh pháp coi quân88. Quan niệm chọn tướng của nhà Lý từ đó về trước cũng của Đinh, Tiền Lê, chủ yếu xét về sức khỏe và võ nghệ. Quan niệm này đã có một bước nhảy vọt trong thời Trần mà tiêu biểu nhất, là những tư tưởng quân sự lớn của Trần Hưng Đạo. Có thể dẫn ra đây phần mở đầu trong bài tựa của Trần Khánh Dư viết cho cuốn Vạn Kiếp tông bí truyền thư của Trần Hưng Đạo: “Phàm người giỏi cầm quân thì không cần bầy trận, người giỏi bầy trận thì không cần phải đánh, người giỏi đánh thì không thua, người khéo thua thì không chết…”89.

Thực ra, một số tướng lĩnh nước ta thời trước đã từng nghiên cứu và thực hành lý luận quân sự, nhưng cần nhấn mạnh ở đây, là phải đến thời Trần những hiểu biết về quân sự mới được tổng kết, thực tế hóa và soạn thảo thành giáo trình đem phổ biến rộng rãi và có hệ thống trong toàn quân.

Có hai cuốn binh thư chính được sử sách lưu truyền là Binh thư yếu lượcVạn Kiếp tông bí truyền thư đều do Trần Hưng Đạo soạn thảo. Hiện nay văn bản gốc không còn, nhưng dựa vào bài hịch của Trần Hưng Đạo và bài tựa của Trần Khánh Dư, có thể hình dung phần nào tầm uyên bác về binh pháp cổ kim của tướng lĩnh thời Trần. Hầu như mọi tác phẩm binh thư và các sự kiện chiến tranh của Trung Quốc đương thời đều được Trần Hưng Đạo nghiên cứu từ nghệ thuật chiến tranh thời Xuân thu – Chiến quốc cho đến những trận đánh gần nhất giữa quân Mông Nguyên và quân Tống.

(http://img807.imageshack.us/img807/987/l18truongxadaoquyen.jpg)
Trận Trường xà đảo quyển (rắn dài cuộn mình) - một trong những hình mẫu về phép bày binh, bố trận xưa

Trên cơ sở những bài bản đã được tổng kết, yêu cầu đặt ra cho tướng lĩnh thời Trần là vận dụng một cách linh hoạt cho thích hợp với từng tình huống cụ thể mà mình gặp. Bài tựa của Trần Khánh Dư có đoạn: “Cho nên Quốc công ta mới so sánh đồ bản và phương pháp của các binh gia, chép thành một tập. Tuy chép cả những việc nhỏ nhặt, nhưng người dùng thì nên bỏ bớt chỗ rườm, lược lấy chất thực, rồi lấy ngũ hành cảm ứng với nhau, cửu cung cân nhắc với nhau, cương nhu phối hợp với nhau, chẵn lẻ vòng quanh với nhau, không lẫn âm với dương, thần với sát, phương lợi sao cho tốt, thần hung tướng ác, ba cát năm hung, đều rõ rệt cả, thêm bớt ba đời, thắng cả trăm trận”90.
---------------------------
87, 88 Toàn thư, t. I, tr. 288, 290.

89 Toàn thư, t. II, tr. 94.

90 Toàn thư, t. II, tr. 95. Âm dương, ngũ hành, cửu cung, hung cát là các phạm trù trong tư duy biện chứng duy tâm đương thời.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 30 Tháng Mười Hai, 2011, 09:51:43 pm
Những lý thuyết quân sự trên luôn luôn được vua tôi nhà Trần luyện tập thực hành. Năm 1253, triều đình lập giảng võ đường là nơi tướng lĩnh Trần bàn cãi, học hỏi binh thư, cũng là nơi tập dàn quân đánh trận, trổ tài võ nghệ. Trước khi có chiến sự, các loại quân được triệu tập về một nơi, vừa tổng duyệt binh, vừa là dịp thống nhất quân lệnh, chiến thuật, chiến lược và hiệp đồng tác chiến. Bãi phù sa ngã ba Bạch Hạc và khúc sông Hồng, nơi bến Đông Bộ Đầu, thường là chỗ tập dượt lớn của quân Trần. Năm 1282, trước cuộc chiến tranh không tránh khỏi với quân Mông Nguyên, tướng lĩnh Trần dã có một cuộc họp rất lớn ở Bình Than để “bàn kế đánh đàm”, thực chất là một hội nghị quân sự, chuẩn bị cả về mặt lý luận, chiến lược cho cuộc kháng chiến sắp tới. Sau này khi xem xét từng trận đánh cụ thể, mặc dầu tài liệu ghi chép không đầy đủ, nhưng chỉ cần nhìn vào đối sách lực lượng và kết quả trận đánh, ta có thể thấy quân đội Trần tác chiến có bài bản. thắng lợi của quân Trần trong ba cuộc chống Mông Nguyên, không chỉ là thắng lợi của lòng yêu nước, tinh thần dũng cảm, của sự đoàn kết, mà còn là thắng lợi của một đội quân có trình độ lý luận quân sự, cả về chiến lược lẫn chiến thuật, khá cao.

Về kỹ thuật quân sự thời Trần, hiện chúng ta còn thiếu tư liệu. Có lẽ cũng cùng tương đối lâu, ngành văn bản học mới xác minh được chính xác trong cuốn Binh thư yếu lược viết lại vào đời Nguyễn đâu là phần của thời Trần, đâu là thời sau thêm vào. Dựa vào bài hịch của Trần Hưng Đạo và bài tựa cho Vạn Kiếp tông bí truyền thư của Trần Khánh Dư, chỉ có thể biết tương đối chắc rằng ngoài những vũ khí, chiến cụ truyền thống hoặc của nước ngoài mà đời trước đã dùng thì quân Trần đã biết tới những kỹ thuật quân sự tân tiến nhất của các triều Tống, Nguyên đương thời. Phải chăng những phần trích dẫn về kỹ thuật quân sự, những bản vẽ vũ khí và trận pháp trong Vũ kinh tổng yếu của Tăng Công Lượng soạn năm 1044 đã được Trần Hưng Đạo sử dụng và làm sách phổ biến cho quân sĩ.

Một trong những đỉnh cao của kỹ thuật quân sự phương Đông thời này là máy ném đá cải tiến, thường gọi là Hồi Hồi pháo. Như đã nói trong chương trước, khi vây Ung Châu, quân Lý đã dùng đến máy ném này. Năm 1282, trong kháng chiến chống Mông Nguyên, quân Chiêm Thành dã dùng Hồi Hồi tam sảo pháo (máy ném đá cải tiến bắn một phát ba giỏ đạn). Năm 1285, quân Mông Nguyên vây đánh Thăng Long, sử nhà Nguyên chép: “Nhật Huyên (tức vua Trần – T.G.) bố trí binh thuyền, dựng rào gỗ dọc theo sông. Thấy quan quân đến bờ, lập tức khai pháo hô lớn thách đánh”91. Thứ pháo này là một loại máy ném đá. Việc quân Trần sử dụng máy ném đá, thậm chí loại máy ném cải tiến như của Chiêm Thành là một điều không có gì đáng ngạc nhiên lắm, với sự kế tục từ thời Lý, với những hiểu biết về Vũ kinh tổng yếu, với mối bang giao chặt chẽ của Chiêm Thành cũng như với Nam Tống trước đó. Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng loại vũ khí này không phát triển lắm trong quân đội Trần, cũng như trước đây trong quân đội Lý. Về cơ bản, nó không thích hợp với chiến lược, chiến thuật tác chiến cơ động của ta. Người ta chỉ thấy duy nhất một lần sử sách nhắc đến nó, sau đó không bao giờ thấy nữa trong lịch sử chiến tranh ở Việt Nam.

(http://img252.imageshack.us/img252/4561/maybanda.jpg)
Máy bắn đá
----------------------
91 Chi tiết này trong Cương mục, tham khảo Nguyên sử, nhưng đã chép lầm thành ra quân Nguyên bắn pháo và hô thách đánh (Cương mục, t. V, tr. 65).


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 30 Tháng Mười Hai, 2011, 09:57:18 pm
Phát minh quan trọng đáng nói hơn về kỹ thuật quân sự thơi này là hỏa khí. Tận cuối thời Trần, năm 1390, mới thấy Toàn thư nhắc đến một loại hỏa khí, nhưng đã là một loại hỏa khí hình ống khá tiến bộ. Trình độ hỏa khí cuối thời Trần với những pháo thuyền đầy hiệu lực bắn chết Chế Bồng Nga, với những “ông tổ” súng pháo như Hồ Nguyên Trừng, chứng tỏ lịch sử hỏa khí của nước ta phải bắt đầu từ trước đó khá lâu. Theo An Nam chí lược, quyển 1, phần Phong tục, ít ra từ đầu thời Trần (có tài liệu nói từ thời Lý) nhân dân ta đã có thói quen đốt pháo trong ngày tết.

Thực ra trên thế giới lúc này, thuốc súng và kèm theo đó là hỏa khí, đang được sử dụng nhiều trong kỹ thuật quân sự, với hai trung tâm lớn: Trung Quốc và các vương quốc ở khu vực Trung Á, Ba Tư.

Theo các con đường bang giao rộng rãi với các nước hải đảo ở Đông-Nam Á cũng như con đường giao lưu trực tiếp với Trung Quốc, rất nhiều khả năng quân đội Trần đã nắm được kỹ thuật sử dụng và chế tạo một số loại hỏa khí. Không loại trừ khả năng địa lôi, hỏa tiễnBinh thư yếu lược chép đến với cấu tạo khá gần với các loại vũ khí tương tự thấy ở Ả Rập hoặc Tống, đã được quân Trần sử dụng trong những trận phục kích ở biên giới hoặc trong trận hỏa công Bạch Đằng.

(http://img707.imageshack.us/img707/6320/h45phaosamvang.jpg)
"Pháo sấm vang" trong Binh thư yếu lược (bản ghi lại thời Nguyễn)

Một số ghi chép trong Toàn thư về hoạt động của quân Hà Đặc ở Phù Ninh (Vĩnh Phú) gợi cho ta suy nghĩ về khả năng sử dụng một loại máy nó đương thời vẫn còn khá phổ biến trong quân đội các nước phương Đông92.

Nghiên cứu và vận dụng lý luận quân sự cũng như kỹ thuật quân sự đã đem lại cho quân đội nhà Trần một chất lượng mới, cao hơn các thời trước, đánh thắng được quân Mông Nguyên vốn thiện chiến, lại có nghệ thuật, kỹ thuật chiến tranh mà chúng tích lũy được trong cuộc chinh phục trên khắp lục địa Á – Âu.
---------------------------
92 Trong chương III, chúng ta đã xét đến khả năng tồn tại những máy nỏ trong thời An Dương Vương. Các sách sử, binh thư của ta ghi đến tập thế kỷ XV, quân đội Lê, Trịnh, Nguyễn còn dùng những loại máy này. Trong khoảng thế kỷ XI, XII, XIII ở Chiêm Thành, Chân Lạp, trên các bức phù điêu Ăng-co còn khắc rõ hình các vũ khí đó với những kiểu khác nhau. Quân Tống dùng loại máy này, với tên gọi là cung thần tý. Thực chất đó là một loại nỏ cỡ lớn, với lực bật mạnh và hệ thống dàn thân nỏ vững chắc, có khả năng bắn đi những mũi tên lớn hoặc nhiều mũi tên khác một lúc. (Xem P. Mus BEFEO, XXIX, tr. 331).


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 31 Tháng Mười Hai, 2011, 03:13:54 pm
*

Quân thủy thời Trần nằm trong tình hình chung của quân đội lúc đó. Vẫn như trước, quân thủy chưa tách ra thành một lực lượng độc lập, dù là một quân chủng hay binh chủng. Tuy nhiên, xu hướng chuyên hóa trong lực lượng vũ trang tất yếu dẫn đến những yếu tố tách biệt ngày càng nhiều giữa quân thủy và quân bộ.

Những bằng chứng rõ nhất của xu hướng chuyên hóa quân thủy có thể thấy trong tổ chức và biên chế.

Sử sách nói đến chế độ tuyển chọn quân thủy, dĩ nhiên mới chỉ là ở bộ phận quân thủy cần và dễ chuyên hóa nhất. Đó là quân chèo thuyền. Chuyên hóa quân chèo thuyền không phải là thời Trần mới có. Điểm mới ở thời Trần là yêu cầu chuyên hóa đó được đưa vào chế độ tuyển quân của nhà nước. Quân chèo thuyền bao gồm cả những người chỉ đơn thuần sử dụng mái chèo và những thủy thủ phải có một trình độ tay nghề nhất định, như những người điều khiển bánh lái, hệ thống buồm và điều khiển nhịp điệu, tốc độ của các tay chèo. Những quân này không cần khỏe nhưng cần biết nghề sông nước93.

Chức năng của quân chèo thuyền khá rõ ràng, khi binh thường thì bảo quản trông nom thuyền, khi có việc thì làm nhiệm vụ vận chuyển binh lính, chiến cụ đến địa điểm đã định. Khi đánh thủy thì điều khiển thuyền sao cho thuận tiện nhất để quân chiến đấu trên thuyền tác chiến, khi đánh bộ thì đổ quân đúng chỗ, đúng thời gian, sau đó làm luôn nhiệm vụ bảo vệ thuyền, hỗ trợ cho quân trên bộ tác chiến. Trong trận Bình Lệ Nguyên, trận Bãi Tân… vua Trần và Trần Hưng Đạo nhờ những người giữ thuyền này mà tránh được kỵ binh Nguyên truy kích. Tuy nhiên, biên chế rạch ròi như vậy cùng lắm mới chỉ có trong cấm quân hoặc một số nhỏ đơn vị quân thủy độc lập, như quân lộ Đông Hải, quân Bình Hải… Tương ứng với sự tách bạch ấy, lần đầu tiên chúng ta thấy chức thủy quân đại tướng quân do vua Trần phong cho Lê Phụ Trần năm 1259. Có lẽ đây chỉ là chức tướng cai quản bộ phận quân thủy độc lập trong cấm quân.
-------------------------
93 Năm 1246, nhà Trần tuyển quân. Quân hạng ba (tam đẳng) được sung vào làm trạo nhiphong đội. Dựa vào phép tuyển quân của nhà Lê sau đó, với quân thiện trạo, chúng ta có thể ngờ rằng trạo nhi ở đây là những người lính chèo thuyền. Trong đó đà công, tức người lái thuyền, có một vị trí đặc biệt quan trọng. Vê-di-xi – một nhà lý luận quân sự nổi tiếng của thế kỷ IV sau công nguyên – đã từng đánh giá rất cao vai trò của người lái thuyền trong hạm đội La Mã. Chúng ta cũng gặp một nhận xét tương tự của các nhà quân sự phương Đông: “Tính mạng của cả một thuyền quan hệ ở tay người lái. Tất phải lựa chọn những người lớn tuổi thông thạo, giỏi xem chiều gió, am hiểu thế nước và sung vào. Lại đặt người phó để phòng sự sơ hở. Lương thì cho khá, có công thì thường thêm” (Binh thư yếu lược, tr. 211).


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 31 Tháng Mười Hai, 2011, 03:17:45 pm
Quân chiến đấu trên thuyền cho đến hết thời Trần vẫn chưa thấy dấu hiệu được tuyển chọn và biên chế thành những đơn vị độc lập. Nhưng ở một số tướng lĩnh và một số đơn vị cá biệt, tùy theo địa bàn và nhiệm vụ hoạt động, sự chuyển hóa tướng thủy và lính thủy đã khá rõ ràng.

Điển hình nhất phải kế đến Trần Khánh Dư. Khánh Dư lớn lên ở vùng sông nước Chí Linh có biệt tài đánh thủy, nghi binh, phục kích. Trong cuộc kháng chiến lần thứ ba, lần đầu tiên mở ra cục diện chiến tranh trên biển do quân Nguyên chính thức tổ chức một cánh quân đánh sang nước ta theo đường biển, Trần Khánh Dư lại được nhà Trần cử làm phó tướng, chỉ huy quân thủy đóng ngoài biển chặn đánh cánh quân này và ông đã làm nên chiến thắng Vân Đồn lịch sử. Hoàn toàn không phải ngẫu nhiên mà Khánh Dư lại được chọn làm phó tướng chuyên trách mặt trận đường biển trong năm ấy. Trước đó, năm 1282 Khánh Dư đang còn bị tội, phải lang thang sông nước bán than, đã được vua Trần tha bổng, giao trọng trách đánh giặc trên biển. Việc Hưng Đạo quên chuyện cũ (Khánh Dư thông dâm với công chúa Thiên Thụy, con dâu Hưng Đạo), chấp nhận Khánh Dư làm phó tướng của mình, càng cho thấy triều đình đã hy vọng vào Khánh Dư thế nào. Sau khi nhà Nguyên không dám nhòm ngó nước ta nữa, Khánh Dư tiếp tục được nhà Trần giao trấn thủ Vân Đồn, chuẩn bị tiền đề cho sự ra đời một đơn vị hải quân độc lập đầu tiên, đó là đội Bình Hải (1349). Lần theo những hoạt động quân sự sau này của Khánh Dư, ta thường thấy ông luôn luôn chỉ huy cánh quân thủy trong các cuộc hành binh hoặc đi trấn trị các nơi.

Xu hướng có những tướng lĩnh chuyên trách đánh thủy ngày càng rõ trong các cuộc chiến tranh cuối thời Trần. Trần Vấn (tức Hồ Vấn) và Đỗ Nguyên Thác là hai tướng thực sự cầm quân được giao lãnh phó tướng thủy bộ rất ổn định trong hai lần ra quân năm 1400 và 1403. Tuy vậy, cạnh đó còn có những tướng như Đỗ Mãn và quân như Long Tiệp, khi thì được điều sang cánh bộ, khi thì đưa sang cánh thủy. Điều đó phản ánh xu hướng chuyên hóa thủy bộ trong quân Trần, Hồ đã có nhưng chưa thực sự định hình.

Một số đơn vị quân thủy độc lập đã hình thành, đặc biệt xuất phát từ nhu cầu quản lý, bảo vệ chủ quyền vùng biển, như quân thủy lộ Đông Hải và đơn vị quân Bình Hải đóng ở Vân Đồn.

  Năm 1266, tháng hai, “thủy quân lộ Đông Hải đi tuần biên giới, đến núi Ô Lôi (ngọn núi ở phía đông của vịnh Khâm – T.G.), do đó biết được kỳ quân Nguyên sang lấn” (Toàn thư, t. II, tr. 38). Quân thủy đóng ở Vân Đồn, theo lời Trần Khánh Dư “là để ngăn giữ giặc Hồ (tức quân Nguyên)” đồng thời làm nhiệm vụ quản lý việc đi lại buôn bán của tàu thuyền nước ngoài đến vùng này ngày càng sầm uất. Toàn thư, t. II, tr. 152, chép vào năm 1349 “tháng 11… đặt quan trấn, quan lộ và sát hải sứ ở trấn Vân Đồn, lại đặt quân Bình Hải để đóng giữ. Trước kia, thời nhà Lý, thuyền buôn đến thì vào các cửa biển Tha, Viên ở châu Diễn, cửa biển nông cạn, phần nhiều thuyền buôn đỗ ở Vân Đồn nên có mệnh này”.

Đây là những hiện tượng rất đáng chú ý, đánh dấu bước phát triển quan trọng trong lịch sử quân thủy tiếp tục một khuynh hướng đã hình thức rõ nét từ cuối thời Lý nhằm tăng cường quản lý, bảo vệ và khai thác các nguồn lợi biển, tiến tới xác lập chủ quyền vùng biển với ý thức của một quốc gia độc lập tự chủ.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 31 Tháng Mười Hai, 2011, 03:21:22 pm
Xu hướng tách biệt giữa quân thủy và quân bộ còn thể hiện khá rõ trong nghệ thuật tác chiến. Từ cuối thời Lý, các cuộc hành quân chia làm hai mũi thủy, bộ độc lập cùng phối hợp giải quyết một mục tiêu quân sự đã bắt đầu phổ biến. Nhưng trong lịch sử nghệ thuật quân sự nước ta, việc chia làm hai mũi thủy, bộ với hai lực lượng tương đối độc lập, và dần có hướng chuyên hóa thì phải đến cuối thời Trần mới là hiện tượng tương đối phổ biến. Vấn đề này liên quan chặt chẽ với việc chia quân đội thành hai lực lượng thủy, bộ độc lập. Phải đến thời Lê, ta mới thấy điều đó một cách thường xuyên và ổn định.

Nói quân thủy tách dần khỏi quân bộ cũng tức là nói quân bộ dần tách khỏi quân thủy. Những nhiệm vụ đặt ra trong ba cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên nhằm chống trả có hiệu quả với đôi quân rất thạo đánh bộ cũng như các hoạt động quân sự đối phó với các tù trưởng miền núi phía tây, tây-bắc, đặc biệt với Ai Lao trong những năm giữa thời Trần đã thúc đẩy quân Trần phát triển kỹ năng đánh bộ đã cơ từ thời Lý, tích cực tiếp thụ nghệ thuật đánh bộ qua lịch sử chiến tranh các đời phương bắc, phương nam, tạo ra tiền đề tổ chức những đơn vị chuyên đánh bộ và những viên tướng giỏi đánh bộ. Điển hình cho các tướng giỏi đánh bộ có thể nhắc đến Phạm Ngũ Lão và công lao gắn liền với hoạt động quân sự chống các thổ tù miền tây và Ai Lao. Hình ảnh Trần Khánh Dư, Yết Kiêu94 nổi lên như những tướng thủy chuyên nghiệp và Phạm Ngũ Lão, Dã Tượng như những tướng chuyên đánh bộ cùng với những võ công cả thủy lẫn bộ (dĩ nhiên thủy vẫn là chính) rất oanh liệt trong thời Trần, chính là tấm gương phản ánh xu hướng chuyên hóa trong quân đội thời Trần. Không có sự chuẩn bị này thì không thể có bước phát triển trong tổ chức biên chế thời Hồ và sự hoàn thiện tổ chức biên chế trong thời Lê sau đó.

Xu hướng chuyên hóa trong quân đội vẫn nằm trong xu hướng chung: coi trọng đường thủy, quân thủy. Cơ động bằng thuyền, triệt để khai thác địa bàn sông biển trong bố trí lực lượng và thủ đoạn tác chiến đường thủy vẫn là phương châm chiến lược của quân đội nhà Trần. Vua tôi nhà Trần rất tôn trọng đồng thời rất biết chỗ mạnh của gốc gác nhà mình, do đó không phải ngẫu nhiên các vua Trần rất có ý thức gìn giữ truyền thống sông nước (Thượng hoàng Trần Thái Tôn dặn con cháu: “Nhà ta vốn là người ở hạ bạn”. Dòng họ Trần và toàn quân có thói quen thích hình rồng vào người).

Cũng không phải ngẫu nhiên nhà Trần năm 1274 lại chọn Lê Phụ Trần, một viên thủy quân đại tướng quân nổi tiếng làm giáo thụ cho thái tử Khảm, ông vua của hai cuộc kháng Nguyên nổi tiếng. An Nam chí lược chép trong phần Phong tục nói: thời Trần “Trời nóng nực, dân thích tắm ở sông, vì thế chở thuyền giỏi, ở nước quen…”. Truyền thống đó hết sức phù hợp với truyền thống sông nước lâu đời của dân tộc ta và đã đưa quân thủy đi tới những bước phát triển mới.
--------------------------
94 Yết Kiêu là gia nô của Trần Quốc Tuấn, hình ảnh tượng trưng cho tài nghệ đánh thủy của một người lính trong đội quân riêng của Trần Quốc Tuấn. Theo Công dư tiệp ký được Phan Huy Chú ghi lại trong Dư địa chí tương truyền rằng Yết Kiêu làm nghề bán trai, hến biển, một lần lấy đòn gánh đánh hai con trâu biển đang chọi nhau, vì thế có một sợi lông trâu dính trên đầu đòn gánh, ông bèn nuốt đi, từ đó trở nên khỏe mạnh khác thường “lội nước như đi trên mặt đất”. Yết Kiêu có nghĩa là ngăn chặn cuộc chọi trâu đó. Tên tuổi ông gắn liền với kỹ thuật lặn dưới nước dùng dùi đục thủng thuyền địch.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 31 Tháng Mười Hai, 2011, 03:27:39 pm
Cùng với việc tăng số quân thường trực và khả năng huy động binh dịch, số thuyền chiến phục vụ trong quân đội cũng tăng lên nhiều. Nếu thời Lý, số thuyền trong các cuộc hành quân chỉ tính tới con số hàng trăm, thì nay, ta bắt gặp những con số hàng ngàn thuyền chiến.

  Trong trận Vạn Kiếp năm 1285 không kể số thuyền chiến của Trần Hưng Đạo, riêng số thuyền do vua Trần đem đến cứu viện cũng tới hơn một nghìn. Cũng theo Nguyên sử, sau đó ít lâu, Trần Hưng Đạo và điện tiền chỉ huy sứ Phạm Cự Địa lại đem hơn nghìn thuyền trở về Vạn Kiếp. Theo cách ghi của Nguyên sử, những con số trên đây không phải là tuyệt đối chính xác, nhưng nếu đặt nó trong các số liệu thuyền chiến, tương đối chính xác do nhà Minh kiểm kê tài sản chiếm được trong cuộc xâm lược nước ta năm 1407 (An Nam chí nguyên: 8.670 chiếc thuyền) có thể chấp nhận tính chất hợp lý của con số hơn một nghìn thuyền chiến của quân Trần.

Thuyền chiến thời Trần do nhiều nguồn tạo ra, tương ứng với các nguồn quân đội đương thời. Bộ phận chính là thuyền của quân thường trực do triều đình trực tiếp quản lý. Chính Lê Phụ Trần với chức thủy quân đại tướng quân là người chỉ huy số thuyền này trong những năm sau cuộc kháng chiến lần thứ nhất. Những thuyền hiện đại nhất như Châu Kiều, thuyền đinh sắt “Trung tàu tải lương”… đều thuộc bộ phận này. Một số khác do các lộ tự trang bị cho quân của lộ mình. Số đông còn lại là do các vương hầu cũng tự trang bị cho quân riêng của mình.

Toàn thư còn ghi lại rất nhiều mệnh lệnh của triều đình, mỗi khi có việc chinh chiến, hô hào các lộ, các vương hầu đóng thuyền chiến để sẵn sàng chịu sự điều động. Tình hình này giải thích hiện tượng: trong các cuộc kháng chiến chống Mông Nguyên, quân Trần đi tới đâu cũng có thuyền, mặc dầu nhiều khi phải bỏ thuyền để đánh lừa giặc.

Vào cuối thời Trần, đầu thời Hồ, thế lực vương hầu giảm dần, cùng với xu thế tập trung quân đội trong tay triều đình, thuyền chiến cũng dần dần được quy về một mối.

Theo ghi chép của một sứ giả nhà Nguyên là Trần Phu, sang sứ nước ta vào năm 1292, thì loại thuyền phổ biến thường có 30 mái chèo. Loại này có lẽ tương ứng với loại thuyền Mông đồng của các thời trước, với 32 tay chèo và 25 lính chiến đấu. Đây cũng là loại thuyền chiến thường thấy của quân thủy Chiêm Thành và Chân Lạp đương thời mà theo thống kê của P. Paris, thuyền trong những trận thủy chiến được khắc trên các phù điêu Ăng-co, số mái chèo trung bình khoảng 25 – 40 chiếc (cả hai mạn). Nếu cho rằng kỹ thuật đóng thuyền thời Trần không có gì thay đổi lớn so với thời Lê sau đó, ta có thể dựa vào kích thước thuyền chiến thời Lê mà ước rằng loại thuyền 30 chèo phổ biến ở thời Trần dài khoảng 20 mét, rộng hơn 3 mét, tương ứng với thuyền chiến hạng trung thời Lê95. Ngoài ra, Trần Phu còn được chứng kiến tận mắt những thuyền thời Trần có tới 100 tay chèo. Đây có thể là loại thuyền 100 mái, nhưng cũng có thể là loại thuyền có khoảng 50 mái chèo, mỗi mãi có hai người đẩy. Ghi chép về loại thuyền Trung tàu tải lương của họ Hồ, với mái chèo lớn phải hai người đẩy và kích thước số mái chèo của loại thuyền lớn nhất thời Lê, cho thấy khả năng thứ hai hợp lý hơn. Loại thuyền này ứng với loại thuyền biển lớn nhất thời Lê với khoảng 50 cột chèo, dài khoảng 30 mét, rộng hơn 4 mét.
-----------------------------
95 P. Poris, Les Bateaux des Bas – Reliefs Khmers BEFEO, XVI tr. 358.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 01 Tháng Giêng, 2012, 04:11:48 pm
Bên cạnh những loại thuyền đặc chủng đã thấy từ đời Lý thì trong thời Trần và Trần – Hồ, sử sách còn nhắc đến hai loại thuyền chiến mới. Đó là thuyền Châu Kiều và thuyền đinh sắt. Năm 1389, Toàn thư chép việc Hồ Quý Ly vâng mệnh vua Trần đem quân đánh nhau với quân Chiêm, có đoạn: “Quý Ly về đến kinh sư, xin phái thêm thuyền chiến Châu Kiều. Thượng hoàng không cho…”96. Đây là một loại thuyền chiến lần đầu tiên thấy sử sách ta nhắc đến và trong văn cảnh của Toàn thư, nó được miêu tả như một loại chiến cụ lợi hại mà Hồ Quý Ly hy vọng có thể đuổi được quân Chiêm.

Năm 1403 và 1040, sau khi họ Hồ phế truất nhà Trần hai lần Toàn thư nhắc đến việc Hồ Hán Thương đóng thuyền đinh cho quân thủy đánh Chiêm và chuẩn bị chống Minh97. Loại thuyền đinh sắt lớn khá lợi hại, mỗi mãi chèo có hai người đẩy, lòng thuyền chia làm hai tầng, tầng dưới dành cho lính chèo thuyền, tầng trên lát sàn để lính chiến đấu dễ bề hoạt động. Để đảm bảo bí mật, những thuyền này được ngụy trang như loại thuyền tải lương, với những tên như Trung tàu tải lương, Cổ lâu thuyền tải lương. Phải chăng đây chính là loại thuyền hai đáy từng thấy trong quân thủy thời Lý.

(http://img818.imageshack.us/img818/9587/h12haicot.jpg)
Thuyền Hải cốt - có lẽ có cấu tạo tương tự như thuyền đinh sắt

Thuyền “đinh sắt” có lẽ ám chỉ loại thuyền được đóng ghép bằng những đinh sắt hoặc ốp những đinh sắt có đầu đinh lớn để tăng sức đấu thuyền như những thuyền chiến thế kỷ XVII – XVIII. Kỹ nghệ dùng đinh đóng thuyền, theo ghi chép của sức sách, dường như không phải là truyền thống đóng thuyền của nước ta. Mao Nguyên Nghi sống vào đầu thời Minh, trong Vũ bị chí, khi so sánh cách đóng thuyền của Trung Quốc với Đại Việt, đã nhận xét: thuyền nước Nam thì xẻ gỗ thành ván to, sau đó ghép lại, không đóng đinh, chỉ lấy phiến sắt ken liền, không xảm bằng sợi gai tẩm dầu đồng, chỉ lấy cỏ, tre nhét vào chỗ hở thủng…98.
-----------------------
96 Toàn thư, t. II, tr. 205, Hiện nay chúng ta chưa rõ loại thuyền này ra sao. Trong Vân đài loại ngữ, quyển 9 : Phàm vật, Lê Quý Đôn có kể đến một loại thuyền tên là mộc mã (ngựa gỗ) hoặc còn gọi là Giang Kiều: “làm bằng gỗ cây chưởng và cây phong, đầu đuôi thấp mà giữa hơi cao, chân làm bằng tre, trên lợp lá, hai bên lát ván gỗ có thể đi lại được… dài hơn 4 trượng, rộng 7 thước” Loại thuyền này phổ biến ở khu vực nam sông Dương Tử, từ Hồ Nam đến Quảng Tây. Liệu có mối liên hệ gì giữa thuyền Châu Kiều thời Trần với loại Giang Kiều này không?

97 Toàn thư, t. II, tr. 236, 239.

98 Dẫn lại trong Lê Quý Đôn: Vân đại loại ngữ, sách đã dẫn, t. II, tr. 150.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 01 Tháng Giêng, 2012, 04:18:17 pm
Ta cũng có thể gặp nhận xét như vậy của viên quan Tống là Chu Khứ Phi khi mô tả cách đóng thuyền của thổ dân ven biển Quảng Đông mà bấy giờ không khác với cư dân ven biển Đông-bắc nước ta là bao: “Những châu quận ven biển ở vùng thâm Quảng, khó kiếm được đinh sắt đầu đồng, họ làm thuyền bằng cách lấy ván xuyên sợi mây qua mà buộc lại. Chỗ đường buộc mây thì họ lấy cỏ thiến mọc ở bờ biển, phơi khô mà nhét vào. Thứ cỏ ấy gặp nước thì trương ra, vì thế thuyền không bị rỉ nước vào. Thuyền rất lớn, người buôn bán vượt biển lớn đều dùng thuyền ấy…”99.

Như vậy, thuyền đinh sắt thời Hồ có thể xuất phát từ những nhu cầu đặc biệt của quân thủy, ví dụ để tăng độ lớn của thuyền hoặc tăng độ bền vững trong những trận đấu thuyền.

Vấn đề có tính chất cách mạng nhất trong quân thủy cuối thời Trần là sự xuất hiện những pháo thuyền đầu tiên. Năm 1390, trong một trận chặn đánh quân Chiêm ở cửa Hải Triều, (ngã ba sông Hồng – sông Luộc hiện nay, tướng Trần là Trần Khát Chân đã dùng pháo thuyền bắn chết vua Chiêm là Chế Bồng Nga100. Đây là một hiện tượng xuất hiện rất sớm trên thế giới, khi hỏa khí hình ống được đưa lên thuyền với tư cách là vũ khí của thuyền. Chúng ta sẽ bình luận nhiều hơn về sự kiện quan trọng này trong các chương sau, vi sự phát triển của nó gắn liền với toàn bộ lịch sử chiến tranh, lịch sử quân thủy từ thời Hồ trở đi.

Thuyền chiến thời Trần thường được nhắc đến trong ba loại lớn, cũng là ba cỡ lớn nhỏ khác nhau, ứng với nhiệm vụ khác nhau. Thuyền lớn (đại chiến thuyền) (đôi chỗ sử sách nhà Nguyên gọi là chiến hạm) thường là thuyền của tướng chỉ huy, thuyền đối thủy – dùng sức thuyền chọi thuyền, có khả năng đi biển tương đối tốt.

  Những thuyền này được dùng chặn ngang sông Bạch Đằng để buộc quân Nguyên phải thoát theo đường sông Chanh, nơi quân Trần bố trí bãi cọc (bia Lý Thiên Hựu trong Từ Khê văn cảo, quyển 18, của Tô Thiên Tước). Trong Toàn thư, những ghi chép vào cuối thời Trần đã có ý phân biệt khá rõ loại thuyền này: “Quý Hợi, năm thứ 7 (1383)… mùa xuân, tháng giêng, sai Hồ Quý Ly đem thủy quân đi đánh Chiêm Thành. Bấy giờ mới đóng chiến thuyền lớn, có các hiệu Diễm Dã, Ngọc Đột, Nha Tiệp…” Năm 1389, Nguyễn Đa Phương đã “hạ lệnh cho các quân dăng nhiều cờ xí, buộc thuyền lớn vào cọc, sai người canh giữ, rồi lấy thuyền nhẹ trốn đi trong đêm”. (Toàn thư, t. II, tr. 195, 205).

Loại thuyền cỡ trung bình là loại thuyền phổ biến nhất mà chúng ta đã thấy nhiều trong các phần trước, với khoảng 30 tay chèo và khoảng 20 – 30 lính chiến đấu. So sánh với cách tổ chức quân thủy thời Lê Trung Hưng, có thể nghĩ rằng mỗi thuyền tương ứng với một đô trong biên chế của quân Trần.

  Ở đây có một vấn đề nảy ra là phải chăng sự chênh lệch về số quân một đô ghi trong Toàn thưAn Nam chí lược (80 người và 50 người) là do Toàn thư đã cộng cả vào đó những đơn vị quân triều đình – số quân chèo thuyền của từng đô, trái lại An Nam chí lược ghi biên chế chung cho mọi đô theo nguyên tắc 10 ngũ là một đô. Do đó có thể số lính chiến đấu trên một số thuyền sẽ cao hơn.
---------------------------
99 Lĩnh ngoại đại đáp, quyển 6, Môn khí dụng.

100 Toàn thư, t. II, tr. 207.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 01 Tháng Giêng, 2012, 04:28:47 pm
Trang bị cho thuyền hạng lớn và hạng vừa chủ yếu là trang bị cho từng cá nhân lính chiến đấu, gồm chủ yếu cung nỏ, mộc che và các loại bich khí thông thường khác (gươm, giáo, lao…). Điểm khác đội quân trên bộ là một tỷ lệ cao lính trên thuyền có sào dài (can phách) và câu liêm.

  Chúng ta đã đào được một số câu liêm thời Trần. Loại vũ khí này có cán dài, lưỡi sắt và có thể bổ, móc giật hoặc đâm nếu lắp thêm một ngọn giáo ở đầu cán. Trong Nguyên sử có chép về trận Bạch Đằng: “Phan Tiếp bị thương, nhảy xuống nước, giặc lấy câu liêm móc lên”. (Nguyên sử, quyển 166, Phàn Tiếp truyện).

(http://img683.imageshack.us/img683/526/h17cauliem.jpg)
Câu liêm

Loại thuyền thứ ba cũng thường thấy là thuyền nhỏ (tiểu thuyền) hay thuyền nhẹ (khinh thuyền). Bao giờ đây cũng là thuyền cơ động nhanh. Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai, vua Trần thấy tình hình Vạn Kiếp khẩn cấp đã dùng thuyền loại này từ Thăng Long đi gấp ra Vạn Kiếp, sau đó cũng nhờ loại thuyền này vượt qua cuộc truy lùng ráo riết của bọn Giảo Kỳ, Lý Hằng, Ô Mã Nhi. Trong trận Bạch Đằng, Nguyễn Khoái đã dùng một đơn vị gồm toàn những thuyền loại này để khiêu chiến, điều khiển tốc độ hành quân của quân thủy Nguyên, lừa chúng vào ổ phục kích… Sớm hơn nữa, từ năm 1241, trong một cuộc đột kích vào châu Khâm, Liêm, Trần Thái Tôn đã từng “bỏ thuyền lớn trong cõi, chỉ đi bằng các thuyền nhỏ Kim Phượng, Nhật Quang, Nguyệt Quang…”101.

Cũng có cơ sở để chia thuyền chiến thời Trần thành các loại thuyền tải lương, thuyền chở lính đổ bộ, thuyền đối thủy, thuyền liên lạcthuyền chỉ huy.

Trong thực tế, quân thủy Trần chưa phân chia rạch ròi như vậy một cách cụ thể. Tuy nhiên, trong từng trường hợp cụ thể, có những loại thuyền chuyên trách chức năng riêng biệt.

Phần lớn thuyền thời Trần dùng làm phương tiện cơ động của quân đội. Thông thường thuyền chở quân đến địa điểm đã định, đổ quân lên bờ dàn trận hoặc tiếp tục thực hiện những mục tiêu quân sự trên bộ. Trận Bình Lệ Nguyên, trận Bãi Tân, trận Vạn Kiếp, trận Đông Bộ Đầu… đều thực hiện theo phương thức trên. Đó là phương thức hành quân tác chiến phổ biến của quân đội các triều đại phong kiến ở nước ta chứ không riêng thời Trần. Nhưng ở thời Trần, chúng ta có thể tìm được những ví dụ rất điển hình.
------------------------
101 Toàn thư, t. II, tr. 18.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 01 Tháng Giêng, 2012, 04:36:43 pm
Một số khác không nhiều là thuyền đối thủy. Những thuyền này đảm nhiệm những trận thủy chiến, trong đó đối phương cũng có quân thủy. Bộ phận lính chiến đấu trên thuyền cũng như lính chèo lái đều mang tính chất chuyên thủy hơn các lực lượng khác. Họ chịu sóng tốt, giỏi bơi lặn và ít nhiều có kinh nghiệm chiến đấu trên mặt nước. Trong trận thủy chiến ở Vạn Kiếp, cửa Hải Thị (1285), đặc biệt trong những trận thủy chiến ở vùng biển đông-bắc do Trần Khánh Dư chỉ huy và trận Bạch Đằng do Nguyễn Khoái chỉ huy, chúng ta thấy rất rõ nhu cầu cũng như sự có mặt của những thuyền đối thủy. Các thuyền đinh sắt của Hồ Hán Thương sau này chính là sự hình thành ổn định và chuyên hóa loại thuyền đối thủy đó.

Thuyền liên lạc là những khinh thuyền (thuyền nhẹ), rất cơ động, thường làm nhiệm vụ liên lạc hoặc do thám. Loại thuyền này không chở nhiều quân, cũng không cần lớn. Ở thời Lê, thuyền loại này thường có từ 8 –10 mái chèo, dài khoảng 15 mét, rộng 2,5 mét.

Thuyền chỉ huy dành cho vua hoặc tướng lĩnh, vương hầu. Những thuyền này khá lớn, đông quân bảo vệ, nhiều cờ xí, trang điểm đẹp. Trong trận đột kích vào Khâm Châu, năm 1241 hoặc trong trận Bạch Đằng, vua Trần đều dùng loại thuyền này (Toàn thư thường chép là ngự bạc. Bạc là một đơn vị thuyền lớn, có khả năng đi biển).

Hình dáng cụ thể của thuyền thời Trận hiện nay chỉ có thể biết qua mấy dòng chú thích trong An Nam tức sự của Trần Phu: “Thuyền nhẹ mà dài, ván mỏng, đuôi như cánh chim uyên ương, hai bên mạn thuyền cao hẳn lên, 30 người chèo, có khi đông lên đến hơn 100 người, thuyền lướt nhanh như bay”. Về căn bản, đó vẫn là những thuyền hoạt động trên sông là chính.

(http://img43.imageshack.us/img43/6286/h13dudinh.jpg)
Du đỉnh - Thuyền chỉ huy thời Trần chắc giống như loại thuyền này?!


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 01 Tháng Giêng, 2012, 04:41:44 pm
Song song với việc tăng cường số lượng và chất lượng thuyền chiến, nhà Trần chú trọng mở rộng và hoàn thiện mạng lưới giao thông thủy, trong đó đặc biệt chú ý đến hệ thống sông ngòi, cảng biển ở phía nam.

Hệ thống đường sông và đường biển ở đồng bằng trung tâm đất nước và khu vực phía bắc, đông-bắc đã tương đối ổn định từ thời Lý, nhà Trần chỉ hoàn thiện thêm mà thôi. Sông Tô Lịch – cửa họng của kinh thành Thăng Long thông ra sông Hồng, sông Đáy – thường xuyên được nạo vét. Dường như cùng với sự đóng kín dần của Hồ Tây và sự mở mang kinh thành Thăng Long cả về quy mô lẫn mật độ dân số, đã khiến dòng sông quan trọng này có xu hướng cạn dần. Trong thời Trần, đã nhiều lần khai đào lại sông Tô Lịch, đặc biệt mỗi khi có chiến tranh hoặc lễ hội lớn.

Một con sông nữa được nhà Trần cho khai đào vào cuối năm 1390 là sông Thiên Đức (sông Đuống), sang thời Lê lại được vét một lần nữa. Đó là con đường thủy chiến lược nối hệ thống sông Hồng với hệ thống Lục Đầu.

Hoạt động chủ yếu của nhà Trần ở phía bắc trong lĩnh vực này là tăng cường khả năng quản lý và khai thác. Những vị trí then chốt trên các trục sông dần dần mở thành những cửa quan quan trọng trong chiến tranh và nơi kiểm soát, thu thuế rong thời bình. Cuối Trần, đầu Hồ, các cửa quan mở rộng tính chất hành chính và kinh tế. Năm 1392, đặt đồn bảo ở các cửa quan sông để chống cướp; năm 1399 xuất hiện một số sở tuần kiểm, như sở tuần kiểm ở sông Đại Lại có căng dậy ở giữa sông để thuyền ngược dòng bám vào mà đi theo thứ tự; năm 1400, lần đầu tiên xuất hiện những trạm thuế ở các chốt cửa quan đó, lần đầu tiên nhà nước thu thuế các thuyền buôn trong nội địa…

Những cảng biển và hải đảo xung yếu cũng được nhà Trần lưu tâm quản lý. Đáng nói nhất là Vân Đồn. Do tính chất quan trọng cả về mặt quân sự lẫn ngoại thương, nhà Trần từ đầu đã xây dựng nơi đây thành chốt quân sự. Đến năm 1349, nhà Trần đã nâng trang Vân Đồn thời Lý thành một trấn độc lập với một đơn vị quân thủy riêng, được coi như mầm mống đầu tiên của hải quân nước ta. Đó là quân Bình Hải102. Những cảng biển khác ở phía nam cũng đặt quan quân phòng thủ và quản lý, đặc biệt từ cuối thời Trần quân Chiêm thường hay tiến công vào các cảng đó. Thậm chí thời Trần Anh Tôn, nhà Trần còn có lần định kiểm soát luôn cả việc buôn bán với thuyền nước ngoài ở cảng Thị Nại bấy giờ còn thuộc Chiêm Thành103.

Tiếp tục những công trình khai đào sông ngòi từ các đời trước theo hướng tiến dần xuống phía nam, nhà Trần liên tục cho nạo vét, đào thêm. Hệ thống kênh Vi, Trầm, Hào được vét từ năm 1231 tiếp tục mở rộng trong những năm 1357, 1374, 1382, 1399 kéo dài đến tận cửa biển Kỳ Hoa (tức cửa Khẩu thuộc xã Kỳ La, huyện Kỳ Anh, Nghệ Tĩnh). Năm 1404, Hồ Hán Thương tham vọng đào tiếp đoạn kênh từ Tân Bình đến Thuận Hóa – kênh Liên Cảng – nhưng không thành. Có thể nói, nếu thời Lê Hoàn và cả thời Lý sau đó, hành trình vào Chiêm Thành thường được sử cũ mô tả với đầy những sự kiện nguy hiểm, thần bí thì nay đã trở thành chuyện bình thường. Trong thời Trần và thời Hồ, có thể tính hàng chục lần quân Trần hành quân xuống phía nam cũng như quân Chiêm vượt biển lên phía bắc. Chính thời này, trong quan niệm phân chia hành chính, ngoài Hải Đông chỉ khu vực ven biển và hải đảo gồm các vùng Hải Phòng, Hải Dương, Quảng Ninh hiện nay, còn xuất hiện thêm Hải Tây chỉ miền biển và các châu lộ miền trung nước ta, tức vùng biển Thanh, Nghệ, Tĩnh bấy giờ.
----------------------
102 Toàn thư, t. II, tr. 152.

103 Toàn thư, t. II, tr. 98.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 01 Tháng Giêng, 2012, 04:50:40 pm
Trong tình hình giao thông như vậy, theo dõi diễn biến của các hoạt động quân sự thời nay, thấy nổi lên khá rõ nét một số căn cứ quân thủy và chốt ải phòng thủ đường thủy quan trọng, ứng với địa bàn chiến lược và trục giao thông chính của đất nước.

Vấn đề phòng thủ đường biển chính thức được đặt ra từ thời Lý với những hoạt động của quân thủy Lý Kế Nguyên phòng chống hoạt động do thám, xâm lược của Tống, với chủ trương tăng cường khả năng quản lý, phòng thủ ở châu Vĩnh An, trang Vân Đồn, cũng như việc vua Lý thân chinh đi kiểm tra và cho vẽ bản đồ, ghi chép sản vật ở biển năm 1171. Trước đó, thời Ngô, Đinh, Tiền - Lê việc phòng thủ đường biển đã từng đặt ra, nhưng chưa thành hiện tượng thường xuyên, ổn định, mà mang tính chất nhất thời, tùy theo mức độ đe dọa của nguy cơ xâm lược từ bên ngoài. Sang thời Trần, do sự trưởng thành của ý thức chủ quyền vùng biển, nhu cầu khai thác và quản lý biển, nhất là để đối phó hiệu quả với những âm mưu xâm lược của kẻ thù phương Bắc, nhà Trần hoàn thiện thêm một bước hệ thống phòng thủ biển.

Đáng nói nhất là việc mở rộng đơn vị hành chính Vân Đồn và đặt ở đây một quân độc lập – quân Bình Hải – có nhiệm vụ tuần tra, bảo vệ vùng biển đông-bắc làm cơ sở quyền lực cho việc thu mối lợi ngoại thương ở đây. Từ năm 1282, sau hội nghị quân sự Bình Than, chiến lược đánh thủy được khẳng định trong đường lối kháng chiến chống Nguyên của nhà Trần, đồng thời khả năng mặt trận trên biển cũng xuất hiện với việc nhà Nguyên rục rịch binh thuyền do Toa Đô chỉ huy tiến đánh Chiêm Thành, thì Trần Khánh Dư, viên tướng thủy nổi tiếng của quân Trần, mặc dù đang bị tội, đã được nhà Trần tha bổng, trao chức phó đô tướng quân phụ trách mặt trận đường biển, đóng căn cứ ở Vân Đồn. Tại đây, rào gỗ được dựng lên quanh những nơi buôn bán và bãi biển xung yếu của đảo. Trang phục, mũ nón của dân trong đảo được quy định để phân biệt với người nước ngoài và nhất là đề phòng người Trung Quốc trà trộn do thám. Nhiệm vụ đóng quân ở đây được Khánh Dư tuyên bố rất rõ ràng; “Quân đóng ở Vân Đồn là để ngăn giữ giặc Hồ”104. Khi Khánh Dư đến, ngoài đơn vị quân riêng của mình, trên đảo còn quân các trang (chư trang quân), chứng tỏ lúc này Vân Đồn không còn là một trang như thời Lý nữa, mà là đã mở rộng thành nhiều trang. Đó chính là cơ sở vật chất để mấy chục năm sau, nhà Trần nâng nó lên thành một trấn. Tương ứng với trấn Vân Đồn, có một quân, tức 30 đô với khoảng hơn 2.000 quân105.

Có thể hình dung ở Vân Đồn, từ năm 1349, thường xuyên có khoảng 30 thuyền trực chiến, không kể số quân binh dịch. So với các đồn bảo sau này của Lê, Nguyễn thì thời này, đây là một đơn vị đồn trú khá lớn.
---------------------------
104 Toàn thư, t. II, tr. 66.

105 Chúng tôi cho rằng, quân Bình Hải là một đơn vị quân thủy độc lập, có biên chế lính chèo thuyền riêng, vì vậy một đô có thể tính theo con số 80 người, tức là vẫn gồm 10 ngũ lính chiến đấu (một ngũ có năm người), cộng thêm khoảng 30 tay chèo.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 02 Tháng Giêng, 2012, 03:21:26 pm
Ngoài Vân Đồn, các điểm chốt khác ở vùng biển đông-bắc cũng được nhà Trần bố trí lực lượng. Một phần số quân đó, trước khi có trấn Vân Đồn, đặc biệt trong chiến tranh, là do quân đồn trú ở Vân Đồn, như quân của Trần Khánh Dư đảm nhiệm, một phần khác do quân lộ Đông Hải đảm nhiệm. Toàn thư đã chép việc quân thủy lộ Đông Hải đi tuần, phát hiện quân Nguyên do thám. Trong kháng chiến chống Mông Nguyên lần thứ hai và ba, chắc chắn quân Trần có phòng thủ ở Mũi Ngọc (Ngọc Sơn), rải quân ở Tam Trĩ và khu vực Quảng Yên hiện nay.

Chỗ dựa vòng trong của hệ thống phòng thủ biển đông-bắc là cụm căn cứ liên hoàn kéo dài từ từ cửa Bạch Đằng vào đến Lục Đầu do quân đội của cha con Trần Hưng Đạo trực tiếp đóng giữ. Theo dõi hai cuộc chống Nguyên năm 1285 và 1287, ta sẽ thấy rõ vị trí chiến lược của địa bàn trọng yếu này.

Nhìn chung, cũng như các triều đại trước, hướng phòng thủ biển chủ yếu của quân Trần chĩa về vùng biển đông-bắc, nơi thường xuyên bị kẻ thù phương Bắc đe dọa. Vào những năm cuối thời Trần, đầu thời Hồ, trước những cuộc tiến công của quân Chiêm, một số cửa biển phía nam cũng được tăng cường phòng thủ.

Trong nội địa, đầu thời Trần, nổi bật nhất là hệ thống căn cứ thủy quân ở Lục Đầu với nhiều quân cảng như Vạn Kiếp, Trần Xá, với những cửa quan như Đại Than… Cũng như căn cứ Vạn Xuân thời Lý, nơi đây là điểm nút của hai con đường thủy bộ chính từ Trung Quốc vào nước ta thời bấy giờ. Hoàn toàn không phải ngẫu nhiên mà Trần Hưng Đạo lại đặt phủ đệ của mình ở đây, biến nơi đây thành một hệ thống cứ điểm thủy, bộ lợi hại. Cũng không phải ngẫu nhiên, nhà Trần đã chọn Bình Than làm địa điểm họp hội nghị quân sự bàn về chiến lược chống Nguyên. Càng không phải ngẫu nhiên, cả hai lần xâm lược, quân Nguyên do Thoát Hoan chỉ huy đều hội quân ở nơi này. Từ Lục Đầu ra biển, còn thấy những căn cứ như Chí Linh với núi Phượng Hoàng bên sông, nơi vua Trần dùng quân kiềm chế tốc độ hành quân của quân thủy Ô Mã Nhi trong trận Bạch Đằng, như Trúc Động nằm giữa sông Giá và sông Đá Bạc, nơi đặt sở chỉ huy của chiến dịch Bạch Đằng.

(http://img444.imageshack.us/img444/8683/denkiepbac.jpg)
Đền Kiếp Bạc, cạnh Lục Đầu giang, thờ Trần Hưng Đạo

Trong các hoạt động quân sự thời Trần, ta còn thường thấy nhắc đến ngã ba Bạch Hạc. Đây là một ngã ba sông rộng, lại có bãi phù sa nổi rất tiện cho việc phòng thủ kết hợp thủy bộ. Hầu như các cuộc tập trận lớn thời Trần đều được tổ chức ở đây (năm 1262, 1376…). Sau này, thời Lê, đây vẫn là nơi tập thủy chiến tốt vào loại nhất. Trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất, có thể nhà Trần đã đem quân thủy, bộ lên đây bố phòng chặn giặc. Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai, nhà Trần đã cử Trần Nhật Duật đem binh thuyền lên chặn giặc ở trại Thu Vật, đã trụ quân ở đây ăn thề trước khi rút về phía nam. Cuộc kháng chiến lần thứ ba, cũng thấy xuất hiện Trần Nhật Duật với đạo quân thủy bốn vạn người của ông chặn đánh quân Nguyên ở ngã ba sông này. Có thể nói, trong thời Trần, ngã ba Bạch Hạc gắn bó mật thiết với vị tướng văn võ kiêm toàn Trần Nhật Duật.



Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 02 Tháng Giêng, 2012, 03:25:13 pm
Kinh thành Thăng Long vẫn là một căn cứ quân thủy vào loại lớn nhất, với quân cảng Đông Bộ Đầu, thường là nơi tổng duyệt thủy bộ trước mỗi trận xuất quân. Năm 1258, lâu thuyền của quân Trần đã từ Thiên Mạc đổ bộ vào bến cảng này, đánh tan quân Mông Cổ đóng ở đây, làm bàn đạp quét sạch chúng ra khỏi Thăng Long. Năm 1284, trước khi chia quân đi chặn đánh quân Nguyên theo kế hoạch Bình Than, Hưng Đạo Vương đã đại duyệt quân vương hầu ở bến này. Năm 1285, sau khi rút từ Vạn Kiếp về, quân thủy Trần đã lập một tuyến phòng thủ dọc bờ nam sông Hồng, lấy quân cảng này làm trung tâm, bảo vệ cho kinh thành rút lui an toàn…

Từ cuối thời Lý, cùng với sự trù phú gần như đột xuất của miền đồng bằng trũng hạ lưu sông Hồng (các miền thuộc Thái Bình, Hà Nam Ninh hiện nay), trục sông phía nam sông Hồng dần dần trở nên đặc biệt sôi động. Nội chiến hồi cuối thời Lý làm nổi lên vị trí chiến lược của một số khúc sông hiểm trở hoặc những ngã ba sông quan trọng, thông thường đó là những đoạn sông có bãi phù sa nổi ở giữa. Sang thời Trần, trục sông này trở nên cực kỳ quan trọng bởi vì nó nối “hai kinh đô” của nhà Trần. Đó là Thăng Long – kinh đô chính thức, thường là nơi vua và triều đình ở, và hành cung Long Hưng, Thiên Trường – quê hương họ Trần, nơi thượng hoàng thường ở. Trục sông này nằm giữa, vựa lúa, cũng là địa bàn chiến lược quan trọng nhất nước ta bấy giờ. Do tính chất quan trọng như vậy, ngay từ đầu, nhà Trần đã xây dựng trên tục sông này những chốt quan trọng thường gọi là những quan ải, như những cửa ải biên giới. Đó là cửa quan Hàm Tử, cửa quan Hải Thị.

Trong sử sách, chúng ta thường thấy những tên đất như Thiên Mạc (hay Đà Mạc, Mạn Trù), Hàm Tử, Tây Kết… Đó là những tên đất nằm xung quanh một khu vực, nơi khúc sông Hồng nổi lên một bãi phù sa lớn, hiện là nơi phân chia giữa hai huyện Thường Tín (Hà Sơn Bình) với Khoái Châu (Hải Hưng). Theo đường sông, bãi phù sa này nằm cách Hà Nội khoảng 20 ki-lô-mét. Do bãi này nên khúc sông Hồng đến đây phải tách làm hai nhánh và có tên là sông Thiên Mạc. Bãi nay có nhiều tên gọi: Tự Nhiên, Mạn Trù, Đà Mạc, Thiên Mạc, gần đây còn có tên là Hồng Châu… Dựa vào bãi này để khống chế đường thủy trên sông thì hết sức tiện lợi, vì vậy ngay từ những ngày mới nổi, hương binh họ Trần, cũng như các thế lực phong kiến khác ở vùng này, đã biến đây thành một cứ điểm quan trọng tiến công Thăng Long hoặc chống lại những cuộc tiến công từ Thăng Long lại. Hàm Tử, Tây Kết, Chương Dương đều là những địa danh ở quanh khúc sông này106. Có thể nói, đây là một chốt quân sự quan trọng nhất trên trục đường thủy sông Hồng ở thời Trần. Trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất chống Mông Nguyên, đại đội thủy quân của nhà Trần đã xuất phát từ đây đổ bộ đánh tan quân Nguyên ở Đông Bộ Đầu. Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai, khi rút khỏi Thăng Long, nhà Trần cử Trần Bình Trọng và một đơn vị thủy bộ chốt ở đây để chặn quân thủy Nguyên truy kích, và khi phản công chiến lược, đây cũng là điểm nóng nhất cua toàn bộ chiến dịch sông Hồng năm ấy, với những võ công vào loại nhất như Chương Dương, Hàm Tử, Tây Kết. Trong cuộc kháng chiến lần thứ ba, quân Trần cũng chốt đồn ở đây chống nhau với quân của A-bát-xích (Abatri).

Theo địa danh và những dấu tích hiện còn, có thể nghĩ rằng cửa Thiên Mạc là cửa quan phía đầu trên bãi phù sa, chặn đường thủy từ Thăng Long đi xuống. Cửa Hàm Tử cùng với hệ thống đồn lũy Chương Dương, Tây Kết là ở phía dưới bãi này, chặn đường thủy từ phía biển ngược dòng lên Thăng Long.
-------------------------
106 Dư địa chí của Phan Huy Chú chép: “Bến Chương Dương ở xã Chương Dương, huyện Thượng Phúc, giữa dòng là cửa Hàm Tử. Sông dài, rộng, đối ngạn là bãi Tự Nhiên…” (Lịch triều hiến chương loại chí, t. I, tr. 80).


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 02 Tháng Giêng, 2012, 03:31:07 pm
Tiếp tục xuôi sông Hồng, qua Thiên Mạc đến một khúc sông Hồng có tên là Xích Đằng, ở đây cũng có một bãi phù sa nổi giữa sông là bãi Xích Đằng. Đây cũng là một đoạn sông rất quan trọng trong phòng thủ trục nam sông Hồng. Phan Huy Chú từng nhận xét: “Bãi Xích Đằng là kho của các đời và là chỗ xung yếu then chốt”107.

Đoạn sông tiếp theo có tên là sông Lỗ (giang) (cũng có sách gọi là sông A Lỗ), đoạn này nối thẳng với ngã ba sông Hồng – sông Luộc hiện nay. Xưa kia, đoạn sông Luộc nối liền với sông Hồng (từ khúc sông Lỗ) có tên là sông Hải Triều, vì vậy cửa sông này cũng được gọi là cửa Hải Triều hay cửa Hải Thị. Nơi đây, cũng có một số bãi nổi giữa sông khá tiện lợi cho việc phòng thủ. Đây là một cửa quan hết sức quan trọng đối với “kinh đô thứ hai” của nhà Trần. Từ phía thượng lưu, chỉ cần qua cửa quan này là toàn bộ khu lăng tẩm và hành cung Long Hưng – Thiên Trường của nhà Trần bị trực tiếp uy hiếp. Từ đấy ra biển thời đó cũng không còn bao xa, vì vậy đối với kẻ địch từ phía biển vào, đây cũng là quan ải trọng yếu che đỡ cho đồng bằng trung châu. Trong các cuộc kháng chiến chống Mông Nguyên, sau khi ải Thiên Mạc vỡ, bao giờ quân Trần cũng tụ lại ở Hải Thị để chuẩn bị cho một cuộc rút lui về phía biển. Trong những lần quân Chiêm Thành tiến công vào Thăng Long, thì đây cũng thường là nơi quân Trần chốt quân chặn giặc hiệu quả nhất. Chính tại đây, năm 1390, quân Trần Khát Chân đã dàn các pháo thuyền phòng thủ, bắn chết Chế Bồng Nga.

Có thể nói địa bàn chiến lược của nhà Trần vẫn là toàn bộ đồng bằng cao nhưng có điểm mới hơn so với các thời trước, là trung tâm đất nước có xu hướng chuyển dần xuống đồng bằng thấp, ven biển mà từ Lý – Trần trở đi mới thực sự là vựa lúa của đồng bằng Bắc Bộ, nhờ những phát triển quan trọng trong nghề trồng lúa nước ta108. Địa bàn chiến lược đó với sự chi phối của truyền thống sông nước, truyền thống đánh thủy lâu đời, lại thêm những ảnh hưởng không nhỏ của gốc gác họ Trần vốn đời đời chài lưới đã hình thành rất rõ nét chiến lược đánh thủy trong các hoạt động quân sự của quân Trần.

Tổng kết nguyên nhân thắng bại trong các lần xâm lược nước ta, vua tôi nhà Nguyên thấy rất rõ chỗ mạnh chiến lược đánh thủy của quân Trần. Theo chúng, Thoát Hoan thua là vì “nghe nhầm tiến quân đường thủy”109 hoặc do quân Trần “thua chẳng qua lại trốn ra biển”110. Quả là ba lần kháng Mông – Nguyên, quân Trần đều rút quân ra phía biển. Nhưng hoàn toàn đó không phải vì thua mà trốn ra biển như vua tôi nhà Nguyên nói. Sau này, chúng ta sẽ có dịp phân tích kỹ hơn để thấy thực chất đó là một chiến lược thích hợp nhất đối phó với quân Mông – Nguyên trong tình hình cụ thể bấy giờ. Kết quả là, cả ba lần quân dân thời Trần đều giành thắng lợi.
--------------------------
107 Lịch triều hiến chương loại chí, t. I, Dư địa chí, tr. 80

108 Việc chuyển mạnh hướng làm vụ chiêm và tăng cường khẩn hoang lấn biển.

109 An Nam chí lược, chiếu của vua Nguyên gửi Trần Nhân Tôn năm 1291.

110 Nguyên sử, quyển 167, Trương Lập Đạo truyện.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 02 Tháng Giêng, 2012, 03:33:08 pm
Chương bảy

QUÂN THỦY THỜI TRẦN TRONG KHÁNG CHIẾN
CHỐNG MÔNG – NGUYÊN

(NHỮNG TRẬN ĐÁNH TIÊU BIỂU)

CUỘC KHÁNG CHIẾN LẦN THỨ NHẤT (1258)

Năm 1258, lần đầu tiên quân Mông Cổ đánh vào nước ta. Lúc này chúng còn chưa chiếm được toàn Trung Quốc. Hoạt động quân sự chính của chúng ở phương Đông là tập trung lực lượng tiêu diệt Nam Tống. Cuộc tiến công vào Đại Việt bấy giờ nhằm thôn tính nước ta, đồng thời tạo ra một bàn đạp tiến công Nam Tống từ phía nam lên, phối hợp với ba mũi đại quân đánh từ phía bắc xuống. Để thực hiện kế hoạch này, Hốt Tất Liệt đã cử một đạo quân Mông Cổ do viên tướng lão luyện là Ngột Lương Hợp Thai (tức Cốt Đãi Ngột Lang) chỉ huy, từ phía bắc men theo vùng núi phía tây đánh thọc xuống nước Đại Lý (một nước ở Vân Nam Trung Quốc hiện nay) rồi từ đó đánh vào nước ta. Năm 1256, đạo quân đó đã thanh toán xong nước Đại Lý. Năm 1257, mùa thu, khoảng 5 vạn quân Mông Cổ và quân Đại Lý đầu hàng rầm rào tiến xuống áp sát biên giới nước ta ở mạn thượng lưu sông Hồng.

Thoạt đầu, Ngột Lương Hợp Thai cử sứ giả vào yêu cầu nhà Trần cho mượn đường và cung cấp lương thảo. Không chịu khuất phục trước những đòi hỏi ngang ngược của quân Mông Cổ đồng thời muốn giúp Nam Tống tránh được một đạo thọc sau lưng, nhà Trần đã tống giam sứ giả, kiên quyết lãnh đạo cả nước kháng chiến. Trần Quốc Tuấn được vua Trần (bấy giờ là Thái Tôn Trần Cảnh) giao cho một bộ phận quân thường trực, ngay lập tức đem quân lên biên giới chặn giặc, còn vua Trần đích thân đốc thúc cả nước chuẩn bị vũ khí kháng chiến.

Đánh giặc theo hướng từ thượng lưu sông Hồng xuống, kẻ địch lại là đạo quân Mông Cổ - một đối tượng tác chiến chưa từng gặp trong lịch sử chiến tranh nước ta, ít nhiều cũng không phải là một phương án đã được nhà Trần có điều kiện chuẩn bị kỹ. Chọn chiến lược nào đối phó hiệu quả nhất với đội quân kỵ, bộ này, đó là câu hỏi mà vua tôi Nhà Trần chưa giải đáp ngay được.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 02 Tháng Giêng, 2012, 03:41:10 pm
Trận Bình Lệ Nguyên

Có thể thấy thoạt đầu nhà Trần thực hiện chiến lược đánh chính diện trên bộ với quân Mông Cổ. Trong sử ta không thấy nói gì đến hoạt động của bộ phận quân tiên phong do Trần Quốc Tuấn chỉ huy mà nhắc ngay đến trận Bình Lệ Nguyên như trận đầu tiên.

Theo Nguyên sử, “thấy sứ không về, (Ngột Lương Hợp Thai) bàn với bọn Triệt Triệt Đô đều đem 1.000 quân chia đường mà tiến đến trên sông Thao ở Kinh Bắc, nước An Nam. Lại sai con là A Truật sang giúp và thăm dò tình hình. Người Giao cũng bày nhiều binh vệ, A Truật sai quân trở về báo. Ngột Lương Hợp Thai đòi đi xấp đường tiến gấp. Sai Triệt Triệt Đô làm tiên phong, A Truật ở sau làm diện. Tháng 12, hai quân hội nhau111. Như vậy, trước khi tiền quân và hậu quân Mông Cổ hội nhau ở khoảng ngã ba Bạch Hạc thì trong những hoạt động thăm dò trước đó, có thể chúng đã chạm trán với quân của Trần Quốc Tuấn (lên đường trước đại quân vua Trần hai tháng). Sau lần gặp gỡ này, đại quân của Ngột Lương Hợp Thai mới chia tiền, hậu kéo sang. Bấy giờ, quân của Trần Quốc Tuấn cũng về với đại quân của vua Trần từ Thăng Long tiến vào.

Quân Trần định tổ chức một trận đánh chính diện lớn có tính chất quyết chiến ở Bình Lệ Nguyên. Đây là một cánh đồng cao bên cạnh khúc sông Cà Lồ có nhiều chỗ uốn lượn, tạo ra một bãi chiến trường tương đối bằng phẳng nhưng khá phức tạp và bị sông chia cắt. Chọn chiến trường ở đây, với sông Cà Lồ làm chiến hào thiên nhiên chặn giặc, trong điều kiện khả năng đánh bộ của ta và địch tương đường thì rõ ràng cái địa lợi đã thuộc về ta. Nhưng khả năng đánh bộ của ta trên địa hình bằng phẳng như vậy không thể dễ bề khống chế đội quân kỵ, bộ thiện chiến của Mông Cổ.

Theo Nguyên sử, quyển 121, quân Trần dàn trận có voi, ngựa rất nhiều ở bờ nam, chính vua Trần thân chinh chỉ huy, chờ quân Mông Cổ sang đánh. So với cách phòng ngự tích cực của Lý Thường Kiệt trên sông Cầu cũng như so với điều mà binh thư đã dạy: “Bày trận sát nước, nên chờ địch sang sông nửa chừng mà đánh” (Binh thư yếu lược, tr. 206), thì quân Trần trong trận này mắc một sai lầm nhỏ về mặt chiến thuật, đó là việc không phát huy khả năng đánh giặc giữa dòng của quân thủy. Nếu như ở sông Cầu năm 1077, ba trăm thuyền chiến lập thành hàng rào phòng ngự đầu tiên ở bờ nam có thể cơ động đánh địch từ khi chúng tay trắng vượt sông, thì ở đây quân Trần đã chỉ giấu thuyền ở bến Lãnh Mỹ, cách đó mấy dặm, chủ yếu phòng khi trận vỡ có thuyền để rút. Chính vì vậy quân Mông Cổ vượt sông khá dễ dàng, và cũng vì vậy sau khi tạo được cái thế mà binh pháp thường gọi là “dập bếp, dìm thuyền”112, quân Mông Cổ đã vượt qua được trận của quân Trần.
------------------------------
111 Nguyên sử, quyển 209.

112 Tức quân đã quay lưng ra sông, không có đường lui, chỉ có tiến mới sống được. (Dị bản của câu "dập bếp, dìm thuyền" là câu "đập nồi, dìm thuyền" - ùi)


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 02 Tháng Giêng, 2012, 03:53:36 pm
Theo mô tả của Toàn thư cũng như của Nguyên sử thì trận này quân Trần chiến đấu rất anh dũng, “vua tự làm tướng đốc chiến đi trước xông pha tên đạn”, “Lê Phụ Trần cưỡi ngựa một mình ra vào trận giặc sắc mặt như thường…”, tuy nhiên, không cản được ba thê đội quân Nguyên tràn sang.

Trước thực tế diễn biến chiến trường, vua tôi nhà Trần có điều kiện nhìn nhận lại chiến lược của mình. Một số vẫn liều lĩnh chủ trương quyết chiến, một số khác mà Lê Phụ Trần là đại biểu, chủ trương rút lui bảo tồn lực lượng chờ thời cơ diệt địch.

Vua Trần đã chấp nhận ý kiến của Phụ Trần. Trong trường hợp này thì chấp nhận ý kiến đó cũng tức là chấp nhận chủ trương khai thác triệt để chỗ mạnh về đánh thủy của quân ta: đại quân rút về bến Lãnh Mỹ, sau đó một bộ phận lớn do vua chỉ huy, ngược dòng ra sông Hồng rút nhanh về Thăng Long chuẩn bị gấp cuộc tạm lánh về phía sông Thiên Mạc, một bộ phận nhỏ do Phú Lương hầu chỉ huy xuôi dòng về phía cầu Phù Lỗ, tiếp tục chặn giặc cho triều đình rút lui, để rồi khoảng nửa tháng sau đích thân vua Trần lại đem lâu thuyền lên đánh tan giặc.

(http://img849.imageshack.us/img849/8334/tranbinhlenguyen.jpg)


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 02 Tháng Giêng, 2012, 03:55:47 pm
Như vậy trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến lần thứ nhất, quân thủy mới chỉ được dùng như một phương tiện chuyển quân chứ chưa phải là phương tiện tiến công tiêu diệt địch.

Trong trận Bình Lệ Nguyên, quân thủy chở quân, voi, ngựa đến trận địa đã định, quân ta đổ bộ lên bờ dàn trận theo phương thức đánh bộ, quân thủy lui về bến Lãnh Mỹ (cách cánh đồng Bình Lệ hiện nay khoảng hơn 1 ki-lô-mét về phía hạ lưu), có nhiệm vụ chủ yếu là đón quân bộ rút chạy khi thế trận trên bờ không giữ được.

Đây là thế trận rất quen thuộc trong lịch sử chiến tranh ở nước ta gắn bó chặt chẽ với đặc điểm cơ động bằng thuyền của quân bộ. Chúng ta có thể gặp kiểu trận này ở trận Tu Mao (1069), trận vây đánh Thăng Long của tập đoàn họ Trần (1209) và sau này là trận Bãi Tân, Vạn Kiếp (1285)… Trong thế trận này, quân thủy không trực tiếp tham gia chiến đấu, nhưng đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sinh mệnh quân lính trên bờ cũng như thành bại của trận đánh. Năm 1209, chỉ vì quân giữ thuyền rối loạn mà quân họ Trần đại bại trước quân nhà Lý. Năm 1285, nhờ có chiếc thuyền của Yết Kiêu ở Bãi Tân mà Trần Hưng Đạo thoát khỏi truy kích của quân kỵ Mông Cổ. Chính trong trận Bình Lệ Nguyên, nhờ giữ được thuyền mà quân ta bảo toàn được lực lượng, làm thất bại âm mưu chiến lược của quân Mông Cổ. Để chứng minh vai trò của quân thủy trong loại thế trận này, có thể dẫn ra lời nói của Hưng Hiếu vương xin Trần Hiến Tôn thưởng công cho những người giữ thuyền trong trận đánh người Ngưu Hống năm 1337: “Nếu không có người giữ thuyền, trong quân nghe tin là giặc lấy mất thuyền, thì quân sĩ có thể yên tâm mà đứng vững được chăng?”113.

Trong lịch sử chiến tranh ở nước ta, Bình Lệ Nguyên tiêu biểu nhất cho thế trận này, để tiện trình bày, xin gọi đó là thế trận Bình Lệ Nguyên.
---------------------------
113 Toàn thư, t. II, tr. 145.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 04 Tháng Giêng, 2012, 08:02:12 pm
Nhìn sâu toàn bộ lịch sử chinh phục của quân Mông Cổ, ta thấy thủ đoạn phổ biến của chúng là dùng sức mạnh quân sự áp đảo (dựa vào đội kỵ binh đông, thiện chiến), thực hiện các trận đánh quyết chiến tiêu diệt chủ lực của đối phương càng nhanh càng tốt, từ đó bắt đối phương đầu hàng, thần phục.

Ách thống trị mới của chúng được thiết lập bao giờ cũng chỉ gồm một bộ phận nhỏ quan lại, tướng lĩnh Mông Cổ, còn thì phải dựa vào bộ máy cai trị cũ. Đây là thủ đoạn chung của các đạo quân xâm lược, nhưng quân Mông Cổ, do số quân tinh song không đông, bộ máy quan lại có khả năng trực tiếp cai trị mỏng, nhất là trình độ xã hội, văn hóa thường không phát triển bằng các nước bị chinh phục, thì chiến lược đó càng trở nên bức thiết với chúng. Xâm lược Việt Nam lần này, chiến lược đó càng trở nên thúc bách hơn, bởi lẽ đạo quân của Ngột Lương Hợp Thai còn có nhiệm vụ nữa lớn hơn: tiến công vào phía nam Nam Tống cho kịp với ba mũi phía bắc của Đại hãn Mông Cổ. Hơn nữa, tình hình khí hậu, thời tiết và lương thảo sẽ là mối hiểm họa cho một cuộc chiến tranh kéo dài. Vì vậy, thủ đoạn tác chiến của Ngột Lương Hợp Thai rất rõ ràng: đánh tiêu diệt và bắt hàng vua Trần. Do đó, trong trận Bình Lệ Nguyên, việc tìm cách đánh chiếm đội chiến thuyền của ta ở Lãnh Mỹ trở nên có ý nghĩa chiến lược đối với quân Mông Cổ.

Như vậy, mặc dầu Bình Lệ Nguyên là một trận đánh bộ, nhưng do đặc điểm thế trận và mục tiêu chiến lược của cả đôi bên mà vấn đề quân thủy trở thành trọng tâm rõ nét. Thành bại của quân Mông Cổ không phải ở trận đánh mà ở chỗ chiếm thuyền, từ đó bịt khả năng rút lui của ta, tung quân kỵ truy kích bắt hàng vua tôi nhà Trần.

