Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: VMH trong 15 Tháng Mười, 2011, 01:44:53 pm



Tiêu đề: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 15 Tháng Mười, 2011, 01:44:53 pm
TRONG THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN
CHỐNG THỰC DÂN PHÁP

Ấm áp tấm lòng anh Nghĩa

 Ai đã từng sống những năm kháng chiến chống Pháp ở “Thủ đô” Việt Bắc, hẳn không bao giờ quên mùa đông lạnh giá của An toàn khu. Mùa đông 1950, trời cực rét. Tôi có chiếc áo len cộc tay thì đã chuyển cho ban vận động “Mùa đông binh sĩ” để gửi ra tiền tuyến. Để đỡ rét, tôi nảy ra sáng kiến lấy cái quần nâu quấn cổ, để hai ống quần buông ra trước ngực và ngồi làm việc.

 Bất thần, anh Trần Đại Nghĩa đến và đi thẳng vào chỗ tôi để giao việc. Anh vừa nói vừa bật cười nhìn hai ống quần buông trước ngực. Tôi bối rối trước sự ăn mặc luộm thuộm của mình.

 Buổi chiều, anh Thuần - bí thư của anh Nghĩa cầm đến cho tôi một cái áo khoác to đùng của Tây (áo chiến lợi phẩm) và nói: Anh Nghĩa bảo đem cái áo này cho mày mặc kẻo mày chết rét.

 Chiếc áo dài, rộng thùng thình, nhưng mặc thì cực ấm. Thật tiếc, tôi mặc chẳng được bao lâu thì chiếc áo tự thủng tửng mảng. Hỏi ra mới biết bọn Pháp trước khi rút chạy, cho bơm axít vào kho quần áo.

 Hằng năm, cứ mùa đông đến, tôi lại nhớ đến anh Nghĩa, người anh cả, một cây đại thụ của ngành Quân giới, người có tấm lòng thật “Đại Nghĩa”, quan tâm đến mọi người.

Hoàng Khâm, Nguyễn Huy Ứng (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 15 Tháng Mười, 2011, 01:46:06 pm
Biến cái không thể thành có thể

 Đoàn pháo binh Tất Thắng, đơn vị pháo binh cơ giới đầu tiên của quân đội ta đã từng lập nhiều chiến công hiển hách. Nhưng có một chiến công thầm lặng của Đoàn mà nhiều người chưa được biết đến. Đó là cuộc hành quân chuyển xe, pháo bằng đường sông cùng bè mảng.

 Đầu năm 1953, Đoàn được cấp trên giao nhiệm vụ tiếp nhận, vận chuyển một khối lượng xe, pháo, đạn từ Thíp (Lào Cai) về Yên Bái, chuẩn bị cho chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 của ta.

 Ngay sau khi nhận nhiệm vụ, các phương án vận chuyển được toàn đơn vị bàn luận khá kĩ. Hành quân bằng đường bộ hay đường sắt đều không bảo đảm bí mật, bất ngờ, thậm chí có thể bị địch đánh phá. Phương án vận chuyển bằng đường sông được cân nhắc rất kỹ. Đây là một phương án táo bạo, đồng thời cũng là trường hợp quá hi hữu, vì chuyển các loại pháo cỡ nhỏ bằng đường sông còn được, đằng này là loại pháo lớn, lại thêm cả xe nữa. Mặt khác, đoạn vận chuyển là sông đầu nguồn, nước thường chảy xiết, nhiều chỗ có thác, ghềnh rất nguy hiểm. Đến đây, tưởng như đưa hàng chục khẩu pháo, xe vượt hơn 100km đường sông đầu nguồn là việc làm không thể.

 “Cái khó, ló cái khôn”, chỉ huy đơn vị cho anh em tháo một khẩu pháo ra, lắp lại, kiểm tra các thông số kĩ thuật rồi bắn thử, đạn rơi vẫn chính xác. Thế là phương án tháo pháo để chuyển bằng bè mảng được toàn đơn vị nhất trí.

 Sau hơn 2 tháng làm công tác chuẩn bị và hành quân không kể ngày, đêm, nhiều lúc phải đối mặt với thác ghềnh, sóng dữ, song vượt lên tất cả, Đoàn đã cùng với nhân dân các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang đưa toàn bộ số xe, pháo cấp trên giao về bến Âu Lâu (Yên Bái) đúng thời gian quy định. Tiếp đó, toàn bộ số vũ khí, phương tiện này lại được Đoàn đưa lên Điện Biên. Chính những khẩu pháo này, dưới sự làm chủ của các chiến sĩ của Đoàn, đã trút lửa xuống đầu thù, góp phần cùng toàn dân, toàn quân ta làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử.

 Vậy là, bằng trí thông minh, ý chí quyết tâm và lòng dũng cảm, Đoàn pháo binh Tất Thắng đã cùng với nhân dân làm nên một cuộc hành quân kì diệu, biến cái không thể thành có thể.

Đức Lê (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 15 Tháng Mười, 2011, 01:47:33 pm
Công đầu

 Để có được chiến công của pháo binh trong chiến công Điện Biên Phủ, người có công đầu chưa hẳn là anh trinh sát trên đài chỉ huy, anh pháo thủ ở trận địa, mà công đầu phải nói đến lại là những đồng chí thông tin phụ trách trận địa giả. Cứ mỗi lần khẩu lệnh bắn phát ra từ đài chỉ huy và viên đạn thật chạm nổ thì cũng đồng thời và rất ăn khớp là tiếng nổ và ánh chớp của các trận địa giả phát ra. Thu hút được những đợt phản pháo và phi cơ oanh tạc của địch dồn về phía mình càng nhiều là công lao càng lớn. Mỗi lần như vậy, mỗi người đều chăm chú theo dõi và hy vọng “ánh chớp không bao giờ tắt”.

Thì ra gà còn sống

 Tháng 2 năm 1954, giặc Pháp đánh ra vùng tự do của ta ở tỉnh Phú Yên. Một tiểu đoàn quân ngụy và Pháp bị bộ đội ta tiêu diệt tại Kỳ Lộ. Lúc thu dọn chiến trường, chiến sĩ ta thấy hai, ba xác giặc còn động đậy. Tưởng còn lính địch bị thương, anh em cảnh giác canh chừng một lúc. Mãi sau mới phát hiện ra là trong các túi quần của chúng có mấy con gà bắt của dân, còn sống. Sau trận đánh, có chiến sĩ hỏm hỉnh làm thơ:

  Theo giặc vơ vét của dân
  Đáng đời lính ngụy tội thân con gà!



Văn Yên (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 15 Tháng Mười, 2011, 01:48:41 pm
“Bữa cơm nhạt” và “bữa cơm đắng”

 “Miếng ngon nhớ lâu, đòn đau nhớ đời” song với bộ đội ta còn những bữa ăn “đặc biệt” để thể hiện ý chí, quyết tâm của mình trước gian lao thử thách. Dưới đây là hai bữa ăn “đặc biệt đó”:

 Sau lễ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, dù được đồng bào và các đoàn thể tặng nhiều quà bánh, thực phẩm, song toàn Đội quyết định ăn một bữa cơm nhạt không rau, không muối để gây dựng truyền thống sẵn sàng chịu đựng và vượt qua mọi gian khổ thiếu thốn của người chiến sĩ cách mạng.

 Ngày 30 tháng 8 năm 1946, sau gần 1 tháng học tập, lớp huấn luyện bổ túc quân sự đầu tiên (tiền thân của Học viện Lục quân ngày nay) làm lễ bế giảng. Trước khi lên đường nhận nhiệm vụ, gần 100 học viên tổ chức một “bữa cơm cay đắng”. Trong mỗi mâm cơm ấy có một món nấu bằng đu đủ và ớt để ghi nhớ những ngày học tập giữa mùa hè nóng nực, ăn uống kham khổ, từ đó nêu cao truyền thống chị đựng gian khổ, quyết tâm vượt mọi khó khăn trên con đường kháng chiến của người cán bộ, học viên đã từng học tập dưới mái trường Lục quân.

Quốc Hùng (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 15 Tháng Mười, 2011, 01:49:53 pm
Bữa tiệc ngoại giao đặc biệt

 Bữa tiệc ngoại giao này đặc biệt không phải ở các món sơn hào hải vị, mà đặc biệt ở hoàn cảnh tổ chức.

 Đây là vào ngày mùng một Tết Đinh Hợi (1947), sau ngày cả nước, theo lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến” của Hồ Chủ Tịch đã chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược được gần hai tháng. Để đập tan luận điệu xuyên tạc của thực dân Pháp (nào là đã làm chủ được thủ đô Hà Nội, nào là công cuộc bình định sắp hoàn tất…) và cũng là để cho thế giới thấy rõ quân và dân ta vẫn vững vàng trong cuộc chiến đấu ác liệt chống ngoại xâm trong lòng Hà Nội, được sự đồng ý của trên, Ban chỉ huy trung đoàn Thủ đô quyết định mở một bữa tiệc chiêu đãi Tổng lãnh sự quán các nước có mặt tại Thủ đô Hà Nội, nhân dịp Tết Nguyên Đán.

 Khách đến đông đủ, phần vì tò mò, phần vì để thăm dò tình hình chiến đấu của quân và dân ta. Họ không khỏi ngạc nhiên, trong khi tiếng súng chống ngoại xâm vẫn nổ ngoài các phố, thì trong phòng chiêu đãi vẫn diễn ra một bữa tiệc đàng hoàng như không có gì xảy ra. Nến bạch lạp thắp sáng làm tôn vẻ lộng lẫy của các bức tranh, vẻ đẹp đặc biệt của đào, của quất. Trên bàn có đầy đủ các món ăn sang trọng như yến, vây, bóng mực, bánh chưng, thịt, cá và rượu quý…

 Bữa tiệc kết thúc trong sự hồ hởi của chủ và khác. Ra về, khách còn lưu luyến bày tỏ thiện chí: “Hãy kiên trì và kiên trì, các bạn sẽ thắng” và “Nhờ các ngài cho chúng tôi chúc sức khỏe của Cụ Hồ kính mến”.

N.M.K (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 15 Tháng Mười, 2011, 01:54:06 pm
Bức tranh được thưởng

 Thời kháng chiến chống Pháp, đại đội 1 đóng trong rừng luyện quân chờ dịp lên đường diệt giặc. Ban chỉ huy đại đội có sáng kiến tổ chức chiến sĩ thi vẽ tranh. Giải nhất là một con gà tăng gia.

 Vừa bắt đầu thi, chiến sĩ Lăng liền lấy than bôi đen kịt cả trang giấy và nộp nhanh nhất. Buổi tối bình tranh, chính trị viên hỏi Lăng vẽ thế có ý nghĩa gì? Anh đáp: “Đó là lính Âu Phi đi càn ban đêm!”.

 Câu trả lời bất ngờ và thú vị khiến cả đại đội cười bò. Anh em bình cho Lăng giải… 10 quả trứng gà, vì anh thông minh kiểu: “Trạng Quỳnh vẽ giun!”.

Ca dao Điện Biên Phủ

 Điện Biên Phủ, một địa danh lịch sử từng gắn liền với nhiều bài hát, bài thơ nổi tiếng của các tác giả. Nơi đây còn ghi lại nhiều câu hò, bài ca không có tên tác giả.

C hẳng hạn, đối với dân công thì có bài “Ca dao dân công Điện Biên Phủ”, trong đó có đoạn:

   “Mau lên hỡi bạn xe thồ
   Đường ra mặt trận vui mô nào bằng
   Qua rừng qua núi băng băng
   Xe thồ đè bẹp xe tăng quân thù”.


 Trong bài “Ca dao chiến sĩ”, bộ đội ta trong lúc đào hào thì:

   “Đúng rồi! Muốn đánh thì đào
   Muốn thắt cổ địch phải có chiến hào vây quanh
   Chiến hào cùng với chiến binh
   Họ “chiến” chúng mình quyết chiến lập công”.


 Trên đây chỉ là 2 trong số rất nhiều bài ca dao ở Điện Biên Phủ. Chúng không còn đơn thuần là những bài ca, tiếng hò. Chủ đề tư tưởng của mỗi bài hò, ca đều mang đậm tính giáo dục, khích lệ, động viên tinh thần phục vụ chiến đấu và chiến đấu của dân công, chiến sĩ. Đó cũng là một phần, dù nhỏ, lí giải chiến thắng của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

 
Câu hát của người Xêđăng

 Đầu mùa thu năm 1948, Ủy ban kháng chiến miền nam Trung Bộ nhận thấy thực dân Pháp đã rải quân ra cả ba nước trên bán đảo Đông Dương, song lực lượng của chúng còn mỏng, nên nhận định: Muốn giữ vững vùng tự do Nam Trung Bộ, không chờ địch đến mới đánh, mà phải tiến vào vùng sau lưng địch để đánh, và hướng chính là Tây Nguyên. Nhưng Tây Nguyên lúc này đường sá còn rất ít, hơn nữa mới chỉ có gần ba trăm buôn làng có cơ sở cách mạng. Vì vậy việc mở đường, phát triển buôn làng cách mạng ở Tây Nguyên ngay sau đó đã được phát động. Qua gần một tháng “phát” mà phong trào vẫn chưa thấy “động” nhiều, nên đồng bào Xêđăng hát rằng:

          "Một người không mạnh, trăm người chưa khỏe
          Cả rừng đánh được, cả núi đánh nhanh
          Lấy người Kinh làm anh, lấy người Kinh làm em
          Tất cả con một ruột, tất cả nước một ống
          Kết một lòng, nghe một tai
          Đốt đồn! Chặn Pháp!"


 Bài hát như một luồng gió mới thổi mạnh vào phong trào. Chỉ ba tháng sau (tháng 10 năm 1948), việc mở đường, xây dựng buôn làng kháng chiến đã phát triển nhanh chóng và rộng khắp ở Tây Nguyên, nâng số buôn làng có cơ sở cách mạng lên gấp 3 lần và hệ thống đường sá đã được mở đến tận ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia.

D.L. (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 15 Tháng Mười, 2011, 01:54:56 pm
Cha con và … cái nồi đồng điếu

 Năm 1950, Võ Viết An làm lính trinh sát ở Thất Khê, tham gia Chiến dịch Biên giới. Một lần, An lên cơn sốt dữ dội nằm li bì dưới gốc cây trám của một gia đình người dân tộc. Chủ nhà là chị Ma Thị Nua, đã dìu An vào nhà, nấu cháo bằng cái nồi đồng điếu cho an và chữa cho dứt cơn sốt.

 Bốn mươi năm sau, An trở thành giám đốc Xí nghiệp ép dầu Việt Yên, có con trai là Võ Việt Sơn đóng quân trên biên giới Lạng Sơn. Một hôm, Sơn phải vào nghỉ ở nhà dân vì cũng lên cơn sốt. Cô gái nhà chủ lấy nồi đồng điếu nấu cháo cho Sơn. Hỏi rõ sự tình Sơn mới hay là mình đang ở đúng gia đình mà bố anh đã ở mấy chục năm trước đó. Vẫn cái nồi đồng điếu cũ và cô gái này lại chính là con gái cụ Ma Thị Nua, dân tộc Tày, huyện Thất Khê, tỉnh Lạng Sơn.

Vinh Quốc (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 15 Tháng Mười, 2011, 01:56:16 pm
Cho cả hai loại kẹo

 Đạn pháo 105 của ta ở chiến dịch Điện Biên Phủ có thể nói hầu hết là lấy đạn địch đánh địch. Nhiều lúc Bộ chỉ huy chiến dịch phải chỉ định bắn từng viên theo mệnh lệnh. Nhưng từ khi quân ta cắt được sân bay Mường Thanh, “cái dạ dày của Điện Biên Phủ” bộ binh ta tìm mọi cách đoạt dù lấy đạn pháo chuyển về cho pháo binh, và mỗi lần giao đạn, các anh cũng không quên kèm theo những hộp kẹo, sôcôla, khẩu phần của địch mà các anh đã đoạt được để dành làm quà cho pháo binh, và tất nhiên cũng có điều kiện với pháo binh “Khi bộ binh gọi, pháo binh phải đáp lời ngay”.

Có một người lính Nga trong tiểu đoàn 307 - Nam Bộ

 Tên của anh là Sơcren Vadinxki, quê ở Ucraina.

 Trong chiến tranh thế giới thứ hai, S. Vadinxki bị phát xít Đức bắt làm tù binh và đưa sang Pháp. khi Đức đầu hàng Đồng minh, thực dân Pháp đã xung anh vào đội quân Lê dương sang đánh Việt Nam.

 Năm 1946, anh bị thực dân Pháp đưa vào chiến trường Nam Bộ. Tới Sài Gòn được 3 tháng, người lính Nga này lại bị điều về Bến Tre và chỉ sau đó ít lâu, S. Vadinxki đã bỏ hàng ngũ quân đội viễn chinh Pháp chạy sang hàng ngũ Quân đội nhân dân Việt Nam và được bổ sung vào tiểu đoàn 307. S. Vadinxki được mang tên Việt Nam: Dương Văn Thành.

 Từ năm 1946, trên nhiều chiến trường Nam Bộ, Dương Văn Thành chiến đấu ngoan cường, dũng cảm bên các bạn Việt Nam thân yêu của anh, đồng cam cộng khổ, vui buồn có nhau. Anh đã làm đến chức trung đội trưởng, chỉ huy nhiều trận đánh ác liệt và được tặng thưởng Huân chương Chiến công. Anh đã được kết nạp Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam).

 Những năm tháng chiến đấu trên mảnh đất Nam Bộ thân yêu của Việt Nam, Dương Văn Thành đã làm bạn với một cô gái Việt Nam quê ở Bến Tre. Hai anh chị sinh được một cháu gái đặt tên là Irina.

 Sau 8 năm kháng chiến, đến ngày hòa bình lập lại (1954), S. Vadinxki làm phiên dịch cho việc chuyển quân tập kết ra miền Bắc của quân và dân Nam Bộ.

 Cuối năm 1955, Dương Văn Thành được hồi hương cùng con gái Irina, lúc đó vừa tròn 6 tuổi. Cô gái Bến Tre, người bạn đời của S. Vadinxki, ở lại quê nhà.

 Ở Liên Xô, Dương Văn Thành tức S. Vadinxki làm việc tại Khoa tiếng Việt, trường Đào tạo Cán bộ Trung ương các Công đoàn Liên Xô.

Trần Tấn Cường (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 15 Tháng Mười, 2011, 01:57:15 pm
Cơm ở trong dân

 17h00 chiều 2-6-1951, Tiểu đoàn 195 bộ đội địa phương Thái Bình nhận được lệnh sau 30 phút phải hành quân gấp về Tiền Hải phục kích đánh bọn ngụy đi tuần đường 39 tại thôn Thượng, xã Hưng Đạo. làm sao trong 30 phút có thể vừa phổ biến nhiệm vụ cho cán bộ đại đội, vừa tổ chức cho bộ đội ăn cơm xong? Đó là vấn đề Ban chỉ huy Tiểu đoàn 195 lo lắng nhất. Tất cả mọi việc, Ban chỉ huy Tiểu đoàn đã thảo luận phân công niệm vụ xong, duy có việc “cơm” cho cả Tiểu đoàn ăn xong trong 30 phút là kẹt. Tại sở chỉ huy tiểu đoàn đóng ở nhà dân lúc ấy đang có cán bộ xã đội, thôn đội và cả dân quân du kích đến báo cáo tình hình. Cán bộ Tiểu đoàn đem ra trao đổi với anh em thôn, xã giải quyết vấn đề “cơm”, nhiều ý kiến đã được đưa ra bàn bạc. Đột nhiên, một đồng chí dân quân du kích phát biểu: “Khó quái gì, đưa hết bộ đội vào nhà dân mà ăn, giờ này nhiều nhà dân đã nấu cơm xong”. Vì vội, chẳng ai để ý đến tên người nói. Tất cả như chợt hiểu ra, mọi người lao ngay vào việc chuẩn bị: Phát lệnh cho bộ đội hành quân, hợp đồng và giao nhiệm vụ cho cán bộ xã đội, thôn đội cử dân quân du kích đi nắm tình hình, liên hệ với gia đình dân nhường bộ đội ăn cơm trước đi làm nhiệm vụ, gia đình nấu cơm tiếp ăn sau, xã trả gạo và đón dẫn bộ đội vào từng nhà.

 Bộ đội của Tiểu đoàn được lệnh hành quân, nhưng trên đường đi anh em đã được anh chị em dân quân, du kích dẫn đón vào các gia đình dân bên đường ăn cơm, nhà 3 người, nhà 5 người, nhà 7 người, Nhân dân được đón bộ đội về nhà mình ăn cơm rất phấn khởi, nhiều nhà đã lấy thêm mắm dự trữ, lấy trứng gà kho mặn bổ sung vào phần thức ăn đạm bạc của gia đình để bộ đội ăn cho nhiều, cho no. Có anh em may mắn còn được ăn cơm có thịt, có cá. Sau 30 phút, cả Tiểu đoàn hơn 300 người đã ăm cơm xong, nghỉ ngơi 10 phút tiếp tục hành quân đúng lệnh.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 15 Tháng Mười, 2011, 01:57:56 pm
Cụ dân công

 Thấy người tứ xứ và dân làng nườm nượp đi phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ, cụ Lê Thị Nhài năm đó đã 73 tuổi ở xã Vinh Quang, huyện Thanh Thủy, tỉnh Vĩnh Phú cũng đòi ủy ban cho đi dân công bằng được.

 Cụ vật nài: “Tôi già rồi nhưng chân vẫn dẻo, các ông thông cảm thì cho tôi mang ít quà nhẹ lên tặng chiến sĩ Điện Biên là được. Tôi phải đi để tận mắt xem cái đời bây giờ con cháu “ghê gớm” như thế nào và động viên chúng nó làm tròn lời Cụ Hồ dạy”.

 Trên đường đi cụ thường hát hò, kể chuyện khích lệ mọi người, nhiều người đã cất công đi tìm đến thăm cụ bà dân công già nhất chiến trường.

 Có lần trong đêm, thấy có tiếng người hỏi thăm, cụ liền vui vẻ ứng khẩu:

 “Trời tối ai chẳng biết ai, chính tôi là Lê Thị Nhài, ở xã Vinh Quang… đây!”.

 Có lẽ cụ Nhài là người cao tuổi nhất trong đội ngũ chiến sĩ Điện Biên trùng điệp năm ấy.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 15 Tháng Mười, 2011, 01:58:52 pm
Củ khoai Khai

 Cái tên đọc lên nghe ngồ ngộ song đó lại là tên thật chỉ một loại lương thực chủ yếu của bộ đội Phú Yên trong kháng chiến chống Pháp. Khoai Khai là một loại củ rừng ở vùng núi cao Phú Yên, củ nhỏ bằng bắp tay, củ to nhất cũng bằng bắp chân, vỏ màu đất, luộc lên có vị khai… nên gọi là khoai Khai. Muốn lấy được nó phải đào sâu trong lớp đất rừng. Đây không chỉ là lương thực đối với bộ đội mà còn cả nhân dân Phú Yên trong kháng chiến chống Pháp, nhất là năm 1952, nạn đói xảy ra khi thực dân Pháp cho máy bay bắn phá Cầu Máng của hệ thống thủy lợi Đồng Cam, ngăn dòng nước tưới cho cánh đồng Tuy Hòa trù phú. Thiếu lúa gạo, bộ đội và nhân dân Phú Yên phải tìm đào và ăn củ khoai Khai để lấy sức chiến đấu. Thời gian trôi qua, cuộc kháng chiến đã lùi xa song với những cự chiến binh và nhân dân đã sống trong những ngày tháy ấy, kí ức về củ khoai Khai vẫn còn in đậm.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 15 Tháng Mười, 2011, 02:04:54 pm
Cùng làm chung một nhiệm vụ nhưng qua 44 năm mới biết tên nhau

 Họ là hai người phụ nữ. Một chị là đại biểu của Giải phóng quân. Một chị là đại biểu của nhân dân Hà Nội. Họ không làm nhiệm vụ tình báo mà cùng làm chung một nhiệm vụ: được vinh dự kéo lá cờ “in màu chiến thắng mang hồn nước” lên ngọn cột cờ uy nghi trên lễ đài giữa Quảng trường Ba Đình lộng gió và rực rỡ ánh mặt trời trong buổi lễ Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ngày 2 tháng 9 năm 1945.

 Mãi đến sáng ngày 19 tháng 12 năm 1989, trong buổi họp mặt các chiến sĩ cũ của Trung đoàn Thủ đô tại Bảo tàng Quân đội, hai chị phụ nữ mới có dịp gặp lại nhau. Người phụ nữ đại biểu của Giải phóng quân là chị Đàm Thị Loan, còn người phụ nữ đại biểu của nhân dân Hà Nội là chị Lê Thi, cán bộ Viện Triết học thuộc Viện Khoa học xã hội và nhân dân quốc gia.

 Qua 44 năm và 108 ngày, kể từ lúc cùng làm chung một nhiệm vụ, họ mới biết rõ về nhau trong ngày gặp mặt cảm động của các cựu chiến binh đã từng “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 15 Tháng Mười, 2011, 02:06:38 pm
Cuộc “tái ngộ” vợ chồng
đầy kích tính trên đường chiến dịch

 Trong thời gian diễn ra chiến dịch Điện Biên, chuyện “duyên kì ngộ” giữa bộ đội và dân công phục vụ hỏa tuyến vô cùng phong phú. Đặc biệt nhất là phải kể đến cuộc “tái ngộ” vợ chồng đầy kích tính của đôi vợ chồng trẻ.

 Chuyện rằng, vào một đêm hành quân của bộ đội và dân công, trời mưa, ướt và lạnh đến thấu xương, nhưng mọi người vẫn hăng hái tiến lên. Để động viên chiến sĩ, cô dân công Lê Thị Lý hướng về hàng quân cất giọng hò:

“- Ơ hò…
Trời mưa cho ướt lá bàng
Ướt em em chịu, ướt anh Vệ quốc đoàn em thương”.


 Bên đơn vị bộ đội, chiến sĩ Nguyễn Văn Thanh liền hò đáp lại:

“- Ơ hò…
Hỡi con bướm đậu cành hồng (tính tình tang)
Hỡi cô có muốn lấy chồng tòng quân (tang tính tình)”.


 Vừa hò, Thanh vừa tò mò dấn bước ngó vào đội hình đoàn dân công xem cô nào hò, giọng nghe hay đến vậy.

 Chờ anh bộ đội bước lên, cô dân công Lý ra lệnh vui:

 “- Chị em nghe lệnh tôi! Ai lạc vào hàng thì bắt sống!”.

 Tiếng cười hưởng ứng rộ lên. Thanh ngờ ngợ giọng “lanh lảnh” của cô gái. Bống Lý tròn xoe mắt reo lên:

 - Ối giời ơi! Anh Thanh!

 Thanh bước vội lên nắm chặt lấy tay Lý. Cả đơn vị bộ đội và đoàn dân công lặng đi xúc động vì cuộc gặp gỡ bất ngờ của đội vợ trồng trẻ trên đường ra trận.

 Bỗng một cô dân công hét toáng lên: “Chúng mày ơi, cái Lý bắt sống được… chồng mình”.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 15 Tháng Mười, 2011, 02:07:13 pm
Dầu máy khâu… xào giá

 Tết kháng chiến đầu tiên trong vòng vây kẻ thù. Trung đội tự vệ Hàng Thiếc (Liên khu 1) đã chiến đấu suốt 40 ngày đêm, đang cắm chốt bảo vệ lưng cho trung đoàn đóng ở phố Hàng Bạc, thì tết đã kề. Trung đội trưởng Hàm giao cho chị Cốm người Nam Định, cố gắng chuẩn bị cho anh em một cái tết tươm tất. Lúc này, trung đội thiếu thốn đủ bề… Vốn là người làm công cho nhà buôn ở phố Hàng Nón, chị Cốm ở lại nấu cơm phục vụ cho anh em. Được giao chuẩn bị tết, chị chui qua tường đến lục bếp khắp các nhà kiếm được ít đỗ xanh ngâm giá rồi đem về để xào cho anh em ăn Tết. Nhưng sau bữa “giá xào béo ngậy” đó thì anh em ôm bụng thi nhau chạy… Mãi sau mới tìm ra “thủ phạm”: thì ra khi sục vào nhà dân tìm thực phẩm, chị Cốm nhặt được chai dầu, mừng quá đem về xào giá, nào ngờ đó là loại dầu nhờn dùng tra máu khâu. Anh em được bữa ôm bụng cười chảy cả nước mắt.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 15 Tháng Mười, 2011, 02:07:44 pm
Đám cưới “hai người đàn ông”

 Chuyện xảy ra trong những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp ở Rạch Giá. Đó là đám cưới của Mười Mẫn và Bé Quang - hai chiến sĩ Vệ quốc đoàn. Trước mặt mọi người, cô dâu, chú rể đều là “đàn ông”, đều mặc quân phục, đầu đội mũ calô. Trẻ con reo hò: “Đàn ông đi cưới đàn ông, tụi bay ơi!”, người lớn thì thắc mắc: “Cưới gì mà chỉ có hai chú rể, cô dâu không thấy…”. Hai người chỉ cười mà không nói gì bởi có thanh minh thì cũng ít người tin.

 Hai năm trước đó, cô bé Mười Mẫn trốn nhà, cắt tóc giả trai, lên cứ xin vào bộ đội. Thời gian trong quân ngũ, Mười Mẫn cùng ăn, cùng ở, cùng chiến đấu, cùng sinh hoạt trong một đơn vị toàn nam giới. Không một ai phát hiện ra Mười Mẫn “giả trai”. Thậm chí, có một vài cô gái địa phương đem lòng yêu Mười Mẫn nhưng cô đều khéo léo chối từ.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 15 Tháng Mười, 2011, 02:08:26 pm
Để ở đâu?

 Giữa tháng 1-1947, Liên khu 1 Hà Nội đã nằm trong vòng vây xiết chặt của quân Pháp. Để giảm không khí căng thẳng sau các đợt chiến đấu, Ban chỉ huy Trung đoàn Thủ đô chủ trương bình thường hóa sinh hoạt của chiến sĩ, mở các lớp đào tạo ngắn về chính trị, quân sự, bồi dưỡng đảng viên…

 Chị Lê Thi, tuy mới 19 tuổi nhưng lại là đảng viên được xem là có trình độ lí luận khá, từng theo học các lớp do ông Trần Huy Liệu, Hải Triều giảng. Tại một lớp học chính trị, chị được phân công giảng bài “Nguồn gốc loài người”. Trước những cán bộ tiểu đội, trung đội trẻ măng và nghịch ngợm, chị trình bấy rất khúc triết rằng: “Loài người không phải do Chúa trời sinh ra mà từ loài khỉ tiến hóa dần lên”. Chị giảng vừa dứt, tất cả anh em cười âm lên như vừa được nghe một câu chuyện khôi hài. Một người giơ tay xin hỏi: “… Nếu loài người từ các con khỉ mà ra, thì nay cái đuôi của khỉ để ở đâu? Đề nghị giải đáp ạ!”. Mọi người cười tưởng vỡ bụng. Lê Thi đỏ bừng mặt, biết là bị trêu ghẹo nhưng vẫn tự tin, nhanh trí giải thích: “Trong quá trình từ khỉ hình thành người, cái đuôi không dùng đến nữa nên nó cụt dần đi”.

Thanh Tùng (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 15 Tháng Mười, 2011, 02:09:29 pm
Đừng nói dài dòng, vòng vo!

 Cuối năm 1953, các đơn vị bộ đội của ta và của bạn trên chiến trường Trung - Hạ Lào gặp rất nhiều khó khăn về lương thực, thực phẩm. Ta và bạn đều thống nhất chủ trương vay lương thực, thực phẩm của nhân dân.

 Bản Nong Phú được chọn vay thí điểm. Trong cuộc họp giữa cán bộ với dân bản, một cán bộ hậu cần của ta đã đọc một bài diễn văn “khá kêu”, với đầy đủ các ngôn từ mĩ miều, và còn cả những thuật ngữ quân sự nữa. Anh còn nêu lên tầm quan trọng của công tác bảo đảm hậu cần chiến dịch, nhấn mạnh việc vay lương thực, thực phẩm của nhân dân là một chủ trương nhất quán của lãnh đạo, chỉ huy Mặt trận… Vậy mà bà con vẫn tỏ ra chưa hiểu, chưa thấy ai hưởng ứng. Thấy vậy, ông Tài Xiêng là trưởng bản liền đứng lên nói: “Ta cho bộ đội vay gạo hay là để giặc chiếm bản cướp đi hết? Ai cho vay thì giơ tay lên?”.

 Ông trưởng bản vừa dứt lời thì hàng chục cánh tay đồng loạt giơ lên. Đồng chí ghi sổ đắng kí không kịp.

 Thế là từ chỗ thiếu lương thực nghiêm trọng, chỉ trong vòng một tuần, Bộ chỉ huy Mặt trận đã có đủ số lương thực, thực phẩm cần thiết, bảo đảm cho bộ đội ăn trong suốt mùa chiến dịch.

 Sau này, bạn và ta cùng rút kinh nghiệm, đại ý: “Nói dài dòng, nêu nhiều ý nghĩa quan trọng, quan điểm, chủ trương quá thì dân bản khó nắm được nội dung. Cứ nói cụ thể, ngắn gọn, làm cho cán bộ thông trước thì mọi việc sẽ xuôi”.

 Thiết nghĩ, câu chuyện trên đây cũng là một trong những bài học về công tác dân vận, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số của cán bộ, chiến sĩ ta hiện nay.

Đức Lê (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 15 Tháng Mười, 2011, 02:10:04 pm
Em bé Quyết Thắng

 Ngày 10-4-1954, giặc Pháp tàn sát các bản Cò Mỵ, Long Nhai. Một phụ nữ Thái có mang, sống sót chạy trốn vào rừng tìm bộ đội. nhưng giữa đường chị trở dạ, sinh đứa con trai, và chị qua đời luôn vì kiệt sức. Có 3 chiến sĩ pháo binh hành quân qua, nhìn thấy và đã cứu sống được em bé. Chưa có dịp gửi em về hậu phương, đơn vị đã nuôi em trong hầm pháo và đặt tên em là Quyết Thắng.

 Quyết Thắng vừa ra đời, đã theo bộ đội pháo binh hành quân chiến đấu. Sau 27 ngày, đến chiều 7 tháng 5 năm 1954, bé Quyết Thắng cùng đơn vị pháo binh tiến vào đất Điện Biên Phủ rực màu cờ chiến thắng.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 15 Tháng Mười, 2011, 02:11:04 pm
“Em lạy chị rồi!”

 Trong kháng chiến chống Pháp, theo sáng kiến của Hội phụ nữ Hưng Yên, phong trào du kích Hoàng Ngân phong trào mạnh, đã có những đóng góp lớn lao cho sự nghiệp kháng chiến. Dưới đây là một bài thơ vui về nữ du kích Hoàng Ngân:

Thầy cai vào chợ ven làng
Đầu đội mũ lệch, đít quàng súng côn,
Thấy gái, thấy ngó, thầy nhòm.
Thầy toét cái mồm, thầy nguẩy cái mông.
Nhưng kìa, bỏ mẹ thầy không!
Gái lao đòn gánh, gái vung đòn càn.
Ngực thầy như nện trống làng.
Mặt thầy thánh thót từng tràng mồ hôi
“Thôi, thôi em lạy chị rồi!”
Hoàng Ngân du kích nhoẻn cười, chỉ tay:
“Tiến lên hai bước, sau quay!
Trong làng khối gái, mời thầy vào chơi!”
Dây thừng lõng thõng đằng đuôi
Nhìn thầy, cả chợ phì cười: “Sướng chưa”!



Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 15 Tháng Mười, 2011, 02:11:54 pm
Hiện thực hóa khát vọng hòa bình

 “Hết chiến tranh rồi! Hòa bình muôn năm!”

 Đây là tiếng reo vui bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau trên thế giới của hàng vạn tù binh vốn là lính Lê dương trong quân đội viễn chinh Pháp bị ta bắt, sau khi tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ của địch bị ta băm nát (75-1954). Họ lũ lượt kéo nhau chiu ra khỏi hầm lên mặt đất với những lá cờ trắng trên tay hoặc vuông dù trắng quấn vội lên đầu. họ vẫy vẫy chiến sĩ ta và lễ phép cúi chào. Tuy trên mặt vẫn còn vương sự kinh hãi nhưng không kìm nổi niềm vui được sống nên reo vui: “Hết chiến tranh rồi! Hòa bình muôn năm!”.

 Thế mới hay, chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử không những giải phóng nhân dân ta khỏi ách nô lệ của thực dân Pháp, mà còn hiện thực hóa khát vọng hòa bình của những người lính Lê dương với nhiều quốc tịch khác nhau, bất đắc dĩ phải phục vụ cho những cuộc chiến tranh xâm lược bẩn thỉu của đế quốc, thực dân.

TV (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 15 Tháng Mười, 2011, 02:13:23 pm
Không phải là “vô tình”

 Đồn Vô Tình (Trực Ninh, Nam Định) bị bộ đội ta tiến công từ lúc nửa đêm. Khi trời rạng sáng, người ta thấy một số “tên lính ngụy” chạy tới chạy lui đắp lại ụ súng và củng cố các hàng rào thép gai. Thỉnh thoảng trong đồn có những tiếng nổ cùng những cột khói bốc lên giống như đạn pháo của ta rót vào.

 Một chiếc máy bay “Bà già” vè vè lượn đi lượn lại trên đồn, nó thả xuống đồn một cái vỏ đạn, bên trong đựng lá thư của trung tước Đờ Linarét gửi cho đồn trưởng đồn Vô Tình. Trong thư, hắn hết lời khen ngợi tinh thần chiến đấu của các binh sĩ trong đồn, hứa sẽ cho đội “commăngđô” đến tiếp viện vào lúc 16 giờ.

 Đúng hẹn, một tốp máy bay Đacôta rì rì bay tới, chúng lần lượt thả xuống khu vực đồn Vô Tình gần 100 chiếc dù hàng với đủ các loại đạn, vũ khí và lương thực. Cùng lúc ấy, các chiến sĩ ta chớp lấy thời cơ, thu toàn bộ số hàng tiếp viện của địch.

 Số là, sau khi chiếm được đồn ngay trong đêm, các chiến sĩ ta giả làm lính ngụy, duy trì mọi hoạt động trong đồn, làm như thể đồn Vô Tình vẫn đang cầm cự với bộ đội ta để … “mong” được tiếp viện. Đúng như dự đoán, địch tìm cách tiếp viện cho đồn Vô Tình và đã rơi vào cái bẫy đang gài sẵn của ta. Sau này, Đờ Linarét đã lớn tiếng trách cứ thuộc hạ. Nhưng chính ông ta cũng không thể hiểu nổi vì sao lại vô tình tiếp viện cho “địch”.

 Còn cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn Đồng Bằng thì hiểu: không phải vô tình hay may rủi, đó chính là sự mưu trí, sáng tạo trong đánh giặc của bộ đội ta.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 16 Tháng Mười, 2011, 04:49:07 pm
Lễ duyệt binh tại Mường Phăng

 Kết thúc chiến dịch Điện Biên Phủ, theo lệnh trên, mỗi đoàn cử một, hai đại biểu lên gặp Ban chỉ huy Lễ duyệt binh nhận nhiệm vụ.

 Đại đoàn 308 có anh hùng Nguyễn Quốc Trị, Chiến sĩ thi đua toàn quân Giáp Văn Khương; Đại đoàn 312 có Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật, người dẫn tổ xung kích bắt sống tướng Đờ Cátxtơri, Nguyễn Xuân Đài, Chiến sĩ thi đua Đại đoàn công pháo 351.

 Đại đoàn phó 312 Quang Trung, Chỉ huy trưởng lễ duyệt binh giao cho Nguyễn Quốc Trị nhiệm vụ tổ chức tổ kéo cờ, Tạ Quốc Luật được chỉ định kéo cờ, Nguyễn Xuân Đài nâng cờ. Đây là đại diện cho hai binh chủng chủ yếu tham gia chiến dịch (bộ binh và pháo binh).

 Vừa chiến thắng xong, ở mặt trận không có nhạc kèn, Nguyễn Xuân Đài đề xuất sáng kiến: đại đội trọng pháo bắn 4 loạt (mỗi loạt 4 phát), tiếp đó đại đội pháo cao xạ bắn điểm xạ cho đến khi cờ kéo lên tới đỉnh cột thì kết thúc. Để đảm bảo an toàn, đạn đại bác 105mm phải tháo bỏ trái phá, đẽo trái phá bằng gỗ thay vào để khi bắn liều thuốc pháo gây được tiếng nổ to.

 Sau tiếng hô của Chỉ huy trưởng Quang Trung: “Nghiêm! Chào cờ, chào!”, loạt đạn pháo đầu tiên nổ vang, tiếp đó quốc ca được cử lên do tổ trưởng tổ đàn là nhạc sĩ Lương Ngọc Trác trực tiếp chơi đàn Áccoocđêông chỉ huy. Cờ từ từ được kéo lên, khi thới đỉnh cột thì cũng là lúc lễ duyệt binh bắt đầu. Đại tướng Võ Nguyên Giáp lần lượt duyệt đội ngũ các đơn vị và binh chủng dự lễ mừng chiến thắng.

Trần Duy Thành
(theo lời kể của đ/c Nguyễn Xuân Đài)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 16 Tháng Mười, 2011, 04:50:19 pm
Mất bánh chưng,
được bài hát để đời

 Chuyện rằng, vào một ngày áp tết Nhâm Thìn, (1952), Đoàn văn nghệ tuyên truyền Liên khu 4 rậm rịch chuẩn bị đón tết thứ 7 của cuộc kháng chiến chống Pháp. Đêm xuống, mọi người quây quần quanh bếp lửa luộc nồi bánh chưng trò chuyện. Riêng nhạc sĩ Lê Yên (1917-1998) mải mê một mình bên ngọn đèn dầu trong lán cạnh đấy phổ nốt những nốt nhạc cuối cùng cho một bài hát ông đang sáng tác. Khuya, sương xuống lạnh, phần vì vãn chuyện, phần vì mệt mỏi do công việc ban ngày, lại thấy nhạc sĩ Lê Yên vẫn tỉnh như sáo bên cây đèn dầu, mọi người bèn giao cho nhạc sĩ vừa sáng tác vừa làm nhiệm vụ trông coi nồi bánh chưng, rồi lục tục kéo nhau đi ngủ. Quá mải mê với giai điệu “Hò giã gạo Khu 4” và làn điệu mượt mà, thiết tha của “dân ca quan họ Bắc Ninh” mà bài hát thể hiện, nhạc sĩ ta quên khuấy nhiệm vụ. Thấy nồi bánh luộc không có ai trông, lợi dụng đêm tối, kẻ gian khoắng hết bánh rồi chuồn mất. Đến khi trời sáng thấy mọi người trong Đoàn nháo nhác gọi nhau vì chuyện mất bánh, nhạc sĩ Lê Yên mới “tỉnh”. Và đấy cũng là giây phút cuối cùng nhạc sĩ hoàn thành bài hát “Bộ đội về làng” nổi tiếng.

 Giai thoại mất bánh chưng, được bài hát để đời mà đồng đội cũ trong Đoàn văn nghệ Liên khu 4 kể về nhạc sĩ Lê Yên là thế.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 16 Tháng Mười, 2011, 04:51:28 pm
“Mốc” cũng bắn

 Trong một trận đánh của chiến sĩ đường số 6 - Hòa Bình (12 năm 1951), pháo ta đang bắn mạnh vào sở chỉ huy địch, đồng chí Đại đội trưởng ở đài quan sát nghe điện thoại từ trận địa Trung đội 1 báo cáo:

 - Báo cáo! Hết đạn nổ sát thương, chỉ còn đạn “Mốc”. Xin chỉ thị!

 Đại đội trưởng quan sát thấy trận đánh vẫn đang diễn ra rất quyết liệt, bộ binh rất cần pháo binh chi viện để xung phong đánh chiếm mục tiêu, liền hạ lệnh:

 - “Mốc” cũng phải bắn, nổi viên nào tốt viên đó.

 Thế là hàng loạt đạn “Mốc” nổ vang, màn khói trắng đục, dày trùm lên đầu giặc, chúng kinh hoàng bỏ chạy, bộ binh ta chớp thời cơ xung phong, trận đánh kết thúc thắng lợi.

 Hôm sau, đơn vị rút kinh nghiệm chiến đấu, Đại đội trưởng mới hay: trên thân đạn pháo Mỹ có ghi kí hiệu “Smoke” (nghĩa là khói, dùng để bắn tạo màn khói che mắt địch, chứ không phải để sát thương địch), anh em thường quen gọi là “Mốc”, Đại đội trưởng cứ tưởng là đạn cũ đã bị mốc!


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 16 Tháng Mười, 2011, 04:52:51 pm
Nhịn cho Tây ăn

 Cuối chiến dịch Điện Biên Phủ, đồng chí Chủ nhiệm chính trị mặt trận không đi đâu được. Các đơn vị gọi điện thoại đến thinh thị luôn. Có một lần, đồng chí nghe giọng nói quen quen và nhận ra tiếng đồng chí Chính ủy Đại đội 312.

 - Báo cáo anh, tù binh đông quá. Gạo dự trữ của Đại đoàn không đủ cho bộ đội ta và cho tù binh ăn mỗi suất 100 gam.

 - Cứ nấu hết gạo cho tù binh ăn no.

 - Còn bộ đội?

 - Động viên anh em nhịn ăn một bữa. Những người chiến thắng chúng ta hãy tỏ ra nhân đạo đối với các tù binh. Tôi sẽ ra lệnh điều gạo lên chỗ các anh ngay.

Văn Tâm (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 16 Tháng Mười, 2011, 04:54:00 pm
Những nắm cơm tình nghĩa
của người dân bản Pài

 Để chuẩn bị lực lượng cán bộ lãnh đạo nhân dân tiến hành Tổng khởi nghĩa Tháng 8 thắng lợi, Đảng ta chủ trương tổ chức cho các đồng chí cán bộ cách mạng đang bị giam cầm ở các nhà tù đế quốc vượt ngục. Đoàn cán bộ cách mạng ở nhà ngục Sơn La, sau khi vượt ngục thành công, nhận được lệnh trên phải về ngay căn cứ nhận nhiệm vụ mới. Trên đường đi, Đoàn bị kẻ địch truy lùng gắt gao. Đến Thái Nguyên, Đoàn phải lánh trên một nương xa của nhân dân bản Pài để tránh giặc. Một ngày, hai ngày rồi ba ngày trôi qua, lương thực và nước uống đã cạn mà địch vẫn bổ vây tứ phía. Đói khát hành hạ, Chi ủy hội ý để cho cán bộ trong Đoàn được sử dụng những quả dưa Mán trên nương, mà đồng bào bản Pài khi dẫn Đoàn đi tạm lánh đã đồng ý cho. Đến đêm ngày thứ năm, đồng chí nhận nhiệm vụ canh gác dẫn về một chị người Mán. Cả đoàn mừng rỡ xô lại hỏi thăm tin tức. Chị người Mán mệt mỏi, ngồi xuống nói trong hơi thở:

 - Các đồng chí ơi, dân làng lo cho các đồng chí quá!

 Hai tay run run, chị lấy trong cái túi lưới sau lưng ra nắm cơm lạnh ngắt, khô cứng và nói:

 - Các đồng chí ơi, quan châu, quan đồn nó lấy hết gạo rồi, nhưng người làng vẫn bảo nhau giấu đi một tí để mang cho các đồng chí ăn. Chắc đồng chí đói lắm rồi.

 Chia nhau những nắm cơm tình nghĩa của bà con bản Pài gửi cho, Đoàn cán bộ cách mạng hết sức cảm động. Họ thầm hứa sẽ tìm mọi cách nhau chóng về đến căn cứ nhận nhiệm vụ, rồi lãnh đạo, tổ chức toàn dân đứng lên tiến hành tổng khởi nghĩa thắng lợi.

T.V (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 16 Tháng Mười, 2011, 04:54:46 pm
Ông già cũng sẵn sàng quyết tử

 Tại Mặt trận Hà Nội một thời gian sau ngày 19-12-1946, địch chiếm các nhà máy nước cắt luôn nước vào khu vực chiến đấu; đồng thời có tin tất cả các giếng nước đã bị chúng cho tay sai bỏ thuốc độc. Tổ chiến đấu của bác sĩ Nguyễn Văn Thuyết nhận được chỉ thị phải khẩn trương lại nước uống. Thật là nan giải, bởi vì việc khẩn trương nước phải có chuyên môn, phải có thuốc phản ứng, chí ít cũng phải có động vật như chó hoặc mèo để thử nghiệm nhưng lúc này không thể tìm được. Biết chuyện này, một ông già tìm đến và nói: “Các anh không phải lo nghĩ gì cả. Các anh cần phải sống để đánh đuổi thằng Tây, còn tôi, tôi già rồi, tôi không cầm được súng nữa, nhưng tôi sẵn sàng quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Tôi xin tình nguyện uống nước giếng trước xem lành dữ thế nào…”. Không đợi anh em có ý kiến gì thêm, ông múc ngay một gầu nước lên, uống liền một hơi dài. Ông già lại nói tiếp: “Nếu tôi có mệnh hệ nào, tôi cũng hết sức mãn nguyện…”. Ông trở lại với tổ tự vệ hơn 24 giờ sau vẫn không có triệu chứng ngộ độc. Một đồng chí tự vệ đã ôm chầm lấy ông, nói với ông giọng cảm động: “Bố ơi, bố đã giúp chúng con yên tâm… Bố cho chúng con biết tên và nhà để sau này, chúng con tìm thăm bố…”. Ông già cười nói: “Các anh không mất công tìm gặp tôi làm gì, tôi ngụ ở đền Bạch Mã đấy. Thỉnh thoảng tôi sẽ đến thăm các anh. Bây giờ các anh cũng phải chú ý cho người gác giếng nước, phải đề phòng bọn chúng làm điều ác thực sự đấy…”.

Tâm Đắc (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 16 Tháng Mười, 2011, 04:55:21 pm
Pháo binh muôn năm

 Không phải là lời động viên, cổ vũ có tính cách xã giao của một số ít người, mà trong chiến dịch Điện Biên Phủ nó đã trở thành tình cảm gắn bó thực sự, bằng máu thịt giữa bộ binh và pháo binh; cái cảnh trước đây “pháo đấm lưng bộ binh” không còn nữa, pháo binh chi viện bộ binh rất đúng lúc, kịp thời, chính xác nên nhiều đợt xung phong, bộ binh đã ho to khẩu hiệu: “Pháo binh muôn năm! Pháo binh vạn tuế!”.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 16 Tháng Mười, 2011, 04:56:13 pm
Quân nhạc phục vụ
Quốc khánh 2-9-1945

 Ngày trọng đại nhất, ngày 2 tháng 9 lịch sử đã đến! Chúng tôi được vinh dự trực tiếp phục vụ buổi lễ trang trọng và thiêng liêng này. Ai cũng hồi hộp. Từ sáng sớm, cả đơn vị đã tề chỉnh trong trang phúc soóc kaki vàng, đi giày da, mũ calô có đính quân hiệu điều giữa dòng người, cờ hoa đổ về quảng Trường Ba Đình. Đội hình dàn nhạc gồm 75 nhạc công chia làm 4 hàng ngang, kèn đồng sáng loáng, đứng cách nhau 15 mét đối diện với lễ đài, cùng rừng người, rừng cờ náo nức chào nhà nước công nông đầu tiên. Anh Đinh Ngọc Liên chỉ huy dàn nhạc tấu các bài ca cách mạng, mỗi bài được tấu lên lần đầu bằng kèn, đến lần thứ hai, các bè giai điệu bỏ kèn xuống, đồng thanh hát bài ca, làm cho không khí buổi lễ thêm sinh động. Đồng bào rất tán thưởng, nhiều người nhẩm miệng hát theo.

 Khi Bác Hồ cùng Đoàn chủ tịch cuộc mít tinh tiến lên lễ đài, những chiếc kèn đồng dựng lên, tấu nhạc chào. Đã được nghe nói và ngưỡng mộ từ lâu, nhưng hôm nay mới là lần đầu tiên chúng tôi được thấy Bác, đứng gần nên nhìn rất rõ. Bác gầy, quần áo kaki giản di, đội mắt sáng, vầng trán mênh mông và chòm râu hiền từ. Mọi người đều xúc động. Khi lá cờ đỏ sao vàng được từ từ kéo lên, niềm xúc động của chúng tôi dồn hết vào âm thanh bài Quốc ca, âm vang khắp Quảng trường. Tất cả đều ngưng đọng lại trong âm thanh hào hùng, trang nghiêm. Nghe như có tiếng gọi của hồn nước, tiếng thôi thúc những bước chân dồn dập của Xô viết Nghệ Tĩnh, của khởi nghĩa Bắc Sơn, của Cách mạng Tháng Tám oai hùng… Tiến lên! Cùng tiến lên! Nhịp điệu dồn lên cao trào, chúng tôi cảm thấy nhịp đập trái tim mình hòa vào nhịp đập của trái tim Tổ quốc

Đinh Ngọc Liên và Đinh Công Thuân
(Trích từ Hồi kỳ “Ra đời cùng Cách mạng tháng Tám”)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 16 Tháng Mười, 2011, 04:57:48 pm
Sáng kiến nhỏ,
giá trị thực tiễn lớn

 Câu thơ “Có những phút làm nên lịch sử” của nhà thơ Tố Hữu đúng với nhiều người có chung một ý thức tận tụy với công việc, một lòng một dạ phục vụ nhân dân, đất nước. Riêng với trường hợp của người Tiểu đội trưởng nuôi quân Hoàng Cầm, ở đội điều trị thương binh Sư đoàn 308 trong chiến dịch Hòa Bình (10/12/1951 - 5/2/1952) thì phút “làm nên lịch sử” chính là cái phút anh nung nấu ý nghĩ phải làm ra một cái bếp sao cho không để có một chút khói, lửa, tránh máy bay địch phát hiện giúp chiến sĩ ta (trực tiếp là các đồng chí thương binh, bệnh binh) có thể ăn nóng uống nóng và được tắm nước nóng ngay trong quá trình diễn ra chiến dịch. Thế là với nhiều buổi trưa không nghỉ, Hoàng Cầm một mình một xẻng trong khu rừng vắng, đào đào, xúc xúc làm ra cái bếp theo đúng ý nguyện của mình. Anh đâu có ngờ sáng kiến tưởng như nhỏ bé của mình lại có giá trị thực tiễn lớn, đi vào lịch sử hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ của dân tộc. Nó trở thành bất tử khi “đi vào” Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam với mục từ: “Bếp Hoàng Cầm. Bếp dã chiến đào dưới đất, đun bằng củi, không bị lộ lửa, tránh địch phát hiện, do Tiểu đội điều trị Sư đoàn 308 sáng tạo ra… Bếp Hoàng Cầm được sử dụng trong chiến dịch Hòa Bình (1951-1952). Được cải tiến hoàn thiện và sử dụng rộng rãi trong kháng chiến chống Mỹ”.

TV (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 16 Tháng Mười, 2011, 04:58:34 pm
Suýt bị “xử lý”

 Ngày 19-8-1945, Cách mạng Tháng Tám bùng nổ. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Bác Hồ, Hà Nội cũng như nhiều địa phương khác nhanh chóng giành được chính quyền, song riêng ở thị xã Hà Đông thì gặp nhiều khó khăn, vì bọn địch chống trả quyết liệt. Trước tình hình đó, đồng chí Lê Trọng Tấn (sau này là Đại tướng) - khi ấy là Ủy viên quân sự Hà Đông được giao nhiệm vụ ra Hà Nội thỉnh thị và xin thêm lực lượng. Vào thành phố giữa ngày này, thật khó tìm ra cấp chỉ đạo trực tiếp của mình, qua trại Bảo an binh, nghe nói ta đã chiếm được, đồng chí liền chạy tuốt vào hỏi thăm. Không quen biết ai, không giấy tờ ủy nhiệm; lúc ấy, Nhật lại đang kéo tới bao vây định chiếm trại, trên thì lệnh xuống thấy người nào khả nghi, có hành động chống đối, cứ “xử lí” ngay, nên đồng chí Lê Trọng Tấn vừa vào tới nơi, các chiến sĩ ta bắt giam luôn, vì bị nghi là “mật thám vào trinh sát để dẫn đường cho Nhật”…

 Rất may, chiều hôm đó, một chiến sĩ - anh Nguyễn Thanh Nghị đi công tác về, nhận ra đồng chí Lê Trọng Tấn là người quen, thế là ông chẳng những không bị “xử lí”, mà còn được các chiến sĩ giúp đỡ hoàn thành nhiệm vụ.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 16 Tháng Mười, 2011, 04:59:28 pm
Tắm bằng… lửa

 Những năm 1947-1948, trên chiến trường Nam Trung Bộ, quân Pháp ra sức khủng bố, vây ráp, hòng cô lập bộ đội và với nhân dân địa phương. Tuy vậy, bộ đội và cán bộ ta vẫn tỏa ra hoạt động trong đồng bào, củng cố được lòng tin của nhân dân đối với kháng chiến. Cuộc sống của bộ đội vô cùng gian khổ, Chiến du đóng trong rừng cách một bàu nước nhỏ. Về mùa khô trời nóng gay gắt, các suối đều khô cạn, mọi việc nấu nướng, ăn uống hàng ngày đều nhờ vào bàu nước duy nhất ấy. Địch cũng biết điều đó nên thường tổ chức đánh phá ta đi lấy nước. Do đó, nước đem về chiến khu rất ít, chủ yếu dùng để ăn uốn, nhiều lúc nước uống cũng không đủ. Trong khi đó, trời miền Trung nắng chang chang, làm việc chân tay, mồ hôi chảy đầm đìa, sờ vào nhớp nháp nhưng không có nước để tắm. Trong cái khó ló cái khôn, anh em sáng tạo ra cách tắm bằng lửa. Lúc nào muốn tắm, anh em gọi nhau 5-7 người, chặt cây, cành khô lớn dồi lại, đợi đến đêm đốt lửa trại. Trong ánh lửa bùng cháy, mọi người nắm tay nhau nhảy múa xung quanh. Người càng nóng, mồ hôi ra càng nhiều, nhễ nhại. Mọi người kì cọ cho mình và cho nhau, rồi lấy khăn mặt hay mảnh áo lau toàn thân. Làm đi làm lại mấy lần là xong một buổi tắm tập thể bằng lửa. “Tắm” xong, ai cũng cảm thấy nhẹ nhàng, sáng khoái.

Khánh Thu (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 16 Tháng Mười, 2011, 05:00:09 pm
Tấm lòng của người dân đối với
Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân

 Buổi đầu ra mắt tại chiến khu Trần Hưng Đạo (22-12-1944), Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân chỉ được tổ chức giao cho 50 đồng bạc Đông Dương làm ngân quỹ. Đội viên Lộc Văn Lùng, người được giao làm quản lý cho Đội phải tính toán hết sức kỹ càng, chi li và dè sẻn mọi khoản chi tiêu. Sau chiến thắng Nà Ngần, Đội phải chi tiền đi đường cho việc dẫn giải tù binh về cho địa phương quản lý. Ngân quý của Đội vì thế bị thiếu hụt nghiêm trọng. Được biết Đội gặp khó khăn, nhiều cơ sở cách mạng ở Cao Bằng tìm cách giúp đỡ bằng úy lạo và cho vay tiền, trong đó giáo dục hội viên Dương Mạc Thạch cho Đội vay 500 đồng. được sự giúp đỡ tận tình về nhiều mặt của nhân dân, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân ngày càng phát triển lớn mạnh theo đà phát triển của cách mạng.

 Sau này, có một số nhà báo đã gặp, hỏi chuyện đồng chí Dương Mạc Thăng hiện là Bí thư Tỉnh ủy Cao Bằng về việc cha của đồng chí là ông Dương Mạc Thạch đã cho Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân thời trứng nước vay 500 đồng bạc Đông Dương. Đồng chí Thăng vui vẻ nói, số tiền đó tuy là lớn đối với gia đình mình nhưng lại hết nhỏ bé so với những đóng góp, hi sinh cả vật chất và tinh thần của nhiều gia đình khác cho cách mạng. Còn mẹ đồng chí, bà Dương Mạc Thạch thì bộc bạch: “Gia đình tội tự nguyện hiến số tiền đó cho cách mạng, chỉ mong Nhà nước cấp cho cái giấy chứng nhận để làm kỷ niệm”.

X.P. (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 16 Tháng Mười, 2011, 05:00:52 pm
Tết “kéo pháo vào,
kéo pháo ra” thắng lợi

 Trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, ta dự kiến giờ G, ngày 25-1-1954, bộ đội ta sẽ đồng loạt tổng công kích tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm địch. Để tạo thế bất ngờ, bộ đội ta dùng sức người kéo pháo lớn vào chiếm lĩnh trận địa.

 Ngày 16-1, bắt đầu kéo pháo. Cứ 20 người kéo một khẩu pháo. Khi kéo trên đường bằng phẳng, pháo chạy băng băng. Khi gặp con dốc nhỏ, pháo khự lại. Gặp con dốc cần độ dài tới 7 tời (1 tời dài 50 mét) cái vất vả không sao kể xiết. Thế nhưng, gian lao và nguy hiểm nhất vẫn là lúc ghìm cỗ pháo nặng 2,5 tấn cho xuống dốc 50-60 độ, chỉ cần sơ sẩy một chút là pháo rơi xuống vực sâu. Kéo pháo, vì thế trở thành cuộc thử thách quyết liệt của bộ đội ta cả về sức lực, tinh thần, mưu trí, lòng quả cảm… Trải qua bao nhiên gian lao, vất vả và hiểm nguy, chiều 25-1, bộ đội ta đã đưa được 4 khẩu pháo lớn vào trận địa, số còn lại đang trên đường tiếp cận. Giờ G được hoãn lại 24 giờ. Trong lúc bộ đội ta đang lo lắng không hoàn thành được nhiệm vụ, thì ngày 26-1, nhận được lệnh: kéo pháo ra vị trí tập kết ban đầu! Thay phương châm “đánh nhanh, thắng nhanh” bằng phương châm “đánh chắc, tiến chắc”.

 Bao nhiêu mồ hôi, xương máu của bộ đội sau 10 ngày đêm kéo pháo đã vượt qua, đang háo hức chờ giây phút trút hờn căm lên đầu lũ giặc, nay nhận lệnh kéo pháo ra, chuẩn bị lại, mọi người sao khỏi phân vân. Cán bộ tiểu đoàn, chi bộ đảng tổ chức họp ngắn gọn động viên bộ đội kéo pháo ra. Tư tưởng thông, thay cho cái háo hức của những ngày kéo pháo vào là sự kiên nhẫn, gan lì không gì lay chuyển nổi của những ngày kéo pháo ra. Lúc này, địch “đánh hơi” thấy các hoạt động của bộ đội ta, liền cho máy bay, pháo đánh chặn, nỗi hiểm nguy tăng lên gấp bội phần. Thế nhưng, lòng dũng cảm và sự kiên nhẫn của do ta đã thắng. Tối 26-1, bắt đầu kéo pháo ra, đến sáng 5-2, khẩu pháo cuối cùng về đến vị trí tập kết. Ngày 7-2 (mồng 5 Tết), Đại tướng Tổng tư lệnh đến chúc bộ đội ăn cái tết “kéo pháo vào, kéo pháo ra” thắng lợi và căn dặn “nhiệm vụ nặng nề hơn là phải chuẩn bị cho thật tốt để sẵn sàng nã pháo làm cho quân địch khiếp sợ trọng pháo ta”.

X.P. (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 16 Tháng Mười, 2011, 05:01:55 pm
Thơ ca ngợi “tro bếp”

 Qua nhiều lần thử nghiệm, có sở sản xuất diêm tiêu đã đi đến thống nhất công thức điều chế diêm tiêu để chế thố nổ: 1 tạ phân dơi + 7 tạ tro bếp = 3 ki-lô-gam diêm tiêu. Kỷ niệm 50 năm Quân giới, bác Phan Lê có mấy vần thơ tuyên dương công trạng tro bếp:

Em là tro bếp được yêu thương
Chống Pháp năm xưa khắp nẻo đường
Kết với phân dơi thành muối hóa
Tạo thành “sơn phét”, chất phi thường
Thuốc đen, mồi nổ, đa công dụng…
Lựu đạn mìn vang mọi chiến trường
Nguyên liệu giản đơn vào trận địa
Kinh hồn lũ giặc, hết phô trương…


Trần Nam (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 16 Tháng Mười, 2011, 05:02:53 pm
Thu cũ cấp mới

 Trong quân đội ta, việc “thu cũ cấp mới” một số đồ dùng quân trang, quân dụng là chuyện bình thường. Nhưng chuyện Trung đoàn trưởng Trung đoàn 28 (Lạng Sơn) Đặng Văn Việt được quân Pháp ở đồn Na Sầm “cấp” đôi giầy da… lại khá đặc biệt.

 Thấy đôi giầy da của Trung đoàn trưởng Đặng Văn Việt đã mòn vẹt, há mõm, trung đội trưởng Ngọc Trinh (quê ở Cao Bằng) liền tìm gặp nhân mối của mình tên là Doòng, làm đầu bếp trong đồn Na Sầm

 - Này, ăn cắp trong kho của chúng cho mình một đôi “cộp xăng đá” cỡ 40.

 - Không được đâu vớ, ăn cắp thì không được… nhưng có cũ để đổi mới thì được vớ. Sếp Tây quy định thế mà!

 Ngọc Trinh gật đầu:

 - Giầy há mõm thì có ngay thôi. Đêm nay ra hàng rào mình đưa cho. Bố thắng Tây, nguyên tắc cứng nhắc ghê…

 Thế là Trung đoàn trưởng Việt có một đôi giầy mới, tha hồ trèo đèo, lội suối, cùng đơn vị đánh nhiều trận phục kích nổi tiếng trên đường số 4: Bông Lau, Lũng Phầy, dốc Bản Nầm, Bố Củng - Lũng Vài - Ngàn Kim… khiến quân Pháp khiếp sợ gọi anh là “Đệ tứ quốc lộ đại vương”, khi đó anh mới ngoài 20 tuổi.

Cao Hữu Oanh (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 16 Tháng Mười, 2011, 05:03:34 pm
Tuổi Cụ Hồ

 Tháng 10-1953, ở Bản Que, cạnh phố Nghĩa Lộ, một anh bộ đội đưa tờ giấy bạc Ngân hàng Việt Nam cho một chị phụ nữ Thái ngắm hình Cụ Hồ. Cả gia đình chị người già, em nhỏ đều xúm quanh để xem. Tất cả đều trầm trồ khen đôi mắt sáng, vầng trán cao… Đột nhiên, chị với tay lên mái nhà lấy tờ giấy bạc 5 đồng cũ, hồi 1946 còn giấu ở đó, đem so với tờ bạc mới. Đột nhiên, chị hỏi: Tóc Cụ ở đây đen mà ở tờ giấy bạc mới lại trắng quá. Anh bộ đội giải thích: “Bác Hồ năm nay 62 tuổi rồi, lo việc nước việc dân nhiều mà…!”. Cả gia đình nọ yên lặng một lúc. Các em nhỏ yêu cầu anh bộ đội dạy hát bài: “Hồ Chí Minh muôn năm!”.

