Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: HUY_AK_47 trong 28 Tháng Mười, 2011, 10:34:02 pm



Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 28 Tháng Mười, 2011, 10:34:02 pm
TS. NGUYỄN XUÂN MINH

















LỊCH SỬ VIỆT NAM
1945 - 2000























NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC - 2006

1
 




Chịu trách nhiệm xuất bản:

Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc: NGÔ TRẦN ÁI
Phó Tổng Giám đốc kiêm Tổng biên tập : NGUYỄN QÚY THAO
Chịu trách nhiệm nội dung:

Phó Tổng Giám đốc kiêm Giám đốc NXBGD tại TP. Hà Nội
NGUYỄN XUÂN HÒA

Biên tập nội dung và sửa bản in : TRẦN THÁI HÀ
Trình bày bìa:

NGUYỄN MẠNH HÙNG

Chế bản:

GIA HƯNG










ĐƠN VỊ LIÊN DOANH IN VÀ PHÁT HÀNH: TRUNG TÂM SÁCH KHUYẾN HỌC TẠI TP. HÀ NỘI

2
 
LỜI NÓI ĐẦU


Cách mạng tháng tám năm 1945 thành công đã mở ra một kỉ nguyên mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Trong hơn 60 năm qua, nhân dân ta đã đấu tranh oanh liệt giành độc lập tự do, thống  nhất  Tổ  quốc  và  xây  dựng  chủ  nghĩa  xã  hội,  tạo  nên những biến đổi rất to lớn và sâu sắc bộ mặt của đất nước.

Việc nghiên cứu và giảng dạy Lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2000 có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, bởi lẽ thời kì này giữ một vị trí quan trọng trong lịch sử phát triển của dân  tộc  Do  vậy,  từ  trước  tới  nay,  nhiều  tập  giáo  trình  và  các sách chuyên khảo về thời kì lịch sử này đã được lần lượt công bố,  đáp  ứng  nhu  cầu  nghiên  cứu,  giảng  dạy  ở  các  trường  sư phạm và khoa học xã hội nhân văn. Tuy nhiên, trên nền chung của một chương trình thống nhất, mỗi trường đều có những yêu cầu cụ thể riêng, nhằm thực hiện tốt mục tiêu đào tạo của nhà trường.

Tập Giáo trình Lịch sử Việt Nam 1945 - 2000 được biên soạn nhằm phục vụ yêu cầu đào tạo của Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên.

Căn  cứ  vào  phương  hướng  cơ  bản  của  chương  trình  giảng dạy Lịch sử Việt Nam trong các Khoa Lịch sử ở các trường Đạt học Sư phạm nước ta hiện nay tập Giáo trình Lịch sử Việt Nam
1945 - 2000 được biên soạn một cách hệ thống, tương đối toàn diện về các mặt kinh tế, chính trị, quân sự, văn hoá, xã hội và
mang tính cập nhật. Những sự kiện lịch sử quan trọng diễn ra trên địa bàn miền núi phía Bắc được tác giả trình bày khá cụ
thể, giúp cho sinh viên có điều kiện thuận lợi trong học tập và nghiên cứu. Một số sự kiện lịch sử và nhận định theo quan điểm
mới cũng được thể hiện trong tập Giáo trình này.
Nội  dung  chương  trình Lịch  sử  Việt Nam từ  năm 1945  đến năm 2000 gồm 9 đơn vị học trình (135 tiết), được cấu trúc thành

3
 
3 phần:

Phần I: Việt Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954), gồm 4 đơn vị học trình (60 tiết).

Phần  II:  Việt  Nam  trong  kháng  chiến  chống  Mĩ  cứu  nước
(1954 - 1975), gồm 4 đơn vị học trình (60 tiết).

Phần III: Việt Nam trong thời kì xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa (1975 - 2000), gồm 1 đơn vị học trình (15 tiết). Lịch  sử  Việt  Nam  từ  năm  1945  đến  năm  2000  chứa  đựng  nội dung rất rộng lớn và phong phú, trong đó có nhiều vấn đề còn mang tính thời sự.

Trong quá trình hoàn thiện tập Giáo trình này, chúng tôi đã nhận được những ý kiến đóng góp hết sức quý báu của một số đồng  nghiệp,  đặc  biệt  là  của  PGS.TS  Trần  Bá  Đệ.  Chúng  tôi chân thành cảm ơn.

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song với khả năng có hạn nên trong  quá  trình  biên  soạn,  chúng  tôi  không  tránh  khỏi  những thiếu  sót  và  hạn  chế.  Hi  vọng  sẽ  nhận  được  ý  kiến  đóng  góp chân thành của các bạn đồng nghiệp và sinh viên để có những tập giáo trình mới đạt chất lượng cao hơn.

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2006

Tác giả




Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 28 Tháng Mười, 2011, 10:34:47 pm
PHẦN I




XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG, KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP GIÀNH VÀ BẢO VỆ ĐỘC LẬP DÂN TỘC (1945 - 1954)



Chương I



VIỆT NAM TRONG HƠN MỘT NĂM ĐẦU SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM (9/1945 - 12/1946)
Chương I nhằm cung cấp những kiến thức cơ bản của Lịch sử Việt  Nam  từ  sau  Cách  mạng  tháng  Tám  đến  toàn  quốc  kháng chiến. Thời gian này, đất nước ta gặp muôn vàn khó khăn thử thách. Xây dựng chính quyền cách mạng, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, diệt giặc đói, diệt giặc dốt, khắc phục khó khăn về tài  chính  là  những  nhiệm  vụ  cấp  bách  lúc  này  cần  được  giải quyết đồng thời với đấu tranh chống ngoại xâm, nội phản để bảo vệ chính quyền, giữ vững thành quả cách mạng và chuẩn bị cho cuộc chiến đấu lâu dài chống thực dân Pháp về sau.

I- Tình hình Việt Nam sau Chiến tranh thế giới thứ hai và
Cách mạng tháng Tám 1945.

Sau  Chiến  tranh  thế  giới  thứ  hai,  một  loạt  nước  ở  Trung, Đông Âu được giải phóng, lập nên chế độ dân chủ nhân dân và từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội từ một nước là Liên Xô đã trở thành hệ thống thế giới gồm nhiều nước và là chỗ dựa vững chắc cho phong trào đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

5
 
Cùng với sự ra đời của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở nhiều nước châu Á, châu  Phi  cũng  ngày  một  dâng  cao.  Nhân  dân  các  nước  Lào, Campuchia, Mianma, Inđônêxia, Philíppin, Malaixia... đứng lên đấu tranh chống thực dân Anh, Pháp, Mĩ, Hà Lan. . . giành độc lập. Lực lượng cách mạng Trung Quốc do Đảng Cộng sản lãnh đạo đã giải phóng được một phần lục địa phía Bắc với gần 100 triệu dân (trong tổng số 450 triệu), nhưng lực lượng phản cách mạng Quốc Dân đảng do Tưởng Giới Thạch cầm đầu vẫn còn khá mạnh (1,6 triệu quân) và cuộc nội chiến giữa hai lực lượng bắt đầu diễn ra quyết liệt.

Ở châu Âu, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản ở một số nước, như Pháp, Ý. . . , giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân  lao  động  đấu  tranh  đời  các  quyền  dân  sinh,  dân  chủ,  đòi tăng lương, giảm giờ làm, ủng hộ phong trào đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa. Sau Chiến tranh, trong khi nền kinh tế của  các  nước  tư  bản  châu  Âu  bị  tàn  phá  nặng  nề,  thì  Mĩ  trở thành  một  nước  mạnh  nhất  về  kinh  tế  (chiếm  52%  tổng  sản phẩm xã hội của thế giới) và nắm độc quyền vũ khí hạt nhân. Với sức mạnh về kinh tế, khoa học - kĩ thuật và quân sự đế quốc Mĩ ráo riết thực hiện âm mưu làm bá chủ thế giới. Cùng với việc tăng  cường chạy  đua  vũ trang,  cuộc "chiến tranh lạnh" do Mĩ gây  ra  nhằm chống  lại  Liên  Xô  và  các  nước xã hội  chủ nghĩa diễn ra ngày càng quyết liệt.

Như vậy, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, mâu thuẫn chủ yếu giữa một bên là hệ thống xã hội chủ nghĩa cùng các lực lượng đấu tranh cho độc lập dân tộc dân chủ, hoà bình và tiến bộ xã hội  với  một  bên  là  phe  đế  quốc  do  Mĩ  cầm  đầu  nổi  lên  ngày càng sâu sắc. Tất cả tình hình trên đã tác động trực tiếp đến cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập của nhân dân Việt Nam.

Sau thắng lợi Cách mạng tháng Tám 1945, dân tộc Việt Nam bước  vào  kỉ nguyên  mới  -  kỉ  nguyên độc  lập  tự  do.  Nhân  dân Việt Nam trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội và

6
 
bước đầu được hưởng những quyền lợi do cách mạng đem lại. Họ hiểu rõ giá trị thiêng liêng của những quyền lợi ấy, một lòng gắn bó và quyết tâm bảo vệ chính quyền cách mạng. Đây chính
là  nguồn  sức  mạnh  vô  tận  giúp  cho  Nhà  nước  cách  mạng  còn
đang trong thời kì trứng nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách.

Sau Cách mạng tháng Tám, Mặt trận Việt Minh phát triển rất nhanh  chóng.  Các  Hội  Cứu  quốc  trong  công  nhân,  nông  dân, thanh  niên,  phụ  nữ  được  tổ  chức  thống  nhất  trong  cả  nước. Nhiều Hội Cứu quốc mới ra đời, tập hợp thêm những tầng lớp yêu nước còn đứng ngoài Mặt trận, như Công thương Cứu quốc, Phật  giáo  Cứu  quốc,  Đoàn  Hướng  đạo  Cứu  quốc,  Đoàn  sinh viên Cứu quốc... Mặt trận Việt Minh thực sự trở thành ngọn cờ đoàn kết toàn dân rộng rãi, giữ vai trò rất quan trọng trong cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền dân chủ nhân dân.

Thực hiện chủ trương vũ trang toàn dân, nhân dân ta tích cực xây  dựng  lực  lượng.  Chỉ  trong  thời  gian  ngắn,  lực  lượng  vũ trang  bao  gồm  các  đơn  vị  Giải  phóng  quân  và  các  đội  tự  vệ chiến đấu phát triển nhanh chóng. Dù trang bị vũ khí còn rất thô sơ và thiếu thốn, lại chưa có nhiều kinh nghiệm tác chiến, nhưng cán  bộ  và  chiến  sĩ  trong  các  đơn  vị  vũ  trang  đều  có  tinh  thần chiến đấu dũng cảm, là lực lượng chủ chốt trong cuộc đấu tranh
bảo vệ chính quyền cách mạng.

Trải  qua  15  năm  đấu  tranh  cách  mạng  do  Đảng  lãnh  đạo (1930 - 1945), truyền thống đoàn kết, bất khuất của dân tộc ta càng được phát huy cao độ; Đảng ta ngày càng trưởng thành, bắt
rễ sâu vào quần chúng và thêm dày dạn kinh nghiệm lãnh đạo. Sau khi đất nước được độc lập, Đảng kịp thời mở rộng đội ngũ, đạo tạo cán bộ, tăng cường sự lãnh đạo trên mọi mặt hoạt động, chuẩn bị tổ chức cho toàn dân bước vào cuộc đấu tranh mới.

Đứng đầu Đảng và Nhà nước cách mạng là vị lãnh tụ thiên tài,  có uy  tín  tuyệt  đối  trong  toàn  dân.  Chủ  tịch  Hồ  Chí  Minh tượng trưng cho linh hoa của dân tộc, cho ý chí kiên cường, bất khuất của nhân dân Việt Nam. Cuộc đời hoạt động cách mạng
7
 
phong phú cùng với uy tín rộng lớn của Người là ngọn cờ tập hợp các tầng lớp nhân dân xung quanh Đảng và Chính phủ.

Bên  cạnh  những  thuận  lợi  cơ  bản  nêu  trên,  Nhà  nước  cách mạng  Việt  Nam,  ngay  sau  khi  ra  đời,  đã  phải đứng  trước  một tình thế hết sức hiểm nghèo.

Nền kinh tế nước ta chủ yếu là nông nghiệp với trình độ lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá rất nặng nề, thiên tai thường xuyên xảy ra. Trận lụt lớn hồi tháng 8 - 1945 làm vỡ đê ở 9 tỉnh Bắc Bộ, khiến 1/3 diện tích canh tác bị hư hại nặng. Sự thiệt hại do trận  lụt  này  gây  ra  ước  tính  khoảng  2.000  triệu  đồng,  tương đương khoảng 3 triệu tạ gạo (theo giá lúc đó). Ba tỉnh vùng Bắc Trung  Bộ  là Thanh Hoá, Nghệ  An, Hà Tĩnh  cũng  bị  mất  mùa trên khoảng một nửa diện tích. Sau lụt là hạn hán kéo dài làm cho 50% diện tích ruộng đất ở Bắc Bộ không cày cấy được. Các ngành  kinh  tế  bị  đình  đốn  nghiêm  trọng.  Nhiều  cơ  sở  công nghiệp chưa đi vào hoạt động. Hàng vạn công nhân thất nghiệp. Riêng ngành khai mỏ than, năm 1940 có 39.500 công nhân, khai thác được 2.500.000 tấn; đến năm 1945 chỉ còn lại 4.000 công nhân với sản lượng khai thác là 231.000 tấn1. Việc buôn bán với nước ngoài hầu như bị đình trệ. Hàng hoá trên thị trường khan hiếm. Nguy cơ nạn đói mới xuất hiện trong khi hậu quả nạn đói lớn do Nhật - Pháp gây ra từ cuối năm 1944 đầu năm 1945 vẫn chưa  được  khắc  phục.  Đời  sống  nhân  dân  bị  đe  doạ  nghiêm trọng.

Nền  tài  chính  của  Nhà  nước  cách  mạng  trong  buổi  đấu  hết sức kiệt quệ. Ngân sách quốc gia lúc đó chỉ có 1.230.000 đồng, trong đó quá nửa là tiền rách. Các khoản thu từ thuế giảm sút. Thuế quan là một nguồn thu chính, chiếm 3/4 ngân sách Đông Dương, giờ đây sụt hẳn xuống. Một số chính sách thuế mới do

Chính phủ ban hành nhằm giảm nhẹ sự đóng góp của nhân dân


1. Ban chỉ đạo biên soạn Lịch sử Chính phủ: Lịch sử Chính phủ Việt Nam
1945 - 1955. Hà Nội 2004, tr. 36.
8
 
(bãi bỏ thuế thân, thuế môn bài,
thuế  xe  tay,  xe đạp,  miễn  thuế  điền  thổ  cho  những  vùng  bị ngập lụt và giảm 20% trong toàn quốc...) cũng làm cho nguồn thu ngân sách giảm xuống rất nhiều. Trong khi nguồn thu quá ít
ỏi  không  thể  đáp  ứng  được  nhu  cầu  chi  lớn  thì  Nhà  nước  lại chưa nắm được Ngân hàng Đông Dương. Bên cạnh đó, khi kéo vào  nước  ta,  quân  Tưởng  lại  tung  ra  trên  thị  trường  giấy  bạc "Quan kim" và "Quốc tệ" đã mất giá trị, càng làm cho tình hình tài chính và thương mại thêm phức tạp.

Cùng với khó khăn về kinh tế, tài chính, chế độ thực dân - phong kiến để lại một di sản văn hoá hết sức lạc hậu. Thực dân Pháp chăm lo xây dựng nhà tù hơn là trường học. Vì thế, hơn
90% dân số nước ta mù chữ. Trước năm 1945, cả nước ta chỉ có
737 trường tiểu học với khoảng 623.000 học sinh, 65 trường cao đẳng tiểu học với 16.700 học sinh và chỉ có 3 trường phổ thông trung học với 652 học sinh. Bên cạnh nạn thất học là các tệ nạn xã hội như cờ bạc, nghiện hút... tồn tại rất phổ biến. Bệnh dịch hoành hành ở nhiều nơi...

Trong  khi  đó,  chính  quyền  cách  mạng  mới  ra  đời,  chưa  có kinh nghiệm quản lí. Ở một số nơi, chính quyền chưa nằm trong tay những người cách mạng. Quân đội thường trực đang trong quá trình xây dựng, chưa được huấn luyện bao nhiêu. Phần lớn cán  bộ  chỉ  huy  chưa  có  hiểu  biết  về  quân  sự  và  kinh  nghiệm chiến đấu. Trang bị vũ khí rất thô sơ và thiếu thốn, chủ yếu là giáo mác, dao găm, mã tấu, một ít súng trường, súng máy.

Mặt  trận  dân  tộc  thống  nhất  tuy  phát  triển  rộng  rãi,  nhưng chưa được củng cố vững chắc; kẻ thù lại đang ra sức thực hiện âm mưu chia rẽ, lôi kéo... Do đó, vấn đề đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo đang là những vấn đề lớn được đặt ra rất bức thiết lúc đó.



Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 28 Tháng Mười, 2011, 10:37:11 pm
Nguy cơ lớn nhất đối với Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà  lúc  mới  thành  lập  là  nạn  ngoại  xâm.  Ở  phía  Bắc  vĩ  tuyến
160, hơn 20 vạn quân Tưởng đã ồ ạt kéo vào nước ta. Núp dưới
9
 
danh nghĩa đại diện lực lượng Đồng minh vào làm nhiệm vụ giải giáp  quân  đội  Nhật,  quân  Tưởng  nuôi  dã  tâm:  tiêu  diệt  Đảng Cộng sản Đông Dương, phá tan Việt Minh, lật đổ Chính phủ Hồ Chí Minh và dựng lên một chính quyền tay sai. Bởi vậy, khi vào nước ta, quân Tưởng kéo theo các tổ chức phản cách mạng như Việt Nam Quốc Dân đảng (Việt Quốc) do Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh cầm đầu và Việt Nam cách mạng đồng minh hội  (Việt  Cách)  do  Nguyễn  Hải  Thần  cầm  đầu.  Quân  Tưởng buộc Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thực hiện chế độ trưng  thu  lương  thực  để  mỗi  tháng  phải  cung  cấp  cho  chúng
10.000 tấn gạo, trong khi nhân dân Bắc Bộ đang phải chịu hậu quả nạn đói khủng khiếp chưa từng có trong lịch sử đất nước. Dựa vào quân Tưởng, các tổ chức Việt Quốc, Việt Cách ra sức chống phá chính quyền cách mạng. Chúng tiến hành nhiều hoạt động  vu  cáo,  nói  xấu  Việt  Minh,  ngang  nhiên  đòi  gạt  các  bộ trưởng là đảng viên cộng sản ra khỏi Chính phủ. Chúng còn gây
ra  các  vụ  giết  người,  cướp  của,  bắt  cóc  cán  bộ,  cướp  chính quyền ở một số địa phương (Yên Bái, Vĩnh Yên, Móng Cái...).

Ở  phía   Nam  vĩ   tuyến  16,  tình  hình  còn  nghiêm  trọng hơn.Thực dân Pháp ngày càng lộ rõ ý đồ trở lại xâm chiếm Việt Nam.

Ngày 17-8-1945, Uỷ ban Quốc phòng Pháp quyết định thành lập lực lượng viễn chinh Pháp ở Viễn Đông (sau đổi là đạo quân viễn chinh Pháp ở Viễn Đông) đưa sang Đông Dương. Tướng Lơclec (Leclerc) được cử làm Tổng chỉ huy lực lượng lục quân Pháp ở Viễn Đông. Đô đốc Đácgiăngliơ (D' Argenlieu) được cử làm Cao uỷ kiêm Tổng Tư lệnh Hải quân Pháp ở Viễn Đông. Uỷ ban  hành  động  giải  phóng Đông  Dương  được  cải  tổ  thành Uỷ ban Đông Dương do Đờ Gôn (De Gaulle) làm Chủ tịch.

Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945 nhân dân Việt Nam trở thành người làm chủ đất nước. Thực dân Pháp không còn chỗ đứng ở Đông Dương nhưng vẫn không chịu từ bỏ âm mưu  đặt  lại  ách  thống  trị  thực  dân  kiểu  cũ  trên  bán  đảo  này.

10
 
Lơclec đã vạch ra kế hoạch chiếm lại Đông Dương gồm 5 điểm như sau:

1- Dựa vào quân Anh để làm chủ phía Nam vĩ tuyến 16;

2- Thả dù nhân viên dân sự và lực lượng quân sự xuống miền
Bắc Việt Nam;
3- Xác nhận với Đồng minh việc duy trì chủ quyền của Pháp
ở Đông Dương;

4-  Từng  bước  giành  lại  những  vùng  do  Trung  Quốc  kiểm soát;

5- Tiến hành các cuộc thương thuyết với người bản xứ.

Thực  hiện  kế  hoạch  trên,  từ  ngày  13  đến  ngày  22-8-1945, một số tên quan thuộc địa cũ, trong đó có Métxme (Messmer) mang danh nghĩa Uỷ viên Cộng hoà Pháp tại Bắc Kì, đã nhảy dù xuống  miền  Bắc  nước  ta,  liên  lạc  với  tàn  binh,  tù  binh,  Pháp kiều và bọn tay sai nhằm lập lại bộ máy cai trị. Ngày 22-8-1945, Xanhtơni (Sainteny) cùng với một số sĩ quan Pháp từ Côn Minh (Vân Nam) theo phái đoàn đầu tiên của cơ quan tình báo chiến lược  (OSS)  của  Mĩ  (do  Trung  uý  Patti  cầm  đầu)  đến  Hà  Nội. Cao  uỷ  Đácgiăngliơ  và  Tư  lệnh  tối  cao  các  lực  lượng  Pháp Lơclec  đã  được  lệnh  của  Đờ  Gôn phải  tìm cách  khôi  phục lại chủ quyền của Pháp trên các lãnh thổ liên bang Đông Dương mà không được cam kết bất cứ điều gì đối với phía Việt Minh. Vào thời điểm này, khu vực Bắc Đông Dương kể từ vĩ tuyến 16 trở
ra  có  gần 30.000 người  Pháp,  trong đó  có  20.000  người  đã bị quân  Nhật  bắt  tập  trung  tại  Hà  Nội  từ  ngày  9-3-1945.  Xêđi (Cédille), Uỷ viên Cộng hoà Pháp tại Nam Đông Dương, nhảy dù xuống Hớn Quản, được quân Nhật đưa về Sài Gòn. Hai chiếc tàu Pháp chạy trốn Nhật sau cuộc đảo chính 9-3-1945, từ vùng biển Quảng Đông trở lại Đông Bắc Việt Nam, đổ quân lên đảo Cô Tô và đảo Vạn Hoa. Những toán tàn binh Pháp ở Trung Lào, Hạ Lào được tập hợp lại, chiếm đóng một số cao điểm trên các trục đường số 7, 8, 9, 12 và dọc biên giới Việt - Lào, làm bàn

11
 
đạp chuẩn bị tiến sang các tỉnh Bắc Trung Bộ Việt Nam.

Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng và Chính phủ, Mặt  trận  Việt  Minh  cùng  chính  quyền  các  cấp  lãnh  đạo  nhân dân và lực lượng vũ trang đề cao cảnh giác, tích cực đánh địch, bảo vệ quê hương. Ở miền Bắc, cuối tháng 8-1945, những tên Pháp nhảy dù xuống các nơi đều bị quân và dân ta chặn đánh. Các đơn vị Giải phóng quân Hải Phòng, Quảng Yên chặn đánh các  tàu  Crayxắc  (Crayssac)  và  Phơrênôn  (Frénohls),  tiêu  diệt địch ở Vạn Hoa và Cô Tô. Ở Bắc Trung Bộ, Giải phóng quân Nghệ An và Hà Tĩnh chặn đánh địch trên biên giới Việt - Lào tại  các  vị  trí:  Mường  Xén  (Đường  số  7),  Napê  (Đường  số  8), Banaphào  (Đường  số  12).  Trên  Đường  số  9,  Giải  phóng  quân Quảng  Trị,  Thừa  Thiên  phối  hợp  với  bộ  đội  Lào  đánh  địch  ở Pha Lan, Mường Phin, Đồng Hến, không cho chúng tiến sang các tỉnh Bắc Trung Bộ. Tại miền Nam, Xêđi nhân danh uỷ viên Cộng hoà Pháp ở miền Nam Đông Dương đã đàm phán với Uỷ ban nhân dân Nam Bộ trên cơ sở nội dung bản Tuyên bố ngày
24-3-1945  về  vấn  đề  Đông  Dương  của  Đờ  Gôn,  mà  không  đề cập đến nền độc lập của Việt Nam, nên đã không đạt được kết quả.

Như  vậy,  âm  mưu  của  thực  dân  Pháp  muốn  nhanh  chóng thiết  lập  lại  nền  thống  trị  ở  Đông  Dương  đã  không  thực  hiện được. Đầu tháng 9-1945, Đácgiăngliơ và Lơclec phải điều chỉnh kế hoạch: Dựa vào quân Anh gấp rút chiếm Nam Bộ, lấy đó làm bàn  đạp  đánh  chiếm phần  còn  lại  của  Đông  Dương,  lập  chính phủ "Nam Kì tự trị", thành lập Liên bang Đông Dương. Chúng vừa ráo riết chuẩn bị lực lượng, vừa khiêu khích ta để tạo cớ cho quân Đồng minh can thiệp.

Ngày 2-9-1945, trong lúc nhân dân Sài Gòn mít tinh mừng ngày Độc lập một số lính Pháp núp trong Nhà thờ Đức Bà bắn lén vào đám đông, làm 47 người  chết, nhiều người bị thương. Ngày  4-9-1945,  Grêxi  (Gracey), Tư  lệnh  sư  đoàn  20  quân  đội Hoàng  gia  Anh,  trưởng  phái  bộ  Đồng  minh,  lấy  cớ  trật  tự Sài

12
 
Gòn không đảm bảo, đã hạ lệnh cho tư lệnh quân đội Nhật Bản
ở Đông Nam Á đưa 7 tiểu đoàn từ các tỉnh Nam Bộ về Sài Gòn.

Hành động khiêu khích của quân Pháp đã gây nên làn sóng công  phẫn  trong  các  tầng  lớp  nhân  dân.  Đêm  4-9,  vào  lúc  22 giờ, công nhân Sài Gòn tổ chức cuộc mít tinh trước trụ sở Tổng Công đoàn Nam Bộ, tuyên thệ trước bàn thờ Tổ quốc: "Quyết cùng anh em lao động không nản chí trước khó khăn, không lùi bước  trước nguy hiểm để  cùng  đồng  bào  bảo vệ  Tổ  quốc, giữ
gìn non sông"1. Ngày 6-9-1945, phái bộ Anh gồm 30 sĩ quan, do một đại tá cầm đầu vừa đến Sài Gòn đã ra lệnh cho quân Nhật làm  nhiệm  vụ  cảnh  sát  trong  thành  phố,  đòi  các  lực  lượng  vũ trang cách mạng nộp vũ khí. Ngày 12-9, một lữ đoàn thuộc Sư đoàn 20 quân đội Hoang gia Anh đến nước ta với nhiệm vụ giải giáp quân Nhật và kéo theo sau là một đại đội thuộc Trung đoàn bộ binh thuộc địa số 5 của Pháp.

Tại  Sài  Gòn,  quân  Anh  ngang  nhiên  tước  vũ  khí  của  quân
Nhật trang bị cho tù binh Pháp (bị Nhật bắt giam từ sau ngày 9-
3-1945), dùng quân Pháp thay quân Nhật canh gác một số vị trí.
. . Những đơn vị nhỏ bộ binh và xe bọc thép của Pháp được tăng thêm 1.400 lính do Nhật giam giữ được Anh thả ra và trang bị lại. Ngày 14-9, Grêxi ra thông cáo cấm nhân dân ta mang vũ khí và biểu tình. Ngày 15-9, y ra lệnh tước vũ khí của lực lượng vũ trang Việt Nam. Ngày 17-9, Grêxi lại ra lệnh giới nghiêm, đình bản tất cả báo chí ở Nam Bộ. Ngày 19-9, Xem tổ chức họp báo, tuyên bố: "Việt Minh không đại diện cho nhân dân Việt Nam và bất lực trong việc giữ gìn trật tự. Pháp có nhiệm vụ lập lại trật
tự, sau đó sẽ thành lập chính phủ phù hợp với tuyên bố 24-3"2.



1 Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp 1945 - 1954. Tập I. NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội 1994, tr. 52, 53
2. Ngày 24-3, Tổng thống Đờ Gôn ra bản tuyên bố nêu rõ chính sách thực dân kiểu cũ của Pháp đối với Đông Dương:

"Đông  Dương sẽ được thành lập  theo  kiểu  liên  bang gồm năm xứ  khác
13
 
Ngày 20-9, phái bộ Anh tuyên bố giữ quyền kiểm soát Sài Gòn, đòi thả những người Pháp đang bị giam giữ, đòi đặt công an của Việt Nam dưới quyền chỉ huy của họ và buộc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà rút hết lực lượng vũ trang ra khỏi thành phố. . .

Như vậy, có thể thấy với danh nghĩa đại diện lực lượng Đồng minh làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật ở phía Nam vĩ tuyến 16, quân  Anh  đã  dọn  đường  cho  thực  dân  Pháp  trở  lại  xâm  lược nước ta. Vào thời điểm này, trên đất nước ta đã có hơn 30 vạn quân các nước Anh, Pháp, Tưởng, Nhật cùng nhiều đảng phái phản  động  lăm  le  lật  đổ  Chính  phủ  Việt  Nam  Dân  chủ  Cộng hoà. Chưa bao giờ trên đất nước ta cùng một lúc có nhiều kẻ thù xâm lược như vậy.

Lợi dụng tình hình trên, các thế lực phản động ở trong nước bắt đầu nổi dậy hoạt động chống phá chính quyền cách mạng. Các phần tử tay sai của thực dân Pháp như Nguyễn Văn Xuân, Lê  Văn  Hoạch,  Nguyễn  Văn  Thinh,  Nguyễn  Văn  Tâm...  mưu toan  ngóc  đầu  dậy,  chuẩn  bị  đón  chủ  cũ  trở  lại.  Nguyễn  Tấn Cường  -  một  tên  mật  thám  cũ,  đứng  ra  lập  "Đảng  Nam  Kì"; Nguyễn Văn Tị lập "Đảng Đông Dương tự trị ", thực hiện âm mưu của thực dân Pháp chia cắt Nam Bộ ra khỏi nước Việt Nam thống nhất, thành lập "Nam Kì quốc". Các tổ chức chính trị phản động thân Nhật, như Đại Việt cách mạng đảng, Đại Việt quốc dân  đảng,  Đại  Việt  duy  dân  đảng...  do  Trần  Trọng  Kạn,  Trần Văn  An,  Nguyễn  Văn  Sâm,  Ngô  Đình  Diệm...  cầm  đầu,  cũng ráo  riết  hoạt  động.  Một  số  phần  tử  phản  động  trong  các  đạo




Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 28 Tháng Mười, 2011, 10:40:56 pm
khác nhau (Nam Kì, Trung Kì, Bắc Kì, Cao Miên, Ai Lao). Liên bang Đông
Dương  sẽ  cùng  với  nước  Pháp  xây  dựng  thành  khối  liên  hiệp  Pháp  mà quyền đối ngoại sẽ do Pháp đại diện.

Đông Dương sẽ có một chính phủ liên bang đứng đầu là một viên toàn quyền và gồm những bộ trưởng chịu trách nhiệm trước viên toàn quyền đó. Chính phủ liên bang sẽ là người trọng tài gồm năm xứ. Bên cạnh viên toàn quyền có một  hội  đồng  nhà  nước  trong  đó  người  Đông  Dương  chiếm  nhiều  nhất  là
50% số ghế...".
14
 
Thiên Chúa, Cao Đài, Hoà Hảo... lợi dụng thần quyền và lòng sùng đạo của tín đồ để hoạt động chia rẽ, chống phá cách mạng. Bọn  Tơrốtxkít  -  dưới  chiêu  bài  cách  mạng  triệt  để  -  tung  ra những khẩu hiệu quá khích: đòi tăng lương ngay cho công nhân; đòi tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho nông dân; đòi đánh đổ tất cả các đế quốc cùng một lúc... Chúng hô hào liên kết thợ thuyền và dân cày, đấu tranh chống tư sản và địa chủ, nhằm phá hoại mặt trận đoàn kết dân tộc v.v...
Tất cả những khó khăn kể trên trực tiếp đe dọa đến sự tồn tại của Nhà nước cộng hoà non trẻ. Vận mệnh Tổ quốc lúc này như ngàn cân treo sợi tóc. Nhiệm vụ cấp bách đặt ra cho toàn dân ta
là phải xây dựng và củng cố bộ máy chính quyền cách mạng.

II-  Bước  đầu  công  cuộc  xây  dựng  và  củng  cố  chính  quyền cách mạng .

Ngay sau khi trở về thủ đô Hà Nội, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã đề ra phương hướng, biện pháp xây dựng chế độ mới và đối phó các lực lượng ngoại xâm. Ngày 28-8-1945, Uỷ ban Dân tộc giải phóng Việt Nam tự cải tổ thành Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Một số đảng viên cộng sản, kể cả Tổng Bí thư Trường Chinh trong Uỷ ban Dân tộc giải phóng  đã  tình  nguyện  rút  lui,  nhường  chỗ  cho  một  số  nhân  sĩ yêu nước, tiến bộ tham gia Chính phủ. Thành phần Chính phủ lâm thời gồm có 13 Bộ và 15 vị Bộ trưởng, do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. Về nguyên tắc, Chính phủ lâm thời tiếp thu bộ máy nhà nước cũ, đổi mới một số bộ phận, còn lại thì chuyển sang phục vụ chính quyền mới. Chính quyền các cấp từ Trung ương xuống đến huyện, xã, quân đội và cảnh  sát  được  thay  đổi  cho  phù  hợp  với  chính  thể  mới  là  nền dân chủ cộng hoà. Nhà nước ban bố Sắc lệnh (số 41/SL ngày 3-
l0-1945) bãi bỏ tất cả các cơ quan thuộc phủ Toàn quyền Đông Dương và sáp nhập vào các Bộ của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Bộ máy các ngành được sắp xếp lại, nhưng hầu

15
 
hết các nhân viên vẫn tiếp tục công việc như trước. Ở các địa phương,  bộ  máy  chính  quyền  cũ  bị  xoá  bỏ,  Uỷ  ban  nhân  dân cách mạng là bộ máy chính quyền mới với lãnh đạo mới. Hầu hết các cơ quan, các ngành đều giữ nguyên, hoạt động dưới sự điều hành của Uỷ ban nhân dân cách mạng.

Ngoài những cơ sở đã có sẵn của hệ thống nhà nước cũ, sau Cách  mạng  tháng  Tám,  yêu  cầu xây dựng  chế  độ  mới  đòi  hỏi phải có những tổ chức mới. Ở Trung ương có các Uỷ ban Quỹ Độc  lập,  Tuần  lễ  vàng  giải  quyết  vấn  đề  tài  chính;  Tiểu  ban Canh nông lo việc khai hoang, phục hoá; Uỷ ban Mùa đông binh
sĩ lo giải quyết vấn đề quân nhu cho bộ đội; Uỷ ban nghiên cứu kế hoạch kiến thiết có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch phát triển đất nước . . .

Để bảo vệ và phát huy thành quả của Cách mạng tháng Tám, một trong những nhiệm vụ đầu tiên mà Chính phủ xác định là mở cuộc Tổng tuyển cử, thành lập Chính phủ chính thức, xây dựng  hệ  thống  chính  quyền  hợp  pháp  từ  Trung  ương  đến  địa phương. Trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ (3-
9-1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề.nghị Chính phủ tổ chức cuộc  Tổng  tuyển  cử  theo  chế  độ  phổ  thông  đầu  phiếu.  Người nói:  "Chúng  ta  phải  có  một  hiến  pháp  dân  chủ.  Tôi  đề  nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân gái trai mười tám tuổi  đều  có  quyền  ứng  cử  và  bầu  cử,  không  phân  biệt  giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống..."1.

Chỉ thị "Kháng chiến kiến quốc" (25-11-1945) của Ban Chấp hành  Trung  ương  Đảng  cũng  đề  ra  4  nhiệm  vụ  chủ  yếu  trước mắt  của  cách  mạng  là  củng  cố  chính  quyền,  chống  thực  dân Pháp  xâm lược,  bài  trừ nội  phản,  cải  thiện  đời  sống  cho  nhân dân.  Trong  bốn  nhiệm  vụ  ấy,  nhiệm  vụ  bao  trùm  là  củng  cố chính quyền dân chủ nhân dân.


1. Hồ Chí Minh: Toàn tập. Tập 4. NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995,
tr.8.
16
 
1- Về chính trị - quân sự

Ngày 8-9-1945, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra Sắc lệnh số 14 về cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội: "Tất cả công dân Việt Nam, cả trai và gái, từ 18 tuổi trở lên, đều có quyền tuyển cử và ứng cử, trừ những người đã bị tước công  quyền  và  những  người  trí  óc  không  bình  thường"1.  Mọi công việc chuẩn bị cho Tổng tuyển cử diễn ra trong điều kiện hết sức khó khăn, phức tạp do các lực lượng đế quốc và phản động trong nước ráo riết hoạt động chống phá. Các tổ chức Việt
Quốc, Việt Cách đòi phải lập lại Chính phủ, đòi xoá bỏ chế độ
Uỷ ban nhân dân... Những kẻ cầm đầu Việt Quốc đòi giữ  1/3 số ghế trong Quốc hội và đòi giữ các Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, Bộ Quốc  phòng,  Bộ  Giáo  dục,  Bộ  Thanh  niên.  Họ  yêu  cầu  Việt Minh  cũng  chỉ  được  giữ  1/3  số  ghế  trong  Quốc  hội.  Mặt  trận Việt Minh và Chính phủ lâm thời một mặt kiên quyết bác bỏ các yêu cầu phi lí của Việt Quốc, Việt Cách; mặt khác kiên trì và khôn  khéo  tiến  hành  các  cuộc  hoà  giải,  thương  lượng,  nhân nhượng nhằm tạo bầu không khí ổn định để tiến hành cuộc Tổng tuyển cử thành công.

Đại diện của Mặt trận Việt Minh tiến hành nhiều cuộc tiếp xúc với đại diện của Việt Quốc, Việt Cách và đã đi tới những cam  kết  có  tính  nguyên  tắc  trên  tinh  thần  hợp  tác,  đoàn  kết nhằm thực hiện quyền độc lập, ủng hộ Tổng tuyển cử bầu Quốc hội. Các bên cũng thoả thuận chấm dứt sự công kích lẫn nhau, mở rộng Chính phủ lâm thời, chấp nhận để 70 ghế trong Quốc hội không qua bầu cử cho Việt Quốc, Việt Cách2.

Ngày 1-1-1946, Chính phủ lâm thời cải tổ thành Chính phủ liên hiệp lâm thời, trong đó có thêm một số thành viên của Việt Quốc,  Việt  Cách.  Chính  phủ  liên  hiệp  lâm  thời  và  Việt  Minh



1. Việt Nam dân quốc công báo - Số 1 - 29-9-1945.

2. Viện Sử học: Lịch sử Việt Nam (9/1945 - 1950), Hà Nội 2005, tr. 44.
17
 
tiếp tục triển khai công việc chuẩn bị Tổng tuyển cử với phương châm thực hiện đại đoàn kết thống nhất dân tộc.

Ngày 6-1-1946, toàn dân Việt Nam, trong tư thế người làm chủ, nô nức tham gia cuộc Tổng tuyển cử. Trong điều kiện thù trong,  giặc  ngoài  ra  sức  chống  phá,  cuộc  Tổng  tuyển  cử  bầu Quốc hội thực sự là một cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt để xác lập quyền làm chủ của nhân dân.
Tại miền Nam1, trừ tỉnh Tây Ninh không tổ chức được bầu cử do chiến sự quá ác liệt, nhân dân ta phải vượt qua bom đạn địch để đi bỏ phiếu. Nhiều cán bộ, chiến sĩ đã phải hi sinh trong khi làm nhiệm vụ Tổng tuyển cử.
Tại miền Bắc, ở những nơi có quân Tưởng chiếm đóng, các đảng phái phản động đe doạ, khủng bố những người đi bỏ phiếu; có nơi chúng xông vào cướp hòm phiếu. Nhưng bất chấp sự đe doạ và hành động phá hoại của địch, nhân dân ta vẫn hăng hái đi làm nghĩa vụ công dân.

Tính chung trong cả nước, 89% cử tri đi bỏ phiếu, bầu được
333 đại biểu2  đại diện cho các tầng lớp nhân dân khắp ba miền Bắc - Trung - Nam tham gia vào cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước. Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội là một đòn giáng mạnh vào âm mưu chia rẽ, lật đổ và xâm lược của bọn đế quốc, tay sai. Thắng lợi này góp phần nâng cao uy tín và địa vị của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trên trường quốc  tế, khơi  dậy và  phát  huy tinh thần yêu nước,  ý  thức làm chủ trong mỗi người dân đối với Nhà nước cách mạng. Thắng lợi của cuộc bầu cử còn tạo ra cơ sở pháp lí vững chắc cho Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.




Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 28 Tháng Mười, 2011, 10:43:23 pm
1. Ở miền Nam, do không kịp hoãn, nên vẫn bầu cử vào ngày 23-12-1945.

2. Trong số này có 57% thuộc các đảng phái, 43% không đảng phái (87% là đại biểu công nhân, nông dân, chiến sĩ cách mạng; 10 đại biểu phụ nữ; 34 đại biểu dân tộc ít người).
18
 
Sau thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử, tình hình chính trị ở nước ta lại có những diễn biến phức tạp. Những hoạt động vũ trang xâm lược của thực dân Pháp ở miền Nam ngày càng lan rộng. Cuộc kháng chiến của nhân dân ta gặp nhiều khó khăn. Ở miền  Bắc,  quân  Pháp  từ  Vân  Nam  kéo  vào  Lai  Châu,  Tuần Giáo, Điện Biên. Lợi dụng tình hình này, các tổ chức Việt Quốc, Việt Cách gây sức ép với chính quyền cách mạng, đòi giải tán Chính phủ liên hiệp lâm thời và thành lập ngay Chính phủ liên hiệp quốc gia chính thức mà không chờ Quốc hội họp. Pháp và Tưởng  đã  thoả  hiệp  với  nhau  để  quân  Pháp  thay  thế  quân Tưởng.

Trong  bối  cảnh  đó,  ngày  2-3-1946,  gần  300  đại  biểu  Quốc hội đã họp kì thứ nhất tại Nhà hát lớn Hà Nội. Do tình thế đặc biệt  cần  phải  nhân  nhượng,  Quốc  hội  biểu  quyết  tán  thành  đề nghị của Chủ tịch
Hồ  Chí  Minh  là  mở  rộng  thêm  70  đại  biểu  của  Việt  Quốc, Việt Cách không qua bầu cử, theo như sự thoả thuận giữa Việt Minh, Việt Quốc và Việt Cách ngày 23-12-1945.

Quốc hội khẳng định thành tích của Chính phủ lâm thời trong thời  gian  đầu  xây  dựng  nước  Việt  Nam  Dân  chủ  Cộng  hoà. Đồng thời, Quốc hội quyết định thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến gồm 10 Bộ, do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch và Nguyễn Hải Thần làm Phó Chủ tịch.

Kì  họp  thứ  nhất  Quốc  hội  khoá  I  đã  bầu  Ban  Thường  trực Quốc hội (gồm 15 uỷ viên chính thức và 3 uỷ viên dự khuyết), do Nguyễn Văn Tố làm Trưởng ban, Phạm Văn Đồng và Cung Đình Quỳ (Việt Quốc) làm Phó ban; Cố vấn đoàn do cố vấn tối cao Nguyễn Vĩnh Thụy đứng đầu; Kháng chiến uỷ viên Hội do Võ Nguyên Giáp làm Chủ tịch, Vũ Hồng Khanh làm Phó Chủ tịch. Quốc hội cũng bầu ra Ban dự thảo Hiến pháp do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Trưởng ban. Bộ máy Nhà nước ở Trung ương được hoàn thiện và củng cố một bước, có đầy đủ uy tín hiệu lực để  lãnh  đạo  nhân  dân  tham  gia  kháng  chiến,  kiến  quốc,  thực

19
 
hiện mọi chức năng đối nội và đối ngoại. Tại kì họp đầu tiên (4-
3-1946), Chính phủ liên hiệp kháng chiến đã quyết định một số
chính sách đối nội và đối ngoại:

Về đối nội:

1-  Các  đảng  phái  chặt  chẽ  đoàn  kết,  ngôn  luận,  hành  động nhất trí để phụng sự quốc gia.

2- Sinh mệnh và tài sản của tất cả công dân Việt Nam và kiều dân ngoại quốc được hoàn toàn bảo đảm.

3- Hành chính và quân đội phải thống nhất về tài chính, kinh
tế tập trung.

4- Mọi lực lượng của quốc dân được huy động để dùng trong việc kháng chiến kiến quốc và toàn thể nhân dân, nhất là những người làm việc công phải tuân theo kỉ luật.
Về đối ngoại:

1-  Đối  với  các  nước  Đồng  minh,  nước  Việt  Nam  bao  giờ
cũng chủ trương thân thiện, nhất là đối với Trung Hoa.

2- Đối với các quốc gia nhược tiểu đang đấu tranh giành độc lập thì dân tộc Việt Nam rất đồng tình.

3-  Đối  với  nhân  dân  Pháp,  dân  Việt  Nam  không  thù  hằn, song  cực  lực  phản  đối  chế  độ  thực  dân  và  cương  quyết  giữ quyền  độc  lập.  Chính  phủ  Việt  Nam  chỉ  nhận  điều  đình  với Chính phủ Pháp theo nguyên tắc "Dân tộc tự quyết" của Hiến chương Đại Tây Dương1. Sau tám tháng hoạt động của Quốc hội
và Chính phủ liên hiệp kháng chiến, kể từ cuộc họp thứ nhất của Quốc hội (3-1946), dưới sự chỉ đạo sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí  Minh,  cách  mạng  Việt  Nam  đã  vượt  qua  được  nhiều  khó khăn và tiến bước vững chắc.

Trong hoàn cảnh ấy, Quốc hội họp kì thứ hai tại thủ đô Hà


1. Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946 - 1960. NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội,
2000, tr. 82-83
20
 
Nội, từ ngày 28-10 đến 9-11-1946. Tham dự cuộc họp có 290 đại biểu. Một số đại biểu ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ không ra họp  được.  Hầu  hết  các  đại  biểu  của  Việt  Quốc,  Việt  Cách  đã chạy theo quân Tưởng hoặc bị cơ quan an ninh quốc gia trừng
trị vì tội phản bội Tổ quốc.

Quốc hội đã thảo luận các báo cáo của Chính phủ, thông qua các nghị quyết về nội trị, ngoại giao; thông qua Dự án Luật Lao động, Hiến pháp, lập Chính phủ mới và bầu Ban Thường trực Quốc hội.

Chủ  tịch  Hồ  Chí  Minh  được  Quốc  hội  uỷ  nhiệm  đứng  ra thành lập Chính phủ mới theo nguyên tắc đoàn kết và tập hợp nhân tài, không phân biệt đảng phái. Người tuyên bố trước Quốc hội: “Lần này là lần thứ hai mà Quốc hội giao phó cho tôi phụ trách Chính phủ một lấn nữa. Việt Nam chưa được độc lập, chưa được thống nhất thì bất kì Quốc hội uỷ cho tôi hay cho ai cũng phải gắng sức mà làm. Tôi xin nhận"; "Chính phủ sau đây phải
là một chính phủ toàn dân đoàn kết và tập hợp nhân tài không đảng  phái.  Tôi  xin  tuyên  bố  trước  Quốc  hội,  trước  Quốc  dân, trước thế giới: Tôi chỉ có một đảng - Đảng Việt Nam", "Chính phủ sau đây phải là một chính phủ liêm khiết,... một chính phủ biết làm việc, có gan góc, quyết tâm để vào mục đích: Trong thì kiến  thiết,  ngoài  thì  tranh  thủ  độc  lập  và  thống  nhất  của  nước nhà"1.

Ngày  3-11-1946,  Quốc  hội  biểu  quyết  tán  thành  chính  phủ mới do Hồ Chí Minh thành lập, gồm có 14 thành viên. Hồ Chí Minh làm Chủ tịch kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.

Ngày  9-11-1946,  Quốc  hội  thông  qua  bản  Hiến  pháp  nước Việt  Nam  Dân  chủ  Cộng  hoà.  Đó  là  "bản  hiến  pháp  đầu  tiên trong lịch sử nước nhà. Bản Hiến pháp còn là một vết tích lịch sử  đầu  tiên  trong  cõi  Á  Đông...  Bản  hiến  pháp  đó  chưa  hoàn toàn  nhưng  nó  đã  làm  nên  theo  một  hoàn  cảnh  thực  tế.  Hiến


1. Hồ Chí Minh: Toàn tập. Tập 4. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1995, tr. 427, 440
21
 
pháp đó tuyên bố với thế giới nước Việt Nam đã độc lập, dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do..., phụ nữ Việt Nam đã được ngang hàng với đàn ông để được hưởng chung mọi quyền
tự do đó của một công dân. Hiến pháp đó đã nêu một tinh thần đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam và một tinh thần liêm khiết, công bình của các giai cấp"1.

Hệ  thống  chính  quyền  dân  chủ  nhân  dân  ở  các  địa  phương cũng được củng cố và kiện toàn từng bước. Trong một thời gian ngắn sau ngày Tổng tuyển cử, hầu hết các địa phương thuộc Bắc Bộ và Trung Bộ đều tổ chức bầu cử Hội đồng nhân dân ở cấp xã và  tỉnh. Uỷ  ban  hành  chính  các  cấp cũng  được thành lập thay cho Uỷ ban nhân dân lâm thời.

Cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp là cuộc vận động chính trị rộng lớn, cuộc biểu dương sức mạnh và ý chí sắt đá của khối đoàn kết toàn dân, đã khơi dậy và phát huy tinh thần yêu nước, ý thức làm chủ đất nước, nghĩa vụ đối với Tổ quốc của mỗi công dân và toàn dân. Thắng lợi cuộc Tổng tuyển cử đã tạo cơ sở
pháp lí vững chắc cho Nhà nước cách mạng thực hiện nhiệm vụ đối nội, đối ngoại trong thời kì mới, đồng thời góp phần nâng cao uy tín của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trên trường quốc tế.

Để tăng cường sức mạnh của Nhà nước cách mạng, vấn đề mở rộng khối đoàn kết toàn dân được đặt ra cấp bách. Các tổ chức Cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh được xây dựng rộng khắp, tập hợp thêm nhiều tầng lớp xã hội tham gia. Tuy nhiên, lúc này vẫn có một số tầng lớp và cá nhân yêu nước còn đứng ngoài Mặt trận Việt Minh.

Theo sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 28-5-1946, Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (Liên Việt) được thành lập.




22
 
Hội  chủ  trương  đoàn  kết  tất  cả  các đảng  phái  yêu  nước,  đồng bào  yêu  nước,  không  phân  biệt  giai  cấp,  tôn  giáo,  xu  hướng chính  trị,  chủng  tộc  ...  để  làm  cho  nước  Việt  Nam  Độc  lập  - Thống nhất - Dân chủ - Phú cường. Một số đoàn thể quần chúng lần lượt ra đời như: Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (27-5-
1946), Đảng Xã hội Việt Nam (22-7-1946), Hội Liên hiệp phụ
nữ Việt Nam (20-10-1946).

Đứng  trước  âm  mưu  và  hành  động  xâm  lược  của  bè  lũ  đế quốc, Đảng rất coi trọng nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang nhân  dân  và  củng  cố  quốc  phòng.  Khắp  nơi  trên  đất  nước  ta, một phong trào luyện tập quân sự, tìm sắm vũ  khí diễn ra sôi nổi. Các đội tự vệ ra đời từ trong phong trào toàn dân chuẩn bị khởi nghĩa và là lực lượng xung kích của toàn dân nổi dậy giành chính quyền thời kì Tổng khởi nghĩa tháng Tám, nay được củng cố và mở rộng, đã trở thành công cụ sắc bén để bảo vệ chính quyền cách mạng ở cơ sở. Các đơn vị Việt Nam giải phóng quân thành  lập  trên  cơ  sở  thống  nhất  Việt  Nam  tuyên  truyền  giải phóng  quân  và  Cứu  quốc  quân  (5-1945),  đã  được  chấn  chỉnh, mở rộng và nay đổi thành Vệ quốc đoàn (9-1945)1. Đây là đội quân  chính  quy  của  Nhà  nước  Việt  Nam  Dân  chủ  Cộng  hoà. Các đơn vị bảo an binh bị giải thể. Ngày 15-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí
sắc lệnh thành lập Ngành Quân giới và tháng 10-1945, thành lập các  chiến  khu  IV,  III2.  Tháng  12-1945,  Uỷ  ban  Kháng  chiến miền Nam ra đời.

Tháng 1-1946, Quân uỷ Trung ương được thành lập để giúp
Trung  ương  Đảng  lãnh  đạo  công  tác  quân  sự.  Tất  cả  các  khu



1. Ngày 22/5/1946. Chính phủ ra sắc lệnh đổi Vệ quốc đoàn thành Quân đội
quốc gia Việt Nam.

2. Chiến khu III gồm: Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Kiến An, Quảng Yên,  Hải  Ninh,  Hải  Phòng.  Chiến  khu  IV  gồm:  Thanh  Hoá,  Nghệ  An,  Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên.
23
 
phố, thôn, xã đều thành lập các đơn vị tự vệ và tự vệ chiến đấu. Trên cơ sở đó, những chiến sĩ có giác ngộ chính trị, có tinh thần chiến đấu được tuyển chọn để bổ sung cho các đơn vị bộ đội tập trung.  Dù  vũ  khí  trang  bị  thô  sơ  và  thiếu  thốn,  kinh  nghiệm chiến đấu còn ít, nhưng đây là đội quân cách mạng của công - nông, có sức chiến đấu rất cao.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 28 Tháng Mười, 2011, 10:43:55 pm
2- Về kinh tế - tài chính

Một  trong  những  nhiệm  vụ  cấp  bách  trước  mắt  của  chính quyền cách mạng sau khi thành lập là phải nhanh chóng đẩy lùi nạn đói, từng bước ổn định và cải thiện đời sống nhân dân. Giải quyết nạn đói không chỉ có ý nghĩa về kinh tế, mà còn bao hàm
ý nghĩa chính trị rất sâu sắc.

Trong  phiên  họp  đầu  tiên  (3-9-1945),  Hội  đồng  Chính  phủ lãm thời đã bàn biện pháp chống đói. Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị nhiều biện pháp (tổ chức lạc quyên, lập hũ gạo cứu đói...) và  kêu  gọi  đồng  bào  cả  nước  nhường  cơm  sẻ  áo.  Người  nói: "Lúc chúng ta nâng bát cơm ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi đề nghị với đồng bào cả nước và tôi  xin  thực  hành  trước,  cứ  mười  ngày  nhịn  ăn  một  bữa,  mỗi tháng nhịn ăn ba bữa, đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo"1.

Hưởng  ứng  lời  kêu  gọi  của  Chủ  tịch  Hồ  Chí  Minh  và  noi gương Người, khắp cả nước, nhân dân ta lập hũ gạo cứu đói, tổ chức  ngày  đồng  tâm  để  góp  gạo  cứu  đói.  Truyền  thống  đồng cam  cộng  khổ,  thương  yêu  đùm  bọc  lẫn  nhau  trong  đồng  bào được phát huy cao độ.

Để dồn lương thực cho việc cứu đói, Chính phủ ban hành các biện  pháp  hành  chính  như  cấm  dùng  lương  thực  vào  việc  nấu rượu,  xoá  bỏ  mọi  cản  trở  trong  lưu  thông  gạo  giữa  các  vùng


1. Hồ Chí Minh: Toàn tập. Tập 4. NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội, 1995, tr.
31.
24
 
trong nước, cấm đầu cơ tích trữ thóc gạo, thành lập Uỷ ban tối cao tiếp tế và cứu tế của Chính phủ. Việc chuyên chở gạo từ các tỉnh  ở  Nam  Bộ  và  Trung  Bộ  ra  Bắc  Bộ  được  thực  hiện  khẩn trương. Chỉ tính trong 3 tháng cuối năm 1945, đã có khoảng 700 tấn gạo được chuyển ra Bắc Bộ, kịp đem đến các địa phương để cứu đói.

Biện pháp cơ bản để giải quyết tận gốc nạn đói là tăng gia sản xuất Khẩu hiệu "Tăng gia sản xuất! Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa!", "Không để một tấc đất bỏ hoang", "Tấc đất tấc vàng"... trở thành hành động thực tế của toàn Đảng, toàn dân. Khắp nơi, từ đồng bằng đến miền núi, đều dấy lên phong trào thi đua sản xuất Chính phủ đã lập ra Uỷ ban Trung ương phụ  trách  vấn  đề  sản  xuất  Tờ  báo  Tấc  đất  ra  đời  nhằm  tuyên truyền, vận động và hướng dẫn nhân dân thực hiện tăng gia sản xuất. Diện tích ruộng đất hoang, hoá được khai khẩn và nhanh chóng đưa vào trồng trọt. Toàn bộ đê đập ở 9 tỉnh bị lụt phá vỡ (Sơn Tây, Hà Đông, Hà Nam, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Phú Thọ, Bắc  Ninh,  Hải  Dương,  Thái  Bình)  được  bồi  đắp  lại.  Giai  cấp công nhân, các đơn vị bộ đội, cán bộ, viên chức Nhà nước, học sinh, trí thức, công, thương gia... tự nguyện tổ chức thành từng đoàn, từng đội đi về nông thôn giúp nông dân đắp đê phòng lụt, khai hoang, phục hoá.