Theo Toàn thư, ngày 12 tháng chạp năm Đinh Tỵ (tức ngày 17-1-1258), cả quân tiền, hậu của Ngột Lương Hợp Thai đã kéo đến bên kia sông đối diện với cánh đồng Bình Lệ.

Nguyên sử cho ta biết rất rõ kế hoạch tác chiến của quân Mông Cổ. Tiếp tục truyền thống tác chiến của quân Mông Cổ, Ngột Lương Hợp Thai chia quân làm ba thê đội: tiền quân do Triệt Triệt Đô, trung quân do đích thân y chỉ huy, hậu quân do phò mã Hoài Đô và A Truật chỉ huy. Nhưng khác với bình thường, lần này tiền quân lại không có nhiệm vụ đánh thăm dò thẳng vào trận địa quân Trần ở bờ nam mà tiến theo một hướng riêng với nhiệm vụ đặc biệt.

Cũng theo Nguyên sử, quyển 209, sau khi chia quân, Ngột Lương Hợp Thai đã “trao phương lược riêng cho Triệt Triệt Đô rằng: Quân người qua sông rồi thì đừng đánh. Chúng nó tất sẽ đến chống ta, phò mã sẽ theo chặn phía sau nó, người lừa cướp lấy thuyền để nếu quân Nam tan bỡ thì chạy đến sông không có thuyền, tất bị ta bắt được114. Để làm nhiệm vụ này, cánh quân của Triệt Triệt Đô vượt sông dưới mạn hạ lưu, nơi quân ta để thuyền.
-------------------------------
114 Theo Đào Duy Anh, phần chú giải trong Toàn thư, t. II, tr. 286, 287, 288.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 04 Tháng Giêng, 2012, 08:20:32 pm
Phải thừa nhận Ngột Lương Hợp Thai tinh ý và nham hiểm, xứng với lời đánh giá của Trần Hưng Đạo trong Hịch tướng sĩ. Lần đầu tiên tiếp xúc với một đối tượng tác chiến như quân Trần, y đã phát hiện ra đúng chỗ hiểm của thế trận ta. Y đã đánh giá mục tiêu này rất cao, đến nỗi vì không chiếm được thuyền mà Triệt Triệt Đô đã sợ đến mức phải uống thuốc độc tự tử. Quân Mông Cổ tuy đã phá được đối trận của quân Trần, nhưng vì không chiếm được thuyền, nên đã thực sự thất bại về ý đồ chiến lược, từ đó dẫn chúng đến thất bại tất yếu của toàn bộ cuộc chiến. Nguyên nhân sâu xa không phải do sai lầm hiếu thắng của Triệt Triệt Đô, mà chính do Ngột Lương Hợp Thai đã không lường hết khả năng chiến đấu bảo vệ thuyền của quân Trần. Chắc chắn quân Trần đã tổ chức chặn đánh không cho Triệt Triệt Đô thức hiện âm mưu cướp thuyền thâm hiểm, bởi lẽ thế trận Bình Lệ Nguyên là loại thế trận đã khá định hình trong thời Lý – Trần.

Nhìn lại các trận đánh có áp dụng thế trận này trong lịch sử nước ta trước cũng như sau đó, hầu như không mấy khi quân ta sơ hở để đối phương lấy mất thuyền. Nếu như Ngột Lương Hợp Thai nhận ra chỗ hiểm này của ta thì chính quân Trần lại biết sâu sắc hơn để bảo vệ nó. Trong trận Bình Lệ Nguyên, bến thuyền Lãnh Mỹ quả là một điểm trọng yếu. Nhưng với thất bại của Triệt Triệt Đô và cuộc rút lui an toàn của vua tôi nhà Trần để chỉ nửa tháng sau đã đủ sức tiến công quét sạch quân Mông Cổ khỏi biên giới nước ta, cũng đủ thấy đó không phải là một điểm sơ hở.

Nhờ giữ được thuyền, quân ta rút lui an toàn, mặc cho quân kỵ Mông Cổ chạy đuổi bên bờ, bắn tên và nhìn theo bất lực.

(http://img46.imageshack.us/img46/2176/b8cc85fee734406e9970861.jpg)


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 04 Tháng Giêng, 2012, 08:23:08 pm
Như vậy, quân Trần hành quân đến Bình Lệ Nguyên cũng bằng thuyền vả rút khỏi đó cũng bằng thuyền. Những thuyền này có khả năng chở cả voi, ngựa của các tướng lĩnh chỉ huy. Con đường hành quân đó là con đường nào? Theo chúng tôi đó là con đường từ Thăng Long ngược dòng sông Lô (tên gọi sông Hồng thời xưa) lên ngã ba sông Cà Lồ hiện đã bị lấp.

  Chỗ này hiện có tên là bãi Vân Cốc, dấu tích một cửa sông lớn thời xưa. Chênh chếch bên hữu ngạn, về phía hạ lưu là cửa vào sông Đáy (cửa Hát). Xưa kia hẳn đây là một khúc sông rất rộng. Đến tận gần đây người ta mới lấp hẳn cửa sông Cà Lồ thông với sông Hồng. Trong bản đồ Hồng Đức (bản Thư viện Khoa học số A. 2499), đây còn là một cửa sông rất lớn, nhận nước từ sông Hồng đổ qua sông Như Nguyệt (tức sông Cầu) vào Lục Đầu, rồi ra biển. Cũng theo cách diễn đạt của tác giả bản đồ thì sông Cà Lồ thời đó rất lớn và là một mạch chính của sông Cầu.

Quân Trần đi thuyền vào cửa sông Cà Lồ, xuôi bến Lãnh Mỹ, từ đây có thể dễ dàng ngược ra sông Hồng hoặc xuôi đến Phù Lỗ. Căn cứ vào quy luật chung của thế trận Bình Lệ Nguyên và yêu cầu phải đi gấp về kinh thành để tổ chức tạm lánh giặc, có thể vua Trần đã từ Lãnh Mỹ đưa đại quân ngược ra sông Hồng về Thăng Long và cho một bộ phận do tướng tôn thất Phú Lương hầu chỉ huy rút về Phù Lỗ chặn đánh quân giặc tiến theo đường bộ.

  Điều này phù hợp với ghi chép của Toàn thư. Tài liệu duy nhất nói vua Trần lui về Phù Lỗ là An Nam chí lược.

  Cương mục dựa vào Nguyên sử loại biênCương mục tục biên chép quân Mông Cổ ở lại Thăng Long chín ngày. Toàn thư chép: Ngày 24 tháng Chạp âm lịch (29-1-1258), lâu thuyền của quân Trần đánh tan quân Mông Cổ ở Thăng Long. Như vậy, chậm lắm thì ngày 15, quân Mông Cổ đã vào Thăng Long. Nếu vua Trần rút về Phù Lỗ, ngày 12 còn ở Bình Lệ Nguyên, ngày 13 đanh giặc ở Phù Lỗ, ngày 14 chặn giặc ở bến Đồng, thì không đủ thời gian để tổ chức cuộc so tán kinh thành dường như không được chuẩn bị từ trước. Cho nên nói vua Trần đưa đại quân đi thuyền từ Lãnh Mỹ ngược ra sông Hồng về Thăng Long là có lý hơn.


Sau trận Phù Lỗ, quân Mông Cổ tiến đến áp sát kinh thành thì quân Trần chủ động rút khỏi Thăng Long về trấn tại cụm căn cứ Thiện Mạc, trên khúc sông Hồng cách Thăng Long khoảng 20 ki-lô-mét về phía nam. Tại đây, nhà Trần củng cố lực lượng và chỉ chín ngày sau đã tổ chức cuộc phản công chiến lược quét sạch quân Mông Cổ khỏi bờ cõi. Trong cuộc phản công này, quân thủy với tư cách là một lực lượng tiến công đã đóng góp phần quan trọng vào thắng lợi của quân Trần.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 04 Tháng Giêng, 2012, 08:29:35 pm
Trận Đông Bộ Đầu

Hầu như không có tài liệu gốc nào ghi chép tỉ mỉ về cuộc phản công này. Chỉ thấy trong Toàn thư, các sách sau đều chép lại. Theo Toàn thư, đây là trận phản công chủ yếu sử dụng quân thủy: “Ngày 24, vua và thái tử ngự thuyền lầu tiến quân đến bến Đông (Đông Bộ Đầu) đón đánh, phá được quân giặc”115.

Quân Trần đang đóng ở Thiên Mạc, tiến quân đường thủy lên Thăng Long là tiện nhất, lại tránh được sức phản kháng trên bộ của quân Mông Cổ. Dùng thuyền lầu – loại thuyền chở được nhiều lính – chứng tỏ quân Trần chủ trương một trận đổ bộ bất ngờ vào những ngày cuối tuần trăng. Địa điểm đổ bộ được chọn, rõ ràng là bến cảng Đông Bộ Đầu.

Diễn biến trận đánh ra sao, chúng ta không có cơ sở nào để dựng lại, nhưng có thể nói chắc chắn được là trận này quân Trần thắng và khống chế dọc trục sông Hồng, khiến quân Mông Cổ không thể vượt qua sông rút về theo đường tiến quân cũ được nữa, nên một bộ phận đã rơi vào phục binh của chủ trại Quy Hóa là Hà Bổng.

Cuộc kháng chiến lần thứ nhất chống quân Mông Cổ của quân dân thời Trần đã kết thúc nhanh chóng. Từ những trận đánh bất lợi đầu tiên, vua tôi nhà Trần đã tìm ra cách đối phó thích hợp nhất với quân Mông Cổ. Đó là việc xây dựng quân thủy, nghệ thuật đánh thủy như một thủ đoạn tác chiến chủ yếu, nhờ đó khai thác triệt để chỗ mạnh của ta về địa hình, về sở trường tác chiến. Do đó, dù trong thế bất lợi của Bình Lệ Nguyên, ta vẫn bảo tồn lực lượng, làm thất bại mưu đồ chiến lược của quân Mông Cổ, đặt chúng vào một tình thế phải chấp nhận cuộc chiến tranh của ta và đánh theo nhịp độ, phương thức của ta.

(http://img444.imageshack.us/img444/6082/luocdodienbienlanthunha.jpg)
Lược đồ diễn biến cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ nhất

Thắng lợi giòn giã ở Đông Bộ Đầu năm ấy, với lực lượng quân Trần chủ yếu là quân đổ bộ đường thủy, đã khẳng định chiến lược đúng đắn của nhà Trần.

Sử sách không nói rõ, nhưng chúng ta có cơ sở để nghĩ rằng Lê Phụ Trần là linh hồn của đường lối chiến lược đó, mặc dầu bấy giờ ông mới chỉ giữ một chức vụ không lớn trong triều. Tư tưởng sáng suốt của Lê Phụ Trần biến thành đường lối đánh giặc của cả nước là do thái độ trọng nhân tài và rất tỉnh táo của vua Trần Thái Tôn cũng như sự ủng hộ của các tôn thất nhà Trần khác như viên tướng già Trần Thủ Độ, viên tiết chế trẻ tài ba Trần Quốc Tuấn (lúc này mới khoảng 30 tuổi)… Trong thời kỳ chống nhau với quân Ngột Lương Hợp Thai, vua Trần luôn giữ Phụ Trần ở bên và khi giặc tan, Phụ Trần được định công đầu, cất làm Ngự sử đại phu, với lời khen đầy lòng biết ơn: “Trẫm không có khanh thì làm gì được có ngày nay”. Đáng chú ý hơn, một năm sau, khi Thái Tôn nhường ngôi cho con mình là thái tử Hoảng (tức Thánh Tôn), người đã cùng Thái Tôn chỉ huy thuyền lầu đánh Đông Bộ Đầu năm trước, thì vị vua mới này đã chính thức phong cho Phụ Trần chức Thủy quân đại tướng quân, lần đầu tiên thấy ghi trong chính sử nước ta. Khi về già, Phụ Trần được giao làm giáo thụ cho thái tử Khảm (tức Nhân Tôn) – vị vua của hai lần chiến thắng quân Nguyên (1285, 1288).
--------------------------
115 Toàn thư, t. II, tr. 29. Đông Bộ Đầu là bến sông lớn ở vào khoảng dốc Hàng Than hiện nay.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 07 Tháng Giêng, 2012, 07:37:54 pm
CUỘC KHÁNG CHIẾN LẦN THỨ HAI (1285)

Sau khi đánh chiếm được toàn bộ đất nước Trung Quốc và thành lập đế quốc Nguyên (1271), Đại hãn Mông Cổ Hốt Tất Liệt (bấy giờ đã là Hoàng đế Nguyên Thế Tổ) tiếp tục mưu đồ bành trướng ra những phần còn lại mà trước đây luôn là nỗi thèm khát của mọi triều đại phong kiến Trung Hoa. Từ đây, lịch sử chinh phục của “quân Mông Cổ phương Đông” (tức quân Nguyên) bắt đầu bước vào một giai đoạn mới, nhưng là một giai đoạn hoàn toàn khác trước: quân Mông Cổ bách chiến bách thắng trở nên một đội quân liên tiếp bại trận. Biên giới của Đại Nguyên mãi mãi dừng lại trước sức chống trả mãnh liệt của nhân dân vùng Đông - Nam Á. Địa bàn sông biển và tài thủy chiến của các nước trong khu vực này đó là một trong những nguyên nhân khiến cho đội quân kỵ, bộ Mông Cổ thiện nghệ phải bó tay. Mặc dầu sau khi chiếm được cả phần đất còn lại của Nam Tống, được bọn quan lại Trung Quốc đầu hàng giúp đỡ, chúa Nguyên đã ra sức xây dựng những đội thuyền chiến lớn, nhưng lịch sử chinh phạt vượt biển của Nguyên là lịch sử thất bại hoàn toàn. Đó là thất bại của nhiều lần vượt biển đánh Nhật Bản (1274, 1281, 1291…), một lần vượt biển đánh Chiêm Thành (1283), một lần vượt biển đánh Đại Việt (1287) và nhiều lần vượt biển uy hiếp, xâm lược trực tiếp các đảo thuộc In-đô-nê-xi-a hiện nay…

(http://img714.imageshack.us/img714/7458/mongole.jpg)
Lãnh thổ đế quốc Mông Cổ thời Hốt Tất Liệt ( Kubilai Khan)

Một đội quân không có truyền thống thủy chiến thất bại trong các cuộc viễn chinh vượt biển thì khả dĩ còn có thể chấp nhận. Song, chính đội quân thiện nghệ kỵ, bộ ấy vẫn thất bại thảm hại trong cả ba lần xâm lược Đại Việt – một nước có đường biên giới trên lục địa, nối liền với đế quốc Nguyên, thì đó là một điều rất đáng suy nghĩ. Vì vậy, có thể nói, trong lịch sử thất bại của quân Mông Cổ phương Đông này, ba lần thất bại ở Việt Nam là thất bại to lớn, sâu cay và thảm hại nhất.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 07 Tháng Giêng, 2012, 07:44:35 pm
Năm 1285, quân Mông Cổ một lần nữa xâm lược nước ta. Nhưng lúc này, nó không còn là một đạo quân của “Ulus  phương Đông”116 nữa mà đã trở thành đạo quân của “thiên triều” mới, thay thế triều Nam Tống ở Trung Quốc, đó là vương triều Nguyên117.

Trong quan trọng chiến tranh với Nam Tống, đặc biệt sau khi chiếm được toàn bộ miền đất ven biển Hoa Nam Trung Quốc, cơ cấu quân đội Mông Cổ ít nhiều có sự thay đổi. Đó là sự xuất hiện những bộ phận quân thủy và những viên tướng Mông Cổ có thiên hướng chuyên đánh thủy. Có thể nói quân thủy Nguyên kế thừa hoàn toàn từ quân thủy Nam Tống. Bộ phận quân thủy đó sau khi chinh phục xong Nam Tống lại càng được chú trọng phát triển để đáp ứng khát vọng bành trướng ra các nước cách biển ở Đông và Đông - Nam Á. Các căn cứ quân thủy ở ven biển của Nam Tống trước đây trở thành bàn đạp cho những cuộc viễn chinh vượt biển của đế quốc Nguyên. Trong số đó đáng chú ý nhất là căn cứ Tuyền Châu.

Cũng như Khánh Nguyên, Hãm Phố, Thượng Hải. nhà Nguyên đặt một ty thị bạc (tức cơ quan quản lý việc buôn bán đường biển) ở Tuyền Châu. Đây là một cảng biển lớn ở ven biển Phúc Kiến (thời Nguyên là Phúc Châu). Từ thế kỷ VI, thời Nam Bắc Triều, Tuyền Châu bắt đầu trở thành một cảng buôn bán với các nước hải ngoại. Trong suốt thời kỳ hoạt động ngoại thương sôi nổi của nhà Đường thì Tuyền Châu vẫn là một cửa khẩu thông thương giữa Trung Quốc với các nước hải ngoại. Nhưng từ thời Tống, vị trí của Tuyền Châu nổi bật hẳn lên so với các trấn cảng khác, trở hành “đệ nhất đại cảng khẩu” của Trung Quốc đương thời. Năm 1087, nhà Tống chính thức đặt tại đây một ty thị bạc, đặc biệt chú trọng đến việc buôn bán thông thương với các nước hải ngoại. Chính vì vậy khi “sắp có việc ở hải ngoại” (Nguyên sử), Hốt Tất Liệt thông qua tên thương nhân Bồi Thọ Canh, bí mật đánh úp quân Tống ở Tuyền Châu, chiếm cảng này, biến đây thành trung tâm của những mưu mô đen tối, nhằm chinh phục các nước phương Nam. Toa Đô được giao làm Tả thừa Tuyền Châu với trọng trách chính là “chiêu dụ” các nước phương Nam. Lịch sử chinh phục các nước phương Nam của nhà Nguyên từ đây gắn liền với tên tuổi Toa Đô cho đến khi y bị nhận chìm xác trên sông Hàm Tử năm 1285.

Từ cuối năm 1282, nhà Nguyên rục rịch chuẩn bị những cuộc nam chinh một cách quy mô và có kế hoạch. Đại Việt và Chiêm Thành là những mục tiêu quân sự đầu tiên. Tham vọng trong chương trình nam chinh của nhà Nguyên rất lớn. Ngoài Đại Việt, Chiêm Thành, triều đình Nguyên còn “bàn việc đem binh đánh các nước Xiêm, La Hộc, Mã Bát Nhi, Tô Mộc Đỗ Lạt…”118.
------------------------
116 Lãnh địa Đại hãn chia cho các con.

117 Sau khi Đại hãn Mông Kha chết, Hốt Tất Liệt nắm giữ toàn bộ quyền hành và năm 1271 chính thức lập nên vương triều Nguyên. Năm 1279, nhà Nguyên tiêu diệt hoàn toàn nhà Nam Tống, chiếm toàn bộ Trung Quốc.

118 Xiêm và La Hộc sau này hợp thành Xiêm La, đều ở lưu vực sông Mê Nam; Tô Mộc Đỗ Lạt tức Xu-ma-tơ-ra nay thuộc In-đô-nê-xi-a; Mã Bát Nhi ở ven biển đông - nam Ấn Độ.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 07 Tháng Giêng, 2012, 07:49:05 pm
Trước đó, đã nhiều lần Hốt Tất Liệt cử thuyền đem thư đến uy hiếp, chiêu dụ các nước nhỏ ở các đảo Gia-va, Ca-li-man-tan…, thậm chí đến tận nước Câu Lam ở ven biển tây-nam Ấn Độ. Tất nhiên, thực trạng của quân thủy Nguyên không cho phép Hốt Tất Liệt dễ dàng và nhanh chóng thực hiện tham vọng của mình như thuở chỉ cần tung hoành trên lưng ngựa. Vì vậy, một mặt nhà Nguyên ra sức xây dựng quân thủy, mặt khác tập trung chinh phục bằng được Đại Việt, Chiêm Thành để khai thông con đường bộ có thể trực tiếp vươn tay tới các nước khác ở lục địa Đông-Nam Á.

Mưu đồ này được Toa Đô phân tích rõ: “Giao Chỉ liền đất với Chân Lạp, Chiêm Thành, Vân Nam, Xiêm, Miến, vì vậy nên đặt ngay hành tỉnh trên đất ấy và đóng quân trấn giữ ở ba đạo: Việt Lý (nam Đại Việt, bắc Chiêm Thành, tức miền Bình Trị Thiên ngày nay), Triều Châu (tức Quảng Đông), Tỳ Lan (tây-bắc đảo Hải nam), để lấy lương cấp cho quân sĩ, tránh được vận tải đường biển mệt nhọc119.

Thực hiện mưu đồ này, cuối năm 1281, nhà Nguyên lập hành tỉnh Chiêm Thành trao cho bọn Toa Đô, Lưu Thâm… lo việc đánh Chiêm Thành. Năm 1279, nhà Nguyên xuống chiếu đóng thuyền chiến đánh Đại Việt. Cũng khoảng năm 1281 – 1282, lập An Nam tuyên úy đồng thời ra sức cho sứ giả uy hiếp, buộc vua tôi nhà Trần cho mượn đường và cung cấp lương thảo cho đạo quân đánh Chiêm Thành…

Năm 1284, đạo quân thủy do Toa Đô chỉ huy đánh Chiêm Thành bị thảm bại phải co về chốt ở vùng Việt Lý, nơi y nhận thấy là một vị trí chiến lược cho kế hoạch nam chinh của quân Nguyên.

Tức giận vì nhà Trần không chịu chấp nhận yêu sách, một mặt Hốt Tất Liệt phái thêm thuyền chiến tăng cường cho Toa Đô, dự định biến cánh quân thủy của Toa Đô thành một mũi dao thọc theo đường biển từ phía nam lên, mặt khác gấp rút cho triển khai kế hoạch xâm lược Đại Việt đã sắp sẵn từ lâu. Toàn bộ bộ máy lo toan việc hải ngoại được huy động vào cuộc chiến tranh này làm thành hai cánh tiến quân đường bộ từ phía bắc xuống. Cánh quân chính gồm đạo quân của “thiên triều” trung ương do thái tử Trấn Nam vương Thoát Hoan chỉ huy cùng với quan quân trong hành tỉnh Kinh Hồ chuyên lo việc phương nam do A Lý Hải Nha chỉ huy. Cánh quân này. Tiến theo đường Cao Bằng, Lạng Sơn đánh sang. Một cánh quân bộ khác, lực lượng nhỏ hơn, do hành tỉnh Vân Nam chỉ huy tiến theo đường từ Vân Nam theo sông Hồng sang. Tổng số quân xâm lược lên đến 50 vạn quân.
-----------------------
119 Nguyên sử, quyển 209. Theo Hà Văn Tấn, sách đã dẫn, tr. 163.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 07 Tháng Giêng, 2012, 07:52:06 pm
Như vậy, nếu như cuộc tiến quân 1258 của quân Mông Cổ chỉ là một thủ đoạn thực hiện chiến lược lớn đánh quỵ Nam Tống thì cuộc tiến quân lần này được thực hiện theo một chiến lược hoàn chỉnh nhằm xâm lược nước ta để mở đường chiếm toàn bộ Đông-Nam Á. Nếu như trước đây, đó chỉ là một đạo quân chưa đầy 5 vạn thì nay con số đó lên tới gấp chục lần. Nếu như trước đây, quân Mông Cổ chỉ tiến quân theo một đường, thì nay chúng triển khai trên cả ba hướng, đặc biệt có một bộ phận quân thủy với những thuyền chiến vượt biển lớn. Rõ ràng quân dân thời Trần đứng trước một thử thách lớn hơn nhiều lần. Kẻ địch tiến từ Vân Nam xuống, Quảng Tây sang thì đã quá quen thuộc trong lịch sử chống ngoại xâm phương bắc; kẻ địch từ phía biển Chiêm Thành đi lên, ta cũng đã có những phương án chuẩn bị từ thời Lý Thường Kiệt. Nhưng chưa bao giờ nước ta liền một lúc phải đối phó với một cuộc tiến công từ cả ba hướng như vậy.

Có những biểu hiện chứng tỏ nhà Trần đã tiến thêm một bước nhận thức về chiến lược đánh thủy trong đối sách quân sự chống Nguyên.

Từ hội nghị Bình Than cuối năm 1282, với hàng loạt hiện tượng xoay quanh Trần Khánh Dư, ta có thể thấy chủ trương đánh thủy đã được khẳng định. Trần Khánh Dư vốn là một viên tướng có tài đánh thủy. Khi hội nghị Bình Than họp, vì bị tội, ông còn đang lênh đênh sông nước làm nghề đốn củi, bán than. Lúc này, khả năng mặt trận đường biển đã mở ra vì ngày càng có nhiều tin tức về việc Toa Đô chuẩn bị chiến thuyền nam chinh. Địa điểm họp lại là một vùng căn cứ quân thủy lớn vào loại nhất đương thời, ghép thuyền làm thành nhà họp thảo luận kế sách đánh Nguyên trên sông nước, làm đậm màu sắc một hội nghị bàn về chủ trương đánh thủy. Hội nghị thống nhất gọi Trần Khánh Dư về, tha tội mà hỏi kế, và Khánh Dư đã trả lời “nhiều câu đúng ý vua”120. Chính hội nghị đó trao chức phó tướng cho Khánh Dư trông coi toàn bộ mặt trận đường biển, biến Vân Đồn thành một căn cứ quân thủy mạnh, sẵn sàng đối phó với quân Nguyên trên mặt trận này.

Chủ trương đánh thủy đó ngày càng thể hiện rõ qua diễn biến của cuộc chiến tranh, mà điều thấy rõ nhất là mọi hoạt động tác chiến đều diễn ra trên các trục sông và những võ công lớn nhất của quân Trần ngày càng được thực hiện trên các trục sông đó.

Một năm sau hội nghị Bình Than, vua Trần đích thân chỉ huy cuộc tập trận thủy, bộ. Mùa thu năm sau nữa, dưới sự chỉ huy của Trần Quốc Tuấn, toàn bộ quân vương hầu tổng duyệt ở cảng Đông Bộ Đầu, dường như để chuẩn bị nhuần nhuyễn chiến lược đã chuẩn bị trong hội nghị Bình Than. Vì, sau lần tổng duyệt này thì “chia quân đến các xứ Bình Than đóng giữ các nơi xung yếu”121.

Trong giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh, tức khi quân Nguyên bắt đầu tiến vào nước ta, quân Trần triển khai thế trận trên ba hướng để chặn giặc. Hướng chính Cao Bằng, Lạng Sơn do Trần Quốc Tuấn chỉ huy; hướng sông Hồng do Trần Nhật Duật và Trần Văn Lộng chỉ huy; hướng phía nam do Trần Quang Khải chỉ huy, cả ba hướng đều dùng thuyền để triển khai đội hình, vua Trần giữ khoảng hơn một nghìn thuyền chiến ở Thăng Long sẵn sàng chi viện cho hướng phòng ngự chính của Trần Quốc Tuấn.

Bộ phận đông nhất tập trung trên hướng hành quân của Thoát Hoan. Tại đây, quân thủy Trần được huy động tới vài nghìn thuyền chặn quân Nguyên từ biên giới tràn sang.

-----------------------
120, 121 Toàn thư, t. II, tr. 53, 55.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 14 Tháng Giêng, 2012, 03:51:15 pm
1. Trận Vạn Kiếp – Lục Đầu

Sau loạt trận chặn giặc ở biên giới, Trần Quốc Tuấn lui về giữ Vạn Kiếp, là vùng được coi như trọng điểm phòng thủ phía bắc của quân Trần. Theo thế trận truyền thống, Trần Hưng Đạo bố trí nhiều điểm chốt quân trên bộ, như Phả Lại, Vạn Kiếp, đồng thời có khoảng một nghìn thuyền đóng ở các bến cảng hỗ trợ.

Có một điểm mới trong lực lượng địch, đó là việc xuất hiện một số thuyền chiến trong cánh quân Thoát Hoan. Đây là thuyền quân Nguyên vừa chiếm được trong loạt trận biên giới, được bổ sung thêm những thuyền mà Thoát Hoan vừa cho quân dừng lại mười ngày để tìm kiếm và đóng thêm. Đơn vị quân thủy dã chiến này được trao cho Ô Mã Nhi122, Nạp Hải, Tôn Lâm Đức chỉ huy, sẵn sàng phối hợp đánh xuống Vạn Kiếp. Chính trong tình hình mới đó, quân thủy của ta ở Lục Đầu không thể bị động chỉ làm nhiệm vụ chờ quân rút lui mà trở thành một bộ phận phòng thủ mặt sông, vừa giữ thuyền, vừa chặn không cho quân thủy Nguyên vòng sau lưng đánh vào trận bộ của ta. Để đảm nhiệm tốt nhiệm vụ này, vua Trần đã chuẩn bị hơn một nghìn chiến thuyền từ Thăng Long sẵn sàng ứng cứu.

Ngày 11-2-1285, từ địa điểm tập kết của chúng cách Vạn Kiếp mười dặm, quân Nguyên đi cả đường thủy, đường bộ xuôi theo dòng sông Thương, tiến công vào loạt cứ điểm chốt giữ của ta trên bộ như Vạn Kiếp, núi Phả Lại. Quân ta chống giữ anh dũng trong suốt ba ngày. Sang ngày 14-2-1285, có lẽ thấy tình hình các điểm chốt trên bộ khó giữ được, Trần Quốc Tuấn cho quân rút xuống thuyền. Thuyền chiến của bọn Ô Mã Nhi tập trung lực lượng đánh phá kế hoạch rút lui của ta. Trước tình hình đó, vua Trần tung lực lượng dự bị ở Thăng Long, với mười vạn quân và hơn 1.000 thuyền chiến đến ngã ba Đại Than, nơi sông Đuống đổ ra Lục Đầu để trợ chiến cho quân thủy của Trần Hưng Đạo, đồng thời chặn đường không cho quân thủy Nguyên theo đường sông Đuống thọc vào Thăng Long.

Theo Nguyên sử, quyển 209, quân Nguyên bắt được một số quân Trần, họ đã nói rằng; “Nhật Huyên (tức Trần Thánh Tôn) điều đạo quân Thánh Dực, hơn một nghìn thuyền giúp Hưng Đạo Vương cự chiến”. An Nam chí lược cũng chép tương tự: “Ngày nhâm ngọ, mồng 9 tháng giêng (tức ngày 14-2-1285), thế tử (tức vua Trần) đem mười vạn quân, đại chiến ở Bài Than. Nguyên súy Ô Mã Nhi, chiêu thảo Nạp Hải, trấn thủ Tôn Lâm Đức đem những thuyền bắt được từ trước đánh tan được”123.

Như vậy cả quân thủy của Trần Hưng Đạo lẫn quân thủy của vua Trần đều chạm trán với quân thủy Nguyên. Một trận thủy chiến lớn đã diễn ra trên khúc sông Lục Đầu. Dĩ nhiên, không phải dễ dàng mà đám quân thủy Nguyên dã chiến, với chừng vài trăm thuyền là cùng (số thuyền quân Nguyên cướp được trên biên giới được chép lại là vài chục chiếc – theo An Nam chí lược), lại đánh bại được quân Trần ở đó có tới hai nghìn thuyền, như Lê Trắc đã khoác lác. Chắc chắn là quân Trần đã chủ động tạm rút lui bảo toàn lực lượng về Thăng Long.
-----------------------
122 Chúng ta còn thấy xuất hiện viên tướng này nhiều lần trên mặt trận sông biển trong chiến tranh xâm lược nước ta. Vốn là một viên tướng rất khỏe, thạo chiến trận, Ô Mã Nhi được liệt vào hạng các “bạt đô” của Nguyên, tức “những người dũng cảm vô địch” (theo binh chế Nguyên). Ô Mã Nhi từng xuất hiện trong đội thuyền chiến cứu viện Toa Đô năm 1284, nhưng bị bão tan tác, trở về bị tội, nhà Nguyên cho đi theo Thoát Hoan lập công chuộc tội vì vậy ít nhiều cũng có khả năng đánh thủy. Từ đây, y bắt đầu trở thành linh hồn của quân thủy Nguyên trong chiến tranh xâm lược Đại Việt.

123 An Nam chí lược, sách đã dẫn, Đào Duy Anh, chú giải Toàn thư, t. II, tr. 296.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 14 Tháng Giêng, 2012, 03:57:24 pm
2. Phòng thủ - rút lui trên trục sông Hồng

Sau trận Vạn Kiếp, một mặt quân Trần bố trí thuyền chiến tiếp tục cản địch ở một số khúc sông, nơi quân Nguyên có thể đi qua, mặt khác dồn lực lượng lập một trận quy mô ở Thăng Long phía nam sông Hồng, che chở cho kinh thành rút lui. Về trận ở bờ nam sông Hồng, sử sách của ta cũng như Nguyên đều chép, nhưng chỉ có Nguyên sử, quyển 209, phần An Nam truyện cho thấy một đôi nét về cách bố phòng của ta: Nhật Huyên (vua Trần) bố trí binh thuyền, dựng rào gỗ dọc sông. Thấy quan quân (quân Nguyên) đến bờ lập tức khai pháo hô lớn thách đánh”124. Theo cách ghi chép của Toàn thư thì trung tâm đối trận có lẽ ở cảng Đông Bộ Đầu, có thể quân Nguyên định lợi dụng bãi nổi để bắc cầu phao vượt sông gần khu vực đó. Quân thủy Nguyên đã tham gia trận đánh này (sau đó thấy quân Nguyên dùng thuyền chiến tiếp tục truy kích quân Trần). Chính vì vậy, thuyền chiến Trần được bố trí ở tuyến phòng thủ ngoài cùng. Ta đã gặp cách phòng thủ này trong trận sông Cầu năm 1077, với 200 thuyền chiến dàn ở bờ nam, trước rào lũy và đội quân phòng thủ trên bờ. Sau này, trong cách phòng thủ trên sông Hồng chống quân Minh năm 1407, nhà Hồ cũng áp dụng một hệ thống bố phòng tương tự. Cách bố trí quân thủy như vậy nhằm chủ động đánh địch ngay khi chúng vượt sông, đồng thời khi có thời cơ sẽ đổ bộ đánh sang trận địa địch, thực hiện phòng thủ tích cực. Theo Nguyên sử, quyển 13, Bản kỷ thì vua Trần huy động hơn một nghìn thuyền của mình vừa rút từ Vạn Kiếp về tham gia trận phòng thủ này.

Sau hai ngày chiến đấu giằng dai (ngày 17 và 18-2-1285), quân Trần rút khỏi Thăng Long. Một bộ phận chốt lại ở cứ điểm Thiên Mạc, lấy bãi nổi giữa sông làm trung tâm, còn lại phần lớn xuôi về cửa Hải Thị (ngã ba sông Luộc) tổ chức chốt phòng thủ cuối cùng trước cửa ngõ “kinh đô thứ hai”.

Không loại trừ khả năng quân Trần ở cụm cứ điểm Thiên Mạc có tổ chức chốt trên bộ để chặn đánh quân Nguyên truy kích, nhưng có thể khẳng định nhà Trần chủ trương dùng quân thủy và dùng đánh thủy là chính trong giai đoạn cơ động chiến lược này.

Thiên Mạc là một khúc sông hiểm, với bãi nổi lớn chia nước thành hai, tạo ra hai ngã ba sông nước mênh mông ở hai đầu. Kẻ địch đi thuyền đến đây luôn luôn ở cái thế bị hai dòng đánh một. Quân chốt ở đây chẳng những nắm được cả hai dòng mà còn luôn luôn được hưởng một “đại chiến hạm” tự nhiên là bãi nổi giữa sông, nơi có thể bố trí quân bộ hỗ trợ cho quân thủy tác chiến trên sông.

Chúng ta cũng đã nói tới Thiên Mạc như một cụm cứ điểm, bao gồm cả một số đồn lũy ở tả ngạn nhằm khống chế tuyến đường bộ như Chương Dương, Tây Kết… Rút khỏi Thăng Long về Thiên Trường, nhà Trần biến Thiên Mạc thành chốt ải tiền tiêu ngăn chặn quân Nguyên truy kích.

Từ khi tràn xuống đồng bằng, đội thuyền chiến của Ô Mã Nhi trở thành đội quân tiên phong sục sạo, truy kích vua Trần và cướp bóc vơ vét lương thực. Đó là một mối lo cho quân Trần. Vì vậy, quân Trần chốt ở Thiên Mạc chủ yếu là quân thủy và cũng có trọng trách chặn đánh quân thủy Nguyên. Người được nhà Trần giao cho trách nhiệm chốt ở đây là Trần Bình Trọng, bấy giờ là con rể của Thượng hoàng (tức Thánh Tôn).
----------------------
124 Theo Hà Văn Tấn, và Phạm Thị Tâm: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII, in lần thứ ba, Hà Nội, 1972, tr. 201. Đào Duy Anh, chú giải Toàn thư, t. II, tr. 296.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 14 Tháng Giêng, 2012, 04:09:23 pm
Để vượt qua hệ thống phòng thủ Vạn Kiếp, quân Nguyên phải mất bốn ngày. Từ đó tiến về Thăng Long, quân Nguyên lại mất thêm năm ngày nữa. Nhưng để vượt qua Thiên Mạc, chúng đã phải mất bảy ngày. Chính đây là thời gian cần thiết cho trận địa ở ngã ba Luộc (cửa Hải Thị) tăng cường các chướng ngại và triều đình ở Thiên Trường chuẩn bị triển khai kế hoạch tản lánh tới những vùng an toàn hơn. Tấm gương hy sinh anh dũng của Trần Bình Trọng cùng với lời đối đáp vô cùng khảng khái, phần nào phản ánh mức độ gay gắt của cuộc chiến đấu đã diễn ra ở đây. Sự hy sinh của Bình Trọng trên chiến trường sông nước, là sự tiếp nối truyền thống đánh thủy trong gia đình ông.

(http://img441.imageshack.us/img441/3313/46tbtrong.jpg)
Thà làm quỷ nước Nam...

  Trong kiến thức sử dân gian (Thiên Nam ngữ lục, q. II, tr. 46) Trần Bình Trọng và Lê Phụ Trần được coi như là một người và sự kiện của hai người được chép lẫn lộn với nhau. Các tài liệu chính sử (Toàn thư, t. II, tr. 58; Cương mục, V, tr. 167; Lịch triều hiến chương loại chí, t. I, tr. 317…) dè dặt hơn, đều chép rằng tổ phụ của Trần Bình Trọng làm quan thời Trần Thái Tôn (1226 – 1258), vốn họ Lê (dòng dõi Lê Hoàn, người châu Ái), được ban quốc tính (họ vua). Trong thời Thái Tôn, chỉ thấy một người họ Lê được ban quốc tính là Lê Tấn (tức Lê Phụ Trần), hưởng theo chế độ vương hầu (các con với Chiêu Thánh đều được phong thượng vị hầu (Tông) và công chúa (Khuê). Lê Trắc trong An Nam chí lược cho biết tước của Phụ Trần là Bảo Văn hầu và tước của Bình Trọng là Bảo Nghĩa hầu (Toàn thư chép là vương). Có thể đây là kiểu xưng tước trong một gia đình như Hưng Đạo vương với các con (Hưng Vũ vương, Hưng Nhượng vương…).

  Các tài liệu trên cho phép đặt một gạch nối giữa hai nhân vật này. Theo cách tính thế hệ thì họ không thể là một người như trong trí nhớ dân gian hồi thế kỷ XVI – XVII được. Toàn thư cho biết Bình Trọng là chồng sau của công chúa Thụy Bảo, tức con rể Thái Tôn, năm 1285 trước khi chết mới có con gái nhỏ sau này lấy Trần Anh Tôn sinh ra Trần Minh Tôn. Bình Trọng lấy Thụy Bảo ít ra cũng phải sau năm 1277 là năm chồng Thụy bảo là Uy Văn Vương Toại chết (lúc đó Toại 24 tuổi). Trái lại, Phụ Trần thuộc thế hệ Thái Tôn; năm 1250 đã thấy xuất hiện trong Toàn thư với chức Ngự sử trung tướng (thừa) và được nhắc đến nhiều trong những năm 50 – 60. Năm 1274, hẳn đã già, ông được vua cho làm thiếu sư kiêm việc trông nom dạy dỗ thái tử. Chúng ta đều biết Trần Thái Tôn sau khi giáng Chiêu Thánh xuống làm công chúa vì không có con (thực ra năm 1233 bà đã sinh Hoàng thái tử Trịnh, nhưng Trịnh chết ngay khi mới ra đời), đã gả cho Phụ Trần năm 1258. Lúc đó, Chiêu Thánh đã 41 tuổi. Đến năm 1278, Chiêu Thánh chết thì đã có hai người con của Phụ Trần. Bình Trọng có thể là con của Phụ Trần, họ đều gốc gác người châu Ái, dòng dõi Lê Đại Hành. Tất nhiên, Bình Trọng không phải là con đẻ của Phụ Trần với Chiêu Thánh. Có lẽ trước khi lấy Chiêu Thánh, Phụ Trần đã có vợ và Bình Trọng là con của người vợ trước này, thuộc dòng trưởng. Vì vậy Bình Trọng đã được phong vương chứ không phải là thượng vị hầu như Tông, con Chiêu Thánh.


Người anh hùng trên sông Thiên Mạc năm ấy đã từng thề “làm ma nước Nam còn hơn làm vương cõi Bắc”, sau này được nhà Trần truy phong đến tước Đại vương, phẩm tước cao nhất trong hàng vương hầu, xứng với chiến công và tấm gương hy sinh cao cả của ông.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 14 Tháng Giêng, 2012, 04:23:55 pm
Sau khi ải Thiên Mạc vỡ, quân Nguyên cả thủy lẫn bộ ồ ạt tiến xuống cửa ngõ Long Hưng – Thiên Trường. Tại đây, quân thủy Trần dựa vào mấy bãi nổi giữa sông xây dựng một hệ thống phòng thủ kiên cố, có thuyền chiến kết hợp với cọc gỗ giữa sông.

  Khúc sông Hồng đế chỗ này lượn rất gấp thành hình thước thợ và phình ra. Trong khoảng rộng đó nổi lên bốn bãi lớn nhỏ khiến việc phòng thủ khá tiện lợi. Từ đây đường nước chia làm hai; một nhánh đổ sang sông Luộc (đoạn đầu sông còn có tên là sông Hải Triều), theo đường này có thể lên biển phía bắc rất thuận lợi hoặc có thể trở về hệ thống sông Lục Đầu mà không phải ngược sông Hồng. Đoạn Hải Triều bao quanh phía bắc khu Long Hưng – tức là nơi dấy nghiệp của họ Trần. Một nhánh khác lớn hơn là dòng chính của sông Hồng chảy xuống phía nam ra biển. Khúc sông từ đây trở xuống, thời Trần gọi là Đại Hoàng. Khúc này bọc lấy sườn phía tây Long Hưng đồng thời dẫn xuống khu Tức Mặc (tức Thiên Trường) là nơi phát tích của họ Trần, phía hữu ngạn. Thời Trần, đây được coi như miền biển. Trong các cuộc tạm lánh, nhà Trần đều lui về đây, dưới mắt người Nguyên được coi như “chạy ra biển”. An Nam chí lược có đoạn mô tả Thiên Trường thời ấy như sau: “Ở nơi ấy nước thủy triều quanh thành, hoa cỏ bên bờ mùi thơm xông ngát, có những thuyền trang hoàng đẹp đẽ qua lại trên sông, y như cảnh tiên vậy”. Như vậy thời đó thủy triều còn ảnh hưởng mạnh đến ngã ba Luộc hiện nay. Cứ theo nguyên chữ Hải Thị trong An Nam chí lược thì cửa sông này đồng thời là một chợ biển nữa.

Trong trận này, một bộ phận quân thủy lớn, tới hàng nghìn thuyền chiến dưới sự chỉ huy của Trần Quốc Tuấn và điện tiền chỉ huy sứ Phạm Cự Địa xuôi dòng sông Luộc tìm đường ngược lên chiếm lại Lục Đầu, tạo thành một mũi dao thọc sườn quân Nguyên. Một bộ phận lớn khác theo vua Trần lui chốt giữ Thiên Trường, Trường Yên (tức vùng Nam Định – Ninh Bình hiện nay). Đối với cánh quân phía bắc của Thoát Hoan, dường như đây là một thế phòng thủ mà quân Trần có thể từng nghĩ đến trong hội nghị Bình Than. Trong cuộc kháng chiến lần thứ ba, một mô hình phòng thủ tương tự, sau khi quân Nguyên đã chiếm Thăng Long và tỏa quân truy kích, cũng diễn ra như vậy. Mô hình đó thực hiện ý định bám chắc địa bàn chiến lược ven biển, với hai khu vực lớn: Lục Đầu - Hải Phòng và Thiên Trường - Trường Yên. Thế phòng thủ này cho phép quân Trần dựa vào địa hình sông nước, bảo tồn lực lượng, nhưng lại có thể sẵn sàng phản công chiến lược. Rõ ràng, quân Nguyên sau trận Hải Thi đã không thể có hoạt động gì khác. Đà thắng, thế chủ động tiến công của chúng đã hết, buộc phải co lại củng cố địa bàn đã chiếm được, trở thành đối tượng cho quân dân thời Trần tiến công. Tình hình cũng diễn ra như vậy trong cuộc kháng chiến lần thứ ba.

  Trong cuộc kháng chiến lần này, sử sách Nguyên và An Nam chí lược thường nhắc đến tên một viên điện tiền họ Phạm bên cạnh Trần Hưng Đạo (trong những trận cản giặc ở biên giới và trong cuộc hành quân trở lại Vạn Kiếp). Có chỗ Nguyên sử (1. 209, tờ 6a) chép là Phạm Hải Nhai. Nhiều người cho đó là Phạm Ngũ Lão. Thực ra, lúc này Phạm Ngũ Lão còn là một người lính trong đội quân riêng của Trần Hưng Đạo chứ chưa thuộc biên chế của quân triều đình. Sau cuộc kháng chiến lần thứ ba, Trần Hưng Đạo mới tiến cử ông xung vào đội ngũ cấm quân của vua. Năm 1290, ông mới chính thức được vào ngạch tướng, cai quản hữu vệ Thánh Dực, nhận một tước thấp trong triều (hạ phẩm phụng ngự). Theo quy chế thời Trần, người lính dù giỏi nhưng không phải vương hầu hoặc dòng dõi con quan cũng không được làm quan. Ngũ Lão “xuất thân từ trong hàng quân ngũ”, nhờ tài năng và có Trần Hưng Đạo tiến cử mới được dùng. Tận năm 1298, ông mới được phong làm Kim ngô vệ đại tướng quân, tức chức tướng cai quản một vệ trong cấm thành (quân bên trong), theo binh chế nhà Trần thì lúc này mới được gọi là một điện tiền chỉ huy sứ. Năm 1299, ông được phong làm Thân vệ tướng quân, quản một đơn vị thân quân bảo vệ trực tiếp vua, tức quân Thiên Thuộc. Năm 1301, thăng từ tướng quân Thân vệ lên Đại tướng quân Thân vệ, là chức quản lĩnh toàn bộ quân thân vệ. Liền năm sau, đạt tới chức cao nhất trong ngạch tướng cầm quân bấy giờ là Điện súy.

  Vậy chức điện tiền chỉ huy sứ họ Phạm trong cuộc kháng chiến chống Nguyên năm 1285 là ai? Trong Toàn thư, t. II, tr. 35 có chép: “Quý Hợi năm thứ 6 (1263)… Mùa xuân, tháng giêng, sai điện tiền chỉ huy sứ Phạm Cự Địa và Trần Kiều sang nước Nguyên”. Theo chúng tôi, Phạm điện tiền trong chống Nguyên 1285 chính là Phạm Cự Địa. Trong kháng chiến lần này, Toàn thư cũng chỉ nhắc đến Phạm Cự Địa chứ không nói gì tới Phạm Ngũ Lão. Tháng ba âm lịch (tức khoảng tháng 4-1285), viên điện tiền này vì dao động đã cùng bọn Trần Ích Tắc hàng giặc.



Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 15 Tháng Giêng, 2012, 07:50:00 pm
3. Cuộc rút lui tạm tránh bằng đường biển

Một tình huống không lường trước đã xảy ra với quân Trần, đó là quân Nguyên phía nam với lực lượng quân thủy mạnh đã hỗ trợ cho cánh quân bộ phá vỡ nhiều tuyến phòng thủ của quân Trần. Nhưng chúng ta biết, sau khi thất bại trong xâm lược Chiêm Thành, Toa Đô đã đóng quân ở vùng Bình Trị Thiên ngày nay. Khi Thoát Hoan tiến quân vào nước ta thì Toa Đô cũng được lệnh tiến quân lên phía bắc. Đội thuyền chiến của y cuối năm 1282 đã xuất phát từ Quảng Châu, cả thảy gần nghìn chiếc, trong đó số chiến binh tinh nhuệ, chính thức gồm 5.000 quân với 100 thuyền biển (loại thuyền vận lương cỡ lớn) và 250 thuyền chiến, số còn lại là phạm nhân sung quân chuộc tội. Chính nhờ có đội thuyền chiến này, quân Toa Đô đã men theo biển, tiến khá nhanh ra bắc mặc dầu quân Trần chống trả rất mãnh liệt. Khoảng tháng ba năm ấy, Toa Đô đã ra đến Thanh Hóa. Tình hình đó khiến vua Trần ở vào thế bị quân Nguyên ép cả hai mặt. Đặc biệt, lợi thế sông nước ở Thiên Trường, Trường Yên đã từng cầm chân Thoát Hoan thì nay có nguy cơ bị quân thủy Toa Đô gây khó khăn. Chính vậy, vua Trần đã tổ chức một cuộc hành quân đường thủy rất táo bạo, cũng rất tài tình để tiếp tục bảo toàn lực lượng nhưng vẫn giữ được thế chiến lược của ta. Trong cuộc hành quân này, vai trò quân thủy có một ý nghĩa hết sức quyết định.

Đường hành quân của vua Trần có thể phác ra như sau: Từ vùng Thiên Trường, đoàn thuyền rút ra cửa Giao Hải (cửa Ba Lạt hiện nay) men theo biển lên phía bắc. Đến An Bang (vùng biển Quảng Đông hiện nay), quân ta rời thuyền lên bộ, có thể là tản vào vùng núi Đông Triều – Yên Tử, căn cứ của quân Trần Hưng Đạo. Những thuyền nhỏ của triều đình len lỏi vào tận nguồn Tam Trĩ (nay là Ba Chẽ thuộc Quảng Ninh).

  Đây là một vùng nước rất nhiều lau lách và đảo. Hiện nay đảo Đồng Rui còn có tên là Tam Tri (trĩ), hẳn là tên chữ của Ba Chẽ. Đảo này được đảo Cái Bầu cùng thế đất ven bờ ôm khít, kín đáo. Có hai đường nước lớn vào được đảo này, một theo lạch Ông (qua cửa Ông) hiện còn đền thờ con trai Trần Quốc Tuấn) từ phía Nam đi qua đảo Hà Lầm mà vào. Đường này rất khó đi và có nhiều đá ngầm như voi nằm phục, thường thường phải đợi thủy triều lớn mới đi được. Đường phía bắc theo lạch Tiên Yên vào, rộng rãi và dễ đi hơn. Vào đến Đồng Rui, đường nước đều phải chia làm hai, gọi là sông Voi Lớn, Voi Bé. Quanh đào có rất nhiều chỗ lầy, cạn. Đây là một chỗ kín đáo và hiểm hóc.

Quân triều đình đổ bộ lên đây rồi nhanh chóng tản theo đường bộ vòng về phía nam tới khu vực cửa Nam Triệu. Để đánh lừa quân thủy Nguyên, vua Trần sai một bộ phận quân thủy tiếp tục đưa thuyền ngự với đủ cờ quạt tiến lên Mũi Ngọc (Trà Cổ). Từ sông Nam Triệu, vua Trần lại dùng thuyền men theo đường nước vùng Đồ Sơn ra vùng biển Đại Bàng (tức khoảng cửa Văn Úc). Từ đó vua Trần xuôi gió thẳng vào Thanh Hóa125.
----------------------
125 Nguyên văn trong Toàn thư: “… Nhị đế thoát chu nhi tòng bộ chi Thủy chú thượng chu xuất Nam Triệu giang (tức Thủy Đường huyện) du Đại Bàng hải dạt Thanh Hóa” (Bản kỷ, q. 5, tờ 47b). Đào Duy Anh chú thích Toàn thư cho Thủy Chú nghĩa là các dòng hội lại, đoán định thuộc Yên Hưng. Thực ra Toàn thư đã chỉ rõ Thủy Chú tức huyện Thủy Đường, là tên huyện đặt từ thời Minh. Đại Nam nhất thống chí cho biết: trước đó vùng này là một giang (đơn vị hành chính thời Trần): giang Nam Triệu. Đó chính là miền đất thuộc huyện Thủy Nguyên (Hải Phòng) hiện nay. Sông Nam Triệu có lẽ là Bạch Đằng, đoạn cửa sông. Rất có thể vua Trần đã tập kết ở khu vực Trúc Động, một căn cứ quan trọng trong cuộc kháng chiến lần thứ ba.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 16 Tháng Giêng, 2012, 07:21:08 pm
Khi quân Toa Đô ra đến Trường Yên (Ninh Bình) thì việc đầu tiên của Thoát Hoan là chộp lấy ngay đạo binh thuyền dùng vào truy kích vua Trần. Đội thuyền chiến chính quy của Toa Đô do Giảo Kỳ, Đường Cổ Đái chỉ huy nhập làm một với đội thuyền dã chiến của Lý Hằng và Ô Mã Nhi.

Vừa mới sáp nhập, bọn Lý Hằng, Giảo Kỳ, Đường Cổ Đái lao ngay vào cuộc truy lùng vua Trần. Chúng theo vua Trần đến An Bang, rồi theo thuyền ngự đến gần Mũi Ngọc, cuối cùng cũng dò vào được Tam Trĩ. Nhưng đến đâu cũng mất hút quân Trần. Nếu như ngày 7-4-1285, vua Trần đến Tam Trĩ thì tám ngày sau (15-4) quân thủy Nguyên mới dò đến đó. Khi chúng biết tin vua Trần vượt biển vào Thanh thì cuộc hành trình của vua Trần đã kết thúc. Rõ ràng, nhờ đánh địch trên đất ta, quân thủy Trần đã phát huy hiểu biết về đường đi lối lại trên biển, lúc bộ, lúc thủy, kết hợp với mẹo lừa địch, khiến cho quân Nguyên hoàn toàn bó tay ngay cả khi chúng có một đội thuyền chiến khá mạnh. Sau cuộc hành trình này, quân Trần thoát khỏi thế bị quân Nguyên đánh từ hai đầu, trái lại, việc quân ta được tập hợp lại ở Thanh Hóa và bộ phận quân Trần Quốc Tuấn ở đông-bắc đã đặt quân Nguyên vào thế “lơ lửng ở giữa” như chúng vẫn từng lo ngại.

Thất bại trong cuộc truy lùng vua Trần trên biển, Thoát Hoan tiếp tục cử Ô Mã Nhi đem 60 chiến thuyền loại vừa chở 1.300 quân vào hội với Toa Đô ở Trường Yên sục trở lại Thanh Hóa. Chính lúc đó, quân Trần bắt đầu kế hoạch phản công chiến lược của mình. Và trong phản công chiến lược lần này, ta lại thấy đóng góp hết sức to lớn của quân thủy.

(http://img827.imageshack.us/img827/1760/thuyennguyen.jpg)
Chiến thuyền quân Nguyên (khi đánh Nhật Bản)


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 16 Tháng Giêng, 2012, 07:24:20 pm
4. Phản công chiến lược trên trục sông Hồng

Nhìn đại quát thì điểm nóng nhất của toàn bộ cuộc phản công chiến lược được quân Trần đặt ở trục sông Hồng, đoạn từ Thăng Long đến Long Hưng – Thiên Trường. Đối với quân Nguyên thì đây cũng là chốt hãm, then cài toàn bộ các vấn đề chiến thuật, chiến lược trong cuộc chiến tranh này. Cũng như các cuộc viễn chinh khác, quân Nguyên vẫn nhằm đạt được một cuộc chiến tranh đánh nhanh, thắng nhanh và trong suốt mấy tháng đầu của cuộc chiến, chúng đã gắng sức để thực hiện điều đó. Nhưng, trước đối sách của ta, rõ ràng chúng đã buộc phải chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh kéo dài. Hệ thống đồn lũy, trại, trạm do Thoát Hoan và Lưu Thế Anh tổ chức và những hoạt động chuẩn bị tiếp sức của Hốt Tất Liệt đã chứng tỏ điều đó. Quân Nguyên càng có khả năng chịu đựng được cuộc chiến tranh kéo dài bao nhiêu thì càng là một khó khăn cho quân dân ta bấy nhiêu. Đó là điều Trần Hưng Đạo đã tổng kết: “Nếu nó đi chậm như cách tằm ăn, không cần được chóng, thì phải chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy, tùy thời mà làm…”126. Và trong tình thế một cuộc chiến tranh kéo dài, thì trục sông Hồng từ Thăng Long ra biển mà quân Nguyên đã chiếm lĩnh có ý nghĩa cực lớn đến chỗ đứng của chúng ở đồng bằng trung tâm đất nước.

Quân Trần đã phát hiện rất trúng vấn đề. Đánh vào trục sông Hồng đó chẳng những đánh gục xương sống của thế trận mà quân Nguyên đã gắng xây dựng trong mấy tháng qua, điều quan trọng nữa là quân ta có thể phát huy sở trường của mình, cả trong lực lượng lẫn nghệ thuật tác chiến – đó là quân thủy, và thủy chiến.

Tháng 5 – 6 năm 1285, mùa hạ bắt đầu với cái nóng nhiệt đới khủng khiếp và những cơn mưa dữ dội đầu tiên. Chiến dịch tổng phản công trên trục sông Hồng bắt đầu.

Trên trục sông Hồng từ Thăng Long ra biển, quân Nguyên bố trí thành hai cụm cứ điểm lớn và một chốt tiền duyên. Đó là Thăng Long, với một bộ phận đóng trong thành và đại bản doanh của Thoát Hoan đóng bên bờ bắc (có lẽ ở giữa có cầu phao nối hai bờ). Lực lượng địch ở đây rất mạnh. Cụm cứ điểm thứ hai có liên quan chặt chẽ với toàn bộ tuyến sông Hồng này vẫn là Thiên Mạc, nhưng là Thiên Mạc quay về phía biển đối phó với Long Hưng – Thiên Trường. Vì vậy, quân Nguyên bố trí phòng thủ ở cửa Hàm Tử (theo địa danh hiện nay, có thể đó là khúc sông rộng chỗ hai nhánh sông Hồng bị chia bởi bãi nổi Thiên Mạc nhập làm một). Các đồn Chương Dương, Tây Kết đều ở quanh đấy, nhưng đều hướng về phía hạ lưu. Và cuối cùng, dưới khúc sông Lỗ, cũng có tên gọi là A Lỗ, có một chốt tiền tiêu do viên tướng vạn hộ Lưu Thế Anh chỉ huy.
-------------------------
126 Toàn thư, t. II, tr. 88.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 16 Tháng Giêng, 2012, 07:28:41 pm
Quân ta mở màn bằng trận đánh vào đồn A Lỗ, do Trần Quốc Tuấn trực tiếp chỉ huy. Lưu Thế Anh bỏ chạy. Liền trong tháng đó, quân Trần tập trung bất ngờ đánh vào hệ thống đồn ải cả trên bờ hữu ngạn lẫn dưới cửa quan Hàm Tử. Toàn thư cho biết quân ta đều dùng binh nhẹ (tiệp binh). Chiêu Thành Vương, Trần Quốc Toản, Nguyễn Khoái đánh vào Tây Kết. Trần Nhật Duật đánh vào cửa Hàm Tử. Sau đó Trần Quang Khải, Trần Quốc Toản cùng dân binh các lộ quanh vùng do Trần Thông, Nguyễn Khả Lạp, Nguyễn Truyền cả phá giặc ở Chương Dương rồi từ đó đánh thốc lên giải phóng Thăng Long.

Tại Thăng Long, Kinh thế đại điển tự lục có nhắc đến trận đánh quân ta do Trung Thành Vương chỉ huy, đánh vào đồn Nguyên ở cửa sông Tô Lịch. Đó là trận Giang Khẩu (nay là khu vực Hàng Buồm, Chợ Gạo Hà Nội). Cũng sách này cho biết vài chi tiết về diễn biến cuộc tiến công của quân Trần vào đại bản doanh quân Nguyên: “… Thủy, lục (quân Trần) đánh vào đại bản doanh, vây thành mấy vòng, tuy chết nhiều, nhưng quân thăng thêm càng trở nên đông, quan quân (Nguyên) sớm tối đánh rất khốn đốn, thiếu thốn, khí giới đều hết”127 .

Hiện còn rất thiếu tài liệu để mô tả chính xác diễn biến chi tiết các trận đánh. Tuy nhiên, có thể nhận ra điểm nóng nhất trên trục sông này chính là cụm cứ điểm Thiên Mạc, với Chương Dương, Tây Kết, Hàm Tử.

  Có thể đoán rằng quân thủy Nguyên, sau khi truy kích thất bại vua Trần, thì một bộ phận do Ô Mã Nhi chỉ huy đã vào Thanh Hóa, một bộ phận khác do Lý Hằng chỉ huy có lẽ về đóng ở Thăng Long, vì ngay khi rút khỏi Thăng Long ta đã thấy trong đạo quân của Thoát Hoan có Lý Hằng đi sau bị trúng tên thuốc độc chết (Nguyên sử). Một bộ phận quân thủy nữa do Giảo Kỳ và Đường Cổ Đái chỉ huy có lẽ được giao chốt ở Hàm Tử. An Nam chí lược cho biết: đến ngày 5 tháng năm âm lịch (tức ngày 9-6-1285), bọn Giảo Kỳ mới về Thăng Long, nhưng lúc đó Thoát Hoan đã bị đánh bật khỏi đây rồi. Ngày 5 tháng năm cũng là ngày sau đó mấy hôm vua Trần từ Trường Yên được tin quân ta đại thắng ở sông Hồng và Thăng Long. Rất có thể quân ta đã bức được bọn Giảo Kỳ rút khỏi Thiên Mạc, cắt đứt hoàn toàn cánh quân Thoát Hoan với bọn Toa Đô đàng lò dò kéo ra.
--------------------------
127 Hà Văn Tấn, Sách đã dẫn, tr. 233. Đào Duy Anh, chú giải Toàn thư, tr. 298.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 16 Tháng Giêng, 2012, 07:32:06 pm
Như vậy, ta thấy hầu như toàn bộ các trận đánh trên trục sông Hồng đều diễn ra ở ven sông và ngay trên sông. Nhìn vào phương tiện cơ động cũng như phương thức hành quân tác chiến truyền thống của quân Trần, có thể thấy trong các trận này, quân Trần đã cơ động chủ yếu bằng thuyền và đổ bộ trực tiếp hoặc gián tiếp, đánh úp các đồn trại giặc.

Trận quân Trần đánh vào Hàm Tử có thể là một trận thủy chiến với đám quân thủy Nguyên do Giảo Kỳ chỉ huy.

Không có nguồn tài liệu nào cho biết chi tiết về trận đó, nhưng theo Toàn thư, quân Nguyên đã phải bỏ chạy và rõ ràng cho đến trước khi Toa Đô tới lại vùng này thì Hàm Tử, Chương Dương, Tây Kết đã thuộc về ta. Một Hàm Tử, Tây Kết nữa lại tái diễn, nhưng lần này chính quân Trần là người đón đánh và lại chiến thắng.

Sau khi quét sách quân Nguyên khỏi trục sông Hồng, có thể nói về cơ bản ta đã giành được thắng lợi. Quân Thoát Hoan tụ lại bên bờ bắc sông Hồng, nhưng là để chờ đón tàn quân và tính toán sao để rút lui cho thoát. Quân Toa Đô đang từ Thanh Hóa kéo ra, nhưng cũng là vội nhập với Thoát Hoan để không bị cô độc khi rút về nước. Sử Nguyên đều ghi nhận lúc này quân Nguyên chỉ xoay quanh một chiến lược là rút lui. Chính vậy, từ đây nhiệm vụ của quân Trần là chặn đánh tiêu diệt quân địch rút chạy. Kẻ thù sẽ còn trù trừ hoặc không từ bỏ thời cơ đánh lại ta nếu không tỏ rõ thế thắng đã chắc chắn thuộc về chúng ta. Chính bọn Toa Đô trong khi rút ra sông Hồng vẫn hùng hổ tung tin “hẹn ba năm dẹp yên nước ta”128.

Trong khi quân ta tung đi truy kích quân Thoát Hoan trên hướng bắc thì đại bộ phận quân thủy chốt lại trên các ải sông Hồng, cùng với bộ phận quân của vua Trần, mới vừa thắng lớn ở Trường Yên, sẵn sàng đặt một mẻ lưới quét sạch bọn cá kình biển Bắc đang lò dò từ Thanh Hóa ra mà vẫn chưa hề biết thảm bại của quân Nguyên trên sông Hồng.
----------------------
128 Toàn thư, t. II, tr. 60.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 16 Tháng Giêng, 2012, 07:37:44 pm
Đoàn quân của Toa Đô từ Thanh Hóa ra sông Hồng đã đi theo đường thủy. Toàn thư nói chúng từ biển đánh vào sông Thiên Mạc ngày 17 tháng năm âm lịch (tức 21-6-1285). Phải mất đúng 10 ngày, Toa Đô mới đi được đoạn đường từ Thanh Hóa đến sông Thiên Mạc. Hai ngày trước đó, Trần Nhân Tôn đã đóng ở Long Hưng (huyện Hưng Nhân thuộc Thái Bình Hiện nay) và chục ngày trước đó, quân Thoát Hoan đã rút khỏi biên giới nước ta (trận Vạn Kiếp xảy ra ngày 10-6-1285). Sông Thiên Mạc đã thuộc về quân ta từ lâu, ít ra cũng từ ngày 9-6-1285, là ngày bọn Giảo Kỳ rút về Thăng Long. Như vậy, quân ta đã thắng quân Nguyên ở sông Hồng nhanh tới mức chúng không kịp thông báo cho bọn Toa Đô tin thất trận. Ngay cả bọn Giảo Kỳ ở cách Thăng Long chẳng bao xa cũng không hề biết tin Thoát Hoan đã bỏ thành. Thực ra, quân thủy Toa Đô có thể rút về nước theo đường biển để thoát thân, nếu chúng biết quân Thoát Hoan không còn ở sông Hồng nữa. Vì vậy, khi tiến vào sông Hồng, bọn Toa Đô thực sự lọt vào vòng vây của quân Trần. trước mắt chúng là hệ thống chốt ải Thiên Mạc, sau lưng chúng là vua Trần ở Long Hưng. Từ ngày 21 đến ngày 24, tức ngày quân Toa Đô bị đánh tan tác, chúng đã không thể phá nổi cửa quan Hàm Tử. Không thấy Trần Nhật Duật và Trần Quang Khải tham gia các trận đánh giặc ở phía bắc, ta có thể ngờ rằng chính các viên tướng vừa hoàn thành sứ mạng “Đoạt sáo Chương Dương độ” đã tiếp tục chốt lại những nơi vừa chiếm để sẵn sàng “Cầm Hồ Hàm Tử quan” như câu thơ rất sảng khoái của Trần Quang Khải sau này.

  Đại Mang (Toàn thư) và Bái Hương (An Nam chí lược), nơi vua Trần bức hàng Trương Hiển, có thể chỉ là một khu vực, theo Toàn thư, Đại Mang là một bến sông (bộ) trên sông Hồng, ở phía dưới Tây Kết, vì vua Trần từ Long Hưng tiến đến Đại Mang rồi mới đánh vào Tây Kết. Hiện nay ở cách Chương Dương, Tây Kết về phía nam khoảng gần 20 ki-lô-mét có làng Bái Xuyên kề sát sông Hồng, phía hữu ngạn. Việt sử lược, tr. 177, chép việc Trần Lý phò vương tử Sảm lên ngôi ở Mạng Nhân. Theo cách chép, Mạng Nhân ở phía trên Hải Ấp (gần cửa Hải Thị) cũng phù hợp với Bái Xuyên, hiện cách ngã ba Luộc khoảng 15 ki-lô-mét về phía bắc. Chỗ này dòng sông Hồng phình rộng, phía trên nổi lên một bãi nhỏ và phía dưới một bãi rất lớn – bãi Đằng. Khúc sông Hồng này còn có tên là Xích Đằng. Rất có thể Toa Đô đã cắm chốt tiền tiêu phía nam ở đây để đề phòng quân Trần từ phía nam.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 16 Tháng Giêng, 2012, 07:45:35 pm
Chúng ta có thể hình dung trận Hàm Tử, đánh quân Toa Đô như sau: ngày 21-6, thuyền chiến Nguyên từ biển tiến vào Thiên Mạc (có thể đi theo đường sông Đáy); đến Thiên Mạc, bị quân Trần chặn đánh quyết liệt. Toa Đô rơi vào thế bao vây của ta. Vua Trần ép từ phía sau lưng. Đối phó với mặt này, Toa Đô giao cho tổng quản Trương Hiển chốt giữ ở khoảng bãi Xích Đằng, còn đại bộ phận vẫn dồn vào phá cửa quan Hàm Tử. Ba ngày trôi qua, quân Nguyên vẫn không qua được Hàm Tử, cũng là lúc quân Trần tập trung lực lượng phản công. Ngày 24-6, từ Long Hưng, vua Trần tiến quân đến bến Đại Mang. Trước thế áp đảo của ta, Trương Hiển đã đầu hàng và quan trọng hơn đã nhận giúp quân ta đánh lừa để diệt Toa Đô128.

  Về việc này, Toàn thư cũng như An Nam chí lược đều chép trong một ngày. An Nam chí lược dường như đổ toàn bộ thất bại của Toa Đô vào việc Trương Hiển làm phản: “Đến Bái Hương, tướng của Toa Đô là Lễ Cước Trương (Hiển) làm phản, đem quân An Nam đánh quân ta (tức quân Nguyên). Toa Đô phóng ngựa chạy ngã xuống sông chết, quân bị hãm…”. Thực ra, thế thua của Toa Đô đã quá rõ ràng, việc Trương Hiển đầu hàng chính phản ánh cái thế thua đó và chỉ góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho quân Trần thắng Toa Đô nhanh hơn và dễ hơn mà thôi. Hình như quân Trần đã lợi dụng quân Trương Hiển để lừa Toa Đô vào chỗ phục binh, lấy đó làm đà tiêu diệt toàn bộ quân Nguyên.

(http://img862.imageshack.us/img862/5540/chemtoado.jpg)
Chém Toa Đô

Toa Đô bị chết ngay tại trận, bọn tướng khác là Ô Mã Nhi, Lưu Khuê (cả hai tên này đều trở thành tướng chỉ huy quân thủy trong cuộc xâm lược năm 1287), Tiểu Lý Chiến cố gắng vùng vẫy thoát khỏi vây của ta. Cuối cùng, chỉ có Ô Mã Nhi, Lưu Khuê trốn trên một thuyền nhẹ chạy thoát, có lẽ theo một ngách sông nào đó phía hữu ngạn từ sông Hồng thông với sông Đáy, theo đó mà “ra biển Thanh Hóa” chuồn về nước. Tiểu Lý Chiến tự vẫn nhưng không kịp, quân Trần đã bắt được hắn cùng toàn bộ chiến thuyền do hắn chỉ huy đang làm nhiệm vụ chặn hậu cho bọn Ô Mã Nhi chạy thoát129.
--------------------------------
128 Sau này Trương Hiển trở thành tướng trong quân đội Trần và chết trong cuộc chiến tranh với Ai Lao năm 1289. Nhà Trần đánh giá cao công lao của Trương Hiển, tặng tước Minh tự và cho thờ ở Thái Đường (Toàn thư, t. II, tr. 83).

129 An Nam chí lược.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 16 Tháng Giêng, 2012, 07:47:27 pm
Rõ ràng, đây là một trận phục kích đường thủy đánh địch rút chạy khi chúng còn lực lượng khá mạnh, nhưng đã hoàn toàn thất thế cả về tinh thần, chiến lược và chiến thuật. Chắc chắn có những trận đối thủy trên cửa Hàm Tử bên cạnh những trận đổ bộ đánh vào trại dã chiến của quân Toa Đô trên hữu ngạn. Trong trận này, quân thủy Trần đã giáng cho quân thủy “thiên triều” một đòn trí mạng. Theo Toàn thư, 50.000 giặc Hồ đã bị “cầm”, chủ tướng Toa Đô bỏ xác. Trong lịch sử chiến tranh nước ta trước đó cũng như sau đó, Hàm Tử còn là nơi diễn ra nhiều trận đối thủy lớn, nhưng Hàm Tử với tư cách là một võ công hiển hách vào loại nhất của dân tộc ta, Hàm Tử với tư cách là đề tải của bao tài thơ ca ngợi chiến công thì mãi mãi gắn liền với chiến công của quân thủy Trần trong những ngày tháng sáu của năm 1285 lịch sử.

Trận chiến đấu tiêu diệt quân thủy Toa Đô cũng là trận cuối cùng kết thúc cuộc kháng chiến gay go, gian khổ nhất trong cả ba lần kháng chiến chống Mông Nguyên của thời Trần. Đất nước sau một hồi nghiêng ngả vì quân xâm lược, nay tràn ngập niềm vui chiến thắng, đã ngân nga mãi mãi khúc cảm hoài bất diệt về những võ công chói lọi vừa qua:

      Đoạt sáo Chương Dương độ
      Cầm Hồ Hàm Tử quan
      Thái bình tu nỗ lực
      Vạn cổ thử giang san.


      (Bến Chương Dương cướp giáo
      Cửa Hàm Tử bắt thù
      Thái Bình nên gắng sức
      Non nước cũ muôn thu).


Đó chính là bài thơ của Trần Quang Khải, vị thượng tướng đã từng có nhiều công lao nhất trong chiến dịch sông Hồng thu phục lại đất nước. Khi nhìn lại toàn cục chiến dịch, chúng ta có quyền nghĩ rằng đó chính là bài ca về những chiến thắng trên chiến trường sông nước, về đội quân thủy dày công trạng trong cuộc kháng chiến lần thứ hai của quân dân thời Trần.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 27 Tháng Giêng, 2012, 07:46:20 pm
CUỘC KHÁNG CHIẾN LẦN THỨ BA
(1287 – 1288)

Chỉ hơn một tháng sau khi quân Nguyên bại trận lếch thếch kéo về nước, nhà Nguyên lại đặt một kế hoạch mới đánh Đại Việt, như là bước thứ hai tiếp theo cuộc nam chinh vừa thất bại. Tuy nhiên, tình hình thực tế của Trung Quốc, đặc biệt là miền Hoa Nam vừa điêu đứng sau đợt phục dịch cuộc hành quân năm 1285 cũng như tình hình sức khỏe, tinh thần của đám quân tướng vừa thất trận, đặc biệt là sức kháng chiến mãnh liệt của Đại Việt đã buộc nhà Nguyên phải kéo dài thời gian chuẩn bị cho cuộc viễn chinh mới.

Sau đó khoảng 18 tháng, cuối năm 1287 quân Nguyên bắt đầu một cuộc tiến công mới. Nhìn vào đội hình đạo quân xâm lược lần này, ta thấy nổi lên một nét rất đáng chú ý trong ý đồ chiến thuật cũng như trong tổ chức lực lượng của quân Nguyên. Đó là việc cố gắng tổ chức một cánh quân thủy lớn mạnh.

Như chúng ta đã biết, bước vào thời kỳ bành trướng ra các nước như Nhật Bản và Đông-Nam Á, nhà Nguyên rất có ý thức xây dựng một đội thuyền chiến lớn mạnh và tách dần trong đám tướng lĩnh của mình những tên tướng chỉ huy quân thủy vốn chỉ quen chiến đấu trên lưng ngựa. Quá trình đó gắn chặt với bộ phận quân thủy hình thành trong xâm lược Nam Tống và việc sử dụng thuyền chiến, quân và tướng Nam Tống đầu hàng. Địa bàn sông nước phía nam sông Dương Tử chẳng những chỉ là kho người, kho của cho nhà Nguyên nam chinh mà còn là nơi cung cấp thuyền bè và những tướng sĩ phương nam quen thủy thổ và thạo nghề sông nước. Chính vậy, hành tỉnh Hồ Quảng đã được nhà Nguyên giao kiêm thêm trọng trách chuẩn bị mọi cuộc nam chinh. Thuyền biển nổi tiếng của Phúc Kiến, Quảng Đông đã từng đưa quân Nguyên vượt biển đánh Nhật Bản, Chiêm Thành, uy hiếp Gia-va, Ca-li-man-tan… Có thể nói, khi vương triều Nguyên chiến thắng hoàn toàn Nam Tống (1279) thì quân Nguyên đã có những bộ phận thuyền chiến tương đối lớn đảm nhiệm những cuộc hành quân vượt biển xa, như cuộc hành quân đánh Nhật Bản năm 1281, đánh Chiêm Thành năm 1283.

Tuy nhiên, dựa vào các xưởng thuyền thời Tống rất phát triển ở Phúc Kiến, Quảng Đông và kế thừa quân thủy Nam Tống, nhà Nguyên chỉ có thể tạo ra ngay lập tức đội thuyền chiến chứ không thể tạo ra ngay một truyền thống đánh thủy cùng với một đội ngũ tướng lĩnh, quân sĩ thành thạo sông nước. Lịch sử quân thủy Nguyên là một chuỗi thất bại.

