Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu nước ngoài => Tác giả chủ đề:: SaoVang trong 28 Tháng Bảy, 2011, 10:18:18 am



Tiêu đề: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 28 Tháng Bảy, 2011, 10:18:18 am
Tên sách: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Tác giả: Đại tướng X.Stê-men-cô
Người dịch: Trần Anh Tuấn
Nhà xuất bản: Tiến bộ và Quân đội nhân dân
Số hoá: ptlinh, Sao Vàng


CÙNG BẠN ĐỌC

Bạn đọc thân mến, thành thật mà nói tôi không có ý định lại viết hồi ký về những ngày đã qua. Thêm nữa, tôi đã nguyện với mình là thôi không viết sách. Vì công việc này quả thật khó khăn, nhất là đối với người còn đang ở quân đội. Vả lại tôi cho rằng, những điều chủ yếu đều đã được nói tới cả rồi. 

Thế nhưng, tình hình lại diễn ra khác hẳn. Sau khi ra mắt bạn đọc quyển một, viết về Bộ tổng tham mưu, tôi đã nhận được đến hàng ngàn bức thư của nhiều người, ở nhiều lứa tuổi, nhiều trình độ, nhiều ngành nghề và nhiều dân tộc khác nhau. Các bức thư ấy không chỉ viết những ý kiến phê phán, đánh giá tác phẩm, mà còn nêu nhiều ý kiền đề nghị, nhận xét, bổ sung cho cuốn sách.

Một số bạn đọc còn gửi cho tôi cả những hồi ức của mình về các sự kiện trong cuộc Chiến tranh giữ nước vĩ đại và mong được sử dụng các hồi ức ấy khi cuốn sách tái bản. Nhiều người còn tha thiết yêu cầu tôi nên tiếp tục kể hết những hối ức của mình. Và, qua nhiều lần gặp gỡ nói chuyện tâm tình, bạn đọc cũng đâu có ý kiến như vậy.

Ngoài ra, những bức thư và những lần gặp gỡ nói trên còn đặc biệt chỉ cho tôi thấy rõ quá khứ anh hùng của chúng ta được mọi người quan tâm tới mức nào. Nó còn trẻ mãi, còn sống mãi với chúng ta, giúp chúng ta xây dựng chủ nghĩa cộng sán trên đất nước xô-viết, củng cố tình đoàn kết giữa các dân tộc bên ngoài phạm vi của nó, vì lợi ích của hòa bình và chủ nghĩa xã hội.

Thế là các đồng chí, các bạn đọc của tôi đã buộc tôi lại phải cầm bút. Chính nhờ các bạn nên mới có cuốn sách này.

Tôi quyết định viết quyển hai chứ không đưa in lại quyển một, vì khi đã mở rộng và viết thêm cho cuốn sách, nếu chỉ ôn lại những gì đã nói thì thật quả dễ so với viết cái mới. Tôi luôn luôn tâm niệm rằng, trước hết phải nhận lấy công việc khó khăn nên tôi đã bắt tay nhận lấy khó khăn đó.

Giống như quyển một, quyển này sẽ không miêu tả tiến trình các chiến dịch theo thứ tự thời gian, mà chủ yếu là viết về Bộ tổng tham mưu, về công việc và con người trong Bộ tổng tham mưu. Sách chú ý nhiều tới hoạt động của Đại bản doanh Bộ tổng tư lệnh tối cao và một số khía cạnh trong hoạt động của Tổng tư lệnh tối cao. Sách còn viết cả những suy nghĩ và nhận xét về các vị thống soái và các cơ quan tham mưu (thậm chí còn dành ra những chương riêng viết về vấn đề này).

Sách chủ yếu nói về sứ mệnh giải phóng của Quân đội Liên xô ở châu Âu. Trong những ngày không thể nào quên ấy, sau khi phá tan bộ máy chiến tranh của chủ nghĩa phát xít Hít-le, các chiến sĩ của Tổ quốc ta đã đánh tan quân địch và kết thúc chiến tranh giữa trung tâm đại lục châu Âu. Đó là chiến công vĩ đại vì tự do và hạnh phúc của các dân tộc giành được nhờ nghệ thuật quân sự và chủ nghĩa anh hùng vô hạn của các dũng sĩ xô-viết thần uy. Nhưng, chúng ta phải trả giá đắt cho thắng lợi đó bằng hàng triệu sinh mạng con người.

Do chức trách công tác của mình tôi thường được đến với quân đội các nước tham gia Hiệp ước Vác-sa-va, được thấy sinh hoạt của họ, được gặp không phải chỉ các quân nhân mà còn gặp cả những người dân thường. Tôi có thể khẳng định rằng, ở tất cả các nước xã hội chủ nghĩa ấy, nhân dân rất quý trọng chiến công của các chiến sĩ xô-viêt, không quên những người đã ngã xuống, những người đã hy sinh khi làm nhiệm vụ giải phóng các dân tộc khỏi ách phát-xít. Nhân dân luôn nhớ rằng mối tình hữu nghị giữa chúng ta được củng cố bằng máu mà chúng ta đã cùng đổ ra trên các chiến trường.

Trong cuốn hồi ký này, một lần nữa tôi lại muốn nhắc đến sự đóng góp vô giá của các Lực lượng vũ trang Liên Xô vào công cuộc giải phóng các dân tộc châu Âu khỏi chủ nghĩa phát-xít và thuật lại việc các bạn bè chúng ta ở các nước Ba Lan, Tiệp Khắc, Nam Tư, Bun-ga-ri, Ru-ma-ni, Hung-ga-ri đã chi viện chúng ta như thế nào để hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng ấy.

Và cuối cùng - đây có lẽ là điều chủ yếu nhất - tôi mong muốn tác phẩm nhỏ bé của mình biểu thị được lòng tôn kính sâu sắc nhất đối với những chiến sĩ anh hùng, lòng trung thành vô hạn của họ đối với Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, lòng quả cảm vô song và sự xả thân của họ trong cuộc đấu tranh chống bọn xâm lược Hít-le.

Bạn đọc thân mến, tôi xin trình cuốn sách mới này để các bạn phán xét. Tôi rất biết ơn mọi ý kiến phê bình, nhận xét của các bạn.
Tác Giả



Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 28 Tháng Bảy, 2011, 10:19:08 am
CHƯƠNG MỘT
Lại nói về các công việc và những con người trong Bộ tổng tham mưu

Những cuộc thí nghiệm về các vấn đề tổ chức. - Tổ chức các đơn vị là công việc của Bộ tổng tham mưu. - Từ chế độ làm việc song song chuyển sang chế độ tập trung. - Các đồng chí gần gũi của những cán bộ tác chiến. - Phải nghiên cứu kinh nghiệm của chiến tranh. - Các chiến sĩ ngoài tiền tuyến viết điều lệnh. - Về những mối quan hệ với các nứớc đồng minh. - Nhiệm vụ đặc biệt. - Mấy ý kiến về chỉ huy các đơn vị. - Tổng tư lệnh tối cao nói về các đại diện của Đại bản doanh. - Thống chế Môn-tơ-gô-mê-ri đến thăm.

Cuốn sách đầu đã nói nhiều tới các công việc và những con người trong Bộ tổng tham mưu. Nhưng, tôi cũng không thể mở đầu cuốn sách thứ hai này một cách khác hơn là vẫn phải nói về bè bạn và những người đã cộng sự với mình, kể chuyện công tác của các đồng chí ấy trong Bộ tổng tham mưu. Thật khó nói hết và nói về tất cả mọi người, vì khối lượng công việc đã làm quá hết sức lớn, mà thời gian lịch sử ngăn cách với chúng ta các sự kiện của quá khứ hãy còn ngắn ngủi. Trong chương này, tôi chỉ muốn bổ sung thêm được vào những cái gì đã nói trước đây và suy nghĩ về các công tác tổ chức, khoa học và một số việc khác, nhớ đến các đồng chí có liên quan tới các công tác đó.

Do chức trách công tác ở Bộ tổng tham mưu trong thời gian chiến tranh, tôi có quan hệ mật thiết với các vấn đề tổ chức và hiểu rõ các sĩ quan và tướng lĩnh phụ trách các vấn đề ấy. Nguyên ở cương vị Tổng tham mưu trưởng sau chiến tranh trong hơn ba năm, rồi sau đó lại giữ chức vụ Phó tổng tham mưu trưởng trong hơn năm năm, tôi đã có dịp trực tiếp Phụ trách vấn đề xây dựng các Lực lượng vũ trang, phát triển cơ cấu tổ chức và động viên các đơn vị. Cương vị công tác cho phép tôi có thể và có quyền tinh thần phân tích các vấn đề nói lên một cách chi tiết hơn, mà mới nhìn thì thấy đó là những vấn đề tẻ nhạt.

Việc xây dựng các Lực lượng vũ trang Liên Xô và làm cho các tổ chức của chúng phù hợp với những nhiệm vụ quốc phòng của đất nước là những vấn đề cơ bản quyết định sự hùng hậu và xét đến cùng quyết định khả năng quốc phòng của một quốc gia. Vì vậy, Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản và Chính phủ Liên Xô thường xuyên quan tâm đến những vấn đề ấy. Trong số cơ quan quân đội thực hiện các nghị quyết của Đảng và Chính phủ, Bộ tổng tham mưu giữ vai trò quan trọng: đặt kế hoạch và vạch ra mọi vấn đề cơ bản có quan hệ tới các Lực lượng vũ trang.

Các cơ quan phụ trách công tác tổ chức có trách nhiệm giải quyết những vấn đề quan trọng và phức tạp, như biên chế, quân số và cơ cấu của các Lực lượng vũ trang, sự tương quan giữa các quân chủng và binh chủng trong biên chế đó, căn cứ vào tình trạng vũ khí, kỹ thuật và các nhu cầu của chiến tranh mà vạch ra các phương pháp và biện pháp xây dựng bộ đội phù hợp với tính chất chiến tranh, chiến dịch và chiến đấu. Các cơ quan ấy còn nghiên cứu cả cơ cấu tổ chức các đơn vị, biên chế các binh đoàn và binh đội, chịu trách nhiệm nhiều vấn đề khác về sinh hoạt và hoạt động của các binh đoàn, binh đội.

Chúng ta đều biết, điều hết sức quan trọng là phải xác định đúng mối tương quan chính xác giữa các quân chủng và binh chủng trong các Lực lượng vũ trang, quyết định sẽ trang bị cho các quân chủng, binh chủng thứ vũ khí gì và số lượng bao nhiêu, cần phải có những cơ quan nào để chỉ huy thắng lợi các hành động quân sự, chiến dịch và chiến đấu. Đó là vấn đề đã có từ lâu, nhưng vẫn luôn luôn là một vấn đề quân sự sinh động.

Nếu những cán bộ tác chiến, sau khi xác định mục đích các chiến dịch và nhiệm vụ của các đơn vị, nói rằng sẽ phải làm những gì, ở đâu và như thế nào, cần những lực lượng và phương tiện gì thì những cán bộ tổ chức đi vào tính toán số lực lượng và phương tiện và sẽ nói các lực lượng và phương tiện ấy cần có các cơ cấu tổ chức ra sao.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 28 Tháng Bảy, 2011, 10:20:00 am
Trong điều kiện chiến tranh, thường có những yêu cầu cụ thể khác nhau đối với những cán bộ tác chiến và cán bộ tổ chức. Ví dụ như, muốn sư đoàn của chúng ta phải tổ chức như thế nào để mạnh hơn sư đoàn địch, người cán bộ tác chiến phải luận chứng cho yêu cầu đó, còn người cán bộ tổ chức phải xem xét tỉ mỉ đến biên chế của cả hai sư đoàn và nói cần làm những gì để nâng cao sức mạnh đột kích và sức mạnh hỏa lực khi tiến công, nâng cao tính vững chắc khi phòng ngự, v. v.. Phân tích xong mới đi tới quyết định biên chế quân số của sư đoàn và sư đoàn sẽ cần bao nhiêu xe tăng, pháo binh và các trang bị kỹ thuật khác về kiểu loại và tác dụng.

Ngoài ra, trong thời chiến, các cán bộ tổ chức còn phải vạch ra kế hoạch xây dựng các đội dự bị và kiện toàn các đơn vị giải quyết nhiều vấn đề khác. Không một cơ quan tham mưu lớn nào, nhất là Bộ tổng tham mưu, lại có thể làm trọn các công việc đó nếu không có các cơ quan nghiên cứu các vấn đề tổ chức. Thế nhưng, không một cơ quan tham mưu nào lại được quyền tiến hành những thay đổi về tổ chức trong các đơn vị, trong thời bình cũng như thời chiến. Chỉ Bộ tổng tham mưu mới có quyền đó, vả lại việc hoàn thiện tổ chức các đơn vị là việc được tiến hành thường xuyên và liên tục.

Tôi đã học tập được nhiều qua công tác ở Bộ tổng tham mưu trong những năm chiến tranh. Chính trong quá trình chiến tranh mới bộc lộ thật đầy đủ vai trò hoạt động của các sĩ quan và tướng lĩnh làm công tác tổ chức. Hoạt động đó hầu như không mấy ai thấy được, nhưng lại rất cần thiết để chiến thắng quân thù.

Nhiều người chúng tôi đã thấy thể hiện rất rõ, như sờ thấy, trông thấy bằng mắt thường, công thức noi tiếng của Ph. Ăng-ghen viết trong cuốn “Chống Đuy-rinh”: “không có gì lại phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế tiên quyết hơn là chính ngay quân đội và hải quân. Trang bị, biên chế, tổ chức, chiến lược và chiến thuật phụ thuộc trước hết vào trình độ mà sản xuất đạt được trong từng trường hợp và cũng phụ thuộc cả vào phương tiện giao thông nữa. Trong lĩnh vực này, không phải “những sáng lạo tự do của trí tuệ” của những viên chỉ huy tài giỏi, là những cái đã có một tác dụng có tính chất cách mạng đâu, mà chính là do việc phát minh ra những vũ khí tốt hơn và việc thay đổi trong nhân lực, tức là người lính; nhiều lắm thì ảnh hưởng của những viên chỉ huy tài giỏi cũng chỉ làm cho phương pháp chiến đấu thích hợp với vũ khí mới và chiến sĩ mới mà thôi”.

Trong những ngày và đêm chiến tranh, chính bản thân cuộc sông đã khẳng định chim sâu xuyên suốt của luận điềm khoa học ấy. Và đối với chúng tôi, những cán bộ của Bộ tổng tham mưu, nó là kim chỉ nam dẫn đường cho việc soạn thảo các kế hoạch mai sau.

*
*   *

Lúc bắt đầu chiến tranh, biên chế Bộ tổng tham mưu có các cơ quan phụ trách công tác tổ chức, động viên, tuyển mộ và bổ sung các đơn vị. Chiến tranh được một tháng, nói cho chính xác hơn là vào ngày 29 tháng Bảy, thì có lệnh của bộ trưởng Bộ dân ủy quốc phòng thành lập ra Tổng cục xây dựng và bổ sung các đơn vị của Hồng quân. Tất cả các cơ quan phụ trách các vấn đề ấy trong Bộ tổng tham mưu đều chuyển thuộc sang cho Tổng cục này.

Từ ngày 8 tháng Tám 1941, Chủ nhiệm Tổng cục xây dựng và bổ sung các đơn vị của Hồng quân là E. A. Sa-đen-cô, chính ủy tập đoàn quân bậc một, đồng thời là thứ trưởng Bộ dân ủy quốc phòng. Cục tác chiến của Bộ tổng tham mưu chỉ còn lại phòng tổ chức và thống kê, chủ yếu chỉ làm công tác thống kê, hạch toán và bố trí các đơn vị.

Tình hình nặng nề trong những tháng đầu chiến tranh yêu cầu phải đi tới quyết định tổ chức như vậy, cốt để Bộ tổng tham mưu được nhẹ gánh và có điều kiện tập trung đi sâu vào các vấn đề tác chiến. Nhưng, nếu như các vấn đề động viên và bổ sung các đơn vị trong thời chiến thực sự có thể và cần phải tách ra khỏi Bộ tổng tham mưu, thì vấn đề tổ chức lại không thể làm như vậy được. Thực tiễn công tác ít lâu sau đã chứng minh rằng tổ chức các đơn vị là công việc của Bộ tổng tham mưu, do đó yêu cầu phải sửa đổi lại quyết định đã được thông qua trước đây.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 28 Tháng Bảy, 2011, 10:20:35 am
Ngay trong những tháng đầu chiến tranh, các cán bộ Bộ tổng tham mưu đã đụng phải một vấn đề hóc búa là chúng ta rất thiếu xe tăng. Quân địch đang chiếm ưu thế ở trên không, tiếp tục tiến công và cho các mũi nhọn xe tăng thọc sâu nhằm phá vỡ hệ thống phòng ngự của các đơn vị Liên Xô. Do đó vấn đề đặt ra là phải làm sao cho cơ cấu tổ chức các đơn vị thật phù hợp với các điều kiện của tình hình lúc ấy.

Ví dụ, chúng ta đã phái giải quyết một vấn đề là: có nên tiếp tục đi theo phương hướng xây dựng các quân đoàn cơ giới như đã quyết định hồi trước chiến tranh không? Trong tình hình mới, phương hướng ấy có còn đúng hay không? Về mặt lý luận, phương hướng ấy vẫn được thừa nhận là đúng, nhưng trong lúc khó khăn này, nền công nghiệp lại chưa thể bảo đảm được đầy đủ các khí tài cho những binh đoàn lớn như thế trong một thời gian ngắn. Vì vậy, trong lúc nền kinh tế quốc dân chưa thể cung cấp đủ số lượng xe cần thiết cho các đơn vị thì tốt nhất là chưa nên thành lập ra các quân đoàn cơ giới như thế.

Vậy sẽ phải hành động như thế nào trước tình hình này? Chúng ta đã lập luận, ví dụ như sau: sức mạnh hiện thực, có khả năng chống cự lại xe tăng của bọn phát-xít Hít-le và bộ binh mô-tô hóa của chúng là bộ binh Liên Xô. Muốn bộ binh ta vững chắc thì cần trang bị cho nó đủ pháo chống tăng và xe tăng. Muốn chi viện bằng xe tăng có hiệu lực thì nên sử dụng các binh đoàn, binh đội và phân đội nhỏ hơn, tức là các lữ đoàn, các trung đoàn và tiểu đoàn xe tăng, chứ không nên sử dụng các quân đoàn xe tăng hoạt động độc lập. Chính chúng ta đã hành động theo phương thức đó.

Sau này, tình hình sản xuất xe tăng dần dần thay đổi tốt hơn. Chúng tôi bắt đầu nghĩ trở lại tới vấn đề xây dựng quân đoàn, vì kinh nghiệm chiến tranh chứng minh rằng, nếu không có các quân đoàn xe tăng thì các chiến dịch không thể phát triến với một chiều sâu lớn, yêu cầu phải kết hợp được hỏa lực mạnh với sức đột kích sâu, cơ động và có khả năng hoạt động độc lập tách khỏi bộ binh. Vì vậy, mùa xuân năm 1942, ta bắt đầu thành lập ra các tập đoàn quân xe tăng và quân đoàn xe tăng, rồi sau đó đến các quân đoàn cơ giới. Các tập đoàn quân xe tăng lúc đầu biên chế hỗn hợp: ba quân đoàn xe tăng và hai - ba sư đoàn bộ binh.

Tổ chức như vậy đã tỏ ra khá hoàn thiện để tiến hành các chiến dịch có các quân đoàn xe tăng hoạt động không xa bộ binh lắm. Nhưng, nó lại hạn chế sự cơ động của tập đoàn quân khi các binh đoàn xe tăng đột nhập sâu vào sau lưng quân địch, vì trong trường hợp này các sư đoàn bộ binh sẽ bị rớt lại sau, khiến việc chỉ huy các lực lượng của tập đoàn quân gặp khó khăn lớn. Ngoài ra, biên chế không đồng nhất như vậy còn gây nên nhiều khó khăn khác nữa.

Đặc điểm các chiến dịch hoạt động sâu của chủng ta những năm 1943 - 1945, bất đầu từ cuộc phản công ở Xta-lin-grát, yêu cầu phải bỏ việc tổ chức hỗn hợp các tập đoàn quân xe tăng. Ở Cuốc-xcơ, các tập đoàn quân ấy đã có biên chế đồng nhất (hai quân đoàn xe tăng, một quân đoàn cơ giới, các đơn vị pháo tiêm kích chống tăng, pháo binh và các đơn vị khác, các cơ quan hậu cần).

Cùng với các tập đoàn quân xe tăng, còn có các quân đoàn xe tăng độc lập và quân đoàn, lữ đoàn cơ giới. Cơ cấu tổ chức các đơn vị xe tăng như vậy trở nên rất linh hoạt, vừa bảo đảm cho xe tăng hoạt động cùng với bộ binh lại vừa có thể sử dụng một số lớn xe tăng độc lập chiến đấu hiệp đồng với không quân. Tổ chức ấy phù hợp với các hình thức chiến đấu cơ động mà quân đội xô-viết đang vận dụng trên chiến trường trong thời gian đó.

Đây là bức tranh minh họa nho nhỏ nói về tầm quan trọng của vấn đề cơ cấu tổ chức các đơn vị phải làm sao cho phù hợp với cơ sơ vật chất và tình hình diễn biến trong thời gian ấy. Các hình thức tổ chức được thay đổi và phát triển thể hiện rất rõ trong mọi quân chủng và binh chủng.

Tất nhiên, ngoài Bộ tổng tham mưu thì không cơ quan công tác nào có thể giải quyết được các biện pháp tổ chức rất quan trọng ấy. Thêm nữa, Bộ tổng tham mưu còn được giao nhiệm vụ phải nghiên cứu các biện pháp tổ chức và đề xuất các kiến nghị của mình. Các sĩ quan trong Bộ tổng tham mưu cùng với các đại biểu của tổng cục xây dựng và bổ sung các đơn vị của Hồng quân ra các mặt trận để nghiên cứu các hình thức tổ chức của các bộ máy chiến đấu sao cho phù hợp với những yêu cầu của chiến tranh.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 28 Tháng Bảy, 2011, 10:21:13 am
Đến cuối tháng Tư 1942, thực tiễn hoạt động chiến đấu và thực tiễn công tác Bộ tổng tham mưu buộc phải khôi phục lại Cục tổ chức nằm trong biên chế của Bộ tổng tham mưu. Cục tổ chức có nhiệm vụ thảo ra các chỉ thị về tổ chức và các chỉ lệnh khác, kiểm tra việc chấp hành các chỉ thị đó và tính toán biên chế các đơn vị trên các mặt trận. Phòng tổ chức và thống kê của Cục tác chiến được chuyển sang cho Cục tổ chức. Tổng cục xây dựng và bổ sung các đơn vị của Hồng quân được bớt đi một phần các vấn đề tổ chức các đơn vị, mặc dầu Cục biên chế i tổ chức vẫn được giữ lại trong Tổng cục đó.

Do giải pháp có tính chất nửa chừng như vậy, nên tất nhiên đã nảy sinh ra chế độ làm việc song song trong công tác giữa Bộ tổng tham mưu với Tổng cục xây dựng và bổ sung các đơn vị của Hồng quân. Vì vậy, tháng sáu năm ấy đã phải ban hành mệnh lệnh đặc biệt có chữ ký của I. V. Xta-lin quy định giới hạn chức năng của Bộ tổng tham mưu và Tổng cục xây dựng và bổ sung các đơn vị của Hồng quân. Thế nhưng, mệnh lệnh ấy rồi cũng vẫn là biện pháp chưa thật dứt khoát.

Mùa xuân năm 1943, khi chuẩn bị chiến dịch Cuôc-xcơ, Đại bản doanh và Bộ tổng tham mưu đã tiến hành những biện pháp tổ chức lớn, thành lập các sư đoàn bộ binh, không quân, pháo binh. Khâu chỉ huy quân đoàn được khôi phục lại từ trước.

Đến tháng Tư 1943, đội dự bị của Đại bản doanh có mười tập đoàn quân, một số quân đoàn xe tăng, cơ giới và pháo binh, bộ máy chỉ huy phương diện quân Dự bị (sau này lấy tên là phương diện quân Thảo nguyên); chỉ riêng điều đó cũng đã đủ chứng minh quy mô hoạt động rồi. Do không có một cơ quan thích ứng nên Bộ tổng tham mưu không đủ sức hoàn thành khối lượng công tác đó và chế độ song song làm việc với Tổng cục xây dựng và bổ sung các đơn vị của Hồng quân trên thực tế vẫn còn tồn tại.

Tình hình như vậy buộc phải giải quyết lại vấn đề tổ chức một cách cơ bản. Cục biên chế - tổ chức trong Tổng cục xây dựng và bổ sung các đơn vị của Hồng quân đóng cửa và cuối cùng ở Bộ tổng tham mưu lại thành lập ra một cơ quan với đầy đủ quyền hạn phụ trách tổ chức các đơn vị. Ngày 4 tháng Năm 1943, I. V. Xta-lin ký lệnh quy định biên chế và nhiệm vụ của cơ quan này.

Các cán bộ tác chiến hàng ngày bận rộn với công tác tổ chức. Công tác tổ chức là yếu tố nhất thiết phải có trong việc đặt kế hoạch cho mọi chiến dịch, vì các phương diện quân thực ra vẫn chưa có một biên chế ổn định, mặc dầu thông thường mỗi phương diện quân đều phải có một số tập đoàn quân, trong đó có một tập đoàn quân không quân và một đến hai tập đoàn quân xe tăng.

Nhưng biên chế ấy về cụ thể không phải lúc nào cũng giống nhau. Ví dụ, phương diện quân Ca-rê-li-a không cần đến các tập đoàn quân xe tăng. Ngược lại, ở đấy lại cần các quân đoàn bộ binh nhẹ mà không đâu còn sử dụng đến nữa. Cứ mỗi lần tổ chức chiến dịch mới, thì biên chế của các phương diện quân đều phải quy định lại, được bổ sung các lực lượng mới (hoặc rút bớt), nhưng phải kết hợp được với các binh chủng và tính chất các binh đoàn xuất phát từ yêu cầu của tình hình.

Những cán bộ tổ chức của chúng tôi lúc nào cũng làm việc bên những cán bộ tác chiến, nghiên cứu kinh nghiệm chiến tranh và kịp thời xây dựng lại các bộ máy chiến đấu, nhằm giải quyết thắng lợi những nhiệm vụ nảy ra trong quá trình chiến tranh. Không có những cán bộ tổ chức, không có lao động của họ, thì mọi chiến dịch lớn ở ngoài mặt trận đều vô nghĩa. Các đồng chí ấy lúc nào cũng có thể tìm ra câu giải đáp cho các vấn đề quân số của bất kỳ sư đoàn nào trên mọi khu vực mặt trận, những thiệt hại và thời hạn nhận bổ sung của sư đoàn.

Những cán bộ tổ chức có thể cung cấp các tin tức như trên về mọi quân đoàn, tập đoàn quân, phương diện quân và về mọi Lực lượng vũ trang nói chung. Họ biết chính xác rằng, chúng ta đang xây dựng những đội dự bị gì ở đâu và bao nhiêu, trình độ sẵn sàng ra mặt trận và vị trí của các đội dự bị ấy trên đường hành quân, v.v.. Những cán bộ tổ chức là cánh tay phải của các cán bộ tác chiến.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 28 Tháng Bảy, 2011, 10:22:05 am
Từ tháng Tư 1942 đến tháng Mười 1946, đứng đầu các cơ quan phụ trách các vấn đề tổ chức là trung tướng A. G. Các-pô nô-xốp. Đồng chí là một cán bộ thực thụ của Bộ tổng tham mưu, một con người thông minh, hăng say lao động và cần mần, nhã nhặn nhưng hơi dễ dãi và dè dặt. Đồng chí rất am hiểu lĩnh vực công tác được giao, làm việc khôn khéo và cẩn thận, bao giờ cũng nói lên lẽ phải. Nhưng chính do chức trách công tác nên đã có lần đồng chí không gặp may.

Trên đời này có những người “không gặp may”: mỗi sơ suất của họ đều bị người ta nhận thấy; hơn nữa, một khi lỗi không phải là ở họ, mà là ở người khác, thì họ lại không thể nào tự biện minh cho mình được.
Khi lực lượng dự bị không kịp thời đến được mặt trận thì Các-pô-nô-xốp là người chịu lỗi, mặc dù có lỗi về việc này chính lại là các cơ quan phụ trách giao thông. Tổng cục xây dựng và bổ sung các đơn vị của Hồng quân không kịp thời bổ sung quân được cho các sư đoàn thì người ta lại bảo đấy là lỗi của Các-pô-nô-xốp vì đồng chí không kịp thời làm đề nghị bổ sung từ trước và v. v..

Đã nhiều lần tôi và A. I. An-tô-nốp được nghe Xta-lin có những ý kiến nhận xét không hay về Các-pô-nô-xốp mặc dù Tổng tư lệnh tối cao biết rõ là đồng chí ấy am hiểu công việc của mình và làm việc rất tốt. Cũng có nhiều lần A. I. An-tô-nốp bênh vực Các-pô-nô-xốp khi Xta-lin đề nghị cử một viên tướng khác đảm nhận công tác đó.

Ít lâu sau khi kết thúc chiến tranh ở Viễn Đông, I. V. Xta-lin lại đặt vấn đề về Các-pô-nô-xốp.

- Cần truyền thụ những kinh nghiệm đã tích lũy được ở Bộ tổng tham mưu cho các quân khu, - Xta-lin vừa nói vừa chậm rãi đi đi lại lại bên bàn theo thói quen. - Bây giờ Bộ tổng tham mưu cần phải thu hẹp lại và tất cả những đồng chí giảm biên chế vẫn được đưa về các quân khu. Cả anh bạn đáng yêu của đồng chí là Các-pô-nô-xốp cùng vậy, - Xta-lin nói tiếp - nên để cho anh ta đi truyền thụ kinh nghiệm. Đồng chí định đề nghị cử anh ta đi đâu. - Xta-lin bất ngờ quay sang hỏi An-tô-nốp.