Để  tạo  điều  kiện  cho  nông  dân  đẩy  mạnh  sản  xuất,  chính quyền cách mạng tịch thu ruộng đất của đế quốc và Việt gian chia cho nông dân nghèo, chia lại ruộng công theo nguyên tắc công  bằng  và  dân  chủ;  ra  thông  tư  giảm  tô  25%;  miễn  thuế ruộng đất đối với các vùng bị lụt và vùng có chiến sự ở Nam Bộ, Nam  Trung  Bộ  cùng  các  loại  ruộng  đất  hoang,  hoá  mới  được khai phá gieo trồng; ra sắc lệnh bãi bỏ thuế thân và các thứ thuế vô lí khác. Ban Khuyến nông cũng được thành lập ở Trung ương và địa phương để tổ chức giúp đỡ nông dân khắc phục khó khăn về giống, vốn, nông cụ, sức kéo; hướng dẫn nông dân về kĩ thuật canh tác.


25
 
Nhờ những biện pháp tích cực trên đây, sản xuất nông nghiệp nhanh  chóng  được  khôi  phục  và  có  mặt  phát  triển  hơn  trước. Năm 1945, dù bị trận lụt lớn, nhưng diện tích lúa mùa ở Bắc Bộ vẫn  đạt  được  890.000  ha,  sản  lượng  đạt  1.155.000  tấn  (năm
1943  là  952.730  tấn  và  năm  1944  là  832.000  tấn).  Diện  tích trồng ngô năm 1946 là 212.850 ha, sản lượng đạt 217.020 tấn (năm  1939  là  119.000  ha  và  sản  lượng  đạt  140.000  tấn);  diện tích  trồng  khoai  lang  là  90.000  ha,  sản  lượng  đạt  330.000  tấn (năm 1939 mới có 68.000 ha và sản lượng là 156.000 tấn). Với
số lượng lương thực và hoa màu đó, nhân dân ta không những vượt qua được nạn đói, mà còn duy trì được sức lao động để bảo đảm sản xuất vụ chiêm năm 1946.

Chiến thắng giặc đói là một trong những thành tựu lớn đầu tiên của Nhà nước cách mạng. Nó thể hiện tính ưu việt của chế độ mới, của chính quyền nhân dân, góp phần củng cố khối liên minh công nông. Uy tín của Đảng và Chính phủ ngày càng được nâng cao trong quần chúng. Nhân dân càng thêm tin tưởng, gắn bó và quyết tâm bảo vệ chính quyền cách mạng.

Ngoài trọng tâm là sản xuất nông nghiệp để khắc phục nạn đói trước mắt và giải quyết vấn đề lương thực một cách ổn định, Chính phủ chú trọng khôi phục sản xuất, kinh doanh trong các ngành  kinh  tế  công  thương  nghiệp,  giao  thông  vận  tải...  Một mặt,  Nhà  nước  tạo  mọi  điều  kiện  thuận  lợi  nhất  để  cho  các thương gia người Việt phát triển sản xuất kinh doanh. Mặt khác, Nhà nước vẫn để cho các nhà tư bản nước ngoài, trước hết là tư bản Pháp tiếp tục hoạt động kinh doanh, tránh gây cho họ những xáo trộn lớn trong công việc làm ăn ở nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho giới công thương Việt Nam, kêu gọi họ nỗ lực và cùng góp vốn xây dựng một nền kinh tế, tài chính vững vàng và thịnh vượng. Từ ngày 2 - 10- 1945, Chính phủ cho phép tất cả các nhà tư sản Việt Nam được quyền kinh doanh. cùng với quá  trình  xây  dựng  bộ  máy  chính  quyền  mới,  Nhà  nước  Việt Nam Dân chủ Cộng hoà bắt tay vào việc xây dựng khu vực kinh
tế  quốc  doanh.  Các  nghị  định  của  Toàn  quyền  Pháp  về  độc
26
 
quyền tìm kiếm và khai thác mỏ bị bãi bỏ và thay bằng các sắc lệnh của Chính phủ về việc bảo đảm quyền tìm, kiếm và khai thác mỏ của Nhà nước trên cơ sở tôn trọng những quyền sở hữu sẵn có và phù hợp với luật lệ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Các  mỏ  than  ở  Hòn  Gai  (Quảng  Ninh),  Tân  Trào  (Tuyên Quang),  Làng  Cẩm  và  Phấn  Mễ  (Thái  Nguyên),  Quyết  Thắng (Ninh Bình) được phép mở lại. Mỏ thiếc Tĩnh Túc (Cao Bằng)
bị Nhật chiếm từ tháng 3-1945 và trước khi rút, chúng đã phá hoại, nay tiếp tục được khai thác. Nhà máy sửa chữa đầu máy và toa xe lửa Trường Thi (Vinh) bị thiệt hại nặng do bom từ tháng
2-1944 đã được khôi phục.

Trên  lĩnh  vực  thương  nghiệp,  Chính  phủ  Việt  Nam hết  sức quan tâm, nghiêm cấm các hoạt động đầu cơ tích trữ, chợ đen, mở đường cho lưu thông hàng hoá, kêu gọi các nhà buôn đứng
ra kinh doanh; thành lập Phòng Thương mại và Nha Thương vụ Việt  Nam  để  giúp  Chính  phủ  bước  dầu  nắm  các  hoạt  động thương nghiệp trên thị trường nội địa.

Về giao thông vận tải, Chính phủ từng bước quản lí và khai thác  kinh  doanh  hệ  thống  đường  bộ,  đường  thủy,  đường  hàng không, thông tin liên lạc.

Để bảo đảm một phần nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và khắc phục  khó  khăn  trước  mắt  về  tài  chính,  ngày  4-9-1945,  Chính phủ ra Sắc lệnh số 4/SL về xây dựng Quỹ Độc lập và phát động Tuần lễ vàng (từ 17 đến 24-9-1945), kêu gọi toàn dân tự nguyện đóng  góp  ủng  hộ  nền  độc  lập  của  Tổ  quốc.  Nhân  dân  ta  tự nguyện ủng hộ cho Nhà nước 370 kg vàng, 20 triệu đồng vào Quỹ Độc lập và 40 triệu đồng vào Quỹ đảm phụ quốc phòng1.


1. Số tiền thu về đảm phụ quốc phòng nêu trên chỉ tính riêng ở Bắc Bộ và
Bắc Trung Bộ. Quỹ này được thành lập theo Sắc lệnh 48 (10/4/1946 ), quy định mỗi nam công dân, trừ người già yếu, bệnh tật, đóng cho quỹ 5 đồng và chỉ thực hiện trong năm 1946.
27
 
Nhằm đảm bảo có nguồn thu ổn định và thu chi hợp lí, Chính phủ  chủ  trương  xây  dựng  từng  bước  nền  tài  chính  quốc  gia, trước mắt là cải cách chế độ thuế khoá. Ngày 7-9-1945, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 11/SL về việc sửa đổi chính sách thuế, bãi  bỏ  thuế  thân.  Ngày  10-9-1945,  Chính  phủ  ra  Sắc  lệnh  số
27/SL  quy  định  việc  thành  lập  Sở thuế  quan  và  thuế gián thu. Nha thuế trực thu, Nha thuế trước bạ, thuế điền thổ... cũng được thành lập.

Việc  bán  thuốc  phiện  và  rượu  cồn  trước  Cách  mạng  tháng Tám được coi là một nguồn thu của ngân sách, thì nay bị Nhà nước nghiêm cấm. Chính phủ còn đặt thêm một số thuế mới có tính chất gián thu đánh vào các mặt hàng xa xỉ như rượu ngoại. Ngoài  các  khoản  thu  từ  thuế,  do  điều  kiện  chiến  tranh,  Chính phủ  quy  định  các  chế  độ  trưng  thu,  trưng  dụng,  trưng  tập  sẽ được thực hiện trong những trường hợp cần thiết.

Như vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, Nhà nước cách mạng đã chấn chỉnh và xây đựng được một hệ thống thuế khoá mới, nắm được các nguồn thu cho ngân sách, có kế hoạch hơn trong việc thu và chi ngân sách.

Thực hiện chủ trương xây dựng nền tài chính độc lập, ngày
31-1-1946, Chính phủ ta phát hành tiền Việt Nam ở phía nam vĩ
tuyến 16.

Dù mới chỉ lưu hành thí điểm ở miền Nam Trung Bộ, nhưng trước sự đòi hỏi của toàn dân, tiền Việt Nam nhanh chóng chiếm lĩnh  thị  trường  Bắc  Bộ  và  Trung  Bộ.  Ngày  23-11-1946,  Quốc hội quyết định cho lưu hành tiền Việt Nam trong cả nước. Cho đến trước ngày toàn quốc kháng chiến bùng nổ, tiền Việt Nam đã căn bản thay thế tiền ngân hàng Đông Dương trên thị trường trong nước. Giành được chủ quyền về tiền tệ, chúng ta đã giải quyết được một phần chi tiêu của Chính phủ, phục vụ sản xuất và đời sống, bước đầu xây dựng nền tài chính độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.


28


Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 28 Tháng Mười, 2011, 10:45:17 pm
3- Về văn hoá - giáo dục

Trong phiên họp đầu tiên ngày 3-9-1945, ngoài việc bàn biện pháp chống "giặc đói", Chính phủ lâm thời còn bàn biện pháp chống (giặc dốt). Chống "giặc dốt", xoá nạn mù chữ là nhiệm vụ văn hoá - giáo dục, nhưng có ý nghĩa chính trị sâu sắc, bảo đảm cho người lao động có điều kiện phát huy được vai trò làm chủ, tham gia quản lí đất nước có hiệu quả. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ  rõ:  "Muốn  giữ vững  nền  độc  lập,  làm cho  dân  mạnh  nước giàu,  mọi  người  Việt  Nam  phải  hiểu  biết  quyền  lợi  của  mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào  công  cuộc  xây  dựng  nước  nhà,  và  trước  hết  phải  biết  đọc
biết viết chữ quốc ngữ..."1.

Chỉ một tuần lễ sau khi tuyên bố nền độc lập của nước nhà, ngày 8-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí sắc lệnh thành lập Nha Bình dân học vụ chuyên lo việc chống "giặc dốt" và Người đứng
ra phát động phong trào xoá nạn mù chữ trong toàn quốc.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, các lớp bình dân học vụ được tổ chức ở khắp nơi, lôi cuốn từ em nhỏ đến các cụ già
70, 80 tuổi Truyền thống hiếu học của dân tộc được phát huy. Trong vòng một năm, từ ngày 8-9-1945 đến ngày 8-9-1946, trên toàn quốc đã tổ chức được 75.805 lớp học với hơn 97.664 giáo viên  và  đã  xoá  mù  chữ  cho  2.520.673  người.  Các  trường  phổ thông  và  đại  học  cũng  được  khai  giảng  nhằm  đào  tạo  những công dân và cán bộ trung thành, có năng lực phụng sự Tổ quốc, phục vụ kháng chiến - kiến quốc. Trong năm học 1945 - 1946, riêng Bắc Bộ và Trung Bộ đã mở được 5.654 trường tiểu học. Ở bậc đại học và cao đẳng, cùng với các trường Đại học Y khoa, Dược khoa, Cao đẳng Kĩ thuật, Cao đẳng Công chính, Cao đẳng Canh nông - Thú y, Bộ Giáo dục cho mở thêm Trường Đại học



1. Hồ Chí Minh: Toàn tập. T 4. Sđd, tr. 36.


29
 
Văn khoa và Lớp Chính trị xã hội thay cho Trường Luật của chế độ  cũ  Nội  đung  và  phương  pháp  giáo  dục  bước  đầu  được  đổi mới theo tinh thần dân tộc và dân chủ.

Báo chí cách mạng và công tác xuất bản sớm trở thành vũ khí sắc bén chống ngoại xâm, nội phản, góp phần giáo dục lòng yêu nước, chí căm thù giặc, tinh thần cách mạng cho đông đảo quần chúng nhân dân. Báo Cờ giải phóng, tiếp đến là các báo Sự thật, Cứu quốc, là những tờ báo được quần chúng tín nhiệm và có tác động lớn trong việc tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng và của Mặt trận Việt Minh.

Văn học, nghệ thuật cũng có những bước chuyển biến mạnh mẽ. Các văn nghệ sĩ đã hướng hoạt động vào thực tế cuộc sống xây  dựng  và  chiến  đấu  của  dân  tộc.  Tháng  11-1946,  Hội  nghị văn hoá toàn quốc lần thứ nhất tổ chức tại Hà Nội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự khai mạc Hội nghị và vạch rõ phương hướng nền văn hoá mới của Việt Nam là phải lấy hạnh phúc của nhân dân, của văn hoá nước ngoài, tạo ra nền văn hoá Việt Nam, sao cho văn hoá mới sửa được tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ; phải làm cho ai cũng có lí tưởng tự chủ, độc lập. Người kêu gọi  các  nhà  hoạt  động  văn  hoá  phải  chú  ý  đến  nhi  đồng,  lãnh đạo quốc dân thực hiện độc lập, tự cường và tự chủ. Một số nhà văn,  nhà  báo  theo  chân  các  đoàn  quân  Nam  tiến  đến  tận  các chiến  trường  miền  Nam  để  góp  sức  mình  vào  cuộc  chiến  đấu bảo  vệ  nền  độc  lập  vừa  mới  giành  được.  Phong  trào  văn  hoá, văn nghệ quần chúng ngày càng phát triển mạnh mẽ và rộng lớn.

Cuộc vận động Đời sống mới do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề xướng, được đông đảo nhân dân cả nước hưởng ứng, nhằm xây dựng đạo đức mới với nội dung Cần - Kiệm - Liêm - Chính; bài trừ  các  tệ  nạn  của  xã  hội  cũ  (rượu,  chè,  cờ,  bạc,  mại  dâm...), những  hủ  tục  (cúng  lễ,  ma  chay,  cưới  xin  linh đình...)  ra  khỏi đời sống xã hội.

Những  thành  quả  bước  đầu  trong  một  năm  kiến  quốc,  xây dựng  chế  độ  mới  đã  đặt  nền  móng  vững  chắc  cho  Nhà  nước
30
 
cách mạng vượt qua tình thế hiểm nghèo.

III- Đấu tranh chống ngoại xâm và nội phản, bảo vệ chính quyền cách mạng

Trong hoàn cảnh đất nước gặp muôn vàn khó khăn, lại phải đứng trước nhiều thế lực đế quốc và phản động nham hiểm, để bảo  vệ  chính  quyền  non  trẻ,  Đảng  ta  chủ  trương  tránh  trường hợp một mình đương đầu với nhiều kẻ thù cùng một lúc; hết sức lợi dụng mâu thuẫn giữa Anh - Pháp và Mĩ - Tưởng.

Với chủ trương ấy, Đảng và Nhà nước ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, đã thực hiện một đường lối chính trị nhạy bén và sáng suốt, vừa cứng rắn về nguyên tắc, vừa mềm dẻo, linh hoạt về sách lược.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 28 Tháng Mười, 2011, 10:46:02 pm
1- Kháng chiến chống thực dân Pháp ở miền Nam, hoà hoãn với quân Tưởng ở miền Bắc (trước ngày 6-3-1946)

a) Kháng chiến chống thực dân Pháp ở miền Nam

Đúng như dự đoán của Đảng tại Hội nghị Tân Trào (từ ngày
14 đến ngày 15-8-1945), âm mưu trở lại xâm lược của thực dân
Pháp dần dần trở thành một thực tế ở miền Nam nước ta.

Sau vụ khiêu khích của quân Pháp ngày 2-9-1945, Xứ uỷ và Uỷ  ban  nhân  dân  lâm  thời  Nam  Bộ  nhận  định:  âm  mưu  xâm lược của Pháp đã rõ ràng. Những biện pháp đối phó trước mắt và chuẩn bị kháng chiến được xúc tiến khẩn trương: cải tổ Uỷ ban nhân dân lâm thời, thành lập Uỷ ban kháng chiến Nam Bộ,
tổ chức hơn 300 đội xung phong công đoàn, đưa phần lớn lực lượng  vũ  trang  ra  ngoài  thành  phố,  tổ  chức  hàng  chục  vị  trí chiến dấu ở các điểm xung yếu nội thành; tháo gỡ và di chuyển máy móc, phương tiện vật chất lên các chiến khu...

Đêm 22 rạng 23-9-1945, được sự giúp đỡ của quận Anh, thực dân Pháp cho quân đánh úp trụ sở Uỷ ban nhân dân Nam Bộ và cơ quan tự vệ thành phố Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm
31
 
lược nước ta lần thứ hai.

Trước tình hình  đó, sáng 23-9, Xứ  ủy  và  Uỷ  ban  nhân  dân Nam  Bộ  họp  tại  đường  Cây  Mai  -  Chợ  Lớn1  quyết  định  phát động nhân dân Nam Bộ đứng lên kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Quyết định của Xứ uỷ và Uỷ ban nhân dân Nam Bộ đã được Trung  ương  Đảng,  Chính  phủ  và  Chủ  tịch  Hồ  Chí  Minh  tán thành và quyết tâm lãnh đạo, tổ chức lực lượng cả nước chi viện mọi mặt cho cuộc kháng chiến.

Giữ vững lời Thề Độc lập, nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn, với vũ khí chủ yếu là gậy tầm vông, cùng nhân dân Nam bộ đã anh dũng đứng lên chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Các chiến sĩ lực lượng vũ  trang  của  ta  đột  nhập  sân  bay  Tân  Sơn  Nhất,  đốt  cháy  tàu Pháp vừa cập bến Sài Gòn, đánh kho tàng, phá nhà giam...

Suốt hạ tuần tháng 9-1945, các trận đánh liên tiếp diễn ra ở khu Tân Định, Cầu Muối, Cầu Lái Thiêu... Phối hợp chặt chẽ với  các  cuộc  chiến  đấu  của  lực  lượng  vũ  trang,  nhân  dân  Sài Gòn  đã  triệt  nguồn  tiếp  tế  của  địch,  dựng  chướng  ngại  vật  và chiến luỹ trên đường phố. Giường, tủ, bàn, ghế và tất cả những thứ gì có thể ngăn cản được bước tiến của quân thù đều được ném ra mặt đường. Nhiều cây to trên dọc các đường phố được đốn chặt, hình thành những vật chướng ngại.

Chỉ trong vòng một tuần lễ, cuộc chiến đấu cửa quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn đã đẩy địch vào tình trạng khó khăn: 138 xí nghiệp và công sở lớn, 22 kho tàng, 4 chợ, 30 tàu lớn, 51 tàu nhỏ, 200 xe hơi và một số cầu bị đốt phá. Gần 300 tên giặc bị tiêu diệt2. Sau 8 ngày gây hấn, thực dân Pháp chỉ chiếm đóng được  các  vị  trí,  công  sở  then  chết  ở  khu  vực  trung  tâm  thành phố.  Phạm.  vi  kiểm  soát  của  địch  bị  thu  hẹp.  Cả  thành  phố


1. Nay là số 627 - 629, đường Nguyễn Trãi, Quận I.

2. Viện Sử học: Lịch sử Việt Nam (9/1945 - 1950)... Sđd. tr. 16.
32
 
không còn điện, nước; chợ không họp, các cửa hàng đóng cửa, lương  thực,  thực  phẩm  cạn  dần;  lực  lượng  bị  dàn  mỏng;  viện binh chưa tới kịp. Bọn Việt gian ra mặt hoạt động đã bị thanh niên ta truy bắt, nghiêm trị... Trước tình hình đó, thực dân Pháp nhờ Grêxi làm trung gian, xin thương lượng với Uỷ ban nhân dân Nam Bộ.
Mặc dù biết âm mưu của thực dân Pháp là hoà hoãn để chờ viện  binh,  nhưng  phía  ta  cũng  cần  có  thời  gian  chuẩn  bị  lực lượng  để  đối  phó  với các đợt tấn công mới  của  địch. Do vậy, chúng ta chấp nhận ngừng bắn một tuần để thương lượng. Cuộc thương  lượng  bắt  đầu  từ  ngày  2-10-1945,  với  sự  có  mặt  của Grêxi.  Lập  trường  hai  bên  trái  ngược  nhau:  Phía  ta  đòi  Pháp công nhận nền độc lập của Việt Nam, công nhận Chính phủ Việt Nam Dân chủ  Cộng hoà do Chủ  tịch  Hồ Chí Minh đứng đầu; đình  chỉ  xung  đột  và  rút  quân  về  các  vị  trí  trước  ngày  23-9-
1945. Phía Pháp đòi ta chấp nhận bản Tuyên bố ngày 24-3-1945
của Đờ Gôn. Cuộc đàm phán tạm dừng và sau đó tiếp tục diễn
ra trong ngày 6 và 8-10, nhưng vẫn không đi đến kết quả. Pháp
đề nghị kéo dài thời gian ngừng bắn thêm hai ngày nữa.

Tranh thủ thời gian ngừng bắn, chúng ta tiếp tục tổ chức di chuyển  nhân  dân  cùng  các  cơ  quan,  kho  tàng,  xưởng  máy  ra ngoài, bổ sung và điều chỉnh lực lượng. Các mặt trận ở Sài Gòn được củng cố. Các Uỷ ban kháng chiến miền Đông, miền Trung và miền Tây Nam Bộ được thành lập. Đặc biệt, lực lượng lãnh đạo  Nam  Bộ  được  bổ  sung  hàng  trăm  cán  bộ  cách  mạng  mới thoát khỏi ngục tù Côn Đảo, trong số đó có Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn, Phạm Hùng...

Ngày 10-10-1945, chấm dứt thời gian ngừng bắn, quân Pháp đã được tăng thêm viện binh ra sức phá vây, mở rộng phạm vi chiếm đóng. Quân Anh lấy danh nghĩa Đồng minh đi tước vũ khí quân Nhật ở các thị xã miền Đông Nam Bộ (Biên Hoà, Thủ Dầu Một, Tây Ninh) nhằm giúp Pháp mở rộng khu vực chiếm đóng các ,tỉnh xung quanh Sài Gòn. Quân ta tiếp tục đánh địch ở

33
 
nhiều  nơi  trong  thành  phố  Sài  Gòn,  nổi  bật  là  trận  đánh  chặn địch ở cầu Thị Nghè (17-10-1945). Từ ngày 23-10, địch được tăng thêm quân tiếp viện, trong đó có binh đoàn thiết giáp, nên chúng phá vỡ được vòng vây xung quanh Sài Gòn, đánh chiếm một số thị xã miền Trung Nam Bộ, nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến  của ta. Trong  điều kiện chiến đấu không cân sức,  để  bảo  toàn  lực  lượng  chuẩn  bị  cho  kháng  chiến  lâu  dài, phần lớn lực lượng vũ trang của ta rút ra khỏi thành phố, chỉ để một số đơn vị nhỏ tiếp tục ở lại bám trụ, thường xuyên ra vào thành phố tiến công địch.

Trải qua một tháng bao vây, chặn đánh địch trong thành phố, chiến  đấu  trong  điều  kiện  không  cân  sức,  lực  lượng  vũ  trang thành  phố  Sài  Gòn  -  Chợ  Lớn  -  Gia  Định  đã  tỏ  rõ  tinh  thần quyết  chiến  quyết  thắng  của  dân  tộc  Việt  Nam.  Cuộc  kháng chiến của quân và dân Sài Gòn đã kiềm chế quân địch dài ngày, làm  thất  bại  âm  mưu  đánh  nhanh  thắng  nhanh  của  thực  dân Pháp,  tạo  điều  kiện  cho  các  tỉnh  Nam  Bộ  có  thêm  thời  gian chuẩn bị kháng chiến.

Để lãnh đạo kịp thời cuộc kháng chiến đang lan rộng, ngày
25-10-1945, Hội nghị Xứ uỷ mở rộng Nam Bộ họp ở Thiên Hộ (huyện Cái Bè, Mĩ Tho). Tham dự Hội nghị, ngoài đại biểu của Nam  Bộ,  còn  có  Hoàng  Quốc  Việt,  uỷ  viên  Ban  Thường  vụ Trung  ương  Đảng.  Hội  nghị  kiểm  điểm  tình  hình,  rút  kinh nghiệm chỉ đạo cuộc kháng chiến Nam Bộ, biểu dương tinh thần chiến đấu anh dũng của quân và dân Nam Bộ. Trên cơ sở đó, Hội nghị quyết định những vấn đề quan trọng nhằm đẩy mạnh cuộc kháng chiến ở Nam Bộ, như tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang, củng cố các đơn vị vũ trang hiện có, xây dựng thêm nhiều đơn vị vũ trang mới, tổ chức các quân khu, khôi phục lại chính quyền cách mạng ở những nơi tan rã, thành lập Uỷ ban kháng chiến miền Nam, phát triển công tác
ở các đô thị... Hội nghị đã cử Tôn Đức Thắng phụ trách Uỷ ban kháng  chiến  và  chỉ  đạo  các  lực  lượng  vũ  trang  Nam  Bộ.  Hội nghị Thiên Hộ có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển đi lên
34
 
của cuộc kháng chiến ở Nam Bộ.

Thực  hiện Nghị  quyết của  Hội  nghị,  các  cán  bộ,  đảng  viên trung kiên đã vượt mọi khó khăn, đi sâu, bám sát quần chúng; gây dựng lại phong trào, phát triển cơ sở cách mạng.

Tiếp  theo  Hội  nghị  Xứ  uỷ  mở  rộng,  ngày  20-11,  Hội  nghị quân sự được triệu tập ở An Phú (Gia Định) để bàn công tác chỉ đạo tác chiến. Hội nghị quyết định chia Nam Bộ thành các chiến khu 7, 8, 91  và bàn biện pháp củng cố lực lượng vũ trang tỉnh, thành phố, các chi đội Vệ quốc đoàn.

Từ  sau  Hội  nghị  Thiên  Hộ  và  An  Phú,  những  thiếu  sót  về lãnh đạo và chỉ huy từng bước được khắc phục. Công tác lãnh đạo kháng chiến ở Nam Bộ đi dần vào nền nếp. Cùng thời gian đó,  quân  Pháp  cũng  được  quân  Anh  lần  lượt  bàn  giao  những vùng chúng kiểm soát ở Nam Bộ.

Cuộc kháng chiến của nhân dân ta ở miền Nam được Trung ương  trực  tiếp  chỉ  đạo  và  được  cả  nước  chi  viện  về  mọi  mặt. Hưởng ứng chủ trương của Trung ương Đảng, với ý thức bảo vệ độc  lập  tự do của  Tổ  quốc  nhân  dân  ta  ở  miền  Bắc,  đi  đầu  là thanh niên, có hàng vạn người hăng hái gia nhập quân đội, xung vào các đoàn quân Nam tiến, nhanh chóng lên đường vào Nam chiến  đấu.  Chỉ  một  thời  gian  ngắn  sau  khi  tiếng  súng  kháng chiến bùng nổ, tại tiền tuyến miền Nam đã có mặt những đơn vị Giải phóng quân từ hậu phương  miền  Bắc  mới  vào.  Các đoàn quân Nam tiến từ thủ đô Hà Nội, căn cứ địa Việt Bắc, các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ tấp nập lên đường vào Nam chiến đấu chống Pháp, thể hiện ý chí đoàn kết thống nhất của


1. Chiến khu 7 gồm các tỉnh Thủ Dầu Một, Biên Hoà, Tây Ninh, Gia Định,
Chợ Lớn, Bà Rịa và thành phố Sài Gòn; Chiến khu 8 gồm Tân An, Mĩ Tho, Gò Công, Bến Tre, Sa Đéc (lúc này địch mới chiếm dược thị xã Tân An, Mĩ Tho, Gò Công); Chiến khu 9 gồm Châu Đốc, Hà Tiên, Long Xuyên, Rạch Giá, Trà Vinh, Bạc Liêu, Vĩnh Long, Cần Thơ, Sóc Trăng (lúc này địch mới chiếm được thị xã Vĩnh Long và Cần Thơ).
35
 
dân tộc Việt Nam.

Hầu hết các tỉnh ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ đều thành lập từ
1 đến 2 chi đội Nam tiến. Những cán bộ và chiến sĩ hăng hái, có nhiều kinh nghiệm chiến đấu, những vũ khí và trang bị tốt nhất của ta lúc đó đều dành cho bộ đội Nam tiến. Nhân dân Bắc Bộ và  Bắc  Trung  Bộ  còn  tổ  chức  quyên  góp  tiền  bạc,  quần  áo, thuốc men, đạn dược... ủng hộ đồng bào Nam Bộ.

Về  phía  thực  dân  Pháp,  sau  khi  nhận  thêm  quân  tiếp  viện, đồng  thời  tiếp  tục  dựa  vào  quân  Anh  và  Nhật,  chúng  vừa  mở rộng phạm vi chiếm đóng ở Nam Bộ, vừa từng bước thực hiện kế hoạch đánh ra Nam Trung Bộ. Tuy nhiên, đến cuối tháng 1-
1946,  quân  Pháp  mới  chiếm được  các  tỉnh  miền  Tây  Nam Bộ (Sa Đéc, Long Xuyên, Châu Đốc, Rạch Giá, Trà Vinh, Hà Tiên, Sóc Trăng, Bạc Liêu), chưa ổn định được tình hình ở Sài Gòn - Chợ Lớn và một số thành phố, thị xã. Lực lượng kháng chiến của ta vẫn làm chủ một số vùng nông thôn Nam Bộ. Các tỉnh Nam Bộ củng cố lại lực lượng vũ trang, tăng cường trang bị vũ khí, xây dựng căn cứ để kháng chiến lâu dài.

Đầu  tháng  2-1946,  sau  khi  được  tăng  viện  binh,  thực  dân Pháp gấp rút chiếm đóng vùng nông thôn Nam Bộ. Chúng mở hàng  loạt  cuộc  hành  quân  "bình  định"  trên  các  khắp  các  tỉnh Nam  Bộ.  Lực  lượng  của  ta  bị  tổn  thất  nhiều,  chính  quyền  và đoàn thể Cứu quốc ở nhiều nơi bị tan vỡ. Trên các vùng chiếm được, quân địch chia thành các chiến khu, đóng đồn bốt, khống chế hoạt động chống đối của nhân dân. Vừa hành quân chiếm đóng các vùng đất của ta, thực dân Pháp vừa ráo riết xúc tiến thành lập chính phủ bù nhìn. Ngay từ tháng 10-1945, Xêđi âm mưu lập một hội đồng tư vấn gồm 80 người và giao cho Nguyễn Văn  Thinh  vận  động  các  nhà  trí  thức  tham  gia,  nhưng  không thành công. Phần đông trí thức tỏ thái độ bất hợp tác với Pháp. Đến tháng 2-1946, Xêđi mới lập được hội đồng tư vấn gồm 12 thành viên là người Pháp và người Việt mang quốc tịch Pháp. Ngoài ra, thực dân Pháp còn tiến hành tuyển quân, tập hợp bọn

36
 
tay sai để thành lập chính quyền bù nhìn ở các thị trấn, thị xã. Chúng  tìm  cách  lôi  kéo  một  số  người  trong  các  đạo  Cao  Đài, Hoà Hảo, Thiên Chúa và cả lực lượng Bình Xuyên... để chống lực lượng kháng chiến.

Ngày 5-3-1946, quân Anh bàn giao lại toàn bộ địa bàn và vũ
khí, trang bị cho quân Pháp, rút khỏi miền Nam.

Trong lúc nhân dân Nam Bộ kháng chiến thì tại Nam Trung Bộ, mọi công việc chuẩn bị để kháng chiến cũng được xúc tiến rất khẩn trương Theo quyết định của Hội nghị quân sự do Xứ uỷ và Uỷ ban nhân dân Trung Bộ triệu tập cuối tháng 9-1945, Uỷ ban quân chính Nam phần Trung Bộ được thành lập để chỉ huy
7 tỉnh mặt trận phía nam. Lực lượng quân sự các tỉnh từ Quảng Ngãi trở ra được điều động vào Nam Trung Bộ. Các cơ sở kinh tế, quốc phòng quan trọng ở các tỉnh cực Nam Trung Bộ được di chuyển đến những nơi an toàn. Các xưởng sửa chữa và sản xuất vũ khí từng bước được xây dựng. Đến cuối năm 1945, đã có 10 xưởng  đặt  ở  Quảng  Nam,  Quảng  Ngãi,  Bình  Định,  Phú  Yên, Khánh Hoà, với trên 1.000 công nhân.

Từ hạ tuần tháng 10-1945, chiến sự bắt đầu lan tới các tỉnh Nam Trung Bộ. Khi địch đổ bộ lên Nha Trang (22-10), chúng đã  vấp  phải  sức  chiến  đấu  của  bộ  đội  ở  khu  nhà  ga,  nhà  máy điện, Viện Paxtơ... Sau đó, quân ta hình thành thế bao vây nhằm tiêu hao và giam chân địch trong thành phố. Với tinh thần tích cực tiến công địch, với cách đánh mưu trí, táo bạo, được sự giúp đỡ tận tình của nhân dân, lực lượng vũ trang mặt trận Nha Trang đã  bao  vây  kìm  chân  địch  trong  thành  phố  hơn  ba  tháng,  góp phần làm thất bại kế hoạch của quân Pháp dùng Nha Trang làm bàn  đạp  mở  rộng  đánh  chiếm  các  tỉnh  cực  Nam  Trung  Bộ  và Tây Nguyên.

Cuối tháng 12- 1945 , đầu tháng 1-1946, địch tập trung quân giải vây cho Nha Trang và đánh chiếm tỉnh Khánh Hoà, đồng thời đánh chiếm thị xã Buôn Ma Thuột, tỉnh lị của Đắc Lắc.



Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 28 Tháng Mười, 2011, 10:46:42 pm
Cuối  tháng  1-1946  ,  sau  khi  chiếm  được  Buôn  Ma  Thuột, đồng thời với các cuộc hành quân đánh chiếm các tỉnh còn lại của  miền  Tây  Nam Bộ,  địch  tập trung 10.000 quân, mở  chiến dịch Gô (Gaur) từ phía nam đánh ra, Tây Nguyên đánh xuống và  từ  biển  đánh  vào  các  tỉnh  Nam  Trung  Bộ.  Lượng  vũ  trang của ta chặn đánh nhưng cuối cùng phải rút lui. Sau khi chiếm Phan Rang, quân Pháp đánh ra Nha Trang, đánh vào Phan Thiết. Trong điều kiện chiến đấu không cân sức, sau một số trận đánh trả,  quân  ta  phải  rút  khỏi  Nha  Trang,  để  lại  một  bộ  phận  lập tuyến chặn địch ở Đèo Cả.

Sau 4 tháng chiến đấu anh dũng, với sự chi viện của nhiều đơn vị Nam tiến, bộ đội Nam Trung Bộ đã hoàn thành nhiệm vụ trong  thời  kì  đầu  của  cuộc  kháng  chiến,  tiêu  diệt  được  hàng ngàn tên địch, thu nhiều vũ khí. Tuy nhiên, trước sự tấn công mạnh gấp nhiều lần của địch, để bảo toàn lực lượng, các đơn vị bộ đội các tỉnh cực Nam Trung Bộ đã phải tạm thời rút ra khỏi các thị xã, thị trấn và một số trục đường giao thông lớn. Tại các vùng nông thôn ở Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận, chính quyền cách mạng, các đoàn thể Cứu quốc và lực lượng vũ trang của ta vẫn làm chủ.

Như vậy, 5 tháng kháng chiến (từ tháng 9-1945 đến tháng 2-
1946) là 5 tháng đầy thử thách gian khổ đối với quân và dân ta ở miền Nam, đối với cả dân tộc và chế độ mới. Cuộc chiến đấu anh dũng của quân và dân ta ở miền Nam tuy phải trải qua gian lao và tổn thất, nhưng đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm chiến đấu, gây dựng được phong trào chiến tranh du kích, xây dựng lực lượng, góp phần bảo vệ và củng cố chính quyền cách mạng, tạo điều kiện cho cả nước chuẩn bị bước vào cuộc kháng chiến lâu dài.

b) Hoà hoãn, nhân nhượng với quân Tưởng ở miền Bắc

Trong hoàn cảnh phải đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp ở miền Nam, sự uy hiếp lật đổ chính quyền của quân Tưởng và tay sai ở miền Bắc và trên cơ sở khẳng định
38
 
thực dân Pháp là kẻ thù chính, Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch rõ: "Phải tránh các trường hợp một mình đối phó  với  nhiều  lực  lượng  Đồng  minh  tràn  vào  nước  ta".  Mũi nhọn của cách mạng lúc này là tập trung đối phó với thực dân Pháp ở miền Nam, do đó chúng ta phải tạm thời hoà hoãn, tránh xung đột với quân Tưởng. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: "Đứng trước tình hình gay go và cấp bách ấy, Đảng phải dùng mọi cách để sống còn, hoạt động và phát triển... Đảng không thể do dự. Do dự là hỏng hết. Đảng phải quyết đoán mau chóng, phải dùng những  phương  pháp  -  dù  là  những  phương  pháp đau  đớn  -  để cứu vãn tình hình"1. chúng ta tiến hành đấu tranh chính trị với quân Tưởng một cách khôn khéo, nhưng kiên quyết, nhằm hạn chế sự phá hoại của chúng. Tháng 10-1945, khi Hà Ứng Khâm (Tổng  tư  lệnh  lục  quân  quân  đội  Tưởng  Giới  Thạch)  đến  Hà Nội,  Chính  phủ  cách  mạng  đã  tổ  chức  một  cuộc  biểu  tình  có
300.000 người tham gia, hình thức là để "đón tiếp", nhưng thực chất là nhằm biểu dương lực lượng của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.  Quần  chúng  diễu  qua  Phủ  Toàn  quyền  và  hô  vang  khẩu hiệu: "Nước việt Nam của người Việt Nam", "Hoa - Việt thân thiện",  "ủng  hộ  Chính  phủ  lâm  thời  nước  Việt  Nam  Dân  chủ Cộng hoà", "ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh", "ủng hộ Việt Nam độc lập đồng minh", "Việt Nam độc lập muôn năm". Trước khí thế và sức mạnh của quần chúng, Hà Ứng Khâm không thể tự mình  thực  hiện  ý  định  lật  đổ  Chính  phủ  cách  mạng,  mà  dùng bọn  tay  sai  (Việt  Quốc  và  Việt  Cách)  phá  hoại  từ  bên  trong. Được sự ủng hộ của Tưởng, bọn tay sai đòi ta thay đổi Quốc kì, Quốc ca, đòi ta phải cải tổ Chính phủ, để cho chúng một số ghế trong Quốc hội không phải thông qua bầu cử, đòi Hồ Chí Minh
từ chức Chủ tịch, đòi những người cộng sản rút khỏi Chính phủ. Chúng  còn  tổ  chức  ám  sát,  bắt  cóc  nhân  viên  Chính  phủ.  Để giảm  bớt  sức  ép  công  kích  của  kẻ  thù,  tránh  những  hiểu  lầm



1. Hồ Chí Minh: Toàn tập. Tập 6. NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995,
tr.162.
39
 
trong nước và ngoài nước có thể trở ngại đến tiền đồ, sự nghiệp giải phóng dân tộc, đồng thời xuất phát từ lợi ích tối cao của dân tộc, Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố "tự giải tán" (11-11-
1945), nhưng sự thật là tạm thời rút vào hoạt động bí mật, tiếp tục lãnh đạo đất nước, lãnh đạo chính quyền cách mạng.

Nhằm  hạn  chế  sự  phá  hoại  của  quân  Tưởng  và  tay  sai,  tại phiên họp đầu tiên (2-3-1946), Quốc hội khoá I đồng ý cho bọn tay sai của Tưởng 70 ghế trong Quốc hội, cho Nguyễn Hải Thần (lãnh tụ Việt Cách) giữ chức Phó Chủ tịch nước cùng 4 ghế Bộ trưởng trong Chính phủ liên hiệp chính thức (phụ trách các lĩnh vực  ngoại  giao,  kinh  tế,  canh  nông,  xã  hội).  Đồng  thời  nhân nhượng cho Tưởng một số quyền lợi kinh tế, như cung cấp một phần  lương  thực,  thực  phẩm,  phương  tiện  giao  thông  vận  tải, nhận tiêu tiền Quan Kạn, Quốc tệ ở Việt Nam.

Sự nhân nhượng về chính trị trên đây thể hiện một yêu cầu cơ bản là giữ vững sự tồn tại của một chính quyền của dân, do dân và vì dân, một chính quyền của sự hoà giải, đoàn kết thống nhất quốc gia dân tộc thực hiện tư tưởng độc lập tự do của Chủ tịch Hồ Chí Minh với khẩu hiệu hành động cấp bách là Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết. Sự nhân nhượng đó là cần thiết, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những hoạt động chống phá cách mạng của quân Tưởng và tay sai. Trong khi thực hiện hoà giải, nhân nhượng, thông qua công cụ báo chí, thông tin tuyên truyền, dựa vào  sức  mạnh  quần  chúng,  chúng  ta  kiên  quyết  vạch  trần  và ngăn chặn những hành động chia rẽ, phản dân hại nước của các lực  lượng  tay  sai  của  Tưởng.  Những  kẻ  phá  hoại  (có  đủ  bằng chứng) thì bị trừng trị theo pháp luật. Chính phủ còn ban hành một  số  sắc  lệnh  nhằm  trấn  áp  bọn  phản  cách  mạng:  Sắc  lệnh ngày  5-9-1945  giải  tán  Đại  Việt  quốc  gia  xã  hội  đảng  và  Đại Việt quốc dân đảng (là những đảng phản động, tay sai của phát xít Nhật); Sắc lệnh ngày 12-9-1945 cho an trí những người nguy hiểm đối với nền Cộng hoà dân chủ Việt Nam; Sắc lệnh lập toà án quân sự trừng trị bọn phản cách mạng.


40
 
Thực hiện những biện pháp sách lược nhân nhượng trên đây đã  hạn  chế  và  vô  hiệu  hoá  đến  mức  thấp  nhất  các  hoạt  động chống phá của quân Tưởng và tay sai, làm thất bại âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng của chúng. Cũng nhờ đó, chúng ta mới  có  điều  kiện  tập  trung  lực  lượng  kháng  chiến  chống  thực dân Pháp xâm lược ở miền Nam.

2-  Hoà  hoãn  với  thực  dân  Pháp  nhằm  gạt  quân  Tưởng  ra khỏi nước ta, chuẩn bị kháng chiến chống Pháp (từ 6-3 đến
19-12-1946)

a) Pháp và Tưởng cấu kết với nhau chống lại cách mạng Việt
Nam.

Đầu năm 1946, về cơ bản, thực dân Pháp đã chiếm được các đô thị, các đường giao thông chiến lược quan trọng ở Nam Bộ và  Nam  Trung  Bộ,  chiếm  hầu  hết  Campuchia  và  khống  chế vùng  nông  thôn  ở  Lào.  Pháp  lại  được  Anh  và  Mĩ  thoả  thuận: Ngày 29-1-1946, quân Anh rút khỏi Sài Gòn và đến ngày 5-3-
1946,  rút  khỏi  Nam  Đông  Dương,  nhường  cho  Pháp  quyền chiếm đóng từ vĩ tuyến 16 trở vào. Công việc tiếp theo của thực dân Pháp là chuẩn bị tiến quân ra miền Bắc, thực hiện ý đồ thôn tính cả nước ta. Nhưng do lực lượng hiện tại có hạn (hơn 65.000 quân), lại chưa bình định xong miền Nam, nếu thực hiện ngay ý đồ này bằng biện pháp quân sự, Pháp sẽ gặp khó khăn. Hơn nữa, đưa quân ra miền Bắc lúc này, chúng sẽ gặp hai trở lực lớn: một
là lực lượng kháng chiến của nhân dân ta, hai là sự có mặt của quân Tưởng và bọn tay sai ở miền Bắc. Tình hình đó buộc thực dân Pháp phải dùng đến thủ đoạn chính trị: một mặt, điều đình với  Chính  phủ  Tưởng  Giới  Thạch  ở  Trùng  Khánh,  mặt  khác điều đình với Chính phủ Hồ Chí Minh để được đưa quân đội ra miền Bắc Việt Nam một cách "hợp pháp".

Trong khi đó, Tưởng Giới Thạch cũng đứng trước một khó khăn lớn: Phong trào cách mạng do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo đang phát triển mạnh mẽ, cần phải tập trung lực lượng


41
 
để đối phó. Tình hình này cũng buộc Tưởng đi đến thoả hiệp với
Pháp.

Đúng  như  dự  đoán  của  Ban  Thường  vụ  Trung  ương  Đảng: "Trước sau Trùng Khánh sẽ bằng lòng cho Đông Dương trở về tay Pháp miễn là Pháp nhượng cho Tưởng nhiều quyền lợi quan trọng"1,  ngày  28-2-1946,  Hiệp  ước  Hoa  -  Pháp  được  kí  kết  ở Trùng Khánh. Theo Hiệp ước này, Pháp được quyền thay quân đội  Tưởng  vào  miền  Bắc  Đông  Dương  để  giải  giáp  quân  đội Nhật. Ngược lại Pháp nhường cho Tưởng một số quyền lợi về kinh tế, chính trị, như trả lại các tô giới và nhượng địa của Pháp trên đất Trung Quốc, nhượng cho Tưởng một "khu đặc biệt" để
tự  do  buôn  bán  và  có  quyền  kiểm  soát  thuế  quan  ở  cảng  Hải Phòng,  bán  cho  Tưởng   đoạn  đường  sắt  từ  Hồ  Kiều  đến  Côn Minh (thuộc tuyến đường sắt Hà Nội - Vân Nam), những kiều dân  Trung  Quốc  ở  Đông  Dương  được  hưởng  nhiều  quyền  lợi đặc biệt.

Cùng  thời  gian  trên,  từ  cuối  năm  1945  đến  đầu  năm  1946, giữa đại diện Chính phủ Pháp và Việt Nam đã có những cuộc gặp gỡ. Tháng 11-1945, đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Hoàng Minh Giám đã tiếp xúc với phía Pháp và lập trường của Chính phủ Việt Nam được xác định qua bức giác thư ngày 12-11 như sau:

l- Nước Pháp sẽ thừa nhận không chậm trễ nền độc lập toàn vẹn của Việt Nam;

2- Chính phủ Việt Nam sẽ thực thi những biện pháp bảo vệ uy  tín  nước  Pháp  và  sẽ  có  những  nhượng  bộ  với  Pháp  về phương diện kinh tế và văn hoá;

3- Nhằm tạo ra được một không khí thuận lợi cho việc đàm phán,  các  nhà  chức  trách  Pháp  sẽ  cho  chấm  dứt  ngay  những



1.  Văn  kiện  Đảng  1945  -  1954.  T.1.  Ban  Nghiên  cứu  lịch  sử  Đảng  trung
ương, Hà Nội, 1978, tr. 26.
42
 
chiến sự ở Nam Bộ và trong suốt thời gian của cuộc đàm phán, ngưng  vận  chuyển  đến  Đông  Dương  quân  đội  và  vũ  khí"1. Trong  cuộc  gặp  Giăng  Xanhtơni  (Jean  Sainteny)  ngày  25-2-
1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rõ lập trường của Việt  Nam  trong  quan  hệ  Việt  -  Pháp  là  độc  lập  và  hợp  tác. Xanhtơni nêu rõ quan điểm của Pháp là công nhận Việt Nam có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng nhưng là một nước tự trị trong khối Liên hiệp Pháp. Đây là lập trường đối lập cơ bản giữa Chính phủ ta và Chính phủ Pháp.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 28 Tháng Mười, 2011, 10:47:17 pm
b) Hoà hoãn, nhân nhượng với thực dân Pháp nhằm gạt quân
Tưởng ra khỏi nước ta

Hiệp ước Hoa - Pháp đã đặt nhân dân ta trước sự lựa chọn một trong hai con đường: Hoặc là cầm vũ khí chiến đấu chống thực dân Pháp, không cho chúng đổ bộ lên miền Bắc; hoặc là hoà hoãn, nhân nhượng  pháp để  tránh tình trạng phải  đối phó một lúc với nhiều kẻ thù, đẩy 20 vạn quân Tưởng ra khỏi miền Bắc, tranh thủ thời gian hoà hoãn, tiếp tục củng cố và phát triển lực  lượng  cách  mạng,  chuẩn  bị  mọi  mặt  bước  vào  cuộc  chiến đấu về sau khi tình thế bắt buộc. Ngày 3-3-1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị Tình hình và chủ trương. Bản Chỉ  thị  nhận  định:  "...  Hiệp  ước  Hoa  -  Pháp  không  phải  là chuyện  riêng  của  Tưởng  Giới  Thạch  và  Pháp.  Nó  là  chuyện chung của phe đế quốc và bọn tay sai của chúng ở thuộc địa..."2. Phân tích về chủ trương đánh hay hoà lúc này, Chỉ thị chỉ rõ: "Nếu Pháp công nhận Đông Dương tự chủ thì có thể hoà, hoà để phá tan âm mưu thâm độc của bọn Tưởng Giới Thạch, bọn phản động  Việt  Nam  và  bọn  phát  xít  Pháp  còn  sót  lại,  chúng  định



1. Philippe Devillers: Paris - SaiGon - Ha Nội. Hoàng Hữu Đàn dịch. Tài
liệu  lưu  trữ  của  cuộc  chiến  tranh  1944  -  1947.  NXB  Thành  phố  Hồ  Chí
Minh, 1993, tr. 159.

2.2.  Văn kiện quân sự của Đảng 1945 - I950. NXB QĐND. Hà Nội 1976, tr.
33.
43
 
hãm ta vào tình thế cô độc, buộc ta phải đánh nhiều kẻ thù một lúc..."1. Bản Chỉ thị nhấn mạnh: "Vấn đề lúc này không phải là muốn  hay  không  muốn  đánh  Vấn  đề  là  biết  mình  biết  người, nhận định một cách khách quan những điều kiện lợi hại trong nước và ngoài nước mà chủ trương cho đúng..."2.

Nếu chấp nhận cuộc chiến đấu với Pháp lúc này, chúng ta sẽ gặp nhiều bất lợi lớn. Về chính trị, ta có khó khăn vì hoạt động chia rẽ của bọn phản động. Về quân sự, Pháp có thêm lực lượng và chiếm được nhiều nơi; cuộc kháng chiến ở Nam Bộ gặp khó khăn. Về kinh tế, vấn đề tiếp tế lương thực không bảo đảm. Về quốc  tế,  Liên  Xô  và  các  lực  lượng  dân  chủ  chưa  có  điều  kiện trực tiếp giúp ta...

Chấp nhận hoà hoãn, nhân nhượng với Pháp cũng có những bất lợi khác: Thực dân Pháp lợi dụng hoà hoãn để phát triển lực lượng và sau đó bội ước đánh ta. Bọn phản động lợi dụng việc
kí kết mà vu cáo ta là "bán nước". Nhưng thực hiện giải pháp này, ta sẽ phá tan được âm mưu của Tưởng và tay sai đẩy ta vào thế bị cô lập; đồng thời giành được thời gian chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới.
Ngày 5-3-1946, Hội nghị mở rộng của Ban Chấp hành Trung ương  Đảng  (tại  làng  Canh,  Hà  Đông)  nhất  trí  tán  thành  chủ trương Hoà để tiến của Ban Thường vụ Trung ương Đảng.

Chiều 6-3-1946, sau nhiều lần thương lượng, tại ngôi nhà 38
Lý  Thái  Tổ  (Hà  Nội),  Chủ  tịch  Hồ  Chí  Minh  thay  mặt  Chính phủ   Việt   Nam   Dân   chủ   Cộng   hoà   kí   với   G.   Xanhtơni (J.sainteny) - đại diện Chính phủ Cộng hoà Pháp bản Hiệp định Sơ bộ, đặt cơ sở cho cuộc đàm phán giữa hai bên để đi đến một hiệp định chính thức.

Theo Hiệp định Sơ bộ:






44
 
Chính  phủ  Pháp  công  nhận  nước  Việt  Nam  Dân  chủ  Cộng hoà là một quốc gia tự do trong khối Liên hiệp Pháp; có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng. Sự thống nhất đất nước sẽ do trưng cầu dân ý quyết định.

Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đồng ý cho 15.000 quân Pháp vào thay thế Tưởng. Số quân này phải đóng ở những nơi  do  hai  bên  thống  nhất  quy  định  và  sẽ  rút  khỏi  Việt  Nam trong 5 năm, mỗi năm rút 1/5 số quân.

- Quân đội hai bên ngừng bắn và ở nguyên vị trí. Các cuộc đàm phán tiếp theo sẽ được tiến hành tại một trong ba nơi: Hà Nội, Sài Gòn hoặc Pari.

Kí Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946, tạm thời hoà hoãn với Pháp, ta đã tránh được một cuộc chiến đấu bất lợi phải chống lại nhiều kẻ  thù  cùng  một  lúc;  tạo  thêm  một  cơ  sở  pháp  lí  buộc  quân Tưởng phải nhanh chóng rút khỏi miền Bắc nước ta; bọn tay sai Việt  Quốc,  Việt  Cách  vì  mất  chỗ  dựa  nên  phần  lớn  bị  tan  rã hoặc  chạy  theo  quân  Tưởng;  chúng  ta  có  thêm  thời  gian  hoà bình cần thiết để củng cố chính quyền cách mạng, mở rộng mặt trận  dân  tộc  thống  nhất,  phát  triển  lực  lượng  vũ  trang  nhằm chuẩn bị lực lượng mọi mặt cho cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp về sau. Đặc biệt, đối với miền Nam - nơi mà cuộc kháng  chiến  đang  đứng  trước  những  thử  thách  gay  gắt  -  Hiệp định Sơ bộ tạo điều kiện cho lực lượng kháng chiến trở lại bám trụ  thôn,  xã,  tạo  thế  và  lực  để  cùng  cả  nước  bước  vào  cuộc kháng chiến lâu dài. Thực tế lịch sử đã chứng tỏ, việc kí Hiệp định  Sơ  bộ  -  trong  hoàn  cảnh  lúc  đó  -  là  một  chủ  trương  cứu nước  duy  nhất  đúng,  "một  mẫu  mực  tuyệt  vời  của  sách  lược Lêninít về lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ địch và về sự nhân nhượng có nguyên tắc"1.

Sau khi kí Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946, Chính phủ và nhân dân


1. Lê Duẩn: "Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã
hội, tiến lên giành thắng lợi mới ". NXB Sự Thật, Hà Nội. 1970, tr.31.
45
 
Việt  Nam  thi  hành  nghiêm  chỉnh  mọi  điều  khoản  đã  kí  kết. Ngày 8-3- 1946, Chính phủ ban hành Nghiêm lệnh: "Chính phủ hạ lệnh cho toàn thể nhân dân và bộ đội phải giúp đỡ cho quân đội Trung Hoa, trong lúc quân đội Trung Hoa thoái triệt. Ai xâm phạm  đến  tính  mạng,  tài  sản  của  quân  đội  Trung  Hoa  sẽ  bị nghiêm trị"1. Ngày 9-3-1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng
ra bản Chỉ thị Hoà để tiến, vạch rõ lí do vì sao ta kí với Pháp Hiệp định Sơ bộ và đề ra những việc cần làm sau khi Hiệp định được kí kết:

1- Giải thích ý nghĩa Hiệp định, chống mọi nhận thức và tư
tưởng sai lệch đối với việc kí kết.

2- Chuẩn bị kháng chiến lâu dài, đề phòng Pháp bội ước.

3- Đấu tranh với Tưởng, đề phòng chúng cố tình kéo dài thời hạn đóng quân trên miền Bắc.

4- Đề phòng các đảng phái phản động xuyên tạc và phá hoại.

5- Chỉ đạo miền Nam gây dựng lại cơ sở đã mất và cổ động phong trào đòi thống nhất Bắc - Trung - Nam.

Trong khi đó, thực dân Pháp sớm lộ rõ dã tâm phá hoại Hiệp định. Ngày 9-3-1946, quân Pháp đổ bộ lên Hải Phòng và đóng trái phép ở Bến Bính. Ngày 27-3-1946, quân Pháp ngang nhiên chiếm đóng trụ sở Bộ Tài chính của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ở Hà Nội; đồng thời cho xe chạy khắp các phố, gây xô xát và cướp bóc tài sản của nhân dân... Ở miền Nam, thực dân Pháp không những không ngừng bắn, mà còn tiếp tục cho quân càn quét,  đánh  úp  nhiều  vị  trí  của  bộ  đội  Việt  Nam  ở  Đồng  Tháp Mười, Bình Thuận, Phan Rang... Tháng 6-1946, chúng huy động
5.000  quân  có  xe  tăng  và  máy  bay  yểm  trợ  đánh  chiếm  Tây Nguyên.  Với  ý  đồ  tách  Nam  Bộ  ra  khỏi  Việt  Nam,  thực  dân Pháp thành lập Chính phủ Nam Kì tự trị (l-6-1946) do Nguyễn Văn Thinh cầm đầu.


1. Viện sử học: Lịch sử Việt Nam (9/1945 - l950)... Sđd, tr. 70.
46
 
Một trong những nội dung quan trọng đấu tranh buộc Pháp phải  tôn  trọng  Hiệp  định  Sơ  bộ  là  đòi  họ  mở  cuộc  đàm  phán chính thức tại Pari. Ngược lại, thực dân Pháp tìm mọi cách trì hoãn.  Ta  càng  thấy  rõ  lập  trường  thực  dân  xâm  lược  của  giới phản động Pháp, nhưng vẫn kiên trì đấu tranh tiến tới cuộc đàm phán chính thức.