Bên cạnh cố gắng xây dựng đội thuyền chiến, nhà Nguyên vẫn tìm cách nam chinh bằng đường bộ, bằng sở trường kỵ bộ của mình. Mấu chốt của vấn đề là phải khai thông con đường bộ xuống Đông-Nam Á mà Đại Việt đang là người trấn cổng. Cuộc hành quân lần thứ ba này không ngoài mục đích đó, nhưng rõ ràng nhà Nguyên ít nhiều có thay đổi trong thủ đoạn tác chiến.

Nếu như Ngột Lương Hợp Thai không thể mang theo một đội thuyền chiến và vì thế bị quân Trần buộc tay đuổi về Vân Nam, thì Thoát Hoan, năm 1285 được Hốt Tất Liệt ưu đãi bằng cả đạo thuyền chiến của Toa Đô. Nhưng quân thủy đó lại là một cánh hành quân đơn độc, dường như không gắn bó lắm với kế hoạch tác chiến của Thoát Hoan. Trong suốt một thời gian dài, quân của Thoát Hoan phải đánh nhau với quân Trần bằng chân của người và ngựa kết hợp với một số rất ít binh thuyền dã chiến tự túc khi đã tiến sâu vào nước ta. Ngay cả khi bị quân Trần phản công chiến lược, hai đạo quân này cũng không nhập được với nhau, để dẫn đến kết cục bi thảm: Thoát Hoan chui trong ống đồng và Toa Đô phơi xác ở Hàm Tử. Rõ ràng đến 1285, quân Nguyên tuy đã có nhận thức về chiến trường Đại Việt, về quân đội Đại Việt, nhưng chưa thực sự đầy đủ. Những thiếu sót đó đã được nhà Nguyên ra sức tổng kết và quyết tâm khắc phục trong lần xuất quân 1287 này.

(http://img406.imageshack.us/img406/7024/thoathoanchuiongdong.jpg)


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 27 Tháng Giêng, 2012, 07:52:01 pm
Bộ phận chính của cuộc xâm lược vẫn là mấy chục vạn quân theo Thoát Hoan tiến theo đường bộ, hướng Cao Bằng – Lạng Sơn. Điều này chứng tỏ quân Nguyên vẫn chưa thể dứt bỏ truyền thống đánh bộ của mình mà nó vẫn là chủ bài trong cuộc hành quân này. Nhưng để giúp bộ phận chính đó khắc phục những bất lợi trong địa hình và hạn chế sở trường đánh thủy của ta, nhà Nguyên đã tổ chức một cánh quân lớn, với 50.000 quân500 thuyền chiến biển. Khác với quân thủy Dương Tùng Tiên trong chiến tranh Việt – Tống năm 1077, khi đó chỉ là những thuyền mành kém chất lượng, cốt làm nhiệm vụ vào chở quân Tống vượt sông. Cũng khác với quân thủy Toa Đô năm 1285 làm một mũi đơn độc đánh ép quân Trần từ phía nam, quân thủy Nguyên lần này được tổ chức thành một cánh hành quân đông và mạnh, có nhiệm vụ rất rõ ràng là phải vào đến Lục Đầu hội với quân bộ, tiêu diệt quân Trần.

Chúng ta thấy những khó khăn của quân Trần trong cuộc kháng chiến lần thứ hai, khi quân Nguyên có trong thay một bộ phận quân thủy, nhất là khi quân thủy của Giảo Kỳ, Đường Cổ Đái trong hành quân Toa Đô nhập với quân thủy của Ô Mã Nhi, Lý Hằng trong cánh quân của Thoát Hoan. Vì vậy, kế hoạch hành quân có kết hợp thủy bộ của quân Nguyên lần này là một thủ đoạn mới rất đáng chú ý.

Nhà Nguyên đã có cố gắng rất lớn trong việc thực hiện kế hoạch này. Chúng ta đều biết, quân Nguyên vốn không sẵn thuyền bè và quân thủy. Một bộ phận quân thủy đáng kể đã bị quân Trần đánh tan ở Hàm Tử. Số còn lại hiện đang được nhà Nguyên huy động vào cuộc xâm lược Nhật Bản dự định tiến hành tiếp tục vào cuối năm 1286 đầu năm 1287.

Để có thuyền chiến, từ ngày 16-3-1286, nhà Nguyên xuống chiếu cho hành tỉnh Hồ Quảng đóng 300 thuyền chiến biển dành riêng cho đánh Đại Việt, hẹn nửa năm sau phải tập trung sẵn sàng ở Khâm, Liêm. Mặt khác, Hốt Tất Liệt tung vàng bạc, chức tước mua cuộc bọn cướp biển lúc này đang rất nhiều ở Đài Loan và Hải Nam, biến chúng thành đội lính thủy đánh thuê cho triều đình. Nhưng dường như chưa an tâm, Hốt Tất Liệt đã ra lệnh bãi binh đánh Nhật Bản, dồn thuyền chiến cho đạo quân đánh Đại Việt. Để đánh một nước có biên giới liền đất, quân Nguyên nổi tiếng về tài kỵ bộ đã không thể tin vào khả năng chiến thắng trên bộ của mình nữa, mà phải dồn tất cả quân thủy dành cho các cuộc chinh phục vượt biển vào hỗ trợ cho quân bộ. Rõ ràng, quân Nguyên đánh giá rất cao địa hình sông nước và tài thủy chiến của quân Trần, và chúng đã buộc phải đánh theo cách đánh của ta.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 27 Tháng Giêng, 2012, 08:00:36 pm
Tuy nhiên, thực chất cuộc hành quân với một cánh quân thủy này không chỉ là kết quả tính toán thâm hiểm của đám tướng lĩnh Nguyên sừng sỏ chiến trận, mà còn là kết quả của một tình thế rất bế tắc. Đó chính là vấn đề cung cấp lương thảo, binh khí cho đạo quân người ngựa hơn nửa triệu miệng ăn.

Trong lịch sử xâm lược Việt Nam của mọi đời “thiên triều”, vùng Hoa Nam Trung Quốc bao giờ cũng là chỗ dựa chính cung cấp nhân tài vật lực. Cuộc tiến công của Lý Thường Kiệt sang Ung, Khâm, Liêm năm 1075 chính là để phá tan các thành lũy chứa chất lương thực, binh khí chuẩn bị cho cuộc xâm lược đang bí mật hình thành trong đầu vua tôi nhà Tống, khiến cho quân Quách Quỳ gặp rất nhiều khó khăn. Nhưng vào thời này, hệ thống đường sá ở miền Hồ Quảng còn kém phát triển, đặc biệt là con đường vượt núi từ phía nam Ngũ Lĩnh đến hết biên giới nước ta. Đó lại là khu vực dân cư thưa thớt. Vũ khí, lương thực còn có thể lấy từ các tỉnh phía bắc đưa xuống, nhưng phu vận chuyển (chủ yếu vận chuyển bằng đôi vai) thì phải dùng dân địa phương.

  Theo lời Lý Bình Nhất – chuyện vận sứ Quảng Tây, được Quách Quỳ nhắc lại trong Tục tự trị thông giám tiền biên (trang 274, tờ 1a) thì “lương dùng cho 10 vạn quân và 1 vạn ngựa ăn trong một tháng phải mất 40 vạn phu chuyên chở” sau khi có “sáng kiến”, số phu vẫn tới 20 vạn. Điều đó cũng phù hợp với số phu dùng cho đạo quân Thanh của Tôn Sĩ Nghị trong cuộc hành quân xâm lược nước ta năm 1788 – 1789 (một lính có hai phu khiêng vác).

Việc chuẩn bị cho cuộc hành quân năm 1287 của nhà Nguyên cũng đứng trước khó khăn cực lớn về lương thảo và nhất là phu vận chuyển số lương thảo đó. Nguyên sử, quyển 168, tờ 8a có dẫn lời viên Lễ bộ thượng thư Lưu Tuyên phản ánh những khó khăn đó của nhà Nguyên: “Giao Chỉ không có lương (tức quân Nguyên không thể hy vọng lấy lương thực ở nước ta – T.G.), đường thủy khó đi, không có xe ngựa, trâu bò chuyên chở thì không thể tránh được vận chuyển đường bộ. Một người phu gánh 5 đấu gạo, đi về ăn hết một nửa (một đấu thời Nguyên bằng 9,48dm3 – T.G.). Nếu có 10 vạn thạch lương, dùng 10 vạn người cũng chỉ có thể chở được lương cho quân ăn 1, 2 tháng. Chuyên chở, đóng thuyền, phục dịch việc quân phải dùng đến 50, 60 vạn người. Quảng Tây, Hồ Nam điều động nhiều lần, dân ly tán nhiều, lệnh cho cung dịch cũng không thể làm được. Huống chi Hồ Quảng rất gần khê động, trộm cướp thường nhiều, vạn nhất có kẻ gian dò được, chờ đại quân một khi đi khỏi, thừa lúc bỏ không mà gây biến…130

Vùng Hồ Quảng trong vòng chưa đầy chục năm, vừa trảỉ qua cuộc tranh giành giữa quân Nguyên với lực lượng cuối cùng của Nam Tống, lại lao ngay vào phục dịch các cuộc viễn chinh xâm lược Nhật Bản, Chiêm Thành và gần nhất là Đại Việt năm 1285, đang xác xơ rên xiết. Bọn quan lại ở Hồ Quảng cũng ra sức kêu ca: “Luôn năm đánh Nhật Bản và dùng binh ở Chiêm Thành, trăm họ mệt vì vận chuyển, phu dịch nặng nề, quân sĩ mắc phải chướng lệ chết rất nhiều. Dân chúng kêu than, tứ dân bỏ nghiệp. Người nghèo phải bỏ con để cầu sống, kẻ giàu phải bán sản nghiệp để ứng dịch. Nỗi khổ như bị treo ngược, mỗi ngày một tăng. Nay lại có việc đánh Giao Chỉ, điều động đến trăm vạn người, tiêu phí đến nghìn vàng, đó chẳng phải là việc thương quân dân”131.

Thực tế, Hốt Tất Liệt không thể dựa vào một hậu phương như vậy trong việc chuyển vận lương thảo như cách ý đã làm lần trước132. Chính từ trong thế bí này, vua tôi Nhà Nguyên phải dẫn tới chước liều: vận lương đường thủy.
-----------------------------------
130 Hà Văn Tấn…, Sách đã dẫn, tr. 255.

131 Nguyên sử, q. 209, tờ 8b, dẫn theo Hà Văn Tấn…, Hà Văn Tấn…, Sách đã dẫn, tr. 253.

132 Trong cuộc hành quân 1285, quân Nguyên đã lập một tuyến vận tải đường bộ rất cồng kềnh từ Quảng Tây sang nước ta, với hơn 300 trạm rải dọc đường.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 27 Tháng Giêng, 2012, 08:17:31 pm
Vận lương đường thủy sẽ giảm bớt một số lượng khổng lồ phu vận chuyển, kèm theo đó giảm bớt số tiền và lương thực nuôi phu.

  Dựa vào những ghi chép về khả năng vận lương của Tống – Nguyên qua biên giới nước ta, có thể ước tính: nếu vận lương đường bộ, nhà Nguyên phải huy động hơn 63 vạn phu, hoặc nếu có thể áp dụng sáng kiến như quân Tống (tức dùng lương chở lương, hoặc nói cách khác là dùng thực phẩm – thịt – chở lương thực – gạo, cỏ…) thì số phu cũng hơn 30 vạn mới đủ cung cấp cho quân chiến đấu Nguyên 17 vạn thạch lương. Số lương lo cho đoàn phu đó cũng tương đương như vậy. Tức là nhà Nguyên phải mất 34 vạn thạch lương với hơn 63 hoặc 30 vạn phu chuyên chở cho cuộc hành quân năm 1287.

  Mười bảy vạn thạch lương là lương thảo có thể dùng cho một đạo quân kỵ bộ (theo tỷ lệ 10% quân kỵ) đông tới gần 20 vạn trong khoảng thời gian từ 1 – 2 tháng. Số lương thảo này tính theo đơn vị đo lường thời Nguyên vào khoảng 16.150m3. Đơn vị đo lường dùng cho thuyền thời này đều dùng thạch để tính trọng tải, thường tính theo khối lương, không mấy khi tính theo trọng lượng (Một thạch thời Nguyên tính theo trọng lượng bằng 30 quân, tức là 120 cân. Đổi theo đơn vị đo lường hiện nay là 716,184kg. Tính theo dung lượng bằng 2 hộc, tức 10 đấu. Đổi theo đơn vị đo lường hiện nay là 94,88dm3, hoặc 94,88 lít). Theo Ngô Thừa Lạc: Trung Quốc đô lương hoành sử, Thương vụ ấn bản thư quán (Cần lưu ý là đơn vị thạch thời Tống chỉ bằng 2/3 thạch (dung lượng) thời Nguyên. Thạch đời Nguyên lại nhỏ hơn Minh, Thanh một chút. Nhưng thạch (trọng lượng) vẫn không thay đổi).

  Dựa vào một số số liệu ghi chép về thuyền bè thời này ở Trung Quốc, chúng ta có thể hình dung phần nào thuyền chiếnthuyền tải lương của quân Nguyên trong cuộc hành quân năm 1287: Phần lớn thuyền chiến giống thuyền chiến Tống, vẫn do các xưởng tàu lớn ở Phúc Kiến, Quảng Đông sản xuất. Có thể dùng tài liệu thuyền bè thời Tống, đặc biệt là Nam Tống để hình dung thuyền Nguyên năm 1287. Tài liệu thuyền bè Nam Tống khá phong phú, có thể tham khảo loạt bài trên Văn vật (Trung Quốc) số 10-1975, nhân khảo cổ học Trung Quốc đào được một chiếc đại hải vận thuyền ở cảng Hậu Chử thuộc thị trấn Tuyền Châu (Phúc Kiến) năm 1974.

  Ở đây, chúng tôi chỉ gắng hình dung một số kích thước cơ bản của thuyền chiến và thuyền tải lương được quân Nguyên sử dụng trong xâm lược Đại Việt năm 1288.

  Trước hết, về thuyền lương, Nguyên sử, An Nam chí lược, Toàn thư… đều thống nhất có 70 thuyền. Nhưng Nguyên sử ghi nhất quán là chở 17 vạn thạch lương, còn Toàn thư ghi thành 70 vạn thạch. Tính toán theo số lương bấy giờ, kết hợp với lương thảo các cuộc hành quân của Tống, Nguyên sang nước ta, có thể nghĩ rằng Toàn thư đã chép nhầm (thập thất thành thất thập). Các sách sử sau này của nước ta có tham khảo Nguyên sử như Cương mục, Lịch triều hiến chương loại chí… đều sửa theo Nguyên sử là 17 vạn thạch.

  Đem số 17 vạn thạch lương chia cho 70 thuyền, mỗi thuyền chở khoảng 2.400 thạch (Nguyên), tương ứng 230m3. Tạm dùng hệ số sử dụng trọng tải cho thuyền thời này khoảng 0,5 và hệ số phương hình δ bằng 0,45 (lấy theo hệ số của chiếc thuyền vận tải có niên đại Tống – Nguyên đào ở Hậu Chử, thuộc Tuyền Châu). Cũng có thể mượn các hệ số dài/rộng (L/B) và hệ số rộng/sâu (B/T) của chiếc thuyền tải ở Hậu Chử để áp dụng cho thuyền lương của Nguyên, trên cơ sở coi các thuyền đó cùng một truyền thống đóng thuyền biển ở Quảng Đông, Phúc Kiến thế kỷ XIII. Như vậy, áp dụng công thức:

  (http://img807.imageshack.us/img807/6176/congthuc.jpg)

  (với tỷ lệ L/B bằng 2,58 và B/T bằng 3,27), ta có thể có được kích thước thuyền lương trong cuộc xâm lược Đại Việt năm 1287 của nhà Nguyên như sau: dài khoảng 27 mét, rộng 11 mét, sâu 3 mét. Đó là loại thuyền vận tải cỡ trung bình của Quảng Đông – Phúc Kiến đương thời.

  Về thuyền chiến, tương đối sát thực nhất với các thuyền chiến đánh Đại Việt là các thuyền chiến vượt biển đánh Chiêm Thành năm 1283. Có hai số liệu trong Nguyên sử, quyển 11, tờ 9a và quyển 13, tờ 2a cho biết mỗi thuyền chiến Nguyên chở trung bình 75 lính chiến đấu hoặc khoảng 100 cả lính chiến đấu lẫn thủy thủ. Điều này phù hợp với ghi chép của Mác-cô Pô-lô khi ông đến Trung Quốc vào khoảng thời gian đó: mỗi thuyền 100 quân (O. Ylue: The Book oì Marco Polo, London, 1921). Vũ kinh tổng yếu của Tăng Công Lượng thời Tống (1044) có nói đến cách đánh giá tải trọng của thuyền chở người: “Phàm thủy chiến lấy tàu thuyền lớn nhỏ làm hạng. Chở được nhiều ít đều lấy gạo làm chuẩn, một người bất quá nặng như hai thạch gạo (!)” quyển 11, Tiền tập, mục Chiến thuyền). Thực tế trọng lượng một người không bằng hai thạch được. Trong sách đó, khi nói đến cách làm bè chum có câu: “Mỗi chum chưa được 2 thạch thì có thể đỡ được một người”. Như vậy đây là tính tương đương dùng cho việc đóng thuyền. Vì thế, có thể coi mỗi thuyền chiến chở lính của Nguyên tương đương thuyền tải trọng 200 thạch, tức chỉ bằng khoảng 1/10 thuyền chở lương.

  Theo cách tính của Vương Tăng Luân trong Văn vật, 10-1975 thì thuyền 200 thạch có thể tương đương 15 tonau, tức 43m3. Áp dụng công thức tải trọng, với hệ số tải trọng và hệ số δ vẫn là 0,5 và 0,45. Nhưng để phù hợp với tính chất thuyền chiến, chúng tôi dùng hệ số L/B và B/T theo loại thuyền quan hành đời Tống ghi trong Tuyên Hòa phụng sứ Cao ban đồ kinh là 4 và 1,6 (so với hệ số H/T – 2). Kết quả cho thấy thuyền chiến Nguyên loại 100 quân có chiều dài khoảng 17 mét, rộng 4,5 mét, sâu 2,5 mét.

  Dĩ nhiên, nhưng số liệu trên chỉ là tương đối.



Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 27 Tháng Giêng, 2012, 08:20:51 pm
Cuối năm 1287, trên cả ba hướng (Vân Nam, Cao Bằng, Lạng Sơn, Khâm – Liêm) quân Nguyên ồ ạt tiến vào nước ta. Nhìn chung, các hướng tiến quân lần này không khác trước là bao, trừ cánh quân thủy, từ Khâm – Liêm xuống. Đó cũng là hành trình quen thuộc của mọi cuộc hành quân đường thủy trong các triều đại phong kiến Trung Quốc trước.

Với thắng lợi năm 1286, quân Trần tỏ ra khá tự tin trong cuộc chiến đấu mới này. Thực tế diễn biến chiến trường sau đó đã chứng tỏ nhận định của Trần Quốc Tuấn không phải là những phỏng đoán vô căn cứ. Ngay từ năm 1286, khi biết tin đoàn quân Nguyên vừa thất trận lại được vua Nguyên củng cố để tiếp tục cuộc chiến tranh trả thù, vua Trần đã hỏi Trần Quốc Tuấn: “Năm nay thế giặc ra sao?”. Quốc Tuấn sau khi khi phân tích được thua, đã kết luận: “Cứ ý thần xem thì tất đánh tan được”133. Và khi quân Nguyên bộc lộ chiến lược, chiến thuật qua việc bố trí lực lượng hành quân, Trần Quốc Tuấn đã có thể khẳng định được kết cục của cuộc chiến: “Năm nay giặc đến dễ đánh”134. Rõ ràng những bài học còn nóng bỏng của cuộc kháng chiến lần trước đã soi sáng chiến lược chống Nguyên lần này.

Nhìn toàn cục, bố trí lực lượng của quân Trần ban đầu cũng không khác năm 1285 là bao, trừ trường hợp những lực lượng đảm nhiệm phòng thủ phía nam nay được bổ sung vào phía bắc. Vẫn Trần Nhân Duật chốt ở ngã ba Bạch Hạc đánh nhau với quân Vân Nam, Trần Hưng Đạo đích thân chỉ huy đại quân chặn đánh hai cánh quân của Thoát Hoan trên hướng Cao Bằng – Lạng Sơn, vua Trần cùng cấm quân trông nom kinh thành. Điểm mới trong bố trí binh lực lần này tương ứng với điểm mới trong cách hành quân của quân Nguyên. Đó là việc tăng cường chốt phòng thủ đường biển và chuẩn bị trên quy mô lớn cho mặt trận trên biển.

Thực ra, ngay từ năm 1282, sau Hội nghị quân sự Bình Than, nhà Trần đã tăng cường phòng thủ Vân Đồn và đề phòng khả năng chiến tranh trên biển với quân thủy Toa Đô. Nhưng sau đó cục diện chiến tranh có thay đổi. Ba năm sau, cuộc chiến mới bắt đầu và quân thủy Toa Đô lại từ phía nam lên, chứ không phải từ phía bắc xuống như phương án nhà Trần đã chuẩn bị. Vì vậy, biển đông – bắc trong suốt cuộc kháng chiến lần thứ hai khá im lặng, ngoài một lần quân Nguyên đuổi theo vua Trần có đi qua đây. Tuy nhiên, trong nguy cơ lâu dài của cuộc chiến tranh với nhà Nguyên, Trần Khánh Dư có ý thức xây dựng các chốt phòng thủ ở vùng biển này.
------------------------
133, 134 Toàn thư, t. II, tr. 64, 65.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 27 Tháng Giêng, 2012, 08:29:01 pm
Cuộc kháng chiến chống Nguyên lần này được chuẩn bị khá chu đáo, lực lượng chính dùng trong các trận cản giặc là quân thường trực của triều đình và quân đội vương hầu.

  Theo Toàn thư, Trần Hưng Đạo đã không tán thành chủ trương lấy thêm quân trong dân. Điều này phản ánh hai khía cạnh: thứ nhất là do “thế nhàn”; thứ hai là chủ trương “nới sức dân” sau những tàn phá, giết chóc của quân Nguyên năm trước.

Tuy thế trận ngăn giặc chung của quân Trần năm nay không khác năm 1285, nhưng rõ ràng các trận cản giặc lần này không trở thành đối sách chính của toàn cuộc chiến. Các cánh quân bộ của Nguyên tiến vào nước ta nhanh chóng, thuận lợi hơn năm 1285. Quân Trần không tổ chức những đối trận lớn như ở Bình Lệ Nguyên Vạn Kiếp nữa, mà kinh nghiệm cho thấy, với khối quân bộ đông và mạnh như quân Nguyên, thì bảo toàn lực lượng trong khi chặn đánh giặc là điều cốt yếu. Sau hơn một tháng chặn giặc, quân Trần chủ động rút “ra biển”. Tình hình diễn biến chiến tranh sau đó cho thấy quân Trần lần này chủ trương lấy địa bàn sông biển phía đông và đông-bắc đất nước làm chiến trường chính chống quân Nguyên.

Chủ trương trên chứng tỏ quân Trần quyết chọn quân thủy Nguyên làm đối tượng tác chiến chính. Vì đây là lá bài mới nhất, cố gắng lớn nhất của Hốt Tất Liệt. Đánh quỵ quân thủy Nguyên thì cơ bản quân Trần đã thắng về chiến thuật tác chiến, đội quân bộ của Thoát Hoan dù mạnh, sẽ không tránh khỏi kết cục năm 1258, 1286. Đặc biệt, sứ mạng quân thủy Nguyên lần này không phải chỉ là công cụ chiến thuật, mà với 70 thuyền chở toàn bộ lương thảo và khí giới, nó đã chứa trong lòng những yếu tố có quan hệ đến chiến lược của cuộc chiến. Cuối cùng, chọn đối tượng tác chiến như vậy, quân ta sẽ phát huy sở trường của mình để chống lại sở đoản của địch, buộc địch không thi thố được tài nghệ của chúng. Có thể nói trong cả ba cuộc kháng chiến, đây là lần quân Trần sớm có những chủ trương đúng đắn nhất, nhờ đó đánh giặc cũng ung dung, chủ động hơn và cuối cùng thắng lợi cũng vĩ đại hơn.

(http://img827.imageshack.us/img827/1760/thuyennguyen.jpg)
Thuyền quân Nguyên


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 27 Tháng Giêng, 2012, 08:33:59 pm
Trận Mũi Ngọc

Ngày 17-12-1287, đoàn thuyền chiến của quân Nguyên bắt đầu khởi hành. Lúc này, một bộ phận quân thủy Trần đã đón sẵn ở Mũi Ngọc. đây là một hòn núi ở cực nam bán đảo Trà Cổ cách thị xã Móng Cái hiện nay khoảng hơn 10 ki-lô-mét về phía Nam. Thời Lý vùng này thuộc châu Vĩnh An, thời Trần thuộc lộ Hải Đông, cũng có tên là Vạn Ninh. Đường biển lâu dời từ Trung Quốc sang nước ta đều đi qua núi Ô Lôi ở cửa vịnh Khâm men theo bờ biển đến Mũi Ngọc. Từ đây bờ biển kết hợp với các lớp đảo chạy dài song song tạo thành một lạch nước tự nhiên rất kín gió, đi lại thuận tiện.

  Sử sách thời Hán, Đường, thậm chí tận thời Tống vẫn nhầm đây là một con sông. Sau khi quân Minh chiếm nước ta, chúng đã chính thức biến lạch nước thành trục giao thông đường thủy có những bến, trạm không khác gì đường sá trên bộ.

Mũi Ngọc đối diện với mỏm cực đông của đảo Vĩnh Thực, tức dãy đảo đầu tiên của lạch nước nói trên. Vì nhô hẳn ra ngoài biển nên đường nước qua chỗ đó trở nên hẹp hẳn lại, tạo thành một cửa ải tự nhiên ngăn giữ đường biển vào nước ta.

  Đó chính là cửa Ngọc, nay có tên là Cửa Tân. Trên hải đồ, do cấu tạo tự nhiên, đường nước qua cửa này đột nhiên sâu hẳn so với các nơi khác xung quanh. Mé sát đảo Vĩnh Thực, mực nước thông thường sâu từ 11 đến 13m. Có lẽ chính vậy An Nam chí lược còn gọi nơi này bằng cái tên là Lãng Sơn.

Đây là một điểm phòng thủ tốt của quân ta. Nhân Đức hầu Trần Toàn (An Nam chí lược chép là Trần Da) được giao trách nhiệm chốt ở đây. Tuy nhiên, với lực lượng nhỏ, quân thủy Trần ở đây không chủ trương quyết chiến với toàn bộ quân thủy Nguyên ngay khi chúng mới tiến vào, mà chủ trương phục kích tiêu hao sinh lực địch, đặc biệt nhắm vào đội thuyền lương vốn thường xuyên bị những đơn vị thuyền chiến cơ động hơn bỏ rơi. Kết hợp những tài liệu trong An Nam chí lượcToàn thư, ta biết được Trần Toàn đã phục kích đội thuyền lương của Trương Văn Hổ và bước đầu thu được thắng lợi buộc quân thủy tiên phong của Ô Mã Nhi phải quay trở lại ứng cứu. An Nam chí lược chép: Ngày 17-12-1287, “chu sư (tức quân thủy Nguyên – T.G.) tiến trước, qua cửa Vạn Ninh (tức cửa Tán – T.G.), tướng giặc bên kia là Nhân Đức hầu Trần Da phục binh ở Lãng Sơn định cắt hậu quân ta…”. Chắc hẳn trận này quân ta phục kích thành công, nên ngày 2-1-1288, tức tròn nửa tháng sau, Toàn thư chép việc Nhân Đức hầu với tên là Toàn, đem 40 tên giặc, cùng thuyền, ngựa, khí giới bắt được dâng lên vua Trần ở Thăng Long135. Tuy nhiên, trận này chưa có ý nghĩa lớn lắm, thuyền lương của quân Nguyên vẫn còn khá nguyên vẹn cùng quân thủy tiến sâu vào vùng biển nước ta.
----------------------------
135 Toàn thư, t. II, tr. 65. Có thể ngờ rằng Đa Mỗ và Trà Cổ có liên quan về mặt ngữ âm. Trần Da hoặc Toàn là thượng vị Nhân Đức hầu, chức Phán thủ có liên quan họ hàng với thượng vị Nhân Huệ hầu (sau này Khánh Dư mới được phong vương) quyền chức phán thủ Trần Khánh Dư.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 27 Tháng Giêng, 2012, 08:39:00 pm
Trận An Bang

Có thể hình dung quân thủy Nguyên đi theo lạch nước sâu men sát các đảo Vĩnh Thực, Cái Chiên, qua cửa Tiểu, xuôi xuống men tiếp theo lạch nước do bờ phía đông đảo Cái Bầu mà vào biển Lục Thủy, hoặc vịnh Tùng Bách (tức vịnh Hạ Long ngày nay), khoảng gần Hòn Gai, sau đó đi đến vùng biển có địa danh là cửa An Bang, tức cửa sông Chanh.

  Nguyên sử cũng như Toàn thư có nói tới việc quân Nguyên đi qua hoặc phạm vào Vân Đồn, nhưng hẳn ám chỉ việc quân Nguyên đi qua vùng biển, lúc bấy giờ gọi chung là Vân Đồn hay Đồn Sơn, chứ không nhất thiết đi qua đường hẹp rất hiểm trở, nơi tụ họp buôn bán của thuyền bè hải ngoại.

Toàn thư nhắc đến trận đánh “bất lợi” của Trần Khánh Dư, có thể trùng hợp với trận thủy chiến lớn mà sử Nguyên chép là cửa An Bang. Như vậy thì Khánh Dư đã rút đại quân khỏi Vân Đồn, chỉ để lại một lực lượng nhỏ chốt ở đây, còn tất cả dàn trận đón đánh quân Nguyên ở các đảo chi chít trên đường từ biển Lục Thủy vào cửa An Bang (cửa sông Chanh). Sử ta cũng như sử Nguyên đều chép trận này quân thủy Trần Khánh Dư đánh bất lợi. Ta mất nhiều thuyền và quân. Nhưng rồi Khánh Dư tập hợp số thuyền chiến còn lại, quay về căn cứ Vân Đồn, tổ chức trận phục kích mới, quyết chặn đánh đoàn thuyền lương đi sau.

  Theo Lĩnh ngoại đại đáp, hành trình từ Khâm Châu vào đến Vạn Kiếp, nếu thuận buồm xuôi gió chỉ mất gần bốn ngày (thường ngày đi đêm nghỉ). Hành trình của thuyền buồm hiện nay cũng tương tự như vậy. Thuyền xuôi gió từ cửa vịnh Khâm (núi Ô Lôi) đến Mũi Ngọc, vượt chặng đường biển khoảng 100 ki-lô-mét, thường là sáng đi tối đến. đối diện với Mũi Ngọc, sát bờ đảo Vĩnh Thực có chỗ nước sâu rất tiện cho việc đỗ thuyền, nay vẫn là nơi bỏ neo nghỉ giữa đường của thuyền bè. Từ đó đến vùng biển An Bang mất hơn một ngày nữa (có thể đậu thuyền nghỉ ở biển cửa Lục, vịnh Hạ Long hoặc đi thêm một chút đậu thuyền ở các đảo phía bắc Cát Bà, nam Tuần Châu hiện nay). Từ đây có thể lợi dụng thủy triều lên mà vào cửa Chanh, ngược với Bạch Đằng, rồi ngược mũi vào đến Lục Đầu, cả thảy mất khoảng hai ngày nữa, tùy theo tình hình con nước.

Cuộc hành quân của quân thủy Nguyên trùng vào tháng có nhiều đợt gió mùa đông-bắc nhất. Vậy mà theo ghi chép của sử sách Nguyên, phải mất gần 20 ngày đoàn thuyền chiến mới vào tới Vạn Kiếp. Điều đó chứng tỏ chúng bị quân Trần chặn đánh rất quyết liệt, khác với chủ trương chặn giặc trên đường bộ. Dường như việc phải giành thắng lợi trên mặt trận đường thủy là quân lệnh của quân Trần. Chính vì vậy mà Trần Khánh Dư suýt mất đầu sau trận An Bang.

Việc sử sách không ghi chép gì về hoạt động của quân ta và quân Nguyên từ cửa Chanh đến Vạn Kiếp khi chúng tiến vào, cho phép dự đoán trận An Bang xảy ra vào khoảng cuối tháng 12 dương lịch, tức trước khi quân thủy Phàn Tiếp, Ô Mã Nhi vào hội quân với Thoát Hoan mấy ngày136.
-----------------------------
136 Theo Nguyên sử, q. 14, tờ 11b, Thoát Hoan hội với các quân vào ngày giáp dần tháng mười một âm lịch, tức ngày 2-1-1288.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 29 Tháng Giêng, 2012, 02:35:49 pm
Trận Vân Đồn – Cửa Lục

Ghi chép của An Nam chí lượcNguyên sử cho thấy quân thủy Nguyên hành quân theo cách dùng đội thuyền chiến đi trước mở đường, bỏ xa thuyền lương theo sau.

  An Nam chí lược chép: Sau trận Lãng Sơn, “Ô Mã Nhi thừa thắng kéo quân đi trước, không nghĩ gì đến thuyền lương ở sau. Không được viện binh, lương bị hãm”

Cách hành quân như vậy phản ánh sự thiếu kinh nghiệm của quân thủy Nguyên, tạo sơ hở để quân thủy Trần Khánh Dư giáng một đòn quyết định.

Nhiều tài liệu đều cho thấy trận đánh thuyền lương Trương Văn Hổ xảy ra vào tháng 12 âm lịch137. Đối chiếu với cách hành quân và thời gian quân thủy Ô Mã Nhi, Phàn Thiếp vào hội ở Vạn Kiếp thì nhiều khả năng trận đánh đó diễn ra vào khoảng đầu tháng, khi quân thủy Ô Mã Nhi, sau trận An Bang, đã coi như “hoàn thành” nhiệm vụ mở đường, bỏ quân lương ở sau tiến sâu vào lãnh thổ nước ta. Như vậy, có thể đoán rằng, khi được tin Ô Mã Nhi đánh bại quân thủy ta ở cửa An Bang, thì từ một điểm trú quân nào đó, bộ phận thuyền lương của Trương Văn Hổ vội vã tiến theo. Thực ra, đây chỉ là một trong ba đoàn thuyền chở lương mà thôi, nhưng là bộ phận lớn nhất. Khi qua đường biển phía tây Vân Đồn, đoàn thuyền này lọt vào ổ phục kích của quân thủy Trần Khánh Dư.

Nguyên sử, quyền 209 chép: “Thuyền lương của Trương Văn Hổ tháng 12 năm ngoái đậu ở Đồn Sơn, gặp 30 chiếc thuyền của Giao Chỉ. Văn Hổ đánh, số giết được tương đương nhau. Đến biển Lục Thủy, thuyền giặc thêm nhiều, liệu không thể địch nổi mà thuyền lại nặng, không thể đi được, nên đổ thóc xuống biển rồi đi Quỳnh Châu (tức đảo Hải Nam – T.G.)”138.

Trong trận này, quân thủy Trần làm hai bộ phận, một nhóm khoảng 30 thuyền (tương ứng với số thuyền một quân), với khoảng 2.500 chiến binh, đón đánh bọn Trương Văn Hổ ngay khi chúng đến Đồn Sơn. Có thể đây là đơn vị quân thủy chốt giữ ở Vân Đồn. Một bộ phận khác, có thể là đơn vị quân thủy vừa thất trận ở An Bang, đón đánh ở biển Lục Thủy hay vịnh Tùng Bách (nay là vùng biển Hòn Gai). Từ vùng biển Đồn Sơn (tức Vân Đồn) đến biển Lục Thủy; thuyền đi mất khoảng nửa ngày đường và cũng khoảng chừng đó nữa thì đến khu vực trước cửa Chanh. Nếu quả như đường đã thông sau khi bọn Ô Mã Nhi thắng trận An Bang thì có thể nghĩ rằng bọn Trương Văn Hổ, bắt đầu một ngày hành trình đã xuất phát từ mé trên vùng biển Vân Đồn một chút và chúng đã bị đón đánh ngay khi mới xuất phát.

Lực lượng vũ trang hộ tống đi cùng thuyền lương có lẽ không đông lắm. Qua số liệu quân chết, thuyền chìm mà Nguyên sử chép về trận này thì số quân áp tải trên mỗi thuyền khoảng 20 tên (không kể số thủy thủ). Lực lượng đó, với những thuyền lương tuy lớn nhưng chậm chạp, không thể đương đầu với thuyền chiến của quân Trần. Quân Nguyên vừa đánh vừa tháo chạy theo hướng quân thủy Ô Mã Nhi. Để cơ động, chúng đã phải vứt dần số lương thảo chất trên thuyền xuống biển. Trận truy kích kéo dài suốt chặng đường khoảng 40 ki-lô-mét đường biển. Tới biển Lục Thủy, thuyền chiến của bọn Ô Mã Nhi không thấy đâu, trước mắt bọn Trương Văn Hổ xuất hiện những thuyền chiến Đại Việt đang chờ sẵn. Trận đánh quyết định đã diễn ra ở đây, kết thúc số phận đoàn thuyền mang bộ phận quan trọng của cái “dạ dày” 50 vạn quân viễn chinh Nguyên trong đất liền. Sử Nguyên thú nhận: 11 thuyền với 220 lính hộ tống chết chìm ngay tại trận. Số còn lại hoặc bị bắt, hoặc vứt toàn bộ lương thực bỏ chạy tan tác. Chủ tướng họ Trương trốn lên một chiếc thuyền lủi nhanh về hướng đông, nhằm đảo Quỳnh Châu – sào huyệt cũ của bọn cướp – mà chạy.

  An Nam chí lược: “Trương Văn Hổ trước gặp địch ở cửa An Bang, lương bị hãm, đi một chiếc thuyền to chạy về Khâm Châu”.
------------------------------
137, 138 Theo Hà Văn Tấn… Sách đã dẫn, tr. 270 Đào Duy Anh, chú giải Toàn thư, t. II, tr. 300.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 29 Tháng Giêng, 2012, 02:43:07 pm
Trận Vân Đồn – Lục Thủy tuy không lớn, nhưng rất hiểm. Như đã biết, quân thủy Nguyên lần hành quân này có nhiệm vụ chiến lược là hỗ trợ quân bộ và áp tải thuyền lương. Với tinh thần chiến đấu ngoan cường và đầy mưu trí, quân thủy Trần ở vùng biển đông-bắc, dưới sự chỉ huy của Trần Khánh Dư, đã làm thất bại một nhiệm vụ chiến lược của chúng. Cái “dạ dày” của cuộc viễn chinh đã bị quân thủy ta cắt đứt ngoài biển. Chẳng bao lâu nữa, nó sẽ tác động đến toàn bộ chiến lược của cuộc chiến.

Nhắc đến chiến thắng này, Toàn thư chép với lời lẽ đầy sảng khoái: “Khánh Dư đoán biết là quân giặc đi rồi, thuyền lương tất theo sau, bèn thu nhặt quân còn lại để đợi. Không lâu, thuyền chở lương của giặc quả nhiên đến. Khánh Dư đánh giặc bị thua, bắt được lương thực, khí giới của giặc nhiều không kể xiết, bắt sống quân giặc rất nhiều. Lập tức chạy thư về tâu. Thượng hoàng tha tội trước không hỏi đến và nói: “Quân Nguyên chỉ nhờ về lương cỏ, khí giới, nay ta đã bắt được, sợ nó chưa biết tin, hoặc giả còn hung hăng chăng?”, bèn tha cho quân bị bắt đến doanh quân Nguyên báo tin. Quả nhiên, giặc Nguyên rút lui. Cho nên năm nay nhân dân không bị thảm họa như năm trước là Khánh Dư cũng có dự công…”139.

(http://img80.imageshack.us/img80/4785/thuychienvoiquanmongco2.jpg)

Sử sách chép việc quân ta tiêu diệt thuyền lương của Nguyên có vẻ như một thắng lợi ngẫu nhiên. Thực ra đây là một chủ trương khá rõ ràng của quân Trần. Theo An Nam chí lược, thuyền lương của Nguyên hai lần trên đường vào nước ta đều bị hãm. Và đây chính là chủ trương “đánh giặc nhàn” của Trần Quốc Tuấn. Nếu như quân thủy Trần tạm thất bại trong nhiệm vụ cản đoàn thuyền chiến của Nguyên nhập với quân bộ, thì trái lại hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cắt “dạ dày” của toàn bộ quân Nguyên. Không một thạch lương nào lọt đến tay quân Nguyên trong đất liền. Chẳng những toàn bộ lương thảo chở trên thuyền do Trương Văn Hổ chỉ huy bị mất, mà số còn lại trên những thuyền lương của bọn Phí Củng Thìn, Từ Khánh cũng vì phải đi đường vòng ngoài khơi nên bị sóng gió phiêu bạt, toán thì ra Quỳnh Châu, toán thì vào đến tận biển Chiêm Thành.
---------------------------
139 Toàn thư, t. II, tr. 65


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 29 Tháng Giêng, 2012, 02:48:13 pm
Sau khi các đạo quân Nguyên đều đã tụ hội ở Vạn Kiếp, Thoát Hoan liền biến nơi đây thành một căn cứ thủy bộ khổng lồ, dự định làm cơ sở cho một cuộc chinh phạt đến “thắng lợi cuối cùng”. Từ đây, quân Nguyên tiến về Thăng Long. Theo kế hoạch đã chuẩn bị trước, quân Trần rút khỏi Thăng Long theo đường sông Hồng. Cũng như cuộc rút quân năm 1285, quân Trần tổ chức phòng ngự ở ải Thiên Mạc và ải Hải Thị, nhưng ở cả hai nơi đó quân Trần đã không tiến hành những trận quyết chiến cản giặc. Dường như đó chỉ là những trận cản đường để cho cuộc rút quân đã sắp sẵn thực hiện theo đúng kế hoạch mà thôi.

Theo sử Nguyên, toàn bộ quân Trần đã rút ra biển. Thực ra, quân Trần sử dụng quân thủy là chính trong cuộc chiến tranh lần này, đã nhanh chóng triển khai về vùng ven biển Hải Đông,với địa bàn trọng tâm là khu vực bắc Thái Bình, toàn bộ Hải Phòng, một phần Hải Dương cũ và phần nam Quảng Ninh hiện nay. Dựa theo dấu vết di tích Trần có liên quan đến cuộc kháng chiến này cũng như những ghi chép về các trận đụng độ lớn, có thể tạm hình dung ba căn cứ lớn trong khu vực nói trên.

Thứ nhất là khu vực bắc Thái Bình – nam Hải Phòng hiện nay, tức khu vực gồm cửa sông Thái Bình, Văn Úc lên tới Đồ Sơn. Đây là căn cứ hình thành ngay khi quân Trần rút khỏi Long Hưng, Thiên Trường và tồn tại cho đến khi quân Trần tổ chức chiến dịch Bạch Đằng.

  Nguyên sử, quyển 133, tờ 9b nhắc đến việc quân Nguyên, sau khi quân Trần rút khỏi Thiên Trường đã đụng độ với Trần Quốc Tuấn ở vùng Đồ Sơn. Cũng khoảng này, ngày 10-2-1288, quân thủy Ô Mã Nhi sau khi đánh phá Long Hưng đã đại chiến với quân thủy Trần ở vùng biển Đại Bàng (tức vùng biển phía nam Đồ Sơn hiện nay) (Toàn thư, t. II, tr. 67, An Nam chí lược, Nguyên sử đều chép trận này xảy ra ở Đa Ngư, Tháp Sơn). Và theo truyền thuyết, cũng từ căn cứ này, quân Trần do Hưng Đạo Vương chỉ huy đã vượt sông Hòa tiến lên chuẩn bị chiến dịch Bạch Đằng vào khoảng gần hai tháng sau đó.

Khu căn cứ lớn thứ hai là khu vực Yên Hưng – Trúc Động, bao gồm miền đất nằm quanh sông Giá, sông Đá Bạc và sông Chanh hiện nay. Trung tâm bộ chỉ huy thường đóng ở Trúc Động (thuộc huyện Thủy Nguyên Hải Phòng ngày nay).

  Nguyên sử, La A Bát Xích truyện chép: “Nhật Huyên không đầu hàng mà lại chạy ra giữ cửa biển Trúc Động, An Bang”. Toàn thư chép: “Tháng hai, ngày 19, Ô Mã Nhi đánh vào trại Yên Hưng”. Văn bia Lý Thiên Hựu cho biết Ô Mã Nhi đã từng đụng độ với quân Trần ở Trúc Động. Sau khi Thoát Hoan từ Thăng Long về đến Vạn Kiếp, y đã phái đại quân càn quét khu vực Trúc Động ra đến cửa An Bang (Nguyên sử, q. 129, tờ 2a).

Thực tế quá trình chiến dịch Bạch Đằng đã chứng tỏ đây là một khu căn cứ có ý nghĩa chiến lược trong toàn bộ cuộc kháng chiến này.

Khu căn cứ thứ ba xuất hiện muộn hơn, chủ yếu phục vụ trận Bạch Đằng. Đó là căn cứ Chí Linh, với núi Dương Nham, được coi như nơi vua Trần trú quân (Chúng ta sẽ trở lại tìm hiểu căn cứ này chi tiết hơn trong chiến dịch Bạch Đằng).

Như vậy quân Trần đã chọn vùng sông nước dày đặc, hiểm trở, và nhất là kết hợp được với vùng biển đông - bắc, làm thành địa bàn chiến lược chống lại quân Nguyên trong giai đoạn thứ hai của cuộc chiến tranh. Việc chọn địa bàn chiến lược có liên quan đến chiến lược đánh thủy được phát huy cao độ trong cuộc kháng chiến này. Đó cũng là chủ trương làm sao để khi tác chiến, chủ yếu ta chỉ phải đương đầu với một bộ phận quân Nguyên là quân thủy. Trong quá trình đó, ta có thể bảo toàn lực lượng, chờ thời cơ phản công chiến lược.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 29 Tháng Giêng, 2012, 02:51:55 pm
Trong khoảng tháng ba năm đó, quân Trần đã bày xong thế cờ chiến lược của mình mà không tốn nhiều xương máu. Lương thực, vũ khí của nhà nước cũng như của nhân dân được cất giấu cẩn thận. Thuyền lương của giặc thì đã bị ta phá hoặc chặn không cho vào. Quân ta rút ra vùng ven biển an toàn khiến quân Nguyên không thể dễ dàng ưu thế quân sự kết thúc chiến tranh, lại bị vua Trần dùng kế sách ngoại giao trá hàng kéo dài sự chờ đợi, hãm vào thế thiếu lương thực nghiêm trọng.

  Nguyên sử, q. 209, tờ 9b, nói rằng quân A Bát Xích cướp được 113.000 thạch, quân Ô Mã Nhi được hơn 4 vạn thạch. Nếu quả vậy, quân Nguyên đã không thiếu lương, bởi vì chuẩn bị lương thảo cho toàn bộ cuộc viễn chinh này, quân Nguyên chỉ cần 17 vạn thạch. Nhưng chính như lời bọn chúng thú nhận, vì thiếu lương nên phải bãi binh. Rõ ràng nhưng con số lương thực chúng ăn cướp được sử gia sau này khuếch trương lên.

Trong thế cờ đó, quân Nguyên ngày càng bất lợi. Những vùng chúng chiếm được thì không đủ sức giữ. Quân Mông Cổ thường phải dựa vào bộ máy cai trị của đối phương đã đầu hàng mới quản lý được vùng đất chúng chiếm. Ở đây, chúng đã thất bại trong mưu đồ bắt vua Trần đầu hàng. Bộ khung bù nhìn chuẩn bị sẵn do Trần Ích Tắc đứng đầu cũng đã bị quân Trần đánh cho tan tác, không thể vượt qua biên giới. Nguyên sử, (q1. 129) phải thừa nhận: “Những nơi xung yếu đã chiếm được nay đều thất thủ”. Đánh quân Trần thì không được, lương ngày càng khô cạn, lại luôn bị tập kích. Tình thế tất yếu với quân Nguyên là rút quân càng sớm càng tốt.

Khoảng cuối tháng 3-1288, tại Vạn Kiếp, nơi mà đúng bốn tháng trước, các cánh quân Nguyên hồ hởi họp mặt bàn kế sách chinh phục thì nay, cũng vẫn chúng, còn khá nguyên vẹn, trong nguy cơ của đói rét, bệnh tật và quân Trần tập kích, thầm thì bàn kế hoạch rút quân. Một giai đoạn mới, một tình thế mới bắt đầu. với quân Nguyên, cần tính toán làm sao để về nước an toàn nhất, để có thể thất bại trong sự toàn vẹn, với những lý do “bãi binh” của trời đất, hòng che kín cái thể diện của “thiên triều”. Trái lại, với quân Trần, đây là dịp tiêu diệt sinh lực địch càng nhiều càng tốt. Bởi lẽ trước một mưu đồ xâm lược ngoan cố, lâu dài, trực tiếp như của nhà Nguyên thì tiêu diệt sinh lực, phương tiện chiến tranh của địch càng nhiều có nghĩa là càng ngăn chặn có hiệu quả một cuộc xâm lược tiếp theo, cả về lực lượng vật chất cụ thể cũng như về tinh thần.

Cũng như các lần trước, trong chặn địch, trong rút lui, quân thủy Trần là phương tiện cơ động tuyệt vời, còn trong phản công chiến lược, quân thủy Trần là lực lượng tiến công sắc bén. Lần này, đặc biệt cần nhấn mạnh, với chiến lược đánh thủy được quán triệt từ sớm, với những thắng lợi được cổ vũ từ đầu như Ngọc Sơn (Đa Mỗ), Vân Đồn, Đại Bàng…, với một mục tiêu có ý nghĩa chiến lược là tiêu diệt bằng được quân thủy Nguyên – thủ đoạn mới nhất của nhà Nguyên đối với quân Trần – thì quân thủy càng được chú trọng một cách đặc biệt. Có thể nói, chiến lược đánh thủy, nghệ thuật đánh thủy của quân Trần trong kháng chiến lần này, tinh hoa của kỷ nguyên phục hưng Lý – Trần, đã biểu hiện tập trung nhất trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến thứ ba, mà mấu chốt của nó là chiến thắng Bạch Đằng.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 29 Tháng Giêng, 2012, 02:56:33 pm
Chiến thắng Bạch Đằng (1288)

Trong thế bao vây của quân Trần cuối tháng 3-1288, quân Nguyên rất lúng túng về kế hoạch rút quân. An Nam chí lược cho biết rõ sự lúng túng đó xoay quanh một vấn đề: bỏ thuyền hay giữ thuyền khi rút quân. Trong đám tướng Nguyên có hai ý kiến khác nhau. Những trận phục kích của quân Trần trên đường quân thủy Nguyên tiến vào nước ta cũng như thực tế thảm hại của quân thủy Toa Đô năm trước, nhất là quân Trần bấy giờ đã bộc lộ ý định tập trung quân ở khu vực Tân Hưng – Trúc Động, khiến một số tướng Nguyên, phần lớn là bọn tướng thủy, chủ trương “Thuyền lương hai lần vào đều bị hãm cả, chi bằng hủy thuyền đi đường bộ là thượng sách”140.

Quả là trong tình thế bấy giờ, việc quân Nguyên cụm thành một khối hành quân đường bộ sẽ khiến quân Trần khó bề tiêu diệt chúng hơn. Nhưng trong ý định xâm lược lâu dài, mà cuộc rút quân lần này chỉ là một bước “tạm bãi quân”, thì hủy thuyền cũng tức là quân Nguyên tự cắt bỏ một khối lượng lớn phương tiện cơ động lợi hại trong chiến lược tác chiến xâm lược Đại Việt. Như đã biết, tổ chức đội thuyền chiến lần này là một cố gắng rất lớn của nhà Nguyên. Không phải dễ dàng, ngay lập tức quân Nguyên có được một đội thuyền chiến đông và mạnh như vậy. Hơn nữa, hủy thuyền cũng tức là nghiễm nhiên công nhận sự thất bại của một thủ đoạn tác chiến mới, một lá bài mới trong hy vọng chinh phục nước ta. Khi nghe lời bàn hủy thuyền của bọn tướng thủy, “Trấn Nam Vương muốn nghe, tả hữu bèn can ngăn”141, chứng tỏ chính Thoát Hoan cũng cảm thấy số phận mỏng manh của việc rút quân đường thủy. Nhưng rất nhiều tướng lĩnh Nguyên khác, có lẽ chủ yếu là đám tướng hành quân đường bộ, vì không có thực tế sợ hãi như bọn tướng thủy, đã tỏ ra “tỉnh táo” hơn và thấy sự cần thiết của “toàn vẹn” thuyền chiến. Cuối cùng, Thoát Hoan (chính y rút theo đường bộ) đã tán thành lời can ngăn đó.

Bọn tướng bộ Nguyên cho rằng chia quân rút theo cả đường bộ lẫn đường thủy có mấy cái lợi sau: thứ nhất, chúng có thể chuyên chở về nước những của cải cướp được trong các cuộc hành quân vơ vét trên nước ta (Sau này, đoàn thuyền chiến của Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, còn phải kéo theo một đoàn thuyền “lương” nữa khi rút quân qua Bạch Đằng. Rõ ràng quân Nguyên không cần mang lương thực về nước như là khi chúng đánh sang nước ta. Chính đó là các loại của cải, được liệt là “chiến lợi phẩm” tất yếu sau mỗi cuộc viễn chinh của “thiên triều”). Thứ hai, rút quân cả đường thủy sẽ phân tán lực lượng tiến công của ta, nhờ đó cánh quân bộ sẽ đảm bảo an toàn hơn.

Tuy nhiên, để yên lòng cánh quân thủy, Thoát Hoan đã cho quân thủy rút trước. Số quân bộ ở lại chia làm hai bộ phận, một, do Thoát Hoan chỉ huy trụ lại ở Vạn Kiếp để hỗ trợ về mặt tinh thần cho quân thủy, một bộ phận khác toàn quân kỵ tinh nhuệ, do viên tướng lão luyện người Hán là Trình Bằng Phi và một viên tướng Mông Cổ là Đạt Truật chỉ huy, men theo phía tả ngạn, hộ tống quân thủy ra đến biển, sau đó quay trở về mới cùng Thoát Hoan rút quân.
-------------------------
140, 141 An Nam chí lược.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 29 Tháng Giêng, 2012, 03:03:28 pm
Ngày 27 tháng hai âm lịch (tức 30-3-1288), đoàn thuyền chiến cũng vẫn khoảng 500 chiếc142 với 5 vạn quân, chất đầy của cải cồng kềnh cũng như những nỗi lo sợ khủng khiếp cho đoạn đường sắp tới, nặng nề rút khỏi Vạn Kiếp theo hướng sông Bạch Đằng ra biển. Quân Trần đang chờ sẵn chúng, không phải chỉ bằng một trận đánh, mà bằng cả một loạt trận phục kích đường thủy đại quy mô.

  Trong lịch sử chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, ông cha ta đã từng tổ chức và thực hiện thắng lợi loại hình hoạt động quân sự, trong đó bao gồm những trận đánh liên tục, giải quyết từng nhiệm vụ cụ thể khác nhau, nhưng lại gắn bó với nhau trong một mục tiêu quân sự chung, dưới một sự chỉ huy thống nhất. Có thể coi những hoạt động đó như là những chiến dịch, theo cách gọi của thuật ngữ quân sự hiện nay. Đó là chiến dịch tiến công Ung, Khâm, Liêm năm 1075; chiến dịch phản công trên trục sông Hồng năm 1285; chiến dịch Bạch Đằng năm 1288; Chiến dịch Chi Lăng – Xương Giang năm 1427; chiến dịch giải phóng Thăng Long năm 1789… Mỗi chiến dịch đều mang một nét độc đáo riêng, nhưng chiến thắng Bạch Đằng 1288 quả xứng đáng là một kiểu mẫu về tổ chức chiến dịch phục kích đường thủy.

Chiến thắng Bạch Đằng kết thúc bằng một trận phục kích trên một trận địa cố định, dựa vào địa hình hiểm trở để tiêu diệt địch. Việc quân Trần bố trí những bãi cọc để tăng thêm sự hiểm trở của địa hình, khẳng định chủ trương quyết giương một cái bẫy thật lớn – một cái bẫy cố định, để đón diệt quân thủy Nguyên.

Những trận địa được chuẩn bị sẵn chờ quân địch lọt vào bẫy là một cách đánh rất lợi hại, đã ra đời sớm. Lịch sử chiến tranh của mọi dân tộc trên thế giới cũng như binh thư các đời đều luôn luôn nhắc đến thủ đoạn tác chiến cổ điển và lợi hại đó. Trong lịch sử chiến tranh nước ta, quân dân thời Trần được coi như những người tiêu biểu cho cách đánh này. Trong cả ba lần rút chạy, quân Nguyên đều bị các trận phục kích tiêu diệt nặng, gấp nhiều lần thiệt hại khi chúng tiến vào cũng như khi chúng tung quân càn quét, truy kích quân Trần. Nhưng trong các cuộc kháng chiến trước, phục kích chủ yếu diễn ra trên bộ, nhất là trên địa bàn rừng núi hiểm trở. Trong cuộc kháng chiến lần này, phục kích xuất hiện trên cả đường thủy và độc đáo hơn, lại thành công ngay khi quân địch đang hùng hổ kéo vào nước ta (trận Vân Đồn). Tiếp tục truyền thống đó, các nhà chỉ huy quân sự thời Trần đã táo bạo thực hành quyết chiến chiến lược với quân Nguyên bằng một trận phục kích quy mô lớn trên đường thủy.
-------------------------
142 Theo Toàn thư, không kể số thuyền bị đắm, số còn lại bị bắt sống là 400 tiêu thuyền (thuyền hành quân).


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 29 Tháng Giêng, 2012, 03:09:48 pm
Tuy nhiên, đánh địch bằng một trận địa có sẵn phải tuân theo những đòi hỏi rất khắt khe. Lại càng vô cùng khắt khe khi trận đánh phụ thuộc vào cả không gian lẫn chuyển biến thời gian của tự nhiên (như thời gian thủy triều cho phép hàng cọc phát huy tác dụng). Như chúng ta đều biết, từ Vạn Kiếp ra biển không phải chỉ có một đường sông duy nhất.

  Con đường xa nhất là ngược sông Đuống ra sông Hồng, xuôi xuống đó mà ra biển. Cũng có những con đường khác gần hơn một chút, như đường xuôi theo sông Thái Bình mà ra hai cửa Trà Lý hoặc Văn Úc. Gần hơn nữa có con đường xuôi theo sông Kinh Môn ra cửa Cấm. Và, con đường gần nhất là theo sông Kinh Thầy, ra cửa Chanh hoặc vòng một chút, qua cửa Bạch Đằng. Tuy nhiên, từ ngã ba Đụn ra tới ngã ba Rừng là nơi có thể từ đây ra biển theo cửa Chanh hoặc Bạch Đằng thì cũng lại có hai con đường không xa hơn nhau là bao, đó là đường theo sông Giá và đường theo sông Đá Bạc.

Như vậy, để ra biển, quân Nguyên có thể có nhiều đường tránh bất kỳ ổ phục kích nào mà ta bày sẵn. Điều này đặt ra yêu cầu để trận phục kích có thể thực hiện được là: quân Trần phải dự đoán chính xác đường rút quân của quân thủy Nguyên, đảm bảo tuyệt đối bí mật địa điểm phục kích, đồng thời đủ sức điều khiển được hướng hành quân của quân Nguyên trong trường hợp chúng vô tình hoặc hữu ý đi chệch khỏi con đường mà ta đang đón chúng.

Quân Trần tiếp tục truyền thống Bạch Đằng của Ngô Quyền, bố trí những bãi cọc lớn và lợi dụng thủy triều để đánh địch. Đặc điểm này của trận địa lại đặt ra những đòi hỏi khắt khe về thời gian. Ta đã biết quân thủy Nguyên xuất phát từ Vạn Kiếp ngày 30-3, mà ngày 22-3, quân thủy Nguyên còn hoạt động ở vùng này (đánh trại Yên Hưng, Trúc Động). Từ Vạn Kiếp ra đến biển, đi thuận dòng không quá hai ngày. Như vậy, nếu bình thường thì quân Trần chỉ có chưa đầy chục ngày (tức là từ sau khi quân Nguyên đánh trại Yên Hưng, Trúc Động cho đến sau khi quân Nguyên xuất phát một ngày) để trực tiếp dàn thế trận và chuẩn bị bãi cọc. Thực tế cho thấy việc chuẩn bị đòi hỏi rất nhiều thời gian, công sức. Do đó, càng kéo dài thời gian hành quân của quân Nguyên bao nhiêu thì quân dân ta càng có điều kiện chuẩn bị cho chiến trường chu đáo bấy nhiêu. Tình hình đó đòi hỏi quân Trần phải có những hoạt động tích cực, đủ sức khống chế thời gian hành quân của quân thủy Nguyên. Đặc biệt khi quân Nguyên đã đứng trước ngưỡng cửa của trận địa, thì việc “bấm nút” cho quân Nguyên hành quân theo đúng giờ nước triều thuận lợi nhất, là hành động vô cùng quan trọng.

  Có thể tính toán khoảng thời gian thuận lợi nhất dựa trên mấy yếu tố sau:

  - Độ mớn nước của chiến thuyền Nguyên khoảng 2,5m.

  - Cọc đào được ở bãi cọc cho biết dài trung bình 2,5m, đóng sâu xuống đáy sông trung bình 1,5m (Xem: Lưu Trần Tiêu và Trịnh Căn: Cọc Bạch Đằng trong đợt khai quật 1976, trong Nghiên cứu Lịch sử, số 1-1977, tr. 67).

  - Đáy sông nơi bãi cọc so với đáy sông Chanh hiện nay không chênh lệch nhau là bao (ở khu vực sông Chanh gần bãi cọc) khoảng 2 – 2,5m.

  - Tốc độ nước triều rút trung bìmh 0,30m/giờ.

  - Biên độ nước triều ngày 9-4-1288 là 2,3m.

  - Thời gian nước rút có thể tính từ khoảng 2 giờ đến 10 giờ sáng ngày 9-4-1288. (Xem Nguyễn Ngọc Thụy, Về con nước triều trong trận Bạch Đằng 1288, trong Nghiên cứu lịch sử, số 63, 6-1964).

  Tính toán chi ly có thể thấy ngay khi đỉnh triều cao nhất là thì những cọc ở rìa sông, nơi có độ sâu lúc dó khoảng 3m đã có thể làm thuyền mắc cạn. Trái lại, ở giữa sông, với độ sâu từ mặt nước tới đáy sông khoảng 4,5 – 5m thì dù cọc nhô khỏi đáy sông tới 1m vẫn không có tác dụng cản thuyền giặc. Ít ra cũng phải sau khi nước triều rút đi được khoảng 1 – 1,5m nước (tương ứng với khoảng thời gian 3 – 5 tiếng) thì cọc ở đó mới có tác dụng.

  Như vậy, muốn để bãi cọc phát huy tác dụng ở mọi độ sâu, cần phải chờ từ khi nước rút là 3 – 5 tiếng. Nếu tính lúc nước rút là 2 giờ sáng, thì phải đến 5 – 7 giờ sáng (đúng khoảng giờ mão) bãi cọc mới có thể phát huy tác dụng ở mọi chỗ. Lúc này ở ngay rìa sông, đỉnh cọc loại cao nhất (khoảng 2m từ mặt đáy sông lên đến đỉnh) cũng chỉ đang mấp mé mặt nước, chứ chưa bị lộ hẳn ra. Nước triều tiếp tục rút thì chỉ vài tiếng sau bãi cọc sẽ lộ phần lớn ra khỏi mặt nước. Như vậy, thời điểm “lái” quân Nguyên vào bãi cọc tốt nhất là khoảng 5 – 7 giờ sáng. Nếu chúng vào sớm hơn, có thể một số sẽ lướt trên bãi cọc mà thoát; nếu vào muộn hơn, cọc ven bờ lộ ra rồi thì khó mà lùa được thuyền chúng vào đó.



Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 29 Tháng Giêng, 2012, 03:13:41 pm
Rõ ràng, kết cục của trận đánh trên bãi cọc chỉ là hành động cuối cùng của cả một chuỗi hoạt động hết sức thông minh, khéo léo và cũng đầy sức mạnh để điều chỉnh tốc độ, thời gian và hướng hành quân của quân thủy Nguyên, dắt chúng vào trận địa phục kích theo đúng ngày giờ quy định. Nhìn lướt qua diễn biến, hình như trận đánh có vẻ dựa vào quá nhiều yếu tố ngẫu nhiên, từ việc quân Nguyên đi “đúng hướng” đến việc chúng vào bãi cọc “đúng giờ”. Không thể tùy tiện nói rằng vua tôi nhà Trần đã đặt toàn bộ trận quyết chiến chiến lược và công sức của hàng vạn người tham gia chuẩn bị chiến trường vào những may rủi ngẫu nhiên. Kết quả trận đánh là kết quả của những tính toán thiên tài và nỗ lực rất cao của quân tướng nhà Trần. Nhu cầu bắt buộc của trận quyết chiến tự nhiên đòi hỏi mở rộng thành một chiến dịch gồm nhiều hoạt động, nhiều trận đánh, đảm bảo cho thành công cuối cùng ở bãi cọc.

Điều đó được chứng minh qua thực tế diễn biến chiến dịch, từ việc phán đoán đúng hướng hành quân đến việc bố trí lực lượng cản đường, kéo dài thời gian hành quân của địch, việc đặt kế hoạch “lái” chúng vào bãi cọc đúng đường, đúng thời gian và cuối cùng là việc bố trí lực lượng tại trận địa, chuẩn bị trận địa và thực hành tiêu diệt địch.

Hiện nay sau nhiều năm tập trung nghiên cứu, vấn đề xác định khoảng sông Bạch Đằng diễn ra trận phục kích cuối cùng tiêu diệt toàn bộ quân thủy Nguyên về cơ bản đã được làm sáng tỏ. Đó là khoảng khu vực từ ngã tư, nơi sông Giá đổ nước vào Bạch Đằng và từ đó sông Chanh nhận nước đi, tức khoảng từ bến phà Rừng trở về thượng lưu. Tại đây, các nhà khảo cổ học đã phát hiện và khai quật được nhiều bằng chứng cụ thể về bãi cọc quân sự phù hợp với những nguồn tư liệu khác xoay quanh trận đánh này. Điều đó chứng tỏ quân Trần đã phán đoán được chính xác đường hành quân của quân Nguyên. Đây là một phán đoán có nhiều cơ sở thực tiễn. Trước hết, chiến trường nằm trên đoạn đường ngắn nhất, tiện lợi nhất và quen thuộc nhất đối với quân Nguyên. Như đã biết, con đường biển từ Trung Quốc vào nước ta thời xưa thuận tiện và quen thuộc nhất là đường qua cửa Bạch Đằng.

  Cửa Bạch Đằng thời xưa cần được hiểu một cách rộng rãi và linh hoạt, nhưng dù vào cửa nào theo quan niệm Bạch Đằng thời xưa thì vẫn phải chung một hướng qua sông Kinh Môn hoặc Kinh Thầy mà vào Lục Đầu. Thuyền chiến của Đoàn Chí theo Mã Viện vào đánh Hai Bà Trưng, của Trần Bá Tiên vào đánh Lý Bôn, của Hoằng Thao vào cứu Kiều Công Tiễn, của Lưu Trừng đánh nhau với quân Lê Hoàn, của Dương Tùng Tiên định vào với Quách Quỳ và gần nhất của bọn Ô Mã Nhi, Phán Tiếp vào hội với Thoát Hoan, tất cả đều hướng theo đường Bạch Đằng.

(http://img854.imageshack.us/img854/5828/bachdang1288500.jpg)


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 29 Tháng Giêng, 2012, 03:17:40 pm
Trong cuộc chiến tranh lần này, chỉ mới vài tháng, quân thủy Nguyên đã có dịp qua lại tuyến đường đó ít nhất là hai lần. Như vậy có thể nói đây là tuyến đường quân Nguyên thông thạo luồng lạch nhất. Quân Nguyên có thể đi theo đường khác, nhưng đều xa hơn nhiều, hơn nữa “khi quân địch ở trên đường vận động ngắn nhất của quân đội bại trận thì cuộc rút lui với thời gian là hành động nguy hại nhất”143. Mặt khác, đi theo đường ra cửa Bạch Đằng, quân Nguyên còn tranh thủ được sự hỗ trợ của kỵ binh Trình Bằng Phi men theo trục đường 18 hiện nay.

Bãi cọc được bố trí bên tả ngạn lòng sông Chanh, ngay cách cửa sông hiện nay chừng vài trăm mét, chứng tỏ nhà Trần dự đoán khả năng quân Nguyên sẽ theo đường sông Chanh ra biển. Đó là một thực tế, bởi vì đó là con đường ngắn nhất. Đoạn sông Bạch Đằng từ ngã ba sông Chanh ra biển tuy rộng, nhưng lại có những ghềnh ngăn cửa sông và xa gấp ba lần so với đường theo cửa Chanh, đường đi vòng vèo lại nhiều sóng gió.

  Theo ước tính của các nhà hàng hải thì từ ngã ba Rừng theo cửa Chanh ra tới đầu luồng gần nhất, tiện nhất để về Trung Quốc (tức đường men phía bắc đảo Cát Bà) mất khoảng 10 hải lý, đường theo cửa Bạch Đằng 29 hải lý (mỗi hải lý bằng 1.852m).

Trên đường từ Lục Đầu ra cửa Chanh có nhiều nhánh tách khiến quân Nguyên có thể đi chệch khỏi chỗ ta phục kích, ví dụ nhánh tách ra sông Đuống, nhánh tách chuyển sang sông Thái Bình, nhánh tách theo sông Kinh Môn, nhánh tách theo sông Giá. Phần lớn các nhánh trên đều rất dài và không tiện lợi, nhất là đều phải sớm chia tay với đám quân kỵ hộ tống. Duy có nhánh tách theo sông Giá có nhiều khả năng hơn cả, vì đường này không xa hơn đường sông Đá Bạc, lại tránh được đoạn sông hiểm trở có núi bao quanh. Thực tế, ngày 8-4, khi tới ngã ba Đụn, một bộ phận quân Nguyên đã tiến theo đường này. Chính vậy, quân Trần đã phải chẹn ở đây một lực lượng lớn, kết hợp với nghi binh, lái quân Nguyên đi theo đường Đá Bạc.

Sau khi đã tính toán khá chính xác đường hành quân của quân Nguyên, quân Trần nhanh chóng bước vào bố trí lực lượng chuẩn bị chiến trường. Vấn đề đặt ra là cần phải kéo dài thời gian hành quân của quân Nguyên sao cho đủ thời gian để bố trí bãi cọc và ứng với kỳ nước cường. Để làm việc đó, quân Trần đã tổ chức một loạt trận đánh trên đường quân Nguyên hành quân từ Lục Đầu đến khoảng ngã ba Đụn. Những trận đánh này có tác dụng như các nút khống chế tốc độ hành quân của quân Nguyên, đồng thời tiêu hao làm mệt mỏi chúng.

Song song với các hoạt động trên, để trận Bạch Đằng thực sự là một trận tiêu diệt lớn, quân Trần còn phải làm một nhiệm vụ có tính chất chiến thuật là tách quân kỵ Trình Bằng Phi khỏi quân thủy để hoàn toàn cô lập quân thủy khi chúng lọt vào ổ phục kích.

Cuối cùng là việc điều khiển làm sao để quân Nguyên lọt vào trận địa phục kích đúng thời gian nước triều thuận lợi nhất cho bãi cọc phát huy tác dụng.

Như vậy, chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 cần được nhìn nhận như một chiến dịch bao gồm một loạt trận đánh từ khi quân thủy Nguyên rời khỏi Lục Đầu cho đến khi chúng bị tiêu diệt toàn bộ ở ngã ba sông Chanh. Chúng ta sẽ theo dõi diễn biến chiến dịch này trong ba hoạt động quân sự chính: một là, chặn đánh quân thủy, bộ Nguyên trên đường hành quân từ Lục Đầu đến ngã ba Đụn; hai là, trận Trúc Động chặn không cho quân Nguyên theo đường sông Giá; ba là, điểm quyết chiến Bạch Đằng.
---------------------------
143 Ph. Ăng-ghen, Tuyển tập luận văn quân sự, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 1964, t. IV, tr. 107.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 29 Tháng Giêng, 2012, 03:22:03 pm
Chặn đánh quân thủy, bộ Nguyên từ Lục Đầu đến ngã ba Đụn

Ngã ba Đụn là nơi chia đường nước từ sông Hà ra hai nhánh: sông Giá và sông Đá Bạc. Từ Lục Đầu tới đây, hành trình thông thường mất khoảng gần một ngày. Con đường bộ số 18 hiện nay luôn chạy song song với đường sông này một khoảng cách 2 – 3 ki-lô-mét. Ngày 30-3-1288, quân Nguyên bắt đầu xuất phát từ Lục Đầu mà mãi đến ngày 8-4 quân thủy mới tới ngã ba Đụn, còn quân kỵ của Trình Bằng Phi ngày 4-4 mới tới Đông Triều. Hẳn là chúng đã bị quân Trần chặn đánh liên tục. Qua bài thơ của Phạm Sư Mạnh khắc trong hang Kính Chủ, thì có thể chính vua Trần Nhân Tôn là người đã đặt đại bản doanh tại khu vực Kính Chủ này để chỉ huy các trận đánh tiêu hao và khống chế tốc độ hành quân của quân Nguyên144. Đây là một vùng núi non hiểm trở, lại kề sát ngay bên sông Kinh Thầy. Từ đây vượt sông sang chợ Đông Triều, nơi quân Trần phá cầu buộc kỵ binh Trình Bằng Phi phải quay về Vạn Kiếp chỉ khoảng 5 ki-lô-mét.

Trên đoạn đường bộ chưa đầy 30 ki-lô-mét, quân kỵ Nguyên liên tục bị quân Trần phá cầu, chặn đường đón đánh. An Nam chí lược chép: “Ngày 3 tháng ba, Đinh Hợi, hữu thừa Trình Bằng (Phi), thiêm tỉnh Đạt Mộc, đem kỵ binh đưa chu sư (quân thủy), qua chợ Đông Hồ (Triều), vướng sông bèn trở về. Vì cầu cống đều bị quân kia (quân Trần) cắt đứt, đón đợi ta mà đánh”. Vậy là sau năm ngày hộ tống, mới được khoảng một phần ba đường đi, quân kỵ Nguyên đã bị đánh bật trở lại Vạn Kiếp, bỏ mặc quân thủy tiến vào vùng nguy hiểm nhất.

Trên đường thủy, thuyền chiến quân Nguyên mới là đối tượng chính của quân Trần. Trong phần truyện về Trương Ngọc – một viên tướng chỉ huy đạo quân thủy này, chép trong Nguyên sử, q. 166, có đoạn xác nhận quân thủy do y chỉ huy trên đường đi từ Lục Đầu ra Bạch Đằng đã phải “giao chiến ngày này sang ngày khác”145. Dựa vào những dòng ghi chép về Trình Bằng Phi, ta có thể hình dung, khoảng ngày 4-4, tức ngày quân bộ đến Đông Triều thì quân thủy Nguyên cũng hành quân đến khoảng sông gần đấy. Đó chính là khu vực đóng đại bản doanh của vua Trần (vùng Dương Nham). Từ đây đến ngã ba Đụn, tức là nơi mà ngày 8-4, quân thủy Nguyên tụ họp ở đây trước khi tiến qua Bạch Đằng ra biển, đường nước chỉ khoảng hơn 10 ki-lô-mét, vậy mà quân thủy Nguyên đã phải mất 10 ngày. Rõ ràng, sau khi tách quân thủy Nguyên khỏi quân bộ, quân Trần chốt ở căn cứ Dương Nham đã tập trung chặn đánh chúng rất quyết liệt. Và cũng từ đây quân thủy Nguyên bị đặt trong mọi tình huống không khác gì quân thủy Toa Đô năm 1285: phía trước là quân ta đón phục ở Bạch Đằng, phía sau là vua Trần chốt chặn, uy hiếp từ Dương Nham. Chúng đã bị đặt trong tình thế bị tiêu diệt.

Thư tịch chính thống chỉ thấy tập trung nói đến trận chiến đấu xung quanh bãi cọc ở Bạch Đằng, nhưng truyền thuyết dân gian cũng như ghi chép trong các thần phả, tộc phả lại cho biết nhiều chi tiết sinh động về các hoạt động chặn đánh quân Nguyên từ Lục Đầu đến Bạch Đằng. Đó là câu chuyện về những vị chỉ huy dân binh địa phương như Nguyễn Xuân, Hoa Duy Thành mà công lao gắn liền với các hoạt động chặn đánh quân thủy Nguyên trước khi chúng tới Bạch Đằng. Sau đó cùng với vua Trần, họ đều tham gia trực tiếp trong trận quyết chiến ở Bạch Đằng.

Hoạt động của vua Trần nói trên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Việc đích thân vua Trần đứng ra chỉ huy chứng tỏ điều đó. Quân Trần đã hoàn thành xuất sắc giai đoạn một của chiến dịch, nhờ vậy, quân ta có thêm gần chục ngày để chuẩn bị và khi quân thủy Nguyên đến Bạch Đằng thì chúng đã hoàn toàn đơn thương độc mã, mệt mỏi rã rời.
-------------------------------------
144 Xem thêm Lê Thước: Bài thơ của Phạm Sư Mạnh khắc trong hang Kính Chủ (Hải Hưng), trong Khảo cổ học, số 5 – 6, tr. 81. Đại Nam nhất thống chí, t. III, tr. 379, trong khi nói về núi Dương Nham (hang Kính Chủ ở núi này) có đoạn: “Vua Trần Nhân Tôn nhà Trần chống cự quân Nguyên, đóng quân ở trên núi”.