A-lếch-xây I-nô-ken-chi-ê-vích An-tô-nốp nghẹn lời: đồng chí định chuẩn bị bênh vực Các-pô-nô-xốp thì I. V. Xta-lin lại hỏi câu đó nên không thể nói gì được nữa, mà Xta-lin thường hay làm như thế, một khi không muốn nghe ai giải thích gì thêm.

- Cho phép tôi suy nghĩ đã, - An-tô-nốp trả lời .

- Được. Vậy thì cử đồng chí ấy giữ chức tham mưu phó một quân khu nào đấy. 

Ngày 20 tháng Mười 1946 A. G. Các-pô-nô-xôp được cử làm tham mưu phó quân khu Pri-vôn-giê, đồng chí sống và làm việc ở đây cho tới những ngày cuối đời.

Trung tướng N. I. Trét-vê-ri-cốp là phó của A. G. Các-pô-nô-xốp từ tháng Năm 1943, đồng chí được cử phụ trách Cục tổ chức. N. I. Trét-vê-ri-cốp là một cán bộ lâu năm của Bộ tổng tham mưu. Đồng chí đã phục vụ trong Bộ tổng tham mưu hơn 25 năm, đã từng giữ các chức vụ khác nhau và hơn một nửa số thời gian trên, đã lãnh đạo các cơ quan phụ trách các vấn đề tổ chức. Đồng chí được về hưu với quân hàm thượng tướng vào đầu những năm 60. Đồng chí là một cán bộ nghiêm khắc, hơi thô bạo, ít nói và thích chính xác đến mức cầu kỳ. Người cộng sự gần gũi của đồng chí là thiếu tướng A. I. Ê-phrê-môp, sau này là một vị tướng - trợ lý đặc biệt của thứ trưởng thứ nhất Bộ quốc phòng.

Các chủ nhiệm phụ trách các binh chủng và thực hiện các nhiệm vụ đặc biệt là các sĩ quan được chọn lựa, giàu kinh nghiệm và hiểu rõ công việc của mình. Ví như phụ trách các đơn vị bộ binh và đổ bộ đường không trong các thời gian khác nhau là các đại tá A. N. Nư-rơ-cốp và Ph. Ph. Tơ-ri-sin. Phụ trách kỵ binh và các đơn vị xe tăng thiết giáp là thiếu tướng X. V. Xrê-ten-xki. Phụ trách các đơn vị pháo binh và súng cối là thiếu tướng P. I. Ca-nhi-u-cốp. Phụ trách các đơn vị kỹ thuật (công binh, thông tin liên lạc và v. v.) là đại lá V. V. Vi-sni-a-cốp và kế sau là đại tá P. A. Pô-li-tư-cô. Có một thời gian, P. A. Pô-li-tư-cô đã phụ trách các vấn đề bố trí đóng quân của các đơn vị. Phụ trách các lực lượng không quân là đại tá I. X. A-lếch-xây-ép từ năm 1944 về sau là đại tá N. C. Éc-ma-cốp, phụ trách các cơ quan quản lý là đại tá Ph. M. Ác-khi-pôp và đến cuối chiến tranh là thiếu tướng A. I. Xư-tsép.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 28 Tháng Bảy, 2011, 10:22:50 am
Đại tá I. O. Xcơ-vóc-txốp, từ năm 1944 về sau là đại tá A. V. Gôn-đen-cốp, phụ trách vấn đề rất đặc sắc là theo dõi các trường huấn luyện quân sự. Theo dõi các đơn vị và cơ quan hậu cần là đại tá I. M. E-xen-cô.

Những đồng chí thành thạo việc đặt kế hoạch tổ chức lả các đại tá I. A. Ki-xe-lép, X. N. Ri-a-bô-cô-bưn-cô, P. V. Đu-đô-la-đôp, I. I. In-tren-cô, A. A. Bốt-côp, M. N. Cô-xtin.

Theo dõi hạch toán chặt chẽ quân số các đơn vị là đại tá (sau này là thiếu tướng) X. M. Pô-đôn-xki. Phụ trách việc thống kê và trao cờ là đại tá I. V. Xmi-rơ-nôp. Công tác kiểm tra việc bổ sung các đơn vị được giao cho đại tá I. I. Dôt-kin, kế sau là đại tá P. V. Đu-đô-la-đốp.

Chủ nhiệm không thay đổi phụ trách phòng vận chuyển tác chiến là đại tá I. C. Tơ-ca-tren-cô, một con người có nghị lực và ý chí. Không có đồng chí ấy, như ta thường nói, thì các cán bộ tác chiến sẽ không thở nổi. Đồng chí thường xuyên nắm vững cái gì được cung cấp cho mặt trận nào và các đoàn tàu hiện đang ở đâu.

Đại tá A. C. Nem-tri-nốp phụ trách vấn đề bố trí các đơn vị. Đại tá A. N. Su-mi-lốp lãnh đạo tổ kiểm tra. Bảo đảm cho công tác của các cơ quan tổ chức là thiếu tá V. N. Khru-xta-lép và đại úy I. I. Dúp-cốp.

Tôi chỉ mới kể ra đây các sĩ quan phụ trách nghiên cứu và kiểm tra việc chấp hành các vấn đề tổ chức, thật dễ hiểu là tôi khó có thể nói hết được đặc điểm của từng người. Nhưng, tôi có thể nói rằng tất cả các tướng lĩnh và sĩ quan nói trên đều hiểu sâu phạm vi công tác và đã đóng góp công sức của mình vào sự nghiệp thắng lợi chung trước quân thù; mỗi người đó lại có tới hàng chục sĩ quan - trợ lý khác cùng cộng sự. Nói chung, đây là một tập thể có năng lực, phối hợp chặt chẽ với nhau, đã phụ trách những vấn đề rất quan trọng trong việc xây dựng và tổ chức Hồng quân.

Như đã nói ở trên, mỗi cán bộ chỉ huy trong những năm chiến tranh đều phát huy được tính chủ động cao độ trong chiến thuật chung và chiến thuật sử dụng các binh chủng. Họ cũng phát triển rất mạnh cả về mặt nghệ thuật chiến dịch, nhưng trong lĩnh vực xây dựng và tổ chức các đơn vị thì những người chỉ huy chỉ có thể phát hiện các ưu điểm và khuyết điểm rồi báo cáo về Bộ tổng tham mưu, tất nhiên họ có quyền đề nghị hoàn thiện các cơ cấu tổ chức đó. Thể chế ấy không có gì sai và cũng không thể làm khác được.

Tổ chức bộ máy chiến đấu các trung đoàn, sư đoàn, tập đoàn quân, phương diện quân, kể cả số quân, chất lượng và số lượng trang bị cũng như những cái thứ sinh từ một tổ chức nhất định, đều phải ổn định, vững chắc trong một thời gian nhất định; hơn nữa phải ổn định, vững chắc trong một thời gian dài. Chỉ như vậy, tổ chức các đơn vị mới phù hợp với chiến thuật và nghệ thuật chiến dịch, mới có ảnh hưởng tới quá trình hoàn thiện nghệ thuật quân sự, vì giữa nghệ thuật quân sự và các hình thức tổ chức các đơn vị có mối liên hệ biện chứng với nhau. Tổ chức các đơn vị mà đúng đắn, thì chỉ phải thay đổi khi xuất hiện vũ khí và kỹ thuật mới, hoặc khi có những yêu cầu đặc biệt của chiến trường.

Trên đây, chúng ta đã nói rằng Bộ tổng tham mưu là nơi tập hợp mọi đề nghị của những chỉ huy và cơ quan tham mưu các cấp, những người đã thử nghiệm các hình thức tổ chức các đơn vị trong thực tiễn. Và Bộ tổng tham mưu trước hết đã dựa vào các ý kiến rất có căn cứ ấy để cải tiến tổ chức các đơn vị

Trong thời kỳ chiến tranh, mỗi khi có những thay đổi quan trọng về tổ chức các đơn vị, Bộ tổng tham mưu nhất thiết đều triệu tập các cán bộ chỉ huy sư đoàn, trung đoàn và cả những tiểu đoàn đang tác chiến về họp. Ý kiến của họ về tổ chức các đơn vị hẳn là được Bộ tổng tham mưu chú ý lắng nghe. Tất nhiên, khi có những sự thay đổi như vậy thì Đại bản doanh cũng mời các tư lệnh phương diện quân về họp bàn.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 28 Tháng Bảy, 2011, 10:23:31 am
Cả Đại bản doanh lẫn Bộ tổng tham mưu đều rất chú ý nghiên cứu kinh nghiệm chiến đấu tiên tiến và áp dụng những kinh nghiệm tiên tiến ấy vào thực tiễn các đơn vị. Bộ tổng tham mưu đã thành lập phòng vận dụng kinh nghiệm tác chiến trên cơ sở ban huấn luyện tác chiến. Thiếu tướng P. P. Vê-tsơ-nưi đã lãnh đạo phòng này.

Phòng mới thành lập đó có trách nhiệm nghiên cứu kinh nghiệm chiến tranh, rút ra các kết luận có ích cho các đơn vị hành động và phổ biến rộng rãi cho các cán bộ chỉ huy. Phòng còn có nhiệm vụ tổ chức biên soạn các chỉ thị, giáo lệnh và điều lệnh về binh chủng hợp thành.

Phòng mới được xây dựng đã nhanh chóng tỏ rõ khả năng của mình và mùa thu năm 1942 đã phát hành “Tuyển tập các tài liệu nghiên cứu kinh nghiệm chiến tranh số 1", nói về các sự kiện xảy ra trong tháng Bảy - tháng Tám năm đó.

Trong lời nói đầu viết cho tuyển tập có nêu rõ mục đích của tuyển tập là “phổ biến kinh nghiệm chiến đấu thu hoạch được trong cuộc Chiến tranh giữ nước vĩ đại cho các đơn vị Hồng quân đang tác chiến, các đơn vị dự bị, các học viện quân sự và các cán bộ đứng đầu các cục chủ yếu và cục trung ương trong Bộ dân ủy quốc phòng”.

Tuyển tập được phổ biến tới các cán bộ chỉ huy trung đoàn của mọi binh chủng, trong đó có đăng những tài liệu kinh nghiệm của quân đội xô-viết và của quân đội địch. Trong thời kỳ rất khó khăn (tháng Bảy - tháng Tám 1942), Bộ tổng tham mưu vẫn nhìn xa lên phía trước và cho đăng trong tuyển tập những tài liệu nói về việc tiêu diệt các cụm quân địch bị hợp vây, mặc dù cho tới lúc này chúng ta hãy còn ở trong tình thế nguy khó. Tiếp sau là bài viết rút ra một số kết luận về các chiến dịch đổ bộ đường biển trong năm 1941. Rồi đến bài tổng kết chung về việc sử dụng các phương tiện phòng ngự chống tăng, các tài liệu hướng dẫn cách sử dụng các phương tiện chiến đấu với máy bay địch.

Để phục vụ cho việc chuẩn bị và tiến hành các chiến dịch tiến công lớn, tuyển tập còn đăng cả bài “Kinh nghiệm tiến hành diễn tập quân sự trên bản đồ ở ngoài mặt trận”. Nhiều tài liệu nói về phòng ngự dã chiến, về việc các đơn vị của Hít-le sử dụng pháo cao xạ bắn vào các mục tiêu trên mặt đất.

Kết thúc tuyển tập là bài báo ngắn “Bàn về vấn đề nghiên cứu kinh nghiệm chiến tranh”, nói về sự cần thiết phải tổng kết các kinh nghiệm đó, áp dụng ở các đơn vị những thủ đoạn tác chiến tốt nhất, cần phải tổ chức thông tin nhanh và tốt các phương pháp thực hành chiến đấu.

Tổng tư lệnh tối cao chú ý đọc cuốn tuyển tập đầu. Đồng chí rất hài lòng. Ít lâu sau, dựa vào các kinh nghiệm chiến tranh, bộ trưởng Bộ dân ủy quốc phòng đã thảo bản mệnh lệnh quan trọng số 325 là cái đã đóng một vai trò rõ rệt trong việc sử dụng xe tăng trong những năm chiến tranh. Ngày 16 tháng Mười 1942, tức là khoảng một tháng trước cuộc phản công ở Xta-lin-grát, I. V. Xta-lin đã ký vào văn bản mệnh lệnh, và các đơn vị xe tăng chúng ta đã chiến đấu thật xuất sắc ở đây

Mọi người đều thấy rõ là phòng vận dụng kinh nghiệm tác chiến hoạt động đúng và chúng tôi nóng lòng chờ đợi tuyển tập ra số tiếp sau.

Tuyển tập số 2 ra mắt vào tháng Mười một 1942, mở đầu là bài “Các bài học chiến dịch - chiến thuật trong chiến cục mùa đông năm 1941 – 1942”. Nói chung, nội dung tuyển tập lẩn này lại có giá trị cao hơn. Trong đó có một số bài ra thật đúng lúc về các hành động chiến đấu mùa đông và chiến đấu nhằm chiếm quyền khống chế trên không.

Nhưng điều chủ yếu nhất là tuyển tập chỉ rõ tầm quan trọng của các hoạt động sử dụng kinh nghiệm chiến tranh. Dường như để xác nhận điều đó, tuyển tập đã đăng toàn văn bản mệnh lệnh số - 325 của bộ trưởng Bộ dân ủy quốc phòng mà chúng ta đã nói đến ở trên. Tiếp đến là chỉ lệnh của Bộ tổng tham mưu về việc nghiên cứu và sử dụng kinh nghiệm chiến tranh, chỉ thị gửi cho các cơ quan tham mưu phương diện quân, tập đoàn quân về vấn đề này.

P. P. Vê-tsơ-nưi tự đứng ra biên tập các tuyển tập đó. Phải nói rằng đồng chí làm công việc này rất giỏi, do đó đã phần nào phục hồi được sự tín nhiệm của Xta-lin đối với mình. I. V. Xta-lin không quên là P. P. Vê-tsơ-nưi đã có quan hệ tới việc để mặt trận Crưm bị vỡ hối tháng Năm 1942.

Tuyển tập xuất bản tất cả được hai mươi sáu số và đến năm 1948 thì kết thúc.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 28 Tháng Bảy, 2011, 10:24:14 am
Khối lượng công việc ngày càng mở rộng. Tháng ba 1944, phòng đã triển khai thành cục vận dụng kinh nghiệm tác chiến, và chính đồng chí trưởng phòng đã trở thành cục trưởng cục đó. Thời gian ấy, ngoài các tuyền tập, cục còn phát hành các “Bản tin” và “Tuyển tập về các thủ đoạn chiến thuật”. Bản tin đăng các tài liệu nói về kinh nghiệm chiến đấu của các đơn vị, chủ yếu ở khâu chiến thuật: về công tác trinh sát, đội hình chiến đấu, các phương pháp chỉ huy, vượt sông. Tới cuối năm 1944, cục đã phát hành được 70 “bản tin” tất cả. Còn các “Tuyển tập về các thủ đoạn chiến thuật” đã giới thiệu những trận đánh hay, chủ yếu là của đại đội và tiểu đoàn, kể cả trong những điều kiện đặc biệt, đến năm 1946, cục đã phát hành được 23 tuyển tập tất cả.

Cục vận dụng kinh nghiệm tác chiến có biên chế chỉ huy không nhiều, nhưng đều là những cán bộ được lựa chọn kỹ. Trước đây, trong các Lực lượng vũ trang chúng ta không giải quyết nhiệm vụ đó với quy mô lớn như vậy. Các cán bộ trong cục học tập được nghệ thuật khái quát các kinh nghiệm chiến tranh, tìm ra các phương pháp trình bày những kinh nghiệm đó đúng đắn nhất và nhanh nhất trong quá trình hoạt động hàng ngày.

Để theo kịp yêu cầu, các đồng chí đã quan hệ chặt chẽ với Cục tác chiến. Các đồng chí nhận được ở chỗ chúng tôi những tài liệu cần thiết về các mặt hoạt động của các đơn vị, chẳng hạn các báo cáo của các phái viên Bộ tổng tham mưu ở ngoài mặt trận. Đồng thời, nhiều đồng chí cục trưởng trong Bộ thường hay ra mặt trận cũng đều tham gia viết bài cho các tuyển tập. Vì vậy, trong số tác giả của tuyển tập ta hay gặp những tên họ như: V. A. Bô-li-át-cô, C. Ph. Va-xin-tren-cô, I-a. A. Cu-xép, V. Ph. Me-rơ-nôp, V. I. Xu-min và nhiều đồng chí cán bộ tác chiến khác.

Các cán bộ phụ trách cục thường có mặt ở các đơn vị đang tác chiến, nghiên cứu kinh nghiệm chiến đấu và chiến dịch (tất nhiên không phải chỉ nghiên cứu những kinh nghiệm đánh thắng). Chúng tôi đã giúp đỡ các đồng chí trực tiếp tổ chức thu thập tài liệu tại các đơn vị, do đó các đồng chí thường bám rất sát những kinh nghiệm nóng hổi của chiến tranh. Các giáo viên các học viện quân sự, các cộng tác viên phòng lịch sử - quân sự cũng thường được tổ chức đi thực tế tham gia những công việc ấy.

Trong số các cán bộ ở cục vận dụng kinh nghiệm tác chiến và phòng lịch sử - quân sự, tôi nhớ nhất, coi đó như những cán bộ nghiên cứu chuyên sâu và cũng là những người phổ biến kinh nghiệm ấy, nếu có thế nói được như vậy, là các thiếu tướng N. A. Ta-len-xki, P. Đ. Coóc-cô-di-nốp, N. M. Da-mi-a-tin; các đại tá Ph. Đ. Vô-rô-bi-ép và P. G. E-xa-u-lôp, P. X. Bôn-dơ-rép, I. P. Ma-ri-ép-xki; và những đồng chí hồi ấy còn là trung tá, những trung tá linh lợi, sắc nhạy và ham hiểu biết, như N. G. Páp-len-cô, I. V. Pa-rot-kin. Tham gia công tác biên tập còn có các chuyên gia cỡ lớn, như trung tướng E. A. Si-lôp-xki, trung tướng pháo binh Ph. A. Xam-xô-nốp và các đồng chí khác.

Cục vận dụng kinh nghiệm tác chiến giữ một vai trò to lớn, không riêng trong lĩnh vực nghiên cứu kinh nghiệm chiến đấu mà còn thúc đẩy các mặt hoạt động sáng tạo của đội ngũ cán bộ chỉ huy chúng ta. Nhiều sử gia nổi tiếng của cuộc Chiến tranh giữ nước vĩ đại và các cán bộ khoa học đã được đào tạo trong môi trường đó.

Tổng tư lệnh tối cao theo dõi hoạt động của Bộ tổng tham mưu về công tác nghiên cứu kinh nghiệm chiến tranh, quan tâm đến việc phát hành các tài liệu cho bộ đội. Mỗi tuyển tập mới ra đời nhất thiết đều phải gửi cho đồng chí.

Năm 1942, khi phòng hoạt động đi vào nền nếp và thu được một số kinh nghiệm công tác, thì nhận được chỉ thị của I. V. Xta-lin biên soạn cuốn dự thảo Điều lệnh chiến đấu của bộ binh. Cuốn dự thảo điều lệnh trên được soạn ra một cách độc đáo. Bản phác thảo lúc đầu được viết ở Mát-xcơ-va, sau đó một số nhóm cán bộ đi ra các mặt trận và cuốn dự thảo Điều lệnh đã được viết xong tại đây với sự tham gia của các cán bộ chỉ huy giàu kinh nghiệm và có năng lực nhất ở các đại đội, tiểu đoàn và trung đoàn.

Để duyệt cuốn dự thảo Điều lệnh ấy, ở Trung ương đã thành lập ra một ủy ban đặc biệt để xem xét lại một lần nữa và sửa chữa lại lần cuối cùng. Sau đó, cuốn điều lệnh được đưa ra xét duyệt mất hai ngày trong các phiên họp của Đại bản doanh, có mời đại biểu các cấp ở ngoài mặt trận về tham dự (từ đại đội đến sư đoàn). Mãi sau đó, vào ngày 9 tháng Mười một 1942, bộ trưởng Bộ dân ủy quốc phòng mới phê chuẩn cuốn Điều lệnh và cho lệnh ban hành.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 28 Tháng Bảy, 2011, 10:25:02 am
I. V. Xta-lin hiểu rằng điều rất quan trọng là phải phát huy tính chủ động của đội ngũ các cán bộ chỉ huy, khả năng quyết định đúng đắn của họ trong mọi tình huống, kể cả tình huống phức tạp nhất mà không một cuốn điều lệnh nào có thể lường trước được. Do đó khi ra mệnh lệnh ban hành cuốn điều lệnh, đồng chí đã bổ sung thêm điểm 4, tạo khả năng cho những người chỉ huy phát huy tính sáng tạo và chủ động rộng rãi trong chiến đấu. Trong đó có ghi: “các điều quy định trong điều lệnh phải được vận dụng cho thật phù hợp với tình huống”.

Phương pháp biên soạn điều lệnh, có sự tham gia của các cán bộ chỉ huy giàu kinh nghiệm trong các đơn vị và các chuyên gia, tức những người đóng góp được nhiều ý kiến vô cùng quý báu, là phương pháp đã bám rễ vững chắc và được vận dụng cho đến ngày nay. Mọi điều lệnh biên soạn tuy không phải đều được xét duyệt hết trong Đại bản doanh, nhưng nhất thiết phải được báo cáo cho Đại bản doanh.

Về vấn đề này, cho phép tôi kể lại một tình tiết bố ích. Khoảng đầu tháng Chạp 1944, vào một hôm báo cáo tình hình thường kỳ trong Đại bản doanh, Tổng tư lệnh tối cao hỏi về hoạt động của cục sử dụng kinh nghiệm chiến tranh mới thành lập. A. I. An-tô-nốp báo cáo: Cục vẫn hoạt động bình thường, các cán bộ rất cố gắng và thường xuyên đi công tác ngoài các mặt trận; tuyển tập soạn ra chúng tôi đã gửi cho đồng chí. 

- Theo tôi, - I. V. Xta-lin nhận xét, - cục này làm việc tồi và các đồng chí không theo dõi công tác của nó. Bộ tổng tham mưu và cục có biết là trong năm nay đã phát hành hai cuốn điều lệnh về pháo binh, mà cả hai cuốn đều có những sai phạm nghiêm trọng về quy tắc và chế độ đã định trong công việc này không?

Tôi và An-tô-nốp nhìn nhau. Tôi không biết gì nên quyết định lặng im. An-tô-nốp cũng bối rối. Không đợi chúng tôi trả lời, Tổng tư lệnh tối cao lúc đó yêu cầu chúng tôi phải xem xét tỉ mỉ, kiểm tra lại tất cả và hai ngày sau tới báo cáo cho đồng chí biết.

Té ra là chưa được sự đồng ý của Đại bản doanh, nguyên soái tư lệnh pháo binh của Hồng quân N. N. Vô-rô-nôp đã soạn và gửi lên xin phê chuẩn hai cuốn điều lệnh: ngày 29 tháng Năm 1944 - cuốn Điều lệnh chiến đấu của pháo cao xạ và ngày 18 tháng Mười cùng năm ấy - cuốn Điều lệnh chiến đấu của pháo binh Hồng quân. Cả hai cuốn điều lệnh ấy đều do Nguyên soái Liên Xô Gh. C. Giu-cốp phê chuẩn.

Đến ngày đã định. Bộ chính trị vừa họp xong thì chúng tôi tới báo cáo về tình hình các mặt trận và “vấn đề hai cuốn điều lệnh”. I. V. Xta-lin đi lại lâu trong gian phòng và quay sang phía các ủy viên Bộ chính trị nói: 

- Cần phải ra mệnh lệnh về vấn đề này. Có lẽ Bộ tổng tham mưu không tiện viết về hai người chỉ huy lớn, nên chúng ta sẽ tự viết.

- Ngày 29 tháng Năm 1944. - I. V. Xta-lin bắt đầu đọc - nguyên soái tư lệnh pháo binh, đồng chí Vô-rô-nốp, đã đưa cho thứ trưởng Bộ dân ủy quốc phòng, Nguyên soái Giu-cốp phê chuẩn cuốn Điều lệnh chiến đấu của pháo cao xạ Hồng quân (hai phần) mà không được sự đồng ý trước của Đại bản doanh Bộ tổng tư lệnh tối cao.

Sau đó, đồng chí nhìn vào hai cuốn điều lệnh đặt ở trên bàn đồng chí, rồi tiếp tục:

- Ngày 18 tháng Mười 1944, đồng chí Vô-rô-nốp lại đưa cho nguyên soái Giu-cốp phê chuẩn cuốn Điều lệnh chiến đấu của pháo binh Hồng quân mà cũng không đệ trình và không báo cáo lên Đại bản doanh Bộ tổng tư lệnh tối cao.

Nguyên soái Giu-cốp thiếu kiểm tra đầy đủ, không triệu tập và hỏi ý kiến các đồng chí ở ngoài mặt trận, đồng thời không báo cáo lên Đại bản doanh, đã phê chuẩn và cho lệnh ban hành hai cuốn điều lệnh trên.
Ngừng một lát, Xta-lin tiếp tục;

- Qua kiểm tra thấy rằng, do vội vã phê chuẩn nên các cuốn điều lệnh ấy, đã phạm những thiếu sót nghiêm trọng, không tính toán đến hàng loạt các kiểu vũ khí mới và không phối hợp với kế hoạch đã thông qua về các điều lệnh của pháo binh Hồng quân.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 28 Tháng Bảy, 2011, 10:25:54 am
Phải nói rằng, Tổng tư lệnh tối cao thường hay giải thích nguyên nhân của sự cần thiết phải có một mệnh lệnh nào đó. Và lần này, đồng chí cũng làm như vậy: 

- Bộ dân ủy quốc phòng căn cứ vào chỗ: điều lệnh là bộ luật cho Hồng quân dùng trong nhiều năm, khác với mệnh lệnh chỉ có hiệu lực trong thời gian ngắn. Vì vậy, trước khi phê chuẩn điều lệnh, yêu cầu phải tổ chức kiểm tra kỹ lưỡng, mời các đồng chí ở ngoài mặt trận về cùng tham gia. Chúng ta đã phê chuẩn cuốn Điều lệnh chiến đấu của bộ binh theo nền nếp như vậy. Vả khi phê chuẩn hai cuốn điều lệnh trên, chúng ta cũng cần tiến hành theo nền nếp như thế để khỏi phạm sai lầm và để sau này khỏi trừng phạt một cách vô ích các quân nhân vì đã phạm các điều lệnh sai sót ấy. Đổng chí Vô-rô-nôp đã coi thường phương pháp dự thảo và thủ tục đệ trình phê chuẩn đó, còn Nguyên soái Giu-cốp thì đã quên mất phương pháp ấy...

Lúc này bản mệnh lệnh bắt đầu được viết đến phần cuối. Tất cả những người có mặt chăm chú lắng nghe. Vẫn bằng một giọng đều đều, I. V. Xta-lin nói:

- Do đó... - Rồi ngừng lại một lát như để làm cho rõ nghĩa, đồng chí đọc: 

- Thứ nhất. Hủy bỏ, - đồng chí lại nhìn vào các cuốn điều lệnh để tìm số thứ tự, - các mệnh lệnh số 76 và 77 ngày 29 tháng Năm 1944 và mệnh lệnh số 209 ngày 18 tháng Mười 1944 của Nguyên soái Giu-côp, thứ trưởng Bộ dân ủy quốc phòng Liên Xô, đã phê chuẩn và ban hành Điều lệnh chiến đấu của pháo cao xạ và Điều lệnh chiến đấu của pháo binh Hồng quân.

Thứ hai. Khiển trách đồng chí Vô-rô-nôp, nguyên soái tư lệnh pháo binh, vì đã thiếu thận trọng đối với vấn đề điều lệnh của pháo binh.

Thứ ba. Nguyên soái Giu-côp từ nay về sau không được vội vàng khi giải quyết các vấn đề quan trọng.

Tôi ra lệnh:

Thành lập các ủy ban để xét duyệt và kiểm tra các điều lệnh trên:

a) ủy ban xét duyệt và kiểm tra Điều lệnh chiến đấu của pháo cao xạ;

b) ủy ban xét duyệt và kiểm tra Điều lệnh chiến đấu của pháo binh.

Đồng chí Bun-ga-nin, thứ trưởng Bộ dân ủy quốc phòng Liên Xô sẽ quy định thành phần các ủy ban và đưa lên tôi phê chuẩn.

Gửi mệnh lệnh cho tất cả các tư lệnh phương diện quân (các quân khu), các tập đoàn quân, chủ nhiệm các tổng cục và các cục trung ương, tư lệnh các binh chủng của Bộ dân ủy quốc phòng Liên Xô...

Chúng tôi và tất cả những đồng chí khác, những người có quan hệ tới công việc này, mãi mãi ghi nhớ bài học đó.

Thực tiễn liên hệ với các nước đồng minh của Liên Xô, trong khối liên minh chống Hít-le đã đặt ra cho Bộ tổng tham mưu rất nhiều nhiệm vụ mới. Các cán bộ tác chiến thật không sao làm xuể công việc của mình cùng một lúc với các mối liên hệ đó, cũng như không sao phân tích hết các hậu quả quân sự của từng hành động cụ thể của các nước đồng minh.