Chi Yến (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 16 Tháng Mười, 2011, 05:04:44 pm
Việt Minh đã nắm chính quyền,
còn họp làm gì nữa

 Đêm 17-8-1945, người gác cổng của Tòa báo Tin mới ở phố Đuyliêng Bờlăng (nay là phố Phủ Doãn) đang lim dim sau cánh cổng. Chợt cánh cổ bị mở ra, năm sáu người lạ mặt xuất hiện. Người gác cổng ngăn lại:

 - Các ông hỏi ai?

 - Chúng tôi cần gặp ông Chủ báo

 - Ông ấy không có ở đây

 - Trên Tòa soạn có ai không? Đừng sợ, chúng tôi không hại các ông đâu, cứ đứng im.

 Mấy người lạ đi thẳng lên gác, chỉ để lại một người ở lại. Trong phòng, Chủ báo và một số nhân viên đang duyệt báo lần cuối. Mấy người lạ vào đề rất nhanh:

 - Chúng tôi là Việt Minh, yêu cầu các ông đăng trong số báo ngày mai “Lời hiệu triệu của Tổng bộ Việt Minh” kêu gọi nhân dân đứng lên giành chính quyền.

 Uy thế của cách mạng dường như đã đến đây từ trước. Chủ báo và nhân viên liền đã rút ngay một tin của báo ra, đưa “Lời hiệu triệu…” vào vị trí trang trọng nhất.

 Sáng hôm sau, mới 8 giờ, tiếng trẻ bán báo đã vang lên: “Báo mới ơ… tin đặc biệt đăng Lời hiệu triệu quốc dân của Việt Minh đây!”. Mọi người đổ xô ra mua báo.

 Cùng lúc đó, trên gác nhà Khai Trí (phố Hàng Trống), cái gọi là “Ủy ban tư vấn Bắc Việt” của Chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim đang họp bàn “việc nước”! Nghe tiếng rao bán báo, mấy vị “đại biểu” lẻn ra mua xem. Một vị nói to “Đề nghị ông Chủ tọa đọc bài của Việt Minh cho mọi người cùng nghe”. Thế là cuộc họp biến thành nơi phổ biến lời hiệu triệu khởi nghĩa. Nghe xong, một vị đứng lên nói:

 - Như thế là Việt Minh đã nắm chính quyền rồi, còn họp làm gì nữa! Đề nghị giải tán!... Các ông “nghị” đồng loạt xô ra cửa, mặc cho vị Chủ tọa gọi với “có điện khẩn từ…”, nhưng chẳng có ai thèm nghe.

 Chỉ trong một buổi sán ngày 18-8, ba vạn tờ Tin mới đã tỏa đi khắp nơi, góp phần thổi bùng lên ngọn lửa cách mạng đang rực cháy trong lòng nhân dân. Ngày 19-8, nhân dân Thủ đô chiếm Phủ Khâm Sai. Hà Nội đã về tay chính quyền cách mạng. Lá cờ đỏ sao vàng kiêu hãnh tung bay khắp nơi trong thành phố.

Đức Lê (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 16 Tháng Mười, 2011, 05:05:31 pm
Vừa hành quân, vừa… đun nước

 Chuyện thật như bịa trên đã xảy ra ở đơn vị của đồng chí Đinh Quang Chương (quê ở Thanh Lĩnh, Yên Thành, Nghệ An) khi đơn vị nhận lệnh hành quân bổ sung cho chiến dịch Điện Biên Phủ 1954. Trong khi hành quân, bình đun nước nóng không phải đơn vị nào cũng có, anh em phải dùng ống bước rất cồng kềnh để thay thế. Đơn vị đồng chí Chương có sáng kiến dùng ống bơ sắt tây được buộc dây thép làm quai, đổ đầy nước. Cứ hai người gánh một chùm ống như vậy, người đi sau vừa đi vừa châm lửa phía dưới, đến chỗ nghỉ chân là đã có chút nước sôi “nhấm nháp” chứ không phải dùng nước lã!

Nhân Sự (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 16 Tháng Mười, 2011, 05:06:11 pm
Vượt biển bằng thuyền vải

 Dùng thuyền làm bằng vải để vượt biển thành công, có lẽ là một trong những chác vượt biển độc đáo, ngoài sức tưởng tượng của nhiều người. Nhưng đó là một sự thật mười mươi, do bác Quốc Thể, một lão thành cách mạng, kể lại: Bác là một chiến sĩ cách mạng, bị thực dân Pháp bắt, đưa đi đày ở địa ngục trần gian Côn Đảo. Trong ngục tù, dù phải chịu sự tra tấn, hành hạ dã man của kẻ thù, bác và các đồng chí vẫn một lòng kiên trung với Đảng, tin tưởng ở thắng lợi cuối cùng của cách mạng nước nhà. Bác đã cùng một số anh em lấy quần áo khâu chắp lại thành tấm vải lớn, nhiều lớp, rồi dùng sơn để sơn lên tấm vải đó cho cứng và không bị thấm nước. Lấy cây mây to làm vành, làm cốt, thế là những người tù đã có một chiếc thuyền bằng vải. Tất nhiên, mọi công việc này đều phải làm hết sức bí mật, trong một thời gian khá dài.

 Chập tối ngày 28-2-1952, lợi dụng lúc lính canh sơ hở, bác Thể và bảy bạn tù đã thoát được ra bãi biển. Tám chiến sĩ lao tù đã lấy thuyền vải ra khỏi nơi cất giấu, nhằm hướng Cà Mau chèo thuyền đi. Sau mấy ngày lênh đên trên biển, tám người tù đã đặt chân lên đất mũi Cà Mau. Cuộc vượt biển thành công, tám chiến sĩ cách mạng đã tìm cách bắt liên lạc được với tổ chức để tiếp tục hoạt động.

M.T. (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 16 Tháng Mười, 2011, 05:07:06 pm
Xáp trận, lắp nòng trung liên

 Hồi đầu kháng chiến chống Pháp, trang bị vũ khí của bộ đội ta rất thiếu. Các đơn vị bộ đội cũng chỉ có súng trường cũ như: Mútcơtông, súng trường “Mát”, còn trung, đại liên rất hiếm. Một lần, có anh vệ quốc trẻ, vai đeo một khẩu súng trường “Mát”, đi công tác qua trạm gác của một xã nọ. Khi mấy cô dân quân hỏi giấy tờ, anh chàng nói hùng hồn: “Tôi là xạ thủ trung liên, cô không có quyền hỏi giấy!”. Nghe vậy, một cô lại hỏi: “Anh là xạ thủ trung liên sao lại đeo súng trường “Mát”? Bất ngờ, anh lính trẻ lúng túng, nhưng cũng nhanh trí ứng khẩu bằng thơ: “Bây giờ đeo “Mútcơtông” Nhưng khi “xáp” trận, lắp nòng trung liên”. Nghe vậy các cô cười phá lên. Cô tiểu đội trưởng nói: “Thôi được, hôm nay chúng em để anh đi, nhưng khi nào ra trận chiến đấu, anh nhớ lấy nòng súng đại liên lắp vào súng trường “Mát” mà bắn cho khỏe nhé!”. Khi anh đã đi xa vẫn còn nghe tiếng cười đuổi theo.

Nguyễn Đông (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 18 Tháng Mười, 2011, 09:19:33 pm
Xây nhà cho voi

 Thực hiện phương châm “đánh chắc, tiến chắc” của Bộ Chỉ huy chiến dịch, bộ binh cùng pháo binh chung sức xây nhà kiên cố cho voi nằm. Tuy lúc ấy chẳng có máy đào, máy xúc chẳng có xi măng, sắt thép, với ý chí quyết thắng, bằng sức người với cưa tay, xẻng cuốc, bộ đội ta đã bảo đảm đủ hầm cho pháo bằng những cây gỗ lớn, những bó trúc xếp nhiều tầng. Thế là mỗi khi bị địch phản pháo, dù là pháo khoan cũng vẫn ung dung.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 18 Tháng Mười, 2011, 09:20:23 pm
Xóm đỏ Vân Xuyên

 Xóm Đỏ Vân Xuyên vốn là tên Xóm Đá Vân Xuyên thuộc xã Hoàng Văn Thụ, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang - một cơ sở cách mạng trung kiên trong ATK của Trung ương Đảng và Xứ ủy Bắc Kỳ. Sở dĩ xóm Đá được đổi tên là xóm Đỏ là từ sự kiện sau:

 Ngày 19-11-1942, Trung ương mở lớp huấn luyện chính trị cho cán bộ các tỉnh tại nhà ông Nguyễn Văn Chế (tức Hưu) do đồng chí Trường Chinh, Tổng bí thư Đảng ta trực tiếp giảng dạy. Lớp học sắp kết thúc thì ngày 21-11 mật thám Pháp ập tới vây bắt. Đồng chí Trường Chinh thường làm việc rất khuya nhưng dậy rất sớm để chuẩn bị tài liệu. Bỗng nghe tiếng chó sủa ngoài cổng làng, le lói ánh đèn pin, phán đoán có chuyện chẳng lành, đồng chí đã tổ chức cho lớp học sơ tán. Còn đồng chí được nhân dân tìm mọi cách che giấu và chuyển ra khỏi khu vực nguy hiểm, sang So Quýt, Tiên Thù, huyện Phổ Yên. Tại đây, đồng chí được một gia đình cơ sở là ông Lý Sần (tức Ngô Văn Luân) bảo vệ an toàn.

 Sau cuộc vây bắt đồng chí Trường Chinh và các cán bộ của Đảng ta ta thất bại, mật thám Pháp đã lùng sục, bắt bớ, tra tấn dã man những người che chở, giúp đỡ, bảo vệ cán bộ, đảng viên của Đảng. Chúng bắt ông Chế tra khảo dã man ngay giữa sân nhà bằng roi da; tra tấn nhục hình hai người em gái của ông hòng uy hiếp, khủng bố tinh thần nhân dân. Mặc cho kẻ thù điên cuồng tra tấn đến chết đi sống lại nhiều lần, nhưng ông Chế, gia đình và bà con trong xóm, ngoài làng Vân Xuyên vẫn quyết không khai, không để lộ tí gì về tổ chức cách mạng, một lòng một dạ trung thành sắt son với Đảng.

H.T. (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 18 Tháng Mười, 2011, 09:21:38 pm
Bốc thăm để rút chạy

 Ngày 4 tháng 5 năm 1954, trước tình hình đã “lên tới đỉnh cao của sự tồi tệ” của quân Pháp ở Điện Biên Phủ, tướng Đờ Cátxtơri triệu tập các các sĩ quan cầm đầu các đơn vị còn lại bàn cách thực hiện kế hoạch rút chạy mà Bộ chỉ huy ở Hà Nội vừa thông báo. Lực lượng còn lại được chia làm ba cánh quân sút sang Thượng Lào theo ba hướng, nếu từng cánh quân tự lực phá vòng vây. Trong ba hướng đó, (Đông Nam, Nam và Tây) thì hướng Nam “có nhiều khả năng may mắn hơn cả”. Viên chỉ huy nào cũng muốn cánh quân của mình được thoát theo hướng Nam. Tranh luận kéo dài, không ai chịu nhượng bộ. Tướng Đờ Cátxtơri bất lực không dám quyết định. Cuối cùng, một lối thoát được coi là công bằng được đem áp dụng giữa những “chiến hữu” trong giờ phút thập tử nhất sinh: “bốc thăm”.

 Kết quả như sau:

 - Quân do đại tá Lăngle (Langlais) và trung tá Bigia (Bigeard) chỉ huy rút chạy theo hướng Đông Nam.

 - Quân Lê dương và Bắc Phi do đại tá Lơmơniê (Lemeunier) và Vêđô chỉ huy rút chạy theo hướng Nam (hướng may mắn).

 - Quân hỗn hợp ở quân khu Idaben (Hồng Cúm) do đại tá Lalăng (Lalande) chỉ huy chạy theo hướng Tây.

 - Toàn bộ lính bị thương và nhân viên quân y ở lại và “tin chắc là đối phương sẽ đối đãi tử tế”.

 Được Nava (Navare) giao cho toàn quyền quyết định về thời gian nên mọi người quyết định sẽ bắt đầu rút chạy vào hồi 20 giờ ngày 7 tháng 5.

 Nhưng mọi mưu toan trên đều thất bại. Điện Biên Phủ do tướng Đờ Cátxtơri chỉ huy đã đầu hàng sớm hơn. Lúc đó là 17 giờ 50 phút ngày 7 tháng 5 năm 1954.

Theo “Lịch sử một cuộc chiến tranh bẩn thỉu”


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 18 Tháng Mười, 2011, 09:23:00 pm
Bắt sống tướng Đờ Cátxtơri

 Ngày 1-5-1954, ta mở cuộc tấn công vào khu trung tâm Mường Thanh và Hồng Cúm của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Đêm 6-5-1954, quân ta chiếm toàn bộ các ngọn đồi phía Đông, chìa khóa cuối cùng của khu trung tâm. Địch bị hắt toàn bộ xuống lòng chảo Mường Thanh.

 Đại đội 360 (Tiểu đoàn 130 - Trung đoàn 209 - Sư đoàn 312), được giao nhiệm vụ bắt sống tướng Đờ Cátxtơri. Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật phân công các trung đội 2, 3, 4 yểm hộ Trung đội 1 vào bắt sống (các tiểu đội 2, 3, 4 ở cánh sau đánh mở đường, Đại đội trưởng trực tiếp dẫn Tiểu đội 1 đánh vào).

 Khi Tiểu đội 1 bắt đầu tấn công Điện Biên Phủ thì Tiểu đội trưởng Nguyễn Văn Lan (quê ở Hưng Nguyên, Nghệ An) hi sinh trong lúc vượt sông Nậm Róm, Tiểu đội phó Nguyễn Nghĩa Khoa thay thế chỉ huy Tiểu đội. Sau nhiều trận chiến đấu ác liệt, quân số chỉ còn dưới 10 người, nhưng tinh thần chiến đấu thì rất cao.

 Những cánh quân của ta từ các phía tới tấp đánh vào sở chỉ huy của địch. Pháo của chúng ở các cứ điểm yểm trợ cho hầm của Đờ Cátxtơri lần lượt bị dập tắt. Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật đưa Tiểu đội đến trước một căn hầm khá kiên cố, nửa chìm, nửa nổi, lỗ châu mai dày đặc. Đồng chí ta lệnh cho chiến sĩ ném lựu đạn và hỏa mù vào cửa hầm rồi cầm loa nói bằng tiếng Pháp kêu gọi chúng ra hàng.

Nguyễn Nghĩa Nguyên
ghi theo lời kể của Nguyễn Nghĩa Khoa


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 18 Tháng Mười, 2011, 09:24:20 pm
Biến cuộc mít tinh của địch
thành cuộc biểu dương lực lượng của quần chúng cách mạng

 Ngày 15-8-1945, tại Hà Nội chính quyền bù nhìn tay sai cho Nhật âm mưu tiếp tục dựa vào Nhật để tập hợp quần chúng, lập ra chính quyền “độc lập” giả hiệu, nghênh đón Đồng Minh, thay thầy đổi chủ.

 Nhưng tuyệt đại đa số quần chúng đã đứng về phía Mặt trận Việt Minh, sẵn sàng hành động. chiều 17-8-1945, quần chúng kéo đến dự cuộc mít tinh đông tới hàng vạn người trước Nhà hát Thành phố. Cuộc mít tinh do chính quyền bù nhìn tổ chức. Nhưng chúng không hiểu rằng hàng vạn người đến dự mít tinh lại là người của Việt Minh, do Việt Minh huy động để sẵn sàng xoay lại thế cờ!

 Chỉ trong phút chốc, lá cờ đỏ sao vàng rộng lớn được trương lên trước đông đảo nhân dân. Cán bộ Việt Minh chiếm lấy diễn đàn, nói rõ chương trình cứu nước của Việt Minh; hô hào đồng bào tham gia khởi nghĩa giành chính quyền tại Hà Nội. Lính bảo an, cảnh sát của chính quyền bù nhìn ngơ ngác. Cuộc mít tinh biến thành cuộc biểu dương lực lượng quần chúng trên hững đường phố lớn của Hà Nội.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 18 Tháng Mười, 2011, 09:25:39 pm
Cách đánh quấy rối địch của tự vệ thành Hà Nội

 Trong những ngày đầu Toàn quốc kháng chiến, hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch: “Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp”, để bảo vệ từng căn nhà, góc phố thân yêu của mình, tự vệ thành Hà Nội đã sáng tạo ra những cách đánh giặc độc đáo, mang đậm phong cách người Hà Nội và tính chất nghề nghiệp của mỗi người.

 Đánh giặc kiểu “thợ nhà đèn”. Thông thường quấy rối địch, tự vệ thành Hà Nội thường đợi đêm đến nấp dưới đường ném lựu đạn vào “nhà Tây”. Có một tự vệ, vốn là “thợ nhà đèn” (thợ điện) nghĩ ra cách quấy rối địch của riêng mình. Anh trèo lên cây cao đối diện với “nhà tây”, dùng dây an toàn thợ điện treo mình lên đó. Đêm đến, quăng pháo ném vào nhà. Quân địch tưởng tự vệ ta đứng dưới đường liền xả súng bắn. Khi địch ngơi bắn, anh “thợ nhà đèn” lại quăng pháo… Cứ thế suốt đêm địch không được yên, lại phải tốn bao nhiêu đạn.

 Đánh giặc kiểu nghệ sĩ. Nghệ sĩ ta thường có thói quen “lang thang trên phố đêm”. Quân Pháp xâm chiếm Hà Nội. Tham gia tự vệ, nghệ sĩ quấy rối địch bằng cách nửa đêm cài bộc phá vào cửa “nhà Tây”, đốt dây cháy chậm, rồi ôm súng phục sẵn. Cửa “nhà Tây” bị phá, Tây ra lo che chắn cửa, liền bị “đòm”.

 Đánh giặc kiểu thợ sơn. Tự vệ thành vốn là thợ sơn lại có cách đánh địch riêng. Họ lấy chăn bông tẩm sơn “giếch cô”, dùng ét xăng làm mồi đốt trước cửa nhà Tây. Khói sơn khét lẹt làm cho Tây phải bò ra khỏi nhà. Chỉ chờ có vậy, họ dùng lựu đạn để tiến công. Thế là Tây đi đời. Tự vệ thành Hà Nội gọi cách đánh này là “đánh theo kiểu hun chuột”.

T.V. (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 18 Tháng Mười, 2011, 09:26:20 pm
Cắm biển giả, đặt mìn thật

 Thời thuộc Pháp, du kích đường 5 thường dùng mẹo để đánh giặc, đánh ngay ban ngày, ngay trên đường cái đàng hoàng. Chẳng là thấy địch thường cho quân từ Hải Phòng lên Hải Dương bằng xe ô tô, anh em du kích ở đây liền nảy ra một kế hoạch: Diệt xe chở lính bằng mìn.

 Nhiều ngày đầu họ cắm biển giữa đường có đề chữ “Attention aux mines” (có mìn, cần chú ý đề phòng). Thế là đoàn xe nào chở lính đến đấy cũng phải dừng lại để kiểm tra. Nhiều hôm có cả lính công binh thận trọng dò từng bước, lại có cả máy dò mìn dò từng chỗ đất mới. Vì thế có chuyến xe hành quân cấp tốc mà cũng phải chậm tới hai, ba tiếng đồng hồ. Dò mãi kết quả chỉ thấy toàn mìn giả, cả bọn bực tức mẹcxàlù ỏm tỏi. Nhiều lần như thế đâm ra chủ quan, cứ thấy biển cắm trên đường là lái xe lại đi sát vào nhổ vứt đi, có thằng còn phóng bừa đè cả vào biển, vượt qua cả hố mìn giả.

 Biết địch đã chủ quan mắc mưu ta, anh em quyết định chôn mìn thật. Một hôm chiếc xe cam nhông từ Hải Phòng chở 40 lính Âu Phi phóng như bay lên Hải Dương. Thấy biển cắm, như mọi khi thắng lài xe nhảy xuống hâm giật phắt cái biển vứt đi. Một tiếng nổ inh tai nhức óc làm chiếc xe bị hất tung lên rồi lăn kềnh xuống ruộng. Chỉ vài ba tên lính thoát chết, số còn lại và chiếc xe bốc cháy ngùn ngụt. Lối đánh này tốn ít người, chỉ cần một quả mìn mà hiệu quả như một cuộc tấn công nhỏ. Đây chỉ là một trong số rất nhiều mẹo đánh giặc của du kích đường 5.

Nguyễn Văn Thành (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 18 Tháng Mười, 2011, 09:26:52 pm
Cho địch… xem pháo

 Ấy là chuyện xảy ra vào đêm mồng 6 Tết Nhâm Thìn (1-2-1952) của Tiểu đoàn Pháo binh hỗn hợp 834 trực thuộc Đại đoàn Đồng bằng - Liên khu III. Đêm đó Tiểu đoàn đã sử dụng 1 khẩu pháo 75mm và 1 khẩu cối 120mm cùng với bộ binh bất ngờ bao vây đồn Vũ Lăng (Tiền Hải, Thái Bình). Khi chuẩn bị công đồn, bỗng có một ý kiến đề xuất: “Đây là một đồn tương đối độc lập, khi bị bao vây địch rất khó ứng cứu cho nhau, trong khi chúng đang hoang mang, ta nên bức hàng xem chúng phản ứng ra sao. Ý kiến này nhanh chóng được chấp thuận. Đồng chí chỉ huy liền cho gọi loa vào đồn: “Nghe đây, các ông đã bị bao vây, muốn sống về với vợ con thì đầu hàng, nếu không đầu hàng chúng tôi sẽ cho pháo bắn tan đồn”. Ở trong đồn, địch lại càng hoang mang, bán tín bán nghi tưởng ta dọa là chính. Có tiếng xì xào trong đồn: pháo ở đâu ra mà nhanh thế, chắc gì đã có pháo, có thể bị lừa rồi? Biết được tâm trạng của địch, ta gọi tiếp: “Nếu các ông không tin thì cử người ra chúng tôi cho xem pháo, cho các ông 3 phút để suy nghĩ”. Chưa đầy 3 phút sau, 5 tên lính đã được cử ra ngoài để “mục sở thị”. Khi chúng quay vào thì có ngay tín hiệu đầu hàng.

 Thế là chẳng tốn một viên đạn, bằng sự tài trí, thông minh, bộ đội ta nắm được tư tưởng hoang mang của địch để tiến hành binh vận. Chỉ trong chốc lát, toàn bộ đồn Vũ Lăng gồm 4 trung đội địch đã phải nộp vũ khí đầu hàng.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 18 Tháng Mười, 2011, 09:28:47 pm
Chuyện Thành Nam kháng chiến

 Ngay sau khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, phong trào tự nguyện tòng quân, xung phong phục vụ kháng chiến của các tầng lớp nhân dân Hà - Nam - Ninh lên rất cao. Nhiều tăng ni Phật tử ở chùa Cổ Lễ (Nam Định), các Chùa Bát, Phúc Âm, Phúc Chỉnh, Bàn Long (Ninh Bình) cũng tự nguyện tòng quân. Bài thơ đầy khí phách của Ni cô Đàm Thanh ở chùa Cổ Lễ thể hiện rõ niềm tự hào truyền thống của dân tộc và ý chí chiến đấu bảo vệ Tổ quốc:

Cởi áo cà sa khoác chiến bào
Việc quân đâu có quản gian lao
Gậy thiền quét sạch quân xâm lược
Theo gót Trưng Vương tỏ nữ hào


 Tại mặt trận thành phố Nam Định, ta dồn địch vào một số nơi để vây đánh. Bọn địch ngày đêm thấp thỏm sợ ta tập kích. Nhiều nơi ta và địch chỉ cách nhau một con đường có căng dây thép gai và treo những ống bơ bên trong đựng những viên sỏi. Đây là một cách phòng thủ, vì nếu đối phương muốn tập kích phải vượt qua đường, phải chạm vào dây thép làm cho ống bơ có sỏi rung lên kêu loong coong, báo động. Lợi dụng thực tế ấy, quân ta nghĩ ra một cách quấy rối làm cho địch mất ăn, mất ngủ suốt đêm. Trời vừa tối, anh em từ hầm chiến đấu của mình mang theo một sợi dây dài có buộc móc ở đầu, bí mật bò ra đường móc vào dây thép có treo ống bơ rồi dùng dây quay về hầm. Ngôi trong hầm chắc chắn của mình, anh em ta thỉnh thoảng lại giật dây cho ống bơ kêu loong coong. Những lúc như vậy địch tưởng ta tập kích nên chúng í ới gọi nhau và bắn ra loạn xạ, vừa tốn đạn lại vừa mất ăn, mất ngủ.

Phương Lam (st)



Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 18 Tháng Mười, 2011, 09:29:55 pm
Du kích mặc váy

Trong kháng chiến chống Pháp, Thuận Thành (Bắc Ninh) vốn là nơi có phong trào du kích hoạt động rất mạnh. Vũ khí của ta lúc này còn thiếu nhưng du kích vẫn bám dân, bám cơ sở đánh giặc. Ta chủ trương lấy súng giặc đánh giặc. Qua điều tra, biết bọn Tây và lính dõng ở bốt Thanh Hòa thường xuống chợ trêu ghẹo mấy cô hàng xén, ăn uống quỵt tiền. Bốn đồng chí du kích: Thái, Tống, Thanh, Bẩm cải trang thành các cô thôn nữ quần đen, khăn mỏ quạ, nón trắng che nghiêng (riêng đồng chí Thanh người cao to, mượn quần áo của chị em mặc không vừa, đành mặc váy thắt bao xanh), cùng đám đông đi chợ. Bọn lính đồn quen như mọi lần đến trêu chọc mấy “cô” hàng xén. Bất thần đòn gánh, vỏ chai, dao bầu vung lên đập, chém tới tấp vào bọn chúng. Các “cô thôn nữ” cướp súng của giặc. Trong lúc giằng co với lính dõng, váy của đồng chí Thanh bị tụt. Nhanh như chớp, đồng chí tung váy trùm đầu tên lính, cướp súng chạy. Lát sau tên lính mới hoàn hồn kêu ú ớ: “Váy... du kích mặc váy!”. Anh em du kích rút khỏi chợ an toàn với hai khẩu súng trường “Mát”, hai tiểu liên “Xten”.

Thu Hòa (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 19 Tháng Mười, 2011, 09:44:09 pm
Dùng đá đánh tây

 Khoảng giữa năm 1947, quân Pháp nhảy dù xuống chiếm đóng tỉnh Hòa Bình, bộ đội và du kích xã Quyết Thắng, huyện Lạc Sơn liên tiếp phải tổ chức chống càn. Anh Bùi Văn Xiển, một du kích xã đã nảy ra một sáng kiến được mọi người đồng ý: Đánh địch bằng đá. Anh em cùng nhau chặt cây làm thành cái sập, xếp đá ở trên, dòng dây lại phía sau, hai bên sập vần những tảng đá thật to để vào cạnh, khi sập bẫy thì những tảng đá to liên tiếp lăn xuống. Ở miền núi thường chỉ đi theo những đường lớn, nên anh em quyết định bố trí đặt sập ở dốc Khoeo.

 Mất 3 ngày đêm bố trí, một hôm bọn địch tổ chức lên xã Tự Do càn quét, chúng đi đúng con đường vào dốc Kheo. Theo đúng kế hoạch, chờ cho cả bọn trèo lên cả dốc, chiếc khăn trắng từ tay đồng chí Xiển phất phất mấy cái ra hiệu, lập tức dây dòng được giật. Cùng một lúc các tảng đá lớn nhỏ đã ào ào trút xuống, thế là cả đá và bọn lính cũng tuồn tuột lăn xuống dốc. Toán đi đầu gần như bị chết bẹp hết, những thằng còn lại què chân gãy tay, vỡ đầu lê lết xuống dốc. Anh em du kích đứng lên nhìn cảnh đố rất khoái trá.

 Bị một trận nên thân, từ đó chúng không dám huênh hoang đi tuần và cướp bóc như trước. Chẳng thế mà về sau cứ mỗi khi đi qua dốc Khoeo là thằng nọ lại đùn thằng kia đi trước.

Lục Thế Hà (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 19 Tháng Mười, 2011, 09:44:50 pm
Dùng lửa đánh địch

 Ở xã Minh Lương, huyện Văn Bàn, tỉnh Yên Bái, những năm 1947-1948, bọn địch đóng ở đồn Khau Co nổi tiếng là hung ác. Chúng thường xuyên tổ chức những cuộc càn quét, săng lùng du kích và Việt Minh.

 Một hôm, tiểu đội du kích của đồng chí Tiến vừa về đến bản thì bị lộ. bọn địch cấp tốc cho quân đến vây lùng, vây cả ngày chẳng bắt được một ai. Bọn chúng cay cú lắm, cắt cử lính thay nhau “chốt giữ”. Thấy vậy anh em du kích bàn nhau phải đánh lại bọn này ngay ngày mai. Hội ý một hồi, mọi người thống nhất phương án: chọn một cái hang sâu gần đấy, đến đêm cử một đồng chí vào đó đốt lửa, cố ý để cho lửa hắt ra ngoài hang cho bọn địch trông thấy. Quả nhiên, một lúc sau địch đem quân đến vây chặt. Bọn chúng hí hửng phen này du kích hết đường trốn thoát. Cả bọn thận trọng dò dẫm vào hang. Tổ du kích nấp bên ngoài quan sát thấy bọn chúng đã vào hết, vẫn bình tĩnh để cho chúng tiến sâu hơn. Bất thình lình anh Tiến hô to, ra lệnh cho cả tổ ập vào tập kích. Bị đánh bất ngờ cả bọn không kịp trở tay, tất cả đều bị chết.

 Trận này đội du kích Minh Lương thắng lớn, cả tổ an toàn. Thế là chỉ tốn mấy mồi lửa mà cả bọn lính ở Khau Co phải đền tội.

Hoàng Văn Đạt (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 19 Tháng Mười, 2011, 09:45:25 pm
Dùng thư địch dụ hàng địch

 Lần khác, lợi dụng trận đánh giữ được bí mật, quân ta liền khuếch trương chiến quả bằng cách bắt tên trung úy Pháp viết một lá thư gửi cho tên đồn trưởng bốt Đông (vì bốt Đông phụ thuộc bốt Nam An). Nội dung lá thư đại ý: “Hiện nay Việt Minh đã bao vây khắp các ngả, bốt Nam An đã bị tiêu diệt. Thừa lệnh của Việt Minh, tôi hạ lệnh cho các anh phải ra hàng, trong vòng 20 phút nếu không ra thì sẽ bị Việt Minh tiêu diệt”.

 Bọn lính trong bốt Đông đang hoang mang sẵn, vì đã máy đêm liền bị du kích bao vây quấy rối nên nhận được thư của tên trung ý chúng nửa tin nửa ngờ. Sau chúng tấy “sự thật” đã rõ ràng nên chúng ngoan ngoãn xin hàng, không một tên nào chống cự. Như vậy là chưa đầy ba tiếng đồng hồ, không mất một viên đạn, không có một người nào bị sây sát, ta đã “nhổ gọn” bốt Đông, bắt sống hai trung độ lính ngụy, bốn lính tây và thu sách vũ khí, quân trang quân dụng.

Nguyễn Chí Dũng (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 19 Tháng Mười, 2011, 09:46:04 pm
Đạn cảnh cáo

 Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, một xưởng quân giới ở Nam Bộ chế tạo thử một loại đạn pháo mới. Anh em đề nghị và được phép bắn thử vào một đồn giặc trong vùng. Nhưng mọi người lo nếu đạn không nổ thì mất... uy tín. Anh em nảy ra sáng kiến: sơn hai chữ “cảnh cáo” vào thân viên đạn. Đạn bắn rơi trúng đồn, nhưng... không nổ thật! Bọn giặc trong đồn thấy viên đạn nằm lù lù giữa sân có hai chữ “cảnh cáo” đều xanh mặt, bớt hung hăng hẳn. Được ít lâu, chúng lại chứng nào tật ấy. Xưởng quân giới ta, qua kinh nghiệm viên đạn trước, chế tạo tốt hơn. Và bắn thử lần thứ hai. Đạn rơi chính xách, nổ mạnh, diệt một số địch. Bọn giặc trong đồn hốt hoảng bảo nhau: “Các ông Việt Minh đã cảnh cáo rồi. Không nghe lời thì ăn đòn nặng mà”.

Nguyễn Đức (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 19 Tháng Mười, 2011, 09:47:19 pm
Đánh cá bằng ong

 Hồi kháng chiến chống thực dân Pháp, tiểu đội tôi đóng ở Tây Nguyên. Lâu ngày phải ăn cơm với thức ăn khô (mắm ruốc thịt), rất thèm cá. Đi ngang qua một vũng nước rộng, sâu, thấy cá đớp mồi nhiều, ai cũng thèm. Lưới không có, cần câu cũng không, đắp tát thì không đủ sức. Tiểu đội trưởng nói: “Tụi bay yên trí, mai sẽ có bữa cá ngươi ngon”. Tưởng anh nói đùa cho vui.

 Chiều ôm đó, tiểu đội trưởng theo dõi đường bay của các loại ong và tìm ra một tổ ong vò vẽ gần vũng nước (Ong vò vẽ thích ở gần nước). Đến tối, chờ cho cả đàn ông chui hết vào tổ, anh móc một cục đất sét dẻo, đem đến trát kín tổ ong. Ráng sáng, anh cắt cành cây có tổ ong, mang đến hồ nước, dìm sâu xuống, chọc cho tổ vỡ ra. Đàn ong ướt cánh bơi nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Mặt trời lên, cá nổi lên đớp bóng, vớ được mồi sống, lũ cá lao vào đớp! Tức thì, những chú ong đốt cho cá ngửa bụng ngay! Trâu bị ong đốt còn rống lên huống chi... cá!

 Chúng tôi chỉ làm mỗi việc vớt cá lên. Toàn là con to vì cá nhỏ đâu dám đớp con mồi ong vò vẽ lớn. Chúng tôi nướng, luộc và có bữa tiệc ăn tươi ngon tuyệt.

Trần Ninh (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 19 Tháng Mười, 2011, 09:48:15 pm
Đánh giặc bằng chày giã gạo

 Tháng 8-1949, trong chiến dịch Cầu Kè (Trà Vinh), sau khi bị ta chặn đánh, Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn bộ binh Bắc Phi) chạy về giồng Bà Hút, chiếm một ngôi chùa đánh bài cố thủ. Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 307 phát lệnh bao vây. Tiểu đội trưởng Tống Văn Công được giao vào xóm mượn chày giã gạo để ra phá cửa. Anh tìm được một cái chày giã gạo lõm hai đầu, đen bóng, chắc nịch. Công báo cho Tiểu đoàn trưởng: “Anh xem, giữa em và chày, không biết ai lớn tuổi hơn?”

 Khi quân ta bắn cấp tập vào vị trí địch cố thủ, Tống Văn Công dùng chày phang mạnh vào cửa. Địch ở trong phát hiện liền ném lựu đạn ra. Khói thuốc khét lẹt, nám đen cả mặt mũi. Công lựa thế tránh rồi tiếp tục phang. Cánh cửa bung ra, quân ta ùa vào. Địch chạy tán loạn như ong vỡ tổ. Công báo:

 - Bác Hồ nói: Có súng dùng súng, có gươm dùng gươm, tôi dùng chày cũng đuổi được giặc.

Ánh Dương (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 19 Tháng Mười, 2011, 09:49:08 pm
Đánh xe lửa địch trên đường
Nha Trang - Sài Gòn

 Đầu năm 1947, do nhu cầu ngày càng lớn về lương thực, vũ khí, để mở rộng chiến tranh xâm lược, giặc Pháp tận dụng các phương tiện giao thông chúng còn nắm được để tăng cường vận chuyển. Hàng ngày, có nhiều chuyến xe lửa chở hàng quân sự của địch chạy trên đường Nha Trang - Sài Gòn.

 Ban chỉ huy chi đội 10, quân khu 7, quyết tâm phá hủy các chuyến tàu này. Khó khăn nhất là không có những vũ khí cần thiết như bom, mìn... Sau một thời gian nghiên cứu, bàn bạc, chi đội quyết định mấy cách đánh như sau:

 Tháo bu lông, buộc dây vào đường ray. Khi xe lửa đến gần thì kéo dây cho đường ray doãng ra, xe lửa trật bánh hoặc bị đổ. Ở những đoạn đường vòng, lấy đá chèn cho thanh ray phía trong đường vòng cao hơn thanh ray phía ngoài, tàu chạy đến đây, do lực ly tâm, sẽ mất thăng bằng và bị lật. Lấy đầu đạn ca nông lép của địch, nhờ công binh xưởng cải tạo thành bom mìn.

 Những cách đánh thô sơ này đã mang lại hiệu quả lớn. Từ tháng 5 đến tháng 7 năm 1947, chi đội 10 đã đánh lật nhào nhiều đoàn tàu địch, thu được nhiều trang bị vũ khí. Ngày 14-7-1947, đúng vào ngày hội “cáttóduydê” của Pháp, địch cho 2 đoàn xe lửa chạy cách nhau 200 mét để yểm hộ lẫn nhau. Ta đặt một quả mìn 50kg do công binh xưởng chế tạo. Quả mìn nổ, hất đổ 1 đầu máy. Quân ta xung phong, diệt trên 200 tên địch, thu hơn 50 súng và 3 máy vô tuyến điện.

Hải Đông (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 19 Tháng Mười, 2011, 09:49:55 pm
Đâu phải am thiêng

 Ở giữa Ngõ Gạch (Hà Nội), dưới bóng một cây đa lâu đời có một cái am cổ nhỏ. Người quanh vùng thường gọi là am Ngũ Hổ. Trong am, phía tường sau có đắp hổi hình năm con hổ. Con hổ đen ở giữa, hai bên là bốn con khác mang màu lông trắng, vàng, xanh, nâu. Đặc biệt sau đuôi mỗi con hổ đều có một lá cờ ngũ hành. Cũng không rõ am này được dựng lên từ thời nào và cũng không rõ tại sao lại nổi danh là thiêng. Điều đáng chú ý là am này thêm thiêng sau trận đánh chớp nhoáng, diệt giặc Pháp cuối năm 1946 của tự vệ Hà Nội.

 Chiều 24 Tết Đinh Hợi, một tiểu đội quân Pháp từ Hàng Đào, Hàng Buồn đi xuống chợ Đồng Xuân đột nhiên rẽ ngoặt vào đầu Ngõ Gạch. Chúng dừng lại và ngắm nghía khá lâu am Ngũ Hổ. Theo lệnh chỉ huy một tên còn trẻ rẽ bức mành tre sơn đỏ, dè dặt bước vào am. Một lát sau, nó trỏ ra cười nhăn nhở, trên tay bưng một mâm gỗ đầy chuối, bưởi, cam, quýt… Mấy tên giặc khác liền xúm lại giật lấy trái cây ăn nhồm nhoàm. Giữa lúc ấy trên cây đa cạnh am hai quả lựu đạn tung xuống nổ vang phố xa. Kết quả là ba tên giặc chết tại chỗ và sáu tên khác bị thương nặng. Chừng mười lăm phút sau chúng nhác nhác mang xác người chết, cáng bọn què, dìu bọn cụt, cõng bọn mù rất nhanh về phía Cửa Đông.

 Đây là chiến công của chị Lâm Hàng Thiếc, nữ tự vệ kiêm nữ cứu thương. Chiều hôm ấy chị đeo lựu đạn đi qua đây bỗng từ xa thấy bọn giặc kéo đến, chị liền nhanh nhẹn trèo lên cây đa ẩn lánh. Ai ngờ chị lại lập được một chiến tích xuất sắc.

 Điều này ít ai biết. Người ta chỉ đồn quân giặc hỗn láo nên các ngài Ngũ Hổ đã gần lên nhảy ra xé xác chúng. Am Ngũ Hổ được thêm linh thiêng là thế.

Phương Vũ (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 19 Tháng Mười, 2011, 09:51:00 pm
Đeo cho ông khẩu trung liên!

 Mùa hè năm 1952 bọn ngụy ở Cầu Sắt mở cuộc càn vào khu du kích xã Phúc Khê, thôn Phúc Tân cách đồn Cầu Sắt 6km.

 Chúng đi từ sáng sớm đến tối mới về, bắt được Nguyễn Văn Pho (nguyên là thôn trưởng thôn Nha Xuyên, xã Thái Phúc, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình) và 4 thanh niên nghi là du kích. Đi được nửa đường, tên lính đeo trung liên mệt quá, chỉ vào Pho nói; “Tên này khỏe, đeo cho ông khẩu trung liên”. Y dựng lại cởi trói, tháo đạn rồi đưa súng cho Pho. Pho giả vờ mệt mỏi, nét mặt buồn rầu nhưng trong đầu đã tính toán bao tình huống để chạy trốn:

 - Vác cả trung liên chạy thoát thì trung đội của xã có thêm một trung liên, nhưng sẽ rất khó khăn.

 - Dùng trung liên đánh gục một tên rồi chạy. Có lẽ phương án này an toàn hơn.

 Đến ngã tư Nha Xuyên, anh cầm khẩu trung liên quất mạnh vào tên sếp ngụy đeo khẩu tiểu liên rồi chạy một mạch vào xóm. Tên sếp gục xuống, máu loang lổ. Cả bọn hốt hoảng la hét ầm ĩ: “Bắn, bắn”. Súng các loại bắn theo xối xả như một trận đánh lớn.

 Kết quả, tên sếp bị thương nặng, hai khẩu súng bị hư. Pho chạy thoát xuống hầm bí mật nghỉ ngơi, đến tối lại trở về cùng đồng đội.

Quang Tiến (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 19 Tháng Mười, 2011, 09:51:39 pm
Đòn phủ đầu đuổi Mỹ

 Thực hiện âm mưu can thiệp vào nước ta, đầu năm 1950, đế quốc Mỹ cử tên đại sớ Gơrítphin tới Sài Gòn. Đồng thời, chúng phái hai chiếc tàu diệt ngư lôi loại lớn Stíchken và Anđớcxơn ngạo nghễ cập quân cảng Sài Gòn. Tiếp đó là chiếc hàng không mẫu hạm Bócxo chạy vào cửa biển Đà Nẵng, mang theo 70 máy bay khu trục chiến đấu. Chúng dự định sẽ tiến hành một cuộc thao diễn quân sự ở hải phận, không phận Việt Nam và ngay trung tâm Sài Gòn - Chợ Lớn, nhằm uy hiếp tinh thần nhân dân ta.

 Đòn cảnh cáo đầu tiên của đồng bào Sài Gòn là đã cho tên đại sứ Mỹ nếm mùi lựu đạn tại nhà hàng Côngtinăngtan mà một tờ báo anh lúc đó đã viết: “… ngài Gơrítphin được người Việt Nam đón tiếp quá long trọng bằng nhiều tiếng nổ”. Ngày 19-3-1950, Sài Gòn - Chợ Lớn đã nổ ra cuộc biểu tình lên tới 30 vạn người đấu tranh chống sự can thiệp của đế quốc Mỹ. Ở các công sở, cờ ba sọc Pháp, cờ Pháp đều bị hạ. Nhiều nơi, cờ đỏ sao vàng được trương lên bay phấp phới. Tại ngã tư đường Mácmahông, đoàn biểu tình đã rượt đuổi, ném gạch đá vào một tốp lính và sĩ quan Mỹ đang đi dạo phố, cho đến khi bọn chúng phải chuồn xuống hai chiếc tàu diệt ngư lôi. Cả hai chiếc tàu buộc phải kéo còi báo động và hạ lá cờ của chúng xuống. Tại đây, đồng bào Sài Gòn - Chợ Lớn thét lớn: “Đả đảo bọn can thiệp Mỹ!”, “Đế quốc Mỹ cút đi!”

 Tối đến, nhiều trái lựu đạn súng cối của dân quân, du kích ngoại thành nã vào quân cảng, chỗ hai chiếc tàu Mỹ đang đậu, buộc chúng ngay đêm đó phải nhổ neo rời quân cảng Sài Gòn. Kế hoạch “giễu võ giương oai” về quân sự của chúng phải hủy bỏ.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 20 Tháng Mười, 2011, 07:49:17 pm
“Hun Tây”

 Có lẽ những thao tác lao động bảo vệ mùa màng của các cứ dân nền văn minh lúa nước đã mách bảo cho những chiến sĩ tự vệ thành Huế cách dùng khói rơm trộn với ớt để hun giặc Pháp khi chúng cố thủ ở những công sự vững chắc trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến (19-12-1946).

 Mặc dù lũ chuột cướp nước không bị khói của rơm-ớt của ra khỏi công sự như lũ chuột phá hoại mùa màng bị xua ra khỏi hang, nhưng những quầng khói đó đã trở thành biểu tượng của lòng yêu nước, ý chí căm thù giặc và lòng dũng cảm kiên cường tìm mọi cách đánh giặc để bảo vệ nền độc lập non trẻ của nhân dân thành Huế, như cây gậy tầm vông của Nam Bộ kháng chiến và trái bom ba càng của tự vệ thành Hà Nội. Theo lịch sử ghi lại,từ ngày 22 đến 30-12-1946, quân ta tiến công vào các khách sạn Moranh, nhà thông tin tuyên truyền Mácbớp, hiệu Sáppăhngsông và nhiều vị trí khác của thực dân Pháp, nhân dân thành Huế có ngày đã chuyển cho bộ đội và tự vệ thành hàng nghìn gánh rơm và hàng trăm thúng ớt để “hun tây”.

H (kể)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 20 Tháng Mười, 2011, 07:49:54 pm
Khối bộc phá ngàn cân
dưới lòng đồi A1

 Tính đến trung tuần tháng 4-1954, bộ đội ta đã trải qua 36 ngày đêm chiến đấu căng thẳng, quyết liệt, giành giật từng tấc đất với địch trên đồi A1. Song dựa vào hệ thống hầm ngầm kiên cố, địch vẫn chiếm giữ được một nửa phía tây đồi A1, gây cho ta rất nhiều khó khăn. Làm thế nào để đánh chiếm điểm cao A1, tạo điều kiện cho bộ đội tiến công tiêu diệt những điểm cao cuối cùng của địch ở Điện Biên Phủ? Tình hình đặt ra hết sức khẩn trương. Bộ chỉ huy Mặt trận đã thông qua phương án đào đường hầm, đưa một lượng thuốc nổ lớn vào phá công sự ngầm của địch dưới lòng đồi A1. Một phân đội gồm 20 cán bộ, chiến sĩ của Trung đoàn Công binh 151 được giao làm nhiệm vụ đặc biệt quan trọng này.

 Đêm 20-4, công việc đào đường hầm bắt đầu. Vị trí đào cửa đường hầm chỉ cách địch hơn 10 mét. Để tránh sát thương của địch và bảo đảm tuyệt đối giữ bí mật ý địch của ta, việc đào hầm chỉ tiến hành vào ban đêm. Khi đào hầm, bộ đội ta phải nằm ngửa, chân hướng lô cốt địch, đào từng tí đất một, đất đào được bỏ vào túi chuyển ra ngoài. Suốt ba đêm đầu, vị trí cửa hầm mới được đào xong. Một số chiến sĩ đã hi sinh. Chưa hết, càng đào vào sâu, công việc lại càng khó khăn gấp bội. Do đường hầm ngập nước và thiếu dưỡng khí, nhiều chiến sĩ đã bị ngộp thở, ngất đi ngất lại mấy lần trong một đêm. Song vượt lên tất cả, trải qua 16 đêm không nghỉ, các chiến sĩ ta đã hoàn thành một đường hầm dài 49 mét. Chiều và đêm 4-5, khối bộc phá 1000kg đã được đặt vào cuối đường hầm. Sự dũng cảm quên mình của 20 cán bộ chiến sĩ đã được đền đáp, 20 giờ 30 phút, một tiếng nổ lớn chưa từng có trên mặt trận Điện Biên Phủ đã phát ra từ đây. Đó cũng là tín hiệu đề Trung đoàn 174 (Đại đoàn 316) xung phong đánh chiếm toàn bộ Đồi A1. Sức công phá của khối thuốc nổ đã làm hệ thống hầm ngầm cố thủ của địch ở đồi A1 bị vô hiệu hóa, nhiều tên địch chết ngay tại chỗ, số còn lại chưa kịp hoàn hồn đã bị quân ta tiêu diệt hoặc bắt sống. 4 giờ 30 phút sáng hôm sau, ta hoàn toàn làm chủ đồi A1.

 Nói về đường hầm lịch sử và khối bộc phá 1000kg, đồng chí Lưu Viết Thoảng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, là một trong những người trực tiếp làm nhiệm vụ, đã rất tự hào: “Đó là những tiếng nổ hạnh phúc nhất của đời lính Công binh”.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 20 Tháng Mười, 2011, 07:50:40 pm
Lão bà giết giặc

 Báo QĐND, số 51 ngày 21-6-1952 đăng một câu chuyện như sau:

 … Quân Pháp càn vào làng D.L. Bà cụ không chạy vì đã có dụng ý. Trước đó, cụ đã được anh em du kích hướng dẫn cách đặt mìn. Nhặt được một quả mìn, cụ quyết định phải ở lại giết giặc. Cụ gài mìn ở ngay rìa chuồng gà. Nghe thấy tiếng gà kêu, chúng sục vào nhà, rối rít:

 - Pulê! Pulê! (Gà tơ! Gà tơ!)

 Nấp trong hầm, quan sát thấy giặc đã vào đúng chỗ đặt mìn, thế là cụ giật. Mìn nổ, hai tên Tây đen chết tại chỗ. Hai tên Tây trắng phát hiện thấy hầm, địch xông vào nhưng lại sợ có mìn, bèn đốt lửa hun khói vào. Nhưng hầm có chắn và cụ đã kịp thoát sang ngách khác. Chiều xuống, Tây rút. Cụ ra khỏi chỗ trú ẩn, kể lại cho dân làng nghe rồi rủa thêm: “đáng đời quân ăn cướp”.

Ngọc Tự (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 20 Tháng Mười, 2011, 07:51:39 pm
Lão du kích Bắc Ninh vật Tây

 Tháng 5-1952, giặc Pháp càn vào Bắc Ninh. Sau trận Trắc Nghiệt - Lư Miết, bị chết nhiều tên, địch phải dạt về phía Chợ Bướm, Phương Lưu chờ tiếp viện. Bộ đội du kích ta theo dõi sát từng hành động của chúng. Đêm ấy, một lão du kích đã ngoài 60 tuổi xin xung phong đi dò xét tình hình. Cụ lần theo bờ lúa tiến đến khu Chợ Bướm. Cụ vượt qua bức tường thấp của làng thì thấy hai tên lính Pháp đang ngủ, ngáy khò khò. Cụ khấp khởi mừng thầm: “Phen này, ắt mình phải đoạt ngon ít nhất một khẩu súng”. Cụ bò se sẽ về phía một thằng Tây. Bỗng nhiên tên giặc nhỏm dậy, ôm ghì lấy cụ. Bị bất ngờ quá, cụ giật nảy mình, rồi nhanh như cắt cụ húc đầu vào bụng thằng Tây, hai tay nắm hai chân nó, lấy hết sức hất nó lộn ra đắng sau. Tên Tây chúi đầu xuống đất, kêu cứu ầm ĩ. Cả trại giặc nhốn nháo, súng bắn lia lịa. Nhưng lão du kích đã băng được ra ngoài vườn tre, lần về ruộng lúa, báo cáo tình hình địch với bộ đội.

Thế Trình (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 20 Tháng Mười, 2011, 07:52:20 pm
Lựu đạn Ơ.C.G. là gì?

 Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, mỗi khi bị ta đánh đồn, liệu không chống giữ được, địch rút cả xuống hầm xây kiên cố. Quân ta chiếm được mạt bằng đồn, thu chiến lợi phẩm mà không tiêu diệt được địch, phải rút lui vì địch dưới hâm có thể gọi pháo bắn chụp lên đồn, hoặc gọi máy bay đến ném bom, bắn phá… Thời ấy, ta không có nhiều thuốc nổ hoặc vũ khí hữu hiệu để đánh hầm ngầm. “Cụ” Hàm, Trung đoàn trưởng 803, sau là Thiếu tướng, đã giao cho quân khí Trung đoàn sản xuất lựu đạn có tên là Ơ.C.G. chuyên trị hầm ngầm. Sau đó, khi vào trận, khi địch chui vào hầm, ta đưa lựu đạn Ơ.C.G. tới ném vào mấy quả rồi bịt chặt miệng hầm lại. Sau vài phút, không chịu nổi, quân địch lóp nhóp chiu ra hàng. Tên nào cũng nhắm mắt, miệng ho sặc sụa và chảy nước mắt vì khói. Ai cũng nghĩ, trước Cách mạng “cụ” Hàm là thấy giáo trung học chắc đã nghiên cứu ứng dụng “công thức hóa học” gì đặc biệt cho loại lựu đạn này. “Cụ” cười nói: “Có gì lạ đâu, mình áp dụng “thuốc hun chuột” trong hang cho lũ trẻ chăn trâu bò ở quê thôi!” “Ơ” là ớt bột, “CG” là cứt gà phơi khô, tán nhỏ trộn với thuốc cháy, nhồi vào lựu đạn! Đến chuột cống, chuột đồng còn không chịu nổi khói này, phải chui ra khỏi hang, huống chi là lũ “chuột Tây”!

Vũ Hà (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 20 Tháng Mười, 2011, 07:52:58 pm
“Mìn Bưởi”

 Nhân dân vùng Cẩm Giàng, Hải Dương rất căm ghét bọn lính Pháp, vì cứ mỗi lần đi tuần vào làng nhìn thấy nhà ai có cam, bưởi, chanh là chúng ngang nhiên vừa vặt ăn vừa vứt đi… Không ai dám ngăn cản. Nắm được “sở thích” này của tụi Pháp, du kích Cẩm Giàng bàn nhau cho chúng một vố. Ngày 6-7-1949, du kích ta lấy một quả mìn chôn xuống đất và buộc đầu dây phát hỏa vào cuống quả bưởi rồi đặt trên một đoạn đường nhỏ. Một nữ dân quân được bố trí chuẩn bị sẵn một gánh bưởi. Đúng như dự kiến, gần trưa hôm ấy, một toán lính toàn lính Pháp đi tuần từ hướng Cẩm Giàng lên, đợi cho bọn chúng đến gần từ trong ngõ một cô gái gánh 2 sọt bưởi đi ra, trông thấy bọn chúng liền rẽ phải chạy trốn. Thấy mồi ngon cả bọn hét đứng lại, nhưng cô gái cứ giả điếc vẫn cắm cổ chạy. Bọn giặc tức tốc đuổi theo, đến gần chỗ quả bưởi gài mìn, chị ra vẻ hốt hoảng, quẳng cả gánh bưởi tung tóe bỏ chạy vào làng. Cả bọn dừng lại cười hô hố rồi xô cả đến cướp bưởi. Đang lúc hỗn độn, một tiếng nổ vang trời, 4 các xác giặc ngã lăn xuống ruộng lúa, máu lênh láng. Sau một hồi hoảng sợ chúng bắn bừa bãi mấy băng đạn vào làng rồi khấp khểnh khiêng mấy xác chết về đồn bỏ dở cả cuộc tuần. Từ đấy khi đến Cẩm Giàng, trông thấy bưởi cũng cũng không dám lăn xả vào ăn cướp nữa. Nhân dân trong vùng hết sức khen ngợi du kích Cẩm Giàng giỏi mẹo đánh giặc.

Vũ Thanh Hải (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 20 Tháng Mười, 2011, 07:53:45 pm
Mìn gậy

 Tại Thái Bình, thực dân Pháp điên cuồng tìm hầm bí mật. Chúng thuốn, chọc tứ tung trên mặt đất, xua cả chó bécgiê đi đánh hơi khắp ngõ ngách. Không tìm được dấu vết hầm bí mật, quân Pháp hậm hực chửi bới ngụy binh: “Chúng mày là đồ ăn hại! Suốt buổi sáng mà chưa tìm ra được cái nào”.

 Sau đó, chúng bắt đồng bào, đánh đập, tra khảo, dọa dẫm, Nhưng đồng bào vẫn cắn răng chịu đựng, chẳng hai hé răng khai nửa lời. Đến trưa, chúng tìm được vết cửa hầm bí mật. Chúng reo lên, xô lại bật nắp hầm lên. Nhưng vụt một cái, một chiếc gậy có mìn dây buộc lòng thòng nhô từ dưới hầm lên mặt đất. Bọn giặc hoảng hốt, chưa kịp nằm thì mìn đã nổ diệt luôn 6 tên và một số bị thương.

 Những tên sống sót, tức tối, xô lại ném lựu đạn xuống hầm rồi hun khói. Nhưng du kích đã lẩn ra ngách và theo đường giao thông ngầm bò sang một hầm bí mật khác.

Trần Nguyên (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 20 Tháng Mười, 2011, 07:54:29 pm
Một công đôi việc

 Những ngày đầu toàn quốc kháng chiến, bác Nguyễn Hữu Cầu chiến đấu trên địa bàn Liên khu 2 mặt trận Tây Nam Hà Nội, ở tiểu đoàn do đồng chí Nguyễn Anh Đệ làm tiểu đoàn trưởng. Bác là chính trị viên phụ trách bí thư chi bộ đại đội do đồng chí Lê Công Tâm làm đại đội trưởng. Những kỷ niệm trong chiến đấu có rất nhiều song hẳn rằng câu chuyện giết thịt mèo vừa để giữ bí mật vừa làm món ăn thì nhiều người chưa biết. Số là bác được đồng chí Vương Thừa Vũ giao nhiệm vụ đưa đồng chí Hồ Chí Dân (một đảng viên người Đức, rất am hiểu về quân sự) vào xem xét tình hình khu vực Nhà dầu Shell phố Khâm Thiên (nay là trụ sở của Petrolimex). Để đảm bảo an toàn, có một việc phải làm ngỡ như là khó tin mà có thật. Đó là việc diệt mèo vì mèo dễ làm lộ bí mật. Hồi ấy người Hà Nội tản cư bỏ lại mèo. Mèo đói hễ thấy anh Vệ quốc đoàn ở đâu là bâu tới kêu đói ăn, cứ gào lên, nhèo nhéo. Ban đêm nghe càng to. Đã có trường hợp người bị thương vong vì tiếng mèo như thế.

 Bác Cầu bàn bạc với các cô tự vệ phố Khâm Thiên là phải bắt mèo làm thịt để vừa có thực phẩm cho bộ đội lúc đó đang thiếu thốn lại không còn sợ bị lộ bí mật nữa. Các cô bảo là không thể bắt được vì mèo nhớ chủ nó quấn quyết mình nhưng sờ vào thì bị nó cào xước chảy máu liền. Bác Cẩu liền nghĩ ra một mẹo là lấy lồng gà, đặt mồi cho mèo nhảy vào, được độ dăm ba con thì sập nắp lại, ngâm xuống nước cho chúng chết ngạt rồi mới lôi lên làm thịt. Số mèo bắt được theo cách đó độ bốn năm chục con. Thế là nhiệm vụ của bác dẫn đường cho đồng chí Hồ Chí Dân được chu toàn mà lại có thịt mèo cải thiện. Mà các cô tự vệ Khâm Thiên ngày ấy nấu món sốt vang mèo cũng tuyệt.

Tâm Đắc (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 20 Tháng Mười, 2011, 07:55:12 pm
Mưu mẹo chị Sáu

 Năm 1945, trong một trận đánh ở xã Tân Hương, chị Sáu Mành (quê ở Bình Hiệp, Mộc Hóa, Tân An) bị địch bắt, bị xích chân đưa vào một bót gần bờ sông. Chị nói với lính canh: “Các ông canh gác dày đặc rồi xích tay tôi làm gì, chi bằng cho tôi đi gánh nước, nấu cơm, giặt giũ, giúp đỡ các ông!”. Nghe bùi tai, bọn lính cởi xích trói cho chị. Được tự do, chị gánh nước chi chúng song cũng vừa tranh thủ quan sát địa hình, địa thế. Một hôm, thừa lúc bọn lính canh vô ý, chị quẳng đôi thùng xuống sông lặn mất. Bọn lính phát hiện được, đuổi theo vãi đạn như trấu. Khi trồi lên, chị gặp một chiếc xuồng con và một cô gái. Chị quá giang đến bờ tràm để vô vùng sâu. Khi lên bờ tràm, chị cắm đầu chạy mãi đến lúc mệt lả gặp một bầy trâu, tiếng súng vẫn còn đuổi rát sau lưng. Chị lanh trí lựa bắt một con trâu, nắm chặt dây vầm, nhảy phóc lên lưng trâu, thúc đôi chân vô bẹ sườn trâu. Con trâu dường như hiểu được nỗi hiểm nguy của chị, chạy băng băng vô cánh đồng xa… Chị mệt lả, miệng đắng ngắt vì khát nhưng vẫn ôm chặt lưng trâu và ngất đi… Khi tỉnh dậy, chị thấy mình đang ở Phú Mỹ, vây quanh là các mẹ, các chị với ánh mắt tràn ngập yêu thương, kính phục. Mọi người hỏi chị: “Sao dám bắt trâu người ta? Sao biết đường vô đây?”. Chị cười bẽn lẽn: “Đuối sức quá phải làm đại, vả lại “lạc đường nắm đuôi chó, lạc ngõ nắm đuôi trâu” mà !”.

 Một lần khác, tại chợ Phú Mỹ, chị diệt một tên ác ôn. Địch vây ráo riết, chị chạy băng qua đồn rồi chạy xuống sông. Một thằng Tây rượt theo kịp, giương súng kêu chị đầu hàng. Chị lội trở lại, đưa hai tay len song bất ngờ lại nói lớn: “Các anh kia, anh đi với tôi, tôi bị bắt, anh ở lại chịu chung chớ sao lại chạy?”. Thắng Tây giật mình ngoái lại dáo dác nhìn người kia. Chớp thời cơ, chị hụp xuống nước rồi lặn mất.

Quách Liên (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 20 Tháng Mười, 2011, 07:55:46 pm
Nhè “bộ hạ” mà đánh

 5 giờ 30 phút sáng 7-5-1950, như thường lệ, đội dân phu Thanh Hương (Thái Bình) lại mang theo cuốc, rựa, dao vào đồn làm ruộng. Chỉ có điều số dân phu hôm đó đông hơn mọi khi khiến quân Pháp nghi ngờ. Sau khi khám xét xong, chúng chia nhỏ ra nhiều bộ phận. Trước tình thết bất ngờ đó, đồng chí Phạm Đăng Trình, chỉ huy “đội dân phu” đã quyết định táo bạo, cho hành động ngay. Sau tiếng hô “Đánh đi anh em ơi! Nhè bộ hạ chúng mà đánh”, hàng chục con người, trong đó có nhiều du kích cải trang đã nhào vô, dùng vũ khí thô sơ phang túi bụi vào “chỗ hiểm” của bọn lính. Nhiều tên địch quẳng súng, ngã lăn ra quằn quại.

 Trận đánh diễn ra quá bất ngờ khiến địch không kịp trở tay. Sau 15 phút “chiến đấu”, du kích Thanh Hương đã tiêu diệt 13 tên địch, trong đó có 3 lính Pháp. Sau trận đó, đồn Thanh Hương bị “hạ cấp” xuống Bảo chính đoàn.

Đang Thanh (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 22 Tháng Mười, 2011, 04:46:26 pm
Những lọ nước thần

 Những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, bộ đội và nhân dân ta gọi những lọ thuốc penixilin do bác sĩ Đặng Văn Ngữ sản xuất là “những lọ nước thần”. Bởi kháng sinh rất cần để điều trị các vết thương trong chiến tranh.

 Bác sĩ Ngữ từ Nhật về tham gia kháng chiến, mang theo một loại nấm, từ đó điều chế ra penixilin. Sau những kết quả đầu tiên thu được ở vùng tự do Liên khu 4, đầu năm 1950, ông lên Việt Bắc triển khai rộng rãi việc sản xuất penixilin, phục vụ điều trị thương bệnh binh trong các chiến dịch trung du, đồng bằng, Tây Bắc… Từ khi có penixilin, việc điều trị các vết thương cho bộ đội gặp rất nhiều thuận lợi. Lúc viện quân y, đội điều trị các tuyến hậu cần chiến dịch đều tổ chức sản xuất penixilin tại chỗ, phục vụ kịp thời thương bệnh binh, nhanh chóng trả anh em về đơn vị chiến đấu. Cán bộ, công nhân các xí nghiệp ở vùng tự do Liên khu 4, ở Thái Nguyên, Bắc Kạn, Tuyên Quang… có công lớn trong việc sản xuất hàng nghìn chai lọ, ống thủy tinh để đựng penixilin phục vụ bộ đội. Các đồng chí Hoàng Quốc Việt, Trần Danh Tuyên, Nguyễn Công Hòa, Bùi Quỳ… trực tiếp đến các cơ sở sản xuất thủy tinh, động viên công nhân thi đua cung cấp nhiều chai lọ cho bộ đội điều chế penixilin phục vụ thương bệnh binh với tinh thần “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 22 Tháng Mười, 2011, 04:47:04 pm
Nòng pháo lấy từ…
đầu máy xe lửa

 Cuối năm 1945, Binh xưởng Thủ Đức (Chi đội 6) làm được ba khẩu pháo bắn đạn ria. Nòng pháo được làm bằng ống tuyps cỡ 80 đến 100 milimét, dài một mét, lấy từ các cấu kiện của một đầu máy xe lửa đã bị hỏng. Một đầu nòng được bịt kín, chỉ trích một lỗ nhỏ có thể luồn vừa đầu dây cháy chậm. Nòng pháo được đặt trên bệ bằng gỗ lim. Mỗi lần bắn, các chiến sĩ phải nhồi thuốc phóng và nạp đạn từ miệng nòng (đạn tự tạo bằng bao gói, mỗi gói chứa 40 đến 50 mảnh gang). Khi bắn thử, mảnh đạn văng xa trên 100 mét, rộng 30 mét, có khả năng sát thương bộ binh địch. Sau đó, chi đội 6 đã sử dụng 3 khẩu pháo tự chế tạo này phục kích đánh địch ở Rạch Trà Chóp, diệt gần một trung đội địch, góp phần bảo vệ cơ quan Thành ủy và Ủy ban kháng chiến Đặc khu Sài Gòn - Gia Định đóng ở An Phú Đông.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 22 Tháng Mười, 2011, 04:47:53 pm
Ra hàng đi, đồng bào sẽ… yêu hơn

 Tháng 4-1952, bộ đội ta tiến đánh đồn Thượng Vỹ (Hà Nam). Trước khi đánh, ta đặt kế hoạch dụ địch ra hàng bằng cách cho một bộ phận vào làng, tập trung súng và tù binh để triển lãm và giải thích chính sách của chính phủ cho đồng bào hiểu. Đồng bào cử người lên nói chuyện cho bọn lính trong đồn biết nhưng bọn chúng vẫn không chịu hàng. Bộ đội kêu gọi: “Nếu anh em trong đồn không chịu hàng là phản dân, phản chính phủ, bộ đội sẽ đánh”. Nghe vậy, đồng bào nói với các chiến sĩ: “Để chúng tôi xin đi nói với bọn họ lần nữa”. Người xung phong đi đầu là vợ viên Chánh quản trong đồn. Bà trỏ tay vào đồn nói lớn: “Các anh ra mà xem bộ đội Chính phủ rất tốt. Các anh ra hàng thì chính phủ sẽ tha thứ, đồng bào sẽ yêu hơn”. Thế là sau đó, lố nhố 100 ngụy binh trong đồn kéo ra hàng.