145 Theo Hà Văn Tấn…, Sách đã dẫn, tr. 287.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 29 Tháng Giêng, 2012, 03:24:34 pm
Trận Trúc Động

Trúc Động nay là tên một thôn thuộc xã Lưu Kiếm, huyện Thủy Nguyên (Hải Phòng), thời Trần bao gồm toàn bộ khu vực nằm kẹp giữa sông Đá Bạc và sông Giá. Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai, có lẽ vua Trần đã từ Tam Trĩ theo đường bộ rút về đây rồi ra cửa Nam Triệu mà vào Thanh Hóa. Vùng này được biến thành một căn cứ thủy bộ lớn ngay từ giai đoạn hai của cuộc chiến tranh, tức lúc quân Nguyên đang ra sức tìm diệt quân Trần. Khi chiến dịch Bạch Đằng mở ra, căn cứ này càng có vị trí đặc biệt quan trọng. Về phía đông và phía bắc căn cứ là núi đá, núi đất hiểm trở xen giữa những lạch nước chi chít thông với sông Đá Bạc, Bạch Đằng. Về phía nam và phía tây căn cứ có những núi đất nhỏ rải kè sát sông Giá uốn khúc với nhiều lạch nước phụ kín đáo. Trong chiến dịch Bạch Đằng, nếu như nửa phía đông và bắc tập trung lực lượng đón đánh quân Nguyên theo đường sông Đá Bạc thì nửa phía tây và nam, quân Trần vừa phải bố trí binh thuyền tham gia đánh địch ở Bạch Đằng, vừa phải đối phó với khả năng quân thủy Nguyên từ ngã ba Đụn tiến theo đường sông Giá.

Dường như ban ngày quân Nguyên chủ trương đi theo đường sông Giá để tránh đoạn sông nguy hiểm nhất trong toàn bộ trục đường này, đó là đoạn sông Đá Bạc nối với Bạch Đằng. Trong thực tế, quân Trần cũng đặt bẫy phục kích của mình theo con đường nguy hiểm đó. Vì vậy, nếu để quân Nguyên đi theo đường sông Giá thì kế hoạch sẽ bị đảo lộn. Quân Trần đã bố trí lực lượng thủy bộ khá mạnh ở phía sông Giá đồng thời giăng cờ xí nghi binh, như thể quân ta tả đón đánh địch ở hướng này.

  Truyền thuyết dân gian vùng Trúc Động kể lại rằng quân ta lợi dụng thủy triều lên thả những mo cau gói cơm xuống sông trôi về phía ngã ba Đụn, cố ý làm như tiết lộ việc phục quân ở đoạn sông này, khiến quân Nguyên không dám vào.

Tuy nhiên, quân Nguyên vẫn cử đội thuyền chiến tiên phong do Lưu Khuê (viên tướng thủy chết hụt ở Hàm Tử năm 1285) chỉ huy tiến thăm dò theo đường sông Giá. Chúng ta có thể dự đoán rằng trong những ngày nước cường, quân Nguyên có ý thức lợi dụng thủy triều rút để ra biển. Trận Trúc Động xảy ra trước trận Bạch Đằng một ngày, chứng tỏ đêm hôm trước (7 rạng 8-4) quân Nguyên đã đến tụ ở ngã ba Đụn, chờ trời sáng và nước triều rút để xuôi dòng ra biển. Quân Trần đã chặn đánh quân Lưu Khuê quyết liệt ở đường sông này.

An Nam chí lược chép: “Ngày mồng 7 (tức 8-4 dương lịch – T.G.), quân thủy ta (tức quân Nguyên – T.G.) đến Trúc Động, quân địch tiến đánh, Lưu Khuê đánh lui, bắt được 20 cái thuyền”.

Thực ra không có chuyện “Lưu Khuê đánh lui”, bởi tiếp liền sau những dòng trên, Lê Trắc viết: “Ô Mã Nhi không theo đường biển (?) mà đi, lại theo đường sông Bạch Đằng, gặp địch, Ô Mã Nhi tự đem quân tải lương đánh lại. Phàn tham chính chiếm núi cao làm ứng, khi nước triều rút, quân bị hãm”. Rõ ràng quân Nguyên đã bị chặn ở sông Giá, buộc phải rút theo đường sông Đá Bạc (được coi như dòng chính của Bạch Đằng) và đã bị tiêu diệt trong ngày hôm sau. Điều này phù hợp với truyền thuyết dân gian và diễn biến trận đánh ngày hôm sau, mà kết quả là trận Bạch Đằng xảy ra đúng với kế hoạch bố trí của ta, chứng tỏ quân Trần hoàn thành nhiệm vụ bịt kín đường sông Giá.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 29 Tháng Giêng, 2012, 03:31:13 pm
Trận Bạch Đằng

Trận địa bố trí sẵn để tiêu diệt toàn bộ quân thủy Nguyên được quân Trần đặt ở khúc sông Bạch Đằng, khoảng từ ngã ba sông Chanh trở về thượng lưu một vài ki-lô-mét.

Có mấy đặc điểm đáng lưu ý về chủ trương chọn điểm quyết chiến ở khúc sông này. Đây là đoạn sông rộng (khoảng gần 2 ki-lô-mét bề ngang, khi nước triều lên), lại rất gần cửa biển (trong thơ Phạm Sư Mạnh, được coi như một hải phố), vì vậy có nhiều luồng lạch và chịu ảnh hưởng rất lớn của thủy triều.

  Theo các nhà khí tượng học, biên độ triều trong ngày nước cường, tức ngày diễn ra trận Bạch Đằng 1288 ở khoảng sông này chênh nhau trong khoảng 2,3m, lưu tốc nước lúc nhanh nhất tới 8,86m/giây và nước rút trung bình 30cm/giờ146.

Như vậy quân Trần có ý định quyết chiến với quân Nguyên bằng thủy chiến. Nhưng không phải đối trận mà là phục kích thủy chiến. Do lòng sông rộng, việc giải quyết thắng bại cơ bản của trận đánh là do quân thủy quyết định. Nhưng thực tế thuyền quân Nguyên là thuyền biển, sản phẩm của những xưởng đóng thuyền nổi tiếng đương thời ở Quảng Đông, Phúc Kiến. Nên quân thủy Trần không chọn đối trận mà chọn phục kích là đúng.

  Có thể hình dung điều này qua một đoạn trong Vũ bị chế thắng chí: “Thuyền lớn thì thắng thuyền nhỏ, thuyền chắc chắn thì thắng thuyền mỏng manh, thuyền thuận gió thì thắng thuyền nghịch gió, thuyền thuận dòng thì thắng thuyền nghịch dòng… Lấy thuyền Phúc Kiến mà gặp thuyền Nhật Bản thì như lấy xe mà nghiến con bọ ngựa. Thuyền Phúc Kiến như thành mà thuyền Nhật Bản như một khoang, ở trong biển lớn gặp nhau, thì đấu sức thuyền mà không đấu sức người, thế mới biết lớn thắng nhỏ vậy. Lấy thuyền Phúc Kiến mà đối thuyền Quảng Đông thì như lấy đá ném vào núi. Thuyền Quảng Đông đều bằng gỗ lim, mà thuyền Phúc Kiến thì là gỗ thông, sóng gió dập nhau, gỗ thông chỉ đụng một cái là nát, thế mới biết chắc chắn thắng mỏng manh vậy” (quyển 13).

Trong trận phục kích đường thủy này, yếu tố quan trọng nhất là làm rối loạn đội hình hành quân của địch, từ đó dùng ưu thế áp đảo về binh lực tiêu diệt chúng. Trận địa cọc được coi như một đội quân ngầm, có nhiệm vụ chủ yếu là chặn không cho quân Nguyên chạy khỏi trận địa phục kích, đồng thời là đòn quyết định làm rối loạn hoàn toàn và nghiêm trọng đội hình chiến đấu của chúng. Bản thân bãi cọc không phải là phương tiện tiến công, cho dù có ý định như Ngô Quyền vát nhọn và bịt sắt ở đầu. Trong trường hợp thuyền đang vận động nhanh, chỉ cần va phải cọc thi dù nhọn hay không, mạn thuyền cũng dễ bị phá hủy. Tuy nhiên, bao giờ cũng vậy, thường chỉ một số thuyền đi đầu bị vướng cọc thôi, chứ không có khả năng toàn bộ chiến thuyền lao sâu vào bãi cọc.

  Kết quả khai quật bãi cọc ở cửa sông Chanh đem lại cho chúng ta hiểu biết khá chi tiết về kích thước và cách bố trí của cọc, nhưng cả mấy lần đào đều không đem lại mảy may chứng tích chiến trận, như thuyền, gươm, giáo… Điều đó chứng tỏ ở giữa bãi cọc không có khả năng diễn ra trận đánh. Chương trình tìm kiếm chiến trường ở khoảng đầu bãi cọc, nơi các thuyền Nguyên đi đầu vướng vào, cản toàn bộ các thuyền khác có thể đem lại hy vọng hơn.

Bãi cọc chỉ có tác dụng giúp quân thủy Trần, với thế bất ngờ áp đảo, tạo ra tình huống quyết định nhất của trận đánh là khiến đội hình chiến đấu của quân Nguyên bị rối loạn, phải tụ lại để đón những đòn tiến công của ta.

(http://img855.imageshack.us/img855/5091/0baicocbachdangjpg.jpg)
--------------------------
146 Xem thêm: Nguyễn Ngọc Thụy, Tài liệu đã dẫn.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 29 Tháng Giêng, 2012, 03:35:28 pm
Một phương thức được dùng trong trận Bạch Đằng để làm rối loạn đội hình chiến đấu của thuyền chiến Nguyên là hỏa công. Truyền thuyết dân gian cho ta nhiều tư liệu về cách đánh này. Khi thuyền Nguyên bị mắc kẹt trước bãi cọc, đội hình dồn lại, thì những bè lửa từ thượng lưu, được giấu kín trong các lạch nước chi chít ở sông Đá Bạc (khu vực Điền Công) bắt đầu trôi xuống. Những bè lửa làm tăng thêm mức độ rối loạn và hoảng sợ của quân thủy Nguyên, tạo điều kiện cho quân thủy Trần tiến công.

Tuy nhiên, yếu tố có ý nghĩa quyết định nhất đến toàn bộ cuộc chiến đấu là quân thủy Trần, với cung nỏ và những trận đánh giáp lá cà trên thuyền địch, tiêu diệt quân Nguyên hoặc buộc chúng rời thuyền. Thư tịch đương thời cho ta biết rất rõ điều đó. Trương Hán Siêu, là gia khách trong nhà Trần Quốc Tuấn, ít năm sau trở lại chiến trường đã mô tả lại trận đánh như sau:


  “… Bấy giờ:
  Muôn dặm thuyền bè, tinh kỳ phấp phới
  Sáu quân oai hùng, gươm đao sáng chói”.


Sử Nguyên, truyện về Phàn Tiếp chép: “Thuyền giặc (tức quân Trần – T.G.) tập trung đông, tên bắn như mưa”. Bia Lý Thiên Hựu cũng chép: “Tháng ba, đến cảng Bạch Đằng, người Giao chắn chiến hạm ngang sông để chống cự quân ta, đến lúc nước triều rút, thuyền không tiến được, quân tan vỡ…”.

Quân thủy Trần chẳng những là lực lượng chính trong các hoạt động chặn đánh quân thủy Nguyên dọc đường hành quân, mà còn tiếp tục đóng vai trò chính dắt quân Nguyên vào trận địa phục kích, kìm chân chúng cho đến khi bãi cọc phát huy tác dụng, và cuối cùng giáp chiến tiêu diệt quân Nguyên trên thuyền.

Khác với những trận đánh trên biển, ở đây dù sông rộng thì quân Nguyên khi thất trận vẫn có thể bỏ thuyền thoát lên bờ trốn chạy hoặc tiếp tục chống lại. Song, chúng đã bị tiêu diệt hoàn toàn.

Truyền thuyết dân gian vùng Yên Hưng kể lại nhiều chi tiết về những trận truy kích quân thủy Nguyên khi chúng bỏ chạy lên bờ về phía tả ngạn Bạch Đằng. Có thể quân Trần đã bố trí quân bộ đón sẵn, cũng rất có thể quân thủy Trần sau khi hoàn thành nhiệm vụ đánh địch trên sông, tiếp tục đổ bộ truy kích quân Nguyên trốn chạy. Như vậy, nếu thủy chiến trên sông giải quyết những vấn đề quyết định thành bại của trận đánh, thì cuộc chiến đấu tiếp tục trên ờ tả ngạn đã làm cho trận đánh thắng lợi một cách triệt để. Trong trường hợp này, càng thấy ý nghĩa to lớn của việc quân ta đã loại quân kỵ Trình Bằng Phi khỏi trận đánh này. Quân Trần chẳng những đánh thắng, mà còn hoàn thành xuất sắc mục tiêu đánh tiêu diệt.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 29 Tháng Giêng, 2012, 03:43:05 pm
Trong sử sách ghi chép về các trận đánh thời Lý – Trần, trận Bạch Đằng được mô tả tỉ mỉ nhất. Sử sách Nguyên, dù cố che đậy, cũng không thể bỏ qua thất bại to lớn và hiển nhiên này. Điều đó cho phép chúng ta hình dung được phần nào diễn biến trận đánh – một vấn đề hết sức quý báu khi nghiên cứu lịch sử chiến tranh thời cổ trung đại.

Toàn thư là cuốn sách ghi chép chi tiết hơn cả về trận Bạch Đằng. Cương mục sau này chủ yếu dựa vào Toàn thư và thêm ít nhiều phán đoán của người biên soạn dựa trên cơ sở tham khảo một số tài liệu trong Nguyên sử. Để hình dung trận đánh bám sát với tư liệu có thể dựa vào Toàn thư mặc dầu đoạn viết về Trương Văn Hổ có nhiều điều nghi vấn.

Toàn thư chép: “Ngày hôm ấy (tức ngày 8 tháng tư dương lịch) nhân lúc nước triều lên, Hưng Đạo cho quân khiêu chiến, rồi giả cách thua, quân giặc đuổi theo, quân ta cố sức đánh lại. Nước triều xuống, thuyền giặc bị vướng cọc, Nguyễn Khoái đem quân Thánh Dực nghĩa dũng đánh nhau với giặc, bắt được bình chương là Áo Lỗ Xích. Hai vua đem quân tiếp đến, tung quân đánh hăng, quân Nguyên chết đuối không kể xiết, nước sông đến nỗi đỏ ngầu”.

  Theo phần Tục biên trong sách này thì có lẽ Phan Phu Tiên là tác giả của những hiểu biết trên. Ông sống vào khoảng cuối Trần đầu Lê, tức sau Trần Bạch Đằng khoảng một thế kỷ rưỡi. Có lẽ ông không có điều kiện tham khảo Nguyên sử – tập sử hoàn thành vào đầu thời Minh – như các tác giả Cương mục, nhưng với trách nhiệm được vua giao viết phần tiếp theo Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu, từ thời Trần Thái Tôn cho đến khi Lê Thái Tổ đánh đuổi quân Minh về nước, có thể ông có lợi thế hơn các tác giả đời sau ở chỗ xây dựng được ít nhiều văn bản thời Trần và trí nhớ dân gian còn rất phong phú, gần với chân lý hơn, xung quanh những sự kiện về Bạch Đằng.

Dựa vào những nguồn sử liệu khác đương thời, kết hợp với các tài liệu phân tích hiện đại, chúng ta thử lần theo hiểu biết của nhà viết sử thế kỷ XV về trận Bạch Đằng. Theo Phan Phu Tiên, trận đánh bắt đầu lúc triều trướng (có thể hiểu nước triều đang lên cũng hiểu được là nước triều đã lên cao). Tính toán bằng phương pháp hiện đại, các nhà khí tượng học cho biết ngày 9-4-1288 là ngày nước cường, với đỉnh triều cao nhất trong đêm 8 rạng 9-4, từ đó nước rút và rút mạnh nhất khoảng sáng sớm147. Nguyên sử truyện về Phàn Tiếp cho biết: “Lực chiến từ giờ mão đến giờ dậu”, tức khoảng 5 – 7 giờ sáng đến 5 – 7 giờ tối. Như vậy chứng tỏ trận “khiêu chiến” xảy ra vào khoảng nước triều đang còn cao, chứ không phải đang lên cao. Theo kế hoạch hành quân bình thường, quân Nguyên cũng sẽ lợi dụng nước triều rút, để ra biển. Theo lưu tốc triều rút từ ngã ba Đụn – nơi quân thủy Nguyên đóng quân sau khi tắc đường sông Giá ra đến ngã ba sông Chanh chỉ trong vòng hai tiếng đồng hồ.

Trận “khiêu chiến” không có ý nghĩa nhử địch lắm, điều đó chỉ khiến chúng tăng cường cảnh giác, mà chủ yếu là để khống chế tốc độ hành quân của thuyền chiến Nguyên, không cho chúng tiến qua bãi cọc khi nước triều còn cao.

Các tài liệu của sử ta cũng như sử Nguyên đều công nhận quân thủy Nguyên “mắc cạn” (sử ta chép thẳng là “vướng cọc”) khi nước triều rút và bị quân ta tiêu diệt. Điều đó chứng tỏ đội thuyền chiến làm nhiệm vụ “khiêu chiến” đã hoàn thành nhiệm vụ. Có thể khoảng 5 – 7 giờ sáng hôm ấy, khi nước triều đã rút tới mức bãi cọc còn chìm dưới nước, nhưng đã phát huy tác dụng thì quân “khiên chiến” bắt đầu “thả” quân Nguyên và các đơn vị phục kích trong các lạch nước phía hữu ngạn đổ ra đánh dồn quân Nguyên về phía bãi cọc.

  Theo chúng tôi, việc “quân ta cố sức đánh lại” chép trong Toàn thư cũng như việc “người Giao chắn chiến hạm ở ngang sông”, việc “Phàn tham chính chiếm núi cao làm ứng”… trong Nguyên sửAn Nam chí lược đều nói về diễn biến chiến sự trước khi quân Nguyên lọt vào bãi cọc, khi quân Nguyên đụng đầu với quân “khiêu chiến” của ta.

  Có hai khả năng dẫn đến việc “nước triều xuống, thuyền giặc vướng cọc”. Thứ nhất, quân Nguyên thoát theo hướng sông Chanh khi quân phục kích của ta đổ ra, bị bất ngờ, nên lao phải hàng cọc ngầm dưới nước. Thứ hai, quân ta đánh kìm chân quân Nguyên ở trước bãi cọc cho đến khi bãi cọc phát huy tác dụng. Khả năng thứ hai ít hơn, vì nếu vậy đội quân đánh chặn phải hoạt động phía dưới bãi cọc và khi bãi cọc dần nhô lên làm thuyền quân Nguyên mắc cạn thì đội quân này không có cách nào tham gia trận đánh được nữa. Thực tế chúng ta không tìm thấy được bằng chứng trận đánh trong bãi cọc. Nhiều khả năng là quân Nguyên đã “thắng” đội quân “khiêu chiến” nhà Trần, lại bị phục binh đổ ra và vướng cọc. Dĩ nhiên, quân Trần phải có những hoạt động nào đó đề phòng khả năng quân Nguyên thoát ra biển bằng đường sông Bạch Đằng. Và trong trường hợp này, chúng ta có thể hiểu được lời trách cứ trong An Nam chí lược: “Ô Mã Nhi không theo đường biển mà đi, lại theo đường sông Bạch Đằng… khi nước triều rút, quân bị hãm”.


Khi quân Nguyên đã mắc cạn, tình huống mới xuất hiện, cuộc chiến đấu bước vào giai đoạn quyết định.
--------------------------
147 Nguyễn Ngọc Thụy, tài liệu đã dẫn.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 29 Tháng Giêng, 2012, 03:50:47 pm
Khi những thuyền chiến đầu tiên của quân Nguyên mắc cọc bất ngờ thì chẳng những đội hình hành quân của chúng bị rối loạn – đây là điều tối kỵ trong đối thủy – mà tâm trạng tác chiến, ý định tác chiến cũng hỗn loạn. Quân Trần đã tích cực khai thác tình huống đó bằng những bè hỏa công thả từ phía thượng lưu xuống và quan trọng hơn là những đội cảm tử thọc sâu vào đội hình đang rối bời của địch.

Toàn thư chép về tình huống này: “Nước triều xuống, thuyền giặc vướng cọc. Nguyễn Khoái đem quân Thánh Dực Dũng Nghĩa đánh nhau với giặc”.

  Nguyên bản chép là Thánh Dực Dũng Nghĩa, chứ không phải là Nghĩa Dũng. Quân Dũng Nghĩa là quân tình nguyện, không trong biên chế, thường coi như quân cảm tử. Binh chế Tống có nói đến quân Nghĩa Dũng là một loại dân binh, nhưng được tổ chức và huấn luyện như cấm quân. Năm 1073, nhà Tống chính thức áp dụng loại quân này cho vùng Quảng Đông, Quảng Tây. Cuối thời Hồ, năm 1406, để tăng cường quân đội chuẩn bị kháng Minh, “Hồ Hán Thương bổ thêm hương quân, lấy người có chức tước tạm coi. Chiêu mộ những người vong mệnh làm quân Dũng Hãn đặt các chức thiên hộ, bách hộ để cai quản” (Toàn thư, t. II, tr. 246). Trong các binh thư, thường không mấy khi quên loại quân cảm tử này, họ thường được dùng trong những tình huống đột phá quan trọng nhất. Thánh Dực Dũng Nghĩa chính là loại quân như vậy, khác với quân tả hữu Thánh Dực trong biên chế chính thức của nhà vua. Rất có thể đây là đội quân cảm tử do Nguyễn Khoái chiêu mộ ở vùng sông nước Hưng Yên, Hải Dương (tức hai lộ Hồng, Khoái đương thời).

Hoạt động của quân Thánh Dực Dũng Nghĩa đã mở đầu cho cuộc tổng công kích vào đội thuyền chiến của quân Nguyên đang bị vướng cọc dồn lại và hỗ loạn trong đám cháy của những bè hỏa công. Tiếp theo mũi đột kích của quân Dũng Nghĩa, toàn bộ quân thủy Trần lao vào tiến công quân Nguyên. Đó là lúc Toàn thư chép: “Hai vua đem quân tiếp đến, tung quân đánh hăng, quân Nguyên chết đuổi không kể xiết, nước sông đến nỗi đỏ ngầu”. Đó cũng là lúc truyện về Phàn Tiếp trong Nguyên sử ghi: “Thuyền giặc tập trung đông, tên bắn như mưa”. Đó cũng là lúc diễn ra hình ảnh tiêu biểu nhất của trận đánh mà Trương Hán Siêu từng mô tả:

  “Bấy giờ…
  Muôn dặm thuyền bè, tinh kỳ phấp phới
  Sáu quân oai hùng, gươm đao sáng chói
  Sống mái chưa phân, Bắc Nam lũy đối
  Trời đất rung rinh (chừ) sắp tan
  Nhật nguyệt u ám (chừ) mờ tối…”.


Có lẽ Phàn Tiếp đã rơi xuống sông và bị quân Trần dùng câu liêm móc lên ở đây, Trương Ngọc tử trận, và bọn Ô Mã Nhi, Tích Lệ Cơ… cũng bị bắt sống tại đây.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 29 Tháng Giêng, 2012, 03:58:16 pm
Trận chiến đấu diễn ra cho đến tận giờ dậu, tức khoảng chập tối. Trận đánh được thực hiện bằng những trận mưa tên và giáp lá cà trên thuyền. Một bộ phận quân Nguyên bỏ thuyền lên bờ, phía tả ngạn. Quân trên bờ phục sẵn cùng quân thủy Trần đuổi theo truy kích, tiêu diệt nốt. Hiện nay trong dân gian còn lưu truyền câu ca dao:

  “Bạch Đằng Giang là sông cửa ải
  Tổng Hà Nam là bãi chiến trường”


  (Tổng Hà Nam là khu vực thuộc Yên Hưng hiện nay).

Sau một ngày tiến công liên tục, toàn bộ quân thủy Nguyên đã bị tiêu diệt.

  Toàn thư chép sau khi vua Trần tung quân đánh bại chiến thuyền Nguyên thì thuyền lương Trương Văn Hổ đến; lại bị phục binh của ta đổ ra đánh, mắc cạn trên bãi cọc. Cương mục và các nhà nghiên cứu sau này đều đã đính chính sự nhầm lẫn này. Tuy nhiên, có thể đoạn này Toàn thư muốn nhắc đến việc quân ta đánh bộ phận thuyền vận tải do Ô Mã Nhi hộ tống, như trong An Nam chí lược chép: Ô Mã Nhi không theo đường biển mà về, lại theo đường sông Bạch Đằng, gặp địch, Ô Mã Nhi tự đem quân tải lương đánh lại…”. Toàn thư có thể đã gán đội thuyền tải này do Trương Văn Hổ chăng? Thực ra, Trương Văn Hổ đã bị Trần Khánh Dư đánh tan ở Cửa Lục, trốn thoát về Hải Nam, sau này (năm 1294) thấy xuất hiện trong danh sách tướng lĩnh của cuộc hành quân dự định xâm lược Đại Việt lần thứ tư.

Chỉ có Toàn thư cho biết số thuyền quân ta bắt được là trên 400 tiêu thuyền. Tất cả các tướng chỉ huy đội thuyền chiến này như Phàn Tiếp, Ô Mã Nhi, Trương Ngọc… đều bị bắt hoặc bị chết ngay tại trận. Trong trận này, quân Trần còn bắt được cả Tích Lệ Cơ, một đại vương thuộc dòng dõi Hốt Tất Liệt.

Trong lịch sử nước ta, chiến thắng Bạch Đằng là một trong những võ công hiển hách nhất, là đỉnh cao trong nghệ thuật quân sự nói chung và nghệ thuật thủy chiến nói riêng. Cùng với chiến dịch Chi Lăng – Xương Giang năm 1427, chiến dịch đại phá quân Thanh xuân Kỷ Dậu 1789, trận Bạch Đằng 1288 tiêu biểu cho nghệ thuật tổ chức và thực hành một chiến dịch quyết chiến chiến lược thời cổ trung đại ở nước ta. Với Ngô Quyền năm 938, Bạch Đằng xác lập một truyền thống: truyền thống Bạch Đằng – truyền thống đánh giặc đường thủy và thắng giặc trên chiến trường sông nước. Với Bạch Đằng 1288, quân dân nhà Trần đã đưa truyền thống đó tới đỉnh cao nhất, tới sự hoàn thiện nhất. Mặc dầu sau đó lịch sử đã không diễn ra những Bạch Đằng ở chính miền sông nước này, nhưng nghệ thuật Bạch Đằng, nền nếp Bạch Đằng, phẩm chất và hùng khí của Bạch Đằng vẫn luôn luôn là một trong những tư tưởng chỉ đạo các tướng lĩnh, là niềm động viên quân dân ta lập nên những kỳ công khác trong lịch sử gìn giữ nền độc lập dân tộc.

(http://img191.imageshack.us/img191/2875/ccbchng.jpg)


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 29 Tháng Giêng, 2012, 04:00:55 pm
*

Chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 cũng kết thúc lịch sử xâm lược của nhà Nguyên sang Đại Việt, mặc dầu Hốt Tất Liệt vẫn ấm ức, “ngứa ngáy trong tim”, chưa chịu từ bỏ tham vọng bành trước. Phản ứng Đại Việt qua ba lần thử sức chẳng những khiến nhà Nguyên phải e dè, kiêng nể trong mưu đồ nam chinh, mà “phản ứng” đó với chiến lược đánh thủy, với chủ trương kiên quyết kháng chiến, đặc biệt với phương châm tiêu diệt lớn quân địch trên đường rút chạy của chúng, đã từng bước phá vỡ các cơ sở vật chất mà nhà Nguyên cố gắng xây dựng để làm công cụ bành trướng.

Chiến thắng Bạch Đằng 1288 đã làm phá sản toàn bộ hy vọng giành thắng lợi của quân Nguyên bằng thủ đoạn tác chiến có kết hợp thủy bộ, đã đập tan cố gắng chiến thuật mới nhất của chúng; chẳng những thế, còn làm tiêu tan toàn bộ cơ sở vật chất của cố gắng đó: hầu như không một thuyền chiến nào của Nguyên về tới nước. Để tiếp tục chuẩn bị xâm lược Gia-va, Nhật Bản cũng như chuẩn bị chờ thời cất quân lần thứ tư sang Đại Việt, nhà Nguyên đã phải mất nhiều công sức trong việc tổ chức lại đội quân thủy, từ thuyền chiến đến các tướng lĩnh.

  Cuối năm 1293 – 1294, khi Hốt Tất Liệt hấp hối trên giường bệnh, y còn ra lệnh tổ chức một cuộc viễn chinh mới sang Đại Việt. Lần này, quân Nguyên chủ trương dùng nhiều thuyền chiến hơn (1.000 chiếc), nhưng đều là loại thuyền nhỏ cỡ 100 hộc (tức chỉ bằng 1/4 các thuyền chiến dùng năm 1287). Trương Văn Hổ lại xuất hiện trong danh sách đám tướng thủy, nhưng có lẽ lần này nhà Nguyên không dám dùng hắn để vận lương đường thủy nữa. Số lương thực chuẩn bị, với 35 vạn thạch lương, 2 vạn thạch cỏ ngựa, 21 vạn cân muối… nhiều gấp đôi năm 1287, ứng với số lương thảo chi phí cho cả phu vận chuyển theo đường bộ trong tình hình quân chiến đấu lần xâm lược này tương đương năm 1287. Nhưng vì Hốt Tất Liệt chết, triều đình Nguyện nhân thể bãi binh cho đến khi nhà Nguyên bị lật đổ.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 30 Tháng Giêng, 2012, 09:50:36 pm
Chương tám

SỰ PHÁT TRIỂN QUÂN THỦY
THÀNH MỘT LỰC LƯỢNG ĐỘC LẬP

Cho đến thời nhà Hồ, quân thủy nước ta vẫn chứa tách hẳn thành một bộ phận độc lập so với quân bộ. Điều đó phụ thuộc rất nhiều vào địa hình và truyền thống tác chiến của quân đội nói chung.

Chuyên hóa trong tổ chức quân đội là một xu hướng tiến bộ. Nhưng thực tế chuyên hóa sớm hay muộn trước hết phụ thuộc vào từng nước. Ở các quốc gia cổ đại ven Địa Trung Hải, việc tranh chấp đường biển vì các mục tiêu chính trị, thương mại và vấn đề chống cướp biển đã sớm đặt ra nhu cầu xuất hiện những lực lượng vũ trang chuyên hoạt động trên biển. Ngay từ đầu, địa bàn, đối tượng tác chiến của lực lượng vũ trang ở khu vực này đã phân chia tương đối rạch ròi: mặt đất và mặt nước. Chính vì vậy quân đội (army) và hạm đội (flot) đã ra đời ngay từ khi hình thành lực lượng vũ trang chuyên nghiệp của các nhà nước đầu tiên trong khu vực đó, với tư cách là hai lực lượng độc lập.

Ở Việt Nam nói riêng và phương Đông nói chung, giao thông, thương mại biển, nhu cầu khai thác các nguồn lợi biển không đặt ra một cách bức bách đòi hỏi phải có những đơn vị chuyên hoạt động trên biển. Mọi hoạt động quân sự của vùng này phần lớn đều diễn ra trong đất liền. Quân thủy trong trường hợp đó, nếu có, thường là một bộ phận gắn liền với quân bộ. Đặc biệt ở khu vực Đông – Nam Á lục địa cổ đại (gồm từ phía nam sông Dương Tử trở xuống), đất liền bị rất nhiều sông ngòi chia cắt và biển bao bọc xung quanh, quân thủy rất phát triển, tới mức là phương tiện cơ động chủ yếu của quân đội, nhưng vẫn không tách thành một lực lượng độc lập khỏi quân đội, cũng như quân bộ khó có thể hoạt động độc lập hếu tách khỏi quân thủy. Sự gắn bó giữa quân thủy và quân bộ ở nước ta nói riêng và khả năng này nói chung là quy luật phát triển riêng của vùng này, xuất phát từ những đặc điểm địa lý và khuynh hướng kinh tế, chính trị riêng của từng vùng.

Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, lực lượng vũ trang ở đây cũng dần có xu hướng chuyên hóa thành các bộ phận quân, binh chủng độc lập. Ở Việt Nam, quá trình này diễn ra một cách chậm chạp nhưng chắc chắn trong suốt thời Lý, Trần, Hồ. Biểu hiện trong xu hướng chuyên hóa tổ chức, biên chế (lính chèo thuyền – thủy thủ, và tướng chỉ huy), trong việc hình thành một cách không phổ biến các đơn vị quân thủy nhỏ hoạt động độc lập trên biển (như quân Bình Hải). Khuynh hướng chuyên hóa đó một mặt phản ánh sự phát triển của nghệ thuật quân sự, mặt khác phản ánh đòi hỏi ngày càng cao của nhu cầu quản lý khai thác của nguồn lợi đất nước, trong đó đáng chú ý là sự phát triển của ý thức về chủ quyền vùng biển. Nhưng trước thế kỷ XV, xu hướng đó vẫn chỉ là những hiện tượng rời rạc, lẻ tẻ, mà chưa kết thành một hệ thống cho phép thành hình một quan niệm đầy đủ về quân thủy độc lập với những đặc thù riêng trong tổ chức biên chế, thủ đoạn tác chiến và các chế độ tuyển mộ, huấn luyện, đãi ngộ tương ứng.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 30 Tháng Giêng, 2012, 10:11:41 pm
Có một số bằng chứng chứng tỏ đến đầu thời Lê, quan niệm về quân thủy độc lập đã rõ nét trong việc tổ chức quân đội.

  Năm 1427, tháng 7, bốn tháng sau khi cuộc tập trận thủy đầu tiên của nghĩa quân, Lê Lợi ra lệnh quy định biên chế cho các vệ thủy quân: “Mỗi thuyền chiến dùng 50 người, giữ trại năm người, vận lương năm người, sai phái năm người”148. Tháng 8 năm sau, khi định ra quy chế về nghi trượng, chiến khí, thuyền ghe, triều đình cũng chính thức biến chế cho mỗi quân 10 chiếc thuyền chiến lớn (đại chiến thuyền), 2 chiếc thuyền nhỏ đi tuần (tiểu tiêu thuyền)149.

  Nhưng phải đến thời Lê Thánh Tôn, với việc nhà nước chính thức ban ra các phép trận đồ và quân lệnh riêng cho từng loại quân (quân bộ, quân thủy, quân tượng, quân mã) thì mới có thể khẳng định sự hình thành quan niệm về các loại lực lượng vũ trang riêng biệt: “Năm 1465… tháng 11… Ban các phép trận đồ thủy bộ. Về phép thủy trận thì có những phép Trung Hư, Thường Sơn Xà, Mãn Thiên Tinh, Nhạn Hàng, Liên Châu, Ngư Đội, Tam Tài Hoành, Thất Môn, Yển Nguyệt. Về phép bộ trận thì có những phép Trương Cơ, Tương Kích, Kỳ Binh. Lại ban hành quân lệnh về thủy trận 31 điều, tượng trận 22 điều, mã trận 27 điều, bộ trận của kinh vệ 42 điều”150.


Có thể coi sự kiện trên như cái mốc đánh dấu sự phát triển của nghệ thuật quân sự nước ta; phải đến lúc này quan niệm về các binh chủng mới trở thành một hệ thống. Và vẫn tiếp tục truyền thống của nghệ thuật quân sự trước đó, trong các phép trận đồ trên thì trận thủy vẫn được quan tâm nhiều hơn và trên hết. Liên tục trong hai năm sau khi ban trận đồ, Lê Thánh Tôn đích thân chỉ huy một loạt cuộc tập trận thủy: tháng 3 năm 1466 ở Giao Thủy, tháng 12 năm 1467 ở sông Thiên Phái, 20 tháng 2 tập trận Trung Hư ở sông Lỗ Giang, năm ngày sau tập trận Tam Tài Hoành và Thất Môn ở sông Vi, ngày hôm sau tập trận Ngư Đội, Nhạn Hàng ở sông An Cha, trận Thường Sơn Xà ở Bạch Hạc…151.

Rõ ràng đến thời Lê Thánh Tôn, cùng với sự phát triển mọi mặt của bộ máy nhà nước phong kiến tập quyền đã lên tới đỉnh cao nhất, nhà nước đã có đủ điều kiện để thống nhất quân thủy thành một lực lượng độc lập. Quân thủy Lê cũng như quân đội, từ nay chỉ có một nguồn tổ chức, huấn luyện thống nhất, đó là nhà nước. Điều đó tạo điều kiện phát triển quân thủy nhanh về tổ chức biên chế, trang bị và nghệ thuật tác chiến. Triều đình Lê Thánh Tôn đã từng huy động được một đội thuyền chiến đông, đảm nhiệm được toàn bộ cuộc hành quân với số quân nhiều chưa từng thấy trong lịch sử hành quân nước ta, thậm chí cũng hiếm thấy trong lịch sử thế giới: 25 vạn quân với 5.000 chiến thuyền đánh phía nam năm 1469152.

Đến thời Lê Thánh Tôn, biên giới phía nam của Đại Việt đã vươn tới tận Quảng Nam. Toàn bộ vùng đất miền trung Trung Bộ, với thế đất hẹp dường như gắn liền với biển làm một, được đặt trong phạm vi quản lý của nhà nước. Giao thông và nếp sống của cư dân vùng này gắn chặt với biển, điều đó khiến triều đình nhà Lê tiếp tục phát triển mạnh quân thủy. Đáng chú ý là chính miền đất này,với đặc điểm địa lý – nhân văn riêng sẽ đặt ra những đòi hỏi, đồng thời tạo ra những điều kiện để phát triển quân thủy mạnh theo một khuynh hướng mà trước đó còn hạn chế: quân thủy biển – mầm mống cho sự hình thành một quân chủng hải quân độc lập sau này.

Như vậy đến thời Lê, xu hướng hình thành quân thủy độc lập từ chỗ là những hiện tượng lẻ tẻ, rời rạc đã được liên kết thành một hệ thống. Sự liên kết đó xuất hiện từ đầu thời Lê sơ, biểu hiện rõ dưới thời Lê Thánh Tôn và từ đó về sau, trong cuộc hỗn chiến liên miên giữa các tập đoàn phong kiến Lê – Mạc, Trịnh – Nguyễn… hệ thống đó không ngừng được bổ sung phong phú và chặt chẽ hơn.
-----------------------------
148 Toàn thư, t. III, tr. 40.

149 Lịch triều hiến chương loại chí, t. IV, tr. 25. Toàn thư, t. III, tr. 63. Toàn thư chép là hỏa chiến thuyền, có lẽ nhầm tự dạng chữa hỏa và chữ đại.

150 Toàn thư, t. III, tr. 195; Lịch triều hiến chương loại chí, t. IV, tr. 26. Trung Hư: trận quây tròn trống giữa; Trường Sơn Xà; trận kéo dài uốn lượn; Mãn Thiên Tinh: tản trận như sao xa đầy trời; Nhạn Hàng: trận hình chữ V; Liên Châu: trận dài, thẳng; Ngư Đội: trận hai đầu hình nêm; Tam Tài Hoành; trận dàn thành nhiều hàng ngang; Thất Môn: trận tròn bảy cửa; Yển Nguyệt: trận hình vành trăng khuyết.

151 Toàn thư, t.III, tr. 196, 260, 203.

152 Toàn thư, t.III, tr. 235, chỉ cho biết số quân 25 vạn, chia làm hai đạo đều hành quân đường biển. Tuy nhiên, ở đoạn dưới, cũng trong cuộc hành quân này, Toàn thư cho biết hai chi tiết cụ thể về số quân, số thuyền của Lê Hy Cát đổ bộ vào Sa Kỳ và số quân, thuyền Lê Thánh Tôn ở cửa Tân Áp, trung bình mỗi thuyền chở khoảng 50 – 60 quân. Điều này phù hợp với biên chế thuyền chiến năm 1427 và của quân thủy Trịnh – Nguyễn sau này.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 30 Tháng Giêng, 2012, 10:22:40 pm
Về tổ chức biên chế:số quân phục vụ trên các loại thuyền khá ổn định, có sự phân chia thành các loại chức nghiệp tương đối rõ ràng ngay trong một thuyền, như trong thủy thủ có người lái (đà công), người cầm nhịp chỉ huy cho lính chèo (trên thuyền chiến đối thủy, người thuyền trưởng trực tiếp làm việc này bằng trống, sênh, thanh la…; đi trong đêm thì bằng mồi lửa), lính chèo thuyền và nếu là thuyền buồm thì có các thủy thủ điều khiển buồm. Ngoài số thủy thủ, khi chiến đấu, trên thuyền còn có bộ phận lính chuyến đấu chuyên nghiệp, đặc biệt là trên các thuyền đối thủy. Số lính này cũng được chia thành các bộ phận khác nhau tương ứng các loại vũ khí trang bị trên thuyền và chiến thuật tác chiến của thuyền, như pháo thủ, lính cung nỏ, lính súng tay, lính câu liêm, lính giáp chiến,…

Tính chất riêng biệt của quân thủy xâm nhập vào cả khâu tuyển lính, chế độ lương lộc, hưu trí… Theo Phan Huy Chú, lính thủy được tuyển phải là những người thạo nghề sông nước và về chiều cao có thể kém bộ binh 5 phân. Tùy theo sức vóc, chiều cao, họ được bố trí trên các loại thuyền chiến khác nhau, hưởng bậc lương khác nhau153. Theo lời kể của một người em đã từng qua lại buôn bán, giao tiếp với chúa Trịnh hàng chục lần hồi đầu thế kỷ XVII, Ta-véc-ni-ê (Taverrnier) cho biết lính thủy chúa Trịnh nói chung được trả lương cao hơn lính bộ154. Cũng theo Phan Huy Chú, lính thủy khi già được về sớm hơn lính bộ từ 1 đến 4 năm155.

Hệ thống chỉ huy quân thủy cũng được phân biệt rõ với các quân khác, mặc dầu mức độ phân biệt mới chỉ từ cấp vệ trở xuống. Điều này chứng tỏ quân thủy thời Lê vẫn chỉ là một binh chủng của quân bộ mà thôi, cho dù về nhiều mặt nó đã tách ra tương đối độc lập.
-------------------------------
153, 155 Lịch triều hiến chương loại chí, t, IV, tr. 18.

154 J. B. Ta-véc-ni-ê (J. B. Tarvernier), Du ký về xứ Bắc Kỳ, Paris, 1681.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 30 Tháng Giêng, 2012, 10:28:45 pm
Về trang bị, huấn luyện, thủ đoạn tác chiến, đã có một bước chuyển biến rất căn bản trong lịch sử vũ khí, kéo theo sự phát triển của trang bị, huấn luyện và thủ đoạn tác chiến trong quân thủy. Nhờ sự phát triển này mà quân thủy có cơ sở về mặt chất lượng để tồn tại như một binh chủng độc lập. Đó là cuộc cách mạng trong hỏa khí.

  Như chúng ta đã biết, thuốc súng được loài người biết đến khoảng thế kỷ VI – VII, nhưng phải đến khoảng thế kỷ X – XI, nó mới được sử dụng trong chiến tranh dưới dạng những tạc đạn gây nổ, gây cháy. Việc xây dựng thuộc súng như động lực đẩy vật sát thương chỉ bắt đầu một cách dè dặt từ cuối thế kỷ XII đầu thế kỷ XIII dưới dạng những hỏa khí hình ống làm bằng giấy bồi hoặc ống tre, và năm 1275 mới xuất hiện loại ống bằng kim loại. Phát minh này rất quan trọng vì nó mở ra khả năng dùng hỏa khí thay thế các vũ khí tầm xa cơ học trước đây. Dường như độc lập với nhau, từ hai đầu lục địa Á – Âu, những khẩu súng thực sự bằng sắt đã ra đời vào khoảng giữa thế kỷ XIV, tạo ra cuộc cách mạng trong lịch sử vũ khí loài người.

  Ngay từ khi mới ra đời, hỏa khí đã được dùng trong thủy chiến. Thuyền, buồm đều là những vật dễ cháy, vì thế lửa (hỏa công) từ sớm đã là một phương tiện đánh thủy hiệu nghiệm. Ở thế kỷ XII – XIII, hỏa khí dùng trong thủy chiến chỉ mới là những tên lửa (hỏa tiễn), tức một mũi tên có gắn kèm ống thuốc súng, để khi bắn móc vào mui, buồm gây cháy, hoặc “tạc đạn” bắn bằng các dụng cụ cơ học. Những loại vũ khí này do hạn chế về tầm hoạt động và khả năng chế tạo đã không đủ sức tạo ra sự thay đổi căn bản trong trang bị và nghệ thuật thủ chiến. Phải cho đến khi ra đời những khẩu súng thực sự thì thuyền chiến mới có thể coi như có vũ khí riêng của mình.

  Trước khi có súng pháo, như Ăng-ghen đã viết, thủy chiến không có cách nào hơn là hai thuyền phải tiến sát vào nhau, tiêu diệt nhau bằng sức va chạm của thuyền và bằng cách nhảy sang thuyền địch đánh giáp lá cà156.

  Để khắc phục tình trạng đó, một số nhà chỉ huy quân thủy đã tìm cách đưa các vũ khí tầm xa cơ học lên thuyền, như trường hợp các thuyền chiến gắn máy bắn catapul trong hạm đội La Mã, hoặc các thuyền gắn “máy nỏ” trong thư tịch Trung Quốc…Nhưng đó chỉ là những hiện tượng cá biệt, vì độ chòng chành của thuyền không cho phép phát triển cố gắng theo hướng đó. Súng pháo ra đời đã đem lại cho thuyền chiến một loại vũ khí tầm xa hữu hiệu.

  Tuy nhiên, không phải khi mới ra đời, súng pháo đã được đưa ngay lên thuyền. Ở châu Âu – trung tâm cực thịnh của súng pháo thời phong kiến, người ta chỉ thấy thuyền chiến gắn pháo phổ biến ở thế kỷ XV. Ở Trung Quốc – quê hương của thuốc súng và hỏa khí sơ khai, pháo thuyền cũng muộn như vậy. Nhưng trái lại ở Việt Nam, có dấu hiệu chứng tỏ pháo được đưa lên thuyền từ khá sớm. Chương trước đã nói về pháo thuyền của Trần Khát Chân bắn chết Chế Bồng Nga ở ngã ba sông Luộc năm 1390. Cùng với hiện tượng Hồ Nguyên Trừng – được người Minh tôn như “thần súng pháo”, chúng ta có thể nghĩ rằng, vào khoảng cuối thế kỷ XIV, súng pháo đã trở thành vũ khí phổ biến ở nước ta.

------------------------
156 Xem Ph. Ăng-ghen, Tuyển tập luận văn quân sự, Nhà xuất bản Quân đôi nhân dân, Hà Nội, 1978, t. II, tr. 286.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 01 Tháng Hai, 2012, 08:19:49 pm
Trong thư tịch, dường như có sự xuất hiện rất ồ ạt và đột ngột các loại hỏa khí trong trang bị của nghĩa quân Lam Sơn cũng như của quân nhà Lê sau đó.

  Năm 1428, trong quy chế về trang bị vũ khí, thuyền chiến, ta thấy mỗi quân có 1 hỏa đồng hạng đại tướng quân, 10 hỏa đồng hạng lớn, 12 hạng trung và 80 chiếc hạng nhỏ157.

  Hỏa đồng là loại hỏa khí hình ống, thường làm bằng ống tre, gỗ, thuốc súng nhồi trong ống, các vật sát thương đặt lên trên. Khi bắn, châm ngòi và hướng miệng ống về quân địch. Hỏa đồng được dùng phổ biến ở Trung Quốc vào thời Nguyên. Nó chính là tiền thân cho những khẩu súng thực sự sau này. Khoảng cuối thế kỷ XIV, xuất hiện những hỏa đồng có vỏ bằng kim loại, được gọi là hỏa súng. Các hỏa đồng kim loại này có nhiều cỡ. Hạng lớn nhất thường được phong làm tướng quân, đại tướng quân. Hỏa đồng hạng đại tướng quân có thể hiểu như những khẩu súng thần công thực sự. Người Trung Quốc đào được một số khẩu súng loại này có niên đại 1356 và 1357158.


(http://img406.imageshack.us/img406/9383/hoadong.jpg)
Hỏa đồng vẽ trong Binh thư yếu lược

Sự phát triển ồ ạt các loại hỏa khí ngay từ đầu thời Lê là kết quả của một quá trình phát triển liên tục, mà nhiều thành tựu trong lĩnh vực này đã đạt được từ cuối Trần, đầu Hồ. Hoàn toàn không phải người Minh đã đem lại sự chuyển biến mới đó, bởi vì như chúng ta đã biết, chính quân Minh đã chịu tiếp thụ một số phát minh quan trọng trong lĩnh vực này của dân tộc ta, thông qua Hồ Nguyên Trừng.

  Ít ra, từ thế kỷ XIII, trong dân gian nước ta đã xây dựng phổ biến một loại pháo gọi là “bộc trúc”, tức là một dạng hỏa cụ gần với “hỏa đồng”, “hỏa thương” của Trung Quốc đương thời159.
-----------------------------
157 Toàn thư, t. III, tr. 63 và Lịch triều hiến chương loại chí, t. IV, tr. 25.

158 Xem: Phùng Gia Thăng, Hỏa dược đích phát minh hòa Tây truyền, Thượng Hải, 1954, tr. 40 – 43.

159 An Nam chí lược.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 01 Tháng Hai, 2012, 08:25:16 pm
Thư tịch nước ta về các trận đánh từ thế kỷ XV trở về sau, không mấy khi vắng súng pháo. Người phương Tây sang nước ta khoảng thế kỷ XVI – XVII đã mô tả và vẽ lại thuyền chiến nhà Lê với những khẩu pháo chĩa ra ở đằng mũi160.

  Bản vẽ của cố đạo Ma-ri-ni trong sách in năm 1663 ở Rô-ma đặc tả rất chi tiết một thuyền chiến đương thời, trong đó nổi bật hình ảnh một khẩu thần công cỡ lớn xuyên qua thành một tàu chĩa về phía trước. Những thuyền chiến tương tự, được vẽ trong bức tranh mô tả một cuộc tập trận ở Thăng Long thế kỷ XVII của S. Ba-rông (S. Baron)161, là những hình ảnh khá tiêu biểu cho một giai đoạn quân thủy mới trong lịch sử nước ta – quân thủy trang bị hỏa khí tồn tại như một bình chủng độc lập.

Lính thủy trên thuyền, ngoài trang bị cũ đã bổ sung ngày càng nhiều súng tay. Đến thế kỷ XVII – XVIII, súng tay đã thay thế căn bản vị trí của cung nỏ, đẩy cung nỏ xuống vị trí vũ khí dự phòng. Mặc dầu buổi đầu hiệu quả súng pháo còn hạn chế, nhưng rõ ràng nó đã cho phép thuyền chiến hoạt động độc lập. Bản thân pháo thuyền không cần có sự hỗ trợ của quân bộ, vẫn có khả năng thực hiện những nhiệm vụ có tính chất chiến thuật.

Sự xuất hiện súng pháo trên thuyền kéo theo những thay đổi trong huấn luyện và thủ đoạn tác chiến, khiến cho sự khác biệt giữa người lính thủy với lính bộ, giữa đơn vị quân thủy với đơn vị quân bộ… ngày càng nhiều. Chúng ta đã thấy việc Lê Thánh Tôn ban những trận đồ và quân lệnh riêng cho quân thủy trong sự phân biệt rạch ròi với các lực lượng khác, cũng đã thấy những cuộc tập trận dành riêng cho quân thủy và còn thấy cả những ụ bắn mà chúa Nguyễn dành riêng cho pháo thuyền tập bắn.

  Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục chép: “Năm thứ 8, nhâm ngọ, sai bình dân ba huyện Hương Trà, Quảng Điền và Phú Vang đắp trường tập cho thủy binh ở xã Hồng Phúc, đắp một ụ đất cao hơn 120 thước, cứ đến tháng 7 thì thao luyện thủy quân, bơi thuyền bắn súng. Thuyền chiến bắn đại bác hễ trúng đích thì thường bạc lụa, bắn sai đích thì theo dấu mà tìm lấy đạn. Do đó thủy quân đều tinh chiến”.
--------------------
160 Ch. Borri: Relation de la Cochinchine, trong R.I., 4-1909.

161 S. Baron: Descreiption du Royaume du Tonkin, trong R.I., 1914.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 01 Tháng Hai, 2012, 08:29:45 pm
Từ thế kỷ XVII có hai sự kiện lớn tác động đến sự chuyển hóa quân thủy. Một là, việc phân chia Đàng Trong, Đàng Ngoài và chiến tranh liên miên giữa hai tập đoàn phong kiến. Hai là, sự xâm nhập của phương Tây cả về kinh tế, chính trị lẫn quân sự.

Cuối thế kỷ XVI, bộ phận phong kiến nhà Lê do Nguyễn Hoàng cầm đầu đang trấn thủ vùng Quảng Nam, Thuận Hóa, mưu mô cát cứ, thành một vương quốc riêng. Họ Nguyễn ra sức xây dựng lực lượng, đồng thời mở rộng dần phạm vi cai trị xuống phía nam. Đến cuối thế kỷ XVII, toàn bộ phần đất nam Trung Bộ và Nam Bộ của nước ta hiện nay đã thuộc về nhà Nguyễn, hình thành vương quốc Đàng Trong rộng lớn. Điều kiện địa lý có liên quan đến quân thủy ở vùng này có nhiều nét khác so với miền đất cũ của Đại Việt. Đó là một rẻo đất hẹp bị chặn một bên là núi, một bên là biển, sông ngòi thường ngắn và rất dốc. Phân bố dân cư và trung tâm kinh tế, chính trị đều nằm bám sát biển. Giao thông bộ rất khó khăn vì bị các mạch núi ăn ra biển chia cắt (như các đèo Cả, Cù Mông, Hải Vân…), đường sông cũng không thuận tiện, chỉ tiện nhất là đường biển.

  Thích Đại Sán, một nhà sư, cũng là một chính khách Lưỡng Quảng, được chúa Nguyễn mời sang thăm Thuận – Quảng cuối thế kỷ XVII đã có một nhận xét chính xác về tình hình đó: “Vì đất nước Đại Việt (tức Đàng Trong – T.G.) chỉ là một dãy núi dọc theo mé biển, các đô ấp đều tựa núi day mặt ra biển, núi cao, sông hiểm,cây rừng rậm rạp, nhiều tê, voi, hùm, beo, các phủ không có đường lối thông nhau, mỗi phủ đều do một cửa biển đi vào, muốn đi từ phủ này qua phủ khác tất phải do đường biển”162. Điều đó khiến cho mọi quốc gia thiết lập ở đây đều tất yếu phải phát triển quân thủy mà phạm vi hoạt động chủ yếu là ở ven biển. Quân thủy Chiêm Thành là một dẫn chứng tiêu biểu.

Tuân theo quy luật của miền đất mới, các đời chúa Nguyễn ra sức xây dựng cho quân đội hai binh chủng truyền thống của vùng đất này: thủy binh và tượng binh. Trong đó thủy binh được chú trọng đặc biệt.

Trong khi đó, ở phần đất còn lại, họ Trịnh xưng vương thoán đoạt quyền hành trong tay, biến vua Lê thành bù nhìn. Ấm ức vì miền đất phía nam bị mất liên tục từ năm 1627 đến 1672, quân Trịnh nhiều lần đem quân đi đánh chúa Nguyễn và trái lại cũng mấy lần chúa Nguyễn đánh ra đất Trịnh. Hầu như mọi cuộc hành quân của Trịnh đều chủ yếu đi đường biển, chính vậy, trong cuộc xung đột triền miên này, cả quân Trịnh lẫn quân Nguyễn đều phải ra sức phát triển quân thủy và hướng chung là quân thủy ven biển. Các cửa sông ở cả hai miền trở thành những cứ điểm bố phòng dày đặc quân thủy.

  Theo Ta-véc-ni-ê (Tavernier), “trong những sông nào mà địch có thể tới được (quân Trịnh) thường bố trí 100 thuyền chiến lớn và nhiều thuyền nhỏ”. A. đờ Rốt (Alexandre de Rhodes) cho biết cụ thể hơn: riêng ở cửa sông Cả thường xuyên có 68 thuyền. Quân thủy tập trung đông nhát thời này, không kể Thăng Long và Phú Xuân là ở cửa Nhật Lệ. Trong thời kỳ xung đột, thường xuyên có vài trăm thuyền chiến Nguyễn đậu ở cửa sông chiến lược này.
----------------------------------
162 Hải ngoại ký sự, Huế, 1963, tr. 132.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 01 Tháng Hai, 2012, 08:34:16 pm
Cuộc xung đột Trịnh – Nguyễn diễn ra đúng vào thời kỳ mà cơn sốt thương mại trên biển bắt đầu sôi sục ở phương Đông với sự khuấy động ồ ạt của thương thuyền vũ trang thuộc các công ty Đông Ấn phương Tây đang mọc lên như nấm ở vùng này.

  Trong thế kỷ XV – XVI, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha nổi lên ở châu Âu như hai cường quốc trên biển. Theo sự chia phần của La Mã năm 1494 thì phương Đông thuộc về phạm vi khai thác của Bồ Đào Nha, từ đó các hạm đội quân sự, thương thuyền và các đoàn truyền giáo Bồ Đào Nha lần lượt kéo sang phương Đông, lập lên hàng loạt căn cứ ở Ấn Độ (Goa), ở Trung Quốc (Áo Môn), ở Mã Lai và In-đô-nê-xi-a… Nhưng chẳng bao lâu sau, địch thủ đáng gờm của Bồ Đào Nha xuất hiện, đó là Hà Lan và sau đó là Anh và Pháp.

Thời kỳ xung đột Trịnh – Nguyễn là thời kỳ Hà Lan đang ra sức giành lại những độc quyền của Bồ Đào Nha ở vùng này. Để đánh bại được nhau, với chúng, thì chính sách với các nước phương Đông để giành độc quyền buôn bán là một điều rất quan trọng.

Bồ Đào Nha đã sớm bám được vào chúa Nguyễn nhờ sự giúp đỡ đặc biệt về mặt quân sự, trong đó chủ yếu là cung cấp thuốc súng, đại bác và các vũ khí cá nhân châu Âu khác. Người Bồ Đào Nha gửi sang cho chúa Nguyễn một chuyên gia đúc súng tên là Cruy-dơ (Joan Da Cruz) và Cruy-dơ đã được nhà chúa yêu chuộng nhờ việc đã giúp chúa về nghề đúc súng… “Ông đã làm cho chúa những súng lớn. Chúa thích vô cùng, trả công cho ông 500 quan hằng năm và tiền cấp dưỡng cho gia đình”163. Trong một bức thư gửi cho viên toàn quyền Bồ Đào Nha ở Ma Cao, chúa Nguyễn viết: “Thành phố Ma Cao và vương quốc Nam Hà phải liên kết trong tình hữu nghị và lợi ích chung và hai xứ sẽ giao hảo trong sự công bằng”164. Và trong thực tế, chúa Nguyễn đã liên minh quân sự với Bồ Đào Nha để đánh Trịnh.

Tranh giành với Bồ Đào Nha ở Đàng Trong không được, Hà Lan xoay ra liên minh với chúa Trịnh ở Đàng Ngoài. Họ bán vũ khí cho Trịnh và thậm chí nhiều lần cả tàu chiến cùng phối hợp với Trịnh đánh Nguyễn.

Như vậy, từ thế kỷ XVII, trong các yếu tố tác động đến sự phát triển của lực lượng vũ trang nước ta, chủ yếu là về mặt trang bị vũ khí, phải kể đến cả những yếu tố xâm nhập từ phương Tây. Trong đó, do đặc điểm chung của phương Tây đương thời mà các yếu tố kỹ thuật quân sự đó phần lớn tác động vào quân thủy.

Xung đột khốc liệt và kéo dài giữa quân Trịnh – Nguyễn với phạm vi hoạt động chủ yếu ở ven biển, với sự liên minh, trao đổi trực tiếp với kỹ thuật quân sự phương Tây, đã đặt ra nhu cầu và điều kiện hoàn thiện tính chất độc lập của quân thủy nước ta đương thời.
-------------------------
163 Alaunay, Histoire de la mission de Cochinchine (Document historique I: 1568 – 1728), Paris, 1923.

164 P.Y. Manguin, Les Portugais sur les côtes du Việt Nam st du Çampa, BEFEO, 1972, tr. 202 – 203.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 05 Tháng Hai, 2012, 07:43:43 pm
*

Một vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của quân thủy thời này, đó là sự trưởng thành của ý thức và thực thi chủ quyền vùng biển. Trong các chương trước rải rác đã đề cập tới vấn đề này, cho thấy: cũng như nhiều nước phương Đông khác, các triều đại phong kiến nước ta không có xu hướng mở rộng phạm vi hoạt động ngoài biển khơi. Nhưng do nước ta có một bờ biển dài, lại nhiều đảo nhỏ, mật độ cư dân ven biển rất cao, trong đó một bộ phận đáng kể sống bằng các loại nghề biển, như vận tải, đánh cả và khai thác các nguồn lợi biển khác, nên từ rất sớm nhà nước đã quan tâm đến việc quản lý và khai thác vùng biển của mình, thông qua các hình thức lao dịch, thuế đối với cư dân làm nghề biển đó. Thậm chí, trong một số trường hợp cá biệt, còn lập những “trường” có tính chất nhà nước để khai thác. Nhà Lý đã từng lập bản đồ chép sản vật ngoài biển và trên các đảo, lập trang Vân Đồn rồi nhà Trần nâng thành Trấn vừa quản lý biển, vừa thu thuế ngoại thương.

Trong quan niệm của nhà nước cũng như của dân gian, nước ta bao giờ cũng có một vùng biển với những ranh giới riêng của nó, mà phạm vi tùy thuộc vào khả năng vươn tới của nhân dân ta trong quá trình làm ăn trên biển. Chính vì thế, từ thời Tiền Lê, Lý ở phía nam đã có tên Nam Giới, không phải chỉ để đánh mốc đất phía nam mà chủ yếu vạch đường chia biển. Ở phía bắc, chẳng phải vô cớ mà khi người Tống cử sứ sang nước ta, họ đã phải đứng ở cửa Thái Bình (Liêm Châu) chờ thuyền đón sứ của Lê Hoàn tới, mà sử Tống cũng từng giải thích vì đó là ranh giới quốc gia. Chúng ta cũng thấy lời giải thích tương tự, nhưng cặn kẽ hơn của Chu Khứ Phi, một viên quan Tống được phải xuống cai quản vùng “khê động” Lưỡng Quảng, về “hải giới” phân chia biển của “thiên triều” vói Giao Chỉ, nơi cửa vịnh Khâm165.

Khi luật pháp quốc tế về các vấn đề biên giới chưa được đặt ra, thì chính hoạt động “kiếm cúi, đánh cá” của dân gian đã hoạch định đường hải giới đó và nhà nước có trách nhiệm bảo vệ, thực thi chủ quyền đó. Lý Kế Nguyên đã đem quân thủy lên chặn giặc tận Vĩnh An, quân thủy lộ Đông Hải đầu thời Trần đã đi tuần tận núi Ô Lôi (cửa vịnh Khâm), Trần Khánh Dư và sau đó quân Bình Hải chốt giữ ở Vân Đồn để “phòng giặc Bắc”, cả khi nước ta đã mất vào tay giặc Minh và đường trạm biển nối Khâm, Liêm với Hải Đông đã hình thành, thì vùng biển phía Bắc chi chít đảo vẫn là căn cứ lợi hại của nghĩa quân Trần Quý Khoáng.

Lịch sử để lại cho chúng ta nhiều bằng chứng sinh động về các cuộc đấu tranh ngoại giao, bằng những biện pháp cứng rắn nhất như những cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc hoặc bằng những biện pháp mềm mỏng nhất như chịu triều cống kẻ thù, nhưng mục đích cuối cùng bao giờ cũng để bảo tồn từng tấc đất của dân tộc. Những cuộc đấu tranh ngoại giao vì sự tranh chấp chủ quyền vùng biển còn hiếm thấy, nhưng lịch sử đã chứng tỏ các triều đại phong kiến Việt Nam trước thế kỷ XV đã có ý thức bảo vệ và thực thi chủ quyền vùng biển của mình. Điều đó tạo cơ sở cho lời dặn dò nổi tiếng của Lê Thánh Tôn năm 1473 với Lê Cảnh Huy rằng: “Một thước đất, một tấc nước của ta không nên vứt bỏ, người nên cố cãi, chớ để họ lấn dần… Nếu ngươi dám lấy một thước, một tấc đất của Thái Tổ mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di”166.
-----------------------------
165 Lĩnh ngoại đại đáp

166 Toàn thư, t. III, tr. 250.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 05 Tháng Hai, 2012, 07:49:34 pm
Lịch sử nước ta từ thế kỷ XV trở về sau đặt ra một loạt vấn đề mới mẻ về chủ quyền vùng biển, xu hướng tích cực nói chung là nhà nước phong kiến có những chủ trương khuyến khích nhân dân quản lý, khai thác nguồn lợi biển, đồng thời có những biện pháp cụ thể bảo vệ và thực thi chủ quyền vùng biển. Ngay từ những ngày còn bao vây Đồng Quan, Lê Lợi đã ra lệnh lập tuần kiểm ở các cửa biển để kiểm soát người qua lại. Sau đó Lê Thánh Tôn tiếp tục công việc của triều Lý, nhưng rộng và kỹ hơn nhiều, xem xét lại tất cả sản vật, hình thế núi non, sông biển để xây dựng bộ bản đồ Hồng Đức nổi tiếng…

(http://img834.imageshack.us/img834/5025/hongducbando1774.jpg)
Bản đồ Hồng Đức (1774)

Sự kiện nổi bật của giai đoạn lịch sử này có liên quan đến vấn đề chủ quyền vùng biển là những hoạt động thương mại và quân sự đang ngày càng sôi động trên vùng biển nước ta cũng như các nước phương Đông nói chung.

Vốn dĩ xưa nay vùng biển nước ta đã có một vị trí đặc biệt quan trọng trong mối giao thông Đông – Tây, từ thời những người Ả Rập, Ấn Độ còn là hạt nhân của cuộc giao thương đó. Như đã nói ở trên, từ thế kỷ XVI, những thuyền buôn châu Âu đầu tiên đã xuất hiện, bắt đầu một thời kỳ sôi động các hoạt động trên biển: không chỉ thương mại, cướp biển, mà còn cả can thiệp vũ trang, ngoại giao pháo thuyền và xâm lược.

Tình hình đó một mặt tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế đất nước và khả năng thu nhập lớn nhờ mối lợi thương mại, thuế má, nhưng mặt khác đặt trước các nhà chức trách Việt Nam đương thời nguy cơ chủ quyền vùng biển bị xâm phạm. Các tập đoàn phong kiến nước ta lúc ấy vì quyền lợi của dân tộc, mà trong đó trước hết là quyền lợi của chính giai cấp mình, đã tỏ ra có nhiều cố gắng tìm cách giải quyết mâu thuẫn trên. Nhưng phải thừa nhận rằng, chế độ phong kiến lúc bấy giờ đang trên con đường suy tàn đã tỏ ra lúng túng trong cách giải quyết: lúc thì đóng cửa vì sợ mất chủ quyền, lúc lại mở toang cửa liên minh quân sự… Tuy nhiên, trong sự lúng túng đó, cuối cùng nhà nước phong kiến đương thời cũng phải đi tới hai vấn đề: tăng cường sức mạnh của quân thủy và lập ra những bộ phận chuyên trách để bảo vệ, thực thi chủ quyền vùng biển.

Chúng ta sẽ xem xét tỉ mỉ vấn đề tăng cường sức mạnh quân thủy trong một phần riêng về quân thủy Trịnh – Nguyễn cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, với tư cách là cái nền vật chất cho cuộc nhảy vọt về những bộ phận chuyên trách mà bộ máy chính quyền phong kiến Đàng Trong và Đàng Ngoài đã đặt ra để gắng bảo vệ và thực thi chủ quyền vùng biển.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 05 Tháng Hai, 2012, 07:55:27 pm
Quan niệm về vùng biển và chủ quyền vùng biển thời này ở các nước phong kiến phương Đông nói chung không rộng rãi và chặt chẽ như quan niệm hiện nay cả chúng ta. Chủ quyền vùng biển thời đó thực tế chỉ đặt ra đối với những hòn đảo, quần đảo và dải bờ biển nơi nhân dân đang sinh sống hoặc khai thác. Chủ quyền vùng biển cũng đặt ra với vùng nước bao quanh các nơi đó và đường giao thông giữa các nơi đó với nhau, hoặc nối với các vùng thuộc quốc gia khác có liên quan, như một môi trường hoạt động trực tiếp và thường xuyên của cư dân nước đó. Bảo vệ chủ quyền vùng biển thường do lực lượng quân thủy đảm nhiệm. Loại trừ việc chống trả các cuộc hành quân xâm lược đi theo đường biển, thông thường chỉ tồn tại những đội quân thủy đi tuần và những đơn vị thường trực nhỏ, chốt trên những vị trí quan trọng: các cửa sông hoặc đảo, làm nhiệm vụ của các đồn biên phòng trên biển. Trong giai đoạn đầu, các bộ phận đó đồng thời làm luôn nhiệm vụ kiểm soát buôn bán và thu thuế đối với cả thuyền buôn trong lẫn ngoài nước. Ở nước ta thời Trần, có hai dẫn chứng khá tiêu biểu về các đơn vị nói trên. Đó là quân thủy tuần biển thuộc lộ Hải Đông và quân Bình Hải ở trấn Vân Đồn. Sang thời Lê sơ, mặc dầu cả một phần lớn vùng biển miền Trung đã thuộc quyền quản lý, nhưng nhà Lê cũng chỉ mới khai thác một cách dè dặt. Hoạt động chủ yếu trong thời này để thực thi chủ quyền vùng biển vẫn chỉ là việc lập ra những đồn, bảo trấn giữ và tuần kiểm ở các cửa sông.

  Năm 1426, Lê Lợi đặt “tuần kiểm ở các xứ cửa biển”, năm 1467 Tham nghị thừa tuyên sứ ty châu Hóa là Đặng Thiếp dâng sớ xin “lập bảo để giữ cửa biển Tư Dung”167.

Từ khi họ Nguyễn chính thức biến Đàng Trong thành một quốc gia riêng, nhà nước ra sức khai thác vùng này một cách toàn diện, cả nguồn lợi của rừng núi, đồng bằng và vươn dài tay ra biển cả. Trong một thời gian ngắn, Thuận – Quảng trở thành một trong những trung tâm kinh tế phồn vinh của Đông – Nam Á, với các hải cảng thương mại nổi tiếng, như Hội An. Thời kỳ Đàng Trong phát triển lực lượng lại đúng là lúc hoạt động thương mại quốc tế ở biển Đông đang sôi động nhất, vì vậy chúa Nguyễn có thêm một nguồn lợi lớn nữa nhờ đánh thuế và nhận lễ của các tàu buôn nước ngoài. Nguồn lợi do biển mang lại cho Đàng Trong mới mẻ, thiết thực và gần gũi hơn nhiều so với Đàng Ngoài, song chủ quyền vùng biển cũng có nguy cơ dễ bị xâm phạm hơn. Do đó, chúa Nguyễn đã có nhiều biện pháp cụ thể, tương đối có hệ thống để bảo vệ và thực thi quyền làm chủ vùng biển của mình.

Ngoài một cuộc tranh chấp về chủ quyền ở một hòn đảo nào đó với Đàng Ngoài mà J.B, Ta-véc-ni-ê đã viết trong sách của mình, còn lại, hoạt động của chúa Nguyễn tập trung vào bốn hướng sau: 1. Tổ chức khai thác biển một cách tương đối có hệ thống; 2. Tổ chức tuần phòng trên biển; 3. Tổ chức phòng thủ bờ biển; 4. Tổ chức thu thuế và buôn bán với tàu thuyền nước ngoài, giải quyết các vụ đắm tàu, hỏng tàu của người nước ngoài trên vùng biển nước ta.

Thực ra, một nội dung như vậy cũng được tiến hành ở Đàng Ngoài, nhưng chúa Trịnh đã thực hiện một cách không có hệ thống và không nổi nét bằng chúa Nguyễn ở Đàng Trong.
-------------------------------
167 Toàn thư, t. III, tr. 213.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 05 Tháng Hai, 2012, 08:03:53 pm
Bờ biển miền Trung dài, khá bằng phẳng, cư dân sống dọc theo sát bờ biển, trong đó một số đông sống chủ yếu dựa vào biển. Dọc theo bờ biển vùng này cũng có nhiều đảo nhỏ, từ lâu đã được cư dân sống ở đây khai thác. Nhà Nguyễn bắt tay vào khai thác biển chủ yếu dựa vào thuế và cống phẩm lấy từ các cư dân làm nghề biển đó. Nhưng đối với những vùng biển xa hoặc một số nguồn lợi đặc biệt thì nhà Nguyễn đã chủ động đứng ra, dựa vào truyền thống làm ăn của nhân dân ven biển, tổ chức khai thác một cách có hệ thống các nguồn lợi đó với tư cách là một người chủ. Ngoài vài ba “trường” đào mỏ vàng thất bại, nhà Nguyễn chủ yếu dựa vào những xã ven biển có nghề thu nhặt, khai thác sản vật trên các đảo hoang ở xa ngoài khơi, tập hợp họ thành các đội chuyên nghiệp do nhà nước trực tiếp quản lý.

  Ví dụ như đội Thanh Châu chuyên khai thác tổ yến trên các cù lao ở cửa biển Tân Quan, Thời Phù, Nước Ngọt, Nước Mặn; đội Hải Môn chuyên lấy tổ yến ở đảo Côn Lôn vùng biển Bình Thuận và thu nhặt các đồ vật của tàu đắm ở đảo Khoai phía ngoài Côn Lôn; đội Hoàng Sa chuyên thu lượm đồ vật tàu đắm và các loại hải sản quý lạ khác ở quần đảo Hoàng Sa nhưng hoạt động ở một vùng đảo xa khác về phía nam Hoàng Sa (trong đó bao gồm cả quần đảo Trường Sa ngày nay)…

  Về cách tổ chức và phương thức hoạt động của các đội này có thể dẫn ra ở đây một đoạn trong Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn: “Trước, họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 xuất, lấy người xã An Vĩnh xung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng hai thì nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn 6 tháng, đi bằng năm chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển ba ngày, ba đêm thì đến đảo ấy (Theo Thiên nam tứ chi lộ đồ thư, sách thế kỷ XVII, có lúc đội Hoàng Sa có tới 18 thuyền). Ở đấy thì tha hồ bắt chim, cá mà ăn. Lấy được hóa vật của tàu, như gươm ngựa, hoa bạc, tiền bạc, hòn bạc, đồ đồng, khối thiếc, khối chì, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, đồ chiên, cùng là kiếm lượm vỏ đồi mồi, vỏ hải ba, hải sâm, ốc vân rất nhiều. Đến kỷ tháng tám thì về, vào cửa Eo đến thành Phú Xuân để nộp, cân và định hạng xong, mới cho bán riêng các thứ ốc vân, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh bằng trở về”168.


(http://img402.imageshack.us/img402/1712/bandohongduc.jpg)
Bản đồ thời Nguyễn với chú thích về Hoàng Sa và Trường Sa


Hoạt động của các đội này bề ngoài thì mang tính chất đơn thuần kinh tế cũng như trước đây ông cha họ đã làm. Nhưng việc chúa Nguyễn chính thức biến họ thành những tổ chức của nhà nước thì đó còn là biện pháp cụ thể khẳng định và thực thi quyền làm chủ của mình với các vùng đảo, vùng biển đó. Chính vì vậy, mặc dầu trong những thế kỷ XVII, XVIII hầu như chưa hề có nguy cơ tranh chấp, nhưng các tài liệu sử sách đương thời, đặc biệt là các bản đồ, đã mô tả và biên vẽ về những vùng đó như một phần lãnh thổ gắn liền với bộ phận Đàng Trong của nước ta, bất kỳ đó là tài liệu Việt Nam hay nước ngoài. Có thể nói, chính những người dân chài nước ta, trong quá trình lăn lộn kiếm ăn trên biển đã khai phá và mở rộng dần vùng lãnh hải của Tổ quốc tới những hòn đảo hoang vu giữa biển khơi, tạo ra cơ sở thực tiễn để nhà nước phong kiến đương thời có những biện pháp cụ thể thực thi quyền làm chủ của mình. Hoàn toàn không phải vô cớ mà sau này Tây Sơn, rồi nhà Nguyễn, thực dân Pháp đều tiếp tục sử dụng, khai thác và đặt mốc chủ quyền của nước ta trên các vùng đảo đó169.
------------------------------
168 Phủ biên tạp lục, tr. 123.