Ít lâu sau, chúng tôi cũng phát hiện thấy rằng ngay cả phòng liên lạc đối ngoại cùng bị ngợp dưới gánh nặng công việc của mình. Phòng được mở rộng, rồi sau đó, vào tháng Chín 1944, trên cơ sở phòng đã thành lập ra cục liên lạc đối ngoại, chịu trách nhiệm thực hiện các công việc đặc biệt có liên quan tới các nước đồng minh và phụ trách mọi vấn đề hoạt động đối ngoại của Bộ tổng tham mưu. Cục trưởng là tướng N. V. Xia-vin, từng công tác lâu năm trong lĩnh vực này. Bộ tổng tham mưu thông qua cục liên lạc đối ngoại để tiến hành chỉ đạo các phái đoàn quân sự của Liên Xô hoạt động trong các nước đồng minh với chúng ta.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 28 Tháng Bảy, 2011, 10:26:35 am
Cần phải nhận xét rằng những mối liên hệ ban đầu của chúng ta với các nước đồng minh rất hạn chế và chủ yếu chỉ thu hẹp trong việc thông báo cho nhau các hành động quân sự, trao đổi kinh nghiệm chiến tranh, một số các tin tức tình báo và kỹ thuật, tổ chức cho các phái đoàn quân sự các nước đồng minh ra thăm mặt trận, tiến hành làm các nghị định thư và các công việc khác.

Cho tới năm 1944, các lực lượng vũ trang trong khối liên minh chống Hít-le hiệp đồng với nhau vẫn chưa được là bao. Vì các nước đồng minh chưa tiến hành các chiến dịch quy mô lớn trên lành thổ châu Âu, nếu như không tính đến các hoạt động mang tính chất cục bộ ở I-ta-li-a.

Thế nhưng hồi đó các nước đồng minh đã đặt các phái đoàn quân sự tại Bộ tổng tham mưu xô-viết: phái đoàn Mỹ (đứng đầu là tướng Đin), phái đoàn Anh (tướng Be-rô-út), phái đoàn của chỉnh phủ kháng chiến Pháp (tướng Đờ-lát đờ Tát-xi-nhi). Ngoài ra, còn có phải đoàn quân sự Na Uy đứng đầu là đại tá Đan, phái đoàn quân sự nước Cộng hòa Tiệp Khắc là tướng V. Pi-ca và phái đoàn của ủy ban giải phóng dân tộc Nam Tư do trung tướng V. Téc-dít đứng đầu.

Phải nói rằng các phái đoàn quân sự nước ngoài rất hứng thú với những chuyến đi thăm các mặt trận, họ học tập được nhiều điều tại đây.

Ngược lại, bên cạnh Bộ tổng tham mưu của các nước đồng minh cũng có các phái đoàn quân sự của Liên Xô. Các phái đoàn ấy được đặt dưới quyền trực tiếp của Đại bản doanh, thông qua Bộ tổng tham mưu, không thuộc thẩm quyền các đại sứ. Chúng ta làm như vậy, sau khi đã nghiên cứu kỹ các chức năng và các điều kiện công tác của phái đoàn. Thực ra, các phái đoàn ấy cùng chỉ làm nhiệm vụ tác chiến. Và ở Mát-xcơ-va, các nước đồng minh cũng tổ chức các phái đoàn hoạt động tương tự như vậy.

Phái đoàn quân sự của Liên Xô ở nước Anh được tổ chức ra đầu tiên: Ngay từ ngày 8 tháng Bảy 1941, sau một chặng đường bay gian nan và nguy hiếm từ Ác-khan-ghen-xcơ tới Gla-xgô, phái đoàn đã tới Luân Đôn. Trung tướng Ph. I. Gô-li-cốp đứng đầu phái đoàn, mấy ngày sau lại trở về Tổ quốc. Thiếu tướng hải quân N. M. Khác-la-mốp, một sĩ quan 35 tuổi phục vụ trong Hải quân Liên Xô, ở lại làm trưởng phái đoàn. Đồng chí là một cán bộ thông minh và có tính nguyên tắc đồng thời còn là một chuyên gia huấn luyện chiến đấu, rất thông thạo kỹ thuật và chiến thuật của hải quân. Dưới đây chúng ta sẽ còn nói tới những mặt mạnh khác trong tính cách của N. M. Khác-la-môp khi ở Luân Đôn.

Thành phần phái đoàn có ít người - tất cả có sáu đồng chí, không kể đồng chí trưởng phái đoàn. Về sau, số người trong phái đoàn đã tăng lên đáng kể cho phù hợp với khối lượng nhiệm vụ được giao. 

Do tính chất đặc biệt quan trọng của nó, nên trưởng phái đoàn quân sự của Liên Xô ở Anh nhận nhiệm vụ trực tiếp từ đồng chí V. M. Mô-lô-tốp, bộ trưởng Bộ dân ủy ngoại giao. Nhiệm vụ hàng đầu của phái đoàn là phải đấu tranh đòi mở mặt trận thứ hai ở châu Âu “dù khoảng một tháng sau".

Nhiệm vụ tiếp sau là tổ chức vận chuyển các hàng quân sự từ Anh, Mỹ sang Liên Xô và tổ chức các đoàn tàu hộ tống hàng từ Anh vào các hải cảng của Liên Xô. Sau này, vấn đề có tầm quan trọng to lớn là đẩy mạnh các cuộc bắn phá của không quân đồng minh vào các mục tiêu quân sự của nước Đức phát-xít. Ngoài ra, phải giải quyết cả những nhiệm vụ tổ chức hiệp đồng giữa các lực lượng vũ trang trong khối liên minh chống Hít-le, như: trao đổi các tin tức về địch, trao đổi kinh nghiệm chiến đấu, phối hợp các tuyến, thời gian và thứ tự hành động của các đơn vị.

Cuộc đón tiếp phái đoàn Liên Xô tổ chức ở nhà ga Luân Đôn chứng minh rằng nhân dân Anh rất có thiện cảm với đất nước xô-viết đang bị kẻ thù chung xâm lược. Về sau trong công tác của mình các thành viên trong phái đoàn quân sự cùng đều cảm thấy mối thiện cảm ấy. Những người dân thường Anh hồi ấy hiểu rằng cuộc kháng chiến của Liên Xô đã cứu thoát cả Tổ quốc họ. Do đó, quảng đại quần chúng lao động trong nước Anh đã gây sức ép với những kẻ bảo thủ trong chính phủ (những kẻ này hoàn toàn không phải là không có thành kiến với chúng ta) và buộc họ phải trung thực hoàn thành các trách nhiệm đồng minh của họ.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 01 Tháng Tám, 2011, 12:30:11 pm
Ở đây tôi không có ý định tường thuật lại chi tiết các hoạt động của phái đoàn. Tôi chỉ đề cập tới những vấn đề rất gay gắt đã xảy ra, khi N. M. Khác-la-mốp phải đối diện với những con người ở tầng lớp trên có các chức vị, tước hàm cao trong bộ máy nhà nước và bộ máy chiến tranh của nước Anh. Lúc nào Khác-la-môp cũng tỏ ra có một ý chí khác thường và thông minh tuyệt vời, đứng ra bảo vệ các quyền lợi của Nhà nước xô-viết.

Điển hình về mặt này là sự kiện đã làm chấn động khắp nơi về việc quân địch đánh tan đoàn tàu hộ tống PQ-17.

Như chúng ta được biết, ngày 27 tháng Sáu 1942, đoàn tàu hộ tống PQ- 17 là đoàn tàu hộ tống lớn nhất trong lịch sử chiến tranh đã ra đi từ Ai-xơ-len tới Ác-khan-ghen-xcơ và Muốc-man-xcơ. Đoàn tàu gồm có 34 tàu vận tải (hai chiếc của Liên Xô, một chiếc của Pa-na-ma, còn lại là của Anh và Mỹ) và 21 tàu trực tiếp cảnh giới. Ngoài ra, để yểm hộ ở ngoài khơi, còn tổ chức ra hai đoàn tàu của hạm đội Anh: một đoàn gồm 4 tàu tuần dương và 3 tàu khu trục; một đoàn gồm 2 thiết giáp hạm, 1 tàu sân bay, 2 tàu tuần dương và 8 tàu khu trục.

Ngày 4 tháng Bảy 1942, đoàn tàu hộ tống tiến đến khu vực có các tàu ngầm hoạt động độc lập và không quân của Đức từ bờ biển Na Uy tới bắn phá lẻ tẻ vào các tàu vận tải và tàu cảnh giới. Đô đốc Đa-dơ-li Pa-un-dơ, tham mưu trưởng hải quân Anh, đánh giá những cuộc bắn phá ấy, những cuộc bắn phá đã bị các lực lượng hùng hậu của Anh đánh lui, là dấu hiệu nhất định sẽ xảy ra trận tập kích của các lực lượng tàu nổi chủ yếu của Đức do thiết giáp hạm “Tiếc- pít” chỉ huy.

Viên đô đốc Anh, mặc dầu đã có những tin tức rất chính xác từ Luân Đôn cho biết là các chiến hạm chủ lực của địch chưa ra khơi, song vẫn tự ý hạ lệnh: “Cho đội tàu tuần dương rút chạy thật nhanh về phía Tây", và mấy phút sau thì đánh điện, lệnh cho đội tàu cảnh giới các tàu vận tải: “do nguy cơ bị các hạm nổi của địch tập kích, đoàn tàu phải sơ tán chạy về các hải cảng Nga”.

Sau này, chúng ta được biết là các chiến hạm lớn của địch lúc đó còn đậu ở các bến của chúng ở An-ten-phi-óc-đơ và không có ý định tiến ra chạm trán với đoàn tàu hộ tống. Thêm nữa, bộ chỉ huy phát-xít Đức cũng sợ các chiến hạm lớn của chúng bị thiệt hại, nên không dám liều lĩnh cho ra khơi. Thế nhưng, khi nhận ra các biện pháp kỳ lạ đó của người Anh, địch liền tung các tàu ngầm và không quân của chúng ra tập kích vào các tàu vận tải chạy chậm không được yểm hộ. Các tàu vận tải ấy, không được bảo vệ, đã làm mồi ngon cho bọn thú dữ phát-xít.

Ngày hôm sau, ngày 5 tháng Bảy 1942, sau khi cảm thấy hoàn toàn yên ổn, thiết giáp hạm “Tiếc-pít” ra khơi. Được một số tàu nổi khác hộ tống, nó lao vào chộp lấy các tàu vận tải đã bị tan tác. Chặn đánh bọn Hít-le vào lúc này chi còn trơ trọi có chiếc tàu ngầm Liên Xô “K-21” do trung tá hải  quân N. A. Lu-nin, Anh hùng Liên Xô, chỉ huy. Chiếc tàu ngầm ấy đã dũng mãnh xông vào giữa đội hình các chiến hạm địch, phóng ngư lôi phá hủy chiếc “Tiếc-pít” và lợi dụng lúc địch bị hỗn loạn đã rút lui an toàn.

Sau trận này, trong đoàn tàu hộ tống PQ- 17 chỉ còn sót lại có 11 tàu vận tải. Những chiếc tàu bị đắm mang theo 3350 xe ô tô, 430 xe tăng, 210 máy bay ném bom và 100 nghìn tấn các hàng hóa khác. Số khí tài này đến được Xta-lin-grát thì thuận lợi biết bao

Tổn thất của đoàn tàu PQ- 17, ngoài những mặt khác, là một bài học chính trị lớn. Các đại biểu của bọn bảo thủ Anh, đặc biệt là đô đốc Pa-un-dơ, lại âm mưu cho tai nạn này là một bằng chứng hiển nhiên về tính chất không hợp lý của việc chở hàng sau này sang Liên Xô bằng con đường phía Bắc. Họ nói là tốn phí quá lớn. Chúng ta nhớ lại rằng, ngày 17 tháng Bảy 1942, các đơn vị Hít-le bắt đầu đánh vào Xta-lin-grát, và ngày 25 tháng Bảy chúng phát triển tiến công sang Bắc Cáp-ca-dơ. Các chiến dịch phòng ngự của ta ở đây lâm vào tình thế vô cùng khó khăn.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 01 Tháng Tám, 2011, 12:30:58 pm
Thông qua đại sứ I. M. Mai-xki của Liên Xô ở Anh, Chính phủ Liên Xô đòi chính phủ Anh phải cho biết thời hạn gửi những đoàn tàu tiếp sau chở các trang bị sang Liên Xô. A. I-đơn, bộ trưởng ngoại giao Anh, phúc đáp rằng: đoàn tàu PQ- 17 là một hậu quả đắt, còn Pa-un-dơ tuyên bố rằng nếu ông ta đứng về phía Đức thì không một đoàn tàu nào có thể cập bến đã định. Bộ hải quân của họ cho rằng sớm nhất cũng phải tới mùa thu mới có thể đưa các đoàn tàu đi được

Trong thời điểm quyết liệt đó, N. M. Khác-la-mốp đã lên tiếng. Đồng chí báo cáo về Mát-xcơ-va ý kiến của mình - những ý kiến của một chuyên gia hải quân - đánh giá các hành động của Bộ hải quân Anh là những hành động đê hèn và hoàn toàn không có căn cứ. N. Gh. Cu-dơ-nét-xốp, bộ trưởng Bộ dân ủy hải quân, ủng hộ đồng chí. Chính phủ Liên Xô lưu ý người Anh là các thủy thủ của chúng ta không đồng ý với ý kiến của những người cầm đầu hải quân Anh.

Trước tình hình đó, U. Sớc-sin buộc phải yêu cầu A. I-đơn tổ chức cuộc hội đàm với những người cầm đầu hải quân Anh và các đại diện của Liên Xô để tìm nguyên nhân tổn thất của đoàn tàu PQ-17. Cuộc hội đàm tiến hành vào 28 tháng Bảy 1942 tại văn phòng của A. I-đơn ở Hạ nghị viện.

A. I-đơn điều khiển cuộc họp. Ngoài A. I-đơn ra, về phía Anh còn có bộ trưởng hải quân A-lếch-xan-đe-rơ và Pa-un-dơ, về phía Liên Xô có đại sứ Liên Xô I. M. Mai-xki, thiếu tướng hải quân N. M. Khác-la-mốp và đồng chí trợ lý của thiếu tướng hải quân.

Không khí trở nên căng thẳng khi Đ. Pa-un-dơ không thể bào chữa nổi những hành động sai trái của y đã gây nên hậu quả để đoàn tàu bị kẻ thù đánh đắm mà không trừng phạt được chúng. Những người có mặt hết sức ngạc nhiên khi thấy Pa-un-dơ đem tấm bản đồ địa lý học sinh thông thường ra dùng để báo cáo. Tấm bản đồ ấy làm sao có thể phản ánh được nhiều yếu tố tình huống tổn thất của đoàn tàu.

Thiếu tướng hải quân Liên Xô đến dự họp mang theo tấm bản đồ chi tiết của hải quân. Tấm bản đồ ấy đã nói được nhiều vấn đề. N . M . Khác-la-mốp dẫn ra những bằng cớ về độ sâu chứng minh rằng chiếc “Tiếc-pít” không thể uy hiếp nổi cả tàu vận tải lẫn tàu đi yểm hộ. Do đó thấy rõ rằng việc cho các tàu tuần dương cảnh giới rút chạy và phân tán các tàu vận tải trong đoàn là một sai lầm hết sức nặng nề của người cầm đầu cơ quan tham mưu hải quân Anh. Thiếu tướng hải quân đã đập tan hết lý này đến lẽ khác của Pa-un-dơ.

Pa-un-dơ bị những lý lẽ đanh thép của người đứng đầu phái đoàn quân sự Liên Xô dồn vào thế bí. Y không thể đối thoại bằng lý lẽ được nữa nên sinh ra cáu kỉnh, thô bạo, A-lếch-xan-đe-rơ lao vào chữa cháy, xin lỗi về Pa-un-dơ và về những thiếu sót của bộ hải quân Anh. I. M. Mai-xki vốn có tính ngoại giao, hay dùng những lời châm chọc sâu cay, nhận xét là: “các đô đốc Anh mà cũng mắc sai lầm ư?”. Nghe thấy thế, Pa-un-dơ đâm ra phát khùng, đến mức không thể tha thứ được, còn Khác-la-mốp bề ngoài vẫn giữ vẻ bình thản, song phê phán thẳng thừng mọi hành vi của Pa-un-dơ đã để đoàn tàu PQ- 17 bị tổn thất.

Cuộc họp diễn biến trở nên rất bất lợi cho phía Anh. Thật hoàn toàn rõ rằng: nguyên nhân chủ yếu của tấn thảm kịch ở biển Ba-ren không phải là do hoàn cảnh quân sự, mà chính là do chính sách và ác ý của các giới cầm quyền Anh đối với Liên Xô.

Cuộc tranh luận chính trị ấy không nằm trong dự tính của U. Sớc-sin và chính phủ Anh, nên A. I-đơn vội vã đình chỉ cuộc họp “vì những quan hệ ngày càng căng thẳng giữa hai bên”.

Các đồng chí chúng ta ở nước ngoài là thế đấy. Họ cũng phải chiến đấu. Nhưng, thật kỳ lạ là họ phải chiến đấu với các đồng minh của mình để đòi những người này phải thực hiện trung thực các trách nhiệm của họ.



Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 01 Tháng Tám, 2011, 12:31:36 pm
Tôi không muốn nói quá những công lao của N. M. Khác-la-môp, song những đóng góp của đồng chí vào sự nghiệp chung hồi đó thật rất lớn. Sau lần họp này, những người lãnh đạo Anh đã phải kiêng nể phái đoàn quân sự của Liên Xô, và các đoàn tàu chở vũ khí, đạn dược sang Liên Xô lại tiếp tục lên đường theo kế hoạch.

Hoàn cảnh làm việc của N. M. Khác-la-mốp thật khó khăn. Vương quốc liên hiệp Anh là một đồng minh phức tạp, các chính khách và các nhà hoạt động quân sự của Anh đối với Nhà nước xô-viết có thái độ khác nhau. Có loại tỏ thái độ trực diện thù địch với Liên Xô như Pa-un-dơ hoặc bộ trưởng chiến tranh Mác-kin-xơn. Viên bộ trưởng này đã bí mật ngăn cản các chuyến hàng quân sự gửi sang ta. Bị áp lực của dư luận xã hội, U. Sớc-sin đã buộc phải bãi chức hắn. Còn số người khác, nếu như không tỏ thiện cảm đặc biệt đối với liên Xô thì đối xử với ta cũng chẳng có gì ác ý.

Tình hình đó phần nào cũng thuận lợi cho công tác của phái đoàn và cho phép giải quyết thỏa đáng nhiều vấn đề thực tiễn. Chẳng hạn, huân tước Bi-véc-brúc, bộ trưởng hải quân A-lếch-xan-đe-rơ đã nói tới ở trên, tham mưu trưởng không quân Đi-lơ và một số người khác đã được Khác-la-mốp liệt vào số những người đó. Số còn lại thì có thiện cảm với Liên Xô và đã thành thật giúp đỡ phái đoàn.

Thiếu tướng hải quân Phi-líp-xơ, phụ trách các vấn đề chở hàng quân sự, hiểu rõ ý nghĩa của các quan hệ đồng minh, đã tìm mọi cách góp sức mình vào công việc này. Nhiều bạn bè, những nhân viên bình thường làm việc trong bộ máy quân đội và hải quân Anh cùng đã giúp đỡ chúng ta và nêu không có sự giúp đỡ ấy của họ thì khó có một công việc lớn nào được làm trọn.

Phái đoàn ta phái hoạt động nhiều về vấn đề mở mặt trận thứ hai ở châu Âu. Hồi đó, bộ chỉ huy Mỹ đã chú ý nhiều tới vấn đề này. N. M. Khác-la-mốp và các trợ lý của đồng chí làm việc không quản đêm ngày vì phải tới dự các cuộc diễn tập chuẩn bị của các đơn vị đổ bộ vào đất Pháp, kiểm tra sự sẵn sàng của các đoàn tàu chở hàng đường biển, v. v..

Lúc mở mặt trận thứ hai, người đứng đầu phải đoàn quân sự Liên Xô đi trên chiếc tàu tuần dương “Ma-vri-xét” tiến vào khu vực tác chiến và đổ bộ lên Noóc-măng-đi. Ít lâu sau, đồng chí được triệu tập về Liên Xô. Người đứng đầu phái đoàn quân sự Liên Xô ở Anh từ tháng Mười một 1944 cho đến hết chiến tranh là tướng A. Ph. Va-xi-li-ép. Trước đó, đồng chí hoạt động ở mặt trận I-ta-li-a của các nước đồng minh.

Thiếu tướng I. A. Xu-xlô-pa-rốp là đại biểu quân sự của Liên Xô nằm trong Bộ tham mưu các lực lượng vũ trang của nước Pháp kháng chiến và của tướng Đ. Ai-xen-hao. Tổng tư lệnh các đội quân viễn chinh của các nước đồng minh. I. A. Xu-xlô-pa-rôp là một nông dân đã tham gia Chiến tranh thế giới lần thứ nhất và tham gia cuộc Khởi nghĩa vũ trang tháng Mười.

Năm 1939, đồng chí làm tùy viên quân sự của Liên Xô ở Pa-ri. Đồng chí hoàn thành trách nhiệm của mình một cách xứng đáng và khôn ngoan, người tùy viên quân sự của Liên Xô đã được chứng kiến tận mắt tấn thảm kịch tan vỡ và sự đầu hàng của nước Pháp do những người cầm quân thấp hèn phản bội.

Lúc bắt đầu cuộc Chiến tranh giữ nước vĩ đại Xu-xlô pa-rốp trở về Tổ quốc. Đồng chí phục vụ trong Bộ tham mưu pháo binh Hồng quân và từ năm 1942 đến giữa năm 1944 đã chỉ huy thắng lợi pháo binh của tập đoàn quân 10 thuộc phương diện quân Tây.

Đến mùa hè năm 1944, I. A. Xu-xlô-pa-rôp lại được bổ nhiệm làm công tác quân sự-ngoại giao và ít lâu sau được cử giữ chức trưởng phái đoàn quân sự của Liên Xô ở Pháp. Nhiệm vụ của đồng chí thật nặng nề, Xu-xlô-pa-rốp chịu trách nhiệm liên hệ với các nước đồng minh đang mở mặt trận thứ hai ở châu Âu. Khó khăn nhiều nhất là khi những tên đầu sỏ phát-xít Hít-le, đứng trước tai họa bị thất bại ở mặt trận Xô - Đức, bắt đầu ngấm ngầm tìm kiếm lối thoát bắng cách đầu hàng bộ chỉ huy Anh - Mỹ ở phía Tây.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 01 Tháng Tám, 2011, 12:32:14 pm
Tình hình càng thêm phức tạp ở chỗ phái đoàn quân sự của Liên Xô đặt ở Pa-ri, còn Bộ tham mưu các đơn vị của Ai-xen-hao mà bọn Hít-le đang ngấm ngầm ve vãn lại đóng ở Rem-xơ cách phía Đông thủ đô nước Pháp 125 ki-lô-mét.

Đại bản doanh và Bộ tổng tham mưu dự kiến khả năng địch sẽ thỏa thuận ngầm với các nước đồng minh ở sau lưng Liên Xô, nên I. A. Xu-xlô-pa-rôp được giao quyền đại biểu cho Liên Xô trong trường hợp bọn phát-xít Đức đầu hàng, và Liên Xô đã thông báo cho các nước đồng minh biết điều đó. Đồng chí mới nhận quyền đã phải đem ra sử dụng ngay và tỏ ra không những sẵn sàng nhận lấy trách nhiệm quan trọng đó mà còn biết bảo đảm lợi ích của Tổ quốc.

Đây là nói đến vấn đề nước Đức Hít-le ký kết đầu hàng ở Rem-xơ ngày 7 tháng Năm 1945, mà tôi sẽ nói tới trong chương “Trên các tuyến cuối cùng ở châu Âu”, ở đây, tôi chỉ nói rằng tình hình lúc đó hết sức gay go, và I. A. Xu-xlô-pa-rốp đã tìm ra cách giải quyết một cách thắng lợi trước tình thế khó khăn bấy giờ.

Phái đoàn quân sự của Liên Xô ở Nam Tư giữ một vị trí rất nổi bật trong công tác của Bộ tổng tham mưu về các vấn đề chuyên môn. Như mọi người đều biết, những người cộng sản và các dân tộc trên đất nước này đã cầm vũ khí đứng lên chống lại bọn chiếm đóng Hít-le. Khi nổ ra cuộc Chiến tranh giữ nước vĩ đại, mối quan hệ hữu nghị anh em giữa những người cộng sản, các dân tộc Liên Xô và Nam Tư càng trở nên vững chắc hơn.

Các chiến sĩ bộ đội và du kích Nam Tư phải chiến đấu trong tình huống rất khó khăn. Do sự cần thiết, họ phải đặt căn cứ trong các vùng rừng núi hẻo lánh, thiếu lương thực và phải chịu đựng những thiếu thốn nặng nề về mọi phương tiện vật chất, trước hết là thiếu trang bị và đạn dược. Thêm nữa, địch lại ra sức gây chia rẽ hận thù giữa các dân tộc trong một quốc gia có nhiều dân tộc, nên càng làm cho tình hình khó khăn hơn.

Thế nhưng, nhân dân đã vượt qua mọi khó khăn đó và đến cuối năm 1943, với sự chi viện của Liên Xô, nhân dân đã làm nên nhiều sự kiện. Ngọn lửa đấu tranh của nhân dân lan rộng khắp nước. Nam Tư tuyên bố là một nước cộng hòa liên bang dân chủ và không cho nhà vua quay trở về đất nước.

Trong quá trình đấu tranh vũ trang chống bọn chiếm đóng, các lực lượng nhân dân kháng chiến đã trở nên vững mạnh hơn. Rồi đến thời kỳ các hình thức chiến tranh du kích chuyển thành các chiến dịch có kế hoạch, các chi đội phân tán trở thành các đơn vị chính quy. Quân đội giải phóng nhân dân Nam Tư bắt đầu được tổ chức cân đối, nhanh chóng ổn định hệ thống cung cấp và huấn luyện. Cơ quan tham mưu các cấp được thành lập và bắt đầu hoạt động có kết quả.

Sau Hội nghị Tê-hê-ran (28 tháng Mười một đến 1 tháng Chạp 1943) Bộ tổng tham mưu nhận được lệnh cử sang Nam Tư một phái đoàn quân sự Liên Xô bên cạnh I. Brốt Ti-tô. Cân nhắc đến việc thời gian này ở Nam Tư không phải chỉ có đấu tranh vũ trang, mà còn đang tiến hành xây dựng lại các lực lượng vũ trang trên cơ sở chính quy, nên quyết định chọn người trưởng phái đoàn phải là một đồng chí giàu kiến thức về nghệ thuật quân sự và xây dựng quân đội

Người được lựa chọn là tướng N. V. Coóc-nê-ép, nguyên cán bộ giảng dạy Học viện Bộ tổng tham mưu. Tôi đã học tập được ở đồng chí và có thể nói sự chọn lựa này rất đúng. N. V. Coóc-nê-ép đang ở tuổi bốn mươi ba. Đồng chí là một cán bộ thành thạo về công tác quân sự và, ngoài các mặt khác, còn kết hợp được cả sự dũng cảm của cá nhân với tính thận trọng, một đức tính thật rất cần thiết trong hoàn cảnh ở Nam Tư vào thời gian ấy. Phó trưởng đoàn là đại tá X. V. Xô-cô-lốp bốn mươi tuổi, một cán bộ giàu kinh nghiệm, thông thạo những hoạt động về không quân trong điều kiện chiến trường rừng núi.

Ngày 17 thảng Giêng 1944, hai phi công A. X. Soóc-ni-cốp và Lê-bê-đép đã lái hai chiếc máy bay chở phái đoàn quân sự từ Mát-xcơ-va bay qua A-xtơ-ra-khan, Tê-hê-ran, Kháp-ba-nhi-a, Lơ Ke, Tuy-ni đến thành phố Ba-ri nước I-ta-li-a. Tại đây, ở điểm “mút" của bán đảo A-pen-nin có một căn cứ không quân của Anh. Và từ đó, phái đoàn sẽ bay tới vùng rừng núi Bô-xni-a nơi đặt căn cứ của Bộ tham mưu tối cao Quân đội giải phóng nhân dân Nam Tư.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 01 Tháng Tám, 2011, 12:32:59 pm
Phái đoàn Liên Xô được các đơn vị quân Anh đồng minh đón tiếp chu đáo ở Ba-ri, ở đây có sân bay tốt, các kho tàng cần thiết và các phương tiện thông tin. Sau này, theo đề nghị của Chính phủ Liên Xô, toàn bộ căn cứ ấy được chuyển giao cho các Lực lượng vũ trang Liên Xô, vì sự chi viện của Liên Xô cho Quân đội giải phóng nhân dân Nam Tư được tiến hành rất rộng. Trước lúc thành lập mặt trận Liên Xô trên đất Nam Tư, mọi dụng cụ chiến tranh đều chở tới đây bằng đường không bay qua A-đri-a-tích. Các nước đồng minh cùng tham gia vào hoạt động này, họ có những căn cứ khác, được thiết bị tốt hơn.

Thế nhưng, tới được Nam Tư không phải không có khó khăn. Các nhà cầm quyền quân sự Anh mà đại biểu là phó thống chế không quân E-li-ớt đã tìm mọi cách làm chậm trễ việc cất cánh của các máy bay Liên Xô. Họ viện các lý do: nào sương mù trên biển A-đn-a-tích, nào tuyết xuống dày không thể hạ cánh xuống khu vực đã định. Họ lần lữa ngày này sang ngày khác...

Mặc dầu vậy, những người chỉ huy đầy nhiệt huyết của Liên Xô đề nghị vẫn cứ bay, dù là mạo hiểm. N. V. Coóc-nê-ép lệnh cho các cán bộ trong đoàn hàng ngày luyện tập các phương pháp đổ bộ bằng tàu lượn và nhảy dù (nếu không bảo đảm đổ bộ bằng tàu lượn được). Tất nhiên, phải nói rằng như vậy cũng mạo hiểm, song không đến nỗi quá lớn. Mát-xcơ-va cho phép làm như vậy.