Ngày 24-3-1946, trên tàu chân Êmin Béctanh (Emile Bertin) neo tại vịnh Hạ Long đã diễn ra cuộc hội đàm giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh với Đô đốc Đácgiăngliơ. Cùng dự hội đàm, về  phía Việt Nam còn có Hoàng Minh Giám và Nguyễn Tường Tam; về phía  Pháp  có  Tướng  Lơclec,  Xanhtơni  và  một  số  trợ  lí  của Đácgiăngliơ. Sau nhiều lần trao đổi, hai bên đã thoả thuận công bố một bản thông cáo gồm ba điểm chủ yếu:

1- Vào thột thời điểm càng gần mà các điều kiện quá cảnh cho phép, nghĩa là trong nửa đầu tháng tư, một phái đoàn hữu nghị  gồm 10  nghị  sĩ  Việt  Nam đi  Pari  mang  tới  Quốc  hội  lập hiến Pháp lời chào anh em của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà;

2-  Cũng  vào  thời  điểm  đó  sẽ  tiến  hành  tại  Đà  Lạt  một  hội nghị  trù  bị  giữa  một  bên  là  một  đoàn  đại  biểu  Pháp  gồm  12 thành viên dưới sự chủ trì của cao uỷ Pháp tại Đông Dương và một bên là một đoàn đại biểu gồm 12 thành viên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà dưới sự chủ trì của Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà hoặc người đại diện;
3- Cuộc hội nghị trù bị đó sẽ hoàn thành công việc của mình để một đoàn đại biểu nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có thể lên  đường  trong  thời  hạn  ngắn  nhất,  nghĩa  là  trong  nửa  cuối tháng năm để các cuộc thương lượng cuối cùng chính thức có thể tiến hành tại Pari.
Ngày  16-4-1946,  phái  đoàn  Quốc  hội  nước  Việt  Nam  Dân chủ Cộng hoà do Phạm Văn Đồng dẫn đầu lên đường sang thăm nước  Pháp  theo  tinh  thần  của  thông  cáo  về  nội  dung  cuộc  hội đàm giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đô đốc Đácgiăngliơ.
47
 
Ngày 19-4-1946, Hội nghị trù bị Đà Lạt khai mạc1. Hội nghị thành  lập  4  uỷ  ban.  Trong  mỗi  uỷ  ban,  mỗi  bên  đặt  một  số người, phái biện và cố vấn; mỗi bên cử một chủ tịch để lần lượt chủ toạ các buổi thảo luận. Uỷ ban Chính trị, do Hoàng Xuân Hãn,  Métxme  (Messmer)  làm  Chủ  tịch;  Uỷ  ban  Kinh  tế  -  Tài chính,  do  Trịnh  Văn  Bính  và  Buốcgoanh  (Bourgoin)  làm  Chủ tịch; Uỷ ban Quân sự, do Võ Nguyên Giáp và Mác ăngđrê (Max André)  làm  Chủ  tịch;  Uỷ  ban  Văn  hoá,  do  Nguyễn  Mạnh Tường, Guru (Gourou) làm Chủ tịch.

Hội nghị đã tiến hành khẩn trương. Ngoài những phiên họp toàn thể, những phiên họp ở các uỷ ban, còn có nhiều cuộc trao đổi ngoài hành lang... Tuy vậy, trên tất cả các vấn đề được đặt ra, cuộc đàm phán hầu như không tiến triển. Ngoài những cuộc tranh  luận  gay  gắt   tại  Uỷ  ban  Chính  trị,  ở  tất  cả  các  Uỷ  ban Quân sự, Kinh tế, Văn hoá đều có những cuộc tranh cãi giằng co2.

Về kinh tế, ta chủ trương giữ vững những quyền lợi kinh tế cơ  bản  của  ta,  bảo  đảm  điều  kiện  cho  kinh  tế  Việt  Nam  phát triển, đồng thời có những nhân nhượng nhất định đối với quyền lợi kinh tế Pháp ở Đông Dương. Những vấn đề được đặt ra trong


1. Trưởng đoàn phía Việt Nam là Nguyễn Tường Tam, Phó trưởng đoàn là
Võ Nguyên Giáp cùng các thành viên: Trịnh Văn Bính, Cù Huy Cận, Hoàng Xuân Hãn, Vũ Văn Hiền, Vũ Hồng Khanh, Trần Đăng Khoa, Dương Bạch Mai,  Nguyễn  Văn  Luyện,  Phạm  Ngọc  Thạch,  Bùi  Công  Trừng,  Nguyên Mạnh Tường. Các cố vấn của Đoàn gồm có: Tạ Quang Bửu, Kha Vạng Cân, Kiều Quang Cung, Đinh Văn Hớn, Phạm Khắc Hoè, Nguyên Văn Huyên, Hồ Đắc Liên, Phạm Văn Phác, Nguyễn Văn Tình, Nguyễn Duy Thanh, Nguyễn Tường Thụy, Hồ Hữu Tường. Trưởng đoàn phía Pháp là Mác Ăngđrê. Trong đoàn  còn  có Métxme  (Messme),  Pinhông (Pignon),  Tô  ren  (Torel),  Bútxkê (Bousquet),     Gônông     (Gonon),     Buốcgoanh     (Boulgoin),     Ghiăngtông (Guillanton),   Xalăng   (Salan),   Guru   (Gourou),   Clarắc   (Clarac),   Lơđu (Ledoux).

2. Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Từ Đà Lạt đến Pari. NXB Hà Nội, 1996, tr. 25.
48
 
Tiểu ban này thuộc về tiền tệ, thuế quan, những doanh nghiệp hiện  tại  của  Pháp  ở  Việt  Nam;  trong  đó  những  bất  đồng  lớn xoay quanh vấn đề tiền tệ và việc kinh doanh của người Pháp tại Việt Nam.

Về văn hoá, hai bên đã đạt được một số thoả thuận. Ta chỉ không đồng ý về việc Pháp đòi đặt một số cơ quan văn hoá ở Đông  Dương  trực  thuộc  với  liên  bang  và  đề  nghị  dùng  tiếng Pháp làm thứ tiếng chính thức thứ hai sau tiếng Việt.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 28 Tháng Mười, 2011, 10:49:08 pm
Trong hai Tiểu ban Chính trị và Quân sự, các vấn đề đặt ra đều là những vấn đề chủ yếu mà quan điểm hai bên hoàn toàn đối lập nhau. Lập trường có tính nguyên tắc của ta là: Nước Việt Nam phải là một nước tự do. Liên bang Đông Dương chỉ mang tính chất kinh tế không được phương hại đến những quyền cơ bản  của  Việt  Nam.  Về  mối  quan  hệ  giữa  các  nước  trong  Liên bang  Đông  Dương  với  Pháp,  phái  đoàn  ta  tuyên  bố  chấm  dứt chế độ toàn quyền. Ta chủ trương tổ chức một liên bang thực tế chỉ có tính chất kinh tế. Đại diện của Pháp ở liên bang chỉ có tính cách một nhân viên ngoại giao. Liên bang Đông Dương sẽ phối  hợp  về  chính  sách  thuế  quan  và  tiền  tệ,  về  việc  đặt  kế hoạch kiến thiết cho các nước trong liên bang theo nguyên tắc không làm phương hại đến chủ quyền của ba nước này.

Phía Pháp chủ trương viên cao uỷ vừa là đại diện cho Liên hiệp Pháp vừa là Chủ tịch liên bang Đông Dương. Họ đòi các ngành tư pháp, ngoại thương, tài chính, hối đoái, vận tải, y tế, các cơ quan nghiên cứu và phát minh về văn hoá, khoa học, kinh tế, viện thống kê,  nhà bưu điện và vô tuyến điện, cơ quan phụ. trách di dân đều phải thuộc về liên bang. Với chủ trương này, phía Pháp muốn khôi phục lại chế độ toàn quyền trước đây.

Về ngoại giao, lập trường của phái đoàn Việt Nam là nước Việt Nam sẽ có đại sứ ở Pháp và viên cao uỷ Pháp là đại diện ngoại giao của Pháp ở Việt Nam. Nước Việt Nam tự do phải có quyền đặt đại sứ ở các nước trong Liên hiệp Pháp và ở các nước ngoài. Pháp chủ trương người đại diện Pháp ở Việt Nam là một
49
 
viên chức Pháp do viên cao uỷ Pháp cử ra và nước Việt Nam chỉ có đại diện ngoại giao với các nước khác thông qua Liên hiệp Pháp...

Sau  3  tuần  lễ  (từ  ngày  19-4  đến  11-5-1946)  nhằm  trao  đổi những  vấn  đề  sẽ  được  đưa  ra  tại  cuộc  đàm  phán  chính  thức nhưng không đi đến thoả thuận nào, Hội nghị trù bị Đà Lạt kết thúc thất bại do âm mưu phá hoại của thực dân Pháp.

Ngày 31-5-1946, phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do Phạm Văn Đồng dẫn đầu lên đường sang Pháp đàm phán. Cùng ngày, nhận lời mời của Chính phủ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên  đường  sang  thăm nước  Pháp  với  tư cách là  thượng khách. Trước khi lên đường, Người gửi thư cho đồng bào Nam Bộ nêu rõ: "Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lí đó không bao giờ thay đổi"1.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng phái đoàn Việt Nam đến Biarritz (Pháp) ngày 12-6, nhưng phải dừng ở đó gần hai tuần lễ do phía Pháp đang chuẩn bị thay đổi nội các. Ngày 19-6-1946, Gioócgiơ Biđôn (Georges Bidault), một lãnh tụ của Phong trào bình dân, được  bầu làm Thủ  tướng  Chính  phủ  lâm thời  Cộng  hoà  Pháp. Từ đây, phía Pháp mới có thể bắt đầu cuộc đàm phán đã dự định trước với Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng phái đoàn rời Biarritz để đến Pari vào ngày 22-6. vừa đặt chân tới thủ đô nước Pháp, Chủ  tịch  Hồ  Chí  Minh  và  phái đoàn Việt  Nam đã  nhận được  những  thông  tin  bất  lợi:  Từ  ngày  21-6,  trong  một  chiến dịch  "chớp  nhoáng",  quân  đội  Pháp  theo  lệnh  của  Đô  đốc Đácgiăngliơ  và  Tướng  Lơclec  đã  chiếm  đóng  cả  vùng  Tây Nguyên, đặc biệt là Pleicu và Kon Tum; ngày 23-6, tại Hà Nội quân Pháp chiếm đóng Phủ Toàn quyền.

Ngày  6-7-1946,  cuộc  đàm  phán  chính  thức  giữa  hai  bên
Chính phủ Việt Nam và Pháp bắt đầu khai mạc, không phải ở



1. Hồ Chí Minh: Toàn tập. Tập 4... Sđd, tr. 246.
50
 


Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 28 Tháng Mười, 2011, 10:49:32 pm
Pari như chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đề nghị, mà là Phôngtenrlơblô (Fontaínebleau), cách Pari 60 km, "để lẩn tránh những áp lực của dư luận báo chí và của những giới khác mà Sài  Gòn,  các  cơ  quan  dân  sự  và  bạn  bè  của  họ  hết  sức  kinh
sợ”1. Đoàn Việt Nam gồm có: Phạm Văn Đồng (Trưởng đoàn) và các thành viên: Phan Anh, Trịnh Văn Bính, Tạ Quang Bửu, Nguyễn Mạnh Hà, Nguyễn Văn Huyên, Bưu Hội, Huỳnh Thiện Lộc,  Dương  Bạch  Mai,  Chu  Bá  Phượng,  Đặng  Phúc  Thông, Phạm  Khắc  Hoè,  Hoàng  Minh  Giám.  Ngoài  ra  là  các  chuyên viên: Nguyễn Đệ, Hoàng Văn Đức, Vũ Trọng Khánh, Hồ Đắc Liên, Nguyễn Văn Luyện, Nguyễn Văn Tình, Nguyễn Đắc Khê. Đoàn  Pháp  gồm  có:  Mác  Ăngđrê  (Trưởng  đoàn),  Giuygla (Juglas),  Lôdơrây  (Lozeray),  Bôđê  (Baudet),  Xalăng,  Bácgio (Barjot),   Pinhông,   Tôren   (Torel),   Rivê   (Rivet),   Métxme, Gônông  (Gonon),  Buốcgoanh,  Đacxy  (D'Arcy),  Gaê  (Gayet),
Buxkê (Bousquet).

Ngay  trong  phiên  khai  mạc  (6-7),  Trưởng  phái  đoàn  Việt Nam Phạm Văn Đồng đã kịch liệt phản đối việc thành lập chính phủ Nam Kì tự trị và các hoạt động vi phạm Hiệp định sơ bộ của  quân  Pháp  ở  Việt  Nam,  đặc  biệt  là  việc  chiếm  vùng  Tây Nguyên  và  việc  quân  Pháp  ngang  nhiên  chiếm  đóng  ngôi  nhà nguyên là Phủ Toàn quyền, nơi viên Tổng chỉ huy quân Tưởng vừa rút đi ngay giữa thủ đô Hà Nội.
Ngày  7-7-1946,  Hội  nghị  đưa  ra  một  chương  trình  nghị  sự
gồm 5 điểm:

-  Sự  gia  nhập  của  Việt  Nam  vào  khối  Liên  hiệp  Pháp  và những mối quan hệ ngoại giao của nó với nước ngoài;

- Dự thảo thành lập Liên bang Đông Dương;

- Vấn đề thống nhất ba kì và trung cầu dân ý tại Nam Kì;

- Những vấn đề kinh tế,


1. Philippe Dcvillers: Paris - SaiGon - Ha Noi... Sđd. tr. 272.
51
 
- Soạn thảo dự án hiệp ước.

Về  tất  cả  những  vấn  đề  trên,  quan  điểm  của  hai  bên  hoàn toàn khác nhau. Quan điểm của Pháp về "khối Liên hiệp Pháp không phải là quan niệm về một đồng minh mà là quan niệm về những quốc gia đoàn kết chặt chẽ với nhau bởi những cơ quan chung" (trong đó dĩ nhiên các cơ quan của Pháp chiếm ưu thế) 1. Trái lại, quan điểm của phái đoàn Việt Nam căn cứ trên ý niệm đồng minh, hoà hợp quyền lợi; quan hệ song phương giữa các quốc gia độc lập, được nêu rõ trong bức công hàm trao cho phái đoàn Pháp ngày 12-7: "Những mối quan hệ giữa nước Pháp và nước Việt Nam trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp là những quan
hệ  hợp  đồng  được  xác  định  qua  con  đường  hiệp  ước.  Những quan hệ ấy được thiết lập trên những nền tảng sau đây:

- Tự do gia nhập,

- Quy chế bình đẳng,
- Đoàn kết bảo vệ quyền lợi chung"2

Quan điểm trên của chủ tịch Hồ Chí Minh bổ sung trong kì họp  báo  ngày  12-7-1946:  "Trên  phương  diện  chính  trị,  những mối quan hệ giữa nước Pháp và nước Việt Nam phải xuất phát
từ một hiệp ước. Hiệp ước này phải dựa trên nguyên tắc cơ bản: cái quyền của mỗi dân tộc được tự mình quyết định lấy số phận của mình. Trên phương diện kinh tế và văn hoá, chúng tôi tán thành hợp tác với nước Pháp trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp... Sự tồn tại của Liên bang Đông Dương được xác nhận bởi sự cần thiết  phải  phối  hợp  các  hoạt  động  của  Việt  Nam,  Lào  và Campuchia. Căn bản nó phải mang nội dung kinh tế. Về phần mình,  nước  Việt  Nam  được  thiên  nhiên  ưu  đãi  hơn  hai  nước láng  giềng,  sẵn  sàng  giúp  đỡ  họ  nếu  họ  yêu  cầu.  Nhưng  Việt Nam kiên quyết ngăn chặn không cho Liên bang trở thành một



1.2. Philippe Devillers: Paris - Sai Gon - Ha Noi... Sđd, tr. 275- 276.


52


Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 28 Tháng Mười, 2011, 10:50:18 pm
thứ Chính phủ Toàn quyền giả hiệu..."1.

Từ ngày 13 đến ngày 30-7, các tiểu ban họp, đề cập lại các vấn đề đã nêu ở Hội nghị trù bị Đà Lạt. Hai phái đoàn thảo luận các vấn đề về thuế quan, tiền tệ, quân đội, ngoại giao... và hầu như vấn đề nào cũng có những bất đồng.

Về vấn đề quân đội, phái đoàn Việt Nam dứt khoát bác bỏ nguyên tắc một bộ chỉ huy duy nhất trong thời bình và mọi ý đồ "tập thể hoá" tiềm năng quân sự.

Về  vấn  đề  ngoại  giao,  cũng  như  ở  Hội  nghị  Đà  Lạt,  phái đoàn Việt Nam yêu cầu có một nền ngoại giao riêng, có quyền trao  đổi  đại  diện  ngoại  giao  với  nước  ngoài,  có  quyền  cử  đại diện riêng ở Liên hiệp quốc. Phái đoàn Pháp vẫn giữ quan niệm của  mình  về  một  nền  ngoại  giao  duy  nhất  luôn  luôn  chỉ  chấp nhận sự tham gia của người Việt Nam vào các chức vụ ngoại giao của Liên hiệp Pháp. Nhưng giờ đây, họ chấp nhận nguyên tắc tự quyết về mặt đại diện ngoại giao cấp lãnh sự.

Cũng như ở Hội nghị trù bị Đà Lạt, vấn đề Nam Kì là vấn đề
gay cấn nhất, trở thành hòn đá cản của Hội nghị. Ngay từ ngày
12-7, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố rõ trong cuộc họp báo: "Nam Bộ là đất Việt Nam. Nó là thịt của thịt chúng tới, là máu của  máu  chúng  tôi...  Trước  khi  đảo  Corse  trở  thành  đất  của Pháp, thì Nam Bộ đã là đất Việt Nam..."2. Tại phiên họp toàn thể  ngày  26-7,  Dương  Bạch  Mai  -  một  thành  viên  trong  phái đoàn Việt Nam - công khai phát biểu: "Số phận   của Hội nghị này phụ thuộc chặt chẽ vào vấn đề ba kì. Chừng nào mà Nam Kì, bằng cách này hay cách khác, còn bị tách ra khỏi Việt Nam, thì việc thoả thuận giữa nước Pháp và nước Việt Nam sẽ không bao giờ có được. Mọi sự đều tuỳ thuộc vấn đề Nam Kì: tình hữu nghị Pháp - Việt, hoà bình cũng như trật tự ở Việt Nam, tương


1. Philippe Devillers: Paris - Sai Gon - Ha Noi... Sđd, tr. 275, 276, 277, 280,
281.


53
 
lai những quan hệ của chúng ta. Phải giải quyết vấn đề này càng sớm càng hay"1.

Cuộc  đàm  phán  kéo  dài  hơn  hai  tháng  (từ  6-7  đến  10-9-
1946)2,  cuối cùng đã  không đi  đến  một  thoả  thuận  nào  do  lập trường hai bên khác xa nhau. Ngày 14-9-1946, phái đoàn Việt Nam lên tàu tại cảng Mácxây (Marseille) trở về Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh ở lại Pari với hi vọng cứu vãn tình hình.

Trong khi đó, tại Việt Nam, thực dân Pháp tăng cường các hoạt  động  khiêu  khích.  Quan  hệ  Việt  -  Pháp  ngày  càng  căng thẳng. Nguy cơ một cuộc chiến tranh đến gần. Cần có một quyết định nhanh chóng nhằm kéo dài thời gian hoà hoãn để xây dựng, củng cố thêm lực lượng cách mạng; đồng thời làm cho nhân dân Pháp, nhân dân thế giới thấy rõ thiện chí hoà bình của Việt Nam và dã tâm xâm lược của thực dân Pháp. Chính vì lẽ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí với đại diện Chính phủ Pháp là Mutê (Moutet) - Bộ  trưởng  Bộ  Pháp  quốc  hải  ngoại,  bản  Tạm  ước  ngày  14-9-
1946.

Nội dung bản Tạm ước gồm những điểm chủ yếu như sau: Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Pháp cam kết tiếp tục chính sách  hợp  tác  như  Hiệp  định  Sơ  bộ  đã  nêu,  tiếp  tục  cuộc  đàm phán sẽ được triển khai chậm nhất vào tháng Giêng 1947.
-  Chính  phủ  Việt  Nam  bảo  đảm  các  quyền  tự  do  dân  chủ, quyền lợi kinh tế - văn hoá của người Pháp ở Việt Nam.

-  Chính  phủ  Pháp  sẽ  đình  chỉ  xung  đột  ở  Nam  Bộ,  Nam
Trung Bộ, bảo đảm các quyền tự do dân chủ cho nhân dân.

-  Việt  Nam  và  Pháp  thả  hết  tù  chính  trị,  chấm  dứt  tuyên


1. Philippe Devillers: Paris - SaiGon - Ha Noi... Sđd, tr. 277, 280, 281.

2. Gần như trong suốt tháng 8-1946. Hội nghị ngừng họp do phía Việt Nam phản đối việc Pháp tổ chức trái phép Hội nghị Liên bang Đông Dương (ngày l/8/1946) tại Đà Lạt, gồm bọn bù nhìn Nam Kì, Nam Trung Kì, Ai Lao và Cao Miên.
54
 
truyền không thân thiện.

- Việc trưng cầu dân ý ở Nam Bộ do hai bên quy định thời gian và cách thức.

Tạm  ước  14-9-1946  là  sự  nhân  nhượng  cuối  cùng  của  ta nhằm cứu vãn tình thế hết sức khó khăn của đất nước lúc bấy giờ. Ngày 20-10-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh về đến Tổ quốc trong sự chờ đón đầy tin tưởng của toàn dân ta. Cuộc hành trình ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh và phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trên đất Pháp tuy chưa giải quyết được  mục  tiêu  cơ  bản  của  cuộc  đàm  phán,  nhưng  đã  làm  cho nhân  dân  Pháp  và  nhân  dân  thế  giới  hiểu  rõ  hơn  vấn  đề  Việt Nam, biểu thị sự đồng tình ủng hộ nền độc lập của Việt Nam.

c)  Tận  dụng  khả  năng  hoà  hoãn  chuẩn  bị  cho  cuộc  kháng chiến chống thực dân Pháp

Sau ngày kí kết  Hiệp  định  Sơ  bộ  và  Tạm ước Việt  -  Pháp, tranh thủ thời gian hoà hoãn, Chính phủ và nhân dân ta ra sức củng  cố,  xây  dựng  lực  lượng,  chuẩn  bị  cho  cuộc  kháng  chiến sắp tới.

Ở  miền Nam, cán bộ, bộ đội tiến mạnh vào các vùng tạm bị địch chiếm, tổ chức phát triển lực lượng vũ trang địa phương và chiến tranh du kích. Cùng với các cuộc bãi công, bãi thị, biểu tình, đòi tổ chức trưng cầu dân ý thống nhất đất nước, phản đối càn quét bình định, bắt lính, những cuộc nổi dậy diệt tề, trừ gian cũng diễn ra mạnh mẽ nhằm khôi phục chính quyền nhân dân và các đoàn thể quần chúng. Phong trào đấu tranh của nhân dân
Nam  Bộ  và  Nam  Trung  Bộ  từ  sau  ngày  6-3-1946  đến  cuối năm phát triển mạnh mẽ, liên tục, toàn diện và giành được nhiều thắng lợi to lớn. Tại Nam Bộ, chính quyền cách mạng được xây dựng và củng cố trên 1.000 xã trong tổng số 1.234 xã. Vùng giải phóng  ở  nông  thôn  được  mở  rộng  gấp  nhiều  lần  so  với  trước ngày  6-3-1946.  Hệ  thống  căn  cứ  địa  kháng  chiến  được  hình thành, nối liền từ Xứ uỷ xuống khu, tỉnh huyện, nhất là ở Đông

55
 
Nam Bộ. Lực lượng vũ trang ba thứ quân cũng phát triển. Ở các vùng nông thôn, hầu hết các xã đều thành lập tự vệ và du kích.
Ở các đô thị, lực lượng tự vệ cũng được củng cố và hoạt động có hiệu quả, nhất là lực lượng tự vệ thành phố Sài Gòn. Các đơn vị bộ đội tập trung - các chi đội Vệ quốc đoàn, đã được xây dựng
từ cấp tỉnh đến cấp khu. Toàn Nam Bộ đã xây dựng được 25 chi
đội, tăng 25% so với lúc mới hình thành.

Ở Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, nhiều căn cứ du kích hình thành. Ngoài các đơn vị bộ đội tập trung ở vùng tự do Khu V, đến  tháng  7-1946,  ở  cực  Nam  Trung  Bộ  đã  xây  dựng  được  4 trung đoàn chủ lực và 1 tiểu đoàn ở Tây Nguyên - Tiểu đoàn N’ Tranglơn, gồm hầu hết các chiến sĩ là người dân tộc thiểu số.

Ở miền Bắc, quân và dân ta ra sức xây dựng và phát triển lực lượng mọi mặt. Khối đoàn kết toàn dân không ngừng mở rộng, nhất là từ sau khi thành lập Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (29-5-1946). Vệ quốc đoàn chính thức trở thành Quân đội quốc gia  của  nước  Việt  Nam  Dân  chủ  Cộng  hoà  (22-5-1946).  Bên cạnh  lực  lượng  vũ  trang  thường  trực  Chính  phủ  còn  quan  tâm xây dựng lực lượng bán vũ trang. Đến cuối năm 1946, Việt Nam có trên 8 vạn bộ đội thường trực và gần 1 triệu dân quân, tự vệ ở hầu  khắp  các  địa  phương,  từ  thành  thị  đến  nông  thôn.  Các trường đào tạo cán bộ chính trị, quân sự được thành lập: Tháng
3-1946,  mở  Trường  Quân  chính  Bắc  Sơn;  tháng  5-1946,  mở Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn; tháng 6-1946, mở Trường Lục quân  Quảng  Ngài.  Đến  cuối  năm  1946,  trước  khi  cuộc  kháng chiến toàn quốc bùng nổ, các trường quân sự đã đào tạo được hàng vạn cán bộ, bổ sung cho các đơn vị cơ sở.

Trải  qua  hơn  một  năm  đấu  tranh  bảo  vệ  và  củng  cố  chính quyền dân chủ nhân dân, những khó khăn ban đầu đã được đẩy lùi.  Tiềm  lực  của  Nhà  nước  cách  mạng  được  tăng  cường  một bước,  tạo  nên  thế  và  lực  mới  cho  toàn  dân  ta  bước  vào  cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trong cả nước.

Có được những thắng lợi đó là do toàn dân ta đoàn kết chặt
56
 
chẽ,  thực  hiện  sự  nghiệp  vẻ  vang  "vừa  kháng  chiến,  vừa  kiến quốc"  dưới  sự  lãnh  đạo  của  Đảng.  "Đảng  ta,  đứng  đầu  là  Hồ Chủ tịch, với đường lối chính trị vô cùng sáng suất, vừa cứng rắn  về  nguyên  tắc,  đã  đưa  nước  nhà  vượt  qua  muôn  vàn  khó khăn tưởng như không sao vượt qua nổi. Lúc thì hoà hoãn với Tưởng để rảnh tay đối phó với thực dân Pháp, lúc thì tạm thời hoà  hoãn  với  Pháp  để  đuổi  cổ  quân  Tưởng  và  quét  sạch  bọn phản động tay sai của Tưởng, giành thời gian củng cố lực lượng, chuẩn  bị  toàn  quốc  chống  thực  dân  Pháp  xâm  lược,  điều  mà Đảng ta đã biết chắc là không thể nào tránh khỏi"1.
CÂU HỎI – BÀI TẬP

1- Vì sao nói tình hình nước Việt Nam sau Cách mạng tháng
Tám 1945 như "ngàn cân treo sợi tóc"?

2- Đảng, Chính phủ cách mạng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra chủ trương và biện pháp gì nhằm phát huy thuận lợi, giải quyết khó khăn trong năm đầu sau Cách mạng tháng Tám (1945
- 1946)?

3- Nêu rõ sách lược của Đảng, Chính phủ cách mạng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với quân Tưởng và 'Pháp trong năm đầu sau Cách mạng tháng Tám (1945 - 1946).

4- Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trở lại xâm lược ở
Nam Bộ và Nam Trung Bộ diễn ra như thế nào?

5- Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946: Hoàn cảnh kí kết, nội dung và
ý nghĩa lịch sử.

6- Những hoạt động đối nội và đối ngoại của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nhằm xây dựng và bảo vệ chính quyền đã diễn ra như thế nào trong hơn năm đầu sau Cách mạng tháng Tám 1945?




1. Lê Duẩn: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập. tự do... Sđd, tr. 31.
57


Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 28 Tháng Mười, 2011, 10:51:05 pm
Chương II



NHỮNG NĂM ĐẦU TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1946 – 1950)

Chương II nhằm cung cấp những kiến thức cơ bản về cuộc kháng chiến toàn quốc chống Pháp vào những năm đầu:

-  Âm  mưu,  hành  động  của  thực  dân  Pháp  mở  rộng  chiến tranh xâm lược cả nước ta; quyết định của Đảng, Chính phủ và Chủ  tịch  Hồ  Chí  Minh  về  một  cuộc  kháng  chiến  toàn  quốc chống Pháp; đường lối kháng chiến chống Pháp của Đảng.

- Cuộc chiến đấu ở thủ đô Hà Nội và các đô thị khác phía Bắc vĩ tuyến 16 mở đầu kháng chiến toàn quốc. Đồng thời với hoạt động chiến đấu là những hoạt động di chuyển và thực hiện "tiêu thổ kháng chiến". Tiếp theo là những hoạt động đẩy mạnh chuẩn bị cho cuộc chiến đấu lâu dài.

- Âm mưu, hành động của địch đánh phá căn cứ địa kháng chiến  Việt  Bắc.  Cuộc  chiến  đấu  của  quân  và  dân  ta  đánh  trả cuộc  tiến  công  Việt  Bắc  của  địch.  Sau  chiến  thắng  Việt  Bắc, cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện được đẩy mạnh.

I.   Kháng   chiến   toàn   quốc   chống   thực   dân   Pháp   bùng nổ.Đường lối kháng chiến chống Pháp của Đảng


1. Âm mưu, hành động chiến tranh của thực dân Pháp

Hai ngày sau khi kí Hiệp định Sơ bộ, trong cuộc gặp các Khu trưởng và Đại đội trưởng tự vệ thành Hà Nội tại Toà Thị chính, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ: "Kí Hiệp định đình chiến này không phải là đã hết chiến tranh đâu... Trái lại, hơn bao giờ hết,
ta  phải  luôn  luôn  chuẩn  bị  để  bồi  dưỡng  lực  lượng,  nâng  cao tinh thần kháng chiến của toàn dân để đối phó với những việc

58
 
bất  ngờ  bất  cứ  lúc  nào  cũng  có  thể  xảy  ra.  Tinh  thần  kháng chiến, sự chuẩn bị chu đáo phải là thường trực tiếp tục không một giây, một phút nào ngừng..."1.

Đúng như sự phán đoán của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngay sau khi kí Hiệp định Sơ bộ (6-3-1946) và Tạm  ước  Việt  -  Pháp  (14-9-1946),  thực  dân  Pháp  đã  bội  ước. Chúng lập ra "Chính phủ Nam Kì tự trị" (l-6-1946) do Nguyễn Văn Thinh cầm đầu, nhằm tách Nam Kì ra khỏi nước Việt Nam thống nhất. Các cuộc hành binh lấn chiếm của quân Pháp diễn ra liên tiếp ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ.

Ngày 19-10-1946, Hội nghị quân sự toàn quốc được triệu tập dưới sự chủ toạ của Tổng Bí thư Trường Chinh. Hội nghị nhận định:  "Nhất  định  không  sớm  thì  muộn,  Pháp  sẽ  đánh  mình  và mình nhất định cũng phải đánh Pháp"2. Trên cơ sở đó, Hội nghị quyết định một số vấn đề về quân sự, tư tưởng, tổ chức nhằm nâng cao sức mạnh chiến đấu và khả năng sẵn sàng chiến dấu của lực lượng vũ trang trong cả nước.

Trong phiên họp thứ hai (28-10 - 9-l-1946), Quốc hội quyết định thống nhất Quân sự uỷ viên Hội với Bộ Quốc phòng thành Bộ  Quốc  phòng  -  Tổng  chỉ  huy.  Việc  phân  chia  chiến  trường được xác định (cả nước được chia thành 12 chiến khu). Các cán bộ chỉ đạo, chỉ huy chủ chốt được điều về để hoàn tất việc chuẩn
bị chiến đấu ở mặt trận Hà Nội (Chiến khu XI).

Ngày 26-10, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng:- Tổng chỉ huy quân đội ta gởi cho Valuy, đề nghị phía Pháp ngừng bắn ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ vào 0 giờ ngày 30-10 theo quy định của Tạm ước Việt - Pháp (14-9-1946). Pháp đồng ý. Nhưng chỉ 10 ngày



1.  Võ  Nguyên Giáp:  Những  chặng  đường  lịch  sử.  NXB  Văn  học.  Hà  Nội,
1977, tr. 400 - 401.

2. Văn kiện quân sự của Đảng. NXB Quân đội nhân dân. Hà Nội, 1976. Tập
II, tr. 64.
59
 
sau, chúng lại bội ước tiếp tục đánh ta. Ngày 20-11-1946, chúng
đánh chiếm Hải Phòng
Và  Lạng  Sơn,  hai  cửa  ngõ  quan  trọng  đường  bộ  và  đường thuỷ ở Bắc Việt Nam. Tiếp đó, chúng đổ bộ thêm quân lên Đà Nẵng.

Sau nhiều lần tăng viện, đến cuối năm 1946, đội quân viễn chinh Pháp trên chiến trường Đông Dương lên tới hơn 90.000 tên, gồm 36 tiểu đoàn bộ binh, 4 tiểu đoàn pháo binh, 3 trung đoàn thiết giáp và cơ giới, hơn 100 máy bay và nhiều tàu chiến. Chúng đóng quân tại một số vị trí chiến lược trọng yếu trên đất nước ta.

Ở miền Bắc, từ vĩ tuyến 16 trở ra, tổng số quân Pháp khoảng
30.000 tên, gồm có sư đoàn bộ binh thuộc địa số 9, trung đoàn bộ binh lê dương số 3; 1 tiểu đoàn thuộc bán lữ đoàn lê dương
số 13; 1 trung đoàn thiết giáp; trung đoàn chiến xa cơ động, một bộ phận quân dù, thuỷ quân, không quân, các đơn vị thông tin, vận tải, hậu cần. Dựa vào sự giúp đỡ của đế quốc Anh và Mĩ từ khi đưa quân ra miền Bắc theo quy định của Hiệp định Sơ bộ, thực dân Pháp nuốt lời hứa, ráo riết thực hiện âm mưu mở rộng chiến tranh. Chúng biến những đội quân "tiếp phòng" thành đội quân  chiếm đóng và áp dụng  lối  đánh  lấn  dần. Sau khi chiếm Tây Nguyên, một phần vùng Đông Bắc, Tây Bắc và tiến công Hải  Phòng,  Lạng  Sơn,  chúng  chuẩn  bị  gây  hấn  ở  Hà  Nội  với mục đích nắm lấy quyền quản lí thủ đô nước ta, hòng "vô hiệu hoá tức thì Chính phủ Hồ Chí Minh". Với mưu đồ ấy, 6.500 lính viễn chinh được bố trí thành những cụm quân cơ động, chiếm giữ những vị trí bịt cửa ngõ thành phố, sẵn sàng đánh úp, chiếm gọn  các  cơ  quan  đầu  não  của  ta  tại  thủ  đô  Hà  Nội.  Kế  hoạch chuẩn  bị tiến công quân sự do  Bộ chỉ  huy Pháp vạch ra được xúc tiến, chúng chờ tăng thêm viện binh vào tháng 1-1947, sẽ mở  một  đợt  hoạt  động  có  tính  chất  quyết  định,  kết  thúc  công cuộc xâm lược.

Song song với những hành động quân sự, thực dân Pháp còn

60
 
thực hiện nhiều âm mưu, thủ đoạn thâm độc về chính trị. Ở Tây Bắc, chúng tổ chức bọn tay sai phản động chống lại cách mạng. Tại một số địa phương, chúng tìm cách liên lạc, móc nối những tên tay sai trong bộ máy cai trị cũ, tập hợp những phần tử phản động cầm đầu trong các tôn giáo chống lại chính quyền dân chủ nhân  dân.  Để  chuẩn  bị  cho  việc  thực  hiện  âm  mưu  xâm  lược toàn  diện  theo  chiến  lược  đánh  nhanh  thắng  nhanh,  thực  dân Pháp ráo riết tìm cách nắm tình hình mọi mặt ở miền Bắc, nhất
là lực lượng quân sự và khả năng phòng thủ của ta.

Nguy cơ chiến tranh lan rộng ra cả nước tới gần. Tình thế vô cùng  nghiêm  trọng.  Quân  và  dân  ta  sẵn  sàng  chiến  đấu  chống quân xâm lược. Kế hoạch tác chiến ở các thành phố, thị xã được triển khai khẩn trương. Nhân dân, trước hết là các cụ già, trẻ em, những người đau yếu, tàn tật rời khỏi thành phố. Đội công tác đặc biệt được thành lập và lần lượt lên vùng Việt Bắc làm nhiệm vụ chuẩn bị căn cứ. Các huyện Định Hoá, Đại Từ, Phú Lương, Võ  Nhai  (Thái  Nguyên);  Sơn  Dương,  Yên  Sơn,  Chiêm  Hoá (Tuyên Quang); Chợ Đồn (Bắc Kạn) mà trung tâm là các huyện Định Hoá, Sơn Dương, Yên Sơn, Chợ Đồn được chọn làm nơi xây dựng An toàn khu (ATK) của Trung ương. Bước vào tháng
12-1946, quân Pháp tiếp tục khiêu khích ở nhiều nơi, nhất là tại Hà Nội. Chủ trương của ta lúc này là "vẫn tranh thủ khả năng hoà  bình",  nhưng  "phải  chuẩn  bị  cấp  tốc  để  tiến  hành  chiến tranh toàn dân, toàn diện và trường kì"1.Xứ uỷ  Nam Bộ cũng nhận  được  chỉ  thị  phối  hợp  chiến  lược  với  chiến  trường  toàn quốc, "không để cho Pháp đem hết tài sản chiếm được ở Nam Bộ ra đánh Trung, Bắc"2. Trong khi khẩn trương chuẩn bị kháng chiến, Chính phủ ta vẫn kiên trì đấu tranh ngoại giao với Chính phủ Pháp, cố gắng đẩy lùi chiến tranh. Ngày 6-12, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi Quốc hội và Chính phủ Pháp ra lệnh cho quân



1. Nghị quyết Hội nghị các Khu trưởng ngày 13-12-1946.

2. Văn kiện quân sự của Đảng. Tập 2... Sđd. tr. 69.
61
 
viễn  chinh  rút  về  các  vị  trí  trước  ngày  20-11-1946.  Giới  cầm quyền  Pháp  không  trả  lời.  Ngày  15-12,  sau  khi  Lêông  Bơlum (Léon Blum) lên làm Thủ tướng Chính phủ
Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại gửi thông điệp yêu cầu giải quyết các bế tắc trong mối quan hệ Việt - Pháp. Chính phủ Pháp vẫn làm ngơ, tỏ rõ thái độ tán thành chính sách duy trì sự có mặt của nước Pháp ở Đông Dương.

Được sự đồng tình của Lêông Bơlum, bọn thực dân Pháp ở Đông Dương càng hung hăng. Ngày 16-12, Đácgiăngliơ đã khôi phục lại các Hiệp ước 1883 và 1884 mà triều đình nhà Nguyễn đã kí với Pháp. Y trắng trợn tuyên bố: "Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng là lãnh thổ của nước Pháp" .

Tại Hà Nội, trưa ngày 17-12, thực dân Pháp cho xe phá các công sự của ta ở Lò Đúc, đồng thời gây ra vụ tàn sát đẫm máu ở phố Hàng Bún và Yên Ninh. Trưa ngày 18-12, Pháp gửi tối hậu thư  đòi  chiếm  Sở  Tài  chính  và  nhà  viên  Giám  đốc  Sở  Giao thông; đòi ta phá bỏ công sự và vật chướng ngại trên đường phố. Chiều  ngày  18-12,  chúng  lại  gửi  tối  hậu  thư  đòi  được  quyền kiểm  soát  Thủ  đô  và  đe  doạ  đến  sáng  20-12,  những  điều  đó không được chấp nhận thì quân Pháp sẽ chuyển sang hành động.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 29 Tháng Mười, 2011, 01:17:24 pm
2. Kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ trong cả nước

Những hành động khiêu khích, xâm lược trên đây của thực dân Pháp xâm phạm nghiêm trọng đến độc lập, chủ quyền nước ta, gây căm phẫn tột độ trong nhân dân ta. Toàn dân, toàn quân nóng lòng chờ đợi mệnh lệnh của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Mọi  người  đều  sẵn  sàng  đứng  lên  kháng  chiến.  Trong  hai ngày 18 và 19-12-1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp Hội nghị mở rộng tại làng Vạn Phúc (Hà Đông) dưới sự chủ toạ của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Phân  tích  hành  động  khiêu  khích,  xâm  lược  của  thực  dân

62
 
Pháp  trong  những  tháng  cuối  năm 1946,  nhất  là  từ  giữa  tháng
12,  Hội  nghị  nhận  định:  âm  mưu  của  Pháp  là  mở  rộng  cuộc chiến tranh xâm lược, chuyển cuộc chiến tranh sang một bước mới; thời kì hoà hoãn đã qua, khả năng hoà bình không còn nữa. Trên cơ sở đó, Hội nghị quyết định phát động cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trong cả nước và vạch ra những vấn đề rất cơ bản về đường lối kháng chiến. Đây là một quyết định sáng suốt, kịp thời của Đảng ta, đáp ứng được yêu cấu của cách mạng và nguyện vọng của toàn dân.

Sáng 19-12-1946, thực dân Pháp gửi tiếp cho Chính phủ ta một tối hậu thư đòi tước vũ khí của tự vệ, đòi đình chỉ mọi hoạt động chuẩn bị kháng chiến và để cho quân Pháp làm nhiệm vụ giữ trật tự trong thủ đô Hà Nội.

Cho  tới  lúc  này,  Chủ  tịch  Hồ  Chí  Minh  vẫn  gởi  thư  cho Xanhtơni  đề  nghị  phía  Pháp  cùng  với  Chính  phủ  ta  "tìm  một giải  pháp  cải  thiện  bầu  không  khí  hiện  tại".  Thực  dân  Pháp khước từ đề nghị đó.

Trưa ngày 19-12, Ban Thường vụ Trung ương Đảng điện cho các Chiến khu và Tỉnh uỷ, chỉ thị "Tất cả hãy sẵn sàng!".

Lúc 20 giờ ngày 19-12-1946, Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam phát tín hiệu bắt đầu cuộc kháng chiến trong toàn quốc. Bộ trưởng Quốc phòng công bố mệnh lệnh chiến đấu cho tất cả các lực lượng vũ trang. Công nhân Nhà máy đèn Bờ Hồ phá máy. Đèn điện toàn thành phố Hà Nội phụt tắt. Đó là hiệu lệnh tấn công của quân ta. Cùng thời điểm ấy, các pháo đài Láng, Xuân Canh, Xuân Tảo... đồng loạt nhả đạn vào nội thành. Ở các khu phố, nhân dân quẳng bàn, ghế, cánh cửa, sập gụ, hòm xiểng, bao cát... ra mặt đường. Công nhân đẩy toa tàu chặn các ngã tư, ngã năm. Cây cối, cột điện cũng được ngả xuống ngáng đường. Vật cản vài chiến luỹ dựng lên khắp nơi. Người dân Hà Nội trong tư thế sẵn sàng đứng lên kháng chiến chống quân xâm lược với tất
cả những gì có trong tay và với một ý chí quyết thắng.


63
 
Tiếng  súng  kháng  chiến  ở  thủ  đô  Hà  Nội  nhanh  chóng  lan rộng ra cả nước.

Đêm 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, khẳng định thiện chí, nguyện vọng hoà bình, quyết  tâm kháng  chiến  và  niềm tin  tất  thắng  của  nhân  dân  ta; đồng  thời  nêu  lên  tư  tưởng  cơ  bản  của  đường  lối  chiến  tranh nhân dân. Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh là lời hịch tiến công, thôi thúc, giục giã toàn dân Việt Nam  đứng  dậy  cứu  nước.  Sau  khi  kêu  gọi  toàn  quốc  kháng chiến,  ngày  21-12-1946,  Chủ  tịch  Hồ  Chí  Minh  gửi  thư  cho nhân dân Việt Nam nhân dân Pháp và nhân dân các nước Đồng minh để cho thế giới biết rõ mục tiêu và quyết tâm đấu tranh vì độc lập tự do của nhân dân Việt Nam. Trong thư, Người khẳng định: "Cuộc kháng chiến rất lâu dài và đau khổ. Dù hi sinh bao nhiêu và thời gian kháng chiến đến bao giờ, chúng ta cũng nhất định chiến đấu đến cùng, đến bao giờ nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập và thống nhất. Chúng ta có 20 triệu chống lại 10 vạn thực dân. Cuộc thắng lợi của ta rất có bảo đảm..."1.

3. Đường lối kháng chiến chống Pháp của Đảng

Trước khi phát động cuộc kháng chiến trong cả nước, Đảng
ta đã có những văn kiện quan trọng để kịp thời chỉ đạo toàn dân tích cực chuẩn bị kháng chiến.

Những vấn đề được nêu lên trong bản Chỉ thị Kháng chiến, kiến quốc (25-11-1945), Nghị quyết Hội nghị quân sự toàn quốc của Đảng (19-10-1946) và văn kiện Những việc khẩn cấp bây giờ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết kinh nghiệm của hơn một năm đánh Pháp, đã đặt cơ sở cho sự hình thành đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện của Đảng la.

Ngày 12-12-1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra bản
Chỉ  thị  Toàn  dân  kháng  chiến.  Chỉ  thị  nêu  rõ  mục  đích,  tính


1. Hồ Chí Minh: Toàn tập. Tập 4. NXB Sự thật. Hà Nội 1984. tr. 209. 210.
64
 
chất,  chương  trình  kháng  chiến.  Những  nội  dung  cơ  bản  của đường lối kháng chiến đã được nêu cô đọng trong bản văn kiện lịch sử này. Tuy chưa hoàn chỉnh, nhưng những nội dung đó là những  vấn  đề  thiết  yếu  cơ  bản  nhất  để  lãnh  đạo,  dẫn  dắt  toàn dân, toàn quân ta trong quá trình kháng chiến.

Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng mở rộng (18-19 -
12-1946) tại làng Vạn Phúc (Hà Đông), trên cơ sở phân tích tình hình so sánh lực lượng giữa địch và ta, xác định chính xác ý đồ chiến  lược  của  thực  dân  Pháp,  cùng  với  quyết  định  phát động kháng chiến chống thực dân Pháp trên phạm vi cả nước, cũng nêu lên một số vấn đề cơ bản về đường lối kháng chiến.

Tháng 3-1947, Tổng Bí thư Đảng Trường Chinh đã kịp thời tổng kết cuộc chiến đấu và viết một loạt bài đăng liên tiếp trên
11 số báo Sự thật (năm 1951 đổi tên thành báo Nhân dân) nhằm giải  thích  rõ  thêm  đường  lối  kháng  chiến.  Những  bài  báo  này được tập hợp và in thành sách, lấy tên là Kháng chiến nhất định thắng  lợi  (xuất  bản  tháng  9-1947).  Đây  là  một  văn  kiện  quan trọng của Đảng ta, góp phần tổ chức, giáo dục, động viên quân và dân ta bước vào cuộc kháng chiến đến thắng lợi; đồng thời phân tích một cách khoa học đường lối kháng chiến toàn dân, toàn  diện,  trường  kì  và  tự  lực  cánh  sinh  do  Trung  ương  Đảng vạch ra từ những ngày đầu toàn quốc kháng chiến.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 29 Tháng Mười, 2011, 01:17:52 pm
Xuất phát từ sự tin tưởng vào khả năng cách mạng của quần chúng, Đảng đề ra đường lối kháng chiến toàn dân. Đây là nội dung cơ bản của chiến tranh nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược, là tư tưởng xuyên suốt, chỉ đạo mọi kế hoạch tác  chiến  và  xây  dựng  lực  lượng.  Với  đường  lối  kháng  chiến toàn dân, chúng ta sẽ tạo được thế trận cả nước cùng đánh giặc, mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi làng xã là một pháo đài.

Chiến tranh là cuộc đọ sức toàn diện giữa hai bên tham chiến. Đảng  chủ  trương  tiến  hành  kháng  chiến  toàn  diện,  nghĩa  là kháng  chiến trên  mọi  lĩnh  vực  chính  trị,  quân  sự,  kinh  tế,  văn hoá, xã hội . . . nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp to lớn để đánh
65
 
thắng cuộc chiến tranh tổng lực của thực dân Pháp.
Kháng chiến lau dài bắt nguồn từ sự phân tích, đánh giá, so sánh lực lượng giữa hai bên trong buổi đầu kháng chiến. Đánh lâu dài là bí quyết của sự thắng lợi. Kháng chiến lâu dài với tư tưởng chiến lược nhất quán là tư tưởng tiến công, là chiến lược của chiến tranh nhân dân Việt Nam nhằm đánh thắng kẻ thù có ưu thế về kinh tế và quân sự. Trong quá trình kháng chiến, Đảng
ta chủ trương vừa đánh vừa bồi dưỡng sức dân, vừa đánh vừa chuyển  hoá  so  sánh  lực  lượng  giữa  ta  và  địch,  đồng  thời  tận dụng những chuyển biến của tình hình quốc tế có lợi cho cuộc kháng chiến, giành thắng lợi từng bước, đánh bại từng kế hoạch chiến  tranh  của  thực  dân  Pháp,  tiến  lên  giành  thắng  lợi  hoàn toàn. Thời gian sẽ ủng hộ chúng ta và là thầy chiến lược của ta nếu dân tộc ta quyết tâm kháng chiến bền bỉ.

Tự  lực  cánh  sinh  là  một  trong  những  nội  dung  cơ  bản  của đường lối kháng chiến, xuất phát từ quan điểm quần chúng, tin vào khả năng cách mạng và sức mạnh to lớn của quần chúng. Đường  lối  đó  cũng  bắt  nguồn  từ  thực  tế  lịch  sử  của  đất  nước trong những năm đầu kháng chiến. Chỉ có tự lực cánh sinh mới phát huy được mọi khả năng tiềm ông trong quằn chúng; đồng thời mới tranh thủ có hiệu quả sự đồng tình ủng hộ của nhân dân thế giới.

Đường  lối  kháng  chiến  chống  thực  dân  Pháp  xâm  lược  do Đảng và Chính phủ vạch ra là sự vận dụng tài tình và sáng tạo những nguyên lí của chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Đó cũng là sự thừa kế và phát huy ở trình độ cao  những  kinh  nghiệm  đấu  tranh  giữ  nước  của  dân  tộc  ta. Đường lối đó là nguồn gốc dẫn đến mọi thắng lợi của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.



Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 29 Tháng Mười, 2011, 01:18:19 pm
II- Cuộc Chiến đấu của quân và dân ta ở thủ đô và các đô thị khác phía Bắc vĩ tuyến 16

Theo  chủ  trương  của  Bộ  Tổng  chỉ  huy,  mục  tiêu  cuộc  tiến
66
 
công quân sự của quân và dân ta là Hà Nội, tiếp đó là các thành phố  Đà  Nẵng,  Huế,  Vinh,  Nam Định,  Hải  Dương...  nhằm tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận quân địch; chặn đánh, giam chân địch một thời gian trong thành phố, thị xã, tạo điều kiện thuận lợi cho
cả nước chuyển vào kháng chiến lâu dài.

Tiêu biểu cho cả nước là cuộc chiến đấu của quân và dân ta tại thủ đô Hà Nội, bảo vệ các cơ quan đấu não của Đảng và Nhà nước.

1- Cuộc chiến đấu ở thủ đô Hà Nội

Cuộc chiến đấu của quân và dân Hà Nội diễn ra trong điều kiện so sánh lực lượng giữa hai bên rất chênh lệch.

Về  phía  thực  dân  Pháp,  tính  đến  tháng  12-1946,  ở  Hà  Nội, chúng có 6.500 sĩ quan và binh lính được trang bị mạnh, đóng tại 45 địa điểm. Tất cả các điểm đóng quân của Pháp tạo thành một thế bao vây, chia cắt nội thành Hà Nội, khống chế những nơi đóng quân và kèm chặt các cơ quan đầu não của ta. Vũ khí của quân Pháp khá tối tân: 42 khẩu sơn pháo 75 mm, lựu pháo
100  và  pháo  37  mm  bố  trí  2  trận  địa  ở  sân  bay  Gia  Lâm  và trường Anbe Xarô, có thể bắn vào hầu hết các mục tiêu trong Hà Nội. Lực lượng xe máy bao gồm 22 xe tăng, 40 xe thiết giáp bố
trí ở trong thành là một lực lượng cơ động phản kích mạnh. Sân bay Gia Lâm có 30 máy bay sẵn sàng chi viện cho chiến trường Hà Nội và một số vùng ven đô.

Ngoài ra, ở Hà Nội lúc đó còn có 13.000 Pháp kiều sống tập trung trong hai khu vực nối tiếp nhau thành một dải rộng lớn cắt đôi thành phố. Trong số này, nhiều người được trang bị vũ khí; nhiều căn nhà đã trở thành những ổ chiến đấu bí mật.

Một số tàu chiến của thuỷ quân Pháp khống chế đường sông, sẵn sàng chi viện cho quân Pháp ở nội thành. Với lực lượng và cách bố trí như trên, chúng hi vọng chỉ trong 24 giờ sẽ nhanh chóng đánh chiếm tất cả các cơ quan đầu não của ta; bao vây, chia  cắt,  tiêu  diệt  ta  và  làm  chủ  thành  phố  Hà  Nội  trong  thời
67
 
gian ngắn; đồng thời đè bẹp cuộc kháng chiến của nhân dân ta nói  chung,  thực  hiện  âm  mưu  chiến  lược  đánh  nhanh  thắng nhanh.
Biết  rõ  âm  mưu  của  kẻ  thù,  Ban  Thường  vụ  Trung  ương Đảng, Bộ Tổng chỉ huy chỉ đạo: Chiến khu Hà Nội không thể rơi vào thế bất ngờ, nếu đích đánh trước ta có thể quật lại ngay, trận đánh ở thủ đô nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tiêu biểu cho tinh thần kháng chiến của cả nước, Hà Nội cần giam chân địch ít nhất là một tháng, tạo điều kiện cho cả nước chuyển sang chiến tranh.

Về  phía  ta,  lực  lượng  vũ  trang  Hà  Nội  có  5  tiểu  đoàn  Vệ quốc, trang bị vũ khí thô sơ và thiếu thốn: 9 khẩu đội pháo binh gồm những khẩu sơn pháo, pháo chống tăng, pháo cao xạ cũ kĩ được bố trí ở Láng, Xuân Canh, Xuân Tảo, Đào Xuyên... Ngoài ra, còn có 8 trung đội công an xung phong, 1 đại đội tự vệ chiến đấu  và  đông  đảo  nhất  là  lực  lượng  dân  quân,  tự vệ  nội,  ngoại thành  (khoảng  28.500  người),  trang  bị  chủ  yếu  bằng  lựu  đạn, dao, kiếm.

Mặc dù lực lượng rất chênh lệch, nhưng quân và dân Hà Nội vẫn ngoan cường chiến đấu. Lần đầu tiên xung trận, quân và dân
ta  khó  tránh  khỏi  lúng  túng  và  thiếu  sót.  Có  những  trận  đánh được  chuẩn  bị  khá  công  phu,  nhưng  kết  quả  thu  được  chưa tương xứng; có trận ta bị thiệt hại. Tuy nhiên, với khí thế nhất tề xông lên, quân và dân Hà Nội đã giành được quyền chủ động và phá  tan  thế  trận  bao  vây  của  quân  Pháp,  đẩy  chúng  vào  tình trạng  bị  động  đối  phó.  Chỉ  trong  vài  giờ  đầu,  các  chiến  sĩ  Vệ quốc đoàn và tự vệ, với sự giúp đỡ của nhân dân, đã tiêu diệt phần lớn các ổ chiến đấu của quân Pháp.

Trong các trận đánh của quân và dân thủ đô đêm 19-12, oanh liệt nhất là trận chiến đấu bảo vệ Bắc Bộ phủ - nơi đặt trụ sở làm việc của Bộ Nội vụ, Bộ Lao động, nhà làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trận chiến đấu ở Ô Chợ Dừa, Ô Cầu Dền, Cửa Nam, nhất là ở khu chợ Đồng Xuân đều là những trận đánh tiêu biểu

68
 
cho khí phách anh hùng và sự kết hợp giữa lòng dũng cảm với
trí thông minh, sáng tạo của các chiến sĩ cảm tử thủ đô, của nhân dân ta trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến chống Pháp.
Từ  trong  khói  lửa  chiến  đấu  ác  liệt,  ngày  6-1-1947,  Trung đoàn Thủ đô chính thức thành lập. Lực lượng của Trung đoàn gồm ba tiểu đoàn, với số quân gắn 2.000 người, có cả phụ nữ, người  nhiều  tuổi  và  thanh,  thiếu  niên  đã  từng  sống,  chiến  đấu bảo vệ thủ đô trong những ngày đầu kháng chiến.

Trải qua hai tháng (19-12-1946 - 18-2-1947), quân và dân Hà Nội đánh gần 200 trận, tiêu diệt một phần quan trọng sinh lực địch, giam chân chúng nhiều ngày để hậu phương kịp tổ chức, triển khai thế trận kháng chiến lâu dài; bảo vệ các cơ quan đầu não của Đảng, Chính phủ, Mặt trận di chuyển về căn cứ an toàn, bảo  vệ  hàng  vạn  đồng  bào  thủ  đô  rời  thành  phố  về  vùng  hậu phương.

Cuộc  chiến  đấu  anh  dũng  của  quân  và  dân  Hà  Nội  tượng trưng  cho  ý  chí  kiên  cường,  bất  khuất  của  dân  tộc  Việt  Nam quyết đánh thắng quân đội xâm lược nhà nghề của một đế quốc để bảo vệ độc lập tự do của Tổ quốc.



Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 29 Tháng Mười, 2011, 01:18:44 pm
2- Cuộc chiến đấu ở các đô thị khác

Cùng  với  tiếng  súng  kháng  chiến  ở  thủ  đô Hà  Nội,  từ  đêm
19-12-1946, quân và dân các thành phố, thị xã Hải Dương, Bắc Giang, Bắc Ninh, Nam Định, Vinh, Huế, Đà Nẵng... cũng đồng loạt tiến công địch.