169 Về vấn đề này, có thể xem sách “Chủ quyền của Việt Nam với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa”, 9-1979, của Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; sách Hoàng Sa – Quần đảo Việt Nam, Hà Nội, 1979 của Văn Trọng.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 05 Tháng Hai, 2012, 08:12:06 pm
Để đảm bảo an toàn cho nhân dân làm ăn và cho cả tàu buôn nước ngoài vào ra, chúa Nguyễn tổ chức những đội thuyền tuần phòng khá thường xuyên trên biển. những đơn vị này có nhiệm vụ đánh bắt cướp biển đủ loại Tây, Tàu, Mã Lai, Xiêm… Đã nhiều lần quân tuần biển nhà Nguyễn đánh tan được cướp biển Tây Ban Nha và bắt được một số cướp biển Xiêm ở vùng biển Bình Thuận. Quân tuần biển còn có nhiệm vụ phát hiện, đánh đuổi các tàu nước ngoài do thám, can thiệp.

Ngày 10-2-1634, các đơn vị tuần biển đã phát hiện 3 tàu chiến Hà Lan đang mất liên lạc với quân Trịnh ở ngoài khơi cửa Eo, kịp thời báo cho Nguyễn Phúc Tần đem hơn 50 thuyền chiến từ bờ ra đánh đuổi tan nát. Tháng 8 năm sau, 1644, tàu Hà Lan do thuyền trưởng Phla-vô-ê (Flavoer) chỉ huy, được lệnh của Ba-ta-vi-a đánh phá bờ biển Đàng Trong cũng lại bị quân tuần phòng Nguyễn đánh phải bỏ chạy.

  Theo Lam Giang (Sử địa, số 29, Sài Gòn, 1975, tr.48, 49), dẫn nhật ký của một thủy thủ Hà Lan có tham gia và chết hụt trong trận này, tên là Joan Goby thì ngay từ đầu chiếc tàu chỉ huy đã bị trúng đạn, bốc cháy, chiếc thứ hai bỏ chạy va phải đá ngầm chìm nốt, chiếc còn lại chạy thoát về đảo Perles (?). Điều này phù hợp với hồi ký của cha Vachet đến Đàng Trong sau đó 30 năm: “… Các tàu Hà Lan bị tiến công bởi 50 hoặc 60 tàu Đàng Trong ở cửa Song Giang (?) dưới sự chỉ huy của thái tử Đàng Trong. Vì không có gió, Hà Lan gặp bất hạnh, tàu lớn nhất cháy, nổ tung; chiếc thứ hai tự vỡ vì va vào đá. Chỉ có chiếc nhỏ nhất là chạy thoát”170.

  Về trận này trong sử của ta cũng có một số sách chép. Theo Phủ biên tạp lục, có một trận đánh tàu Hà Lan vào năm Phúc Thái thứ nhất, tháng tư âm lịch (tức 5-1643) và số tàu Hà Lan là 10 chiếc. Đại Nam thực lục lại chép một trận cũng do Phúc Tần chỉ huy xảy ra năm Phúc Thái thứ 2, tàu Hà Lan bỏ chạy, để lại một tàu lớn bị bắn cháy và tự đốt. Cả hai sách đều chép việc xảy ra ở cửa Eo (Phủ biên tạp lục chép là Nhuyễn hoặc còn có cách đọc nữa là Noãn, nhóm dịch sách này đã đối chiếu với Toàn thư mà sửa thành Eo. Thực ra theo Đại Nam nhất thống chí, t. I, tr. 55, thì cửa này có hai cách gọi: Noãn và Eo, dân gian quen gọi là Eo). Toàn thư là cuốn sách được nhóm Lê Hy bổ sung gần thời điểm xảy ra sự việc này nhất (1697), đáng tiếc không chép gì đến sự kiện này. Đại Nam thực lục chép khá chi tiết: “Bấy giờ giặc Ô Lan (tức Hà Lan – T.G.) dấu thuyền ngoài biển, cướp bóc lái buôn, quân tuần biển báo tin, chúa đương bàn kế đánh dẹp. Thế tử tức thì mật báo với chưởng cơ Tôn Thất Trung ước đưa thủy quân ra đánh. Trung lấy cớ chưa bẩm mệnh, ngần ngại chưa quyết. Thế tử đốc xuất chiến thuyền của mình tiến thẳng ra. Trung bất đắc dĩ cũng đốc xuất binh thuyền theo đi, đến cửa biển thì thế tử đã ra ngoài khơi. Trung lấy cờ vẫy lại, nhưng thế tử không quay lại. Trung bèn giục binh thuyền tiến theo. Chiến thuyền trước sau lướt nhanh như bay. Giặc trông thấy cả sợ, nhìn thẳng phía đông bỏ chạy, bỏ rơi lại một chiếc thuyền lớn. Thế tử đốc quân vây bắn. Tướng giặc thế cùng phóng hỏa tự đốt chết, thế tử bèn thu quân về”. Các nguồn tài liệu trên cho thấy có thể có nhiều trận quân thủy Nguyễn đánh tàu Hà Lan, chứ không phải chỉ một.


Theo Lê Quý Đôn, những đơn vị tuần biển này thường tách ra từ những đơn vị chốt giữ ở các cửa biển, chứ chưa hình thành một lực lượng độc lập, chuyên trách.

Các đội khai thác biển của chúa Nguyễn, như Hoàng Sa, Bắc Hải… đồng thời còn có vai trò như những đơn vị tuần tiễu ngoài khơi xa, kịp thời thông báo hoạt động của các tàu thuyền lạ trên vùng biển xa của nước ta.

  Đô đốc Đe-xtanh (D’ Estaing) chỉ huy hạm đội Pháp hoạt động ở vùng biển phương Đông trong những năm giữa thế kỷ 18 đã nhận xét: “Khó khăn càng tăng khi chúng tôi muốn vượt qua quần đảo Hoàng Sa… Khu vực ấy luôn có các tàu của nước đó (tức Đàng Trong – T.G.) đi lại; chúng có thể thông báo sự có mặt của chúng tôi”171.
-------------------------
170 G. Taboulet, La geste française en Indochine, Paris, 1955, tr. 68.

171 Nhãn quan của đô đốc De-xtanh (D’Estaing) trong BSEI, t. 17, 1942. Theo Văn Trọng, Sách đã dẫn, tr. 33.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 05 Tháng Hai, 2012, 08:24:54 pm
Lực lượng chủ công để bảo vệ chủ quyền vùng biển của chúa Nguyễn là các đơn vị chốt giữ các vị trí quan trọng trên bờ biển, các tấn, bảo, cửa quan. Khác với phân bố lực lượng của quân thủy Trịnh, quân thủy Nguyễn hầu như dàn hết ở các cửa biển, vụng biển, hải đảo… gần các trung tâm chính trị, kinh tế quan trọng hoặc những vị trí then chốt trong hệ thống phòng thủ bờ biển. Chính vì vậy, tính chất “hải quân” trong quân thủy Nguyễn đậm hơn Trịnh nhiều. Nhiệm vụ của các đơn vị này là cùng với quân bộ bảo vệ các vị trí chiến lược đó, đồng thời cùng với các bộ phận tuần biển của mình bảo vệ chủ quyền vùng biển nơi mình đóng, là chỗ dựa về mặt quân sự cho tàu Ty thực thi quyền lực với các tàu buôn nước ngoài. Đơn vị quân thủy của Nguyễn Phúc Tần đánh tàu Hà Lan chính thuộc loại quân này, bấy giờ đang đóng ở Phú Xuân.

Biên chế các đơn vị này ở từng nơi có nhiều ít khác nhau. Ví dụ như ở Phú Xuân, kinh đô Đàng Trong đương thời có 50 thuyền của binh Nội Thủy với 6.410 quân; 20 thuyền của bốn cơ thủy với 1.140 quân; 20 thuyền của bốn đội thủy với 1.132 quân… Riêng ở cửa Eo có một thuyền Tân súng cơ động với 24 lính đi tuần. Ở dinh Quảng Bình, quân thủy có 9 thuyền với 606 quân, trong đó cũng có riêng một đội thuyền Bình Thủy, có 1 thuyền với 57 lính tuần biển. Quân thủy dinh Quảng Nam có 21 thuyền, trong đó có 3 thuyền chuyên tuần giữ cửa Đà Nẵng, 3 thuyền tuần giữ cửa Đại Chiêm… Trên một số đảo, như cù lao Chàm chẳng hạn đôi khi chúa Nguyễn cũng đặt quân thủy trấn giữ, để bảo vệ bờ biển từ xa.

 Hỗ trợ cho quân thủy, ở một số vị trí quan trọng trên bờ, chúa Nguyễn còn cho xây dựng những pháo đài hướng nòng ra bờ biển. Một bức tranh của người Nhật vẽ về bố phòng ở cảng Hội An thời đó cho ta những hình ảnh rất sinh động về các đơn vị pháo bờ biển này. Ở đây, trước cửa công đường là những hàng pháo nằm trên các ụ đất, khuất bên rặng tre, được che đậy cẩn thận, nòng ghếch thẳng ra cửa biển, nơi đó có ba chiếc thuyền con đang kéo một tàu buôn lớn vào cảng và hình ảnh những lái buôn Tây, Tàu quỳ chờ ở cửa172.

(http://img407.imageshack.us/img407/456/hoianco.jpg)
...những hàng pháo nằm trên các ụ đất, khuất bên rặng tre, được che đậy cẩn thận, nòng ghếch thẳng ra cửa biển...

  Thích Đại Sán, khi đến Phú Xuân thế kỷ XVII, cũng mô tả tương tự: “ Sắp đến Vương phủ, mênh mông không có thành quách, chung quanh trồng tra gai làm rào, trong hàng tre cất một dãy trại lợp cỏ tranh, mỗi trại đều có đặt súng đồng, nặng từ vài trăm đến vài nghìn cân, đúc rất tinh xảo… Sau trại súng lại có hàng rào gai tre, phía trong có vòng tường thấp, rộng chừng một, hai dặm”173.
--------------------------
172 N. Peri, Essai sur les relations du Japon et de l’ Indochine aux XVII siècles, BEFEO, 1923, p.136.

173 Hải ngoại ký sự, tr.34


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 05 Tháng Hai, 2012, 08:34:46 pm
Hệ thống phòng thủ bờ biển của chúa Nguyễn phản ánh một cố gắng lớn nhằm bảo vệ chủ quyền vùng biển của mình. Điều đó phản ánh rất rõ trong câu nói của Nguyễn Phúc Lan năm 1644, khi được tin Phúc Tần đánh tan hạm đội Hà Lan: “Trước kia tiên quân ta đã từng đánh phá giặc biển, nay con ta cũng lại như thế. Ta không lo gì nữa”174.

Những cố gắng đó cũng góp phần làm chùn lại một số mưu đồ dùng chính sách pháo thuyền uy hiếp, can thiệp nước ta của phương Tây. Trước mắt chúng, “sức mạnh của dân tộc này (Đàng Trong – T.G.) là một đội quân thủy và thương thuyền với những đội ngũ được huấn luyện theo một tôn ti trật tự quân sự, được trả lương hai lần hàng tháng theo âm lịch và thường xuyên tập luyện trước cung vua”175.

Hoạt động nổi nét khác của chúa Nguyễn để thực thi chủ quyền vùng biển của mình là việc lập ra cơ quan chuyên trách quan hệ với tàu thuyền nước ngoài, đó là Ty tàu, có nhiệm vụ thu thế, kiểm soát việc buôn bán và giải quyết các vụ việc rắc rối của tàu thuyền nước ngoài trên vùng biển nước ta. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử nước ta có một tổ chức chuyên trách lớn như vậy. Các triều đại trước cũng như Đàng Ngoài đã từng có những hoạt động tương tự, nhưng hoặc chỉ là một bộ phận chức việc của quan trấn thủ địa phương (như trấn Vân Đồn), hoặc chỉ là những công việc của các tuần kiềm, tấn sở kiêm nhiệm (như tấn cửa Liêu, tức Đại An, của Lê – Trịnh).

  Lê Quý Đôn cho biết khá chi tiết tổ chức và hoạt động của cơ quan này: “Khi họ Nguyễn cát cứ, thu được thuế thuyền rất nhiều. Đặt cai tàu, tri tàu mỗi chức một viên, cai bạ tàu, tri bạ tàu, cai phủ tàu, ký lục tàu, mỗi chức hai viên, cai phòng 6 người, lệnh sử 30 người, toàn súng binh 50 người, lính tàu 4 đội gồm 70 người, thông sự 7 người. Các xã Minh Hương, Hội An, cù lao Chiêm, Cẩm Tú, Làng Câu thì giữ việc thám báo. Hễ tàu đến xứ Quảng Nam vào các xứ cửa Đại Chiêm (tục gọi cửa Chàm), phố Hội An, cửa Đà Nẵng (tục gọi cửa Hàn), Vụng Lãm để buôn bán, thì phải nộp các hạng thuế vật, còn thuế đến thuế đi thì định lệ theo thứ bậc. Tính suất cả năm được bao nhiêu thì lấy 6 phần nộp cho thuế cảng, còn 4 phần thì quan lại quân dân đều chiếu nhiều ít chia nhau. Nếu có tàu bị gió bão dạt đến, không có hàng hóa không thể chịu thuế lệ thì người trưởng tàu làm đơn trình, liền truyền cho tuần nha giữ cửa biển cùng đồn thú xem qua, cho mua củi gạo, ở hai ba hôm thì đuổi ra biển, không cho vào biển để khỏi sinh sự…

  Lệ tàu vụ của họ Nguyễn, hằng năm cứ tháng giêng thì các viên cai bạ, tri bạ, lệnh sử, cai phủ, ký lục của Tàu ty đều vào phố Hội An xứ Quảng Nam, chia sai những người thuộc quân thông hiểu tiếng nước ngoài đi canh giữ cù lao Chiêm và cửa Đà Nẵng, thấy có tàu buôn các nước đến đấy thì phải hỏi xét tất cả. Quả là tàu buôn bán chịu thuế thì đem thuyền trưởng và tài phó tàu ấy vào Hội An, trình quan cai bạ xét thực khải lên và trình quan cai tàu để truyền cho các tuần ty đem dân phụ lũy đến hộ tống tàu ấy vào cửa đậu ở sở tuần. Lệnh sử và các nha đến xem. Thuyền trưởng và tài phú kê khai số khách, điểm mục xong mới cho qua sở tuần mà lên phố để đậu”176.


Theo Thích Đại Sán, tàu nước ngoài đến, thoạt đầu không được vào ngay trong cảng, phải bắn súng báo hiệu ở ngoài khơi để trong bờ Tàu ty cử thuyền ra xét hỏi, sau đó mới dẫn vào. Khi vào trong cảng, có ba thuyền con dùng dây dẫn thuyền lớn vào bến. Trừ tàu Bồ Đào Nha, Đàng Trong đặc biệt đề phòng các tàu buôn phương Tây, kiểm soát ngặt, đánh thuế nặng. Mọi hành động của tàu thuyền nước ngoài chống lại chủ quyền vùng biển khi đã đậu rong cảng đều bị trừng trị đích đáng. Năm 1595, một tàu chiến Tây Ban Nha từ Phi-líp-pin sang Cam-pu-chia tạt vào cửa Hàn để tiếp lương, viên thuyền trưởng là J. S. Gan-li-na-tô (Gallinato) có thái độ vu cáo ngang ngược với chính quyền địa phương, đã bị quan trấn thủ tại đây cho thuyền chiến ra đánh phá rồi đuổi thẳng ra ngoài khơi177.
--------------------------
174 Đại Nam thực lục (tiền biên), t.I, tr. 74.

175 De-xtanh (D’Estaing), Sách đã dẫn.

176 Phủ biên tạp lục, tr. 254.

177 Nguyễn Hồng, Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam, q. I, Sài Gòn, 1959, tr. 41. Cũng có thể xem Lam Giang, tr. 48 – 49 và Lãng Hồ, tr. 88 – 89 trong Sử địa số 20, Sài Gòn, 1975.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 05 Tháng Hai, 2012, 08:38:28 pm
Tỏ rõ trách nhiệm với vùng biển do mình quản lý, chúa Nguyễn đã quan tâm giải quyết nhiều vụ tranh chấp và đắm tàu của tàu thuyền nước ngoài. Năm 1714, một tàu Hà Lan gặp bão và bị đắm ở vùng biển Hoàng Sa. Một số thủy thủ trên thuyền bơi thoát được vào quần đảo này và đóng bè bơi vào đất liền. Họ đã được chúa Nguyễn tiếp đãi và tìm cách đưa về căn cứ Hà Lan ở Ba-ta-vi-a. Trong một bức thư của cha cố tên là Hớt-xơ (Heusse) đến Đàng Trong năm 1707, được mời làm phiên dịch cho chúa Nguyễn tiếp xúc với những người Hà Lan đó, thì “chúa Nguyễn đã ban cho những người Hà Lan 50 quan tiền, 12 bao gạo, 20 chĩnh nước mắm” rồi “đưa người Hà Lan trở về Hội An để tìm một chiếc tàu (đi Ba-ta-vi-a – T.G.)”178.

Về vấn đề này, Lê Quý Đôn cho biết: “Thuyền đi buôn bán ở nước khác gặp gió tạt vào, làm đơn trình xin tạm đậu để sửa chửa, thì cho đậu ở cửa Hàn và cù lao Chiêm, thuyền sửa đã xong thì dân thủ lệ và dân tiếp cận áp đuổi ra khỏi cửa biển… Thuyền gặp gió bão bị phá hỏng thì xem xét số khách, cai bạ giao cho hội quán canh giữ, cấp phát tiền nhà nước, lương tháng mỗi người 5 tiền, đợi khi thuận gió thì cho phụ theo các thuyền mà về”179.

Như vậy, đến thế kỷ XVII, ý thức chủ quyền vùng biển của dân tộc đã có một bước phát triển rất quan trọng. Trên nhiều mặt, ý thức đó đã được cụ thể hóa thành một loạt hành động có hệ thống của chính quyền phong kiến đương thời, nhằm bảo vệ và thực thi quyền làm chủ.

Tình hình đó tất yếu thúc đẩy sự phát triển của quân thủy nước ta, đồng thời đặt ra những tiền đề đòi hỏi có sự chuyên hóa ngày càng cao của một lực lượng quân đội lớn chuyên hoạt động trên biển. Nhu cầu tồn tại với tư cách là một quân chủng đã được đặt ra trước quân thủy Việt Nam thời đó.

Nhưng trước tình hình chế độ phong kiến đang thối nát cực độ, đất nước bị phân chia làm hai miền, hệ thống tướng lĩnh triều đình còn luẩn quẩn trong những quan niệm cổ hủ về tổ chức và nghệ thuật quân sự, lại thêm tâm trạng hoảng hốt, tự ty trước tàu thuyền, súng ống phương Tây, khiến cho nhu cầu đó không được đáp ứng đầy đủ. Cho đến tận khi sụp đổ trước sức mạnh của nghĩa quân Tây Sơn, quân thủy Trịnh, Nguyễn vẫn chỉ quẩn quanh là một binh chủng của quân bộ, mặc dầu chúng đã được xây dựng thành một lực lượng khá hùng hậu. Chỉ có Tây Sơn, với tính chất tiến bộ của nó, với sức mạnh của đất nước đã thống nhất, đặc biệt với đầu óc quân sự thiên tài và rất táo bạo của Nguyễn Huệ, quân thủy mới trở thành một quân chủng thực sư, mặc dầu chưa phải đã hoàn chỉnh.
--------------------------
178 Tài liệu lưu trữ của Giáo đoàn ngoại quốc Pa-ri, Cóchinchine, q. 729, 739, 800 (viết tắt là Arch. M.E., Coch vol. 729, 739, 800). Theo Nguyễn Nhã trong Sử Địa, số 29, Sách đã dẫn, tr. 262, 263.

179 Phủ biên tạp lục, tr. 256.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 05 Tháng Hai, 2012, 08:43:42 pm
*

Xu hướng phát triển độc lập của quân thủy, với tư cách là một hiện tượng tiến bộ trong lịch sử phát triển quân thủy nước ta, là xu hướng đã thực sự tồn tại và ngày càng thắng thế. nhưng trong khi nhấn mạnh vào xu hướng đó, cần đặt nó trong quy luật và đặc điểm chung của lịch sử nghệ thuật quân sự nước ta. Đó là sự gắn bó mật thiết giữa quân thủy với các lực lượng vũ trang khác, như bộ binh, tượng binh, kỵ binh, pháo binh.

Đến tận cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, khi quân thủy Tây Sơn, sau đó là quân thủy nhà Nguyễn, đã trở thành một quân chủng hải quân độc lập thì trong nhiều trường hợp; quân bộ vẫn khó hoạt động được nếu không có sự tham gia tích cực của quân thủy với tư cách là một binh chủng của nó. Nguyên nhân căn bản của điều này nằm trong đặc điểm địa hình và truyền thống tác chiến của lực lượng vũ trang nước ta. Trước thế kỷ XX, chưa bao giờ quân bộ nước ta có phương tiện cơ động riêng trên bộ của mình. Địa hình bị sông ngòi chia cắt, với những đoạn đường ngắn, hẹp, lại thiếu những cầu lớn vượt sông, đã ngăn cản rất nhiều sức cơ động của quân bộ, dù bằng đôi chân.

A. Tô-ma-di (A. Thomazi) đã trích dẫn lời một người Âu, nói rằng: “Xứ này không có đường cái lớn, lại chằng chịt ruộng nương. Muốn đến Huế hay bất cứ nơi nào đều phải đi bằng đường biển hay đường sông…”180.

Vì vậy, trong lịch sử nước ta, tách biệt giữa quân thủy với quân bộ chỉ là tương đối. Xu hướng là dần tách biệt, chuyên hóa, nhưng thực trạng chung vẫn là tính chất “kết hợp làm một” giữa quân bộ và quân thủy. Chẳng những người lính thủy, ngoài các chức năng rất chuyên biệt của mình, phải học tập nhiều kỹ năng, thao tác của quân bộ, mà ngay những lính bộ cũng phải học một số thao tác rất chuyên biệt của lính thủy.

J. B. Ta-véc-ni-ê (J.B. Tavernier) cho biết ở Đàng Ngoài: “Những cai đội ở trong lục quân thì cho quân lính của mình xuống thuyền chiến trong một thời gian để họ cũng học chèo cho giỏi181.

Tình trạng đó càng rõ ràng hơn ở Đàng Trong. Mặc dù có phân chia thành quân bộ, quân thủy riêng, nhưng ngay trong quân bộ, biên chế vẫn theo đơn vị thuyền là nhỏ nhất (mặc dầu không phải mỗi đơn vị đó ở trên một thuyền chiến cụ thể). Mọi người lính, khi vào quân đội, đều phải qua một thời kỳ huấn luyện trên thuyền. Thích Đại Sán cho biết: “Vào quân đội rồi thì bắt mỗi người chuyên một nghề, sau đó phân phát đó phân phát đi theo các chiến thuyền để tập luyện”182.
---------------------------
180 A. Thomazi La comquete de l Indochine, Paris, 1934.

181 J. B. Tavernier, Sách đã dẫn.

182 Hải ngoại ký sự, tr. 43.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 05 Tháng Hai, 2012, 08:48:37 pm
*

Có thể nói, xu hướng chuyên hóa quân thủy thành một binh chủng độc lập trong quân đội của nhà nước phong kiến những thế kỷ XV, XVI, XVII và phần đầu thế kỷ XVIII là hiện tượng quan trọng và bao trùm nhất trong lịch sử phát triển quân thủy thời kỳ này. Kết quả của hiện tượng đó là bộ mặt quân thủy đã khá rõ nét và khá hùng hậu dưới thời Trịnh, Nguyễn cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII. Sự phát triển nhảy vọt của quân thủy Tây Sơn là sự kế thừa những thành tựu phát triển của lịch sử quân thủy nước ta trước đó, mà về mặt cơ sở vật chất, đã giành được từ trong quân thủy Trịnh – Nguyễn, trang bị cho nó một bản chất mới, một sức mạnh mới, vươn lên theo kịp yêu cầu của dân tộc, sánh kịp với sự phát triển của thời đại.

(http://img4.imageshack.us/img4/6181/thuyquannguyen.jpg)
Một chiến thuyền của thủy quân nhà Nguyễn


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 08 Tháng Hai, 2012, 06:53:07 pm
Chương chín

QUÂN THỦY VIỆT NAM THẾ KỶ XVIII
(TRƯỚC KHỞI NGHĨA TÂY SƠN)

Trước năm 1771, năm bắt đầu phong trào nông dân Tây Sơn, quân thủy nước ta bao gồm hai lực lượng chung một nguồn gốc, truyền thống nhưng đang có những khác biệt đáng kể, phụ thuộc vào sự khác nhau về đặc điểm địa bàn hoạt động. Đó là quân thủy Trịnh ở Đàng Ngoài và quân thủy Nguyễn ở Đàng Trong. Nghiên cứu về quân thủy thời kỳ này có thể xem xét riêng từng miền. Nhưng để nghiên cứu quân thủy Tây Sơn, với tư cách là sự tổng hợp của quân thủy Trịnh và quân thủy Nguyễn, xây dựng thành một lực lượng quân thủy Việt Nam thống nhất, thì lại có thể kết hợp nghiên cứu cả hai quân thủy đó.

THUYỀN CHIẾN

Đây là thời kỳ có nhiều tư liệu về thuyền chiến nhất. Sử sách thời Lê ghi chép cũng tỉ mỉ hơn, lại thêm một nguồn tài liệu hết sức dồi dào, đó là những mô tả của người nước ngoài (chủ yếu là phương Tây) trong dịp qua lại truyền giáo, buôn bán, tình báo ở nước ta. Một nguồn tài liệu rất có ý nghĩa nữa là các hình vẽ, phù điêu và cả những mô hình thuyền chiến được sáng tác vào thời kỳ này hiện còn lưu lại được. Tình hình đó cho phép chúng ta hình dung tương đối chính xác và tỉ mỉ về thuyền chiến đương thời.

Thuyền chiến và các loại thuyền chuyên dùng cho mục tiêu quân sự. Do đặc điểm cơ động, quân đội thời này dùng nhiều loại thuyền khác nhau trong chiến đấu, kể cả quân thủy lẫn quân bộ. Sử sách nước ta cũng như các tài liệu phương Tây không hề thấy có sự phân biệt rạch ròi đâu là thuyền chiến dùng cho quân bộ và đâu là thuyền đặc chủng của quân thủy. Quan niệm về quân thủy trong các tài liệu đương thời gộp chung trong đó tất cả các thuyền bè dùng cho mục tiêu quân sự. Tuy nhiên, trong các tài liệu phương Tây, thường chỉ một loại thuyền trong số những thuyền đó, được mô tả như là đại diện cho toàn bộ quân thủy đương thời. Dựa vào các nguồn tài liệu đã có, có thể chia thuyền chiến dùng trong mục tiêu quân sự thành ba loại lớn: thuyền vận tải; thuyền chiến đấu; thuyền đi tuần hoặc do thám liên lạc.

Thuyền vận tải là thuyền chuyên chở quân lương, vũ khí và binh lính đánh bộ. Trong đó, lại có thể chia nhỏ hơn thành hai loại ít nhiều khác nhau. Một loại chuyên để chở quân lương, vũ khí, một loại để chở lính đánh bộ với chức năng như thuyền vận tải – đổ bộ. Loại trên không khác với thuyền vận tải thông thường và có lẽ chỉ là một bộ phận nhỏ trong quân thủy túc vệ mới có thường trực loại thuyền này, còn lại, khi có chiến tranh, nhà nước huy động thuyền vận tải trong dân gian đảm nhiệm chức năng vận tải đó183. Thuyền chuyên chở quân bộ có thể cấu tạo hơi riêng biệt để đảm bảo sức khỏe binh lính trong những cuộc hành quân dài ngày. Các đơn vị thường trực đều có riêng những thuyền này để sẵn sàng cơ động. Họ được cung cấp nguyên, vật liệu và phải tự động tự làm xưởng để bảo quản, sửa chữa. Các thuyền chở lương chạy chủ yếu bằng buồm, thuyền chở lính tùy trường hợp mà chạy buồm (khi hành trình) hoặc dùng chèo (khi tiếp cận mục tiêu).
----------------------
183 Lê Quý Đôn có nói đến hình thức trưng dụng này như một thứ thuế lao dịch ở Đàng Trong (Phủ biên tạp lục, tr. 264).


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 08 Tháng Hai, 2012, 07:02:13 pm
Thuyền chiến đấu được coi như thuyền đặc chủng của quân thủy. Kết cấu, trang bị, biên chế khác những thuyền thông thường. Nhiệm vụ chính của loại thuyền này là dùng khả năng chiến đấu của thuyền đó tiêu diệt đối phương, kể cả trên mặt nước lẫn ven bờ. Phần lớn đây là những pháo thuyền. Chúng ta sẽ nói nhiều đến loại thuyền này ở phần sau.

Thuyền đi tuần hoặc do thám, liên lạc thường nhỏ, nhẹ, cơ động, biên chế tinh nhuệ nhưng gọn. Ngay từ đầu Lê sơ, trong biên chế của mỗi quân, bên cạnh 10 thuyền chiến, còn thêm 2 thuyền loại này (tiểu tiêu thuyền). Thuyền Tân súng ở cửa Eo có lẽ cũng thuộc loại thuyền này. Trong Binh thư yếu lược (sách thời Nguyễn) gọi nó là thuyền chài184. Đây là loại thuyền không thể thiếu được trong các hạm đội hiện đại của châu Âu đương thời, vì trước khi có những phương tiện vô tuyến thông tin liên lạc thì việc do thám tình hình địch, phát hiện địch từ xa và liên lạc giữa các thuyền lớn đều do những thuyền này đảm nhiệm.

(http://img21.imageshack.us/img21/7996/h15thuyendanhca.jpg)
Thuyền chài vẽ trong Binh thư yếu lược

  Năm 1427, một tàu buôn Bồ Đào Nha bị bão giạt vào cửa Bạng (Thanh Hóa). A-lếch-xan đờ Rốt (Alexandre de Rhodes) đi trên chiếc tàu này. Đúng dịp đó binh thuyền chúa Trịnh đang hành quân vào đánh Đàng Trong. Đờ Rốt được chúa tiếp và cho đi theo. Đoạn mô tả của ông về đoàn binh thuyền cho ta hình dung khá rõ các loại thuyền đương thời: “Đầu tiên chúng tôi thấy một đoàn thuyền đến 200 thuyền chiến chạm trổ tô son thếp vàng rực rỡ, trên thuyền quân đội súng ống đầy đủ. Đoàn thuyền tiến lên rất đều… Rồi đến 80 thuyền chở vệ binh, chạm trổ và tô điểm nhiều hơn, buồm cũng làm bằng vải thanh nhãn (?), còn dây chão thì cuộn bằng tơ màu son đỏ. Đi giữa là thuyền rồng to lớn, sơn son thếp vàng đẹp đẽ… Số binh thuyền theo sau đoàn thuyền hộ tống còn đông hơn cả đoàn thuyền đi tiên phong, đấy là không kể những thuyền lớn nhỏ đủ cỡ, nhiều vô số, dùng vào việc chở binh lương và các cung nữ… Ngoài ra, còn 50 thuyền lớn chở lương thực đủ cho bộ binh và thủy binh. Số quân cả thủy lẫn bộ có đến gần 12 vạn”185.

  Lê triều hội điển cũng cho chúng ta biết ba loại thuyền dùng trong các cơ đội thuộc quân Lê – Trịnh: thuyền Thiện Hải, thuyền hàng (đại, trung, tiểu) và thuyền cổ (đại, trung, tiểu). Thuyền cổ là loại kích thước nhỏ, ít mái chèo, không có mái che như các thuyền khác, được nói rõ là loại thuyền để “sai khiến”. Còn lại, thuyền Thiện Hải có lẽ là thuyền chiến đấu và thuyền hàng ứng với thuyền chở quân lương.

----------------------------
184 Binh thư yếu lược, tr. 221.

185 A. de Rhodes, Histoire du Royaume du Tonkin, Lyon, 1651.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 08 Tháng Hai, 2012, 07:16:15 pm
Dưới đây chỉ đi sâu nghiên cứu loại thuyền chiến đấu, được coi như thuyền đặc chủng, đại diện cho bộ mặt quân thủy đương thời.

Hình dáng và kích thước.

Các tiêu bản thuyền chiến thời này (bản vẽ, phù điêu hoặc thuyền thờ) hầu hết đều là thuyền Đàng Ngoài thế kỷ XVII. Mặc dầu các nguồn khác nhau186, nhưng các tiêu bản đó đều thống nhất mô tả một loại thuyền. Đối chiếu với các mô tả bằng chữ viết, ta thấy đó chính là loại thuyền chiến đấu tiêu biểu cho quân thủy đương thời.

Đó là những thuyền dài, tỷ lệ chiều dài/chiều rộng (L/W) trong khoảng 5 – 6 thích ứng với đặc tính cơ động và truyền thống thuyền sông của nước ta. Vỏ thuyền đóng rất khéo, các ván được ghép bằng đinh sắt (Lê triều hội điển) và uốn để chỗ nối đầu và đuôi thuyền không tạo thành một đường gấp khúc mà hơi lượn tròn. Mũi thuyền vát hơn đuôi thuyền và đều uốn cao hẳn lên, nơi đó tập trung trang điểm những hình thù khắc rất cầu kỳ, hình chim, thú lạ. Đây là chỗ thường được gia cố thêm bằng những phiến đồng hoặc đinh đồng (Phủ biên tạp lục), tăng thêm sức mạnh đấu thuyền trong những trường hợp cần thiết. Phần lòng thuyền dường như để trống, phía trên lát ván kín, tạo ra một mặt bằng hoạt động rất cần thiết khi chiến đấu. Lầu chỉ huy đặt ở mũi thuyền, trang trí đẹp. Điểm độc đáo nhất của cấu tạo thuyền này là một mái che lớn, che kín hầu như toàn bộ thuyền, đảm bảo sức khỏe và an toàn cho người và vũ khí trên thuyền, trông rất giống mái che của thuyền Ai Cập cổ đại. Pháo lớn đặt xuyên qua thành tàu chĩa về phía mũi.

(http://img404.imageshack.us/img404/1398/thuyenthochuakeo.jpg)
Thuyền thờ chùa Keo (Bảo tàng LSVN)

Hầu như không thấy hệ thống buồm trên những thuyền này. Thay vào đó là những mái chèo dày đặc gần hai bên mạnh (trung bình khoảng 50 – 60 mái chèo). Bánh lái trông rất độc đáo, như một dấu hỏi đặt nằm ngửa, nối với hệ thống cần lái ở đằng đuôi thuyền. Dọc hai bên thuyền là những cột nâng mái, tương ứng với hệ thống mái chèo.
-------------------------------
186 Ví dụ bản vẽ trong sách của Marini, của Baron, phù điêu dinh Hoành Sơn, dinh Phù Lưu, thuyền thờ Chùa Keo…


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 08 Tháng Hai, 2012, 07:29:06 pm
Có thể nói, đây là những thuyền chiến đẹp và rất độc đáo, không giống với bất kỳ thuyền chiến của nước nào đương thời. Hầu như không người nước ngoài nào đến nước ta thời này lại không dành ít dòng mô tả về chúng.

  Mô tả về thuyền chiến Đàng Ngoài, chúng ta đều đã quen thuộc với lời nhận xét của Chu Xán (người Thanh) sang sứ nước ta năm 1688, khi được đón trên năm chiếc thuyền chiến: “Thuyền nước An Nam như cái cánh hoa sen, chế rất tinh xảo”187. Trước đó một chút, J.B. Ta-véc-ni-ê cũng viết: “Tại bến sông này (khúc sông Hồng gần Thăng Long) có nhiều thuyền đua trang hoàng vàng son và tô vẽ rất nhiều. Đằng mũi, đàng lái, cột buồm, mái chèo đều sơn vàng chóe. Ghế ngồi sơn sạch sẽ, những người chèo thuyền có mái che, vì tất cả đều là lính… Thuyền đua của Đông Kinh không rộng hơn của chúng ta, nhưng chúng dài hơn và rẽ nước hơn”188. A. đờ Rốt ngoài những dòng viết về đoàn thuyền chiến của chúa Trịnh năm 1627, còn dành lại ở một đoạn khác một mô tả chi tiết hơn: “Tàu thuyền của họ dài và thấp mạn. Thông thường mỗi thuyền có từ 25 đến 30 mái chèo, đôi khi có tới 35 – 40 chiếc ở mỗi bên. Những mái chèo đó làm bằng gỗ nhẹ đến mức chỉ cần một hoặc hai người là đủ chèo một mái”189.

  Theo A. đờ Rốt thì “tàu thuyền Đàng Ngoài cùng kiểu cách với Đàng Trong”190. Tất nhiên sự giống nhau đó chỉ là tương đối. Công trình nghiên cứu về thuyền bè dân gian ở Đông Dương hồi đầu thế kỷ cho thấy hệ thống thuyền ở Bắc Bộ có nhiều điểm hoàn toàn không giống với hệ thống thuyền ở Trung Bộ191. Rõ ràng thuyền chiến Đàng Ngoài mang đặc tính thuyền sông (giang thuyền) nhiều hơn và thuyền chiến Đàng Trong mang đặc tính thuyền biển (hải thuyền, hoặc chính xác hơn là duyên thuyền, thuyền ven bờ) nhiều hơn. Đáng tiếc là chúng ta hiện còn thiếu những hình ảnh cụ thể về thuyền chiến Đàng Trong. Vài thuyền chiến ở Cửa Hội An trong bản vẽ của người Nhật mà N. Peri đã giới thiệu192 và của người Âu mà J. Barow đã đưa ra193 không đủ để chúng ta kết luận về sự giống nhau hoặc khác nhau này. Tuy nhiên.mô tả viết của một số người ngước ngoài khác cho thấy có nhiều nét gần gũi trong trang bị, biên chế, kích thước, hình dáng chung và trang trí của thuyền chiến hai miền.

  Thích Đại Sán đã cho chúng ta biết khá chi tiết về thuyền chiến Đàng Trong: “Thuyền sơn son láng bóng soi mặt nước, tả hữu đều có 25 người chèo, thủy quân rất mạnh mẽ, cửa khoang thuyền chạm rồng mây, sơn đỏ, trên che đệm cỏ đăng vân, dưới trải chiếc lác mịn màu xanh lục”, “thuyền dài mà hẹp, như hình thuyền rộng, mũi rất cao, đuôi sơn đỏ…”194... Cố đạo B. Va-sê cũng viết: “Thuyền chiến (Đàng Trong) khá giống thuyền chiến của chúng ta về độ lớn và chiều cao, nhưng không rộng bằng. Tuy nhiên, cấu tạo của nó có khác. Đó là thuyền chiến bên ngoài thì sơn đỏ chói và bên trong sơn đen bóng. Mỗi thuyền có 30 mái chèo được sơn phết, mạ vàng, và được gắn vào mạn thuyền bằng những khuyên sắt để lính thủy có thể buông thả mái chèo mà sử dụng vũ khí đặt bên cạnh”195.

Về kích thước cụ thể, Lê triều hội điển cho biết: “Thuyền Thiện Hải lớn”, dài 65 thước, rộng 10 thước, 46 cột chèo; thuyền hàng lớn, dài 60 thước, rộng 10 thước, 44 cột chèo; thuyền hàng trung, dài 55 thước, rộng 9 thước; 34 cột chèo; thuyền hàng nhỏ, dài 50 thước, rộng 9 thước, 24 cột chèo; thuyền cổ lớn, dài 42 thước, rộng 7 thước, 12 cột chèo; thuyền cổ trung, dài 40 thước, rộng 6,6 thước, 10 cột chèo; thuyền cổ nhỏ, dài 30 thước, rộng 6 thước, 8 cột chèo”196.
---------------------------
187 Vân đài loại ngữ, t. II, tr. 151.

188 J. B. Tavernier, Sách đã dẫn.

189, 190 A. de Rhodes, Sách đã dẫn.

191 Petri, Voiliers d’Indochine, Sài Gòn, 1949; P. Paris, Esquisse d’ une ethnographic navale des pays annamites, BAVH, no.4, 1942.

192 N. Peri, Essai sur les relations du Japon et de l’ Indochine aux XVI et XVII siècles, trong BEFEO, 1923, p. 136.

193 J. Barow, A voyage to Cochinchina in the year 1792 and 1793, London, 1806.

194 Hải ngoại ký sự, tr. 31 và 132.

195 B. Vachet, Mémoire… hoạc Ảch, M.E. Coch, Vol 729.

196 Lê triều hội điển, Một thước thời Lê bằng khoảng 0,40m. Có thể đối chiếu với quy định về kích thước tuyển lính trong Lịch triều hiến chương loại chí, t. IV, tr. 19. Như vậy, kích thước thuyền Thiện Hải lớn ứng với kích thước chiếc thuyền thờ chùa Keo.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 08 Tháng Hai, 2012, 07:34:26 pm
Kích thước thuyền chiến Đàng Trong có thể dựa vào mô tả khá tỉ mỉ của Poa-vrơ (P. Poivre), phái bộ của Công ty Đông Ấn Pháp đến Đàng Trong năm 1749, tận mắt quan sát những xưởng thuyền chúa Nguyễn trên sông Hương. Theo Poa-vrơ thuyền chiến lớn nhất của chúa Nguyễn dài khoảng 90 – 100 bộ197, cao 7 – 8 bộ, mặt boong cách mặt nước khoảng 2,5 bộ, phía mũi thuyền có một buồng nhỏ hình vuông, có 4 cửa lùa, mỗi chiều rộng 7 – 8 bộ, cao cũng khoảng như vậy. Mỗi thuyền có khoảng 40 – 60 cột chèo. Trọng tải ước chừng khoảng 100 – 150 tấn198. Một người Âu khác là Sáp-man (Ch. Chapman), cũng là đại diện của Công ty Đông Ấn Anh đến Đàng Trong vào khoảng đó lại cho một số liệu hơi khác: “Thuyền chiến Đàng Trong, loại lớn nhất dài khoảng 50 bộ, rộng 10 – 12 bộ, đầu và đuôi thuyền thót lại”199. Có thể đối chiếu với kích thước thuyền thờ Chùa Keo, mà theo nhận xét của các nhà đóng tàu hiện nay, được thu nhỏ với độ chính xác khá cao. Dựa vào đó cũng như đối chiếu với kích thước thuyền Đàng Ngoài ghi trong Lê triều hội điển có thể thấy tài liệu của Poa-vrơ chính xác hơn. Kích thước mà Sáp-man ghi có thể chỉ là của một loại thuyền chiến cỡ trung bình.

Như vậy, đặc điểm nổi bật nhất trong hình dáng và kích thước của thuyền chiến nước ta thời này là thuyền dài thấp mạn nhưng cơ động, phù hợp với tính chất hoạt động trong sông và ven biển. Chính vì vậy, phần lớn các văn bản ghi chép đương thời của phương Tây thường dùng từ galère để chỉ thuyền chiến nước ta nói chung200.
---------------------------
197 Bộ (pied): đơn vị đo lường cổ của Pháp, tương đương 0,3248m. Đơn vị này chia thành 12 pouces.

198 P. Poivre, Journal d’ un voyage à la Cochinchine de púi le 29-8-1749 au 11-2-1759. Trong Arch, Nationales de Paris, quyển 12; tập 72, 73.

199 Ch. Chapman, Relation d’un voyage en Cochinchine en 1778, trong BSEI, XXVIII, số 2-1948.

200 Galère là tên một loại thuyền chiến ra đời từ rất sớm ở Địa Trung Hải. Đặc điểm cơ bản là thuyền dài, thấp mạn, nhưng đặc biệt cơ động. Chữ Galère bắt nguồn từ cá kiếm, bao hàm các đặc tính đó. Loại thuyền này đặc biệt phát triển ở châu Âu trong những thế kỷ XV – XVI.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 12 Tháng Hai, 2012, 10:02:56 am
Trang bị.

Về mặt vũ khí gồm có pháo thuyền và các loại vũ khí cá nhân của lính thủy.

Như đã nói, điểm nổi bật nhất của vũ khí thuyền thời này là súng pháo. Mọi thuyền chiến đấu đều có ít nhất một khẩu pháo ở đằng mũi. Tùy hạng thuyền mà số lượng pháo nhiều ít có khác nhau: có thể thêm một khẩu ở đằng lái, hoặc thêm hai khẩu pháo ở hai bên mạn, thậm chí tăng thêm số pháo ở đằng mũi. Theo tài liệu hiện biết thì thuyền trong quân thủy Trịnh – Nguyễn có số lượng pháo nhiều nhất là năm khẩu. Do tính chất nặng về hoạt động trên biển, nên quân thủy Nguyễn có xu hướng tăng số lượng pháo trên thuyền nhiều hơn quân thủy Trịnh, đặc biệt là pháo mạn. Những người Bồ Đào Nha đã giúp chúa Nguyễn khả năng đó.

  Các bản vẽ của người phương Tây đương thời, khi vẽ thuyền chiến nước ta đều rất chú ý mô tả khẩu pháo lớn chĩa ra ở đằng mũi. Cùng với hướng đi và tốc độ của thuyền, người ta có cảm tưởng những khẩu pháo đó có hiệu lực trúng đích rất cao. Nói về trang bị trên thuyền Đàng Ngoài, A. đờ Rốt nhận xét: “Chiến thuyền của họ không thiếu vũ khí và pháo dùng cho chiến đấu”201. Cố đạo Đi-ê-gô đờ Giuy-min-la (Diego de Jumilla) từng sống ở Đàng Ngoài thời gian trước và trong những ngày đầu bùng nổ phong trào nông dân Tây Sơn cho biết: “Mỗi thuyền chiến chúa (Nguyễn) chở khoảng 50 lính và ba khẩu đại bác, nhiều vũ khí và súng tay”202. Một cha cố khác là B. Va-xê (B. Vachet) cho chúng ta biết loại thuyền chiến Đàng Trong có nhiều pháo hơn: “Ba khẩu ở đằng mũi và hai khẩu khác nhỏ hơn ở hai bên”203.

Như vậy, thuyền gắn pháo là đặc điểm tiêu biểu cho thuyền chiến thời này. Về hình thức, nó phù hợp với trình độ và xu hướng phát triển của quân thủy thế giới đương thời. Đây chính là thời kỳ phát triển cực thịnh của pháo thuyền trên thế giới. Sức mạnh của quân thủy lúc này được đo bằng số lượng và độ công phá của pháo trên thuyền. Nhưng có một đặc điểm khác căn bản giữa quân thủy nước ta với các pháo hạm châu Âu, ở chỗ do hoạt động trên biển là chính, pháo trên thuyền châu Âu dàn khắp hai bên mạnh và để chạy đua về số lượng, các nhà đóng tàu quân sự lúc đó tìm cách nâng số tầng boong đặt pháo lên tới hai, ba, thậm chí năm (ở đầu hoặc đuôi thuyền). Vì vậy, số lượng pháo trên một chiến hạm châu Âu thường rất nhiều. Trái lại, do hoạt động trong sông và ven biển là chính, thuyền chiến nước ta trang bị pháo chủ yếu ở đầu và đuôi thuyền, số lượng thường ít. Tuy nhiên, khi các nhu cầu chiến đấu trên biển được đặt ra thường xuyên, bức thiết thì những pháo hạm với 50 – 60 khẩu pháo cũng xuất hiện trong quân thủy nước ta, với sự nhảy vọt trong quân thủy Tây Sơn.
-------------------------
201 A. de Rhodes, Sách đã dẫn.

202 Trong Lorego Pérez, La rebolte et la guerredes Tây Sơn. Bản dịch tiếng Pháp của Marguerite Villa trong BSEI, Sài Gòn, 1940.

203 B. Vachet, Sách đã dẫn.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 12 Tháng Hai, 2012, 10:09:55 am
Theo tài liệu ghi chép và dựa vào số pháo hiện còn lại trong các nhà bảo tàng, thì đến cuối thế kỷ XVII, một bộ phận lớn pháo trên thuyền của nước ta là pháo mua trực tiếp từ phương Tây (chủ yếu do các tàu Hà Lan và Bồ Đào Nha cung cấp) hoặc được đúc trong nước theo kiểu phương Tây.

  Trong thời kỳ xung đột Trịnh – Nguyễn (1627 – 1672) nhiều lần sử sách chép việc quân Trịnh sử dụng pháo của phương Tây. A. đờ Rốt cho biết, trong cuộc hành quân năm 1627, “người Bồ Đào Nha dâng cho nhà vua những vật lễ thích hợp với hoàn cảnh lúc đó, tức là một số đạn dược, súng ống và nhà vua cho dùng ngay vào công việc binh đao sắp xảy ra” (Sách đã dẫn). Lê triều tạp kỷ, I. (tr. 21) chép: “Năm 1652, tháng 4… Chỉnh đốn súng ống, đạn dược mua của Hòa Lan ở Tây dương và cung tên các thứ, sắp sửa có việc với Nam Hà”.

  Ở Đàng Trong, từ năm 1658, chúa Nguyễn mở phường Đúc ở Huế do một thợ Bồ Đào Nha là Cruy-dơ (Joan da Cruz) phụ trách, số pháo đúc được có tới hàng ngàn khẩu. Trước đó, sau khi được Toàn quyền Bồ Đào Nha ở Ma Cao tặng một khẩu pháo, Chúa Nguyễn đã gửi sang Ma Cao 5.000 cân đồng nhờ Bồ Đào Nha đúc hộ súng (năm 1651). Trong P.Y. Manguin, Les Portugais sur les còtes du Việt Nam et du Campa, BEFEO, 1972, tr. 202 – 203.


  Phủ biên tạp lục (tr. 53) chép: Năm 1672, thu súng Tây dương của Hà Lan đi đánh Trịnh.

Phần lớn các pháo này thuộc loại nòng dài trung bình, bắn loại đạn khoảng 6 – 12 phun (funt) (tức 3 – 6 kg) đường kính nòng khoảng 9 – 11 cm, độ dài nòng khoảng180 – 210 cm, trọng lượng pháo trong khoảng 1.200 – 2.000 kg. Ngoài ra, có thể có một số ít pháo nòng ngắn mà trong sử sách nước thường gọi là “súng quá sơn”, có tác dụng bắn cầu vồng như những coronade của Hà Lan năm 1779.

Phần lớn pháo trên thuyền thời này bắn đạn đặc, bằng đá hoặc gang. Trong Bảo tàng Sài Gòn, hiện còn một loại đạn móc xích, gồm hai nửa đạn gang gắn vào nhau bằng một dây xích. Trên cửu đỉnh cũng khắc loại đạn này với tên Hồ điệp tử (đạn cánh bướm). Đây là một loại đạn chuyên dùng cho pháo thuyền. Nhờ có hai nửa dính liền nhau, khi đập vào thành tàu, có tác dụng như hai viên đạn gắn liền một lúc vào cùng một điểm, sức công phá rất mạnh. Từ thế kỷ XVI, loại đạn này bắt đầu xuất hiện ở châu Âu với cái tên cnipen. Không loại trừ khả năng pháo thuyền nước ta thời này có sử dụng loại đạn đó.

Đương thời, sử sách cũng chép đến nhiều kỹ thuật làm đạn nổ và việc quân Trịnh, Nguyễn sử dụng nó trong chiến tranh. Trong Hổ trướng khu cơ của Đào Duy Từ (1572-1634) có mục chế quả nổ (hỏa cầu). Theo mô tả của sách đó, có thể loại đạn “một mẹ mười con” mà Lê Quý Đô nói trong Phủ biên tạp lục là thuộc loại quả nổ này: “Năm 1672, sai Hào quận công Lê Thời Hiến ở lại đóng đồn tại xã Chính Thủy, ba lần đánh thành Trấn Ninh. Bắn hỏa pháo, một đạn mẹ mười đạn con, tiếng vang như sấm, bắn vào đâu đều gãy nát tan tành”204. Trong một số trận thủy chiến có nói đến việc pháo bắn cháy thuyền đối phương, chứng tỏ loại đạn nổ cũng đã được các pháo thuyền sử dụng.
---------------------------
204 Phủ biên tạp lục, tr. 54; Lê triều tạp kỷ, tr. 28, chép kỹ hơn và hơi khác một chút: “Lại dùng thứ súng “mật sự” lắp vào đó thứ đạn “một mẹ năm con” để bắn: tiếng nổ ầm ầm như sấm. Đạn súng này bắn đến đâu thì các đồ đồng, đồ sắt đều bị thủng vỡ”. Loại đạn của Đào Duy Từ chắc cũng thế, nhưng chỉ là một mẹ ba con.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 12 Tháng Hai, 2012, 10:30:27 am
Trong các loại pháo thuyền thời này, đáng chú ý đến loại pháo có trụ quay được Sáp-man nói đến trong bản tường trình của mình: “Thuyền chiến Đàng Trong… có một vài khẩu thần công nòng to và đặt trên giá quay được, thuốc đạn đặt trong vỏ ống tre”205. Thực ra, đây không phải là một loại pháo đặt trên bệ quay như các pháo hạm chạy hơi nước ở châu Âu thế kỷ XIX. Đó chỉ là một cái tiến nhỏ của các pháo thuyền nước ta nhờ việc lắp thêm vào ngõng súng một cái giá sắt hình chữ Y. Chân chứ Y cắm vào phần bệ gỗ tạo thành một cái trụ, nhờ đó mà có thể điều chỉnh hướng và tầm súng. Cải tiến này thường chỉ dùng với loại pháo cỡ nhỏ. Thỉnh thoảng cũng thấy sử dụng trên bộ và trong Lịch triều hiến chương loại chí có một mục riêng nói về phép thi bắn loại súng này.

  Hiện nay ở Bảo tàng Huế còn mấy khẩu súng trụ bằng sắt, nhưng có lẽ là súng trên các galères thời Nguyễn (trung hưng) mà J. Crawfund gọi là swivel. Gần đây, các nhà khảo cổ học tìm thấy một khẩu súng trụ bằng đồng trong khu vườn cam ở ấp Tây Sơn, tương truyền là vườn cam của Nguyễn Huệ. Khẩu súng này hiện để ở Nhà bảo tàng thuộc Ty Văn hóa Nghĩa Bình.

(http://images1.tuoitre.vn/tianyon/ImageView.aspx?ThumbnailID=186818)
Pháo cổ (Lưu ý giá sắt chữ Y ở giữa hình - ùi)


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 12 Tháng Hai, 2012, 10:45:32 am
Tuy pháo đã trở thành vũ khí chính của thuyền chiến nước ta thế kỷ XVII, nhưng do tính chất hạn chế của kỹ thuật súng pháo đương thời (tốc độ bắn, tầm xa, độ chính xác…) cũng như do hạn chế của số lượng pháo trên mỗi thuyền, nên nhiều khi pháo không phải là vũ khí có thể giải quyết triệt để mục tiêu trận đánh. Trong trường hợp đó, lực lượng lính chiến đấu trên thuyền với vũ khí cá nhân và khả năng chiến đấu của họ mới là sức mạnh chính kết thúc trận đánh. Trang bị cho lính chiến đấu trên thuyền thời này khá phong phú. Trước hết phải nói đến súng tay (thủ súng, hoặc còn gọi là súng báng gỗ, tức mộc súng. Trong các văn bản của người phương Tây, thường dùng là arquebuse (A. de Rhodes) hay mousquet (B. Vachet) tức súng hỏa mai).

  Hiện nay, trong Viện Bảo tàng lịch sử Việt Nam còn khá nhiều loại súng này. Nó thường làm bằng đồng, sau này thay dần bằng sắt. Đó là một ống đồng (hoặc sắt) dày, dài toàn bộ khoảng 45 – 50 cm, chia thành ba phần: phần nòng dài khoảng 40 cm, đường kính nòng khoảng gần 2 cm; phần bầu nòng, tức phần cuối của nòng, nơi đó bên ngoài nở hẳn ra, là chỗ nhồi thuốc. Tại đây có một lỗ xuyên tử ngoài vào. Chỗ lỗ này được đúc vây thành hình một cái hộp vào có nắp đậy giữ cho thuốc khỏi ẩm; phần chuôi là một ống đồng đúc liền với bầu nòng. Có một báng gỗ tông vào chuôi đó. Loại súng này khi bắn phải nhồi thuốc, nạp đạn đá hoặc chì, sắt và dùng một mồi lửa để châm ngòi.

Theo tài liệu phương Tây đương thời, lính thủy trên thuyền mỗi người được trang bị một khẩu. Bo-ri (Ch. Borri) viết: “Đàng Trong có hơn 100 thuyền chiến… Lính trên thuyền đều có súng hỏa mai…”205, và theo A. đờ Rốt thì “họ sử dụng thành thạo tất cả các loại vũ khí đó (súng, pháo). Nhất là với súng trường (fusil) và hỏa mai (arquebuse) thì họ bắn giỏi đến mức đáng khâm phục”206.

Ngoài súng tay (sau này xuất hiện một số súng chim, tức điểu thương), lính chiến đấu trên thuyền còn được trang bị một số loại bạch khí khác. Theo B. Va-sê, họ còn có mỗi người một thanh đao, một con dao găm, một cung (hoặc nỏ) với ống đựng tên. Bo-ri bổ sung thêm: “Vũ khí phòng ngự thì có loại mộc hình trái xoan, bên trong rỗng, cao, có thể che được cả người, rất nhẹ”207.

Dùng chung cho thuyền, chúng ta còn thấy một loại vũ khí quen thuộc nữa là câu liêm, móc ném208lao móc, mà theo Sáp-man, thì đến 15 – 20 bộ (pieds) dùng để đánh đối phương khi hai thuyền chưa giáp mạn hoặc kéo thuyền đối phương vào đánh giáp lá cà.

Trong những trận thủy chiến sau này giữa quân thủy Đàng Trong với quân thủy Tây Sơn, chúng ta còn thấy sử dụng một loại quả nổ ném, như lựu đạn sơ khai. Loại vũ khí này khá phát triển trong thủy chiến thời Tống – Nguyên ở Trung Quốc, đương thời đang phổ biến trong giáp chiến của lính chiến đấu trên các hạm đội phương Tây. Rất có thể quân thủy Trịnh – Nguyễn đầu thế kỷ XVIII đã có trang bị.
-----------------------
205 Ch. Borri, Sách đã dẫn.

206 A. de Rhodes, Sách đã dẫn.

207 B. Vachet, Sách đã dẫn.

208 Lịch triều hiến chương loại chí, t. IV, tr. 24.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 12 Tháng Hai, 2012, 10:52:44 am
Để làm hiệu lệnh trong chiến đấu cũng như trong hành trình, thuyền chiến được trang bị trống da (theo Thích Đại Sán thì đối với một số thuyền chiến sang trọng có thể là trống đồng), mõ gỗ, thanh la. Ban đêm, để đảm bảo hành trình cho một đơn vị nhiều thuyền, người chỉ huy còn dùng lửa đốt bằng dây giấy quấn thuốc súng.

  Thích Đại Sán kể lại: “Mồng 1 tháng bảy, thuyền đi ra cửa biển… Cai bá khua ba hồi trống lệnh, các thuyền đều chèo. Trong thuyền đèn lửa tắt hết. Cai bá đứng ở mũi thuyền, tay cầm một dây hỏa mai ra hiệu, hoặc bát, hoặc cậy, khi chậm, khi mau, các thuyền đều ngó theo hiệu lửa mà lái, chèo, chẳng bao giờ sai lệch”209.

Hội điển của nhà Lê còn quy định rõ trang bị cờ quạt cho cả thuyền chiến, chẳng những để định rõ thứ tậc, đơn vị mà còn là cờ hiệu phục vụ hành trình. Các cờ này gồm có hai loại: cờ tocờ tẩu cả (báo hiệu thuyền chạy). Cuối cùng, phải kể đế những chiếc phao hình quả bầu chuyên dùng trên thuyền chiến để đề phòng khi chiến đấu, thuyền đắm hoặc rơi xuống nước. Chúng ta có thể thấy cụ thể những phao này trên thuyền thờ Chùa Keo.

  Binh thư yếu lược (tr. 213) viết: “Nước Nam ta dùng quân thủy chiến, thường lấy mây đan cái phao, khúc giữa nhỏ mà đầu đuôi lớn, sơn đen, trong rỗng, để sẵn trong thuyền, phòng khi thuyền đắm, tục gọi là quả nổi…”.

Hằng ngày khi không có việc, thuyền chiến được cất cẩn thận trong xưởng để bảo quản. Theo P. Poa-vrơ, dọc sông Hương dày đặc những xưởng thuyền của chúa Nguyễn. Theo A. đờ Rốt, “Mỗi thuyền có một nhà thuyền bưng kín. Thường thì thuyền ở trong đó, khi có lệnh mới hạ thủy. Chỉ sau 15 phút đã có thể xuống nước, sẵn sàng chiến đấu”210. Trong Lê triều hội điển, các nhà thuyền mà A. đờ Rốt nói đến đó được gọi là liên. Các liên này làm bằng gỗ, lợp tranh (của vua quan thì lợp ngói) che mưa nắng cho một hoặc hai, ba cái đà, trên đó đặt thuyền. Theo quy định thì thuyền Thiện Hải lớn, thuyền hàng lớn, hàng trung và hàng nhỏ thì cứ năm xưởng (tức năm đà) có ba cái liên. Các thuyền cổ không được làm liên.

Mọi trang bị trên thuyền (cả vũ khí lẫn đồ dùng) đều có quy định bảo quản, cấp phát và kiểm tra ngặt nghèo.
------------------------
209 Hải ngoại ký sự, tr. 145.

210 A. de Rhodes, Sách đã dẫn.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 12 Tháng Hai, 2012, 11:01:11 am
Trên một số thuyền chỉ huy có thể được trang bị địa bànkính viễn vọng.

  Bảo tàng cách mạng Việt Nam hiện còn lưu giữ một chiếc địa bàn của gia đình Nguyễn Du – một gia đình quan lại lớn trong triều đình Lê – Trịnh đầu thế kỷ XVII, XVIII (Cha Nguyễn Du là Nguyễn Nghiễm (1707-1775) từng làm tới chức Đại tư đồ tả tướng quân trong cuộc nam chinh năm Giáp Ngọ (1774), tước Xuân quận công). Chiếc địa bàn này khá giống với chiếc địa bàn đề niên hệu Minh Mệnh thời Nguyễn mà BEFEO số XXVI đã công bố (ql, XXX, B). Chúng ta cũng có thể thấy một chiếc địa bàn tương tự công bố trong một tạp chí Thái Lan Muang Boran Jourrnal, t. I, số 6, tr. 94).

  Việc sử dụng địa bàn và các dụng cụ hàng hải khác có lẽ không phải là vấn đề quá xa lạ với thuyền đi biển nước ta thế kỷ XVIII, XIX. Năm 1832, Lý Văn Phúc theo lệnh Minh Mệnh vượt biển đi sứ sang Phi-líp-pin, trong sách của mình là Đông hành thi thuyết khảo có đoạn viết: “Ngày 14 tháng Năm Nhâm Thìn (1832), thuyền (Định Tường) rời khỏi Quảng Ngãi, đã vào hải phận trấn Bình Định. Trù tính là không lầm. Một đường thẳng vo, lấy hướng kim mão - ất (tức đông hơi xế nam) mà tiến. Không dè gió trái, nước xiết, con thuyền không tiến. Thình lình trưa hôm sau, ngóng trông thấy (tức một bãi nổi ngoài khơi). Sắc cát lờ mờ, khắp chân trời đều trắng. Tất cả người trên thuyền, trong lòng bừng bừng, nước mắt rưng rưng. Trên thuyền, ngoảnh hỏi đà công, y là một tay lão luyện Tây dương. Nó nói rằng: lấy thước đạc thiên mà đo thì máy thuyền chưa chạm vào chân bãi cát còn chuyển buồm kịp. Bèn lấy hướng kim dậu (tây) nhằm Quảng Ngãi mà lùi…”211.

  Kính viễn vọng được được truyền từ phương Tây vào nước ta từ khá sớm, thường là quà của các giáo sĩ và thương nhân tặng cho các vua quan trong triều. Lê Quý Đôn cũng dẫn lời Du Tử Lục mô tả khá kỹ loại kính nhìn xa này212.

  Hoàng Lê nhất thống chí (tr. 305) khi chép việc quân Cần Vương chống lại Tây Sơn năm 1788 có nói đến việc “nhà vua sai Xuân Hạp lên bờ, dùng ống viễn kính để xem”.


Như vậy, đến thế kỷ XVII – XVIII, trang bị của quân thủy nước ta đã phát triển một bước dài so với quân thủy thời Lý – Trần cũng như so với quân thủy thời Lê – Mạc. Ở một số mặt, nó đang vươn tới những trang bị hiện đại nhất có thể có ở phương Đông đương thời. Tuy nhiên, trình độ còn hạn chế của khoa học kỹ thuật và nền kinh tế cũng như tầm nhìn còn thiển cận của hàng ngũ tướng lĩnh Trịnh, Nguyễn đã cản trở không ít đến sự phát triển đó.
-----------------------------
211 Theo Hoàng Xuân Hãn, trong Sử địa, số 29, 1975, tr. 15.

212 Vân đài loại ngữ, t. II, tr. 139.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 18 Tháng Hai, 2012, 02:31:52 pm
TỔ CHỨC, BIÊN CHẾ, HUẤN LUYỆN

Tổ chức quân đội Trịnh, Nguyễn gồm hai lực lượng: quân chuyên nghiệp thường trực và quân dự bị. Tuy nhiên quân chuyên nghiệp thường trực thời này không còn bộ phận quân vương hầu như thời Lý – Trần nữa (về cơ bản, chế độ vương hầu đã bị hạn chế và cấm đoán từ thời nhà Hồ). Thay vào đó, nhà nước mở rộng số quân chuyên nghiệp tuyển theo binh dịch. Việc chuyển hóa một bộ phận dân binh dịch dần dần làm biến chất chính sách “ngụ binh ư nông” trước đây. Quân thường trực thời này thoát ly sản xuất, không còn luật chia phiên về làm ruộng đối với bất kỳ bộ phận quân thường trực nào. Họ sống bằng lương (trả bằng tiền) và gia đình được cấp ruộng khẩu phần. Họ được huấn luyện chuyên hóa và phải phục vụ quân đội cho đến tuổi về hưu. Như vậy, toàn bộ quân thường trực thời này là do quân chuyên nghiệp đảm nhiệm. Không còn thấy những “phiên” thường trực của những người lính “ngụ binh ư nông” nữa.

Ở Đàng Ngoài, quân chuyên nghiệp thường trực tuyển từ hạng tráng, thường chiếm tỷ lệ 1/3 đến 1/5 trong toàn bộ dân đinh. Quân tuyển ở Thanh – Nghệ (đất bản bộ của Lê – Trịnh) được ưu đãi hơn và cũng láy với tỷ lệ cao hơn (thường là 1/3, có khi tới 100% đinh xuất) gọi là ưu binh. Quân tuyển ở bốn trấn quanh Thăng Long (thường 1/5 đinh xuất) gọi là nhất binh.

Ngoài số quân chuyên nghiệp thường trực nói trên, nhà nước còn lấy trong dân đinh một số quân dự bị (xếp vào hạng quân theo phân hạng đinh xuất, tùy theo sức khỏe và sổ đinh trong một hộ). Số này có trong sổ quân, nhưng không có trong đội ngũ chính thức của triều đình. Họ được luyện tập định kỳ (sau đó lại về làm ruộng), khi có việc mới gọi ra. Về hình thức, lực lượng này có bóng dáng của phép “ngụ binh ư nông” xưa, nhưng thực chất chỉ là một bộ phận dự bị thuần túy. Họ không phải bao gồm toàn bộ đinh xuất, cũng không phải chia phiên làm nhiệm vụ thường trực việc quân. Hơn nữa, loại quân nay chỉ áp dụng cho một số vùng trong nước mà thôi. Đầu thế kỷ XVIII, nông dân khởi nghĩa ở khắp nơi, số quân này được đốc xuất thường xuyên thành hương binh, tức một loại quân bán thường trực ở địa phương được nhà nước cấp ruộng khẩu phần miễn thuế. Từ năm 1742, số lượng binh này được tổ chức quy củ hơn. Mỗi phủ trong bốn trấn đều lắp vào một vệ quân, tuyển chính thức trong số hương binh này, cấp lương như quân chuyên nghiệp, nhưng được thay phiên nhau ứng vụ tập luyện võ nghệ.

Về cơ bản, binh chế ở Đàng Trong cũng tương tự như vậy. Chỉ khác một điều là do số dân ít, nên tỷ lệ lính tuyển trong dân thuộc hạng tuyển cao hơn Đảng Ngoài nhiều. Theo Lê Quý Đôn, tỷ lệ đó lên tới 1/2. Còn theo Thích Đại Sán (Hải ngoại ký sự, tr. 43) thì trừ số thân quân, còn lại binh lính bị lao dịch rất nặng: “Nhân hỏi chuyện biết rằng trong nước mọi thứ thợ đều do quân nhân làm. Mỗi năm vào khoảng tháng Ba, tháng Tư, quân nhân đi vào các làng, bắt dân từ 16 tuổi trở lên, những người thân thể cường tráng, đóng gông bằng tre hình thang hẹp, giải về phủ xung quân. Vào quân đội rồi, bắt mỗi lính học một nghề rồi phân phát đi các thuyền chiến tập luyện. Khi có chiến tranh thì đi đánh giặc, lúc vô sự ở theo vương phủ làm xâu…”.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 18 Tháng Hai, 2012, 02:39:23 pm
Quân chuyên nghiệp thường trực chia thành ba lực lượng, ít nhiều khác nhau về lực lượng: bộ phận thứ nhất là thân quân bảo vệ và phục dịch trong điện vua, phủ chúa. Theo Phan Huy Chú, đó là quân nội điện hay binh thị hậu. Bộ phận thứ hai là quân đánh dẹp, có thể tương ứng với du quân thời Trần. Binh chế thời Lê sơ gọi đó là quân ngũ phủ, đến thời Lê – Trinh gọi đó là ngoại binh. Bộ phận thứ ba là quân trấn giữ các đồn, bảo ở vùng biên giới, cửa biển. Hai bộ phận trên đều phân chia thành các đơn vị lính bộ và lính thủy, do Binh phiên và thủy binh phiên quản. Bộ binh phiên chế thành các dinh, cơ, đội, (riêng ở Đàng Trong đơn vị nhỏ nhất của bộ binh cũng là thuyền). Thủy binh chia thành các cơ, đội, thuyền.

Với tư cách là một binh chủng của quân bộ, đơn vị lớn nhất trong quân thủy chỉ là , phần lớn là các đội thuyền. Ở Đàng Trong, khi tổ chức phòng thủ chống quân Trịnh, đôi khi số quân thủy tập trung đông ở vùng Quảng Bình, lập thành thủy dinh. Trong cuộc duyệt binh thủy năm 1708, quân thủy chúa Nguyễn cũng có duy nhất một đơn vị dinh (dinh Hậu thủy)213. Tuy nhiên, hầu như hiếm thấy trường hợp quân thủy được tổ chức thành các dinh, tức đơn vị quân đội cao nhất đương thời.

Thống kê của Phan Huy Chú cho biết tổng số thuyền chiến trong thủy binh thị hậu (tức quân thủy phủ chúa) vào khoảng trên 50 chiếc. Trừ những thuyền sai phái hoặc hoạt động độc lập như thuyền Kiệu Nhất, Hậu Nhị…, số đông còn lại phiên chế trong 8 đội thuyền khác nhau. Trung bình mỗi đội bốn thuyền, như các đội Tứ Kiệu, Tứ Nội thủy, Tứ thiện thủy… Bộ phận quân thủy chuyên đi đánh dẹp (tức ngoại binh) có số lượng thuyền chiến đông hơn. Dựa vào số quân trung bình trên mỗi thuyền và tổng số quân thủy thuộc ngoại binh, ta có thể ước số thuyền ngoại binh có khoảng 200 chiếc, chia thành 34 cơ đội, trung bình mỗi đội (hoặc cơ) có khoảng 5 – 7 thuyền, tùy chức năng, trang bị và loại thuyền mà số lượng người trong mỗi thuyền hoặc mỗi cơ, đội có khác nhau. Đội ít, như bốn đội Trung (Phấn, Thiện, Nhương, Đăng), chỉ có 175 quân (cả ưu binh lẫn nhất binh). Đội nhiều, như bốn đội Kinh và bốn đội Kiên (tiền, hậu, tả, hữu)… số quân lên đến 650 người mỗi đội. Ngoài ra, còn 15 thuyền hành loại nhỏ làm nhiệm vụ tuần, thám, liên lạc.

Ở Đàng Trong, có thể dựa vào thống kê trong Đại Nam thực lục (tiền biên) về tổng số quân thủy tham gia cuộc duyệt trận năm 1708 và đối chiếu với thống kê của Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục để xem xét về biên chế, tổ chức. Tham gia cuộc duyệt binh năm 1708, theo Đại Nam thực lục, gồm hầu như toàn bộ quân thủy chính dinh, tức quân thủy nội, ngoại quanh Phú Xuân, gồm có bốn Thủy, bốn Dực, bốn đội Thủy, bốn đội Binh (đều chia tiền, hậu, tả, hữu), 13 đội thuyền thuộc Binh Nội thủy và một dinh Hậu thủy. Bên chế trong từng cơ, đội khá thống nhất. Tất cả đội thuộc Binh Nội thủy đều có ba thuyền chiến (trừ đội thứ 13 có bốn để tổng số thuyền chiến là 40 chiếc). Các đơn vị còn lại hầu hết đều có bốn thuyền chiến (trừ một đội Dực và hai đội Binh). Tổng số là 101 thuyền chiến hải đạo (tức thuyền có khả năng đi biển).
-------------------------------
213 Đại Nam thực lục (Tiền biên), t. 1, tr. 168.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 18 Tháng Hai, 2012, 02:43:21 pm
Khoảng hơn nửa thế kỷ sau, khi quân Trịnh chiếm được Phú Xuân, dựa vào sổ sách của triều đình Đàng Trong, Lê Quý Đôn cũng cho một bản thống kê khá chi tiết. Tuy nhiên, trong bản thống kê đó, rất khó tách được đâu là quân thủy và đâu là quân bộ. Tất nhiên không phải cứ lấy đơn vị thuyền để đưa vào quân thủy. Bởi vì, nếu vậy thì ở Đàng Trong sẽ không có quân bộ. Như đã nói, thuyền là biên chế đơn vị nhỏ nhất cho cả quân bộ lẫn quân thủy ở Đàng Trong. May mắn là tên các đơn vị quân thủy năm 1708 vẫn không thay đổi, do đó vẫn có thể thể tách phần lớn các đơn vị quân thủy ra khỏi bản thống kê đó. Làm như vậy, ta có bảng kê như sau:

Bốn cơ Thủy: mỗi cơ năm thuyền. Tổng số 20 thuyền, 1.140 lính.

Bốn cơ Dực: mỗi cơ năm thuyền, tổng số 20 thuyền, 1.127 lính.

Bốn đội Thủy: mỗi đội năm thuyền. Tổng số 20 thuyền, 1.132 lính.

Bốn đội Binh: mỗi đội bốn thuyền. Tổng số 16 thuyền, 900 lính.

Binh Nội thủy: tổng số 50 thuyền, 6.410 lính.

Như vậy, so với biên chế năm 1708 thì các cơ đội đều tăng thêm một thuyền. Tổng số 126 thuyền, 10.709 lính. Tất nhiên đây không phải là toàn bộ quân thủy Đàng Trong.

Từ những bản kê trên, có thể rút ra một số nhận xét: Đơn vị tế bảo của quân thủy Trịnh, Nguyễn là thuyền. Các thuyền này kết hợp với nhau trong các đơn vị tác chiến là cơ, đội, có trung bình khoảng bốn – năm thuyền. Các cơ, đội này, trong một số trường hợp được cụm lại thành những đơn vị lớn hơn, như Binh Nội thủy. Số quân trong một thuyền trung bình khoảng 60, thuyền đông nhất khoảng gần 90, ít nhất khoảng 20.

Theo Phan Huy Chú, tổng số quân Trịnh thường trực là 56.550 người, số quân thủy ước được là 20.000 người. Theo Lê Quý Đôn, tổng số quân Nguyễn ở chính dinh là 30.016 người, trong đó quân thủy ước được khoảng 11.000. Nhìn chung, tỷ lệ quân thủy quân bộ ở cả hai miền tương đương, khoảng hơn một phần ba.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 18 Tháng Hai, 2012, 02:50:20 pm
Về tổng số thuyền chiến Trịnh, Nguyễn, hiện có nhiều số liệu không thống nhất, do cách tính và quan niệm của từng nguồn. Hiện nay, chúng tôi tập hợp được khoảng 15 số liệu đương thời về quân thủy Trịnh, Nguyễn thế kỷ XVII, XVIII. Trừ Phan Huy Chú và Lê Quý Đôn, còn lại của cha cố và thương nhân châu Âu.

Tài liệu khá thống nhất về số thuyền chiến của quân thủy Đàng Trong. Va-sê và đơ Rốt, hai cha cố thế kỷ XVII đều thống nhất là khoảng 200. Va-sê cho biết chi tiết hơn: riêng Phú Xuân có 133, còn lại rải ra ở các dinh. Soa-di (Choisy) cũng cho biết vào năm 1679 Phú Xuân có 131 thuyền chiến. Bo-ri cũng đưa số liệu hơn 100 cho thuyền chiến Đàng Trong. Có lẽ đây chỉ là số thuyền chiến ở Phú Xuân thôi. Số liệu của Va-sê và Soa-di khá phù hợp với số liệu của Lê Quý Đôn, cho phép có thể xác nhận con số 200 cho toàn bộ thuyền chiến của quân thủy Đàng Trong và khoảng 120 – 130 cho riêng quân thủy ở Chính Dinh, tức Phú Xuân.