Ngày 23 tháng Hai 1944 - Ngày kỷ niệm thành lập Hồng quân, phái đoàn quân sự của Liên Xô đổ bộ bằng tàu lượn thành công. Từ đó, tướng Coóc-nê-ép và các sĩ quan trong phái đoàn lúc nào cũng ở liền bên Bộ tham mưu tối cao Quân đội giải phóng nhân dân Nam Tư. Các đồng chí đã chia sẻ với các bạn Nam Tư mọi nỗi gian truân trong chiến tranh và những niềm vui khi chiến thắng quân chiếm đóng Hít-le.

X V. Xô-cô-lốp ở lại Ba-ri. Thuộc quyền đồng chí tại căn cứ này (như đã nói ở trên là ít lâu sau, căn cứ ấy đã chuyển sang cho chúng ta) có hai phi đội - phi đội vận tải và phi đội tiêm kích, mỗi phi đội có 12 máy bay. Các phi đội có nhiệm vụ chuyên chở hàng - trang bị, đạn dược, thuốc men - cho Quán đội giải phóng nhân dân Nam Tư, chở các cán bộ chỉ huy và quân y tới đó rồi chở các thương binh về.

Công việc ngập tới tận cổ. Chỉ một điều này thôi cũng đủ nói lên tất cả: các phi công Liên Xô đã chuyên chở tới hơn 5000 người, chỉ tính riêng các chiến sĩ và sĩ quan Nam Tư, bay qua trận tuyến tới các vùng chiến đấu khác nhau. Ngoài ra, còn rất nhiều nhiệm vụ khác nữa hoàn toàn đột xuất, ví như cứu Bộ tham mưu tối cao Quân đội giải phóng nhân dân Nam Tư và cá nhân đồng chí I. Brốt Ti-tô vượt khỏi tình thế hiểm nghèo. Các phi công buộc phải bay ở ngoài biển, ở những vùng rừng núi trong các khu vực rất khác nhau của đất nước. Hàng hóa được chở đến Tséc-nô-gô-ri-a, Xéc-bi-a, Bô-xni-a, Đan-ma-xi-a, Ma-kê-đô-ni-a, Xlô-ve-ni-a, và Khoóc-va-ti-a, phải bay vào đất nước An-ba-ni và Hy Lạp.

X. V. Xô cô-lốp cũng như N. V. Coóc-nê-ép nhiều lần còn phải độc lập hạ những quyết tâm quan trọng, như: trong tháng Sáu 1944, làm phá sản âm mưu địch định dùng biệt kích thủ tiêu ban lãnh đạo các đơn vị Quân đội giải phóng nhân dân ở Đrva-rơ mà dưới đây chúng ta sẽ nói tới. Đồng chí phụ trách căn cứ đã phải bay nhiều lần tới các khu vực dự kiến các máy bay Liên Xô sẽ hạ cánh để xác định tại chỗ các điều kiện hạ cánh và chỉ sau đó mới hạ lệnh. Toàn thể các đồng chí đóng tại căn cứ Ba-ri của Liên Xô đã đoàn kết nhất trí với nhau trên tình đồng chí và tình bạn. Các phi công, nhân viên kỹ thuật và phục vụ. mặc dầu phải ở xa Tổ quốc, song đều nhận rõ trách nhiệm và vinh dự của những người con của thế giới xã hội chủ nghĩa vĩ đại, đã hoàn thành một cách xứng đáng nhiệm vụ chiến đầu nặng nề của mình cho tới ngày chấm dứt chiến tranh.

Trong Bộ tham mưu của tư lệnh đạo quân viễn chinh các nước đồng minh ở Địa Trung Hải cũng có phái đoàn quân sự của Liên Xô do thiếu tướng A. A. Ki-xlen-cô đứng đầu. Vào giai đoạn cuối cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai, lúc kết thúc việc tiêu diệt đế quốc Nhật, trong Hạm đội Mỹ ở Thái Bình Dương cũng có tổ sĩ quan liên lạc của Liên Xô, đứng đầu là thiếu tướng hải quân I-va-nốp-xki.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 01 Tháng Tám, 2011, 12:33:45 pm
Sau Hội nghị Tê-hê-ran, sự hiệp đồng giữa các Lực lượng vũ trang Liên Xô và các nước đồng minh phát triển rộng rãi hơn. Như chúng ta biết, vấn đề rất quan trọng là mở mặt trận thứ hai ở châu Âu cuối cùng đã được giải quyết. Tôi đã viết trong cuốn sách trước đây là hồi đó tôi có dịp được phục vụ công tác cho Tổng tư lệnh tối cao tại Tê-hê-ran và tổ chức liên lạc hàng ngày giữa đồng chí với Bộ tổng tham mưu và các phương diện quân.

Đoàn đại biểu Liên Xô giữ vai trò hết sức quan trọng trong cuộc hội nghị này. Các cuộc hội đàm được tiến hành trong sứ quán Liên Xô đủ cho thấy rõ ý nghĩa thắng lợi của các Lực lượng vũ trang chúng ta thật vĩ đại biết chừng nào. Kết quả các bước ngoặt cơ bản trong chiến tranh chúng ta đã giành được ở Xta-lin-grát và Cuốc-xcơ, ở Khác-côp và Ki-ép. Ở Đni-ép-rơ và Xô-giơ, như sờ thấy, như trông thấy: đó là nguyên nhân chủ yếu để các nước đồng minh ngồi vào bàn tròn hội nghị và thỏa thuận việc mở mặt trận thứ hai.

Hoàn toàn rõ ràng là các chiến sĩ xô-viết có thể đơn phương đánh tan bọn phát-xít Hít-le và các nước đồng minh sẽ trở thành những kẻ chậm chân, đứng ở phía sau. Hồi đó, đoàn đại biểu Liên Xô đã đập tan ý định phản động của Sớc-sin về “phương án Ban-căng”, là phương án tiến công ở vùng Ban-căng của các đơn vị quân đông minh phương Tây. Chúng ta đòi phải tiến hành kế hoạch đổ bộ có hiệu quả hơn và có tầm quan trọng về chính trị của quân đội Anh - Mỹ vào lãnh thổ Pháp.

Hội nghị Tê-hê-ran là kết quả rực rỡ của những chiến thắng vẻ vang của Quân đội Liên Xô năm 1943 và đồng thời cũng lả bước đầu quyết định các đòn tiến công trí mạng hiệp đồng với nhau theo một ý định chung của các đơn vị trong khối liên minh chống Hít-le trên các mặt trận châu Âu vào năm sau.

Nửa năm 1944 về sau, khi các Lực lượng vũ trang Liên Xô đã triển khai cuộc hành binh giải phóng vĩ đại ra các nước ngoài và mặt trận thứ hai đã mở thì vấn đề hiệp đồng giữa các lực lượng trong khối liên minh bắt đầu được giải quyết một cách thiết thực với đầy đủ nội dung của nó. Do đó, Bộ tổng tham mưu cũng có thêm việc.

Hàng ngày, chúng ta phải thông báo cho các nước đồng minh về tình hình ngoài mặt trận của các đơn vị quân ta, xác định các mục tiêu và tuyến tập kích bắn phá của không quân Liên Xô và không quân đồng minh, phối hợp thời hạn hành động và hướng nỗ lực của các đơn vị và hạm đội. Chúng ta đã dành một số sân bay ở khu vực Pôn-ta-va để không quân Anh - Mỹ từ I-ta-li-a và Anh bay sang bắn phá các mục tiêu của địch.

Các cuộc hội đàm giữa A. I. An-tô-nốp, N. V. Xla-vin và nhiều cán bộ trong Bộ tổng tham mưu với các đại biểu, các trưởng phái đoàn của các đoàn đại biểu các nước đồng minh và từng cá nhân, đã trở thành bộ phận hợp thành thường lệ trong kế hoạch công tác của chúng ta. Những vấn đề thỏa thuận với nhau trong các lần hội đàm ấy đều được gửi lên để Đại bản doanh quyết định.

Cơ quan cao nhất của khối liên minh các nước chống Hít-le là hội nghị những người lãnh đạo ba nước lớn, đề ra những giải pháp chủ yếu quyết định tính chất, thời gian và lực lượng các chiến dịch sắp tới của các lực lượng vũ trang, hướng đột kích chủ yếu của quân đội các nước đồng minh.

Ngoài sự kiện Tê-hê-ran đã được chúng ta nói tới, còn có Hội nghị Crưm và Hội nghị Pốt-xđam. Hai hội nghị trên được tiến hành từ ngày 4 đến hết ngày 11 tháng Hai và từ ngày 17 tháng Bảy đến hết ngày 2 tháng Tám 1945.

Ở Hội nghị Crưm, ba nước bàn việc phối hợp các kế hoạch chiến lược, sau này đã được thực hiện nghiêm chỉnh. A. I. An-tô-nốp đọc báo cáo phân tích tình hình quân sự và những dự kiến sau này. Tổng tham mưu trưởng của hai nước Anh và Mỹ (trong bộ ba nước lớn) cũng đọc những báo cáo như vậy.

Bộ tổng tham mưu Liên Xô bày tỏ lòng mong muốn rằng quân đội các nước đồng minh cần tính đến sự suy yếu của các lực lượng Hít-le ở phía Tây khi Hồng quân tiến tới sông Ô-đe để chuyển sang tiến công trong nửa đầu tháng Hai 1945. Các phiên họp tại Cung Li-va-đi-a còn xác định cả thời gian và điều kiện Liên Xô bước vào tuyên chiến với Nhật.

Cuối cùng, Hội nghị Pốt-xđam đã vạch ra chính sách chung của các nước tham gia khối liên minh chống Hít-le trong vấn đề nước Đức. Đó là điểm trung tâm của các buổi hội đàm. Cũng trong Hội nghị Pốt-xđam này, Chính phủ Liên Xô đã xác nhận trách nhiệm của mình tuyên chiến với nước Nhật. Bọn giặc quân phiệt bị tiêu diệt, các dân tộc bị bọn chiếm đóng Nhật nô dịch được giải phóng đã đánh dấu việc chấm dứt Chiến tranh thế giới thứ hai.

Ngoài ra, các vấn đề cấp bách của chiến tranh, chẳng hạn vấn đề chiến dịch của các lực lượng vũ trang, được giải quyết bằng cách trao đổi thư từ với nhau. Ví như sự kiện mùa đông năm 1945, khi các nước đồng minh bị nguy khốn ở Ác-đen. Hồi đó, dựa vào bức thông điệp của U. Sớc-sin gửi cho chúng ta kết thúc bằng câu: “Tôi thấy tình hình cấp bách lắm rồi”, chúng ta đã quyết định mở sớm chiến dịch Vi-xla – Ô-đe. Các đơn vị quân ta nổ súng tiến công ngày 12 tháng Giêng 1945.

Bộ tổng tham mưu đã chuẩn bị tài liệu về các vấn đề quân sự cho vị đứng đầu Chính phủ Liên Xô trong tất cả ba cuộc hội nghị ấy.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 01 Tháng Tám, 2011, 12:34:36 pm
*
*   *

Bộ tổng tham mưu giải quyết nhiều vấn đề quan trọng, bảo đảm cho Bộ tổng tư lệnh tối cao chỉ huy các đơn vị trên mọi mặt trận. Công việc đó bắt đầu từ lúc chuẩn bị các kiến nghị về quyết định và kết thúc bằng việc kiểm tra các đơn vị thực hiện quyết định đó. Đi đôi với những công việc to lớn, quan trọng và tỉ mỉ nhằm thu thập và nghiên cứu các tin tức tình huống, cơ quan tham mưu đã tổ chức và giữ vững thông tin liên lạc, bảo đảm thông suốt liên tục với các đơn vị.

Bảo đảm được bí mật việc chỉ huy các đơn vị cùng là một mặt hoạt động rất quan trọng của Bộ tổng tham mưu. Các mã, các bộ mật mã bảo đảm giữ gìn bí mật, do một cơ quan đặc biệt phụ trách.

Tôi rất biết ơn mỗi khi nhớ tới thượng úy P. X. Ba-clư-cốp, người đã đi công tác cùng với tôi đến các mặt trận. Đồng chí cũng chính là người đã bảo đảm công tác thông tin quân sự bằng mã trong thời gian Hội nghị Tê-hê-ran. Năm 1970, do một sự tình cờ, tôi được gặp lại P. X. Ba-clư-cốp (bấy giờ là đại tá) và hai chúng tôi sung sướng ôn lại những ngày đã qua.

Từ cuối năm 1944, đối với Bộ tổng tham mưu, nhiệm vụ chỉ huy có phần nào phức tạp thêm, vì chế độ đại diện của Đại bản doanh bắt đầu thu hẹp lại rất nhiều.

Bạn đọc còn nhớ là trong năm đầu cuộc Chiến tranh giữ nước vĩ đại, chúng ta đã thấy cần thiết phải có đại diện của Đại bản doanh ở các mặt trận và từ đó, công tác của các đồng chí đại diện tuy chỉ là một yếu tố lâm thời song lại hết sức quan trọng trong việc chỉ đạo chiến lược. Nhưng đến trước khi kết thúc chiến tranh lại đặt ra vấn đề: có nên duy trì khâu chỉ đạo này không? Ngoài các mặt trận, công việc tiến hành thắng lợi, các đồng chí tư lệnh đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm.

Nhưng cũng nảy sinh ra sự hoài nghi là liệu Đại bản doanh có thể từ Mát-xcơ-va trực tiếp chỉ đạo các hành động chiến đấu với quy mô to lớn ở các mặt trận trên bộ và ngoài biển không? Nếu xảy ra những bước ngoặt bất ngờ trong quá trình chiến tranh, thì Đại bản doanh liệu có bị mất tay lái chỉ đạo các lực lượng vũ trang hay không?

Phải nói rằng, đây là vấn đề I. V. Xta-lin đặt ra khi Bộ tổng tham mưu báo cáo lên đồng chí dự thảo ban đầu về kế hoạch mở các chiến dịch trong chiến cục kết thúc chiến tranh. A. I. An-tô-nốp xin thêm thời gian để suy nghĩ. Tổng tư lệnh tối cao thông cảm với đề nghị của An-tô-nốp, nhưng cũng đặt câu hỏi đó cho Gh. C. Giu-cốp.

Đồng chí Giu-cốp cho rằng trong giai đoạn này, không có đại diện của Đại bản doanh cũng có thể làm trọn các nhiệm vụ, vì: số lượng các phương diện quân đã giảm bớt, tuyến trận đã thu hẹp, sự chỉ đạo các phương diện quân từ Trung ương đã ổn định và nghệ thuật chỉ huy của các đồng chí tư lệnh đã trưởng thành. Tình hình đó, theo ý kiến đồng chí, cho phép chỉ huy vững chắc các phương diện quân, mà không cần có đại diện của Đại bản doanh.

Như mọi lần gặp những trường hợp như vậy, An-tô-nốp liền bắt liên lạc ngay với Tổng tham mưu trưởng A. M. Va-xi-lép-xki. Lúc này, đồng chí đang ở Pri-ban-tích. Hai người trao đổi ý kiến với nhau. Bộ tổng tham mưu chưa đồng ý giải thể triệt để ngay chế độ đại diện Đại bản doanh với nhiều lý do: tuyến các mặt trận mặc dù đã được thu hẹp song hãy còn tới trên 2000 ki-lô-mét; thêm nữa là trong chiến cục mùa đông lại phải tổ chức tiến công trên khắp các mặt trận. Sở chỉ huy của các phương diện quân và tập đoàn quân ở cách nhau quá xa. Tình huống trên các khu vực ngoài mặt trận lại rất khác nhau và có lúc phải thay đổi về cơ bản (ví như ở Ba-la-tông). Do đó, Bộ tổng tham mưu cho rằng, chỉ có thể bãi bỏ đại diện của Đại bản doanh trong những trường hợp cá biệt, khi sự chỉ đạo từ Trung ương được bảo đảm chắc chắn hoàn toàn.

Tổng tư lệnh tối cao đứng về phía Bộ tổng tham mưu. Đồng chí bãi bỏ chế độ đại diện Đại bản doanh trên hướng chủ yếu - hướng chiến lược phía Tây và trực tiếp nắm quyền chỉ đạo các phương diện quân. Nguyên soái Liên Xô X. C. Ti-mô-sen-cô được giữ lại làm đại diện của Đại bản doanh ở các phương diện quân U-cra-i-na 2 và 3 (chỉ lệnh của Đại bản doanh ngày 21 tháng Giêng 1945, số 11012).

Đồng chí A. M. Va-xi-lép-xki làm đại diện của Đại bản doanh ở các phương diện quân Pri-ban-tích 1 và 2. Nhân đây, cần nói thêm rằng các báo cáo của đồng chí gửi Đại bản doanh về tình hình ở các mặt trận và các đề nghị hành động ở các đơn vị thật hết sức rõ ràng và đầy đủ. Sau khi A. M. Va-xi-lép-xki trở về Mát-xcơ-va trong một thời gian ngắn thì đại diện của Đại bản doanh ở các phương diện quân Pri-ban-tích này là Nguyên soái Liên Xô L. A. Gô-vô-rốp, “kiêm” tư lệnh phương diện quân Lê-nin-grát (chỉ lệnh của Đại bản doanh ngày 2 tháng Hai 1945, số 11018).

Cuộc sống đã khẳng định tính đúng đắn của chỉ lệnh đó.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 01 Tháng Tám, 2011, 12:35:27 pm
*
*   *

Còn nhiều cơ quan khác, chẳng hạn như cơ quan giao thông quân sự, cũng đã giữ vai trò rất quan trọng trong công tác của Bộ tổng tham mưu. Việc điều động, bố trí lại các đơn vị, cấp phát dự trữ vật chất, đưa về phía sau, sẽ vô nghĩa nếu không có công tác giao thông quân sự biết tổ chức thật ăn khớp, thật chính xác.

Mọi công tác điều động, vận chuyển các lực lượng và phương tiện bằng đường sắt, đường thủy, đường không và đường bộ đều do cơ quan tham mưu phụ trách. Cơ quan tham mưu đặt kế hoạch sẽ vận chuyển đi những đâu, vận chuyển những thứ gì và bằng hình thức nào, đến thời hạn nào phải vận chuyển xong, còn các cơ quan chuyên môn phụ trách các mặt công tác này là những đơn vị thực hiện kế hoạch. Các cơ quan ấy còn tổ chức công tác cảnh bị trên khắp các tuyến đường giao thông.

Ngoài cơ quan giao thông quân sự trong mọi bộ tham mưu lớn, kể từ Bộ tổng tham mưu, còn có các cơ quan phụ trách việc đặt kế hoạch bảo đảm cho bộ đội trang bị, đạn dược, khí tài, xăng dầu, lương thực và tất cả các phương tiện cần thiết khác.

Nhưng, đây lại không phải là những cơ quan cung cấp. Các cơ quan này không có kho tàng, không có căn cứ và phương tiện vận chuyển. Trong tay họ chỉ có các văn kiện - các kế hoạch, bảng tính, thông báo (bây giờ cả máy tính).

Tài sản chủ yếu nhất của các cơ quan ấy là kỹ năng của những con người thông thạo công việc của mình. Họ hạch toán mọi hình thức bảo đảm vật chất, họ biết trong các kho tàng có những thứ gì và nền công nghiệp sản xuất được loại sản phẩm nào. Ở đây, họ còn soạn thảo cả những kế hoạch lâu dài, lên kế hoạch yêu cầu, đề nghị phê chuẩn các bảng tính phân phối các nguồn dự trữ vật chất.

Tóm lại, các cơ quan bảo đảm vật chất cho bộ đội nắm trong tay cơ sở khả năng chiến đấu của quân đội. Người cán bộ tác chiến có thể vạch ra kế hoạch tổ chức chiến dịch đầy hứa hẹn, nhưng nếu không tính hết các khả năng vật chất, thì chiến dịch cũng chỉ còn là những mũi tên đẹp đẽ trên bản đồ và sẽ không thực hiện được.

Chúng tôi, những cán bộ tác chiến, hiểu rất rõ ý nghĩa của các mối quan hệ đúng đắn với tất cả những cơ quan ấy, đã cố gắng giúp đỡ họ; còn về phần mình, họ cũng đã làm tất cả những gì để đáp ứng những yêu cầu của các cán bộ tác chiến sao cho thật tốt hơn, không chút chậm trễ. Bởi lẽ đó, nên từ ấy giữa chúng tôi không phải chỉ có tình đoàn kết chặt chẽ trong công tác, mà còn có tình bạn nồng hậu và vững chắc của những con người.



Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 01 Tháng Tám, 2011, 12:36:07 pm
*
*   *

Những công việc chính thường không tránh khỏi hay kèm theo những sự việc bận bịu khác, mà có lúc chúng ta hoàn toàn không dự kiến hết được, nhất là những sự việc xảy ra sau khi đã kết thúc chiến tranh. Ví dụ như sự việc dưới đây.

Sau chiến tranh được ít lâu, chúng ta quyết định mời thống chế tư lệnh Môn-tơ-gô-mê-ri sang thăm chính thức Liên Xô, ông ta là một nhà chỉ huy quân sự có danh tiếng nhất nước Anh, hồi ấy được phong công tước En A-la-mây. Thời gian sang thăm đã thỏa thuận với nhau từ lâu, cuối cùng quyết định gặp vào tháng Giêng 1947.

Ngay trong ngày đầu, Môn-tơ-gô-mê-ri sẽ đến thăm chính thức Nguyên soái Liên Xô A. M. Va-xi-lép-xki, Tổng tham mưu trưởng. Chúng tôi định sẽ biếu Môn-tơ-gô-mê-ri một tặng phẩm của nước Nga để làm kỷ niệm. Chúng tôi suy nghĩ khá lâu, cố tìm bằng được một vật kỷ niệm tặng cho vị khách có chức tước cao, nhưng dường như các tặng phẩm thông thường của dân tộc xem ra chưa thích hợp. Hơn nữa hồi đó người ta có làm vật kỷ niệm đặc biệt đâu.

Rốt cuộc, một đồng chí nảy ra ý nghĩ may cho ông ta một kiểu quân phục Nga, áo khoác bằng da thuộc lông sóc và mũ trùm cấp tướng bằng lông cừu xám. Chúng tôi tán thành ý kiến ấy và cho đặt may áo mũ. Môn-tơ-gô-mê-ri sang thăm thì các thứ ấy cũng vừa may xong và để ở trong phòng viên tướng đặc nhiệm M. M. Pô-ta-pốp.

Cuối cùng viên thống chế đến và bước vào căn phòng tiếp đón, ở đây có mặt A. M. Va-xi-lép-xki, A. I. An-tô-nôp, N. V. Xla-vin và tác giả của những dòng này, hồi ấy được phân công đi cùng với Môn-tơ-gô-mê-ri tới thăm Học viện Bộ tổng tham mưu. Chào hỏi nhau xong, chúng tôi đi vào hội đàm. Sau đó là ấn định chương trình ở lại thăm.

Môn-tơ-rô-mê-ri muốn tỏ ra có những nét độc đáo riêng của mình, hay vì những lý do nào đấy, nói là ngày làm việc của ông ta bắt đầu từ 6 giờ sáng đến 9 giờ tối thì đi nghỉ. Ông ta vẫn duy trì chế độ làm việc như thế ngay trong suốt cả thời gian chiến tranh, kể cả những lúc khó khăn nhất. Chúng tôi hứa sẽ giữ vững thời gian đó cho ông ta, song vẫn thầm nghĩ là trong chiến tranh làm sao có thể giữ chế độ làm việc như vậy được! Theo chúng tôi hiểu, trong thời gian chiến tranh, chỉ có thể ngủ được lúc tình hình cho phép. Tất cả chúng tôi đều làm như vậy.

A. M. Va-xi-lép-xki nói ngắn vài lời nhân dịp ông ta sang thăm, rồi trao tặng ông ta chiếc áo khoác và mù trùm. Môn-tơ-gô-mê-ri rất vừa lòng với món quà ấy, ông ta ngắm nghía thật lâu, rồi hỏi có đúng áo làm bằng da sóc thật không và ước giá là bao nhiêu. Chúng tôi không ai có thể trả lởi về giá cả bộ áo này được nên tôi lại phải đi gọi dây nói ngay để hỏi giá.

Sau đó, Môn-tơ-gô-mê-ri có ý định mặc áo và đội mũ luôn. Hóa ra lúc mặc áo mới thấy, mũ trùm thì vừa, còn áo khoác lại quá dài. Phải nói là “kích thước xác thực” cần cho người thợ may mà chúng tôi nhận được thật khác hẳn với thực tế. Vị thống chế người Anh, vốn không có vóc dáng con người hiệp sĩ, thùng thình trong chiếc áo khoác ngoài.

A. M. Va-xi-lép-xki nói để ông ta yên tâm: 

- Việc này sẽ xong ngay thôi. Sáng mai chúng tôi sẽ đem lại cho ngài chiếc áo thật như ý.

Thế nhưng viên thống chế lại không ưng như vậy, ông ta muốn sửa áo ngay tại đây và ông ta nán lại chờ. Tất cả chúng tôi băn khoăn nhìn nhau.

- Stê-men-cô, đồng chí cho lệnh đi mời ngay thợ may đến đây - A. M . Va-xi-lép-xki nói với tôi.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 01 Tháng Tám, 2011, 12:37:03 pm
Tôi bước ra. Bốn mươi phút sau, xe chở thợ may cùng với máy khâu đến, và người thợ may đã ngồi máy, thử áo, ngay trong phòng tiếp khách của Tổng tham mưu trưởng.

Trong khi ấy, phần thăm hỏi xã giao chính thức đã xong, mọi người bắt đầu chuyện trò thân mật với nhau. Chúng tôi nhớ lại công việc những ngày qua. Môn-tơ-gô-mê-ri say sưa kể cho chúng tôi nghe chiến dịch En A-la-mây, nơi ông ta đã đánh thắng Rôm-men. Chúng tôi uống cà phê đen lượt thứ ba thì thợ may sửa xong áo, thử lại một lần nữa, và bây giờ áo thật vừa vặn. Môn-tơ-gô-mê-ri hỉ hả, mặc nguyên cả áo như vậy ra về.

Hôm sau, tôi cùng đi với ông ta đến Học viện Bộ tổng tham mưu. Thăm các giảng đường và các phòng thí nghiệm xong, Môn-tơ-gô-mê-ri bước lên bục giảng bài cho học viên về chiến dịch En A-la-mây. Bắt đầu giảng được mấy phút, thì hai sĩ quan Anh bỗng đứng lên phát tài liệu cho tất cả những người có mặt. Vấn đề này không nằm trong chương trình, tôi lo lắng: tại sao họ lại phát tài liệu bất ngờ như vậy, họ viết những gì trong đó.

Tôi cầm lấy một tờ, lệnh cho đống chí phiên dịch ngồi bên đọc nghe. Té ra là, tài liệu cũng nói về En A-la-mây nhưng miêu tả ngắn gọn... Tôi nghĩ: những người chỉ huy của ta, như Gh. C. Giu-cốp hoặc I. X. Cô-nép chẳng hạn, thì sẽ phải dùng đến biết bao nhiêu tài liệu theo kiểu như thế với bao nhiêu trang in nữa vì dưới sự chỉ đạo của các đồng chí, chúng ta đã giành biết bao thắng lợi huy hoàng, về quy mô và kết quả còn vượt gấp mấy lần hơn thắng lợi ở En A-la-mây!

Trước khi thống chế Môn-tơ-gô-mê-ri về nước, I. V. Xta-lin tổ chức mời cơm thân mật, có chừng hai mươi người đến dự. Đến giờ đã định, chúng tôi, các cán bộ quân đội và các đại biểu của Bộ ngoại giao đã tề tựu trong Cung lớn điện Crem-li. Còn 5 phút nữa bắt đầu, vẫn chưa thấy Môn-tơ-gô-mê-ri đến. Chúng tôi gọi điện tới biệt thự của ông ta, thì được trả lời là ông ta đã ra đi rồi. Liền ngay đó, cửa mở, Môn-tơ-gô-mê-ri bước vào phòng khách, mặc cả áo khoác lẫn mũ trùm, tặng phẩm của chúng tôi.

- Sao lại thế nhỉ? - tôi chạy tới hỏi các sĩ quan Liên Xô đi cùng với ông ta. - Sao các đồng chí không để ông ta cởi áo khoác ở phòng ngoài?

- Ông ta kiên quyết từ chối, - các đồng chí trả lời như vậy.

Như nhận thấy băn khoăn, bối rối của những người có mặt, viên thống chế nói:

- Tôi muốn để Đại nguyên soái Xta-lin thấy tôi mặc bộ quân phục Nga.

Lúc này, I. V. Xta-lin và các thành viên trong Chính phủ bước vào. Môn-tơ-gô-mê-ri nói cho Xta-lin nghe lại câu chuyện vừa qua. Xta-lin cả cười và đề nghị chụp chung với ông ta bức ảnh. Sau đó, Môn-ti (tên người Anh gọi ông ta) cởi áo khoác và ngồi vào bàn.

Ngày hôm sau, chúng tôi ra sân bay trung ương tiễn Môn-tơ-gô-mê-ri, ông ta cũng vẫn mặc bộ quân phục Nga đó, nhận báo cáo của đồng chí đội trưởng đội danh dự rồi lên máy bay. không chịu cởi áo khoác ngoài - tặng phẩm của chúng tôi...


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 01 Tháng Tám, 2011, 12:38:14 pm
*
*   *

Công tác ở Bộ tổng tham mưu trong những năm chiến tranh thật đã ngốn hết mọi thời gian của một con người. Nó không dành cho chúng tôi một chút thời gian, một chút sức lực nào để làm các công việc khác. Chẳng còn ai dám phí phạm đến số thì giờ còn lại để nghỉ ngơi. Chúng tôi quý trọng từng phút một và học cách hễ đặt mình là ngủ liền.