Trừ  thành  phố  Vinh  và  thị  xã  Bắc  Ninh,  còn  lại  trong  các thành phố và thị xã khác, cuộc chiến đấu kéo dài từ một đến ba tháng. Quân địch ở Vinh bị ta tiêu diệt ngay trong đêm đầu. Tại Bắc Ninh, địch rút chạy về Hà Nội sau 10 ngày chiến đấu.

Ở thành phố Nam Định - nơi được thực dân Pháp coi là quan trọng vào hàng thứ ba sau Hà Nội và Hải Phòng, quân và dân ta bao vây địch trong gần ba tháng (từ 19-12-1946 đến 12-3-1947),

69
 
diệt hơn 400 tên. Địch mở nhiều đợt tiến công phá vây nhưng đều bị quân ta đánh lui. Sau khi có quân đến ứng cứu, địch tăng cường những cuộc phản kích. Để bảo toàn lực lượng, ngày 12-3-
1947, quân ta rút khỏi thành phố.

Ở thành phố Huế, bị quân ta tiến công mạnh, địch buộc phải cố  thủ  trong các  căn  cứ chiếm đóng.  Trong  50  ngày  đêm tiến công và bao vây, quân và dân ta đã diệt hơn 200 tên địch, hạ 1 máy bay, phá 3 xe thiết giáp, nhiều xe vận tải, thu nhiều súng đạn.

Ở thành phố Đà Nẵng, quân và dân ta tiến công, bao vây, cô lập sân bay và đánh lùi nhiều đợt tiến công phá vây của địch. Đầu tháng 1-1947, được tăng viện, quân Pháp điều 2.000 quân lên giải vây sân bay, thành phố.

Tại Nam Bộ, quân và dân ta đẩy mạnh chiến tranh du kích, đánh phá bình định, "không để cho Pháp đem hết tài sản chiếm được ở Nam Bộ ra đánh Trung - Bắc".

Phong  trào  kháng  chiến  ở  Nam  Trung  Bộ,  Tây  Nguyên  có bước phát triển mới. Quân và dân ta liên tiếp đánh bại các cuộc tiến công của địch, giữ vững vùng tự do.

Cuộc  chiến  đấu  vây  đánh  địch  trong  các  thành  phố,  thị  xã của quân và dân ta đã đánh bại âm mưu và kế hoạch của thực dân tháp định đánh úp cơ quan đầu não kháng chiến tại Hà Nội, tiêu diệt lực lượng vũ trang ta ở các thành phố lớn; đã tiêu diệt và  vây  hãm  quân  địch  dài  ngày  trong  các  thành  phố,  tạo  điều kiện  cho  cả  nước  chuyển  vào  kháng  chiến,  xây  dựng  thế  trận đánh địch lâu dài. Âm mưu chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của  thực  dân  Pháp  bước  đầu  bị  phá  sản.  Cuộc  chiến  đấu  của quân và dân thủ đô Hà Nội và các thành phố, thị xã khác còn có tác dụng cổ vũ mạnh mẽ tinh thần quyết chiến quyết thắng của toàn dân tộc, gây thanh thế cho kháng chiến. Nó giáng một đòn mạnh vào ý chí xâm lược của kẻ thù, đặt tiền đề vững chắc cho thắng lợi trong những năm tiếp theo.

70


Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 29 Tháng Mười, 2011, 01:19:12 pm
III- Tích cực chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp xâm lược

1. Công tác di chuyển, thực hiện "Tiêu thổ kháng chiến”

Ngay sau Cách mạng tháng Tám thành công, với tầm nhìn chiến  lược  về  một  cuộc  chiến  tranh  sắp  tới,  Chủ  tịch  Hồ  Chí Minh đã phân công Phạm Văn Đồng cùng một số cán bộ ở lại Việt Bắc một thời gian để củng cố căn cứ địa.

Cuối tháng 10-1946, sau chuyến đi thăm Pháp và kí Tạm ước
14- 9-1946, thấy trước nguy cơ một cuộc chiến tranh với Pháp sắp  nổ  ra,  Chủ  tịch  Hồ  Chí  Minh  giao  nhiệm  vụ  cho  Nguyễn Lương Bằng trở lại Việt Bắc chuẩn bị địa điểm xây dựng căn cứ địa kháng chiến.

Tháng 11-1946, Trung ương Đảng quyết định thành lập Đội công  tác  đặc  biệt  do  Trần  Đăng  Ninh  phụ  trách.  Đội  gồm  đại biểu các ngành quân sự, an ninh, chính quyền, đoàn thể chăm lo việc nghiên cứu di chuyển và chọn địa điểm an toàn để đặt trụ sở các cơ quan Trung ương. Từ giữa tháng 12-1946, một số cán bộ của Đội công tác đặc biệt lần lượt lên Việt Bác làm nhiệm vụ.

Sau  vụ  thực  dân  Pháp  gây  xung  đột  ở  Hải  Phòng  và  Lạng Sơn  (20-11-1946),  công  việc  chuẩn  bị  cho  các  cơ  quan  Trung ương Đảng, Chính phủ, Mặt trận rời khỏi thủ đô Hà Nội được đẩy mạnh, đợt tổng di chuyển được bắt đầu.

Cuối  tháng  12-1946,  sau  khi  cuộc  kháng  chiến  toàn  quốc bùng nổ, các cơ quan Trung ương lần lượt rời Hà Nội về phía tây nam, chuyển đến địa phận các tỉnh Hà Đông, Sơn Tây (thị xã  Hà  Đông,  Thanh  Oai,  Chương  Mĩ  -  Hà  Đông;  Quốc  Oai, Thạch Thất - Sơn Tây...); sau đó (đầu năm 1947), chuyển đến địa phận các tỉnh thuộc căn cứ Việt Bắc. Các huyện Định Hoá, Đại  Từ,  Phú  Lương,  Võ  Nhai  (Thái  Nguyên);  Chợ  Đồn  (Bắc Kạn); Sơn Dương, Yên Sơn, Chiêm Hoá (Tuyên Quang) được

71
 
chọn làm an toàn khu (ATK) của Trung ương Căn cứ địa cách mạng Việt Bắc trước đây trở thành căn cứ địa kháng chiến của
cả nước.
Từ Việt Bắc, đầu mối liên lạc dần dần được nối thông với các miền,  các  địa  phương.  Từ  đây,  căn  cứ  địa  Việt  Bắc  trở  thành Thủ  đô  kháng  chiến  của  cả  nước.  Việc  xây  dựng  ATK  Trung ương  ở  Việt  Bắc  thể  hiện  tính  chủ  động,  tầm  nhìn  chiến  lược sáng suất của Đảng và Chính phủ. Việc di chuyển kịp thời và an toàn các cơ quan lãnh đạo kháng chiến, trước hết là các cơ quan Trung ương, là thắng lợi lớn có ý nghĩa chiến lược.

Để bảo đảm cơ sở vật chất cho cuộc kháng chiến lâu dài, việc chuyển  máy  móc,  nguyên  vật  liệu...  lên  căn  cứ  địa  được  tiến hành khẩn trương. Trong điều kiện ta không có phương tiện vận tải, lại phải đi qua nhiều chặng đường đã bị phá hoại, việc vận chuyển thực sự là một công việc đầy khó khăn, nặng nhọc. Nhờ sự tận tình của cán bộ, công nhân các ngành, sự giúp đỡ không tiếc công sức của nhân dân dọc đường di chuyển, chỉ trong vòng
3 tháng đầu kháng chiến, ta đã vận chuyển được hơn 3 vạn tấn máy móc và dụng cụ sản xuất, hàng vạn tấn nguyên vật liệu ra vùng căn cứ. Riêng ở Bắc Bộ, gần 2/3 máy móc được chuyển lên căn cứ Việt Bắc. Nhờ đó, khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ta đã xây dựng được 57 cơ sở công nghiệp, chủ yếu là công nghiệp quốc phòng; sản xuất đáp ứng một phần quan trọng nhu  cầu  vũ  khí,  đạn  dược,  quân  trang,  quân  dụng  cho  các  lực lượng vũ trang và nhu cáu tối thiểu cho đời sống nhân dân.

Trong các công tác chuẩn bị vật chất cho kháng chiến lâu dài, vấn đề tích trữ muối và gạo được đặc biệt chú ý. Ngay từ mùa hè năm 1946, các cơ quan chức năng đã được chỉ thị thu mua và vận  chuyển  muối  từ  đồng  bằng  ven  biển  lên  căn  cứ.  Nhờ  có hàng vạn tấn muối được chuyển kịp thời lên Việt Bắc, Tây Bắc, nên khi miền duyên hải bị địch chiếm đóng, hậu phương kháng chiến vẫn có một lượng muối dự trữ cần thiết cho đời sống của cán bộ, bộ đội và nhân dân.

72
 
Cũng ngay từ đầu cuộc kháng chiến, Chính phủ đã có nhiều biện pháp tổ chức việc thu mua, bảo vệ, bảo quản thóc, gạo chu đáo. Bộ Tài chính đặt kho dự trữ thóc, gạo phân tán ở nhiều nơi. Cục  Quân  nhu  có  hệ  thống  kho  tại  các  tỉnh  Hà  Đông,  Ninh Bình, Sơn Tây, Phú Thọ, Thái Nguyên, Tuyên Quang...

Đồng thời với hoạt động "di chuyển" ở thời kì đầu của cuộc kháng chiến là hoạt động "tiêu thổ" để kháng chiến; vận động và
tổ chức "tản cư” nhằm đảm bảo tính mạng và tài sản của nhân dân, nhanh chóng chuyển đất nước sang thời chiến.

Bài  học  kinh  nghiệm  của  ông  cha  thực  hành  kế  thanh  dã, vườn không nhà trống trong lịch sử chống ngoại xâm được vận dụng triệt để Chỉ thị Toàn dân kháng chiến của Ban Thường vụ Trung ương Đảng chỉ rõ: "Phá hoại nhiều hơn bắn; triệt để làm cho địch đói, khát, què, mù, điếc, câm, tiêu hao, mệt mỏi, chán nản"1. Nghị quyết Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ nhất (12 đến 16-1-1947) nêu rõ mức độ phá hoại đối với từng vùng, từng nơi.  Ngày  16-1-1947,  Chủ  tịch  Hồ  Chí  Minh  ra  Lời  kêu  gọi đồng bào phá hoại để kháng chiến: "Đánh thì phải phá hoại... Bây giờ ta phải phá đi, để chặn bọn Pháp lại, không cho chúng tiến lên, không cho chúng lợi dụng. Ta vì nước hi sinh, chịu khổ một lúc. Đến ngày kháng chiến thắng lợi, ta sẽ cùng nhau kiến thiết sửa sang lại . . . "2.

Hiểu rõ nội dung và ý nghĩa của công tác phá hoại để kháng chiến,  từ  đầu  tháng  12-1946,  các  địa  phương  đã  lập  được  kế hoạch phá hoại. Các Ban phá hoại được tổ chức và đi vào hoạt động.

Công tác phá hoại để kháng chiến diễn ra trong khí thế cách mạng sục sôi của quần chúng. Với tinh thần yêu nước cao độ và với niềm tin tất thắng, nhân dân ta tự tay mình phá sấp nhà cửa,
xí nghiệp, hầm mỏ; đào hào, đắp ụ, dựng vật cản trên các đường


1. Văn kiện quân sự của Đảng 1945 - 1950... Sđd, tr. 76.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập. Tập 4. sđd, tr. 248-249.
73


Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 29 Tháng Mười, 2011, 01:19:41 pm
giao thông thuỷ, bộ. Nhiều thành phố, thị xã bên thành bình địa, biểu thị sức mạnh phi thường của ý chí quyết tâm kháng chiến và niềm tin tất thắng của nhân dân ta. Chỉ trong mấy tháng cuối năm 1946 đầu năm 1947,  quân và dân ta đã phá hoại 1.060 km đường sắt, 5.640 km đường ô tô 30.500 cầu cống 59.100 ngôi nhà, 84 đầu máy và 868 toa tàu hoả... Điều đó đã góp phần làm chậm  bước  tiến  quân  thù  và  hãm  chúng  vào  một  tình  thế  khó khăn.

Tuy nhiên, trong công tác phá hoại để kháng chiến, một số địa phương còn phá tràn lan. Ngược lại, có nơi mắc bệnh chủ quan, chưa tích cực thực hiện; Ban phá hoại tuy thành lập nhưng chưa hoạt động.

Để  chuyển  đất  nước  vào  chiến  tranh,  một  công  việc  khó khăn, phức tạp là tổ chức đưa, đón hàng chục vạn đồng bào tản cư  ra  khỏi  các  vùng  có  chiến  sự.  Lúc  đầu,  do  chưa  có  kinh nghiệm, không dự kiến hết số lượng người tản cư và tình hình chiến sự chuyển biến sau khi địch đánh rộng ra ngoài các thành phố,  nên  Uỷ  ban  tản  cư  nhiều  cấp  không  làm  chủ  được  tình hình, dẫn đến tình trạng ở một số vùng nhân dân hoang mang, chạy vòng quanh và có tâm lí tạm bợ.

Trước tình trạng trên, từ trung tuần tháng 2 và đầu tháng 3-
1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị cho Bộ Nội vụ cử người về các địa Phương (kể cả vùng địch mới chiếm đóng) để có biện pháp khắc phục. Người chỉ thị cho Uỷ ban hành chính các cấp: "Vô luận thế nào cũng không được bỏ dân bơ vơ". Nhờ đó, từ tháng  4-1947,  công  tác  tản  cư,  di  cư  dần  dần  đi  vào  nền  nếp; đồng  bào  tản  cư  nhanh  chóng  hoà  nhập  với  nhân  dân  các  địa phương, ổn định đời sống, cùng tham gia các hoạt động kháng chiến, kiến quốc.

Sau khi việc di chuyển đã hoàn thành, chỗ ở và làm việc của các cơ quan và đồng bào tản cư ổn định, Nhà nước bắt tay xây dựng lực lượng về mọi mặt để bước vào cuộc kháng chiến lâu dài.
74
 
2- Xây dựng lực lượng mọi mặt cho cuộc kháng chiến lâu dài

a) về chính trị

Từ khi chiến sự bắt đầu lan rộng, kháng chiến được xác định
là nhiệm vụ hàng đầu, nên hình thức tổ chức chính quyền và tên gọi  của  Uỷ  ban  hành  chính  không  còn  phù  hợp.  Vì  vậy,  một ngày sau khi toàn quốc kháng chiến bùng nổ, ngày 20-12-1946, Chính phủ ra Sắc lệnh số l/SL về việc thành lập Uỷ ban bảo vệ tại  các  khu  quân  sự,  các  đơn  vị  hành  chính  từ  cấp  tỉnh  trở xuống;  quy  định  thành  phần,  chức  năng  và  quyền  hạn  của  Uỷ ban bảo vệ các cấp. Từ tháng 3-1947, Chính phủ ra các sắc lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều khoản về Uỷ ban bảo vệ các cấp từ khu xuống đến cơ sở. Theo đó, mỗi Uỷ ban bảo vệ khu và tỉnh có 1 đại biểu quân sự, 1 đại biểu hành chính và 3 đại biểu nhân dân. Uỷ ban bảo vệ huyện gồm 3 đại biểu (quân sự, hành chính và nhân dân). Uỷ ban bảo vệ xã có 1 đại biểu nhân dân và 1 đại biểu quân sự.

Uỷ  ban  bảo  vệ  là  tổ  chức  gồm  các  thành  phần  quân,  dân, chính.

Chiến sự lan tới đâu, Uỷ ban bảo vệ ở đó đổi thành Uỷ ban kháng chiến. Như vậy, từ đầu năm 1947, từ cấp khu xuống đến xã, bên cạnh Uỷ ban hành chính còn có Uỷ ban kháng chiến. Sự tồn tại cơ chế hai chính quyền ở địa phương không tránh khỏi tình trạng cồng kềnh, chồng chéo, dẫm đạp lên nhau.

Nhằm khắc phục tình trạng đó, ngày 27-8-1947, Chính phủ ra Sắc lệnh số 91/SL về việc hợp nhất Uỷ ban kháng chiến và Uỷ ban hành chính các cấp từ tỉnh trở xuống thành Uỷ ban kháng chiến kiêm hành chính.

Căn cứ vào sắc lệnh trên, cơ quan hành chính các cấp tỉnh, huyện, xã được kiện toàn. Uỷ ban cấp xã có 5 uỷ viên, trong đó có 3 uỷ viên hành chính, 1 uỷ viên quân sự và 1 uỷ viên nhân dân. Uỷ ban cấp huyện, tỉnh gồm 7 uỷ viên, trong đó có 3 uỷ viên hành chính, 1 uỷ viên quân sự và 3 uỷ viên nhân dân.
75
 
Trong quá trình củng cố, kiện toàn bộ máy chính quyền địa phương các cấp, Trung ương Đảng và Chính phủ đặc biệt quan tâm đến việc giáo dục phẩm chất, tư cách đạo đức của cán bộ, nhân  viên  Nhà  nước.  Chủ  tịch  Hồ  Chí  Minh  khuyên  cán  bộ, nhân viên Nhà nước, trước hết là đảng viên phải thật thà, đoàn kết, thương yêu nhau, phải kiên quyết tẩy rửa đầu óc bè phái, quân phiệt, quan liêu, hẹp hòi, ham chuộng hình thức, vô kỉ luật, ích kỉ... Nhờ đó, Uỷ ban kháng chiến hành chính các cấp từ xã đến Liên khu đã gánh vác được vai trò thay mặt Chính phủ tổ chức  và  điều  hành  công  cuộc  kháng  chiến,  kiến  quốc  tại  địa phương mình.

Nhằm đáp ứng yêu cầu lãnh đạo cuộc kháng chiến, công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức được các cấp từ Trung  ương  xuống  các  tỉnh  đặc  biệt  coi  trọng.  Công  tác  phát triển Đảng được đẩy mạnh trong bộ đội, dân quân, trong các xí nghiệp, cơ quan Nhà nước và cả trong các vùng sau lưng địch. Hàng  vạn  công  nhân,  nông  dân,  trí  thức  cách  mạng,  chiến  sĩ trong lực lượng vũ trang được kết nạp Đảng. Các tổ chức cơ sở của  Đảng  đã  ăn  sâu  bám  rễ  trong  nhân  dân.  Hầu  hết  các  địa phương đã lập được huyện uỷ, nhiều nơi lập được chi bộ liên xã. Hệ thống tổ chức của Đảng trong quân đội cũng từng bước được kiện toàn.

Song song với công tác xây dựng Đảng,  các đoàn  thể quần chúng cũng không ngừng được củng cố về tổ chức.

Tổ chức Công đoàn ngày càng thu hút được nhiều đoàn viên và phát huy được vai trò động viên, tổ chức công nhân thi đua sản xuất, phát huy sáng kiến, cải tiến kĩ thuật.

Các Hội Nông dân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc có đông đảo hội  viên  tham  gia,  thường  xuyên  giáo  dục,  động  viên  các  hội viên tích cực đóng góp sức người, sức của phục vụ kháng chiến.

Công tác vận động thanh niên có bước tiến triển mới. Từ năm
1947, các tổ chức Đoàn Thanh niên cứu quốc, Liên đoàn Thanh

76
 
niên Việt Nam, Tổng hội Sinh viên Việt Nam được củng cố và lần lượt mở đại hội.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 29 Tháng Mười, 2011, 01:20:01 pm
Công  tác  vận  động  đoàn  kết  với  giới  trí  thức,  đoàn  kết  các dân tộc và tôn giáo cũng được đẩy mạnh, góp phần tăng cường khối  đoàn  kết  toàn  dân,  làm  thất  bại  chính  sách  "dùng  người Việt đánh người Việt”của thực dân Pháp.

b) về quân sự :

Khi cả nước bước vào kháng chiến, vấn đề xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang trở thành một nhiệm vụ cấp bách, không chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu trước mắt mà còn đảm bảo cho kháng chiến lâu dài.

Nghị quyết Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ nhất (l-1947) nêu rõ: "Trong các khu cần phải tổ chức ngay bộ đội bổ sung, việc  tuyển  lựa  bộ  đội  này  phải  được  Bộ  Quốc  phòng  chuẩn  y trước..."1.

Ngày 12-2-1947, Chính phủ ra Sắc lệnh số 16/SL thành lập
Phòng Dân quân, trực thuộc Cục Chính trị. Tiếp theo, ngày 19-
2, Bộ Quốc phòng ra Thông tư quy định mọi công dân từ 18 đến
45  tuổi  vào  dân  quân,  tự  vệ,  du  kích.  Hàng  chục  vạn  quần chúng, thuộc đủ các lứa tuổi, hăng hái gia nhập dân quân, tự vệ và du kích. Đến cuối năm 1947, tại nhiều địa phương, ở các xã đã có từ 1 đến 2 trung đội dân quân tự vệ; ở huyện có từ 1 đến 2 trung đội du kích thoát li, ở tỉnh có từ 1 đến 2 đại đội du kích thoát li. Với phong trào "cướp vũ khí địch đánh địch", nhiều đơn
vị dân quân, tự vệ và du kích dần dần tự trang bị được vũ khí tốt hơn.

Tháng  3-1947,  Chính  phủ  quyết  định  đổi  tên  Bộ  Tổng  chỉ huy Quân đội Quốc gia thành Bộ Tổng chỉ huy Quân đội Quốc gia và dân quân tự vệ Việt Nam; đồng thời quyết định thành lập các  ban  chỉ  huy  Tỉnh  đội,  Huyện  đội,  Xã  đội  thuộc  Uỷ  ban


1. Văn kiện quân sự của Đảng 1945-1950... Sđd, tr. 83.
77
 
kháng  chiến  các  cấp.  Việc  huấn  luyện  được  tổ  chức  thường xuyên và đi dần vào nền nếp. Tại Việt Bắc, Khu IV, Khu V và các căn cứ thuộc Nam Bộ có chế độ huấn luyện thường kì cho dân quân, tự vệ và du kích.

Từ mùa hè năm 1947, kháng chiến mở rộng, hàng chục vạn quần chúng thuộc mọi tầng lớp hăng hái gia nhập dân quân, tự vệ và du kích. Hàng nghìn làng kháng chiến bước đầu được xây dựng.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được đặc biệt coi trọng. Thực hiện Nghị quyết Hội nghị quân sự lần thứ 3 (6-1947), Bộ Tổng chỉ huy điều động cán bộ Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn, Trường  Quân  chính  về  thị  xã  Bắc  Kạn  mở  các  lớp  bồi  dưỡng cán bộ cơ sở. Hàng trăm cán bộ các cấp dược bổ túc về quân sự và chính trị. Tháng  8-1947, Bộ Tổng chỉ huy mở lớp bổ túc cán bộ Đảng cấp toàn quân tại xã La Bằng (huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên). Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự lễ khai mạc và huấn thị cho lớp học. Ngoài ra, nhiều khu tỉnh cũng mở các khoá đào tạo bồi dưỡng ngắn hạn cho cán bộ dân quân, tự vệ, du kích từ cấp tiểu đội đến đại đội.

Cùng với việc phát triển lực lượng dân quân du kích, phong trào  xung  phong  tòng  quân  cũng  diễn  ra  sôi  nổi  trong  thanh niên. Chỉ trong mùa hè năm 1947, đã có 35.000 thanh niên tình nguyện nhập ngũ, nâng tổng số bộ đội chủ lực từ 85.000 người (trước ngày toàn quốc kháng chiến) lên 125.000 người.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 29 Tháng Mười, 2011, 01:20:34 pm
c) về kinh tế

Nhà nước chủ trương xây dựng một nền kinh tế kháng chiến có khả năng tự cấp tự túc, phục vụ những nhu cầu thiết yếu của nhân dân vùng tự do, đồng  thời  đáp  ứng  được  những nhu cầu ngày  càng  lớn  của  chiến  trường.  Hội  nghị  cán  bộ  Trung  ương (từ ngày 3 đến ngày 6-4-1947) đề ra một chương trình kinh tế kháng chiến gồm hai mặt:

-  Phá  hoại kinh tế  địch bằng cách tẩy chay và quân sự phá

78
 
hoại;  làm  cho  địch  không  kinh  doanh,  bóc  lột  gì  được,  không thực hiện được chính sách "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh".

- Xây dựng kinh tế của ta, vừa kháng chiến vừa kiến quốc, lập nền kinh tế tự túc.

Hội  nghị  cán  bộ  Trung  ương  còn  đề  ra  phương  châm  xây dựng  nền  kinh  tế  phù  hợp  với  điều  kiện  chiến  tranh:  Chỉ  sản xuất  những  thứ  cần  dùng  cho  mặt  trận  và  đời  sống  của  nhân dân...  Về  các  ngành  kinh  tế  chú  trọng  nhất  là  nông  nghiệp, thương mại rồi mới đến kĩ nghệ (chú ý kĩ nghệ chế tạo vũ khí và khai thác)...

Quán  triệt  phương  châm  trên,  Chính  phủ  đề  ra  nhiều  chính sách quan trọng: Chính sách tăng gia sản xuất, thực hiện khẩu hiệu "Thực túc binh cường", "ăn no đánh thắng"; chính sách tiết kiệm và đồng cam cộng khổ; chính sách tôn trọng quyền tư hữu tài  sản  hợp  pháp  của  mọi  công  dân,  mọi  thành  phần  kinh  tế; chính sách điều hoà lợi ích...
Mặc dù có sự chuẩn bị từ trước, nhưng cuộc kháng chiến nổ
ra vẫn làm cho nền kinh tế bị đảo lộn. Sản xuất công nghiệp và thương mại ở các thành phố lớn bị ngưng trệ. Nông nghiệp cũng gặp  khó  khăn,  nhất  là  những  vùng  bị  địch  chiếm.  Trước  tình trạng  đó,  Trung  ương  Đảng  và  Chính  phủ  chỉ  đạo:  Phương hướng xây dựng kinh tế, phát triển sản xuất trong kháng chiến là chú trọng nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp và công nghiệp  quốc  phòng;  khuyến  khích  hình  thức  kinh  tế  cá  nhân, kinh tế hợp tác xã và kinh tế Nhà nước.

Trong nông nghiệp, nhiều chính sách và biện pháp lớn được ban  hành,  bao  gồm:  Chính  sách  toàn  dân  tăng  gia  sản  xuất, chính sách phát triển sản xuất gắn liền với chính sách ruộng đất, chính sách nhân công, chính sách cải  tiến  kĩ  thuật, chính sách bảo vệ sản xuất. Phong trào tăng gia sản xuất rầm rộ khắp nơi, góp  phần  thiết  thực  nâng  cao  tiềm  lực  kinh  tế  kháng  chiến. Riêng các vùng tự do, trong năm 1947, nhân dân ta đã cấy được
1.893.700  ha  lúa,  thu  được  2.194.000  tấn  thóc;  trồng  được
79
 
243.000 ha hoa màu, thu được 474.000 tấn, tăng 189% so với năm 19411.

Cùng với sản xuất nông nghiệp, trong những tháng đầu của cuộc  kháng  chiến  toàn  quốc,  những  xí  nghiệp  quốc  phòng  và dân  dụng  có  quy  mô  thích  hợp  đã  lần  lượt  được  xây  dựng  ở vùng  tự  do  và  vùng  căn  cứ  kháng  chiến.  Công  nghiệp  quốc phòng  là  hệ  thống  công  nghiệp  quan  trọng  nhất  trong  thời  kì kháng  chiến.  Ngay  từ  đầu  kháng  chiến,  trong  quá  trình  di chuyển cơ sở vật chất kĩ thuật đến căn cứ, Bộ Tổng chỉ huy đã xác  định  phương  hướng  tổ  chức  các  xí  nghiệp  quốc  phòng  là: Xây dựng một hệ thống các xưởng với nhiều thiết bị máy móc, công  nhân  để  chế  tạo,  sản  xuất  lớn;  xây  dựng  một  hệ  thống chuyên môn hoá, như sửa chữa vũ khí, đúc lựu đạn, nhồi lắp lựu đạn; xây dựng một số tổ, kíp sửa chữa nhỏ đi lưu động để sửa chữa vũ khí. Tính đến cuối năm 1946, ngành Quân giới đã có 20 cơ sở lớn và nhỏ với
2.500 công nhân. Đầu tháng 2-1947, Chính phủ ra quyết định thành  lập  Cục  Quân  giới  thay  cho  Cục  Chế  tạo.  Có  thể  nói, ngành  Quốc  phòng  đã  giải  quyết  thành  công  nhiều  vấn  đề  về nguyên vật liệu, kĩ thuật sản xuất, tổ chức quản lí, đào tạo cán bộ,  công  nhân.  Nhịp  độ  sản  xuất  vũ  khí,  đạn  dược  tăng  rất nhanh.  Tính  theo  trọng  lượng  tấn  và  lấy  chỉ  số  năm  1946   là
100, thì năm 1947, từ Liên khu IV trở ra là 707; năm 1948 là
1.044. Đến giữa năm 1947, ở các khu, tỉnh từ Bắc đến Nam đã xây dựng được 168 binh công xưởng, mỗi xưởng có từ 200 đến
500 công nhân. Ngoài các xưởng quân giới do Bộ Quốc phòng
tổ chức, còn có các xưởng vũ khí dân quân do các địa phương tự xây dựng và chỉ đạo. Riêng Liên khu Việt Bắc đã có tới 8 xưởng sản xuất vũ khí.

Song song với công nghiệp quốc phòng, Chính phủ Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà chủ trương phát triển công nghiệp dân dụng,



1. Dẫn theo Viện Sử học. Lịch sử Việt Nam 9-1945 - 1950... Sđd, tr. 181.
80
 
trong đó có một số cơ sở thuộc thành phần quốc doanh. Nhiệm vụ của các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh là cung cấp giấy bạc, giấy in, giấy viết vải xà phòng, bóng đèn... phục vụ các cơ quan dân chính và các yêu cầu dân sinh.

Ngành Thủ công nghiệp được xây dựng, phát triển với quy mô nhỏ phân tán, kết hợp công cụ sản xuất thô sơ với máy móc, dựa vào dân và nguyên liệu trong nước, địa phương tự lập, sản xuất tự cấp tự túc. Nhờ đó, ngay từ đầu ngành thủ công nghiệp đã  tập  trung  giải  quyết  những  mặt  hàng  tối  cần  thiết  như  dệt, giấy, ấn loát, xà phòng, chén, bát, chiếu, đường, nước mắm...



Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 29 Tháng Mười, 2011, 01:21:00 pm
Thương  nghiệp,  tiền  tệ,  giá  cả  đã  có  sự  chuyển  hướng  cho phù hợp với thời chiến. Đầu năm 1947, Chính phủ giao cho Nha Tiếp tế thuộc Bộ Kinh tế nhiệm vụ thu mua và dự trữ thóc gạo. Cơ  quan  Phân  phối  muối  (thuộc  Bộ  Tài  chính)  tổ  chức  vận chuyển muối của Nhà nước và muối trên thị trường tự do đưa về các khu an toàn.

Về tiền tệ, ngày 15-5-1947, Chính phủ ra Sắc lệnh số 48/SL cho  lưu  hành  bạc  Việt  Nam  (bạc  tài  chính)  trong  toàn  quốc. Khối lượng giấy bạc Đông Dương cũ của Pháp được ta thu về làm vốn trang trải cho Ngành Ngoại thương. Tuy nhiên, do hoàn cảnh  chiến  tranh,  nên  đã  hình  thành  các  khu  vực  tiền  tệ  riêng biệt.

Vùng tự do Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ lưu hành giấy bạc tài chính do Trung ương phát hành. Các tỉnh Khu V, chủ yếu là 4 tỉnh tự do (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên) lúc đầu lưu hành tiền tài chính Trung ương, đầu tháng 7-1947, theo Sắc lệnh số 231/SL-M ngày 18-7-1947, Chính phủ cho phép Uỷ ban kháng chiến miền Nam Trung Bộ được phát hành tín phiếu và lưu hành song song với tiền tài chính một thời gian (từ năm
1952, Chính phủ cho thu hồi bạc tài chính chỉ còn lưu hành tín phiếu). Ở Nam Bộ, do địch đánh toả ra sớm, nên tại các căn cứ kháng chiến những năm 1947, 1948, một số nơi lưu hành bạc tài chính Trung ương do Khu V chuyển vào. Ngày 11/1947, Chính
81
 
phủ  ra  Sắc lệnh  số  102/SL cho phép Nam Bộ  được  phát  hành một số loại tín phiếu có giá trị như giấy bạc Việt Nam.

d) về văn hoá, giáo dục, y tế

Đảng và Nhà nước chủ trương không để các hoạt động thuộc những  lĩnh  vực  trên  bị  đứt  đoạn  vì  chiến  tranh,  mà  phải  được tiếp  tục  phát  triển  và  phục  vụ  tốt  cho  sự  nghiệp  kháng  chiến, kiến quốc của dân tộc. Đảng và Chính phủ đã dành sự quan tâm
to lớn cho sự phát triển giáo dục, nâng cao dân trí, tạo điều kiện từng bước phát triển khoa học và kĩ thuật phục vụ kháng chiến. Nghị  quyết Hội  nghị  cán  bộ  Trung ương  lần  thứ  2  (từ  ngày  3 đến 6-4-1947) chỉ rõ: Động viên tất cả giới trí thức, văn nghệ sĩ tham  gia  kháng  chiến,  dùng  các  nhà  trí  thức  văn  hoá,  chuyên môn vào ngành công tác như quân giới, quân y, giáo dục, tuyên truyền kháng chiến, chú trọng mở mang giáo dục kháng chiến... Vừa kháng chiến, dân tộc ta vừa xây dựng một nền văn hoá mới, có tính chất hợp với tinh thần dân tộc độc lập, hợp với khoa học, tiến bộ, hợp với tình hình và trình độ của đông đảo quần chúng nhân dân. Đông đảo trí thức, văn nghệ sĩ ở mọi miền đất nước đã khoác ba lô lên đường kháng chiến. Mọi hoạt động văn hoá, văn nghệ đều hướng vào phục vụ kháng chiến theo khẩu hiệu: “Tất  cả  để  chiến  thắng".  Nhiều  truyện  ngắn,  phóng  sự,  nhạc phẩm, thơ ca được sáng tác, đề cao lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, niêm tin vào thắng lợi của kháng chiến. Các tác phẩm văn nghệ, Đài Phát thanh tiếng nói Việt Nam và báo chí ở các vùng tự do đã góp phần đắc lực vào công tác tuyên truyền chủ trương của Chính phủ, cổ vũ tinh thần kháng chiến của quân và dân ta, chống lại các luận điệu tuyên truyền phản động của địch.

Ngành  Giáo  dục  đã  có  một  bước  tiến  mới  về  nội  dung, phương hướng đào tạo trong điều kiện vừa kháng chiến vừa kiến quốc.  Hội  đồng  Chính  phủ  xác  định  phải  tổ  chức  lại  nền  giáo dục ngay trong thời kì chiến tranh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định phương châm giáo đục là học đi đôi với hành, tổ chức giáo dục chính là thực hiện kháng chiến bằng văn hoá; giáo dục là

82
 
văn  hoá  của  cuộc  kháng  chiến.  Yêu  cầu  của  sự  nghiệp  kháng chiến,  kiến  quốc  đòi  hỏi  phải  sửa  đổi  chương  trình  giáo  dục, phải biên soạn sách và sửa đổi cách dạy cho phù hợp. Nội đung chương trình và phương pháp đào tạo theo phương châm thiết thực là chính, nhưng phải đề cao chất lượng..



Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 29 Tháng Mười, 2011, 01:21:48 pm
Dù chiến tranh ngày càng ác liệt và việc tổ chức lớp học ngày càng khó khăn, nhưng chính quyền các cấp và các cơ quan giáo dục đã cố gắng duy trì hệ thống giáo dục trong vùng giải phóng. Nền  giáo  dục  kháng  chiến  được  tổ  chức  khá  đa  dạng  và  toàn diện. Ngoài báo dục hệ chính quy gồm các trường phổ thông và cao  đẳng,  đại  học  còn  có  hệ  bổ  túc  văn  hoá  và  hệ  thống  các trường chính trị, quân sự.
Phong trào Bình dân học vụ tiếp tục được duy trì và mở rộng. Năm  1947,  Khu  X  mở  được  153  lớp,  huấn  luyện  đào  tạo
3.745 giáo viên, động viên trên 1 30.000 học viên theo học các lớp Bình dân, gấp 5 lần so với số lượng học viên năm trước. Tại các tỉnh Liên khu V và Bình - Trị - Thiên. mặc dù bị địch bao vây bắn phá, nhưng các cấp chính quyền dân chủ nhân dân đã khắc phục khó khăn để bám đất, bám dân nhằm từng bước khôi phục  các  lớp  Bình  dân  học  vụ  theo  khẩu  hiệu  "Tay  bút,  tay súng",  "Diệt  dốt  xâm  lăng".  Đến  cuối  năm  1947,  cả  nước  đã thanh  toán  nạn  mù  chữ  cho  trên  1,2  triệu  người,  trong  đó  có nhiều làng, xã ở Hải Dương và Thái Bình được công nhận xoá xong nạn mù chữ.

Ngành  Giáo  dục  phổ  thông  phát  triển  khá  nhanh.  Tính  đến tháng 6-1947, số học sinh tiểu học ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ lên tới 147.000 em, tăng 47% so với tháng 12-1946. Nội dung giảng dạy và phương thức hoạt động trong các nhà trường phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc. Chế độ thi cử xác nhận bậc học của học sinh và tuyển chọn học sinh vào các  lớp  trên  được  duy  trì.  Tháng  4-1947,  Chính  phủ  ra  Nghị định mở kì thi Trung học và Tiểu học trong cả nước. Đến cuối năm 1947, đã có hàng nghìn trường tiểu học và trung học thu
83
 
hút hàng vạn con em nhân dân đến lớp học.

Việc chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân được chú ý.

Đảng và Chính phủ hết sức quan tâm đến công tác đào tạo đội  ngũ  cán  bộ  y  tế  phục  vụ  kháng  chiến,  phục  vụ  nhân  dân. Một số cơ sở đại học và trung học y - dược chuyển từ Hà Nội lên  Việt  Bắc  tiếp  tục  hoạt  động.  Mạng  lưới  y  tế  địa  phương, gồm các trạm cứu thương, trạm xá, phòng phát thuốc, bệnh xá, bệnh viện từng bước hình thành: Cuộc vận động thực hiện nếp sống vệ sinh được phát động thường xuyên.

Những  thành  tựu  về  các  mặt  nói  trên  tuy  mới  là  bước  đầu, nhưng đó là những nhân tố quan trọng đảm bảo cho quân và dân
ta  giành  thắng  lợi  trên  mặt  trận  quân  sự,  trước  mắt  là  đập  tan cuộc tấn công của giặc Pháp trong Thu - Đông 1947.

IV. Chiến dịch Việt Bắc thu - đông 1947.


1. Thực dân Pháp tiến công căn cứ địa kháng chiến Việt Bắc.

Cho đến giữa năm 1947, cuộc kháng chiến toàn quốc đã trải qua 5 tháng. Về cơ bản, chúng ta đã đạt được các mục tiêu chiến lược do Trung ương Đảng đề ra: "Địch thiệt hại khá nhiều ở Bắc Bộ... Chiến sự ở Nam Bộ và miền Nam Trung Bộ khá hơn trước. Quân du kích của ta ở đó hoạt động dữ, đã thu được nhiều kết
quả khá"1.

Về phía thực dân Pháp, ở Bắc Bộ, tuy đã được tăng viện lên
11 tiểu đoàn Âu - Phi từ Pháp sang, nhưng chúng cũng chỉ đủ sức chiếm giữ một số thành phố, thị xã (Hà Nội, Nam Định, Hải Dương, Hải Phòng). Trên con đường giao thông chiến lược nối liền Hà Nội với Hải Phòng, tuy địch đã sử dụng một lực lượng bảo vệ khá lớn, nhưng vẫn không ngăn chặn được hoạt động của quân  ta;  không  có  cuộc  hành  quân  nào  của  địch  trên  tuyến


1. Văn kiện quân sự của Đảng 1945 - 1954... Sđd, tr. 121.
84
 
đường này được an toàn.

Về phía ta, bộ đội chủ lực vẫn được bảo toàn và phát triển cả về số lượng và trình độ tác chiến. Cơ quan đầu não kháng chiến được bảo vệ an toàn. Thế trận chiến tranh nhân dân được củng cố  và  mở  rộng.  Như  vậy  là  âm  mưu  chiến  lược  đánh  nhanh thắng nhanh của thực dân Pháp bước đầu bị thất bại. Cuộc chiến tranh vẫn kéo dài và ngày càng mở rộng đã khiến cho thực dân Pháp lâm vào tình trạng khó khăn, quân số thiếu hụt. Số quân tăng viện nhỏ giọt từ Pháp sang không sao khắc phục được tình trạng phân tán, dàn mỏng lực lượng trên các chiến trường. Một bộ phận binh sĩ địch bắt đầu tỏ ra chán ghét chiến tranh. Những vụ phản chiến xuất hiện ở một số nơi. Trước tình hình trên, thực dân Pháp âm mưu kết hợp chặt chẽ giữa thủ đoạn chính trị và biện pháp quân sự. Về chính trị, chúng vừa cố tạo ra một chính quyền tay sai bản xứ, vừa tìm cách lôi kéo, lừa bịp quần chúng bằng  một  thứ  lí  tưởng  đối  lập  với  chủ  nghĩa  yêu  nước  chân chính.  Về  quân  sự,  chúng  vừa  bình  định  miền  Nam,  vừa  tập trung lực lượng lớn đánh đòn quyết định ở miền Bắc, hòng đè bẹp tinh thần và lực lượng kháng chiến của đối phương.

Trong phiên họp ngày 9-6-1947, Hội đồng phòng thủ Đông Dương thông qua trên nguyên tắc cuộc tiến công mùa thu 1947 với mục đích: bịt kín biên giới, ngăn chặn không cho Việt Minh tiếp xúc với Trung Quốc. . . loại trừ mọi sự chi viện từ ngoài vào;  truy  lùng  Việt  Minh  đến  tận  sào  huyệt,  đánh  cho  tan  tác
mọi tiềm lực kháng chiến của họ”1. Sau một thời gian ráo riết chuẩn  bị,  đến  đầu  tháng  9-1947,  kế  hoạch  tiến  công  lớn  trên chiến trường Bắc Bộ của Bộ chỉ huy Pháp càng lộ rõ. Ngày 10-
9-1947, tại Hà Đông, trong một bài diễn văn bằng những lời lẽ lừa bịp, lắt léo Bôlaec (Bollaert) thay mặt Chính phủ Pháp tuyên bố không có lí do gì để kéo dài chiến tranh, nhưng vẫn ngoan cố



1. Xalăng: Một đế quốc cáo chung: Việt Minh - địch thủ của tôi. T 2. Bản
dịch, tr.74.
85
 
không  công  nhận  độc  lập  của  Việt  Nam,  không  công  nhận Chính phủ Hồ Chí Minh. Như vậy, thực dân Pháp có ý đồ kết thúc  cuộc  chiến  tranh  bằng  một  cuộc  tiến  công  quân  sự  chớp nhoáng.



Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 29 Tháng Mười, 2011, 01:25:01 pm
Kế  hoạch  tiến  công  Việt  Bắc  do  Xalăng  (Salan),  Tư  lệnh chiến trường Bắc Đông Dương vạch ra, đến tháng 7-1947, được Chính phủ Pháp phê chuẩn. Kế hoạch này trước hết nhằm bao vây,  tiến  tới  tiêu  diệt  cơ  quan  đầu  não  kháng  chiến,  tiêu  diệt phần  lớn  bộ  đội  chủ  lực  của  ta  để  nhanh  chóng  kết  thúc  cuộc chiến tranh; dùng thắng lợi quân sự để xúc tiến thành lập chính phủ bù nhìn toàn quốc Đánh lên Việt Bắc, thực dân Pháp còn nhằm  khoá  chặt  biên  giới  Việt  -  Trung,  ngăn  chặn  con  đường liên lạc giữa cách mạng Việt Nam với quốc tế.

Lực  lượng  Pháp  tung  ra  trong  cuộc  tiến  công  gồm  5  trung đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn dù, 2 tiểu đoàn pháo binh và 2 tiểu đoàn công binh; tất cả là 12.000 quân.

Kế hoạch tấn công của địch lên Việt Bắc được thể hiện trên hai bước:

Bước 1 : Một cuộc hành quân mang mật danh LEA, tập trung càn quét ở vùng Chợ Đồn, Bắc Kạn, Chợ Mới (nay thuộc tỉnh Bắc Kạn) :

+ Ngày 7-10, nhảy dù xuống Bắc Kạn, Chợ Mới; ngày 8-10 xuống Chợ Đồn và càn quét các vùng xung quanh; ngày 9-10, hai  cánh  quân  ở  Bắc  Kạn  và  Chợ  Đồn  sẽ  gặp  nhau  ở  Bản  Pè (cách Bắc Kạn 20 km trên hướng Bắc Kạn - Chợ Đồn).

+ Ngày 10-10, chiếm Cao Bằng, rồi từ Cao Bằng tiến xuống Bắc Kạn (dự kiến ngày 12), sau đó từ Chợ Đồn tiến ra Đài Thị (Chiêm Hoá, Tuyên Quang), liên lạc với cánh quân hướng tây (Đường số 2 - sông Lô) vào ngày 13.

+ Sau khi hoàn thành tổ chức phòng thủ ở Chợ Mới (dự kiến ngày 11) sẽ tiến hành càn quét và tuần tiễu trên Quốc lộ số 3 . . .


86
 
- Bước 2: Một cuộc hành quân mang mật danh Clo - Clo, dự
kiến:

+ Chiếm Chợ Chu (dự kiến ngày 14-10) từ nhiều hướng: Từ Bắc Kạn, Chợ Mới tiến về, nhảy dù trực tiếp xuống Chợ Chu (l đại đội) và nhảy dù xuống phía nam Chợ Chu, khoá đường Chợ Chu - Thái Nguyên.
+ Sau đó sẽ càn quét trong vùng, tuỳ theo tin tình báo... 1  .

Thực hiện kế hoạch trên, từ ngày 7-10, cuộc hành quân mang mật danh "LEA" bắt đầu được triển khai:

- Khoảng 8 giờ 15 phút sáng 7-10-1947, binh đoàn quân dù do  Trung  tá  Xôvanhắc  (Sauvagnac)  chỉ  huy  lần  lượt  đổ  quân xuống  thị  xã  Bắc  Kạn,  nơi  chúng  nghi  có  cơ  quan  đầu  não kháng chiến. Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, chúng thả tiếp một bộ phận quân dù xuống thị trấn Chợ Mới nhằm khống chế tuyến đường Thái Nguyên đi Bắc Kạn và lấy đó làm nơi tập kết những đạo quân lùng sục cơ quan đầu não kháng chiến của ta. Ngày hôm sau (8-10), chúng cho quân nhảy dù xuống Chợ Đồn (Bắc Kạn).

Trên đường bộ, sáng 7-10-1947, binh đoàn bộ binh thuộc địa do Trung tá Bôphơrê (Beaufré) chỉ huy, xuất phát từ Lạng Sơn theo Đường số 4 tiến lên chiếm Cao Bằng, rồi một bộ phận tiến xuống  Bắc  Kạn,  vòng  sang  Chợ  Đồn,  lên  Chiêm  Hoá  (Tuyên Quang), hình thành một gọng kìm lớn ở hướng đông bắc.

Ngày 9-10, binh đoàn hỗn hợp bộ binh thuộc địa và lính thuỷ đánh bộ, do Trung tá Commuynan (Communal) chỉ huy, từ Hà Nội theo sông Hồng lên Việt Trì (ngày 11-10), rẽ sang sông Lô lên  Tuyên  Quang  (ngày  13-10)  và  đến  Khe  Lau  (nơi  hợp  lưu giữa sông Lô và sông Gâm), quân Pháp ngược dòng sông Gâm


1.  Dẫn  theo:  Lịch  sử  Bộ  Tổng  Tham  mưu  trong  kháng  chiến  chống  Pháp
(1945-1954). Ban Tổng kết - Biên soạn lịch sử Bộ Tổng Tham mưu. 1991, tr.
199.
87
 
lên Chiêm Hoá. Hai cánh quân thuỷ, bộ sẽ gặp nhau tại Đài Thị
(cách Chiêm Hoá 12 km về phía đông bắc).

Như  vậy,  khu  vực  càn  quét,  đánh  phá  của  địch  nằm  trong vùng tứ giác Tuyên Quang - Đài Thị - Bắc Kạn - Thái Nguyên, rộng khoảng 3.600 km2; trong đó, khu vực trọng điểm là Bắc Kạn - Chợ Chu - Chợ Mới. Cơ quan lãnh đạo kháng chiến tập trung ở phía tây nam Chợ Chu sát trung tâm càn quét của địch, nằm trong tình thế bị uy hiếp.



Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 29 Tháng Mười, 2011, 01:25:22 pm
2- Quân và dân ta chiến đấu chống cuộc tiến công Việt Bắc của địch

Ngày  15-9-1947,  Ban  Thường  vụ  Trung  ương  Đảng  ra  bản Chỉ thị: Bôlaec nói gì - Ta phải làm gì?. Sau khi vạch trần âm mưu của Bôlaec, Chỉ thị nêu những nhiệm vụ cần kíp của quân và dân ta. Ban Thường vụ Trung ương nhắc nhở quân và dân cả nước tích cực chuẩn bị đối phó với cuộc tiến công Thu - Đông của giặc Pháp, ra sức làm vườn không nhà trống, xây dựng làng chiến đấu và mở rộng tuyên truyền, vận động binh lính địch.

Từ ngày 27 đến ngày 29-9-1947, Bộ Tổng chỉ huy triệu tập Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ 4 để thống nhất nhận định về hướng tiến công của địch. Hội nghị nhận định: "Bắc Bộ sẽ là chiến  trường  chính,  nếu  địch  không  mạo  hiểm  thì  đánh  đồng bằng, nếu mạo hiểm thì chúng sẽ đánh Việt Bắc... Tấn công lên Việt Bắc, chúng sẽ chiếm các tỉnh Phúc Yên, Thái Nguyên, Phú Thọ, Tuyên Quang, nối liền đường Hà Nội - Lạng Sơn..." 1.Hội nghị chủ trương nắm vững bộ đội, giữ gìn chủ lực, tiêu diệt từng
bộ phận quân địch, bảo vệ căn cứ, thực hiện phối hợp giữa các khu  và  phối  hợp  chiến  lược  toàn  quốc,  phá  âm mưu  lập  ngụy
quyền của địch; kiên quyết thực hiện đánh du kích chiến và vận
động chiến, dùng đơn vị đại đội để hoạt động trên chiến trường



1. Dẫn theo: Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945 - 1954.
Tập 1. Sđd, tr. 313.
88
 
của mỗi địa phương, tập trung từng tiểu đoàn chủ lực cơ động đánh vận động chiến, tránh phòng ngự chính diện, bộ đội phải ở lại sau lưng địch, hoá chỉnh vi linh, hoá linh vi chỉnh, hoá trang lẫn vào dân khi cần. . .

Ngày 4-10-1947, Bộ Tổng chỉ huy ra mệnh lệnh gửi các Khu, khẳng định "thế nào địch cũng có những cuộc hành binh lớn"; có thể “quét vùng đồng bằng Bắc Bộ, đánh lên căn cứ địa Việt Bắc". Mệnh lệnh nêu rõ phương án tác chiến dối với từng tình huống và dự kiến nếu đánh Việt Bắc, hướng tiến công của địch
sẽ  là  Phúc  Yên,  Thái  Nguyên,  Phú  Thọ,  Tuyên  Quang,  Vĩnh Yên;  hướng  kiềm  chế  hay  phối  hợp  ở  phía  tây  là  vùng  Hoà Bình, Sơn La; phía Đông là Bắc Giang, Lạng .Sơn. Bộ Tổng chỉ huy giao nhiệm vụ cho các Khu I, X, XII và các đơn vị chủ lực thuộc  Bộ  sẵn  sàng  đón  đánh  địch,  đồng  thời  chỉ  thị  cho  các chiến trường toàn quốc đánh mạnh để kiềm chế địch, phối hợp với Việt Bắc.

Tối 7-10-1947, Ban Thường vụ Trung ương Đảng điện cho các  Khu  uỷ  và  Quân  khu  uỷ:  "Sáng  ngày  7-10,  Pháp  nhảy  dù chiếm Bắc Kạn, Chợ Mới, mưu tấn công Việt Bắc. Vậy Đoàn thể ra lệnh cho các Khu uỷ và Quân khu uỷ tích cực chỉ huy bộ đội định mạnh để chia sẻ lực lượng địch và phá kế hoạch mùa khô của chúng" 1.

Ngày  9-10-1947,  Ban  Thường  vụ  Trung  ương  Đảng  ra  Chỉ thị cần kíp gửi các đồng chí Tỉnh uỷ Bắc Kạn và các đồng chí phụ trách  quân, chính, dân Bắc Kạn. Bản Chỉ thị nêu lên nhiệm vụ  trước  mắt  của  tỉnh  lúc  này  là  dùng  lực  lượng  bộ  đội,  dân quân  du  kích  và  toàn  dân  bao  vây  địch  chung  quanh  tỉnh  lị, "giam chân địch ở đó, không cho chúng chiếm toả ra, đặc biệt ngăn địch trên mấy đường này: Đường Bắc Kạn - Chợ Đồn, Bắc Kạn - Chợ Rã, Bắc Kạn - Cao Bằng, Bắc Kạn - Chợ Mới, Bắc



1.  Dẫn  theo:  Lịch  sử  Bộ  Tổng  Tham  mưu  trong  kháng  chiến  chống  Pháp.
Sđd, tr. 192.
89
 
Kạn  -  Na  Rì,  Bắc  Kạn  -  Chợ  Chu”  1.  Ngày  15-10-1947,  Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra bản Chỉ thị Phải phá tan cuộc cuộc tấn công mùa đông của giặc Pháp. Chỉ thị vạch rõ phương hướng  hành  động  cụ  thể  của  quân  và  dân  ta  là  bao  vây  giam chân địch tại những căn cứ chúng vừa chiếm, triệt để làm vườn không  nhà  trống  chung  quanh  chỗ  địch  chiếm  đóng;  chặt  đứt giao thông liên lạc giữa các cứ điểm của địch, không cho chúng tiếp ứng và tiếp tế.

Nghiên cứu thế và lực của ta và địch trên chiến trường, Bộ Tổng chỉ huy quyết định tập trung lực lượng đánh địch trên ba mặt trận:

- Ở mặt trận Sông Lô - Chiêm Hoá, quân và dân ta liên tục chặn  đánh  địch;  điển  hình  là  các  trận  Đoàn  Hùng,  Khoan  Bộ, Khe Lau. Nhiều tàu chiến, ca nô địch bị bắn cháy.

- Trên mặt trận Đường số 4 diễn ra nhiều trận phục kích, tiêu biểu là trận đánh tại đèo Bông Lau (30-10-1947): Phá huỷ 27 xe cơ giới, diệt và bắt 240 địch, thu nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng. Đây là trận đánh giao thông điển hình trên chiến trường Bắc Bộ. Đường số 4 bị uy hiếp, trở thành con đường chết đối với giặc Pháp.

- Ở mặt trận Đường số 3, tại Bắc Kạn, Chớ Mới, quân và dân
ta nhanh chóng khắc phục tình trạng bị động, lúng túng ban đầu, hình thành thế trận bao vây, chia cắt địch. Sau khi Bộ Tổng chỉ huy và Bộ chỉ huy Khu I điều thêm lực lượng về Bắc Kạn, hoạt động của quân ta tại mặt trận này tăng dần lên. Các đại đội độc lập cùng dân quân, tự vệ liên tiếp tập kích, quấy rối các vị trí Chợ Đồn, Ngân Sơn, Chợ Rã, Bạch Thông; phục kích địch trên các  trục  đường  Bắc  Kạn  đi  Chợ  Đồn,  Phủ  Thông,  Chợ  Mới.



1. Văn kiện Đảng 1945 - 1954. T2. Q1: 1946 - 1948. Ban nghiên cứu lịch sử
Đảng trung ương, Hà Nội, 1979, tr. 131.


90
 
Vừa  đánh  địch,  ta  vừa  khẩn  trương  tổ  chức  di  chuyển  các  cơ quan,  công  xưởng,  kho  tàng  đến  những  nơi  an  toàn.  Phối  hợp với  Việt  Bắc,  quân  và  dân  cả  nước  đẩy  mạnh  các  hoạt  động kiềm chế địch. Ở Hà Nội, Sài Gòn, những tên Việt gian đầu sỏ Trương  Đình  Tri,  Nguyễn  Văn  Sâm  lăm  le  đứng  ra  lập  chính phủ bù nhìn, đã bị trừng trị đích đáng.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 29 Tháng Mười, 2011, 01:25:42 pm
Quân và dân Nam Bộ liên tiếp diệt từng tốp lính địch. Tây Nguyên phát triển công tác vũ trang tuyên truyền, gây dựng cơ sở đến tận buôn làng, thành lập căn cứ kháng chiến ở nhiều nơi. Đồng bằng sắc Bộ thực hiện tổng phá tề khu vực dọc Đường số
5.

Trước  tình  thế  bế  tắc,  Bộ  chỉ  huy  Pháp  quyết  định  vừa  tổ chức  rút  lui  vừa  huy  động  thêm  lực  lượng  cùng  với  các  lực lượng đã tham gia Kế hoạch LEA mở cuộc càn quét khu tứ giác Tuyên Quang - Thái Nguyên - Việt Trì - Phủ Lạng Thương, trên một  phạm  vi  rộng  hơn  8.000  km2.  Kế  hoạch  này  mang  tên Xanhtuya (Ceinture), nhằm tiếp tục "lùng bắt kì được cơ quan đầu não kháng chiến, tiêu diệt chủ lực Việt Minh, phá nát căn cứ địa".  Hướng  càn  quét  chủ  yếu  của  địch  là  Thái  Nguyên,  hai hướng khác là Sông Thương - Yên Thế và khu vực Chợ Mới - Tuyên Quang xuống đồng bằng. Ngày 20-11, đợt tiến công mới của địch bắt đầu.