Ở Đàng Ngoài, trừ một số liệu lấy trong Đại Nam thực lục đã gộp chung cả thuyền chiến lẫn thuyền tải lương của quân Trịnh trong cuộc xung đột năm 1672 là 1.000 thuyền (số liệu này cùng gần với số liệu mô tả của đơ Rốt năm 1627 mà Ca-đi-e (Cadière) sau này có chi tiết thêm), thì các số liệu còn lại cũng tương đối thống nhất. Tít-xa-ni-ê (Tissanier), đơ Rốt đều ước quân thủy Đàng Ngoài có khoảng 500 – 600 thuyền chiến. Tài liệu của Phan Huy Chú cho biết số thuyền binh Thị hậu khoảng 50, số thuyền ngoại binh khoảng hơn 200, còn lại rải ra ở các cơ đội Thanh Hoa, An Trường, Nghệ An, Bố Chính… khoảng 200 nữa. Ta-véc-ni-ê (Tavernier) cung cấp số liệu thuyền chiến Trịnh đánh Nguyễn năm 1643 là 318 chiếc. Có thể đây chỉ là số thuyền mà em Ta-véc-ni-ê đếm được ở Thăng Long. Mô tả của đơ Rốt về số thuyền trong cuộc hành quân đánh Nguyễn năm 1627 cho chúng ta biết có khoảng 200 thuyền chiến tiên phong. Đây chính là các thuyền chiến thuộc quân thủy Ngoại binh. Đi kèm thuyền rộng của vua và chúa có 80 thuyền hộ tống. Đó là các đơn vị thuyền Thị hậu và Nội điện được tăng cường. Đi theo sau là khoảng hơn 200 thuyền chiến nữa là số thuyền chiến huy động ở các địa phương. Số còn lại vô kể là thuyền tải binh lương, không được tính vào số thuyền chiến đấu. Tài liệu như trên cho phép xác nhận con số khoảng 500 – 600 thuyền chiến cho toàn bộ quân Đàng Ngoài, trong đó khoảng 350 thuyền chiến Thị hậu và Ngoại binh ở Thăng Long là hợp lý (đơ Rốt cũng cho biết số thuyền của quân Đàng Ngoài nhiều gấp ba lần Đàng Trong).

Như vậy, trong khi tính toán số thuyền chiến với tư cách là một binh chủng quân thủy độc lập, cần tách ra số thuyền chở binh lương, loại thuyền dùng trong chiến tranh chứ không phải thuyền đặc chủng chuyên dùng trong chiến đấu.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 18 Tháng Hai, 2012, 02:55:13 pm
Trong mỗi thuyền, tùy theo trang bị mà có số lượng lính khác nhau. Tựu trung được chia thành các loại chức trách riêng như sau: thuyền trưởng chỉ huy hành trình và chiến đấu, luôn đứng ở buồng chỉ huy đằng mũi thuyền. Va-sê mô tả: “Ở mũi thuyền là vị trí của người thuyền trưởng. Ông ta tuốt gươm trần ở tay, ra lệnh cho thủy binh dưới quyền làm theo lệnh. Mặc dầu không hô thành tiếng, nhưng lệnh của ông ta được thi hành mau lẹ khôn lường” (Sách đã dẫn). Bo-ri cũng viết: “Đầu thuyền thếp toàn vàng và vị tướng chỉ huy bao giờ cũng đứng ở đó. Trong chiến trận, bao giờ vị tướng cũng phải xông lên hàng đầu” (Sách đã dẫn).

Theo Va-sê, “trên thuyền có nhiều sĩ quan phụ tá” (Sách đã dẫn). Soa-di cho biết cụ thể hơn; ở Đàng Trong có “ba sĩ quan” chỉ huy trên một thuyền chiến.

Người đà công (cầm lái) và người gõ nhịp hoàn toàn chuyên nghiệp, có vai trò quyết định đến việc điều khiển con thuyền trong hành trình cũng như trong chiến đấu. Trong một bức tranh thời Nguyễn vẽ cảnh chèo thuyền, trong đó người lái và người gõ trống ăn vận khác hẳn với lính chèo thuyền, đặc biệt người cầm lái mặc trang phục giống như quan lại. Thích Đại Sán, trong Hải ngoại ký sự (tr. 132), mô tả khá sinh động công việc của một người gõ nhịp trên thuyền chiến: “Đầu thuyền một vị quan, đuôi thuyền một người cấm lái; giữa thuyền có 64 lính đứng chèo. Giữa khoang thuyền có bốn cọc nạng sơn son, trên bắc một cây mõ gỗ, một người lính ngồi gõ mõ làm nhịp cho những người đứng chèo. Thuyền cậy qua tả là qua tả, thuyền bát qua hữu là qua hữu, miệng hò lơ, chân giậm ván, đều răm rắp theo nhịp mõ chẳng chút đơn sai, mới nghe qua thực chẳng hiểu nhịp gì mà lạ vậy…”.

Số còn lại trên thuyền thì vừa làm nhiệm vụ chèo thuyền, vừa là lính chiến đấu khi cần thiết. Chỉ trừ một số thuyền trong binh Thị hậu, hoặc một số thuyền trang bị nhiều pháo, mới có thể có những người lính chèo thuyền riêng và lính chiến đấu riêng. Bo-ri cho biết: “Công việc chèo thuyền là của người lính (khác với châu Âu, chỉ có tội nhân mới chèo thuyền), họ vừa chèo thuyền vừa chiến đấu” (Sách đã dẫn).

Để tiện lợi cho người lính, “mái chèo gắn vào mạn thuyền bằng những khuyên sắt. Lính thủy có thể buông thả mái chèo để sử dụng ngay tức khắc các vũ khí đang để gần họ. Những lính chiến này đồng thời lại là thủy thủ…”214. Tuy nhiên, trong số lính này, các pháo thủ đang có xu hướng được tách khỏi công việc chèo thuyền để thường trực bên khẩu pháo. Theo lời Soa-di mà Ta-bu-lê (Taboulet) đã dẫn thì có sáu pháo thủ biên chế trên một thuyền chiến loại 60 cột chèo và ba “sĩ quan”.

Trong chương trình huấn luyện cho quân thủy thời này, có những thao tác cơ bản của một người lính: “Sau khi được tuyển vào quân ngũ, một người lính phải tập ba năm với một võ sư. Ông ta dạy lính cách sử dụng binh khí và tất cả những bộ môn liên quan đến binh nghiệp như sử dụng gươm giáo, cách mang súng, giữ súng, bắn và bắn theo lệnh. Lính còn được dạy cách chế biến thuốc súng, chế đạn, vì sau khi huấn luyện, họ phải tự làm lấy những thứ đó khi được cấp nguyên vật liệu. Lính còn phải làm ống đựng tên, mũ tên, cung và dây cung, đồng thời phải biết sử dụng các vũ khí đó một cách thuần thục. Người ta cũng dạy lính trở thành những người đóng thuyền”215.
----------------------------
214, 215 B. Vachet, Sách đã dẫn.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 18 Tháng Hai, 2012, 03:02:52 pm
Về nội dung chuyên cho quân thủy, có những môn huấn luyện thường xuyên, nhất là chèo thuyền tập thể sao cho nhanh, đồng thời đảm bảo nhu cầu chiến thuật và luyện bắn pháo, bắn súng tay, cung nỏ… Đôi lúc tiến hành những trận giáp chiến bằng bạch binh.

Vua, chúa Đàng Ngoài cũng như Đàng Trong đặc biệt ưa chuộng duyệt đua thuyền. Đó chẳng những là những ngày đua tài của các cơ đội lính thủy, mà còn là ngày hội vui lớn trong cả kinh thành. Hầu như người nước ngoài đến nước ta cũng không quên nhắc đến sự kiện đó. Trong các cuộc đua này, có mấy yêu cầu thường được đặt ra, đó là đua về tốc độ, về độ đồng đều hàng ngũ của các thuyền chiến trong mỗi cơ, đôi khi hành trình cũng như khi xử lý các tình thế cụ thể. Những người Tây Ban Nha được chứng kiến cuộc duyệt quân thủy năm 1964 ở Đàng Trong đã phải nắc nỏm khen các đội thuyền đi đều tới mức “không hề lệch nhau đến một ngón tay”216. Ta-véc-ni-ê thì kể đến trường hợp những người lính chèo thuyền chết vì kiệt sức trong lúc đua tài…217.

Các hình thức tập bắn cung, nỏ và súng tay, súng trụ của quân thủy không khác lắm so với quân bộ. Các phép thi đó đã được Phan Huy Chú và Hội điển nhà Lê mô tả khá chi tiết. Đáng chú ý ở đây là việc tổ chức tập bắn cho pháo thuyền. Đây là một hoạt động rất táo bạo, vì chẳng những khó khăn trong việc chuẩn bị xạ trường, mà còn khá tốn kém thuốc súng. Đương thời ở châu Âu, công thức về lượng một liều thuốc súng đã được xác định, bằng khoảng 1/3 trọng lượng đạn. Thuốc súng của phương Đông lúc này độ nhậy có kém hơn, tỷ lệ đó vào khoảng gần 1/2. Như vậy, để chi phí ho một phát (loại súng Bồ Đào Nha hiện còn để ở Bảo tàng Huế với cỡ nòng trung bình khoảng trên dưới 10 cm), thì phải tốn gần 2 ki-lô-gam thuốc súng. Để tinh luyện quân thủy, chúa Nguyễn đã phải chịu những tốn kém đó. Năm 1642, cho đắp lũy đất ở Hồng Phúc (một xã ven biển thuộc Bình Trị Thiên hiện nay) cho quân thủy thường xuyên tập bắn trên mặt nước218.

Như đã nói, trong thủy chiến thời này ở nước ta, giáp chiến vẫn còn là một thủ đoạn quan trọng để giải quyết mục tiêu trận đánh. Chính vì vậy, những cuộc tập trận để nâng cao trình độ nghệ thuật giáp chiến vẫn rất được chú trọng.

  Va-sê tận mắt chứng kiến một cuộc tập trận đó ở Đàng Trong năm 1674 đã kể lại: “Tất cả thuyền chiến được trang bị như ngày ra trận. Thuyền chiến được chia làm hai đội. Một do thế tử điều khiển, một do người em của thế tử điều khiển. Chúa dự ở khán đài trước phủ, nằm trên bờ sông. Trước mặt chúa có một trống lớn, tiếng vọng đến hai vị tướng chỉ huy. Có một khoảng cách nhỏ giữa hai đội thuyền chiến. Một ở đầu này, một ở đầu kia. Chúa và các quan ở giữa. Khi có lệnh, hai đội lướt đi rất nhịp nhàng, đều đặn, dần dần xếp thành hai hình vòng cung, có lúc lại như nhập làm một. Bỗng chốc lại thay đổi vị trí xếp thành hàng ngang quay mặt vào nhau. Khi lại có lệnh, các binh sĩ xông vào nhau rất nhanh, họ nhảy vọt tài tình, mau lẹ từ thuyền này qua thuyền khác, đến nỗi trong nháy mắt, họ có thể chiếm lấy toàn bộ thuyền của thế tử, và như vậy, người em đã thắng trận. Tất cả đều diễn ra rất mạch lạc, bải bản và kết thúc bằng tiếng reo hò chiến thắng cùng ba loạt đạn đại bác hỏa mai”219.
---------------------------------
216 A. de Rhodes, Relation des mission du Royyaume de Cochinchine, theo Nguyễn Hồng, Sách đã dẫn, tr. 193.

217 J. Taverniern, Sách đã dẫn.

218 Phủ biên tạp lục, tr. 46.

219 B. Vachet, Sách đã dẫn.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 01 Tháng Ba, 2012, 07:26:29 pm
VÀI NÉT TRONG NGHỆ THUẬT ĐÁNH THỦY

Có hai cuộc xung đột lớn trong thời kỳ này, kéo dài từ khoảng giữa thế kỷ XVI đến gần cuối thế kỷ XVII, đó là xung đột Nam – Bắc triều (tức Lê – Mạc) và Đàng Ngoài – Đàng Trong (tức Trịnh – Nguyễn). Trong cuộc xung đột Lê – Mạc, chiến trường diễn ra chủ yếu ở khu vực Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ (tức ở lưu vực sông Hồng và sông Mã). Trừ một vài lần quân Mạc vượt biển đánh thọc sâu vào khu vực Thuận Quảng và sau đó quân Lê truy quét tàn quân Mạc ở ven biển Đông Bắc, hầu như hoạt động của quân thủy hai bên chủ yếu là ở trong sông. Trong thủy chiến, giáp lá cà vẫn là thủ đoạn chủ yếu để tiêu diệt địch. Tuy nhiên, ngày càng rõ xu hướng khai thác sức mạnh của pháo thuyền trong đối thủy cũng như thủy đối bộ. Xu hướng này phù hợp với nhu cầu giải quyết vấn đề pháo dã chiến đang đặt ra trong nghệ thuật quân sự nước ta đương thời.

Trên thế giới, khi mới ra đời, súng thần công có trọng lượng nặng, cồng kềnh, thao tác lại phức tạp nên chủ yếu nó là vũ khí của thành lũy, đặt cố định trong các pháo đài trung cổ. Đến thế kỹ XV, nhờ một số cải tiến trong kỹ nghệ súng pháo, vua Pháp Sác-lơ VIII (Charles VIII) đã thực hiện một cuộc cách mạng trong lịch sử pháo binh: đưa pháo dã chiến thành một binh chủng cơ động cùng với bộ binh. Từ đó, các nhà quân sự châu Âu không ngừng hoàn thiện khả năng cơ động cho loại vũ khí lợi hại nhất thời đó.

Ở nước ta, do quân đội cơ động chủ yếu bằng thuyền, đồng thời lại sẵn có voi trong biên chế của quân đội, nên ngay khi súng pháo ra đời đã có những tiên đề để cơ động. Trên thuyền của Trần Khát Chân năm 1390, đã thấy có pháo cơ động, chứng tỏ pháo dã chiến trên thuyền được thực hiện rất sớm ở nước ta.

Đương thời, người Trung Quốc đã đúc được những khẩu súng thần công khá lớn, nhưng những khẩu súng đó chỉ được đặt trong các pháo đài mà không mấy khi được cơ động cùng quân bộ. Nhà Minh sau khi chiếm được nước ta, được Hồ Nguyên Trừng truyền cho kỹ thuật chế thần cơ sang pháo.

Hoàn toàn không phải Hồ Nguyên Trừng đã dạy nhà Minh kỹ thuật đúc súng thần công nói chung. Vì từ giữa thế kỷ XIV, người Trung Quốc đã có những khẩu thần công thực thụ. Kỹ thuật nhà Minh phải học Hồ Nguyên Trừng mà sau đó “mỗi khi tế binh khí đều phải tế Trừng” (Cổ thụ biểu đàm, dẫn theo Vân Đại loại ngữ, t.I, tr. 299) chính là kỹ thuật chế tạo pháo dã chiến. Chỉ sau khi học được kỹ thuật này, quân đội Minh mới chính thức có một doanh thần cơ với tư cách là một đơn vị pháo độc lập trong quân đội, có khả năng cơ động cùng quân đội.

  Lê Quý Đôn trong Vân đài loại ngữ (t.I, tr. 299) có dẫn một đoạn trong phần Binh chí của Minh sử cho phép ta hình dung được kỹ thuật mà Hồ Nguyên Trừng đã dạy quân Minh: “Đến đời vua Thành Tổ nhà Minh, đánh được Giao Chỉ, được phép đúc thần cơ sang pháo. Lúc bấy giờ mới đặt ra đội súng thần cơ. Phép chế súng ấy dùng đồng đỏ, một nửa là đồng còn sống, một nửa là đồng đã nấu lẫn lộn. Dùng sắt mà đúc, thì sắt Phúc Kiến mềm tốt hơn, thứ nhì đến sắt Tây Vực. Súng có nhiều cỡ, lớn nhỏ không đều. Lớn thì kéo bằng xe, nhỏ thì dùng giá gỗ, hay vác lên vai. Súng lớn lợi cho việc chiếm giữ, súng nhỏ lợi cho việc chiến đấu, tùy tiện mà dùng. Súng (ấy) là thứ binh khí cần cho việc hành quân”.

Tầm cỡ của sáng chế này có thể so sánh với những cải tiến của anh em nhà Buy-rô (Buraux) trong các xưởng đúc pháo của Pháp thế kỷ XV mà chính nhờ những cải tiến đó, với Sác-lơ VIII, châu Âu bước vào thời kỳ pháo dã chiến tham gia mọi trận đánh trên bộ. Hồ Nguyên Trừng có thể được coi như một Buy-rô của phương Đông trong lĩnh vực pháo dã chiến. Điều đáng chú ý là sáng chế của Hồ Nguyên Trừng ra đời trước anh em nhà Buy-rô hơn nửa thế kỷ.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 01 Tháng Ba, 2012, 07:28:16 pm
Nhờ đặc điểm gắn bó giữa quân thủy với quân bộ, nên pháo trên thuyền ở nước ta đã thực sự là pháo dã chiến cho quân bộ. Hoặc nó là phương tiện vận chuyển pháo, hoặc trực tiếp là dàn pháo cơ động, men theo các dòng nước chi chít trong nội địa bắn chi viện cho quân bộ trên bờ. Nhưng với những viên đạn đặc của thế kỷ XVI, pháo thuyền chỉ tiện dụng cho đối thủy nhằm pháo mạn thuyền đối phương. Năm Quang Hưng (1578-1599) thuyền chiến của quân Lê do Nghĩa Lộc hầu chỉ huy đã dùng pháo đạn đặc bắn chìm nhiều thuyền của quân Mạc (Binh thư yếu lược, tr. 333). Sang thế kỷ XVII, với sự phổ biến của các loại đạn nổ, hiệu năng sát thương cao, pháo thuyền mới thực sự là nỗi kinh hoàng cho quân bộ.

Xung đột Trịnh – Nguyễn diễn ra chủ yếu trên một khúc miền Trung thuộc Bình Trị Thiên hiện nay. Rẻo đất hẹp liền biển này buộc quân thủy Trịnh phải tăng cường khả năng hải chiến của mình, trong đó chủ yếu là tăng khả năng đối hải bằng pháo thuyền. Tuy nhiên, lực lượng quân thủy của cả hai bên đều không đủ sức mở ra một mặt trận trên biển. Quân Trịnh với hàng ngàn chiếc thuyền các loại tiến về phía nam, nhưng không phải để vượt biển thọc sâu vào Thuận – Quảng như trước đây Lý Thường Kiệt và Lê Thánh Tôn đã làm. Quân thủy đó chỉ làm nhiệm vụ hộ tống và chuyên chở quân lương, vũ khí cho quân bộ mở các cuộc tiến công vào hệ thống chiến lũy rất kiên cố của chúa Nguyễn ở vùng Quảng Bình hiện nay. Hầu như không thấy một trận hải chiến nào đáng kể trong suốt 50 năm xung đột liên miên đó, trừ một số trận đụng độ giữa quân thủy Đàng Trong với hạm đội Hà Lan.

Cửa Nhật Lệ là nơi diễn ra nhiều trận đánh lớn giữa quân thủy Trịnh với quân thủy, bộ phòng thủ Nguyễn. Trong đó có những trận quân thủy Trịnh thất bại nặng nề, nhưng không phải là kết quả do pháo thuyền Nguyễn mang lại. Quân thủy Nguyễn chốt khá đông ở Nhật Lệ, chủ yếu để giữ không cho quân thủy Trịnh vượt biển đánh sâu vào đất Thuận – Quảng, nhưng quân thủy Trịnh dường như lại không dám làm việc đó. Quân thủy Nguyễn cũng có vài lần đánh ra vùng bắc Quảng Bình, Nghệ Tĩnh, nhưng cũng không lần nào đụng độ lớn với quân thủy Trịnh. Có thể nói, cả hai bên trong cuộc xung đột này đều ra sức chuẩn bị cho quân thủy, nhưng hầu như sự cố gắng đó chỉ tăng cường sức mạnh cho những cuộc đụng độ trên đất liền, chúng đã không được thi thố trên biển với nhau.

Những trận đối thủy đáng kể nhất diễn ra khoảng tháng 6 năm 1656, khi quân thủy Nguyễn tiến đánh quân thủy Trịnh ở cửa Nam Giới, cửa Đan Nhai thuộc Nghệ Tĩnh hiện nay. Trong những trận này, theo Đại Nam thực lục (tiền biên, I, tr. 92) có những trận đấu pháo thực sự giữa quân thủy hai bên và thắng lợi thuộc về quân thủy Nguyễn.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 01 Tháng Ba, 2012, 07:36:19 pm
Do số lượng pháo trên mỗi thuyền không nhiều, tốc độ bắn chậm, nên để tạo ra một hỏa lực cần thiết, quân thủy thời này thường phải dùng một số lượng đông pháo thuyền. Khi đối thủy trong sông, pháo thuyền thường dàn thành đội hình hàng ngang, nhiều hàng xen kẽ nhau. Đinh Tích Nhưỡng và Hoàng Viết Tuyển, hai tướng chuyên thủy chiến rong quân Lê – Trịnh đã từng bày trận như vậy để chống lại quân thủy Tây Sơn. Lê quý kỷ sự (tr. 89) thuật lại trận đánh của quân thủy Hoàng Viết Tuyển với quân thủy Tây Sơn do Quỳnh Ngọc hầu chỉ huy năm 1788: “Tuyển chia thuyền biển làm mười hàng. Ở các mũi thuyền đều đặt pháo lớn. Hễ gặp địch thì hàng thuyền cứ theo thứ tự lần lượt bắn. Tiếng súng liên miên không ngớt, đạn bay đầy sông, bắn vỡ luôn vài chục thuyền chiến giặc”.

Trong cả hai cuộc xung đột lớn nói trên, thấy có nhiều hình thức đề phòng quân thủy trên sông, trong lục địa cũng như cửa sông ngoài biển. Tiếp tục truyền thống xưa, hình thức phổ biến nhất vẫn là đóng cọc lòng sông.

  Hổ trướng khu cơ (tr. 329) coi đây là một trong chín “kỳ phương thủy chiến”. “Nên sai ba quân chuẩn bị cột gỗ độ 200 cái cũng được, đem đến cửa sông cắm xuống nước, xa gần so le, dài ngắn không đều, hình như răng chó cài nhau, để ngầm dưới mặt nước không để cho lộ thấy. Thuyền giặc đến tất bị cọc gỗ ngăn trở, dù thuyền nhẹ, buồm gió tốt, ra sức mà chèo cũng không đi được một bước”.

Một hình thức cản thuyền giặc nữa là dùng xích sắt chắn ngang lòng sông. Hình thức này đã được binh thư xưa nhắc đến, nhưng phải đến thời này mới thấy xuất hiện phổ biến và mang lại hiệu quả cụ thể. Dùng xích sắt có điểm thuận lợi hơn dùng cọc ở chỗ triển khai và thu dọn chiến trường đều khá nhanh gọn, thích hợp với phòng thủ ở những cửa sông có liên quan nhiều đến giao thông vận tải. Khi vô sự, có thể thu lại, khi hữu sự lại giăng ra rất nhanh. Cửa Nhật Lệ là nơi quân Nguyễn thường dùng hình thức phòng thủ này nhất và năm 1627, ngay cuộc đụng độ lớn đầu tiên với quân Trịnh, hệ thống xích sắt có gài móc, chông sắt ở đây đã làm cho quân thủy Trịnh tổn thất nặng220.

Ngoài hai hình thức phổ biến trên, thỉnh thoảng còn thấy xuất hiện một phương sách cản thuyền đối phương là dùng rồng cỏ (thảo long). Phương sách này khá đơn giản. Người ta dùng tre, gai, rơm, cơ khô… kết thành một bè cỏ lớn thả ngang sông, neo cho đậu một chỗ. Khi thuyền đối phương tới, có thể phóng hỏa làm thành hàng rào lửa trên mặt sông.

  Hổ trướng khu cơ (tr. 333) dẫn bài Kiêm Trai cho chúng ta một trận mẫu về cách dùng rộng cỏ này: “Năm Quang Hưng (1578 – 1599)… Nguyễn Hoàng đi đánh giặc Mạc ở Hải Dương, sai ông (tức Nghĩa Lộc hầu) đem ba chiến thuyền lớn đi tiên phong. Học Mạc đem vài nghìn hải phỉ đi trên vài trăm chiếc thuyền nhỏ xông lại khiêu chiến. Bạn ông là Đào Duy Từ bảo ông đem ngay tre nứa, rơm rạ đóng làm bè to, thả ngang giữa sông, rồi thuyền ta đem súng lớn bắn theo. Thuyền giặc tới, bị bè đằng trước ngăn trở, không xông lại được, bị súng của ta bắn chìm, thua chạy.

Hình thức tiến bộ và hiện đại nhất thời đó là dùng thủy lôi, cách chế cũng được giới thiệu chi tiết trong Hổ trướng khu cơ (tr. 331). Loại vũ khí này cũng có thấy trong Vũ bị chế thắng chí, tuy nhiên thực tế ít khi được sử dụng, có lẽ do cách chế tạo và sử dụng khá phức tạp, tốn kém, khó đảm bảo an toàn, trong khi đó hiệu quả lại không phải là cao.
-------------------------
220 A. de Rhohes, Sách đã dẫn.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 01 Tháng Ba, 2012, 07:41:48 pm
*

Trong tình hình chung của phương Đông dương thời, phải thừa nhận quân thủy Trịnh, Nguyễn ở thế kỷ XVII – XVIII là những lực lượng quân thủy mạnh, it ra cũng là về trang bị, tổ chức biên chế. Sức mạnh đó đôi lúc bộc lộ rõ nét trong những trận hải chiến với tàu thuyền nước ngoài, nhằm bảo vệ chủ quyền vùng biển, ví như những trận thắng tàu chiến Hà Lan của quân thủy Đàng Trong. Trong một tờ biểu gửi vua Minh năm 1596, chúa Trịnh Tùng đã từng mạnh dạn đề xuất việc đem quân thủy Đàng Ngoài giúp quân Minh đánh Nhật Bản, vua Minh đã không dám chấp nhận đề nghị đó221. Nhưng về cơ bản thì những cố gắng trong trang bị, tổ chức không bù lại được những hạn chế lớn xuất phát từ mục đích chính trị phản động của bộ máy nhà nước phong kiến đã tổ chức và sử dụng các lực lượng quân thủy đó, cũng như tầm nhìn thiển cận, cổ lỗ của các tướng lĩnh chỉ huy quân sự đương thời.

Người lính thủy trong quân đội Trịnh, Nguyễn bị cưỡng bức phải đi đánh nhau, thực sự là người lính đánh thuê, đổi sức lực, xương máu lấy bổng lộc và cả sự đối xử tàn tệ của bọn tướng chỉ huy. Tình cảnh của họ thật đúng với câu ca dao phổ biến đương thời:

Tùng tùng trống đánh ngũ liên
Bước chân xuống thuyền, nước mắt như mưa.

Chính vì vậy, có những trường hợp họ hoàn toàn không có ý chí chiến đấu, thậm chí mang tâm trạng phản kháng. Toàn thư (IV, tr. 166) có chép chi tiết khi quân thủy Lê do Hoành quận công chống nhau với quân Mạc “thấy quân lính nhiều kẻ trốn đi, bèn làm vòng sắt khóa chân quân lính vào thuyền”.

Hàng ngũ tướng lĩnh thì bị lôi cuốn bởi những phần thưởng vật chất hoặc danh vọng hão huyền, tranh giành, kèn cựa lẫn nhau. Tư tưởng chính trị thì cũng đồi bại như chính hệ tư tưởng của triều đình phong kiến mà họ đang phục vụ. Tư tưởng quân sự thì bảo thủ, rập theo các tổng kết cổ lỗ của binh thư Trung Quốc, lại tự ti trước những mới lạ của kỹ thuật quân sự phương Tây. Đây là thời kỳ chiến tranh nhiều nhất trong lịch sử nước ta. Nhưng công trình binh thư nổi tiếng nhất thời này là Hổ trướng khu cơ thì thực chất chỉ là “phát huy tinh túy của tướng môn, lập ra các phép hỏa cầu, yên cầu và phép thương lửa dưới đất, tên lửa chứa thuốc độc…” tức đơn thuần là sách về binh khí và trận đồ, chứ không hề có những tư tưởng quân sự tầm cỡ chiến lược như Trần Quốc Tuấn.

Quân thủy đó, ở cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài, cũng như toàn thể quân đội và bộ máy chính quyền Trịnh, Nguyễn, đều sẽ tan tác nhanh chóng trước “cơn lốc Tây Sơn”. Những thuyền chiến, những cỗ pháo và truyền thống đánh thủy của dân tộc ta tích lũy hàng ngàn năm nay vẫn còn đó, nhưng được trao vào tay những người chủ mới – những dân chài, nông dân thạo nghề sông nước, vùng lên giành quyền sống cho mình, được dẫn dắt, tổ chức của những tướng lĩnh nông dân có đầu óc táo bạo và tài năng quân sự như Nguyễn Huệ, đã biến thành một quân thủy hùng mạnh, thực sự tạo ra một chuyển biến nhảy vọt trong lịch sử quân thủy nước ta.
------------------------
221 Lam Giang, Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa giữa Đông Hải, trong Sử địa, số 29, năm 1975. tr. 48.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 11 Tháng Ba, 2012, 01:10:29 pm
Chương mười

QUÂN THỦY TÂY SƠN
VÀ BƯỚC CHUYỂN BIẾN NHẢY VỌT

Trong lịch sử Việt Nam, thế kỷ XVIII được đánh dấu bằng cơn bão táp liên tục của khởi nghĩa nông dân, mà đỉnh cao nhất là phong trào Tây Sơn. Bắt đầu từ một cuộc khởi nghĩa ở miền núi tỉnh Quy Nhơn, mùa xuân năm 1771, nghĩa quân đã nhanh chóng tràn xuống dải đồng bằng hẹp ven biển. Với khẩu hiệu “lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo”, ngọn cờ đỏ của nghĩa quân đã nhanh chóng tập hợp được đông đảo nông dân và các tầng lớp dân nghèo, chĩa mũi dùi vào bọn quan lại mọt dân giàu có của chính quyền chúa Nguyễn Đàng Trong. Cuộc khởi nghĩa lan rộng cực kì nhanh, cả về phạm vi hoạt động cũng như số lượng người tham gia. Kể từ đó cho đến khi Nguyễn Huệ – linh hồn thực sự của toàn bộ xu hướng chính trị, quân sự, kinh tế và văn hóa của phong trào – từ trần, cuộc khởi nghĩa đã di động và phát triển như một cơn lốc. Trong một thời gian khoảng hai mươi năm, phong trào Tây Sơn đã làm nên hàng loạt kì tích: đánh đổ bộ máy thống trị của chúa Nguyễn ở Đàng Trong và của tập đoàn phong kiến Lê – Trịnh ở Đàng Ngoài, đánh tan năm vạn quân Xiêm và 30 vạn quân Thanh xâm lược, thống nhất toàn bộ đất nước, tạo ra những tiền đề đưa đất nước tiếp tục phát triển, chuẩn bị đối phó với những mưu đồ nhòm ngó xâm lược của tư bản phương Tây.

Nằm trong quy luật chung của nghệ thuật chiến tranh cổ trung đại nước ta, đồng thời xuất phát từ những nhu cầu phát triển tất yếu của phong trào, ngay từ đầu vấn đề quân thủy đã được đặt ra và ngày càng chiếm vị trí hết sức quan trọng trong các hoạt động quân sự của nghĩa quân. Bám sát nhu cầu phát triển của phong trào, biết kế thừa các thành tựu tổ chức trang bị thủy quân và nghệ thuật thủy chiến của cả quân thủy Trịnh, Nguyễn lẫn phương Tây, thậm chí của cả “cướp biển”, Nguyễn Huệ đã xây dựng cho phong trào một lực lượng quân thủy hùng hậu và mạnh chưa từng có trong lịch sử trước đó. Mang theo sức mạnh của đội quân vì nghĩa lớn, lại được tổ chức, chỉ huy bởi một tài năng quân sự kiệt xuất, quân thủy Tây Sơn lại viết tiếp trên sông biển nước ta những dòng oanh liệt nhất trong lịch sử thống nhất và giữ gìn độc lập dân tộc.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 11 Tháng Ba, 2012, 01:13:38 pm
*

Có một điểm khác với khởi nghĩa Lam Sơn trước đây, khởi nghĩa Tây Sơn nổ ra ở miền rừng núi, nhưng rất nhanh chóng tràn xuống đồng bằng, và do đặc điểm địa lý miền đất khởi đầu của phong trào, khi xuống đồng bằng là tiếp với biển. Vì vậy, nhu cầu ra đời một lực lượng quân thủy đã được đặt ra ngay từ thời kì đầu của cuộc khởi nghĩa. Nằm trong quy luật chung của nghệ thuật quân sự và điều kiện địa lý nước ta, sự ra đời của quân thủy Tây Sơn là một điều tất yếu. Trong suốt quá trình phát triển phong trào, nghĩa quân luôn luôn phải đương đầu với những kẻ thù có lực lượng quân thủy mạnh. Đồng thời, xu hướng chung của lực lượng vũ trang ở các nước phương Đông lúc này đều chú trọng phát triển quân thủy để bảo vệ biên giới bờ biển. Do đó, quân thủy Tây Sơn ra đời đã không ngừng vươn lên để đáp ứng những đòi hỏi mà sứ mạng lịch sử của phong trào đã đặt ra cho nó.

Trong những năm đầu khởi nghĩa (1771-1775), quân thủy Tây Sơn hình thành trên cơ sở những thuyền buôn của thương nhân Hoa kiều trong liên minh đánh Nguyễn, chủ yếu làm nhiệm vụ vận chuyển. Sau khi đã chiếm được Quy Nhơn, Phú Yên, Quảng Ngãi (1773) và Quảng Nam (1775), quân thủy Tây Sơn đã có một bước phát triển dài nhò những thuyền chiến và vũ khí mới thu được của quân thủy Nguyễn tại các vùng nầy. Tuy nhiên, theo lời kể chi tiết của một cha cố người Tây Ban Nha là Đ-ê-gô đơ Giu-mi-la (Diégo de Jumilla), lúc này đang có mặt tại đó, thì lực lượng nói trên chưa đủ sức đánh trả các cuộc hành quân của quân thủy Nguyễn, mà ngoài việc vận chuyển binh lương, chỉ mới thực hiện được những cuộc tuần tra trên biển. Có một khoảng thời gian từ 1773 – 1775, địa bàn hoạt động của nghĩa quân chia quân Nguyễn ra làm hai phần tách rời nhau. Vì vậy, việc kiểm soát mối liên lạc giữa hia vùng đó có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của phong trào. Quân thủy Tây Sơn tuy mới hình thành đã đảm nhiệm rất tốt nhiệm vụ đó. Giu-min-la có kể việc quân thủy Tây Sơn kiểm soát một tàu buôn Bò Đào Nha. Trước đó, ông cũng từng nhận xét: “Bọn họ (Tây Sơn – T.G.) ngăn cản không để nhà vua (chúa Nguyễn – T.G.) liên lạc với các tỉnh khác ở giữa Phú Yên và Raygon (vùng đồng bằng sông Cửu Long hiện nay – T.G.). Từ các tỉnh ấy ra tới triều đình (Phú Xuân – T.G.), người ta không thể nào lưu thông đường bộ cũng như đường biển”322.

Thời kì tiếp theo, từ 1776 – 1785, khi quân Nguyễn phải co lại ở Gia Định, quân Tây Sơn đứng vững trên địa bàn của mình (khu vực từ Quảng Nam đến Phú Yên), tạm hòa hoãn với quân Trịnh ở Thuận Hóa, ra sức xây dựng một đội thuyền chiến mạnh làm lực lượng chủ yếu cho năm lần tiến công giải phóng Gia Định. Thời kỳ này, quân thủy Tây Sơn lại tiến một bước dài nữa so với thời kỳ trước. Giờ đây, nó không chỉ đảm nhiệm những cuộc tuần tra trên biển nữa, mà trở thành lực lượng tiến công, với đội thuyền chiến đủ sức đánh tan gần 500 thuyền chiến của Nguyễn Ánh (trong đó có cả chiến hạm châu Âu do sĩ quan và thủy thủ Pháp, Bồ Đào Nha điều khiển) năm 1782, và 300 thuyền chiến Xiêm xâm lược năm 1785. Đây là thời kỳ phát triển rất căn bản của quân thủy Tây Sơn. Lực lượng thuyền chiến của Tây Sơn một phần do nghĩa quân mới đóng thêm, một phần quan trọng vẫn tiếp tục được bổ sung bằng thuyền chiến Nguyễn sau mỗi lần thắng lớn ở Gia Định.
-----------------------------
322 Lorenzo Pérez, Sách đã dẫn. Tham khảo bản dịch của Trương Bá Phát trong Sử địa, số 21 Sài Gòn, 1971, tr. 44.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 11 Tháng Ba, 2012, 01:17:29 pm
Đây cũng là thời kỳ trực tiếp xuất hiện những yếu tố mới trên chiến trường sông nước. Đó là việc Nguyễn Ánh bán rẻ quyền lợi dân tộc để đổi lấy thuyền chiến, sĩ quan, thủy thủ phương Tây hoặc cả một binh đoàn quân thủy Xiêm đem về đối chọi với quân thủy Tây Sơn. Tình hình đó đòi hỏi quân thủy Tây Sơn phải có sự phát triển mới cả trong trang bị lẫn tổ chức. Bức thư của cha cố Gi-ne-xta (Ginestar) viết năm 1784, cung cấp một vài bằng chứng về việc nghĩa quân rất quan tâm đến việc tìm hiểu và liên hệ vua vũ khí, nguyên liệu quân dụng của phương Tây để trang bị cho quân đội323. Đây cũng là thời kỳ nghĩa quân mở những xưởng đúc, rèn vũ khí rất lớn mà dấu vết hiện nay còn có thể thấy ở khu vực thành Chà Bàn hoặc thành Hoàng Đế324. Hỏa hổ được sản xuất nhiều từ những xưởng đó và trang bị phổ biến cho cả quân thủy lẫn quân bộ. Thành tựu phát triển quân thủy thời này chẳng những đã đem lại thắng lợi cho các chiến dịch giải phóng Gia Định, mà còn là lực lượng vật chất chủ yếu để quét sạch băng quân Trịnh từ Phú Xuân cho đến Thăng Long. Trong trận đối thủy ở cửa Luộc, trước mắt quân Trịnh, quân thủy Tây Sơn xuất hiện với những chiến hải thuyền cực lớn, trên đó mang loại pháo mà dường như trong cả quá trình xung đột với Đàng Trong chúng chưa từng thấy.

Tuy nhiên, đến lúc này quân thủy Tây Sơn vẫn chưa có những thay đổi về chất. Về cơ bản, nó vẫn chỉ là một binh chủng – dù là binh chủng quan trọng bậc nhất, trong quân đội Tây Sơn.

Thời kỳ tiếp theo (1786 – 1789) là thời kỳ mở rộng phạm vi hoạt động của quân thủy Tây Sơn ra chiến trường sông biển phía bắc. Với việc làm sụp đổ tập đoàn Lê – Trịnh, quân thủy Tây Sơn dần dần tiếp thu toàn bộ cơ sở vật chất còn lại của quân thủy Trịnh, tiến một bước về số lượng thuyền chiến. Tiếp nhận quân thủy Trịnh cũng đồng thời tiếp nhận cả truyền thống hoạt động trong sông có kết hợp thủy bộ, nhập với truyền thống hoạt động chủ yếu ở ven biển của quân thủy Nguyễn trước đây, tạo thành quân thủy phát triển tương đối toàn diên, chuẩn bị cho bước nhảy vọt trong giai đoạn tiếp theo.

Sau năm 1789 là một thời phát triển mạnh mẽ của quân thủy Tây Sơn mà những tích lũy về lượng trong suốt gần hai mươi năm phát triển phong trào đã đến lúc có điều kiện vật chất để chín muồi, cho phép quân thủy Tây Sơn thực hiện những chuyển biến về chất, cả trong trang bị lẫn tổ chức. Đó là thời kỳ sau khi giành được thắng lợi oanh liệt nhất trong lịch sử phát triển của mình – đánh thắng 30 vạn quân Thanh xâm lược, nghĩa quân Tây Sơn xác lập quyền làm chủ thực sự trên toàn cõi nước ta, thời kỳ mà Nguyễn Huệ trở thành linh hồn có đầy đủ quyền lực của cả phong trào. Đó cũng là thời kỳ kẻ thù giai cấp, kẻ thù dân tộc, sau những thất bại nhục nhã nhất, đang ra sức câu kết với nhau, trong đó nguy hiểm nhất là sự câu kết của bè lũ Nguyễn Ánh với tư bản Pháp ở phía nam, đặt chính quyền Tây Sơn, quân đội Tây Sơn đứng trước những thử thách gay go nhất, chỉ có thể tồn tại được bằng những nỗ lực vượt bậc của mình. Chuyển biến nhảy vọt trong quân thủy Tây Sơn đã diễn ra trên những tiền đề vật chất thuận lợi đó và cũng trong những đòi hỏi bức thiết đó.
--------------------------
323 Lorenzo Pérez, Sách đã dẫn.

324 Phan Huy Lê, Thành Hoàng Đế, trong Khảo cổ học số 4, 1977.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 11 Tháng Ba, 2012, 01:21:35 pm
Yếu tố có vai trò quyết định trong sự phát triển quân thủy, trong tình hình tiền đề vật chất và điều kiện kích thích đã chín muồi lúc đó, là đầu óc tổ chức táo bạo, tài tình của người lãnh đạo.

Trong lịch sử Việt Nam nói chung và lịch sử quân thủy nói riêng, sự xuất hiện của thiên tài quân sự Nguyễn Huệ thật đúng lúc. Là người về căn bản sống ngoài những khuôn mẫu phong kiến cổ hủ, hẹp hòi đương thời, Nguyễn Huệ đã phát huy khả năng nhạy bén đặc biệt về mặt quân sự để tiếp thu rộng rãi tất cả những gì có lợi cho phong trào ở trong nước cũng như ngoài nước, ở cả phương Đông lẫn phương Tây, cả trong bộ máy nhà nước phong kiến chính thống lẫn trong dân gian, thậm chí cả những người dân ngoài vòng pháp luật lênh đênh trên biển, cả trong hiện tại cực kỳ sội động của phương Đông thế kỷ XVIII lẫn trong quá trình oanh liệt của lịch sử dân tộc, để sáng tạo và không ngừng sáng tạo.

Bản tính sáng tạo, không một chút tự ty của Nguyễn Huệ có tác động rất lớn đến khuynh hướng phát triển của quân thủy.

  Với quân Thanh, ngay cả khi chúng đang hùng hổ tiến vào nước ta, trước sự sợ hãi của nhiều người, Nguyễn Huệ cười mà nói: “Chó Ngô thì là cái thá gì, chúng đến đây chỉ để tự đi vào chỗ chết. Việc gì mà phải cuống quýt làm vậy?”325. Và, khi phải lo đến việc quân Thanh trả thù vì bại trận, ông nói: “Chỉ cần chờ mười năm nữa, cho ta được yên ổn mà nuôi dưỡng lực lượng bấy giờ nước giàu mạnh, thì ta sợ gì chúng?”326. Còn với quân đội phương Tây bấy giờ đang là con ngáo ộp trước tất cả các triều đình phong kiến ở phương Đông, Nguyễn Huệ cũng nhìn nhận chúng một cách hết sức bình tĩnh, tự tin: “Hạng người đó thì có tài cán gì? Bọn chúng tất cả đều mắt xanh như mắt rắn và các người chỉ được xem chúng như những xác chết bị sóng biển đánh dạt vào. Có gì đáng lạ để nói với ta về những chiếc tàu đồng và khinh khí cầu của bọn chúng!”327. Thái độ đó khiến Nguyễn Huệ khác căn bản với tất cả các nhà tổ chức quân sự dưới thời Trịnh, Nguyễn.

Với Nguyễn Huệ, thực tiễn của hai mươi năm hoạt động đã chỉ rõ quân thủy là một lực lượng có ý nghĩa chiến lược. Chính quân thủy đã mang lại cho ông những thắng lợi oanh liệt trong năm lần giải phóng Gia Định và chỉ có quân thủy mới có thể truy quét tận gốc mầm mống phản kháng của phong kiến Nguyễn trên các hòn đảo nhỏ ngoài khơi. Quân thủy cũng đã giúp ông đè bẹp sức phản kháng của quân Trịnh, lập nên kỳ công thống nhất đất nước mà qua hai trăm năm, không một nhà chỉ huy quân sự nào dám mơ ước tới. Và giờ đây, nhiệm vụ vô cùng lớn lao tiếp tục đặt ra cho quân thủy Tây Sơn là: quản lý cả một vùng biển dài, rộng, đồng thời tiêu diệt đội quân phản động của Nguyễn Ánh đang được bọn tư bản phương Tây xúm vào vực dậy – một đội quân chủ yếu dựa vào sức mạnh của quân thủy, với những tàu chiến kiểu Âu và cả đội ngũ lính đánh thuê người Âu.
-------------------------
325 Lê quý kỷ sự, tr. 120.

326 Hoàng Lê nhất thống chí, tr. 363.

327 Lịch sử Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nôi, 1971, tr. 367.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 11 Tháng Ba, 2012, 01:27:16 pm
Dường như lúc này đang diễn ra một cuộc “chạy đua vũ trang” ngấm ngầm nhưng rất gấp gáp giữa một bên là quân đội phản động của Nguyễn Ánh với sự giúp đỡ của tư bản Pháp, Bồ Đào Nha và phong kiến Xiêm, một bên là quân đội Tây Sơn với tất cả tiềm năng vốn có của dân tộc đang được tổ chức, tập hợp lại sự lãnh đạo thiên tài của Nguyễn Huệ. Trong cuộc chạy đua đó, cả hai bên đều gặp gỡ nhau ở một điểm, đó là tập trung tăng cường vượt bậc sức mạnh của quân thủy trong đó hình thành rất rõ nét khuynh hướng quân thủy biển: hải quân.

Nhờ sự giúp đỡ của tư bản Pháp và tầng lớp đại địa chủ Gia Định, Nguyễn Ánh đã tập hợp trong tay một đội ngũ tướng lĩnh mang ý chí phục thì giai cấp điên cuồng và nhanh chóng xây dựng được một lực lượng quân thủy có trang bị mạnh.

Ngay từ năm 1789, lợi dụng bất hòa của Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ với việc Nguyễn Huệ đang bận tập trung chống Thanh ở miền Bắc, Nguyễn Ánh đã chiếm lại Gia Định. Lúc đó, trong hàng ngũ tướng lính của Nguyễn Ánh đã có sáu người Pháp chuyên huấn luyện binh lính. Sau đó chừng vài tháng, Pháp cung cấp thêm cho Nguyễn Ánh ba tàu kiểu châu Âu, 20 sĩ quan, 500 lính. Đến năm 1792, trong quân thủy Nguyễn Ánh đã có hàng trăm thuyền chiến, trong đó có hơn chục tàu vũ trang kiểu Âu328. Nhưng cho dù như vậy, lực lượng của Nguyễn Ánh cũng không thấm vào đâu so với sức mạnh quân sự mà Nguyễn Huệ đang từng bước tăng cường cho nghĩa quân Tây Sơn. Trong thư của một người châu Âu tên là Xê-ra (Sérard) đề ngày 2-5-1791, lúc đó đang sống trong miền đất do Nguyễn Huệ trực tiếp quản lý, có nhận xét: “Thật khó mà cựu hoàng Nam Hà (tức Nguyễn Ánh – T.G.) đánh bại nổi kẻ địch của ông”329.

Thật vậy, ngay sau khi quét sạch quân Thanh khỏi nước ta, Hoàng đế Quang Trung bắt tay ngay vào việc thực hiện ước mơ của mình: chỉ cần mười năm được yên ổn mà nuôi dưỡng lực lượng. Có rất nhiều sự kiện chứng tỏ tỏ Nguyễn Huệ dành ưu tiên đặc biệt cho sự phát triển quân thủy. Đó là một trong những hoạt động trọng tâm nhất của “mười năm nuôi dưỡng lực lượng” mà Nguyễn Huệ dự định, không phải chỉ để đối phó với quân Thanh mà trước hết để “đập tan bọn giặc cựu Nguyễn (chỉ Nguyễn Ánh – T.G.) dễ như đập một cành củi khô, một thanh gỗ mục”.

Để làm điều đó, trong điều kiện rất khó khăn của nước ta đương thời, Tây Sơn đã tập trung làm bốn việc chính:

1) Tăng cường hệ thống bố phòng các cửa biển và hải càng; 2) đóng thêm thuyền chiến lớn và các biện pháp nhằm tăng sức chiến đấu của thuyền chiến; 3) Sử dụng “cướp biển”; 4) khai thác kỹ thuật quân sự phương Tây.
----------------------
328 Lorenzo Pérez, Sách đã dẫn.

329 Arch, M.E. Tonkin 692, tr. 279. Bản dịch của Đặng Phương Nghi, trong Sử địa, số 13, tr. 150.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 11 Tháng Ba, 2012, 01:33:48 pm
Ngay từ khi mới xác lập quyền làm chủ ở vùng Quy Nhơn, Quảng Nam trong những năm 1773 – 1776, vấn đề bố phòng, tuần tra trên biển đã được nghĩa quân chú trọng đặc biệt. Cha cố Giu-min-la đã cho biết về khả năng kiểm soát trên biển của nghĩa quân, ông còn viết: “Những người nổi dậy làm chủ cả tỉnh Quy Nhơn. Say sưa bởi những chiến công ấy, họ bổ nhiệm quan lại cho hai tỉnh ấy (Quy Nhơn và Phú Yên – T.G) và đắp pháo lũy cho các hải cảng330.

Việc tuần tra trên biển được giao cho những nhóm “cướp biển” tự nguyện tham gia phong trào. Đội Hoàng Sa lại được phục hồi để phục vụ chính quyền nông dân.

  Một tờ sai năm 1786 (dưới thời Tây Sơn) cho biết nhà Tây Sơn tiếp tục quản lý và sử dụng đội Hoàng Sa (Sách trắng của Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quần đào Hoàng Sa, quần đào Trường Sa: lãnh thổ Việt Nam). Năm 1791, Ba-râu (J.Barrow) đến Đà Nẵng tận mắt gặp đội Hoàng Sa của Tây Sơn (xem J. Barrow: đã dẫn. Lam Giang, trong Sử địa, số 29, 1975, tr. 53).

Tây Sơn đã làm chủ toàn bộ đất nước, ý thức về chủ quyền vùng biển đặt ra bức thiết hơn. Đặc biệt, khi tàn quân Nguyễn Ánh được tập hợp lại và có xu hướng ngày càng bành trướng lên phía bắc, chính quyền Tây Sơn càng hết sức chú trọng phòng thủ bờ biển.

Sử dụng cả lực lượng “cướp biển”, Tây Sơn đã bổ sung thêm những đơn vị “du thuyền” có nhiệm vụ tuần tra, chặn đánh thuyền lương, thọc sâu vào vùng biển do Nguyễn Ánh quản lý, thậm chí khi có thời cơ, đột nhập lên hậu cứ của chúng, đánh phá các đồn binh, kho lương. Các cảng thương mại cũng như các cảng biển được bố phòng nghiêm ngặt. Tại đây, nhiều pháo đài được thiết lập bảo vệ cửa cảng. Thuyền chiến các loại dàn trong cảng làm thành những thủy trại nổi trên mặt nước. Khi chiến sự xảy ra, Tây Sơn còn dùng xích sắt, đóng cọc và thả “rồng cỏ” cản địch ở cửa cảng. Xung quanh còn chốt giữ nhiều đơn vị “lính thủy đánh bộ” sẵn sàng chiến đấu bảo vệ cảng. Có thể nói, dưới thời Tây Sơn, mỗi cảng biển là một căn cứ hải quân lớn. Đây là hiện tượng hiếm thấy trong quân thủy Trịnh, Nguyễn trước đây. Điều đó có ý nghĩa rất lớn trong việc hình thành một quân chủng hải quân độc lập.

  Mô tả của Giu-min-la (Jumilla) và Ba-ri-dy (Barizy) về hoạt động của quân Tây Sơn chống lại hành quân Nguyễn Ánh ở các cảng Thị Nại (1792 và 1801), Tư Dung (1081) cho thấy khá chi tiết bố phòng của quân Tây Sơn trên một cảng biển. Trong đó, pháo trên các đồn bảo cửa cảng, thuyền chiến bố trí trong cảng và hệ thống chướng ngại cản thuyền giặc là ba yếu tố liên kết chặt chẽ, tạo thành một hệ thống bố phòng hoàn chỉnh (Xem Lorenzo Pérez, đã dẫn, và Arch M.E. Coch, vol.801, tr. 868 – 870 và 952 – 954, trong Sử địa, số 21, tr. 98, 166, 177).

  Nói về bố phòng ở cảng Thị Nại năm 1801, Đại Nam thực lục, t. II (tr. 378) cho biết: “… Dùng hai chiếc thuyền đại hiệu Định Quốc và hơn trăm chiến thuyền chặn ngang cửa biển, lại dựng hai bảo ở bãi Nhạn Châu bên tả và ở núi Tam Tòa bên hữu cửa biển, đặt nhiều súng lớn, dựa thế cao, chẹn chỗ hiểm để chống lại quân ta (tức quân Nguyễn)”.

  Đại Nam nhất thống chí, t. 1, tr. 155 cho biết, ở Cửa Eo năm 1801, hải quân Tây Sơn đã sử dụng “rồng cỏ” chặn thuyền chiến Nguyễn ở cửa cảng. Ba-ri-dy trong tài liệu đã dẫn cho biết khi đánh vào Phú Xuân, nhiều thuyền chiến Nguyễn đã bị mắc cạn vì cọc gỗ đóng chặn ở cửa sông.

--------------------------
330 Lorenzo Pérez, Sách đã dẫn.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 11 Tháng Ba, 2012, 01:38:21 pm
Hoạt động có nhiều ý nghĩa nhất trong việc phát triển quân thủy của Tây Sơn là tổ chức các xưởng đóng thuyền chiến lớn và thực hiện các biện pháp rất tích cực trong trang bị, tổ chức quân thủy.

Những xưởng thuyền chiến đầu tiên của Tây Sơn đã ra đời từ những năm 1776 – 1785. Nhưng phải nói, chỉ từ năm 1789, Tây Sơn mới có những bước nhảy vọt trong lĩnh vực này. Ngay từ giữa năm 1789, tức là khi vừa thu xếp xong tình hình Bắc Hà sau cuộc xâm lược của nhà Thanh, Nguyễn Huệ đã bắt tay ngay vào việc đóng thuyền chiến đánh Nguyễn Ánh. Theo Đại Nam thực lục, t. II, tr. 97), lúc ấy, Nguyễn Ánh tưởng Nguyễn Huệ còn bận ở Bắc Hà, đang chuẩn bị lợi dụng gió mùa đánh ra Bắc, nhưng “nghe tin “giặc” Tây Sơn Nguyễn Văn Huệ ở Thuận Hóa đóng nhiều chiến hạm, mưu đánh phương nam, lại không cử binh nữa”. Năm 1791 và 1792, công việc này càng được xúc tiến mạnh mẽ hơn để chuẩn bị cho kế hoạch tiến công toàn diện, triệt để của Nguyễn Huệ vào Gia Định. Một đoạn trong thư của Xê-ra (Sérard) đề ngày 17-7-1791, tại Bố Chính (tức Quảng Bình hiện nay), cho ta biết một chi tiết nhỏ về sự chuẩn bị đó: “Ông (tức Nguyễn Huệ) ra lệnh đóng không biết mấy trăm ghe sai hoặc thuyền chiến. Riêng ở huyện Bố Chính, nơi tôi (tức Xê-ra) cư ngụy, thì từ 15 ngày nay đã phải đóng hơn một trăm ghe… Số ván gỗ cung cấp cho việc này là 2.500 tấm, mỗi tấm phải dài từ 30 đến 35 coudées và dày vài pouces331, nếu phải mua thì mỗi tấm giá 15 quan. Ngoài ván gỗ, còn phải cung cấp các thuyền cụ và tất cả phải hoàn tất trong ba tháng”332.

Theo lời đề nghị của Nguyễn Huệ năm 1792, Nguyễn Nhạc cũng cho đóng thêm nhiều chiến hạm lớn ở cảng Thị Nại, cửa An Dụ… Những xưởng này cũng khá lớn. Đại Nam thực lục, (t. II, tr. 158, 174) cho biết: Chỉ riêng một xưởng Lệ Dương, khi quân Nguyễn vào đến nơi còn thấy 30 chiếc thuyền biển mới đóng, ngoài ra còn nhiều thuyền chiến, thuyền sai khác nữa.
-------------------------
331 Coudés và pouce là đơn vị đo lường cổ của Pháp. Coudés tính bằng một đoạn từ khuỷu tay đến hết đầu ngón tay giữa xỏe thẳng ra, ước khoảng 50 cm. Pouce là một phần mười hai của pied, tức khoảng 2,7 cm.

332 Arch, M.E. Tonkin, Vol. 629, p. 1460, trong Sử địa, số 13, tr. 172.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 11 Tháng Ba, 2012, 01:46:47 pm
Những xưởng thuyền nói trên đảm bảo tăng nhanh số lượng thuyền chiến của quân thủy Tây Sơn, nhưng chắc chắn cũng từ lúc này, chúng bắt đầu nhận một nhiệm vụ mới rất quan trọng, đó là đóng những chiến hạm cực lớn.

Như đã nói, để giữ được thành quả phong trào, trong tình hình Nguyễn Ánh được tư bản phương Tây xúm vào vực dậy trang bị những tàu chiến hiện đại của châu Âu, với ưu thế cơ bản là có nhiều pháo, thì quân thủy Tây Sơn, với tư cách là một quân chủng độc lập trên biển, cũng phải tự trang bị cho mình những vũ khí có đủ hiệu quả đè bẹp đối phương. Lịch sử đã chứng minh thắng lợi hơn hai mươi năm đấu tranh trước đó của nghĩa quân không phải là kết quả của sự hơn hẳn quân thủ về vũ khí. Nhưng chính lịch sử cũng chứng minh rằng: được trang bị vũ khí càng nhiều, càng hiện đại bao nhiêu, thì với những sức mạnh tinh thần sẵn có, thắng lợi của nghĩa quân càng dễ dàng, nhanh chóng và to lớn hơn bấy nhiêu. Nguyễn Huệ, hơn ai hết, là người nhìn thấy đầy đủ giá trị của trang bị, vũ khí trong nghệ thuật quân sự của Nghĩa quân Tây Sơn. Sức mạnh của nghĩa quân Tây Sơn chính là sự phát huy đầy dủ sức mạnh con người kết hợp với sức mạnh vũ khí.

Nhờ những công trường thủ công và cuộc cách mạng công nghiệp cũng như nhu cầu bức thiết của chính sách thực dân, ở châu Âu, chiến hạm nhiều tầng pháo ra đời, trở thành vũ khí ghê gớm trên biển. Với kích thước lớn, khả năng hàng hải tốt, đặc biệt nhờ có nhiều pháo, tàu chiến châu Âu có thể hoạt động độc lập. Số lượng một hạm đội thường không nhiều.

  Ví dụ, hạm đội Anh, theo Ăng-ghen, từ năm 1677 đến 1744, không bao giờ vượt quá con số 200 chiếc tàu. Hạm đội Ban-tích của Nga vào khoảng cuối thế kỷ XVIII, lúc nhiều nhất cũng không quá 550 chiếc, trong đó chiến hạm nhiều tầng pháo thuộc loại tuần dương, khu trục chỉ có 94 chiếc.

Tuy nhiên, nếu tính theo số pháo thì chúng lại vượt xa ta. Ví dụ, một chiếc chiến hạm hạng nhất của Pháp có 120 khẩu pháo các loại, có thể bằng hỏa lực của 1/3 thuyền chiến Đàng Trong ở Phú Xuân. Lợi thế căn bản của loại tàu này so với tàu chiến phương Đông ở chỗ nó như một dàn pháo di động trên biển, đảm bảo hỏa lực liên tục không đứt đoạn bởi thời gian nạp đạn (tốc độ thao tác cho một phát đạn thời này nhanh nhất khoảng 10 phút). Chính vì vậy, đối với các triều đại phong kiến phương Đông, loại tàu này như một co ngáo ộp khủng khiếp. Đó cũng chính là cơ sở để tư bản phương Tây thực hiện chính sách pháo thuyền ở các nước phương Đông đương thời.

(http://img851.imageshack.us/img851/5460/phaothuyentk19.jpg)
Một pháo thuyền của Pháp thế kỷ 19


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 11 Tháng Ba, 2012, 01:50:15 pm
Chúng ta đã từng thấy Nguyễn Huệ lớn tiếng công kích thái đội run sợ trước con ngáo ộp phương Tây đó, nhưng không phải nhằm bài trừ một cách cực đoan. Ông tin rằng nó “không có gì đáng lạ”, bởi lẽ ông cũng sẽ có. Hiện nay, chúng ta chưa có cơ sở để nói một cách chắc chắn rằng Tây Sơn có đóng những chiến hạm kiểu châu Âu ấy hay không. Thực ra, điều này cũng không quan trọng lắm, vì trình độ thợ của nước ta, trong các xưởng thuyền của Nguyễn Ánh, chỉ sau một lầu dỡ tàu Tây ra lắp lại, là đã có thể sản xuất ra hàng loạt chiến hạm tương tự, thậm chí còn đẹp hơn333. Những người thợ đó đều là người Đàng Trong mà những xưởng thuyền đào tạo ra họ đều nằm trong phần đất do Tây Sơn quản lý.

  Ba-râu (John Barrow) là một người Anh sang nước ta trong những ngày Tây Sơn đóng tàu sôi nổi nhất (1792-1793) đã nhận xét: “Có một nghề đặc biệt trong các nghề mà xứ Đàng Trong hiện có thể tự hào, đó là nghề đóng thuyền đi biển… Thuyền biển của họ đi không nhanh, nhưng rất an toàn, trong được chia thành nhiều khoang. Loại này rất chắc, có thể va vào đá ngầm mà không chìm, vì nước chỉ vào được một khoang mà thôi. Hiện ở Anh đã bắt chước cách đó để đóng tàu”.

Khả năng Tây Sơn đóng được những chiến hạm kiểu châu Âu là hoàn toàn có. Nhưng rất có thể Nguyễn Huệ đã không chủ trương rập lại y nguyên những tàu đó theo cách mà Nguyễn Ánh làm. Nghiên cứu về Nguyễn Huệ và Nguyễn Ánh, chúng ta sẽ thấy, đứng trước nhu cầu tạo ra những chiến hạm trang bị nhiều pháo, hai con người ấy – một con người sáng tạo và với một con người học mót, về xử lý theo hai con đường hết sức khác nhau.

Dầu sao thì việc quân thủy Tây Sơn có được những chiến hạm cực lớn là một điều hoàn toàn chắc chắn. Hoàng Lê nhất thống chí (tr. 385) có nói đến việc Quang Trung “đóng tàu biển” thật lớn, có thể chở nổi “voi” để dọa đánh nhà Thanh, Se-nhô (Chaigneau), Ba-ri-dy (Barizy) là những sĩ quan Pháp thường trực tiếp giáp mặt với quân thủy Tây Sơn đã phải thừa nhận sự tồn tại ngoài trí tưởng tượng của chúng những chiến hạm Tây Sơn trang bị tới 50 – 60 khẩu đại bác hạng nặng. Chính sử nhà Nguyễn gọi đó là loại thuyền “đại hiệu”.
------------------------------
333 Arch, M.E. Tonkin, Vol. 746, p. 870, trong Sử địa, số 21, tr. 159.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 11 Tháng Ba, 2012, 01:57:19 pm
Thống kê cách gọi tên thuyền bè dùng trong quân sự từ thời Trịnh, Nguyễn và trước đó chưa hề thấy nói đến loại thuyền nào như vậy. Trong những trường hợp cụ thể, thuyền đại hiệu được chép rất rõ ràng, tách khỏi các loại thuyền chiến khác và lớn hơn chúng nhiều lần. Tài liệu Pháp dùng hai từ vaisseaugalère để phân biệt loại thuyền lớn trang bị nhiều dàn pháo với loại thuyền chiến truyền thống trong quân thủy Trịnh, Nguyễn. Khi chép về trận Thị Nại (1801, Đại Nam thực lục, Hoàng Lê nhất thống chí đều cho ta một hình ảnh hai (hoặc ba) chiếc tàu đại hiệu với hàng trăm thuyền chiến bám vây xung quanh (trong Đại Nam thực lục t. II, tr. 378, từ thuyền chiến được dùng tương đối có ý thức để chỉ loại thuyền chiến phổ biến của Trịnh, Nguyễn trước kia, tức loại thuyền có trang bị từ một đến ba khẩu pháo ở mũi thuyền, tương ứng với galère trong các văn bản châu Âu). Hoàng Lê nhất thống chí (tr. 403) mô tả thuyền đại hiệu như một pháo đài di động, trên “lập chòi gác, đặt súng lớn”. Nếu tiến hành so sánh tỉ mỉ, ta sẽ thấy sử gia Nguyễn dùng chữ đại hiệu thuyền để chỉ cả những chiến hạm đóng theo kiểu phương Tây trong quân thủy Nguyễn Ánh. Những thuyền lớn như vậy đều có tên riêng như thuyền Long phi, thuyền Ưng, Phụng (Phượng) trong quân thủy Nguyễn Ánh (do Se-nhô (Chaigneua), Đờ Phoóc-xăng (De Forrcans) và Van-ni-ê (Vannier) chỉ huy) hoặc thuyền Định Quốc trong quân thủy Tây Sơn.

  Các tên này thường khác với tên gọi các đơn vị thuyền thời Trịnh, Nguyễn (Như thuyền Kiệu Nhất, thuyền Tả Súng), đó không phải tên thuyền mà là tên đơn vị.

Có lẽ vì vậy mà có tên là thuyền đại hiệu, hoặc thuyền hiệu tức thuyền lớn có tên. Những thuyền chiến loại lớn thường gọi là đại chiến thuyền thực ra cũng như thuyền chiến, chỉ khác chút ít về kích thước, trang bị. Riêng thuyền đại hiệu thì ngoại cỡ và là hiện tượng đột xuất trong lịch sử thuyền chiến nước ta.

Thuyền “đại hiệu” của Tây Sơn như thế nào, hiện chỉ có thể hình dung thông qua việc so sánh gián tiếp với các thông số kỹ thuật đương thời, dựa trên vài thông số và Ba-ri-dy đã chép lại trong một lá thư. Thực ra, những thông số đó có thể đã được “châu Âu hóa” cho người xem thư dễ hình dung, hơn nữa có thể bịa đặt, nhằm tăng thêm chiến công của đội quân Nguyễn Ánh mà hắn đang làm cố vẫn. Tuy nhiên, nếu đặt trong tình hình tư luệ chung và đối chiếu với lực lượng hải quân Nguyễn Ánh lúc đó cũng như Minh Mạng sau này, được ghi chép mang tính chất tình báo của các phái bộ Anh, như Giôn Crao-phớt (Jhon Crawfurd), thì vẫn có thể nhận thấy một số điểm hợp lý trong các thông số đó334.
-------------------------------
334 Barizy từng là một thiếu tá trong hải quân Pháp, rất thạo về trang bị, biên chế trên các hạm đội châu Âu. Qua các thư khác của y, có thể thấy y không khách quan lắm.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 11 Tháng Ba, 2012, 02:03:06 pm
Se-nhô đã kể về những chiến hạm trang bị 50, 60 súng với vẻ đầy kinh ngạc. Tên thuyền trưởng người Pháp này từng chỉ huy chiếc tàu kiểu Âu lớn nhất (32 pháo) trong quân thủy Nguyễn Ánh lúc đó. Y trực tiếp tham gia trận Thị Nại 1801. Trước đó, y đã nhiều lần đụng độ trên biển với quân thủy Tây Sơn, nhưng mới chỉ là bộ phận do Nguyễn Nhạc chỉ huy. Đây là lần đầu tiên giáp mặt với quân thủy Nguyễn Quang Toản – người thừa kế của Nguyễn Huệ.

Ba-ri-dy kể về những chiến hạm đó chi tiết hơn: có ba loại tàu trang bị nhiều pháo (vaisseaux), loại lớn nhất có 66 pháo cỡ 24 livres và 700 lính; loại thứ hai có 50 pháo cỡ 24 livres và 500 lính, loại thứ ba có 16 pháo cỡ 12 livres và 200 lính. Số pháo, cỡ pháo và số lính trên các chiến hạm đó hoàn toàn tương xứng với các hạng chiến hạm đang phổ biến ơ châu Âu đương thời. Theo bảng phân hạng chiến hạm châu Âu thời này thì loại chiến hạm lớn nhất nói trên tương ứng với loại tàu hạng hai, có lượng dãn nước khoảng 900 tấn, có hai tầng pháo. Loại 50 pháo tương ứng tàu hạng ba, có lượng dãn nước khoảng 600 tấn, hai tầng pháo. Loại 16 pháo tương ứng tàu hạng năm hoặc sáu, lượng dãn nước khoảng 200 tấn, một tầng pháo.

(http://img406.imageshack.us/img406/1726/thuyentayson.jpg)
Một loại chiến thuyền của Tây Sơn

Những chiến hạm trên vượt xa các chiến hạm mà Pháp, Bồ Đào Nha đã cung cấp cho Nguyễn Ánh, cũng như do Nguyễn Ánh bắt chước đóng theo335. Với những chiến hạm này, dù đóng theo kiểu Âu hay theo kỹ thuật truyền thống, Tây Sơn đã tạo ra một bước nhảy vọt trong lịch sử thuyền chiến nước ta.
----------------------------------
335 Trong thời kỳ này, chiến hạm mang nhiều pháo nhất của Nguyễn Ánh chỉ có tới 42 khẩu. Trong toàn bộ lịch sử hải quân Nhà Nguyễn sau đó, cho đến khi hàng Pháp năm 1858, cũng chỉ có những chiến hạm trang bị cao nhất là 42 khẩu pháo.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 17 Tháng Ba, 2012, 07:09:16 pm
Song song với việc tăng số lượng và chất lượng thuyền, Tây Sơn đặc biệt chú trọng thực hiện các biện pháp để tăng cường sức chiến đấu của thuyền chiến nói riêng và toàn bộ quân thủy nói chung. Nổi nhất trong các biện pháp đó là việc tăng hỏa lực thuyền chiến.

Tăng số lượng và chất lượng pháo cho các thuyền chiến lúc bấy giờ đang là khuynh hướng chung của hải quân toàn thế giới. Điều này được Tây Sơn nhận thức hết sức sâu sắc. Một trong những nét nổi bật nhất của nghệ thuật quân sự Tây Sơn là phát huy tới mức cao nhất sức mạnh hỏa khí. Trước khi có điều kiện đóng những chiến hạm đại hiệu, nghĩa quân Tây Sơn tìm cách đưa lên thuyền những cỗ pháo hạng nặng từng làm khiếp đảm quân Trịnh ở cửa Luộc năm 1786. Lính trên thuyền, ngoài súng tay và các loại bạch khí khác như trước đây, ngay từ những năm 1776 – 1785, đã được trang bị phổ biến hỏa hổhỏa cầu.

  Hỏa hổ là một loại vũ khí hình ống. Theo lời Kiêm Trai trong Hổ trướng khu cơ (tr. 320) thì hỏa hổ chính là hỏa tiễn, “vì lửa cháy dữ dội, nên gọi là hỏa hổ”. Sử sách Nguyễn thường gọi hỏa hổhỏa phún đồng. Theo Binh thư yếu lược (tr. 79), bài thuốc súng và cách chế rất giống nhau: dùng một cái ống (bằng sắt hoặc tre, gỗ) dài khoảng 25 cm, nạp thuốc thành nhiều nấc. Nấc đầu tiên là liều thuốc bắn, giã nén chặt dày khoảng 4 cm, sau đó tiếp nấc thứ hai là liều thuốc phun, giã nén chặt, dày khoảng 12 cm. Sau đó, nạp đạn ghém gồm các vật liệt sát thương, dày khoảng 4 cm. Phần ống còn lại nạp đầy thuốc phun. Chi phí cho một ống hết 9 – 10 lạng diêm tiêu, 1 - 2 lạng lưu hoàng, 1 – 2 lạng than xoan. Khi xong, tra ngòi vào đầu ống, đồng thời lặp thêm một cán tre dài khoảng 20 cm (hoặc dài hơn thùy dùng). Tùy loại ống (tre hay sắt) mà dùng dây mây, hồ gắn quấn chặt xung quanh. Ra trận gặp địch thì châm ngòi, cầm cán tre chĩa hoặc lao về phía địch, thuốc phun và đạn sẽ phóng ra đót cháy, sát thương đối phương. Dùng xong lại có thể lấy ống đó nạp liều thuốc khác.

  Hình ảnh cụ thể của loại vũ khí này có thể xem trên hình khắc đỉnh Huyền trong số chín đỉnh ở Huế. So sánh cách chế tạo thì thấy loại vũ khí này được cải tiến từ các hỏa đồng (ống lửa) hạng nhỏ thời Lê sơ. Trong tay nghĩa quân Tây Sơn, nó được dùng một cách tập trung, ồ ạt, tạo thành hỏa lực giáp chiến hết sức lợi hại.

  Hỏa cầu (lưu hoàng) là loại quả nổ dùng để ném hoặc bắn, có tác dụng như lựu đạn hoặc phóng lựu. Tùy chất nạp mà quả nổ có thể tạo ra khối độc, nhựa cháy, mảnh vụn sát thương…


Hỏa cầu đã được dùng trong trận quân thủy Tây Sơn đánh tan chiếc tàu Bồ Đào Nha còn lại duy nhất trong quân thủy Nguyễn Ánh năm 1782. Còn Hỏa hổ cũng đã thấy khi quân thủy Tây Sơn đổ bộ đánh quân Trịnh ở lầu Ngũ Long năm 1786. Nhờ có thêm hai loại hỏa khí này mà sức giáp chiến của quân thủy Tây Sơn tăng lên rất nhiều. Nhưng xu hướng chung của nghệ thuật hải chiến đương thời là tìm cách giảm dần các trận giáp chiến trên biển, thay vào đó là những trận đấu pháo mà kết cục trận đánh được quyết định từ khi hai bên còn ở những khoảng cách xa nhau. Vì vậy, hướng chính để tăng sức chiến đấu cho thuyền chiến thời này là tăng số lượng và chất lượng pháo.

(http://i334.photobucket.com/albums/m435/ulf9889/weapon/2.jpg)
Hỏa cầu


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 17 Tháng Ba, 2012, 07:18:55 pm
Để tăng số lượng pháo trên thuyền chiến, vấn đề đầu tiên là phải tạo ra những thuyền chiến lớn. Tây Sơn đó có thuyền đại hiệu. Đó thực sự là những pháo đài lớn di động trên biển. Theo Ba-ri-dy, toàn bộ pháo trên các chiến hạm lớn đó đều thuộc loại cỡ đạn 24 livres, tức loại đạn có trọng lượng khoảng 12 ki-lô-gam. Theo bảng đối chiếu tổng hợp của R. Hoếch-ken (R. Hoeckel) thì loại đạn này có đường kính khoảng 14 cm, đó cũng là cỡ nòng của pháo. Để bắn loại đạn đó, cần loại pháo có chiều dài khoảng 2,5 m, nặng 2.700 ki-lô-gam với 11 pháo thủ336.

Trừ những thuyền đại hiệu có nhiều pháo, phần lớn thuyền chiến còn lại trong quân thủy Tây Sơn đều thuộc loại thuyền chiến truyền thống như thời Trịnh, Nguyễn. Đó là loại thuyền chỉ có từ một đến ba khẩu pháo ở đằng mũi. Những thuyền chiến này có hai cỡ lớn nhỏ khác nhau. Sử sách nước ta thường gọi là đại chiến thuyềnchiến thuyền. Theo Ba-ri-dy, hai loại trên có thể tương ứng với galèrechaloupe canonnière (xuồng loại nhỏ có gắn pháo). Ba-ri-dy cho biết, trong hạm đội Tây Sơn đóng ở cảng Thị Nại năm 1801, có 93 galères tức đại chiến thuyền, mỗi chiếc trang bị một khẩu pháo hạng nặng, cỡ 36 livres và 150 lính thủy. Như vậy, các đại chiến thuyền tuy số lượng pháo ít, nhưng bù vào đó loại pháo rất lớn, bắn đạn 18 kg, nòng súng dài gần 3 m, cỡ nòng rộng 16 cm, nặng toàn bộ 3.700 kg với 14 pháo thủ337. Loại chaloupe canonirère với một khẩu pháo nhỏ và 50 lính thủy thì có tới 300 chiếc. Đây là loại thuyền chiến thông dụng mà chúng ta đã nói nhiều trong quân thủy Trịnh, Nguyễn.

Như vậy, sự tăng cường sức chiến đấu cho quân thủy Tây Sơn không phải chỉ ở các thuyền đại hiệu, mà ở các thuyền chiến bằng việc trang bị cho nó pháo hạng nặng và tăng số quân trên mỗi thuyền.
--------------------------
336, 337 R. Hoeckel, Sách đã dẫn, tr. 26.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 17 Tháng Ba, 2012, 07:21:57 pm
Những cố gắng liên tục của các lãnh tụ phong trào Tây Sơn trong hàng chục năm đã đưa quân thủy Tây Sơn tiến lên một bước nhảy vọt quan trọng cả về số lượng và chất lượng.