Thế Công (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 22 Tháng Mười, 2011, 04:49:01 pm
Sai sót cơ bản của hóa trang

 Bốt Thư Đôi được xây dựng kiên cố trước đình làng với nhiều lớp dây thép gai chằng chịt. Cấp trên chỉ thị bằng mọi giá phải phá bốt, nhưng vẫn phải bảo đảm an toàn cho dân. Nhận chỉ thị, du kích cùng bộ đội địa phương bàn phương án. Đó là phải bắt sống tên Lý Cáp, sếp bốt ác ôn trước, rồi sau đó mới phá bốt. Nhân mối ta cài trong bốt cho biết: Lý Cáp rất háo sắc, thường tán tỉnh chị em mà chúng bắt vào bốt làm phu. Trong số này có chị Lê xinh đẹp được Lý Cáp cặp kè tán tỉnh nhiều nhất. Trưa ngày 5-1-1950, Lý Cáp hơn hở nhận lời mời của chị Lê tới nhà uống rượu. Hắn giắt dao găm và một quả lựu đạn vào thắt lưng, hăm hở ra đi, mà không cho lính bảo vệ đi theo. Vào tới sân, cửa nhà vẫn khép hờ, hắn e hèm một tiếng. Một phụ nữ to lớn mở cửa bước ra. Chợt nhìn Lý Cáp hoảng hốt, ú ớ, rồi vội nhảy lùi lại và bỏ chạy. Đồng chí Hoàng Xuân Quế núp trong bếp lao ra, bằng thế võ điêu luyện quật ngã y. Thì ra đồng chí đóng giả nữ quên chưa cạo râu, khiến tên Cáp phát hoảng. Rồi người phụ nữ (do đồng chí Hoàng Thế Thừa đóng giả) cũng tới hỗ trợ trói tên Cáp đưa đến một nơi bí mật. Ngay đêm đó, nhân dân và du kích cùng bộ đội địa phương san bằng bốt Thư Đôi.

Nguyễn Ngô (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 22 Tháng Mười, 2011, 04:50:17 pm
“Thiên lôi”

 Đây là loại đạn bắn máy bay bằng súng cối 60 ly, tên gọi là “không lôi”, nhưng cánh lính trẻ gọi khác đi, đã có địa lôi thì phải có thiên lôi. Thực ra, “không lôi” chỉ là một quả đạn súng cối thông thường, chỉ khác ở bộ phận gây nổ, đầu viên đạn cói mũi tròn dẹp bằng đồng xu, hễ lên hết độ cao thì phát nổ. Hồi đó súng cối Việt Nam có bộ phận cò, ấn chốt thì kim hỏa tụt xuống, đạn bỏ vào trong nòng nằm chờ, khi ta kéo cò kim hỏa bật lên, đạn phóng lên hết độ cao thì nổ. “Thiên lôi” chỉ mang tính uy hiếp, ít có khả năng bắn rơi máy bay nhưng cũng đã góp phần cổ vũ đồng bào, bộ đội một thời.

 Năm 1947, Đại đội Hoàng Văn Thụ mở hội “thể vận” tại cánh đồng thuộc bắc Ân Thi (Hưng Yên). Bảo vệ thao trường là một tổ cảnh giới gõ kẻng báo động, hai tổ trung liên và một tổ súng cối. Buổi sáng tình hình yên tĩnh. Sang nửa buổi chiều kẻng báo động vang lên cả Đại đội tản ra khắp cánh đồng. Hai máy bay địch xuất hiện. Hỏa lực phòng không hướng về phía máy bay. “Bắn!”. Xen những tràng đạn liên thanh, “thiên lôi” vụt lên trời nổ “oàng” trên cao tạo thành đám khói trắng bằng cái thúng giữa bầu trời. Máy bay địch vòng lại, hỏa lực ta xoay hướng đón đánh. Quả “thiên lôi” thứ hai bay lên, một đám khói nữa lơ lửng giữa bầu trời. Hai máy bay địch chỉ bắn được hai loạt rồi chuồn thẳng về hướng Gia Lâm. Nhân dân quanh vùng, kể cả bộ đội mắt thấy tai nghe “thiên lôi” đánh đuổi máy bay đều phấn khởi reo hò.

Tâm Đắc (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 22 Tháng Mười, 2011, 04:50:58 pm
Thủy lôi bằng đá

 Vào năm 1952, trên địa bàn huyện Tứ Kỳ (Hải Dương), quân chiếm đóng Pháp đã xây dựng xong hệ thống đồn bốt nhằm ngăn ngừa các hoạt động của bộ đội, phá vỡ các hoạt động du kích ở cơ sở và khống chế nhân dân. Bấy giờ, dọc con sông nhánh nối từ sông Thái Bình, chảy qua sông Đò Đống vào sông Vạn, địch thường dùng ca nô chuyên chở đồ tiếp tế từ Hải Phòng cho quân đồn trú và uy hiếp mọi hoạt động của ta ở các xã ven sông. Sông nhỏ, ca nô địch chạy sát ven bờ, song bộ đội và du kích ta không có vũ khí đặc chủng để diệt tàu địch. Sau nhiều lần “đau đầu” để nghĩ kế, phương án nghi binh dọa dẫm được vạch ra.

 Vào một đêm, các xã ven sông nhận được lệnh huy động dân công đi phục vụ chiến đấu. Họ tới địa điểm tập trung chờ vận chuyển vũ khí và được lệnh khênh đem thả dọc luồng sông mà ca nô địch vẫn thường chạy qua (nhưng không được phổ biến là vũ khí gì). “Cận thận” hơn, huyện đội trưởng còn quán triệt mọi người phải giữ “bí mật” thứ vũ khí đem thả. Tuy “bí mật” vậy, nhưng ai cũng đoán đấy là thủ lôi, chứ đâu biết, thực chất “vũ khí” là 10 quả thủy lôi giả bằng đá (tạo trọng lượng) và ống bương (tạo lực nổi), được bịt kín bằng ni lông

 Hiệu quả thật không ngờ, hôm sau và cả những ngày sau nữa, không còn thấy một chiếc ca nô nào của địch chạy trên sông. Thì ra “tai mắt” địch đã báo cho quan thầy của chúng biết để đề phòng. Mãi hơn một năm sau, ca nô địch mới xuất hiện, mà đó là lần xuất hiện cuối cùng để đưa bọn lính ở các bốt rút chạy, vì không chịu nổi sự bao vây, uy hiếp, tiến công của bộ đội và du kích địa phương.

XP (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 22 Tháng Mười, 2011, 04:51:31 pm
Trận địa… lá han

 Tháng 3-1950, sau nhiều lần càn quét, không thực hiện được ý định “cất vó” bộ đội chủ lực ta ở Thái Bình, quân Pháp mở cuộc tấn công lớn vào vùng phía Nam của tỉnh. Cánh quân thứ ba của địch theo đường 10 tiến về đường 218, rồi theo đê Diêm Hộ đánh xuống phối hợp với bọn địch ở Diêm Điền theo đường 89 đánh Chợ Cầu, Thần Đầu, Thần Huống. Khi chúng đến Chợ Cầu thì dính một quả mìn chai nổ tung, ba tên đi đầu chết ngay tại chỗ. Chợ có bóng một cô gái chạy vút sau những lùm cây. Hai tên địch cởi trần trùng trục lao vào đuổi theo định bắt sống. Chúng không biết là đã sa vào bụi cây lá han. Đến khi cô gái mất hút thì hai tên địch cũng bắt đầu thấy ngứa ngáy, da thịt nhức nhối. Chúng kêu, khóc rống lên như bị chọc tiết. Cả toán quân địch thấy vậy đâm hoảng, không hiểu vì sao, đành bắn như vãi đạn vào lùm cây rồi cút thẳng. Hai tên lính Pháp bị lá han mình mẩy sưng húp và đến chiều thì tắt thở.

Ngọc Dũng (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 22 Tháng Mười, 2011, 04:52:25 pm
Trinh sát nhờ… ếch nhái

 Cứ điểm Đồng Đào là vị trí trọng yếu trong hệ thống phòng thủ phía Đông Hưng Yên được bố trí bằng các công sự ngầm, phía ngoài là hàng rào dây thép gai nhiều lớp kết hợp với mìn, ngoài cùng là hào bao bọc. Bọn địch thả ngỗng để khi du kích, bộ đội ta đột nhập, ngỗng kêu chúng dễ phát hiện. Để trinh sát được hệ thống phòng thủ này, hai chiến sĩ du kích Hưng Yên là Nguyễn Thị Bích và Nguyễn Thị Linh nảy ra sáng kiến bắt ếch nhái, rắn đập chết rồi vứt vào hào cho ngỗng sợ; còn bọn lính canh gác tuần tra phải chui vào công sự hút thuốc lá để khỏi ngửi mùi hôi thối. Trung đoàn 42 anh hùng vào sâu được từng vị trí, xác định loại mìn gài, đo từng hỏa điểm và sau đó dẫn đường cho bộ đội tiềm nhập chiến đấu. Trong trận đánh đồn này, ta tiêu diệt và bắt 85 tên địch, thu nhiều vũ khí. Hai nữ du kích Linh và Bích được bầu là Chiến sĩ thi đua của tỉnh Hưng Yên.

Sơn Tùng (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 22 Tháng Mười, 2011, 04:53:17 pm
Tương kế tựu kế

 Giặc Pháp ở Gia Lâm thường lấy tuần binh ở các làng quanh vùng chiếm đóng đến gác đêm cho chúng ngủ. Du kích Gia Lâm đã tương kế tựu kế diệt địch, thu vũ khí.

 Đêm ấy, như thường lệ, hai tuần đinh làng Nha mang sổ đến gác cho chúng. Sau khi xem xong sổ gác, bọn lính Pháp giao cho mỗi anh một khẩu Rơmanhtông. Chúng chỉ để lại tên gác bên trong còn cả bọn kéo nhau vào nhà đánh bài rồi lăn ra ngủ. Đến khuya, hai anh du kích đánh động để tên lính Pháp bên trong chạy ra rồi mỗi người giáng cho nó một báng súng. Tên lính chết ngay tại chỗ, hai anh em liền vào lều lấy thêm mấy khẩu súng nữa rồi rút êm.

Thanh Bài (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 22 Tháng Mười, 2011, 04:53:55 pm
Xã đội Ốc đánh chết Tây lấy súng

 Chiều mùa Đông năm 1951, bọn địch đi càn từ bờ sông Trà Lý vào làng Phúc Tiến qua Phúc Trung rồi về Cầu Sắt. Cả bọn đã vào làng Phúc Trung, còn lại một thắng Tây lớ ngớ ở đầu làng Phúc Tiến tìm đường. Phát hiện ra thắng Tây, anh Ốc (ở thôn Nha Xuyên, xã Thái Phúc, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình) hạ lệnh cho hai du kích yểm hộ, còn mình xắn quần, vác cuốc như người đi làm đồng về, nấp ở một ngõ hai bên có tường cao. Thắng Tây vừa đi qua chỗ anh nấp, nhanh như cắt, từ sau lưng thằng Tây, anh dùng cuốc có đầu gỗ đánh mạnh vào sau gáy y. Thắng Tây ngã sấp mặt xuống ngõ không kịp kêu một tiếng. Anh bồi thêm một nhát nữa vào thái dương cho ăn chắc; hai du kích kịp thời chạy ra lôi xác nó dìm xuống ao bèo tây, còn anh ở lại thu khẩu tiểu liên và dọn dẹp vết máu bắn ở ngõ.

 Bọn địch nháo nhác chạy ra đường la hét, bắn súng để tìm thằng Tây nhưng nó đã nằm yên nghỉ dưới ao bèo!

Quang Tiến (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 23 Tháng Mười, 2011, 03:46:06 pm
Vận động quân Nhật
lấy vũ khí cho chiến khu

 Cuối năm 1945, đồng chí Hoàng Ngọc Lương, Chủ tịch huyện Thủy Nguyên (Hải Phòng) nhận được thư của đồng chí Hải Thanh hẹn đến nhà dây thép (bưu điện) Núi Đèo có việc. Khi Hoàng Ngọc Lương đến điểm hẹn, thấy có Hải Thanh và một người lạ. Đồng chí Thanh giới thiệu đó là đồng chí Hoàng Minh Thảo, Tư lệnh Chiến khu III, thay đồng chí Nguyễn Bình - mới được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương cử vào miền Nam nhận nhiệm vụ mới. Hai đồng chí bàn với Hoàng Ngọc Lương tìm cách vận động quân Nhật để lại cho ta một ít vũ khí trước khi chúng phải rút về nước. Song, nếu đứng trên danh nghĩa Việt Minh thì chắc chắn quân Nhật sẽ khước từ, chỉ có thể xin theo danh nghĩa cá nhân. Hoàng Ngọc Lương nói là có quen một viên quan tư Nhật ở Đồn Binh - Núi Đèo, tên là Mirôca Oatêmôri.

 Theo kế hoạch đã thống nhất với Tư lệnh Chiến khu III, Chủ tịch huyện Hoàng Ngọc Lương mời viên sĩ quan Nhật này xuống lễ ở chùa An Lư rồi đặt tiệc chiêu đãi. Trong bữa tiệc, đồng chí Lương đặt vấn đề: Các anh sắp về nước, theo quy ước của Đồng Minh thì vũ khí phải giao cho quân Tưởng. Việt Nam mới giành được chủ quyền sau 80 năm nô lệ, cần vũ khí để tự bảo vệ Tổ quốc mình. Các anh ủng hộ chúng tôi cũng là góp phần cho nhân dân Việt Nam bảo vệ Tổ quốc.

 Đề nghị của Hoàng Ngọc Lương được Mirôca Oatêmôri và một số sĩ quan Nhật ủng hộ. Sau đó họ bí mật rút từ kho ra tặng cho ta 500 khẩu súng các loại, trong đó có cả súng máy. Số súng này được vận chuyển bằng ô tô về sở chỉ huy Chiến khu III tại Kiến An (Hải Phòng).


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 23 Tháng Mười, 2011, 03:46:41 pm
Xe tăng ông Phát

 Thời kháng chiến chống Pháp, đồn Kom Plông (tỉnh Kon Tum) nằm trên đồi cao. Chung quanh là đường xe chạy. Hơn chục lớp rào thép gai và chông, hào chung quanh đồn. Tên quan ba đồn trưởng Đuysê ngạo mạn nói: “Khi nào rừng Kom Plông hết cây thì Việt Minh mới đánh được đồn này”. Bộ đội chủ lực Liên khu 5 nhận nhiệm vụ tiêu diệt đồn Kom Plông. Hỏa lực mạnh nhất của đơn vị là súng SKZ, cỡ đạn 120 ly, nhưng chỉ bắn thẳng tầm gần. Trung đoàn trưởng Nguyễn Bá Phát (sau là Thiếu tướng Tư lệnh Hải quân) nghĩ cách chế tạo “SKZ tự hành”. Anh em dùng xe hai bánh, bỏ bọc bằng tôn thép hai lớn, giữa đổ đất lèn chặt, trên xếp thêm bao cát. Súng và pháo thủ ở trong. Chế tạo sẵn từng bộ phận ở hậu phương, mang lên chiến trường, lắp ráp gần đồn địch.

 Đêm 7-8-1951, “SKZ tự hành” tiến sát đồn địch, bất chấp đạn súng bắn ra như mưa, đã nã đạn thẳng vào phá sập các lô cốt bảo vệ. Đến trưa, ta tiêu diệt lớn, diệt hơn 300 tên địch, có cả quan ba Đuysê. Khẩu “SKZ tự hành” đó được anh em trìu mến đặt tên là “Xe tăng ông Phát”.

Hoàng Nhân (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 23 Tháng Mười, 2011, 03:48:02 pm
TRONG THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN
CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC


Ăn Tết… hụt

 Cuối năm 1957, trước sự khủng bố gắt gao của chính quyền Diệm, Tiểu đoàn Thất Sơn phải lánh vào rừng U Minh. Chiều 30 Tết năm ấy, cả đơn vị không còn gì để ăn. Ban chỉ huy lệnh cho anh em Tiểu đoàn bộ bủa đi mò cá để chuẩn bị đón giao thừa. Trong chốc lát, hai bao bố cá lóc, cá trê đã được khênh về. Ai nấy đều phấn khởi vì số cá đó đủ để chén trong mấy ngày Tết. Mọi người bàn nhau đào cái hố thật to để “nhốt” cá vào đấy ăn dần. Những chú cá lóc to và ngon nhất sẽ được để riêng cho cỗ giao thừa. Thế nhưng, giờ phút thiêng liêng đó chưa tới thì địch bất ngờ càn vào, cả Tiểu đoàn phải rút sâu vào trong rừng U Minh. Sau một ngày nhịn đói, tối mồng 1 quay về thì ôi thôi - một quả đạn cối đã rơi trúng vào chiếc hố nhốt cá. Tiểu đoàn được một phen “ăn Tết hụt”.

Việt Thanh (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 23 Tháng Mười, 2011, 03:48:57 pm
“Badôca” Việt Nam lợi hại thật!

 Đoàn đại biểu cua ta trong ban liên hiệp quân sự bốn bên mỗ tuần họp báo một lần trong trại Đavít ở sân bay Tân Sơn Nhất. Trong các cuộc họp các sĩ quan Sài Gòn thường móc thuốc lá “xin” ra hút. Họ ngồi rung đùi, nhả khói thành chùm chữ O, cái nhỏ chui qua cái to, trông thật đáng ghét.

 Một đại diện bên ta muốn chơi một cú độc đáo. Ông sắm một điếu cày dài, o bế cho cái nõ thật kêu. Mỗi khi hút xong là nước nhỏ xuống kêu long tong rất là… văn nghệ.

 Khi vào cuộc họp, chờ lúc bên kia móc thuốc lá ra, ông đặt “badôca” lên bàn một cách trịnh trọng, rồi chậm rãi nạp thuốc, châm đóm, kéo thử mấy cái, rồi hít một hơi dài ro ro tưởng chứng như vô tận. Ông ém khói tới gần một phút rồi mới từ từ nhả ra mù mịt cả một góc phòng. Một anh chàng Mỹ, có lẽ chưa từng thấy cái “ống bo” này, nên càng tò mò khi ông biểu diễn từng động tác. Lúc nghỉ anh ta xin thử một điếu. Anh chàng vừa mới hít vào thì bị ho sặc sụa, nước mắt tuôn chảy, 10 phút sau vẫn còn nói ngọng.

 Thế mới biết “badôca” Việt Nam lợi hại thật.

Hồng Sa (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 23 Tháng Mười, 2011, 03:49:49 pm
“Bánh mì đặc biệt” cho lính Mỹ

 Trong một trận chống địch càn quét, bộ đội Bắc Bình Thuận bắt được một số lính Mỹ. Thời kỳ này, việc ăn uống ở chiến khu rất cực khổ, toàn sắn, ngô, thay cơm… Thức ăn chỉ có thịt “cọp” (tức muối hột, nhai phát ra tiếng cộp, cộp). Nay lại phải chạy ăn cho tù binh Mỹ, thì thật là vất vả. Thôi đành nhường gạo dự trữ nấu cho chúng ăn. Cơm nóng ngon lành, bộ đội ta rất thèm, nhưng tù binh Mỹ lắc đầu không chịu ăn. Anh nuôi nổi giận: “Không ăn thì cho tụi bay đói”. Nhưng anh ta vốn nhân đạo, giận xong thấy tội. Anh nuôi nghĩ ra: “Mỹ chỉ biết ăn bánh mì chữ không biết ăn cơm”, bèn hì hụi đào khoai sắn, lựa củ to bằng bắp tay, lột vỏ, gọt thành ổ bánh mì, đem nướng vàng thơm phức, trông như bánh mì thật, phát cho bọn Mỹ. Chúng mừng quá, giành nhau ăn ngấu nghiến. Bộ đội ta ôm bụng cười khúc khích.

Thành Long (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 23 Tháng Mười, 2011, 03:50:47 pm
Bao giờ họ mới hiểu

 Các tướng Mỹ tham chiến ở Việt Nam rất chịu khó nghiên cứu, tìm hiểu về đối phương của họ trên tất cả các mặt. Theo nhận xét của tướng Oétmolen thì tướng Hakin - người mà y sang thay thế làm Tư lệnh MACV, là một quân nhân có nhãn quan chính trị, rất am hiểu tình hình mọi mặt ở Việt Nam. Một thí dụ cụ thể là Hankin “biết sử dụng đôi đũa để ăn các món ăn Việt Nam”, đồng thời còn “biết chút ít tiếng Việt”. Còn Oétmolen thì dù đã ở Sài Gòn một thời gian dài nhưng cả hai vợ chồng y đều rất khó thưởng thức các món ăn Việt Nam, nhất là thứ nước chấm phổ biến, gọi là “nước mắm”, cũng như rất khó dùng cơm nấu bằng gạo là lương thực cơ bản giàu chất dinh dưỡng của người Việt Nam. Một lần hai vợ chồng Oétmolen đi thăm một khu vực ở miền nam Trung bộ được biếu một chai nước mắm. Khi mang lên máy bay, chẳng may chai nước mắm bị vỡ, mùi nước mắn lan tỏa, “cả hai vợ chồng vội vã đeo mặt nạ dưỡng khí mới có thể sống nổi cho tới khi máy bay hạ cánh”. Oétmolen đi sâu tìm hiểu Việt Nam, từ lịch sử đấu tranh, nền văn hóa cổ truyền, phong tục tập quán của các dân tộc. Y nhận xét: “Hình thế toàn bộ nước Việt Nam giống như một cái đòn gánh của người nông dân gánh hai thúng ở hai đầu”. Rồi Oétmolen khoe là đã “nghiên cứu kỹ nhiều tài liệu quân sự, từ binh pháp Tôn Tử, một danh tướng Trung Quốc”, đến “các bài viết bài nói của tướng Võ Nguyên Giáp”… Dù vậy những hiểu biết đó cũng không giúp các tướng Mỹ tránh khỏi thảm bại ở Việt Nam. Trong khi đó, trong hồi ký của mình, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mắc Namara lại cho rằng họ không hiểu biết Việt Nam. Vậy thì bao giờ họ mới hiểu?

Hải Yến (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 23 Tháng Mười, 2011, 03:51:39 pm
Bắt sống “Vua chiến trường”

 Đó chính là loại pháo tự hành 175mm, rất hiện đại của Mỹ, trang bị cho quân ngụy Sài Gòn từ tháng 10-1965. Pháo binh ngụy muốn diễu võ, giương oai nên phủ thêm hàng chữ sơn trắng lên nòng pháo “Vua chiến trường” - sấm sét”. Loại pháo này có nòng dài 11,28m, tầm bắn xa 32 km, tốc độ bắn 1,5 phát/phút, cỡ đạn 175mm, mỗi quả nặng 68kg, có thể là đạn nổ hoặc đạn hạt nhân. Kíp pháo thủ có 5 người. Pháo được đặt trên bánh xe xích, có khả năng vượt chướng ngại vật (dốc, hào, tường) với tốc độ di chuyển là 54km/giờ, bán kính hoạt động là 1.000 khu vực. Kích thước xe: dài 11,2m, rộng 3,1m, cao 2,7m. Trong lượng hành quân, gồm cả đạn là 28,86 tấn. Khi tác chiến tự nạp đạn, khi hành quân có thể tháo rời giữa pháo và xe để cơ động bằng máy bay. Dù tính năng hiện đại, song trước tài năng và lòng dũng cảm của Quân giải phóng, “Vua chiến trường” chẳng những không phát huy được mà còn bị khuất phục. Trong chiến dịch Quảng Trị 1972 ta đã thu được cả “Vua chiến trường” còn “sống” - chuyển ra Hà Nội - một kỳ công trong hoàn cảnh chiến tranh quyết liệt. Khẩu pháo đó ngày nay còn được lưu giữ ở Viện bảo tàng Quân đội (nay là Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam).

Tiến Anh (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 23 Tháng Mười, 2011, 03:52:17 pm
Bí mật cả… với vợ

 Sài Gòn dưới thời Mỹ - ngụy là “thủ đô”, nơi tập trung các cơ quan đầu não của địch nên chúng bảo vệ rất chu đáo. Địch tổ chức ra ba vành đai phòng thủ. Ở vòng ngoài có từ 40 đến 50 vạn quân chủ lực án ngữ nhằm ngăn chặn từ xa. Lực lượng đặc nhiệm bảo vệ khu trung tuyến. Vùng ven đô và trong nội thành là màng lưới cảnh sát, do thám, mật thám, mật báo viên, phòng vệ dân sự.

 Để có đầy đủ vũ khí phục vụ cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968, ngay từ năm 1964 theo Chỉ thị của Trung ương Cục, Quân ủy Miền, Bộ Tư lệnh Quân khu Sài Gòn - Gia Định quyết định thành lập Ban bảo đảm chiến đấu cho Biệt động thành. Và thế là trong 4 năm ròng rã, các chiến sĩ của Ban này bằng mồ hôi, công sức, bằng tài trí và sự hi sinh xương máu đã vận chuyển được hàng chục nghìn tấn vũ khí từ căn cứ vào cất giấu tại các hầm bí mật trong thành phố. Nhiệm vụ được tiến hành âm thầm, bí mật đến nỗi có hai vợ chồng cùng hoạt động trong Biệt động thành, ban đêm chồng đào hầm cất chứa vũ khí mà vợ không biết. Mãi đến khi Cuộc tiến công nổi dậy nổ ra, chị vợ được cấp trên thông báo cho biết vị trí cất giấu vũ khí để phục vụ cho chiến đấu mới ngớ người ra là suốt mấy năm ròng chồng mình đã bí mật cả với vợ.

H.T. (kể)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 23 Tháng Mười, 2011, 03:52:46 pm
Biến dòng suối thành đường cơ giới

 Do vị trí đặc biệt quan trọng của đường Hồ Chí Minh đối với cuộc chiến tranh trên toàn Đông Dương nên đế quốc Mỹ tìm đủ mọi thủ đoạn để cắt đứt tuyến chi viện chiến lược này. Chúng thường xuyên sử dụng các loại máy bay trinh sát, các thiết bị dò la dấu vết của con đường, kể cả việc chụp ảnh bằng vệ tinh. Để ngụy trang đường, giữ bí mật và an toàn cho những đoàn xe vận tải, bộ đội và thanh niên xung phong Trường Sơn đã làm phẳng lòng suối, tạo thành con đường cho xe chạy, lợi dụng dòng nước để xóa đi dấu vết của các đoàn xe.

Minh Dũng (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 23 Tháng Mười, 2011, 03:53:42 pm
Cả hai cùng may

 Sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, đất nước ta tạm bị chia làm hai miền. Ở miền Nam, một bộ phận cán bộ, chiến sĩ được tập kết ra Bắc, bộ phận còn lại bám trụ tiếp tục cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai bán nước. Từ đấu tranh vũ trang công khai chuyển sang đấu tranh chính trị bí mật, anh em có nhiều bỡ ngỡ. Từ cách ăn, mặc, đi đứng, nói năng… đều phải sửa đổi cho thích hợp. Đi đường phải có giấy tờ hợp pháp do chính quyền Ngô Đình Diệm cấp. Nhiều đồng chí phải làm giấy tờ giả nên phải học thuộc lòng.

 Ông Ba Đ là một cán bộ quân sự được phân công ở lại hoạt động bí mật tại Mỹ Tho. Cơ sở cách mạng chuẩn bị cho ông Ba Đ một giấy căn cước tên một người dân có hộ khẩu, nhà cửa tại đây. Bình thường ông học thuộc vanh vách họ, tên, năm sanh, tên cha, mẹ, quê quán… Cơ sở đã thành công người bí mật đóng giả lính ngụy xét hỏi giấy tờ, ông đều trả lời rành rọt.

 Ấy vậy mà một bận đang trên đường đi công tác, bất ngờ gặp mọt tên lính ngụy đi tuần tra, hắn kêu ông lại xét hỏi giấy tờ, căn cước. Ông đưa giấy cho hắn xem. Xem xong hắn hách dịch quát; “Ông già! Tên là gì?”. Câu hỏi đã được dự đoán và đã trải qua tập dượt. Nhưng không hiểu sao, lúc đó ông quên đứt không nhớ được gì cả, đứng như trời trồng. Đang chưa biết tính sao thì tên lính lại quát: “Tôi nói cho ông hay, ông là một Việt Cộng chính cống. Nhưng thôi, tôi trả lại cho ông đó, ông đi đi”.

 Ông Ba Đ vội đút giấy vô túi, luồn nhanh vô vườn không dám ngó đầu lại. Hú vía.

 Nhiều năm đã trôi qua, ông Ba Đ trải qua bao trận chiến đấu và đã là cán bộ cấp quân khu. Trong một hội nghị “Dũng sĩ diệt Mỹ” do quân khu tổ chức, tình cờ ông gặp lại người lính ngụy năm nào, nay đã giác ngộ trở về với cách mạng và là đại biểu của hội nghị này. Họ nhận ra nhau, tay bắt mặt mừng. Nhớ lại chuyện cũ, người “lính ngụy” đùa: “Bữa đó, tôi mà là ác ôn thì anh tiêu rồi”. Ông Ba Đ (vốn giỏi võ có tiếng) cũng không vừa đáp lại: “Phúc cho anh đó, bữa ấy, tôi đã định một phen sống chết với anh rồi đấy”. Họ cùng cười xòa: cả hai cùng may.

Đ. Đức (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 23 Tháng Mười, 2011, 03:54:18 pm
“Cắt” huân chương

 Trận Thượng Đức, trung đoàn pháo Quảng Nam chúng tôi lập công khá xuất sắc, được cấp trên xem xét đề nghị tặng thưởng huân chương Chiến công. Ai nấy đang phấn khởi, hồi hộp chờ ngày đón nhân niềm vinh dự này, thì trên bỗng thông báo: Trong đơn vị, có chiến sĩ phạm kỷ luật dân vận, nên không được thưởng huân chương nữa…

 Mọi người nhao nhao đi hỏi xem vì sao? Thì ra cũng bởi quá phấn khích với chiến thắng vừa lập được, Tết lại sắp về, một khẩu đội rủ nhau vào rừng sâu kiếm chất “ăn tươi”. Họ gặp một con lợn to, đen trũi, lông lá xồm xoàm, lại nghĩ là lợn hoang, mới nổ súng “tiêu diệt”, không ngờ đó lại là lợn nuôi của dân bản gần đó. Bà con dân tộc Tây Nguyên vốn thực thà, tốt bụng, lại rất yêu quý anh giải phóng quân, nên chẳng những không kêu ca gì, còn “bắt” bộ đội mang lợn về ăn Tết. Nhưng con lợn to quá, lại thấy các bộ phận khác đón xuân chỉ có muối ruốc, khẩu đội này mới đem “biếu” mỗi nơi một ít. Chuyện loang ra, đến tai cấp trên, và thế là huân chương bị “cắt”…


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 23 Tháng Mười, 2011, 03:54:53 pm
Câu đối ra đời sau khi bắn rơi máy bay Mỹ

 Trung đoàn 282 cao xạ 100mm do Thiếu tá Cao Phong chỉ huy phục săn B52 ở đất lửa Vĩnh Linh. Tuy chưa bắn rơi được B52 nhưng cũng buộc chúng phải dạt xa và nâng độ cao, không dám tác oai tác quái như hồi đầu nữa. Cuối 1962, đơn vị được lệnh ra Quảng Bình bảo vệ trọng điểm phà Long Đại, đập Cẩm Ly đầu đường 20-4. Ngoài đại đội 2 pháo 100mm còn có tiểu đoàn pháo 37mm của Quân khu 4 tăng cường. Đón xuân, đơn vị trực sẵn sàng chiến đấu trên mâm pháo. Đón giao thừa, ngày mồng 1 tết đều yên tĩnh, nhưng sáng mồng 2 tết thì máy bay địch mò vào đánh phá. Đại đội 2 pháo 100mm và các đại đội pháo cao xạ 37mm trong cụm do đồng chí Trần Tích chỉ huy, nhịp nhàng nhả đạn đánh trả, bắn rơi ngay 2 chiếc phản lực Mỹ. Mừng chiến công đầu xuân, anh em dựng ngay đôi câu đối vừa “sáng tác” kịp thời đầy ý nghĩa, mà đến nay anh em vẫn còn nhớ:

   Đất Vĩnh Linh, Cao Thắng ra oai nổ
   Phà Long Đại, Trần Tích thắng giặc trời


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 23 Tháng Mười, 2011, 03:55:36 pm
Cây súng “nái”

 Đầu tháng 12-1960, anh Trần Cồi ở xã Cửa Dương, huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, quyết lấy cho được khẩu súng của tên trung sĩ ngụy hay ra vào ấp Búng Gội (Cửa Dương)… Một buổi trưa nọ, tên trung sĩ chạy xe từ chợ thị trấn Dương Đông về Búng Gội. Trần Côi cầm gậy giả làm người chăn bò, đứng nép bên đường, chờ khi tên địch đi qua chỗ núp, anh hối hả chạy theo lây cớ xin quá giang để tìm mấy con bò bị lạc. Hắn dừng xe lại nhưng ngùng ngoằng không chịu cho Trần Cồi cùng đi. Khi hắn xoay người trở lại xe, Trần Cồi từ phía sau dùng gậy đập manh, tên địch ngã xuống bất tỉnh. Khẩu súng Thompson còn rất mới cùng 50 viên đạn được Trần Cồi mang về căn cứ và xin gia nhập vào đơn vị vũ trang của huyện.

 Vào thời điểm này, cả đơn vị chỉ có 2 khẩu súng ngắn và 1 khẩu súng trường cũ kỹ, bắn lúc nổ lúc không. Anh em ai cũng mong muốn có được những khẩu súng tốt để chiến đấu. Có khẩu súng do Trần Cồi mang về, đơn vị có thêm vũ khí tốt để đánh địch, giành nhiều thắng lợi, thu nhiều vũ khí, tiếp tục tự trang bị… Từ đó anh em thường gọi vui câu súng này là “cây súng nái” với hàm ý từ cây súng này “đẻ” ra nhiều cây súng khác.

Diệp Hoàng Du


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 23 Tháng Mười, 2011, 03:56:20 pm
Chiếc áo của con gái Đại tướng

 Một hôm, sau bữa cơm chiều mùa hạ, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh cùng gia đình đang ngồi hóng mát trước sân nhà, đồng chí Ca, Trung tá, thư ký của Đại tướng đến chơi, thấy cháu Hà (con gái lớn của đồng chí Nguyễn Chí Thanh) mặc chiếc áo công nhân màu xanh, có miếng vá ở vai, buột miệng nói:

 - Con Đại tướng mà mặc áo vá à?

 Biết Ca nói đùa, đồng chí Thanh cười, thân mật nói lại:

 - Dân mặc áo vá, vì sao con Đại tướng không mặc áo vá được. Đồng chí đừng đùa thế, các cháu sinh hư.

 Câu nói của đồng chí Đại tướng thật giản dị nhưng hết sức sâu sắc, thể hiện rõ: không có sự phân cách về lối sống giữa gia đình cán bộ, đảng viên với gia đình nhân dân. Đó cũng là bài học cho những ai nuông chiều con cái quá mức (muốn gì được nấy), để cho con cái ỷ thế bố mẹ đòi hưởng thụ cao hơn cuộc sống bình thường của nhân dân, của toàn xã hội… Hậu quả tác hại sẽ thật khó lường.

H.T. (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 23 Tháng Mười, 2011, 03:57:06 pm
Chuẩn bị cho
cuộc tiến công bất ngờ

 Đầu năm 1975, Sư đoàn 470 được giao nhiệm vụ bí mật mở đường cho bộ đội ta tiến công Buôn Ma Thuột, mở màn cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. để bảo đảm yếu tố bí mật, bất ngờ, Trung đoàn 575 của Sư đoàn đã rải quân trên con đường dự kiến mở, cưa sát gốc cây rừng nhưng không đứt hẳn. Gần ngày chuyển quân, các máy ủi chỉ việc gạt lớp đất hữu cơ và cây rừng sang hai bên để các đoàn xe ào ào xông lên. Chính yếu tố bí mật, bất ngờ này là một trong những nguyên nhân quan trọng làm nên chiến thắng trận mở màn.

Quốc Khánh (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 23 Tháng Mười, 2011, 03:58:01 pm
Chuyện “con rắn vuông” ở nước Mỹ

 Ngày 25-3-1968, Tổng thống Giônxơn cùng các cộng sự thân cận nghe thuyết trình về tình hình miền Nam Việt Nam trong cuộc tấn công Tết. Sau khi nghe bài thuyết trình của Trung tướng U.Đơpuy, phụ tá Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân, ông Gônbéc, Đại sứ Mỹ tại Liên hợp quốc hỏi Đơpuy: “Bài thuyết trình của ông cho biết là địch bị giết 80.000 người trong cuộc tấn công Tết. Vậy tỷ lệ thông thường giữa số bị thương và bị giết là bao nhiêu?”. “Mười trên một” - Gôn béc nói tiếp: “Đó là một con số lớn, liệu có thể coi là tỷ lệ ba trên một như là con số vừa phải không?”. “Được” - Đơpuy quả quyết. Gôn béc: “Theo ông thì họ có bao nhiêu quân chiến đấu thực sự có hiệu lực đang hoạt động trên chiến trường?”. Đơpuy: “Khoảng 230.000 người”. Gônbéc sửng sốt. “Vậy thưa Trung tướng, tôi không phải là nhà toán học giỏi, nhưng với con số 80.000 bị giết và với tỷ lệ giữa số bị thương và bị giết là ba trên một, hoặc là 240.000 bị thương vong so với tổng số là 230.000, như thế thì chúng ta đang đánh nhau với cái ma quỷ gì đây?”.

 Hoá ra ở Mỹ cũng có chuyện con rắn vuông?

Lê Quang Lạng (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 23 Tháng Mười, 2011, 03:58:38 pm
Chuyện về chiếc bút ký
Hiệp định Pari

 Nhà báo Hồng Hà, nguyên Tổng biên tập báo Nhân dân, nguyên Trưởng ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương, kể lại: Nhưng ngày tháng 1-1973, ông có mặt trong phái đoàn ta tham gia Hội nghị Pari. Đêm trước ngày ký Hiệp định, ông là phóng viên duy nhất có mặt. Gần đến giờ ký chính thức Hiệp định, phái đoàn ta mới biết ký vào văn bản Hiệp định phải dùng bút dạ nhưng ta vẫn chưa có. Đồng chí Xuân Thủy nói với ông điều này, lập tức ông lên xe của phái đoàn ta đi đến một phố lớn ở Pari vào một cửa hàng văn phòng phẩm mua một lúc 10 chiếc về trao tận tay đồng chí Trưởng phái đoàn ta. Sau khi chứng kiến lễ ký kết giữa hai đoàn, ông lập tức sang nhờ máy phát tín truyền tin ký kết thắng lợi Hiệp định về trong nước.

Thanh Hải


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 23 Tháng Mười, 2011, 03:59:22 pm
Chung một ý chí

 Một nhà báo Úc nổi tiếng là người tôn trọng sự thật. Khi sang Việt Nam, ông được nghe lời kêu gọi cả nước đứng lên chống Mỹ, cứu nước của Hồ Chủ tịch. Lời kêu gọi có đoạn viết: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, hơn, to đẹp hơn”.

 Nhà báo nước ngoài muốn hiểu ý nghĩa của lời kêu gọi đó đã thấm vào nhân dân ta ra sao Một hôm, chiếc con đưa ông ta ra tiền tuyến, đến quãng đường thuộc địa phận tỉnh Hà Nam, đột nhiên xe dừng lại theo yêu cầu của nhà báo. Nhà báo đến gặp một bác xã viên để phỏng vấn. Bác xã viên, vai còn đang vác chiếc cày, nhìn nhà báo rồi nhìn cánh đồng lỗ chỗ hỗ bom, nói:

 - Bom đạn quả là đáng sợ thật, nhưng so với ách chiếm đóng của bọn thực dân thì không nghĩa lý gì. Đất nước tôi gì bị tàn phá, thì chúng tôi lại xây dựng lại.

 Nhà báo cám ơn bác xã viên rồi lên xe. Ông nói với mọi người trên xe như nói với chính mình: “Không sức mạnh nào có thể khuất phục nổi dân tộc này khi mà lãnh đạo và nhân dân cùng chung một ý chí.

H.T. (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 23 Tháng Mười, 2011, 04:00:00 pm
Chưng nước mặn thành nước ngọt

 Sống giữa bốn bề sông nước, nhưng bộ đội Rừng Sác rất thiếu nước ngọt để sinh hoạt.

 Vào mùa mưa, anh em thường làm bốn chứa nước ngọt bằng các cành cây ghép lại, lót ni lông bên trong, dẫn nước từ thân cây xuống để dự trữ. Vào mùa hè, bộ đội phải dựa vào một số giếng nước ngọt hiếm hoi của nhân dân quanh vùng. Địch biết khó khăn này của bộ đội ta nên tăng cường càn quét, phong tỏa chặt các giếng nước ngọt. Nhiều chiến sĩ đã hi sinh trong lúc làm nhiệm vụ.

 Bộ đội ta nghĩ cách tạo ra nước ngọt theo kiểu những người nấu rượu. anh em đổ nước vào thùng phi, đun sôi ở bên dưới, nhưng lại dội nước lạnh phía trên nắp đậy. Nước bốc hơi bên trong gặp lạnh ngưng tụ lại sẽ được một dụng cụ hứng dẫn chảy ra ngoài. Với cách làm này, hai chiến sĩ nấu 24 tiếng đồng hồ có thể đun được 300 lít nước ngọt, đủ cho một trung đội ăn uống trong một ngày. Sáng kiến chưng nước mặn thành nước ngọt tuy đơn giản nhưng đã giải quyết được một vấn đề sinh tử trong đời sống sinh hoạt của bộ đội ta.

Trần Thị Nhung (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 23 Tháng Mười, 2011, 04:01:06 pm
Có “thơm” không?

 Hai anh bộ đội miền Nam tập kết đi trên bờ sông, thấy một cô gái bơi thuyền. Nhớ lại cái ghe xuồng đi trong kênh rạch mùa thu hoạch dứa ở vàm về, thèm quá, hai anh gọi:

 - Cô ơi, ghe có thơm không?

 Khốn nỗi tiếng “ghe” và “thơm” ở đây không dùng để chỉ cái “thuyền” và trái “dứa”. Cô gái mặt đỏ đi. Tưởng gió thổi làm cô gái không nghe rõ, anh bộ đội gào to: “Cô ơi, ghe có thơm không?”. Tức quá, cô gái lẩm bẩm: “Bộ đội mà thô lỗ” rồi chèo thuyền đi thẳng.

 Về đơn vị, hai anh chàng lính trẻ kể lại chuyện trên sông, một cán bộ Nam tiến cười ầm lên và giải thích cách dùng từ ở đây, mới giải tỏa được ấm ức của lính ta. Và muốn gặp lại cô gái để xin lỗi, mà không có dịp. Đúng là oan Thị Kính!

Ngọc Lan (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 25 Tháng Mười, 2011, 07:57:43 pm
Có thực tế, mới tổng kết, chỉ đạo được

 Năm 1975, khi cánh quân “Duyên Hải” chuẩn bị tiến công Phan Rang, Thiếu tướng tư lệnh binh chủng Tăng Thiết giáp Đào Huy vũ đề nghị được đi với lữ đoàn thọc sâu 203. Có ý kiến cho là không cần thiết, vì lữ đoàn 203 nằm trong đội hình Quân đoàn 2, và lại, Binh chủng cũng đã tăng cường tham mưu phó Nguyễn Chí Tam đi với sở chỉ huy quân đoàn. Tướng Vũ thuyết phục: “Đây là lần đầu sử dụng tập trung cả lữ đoàn vào trận, lại tác chiến theo hình thức “đánh trong hành tiến”, nhiều cái mới sẽ xảy ra… Hơn nữa, không trực tiếp đi với anh em, sau này tổng kết, chỉ đạo sao được…”. Cuối cùng, sự việc phải trình lên Đại tướng Lê Trọng Tấn - lúc ấy là Trung tướng tư lệnh cánh quân “Duyên Hải”. Đại tướng phê chuẩn ngay…


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 25 Tháng Mười, 2011, 07:59:14 pm
Cộng sản hay kháng chiến?

 “Theo Cộng sản hay kháng chiến?” là câu hỏi thường trực nhằm phân hóa tù nhân của bọn cai ngục ở nhà tù Côn Đảo vào năm 1958, khi miền Nam còn nằm ở dưới ách thống trị của Mỹ, Diệm. Chúng đề cao kháng chiến, gắn kháng chiến với “Quốc gia” và hứa hẹn trả tự do cho những ai theo “kháng chiến quốc gia”. Thế nhưng âm mưu phân hóa của chúng bị những người tử tù Cộng sản ở nhà tù Côn Đảo vạch trần.

 Một hôm, tên tỉnh trưởng Bạch Văn Bốn, xuất thân từ một cai tù nổi tiếng gian ác và bạo ngược, gọi nhóm tù nhân Trần Hữu Đại, Nguyễn Văn Khải, Lê Thành Thân đến để tra khảo. Bốn hỏi: “Tụi bay theo kháng chiến hay theo Cộng sản?” Cả bốn người đều trả lời theo Cộng sản, theo Bác Hồ.

 Tên Bốn tức lắm quay lại chất vấn Trần Hữu Đại:

 - Mày nói là Cộng sản. Được, tạo hỏi một câu, nếu mày trả lời được thì đúng mày là Cộng sản. Nếu nói không được, tao đánh mày 20 roi và đem nhốt hầm đá.

 Anh em tù nhân hồi hộp theo dõi cuộc đấu lý giữa em học sinh 17 tuổi với tên tỉnh trưởng khét tiếng gian ác. Bốn gườm gườm nhìn Nguyễn Hữu Đại rồi hỏi:

 - Mày năm nay mấy tuổi?

 - Mười bảy.

 - Hà hà! 17 tuổi mà mày bảo là Cộng sản. Vậy chứ mày vào Đảng năm nào? Ai kết nạp mày?

 Đại vẫn bình tĩnh đáp:

 - Đúng ra tôi chưa có vinh dự là đảng viên Cộng sản, nhưng tôi được kết nạp từ ngày bị bắt, bị đày ra Côn Đảo và chính các ông là người kết nạp tôi.

 Hiểu ra thâm ý câu trả lời của Đại là chính sự tàn bạo của Mỹ, Diệm đã dọn đất gieo mầm Cộng sản thúc đẩy những người dân yêu nước theo con đường cách mạng, con đường của Bác Hồ. Tên Bố ra lệnh đánh chết Đại. Nguyễn Hữu Đại đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng như một đảng viên cộng sản.

T.V. (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 25 Tháng Mười, 2011, 08:00:04 pm
Dân chủ để… vượt khó

 Sau thất bại của cuộc Hành quân Lam Sơn 719”, đế quốc Mỹ tìm mọi cách hòng ngăn chặn tuyến vận chuyển chiến lược 559 của ta với những thủ đoạn hết sức xảo quyệt. Chúng cho máy bay tăng cường bắn phá và rải các loại bom mìn hiện đại. Một trọng điểm ác liệt là đoạn đường B.70, từ Lào qua ngầm Sêpôn sang A Giơi (Thừa Thiên) do Đại đội 14, Tiểu đoàn 75 công binh. Binh trạm 41 đảm nhiệm. Ở đây lần đầu tiên vào tháng 5 năm 1971, sau khi thả bom phá nổ lên trên nhằm ngăn chặn và sát thương, địch đã rải trùm mìn vướng nổ lên trên nhằm ngăn chặn và sát thương sinh lực ta, không cho công binh ta ra khắc phục. Trên đường kiểm tra ngầm về, chiến sĩ công binh Quý vướng mìn bị thương. Anh em trong đơn vị ra cứu, Quý đã dặn với anh em: “Bom bi có dây đấy, chú ý”. Để cứu đồng đội, anh em đã chặt những cành le dài, nằm xuống khều cho mìn nổ. Tuy nhiên, khi cứu được Quý đã có thêm một đồng chí khác bị thương.

 Trong buổi họp dân chủ thảo luận bàn cách khắc phục loại mìn mới này, anh em đã nhất trí với sáng kiến dùng vỏ thùng phuy đựng xăng làm lá chắn di động và dùng những cây le dài làm cần câu, câu mìn nổ để thông đường cho xe kịp đưa hàng ra tiền tuyến.

 Kinh nghiệm đó được phổ biến, áp dụng rộng rãi trong binh trạm và anh em còn sáng tạo ra nhiều cách phá mìn vướng nổ: dùng xe téc có vòi phun nước, dùng thủ pháo gây sức ép để phá… Và thế là nhờ dân chủ bàn bạc, chỉ bằng công cụ thô sơ cộng với trí thông minh và lòng dũng cảm, các chiến sĩ công binh Đoàn 559 đã giành chiến thắng, vô hiệu hóa các loại mìn hiện đại của Mỹ.

Lê Văn Tô (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 25 Tháng Mười, 2011, 08:00:43 pm
Dấu chân lõm sâu trong thớ đá

 Đồng chí chính trị viên trạm giao liên T6 kể lại rằng: vào cuối năm 1966 khi ta mở đường số 20 (đường Quyết thắng) thì đường giao liên chạy song song cũng được hình thành. Đường này mở theo các triền núi, qua nhiều đèo dốc. Có đoạn như dốc Ba Thang, vách đá rất cao, phải tốn nhiều sức mới qua được. Có đoạn phải bắc nhiều cầu mây qua các suối to và suối cạn. Cứ vừa mở, vừa đi. Đường to dần và quang dần. Cũng từ đó, bắt đầu hình thành các trạm giao liên T6, T7, T8… nối thành một hệ thống đường giao liên mới hoàn chỉnh. Hàng tháng, quân vào quân ra không kể xiết. Chỉ biết các cầu phải bắc đi bắc lại nhiều lần.

 Ở trước trạm giao liên T6, địa thế rất hóc hiểm. có một hòn đá bên cạnh suối, bất cứ ai đi qua cũng phải đặt chân lên đó. Hàng triệu dấu chân ngày này qua ngày khác lần lượt đạp lên. Lâu dần hòn đá lõm xuống đến vài ba phân in sâu dấu chân người.

Hồng Lam


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 25 Tháng Mười, 2011, 08:01:20 pm
Diệt giặc bằng khúc cây chuối và cái mũ

 Mỗi lần bọn Mỹ - ngụy từ thị xã Hậu Nghĩa, tỉnh Long An tràn vào các xã trong vùng càn quét đều bị tiêu diệt. Không chết vì bị đạn bắn tỉa, thì chúng cũng chết vì hầm chông và lựu đạn gài của du kích. Chỉ trong một thời gian ngắn mà du kích ở đây đã giết và làm bị thương gần 200 tên, vì thế cứ mỗi lần sục vào xã bọn địch thuộc sư đoàn 23 ngụy lại nơm nớp lo sợ.

 Một hôm, tên đồn trưởng dẫn lính đi lùng sục. Hắn nghênh ngang đi trước, thấy một khúc cây chuối nằm trên đường, hắn chửi đổng cho là chắn lối di của hắn, rồi vung chân đá mạnh vào khúc chuối. Một tiếng nổ đinh ta. Hắn và hai tên đi bên cạnh ngã vật xuống đường. Bọn ngụy chưa kịp khênh xác tên đồn trưởng thì một thằng khác chợt trông thấy chiếc mũ của Quân giải phóng “rơi gần đó”, hí hửng xô tới toan chụp lấy. Mấy thằng đứng gần đấy thấy vậy cũng lao tới. Một thằng vừa cúi xuống nhặt thì lại một tiếng nổ ầm, thêm hai thằng nữa ngã lăn vì quả lựu đạn thứ hai của quân du kích bố trí bên cạnh. Bọn sống sót hoảng hốt tháo chạy về đồn, từ đây cả bọn hết thói huênh hoang.

Nguyễn Minh Hiếu


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 25 Tháng Mười, 2011, 08:02:12 pm
“Đại đội chị”, “Đại đội em”

 Vào thời điểm đế quốc Mỹ leo thang chiến tranh phá hoại miền Bắc nước ta ác liệt nhất, để bảo vệ quê hương, góp phần đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, “Đại đội chị” - Đại đội pháo binh dân quân gái xã Ngư Thủy (Quảng Bình) được thành lập ngày 20 tháng 11 năm 1967. Biên chế của đại đội gồm 34 chiến sĩ gái tuổi từ 16 đến 20, được trang bị 4 khẩu pháo nòng dài 85mm. Mới đầu làm quen với pháo, chưa từng biết tính toán phần tử, chưa hình dung các bước chấp hành khẩu lệnh bắn… Các o thấy cái gì cũng mới lạ. Còn các mạ thì không giấu nổi lo âu: “Con gái bọn mi, chân yếu tay mềm thì mần ăn ra răng”.

 Nhưng được sự giúp đỡ của Pháo binh chủ lực cùng với bản chất chăm chỉ vốn có, từng bước một, các chiến sĩ pháo binh gái đã dần dần nắm vững động tác chỉ huy, thao tác pháo, tìm cách xác định và lấy phần tử bắn. Để huấn luyện sát với thực tế chiến đấu, dưới sự uy hiếp thường xuyên của máy bay địch, các o đã dũng cảm luân phiên nhau chèo thuyền ra khơi làm mục tiêu luyện tập.

 Kết quả luyện tập miệt mài đã không phụ công “đại đội chị”. Ngày 7-2-1968 (sau hai tháng bảy ngày huấn luyện), chỉ với 3 loạt đạn, các o đã bắn cháy tàu địch. Trong các ngày tiếp theo đại đội tiếp tục bắn cháy 3 tàu khu trục khác. Vậy là trong 4 lần ra quân thì 4 lần bắn cháy tàu chiến Mỹ.

 Sau thời kỳ chiến tranh phá hoại của Giônxơn, “Đại đội chị” đã dần lớn tuổi hoặc chuyển sang nhiệm vụ khác. Để chống chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai của Mỹ, “Đại đội em” lại được thành lập. Biên chế của đại đội này có một số o là em gái của các o trong “Đại đội chị”. Trong đó cô bé là chiến sĩ tính toán phần tử bắn của “Đại đội chị” ngày trước, nay làm chính trị viên cho “Đại đội em”. Đến lượt mình, “Đại đội em” đã 2 lần bắn trọng thương tàu chiến của Hạm đội 7 của địch. Lúc này thì câu nói “Con chị nó đi, con dì nó lớn” được các mạ nhắc tới nhiều lần.

 Với những thành tích đặc biệt xuất sắc đó, đại đội pháo binh dân quân gái xã Ngư Thủy đã được Bác Hồ tặng thưởng huy hiệu của Người và Nhà nước tuyên dương “Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang”.

Đức Lê (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 25 Tháng Mười, 2011, 08:03:01 pm
Đào lỗ để giặt

 Lính thời chiến không phải lúc nào cũng có nước và thau chậu để thoái mái giặt giũ. Mặt khác, lúc hành quân mà mang theo nhiều đồ đạc thỉ rất nặng nề và bất tiện. Cánh lính nữ lúc đầu cũng cố mang theo nhiều thứ nhưng rồi nặng quá nên buộc phải thanh lọc tư trang càng gọn nhẹ càng tốt. Việc giặt đồ mà không có thau hay chậu thì quả là khó khăn. Chị em nảy ra sáng kiến lấy dao hoặc xẻng đào một cái lỗ rộng bằng thau, sau đó trải lên một tấm ni lông, rồi cứ thế đổ nước vào để giặt. Khi giặt xong thì tát nước ra rất tiện lợi. Cách làm này còn hay ở chỗ cần giặt nhiều đồ thì đào lỗ lớn, giặt ít thì đào lỗ nhỏ. Khi giặt xong lau khô ni lông xếp lại, lần sau vẫn sử dụng được như thường.

Lê Nhãn



Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 25 Tháng Mười, 2011, 08:03:56 pm
Đeo đá vượt suối lũ

 Trong kháng chiến chống Mỹ, có một đơn vị trú quân trong rừng sâu Quảng Ngãi. Để có lương thực dự trữ, cứ ba ngày một chuyến, các chiến sĩ luân phiên nhau xuống đồng bằng chuyển gạo, ngô về cho đơn vị. Phương tiện vận chuyển bằng đôi vai, mỗi chiến sĩ một ba lô.

 Đi lấy gạo thường từ chiều hôm trước và trở về lúc 7-8 giờ sáng hôm sau.

 Hôm ấy đến lượt trung đội 1. Chiều hôm đó, mưa tầm tã. Đến suối, nước dâng cao ngang ngực, chảy mạnh như thác đổ. Trung đội trưởng tập hợp đơn vị và ra lệnh “Mỗi đồng chí nhặt khoảng 30kg đá cho vào ba lô và có một cây gậy dài. Sau 15 phút đã phải có đầy đủ. Yêu cầu làm ngay”.

 Trong lúc chặt cây làm gậy và gom đá, vài chiến sĩ không hiểu lệnh của thủ trưởng lấy đá làm gì nhưng lệnh thì cứ làm.

 Đã đến giờ quy định, trung đội trưởng đi kiểm tra trọng lượng đã trong các ba lô. Sau đó, trung đội trưởng phát lệnh:

 - Các đồng chí hãy chú ý, tất cả đeo ba lô, chống gậy qua suối!

 Lòng suối đá rêu trơn, nước lũ chảy xiết nhưng nhờ có ba lô đá và chiếc gậy, anh em bám nhau qua suối an toàn.

Hải Hà (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 25 Tháng Mười, 2011, 08:04:54 pm
“Điệp viên” 131 là ai?

 Quân Pháp từng treo giá khá cao cho ai bắt sống hoặc bắn chết được một chỉ huy Việt Minh mà chúng gọi là madame Cent Trente (Bà 131). Nhưng Bà vẫn sống và đánh giặc dài dài hết “thời Tây” đến “thời Mỹ”. Cả Pháp lẫn Mỹ đều mệnh danh Bà là “nữ tướng”, như nhà báo Hilaire du Betrayed xuất bản ở Mỹ.

 Nhưng Bà 131 là ai mà sao có cái “tên” giống như bí số một điệp viên vậy?

 Sự thật rất đơn giản. Nhân vật mà quân Pháp ở Hóc Môn coi là địch thủ đáng gớm chính là bà Năm Bi (Hồ Thị Bi). Bà Năm là nông dân thuần phác, không được đi học nên chỉ biết ký tên nguệch ngoạc bằng ba nét chứ in: một gạch đứng, một nét cong giống như số 3 và một gạch đứng nữa. Đó là chữ BI mà nét rời sẽ thành 131.

Thu Hằng (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 25 Tháng Mười, 2011, 08:05:30 pm
Đi xe lam cho kịp…

 Cựu chiến binh Nguyễn Mạnh Tới - từng là cán bộ bảo vệ đồng chí Lê Trọng Tấn, kể:

 “Sớm 30-4-1975, trên đường tiến công vào Sài Gòn, anh Tấn đi trên chiếc xe Gát đã cũ. Xe đã vượt qua nhiều đoạn đường, bến phà đông nghịt, song tới gần Sài Gòn, thì không sao chen được nữa. Nhìn chiếc xe lam chở hàng và khách len lỏi nhoăn nhoắt ở phía trước, anh Tấn bảo tôi: “Để xe này lại, ta lên chiếc xe lam kia cho kịp chỉ huy…”. Anh chiu vào trong xe, còn tôi khoác khẩu AK đứng ở bệ lên xuống. Hành khách nhìn xoáy vào tôi - anh bộ đội giải phóng trong bộ quân phục chính quy mà có lẽ lần đầu họ thấy, chứ không ai để ý tới anh Tấn - một ông già quắc thước, tóc đã bạc, lại vận bộ bà ba như một lão nông Nam Bộ…

 Nhờ đi bằng chiếc xe lam ấy, mà Đại tướng Lê Trọng Tấn - khi ấy ông là Trung tướng Tư lệnh cánh quân “Duyên Hải”, đồng thời là Phó tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh - đã vào dinh Độc Lập sớm nhất”.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 26 Tháng Mười, 2011, 07:56:47 pm
Đo đo

 Khoảng năm 1970, một trung đội bộ đội Việt Nam đóng quân ở tỉnh Tà Keo (Campuchia) chuẩn bị xuống chiến trường miền Tây Nam Bộ. Đơn vị đã chuẩn bị xong xuồng ba lá, giấu ngoài đồng lúa, để chuẩn bị khi mùa nước nổi, đi xuồng xuống Cần Thơ, nhưng dầm (mái chèo cầm tay) phải tự đẽo lấy. Lính miền Bắc ít anh biết làm dầm, anh làm cái to, nặng phải bê cả hai tay, anh lại đẽo nhỏ bằng ba ngón tay, cong cong, vênh vênh. Buổi chiều, tập hợp cả trung đội bên cạnh nhà dân. Trung đội trưởng khiển trách và dặn đi dặn lại mọi người:

- Tất cả các đồng chí phải nhớ cho kỹ: đo dài, đo rộng, đo dầy, đo chỗ to, đo chỗ bé, đo chỗ cầm tay cho vừa…

 Nghe thế, mấy thiếu nữ người Khơme đứng gần đó đấm lưng nhau cười ngặt nghẽo, mặt đỏ ửng. Còn mọi người thì chẳng hiểu vì sao. Sau đó, được đám thanh niên cho biết: “đo” tiếng Khơme là “tí”. Thế là từ đó, lính ta luôn nói nhại lời Trung đội trưởng.

- Tất cả các đồng chí phải nhớ cho kỹ: tí dài, tí rộng, tí dày, tí chỗ to, tí chỗ bé…

Hải Hà (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 26 Tháng Mười, 2011, 07:58:50 pm
Đoạn cây săng lẻ trên đất bạn

 Đoàn 565 Quân tỉnh nguyện Việt Nam ở lại Lào hoạt động ở vùng Xavanakhẹt, Khăm Muộn từ năm 1966. Trong một đợt đi xây dựng cơ sở cách mạng, bị địch phục kích một chiến sĩ của đoàn lạc trong rừng. Đói, khát, mệt mỏi, ngồi tựa cây săng lẻ, biết mình không thể sống được, đồng chí đã khắc lên thân cây dòng chữ: “Trọn nghĩa vẹn tình với cách mạng bạn”.

 Đồng bào Lào đi rừng thấy một bộ xương, một đôi dép, một khẩu K.50 dưới gốc cây săng lẻ có khắc dòng chứ nói trên, đã đem hài cốt về chôn cất và sau đó giao lại cho đoàn 565. Năm 1969, đoàn 565 đã cử đồng chí Nghệ, cán bộ tuyên huấn về bản Ca Bay nhờ đồng bào Lào dẫn đến chỗ cây săng lẻ và cưa lấy đưa về Quân khu 4. Nay đoạn cây đó vẫn được lưu giữ ở Bảo tàng lịch sử Quân sự Việt Nam.

Trần Liên.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 26 Tháng Mười, 2011, 07:59:32 pm
Đốt lửa gọi chiến sĩ

 Trước năm 1960, lực lượng vũ trang đồng bằng sông Cửu Long còn phải giấu hơi im tiếng. Các đơn vị chia nhỏ, đóng quân nơi đồng lầy, bụi rậm. Tết năm ấy, các má mang bánh tét đi tìm anh em để úy lạo. Do có người rỉ tai, các má biết đơn vị đóng quân ở một điểm thuộc bưng rậm rạp. Các má đến tận nơi, nhưng gặp một “ký hiệu” cấm vào. Đó là mấy cây chặn nằm ngang đường - dấu hiệu báo có gài trái nổ. Một má có sáng kiến vơ cỏ khô mà đốt, thấy khói lửa chắc chiến sĩ mình phải chạy ra. Thế là ngọn lửa bốc lên, khói bay tỏa rộng. Đúng là kế hay. Mấy anh bộ đội chạy ra. Các má đưa tặng bánh ăn Tết và cười: “Biết thế nào tụi bay cũng đến mà. Có ít chè và bánh tết cho tụi bay, mang về cho đơn vị xài Tết”.

Danh Nhân (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 26 Tháng Mười, 2011, 08:00:39 pm
Đúng là “Bộ đội Cụ Hồ”!

 Trời đã về trưa. Một cửa hàng thực phẩm ở phố nọ vẫn rất đông khách. Mọi người đang xếp hàng theo thứ tự thì có một anh bộ đội, quần áo ướt đẫm mồ hôi, chen ngang vào hàng. Một bác nông dân dường như không giữ nổi bình tĩnh, hỏi anh bộ đội với giọng gay gắt:

 - Này chú kia, quân phong quân kỷ để đâu, bộ đội gì mà chen ngang vậy?

 Anh bộ đội liền xin lỗi bác vừa hỏi và mọi người. Đoạn, anh nói với chị bán hàng:

 - Chị xem lại, có lẽ lúc sáng chị tính nhầm tiền.

 - Ơ! Chú này hay nhỉ! Tôi trả tiền cho chú đủ rồi, tiền trao, cháo múc…

 - Không phải, chị trả thừa tiền - Anh bộ đội phân trần. Tôi mua 30 cân thịt, mỗi cân là 2 đồng 3 hào, tổng cộng là 69 đồng. Tôi đưa chị 7 tờ mười đồng, sao chị trả lại những 9 đồng?

 Đến đây, mọi người mới vỡ lẽ. Thì ra vừa về đến đơn vị, khi kiểm tra thấy số thực phẩm đã đủ nhưng lại thừa tiền, anh bộ đội liền đạp xe quay lại ngay cửa hàng mà không một chút đắn đo. Mặc dù đoạn đường từ đơn vị đến cửa hàng dài gần 10 km, với cái nắng, nóng của mùa hè nhưng anh vẫn “mở hết tốc lực” vì lo cửa hàng sắp hết giờ đóng cửa. Anh bộ đội ấy chính là Lê Mạnh Tân, chiến sĩ tiếp phẩm của Trường Sĩ quan Thông tin.

 Chiến sĩ Tân đã ra về, song mọi người có mặt hôm đó còn nán lại bàn tá. Có người bảo 8 đồng bằng gần 2 tháng phụ cấp của anh. Có người bảo anh đạp xe gần chục cây số còn có giá trị hơn cả 8 đồng… Còn bác nông dân khi nãy hỏi có ý trách anh bộ đội lúc này nói có vẻ khúc triết: - Đảng và quân đội sao mà khéo giáo dục, đúng là “Bộ đội Cụ Hồ”!

Đức Lê (kể)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 26 Tháng Mười, 2011, 08:01:38 pm
“Đúng là Việt Cộng rồi”!

 Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 tại thành phố Huế, ta và địch giằng co từng mái nhà, góc phố rất quyết liệt. Một số bộ đội bị thương được đưa vào nhà hộ sinh Kim Cúc. Chị Cúc là người Quảng Bình di cư. Tại đây thương binh được sơ cứu rồi chuyển về chùa Nguyệt Biều ở ngoại ô thành phố Huế. Mấy anh phật tử, tiểu chùa có cảm tình với cách mạng phục vụ luôn tay, tới chiều ngày thứ hai mới lo được dân công để chuyển. Khoảng 5 giờ chiều, vài chục nam nữ thanh niên được điều tới, bốn người khênh một cáng.

 Nằm trên cáng, tuy mất máu, mệt nhiều nhưng nghe các cô gái Huế trò chuyện, bác Nguyễn Nam Đồng vẫn cảm thấy vui vui. Một cô nói: “Chu choa, coi chừng eng (anh) này hổng phải Việt Cộng mô”. Một cô khác thắc mắc: “Hổng phải Việt Cộng thì là chi?”. Cô kia lại tiếp “Tau nghe thấy mấy lính quốc gia kể, 7 ổng Cộng sản giẫm không giập ống đủ đủ, lông lá đầy mình, coi bộ dữ tợn lắm, thế mà eng này nặng quá!”

 Bác Đồng đoán mấy cô này chưa từng biết Cộng sản là ai nên chủ động lên tiếng: “Nhờ mấy cô làm ơn bật giùm tôi hộp quẹt hút thuốc!”. Các cô hạ cáng bật quẹt diêm châm lửa cho ông hút thuốc xong rồi lại tiếp tục lên đường, vừa đi vừa rì rầm nói nhỏ với nhau: “Trong kỹ eng này trắng trẻo đẹp trai, ăn nói dễ thương quá ta. Đúng là Việt Cộng rồi!”

Hải Dương (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 26 Tháng Mười, 2011, 08:02:47 pm
Gạo Cụ Hồ ăn sáng mắt

 Người Pacô vốn nổi tiếng là ngay thật. Những năm chiến tranh ác liệt và thiếu thốn là thế, gạo của bộ đội chất đầy giữa rừng nhưng không bao giờ mất. Chỉ cần nói “đây là gạo của Bác Hồ gửi cho chiến sỹ miền Nam” là không một ai đụng tới. Vậy mà có lần thấy thiếu 1 bao. Trạm trưởng giao liên mời xã đội trưởng A Vai ra hỏi chuyện. Hôm sau, A Vai ra trạm giao liên báo cáo đồng thời vác theo một bao gạo.

 - Một người già nó lấy. Nó đói, nhưng không dám ăn. Nó đói quá, không vác ra trả được nhờ mình đem ra trả cho bộ đội.

 - Nhiều người đói không?

 - Nhiều.

 - Thế du kích A Lang, A Nhiêu đâu?

 - Nó chết rồi!

 - Vì sao chết?

 - Không có ăn nên chết!

 - Bao nhiêu người chết?

 - Mười lăm.

 Trạm giao liên phát hoảng lên vội mở kho lấy gạo cấp cho bà con. Gạo được xã đội trưởng A Vai mang về phân phát cho các bếp. Dặn phải nấu cháo, ăn ba ngày cháo mới được ăn cơm, kẻo lại chết no. Sau khi húp những bát cháo cầm hơi, dân làng Alêlốc nói:

 - Gạo Cụ Hồ cho ăn sáng mắt.

Minh Huy


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 26 Tháng Mười, 2011, 08:03:28 pm
Gạo muối Book Hồ

 Trước khi kết thúc kế hoạch vận chuyển mùa khô 1961-1962, đồng chí Thượng tá Võ Bẩm, Đoàn trưởng Đoàn 559 được Quân ủy Trung ương triệu tập ra Hà Nội đẻ báo cáo hoạt động của Đoàn. Vô cùng bất ngờ và hết sức xúc động, đồng chí được Bác Hồ đến thăm.

 Sau khi nghe đồng chí Võ Bẩm báo cáo kết quả hoạt động chi viện cho chiến trường mà Đoàn 595 đã làm được, Bác hỏi đồng chí Võ về hoàn cảnh đồng bào cá dân tộc sống trên dải Trường Sơn, nơi Đoàn đã đi qua. Đồng chí Võ Bẩm kể lại cho Bác nghe về cảnh khổ của đồng bào, không những thiếu gạo, thiếu muối, thiếu thuốc chữa bệnh… mà còn bị Mỹ - ngụy khủng bố, đàn áp.

 Nghe chuyện, Bác Hồ lặng đi, sau đó Người căn dặn đồng chí Võ Bẩm: “Muốn làm cách mạng phải có dân, phải có lính mạnh khỏe. Các chú phải chăm lo đến đời sống của nhân dân, của bộ đội nhiều hơn nữa. Cần báo cáo với Bộ hết sức giúp đỡ dân muối, vải, thuốc trị bệnh trong lúc này”.

 Thực hiện chỉ thị của Bác, vào dịp kỷ niệm Quốc khánh nước ta năm đó, Đoàn 559 đã chuyển tới tay nhân dân các dân tộc sống dọc tuyến hành lang 559 được 30 tấn muối, 10 tấn vải, thuốc chữa bệnh. Nhận gạo, muối, thuốc chữa bệnh bộ đội trao tặng, đồng bào cảm động lắm, tay nâng niu hạt gạo, luôn miệng xuýt xoa: Gạo, muối Book Hồ.

H. (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 26 Tháng Mười, 2011, 08:04:14 pm
Gói bưu phẩm đặc biệt

 Tạp chí Toàn cảnh Sự kiện và Dư luận cơ quan của Bộ Văn Hóa Thông tin, số 65 tháng 12-1995, có đăng câu chuyện. Lá thư và đôi bông tai: Tại Trung tâm bưu điện thành phố Đà Nẵng còn lưu giữ một gói bưu phẩm đặc biệt. Đấy là một gói nhỏ xinh xắn. Nhiều lớp bông xốp, bọc gọn một đôi bông tay bằng vàng. Kèm theo vật phẩm là lá thư gửi từ nước Mỹ. Nội dung lá thư như sau:

 “Kính thưa các ông! Sau cuộc chiến tranh Việt Nam, một người lính trẻ đã mang về nhà mình ở Mỹ một đôi bông tai như là món quà cho mẹ anh ta.

 Bây giờ tôi xin gửi lại nó và mong được tha thứ lỗi lầm. Vì tôi tin rằng đôi bông tay này được làm từ những chiếc nhẫn cưới của những người lính Việt Nam. Tôi rất buồn và thành thật xin lỗi. Tôi cũng tin rằng nó đã mang lại nỗi đau khổ và sự bất hạnh cho người lính trẻ đó. Vì nó đã có một cuộc sống tồi tệ kinh khủng trong tất cả những năm tháng này. Có lẽ, nếu ông chôn nó vào lòng đất của ông cho tôi thì cầu chúa mang lại hòa bình cho tất cả những người con của Chúa.

 Xin cảm ơn ông. Tôi là mẹ của người lính Hoa Kỳ”.

Thanh Sơn (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 26 Tháng Mười, 2011, 08:04:53 pm
Gùi… ô tô

 Địa hình phía bắc Công Tum hiểm trở toàn núi cao vực thẳm, tìm đâu ra đường cho ô tô qua. Những người lính thuộc đơn vị binh trạm Bắc (Tây Nguyên) bàn với nhảu chỉ còn cách tháo ô tô rời ra từng bộ phận nhỏ và trở lại “bài” gùi. Gùi ô tô trên vai! Câu chuyện kỳ lạ đó được bàn đi tính lại mãi, cuối cùng chiếc xa đã được tháo ra thành nhiều bộ phận nhỏ. Gùi gạo, gùi đạn thì đã quen, nhưng gùi xe ô tô quả là mới mẻ. Họ cùng nhau bàn bạc và rồi cũng tìm ra được cách gùi thích hợp: Vai gùi, tay đỡ, chân bước, miệng hò… cứ thế động viên nhau vượt qua từng cái dốc. Người lên trước đặt gùi xuống, quay trở lại đỡ cho người lên sau. Mồ hôi vãi ra như tắm, ướt đẫm cả áo quần, nhưng trong lòng họ dạt dào một niềm vui là có thêm phương tiện để kịp chuyển hàng ra phía trước.

 Qua hết đèo dốc, những chiếc xe ô tô được lắp ráp lại và tiếp tục lăn bánh phục vụ kịp thời cho chiến dịch Đắc Xiêng 1970.

Thanh Hà (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 26 Tháng Mười, 2011, 08:05:28 pm
Hai người với 16 tấn hàng

 Chiều ngày 17-2-1971, hai chiến sĩ thông tin Nguyễn Hữu Cổ và Đỗ Xuân Đậu được cấp trên giao nhiệm vụ đi hộ tống đoàn xe chở dây, máy thông tin.

 10 giờ đêm, đoàn xe đến điểm hẹn nhưng chưa có người ra nhận hàng. Cổ và Đậu quyết định tự bốc dỡ hàng để giải phóng đoàn xe. Bọng đói, người mệt, trời lại tối đen như mực, nhưng 2 anh vừa làm vừa động viên nhau bốc dỡ hết 16 tấn hàng từ trên xe xuống an toàn. Khi đoàn xe nổ máy quay trở lại thì đồng hồ đã chỉ 12 giờ đêm.

 2 giờ đã qua, mà đơn vị bạn cũng chưa có người ra nhận hàng. Nếu cứ để hàng ở trên đường thì không đảm bảo được an toàn. Nguyễn Hữu Cổ và Đỗ Xuân Đậu lại vác từng kiện hàng lên vai lần mò trong đêm chuyển hết 16 tấn hàng cất giấu vào trong rừng an toàn.

Trần Thức


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 28 Tháng Mười, 2011, 08:37:59 pm
“Hàng nội hóa đấy”

 Đầu những năm 60, pháo binh ta được trang bị loại “pháo phản lực” BM 14 có 14 nòng đặt trong xe ô tô, cỡ đạn 140mm, nặng khoảng 45 kg, phóng xa 8km. Để có thể cơ động, mang vác bằng sức người, luồn sâu, bí mật bắn vào các mục tiêu quan trọng như sân bay, kho tàng… ở hậu phương địch trên chiến trường miền Nam, chúng ta đã nghiên cứu cải tiến sử dụng đạn BM 14 phóng bằng ống phóng tự tạo, gá từng ống riêng rẽ trên bệ gỗ cho gọn nhẹ, dễ mang vác, mang tên A12.

 Sau nhiều ngày nghiên cứu, thử nghiệm, các thông số kỹ thuật đã tương đối hoàn tất, nhưng vẫn chưa xác định được thật chính xác khoảng cách tác động của luồng lửa đối với bệ phóng bên cạnh và người bắn. Số liệu này càng chính xác sẽ giúp cho việc bố trí đội hình pháo thu gọn.

 Trong một lần thử nghiệm, đồng chí Chiểu, Chủ nhiệm công trình (sau này là Thiếu tướng, Phó chủ nhiệm Tổng cục CNQP-KT) đứng dưới giao thông hào điểm hỏa mà không thấy đạn đi đã nhảy lên kiểm soát lại công tắc bắn đặt cách ống phóng gần 3m. Mới sờ đến công tắc thì đạn phụt đi. Trong bụi khói mịt mù, may sao đồng chí Chiểu vẫn an toàn. Một tình huống bất ngờ, con người đã tham gia trực tiếp vào thử nghiệm nguy hiểm nhưng đã thành công ngoài sức tưởng tượng. Điều này có thể khẳng định các bệ phóng đặt cách nhau 3m vẫn an toàn.

 Ngày 17-4-1966, Bác Hồ đã dự cuộc trình diễn “pháo phản lực A12”. Khi một đồng chí cán bộ pháo binh giới thiệu với Bác “nòng pháo phản lực A12”, Bác rất vui, nói với mọi người xung quanh: hàng nội hóa đấy!

 Lần đầu xuất quân (27-2-1967), A12 đã tập kích vào sân bay Đà Nẵng, phá hủy 94 máy bay, 200 xe quân sự.

Lê Văn (kể)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 28 Tháng Mười, 2011, 08:38:38 pm
Hắn mần chi đã biết ăn cơm!

 Nhà văn Trần Công Tấn kể lại: Hôm anh đang dự hội nghị Ủy ban Đồng Hới ở Lệ Kỳ thì hàng chục máy bay Mỹ đến ném bom hủy diệt tỉnh lỵ Quảng Bình. Những ngày tiếp sau không lúc nào ngớt tiếng máy bay và tiếng bom đạn. Hàng trăm máy bay bị bắn rơi nhưng cũng có hàng chục người bị Mỹ giết mỗi ngày, hàng chục làng mạc bị hủy diệt. Những lúc vui nhất là cùng nhau reo hò đi bắt giặc lái Mỹ. Tên phi công ném bom đập nước Cẩm Ly, bị bắn rơi, nhảy dù xuống Thác Cóc va bị bắt. Khi dẫn hắn đi ngang nhà chị vợ của một pháo thủ vừa hi sinh, chị cầm con dao nhọn xông ra gào thét: “Chính mi ném bom giết chồng tau. Chừ tao phải đâm chết mi!”. Anh Trần Công Tấn che cho hắn và ôm chặt chị giải thích: “Tội nó đáng chết, nhưng bây giờ nó là tù binh. Phải giữ đúng chính sách và chờ Bác Hồ xử trí nó”. Nghe vậy, chị buông dao, gạt nước mắt rồi trở về nhà. Ai ngờ chiều hôm đó, chị đến chỗ những người đang hỏi cung, vẫy gọi anh Trần Công Tấn ra, trao cho… một con gà và nói: “Sáng ni tôi căm tức quá. Mấy ông thông cảm cho. Xin tặng con gà, mấy eng mần thịt mà ăn cái xác, cho thằng Mỹ nó húp cái nước. Tội nghiệp, hắn mần chi đã biết ăn cơm!”

 
Thanh Phương (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 28 Tháng Mười, 2011, 08:39:18 pm
Hớt tóc bằng… đèn cầy

 Đó là chuyện xảy ra ở căn cứ địa U Minh vào năm 1956, thời kỳ khó khăn nhất của phong trào cách mạng vùng U Minh Thượng. Để khủng bố tinh thần quần chúng, địch thẳng tay bắn giết bằng cách chặt đầu các chiến sĩ cách mạng đem bêu ở sân. Nguyễn Thành Thế lúc đó là đội trưởng giao thông huyện An Biên - Rạch Giá. Nhìn những chiếc đầu của đồng đội mắt trợn trừng, tóc rối bù bê bết máu, lòng anh quặn đau và căm thù tột độ. Thế cũng cảm thấy lo vì đã 5 tháng trời không được hớt tóc, tóc mình đã mọc quá bờ vai, nhỡ ra bị bắt và bị chặt đầu thì e rằng “mất tư thế” quá. Nghĩ vậy, anh mỏ ra Xẻo Cạn nhờ ông Mười Cậy hớt tóc hộ. Khốn nỗi có mỗi một lưỡi dao lam ông Mươi không tài nào hớt được mái tóc rối bù quá bờ vai của Nguyễn Thành Thế.

 Sẵn có mấy cây nến, Nguyễn Thành Thế đề nghị ông Mười dùng nó “hớt tóc” cho nhanh. Trong nháy mắt, cây nến đã “đốt” xong mái tóc. Sáng kiến này ngay lập tức đã được áp dụng rộng rãi trong đội giao thông của huyện An Biên.

Hải Đăng


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 28 Tháng Mười, 2011, 08:40:33 pm
Khẩu thượng liên “thần”

 Trong các trận đánh với quân Mỹ, mỗi lần thấy hỏa điểm ta xuất hiện là bọn lính Mỹ điên cuồng tập trung pháo, gọi máy bay và dùng tất cả các loại hỏa khí bắn vào. Có trận, ta pháo kích 1 quả, chúng bắn trả hơn 1.000 quả. Vốn là “con nhà nghèo”, lính ta thường bảo nhau: “Thà mình bị thương vong chứ quyết không để cho súng bị mất hay hư hỏng”. Vì thế số anh em giữ hỏa lực thường bị thương vong nhiều.

 Khác với nhiều đơn vị khác, anh em trong Đại đội 1, Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 66 cứ tranh nhau giữ thượng liên. Có đồng chí không được giữ thì nằm khóc rưng rức. Thật lạ, thượng liên phát hỏa hay bị lộ rất nguy hiểm, tại sao các đồng chí lại cứ tranh nhau giữ thượng liên? Hỏi các chiến sĩ thì họ trả lời: “Vì đó là thượng liên thần!”.

 "Khẩu thượng liên thần” - một biểu hiện của “mê tín dị đoan” chăng? Tại sao Ban Chính trị Trung đoàn hay Tiểu đoàn không phê phán? Mãi sau mới vỡ lẽ: Khẩu thượng liên này bắn rất chính xác, đã từng lập nhiều chiến công xuất sắc. Đặc biệt trận đánh ngày 15-11-1965 của Đại đội, đơn vị hành quân qua đôi trống, bị máy bay địch phát hiện oanh tạc. Anh em đã dùng khẩu thượng liên đánh trả quyết liệt, bắn rơi 1 chiếc AD-6. Do đánh máy bay giữa bãi trống nên trong trận này Đại đội 1 Tiểu đoàn 7 đã xuất hiện một tấm gương mà anh em quen gọi “Bế Văn Đàn của Tây Nguyên”. Chả là thấy đồng chí Luận loay hoay mãi không có nơi nào làm giá súng, chiến sĩ nuôi quân Bùi Văn Tài liền xung phong lao vào làm giá súng. Nòng súng nóng bỏng, túi đạn văn ra, ống liều làm cháy sém quần áo. Anh em ai cũng lo cho Tài, nhưng tài vẫn nghiến răng, ghì chặt chân súng, miệng không ngớt gào to: “Bắn, bắn mạnh vào!”. Thì ra hai tai đã trở nên điếc, sợ người khác không nghe được, Tài mới gào to như vậy. Sau trận này, Tài được biên chế vào khẩu đội thượng liên. Trận đánh địch tại Chư Pa (5-1966), Tài đạt danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ cấp III và được kết nạp Đảng ngay tại trận địa. Tiếp đến mấy trận sau, Tài luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Trận Đức Vinh (3-7, 1966), Tài được biên chế vào tiểu đội mũi nhọn, giữ trung liên. Mũi của Tài đánh nhau với một đại đội Mỹ có xe tăng yểm trợ. Hai lần bị thương nhưng Tài không chịu rút. Gặp một tốp địch đang lợi dụng cây gỗ nằm ngang, bắn mạnh vào đội hình ta. Nằm bắn thì bị vướng, Tài đã đứng thẳng lên, bắn một điểm xạ dài, diệt được 6 tên Mỹ, nhưng anh đã hi sinh vì một viên đạn Garăng. Từ đó, khẩu thượng liên càng trở nên thiêng liêng. Ai cũng muốn được dùng nó để lập công và trả thù cho đồng đội.

Lê Sĩ


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 28 Tháng Mười, 2011, 08:41:15 pm
“Kho gạo Cụ Hồ”

 Trong những năm chiến tranh khốc liệt, đồng bào Vân Kiều tần tảo tìm củ mài, củ sắn thay cơm, đốt cỏ gianh ăn thay muối qua ngày. Gian khổ khó khăn chồng chất, vậy mà những “Kho gạo Cụ Hồ” nằm trong rừng do đồng bào coi sóc vẫn được giữ gìn chu đáo, không vơi hạt nào. Khi bộ đội về đem gạo, muối chia cho dân bản, mọi người từ chối và trả lời “Đây là kho gạo giành cho bộ đội Cụ Hồ ăn no để đánh giặc, đồng bào đói mấy, cực mấy cũng chịu được”.

 Tấm lòng trung thực, nhân hậu bao la của đồng bào Vân Kiều là nguồn cổ vũ to lớn để bộ đội ta vững bước tiến lên tiêu diệt kẻ thù.

Trần Tiến


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 28 Tháng Mười, 2011, 08:41:57 pm
Kho thịt sống dự trữ

 Đây không phải thịt lợn, thịt gà hay trâu, bò mà là thịt… dơi. Mỗi lần gặp hang dơi, lính ta rất mừng, bởi có thịt tươi “cải thiện”. Hang dơi thường ở núi đá, rất khô ráo và tương đối cao. Dơi treo mình hàng đàn trên vách núi rất chắc, hang lại tối nên khó bắt. Chiến sĩ ta dùng dây mây buộc cuốn tròn vào đầu gậy, khua lên vách đá đến khi nặng tay thì hạ xuống. Dơi núi là loại lớn, có con nặng tới nửa cân, thịt rất ngon. Nấu nước nóng làm dơi cẩn thận, sau đó kho, nướng, nấu cháo… tùy thích. Thịt dơi đã trở thành nguồn cung cấp thịt tươi cho chiến sĩ ta trong những bữa ăn chiến trường đạm bạc.

Thanh Hà (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 28 Tháng Mười, 2011, 08:42:45 pm
Không có công tác đảng, công tác chính trị “chay”

 Là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị từ năm 1950 đến năm 1960, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã có những cống hiến sản xuất trong việc quán triệt và vận dụng đường lối chính trị quân sự của Đảng trong tài chính, xây dựng, giáo dục, huấn luyện và chiến đấu cho lực lượng vũ trang nhân dân, quân đội nhân dân, góp phần vào những thắng lợi to lớn của quân và dân ta trong kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đặc biệt, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh dành nhiều thời gian, trí tuệ và công sức vào xây dựng phương pháp tiến hành công tác đảng, công tác chính trị.

 Trong một buổi nói chuyện với cán bộ quân sự cao cấp ở Hội trường Tổng cục chính trị, đồng chí Nguyễn Chí Thanh nói rất sâu về những vấn đề quân sự, hậu cần, kỹ thuật. Một đồng chí cán bộ chính trị (dường như sốt ruột) đứng lên đề nghị đồng chí Đại tướng nói thêm về công tác đảng, công tác chính trị. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh ngạc nhiên, nói với đồng chí đó: “Kia, thì chính mình đang nói toàn những vấn đề về công tác đảng, công tác chính trị đây chứ!”.

 Lúc đó đồng chí cán bộ chính trị kia mới hiểu ra, công tác đảng, công tác chính trị phải nằm ngay trong công tác quân sự, hậu cần, kỹ thuật… Với đồng chí Nguyễn Chí Thanh, không có công tác đảng, công tác chính trị “chay”.

V.T. (st và kể)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 28 Tháng Mười, 2011, 08:43:37 pm
Không phải biến máy bay mình thành quả tên lửa

 Đứng trước sự tàn ác, dã man của máy bay B52 Mỹ trong chiến dịch 12 ngày đêm ném bom vào Hà Nội, Hải Phòng và các thành phố đông dân khác của miền Bắc Việt Nam cuối năm 1972, các đồng chí phi công của không quân ta nhiều lần xuất kích nhưng chỉ bắn rơi được máy bay chiến thuật Mỹ, chưa hạ được máy bay chiến lược B52 nên nôn nóng muốn biến máy bay do mình lái thành quả tên lửa lao thẳng vào B52. Thế nhưng, quyết tâm chiến đấu sẵn sàng hi sinh thân mình để tiêu diệt địch của một số chiến sĩ phi công đó không phù hợp với tư tưởng chỉ đạo và phương châm tác chiến “đánh chắc thắng, tiêu diệt địch, bảo vệ mục tiêu, giữ gìn và bồi dưỡng lực lượng ta”.

 Sau nhiều lần nghiên cứu quy luật, thủ đoạn hoạt động của máy bay địch và các lần xuất kích của ta, Bộ Tư lệnh Quân chủng, các sĩ quan chỉ huy, dẫn đường đều nhận thấy vấn đề quan trọng hàng đầu đối với không quân là phải giữ được bí mật, tạo được yếu tố bất ngờ về địa điểm và thời cơ cất cánh… Nhờ đó, đêm 27-12-1972, máy bay MiG, kém hiện đại hơn máy bay Mỹ, dưới sự điều khiển tài tình của phi công ta đã hạ được siêu pháo đài bay B52.

 Vậy là, nhờ nghiên cứu kỹ quy luật hoạt động của máy bay địch, bằng cách đánh của Việt Nam, các đồng chí phi công đã không phải biến máy bay mình thành quả tên lửa mà vẫn hạ gục được B52 của địch.

N.V.T. (kể)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 28 Tháng Mười, 2011, 08:44:44 pm
Không phải nhà báo
nhưng phải thường xuyên viết báo

 Đây là trường hợp của nguyên cố Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

 Sau chiến dịch Việt Bắc - Thu Đông 1947, theo chỉ thị của Bác Hồ, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam ra Tạp chí “Quân sự Tập san” để nói về kinh nghiệm chiến đấu của bộ đội ta.

 Là Thủ trưởng cơ quan trực tiếp chỉ đạo, quản lý tờ Tạp chí (Chủ báo), mặc dù rất bận trong công tác chỉ huy tác chiến trên khắp các chiến trường, đồng chí Hoàng Văn Thái vẫn tranh thủ thời gian viết bài cho Tạp chí. Đồng chí viết “Lời giới thiệu” cho số 1 “Quân sự Tập san” (ra đời tháng 4-1948). “Lời giới thiệu” cho số 7 “Quân chính Tập san” (tên gọi mới của “Quân sự Tập san” từ tháng 10-1948) và là chủ công của hai chuyên mục “Bình luận quân sự” và “Tham khảo”. Một số Tạp chí, đồng chí viết từ một đến hai bài. Bài viết của đồng chí lúc thì ghi rõ Hoàng Văn Thái, lúc thì lấy bút danh Quốc Bình, hay giản tiện hơn với bút danh QB.

 Với số lượng và chất lượng những bài lý luận quân sự viết trên Tạp chí, Đại tướng Hoàng Văn Thái đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của báo chí cách mạng Việt Nam nói chung và sự phát triển của lý luận quân sự Việt Nam hiện đại nói riêng.

T.V. (kể)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 28 Tháng Mười, 2011, 08:45:49 pm
Kỷ niệm nhỏ về dân chủ trong quân sự

 Cuối năm 1971, tôi ở chiến trường Tây Nguyên ra Bắc nhận nhiệm vụ về làm Cục phó Cục Tác chiến, Bộ Tổng tham mưu. Trong thời gian nghỉ chờ nhận công tác ở nhà khách 36 Lý Nam Đế, tôi nhận được lệnh vào dự cuộc họp của Thường trực Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh thông qua kế hoạch tiến công giải phóng Đắc Tô - Tân Cảnh và Công Tum, một trong ba chiến dịch tiến công chủ yếu của ta trong Cuộc tiến công chiến lược năm 1972.

 Sau khi nghe đồng chí Vũ Lăng, Cục trưởng Cục Tác chiến trình bày kế hoạch khoảng 2 tiếng đồng hồ, Hội nghị giải lao. Khi ấy Thiếu tướng, Phó Tổng tham mưu trưởng Vương Thừa Vũ gọi riêng tôi ra một chỗ và hỏi:

 - Đồng chí có thông thạo địa hình vùng Bắc Tây Nguyên không? Trước khi ra Bắc, đồng chí có tham gia và xây dựng kế hoạch không?

 Tôi trả lời:

 - Thưa anh, có ạ!

 Đồng chí Vương Thừa Vũ cười rất vui và nói với tôi:

 - Chốc nữa vào, đồng chí nên phát biểu để bảo vệ cho được phương án này. Đồng chí mạnh dạn lên và hãy nhớ rằng ta thắng địch là còn do biết thực hiện dân chủ trong quân sự đấy nhé!

 Sở dĩ anh Vũ nhắc tôi phát biểu vì, nếu tiến công theo hướng Đường 18 thì phải vượt qua 4 tuyến phòng ngự cứng của địch mới đánh được vào đầu não của chúng ở Tân Cảnh. Bộ Tư lệnh B3 đã khắc phục bằng cách mở một con đường dã chiến vòng qua bắc đường 18 khoảng 10-12km để lực lượng chủ yếu của ta nhanh chóng, bí mật vui hồi đánh thẳng vào Tân Cảnh.

 Được sự động viên, khuyến khích của Phó Tổng tham mưu trưởng, vào họp tôi đã trình bày tỉ mỉ quá trình trinh sát, tìm hiểu thực địa và những căn cứ để xây dựng phương án chiến dịch của Bộ Tư lệnh B3. Qua thời gian thảo luận sôi nổi, cân nhắc thận trọng phương án được Thường trực Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh thông qua.

 Kết quả chiến dịch, một sư đoàn của ta đã tiêu diệt và đánh tan rã một sư đoàn ngụy. Riêng ở Tân Cảnh, một lực lượng tương đương 1 sư đoàn địch đã bị một trung đoàn chủ lực của ta tiêu diệt hoàn toàn.

Trung tướng Lê Hữu Đức (kể)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 29 Tháng Mười, 2011, 05:33:24 pm
“Le… bay, le… bay”

 Thời kỳ đế quốc Mỹ ném bom đánh phá miền Bắc, nhân dân ở các vùng thường bị đánh phá truyền nhau kinh nghiệm: hễ máy bay bắn rốckét và đạn 20 ly thì chỉ việc nhảy xuống sông, lặn sâu xuống là an toàn nhất.

 Một đêm nọ, có hai cha con chèo thuyền trên sông Nhật Lệ (Quảng Bình), con chèo đằng mũi, cha chèo đằng lái. Người cha nói:

 - Tai mi thính, mi nghe máy bay, mi kêu lên để bọ biết mà nhảy với.

 - Bọ cứ yên trí.

 Đêm trăng thanh gió mát, theo nhịp chèo, người con cứ lẩm nhẩm hát một mình bài hát “Tiểu đoàn 307”. Rồi cao hứng lên, anh hét to điệp khúc: “le… bay, le… bay” (lẻ bảy, lẻ bảy). Tức thì nghe tiếng “ùm” từ sau lái, người cha nhảy xuống nước. Và chưa kịp hiểu điều gì xảy ra, người con cũng nhảy đại theo.

 Khi cha con lóp ngóp trồi lên, người con trách.

 - Bọ ưng sống một chắc chắc? Nghe máy bay mà không kêu con nhảy với!

 - Tổ cha mi, mi kêu máy bay, máy bay, tau mới nhảy, mi còn trách ai?

Hải Hằng


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 29 Tháng Mười, 2011, 05:34:11 pm
Lẹ cứ như trò đùa vậy!

 Khoảng 16 giờ ngày 30-4-1975, trước cửa Dinh Độc Lập, nhân dân Sài Gòn vây quanh nhiều xây dựng trò chuyện với bộ đội ta. Giữa lúc đó, các chiến sĩ được lệnh chuẩn bị bữa cơm chiều. Đồng bào tỏ vẻ ái ngại vì giữa đường phố này lính xe tăng biết đun nấu ra sao. Nhiều bà má nhận nấu giúp, còn các cô sinh viên thì mời bộ đội về nhà mình gần đó.

 - Các má, các chị cứ yên trí. Bộ đội chúng ta đã có cách thổi cơm.

 Tiểu đội trưởng Hùng ra lệnh, các chiến sĩ nhanh nhẹn nhảy lên xe tăng mở nắp và lần lượt chuyển gạo, xoong, chậu, muôi, bát đĩa, củi, dao. Đồng bào đứng xung quanh chưa hết ngạc nhiên thì tiếp tục thấy gà, ngan, chuối xanh, sắn tươi, muối, mì chính, bí đỏ và những can đựng nước - và thoắt một cái lửa hồng reo trong bếp. Một bà má nói:

 - Chà, tôi chịu các chú bộ đội cách mạng. lẹ cứ như trò đùa vậy!

Hồng Phúc (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 29 Tháng Mười, 2011, 05:35:31 pm
Lính lái xe Trường Sơn
sửa “thói quen nghề nghiệp”

 Trong chiến tranh chống Mỹ, cứu nước, lính lái xe Trường Sơn phần lớn là những công nhân lái xe ở các cơ quan, xí nghiệp nhà nước được động viên vào bộ đội. Họ đã từng lái đủ các loại xe trên các loại đường rừng núi, đồng bằng, thành thị… Nhưng chưa ai có kinh nghiệm hoạt động trong điều kiện bom đạn ác liệt. Vì “thói quen nghề nghiệp” của họ để lại những chuyện cười đến…. phải sửa cho kỳ được.

 Đấy là, có lần, có một xe hàng do “lính mới” lái, thời tiết khô ráo, đường sá tốt, không có máy bay địch đe dọa, thế mà gần một giờ chạy xe, anh cứ rù rì cho xe chạy số 2 số 3 và cứ chạy nghênh ngang giữa đường. Chỉ huy nhắc anh ta sang số 4, số 5 mà chạy và chạy về bên phải đường, nhưng anh vẫn chỉ vâng dạ mà không làm theo. Anh không tập trung tư tưởng chăng? Không phải. Tìm hiểu kỹ thì từ khi anh làm lái xe đến nay, chỉ có người khác phải tránh xe của anh chứ anh chưa tránh ai bao giờ và xe anh ta cũng chưa bao giờ chạy số 4, số 5 mà chỉ ở số 2, số 3. Bởi vì, anh vốn là công nhân lái xe phun nước đường phố Hà Nội.

 Còn những công nhân lái xe bò tót chở than ở mỏ vào làm lính lái xe Trường Sơn, thời gian đầu cho xe chạy nghênh ngang trên đường với tốc độ cao cứ như đang đi trên đường chở than một chiều.

 Giúp họ sửa “thói quen nghề nghiệp” để làm quen với cuộc sống quân ngũ ở chiến trường là công việc không “nhẹ nhàng” gì đối với cấp chỉ huy. Thế nhưng tinh thần chống Mỹ, cứn nước và cuộc sống chiến đấu gian khổ, ác liệt đã giúp cho cả lái xe và chỉ huy sửa cho nhau “thói quen” nghề nghiệp đó.

T.V. (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 29 Tháng Mười, 2011, 05:36:26 pm
Lời hứa

 Đầu năm 1973, Tướng Đinh Đức Thiện (lúc đó là Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần) vào công tác ở Mặt trận B5. Dù bận nhiều việc, đồng chí vẫn dành một ngày xuống thăm Ban tuyên huấn Cục Hậu cần quân khu. Trong lần gặp gỡ thân tình này, đồng chí hỏi ai có nguyện vọng gì cứ đề đạt. Anh Trương Đoan Hùng là trợ lý nhiếp ảnh của Ban, bảo chỉ mong có được chiếc máy ảnh tốt và bộ máy chiếu phim 35 ly để phục vụ bộ đội. Anh Hoài Bảo Ngọc thì tâm sự đã xa gia đình gần 10 năm, vợ đang làm quản lý bếp ăn hiệu bộ Trường sĩ quan Lục quân tại Sơn Tây… Tướng Đinh Đức Thiện mở sổ ghi lại các ý kiến trên, rồi nói: “Về Hà Nội, mình sẽ bàn với Tổng cục gửi vào những thứ các bạn yêu cầu, và sẽ chuyển lời hỏi thăm tới cô quản lý…”

 Ngỡ là chuyện cho vui, không ngờ vài tháng sau, Ban Tuyên huấn của Cục Hậu cần Quân khu 5 nhận được liền một lúc 2 chiếc máy ảnh Canon và 2 bộ máy quay + chiếu phim 35 ly cùng mới toanh. Còn anh Hoài Bảo Ngọc thì nhận được thư vợ báo tin: Chủ nhiệm Tổng Cục Hậu cần gọi điện hỏi thăm.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 29 Tháng Mười, 2011, 05:37:24 pm
“Lời sám hối” của viên đại úy ngụy

 Những tháng cuối năm 1967, tỉnh trưởng Côn Đào Bạch Văn Bốn cùng thuộc hạ của y đã giết hại dã man hàng trăm tù chính trị. Đại úy Năm, quản đốc là một tên rất mê tín. Rằm tháng giêng năm 1968, hắn ra lệnh cho tay chân làm một mâm cỗ linh đình để cúng tại ngôi đền ngay giữa sân lao. Đại úy Năm trịnh trọng lom khom bái lậy, miệng hắn khấn thành lời cho cả đám thuộc hạ đứng xung quanh cùng nghe: “Trăm lạy vạn lạy, trăm xá vạn xá những oan hồn người chiến sĩ tù tội quanh đây sống khôn thác thiêng chứng giám cho đại úy Năm này? Cảnh chết chóc năm rồi… là do thiếu tá tỉnh trưởng Bạch Văn Bốn và thiếu úy Võ Văn Nguyệt tất cả… Đại úy Năm này chỉ là tay thiên lôi chỉ đâu đánh đấy, chứ không có thâm ác chi với Cộng sản cả… Trăm lại, vạn lạy những vong hồn Cộng sản tha tội cho đại úy Năm nầy. Đại úy Năm xin thề từ nay có gì sai trái xin các vong hồn cứ vặn cổ thằng Năm!”

 Đám bộ hạ đứng hầu phục được một một phen bưng miệng cười sắc sụa đến chảy cả nước mắt… và những giọt nước mắt “thật sự” của họ cũng nhân đó tuôn trào.

Đặng Oanh (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 29 Tháng Mười, 2011, 05:37:57 pm
Máy thăm dò điện tử cũng… bị lừa

 Vào thời kỳ cuối của cuộc chiến tranh, quân đội Mỹ đã sử dụng máy thăm dò điện tử hòng cắt đứt con đường mòn Hồ Chí Minh. Những thiết bị có khả năng đoán biết sự có mặt của con người này đã được máy bay rải khắp vùng rừng núi. Nhưng oái oăm thay, những máy thăm dò điện tử này không có khả năng phân biệt người thật với nước giải. Các chiến sĩ trên tuyến đường Trường Sơn đã dùng cả những thùng đựng nước giải đặt rải rác trong rừng để rồi theo sự chỉ dẫn của máy thăm dò điện tử, từng tốp máy bay lao vào những nơi không có bó người trút bom xuống đó. Cảm phục trước sáng kiến kỳ diệu này, trong cuốn “Làn gió mát từ thành phố Hồ Chí Minh”, nhà báo Đ. Ramít đã viết: “… Dùng nước giải đựng trong thùng để chống lại máy thăm dò điện tử. Hình ảnh đó thật là hoàn chỉnh, khi ấy tôi nghĩ người Việt Nam thật là đẹp, dũng cảm và lôgích. Họ đã cho thế giới thấy khoảng cách ghê gớm giữa khoa học kỹ thuật với sức mạnh thuần túy của con người tới mức bất kỳ một nhà viết tiểu thuyết hay một nhà áng tác nào cũng không thể tưởng tượng ra nổi”.

Hải Đăng


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 29 Tháng Mười, 2011, 05:38:42 pm
Mẩu thuốc lá khủng khiếp

 Sau những trận đánh xuất quỉ nhập thần của Đặc công biệt động thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, lính Mỹ ở đây luôn luôn lo sợ, thần hồn nát thần tính! Đêm Nôen 1964, khách sạn Brink bị tiến công. Sau đó ở cư xá Rex xảy ra một chuyện. Có người gọi điện báo cho quân cảnh làm nhiệm vụ ở đó rằng có một quả mìn hẹn giờ đã đặt sẵn trong khách sạn sắp nổ. Vừa lúc đó, tình cờ, có một tên lính vứt ra giữa cầu thang một mẩu thuốc lá đang cháy dở. Nhận thấy tàn khói bay lên, bọn quân cảnh tưởng là dây cháy chậm của mìn đang cháy, vội vứt ống nghe tháo chạy hỗn loạn ra khỏi nhà. Bọn Mỹ khác không hiểu đầu cua tai nheo gì, cũng giẫm lên nhau chạy tháo thân.

 Thế là cả khách sạn bị náo động hãi hùng, khủng khiếp, sốt buổi hờ đợi một tiếng nổ từ một… mẩu thuốc lá.

Hoàng Duy (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 29 Tháng Mười, 2011, 05:39:17 pm
“Mi” và “Tau”

 Trong chiến đấu, Tướng Nguyễn Chơn là người chỉ huy nghiêm khắc, cụ thể và sâu sát, song trong cuộc sống thường ngày, ông như người cha, người anh rất thân tình độ lượng của cán bộ, chiến sĩ thuộc cấp. Thời đánh Mỹ, sư đoàn 2 (Quân khu 5) sống ở rừng sâu, gian khổ thiếu thốn nhiều, thìa đường, cốc sữa cũng phải phân phối, nhưng nghe tin ai yếu mệt, ông không khỏi áy náy, không ít lần san sẻ tiêu chuẩn hoặc dốc cả số đường, sữa còn lại trong ba lô cho anh em. Cách xưng hô của ông cũng khác thường. Nhiều cán bộ cấp trên ngoài giờ làm việc, hay gọi cấp dưới là “các chú”, “các em”, hoặc “các cậu”, còn ông thì chỉ với hai từ: “Mi” và “Tau”. Khi được xưng hô như thế, ai nấy đều vui mừng, hiểu ông đối với mình ưu ái và gần gũi.

 Chuyện kể lại rằng: Sau ngày đất nước thống nhất, thấy ông xấp xỉ ngũ tuần rồi vẫn chưa yêu ai, anh em đồng đội giới thiệu nữ Anh hùng Nguyễn Thị Lý cho ông. Gặp nhau, ông cũng mộc mạc hỏi: “Mi có thật thương tau không?”. Và họ đã nên vợ nên chồng…



Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 29 Tháng Mười, 2011, 05:40:03 pm
“Món” cải tiến tác phong công tác

 Đại tướng Nguyễn Chí Thanh nổi tiếng là người miệng nói, tay làm. Ông thường phê phán thói ba hoa, sáo rộng trong cách nói hoặc cách viết của một số người. Trong bài nói chuyện tại Hội nghị công tác chính trị toàn quân năm 1960, với chủ đề Cải tiến tác phông công tác của chúng ta, Đại tướng nói: “Chúng ta không có một thứ thuế đánh vào cái bệnh nói dài và rỗng, nên có nhiều người thật là nói dài vô tội vạ. Hình như họ nghiện nói dài, không nói dài thì không chịu được. Đáng ra nói 5, 10 phút, họ lại chơi cho hàng tiếng đồng hồ”.

 Đại tướng còn nói “… Chúng ta có nhiều bài nói và bài viết dài, sai thì không sai, nhưng cắt đi hàng đoạn cũng chẳng chết ai, còn đỡ khổ cho người ta phải nghe, phải đọc nữa”. Đại tướng lấy ví dụ ở một trung đoàn, bản báo cáo được chuẩn bị để đọc trước Đại hội Đảng bộ Trung đoàn năm ngoái dày đến 70 trang, năm sau rút xuống còn 15 trang. Thấy vậy, Đại tướng hỏi đồng chí Chính ủy trung đoàn nọ rằng: “Làm sao lại bớt, uổng thế?”. Đồng chí Chính ủy thành thật trả lời: “Bây giờ xét thấy 15 trang cũng đủ”. Bằng cách đưa dẫn chứng như vây, Đại tướng nói với Hội nghị: “Như thế chúng ta còn tiếc gì mà không cắt đi những khúc ruột thừa làm khổ con người ta… đó là “món” cải tiến tác phong công tác của chúng ta!”

Đức Lê (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 29 Tháng Mười, 2011, 05:41:20 pm
Một câu chuyện hài hước và có thật
về quân biệt kích Mỹ tập kích Sơn Tây

 Trong cuốn hồi ký “Những năm tháng ở Nhà Trắng”, Kitsingiơ viết về cuộc tập kích của không quân Mỹ vào thị xã Sơn Tây để “giải thoát” tù binh Mỹ như sau:

 “Cuộc tập kích Sơn Tây tiến hành vào ngày 20-11-1970, được vạch ra một cách kỹ lưỡng và thực hiện một cách quả cảm, nhưng lại dựa vào một sự sai lầm quá đáng về tình báo: nhà tù đã đóng cửa ít nhất là 3 tháng trước đó. Sau cuộc tập kích thất bại, tôi được báo cho biết về một bức điện viết bằng mật mã của một tù binh nói rằng trại ấy đã đóng cửa ngày 14 tháng 7.

 Cuộc tập kích đã đưa lại một việc khá kỳ quặc tạo ra do tính hài hước cong queo của tôi. Một sĩ quan báo cáo với tôi về cuộc tập kích ấy và xin lỗi vì đã thất bại. Tôi bảo anh ta đừng xin lỗi và nói đùa rằng chắc là họ mang về được một con nghé. Người Bắc Việt Nam đang phát điên lên vì cố tìm hiểu tại sao chúng ta lại tiến hành một cuộc hành quân lớn mà chỉ nhằm có mục đích ấy.

 Có lẽ xuất phát từ lòng yêu nước mà cho rằng ông cố vấn an ninh của Tổng thống không thể nào hoàn toàn điên nên anh ta đã báo cáo với cấp trên. Cấp trên của anh ta bắt đầu truy lùng con vật ấy. Những người biệt kích tham gia cuộc tập kích ấy đã báo cáo rằng họ không biết tí gì về con nghé bị bắt cóc cả. Bộ Quốc phòng không tin là tôi đã nói một cách bộp chộp. Một bức điện đã được gửi đi và yêu cầu xác minh bằng cách tìm kiếm con nghé trên trực thăng!”

 Cuối cùng, Kitsingiơ còn cho biết toàn bộ sự kiện này đã được viết thành một cuốn sách.

Phan Mai


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 30 Tháng Mười, 2011, 04:16:28 pm
Một chiến công thầm lặng của những chiến sĩ canh trời

 Tháng 10-1973, đoàn đại biểu cấp cao Đảng và Nhà nước Cuba do Thủ tướng Phiđen Caxtơrô dẫn đầu sang thăm vùng giải phóng Quảng Trị trong thời điểm cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta đang vào giai đoạn quyết định. Để bảo vệ an toàn tuyệt đối cho đoàn, Bộ Tổng tư lệnh đã quyết định giao nhiệm vụ cho Đoàn Phòng không 3.73 xây dựng phương án bảo vệ vùng trời Trị Thiên và tổ chức một đoàn đại biểu cán bộ chiến sĩ dự cuộc đón chào đoàn đại biểu Đảng và Nhà nước Cuba. Nhận thức rõ trách nhiệm nặng nề và vinh dự đó, Đảng ủy, chỉ huy Đoàn đã khẩn trương xây dựng kế hoạch tác chiến (mang tên kế hoạch Z); triển khai đợt sinh hoạt chính trị quán triệt nhiệm vụ trong các cơ quan và đơn vị, tiến hành kiểm tra kỹ thuật các loại vũ khí, khí tài và trang bị chiến đấu; tổ chức đợt huấn luyện đột kích, tập trung luyện tập thành thục các tình huống của phương án tác chiến. Sở chỉ huy các cấp và các đơn vị pháo, tên lửa thường xuyên ở trạng thái cấp 1, sẵn sàng chiến đấu cao nhất, quyết tâm bắn rơi tại chỗ máy bay địch ngay từ loạt đạn đầu, quả đạn đầu, trận đầu. Những việc làm của Đoàn đã được bù đắp bởi an toàn tuyệt đối của đoàn đại biểu cấp cao Đảng và Nhà nước Cuba anh em trong chuyến thăm Quảng Trị ngày đó.

 Ngày nay, mỗi khi vào thăm nhà truyền thống, nhìn tấm hình Thủ tướng Cuba Phiđen Caxtơrô giương cao lá cờ “Quyết Thắng” của Đoàn Phòng không S.73 trên điểm cao 241 Quảng Trị, cán bộ, chiến sĩ đơn vị không thể nào quên được chiến công thầm lặng đó. Mọi người đều thầm hứa sẽ quyết tâm rèn luyện, học tập và công tác thật tốt để hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ cấp trên giao trong sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.

M.K. (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 30 Tháng Mười, 2011, 04:17:14 pm
Một tình huống được xử lí kịp thời
trong cuộc Tiến công và nổi dậy Xuân 1968

 Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968 xảy ra một tình huống bất ngờ. Tình huống ấy xuất hiện khi ác lực lượng tiến công đã lên đường. Sở chỉ huy cơ bản nhận được điện hỏi lại về giờ G và ngày N. Trước đây phổ biến là 2 giờ sáng ngày một một Tết. Thời điểm nổ súng như vậy là rất dễ hiểu và dễ nhớ… Thế nhưng có Tư lệnh chiến trường báo cáo rằng Tết miền Nam đến chậm sau Tết miền Bắc một ngày (do cách làm lịch của chế độ ngụy Sài Gòn), vì vây phải đề phòng sự nhầm lẫn ngày N.

 Nhận được báo cáo, ngày nổ súng sắp đến, Bộ Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam lập tức chỉ thị được ngay, gửi trực tiếp các Tư lệnh và Chính ủy các chiến trường: giờ và ngày nổ súng là 2 giờ sáng ngày 31 tháng 1 năm 1968 tức 2 giờ sáng ngày mồng 1 Tết miền Nam.

 Nhờ sự chỉ huy và xử lí kịp thời kiên quyết của Bộ Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam mà cuộc tiến công và nổi dậy Xuân 1968 của quân và dân ta đã đồng loạt nổ ra đúng ngày, giờ quy định, giành được thắng lợi to lớn, tạo ra bước ngoặt quyết định cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, tạo điều kiện cho quân và dân ta thực hiện lời dạy của Bác “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 lịch sử.

T.V. (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 30 Tháng Mười, 2011, 04:17:57 pm
Muối “đặc biệt”

 Chuyện xảy ra tại một binh trạm giữa rừng Trường Sơn. Hôm ấy, anh em được bà con trong bản cho một con chó ốm. Vốn đa số là dân Nam Định mê món “cờ tây”, binh trạm quyết định liên hoan. Làm thịt chó phải có muối. Nhưng vì giao thông khó khăn, muối rất thiếu. Có bao nhiêu đã cho dân bản hết. Mọi người đang tiếc rẻ xuýt xoa thì đồng chí Binh trạm phó xung phong làm thịt, nấu nướng các món, cam đoan sẽ có muối. Quả thực món thịt chó vừa ngon, rất đậm. Anh em vừa ăn vừa hỏi muối ở đâu ra. Đồng chí Binh trạm phó chỉ cười. Đợi mọi người ăn xong, đang uống nước anh mới nói. Muối ấy là muối… trong người, anh cho vào thịt lúc đóng cửa bếp. Tưởng ghê cố hổ ra mọi người cười phá lên, khen anh giỏi phát minh… ra muối.

Hoàng Dũng (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 30 Tháng Mười, 2011, 04:18:42 pm
11 cô gái sông Hương

 Cuộc chiến đấu kiên cường liên tục 25 ngày đêm của quân dân thành phố Huế là một điểm sáng nổi bật trong cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968. Trong chiến công chung của quân và dân thành phố Huế có sự đóng góp xứng đáng của lực lượng vũ trang địa phương mà tiêu biểu là tiểu đội nữ du kích - 11 cô gái sông Hương.

 Đây là tiểu đội nữ du kích thôn Văn Khê, xã Thanh Thủy, huyện Hương Thủy, Thừa Thiên - Huế do chị Phạm Thị Liên làm tiểu đội trưởng, chị Đỗ Thị Cúc làm tiểu đội phó và 9 chiến sĩ. Bước vào Tổng tiến công, tiểu đội được giao nhiệm vụ bảo vệ Sở chỉ huy cánh nam và chuyển thương, tiếp đạn. Khi địch phản kích, giải vây Huế, tiểu đội chuyển sang trực tiếp chiến đấu. Tiểu đội nữ du kích đã bám trụ trận địa, giữ vững các vị trí được giao, tạo điều kiện cho các đơn vị bộ đội hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Ngày 25 tháng 2 năm 1968 thực hiện chủ trương của cấp trên: rút lực lượng vũ trang ta ra khỏi thành phố để bảo toàn lực lượng, chuẩn bị cho các đợt tiến công sau; tiểu đội đã phối hợp chặt chẽ với tiểu đoàn 810 đặc công chặn đánh bẻ gãy nhiều đợt phản kích của 2 tiểu đoàn Mỹ có xe tăng yểm trợ. Trong trận đánh không cân sức này hàng trăm tên địch bị diệt, năm xe tăng Mỹ bị bắn cháy, sở chỉ huy và lực lượng của ta rút ra được đảm bảo an toàn. Để hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang này, bốn cô gái trong tiểu đội nữ du kích vĩnh viễn nằm lại với mảnh đất quê hương.

 Nghe tin về tiểu đội nữ du kích, Bác Hồ rất cảm động và Người đã gửi tặng mấy vần thơ:

Dõng dạc tay cầm khẩu súng trường
Khôn ngoan dàn trận khắp phố phương
Bác khen các cháu dân quân gái
Đánh giặc Hoa Kỳ phải nát xương



Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 30 Tháng Mười, 2011, 04:19:15 pm
5 phút diệt một trận địa pháo

 Ngày 25 tháng 5 năm 1972, đài luồn sâu của thiếu úy, đại đội trưởng Đại đội 6 (Trung đoàn 675 pháo binh) Hà Công Trụ đã kịp thời phát hiện địch tăng cường 6 xe, 6 pháo 105mm đến căn cứ Lôi Hổ đang đào công sự, thiết bị bắn. Sở chỉ huy lệnh cho Đại đội 6 phải diệt ngay trận địa này không cho chúng gây tội ác. Chỉ sau 5 phút, Đại đội 6 đã nổ súng. Với 14 viên đạn Đ74 rót trúng mục tiêu, cả 6 xe, 6 pháo và 1000 viên đạn đều bị phá hủy và phá hỏng

Ngô Văn Bình


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 30 Tháng Mười, 2011, 04:19:52 pm
Ngô Thị Tuyển của Tây Nguyên

 Trong những năm đầu đánh Mỹ, công tác vận chuyển ở Tây Nguyên chủ yếu là gùi. Bộ đội pháo binh nêu khẩu hiệu rèn luyện “chân đồng, vai sắt”, còn lính vận tải thì: “Vai ngàn cân, chân ngàn dặm”. Số cán bộ, chiến sĩ mang được một lượng hàng hóa nặng bằng và hơn 2 lần trọng lượng bản thân thì ở Tây Nguyên không kể sao cho hết. Có một người con gái mảnh dẻ thuộc dân tộc Triêng ở huyện 40, Kon Tum ngay từ hồi Đại hội liên hoan chiến sĩ thi đua B3 lần thứ nhất (2-1967) đã được mọi người trìu mến gọi là “Ngô Thị Tuyển của Tây Nguyên”.

 Không hoàn toàn giống Ngô Thị Tuyển ở Hàm Rồng, I Len không đạt được kỷ lục cao nhất ngay từ buổi ban đầu. Hôm đầu tiên I Len chỉ mang được 37kg. Nặng quá, mệt hết thở. Hôm thứ hai tụt xuống 35kg. Nhưng I Len lại nghĩ: Anh em người Kinh chân không quen leo cái dốc, vai không quen giữ gùi nặng mà còn mang được 40kg thì mình phải học tập anh em mới được. Đến giữa năm 1964, I Len được kết nạp vào Đảng và làm tiểu đội trưởng, dẫn 15 chị em đi công tác xa. Hai ngày ăn măng thay cơm, I Len vẫn gùi 42 kg, mang 1 khẩu AK và còn động viên, chỉ huy chị em nữa.

 I Len đã nâng dần thành tích lên gùi thường xuyên 65-75 kg. Không đợt cao điểm nào I Len vắng mặt và I Len lập kỷ lục 104 kg trở thành con chim đầu đàn của ngành vận tải Tây Nguyên.

 Học tập tinh thần kiên trì rèn luyện của I Len, chị em trong đơn vị đều đạt được thành tích cao. Nhờ liên tục rèn luyện phấn đấu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao của người con gái dân tộc Triêng ấy sau ngày giải phóng quê hương đã trở thành Chủ nhiệm Chính trị của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Gia Lai - Kon Tum


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 30 Tháng Mười, 2011, 04:20:59 pm
“Ngụy quyền Sài Gòn đã hết thời rồi”

 Để ký Hiệp định Pari và bốn nghị định thư kèm theo, mỗi Ngoại trưởng phải ký tới 32 chữ ký, và mỗi người có 32 cây bút để làm việc đó.

 Văn bản Hiệp định có trang cuối cũng dành cho các bên tham gia ký kết. Trưởng các đoàn chỉ ký vào nơi quy định. Tưởng như không có sự sơ suất nào xảy ra, ấy thế mà, không biết hồn phách để đâu, Trần Văn Lắm, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của ngụy quyền Sài Gòn lại ký vào chỗ dành cho bà Nguyễn Thị Bình, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Sao lại xảy ra chuyện như vậy, phải chăng vị ngoại trưởng của chính quyền ngụy muốn giành lại độc quyền đại diện cho miền Nam mà chúng đã mất từ lâu? Dẫu sao cũng khó hình dung được một sự nhầm lẫn như thế. Bởi chữ ký dành cho ai đều có tên người đó ở dưới. Nhưng bất chấp, Lắm đã ký bừa vào chỗ dành cho đối phương đang ngồi trước mặt, chỉ cách nhau bằng đường kính của chiếc bàn hội nghị. Trước tình cảnh đó, không còn cách nào khác, bà Nguyễn Thị Bình đành phải ký vào khoảng trống còn lại phía trên chữ kỹ của Trần Văn Lắm, dẫu bà biết rằng đó là việc làm chưa có trong tiền lệ lịch sử ngoại giao thế giới. Thành ra trong văn bản Hiệp định, chữ kỹ của Trần Văn Lắm nằm ở phía dưới chữ ký của Trường đoàn Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

 Biết được chuyện trớ trêu này, nhiều kiều bào ta ở Pháp đã thốt lên: “Ngụy quyền Sài Gòn đã hết thời rồi”.

Thanh Lê (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 30 Tháng Mười, 2011, 04:21:38 pm
Những ấn phẩm… thần tốc

 Những ngày cuối tháng 3 đầu tháng 4 năm 1975, tiếng súng tán công của quân ta đã dội lên khắp nơi. Bọn tàn quân ngụy ở mặt trận Tây Nguyên rút chạy về Đà Lạt cướp phá rất dữ. Một trong những điểm chúng quyết phá là Nha địa dư Đà Lạt, hòng tiêu hủy cơ sở in bản đồ trước khi chúng tháo chạy về Sài Gòn - Gia Định. Trước tình hình đó, cán bộ mặt trận giải phóng ở đây đã nhanh chóng hướng dẫn số công nhân viên chức còn lại của Nha địa dư tổ chức thành đội tự vệ bảo vệ nhà máy. Cho đến ngày 10 tháng 4 năm 1975, cán bộ bản đồ của Quân giải phóng vào tiếp quản rất vui mừng vì những nguyên bản và máy móc vật tư đã được giữ nguyên vẹn. Thế là ngay hôm đó việc in bản đồ cùng với các cở ảnh Bác Hồ được tiến hành ngay với nhịp độ cao theo tinh thần “Tất cả cho thống nhất đất nước!”. Những ấn phẩm các cỡ ảnh Bác cùng với bản đồ toàn bộ đất nước Việt Nam liền một dải đã kịp thời thần thốc theo các cánh quân ta vào giải phóng Sài Gòn - Gia Định…

Sĩ Phúc (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 30 Tháng Mười, 2011, 04:22:07 pm
Những chiếc hầm di động

 Sau Tết Mậu Thân 1968, Ban cơ cấu T4 phải sơ tán về Cai Lậy (Mỹ Tho). Vấn đề gay cấn nhất lúc đó là làm sao có thể cất giấu bảo quản an toàn tài liệu mật mã trong điều kiện địa hình sình lầy, cây cối bị tàn phá trơ trụi không thể đào hầm bí mật cất giấu tài liệu như ở miền Đông và Tây Nguyên được, các chiến sĩ Cơ yếu T4 đã nghĩ ra những chiếc “hầm bí mật di động”. Anh em dùng thùng đại liên của Mỹ để đựng tài liệu, phương tiện làm việc bọc kỹ ni lông, khi cần thì lặn sâu xuống nước moi một lỗ sâu chôn dọc bờ mương. Trường hợp đang hành quân trên sông thì hé mở nắp thùng, gặp địch lập tức ném xuống sông, nước tràn vào thùng chìm xuống phi tang luôn tài liệu. Bằng những chiếc “hầm di động” này, trong nhiều năm ở chiến trường Nam Bộ, anh em Cơ yếu đã bảo vệ an toàn tài liệu và phương tiện làm việc.

Việt Ân


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 30 Tháng Mười, 2011, 04:23:00 pm
Những “thùng hàng đặc biệt”
và những chiến sĩ “3C”

 Cuối năm 1966 đầu năm 1967, những ai hành quân vào Nam theo đường mòn Hồ Chí Minh thỉnh thoảng nhìn thấy các chiến sĩ giao liên đeo trên vai những chiếc thùng rất lạ. Ai cũng biết rằng trong thùng chưa một thứ hàng đặc biệt. Nhưng hàng gi thì ít ai đoán ra. Ngay các binh trạm giao liên cũng chỉ biết rằng “thứ hàng đặc biệt này phải được chuyển liên tục, không được phép giấu tạm ở bất cử một địa điểm nào mà phải mang đi bằng hết”. Sau này người ta mới biết rằng, trong những “thùng hàng đặc biệt” chưa những tài liệu của Ngành Cơ yếu. Đó cũng là đợt vận chuyển tài liệu vào Nam lớn nhất của Ban Cơ yếu Trung ương.

 Các chiến sĩ Cơ yếu trên đường vào Nam luôn luôn được coi là “khách đặc biệt” của các trạm giao liên. Họ được cấp giấy chứng minh Trường Sơn đóng dấu đỏ 3 chữ C (CCC). Đây là ký hiệu chỉ các cán bộ có nhiệm vụ đặc biệt quan trọng. Nhưng vì trên đường quan hệ lính Cơ yếu luôn phải chạy (chạy máy bay, chạy biệt kích, chạy địch càn, thậm chí gặp địch cũng không được đánh) để về tới đích an toàn. Do đó họ thường phiên hiệu “3C” của mình là “co cẳng chạy”.

Hải Đăng


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 31 Tháng Mười, 2011, 07:28:11 pm
Nồi canh môn thục

 Ở Trường Sơn, cánh lính gọi món canh môn thục là “canh tiểu đội”. Số là rau môn thục thì hiếm. Mỗi lần kiếm được một chét, mang về thả vào xoong, đổ nước suối vào, thêm một ít ruốc bông, một nắm muối, đun chín, cả tiểu đội xì xoạt đến là mát ruột.

 Cái khổ của người lính ở Trường Sơn là thiếu rau. Riêng hai loại: cây môn thục và chua me đất là còn có thể đi dọc theo suối may ra gặp một vài bụi, lâu lâu lá lại mọc ra, đoàn khác cũng được nhờ.

 Môn thục thuộc họ khoai nước, thân mềm, không ngứa, tựa cây khoai môn, ăn lành, mát ruột. Một hôm, anh nuôi là lính thị thành, vì thương đồng đội ốm thèm rau, kiếm nhiều trái cây khoai ngứa, chỉ đủ nấu một ăng gô để “bồi dưỡng người ốm”. Đồng đội vừa ăn xong đã thấy nôn nao quá xá, đòi móc họng, ngứa từ dạ dày ngứa ra. Anh nuôi vừa thương vừa lo cho bạn, ứa cả nước mắt, vội vàng lấy thuốc muối loãng để bạn súc miệng. Cũng phải nửa ngày mới hết ngứa. Bây giờ mâm cỗ, ăn nhậu chất đầy, vẫn nhớ đến kỷ niệm Trường Sơn, sao mà anh em thương nhau đến thế!


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 31 Tháng Mười, 2011, 07:30:02 pm
Nước Trong mà thiếu nước dùng

 Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Sư đoàn 304 đảm nhiệm tiến công trên hướng Đông Nam, đánh chiếm khu vực ngã ba đường 15 đi Nước Trong, cầu sông Buông, Long Bình, mở đường, tạo bàn đạp cho lực lượng thọc sâu chiến dịch của Binh đoàn đánh vào trung tâm thành phố. Tuyến phòng thủ ngã ba đường 15 đi Nước Trong, địch xây dựng, củng cố vững chắc, tập trung lực lượng phương tiện để tử thủ với ta đến cùng. Cuộc chiến đấu ở đây diễn ra rất ác liệt, ta và địch giành giật nhau từng mục tiêu, từng tấc đất. Dưới trời nắng như đổ lửa, mặt đất như bị nung nóng, sức tàn phá của bom, đạn cộng với cái nóng gió tây cuối mùa khô ở miền Đông Nam Bộ càng làm cho cuộc chiến ác liệt hơn. Sư đoàn chiến đấu ở khu vực Nước Trong mà không tìm đâu ra nguồn nước, bộ đội bị khát vì thiếu nước. Những bi đông nước mang theo chỉ còn đủ cung cấp cho thương binh một cách hạn chế; nhiều chiến sĩ đã phải nhai cỏ tranh cho đỡ khát. Sư đoàn đã dùng xe téc chở nước, nhưng bị địch đánh phá dữ dội, nước không đến được với bộ đội đang chiến đấu ở phía trước. Muốn giải quyết tình trạng thiếu nước, Sư đoàn chỉ còn còn cách đánh địch ở điểm cao 39, nơi chúng án ngữ, khống chế đường 15 ra sông Buông. Thế nhưng mục tiêu này không nằm trong kế hoạch tiến công trước mắt. Không thể để bộ đội thiếu nước, Sư đoàn xin ý kiến cấp trên được đánh điểm cao này trước. Được sự đồng ý của cấp trên, Sư đoàn lệnh cho Đại đội 5 thuộc trung đoàn 24, đánh chiếm điểm cao 39, mở đường ra cầu sông Buông, lấy nước tiếp tế cho bộ đội. Sau một thời gian ngắn, trận chiến đấu đã kết thúc thắng lợi, ta tiêu diệt toàn bộ quân địch ở điểm cao 39, đường ra cầu sông Buông đã thông, Sư đoàn có đủ nước sinh hoạt, tiếp tục thực hiện nhiệm vụ mở đường, tạo bàn đạp cho lực lượng thọc sâu chiến dịch của Binh đoàn tiến vào giải phóng Sài Gòn đúng kế hoạch. Đến bây giờ, mỗi khi nhắc đến chiến dịch Hồ Chí Minh, nhiều cán bộ của Sư đoàn vẫn không quên nhắc tới chuyện “Nước Trong mà thiếu nước dùng”.

N.M.K. (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 31 Tháng Mười, 2011, 07:30:30 pm
Phải giữ bí mật như thế đấy

 Thượng tướng Lê Ngọc Hiền kể:

 Tháng 4 năm 1974, tôi từ Nam Bộ ra Bắc, được giao nhiệm vụ Phó Tổng tham mưu trưởng, và được cấp trên cho nghỉ phép 15 ngày. Nhưng mới nghỉ được 5 hôm thì đồng chí Văn Tiến Dũng bảo: “Tình hình rất khẩn trương, đồng chí cùng Cục Tác chiến làm ngay kế hoạch…”. Ngày 16-1, tôi lên đương vào mặt trận Tây nguyên, họp với các anh: Vũ Lăng (Tư lệnh), Đặng Vũ Hiệp (Chính ủy), Nguyễn Năng (Phó tư lệnh), đi đến thống nhất mở chiến dịch Tây Nguyên, rồi ngay sau đó, được lệnh trở ra báo cáo với Quân ủy… Khi tôi ra đến nam cầu Hiền Lương, thì lại có lệnh của Bộ bảo tôi phải quay trở lại sở chỉ huy Đoàn 559 và chờ ở đó. Vào đây, đồng chí Đồng Sĩ Nguyên - Tư lệnh đoàn cũng động viên tôi: “Cứ nằm chờ…”. Sau này, tôi mới biết lý do Bộ lệnh cho tôi ở lại không ra Hà Nội nữa, là để giữ bí mật tuyệt đối cho chiến dịch.



Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 31 Tháng Mười, 2011, 07:31:34 pm
Phải tìm bằng được thi thể liệt sĩ

 Năm 1972, đồng chí Trần Tất Thanh (sau này là Trung tướng), là tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 631 Tây Nguyên. Trong trận đánh vào cứ điểm 664, trên đường 5, từ thị xã Plâycu đi Chư Nghé, ta thắng lớn, song ngay sau đó địch bắn pháo cấp tập vào trận địa, bộ đội nhận lệnh rút nhanh tránh thương vong. Nhưng khi nghe tin hướng đại đội 9 còn hai chiến sĩ hi sinh chưa lấy được thi thể, ông lập tức chỉ thị cho đại đội cử một trung đội ở lại, tìm cho bằng được xác của hai liệt sĩ này. Và ông cùng các chiến sĩ trung đội kia lặn ngụp dưới mưa pháo, cho tới 5 giờ sáng hôm sau, mới đưa được xác hai liệt sĩ ra khỏi cứ điểm.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 31 Tháng Mười, 2011, 07:32:24 pm
Quà chị Út

 Thằng Mỹ - ngụy độc ác hơn con thú dữ. Nó giết không trừ ai. Con gái khổ thêm một nỗi: nếu chẳng may sa vào tay chúng sẽ bị hãm hiếp đến chết. Chình vì thương chị em, thương lũ làng, vì căm thù thằng Mỹ - ngụy mà Romắc Sao đã xin cha cho vào du kích.

 Vào du kích, Sao chỉ được giao nhiệm vụ ở nhà nấu cơm. Đành rằng chị I Len gùi trên 100kg hàng, I-Buông cấp dưỡng có nhiều thành tích, đều trở thành những chiến sĩ thi đua, được đi báo cáo ở đại hội liên hoan anh hùng chiến sĩ thi đua toàn Mặt trận. Thế nhưng Sao vẫn thích được như các chị Hơ Sin, Hơ Sách, Hơ Tơ Răng ở Đắc Lắc, vào đồn đánh giặc lập công, diệt nhiều Mỹ - ngụy. Ngặt một nỗi bọn con trai làng Đok Klan lại không muốn cho Sao đi đánh chung với nó. Năn nỉ mãi, thỉnh thoảng Sao mới được đi để xem đánh mìn trên đường 14.

 Một hôm, Sao đến nói thẳng với xã đội trưởng chỉ huy: “Mày cho tao 1 quả mìn. Tao cũng đi đánh xe. Chỉ mình tao thôi kẻo nhỡ cái xe không chết lũ nó cười cho!”.

 Ngay trận đầu tiên Sao đã đánh tan xác 1 xe M113 của giặc, giết hết những thằng Mỹ trên xe. Đánh được rồi, đánh nữa, trận nào Sao cũng thành công. Tiếng khen của đồng đội và lũ làng không để đâu cho hết. Nhưng Sao lại thích chị em khác cũng đánh được như mình. Sao động viên, dìu dắt, cho chị em du kích huyện 4 Gia Lai biết đánh xe.

 Đánh được 14 trận thì Sao đã đạt 2 danh hiệu: “Dũng sĩ diệt Mỹ” và “Dũng sĩ diệt xe cơ giới” cấp ưu tú; được công nhận là “Ngọn cờ tiêu diệt xe cơ giới của phụ nữ Tây Nguyên”. Hay tin Sao đánh giỏi, nữ anh hùng Quân giải phóng Nguyễn Thị Út (Tịch) gửi tặng Rơmắc Sao 1 khẩu súng Carbin. Đó chính là món quà của các bạn Cu Ba tặng cho chị Út.

Lê Sĩ


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 31 Tháng Mười, 2011, 07:33:48 pm
Rau… Kỳ Sơn

 Cuối năm 1968, đời sống cán bộ, chiến sĩ trên tuyến Trường Sơn rất vất vả, nhất là vùng cuối tuyến. Nhiều thứ rau ăn được trong rừng cạn dần, có nơi bệnh phù phát triển.

 Nhìn đồng đội bệnh tật, Kỳ Sơn rất đau lòng. Một hôm, anh lấy võng buộc vào một sào gỗ rồi đi gọi hai chiến sĩ còn khỏe đến, chỉ vào cái nồi trên bếp nói: “Đây là loại rau mọc rất nhiều ở ven suối, lên rất nhanh, tớ luộc ăn thử. Nếu tớ có làm sao, hai cậu khiêng ngay tớ về trạm xá để cấp cứu và nói cho bác sĩ biết lý do. Nói xong Kỳ sơn ăn hết số rau và húp luôn nước luộc. Hai người ngồi xem Sơn ăn, ban đầu có vẻ lo lắng, nhưng sau đó trò chuyện tới khuya quên cả chuyện rau.

 Từ đấy, người chiến sĩ Trường Sơn có thêm tên gọi một loại rau rừng: “Rau Kỳ Sơn”. Chẳng bao lâu, rau Kỳ Sơn được phổ biến ở nhiều binh trạm với “vinh dự” được đứng ngang hàng với rau ngót rừng, rau chân vịt, môn thục, địa liền, mảnh cộng… trong danh mục “Rau của chiến sĩ Trường Sơn” những năm chống Mỹ.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 31 Tháng Mười, 2011, 07:34:27 pm
Tạc tượng Bác Hồ bằng ngôn ngữ trái tim

 Đến thăm bảo tàng các dân tộc Tây Nguyên được chiêm ngưỡng và được nghe câu chuyện về bức tượng đồng cao 12,5cm, tạc chân dung Bác Hồ chỉ huy chiến dịch Biên Giới mang dáng dấp già làng Tây Nguyên… làm chúng ta hết sức cảm động.

 Chuyện kể rằng, vào những năm 1959-1960, khi Mỹ - Diệm lê máy chém đi khắp miền Nam đàn áp đẫm máu phong trào cách mạng, thì người Gia Rai ở xã Ya Lang (Đức Cơ, Gia Lai) đã bí mật tạc tượng Bác Hồ theo trí nhớ (đồng bào đã được bộ đội cho xem ảnh Bác từ trong kháng chiến chống Pháp) để giữ vững tấm lòng sắt son, thủy chung đi theo Bác Hồ, theo Đảng, theo cách mạng của mình. Và từ đó, mỗi lần chi bộ xã kết nạp đảng viên, đoàn viên, tượng Bác là vật phẩm thiêng liêng không thể thiếu trong các buổi lễ.

 Để giữ trọn bức tượng Bác trong 20 năm chống Mỹ, cứu nước, đồng chí Rơ Mah Yua, Phó bí thư chi bộ, trong một lần chiến đấu chống giặc, bảo vệ buông làng, đồng chí bị địch bắn trọng thương. Trước lúc hy sinh, đồng chí đã giao tượng Bác cho đồng chí Kpui Yao. Đồng chí Kpui Yao chiến đấu hi sinh, bức tượng Bác lại được giao cho đồng chí Rơ Mah Bơng cất giữ… Cứ thế, bức tượng Bác được các đảng viên và đồng bào thay nhau gìn giữ. Có tương Bác Hồ, đồng bào xã Ya Lang vượt qua mọi khó khăn, thử thách, vượt qua mưa bom, bão đạn của quân thù, một lòng tin tưởng vào Bác Hồ, vào Đảng, vào cách mạng, chiến đấu chống quân xâm lược cho đến ngày toàn thắng của toàn dân tộc.

T.V. (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 31 Tháng Mười, 2011, 07:37:45 pm
Tám cái xấu, một cái tốt của “Việt Cộng”

 Tây Ninh được chọn làm thí điểm cho chiến dịch “tố Cộng” mang tên Trương Tấn Bửu. Một trong những thủ đoạn là bắt bà con chia tổ ra học tập mà thự chất là để chúng tìm cách “tố Cộng”. trong một buổi học tập chung, kêu mãi không ai lên “tố Cộng”, chúng chỉ định một cụ già:

 - Ông già kia, có chuyện gì nói nghe coi?

 Ông già đứng lên nói:

 - Tôi thấy quốc gia có tám cái tốt, một cái xấu, còn Việt Cộng có tám cái xấu, một cái tốt.

 Nghe đến đó, bọn địch hí hửng nói:

 - Ừ! Phải đó, ông già nói cho mọi người nghe đi.

 - Quốc gia có tám cái tốt là: tốt quần, tốt áo, tốt xe, tốt nhà, tốt bàn, tốt ghế, tốt vợ, tốt con, còn một cái xấu là không biết lo cho dân. Còn Việt Cộng, họ xấu quần, xấu áo, xấu nhà cửa… xấu hết trọi, chỉ có cái tốt là họ biết lo cho dân.

 Bọn địch tức lộn ruột, chửi đổng: câm miệng ngay, lão già xỏ lá!

 Để “chữa cháy”, địch cho một thằng ra hò lờ:

 - Ơ hò, lấy chồng quốc gia vàng đeo đầy cổ!
 Lấy chồng Việt Cộng cực khổ muôn năm! Hò lơ ơ!

 Nghe vậy, một chị đứng lên đối lại ngay:

 - Ơ… hò lơ: Lấy chồng quốc gia hóa ra côi cút!
 Lấy chồng Việt Cộng hạnh phúc muôn năm… hò lơ… hò lờ.

 Thua thêm keo nữa, thấy kéo dài không có lợi, chúng đành cho dân giải tán.

Anh Quân (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 31 Tháng Mười, 2011, 07:45:05 pm
Tạo quỹ nuôi quân ở Rừng Sát

 Trong kháng chiến chống Mỹ, ở Rừng Sát, một dải đất ven biển miền Đông Nam Bộ có một đội quân cách mạng mượn danh tôn giáo hoạt động chống chính quyền Mỹ - Diệm. Họ sống tự lực tự cường và một phần rất quan trọng là khai thác nguồn lâm sản tại chỗ, gửi dân hoặc rực tiếp đem ra Sài Gòn bán. Những người phụ trách tài chính của đội quân lúc bấy giờ là Sáu Nam, Ba On, Tư Dô… Ba On, sau Hiệp định Giơnevơ, đóng vai một nhà tư sản kinh doanh đồ mộc, cưa xẻ. Sáu Nam sau khi thoát khỏi nhà tù Thủ Đức của Diệm, tổ chức anh em thành đội du kích ở Rừng Sát, lấy danh nghĩa “Hòa Hảo”, cùng với nhân dân khai thác gỗ đước, sú, vẹt, làm củi làm than bán. Ba On ký hợp đồng sản xuất quản bút và mở xưởng làm mũ để tiêu thụ gỗ được cho Sáu Nam, hàng tháng thu được vài trăm nghìn (tiền ngụy) để nuôi đội quân hơn 50 người. Ngoài ra, các anh còn liên lạc với các lái buôn Hoa kiều, để bán những bộ da cá sấu, mỗi bộ giá 200 ngàn đồng, là mặt hàng cao cấp hiếm có, đặc sản của vùng sông Xoài Rạp, Long An. Nhờ vào nguồn thu này mà quân du kích Rừng Sát, số quân lên tới 140 người. Sau đó, đơn vị nhập vào lực lượng vũ trang của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam với tên Tiểu đoàn 304 của Tỉnh đội Long An. Tiểu đoàn được trang bị đây dủ và trình độ đánh du kích, đánh phục kích trên sông rất tài giỏi, bắn cháy nhiều tàu chiến Mỹ - ngụy, với những trận đánh nổi tiếng trên sông Xoài Rạp, Vàm Cỏ Đông.

Thái Linh (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 31 Tháng Mười, 2011, 07:45:47 pm
Tấm lòng son sắt

 Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ông Ngư, một nông dân ở miên Tây tỉnh Quảng Nam, được bộ đội Tiểu đoàn 78, tặng một tấm chân dung Bác Hồ. Ông Ngư quý lắm, mang về đặt lên vị trí trang trọng nhất trên bàn thờ. Một hôm, vào cuối tháng 7-1965, địch mở trận càn vào xã. Sau những trận đánh trả quyết liệt, do lực lượng địch đông lại có máy bay, pháo bắn yểm trợ, lực lượng du kích xã tạm rút lui để bảo toàn lực lượng nhằm đánh địch lâu dài.

 Bọn địch càn đến đâu liền ra sức vơ vét của cải của nhân dân đến đấy. Khi đến nhà ông Ngư, chúng lục soát khắp nhà để tìm của nả. chợt một tên nhìn lên bàn thờ thấy ảnh Bác Hồ, hắn bèn la toáng: “Nhà này thờ lãnh tụ Cộng sản!”. Tên chỉ huy đến miệng hầm trú ẩn lôi ông Ngư ra và bảo: “Ông theo Cộng sản hả?”. Ông Ngư bình thản trả lời: “Tôi già rồi, làm gì có sức theo Cộng sản”. Nó hỏi tiếp, vì sao ông lại treo ảnh Hồ Chí Minh, ông trả lời, rằng “Tôi không biết Hồ Chí Minh có là Cộng sản hay không, chỉ biết Cụ Hồ là người lãnh đạo nhân dân đánh đế quốc, mang lại cơm no, áo ấm cho dân, nên tôi thờ, có gì đâu mà phải hỏi”. bọn địch căm lắm, đánh ông. Ông la to để mọi người ở các hầm bên cạnh biết. Lập tức bà con lao ra khỏi hầm, vây quanh bọn địch để phản đối. Cực chẳng đã, bọn địch bắt giải ông Ngư đi. Thế nhưng đi chừng mới được 200m, thấy bà con kéo theo quá đông, tiếng hô đòi thả ông Ngư làm địch sợ dân chúng sẽ tiến hành biểu tình lớn. chúng đành thả ông Ngư và nói với nhau, dân làng này cứng cổ và son sắt thật, dám cả gan thờ lãnh tụ Cộng sản trong nhà.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 05 Tháng Mười Một, 2011, 07:30:13 pm
Thành công của một phong trào

 Phong trào dân quân, tự vệ đánh máy bay địch bay thấp được đánh giá là một trong những thành công lớn của quân và dân trong cuộc chiến tranh nhân dân chống lại cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc XHCN bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ.

 Trong cuộc chiến tranh này, dân quân, tự vệ các địa phương đã dùng súng trường, súng máy, pháo phòng không bắn rơi 424 máy bay hiện đại thuộc 18 loại khác nhau của không quân Mỹ. Dân quân, tự vệ vừa phối hợp chiến đấu với bộ đội Phòng không - Không quân bảo vệ các trọng điểm ở thành phố lớn, khu công nghiệp và các tuyến đường giao thông vận tải chiến lược, vừa độc lập chiến đấu, chủ động để tổ chức mai phục, đón lõng đánh máy bay địch ở mọi nơi, mọi lúc, trong mọi thời tiết, ban ngày và ban đêm với cách đánh dũng cảm, mưu trí sáng tạo, bằng các lực lượng nhỏ; tổ, tiểu đội luân phiên cơ động trực chiến và các tổ dân quân, tự vệ vừa sản xuất, vừa chiến đấu tại chỗ. Lưới lửa tầm thấp của dân quân, tự vệ đánh địch có hiệu quả góp phần vào lưới lửa phòng không của ba thứ quân gồm nhiều độ cao, nhiều hướng, vừa có chiều rộng vừa có chiều sâu, động viên khí thế chiến đấu của quần chúng, đã tự bảo vệ được một số trọng điểm, tạo điều kiện cho một bộ phận bộ đội Phòng không tập trung lực lượng bảo vệ các mục tiêu quan trọng và tăng cường cho chiến trường miền Nam.

TV (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 05 Tháng Mười Một, 2011, 07:30:56 pm
Thay hình, đổi dạng để làm nhiệm vụ

 Chuyện kể rằng, trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, sau chuyến đưa đồng chí Lê Đức Anh (từ miền Nam ra miền Bắc) thoát khỏi cơn bão biển và sự săn lùng của tàu chiến giặc, đồng chí Tư Mao (Đoàn trưởng Đoàn tàu S.950) được tình báo kỹ thuật cho biết có kẻ phản bội trong nội bộ cơ sở của Đoàn.

 Trước tình hình ấy, Thường trực Quân ủy Trung ương chủ trương: số người và cơ sở vật chất của Đoàn S.950 còn lại sẽ rút về căn cứ tạm lánh một thời gian chờ đồng chí Tư Mao cải dạng xong sẽ tiếp tục hoạt động.

 Và Tư Mao - một đảng viên cộng sản, anh hùng của tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển lại một lần nữa tỏ rõ tinh thần gan góc, sắt đá của mình trước thử thách mới. Anh vui vẻ, tình nguyện vào khoa chỉnh hình của Quân y viện 108 để cho các bác sĩ chuyên khoa thay hình, đổi dạng.

 Ạnh phải qua 5 ca mổ. Ca mổ thứ nhất, thay đổi lông mày xếch thành nét ngang và làm cho mắt một mí thành hai mí. Ca mổ thứ hai, làm cho gò mũi cao hơn trước. Ca mổ thứ ba, làm cho cằm to hơn trước. Ca mổ thứ tư làm thay đổi đường vân trên đầu ngón tay. Ca mổ thứ năm, một ca mổ lớn đổi chỗ cho lớp da đầu có tóc ở gáy phía trước để che cái trán hói.

 Cải dạng xong, đồng chí Tư Mao mang khuôn mặt khác và cái tên khác về vùng đước Cà Mau. Anh cùng đồng đội tổ chức móc nối lại cơ sở trong vùng địch… Trong cuộc Tổng tiến công Mùa Xuân 1975, Đoàn tàu S.950 chở đầy vũ khí, đạn dược (đứng trong đội hình trùng điệp của quân và dân cả nước) xé sóng biển Đông tiến vào giải phóng miền Nam.

H (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 05 Tháng Mười Một, 2011, 07:31:39 pm
Thần tốc… quán triệt chỉ thị

 Trong lịch sử 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc (chống Pháp và chống Mỹ) của nhân dân ta, chưa bao giờ việc quán triệt chị thị của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng xuống cán bộ, chiến sĩ quân đội lại đạt kỷ lục… thần tốc như trong chiến dịch Hồ Chí Minh.

 Sáng 30 tháng 4 năm 1957, khi thấy đại quân ta bao vây chặt Sài Gòn, chuẩn bị tổng công kích, ngụy quyền Sài Gòn vội vã họp các “tổng trưởng” ngụy ở dinh “Độc lập” để làm lễ ra mắt “tân nội các”. Tổng thống ngụy Dương Văn Minh đem phát thanh cuộn băng ghi âm đề nghị “ngừng bắn” của mình hòng tìm cách vớt vát sự tồn tại của ngụy quyền và hòng “ngăn chặn” cuộc tổng công kích của ta.

 Trước tình hình đó, Bộ Chính trị đã chỉ thị ngay cho mặt trận; “Tiếp tục công kích Sài Gòn theo kế hoạch; tiến quân với khí thế hùng mạnh nhất; giải phóng và chiếm lĩnh toàn bộ thành phố; tước vũ khí quân địch, giải tán chính quyền các cấp của địch; đập tan triệt để mọi sự chống cự của địch”.

 Quán triệt Chỉ thị của Bộ Chính trị, các cánh, các mũi tiến công của quân ta đập tan các ổ đề kháng cuối cùng của địch, ào ạt tiến quân và các đường phố Sài Gòn. Trong hành tiến, cán bộ, chiến sĩ ta nhắc nhở nhau: “Không có chuyện ngừng bắn. cứ tiếp tục tiến công. Thời cơ nghìn năm có một là đây!”.

 Thế mới hay, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam là những người hết sức nhạy bén về chính trị, có ý chí quyết thắng cao, có tinh thần kỷ luật và tinh thần trách nhiệm đối với vận mệnh dân tộc, quán triệt nhanh và đầy đủ quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị.

TV (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 05 Tháng Mười Một, 2011, 07:32:12 pm
Tiếng điếu cày quyến rũ

 Giáp Tết năm ấy, như mọi lần, sau đợt chiến đấu dài ngày, Sư đoàn 2 chúng tội lại rút về căn cứ ở sâu trong rừng Trường Sơn củng cố, huấn luyện. Xuân về, tuổi trẻ không khỏi bâng khuâng, ao ước. Cũng chẳng mơ mộng cao xa gì đâu, nhiều khi chỉ là một mong muốn nho nhỏ, như được hút điếu thuốc lào “thật đã” chẳng hạn. Đi đánh trận thì quên; nhưng về đây rỗi rãi, lại “nhớ” nó cồn cào. Đang lúc ngao ngán, thì một cậu chợt reo to: “Tớ có cách rồi!”… chả là, đơn vị tôi trú quân gần đường giao liên, quân từ miền Bắc vào bổ sung cho mặt trận thường qua đường này. “Gì, chứ món đó, lính mới sẵn lắm!”. Cậu ta bảo thế, rồi rủ chúng tôi làm mấy chiếc điếu cày thật đẹp, chiều tối ra ngồi bên đường giao liên đón đợi, cứ thấy đoàn quân nào đi tới, lại chĩa cái điếu dài ngoẵng ra rít cho thật kêu, rồi chào, hỏi nhau tíu tít. Nghe tiếng điếu ro ro, quyến rũ, nhiều “lính mới” sà ngang xuống hút nhờ. Khi biết chúng tôi hút bằng lá rừng, anh em thương lắm, lật ngay ba lô bốc cho một vốc; có cậu cho cả một bánh 5 lạng chưa bóc tem, loại thuốc lào Tiên Lãng chính hiệu hẳn hoi!...


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 05 Tháng Mười Một, 2011, 07:33:11 pm
Tình huống bất ngờ

 Sau khi chiến dịch Hồ Chí Minh vừa kết thúc, một tổ phóng viên quay phim đoàn X thuộc Tổng cục Chính trị - Quân đội nhân dân Việt Nam được lệnh trở lại Buôn Ma Thuột, diễn tập quay lại cảnh trận đánh mở màn chiến dịch hồi đầu tháng 3 năm 1975.

 Đến cảnh quay pháo kích, ta bố trí hơn mười khẩu trọng pháo cùng lúc bắn cấp tập vào một khu rừng hoang.

 Đạn nổ tập trung vào một góc rừng. Khói đen bao phủ mù mịt. Bỗng đâu từ ven rừng, một đám người quần áo rách rưới, bẩn thỉu, tóc tai râu ria xồm xoàm, treo đủ các loại áo may ô vải trắng, vải dù vào nòng súng, tay giơ cao quá dầu, lốc nhốc kéo ra. Thì ra trong khu rừng này còn gần một tiểu đoàn tàn quân ngụy thất trận vẫn ngoan cố ẩn náu, không chịu ra trình diện chính quyền cách mạng. Sau trận pháo, chúng tưởng quân ta bao vây tiêu diệt nên ra hàng. Các nhà quay phim vội tranh thủ ghi lấy cảnh quân ta bắt tù binh, thu vũ khí, dẫn giải về tuyến sau.

Thủy Nguyên (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 05 Tháng Mười Một, 2011, 07:33:47 pm
“Võ Tòng” của Tây Nguyên

 Một lần chiến sĩ quân y Lê Đình Đơ ở mặt trận Tây Nguyên dậy rất sớm, đi công tác. Đến một cây gạo giữa bãi lau, anh vừa kịp phát hiện có một con hổ lớn đang rình mình, thì ngay lập tức, con hổ đã xông vào vồ. Đơ bình tĩnh giương súng bắn. Đạn không nổ, anh đành dùng lê đánh nhau với hổ xung quanh gốc cây. Khi con hổ làm gãy súng của anh thì cũng là lúc anh bồi cho hổ nhát lê thứ 37, nhát lê cuối cùng, khiến cho “chúa sơn lâm” đổ quỵ. Sau chiến công này, anh Lê Đình Đơ được quân khu biểu dương khen thưởng và từ đó anh em gọi anh là “Võ Tòng” của Tây Nguyên.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 05 Tháng Mười Một, 2011, 07:34:26 pm
Xe tăng đến chưa?

 Để chuẩn bị tiến công tiêu diệt cứ điểm Làng Vây (2-1968), Trung đoàn công binh 7 được giao nhiệm vụ dọn đá ngầm, khơi thông luồng lạch sông Sê Pôn cho xe tăng bí mật cơ động đến sát căn cứ địch. Anh em công binh đã bao đêm không quản giá rét bơi lặn dưới nước, thăm dò, đánh dấu từng quãng các mức nông sâu, các tảng đá lớn được phá vỡ hoặc lăn kích vào hai bên bờ sông. Họ làm việc hăng say, khôn khéo, nhưng chưa ai biết xe tăng sẽ đi ra sao? Khi công tác chuẩn bị đã hoàn tất, cả Trung đoàn dàn đội hình dọc sông bảo đảm đường cơ động cho xe tăng. Nhiều đoạn anh em phải ngâm mình dưới nước lạnh buốt làm lộ tiêu sống dẫn đường. mãi đến 20 giờ đêm vẫn chưa nghe thấy tiếng máy nổ xe tăng đâu, chỉ thấy những thuyền đen lù lù có người chống sào trôi trên sông. Nhiều đồng chí sốt ruột hỏi: “Xe tăng đâu, sắp đến chưa?” thì được trả lời: “Xe tăng đây chứ đâu”. Họ vẫn không tin, chắc là chưa phải, đây là “thuyền” bảo vệ chứ, xe tăng làm sao mà nổi thế được!

 Các chiến sĩ xe tăng nghe vậy mà lòng dạ xốn xang vì yếu tố bí mật đã được bảo đảm. Chỉ ít phút nữa thôi là kẻ địch sẽ bị giáng đòn bất ngờ, choáng váng không kịp trở tay.

Trần Văn Bê


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 05 Tháng Mười Một, 2011, 07:35:07 pm
Ba lần “chọc thủng dạ dày” địch

 Trong kháng chiến chống Mỹ, với diện tích rộng tới 17km vuông, Tổng kho Long Bình được ví như cái “dạ dày chiến tranh” của Mỹ - ngụy. Nơ đây không chỉ chứa súng ống, bom đạn mà còn chứa “thượng vàng, hạ cám”, các phương tiện vật chất, kỹ thuật chiến tranh của địch.

 Thượng tá Ngô Văn Sơn, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, người cán bộ đại đội Bộ đội Đặc công năm xưa, người đã 3 lần chỉ huy đại đội “chọc thủng dạ dày” địch, kể lại: những năm đó, “cái dạ dày” này của địch được bảo vệ, canh phòng hết sức cẩn thận. Chỉ riêng công tác trinh sát, phải vượt qua 8 hàng rào kẽm gai kiên cố, có đông lính và chó Béc giê canh; đèn pha, pháo sáng soi tứ bề, suốt đêm; hệ thống báo động tự động hiện đại cực kỳ nhạy cảm…, đã đủ thấy khó khăn. Bộ đội phải ém mình, “án binh bất động” hàng giờ đồng hồ, bằng sự tinh thông nghiệp vụ, chớp thời cơ “sờ tận tay” cái “dạ dày địch”. Rồi những ngày đêm miệt mài nghiên cứu cách đánh sao cho bí mật, táo bạo, bất ngờ, sao cho mỗi trận đánh là một lần “thiên biến vạn hóa” khiến địch không sao tìm được cách đối phó… mới thấy hết kỳ công của bộ đội ta. Ba lần Tổng kho Long Bình cháy, tiếng bom đạn địch bị nổ làm rung chuyển cả Sài Gòn. Mỹ - ngụy hết sức đau đầu mà không làm sao bảo vệ Tổng kho Long Bình một cách hữu hiệu, còn nhân dân ta trong vùng bị địch chiếm đóng thì vô cùng hả hê.

X.P. (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 05 Tháng Mười Một, 2011, 07:35:39 pm
Bắn chẻ đầu

 Năm 1967, chín cô gái xã Kỳ Phương (Kỳ Anh) được trang bị 3 khẩu thượng liên trực chiến đấu bắn máy bay Mỹ. Qua thực tế chiến đấu, các cô gái xây dựng quyết tâm “Phải bắn chẻ đầu máy bay Mỹ”. Chờ cho địch nhào xuống thấp nhất, gần nhất, nhằm thật trúng để những viên đạn bắn lên găm thẳng vào máy bay Mỹ. Bằng cách đánh ấy, trận địa của tiểu đội xây dựng trên cồn cát ven biển ở những chỗ bất ngờ nhất. Trong 27 ngày (từ 26.7 đến 21.8) tiểu đội đã độc lập bắn rơi 3 máy bay Mỹ và phối hợp với các đơn vị bạn bắn rơi 4 chiếc khác.

 Tiểu đội trưởng Tưởng Thị Diên được thay mặt chị em đi gặp Bác Hồ, được Người gửi tặng mỗi cô một chiếc huy hiệu. Năm 1971, tiểu đội 9 cô gái Kỳ Phương đã được tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.

Tùng Mậu (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 05 Tháng Mười Một, 2011, 07:36:09 pm
Bột gạch non
lừa máy bay trinh sát địch

 Năm 1966, cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ vào miền Bắc nước ta đã chuyển sang bước leo thang thứ hai, đánh ra ngoài vĩ tuyến 20, trừ Hà Nội và Hải Phòng. Trong thời gian này, Tư lệnh Mỹ ở Thái Bình Dương đích thân phát động chiến dịch mang tên “bàn tay sắt” nhằm tiêu diệt lực lượng tên lửa phòng không ta. Chúng dựa trên sự phát hiện chỗ yếu của tên lửa: đó là cột khói màu da cam bốc cao khi phóng. Bay vào gần vùng nghi có tên lửa, chúng phát tín hiệu giả hoặc cử một tốp nhỏ cơ động nhử tên lửa ta bắn. Căn cứ vào cột khói có màu sắc riêng biệt, chúng tập trung ưu thế lực lượng bay thấp cơ động, vọt qua lưới lửa pháo cao xạ vào đánh phá trận địa tên lửa. “Tương kế tựu kế”, trong trận đón lõng máy bay địch ở khu vực Đồ Sơn - Lê Xá (Hải Phòng) ngày 31-5-1966, phân đội 74 - Đoàn 5 tên lửa đã hiệp đồng chặt chẽ với Đoàn pháo phòng không Tháng Tám đối phó có hiệu quả với âm mưu thủ đoạn mới của địch. Bộ đội ta đã trộn thuốc nổ với bột gạch non đóng thành bao, cho nổ khi phát hiện máy bay trinh sát địch vào khu vực bảo vệ. Cách nghi binh làm cho bọn giặc lái như sa vào một trận địa “bát quái”; còn ta, các trận địa thật gần như an toàn tuyệt đối, có điều kiện tập trung hỏa lực tạo thành lưới lửa nhiều tầng tiêu diệt máy bay địch từ hai bên sườn và phía sau. Nhận xét về trận đánh này, cái lớn nhất chúng ta thu được là dùng những vật liệu dễ kiếm để nghi binh thu hút địch, bảo vệ mình. Đây là kinh nghiệm rất quý, mà Bộ đội Phòng không cần tiếp tục nghiên cứu để đánh thắng địch bằng các “vũ khí” tự tạo, các trang bị có trong biên chế trong thế trận phòng không nhân dân đã được xây dựng vững chắc từ thời bình.

M.K. (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 05 Tháng Mười Một, 2011, 07:36:38 pm
Bù nhìn diệt giặc

 Đây là câu chuyện có thật trong những năm đánh Mỹ của du kích Bến Tre. Vinh, một du kích nhỏ bé lại có tay nghề thợ mộc làm những công việc vặt hàng ngày. Sau khi bị bắt buộc phải đi xem cuốn phim tài liệu của Mỹ quảng cáo về người máy, anh liền nảy ra một ý nghĩ ngộ nghĩnh: làm bù nhìn để đánh Mỹ. Anh đem ra bàn trong tổ du kích, được mọi người góp ý và bổ sung cách làm, từ đó Vinh và mấy anh em ra công đẽo gọt…

 Một hôm bọn Mỹ càn vào xã anh. Toán đi đầu có 3 tên lăm lăm khẩu súng, vừa qua cổng làng, từ chỗ ngoặt “có một người” đội lá ngụy trang vươn ra giương súng về phía bọn chúng. Bọn này hôt hoảng liền xả đạn vào “người du kích”. Khi biết là hình nộm sọ dừa cả bọn cười ngất, chọc 3 càng lính nhút nhát thỏ đế. Thấy lạ, cả đám đô bổ vào xem, thằng này nâng tay, thằng kia xoay đầu người máy. Đang vây tròn bàn tán thì bỗng 2 phát súng ngựa trời từ trong bụi cây bắn ra 5 đứa gục ngã, cả chục thằng bị thương, số còn lại hốt hoảng bỏ chạy. Du kích ta nhanh chóng ra khiêng người máy về sửa chữa. Anh em trong đội được một phen cười vỡ bung. Cậu Vinh đắc ý với sáng kiến của mình nói rằng: Cũng là kiếp bù nhìn, nhưng bù nhìn loại này lại yêu nước và được việc.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 05 Tháng Mười Một, 2011, 07:37:20 pm
Ca hát mà lấy đồn giặc

 Cất tiếng hát lấy được đồn giặc quả là chuyện hiếm có. Ấy vậy mà lại là sự thực đối với ông Huỳnh Khánh (từng công tác tại Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Cà Mau) và nghệ sỹ Minh Đương (là Trưởng đoàn nghệ thuật Hương Tràm).

 Hát trước đồn là một hoạt động tuyên truyền binh vận của văn công. Ông Hình Thanh Ân, Giám đốc Đài phát thanh - truyền hình Sóc Trăng kể lại: Hồi kháng chiến chống Mỹ, các ông lấy tấm ni lông căng rộng ra, khoét lỗ ở giữa để phát thanh nhằm làm cho tiếng nói phân tán ra để địch khỏi biết mình ở chỗ nào. Khi đó, ở Sóc Trăng, tuyên truyền phải dùng tiếng Việt, sau đó là tiếng Khmer, đã vậy lại ca 2 bài 6 câu. Vọng cổ hiện đại phải bớt câu đi.

 Đối với Minh Đương, anh nói phải có “chiến thuật ca binh vận”. Ca rồi ngưng 5 phút để nói chuyện rồi lại ca tiếp. Nói chuyện tuyên truyền rồi nghỉ 5 phút để giặc chờ… nếu ta có rút đã đi được một quãng đường xa an toàn.

 Huỳnh Khánh đánh đàn, Minh Đương ca quanh đồn Thứ Giải (Bình Phú). Những bài ca Sóng Tam Giang, Xuân Tình đêm ấy đã thay súng đạn gọi giặc ra hàng. Thế mới biết sức mạnh của văn nghệ không thể lường hết.

Văn Nhân


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 05 Tháng Mười Một, 2011, 07:37:53 pm
Cách đánh “độc chiêu”

 Hàng rào điện tử Mắc Namara có khả năng phát hiện mục tiêu và có nhiều loại vũ khí sát thương. Khi có động, pháo địch từ Cồn Tiên, Dốc Miếu đổ đạn xuống, khó bề thoát được. Thời gian đầu do chưa có kinh nghiệm du kích các xã Giang Hải, Sơn Mỹ huyện Gio Linh đã phải chịu tổn thất. Dần dần có tới “ngàn lẻ một” cách đánh được sáng tạo ra nhưng có lẽ “độc chiêu” là cách sau đây: Du kích Trung Hải bắt con vật từng là bạn chơi tuổi thơ - tắc kè, nhét thuốc lào vào mồm rồi cho tắc kè vào ống bơ và treo lên hàng rào điện tử. Khi thuốc ngấm, tắc kè say, ho sù sụ như tiếng người. Tưởng bị ai đột nhập, địch cho pháo bắn như mưa. Có đêm, chúng, chúng huy động cả máy bay ra yểm trợ. Đây là tiếp nối của sáng kiến thả cóc ngậm thuốc lào vào đồn địch thời kháng chiến chống Pháp, cóc “ho” khiến quân địch bắn lung tung.

Hồng Hạnh (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 05 Tháng Mười Một, 2011, 07:38:22 pm
“Chia lửa” cho đồng chí… chồng

 Đó là trường hợp của hai vợ chồng anh hùng các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Nguyễn Thị Út. Một đêm, chị Út được chồng là anh Tịch phân công đưa tổ nữ du kích phối thuộc với tổ nam du kích đi rải truyền đơn trong thị trấn do địch kiểm soát. Sau khi phân công hai nữ du kích đứng gác bên này sông, chị Út sang sông đứng gác ở vị trí mà địch hay phục kích để chặn đường rút của du kích, mỗi khi họ thâm nhập vào thị trấn. Đứng gác được một lúc, chị Út phát hiện ra hai toán lính lặng lẽ đi tuần dọc theo mặt đê và dưới bờ sông. Tình huống bất ngờ buộc chị phải cân nhắc: rút qua sông trước rồi bắn súng báo động hay báo động rồi mới rút? Lo lắng cho chồng và tổ nam du kích, chị quyết định bắn thẳng vào tốp giặc rồi ôm súng vượt sông. Sau hồi choáng váng, địch tập trung hỏa lực bắn về hướng chị Út. Từ phút ấy, nghe tiếng súng của vợ, rồi tiếng súng địch bắn loạn xạ về hướng sông, anh Tịch và đội nam du kích vội nổ súng bắn về hướng ấp. Chị Út qua sông, hiểu ý chồng qua tiếng súng, chị cùng hai nữ du kích lại nổ súng và anh Tịch và tổ nam du kích rút qua sông. Qua sông, anh Tịch và tổ nam du kích lại nổ súng thu hút hỏa lực địch để chị Út và tổ nữ du kích rút xa thêm.

 Khi cả hai tổ nam và nữ du kích gặp nhau ở vị trí an toàn, chị Út cười rồi nói với chồng: “Tôi chia lửa cho đồng chí… chồng đó, nghen!”


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 05 Tháng Mười Một, 2011, 07:38:56 pm
Chiến công của Võ Viết Thanh

 Những ngày đầu Xuân 1968, đồng bào Bến Tre không ngớt ca ngợi chiến công của du kích Hàm Luông đánh chìm “cơ xưởng hạm 833” của Mỹ, dài 110 mét, rộng 25 mét, trên tàu có hàng trăm sĩ quan là chuyên viên kỹ thuật Mỹ, Úc, Tân Tây Lan và nhiều máy móc tinh vi. Hạ được nó, du kích ta đã sử dụng quả mìn 200kg do Binh công xưởng tỉnh chế tạo. Người có công chế tạo và hướng dẫn du kích sử dụng nó là Võ Viết Thanh. Vì vậy, trong buổi mừng công, du kích Hàm Luông gọi chiến công trên là “chiến công Võ Viết Thanh”. Một tháng sau, cũng bằng quả mìn do Võ Viết Thanh chế tạo, du kích Hàm Luông lại tập kích căn cứ nổi của Mỹ, nhấn chìm 15 tàu, trong đó có tàu hải quân 812 dài 110 mét, rộng 12 mét diệt gần 200 tên Mỹ, phá hủy 22 khẩu pháo, 6 xe bọc thép M.113.

Trần Hồ Nam


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 05 Tháng Mười Một, 2011, 07:39:34 pm
Cối “lép” diệt… trực thăng

 Trong các cuộc càn quét đánh phá vào vùng giải phóng ở tỉnh Quảng Nam của Mỹ - ngụy, số địch bị tiêu diệt do trúng mìn tự chế của du kích, thường chiếm tỷ lệ 20%. Những quả đạn pháo cối của chúng bắn ra nhưng không nổ (cối lép) được du kích và nhân dân ở đây cải tiến lắp thêm các loại ngòi nổi tạo thành những quả mìn mới. Vì vậy, quân Mỹ ở Chu Lai tìm mọi cách thu gom, bắt nhân dân quanh căn cứ phải bán đạn lép cho chúng nhằm triệt nguồn nguyên liệu chế tạo mìn của du kích. Ở Kỳ Sanh, được các chú bộ đội đưa ngòi nổ hẹn giờ và hướng dẫn cách sử dụng, em Nguyễn Thị Minh (15 tuổi) đã khéo léo gài trong quả đạn lép rồi báo cho lính Mỹ. Như thường lệ, mua xong lính Mỹ đưa cả đống đạn lép vào máy bay trở về căn cứ. Trên đường bay, quả đạn cối đó đã nổ, phá tung chiếc trực thăng cùng sáu tên Mỹ trên đó. Từ đó bọn Mỹ không dám làm cái việc nguy hiểm đó nữa.

 Còn ở Bình Định, cán bộ quân giới tỉnh đã sáng chế ra một loại ngòi nổ có chong chóng giữ kim hỏa và ngửa lên trên có gắn vào các quả cối. Khi trực thăng địch xuống thấp đổ quân tạo nên luồng gió làm chong chóng quay và tuột khỏi kim hỏa làm nổ mìn. Mảnh mìn định hướng tạo nên vùng sát thương rộng phá hủy máy bay địch.


Lê Thanh Hải (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 05 Tháng Mười Một, 2011, 07:40:04 pm
Cơ động bằng… ghe xuồng

 Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, ở hướng Đông Nam, sau khi làm chủ khu Nhơn Trạch, căn cứ Thành Tuy Hạ, căn cứ hành quân Cát Lái, mũi tiến quân của sư đoàn 325 quân đoàn 2 đã tiến sát sông Đồng Nai. Pháo binh ta dồn hỏa lực bên bờ sông yểm hộ cho công binh, bộ binh và các đơn vị khác tràn qua sông, đồng thời không cho địch tháo chạy bằng đường sông qua biển. Thời gian lúc này rất khẩn trương mà phương tiện để cơ động của bộ đội lại có hạn. Thấy vậy, nhân dân xã Phú Hữu (Nhơn Trạch, Biên Hòa nay là huyện Long Thành - Đồng Nai) đã không quản hiểm nguy, bom đạn, hăng hái đưa bộ đội sang sông bằng phương tiện của riêng mình. Hàng trăm chiếc thuyền, xuồng đuôi tôm lao đi dưới làn bão lửa chuyển bộ đội qua sông. Sau hai giờ toàn bộ sư đoàn 325 đã qua sông kịp thời và thần tốc tới Sài Gòn đánh chiếm Thượng nghị viện, Bộ Quốc phòng ngụy, làm chủ quận 4 và 9. Ngay trong lúc vượt sông, đơn vị cũng đã bắn chìm 2 tàu chiến. Ủy ban quân quản thành phố Sài Gòn đã gửi tặng nhân dân xã Phú Hữu bằng khen, ghi nhận công lao đó.

Hùng Phước


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 05 Tháng Mười Một, 2011, 07:40:58 pm
Đâu chỉ có B40, B41…
mới vô hiệu hóa được xe tăng địch

 Vào một ngày cuối năm 1970, một đoàn xe, cả xe tăng và cơ giới địch khoảng hơn 100 chiếc bất ngờ tập kết ở vùng Trảng Bàng, Tây Ninh. Chúng định làm gì đây? Nhân dân ấp Chánh (Trảng Bàng) vốn nhạy cảm với “thời tiết chiến sự” và thông thạo quy luật hoạt động của địch trong vùng đã hiểu ngay âm mưu của chúng.

 Địch âm mưu bao vây, tiêu diệt Tiểu đoàn 7, Trung đoàn M.6, Phân khu I Sài Gòn - Gia Định của ta. Đơn vị này sau hai ngày đánh địch phản kích ở Lộc Hưng đang trụ bám địa bàn. Lo lắng cho bộ đội chỉ có vài trăm quân làm sao chống chọi lại với xe tăng của địch. Tìm cách báo cho bộ đội thì không được vì địch kiểm soát rất gắt gao. Mấy chị em trong ban địch vận ra bìa ấp quan sát rồi quyết định hành động: lẳng lặng vận động đồng bào đi mua xăng của địch. Đồng bào ấp Chánh vốn có cảm tình với cách mạng và hết sức căm ghét quân Mỹ - ngụy nên hiểu ngay ra vấn đề. Thế là đội quân kinh doanh xăng dầu bỗng chốc tập hợp và lần lượt kéo nhau ra nơi tập kết của đoàn xe cơ giới ngụy hỏi mua xăng. Được dịp bán chác, bọn lính địch lập tức bán tống, bán tháo xăng cho đồng bào.

 Đến giờ đi càn, đoàn xe địch rú máy ầm ĩ hùng hổ, tiến vào Lộc Hưng. Tốp đi đầu vào trận địa phục kích bị các chiến sĩ Tiểu đoàn 7 dùng B40, B41 bắn tới tấp. Chiếc bốc cháy, chiếc đứt xích nằm ì ra.

 Trận đánh kéo dài, đến gần trưa nhưng không một chiếc xe tăng nào của địch đột nhập vào đội hình chiến đấu của ta vì kim đồng hồ báo xăng chỉ dưới mức cho phép tác chiến. Nhiều chiếc lao lên nhưng chỉ được mươi phút là chết đứng vì hết xăng…

 Vậy là, đâu chỉ có B40, B41… mới vô hiệu hóa được xe tăng địch.

TV( st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 05 Tháng Mười Một, 2011, 07:41:21 pm
Đèn lân tinh

 Bộ đội ta hành quân trong rừng Trường Sơn sâu thẳm, đưa bàn tay lên trước mắt cũng không nhìn thấy nên vấp ngã liên tục. Mà rừng đêm thì lắm “chướng ngại vật” gốc cây, tảng đá, ổ gà, ổ trâu, va vào “thiệt hại” như chơi. Đèn không được phép dùng vì sợ lộ bí mật, sợ biệt kích, máy bay. Trong hoàn cảnh đó, một sáng kiến nảy ra:

 Có đồng chí nhận thấy khúc cây mục trong đêm có lân tinh phát sáng bèn gài quanh ba lô. Hành quân đêm, người đi sau nhìn theo khúc gỗ phát sáng mà đi, vừa đúng hàng lại không sợ vấp ngã. Kinh nghiệm này được phổ biến rộng và được đặt tên là “đèn lân tinh”.



Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 05 Tháng Mười Một, 2011, 07:41:52 pm
Đến… như thần

 Tiểu đoàn 279 đặc công được lệnh chuẩn bị đánh kho bom Tân Mỹ Chánh. Đêm 14-9-1972, Trịnh Xuân Hiệp, Đại đội trưởng Đại đội 236 vào vị trí trinh sát. Khi Hiệp vừa lọt qua hàng rào thì bị địch phát hiện. Chúng bắn về phía anh như vãi đạn. Hiệp nằm im quan sát. Tưởng anh bị dính đạn chết, chúng tung quân ra ngoài hàng rào để lùng sục. Hiệp phán đoán rất nhanh, nếu lọt ra tất phải chạm địch và sẽ bị lộ kế hoạch. Anh liền luồn trở lại đường tiến công địch, vào khu nhà của chúng. Anh chui vào giữa các dãy giường. Khi địch lục tục trở lại, anh lại trườn ra, rồi men theo rãnh nước trở về đơn vị.

 Đêm 20-10-1972, Trịnh Xuân Hiệp nhập vào kho, gài mìn phá hủy tất cả 10 kho chứa 50 ngàn tấn bom đạn, diệt 57 tên địch. Anh trở về đơn vị an toàn. Sau chiến công đó, anh được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Xuân Tân (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 06 Tháng Mười Một, 2011, 12:41:14 pm
“Đội đánh nước” Pháo binh

 Đối với bộ đội ta, lực lượng Đặc công nước đã trở nên quen thuộc. Nhưng trong kháng chiến chống Mỹ, Pháo binh còn có một lực lượng mà nhiều người chưa được biết đến, đó là “Đội đánh nước” Pháo binh.

 Số là, để kịp thời đánh trả những hoạt động của đế quốc Mỹ dùng không quân và hải quân đánh phá miền Bắc nước ta vào năm 1964, Bộ Tư lệnh Pháo binh đã chủ trương mở rộng lực lượng Pháo binh 3 thứ quân. Vậy là, cùng với Pháo binh chủ lực, Pháo binh bộ đội địa phương, Pháo binh dân quân, tự vệ, các “Đội đánh nước” Pháo binh đã được thành lập ở các tỉnh Quảng Bình, Thanh Hóa…

 Được trang bị chủ yếu là pháo ĐKZ và thủ pháo, ngoài ra còn có tiểu liên, bộc phá, các “Đội đánh nước” chèo thuyền ra khơi bí mật áp sát tiến công tàu địch. Chỉ tính từ ngày 23-2 đến ngày 9-3-1968, 6 “Đội đánh nước” của các xã: Vĩnh Quang, Vĩnh Lâm, Vĩnh Long, Vĩnh Giang, Vĩnh Thái, Vĩnh Thành (Vĩnh Linh) đã bắn cháy và bắn chìm 16 tàu địch, làm bị thương hàng chục tàu địch khác, diệt 80 tên Mỹ. Đây là thắng lợi của việc vận dụng đúng đắn quan điểm chiến tranh toàn dân, toàn diện của Đảng; thể hiện tinh thần tích cực tiến công, vận dụng hình thức tổ chức lực lượng và cách đánh sát tạo, đốc đáo của quân và dân ta nói chung, của lực lượng Pháo binh 3 thứ quân nói riêng.

Đức Lê (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 06 Tháng Mười Một, 2011, 12:41:58 pm
Gài mìn đánh… trực thăng

 Năm 1967, ở Khu 5 máy bay địch đánh phá vùng giải phóng bằng những thủ đoạn nguy hiểm. Địch dùng những loại máy bay nhỏ nhẹ cơ động, có hình cán gáo bay rọ heo (nhân dân ta thường gọi là “tàu gáo”, “táu rọ”) để trinh sát, săn lùng mục tiêu. Máy bay có thể treo lơ lửng trên nhà cửa, công sự, đường sá, nếu phát hiện có lực lượng thì bắn phá, gọi thêm trực thăng đổ quân tập kích rồi rút nhanh chóng. Các lực lượng vũ trang địa phương và du kích đã sáng tạo nhiều cách đánh mưu trí dũng cảm, trong đó có cách đánh bằng mìn.

 Năm 1967, đồng chí Võ Phổ - Chính trị viên xã đội Ký Sanh (Tam Kỳ - Quảng Nam), đã đánh được trực thăng bằng mìn. Nắm chắc địa hình và quy luật hoạt động của địch, anh chọn lối xe tăng địch hay đi qua, đem mìn đánh tăng gài dưới đất, đồng thời gài mìn bằng đạn pháo trên ngọn cây để đánh máy bay. Miếng gài của ngòi nổ mìn ứng dụng được căng bằng sợi dây nối với một ngọn cây khác, xe tăng địch chạy qua trúng mìn đứt xích và bốc cháy. Máy bay trực thăng đến cứu, quần lượn đến quan sát, khi xuống thấp, mìn nổ, máy bay trúng mảnh đạn bốc cháy. Còn ở nhiều nơi khác, du kích đặt mìn ở bãi trống, nơi trực thăng đổ quân, dây gài mìn buộc vào cành cây con hoặc nón lá, mảnh bìa. Khi máy bay hạ cánh quạt gió làm cành cây lay động, làm bung nón bìa, kéo chốt gài làm nổ mìn. Du kích Hòa Minh (Quảng Đà), Bình Trung (Quảng Ngãi) làm “bù nhìn” để nhử máy bay địch, đặt mìn bên cạnh, dây gài buộc vào bù nhìn. Trực thăng vũ trang hạ cánh xuống đất làm mìn nổ, máy bay bị phá hủy. Nhiều toán “chụp quân” của địch, sa vào các trận địa mìn phục kích của du kích và bộ đội địa phương chẳng những không “chụp” được quân ta mà còn bị tổn thất nặng nề.

Bùi Thanh (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 06 Tháng Mười Một, 2011, 12:42:42 pm
Giải lao để đánh địch

 Trung đội 2, Đại đội 14, Quân giải phóng Thừa Thiên đang hành quân thì Trung đội trưởng Lê Văn Nuôi phát hiện một sự bất trắc: ngay hai bên đồi trước mặt đơn vị có một sổ phục kích của địch. Nếu triển khai chiến đấu thì đơn vị hoàn toàn trong thế bất lợi. Rất nhanh, anh phát lệnh cho đơn vị: tất cả giải lao 15 phút, đặt ba lô tại chỗ, phía sau đội hình, y tá sẽ phát thuốc tăng lực, mọi người về nhận. Kèm theo lệnh, anh ra ám hiệu rất khéo cho các tiểu đội dồn về phía sau và chuẩn bị đánh địch. Chiếc đài bán dẫn được đặt sau mô đá vẫn lanh lảnh các bài hát. Trung đội chia 2 mũi luồn rừng quặt ra sau lưng 2 tiểu đội thám báo địch mà chúng không hề hay biết, vì chúng vẫn yên trí chờ cho đơn vị hết giờ nghỉ tiếp tục đi tiếp vào ổ phục kích để diệt gọn. Lệnh nổ súng, cả Trung đội nhất loạt xung phong đánh vào sau lưng và 2 bên sườn địch. Lũ thám báo đứa chết tại chỗ, đứa bị thương, đưa sống sót chạy tán loạn vào rừng và gọi máy bay lên thẳng tới chi viện. Khi ấy, Trung đội của Nuôi đã nhanh chóng thu chiến lợi phẩm của địch và đã tiến khá xa lên phía trước rồi.

Thu Hòa (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 06 Tháng Mười Một, 2011, 12:43:31 pm
Gỗ Trường Sơn và bom bi Mỹ

 Nhằm tiết kiệm sức người, anh chị em Đại đội 816 thanh niên xung phong Hà Nội có sáng kiến làm những chiếc xe đạp hoàn toàn bằng gỗ, bánh xe cũng bằng gõ tròn đặc, đường kính 20cm để chở đá từ trên núi xuống, vừa đỡ trượt dốc, vừa có năng suất cao gấp năm lần người gánh. Gỗ Trường Sơn nhiều vô kể, thuận tiện cho việc làm xe đạp gỗ tham gia mở đường đánh Mỹ.

 Máy bay Mỹ thả rất nhiều bom bi loại quả dứa xuống mặt đường, có những quả khi rơi xuống, kíp nổ trên nắp không chạm vào ngòi nổ, bị câm. Để tiết kiệm thuốc nổ phá núi lấy đá, các chiến sĩ trong tổ phá bom đi nhặt bom câm. Khi nhặt, chỉ việc cầm cụm cánh rút lên, tháo nắp là lấy được khối thuốc nổ.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 06 Tháng Mười Một, 2011, 12:44:17 pm
Hai lần bắt gián điệp

 Một tên gián điệp định vượt biên giới bất ngờ vào ngày 30 Tết. Đến xã Sơn Kim (Hương Sơn) gặp em Vi Văn Hường đang đi chăn trâu. Hắn bảo “Tôi đi tìm con trâu lạc”. Phát hiện thấy những hành động đáng nghi, Hường đã khéo léo mời người lạ vào nhà, rồi vờ đi lấy củi, đến nhà bác đội trưởng sản xuất gần đó báo cáo. Nửa giờ sau hắn đã bị bắt.

 Năm năm sau, một chiều cuối năm 1967, vừa sẩm tối, một “chú bộ đội” vào nhà Hường xin nghỉ trọ. Thấy người chú béo đỏ, nhưng quần áo bạc màu, trên người lại có nhiều vết đỏ bầm. Hường rót nước mời “chú” uống, rồi lân la hỏi chuyện. Được biết “chú” bị lạc trong rừng một tháng trời rồi mà sao chú còn béo đỏ thế. Hường lập mưu cùng bạn đưa “chú” đến nhà bác công an xóm, rồi đi báo cho công an xã. Khi kiểm tra phát hiện đấy là một tên gián điệp nguy hiểm. Với thành tích trên, Vi Văn Hường đã được Bác Hồ thưởng huy hiệu của Người.

Hồng Lam (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 06 Tháng Mười Một, 2011, 12:44:53 pm
Hầm bí mật và
bảo vệ bí mật của hầm

 Hầm bí mật được mệnh danh là “áo giáp sắt” nằm trong “rừng người”, lòng dân, bảo đảm an toàn cho cán bộ hoạt động ở vùng ven. Sáng kiến và mưu trí của đồng bào thì vô tận, cho nên hầm bí mật có đủ loại: hầm dưới đất, hầm dưới giếng, hầm dưới nước, hầm trong tủ, trong bồ lúa, trên máng xối, trên nóc nhà, trên ngọn dừa… với nhiều kiểu dáng hầm khác nhau: kiểu đứng, kiểu ngồi, kiểu nằm ngửa dưới nước, kiểu nằm thoải mái có sàn lót, giường kê… Các kinh nghiệm được tích lũy, nâng lên thành nghệ thuật đào hầm và ngụy trang như vị trí đào hầm được chọn ở nơi địch không ngờ tới, có lúc chúng đứng ngay trên nóc hầm mà không tìm được. Dụng cụ đào hầm chỉ dùng có con dao phay là đảm bảo đào được hầm tốt. Tất cả các loại hầm đều được đào, khoét ban đêm, đất đem đổ ra xa, đổ trong bàu, xuống hầm chuối, đổ thành dòng lang, luống cày… Bọn địch dù gian ngoan xảo quyệt đến đâu cũng khó lòng phát hiện được. Trong nhiều năm kháng chiến, Tây Ninh không tính được hết là có bao nhiêu hầm bí mật do các mẹ, các chị, em đào, khoét để cất giấu nuôi dưỡng bộ đội.

Thanh Phương (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 06 Tháng Mười Một, 2011, 12:45:26 pm
“Kẻ hủy diệt” bị diệt bằng tôn và nam châm

 “Kẻ hủy diệt” là biệt danh của loại bom từ trường nhãn hiệu USA. Loại bom này được không quân Mỹ sử dụng lần đầu tiên vào khoảng năm 1967 trên miền Bắc nước ta; sau đó chúng sử dụng ồ ạt, với số lượng lớn vào năm 1968, gây nên nhiều khó khăn và thương vong cho ta, nhất là ở nam Quân khu 4. Trên tuyến đường 559, không quân Mỹ sử dụng loại bom này từ năm 1968 đến năm 1972 với số lượng bom đếm được chừng 44.412 quả. Đây là loại bom nặng 500 đến 700 bản Anh được cải tiến, lắp dù ở đuôi và cơ cấu điều khiển nổ điển từ. Với tính chất bẫy, ban đầu chúng đã gây không ít khó khăn và gây ra tư tưởng hoang mang cho ta vì những hiện tượng gây nổ kỳ lạ… Loại bom này khá lợi hại, thực hiện nhiều chức năng vừa là bom bẫy (nổ khi mục tiêu đến gần nhất) vừa là bom nổ chậm (tự hủy sau một thời gian) dưới nước làm chức năng của thủ lôi phong tỏa đường sông, đường biển.

 Qua nhiều lần nghiên cứu về nguyên lý và cấu tạo bom, Viên Kỹ thuật Quân sự đã cùng với Bộ Tư lệnh Công binh phá thử bằng nam châm và tôn ở xã Thổ Khối, huyện Gia Lâm, Hà Nội vào ngày 10-10-1967. Kết quả đạt 100%. Phương pháp được áp dụng rộng rãi trên chiến trường, quân và dân ta không còn ai “ngán” loại bom này nữa. Các đơn vị bộ đội, dân quân, tự vệ, thanh niên xung phong… đã chế tạo ra nhiều máy phá bom (được cấu tạo bằng tôn và nam châm) đơn giản mà hiệu quả, diệt được “kẻ hủy diệt” cả ở trên cạn và dưới nước.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 06 Tháng Mười Một, 2011, 12:46:20 pm
Không “coi” được thì đi

 Ở Thạch Phước, Tây Ninh, không mấy ai không biết tiếng Má chín. Gia đình Má là cơ sở tin cậy đã từng che chở, bảo vệ cho các đồng chí lãnh đạo của huyện Gò Dầu và của Khu. Một hôm, anh em ở hầm bí mật lên đang ngồi ăn cơm thì bất ngờ 1 tiểu đội địch kéo tới. Không kịp báo cho anh em biết để xuống hầm vì lúc này Má đang canh chừng ở ngoài cổng. Rất nhanh trí, Má Chí ngồi ngay mé đường giả bộ “đi ngoài”.

 - “Bà này thiệt là kỳ! Làm như vậy mà coi được à!”. Một tên trong đám quát.

 Được thể, Má Chín đốp lại thật to để cốt cho anh em trong nhà nghe thấy:

 “Vườn nhà tao, tao thích cho ra chỗ nào mà chả được, không “coi” được thì mời mấy ổng đi”. Bọn địch “chào thua” và quay gót.

Bình Long (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 06 Tháng Mười Một, 2011, 12:46:57 pm
Làm cho nó câm,
không cho nó nổ

 Trong chiến tranh phá hoại, giặc Mỹ ném bom xuống ngã ba Đồng Lộc đủ mọi thứ bom chồng chất lên nhau, hòng tạo ra một “điểm tắc” chặn đứt con đường ra tiền tuyến. Hàng ngày, tiểu đội trưởng phá bom Vương Đình Nhỏ cùng đồng đội đánh vật với các loại bom nổ chậm của địch để thông đường thông xe.

 Từ trong cuộc chiến đấu ác liệt đó, anh đã sáng tạo ra cách phá bom “làm cho nó câm, không cho nó nổ” bằng cách tính toán sử dụng một lượng thuốc nổ vừa phải, và đặt ở một hướng hợp lý đủ để tách đầu nổ ra khỏi quả bom, hoặc có lúc bom nổ chậm nằm trên đường, anh dùng lượng bộc phá đủ để hất quả bom ra xa đường hoặc cho nó nổ trên không, không cho nổ dưới đất phá hỏng đường. Trong những ngày địch đánh ác liệt ở ngã ba Đồng Lộc, anh đã cùng động đội phá trên 500 quả bom nổ chậm, riêng anh phá 150 quả, xứng đáng danh hiệu “Dũng sĩ phá bom nổ chậm”.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 06 Tháng Mười Một, 2011, 12:47:43 pm
Làng rừng

 Cuối năm 1958, hàng vạn dân Cà Mau không chịu sống dưới sự khủng bố của chính quyền Mỹ - Diệm đã kéo vào rừng U Minh, rừng đước, các khu rừng lõm lập nên các “làng rừng” để tránh giặc và đánh lại giặc.

 Hàng chục “làng rừng” với những cấu trúc đa dạng đã tạo nên một thế trận liên hoàn vững chắc. Mỗi “làng rừng” được tổ chức như một đơn vị hành chính nhỏ: có chi bộ đảng, các đoàn thể; có trạm xá, trường học; có đội du kích vũ trang, có tổ ren đúc vũ khí… Trong các “làng rừng” bọc tương trợ nhau. Khi vào làng họ đem theo gạo, muối đủ ăn vài tháng, sau đó thì tổ chức sản xuất: trồng trọt, đánh bắt cá, chăn nuôi.

 “Làng rừng" là căn cứ cho ta xây dựng và rèn đúc vũ khí, là bàn đạp cho lực lượng vũ trang tỏa ra tác chiến xung quanh vùng. “Làng rừng” không chỉ để tránh địch, bảo vệ lực lượng mà còn chứa đựng tư tưởng tiến công lớn. Với “làng rừng”, ta đã biến U Minh thành một căn cứ địa vững chắc, thành một pháo đài bất khả xâm phạm.

Việt Anh (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 07 Tháng Mười Một, 2011, 09:43:18 pm
Linh hoạt

 Sáng ngày 30-4-1975, trên đường đánh thọc sâu vào Sài Gòn, Trung đoàn 320 gặp xe tăng địch chặn ở phía Bắc cầu Bình Triệu. Ta bắn cháy hai chiếc, bọn địch bỏ xe chạy tán loạn. Trung đoàn trưởng Đoàn Văn Trung ra lệnh cho bộ đội chiếm cầu, chiếm xe bắt tù binh. Trong lúc chưa có người dẫn đường vào trụ sở Bộ Tổng tham mưu ngụy, anh cùng tham mưu trưởng nhanh chóng tổ chức cho tù binh lái xe tăng của chúng dẫn đường cho bộ đội. Thế làm tám xe gồm 2 chiếc M48, 3 chiếc M41 và 3 chiếc M113, trên mỗi xe đều có chiến sĩ đi kèm, giương cao nòng súng dẫn đầu đội hình đoàn xe cơ giới của trung đoàn phát triển qua đường Bạch Đằng, đường Võ Tánh và chiếm Bộ Tổng tham mưu ngụy.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 07 Tháng Mười Một, 2011, 09:43:50 pm
Lựu đạn “cọc rào”

 Trong kháng chiến chống Mỹ, ở Khu 5 yêu cầu trang bị các loại mìn, lựu đạn cho bộ đội rất lớn trong khi nguồn nguyên liệu gang để làm lựu đạn ngày càng khó khăn do các cơ sở đúc gang bị đánh phá. Xưởng quân giới 37 của quân khu nghiên cứu dùng cọc rào ấp chiến lược để làm vỏ lựu đạn. Cọc rào của Mỹ bằng thép mềm được duỗi thẳng, cắt thành miếng 120.80, dày 3mm, dùng đục khía rãnh, đàn mí để hàn thành ống hình trụ, đáy lót tôn có đặt mảnh, trên miệng lắp chày gỗ. Lựu đạn được lắp ngòi nổ và nhồi 45gam thuốc TNT. Qua nhiều lần thử nghiệm, xưởng sản xuất hàng loạt lựu đạn này. Lựu đạn gọn nhẹ và sử dụng chiến đấu tốt, được bộ đội ưa thích. Cọc rào ấp chiến lược là nguồn nguyên liệu dồi dào, có ở khắp nơi, lựu đạn cọc rào trở thành loại vũ khí sản xuất phổ biến của quân giới Khu 5 cho đến năm 1975.

Lê Nam (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 07 Tháng Mười Một, 2011, 09:44:36 pm
Mìn lắc

 Trong kháng chiến chống Mỹ, Binh công xưởng Bà Rịa đóng ở Bàu Ngứa do đồng chí Ngạc phụ trách đã chế ra nhiều loại vũ khí tự tạo có giá trị. Một trong những loại vũ khí đó là “Mìn lắc”.

 Đây là loại mìn có gắn ngòi lắc bên trong, có tác dụng đánh lừa địch. Ngòi lắc cấu tạo đơn giản, khi đặt mìn và lắp ngòi thì ngòi ở thế cân bằng, hai cực điện hở; khi chuyển dịch, thế cân bằng mất, điện nối mạch, và thế là mìn nổ? Bọn lính Úc thường phục kích kết hợp gài mìn clâymo. Khi chúng thu hồi thì mìn clâymo nổ. Chúng không hiểu tại sao mìn clâymo nổ? Sau mỗi trận đánh, ta thường bỏ lại mấy quả đạn B40 hoặc đạn cối có ngòi lắc, địch hí hửng nhặt “vũ khí chiến lợi phẩm của Việt Cộng”. Chúng không hiểu sao những quả đạn đó lại phát nổ?