Nhận thấy hiện tượng địch chuẩn bị rút quân, ngày 10 và 29-
11, Bộ Tổng chỉ huy kịp thời chỉ thị cho các mặt trận bố trí lại lực lượng, bám sát hoạt động của địch, không bỏ lỡ thời cơ diệt địch,  chống  khuynh  hướng  "ăn  to", coi  thường  trận  nhỏ;  đồng thời  phát  động  rộng  rãi  phong  trào  khắp  nơi  đánh  giặc,  khiến cho quân Pháp đi tới đâu cũng bị chặn đánh.

Trên tất cả các hướng địch hành quân, chúng đều bị quân ta chặn  đánh  quyết  liệt  Tại  các  địa  điểm:  Bình  Ca,  La  Hoàng (Tuyên  Quang),  Đèo  Giàng  (Bắc  Kạn),  Quán  ông  Già,  Phú Minh, Bản Ngoại, Yên Rã
(Đại  Từ,  Thái  Nguyên)  đều  vang  lên  tiếng  súng  diệt  địch.
91
 
Các  cánh  quân  Pháp  đều  bị  thiệt  hại  nặng  nề  trên  đường  rút chạy.

Do không đạt được mục tiêu của cuộc tấn công, lại bị thiết hại nặng nề , ngày 21-12-1947, đại bộ phận quân Pháp phải rút khỏi Việt Bắc, đánh đấu thất bại chiến lược đầu tiên trong cuộc chiến tranh xam lược của chúng.

Trải qua 75 ngày đêm chiến đấu dũng cảm, vận dụng nghệ thuật  tác  chiến  của  chiến  tranh  nhân  dân  một  cách  sáng  tạo, quân và dân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 6.000 địch, bắn rơi 16 máy bay; bắn cháy, bắn chùn 11 ca nô, tàu chiến; phá huỷ hàng trăm xe quân sự; tịch thu của địch hơn 100 khẩu pháo, súng cối các loại, hàng ngàn súng bộ binh cùng với hàng chục tấn  quân  trang,  quân  dụng.  Việt  Bắc  trở  thành  mồ  chôn  giặc Pháp.

Mặc dù quân Pháp còn kiểm soát đoạn đường biên giới Lạng Sơn - Cao Bằng, tuyến Đường số 3 từ Cao Bằng về Bắc Kạn và phá hoại được một số kho tàng, thị trấn, làng bản của ta, nhưng chúng đã không thực hiện được những mục tiêu chiến lược của cuộc tiến công.

Sau thất bại trong Chiến dịch Việt Bắc, tinh thần chiến đấu của  binh  lính  Pháp  sa  sút,  giảm  lòng  tin  vào  sự  chỉ  huy  và phương tiện chiến tranh hiện đại. Giới cầm quyền thực dân lục đục, mâu thuẫn; nước Pháp đứng trước những khó khăn mới.

Chiến thắng Việt Bắc chứng minh đường lối kháng chiến do Đảng  và  Chính  phủ  đề  ra  là  đúng  đắn;  đồng  thời  cũng  khẳng định quân và dân ta hoàn toàn có khả năng đập tan một cuộc tấn công quân sự quy mô lớn của giặc Pháp.

Từ  sau  chiến  thắng  Việt  Bắc  thu  -  đông  1947,  so  sánh  lực lượng  giữa  hai  bên  trên  chiến  trường  đã  có  sự  thay  đổi  theo chiều  hướng  ngày  càng  có  lợi  cho  ta.  Chiến  lược  đánh  nhanh thắng  nhanh,  với  đòn  quyết  định đè  bẹp  đối phương,  kết  thúc chiến tranh, dựng lại nền thống trị của thực dân Pháp đã hoàn

92
 
toàn phá sản. Từ đó, thực dân Pháp buộc phải chấp nhận đánh lâu dài với ta.
Cũng qua cuộc đọ sức này, quân và dân ta càng hiểu rõ hơn
đối tượng tác chiến, tích luỹ thêm kinh nghiệm chiến đấu.

Chiến thắng Việt Bắc thu - đông 1947 là thắng lợi chung của quân và dân cả nước, cổ vũ mạnh mẽ toàn quân và toàn dân ta tiếp tục đẩy mạnh cuộc kháng chiến, giành thắng lợi ngày càng
to lớn hơn.



Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 29 Tháng Mười, 2011, 01:26:04 pm
V-  Đẩy  mạnh  kháng  chiến  toàn  dân,  toàn  diện  chống  thực dân Pháp xâm lược


1. Âm mưu của thực dân Pháp sau thất bại ở Việt Bắc

Sau  thất  bại  trong  cuộc  tấn  công  Việt  Bắc,  thực  dân  Pháp buộc phải chuyển sang đánh lâu dài với ta. Chúng thay đổi lại việc  bố  trí  lực  lượng,  thay  đổi  cách  đóng  quân,  thực  hiện  âm mưu "Dùng người Việt đánh người Việt", "Lấy chiến tranh nuôi chiến  tranh".  Trong  vùng  Pháp  chiếm đóng,  chúng  ra  sức  xây dựng chính quyền bù nhìn và thành lập một đội quân người bản xứ để làm công cụ phục vụ cho cuộc chiến tranh xâm lược.

Ngày 23-5-1948, Pháp chấp nhận đề nghị của Bảo Đại lập ra “chính phủ trung ương lâm thời của Việt Nam", do Nguyễn Văn Xuân  làm  Thủ  tướng  kiêm  Bộ  trưởng  Ngoại  giao  và  Quốc phòng. Nhưng chỉ chưa đầy một tháng sau khi thành lập, Chính phủ Nguyễn Văn Xuân đã phải làm lễ từ chức vì quá yếu kém và thối nát. Từ năm 1949, tình hình quốc tế có nhiều thay đổi, đặc biệt là sự ra đời nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (1-10-
1949) đã làm cho đế quốc Mĩ lo sợ ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng  sản  ở  khu  vực  châu  Á,  nên  tiến  cách  ép  Pháp  phải  nới thêm quyền cho Bảo Đại; đồng thời tăng cường can thiệp sâu vào  cuộc  chiến  tranh  Đông  Dương.  Ngày  8-3-1949,  tại  điện Êlydê (Élyséc) ở Phu, Tổng thống nước Cộng hoà Pháp kí với Bảo Đại một hiệp định dưới hình thức trao đổi thư. Theo hiệp
93
 
định  này,  Pháp  khẳng  định  Việt  Nam  có  toàn  quyền  cai  trị nhưng  phải  có  cố  vấn  chính  trị  Pháp  bên  cạnh;  Việt  Nam  có quân đội riêng nhưng do người Pháp huấn luyện; quân đội Pháp có quyền đóng trên
đất việt Nam và được toàn quyền tự do hành động; chính phủ Bảo  Đại  chỉ  được  lập  Đại  sứ  quán  tại  Thái  Lan,  Trung  Hoa Quốc dân đảng và Toà thánh Vaticăng...

Ở trong  nước,  chính  phủ  bù  nhìn  có  một  số  hoạt  động  như củng cố lại Bộ Tư pháp, quy định sự hạn chế của Sở Kinh tế, đặt một số loại thuế mới, mở phòng thông tin; đồng thời mở chiến dịch tuyên truyền nhằm nâng cao uy tín cho Bảo Đại, cử phái đoàn sang Pháp để đón Bảo Đại về nước. Trong tháng 5 và 6-
1949, chính phủ bù nhìn từ cấp trung ương xuống đến xã và các "xứ tự trị" đều tập trung gây uy tín cho Bảo Đại. Ở một số nơi, chúng  tổ  chức  phát  gạo,  vải,  quần  áo  cho  dân  nghèo,  phóng thích một số phạm nhân, tổ chức mít tinh, diễn thuyết ca ngợi Bảo Đại.

Đứng trước tình hình nội bộ mâu thuẫn, các phe phái tranh giành quyền lực, ngày 1-7-1949, Bảo Đại đứng ra lập chính phủ,
tự xưng là Quốc trưởng kiêm Thủ tướng "Quốc gia Việt Nam"; Nguyễn Văn Xuân làm Phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng. "Cái Quốc gia Việt Nam " này không có cơ sở nhân dân, không có Quốc hội, ngay một Quốc hội tư vấn cũng không có, không  có  Hiến  pháp  và  trong  nhiều  năm,  không  có  cả  ngân sách.  Một  vài  cái  gọi  là  Đảng  chính  trị  của  nó  chỉ  là  những đoàn thể, những bè phái lộng quyền, những môn khách của các nhân vật tai mắt. Nó hoàn toàn phụ thuộc vào quân đội, cảnh
sát và ngân khố của nước Pháp" 1. Sau khi thành lập chính phủ, Bảo Đại đã kí một số đạo dụ, trong đó có Đạo dụ số 1 (l-7-1949)
về tổ chức và điều hành các cơ quản công quyền ở Việt Nam và
Đạo  dụ  số  2  (1-7-1949)  về  Quốc  hội  lập  hiến,  Quốc  trưởng,



1. Philippe Devillers: Paris - Sài Gòn - Hà Nội... Sđd, tr. 493.
94
 
Chính phủ và Hội đồng tư vấn. Đạo dụ số 2 còn quy định: Về phương diện hành chính, lãnh thổ Việt Nam có 3 phần: Bắc Kì, Trung, Nam Việt Tại mỗi phần có Thủ hiến đại diện cho Chính phủ Trung ương, có các cấp hành chính tỉnh, quận, tổng, xã...
Ngày 21-1-1950, trước sức ép của Mĩ, Pháp để cho Bảo Đại thành lập chính phủ mới do Nguyễn Phan Long làm Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Bộ Ngoại giao và Nội vụ. Phan Huy Quát làm Phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Bộ Quốc phòng.

Cũng giống như chính phủ Nguyễn Văn Xuân trước đây, chỉ một thời gian ngắn sau khi thành lập, chính phủ Nguyễn Phan Long đã phải giải tán do quá ngả theo Mĩ và nội bộ mâu thuẫn tranh  giành  nhau  về  địa  vị  và  quyền  lợi.  Ngày  6-5-1950,  một chính phủ mới được thành lập, do Trần Văn Hữu làm Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao và Quốc phòng.

Cùng với việc thành lập chính phủ bù nhìn trung ương, thực dân tháp tăng cường bộ máy chính quyền tay sai cấp cơ sở.

Tại  cấp  tỉnh,  đến  đầu  năm  1948,  tất  cả  các  tỉnh  lị  bị  Pháp chiếm  đóng  đều  đã  lập  Hội  đồng  an  dân.  Quyền  hạn  của  Hội đồng an dân được nới rộng hơn so với trước. Theo quy định của cuộc họp Hội nghị hành chính ngày 8-11-1947 của Hội đồng an dân, các chức vụ Đại lí, Chủ tịch, Tổng đốc từ nay được gọi là Tỉnh trưởng cai quản một tỉnh, quận trưởng cai quản một huyện, đồng thời có một cố ván người Pháp ở bên cạnh.

Ở  các  tỉnh  và  thành  phố  lớn  như  Hải  Phòng,  Hải  Dương, Nam Định,  Quảng  Bình,  Quảng  Trị,  Khánh  Hoà,  Ninh  Thuận, Bình thuận, Long An..., Pháp đặt Toà cố vấn chính trị bên cạnh Toà tỉnh trưởng. Giúp việc cho Toà tỉnh trưởng có các phòng và các sở chuyên môn như: Sở Đoàn (Sở thuế), Sở Ngoại kiều, Sở Địa  chính,  Sở  Kinh  tế,  Sở  Kho  bạc,  Sở  Cảnh  sát...  Ở các  tỉnh nhỏ thường không có Toà cố vấn chính trị, mà những viên quan chỉ huy quân sự người Pháp của một khu vực (secteur) hay một vùng (zone) trực tiếp ra mệnh lệnh cho Tỉnh trưởng thi hành các quyết định, chỉ thị của Pháp.
95
 
Tại cấp huyện, ở những nơi Pháp chưa lập được các hội tề thì gọi  là  Huyện  trưởng  hay  Trưởng  khu  (Chef  secteur).  Còn  ở những nơi đã lập xong hội tề thì gọi là Quận trưởng, có nơi gọi
là Tri huyện hay Tri phủ.

Ở cấp tổng, thời gian này Pháp cho đặt lại chức Chánh tổng, Phó tổng; có nơi đặt thêm chức Tuần tổng hay Chánh, Phó tổng đoàn.

Ở các xã, thực dân Pháp kết hợp các hoạt động quân sự với việc dụ dỗ, lừa phỉnh, mua chuộc nhân dân để thành lập hội tề. Hội  tề  lấy  tên  là  Hội  đồng  hương  chính,  thành  phần  gồm  có: Tiên chỉ, Thứ chỉ, Lí trưởng, Phó lí, Thư kí, Thủ quỹ, Trương tuần. Nhiệm vụ của Hội đồng hương chính chủ yếu về kinh tế và xã hội, trông nom trật tự trị an, canh phòng, kê khai số trâu bò, thóc  gạo,  nhân  khẩu  trong  xã,  thi  hành  những  mệnh  lệnh  của Pháp, tiếp tế và do thám chỉ điểm cho Pháp. Thông qua hội tề, thực dân Pháp nhằm chia rẽ khối đoàn kết toàn dân, gây cơ sở và thanh thế cho chính phủ bù nhìn. Hội tề còn là tai, mắt, dò xét cơ sở kháng chiến. Ngoài ra, hội tề còn giúp Pháp tuyển mộ binh lính và làm tấm bình phong bảo vệ đồn bốt.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 29 Tháng Mười, 2011, 01:26:25 pm
Bằng những hoạt động càn quét, khủng bố gắt gao kết hợp với những thủ đoạn mua chuộc, lừa bịp, thực dân Pháp đã lập được hội tề ở rất nhiều nơi. Tính đến tháng 2-1948, ở Hà Đông đã  có  74  làng  lập  hội  tề;  trong  tỉnh  Hải  Dương,  huyện  Cẩm Giàng có 81 xã, huyện Kim Thanh có 12 xã, huyện Bình Thanh có 5 xã, huyện Gia Lộc có 9 xã... lập hội tề. Có thể nói, hầu hết các địa phương bị thực dân Pháp chiếm đóng đã lập hội tề.

Như vậy, cho đến đầu năm 1948, cùng với việc tăng cường bình định củng cố những vùng đã chiếm đóng, thực dân Pháp mở rộng đánh chiếm các vùng đồng bằng và một số tỉnh vùng trung  du  Bắc  Bộ,  vùng  ven  biển  Trung  Bộ,  Nam  Bộ  và  cao nguyên  Trung  Bộ.  Đánh  chiếm  tới  đâu,  chúng  tiến  hành  lập chính quyền bù nhìn tới đó. Nhằm chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, thực dân Pháp ráo riết thực hiện chính sách chia để trị. Từ tháng
96
 
4 đến tháng 7-1948,
chúng thành lập các "xứ tự trị " ở các vùng dân tộc thiểu số: Xứ Nùng tự trị (4-1948) ở vùng Tiên Yên, Móng Cái; Liên bang Thái (4-1948) ở Sơn La, Lai Châu; Xứ Mường tự trị (5-1948) ở Hoà Bình; Xứ Tây Kì tự trị (6-1948) ở Tây Nguyên; Liên bang Tày (7- 1948) ở Cao Bằng, Lạng Sơn. Đứng đầu các "xứ tự trị"
là các thổ ty, lang đạo, nhưng quyền hành thực tế vẫn nằm trong tay những cố vấn người Pháp. Cùng với việc thành lập các "xứ
tự trị", Pháp còn cho lập các "Đội nghĩa binh áo chàm", các "đội quân tự trị", phong cấp bậc cao cho những tên cầm đầu. Chúng tìm cách lôi kéo, mua chuộc các đạo Cao Đài, Hoà Hảo và một bộ phận của Bình Xuyên, sử dụng lực lượng vũ trang tôn giáo chống  lại  kháng  chiến.  Đầu  năm  1950,  theo  lệnh  của  Pháp, chính phủ bù nhìn tiến hành cải cách hành chính từ cấp xã lên cấp quận. Tổ chức hành chính trong xã được quy định như sau: Mỗi xã gồm một Xã uỷ (trước gọi là Lí trưởng) một Phó xã uỷ (trước là Phó lí) đảm nhiệm công việc hành chính trong xã, quan hệ trực tiếp với các cấp Tổng, Bang, Quận tuỳ theo từng trường hợp công việc. Đối với những xã có nhiều thôn hay nhiều xóm thì bầu thêm Trưởng thôn và Trưởng xóm để giúp Chánh và Phó xã uỷ. Ngoài ra còn có Thư kí giúp việc văn phòng cho Xã uỷ, Hộ lại trông coi việc hộ tịch, Chưởng bạ phụ trách việc điền thổ kiến  diện. Bên cạnh Chưởng  bạ  thành lập  một  Hội  đồng  nông biểu, có Chủ tịch, Phó Chủ tịch là Hội trưởng và Hội phó, một thư kí kiêm thủ quỹ. Ở mỗi xã còn thành lập một Hội đồng quản trị hành chính. Bên cạnh Hội đồng quản trị hành chính có Ban
tư vấn xã với số nhân viên không quá 10 người. Ban tư vấn có nhiệm vụ đề xuất sáng kiến cho Hội đồng quản trị hành chính.

Mỗi tổng có một Tổng uỷ (trước gọi là Chánh tổng) và Tổng tuần do các xã bầu lên. Giúp việc có 1 thư kí văn phòng và 1 thư
kí  kế  toán  lo  việc  sổ  sách  thu  chi  và  phụ  cấp  hằng  tháng  cho tổng dũng. Ngoài ra còn có 1 Trưởng ban Bình dân giáo dục, 1
Phó  Trưởng  ban  và  4  kiểm  soát  viên  Bình  dân  giáo  dục.  Bên cạnh Tổng uỷ có một  Hội đồng tư vấn để giải quyết  mọi  việc

97
 
trong tổng và làm cố vấn cho Tổng uỷ và Tổng tuần.

Bên cạnh việc cải cách hành chính, chính quyền bù nhìn còn tiến hành nhiều biện pháp củng cố bộ máy chính quyền các cấp. Chúng  cho  quân  lính  tăng  cường  lùng  sục  bắt  bớ,  cưỡng  ép thanh niên đi lính cho Pháp; đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền để  nâng  cao  uy  tín  cho  Bảo  Đại.  Mặt  khác,  thực  dân  Pháp  và chính  quyền bù nhìn  đã  thành  lập nhiều  tổ  chức  chính  trị, tôn giáo, đảng phái phản động để phá hoại kháng chiến, gây chia rẽ, mất  đoàn  kết trong nhân dân. Trong số  đó,  đáng chú ý là Đại Việt Quốc dân đảng gồm những phần tử thân Mĩ do Lê Thăng, Nguyễn  Tôn  Hoàng,  Phan  Huy  Quát...  cầm  đầu;  Phục  Quốc đồng minh do Nông Quốc Long cầm đầu; Việt Nam Quốc dân đảng  do  Vũ  Hồng  Khanh  cầm  đầu,  Việt  Nam  quốc  gia  phục hưng đảng do Ngô Đình Diệm cầm đầu, v.v...

Sau thất bại ở Việt Bắc thu - đông 1947, thấy rõ cuộc chiến tranh sẽ kéo dài, không thể sớm kết thúc, thực dân Pháp quyết định tập trung lực lượng để bình định, củng cố những vùng đã chiếm đóng. Thời kì này, quân Pháp tiếp tục đánh sâu vào vùng nông thôn của ta, mở rộng phạm vi chiếm đóng, khống chế phần lớn vùng đồng bằng Bắc Bộ, tuyến ven biển và Nam Trung Bộ. Cùng với các hoạt động ra sức đánh phá cơ sở cách mạng, lùng sục vây bắt cán bộ, du kích, đốt  phá  cướp bóc tài sản, cố  sức giành dân, chúng cho xây đựng rất nhiều đồn bốt, tháp canh.

Ở Nam Bộ,  trong  năm 1948  Pháp đã  xây  dựng  được  2.000
tháp canh. Trên các tuyến đường giao thông quan trọng, cứ từ 1
- 2 khi lại có 1 tháp canh.

Ở Bắc Bộ, Pháp xây dựng các cứ điểm nhỏ, với số quân đông hơn  trước.  Mật  độ  các  cứ  điểm  cũng  tăng  lên.  Ở  Cao  -  Bắc  - Lạng, đầu năm 1948 có 68 vị trí, đến giữa năm đã tăng lên 79 vị
trí với số quân chiếm đóng từ 2.500 lên 6.900 tên. Ở vùng Tây Bắc, Đông Bắc, Pháp cho xây dựng thêm 100 cứ điểm. Ở Liên khu  III,  Pháp  cũng  cho  xây  dựng  thêm  53  cứ  điểm,  số  quân


98


Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 29 Tháng Mười, 2011, 01:26:48 pm
chiếm đóng từ 12.000 lên 25.000 tên 1. Thực dân Pháp còn tăng cường tuyển tính người Việt Nam vào các đội hương dũng (có nơi  gọi  là  lính  dõng,  thân  binh,  bảo  an  binh...)  làm  nhiệm  vụ canh gác, tuần phòng tại các làng xã. Mỗi khi kiểm soát được vùng nào là quân Pháp tiến hành ngay việc bắt tính để tổ chức việc canh gác, dò xét, tuần tra giữ làng xã. Trên thực tế thực dân Pháp  và  chính  quyền  bù  nhìn  tay  sai  không  đạt  được  kết  quả mong muốn trong việc xây dựng lực lượng hương dũng, do ta tổ chức tốt việc tuyên truyền, vận động thanh niên bỏ trốn. Vì vậy,
số hương dũng mỗi tổng chỉ có từ 10 đến 15 người; đa số tỏ thái độ lừng chừng, chỉ trừ một số ít là hung hăng chống phá cách mạng.  Song  song  với  việc  đẩy  mạnh  chính  sách  "Dùng  người Việt đánh người Việt", thực dân Pháp tăng cường các hoạt động cướp  bóc,  vơ  vét,  thực  hiện  chính  sách  lấy  chiến  tranh  nuôi chiến tranh".

Ở miền Tây và các tỉnh miền Đông Nam Bộ, quân Pháp cho lính đi gặt lúa của dân, tổ chức thu mua thóc gạo. Ở Trung Bộ, địch  làm  rất  quyết  liệt  việc  tập  trung  lúa  và  cướp  lúa  về  đồn. Bằng cách cướp bóc và tập trung lúa, chúng đã thu được một số lượng lúa khá lớn. Riêng tỉnh Khánh Hoà, năm 1949 chúng lấy
6.000 tấn, năm 1950 chúng cướp 80% mùa màng.

Thực dân Pháp đặc biệt chú trọng việc thu thuế. Chúng tiếp tục duy tự chế độ thuế trực thu và thuế gián thu; đồng thời đặt thêm nhiều thứ thuế mới hết sức nặng nề. Ngoài thuế điền thổ là các thứ thuế cư trú, thuế nước, thuế hằng tháng, thuế môn bài, thuế chứng thư, thuế thổ trạch, thuế bưu phí, thuế chợ, thuế sát sinh, thuế xe, thuế xa xỉ, thuế mạt chược, thuế nhà vệ sinh, thuế lấy rác và xử lí đổ rác thải, thuế giữ các súc vật và đồ đạc lưu kho...

Do  bị  khủng  bố,  bắt  bớ,  cướp  bóc  vơ  vét,  nhìn  chung  đời sống nhân dân trong các vùng địch tạm chiếm hết sức khó khăn.


1. Viện Sử học: Lịch sử Việt Nam (9-1945 – 1950) Sđd, tr. 285.
99
 
Nếu tính trung bình so với năm 1939, giá sinh hoạt của giới thợ thuyền người Việt Nam cuối năm 1948 đắt hơn 115 lần 1.Đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến các phong trào đấu tranh của nhân dân ta dưới nhiều hình thức phong phú, hoặc đấu tranh công khai, hoặc bí mật cất giấu thóc gạo, tài sản đưa ra vùng tự
do  ủng  hộ  kháng  chiến,  chống  lại  chính  sách  thuế  khoá,  từng bước làm thất bại âm mưu "Dùng người Việt đánh người Việt", "Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" của thực dân Pháp.

2- Chủ trương và hoạt động đẩy mạnh kháng chiến của ta sau chiến thắng Việt Bắc

Trước âm mưu và hành động mới của thực dân Pháp, ngày
15-1-1948, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị mở rộng nhằm đánh giá tình hình cuộc kháng chiến và đề ra nhiệm vụ cho giai đoạn mới.

a) về chính trị

Đảng và Nhà nước chủ trương tăng cường đoàn kết toàn dân, thực hiện quân, dân nhất trí; chống âm mưu chia rẽ của thực dân Pháp, phá tan chính quyền bù nhìn và tay sai; củng cố bộ máy Nhà nước theo hướng tập trung, thống nhất để điều hành công cuộc kháng chiến, kiến quốc. Khẩu hiệu lúc này vẫn là Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết.

Trong  việc  củng  cố  và  mở  rộng  khối  đại  đoàn  kết  dân  tộc, điều quan trọng là phải chấn chỉnh mặt trận dân tộc thống nhất. Việt Minh và Liên Việt là hai hình thức mặt trận thu hút được đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia, nhưng từ năm 1948 đã xảy ra tình trạng chồng chéo, không thống nhất hoạt động giữa hai mặt trận. Vì vậy Đảng chủ trương thống nhất Việt Minh và Liên Việt thành một  mặt  trận duy nhất,  trong đó, Liên Việt là hình thức tổ chức Mặt trận và Việt Minh là bộ phận nòng cốt.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 29 Tháng Mười, 2011, 01:27:14 pm
Trong quá trình thực hiện chủ trương thống nhất Việt Minh


1. Viện Sử học: Lịch sử Việt Nam (9-1945 – 1950)... Sđd, tr. 276.
100
 
và Liên Việt, Trung ương Đảng đã chỉ ra và kịp thời uốn nắn một  số  khuyết  điểm  của  các  địa  phương,  như  có  nơi  thiên  về phát triển Liên Việt, gần như quên củng cố Việt Minh; có nơi lại chú trọng củng cố Việt Minh, không quan tâm phát triển Liên Việt; có nơi không lấy nguyên tắc hành động chung giữa Việt Minh  và  Liên  Việt  làm  điểm  trọng  yếu  trong  việc  chuẩn  bị thống nhất.

Nhằm tăng cường sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân, các
tổ chức quần chúng cũng được kiện toàn và phát triển một bước. Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam đã mở rộng thêm đội ngũ.

Những ngành có nghề chuyên môn và có đội ngũ công đoàn viên  đông  đảo  (Ngành  Giáo  dục,  Ngành  Bưu  điện...)  được  tổ chức theo hệ thống dọc từ cơ sở lên đến toàn quốc. Hoạt động công  đoàn  các  cấp  được  đẩy  mạnh,  đóng  vai  trò  quan  trọng trong việc động viên và tổ chức công nhân thi đua phát huy sáng kiến,  cải  tiến  kĩ  thuật,  đẩy  mạnh  sản  xuất  cải  thiện  đời  sống. Nhờ đó, số lượng đoàn viên trong các tổ chức Công đoàn ngày càng tăng. Tính đến năm 1948, ở vùng tự do, số đoàn viên Công đoàn  đã  chiếm  49ơ/o  tổng  số  công  nhân.  Số  công  nhân  trong vùng  địch  tạm  chiếm  gia  nhập  công  đoàn  cũng  lên  tới  37.436 đoàn viên trong tổng số 352.069 công nhân (gần 1l%).

Hội  Nông  dân  cứu  quốc  phát  triển  nhanh  chóng.  Đến  năm
1948, Hội có hơn 820.000 hội viên. Nhằm đẩy mạnh cuộc vận động và tổ chức nông dân tham gia kháng chiến, Hội nghị cán bộ Nông dân cứu quốc toàn quốc họp tại Việt Bắc (từ 28-11 đến
7-12-1949) đã đề ra nhiệm vụ, phương hướng hoạt động trong thời gian trước mắt là tăng gia sản xuất tự túc, nuôi dưỡng bộ đội, xây dựng hợp tác xã, hoàn thành giảm tô, giảm tức, thanh toán  nạn  mù  chữ.  Hội  nghị  đánh  dấu  một  bước  tiến  lớn  trong lịch sử vận động nông dân ở nước ta.

Công  tác  vận  động  và  tổ  chức  phụ  nữ  được  thực  hiện  theo hướng  đơn  giản  tổ  chức  và  thống  nhất  lực  lượng  phụ  nữ.  Hội Phụ  nữ  Cứu  quốc  và  Hội  Liên  hiệp  Phụ  nữ  được  thống  nhất
101
 
thành một tổ chức để làm tốt vai trò giáo dục, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ, thực hiện nam nữ bình đẳng và giải phóng phụ nữ. Đến năm 1948, đoàn thể phụ nữ có 1.210.000 hội viên, chiếm tỉ
lệ cao nhất trong các giới. Đáng chú ý là Hội Mẹ chiến sĩ cũng hăng hái tham gia thi đua yêu nước, nhất là trong các phong trào "góp quỹ nuôi quân", chăm sóc thương binh, bệnh binh, may vá quần áo cho bộ đội.

Công  tác  vận  động  thanh  niên  được  đặc  biệt  coi  trọng.  Từ năm 1947 trở đi, các tổ chức Đoàn Thanh niên Cứu quốc, Liên đoàn Thanh niên Việt Nam, Tổng hội Sinh viên Việt Nam được củng cố và lần lượt mở đại hội.

Ngày  7-2-1950,  Đại  hội  đại  biểu  lần  thứ  nhất  Đoàn  Thanh niên Cứu quốc được tổ chức tại Đại Từ (Thái Nguyên). Đại hội đánh dấu bước trưởng thành của phong trào thanh niên cứu quốc Việt  Nam.  Tiếp  theo  Đại  hội  Đoàn  Thanh  niên  cứu  quốc,  Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Liên đoàn Thanh niên Việt  Nam  cũng  được  triệu  tập.  Đại  hội  tượng  trưng  cho  khối đoàn kết thống nhất của thanh niên Việt Nam, đồng thời đặt cơ sở cho sự thống nhất tư tưởng và hành động trong thanh niên, xác định rõ nhiệm vụ của thanh niên trong giai đoạn phát triển
mới của kháng chiến.

Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội cũng được xác định rõ về tổ
chức và phạm vi hoạt động vào các tầng lớp tư sản, trí thức, tiểu
tư sản lớp trên. Công tác vận động quần chúng trong vùng địch tạm  chiếm,  vùng  công  giáo  và  miền  núi  được  đẩy  mạnh,  góp phần phá tan âm mưu chia rẽ khối đoàn kết dân tộc của kẻ thù.

Việc củng cố và kiện toàn bộ máy chính quyền dân chủ nhân dân được Đảng và Chính phủ quan tâm đặc biệt. Nghị quyết Hội nghị Trung ương mở rộng (15 - 17-l-1948) nhấn mạnh: Cần phải đề  cao  danh  nghĩa  và  uy  tín  của  Chính  phủ  Trung  ương  cũng như Uỷ ban kháng chiến hành chính các cấp. Muốn vậy, Chính phủ và Uỷ ban kháng chiến hành chính phải chú ý cải thiện đời sống cho dân, phục vụ nhân dân.
102
 
Bộ máy hành chính Trung ương không ngừng được củng cố và kiện toàn. Ngay từ năm 1947, một bộ phận nhân sĩ, trí thức, những nhà văn hoá, văn nghệ nổi tiếng xuất sắc được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời tham gia giữ những cương vị chủ chốt trong Chính  phủ.  Bản  quy  chế  công  chức  mới  cũng  được  Hội  đồng Chính  phủ  thông  qua  (27-5-1948)  thay  chế  độ  công  chức  thời thuộc Pháp.
Cuộc kháng chiến ngày càng gay go, giao thông liên lạc giữa Trung ương với các địa phương và giữa các vùng ngày càng khó khăn, trở ngại. Trong hoàn cảnh ấy, việc kiểm tra các cấp chính quyền thi hành đường lối, chủ trương của Trung ương Đảng và Chính  phủ  phải  được  tiến  hành  chặt  chẽ  và  thống  nhất  trong toàn quốc. Vì vậy, ngày 18-12-1949, Chính phủ ra Sắc lệnh số
138/B-SL quy định bãi bỏ Ban Thanh tra đặc biệt và thành lập Ban Thanh tra Chính phủ với nhiệm vụ xem xét việc thi hành chính sách, chủ trương của Chính phủ, thanh tra các uỷ viên Uỷ ban kháng chiến hành chính và viên chức về phương diện liêm khiết,  thanh  tra  sự  khiếu  nại  của  dân.  Từ  đó  trở  đi,  công  tác thanh  tra  được  tiến  hành  thường  xuyên,  giúp  các  địa  phương thực hiện đúng các đường lối, chủ trương của Đảng và Chính phủ, kịp thời sửa chữa, khắc phục sai lầm, khuyết điểm. Nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngành chuyên môn trong bộ máy Nhà nước, ngày 25-1-1949, Hội đồng Chính phủ quyết định thành lập 4 ban lớn, thực hiện liên thông hoạt động giữa các Bộ. Đó là Ban Quân sự (gồm Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tư lệnh); Ban Nội chính (gồm Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao);  Ban  Kinh  tế  (gồm  Bộ  Kinh  tế,  Bộ  Tài  chính,  Bộ  Giao thông công chính, Bộ Canh nông, Bộ Lao động); Ban Văn hoá xã hội (gồm Bộ Giáo dục, BỘ Y tế, Bộ Thương binh, Cứu tế). Đây là một giải pháp sáng tạo và cực kì quan trọng, nhằm tạo ra cơ chế vận hành vừa chặt chẽ, vừa linh hoạt, có tác dụng phát huy cao độ hiệu suốt công tác của chính quyền kháng chiến.

Cùng với việc củng cố, kiện toàn chính quyền Trung ương,
Đảng, Chính phủ cũng đề ra và thực hiện nhiều chủ trương biện

103
 
pháp nhằm nâng cao hiệu lực của bộ máy chính quyền các cấp ở địa phương. Trong điều kiện chiến tranh gây nên sự chia cắt đất nước  và  các  địa  phương,  Chính  phủ  sớm  quy  định  quyền  hạn của chính quyền các cấp cho phù hợp với tình hình giao thông liên lạc bị cách trở. Theo tinh thần chỉ đạo của Trung ương, tất
cả các Uỷ ban kháng chiến hành chính từ cấp xã đến cấp Liên khu đều phải đảm đương trách nhiệm nặng nề là thay mặt Chính phủ lãnh đạo nhân dân tiến hành kháng chiến, kiến quốc trong phạm vi địa phương mình phụ trách; đồng thời phối hợp với các địa phương khác để tiến hành cuộc chiến đấu có hiệu quả nhất. Ngoài những nhiệm vụ chung, Uỷ ban kháng chiến hành chính cấp  Liên  khu  còn  được  trao  thêm  một  số  quyền  hạn  đặc  biệt, như quyền thiết quân luật trưng thu, trưng dụng, trưng tập lực lượng vũ trang, thiết lập toà án quân sự, quyền ân xá, ân giảm, quyền  quyết  định  các  kế  hoạch  kháng  chiến,  huy  động  lương thực,  thực  phẩm  cho  chiến  trường  trong  phạm  vi  địa  phương mình.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 29 Tháng Mười, 2011, 01:27:37 pm
Những nghị quyết của Đảng và sắc lệnh, nghị định của Chính phủ , đặc biệt là Sắc lệnh số 254/SL (19-11-1948) quy định chế độ tổ chức chính quyền nhân dân địa phương trong thời kì kháng chiến là những cơ sở quan trọng trong việc củng cố, kiện toàn bộ máy chính quyền các cấp. Các cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân phải tạm hoãn trong năm đầu kháng chiến toàn quốc thì đến năm 1948 đã tiến hành trở lại. Cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân khoá II (1948 - 1949) được tiến hành trong khắp các vùng tự do và  nhiều  nơi  trọng  vùng  tạm  bị  địch  chiếm.  Thành  phần  công nhân, nông dân tham gia chính quyền được tăng cường. Những đại biểu, những uỷ viên xứng đáng được thay thế những người yếu  kém.  Các  Ngành  Công  an,  Kinh  tế,  Tư  pháp,  Giáo  dục... được tăng cường cán bộ có năng lực.

Nam  Bộ  là  nơi  sớm  bước  vào  cuộc  chiến  đấu  chống  chiến tranh  xâm  lược  của  thực  dân  Pháp,  nên  việc  xây  dựng  chính quyền ở đây gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, trong những năm 1947
- 1948, Chính phủ đã cử nhiều cán bộ vào bổ sung cho Nam Bộ.
104
 
1948, lần đầu tiên Nam Bộ tiến hành cuộc bầu cử Hội đồng nhận dân từ cấp xã đến cấp tỉnh.
Từ năm 1950, bộ máy chính quyền dân chủ nhân dân tiếp tục được  củng  cố  và  kiện  toàn  theo  hướng  thống  nhất,  tập  trung, mạnh mẽ, quyết đoán có khả năng đảm đương được nhiệm vụ điều khiển chiến tranh và xây dựng chế độ dân chủ nhân dân.

Để  chỉnh  đốn  và  kiện  toàn  bộ  máy  chính  quyền,  tháng  2-
1950, Hội nghị kháng chiến hành chính được tổ chức, gồm đại biểu ba miền Bắc, Trung, Nam. Bản Quy chế công chức nước Việt  Nam  Dân  chủ  Cộng  hoà  được  áp  dụng  theo  Sắc  lệnh  số
76/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh kí ngày 20-5-1950. Đây là một bước tiến khá lớn về công tác hành chính.

Vấn  đề  đào  tạo,  bồi  dưỡng  cán  bộ  chính  quyền  cấp  cơ  sở được quan tâm đặc biệt. Từ năm 1948, để củng cố và kiện toàn cấp xã, vấn đề đào tạo cán bộ địa phương đã được đặt ra. Nhiều lớp huấn luyện ngắn hạn (8 đến 20 ngày) đã được tổ chức để bồi dưỡng cho cán bộ xã. Cán bộ từ cấp huyện trở lên thì được rèn luyện trong công tác hằng ngày hoặc được bổ túc trong các lớp dài hạn (3 tháng). Từ năm 1949 - 1950, khắp các khu đều mở lớp "bổ túc cấp xã". Các cuộc thi đua "xây dựng xã" được đặc biệt khuyến khích.

Một  trong  những  biện  pháp  nâng  cao  hiệu  lực  của  bộ  máy chính quyền dân chủ nhân dân trong kháng chiến chống Pháp là tăng  cường  vai  trò  của  Ngành  Tư  pháp  và  Toà  án  nhân  dân. Ngày  28-5-1948,  Chính  phủ  ra  Sắc  lệnh  số  11/SL  tiếp  tục  bổ sung các sắc lệnh trước đây, khẳng định thẩm quyền của Toà án nhân dân. Hệ thống Toà án nhân dân gồm có Ban Tư pháp xã, Toà án sơ cấp Toà án đệ nhị cấp và Toà án thượng thẩm. Ngoài hệ  thống  Toà  án  nhân  dân,  Toà  án  binh  (thành  lập  ngày  23-
81946) cũng được quy định bổ sung về chức năng và nhiệm vụ. Ngày 25-4-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí Sắc lệnh số 45/SL thành lập Toà án binh tối cao để xét xử những quân nhân từ cấp trung  đoàn  hoặc  những  quân  nhân  làm  việc  ở  cơ  quan  Trung

105
 
ương phạm pháp.



Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 29 Tháng Mười, 2011, 01:28:02 pm
Hoạt  động  của  hệ  thống  tư  pháp,  toà  án  trong  những  năm
1948 - 1950 đã góp phần quan trọng trong việc giữ vững trật tự
trị an, trấn áp lực lượng phản động, bảo vệ tài sản quốc gia, tính mạng và tài sản nhân dân.

Trong quá trình củng cố, kiện toàn hệ thống chính quyền các cấp, Đảng, Chính phủ và đặc biệt là Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan  tâm  đến  vấn  đề  giáo  dục,  bồi  dưỡng  nếp  sống,  đạo  đức, nhân cách văn hoá của cán bộ công nhân viên. Coi "cán bộ là cái gốc của mọi công việc", "có cán bộ tốt, việc gì cũng xong", ngay trong lúc chiến tranh diễn ra ác liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết một loạt tác phẩm có ý nghĩa lí luận và thực tiễn sâu sắc về  công  tác  cán  bộ  trong  điều  kiện  của  một  đảng  cầm  quyền, như  Cán  bộ  tốt  và  cán  bộ  xoàng  (6-1947),  Thư  gửi  các  nhân viên cơ quan Chính phủ (6- 1947), Cán bộ và đời sống mới (7-
1947) và nhất là cuốn Sửa đổi lối làm việc (10-1947). Cuốn sách nêu rõ nhiệm vụ, vai trò, tư cách đạo đức, trách nhiệm và hướng phấn đấu của cán bộ công nhân viên chức Nhà nước trong điều kiện vừa kháng chiến, vừa xây dựng đất nước và xây dựng con người mới. Những điều Hồ Chí Minh nêu trong cuốn sách về lề lối làm việc nói riêng và nhân cách; đạo đức cán bộ công nhân viên nói chung để trở thành nguyên lí trong việc xây dựng đội ngũ  cán  bộ  của  Nhà  nước  ta.  Những  tư  tưởng  cục  bộ,  địa phương  chủ  nghĩa,  óc  bè  phái:  quân  phiệt,  quan  liêu,  hẹp hòi, ham chuộng hình thức, làm việc lại bàn giấy, vô kỉ luật, ích kỉ... từng bước được khắc phục.

Công tác xây dựng Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng và củng cố hậu phương, đẩy mạnh kháng chiến toàn  dân,  toàn  diện.  Vì  vậy,  nhiều  biện  pháp  nhằm  nâng  cao chất lượng đảng viên, bồi dưỡng năng lực lãnh đạo của cấp uỷ và kiện toàn tổ chức Đảng theo phương châm "phát triển đi đôi với củng cố" thường xuyên được thực hiện.
Từ năm 1948 trở đi, công tác xây dựng Đảng có bước phát

106
 
triển mạnh mẽ cả về số lượng. Năm 1946 cả nước mới có 2 vạn đảng viên đến tháng 9-1948 đã tăng lên hơn 15 vạn và sang đầu năm  1950  là  43  vạn,  trong  đó  thành  phần  công  nhân  chiếm
8,7%. Trong quân đội, số đảng viên cũng chiếm 1/3 quân số. Số chi bộ Đảng tăng lên nhanh chóng, từ 3.800 chi bộ (năm 1947), đã tăng lên 7.800 chi bộ (năm 1948). Đến đầu năm 1950, hầu hết các vùng địch tạm chiếm cũng như vùng tự do đều có chi bộ,  phần  lớn  các  thôn  đều  có  tổ  Đảng.  Đông  đảo  công  nhân, nông dân, trí thức cách mạng và chiến sĩ lực lượng vũ trang ưu
tú được gia nhập Đảng.

Đi đôi với công tác phát triển Đảng, việc giáo dục, bồi dưỡng nâng  cao  chất  lượng  đảng  viên  nhìn  chung  được  các  cấp  uỷ Đảng quan tâm. Trong 5 tháng đầu năm 1948, riêng Liên khu III mở được 674 lớp bồi dưỡng cho 19.653 đảng viên mới, 105 lớp bồi dưỡng cho 2.785 chi uỷ viên, 32 lớp bồi dưỡng cho 1.067 huyện uỷ viên... 1.Qua các lớp học, cán bộ, đảng viên được bồi dưỡng  về  đường  lối  cách  mạng  dân  tộc  dân  chủ  nhân  dân, đường  lối  kháng  chiến  toàn  dân,  toàn  diện,  lâu  dài  và  tự  lực cánh sinh...

Nhằm phát huy tính năng động của cơ sở và ứng phó kịp thời với  tình  thế, Đảng  chủ  trương  xây  dựng  Chi  bộ  tự  động  công tác, coi đó là biện pháp chủ yếu để củng cố cơ sở Đảng. Đến cuối năm 1949, toàn miền Bắc có 1.000 chi bộ tự động công tác; trong  đó  có  nhiều  chi  bộ  kiểu  mẫu,  điển  hình  là  các  chi  bộ Thượng Bằng La (Yên Bái), Đình Bảng (Bắc Ninh), Cự Nẫm và Cảnh Dương (Quảng Bình)... Tuy nhiên trên phạm vi toàn quốc,
số chi bộ có năng lực tự động công tác còn ít, mới chiếm 25%
tổng số chi bộ (tính đến năm 1950) 2.

Nhìn chung, qua chiến đấu và xây dựng, Đảng ta ngày càng vững  mạnh;  sức  chiến  đấu,  năng  lực  lãnh  đạo  và  uy  tín  của



1.2.  Viện sử học: Lịch sử Việt Nam... Sđd, tr. 318-319.

107
 
Đảng ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng,


Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 29 Tháng Mười, 2011, 01:28:31 pm
Đảng cũng phạm một số sai lầm, khuyết điểm, nặng về phát triển số lượng, chưa coi trọng đúng mức chất lượng đảng viên. Nhằm  khắc  phục  thiếu  sót  này,  từ  tháng  9-1950,  Đảng  tạm ngừng phát triển để củng cố tổ chức.

b) Về quân sự

Với đường lối chiến tranh nhân dân, Đảng ta chủ trương xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân: Dân quân, du kích là lực lượng đông đảo nhất, tiếp đó là bộ đội địa phương và trên cùng
là bộ đội chủ lực.

Dân quân, du kích là lực lượng chủ yếu quyết định sự phát triển mạnh mẽ của phong trào chiến tranh du kích trong cả nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Du kích là một lực lượng cực kì
to  lớn  trong  chiến  tranh  giải  phóng  dân  tộc.  Sức  du  kích  thật mạnh  thì  chiến  tranh  giải  phóng  nhất  định  thắng  lợi.  Tổ  chức chặt  chẽ  và  rộng  khắp,  trong  vùng  địch  và  xung  quanh  vùng địch, làng nào, huyện nào, tỉnh nào cũng có du kích thì nó thành một tấm lưới sắt, một thứ "thiên la địa võng" mà địch không tài
gì thoát ra được. Địch đi đến đâu cũng bị chặn đánh. Địch làm
gì cũng bị phá hoại. Du kích làm cho địch có mắt cũng như mù, có tai cũng như điếc, có chân cũng như què. Một bộ phận địch thì bị du kích tỉa dần, tỉa mòn. Bộ phận địch còn sống sót, thì ăn không yên, ở không yên, nghe gió thổi chim kêu cũng hoảng sợ, rồi cũng bị du kích tiêu diệt nốt" 1.

Tháng  2-1947,  Bộ  Quốc  phòng  ra  thông  tư  quy  định  mọi công dân Việt Nam từ 1 8 tuổi đến 45 tuổi vào dấn quân và quy định: Dân quân, tự vệ có nhiệm vụ canh gác phòng gian trong địa  phương,  vận  tải,  tiếp  tế,  tải  thương  giúp  đỡ  du  kích  địa phương. Du kích địa phương có nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ làng


1.  Hồ Chí Minh: Toàn tập. Tập VI. NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội
1995, tr. 335
108
 
mạc,  tài  sản,  tính  mạng  của  nhân  dân,  độc  lập  tác  chiến  hoặc phối hợp với bộ đội.Thực hiện chủ trương của Đảng, từ mùa hè năm  1947  trở  đi,  hàng  chục  vạn  người  hăng  hái  gia  nhập  các đơn vị dân quân, du kích và tự vệ chiến đấu. Cuối năm 1947, trên nhiều địa phương, ở xã có từ 1 đến 2 trung đội dân quân tự vệ, huyện có từ 1 đến 2 trung đội du kích và tỉnh có từ 1 đến 2 đại đội du kích thoát li sản xuất. Tại một số vùng bị địch tạm chiếm vẫn duy trì các đội công tác đặc biệt hoạt động bí mật. Đến cuối năm 1949, số dân quân, du kích trong cả nước đã có khoảng một triệu người, trong đó có hàng ngàn lão du kích được gọi là Bạch đầu quân. Trang bị của dân quân tự vệ, du kích còn thiếu thốn và thô sơ Vũ khí, trang bị tự chế là chính, gồm mìn, lựu đạn, súng kíp, cung nỏ, giáo, mã tấu, kiếm; một số nơi có súng  trường.  Về  sau,  với  phong  trào  "cướp  vũ  khí  địch  đánh địch", trang bị của dân quân, du kích có phần khá hơn.

Việc huấn luyện dân quân, du kích ngày càng đi vào nền nếp. Tại Việt Bắc, Khu IV, Khu V và các căn cứ thuộc Nam Bộ, chế độ  huấn  luyện  thường  kì  cho  dân  quân,  du  kích  được  duy  trì. Chương  trình  học  về  chính  trị  là  những  bài  sơ  giản  về  cách mạng,  kháng  chiến, các quy định  về  kỉ  luật  phòng  gian  giữ bí mật; về quân sự là những bài tập chiến thuật cá nhân, tập kích, phục kích, báo động sẵn sàng chiến đấu...


Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 29 Tháng Mười, 2011, 01:28:55 pm
Trước yêu cáu mới của kháng chiến, cùng với việc phát triển dân  quân,  du  kích,  Ban  Thường  vụ  Trung  ương  Đảng  chủ trương xây dựng lực lượng bộ đội địa phương. Đây là lực lượng vũ trang trực thuộc các khu tỉnh huyện, được chính quyền địa phương  xây  dựng  làm  công  cụ  chủ  chết  bảo  vệ  địa  bàn  của mình. Ngày 7-4-1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí sắc lệnh thành lập bộ đội địa phương. Sắc lệnh quy định: "Quân đội Quốc gia Việt Nam gồm có hai phần: Quân đội chính quy và quân đội địa phương.  Bộ  đội  địa  phương  có  ba  đặc  điểm  chính  là:  có  tính cách địa phương, có nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ địa phương, tự



109
 
trang bị và tự túc về cấp dưỡng" 1.Thực hiện sắc lệnh của Chính phủ, ngày 7-7-1949, Bộ trưởng Quốc phòng - Tổng tư lệnh ra Nghị  định  số  l03fNQ  quy  định  tổ  chức  bộ  đội  địa  phương  và Thông tư số 46/TT quy định nhiệm vụ của cơ quan các cấp, các ngành đối với việc xây dựng bộ đội địa phương. Theo tinh thần đó, các đơn vị du kích tập trung được nâng thành các trung đội, đại đội bộ đội địa phương ở huyện và các tiểu đoàn bộ đội địa phương ở tỉnh, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ địa phương.  Tính  đến  cuối  năm  1949,  từ  Liên  khu  IV  trở  ra,  lực lượng  bộ  đội  địa  phương  đã  lên  tới  20.000  người;  đến  năm
1950, tăng lên 45.000 người. Ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, đến đầu năm 1950, mỗi huyện có từ một đến hai đại đội bộ đội địa phương.

Bộ đội địa phương ra đời và phát triển đã từng bước thay thế các đại đội độc lập, làm nòng cốt cho chiến tranh du kích ở địa phương.  Bộ  đội  chủ  lực  được  Đảng  và  Chính  phủ  chủ  trương xây  dựng  từ  khá  sớm,  vì  đó  là  lực  lượng  quyết  định  số  phận quân đội viễn chinh của thực dân Pháp. Ngày 26-8-1947, Chính phủ ra Sắc lệnh số 76/SL thành lập Đại đoàn Độc lập (thực tế tương  đương  cấp  trung  đoàn).  Đầu  năm  1948,  thực  hiện  chủ trương đẩy mạnh chiến tranh du kích, cùng với việc phát triển mạnh lực lượng dân quân, du kích, từ Liên khu IV trở ra, hơn
1/3 bộ đội chủ lực (l03/299 đại đội) phân tán thành các đại đội độc  lập,  đội  vũ  trang  tuyên  truyền,  đội  xung  phong  công  tác. Những đơn vị này có nhiệm vụ đi sâu vào vùng địch tạm chiếm,
bí mật gây dựng cơ sở, hướng dẫn quần chúng đấu tranh, tiến hành vũ trang tuyên truyền, diệt tề trừ gian, gây crựng Và  mở rộng phong trào du kích địa phương.

Hoạt động trong những điều kiện vô cùng khó khăn, gian khổ
và đầy nguy hiểm, cán bộ, đảng viên và chiến sĩ ta đã nêu cao ý


1.  Dẫn theo: Việt Nam. Những sự kiện lịch sử... Sđd, tr. 63-64.


110
 
chí  chiến  đấu  kiên  cường,  bất  khuất,  nêu  cao  chủ  nghĩa  anh hùng  cách  mạng.  Có  những  cán  bộ  hoạt  động  ở  vùng  Tây Nguyên  đã  tự  động  cởi  trần,  đóng  khố,  cà  răng  căng  tai,  phơi nắng cho da đen, học hỏi phong tục tập quán, tìm hiểu nguyện vọng của dân để hoà nhập với dân. Đó là những chiến sĩ kiểu mẫu  của  dân  tộc,  những  người  con  xứng  đáng  của  Đảng,  rất dũng cảm, tận tuỵ, bất kì gian lao nguy hiểm thế nào, vẫn cứ đi sát với dân, vẫn cứ bám lấy công việc, không nhút nhát, không than phiền, hi sinh cả tính mạng cũng không tiếc.

Từ  giữa  năm  1949  đến  đầu  năm  1950,  các  đại  đôi  độc  lập được rút về cùng với các tiểu đoàn tập trung để xây dựng các trung đoàn, đại đoàn chủ lực. Từ Liên khu IV trở ra, mỗi Liên khu đã xây dựng được từ 2 đến 3 trung đoàn chủ lực. Ở Nam Bộ, mỗi khu có một trung đoàn. Tính chung cả nước, đến năm
1950 có 12 trung đoàn chủ lực. Ngày 28-8-1949, đại đoàn (sau gọi  là  sư  đoàn)  chủ  lực  đầu  tiên  của  Quân  đội  nhân  dân  Việt Nam, mang tên Đại đoàn 308 (Đại đoàn Quân tiên phong), được thành  lập,  đánh  dấu  bước  xây  dựng  hoàn  chỉnh  lực  lượng  vũ trang  ba  thứ  quân.  Tiếp  đến,  Đại  đoàn  304  ra  đời  ngày  10-3-
1950, Đại đoàn 312 thành lập ngày 27-12-1950...

Bộ  Tổng  tư lệnh  cũng quyết  định thành lập  Cục  Pháo  binh
(5- 1949), Cục Thông tin trên lạc (31-7-1949).

Cùng với sự lớn mạnh về tổ chức, lực lượng vũ trang (nhất là bộ đội chủ lực) từng bước trưởng thành về chính trị, quân sự và hậu cần. Sức chiến đấu của lực lượng vũ trang ba thứ quân được nâng cao rõ rệt qua thực tiễn chiến đấu.

Từ cuối năm 1948, thực hiện chủ trương tổng phá tề, xoá bỏ chính  quyền  địch  ở  cớ  sở,  lực  lượng  du  kích  cùng  nhân  dân vùng tạm bị địch chiếm nổi dậy phá tề trên phạm vi rộng lớn, lập lại chính quyền kháng chiến. Kết quả phá tề đã làm tan rã và
tê liệt một phần lớn bộ máy chính quyền tay sai của Pháp ở thôn xã trong vùng địch tạm chiếm. Những hội tề còn lại rất hoang mang, dao động. Ở nhiều nơi, hội tề tỏ ra bất lực, không dám thi
111
 
hành các mệnh lệnh của thực dân Pháp. Tổng phá tề thực chất là những cuộc nổi dậy đồng loạt của nhân dân ở vùng tạm bị địch chiếm, có lực lượng vũ trang hỗ trợ, dưới sự chỉ đạo tập trung thống nhất của cấp uỷ Đảng, nhằm phá tan hệ thống kìm kẹp và chống lại có hiệu quả chính sách dùng người Việt đánh người Việt của địch.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 29 Tháng Mười, 2011, 01:29:17 pm
Phong  trào  chiến  tranh  du  kích  diễn  ra  rất  phong  phú.  Du kích và nhân dân đánh giặc bằng mọi phương tiện, bằng mọi vũ khí và dưới nhiều hình thức, tiêu hao lực lượng địch, biến hậu phương địch thành tiền phương của ta.

Trong  hai  năm  1949,  1950,  chiến  tranh  du  kích  ngày  càng phát  triển  mạnh  mẽ  và  rộng  khắp.  Sự phát  triển mạnh  mẽ  của chiến tranh du kích cùng với các cơ sở chính trị đã dẫn đến sự hình thành làng chiến đấu, khu chiến đấu. Phong trào xây đựng làng chiến đấu phát triển rất mạnh. Đến cuối năm 1948, trên địa bàn Liên khu III có 480 làng chiến đấu1. Có những làng chiến đấu, khu chiến đấu đã đương đầu có hiệu quả với nhiều cuộc càn phá ác liệt của địch, tiêu biểu là Cự Nẫm, Cảnh Dương, Hưng Đạo (Quảng Bình), Ái Quốc (Hải Dương), Vật Lại (Sơn Tây), Chi Lăng (Lạng Sơn), Xi Tơ (Tây Nguyên), Điện Tiến (Quảng Nam)... Một số nơi ở Nam Bộ xây dựng được địa đạo toàn thôn, toàn xã. Nhiều nơi xây dựng được căn cứ tỉnh, huyện, như căn
cứ Lang Tài ở Bắc Ninh, Kinh Môn ở Quảng Ninh (sau thuộc
Hải Dương), v.v...