Trong bức thư đề ngày 11-4-1801, Ba-ri-dy – cố vấn người Pháp của Nguyễn Ánh, bấy giờ đang ở Gia Định, gửi cho Lơ-tông-đan (Letondal), viết về trận hải chiến ở cảng Thị Nại xảy ra trước đó hai tháng, có đoạn thống kê khá chi tiết về lực lượng quân thủy Tây Sơn, do đô đốc Võ Văn Dũng chỉ huy ở cảng này như sau:

“Quân lực địch do đô đốc thiếu phó chỉ huy gồm:

- 9 tàu (vaisseaux) loại 66 đại bác (cannons) cỡ 24 livres (cân Anh), mỗi tàu 700 thủy binh.

- 5 tàu, loại 50 đại bác, cỡ 24 livres, mỗi tàu 600 thủy binh.

- 40 tàu, loại 16 đại bác, cỡ 12 livres, mỗi tàu 200 thủy binh.

- 93 thuyền chiến (galères), loại 1 đại bác cỡ 36 livres, mỗi thuyền 150 thủy binh.

- 300 xuồng gắn pháo (chalooupes canonnières), loại 50 thủy binh.

- 100 tàu buồm kiểu Đàng Trong, loại 70 thủy binh”.

Trong một đoạn khác, Ba-ri-dy cho biết Tây Sơn có 4.800 thuyền vận tải nữa đậu trong cảng này338.

Lực lượng quân thủy của Tây Sơn ở cảng Thị Nại là bộ phận mạnh nhất của quân thủy Tây Sơn lúc ấy. Ngoài ra, Tây Sơn còn những bộ phận khá lớn khác trấn giữ các cảng Đà Nẵng, Phú Xuân và rải rác ở ngoài Bắc.
-------------------------
338 Tài liệu lưu trữ của Giáo đoàn ngoại quốc Pa-ri: Cochinchine, quyển 601 (viết tắt: Arch. M.E. 801), tr. 857, 867. Đô đốc thiếu phó là Trần Quang Diệu, bấy giờ chỉ huy chung toàn mặt trận. Quân thủy ở Thị Nại do Võ Văn Dũng chỉ huy (Đại Nam thực lục, t. II). Xem Cadière, BEFEO, 1911 và Sử địa, số 21, tr. 166


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 17 Tháng Ba, 2012, 07:29:45 pm
Quân thủy Tây Sơn là một hiện tượng đột xuất, có tính chất nhảy vọt trong lịch sử quân thủy nước ta. Bước nhảy vọt này chẳng những vượt xa quân thủy Trịnh – Nguyễn, vuợt cả quân thủy Nguyễn Ánh khi được tư bản phương Tây xúm vào giúp đỡ, mà còn vượt cả những cố gắng của Minh Mạng trong thời kỳ thịnh đạt nhất của nhà Nguyễn.

  Theo Giôn Crao-phớt (Jhon Crawfurd – người cầm đầu phái bộ Anh đến triều đình Nguyễn năm 1824), hải quân Minh Mạng có khoảng 200 pháo hạm (gun-boát) loại 16 – 22 đại bác (guns), 100 đại chiến thuyền (large galleys) loại 50 – 70 mái chèo, có pháo nhỏ hoặc súng trụ (swivel), pháo (cannon) loại 12 – 24 pounder (funt), 500 chiến thuyền (small galleys) loại 40–44 mái chèo, 1 súng trụ 4 – 6 pounder (Journal of Embasssy to the Courrts of Siam and Cochinnchia, London, 1967, tr. 493).

Những chuyển biến sâu sắc trong quân thủy Tây Sơn từ sau năm 1789 (biểu hiện bằng việc hình thành những căn cứ quân thủy lớn, tập trung thường xuyên ở các cửa biển, cảng biển; hàng loạt hoạt động tuần tra rất có hiệu quả các đội “du thuyền” và nhất là bằng sự xuất hiện những tàu chiến lớn trang bị nhiều pháo, chuyên hoạt động trên biển), đã làm rõ nét một lực lượng hải quân độc lập, hùng hậu. Bộ mặt quân thủy nước ta đã có những thay đổi căn bản trong địa bàn hoạt động chủ yếu, trong cả trang bị, tổ chức để thích ứng với thay đổi đó. Một bộ phận quân thủy trên sông tiếp tục đóng vai trò binh chủng của lục quân, bộ phận còn lại cùng với lực lượng quân thủy đông đảo trên biển hình thành một quân chủng hải quân độc lập.

  Chúng ta thiếu nhiều tài liệu để tìm hiểu binh chế của Tây Sơn. Đại Nam thực lục, phần Liệt truyện về Tây Sơn có cung cấp danh sách quan chế của Tây Sơn, nhưng không cho biết chức nghiệp cụ thể của từng chức quan đó. Phần binh chế cũng rất sơ sài, chỉ cho biết quân Tây Sơn vẫn tổ chức theo ngũ chế (trung, tiền, hậu, tả, hữu). Trong 4 điều bổ sung vào quân chính của quân Nguyễn có cho biết mức độ trên dưới của các chức cầm quân Tây Sơn như sau: nếu quân Nguyễn bắt được một lính Tây Sơn thì được thưởng 5 quan, một hộ quân, quản quân, đô ty, đô úy thì được thưởng gấp 4 lần (tức 20 quan), một đô đốc thưởng gấp 20 lần (100 quan), một quận công thưởng gấp 200 lần (1.000 quan). Nếu bắt được các quan chức tương đương nhưng không phải tướng cầm quân thì chỉ thưởng 1/3 số tiền đó. Đại Nam thực lục (6., tr. 191) cho biết quân Nguyễn bắt được một viên quản quân Tây Sơn tên là Lực trong đội Du thuyền. Viên này chỉ huy một thuyền với 25 quân. Nếu tạm cho rằng về thứ bậc đơn vị quân Tây Sơn vẫy duy trì hình thức tổ chức tương tự như dinh, cơ, đội, thuyền trước đây, thì có thể các chức quản quân mà Nguyễn Ánh theo thưởng 20 quan ứng với các chức chỉ huy thuyền hoặc cơ, đội, còn các đô đốc ứng với các chức hàm chỉ huy một dinh.

  Trong thời Tây Sơn, có nhiều đô đốc quân thủy. Những thuyền Đại hiệu với 600 – 700 quân co thể tương đương với số quân một dinh hoặc cơ, đội lớn. Những galères 150 quân của Tây Sơn cũng ứng với một đội hoặc nhỏ. Sự tồn tại những quân cảng lớn cũng đòi hỏi biên chế quân thủy phổ biến ở mức dinh, thậm chí vượt khỏi mức đó hình thành các đơn vị lớn hơn do các đại đô đốc cai quản.

  Như vậy, do còn thiếu tư liệu nên chúng ta chưa thể chi tiết hóa tổ chức quân thủy Tây Sơn, nhưng rõ ràng sự chuyển biến to lớn trong trang bị đòi hỏi phải có sự phát triển tương ứng trong biên chế, tổ chức, đã đưa hải quân Tây Sơn tới những cơ cấu hoàn toàn độc lập với quân bộ: tổ chức của một quần chúng trên biển.


Đây là một bước trưởng thành có ý nghĩa hết sức lớn lao trong sự phát triển của quân thủy nước ta nói riêng và lực lượng vũ trang nước ta nói chung. Nó đánh dấu sự phát triển cả về cơ sở vật chất lẫn lý luận trong tổ chức lực lượng vũ trang của ông cha ta, mà người có công lớn nhất chính là nhà quân sự thiên tài Nguyễn Huệ.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 17 Tháng Ba, 2012, 07:33:39 pm
Có một điểm rất độc đáo trong thành phần của hành quân Tây Sơn là sự tham gia của “cướp biển”. Thế kỷ XVII – XVIII “cướp biển” là hiện tượng thường xuyên trên các vùng biển đông - nam Trung Quốc và Đông - Nam Á. Thành phần của họ khá phức tạp, nhưng tựu trung xuất phát từ hai nguồn gốc chính: – những tướng lĩnh, quan lại bất mãn với chính quyền địa phương, hoặc – những người dân nghèo bị áp bức, bóc lột cùng cực ở ven biển, hải đảo.

  Có thể dẫn ra đây hai trường hợp điển hình tương ứng với hai nguồn gốc nói trên. Trường hợp thứ nhất là nhóm “cướp biển” lớn ở vùng ven biển đông-nam Trung Quốc do Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên cầm đầu. Đây vốn là một đội quân trong các lực lượng Hậu Minh chống lại chính quyền Thanh cuối thế kỷ XVII ở ven biển đông-nam Trung Quốc. Sau khi Trịnh Thành Công (vua của nhà Hậu Minh) bị quân Thanh đánh bại ở Đài Loan, tàn quân tan ra thành vô số nhóm “cướp biển” khác nhau tiếp tục hoạt động ở vùng biển này. Nhà Thanh truy quét, Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên đã dẫn binh thuyền chạy vào Đàng Trong nương nhờ chúa Nguyễn. Trường hợp thứ hai, rất tiêu biểu, là quân khởi nghĩa Nguyễn Hữu Cầu (tức quận He) ở vùng biển đông-bắc nước ta giữa thế kỷ XVIII.

Cướp biển ở khu vực biển Đông lại gồm nhiều thành phần quốc tịch khác nhau: Trung Quốc, Đàng Trong, Đàng Ngoài, Xiêm, Chà Và (tức Ma-lai-xi-a)… thậm chí có cả những toán cướp biển người Âu. Họ đều giống nhau ở một điểm là không chịu tuân theo ách thống trị của các nhà nước phong kiến thối nát trong lục địa. Đối tượng tiến công của họ là tàu buôn trên biển, thậm chí cả tàu chở lương thực vũ khí của các quốc gia trong lục địa, đôi khi cả những làng mạc, dinh thự ven biển. Trước mắt chính quyền phong kiến, họ đều bị coi là “giặc”, “cướp”. Do thiếu sự lãnh đạo thống nhất và mục đích chính trị rõ ràng, các lực lượng này hoạt động đơn độc và tương đối tùy tiện. Trừ khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Cầu, mà trong đó, một bộ phận từng bị triều định Lê – Trịnh gọi là “giặc biển”, các nhóm “cướp biển” khác không mấy khi có điều kiện chuyển hóa thành một cuộc khởi nghĩa đánh trực diện vào chế độ phong kiến đương thời. Tuy nhiên, hoạt động của họ cũng có tác dụng làm suy yếu các chính quyền phong kiến phương Đông đang ngày càng thối nát.

Với nhãn quan chính trị rộng rãi, ngay từ những ngày đầu khởi nghĩa, các lãnh tụ Tây Sơn đã nhận thấy khả năng tập hợp các “đám giặc biển” ấy trong lực lượng của mình – mà dưới mắt của triều đình phong kiến đương thời cũng được mệnh danh là một “đám giặc cỏ”. Sự gần gũi về quyền lợi giai cấp và cùng chung kẻ thù đã khiến cho Tây Sơn tập hợp được nhanh chóng và đông đảo các nhóm “cướp biển”. Họ đã tự nguyện tham gia phong trào khởi nghĩa của nông dân theo một mục tiêu chính trị rõ ràng và một sự lãnh đạo thống nhất. Từ đó, hoạt động “cướp biển” của họ đã có sự đóng góp tích cực hơn vào tiến bộ xã hội. Khởi nghĩa Tây Sơn vì vậy không chỉ là sự kết tinh của toàn bộ phong trào nông dân sôi nổi trong đất liền, mà còn là sự kết tinh của cả những phản kháng mãnh liệt nhưng vốn rời rạc, tùy tiện trước ở trên vùng biển nước ta, tạo thành sức mạnh tổng hợp đánh đổ chế độ phong kiến Trịnh, Nguyễn thối nát, bảo vệ độc lập dân tộc.

Trong những năm 1776 – 1785, phong trào Tây Sơn đã tập hợp được hầu hết “cướp biển” thuộc phạm vi Đàng Trong. Lê quý kỷ sự (tr. 20) cho biết), Nguyễn Hữu Chỉnh được Tây Sơn giao trách nhiệm thu phục các lực lượng “cướp biển” đó. Từ khi đánh ra Đàng Ngoài, Tây Sơn bắt đầu tăng cường thu phục lực lượng “cướp biển” rất lớn ở vùng biển đông - bắc. Đó là những nhóm mà sử sách nước ta, Trung Quốc và phương Tây gọi là “Giặc biển” tàu Ô (riêng sử sách nhà Nguyễn thường gọi là “giặc biển Tề Ngôi”).


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 17 Tháng Ba, 2012, 07:40:44 pm
Theo Thánh vũ kýGia Khánh đông – nam Tĩnh hải ký (sách đời Thanh), thành phần chủ yếu trong quân tàu Ô là ngư dân nghèo ven biển Nam Trung Quốc. Vốn bất mãn với chính quyền Mãn Thanh, họ tham gia phong trào Tây Sơn, dựa vào Tây Sơn để chống lại Thanh, đồng thời cùng Tây Sơn tiêu diệt Nguyễn Ánh. Chính quyền Tây Sơn cấp thuyền (thường sơn màu đen nên có tên là tàu Ô) tới vài trăm chiếc, đồng thời phong quan tước cho các thủ lĩnh của họ (thường gọi là các chức tổng binh hay thống binh)339, coi đây như một binh chủng độc lập của hải quân Tây Sơn. Trong những năm từ 1789 trở về sau, lực lượng tàu Ô này góp phần quan trọng trong các hoạt động của hải quân Tây Sơn.

Nhiệm vụ chủ yếu của các đơn vị “cướp biển” là tuần tra, do thám trên biển, chặn đánh các hoạt động chuyển lương của địch và đột nhập vào hậu cứ của chúng để lấy lương thực, vũ khí.

Năm 1790, quân tàu Ô đã bắt được bốn thuyền chiến hộ tống một tàu buôn Trung Quốc và phát hiện viên thuyền trưởng tàu buôn đó đã lén lút mang thư tình báo của các giáo sĩ phương Tây. Những thuyền đó đều bị giải về Phú Xuân và sung vào lực lượng hải quân Tây Sơn340.

Năm 1792, Nguyễn Hệu cho một đơn vị tàu Ô, gồm 40 chiếc, bí mật đột kích vùng ven biển Bình Khang, Bình Thuận của Nguyễn Ánh341.

Năm 1800, các đơn vị tàu Ô hoạt động mạnh ở vùng Bình Thuận cùng các đơn vị “du thuyền” của Tây Sơn. Tháng 4 năm ấy, họ bắt được toàn bộ thuyền chiến của phó giám thành sứ Nguyễn Văn Yên chở thuốc đạn trên đường từ Cù Huân ra, bắt được nhiều ghe sai của quân Nguyễn chở lương thực, thực phẩm342… Năm 1802, các đơn vị này cũng tích cực tham gia những trận đánh cuối cùng, bảo vệ chính quyền Tây Sơn, trong đó đáng chú ý nhất là trận thủy chiến ở Trấn Ninh.

Sự tham gia của các lực lượng “cướp biển” với tư cách là những nghĩa quân trên biển đã góp phần không nhỏ vào việc tăng cường sức mạnh của hải quân Tây Sơn. Đây cũng là một điểm độc đáo hiếm thấy trong lịch sử quân thủy nước ta. Đặc điểm này, do tính chất giai cấp của nó, nổi lên khá rõ nét trong quân Tây Sơn.
----------------------------------
339 Theo đoạn dịch của Hoàng Xuân Hãn trong Sử địa, số 9-10, tr. 260. Hoàng Lê nhất thống chí (tr. 384, 385) cho biết Nguyễn Huệ liên minh với Thiên địa hội, tức một hội kín chống Thanh đương thời, sử dụng họ trong những hoạt động của các đơn vị tàu Ô.

340 Arch, M.E. Tonkin, vol. 262, p. 63; trong Sử địa, số 13, tr. 150.

341 Đại Nam thực lục, t. II, tr. 157.

342 Đại Nam thực lục, t. II, tr. 358.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 17 Tháng Ba, 2012, 07:43:58 pm
Để thực hiện bước chuyển biến lớn trong quân thủy, các lãnh tụ Tây Sơn, trước hết là Nguyễn Huệ, rất chú trọng khai thác những điểm mạnh trong nền nghệ thuật quân sự phương Tây. Ở Nguyễn Huệ, ý tức tự lập, tự cường phát triển rất cao, nhưng điều đó không dẫn ông đến những chính sách đóng cửa mù quáng, cực đoan. Mặc dù ông muốn “mọi thứ đồ dùng của nước ta đều không phải mua của nước Tàu”, nhưng chính ông lại rất tích cực đề nghị nhà Thanh “mở cửa ải, thông chợ búa, khiến cho hàng hóa không ngừng đọng để làm lợi cho sự tiêu dùng của dân”343. Với phương Tây cũng vậy, mặc dầu ông rất coi khinh sự dọa dẫm của chúng nhưng ông vẫn thiết tha đề nghị tàu buôn phương Tây vào nước ta. Đó là thái độ rất kiên quyết, nhưng cũng rất mềm dẻo, phản ánh ý chí của Nguyễn Huệ: trao đổi, tiếp thu để độc lập, tự cường.

Trong lĩnh vực quân thủy, Nguyễn Huệ đặc biệt chú trọng kỹ thuật hỏa khí và kỹ thuật tổ chức pháo thuyền. Ông trực tiếp đề nghị cha cố tên là Gi-ra (Girard) đi Quảng Châu mời thuyền buôn châu Âu đến bán vũ khí và năm 1792 đã có hai tàu châu Âu từ Áo Môn và Ma-ni-la đến bán cho Nguyễn Huệ 100.000 livres lưu huỳnh (tức khoảng 50.000 kg)344. Nguyễn Huệ cũng có ý thức sử dụng khả năng hàng hải của người châu Âu. Khi bắt được một chiếc tàu Bồ Đào Nha, nghĩa quân chỉ chém đầu viên thuyền trưởng, còn toàn bộ thủy thủ được chia đi phục vụ trên các thuyền chiến. Việc đóng những chiến hạm cực lớn có nhiều pháo của Nguyễn Huệ phản ánh ý thức học hỏi, nhưng độc lập, tự cường của ông. Nhờ thái độ đúng đắn đó, Nguyễn Huệ đã vượt qua những khó khăn đương thời đề tạo ra cơ sở vật chất cho một bước nhảy vọt trong quân thủy.
--------------------------
343 Ngô Thì Nhậm, Bang giao lục.

344 Arch, M.E. Tonkin, vol. 262, p. 397; trong Sử địa, số 13, tr. 152.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 17 Tháng Ba, 2012, 07:49:29 pm
*
Sau khi Nguyễn Huệ qua đời, chính quyền Tây Sơn đã bộc lộ tất cả những hạn chế của nó và không đủ sức tiếp tục hoài bão về “mười năm xây dựng lực lượng” của ông. Hải quân Tây Sơn mười năm sau, trước cuộc tổng công kích của bè lũ phản động Nguyễn Ánh, với sự than gia của tàu chiến và binh lính, sĩ quan Pháp, đã không giành được thắng lợi. Nhưng, rõ ràng trong thời kỳ Nguyễn Huệ còn sống, hải quân Tây Sơn luôn luôn ở thế áp đảo so với hải quân Nguyễn Ánh. Trong bức thư của La Mô-thơ (La Mothe) đề ngày 28-7-1790, có đoạn: “Chúng tôi được tin chúa Nguyễn (hay vua Nam Hà) được người Bồ Đào Nha ở Áo Môn trợ giúp. Nhưng tôi không giấu rằng, nếu viện trợ đó ít quá, chắc là như vậy, thì rất có thể vua Nam Hà sẽ không chống nổi khí giới, kinh nghiệm và mưu lược cũng như lòng dũng cảm của Tiếm Vương (tức Nguyễn Huệ - T.G.)345.

Theo Ngụy Nguyên – một nhà bình luận quân sự đời Thanh, quân thủy Tây Sơn cũng là một địch thủ đáng gờm của quân Thanh. Sách đời Thanh Gia Khánh đông – nam Tĩnh hải ký có đoạn: “Vả chăng thuyền rợ (tức thuyền chiến Tây Sơn – T.G.) cao to, nhiều súng, có gặp cũng chưa chắc thắng được chúng”346.

Không còn nghi ngờ gì nữa, hải quân Tây Sơn dưới thời Nguyễn Huệ là lực lượng hải quân hùng mạnh vào loại nhất Đông – nam Á đương thời, là biểu hiện của một bước nhảy vọt thực sự trong lịch sử quân thủy nước ta.

  Song song với quân thủy Tây Sơn, quân thủy Nguyễn Ánh cũng có những bước tiến vượt bậc, biểu hiện bằng một lực lượng hải quân trang bị mạnh. Nhưng, hải quân Nguyễn Ánh không thể đại diện cho quân thủy của dân tộc ta. Đó là một đội quân vong mạng, “một cái xác chết được tư bản phương Tây hà hơi dựng dậy”, một đội quân chiến đấu không phải vì quyền lợi dân tộc, mà vì mục đích phục thù giai cấp ghê tởm nhất, đến nỗi có thể bán rẻ cả quyền lợi dân tộc. Đội quân đó cũng “hùng mạnh”, nhưng như La Mô-thơ đã viết, sự “hùng mạnh” đó tùy thuộc vào khả năng chi viện của tư bản phương Tây, hoặc như nhận xét ngây ngô và cũng có phần khoác lác của giáo sĩ Lơ La-bút-xơ (La Boussse), phục vụ chính quyền Nguyễn Ánh: “Nhất định hải quân ấy sẽ vô địch. Nếu như được đặt dưới quyền chỉ huy của các hạm trưởng Âu Tây347.

  Lịch sử đã chứng minh hải quân ấy sau này còn được trang bị mạnh hơn nữa, nhưng đã chịu đầu hàng nhục nhã chưa từng thấy trong lịch sử quân thủy nước ta, trước mấy tàu chiến của hải quân Pháp năm 1858. Đó không phải là bộ mặt của quân thủy dân tộc. Sự ra đời cũng như sự cáo chung của nó không tuân theo truyền thống oanh liệt của các thế hệ quân thủy trước đó.

-----------------------------
345 Arch, M.E. Tonkin, vol. 700, p. 1398; trong Sử địa, số 9-10, tr. 231.

346 Theo Hoàng Xuân Hãn, Sử địa, số 9-10, tr. 260.

347 Arch, M.E. Cochinchine, vol. 746. Thư của Le Labousse, ngày 24-4-1800, tr. 874; trong Sử địa, số 21, tr. 161.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 17 Tháng Ba, 2012, 07:50:05 pm
Hiện tượng nhảy vọt của quân thủy Tây Sơn gắn liền với những hoạt động quân sự và nhu cầu phát triển cũng có tính chất nhảy vọt của nghĩa quân. Chỉ trong vòng 30 năm biết bao vấn đề trọng đại của đất nước, của thời đại cùng đòi hỏi phải giải quyết. Với một phạm vi hoạt động rất rộng, trước những kẻ thù có lực lượng quân thủy khá mạnh, thậm chí được trang bị những phương tiện, vũ khí hiện đại của nền công nghiệp châu Âu, nghĩa quân Tây Sơn không thể hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của mình nếu không tạo ra được những chuyển biến lớn, trước hết là trong lĩnh vực quân sự.

Nguyễn Huệ, với những hoạt động táo bạo, với thiên tài của mình, đã bám sát được những đòi hỏi phát triển tất yếu của đất nước, biết kế thừa và phát huy mọi tiềm năng của dân tộc, biết tiếp thu những thành tựu khoa học kỹ thuật của thế giới, nên đã tạo ra ở nước ta thời đó những bước nhảy vọt cần thiết, đủ sức đưa phong trào từng bước giải quyết những thử thách mà lịch sử đặt ra cho dân tộc.

Bước nhảy vọt trong quân thủy Tây Sơn bắt nguồn từ quá trình tích lũy lâu dài của lịch sử quân thủy nước ta trước đó. Nó đứng trên cái nền kinh tế, kỹ thuật và phát triển khá cao của quân thủy Trịnh, Nguyễn thế kỷ XVIII, được vận động và thực hiện trong quá trình phát triển của phong trào, trước những đòi hỏi bức thiết của dân tộc, với sự xuất hiện đúng lúc của thiên tài quân sự Nguyễn Huệ, trong bổi cảnh khoa học – kỹ thuật và nghệ thuật quân sự phương Tây ít nhiều đã có sự thâm nhập vào nước ta.

Quá trình chuẩn bị cho bước nhảy vọt ấy biểu hiện trước hết và chủ yếu qua một số trận đánh tiêu biểu và nổi tiếng của quân thủy Tây Sơn trong sự nghiệp thống nhất đất nước và bảo vệ độc lập dân tộc.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 18 Tháng Ba, 2012, 01:52:35 pm
Chương mười một

QUÂN THỦY TÂY SƠN VÀ BƯỚC CHUYỂN BIẾN NHẢY VỌT
(tiếp)

NHỮNG TRẬN ĐÁNH TIÊU BIỂU

NHỮNG TRẬN ĐÁNH GIẢI PHÓNG GIA ĐỊNH
(1776-1785)

Sau khi đã củng cố được địa bàn giải phóng trong các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Phú Yên, từ năm 1777 đến năm 1785, nghĩa quân Tây Sơn liên tục mở năm chiến dịch tiến công vào Gia Định – sào huyệt cuối cùng của tập đoàn phong kiến Đàng Trong. Năm 1777, nghĩa quân hoàn toàn giải phóng Gia Định, xác lập quyền làm chủ trên toàn cõi Đàng Trong. Các chúa Nguyễn đương quyền đều lần lượt đền tội. Tuy vậy, một bộ phận nhỏ quan lại, tôn thất nhà Nguyễn được sự giúp đỡ của các thế lực phản động nước ngoài như phong kiến Xiêm, tư bản Pháp và các đại địa chủ Gia Định đã tìm mọi cách từng bước phục hồi lại quyền thống trị của chúng. Cục diện chiến tranh những năm 1777 – 1785 diễn ra như sau: nghĩa quân Tây Sơn kiên quyết bảo vệ vùng Gia Định đã giải phóng và tàn quân Nguyễn Ánh ra sức giành lại sào huyệt của chúng. Trong khoảng thời gian này, đã nhiều lần Nguyễn Ánh chiếm lại được Gia Định, nhưng lần nào cũng vậy, nghĩa quân Tây Sơn lại nhanh chóng mở những chiến dịch giải phóng lớn, từ Quy Nhơn quét sạch chúng ra biển.

Đồng bằng Nam Bộ liên tục là chiến trường của cục diện chiến tranh đó. Đây là vùng đất có sông ngòi, kênh rạch dày đặc hơn bất kỳ vùng nào ở nước ta nói riêng cũng như ở Đông-Nam Á nói chung. Đi lại trong vùng chủ yếu bằng thuyền. Đường hành quân thuận tiện nhất đối với nghĩa quân Tây Sơn, từ Quy Nhơn vào là đường biển; quân Nguyễn sau mỗi lần bại trận cũng chỉ có một đường thoát duy nhất là trốn ra biển. Chính vì vậy, có thể nói diễn biến của chiến tranh giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh lúc này chủ yếu là thủy chiến. Cả năm chiến dịch đánh vào Gia Định của Tây Sơn đều lấy quân thủy làm lực lượng chính hoặc lực lượng duy nhất và cả năm lần Tây Sơn đều thắng lớn.

Trong khuôn khổ có hạn của cuốn sách, chỉ xin giới thiệu ba trong số nhiều trận thủy chiến quan trọng ở thời kỳ này.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 18 Tháng Ba, 2012, 01:57:15 pm
Trận Ngã Bảy (Thất Kỳ Giang) 1782

Đầu năm 19782, sau một thời gian khá dài củng cố lực lượng, nghĩa quân Tây Sơn lại mở một cuộc tiến công đại quy mô vào Gia Định. Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ thân chinh chỉ huy cuộc hành quân này. Khác với năm 1777, lần này nghĩa quân tập trung hành quân theo đường thủy. Những đơn vị thuyền chiến đi tiên phong, mở đường cho đoàn thuyền chở quân bộ vượt biển tiến xuống vùng biển Vũng Tàu, qua cửa Cần Giờ đánh thẳng vào Gia Định.

  Đây là con đường biển thuận tiện nhất để vào Gia Định. Hầu như trong mọi cuộc hành quân vào Gia Định bằng đường thủy, quân Tây Sơn đều đi theo đường này. Trịnh Hoài Đức trong Gia Định thành thông chí cho biết: “Cảng rộng năm dặm, khi nước lên sâu 11 tầm, nước xuống 9 tầm… Trong cảng rộng yên ổn, thường ngày có thuyền buôn ra vào, làm chỗ hải hội rất đông đúc cho thành Gia Định, không đâu sánh được” (tr. 39).

  Nhà Nguyễn (thời Minh Mạng) khắc hình cửa biển này vào đỉnh Thuần tượng trưng cho một cửa biển lớn của nước ta.


Theo Đại Nam thực lục (chính biển, t. II, tr. 39), quân thủy Tây Sơn có khoảng “vài trăm” thuyền chiến.

Lực lượng Nguyễn Ánh lúc này khá đông. Theo thư Gi-ne-xta (Ginestar) gửi cha đạo Prô-vanh-xi-an (Provincial) năm 1784, Nguyễn Ánh bố trí một lực lượng gồm “hơn bốn trăm thuyền chiến, bảy chục chiếc ghe kiểu Trung Quốc (embarcations chinoises) và một chiếc tàu Bồ Đào Nha” để chống lại quân Tây Sơn (Lorenzo Pérez, Sách đã dẫn, tr. 69).

  Thực ra, trước đó Nguyễn Ánh có đến ba tàu chiến Bô Đào Nha, nhưng vì bọn cha cố và tướng lĩnh Pháp tranh giành quyền lực, hai chiếc đã bỏ trốn về Ma Cao. Chiếc còn lại do tên cai cơ người Pháp là Ma-nuy-en (Manuel) lập mưu bắt giết thuyền trưởng, chiếm quyền chỉ huy.

Lực lượng đó chia làm hai bộ phận chính: số lớn do Tống Phước Thiêm chỉ huy, trong đó có cả chiếc tàu Bồ Đào Nha do Ma-nuy-en (sử nhà Nguyễn gọi là Mạn Hòe) chỉ huy, dàn đội hình ở sông Ngã Bảy. Bộ phận còn lại do Nguyễn Ánh trực tiếp chỉ huy đóng ở tuyến sau, có lẽ ở khu vực Gia Định, sẵn sàng tiếp ứng cho Tống Phước Thiêm. Toàn bộ quân Nguyễn Ánh lúc ấy có đến bảy vạn (theo De la Bissachère, État acteul du Tonkin de la Cochinchine et des royaumes de Cambodge, Laos et Lạc Thổ, Paris, 1812, t. II, tr. 164).

  Sông Ngã Bảy (Thất Kỳ Giang) là một khúc sông gần cửa Cần Giờ. Đoạn này một đầu phía nam có ngã ba, đầu kia phía bắc, có ngã tư, hình thế khá phức tạp. Từ cảng Cần Giờ vào, dù theo lạch nào cũng phải qua hoặc ngã ba hoặc ngã tư cửa sông này. Đây cũng là một điểm phòng ngự khá lợi hại. Qua cửa Cần Giờ chỉ một đoạn ngắn là đến khúc sông này.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 18 Tháng Ba, 2012, 02:02:03 pm
Do vị trí lợi hại của sông Ngã Bảy và cách bố phòng của Nguyễn Ánh, nghĩa quân Tây Sơn muốn vào Gia Định thì phải đánh tan được đạo quân thủy của Tống Phước Thiêm. Trong tình hình đối phương đông hơn, lại chiếm sẵn địa hình chiến trường, Nguyễn Huệ đã lợi dụng thủy triều và sức gió, phát huy sức mạnh của pháo và ưu thế giáp chiến, tiến công mãnh liệt vào quân thủy Tống Phước thiêm. Đạo quân đó của Nguyễn Ánh nhanh chóng bị đánh tan tác. Theo Gi-ne-xta, ngay khi mới chạm trán với thuyền chiến Tây Sơn, “viên đại tướng chỉ huy và đại đa số thuyền chiến đã rời bỏ nhà vua giữa trận giao tranh”. Chính sử nhà Nguyễn cũng phải thừa nhận: “Vua sai Tống Phước Thiêm điều bát trận thủy binh ở Ngã Bảy. Giặc nhân gió mạnh xông thẳng tới. Quân ta phải lùi”348.

Trong khoảng thời gian rất ngắn, hệ thông phòng thủ của quân thủy Nguyễn ở Ngã Bảy đã bị phá bung. Quân Tây Sơn thừa thắng, truy kích đánh thốc về hướng Gia Định. Chiếc tàu Bồ Đào Nha 10 pháo do tướng Pháp Ma-nuy-en chỉ huy – chỗ dựa cả về vật chất lẫn tinh thần của quân thủy Nguyễn Ánh, đã từng được cha đạo Bá Đa Lộc tuyên truyền, phao tin như một “con ngoáo ộp” có thể lặn được cả ở dưới nước – bị các thuyền chiến Tây Sơn vây đánh dữ dội trên đường rút chạy. Hoảng sợ trước lối đánh giáp chiến dũng cảm của quân thủy Tây Sơn, lính trên tàu chiến của Ma-nuy-en bỏ cả tàu lẫn thuyền trưởng nhào xuống nước thoát thân. Quân ta dùng hỏa khí ném vào tàu địch rồi tràn sang giáp chiến, thiêu cháy con “ngoáo ộp” đó, bắt Ma-nuy-en đền tội.

(http://quocphonganninh.edu.vn/Pictures/Gallery/Lichsuvn/images15600_chienthuyenTaySon.JPG)
Đốt tàu Ma-nuy-en
--------------------------
348 Đại Nam thực lục, chính biên, t. II, tr. 39. Lịch triều tạp kỷ t. II, tr. 230) cũng chép: “Quân thủy Gia Định (tức quân Nguyễn Ánh) chưa giao chiến dã tự tan vỡ”.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 18 Tháng Ba, 2012, 02:05:44 pm
  Vế sự kiện thiêu cháy chiếc tàu của Ma-nuy-en, sử nhà Nguyễn chép rất sơ sài: “Giặc đổ quân bao vây bốn mặt, ném hỏa khí đốt thàu. Mạn Hòe bị chết (Mạn Hòe, người Phú Lăng Sa, được Bá Đa Lộc giới thiệu là người dùng được, vua trao cho chức khâm sai cai cơ, coi đội Trung Khuông, sau được tặng Hiệu Nghĩa công thần phụ quốc thượng tướng quân)”349.

  Thư của Gi-ne-xta kể về sự kiện đó chi tiết hơn: “Quân địch đuổi theo và mưu toan cập mạn tàu Bồ Đào Nha đến hai lần, nhưng vì người Pháp liệng nhiều lựu đạn khiến địch quân tan nát; nhưng không nao núng, quân Tây Sơn xung phong leo lên thuyền một lần thứ ba dữ dội hơn, bây giờ người Pháp (tức Ma-nuy-en – T.G.) bị các chiếu hữu của anh ta bỏ rơi. Anh ta không may mắn như đồng đội là nhào xuống nước (chạy trốn). Chàng người Pháp đó đã phải trả những tội lỗi trước đây ở một thế giới khác. Nhờ sự táo bạo như vậy, quân địch đã thắng trận, mặc dù hao tổn nhiều sinh mạng” (Lorenzo Pérez, Sách đã dẫn).


Quân thủy Nguyễn ở Ngã Bảy tan vỡ quá nhanh, khiến cho việc bố trí ứng cứu của đội thuyền chiến do Nguyễn Ánh trực tiếp chỉ huy trở nên vô nghĩa. Khi được tin báo quân Tây Sơn đánh vào Ngã Bảy, Nguyễn Ánh “thân đốc binh thuyền đi ứng cứu”, nhưng đến Ngã Ba (có lẽ khoảng ngã ba Nhà Bè) thì quân thủy Tây Sơn đã tới nơi, dùng pháo bắn tới tấp vào đội hình thuyền chiến Nguyễn, đồng thời xông lên áp đảo. Lực lượng quân thủy dự trữ này cũng bị đánh lui nhanh chóng dưới làn hỏa pháo mãnh liệt, chính xác của các pháo thuyền Tây Sơn. Ngay trong đoạn viết nhằm tâng bốc Nguyễn Ánh, cuốn sử chính thống của nhà Nguyễn là Đại Nam thực lục (chính biên, t. II, tr. 40) cũng phải chép: “Giặc nhằm đầu thuyền bắn, gẫy cả cột buồm, quân sĩ đều thất sắc; vua đứng yên không động, tay cầm súng chim bắn lại thuyền giặc và hạ lệnh cho quân sĩ vừa đánh vừa lùi”.

Thắng lợi giòn giã ngay từ trận đầu của quân thủy Tây Sơn chẳng những đã mở đường cho toàn quân tiến vào Gia Định, mà còn là tiếng sét giáng vào tinh thần đang tan rã của quân Nguyễn, và là niềm động viên to lớn cho quân đội Tây Sơn gianh thắng lợi trên toàn bộ chiến trường. Thất bại của quân Nguyễn ở Ngã Bảy làm sụp đổ toàn bộ kế hoạch phòng thủ của chúng, từ đó quân Nguyễn tuy còn đông, nhưng bị đẩy vào thế rút lui, liên tục bị truy kích cho đến khi bị đuổi ra biển.

Quân thủy Tây Sơn nhờ có hỏa lực mạnh và lối đánh giáp chiến táo bạo, dũng cảm, lại biết lợi dụng thủy triều và gió biển, đã nhanh chóng phá tan hệ thống phòng thủ quân địch ở Ngã Bảy350, thần tốc phát triển chiến quả đánh tan đội thuyền chiến ứng cứu của Nguyễn Ánh, liên tục tiến công, đánh bật quân Nguyễn khỏi những nơi chúng vừa dừng chân, không để chúng kịp củng cố lại lực lượng, trên cả hướng thủy lẫn hướng bộ. Trong vòng khoảng chưa đầy hai tháng, nghĩa quân đã quét sạch quân Nguyễn khỏi Gia Định.
--------------------------------
349 Đại Nam thực lục, chính biên, t. II, tr. 39.

350 Lịch triều tạp kỷ, t. II, tr. 230 chép: “Quân thủy Tây Sơn nhân chiều gió thuận, nước thủy triều đang lên, giương buồm căng, xông pha thẳng tiến”.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 18 Tháng Ba, 2012, 02:09:43 pm
Trận Thảo Câu – Dác Ngư 1783

Sau khi Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ cho đại quân rút về Quy Nhơn chỉ để lại một bộ phận nhỏ khoảng 3.000 quân giữ Gia Định, bọn tàn quân Nguyễn Ánh lại bắt đầu ngóc lên hoạt động. Khoảng cuối năm 1782, chúng lại chiếm được Gia Định và rước Nguyễn Ánh trở về. Nghe tin đó, lập tức Nguyễn Nhạc cử hai em là Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ đem ngay quân vào Gia Định. Cũng như lần vừa xong, cuộc hành quân lần này hoàn toàn đi theo đường thủy. Nương theo gió mùa đông-bắc, nghĩa quân bắt đầu xuất phát từ tháng Hai âm lịch năm 1783. Đáng chú ý là, lần này nghĩa quân mang theo cả một đơn vị tượng binh. Đường hành quân vẫn như cũ, tức là thuyền chiến Tây Sơn sẽ tập kết ở Vũng Tàu rồi qua cửa Cần Giờ ngược dòng tiến vào Gia Định. Lực lượng nghĩa quân Tây Sơn này có lẽ cũng chỉ bằng hoặc ít hơn so với lần trước, vì thực tế quân Nguyễn Ánh lúc này mới tập hợp, còn khá yếu.

Đối phó lại với Tây Sơn, Nguyễn Ánh một mặt cử người sang cầu viện quân Xiêm, mặt khác dồn tất cả lực lượng về Gia Định, lập một tuyến phòng thủ vững chắc quanh khu vực này chứ không dám chặn đánh quân thủy Tây Sơn từ ngoài cửa biển như lần trước nữa. Biết quân thủy Tây Sơn rất mạnh, Nguyễn Ánh bố trí lực lượng phòng thủ lần này bao gồm cả quân bộ lẫn quân thủy, trong hệ thống liên hoàn, gồm các đồn ở hai bên bờ, thuyền chiến và các phương tiện đánh thủy dưới sông.

  Đại Nam thực lục cho biết khá chi tiết cách bố phòng đó: “Vua nghe tin “giặc” Tây Sơn mưu vào cướp, sai đặt đồn ở Thảo Câu ở bờ phía nam sông lớn Gia Định, giao cho Dương Công Trừng giữ, ở bờ phía bắc thì đặt đồn Dác Ngư351, giao cho Tôn Thất Mân giữ, ngang sông bắc cầu phao để tiện qua lại. Trong sông thì bày hơn trăm chiến thuyền để làm thế dựa nhau, cho Chu Văn Tiếp, Tôn Thất Cốc, Võ Di Nguy, lưu thủ Thăng, tiên phong Túy quản lãnh. Đằng trước đặt một con rồng cỏ (thảo long) đề phòng giặc. Sai giám quân Tô (không rõ họ) coi bè hỏa long, đợi giặc đến theo dòng nước chảy mà phóng hỏa để đốt thuyền giặc” (Đại Nam thực lục, t. II, tr. 44).
----------------------------
351 Ở các đoạn khác nhau trong Đại Nam thực lục cũng như trong Đại Nam nhất thống chí, đồn này được chép là Dốc Ngư. Đó là những từ ghi âm Hán Việt của chữ Cá Dóc. Theo Lịch triều tạp kỷ (t. II, tr. 264), đồn này còn có tên nữa là Rạch Bàng.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 18 Tháng Ba, 2012, 02:14:15 pm
Hiện nay chưa có công trình nào xác minh được chính xác vị trí của phòng tuyến này ở đâu. Nhưng có thể biết rằng “sông lớn Gia Định” chính là sông Sài Gòn hiện nay, thuở đó có tên gọi là sông Tân Bình hay sông Bến Nghé (Ngưu Chử). Đây là khúc sông chảy qua thành Gia Định, đương thời là địa phận của huyện Tân Bình, nổi tiếng vì nhiều cá sấu. Phòng tuyến hẳn ở đoạn dưới thành Gia Định, nhưng không xuống quá ngã ba Nhà Bè.

  Trịnh Hoài Đức viết trong Gia Định thành thông chí (q. thượng, tr. 39) cho biết một số chi tiết về khúc sông này thời đó: “… rộng 142 tầm, sâu 10 tầm, con nước lên cao 3 thước, những tàu buôn và ghe thuyền của bản quốc và ngoại quốc liên tiếp đến đậu, trông thấy trụ buồm liên lạc, làm ra một nơi đại đô hội. Bến đò từ trước thành uốn quanh lên phía tây-băc, rồi uốn lại phía đông xuống cửa Tam Giang Nhà Bè, hiệp làm sông Phước Bình, chảy ra cửa lớn Cần Giờ là 142 dặm rưỡi…”. Đây là một khúc sông lớn có nhiều ý nghĩa trong lịch sử của nhà Nguyễn, sau này được Minh Mạng cho khắc hình tượng vào đỉnh Cao và ghi trong điện thờ. Lịch triều tạp kỷ (t. II, tr. 264) nói rõ phòng tuyến này lập trên sông Bến Nghé và gọi tắt trận này là trận Bến Nghé hay Khúc Láng.

  Khu vực này hiện còn một địa danh là BẾN DỐC nằm ở phía bờ bắc, cánh sông khoảng gần 2 ki-lô-mét đường chim bay, hiện thuộc Thạnh Mỹ Lợi. Tại đây cũng còn một rạch nước khá rộng có tên là Rạch Mương. Chỗ này đoạn sông uốn cong, phía tả ngạn có nhiều lạch nhỏ khá tiện lợi cho việc bố trí binh thuyền. Có thể ngờ rằng phòng tuyến của quân Nguyễn đặt ở đây với đồn Dốc Ngư (hay Rạch Bầng ở khoảng gần cửa lạch Mương đổ ra sông Sài Gòn hiện nay), đồn Thảo Câu ở đối diện bên phía bờ hữu ngạn, khoảng Tứ Đước hiện nay. Như vậy, phòng tuyến cách đồn Thị Nghè về nam, theo đường sông khoảng 10 ki-lô-mét. Khúc sông chỗ này rộng khoảng 300 – 400 mét, khá phù hợp với con số 142 tầm (Tự nguyên dẫn lời Mạnh Tử: “bát xích viết tầm”, tức tám thước làm một tầm. Thước dưới thời Mạnh Tử, theo Ngô Thừa Lạc tương ứng 19,91 cm. Như vậy tầm vào khoảng 1,6m. Tuy vậy, đo lường thay đổi tùy thời. Đối chiếu cách đổi từ tầm của Trịnh Hoài Đức sang trượng trong Đại Nam nhất thống chí thì một tầm tương ứng nửa trượng, tức khoảng 2 mét).


Kế hoạch tác chiến của quân Nguyễn nhằm dùng kế phục binh, tiêu diệt quân thủy Tây Sơn bằng hỏa công, sau đó tung thuyền chiến từ sau các bè rồng cỏ và quân từ hai đồn Thảo Câu, Dác Ngư kết thúc trận đánh. Như vậy, điểm mấu chốt quyết định thành bại của quân Nguyễn trong trận này là ở kết quả của những bè hỏa công, còn hai đồn bên bờ và đội thuyền phía thượng lưu có tác dụng như một vòng vây bọc và tiêu diệt thuyền chiến Tây Sơn bị lửa cháy. Đây là một thế trận phòng ngự đường thủy khá điển hình và khá lợi hại, tuy nhiên, phụ thuộc nhiều vào điều kiện thiên nhiên như chiều gió và hướng nước chảy do thủy triều. Về nguyên tắc, thế trận này khá giống cách đánh của quân Trần trong trận Bạch Đằng năm 1288, tức là thành bại của trận đánh phụ thuộc một phần quan trọng vào diễn biến của thời tiết và thủy triều. Nhưng kết cục của trận đánh đã chỉ rõ điểm khác nhau căn bản của hai trận đó ở chỗ: quân Trần năm 1288 chẳng những biết cách mà còn đủ sức điều khiển, khống chế nhịp độ hành quân của đối phương cho phù hợp với nhịp điệu biến chuyển của thiên nhiên (thủy triều), trái lại, quân Nguyễn đã không làm được điều đó và đã tự mình bị sập vào cái bẫy do chính mình đặt ra.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 18 Tháng Ba, 2012, 02:18:42 pm
Thông thường, từ cửa Cần Giờ tiến vào, thuyền bè đều phải chờ lúc thủy triều lên. Từ cửa Cần Giờ vào đến trận địa của quân Nguyễn còn khoảng 80 ki-lô-mét nữa. Như vậy, muốn có được thế thuận nước, thuận gió, thuyền chiến Tây Sơn không thể tiến công quân Nguyễn vào ngay ngày hôm đó. Rất có thể nghĩa quân đã tạm dừng ở khoảng Ngã ba Nhà Bè để chuẩn bị đội hình tiến công.

Tương ứng với các chốt phòng thủ của quân Nguyễn, quân thủy Tây Sơn chia làm ba bộ phận thực hiện những nhiệm vụ chiến thuật riêng biệt: đại bộ phận binh thuyền đánh thẳng vào tuyến phòng thủ chính diện của quân thủy Nguyễn Ánh ở trên mặt sông; một bộ phận men theo bờ phía nam, do đô đốc Lê Văn Kế chỉ huy, đánh vào đồn Thảo Câu của Dương Công Trừng; một bộ phận khác men theo bờ phía bắc, do tư khấu Nguyễn Văn Kim chỉ huy, đánh vào đồn Dác Ngư của Tôn Thất Mân. Chờ lúc thủy triều dâng cao, gió biển thổi mạnh, cả ba đội thuyền chiến Tây Sơn nhất loạt đánh vào toàn bộ hệ thống phòng thủ của quân Nguyễn.

  Theo Gia Định thành thông chí, thủy triều ảnh hưởng mạnh đến tận sông này. Tại đây, biên độ nước vẫn tới 3 thước (tức khoảng 1,2 m).

  Lịch triều tạp kỷ (t. II, tr. 264) cho biết tương đối chi tiết về thời gian thủy triều lên cao. Hôm đó là ngày 24 tháng Hai âm lịch, tức ngày 26-3-1783: “… nước thủy triều lên to, từ giờ dần đến giờ tỵ (khoảng từ 5 giờ đến 11 giờ sáng – T.G.) nước đầy tràn lên, thình lình gió đông-bắc thổi ngược lại, bè lửa cháy tạt về, đốt thuyền quân Nguyễn mờ mịt trong vòng khói lửa dữ dội”.


Tuân theo kế hoạch cứng nhắc đã được vạch sẵn, khi thấy thuyền chiến Tây Sơn xuất hiện, đội thuyền chiến nhẹ do lưu thủ Thăng và tiên phong Túy chỉ huy tiến ra chặn đánh nhằm điều khiển tốc độ hành quân của thuyền chiến Tây Sơn, nhử dần vào trận địa phục kích đang đón sẵn.

  Về trận đánh “nhử” này thì cả Đại Nam thực lụcLịch triều tạp kỷ đều chép. Riêng Lịch triều tạp kỷ (t. II, tr. 270) chép rõ nơi xảy ra trận đánh là ở Khúc Láng. Trong các đoạn sau, Ngô Cao Lăng thường gọi chung trận Thảo Câu – Dác Ngư là trận Bến Nghé hay Khúc Láng. Khúc Láng có thể là đoạn Cửa sông Sài Gòn đổ ra sông Nhà bè hiện này. Từ đây đến Ngã ba Nhà Bè cũng gần bằng đến đồn Thị Nghè, tức khoảng hơn 10 ki-lô-mét đường sông. Hiện nay, ở khu vực này còn một địa danh là rạch Mương Láng có thể có liên quan đến Khúc Láng đương thời.

  Theo lô-gích chung thì không có khả năng quân Nguyễn đánh khiêu khích để nhử quân Tây Sơn vào lúc nước triều lên cao, vì lúc đó chúng không thể thực hiện kế hoạch hỏa công được. Nếu quả thời gian nước triều lên do Ngô Cao Lăng ghi lại là chính xác (chúng tôi đang nhờ các nhà thiên văn học kiểm tra lại) thì quân Nguyễn chỉ có thể đánh “nhử” Tây Sơn vào tầm nửa đêm, tức lúc nước rút.

  Theo chúng tôi, nếu phân tích tương quan lực lượng và chủ trương đánh địch của quân Tây Sơn với quân Nguyễn thì dù quân Nguyễn có nhử hay không thì Tây Sơn vẫn cứ đánh vào phòng tuyến của chúng. Chỉ có điều là quân Tây Sơn sẽ giành lấy chủ động về thời gian sao cho phù hợp với nước triều lên, có lợi cho trận đánh của mình (có thể nói, trong các trận thủy chiến ở Gia Định cũng như ở Bắc Hà, Nguyễn Huệ là người sử dụng rất thành thạo thủy triều và sức gió).

  Trong trường hợp đó, trận đánh của kỳ quân Nguyễn ở Khúc Láng chỉ có tác dụng như một trận đánh chặn để khống chế tốc độ hành quân của thuyền chiến Tây Sơn, không cho vào trận địa phục kích khi tình hình nước triều và gió không thuận lợi cho chúng. Hoạt động của cánh quân này cũng như hoạt động của Nguyễn Khoái trong trận Bạch Đằng vậy. Nhưng chúng đã không đủ sức lực và mưu mẹo làm tròn sứ mạng đó.



Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 18 Tháng Ba, 2012, 02:20:45 pm
Quân Tây Sơn thuận gió đánh thốc vào đội hình quân Nguyễn trên mặt sông. Như đã định, giám quân Tô, người được Nguyễn Ánh giao trọng trách phát hỏa, liền ra lệnh phóng hỏa và chặt dây các bè hỏa công. Nhưng nước triều đang dâng, gió biển thổi mạnh, các bè lửa không trôi về phía hạ lưu mà trôi ngược về phía quân Nguyễn đốt cháy rồng cỏ và thuyền chiến của chúng. Quân thủy Nguyễn hoảng hốt tan vỡ, thuyền chiến Tây Sơn nhân đó đánh thốc tới, phòng tuyến trên mặt sông bị chọc thủng nhanh chóng.

Trong khi đó, bộ phận thuyền chiến của nghĩa quân ở bờ nam do đô đốc Lê Văn Kế chỉ huy đổ bộ lên đồn Thảo Câu, tiêu diệt đồn này, bắt sống Dương Công Trừng, phá hủy toàn bộ cầu phao nối với bờ bắc, mở đường cho quân thủy trên sông đánh tới.. Hoảng sợ trước sức tiến công như vũ bão của quân thủy Tây Sơn, Tôn Thất Mân vội ra lệnh cho quân ở đồn Dác Ngư bên bờ bắc rút chạy về phía bờ nam. Nhưng không may cho chúng, đô đốc Kế đã phá cầu phao, cùng hiệp lực với tư khấu Kim tiêu diệt gọn đội quân này. Tôn Thất Mân chết ngay tại trận.

Trận đánh diễn ra rất nhanh trước sức tiến công mãnh liệt của quân thủy Tây Sơn. Sử Nguyễn chép về trận này không giấu được nỗi kinh hoàng: “Tháng hai “giặc” Tây Sơn Nguyễn Văn Lữ và Nguyễn Văn Huệ vào cướp. Thuyền “giặc” từ cửa biển Cần Giờ ngược dòng mà lên. Tư khấu giặc là Nguyễn Văn Kim tiến sát đến đồn bờ bắc, đô đốc giặc là Lê Văn Kế tiến sát đồn bờ nam, Lưu thủ Thăng và tiên phong Túy đem kỳ binh đón đánh, “nhử” giặc vào trận. Giám quân Tô phóng lửa đánh hỏa công, gặp thủy triều dâng to, gió đông-bắc thổi mạnh, bè lửa lại trở lại đốt cháy thuyền quân ta, binh đều vỡ chạy. Giặc thừa thắng áp tới. Tôn Thất Mân thấy thế chống không nổi, lùi chạy. Nhưng Kế chặt đứt cầu phao, Mân rơi xuống nước chết… Dương Công Trừng bị giặc bắt. Chu Văn Tiếp cũng lui chạy”352.

Sau trận đánh này, Nguyễn Ánh phải bỏ đất Gia Định rút về Ba Giồng – sào huyệt của quân Đông Sơn. Tây Sơn tiếp tục truy kích và thắng lớn quân Nguyễn một trận nữa ở Đồng Tuyên. Quân Nguyễn hoàn toàn tan tác tìm đường trốn ra các đảo ở vịnh Xiêm.

Vơi thắng lợi trên sông Gia Định năm đó, quân thủy Tây Sơn lại lập nên một kiểu mẫu nữa trong lịch sử thủy chiến của mình, đó là việc công phá thành công một tuyến phòng thủ đường thủy có sự hỗ trợ của đồn binh đóng hai bên bờ. Phòng tuyến Thảo Câu – Dác Ngư được quân Nguyễn chuẩn bị khá công phu, nhưng quân Tây Sơn, với cách đánh áp đảo và biết sử dụng quy luật thủy triều, đã làm thất bại kế hoạch hỏa công của quân Nguyễn, đồng thời biết phá vỡ tính chất liên hoàn thủy bộ của phòng tuyến này bằng cách làm tê liệt và tiêu diệt hai đồn binh ở hai bờ sông, tách chúng ra để tiêu diệt. Kết quả là phòng tuyến tưởng như rất chặt chẽ, kiên cố của quân Nguyễn đã bị quân thủy Tây Sơn phá bung trong một trận đánh.

Cũng như trận Ngã Bảy năm trước, trận Thảo Câu – Dác Ngư lần này cũng có ý nghĩa quyết định đến thành bại của toàn bộ cuộc hành quân năm 1783.
--------------------------
352 Đại Nam thực lục, chính biên, t. II, tr. 46.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 24 Tháng Ba, 2012, 02:13:49 pm
Trận Rạch Gầm – Xoài Mút 1785353

Nhìn trên bản đồ, Rạch Gầm, Xoài Mút là hai lạch nước nhỏ nằm ở phía tả ngạn sông Tiền Giang, đoạn gần tới thị xã Mỹ Tho hiện nay. Do đặc điểm chung của một dòng sông có độ dốc không cao, Tiền Giang cũng như nhiều sông khác ở đồng bằng Nam Bộ có rất nhiều bãi nổi giữa sông, tạo ra nhiều đoạn có đường nước rất phức tạp. Đoạn sông Tiền từ Cái Bè đến Mỹ Tho là một trong những chỗ như vậy. Trên đoạn sông này, những cù lao chi chít như Tân Phong, Cồn Tiên, Trà Luật, Thới Sơn… khiến cho đường nước chỗ rộng, chỗ hẹp, chỗ tách ra, chỗ nhập lại. Các cù lao đó không khác gì những chiến hạm khổng lồ nằm án ngữ giữa dòng, khống chế mọi sự đi lại trên mặt sông. Hơn nữa, đây lại là khúc sông gần cửa biển, chịu ảnh hưởng mạnh của thủy triều, với hai nhịp lên xuống trong một ngày đêm. Trong Đại Nam nhất thống chí (t. V, tr. 96), sông Trà Luật chính là phần bắc của khúc sông này, “thủy triều lên sâu 20 thước, thủy triều xuống sâu 16 thước”. Như vậy biên độ ở đây tới 4 thước ta, ước khoảng 1,6 mét. Tính toán chi tiết của các nhà thiên văn hiện nay cho biết: biên độ triều lớn (một ngày đêm có hai lần nước triều lên xuống, một lần lớn, một lần nhỏ) trong ngày diễn ra trận Rạch Gầm – Xoài Mút vào khoảng gần 2 mét354. Với ảnh hưởng của thủy triều như vậy, dòng chảy ở đây lúc xuôi, lúc ngược, càng tăng thêm tính chất phức tạp của đoạn sông này.

Chính vì vậy, cũng như Bạch Đằng, nơi đây không phải chỉ diễn ra duy nhất một đoạn Rạch Gầm – Xoài Mút năm 1785. Trước đó, trong quá trình tranh chấp giữa các thế lực phong kiến khác nhau ở vùng này, đã từng có hai trận đánh khá lớn diễn ra ở đây.

  Lần thứ nhất xảy ra năm 1688, khi Mai Vạn Long được chúa Nguyễn cử vào đánh Hoàng Tiến. Lịch triều tạp kỷ (t. I, tr. 113) chép về trận này như sau: “Bọn Vạn Long hầu tiến quân đến đóng ở Rạch Gầm (Sầm Khê) nói phao lên là tiến quân đánh Nặc Thu, nhưng giả vờ lệnh cho Hoàng Tiến làm tiên phong, dụ Tiến đến giữa sông đổ phục binh ra đánh úp vây bắt. Tiến chạy trốn rồi chết”.

  Lần thứ hai xảy ra năm 1705. Cũng theo Lịch triều tạp kỷ (t. I, tr. 173), đây là lần đụng độ của quân Đàng Trong với quân Xiêm, kết quả là Văn Trường hầu Nguyễn Cửu Vân đã đánh cho quân Xiêm chạy tan tác.


Tuy nhiên, lịch sử chỉ nhớ mãi đến một Rạch Gầm – Xoài Mút mà chiến công của nó gắn liền với tên tuổi Nguyễn Huệ, một trong những vị anh hùng dân tộc kiệt xuất nhất của lịch sử nước ta. Đó là Rạch Gầm – Xoài Mút năm 1785.
-----------------------------------
353 Đây là một trận đánh vào loại lớn nhất trong lịch sử phong trào nông dân Tây Sơn cũng như trong lịch sử chiến tranh cổ trung đại ở nước ta. Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu, giới thiệu về trận này một cách tỉ mỉ (có thể tham khảo trong phần Thư mục của sách này). Gần đây, có ý kiến đặt vấn đề nghiên cứu trận Rạch Gầm – Xoài Mút như một hoạt động quân sự lớn nhất, trong một loạt hành động của một chiến dịch thống nhất: “Chiến dịch Tiền Giang năm 1785” (Văn Lang, Nghiên cứu lịch sử, số 6-1978, tr. 53). Đó là một ý kiến rất đáng chú ý. Tuy nhiên, vấn đề này còn phải chờ thêm nhiều tài liệu nữa thì mới sáng tỏ hơn được. Trong khuôn khổ có hạn, chúng tôi chỉ nhấn mạnh một số điểm cần thiết và tóm tắt diễn biến chính của trận đánh diễn ra vào đêm 18 – 19-1-1785.

354 Nguyễn Ngọc Thụy, Thủy triều trong chiến thắng vĩ đại Rạch Gầm – Xoài Mút năm 1785, trong Nghiên cứu lịch sử, số 6-1980, tr. 73.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 24 Tháng Ba, 2012, 02:16:31 pm
Như đã biết, vào khoảng giữa năm 1784, trước sự van nài khẩn thiết của Nguyễn Ánh, đồng thời lồng vào đó ý định xâm lược, cướp bóc nước ta, vua Xiêm đã cử hai đạo quân thủy bộ với gần 5 vạn quân đưa Nguyễn Ánh về đánh Tây Sơn. Cuối năm 1784, quân Xiêm – Nguyễn mới chiếm được một số vùng thuộc các tỉnh miền Tây đồng bằng Nam Bộ. Lực lượng nghĩa quân Tây Sơn ở Gia Định chỉ bằng khoảng 1 phần 10 quân địch, do phò mã Trương Văn Đa chỉ huy, đã chiến đấu anh dũng tiêu hao một bộ phận đáng kể quân Nguyễn, đồng thời bằng sức manh quân sự cũng như các biện pháp ngoại giao làm chậm bước tiến của quân Xiêm, kéo dài thời gian chờ quân Tây Sơn từ Quy Nhơn vào ứng cứu.

  Sự kiện trên được kể trong thư của Gi-ne-xta năm 1784 (Lorenzo Pérez, Sách đã dẫn, tr. 84). Cũng trong thư này, Gi-ne-xta cho biết: “Nhờ có gián điệp, vị quan này (Trương Văn Đa – T.G.) hay biết là có một đạo quân Xiêm đi (đường bộ) qua xứ Lào định đến thẳng Quy Nhơn”.

Đầu năm 1785, sau khi chuẩn bị kỹ càng, nghĩa quân Tây Sơn lại một lần nữa dùng toàn quân thủy vượt biển vào Gia Định. Không chủ trương phòng ngự ở Gia Định thuyền chiến Tây Sơn tiến thẳng đến vùng chiến sự nóng bỏng nhất – khu vực sông Tiền.

Đối phó với tình hình mới, quân Xiêm – Nguyễn tập hợp lực lượng, co cụm lại trong một hệ thống phòng thủ thủy bộ liên hoàn ở khu vực Trà Tân (hay Trà Luật, Trà Lọt). Trái lại, quân Tây Sơn cũng dàn thành thế trận ở khu vực Mỹ Tho, sau một loạt trận đánh thăm dò lực lượng địch. Như vậy đến đầu năm 1785, quân Tây Sơn và quân Xiêm – Nguyễn đang ở thế rải ra, giành và giữ đất, chuyển thành hai khối sinh lực lớn cùng đóng ở tả ngạn khúc sông Tiền, từ Cái Bè đến Mỹ Tho, cách nhau gần 30 ki-lô-mét. Hình thế quyết chiến chiến lược đã hình thành.

Những lần trước tiến vào Gia Định, quân Nguyễn ở thế phòng ngự giữ đất, quân Tây Sơn ở thế tiến công tiêu diệt địch. Lần này, sau khi quân thủy của Nguyễn Huệ vào, cả hai bên đều hình thành thế tìm cách tiến công tiêu diệt lẫn nhau. Vì vậy, cách bố trí trí trận địa của cả hai bên toát ra tính chất vừa có khả năng đánh phòng thủ, vừa có thể tích cực tiến công. Những khúc sông có cù lao hiểm trở thành căn cứ lợi hại cho cả hai bên.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 24 Tháng Ba, 2012, 02:19:56 pm
Quân Xiêm – Nguyễn nhanh chóng chiếm lấy khu vực Trà Tân, trên đường bộ có lạch Trà Tân che đỡ, trên đường thủy có những cù lao Tân Phong, Trà Luật bảo vệ. Mạc thị gia phả của Vũ Thế Dinh là tài liệu duy nhất cho biết cách bố phòng của quân Xiêm – Nguyễn: “Quân của vua (tức Nguyễn Ánh – T.G.) theo bãi sông đóng đồn, còn quân Xiêm thì đổ bộ lên bờ cố thủ, thuyền chiến dàn theo bờ sông làm thế ỷ dốc”. Ở đầu dưới của đoạn sông phức tạp này, Nguyễn Huệ đóng đại bản doanh ở Mỹ Tho. Trên đường bộ phía tả ngạn, có hai con lạch là Rạch Gầm và Xoài Mút (hoặc Xoài Hột) che chở, trên đường nước có cù lao Thới Sơn (Thái Sơn) bảo vệ.

Cũng theo Mạc thị gia phả, quân thủy Tây Sơn “đem thuyền chiến dàn ra sông lớn để đợi cơ hội” và sau này khi trận đánh diễn ra, Nguyễn Huệ bố trí quân bộ và pháo binh rất mạnh trên cù lao Thới Sơn và bên tả ngạn. Hằng ngày, theo nhịp nước triều lên, Nguyễn Huệ cho thuyền đánh thăm dò, quấy rối về phía trận địa quân địch.

Ngoài những hoạt động đó, hầu như hai bên án binh bất động trong suốt mười ngày, kể từ khi nghĩa quân Tây Sơn đến đóng ở cảng Mỹ Tho (Mạc thị gia phả)

Lực lượng hai bên tương đương. Quân Xiêm – Nguyễn đóng ở Trà Tân có khoảng 4 -5 vạn, với khoảng 300 – 400 thuyền chiến. Trang bị vũ khí về cơ bản cũng như quân Tây Sơn. Và dưới mắt các giáo sĩ phương Tây “Bấy giờ, ngó thấy nước Xiêm giúp đỡ quân sự của Cựu vương của Quảng Nam quốc (tức Đàng Trong của chúa Nguyễn, đây muốn ám chỉ Nguyễn Ánh – T.G.) sự lo âu của chúng tôi cũng vợi bớt, vì xem ra chiến thuật của quân Xiêm cũng đáng cho chúng ta hy vọng”355.

Quân Tây Sơn, theo gia phả họ Mạc có khoảng 5 vạn356, có lẽ cũng khoảng 300 – 400 thuyền chiến. Đối với Nguyễn Huệ, quân Xiêm là đối tượng ông chưa có điều kiện tiếp xúc, hơn nữa chúng lại đang ở thế thắng, tình hình sông ngòi ở đây lại tương đối phức tạp, nên việc dừng lại ít lâu để tìm ra cách đánh thích hợp nhất là một điều cần thiết. Đối với quân Xiêm – Nguyễn những thất bại nặng nề của Nguyễn Ánh trong mấy năm trước buộc chúng phải hết sức dè dặt, thận trọng.
--------------------------
355 Thư của Gi-ne-xta năm 1784. Lorenzo Pérez, Sách đã dẫn, tr. 85.

356 Rất nhiều người nghi ngờ con số này. Theo chúng tôi, con số này vẫn có khả năng hợp lý của nó. Cần lưu ý là khi tiến ra Bắc năm 1786, Nguyễn Huệ có hai vạn, nhưng đó chỉ là số quân được chuẩn bị để đánh Thuận Hóa thôi.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 24 Tháng Ba, 2012, 02:25:39 pm
Trong suốt mười ngày thăm dò lực lượng của nhau, Mạc thị gia phả cho chúng ta biết rất rõ chủ trương “nhún mình” của Nguyễn Huệ đối với bọn tướng Xiêm, bằng những bức thư cầu hòa, bằng vàng, lụa dâng biếu, thậm chí đặt tiệc mời chúng sang hẳn trại mình để chúng có điều kiện thăm dò lực lượng của ta… Kết quả trận đánh sau này cho thấy Nguyễn Huệ đã tìm ra cách đánh, đó là phá địch trong thế trận của mình – một lối đánh truyền thống của dân tộc, nhưng lại rất mới trong nghệ thuật quân sự của Nguyễn Huệ. Đồng thời, lúc đó quân Xiêm cũng tìm ra cách đánh của chúng do sự bức bách của nội tình cũng như do cảm thấy nắm được sơ hở của quân Tây Sơn. Trận đánh đã diễn ra theo kế hoạch tiến công “chủ động” của quân Xiêm – Nguyễn vào cái bẫy đã giương sẵn của Nguyễn Huệ.

  Mạc thị gia phả chép lại kế hoạch thốt ra từ miệng Chiêu Tăng như sau: “Ngày nay theo kế ấy (tức kế Tây Sơn dụ hòa với Xiêm), giặc tin tôi, tất không phòng bị, ta nên thừa kế mà đánh phá giặc ngay. Xin hẹn mồng 9 (tháng Chạp), quốc vương (tức Nguyễn Ánh) đem ngự binh đi trước, xông vào thuyền giặc, tôi cùng các tướng bản bộ đem tất cả các thuyền chiến lớn nhỏ tiến lên, phá các thuyền chắn ngang sông của giặc thì thế nào cũng toàn thắng”.

Thoạt nhìn, đoạn văn trên rất tối nghĩa. Có một điểm rõ là quân Xiêm – Nguyễn chia làm hai thê đội trước sau. Nguyễn Ánh đi trước, đánh trước và Chiêu Tăng đốc xuất đại quân đi sau. Nhưng hai đội thuyền đó đánh vào các đội thuyền nào của Tây Sơn thì rất khó hình dung, vì nếu quân Nguyễn Ánh đã “đi trước, xông vào thuyền giặc” rồi thì tại sao Tây Sơn vẫn còn những “thuyền chắn ngang sông” là mục tiêu chính của đại quân Xiêm.

  Đây là chi tiết ít được khai thác trong các công trình nghiên cứu trước đây. Vừa rồi, Văn Lang đã cố gắng giải thích lại đoạn văn tối nghĩa này (Nghiên cứu lịch sử, số 6-1978, tr. 50). Tuy nhiên, còn có những điểm chưa hợp lý, chủ yếu ở chỗ không làm rõ được hai đối tượng tiến công khác nhau của bộ phận binh thuyền Nguyễn Ánh và bộ phận binh thuyền Chiêu Tăng.

Không có khả năng Vũ Thế Dinh đã ghi sai lời của Chiêu Tăng. Khi trận đánh xảy ra, Dinh đang ở Long Hồ với Mạc Tử Sinh, cách Trà Tân khoảng 10 ki-lô-mét. Tuy không trực tiếp tham gia trận đánh, nhưng nhiệm vụ của Dinh gắn chặt với trận đánh; lo thuyền bè để đón tàn quân nếu thất trận. Hơn nửa, sau đó Dinh được Nguyễn Ánh giao nhiệm vụ viết thư tường trình lại với vua Xiêm quá trình diễn biến cuộc chiến và tội lỗi của Chiêu Tăng, Chiêu Sương trong lần thất bại này. Thực ra, Vũ Thế Dinh đã thuật lại một cách quá tóm lược kế hoạch hành quân khá tinh vi của quân Xiêm – Nguyễn.

Dựa vào diễn biến trận đánh mà Vũ Thế Dinh đã mô tả ở đoạn dưới, ta có thể hình dung kế hoạch đó như sau: Nguyễn Huệ đã vờ hé lộ kế hoạch phục kích của mình và Chiêu Tăng định tương kế tựu kế đánh một trận quyết định tiêu diệt quân Tây Sơn. Kế hoạch của Chiêu Tăng dùng ngự quân của Nguyễn Ánh như vật thí mạng vờ mắc kế rơi vào ổ phục kích của Tây Sơn. Còn quân Chiêu Tăng, sau khi chờ binh thuyền của Tây Sơn bộc lộ lực lượng từ Rạch Gầm tiến ra chặn ngang sông bịt đường về của Nguyễn Ánh thì mới thúc đại quân đánh vào sau lưng thuyền chiến Tây Sơn. Nhưng kết quả là cả quân Xiêm cũng rơi vào thế bị phục kích và “bị Nguyễn Huệ đốc thúc những thuyền chiến phía sau xung phong tử chiến đánh phá thuyền Xiêm. Lệnh Nguyễn Huệ rất nghiêm, quân lính nào không quyết chiến thì chém ngay, nên người người quên mình đánh lấy được, các tướng sĩ cũng liều mình xông lên thuyền đánh tan quân ta” (tức quân Nguyễn – T.G.) (Mạc thị gia phả).


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 24 Tháng Ba, 2012, 02:33:38 pm
Trận đánh bắt đầu từ khoảng canh năm đêm mồng 8 rạng sáng mồng 9 tháng Chạp (tức 18, 19-1-1785), đó là lúc Vũ Thế Dinh nghe thấy tiếng pháo ran lên ở khu vực Rạch Gầm – Xoài Mút. Theo tính toán của các nhà thiên văn thì thời điểm đó ứng với thời gian nước triều đang rút xuống thấp nhất357.

Rõ ràng, quân Xiêm – Nguyễn đã lợi dụng đêm tối và thuận dòng nước rút để đánh vào các trận địa quân Tây Sơn358.

(http://www.vo-thuat.net/users_private/tof/Luoc_do_tran_Rach_Gam_-_Xoaivtn090911_Mut_.jpg)
Lược đồ trận Rạch Gầm - Xoài Mút

Nhưng quân Tây Sơn đã không mắc mưu chúng, cái bẫy chỉ sập xuống khi cả đại đội binh thuyền của Chiêu Tăng lọt vào trận địa phục kích. Cuối cùng, hỏa lực của các pháo thuyền Tây Sơn cùng nghệ thuật giáp chiến dũng cảm tuyệt với của nghĩa quân, đã đánh cho quân thủy Xiêm – Nguyễn tan nát, “thủy sư Xiêm La bị đánh chìm và tan tành gần hết. Tướng Xiêm là Chiêu Tăng, Chiêu Sương chỉ kịp thu lượm được vài nghìn quân tàn, do đường tắt qua Cao Miên chạy về nước”359.

Trận Rạch Gầm – Xoài Mút năm 1785 đã nhanh chóng kết thúc toàn bộ cuộc chiến tranh cướp đất của quân Xiêm – Nguyễn. Sau trận này, quân Xiêm – Nguyễn phải rút chạy khỏi cả những nơi chúng đã chiếm được mà hầu như nghĩa quân không cần phải đánh thêm một trận nào khác. Một lần nữa, Nguyễn Ánh lại bị hất ra biển. Triều đình Xiêm tuy vẫn cưu mang đám quân tàn Nguyễn Ánh, nhưng trong lòng “sợ Tây Sơn như cọp”360.
---------------------------
357 Nguyễn Ngọc Thụy, tài liệu đã dẫn.

358 Lê Văn Quân, Tổng chỉ huy quân Nguyễn Ánh, tướng tiên phong trong trận này là người ở chính vùng này.

359 Lịch triều tạp kỷ, t. II, tr. 289.

360 Đại Nam thực lục, t. II, tr. 66.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 24 Tháng Ba, 2012, 02:34:28 pm
Với Rạch Gầm – Xoài Mút, quân thủy Tây Sơn ghi thêm vào trang sử thủy chiến vẻ vang của dân tộc một trận phục kích đường thủy vào loại tiêu biểu nhất, tiếp tục truyền thống Bạch Đằng chói lọi xưa kia. Đó là nghệ thuật lợi dụng những yếu tố tự nhiên để xây dựng thế trận, nghệ thuật tạo thế và hướng cho địch tiếp nhận trận đánh trong thế trận đã được chuẩn bị sẵn, hoàn toàn có lợi cho ta.

Thắng lợi này một lần nữa chứng tỏ khả năng tuyệt vời của Nguyễn Huệ trong nghệ thuật chỉ đạo tác chiến. Trong cuộc đời hoạt động của Nguyễn Huệ, phần lớn các trận đánh do ông chỉ huy thuộc loại đánh công kiên, đánh tiến công, đánh tập kích. Ít thấy trong đó những trận phục kích – loại hình trận đánh rất tiêu biểu trong chiến tranh chống Nguyên và trong khởi nghĩa Lam Sơn. Nhưng với Rạch Gầm – Xoài Mút, Nguyễn Huệ tỏ rõ khả năng đánh phục kích rất tài tình của mình. Đó là một trận phục kích có kết hợp thủy bộ rất tinh vi, rất phức tạp và vì vậy cũng rất lợi hại. Rạch Gầm – Xoài Mút xứng đáng là một trong những trận đánh tiêu biểu nhất trên chiến trường sông nước của dân tộc ta.

Chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút cũng kết thúc giai đoạn phát triển thứ hai của phong trào nông dân Tây Sơn nói chung cũng như quân thủy Tây Sơn nói riêng. Đó là giai đoạn củng cố, phát triển lực lượng trong địa bàn nghĩa quân cai quản, từ Quảng Nam đến Nha Trang, đồng thời mở rộng vùng giải phóng đến các tỉnh đồng bằng Nam Bộ. Cục diện chiến tranh chính là những trận thủy chiến trong các sông ngòi chằng chịt ở Gia Định. Thắng lợi liên tiếp của nghĩa quân trong giai đoạn này chứng tỏ sự trưởng thành vượt bậc trong điều kiện vận dụng những thủ đoạn chiến tranh mới: thủy chiến trên chiến trường sông nước là chủ yếu.