Thậm chí đến lúc vận mệnh quân địch như đã được quyết định sẵn rồi, mà các cán bộ của Bộ tổng tham mưu vẫn sống như trước kia trong ngôi nhà làm việc và thực hiện cái vòng quay khép kín hàng ngày của mình là từ ngôi nhà làm việc sang nhà ăn, từ nhà ăn lại trở về nhà làm việc, từ chỗ làm việc sang võng ngủ, và từ võng ngủ lại đến nhà làm việc.

Không còn lấy một chút thì giờ rảnh, nếu như không có cái việc cắt tóc. Ở đây có gương soi, có áo choàng trắng sột soạt, mắt được nghỉ ngơi, và tay người thợ cạo mềm mại, mơn man mái tóc, nên nhiều đồng chí... đã “gật gù”. Chúng tôi nghỉ ngơi được một lát theo kiểu như vậy, mặt mày tươi tỉnh, tóc cắt sạch sẽ nhẹ nhàng, hút điếu thuốc thế rồi lại lao sang phòng làm việc.

Sau chiến tranh, thời gian biểu làm việc hàng ngày của Bộ tổng tham mưu vẫn tiếp tục khắc nghiệt như vậy. Thời gian yêu cầu phải như thế, đất nước và các Lực lượng vũ trang đã chuyển sang thời bình song mối lo âu và tình trạng sẵn sàng chiến đấu vẫn chưa qua. Nước Mỹ đang đem bom nguyên tử ra hăm dọa.

Giống như trong những năm chiến tranh, I. V. Xta-lin hầu như không dành cho mình một thời gian rảnh nào. Đồng chí sống cốt để làm việc, vẫn không thay đổi thói quen thường làm việc đến tận 3-4 giờ sáng, có khi còn muộn hơn và đến 10 giờ, lại bắt tay vào làm việc. Đồng chí yêu cầu những người làm việc với đồng chí, trong đó có Bộ tổng tham mưu, cũng phải giữ chế độ làm việc như vậy.

Chúng tôi thường đi tới điện Crem-li và “biệt thự gần thành phố” của đồng chí để báo cáo các vấn đề quốc phòng. Tôi có thể nói rằng, giờ nghỉ ngơi của Xta-lin còn lại rất ít. Sau chiến tranh cũng vẫn vậy.

Ngoài những buổi hòa nhạc và biểu diễn sân khấu ngày lễ thường tổ chức sau các hội nghị trọng thể, I. V. Xta-lin không đi dự ở đâu hết. “Sân khấu” ở nhà đồng chí là giờ phát thanh ca nhạc và nghe máy quay đĩa. Phần lớn các đĩa hát mới gửi đến, đồng chí đều lấy ra nghe trước và đánh giá ngay. Trên mỗi đĩa hát đều ghi chữ viết tay của đồng chí: “đạt”, “khá”, “tạm được”, “tồi”.

Ở nhà ăn, trong chiếc tủ nhỏ và trên mặt bàn đặt gần chiếc quay đĩa tự động theo kiểu chiếc tủ, do nhân dân Mỹ tặng I. V. Xta-lin năm 1945, chỉ để lại những đĩa hát có ghi “tốt” và “khá”, còn những đĩa khác, đồng chí cất đi. Ngoài máy quay đĩa chạy điện, còn có chiếc máy quay đĩa chạy dây cót sản xuất ở trong nước. Chủ nhân tự đặt nó ở chỗ nào là tùy theo ý mình.

Ngoài ra, chúng tôi được biết, đồng chí thích đánh “gô-rốt-ki” (“gô rốt-ki” - trò chơi có quân tiện hình trụ bằng gỗ, dùng gậy đánh trúng, bật vào ô là thắng cuộc. - ND. ). Mỗi ván chia ra độ 4-5 người chơi, tất nhiên là tùy thích của mỗi người. Những người còn lại đứng ngoài “cố vũ” ồn ào. Thường chơi 10 quân tất cả. Bắt đầu đi quân “pháo". Những người thua cuộc có lúc bị châm chọc khá nhộn và Xta-lin cũng không bỏ lỡ những cơ hội châm chọc ấy. Đồng chí chơi không giỏi lắm, song rất say mê. Mỗi lần đánh trúng, đồng chí rất vui, thường nói: “đấy, có cừ không”, và mỗi khi đánh trượt, đồng chí lại móc diêm trong túi châm thuốc và rít mạnh hơi thuốc.

Xung quanh “biệt thự” của đồng chí, chúng ta không thấy có bồn hoa, cây cảnh, không có cả những lùm cây, hoặc cây được cắt tỉa cho đẹp mắt. I. V. Xta-lin thích tự nhiên phải được tự nhiên, không có bàn tay người đụng đến. Xung quanh nhà là rừng cây - lá nhọn sum sê - chỗ nào cũng um tùm không thấy vết rìu đẵn.

Gần nhà, các tổ chim và tổ sóc nằm trên những thân cây trọc không lá. Đây đúng là vương quốc của loài chim. Bàn thức ăn cho chim đặt ở những khoảng trống trong vườn. Hàng ngày, Xta-lin ra đấy cho chim ăn.

Kết thúc chương này, tôi muốn nhấn mạnh rằng, chuyện của tôi về những con người ở các cục trong Bộ tổng tham mưu mà tôi với tư cách cán bộ tác chiến, có dịp quan hệ chặt chẽ trong những năm chiến tranh, tất nhiên không thể nào kể cho hết được. Những con người ấy, hoàn thành một công tác hết sức to lớn, phức tạp và nặng nề, bảo đảm cho Đại bản doanh và Tổng tư lệnh tối cao chỉ đạo các hành động quân sự. Lòng yêu nước của các cán bộ trong Bộ tổng tham mưu, trí tuệ và kiến thức tuyệt vời, tinh thần lao động quên mình không biết mỏi của các đồng chí đã phục vụ cho sự nghiệp chung chiến thắng quân thù.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 05 Tháng Tám, 2011, 04:24:34 pm
CHƯƠNG HAI
Nguồn gốc của tình đoàn kết chiến đấu

Những niềm sung sướng mùa xuân. - Con thú bị thương còn nguy hiểm hơn. - Con đường quanh co của quân đội An-đéc-xơ. - Âm mưu của chính phủ tư sản Ba Lan. - Thành lập quân đội của nước Ba Lan nhân dân. - Những người anh em Ba Lan đánh trận đầu. - Thư của Tổng tư lệnh tối cao gửi U. Sớc-sin. - Không biết chỗ lội... - Trên đất nước Ba Lan. - Cuộc tiến công phải được bảo đảm. - Hội nghị trong Đại bản doanh. - Chiếc bình đựng rượu huyền bí.

Ngày 26 tháng Ba 1944. Chiến tranh đã kéo dài 1009 ngày đêm. Cuộc tiến công bất hủ trong lịch sử chiến tranh của các phương diện quân U-crai-na trong điều kiện mùa xuân băng tan đã làm cho Cụm tập đoàn quân “nam” của phát-xít Đức bị thiệt hại nặng. Cụm tập đoàn quân này không những đã bị thiệt hại lớn, mà còn bị cắt ra làm hai.

Sau khi N. Ph. Va-tu-tin bị thương, Nguyên soái Liên Xô Gh. C. Giu-cốp tạm thời thay thế chỉ huy các đơn vị của phương diện quân U-crai-na 1 tiến ra vùng chân núi Các-pác. Hồi giữa tháng Hai, phương diện quân U-crai-na 2 do nguyên soái Liên Xô I. X. Cô-nép làm tư lệnh, hiệp đồng với phương diện quân của N. Ph. Va-tu-tin tổ chức chiến dịch hợp vây “tiểu Xta-lin-grát” ở Coóc-xun - Sép-tsen-côp-xki rồi sau đó vọt tiến tới Đne-xtơ-rơ, tiến công vượt sông trên một chặng đường dài 175 ki-lô-mét, đánh chiếm được thành phố và trung tâm đường sắt Ben-xư. Ngay sau đó, các đơn vị của I. X. Cô-nép vẫn tiếp tục tiến công trên chính diện 85 ki-lô-mét, tiến tới biên giới quốc gia dọc theo sông Brút...

Chúng tôi chờ đợi ngày ấy đã lâu rồi. Bộ tổng tham mưu nhận được báo cáo của phương diện quân U-crai-na 2 gửi tới liền báo cáo ngay cho Tổng tư lệnh tối cao. Hồi ấy, tôi được cử giữ chức cục trưởng Cục tác chiến trong Bộ tổng tham mưu. Tổng tư lệnh tối cao lệnh bắn đại bác cấp một chào mừng bộ đội của I. X. Cô-nép: 324 khẩu đại bác bắn 24 loạt. Tôi và đồng chí A. A. Grư-dơ-lôp, cục phó Cục tác chiến, ngồi viết nhật lệnh chào mừng. 9 giờ tối, pháo hoa bắn chào trọng thể rực sáng cả bầu trời Mát-xcơ-va.

Tôi không thể diễn tả nổi bằng lời những tình cảm nức lòng mình trong những giờ phút ấy. Nguyện vọng thiêng liêng và khao khát giải phóng đất nước quê hương đã được thực hiện. Một ước mơ khác trỗi dậy, sục sôi không kém, xáo động chúng tôi là ước mơ chi viện cho các dân tộc đang bị rên xiết dưới ách phát-xít. Chúng tôi hiểu rằng, từ những phát súng đầu tiên ngày 22 tháng Sáu l941, nhân dân xô-viết đã bắt đầu cuộc đấu tranh nhằm giải phóng Ru-ma-ni, Ba Lan và các nước khác. Thế nhưng, lúc này đây, khi các chiến sĩ chúng ta tiến ra đến biên giới, thì Hồng quân mới trực tiếp đi vào thực hiện sứ mệnh giải phóng đó của mình ở các nước ngoài.

Phương diện quân U-crai-na 3 do đại tướng R. I-a. Ma-li-nốp-xki chỉ huy cũng tiến công thắng lợi. Phương diện quân đã đánh tan cụm quân gần Cri-vôi Rô-gơ của phát-xít Đức tiến tới Nam Búc và trong ngày hôm ấy, ngày 26 tháng Ba đã mở đầu chiến dịch giải phóng Ô-đét-xa, tiến vào Hạ lưu sông Đne-xtơ-rơ. A. M. Va-xi-lép-xki làm đại diện của Đại bản doanh, lúc này đang có nhiệm vụ phối hợp hành động của các phương diện quân U-crai-na 3 và 4, đã báo cho Bộ tổng tham mưu biết về quá trình chiến dịch.

Ngày 2 tháng Tư 1944, Chính phủ Liên Xô thông báo trong hội nghị báo chí rằng: các đơn vị Hồng quân vượt qua sông Prút trên một số đoạn và đã tiến vào lãnh thổ Ru-ma-ni; Bộ tổng tư lệnh tối cao Liên Xô ra lệnh truy kích địch cho tới khi hoàn toàn tiêu diệt chúng và buộc chúng phải đầu hàng.

Chính phủ Liên Xô tuyên bố: Liên Xô không có ý định chiếm giữ một bộ phận đất đai nào trên lãnh thổ Ru-ma-ni hoặc thay đổi chế độ xã hội hiện hành của đất nước này. Các đơn vị xô-viết phải tiến vào lãnh thổ Ru-ma-ni là do “sự tối cần thiết về mặt quân sự và do quân địch vẫn còn ngoan cố chống lại”.

Đến giữa tháng Tư, bộ đội Liên Xô vượt qua sông Prút, chiếm được tuyến Re-đe-u-si, Oóc-ghê-ép, Đu-bô-xa-rư và giữ thế vây bọc quân địch.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 05 Tháng Tám, 2011, 04:25:16 pm
Theo truyền thống, Bộ tổng tham mưu chuẩn bị các tài liệu cho nhật lệnh của Tổng tư lệnh tối cao đọc vào dịp 1 tháng Năm. Khí thế chung rất phấn khởi vì đã đến lúc hoàn toàn giải phóng Tổ quốc. Còn sau này... khi chúng ta tống cổ bọn địch ra khỏi nhà mình rồi thì lúc đó, chúng tôi nghĩ, chắc sẽ phấn khởi hơn nhiều.

Với những ý nghĩ ấy, tôi cùng với đồng chí A. I. An-tô-nốp, phó tổng tham mưu trưởng, lên đường đi báo cáo thường kỳ trong Đại bản doanh. Thông thường, khi công việc ngoài các mặt trận thuận lợi, Tổng tư lệnh tối cao rất vui và nhanh chóng giải quyết mọi vấn đề. Lúc góp ý về nội dung bản nhật lệnh 1 tháng Năm, cả hai chúng tôi đều tỏ lòng tin tưởng rằng lúc này, mọi khó khăn ở các nước ngoài sẽ được khắc phục nhanh hơn.

I. V. Xta-lin chăm chú nhìn chúng tôi và... sớm làm nguội lạnh sự quá trớn đó của chúng tôi. Đồng chí nói: quân địch bây giờ như con thú dữ đã bị thương, buộc phải bò về hang ổ của chúng để chữa chạy các thương tích. Nhưng con thú bị thương lại còn nguy hiểm hơn. Phải truy kích chúng và đến tận hang ổ chúng mà diệt.

I. V. Xta-lin nhấn mạnh rằng việc giải phóng các dân tộc đang bị bọn phát-xít nô dịch là một công việc không kém phần khó khăn như hồi đánh đuổi chúng ra khỏi biên giới đất nước Liên Xô. Tiếp tục nói lên những ý nghĩ của mình, đồng chí chỉ ra rằng: ở nước ngoài. bộ đội ta sẽ chiến đấu trong một hoàn cảnh chính trị khác về cơ bản với hoàn cảnh chính trị xã hội chủ nghĩa trên đất nước chúng ta. Ở đấy, quyền lợi các giai cấp đối kháng sẽ ảnh hưởng tới quá trình cuộc đấu tranh vũ trang, tới sự hiệp đồng với các nước đồng minh. Chúng ta sẽ có những người bạn tốt, nhưng cũng sẽ có những kẻ thù, nhất là trong hàng ngũ các giới đã cầm quyền trước đây và trong các tầng lớp nhân dân đang ủng hộ các giới cầm quyền đó.
Nội dung bản nhật lệnh đọc ngày 1 tháng Năm của Tổng tư lệnh tối cao bao hàm tinh thần của những ý kiến đó.

Sau này, bản thân chúng tôi càng thấy thấm thía tính chất đúng đắn của các dự kiến của Xta-lin. Những ý định tiến công sâu vào Ru-ma-ni trong một thời gian không thu được kết quả. Bộ đội mỏi mệt, thiệt hại, cần phải bổ sung về người và khí tài.

Theo lệnh của Đại bản doanh, ngày 17 tháng Tư. phương diện quân U-crai-na 1, rồi đến ngày 6 tháng Năm 1944, phương diện quân U-crai-na 2 và 3, đã chuyển sang phòng ngự, tiền duyên chạy dài theo tuyến phía Đông Brô-dơ, phía Tây Téc-nô-pôn, Cô-lô-mưi-a, Pa-sca-ni, phía Bắc I-át-xư, phía Đông Ki-si-ni-ốp và xa nữa, dọc sông Đne-xtơ-rơ.

Các phương diện quân được lệnh phải sẵn sàng tiến công vào cuối tháng Năm. Thời gian đó sau này có hoãn lại vì bắt đầu từ 30 tháng Năm, quân địch tập kích mạnh vào các đơn vị quân ta và đánh bật các đơn vị quân ta sang bên kia sông Prút.

Bốn sư đoàn xe tăng Đức (sư đoàn 14, 23, 24, sư đoàn SS “đầu lâu”, sư đoàn cơ giới “nước Đại Đức” và một số binh đoàn bộ binh, được pháo binh và không quân chi viện mạnh, đã tham gia cuộc tập kích đó. Sau mười ngày chiến đấu ác liệt, quân địch dù bị thiệt hại nặng, đã thọc sâu được vào đội hình bố trí các đơn vị của ta; ở một số nơi cá biệt, chúng đột nhập sâu tới 30 ki-lô-mét.

Hoạt động ráo riết đó của địch không thể không làm cho phương diện quân, Đại bản doanh và Bộ tổng tham mưu lo lắng. Theo tin tức chúng ta nhận được, thì thời gian đó bộ chỉ huy phát-xít Đức tập trung lực lượng đe tổ chức tập kích không riêng ở I-át-xư, mà ở cả khu vực Ki-si-ni-ôp. Tại đây, quân địch ít ra cũng có tới 7 sư đoàn bộ binh, 5 sư đoàn xe tăng và cơ giới. Lúc này, chúng có thể liều lĩnh tung hết lực lượng ra để giành lấy thắng lợi trên hướng thành phố Ben-xư và tiến vào phía sau cánh quân ta ở phía Tây Đne-xơ-rơ.

Mối nguy cơ đó rất nghiêm trọng, nhưng các chiến sĩ chúng ta vẫn kiên cường đứng vững trên tuyến ấy. Các đơn vị của phương diện quân U-crai-na 2 anh dũng phòng ngự đã đập tan ý đồ của bộ chỉ huy phát-xít Đức. R. I-a. Ma-li-nốp-xki, tư lệnh phương diện quân, báo cáo về Bộ tổng tham mưu rằng: 4 sư đoàn xe tăng địch đã bị thiệt hại nặng trong các trận đánh này. Thế nhưng chúng ta vẫn chưa thể tổ chức tiến công ở đây được, vì bộ đội ta cũng phải trả giá đắt trong những trận đánh ác liệt đó.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 05 Tháng Tám, 2011, 04:26:08 pm
Nhận thấy ở phía Tây - Nam, lực lượng hai bên đã cân bằng, đặc biệt là xe tăng, và lúc này vẫn chưa thể thay đổi tình hình có lợi cho ta được, Bộ tổng tham mưu đề nghị: sau khi tiêu diệt địch trên các hướng khác, chúng ta sẽ khôi phục lại cuộc tiến công ở khu vực này. Đại bản doanh đồng ý.

Bộ đội bắt đầu chuẩn bị cho chiến dịch “Ba-gra-chi-on” và chuẩn bị thực hiện các ý định chiến lược khác của Bộ tổng tư lệnh tối cao Liên Xô. Việc hoãn thời hạn mở chiến dịch trên hướng Tây - Nam hoàn toàn không có nghĩa là hủy bỏ việc chuẩn bị chiến dịch ấy; cả Bộ tổng tham mưu lẫn các phương diện quân vẫn tiến hành việc chuẩn bị đó.

Tôi muốn được nói rõ thêm là: chúng ta không phải chỉ bận tâm với các vấn đề quân sự. Bộ tổng tham mưu cùng với Tổng cục chính trị, hội đồng quân sự các phương diện quân và tập đoàn quân đã chuẩn bị cho người chiến binh Liên Xô nhận thức đầy đủ vị trí đặc biệt của họ khi hành động ở nước ngoài: là người chiến sĩ của các Lực lượng vũ trang Liên Xô, là người đại biểu của chế độ xã hội tiên tiến nhất.

Cho đến ngày 20 tháng Tám, chúng ta vẫn chưa tổ chức các chiến dịch tiến công trên lãnh thổ Ru-ma-ni. Ngược lại, ở Ba Lan, bộ đội ta đã tiến công suốt cả mùa hè, tiến tới Xi-xla và đang tiến quân thắng lợi trên hướng các vùng phụ cận phía Đông Vác-sa-va - Pra-ga. Trong quá trình tác chiến trên đất Ba Lan, tập đoàn quân Ba Lan 1 do tướng D. Béc-lin-gơ làm tư lệnh đã sát cánh chiến đấu với các đơn vị chúng ta. Thời gian này, các chiến sĩ Ba Lan là người bạn chiến đấu trung thành của chúng ta.

Do chức trách công tác của mình, tôi được biết nguồn gốc thành lập Quân đội nhân dân Ba Lan và đã thường xuyên tiếp xúc chặt chẽ với các lực lượng vũ trang Ba Lan trên lãnh thổ Liên Xô. Bởi lẽ đó, tôi mong muốn được kể lại một cách chi tiết hơn về Quân đội Ba Lan, về sự xuất hiện và trưởng thành của nó, về con đường khó khăn mà Quân đội Ba Lan đã trải qua.

*
*   *

Ngay từ ngày đầu Chiến tranh giữ nước vĩ đại, một số sĩ quan Ba Lan ở trên đất nước Liên Xô đã gửi bản tuyên bố cho Chính phủ Liên Xô. Họ viết: “Là đại biểu của một dân tộc bị bọn xâm lược phát-xít nô dịch, chúng tôi thấy con đường duy nhất giải phóng nhân dân Ba Lan là hợp tác với Liên Xô đất nước chúng tôi có thể phát triển thịnh vượng trong khuôn khổ của sự hợp tác đó”. Các sĩ quan nguyện sẽ thực hiện tốt lời nói của mình.

Sự kiện đó là một dấu hiệu rõ rệt của những quá trình sâu sắc diễn ra trong ý thức của những người đang bị đau khổ bởi chủ nghĩa phát-xít, nó cho phép hy vọng cũng sẽ có một liên minh quân sự với những người Ba Lan chống bọn chiếm đóng.

Dự kiến đó đã tỏ ra là đúng. Ngày 30 tháng Bảy 1941 , Chính phủ Ba Lan ở Luân Đôn do tướng V. Xi-coóc-xki đứng đầu ký kết hiệp nghị với Chính phủ Liên Xô về sự chi viện lẫn nhau trong chiến tranh chống lại nước Đức Hít-le. Thời gian ấy, chúng ta đồng ý xây dựng trên lãnh thổ quốc gia chúng ta một đạo quân Ba Lan do chính phủ Ba Lan lưu vong ở Luân Đôn cử ra Bộ tư lệnh.

Đồng thời. trong hiệp nghị có nói rõ, các đơn vị Ba Lan thành lập ở Liên Xô sẽ chiến đấu cùng với chúng ta chống lại kẻ thù chung. Hiệp nghị chỉ ra rằng: “đạo quân Ba Lan trên lãnh thổ Liên Xô sẽ hành động về mặt chiến dịch dưới sự chỉ đạo của Bộ tổng tư lệnh tối cao Liên Xô và trong Bộ tổng tư lệnh tối cao Liên Xô sẽ có đại biểu của Quân đội Ba Lan” (Chính sách đối ngoại của Liên Xô trong thời kỳ Chiến tranh giữ nước. tiếng Nga, t. I, tr. 121).

Việc tổ chức ra Bộ lư lệnh và đưa các đơn vị Ba Lan vào chiến đấu, sẽ được quy định chi tiết trong một hiệp nghị quân sự đặc biệt giữa Bộ tổng tư lệnh tối cao Liên Xô và Bộ tư lệnh Ba Lan. Ngày 14 tháng Tám 1941, hiệp nghị này đã được ký kết ở Mát-xcơ-va. Về phía Liên Xô, thiếu tướng A. M. Va-xi-lép xki được ủy nhiệm ký kết hiệp nghị đó.

V. Xi-coóc-xki cử tướng V. An-đéc-xơ, người có kinh nghiệm chỉ huy cụm quân Ba Lan trong thời kỳ chiến tranh Đức Ba Lan năm 1939, làm Tổng tư lệnh các đơn vị Ba Lan trên lãnh thổ Liên Xô.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 05 Tháng Tám, 2011, 04:26:45 pm
Việc chuẩn bị thành lập đạo quân Ba Lan thực tế đã bắt đầu từ lúc ký kết hiệp nghị quân sự. Các chi đội động viên đã được xây dựng, có các khí tài vật chất và lập ra các cơ sở huấn luyện. Theo đề nghị của Bộ tư lệnh Ba Lan, công tác huấn luyện được tiến hành với tốc độ nhanh. Chúng ta đồng ý vì rằng tướng An-đéc-xơ đề nghị khi chuẩn bị xong sẽ điều những sư đoàn được thành lập ra mặt trận Xô - Đức. Đầu tháng Chín, đoàn tàu chở các đơn vị Ba Lan mới tuyển tới địa điểm tập trung và ngày 8 tháng Chín, đơn vị đầu tiên đã đến cơ quan tham mưu của Tổng tư lệnh.

Lúc ban đầu, thành lập hai sư đoàn bộ binh (sư đoàn bộ binh 5 và 6), thành phần gồm những người công dân Ba Lan tản cư trên đất Liên Xô. Số người tình nguyện gia nhập quân đội rất đông, mới đầu dự định quân số chung của quân đội Ba Lan là 30 nghìn người, song thực tế đã vượt quá con số đó: đến 25 tháng Mười 1941, quân số lên tới 41,5 nghìn người và còn tiếp tục tăng lên. Các trung tâm tuyến quân đặt ở Vôn-ga, và ở vùng Ô-ren-bua - Bu-du-lúc, Tô-xcô-ê và Ta-ti-xép.

Lúc này chúng ta đang gặp những khó khăn hết sức to lớn, song Nhà nước Liên Xô vẫn ủng hộ nhiều về mặt vật chất cho Ba Lan. Chẳng hạn, Liên Xô đã cho chính phủ Ba Lan đặt tại Luân Đôn vay 100 triệu rúp để giúp đỡ các công dân Ba Lan. Ngoài ra, còn cho vay 300 triệu rúp dành riêng cho quân đội Ba Lan ở trên đất Liên Xô. Quân đội Ba Lan được trang bị vũ khí và khí tài kỹ thuật của Liên Xô, được cung cấp giống như các chế độ cung cấp cho các sư đoàn Hồng quân.

Bộ tổng tham mưu thêm việc: thành lập ra một bộ phận chuyên trách về công tác xây dựng quân đội Ba Lan ở Liên Xô. Thiếu tướng xe tăng A. P. Pan-phi-lốp phụ trách bộ phận này. Tôi quen biết đồng chí từ hồi cùng học với nhau trong Học viện mô-tô cơ giới của Hồng quân công nông. Có thể nói rằng trong tay đồng chí không có một bộ máy nào cả và quả là đồng chí phải ôm đồm nhiều việc.

Sau này, lại thành lập ra Ban lãnh đạo việc xây dựng các quân đội nước ngoài, và do có quan hệ công tác với nhiều bộ khác nên cơ quan đó chuyển sang trực thuộc Hội đồng bộ trưởng dân ủy (Hội đồng bộ trưởng dân ủy Liên Xô - tên gọi trước đây của Hội đồng bộ trưởng Liên Xô. - BT.). Người đứng đầu cơ quan này được gọi là đại diện của Hội đồng bộ trưởng dân ủy phụ trách việc xây dựng quân đội nước ngoài trên lãnh thổ Liên Xô và trực tiếp liên hệ với Chủ tịch Hội đồng quốc phòng Nhà nước, với Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng dân ủy và trong bộ máy của mình có một tổ sĩ quan đặc biệt của Bộ dân ủy quốc phòng.

Cuối mùa thu năm 1941, sư đoàn bộ binh Ba Lan 5 được xây dựng và huấn luyện xong. Sư đoàn 6 cũng đã xây dựng thành công. Thế nhưng, các sư đoàn này chưa ra mặt trận, vì tháng Chạp 1941, tướng V. Xi-coóc-xki đề nghị với Chính phủ Liên Xô tăng quân số các đơn vị Ba Lan lên tới 96 nghìn người và thành lập không phải 2 mà 6 sư đoàn. Sát trước lúc các đơn vị Liên Xô chuyển sang phản công gần Mát-xcơ-va, ngày 4 tháng Chạp, chính phủ Ba Lan long trọng tuyên bố: “Các đơn vị của nước Cộng hòa Ba Lan đóng quân trên lãnh thổ Liên Xô sát cánh với các đơn vị Liên Xô chiến đấu chống bọn cướp Đức” (Chính sách đối ngoại của Liên Xô trong thời kỳ Chiến tranh giữ nước, tiếng Nga, t. 1, tr. 169.).

Hồi đó, dù đất nước chúng ta gặp rất nhiều khó khăn, Chính phủ Liên Xô vẫn đồng ý xây dựng bổ sung thêm cho các đơn vị Ba Lan. Nhưng chúng ta không có đủ vũ khí. Chính phú Ba Lan cho biết rằng chính phủ Anh sẽ cung cấp cho họ, và tiếp tục xây dựng quân mình.

Theo đề nghị của Xi-coóc-xki, các trung tâm xây dựng đã chuyển về miền Trung Á. Ở đây bắt đầu triển khai xây dựng các doanh trại, các trường huấn luyện, viện quân y và các cơ quan khác. Nhưng, các đơn vị Ba Lan đóng quân ở đây vẫn chưa được điều ra mặt trận Xô - Đức. Nguyên nhân của vấn đề này trước hết là do chính sách tham lam và phản bội nhân dân mình của chính phủ Ba Lan lưu vong. Họ không muốn cùng với chúng ta chống lại bọn Hít-le.

Ngay cả Xi-coóc-xki - người hiểu biết hơn cả trong chính phủ tư sản này - cũng có thái độ dung túng đồng bọn của mình. Hồi đó, những người cộng sản Ba Lan đã đánh giá lập trường tư tưởng của Xi-coóc-xki là không đáp ứng được quyền lợi của nhân dân Ba Lan.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 05 Tháng Tám, 2011, 04:27:34 pm
Các chính khách nước Anh, kể cả thủ tướng Anh, đã gây sức ép đối với vấn đề địa điểm sử dụng các lực lượng Ba Lan. Họ nghi ngờ tính chất vững chắc của Nhà nước Liên Xô và như ta biết, họ cho rằng sắp tới đây, Liên Xô sẽ bị diệt vong. Thế nhưng, không phải họ lo toan tới vận mệnh của Nhà nước Liên Xô. mà chính là lo toan đến quyền lợi của họ. trước hết họ thấy phải tìm cách ngăn cản không cho bọn Hít-le xâm nhập vào Ấn Độ. Âm mưu của họ nhằm dựa vào các đơn vị Ba Lan thành lập ở Liên Xô để thực hiện ý đồ ấy. Đồng thời, họ còn hy vọng duy trì được chính phủ tư sản ở Ba Lan và không muốn hợp tác chiến đấu với Liên Xô.