 Có lần, công binh Sài Gòn đem “Mìn lắc” lên xe Jeep đưa về xưởng nghiên cứu. Xe chạy, gặp ổ gà, xóc mạnh, mìn nổ, bọn lính ngồi trên xe đền mạng!

 Đến nay, cũng chưa ai tìm ra tác giả của “Mìn lắc”. Theo anh em Binh công xưởng Bà Rịa, có thể tập thể Binh công xưởng huyện Châu Đức là những người đầu tiên chế tạo “mìn lắc”.

Trần Tiêu (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 07 Tháng Mười Một, 2011, 09:45:57 pm
Một mũi tên, trúng 2 đích

 Sáng 30 Tết năm 1972, hai anh em tên đồn trưởng Vĩnh Trung (Rạch Giá) ngang nhiên đem lựu đạn đến đìa nhà em Tý đánh cá. Thừa lúc chúng sơ hở, Tý giấu được một quả định bụng sẽ tìm cách trả thù. Trong vườn sau nhà Tý có bụi măng non, bọn thằng Sớm, cứ mỗi lần đánh cá xong lại vòng ra cắt một cây măng đem về ninh xương. Nắm được quy luật ấy, Tý liền tháo chốt quả lựu đạn, cài sẵn vào khóm măng rồi đứng chờ. Đánh xong cá, anh em nhà thằng Sớm quay ra bẻ măng thì Tý chặn lại:

 - Không được, ông Trưởng ấp Vu cài mìn đấy!

 Đồn trưởng Sớm trừng mắt quát:

 - Nói láo, mày tiếc cây măng chứ gì?

 Nói đoạn, y quẳng cây súng ra cho thằng em vào nhảy vào bẻ măng. Một tiếng nổ vang lên. Thằng Tới, em đồn trưởng Sớm đứng ngoài lập tức vác súng lao đến nhà trưởng ấp Vu tặng luôn một băng AR15 khi tên này chưa kịp hiểu điều gì xảy ra. Vậy là cùng một lúc Tý đã diệt cả tên đồn trưởng lẫn trưởng ấp có nhiều nợ máu với bà con.

Vân Nam (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 07 Tháng Mười Một, 2011, 09:46:56 pm
Mưu cao… mỡ hổ

 Những năm kháng chiến chống Mỹ, Bình Thuận là một trong những chiến trường ác liệt. Những căn cứ của Mỹ ở đây, đều được bảo vệ nghiêm ngặt, có hàng rào dây thép gai, đèn pha chiếu suốt đêm nhất là những con chó dữ luôn đánh hơi sục sạo. Do đó, mỗi lần đánh đồn địch, bộ đội ta rất chú trọng đến việc đối phó với lũ chó lông xám, to cao và dữ dằn. Anh em đặc công tỉnh cũng đã tìm được cách trị chúng vừa hữu hiệu lại vừa đơn giản. Được sự giúp đỡ của bà con nơi ém quân, anh em dùng mỡ hổ bôi vào chân, vào tay rồi bò vào đồn. Lũ chó đánh hơi thấy toàn mùi… hổ liền cụp đuôi chạy mất. Nhờ vậy, anh em đột nhập đánh đồn được dễ dàng hơn. Có bận bộ đội ta xông vào tận giường ngủ của lính Mỹ làm cho chúng không kịp trở tay đối phó.

Hữu Dân


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 07 Tháng Mười Một, 2011, 09:47:31 pm
Nấu cơm bằng nồi không vung

 Mới nghe câu trên có vẻ ngược đời nhưng với cánh lính ở chiến trường thì đó lại là chuyện thật. Do yêu cầu của việc hành quân cần gọn nhẹ, nên đến cái vung nồi, vốn rất cần thiết cho nấu nướng cũng trở nên nhiêu khê. Một thời, trong hành trang, lính hậu cần cũng thường cột cái vung ra sau ba lô hoặc khiêng, cột đầu gậy, quảy trên vai, nhưng xem ra rất lỉnh kỉnh. Có người sơ ý không buộc chặt nên khi qua sông, qua đường chúng va vào nhau phát ra tiếng động để địch phát hiện được. Từ đó, lính hục thôi không sử dụng đến vung nữa mà nghĩ ra cách nấu cơm không cần vung, thay thế nó bằng một miếng vải che mưa vành tròn, lớn hơn miệng nồi một chút. Khi cơm sôi, nước cạn bằng mặt gạo, thì lấy ni lon đậy lên, ém chặt xung quanh thật kĩ rồi khều than xung quanh bếp cho thật đều. Thế là cũng có một nồi cơm chín, ngon thơm như thường. Nồi không cần vung còn có các tiện ích khác là khi hành quân chỉ cần chụp ba lô là rất gọn, hay khi qua sông, lật ngửa lên để làm phao thì người không biết bơi cũng vẫn qua sông được như thường.

Nguyễn Kiện


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 07 Tháng Mười Một, 2011, 09:48:41 pm
Ngủ mà bắt tù binh

 Trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1971 quân địch bị ta bao vây chặt, rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan, nên rất hoảng loạn. Một tiểu đội trinh sát của ta hoàn thành nhiệm vụ được về phía sau nghỉ ngơi. Ba chiến sĩ trinh sát ngủ trong căn hầm chữ A, chân thò ra ngoài. Vì nhiều đêm thức trắng nên cả ba ngủ lăn như đá. Bất giác có người lay bàn chân nòi:

 - Anh ơi, anh! Dậy, chúng em xin hàng!

 Cả ba chiến sĩ ta bật dậy. Với phản ứng của lính trinh sát, một người hô to:

 - Giơ tay lên!

 Một giọng hốt hoảng:

 - Em không có súng!

 Lúc đó trời đã tang tảng sáng, chiến sĩ ta đếm được 20 tên ngụy. Thì ra địch đã bại trận, tan rã. Vài giờ sau chúng lũ lượt kéo nhau ra hàng. Hàng binh không cần bắt, không trói, không cần người áp giải, mà chỉ cho mỗi tên một nắm cơm và hướng dẫn đi theo đường đã bẻ lá đến các trạm có người tiếp nhận. Chúng biết rằng vùng này rừng núi bạt ngàn, lại là vùng của ta, đi đúng đường sẽ được sống.

 Kết thúc chiến dịch, Chính trị viên tiểu đoàn biểu dương thành tích chiến đấu và bắt được tù binh của 3 chiến sĩ trinh sát:

 - Các đồng chí ngủ mà bắt được tù binh. Một chiến công có một không hai trong chiến tranh!

Kim Vân (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 07 Tháng Mười Một, 2011, 09:49:16 pm
Nhảy dù không cần… dù

 Đó là trường hợp chị Hồng Thắm, du kích xã Trí Hải, huyện Thới Bình, tỉnh Minh Hải. Cuối tháng 12-1962, chị bị địch bắt lên một chiếc trực thăng đưa về tiểu khu. Khi máy bay địch qua vùng đồng Sậy, chị Hồng Thắm bất ngờ ôm 1 tên Mỹ dồn hết sức bình sinh đẩy mạnh ra cửa lao xuống đất, trước đôi mắt kinh ngạc của bọn lính trong máy bay, tên Mỹ chết tại chỗ, còn chị Hồng Thắm vẫn bình yên vô sự. Phải 3 ngày sau, một tốp trực thăng khác với dám đến lấy xác tên Mỹ.

Châu Thành (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 07 Tháng Mười Một, 2011, 09:50:14 pm
Nhử địch xuống hố

 Những năm 1964-1965, ở một số địa phương của huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, bọn ngụy thường hung hăng đi tuần và cướp bóc lợn gà của dân. Nhiều lần du kích ở đây muốn trừng trị nó mà chưa có cách.

 Ngày ấy, đề phòng máy bay ném bom bắn phá, trên các đường đi trong làng bà con ta đào các hầm để trú ẩn. Chọn chỗ đường quẹo trong làng, đội du kích cho đào thêm và đào to các hố cá nhân ra, mỗi hố có thể chứa 2-3 người. Dưới đấy anh em cho cài sẵn một quả lựu đạn gài. Công việc xong xuôi cả tổ yên tâm ngồi đợi. Hôm đó toán đi tuần đông, lại tập trung đi về chỗ quẹo cuối đường làng. Đang lúc nghênh ngang dàn hàng trên đường, một tiếng nổ bất ngờ làm chúng hoảng loạn. Quả nhiên, bọn chúng thi nhau nhảy xuống hố cá nhân để ẩn nấp. Bọn chúng hí hửng, tưởng bở rằng nấp xuống đấy du kích chỉ có súng trường hết cách làm ăn. Ai ngờ, những tiếng đùng đoàng, đùng đoàng liên tiếp nổ ra từ các hố cá nhân mà chúng chen nhau ẩn nấp. Thì ra những trái lựu đạn gài đã phát nổ. Tiếng kêu la inh ỏi, những thằng còn sống sót cao chạy xa bay về bót. Du kích ta “đàng hoàng” lên thu vũ khí, bắt tù binh, trận này ta tiêu diệt 19 tên, bị thương 8 tên. Anh em trong đội du kích hoàn toàn vô sự.

Huỳnh Như Xuân (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 07 Tháng Mười Một, 2011, 09:50:54 pm
Những vị thần có cánh

 Đó là biệt danh mà quân Mỹ và quận ngụy Vàng Pao dùng để gọi Tiểu đoàn Tăng 195 sau “sự kiện Sảm Thông - Long Chẹng” ngày 11-3-1972.

 Chuyện bắt đầu khi Quân tình nguyện Việt Nam gồm Trung đoàn 141 thuộc Sư đoàn 312 hiệp đồng với Tiểu đoàn Tăng 195 tiến công trên hướng chủ yếu của Sư đoàn giải phóng căn cứ Sảm Thông - sào huyệt của quân ngụy Vàng Pao trên chiến trường Lào. Để tiến đánh cứ điểm này, bộ binh và xe tăng ta phải vượt qua nhiều điểm cao ở vòng ngoài, trong đó có điểm cao 1.800 mét, với độ dốc 26-31 độ. Chiều cao và độ dốc đó với bộ binh thì bình thường, nhưng với tăng T.34 của ta khó lòng vượt qua khỏi. Chỉ huy Trung đoàn 141 của Tiểu đoàn Tăng 195 đã tổ chức cuộc họp dân chủ bàn bạc, xây dựng quyết tâm và tìm ra hướng khắc phục cho xe tăng vượt qua điểm cao. Các chiến sĩ xe tăng đã nêu một sáng kiến kỳ diệu: nếu dùng những chiếc cọc gỗ có đường kính 5-7cm, độ dài khoảng 40-50cm, đóng xuống lòng đường vào làn 2 bánh xích tạo độ bám, tăng T.34 sẽ bò được qua điểm cao. Sáng kiến đó được chỉ huy các cấp chấp nhận; và chỉ trong một thời gian ngắn, các đơn vị bộ binh, xe tăng đã chặt hàng nghìn cọc đóng xuống lòng đường cho xe tăng vượt qua điểm cao.

 17 giờ ngày 11-3-1972, những chiếc tăng T.34 cùng bộ binh ta đột ngột xuất hiện ở Sảm Thông trước kinh ngạc của kẻ địch. Bọn chúng phải thốt lên: “Họa có là những vị thần có cánh”.

MH (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 08 Tháng Mười Một, 2011, 08:01:04 pm
Ông già bên suốt Rụt

 Từ năm 1968, đã mọc lên cái quán của ông già. Chẳng ai biết tên ông, chỉ gọi là quán “Ông già suối Rụt”. Quán mở ở đây thật là “đắc địa”, cây cối um tùm, xum xuê, có dòng suối mát. Qua năm tháng, cái quán vẫn chỉ có mấy mặt hàng “truyền thống”: thuốc lá, kẹo, bánh, ít chai nước ngọt… Nhưng đây là con đường tuần tra của Mỹ - ngụy. Bọn lính hành quân qua đều dừng lại, nghỉ xả hơi và tán chuyện. Ông già trông dáng vẻ lù khù ấy đã tiếp khách xởi lởi và nghe ngóng quan sát mọi hình ảnh, mọi câu chuyện.

 Gần như thường lệ, cứ 5-7 ngày lại có người khách lạ đến thăm ông già, nghe ông kể lại tình hình. Ông nhớ rất kỹ những điều tai nghe mắt thấy.

 Miền Nam hoàn toàn giải phóng, ông nhận được lá thư tri ân của Ban binh vận huyện 3. Lá thư gửi tên “ông già suốt Rụt” kèm theo một gói quà chiến lợi phẩm.

 Người khách thường đến thăm ông là người của cơ quan huyện và những câu chuyện do ông cung cấp rất có ích giúp cấp trên nắm tình hình địch.

Trần Hồ Nam


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 08 Tháng Mười Một, 2011, 08:02:04 pm
Pháo đánh du kích

 Từ giữa năm 1965, pháo binh Tây Nguyên đã có những trận đánh nổ tiếng ở Lệ Thanh, bao vây Đắc Sút, tiếp đến các trận Cà Đin, Đắc Siêng, La Sơn, sân bay Arêa, sân bay Cù Hanh và căn cứ Quân đoàn địch trong thị xã Plâycu… Ai cũng tưởng là đánh lớn thì sẽ tập trung lực lượng pháo binh giã cho bọn địch những đòn sấm sét; nào ngờ từ đầu năm 1969, lực lượng pháo binh vốn đã ít ỏi của Tây Nguyên lại phân tán ra đánh lẻ.

 Tháng 11-1968, đơn vị 200 (Tiểu đoàn 31 pháo binh) được lệnh vượt sang đông đường 14, sát nhập với Tỉnh đội Gia Lai, để thực hiện phương châm đánh trúng, đánh đau, đánh liên tục, đánh giữa ban ngày, đánh ngay trong lòng địch. Vậy là anh em phải vận dụng chiến thuật đánh du kích. Du kích thì “lấy ít địch nhiều”. Trước kia nếu đánh 100 quả đạn ta phải dùng cả tiểu đoàn. Năm 1968 đánh 100 quả cũng phải dùng từ 200-300 người, nay cùng lắm chỉ dùng 1 đại đội (60-70 người). Trước kia pháo thủ và số đạn cùng hành quân một lúc, nay để thực hiện phương châm đánh liên tục, đánh đúng thời cơ và luôn luôn tạo được thế bất ngờ; anh em có sáng kiến vận chuyển đạn ém sẵn; chỉ cần cử một tổ pháo thủ thường trực bám địch, cơ động các trận địa đã có sẵn đạn, là có thể đánh thường xuyên, liên tục được.

 Ngày 1-1-1969, địch đổ quân xuống bãi Trăng Thu (Gia Lai), một đại đội thám báo sục vào trận địa của Đại đội 1, anh em bình tĩnh cho một tổ vòng ra cách 500 mét, dùng ĐKB đánh ứng dụng vào căn cứ địa Lệ Chí làm cho bọn địch khiếp sợ phải rút chạy. Có lần, địch chốt ngay tại trận địa của Đại đội 2, anh em đã mật tập vào chuyển đạn ra cách 300 mét, bảo đảm đúng giờ vẫn nổ súng đánh vào các mục tiêu địch ở Cù Hanh, E Phoọc và căn cứ quân đoàn địch theo yêu cầu hiệp đồng tác chiến. Địch lùng sục rất rát; một lực lượng của đơn vị được tổ chức chiến đấu bộ binh và tải đạn; số còn lại dùng pháo đánh du kích. Đơn vị vẫn đánh địch có ngày 2 trận, 2 ngày 3 trận, làm cho địch ở sâu trong hậu cứ như sân bay Cù Hanh, cứ điểm E Phoọc, hậu cứ Quân đoàn… mất ăn mất ngủ. Dùng pháo đánh du kích, Đại đội 1-200, pháo binh Tây Nguyên tuyên dương Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Lê Sĩ Thành


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 08 Tháng Mười Một, 2011, 08:02:55 pm
Que hàn bằng… dây thép gai

 Đơn vị công binh của Nguyễn Đức Chân có nhiệm vụ phải hàn bịt rò rỉ những khoang thuyền sắt bị bom Mỹ ở bến phà Q. Bến phà này thường xuyên bị máy bay địch ném bom, có khoang thuyền bị thủng hàng trăm lỗ. Để đáp ứng yêu cầu vận chuyển ra chiến trường ngày một lớn, các chiến sĩ trong đơn vị đề ra khẩu hiệu: “Sông bến chưa thông, không tiếc công, tiếc máu”.

 Một lần, đang hàn dở thì máy bay địch đến ném bom. Khoang thuyền lại thêm nhiều lỗ thủng. Đơn vị lại hết que hàn. Quay về kho lĩnh thì sợ chậm, khoang thuyền sẽ bị chìm. Mọi người đang băn khoăn, lo lắng, bỗng đồng chí Chân reo lên:

 - Có cách rồi! Ta sẽ lấy dây thép gai để thay que hàn.

 Anh cùng đồng đội nhanh chóng gỡ, nắn và cắt dây thép gai thành từng đoạn. Sau đó, chính anh là người tiên phong hàn thử. Sau vài ba lần thì thành công. Từ đó, đơn vị có một “kho” que hàn vô tận. Và có lẽ chỉ ở Việt Nam mới có kiểu hàn bằng… dây thép gai như vậy.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 08 Tháng Mười Một, 2011, 08:03:33 pm
Súng cao su đuổi giặc

 Tháng 5-1972, bốt chùa Phật Đá ở Mỹ Phước, huyện Châu Thành Bắc, Mỹ Tho bị du kích ta bao vây chặt. Thỉnh thoảng, vài tên giặc lại lăn ra chết, hoặc bị thương vì những tiếng nổ bất ngờ mà không biết súng nào, từ đâu bắn tới? Vì vậy, tới tháng 7 năm 1972, địch phải rút bỏ bốt chùa Phật Đá. Vũ khí bí mật đó chính là giàn thun cao su bắn lựu đạn do đội du kích cơ quan hậu cần tỉnh Mỹ Tho sáng chế. Anh em tết nửa cây dây thun thành hai sợi dây lớn, buộc một mảnh bạt vào đuôi, rồi cột hai đầu dây vào một cây có hai chạc cao hơn đầu người (như kiểu súng cao su trẻ con chơi) kéo căng ra, để quăng lựu đạn đã rút chốt sẵn, đã được quấn chặt mỏ vịt bằng dây cao su. Đạn bay xa 100-150m.

 Quân du kích Mỹ Tho đã diệt 15 địch ở bốt chùa Phật Đá. Có lần Tiểu đoàn bộ đội địa phương Mỹ Tho cùng dùng cây thun bắn một quả lựu đạn diệt nhiều tên địch. Cái lợi hại nhất của súng dây thun là bất ngờ và không có tiếng kêu như pháo hiện đại.

Hoàng Duy (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 08 Tháng Mười Một, 2011, 08:04:01 pm
Sự lợi hại của những vũ khí thô sơ

 Cuộc chiến tranh ở Việt Nam là một loại chiến tranh mà theo Mỹ rất khó đối phó. Cái chết treo lơ lửng trên đầu mỗi quân nhân và có thể xảy ra bất cứ lúc nào, theo mỗi bước đi của họ. Thiếu tá David Miller đã công bố một tổng kết về các nguyên nhân gây nên thương vong cho lục quân Mỹ trong suốt thời gian tham chiến ở Việt Nam. Theo tài liệu này thì 11% quân số thương vong do bẫy chông, mìn và những vũ khí thô sơ khác. Điều này chứng tỏ sự lợi hại của loại vũ khí này, một loại vũ khí dễ chế tạo, sử dụng đơn giản lại rẻ tiền.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 08 Tháng Mười Một, 2011, 08:04:51 pm
Thúng bùn giúp hạ xe bọc thép

 Chuyện xảy ra ở Bến Tre, sau ngày Đồng khởi. Một tổ du kích bàn cách đánh chiếc xe bọc thép của địch sáng nào cũng rồ máy chạy đi chạy lại trên đường làng. Hôm ấy, khi chiếc xe vừa dừng lại, nữ du kích Mây từ trong bụi lao ra, tay cầm một cái thúng nhỏ đựng toàn bùn. Rất nhanh, cổ đổ ập thúng bùn lên ô kính hình chữ nhật lắp trước xe. Tổ du kích nổ súng. Tên giặc lái xe cuống quýt cho chạy mò (vì thiếu miếng kính - con mắt nhìn từ trong ra đã bị bôi bùn đen kịt). Chiếc xe rơi sầm xuống một cái hố lớn và sâu do du kích đào sẵn, ngụy trang kỹ từ trước, lập tức du kích đem rơm đến chất kín đốt xe. Tên lái vội chui ra định chạy trốn, liền bị du kích bắt sống.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 08 Tháng Mười Một, 2011, 08:05:30 pm
“Tinh khôn” ở thằng lượn vòng

 Đầu năm 1970, đế quốc Mỹ sử dụng “bom tinh khôn” trong cuộc chiến tranh “ngăn chặn” trên tuyến đường Trường Sơn và miền Bắc nước ta. Gọi là “bom tinh khôn” do nó khác loại bom thông thường ở chỗ loại này biết tìm mục tiêu để tiến công. Thực chất, do không quân Mỹ dùng la de dẫn đường cho bom hướng đến mục tiêu. Cầu Hàm Rồng, Thanh Hóa trụ vững trong 4 năm chiến tranh phá hoại thời Giônxơn nhưng đã bị đánh sập trong một đợt không quân Mỹ tiến công bằng “bom tinh khôn”.

 Đối phó với loại này là khó, song phát huy trí thông minh và sáng tạo, quân và dân ta đã tìm ra “gót chân A sin” của chúng. Khi sử dụng loại “bom tinh khôn” này, bao giờ kẻ địch cũng phải dùng máy bay bay vòng quanh và chiếu tia la de vào mục tiêu đánh phá để chỉ huy các máy bay cường kích bổ nhào cắt bom. Lúc đầu ta chưa biết, cứ nhằm máy bay bổ nhào mà bắn… Qua quá trình nghiên cứu, ta đã phát hiện máy bay lượng vòng chính là chiếc phóng chùm tia la de điều khiển bom đánh trúng mục tiêu. Do đó, quân và dân ta tập trung hỏa lực bắn vào máy bay phóng la de cùng với việc tích cực nghi binh, ngụy trang màn khói… Cái “tinh khôn” của địch từ đó hạn chế hẳn.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 08 Tháng Mười Một, 2011, 08:06:26 pm
Tình huống… khẩn

 Một ngày đầu thu 1964, chị Phạm Thị Từ (nay là mẹ Việt Nam Anh hùng) vác cào đi thăm lúa, nhưng kỳ thực là bí mật đi canh chừng bọn địch sục vào làng, nhằm bảo vệ cuộc họp của cán bộ cách mạng. Mới len lỏi qua mấy rặng tre, khóm chuối bên con lạch, đã nghe tiếng ì xèo của bọn bảo an vọng lại từ đâu đó, chị chột dạ: “Hay bọn chó đánh hơi thấy?”. Ngó xuống con lạch, thấy xuồng chở người của ta đi họp còn buộc ở bụi cây. Không chần chừ, chị lao xuống tháo dây, thả trôi con xuồng, rồi vác cào rảo bước. Vừa lúc đó, bọn bảo an tới. Chúng quát hỏi chị: “Ai đã vào đây? Xuồng này của ai?”. Chị Từ đảo mắt về hướng có con xuồng rồi thản nhiên “Trôi dạt tự hồi nào! Mấy ổng xuống mà coi, tôi không rảnh”. Nói rồi, chị đi thẳng. Thái độ bình thản của chị đã xua tan mối hồ nghi của địch. Chúng thôi bận tâm, rủ nhau vào quán nhâu. Cán bộ ta nghe được “thông báo - báo động” của chị Từ, nhanh chóng rút xuống hầm bí mật.

 Đấy chỉ là một trong vô vàn tình huống… khẩn mà chị Từ và bà con Tân Dương, Lai Vu, Đồng Tháp ứng phó kịp thời với địch để bảo vệ cán bộ, chiến sĩ cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

XP (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 08 Tháng Mười Một, 2011, 08:07:21 pm
Tổ chức đám cưới đuổi địch

 Chị Ba Tâm, cựu tù chính trị nay công tác tại Trường chuyên Nguyễn Bình Khiêm (thị xã Vĩnh Long) kể: Tháng 8-1974, cơ quan Thị đoàn thị xã Vĩnh Long đóng cứ tại xã Tịnh Hòa, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, tổ chức đám cưới cho anh Bé Sáu và chị Huỳnh Mai. Do gần địch, lại đang thời buổi chiến tranh nên chỉ làm đơn giản, gọn nhẹ, chỉ có ba con ngan và rượu gọi là để mừng hạnh phúc cho đôi bạn trẻ.

 Rượu nhiều nhưng người ít nên sau một hồi chúc mừng, thưởng, phạt, ai nấy đều nổi hứng văn nghệ hát hò rất to, rồi lấy nắp xoong nồi gõ vào nhau nghe loạn cả một vùng, quên bẵng đi nguyên tắc bí mật và cả sự chết chóc đang rình rập. Quân địch vì đã nhiều lần nếm đòn đau của Quân giải phóng, lại nghe tin quân Đoàn 3 chủ lực Khu đã về Mặt trận Vĩnh - Trà nên chúng hoảng sợ tưởng là Quân giải phóng tấn công đồn. Binh lính đồn Hòa Bình đóng cách đám cưới chưa đầy 100 mét vội vàng bỏ đồn rút chạy.

Lê Ngọc


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 08 Tháng Mười Một, 2011, 08:08:09 pm
Tuổi nhỏ mưu cao

 Đó là 4 em thiếu nhi tuổi từ 4-11, xã Hòa Long, Châu Đức, Bà Rịa. Năm 1972, sau khi bọn địch mở cuộc càn quét đẫm máu vào đây, một nữ cán bộ huyện ủy bị thương nặng, nằm lại ở rìa làng. 4 em đã dùng võng buộc vào hai con bò đi giữa đàn trâu bò sáu bảy chục con cáng chị đi qua các trạm gác và chòi quan sát của địch. Bằng cách này chị cán bộ huyện ủy đã được đưa về căn cứ an toàn.

Thanh Thảo


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 08 Tháng Mười Một, 2011, 08:08:57 pm
Vũ khí… “đồ hộp”

 Những năm đầu kháng chiến chống Mỹ, đơn vị D65A bộ đội Tây Ninh đã sáng tạo ra một loại mình đánh bộ binh mang tên “mìn lon”. Vỏ mìn là lon đồ hộp, dùng dây sắt quấn chặt xung quanh lon nhằm tạo áp lực nổ và tạo mảnh. Thuốc được lấy từ bom đạn lép, ngòi lấy từ ngòi lựu đạn Mỹ đã dùng, cải tạo lại. Thuốc được nhồi chặt trong vỏ lon nên nổ với công suất lớn, “mìn lon” phát huy hiệu quả trong các trận chống càn, đánh địch tuần tra.

 Phát hiện thấy vỏ hộp “cá mòi” của lính Mỹ có thể tích vừa phải và thành vỏ dày nên công binh xưởng Vàm Cỏ đã sản xuất lựu đạn vỏ hộp “cá mòi” nổ rất mạnh, có năng lực sát thương lớn; nên mỗi khi thấy các loại vỏ đồ hộp, lính địch đều sợ hãi tránh xa.

Nam Trung (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 10 Tháng Mười Một, 2011, 08:49:51 pm
MỘT SỐ “ĐẦU TIÊN”, “CUỐI CÙNG”,
“NHẤT” VÀ KỶ LỤC”


Ai dùng cụm từ “Quốc phòng toàn dân” đầu tiên

 Đến thời điểm này thì cụm từ “Quốc phòng toàn dân” đã đi vào Từ điển Bách khoa quân sự và được sử dụng phổ biến, thống nhất trên các phương tiện thông tin đại chúng. Lần lại lịch sử trước năm 1964, sách báo vẫn viết “Quốc phòng nhân dân”. Chỉ đến khi đồng chí Trường Chinh đọc bài báo “Quán triệt quan điểm Quốc phòng nhân dân” của đồng chí Hoàng Văn Thái đăng trên Tạp chí Quân đội nhân dân số tháng 8-1964, thì cụm từ này được thay đổi. Nhân buổi làm việc với Ban biên tập Tạp chí, đồng chí Trường Chinh góp ý từ nay nên dùng cụm từ “Quốc phòng toàn dân” thay cho “Quốc phòng nhân dân” cho nó chính xác khoa học và nghe cũng hay hơn.

 Từ đó cụm từ “Quốc phòng toàn dân” được chính thức dùng trên Tạp chí Quân đội nhân dân và phổ biến đến nay.



Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 10 Tháng Mười Một, 2011, 08:50:42 pm
Anh bộ đội đầu tiên trên tem thư

 - Người chiến sĩ Điện Biên đứng trên hầm Đờ Cát là hình ảnh đầu tiên của anh Bộ đội Cụ Hồ trên tem thư. Tem chiến thắng Điện Biên đã phát hành vào tháng 10 năm 1965 do họa sĩ Bùi Trang Chước thiết kế.

 - Ngày Chính phủ về Thủ đô ngày 1 tháng 1 năm 1955, ngày phát hành tem Thủ đô giải phóng. Hình ảnh anh bộ đội Trung đoàn Thủ đô từ chiến khu Việt Bắc mới trở về, mũ tre bọc vải lưới ngụy trang, quấn quýt bên anh có hai bé ngây thơ bên Hồ Gươm, Tháp Rùa lộng giờ cờ bay. Tác giả Thạch Can (đã quá cố) thể hiện mộc mạc, chân thành chất dân gian ấm áp trong nét vẽ, bố cục.

 - Anh hùng quân đội Cù Chính Lan được suy tôn trên tem thư cùng chiến công của mình bằng hình ảnh dũng cảm đánh cháy xe tăng địch do họa sĩ lão thành Bùi Trang Chước thiết kế.

 - Tem thư miễn bưu phí của quân đội, trong tem thư Việt Nam ghi là “Tem binh sĩ”, năm 1967 đổi là “Tem quân đội” dùng phát định mức cho từng quân nhân để gửi thư. Tem này được các sưu tập ngoài quân đội ưu ái vì tem chỉ phát cho những ai phục vụ trong quân đội, không bán rộng, muốn có phải mất công tìm đổi. Năm 195, Bưu chính Việt Nam đã phát hành mẫu tem binh sĩ đầu tiên.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 10 Tháng Mười Một, 2011, 08:51:23 pm
Bộ phim tài liệu đầu tiên của quân đội ta

 Đó là phim “Dưới cờ quyết thắng” do đạo diễn điện ảnh quân đội, nghệ sĩ nhân dân Trần Việt (Trần Văn Thanh, Trần Vũ, Vũ Tiến Quân) làm biên tập và chủ nhiệm.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 10 Tháng Mười Một, 2011, 08:51:52 pm
Chiếc bao gùi đầu tiên trên đường Hồ Chí Minh

 Khi mới thành lập, tuyến vận tải chiến lược mang tên Hồ Chí Minh, phương thức vận chuyển chủ yếu là gùi bộ để chuyển hàng vào chiến trường. Có một chiếc bao giờ bằng vải bạt dài 0,7 mét, rộng 0,4 mét đã cũ do đồng chí Thái thuộc Đại đội 3 sử dụng vận chuyển hàng. Đến năm 1963, chiếc bao đó được chuyển qua đồng chí Hồ Mược ở Đại đội 9B chuyển hàng từ bắc đường số 9 vào chiến trường.

 Đến tháng 1-1964, chiếc bao đó được chuyển sang cho đồng chí Đào Triệu gùi hàng qua đèo 1.800m, qua đường số 71. Đến tháng 7-1965, chiếc bao lịch sử ấy được chuyển qua Trạm giao liên T.73 (đơn vị anh hùng). Tính đến ngày 15-3-1970, khi đó đã nằm trong nhà truyền thống, tính ra chiếc bao đó đã cùng nhiều chủ chuyển hơn 50 tấn hàng, 915kg công văn thư từ đến chiến trường. Chiếc gùi đã bị rách nhiều lỗ nhỏ, có năm chỗ rách được vá lại nhiều lần.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 10 Tháng Mười Một, 2011, 08:52:49 pm
Chiếc máy bay đầu tiên
bị bắn rơi tại Điện Biên Phủ

 Ngày 6 tháng 2 năm 1954, đại đội 677 chúng tôi thuộc tiểu đoàn 536 đại đoàn 36, trên trận địa Tà Lèng phía đông Điện Biên Phủ đã bắn rơi tại chỗ chiếc máy bay khu trục của Pháp kiểu Hencat (F.6F). Báo Quân đội nhân dân số 122 xuất bản tháng 2 năm 1954 tại mặt trận Điện Biên Phủ đăng ngay trang nhất quyết định của Bộ Tổng tư lệnh tặng huân chương Quân công hạng ba cho đơn vị bắn rơi máy bay ngày 6 tháng 2 năm 1954.

 Trong cuốn sách “Vì sao Điện Biên Phủ?” ký giả Pháp P. Rôcôn, một cựu chiến binh Điện Biên Phủ của Pháp cũng viết: “Ngày 6 tháng 2… lần đầu tiên một máy bay khu trục Hencat thuộc tàu sân bay Arô Măngxơ bị pháo phòng không của địch hạ ở Điện Biên Phủ…”.

Xuân Mai


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 10 Tháng Mười Một, 2011, 08:53:16 pm
Chiếc máy bay B52 đầu tiên
của Mỹ bị bắn rơi trên miền Bắc

 Ngày 17 tháng 9 năm 1967, tại trận địa T5 Nông trường Quyết Thắng, Tiểu đoàn 84, Trung đoàn tên lửa 238 dưới sự chỉ huy của Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đình Phúc bắn rơi chiếc B52 đầu tiên trên vùng trời Vĩnh Linh.

 Ngày 20 tháng 9, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký lệnh (số100/LCT) thưởng Huân chương Quân công hạng hai cho Tiểu đoàn 84 và gửi thư khen quân, dân Khu 4 lần đầu tiên bắn rơi máy bay B52 của Mỹ trên miền Bắc.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 10 Tháng Mười Một, 2011, 08:53:49 pm
Chiếc xe đạp gùi thồ đầu tiên vào Trường Sơn

 Đó là chiếc xe đạp Favôrít có số khung 20.220 được đưa vào đường Hồ Chí Minh từ năm 1961. Từ năm 1963 đến năm 1965, Đại đội 9 (Đoàn 70) đã dùng chiếc xe này thồ hàng từ đường số 9 qua Sêbănghlêng vào tới sát vùng giáp ranh, chiếc xe này đã từng chở được 1,800 tấn hàng vào chiến trường. Năm 1966, chiếc Favôrít trên được đưa về trạm 34, do đồng chí Hồng, tiểu đội trưởng sử dụng thồ hàng vào và cho thương binh ra. Đường hẹp, nhiều dốc cao, vực thẳm, nhiều tháng mưa lầy lội nhưng đồng chí Hồng luôn bảo đam an toàn cho thương binh. Có ngày đồng chí đưa hai chuyến thương binh qua chặng đường khó khăn đảm bảo an toàn.

 Từ năm 1969 đến tháng 4 năm 1970, chiếc xe này đã chở được 50 thương binh nặng, 450 ba lô, l.000kg rau, gạo và thực phẩm. Dùng xe đạp chở thương binh đã tiết kiệm được hơn 500 công cáng bộ.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 10 Tháng Mười Một, 2011, 08:54:25 pm
Chiến dịch đầu tiên của bộ đội chủ lực
trên chiến trường Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ

 Chiến dịch Bình Giã diễn ra từ ngày 2 tháng 12 năm 1964 đến ngày 3 tháng 1 năm 1965. Lực lượng tham gia: hai Trung đoàn bộ binh 1 và 2, Đoàn 80 pháo binh chủ lực Miền, hai Tiểu đoàn bộ binh 500 và 800 (Quân khu 7), Tiểu đoàn bộ binh 186 (Quân khu 6) và lực lượng vũ trang địa phương trên địa bàn chiến dịch.

 Ban Chỉ huy chiến dịch có các đồng chí: Trần Đình Xu - Chỉ huy trưởng; Lê Văn Tưởng - Chính ủy; Nguyễn Hòa - Phó Chỉ huy trưởng, kiêm tham mưu trưởng, Lê Xuân Lựu - Chủ nhiệm chính trị.

 Trong hơn một tháng chiến đấu, các đơn vị đã đánh năm trận cấp trung đoàn, hai trận cấp tiểu đoàn, diệt hai tiểu đoàn chủ lực ngụy (có một tiểu đoàn lực lượng dự bị chiến lược), đánh bại các biện pháp chiến thuật “Trực thăng vận” và “Thiết xa vận” của địch.

 Đây là chiến dịch đầu tiên của bộ đội chủ lực trên chiến trường Nam Bộ và cực nam Trung Bộ, một chiến dịch có ý nghĩa chiến lược, đánh dấu sự thất bại của Mỹ - ngụy trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 10 Tháng Mười Một, 2011, 08:54:52 pm
Chiến dịch đầu tiên và cuối cùng
trong kháng chiến chống thực dân Pháp

 - Chiến dịch đầu tiên là chiến dịch Việt Bắc (thu - đông năm 1947). Trong chiến dịch này, quân và dân ta đã tiêu diệt: 3300 tên địch, thu và phá 8067 súng các loại, 18 máy bay, 54 tàu thủy, ca nô, 255 xe các loại của địch cũng bị phá. Bức địch phải rút lui, bảo vệ được căn cứ địa Việt Bắc, bảo vệ được các cơ quan trung ương, bảo toàn được lực lượng.

 Chiến dịch cuối cùng là chiến dịch Đông - Xuân năm 1953-1954. Trong chiến dịch này, chỉ tính riêng Điện Biên Phủ, quân và dân ta đã tiêu diệt và bắt sống 16.200 tên địch, gồm 17 tiểu đoàn bộ binh và nhảy dù, 3 tiểu đoàn trọng pháo và súng cối nặng, 10 đại đội bộ binh ngụy, 1 thiếu tướng, 16 quan năm, 353 sĩ quan từ quan một đến quan tư và 1.396 hạ sĩ quan. Hạ 62 máy bay các loại, thu toàn bộ vũ khí, kho tàng trong tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 12 Tháng Mười Một, 2011, 07:32:39 pm
Chiến sĩ phá quả bom nổ chậm đầu tiên ở miền Bắc

 Bỗng anh dùng hai tay vặn nhẹ lấy được đầu nổ quả bom giơ lên cao và hô lớn: “Báo cáo các thủ trưởng, tôi đã hoàn thành nhiệm vụ”. Mọi người thơ phào nhẹ nhõm, hết sức vui mừng phấn khởi, khâm phục tinh thần chiến đấu dũng cảm của người cán bộ công binh trẻ.

 Suốt đêm hôm đó, đơn vị đã phá xong 30 quả bom còn lại, bảo đảm an toàn tuyệt đối. Rạng sáng hôm sau, nhân dân được lệnh hồi cư, ai cũng vui mừng phấn khởi, khâm phục tinh thần chiến đấu dũng cảm của anh Bộ đội Cụ Hồ.

 Sau đó 3 ngày, Nguyễn Nhật Thắng lại được điều động ra đảo Ngư, xử lý hàng chục quả bom khác. Là người đầu tiên phá bom nổ chậm của Mỹ trên miền Bắc, anh xứng đáng được phong vượt cấp quân hàm chuẩn úy với chức vụ trung đội trưởng và trở thành đối tượng của Đảng. Lúc đó anh vừa tròn 20 tuổi.

 Sau đó anh được điều vào chiến đấu ở các chiến trường miền Nam. Hiện nay Nguyễn Nhất Thắng là thương binh, hội viên cựu chiến binh, nghỉ hưu tại phường Cửa Nam, thành phố Vinh.

Ghi theo lời kể của trung tá Trần Sĩ Khiêm
nguyên chính trị viên E 15 - F 342 - Quân khu 4.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 12 Tháng Mười Một, 2011, 07:33:12 pm
Chiến sĩ văn nghệ đầu tiên của quân đội nhân dân
ngã xuống trên chiến trường

 Nhà văn quân đội Trần Đăng (Đặng Trần Thi), sinh năm 1921, quê Tây Tựu, Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội. Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông là sinh viên luật, sau cách mạng, làm việc trong Ban Liên kiểm Việt - Pháp năm 1946 làm việc ở Văn phòng Bộ Quốc phòng, sau đó làm phóng viên báo Vệ quốc quân - tiền thân của báo Quân đội nhân dân. Trần Đăng đã có mặt ở nhiều nơi nóng bỏng của chiến trường Bắc Bộ, viết hàng loạt bài báo truyện ngắn, bút ký về anh Bộ đội Cụ Hồ. Tác phẩm tiêu biểu: Một lần tới Thủ đô (1948, tác phẩm đầu tiên về đề tài “Bộ đội Cụ Hồ”), Trận Phố Ràng (1949), Một cuộc chuẩn bị (1949). Năm 1954, những truyện ngắn và ký của Trần Đăng được xuất bản thành tập truyện và ký sự. Ngày 26 tháng 12 năm 1949, hy sinh tại vùng biên giới Việt - Trung và được ghi nhận là chiến sĩ văn nghệ đầu tiên ngã xuống trên chiến trường. Ông đã được Nhà nước thưởng Huân chương Kháng chiến hạng nhất Huân chương Chiến thắng hạng ba…


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 12 Tháng Mười Một, 2011, 07:33:45 pm
Chính trị viên đầu tiên của quân đội ta

 Dương Mạc Thạch (Dương Mạc Cam, Xích Thắng; 1915-1979), Bí thư chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương và chính trị viên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (tháng 12 năm 1944 đến tháng 8 năm 1945) dân tộc Tày, quê xã Gia Bằng, châu Nguyên Bình (Nay là xã Minh Tâm, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng). Tham gia cách mạng từ 1934, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1934. Năm 1936 đến năm 1944 Bí thư Chi bộ, sau đó là Bí thư châu ủy, chủ nhiệm Việt Minh châu Nguyên Bình. Năm 1944-1945 tham gia các trận Phai Khắt, Nà Ngần, Đồng Mu, Hà Hiệu, Đèo Giàng và trận giải phóng thị xã Bắc Cạn. Năm 1948-1949 đặc phái viên Bộ tư lệnh tại các tỉnh miền núi phía Bắc. Năm 1950 phụ trách công tác thuế nông nghiệp của Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Yên Bái. Năm 1951-1957, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính (sau là Ủy ban hành chính) tỉnh Hà Giang, phó Bí thư tỉnh ủy. Năm 1958-1975 Khu ủy viên khu tự trị Việt Bắc, Bí thư Đảng ủy Trường Đại học Nông nghiệp Việt Bắc (1971-1976); Huân chương: Kháng chiến hạng nhất…


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 12 Tháng Mười Một, 2011, 07:34:11 pm
Cuộc chiến không đối không đầu tiên
trong lịch sử đấu tranh vũ trang của dân tộc ta

 Đó là ngày 3 tháng 4 năm 1965. Trong ngày này, biên đội MIG.17 do biên đội trưởng Phạm Ngọc Lan chỉ huy bắn rơi 2 chiếc F.8. Ngày 4 tháng 4, biên đội MIG.17 do biên đội trưởng Trần Hanh chỉ huy bắn rơi 2 chiếc F.105. Lần đầu tiên trong lịch sử đấu tranh vũ trang của dân tộc ta xuất hiện cuộc chiến không đối không. Ngày 3 tháng 4 trở thành ngày truyền thống đánh thắng trận đầu của Không quân nhân dân Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 12 Tháng Mười Một, 2011, 07:34:36 pm
Đại đoàn chủ lực cơ động đầu tiên của quân đội ta

 Đại đoàn bộ binh 308 thành lập ngày 28 tháng 8 năm 1949, tại thị trấn Đồn Du, huyện Đồng Hỷ (nay là Phú Lương - Thái Nguyên). Biên chế: Ba trung đoàn bộ binh: 88, 102, 36, tiểu đoàn bộ binh 11 (Tiểu đoàn Phủ Thông), tiểu đoàn pháo binh 410 và một số đơn vị binh chủng trực thuộc. Trung đoàn 88 thành lập ngày 1 tháng 1 năm 1949 gồm các tiểu đoàn 23, 29, 28, 322. Trung đoàn trưởng: Nguyễn Thái Dũng, Chính ủy: Đặng Quốc Bảo. Trung đoàn 102 (trung đoàn Thủ đô) gồm các tiểu đoàn 18, 69, 79. Trung đoàn trưởng: Vũ Yên, Chính ủy Hoàng Thế Dũng. Trung đoàn 36 (Trung đoàn Bắc - Bắc) thành lập tháng 8 năm 1946 gồm các tiểu đoàn 54, 55, 56. Trung đoàn trưởng: Phạm Hồng Sơn, Chính ủy: Hoàng Xuân Tùy.

 Đại đoàn trưởng kiêm Chính ủy Đại đoàn 308: Vương Thừa Vũ.

 Đại đoàn 308 là đại đoàn chủ lực cơ động đầu tiên của quân đội ta, được mang danh hiệu “Quân tiên phong”.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 12 Tháng Mười Một, 2011, 07:35:01 pm
Đại đoàn công - pháo đầu tiên của quân đội ta

 Đại đoàn công - pháo 351 thành lập ngày 27 tháng 3 năm 1951. Biên chế: trung đoàn 151 công binh (thành lập tháng 1 tháng 1951), trung đoàn sơn pháo 75 ly (được tổ chức trên cơ sở ba tiểu đoàn pháo binh thuộc đại đoàn 308, trung đoàn 174 và trung đoàn 209), trung đoàn 45 pháo xe kéo 105 ly (nguyên là trung đoàn 34 “Tất thắng” thuộc Liên khu 3), xưởng sửa chữa xe, pháo, khí tài và các cơ quan. Đồng chí Vũ Hiển, nguyên Phó Tổng tham mưu trưởng được bổ nhiệm làm Đại đoàn phó, quyền Đại đoàn trưởng. Đồng chí Phạm Ngọc Mậu - Ủy viên Liên khu Việt Bắc, Chính ủy Trung đoàn 246 (Trung đoàn bảo vệ căn cứ Bộ Tổng tư lệnh) được bổ nhiệm làm Chính ủy kiêm Bí thư Đảng ủy. Đây là đại đoàn binh chủng (công binh - pháo binh) đầu tiên của quân đội ta.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 12 Tháng Mười Một, 2011, 07:35:45 pm
Đôi nét về đơn vị pháo phòng không đầu tiên của quân đội ta

 Đơn vị pháo phòng không đầu tiên của quân đội ta là một đại đội pháo cao xạ 37mm, mang phiên hiệu đại đội 612. Đại đội được thành lập vào nửa cuối năm 1951 ở Cao Bằng. Cán bộ, chiến sĩ trong đại đội từ nhiều nơi tập trung về, nhưng nòng cốt là đại đội 612, thuộc tiểu đoàn pháo mặt đất 690, tiểu đoàn này do đồng chí Bùi Cúc chỉ huy, trước đó thuộc Liên khu 10, nhưng từ giữa năm 1951 được điều về đại đoàn 351.

 Là đơn vị pháo phòng không đầu tiên của quân đội ta được trang bị vũ khí tương đối hiện đại nên đại đội 612 được cấp trên tăng cường về số lượng và chất lượng cán bộ. Ngoài số chiến sĩ có kinh nghiệm chiến đấu, đại đội còn được bổ sung thêm một số bộ phận học viên trường Không quân Việt Nam thuộc Bộ Tổng tham mưu, vừa tốt nghiệp khóa học vào tháng 5 năm 1951, có trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn kỹ thuật khá. Nhiều cán bộ cấp trung đội trực tiếp làm khẩu đội trưởng. Số đông pháo thủ lúc đầu do cán bộ tiểu đội đảm nhiệm.

 Sau khi được thành lập, đại đội 612 tách khỏi tiểu đoàn 690 về trực thuộc Bộ Tổng tham mưu. Đại đội được tổ chức thành 3 trung đội: 2 trung đội pháo cao xạ 37 mm, mỗi trung đội có 2 khẩu và một trung đội súng máy phòng không, trang bị bằng súng đại liên và 12,7 mm.

 Nhiệm vụ của đại đội là bảo vệ cuộc chiến đấu trên một trục đường giao thông quan trọng thuộc tỉnh Cao Bằng. Sau chiến thắng Biên giới 1950, một phần giao lưu của nước ta với các nước xã hội chủ nghĩa thông qua trục đường này.

 Vừa chiến đấu, vừa xây dựng, đại đội 612 đã nhanh chóng làm chủ được vũ khí, trang bị, bảo vệ an toàn yếu địa được giao. Đại đội cũng đã đạo tạo được một đội ngũ cán bộ và pháo thủ cao xạ pháo đầu tiên của quân đội ta, góp phần xây dựng những đơn vị phòng không sau này. Đầu năm 1953, hơn 20 cán bộ đại đội, trung đội, khẩu đội của đại đội 612 được điều đi xây dựng trung đoàn pháo cao xạ 367. Bộ phận còn lại, được bổ sung quân số, tiếp tục ở lại làm nhiệm vụ ở Cao Bằng cho đến khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta giành được thắng lợi. Sau khi hòa bình lập lại, đại đội 62 được điều về sáp nhập vào đơn vị pháo cao xạ khác thuộc trung đoàn 367.

 Trong hơn 3 năm làm nhiệm vụ ở Biên Giới có hai sự kiện đáng ghi nhớ nhất của đại đội 612 là mùa xuân 1952 được Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đến thăm và sau đó hơn 2 tháng, trong phong trào thi đua sôi nổi thực hiện những lời Bác dạy, đại đội đã bắn rơi tại chỗ một máy bay Hencat của bọn thực dân Pháp. Do thành tích này, đại đội đã vinh dự được Bác Hồ gửi thư khen và được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 12 Tháng Mười Một, 2011, 07:36:15 pm
Đơn vị bắn rơi chiếc B52 đầu tiên (chiếc đầu tiên bị rơi tại chỗ ở Việt Nam)
trong chiến dịch phòng không Hà Nội - Hải Phòng cuối tháng 12 năm 1972

 Đó là trung đoàn 261, trung đoàn tên lửa phòng không của Quân đội nhân dân Việt Nam, đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân được mang danh hiệu “Đoàn tên lửa Thành Loa”.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 12 Tháng Mười Một, 2011, 07:36:43 pm
Đơn vị dân quân gái đầu tiên trên miền Bắc
bắn rơi máy bay Mỹ bằng súng bộ binh

 Đó là trung đội dân quân gái xã Hoa Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Ngày 16 tháng 6 năm 1967, chỉ bằng 27 viên đạn súng bộ binh trung đội này đã băn rơi một máy bay phản lực Mỹ.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 12 Tháng Mười Một, 2011, 07:37:09 pm
Đơn vị đầu tiên được nhận cờ
“Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”

 Cờ “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, cờ thưởng luân lưu của Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng quân, dân các quân khu lập chiến công bắn rơi máy bay, bắn chìm tàu biệt kích Mỹ trong chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc Việt Nam, kể từ ngày 5 tháng 8 năm 1964. Các tỉnh và khu (trong quân khu) lập chiến công được thêu tên và thành tích trên cờ và được giử cờ cho đến khi có đơn vị khác lập được chiến công mới. Ngày 31 tháng 5 năm 1965, Quân khu 4 và Quân khu Tả Ngạn được nhận cờ đầu tiên, mở đầu cho phong trào thi đua “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” được phát động trong toàn quân.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 20 Tháng Mười Một, 2011, 06:08:12 pm
Đơn vị đầu tiên vào sở chỉ huy địch bắt sống tướng Đờ Cát
và toàn bộ Bộ tham mưu của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ

 Đại đội 360 thuộc tiểu đoàn 130, trung đoàn 209 (Sông Lô), đại đoàn 312 (đại đội Chiến thắng). Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật cùng 4 đồng chí là: Vinh, Nhỏ, Hiếu, Lam là những người đầu tiên xông vào Sở chỉ huy tập đoàn cứ điểm.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 20 Tháng Mười Một, 2011, 06:08:39 pm
Đơn vị pháo binh đầu tiên của quân đội ta

 Đơn vị pháo binh được thành lập vào ngày 19 tháng 6 năm 1946, gồm 3 pháo đài: Láng, Xuân Canh, Xuân Tảo. Vũ khí, trang bị gồm có những khẩu pháo được công nhân Thủ đô lọc từ những đống sắt vụn chắp vá gọt dũa làm thành.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 20 Tháng Mười Một, 2011, 06:09:14 pm
Đơn vị phòng hóa đầu tiên

 Ngày 19 tháng 4 năm 1958, quân đội ta thành lập Phòng Hóa học (Nghị định số 098 của BQP) trực thuộc Cục Huấn luyện chiến đấu (Tổng Cục quân huấn). Nhiệm vụ: Giúp Tổng cục Quân huấn chỉ đạo phòng chống chiến tranh hóa học, nguyên tử và xây dựng một số cơ quan, đơn vị hóa học.

 Trưởng phòng: Đặng Quân Thụy.

 - Bộ Tổng tham mưu quyết định (Số 214-BMG) thành lập tiểu đoàn 6 phòng hóa đầu tiên của quân đội ta (sau đổi thành tiểu đoàn 901) và 2 đại đội phòng hóa thuộc 2 sư đoàn bộ binh 308, 320.

 Ngày 19 tháng 4, trở thành ngày truyền thống Bộ đội Hóa học.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 20 Tháng Mười Một, 2011, 06:09:43 pm
Đơn vị vũ trang tập trung đầu tiên ra đời trong phong trào Đồng khởi

 Ngày 19 tháng 1 năm 1960, đơn vị vũ trang tập trung đầu tiên (đại đội 264) ra đời trong phong trào Đồng khởi tại thị xã Bình Khánh, huyện Mỏ Cày (Bến Tre). Đơn vị gồm 50 cán bộ, chiến sĩ, trang bị 23 khẩu súng các loại, do đồng chí Lê Minh Đào (Ba Đào) chỉ huy.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 20 Tháng Mười Một, 2011, 06:10:09 pm
Hai tiểu đoàn chủ lực cơ động đầu tiên của quân đội ta
trên chiến trường Nam Bộ và cực nam Trung Bộ

 Ngày 2 tháng 9 năm 1961, hai tiểu đoàn 1 và 2 chủ lực Miền làm lễ ra mắt tại Chiến khu Dương Minh Châu (Đông Nam Bộ). Tiểu đoàn 1 do đồng chí Bùi Thanh Vân (Út Liêm) làm tiểu đoàn trưởng, đồng chí Đặng Văn Thượng làm chính trị viên. Tiểu đoàn 2 do đồng chí Huỳnh Leo (Bình Minh) làm tiểu đoàn trưởng, đồng chí Hải (Bảy Trượt) làm chính trị viên. Mỗi tiểu đoàn biến chế trên 120 cán bộ, chiến sĩ, trang bị hơn 100 khẩu súng các loại. Đây là hai tiểu đoàn chủ lực cơ động đầu tiên của quân đội ta trên chiến trường miền Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ. Đồng chí Nguyễn Hữu Thọ - Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam căn dặn: “Nước ta còn nghèo, dân ta đang bị áp bức, bóc lột, nên người và vũ khí hiện chỉ có bấy nhiêu. Các đồng chí hãy lấy đó làm vốn rồi liên hệ với địa phương xin thêm người, tổ chức và huấn luyện cho tốt để gấp rút ra chiến đấu hỗ trợ phong trào.”


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 20 Tháng Mười Một, 2011, 06:10:51 pm
 
Hai trận đầu tiên của đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân

 Đó là trận Phai Khắt và trận Nà Ngần.Thực hiện chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh:”Trong một tháng phải có hoạt động.Trận đầu nhất định phải thắng lợi”. Ngày 25 tháng 12, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân đã cải trang, dùng mưu tập kích đồn Phai Khắt (xã Tam Lộng, tổng Kim Mã, châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng); ngày 26 tháng 12 diệt đồn Nà Ngần (cách Phai Khắt 15 kilômét về phía đông bắc) bắt 30 lính ngụy, diệt 2 sĩ quan (1 sĩ quan Pháp), thu vũ khí.Đây là hai trận đánh đầu tiên, thể hiện sự gan dạ mưu trí, tinh thần triệt để chấp hành mệnh lệnh của Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân.Hai trận đánh có tiếng vang lớn, cổ vũ phong trào cách mạng trong khu căn cứ, mở đầu truyền thống đánh tiêu diệt, đánh chắc thắng, đánh thắng ngay từ trận đầu của Quân đội nhân dân Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 20 Tháng Mười Một, 2011, 06:11:17 pm
Hội nghị chính trị viên lần thứ nhất

 Hội nghị chính trị viên lần thứ nhất họp ngày 15 tháng 2 năm 1947. Đồng chí Võ Nguyên Giáp - Bí thư Trung ương quân ủy và đồng chí Văn Tiến Dũng - Cục trưởng Cục Chính trị chủ trì. Hội nghị quyết định nhiệm vụ của công tác chính trị, của đảng viên trong quân đội: “Dù trong trường hợp nào cũng phải nắm cho vững bộ đội, củng cố và mở rộng cơ sở đảng, thi hành cho được nhiệm vụ quân sự”. Hội nghị đề ra 12 điều kỉ luật dân vận, 10 nhiệm vụ của công tác chính trị trong quân đội, quyết đính ra báo Vệ quốc quân.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 20 Tháng Mười Một, 2011, 06:11:44 pm
Hội nghị dân quân du kích lần thứ nhất

 Hội nghị dân quân du kích toàn quốc lần thứ nhất họp ngày 24 tháng 5 năm 1947, thống nhất việc tổ chức dân quân tự vệ và du kích từ những tổ chức vũ trang quần chúng do Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể cứu quốc xây dựng trở thành một bộ phận trong các lực lượng vũ trang Nhà nước, do các cơ quan quân sự địa phương chỉ huy.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 20 Tháng Mười Một, 2011, 06:12:10 pm
Khẩu pháo cao xạ đầu tiên của quân đội ta

 Khẩu pháo cao xạ đầu tiên do công nhân quân giới ta chế tạo bằng ống dẫn nước đã ra đời vào năm 1948. Khẩu pháo này có thể bắn máy bay ở tầm thấp 400m.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 20 Tháng Mười Một, 2011, 06:12:35 pm
Lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện lần đầu tiên

 Cờ đỏ sao vàng lần đầu tiên xuất hiện trong cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ (11-1940). Tháng 2 năm 1941, Hồ Chủ tịch về nước cùng Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Người mang theo một lá cờ bằng lụa đỏ, ở giữa đính ngôi sao vàng năm cánh bằng giấy. Lá cờ này được treo trong Đại hội thành lập Việt Nam độc lập đồng minh hội (Việt Minh) ngày 19 tháng 5 năm 1941. Lá cờ hiện được trưng bày ở Viện Bảo tàng cách mạng (Hà Nội).

 Quốc hội khóa 1 kỳ họp thứ 2 (tháng 11 năm 1946) quyết định quốc kỳ của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là cờ đỏ sao vàng.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 20 Tháng Mười Một, 2011, 06:13:14 pm
Lịch sử ra đời đạn badôka

 Tháng 2 năm 1947, ngành quân giới đã thử nghiệm và sản xuất thành công đạn Badôka 60, đáp ứng kịp thời yêu cầu của chiến trường. Loạt đạn đầu đã góp phần tiêu diệt đoàn xe cơ giới địch ở Chúc - Sơn, trên mặt trận Xuân - Mai, Phú - Quốc tháng 3 năm 1947. Từ đạn Badôka 60 đã phát triển sản xuất nhiều đạn lõm khác như AT, B.70… ở hai miền Nam Bắc.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 20 Tháng Mười Một, 2011, 06:14:01 pm
Lực lượng vũ trang tự vệ đầu tiên của Đảng ta

 Trong cao trào cách mạng 1930-1931 và Xô viết – Nghệ Tĩnh, đội tự vệ công - nông đầu tiên đã xuất hiện. Nó ra đời là do yêu cầu chống khủng bố, bảo vệ phong trào đấu tranh chính trị quần chúng.

 Trong cuộc biểu tình, bãi công của 3000 công nhân đồn điền Phú Riềng (tháng 2 năm 1930), đội tự vệ công nhân gồm có một số đảng viên và quần chúng trung kiên đã chống cự lại binh lính địch, đánh gãy tay tên đội người Pháp làm cho chúng hoảng sợ bỏ chạy, bảo vệ được cuộc biểu tình, góp phần làm cho cuộc bãi công thu được kết quả.

 Phong trào càng phát triển mạnh mẽ, các đoàn thể quần chúng càng tăng thì Đội tự vệ càng đông. Như ở Hà Tĩnh, Đội tự vệ 3 xã (huyện Can Lộc) được chính thức thành lập vào cuối tháng 6 năm 1930, bước đầu mỗi thôn có một vài người. Sau ngày 1 tháng 8 năm 1930, Đội tự vệ tăng gấp hai, ba lần. Có thôn, Đội tự vệ lên đến 30 người. Một số đội viên trung kiên, gan dạ được chọn riêng thành Đội cảm tử. Giáo mác sắm nhiều thêm. Cứ 10 người lập thành 1 tiểu đội. Ở Thanh Chương (Nghệ An), trong cuộc mít tinh mừng thắng lợi và truy điệu những đồng chí đã hy sinh của 22.000 quần chúng tổ chức ngày 18 tháng 9 năm 1930, đã có hơn 1000 tự vệ bảo vệ buổi lễ.

 Không những có tự vệ trai mà có cả tự vệ gái. Như ở Thạch Hà (Hà Tĩnh), Thanh Chương (Nghệ An), chị em hăng hái vào đội tự vệ, chị em dũng cảm nhất xung vào đội cảm tử.

 Các đội tự vệ ấy gọi là Đội Tự vệ đỏ (Xích vệ).

 Trong lúc phong trào tự vệ đỏ hoạt động rầm rộ, sôi nổi ở 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh (lúc đó còn gọi là phong trào tự vệ oanh liệt), thì ở những nơi khác, đội tự vệ cũng phát huy tác dụng của nó trong các cuộc đấu tranh của quần chúng. Như ở xung quanh Sài Gòn, trong mấy tháng cuối năm 1930 đã có những đội tự vệ công nhân bảo vệ các cuộc đấu tranh của thợ thuyền. Ở xí nghiệp dầu Sôcôny (Nhà Bè - Sài Gòn), đội tự vệ đã đánh vỡ đầu tên cảnh sát, vứt khẩu súng của nó đi, làm cho nó phải thả người diễn thuyết ra.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 20 Tháng Mười Một, 2011, 06:14:29 pm
Mạng thông tin quân sự đầu tiên của quân đội ta

 Mạng thông tin quân sự đầu tiên trong toàn quốc đã hoàn thành và thông suốt từ Bộ tổng chỉ huy đến các khu vào ngày 9 tháng 9 năm 1945. Ngày lịch sử này được lấy làm ngày kỷ niệm thành lập Binh chủng Thông tin.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 20 Tháng Mười Một, 2011, 06:14:55 pm
Máy bay F-111 được sử dụng lần đầu tiên
trong chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam
và chiếc đầu tiên loại này bị bắn rơi

 Máy bay F-111 là loại máy bay tiêm kích - ném bom, có hình dạng cánh thay đổi (cụp, xòe) đầu tiên trên thế giới do Mỹ chế tạo. Năm 1968, lần đầu tiên không quân Mỹ sử dụng máy bay F-111 trong chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam và chiếc đầu tiên bị bắn rơi tại Hà Tĩnh ngày 28 tháng 3 năm 1968. Theo thú nhận của Mỹ, từ năm 1968-1973 có 10 chiếc F-111 bị bắn rơi trên miền Bắc.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 20 Tháng Mười Một, 2011, 06:15:20 pm
1000 xe đạp vào Trường Sơn

 Vừa soi đường mở tuyến, lập bỗi bãi kho trạm, vừa xây dựng phát triển lực lượng, Đoàn vận tải chiến lược 559 vận dụng mọi phương tiện băng qua lửa đạn, đưa hàng vào chiến trường. Năm 1962, với quân số trên 3000 cán bộ, chiến sĩ toàn Đoàn đã chuyển được 625 tấn vũ khí, trang bị đến các mặt trận phía Nam, bảo đảm 150 tấn gạo cho bộ đội hành quân; chi viện cho hành lang khu 5, Trị Thiên gần 200 tấn gạo, muối. Tổng số hàng chuyển giao qua tuyến là 961 tấn, chưa kể hàng bảo đảm nhu cầu nội bộ, đạt 143% kế hoạch cấp trên giao. Bên cạnh phương thức gùi thồ bằng đôi vai, phương tiện cơ giới, đội quân “Tay ngai” với trên 1000 chiếc xe đạp đã lập nên những kỷ lục đáng kể trên đường Hồ Chí Minh - đường huyền thoại.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 20 Tháng Mười Một, 2011, 06:15:54 pm
Một số trận đánh tàu giặc đầu tiên ở Quân khu 9

 Quân khu 9 không có đường xe lửa, quân Pháp lợi dụng mạng lưới sông, kênh chằng chịt để vận chuyển. Bộ đội ta đánh tàu địch hồi đầu kháng chiến bằng những thủy lôi tự tạo, dùng thuốc nổ trong bom, đạn lép của địch, nhồi lẫn với than trấu.

 Trận thủy lôi đầu tiên, quân ta đánh một chiếc xà lan trên sông Bảy Háp, ấp Giáng Ngựa (thuộc xã Tân Hưng Đông, tỉnh Bạc Liêu cũ) ngày 11 tháng 1 năm 1946. Mũi xà lan bị thủng một lỗ nhỏ, 2 tên Pháp văng xuống sông chết. Kết quả không đáng kể, nhưng tiếng vang lớn. Nhân dân phấn khởi đi tìm kiếm bom đạn, vả cả thủy lôi của quân đội Nhật Bản trước đó thả, để phong tỏa bờ biển, trao cho bộ đội.

 - Một trận khác đã diễn ra ở Mương Điều (thuộc tỉnh Bạc Liêu cũ), ngày 18 tháng 5 năm 1947, lập công mừng ngày sinh Bác Hồ. Lần này thắng to. Tàu Lêtonnnăngtơ (L’éton - Nate) của Pháp bị đánh chìm. Nhân dân kéo ra đắp đập ngăn quãng sông, dùng gàu tát cạn, thu được hơn 200 súng, có cả đại liên và hàng chục tấn đạn.

 - Trận ở Vàm Đinh, xã Hưng Mỹ, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau, bộ đội ta đánh chìm tàu Hăngri - Mariet, thu 100 súng và 10 tấn đạn, ngày 7 tháng 11 năm 1947.