Phong  trào  du  kích  chống  chính  sách  bình  định  của  địch, phục hồi và phát triển cơ sở kháng chiến của quân và dân ta là một cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt, có nhiều tổn thất hi sinh. Song, qua cuộc đấu tranh gian khổ, quân và dân ta có nhiều kinh nghiệm và sáng tạo, đã vượt qua mọi trở ngại, đưa chiến tranh du  kích  ngày  một  lớn  mạnh,  mang  tính  chất  quần  chúng  rộng rãi,  trở  thành  một  phương  thức  tiến công chiến lược  của  nghệ


1. Viện Sử học: Lịch sử Việt Nam (9-1945 - 1950)... Sđđ, tr. 296.
112
 
thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam. Trong vùng tạm bị địch chiếm,  nhân  dân  ta  đứng  lên  đấu tranh chống  địch  dưới  nhiều hình thức phong phú. Ở nông thôn, phong trào chống thu thóc, chống nộp thuế, chống đi phu, bắt lính, chống  khủng bố. . . diễn
ra  sôi  nổi.  Những  nơi  có  phong  trào  mạnh,  nhân  dân  và  lực lượng vũ trang tiến hành phá tề, trừ gian, làm công tác địch vận, bao vây đồn bốt, không hợp tác với địch, phát triển chiến tranh du kích. Bằng nhiều hình thức phong phú, sáng tạo, dân quân, du kích và nhân dân đánh giặc ở mọi lúc, mọi nơi và với nhiều loại vũ khí; có khi chỉ bằng tay không, dùng mưu bắt sống địch, cướp súng. Hoạt động du kích thiên biến vạn hoá đã được nhân dân ta thực hiện một cách sinh động trên khắp các chiến trường.
Ở các thành phố, thị xã, quần chúng cũng tổ chức các cuộc mít tinh,  tuần  hành,  vạch  mặt,  phản  đối  các  tổ  chức  "hội  đồng  an dân", "hội đồng chấp chính" làm tay sai cho Pháp; ở một số nơi,
ta còn bắt sống hay trừng trị những tên tay sai đắc lực của Pháp.

Song song với việc phát triển chiến tranh du kích, coi du kích chiến là chính, bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương còn tranh thủ đánh vận động. Từ năm 1948 trở đi, vận động chiến được đẩy mạnh dần và trong những năm sau trở thành hình thức tác chiến tương đối phổ biến của quân đội ta.

Nhìn chung từ năm 1948 đến năm 1950, quân đội ta đã mở hàng  chục  chiến  dịch  đánh  vận  động  quy  mô  nhỏ  trên  chiến trường  toàn  quốc.  Điển  hình  là  các  chiến  dịch:  Nghĩa  Lộ  (3-
1948), Yên Bình Xã (6-1948), Đường số 3 (7-1948), Đông Bắc (10-1948), Sông  Đà (l-1949), Sông Thao (5-1949), Chiến dịch Hồ Chí Minh ở Tây Nguyên (6-1949), Lê Lợi, Lê Lai (ll-1949)
ở Quảng Trị và Quảng Bình, v.v... Từ các trận đánh lẻ với binh lực  sử dụng phô biến là đại  đội, quân đội ta tiến  lên  đánh tập trung ở quy mô tiểu đoàn; có những chiến dịch sử dụng từ 2 đến
4-5 trung đoàn trên một địa bàn rộng. Đó là một bước tiến của quân đội ta trên con đường từ du kích chiến lên vận động chiến,
từ  chiến  tranh  du  kích  tiến  dần  lên  chiến  tranh  chính  quy,  kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy.
113
 
Phối hợp với đấu tranh vũ trang, ở các đô thị bị địch chiếm
đóng, phong trào đấu tranh chính trị cũng diễn ra mạnh mẽ.
Ngày  9-1-1950,  khoảng  3.000  học  sinh,  sinh  viên  Sài  Gòn biểu tình đòi trả tự do cho 12 học sinh bị bắt trong cuộc bãi khoá xảy ra hồi cuối năm 1949. Cuộc biểu tình được hàng vạn đồng bào  các  giới  nhiệt  liệt  hưởng  ứng.  Giặc  Pháp  cho  500  lính  và cảnh sát khủng bố dã man. Học sinh Trần Văn Ơn bị giết hại. Tin đó làm cho quần chúng căm phẫn và ngày 12-1-1950, toàn thành phố Sài Gòn tổng bãi công, bãi thị. Hơn nửa triệu người tham gia đưa tang Trần Văn Ơn. Tiếp đó, tại Chợ Lớn lại nổ ra cuộc biểu tình phản đối định sát hại nữ sinh Trần Bội Cơ.

Giữa những ngày sục sôi khí thế chiến đấu của đồng bào ta, đế quốc Mĩ cho hai tàu ngư lôi loại lớn cập bến cảng Sài Gòn. Một tàu sân bay chở 70 máy bay chiến đấu Mĩ cũng vào thả neo
ở ngoài khơi Đà Nẵng. Đế quốc Mĩ âm mưu mở cuộc thao diễn lớn của không quân và hải quân, phô trương lực lượng hòng trấn áp tinh thần đấu tranh của đồng bào ta, đồng thời cổ vũ tinh thần cho bè lũ tay sai.

Khu uỷ Sài Gòn - Chợ Lớn chủ trương phát động một cuộc đấu tranh lớn. Ngày 19-3-1950, hơn 300.000 đồng bào Sài Gòn - Chợ Lớn xuống đường biểu tình, đấu tranh trực diện với đế quốc Mĩ, buộc tàu Mĩ phải vội vã rút chạy.

Tại Hà Nội, từ đầu năm 1950, địch ra sức củng cố, tổ chức lại hệ  thống  phòng  thủ,  tăng  cường  công  sự  và  binh  lực,  ráo  riết lùng sục và khủng bố. Chúng chỉnh đơn lại hệ thống ngụy quyền
ở cơ sở, lập thêm Sở công an Bắc Việt bên cạnh Sở mật thám
Pháp.

Đảng bộ Hà Nội chủ trương xây dựng và củng cố lực lượng, chống khủng bố, bảo vệ phong trào. Sau sự kiện 9-1-1950 ở Sài Gòn - Chợ Lớn, theo chủ trương của Thành uỷ, học sinh Hà Nội
tổ chức đợt đấu tranh kéo dài trong một tuần lễ (từ ngày 13  đến
20- 1). Kết hợp với đấu tranh chính trị, các lực lượng vũ trang cũng đẩy mạnh hoạt động trừ gian diệt ác, đánh phá các cơ sở
114
 
kinh tế, quân sự của địch. Ờ Sài Gòn, quân và dân ta trong trị
tên thực dân cáo già
Đờ la Sơvrôchie (De la Chevrotière), trùm mật thám Badanh (Bazin),  Bộ  trưởng  ngụy  quyền  Vương  Văn  Nhường.  Tại  Hà Nội, bộ đội ta tập kích sân bay Bạch Mai (18-l-1950), phá huỷ
22 máy bay, đất cháy 600.000 lít xăng. c) về kinh tế
Nhiệm vụ của nhân dân ta là phải nỗ lực xây dựng nền kinh
tế kháng chiến có tính chất dân chủ nhân dân, có khả năng tự cấp, tự túc, vừa đáp ứng được những nhu cầu của kháng chiến, vừa  từng  bước  cải  thiện  đời  sống  của  cán  bộ,  bộ  đội  và  nhân dân;  đồng  thời  phải  đấu  tranh  chống  lại  sự phá  hoại  của  địch. Kinh tế nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trong thời kì này chú trọng phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp và công nghiệp.

Ngày  14-5-1950,  Chính  phủ  ra  Sắc  lệnh  số  68/SL  về  việc thành lập Ban Kinh tế Chính phủ với nhiệm vụ nghiên cứu, khởi thảo, đệ trình Chính phủ những chính sách, chương trình hoặc kế hoạch quan trọng về kinh tế. Ban Kinh tế Chính phủ đã đóng vai trò tham mưu cho Chính phủ trong công cuộc xây dựng kinh
tế kháng chiến và kiến quốc.

Để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, chủ trương chung của Đảng và Chính phủ là xây dựng nền kinh
tế toàn diện. Nhưng do thực trạng kinh tế của đất nước lúc đó và vùng  giải  phóng  chủ  yếu  ở  nông  thôn,  miền  núi,  nên  nông nghiệp giữ vị trí hàng đầu trong nền kinh tế kháng chiến. Đảng và Nhà nước động viên nông dân, cán bộ, bộ đội thi đua canh tác, đắp đê, chống hạn hán, lũ lụt, cải tiến kĩ thuật, khai hoang, phục  hoá;  đồng  thời  đầu  tư  vốn  cho  nông  dân  vay,  phân  phối giống, tổ chức tổ đổi công, hợp tác giúp nhau sản xuất. Nhờ vậy, sản xuất nông nghiệp đã thu được nhiều kết quả quan trọng.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 29 Tháng Mười, 2011, 01:29:36 pm
Để tạo điều kiện cho nông dân phấn khởi đẩy mạnh sản xuất

115
 
nông nghiệp, Đảng và Chính phủ chủ trương tiếp tục thi hành chính sách giảm tô, giảm tức và tạm cấp ruộng đất "vắng chủ”, chia lại ruộng đất công cho công bằng, hợp lí.
Chính phủ ban hành một loạt sắc lệnh về ruộng đất: Sắc lệnh
số  78/SL  (14-7-1949)  quy  định  giảm  tô  25%  so  với  mức  tô trước Cách mạng tháng Tám, xoá bỏ tô phụ và chế độ quá điền, lập Hội đồng giảm tô cấp tỉnh; Sắc lệnh số 25/SL (13-2-1950) về  việc  sử  dụng  ruộng  đất  vắng  chủ;  Sắc  lệnh  số  88/SL  quy định thể lệ lĩnh canh ruộng đất và Sắc lệnh 89/SL (22-5-1950) quy định việc giảm lãi, xoá nợ, hoãn nợ đối với những việc vay mượn  trước  đây...  Hội  đồng  giảm  tô,  giảm  tức,  Ban  giảm  tô, giảm  lãi  xã  được  thành  lập.  Phần  lớn  ruộng  đất  do  nông  dân lĩnh canh đã được giảm tô 25%. Từ năm 1945 đến năm 1949, nông  dân  đã  được  chia  177.000  ha  ruộng  đất,  trong  đó  ruộng đất  của thực  dân  Pháp  là  18.400  ha,  ruộng  đất của  địa  chủ  là
39.600 ha, ruộng đất công và bán công là 19.000 ha. Từ năm
1949, số ruộng đất chia cho nông dân ngày càng nhiều hơn.

Thông  qua  những  chính  sách  trên  đây,  chế  độ  chiếm  hữu ruộng  đất  của  địa  chủ  bị  thu  hẹp  dần;  đời  sống  nông  dân  có những chuyển biến đáng kể. Tình hình sở hữu ruộng đất ở nông thôn trong các vùng tự do có sự biến đổi khá lớn.

Song  song  với  việc  đem  lại  quyền  lợi  ruộng  đất  cho  nông dân, Đảng và Nhà nước còn hướng dẫn nông dân từng bước đi vào con đường làm ăn tập thể dưới những hình thức thích hợp. Cuối năm 1949, cả nước có 27.291 tổ đổi công và hợp công 1,
982 hợp tác xã sản xuất nông nghiệp. Đến năm 1950, cả nước có 25.491 tổ đổi công và hợp công, 1.562 hợp tác xã. Một số biện pháp kĩ thuật trong sản xuất nông nghiệp được áp dụng .

Công tác thuỷ lợi, phòng chống thiên tai, địch hoạ được coi trọng. Nghị quyết Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ 4 (20-5-


1.  Ba  mươi  năm  phát  triển  kinh  tế  và  văn  hoá  của  nước  Việt  Nam
Dân chủ Cộng hoà. NXB Sự thật, Hà Nội. 1978, tr. 97.
116
 
1948) đã chỉ rõ: "Không bỏ đất hoang, miền núi phát triển thêm nương  rẫy.  Miền  biển  đắp  đê  những  bãi  tân  bồi,  khai  ngòi  ở những vùng úng thuỷ. Sửa chữa những kênh đào hiện có, đào thêm kênh ở những nơi cần thiết". Thực hiện chủ trương trên, tính chung trong 3 năm (1948 - 1950), các cấp chính quyền địa phương đã huy động 4 triệu ngày công, đào được gần 3 triệu m3 đất để sửa chữa đê điều. Các chương trình đào đắp kênh mương dẫn nước vào ruộng, đào ao, đào giếng, đắp đê ngăn nước mặn,
sử dụng  máy  bơm để  chủ  động  tưới,  tiêu  nước được  áp  dụng rộng rãi. Nhờ đó, một số vùng đồi núi, trung du và nhiều diện tích đất hoang hoá được đưa vào canh tác. Nhiều diện tích cấy một  vụ  lúa  đã  tăng  lên  hai  vụ  trong  năm,  diện  tích  trồng  hoa màu  cũng  được  mở  rộng.  Trong  năm  1949,  Liên  khu  IV  và Đồng  Tháp  Mười  phục  hoá  được  70.313  ha,  vùng  hữu  ngạn sông Hồng khai khẩn được 10.000 mẫu ruộng ở vùng bán sơn địa. So với năm 1949, trong năm 1950, Liên khu Việt Bắc sản xuất thêm được 45.000 tấn lúa và 192.000 tấn hoa màu.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 29 Tháng Mười, 2011, 01:29:56 pm
Công tác bảo vệ sản xuất được chú ý. Các tỉnh đều thành lập Ban bảo vệ mùa màng dân - quân - chính ở những nơi cần thiết. Một số địa phương thuộc Liên khu III, IV, V và Nam Bộ đã phổ biến cho nông dân kinh nghiệm "gặt hái xung phong", phân tán và cất giấu trâu bò, thóc lúa, có tác dụng giảm bớt sự thiệt hại do địch phá hoại. Cùng với việc đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, Đảng  và  Nhà  nước  rất  chú  trọng  xây  dựng  và  phát  triển  các ngành  sản  xuất  công  nghiệp,  tiểu  thủ  công  nghiệp,  thương nghiệp, tài chính.

Trong  những  tháng  đầu  của  cuộc  kháng  chiến  toàn  quốc, công  nhân  đã  di  chuyển  máy  móc,  vật  tư,  nguyên  liệu  ra  các vùng tự do, các khu căn cứ. Đó là vốn vật chất đầu tiên để xây dựng  nền  công  nghiệp  kháng  chiến.  Những  xí  nghiệp  quốc phòng và dân dụng có quy mô thích hợp đã được xây dựng trong các vùng tự do và vùng căn cứ địa. Công nghiệp quốc phòng là bộ  phận  quan  trọng  nhất  trong  thời  kì  kháng  chiến.  Đến  cuối năm 1947, công nghiệp quốc phòng nước ta đã có hàng loạt nhà
117
 
máy, xí nghiệp thuộc quyền quản lí của Cục Quân giới Bộ Quốc phòng  và  Ban  vũ  khí  dân  quân,  Công  an,  Tổng  Liên  đoàn  lao động Việt Nam, Công đoàn các khu, tỉnh. Cục Quân giới quản lí
89 xưởng, 12 công trường. Đến năm 1950, ngành công nghiệp quốc  phòng  có  150  nhà  máy,  công  xưởng  và  hàng  trăm  công trường hoặc tổ vũ khí, với 25.000 công nhân. Trong các xưởng quân  giới,  cán  bộ  và  công  nhân  nêu  cao  tinh  thần  tự  lực  tự cường, tự sáng chế được nhiều loại vũ khí và đạn dược. Chỉ tính
từ năm 1946 đến năm 1950, các xưởng quân giới từ Liên khu IV trở  ra  đã  sản  xuất  được  1.323  tấn  vũ  khí,  đạn  dược  các  loại; trong đó có kiểu súng cối các cỡ 60 mm, 120 mm, súng SKZ... Nhịp độ sản xuất trong các xưởng quân giới rất nhanh. Nếu như năm 1946, các xưởng sản xuất được 100 tấn vũ khí, đạn dược, thì năm 1947 là 707; năm 1948 là 1.044 và năm 1949 là 3.544.

Các ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp phục vụ dân sinh như dệt, giấy, diêm, xà phòng, đồ gốm, chè, đường... cũng được xây dựng và phát triển. Ở Bắc Bộ, nhiều tỉnh mở rộng diện tích trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt vải, đáp ứng một phần nhu cầu về mặc cho bộ đội và nhân dân. Đặc biệt, Liên khu V đã tự túc gần như hoàn toàn nhu cầu về mặc cho bộ đội và nhân dân.
Ở Nam Bộ, các xưởng dệt thủ công bước đầu được thành lập. Những xưởng dệt lớn có tới vài trăm công nhân, chủ yếu may quần áo cho bộ đội; xưởng nhỏ có từ 50 đến 100 công nhân, sản xuất các loại vải phục vụ cho quốc phòng và nhân dân.

Trong kháng chiến, nghề giấy phát triển mạnh ở nhiều nơi do nhu cầu giấy rất lớn. Ở Trung ương có các cơ sở sản xuất giấy quy mô lớn đáng chú ý có Nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ, Nhà máy giấy Việt Nam, Xưởng sản xuất bột giấy Hoàn Kiếm... Đặc biệt, Nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ đã sản xuất được các loại giấy dó rất dai, dùng để in tem và cung cấp cho Bộ Tài chính in tiền.  Ở  mỗi  liên  khu  cũng  có  nhiều  xưởng  nhỏ,  sản  xuất  giấy cung cấp cho học sinh, các cơ quan, báo chí và xuất bản.

Nghề  làm  đường  cũng  phát  triển  khá  nhanh.  Năm  1948,  ở

118
 
Liên  khu  Việt  Bắc  chưa  có  cơ  sở  sản  xuất  đường,  nhưng  đến năm 1949 đã xây dựng được rất nhiều lò đường, mỗi năm sản xuất được 1.110 tạ.
Ở Nam Bộ có 233 lò sản xuất đường, cung cấp đủ nhu cầu của nhân dân trong vùng tự do.

Ngoài  các  ngành  dệt,  giấy,  đường,  các  nghề  làm xà phòng, muối,  nước  mắm,  đồ  dùng  thuỷ  tinh,  nông  cụ...  được  khuyến khích phát triển. Chính phủ không chỉ cho vay vốn, mà còn cử cán bộ kĩ thuật xuống các địa phương tìm hiểu tình hình và hỗ trợ kĩ thuật cho các cơ sở sản xuất, tạo điều kiện về nguyên, vật liệu và tiêu thụ sản phẩm.

Ngành  công  nghiệp  khai  khoáng  được  coi  trọng.  Ngay  từ những ngày đầu toàn quốc kháng chiến, một số mỏ ở vùng chiến khu do Pháp khai thác trước đây đã tiếp tục hoạt động trở lại. Các  mỏ  than  Phấn  Mễ  (Thái  Nguyên),  Minh  Khai  (Tuyên Quang),  Đầm  Bùn,  Khe  Bố  (Nghệ  An)  là  những  mỏ  đầu  tiên được coi là doanh nghiệp Nhà nước. Một số mỏ kim loại cũng được khai thác (mỏ thiếc Tĩnh Túc - Cao Bằng, mỏ ăngtimoan Tân  Trào  -  Tuyên  Quang,  mỏ  crôm  Thanh  Hoá,  vàng  Bồng Miêu - Quảng Nam...), v.v...



Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 29 Tháng Mười, 2011, 01:30:18 pm
Những cố gắng và kết quả đạt được của quân và dân ta trong xây dựng và phát triển kinh tế kháng chiến tự cấp tự túc là hết sức to lớn. Sản xuất nông nghiệp trong những năm 1948 - 1950 tuy  còn  gặp  nhiều  khó  khăn,  nhưng  được  Đảng  và  Chính  phủ quan tâm giúp đỡ về giống, vốn, cải tiến kĩ thuật, đẩy mạnh khai hoang phục hoá..., nên đã tạo được niềm tin của nhân dân đối với thắng lợi của kháng chiến. Các ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đã sản xuất được nhiều mặt hàng phục vụ nhu cầu sinh hoạt của nhân dân. Nhiều mặt hàng trước kia phải mua trong vùng Pháp chiếm đóng, đến nay đã tự sản xuất được, làm thất  bại  âm  mưu  phong  toả  kinh  tế  của  thực  dân  Pháp.  Tuy nhiên,  tình  hình  nhiều  lúc,  nhiều  nơi  vẫn  còn  gặp  khó  khăn nghiêm trọng, nhất là ở những vùng núi xa xôi hẻo lánh, hoặc ở

119
 
những vùng có chiến sự ác liệt. Ở nhiều chiến trường (Việt Bắc, Tây Bắc, Bình - Trị - Thiên, Tây Nguyên...), đời sống nhân dân, bộ đội rất kham khổ, thiếu thốn. Nguyên, vật liệu bảo đảm cho sản  xuất  quốc  phòng  và  một  số  nhu  cầu  thiết  yếu  khác  ngày càng khan hiếm.
Để phục vụ cho nhu cầu chiến đấu và sản xuất, ngày 29-2-
1948, Chính phủ ra Sắc lệnh số 410/SL thành lập Cục Tiếp tế vận tải thuộc Bộ Kinh tế trên cơ sở sáp nhập Nha Tiếp tế với các cơ quan phân tán muối. Sau khi thành lập, Cục Tiếp tế vận tải tổ chức 2 chi nhánh ở Liên khu I và Liên khu X; dưới chi nhánh là các chi cục. Các tỉnh cũng thành lập những chi cục do Cục Tiếp
tế vận tải trực tiếp chỉ đạo. Ở Nam Bộ, do địa hình kênh rạch, việc giao thông vận tải khó khăn, lại bị quân Pháp phong toả gắt gao, nên ta chủ trương tất cả mọi lực lượng đều tham gia tiếp tế vận  tải; các lực  lượng  vũ  trang  phải  yểm trợ,  bảo  vệ  việc vận chuyển hàng hoá. Đến giữa năm 1949, Uỷ ban kháng chiến Nam Bộ  đã  thành lập  Ban  tiếp  tế  hàng  hải  để  vận chuyển  thóc  gạo cho các tỉnh Nam Trung Bộ và chuyển vũ khí, đạn dược, tài liệu sách báo về Nam Bộ.

Theo đà phát triển của kháng chiến, việc củng cố và mở rộng giao thông vận tải ngày càng có ý nghĩa quan trọng. Do đó, từ giữa năm 1948, việc khôi phục, sửa chữa đường sá bắt đầu được thực hiện và đẩy mạnh trong những năm sau. Riêng trong năm
1948, tính từ Quảng Bình trở ra, nhân dân ta đã sửa chữa được
5.006 km đường bộ, làm được 8.304 mét cầu 1  ở Liên khu IV, cùng với việc nạo vét các kênh đào, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyên chở hàng hoá phục vụ các công binh xưởng miền núi và sự đi lại của nhân dân, ta xây dựng đoạn đường sắt La Khê - Đò Vàng dài 30 km, mở thêm gần 300 km đường xuyên sơn  2.  Ở  Liên  khu  V,  ngay  từ  đầu  năm  1948,  ta  bắt  đầu  khôi



1. Viện Sử học: Lịch sử Việt Nam... Sđd, tr. 339.

2.  Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Thắng lợi và bài học.
120
 
phục tuyến đường sắt từ An Tân (Tam Kì, Quảng Nam) đến La Hai (Đồng Xuân, Phú Yên) dài 300 km. Trên cả nước, một hệ thống giao thông thủy, bộ, đã dần dần hình thành, lúc chạy qua hậu phương, khi len lỏi qua vùng địch hậu.
Từ năm 1950, việc mở đường, sửa đường càng trở nên cấp thiết.

Đến  cuối  năm  1950,  các  lực  lượng  giao  thông  công  chính, công  binh,  thanh  niên  xung  phong  và  dân  công  đã  sửa  chữa xong 1 .046 km đường ô tô 173 km đường cho xe thô sơ... Liên khu Việt Bắc được Trung ương giao nhiệm vụ gấp rút sửa chữa những con đường lớn hướng ra biên giới.

Từ  phá  đường  để  cản  bước  tiến  quân  giặc  hồi  đầu  kháng chiến, đến nay lại mở đường để tiến công giặc, điều đó đã phản ánh bước phát triển đi lên của cuộc kháng chiến.

Cùng  với  nhiệm  vụ  sửa  chữa  và  làm  thêm  đường  phục  vụ mục đích quân sự, nhân dân ta còn sửa chữa và mở thêm nhiều đoạn đường phục vụ phát triển kinh tế. Đến năm 1950, các Liên khu  Việt  Bắc,  Liên  khu  III  và  Liên khu  IV  đã  sửa  chữa  được
4.327 km đường, đào đắp 105.533 m3 đất, sửa và làm lại 3.877
m  cầu.  Các  tuyến  đường  sắt  cũ  được  khôi  phục  và  đặt  thêm những  tuyến  đường  mới  ở  những  nơi  có  điều  kiện  thuận  lợi. Việc vận tải trên các tuyến đường thuỷ cũng được khai thác triệt để.

Trong chiến tranh, thông tin liên lạc giữ một vị trí đặc biệt quan trọng. Vì vậy, ngay từ đầu năm 1948, Trung ương Đảng quyết  định  sáp  nhập  Ban  phân  phối  tài  liệu  của  Tổng  bộ  Việt Minh  vào  Ban  giao  thông  liên  lạc  Trung  ương.  Các  Ban  giao thông ở các khu, tỉnh được bổ sung cán bộ từ huyện uỷ viên trở lên.


NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996, tr.156.




Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 29 Tháng Mười, 2011, 01:30:40 pm
Ngành  Bưu  điện  cũng  được  củng  cố.  Theo  chủ  trương  của Đảng và Chính phủ, các Nha Bưu điện Bắc Bộ, Bắc phần Trung Bộ  và  miền Nam được  bãi  bỏ  để thành lập các Liên khu Bưu điện.  Đến  tháng  5-1948,  Bộ  Giao  thông  công  chính  ra  quyết định hợp nhất Ban Giao thông liên lạc Trung ương với Bưu điện thành Nha Bưu điện Việt Nam.

Để  đáp  ứng  nhu  cầu  thông  tin  liên  lạc  ngày  càng  lớn,  theo quyết định của Hội nghị cán bộ giao thông Trung ương (27-5-
1949), ngành Bưu điện được chia thành hai bộ phận: Ban thư tín và Ban hoả tốc. Các đường thư hoả tốc từ Trung ương đến các liên  khu,  tỉnh,  huyện,  xã  trở  thành đường  thư  chủ  yếu  chuyển công  văn,  tài  liệu,  chủ  trương,  chính  sách  của  Đảng  và  Chính phủ đến khắp các vùng trong cả nước. Trên mặt trận văn hoá - giáo dục, cùng với việc xoá bỏ nền văn hoá, giáo dục nô dịch, ngu dân của chế độ thực dân - phong kiến, chúng ta tích cực xây dựng  nền  văn  hoá  -  giáo  dục  mới  theo  ba  tính  chất:  dân  tộc, khoa học, đại chúng. Mọi hoạt động văn hoá trong kháng chiến đều  hướng  theo  phương châm "kháng  chiến  hoá  văn  hoá,  văn hoá hoá kháng chiến".

Hội nghị Trung ương Đảng mở rộng ( 15- 17-1-1948) đã nêu
rõ nhiệm vụ của ngành văn hoá, giáo dục là: "Động viên văn hoá thực sự tham gia kháng chiến, ủng hộ kháng chiến, đào tạo nhân tài và cán bộ cung cấp cho các ngành kháng chiến" 1

Từ ngày 16 đến 20-7-1948, Hội nghị văn hoá toàn quốc lần thứ hai được triệu tập. Hội nghị đã thông qua bản báo cáo Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam do Tổng Bí thư Trường Chinh trình bày. Báo cáo nêu rõ lập trường văn hoá Mác xít, tính chất và nhiệm vụ văn hoá dân tộc dân chủ; phê phán những khuynh hướng và quan điểm văn hoá thực dân, phong kiến, tư sản; xác định  thái  độ  đúng  đắn  của  những  người  làm  văn  hoá  kháng chiến. Tiếp đó, Hội Văn hoá Việt Nam được thành lập, tập hợp


1. Văn kiện quân sự của Đảng 1945 - 1950... Sđd, tr. 277.
122
 
đông đảo các nhà hoạt động văn hoá, văn nghệ, khoa học, giáo dục thành một mặt trận văn hoá kháng chiến.

Cuối tháng 2-1949, Đảng  tổ  chức Hội  nghị  cán bộ  văn hoá nhằm  đẩy  mạnh  hoạt  động  văn  hoá  kháng  chiến  và  xây  đựng văn hoá dân tộc, dân chủ nhân dân. Thông qua cuộc đấu tranh tư tưởng,  các  khuynh  hướng  văn  học  nghệ  thuật  thuần  tuý,  nghệ thuật  vị  nghệ  thuật  bị  phê  phán,  loại  trừ.  Nhiều  tác  phẩm  văn học gồm đủ các thể loại (tuỳ bút, kịch, thơ, truyện...) và nhiều bài  hát,  bản  nhạc  của  các  nhà  văn,  nhà  thơ,  nhạc  sĩ  nổi  tiếng được  sáng  tác  phục  vụ  kịp  thời  công  cuộc  kháng  chiến,  kiến quốc. Một nếp sống lành mạnh, có văn hoá được xây dựng và phát triển ở khắp các vùng tự do. Các tệ nạn xã hội về cơ bản bị xoá  bỏ.  Tình  trạng  lãng  phí  trong  hội  hè,  cúng  bái,  ma  chay, cưới xin giảm bớt khá nhiều.

Về giáo dục, phong trào bình dân học vụ tiếp tục mở rộng. Đến tháng 6-1950, cả nước có 10.000.000 người thoát nạn mù chữ; trong đó số đông được tiếp tục qua lớp dự bị để củng cố trình độ biết đọc, biết viết. Cùng thời gian này, cả nước có 10 tỉnh, 80 huyện, 1.424 xã, 7.248 thôn, bản đã hoàn thành thanh toán nạn mù chữ. Ở Nam Bộ, dù trong hoàn cảnh có nhiều khó khăn, nhưng cũng thanh toán xong nạn mù chữ ở 102 xã. Trong các vùng tự do Liên khu V, hầu như không có thanh niên nào là không biết chữ.

Ngành Giáo dục phổ thông phát triển khá nhanh chóng. Từ sau chiến thắng Việt Bắc thu - đông 1947, việc dạy và học trong các nhà trường đi dần vào thế ổn định. Từ ngày 10 đến ngày 15-
7-1948, Bộ Giáo dục triệu tập Hội nghị giáo dục toàn quốc tại Việt Bắc. Quan tâm đến sự nghiệp giáo dục, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Hội nghị và chỉ rõ: Muốn xây dựng một nền giáo dục kháng chiến và kiến quốc, phải sửa đổi chương trình giáo  dục  cho  phù  hợp  với  yêu  cầu  kháng  chiến  và  kiến  quốc; phải biên soạn sách, sửa đổi cách dạy học, đào tạo cán bộ... Từ sau  Hội  nghị  này,  ngành  Giáo  dục  đã  có  những  bước  chuyển

123
 
biến về nội dung và phương pháp giảng dạy, học tập. Tháng 2-
1950, Bộ Giáo dục triệu tập Hội nghị trù bị về Đề án cải cách giáo dục. Tháng 7-1950, đề án này đã được Hội đồng Chính phủ thông  qua,  cho  thi  hành  hệ  thống  trường  phổ  thông  9  năm  và chương trình giảng dạy mới thay thế hệ thống trường phổ thông cũ  (12  năm).  Đây  là  cuộc  cải  cách  giáo  dục  lần  thứ  nhất,  xác định rõ bản chất, mục đích, nguyên tắc giáo dục và mục tiêu đào tạo của nhà trường phổ thông là giáo dục thế hệ trẻ thành những công dân lao động tương lai có đủ phẩm chất, năng lực phục vụ kháng chiến, kiến quốc. Số giáo viên và học sinh phổ thông tăng lên rõ rệt. Năm 1945, cả nước có 290.161 học sinh và 3.629 giáo viên; đến năm 1950 đã tăng lên 439.130 học sinh và 11.162 giáo viên.

Một số trường đại học và trung học chuyên nghiệp cũng được xây dựng như Đại học Y - Dược (1947), Cao đẳng Giao thông - Công chính (1948), Trung học Giao thông (1948), Trung học Sư phạm (1950).



Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 30 Tháng Mười, 2011, 11:31:43 am
Công  tác  y  tế  được  Nhà  nước  hết  sức  coi  trọng.  Từ  năm
1948, mạng lưới y tế được củng cố, có hệ thống từ xã đến tỉnh, gồm các trạm cứu thương, trạm xá, phòng phát thuốc, bệnh xá, bệnh viện. Cuộc vận động thực hiện nếp sống vệ sinh được đẩy mạnh. Phong trào "ba sạch" (ăn sạch, uống sạch, ở sạch), "bốn diệt" (diệt ruồi, diệt muỗi, diệt chuột, diệt chấy rận) ngày càng ăn sâu, lan rộng trong quần chúng. Ngoài những hình thức tuyên truyền vệ sinh, như biểu ngữ, nói chuyện, mít tinh, triển lãm..., sở y tế các liên khu còn mở nhiều lớp truyền bá vệ sinh thường thức  để  huấn  luyện  số  học  viên  do  các  xã  cử  lên.  Ở  các  địa phương, phong trào đào giếng, làm hố xí, tổ chức "Ngày sạch sẽ", tuần "Tổng tẩy uế” được đông đảo nhân dân hưởng ứng góp
phần cải thiện một phần bộ mặt nông thôn.

Công  tác  y  tế  nông thôn được  đẩy  mạnh.  Ngoài  việc thành lập  phòng  phát  thuốc,  nhà  hộ  sinh  ở  các  huyện  và  ban  (hoặc trạm) cứu thương, tải thương ở các xã, từ năm 1949, Viện Bào

124
 
chế Trung ương còn có sáng kiến sản xuất những tủ thuốc thôn quê để bán cho các xã với giá rẻ. Năm 1950, Bộ Y tế lại cho thành  lập  Nha  y  tế  thôn  quê  với  nhiệm  vụ  phổ  biến  tài  liệu truyền bá vệ sinh và y tế hương thôn, đào tạo cán bộ y tế xã và nữ hộ sinh nông thôn, lập tủ thuốc, xây dựng và theo dõi thực hiện phong trào vệ sinh ở nông thôn.

Nhờ có sự quan tâm của các cấp chính quyền, công tác y tế đã thu được nhiều kết quả. Tính đến năm 1950, ở các vùng tự do đã có 6.443 cơ sở y tế nông thôn, 1.670 cơ sở hộ sinh xã với
4.092 cán bộ làm công tác y tế xã, cứu thương, hộ sinh xã. Tại
Nam Bộ, mỗi huyện có ban quân - dân y, quân - dân y xá, tổ nha
y,  tổ  hộ  sinh,  tổ  bào  chế.  Các  xã  đều  có  ban  y  tế,  trạm  cứu thương, nhà bảo sinh...
d) về ngoại giao .

Cùng với việc xây dựng thực lực trong nước, Đảng và Chính phủ  nước Việt  Nam Dân  chủ  Cộng  hoà  chủ  trương  đẩy  mạnh hoạt động ngoại giao, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của quốc tế đối với cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân ta.

Chính sách ngoại giao của nước Việt Nam đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ là "làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai” 1.

Theo phương hướng đó, ngoại giao Việt Nam thời kì này bắt đầu  thiết  lập  được  các  mối  liên  hệ  trực  tiếp  với  một  số  nước Đông Nam Á, trước hết là Thái Lan và từ đó mở rộng địa bàn tiếp xúc, tuyên truyền quốc tế phát triển ngoại giao nhân dân để tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới.

Đối  với  nước  Pháp  và  nhân  dân  Pháp,  Chính  phủ  và  nhân dân Việt Nam vẫn thân thiện và "muốn cộng tác với nhân dân


1.2.3.  Hồ  Chí  Minh:  Toàn  tập.  Tập  V.  NXB  Chính  trị  Quốc  gia.  Hà  Nội
1995, tr. 220, 11 ,27 .
125
 
Pháp như anh em trên một căn bản tín nghĩa và bình đẳng" 1.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 30 Tháng Mười, 2011, 11:32:05 am
Từ  tháng  12-1946  đến  tháng  3-1947,  thay  mặt  Chính  phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã 8 lần gửi thư cho Chính phủ, Quốc hội Pháp và cả Tổng thống Pháp Vanhxăng  Ôriôn  (Vincent  Auriol),  đề  nghị  "lập  lại  ngay  nền hoà bình đê tránh cho hai nước chúng ta khỏi bị hao người thiệt của, và để gây lại sự cộng tác và tình thân thiện giữa hai dân tộc" 2. Những đề nghị của Chính phủ ta không được Chính phủ Pháp đáp ứng. Ngược lại, thực dân Pháp đã cử Pôn Muýt (Phút Mus)  đến  gặp  Chủ  tịch  Hồ  Chí  Minh  (tháng  5-1947),  ngang ngược đòi ta phải nộp vũ khí cho họ, đòi để cho quân đội thực dân Pháp được đi lại tự do trên khắp đất nước ta.

Đối với các nước châu Á, cùng với việc tăng cường khối liên minh chiến đấu Việt - Miên - Lào, Chính phủ ta tích cực xây dựng quan hệ thân thiện với các nước dựa trên lập trường chống đế quốc thực dân, bảo vệ độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.  Chính  phủ  ta  đã  tỏ  tình  đoàn  kết  ủng  hộ  cuộc  đấu  tranh giành độc lập dân tộc của nhân dân Inđônêxia, Ấn Độ; duy trì tình hữu nghị với Thái Lan, Mianma... và cử đoàn đại biểu đi dự Hội nghị Liên Á họp ở Niu Đêli (3-1947). Tháng 4-1947, Chính phủ ta đặt cơ quan đại diện tại Băng Cốc (Thái Lan) và được hưởng đặc quyền như một cơ quan ngoại giao. Tranh thủ chính sách của Chính phủ Thái Lan là chống thực dân và ủng hộ cuộc kháng  chiến  của  ta,  từ  tháng  2-1948  Trung  ương  Đảng  cử  10 cán bộ sang Băng Cốc để tăng cường cho cơ quan đại diện và đặt quan hệ với các đoàn thể quốc tế tại Thái Lan, Trung Quốc và Miến Điện.

Đầu năm 1948, Chính phủ ta lại cử một đoàn cán bộ ngoại giao sang Thái Lan, Mianma, Trung Quốc, Tiệp Khắc để tuyên truyền về cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược.




126
 
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cũng cử nhiều đoàn đại biểu tham dự các cuộc hội nghị quốc tế như Hội nghị Công đoàn ngành Giầy da ở Tiệp Khắc (6-1949), Hội nghị thuỷ thủ và công nhân  bến  tàu  ở  Mácxây  (7-1949),  Hội  nghị  thanh  niên  công nhân thế giới ở Praha, v.v...

Từ  cuối  năm  1949,  cùng  với  sự  lớn  mạnh  của  lực  lượng kháng chiến, uy tín của Nhà nước ta được nâng lên. Tình hình quốc tế cũng có những chuyển biến theo chiều hướng thuận lợi cho ta. Trong bối cảnh ấy, Đảng và Chính phủ chủ trương đẩy mạnh hoạt động ngoại giao để tranh thủ rộng rãi sự đồng tình, ủng  hộ  của  các  lực  lượng  hoà  bình,  dân  chủ  thế  giới  đối  với cuộc kháng chiến của nhân dân ta.

Đầu năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Trung quốc hội đàm với Mao Trạch Đông và các nhà lãnh đạo nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Tiếp đó, Người sang Liên Xô hội đàm với Xtalin  cùng  các  nhà  lãnh  đạo  Đảng  và  Nhà  nước  Liên  Xô  về những vấn đề liên quan đến cuộc kháng chiến ở Việt Nam.



Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 30 Tháng Mười, 2011, 11:32:31 am
Chuyến đi của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tranh thủ thêm sự đoàn kết và viện trợ quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc kháng chiến phát triển đi lên.

Ngày 14-1-1950, thay mặt Chính phủ Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí  Minh  tuyên  bố  sẵn  sàng  đặt  quan  hệ  ngoại  giao  với  các nước trên thế giới: "Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là chính phủ hợp pháp duy nhất của toàn thể nhân dân Việt Nam. Căn  cứ  trên  quyền  lợi  chung,  Chính  phủ  Việt  Nam  Dân  chủ Cộng hoà sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với chính phủ nước nào  trọng  quyền  bình  đẳng,  chủ  quyền  lãnh  thổ  và  chủ  quyền quốc gia của nước Việt Nam, để cùng nhau bảo vệ hoà bình và
xây đắp dân chủ thế giới" 1.



1. Hồ Chí Minh: Toàn tập. Tập VI. NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995, tr.
7-8.
127
 
Ngày  15-1-1950,  Chính  phủ  Việt  Nam  Dân  chủ  Cộng  hoà tuyên bố công nhận nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa.

Ngày 18-1-1950, Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa  và  ngày  30-1-1950,  Chính  phủ  Liên  Xô  đã  công  nhận Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trong vòng một tháng sau đó nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên và hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu (Tiệp Khắc, Cộng hoà Dân chủ Đức, Cộng hoà Nhân dân Hunggari, Rumani, Ba Lan, Bungari, Anbani) cũng lần lượt công nhận Chính phủ ta.

Việc các nước xã hội chủ nghĩa công nhận Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một thắng lợi to lớn về chính trị, ngoại giao. Thắng lợi đó góp phần nâng cao uy tín và địa vị của Nhà nước ta trên chính trường quốc tế, có ảnh hưởng lớn đến cuộc kháng chiến của nhân dân ta.
CÂU HỎI - BÀI TẬP

1 - Tại sao Đảng, Chính phủ ta phát động cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trong toàn quốc ngày 19-12-1946 ?

2- Cuộc chiến đấu của quân dân ta ở thủ đô Hà Nội và các đô thị phía Bắc vĩ tuyến 16 trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến (từ ngày 19-12-1946) đã diễn ra như thế nào ? Kết quả và
ý nghĩa.

3- Phân tích nội dung đường lối kháng chiến chống thực dân
Pháp của Đảng ta.

4-  Cuộc  kháng  chiến  toàn  quốc  chống  thực  dân  Pháp  của nhân dân ta đã được chuẩn bị như thế nào trong những ngày đầu bùng nổ ?

5- Quân và dân ta đã chiến đấu như thế nào để đập tan cuộc tấn công của giặc Pháp lên căn cứ địa Việt Bắc thu - đông 1947?





128
 
6- Cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện được đẩy mạnh như
thế nào sau chiến thắng Việt Bắc thu - đông 1947?


Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 30 Tháng Mười, 2011, 11:33:08 am
Chương III



BƯỚC PHÁT TRIỂN MỚI CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN TOÀN QUỐC CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1950 - 1953)

Chương  III  nhằm  cung  cấp  những  kiến  thức  cơ  bản  về  sự phát triển mới của cuộc kháng chiến toàn quốc chống Pháp khi bước vào thu đông 1950:

- Mở đầu là Chiến dịch tiến công Biên giới thu - đông 1950 giành thắng lợi. Sau thắng lợi Biên giới, quân ta mở liên tiếp nhiều chiến dịch tiến công và phản công trên cả ba chiến trường (đồng bằng, trung du, miền núi), giành thắng lợi trong các chiến dịch mở ra ở rừng núi (Hoà Bình đông -  xuân 1951 - 1952, Tây Bắc thu - đông 1952, Thượng Lào xuân - hè 1953).

Đế  quốc  Mĩ ngày càng can thiệp sâu vào cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương. Thực dân Pháp thực hiện Kế hoạch Đờ Lát đờ Tátxinhi (De Lattre dễ Tassigny) với âm mưu giành lại quyền  chủ  động  chiến  lược  đã  mất  sau  thất  bái  ở  chiến  dịch Biên giới.

- Đảng Cộng sản Đông Dương tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II (2-1951). Đại hội quyết định đưa Đảng ra hoạt động  công  khai,  lấy  tên  là  Đảng  Lao  động  Việt  Nam,  chủ trương củng cố hậu phương kháng chiến về mọi mặt, đẩy mạnh cuộc kháng chiến đến thắng lợi.

I- Chiến dịch Biên giới thu - đông 1950


1- Bối cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng

129
 
Từ  cuối  năm  1949  -  đầu  năm  1950,  tình  hình  quốc  tế  có nhiều  thay  đổi  ảnh  hưởng  thuận  lợi  đối  với  cách  mạng  Việt Nam. Ở châu Âu, các nước dân chủ nhân dân Đông Âu đã hoàn thành cuộc cách mạng dân chủ nhân dân và chuyển sang cách mạng xã hội chủ nghĩa. Liên Xô đã hoàn thành kế hoạch 5 năm lần thứ 4 với những thành tựu to lớn về kinh tế và quân sự, trở thành chỗ dựa vững chắc cho phong trào cách mạng thế giới. Ở châu  Á,  cách  mạng  Trung  Quốc  thành  công,  nước  Cộng  hoà Nhân dân Trung Hoa ra đời (1-10-1949) làm thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho cách mạng, đồng thời tạo điều kiện khách quan thuận lợi cho nước ta tiếp xúc trực tiếp với phe xã hội chủ nghĩa. Với sự ra đời nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, hệ thống xã hội chủ nghĩa được mở rộng và nối liền từ Âu sang Á, tạo chỗ dựa vững chắc cho phong trào đấu tranh vì độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa thuộc châu Á và châu Phi tiếp tục phát triển mạnh mẽ.

Ở  trong  nước,  từ  năm  1948  đến  mùa  thu  năm  1950,  cuộc kháng chiến của nhân dân ta liên tiếp giành được thắng lợi lớn về mọi mặt. Phong trào chiến tranh du kích ngày càng lan rộng. Các đội vũ trang tuyên truyền, đại đội độc lập tiến sâu vào vùng Pháp  chiếm  đóng,  cùng  cán  bộ  và  nhân  dân  địa  phương  xây dựng  cơ  sở  kháng  chiến.  Lực  lượng  vũ  trang  ba  thứ  quân  đã được  xây  dựng  hoàn  chỉnh,  gồm  bộ  đội  chủ  lực,  bộ  đội  địa phương và dân quân du kích. Trong các vùng tạm bị địch chiếm, phong trào đấu tranh của nhân dân phát triển mạnh mẽ, nhất là ở các thành phố, thị xã.

Việc các nước xã hội chủ nghĩa công nhận Chính phủ Việt Nam  Dân  chủ  Cộng  hoà  đầu  năm  1950  cùng  với  những  bước phát triển mới của tình hình trong nước và quốc tế đã làm cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam vượt ra khỏi phạm vi một nước và trở thành vấn đề quốc tế Thực dân Pháp và phe đế quốc lo sợ ảnh hưởng của cách mạng Việt Nam lan tràn xuống khu vực phía nam châu Á.
130
 
Trong khi đó, thực dân Pháp ngày càng hao hụt về quân số do phải phân tán lực lượng để đối phó với cuộc chiến tranh du kích của ta đang ngày càng phát triển mạnh mẽ.
Trong tình thế khó khăn và bị động, Pháp đã cử Đại tướng Rơve (Revers), Tổng Tham mưu trưởng quân đội Pháp cùng 6 nghị  sĩ  Quốc  hội  Pháp  sang  Đông  Dương  để  nghiên  cứu  tình hình. Sau một tháng (16-5 - 17-6-1949) nghiên cứu thực địa và trao đổi với các tướng tá ở Đông Dương, trở về nước, Rơve đã vạch  ra  một  kế  hoạch,  gọi  là  Kế  hoạch  Rơve.  Với  chiến  thuật "khoá  then  cửa",  Rơve  chủ  trương  khoá  chặt  biên  giới  Việt  - Trung bằng một tuyến phòng thủ vững chắc trên Đường số 4 để cô lập cách mạng Việt Nam. Đồng thời, chúng tung quân đánh rộng ra vùng trung du, thiết lập hành lang Đông - Tây hòng ngăn chặn con đường liên lạc giữa Việt Bắc với đồng bằng Liên khu III và Liên khu IV. Tại Khu III, Pháp mở rộng phạm vi chiếm đóng ra các tỉnh phía nam sông Hồng, kéo dài phòng tuyến đến tận Hoà Bình. Ở Khu IV, Pháp mở rộng phạm vi hành lang Bình
- Trị - Thiên để cắt đứt liên lạc giữa Khu IV và Khu V.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 30 Tháng Mười, 2011, 11:33:32 am
Bên  cạnh  những  thuận  lợi  mới,  cuộc  kháng  chiến  của  nhân dân  ta  cũng  gặp  không  ít  khó  khăn.  Trên  chiến  trường  chính, quân đội ta vẫn chưa nắm được quyền chủ động về chiến lược, chưa giành được ưu thế về quân sự. Căn cứ địa kháng chiến Việt Bắc vẫn còn nằm trong tình trạng bị địch bao vây, phong toả và có nguy cơ bị chúng tấn công lần thứ hai; vùng trung du và đồng bằng, nơi đông dân nhiều của, vẫn còn bị địch chiếm đóng.

Chính trong tình hình đó, để tạo những chuyển biến mạnh mẽ cho  kháng  chiến,  Hội  nghị  toàn  quốc  lần  thứ  3  của  Đảng  (từ ngày 21-1 đến 3-2-1950) ra nghị quyết nêu rõ: Cần phải nhân đà tiến bộ của bản thân ta, dựa vào sự giúp đỡ của các lực lượng bạn,  lợi  dụng  sự  lúng  túng  của  thực  dân  Pháp,  gấp  rút  hoàn thành nhiệm vụ chuẩn bị, giành thắng lợi lớn, làm thay đổi cục diện chiến trường có lợi cho ta. Cùng thời gian này, Trung ương Đảng chỉ thị cho Liên khu uỷ Việt Bắc: "Chuẩn bị chiến trường

131
 
Đông Bắc cho thật đầy đủ để khi có điều kiện sẽ mở một chiến dịch  lớn,  quét  địch  ra  khỏi  Đường  số  4,  đánh  bại  trong  vùng Đông  Bắc"  1.  Đến  tháng  5-1950,  Trung  ương  chỉ  thị  cho  Liên khu  uỷ  Việt  Bắc  "Về  việc  vận  tải".  Chỉ  thị  nhấn  mạnh:  "Hiện nay  việc  giao  thông  liên  lạc  giữa  nước  ta  với  nước  ngoài, đặc biệt với Trung Quốc là rất cần thiết. Trung ương quyết định sửa gấp những con đường lớn trong Liên khu Việt Bắc từ biên giới vào" 2  .

Thực hiện chủ trương của Trung ương, chỉ trong hơn 3 tháng, bằng  những  nỗ  lực  to  lớn  của  các  đội  thanh  niên  xung  phong công tác chiến sĩ công binh và nhân dân địa phương, hàng trăm km đường đã được mở từ biên giới vào nội địa ốc chuẩn bị cho trận đánh lớn của quân đội ta.

Tháng 6-1950, Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Biên giới ở hướng Cao Bằng - Lạng Sơn, nhằm thực hiện ba mục đích:

- Tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng địch.

- Giải phóng một phần biên giới, mở đường liên lạc với quốc
 
tế.


- Mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc.



Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 30 Tháng Mười, 2011, 11:34:00 am
2- Chiến dịch Biên giới thu - đông 1950

Chiến trường Biên giới có tầm quan trọng về chiến lược. Do vậy  thực  dân  Pháp  bố  trí  ở  đây  một  lực  lượng  quân  sự  khá mạnh.  Tổng  số  binh  lực  của  địch  ở  Liên  khu  Biên  giới  Đông Bắc có 11 tiểu đoàn, 9 đại đội lẻ, phần lớn là lính Âu - Phi tinh nhuệ (gồm 10 tiểu đoàn). Ngoài ra, địch còn có lực lượng binh chủng gồm 27 khẩu pháo, 4 đại đội cơ giới, 4 đại đội công binh và 8 máy bay. Với binh lực lớn và tinh nhuệ, hể thống phong


1. Dẫn theo: Lịch sử Việt Nam (9-1945 - 1950)... Sđd, tr. 405.

2. Dẫn theo. Lịch sử Việt Nam (9-1945 – 1950)... Sđd, tr. 405.
132
 
thủ vững chắc, Bộ chỉ huy Pháp đặt nhiều hi vọng vào khả năng phòng thủ của Liên khu Biên giới. Tuy nhiên, Liên khu này có nhiều điểm bất lợi: Thế bố trí thành tuyến kéo dài trên một con đường độc đạo với những vị trí cô lập cách xa nhau hàng chục km; địa hình rừng núi hiểm trở, phức tạp làm cho quân cơ động ứng chiến bằng cơ giới khó phát huy được tác dụng...
Bộ  chỉ  huy  chiến  dịch  do  Đại  tướng  Võ  Nguyên  Giáp  làm Chỉ  huy  trưởng  kiêm  Chính  uỷ  và  Bí  thư  Đảng  uỷ  mặt  trận, quyết định tập trung một lực lượng mạnh tham gia chiến dịch. Lực  lượng  này  gồm có  Đại  đoàn  308,  Trung đoàn  209,  Trung đoàn 174, bốn đại đội sơn pháo cùng với lực lượng vũ trang của Liên khu Việt Bắc và hai tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn. Phương án dự kiến ban đầu là đánh địch ở Cao Bằng để thu hút lực lượng địch,  nhưng  sau  khi  cân  nhắc  kĩ,  Bộ  chỉ  huy  quyết  định  đánh xuống Đông Khê - nơi địch tương đối mỏng để đảm bảo chắc thắng. Phương châm chiến dịch là đánh điểm diệt viện.

Phương án trên đã được Ban Thường vụ Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chuẩn y. Các mặt chuẩn bị cho chiến dịch cũng được tiến hành khẩn trương. Chúng ta đã huy động hàng chục vạn dân công tập trung để sửa đường vận tải, vận chuyển một khối lượng lớn vật chất ra mặt trận. Với khẩu hiệu Tất cả cho chiến dịch toàn thắng, cán bộ và nhân dân các dân tộc Việt Bắc đem hết sức mình phục vụ tiền tuyến. Khoảng 121.700 dân công thuộc các dân tộc Việt Bắc tham gia phục vụ tiền tuyến, tổng cộng 1.716.000 ngày công. Khoảng 2/3 cán bộ các cấp của các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kim, Lạng Sơn được huy động phục vụ chiến dịch. Đồng bào các dân tộc còn đóng góp cho chiến dịch hơn  100  tấn  lương  thực.  Viện  trợ  của  Chính  phủ  và  nhân  dân Trung Quốc cũng là nguồn rất quan trọng góp phần đảm bảo cho chiến dịch toàn thắng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã "chống gậy lên non xem trận địa", trực tiếp kiểm tra kế hoạch tác chiến, công tác chuẩn bị và động viên cán bộ, chiến sĩ, dân công tham gia chiến dịch.

133


Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 30 Tháng Mười, 2011, 11:34:22 am
Sáng 16-9-1950, quân ta nổ súng đánh Đông Khê, mở  màn chiến dịch. Trong trận này đã xuất hiện nhiều tấm gương chiến đấu hi sinh dũng cảm tuyệt vời, đó là Đại đội trưởng Trần Cừ lấy thân mình lấp lỗ châu mai mở đường cho đơn vị xông lên diệt đồn địch; Lý Văn Mưu bị thương đã dùng bộc phá lao vào phá  huỷ  lô  cốt  giặc;  La  Văn  Cầu  bị  thương  vào  cánh  tay  đã không chút do dự nhờ đồng đội chặt đứt khỏi vướng để tiếp tục lao  lên  đánh  bộc  phá,  hoàn  thành  nhiệm vụ.  Các  nữ  dân  công Đinh Thị Dậu, Triệu Thị Soi nhiều lần băng mình qua lửa đạn cứu thương binh, tiếp đạn cho bộ đội... Sau hai ngày chiến đấu quyết liệt bộ đội ta tiêu diệt được vị trí Đông Khê. Thất Khê bị uy hiếp trực tiếp. Cao Bằng hoàn toàn bị cô lập. Thế trận phòng thủ của địch trên Đường số 4 bị rung chuyển.

Đúng như ta phán đoán, Đông Khê thất thủ đã gây nên phản ứng dây chuyền trong giới cầm quyền quân sự và chính trị Pháp. Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương phải ra lệnh rứt quân khỏi Cao Bằng theo Đường số 4.

Kế  hoạch  trên  được  thực  hiện  bằng  cuộc  hành  quân  "kép". Một  mặt,  địch  cho  binh  đoàn  từ  Thất  Khê,  do  Lơ  Pagiơ  (Le Page) chỉ huy, tiến lên chiếm lại Đông Khê để đón binh đoàn từ Cao  Bằng,  do  Sáctông  (Charton)  chỉ  huy,  kéo  về.  Mặt  khác, chúng vét hầu hết lực lượng dự bị chiến lược ở Bắc Bộ (gồm 6 tiểu đoàn) mở chiến dịch mang tên Phôcơ (Pho que: Chó biển) đánh chiếm thị xã Thái Nguyên, hi vọng thu hút chủ lực của ta ở mặt trận Biên giới để đỡ đòn cho đồng bọn và trấn an dư luận trước việc thất thủ Đông Khê.

Nắm  được  ý  đồ  của  địch,  quán  triệt  phương  châm  "đánh điểm diệt viện", trên mặt trận Biên giới, bộ đội ta kiên nhẫn mai phục chờ đánh quân tiếp viện.

Sau một thời gian chuẩn bị, vừa thăm dò ý định của ta, ngày
30-9,  địch  cho  binh  đoàn  Lơ  Pagiơ  tiến  lên  Đông  Khê.  Binh đoàn của Sáctông ở Cao Bằng cũng bắt đầu rút về. Bộ chỉ huy mặt  trận  chủ  trương  tập  trung  lực  lượng,  tiêu  diệt  từng  cánh
134
 
quân địch. Trải qua 8 ngày chiến đấu ác liệt tại khu vực núi Cốc Xá và khu Đồi 477 ở phía tây Đông Khê, bằng chiến thuật vận động chiến, quân ta tiêu diệt và bắt gọn' hai binh đoàn địch gồm
7 tiểu đoàn. Ngày 8-10, địch cho một tiểu đoàn, do Đờ la Bôm (De la Beaume) chỉ huy, từ Thất Khê kéo lên định ứng cứu cho Lơ Pagiơ và Sáctông cũng bị đánh tan. Kế hoạch rút quân của địch hoàn toàn sụp đổ.
Liên tiếp từ ngày 10 đến ngày 23-10, địch lần lượt rút chạy khỏi các vị trí: Thất Khê, Na Sầm, Đồng Đăng, Lạng Sơn, Lộc Bình, Đình Lập, An Châu. Trong quá trình rút chạy, địch lại bị quân ta truy kích tiêu diệt thêm một phần lực lượng.