Chính sách hai mặt đó là nguyên nhân của hai xu hướng đang tồn tại trong hàng ngũ các đơn vị Ba Lan. Những quân nhân dũng cảm và biết nhìn xa hơn đã đấu tranh đòi thực hiện đúng đắn và triệt để các điều cam kết đã quy định trong hiệp ước với Liên Xô về việc cùng với các đơn vị Liên Xô chiến đấu chống lại bọn Hít-le. Những đại biểu của quan điểm này cho rằng tình hình khó khăn của Nhà nước Liên Xô chỉ là bước quá độ, tin chắc thắng lợi cuối cùng sẽ thuộc về chúng ta và nền độc lập của Ba Lan cũng sẽ gắn liền với chiến thắng đó.

Còn một số người khác - trước hết là Bộ chỉ huy quân đội Ba Lan - cho rằng liên minh với Liên Xô chỉ là sách lược tạm thời. Những người ấy không muốn sát cánh với Hồng quân chiến đấu chống lại bọn xâm lược Hít-le. Họ đặt mọi hy vọng của họ vào các nước đồng minh phương Tây, tìm cách không tham gia chiến đấu với chúng ta và rút ra khỏi lãnh thổ Liên Xô.

Chính quyền Liên Xô và Bộ tổng tư lệnh Liên Xô không can thiệp vào nội bộ các đơn vị Ba Lan, mặc dầu có biết cuộc đấu tranh của hai xu hướng đó. Xuất phát từ chỗ các chiến dịch phối hợp sẽ đáp ứng được quyền lợi của Liên Xô và của nước Ba Lan dân chủ, độc lập, chúng ta hy vọng những người chỉ huy quân sự Ba Lan sẽ tỉnh ngộ, nên vẫn tiếp tục chi viện đắc lực cho việc xây dựng các đơn vị của họ.

Thời gian trôi qua. Cuộc chiến tranh nặng nề vẫn tiếp diễn... Ở Mát-xcơ-va, chúng ta chuyển sang phản công, đánh bật quân địch ra khỏi chân tường thủ đô và buộc chúng phải từ bỏ các kế hoạch của chúng. Trong quá trình chiến tranh đã xảy ra một bước ngoặt. Tình hình mới đang diễn ra ở ngoài mặt trận yêu cầu bộ chỉ huy Ba Lan phải có những quyết định mới.

Thời gian này, quân đội Liên Xô đã đánh lui bọn chiếm đóng, các hành động diễn ra ở khu vực thủ đô chuyển thành tổng tiến công, nên chúng ta cần đến sức chiến đấu của tất cả các binh đoàn. Truy kích quân địch là công việc có rất nhiều mặt phải làm.

Nhưng chính phủ lưu vong Ba Lan không đồng ý như thế, mặc dầu họ có 2 sư đoàn đã được huấn luyện kỹ và trang bị bằng các vũ khí của Liên Xô. Sư đoàn mạnh hơn cả là sư đoàn bộ binh 5, quân số tới 12500 người. Các chiến sĩ và sĩ quan cấp dưới của họ nhiều lần bày tỏ nguyện vọng được đi chiến đấu chống quân thù. Và Chính phủ Liên Xô chiếu theo hiệp nghị quân sự đã được ký kết cũng đã đề nghị như vậy, nhưng An-đéc-xơ và Xi-coóc-xki vẫn một mực trả lời: “chúng tôi chưa sẵn sàng".

Đứng trước tình hình đó, thậm chí phải chịu những tổn thất to lớn về mọi mặt, Liên Xô vẫn thực hiện đúng đắn những cam kết trong hiệp nghị với chỉnh phủ Ba Lan, tiếp tục giúp đỡ xây dựng các đơn vị Ba Lan. Còn nói về bọn An-đéc-xơ thì từ chỗ hy vọng vào sự chi viện của Luân Đôn, ít lâu sau họ đã thấy rõ rằng người Anh không có ý định cung cấp vũ khí cho các sư đoàn của Ba Lan.

Nhiều bức điện gửi sang Luân Đôn cũng chẳng ăn thua gì. Còn về phần chúng ta thì chưa thể giúp đỡ được nhiều hơn, vì các nhà máy sản xuất vũ khí sơ tán ra khỏi các khu vực miền Tây đất nước đang còn đi trên các đoàn tàu rải rác trên các nhánh đường sắt ở Xi-bi-ri và U-ran. Vào thời kỳ này, I. V. Xta-lin còn đang đích thân phân phối vũ khí, gần như từng khẩu súng một cho Hồng quân.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 05 Tháng Tám, 2011, 04:28:18 pm
Điều kiện chiến tranh buộc Chính phủ Liên Xô hồi đầu tháng Hai 1942 lại phải lưu ý An-đéc-xơ về thời hạn sẵn sàng của quân đội Ba Lan và sử dụng các đơn vị đó tham chiến. Chúng ta nói tới ý định đưa sư đoàn bộ binh 5 ra mặt trận trong một thời gian gần nhất. An-đéc-xơ trả lời: tới mồng 1 tháng Sáu, đơn vị mới chuẩn bị xong và không đồng ý sử dụng từng sư đoàn một.

Theo ý kiến ông ta, sử dụng hai sư đoàn ở ngoài mặt trận thì không làm nên chuyện được, vì chỉ có đòn tập kích của cả tập đoàn quân mới có thể đem lại thắng lợi có ý nghĩa chiến dịch và mới thu được ý nghĩa chính trị to lớn. Còn nói về kinh nghiệm chiến đấu, nếu cả tập đoàn quân cùng tham gia chiến đấu thì sẽ thu được kinh nghiệm tốt hơn là từng đơn vị độc lập.

Vào thời gian khác và trong hoàn cánh khác, những ý kiến ấy cũng có thể có lý. Nhưng khi quân đội Liên Xô đang tiến công thì từng sư đoàn độc lập bước vào tham chiến lại hoàn toàn đúng đắn. Xét về mặt hiệu quả chính trị, các đơn vị Ba Lan xuất hiện vào thời gian này ở ngoài mặt trận sẽ có tác động rất lớn, trước hết là đối với nhân dân Ba Lan, những người đang nóng lòng trông đợi các tin tức về việc thành lập lại quân đội Ba Lan. Tình hình đó còn góp phần thuận lợi cho việc triển khai rộng rãi hơn nữa cuộc đấu tranh du kích và hoạt động bí mật ở trong nước. Nhưng Xi-coóc-xki vẫn dứt khoát cự tuyệt.

Ngoài tiền tuyến, các sự kiện quyết định đã chín muồi và cả hai bên đều đang chuẩn bị. Thế nhưng ở Luân Đôn những người Ba Lan đã chuẩn bị ra sao? Tháng Ba 1942, V. An-đéc-xơ đến đó. Trên danh nghĩa, An-đéc-xơ lên đây để hội dàm về việc nhận vũ khí của người Anh mà trước kia người Anh chưa giao cho, song trong thực tế thì lại bàn tính tới những âm mưu chuẩn bị cho một bộ phận quân đội của Ba Lan... sơ tán ra khỏi biên giới Liên Xô.

Họ viện cớ thời gian này đất nước chúng ta đang gặp những khó khăn về lương thực để sơ tán ra nước ngoài. Những khó khăn đó của chúng ta, ai cũng biết. Chính phủ Liên Xô không còn cách nào khác là phải đi tới giảm bớt một số tiêu chuẩn cung cấp lương thực cho các đơn vị đóng ở hậu phương. Lẽ đương nhiên tình hình đó có quan hệ tới các đơn vị của An-đéc-xơ.

Lợi dụng thời cơ này. Xi-coóc-xki đề nghị Chính phủ Liên Xô cho sơ tán một bộ phận quân đội Ba Lan sang I-ran. Chính phú Liên Xô đồng ý. Thế là, từ ngày 23 tháng Ba cho tới ngày 3 thảng Tư 1942, 31488 quân nhân của quân đội Ba Lan rời sang I-ran, phần lớn là các đơn vị mới xây dựng, chưa có vũ khí.

Hồi đó, chúng ta chưa biết đầy đủ những lý do thực về biện pháp này của chính phủ Ba Lan tại Luân Đôn. Nhưng nhiều sĩ quan và binh lính Ba Lan trong lúc sơ tán đã nói rằng, cấp trên chuyển họ sang vùng Cận Đông để làm bia thịt cho người Anh. Bộ chỉ huy quân đội của họ buộc phải giải thích loanh quanh, thậm chí còn tuyên bố rằng: các đơn vị rời sang I-ran là để trang bị, tổ chức, huấn luyện, rồi sau đó, khi đã sẵn sàng chiến đấu, lại sẽ trở về Liên Xô cùng tham gia chiến đấu chống quân phát-xít...

Sau đợt sơ tán ban đầu, quân đội Ba Lan của An-đéc-xơ còn lại khoảng 42 000 người. Các đơn vị mới vẫn tiếp tục xây dựng, còn các đơn vị cũ (sư đoàn 5 và 6) đã huấn luyện xong. Cuối tháng Năm, An-đéc-xơ lại sang Luân Đôn.

Ngày 30 tháng Năm, An-đéc-xơ điện cho I. V. Xta-lin, nói rằng ông ta thấy cần thiết phải trực tiếp báo cáo cho Xta-lin biết về kết quả cuộc hội đàm với người Anh và đề xuất ý kiến về vấn đề tiếp tục xây dựng quân đội Ba Lan. Bộ tổng tham mưu thấy rõ tình hình đã đi gần tới chỗ kết thúc. An-đéc-xơ nói là người Anh đang lo lắng tới các nước thuộc địa của họ và muốn các đơn vị Ba Lan sẽ đứng ra, như ta nói là lấy thân mình bảo vệ những vùng đất đai của họ. Chính vì lý do này, nên các đơn vị Ba Lan phải rời khỏi Liên Xô.

Nhưng qua đó. ta cũng nắm được một số tin. An-đéc-xơ cho biết là mùa hè năm 1942, người Anh đang chờ đợi địch sẽ tổ chức tiến công lớn tại mặt trận phía Đông. Theo tin tức tình báo của Anh thì đòn đột kích chủ yếu của địch dự định sẽ đánh vào hướng Cu-ban và Cáp-ca-dơ.

Có lẽ, do sức ép của người Anh nên chính phủ lưu vong Ba Lan của V. Xi-coóc- xki đã dứt khoát từ chối khòng thực hiện trách nhiệm cam kết trước đây với Liên Xô là đưa quân đội của họ vào tham chiến trên mặt trận Xô - Đức và tuyên bố rằng việc sơ tán quân đội của họ sang I-ran là cần thiết. Mặc dầu tình hình đã diễn ra như vậy, song thủ tướng Ba Lan vẫn tiếp tục đề nghị Liên Xô tuyển mộ thêm quân đội Ba Lan và xây dựng thêm các sư đoàn. An-đéc-xơ kể lại hết mọi việc trên tại Điện Crem-li.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 05 Tháng Tám, 2011, 04:28:53 pm
Chính sách thách thức công khai và phi nghĩa đó đã nhận được sự phản ứng trả lại đích đáng. Do phía Ba Lan không thực hiện các cam kết của mình và chúng ta đang vấp phải những khó khăn nghiêm trọng về trang bị cho Hồng quân, còn tình hình ngoài mặt trận thì đang diễn biến hết sức nặng nề, nên tháng Bảy 1942, Chính phú Liên Xô thông báo cho phía Ba Lan rằng, Liên Xô không thể tiếp tục xây dựng các đơn vị Ba Lan trên lãnh thổ Liên Xô nữa, và đặt vấn đề cần sơ tán triệt để các đơn vị quân đội của Ba Lan.

Tháng Tám 1942, lại nhận thêm 44000 quân nhân Ba Lan rời sang I-ran cùng với 25000 người dân, phần lớn là những người thân thích của các quân nhân. Nhưng một bộ phận binh linh và sĩ quan giác ngộ có sự suy nghĩ tiến bộ hơn trong quân đội của An-đéc-xơ, đã từ chối không sang I-ran và ở lại Liên Xô. Số người này không đông, nhưng tinh thần và vai trò của họ trong sự nghiệp giải phóng đất nước Ba Lan lại rất lớn. Sau đây, chúng ta sẽ nói tới vấn đề đó.

Kế hoạch thứ nhất - giúp đỡ nhân dân Ba Lan anh em của chúng ta xây dựng trên lãnh thổ Liên Xô các lực lượng chiến đấu cần thiết, để đấu tranh vũ trang chống bọn chiếm đóng đã kết thúc như vậy đấy. Kế hoạch đó không thu được kết quả triệt để và bọn địa chủ, tư sản Ba Lan nằm trong chính phủ lưu vong ở Luân Đôn phải chịu hoàn toàn trách nhiệm.

Thế nhưng, ta cũng không thể cho rằng kế hoạch đó là hoàn toàn vô ích. Nó có ảnh hưởng tích cực đến các lực lượng cách mạng chân chính của Ba Lan. Họ đang triển khai rộng rãi các mặt hoạt động nhằm xây dựng quân đội của nhân dân hiện đang hoạt động bí mật trên đất Ba Lan và trên lãnh thổ Liên Xô. Ngay các chiến sĩ của An-đéc-xơ buộc phải chiến đấu cho đất nước Ba Lan ở xa Tổ quốc của mình đều có thể suy nghĩ và đánh giá đúng sự giúp đỡ anh em của Đất nước xô viết

Trong khi ấy, ở Ba Lan, tình hình chính trị phát triển đã dẫn đến việc thành lập Đảng công nhân Ba Lan. Đảng định ra những nguyên tắc chiến lược chính trị mới, đẩy mạnh cuộc đấu tranh thống nhất các lực lượng yêu nước trong mặt trận dân tộc chống Hít-le. Đảng công nhân Ba Lan kêu gọi nhân dân Ba Lan thống nhất mọi nỗ lực chiến đấu trong khối liên minh chống Hít-le, trước hết với người bạn gần gũi nhất là Liên Xô. Ở Ba Lan đã thành lập ra Quân cận vệ nhân dân - một tổ chức vũ trang do những người cộng sản Ba Lan lãnh đạo.

Ngoài mặt trận Xô - Đức, tình hình đã thay đổi. Các đơn vị phát-xít Đức bị thiệt hại nặng ở Xta-lin-grát, mở đầu cho bước ngoặt cơ bản có lợi cho ta trong quá trình chiến tranh. Đối với những người yêu nước Ba Lan hiện đang ở Liên Xô tình hình đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc đẩy mạnh sự đoàn kết các lực lượng giải phóng, làm cho họ nhận thức rõ sự cần thiết phải cầm vũ khí đứng lên chiến đấu bên phía Hồng quân.

Tôi còn nhớ rõ những ngày đầu xuân năm 1943. Bấy giờ, Bộ tổng tư lệnh tối cao Liên Xô đang chuẩn bị chiến dịch có tính chất quyết định ở Cuốc-xcơ. Chúng ta đã vạch ra kế hoạch hành động, các lực lượng đã được tập trung. Chúng ta đã tích lũy các phương tiện vật chất và các đội dự bị. Nói tóm lại, chúng ta đã chuẩn bị mọi thứ cần thiết để vĩnh viễn chôn vùi các kế hoạch của các nhà chiến lược Hỉt-le và đẩy nước Đức phát-xít tới miệng hố thất bại.

Cùng trong thời gian ấy, vang lên tiếng nói của những người con trung thành của Ba Lan, những nhà hoạt động cộng sản Ba Lan đang lưu vong ở Liên Xô. kêu gọi thành lập Liên minh những người yêu nước Ba Lan tại Liên Xô. Tổ chức đó hoàn toàn phù hợp với nhiệm vụ của mặt trận dân tộc do Đảng công nhân Ba Lan xây dựng, nhằm thống nhất trong thời chiến những người Ba Lan hiện còn ở lại trên đất nước Liên Xô, không phân biệt các quan điểm chính trị, xã hội và tôn giáo, hợp nhất thành một mặt trận chiến đấu chống ké thù. Liên minh đó đặt ra cho mình một trong các nhiệm vụ là xây dựng các đơn vị Ba Lan để cùng chiến đấu với Hồng quân chống lại nước Đức Hít-le.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 05 Tháng Tám, 2011, 04:29:38 pm
Các lực lượng dân chủ Ba Lan đề nghị với Chính phủ Liên Xô thành lập sư đoàn bộ binh Ba Lan trên đất Liên Xô. Hội đồng quốc phòng Nhà nước nghiên cứu đề nghị đó và ngày 6 tháng Năm 1943 đã ra nghị quyết thành lập sư đoàn Ba Lan 1 lấy tên là sư đoàn Ta-đê-út Cô-xti-u-scô. Tháng Sáu 1943, các phân đội và đơn vị trong binh đoàn mới thành lập bước vào huấn luyện trong doanh trại Xê-lét ở Ri-a-dân. Nhiều đảng viên cộng sản Ba Lan đã tích cực tham gia việc tổ chức huấn luyện cho sư đoàn một cách có kế hoạch.

Bộ tổng tham mưu Liên Xô nhận thấy ý nghĩa đặc biệt của việc thành lập ra sư đoàn mang tên Ta-đê-út Cô-xti-u-scô, một sư đoàn mở đầu cho việc xây dựng rộng rãi các lực lượng vũ trang chính quy của Ba Lan. Ngày 15 tháng Bảy 1943, trong bầu không khí trang nghiêm, sư đoàn nhận ngọn cờ chiến đấu có biểu tượng chim đại bàng. Bộ đội tuyên thệ, nguyện trung thành với Tổ quốc và nhân dân Ba Lan đang chiến đấu chống ách nô dịch của bọn phát-xít chiếm đóng. Các chiến sĩ trong sư đoàn trịnh trọng hứa sẽ gìn giữ sự liên minh vững chắc với Liên Xô. Sư đoàn trở thành tiền thân của Quân đội Ba Lan sau này và nhiều người chỉ huy quân sự nổi tiếng của nhân dân Ba Lan đã trưởng thành trên bước đường chiến đấu của sư đoàn.

Ngày 1 tháng Chín 1943, sư đoàn bế mạc lớp huấn luyện, và ngay trong ngày hôm đó đã lên đường ra mặt trận Xô - Đức. Trận đánh đấu tiên của sư đoàn diễn ra trong vùng Lê-ni-nô trên đất Bê-lô-ru-xi-a ngày 12 tháng Mười 1943.

Mấy ngày sau, bộ đội của phương diện quân Tây qua hai tháng chiến đấu ác liệt cũng tiến quân tới đây. Hiệp đồng với phương diện quân Ca-li-nin, bộ đội của phương diện quân Tây đã đánh bật quân chiếm đóng ra khỏi cái gọi là “cửa ngõ Xmô-len-xcơ” mà địch có thể lợi dụng để từ đó tiến hành tập kích đường không vào Mát-xcơ-va, chặn đường rút của chúng về Ba Lan, và xa nữa là về nước Đức.

Quân địch cũng hiểu rõ tầm quan trọng của hướng này, nên đã củng cố và tăng cường mạnh ở đây. Tướng C. Típ-pen-xkiếc, tư lệnh tập đoàn quân Đức 4 năm 1944, viết: “tuyến này nằm trước mặt sông Đni-ép-rơ, che chở cho con đường sắt và đường ô-tô lớn cuối cùng ở phía trước vùng đầm lầy Pri-pi-át. Nếu quân Nga tiến công, kiểm soát được con đường cái ô tô và tuyến đường sắt Gô-men - Mô-ghi-li-ốp - Oóc-sa. thì phòng ngự của ta (bọn Đức) ở phía Đông vùng đầm lầy Pri-pi-át khó có thể giữ vững nổi”.

Bộ đội của tập đoàn quân 33 thuộc phương diện quân Tây, trong đó có sư đoàn Ba Lan cùng tham gia, đã bị dừng lại ở phía trước tuyến phòng ngự mới này của địch, tại các con đường vào sông Đni-ép-rơ. Cần phải phá vỡ tuyến phòng ngự ấy. Bộ tư lệnh tập đoàn quân 33 hy vọng sẽ chọc thủng được tuyến đó, thế nhưng cũng nhìn thấy rồi sẽ vấp phải nhiều khó khăn.

Muốn bảo đảm đột phá thắng lợi, chúng ta phải có mật độ pháo binh cao - tới 206 khẩu pháo và súng cối trên một ki-lô-mét chính diện và 52 xe tăng. Tư lệnh tập đoàn quân hy vọng chọc thủng phòng tuyến địch bằng cách tổ chức một mũi đột kích mạnh trên chính diện ở khu vực tiếp giáp mặt phía Bắc với Lê-ni-nô. Muốn vậy trong thê đội một phải có 3 sư đoàn bộ binh, bố trí như sau: sư đoàn bộ binh Ba Lan 1 tiến công ở giữa, bên phải là sư đoàn 42, và bên trái là sư đoàn bộ binh 290.

Các sư đoàn của Liên Xô giàu kinh nghiệm hơn sở dĩ được bố trí ở hai bên sườn là do trong dải tiến công của sư đoàn bộ binh 42 có điểm cao 217,6 là cứ điểm khống chế mạnh của dịch, còn trong dải tiến công của sư đoàn bộ binh 290 có địa hình phức tạp, có những vùng cao và vùng trũng nhiều suối lầy lội đổ về con sông Mê-rây vắt ngang qua phía trước tuyến phòng ngự của địch, xe tăng không thể vượt sang được.

Chúng ta dự kiến: sư đoàn bộ binh 42 và 290 của Liên Xô có thể nhanh chóng khắc phục điểm cao 217,6 ở sườn phải và vùng đầm lầy ở sườn trái, sẽ tiến mạnh lên phía trước bảo đảm cho sư đoàn Ba Lan tiến công ở phía giữa thắng lợi. Còn các đơn vị của sư đoàn Ba Lan dự kiến sẽ hất địch ra khỏi điểm cao quan trọng 215,5, dựa vào những kết quả của các sư đoàn Liên Xô ở hai bên sườn, sẽ đột phá vào tung thâm chiến thuật phòng ngự của địch. Sau đó, chúng ta sẽ tung quân đoàn cơ giới 5 vào chiến đấu để phát huy thắng lợi của các binh đoàn Liên Xô và Ba Lan.

Song, trận đánh lại diễn biến không như chúng ta dự kiến. Lực lượng và khả năng địch rất dồi dào. Cuộc tiến công của sư đoàn bộ binh 42 bị đánh bật trở lại. Sư đoàn bám chân được vào điểm cao 217,6 nhưng vẫn không thể chiếm nổi điểm cao này. Quân ta bị tổn thất nặng và buộc phải nằm lại ở tiền duyên. Chúng ta tổ chức nhiều đợt xung phong. nhưng vẫn không thu được thắng lợi


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 05 Tháng Tám, 2011, 04:30:36 pm
Trong dải của sư đoàn bộ binh 290, các chiến sĩ Liên Xô vượt qua được vùng đầm lầy ở phía Tây Lê-ni-nô và chiếm vùng dân cư Tơ-ri-gu-bô- vô. Các đơn vị Hít-le tổ chức phản xung phong và đánh bật chúng ta ra ngoài phía Đông vùng này. Trận đánh diễn ra hết sức quyết liệt nhưng các đơn vị chúng ta ở đây vẫn không sao tiến lên được.

Còn sư đoàn bộ binh 1 Ba Lan tiến công ở phía giữa đã thu được thắng lợi rất to lớn, thọc sâu được 4 ki-lô-mét. Những người chứng kiến và tham gia cuộc tiến công, chứng minh sự dũng cảm và can trường của các chiến sĩ Ba Lan, đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu phối hợp với các chiến sĩ Liên Xô. Các chiến sĩ và sĩ quan Ba Lan tỏ ra rất kiên cường, tinh thần chiến đấu rất cao, các đồng chí đã chiến đấu nhiều đợt giáp lá cà với địch...

Chúng ta vẫn không làm thay đổi được tình hình nghiêm trọng ở hai bên sườn dải tiến công của tập đoàn quân. Tình hình đó ảnh hưởng bất lợi tới các đơn vị Ba Lan đang tiến công ở giữa. Các đơn vị Ba Lan phải chống đỡ lại nhiều cuộc phản công của địch được nhiều máy bay chi viện. Quân đoàn cơ giới 5 của chúng ta bước vào chiến đấu, bị thiệt hại nặng nề về xe tăng, cũng không làm chuyển biến nổi tình hình. Cuộc tiến công của các tập đoàn quân bạn cũng bị chặn lại. Tuyến phòng ngự của địch vẫn vững chắc.

Như vậy là thời gian ấy, chúng ta không đột phá thành công ở Lê-ni-nô. Sư đoàn bộ binh Ba Lan mang tên Ta-đê-út Cô-xti-u-scô và các sư đoàn Liên Xô buộc phải dừng lại. Thế nhưng, ý nghĩa của cuộc thử lửa ban đầu đó đối với tình hữu nghị Liên Xô - Ba Lan đã hoàn toàn vượt ra ngoài phạm vi các tiêu chuẩn và khái niệm chiến thuật thông thường.

Đây là những gì còn in sâu trong tâm trí các chiến sĩ Ba Lan đã từng tham gia chiến đấu. V. Da-lép-xki, lúc đó là sĩ quan đại đội 3 thuộc trung đoàn 2, đã nhớ lại rằng: “Bốn bên vang vọng tiếng: “hoan hô!.. Ba Lan-đại bàng!.. Anh hùng!..". Tôi nhìn vào các chiến sĩ của mình. Dường như họ vẫn còn đang xung trận, khẩn trương, sẵn sàng tiến công... Ngay cả những người bị thương cũng vẫn nghĩ tới những trận đánh mới ... Tôi nhớ tới cốc nước trà nóng đầu tiên uống tại trận địa pháo của Liên Xô. Các đồng chí vây quanh chúng tôi, ôm hôn và chúc mừng..." (Che-xláp Pốt-gu-rơ-xki. Những chiến sĩ Ba Lan trong trận đánh Lê-ni-nô. Vác-sa-va. 1971, tr. 109 (tiếng Ba Lan).).

Trận đánh ở Lê-ni-nô khẳng định sự sẵn sàng cao độ của các chiến sĩ Ba Lan và Liên Xô chiến đấu bên nhau cho tới ngày thắng lợi hoàn toàn chống nước Đức Hít-le, cho thấy rõ tinh thần dũng cảm vô song của họ, củng cố vững chắc hơn nữa sự liên minh chiến đấu giữa Liên Xô và Ba Lan. Riêng trong trận đánh này đã xuất hiện thêm ba anh hùng mới của Liên Xô là những chiến sĩ Ba Lan.

Nhật lệnh về sư đoàn bộ binh Ba Lan 1, được ban hành và đọc trước toàn thể các chiến sĩ ngày 14 tháng Mười cho thấy rằng những người tình nguyện Ba Lan sẵn sàng hy sinh cho mục đích vĩ đại của mình là giải phóng Tổ quốc Ba Lan. Họ đã chứng minh rằng nước Ba Lan đang sống, đang vươn tới tự do, đang chiến đấu để giành lấy tự do và sẽ chiến thắng bọn chiếm đóng Hít-le. Tuyên dương các anh hùng đã ngã xuống, nhật lệnh còn khẳng định: “ngày nay và mai sau, chiến thắng sẽ thuộc về chúng ta".

Ngày 12 tháng Mười - ngày mở đường khó khăn nhưng đầy vẻ vang dẫn đến thắng lợi chung trước kẻ thù - đã trở thành ngày hội của Quân đội nhân dân Ba Lan.

Các sự kiện lịch sử dắt dẫn dòng suy nghĩ... Hồi đó, vào năm 1943, chúng tôi ở trong Bộ tổng tham mưu đã nhiều lấn nghĩ tới con đường chiến đấu khó khăn của những chiến sĩ Ba Lan. Họ chiến thắng và trở về Tổ quốc bằng những con đường khác nhau, nhưng con đường của những người đã sát cánh chiến đấu với Hồng quân là con đường trở về Tổ quốc gần hơn con đường của những người đã rời sang Trung Đông.

Các đơn vị Ba Lan sơ tán khỏi Liên Xô cả một thời gian dài không tham gia chiến đấu và đóng quân tại I-rắc. ở các vùng Kê-rơ-cúc, Mô-xun, chừng nào bọn Hít-le còn lăm le xâm chiếm Ấn Độ - “hòn ngọc của Nữ hoàng Anh”.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 05 Tháng Tám, 2011, 04:31:31 pm
Tháng Bảy - tháng Tám 1943, quân đoàn bộ binh Ba Lan 2 được thành lập, vẫn do V. An-đéc-xơ chỉ huy, lấy trong số các đơn vị và các lực lượng Ba Lan khác đóng ở gần đó và cũng nhằm những mục đích trên. Thời gian thành lập quân đoàn cùng có điều đáng chú ý là nó trùng hợp với chiến dịch Cuốc-xcơ.

Trong một loạt chiến dịch tiếp sau, Hồng quân chẳng những đã quyết định mà còn củng cố thêm cho bước ngoặt trong quá trình chiến tranh vào thời gian ấy. Lúc đó. không ai còn lo lắng tới tình hình ở Trung Đông.
Quân đoàn vượt qua Pa-le-xtin tới Ai Cập, và trong những tháng đầu năm 1944 lại từ đó vượt sang I-ta-li-a rồi gia nhập tập đoàn quân 8 của người Anh. Biên chế chiến đấu của quân đoàn là gần 50000 chiến sĩ và sĩ quan, nêu tính cả các đơn vị hậu cần thì quân số của quân đoàn có tới trên 60000 người.

Các chiến sĩ Ba Lan chiến đấu trên sông Xan-gơ-rô, ở Môn-te Cát-xi-nô và An-cô-na, đã tỏ ra dũng cảm cao độ, thể hiện khí phách anh hùng trong những lần đột phá vào nhiều tuyến phòng ngự của địch. Chứng minh cho điều này là các tuyến chiến hào đã đánh chiếm được của địch ở Gu-táp, tuyến phòng ngự chủ yếu của các đơn vị Hít-le tại I-ta-li-a, và phải kể đến cả những đài kỷ niệm các chiến sĩ đã ngã xuống tại nơi đây. Khi chiến tranh kết thúc thì quân đoàn đang ở Bô-lô-nha. một thành phố mới được quân đoàn này giải phóng ngày 21 tháng Tư 1945.