 - Một trận nữa, cũng vào tháng 11 năm 1947, trên sông Gành Hào (thuộc tỉnh Cà Mau) thủy lôi của quân ta lúc này đã có nhiều cải tiến, sức công phá mạnh, nên đã nhấn chìm một tàu chiến loại lớn của Pháp là tàu Le Terơ (Nỗi kinh hoàng) cùng với 2 đại đội lính Lê dương. Chỉ có một tên bị văng lên bờ, thoát chết. Sau khi tỉnh lại hắn đến nhà thờ xóm Ao Khương, phường 7, thị xã Cà Mau, làm lễ tạ ơn chúa. Nhiều người lặn giỏi đã đến vớt vũ khí giúp bộ đội, trong đó có công lớn nhất là ông Nguyễn Văn Tiên. Ông lặn nhiều chuyến trong hai ngày liền, vớt được 1 đại liên, 250 tiểu liên và súng trường. Lần lặn cuối cùng ông bị kiệt sức và đã hy sinh.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 20 Tháng Mười Một, 2011, 06:16:24 pm
10 lời thề danh dự của quân đội ta
được tuyên thệ lần đầu tiên

 10 lời thề danh dự của quân đội ta đã được toàn đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân long trọng tuyên thệ lần đầu tiên trong lễ thành lập ngày 22 tháng 12 năm 1944, tại khu rừng Khuổi Nọi, giữa 2 tổng Hoàng Hoa Thám và Trần Hưng Đạo (Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng).


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 20 Tháng Mười Một, 2011, 06:16:46 pm
Ngày báo “Quân đội nhân dân” ra số đầu

 Ngày 20 tháng 10 năm 1950, báo “Quân đội nhân dân” ra số đầu. Nhân dịp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị: “Nói những điều thiết thực, đúng đường lối chính trị, ít tếu, viết ngắn, giản dị, vẽ dễ hiểu, tình bày rõ ràng, ít tiếp sang trang khác”.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 20 Tháng Mười Một, 2011, 06:17:09 pm
Ngày đầu tiên các đài ra đa của ta chính thức phát sóng trên toàn mạng,
cảnh giới bầu trời Tổ quốc

 Ngày 1 tháng 3 năm 1959, các đài rađa thuộc trung đoàn 260 bố trí ở Điện Biên (Lai Châu), Đồ Sơn (Hải Phòng), Trùng Quang (Nam Định), Quảng Xương (Thanh Hóa), Điền Lư (Nam Quân khu 4) chính thức phát sóng trên toàn mạng, cảnh giới bầu trời Tổ quốc. Ngày 1 tháng 3 trở thành ngày truyền thống của bộ đội rađa.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 20 Tháng Mười Một, 2011, 06:17:47 pm
Ngày truyền thống đánh thắng trận đầu
của Quân chủng Hải quân nhân dân Việt Nam

 Hải quân nhân dân Việt Nam cùng Bộ đội Phòng không, lực lượng vũ trang và nhân dân Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hóa, Quảng Ninh đánh bại cuộc tiến công “Mũi tên xuyên” của không quân Mỹ, bắn rơi 8 máy bay.

 Ngày 5 tháng 8 trở thành ngày truyền thống đánh thắng trận đầu của Hải quân nhân dân Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 20 Tháng Mười Một, 2011, 06:18:23 pm
Ngân sách quân sự đầu tiên

 Trước khi thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Bác Hồ đã thay mặt Thường vụ Trung ương Đảng giao cho đồng chí Võ Nguyên Giáp 500 đồng bạc Đông Dương để lo việc quân sự. Đây được coi là ngân sách quân sự đầu tiên của các Lực lượng vũ trang nhân dân ta. Số tiền không lớn nhưng thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Bác Hồ, nhân dân ta đối với sự nghiệp xây dựng đội quân cách mạng.

 Đồng chí Võ Nguyên Giáp đã trích từ ngân sách quân sự đầu tiên số tiền 20 đồng Đông Dương giao cho đồng chí Văn Tiên, người chăm lo hậu cần và tiền nong của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân.

 Việc nuôi quân lúc này cũng đơn giải. Toàn đội có 2 chiếc nồi đồng vừa để nấu cơm, nấu cháo, nấu nước và bung ngô do đồng bào ủng hộ. Nhân dân vùng giải phóng lập “hũ gạo tuyên truyền”, “kho gạo tuyên truyền”, “muối tuyên truyền” để ủng hộ giải phóng quân. Quần áo mặc, súng kíp, dao rừng, đội viên mang từ nhà đến. Đánh xong một trận, trên đường rút về, cá chị em “trung kiên” đưa phần cơm và thức ăn gói sẵn, bộ đội chỉ dừng vài phút nhận phần cơm, uống hớp nước, rồi đi ngay. Quản lý Văn Tiên rất tâm lý, nấu nồi nước nóng đón ở giữa đường để bộ đội giải lao.

 Buổi lễ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, theo yêu cầu của các đội viên, đội tổ chức một bữa cơm nhạt, không rau, không muối để nêu cao tinh thần gian khổ của các chiến sĩ cách mạng. Những đồng bạc Đông Dương đoàn thể giao cho, dùng vào việc tối cần thiết để xây dựng đội và phát triển lực lượng.

 Từ tháng 4 năm 1945, Đảng phát động phong trào “đồng tiền cứu nước”, được quần chúng cách mạng nhiệt liệt hưởng ứng. Những “đồn tiền cứu nước” gom góp từ nhiều nơi được nhanh chóng tập trung về cơ quan tài chính dùng để mua săm vũ khí, lập cơ sở chế tạo vũ khí, mua lương thực, thực phẩm, quần áo, thuốc men, củng cấp cho các đội vũ trang đang trên đà phát triển mạnh.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 20 Tháng Mười Một, 2011, 06:19:16 pm
Người bắt sống phi công Mỹ đầu tiên

 Chiến công đầu đánh thắng không quân Mỹ (ngày 5 tháng 8 năm 1964) làm nức lòng nhân dân cả nước, củng cố niềm tin cho bạn bè khắp năm châu. Niềm vui được nhân lên gấp bội khi ta công bố bắt sống được tên giặc lái Ivơrít Anvarét (Evereet N. Alvarez). Nhưng ai là người bắt được tên phi công Mỹ đầu tiên này và quá trình tổ chức vây bắt diễn ra như thế nào thì do yêu cầu “bí mật quân sự” nên báo đài chỉ công bố. do cha con một ông lão dân chài bắt.

 Ngày 15 tháng 8 năm 1964, báo Quân Bạch Đằng của Quân khu Đông Bắc tường thuật trận đánh, có tiết lộ hai chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam bắt sống Alvarét. Ngày 22 tháng 8 năm 1964. Chính uỷ quân khu ký bằng khen, nhưng không công bố rộng.

 Bẵng đi một thời gian, năm 1986 Thủ tướng Phạm Văn Đồng chỉ thị: Việc bắt sống phi công Mỹ đầu tiên Anvarét đã đi vào lịch sử, phải tìm ra nhân chứng… 30 năm sau (1994), đồng chí Trần Minh Thái, nguyên là Thượng uý, cán bộ tác chiến của Quân khu Đông Bắc nêu lại vấn đề trên báo Quân khu Ba. Ngày 22 tháng 6 năm 1996 nhà báo Trương Thiếu Huyền cũng viết một bài trên báo Quảng Ninh, song vẫn bặt vô âm tín.

 Tháng 7 năm 1997, nhờ đọc bài “Người bắt sống phi công Mỹ đầu tiên ngày 5 tháng 8 năm 1964 ở Quảng Ninh hiện ở đâu?” đăng trên báo Cựu chiến binh số 144, ngày 26 tháng 6 năm 1997, trong một lần sinh hoạt của Hội Cựu chiến binh phường Cẩm Phú, thì đồng chí Nguyễn Kim Bảo mới nhận mình là người bắt Anvarét. Nguyễn Kim Bảo quê ở Hưng Hà, Thái Bình nhập ngũ năm 1952, về hưu năm 1973 với quân hàm Thượng uý. Năm nay, ông đã 68 tuổi, trú tại phường Cẩm Phú, Cẩm Phả, Quảng Ninh. Đồng chí Nguyễn Xuân Trọng, Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh phường Cẩm Phú đã viết bài đăng và có ảnh kèm theo trên báo Cựu chiến binh khẳng định: Đã tìm được người bắt sống phi công Mỹ đầu tiên. Sau đó, các báo Cựu chiến binh, Văn nghệ Quảng Ninh cung cấp thêm nhiều chi tiết cụ thể như người bắt sống phi công Mỹ đầu tiên là nhân viên cơ yếu, chụp lại ảnh bằng khen ghi rõ: Nguyễn Kim Bảo, Thượng sĩ đảo Cô Tô, ngày 5 tháng 8 máy bay địch oanh tạc đã bình tĩnh chỉ huy bắt được tên phi công Mỹ; khẳng định thêm hai chiến sĩ cùng tham gia bắt Anvarét là bác Lộc quê Đại Bình, Quảng Hà và bác Giang quê Phú Hải, Quảng Hà.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 20 Tháng Mười Một, 2011, 06:19:44 pm
Người cán bộ quân giới đầu tiên
và những quả lựu đạn Việt Nam đầu tiên

 - Người cán bộ quân giới đầu tiên được giao nhiệm vụ phụ trách thành lập một số cơ sở sửa chữa, sản xuất vũ khí cho các lực lượng vũ trang của Đảng là đồng chí Đặng Văn Cáp. Cơ sở này lấy tên là Lê Tổ thành lậ năm 1944 đã chế tạo ra những quả lựu đạn Việt Nam đầu tiên.

 - Tháng 10 năm 1944, những quả lựu đạn đầu tiên được vinh dự trang bị cho đồng chí Lê Thiết Hùng và một số đồng chí khác lên biên giới đón Hồ Chủ tịch. Trên đường về đến Đạo Ngạn gặp bọn địch chặn đường, các đồng chí đã dùng lựu đạn ném trả địch để bảo vệ Bác.

 - Trong thời kỳ trước Tổng khởi nghĩa, các cơ sở bí mật tại tỉnh Bắc Ninh do đồng chí Ngô Gia Khảm phụ trách đã sản xuất loại lựu đạn đập, loại này đã được dùng đánh phục kích một đoàn xe Nhật ở đèo Mỏ Ga (Thái Nguyên), diệt 11 tên.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 20 Tháng Mười Một, 2011, 06:20:16 pm
Người đầu tiên của bộ đội chủ lực ta ở miền Nam
được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước

 Ngày 18 tháng 10 năm 1963, tiểu đoàn bộ binh 5 (trung đoàn 2 chủ lực Miền) được tăng cường một đại đội đặc công diệt một đại đội bảo an địch ở đồn Cây Trường, xã Long Nguyên, huyện Bến Cát (Thủ Dầu Một). Trong trận đánh này, Tiểu đội trưởng Trừ Văn Thố đã lấy thân mình lấp lỗ châu mai, tạo điều kiện cho đồng đội diệt đồn địch. Anh là người thứ ba trong quân đội ta (sau Trần Cừ trong trận Đông Khê ở chiến dịch Biên Giới và Phan Đình Giót ở Điện Biên Phủ) lấy thân mình lấp lỗ châu mai, nêu gương hy sinh cao cả vì sự nghiệp giải phóng đất nước. Liệt sĩ Trừ Văn Thố được truy tặng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba và là người đầu tiên của bộ đội chủ lực ta ở miền Nam được tuyên dương Anh hung lực lượng vũ trang nhân dân trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 20 Tháng Mười Một, 2011, 06:20:59 pm
Người nữ Anh hùng đầu tiên của quân đội ta

 Trong Đại hội liên hoan Anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất (19 tháng 5 năm 1952) có năm người được Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà phong tặng danh hiệu Anh hùng quân đội. Một trong năm người đó là nữ anh hùng Nguyễn Thị Chiên.

 Nguyễn Thị Chiên sinh năm 1930, dân tộc Kinh, quê ở xã Tán Thuật, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Khi được tuyên dương Anh hùng, chị là Trung đội trưởng Trung đội nữ du kích xã, đảng viên Đảng Lao động Việt Nam.

 Trung đội nữ du kích xã Tán Thuật do chị Chiên chỉ huy nổi danh trong kháng chiến chống Pháp với những trận đánh phục kích chống địch đi càn quét và đánh đồn bốt địch.

 Tháng 12 năm 1951, Trung đội nữ du kích do chị chỉ huy phối hợp với bộ đội phục kích đánh địch đi càn quét. Lợi dụng lúc địch chủ quan, không đề phòng, chị và đồng đội đã bất ngờ xông ra bắt sống bốn tên, trong đó có tên quan hai chỉ huy. Khi địch tiến công vào làng chiến đấu của ta, chị và đồng đội đã dũng cảm, mưu trí đánh thắng địch. Riêng trận này, chị Chiều đã bắn chết 3 tên bắt sống 1 tên và giật được 1 súng giặc.

 Tháng 1 năm 1952, trung đội nữ du kích Tán Thuật phối hợp với bộ đội đánh bốt An Bồi, chị Chiên đã cùng đồng đội dũng cảm bò vào cắt rào kẽm gai, ném lựu đạn và xông vào bốt bắt sống sáu tên giặc ngoan cố, trong đó có tên đồn trưởng. Trong trận này, chị Chiên còn cõng được thương binh ra ngoài an toàn.

Nữ du kích Thái Bình nổi tiếng đánh giặc giỏi trong kháng chiến chống Pháp, đặc biệt là tài “tay không bắt giặc”. Trong chiến công chung ấy có sự đóng góp tích cực của người nữ anh hùng quân đội Nguyễn Thị Chiên.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 20 Tháng Mười Một, 2011, 06:21:29 pm
Người phi công đầu tiên của Việt Nam bắn rơi máy bay không người lái

 Đó là phi công Nguyễn Hồng Nhị, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, Nguyễn Hồng Nhị lái máy bay MIG-21 đã bắn rơi 8 máy bay Mỹ (3 F4, 3 F105, 1 F8, 1 không người lái) và chỉ huy biên đội bắn rơi 2 chiếc khác.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 20 Tháng Mười Một, 2011, 06:21:51 pm
Người phi công Việt Nam bắn rơi nhiều máy bay Mỹ nhất?

 Đó là phi công Nguyễn Văn Cốc, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Trong kháng chiến chống Mỹ, Nguyễn Văn Cốc lái máy bay MIG-21 bắn rơi 9 máy bay Mỹ, yểm hộ đồng đội và chỉ huy biên đội bắn rơi 9 chiếc khác.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 20 Tháng Mười Một, 2011, 06:22:22 pm
Những lính Mỹ được ghi tên đầu tiên trong danh sách
đài tưởng niệm lính Mỹ chết trong chiến tranh Việt Nam
đặt tại Thủ đô Oasinhtơn

 Đó là hai tên Đalơ Bơvít và Chextơ Môtman. Hai tên này bị chết trong trận Nhà Xanh (diễn ra ngày 7 tháng 7 năm 1969). Đây là trận đầu tiên quân ta diệt cố vấn Mỹ, bằng phương pháp tập kích bí mật vào câu lạc bộ sĩ quan Mỹ ở Nhà Xanh (Biên Hoà). Được sự hỗ trợ của cơ sở quần chúng, tổ biệt động Đại đội 60 Biên Hoà tiến công nhanh, gọn diệt và làm bị thương một số cố vấn Mỹ, trong đó có hai chết là Đalơ Bơvít và Chextơ Môtman.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 20 Tháng Mười Một, 2011, 06:23:31 pm
Những tấm gương và chiến công
mở đầu đánh Pháp ở Nam Bộ

 Dù hy sinh chẳng hề chi!

 Từ sau khi quân Pháp núp sau quân đội Anh chiếm lại thành phố Sài Gòn, thì nhân dân thành phố nói riêng và nhân dân cả nước nói chung rất căm thù, chỉ muốn phanh thây xé xác quân thù.

 Hồi đó có tổ du kích 3 người đi công tác trong nội thành bất ngờ gặp địch chặn xét, thì anh tổ trưởng phân công đối phó ngay:

 - Tao tay không đi trước cho chúng bu lại xét, thằng thứ hai ném lựu đạn, còn một đứa về báo cáo. Dầu có hy sinh một đứa (tức là anh) chẳng hề chi!

 Sáng hôm sau, các bài báo Sài Gòn đưa tin: “Tại đầu đường Galiêni một tổ du kích đánh lựu đạn diệt 10 lính Pháp, du kích có 2 người hy sinh…” 2 liệt sĩ vô danh, cũng đã nêu gương can trưởng mở đầu, ngàn đời con cháu noi gương học tập.

 Rất sung sướng chết vì Tổ quốc!

 Ngày ấy, có một đội viên thiếu niên vào trại lính Ấn thuộc quân đội Anh rải truyền đơn, chẳng may bị bắt. Tên chỉ huy ra lệnh đưa đi bắn. Em đội viên thản nhiên huýt sáo mồm. Tên sĩ quan ngạc nhiên hỏi, em trả lời rành rọt:

 - Tôi là đứa bé có học, tôi nhớ trong sách có dạy: Người sung sướng nhất là người được chết cho Tổ quốc. Nay tôi sắp chết cho Tổ quốc, tôi rất sung sướng. Lúc này tôi chỉ nghĩ một điều như vậy. Nghe em nói, tên sĩ quan cảm phục ý chí hiên ngang, gan góc của một thiếu hiên Việt Nam, đã ra lệnh thả em.

 Tung hoành trong biển lửa!

 Cậu thiếu niên Lê Văn Tám có cái gan tự tẩm xăng dầu rồi đốt mình cháy bùng thành cây đuốc sống lao vào phá kho giặc tại thành phố Sài Gòn. Còn các chiến sĩ đánh Pháp tái chiếm tỉnh Tây Ninh cũng có gan: coi cái chết nhẹ tựa lông hồng! Ngày 8 tháng 11 năm 1945 trên trận địa phục kích địch ở suối Sâu thuộc xã An Tịnh, huyện Trảng Bàng, các anh đặt sẵn trên một đoạn đường dài mấy tấn mủ cao su khô và chất nổ rồi chờ đoàn xe giặc đi tới, lọt vào vòng phục kích. Có tiếng súng lệnh, lập tức các chiến sĩ cảm tử quân nhất tề xông lên tiếp cận địch, dùng những chai xăng ném vào xe giặc và những đống mủ cao su, tạo thành sự bùng cháy đột ngột tứ bề, một biển lửa thiêu quân thù. Và tất nhiên các chiến sĩ cảm từ cũng “hòa mình” trong ngọn lửa hùng tráng ấy.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 20 Tháng Mười Một, 2011, 06:23:55 pm
Phùng Chí Kiên - cán bộ quân sự đầu tiên của Đảng ta

 Phùng Chí Kiên (Nguyễn Vĩ, Mạnh Văn Liễu; 1901-1941), Tổng chỉ huy Chiến khu Bắc Sơn, trực tiếp chỉ huy Đội Cứu quốc quân (1941), quân hàm cấp tướng (truy phong 1947), quê Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930. Năm 1926, tham gia Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội, dự lớp huấn luyện đầu tiên do Nguyễn Ái Quốc tổ chức ở Quảng Châu, rồi vào học trường võ bị Hoàng Phố (Trung Quốc). Tháng 12 năm 1927, tham gia khởi nghĩa Quảng Châu. Năm 1933-1934 học ở trường Đại học Phương Đông (Matxcơva). 1934 tham gia Ban lãnh đạo hải ngoại của Đảng Cộng sản Đông Dương, cùng Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, chuẩn bị cho Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ nhất tại Ma Cao (Trung Quốc, 1935); được đại hội bầu vào Ban chấp hành Trung ương phụ trách công tác ở nước ngoài. 1936 về Sài Gòn hoạt động, 1938 tham gia củng cố ban lãnh đạo của Đảng ở nước ngoài và xuất bản báo “Đồng thanh” ở Côn Minh (Trung Quốc). Cuối năm 1940, tham gia huấn luyện 43 cán bộ cốt cán của Việt Nam tại Quảng Tây (Trung Quốc), 3 lần bị bắt: ở Mãn Châu (Trung Quốc, 1931), ở Hồng Không (1937) và ở Châu Ngân Sơn (Bắc Cạn, tháng 7 năm 1941). Ngày 20 tháng 8 năm 1941 bị thương trong chiến đấu, bị địch bắt tra tấn đến chết.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 26 Tháng Mười Một, 2011, 02:38:07 pm
Nguyễn Quốc Trị - người dẫn đầu Trung đoàn Thủ đô vào tiếp quản Hà Nội

 Nguyễn Quốc Trị (1921-1967), Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (1952), khi tuyên dương anh hùng là đại đội trưởng bộ binh thuộc trung đoàn 102 đại đội 308, quê Phương Kị, Đô Lương, Nghệ An. Nhập ngũ năm 1945, thượng tá (1966), đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam (1946). Trước cách mạng tháng Tám 1945 vào đội tự vệ tiền phong chống Nhật, cùng đồng đội diệt 10 lính Nhật (Nguyễn Quốc Trị diệt 2), đốt cháy 5 xe quân sự. Trong kháng chiến chống Pháp chiến đấu nhiều trận, giàu kinh nghiệm chiến đấu, công kiên và vận động, cùng đồng đội sáng tạo nhiều cách đánh. Dẫn đơn vị chạy băng rừng theo địa bàn để chặn đánh quân Lơpadơ và dẫn đầu tổ trung kiên xung phong đánh áp đảo địch trận Cốc Xá (ngày 5 - 8 tháng 10 năm 1950), chỉ huy trung đội đánh địch từ trên nóc nhà (trận Thằn Lằn tháng 12 năm 1950), kết hợp kỳ tập với đòn tâm lý (trận Gối Hạc năm 1951). Năm 1945 đến năm 1954, Nguyễn Quốc Trị đã diệt gần 100 địch (phần lớn là Âu - Phi). Năm 1954, trung đoàn trưởng, dẫn đầu trung đoàn Thủ Đô vào tiếp quản Hà Nội. Huân chương: Quân công hạng ba, kháng chiến hạng nhất, chiến công hạng nhất…


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 26 Tháng Mười Một, 2011, 02:38:35 pm
Sư đoàn bộ binh đầu tiên của Mỹ đến Việt Nam

 Đó là sư đoàn bộ binh số 1, còn gọi là “Sư đoàn Anh cả đỏ”. Sư đoàn này sang Việt Nam tháng 10 năm 1965. Và rút về Mỹ tháng 4 năm 1970. Thương vong của sư đoàn này trong chiến tranh Việt Nam là: 20.770 người.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 26 Tháng Mười Một, 2011, 02:39:03 pm
Tên phi công Mỹ đầu tiên bị bắt làm tù binh
trong chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam

 Ngày 5 tháng 8 năm 1964, chiếc máy bay “Chim ưng nhà trời” (A.Skyhawh) - loại máy bay cường kích hạng nhẹ kiểu A-4 của hải quân Mỹ, do trung úy Anvarét lái bị quân và dân ta bắn rơi ở Hòn Gai (Quảng Ninh). Đây là tên phi công Mỹ đầu tiên bị bắt làm tù binh trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc. Còn chiếc máy bay hắn lại cũng là chiếc “Chim ưng nhà trời đầu tiên của Mỹ bị bắn rơi ở miền Bắc Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 26 Tháng Mười Một, 2011, 02:39:27 pm
Trận chiến đấu đầu tiên của Hải quân nhân dân Việt Nam với hải quân hiện đại Mỹ

 Đó là trận đánh tàu Mađốc (ngày 2 tháng 8 năm 1964). Đây là trận tiến công của ba tàu phóng lôi (333, 336, 339) Phân đội 3, đoàn 135, Quân chủng Hải quân nhân dân Việt Nam đánh đuổi tàu khu trục Mađốc (số hiệu 731) thuộc Biên đội xung kích 77, hạm đội 7 Mỹ khiêu khích vũ trang, xâm phạm chủ quyền lãnh hải nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Trưa ngày 2 tháng 8, ba tàu 333, 336, 339 tiếp cận tàu Mađốc tại vùng biển giữa đảo Hòn Mê và Lạch Trường (Thanh Hóa). Tàu Mađốc được không quân chi viện, phản kích. Bị thương vong một số chiến sĩ, tàu của ta vẫn bám sát mục tiêu, phóng ngư lôi, dùng vũ khí bắn thẳng vào boong tàu Mađốc, bắn rơi tại chỗ một máy bay, bắn bị thương một chiếc khác, buộc tàu Mỹ phải rút chạy. Đây là trận chiến đầu tiên của Hải quân nhân dân Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 26 Tháng Mười Một, 2011, 02:39:52 pm
Trận đánh ban ngày đầu tiên ở cấp sư đoàn,
thể hiện khả năng đánh tiêu diệt quân Mỹ của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam

 Đó là trận Bàu Bàng (diễn ra ngày 12 tháng 11 năm 1965). Đây là trận tập kích của sư đoàn bộ binh 9 (chủ lực Quân giải phóng miền Nam Việt Nam) vào lữ đoàn bộ binh 2 (sư đoàn bộ binh 1 Mỹ) đóng quân dã ngoại tại ấp Bàu Bàng (bắc Thủ Dầu Một 25 km). Sau khi áp sát, bao vây khu vực trú quân của địch, 5 giờ 30 phút quân giải phóng bất ngờ tiến công Sở Chỉ huy, đài thông tin, khu thiểt giáp, làm đội hình địch rối loạn, lần lượt diệt từng cụm quân. Sau hơn 2 giờ chiến đấu, sư đoàn 9 đã đánh thiệt hại nặng hai tiểu đoàn bộ binh, phá hủy 39 xe tăng, xe bọc thép, 6 pháo 105mm.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 26 Tháng Mười Một, 2011, 02:40:15 pm
Trận đánh lớn đầu tiên của bộ đội đặc công miền đông Nam Bộ

 Đó là trận Đồng Dù (diễn ra ngày 26 tháng 2 năm 1969). Đây là trận tập kích bí mật của tiểu đoàn đặc công 3 (trực thuộc Miền), tiểu đoàn đặc công 28 (sư đoàn bộ binh 7) và một tiểu đoàn pháo, cối hỗn hợp vào căn cứ sư đoàn “Tia chớp nhiệt đới” của Mỹ ở Đồng Dù (Củ Chi, tây bắc Sài Gòn 30 km). Căn cứ có sở chỉ huy sư đoàn và lữ đoàn 2 (1600 quân), sân bay, trận địa pháo, bãi xe cơ giới, 7 lớp rào thép gai cao 5m, 350 lô cốt và ụ sung. Bên ngoài có 5 đại đội thám báo bảo vệ. 2 giờ 45 phút ta nổ súng, sau một giờ chiến đấu, đánh thiệt hại nặng sở chỉ huy sư đoàn và lữ đoàn 2, diệt và làm bị thương 1.270 quân, phá hủy nhiều máy bay, 176 xe quân sự, 12 khẩu pháo, 4 kho bom đạn, xăng dầu và nhiều phương tiện chiến tranh khác.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 26 Tháng Mười Một, 2011, 02:40:41 pm
Trận đánh mở đầu phong trào đánh Mỹ của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam,
ngay khi Mỹ bắt đầu thực hiện chiến lược chiến tranh cục bộ

 Đó là trận Núi Thành (diễn ra ngày 28 tháng 5 năm 1965). Đây là trận tập kích của đại đội bộ binh 2 thuộc tiểu đoàn 70 tỉnh Quảng Nam và 8 chiến sĩ đặc công (Quân giải phóng quân khu 5) vào một đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ ở Núi Thành (tây căn cứ Chu Lai, nằm trong cụm núi đá trọc thuộc xã Kỳ Liên, huyện Tam Kỳ nay là xã Tam Nghĩa huyện Núi thành, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng). Địch bố trí thành 3 cụm, bên ngoài có một hàng rào thép gai bùng nhùng. Khoảng 0 giờ 30 phút, trận đánh bắt đầu. Từ nhiều hướng ta xung phong đánh chiếm công sự vòng ngoài rồi phát triển vào vòng trong. Sau ít phút bị bất ngờ, hoảng loạn, địch tổ chức chống trả quyết liệt, ta đưa lực lượng dự bị vào diệt thêm một số rồi kết thúc trận đánh (khoảng 0 giờ 50 phút).


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 26 Tháng Mười Một, 2011, 02:41:05 pm
Trận đánh mở đầu phong trào thi đua bắn rơi máy bay phản lực Mỹ
bằng súng bộ binh của dân quân tự vệ miền Bắc

 Trận đánh ngày 15 tháng 3 năm 1965. Dân quân xã Diễn Hùng (Diễn Châu, Nghệ An) dùng súng trường bắn rơi 1 máy bay phản lực A.4 Mỹ, mở đầu phong trào thi đua bắn rơi máy bay phản lực hiện đại Mỹ bằng súng bộ binh trong dân quân tự vệ toàn miền Bắc


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 26 Tháng Mười Một, 2011, 02:41:29 pm
Trận đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn quân Mỹ đầu tiên
trên chiến trường miền đông Nam Bộ

 Đó là trận Đất Cuốc diễn ra ngày 8 tháng 11 năm 1965. Tiểu đoàn 3 trung đoàn 1 (Sư đoàn 9 chủ lực Miền) dưới sự chỉ huy của phó trung đoàn trưởng Bùi Thanh Vân tập kích lữ đoàn 173 không vận Mỹ ở Đất Cuốc, cách thị xã Biên Hòa 30 km về phía bắc, diệt và làm bị thương gần 300 tên, bắn rơi 4 máy bay, thu nhiều vũ khí.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 26 Tháng Mười Một, 2011, 02:41:55 pm
Trận đầu bắt tù binh Mỹ của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam

 Đó là trận Trí Phải (ngày 29 tháng 10 năm 1963). Đây là trận vận động tiến công của Tiểu đoàn bộ binh T70 và đại đội bộ đội địa phương huyện Thới Bình, đánh trả cuộc hành quân càn quét của tiểu đoàn biệt kích (trại huấn luyện đặc biệt Huyện Sử) và đại đội bảo an chi khu Thới Bình của quân ngụy Sài Gòn do 6 cố vấn Mỹ chỉ huy tại xã Trí Phải (Cà Mau, Minh Hải). 2 giờ ngày 29, địch chia thành hai mũi tiến công, bị ta đánh chặn, địch chạy tán loạn, đụng nổ 40 trái gài (lựu đạn, đạp lôi), sập 37 hầm chông. Sau gần một ngày chiến đấu, địch bị diệt 80, bị bắt 332.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 27 Tháng Mười Một, 2011, 01:04:23 pm
Trận đầu bộ đội chủ lực Quân khu 5
đánh bại chiến thuật thiết xa vận của quân ngụy Sài Gòn

 Đó là trận Kỳ Sanh (diễn ra trong hai ngày 9 và 10 tháng 8 năm 1964). Đây là trận tiến công của tiểu đoàn bộ binh 90 (trung đoàn 1, quân khu 5) vào một tiểu đoàn quân ngụy Sài Gòn ở xã Kỳ Sanh (Quảng Nam) và lực lượng ứng cứu. Ngày 9, ta tiến công tiêu diệt phần lớn lực lượng đóng trong xã. Ngày 10, ta phục kích quân ứng cứu (2 đại đội bộ binh, có 9 xe bọc thép M113, máy bay, pháo binh chi viện), loại khỏi vòng chiến đấu hơn 100 địch, bắn cháy 7 xe M113.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 27 Tháng Mười Một, 2011, 01:04:53 pm
Trận đầu tiên bộ đội tên lửa ra quân đánh thắng

 Đó là trận Suối Hai (từ ngày 24 đến ngày 27 tháng 7 năm 1965). Đây là trận phục kích của hai tiểu đoàn tên lửa (63, 64) Quân đội nhân dân Việt Nam và lực lượng pháo phòng không (57mm và 37mm) phối hợp với dân quân địa phương bắn máy bay Mỹ tại Suối Hai, huyện Bất Bạt, tỉnh Hà Tây. 15 giờ 53 phút ngày 24 tháng 7, 2 Tiểu đoàn 63, 64 tiêu diệt một tốp máy bay Mỹ (1 rơi tại chỗ), bắt một phi công. Dự đoán được âm mưu của địch, lực lượng pháo phòng không và dân quân tổ chức trận địa tên lửa giả nghi binh địch. Ngày 27 tháng 7, Mỹ huy động 48 lần chiếc máy bay “đánh trả đũa” vào trận địa tên lửa giả do ta bố trí. Ta đánh trả quyết liệt, diệt thêm 5 máy bay (có 2 chiếc rơi tại chỗ), bắt sống 3 phi công. Trận Suối Hai là trận đầu tiên của bộ đội tên lửa ra quân thắng lợi. Ngày 24 tháng 7 năm 1965 trở thành ngày truyền thống của Bộ đội Tên lửa phòng không Quân đội nhân dân Việt Nam. Sau trận Suối Hai, hình thức phối hợp tác chiến của bộ đội tên lửa, pháo phòng không và súng bộ binh bắn máy bay xuất hiện và đạt hiệu quả ngày càng cao trong chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ ở miền Bắc Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 27 Tháng Mười Một, 2011, 01:05:29 pm
Trận đầu xuất quân đánh thắng của Bộ đội Không quân

 Ngày xuất quân đầu tiên của Không quân nhân dân ta là ngày 3 tháng 4 năm 1965. Biên đội Phạm Ngọc Lan chiến thắng oanh liệt, bắn rơi 2F.8U của giặc Mỹ trên bầu trời Thanh Hóa.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 27 Tháng Mười Một, 2011, 01:05:51 pm
Trận tập kích đầu tiên của Mỹ bằng máy bay chiến lược B52
trên chiến trường miền Nam Việt Nam

 Đó là trận Bến Cát (ngày 18 tháng 6 năm 1965). Mỹ dùng máy bay B52 ném bom nhằm triệt phá căn cứ kháng chiến, diệt bộ đội chủ lực Đông Nam Bộ, lập tuyến an ninh từ xa cho Sài Gòn, hỗ trợ các cuộc hành quân trên bộ. Ngày 18 tháng 6 năm 1965, 30 máy bay B52 của Mỹ từ Guam đến ném bom rải thảm khu vực Trảng Lớn, Bờ Cảng (xã Long Nguyên, Bến Cát, Sông Bé), rồi thả truyền đơn huênh hoang về “sức mạnh không thể tượng nổi của pháo đài bay” và đổ quân xuống điều tra kết quả, nhưng bom Mỹ không ném trúng mục tiêu. Máy bay B52 tham chiến làm tăng thêm tính chất ác liệt của chiến tranh xâm lược và một thực tế chỉ rõ chiến lược chiến tranh cục bộ của Mỹ chính thức thay thế chiến lược chiến trạnh đặc biệt.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 27 Tháng Mười Một, 2011, 01:06:16 pm
Trận thắng đầu tiên bằng cách đánh đặc công của lực lượng vũ trang Bình Thuận
trong kháng chiến chống Pháp

 Đó là trận Ngã Hai ( diễn ra ngày 18 tháng 9 năm 1952). Đây là trận tập kích của trung đội đặc công, một đại đội xung kích và một trung đội bộ đội địa phương tại Bình Thuận vào đồn Ngã Hai (nam thị xã Phan Thiết 7km được xây dựng kiên cố do 1 đại đội quân Pháp chiếm giữ, nhằm thể nghiệm cách đánh đặc công, diệt sinh lực địch, phá khu tập trung dân của Pháp. Đêm 18 tháng 9, trung đội đặc công hình thành 7 mũi, bí mật luồn sâu, ém sát, bất ngờ dùng bộc phá đánh sập các lô cốt, tạo điều kiện cho đại đội xung kích vào tiếp chiến diệt địch. Cùng lúc, lực lượng chặn viện diệt các tháp canh ở cầu 40 và trong khu tập trung dân. Sau 20 phút chiến đấu, ta làm chủ trận địa và bắt trên 120 quân Pháp, giải phóng nhân dân khỏi khu tập trung của địch.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 27 Tháng Mười Một, 2011, 01:06:43 pm
Trận thắng lớn đầu tiên của quân và dân Việt Nam
trên chiến trường đồng bằng Bắc Bộ trong kháng chiến chống Pháp

 Đó là trận Ân Thi (diễn ra từ ngày 26 đến ngày 30 tháng 5 năm 1948). Đây là trận chống càn của trung đoàn 64 (bộ đội chủ lực Liên khu 3) cùng du kích và nhân dân địa phương bẻ gãy cuộc càn quét lớn của quân Pháp tại Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Trong trận này, du kích và nhân dân địa phương đào đường, đắp ụ để ngăn chặn các mũi tiến công của địch. Đồng thời tiểu đoàn 239 và 182 của trung đoàn 64 tổ chức chặn đánh quyết liệt ở Cầu Đìa, Làng Thi tới phố Thi, bẻ gãy nhiều đợt xung phong của quân Pháp, diệt hơn 200 tên, bắn chìm 3 canô. Đến 30 tháng 5, Pháp buộc phải lui quân.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 27 Tháng Mười Một, 2011, 01:07:14 pm
Trung đoàn chủ lực cơ động đầu tiên của ta trên chiến trường miền Nam
trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

 Ngày 9 tháng 2 năm 1962, thành lập trung đoàn bộ binh 1 (Q.761, còn gọi là C.56) chủ lực Miền tại Trảng Dài (Tây Ninh). Biên chế (tháng 2 năm 1962) hai tiểu đoàn bộ binh 1 và 2, một số phân đội hỗ trợ chiến đấu và 3 cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần. Cán bộ từ trung đoàn trưởng đến tiểu đoàn trưởng đều được huấn luyện chính quy trên miền Bắc.

 Trung đoàn trưởng: Tăng Thiên Kim (tức Hoàng Đình Chương). Chính ủy: Lê Văn Nhỏ (tức Hai Lâm).

 Đây là trung đoàn chủ lực cơ động đầu tiên trên chiến trường miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 27 Tháng Mười Một, 2011, 01:07:45 pm
Trung đoàn không quân vận tải đầu tiên

 Ngày 1 tháng 5 năm 1959, thành lập Trung đoàn không quân vận tải (Nghị định số 429/NĐ của BQP) thuộc Cục Không quân, Biên chế hai đại đội máy bay (gồm hai trung đội IL.14, LI.2, AN.2) và đại đội thợ máy. Đây là trung đoàn không quân vận tải đầu tiên của quân đội ta.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 27 Tháng Mười Một, 2011, 01:08:41 pm
Trung đoàn phòng không đầu tiên

 Ngày 1 tháng 4 năm 1953, trung đoàn 367 phòng không được thành lập (quyết định số 06/QĐ của BQP - Tổng tư lệnh). Biên chế: 6 tiểu đoàn hỏa lực (381, 383, 392, 394, 396), mỗi tiểu đoàn có 3 đại đội pháo cao xạ 37 ly (12 khẩu); 1 đại đội súng máy 12,7ly (12 khẩu), 1 tiểu đoàn xe kéo pháo, vận tải và sửa chữa; cơ quan trung đoàn gồm: tham mưu, chính trị, cung cấp.

 Trung đoàn trưởng: Lê Văn Try.

 Chính trị viên: Đoàn Phụng.

 Trung đoàn 367 là trung đoàn phòng không đầu tiên của quân đội ta. Vì thế ngày thành lập trung đoàn (mồng 1 tháng 4) trở thành ngày truyền thống của Bộ đội Phòng không.



Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 27 Tháng Mười Một, 2011, 01:09:07 pm
Trung đoàn tên lửa phòng không đầu tiên

 Ngày 7 tháng 1 nam 1965, thành lập trung đoàn tên lửa phòng không 236 (đoàn Sông Đà). Trung đoàn trưởng: Nguyễn Quang Tuyến, chính ủy: Phạm Đăng Ty. Ngày 1 tháng 5, trung đoàn bước vào huấn luyện. Đây là trung đoàn tên lửa phòng không đầu tiên của quân đội ta.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 27 Tháng Mười Một, 2011, 01:09:38 pm
Trung đoàn tình báo phòng không đầu tiên

 Tháng 8 năm 958, trung đoàn 4 thuộc Bộ tư lệnh Phòng không được tổ chức thành trung đoàn tình báo phòng không 260 gồm 6 đại đội (phiên hiệu từ 1 đến 6) trang bị rađa P-8 và 3 đại đội quan sát mắt (phiên hiệu từ 7 đến 9).

 Trung đoàn trưởng: Lương Hữu Sắt.

 Chính ủy: Lê Đình Truy.

 Đây là trung đoàn tình báo phòng không (rađa) đầu tiên của quân đội ta.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 27 Tháng Mười Một, 2011, 01:10:39 pm
Trung đoàn xe tăng đầu tiên


 Ngày 5 tháng 10 năm 1959, thành lập trung đoàn xe tăng đầu tiên, phiên hiệu trung đoàn xe tăng 202 (Nghị định số 449/NĐ của Bộ trưởng BQP).

 Biên chế: 3 tiểu đoàn xe tăng chiến đấu (1, 2, 3), một đại đội sửa chữa, một đại đội công binh, một đại đội huấn luyện, một đại đội vệ binh, một đại đội thông tin và bốn cơ quan (tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật).

 Trung đoàn trưởng: Thiếu tá Đào Huy Vũ.

 Chính ủy: Thiếu tá Đặng Quang Long.

 Ngày 5 tháng 10 trở thành ngày truyền thống của bộ đội Tăng thiết giáp.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 27 Tháng Mười Một, 2011, 01:11:09 pm
Trường quân sự đầu tiên của quân đội ta

 Trường quân chính kháng Nhật, trường đào tạo cán bộ trung đội (trung đoàn trưởng, chính trị viên trung đội) đầu tiên của Việt Nam giải phóng quân. Thành lập theo nghị quyết Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ (15 đến 20 tháng 4 năm 1945) tại xã Tân Trào, châu Tự do (nay là huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang). Khóa học đầu tiên (82 người), khai giảng 25 tháng 6 năm 1945. Đổi tên thành: trường Quân chính Việt Nam (tháng 9 năm 1945), trường Cán bộ Việt Nam (tháng 10 năm 1945), trường Võ bị Trần Quốc Tuấn (tháng 4 năm 1946), trường Lục quân trung học Trần Quốc Tuấn (tháng 11 năm 1947), trường Lục quân Việt Nam (tháng 10 năm 1949), trường Sĩ quan lục quân Việt Nam (tháng 1 năm 1956), trường Sĩ quan lục quân 1 (từ năm 1975), Giám đốc đầu tiên: Hoàng Văn Thái).


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 27 Tháng Mười Một, 2011, 01:12:13 pm
Vài kỷ lục “đầu tiên” của ngành Quân giới

 Ngày ra đời của ngành Quân giới Việt Nam. Ngành quân giới Việt Nam chính thức thành lập ngày 15 tháng 9 năm 1945, tức là ngày Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh thành lập phòng Quân giới thuộc Bộ Quốc phòng.

 Xưởng 77 là đơn vị đầu tiên của ngành Quân giới được Bác Hồ đến thăm

 Một niềm vinh dự, một ngày đáng ghi nhớ của cán bộ, công nhân quân giới là ngày 19 tháng 5 năm 1950, Hồ Chủ tịch đến thăm xưởng K77. Từ đó phong trào thi đua yêu nước ngày càng sôi nổi trong ngành quân giới.

 Những anh hùng đầu tiên của ngành quân giới

 Những anh hùng đầu tiên của ngành Quân giới là đồng chí Trần Đại Nghĩa và đồng chí Ngô Gia Khảm. Tiếp sau là các anh hùng Cao Viết Bảo, Nguyễn Phúc Đồng, Nguyễn Văn Dậu.

 Hội nghị Quân giới đầu tiên

 Hội nghị Quân giới đầu tiên được triệu tập vào tháng 8 năm 1948. Đây là Hội nghị có tính chất lịch sử của ngành Quân giới, đánh dấu một bước tiến bộ vượt bậc trong quá trình sản xuất vũ khí Việt Nam. Hội nghị đã tổng kết kinh nghiệm xây dựng các mẫu vũ khí, rút ra được nhiều khởi nghĩa về sản xuất và các biện pháp tổ chức quân giới hợp với từng chiến trường Bắc, Trung, Nam.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 27 Tháng Mười Một, 2011, 01:12:45 pm
Các loại súng, đạn cối và bom phóng đầu tiên
do Việt Nam sản xuất

 Các cơ sở quân giới trên 2 miền Nam Bắc tiếp tục sản xuất thêm được nhiều loại vũ khí: Năm 1949 đã sản xuất được súng đạn cối 60, 81, 120, 185mm. (Cối 120 được dùng đầu tiên ở trận Đức Khê; cối 185 được dùng đầu tiên ở trận Hòa Bình). Đạn SKZ làm xong được dùng ngay ở trận Phố Lu (Lào Cai). Các loại đạn phóng đã góp phần hạ đồn Đại Bục, Đại Phác, đánh đường 4, đường 6.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 03 Tháng Mười Hai, 2011, 01:03:16 pm
Hai chiếc máy bay Pháp cuối cùng
bị bắn rơi tại Điện Biên Phủ

 Đó hai chiếc máy bay “Cướp biển” F4U mà Mỹ mới trang bị cho không quân Pháp. Hai chiếc máy bay này bị đại đội 817 (tiểu đoàn 383) bắn rơi vào sáng ngày 7 tháng 5 năm 1954, trong vòng 25 phút (từ 9 giờ tới 9 giờ 25 phút).


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 03 Tháng Mười Hai, 2011, 01:03:44 pm
Chiếc máy bay Mỹ cuối cùng bị bắn rơi trên miền Bắc

 Ngày 17 tháng 1 năm 1973 dân quân huyện Lệ Thủy (Quảng Bình) bắn rơi một máy bay do thám. Đây là chiếc máy bay Mỹ cuối cùng bị bắn rơi trên miền Bắc.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 03 Tháng Mười Hai, 2011, 01:04:15 pm
Tên lính Mỹ cuối cùng toi mạng trong chiến tranh xâm lược Việt Nam

 Đó là Đácuyn Giớt, hạ sĩ lính thuỷ đánh bộ, quê ở Mácsan, bang Aiôa và Sácli Mác Mahơn, binh nhì lính thuỷ đánh bộ, quê ở Uơbơn, bang Maxachuxét, chết ngày 29 tháng 4 năm 1975 ở sân bay Tân Sơn Nhất trong cuộc rút chạy hoảng loạn của Mỹ khỏi miền Nam Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 03 Tháng Mười Hai, 2011, 01:05:07 pm
Vài kỷ lục “nhất” và “đầu tiên
của bộ đội Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh

 - Ngày 20 tháng 8 năm 1959, chuyến hàng gùi bộ đầu tiên được giao cho chiến trường là vũ khí và công văn bí mật. Ngày 9 tháng 8 năm 1964, trung đoàn 98 công binh - đơn vị anh hùng, bổ nhát cuốc đầu tiên mở đường cơ giới Trường Sơn. Ngày 25 tháng 10 năm 1965, đoàn ô tô đầu tiên chở hàng vào chiến trường mở đầu giai đoạn vận tải cơ giới trên đường Trường Sơn.

 - Ngày 24 tháng 7 năm 1965, tiểu đoàn 20 cao xạ bắn rơi chiếc máy bay đầu tiên trên tuyến, tiểu đoàn 36 cao xạ (E28) bắn rơi 157 máy bay Mỹ - là đơn vị bắn rơi nhiều máy bay nhất trên tuyến. Đại đội 4 súng máy 12,7mm bắn rơi 156 máy bay, bình quân mỗi chiến sĩ bắn rơi 2 chiếc. Ngày 5 tháng 3 năm 1971, toàn tuyến bắn rơi 40 máy bay, riêng tiểu đoàn 24 cao xạ - đơn vị anh hùng hạ tại chỗ 19 chiếc.

 - Ngày 18 tháng 2 năm 1971, trong 25 phút chiến đấu, tiểu đoàn 24 cao xạ, hạ tại chỗ 18 máy bay Mỹ, phần lớn là trực thăng và phản lực. Ngày 16 tháng 6 năm 1973, 2 đồng chí Nguyễn Văn Thể và Lê Văn Thái (chiến sĩ thông tin sư đoàn 470) hạ tại chỗ 1 F4 bằn 2 viện đạn AK. Đồng chí Bùi Xuân Nơ (chiến sĩ công binh) hạ tại chỗ 1 F4 bằng chín viên đạn trung liên.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 03 Tháng Mười Hai, 2011, 01:05:37 pm
Những đơn vị bộ đội đường Hồ Chí Minh
được tuyên dương danh hiệu anh hùng hai lần

 Ba đơn vị bộ đội đường Hồ Chí Minh được tuyên dương đơn vị anh hùng lần thứ 2 là: tiểu đoàn 101 xe hơi, tiểu đoàn 2 công binh, đại đội 4 súng máy 12,7mm…


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 03 Tháng Mười Hai, 2011, 01:06:10 pm
Kỷ lục làm cầu của bộ đội Trường Sơn

 Cầu phao Long Đại và cầu phao Gianh.

 Ngay sau khi hiệp định Pari được ký kết, để bảo đảm giao thông phục vụ vào ra chiến trường, Thường vụ Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đã giao nhiệm vụ cho Bộ tư lệnh Trường Sơn phải nhanh chóng bắc cầu Gianh và Long Đại. Nhiệm vụ quan trọng này được giao cho trung đoàn 99 (đơn vị xây dựng cầu thiện chiến nhất của Bộ đội Trường Sơn) phối hợp với các đơn vị công binh của Quân khu 4 và Ty Giao thông Quảng Bình. Trong lúc đồng chí Đặng Hương, trưởng phòng vật tư 559 (sau này là Phó tư lệnh binh đoàn 12, hiện đã nghỉ hưu tại quận Đống Đa, Hà Nội) đi nhận 7 bộ cầu LPP thì cán bộ chiến sĩ trung đoàn 99 đã bắt tay ngay vào công tác chuẩn bị. Sông rộng, nước sâu và chảy xiết, nhưng vẫn thua sự sáng tạo và lòng quả cảm của bộ đội Trường Sơn. Chỉ trong vòng hai tháng 2 chiếc cầu phao hiện đại đã hoàn thành và phát huy tác dụng rất lớn. Theo số liệu thống kê của Ty Giao thông Quảng Bình, ở cầu Long Đại bình quân mỗi ngày đã có 572 lượt xe vào ra, còn cầu Gianh phục vụ bình quân mỗi ngày 684 xe. Cầu phao Long Đại và cầu phao Gianh được bộ đội ta đọc chệch là “xong đại nhanh” để khẳng định kỷ lục bắc cầu nhanh của trung đoàn 99.

 24 giờ bắc xong cầu qua sông Thạch Hãn. Trong chiến dịch tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, để bảo đảm cho bộ binh cơ giới của ta tiến công địch giải phóng Thừa Thiên Huế từ phía Bắc, Bộ tư lệnh Trường Sơn giao nhiệm vụ cho trung đoàn cầu 99 rà phá bom mìn, thủy lôi để bắc cầu qua sông Thạch Hãn. Mệnh lệnh nêu rõ: phải nhanh chóng khẩn trương, hoàn thành công việc trong 3 ngày. Thế nhưng bằng ý chí quyết tâm và hành động mau lẹ, khéo léo, chỉ trong vòng 24 giờ, chiếc cầu vượt sông Thạch Hãn đã được bắc xong. Các đơn vị bộ binh cơ giới của ta qua cầu thẳng tiến về phía Nam vô cùng khấn khởi, bày tỏ niềm mến mộ và khâm phục những người “thợ cầu” Trường Sơn.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 03 Tháng Mười Hai, 2011, 01:06:51 pm
Cuộc đàm phán về hòa bình kéo dài nhất, gay go, phức tạp nhất trong thế kỷ 20

 Đó là cuộc đấu tranh ngoại giao của nhân dân ta với đế quốc Mỹ ở Pari bắt đầu ngày 13 tháng 5 năm 1968 và kết thúc ngày 27 tháng 1 năm 1973, kéo dài 4 năm 8 tháng 14 ngày với 202 phiên họp công khai và 24 đợt gặp riêng.

 - Sau khi Giônxơn tuyên bố ném bom hạn chế (31 tháng 3 năm 1968), ta đồng ý ngồi nói chuyện với Mỹ ở Pari từ ngày 13 tháng 5 năm 1968. Do sức đấu tranh của ta, Mỹ buộc phải ngồi nói chuyện chính thức với Mặt trận dân tộc giải phóng (từ tháng 6 năm 1969 là Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam). Hội nghị bốn bên bắt đầu ngày 18 tháng 1 năm 1969.

 - Trong quá trình đàm phán, ta đưa ra nhiều đề nghị hợp lý như giải pháp toàn bộ 10 điểm ngày 8 tháng 5 năm 1969, 8 điểm nói rõ thêm ngày 17 tháng 9 năm 1970, giải pháp 7 điểm ngày 1 tháng 7 năm 1971, 2 điểm then chốt nói rõ thêm ngày 2 tháng 2 năm 1972… Nhưng tập đoàn Níchxơn cố tình bưng tai, bịt mắt để tiếp tục chính sách ngoại giao dựa trên sức manh. Ngày 4 tháng 5 năm 1972, chúng đơn phương tuyên bố hoãn không thời hạn Hội nghị Pari, nhưng đến ngày 13 tháng 7 năm 1972 phải nhân họp lại.

 - Ngày 8 tháng 10 năm 1972, ta chủ động đưa ra bản dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam”. Đến ngày 22 tháng 10 năm 1972 ta và Mỹ đã hoàn thành văn bản Hiệp định, nhưng ngay ngày hôm sau Mỹ lại tìm cách tráo trở.

 - Ngày 26 tháng 10 năm 1972, Chính phủ ta ra tuyên bố vạch trần thái độ lật lọng, ngoan cố của Níchxơn. Đầu tháng 12 năm 1972, khi nối lại các cuộc họp, Mỹ đòi sửa đổi nhiều điểm quan trọng trong nội dung Hiệp định, đồng thời tính toán bước leo thang chiến tranh mới.

 - Sau thất bại của Mỹ trong đợt tập kích bằng không quân chiến lược, ngày 8 tháng 1 năm 1973, cuộc đấu tranh trên mặt trận ngoại giao đã ngã ngũ, phần thắng nghiêng về phía nhân dân ta. Mỹ phải bỏ thái độ “thương lượng trên thế mạnh”. Ngày 23 tháng 1 năm 1973, văn bản Hiệp định được ký tắt giữa ta và Mỹ; ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định được ký chính thức.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 03 Tháng Mười Hai, 2011, 01:08:00 pm
Dũng sĩ 5 nhất

 Đó là Vương Văn Chài. Vào chiến trường, Vương Văn Chài được bổ sung về đại đội 2 anh hùng - đại đội chủ công của tiểu đoàn anh hùng làm anh nuôi. Chài đã nhiều lần băng qua lửa đạn đem cơm lên chốt và độc lập đánh nhiều trận, diệt nhiều địch, bắt một tù binh. Có trận đưa cơm xong, Chài theo anh em truy kích địch, một mình thu về cho đơn vị 4 máy PRC25, 3 đại liên 5 AR 15 và 2 chăn dù.

 Anh em khen ngợi, Chài chỉ nói: Quê mình Việt Bắc hết giặc rồi, được chiến đấu giải phóng cho đồng bào Tây Nguyên kết nghĩa mình phấn khởi lắm. Do có năng lực, Chài đã được đưa lên làm Tiểu đội trưởng.

 Trong trận đánh công sự vững chắc của địch ở Ngọc Rinh Rua (ngày 31 tháng 1 năm 1971), Vương Văn Chài lập nên kỷ lục chiến đấu chưa từng có ở chiến trường: “Một trận đánh trở thành dũng sĩ 5 nhất”.

“Phá tung cửa mở trước nhất,
Chiếm được lô cốt đầu cầu trước nhất:
Bắt tù binh sớm nhất;,
Bắn rơi máy bay trước nhất;
Đánh chiếm được sở chỉ huy địch trước nhất”.

 Góp phần đặc biệt quan trọng cùng đơn vị dứt điểm cứ điểm Ngọc Rinh Rua, mở màn cho thời kỳ đánh tiêu diệt hàng loạt căn cứ phòng thủ vững chắc của giặc ở Tây Nguyên.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 03 Tháng Mười Hai, 2011, 01:08:27 pm
Loại máy bay được Mỹ sử dụng phổ biến nhất
trong chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam
và chiếc đầu tiên của loại máy bay này bị bắn rơi

 Đó là loại máy bay tiêm kích ném bom F-105 “Thần Sấm”. Trong thời gian từ 1965-1973, không quân Mỹ đã sử dụng 137.391 lần chiếc loại máy bay này đi đánh phá miền Bắc Việt Nam. Chiếc “Thần Sấm” bị bắn rơi đầu tiên ngày 2 tháng 3 năm 1965 tại Quảng Bình. Theo tài liệu của Mỹ, có 334 chiếc “Thần Sấm” bị bắn rơi ở Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 03 Tháng Mười Hai, 2011, 01:08:54 pm
Một cuộc chiến tranh tốn kém nhất của nước Mỹ

 Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Mỹ đã huy động tới 40% số nhà vật lý, 260 trường đại học, 22.000 xí nghiệp lớn với 5 triệu rưỡi công nhân vào việc nghiên cứu và sản xuất vũ khí, đồ dùng quân sự phục vụ cho cuộc chiến tranh này.

 Năm 1968 là năm Mỹ chi phí cao nhất cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Trung bình mỗi ngày, Mỹ chi 100 triệu đô la, tức là gấp 10 lần chi phí cho cuộc “Chiến tranh chống nghèo đói” ở Mỹ lúc bấy giờ và bằng một nửa số tiền Mỹ viện trợ cho nước ngoài trong 20 năm kể từ 1941-1960.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 03 Tháng Mười Hai, 2011, 01:09:32 pm
Sự kiện nổi bật nhất thế giới năm 1975

 Hầu như số đông các hãng thông tấn, báo chí trên thế giới đều thống nhất nhận định: Thắng lợi của nhân dân 3 nước Đông Dương đánh bại hoàn toàn chiến tranh thực dân mới của đế quốc Mỹ là sự kiện nổi bật nhất năm 1975.

 Hãng tin Pháp AFP viết: “Trong năm 1975, sự kiện nổi bật nhất ở châu Á là sự kiện Việt Nam. Năm 1975 chứng kiến sự ra đời của một cường quốc mới - một nước Việt Nam thống nhất. Không còn nghi ngờ gì nữa, sự kiện này sẽ có ảnh hưởng to lớn đến khu vực này của thế giới trong tương lại” (15 tháng 12 năm 1975).

 Thời báo Anh viết: “Theo quan điểm lịch sử lâu dài, sự kiện có ý nghĩa nhất trong năm 1975 chắc chắn là sự sụp đổ của các chế độ (tay sai Mỹ) ở miền nam Việt Nam, Campuchia và Lào (31 tháng 12 năm 1975).


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 03 Tháng Mười Hai, 2011, 01:10:03 pm
Người lập kỷ lục quai búa khi đục đá phá núi mở đường
cho chiến dịch Điện Biên Phủ

 Đó là chiến sĩ Tào Tư thuộc D555. Khi làm nhiệm vụ mở đường Tuần Giáo sang Điện Biên, anh đã quai được liên tục 2.800 búa (loại 5 kg), trong khi thông thường một người khỏe chỉ quai được 20 búa đã phải nghỉ lấy sức.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 03 Tháng Mười Hai, 2011, 01:10:29 pm
Người lập kỉ lục thồ nhiều nhất
trong chiến dịch Điện Biên Phủ

 Đó là anh Ma Văn Thắng (Phú Thọ) đã lập kỷ lục thồ bằng xe đạp được 352kg, anh Cao Văn Ty (Thanh Hóa) thồ 320kg một chuyến.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 03 Tháng Mười Hai, 2011, 01:10:56 pm
Hồ Văn Nhánh - Vua gỡ mìn

 Những năm đầu đánh Mỹ - Binh công xưởng Mỹ Tho được nhiều lần khen thưởng về thành tích chế tạo mìn phục vụ vành đai diệt Mỹ ở Bình Đức. Tỉnh chủ trương phát động nhân dân, du kích tháo gỡ mìn của địch để lập các “bãi lửa” đánh địch. Cán bộ du kích đi xuống vành đai đều mang theo dụng cụ để tháo gỡ bom, mìn đem về cho Binh công xưởng. Trong hàng trăm tấm gương, nổi lên Hồ Văn Nhánh, 16 tuổi, không biết bao nhiêu lần, một mình em chui vào hàng rào bao quanh căn cứ Bình Đức. Em đã khôn khéo, bí mật gỡ được 5.000 quả lựu đạn, 120 quả mìn trao cho huyện đội. Trong một lần đi xuống vành đai, em đã hy sinh. Hồ Văn Nhánh được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

 Cô bác Mỹ Tho trìu mến gọi em là “vua gỡ mìn vành đai”.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 04 Tháng Mười Hai, 2011, 03:27:39 pm
ĐỒNG CHÍ CÓ BIẾT XUẤT XỨ VÀ HOÀN CẢNH RA ĐỜI
MỘT SỐ DANH HIỆU, TÊN GỌI
TRONG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN TA

Ba bám

 Ba bám, phương châm hành động của quân và dân miền Nam Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ nhằm giành thế chủ động làm chủ và tiến công, tiến công và làm chủ ở cơ sở, đánh bại âm mưu và kế hoạch càn quét, bình định, “tát nước bắt cá” của Mỹ - chính quyền Sài Gòn. Nội dung của Ba bám là: Đảng viên, cán bộ bám dân, dân bám đất, du kích bám địch. Ba bám là sự phát triển cao những khởi nghĩa đánh giặc của nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 04 Tháng Mười Hai, 2011, 03:28:05 pm
Ba đảm đang

 Ba đảm đang là phong trào hành động cách mạng của phụ nữ miền Bắc Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ, do Ban Chấp hành Trung ương Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam phát động nhân dịp kỷ niệm lần thứ 15 ngày toàn quốc chống Mỹ (19 tháng 3 năm 1950 đến 19 tháng 3 năm 1965) với ba nội dung: Sản xuất, công tác thay cho nam giới đi chiến đấu; lo toan việc gia đình để chồng con, anh em tòng quân và phục vụ lâu dài trong quân đội; phục vụ chiến đấu, tham gia dân quân tự vệ, tập luyện quân sự để sẵn sàng chiến đấu. Hàng triệu phụ nữ đã tham gia phong trào (đến cuối tháng 5 năm 1965 đã có 1.700.000 người) và lập nhiều thành tích, góp phần to lớn vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 04 Tháng Mười Hai, 2011, 03:28:30 pm
Ba giỏi

 Ba giỏi là phong trào hành động cách mạng của giới phụ lão Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ, do Hội phụ lão Việt Nam đề xướng (tháng 6 năm 1966) với nội dung: sản xuất, tiết kiệm giỏi; phục vụ chiến đấu giỏi; vận động chấp hành chính sách giỏi. Trong phong trào đã xuất hiện nhiều điển hình tốt, được Chủ tịch Hồ Chí Minh khen “tuổi cao chí càng cao”.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 04 Tháng Mười Hai, 2011, 03:28:53 pm
Ba nhất

 Ba nhất là phong trào thi đua của Quân đội nhân dân Việt Nam và dân quân tự vệ (1959-1961) với ba nội dung: lập nhiều thành tích nhất; thành tích các mặt đều nhất; đạt chất lượng cao nhất trên các mặt rèn luyện kỹ thuật, chiến thuật, chấp hành điều lênh, sản xuất, tiết kiệm… Bắt đầu từ Đại đội 2 trung đoàn pháo binh 68 sư đoàn 304. Phong trào đã có tác dụng góp phần xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 04 Tháng Mười Hai, 2011, 03:29:19 pm
Ba quyết tâm

 Ba quyết tâm là phong trào hành động cách mạng của giới trí thức Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ, do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động từ ngày 4 tháng 6 năm 1966 với ba nội dung: phục vụ sản xuất, chiến đấu, đời sống; đẩy mạnh cách mạng kỹ thuật, tư tưởng văn hóa; đẩy mạnh việc xây dựng đội ngũ trí thức xã hội chủ nghĩa. Đông đảo trí thức đã tích cực tham gia và đã có nhiều cống hiến quan trọng trong lĩnh vực cách mạng kỹ thuật, tư tưởng và văn hóa, tiếp tục phụ vụ nâng cao chất lượng và hiệu quả sản xuất, chiến đấu.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 04 Tháng Mười Hai, 2011, 03:29:42 pm
Ba sẵn sàng

 Ba sẵn sàng là phong trào hành động cách mạng của thanh niên miền Bắc Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ, do Ban chấp hành Trung ương Đoàn thanh niên lao động Việt Nam phát động ngày 19 tháng 8 năm 1964 với ba nội dung: sẵn sàng gia nhập lực lượng vũ trang; sẵn sàng khắc phục mọi khó khăn, đẩy mạnh sản xuất, học tập, công tác; sẵn sàng đi bất cứ nơi nào, làm bất cứ việc gì mà Tổ quốc cần. Hàng triệu thanh niên đã hăng hái tham gia phong trào ba sẵn sàng (đến cuối tháng 5 năm 1965 đã có 2.500.000 người) góp phần to lớn vào thắng lợi của kháng chiến chống Mỹ.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 04 Tháng Mười Hai, 2011, 03:30:31 pm
“Binh đoàn Trần Chọt”

 Tại Hội nghị chiến sĩ thi đua Quân khu Tả Ngạn năm 1952, người xã đội trưởng du kích mưu trí, sáng tạo, táo bạo, dũng cảm của xã Chí Minh, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương là Trần Chọt đã được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng nhất về thành tích đánh giặc, bảo vệ quê hương. Vinh dự hơn ông còn được Bác Hồ tặng tám chữ vàng: “Tặng chú Trần Chọt cán bộ gương mẫu”.