Phối hợp với mặt trận Biên giới, trên các chiến trường khác, quân ta tích cực đẩy mạnh các hoạt động tiến công địch.

Tại mặt trận Tây Bắc, quân và dân ta vừa hoàn thành nhiệm vụ nghi binh, vừa tiêu diệt và buộc địch phải rút bỏ hàng loạt vị trí, trong đó có thị xã Lào Cai và thị trấn Sa Pa.

Tại Việt Bắc, cuộc tấn công lên Thái Nguyên của 6 tiểu đoàn địch đã bị quân và dân ta đập tan. Không thực hiện được ý đồ áeo chủ lực của ta ở mặt trận Biên giới về, lại bị thiệt hại gần
1.000 tên. Ngày 11-10 quân Pháp buộc phải rút khỏi thị xã Thái
Nguyên.

Ở chiến trường Bắc Bộ, quân và dân ta đánh mạnh, tiêu diệt
700 địch, buộc chúng phải rút 44 vị trí, trong đó có thị xã Hoà Bình. Ở Bình - Trị - Thiên, quân ta mở chiến dịch Phan Đình Phùng,  đột  nhập  thị  xã  Quảng  Trị,  đánh  mìn  trên  đoạn  dường Huế - Đà Nẵng, thực hiện được nhiệm vụ tiêu hao và kiềm chế địch tại chỗ, không cho chúng điều quân ra Bắc Bộ.

Sau  khoảng  một  tháng  chiến  đấu  dũng  cảm  và  mưu  trí  của quân và dân ta, chiến dịch Biên giới kết thúc thắng lợi. Quân ta đã tiêu diệt và bắt khoảng 8.300 địch, gồm 8 tiểu đoàn Âu - Phi và 2 tiểu đoàn ngụy, thu trên 3.000 tấn vũ khí và phương tiện chiến tranh; giải phóng một dải biên giới với chiều dài 750 km,

135


Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 30 Tháng Mười, 2011, 11:34:56 am
gồm  350.000  dân.  Nếu  tính  cả  các  chiến  trường  phối  hợp  với mặt trận Biên giới, tổng số địch bị tiêu diệt và bị bắt là 11.500 tên; một vùng rất rộng lớn khoảng 4.000 km2  cùng với 400.000 dân được hoàn toàn giải phóng; địch buộc phải rút khỏi 217 vị trí, trong đó có 5 thị xã quan trọng: Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai, Thái Nguyên và Hoà Bình; hành lang Đông - Tây của địch
bị phá vỡ. Con đường liên lạc giữa căn cứ địa Việt Bắc với đồng bằng Bắc Bộ và Liên khu IV được thông suốt. Sự thông thương giữa nước ta với quốc tế cũng được mở ra trên nhiều hướng. Từ đây, hậu phương của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã nối liền với  nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, với Liên Xô và với các lực lượng yêu chuộng hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã thoát khỏi thế bao vây phong toả của các thế lực đế quốc, có điều kiện tranh thủ sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế.

Đối  với  địch,  đây  là  một  thất  bại  nặng  nề  chưa  từng  có  từ trước đến bấy giờ. Cả một loạt kế hoạch chính trị, quân sự mà Pháp ra sức thực hiện từ sau thu - đông 1947 đã bị phá sản. Kế hoạch Rơve cơ bản bị thất bại. Tất cả những tổn thất ấy đã khoét sâu thêm khó khăn về quân sự và giáng một đòn mạnh vào tinh thần tướng sĩ địch. Thất bại ở biên giới đã gây nên sự đảo lộn lớn về chiến lược, chiến thuật của thực dân Pháp. Chúng phải bố
trí lại quân lực, thay đổi chỉ huy, thay đổi chiến thuật và ngày càng lún sâu vào thế phòng ngự về chiến lược.

Đối với nhân dân ta; sau bốn năm kháng chiến toàn quốc, đây
là  lần  đầu  tiên  quân  đội  ta  chủ  động  mở  một  chiến  dịch  tiến công quy mô lớn và chiến thắng giòn giã. Chiến thắng này đánh dấu  bước  trưởng  thành  vượt  bậc  về  nghệ  thuật  quân  sự,  nghệ thuật chỉ đạo chiến dịch và trình độ tác chiến tập trung của quân đội ta.

Với chiến thắng Biên giới, quyền chủ động về chiến lược trên chiến trường chính (Bắc Bộ) đã thuộc về quân đội ta. Cục diện chiến tranh đã thay đổi có lợi cho ta. Từ đó về sau, quân đội ta

136
 
liên tục chủ động tiến công và phản công địch. Chiến thắng Biên giới mở ra bước ngoặt cơ bản, đưa cuộc kháng chiến của ta từ hình thái chiến tranh du kích lên chiến tranh chính quy.

Chiến  thắng  Biên  giới  còn  phản  ánh  kết  quả  của  Đảng  và Chính phủ về xây dựng hậu phương kháng chiến. Chính kẻ địch cũng phải thừa nhận: "Đây thực sự là một cuộc chiến tranh của một dân tộc có tinh thần đấu tranh cương quyết bảo vệ độc lập của nước mình" 1.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 30 Tháng Mười, 2011, 11:35:27 am
II- Đế quốc Mĩ can thiệp sâu vào cuộc chiến tranh xâm lược
Đông Dương – Kế hoạch Đờ Lát đờ Tătxinhi

1.  Mĩ  can  thiệp  sâu  vào  cuộc  chiến  tranh  xâm  lược  Đông
Dương

Từ  năm  1950,  cuộc  kháng  chiến  của  nhân  dân  ta  đã  giành được nhiều thắng lợi to lớn về chính trị, ngoại giao và quân sự. Uy  tín  và  địa  vị  của  Nhà  nước  ta  được  nâng  cao  trên  trường chính quốc tế. Sau khi thiết lập được quan hệ ngoại giao với các nước xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ của bạn bè không chỉ về tinh thần mà cả vật chất. Năm 1950, hàng viện trợ của Trung Quốc bắt đầu được chuyển đến Việt Nam.

Cùng với sự lớn mạnh của các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào giải phóng dân tộc tiếp tục phát triển; phong trào đấu tranh
vì hoà bình và dân chủ cũng ngày càng lan rộng. Tại nước Pháp, phong  trào  phản  đối  cuộc  chiến  tranh  bẩn  thỉu  của  thực  dân Pháp ở Đông Dương ngày càng dâng lên mạnh mẽ. Nhiều nghị
sĩ trong Quốc hội lên tiếng chất vấn, công kích Chính phủ theo đuổi cuộc chiến tranh phi nghĩa ở Đông Dương. Nhân dân các nước Angiêri, Marốc, Tuynidi... lên tiếng đòi rút quân đội viễn chinh Pháp ra khỏi Việt Nam.




 
1. Cuộc kháng chiến th.ần thánh của nhân dân Việt Nam. T. 2, tr. 527

137
 
Trước tình thế đó, thực dân Pháp nhận thấy khó có thể tiếp tục cuộc chiến tranh nếu không có sự giúp sức của đế quốc Mĩ . Vì vậy, dù mâu thuẫn với Mĩ, thực dân Pháp vẫn buộc phải dựa vào Mĩ, cầu xin viện trợ Mĩ để theo đuổi cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương. Về phía đế quốc Mĩ, nhân lực Pháp thất bại
ở mặt trận Biên giới, chúng tăng thêm viện trợ cho Pháp và can thiệp  sâu  hơn  vào  cuộc  chiến  tranh  Đông  Dương,  nhằm  ngăn chặn phong trào cách mạng lan xuống Đông Nam Á, từng bước thay chân Pháp, độc chiếm Đông Dương.

Tháng  12-1950,  Mĩ,  Pháp  cùng  với  các  Chính  phủ  bù  nhìn Việt,  Miên,  Lào  kí  Hiệp  định  phòng  thủ  chung  Đông  Dương. Với Hiệp định này, Mĩ cam kết sẽ viện trợ quân sự cho chính quyền bù nhìn ba nước để phòng thủ Đông Dương. Cuối tháng
1-1951,  Thủ  tướng  Pháp  Plêven  và  Tổng  Tham  mưu  trưởng quân  đội  viễn  chinh  Pháp  Ala  hội  đàm  với  Tổng  thống  Mĩ Truman  về  viện  trợ  cho  Đông  Dương.  Pháp  yêu  cầu  Mĩ  cung cấp tối đa vũ khí và các trang bị cần thiết cho quân đội bù nhìn.

Tháng 9-1951, Mĩ và Chính phủ bù nhìn Bảo Đại kí hiệp ước tay đôi dưới tên gọi Hiệp ước hợp tác kinh tế Việt - Mĩ, nhằm chuyển thẳng một phần viện trợ của Mĩ cho Chính phủ Bảo Đại. Thông  qua  đó,  Mĩ  từng  bước  nắm  chặt  ngụy  quyền  Bảo  Đại. Tháng 12-1951, Mĩ cùng Bảo Đại kí tiếp bản Hiệp nghị an ninh chung.

Dựa vào các bản hiệp định trên, viện trợ của Mĩ chiếm tỉ lệ
ngày càng cao trong ngân sách chiến tranh Đông Dương: Năm
1950: 52 tỉ phrăng (19% ngân sách)
Năm 1951: 62 tỉ phrăng (16% - ) Năm 1952: 200 tỉ phrăng (35% - ) Năm 1953: 285 tỉ phrăng (43% - )





138
 
Năm 1954: 555 tỉ phrăng (73% - ) 1.

Từ  năm  1950  đến  năm  1953,  đế  quốc  Mĩ  đưa  vào  Đông Dương khoảng 400.000 tấn vũ khí và phương tiện chiến tranh. Riêng trong hai năm (1952 - 1953), số tiền Mĩ cho Pháp vay là
314 triệu đôla.



Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 30 Tháng Mười, 2011, 11:35:49 am
Các phái đoàn viện trợ kinh tế, cố vấn quân sự Mĩ cũng lần lượt sang Việt Nam.Tháng 5-1950, phái đoàn viện trợ Mĩ đến Sài Gòn. Tháng 9-1950, phái đoàn cố vấn quân sự Mĩ (MAAG) được thành lập ở Việt Nam. Năm 1952, các Phòng Thông tin Mĩ được  đặt  ở  nhiều  nơi  trong  vùng  thực  dân  Pháp  chiếm  đóng. Các tướng, tá, chính khách Mĩ ở Đông Dương ngày càng tăng. Các trung tâm và trường huấn luyện của Mĩ bắt đầu tuyển chọn và đưa người Việt Nam sang học tại Mĩ .2 - Kế hoạch Đờ Lát đờ Tátxinhi

Được Mĩ viện trợ, thực dân Pháp tập trung lực lượng phòng ngự và bình định vùng tạm chiếm, nhất là khu vực đồng bằng Bắc Bộ; đồng thời chuẩn bị mở các cuộc phản công với hi vọng giành lại quyền chủ động về chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ. Ngày 6-12-1950, Chính phủ Pháp cử Đại tướng Đờ Lát đờ  Tátxinhi  (De  Lattre  de  Tassigny)  -  Tư  lệnh  lục  quân  Khối Tây Âu - sang làm Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh, kiêm Cao uỷ Đông Dương. Đây là lần đầu tiên sau 5 năm chiến tranh xâm lược  Đông  Dương,  Chính  phủ  Pháp  tập  trung  quyền  hành  cả quân sự và chính trị vào tay một viên tướng để thống nhất chỉ đạo chiến tranh. Đờ Lát vạch ra một kế hoạch quân sự gồm 4 điểm  chủ  yếu:  Gấp  rút  tập  trung  quân  Âu  -  Phi  để  xây  dựng thành một lực lượng cơ động chiến lược mạnh; đồng thời phát triển ngụy quân với quy mô lớn.



1. Lịch sử quân đội nhân dân Việt Nam. NXB Quân đội nhân dân. Hà Nội
1974, tr.427.


139
 
- Xây dựng quân đội quốc gia của chính quyền bù nhìn Bảo
Đại.

- Xây dựng tuyến công sự phòng thủ bao quanh trung du và đồng  bằng  Bắc  Bộ  nhằm  đối  phó  với  chủ  lực  của  ta  và  ngăn chặn ta đưa nhân lực, vật lực ra vùng tự do.

-  Tiến  hành  chiến  tranh  tổng  lực,  bình  định  vùng  tạm  bị chiếm và vùng du kích; đồng thời phá hoại hậu phương kháng chiến và chuẩn bị tấn công ra vùng tự do.

Tư tưởng chủ đạo của kế hoạch Đờ Lát là tập trung nỗ lực của đội quân viễn chinh Pháp vào chiến trường Bắc Bộ, làm cho Bắc Bộ trở thành "cái then cửa" của vùng Đông Nam Á chống lại phong trào cách mạng đang phát triển mạnh mẽ ở khư vực này. Tiếp theo kế hoạch Rơ ve, Kế hoạch Đờ Lát càng thể hiện
rõ  sự  can  thiệp  của  Mĩ  vào  cuộc  chiến  tranh  xâm  lược  Đông Dương và viện trợ Mĩ từ lúc này đã trở thành một điều kiện hết sức quan trọng để thực hiện Kế hoạch Đờ Lát. vừa phải lo đối phó với các chiến dịch tiến công của quân đội ta và ra sức càn quét để ổn định vùng tạm chiếm, thực dân Pháp vừa đẩy mạnh tốc độ thực hiện kế hoạch Đờ Lát.

Về  chính  trị,  với  việc  Bảo  Đại  lên  ngôi  "Quốc  trưởng"  và chính  phủ  Trần  Văn  Hữu  làm  lễ  tuyên  thệ  (3-1951),  thực  dân Pháp coi như đã hoàn thành việc lập chính quyền tay sai. Chúng
ra sức tuyên truyền cho nền độc lập giả hiệu và tô son trát phấn cho  chính  quyền  bù  nhìn.  Để  tập  trung  quyền  hành  trong  tay, Trần  Văn  Hữu  lần  lượt  thanh  trừng  lực  lượng  Đại  Việt  của Nguyễn Hữu Trí ở Bắc Bộ, cách chức Phan Văn Giáo, thủ hiến Trung phần, bao vây phong toả vùng kiểm soát của lực lượng Cao Đài, thay thế khu tự trị công giáo" ở Bùi Chu, Phát Diễm bằng  tổ  chức  hành  chính  quân  sự  của  ngụy  quyền.  Chính  phủ Trần Văn Hữu tiếp tục công nhận các công sở do Pháp bàn giao,
tổ  chức  bộ  máy  hành  chính  từ  tỉnh,  huyện  xuống  tới  xã,  thôn trong vùng tạm chiếm.


140


Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 30 Tháng Mười, 2011, 11:36:06 am
Cùng với việc củng cố bộ máy ngụy quyền, thực dân Pháp và tay sai còn tập hợp và tranh thủ các đảng phái phản động; đồng thời tổ chức thêm nhiều đoàn thể tổ chức chính trị lừa bịp như "Thanh  niên  kháng  chiến  hải  ngoại",  "Thanh  niên  lao  động", "Thanh  niên  diệt  cộng",  "Đoàn  thanh  niên  kiến  quốc"...  để  lôi kéo quần chúng, phá hoại kháng chiến. Chúng dùng bọn cha cố phản động nắm giáo dân, bắt phu, bắt lính, phá hoại việc thực hiện các chính sách của ta, nhất là ở những vùng tập trung đồng bào công giáo.

Ở vùng Tây Nguyên, thực dân Pháp nham hiểm và xảo quyệt đẩy  mạnh  việc  thực  hiện  "ba  chính  sách  lớn"  (chính  sách  có mặt; chính sách muối, kí ninh, dụng cụ và chính sách không can thiệp)  để  khống  chế  nhân  dân  các  dân  tộc  vùng  Tây  Nguyên. Thông qua bộ máy cai trị từ tỉnh xuống buôn làng, qua các cuộc hành quân và nhất là bằng chính sách độc quyền nắm và phân phát muối, thuốc chữa bệnh, công cụ sản xuất, thực dân Pháp ra sức kìm kẹp nhân dân, buộc họ phải theo chúng chống lại kháng chiến.
Trong  các  vùng  tạm  chiếm,  với  việc  đẩy  mạnh  thực  hiện chính  sách  "Lấy  chiến  tranh  nuôi  chiến  tranh"  của  thực  dân Pháp, nhân dân ta phải đóng góp rất nặng nề. Ở Bắc Bộ, ngoài việc tăng các loại thuế, thực dân Pháp đặt ra nhiều thứ thuế mới: thuế đò, thuế bến, thuế nhà ngói dọc đường, thuế binh bị quốc phòng...  Chúng  còn  triệt  để  thi  hành  chính  sách  "tam  quang" (cướp sạch, đất sạch, phá sạch), hòng triệt phá nguồn cung cấp cho kháng chiến. Tháng 3-1951, ở Bắc Bộ, thực dân Pháp mở chiến dịch cướp phá thóc lúa. Chúng ra lệnh binh lính phải theo dõi từng bước việc gặt hái của nông dân, kiểm soát chặt chẽ các chợ và đường giao thông, bắt nông dân phải tập trung thóc gạo bán  cho  nhà  chức  trách. Mỗi  khi  càn  quét,  chúng  ra  sức cướp phá; không lấy được hết, chúng đổ thóc gạo xuống sông, ao, hồ.
Ở một số nơi, chúng bắt dân tập trung thóc gạo lên đồn rồi phát
ăn từng ngày, cho quân "gặt cướp" ở các vùng giáp ranh.


141
 
Ở vùng Bình - Trị - Thiên, thực dân Pháp liên tiếp tiến hành các "trận phá lúa", các "chiến dịch vét thóc gạo". Tại Liên khu V, địch tiến hành cuộc "chiến tranh gạo" rất gay gắt hòng bao vây lương thực vùng tự do. Tại Nam Trung Bộ, địch càn quét dữ dội vùng đồng bằng tạm chiếm ven biển, nhất là ở Ninh Thuận, Khánh Hoà để vơ vét thóc gạo. Hàng ngàn dân bị dồn vào các "khu chiêu an", "khu tập trung". Nhiều cơ sở kháng chiến bị vỡ. Hệ thống đồn lốt tháp canh của địch trước đây bố trí theo tuyến, nay chuyển sang bố từ theo diện. Phong trào kháng chiến ở Liên khu  V,  nhất  là  ở  vùng  tạm  chiếm  đứng  trước  nhiều  khó  khăn gay  gắt.  Lúc  này  ta  chỉ  nắm  được  9.000  trên  tổng  số  180.000 dân  ở  Khánh  Hoà,  10.000  trên  12.000  dân  ở  Ninh  Thuận  và
40.000  trên  950.000  dân  ở  Bình  Thuận  1.  Hầu  hết  thóc  gạo, lương thực trong vùng tạm chiếm đều bị giặc Pháp chiếm đoạt, làm cho nạn đói trở nên trầm trọng. Ở Nam Bộ, thực dân Pháp kiểm soát  được  phần  lớn  mạng  lưới  giao  thông,  nên  càng  đẩy mạnh “chiến tranh kinh tế”. Chúng thường xuyên cho tàu chiến tiến  sâu  vào các  sông  và  kênh  rạch,  bắn  phá  bừa  bãi  các  làng xóm ven sông, gây cho nhân dân ta nhiều tổn thất về người và cửa.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 30 Tháng Mười, 2011, 11:36:30 am
Dựa vào viện trợ của Mĩ, thực dân Pháp đẩy nhanh việc xây dựng quân đội ngụy, hoàn chỉnh hệ thống vành đai phòng thủ bao quanh đồng bằng và trung du Bắc Bộ.

Tháng  5-1951,  Bộ  Quốc  phòng  ngụy  được  tổ  chức  lại,  đặt bên cạnh cơ quan cố vấn Pháp do tướng Đờ Latua (De Latour) phụ trách. Từ sau khi Bảo Đại kí đạo dụ "tổng động viên" (15-7-
1951), giặc Pháp và ngụy quyền tay sai ráo riết thực hiện dồn dân, bắt lính. Kết hợp với biện pháp vây bắt, cưỡng bức, chúng dùng nhiều thủ đoạn dụ dỗ, mua chuộc, lôi kéo thanh niên vào lính. Bằng những thủ đoạn này, trong đợt tổng động viên, địch đã bắt được 6 vạn người vào lính và tốp sĩ quan người Việt đầu


1. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp…Tập 2, Sđd, tr.112
142
 
tiên được tập trung huấn luyện, làm nòng cốt xây dựng "quân đội quốc gia". Sau sáu tháng kể từ khi ban hành lệnh "tổng động viên", "quân dội quốc gia" đã có 45 tiểu đoàn, tăng 24 tiểu đoàn
so  với  đầu  năm  1951,  trong  đó  có  28  tiểu  đoàn  được  tổ  chức thành 4 sư đoàn bộ binh. Các sư đoàn này đều do sĩ quan Pháp chỉ huy và chịu sự chỉ huy hành quân của các bộ chỉ huy quân sự các miền của Pháp.

Một số cơ quan và đơn vị binh chủng được tổ chức, như công binh,  pháo  binh,  nha  quân  cụ,  toà  án  quân  sự,  hiến  binh  quốc gia... Các trường huấn luyện sĩ quan cũng được chấn chỉnh lại. Trường võ bị liên quân ở Huế chuyển vào Đà Lạt. Một trường võ bị đào tạo sĩ quan trù bị được mở tại Nam Định. Các sĩ quan trù bị sau khi huấn luyện được đưa về các đơn vị tiểu đoàn Việt Nam  (BVN),  thay  thế  các  sĩ  quan  người  Pháp.  Một  số  trường đào tạo hạ sĩ quan và chỉ huy chuyên môn cũng được mở.

Song song với việc xây dựng và phát triển lực lượng chính quy,  Pháp  và  tay  sai  cũng  chú  ý  chấn  chỉnh  và  tăng  cường  tổ chức quân sự. Ở các địa phương. Ở tỉnh, thường có một đại đội bảo chính đoàn, đặt bên cạnh tiểu đội quân Liên hiệp Pháp. Ở quận,  có  từ  một  đến  hai  trung  đội  do  quận  trưởng  chỉ  huy.  Ở tổng,  tổng  dũng  nắm  các  đội  hương  dũng,  các  đội  vũ  trang  ở thôn  ấp.  Tất  cả  các  lực  lượng  này  vẫn  phải  đặt  dưới  sự  điều khiển của cơ quan chỉ huy quân sự của Pháp ở địa phương.

Lực lượng ngụy quân mới xây dựng chủ yếu làm nhiệm vụ chiếm đóng, thay thế cho lực lượng quân viễn chinh rút ra làm nhiệm vụ tác chiến. Nhờ đó, thực dân Pháp đã rút được một bộ phận quân tinh nhuệ tổ chức thành các binh đoàn cơ động làm nhiệm vụ tác chiến trên các chiến trường. Đến tháng 10-1951, trên  toàn  Đông  Dương,  Pháp  đã  tổ  chức  được  7  binh  đoàn  cơ động (GM) và 9 tiểu đoàn dù dự bị chiến lược, nâng lực lượng cơ động chiến lược lên gấp ba lần so với năm 1950. Mặc dù vậy, để đối phó với chiến tranh du kích phát triển ngày càng mạnh mẽ ở vùng sau lưng địch và giữ đất ở vùng đồng bằng đông dân,

143
 
nhiều  của,  thực  dân  Pháp  vẫn  phải  dành  phần lớn  binh  lực  để làm  nhiệm  vụ  chiếm  đóng.  Năm  1951,  lực  lượng  chiếm  đóng tăng  từ  77  tiểu  đoàn  lên  109  tiểu đoàn  chính  quy,  chiếm 67% tổng số quân toàn Đông Dương.

Coi  chiến  trường  Bắc  Bộ  là  "cái  then  cửa  của  vùng  Đông Nam Á", thực dân Pháp bố trí ở chiến trường này một binh lực khá  lớn:  54%  lực  lượng  pháo  binh  và  lính  dù,  50%  lực  lượng pháo binh, 42% cơ giới thiết giáp, 71 % lực lượng công binh 1.

Tại Bắc Bộ, Pháp tiếp tục xây dựng tuyến phòng thủ mạnh gồm hệ thống công sự bằng bê tông cốt thép (boongke) gồm 800
lô cột lập thành hàng chục cứ điểm lớn, nhỏ do 25 tiểu đoàn lính Âu - Phi tinh nhuệ chiếm đóng, kéo dài từ Hòn Gai, Đông Triều, Lục Nam, Bắc Giang, Bắc Ninh, qua Vĩnh Phúc, Sơn Tây, Hà Đông, đến Ninh Bình. Ở vòng ngoài, song song với phòng tuyến boongke là một "vành đai trắng" có chiều rộng từ 5 - 10 km.

Trên  khắp  chiến  trường  từ  Nam  đến  Bắc,  quân  địch  đẩy mạnh bình định ở những vùng chúng kiểm soát. Chúng liên tiếp mở các chiến dịch càn quét với quy mô lớn. Ở Hà Nam, Nam Định,  Ninh  Bình,  dựa  vào  tổ  chức  ngụy  quyền  và  lực  lượng phản  động  trong  các  giáo  phái,  địch  mở  các  cuộc  hành  quân "diệt  du,  quét  cán,  càn  thanh"  (diệt  du  kích,  quét  cán  bộ,  càn thanh niên), đồng thời đánh phá vùng du kích của ta.

Ở vùng biển Hải Phòng, Kiến An, địch khẩn trương xây dựng thêm nhiều công sự boongke kiểu mới, mở rộng sân bay Cát Bi nhằm biến khu vực Hải Phòng - Kiến An - Đồ Sơn - Quảng Yên thành "pháo đài mạnh ven biển". Chúng thay đổi chỉ huy và càn quét dữ dội, đánh phá các cơ sở của ta.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 30 Tháng Mười, 2011, 11:36:51 am
Tại Nam Sách (Hải Dương), ngụy quyền tổ chức thí điểm đội
"quân  thứ  hành  chính  lưu  động"  (GAMO),  một  tổ  chức  hành



1. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: Lịch sử cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp 1945 - 1954. Tập 2... Sđd, tr. 92.
144
 
chính  -  chính  trị  -  quân  sự  chuyên  làm  nhiệm  vụ  bình  định, thành  phần  gồm  sĩ  quan,  binh  lính,  gián  điệp,  chỉ  điểm,  nhân viên hành chính, y tế giáo đục, văn hoá... Thông qua đội quân này,  chúng  truy  quét  cơ  sở  kháng  chiến,  lập  lại  ngụy  quyền, dùng mọi thủ đoạn mua chuộc, lôi kéo quần chúng.

Ở Thái Bình, Hà Nam, Hà Đông... địch ráo riết thực hiện thủ đoạn  "chiêu  an".  Chúng  thành  lập  các  tổ  chức  cứu  tế  xã  hội", "trại hồi cư”, "hội giúp đỡ đồng bào hồi cư” nhằm mua chuộc, lôi kéo cán bộ và nhân dân ở vùng tự do về vùng tạm chiếm. Chúng dồn dân vào các khu tập trung gọi là "đại xã" để dễ dàng kìm kẹp, khống chế nhân dân và cô lập lực lượng kháng chiến.

Tại vùng đồng bằng Nam Trung Bộ, Pháp phát triển đồn bốt, tháp  canh,  kết  hợp  quân  ứng  chiến  với  quân  chiếm  đóng;  rào làng, dồn dân, tập trung lúa của dân vào đồn, phát triển tề điệp để khống chế và kiểm soát dân. Ở vùng chiếm đóng Bắc Quảng Nam, đầu năm 1950 có 125 tháp canh, đến cuối năm tăng lên
174; ở Khánh Hoà, năm 1951 địch đóng 109 đồn và 213 tháp canh, lùa dân vùng này đi gặt lúa vùng khác đưa về đồn, tối bắt dân ngủ ở đồn. Ở Ninh Thuận, địch bắt dân rào hết các làng 1.

Đối với Tây Nguyên, để nắm được địa bàn chiến lược quan trọng này, từ tháng 2-1951, thực dân Pháp đã tách Tây Nguyên khỏi Trung phần, thành lập khu độc lập trực thuộc Bộ Tổng chỉ huy  quân  viễn  chinh.  Tại  đây,  chúng  thành  lập  các  trung  đội "xung kích xuyên sơn”, các tiểu đoàn sơn chiến gồm người dân tộc ít người để tác chiến ở vùng núi. Ngoài ra, chúng còn thực hiện một thủ đoạn mới rất thâm độc là phát triển các ổ vũ trang phản động ở các địa phương, gọi là Gum để biến dần người dân bình thường thành người lính chống lại kháng chiến.

Tại Nam Bộ, cùng với chính sách kìm kẹp và cướp đoạt, thực



1.  Nam Trung Bộ kháng chiến 1945 - 1975. NXB Chính trị quốc gia.
Hà Nội 1995, tr. 146.
145
 
dân Pháp và tay sai ra sức lợi dụng các tôn giáo để mê hoặc và lôi kéo quần chúng chống lại kháng chiến. Chúng thành lập các đội quân giáo phái và chuyển giao cho Bộ tham mưu ngụy chỉ huy để sử dụng vào kế hoạch bình định, càn quét. Bằng nhiều thủ đoạn nham hiểm và tàn bạo, đến cuối năm 1951, thực dân Pháp đã bắt hàng vạn thanh niên, có cả thiếu niên 14 - 15 tuổi, vào lính. Trong các thành phố lớn, địch cũng ráo riết bình định.
Ở Hà Nội, từ tháng 7-1951, tiếp theo những cuộc vây càn lớn, địch chuyển sang đánh phá sâu vào các tổ chức của ta. Chúng cài cắm tay chân vào các đoàn thể, các cơ sở kháng chiến của ta để  hoạt  động  phá  hoại.  Một  số  đơn  vị  bảo  chính  đoàn  được chúng điều động trở lại đóng bốt để làm chỗ dựa cho bọn tay sai lập hội tề, bảo an: ở thành phố Hải Phòng, ngoài hàng ngàn lính cơ động, còn có cả một hệ thống cảnh sát, mật vụ, chỉ điểm cài cắm khắp các ngõ phố, nhà máy , bến cảng . . .


Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 30 Tháng Mười, 2011, 11:37:12 am
Thực dân Pháp còn huy động lực lượng cơ động mở các cuộc càn lớn để tiêu diệt lực lượng vũ trang của ta, phá nát các làng chiến đấu và căn cứ du kích dập tắt phong trào chiến tranh du kích đang ngày một lan rộng ở khắp các tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ. Kế hoạch Đờ Lát đờ Tátxinhi đã gây cho ta nhiều khó khăn mới, nhất là ở vùng sau lưng địch. Tại một số vùng, nhiều làng xóm bị tàn phá, cơ sở kháng chiến bị tổn thất, phong trào đấu tranh của nhân dân bị giảm sút. Chỉ riêng cuộc càn quét của địch  vào  đầu  tháng  10-1951,  chúng  đã  chiếm  lại  khu  vực  ba huyện Tiên Hưng - Duyên Hà - Hưng Nhân, với 363 làng, gồm
280.000 dân. Căn cứ du kích liên hoàn ba huyện ở phía bắc tỉnh
Thái Bình trở thành vùng tạm chiếm.

Tình hình trên đòi hỏi phải tăng cường vai trò lãnh đạo của
Đảng đối với mọi mặt hoạt động của kháng chiến.

III- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thử II của Đảng Cộng sản
Đông Dương (2-1951)
Bước vào những năm 50 của thế kỉ XX, tình hình thế giới và

146
 
trong nước có nhiều chuyển biến lớn. Hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa đã được củng cố và tăng cường về mọi mặt. Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) - thành lập từ tháng 1-1949, với mục tiêu phối hợp hoạt động kinh tế để củng cố và phát triển sự hợp tác giữa các nước, phát triển một cách có kế hoạch nền kinh tế quốc dân và nâng cao đời sống nhân dân - ngày càng có nhiều nước tham gia.

Ở  các  nước  thuộc  địa  và  nửa  thuộc  địa,  cơn  bão  táp  cách mạng tiếp tục phát triển, từ Đông Nam Á sang Trung Đông và châu Phi. Phong trào bảo vệ hoà bình thế giới trở thành phong trào quần chúng rộng rãi. Từ ngày 16 đến ngày 22-11-1950, Đại hội hoà bình thế giới lần thứ hai được tổ chức tại Vácsava, với sự tham gia của hơn 2.000 đại biểu thuộc 81 nước. Đại hội đã thông qua Lời hiệu triệu gửi nhân dân toàn thế giới, đòi chấm dứt chiến tranh ở Triều Tiên,
Việt Nam..., đòi cấm chế tạo và sử dụng bom nguyên tử, đòi giải trừ quân bị... Đại hội cũng quyết định thành lập Hội đồng hoà bình thế giới, gồm đại biểu của tất cả các dân tộc.

Ở  trong  nước,  sau  gần  16  năm  kể  từ  Đại  hội  lần  thứ  I  của Đảng (3-1935), tình hình đã có nhiều chuyển biến rất căn bản. Qua  hơn  5  năm  chiến  đấu,  lực  lượng  kháng  chiến  đã  lớn  lên nhiều về mọi mặt, nhất là về quân sự. Từ sau chiến thắng Biên giới  thu  -  đông  1950,  cuộc  kháng  chiến  chống  Pháp  của  nhân dân  ta  phát  triển  sang  thời  kì  mới.  Hậu  phương  kháng  chiến được nối liền với phe xã hội chủ nghĩa. Cuộc kháng chiến của nhân  dân  hai  nước  bạn  Lào  và  Campuchia  cũng  giành  được những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược.

Tuy  nhiên,  cuộc  kháng  chiến  của  ta  lúc  này  gặp  nhiều  khó khăn mới do âm mưu của đế quốc Pháp, Mĩ .

Tình hình trên đòi hỏi cuộc kháng chiến phải tăng cường hơn nữa tính chất toàn diện và sự lãnh đạo của Đảng.

Mặt khác, từ sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, Đảng

147
 
ta  trở  thành  Đảng  cầm  quyền.  Nhưng  do  hoàn  cảnh  vô  cùng phức tạp và để giữ vững khối đoàn kết, Đảng ta tuyên bố tự giải tán, thực chất là rút vào hoạt động bí mật. Điều này ảnh hưởng đến  vai  trò  lãnh  đạo  của  Đảng  Yêu  cầu  phát  triển  của  cuộc kháng chiến đòi hỏi phải có sự lãnh đạo công khai của Đảng.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 30 Tháng Mười, 2011, 11:37:48 am
Xuất phát từ những lí do trên, Đảng Cộng sản Đông Dương triệu  tập  Đại  hội  đại  biểu  toàn  quốc  lần  thứ  II  (tại  xã  Vinh Quang, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang), từ ngày 11 đến ngày 19-2-1951. Tham dự Đại hội có 158 đại biểu chính thức và
53 đại biểu dự khuyết, thay mặt cho hơn 76 vạn đảng viên trong cả nước.

Sau bài Diễn văn khai mạc của Tôn Đức Thắng, Đại hội đã thảo luận Báo cáo chính trị của Hồ Chí Minh, Báo cáo Bàn về cách mạng Việt Nam của Trường Chinh, báo cáo về Tổ chức và Điều lệ Đảng, các báo cáo bổ sung về mặt trận dân tộc thống nhất, chính quyền dân chủ nhân dân, quân đội nhân dân, kinh tế tài chính...
Báo cáo chính trị đã khẳng định những thắng lợi to lớn của cách mạng, bài học kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng qua các  thời  kì  vận  động  cách  mạng;  khẳng  định  đường  lối,  chính sách đúng đắn của Đảng; cán bộ, đảng viên của Đảng là những chiến sĩ dũng cảm, tận tụy hi sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.  Báo  cáo  cũng  nghiêm  khắc  vạch  rõ  những  khuyết  điểm trong cán bộ, đảng viên, đó là việc học tập chủ nghĩa Mác - Lê nin còn yếu, tư tưởng chưa vững vàng, lề lối làm việc còn quan liêu,  mệnh  lệnh,  hẹp  hòi,  công  thần...  Trên  cơ  sở  đó  Báo  cáo chính trị nêu nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng Việt Nam là "Tiêu diệt thực dân Pháp và đánh bại bọn can thiệp Mĩ, giành thống nhất độc lập hoàn toàn, bảo vệ hoà bình thế giới". Để thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu đó, phải động viên tinh thần yêu nước, ra sức thi đua ái quốc, đẩy mạnh xây dựng lực lượng vũ trang và các đoàn thể quần chúng, tăng cường mặt trận đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế, thực hiện chính sách ruộng

148
 
đất.

Báo cáo Bàn về cách mạng Việt Nam trình bày toàn bộ đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã hội  ở  Việt  Nam;  phân  tích  tính  chất  xã  hội  Việt  Nam  từ  sau Cách mạng thảng Tám là "phức tạp và phát triển không đều, có tính chất dân chủ nhân dân, một phần thuộc địa và nửa phong kiến..." 1. Trong xã hội nổi lên mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với bọn đế quốc xâm lược, mâu thuẫn giữa số đông nhân dân với giai cấp địa chủ phong kiến, mâu thuẫn giữa lao động với tư bản trong nước. Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc xâm lược là mâu thuẫn chính. Kẻ thù chủ yếu trước mắt  của  cách  mạng  Việt  Nam là  chủ  nghĩa  đế  quốc  xâm  lược (thực dân Pháp và can thiệp Mỉ và bọn bù nhìn Việt gian bán nước, đại biểu quyền lợi cho đại địa chủ phong kiến và tư sản mại bản. Do đó, nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam "là tiêu diệt bọn đế  quốc xâm lược, đánh đổ bọn bù nhìn Việt gian phản nước, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập và thống nhất, xóa bỏ những tàn tích phong kiến và nửa phong kiến, làm cho người  cày  có  ruộng;  phát  triển  chế  độ  dân  chủ  nhân  dân,  gây mầm mống cho chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam" 2. Bản báo cáo phân  tích  mối  quan  hệ  giữa  hai  nhiệm  vụ  phản  đế  và  phản phong, khẳng định lực lượng cách mạng ở Việt Nam "là giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, giai cấp tiểu tư sản, rồi đến giai cấp tư sản dân tộc; ngoài ra là những phần tử cá biệt xuất thân từ giai cấp địa chủ (phần nhiều là tiểu địa chủ) đang đi với nhân dân, được gọi là nhân sĩ dân chủ và thân sĩ yêu nước..."3.

Đại hội đề ra những chính sách cơ bản về công tác xây dựng



1.  Bàn về cách mạng Việt Nam: Xem: Trường Chinh tuyển tập 1937 -
1954. NXB Sự thật, Hà Nội, 1987, tr. 456, 459, 469.

2.2.   Bàn  về  cách  mạng  Việt  Nam.  Xem:  Trường  Chinh  Tuyển  tập
1937 - 1954. NXB Sự thật, Hà Nội, 1987, tr. 456, 459, 469.


149
 
và củng cố chính quyền, tăng cường quân đội, mở rộng mặt trận đoàn  kết  dân  tộc  và  đoàn  kết  quốc  tế,  phát  triển  kinh  tế  -  tài chính, văn hoá - giáo dục... nhằm đẩy mạnh kháng chiến toàn diện.

Xuất phát từ tình hình cụ thể và yêu cầu cách mạng của ba nước  Đông  Dương,  Đại  hội  quyết  định  thành  lập  ở  mỗi  nước một Đảng Mác - Lê nin riêng biệt, có cương lĩnh thích hợp với đặc điểm phát triển của từng dân tộc.



Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 30 Tháng Mười, 2011, 11:39:22 am
Đại hội quyết định đưa Đảng ra hoạt động công khai với tên mới là Đảng Lao động Việt Nam. Đảng có nhiệm vụ lãnh đạo cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, giúp đỡ và phối hợp với  các  Đảng  cách  mạng  vào  và  Campuchia,  đưa  sự  nghiệp kháng chiến của ba dân tộc anh em trên bán đảo Đông Dương giành thắng lợi hoàn toàn.

Đại  hội  thông  qua  Tuyên  ngôn,  Chính  cương,  Điều  lệ  mới của Đảng; quyết định xuất bản báo Nhân dân làm cơ quan ngôn luận của Đảng.

Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Trung ương Đảng gồm 19 uỷ viên chính thức và 10 uỷ viên dự khuyết. Bộ Chính trị gồm 7 uỷ viên chính thức và 1 uỷ viên dự khuyết 1. Hồ Chí Minh được bầu giữ chức Chủ tịch Đảng và Trường Chinh được bầu lại làm Tổng Bí thư của Đảng. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ hai được tiến hành trong lúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta có nhiều chuyển biến mới. Đại hội đã tổng kết  những  kinh  nghiệm  vận  động  cách  mạng  của  Đảng,  đồng thời nêu rõ những nhiệm vụ trước mắt của toàn Đảng, toàn dân
và toàn quân, góp phần thúc đẩy cuộc kháng chiến đi tới thắng lợi. Đại hội được gọi là Đại hội kháng chiến thắng lợi .




1.  Bộ Chính trị gồm Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, Hoàng Quốc
Việt, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Chí Thanh và 1 uỷ viên dự
khuyết là Lê Văn Lương.
150
 
IV-  Xây  dựng  và  củng  cố  hậu  phương  kháng  chiến  về  mọi mặt

Hậu  phương  có  vai  trò  đặc  biệt  quan  trọng,  là  một  trong những nhân tố thường xuyên có tính chất quyết định thắng lợi của chiến tranh. Nhận thức rõ tầm quan trọng của hậu phương, Đảng  ta  sớm  đề  ra  đường  lối,  chủ  trương,  chính  sách  về  xây dựng hậu phương vững mạnh toàn diện.

Hậu  phương  chiến  tranh  nhân  dân  là  một  hệ  thống  căn  cứ, bao gồm các cơ sở chính trị ở thành thị và nông thôn, các khu du kích và căn cứ du kích trong vùng tạm bị địch chiếm; các vùng
tự do rộng lớn nằm trên khắp lãnh thổ đất nước.

Trải qua 5 năm kháng chiến, hậu phương căn cứ địa được mở rộng.  Ngoài  vùng  tự  do  liên  hoàn  nối  thông  từ  Liên  khu  Việt Bắc xuống Liên khu III vào Liên khu IV, còn có vùng tự do gồm nửa tỉnh Quảng Nam và các tỉnh Quảng Ngài, Bình Định, Phú Yên cùng với các khu căn cứ Ba Tơ, Trà Bồng, Di Lăng, Minh Long, Bắc Ái, Sơn Hà tạo thành hậu phương trực tiếp của chiến trường  Liên  khu  V  và  một  phần  Nam  Bộ.  Các  chiến  khu  Đ, Đồng Tháp, Dương Minh Châu, U Minh của Nam Bộ vẫn được giữ vững.
Ở vùng tự do, nơi có những điều kiện thuận lợi, nhân dân ta đã xây dựng chế độ mới, phù hợp với bước đi của cách mạng nước ta. Chế độ mới được xây dựng trên tất cả các mặt: kinh tế, chính  trị,  văn  hoá,  xã  hội;  cả  về  cơ  sở  vật  chất  và  ý  thức  tư tưởng. Đây chính là nhân tố cơ bản tạo nên sức mạnh của hậu phương kháng chiến.
Về kinh tế:

Kháng chiến càng kéo dài, càng trở nên quyết liệt, nhu cầu cung cấp cho mặt trận quân sự ngày càng lớn. Những thắng lợi giành được trên lĩnh vực kinh tế trong những năm 1948 - 1950 tuy to lớn, nhưng cũng chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu ngày càng cao của cuộc kháng chiến.
151
 
Từ  năm  1950,  các  chiến  dịch  đánh  vận  động  ngày  càng nhiều; do đó nhu cầu cung cấp cho kháng chiến tăng lên gấp bội. Riêng trong chiến dịch Biên giới, để bảo đảm chiến đấu cho gần
30.000 người tham gia, ta đã phải chuẩn bị 2.250 tấn lương thực,
190 tấn súng đạn, 660 tấn các loại thực phẩm, quân trang, quân dụng  và  huy  động  hơn  120.000  dân  công  (tương  đương  với
1.700.000 ngày công). Trừ 100 tấn lương thực, thực phẩm huy động tại chỗ, còn toàn bộ phải huy động dân công kết hợp với bộ đội vận tải bằng ô tô và một số xe thô sơ vận chuyển từ hậu phương tới .

Trong khi đó, kinh tế, tài chính của chúng ta còn gặp nhiều khó  khăn  (năm  1950  tổng  số  thu  chỉ  bằng  23%  tổng  số  chi). Nước ta bị chia cắt thành nhiều vùng; nền kinh tế trong căn cứ địa Việt Bắc rất thấp kém, rừng núi chiếm nhiều, đất canh tác ít, lại bị địch bao vây, phong toả, phá hoại.

Việc tổ chức và chính sách kinh tế, tài chính của ta còn mang nặng tính du kích, chưa có sự quản lí thống nhất. Do vậy, nhân dân tuy hăng hái đóng góp cho kháng chiến, nhưng tiền của còn rải rác ở các địa phương. Phần thu của Nhà nước không đảm bảo cho số chi ngày càng tăng của cuộc kháng chiến.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 03 Tháng Mười Một, 2011, 09:50:06 am
Năm 1951, sản xuất nông nghiệp gặp khó khăn nghiêm trọng. Thiên tai lũ lụt xảy ra làm cho mùa màng ở nhiều nơi bị thiệt hại nặng. Riêng tỉnh Nghệ An bị thiệt hại từ 20 đến 40% hoa màu; Hà Tĩnh hư hỏng 80% diện tích khoai lang, 40% diện tích lúa,
1.000 tấn muối bị ngập nước. Bình - Trị - Thiên gần như bị mất toàn bộ diện tích lúa và hoa màu, giặc Pháp lại ra sức tàn phá; riêng trong một trận càn ở huyện Phong Điền, chúng bắn chết một lúc 300 con trâu, bò... Ở Liên khu V, do hạn hán kéo dài và một số công trình thuỷ lợi bị địch phá hoại, nên sản lượng lương thực giảm sút. Nạn đói đe doạ cả bốn tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên...

Vấn đề thiếu lương thực trước đây hầu như chỉ đặt ra đối với
Việt Bắc, lúc này trở thành khó khăn chung của cả nước.
152
 
Tình hình trên đòi hỏi phải có sự chuyển hướng mạnh mẽ về kinh tế tài chính. Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương, chính sách và biện pháp mới toàn diện và có hiệu quả. Với tư tưởng chỉ đạo Tất cả để chiến thắng, Đảng đề ra nhiệm vụ phát triển  kinh  tế  nhằm  đảm  bảo  cung  cấp  cho  nhu  cầu  của  cuộc kháng  chiến  và  phá  tan  âm  mưu  lấy  chiến  tranh  nuôi  chiến tranh của địch.

Để  phát  triển  tiềm  lực  kháng  chiến,  Hội  nghị  Trung  ương Đảng lần thứ 1 (3-1951) xác định phương hướng cụ thể: muốn kháng chiến trường kì phải luôn luôn tăng cường tiềm lực kinh tế,  tài  chính;  phải  cơi  kinh  tế,  tài  chính  là  nhiệm  vụ  rất  quan trọng; các cấp phải tăng cường lãnh đạo kinh tế, chính sách kinh
tế là tăng gia sản xuất, chính sách tài chính là tăng thu giảm chi, giúp đỡ tư sản dân tộc kinh doanh và gọi vốn tư nhân để phát triển  công  thương  nghiệp,  phát  triển  công  thương,  mở  mang mậu dịch với nước bạn...

Tháng 4-1951, Hội đồng Chính phủ mở cuộc vận động Thi đua  sản  xuất,  lập  công  nhằm  phục  vụ  nhu  cầu  kháng  chiến. Chính  phủ  quyết  định  thành  lập  và  kiện  toàn  các  cơ  quan  chỉ đạo  kinh  tế  như  Khuyến  nông,  Khai  hoang,  Tín  dụng,  Lâm chính, Địa chính, Thuỷ nông...

Hưởng  ứng  cuộc  vận  động  Thi  đua  sản  xuất,  lập  công,  cả nước dấy lên phong trào thi đua lao động sản xuất rất sôi nổi. Diện tích trồng cây lương thực và hoa màu tăng lên nhiều so với các năm trước.

Riêng toàn Liên khu Việt Bắc đã cày cấy thêm 25.913 mẫu lúa và 12.698 mẫu hoa màu. Uỷ ban kháng chiến - hành chính Liên  khu  Việt  Bắc  lập  quỹ  luân  chuyển  có  vốn  26  triệu  đồng giúp các tỉnh mua sắm nông cụ. Cơ quan nông chính cấp 37 tấn thóc giống cho các địa phương làm vụ mùa.

Với khẩu hiệu Tự làm lấy ăn để đánh giặc, quân và dân Nam
Bộ đẩy mạnh tăng gia sản xuất tự cấp tự túc. Bộ đội miền Đông

153
 
trung bình mỗi năm sản xuất tự túc 4 tháng, có đơn vị dành 6 tháng  cho  sản  xuất  Bộ  đội  miền  Tây  mùa  mưa  sản  xuất,  mùa khô đi chiến đấu. Tại chiến khu Đ, nhân dân tổ chức khai hoang làm  rẫy  trên  những  vùng  đất  dọc  sông  Bé,  xây  dựng  được  7 nông trường trồng lúa, ngô, khoai, sắn...1.

Từ năm 1952, cuộc Đại vận động sản xuất và tiết kiệm được phát  động  trong  toàn  Đảng,  toàn  dân  và  toàn  quân.  Cuộc  vận động được toàn dân hưởng ứng sôi nổi. Cán bộ các cơ quan, xí nghiệp, học sinh và các đơn vị bộ đội cũng tích cực tham gia sản xuất lương thực và thực phẩm.

Nhờ có những biện pháp tích cực trên, sản xuất lương thực không ngừng tăng lên. Tính riêng trong vùng tự do, năm 1951 sản  xuất  được  2.727.600  tấn  lương  thực,  năm  1952  tăng  lên
2.852.900 tấn và năm 1953 là 2.916.000 tấn.

Để  tạo  điều  kiện  cho  nông  dân  phát  triển  sản  xuất  nông nghiệp, Đảng và Chính phủ tiếp tục thực hiện cuộc cách mạng ruộng đất từng bước theo đường lối riêng biệt, phù hợp với tình hình xã hội Việt Nam.

Từ  năm  1949,  Đảng  và  Chính  phủ  đề  ra  sắc  lệnh  giảm  tô, giảm  tức  xoá  nợ,  hoãn  nợ;  chia  lại  ruộng  đất  công  cho  công bằng, hợp lí; tạm chia, tạm giao ruộng đất vắng chủ, ruộng đất tịch thu của thực dân Pháp và Việt gian... cho nông dân không có ruộng và thiếu ruộng. Việc thực hiện chính sách giảm tô đã đạt kết quả lớn. Tính từ Liên khu IV trở ra, đến năm 1953, đã có
397.000 ha ruộng đất được giảm tô 25%.

Cùng  với  việc  thực  hiện  giảm  tô,  tháng  6-1951,  Hội  đồng Chính  phủ  quyết  định  về  thể  lệ  tạm  thời  sử  dụng  công  điền, công  thổ;  xác  định  nguyên  tắc  sử  dụng  công  điền  công  thổ  là phải làm lợi cho tăng gia sản xuất, củng cố đoàn kết nông thôn,



1. Viện lịch sử quân sự: Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp...
Tập. 2, sđd, tr. 101.
154
 
sát với tình hình địa phương, dân chủ và công bằng. Theo quy định của Chính phủ, công điền được chia cho tất cả nông dân nam, nữ từ 16 tuổi trở lên, trừ các phần tử Việt gian đã thành án. Những  người  ngụ  cư  mà  tự  nguyện  trực  tiếp  canh  tác  và  nếu nhân dân đều bằng lòng thì cũng được chia; thương binh, bệnh binh, gia đình tử sĩ được ưu đãi. Gia đình có con em đi lính cho Pháp cũng được chia ruộng để sản xuất.

Ngày 5-3-1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí Sắc lệnh ban hành Bản điều lệ tạm thời sử dụng công điền công thổ gồm 7 chương, quy định nguyên tắc chia, đối tượng được chia, cách chia, nghĩa vụ và quyền hạn của người được lĩnh công điền công thổ...

Chính phủ chủ trương tiếp tục khuyến khích địa chủ không phải là Việt gian, nhất là địa chủ lớn ở Nam Bộ hiến ruộng cho Nhà nước. Theo quyết định của Hội nghị Hội đồng Chính phủ (từ  ngày  18  đến  ngày  20~8-1952),  Chính  phủ  chỉ  nhận  ruộng hiến của những người có thừa ruộng. Còn đối với những người chỉ đủ hoặc thiếu ruộng nhưng đã hiến ruộng thì Chính phủ sẽ trả lại. Chính phủ cũng quyết định không nhận ruộng hoang, chỉ nhận ruộng cày cấy được và giao cho Uỷ ban kháng chiến hành chính  các  địa  phương  được  quyền  nhận  ruộng  hiến.  Số  ruộng hiến  sẽ  được  chia  cho  dân  cày  thiếu  ruộng  trong  thời  hạn  10 năm.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 03 Tháng Mười Một, 2011, 09:50:30 am
Trong kháng chiến, nhiều địa phương đã triển khai thực hiện chính sách tịch thu ruộng đất của thực dân Pháp và Việt gian để tạm cấp  cho  nông  dân.  Tuy  nhiên,  trong  khi  xác định  và  thực hiện chính sách tịch thu loại ruộng đất này lại chưa có sự thống nhất giữa các địa phương về quan niệm. Để khắc phục tình trạng đó,  ngày  9-10-1952,  Bộ Canh nông ra Thông tư số 22 - CN - RĐ, giải thích rõ thế nào là ruộng đất của thực dân Pháp và Việt gian. Thông tư còn nhấn mạnh các địa phương phải tạm cấp hết
số  ruộng  đất  này  cho  dân  cày,  không  được  giữ  lại  cho  chính quyền, đoàn thể. Thời hạn tạm cấp là 10 năm và chính quyền địa phương phải có trách nhiệm giúp đỡ dân nghèo về giống, vốn,

155
 
dụng cụ để họ sản xuất có kết quả trên ruộng đất được tạm cấp.

Ngày 14-12-1952, Liên bộ Canh nông - Nội vụ - Tư pháp ra thông tư giải thích thêm về thể lệ sử dụng ruộng đất "vắng chủ” để Uỷ ban kháng chiến hành chính các liên khu và Hà Nội áp dụng cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế của địa phương mình.

Từ nhiều nguồn khác nhau, số ruộng đất được tạm cấp, tạm giao cho nông dân lao động chiếm một diện tích khá lớn. Theo
số liệu thống kê ở 3.035 xã ở miền Bắc, việc chia ruộng đất cho nông dân đạt được kết quả như sau:

- Số ruộng đất của thực dân Pháp đã được tịch thu chia cho nông dân là 26.800 ha.

- Số ruộng đất của địa chủ được đem chia cho nông dân là
156.600 ha.

- Số ruộng đất tịch thu của nhà chung đem chia cho nông dân
là 3.200 ha.

- Số ruộng đất công và nửa công được chia là 289.300 ha.

Đến năm 1953, địa chủ chiếm 2,3% dân số và chỉ còn chiếm
18% tổng số ruộng đất. Nông dân lao động chiếm 92,5% dân số
và nắm trong tay 70,7% tổng số ruộng đất.

Như  vậy,  từ  sau  Cách  mạng  tháng  Tám  đến  trước  cải  cách ruộng  đất,  do  việc  thực  hiện  một  cách  có  hệ  thống  những  cải cách dân chủ, trong nông thôn đã có những chuyển biến khá lớn về chế độ sở hữu ruộng đất cũng như về quan hệ các giai cấp. Sự chiếm  hữu  ruộng  đất  của  thực  dân,  địa  chủ  đã  bị  thu  hẹp  rất nhiều. Trong khi đó quyền sở hữu ruộng đất của nông dân được mở rộng, đời sống của nông dân được cải thiện từng bước, xu hướng trung nông hoá xuất hiện ở nông thôn.

Sự chuyển biến đó khẳng định đường lối tiến hành cải cách, dần dần thu hẹp phạm vi bóc lột của địa chủ phong kiến, đồng thời sửa đổi chế độ ruộng đất trong phạm vi không có hại cho sự đoàn kết dân tộc của Đảng và Chính phủ ta là đúng đắn, sáng
156
 
tạo, phù hợp với đặc điểm xã hội Việt Nam.

Từ  năm  1953,  cuộc  kháng  chiến  bước  vào  giai  đoạn  cuối cùng  với  những  tháng  lợi  to  lớn  trên.các  mặt  trận.  Đảng  và Chính  phủ  chủ  trương  phát động  quần  chúng  triệt  để  giảm tô, giảm tức và cải cách ruộng đất.

Tháng  1-1953,  Ban  Chấp  hành  Trung  ương  Đảng  họp  Hội nghị lần thứ 4 để kiểm điểm việc thi hành chính sách ruộng đất trong quá trình kháng chiến và đề ra 5 công tác chính trong năm
1953 là: Phát động quần chúng triệt để giảm tô, thực hiện giảm tức, đẩy mạnh công tác chỉnh quân, tăng cường công tác kinh tế tài chính, công tác vùng sau lưng địch; trong đó công tác chính
số một là phát động quần chúng triệt để giảm tô, thực hiện giảm tức. Hội nghị thông qua bản Dự thảo cương lĩnh của Đảng Lao động Việt Nam về chính sách ruộng đất.