Quân đoàn bộ binh 2 chỉ là một bộ phận của các lực lượng vũ trang Ba Lan ở phía Tây. Dựa vào sự giúp đỡ của các nước đồng minh, chính phủ lưu vong Ba Lan đã thành lập ở đây các binh đoàn và binh đội lục quân, không quân, hải quân.

Nhiều đơn vị đã chiến đấu quên mình chống lại địch. Ví như lúc mở mặt trận thứ hai ở Noóc-măng-đi, sư đoàn xe tăng 1 thành lập ở Xcốt-len, quân số có 15500 người đã hành động thu được nhiều kết quả. Sư đoàn chiến đấu trên hướng chủ yếu trong biên chế của tập đoàn quân Ca-na-đa 1 cho tới khi kết thúc chiến tranh. Lúc nước Đức phát-xít đầu hàng, thì sư đoàn lại có mặt ở bờ biển Bắc tại vùng Vin-ghen-kha-phen.

Lữ đoàn đổ bộ đường không độc lập 1, quân số khoảng 2000 người, đã tham gia chiến đấu trong biên chế của quân đội đồng minh tiến hành chiến dịch lớn bằng đổ bộ đường không lấy tên là “Mác-két Gác-đen” và đã tỏ ra anh dũng, kiên cưởng trong các trận đánh ở vùng Ác-nem.

Ta có thể bổ sung thêm nhiều dẫn chứng như trên, vì còn có cả những binh đoàn và binh đội bộ binh Ba Lan khác chiến đấu dũng cảm với quân thù, đóng góp vào sự nghiệp chiến thắng chung. Nhiều người chúng ta còn biết đến các phi công Ba Lan chiến đấu chống quân thủ trong hàng ngũ các lực lượng không quân Anh.

Đến cuối chiến tranh, đội ngũ các phi công Ba Lan có tới 14 tiểu đoàn, mỗi tiểu đoàn tương đương với một phi đội của chúng ta. Họ đã bắn rơi và bắn hỏng gần 1000 máy bay địch, tổ chức nhiều cuộc bắn phá vào các mục tiêu địch. Các lực lượng hải quân Ba Lan có quân số ít ỏi, nhưng đã dũng cảm tham dự các trận đánh, hộ tống các đoàn tàu và tổ chức đổ bộ đường biển ở Đại Tây Dương, Biển Bắc, Biển Na Uy và Địa Trung Hải.

Vào ngày Béc-lin đầu hàng, quân số chung các lực lượng vũ trang của Ba Lan ở phía Tây lên tới 194.500 người. Sau chiến tranh, khoảng 120000 người trở về Tổ quốc. Họ được đón tiếp tưng bừng trên đất nước và tìm thầy vị trí của mình trong công cuộc xây dựng nước Ba Lan nhân dân. Đó cũng là lẽ tất nhiên, vì tuyệt đại đa số các công dân Ba Lan đã dũng cảm chiến đấu nhằm giải phóng Tổ quốc. Máu họ đã đổ vì tự do của đất nước và chính vì thế đã được nhân dân vô cùng khâm phục, dù họ chiến đấu ở bất kỳ nơi đâu.

Nước Ba Lan nhân dân đánh giá cao chiến công của những người con của mình, đất nước cũng hiểu rõ toàn bộ chiều sâu của cái vực thẳm ngăn cách những chiến sĩ của đất nước với tập đoàn thống trị Luân Đôn mà mục tiêu chủ yếu của chúng là phục hồi chính quyền địa chủ và tư bản trước đây.

Trong khi ấy, ở Liên Xô, các binh đoàn và binh đội Ba Lan vẫn tiếp tục được xây dựng. Tướng Ca-rôn Xve-rơ-trép-xki, một trong những nhà hoạt động cách mạng và quân sự xuất sắc của Ba Lan, người yêu nước nhiệt thành, một chiến sĩ can đảm theo chủ nghĩa quốc tế, đã lãnh đạo công việc quan trọng này.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 05 Tháng Tám, 2011, 04:32:07 pm
Đến cuối năm 1943, bộ đội Ba Lan xây dựng được 3 sư đoàn bộ binh, 1 lữ đoàn pháo binh và 1 lữ đoàn xe tăng, 1 trung đoàn không quân, các đơn vị và phân đội cần thiết khác. Cũng giống như sư đoàn bộ binh 1, các đơn vị trên đều được Liên Xô trang bị và cung cấp không phải hoàn lại, được học tập những kinh nghiệm chiến đấu trong cuộc Chiến tranh giữ nước vĩ đại.

Các đơn vị Ba Lan lúc này thiếu sĩ quan, vì An-đéc-xơ đã lấy đi đại bộ phận các cán bộ chỉ huy Ba Lan. Do đó, trong các đơn vị Ba Lan có nhiều cán bộ chỉ huy Liên Xô, trước hết là các chuyên gia. Các sư đoàn xây dựng xong thì được hợp nhất lại thành quân đoàn 1. Đến giữa tháng Ba 1944, quân đoàn được phiên chế lại thành tập đoàn quân Ba Lan 1. Chỉ huy tập đoàn quân vẫn là tướng D. Béc-lin-gơ, người trước đây đã chỉ huy sư đoàn mang tên Ta-đê-út Cô-xti-u-scô.

Lúc này tập đoàn quân đóng ở Cô-ven, chuẩn bị về nước chiến đấu. Tư lệnh tập đoàn quân có thể quan hệ trực tiếp với Bộ tổng tham mưu và với cả Tổng tư lệnh tối cao. Bộ tổng tham mưu được lệnh phải có một đại biểu đặc biệt ở trong tập đoàn quân Ba Lan 1. Chúng ta đã cử đại tá N. M. Mô-lốt-cốp (sau là thiếu tướng) cùng với một nhóm sĩ quan - các đại tá A. X. Ép-xê-ép, M. Ph. Đu-brốp-xki, và đại úy E-rốp-ki-nôp, ra làm nhiệm vụ đó

Qua các tin tức đấu tranh vũ trang trên đất Ba Lan gửi về Bộ tổng tham mưu, chúng tôi được biết: dưới sự lãnh đạo của Đảng công nhân Ba Lan, các đội du kích của Quân cận vệ nhân dân đã được thành lập và cuộc đấu tranh tích cực chống bọn xâm lược đang triển khai sâu rộng trên đất Ba Lan.

Đầu năm 1944. khi Hồng quân phá vỡ mặt trận quân địch thì các hành động chiến đấu của các chiến sĩ nhân dân Ba Lan cũng sôi động hẳn lên. Trong phong trào hoạt động bí mật trên đất Ba Lan, theo sáng kiến và với sự tham gia trực tiếp của các đồng chí B. Be-rút, V. Gô-mun-ca và các nhà hoạt động khác của Đảng công nhân Ba Lan, cơ quan tranh đấu tối cao Ba Lan Crai-ô-va Ra-đa Na-rô-đô-va (Crai-ô-va Ra-đa Na-rô-dô-va (C. R. N) là một cơ quan dân chủ đại diện lâm thời của Mặt trận dân tộc Ba Lan, được thành lập ngày 1 tháng Giêng 1944 theo sáng kiến của Đảng công nhân Ba Lan. Dưới đây, khi nói tới tổ chức này, chúng tôi viết tắt C. R. N cho gọn - BT.) được thành lập.

Với niềm hy vọng và lòng tin tưởng lớn lao vào các lực lượng giải phóng Ba Lan, Bộ tổng tư lệnh tối cao Liên Xô được biết rằng ngày 3 tháng Giêng 1944, CRN đã thay mặt nhân dân Ba Lan ra lệnh hợp nhất Quân cận vệ nhân dân với các đơn vị vũ trang của các tổ chức cánh tả khác thành Quân đội nhân dân do tướng M. Rô-li-a Di-me-rơ-xki đứng đầu.

Theo đề nghị của bộ chỉ huy Ba Lan, Liên Xô cũng chi viện cho cả bộ phận này của lực lượng vũ trang của nhân dân Ba Lan đang buộc phải hoạt động ở sau lưng quân địch. Chúng ta đã chuyển cho họ vũ khí, đạn dược, thuốc men và các phương tiện cần thiết khác.

Các đội du kích Liên Xô dưới sự chỉ huy của các đồng chí P. P. Véc-si-gô-ra, I. N. Bô-côp, V A. Ca-ra-xép, N. A. Prô-cô-pi-úc và của các đồng chí khác đã vượt sang lãnh thổ Ba Lan. Các đội du kích Liên Xô và Ba Lan không những hoạt động riêng lẻ mà còn tổ chức các chiến dịch phối hợp chống bọn chiếm đóng phát-xít Đức ở ngay tại vùng Li-u-ben-si-na, hậu phương gần của quân địch.

Các kết quả thu được càng củng cố lòng tin vào thắng lợi sắp tới. Đến mùa hè năm 1944, trong hàng ngũ Quân đội nhân dân đã có tới hàng nghìn chiến sĩ phối hợp chiến đấu với các đơn vị của Liên Xô và Ba Lan đang tiến công.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 06 Tháng Tám, 2011, 10:23:14 am
Khi bắt đầu diễn ra những sự kiện quyết định trên hướng chiến lược phía Tây, những mối liên hệ với các nhà lãnh đạo chính trị và quân sự của các lực lượng dân chủ Ba Lan càng chặt chẽ hơn. Giữa tháng Năm 1944, các đại biểu được ủy nhiệm của CRN đến Liên Xô. Ngày 22 tháng Năm, Chính phủ Liên Xô tiếp các đại biểu được ủy nhiệm của CRN, và cũng chính trong ngày hôm đó, ở Đại bản doanh Bộ tổng tư lệnh tối cao Liên Xô cũng đang tiến hành thảo luận kế hoạch chiến dịch “Ba-gra-chi-on” - kế hoạch tiêu diệt quân phát- xít Đức ở Bê-lô-ru-xi-a.

Các đại biểu đã giới thiệu chi tiết cho Tổng tư lệnh tối cao và Liên minh những người yêu nước Ba lan biết về tình hình trên đất nước Ba Lan, trong đó có vấn đề thành lập Quân đội nhân dân. Buổi hội đàm thắm thiết tình hữu nghị đã diễn ra trên hai tiếng đồng hồ. Chính phủ Liên Xô công nhận CRN là đại biểu duy nhất của nhân dân Ba Lan và đáp ứng thỏa mãn mọi yêu cầu giúp đỡ về vật chất của CRN.

Trong thời gian các đại biểu ở thăm Liên Xô, chúng ta đã mời các đồng chí đi tham quan khắp U-crai-na và tới các đơn vị quân đội nhân dân Ba Lan. Khi ra về, các đồng chí rất vui lòng trước mối tình hữu nghị được củng cố bền chặt giữa hai dân tộc Ba Lan và Liên Xô.

*
*   *

Lúc bấy giờ, bộ đội Liên Xô đang chuẩn bị tiến công ở Cô ven. C. C. Rô-cô-xốp-xki, tư lệnh phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1, coi vùng đất đai rộng lớn và rất phức tạp ở Bê-lô-ru-xi-a, kể cả Pô-lê-xi-ê và Cô-ven, là vùng khá thuận lợi để tổ chức các chiến dịch thọc sâu táo bạo. Đồng chí cho rằng có thể từ phía Tây - Nam ở mạn sau Pô-lê-xi-ê đánh vu hồi vào cụm quân địch ở Bê-lô-ru-xi-a và hiệp đồng với các đơn vị tiến công ở phía Bắc vùng đầm lầy Pri-pi-át, tiêu diệt chúng trong vùng rừng đầm lầy này.

Kế hoạch chiến dịch tiến công bên sườn trái của phương diện quân phần nào phản ánh ý định đó của người chỉ huy quân sự nối tiếng. Kế hoạch tiến công bên sườn trái của phương diện quân được dự định bắt đầu khi phòng ngự của địch ở phía Bắc Pô-lê-xi-ê bị lung lay đến tận gốc, nhưng vẫn còn khả năng chống cự trên các tuyến phía Tây Bê-lô-ru-xi-a. Mũi đột kích ở Cô-ven riêng từ phía sườn và phía sau sẽ làm tiêu tan hẳn những hy vọng cuối cùng của quân địch định trụ lại trên lãnh thổ Bê-lô-ru-xi-a.

Mục tiêu của mũi đột kích này trước hết nhằm tiêu diệt cụm quân phát-xít Đức ở Cô-ven, theo tính toán của chúng ta trong thời gian ấy, thì ít ra nó cùng có tới 10 sư đoàn cùng với các phương tiện tăng cường. Sau khi đã chọc thủng hệ thống phòng ngự quân địch, kế hoạch vạch ra là sẽ phát huy thắng lợi ở hướng Bắc dọc theo hai bên bờ Đông và Tây con sông Tây Búc và từ ba phía - Đông - Nam, Tây và Bắc - đánh chiếm lấy pháo đài Brét.

Chiếm được Brét, các đơn vị cơ động phải tiến công tới Pru-gia-nư, Xlô-nim, hoặc tới Ben-xcơ, Bê-lô-xtốc. Dễ dàng nhận thấy rằng trong trường hợp chiến dịch thắng lợi, các đơn vị quân địch sẽ bị kẹp giữa hai mũi gọng kìm của các tập đoàn xung kích thuộc phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1. Tiêu diệt được quân địch trong khu vực này sẽ mở ra những triển vọng to lớn để sau này giải phóng Vác-sa-va.

Theo kế hoạch chiến dịch, trong giai đoạn đầu sẽ có 3 tập đoàn quân binh chủng hợp thành (tập đoàn quân 47 của tướng N. I. Gu-xép, tập đoàn quân cận vệ 8 của tướng V. I. Tsui-côp và tập đoàn quân 69 của tướng Côn-pác-tsi) đột phá phòng ngự của các đơn vị phát-xít Đức. Sau đó, tập đoàn quân xe tăng 2 của tướng X. I. Bô-gđa-nốp và tập đoàn kỵ binh - cơ giới của tướng V. V. Cri-u-cốp bước vào chiến đấu phát huy kết quả của chiến dịch.

Còn các tập đoàn quân binh chủng hợp thành (trừ tập đoàn quân 47) sẽ tiếp tục tiến công về phía Tây tới tuyến Li-u-blin, chuyển sang phòng ngự ở đây để bảo đảm cho phương diện quân trên hướng này. Các đồng chí dự định đến ngày 3 tháng Tám 1944 sẽ hoàn thành kế hoạch chiến dịch.

Như vậy là chiến dịch Cô-ven của các đơn vị bên sườn trái phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1 được trù tính là giai đoạn quyết định các hành động của bộ đội ta trên đường tiến quân tới Vác-sa-va. Kế hoạch chiến dịch không dự kiến đánh chiếm thủ đô Ba Lan và vượt sông Vi-xla, nhưng nếu tiêu diệt được cụm quân địch quan trọng nhất trong khu vực Brét thì thực chất là ta đã mở được cửa vào Vác-sa-va.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 06 Tháng Tám, 2011, 10:24:15 am
Thế nhưng, các sự kiện quân sự và chính trị xảy ra sau khi Đại bản doanh phê chuẩn chiến dịch được ít lâu lại khiến cho kế hoạch chiến dịch có những thay đổi quan trọng. Bắt đầu từ những sự kiện quân sự. Viên thống chế tư lệnh Mô-đen, được cử thay viên thống chế tư lệnh Phôn Bu-sơ làm tư lệnh Cụm tập đoàn quân “trung tâm), không chờ chúng ta đột kích vào Cô-ven. Rạng ngày 5 tháng Bảy, y bỏ lại vùng Cô-ven đất thấp, rút quân về phía Tây tới tuyến Pa-ra-đu-bư, Tác-gô-vi-xe đã được chuẩn bị sẵn, dựa vào các điểm cao có lợi. Các phân đội của sư đoàn mô-tô SS “vi-kinh” chuyển thuộc quyền chỉ huy của Mô-đen đã được bí mật điều động trước đến đây.

Như vậy là chúng đã thành lập ra một khu vực cứ điểm độc đáo mà bộ đội ta chưa biết tới. Ý định của Mô-đen cũng đơn giản: y cho rằng các cán bộ chỉ huy Liên Xô khi thấy quân chúng rút lui sẽ nhanh chóng lao tới truy kích, do đó sẽ rơi vào cái túi hỏa lực bất ngờ của các xe tăng chúng đặt ngầm dưới đất, nên sẽ bị thiệt hại nặng. Âm mưu này của chúng không phải là cao tay lắm, thế nhưng các cán bộ chỉ huy chúng ta cũng bị mắc vào tròng. Nguyên nhân của những sai lầm này là do phần nào chúng ta “say sưa trước những thắng lợi” trong quá trình chiến dịch Bê-lô-ru-xi-a.

Thấy địch rút lui, N. I. Gu-xép, tư lệnh tập đoàn quân, liền tung ngay các chi đội phái đi trước gồm 3 sư đoàn vọt lên. Các chi đội đánh tan ngay các đơn vị yểm hộ mỏng yếu của địch và chiếm lấy Cô-ven cùng các vùng dân cư khác. Đồng thời, tư lệnh tập đoàn quân báo cáo tình hình cho tư lệnh phương diện quân lúc này đang ở trong vùng Cô-ven, nhận định rằng quân địch đang tổ chức rút lui toàn bộ.

Về phía mình, C. C. Rô-cô-xốp-xki cũng lại báo cáo ngay tình hình trên cho Gh. C. Giu-cốp, đại diện của Đại bản doanh. Gh. C. Giu-côp không phủ nhận khả năng rút lui của địch nhưng đồng chí cho rằng cần phải xác nhận thật đầy đủ tình hình tháo chạy của địch đã. Đồng chí lệnh cho tư lệnh phương diện quân khi đã xác nhận đúng là cụm quân Cô-ven của địch rút chạy, thì phải nhanh chóng chuyển sang tiến công ngay, tung các tập đoàn quân 47, 69, các quân đoàn xe tăng 8, 11 và 2 quân đoàn kỵ binh vào giao chiến.

Ngày hôm sau, quân địch vẫn tiếp tục rút lui. Trong ngày 6 tháng Bảy, các tập đoàn quân của Gu-xép và Côn-pác-tsi tiến sâu được 9 ki-lô-mét. Chúng ta lấy được tấm bản đồ của một sĩ quan địch thuộc sư đoàn bộ binh 342 đã bị giết, có đánh dấu tuyến rút lui của sư đoàn này tới sông Tây Búc. Lúc này, tư lệnh phương diện quân và đại diện của Đại bản doanh không còn nghi ngại gì nữa.

Nhưng lại nảy sinh ra một vấn đề khác là bộ đội sẽ hành động theo kế hoạch nào, vì việc rút chạy của địch làm thay đối hẳn tình hình và mở ra những khả năng mới. Mọi điều lệnh chiến đấu của ta đều nói rõ là khi địch rút lui, phải nhanh chóng và rất khẩn trương truy kích chúng. Tình hình đã diễn ra như vậy Thế nhưng lúc này lại cần phải chuẩn xác thêm kế hoạch chiến dịch. Gh. C. Giu-cốp và Hội đồng quân sự phương diện quân trực tiếp bắt tay vào giải quyết các công việc trên.

Trong khi ấy, bộ đội vẫn tiếp tục truy kích địch. Tư lệnh tập đoàn quân 47 yêu cầu thiếu tướng Ph. N. Rút-kin. chỉ huy quân đoàn xe tăng 11 phối thuộc tập đoàn quân, phải hành động táo bạo ngay, nhưng lại không áp dụng những biện pháp thỏa đáng nhằm tổ chức trinh sát sâu hơn và toàn diện hơn, không bảo đảm hỏa lực của pháo binh và không quân chi viện cho tiến công, vội vã cho rằng lúc này bọn Hỉt-le đang chạy “thục mạng để hòng thoát thân”.

Về phía mình, quân đoàn trưởng và các chỉ huy lữ đoàn trong quân đoàn cũng nhận định rằng quân địch tháo chạy, và do không đủ thời gian, nên đã vội vã tung các binh đoản vào chiến đấu, cũng không kịp nghĩ tới việc hiệp đồng với pháo binh và không quân, không tổ chức đầy đủ các mặt trinh sát.

Hồi 11 giờ ngày 8 tháng Bảy, quân đoàn xông lên phía trước. Hai lữ đoàn xe tăng được triển khai lại không tiến hành trinh sát sơ bộ địa hình, nên phải hành động mò mẫm. Thậm chí, các đồng chí còn cho rằng không cần phải triển khai cả những trung đoàn pháo tự hành thuộc biên chế của quân đoàn. Bộ binh không tiến công sau xe tăng.

Công tác tổ chức chiến đấu của quân đoàn thiếu sót như vậy, nên khi các lữ đoàn xe tăng vấp phải tuyến phòng ngự có tổ chức vững chắc của địch, đã bị thiệt hại nặng. Và, mặc dầu các lữ đoàn ra sức đột phá dưới tầm hỏa lực bắn thẳng của các xe tăng địch đặt ngầm dưới đất nhưng cũng không sao hoàn thành được nhiệm vụ chiến đấu.

Bài học thật sâu sắc. “con thú bị thương” điên cuồng gầm gừ. Chỉ một sai lầm rất nhỏ trong công tác tổ chức chiến đấu, đánh giá địch không đầy đủ cũng có thể bị trả giá rất đắt...



Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 06 Tháng Tám, 2011, 10:25:09 am
Gh. C. Giu-côp nhận được tin trên, ra lệnh phải điều tra ngay tình hình và báo cáo cho Xta-lin: “tôi cho rằng - Gh. C. Giu-côp kết thúc bản báo cáo - phải cách chức thiếu tướng Rút-kin. chỉ huy trưởng quân đoàn, cử người có năng lực và có trách nhiệm hơn đứng ra chỉ huy quân đoàn.

Đại bản doanh cần ra lệnh khiển trách Gu-xép về thái độ thiếu trách nhiệm của mình...”. 

Tổng tư lệnh tối cao yêu cầu tướng G. N. ô-ren, chủ nhiệm binh chủng xe tăng của phương diện quân, báo cáo bổ sung thêm các nguyên nhân đánh không thắng, sau đó mới ra lệnh cách chức chỉ huy trưởng quân đoàn.

Bộ tổng tham mưu cũng rất đau xót trước sai lầm đó, nhất là đối với tôi, vì Ph. N. Rút-kin là bạn đồng học trong Học viện mô-tô cơ giới của Hồng quân công nông trước đây.

Vì đại diện của Đại bản doanh và Hội đồng quân sự phương diện quân chưa biết rõ các hành động sau này của địch như thế nào, nên buộc phải dự kiến nhiều phương án khác nhau để triển khai chiến dịch. Nếu địch phòng ngự trên các điểm cao ở phía Đông Tây Búc thì phương diện quân vẫn tiến hành chiến dịch theo kế hoạch cũ, chỉ cần sửa chữa lại đôi chút. Còn nếu như địch rút chạy “và rất có khả năng lại như vậy) thì mũi đột kích chủ yếu sẽ đánh vào Đem-blin tiến ra Vi-xla và phát huy chiến quả theo dọc bờ Đông sông Vi-xla tới các vùng phụ cận Vác-sa-va - Pra-ha.

Phương diện quân cần đánh chiếm lấy căn cứ đầu cầu ở bên kia sông Vi-xla để sau này có thể dùng làm bàn đạp tiến công vế phía Tây. Các mũi đột kích thứ yếu dự định đánh vào Xét-lét (sử dụng lực lượng của tập đoàn quân 47 có các quân đoàn xe tăng và kỵ binh tăng cường) và ở hướng Bắc thì vào Brét (sử dụng lực lượng của tập đoàn quân 70), thu hẹp dải phòng ngự của địch ở phía trước các tập đoàn quân cánh phải của phương diện quân.

Trong kế hoạch này, nhiệm vụ sử dụng một phần lực lượng các tập đoàn quân cánh trái của phương diện quân để đánh vào khu vực Vác-sa-va được kết hợp tuyệt vời với ý định tổ chức hợp vây sâu hơn quân địch ở vùng Brét. Bộ tổng tham mưu chú ý nghiên cứu toàn diện kế hoạch đó và báo cáo lên Tổng tư lệnh tối cao. Ngay trong ngày hôm đó, ngày 7 tháng Bảy, An-tô-nốp gửi cho Gh. C. Giu-côp bức điện của Đại bản doanh phê chuẩn kế hoạch.

Căn cứ vào kinh nghiệm đau đớn của quân đoàn xe tăng 11, chúng ta có thể rút ra kết luận là không đột phá tuyến phòng ngự địch trong hành tiến được. Do đó, yêu cầu phải chuẩn bị đột phá có kế hoạch và phải bảo đảm toàn diện cho kế hoạch đột phá. Muốn vậy, cần phải có một số thời gian. Chiến dịch ở khu vực Cô-ven được lệnh hoãn tới ngày 18 tháng Bảy.

Vào thời gian này, bộ đội của phương diện quân U crai-na 1 sẽ chuyển sang tiến công vào Lơ-vốp, bẻ gãy phòng ngự địch và tạo nên ở sườn phải của mình trong khu vực Vla-đi-mia - Vô-lưn-xki các tiền đề có lợi cho các tập đoàn quân cánh trái thuộc phương diện quân của C. C. Rô-cô-xốp xki hành động. Để khỏi phải quay trở lại vấn đề này, tôi xin phép nói luôn là cuộc tiến công của phương diện quân U-crai-na 1 đã bắt đầu thắng lợi vào ngày 13 tháng Bảy 1944

Ngay ở bên sườn phải của phương diện quân - trên hướng Brét, các nhiệm vụ được giải quyết cũng không phải dễ dàng. Bộ tổng tham mưu và bộ tư lệnh phương diện quân rất lo lắng vì tốc độ tiến quân của các đơn vị ta ở đây chậm. Quân đội của Hít-le điên cuồng phòng ngự chống trả lại ở khu vực Ba-ra-nô-vi-tsi, một trung tâm đường sá quan trọng và là điểm tựa phòng ngự mạnh của quân địch. Chúng ra sức chống cự không cho các tập đoàn quân của ta tới được Brét nơi chúng ta dự định sẽ hợp vây chúng.

Gh. C. Giu-cốp đáp máy bay cấp tốc tới khu vực Ba-ra-nô-vi-tsi để đẩy mạnh tốc độ thủ tiêu quân địch cụm lại ở đây Sau khi thỏa thuận với C. C. Rô-cô-xốp-xki đang ở lại Cô-ven, Gh. C. Giu-cốp đã tổ chức tại chỗ mũi vu hồi của các lực lượng tập đoàn kỵ binh - cơ giới của I. A. Pli-ép từ mặt phía Bắc đánh vào Ba-ra-nô-vi-tsi, phối hợp với các hoạt động của tập đoàn quân 65 của P. I. Ba-tốp tại đây, điều động tập đoàn quân 28 của A. A. Lu-trin-xki tiến công cắt quãng đường sắt Ba-ra-nô-vi-tsi - Xlô-nim. Ngày 8 tháng Bảy, bộ đội ta chiếm được Ba-ra-nô-vi-tsi.

Trong lúc các đơn vị Liên Xô tiến công thắng lợi tới biên giới Ba Lan, thì đã xảy ra một sự kiện rất quan trọng đối với sứ mệnh giải phóng của quân đội Liên Xô và Ba Lan. Ngày 21 tháng Bảy, trong phiên họp của CRN tại thành phố Khen-mơ - mảnh đất nhỏ đầu tiên của Ba Lan được giải phóng khỏi bọn chiếm đóng Hít-le, đã thành lập ra chính phủ lâm thời của nước Ba Lan dân chủ: ủy ban giải phóng dân tộc Ba Lan. Sang ngày hôm sau, ủy ban ra bản tuyên ngôn kêu gọi nhân dân Ba Lan đứng lên đấu tranh nhằm giải phóng hoàn toàn đất nước chống bọn Hít-le và củng cố sự hợp tác với các lực lượng dân chủ trên thế giới, trước hết là với Liên Xô.

Bản tuyên ngôn còn công bố nhiệm vụ hàng đầu là phải tiến hành cải cách dân chủ các cơ sở của nhà nước Ba Lan. Chính quyền cách mạng mới cho rằng một trong những nhiệm vụ trước mắt là thành lập Quân đội Ba Lan.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 06 Tháng Tám, 2011, 10:26:02 am
*
*   *

Trong những ngày dồn dập nhiều sự kiện quan trọng này, chúng ta được tin từ trong lòng địch: ngày 20 tháng Bảy, nổ ra vụ mưu sát Hít-le ở trong Tổng hành dinh của Đức. Nguyên nhân của vụ mưu sát này chúng ta chưa được rõ, thế nhưng bản thân sự kiện ấy cũng đủ chứng minh rằng trong hàng ngũ của Đế chế thứ ba đã có những sự bất đồng sâu sắc.

A. A. Grư-dơ-lốp báo cáo bằng điện thoại tới phương diện quân Pri-ban-tích 3 cho tôi biết tin vụ mưu sát đó. Thời gian này, tôi đang công tác tại đây. Cả hai chúng tôi đều lấy làm tiếc vì tên tội phạm trọng yếu vẫn còn sống sót.

Ít lâu sau, tin tức về vụ mưu sát đó từ nước Đức cũng bay tới mặt trận. Thư từ của quân lính địch viết về vụ mưu sát không tới địa chỉ của người nhận mà lọt vào tay chúng tôi, vì lý do cuộc tiến công của chúng ta đã phát triển quá nhanh, khiến những người đưa thư của địch không nhận được ra đâu là mặt trận của bọn chúng, nên đã chạy lạc sang hàng ngũ ta.