Những trận đánh giải phóng Gia Định đã tạo ra một bước nhảy vọt trong quân đội Tây Sơn, ở chỗ hình thành một lực lượng quân thủy hùng mạnh. Chính lực lượng mới đó đã góp phần quyết định mọi thắng lợi trên chiến trường này, đồng thời mở ra khả năng phát triển địa bàn hoạt động về phía bắc, tiêu diệt quân đội phong kiến nhà Trịnh, thống nhất đất nước.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 25 Tháng Ba, 2012, 03:58:23 pm
NHỮNG TRẬN ĐÁNH GIẢI PHÓNG BẮC HÀ,
THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (1786-1787)

Chiến dịch giải phóng Thuận Hóa

Đất Thuận Hóa vốn thuộc Đàng Trong. Năm 1774, lợi dụng chúa Nguyễn đang lúng túng trước sức tiến công của phong trào nông dân Tây Sơn, chúa Trịnh đã cử Hoàng Ngũ Phúc đem quân vào chiếm lấy. Từ đó Thuận Hóa trở thành một trọng trấn của Đàng Ngoài, tiếp giáp với vùng giải phóng của Tây Sơn. Tây Sơn lúc đó vờ thần phục Trịnh, nhận làm tiên phong đánh Nguyễn. Trong thời kỳ Tây Sơn đánh Nguyễn ở Gia Định, quân Trịnh luôn có ý định nhòm ngó hòng chiếm nốt vùng đất của Tây Sơn, khiến Tây Sơn không có điều kiện tiêu diệt tận gốc rễ quân Nguyễn.

  Về điểm này, có thể dẫn một đoạn trong thư của Gi-ne-xta: “Người ta đồn rằng lính Bắc Hà dọa chiếm cứ đế đô (tức thành Trà Bàn) nên ngày 20-7 (năm 1784) Tây Sơn phải truyền lệnh rút về” (xem Lorenzo Pérez, Sách đã dẫn, tr. 72).

Năm 1785, sau khi giáng cho quân Xiêm – Nguyễn một đòn trí mạng ở Rạch Gầm – Xoài Mút, tiếng tăm, khí thế Tây Sơn lên rất cao, tạo ra khoảng thời gian rảnh rang tương đối lâu ở mặt trận Gia Định.

  Trong những lần giải phóng Gia Định trước, thường chỉ khoảng mấy tháng sau khi Tây Sơn rút đại binh về Quy Nhơn thì tàn quân Nguyễn Ánh lại thừa cơ nổi dậy rước Ánh về ngay. Nhưng sau trận đại bại ở Rạch Gầm – Xoài Mút năm 1785, mãi đến ba năm sau Nguyễn Ánh mới dám mon men về các đảo phía nam Gia Định.

Bộ chỉ huy nghĩa quân lợi dụng thời cơ đó gấp rút chuẩn bị kế hoạch giải phóng Thuận Hóa. Tháng 5 năm 1786, tức là sau khi Nguyễn Huệ rút khỏi Gia Định tròn một năm, chiến dịch giải phóng Thuận Hóa bắt đầu.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 25 Tháng Ba, 2012, 04:01:35 pm
Chiếm được Thuận Hóa, quân Trịnh thừa hưởng một hệ thống phòng thủ vững chắc mà các đời chúa Nguyễn đã dày công xây dựng. Nhưng có một điểm khác cơ bản là hướng phòng thủ chính của Nguyễn trước đay tập trung ở bắc Thuận Hóa, nhằm đối phó với Trịnh, thì nay quay lại phía Nam.

Quân Trịnh ở Thuận Hóa có khoảng hơn ba vạn, trong đó 3.000 là quân thường trực, đóng ở Phú Xuân (tức Huế ngày nay); ngoài ra, khoảng gần ba vạn là quân binh dịch từ ngoài bắc đưa vào thay phiên nhau đồn trú ở các căn cứ khác. Phía nam Phú Xuân, quân Trịnh có hai đồn lớn: Hải Vân, án ngữ đường bộ từ Quảng Nam vào Thuận Hóa, và An Nông, bảo vệ mặt nam thành Phú Xuân. Ở phía bắc, quân Trịnh vẫn đồn trú tại hai căn cứ cũ của Nguyễn là Đồng Hới và Dinh Cát. Thành Phú Xuân ở giữa, kề biển, tường cao, hào sâu kiên cố.

Nghĩa quân Tây Sơn đánh Thuận Hóa lần này có khoảng hơn hai vạn do Nguyễn Huệ chỉ huy. Lực lượng đó chia làm hai cánh tiến công. Một cánh theo đường bộ vượt đèo Hải Vân, đánh đồn An Nông tiến về Phú Xuân, một cánh theo đường thủy bắn phá các đồn bảo dọc bở biển, cũng tiến đến vây đồn An Nông rồi cùng tiến về Phú Xuân.

Ngày 18 tháng năm âm lịch, quân Tây Sơn trên hướng đường bộ vượt qua đèo Hải Vân. Quân Trịnh ở đây tan tác rút về giữ đồn An Nông. Ngày 24, cả quân thủy lẫn quân bộ vây đồn An Nông.

Đồn An Nông án ngữ trên đường bố từ đèo Hải Vân đến Phú Xuân, cách Phú Xuân về phía nam khoảng 33 dặm Nguyễn, tức khoảng 17 – 18 ki-lô-mét. Hiện nay, ở đây vẫn còn thôn An Nông. Đồn này nằm kề bên bờ tây-bắc phá Hà Trung (nay là vụng Cầu Hai), gần với cửa sông An Cựu đổ vào phá này. Với địa thế như vậy, đồn có vị trí rất quan trọng trong hướng phòng thủ phía nam Phú Xuân. Từ phía nam lên Phú Xuân, đường thủy gần nhất là con đường qua cửa Tư Hiền vào phá Hà Trung rồi theo dòng An Cựu (còn tên nữa là Lợi Nông hay Đại Giang) lên sông Hương tới chính bờ nam thành Phú Xuân. Như vậy cả đường bộ lẫn đường thủy gần nhất để đến Phú Xuân từ hướng nam đều phải qua khu vực đồn An Cựu kiểm soát.

  Từ phá Hà Trung, đường thủy còn một đường nữa tới Phú Xuân là đường đi theo vụng Đông. Đường này xa hơn, sóng hơn, lại phải đi qua tấn Thuận An, tức tấn cửa Eo có các pháo đài phòng thủ.

Sau khi bị đánh tan ở Hải Vân, quân Trịnh trong các đồn lũy phòng thủ phía nam rút cả về An Nông, dưới sự chỉ huy của Hoàng Nghĩa Quyền (có sách chép là Hoàng Nghĩa Hồ) xây dựng một tuyến phòng thủ kiên cố ở vùng này.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 25 Tháng Ba, 2012, 04:04:31 pm
Lịch triều tạp kỷ (t. II, tr. 301) cho biết: khi quân Tây Sơn “đến đồn núi Hải Vân, tướng Trấn thủ là Quyền Trung hầu (tức Hoàng Nghĩa Quyền – T.G.) lui giữ đồn An Nông. Thủy binh các đồn cũng đều do đường thủy chạy trốn”.

Ngày 18 tháng năm, Phú Xuân biết tin Tây Sơn đã vượt đèo Hải Vân, vậy mà phải đến ngày 24 tháng đó, quân Tây Sơn mới đến vây Nông Sơn. Từ Hải Vân đến An Nông chỉ cách nhau khoảng 50 ki-lô-mét. Như vậy, rõ ràng nghĩa quân Tây Sơn đã dừng lại chuẩn bị một thời gian nhất định trước khi đánh vào An Nông vì ngay sau khi đồn An Nông bị hạ, thì quân Tây Son đã tiến đánh Phú Xuân luôn trong ngày hôm ấy. Sự chuẩn bị của Tây Sơn trong trận này cũng chính là chuẩn bị cho giải phóng Phú Xuân.

Cũng theo Lịch triều tạp kỷ (t. II, tr. 301): “Ngày 24, quân thủy, quân bộ Tây Sơn từ núi Hải Vân tiến lấy đồn An Nông. Tướng trấn thủ là Quyền Trung hầu cố sức chiến đấu, thuốc đạn hết sạch. Quyền tự vẫn chết trên mình voi”. Như vậy là quân thủy Tây Sơn có tham gia trận An Nông. Để đánh An Nông, họ chỉ có có con đường duy nhất là đi qua cửa Tư Hiền vào phá Hà Trung. Từ đây, đường thủy theo cửa sông An Cựu, rẽ vào sông Nông, có thể đưa quân thủy Tây Sơn đến tận đồn này. Hầu như toàn bộ lực lượng Tây Sơn đánh vào Phú Xuân ngày hôm ấy đã xuất phát từ đồn An Nông này, như vậy lực lượng quân Tây Sơn vây đánh đồn An Nông khá đông, đủ sức “vây hãm cả bốn mặt”, hoàn toàn cô lập đồn này361. Những pháo thuyền Tây Sơn sau đó nã vào Phú Xuân hẳn có góp phần đáng kể trong trận đấu pháo quyết liệt ở An Nông.

Trong vòng không đầy một ngày, Tây Sơn đã làm chủ đồn An Nông, mở toang cửa ngõ phía nam vào Phú Xuân, rồi thừa thắng đánh thẳng vào Phú Xuân.

Từ An Nông, đường thủy, đường bộ đến Phú Xuân đều rất tiện lợi. Thuyền chiến Tây Sơn thuận gió, men theo vụng Đông ập thẳng đến sát tường thành phía đông – bắc Phú Xuân, cùng với quân bộ vây kín thành này. Pháo thuyền tua tủa chĩa thẳng lên mặt thành.
----------------------------------
361 Lê quý kỷ sự, tr. 27.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 25 Tháng Ba, 2012, 04:09:33 pm
Quân Trịnh ở Phú Xuân do Phạm Ngô Cầu (quận Tạo) làm chánh tướng, Hoàng Đình Thể (quận Thể) làm phó tướng. Trước đó, quân Trịnh trong thành này chỉ có khoảng 3.000 người, đang tập trung phục dịch việc lập đàn cúng bái cầu mệnh cho quận Tạo.

  Quận Tạo vốn mê tín, biết vậy, Nguyễn Huệ cho người giả làm thầy tướng đến bói và lừa Tạo bắt lính lập đàn cúng liên miên suốt ngày đêm, trễ nải việc phòng bị.

Từ khi được tin quân Tây Sơn vượt đèo Hải Vân, quận Trịnh trong thành được tăng cường tới vài vạn. Tuy tăng cường quân, nhưng nội bộ tướng lĩnh trong thành, trước sức mạnh của Tây Sơn và kế ly gián của Nguyễn Hữu Chỉnh, đang bị phân hóa sâu sắc. Chánh tướng Tạo muốn hàng, phó tướng Thể quyết đánh.

  Tạo và Thể vốn đã mâu thuẫn, Thể lại là bạn cũ của Nguyễn Hữu Chỉnh đang là tướng Tây Sơn. Chỉnh lập mưu viết thư dụ hàng Thể, nhưng vờ đưa vào tay Tạo, khiến chúng càng mâu thuẫn gay gắt hơn, không nhất quán trong kế hoạch bố phòng.

Chính vì vậy, hy vọng chiếm thành một cách đỡ tốn xương máu nhất, Tây Sơn chủ trương bức hàng thành này.

  Thư của cha đạo Đút-xanh (Doussain) cho biết rõ ý đồ đó: “Mới vào, giặc (tức Tây Sơn – T.G.) bao vây đồn vì muốn để cho ông (Phạm Ngô Cầu – T.G) có thì giờ đầu hàng. Các quan họp lại bàn tán, quan lớn và vài vị quan khác muốn treo cờ bạc (tức cờ trắng – T.G.), nhưng các quan khác không chịu, chỉ muốn giương cờ điều (tức cờ đỏ quyết chiến – T.G.)”362.

Thoạt đầu, thuyền chiến Tây Sơn dàn trên sông Hương, đối diện sát với mặt thành phía đông, dùng pháo bắn uy hiếp quân Trịnh. Quân bộ Tây Sơn cũng dàn thế trận phối hợp ở trên bờ sông. Có lẽ trong lúc này, Nguyễn Huệ đưa ra yêu cầu của mình buộc quân Trịnh phải đầu hàng vô điều kiện. Quân Trịnh không chịu hàng, đóng cửa thành, đưa thêm quân ra bảo vệ ngoài thành và dùng pháo trên thành bắn vào quân Tây Sơn làm một thuyền chiến Tây Sơn trúng đạn. Quân Tây Sơn lên thuyền, tạm rút khỏi tầm pháo của Trịnh.
-------------------------------
362 Archives, M.E. Coch, 746, p. 201 (Sử địa, 9 – 10 tr. 232).


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 25 Tháng Ba, 2012, 04:18:09 pm
Khoảng xế chiều, thủy triều bắt đầu dâng, gió biển thổi mạnh, thuyền chiến Tây Sơn thừa dịp chở quân bộ xông thẳng sang bờ bắc. Pháo trên thuyền bắn tới tấp lên mặt thành, không cho pháo địch bắn trả lại, tạo thời cơ cho bộ binh trên thuyền đổ bộ ào ạt lên bờ nam, vây kín chân thành. Cuộc đổ bộ được thực hiện rất nhanh chóng và an toàn. Bộ binh Tây Sơn đã chiếm lĩnh được những vị trí xung phong cần thiết mà không bị hao tổn vì hỏa lực của quân Trịnh trên mặt thành. Cuộc chiến đấu bước vào giai đoạn cuối.

Theo Hoàng Lê nhất thống chí, lúc này trời đã tối nước vẫn dâng và gió biển vẫn thổi mạnh. Thuyền chiến Tây Sơn với những pháo hạng nạng, mà chỉ mấy tuần sau từng làm cho quân Trịnh sơ mất mật ở cửa Luộc, tiếp tục bắn vào trong thành. Bộ binh Tây Sơn cũng bắt đầu đánh vào trận địa của quân Trịnh ở ngoài thành. Trận đánh quyết định nhất diễn ra ở khu vực cầu Lạc Nô (còn có tên là Lạc Thu) và phường Thanh Hà. Chủ lực của quân Trịnh trong thành Phú Xuân và gần như toàn bộ đám tướng lĩnh chủ trương quyết chiến do Hoàng Đình Thể chỉ huy đều tập trung ở đây. Hỏa lực trên thành lúc này không giúp gì được cho quân của Hoàng Đình Thể nữa, quận Tạo cũng không chịu chi viện cho chúng. Trái lại, thuyền chiến Tây Sơn vẫn có thể uy hiếp trận địa Trịnh, đồng thời tiếp tục đưa quân và đạn dược từ bờ bắc ào ạt đổ sang. Kết quả, đánh nhau chưa đầy một trống canh, quân Trịnh hết đạn và thuốc súng, trong khi đó phía Tây Sơn, “quân bộ, quân thủy kết hợp được với nhau, bốn mặt ồ ạt xông đến”363, hoặc “quân Tây Sơn trùng trùng điệp điệp kéo thêm đến…”364, phá tan trận địa phòng thủ của quân Trịnh ở bờ thành phía nam. Hầu như tất cả các tướng Trịnh chỉ huy trận địa này đều tử trận.

(http://img32.imageshack.us/img32/2170/380381.jpg)

Không thể chống lại được sức tiến công mãnh liệt của quân thủy lẫn quân bộ Tây Sơn, quận Tạo đã kéo cờ trắng đầu hàng.
-------------------------------
363 Lê quý kỷ sự, tr. 28.

364 Lịch triều tạp kỷ, t. II, tr. 303.



Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 25 Tháng Ba, 2012, 04:20:50 pm
Ngay ngày hôm sau, Nguyễn Huệ, Nguyễn Hữu Chỉnh và Võ Văn Nhậm lại đem thuyền chiến tiến lên phía Bắc đánh đồn Đồng Hới. Đồn này do Vị Thái hầu (không rõ tên) và Ninh Tốn chỉ huy. Ngay từ những loạt pháo đầu tiên, bọn này đã cho lính lủi hết vào trong rừng tìm đường chuồn ra Bắc.

  Trong thư gửi Blăng-din (Blandin) ngày 6-6-1787) (tài liệu đã dẫn), Đút-xanh viết: “Chỉ có quân đồn Đồng Hới là trốn thoát được mà không bị tiêu diệt. Thoạt đầu, họ bị các thuyền chiến tiến công, nhưng khi thấy không chống đỡ nổi, họ rút lui vào một khu rừng gần đó…”.

  Cũng theo Đút-xanh, quân ở Dinh Cát đã rủ nhau bỏ chạy ngay từ khi được tin Phú Xuân thất thủ. “Một thanh niên bị chém giữa người thoát được (từ Phú Xuân – T.G.) chạy kịp về Dinh Cát báo tin rằng các bạn anh đã chết hết và chỉ có thể thoát thân được nếu bỏ trốn. Được tin đó, tất cả các binh sĩ của Dinh Cát đã chạy trốn”.

  Lê quý kỷ sự (tr. 29) cho biết: “Sau khi Phú Xuân bị phá, các tướng giữ các đồn Cát Doanh, Động Hải (Đồng Hới – T.G.) cũng đều sợ bóng sợ gió mà tan vỡ cả”.


Như vậy, tính từ khi đánh đồn An Nông, chỉ trong vòng chưa đầy ba ngày, nghĩa quân đã làm chủ hoàn toàn Thuận Hóa. Chiến dịch mở đầu bằng cuộc xuất quân của Nguyễn Huệ ở Quy Nhơn, ngày 28 tháng tư âm lịch (tức ngày 25-5-1786), kết thức vào ngày 25 tháng năm âm lịch (tức 21-6-1786). Thời gian chiến dịch kéo dài gần một tháng, nhưng thực tế thời gian tổng công kích chỉ hơn một ngày. Thật là thần tốc. Đây là một chiến dịch tiến công phối hợp thủy bộ vào loại mẫu mực trong lịch sử nước ta. Tiến công có thủy bộ kết hợp là cách đánh gần như thành quy luật chỉ đạo tác chiến trong lịch sử nước ta. Nhưng trước đây, sự hỗ trợ của quân thủy chỉ dừng ở mức là phương tiện chuyển quân. Trong chiến tranh Trịnh – Nguyễn, có một đôi lần, khi quân Trịnh tiến công vào phòng tuyến sông Gianh, pháo thuyền đã hỗ trợ cho quân bộ như một bộ phận của sức mạnh tiến công. Song những lần đó, quân Trịnh đều không thành công. Trong chiến dịch Phú Xuân này, việc kết hợp thủy bộ trong hành quân cơ bản không có gì khác trước, quân thủy vẫn đồng thời là phương tiện vận chuyển một bộ phận bộ đội tham gia chiến dịch. Nhưng trong tiến công, sự tham gia của quân thủy mang hiệu quả khác trước rất nhiều. Nét mới này chính là nhờ những pháo thuyền mà có.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 25 Tháng Ba, 2012, 04:22:03 pm
Trong chương trước, chúng ta đã thấy nghĩa quân Tây Sơn chú ý đặc biệt phát triển số lượng và chất lượng pháo thuyền. Số pháo thuyền tham gia chiến dịch Phú Xuân chính là những pháo thuyền đã lập kỳ tích Rạch Gầm – Xoài Mút năm trước, cũng là những pháo thuyền làm kinh hãi quân Trịnh ở cửa Luộc mấy tuần sau đây – những thuyền chiến trang bị pháo hạng nặng mà hình như trước đó quân Trịnh chưa từng thấy.

Trận Phú Xuân là trận công thành ít thấy trong lịch sử nước ta. Trận này, quân Tây Sơn phải đánh vào thành trì kiên cố, có sông hào bao bọc ngay sát chân thành, có hỏa lực mạnh trên mặt thành và những trận địa bộ binh bảo vệ phía ngoài tường thành. Thuyền chiến Tây Sơn chẳng những là phương tiện cho quân đổ bộ vượt sông, mà còn là những dàn pháo dã chiến cơ động, khống chế hỏa lực của địch trên mặt thành, đồng thời hỗ trợ cho quân bộ, bắn vào trận địa ngoài thành của chúng. Nhờ có hỏa lực mạnh, thuyền chiến Tây Sơn thực sự là một lực lượng tiến công có hiệu quả, góp phần quan trọng giảm bớt thương vong cho quân ta khi đổ bộ, đồng thời trực tiếp gây thương vong cho quân địch, tạo sức ép, khiến địch đầu hàng.

Việc kết hợp được quân thủy với quân bộ trong trận Phú Xuân đã tạo ra sức mạnh tổng hợp giúp quân Tây Sơn nhanh chóng chiếm thành. Sức mạnh đó được Lê quý kỷ sự (tr. 28) nhấn mạnh: “Đồn An Nông đã bị đánh phá. Quân bộ và quân thủy của “giặc” (chỉ Tây Sơn – T.G.) kết hợp được với nhau, bốn mặt ồ ạt xông đến”.

Lịch triều tạp kỷ (t. II, tr. 302) cũng có một đoạn mô tả rất sinh động sự kết hợp đó: “Quân thủy Tây Sơn tiến bức đến bến sông trước thành Phú Xuân… Bộ binh Tây Sơn đều xuống thuyền… Quân thủy Tây Sơn bắn thẳng vào thành, lại tung quân bộ ra bao vây cửa thành…”.

Ngoài trận Phú Xuân, trong cả chiến dịch, quân thủy Tây Sơn còn tham gia trận đánh đồn An Nông và lực lượng độc lập bức hàng đồn Đồng Hới. Ngay trong trận Phú Xuân, theo Lê quý kỷ sự và thư của Đút-xanh thì quân thủy đã có mặt và nổ súng uy hiếp thành ngay từ trước khi quân bộ kéo tới. Rõ ràng, quân thủy Tây Sơn giữ vai trò rất to lớn, góp phần làm nên thắng lợi của toàn chiến dịch.

Trong đà thắng lợi đó, nghĩa quân Tây Sơn đã thần tốc thực hiện một cuộc hành quân ra Bắc hoàn toàn bằng đường thủy, và với những trận đột kích đường thủy, với pháo thuyền, với đổ bộ bất ngờ, dũng mãnh, nghĩa quân Tây Sơn lại đạt tiếp một thắng lợi quân sự kỳ diệu: trong vòng mười ngày (thời gian tổng công kích chưa đầy ba ngày) đánh tan hoàn toàn quân Trịnh, chiếm được Thăng Long.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 28 Tháng Ba, 2012, 07:08:20 pm
Chiến dịch tiến công Thăng Long

Chiến dịch đánh Thăng Long là một kế hoạch đột xuất của nghĩa quân Tây Sơn. Tuy nằm trong ý định thống nhất đất nước lâu dài và tất yếu của phong trào, nhưng rõ ràng kế hoạch đó nằm ngoài chương trình mà bộ chỉ huy Tây Sơn đã trao cho đội quân Nguyễn Huệ đi giải phóng Phú Xuân. Kế hoạch đột xuất đó chính là sự sáng tạo hết sức táo bạo, thông minh của bộ chỉ huy chiến dịch Phú Xuân. Ở đây sẽ không phân tích nhiều về nguyên nhân đã dẫn tới sáng tạo tuyệt vời ấy mà chỉ nhấn mạnh đến đặc điểm về lực lượng tham gia chiến dịch Thăng Long lần này.

Theo Đại Nam nhất thống chí, lực lượng đánh vào Thăng Long năm 1786 chỉ có khoảng hai vạn, với 1.400 thuyền chiến (!). Đây chính là lực lượng đã được Tây Sơn chuẩn bị để đánh Phú Xuân. Ngày 21-6, nghĩa quân kết thúc chiến dịch ở Thuận Hóa. Hai mươi ngày sau, tức ngày 11-7, Nguyễn Hữu Chỉnh đã chiếm Vị Hoàng. Một tuần sau đó, tức ngày 17-7, Nguyễn Huệ cũng đem đại quân tới (sau khi dừng ít ngày ở Nghệ An).

Đường hành quân từ Phú Xuân ra Vị Hoàng, theo lời kể của Đinh Văn Phục năm 1774, khi viên tướng này đưa đội thuyền lương từ cửa Đại An vào Thuận Hóa, mất khoảng mười ngày.

  Hành trình nói trên là từ Bắc vào, thuận gió mùa đông – bắc. Theo Thiên nam từ chi lộ dã thư thì nếu thuyền buồm đi tự do, không phụ thuộc vào đội hình hành quân, đoạn đường đó chỉ mất khoảng bốn ngày. Đội thuyền chiến của Tây Sơn, đặc biệt là thuyền tuyển phong (thuyền nhẹ, cơ động làm nhiệm vụ đột kích) của Nguyễn Hữu Chỉnh có thể đi nhanh hơn thuyền chở lương, nhưng không thể nhanh hơn thuyền đi tự do được. Đó là chưa kể dọc đường, Tây Sơn còn phải dừng ở Thanh, Nghệ.

Như vậy, sau những trận đánh ác liệt ở Thuận Hóa, nghĩa quân chỉ có khoảng mười ngày để nghỉ ngơi và bố trí lực lượng cho một chiến dịch mới xa hơn, quyết liệt hơn. Chắc hẳn Nguyễn Huệ không đủ thời gian tuyển thêm lính mới, cũng không thể dùng ngay lực lượng quân Trịnh đầu hàng ở vùng này. Duy có chiến thuyền và súng đạn thì có thể được bổ sung bằng chiến lợi phẩm mới thu được.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 28 Tháng Ba, 2012, 07:09:58 pm
Một yêu cầu đặt ra cho chiến dịch là phải đánh thật nhanh, thật bất ngờ vào trung tâm đầu não của Trịnh ở Thăng Long để quân Trịnh không kịp huy động lực lượng đối phó. Trong điều kiện đường sá, phương tiện cơ động và bố trí lực lượng của quân Trịnh lúc đó, nghĩa quân đã chọn phương án hành quân tối ưu, đó là dùng toàn bộ quân thủy vượt biển, lợi dụng gió nồm nam đang thổi mạnh, bỏ qua những đồn lũy trong đất liền, đánh thẳng vào tuyến phòng thủ sông Hồng của Trịnh.

Trong tình hình bấy giờ, cuộc hành quân này chẳng những bất ngờ với cả Nguyễn Nhạc ở Quy Nhơn, mà càng bất ngờ với triều đình Lê – Trịnh ở Thăng Long. Bởi vì lúc đó khả năng chiến tranh giữa Tây Sơn với Bắc Hà chưa được đặt ra trực tiếp.

Theo binh chế của Trịnh bấy giờ, quân thường trực có khoảng 5 – 6 vạn. Khi có chiến tranh mới huy động binh dịch, nhưng nhanh nhất cũng phải nửa tháng mới sử dụng được. Do loạn kiêu binh vừa xảy ra, bấy giờ ngay cả quân thường trực cũng khó huy động. Khi nghe tin Tây Sơn đánh Thuận Hóa, chúa Trịnh điều động ngoại binh ở kinh đô cấp tốc vào phòng thủ Nghệ An, vậy mà hơn nửa tháng sau quân chưa đi quá Kim Động. Lối hành quân thần tốc của Nguyễn Huệ như vậy chẳng những tránh tổn thất vì vấp phải hệ thống đồn lũy dày đặc từ Nghệ An ra, mà còn đặt quân Trịnh trong cuộc giao chiến mà so sánh lực lượng không phải lệch về phía chúng nhiều lắm. Sử dụng quân thủy chính là bí quyết của lối hành quân đó.

Hầu như toàn bộ quân thủy đánh Thuận Hóa lại tiếp tục làm nòng cốt trong cuộc hành quân này. Các công trình nghiên cứu trước đây thường dẫn Hoàng Lê nhất thống chí để nói số lượng thuyền chiến Tây Sơn trong chiến dịch này có tới 1.400 chiếc (!). Con số này không phù hợp, vì nếu vậy mỗi thuyền chỉ chở có khoảng 15 người. Tài liệu của các giáo sĩ phương Tây chỉ nói đến một số liệu 400 chiếc.

Trong văn cảnh, có thể hiểu đó là số thuyền tuyển phong của Nguyễn Hữu Chỉnh, cũng có thể hiểu là của toàn bộ quân Tây Sơn. Theo chúng tôi, đây là số thuyền chiến của toàn bộ hai vạn quân Tây Sơn tham gia chiến dịch. Đó là những thuyền chiến có biên chế khoảng 50 người, ứng với biên chế phổ biến của thuyền chiến Trịnh, Nguyễn đương thời. Đương nhiên, trong đó có thể có một số ít thuyền chiến hạng lớn mà chúng ta sẽ thấy xuất hiện trong trận cửa Luộc.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 28 Tháng Ba, 2012, 07:14:26 pm
Số thuyền nói trên được chia làm hai bộ phận: một bộ phận gồm những thuyền chiến nhanh, nhẹ, mệnh danh là thuyền tuyển phong do Nguyễn Hữu Chỉnh chỉ huy, có nhiệm vụ tiên phong, đánh chiếm Vị Hoàng (tức Nam Định hiên nay). Vị Hoàng vừa là một vị trí chiến lược khống chế toàn bộ hạ lưu sông Hồng, vừa là kho lương thực vào loại lớn nhất Bắc Hà đương thời, với hàng trăm hộc thóc mới mua ở Gia Định ra. Bộ phận thứ hai, do Nguyễn Huệ chỉ huy, số lượng đông hơn, là lực lượng đột kích chủ yếu, cũng vượt biển tập kết ở Vị Hoàng, rồi nhanh chóng tổng công kích vào Thăng Long.

Khoảng đầu tháng 7, đội thuyền tuyển phong của Nguyễn Hữu Chỉnh lên đường. Đội thuyền này tạt vào Nghệ An, vùng Chỉnh có ảnh hưởng lớn. Nhiệm vụ của Chỉnh ở đây rõ ràng là để dọn chỗ đứng chân cho đại quân của Nguyễn Huệ. Thấy quân Chỉnh đến, các tướng cũ của Chỉnh nổi dậy, tướng trấn thủ Nghệ An là Bùi Thế Tụy đốt trại bỏ trốn.

Theo Lê quý kỷ sự (tr. 30), khi qua vùng biển Thanh Hóa, cũng như Nghệ An, Chỉnh cho đổ bộ một đơn vị “chừng vài trăm du binh” làm náo động vùng này, khiến tướng trấn thủ ở đây là Tạ Danh Thùy “sợ bóng sợ gió mà chạy trốn”. Còn toàn bộ thuyền chiến tuyển phong tiến vào cửa Liêu, tiến lên đánh chiếm Vị Hoàng.

  Theo Lịch triều tạp kỷ (t. II, tr. 306), Cửa Liêu là cửa sông Đáy hiện nay, nhưng thời này cửa biển lui vào sâu hơn 20 ki-lô-mét, ở khu vực xã Quần Liêu hiện nay.

  Đại Nam nhất thống chí (t. III, tr. 327) chép: “Cửa Liêu ở địa phương các xã Quần Liêu và Hải Lãng, huyện Đại An, rộng 145 trượng, thủy triều lên sâu trên dưới 7 thước, thủy triều xuống sâu 1 thước 3 tấc, là cửa biển trọng yếu của Bắc Kỳ. Theo sử, cửa biển này trước có tên là Đại Ác, Lý Thái Tôn đổi cho gọi là Đại An. Nhà Lê khi trung hưng đặt trấn sở, khi thuyền buôn đến đây, sai quan khám thực rồi mới cho vào cửa. Bản triều đời Gia Long, thuyền công chở vật hạng, tất theo đường này, sau vì cát bồi đắp, thuyền bè không thông”.

  Như vậy độ sâu chép ở trên là độ sâu đo sau này, khi cửa Liêu đã cạn. Cuối thể ký XVIII, đây vẫn là cửa biển lớn mà ngay cà tàu thuyền phương Tây cũng ra vào tiện lợi. Từ đây đi khoảng 10 ki-lô-mét nữa thì đến một ngã ba: nhánh phía tây là sông Đáy (đoạn này có tên là sông Non Nước), nhánh phía đông là sông Vị Hoàng (nay là sông Nam Định). Từ đây đi khoảng 25 ki-lô-mét đường sông nữa thì đến đồn Vị Hoàng, tức thành phố Nam Định hiện nay.

  Thư của Lơ Roa (Le Roy) ngày 6-10-1786, viết ở Kẻ Vĩnh (tức Ninh Bình) có đoạn: “có vài người lính Bắc Hà đã bắn vào quân Nam Hà, nhưng sau đó quân này vẫn giữ được đội ngũ, cho đến khi tới một thị trấn lớn tên là Vị Hoàng, nơi có một vựa thóc mới mang từ Nam Hà ra” (Arch, M.E. Tonkin 700, p. 1307, trong Sử địa, 9 – 10, tr. 227). Đoạn này đang nói về đạo quân của Nguyễn Hữu Chỉnh. Theo chúng tôi, rất có thể đó là một phản ứng nhỏ của quân Trịnh đang đóng ở cửa Liêu này.


Quân thủy Tây Sơn mấy năm qua lừng danh về những trận đánh ở Gia Định, lại mới làm khiếp đảm quân Trịnh ở Thuận Hóa, lúc này, với lối hành quân thần tốc và cách khuếch trương lực lượng, làm quân Trịnh vốn đang tan rã lại càng tan rã nhanh hơn. Khi mới nghe tin quân Chỉnh tiến vào cửa Liêu, tướng trấn giữ đồn Vị Hoàng đã bỏ đồn lũy cũng như kho tàng để thoát thân.

Sử sách chép về sự kiện này khá thống nhất, ở đây chỉ xin dẫn đoạn mô tả trong thư của giáo sĩ Xê-ra (Sérard) viết, gửi Bla-din (Bladin) ngày 31-7-1786, tức là 20 ngày sau khi thuyền chiến của Nguyễn Hữu Chỉnh đến Vị Hoàng: “Hạm đội này (đơn vị của Chỉnh – T.G.) căng buồm lướt tới bờ biển của tỉnh Xứ Nam (vùng Sơn Nam hạ, tức vùng biển Ninh Bình, Nam Định – T.G.) và tiến và con sông lớn dẫn tới kinh thành… Hạm đội đã đến Vị Hoàng vào một buổi sáng đẹp trời: đó là ngày 11-7-1786. Đơn vị đồn trú ở đây đã tìm lấy sự an toàn của mình bằng cách chạy trốn, bỏ lại cho quân thù những kho đầy lúa và tiền” (L. Cadière, Sách đã dẫn, tr. 10).


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 28 Tháng Ba, 2012, 07:17:39 pm
Sau khi đội thuyền tuyển phong của Nguyễn Hữu Chỉnh lên đường khoảng một tuần, đại đội binh thuyền do Nguyễn Huệ chỉ huy cũng căng buồm ra Bắc. Đó là những thuyền chiến lớn, chở quân và các pháo thuyền mà sự hùng mạnh của nó đã để lại ấn tượng hết sức sâu sắc trong tâm trí các bô lão ven biển xứ Nghệ đương thời: “Khi quân Tây Sơn bơi thuyền vượt qua ngoài biển, sĩ phu và nhân dân Nghệ An lên núi trông ra, thấy cánh buồm và cờ xí rất nhiều”365.

Kế hoạch hành quân của Tây Sơn được sắp xếp rất chu đáo. Đại đội binh thuyền của Nguyễn Huệ chỉ xuất phát khi có hiệu lửa của Nguyễn Hữu Chỉnh báo tin đã chiếm được Vị Hoàng.

  Đốt lửa làm hiệu là hình thức thông tin thường thấy trong nghệ thuật quân sự cổ đại. Đó là hình thức đơn giản nhất và cũng nhanh nhất lúc bấy giờ. Chắc rằng khi tiến ra chiếm Vị Hoàng, những đơn vị du binh được Chỉnh cho đổ bộ lên bờ còn có thêm trách nhiệm chuẩn bị những “trạm” truyền tin này. Những đống củi lớn chất sẵn, được che đậy chống mưa và bảo vệ cẩn thận. Cả ngày lẫn đêm phải có người thường trực, không rời mắt về hướng Bắc, sẵn sàng châm lửa khi thấy khói lửa tức các trạm phía trước bốc lên. Các trạm lửa này thường bố trí gần bờ biển, nơi quang đãng, hoặc núi cao không bị che khuất.

Điểm tập kết đầu tiên của Nguyễn Huệ là cửa biển Kỳ Hoa, ở phía trên đèo Ngang (Hoành Sơn) một chút. Từ Phú Xuân tới đây, đường thủy mất khoảng bốn ngày. Tại đây quân Trịnh có đồn lớn khống chế đường bộ lẫn đường thủy. Nhưng cùng với trấn thủ Bùi Thế Toại, tướng sĩ đồn này cũng đã bỏ trốn từ khi Nguyễn Hữu Chỉnh tới đây. Thuyền chiến Nguyễn Huệ dừng lại đây khoảng một ngày, sau đó gấp rút tiến ra Bắc.

Nếu như Nguyễn Hữu Chỉnh chiếm Vị Hoàng ngày 11-7, thì có thể khoảng đêm 12, Nguyễn Huệ nhận được tin báo, vậy mà ngày 17-7, Nguyễn Huệ đã đến Vị Hoàng366.

Có hai khả năng xảy ra: hoặc là Nguyễn Huệ, khi nhận được hiệu lửa, đã ở Nghệ An rồi (Đoạn đường biển từ Kỳ Hoa đến Vị Hoàng, đi theo tốc độ hành quân bình thường cũng mất đúng khoảng năm ngày). Hoặc Nguyễn Huệ đã hành quân cả ngày lẫn đêm từ Phú Xuân (Bấy giờ cũng đang tuần trăng, nếu đi đêm, đoạn đường từ Phú Xuân đến Vị Hoàng cũng mất khoảng năm ngày).
----------------------------
365 Lịch triều tạp kỷ, t. II, tr. 308.

366 Thư của Xê-ra gửi Bla-din ngày 31-7-1786, tài liệu đã dẫn, tr. 11.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 28 Tháng Ba, 2012, 07:21:59 pm
Thuyền chiến của Nguyễn Huệ đã đến Vị Hoàng trong không khí hết sức long trọng. Các giáo sĩ phương Tây có mặt ở Bắc Hà thời đó kể lại: “Ngày 17 tháng ấy, người em trai tổng chỉ huy của giặc Nhạc đã đến cùng bộ phận còn lại của hạm đội với vẻ lộng lẫy và cung cách của một ông vua”367 và “người ta thấy một thuyền chiến lớn của người em Nhạc (còn gọi là Đức Ông) long trọng tới. Dân chúng Bắc Hà dại khờ, từ khắp nơi chạy đến để xem các ông chúa và nghe nhạc của họ…”368.

Trong khi chờ đợi đại quân, Nguyễn Hữu Chỉnh đã cho xay giã một số thóc ở Vị Hoàng, chuẩn bị lương thực đầy đủ. Chính vì vậy cuộc hành quân ra Bắc lần này của Nguyễn Huệ càng mang tính chất tập kích bất ngờ, không phải mang theo một đội thuyền tải lương chậm chạp. Ngay một hôm sau khi đến Vị Hoàng, Nguyễn Huệ đã triển khai kế hoạch tổng công kích. Cũng trong thư Lơ Roa: “Đêm 18 rạng 19-7, chúng tôi nghe thấy tiếng súng đại bác nổ cả đêm. Đó là cuộc giao chiến giữa quân Bắc Hà và kẻ địch (tức Tây Sơn – T.G.) tại Hiến Nam”369.

Do lực lượng Tây Sơn toàn là quân thủy, nên hướng công kích bám theo trục đường thủy sông Hồng tới Thăng Long. Phòng tuyến của quân Trịnh chống lại Tây Sơn cũng căng ra trên trục đó. Trận đánh ở Hiến Nam chính là trận đánh lớn của Tây Sơn vào tuyến phòng thủ đầu tiên của quân Trịnh. Đây là một trong những trận công kích đường thủy tiêu biểu nhất trong lịch sử chiến tranh của nghĩa quân Tây Sơn.

Ngay từ khi nghe tin Nguyễn Hữu Chỉnh đến Vị Hoàng, chúa Trịnh đã điều 27 hiệu ngoại binh do Thái Đình hầu Trịnh Tự Quyền chỉ huy đến vùng Kim Động cùng với trấn thủ Sơn Nam là Trướng Trung hầu Đỗ Thế Dận lập một tuyến phòng thủ ở vùng này. Đội quân của Trịnh Tự Quyền chủ yếu là bộ binh, vốn đang định đưa vào đóng đồn ở Nghệ An đề phòng quân Tây Sơn theo đường bộ đánh ra, nhưng chưa kịp đi thì quân Tây Sơn đã đến Vị Hoàng. Quân Tây Sơn lại toàn quân thủy, nên chúa Trịnh vội điều ngay các đơn vị thuyền chiến tinh nhuệ nhất đang đối phó với “cướp biển” ở vùng Hải Dương về Kim Động tham gia, phòng chống Tây Sơn. Các đơn vị này (gồm các thuyền thuộc đội Tả Vệ, Hữu Vệ, Ngũ Hầu, Ngũ Thiện, Ngũ Trung…) đặt dưới quyền chỉ huy của Đinh Tích Nhưỡng.

Nhưỡng bấy giờ đang phụ trách toàn bộ quân thủy và các hoạt động thủy chiến của quân đội Trịnh. Lê quý kỷ sự (tr. 31) cho biết y sinh trưởng ở một vùng sông nước (vùng Kinh Môn hiện nay) “là danh tướng Hàm Giang, vốn nổi tiếng giỏi thủy chiến”. Như vậy gần như toàn bộ các đơn vị quân thủy, bộ thuộc ngoại binh Trịnh cùng với một số quân đồn trú ở Sơn Nam được huy động về tuyến phòng thủ này.
--------------------------------
367 Thư của Xê-ra gửi Bla-din ngày 31-7-1786, tài liệu đã dẫn, tr. 11.

368, 369 Thư của Le Roy viết tại Kẻ Vĩnh (tức Ninh Bình) ngay 6-10-1786, gửi cho Veren, trong Sử địa, 9-10, tr. 328. Hiến Nam tức là Phố Hiến, hiện ở huyện Kim Động (Hải Hưng) đương thời là thủ phủ của trấn Sơn Nam.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 28 Tháng Ba, 2012, 07:30:56 pm
Từ Vị Hoàng lên Thăng Long, đường thủy tất phải qua cửa Luộc, chỗ gặp gỡ giữa sông Hồng và sông Luộc. Lịch sử thủy chiến của nước ta với quân Nguyên và nhất là với Chiêm Thành đã khẳng định vị trí quan trọng của ngã ba này trong hệ thống trục sông Hồng. Đây chính là cửa Hải Thị hay Hải Triều thời Trần. Từ thế kỷ XVI, ở khu vực “chợ biển” (Hải Thị) này mọc lên một trung tâm thương mại lớn vào loại nhất ở Bắc Hà. Đó là Phố Hiến. Đương thời có câu: “Thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến”, nhưng thực ra về mặt thương mại, đặc biệt là ngoại thương thì phải nói “thứ nhất Phố Hiến”, bởi lẽ các tàu thuyền nước ngoài vào buôn bán với Bắc Hà đều chỉ đến Phố Hiến thôi. Với vị trí kinh tế như vậy, Phố Hiến trở thành thủ phủ của trấn Sơn Nam – một trọng trấn của Bắc Hà. Giai đoạn đầu tổng công kích, Tây Sơn nắm vào thị trấn quan trọng này, nhằm mở tung cửa ngõ tiến vào Thăng Long, đồng thời tạo bàn đạp mới cho tổng công kích. Phòng thủ của quân Trịnh như vậy, vừa nhằm chặn cửa họng Thăng Long, vừa che đỡ bảo vệ Phố Hiến.

Toàn bộ quân thủy của Đinh Tích Nhưỡng dàn thành thế trận hình chữ nhất ở khu vực sông cửa Luộc (Lục Môn Giang); một số thuyền chiến được trang bị pháo hạng nặng mà sử thưởng chép cái tên “bảo lân”, “bảo long”.

Theo ghi chép về diễn biến trận đánh, ta có thể hình dung ra khúc sông mà thuyền chiến Trịnh dàn ra ở vào khoảng dưới Phố Hiến. Đây là đoạn cuối của sông Xích Đằng (cũng còn tên nữa là Lỗ Giang) là một khúc của sông Hồng đổ vào ngã ba Luộc, nên cũng còn tên gọi là sông cửa Luộc (Lục Môn Giang). Chắc hẳn Đinh Tích Nhưỡng cho dàn thuyền tựa lưng vào bãi bồi giữa sông, đoạn dưới Ngã Ba Luộc (chỗ này có tên xã là Phù Sa nên cũng gọi là sông Phù Sa).

Toàn bộ bộ binh đồn trú ở trấn Sơn Nam do Đỗ Thế Dận chỉ huy dàn hai bên bờ sông, cũng gần với trận thủy của Đinh Tích Nhưỡng, tạo thế ỷ dốc cho nhau và bảo vệ Phố Hiến370. 27 cơ đội ngoại binh của Trịnh Tự Quyền dàn trận ở “cửa Kim Động”, có thể hình dung là ở trên bãi Xích Đằng371.

  Bãi này rất lớn, nằm giữa sông, hiểm yếu không kém gì bãi Tự Nhiên. Hai đầu bãi chia nước sông làm hai dòng, tạo thành hai cửa quan như cửa Thiên Mạc và cửa Hàm Tử của bãi Tự Nhiên. Sử sách đôi khi nói đến cửa Xích Đằng (Xích Đằng quan), có thể là cửa quan nằm ở phía bắc bãi này. Cửa Kim Động (Kim Động quan) hẳn là cửa quan ở đầu phía nam của bãi này.

Lực lượng của Trịnh Tự Quyền cũng có một số thuyền chiến. Lê quý kỷ sự chép “Đại đội binh thuyền của Thái Đình hầu dàn trận ở Kim Động”.

Thế trận của quân Trịnh ở phòng tuyến này thể hiện rõ ý định bảo vệ Phố Hiến và chặn đường sông đến Thăng Long. Thế trận đó cũng tỏ rõ chủ trương tác chiến bị động của quân Trịnh, chống Tây Sơn bằng một đối trận mà những pháo thuyền là lực lượng nòng cốt của đối trận đó.

Trong thế trận này, quân Trịnh chia làm hai tuyến: tuyến trước gồm quân thủy của Đinh Tích Nhưỡng và quân bộ của Đỗ Thế Dận, tuyến sau là binh thuyền của Trịnh Tự Quyền.
--------------------------------
370 Lịch triều tạp kỷ, t. II, tr. 310 và Lê quý kỷ sự, tr. 32 đều chép quân Đỗ Thế Dận dàn trận ở hai bên bờ sông Phù Sa. Người dịch Lê quý kỷ sự cho rằng đó là khúc sông chảy qua làng Phù Sa, huyện Đông An, Hưng Yên cũ. Điều này không hợp lý với diễn biến trận đánh, vì khúc đó ở trên bãi Xích Đằng, không lẽ quân Tây Sơn sau khi đánh tan quân Đỗ Thế Dận ở đó rồi mới quay lại chiếm Phố Hiến.

371 Lịch triều hiến chương loại chí, t. II, tr. 80.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 28 Tháng Ba, 2012, 07:43:29 pm
Trận đánh bắt đầu từ chập tối ngày 18-7-1786.

  Thư của Sérard ngay 31-7-1786 viết: “Ngày 18, hạm đội tiên phong (Tây Sơn – T.G.) đến Phố Hiến, hướng tới trận địa của quân chính phủ (quân Trịnh – T.G.). Vua của chúng tôi (chúa Trịnh – T.G.) đã huy động cả quân thủy lẫn bộ để chống lại chúng. Quân đội hai bên đánh nhau từ khoảng 6 giờ tối đến quá nửa đêm…” (trong Cadière, Tài liệu đã dẫn, tr. 11).

Từ Vị Hoàng đến trận địa quân Trịnh, theo đường sông dài khoảng 30 ki-lô-mét. Chọn thời điểm tiến công vào chập tối, Nguyễn Huệ đã tỏ rõ ý định chiến thuật của mình. Đó là việc xây dựng lối đánh nghi binh. Trận đánh có thể chia làm hai giai đoạn. Trong giai đoạn đầu, lợi dụng trời tối, Nguyễn Huệ cho năm thuyền chiến lớn chở bù nhìn rơm, căng buồm xuôi gió tiến thẳng vào tầm pháo của trận thủy Trịnh, đại đội chiến thuyền tiến theo sau. Mục tiêu chiến thuật của giai đoạn này nhằm làm cho các pháo thuyền của Trịnh bắn hết sạch thuốc súng và đạn, tức làm làm cho nòng cốt của tuyến phòng thủ phía trước trở nên vô dụng.

  Lê quý kỷ sự (tr. 32) chép về chi tiết này khá rõ ràng: “Đêm đến, Huệ dùng năm chiếc thuyền không, thả ở lòng sông để bức bách tiền đội bên quan quân. Quan quân suốt đêm bắn loạn xa. Trước đó, dường như quân thủy tiên phong của Tây Sơn đã một lần xông vào trận địa Trịnh, khi đó Nhưỡng dàn trận chữ nhất và dùng súng bảo lân “đánh lui” Tây Sơn.

Giai đoạn sau của cuộc tiến công bắt đầu vào khoảng nửa đêm về sáng ngày 19-7. Lúc này, hỏa lực quân Trịnh đã yếu. Thuyền chiến và thuyền chở quân Tây Sơn nhất loạt đánh vào trận địa quân Trịnh, cả trên bờ lẫn dưới sông. Trong khi pháo thuyền Tây Sơn khống chế pháo thuyền Trịnh thì một bộ phận lớn quân Tây Sơn, dưới sự yểm hộ của pháo hạng nặng trên thuyền, bất ngờ đổ bộ vào trận địa của quân Sơn Nam do Đỗ Thế Dận chỉ huy, làm tan rã nhanh chóng chỗ dựa trên bờ của quân thủy Trịnh.

  Lê quý kỷ sự (tr. 32) chép: “Mờ sáng hôm sau, đại đội thuyền biển của giặc Huệ tiến đến, hỏa pháo đồng thời cùng nổ, tiếng vang chuyển động cả trời đất. Huệ lại cho toán quân khinh binh đổ bộ, xông thẳng vào chỗ quân Trướng Trung hầu, quân Trướng Trung hầu hoảng sợ tan vỡ”.

  Lịch triều tạp kỷ (t. II, tr. 310, 311) chép cụ thể hơn: “… Nhưỡng lại sai bắn, thuyền Tây Sơn đều rút vào trong bến (giạt sang hai bên – bờ - T.G.). Sau khi Nhưỡng sai bắn thêm ba phát đại bác nữa, vừa dứt, thì quân Tây Sơn liền nổ một phát đại pháo, tiếng to như tiếng sấm, đạn bay qua cây cổ thụ, tiện làm hai đoạn. Quân Tây Sơn bỏ thuyền đổ bộ. Bộ binh Trướng Trung Hầu sợ hãi, tan vỡ chạy trốn hết…”.


(http://img846.imageshack.us/img846/5143/396397.jpg)


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 28 Tháng Ba, 2012, 07:45:54 pm
Ở dưới sông, thuyền chiến Tây Sơn bám theo những thuyền chở bù nhìn đi trước, cũng bất ngờ nổ súng đánh thẳng vào trận thủy của Đinh Tích Nhưỡng. Quân thủy Nhưỡng, đạn hết, sức kiệt, lại đang hoảng sợ vì chỗ dựa trên bờ bị tiến công đều bỏ thuyền trốn chạy.

  Lịch triều tạp kỷ t. II, tr. 30, 311) chép: “Quân Nhưỡng vội vứt cung và lấy súng ra nhằm bắn quân Tây Sơn; tên đạn như mưa. Thế mà trên thuyền Tây Sơn, những người bơi chèo, giữ lái hoặc cầm kích, cầm giáo đều không động đậy gì cả, chỉ thấy các thuyền cứ sừng sững tiến lên. Nhưỡng càng dốc tên đạn và thuốc súng, đốc thúc các quân đánh mạnh. Thuyền Tây Sơn chỉ đắm có một chiếc, còn các thuyền khác không hề lui chút nào. Khi thuyền đến hơi gần, Nhưỡng sai người nhìn xem thì té ra người trong thuyền đều là người nộm, bấy giờ mới biết là mắc mưu, nhưng thuốc đạn đã hết kiệt rồi, không còn biết làm sao được nữa! Binh Tây Sơn từ phía sau, đánh trống reo hò tiến lên không biết bao nhiêu mà kể. Thấy thế liệu không địch nổi, Nhưỡng vội quay thuyền về, lên bờ chạy trốn”.

Trận đánh diễn ra trong vòng một đêm. Theo Lê quý kỷ sự (tr. 32), bộ phận chủ lực của Trịnh do Trịnh Tự Quyền chỉ huy chẳng những không dám đến ứng cứu mà “không đợi đánh cũng tự tan vỡ trước”. Như vậy, chỉ một trận đánh, cả hai tuyến phòng thủ trước, sau của chủ lực Trịnh đều tan vỡ nhanh chóng.

  Lơ Roa đêm đó “nghe tiếng súng đại bác nổ cả đêm” đã kể lại trong bức thư ngày 6-10-1786 (tài liệu đã dẫn, tr. 228): “Trấn thủ cũ của chúng tôi (tức Đỗ Thế Dận – T.G.) cùng vệ binh và con ông hết sức chống cự lại họ (Tây Sơn – T.G.) nhưng vì sợ hãi xâm chiếm, binh lính bỏ trốn một cách hèn nhát và sau khi thiệt hại 200 người, quân Bắc Hà không dám đụng độ với địch nữa. Quân (Tây Sơn – T.G.) nhân lúc đang thắng thế, tiến thẳng ra kinh đô và ngày 20-7 vào đó không gặp sự kháng cự nào”.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 14 Tháng Tư, 2012, 01:59:45 pm
Quả là sau khi quân Trịnh thua chạy ở Cửa Luộc thì toàn Bắc Hà rung động, quan tướng chỉ tính đường rút chạy. Nhưng không phải quân Tây Sơn tiến vào Thăng Long “không gặp sự kháng cự nào” như Lơ Roa đã viết.

Để bảo vệ ngôi chúa của mình, chúa Trịnh đã cố gắng huy động lực lượng còn lại (chủ yếu là binh thị hậu và 1.500 quân nghĩa dũng Sơn Tây của Hoàng Phùng Cơ) lập một phòng tuyến cuối cùng ở ngay ngoài thành Thăng Long. Trong đà thắng lợi, Nguyễn Huệ lại chỉ huy quân thủy Tây Sơn chọc thủng phòng tuyến đó một cách nhanh chóng, để lại cho lịch sử nghệ thuật quân sự nước ta một kiểu mẫu nữa về nghệ thuật đột kích đường thủy.

Khi đã phá tan phòng tuyến Trịnh ở Cửa Luộc, quân Tây Sơn chiếm luôn Phố Hiến. Sau một ngày củng cố lực lượng, thuyền chiến Tây Sơn lại giương buồm gấp rút tiến lên Thăng Long. Thủy quân chủ lực của Trịnh đã bị đánh tan nên quân Trịnh ở Thăng Long không còn đủ sức lập phòng tuyến trên sông nữa mà chỉ tập trung phòng thủ ở những bến sông trọng yếu, đón đánh quân Tây Sơn đổ bộ. Có thể coi như lực lượng ngoại binh Trịnh chuyên làm nhiệm vụ đánh dẹp, cả thủy bộ, đều đã bị nướng sạch ở Cửa Luộc. Quân Trịnh còn lại ở Thăng Long chỉ còn khoảng hai vạn (gồm khoảng một vạn binh Thị hậu, hơn 3.000 thủy binh Thị hậu, khoảng 1.500 binh Ngoại phủ và khoảng 1.500 quân nghĩa dũng của Hoàng Phùng Cơ). Số quân này chia thành hai cụm phòng thủ chính.

Theo hướng tiến của quân thủy Tây Sơn, chúa Trịnh giao cho Hoàng Phùng Cơ (quận Thạc) gần như toàn bộ số thủy binh Thị hậu372, cùng với quân nghĩa dũng của y đóng thành một cụm phòng thủ thủy bộ liên hoàn ở phía trước, tức là khu vực ven sông thuộc Thanh Trì hiện nay. Còn đích thân chúa Trịnh Tông (còn gị là Trịnh Khải) chỉ huy số bộ binh, tượng binh còn lại dàn trận ở quanh phủ chúa.
-----------------------------
372 Các sách Hoàng Lê nhất thống chí, Lịch triều tạp kỷ, Lê quý kỷ sự, Cương mục đều thống nhất chép là Tứ thị thủy quân. Sau này khi nói đến trận Thúy Ái, các sách trên cũng đều nhắc đến đội Tiền ưu của Nguyễn Trọng Yên và đội Tiền trạch của Ngô Cảnh Hoàn. Lịch triều tạp kỷ còn kể đến cả “thuyền đội Trung trạch bị giặc bắn tan chìm nghỉm”. Đó đều là tên các đội thuyền trong binh Thị hậu của phủ chúa.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 14 Tháng Tư, 2012, 02:03:00 pm
Cụm phòng thủ của Hoàng Phùng Cơ ở Thanh Trì chia làm hai bộ phận thủy, bộ khác nhau. Các đơn vị thủy binh Thị hậu, theo Phan Huy Chú, có khoảng hơn 50 thuyền với trên 3.000 lính đóng ở bến Thúy Ái.

  Theo Hoàng Lê nhất thống chí: “bấy giờ gió đông nam đang thổi mạnh, đường thủy trở nên rất xung yếu. Sau khi các đội thuyền của Liễn Trung hầu (tức Đinh Tích Nhưỡng – T.G.) đã bị đánh bại, quân địch chiếm được cả một dải đất yên ổn chạy dài theo ven sông, rồi thuận đường kéo thẳng lên Kinh Kỳ. (Chúa Trịnh) Tông sai cả bốn hiệu lính thủy dốc hết quân xuống ngăn địch ở cửa Thúy Ái”.

  Vũ Tuấn Sán trong Nghiên cứu lịch sử (số 119, 2-1969, tr. 13), có một chuyên khảo rất công phu và có giá trị về các địa danh có liên quan đến các điểm bố phòng và các trận đánh của Tây Sơn trong cuộc tiến quân lần này (1786). Điều tra thực địa cũng như trong thư tịch của chúng tôi cho phép xác nhận đội tin cậy cao của những chỉ dẫn đó. Bến Thúy Ái (Thúy Ái châu) là một địa danh (đến đầu thời Nguyễn là tên xã) đương thời thuộc huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam thượng, nay thuộc xã Nam Lĩnh, huyện Thanh Trì, ngoai thành Hà Nội. Đó là một dẻo bờ sông Hồng, trước đây bị một lạch nước nhỏ tách riêng ra như một bãi bồi, có lẽ vì thế có tên là Thúy Ái châu (châu có nghĩa là một bãi bồi giữa sông, như Mạn Trù châu, Đằng châu…). Hẳn là quân thủy Trịnh đã dựa vào bãi này để đóng quân.


Như ở Cửa Luộc, tại đây quân thủy cũng được dùng làm lực lượng tiên phong chặn quân thủy Tây Sơn, trước khi có những trận đánh quyết định ở trên bộ.

Hỗ trợ cho quân thủy ở Thúy Ái, đồng thời tạo thành một chốt phòng thủ trên bộ, Hoàng Phùng Cơ và hơn 1.00 quân nghĩa dũng dựa vào hồ Vạn Xuân đóng đồn dàn trận.

  Hồ Vạn Xuân, theo Vũ Tuấn Sán, là Hồ Vạn Xoan, ở cách Thúy Ái phía tây-bắc khoảng 2 ki-lô-mét, theo hướng tiến thẳng vào Thăng Long. Như vậy trận địa của Hoàng Phùng Cơ ở phía sau Thúy Ái.

Quân thủy Tây Sơn muốn vào Thăng Long, trước hết phải đụng độ với cụm phòng thủ này.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 14 Tháng Tư, 2012, 02:07:37 pm
Ngày 20-7-1786, quân thủy Tây Sơn bắt đầu mở cuộc tiến công vào quân Trịnh ở Thăng Long373. Trận đánh đầu tiên nhằm vào quân thủy Trịnh ở Thúy Ái là của Nguyễn Huệ. Theo sử chép về diễn biến trận đánh thì khoảng sáng hôm đó thuyền chiến Tây Sơn ập đến bất ngờ, quân Trịnh không kịp sẵn sàng ở trên thuyền. Vì vậy, cuộc đụng độ giữa quân thủy hai bên không diễn ra chủ yếu trên mặt nước mà vừa trên mặt nước, vừa trên bộ. Khi thuyền chiến Tây Sơn ập đến, quân thủy Trịnh còn đang tản mát trên bờ, chỉ có một số ít, như Ngô Cảnh Hoàn, Nguyễn Trọng Yên và quân của thuyền Trung Trạch là kịp xuống thuyền chiến đấu.

Đơn vị đánh vào Thúy Ái là những thuyền chiến tiên phong của Tây Sơn. Một đoạn trong Binh lược, tức binh thư soạn vào thời Nguyễn, cho biết đội binh thuyền tiên phong này có nhiệm vụ đổ bộ tập kích bất ngờ vào cụm phòng thủ của Hoàng Phùng Cơ, sau đó tạo thành một mũi kỳ binh trên bộ đánh úp sau lưng quân Trịnh, chiếm đại bản doanh của chúng là phủ chúa: “Như xưa Tây Sơn Nguyễn Huệ đánh nhau với Thạc Võ Công ở bến Thúy Ái, xuất quân kỳ theo đường tắt mà vào thành nhà Lê. Chúa Trịnh vừa chạy về miền Tây (ý muốn nói Sơn Tây) thì trong phủ đã dựng cờ Tây Sơn rồi”.

  Theo Binh thư yếu lược (tr. 189 – 190) thì nghệ thuật tác chiến thời xưa thường sử dụng lối đánh gồm các mũi chinh phụ khác nhau, tạo ra những đòn đột kích bất ngờ cho đối phương. Nghệ thuật đó, binh pháp xưa gọi là phép đặt kỳ, với các lực lượng kỳ binh, chính binh. Thông thường thì kỳ binh tuy là phụ, nhưng lại là bộ phận tinh nhuệ đánh đòn quyết định. Trong trận đánh vào Thăng Long lần này, Nguyễn Huệ đã vận dụng rất tài giỏi lối đánh đó, dùng lực lượng đổ bộ làm kỳ tạo ra một mũi đột kích đường bộ, trong khi rải quân làm chính binh theo đường thủy đánh thẳng vào mặt chính của trận địa Trịnh, đúng như điều Binh thư yếu lược đã tổng kết: “Khi hai quân thủy, bộ tiếp nhau, làm chính hay kỳ, tùy theo tình thế mà dùng. Nếu lấy thủy binh làm chính thì bộ binh làm kỳ, nếu lấy bộ binh làm chính thì lấy thủy binh làm kỳ”.

Với tình hình quân Trịnh và nhiệm vụ chiến thuật như vậy, quân thủy Tây Sơn trong đơn vị tiên phong đã chọn lối đánh thích hợp nhất là đổ bộ bất ngờ.
-------------------------------
373 Thư Le Roy gửi Veren ngày 6-10-1786, trong Sử địa, Số 9 – 10, tr. 227. Ngày 20-7-1886, tức 25 tháng Sáu năm Bính Ngọ, là ngày chúa Trịnh, theo Lê quý dật sử, dàn trận ở lần Ngũ Long và hai ngày sau, ngày 27-6, Trịnh Khải chết. Một số tác giả khi viết về trận này lại xếp vào ngày 21-7-1786 (xem Nguyễn Lương Bích…, Sách đã dẫn, tr. 148).


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 14 Tháng Tư, 2012, 02:13:04 pm
Hoàng Lê nhất thống chí (tr. 104) chép: “Thuyền địch đến bến Nam Dư tức thì bỏ thuyền nhảy lên bộ, đánh úp vào đám lính thủy ở cửa Thúy Ái”.

Nam Dư đầu thời Nguyễn là một xã bên cạnh Thúy Ái, sau đó một phần nhập với Thúy Ái thành một xã chung. Bến Nam Dư và cửa Thúy Ái cách nhau không bao xa. Quân Tây Sơn đánh quân thủy Trịnh ở Thúy Ái bằng cả quân đổ bộ lẫn thuyền chiến. Một bộ phận đổ bộ đánh chiếm những thuyền quân Trịnh chưa kịp lên, trong khi đó thuyền chiến dùng pháo bắn áp đảo, tiêu diệt những thuyền chiến có quân Trịnh kịp lên đối phó. Chính vì vậy, trận Thúy Ái còn là một trận đối thủy. Ngô Cảnh Hoàn, Nguyễn Trọng Yên và toàn bộ binh sĩ trên thuyền Trung Trạch bị chết trong trận đối thủy này.

Trận đánh kết thúc rất nhanh, dường như Hoàng Phùng Cơ ở hồ Vạn Xuân không hề biết gì cả. Theo Hoàng Lê nhất thống chí (tr. 104), sau đó toàn bộ quân Tây Sơn “kéo ùa lên bộ, xông vào trận của quận Thạc”. Quân Trịnh ở hồ Vạn Xuân đang ăn cơm bị quân thủy Tây Sơn đổ bộ ập đến bất ngờ, bị tiêu diệt gần hết.

Cụm phòng thủ phía trước của quân Trịnh bị đập tan tành, quân thủy Tây Sơn ồ ạt tiến về khúc sông Hồng đối diện với trận địa trên bờ mà chúa Trịnh đã dàn sẵn chờ đợi, trong khi đó cánh quân tiên phong đổ bộ bí mật tiến về phía sau lưng quân Trịnh.

(http://img715.imageshack.us/img715/6934/404405.jpg)


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 14 Tháng Tư, 2012, 02:17:55 pm
Trận đánh quân Trịnh ở bến Tây Long là trận đánh quyết định cuối cùng trong cuộc hành quân ra Bắc lần này của quân Tây Sơn. Đó là một trận đổ bộ lớn nhằm áp đảo quân Trịnh ở mặt chính diện, tạo điều kiện cho cánh quân độ bộ ở Thúy Ái bất ngờ đánh chiếm phủ chúa. Khu vực đổ bộ được xác định là bến Tây Long (còn gọi là Tây Luông), đây là bến sông Hồng dẫn thẳng tới lầu Ngũ Long, trung tâm của trận địa quân Trịnh.

  Bến Tây Long được Vũ Tuấn Sán xác định vào khoảng bãi sông phía sau lưng Ngân hàng quốc gia hiện nay. Lầu Ngũ Long ở khoảng Bưu điện thành phố cũ và khu Nhà khách Chính phủ hiện nay. Bức tranh trong sách của Baron cho ta một hình ảnh gần gũi hơn về bãi sông Hồng ở Thăng long thời đó. Bản đồ Hà Nội vẽ năm 1831 có ghi rõ Tây Luông ở khoảng Bảo tàng Lịch sử hiện nay, cạnh đó về phía bắc là tiền quân đồn. Chính đây là Tiền Lâu, nơi quân Tiền bộ Trịnh đóng để án ngữ đường từ bến Tây Long lên. Các đơn vị khác theo Hoàng Lê nhất thống chí, được rải ra các đồn xung quanh, chủ yếu bảo vệ phủ chúa Trịnh chứ không phải là khu nội thành Thăng Long nơi vua ở. Điều này có liên quan đến khẩu hiệu “chính trị” của Tây Sơn lúc đó là “Phù Lê diệt Trịnh” và mục tiêu tiến công của quân Tây Sơn nhằm vào bản doanh của chúa Trịnh chứ không phải Thăng Long nói chung. Sau đó, Nguyễn Huệ chỉ đóng quân ở phủ chúa. Võ Văn Nhậm, Nguyễn Hữu Chỉnh ở lần Ngũ Long. Ngày hôm sau (21-7-1786), Nguyễn Huệ mới vào trong thành ra mắt vua Lê.

Theo cách bố trí của quân Trịnh thì quân hiệu Tiền bộ có nhiệm vụ khống chế mặt sông này (là mặt thành Tiền Lâu).

Quân Tây Sơn trong đổ bộ bao giờ cũng hết sức dũng mãnh và nhờ có hỏa hổ, sức đột phá càng tăng lên gấp bội. Băng qua làn đạn của quân Tiền bộ, thủy binh Tây Sơn dùng hỏa hổ tiến sát vào trận địa Trịnh tỏ rõ truyền thống giáp chiến tuyệt vời của một đội quân khởi nghĩa, nhanh chóng phá tan thế trận của đối phương.

Lịch triều tạp kỷ (t. II, tr. 316) ghi lại rất sinh động cuộc đổ bộ này:

“Bấy giờ, thủy quân Tây Sơn bức bách đến bến Tây Luông, đô bộ, dàn trận. Quân tiền bộ của chúa nổ súng bắn. Quân giặc (tức Tây Sơn – T.G.) cúi rạp mình xuống tránh đạn, rồi sấn vào giao chiến. Chúa Trịnh chính mình mặc áo chiến bào, xuống lầu, lên voi, tay cầm cờ lệnh, chỉ huy các quân theo lệnh để đánh giặc, nhưng quân sĩ nhìn nhau, chẳng ai chịu tiến lên cả. Giặc bắn hỏa hổ, tung quân ập ra đánh giết. Chư quân kinh hãi, tan vỡ, bỏ cả giáo mác và áo giáp ở bờ sông, chạy thục mạng, chúa ở trên mình voi ngoái nhìn lại thấy không còn một tướng sĩ nào cả”.

Trong khi quân độ bộ ở Tây Long áp đảo quân Trịnh thì bộ phận kỳ binh đã đột nhập vào phủ chúa, kéo cờ Tây Sơn đắc thắng càng làm quân Trịnh hoảng hốt, tranh nhau tìm đường trốn chạy. Theo Lê quý kỷ sự (tr. 36), “Nhà chúa thấy việc đã hỏng, bèn thúc voi quay về phủ, thì đã thấy ngoài phủ cờ giặc phấp phới rồi. Chúa Trịnh vội tế voi nhằm phía Sơn Tây mà chạy”.

  Về trận này, Lơ Roa nhận xét: “Quân (Tây Sơn – T.G.) nhân lúc thắng thế, tiến thẳng ra kinh đô và ngày 20-7 vào đó không gặp sự kháng cự nào. Thượng đế đã lấy mất trí suy đoán của quan binh chúng tôi, vì ai nấy đều thi nhau trốn chạy tán loạn và bỏ mặc hết, cốt để cứu lấy mạng sống của họ. Ngời ta kể rằng lính Bắc Hà chỉ bắn có 12 phát súng vào quân Nam Hà thôi, rồi họ bỏ chạy và đốt cháy vài tòa nhà, do đó một phần tư thành phố bị thiêu rụi” (Thư ngày 6-10-1786, tài liệu đã dẫn).


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 14 Tháng Tư, 2012, 02:20:22 pm
Như vậy, chỉ trong vòng hai ngày tổng công kích, hai vạn quân thủy Tây Sơn đã làm tan rã hoàn toàn quân đội Trịnh. Tình hình tư liệu về cuộc hành quân đánh Trịnh năm 1786 rất phong phú, cho phép ta hình dung chi tiết hơn vai trò cũng như nghệ thuật tác chiến của quân thủy Tây Sơn, đặc biệt trong trường hợp quân thủy vươn lên đảm nhiệm độc lập một hoạt động quân sự có ý nghĩa chiến lược.

Quân thủy Tây Sơn trong cuộc hành quân lần này luôn giữ vai trò lực lượng đột kích chiến dịch, trong đó pháo thuyền là bộ phận nòng cốt. Suốt thời gian chiến dịch, quân thủy hoàn toàn đảm nhiệm việc chuyển quân, cơ đông. Trong hai vạn quân Tây Sơn ra Bắc lần này, có một bộ phận khá lớn là bộ binh, những người thực hiện nhiệm vụ tiến công đường bộ xuất sắc trong chiến dịch Thuận Hóa vừa qua. Kể từ Phú Xuân đến tận Thăng Long, cả trong hành quân cũng như trong chiến đấu, không mấy khi thấy quân bộ phải hành quân độc lập.

Các hình thức tác chiến trong chiến dịch này nổi nhất là các trận đổ bộ và một vài trận đối thủy. Trận Cửa Luộc, Thúy Ái, Tây Long đều là những trận đánh bằng đổ bộ rất thành công, cũng như trong trận Phú Xuân trước đó vừa đúng một tháng, đổ bộ liền với sự yểm hộ của pháo thuyền. Cách đánh này đã tạo ra hình thái kết hợp thủy, bộ rất nhuần nhuyễn trong quân đội Tây Sơn. Đặc biệt trong trận tổng công kích vào Thăng Long, quân đổ bộ ở Thúy Ái đã được phát triển thành một mũi kỳ binh độc lập trên bộ, đánh dấu bước phát triển rất cao của nghệ thuật phối hợp thủy bộ cũng như nghệ thuật chỉ đạo tác chiến của Nguyễn Huệ. Trong các trận đổ bộ này, ngoài hỏa lực của thuyền chiến, nghĩa quân độ bộ còn được trang bị hỏa hổ – một vũ khí đột kích lợi hại trong điều kiện bãi đổ bộ đã bị đối phương khống chế.

Trong kế hoạch phòng thủ, quân Trịnh chú ý đến việc chống lại Tây Sơn bằng những trận đối thủy, nhằm đánh trúng vào lực lượng nòng cốt của quân Tây Sơn. Ở Cửa Luộc cũng như ở Thăng Long, quân Trịnh đều có ý định dùng quân thủy trước tiên để cản phá bước tiến của Tây Sơn. Vì vậy, ngoài các trận đổ bộ, quân thủy Tây Sơn còn có những trận đối thủy, chủ yếu do các pháo thuyền đảm nhiệm.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 14 Tháng Tư, 2012, 02:22:41 pm
Trận đánh tan quân thủy Đinh Tích Nhưỡng xứng đáng là một trận đối thủy tiêu biểu của quân thủy Tây Sơn. Như ta đã biết, trên thế giới lúc đó, trong các trận đối thủy, giáp chiến đã được thay thế căn bản bằng đấu pháo. Ở phương Đông nói chung, do truyền thống và một số hạn chế riêng, nên sự thay thế này không dứt khoát như phương Tây. Trong đối thủy, giáp chiến vẫn đóng vai trò khá quan trọng. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu của các trận đối thủy, đấu pháo vẫn là thủ đoạn tác chiến căn bản và quyết định. Thành bại của giai đoạn này có liên quan đến thành bại toàn trận đánh.

Trận đồ của Đinh Tích Nhưỡng chứng tỏ viên tướng lão luyện thủy chiến này có ý định dùng hỏa lực mạnh đã chuẩn bị sẵn để cản đường Tây Sơn, hoặc ít ra cũng gây tổn thất lớn cho thuyền chiến Tây Sơn trước khi bước vào một trận giáp chiến.

  Quân Nhưỡng dàn trận chữ nhất, trên sắp sẵn pháo lớn. Đó là trận đồ đấu pháo thường thấy trong nghệ thuật thủy chiến ở phương Đông, phổ biến dùng đánh trong sông. Trận đồ Tam tài hoành cũng thuộc loại này. Thuyền chiến dàn hàng ngang, so le để có thể di động lên xuống, thay đổi vị trí cho nhau. Khi vào trận, pháo trên hàng thuyền đầu bắn xong, lùi lại nhường cho hàng sau tiến lên, cứ thế để tạo ra lưới hỏa lực liên tục không đứt quãng vì thời gian nạp đạn. Pháo thuyền nước ta vốn chỉ có 1 – 3 khẩu trên một thuyền. Kỹ thuật pháo đương thời phải mất từ 5 – 10 phút mới có thể bắn được một phát, tầm bắn chỉ trong khoảng vài trăm mét, độ chính xác lại không cao, trong khi đó thuyền đối phương thường nhiều, vì vậy rất cần hỏa lực dày đặc và liên tục. Tất nhiên, kỹ thuật đúc súng và khả năng cung cấp đạn dược thời đó không cho phép thực hiện sự liên tục trong một thời gian dài. Vì vậy, trong một khoảng thời gian nào đó mà chưa tiêu diệt được đối phương thì pháo thuyền coi như mất sức chiến đấu, chỉ còn lại khả năng giáp chiến.

  Để minh họa cho cách đánh trên, có thể dẫn lại đây đoạn mô tả trận đối thủy của Nguyễn Viết Tuyển với Tướng Tây Sơn Quỳnh Ngọc hầu năm 1788 trong Lê quý kỷ sự (tr. 89): “Tuyển chia thuyền làm mười hàng. Ở các mũi thuyền đều đặt pháo lớn. Hễ gặp địch thì hàng thuyền cứ theo thứ tự lần lượt bắn. Tiếng súng liên miên không ngớt, đạn bay đầy sông, bắn vỡ luôn vài chục chiếc thuyền giặc”.


Đối phó với thế trận này, Nguyễn Huệ chủ trương lợi dụng đêm tối đánh nghi binh làm tiêu hao hỏa lực của địch, sau đó mới dùng ưu thế hỏa lực của ta uy hiếp và liên tiếp đánh giáp chiến. Quân thủy Trịnh đã mắc mưu và thất bại.

Trong trận đối thủy nhỏ ở Thúy Ái, pháo thuyền Tây Sơn đã tiêu diệt nhanh chóng những thuyền chiến Trịnh có khả năng chiến đấu, tạo thế áp đảo, diệt nhanh gọn quân thủy Trịnh tại đây, mở rộng đường cho đại quân tiến lên đổ bộ ở Thăng Long.

Cùng với thắng lợi giòn giã của các trận thủy chiến ở Gia Định,chiến công của quân thủy Tây Sơn trên chiến trường Bắc Hà còn rất mới mẻ này đã chứng tỏ sức mạnh dồi dào và khả năng tác chiến cao của quân thủy Tây Sơn, dưới sự chỉ huy tài giỏi của Nguyễn Huệ.


Tiêu đề: Re: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm
Gửi bởi: ùi trong 14 Tháng Tư, 2012, 02:26:34 pm
(http://img6.imageshack.us/img6/5880/392393.jpg)