Tháng  11-1953,  Hội  nghị  lần  thứ  5  Ban  tháp  hành  Trung ương Đảng và Hội nghị đại biểu toàn quốc của đảng thông qua Cương lĩnh ruộng đất; đồng thời quyết định tổ chức thực hiện cải cách ruộng đất ở vùng tự do. Tháng 12-1953, tạt kì họp lần thứ 3, Quốc hội thông qua Luật cải cách ruộng đất.

Từ  tháng  4  đến  tháng  8-1953,  đợt  1  cuộc  phát  động  quần chúng giảm tô được thực hiện trong 22 xã thuộc Liên khu Việt Bắc và Liên khu IV Đến tháng 9-1954, chúng ta đã tiến hành 5 đợt giảm tô trong 830 xã ở miền Bắc.
Trong kháng chiến, nhiều địa phương đã triển khai thực hiện chính sách tịch thu ruộng đất của thực dân Pháp và Việt gian để tạm cấp  cho  nông  dân.  Tuy  nhiên,  trong  khi  xác định  và  thực hiện chính sách tịch thu loại ruộng đất này lại chưa có sự thống nhất giữa các địa phương về quan niệm. Để khắc phục tình trạng đó,  ngày  9-10-1952,  Bộ Canh nông ra Thông tư số 22 - CN - RĐ, giải thích rõ thế nào là ruộng đất của thực dân Pháp và Việt gian. Thông tư còn nhấn mạnh các địa phương phải tạm cấp hết
số  ruộng  đất  này  cho  dân  cày,  không  được  giữ  lại  cho  chính quyền, đoàn thể. Thời hạn tạm cấp là 10 năm và chính quyền địa phương phải có trách nhiệm giúp đỡ dân nghèo về giống, vốn,

155
 
dụng cụ để họ sản xuất có kết quả trên ruộng đất được tạm cấp.

Ngày 14-12-1952, Liên bộ Canh nông - Nội vụ - Tư pháp ra thông tư giải thích thêm về thể lệ sử dụng ruộng đất "vắng chủ” để Uỷ ban kháng chiến hành chính các liên khu và Hà Nội áp dụng cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế của địa phương mình.

Từ nhiều nguồn khác nhau, số ruộng đất được tạm cấp, tạm giao cho nông dân lao động chiếm một diện tích khá lớn. Theo
số liệu thống kê ở 3.035 xã ở miền Bắc, việc chia ruộng đất cho nông dân đạt được kết quả như sau:

- Số ruộng đất của thực dân Pháp đã được tịch thu chia cho nông dân là 26.800 ha.

- Số ruộng đất của địa chủ được đem chia cho nông dân là
156.600 ha.

- Số ruộng đất tịch thu của nhà chung đem chia cho nông dân
là 3.200 ha.

- Số ruộng đất công và nửa công được chia là 289.300 ha.

Đến năm 1953, địa chủ chiếm 2,3% dân số và chỉ còn chiếm
18% tổng số ruộng đất. Nông dân lao động chiếm 92,5% dân số
và nắm trong tay 70,7% tổng số ruộng đất.

Như  vậy,  từ  sau  Cách  mạng  tháng  Tám  đến  trước  cải  cách ruộng  đất,  do  việc  thực  hiện  một  cách  có  hệ  thống  những  cải cách dân chủ, trong nông thôn đã có những chuyển biến khá lớn về chế độ sở hữu ruộng đất cũng như về quan hệ các giai cấp. Sự chiếm  hữu  ruộng  đất  của  thực  dân,  địa  chủ  đã  bị  thu  hẹp  rất nhiều. Trong khi đó quyền sở hữu ruộng đất của nông dân được mở rộng, đời sống của nông dân được cải thiện từng bước, xu hướng trung nông hoá xuất hiện ở nông thôn.

Sự chuyển biến đó khẳng định đường lối tiến hành cải cách, dần dần thu hẹp phạm vi bóc lột của địa chủ phong kiến, đồng thời sửa đổi chế độ ruộng đất trong phạm vi không có hại cho sự đoàn kết dân tộc của Đảng và Chính phủ ta là đúng đắn, sáng
156
 
tạo, phù hợp với đặc điểm xã hội Việt Nam.

Từ  năm  1953,  cuộc  kháng  chiến  bước  vào  giai  đoạn  cuối cùng  với  những  tháng  lợi  to  lớn  trên.các  mặt  trận.  Đảng  và Chính  phủ  chủ  trương  phát động  quần  chúng  triệt  để  giảm tô, giảm tức và cải cách ruộng đất.

Tháng  1-1953,  Ban  Chấp  hành  Trung  ương  Đảng  họp  Hội nghị lần thứ 4 để kiểm điểm việc thi hành chính sách ruộng đất trong quá trình kháng chiến và đề ra 5 công tác chính trong năm
1953 là: Phát động quần chúng triệt để giảm tô, thực hiện giảm tức, đẩy mạnh công tác chỉnh quân, tăng cường công tác kinh tế tài chính, công tác vùng sau lưng địch; trong đó công tác chính
số một là phát động quần chúng triệt để giảm tô, thực hiện giảm tức. Hội nghị thông qua bản Dự thảo cương lĩnh của Đảng Lao động Việt Nam về chính sách ruộng đất.

Tháng  11-1953,  Hội  nghị  lần  thứ  5  Ban  tháp  hành  Trung ương Đảng và Hội nghị đại biểu toàn quốc của đảng thông qua Cương lĩnh ruộng đất; đồng thời quyết định tổ chức thực hiện cải cách ruộng đất ở vùng tự do. Tháng 12-1953, tạt kì họp lần thứ 3, Quốc hội thông qua Luật cải cách ruộng đất.

Từ  tháng  4  đến  tháng  8-1953,  đợt  1  cuộc  phát  động  quần chúng giảm tô được thực hiện trong 22 xã thuộc Liên khu Việt Bắc và Liên khu IV Đến tháng 9-1954, chúng ta đã tiến hành 5 đợt giảm tô trong 830 xã ở miền Bắc.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 03 Tháng Mười Một, 2011, 09:50:54 am
Cùng  với  giảm  tô,  từ  25-11-1953,  cải  cách  ruộng  đất  được thực  hiện  thỉ  điểm  trong  6  xã  thuộc  huyện  Đại  Từ  (Thái Nguyên). Đến tháng 5-1954, đợt 1 cải cách ruộng đất được tiến hành  trong  47  xã  thuộc  tỉnh  Thái  Nguyên  và  6  xã  thuộc  tỉnh Thanh Hoá.

Cuộc vận động giảm tô và cải cách ruộng đất được tiếp tục thực hiện trên quy mô rộng lớn ở miền Bắc sau khi hoà bình lập lại. Trong quá trình thực  hiện  cải  cách  ruộng  đất,  chúng  ta đã phạm phải một số sai lầm như đấu tố cả những địa chủ kháng

157
 
chiến, những người thuộc tầng lớp trên có công với cách mạng; quy nhầm một số nông dân, cán bộ, bộ đội, đảng viên thành địa chủ.

Sai  lầm  trong  cải  cách  ruộng  đất  được  Đảng  và  Chính  phủ phát hiện và có chủ trương, biện pháp sửa sai ngay khi kết thúc cải cách. Nhờ đó mà hậu quả được hạn chế và ý nghĩa của cải cách ruộng đất vẫn hết sức to lớn.

Việc  thực  hiện  chính  sách  ruộng  đất  trong  kháng  chiến  đã từng bước xoá bỏ chế độ chiếm hữu ruộng đất phong kiến, giải phóng lực lượng sản xuất khỏi sự trói buộc của quan hệ sản xuất đã quá lạc hậu, đem lại niềm phấn khởi trong nông dân. Thông qua  đó,  nông  dân  càng  tích  cực  đẩy  mạnh  sản  xuất,  hăng  hái tham  gia  đóng  góp  sức  người,  sức  của  vào  sự  nghiệp  kháng chiến.

Cùng với nông nghiệp, các ngành sản xuất công nghiệp vượt qua mọi khó khăn để bảo đảm nhu cầu của kháng chiến.

Công  nghiệp  quốc  phòng  đã  sản  xuất  được  các  loại  vũ  khí mới  (súng  SKZ,  súng  phóng  bom,  súng  Badôka,  súng  cối...). Trong những năm 1951-1953, từ Liên khư IV trở ra, chúng ta sản xuất được 1.310 tấn vũ khí đạn dược.

Ngành công nghiệp cơ khí sản xuất máy công cụ và tư liệu sản xuất được chú trọng và phát triển, phục vụ cho nhu cầu sản xuất cũng như đời sống của nhân dân, phá tan âm mưu phong toả của địch. Bên cạnh hàng chục nhà máy cơ khí quốc doanh, còn có hàng nghìn cơ sở cơ khí nhỏ của tiểu thủ công nghiệp, sản xuất hàng vạn sản phẩm công cụ cầm tay phục vụ sản xuất nông  nghiệp.  Trong  điều  kiện  khó  khăn,  thiếu  thốn,  các  địa phương trong cả nước đều tích cực đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng, bảo đảm nhu cầu tối thiểu cho cán bộ, bộ đội và nhân dân. Các tỉnh Liên khu IV mở thêm nhiều xưởng sản xuất giấy, xà phòng,  xưởng  dệt,  phát  triển  các  khung  dệt  gia  đình,  khuyến khích nghề ươm tơ, dệt lụa. Liên khu V mở rộng diện tích trồng

158
 
bông, phát triển mạnh nghề dệt lụa, dệt vải. Các tỉnh ở Nam Bộ tiếp  tục  phát  triển  nghề  dệt  vải,  chiếu,  làm  nước  mắm,  làm đường, xà phòng, sản xuất giấy gòn, giấy sáp và nhiều thứ thuốc chữa bệnh...

Đi  đôi  với  đẩy  mạnh  sản  xuất,  Chính  phủ  thực  hiện  chủ trương tăng thu giảm chi, thống nhất quản lí tài chính để tránh lạm  phát,  giữ  giá  hàng,  đấu  tranh  kinh  tế  với  địch,  mở  mang mậu dịch đối ngoại; chấn chỉnh công tác tài chính, ngân hàng và phát hành giấy bạc mới, thành lập mậu dịch quốc doanh.

Ngày  1-5-1951,  Chính  phủ  ban  hành  Sắc  lệnh  số  13/SL  về cải cách chế độ đảm phụ, bãi bỏ các thứ đóng góp cũ như thuế công lương, thuế điền thổ, bãi bỏ việc mua thóc định giá và đặt
ra thuế nông nghiệp thu bằng thóc. Thuế nông nghiệp được đề ra theo  nguyên  tắc  đảm  bảo  cung  cấp  cho  nhu  cầu  kháng  chiến, phù hợp với khả năng đóng góp của mỗi tầng lớp ở nông thôn, khuyến  khích  phát  triển  sản  xuất  nông  nghiệp,  thống  nhất  và đơn  giản  chế  độ  đảm  phụ  cho  dân,  thực  hiện  đóng  góp  công bằng. Từ năm 1951 đến năm 1954, từ Liên khu IV trở ra, Nhà nước  thu  được 1.322.620 tấn thóc thuế  nông nghiệp.  Với biểu thuế luỹ tiến, chúng ta đã giảm nhẹ phần đóng góp của nông dân lao động.

Thắng lợi của việc thực hiện thuế nông nghiệp là thắng lợi rất căn bản của ta về kinh tế. Nhờ đó, phong trào tăng gia sản xuất được thúc đẩy mạnh mẽ. Nhà nước đã tập hợp những số liệu dầu tiên về dân số, diện tích, sản lượng của từng địa phương làm cơ sở để chủ động xây dựng kế hoạch kinh tế kháng chiến. Qua chỉ đạo tổ chức thực hiện thuế nông nghiệp, bộ máy kinh tế của Nhà nước hoạt động có hiệu quả hơn.

Cùng với việc thống nhất các đảm phụ ở nông thôn và thuế nông nghiệp, ngày 22-7-1951, Chính phủ ra sắc lệnh bãi bỏ thúc môn bài, thuế lãi doanh nghiệp, thuế lợi tức tổng hợp và các thứ thuế gián thu hiện hành, đặt thuế công - thương nghiệp và thuế hàng hoá. Cùng ngày, Thủ tướng Chính phủ ban hành hai bản
159
 
điều lệ tạm thời về thuế công thương nghiệp và thuế hàng hoá. Các  bản  điều  lệ  quy  định  thể  thức  tính  và  thu  thuế  theo  các nguyên  tắc:  1)  Động  viên  đóng  góp  theo  khả  năng  của  các ngành công thương nghiệp: 2) Khuyến khích những hoạt động công thương có lợi cho sản xuất, cho nhân dân và cho công cuộc kháng chiến kiến quốc; 3) Thực hiện đóng góp hợp lí và giản tiện.

Chính  sách  thuế  nhập  khẩu,  thuế  sát  sinh...  cũng  được  ban hành.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 03 Tháng Mười Một, 2011, 09:51:22 am
Ngành  thuế  được  xây  dựng  để  phụ  trách  các  thứ  thuế  thu bằng tiền.

Các chi sở thuế được thành lập. Nhờ đó, số thuế công thương nghiệp và thuế hàng hoá thu bằng tiền trong 5 tháng cuối năm
1951 tăng gấp 6 lân so với 6 tháng đầu năm 1.

Ngày 6-5-1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí Sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam nhằm phát hành giấy bạc ngân hàng, điều hoà sự lưu thông tiền tệ; quản lí ngân quỹ quốc gia, quản lí ngoại tệ, quản lí kim dụng bằng các thể lệ hành chính,  đấu  tranh  tiền  tệ  với  địch.  Đến  ngày  10-6-1951,  Chính phủ phát hành giấy bạc Ngân hàng Việt Nam. Ngân hàng ra đời cùng với giấy bạc Ngân hàng Việt Nam đã khẳng định nền tài chính của một quốc gia độc lập. Ngân hàng Quốc gia Việt Nam
ra  dời  đã  góp  phần  giải  quyết  những  khó  khăn  về  kinh  tế,  tài chính, đẩy mạnh kháng chiến.
Mậu  dịch  Quốc  doanh  cũng  được  thành  lập  theo  Sắc  lệnh
22/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh kí ngày 14-5-1951, nhằm thực hiện nhiệm vụ cung cấp hàng hoá cần thiết cho kháng chiến và đời sống nhân dân, phục vụ sản xuất, quản lí thị trường, tổ chức trao đổi hàng hoá với các nước bạn; đồng thời đấu tranh kinh tế với địch.



1.  Lịch sử Chính  phú Việt Nam... Sđd. tr. 210.
160
 
Ngày  l-7-1951,  những  chi  điếm  mậu  dịch  đầu  tiên  được  tổ chức ở thị xã Thái Nguyên, Tuyên Quang. Mậu dịch bán hàng nội hoá với giá rẻ hơn cho nhân dân, gây được ảnh hưởng tốt trong  quần  chúng.  Mậu  dịch  đã  cung  cấp  35%  nhu  yếu  phẩm cho bộ đội.

Từ sau chiến thắng Biên giới, con đường thông thương giữa nước ta với quốc tế được mở rộng, nên hoạt động ngoại thương có bước phát triển mới. Giá trị hàng xuất khẩu năm 1951 tăng 7 lần so với năm 1950.

Nhờ  chính  sách  kinh  tế,  nhất  là  kinh  tế  nông  nghiệp  phát triển, chính sách thuế mới công bằng, hợp lí, quản lí tài chính chặt chẽ, cho nên giá cả thị trường từng bước được ổn định, thu chi trong ngân sách dần dần cân bằng (đến năm 1953, số thu đã vượt chi 16%), nạn lạm phát được khắc phục.

Những kết quả trên mặt trận kinh tế, tài chính đã góp phần quyết định cho sự thắng lợi của cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc.



Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 03 Tháng Mười Một, 2011, 09:51:44 am
Về chính trị:

Để có hậu phương vững mạnh về mọi mặt, phải lấy xây dựng chính trị làm nhiệm vụ hàng đầu. Sự vững chắc của hậu phương phụ thuộc trước hết vào sự giác ngộ cách mạng, sự nhất trí về chính  trị,  tinh  thần  của  nhân  dân;  ở  chế  độ  ưu  việt,  uy  tín  và năng lực hoạt động của các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể quần chúng. Sự vững mạnh về chính trị vừa là nền tảng, vừa là đòn bẩy để nay dựng hậu phương vững mạnh.

Với quan điểm đó, trong kháng chiến, Đảng và Chính phủ rất coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục quần chúng, làm cho quần chúng giác ngộ về mục tiêu và nhiệm vụ cách mạng, nâng cao lòng yêu nước, yêu chế độ và quyết tâm kháng chiến.

Chính  phủ  có  nhiều  biện  pháp  để  kiện  toàn  bộ  máy  chính quyền  dân  chủ  nhân  dân  các  cấp  theo  nguyên  tắc  thực  sự dân


161
 
chủ, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, kiện toàn các cơ quan Nhà nước, trước hết là Hội đồng nhân dân, Uỷ ban kháng chiến hành chính các cấp các cơ quan kinh tế, công an. Các cơ quan chính  quyền  được  tổ  chức,  sắp  xếp  lại  biên  chế  cho  phù  hợp theo  phương  hướng  tinh  giản,  gọn  và  có  hiệu  quả.  Hội  đồng nhân dân cấp tỉnh và cấp xã được bầu lại. Trong năm 1952, một
số nơi đã tiến hành bầu cử Hội đồng nhân dân tỉnh và xã khoá III,  đồng  thời  kiện  toàn  Uỷ  ban  kháng  chiến  hành  chính  theo tinh thần các thông tư, sắc lệnh của Chính phủ.

Trên cơ sở kiện toàn Hội đồng nhân dân, Uỷ ban kháng chiến hành  chính  các  cấp  được  củng  cố,  đặc  biệt  là  cấp  Liên  khu. Chính  quyền  cấp  cơ  sở  cũng  được  xây  dựng  gọn  nhẹ,  thu  hút thêm những  thành  phần cơ  bản trong nhân dân lao động tham gia.

Củng cố và tăng cường chính quyền cấp xã là công việc được Chính  phủ  quan  tâm  đặc  biệt,  coi  đó  là  một  nhiệm  vụ  quan trọng, cấp bách trong quá trình xây dựng bộ máy chính quyền nhà nước nói chung. Chính phủ đã có nhiều sắc lệnh, nghị định, thông tư về kiện toàn, củng cố chính quyền cấp xã.

Ngày 23-3-1951, Bộ Nội vụ ra Thông tư số 62 về "Kế hoạch củng cố chính quyền cấp xã", làm cho chính quyền cấp xã thực sự  trong  sạch  và  vững  mạnh.  Thông  tư  chỉ  rõ:  Mọi  công  dân Việt Nam đều có quyền tham dự chính quyền, tham gia ý kiến vào  công  việc  chính  quyền,  song  về  thực  tế,  không  thể  cùng tham  gia  trong  các  cơ  quan  chính  quyền,  do  đó  công  dân  có quyền bầu một số người thay mặt mình ở những cơ quan ấy. Hội đồng nhân dân xã là cơ quan chính quyền tối cao quyết định mọi công  việc  của  xã.  Hội  đồng  nhân  dân  tự  chọn  một  số  uỷ  viên vào  Uỷ  ban  kháng  chiến  hành  chính  để  thi  hành  những  nghị quyết của mình. Do vậy, Uỷ ban kháng chiến hành chính là ban chấp  hành  của  Hội  đồng  nhân  dân,  quyền  chấp  hành  đều  tập trung vào Uỷ ban kháng chiến hành chính xã và theo nguyên tắc tập  trung  dân  chủ.  Giúp  việc  cho  Uỷ  ban  kháng  chiến  hành

162
 
chính xã có văn phòng và các bộ phận chuyên môn.

Đầu  tháng  11-1951,  Bộ  Nội  vụ  tổ  chức  Hội  nghị  tổng  kết củng cố xã xây dựng Đề án củng cố xã và trình Hội đồng Chính phủ  thông  qua  tháng  12-1951.  Từ  sau  đó,  công  tác  củng  cố chính quyền cấp xã tiếp tục được đẩy mạnh. Ngày 14-6-1952, Chính phủ ra Sắc lệnh số 95/SL quy định số lượng, thể lệ bầu cử và chỉ định Uỷ ban kháng chiến hành chính xã.

Nhờ tập trung củng cố cấp xã, nhiều nơi đã có thể bỏ được cấp  thôn,  tạo  điều  kiện  củng  cố  các  đoàn  thể  quần  chúng,  cải tiến lề lối làm việc, nâng cao năng lực và hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo điều hành mọi mặt công tác kháng chiến, kiến quốc ở cơ sở.

Việc  chấn  chỉnh  tổ  chức  chính  quyền  các  cấp  đã  tạo  nên những chuyển biến mới cả về tổ chức và lề lối làm việc, phát huy được tinh thần làm chủ và khí thế hăng hái tham gia kháng chiến của mọi tầng lớp nhân dân.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 03 Tháng Mười Một, 2011, 09:52:07 am
Các cơ quan chuyên môn cũng được củng cố. Ngày 10-10-
1950,  Bộ  Nội  vụ  ra  Nghị  định  số  438  về  việc  tổ  chức  trong phạm vi cả nước Ban công an xã. Ban công an xã trực thuộc hệ thống Việt Nam công an vụ dưới quyền điều khiển của Uỷ ban kháng chiến hành chính xã và chấp hành mệnh lệnh của cấp trên theo ngành dọc, có nhiệm vụ bảo vệ tài sản của nhân dân, giữ gìn an ninh và vệ sinh công cộng trong xã, ngăn ngừa và bài trừ các tệ nạn xã hội.

Ngày 3-1-1952, Bộ Nội vụ ra Nghị định số 9 về việc thành lập  Công  an  huyện  trên  phạm  vi  cả  nước.  Công  an  huyện  có nhiệm vụ bảo vệ trị an, đề phòng phản gián, bảo vệ các cơ quan
ở huyện, điều tra tội phạm theo yêu cầu của Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh,  huyện và toà án nhân dân; tổ chức  và  hướng dẫn công an xã phát triển công an nhân dân.
Ngày  15-10-1952,  Hội đồng  Chính  phủ  đã  họp bàn về  việc thành lập Bộ Công an. Ngày 16-2-1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh
kí Sắc lệnh số 141/SL về việc đổi Nha Công an thuộc Bộ Nội vụ

163
 
thành Thứ Bộ Công an, đặt dưới quyền lãnh đạo của một Thứ trưởng.  Thứ  Bộ  Công  an  có  nhiệm  vụ  chống  gián  điệp,  phản động ở trong nước để bảo vệ chính quyền nhân dân, bảo vệ quân đội nhân dân và các đoàn thể nhân dân, bảo vệ nền kinh tế, biên giới, chống đặc vụ và gián điệp... Đến tháng 8-1953, Hội đồng Chính phủ quyết định đổi Thứ Bộ Công an thành Bộ Công an. Từ đây, Bộ Công an tách khỏi Bộ Nội vụ, trở thành một Bộ của Chính phủ.

Trên  lĩnh  vực  tư  pháp,  chúng  ta  đấu  tranh  chống  những khuynh hướng sai lầm; sửa đổi lại thành phần các cấp toà án. Do vậy, ngành Tư pháp được chấn chỉnh và củng cố, trở thành một công  cụ  chuyên  chính  sắc  bén  của  chính  quyền  dân  chủ  nhân dân.

Khối đoàn kết toàn dân được củng cố và mở rộng. Từ ngày 3 đến ngày 7-3-1951, Đại hội thống nhất hai Mặt trận Việt Minh và Liên Việt được triệu tập.

Thành công của Đại hội thống nhất Việt Minh - Liên Việt là một sự kiện chính trị quan trọng, đánh dấu bước phát triển mới của khối đoàn kết toàn dân: "... rừng cây đại đoàn kết ấy đã nở hoa kết quả và gốc rễ của nó đang ăn sâu lan rộng khắp toàn
dân và nó có một cái tương lai "Trường xuân bất lão " 1  .

Tiếp theo Đại hội Đảng và Đại hội thống nhất Việt Minh - Liên Việt theo sáng kiến của Đảng ta, Hội nghị đoàn kết nhân dân  ba  nước  Việt  Nam,  Lào  và  Campuchia  được  tổ  chức  vào ngày  11-3-1951,  gồm  đại  biểu  Mặt  trận  Liên  -  Việt,  Mặt  trận Khơ  me  Itxarắc,  Mặt  trận  Lào  Itxala.  Hội  nghị  nhất  trí  khẳng định: Ba dân tộc có chung một kẻ thù là thực dân Pháp và can thiệp  Mĩ.  Trên  cơ  sở  đó,  Hội  nghị  quyết  định  thành  lập  khối Liên  minh  Việt  -  Miền  -  Lào  dựa  trên  nguyên  tắc  tự  nguyện,



1. Hồ Chí Minh: Toàn tập. Tập VI. NXB Chính trị Quốc gia. Hà Nội
1995. tr.181.
164
 
bình đẳng, tương trợ và tôn trọng chủ quyền của nhau. Sự ra đời Liên  minh  Việt  -  Miền  -  Lào  là  một  thắng  lợi  mới  của  chiến lược đại đoàn kết ba dân tộc anh em trên bán đảo Đông Dương, đoàn kết các lực lượng hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ thế giới của Đảng và Chính phủ ta, tạo nên sức mạnh của khối đoàn kết quốc tế nhằm đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đi đến thắng lợi.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 03 Tháng Mười Một, 2011, 09:52:32 am
Về văn hoá - giáo dục - y tế.

Đảng  và  Chính  phủ  rất  chú  trọng  xây  dựng  phong  trào  văn nghệ quần chúng, khai thác vốn văn hoá, văn nghệ dân tộc; tổ chức và hướng dẫn văn nghệ sĩ đi vào thực tế sản xuất và chiến đấu, phục vụ kháng chiến. Ngày 6-6-1951, Hội đồng Chính phủ quyết định thành lập Nha Thông tin trực thuộc Thủ tướng Chính phủ. Cuối năm này, Hội đồng Chính phủ chủ trương kiện toàn Ban Văn hoá xã hội, thành lập Nha Văn nghệ, đặt Quốc gia ấn Cục vào Ban Văn xã.

Ngày 24-2-1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí Sắc lệnh số 83/SL hợp nhất Nha Thông tin và Vụ Văn học nghệ thuật thành Nha Tuyên  truyền  và  Văn  nghệ  trực  thuộc  Thủ  tướng  Chính  phủ. Ngày  15-3-1953,  Chính  phủ  ra  Sắc  lệnh  số  14/SL  thành  lập Quốc doanh Điện ảnh và Chiếu bóng Việt Nam. Cùng với sự ra đời của ngành Điện ảnh, các đội chiếu bóng được thành lập. Các bộ phim Việt Nam kháng chiến,  Việt Nam trên đường thắng lợi .
. . được xây dựng.

Phong  trào  bình  dân  học  vụ  tiếp  tục  được  Chính  phủ  quan tâm  chỉ  đạo.  Ngày  24-2-1951,  Chủ  tịch  Hồ  Chí  Minh  gửi  thư nhắc  nhở  Nha  Bình  dân  học  vụ  phải  làm  cho  tất  cả  đồng  bào Việt Nam từ 8 tuổi trở lên đều biết đọc, biết viết và lúc đó mới
là  thắng  lợi  hoàn  toàn  trên  mặt  trận  diệt  dốt.  Đến  năm  1952, khoảng 14 triệu người đã thoát nạn mù chữ.
Phong  trào  bổ  túc  văn  hoá  được  đẩy  mạnh.  Khắp  các  cơ quan, các khu vực dân cư, các đơn vị bộ đội và dân công đều tổ chức các lớp học bổ túc văn hoá. Đến tháng 9-1953, trong các
165
 
vùng  tự  do  đã  có  10450  lớp  bổ  túc  văn  hoá,  với  335.946  học viên.  Một số  trường  phổ  thông lao  động  ở  Trung ương  và  địa phương được thành lập.

Giáo dục phổ thông phát triển mạnh theo hướng cải cách giáo dục năm 1950. Tháng 7-1951, Đại hội Giáo dục toàn quốc được
tổ  chức.  Đại  hội  xác  định  phương  châm  giáo  dục  là  phục  vụ
kháng chiến, chủ yếu là tiền tuyến; phục vụ nhân dân, chủ yếu
là công - nông - binh.

Thực hiện sự chỉ đạo của Chính phủ, ngày 30-10-1951, Bộ Quốc gia Giáo dục ra Thông tư số 49/TT-TKV quy định tổ chức trường  phổ  thông  9  năm.  Các  cấp  quản  lí  giáo  dục  phổ  thông trung học được quy định rõ: ở Trung ương có Nha Giáo dục phổ thông (được thành lập trên cơ sở hợp nhất Nha Tiểu học và Nha Trung học); ở Liên khu là Khu Giáo dục phổ thông; ở tỉnh là Ty Giáo dục phổ thông.

Ngày 3-11-1951, Bộ Quốc gia Giáo dục ra nghị định bãi bỏ các Hội giúp việc giáo dục tỉnh và xã; tổ chức tại mỗi tỉnh một Tiểu  ban  giáo  dục  có  nhiệm  vụ  nghiên  cứu  chủ  trương,  chính sách giáo dục của Chính phủ và tình hình giáo dục địa phương để  định  ra  chương  trình,  kế  hoạch  giáo  dục  cho  phù  hợp  với hoàn  cảnh thực  tế  của  địa  phương.  Thành  phần  Tiểu  ban  giáo dục gồm đại biểu Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh, Trưởng
ty giáo dục phổ thông, Trưởng ty bổ túc văn hoá.

Để  nâng  cao  chất  lượng  đội  ngũ  giáo  viên  và  đáp  ứng  yêu cầu cải cách giáo dục, Nhà nước coi trọng việc chấn chỉnh hệ thống các trường sư phạm. Theo hướng ấy, Bộ Quốc gia Giáo dục ra một loạt nghị định về củng cố, sắp xếp lại hệ thống các trường chuyên nghiệp nói chung và trường sư phạm nói riêng. Nghị định số 233/NĐ (1-10-1951) sáp nhập Trường Sư phạm sơ cấp Việt Bắc vào Trường Sư phạm trung cấp Trung ương; Nghị định số 234/NĐ (1- 10-1951) thành lập Khu học xá trung ương gồm 3 trường: Trường Khoa học cơ bản, Trường Sư phạm cao cấp,  Trường  Sư  phạm  trung  cấp  Trung  ương;  Nghị  định  số
166
 
276/NĐ (11-10-1951) bãi bỏ Ban Sư phạm Đại học Khoa học và thành lập Trường Sư phạm cao cấp để đào tạo giáo viên cấp III Cho Các trường phổ thông; Nghị định số 277/NĐ (11-10-1951) mở lớp Dự bị đại học một năm vào đầu năm học 1952 tại Liên khu IV, gồm hai ban: Ban Khoa học xã hội (các môn học: Triết học và chính trị, Văn chương Việt Nam, Sinh ngữ, Lịch sử văn học thế giới, Sử, Địa, Kinh tế) và Ban Khoa học tự nhiên (các môn học: Toán, Lí, Hoá, Vạn vật).



Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 03 Tháng Mười Một, 2011, 09:53:09 am
Tính  đến  năm  1953,  trong  các  vùng  tự  do  có  769.640  học sinh phổ thông từ cấp I đến cấp III. Năm 1954, số học sinh tăng lên 1132.196 người. Trong khoảng ba năm (1951 - 1953), Nhà nước  đã  đào  tạo  được  7.000  cán  bộ  kĩ  thuật.  Đó  là  không  kể hàng ngàn cán bộ, sinh viên tốt   nghiệp đại học và học sinh tốt nghiệp  phổ  thông  được  đưa  đi  đào  tạo  dài  hạn  ở  nước  ngoài, nhằm chuẩn bị cho việc xây dựng đất nước sau khi chiến tranh kết thúc. Trong cả nước đã hình thành 3 trung tâm đại học và cao  đẳng:  Việt  Bắc,  Khu  IV  và  Khu  học  xá  Trung  ương  (l)  . Công tác chăm lo, bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân được chú ý. Hệ thống bệnh viện, bệnh xá, phòng y tế, trạm cứu thương được xây dựng rộng khắp. Phong trào vệ sinh phòng bệnh được phát động rộng rãi trong toàn dân. Nạn đói và bệnh dịch được đẩy lùi về cơ bản. Nếp sống mới nảy nở, ngày càng lan rộng khắp các vùng tự do.

Những thành tựu đạt được trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục đã làm tăng thêm sức mạnh của hậu phương kháng chiến. Đây chính là một nhân tố rất căn bản, có tính quyết định hắng lợi của quân đội ta trên mặt trận quân sự.

Lịch sử Chính phủ Việt Nam... Sđd, tr. 223.

V- Những Chiến dịch giữ vững và phát triển quyền chủ động
đánh địch trên chiến trường

Sau chiến dịch Biên giới thu - đông 1950, quân ta tiếp tục giữ

167
 
vững  quyền  chủ  động  về  chiến  lược  trên  chiến  trường  chính, liên tục mở các chiến dịch tiến công và phản công lớn. Phưng hướng của ta mở chiến dịch là nhằm vào trung du và đồng bằng, trước mắt là đánh trung du.

Trung du và đồng bằng lúc này bao gồm 15 tỉnh, thành, rộng khoảng 21.000 km2 và 8.000.000 dân (không kể Hoà Bình, Phú Thọ),  hình  thành  một  khu  tam  giác  với  nhiều  điểm  tập  trung đông dân cư.

Trung du là tuyến chính diện của địch đối mặt với căn cứ địa kháng chiến Việt Bắc; là dải đất tiếp giáp giữa vùng tạm bị địch chiếm với vùng tự do Việt Bắc. Miền này bao gồm phần đất của các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Nam Thái Nguyên, Bắc Ninh,  Bắc  Giang,  Quảng  Yên,  Hòn  Gai,  kéo  dài  từ  tây  sang đông khoảng gần 300 km.

Sau khi ta giải phóng biên giới, mở rộng vùng tự do ở phía bắc Bắc Bộ, vùng trung du trở thành tuyến phòng thủ chủ yếu của địch, cùng với tuyến sông Đáy ở phía tây - nam tạo thành một vành đai bao quanh đồng bằng, ngăn chặn mọi sự xâm nhập của ta vào đồng bằng Bắc Bộ.

Đối  với  địch,  trung  du  là  bàn  đạp  thuận  tiện  để  chúng  tập trung lực lượng, tổ chức tiến công, uy hiếp Việt Bắc. Sau đồng bằng,  trung  du  cũng  là  nơi  đông  dân  nhiều  của,  có  khả  năng cung cấp cho nhu cầu chiến tranh. Mặt khác, trung du là nơi có phong  trào  kháng  chiến  mạnh,  lực  lượng  vũ  trang  địa  phương phát triển và đã từng lập nhiều thành tích trong chiến đấu. Nếu đánh vào trung du, ta sẽ thu hẹp được phạm vi chiếm đóng của địch, phá kế hoạch củng cố và bình định đồng bằng của chúng, làm  thất  bại  âm  mưu  "lấy  chiến  tranh  nuôi  chiến  tranh,  dùng người Việt đánh người Việt".

Xuất phát từ tầm quan trọng có ý nghĩa chiến lược về nhiều mặt trên đây, Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Trung du (mang mật danh là chiến dịch Trần Hưng

168
 
Đạo),  nhằm  mục  đích:  Tiêu  diệt  sinh  lực  địch,  mở  rộng  khu lương  thực,  phát  triển chiến  tranh  du  kích,  tranh  thủ  thời  gian phá kế hoạch củng cố của địch, tạo điều kiện mới để tiêu diệt địch nhiều hơn nữa. Hướng chính của chiến dịch là vùng trung du,  từ  Việt  Trì  đến  Bắc  Giang,  trong  đó  hướng  tiến  công  chủ yếu nhằm vào khu vực Vĩnh Yên, Phúc Yên. Vùng duyên hải Đông Bắc và Liên khu III là những hướng phụ có nhiệm vụ phối hợp trực tiếp trong suốt quá trình diễn ra chiến dịch.

Lực lượng tham gia chiến dịch gồm 2 đại đoàn (Đại đoàn 308 và Đại đoàn 312), 5 trung đoàn bộ đội chủ lực, 4 đại đội pháo binh, 2 đại đội công binh, 4 tiểu đoàn bộ đội địa phương. Cùng với đồng bào một số tỉnh Việt Bắc, hàng vạn dân công chuyên chở hàng trăm tấn gạo ở vùng địch hậu trung du vượt qua mạng lưới đồn bốt địch đày đặc ra phục vụ tiền tuyến. Tổng cộng toàn chiến  dịch,  ta  đã  huy  động  27.658  dân  công  thường  trực,
272.259  dân  công  từng  đợt  và  chuẩn  bị  được  4.960  tấn  lương thực, 416 tấn đạn dược, vũ khí. Trải qua 23 ngày đêm chiến đấu (từ 25-12-1950 đến 17-1-1951), quân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 5.000 địch, diệt 30 vị trí và 40 tháp canh, thu nhiều vũ khí các loại.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 03 Tháng Mười Một, 2011, 09:53:35 am
Qua  chiến  đấu  ở  trung  du,  bộ  đội  ta  có  bước  trưởng  thành mới.

Lần đầu tiên tác chiến ở một vùng đồi núi thấp nơi địch có điều kiện phát huy thế mạnh, chiến dịch Trung du là một mốc quan trọng, đánh dấu một bước tiến vững chắc của bộ đội ta về
kĩ thuật. Bên cạnh những thắng lợi và ưu điểm, ta cũng có một
số khuyết điểm và hạn chế. Nhiệm vụ mở rộng khu lương thực mới đạt được ở mức thấp. Việc phát động chiến tranh du kích làm chậm, chưa tận dụng được tất cả khả năng mới do thắng lợi của chủ lực tạo nên. Địch bị tiêu diệt một bộ phận sinh lực quan trọng,  nhưng  ta  cũng  có  nhiều  thương  vong  sau  chiến  dịch Trung  du,  thực  hiện  nghị  quyết  của  Trung  ương  Đảng  (26-2-
1951), Bộ Tổng Tư lệnh ra mệnh lệnh mở chiến dịch Đường 18

169
 
(mang  mật  danh  là  chiến  dịch  Hoàng  Hoa  Thám),  nhằm  mục đích:  Tiêu  diệt  sinh  lực  địch,  phát  triển  chiến  tranh  du  kích. Hướng  chính  của  chiến  dịch  là  Đường  18,  hai  hướng  phụ  là Vĩnh Yên và Liên khu III.

Trên  hướng  Đường  18,  chúng  ta  sử  dụng  2  đại  đoàn  (Đại đoàn 308 và Đại đoàn 312), 2 trung đoàn bộ đội chủ lực, 4 đại đội pháo binh, 2 tiểu đoàn công binh phối hợp với lực lượng vũ trang  địa  phương  tiến  công  địch.  Phục  vụ  chiến  dịch  có  hơn
57.000 dân công, 2.280 tấn lương thực, thực phẩm; 226 tấn đạn dược. Phương châm lác chiến là đánh điểm diệt viện.

Trải  qua  14  ngày  đêm  chiến  đấu  (từ  ngày  23-3  đến  7-4-
1951), tính chung cả mặt trận chính và mặt trận phối hợp, quân và dân ta đã tiêu diệt, làm bị thương và bắt trên 3.900 địch; diệt và bức địch rút 133 vị trí, tháp canh; bắn rơi 1 máy bay; phá huỷ
1 xe tăng, 45 xe cơ giới 1. Bộ đội ta hi sinh 600 người, bị thương trên 1700 người .

Đánh giá kết quả chiến dịch, Bộ Chính trị Trung ương Đảng nhận  định:  Trong  chiến  dịch  này,  ta  đã  tiêu  diệt  một  bộ  phận sinh  lực  địch,  đẩy  mạnh  chiến  tranh  du  kích,  gây  được  ảnh hưởng chính trị và học tập được nhiều kinh nghiệm quý báu về tác chiến với binh lực lớn ở một chiến trường xa và đánh vào một  trung  tâm  của  địch.  Tuy  nhiên,  ta  đã  không  hoàn  thành nhiệm vụ thật đầy đủ, địch thiệt hại nhưng ta cũng bị tiêu hao.

Sau chiến dịch Đường 18, tiếp tục kế hoạch tiến công địch ở Trung  du  và  đồng  bằng,  ngày  20-4-1951,  Bộ  Chính  trị  Trung ương Đảng quyết định mở cuộc tiến công ở khu vực Hà - Nam - Ninh, lấy tên là chiến dịch Quang Trung, nhằm tiêu diệt thêm một  bộ  phận  sinh  lực  địch,  phá  tan  khối  ngụy  quân,  thúc  đẩy chiến tranh du kích phát triển, giành lại kho người, kho của ở



1. Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945 - 1954. Tập 2.
Sách đã dẫn, tr. 62.
170
 
đồng  bằng.  Trung  ương  Đảng  nhấn  mạnh:  Chiến  dịch  Quang Trung là một chiến dịch đầu tiên được mở ở đồng bằng, cách xa căn cứ địa chính; địa thế có nhiều khó khăn cho ta, thuận lợi cho địch. Trong chiến dịch này, ta không những phải thắng về quân sự, mà còn phải thắng cả về chính trị; cần phải hết sức tranh thủ dân;  chú  trọng  việc  vận  động  ngụy  binh,  vận  động  đồng  bào công giáo, thi hành chính sách của Đảng trong các vùng có thể giải phóng.

Lực lượng sử dụng trong chiến dịch gồm 3 đại đoàn bộ binh (Đại đoàn 308, Đại đoàn 304 và Đại đoàn 320), 5 đại đội pháo binh, một số đơn vị công binh, trinh sát và lực lượng vũ trang địa phương. Nếu so với địch, về lực lượng bộ binh, ta nhiều hơn hai lần, nhưng địch có ưu thế tuyệt đối về cơ giới, máy bay, tàu chiến  và  do  điều  kiện  cơ  động  thuận  lợi,  chỉ  trong  thời  gian ngắn,  chúng  có  thể  điều  thêm một  số  binh  đoàn  cơ  động  đến, nhanh chóng làm thay đổi lực lượng.

Với  tinh  thần  Tất  cả  cho  tiền  tuyến,  tất  cả  để  chiến  thắng, nhân  dân  các  địa  phương,  từ  Việt  Bắc  đến  Liên  khu  III,  Liên khu  IV,  đều  hăng  hái  đóng  góp  sức  người,  sức  của  cho  chiến dịch. Chỉ trong thời gian ngắn, riêng tỉnh Hà Nam đã huy động được 160 tấn gạo và 130 con trâu, bò, lợn. Nhân dân ba tỉnh huy động trên 100.000 dân công làm nhiệm vụ vận tải, dẫn đường, chuyển thương, phục vụ thương binh, bắc cầu, đào đắp công sự; huy  động  4.400  thuyền,  mảng  chở  bộ  đội qua sông trong suốt chiến dịch 1.

Sau 24 ngày đêm chiến đấu (từ ngày 28-5 đến 20-6-1951), ta đã loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 4.000 địch, diệt và bức địch rút hơn 30 vị trí, phá huỷ hơn 30 xe lội nước, thu hơn 1.000 vũ khí  và  phương  tiện  chiến  tranh.  Tuy  nhiên,  lực  lượng  của  ta cũng bị tổn thất nặng.


1. Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945 - 1954. Tập 2.
Sđd, tr. 71.
171
 
Tính  chung  trên  các  chiến  trường  toàn  quốc  trong  6  tháng
đầu năm 1951, quân và dân ta đã tiêu diệt và làm bị thương gần
40.000  địch.  Riêng  ở  Bắc  Bộ,  ta  đã  loại  khỏi  vòng  chiến  đấu
32.000 tên địch (trong ba Chiến dịch Trung du, Đường 18 và Hà
- Nam - Ninh, số địch bị diệt là 17.000 tên). Ta thu gần 10.000
súng các loại.

Tuy nhiên, vì địa bàn ba chiến dịch trên không lợi cho ta, mà có lợi cho địch trong việc phát huy ưu thế về binh khí kĩ thuật và cơ động, nên kết quả chiến đấu bị hạn chế. Địch bị thiệt hại nặng,  nhưng  ta  cũng  bị  tiêu  hao  lớn;  có  chiến  dịch  không  đạt được mục tiêu đề ra. Cả ba chiến dịch đã gây trở ngại cho địch trong việc thực hiện kế hoạch Đờ Lát đờ Tátxinhi, nhưng sức chiến  đấu  của  bộ  đội  ta  cũng  bị  giảm  sút.  Ta  không  phát  huy được  thế  chủ  động  chiến  lược  giành  được  từ  chiến  dịch  Biên giới; chưa phá được phòng tuyến của địch, chưa làm thay đổi được cục diện chiến trường đồng bằng Bắc Bộ.

Về  phía  thực  dân  Pháp,  sau  một  thời  gian  đối  phó  với  các cuộc tiến công của ta ở Trung du, Đường số 18 và Hà - Nam - Ninh, chúng tăng cường chiến tranh tổng lực, đánh phá dữ dội cơ  sở  kháng  chiến  trong  vùng  tạm  chiếm,  cướp  đoạt  tài  sản, giành giật nhân lực, vật lực, chống lại chiến tranh du kích, gây cho ta nhiều khó khăn mới. Các căn cứ du kích và khu du kích của ta ở đồng bằng bị đánh phá nặng nề; nhiều vùng bị chúng chiếm đóng trở lại. Hàng ngàn vị trí, tháp canh của địch được dựng khắp nơi. Cuộc chiến đấu của nhân dân ta trong vùng tạm
bị địch chiếm gặp rất nhiều khó khăn.

Trước  tình  hình  trên,  nhằm  phá  tan  âm  mưu  thâm  độc  của địch, đưa những hoạt động kháng chiến ở vùng sau lưng địch, nhất là chiến tranh du kích vượt qua khó khăn để phát triển đi lên, Hội nghị lần thứ hai của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (từ  ngày  27-9  đến  5-10-1951)  tập  trung  bàn  về  "nhiệm  vụ  và phương  châm  công  tác  trong  vùng  tạm  bị  chiếm  và  vùng  du kích". Hội nghị nêu rõ: Công tác vùng tạm bị chiếm và vùng du

172
 
kích  là  một  công  tác  rất  quan  trọng;  đề  ra  mục  đích,  phương châm và nhiệm vụ của toàn bộ công tác ở vùng sau lưng địch là nhằm vào vận động quần chúng đấu tranh, vận động binh lính địch, thực hành chiến tranh du kích, phá chính sách bình định của Pháp và chính quyền tay sai.

Hội nghị chia vùng sau lưng địch thành vùng tạm chiếm và vùng  du  kích,  hoạt  động  theo  hai  phương  châm  khác  nhau: Vùng tạm bị địch chiếm lấy xây dựng cơ sở, đấu tranh chính trị và kinh tế làm chính; vùng du kích lấy đấu tranh vũ trang làm chính, kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị và kinh tế.



Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 03 Tháng Mười Một, 2011, 09:54:10 am
Vùng sau lưng địch lúc này có ba công tác chính: Dân vận, vận động ngụy binh và đẩy mạnh chiến tranh du kích, trong đó dân vận là gốc của mọi công tác.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ hai đánh dấu bước phát triển của Đảng về công tác chỉ đạo mặt trận vùng sau lưng địch. Nghị quyết Hội nghị có tác dụng hướng dẫn kịp thời cuộc đấu tranh gay go, ác liệt của nhân dân vùng sau lưng địch chống lại  chính  sách  "dùng  người  Việt  đánh  người  Việt,  lấy  chiến tranh nuôi chiến tranh" của kẻ thù.

Dưới  ánh  sáng  Nghị  quyết  Trung  ương  Đảng  lần  thứ  hai, quân và dân trong cả nước đẩy mạnh mọi mặt hoạt động, chuyển hướng  mạnh  mẽ  công  tác  trong  vùng  sau  lưng  địch,  phối  hợp chặt  chẽ  chiến  tranh  du  kích  và  chiến  tranh  chính  quy,  giành thắng lợi mới.

Trong khi đó, từ cuối năm 1951, sức ép từ nhau phía một lần nữa lại đè nặng lên Chính phủ Pháp. Cùng với gánh nặng chiến tranh ở thuộc địa, Chính phủ Pháp phải góp 10 sư đoàn cho khối Bắc Đại Tây Dương (NATO). Điều này càng làm cho tình hình kinh tế - xã hội của nước Pháp trở nên căng thẳng. Sức ép về chính  trị  của  nhân  dân  Pháp  cũng  như  của  các  phe  phái  trong Quốc hội đã lên đến tột đỉnh.

173
 
Trong hoàn cảnh ấy, những người cầm đầu Chính phủ Pháp muốn có một thắng lợi quân sự vang dội để vừa xoa dịu dư luận, trấn an tinh thần binh sĩ, vừa để tranh thủ viện trợ của Mĩ. Việc vạch ra kế hoạch đánh chiếm Hoà Bình của Bộ chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương chính là nhằm mục đích ấy.

Tỉnh Hoà Bình có 15 vạn dân, nằm ở phía tây nam đồng bằng Bắc Bộ. Thị xã Hoà Bình là trung tâm chính trị của đồng bào dân tộc Mường, cách Hà Nội 75 km. Sau thất bại trên mặt trận Biên  giới  thu  -  đông  1950,  quân  Pháp  đã  phải  rút  khỏi  Hoà Bình. Một vùng tự do rộng lớn ở phía tây, cửa ngõ nối liền vùng
tự  do  với  đồng  bằng  Bắc  Bộ  qua  Chợ  Bến,  qua  sông  Đà,  đã
được giải phóng. Trong gần một năm sau đó, nhân lực, vật lực
từ các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ  An, Hà Tĩnh  vượt  qua Đường  6
được chuyển ra phía bắc chi viện cho các chiến dịch lớn.

Đánh chiếm Hoà Bình, Đờ Lát hi vọng lập lại hành lang đông
- tây ngăn chặn con đường giao thông của kháng chiến từ Bắc vào Nam, buộc chủ lực của đối phương phải tham chiến; qua đó giành thắng lợi quân sự để ổn định quân ngụy và dựng lại Xứ Mường tự trị.

Sau khi củng cố thế phòng ngự, tăng cường lực lượng và đẩy mạnh bình định, ngày 9-11-1951, Đờ Lát sử dụng một lực lượng cơ động chiến lược mạnh (gồm 20 tiểu đoàn bộ binh, 7 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn thiết giáp, 2 đại đội xe tăng và nhiều tàu thuyền) mở cuộc hành quân Tuylíp (Tulipe), tiến công Chợ Bến, cắt đường di chuyển của bộ đội ta từ Việt Bắc xuống đồng bằng. Ngày  14-11,  chúng  mở  cuộc  hành  quân  Lôtuýt  (Lotus)  đánh chiếm Hoà Bình. Trong ngày 15-11, chúng đã hoàn thành việc chiếm  đóng  các  vị  trí  then  chốt  trong  khu  vực  Hoà  Bình  - Đường  6  -  Sông  Đà  -  Ba  Vì.  Ngay  sau  khi  đặt  chân  lên  Hoà Bình, địch đã xây dựng hệ thống phòng ngự dã chiến với 28 cứ điểm lớn nhỏ bằng đất, gỗ, có hàng rào dây thép gai bao bọc. Mỗi cứ điểm có từ 1 - 2 đại đội bộ binh chốt giữ. Lần đầu tiên trên  chiến  trường  Đông  Dương,  một  hình  thức  tổ  chức  chiếm

174
 
đóng  quy  mô  tương  đối  lớn  xuất  hiện  ở  khu  vực  Hoà  Bình  - Sông Đà - Đường 6.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 28 Tháng Mười Một, 2011, 11:01:04 pm
Ngày 24-11-1951, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 22 về "Nhiệm vụ phá cuộc tấn công Hoà Bình của địch". Sau khi vạch rõ âm mưu của địch, Chỉ thị khẳng định: Địch đánh ra Hoà Bình là một cơ hội tốt để ta diệt địch, bởi vì lực lượng chúng bị phân tán trên một tuyến dài đi sâu vào vùng tự do của ta, vốn không lợi cho chúng về địa hình. Hơn nữa, đây cũng là một dịp rất thuận lợi cho ta đẩy mạnh chiến tranh nhân dân ở vùng sau lưng địch, khoét sâu mâu thuẫn cơ bản giữa tập trung và phân tán lực lượng của địch.

Trên cơ sở đó, Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch đánh địch trên cả hai mặt trận: chính diện (Hoà Bình) và sau lưng địch (trung du và đồng bằng Bắc Bộ).

Lực lượng tham gia đánh địch ở mặt trận Hoà Bình có 3 đại đoàn (308, 312 và 304); ở mặt trận sau lưng địch có 2 đại đoàn (316 và 320). Ngoài ra, lực lượng bộ đội địa phương và dân quân, du kích cũng được điều động phối hợp.

Chỉ sau mấy ngày địch chiếm đóng, thị xã Hoà Bình bị vây chặt trong một vòng đai lửa của quân ta, khiến địch phải núp kín dưới hầm. Trên phòng tuyến sông Đà, nhiều đoàn tàu chiến của địch bị đánh đắm. Các vị trí kiên cố nhất, như Ba Vì, Đá Chông, Tu Vũ lần lượt bị quân ta tiêu diệt.

Trải qua hơn hai tháng chiến đấu (từ ngày 10-12-1951 đến 25-2-1952), trên cả hai mặt trận, quân và dân ta đã tiêu diệt và bắt khoảng 22.000 địch. Riêng mặt trận vùng sau lưng địch, tá đã tiêu diệt 15.000 tên; san phẳng, bức hàng và bức rút hơn 1.000 đồn bốt, tháp canh của địch (chiếm 2/3 tổng số đồn bốt, tháp canh). Ta đã giải phóng hoàn toàn khu vực Hoà Bình - Sông Đà rộng 2.000 km2, với 15 vạn dân; làm chủ hoàn toàn phía tây đồng bằng Bắc Bộ; bảo vệ toàn vẹn con đường giao thông chiến lược của kháng chiến từ Việt Bắc đến Nam Bộ; phá tan âm mưu thâm độc chia rẽ đồng bào các dân tộc và chính sách dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh của địch ở Hoà Bình. Các căn cứ du kích được mở rộng và nối liền thành một thế liên hoàn từ Bắc Giang xuống Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam, Hàm Đông. Phần lớn kết quả bình định đồng bằng Bắc Bộ trong cả năm 1951 của địch bị phá vỡ. Âm mưu phản công tiêu diệt bộ đội chủ lực ta, giành lại quyền chủ động chiến lược của địch bị đập tan.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Việt Nam 1945-2000
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 28 Tháng Mười Một, 2011, 11:04:34 pm
Chiến  thắng  Hoà  Bình  đã  tạo  điều  kiện  thuận  lợi  cho  các chiến trường Bình - Trị - Thiên, Nam Trung Bộ và Nam Bộ đẩy mạnh chiến tranh du kích, liên tục tiến công, phát triển  lực lượng kháng chiến, mở rộng thêm nhiều vùng căn cứ, làm thay đổ cục diện chiến trường theo chiều hướng ngày càng có lợi cho ta.

Sau  khi  thất  bại  trong chiến  dịch  Hoà  Bình, thực  dân Pháp huy động lực lượng chủ lực mở các cuộc càn quét ở vùng chúng tạm chiếm trong suốt 5 tháng liền, với hi vọng cứu vãn nguy cơ ở đồng bằng.Quy mô các cuộc càn quét lần này rất lớn. Riêng trong chiến dịch Mécquya (Mercure - Thuỷ ngân) (từ 25-3 đến 26-4-1952) đánh vào vùng tây nam Thái Bình, thực dân Pháp sử dụng tới 5 binh đoàn (tương đương 20 tiểu đoàn bộ binh), 2 tiểu đoàn cơ giới, 40 khẩu pháo, 6 tàu chiến, 40 ca nô và một số quân dù bao vây càn quét khu vực bốn huyện: Thái Ninh, Kiến Xương, Tiền Hải và một phần huyện Vũ Tiên, rộng khoảng 700 km2, nơi đặt cơ quan của Bộ Tư lệnh Sư đoàn 320 và Tỉnh uỷ Thái Bình.

Trước âm mưu và hành động của địch, chúng ta tổ chức lực lượng chiến đấu, đẩy mạnh chiến tranh du kích, chống bắt thanh niên  vào  lính,  mở  rộng  cơ  sở  kháng  chiến.  Tính  chung,  trên chiến trường cả nước, từ sau chiến dịch Hoà Bình đến hết mùa hè năm 1952, quân và dân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu gần 20.000 tên địch; san bằng, bức rút, bức hàng trên 900 vị trí; thu nhiều vũ khí, quân trang (1).

Cùng với việc tổ chức chống địch càn quét, bảo vệ vùng tự do, chúng ta tiến hành chỉnh Đảng, chỉnh quân, tăng cường lực lượng kháng chiến về mọi mặt.

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 3, ngày 11-5-1952, Trung ương mở lớp chỉnh Đảng đầu tiên. Khai mạc lớp học, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: "Trung ương rất mong rằng, trong cuộc chỉnh huấn này, các đồng chí cố gắng thi đua học tập rèn, luyện để trở thành những cán bộ gương mẫu, xứng đáng với lòng trông mong tin cậy của Đảng, của Chính phủ, của quân đội và của nhân dân, trở nên những chiến sĩ đắc lực nhất trong sự nghiệp xây dựng Đảng và giúp Đảng đưa kháng chiến đến thắng lợi, kiến quốc đến thành công" (2).

(1)  Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945 - 1954. Tập 2...Sđd, tr. 197.

(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập. Tập 5. NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 480. sau chỉnh huấn chính trị mùa hè năm 1952, quân đội ta tiến hành chấn chỉnh tổ chức, biên chế và trang bị. Đến đây, đội quân chủ lực trực thuộc Bộ Tổng Tư lệnh đã có 6 đại đoàn bộ binh (308, 304, 312, 316, 320 và 325),  2 trung  đoàn  bộ  binh  (148 và 246), 1 đại  đoàn công binh, pháo binh (351). Liên khu III có Trung đoàn 46. Việt Bắc có Trung đoàn 238. Liên khu V có trung đoàn 803. Nam Bộ có Tiểu đoàn 302, Tiểu đoàn 307.