 Trần Chọt, người hội viên Hội Nông dân cứu quốc xã tham gia du kích từ năm 1949, khi giặc Pháp mở rộng vùng chiếm đóng đến huyện Tứ Kỳ, quê hương ông. Với khẩu súng trường và một bộ đồ đơm đó trong tay, ông nổi tiếng là một du kích đánh giặc giỏi. Khi thì Trần Chọt mon men đơm đó bên những ruộng lúa ven đồn địch để quan sát, lúc ông lại ngồi bán tôm cá ngoài chợ nhằm thu lượm tin tức nghe ngóng tình hình… để lập mưu đánh giặc. Bộ đội ta đánh càn ở xã Chí Minh, địch rút chạy sang làng Nhân Lý. Do thông thạo địa hình, Trần Chọt đón lõng bắt được ba tên, thu hai súng tiểu liên. Địch tức tối càn làng Nhân Lý, ông đã dùng tiểu liên, lựu đạn tập kích địch, một mình diệt 10 tên, thu toàn bộ vũ khí. Thời kỳ bộ đội và du kích bao vây, uy hiếp bốt An Nhân. do Trần Chọt nắm vững “chân tơ, kẽ tóc” trong bốt nên mỗi khi tiếng loa địch vận vang lên, cả quan lẫn lính địch đều run như cầy sấy. Không thể chịu nổi tình trạng giam mình mãi trong bốt, địch phải tháo chạy. Trong những năm Tứ Kỳ bị địch chiếm đóng, du kích xã do ông chỉ huy đã phối hợp với bộ đội địa phương của huyện thường xuyên quấy rối, đánh tập kích, phục kích địch, khiến chúng “ăn không ngon, ngủ không yên”. Hầu như ngày nào bọn địch cũng ít nhất một lần, kinh hoàng trước mũi súng của Trần Chọt và đồng đội của ông. Nhân dân địa phương tự hào “phong” cho du kích xã mình biệt danh “Binh đoàn Trần Chọt”.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 04 Tháng Mười Hai, 2011, 03:30:56 pm
“Biên đội Quyết Thắng”

 “Biên đội Quyết Thắng” là danh hiệu dành cho biên đội Không quân nhân dân Việt Nam đã lập chiến công xuất sắc trong trận ném bom sân bay Tân Sơn Nhất chiều 8 tháng 4 năm 1975. Gồm 5 máy bay A37, cất cánh từ sân bay Thành Sơn (Phan Rang), do phi công Nguyễn Thành Trung dẫn đầu, vượt qua mạng lưới ra đa cảnh giới của đối phương, dội nhiều loạt bom trúng mục tiêu, phá hủy 24 máy bay, diệt hàng trăm sĩ quan, binh lính và nhân viên quân đội Sài Gòn, phá hỏng nhiều đường băng làm tê liệt hầu hết mọi hoạt động cất cánh ở sân bay.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 04 Tháng Mười Hai, 2011, 03:31:20 pm
“Bếp Hoàng Cầm”

 Bếp Hoàng Cầm, bếp dã chiến đào dưới đất, đun bằng củi không bị lộ lửa, tránh địch phát hiện, do tiểu đội trưởng nuôi quân Hoàng Cầm thuộc đội điều trị Sư đoàn 308 sáng tạo ra. Bếp gồm: Hố đặt nồi (chảo), hố ngồi nấu, hệ thống đường dẫn khói và tản khói; rãnh thoát nước và mái che. Bếp Hoàng Cầm được sử dụng từ trong chiến dịch Hòa Bình (1951-1952) và nhanh chóng phổ biến trong toàn quân. Được cải tiến hoàn thiện và sử dụng rộng rãi trong kháng chiến chống Mỹ.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 04 Tháng Mười Hai, 2011, 03:31:44 pm
Bài hát “Vì nhân dân quên mình”

 “Vì nhân dân quên mình” là hành khúc của Doãn Quang Khải (học viên khoá 6, Trường Lục quân Việt Nam) sáng tác tháng 5 năm 1951, nói lên nguồn gốc “từ nhân dân mà ra”, mục đích “vì nhân dân mà chiến đấu” của Quân đội nhân dân Việt Nam, ca ngợi quan hệ gắn bó giữa quân đội với nhân dân, sự tin yêu của nhân dân với quân đội. Được giải thưởng của Hội Văn nghệ Việt Nam (1952-1953). Một trong những bài hát truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam, được sử dụng làm nhạc hiệu của chương trình phát thanh quân đội và chương trình truyền hình quân đội.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 04 Tháng Mười Hai, 2011, 03:32:07 pm
Bài ca “Tầm Vu”

 Bài hát này ra đời từ trận Tầm Vu (diễn ra ngày 18 tháng 4 năm 1948). Đây là trận phục kích của các chi đội 24, 25, 26 Vệ quốc quân khu 9 chặn đánh đoàn xe quân sự của Pháp ở Tầm Vu (tỉnh Cần Thơ), loại khỏi chiến đấu 200 địch, phá hủy 14 xe vận tải, thu 100 súng trường, 1 pháo 105mm. Lần đầu tiên thu được pháp 105mm ở khu 9 trong kháng chiến chống Pháp.



Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 04 Tháng Mười Hai, 2011, 03:32:48 pm
“Bạc tre” trong chiến dịch Điện Biên Phủ

 Chiếc bạc lắp trục chân vịt của canô bị hỏng. Yêu cầu vận chuyển hàng tới mặt trận gấp, anh em trong tổ canô đang trao đổi sáng kiến thì thợ máy Nguyễn Đức Tăng mang về một gốc tre. Tăng gọt nhẵn theo hình chiếc bạc rồi lắp vào chân vịt cho máy chạy thử. Chân vịt quay tít, nước không vào canô. Thế là từ đêm đó canô lại hoạt động bình thường, chạy tới đêm thứ 5 chiếc bạc tre mới hỏng.

 Từ đó, mọi người trong tổ đều dành lúc nghỉ để vào rừng tìm gốc tre bánh tẻ, mang về gọt, khoét. Trong khoang máy canô nào cũng có rất nhiều bạc tre để dự trữ.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 04 Tháng Mười Hai, 2011, 03:33:16 pm
Chiếc “cầu thang” dài kì lạ và truyền thống
mở đường thắng lợi của Bộ đội Công binh

 Chiếc “cầu thang” dài kỳ lạ, có hàng vạn bậc, vượt qua Sài Lương - Khâu Vác cho bộ binh, pháo binh hành quân giải phóng Tây Bắc chính là do các chiến sĩ công binh xây dựng. Cũng trong dịp này, Hồ Chủ tịch đã tuyên dương truyền thống “mở đường thắng lợi” của Bộ đội Công binh.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 04 Tháng Mười Hai, 2011, 03:33:48 pm
Chiếc nòng súng cao xạ lịch sử

 Trong Bảo tàng Quân chủng Phòng không - Không quân, ở gian trưng bày các hiện vật lịch sử trong chiến dịch Điện Biên Phủ, có chiếc nòng pháo cao xạ 37mm. Đó là chiếc nòng pháo cao xạ đã tham gia lập công trong trận đánh lịch sử của đại đội 828, tiểu đoàn 394, trung đoàn 367: 10 giờ ngày 12 háng 4 năm 1954, bắn rơi tại chỗ chiếc B.24 cải tiến của giặc Pháp mà chúng vẫn huênh hoang là “pháo đài bay”, có thể “tự hàn” và “không súng phòng không nào bắn rơi”. Đó cũng là chiếc máy bay thứ 20 của giặc Pháp bị bắn rơi ở Điện Biên Phủ và cũng là chiếc B.24 đầu tiên bị lực lượng phòng không mặt đất bắn rơi trên chiến trường Đông Dương.

 Chiếc B.24 “Hải phỉ” đó đã bị bộ đội ta bắn đứt đôi đầu, còn thân nó đâm xuống cánh đồng Bản Kéo (Điện Biên). Những quả bom 250 kg đã văn ra lăn lóc bên xác những tên giặc lái chưa kịp nhảy dù. Tên quan hai Pháp Măngphanốpki bị chết cháy thành than trong chiếc máy bay ném bom “hảo hạng” của không quân Pháp do Mỹ trang bị.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 04 Tháng Mười Hai, 2011, 03:34:28 pm
Chiếc võng bộ đội có từ bao giờ

 Rừng U Minh là rừng ngập nước, do lá tràm ken dày, mọi hoạt động của bộ đội ta được che giấu khá kín đáo, máy bay do thám và các phương tiện trinh sát khác của địch khó lòng phát hiện. Đài phát thanh “Tiếng nói Nam Bộ kháng chiến” được phát đi từ đây. Nhưng nơi đây cũng nổi tiếng là vùng “muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội như bánh canh”, làm cho việc sinh hoạt, nhất là ngủ, nghỉ của bộ đội ta rất khó khăn. Để chống muỗi, chiến sỹ ta đã đan các túi bằng cói chụp lên đầu và mỗi khi ngủ thì buộc miệng túi lại. Nhưng ngủ ở đâu thì chủ yếu vẫn phải dựa vào các vị trí đóng quân đã chuẩn bị trước. Như vậy cũng chưa ổn. Năm 1947, đồng chí Vũ có sáng kiến đan các sợi bao bố thành cái võng. Tuy còn đơn giản nhưng chiếc võng đã tỏ ra rất tiện lợi, giải quyết khá tốt việc ngủ, nghỉ của bộ đội ở bất cứ vị trí nào, góp phần làm cho cán bộ, chiến sỹ có đủ sức khoẻ để chiến đấu. Từ đấy, chiếc võng bao bố đã nhanh chóng được sử dụng phổ biến ở cả miền đông Nam Bộ và trở thành tiền thân của chiếc võng bằng bạt hoặc bằng vải - một trang bị không thể thiếu của cán bộ, chiến sỹ ta trong hành quân, trú quân và chiến đấu sau này.

Thái Vũ (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 04 Tháng Mười Hai, 2011, 03:35:15 pm
“Chiến thuật khỉ ngửi mắm tôm”

 Ngôn từ rất ngộ này có từ sau trận đánh cứ điểm số 6 trong cụm cứ điểm Phu Khe năm 1969 của Trung đoàn 165. Đi trinh sát chuẩn bị cho trận đánh về, mũi trưởng, mũi phó, cán bộ đại đội và trinh sát đều chắc mẩm trận này rất thuận lợi, chỉ còn phải nắm quy luật hoạt động và di chuyển của địch để khỏi lo đánh hụt. Công sự, vật cản của chúng sơ sài lắm, khỏi lo lắng quá! Nhưng khi thực hành chiến đấu, kết quả hoàn toàn ngược lại. Trung đoàn trưởng Nguyễn Chuông phân tích: “Nguyên nhân thất bại đã rõ cả rồi đấy. Chung quy lại vẫn là cái “tật” trinh sát địch kém, nắm địa hình không cụ thể, không đến nơi đến chốn. Do chủ quan, coi thường hàng rào vật cản nên khi bộ đội tiềm nhập qua hàng rào “sừng hươu” vướng phải mìn, bị lộ, bị thương vong, làm mất yếu tốt bất ngờ. Địch nó quẳng lựu đạn ra hàng giờ, ta ở dưới dốc, công sự không chuẩn bị, giơ lưng ra chịu đòn từ cán đến quân mặt dúm lại như “khỉ ngửi mắm tôm” cả! Câu nói này được truyền miệng khắp trung đoàn và thành tên một loại “chiến thuật”.

Thanh Cảm (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 04 Tháng Mười Hai, 2011, 03:35:53 pm
“Chiến thuật ruồi bâu”

 Thời kỳ đầu chiến dịch “139” ở Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (1969), Trung đoàn trưởng Trung đoàn 165 Nguyễn Chuông rất coi trọng chiến thuật. Từ những bài học xương máu, ông rút ra kinh nghiệm bằng những tử nghe rất ngộ nhưng lại rất gây ấn tượng và dễ nhớ như: chiến thuật “ruồi bâu”, chiến thuật “khỉ ngửi mắm tôm”, chiến thuật: “gà mẹ, gà con”…

 Xuất xứ của chiến thuật “Ruồi bâu” là: sau một loạt trận đánh ở thị xã Xiêng Khoảng và Phu Choong Voong kéo dài, đội hình chiến đấu không phát triển được, mặc dù địch phản ứng không mạnh lắm, đơn vị tổ chức rút kinh nghiệm, Trung đoàn trưởng nói: “Cái hại của các ông là trinh sát địch không tỉ mỉ, đứng xa chĩa ống nhòm vào. Mục tiêu phản công không rõ ràng. Huấn luyện bổ sung chung chung. Trên sa bàn chỉ trỏ đại khái, khi tiếp cận địch thì không chắc đúng hướng. Thấy địch nổ súng chỗ nào thì bu lại chỗ đó, bỏ cả mục tiêu chính, có khi một tên địch cũng ba bốn lần tiêu diệt bằng cả B.40, lựu đạn; 1 ngách hầm choen hoẻn mà lẳng vào 2, 3 quả thủ pháo. Đánh thế là đánh theo kiểu “Ruồi bâu”, và tốn máu lắm”.

Yên Thành (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 10 Tháng Mười Hai, 2011, 08:12:24 pm
Danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”

 Năm 1965, Mỹ đổ quân ào ạt vào miền Nam Việt Nam làm dấy lên phong trào toàn quân, toàn dân đánh Mỹ. Do vậy ngay trong năm đó, ngày 20 tháng 11 năm 1965, Bộ Tư lệnh Miền đã đề ra danh hiệu dũng sĩ diệt Mỹ (DSDM) nhằm khen thưởng kịp thời cho các đơn vị và cá nhân dũng cảm lập công. Cục Chính trị đã đưa tiêu chuẩn và các cấp danh hiệu cụ thể như sau: DSDM cấp III diệt 3 tên Mỹ hoặc bắn thương 5 tên; cấp II diệt 6 tên Mỹ, làm bị thương 9 tên, cấp I diệt 9 tên hoặc làm bị thương 15 tên, diệt 15 trở lên cấp ưu tú. Tiếp sau, ngoài DSDM còn có Dũng sĩ diệt ngụy, Dũng sĩ diệt xe cơ giới, Dúng sĩ diệt máy bay.

 Ngày 8 tháng 1 năm 1966, Mỹ - ngụy mở cuộc hành quân lớn vào Củ Chi hòng tiêu diệt cơ quan đầu não Khu Sài Gòn - Gia Định và lực lượng ta. Chúng huy động một lúc 12.000 quân Mỹ - ngụy, chư hầu, 300 máy bay các loại trong đó có pháo đài bay B-52, 600 khẩu pháo 105 và 155 ly, 700 xe cơ giới trong đó có xe tăng, xe bọc thép M-41 và M-113, 50 con chó bécgiê. Trong cuộc càn này, sư đoàn bộ binh số 1 mệnh danh là “An cả đỏ” là lực lượng chính. Đây là đội quân hùng mạnh nhất nước Mỹ, chưa từng nếm mùi thất bại kể thừ Thế chiến thứ II và Triều Tiên. Trên trời, máy bay đổ mưa bom đạn và napan. Dưới mặt đất, chúng hùng hổ hùng sục. “Anh cả đỏ” và bè lũ “tìm diệt” cả tuần lễ không thấy Việt Cộng đâu, nhất là không tóm được đầu não. Sau nhiều ngày mất ăn, mất ngủ bơ phờ, được lệnh rút quân; “Anh cả đỏ” chuẩn bị chuồn thì “Cộng quân” từ đất chui lên, từ rừng rậm lao ra giáng cho những đòn chí tử.

 Để động viên kịp thời chiến công đánh Mỹ, ngày 25-1-1966 trên mảnh đất còn nóng bỏng khí thế diệt Mỹ, lần đầu tiên Đại đội tuyên dương danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ quận Củ Chi đã được tổ chức ngay trung tâm vùng chiến sự vừa xảy ra. Đại hội tuyên dương 209 đơn vị và cá nhân, trong đó có cấp ưu tú 15 người, cấp I có 7 người, cấp II có 19 người, cấp III có 57 người, tập thể có 16 đơn vị đạt danh hiệu “Anh hùng diệt Mỹ” (chưa kể đợt hai). Tên cá nhân, đơn vị tuyên dương lần đầu được thêu trên lá cờ truyền thống của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.

Quan Hưng (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 10 Tháng Mười Hai, 2011, 08:12:55 pm
Danh hiệu “Tuổi cao chí càng cao”

 Ngày 14 tháng 10 năm 1967, trung đội dân quân xã Hoằng Trường, huyện Hoằng Hóa (Thanh Hóa) dùng súng bộ binh bắn rơi chiếc máy bay thứ 2.400 của Mỹ trên miền Bắc.

 Ngày 17 tháng 10, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký lệnh thương Huân chương Quân công hạng ba cho trung đội lão dân quân xã Hoằng Trường và gửi thư khen các cụ “Tuổi cao chí càng cao” nêu gương sáng cho đồng bào cả nước.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 10 Tháng Mười Hai, 2011, 08:13:24 pm
Dốc bảy tời, đồi ông Mậu

 Kéo pháo vào trận địa qua dốc đúng là việc làm hết sức công phu để giữ được bất ngờ. Chính Đờ Cát cũng tự tin là đối phương không có sức gì để đưa lựu pháo qua những dốc đứng được. Nhưng bằng sức người của cả bộ binh chung sức, dùng tời 7 đợt, kéo pháo lên đỉnh núi. Để tiện chỉ huy và động viên bộ đội kịp thời, đồng chí Phạm Ngọc Mậu, chính ủy đại đoàn công pháo đã cho dựng một chiếc lều con trên đỉnh dốc. Anh em bộ đội thân mật đặt tên cho nó “dốc bảy tời, đồi ông Mậu”.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 10 Tháng Mười Hai, 2011, 08:13:51 pm
“Dũng sĩ Cát Bi”

 Ngày 7 tháng 3 năm 1954 đã diễn ra trận tập của các chiến sĩ bộ đội địa phương Kiến An vào sân bay Cát Bi (Hải Phòng) nằm sâu trong hậu phương địch, được bảo vệ bằng hai tuyến phòng thủ của sáu tiểu đoàn (có bốn tiểu đoàn Âu - Phi). Với sự giúp đỡ của nhân dân Kiến Thụy, Tiên Lãng, Hải An, đêm 6 tháng 3 các chiến sĩ chia làm hai mũi (mũi một - 17 người, mũi hai - 15 người) bí mật đột nhập, ém sẵn gần đường băng, đến 01 giờ ngày 7 tháng 3 đồng loạt xông vào khu đỗ máy bay dùng bộc phá, phá hủy 59 máy bay trong 15 phút và rút lui an toàn. Sân bay bốc cháy trong suốt 17 giờ. Trận Cát Bi sử dụng lực lượng nhỏ, với cách đánh táo bạo, đạt hiệu suất chiến đấu cao, góp phần phát triển chiến tranh du kích trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, hỗ trợ đắc lực cho chiến dịch dịch Điện Biên Phủ (từ ngày 13 tháng 3 đến ngày 7 tháng 5 năm 1954). Các chiến sĩ tham gian trận Cát Bi được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng danh hiệu “ Dũng sĩ Cát Bi”.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 10 Tháng Mười Hai, 2011, 08:14:16 pm
“Dũng sĩ Điện Ngọc”

 “Dũng sĩ Điện Ngọc” là danh hiệu tôn vinh của quân và dân ta đối với 10 chiến sĩ du kích xã Điện Ngọc, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam kiên cường đánh trả, đẩy lùi nhiều đợt tiến công của một đại đội biệt động và 10 trung đội bảo an, dân vệ quân ngụy Sài Gòn, diệt và làm bị thương gần một trăm tên địch trong ngày 26 tháng 4 năm 1962. Về phía ta, 4 chiến sĩ anh dũng hy sinh, 1 bị thương, 5 chiến sĩ còn lại bám trận địa chiến đâu đến tối mới rút ra ngoài. Chiến công của 10 dũng sĩ Điện Ngọc có tiếng vang lớn và là một trong những điển hình chiến đấu anh dũng, mưu trí của du kích miền Nam Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 10 Tháng Mười Hai, 2011, 08:14:40 pm
Đại đội Kí Con

 Đại đội Kí Con, đại đội nổi tiếng của Liên khu 3, mang bí danh của Đoàn Trần Nghiệp (1910 -1930, người tham gia lãnh đạo khởi nghĩa Yên Bái (từ ngày 9 - 18 tháng 2 năm 1930), một trong những đơn vị vũ trang tập trung đầu tiên của Chiến khu Trần Hưng Đạo. Tổ chức tiền thân: tiểu đội Kí Con, thành lập ngày 1 tháng 7 năm 1945 (sau chiến thắng Bí Chợ - bắt sống cả đại đội địch, thu hơn 100 súng), rồi trung đội Kí Con (đơn vị chủ lực trong trận đánh chiếm tỉnh lỵ tỉnh Quảng Yên ngày 20 tháng 7 năm 1945 và tham gia giành chính quyền ở Hải Phòng ngày 22 tháng 8 năm 1945). Cuối tháng 8 năm 1945 phát triển thành đại đội Kí Con với nhiệm vụ bao vệ chính quyền cách mạng ở Hải Phòng và khu mỏ Hòn Gai (1945 - 1946). Trong thời gian này, Đại đội Kí Con đã lập nhiều chiến công xuất sắc, tiêu biểu là đánh chiếm hai tàu chiến Pháp Crayxắc (ngày 7 ngày 9 năm 1945) và Ôđaxiơ (ngày 11 tháng 9 năm 1945), đánh quân phản động Việt Cách (tháng 9 năm 1945) tại Hòn Gai cùng các đơn vị khác đánh lui hàng chục đợt tiến công của quân Pháp tại Hải Phòng (tháng 11-1946). Sau đó phát triển thành tiểu đoàn rồi trung đoàn Kí Con (trung đoàn 66). Đại đội trưởng (trước đó là trung đội trưởng, tiểu đội trưởng) đầu tiên: Lê Phú.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 10 Tháng Mười Hai, 2011, 08:17:41 pm
Địa đạo Củ Chi

 - Địa đạo Củ Chi có từ bao giờ, ở đâu?

 Địa đạo Củ Chi có từ năm 1946, đầu tiên ở 2 xã Tân Phú Trung và Phước Vĩnh An, cách trung tâm Sài Gòn 25 - 30km… lúc này, chi bộ Tân Phú Trung có 20 đảng viên do đồng chí Đặng Văn Hai làm bí thư. Hàng ngày đa số đảng viên trú ở ngoài bưng Bến Đò, đến 5 giờ chiều tụ tập vào nhà ông Ba Hồ (Trần Văn Hồ) để hội họp. Tại đây, chi bộ đã đào được 4 hầm bí mật ở 4 góc vườn. Sau, các hầm này được nối với nhau.

 Đầu năm 1947, ở gốc Cây Đa, lực lượng dân quân làm nòng cốt cùng khoảng 200 người bắt đầu đạo địa đạo. Cuối năm đó, một hệ thống địa đạo ra đời nối liền ấp Bàu Sim - Cây Đa (Tân Phú Trung) với Bình Giã (Phước Vĩnh An) có độ dài chừng 5000m.

 - Mỹ - ngụy đã thực hiện bao nhiêu lần cuộc càn quét vào vùng căn cứ địa Củ Chi?

 Năm 1960 (mở đầu giai đoạn “chiến tranh đặc biệt”) cho đến khi kết thúc cuộc chiến tranh chống Mỹ (tháng 4 năm 1975), Mỹ - ngụy đã thực hiện 5000 cuộc hành quân càn quét vào vùng căn cứ cách mạng Củ Chi. Trung bình mỗi năm có khoảng 330 trận càn với đủ sắc lính, các cấp hành quân, các loại hình chiến thuật. Trong đó gần phân nửa các cuộc hành quân có phối hợp với các binh chủng xe tăng thiết giáp, pháo binh, không quân, công binh, hóa học… Hoặc bộ binh có tàu thuyền chiến đấu trên sông Sài Gòn, Rạch Tra… Có hàng trăm cuộc hành quân đánh sâu vào vùng căn cứ và càn phá dài ngày. Những cuộc hành quân lớn có phối hợp cả “pháo đài bay” B52 đánh phá dữ giội, hủy diệt trước khi tiến hành tàn phá.

 Ngoài ra còn vô số cuộc hành quân, cảnh sát ruồng bố truy bắt trong vùng ấp chiến lược nhằm “tảo thanh” lực lượng đối phương “nằm vùng”.

 - Về danh hiệu “Củ chi đất thép thành đồng”

 Kể từ năm 1966-1967, qua 2 cuộc đọ sức cực kỳ ác liệt với quân xâm lược Mỹ, quân và dân Củ Chi đã tỏ rõ tinh thần chiến đấu bất khuất kiên cường, bất chấp mọi gian khổ hy sinh và lập được nhiều chiến công xuất sắc, ý chí sắt thép của Củ Chi chiến đấu “vì độc lập tự do” đã góp phần khẳng định khả năng đánh Mỹ và thắng Mỹ của quân và dân ta. Với thế trận chiến tranh nhân dân rộng lớn, tinh thần bám trụ “một tấc không đi, một ly không rời”, chiến đấu dũng cảm, sáng tạo, mưu trí, phát huy khí thế toàn dân đánh giặc mạnh mẽ. Củ Chi trở thành một trong những lá cờ đầu diệt Mỹ của toàn miền Nam và được Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam tặng danh hiệu “Chủ Chi đất thép thành đồng” ngày 17 tháng 9 năm 1967 cùng với 2 địa phương khác là Long An và Quảng Nam - Đà Nẵng.

 Từ đó danh hiệu vẻ vang này trở thành niềm tự hào to lớn, động viên khích lệ quân và dân Củ Chi tiếp tục tiến lên lập nhiều thành tích, chiến công trong chiến đấu cũng như trong xây dựng chủ nghĩa xã hội hôm nay và ngày mai.

 - Củ Chi được giải phóng ngày nào?

 Vào cuối tháng 4 năm 1975, các cánh quân của ta từ 4 hướng đã khép chặt Sài Gòn.

 Quân đoàn 3 thuộc cánh quân hướng tây bắc có xe tăng và pháo binh yểm trợ mở cuộc tấn công vào căn cứ Đồng Dù (căn cứ của sư đoàn 25 ngụy đóng trên đất Củ Chi) lúc 5 giờ 30 phút ngày 29 tháng 4. Trong 2 giờ liền pháo của ta bắn cấp tập vào cứ điểm Đồng Dù và chế áp trận địa pháo của địch. Đúng 10 giờ 30 phút ta đã đánh chiếm và làm chủ toàn bộ căn cứ Đồng Dù, 3000 quân địch bị bắt và tiêu diệt. Ta thu toàn bộ vũ khí, trang bị, phương tiện, kho tàng. Tên đại tá sư đoàn phó bị bắt sống, tên chuẩn tướng sư đoàn trưởng chạy thoát, nhưng sáng hôm sau y bị bắt sống cùng toàn bộ ban chỉ huy chiến đoàn 46 và 1860 tên tại đồng bưng An Hạ.

 Trong trận chiến đấu ác liệt cuối cùng này, hơn 100 cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 3 đã anh dũng hy sinh trước giờ toàn thắng của dân tộc.

 Căn cứ Đồng Dù, điển hình của tội ác Mỹ - ngụy trên đất Củ Chi tồn tại 10 năm bị tan tành thảm hại trong ngày 29 tháng 4 năm 1975.

 Đúng 13 giờ ngày 29 tháng 4, ta đã cắm cờ giải phóng trên các cơ sở chỉ huy của bọn bảo an. Bà Nguyễn Thị Lánh ở xã Tân Thông Hội xông vào đồn cảnh sát hạ cờ ngụy, rồi giương cao ngọn cờ giải phóng. Toàn huyện Củ Chi được giải phóng. Trong cuộc tấn công và nổi dậy cuối cùng này, quân và dân Củ Chi vừa chiến đấu khắp trên địa bàn vừa phối hợp với quân chủ lực thu dọn căn cứ Đồng Dù đã diệt 47 tên địch, bắt 347 tù binh, thu 597 khẩu súng cỡ lớn cùng 10.795 khẩu súng các loại. Ngày hôm sau, 12.600 binh sĩ ngụy ra trình diện chính quyền cách mạng Củ chi.



Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 10 Tháng Mười Hai, 2011, 08:18:17 pm
Mỗi người dân là một chiến sĩ hậu cần

 Lực lượng du kích Củ Chi với thế trận địa đạo kỳ diệu, đã liên tục gây ra cho hàng binh đoàn Mỹ - ngụy những tổn thất nặng nề. không tiêu diệt nổi du kích Củ Chi bằng bom đạn, bằng xe tăng, xe ủy cày xới địa đạo, bọn Mỹ - ngụy đã mở những “chiến dịch” triệt nguồn tiếp tế lương thực, thực phẩm, thuốc men… Bằng những biện pháp rất khốc liệt hòng làm cho lực lượng du kích Củ Chi tê liệt sức chiến đấu bằng đói khát, bệnh tật… Nhân dân Củ chi đã nghĩ ra trăm phương ngàn kế để tiếp tế cho con em họ dưới lòng đất, đủ sức bám trụ, chiến đấu lâu dài. Các má, các chị “cơ sở” mở những “chiến dịch lặng lẽ vận động, quyên góp trong bà con xóm ấp”. Mỗi đêm anh chị em du kích nhận được hàng tạ gạo, hàng chục ki-lô-gam muối… Từ các cửa bí mật của địa đạo những người dân ở xa “cơ sở” (cửa hầm bí mật xuống địa đạo chỉ có người cơ sở chí cốt được biết), thì mỗi người mỗi cách, từ người nông thôn kéo xe phân, xe rác ra đồng, ngư dân đi xuồng đánh cá trên sông rạch, đến các cụ già chống “gậy trúc” đi thăm đồng, các em thiếu nhi vác gậy gộc và súng làm bằng những đoạn ống tre, kéo nhau ra đồng tập trận giả… đều có gạo hoặc muối đem theo, dấu ở các điểm hẹn, có người chuyển tiếp. Các bà má tỏa đi chợ Củ Chi, Hóc Môn, Bến Thành, Trảng Bàng… mua đủ các loại thuốc kháng sinh, thuốc bổ, bông băng… (đương nhiên là phải ngụy trang rất tài tình để che mắt địch) đem về gói buộc cẩn thận, chuyển dần ra địa đạo…

 Góp gió thành bão, mỗi người dân Củ chi đã trở thành một chiến sĩ hậu cần. Chẳng những lực lượng du kích Củ Chi không gặp khó khăn thiếu thốn về vật chất mà các đơn vị bộ đội về hoạt động ở vùng địa đạo cũng được bà con Củ Chi chăm sóc, nuôi dưỡng đầy đủ.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 10 Tháng Mười Hai, 2011, 08:18:55 pm
Đoàn Pháo binh Biên Hòa

 Ngày 31 tháng 10 năm 1964, đã diễn ra trận tập kích bằng hỏa lực pháo binh của ba phân đội cối 81 ly, ĐKZ 75mm (Đoàn 563 pháo binh trực thuộc Bộ Tư lệnh Miền) vào sân bay quân sự Biên Hòa (đông bắc Sài Gòn 30 km). Các phân đội pháo được đơn vị bạn và nhân dân giúp đỡ, đã vượt qua nhiều vòng kiểm soát của địch vào bố trí trận địa tại hốc Bà Thức (đông bắc sân bay 1 km), bắn hơn 130 quả đạn trong 17 phút (23 giờ 20 - 23 giờ 37 phút), phá hủy 59 máy bay (trong đó có 21 B57, 11 AD6, 1 trinh sát), 2 kho đạn, 1 kho xăng, 1 đài quan sát, 18 căn nhà, loại khỏi vòng chiến đấu 293 tên địch (hầu hết là phi công và chuyên viên kỹ thuật). Là trận tập kích đầu tiên vào sân bay Biên Hòa - căn cứ không quân hiện đại, được bảo vệ nghiêm ngặt của Mỹ ở miền Nam Việt Nam; thể hiện bước phát triển mới của bộ đội pháo binh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Đoàn 563 được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng nhất và danh hiệu “Đoàn pháo binh Biên Hòa”.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 10 Tháng Mười Hai, 2011, 08:20:43 pm
Đoàn Phương Đông

 Ngày 5 tháng 5 năm 1961, Đoàn cán bộ quân sự tăng cường cho Ban Quân sự miền Nam và các quân khu ở miền Nam, gồm 500 người hầu hết là cán bộ cao cấp, trung cấp do Thiếu tướng Trần Văn Quang - Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Tổng tham mưu trưởng dẫn đầu, xuất phát từ Xuân Mai (Hòa Bình) theo tướng tây Trường Sơn vào chiến trường Nam Bộ và nam Trung Bộ. Đoàn lên đường vào lúc Liên Xô phóng thành công con tàu mang tên “Phương Đông” đưa anh hùng Gagarin - người đầu tiên trên thế giới bay vào vũ trụ, nên đặt tên là “Đoàn Phương Đông”. Ngày 28 tháng 7, Đoàn đến vị trí tập kết - đồi 300 (Bình Long).



Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 11 Tháng Mười Hai, 2011, 01:41:04 pm
Đồi thịt băm

 Trong hai ngày 12 và 13 tháng 5 năm 1969, đã diễn ra trận tiến công của trung đoàn bộ binh 8 chủ lực Quân khu Trị - Thiên vào một số đơn vị sư đoàn không vận 101 Mỹ ở thung lũng A Sầu phía tây dãy điểm cao Abia (giáp biên giới Việt - Lào, tây nam Huế 50km). Trận đánh diễn ra suốt hai ngày (12-13 tháng 5). Ta loại khỏi vòng chiến đấu gần 300 quân Mỹ, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, bẻ gãy nhiều đợt tiến công của quân ứng cứ. Quân Mỹ kinh hoàng, gọi Abia là “đồi thịt băm”.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 11 Tháng Mười Hai, 2011, 01:41:25 pm
Đội quân tóc dài

 Đội quân tóc dài, đội quân tay không gồm phụ nữ ở các lứa tuổi, bộ phận xung kích của đội quân chính trị và lực lượng đấu tranh tại chỗ rất quan trọng trong kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Đội quân tóc dài đấu tranh trực diện một cách có lý, có tình để ngăn chặn quân Mỹ và quân ngụy Sài Gòn càn quét, bắn phá, cào nhà, dồn dân… Hoặc xông ra cản xe tăng, bịt nòng đại bác của địch. Đội quân tóc dài xuất hiện trong phong trào Đồng khởi ở miền Nam Việt Nam, có những hình thức đấu tranh rất linh hoạt sáng tạo, đặc biệt là phối hợp với lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam trong thực hiện 3 mũi giáp công.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 11 Tháng Mười Hai, 2011, 01:42:33 pm
Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi

 Đó là một phần lời bài hát “Hành quân xa” của nhạc sĩ Đỗ Nhuận mà cán bộ, chiến sĩ trong quân đội đều thuộc. Nhưng có lẽ không mấy người biết được hoàn cảnh ra đời của bài hát nổi tiếng này. Dạo ấy là chiếc dịch Đông - Xuân 1953-1954, trước đòi hỏi của bộ đội, nhạc sỹ Đỗ Nhuận từ lâu đã ấp ủ ý định sáng tác một bài theo thể hành khúc, nhưng vẫn chưa viết được. Cuối năm 1953, Đại đoàn 308 đang dừng chân ở Thái Nguyên, được lệnh hành quân lên Điện Biên Phủ làm nhiệm vụ chuẩn bị chiến trường và ghìm chân địch ở đó Lúc này, Nhạc sĩ Đỗ Nhuận cũng có mặt trong đội hình hành quân của đại đoàn. Do phải tuyệt đối bảo đảm bí mật nên các cán bộ đại đội, tiểu đoàn cũng không được phổ biến tình hình gì hơn chiến sĩ. Họ vừa hành quân vừa bàn tán, phán đoán ý đồ của cấp trên. Bỗng đồng chí Đỗ Đình Sửu, Chính trị viên Đại đội 267 lên tiếng: “Địch đang theo dõi chúng ta đấy. Không bàn tán đường này, hướng nọ. Ta đi đâu là theo mệnh lệnh của cấp trên. Đời chúng ta là chiến đấu. Đâu có giặc là ta cứ đi”. Lập tức, câu nói đó đã trở thành tứ thơ để Nhạc sĩ Đỗ Nhuận phát triển thành bài hát “Hành quân xa”, và ông đã hoàn thành bài hát này chỉ trong vòng hơn 1 tiếng đồng hồ.

 “Mắt ta sáng, chí ta bền, bảo vệ đồng quê ta tiến bước
Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”


 Hành khúc trầm hùng đó đã lan truyền trong toàn đại đoàn và nhanh chóng trở thành một trong những bài hành khúc tiêu biểu của bộ đội Việt Nam. Chủ đề tư tưởng của bài hát đã góp phần giáo dục, động viên tinh thần của bộ đội trong các cuộc chiến tranh giải phóng trước đây và cả trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa thân yêu của chúng ta hôm nay.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 11 Tháng Mười Hai, 2011, 01:43:14 pm
Hoàn cảnh ra đời của bản chỉ thị lịch sử

 Đứng trước tình hình cách mạng mỗi lúc một khẩn trương do Nhật, Pháp ngày một hục hặc, hòng hất cẳng nhau, Hội nghị Thường vụ Trung ương Đảng mở rộng quyết định triệu tập họp vào ngày 7 tháng 3 năm 1945, tại chùa Đồng Kỵ, Bắc Ninh. Thế nhưng do đi lại khó khăn mãi đến tối 9 tháng 3 năm 1945, nhiều đại biểu mới tới được địa điểm.

 Vào cuộc họp đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh đang nói đến mục đích của Thường vụ Trung ương triệu tập các đại biểu đến để trao đổi ý kiến về thời cuộc, vì “có một nguồn tin khẩn cấp báo về là Nhật, Pháp bắn nhau”… Đồng chí nói đến đây thì có động. Hội nghị phải chuyển đến địa điểm khác.

 Hội nghị được họp lại tại nhà thờ họ của ông Nguyễn Tiến Thận, ở làng Đình Bảng, Bắc Ninh. Họp đến ngày thứ hai thì lại có động, Hội nghị phải chuyển đến một địa điểm khác: Nhà bà Găm xóm Trung Hòa, cùng làng Đình Bảng.

 Khoảng 11 giờ trưa ngày 12 tháng 3 năm 1945, Hội nghị kết thúc trong sự phấn khởi và nhất trí cao. Hai ngày sau, tại nhà cụ Triệu ở Viên Nội, Bắc Ninh, đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh hoàn thành việc sửa chữa, chỉnh lý lại bản thảo chỉ thị của Hội nghị Thường vụ Trung ương. Đó là bản chỉ thị lịch sử: Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta. Thực hiện chỉ thị đó, nhân dân ta tiến hành thắng lợi cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, giành lại nền độc lập của dân tộc sau 80 năm nằm trong ách đô hộ của thực dân Pháp.

H (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 11 Tháng Mười Hai, 2011, 01:43:56 pm
Lịch sử… đôi bánh xe ba gác

 Tại triển lãm đường Hồ Chí Minh có nhiều hiện vật có ý nghĩa, song có một đôi bánh xe ba gác xem qua tưởng chừng bình thường lại có một hành trình khá đặc biệt.

 Bom đạn địch đã làm cho một chiếc bánh xe bị vặn vỏ đỗ, vênh méo. Đây là một đôi bánh xe của một chiếc xe ba gác tại cua chữ A đoạn đường đặt tên là “20 Quyết thắng”, một trọng điểm mà suốt ngày bom đạn địch dội xuống ác liệt nhưng các chiến sĩ công binh tiểu đoàn 33 cùng đội 25 Thanh niên xung phong anh hùng vẫn bảo đảm cho đường thông suốt.

 Ngày ấy, Mỹ - ngụy dùng chiến thuật cơ động ồ ạt bằng máy bay lên thẳng đổ quân xuống các quả đồi ven đường 9, xe tăng, bộ binh, cơ giới địch từ Đông Hà tràn lên. Chúng cũng đã mò tới đoạn đường 20 và là một trạm giao liên trên đường mòn Hồ Chí Minh. Dùng xe tăng hạng nặng đè lên các căn hầm kèo chữ A, hùng hổ định san bằng trạm giao liên, chúng tưởng rằng có thể dễ dàng tới bản Đông và trấn giữ đường 9. Bị quân ta đánh tơi tả, Mỹ - ngụy phải bỏ chạy. Trước lúc rút chạy chúng cố mang theo đôi bánh xe ba gác về Sài Gòn để triển lãm, đánh trống khua chiêng rầm rĩ đây là: “Chiến lợi phẩm thu được của Việt Cộng”. Sau đó, đôi bánh xe ba gác tuy cong queo xấu xí đã được đặt trong một tủ kính sang trọng tại Dinh Độc lập trên một nền nhung đỏ. Bên cạnh đó là bức thư viết bằng bút bi đỏ của tên tướng Hoàng Xuân Lãm: “Kính dâng tổng thống Nguyễn Văn Thiệu một chiến lợi phẩm thu được của Việt cộng trong cuộc hành quân tìm diệt Lam Sơn 719”. Ngày 30 tháng 4 năm 1975, bộ đội đường Hồ Chí Minh vào giải phóng Sài Gòn đã vui mừng gặp lại đôi bánh xe ba gác - bạn chiến đấu đã qua một chặng đường thú vị.

Phan Sỹ Phúc


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 11 Tháng Mười Hai, 2011, 01:44:28 pm
“1 thắng 20”

 Ngày 28 tháng 2 năm 1967, tiểu đội Bùi Ngọc Đủ (Trung đoàn 84B sư đoàn 324) gồm 10 người đánh lui 15 đợt tiến công của 200 lính thủy đánh bộ Mỹ ở tây Quảng Trị, lập chiến công 1 thắng 20.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 11 Tháng Mười Hai, 2011, 01:45:11 pm
Nguồn gốc địa danh Chu Lai

 Ngày 8 tháng 3 năm 1965, lữ đoàn 9 lính thuỷ đánh bộ Mỹ từ Ôkinaoa (Nhật Bản) bắt đầu đổ bộ lên vùng bờ biển cách Đà Nẵng 75 dặm về phía nam trên danh nghĩa là làm nhiệm vụ bảo vệ căn cứ không quân Đà Nẵng nhưng chủ yếu là để đầu áp cuộc nổi dậy của nhân dân miền Nam. Chỉ huy lực lượng này là tướng Víchto Harôn Krulắc, người trong thời gian từ năm 1961 đến năm 1964 đã nhiều lần được cử tới Sài Gòn với tư cách là “chuyên viên đặc biệt về chống nổi dậy của Lầu Năm góc” và được đánh giá là “một trong những nhân vật ưu tú nhất và thông minh nhất nước Mỹ”. Nhiều nhà nghiên cứu Mỹ cho biết, bãi biển gần Đà Nẵng mà Klrulắc dẫn quân đổ bộ đã được Mỹ đặt tên là bãi Klrulắc nhưng do “trục trặc về kỹ thuật”, danh từ Krulắc đã bị một nhân viên Văn phòng Bộ Tổng tham mưu ngụy đánh máy nhầm là Trulai, tới mức báo chí Mỹ sau đó cũng gọi là Chulai, thậm chí những văn bản của Mỹ sau đó cũng gọi là Chulai mà quên mất cái tên Krulắc.

 Suốt cuộc chiến tranh Việt Nam, Chu Lai trở thành địa danh nổi tiếng trên thế giới vì tiếp theo lữ đoàn 9 còn nhiều tiểu đoàn, thậm chí cả sư đoàn lính thuỷ đánh bộ Mỹ cũng dồn dập đổ bộ lên bãi biển này.

Phương Việt (st)


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 11 Tháng Mười Hai, 2011, 01:45:35 pm
“Nhằm thẳng quân thù, bắn”

 Ngày 18 tháng 11 năm 1964, tại Cha Lo (miền tây Quảng Bình) đại đội 3, tiểu đoàn 14 pháo cao xạ 37 ly (sư đoàn bộ binh 325) do đại đội trưởng Lê Hữu Mai và chính trị viên Nguyễn Viết Xuân chỉ huy, bắn rơi một máy bay RF.101 và hai chiếc T.28. Lời hô “Nhằm thẳng quân thù, bắn” của Chính trị viên Nguyễn Viết Xuân trong trận đánh trở thành khẩu lệnh chiến đấu của bộ đội phòng không - không quân và các lực lượng vũ trang nhân dân miền Bắc trong suốt những năm chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ.



Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 11 Tháng Mười Hai, 2011, 01:46:37 pm
Những “Trụ hậu cần” trên chiến trường Trung Nam Bộ

 Những ai đã có mặt trên chiến trường Trung Nam Bộ những năm 1962, đều nghe đến một cái tên trìu mến “Trụ hậu cần”.

 Một ngày đầu xuân 1962, trong cuộc họp lãnh đạo Phòng Hậu cần Trung Nam Bộ, các đồng chí Ba Đoàn, Sáu Chung, Ba Hùng… đề cập đến một vấn đề rất trọng yếu: làm sao để hậu cần bám sát phân đội và xây dựng được mạng lưới phục vụ rộng khắp, vững chắc.

 Hội nghị đi đến quyết định thành lập các “trụ hậu cần”. Ở mỗi “trụ” như vậy, có một số trợ lý chuyên ngành bám sát địa bàn, nằm nguồn hàng, phát hiện nguồn bổ sung, phân phối, quản lý phân phối, giải quyết kịp thời nhu cầu của đơn vị, thường xuyên cũng như đột xuất.

 Bước đầu thành lập 5 “trụ” ở 5 khu vực:

 - Trụ B ở xóm Đào, Mỹ Hạnh Đông (khu vực Bắc Cai Lậy, Mỹ Tho).

 - Trụ Đ ở căn cứ 20-7 ở phía nam lộ 4 (Cai Lậy).

 - Trụ G ở kênh Mareng (thuộc Long An).

 - Trụ H ở khu vực chợ Gạo (Mỹ Tho).

 - Trụ N ở vùng 4 (Kiến Tường).

 Trụ N (Kiến Tường) có một xưởng quân trang cỡ nhỏ làm nhiệm vụ sản xuất và sửa chữa quân trang cho bộ đội và một phân đội vệ binh.

 Trong quá trình chiến đấu, các “trụ hậu cần” đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ phục vụ bộ đội tác chiến, lập nhiều thành tích.

 Các xưởng quân giới X5A, X5B; các đội điều trị X12A; các đơn vị vận tải X15, X16 v.v… của Trung Nam Bộ đều có phong trào thi đua lập công sôi nổi.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 11 Tháng Mười Hai, 2011, 01:47:06 pm
“Pháo binh Sông Lô” và “Trung đoàn Sông Lô”

 Trong các ngày 23, 24 tháng 10 và ngày 10 tháng 11 năm 1947 đã diễn ra trận sông Lô. Đây thực chất là các trận phục kích đường sông của lực lượng pháo binh Khu 10, có sự phối hợp của trung đoàn bộ binh 112 và dân quân du kích địa phương, đánh tàu chiến Pháp trên sông Lô (địa phận Tuyên Quang - Phú Thọ), trong chiến dịch Việt Bắc (từ ngày 7 tháng 10 đến 22 tháng 12 năm 1947). Ngày 23 tháng 10, tại Khoan Bộ với 1 sơn pháo 75mm và 1 súng chống tăng 25mm, trung đoàn bộ binh 175 bắn trọng thương 2 tàu vận tải. Trưa 24 tháng 10, tại trận địa chân Gò Đồi (gần bến phà Đoan Hùng), với 2 pháo 75mm trung đội pháo binh 200 đã bắn chìm và bắn bị thương 4 trong số 5 tàu địch có máy bay hộ tống từ Tuyên Quang về Đoan Hùng. 10 giờ ngày 11 tháng 10, tại Khe Lau (ngã ba sông Gâm - sông Lô), với 1 sơn pháo 75mm, trung đội pháo binh 225 đã bắn chìm 2 và bắn bị thương 1 tàu chở quân từ Chiêm Hóa về Tuyên Quang, diệt hàng trăm tên địch. Đây là chiến công đầu của pháo binh Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp. Bằng cách đánh gần, bắn thẳng, bí mật bất ngờ bố trí trận địa sát bờ sông, kết hợp nghi binh (tạo khói thu hút máy bay, dùng bưởi sơn đen giả làm thủy lôi trên sông lừa địch vào hướng đã định), trận sông Lô đã góp phần bẻ gãy gọng kìm phía tây trong cuộc bao vây tiến công của quân Pháp vào Việt Bắc. Sau chiến thắng Sông Lô, lực lượng pháo binh Khu 10 và trung đoàn 112 được tặng danh hiệu “Pháo binh sông Lô” và “Trung đoàn sông Lô”.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 11 Tháng Mười Hai, 2011, 01:47:34 pm
“Pháo lục tỉnh”

 Tháng 2 năm 1947, bộ đội ta thu được một khẩu sơn pháo 75 ly của giặc Pháp nhưng đã bị hỏng nặng và thiếu nhiều bộ phận. Quyết tâm làm sống lại “pháo”. cán bộ và chiến sĩ của Xưởng sửa chừa pháo Đoan Hùng đã lặn lội khắp địa bàn sáu tỉnh Bắc Bộ tìm kiếm vật tư, phụ tùng thay thế. Sau ba tháng vật lộn tìm kiếm và sửa chữa vất vả, khẩu pháo đã được “cải tử hoàn sinh”. Ngày 24 tháng 10 năm 1947, tại Đoan Hùng (tỉnh Phú Thọ), khẩu pháo này đã cùng đơn vị pháo binh bạn bắn chìm bốn tàu chiến của Pháp trên sông Lô. Ngày 10 tháng 11 năm 1947, vẫn chính khẩu pháo đó đã bắn chìm hai tàu LCM của Pháp trên cửa sông Gâm góp phần vào thắng lợi của chiến dịch Thu - Đông 1947.

 Bộ đội pháo binh Khu 10 âu yếm gọi khẩu pháo đó là “pháo lục tỉnh”.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 11 Tháng Mười Hai, 2011, 01:48:00 pm
“Pháo nối nòng”

 Trong trận Bản Pê (tháng 11 năm 1949), khi pháo ta đang bắn cấp tập chi viện cho bộ binh chiến đấu thì bất ngờ khẩu sơn pháo 75 ly của Đại đội 301 bị một viên đạn xuống cấp nổ ngay ở đầu nòng, làm đầu nòng pháo bị toác ra như ống muống.

 Trong giai đoạn này vũ khí của ta, nhất là vũ khí hạng nặng còn rất thiếu thốn. Xưởng sửa chữa pháo Lũng Phầy đã quyết định cưa một đoạn đầu nòng pháo cùng loại (bị hỏng trong trận Ngòi Mác) nối vào nòng khẩu pháo này, ghép thành một nòng pháo hoàn chỉnh. Nòng được ghép bằng ren, có vòng ốp ngoài để tăng độ bền chắc. Cái khó nhất trong quá trình làm là nối ghép làm sao để hai đoạn nòng pháo trùng khớp các rãnh xoắn. Với trí thông minh, tinh thần say mê sáng tạo, cán bộ chiến sĩ của xưởng đã hoàn thành việc nối nòng đúng với yêu cầu kỹ thuật đặt ra. Khẩu pháo nối nòng được trang bị cho Tiểu đoàn pháo binh 40. Trong chiến dịch Lê Hồng Phong I (tháng 2 năm 1950), khẩu pháo này đã lập công xuất sắc, bắn chính xác chi viện cho bộ binh kịp thời, hiệu quả cao.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 11 Tháng Mười Hai, 2011, 01:48:26 pm
Quỹ “Mùa đông binh sĩ” và “áo trấn thủ”

 Tháng 10 năm 1946, Chính phủ lập quỹ “Mùa đông binh sĩ”, Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng áo, tư trang và lương của Người cho bộ đội. Các tầng lớp nhân dân, đoàn thể cứu quốc quyên góp được nhiều vải, quần áo, chăn, màn.

 Áo trấn thủ, do một cửa hàng ở phố Hàng Trống, Hà Nội may bắt đầu được sử dụng rộng rãi trong quân đội.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 11 Tháng Mười Hai, 2011, 01:48:51 pm
Thảm sát Sơn Mỹ

 Vụ thảm sát Sơn Mỹ (xảy ra ngày 16 tháng 3 năm 1968). Đây là vụ giết người hàng loạt tại xã Tịnh Khê (huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi), do lữ đoàn 11, sư đoàn 23 quân Mỹ gây ra trong chiến tranh xâm lược Việt Nam. Sáng 16 tháng 3, sau hơn 30 phút dùng hoả lực pháo binh và máy bay trực thăng vũ trang bất ngờ bắn phá liên tục vào các thôn Tư Cung, Trường Định, Cổ Lũy, Mỹ Lai, lữ đoàn 11 đổ bộ bằng máy bay trực thăng ập đến bao vây, chặn kín các ngõ xóm. Thực hiện chính sách đốt sạch, giết sạch, phá sạch, trong vòng 8 giờ, quân Mỹ sát hại hơn 500 người (có 60 cụ già, 182 phụ nữ, 173 trẻ em), thiêu hủy 247 ngôi nhà của hai xóm Thuận Yên (thôn Tư Cung) và Mĩ Hội (thôn Cổ Luỹ). Vụ thảm sát này đã bị dư luận tiến bộ Mỹ và cả thế giới kịch liệt lên án.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 17 Tháng Mười Hai, 2011, 12:45:18 pm
Thanh niên xung phong

 Thanh niên xung phong là lực lượng thanh niên Việt Nam tự nguyện, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ phục vụ chiến đấu và một số nhiệm vụ khác (mở đường, sửa chữa đường, điều chỉnh giao thông, vận chuyển hàng quân sự, tải thương, quan sát và đánh dấu vị trí bom nổ chậm, thủy lôi của địch…). Hình thành năm 1950, trước yêu cầu gấp rút sửa chữa và mở đường phục vụ chiến dịch Biên Giới; phát triển nhanh trong những năm cuối kháng chiến chống Pháp (với tên gọi “Thanh niên xung phong công tác”) và từ 1965-1975 trong cuộc kháng chiến chống mỹ (Thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước). Thanh niên xung phong công tác tổ chức thành đội, liên đội, gồm những đội viên thuộc diện dân công làm nhiệm vụ kháng chiến (sắc lệnh 93-SL, 22 tháng 5 năm 1950 của Chủ tịch nước), hoạt động chủ yếu ở những địa bàn chiến dịch. Thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước tổ chức thành trung đội, đại đội, tổng đội, gồm những đội viên hầu hết quê ở các tỉnh miền Bắc (quyết định của Thủ tướng Chính phủ tháng 6 năm 1965), hoạt động chủ yếu trên đường mòn Hồ Chí Minh, điều chỉnh và đảm bảo giao thông thời chiến ở các trọng điểm địch đánh phá và trên những đường chiến lược từ Quân khu 4 vào Nam. Thanh niên xung phong được quân sự hóa về tổ chức và sinh hoạt, hoạt động độc lập hoặc phối hợp với bộ đội (công binh, vận tải, quân y…). Sau 1975, một số địa phương (Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh…) tổ chức Tổng đội thanh niên xung phong làm nhiệm vụ kinh tế - quốc phòng.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 17 Tháng Mười Hai, 2011, 12:46:01 pm
Thời khắc ra đời của bài hát “Chiến thắng Điện Biên”

 Mùa Xuân 1954, nhàm tập trung lực lượng “mờ đường thắng lợi” cho chiến dịch Điện Biên Phủ, Đoàn văn công Tổng cục Chính trị nhận lệnh tạm ngừng biểu diễn, đi sửa đường cho bộ đội kéo pháo vào trận địa. Thế là nhạc sĩ Đỗ Nhuận và các chiến sĩ văn nghệ rời trận địa Him Lam về đơn vị làm đường. Nhạc sĩ Đỗ Nhuận được cử làm tổ trưởng, phụ trách một cung đường ở bản Mường Phăng, cách Mường Thanh 60 km. Các chiến sĩ văn công, tay cuốc, tay chuông ra sức mở đường thắng lợi. Đêm nào họ cũng ra mặt đường đón xem những cỗ pháo hiện địa của ta đi qua.

 Chiều ngày mồng 7 tháng 5 năm 1954, khi các chiến sĩ văn công đang cuốc đất, rải đá thì một đồng chí giao liên đạp xe đạp vụt qua reo lớn:

 - Mường Thanh, địch hàng rồi! Giải phóng Điện Biên rồi!

 Nghe vậy, cả đoàn văn công ngừng tay cuốc ôm nhau nhảy, không cần nhạc đệm. Đỗ Nhuận cứ nhảy một mình, nhảy tít thò lò, mà đầu cứ phảng phất câu “giải phóng Điện Biên”.

 Đêm đó, bên bếp nhà sàn đỏ lửa, nhạc sĩ Đỗ Nhuận thức thâu đêm, tay cứ búng dây đàn của chiếc đàn Viôlông, miệng khe khẽ hát. Từng nốt nhạc, từng lời ca hình thành trên trang giấy: “… Súng đại bác quấn lá ngụy trang, từng đàn bươm bướm giỡn lá ngụy trang…”. Rồi là “Xiết bao sướng vui từ ngày lên Tây Bắc, đồng bào náo nức…”.

 Cả ngày hôm sau, nhạc sĩ hoàn chỉnh lời 1 và lời 2 bài hát… Thế là, bài hát “Chiến thắng Điện Biên” ra đời. Bài hát được lan truyền nhanh chóng từ Đoàn văn công đến đơn vị pháo binh và các đơn vị khác trên toàn mặt trận.
 
 Từ đó mãi mãi về sau, bài hát “Chiến thắng Điện Biên” vang vọng trong lòng các thế hệ một chiến công lừng lẫy của dân tộc.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 17 Tháng Mười Hai, 2011, 12:46:28 pm
“Tiểu đoàn Lũng Phầy”

 Ngày 25 tháng 4 năm 1949, đã diễn ra trận phục kích đoàn xe quân sự Pháp trên đường số 4 (đoạn Bông Lau - Lũng Phầy) do tiểu đoàn 23 chủ lực Bộ Tổng tư lệnh và ba tiểu đoàn bộ binh do Liên khu I tiến hành, có pháo binh chi viện, mở đầu đợt 2 chiến dịch Cao - Bắc - Lạng (từ ngày 15 tháng 3 đến ngày 30 tháng 4 năm 1949), nhằm tiêu diệt sinh lực, phá việc vận chuyển tiếp tế của địch từ Lạng Sơn lên Cao Bằng. Sáng ngày 25 tháng 4, đoàn xe chở quân Pháp gồm 114 chiếc có xe tăng, xe bọc thép được máy bay yểm trợ lọt vào trận địa phục kích (dài 6km), những xe đi đầu bị xịt lốp do đâm vào đinh ba chạc rải trên đường phải dừng lại gây ùn tắc. Ta dùng hỏa lực pháo binh bắn phá đội hình, sau đó bộ binh xung phong chia cắt diệt từng bộ phận quân địch. Kết quả diệt 500 quân địch, phá hủy 53 xe, 500 thùng xăng, thu nhiều vũ khí. Đây là trận đánh đạt hiệu suất chiến đấu cao, tạo điều kiện cho chiến dịch Cao - Bắc - Lạng phát triển thuận lợi.Sau trận Bông Lau - Lũng Phầy, tiểu đoàn 23 được tặng danh hiệu Tiểu đoàn Lũng Phầy.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 17 Tháng Mười Hai, 2011, 12:46:53 pm
“Tiểu đoàn Lũng Vài”

 Ngày 8 tháng 1 năm 1948 đã diễn ra trận phục kích của tiểu đoàn 223 chủ lực của Bộ Tổng tư lệnh có sự phối hợp của tiểu đoàn 429 (Lạng Sơn) chặn đánh quân Pháp trên đường số 4, đoạn Bố Củng - Lũng Vài (Lạng Sơn), dài khoảng 6 km. Rạng sáng ngày 8 tháng 1 năm 1948, tiểu đoàn 223 bố trí xong trận địa phục kích, gồm hai bộ phận: bộ phận chủ yếu (hai đại đội) ở Lũng Vài, bộ phận thứ yếu (một đại đội) ở Bố Củng. 14 giờ, 4 xe chở quân Pháp (gần một đại đội) tiến đến Lũng Vài. Do ta sơ hở, địch phát hiện và tổ chức tiến công ba lần vào trận địa ta nhưng đều bị đẩy lùi, buộc phải rút chạy về Na Sầm; đến Bố Củng bị chặn đánh và thiệt hại nặng. Kết quả: ta diệt gọn 2 trung đội địch, phá hủy 4 xe, thu 27 súng các loại. Qua trận Bố Củng - Lũng Vài ta có thêm nhiều kinh nghiệm tổ chức đánh giao thông trên chiến trường rừng núi. Sau trận Bố Củng - Lũng Vài, tiểu đoàn 223 được tặng danh hiệu Tiểu đoàn Lũng Vài.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 17 Tháng Mười Hai, 2011, 12:47:26 pm
“Tìm Mỹ mà diệt” và “Nắm thắt lưng Mỹ mà đánh”

 Chiến dịch Bàu Bàng - Dầu Tiếng (miền Đông Nam Bộ) diễn ra từ ngày 12 đến ngày 27 tháng 11 năm 1956.

 Lực lượng tham gia: Sư đoàn bộ binh 9 chủ lực Miền và một tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh Bình Dương.

 Chỉ huy chiến dịch: Lê Trọng Tấn - Tư lệnh; Hoàng Cầm - Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng.

 Trong 15 ngày, bộ đội ta đánh sáu trận, trong đó có hai trận đánh quy mô trung đoàn tăng cường đến sư đoàn; trận Bàu Bàng 9 (ngày 12 tháng 11) và trận Dầu Tiếng (ngày 27 tháng 11) gây thiệt hại nặng cho Lữ đoàn 3, Sư đoàn 1 Mỹ và Chiến đoàn 7 ngụy, loại khỏi vòng chiến đấu 4.250 tên địch, phá hủy 300 xe quân sự (có 80 xe tăng và xe M113), 10 khẩu pháo 105 ly, bắn rơi 2 máy bay.

  Chiến thắng Bàu Bàng - Dầu Tiếng củng cố niềm tin đánh thắng quân Mỹ, mở ra phong trào: “Tìm Mỹ mà diệt”, “Nắm thắt lưng Mỹ mà đánh” trong các lực lượng vũ trang miền Nam.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 17 Tháng Mười Hai, 2011, 12:47:53 pm
“Trung đoàn Tất Thắng”

 “Trung đoàn Tất thắng” - trung đoàn nổi tiếng của Liên khu 3, thành lập ngày 22 tháng 8 năm 1945 tại Nam Định với phiên hiệu trung đoàn 19 (do Hà Kế Tấn làm Trung đoàn trưởng kiêm Chính trị uỷ viên), sau đổi thành Trung đoàn 33. Trung đoàn 33 lập nhiều chiến công trong đợt bao vây, tiến công quân Pháp, tiêu biểu là trận đánh thắng khoảng một trung đoàn Pháp đến giải vây cho trung đoàn bộ binh thuộc địa số 6 tại thành phố Nam Định (đầu 1947), được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng danh hiện “Trung đoàn Tất thắng”. Từ tháng 5 năm 1947 đổi thành trung đoàn 34. Đến tháng 3 tháng 1951, thuộc biên chế đại đoàn 351, được xây dựng thành trung đoàn pháo binh cơ giới đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam và đổi thành trung đoàn 45. Tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ (từ ngày 13 tháng 3 đến ngày 7 tháng 5 năm 1954). Sau này lữ đoàn 364, lữ đoàn 45 kế tục truyền thống của Trung đoàn Tất thắng.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 17 Tháng Mười Hai, 2011, 12:48:16 pm
“Trung đoàn Tu Vũ”

 Ngày 10 tháng 12 năm 1951 đã diễn ra trận Tu Vũ - trận tiến công mở màn chiến dịch Hòa Bình (từ ngày 10 tháng 12 năm 1951 đến ngày 25 tháng 2 năm 1952) của trung đoàn 88 (đại đoàn 308) vào cứ điểm Tu Vũ (bắc thị xã Hòa Bình hơn 20 km) của quân Pháp do một tiểu đoàn Âu - Phi đóng giữ trong công sự vững chắc, được tăng cường xe tăng và một đại đội ngụy quân người Mường. Mặc dù bị thương vong khi chiếm lĩnh trận địa do hỏa lực của cứ điểm và của pháo binh Pháp từ Chẹ, Đá Chông bắn cản dữ dội, Trung đoàn 88 đã kịp thời khắc phục và 21 giờ ngày 10 tháng 12 bắt đầu tiến công. Sau 5 giờ chiến đấu, bộ đội ta làm chủ trận địa, diệt và bắt hơn 170 tên địch, thu và phá hủy nhiều vũ khí trang bị. Thắng lợi của trận Tu Vũ góp phần cắt đứt đường vận tải của quân Pháp trên sông Đà, uy hiếp Hòa Bình tạo điều kiện thuận lợi cho chiến dịch phát triển. Sau trận Tu Vũ, trung đoàn 88 được tặng danh hiệu “Trung đoàn Tu Vũ”.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 17 Tháng Mười Hai, 2011, 12:48:37 pm
Vua Mìn

 Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Trần Văn Chuông, quê Cát Lại, Bình Lục, Hà Nam. Trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954), Trần Văn Chuông đánh địch trên 200 trận, giết 392 tên địch, làm bị thương 99 và bắt sống 19 tên, phá hủy 57 xe quân sự (có 4 xe tăng). Trần Văn Chuông có nhiều sáng kiến đánh địch bằng bom, mìn nên được đồng đội tôn vinh là “Vua mìn”. Ngoài ra, Trần Văn Chuông còn huấn luyện 193 cán bộ, chiến sĩ sử dụng bom mìn đánh hàng trăm trận, gây cho địch nhiều tổn thất lớn.


Tiêu đề: Re: Những mẩu chuyện kháng chiến
Gửi bởi: VMH trong 17 Tháng Mười Hai, 2011, 12:49:16 pm
Xưởng Mớp Xanh
và đội quân Nam Kỳ khởi nghĩa

 Trong những ngày chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, Xứ ủy Nam Kỳ đã tính đến nhiều phương án giải quyết vũ khí cho đội quân cách mạng như vận động công nhân các cơ sở bí mật ở xưởng Ba Son, hãng FACI chế tạo lựu đạn và các loại vũ khí thô sơ, lập các lò rèn gươm giáo, tìm cách tước vũ khí của địch để trang bị cho ta… Trên địa bàn lục tỉnh, lần lượt ra đời xưởng vũ khí Mớp Xanh ở Tân An, xưởng vũ khí Bà U ở Mỹ Tho, xưởng vũ khí Hòa Thượng Đông ở Rạch Giá. Trong nội thành Vĩnh Long cũng có một lò rèn bí mật nhận cung cấp dao găm, giáo, mác, bàn tay sắt, phi tiêu tẩm nọc rắn, lựu đạn sắt tây, mìn xi măng… cho quân cách mạng. Một số thầy trò trường Cơ khi Sài Gòn cũng nhận cung cấp vũ khí cho quân khởi nghĩa.

 Trong số các cơ sở làm vũ khí tự tạo thì xưởng Mớp Xanh là có quy mô hơn cả. Gò Mớp Xanh nằm giữa xã Thạnh Lợi và xã Bình An, huyện Thủ Thừa. Theo sự phân công của liên tỉnh Tân An - Chợ Lớn thì huyện ủy Thủ Thừa chịu trách nhiệm tổ chức xưởng vũ khí Mớp Xanh để cung cấp vũ khí cho quân cách mạng. Người phụ trách xưởng là đồng chí Nguyễn Văn Hợp. Được sự góp sức và bảo vệ, che chở của quần chúng, sau khi thành lập, xưởng đã đi vào chế tạo, vũ khí đầu tiên là mìn xi măng. Xưởng đã cung cấp cho quân cách mạng hơn 300 quả. Mìn nặng 3 kg, vỏ ngoài bằng xi măng, vỏ trong bằng sắt tây nhồi thuốc đen, có mảnh chai, mảnh sàn, sắt vụn, đinh,… Về súng, có loại súng “vòi siêu”, khi bắn phải châm lửa. Có bộ phận giữ dây cháy chậm giống như cái vòi siêu đun nước. Quân khởi nghĩa đã sử dụng súng này trong một số trận đánh. Tác dụng sát thương ít, nhưng uy hiếp tinh thần địch. Có trận, nhờ “vòi siêu” mà ta thu được 3 khẩu mútcơtông, địch chạy bỏ súng lại.

 Trong số công nhân Mớp Xanh có một người hiểu biết súng pháo. Tiền vốn trên cấp cho lúc đầu là 15 đồng Đông Dương.

 Lịch sử quân giới Việt Nam, quân giới Nam Bộ đều có nhắc đến xưởng vũ khí Mớp Xanh như một công binh xưởng tiền thân, trong đó có công nhân đã anh dũng hy sinh khi kẻ thù đàn áp cuộc khởi nghĩa.

Trung Nam