Các tập đoàn quân bên cánh trái của phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1 tiến công sang ngày thứ tư và khi đã vượt qua được tuyến sông Tây Búc (biên giới giữa Liên Xô và Ba Lan). thì Gh. C. Giu-cốp, C. C. Rô-cô-xốp-xki và N. A. Bun-ga-nin, ủy viên Hội đồng quân sự, nhận được lệnh của Đại bản doanh: phải chiếm Li-u-blin trước ngày 26-27 tháng Bảy. Các đồng chí quy định sẽ sử dụng trước hết tập đoàn quân xe tăng 2 của X. I. Bô-gđa-nốp và quân đoàn kỵ binh cận vệ 7 của M. P. Côn-xtan-ti-nốp để mở mũi tiến công này.
Mệnh lệnh trên phần nào làm thay đổi kế hoạch của phương diện quân. nên Đại bản doanh giải thích phải đánh chiếm Li-u-blin là vì lợi ích của nước Ba Lan dân chủ độc lập.

Ngày 23 tháng Bảy, bộ đội của phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1 giải phóng được Li-u-blin. Chỉnh phủ lâm thời Ba Lan bắt đầu làm việc trong thành phố, nó sẽ phải khôi phục lại nhà nước Ba Lan và tổ chức cuộc đấu tranh vũ trang của nhân dân phối hợp với Hồng quân chống lại bọn chiếm đóng Hít-le.

Cùng ngày hôm ấy, I. V. Xta-lin gửi cho U. Sớc-sin bức thông điệp nói rõ lập trường của Liên Xô đối với việc quản lý nước Ba Lan. “Chúng tôi không muốn và cũng sẽ không đặt cơ quan hành chính của mình trên lãnh thổ Ba Lan, vì chúng tôi không muốn can thiệp vào các công việc nội bộ của Ba Lan. Các đồng chí Ba Lan sẽ tự làm lấy các công việc đó của mình”. (Thư từ giữa Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Liên Xô với Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Anh trong thời gian cuộc Chiến tranh giữ nước vĩ đại 1941-1945. Tiếng Nga. t.1. tr. 244. ).

Bộ tổng tham mưu được chỉ thị về quan hệ qua lại với chính quyền Ba Lan và ra những chỉ thị phù hợp cho bộ đội Liên Xô.

Cụm tập đoàn quân “trung tâm” của phát-xít Đức bị tiêu diệt, và các phương diện quân ở hướng Tây tiến ra biên giới quốc gia Liên Xô có nghĩa là nhiệm vụ chủ yếu của bộ đội Liên Xô trong chiến dịch giải phóng Bê-lô-ru-xi-a đã gần được hoàn thành. Trong những trường hợp như thế, thường phải xác định hướng chiến lược mới hoặc sửa chữa lại kế hoạch hành động của các phương diện quân.

Ngày 19 tháng Bảy 1944, nguyên soái Gh. C. Giu-cốp viết cho Tổng tư lệnh tối cao một báo cáo riêng, nói rõ ý kiến của mình về việc tổ chức các chiến dịch sau này của các phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a mà lúc ấy đồng chí là đại diện của Đại bản doanh ở đó:

“1. M ục tiêu chiến lược chủ yếu của các phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1, 2, 3 trong giai đoạn trước mắt là: tiến ra Vi-xla, tới tận vịnh Đan-xích và chiếm lấy Đông Phổ hoặc là khi tiến quân ra Vi-xla đồng thời sẽ cắt Đông Phổ ra khỏi nước Đức Trung ương”.

Như bạn đọc thấy, Phó Tổng tư lệnh tối cao cho rằng nhiệm vụ tiêu diệt Cụm tập đoàn quân “trung tâm) và giải phóng Đông Ba Lan là nhiệm vụ phải thực hiện bằng được. Theo ý kiến của đồng chí thì chiến dịch đánh vào Đông Phổ là chiến dịch phức tạp và khó khăn hơn:

“2. Đông Phổ có nhiều cứ điểm, thiết bị công trình vững chắc, điều kiện tự nhiên thuận lợi, sẽ là một trở lực rất quan trọng. Các đường tiếp cận vào Khuê-ních-xbéc ở mặt Đông - Nam và mặt Nam vào phải 5 tuyến cứ điểm bảo vệ, còn mặt phía Đông và thêm nữa, ở phía Tây In-xtéc-buốc, địch đã chuẩn bị một khu vực có thể làm ngập nước cả vùng”.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 06 Tháng Tám, 2011, 10:26:47 am
Gh. C. Giu-cốp cho rằng hướng tiến công có lợi nhất vào Đông Phổ là:

“hướng thứ nhất - từ khu vực Tin-dít dọc theo hai bên bờ đánh vào hướng chung tới Khuê-ních-xbéc qua Li-bốt;

hướng thứ hai - từ khu vực Cau-na-xơ, A-li-tút qua Gum-bi-nen tới Khuê-ních-xbéc. sẽ đánh vòng qua khu vực bị ngập nước ở mặt phía Nam và khu vực các cứ điểm Lét-xen-xki.

mũi đột kích thứ ba - từ khu vực Mơ-la-va qua Khô-khen-xtây, A-len-stai-nơ tới Bra-un-xbéc.

Ngoài ra, phải tung một tập đoàn mạnh ở phía Đông Vi-xla, đánh vào hướng chung Ma-ri-en-buốc để chia cắt Đông Phổ ra khỏi vùng Đan-xích".

Nhận thấy mũi đột kích từ khu vực Tin-dít chỉ có thể tiến hành khi đã quét địch ra khỏi Lít-va, nên Giu-cốp cho rằng hướng thứ hai và hướng thứ ba có thể sử dụng được khi các phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 3 và 2 phát triển tiến công.

“Tséc-ni-a-khốp-xki có thể đột kích vượt qua Gum-bi-nen nhưng phải sử dụng một bộ phận lực lượng tiến công ở phía Bắc khu rừng Áp-gu-xtốp qua Xu-van-ki tới Gôn-đáp.

Phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 2 phải đột kích từ khu vực Mơ-la-va vào các hướng sau đây:

a) một tập đoàn đánh vào A-len-stai-nơ;

b) một tập đoàn đánh vào Ma-ri-en-buốc để tiến ra vịnh Đan-xích;

c) một tập đoàn phải tiến ra Vi-xla trên khu vực Prút-di-an-xcơ, Ne-sa-va, và trụ lại tại đây.

Ở bên trái, phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1 phải tiến ra giới tuyến giáp phương diện quân U-crai-na 1. Tại đây phương diện quân nhất thiết phải chiếm lấy các căn cứ bàn đạp tốt ở bên bờ phía Tây sông Vi-xla”.

Trong báo cáo của đồng chí còn nói tới những dự kiến khác, chẳng hạn về lực lượng của các phương diện quân. Nguyên soái Giu-cốp báo cáo: phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1 cần được bổ sung 300 xe tăng và 100 pháo tự hành. Còn phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 2 thì ngoài 3 tập đoàn quân ra, cần được bổ sung thêm một tập đoàn quân binh chủng hợp thành với gồm 9 sư đoàn và một quân đoàn bộ binh với biên chế gồm 3 sư đoàn, một tập đoàn quân xe tăng hoặc 2-3 quân đoàn xe tăng, cùng các phương tiện tăng cường khác, kể cả kỵ binh và không quân.

Cuối cùng, tác giá của kế hoạch trên còn đề nghị cả tuyến phân giới giữa các phương diện quân. Báo cáo kết thúc bằng câu: “Để chuẩn bị cho các chiến dịch sắp tới, đề nghị đồng chí nên triệu tập cả Va-xi-lép-xki về dự họp”.

Báo cáo trên của Giu-cốp đồng gửi cho A. I. An-tô-nốp một bản. A. I. An-tô-nốp báo cáo lên Tổng tư lệnh tối cao rằng theo ý kiến của đồng chí, trong kỳ họp sắp tới không chỉ bàn đến các chiến dịch của các phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a mà của khắp các mặt trận - từ Pri-ban-tích tới Các-pát, I. V. Xta-lin đồng ý và cho lệnh triệu tập cả Gh. C. Giu-cốp và A. M. Va-xi-lép-xki. Phiên họp ấn định vào ngày 27-29 tháng Bảy.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 06 Tháng Tám, 2011, 10:27:36 am
*
*   *

Thời gian mở những mũi đột kích quyết liệt mới đánh vào quân địch ở phía Tây - Nam đã đến. Chúng ta cần xác định rõ lại một lần nữa nhiệm vụ và hướng nỗ lực chủ yếu của các phương diện quân đang tiến công, kiểm tra và chấn chỉnh lại những nơi nào cần thiết, xác định tính chất hiệp đồng, quy định các cụm lực lượng của phương diện quân, thứ tự thành lập, nơi bố trí và sử dụng các đội dự bị của Đại bản doanh.

Ngoài ra, Bộ tổng tư lệnh tối cao còn phải giải quyết theo cách mới một số vấn đề về chỉ huy các đơn vị, phối hợp sự nỗ lực và kiểm tra mọi hành động của các phương diện quân. Chúng ta cần phải tăng cường theo dõi việc tiến hành và bảo đảm cho các chiến dịch.

Tình hình lúc này có vấn đề phải quan tâm là, bộ đội ta giành được nhiều thắng lợi to lớn và đánh giá thấp địch. Do đó tính nghiêm khắc trên một số mặt như tiến hành trinh sát, tuân thủ nguyên tắc tập trung lực lượng và hành động của các tập đoàn xung kích, có hiện tượng bị lơi lỏng. Có nơi, có lúc, chúng ta phát hiện thấy hiện tượng phân tán các lực lượng và phương tiện, ví dụ như ở các đơn vị cơ động, không quân và một bộ phận pháo binh. Ngay I. X. Cô-nép - một kiện tướng về tổ chức các mũi đột kích tập trung và biết nhanh chóng phát huy thắng lợi trong thời gian chuẩn bị cho chiến dịch Lơ-vốp cùng vẫn không tránh khỏi các thiếu sót ấy.

Khi tập đoàn quân xe tăng cận vệ 3 của P. X. Rư-ban-cô tiến sâu vào phía sau cụm quân Lơ-vốp của địch. Gh. C. Giu-cốp đại diện Đại bản doanh - và tư lệnh phương diện quân cho rằng địch sẽ bỏ Lơ-vốp và bắt đầu rút lui. Ngày 23 tháng Bảy, các đồng chí báo cáo cho Tổng tư lệnh tối cao rõ quyết định tiếp tục tiến công của các tập đoàn quân xe tăng của Ca-tu-cốp, Rư-ban-cô, Lê-liu-sen-cô và quân đoàn kỵ binh của Ba-ra-nốp. Các binh đoàn tiến công theo hình cánh cung tới Tren-xtô-khôp và Cra-cốp không thể hiện rõ đâu là binh đoàn chủ yếu.

Tổng tư lệnh tối cao và Bộ tổng tham mưu suy nghĩ khác hơn. Cũng có thể, địch sẽ bỏ lại Lơ-vốp, như vậy mọi việc sẽ tốt đẹp. Nhưng, nếu bọn chúng lại cố giữ lấy Lơ-vốp thì tình hình rồi sẽ ra sao? Trong trường hợp này, phía sau các đơn vị chúng ta sẽ còn lại cả một trung tâm giao thông to lớn và khu vực phòng ngự rất quan trọng của địch, còn ở bên sườn là khu vực Xta-ni-xláp vẫn do địch chiếm giữ. Bộ đội Liên Xô sẽ lâm vào nguy cơ bị cắt khỏi đường tiếp tế đạn dược và lương thực.

Ngày 24 tháng Bảy, Đại bản doanh ra chỉ thị về vấn đề này như sau:

“Đại bản doanh Bộ tổng tư lệnh tối cao cho rằng kế hoạch sử dụng các tập đoàn quân xe tăng và quân đoàn kỵ binh của các đồng chí trong lúc này là hơi sớm và nguy hiểm, vì chiến dịch đó không thể bảo đảm về mặt vật chất và chỉ dẫn tới kết quả làm suy yếu và phân tán các cánh quân xung kích của ta.

Căn cứ vào tình hình trên, Đại bản doanh Bộ tổng tư lệnh tối cao ra lệnh trước hết phải tiêu diệt cụm quân Lơ-vốp của địch và không cho chúng rút sang bên kia sông Xan hoặc tới Xam-bo, do đó:

1) Tập đoàn quân xe tăng cận vệ 1 của Ca-tu-côp và quân đoàn kỵ binh cận vệ 1 của Ba-ra-nốp sẽ đánh chiếm khu vực I-a-rô-xláp, Pê-rê-mư-slơ để cắt các đường rút lui chính sang phía Tây của cụm quân Lơ-vốp của địch.

2) Sử dụng tập đoàn quân xe tăng cận vệ 3 của Rư-ban-cô và tập đoàn quân xe tăng 4 của Lê-liu-sen-cô để tiêu diệt cụm quân Lơ-vốp của địch và đánh chiếm thành phố Lơ-vốp, hiệp đồng với tập đoàn quân 60 của Cu-rồt-kin.

Các đồng chí cần chú ý rằng, nếu không chiếm được Lơ-vốp, một trung tâm đường sắt quan trọng, thì sau này chúng ta sẽ không thể phát triển tiến công mạnh sang phía Tây tới Cra-côp được.

3) Sử dụng quân đoàn kỵ binh cận vệ 6 của Xô-cô-lốp tập kích vào sau lưng cụm quân Cra-xnô-xtáp-xki của địch theo hướng chung Tô-ma-súp, Cra-xních; hiệp đồng với tập đoàn quân cận vệ 3 của Gô-rơ-đốp và cánh trái của phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1 tiêu diệt chúng.

4) Trong những ngày tới đây, cuộc tiến công sang phía Tây giới hạn trong phạm vi tiến tới sông Xan, chiếm lĩnh các bên vượt và căn cứ đầu cầu bên bờ Tây con sông này...”

Như vậy là vấn đề sử dụng các đơn vị cơ động và tiêu diệt quân địch trực tiếp ở khu vực Lơ-vốp đã được giải quyết và phương thức phát triển thắng lợi của phương diện quân U crai-na 1 đã được quy định. Nếu chúng ta nhớ đến trận đánh cố thủ tại căn cứ bàn đạp Xan-đô-ni-a, đã gây cho ta nhiều khó khăn biết bao, mặc dầu phía sau lưng các đơn vị chúng ta hoàn toàn được bảo đảm, chúng ta mới thấy rõ sự sáng suốt đó của Đại bản doanh.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 06 Tháng Tám, 2011, 10:28:21 am
Bộ tổng tư lệnh tối cao Liên Xô lúc nào cũng cố gắng “ngay cả trong trường hợp này” không để tình trạng tiến nhanh một cách không có căn cứ. Xu hướng muốn tiến hành tiến công rộng khắp mà không bảo đảm đầy đủ cho tiến công là một xu hướng rất nguy hiểm, nhất là khi bộ đội ta tiến công ở trên lãnh thổ các nước ngoài, ở đây, kẻ địch gần các căn cứ của chúng hơn và có các mạng đường sá sẵn có để chuyển mọi thứ cần thiết lên phía trước. Còn ngược lại, chúng ta ở xa các căn cứ của mình và buộc phải khôi phục và xây dựng các con đường sắt. Trong những điều kiện ấy, chúng ta cần biết gìn giữ mình một cách toàn diện và thận trọng. tránh những ngẫu nhiên xảy tới.

Trong những ngày Đại bản doanh tiến hành hội nghị thì trên đất nước Ba Lan lại diễn ra những tình hình quân sự, chính trị phức tạp.

Đến hết ngày 25 tháng Bảy, bộ đội của tập đoàn quân xe tăng 2 của X. I. Bô-gđa-nốp và tập đoàn quân cận vệ 8 của V. I. Tsui-cốp sau khi chiếm được Đem-blin và Pu-la-vư đã tiến ra bờ Đông sông Vi-xla. Cũng trong thời gian ấy, quân đoàn kỵ binh cận vệ 2 của V. V. Cri-u-cốp chiến đấu ở vùng ven phía Nam thành phố Xét-lét, mà như tất cả chúng ta hồi đó hình dung, là sẽ từ Xét-lét mở đường thẳng tiến đến Vác-sa-va.

Thế nhưng, bộ đội ta không phát huy được kết quả vì bộ chỉ huy Đức đã điều những lực lượng mới tới đây. Địch dùng xe tăng và bộ binh tổ chức phản kích trong hai ngày trước đó ở bên sườn phải của phương diện quân, chúng đã phản kích đặc biệt mạnh trong dải của tập đoàn quân 65 của P. I. Ba-tôp. Các đợt phản kích của địch bị đánh lui, nhưng tốc độ tiến công của bộ đội ta cũng giảm xuống hẳn.

Ngày 27 tháng Bảy, tập đoàn quân 28 của tướng A. A. Lu-trin-xki từ phía Đông và tập đoàn quân 70 của tướng V. X. Pô-pốp từ phía Tây và Tây - Nam đã hợp vây được đại bộ phận cụm quân địch ở khu vực Brét, phải mất 2 ngày mới tiêu diệt được chúng.

Còn tập đoàn quân 69 của V. I-a. Côn-pác-tsi hành động tích cực đã vọt tới Vi-xla ở phía Nam Pu-la-vư. Chi đội phái đi trước của tập đoàn quân đã vượt sông, chiếm được một căn cứ đầu cầu không lớn lắm và đã lập tức mỏ rộng căn cứ đó

Từ ngày 27 tháng Bảy, chiến sự ở vùng Xét-lét diễn ra đặc biệt ác liệt. Các lực lượng chủ yếu của tập đoàn quân 47, lúc đó do tướng N. I. Gu-xép chỉ huy, cùng với tập đoàn quân xe tăng 2 đã tiến công ở đây. Các chiến sĩ xe tăng nhận nhiệm vụ đánh chiếm Pra-ha, các bến vượt qua sông Vi-xla và cắt đường rút về phía Tây của cụm quân phát-xít Đức đang ở phía Đông sông Vi-xla.

Sau khi cân nhắc khả năng tiếp tục phát triển tiến công trên hướng Vác-sa-va dọc theo hai bên bờ Đông và Tây sông Vi-xla, bộ tư lệnh phương diện quân đã tung tập đoàn quân Ba Lan 1 vào làm nhiệm vụ thê đội 1 ở khu vực Rư-xít-xe (phía Bắc Đem-blin 10 ki-lô-mét), khu Vlô-xtô-vi-xe (phía Nam Pu-la-vư 10 ki-lô-mét). 

Việc tập đoàn quân Ba Lan 1 tiến quân ở thê đội 1 có một ý nghĩa chiến đấu và chính trị-tinh thần to lớn. Bộ chỉ huy Liên Xô gìn giữ tập đoàn quân này và cho mãi tới lúc ấy mới thấy cần thiết tung tập đoàn quân vào tác chiến. Hồi đó khi vượt qua biên giới Ba Lan, bộ chỉ huy tập đoàn quân đã gửi cho Bộ tổng tư lệnh tối cao Liên Xô bức điện ngắn có chữ ký của tư lệnh Dích-mun Béc-lin-gơ: “Chúng tôi đã qua Búc. Thay mặt toàn thể chiến sĩ trong tập đoàn quân, chúng tôi chân thành chào mừng đồng chí Xta-lin!.. Dũng khí của các chiến sĩ lên cao chưa từng thấy. Tập thể chiến sĩ tình nguyện...”

Từ phía “những người ở Luân đôn” (chỉ bọn chính phủ tư sản Ba Lan lưu vong. - ND.) lại tung ra những tin khác. Chúng không thừa nhận quân đội của Béc-lin-gơ là quân đội Ba Lan, gọi các chiến sĩ yêu nước là những người đánh thuê. Chúng ra sức áp đặt quyền bính của mình và chế độ lỗi thời cũ lên đất Ba Lan. Một trong những nhật lệnh của họ đã nói thẳng ra là mọi mưu toan “thành lập các trung tâm cánh tả của các chính phủ đều sẽ bị đàn áp thẳng tay, thậm chí còn sử dụng cả sức mạnh”. Thủ tướng Anh tìm mọi cách ủng hộ các đại biểu của phái các chính trị gia tư sản đó.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 06 Tháng Tám, 2011, 10:29:17 am
Đại bản doanh được tin: ngày 27 tháng Bảy, X. Mi-cô-lai-chích, thủ tướng mới của chính phủ tư sản lưu vong Ba Lan từ Luân Đôn lên đường sang Mát-xcơ-va. Chuyến đi này của y có lẽ do nhiều nguyên nhân thôi thúc: do uy tín của ủy ban giải phóng dân tộc Ba Lan và của Đảng công nhân Ba Lan đang ngày một lớn mạnh, do tình cảm của nhân dân Ba Lan đối với Liên Xô, do những thắng lợi trong chiến tranh của chúng ta. Và cuối cùng là do bản tuyên bố mới đây của Chính phủ Liên Xô làm cho Mi-cô-lai-chích sinh lo.

Tuyên bố nói rõ rằng: “Chính phủ Liên Xô không có ý định thiết lập trên lãnh thổ Ba Lan các cơ quan hành chính của mình. Liên Xô cho rằng đây là công việc của nhân dân Ba Lan. Do đó, Liên Xô quyết định ký kết với ủy ban giải phóng dân tộc Ba Lan Hiệp nghị về các mối quan hệ giữa Bộ tư lệnh Liên Xô và chính quyền Ba Lan”.

Tiếp sau, có đoạn viết: “Chính phủ Liên Xô tuyên bố sẽ không theo đuổi mục tiêu chiếm giữ một bộ phận đất đai nào của Ba Lan, hoặc thay đổi chế độ xã hội ở Ba Lan; các hành động quân sự của Hồng quân trên lãnh thổ Ba Lan đều chỉ xuất phát từ sự cần thiết về mặt quân sự và từ nguyện vọng muốn giúp nhân dân Ba Lan anh em giải phóng đất nước khỏi ách chiếm đóng của nước Đức phát-xít”. (Chính sách đối ngoại của Liên Xô trong thời kỳ Chiến tranh giữ nước. tiếng Nga. t. 11. tr. 155.)

*
*   *

Gần tới phiên họp của Đại bản doanh, tôi từ phương diện quân Pri-ban-tích 3 trở về Mát-xcơ-va. Tối hôm đó, chúng tôi được tin I. V. Xta-lin từ chối không dự cuộc hội đàm giữa những người đứng đầu các nước lớn mà Tổng thống Mỹ vả Thủ tướng Anh dự định sẽ họp ở Xcốt-len vào tuần thứ hai của tháng Chín.

Trong thư gửi Sớc-sin, sau khi vạch rõ sự cần thiết của cuộc gặp gỡ này, Xta-lin viết: “nhưng trong thời gian này, khi Quân đội Liên Xô đang triển khai chiến đấu trên nhiều mặt trận, đang phát triển tiến công ngày một mạnh, tôi không thể rời khỏi Liên Xô và rời bỏ sự lãnh đạo các tập đoàn quân, dù chỉ trong một thời gian rất ngắn. Theo ý kiến của tất cả các bạn đồng nghiệp của tôi, dứt khoát là không thể làm như vậy được”. (Thư từ trao đổi giữa Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Liên Xô với Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Anh trong thời kỳ Chiến tranh giữ nước vĩ đại 1941-1945. Tiếng Nga. 1957. t. 1. tr. 247.)

Suốt đêm chúng tôi chuẩn bị các tài liệu chỉ dẫn và dự thảo các chỉ thị. Ngày 27 tháng Bảy, Đại bản doanh bắt đầu họp. I. V. Xta-lin, Gh. C. Giu-cốp, A. M. Va-xi-lép-xki và A. I. An-tô-nốp tham dự phiên họp. Tôi và đồng chí A. A. Grư-dơ-lôp cũng được dự họp để thể hiện các nghị quyết của Đại bản doanh thành chỉ thị, mệnh lệnh.

Như tôi đã nói ở trên, hội nghị không phải chỉ bàn tới các triển vọng tiến công của các phương diện quân Bê-lô-ru-xu-a mà còn đề cập tới nhiều vấn đề rộng lớn hơn. Lúc đầu hội nghị xem xét tình hình chung trên các mặt trận, đánh giá tình hình chung đó là thuận lợi rồi sau chuyển qua phân tích tình hình và các nhiệm vụ tác chiến ở Pri-ban-tích, Đông Phổ và Đông Ba Lan

Hành động của các phương diện quân Lê-nin-grát, Pri-ban-tích 3, 2 và 1 đang phát triển thắng lợi ở Pri-ban-tích, nên Đại bản doanh chỉ xác định rõ thêm các kế hoạch tiến công.

Hội nghị thảo luận thật tỉ mỉ về tình hình ở những vùng tiếp cận vào Đông Phổ và ở hướng Tây. Các thành viên tham gia hội nghị đi tới kết luận rằng địch sẽ hết sức ngoan cố bám giữ lấy Đông Phổ.

Các đồng chí quyết nghị tại cuộc họp rằng khả năng tiến công trong hành tiến của chúng ta ít có hiệu quả, cho nên cần phải chuẩn bị cuộc tiến công một cách tỉ mỉ, toàn diện và tiến hành chủ yếu bằng những lực lượng hiện có.

Trên hướng Tây, tuyến phòng ngự của địch không mạnh, nên trong những ngày tới đây ta có thể giành được những thắng lợi lớn.

Khi Đại bản doanh đang họp thì nhận được tin quân địch ở Lơ-vốp đã bị tiêu diệt, việc đó mở ra khả năng cho bộ đội ta hành động ở phía Nam Vác-sa-va. Khu vực Xan-đô-mia trong dải của phương diện quân U-crai-na 1 của I. X. Cô-nép giữ một tấm quan trọng đặc biệt trong vấn đề này, vì Xan-đô-mia là cứ điểm then chốt trong hệ thống phòng ngự của địch ở bên kia sông Vi-xla và là cửa ngõ để tiến vào trung tâm Ba Lan.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 06 Tháng Tám, 2011, 10:29:56 am
Bộ đội của phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1 vẫn hành động bằng hai mũi trên hai cánh như cũ. Như chúng ta đã nói đến ở trên, hai tập đoàn quân binh chủng hợp thành của cánh trái (tập đoàn quân cận vệ 8 và 69) đã tiến tới Vi-xla, và ngày 27 tháng Bảy bắt đầu tiến công vượt sông, chẳng mấy chốc đã đánh chiếm được những căn cứ đầu cầu không lớn lắm ở các khu vực Ma-gơ-nu-se-vô và Pu-la-vư.

Cả tập đoàn quân Ba Lan 1 cũng tiến quân tới sông Vi-xla. Tập đoàn quân xe tăng 2 đang tiến công thắng lợi dọc theo bờ Đông sông Vi-xla tới các vùng phụ cận Vác-sa-va - Pra-ha. Thiếu tướng A. I. Rát-di-ép-xki, tham mưu trưởng tập đoàn quân, chỉ huy các chiến sĩ xe tăng, vì X. I. Bô-gđa-nốp. tư lệnh tập đoàn quân, bị thương và phải về Mát-xcơ-va điều trị theo lệnh của I. V. Xta-lin. Các lực lượng còn lại của cánh trái phương diện quân tiến vào khu vực Xét-lét. Chúng ta không thấy có gì đáng lo ngại ở khu vực này.

Tình hình bên cánh phải của phương diện quân xấu hơn - bộ đội còn rớt lại sau tới 200-250 ki-lô-mét. Ở đây, các đơn vị đã chiếm được Bê-lô-xtốc và tiên tới Brét. Giải phóng Brét là công việc trong thời gian sắp tới. Các thành viên tham gia cuộc họp chưa nhận thấy mối nguy cơ đặc biệt do tốc độ tiến công chung bị chậm trễ đẻ ra.

Tất cả đều thống nhất ý kiến cho rằng, bộ đội của phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1 mặc dầu lực lượng có bị suy giảm, việc cung cấp có bị rối loạn do suốt một tháng tiến công liên tục trong thời kỳ chiến dịch Bê-lô-ru-xi-a, song vẫn có thể lợi dụng được thắng lợi của các chiến sĩ xe tăng của Bô-gđa-nôp đang tiến quân về phía Bắc mà bẻ gãy được sự kháng cự của địch trong các khu vực Brét và Xét-lét và lấy lại những gì đã mất.

Các thành viên tham gia hội nghị đi tới kết luận: tốt nhất là dùng cánh phải của phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1 tiến công vào Vác-sa-va. Các đồng chí quyết định: sau khi chiếm được khu vực Brét và Xét-lét, phương diện quân Bê-lô ru-xi-a 1 không được dừng lại, mà cho cánh phải phát triển tiến công vào hướng chung tới Vác-sa-va và trước ngày 5-8 tháng Tám phải chiếm được các vùng phụ cận Pra-ga, cả căn cứ đầu cầu trên sông Na-rép ở khu vực Pun-túc, Xê-rốt-xcơ tiếp giáp với phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 2. Cánh trái của phương diện quân được quy định sẽ tiến công chiếm lĩnh căn cứ đầu cầu trên sông Vi-xla ở khu vực Đem-blin, Dơ-vô-len, Xô-lét.

Phương diện quân U-crai-na 1 được lệnh phải tiến công vượt sông Vi-xla và đánh chiếm căn cứ đầu cầu ở khu vực Xan-đô-mia trước ngày 1-2 tháng Tám. Tiếp nữa, phương diện quân sẽ tiến công vào hướng chung tới Tren-xtô-khôp và Cra-cốp.

Sau đó, các thành viên tham gia hội nghị bàn tới tình hình bên phía sườn Các-pát. Vấn đề là lúc bắt đầu chiến dịch ở Ru-ma-ni, hướng hành động các cánh quân chủ yếu của ta buộc phải phân ra làm hai: một hướng đánh vào phía Tây, một hướng gồm các phương diện quân U-crai-na 2 và 3 đánh xuống phía Tây - Nam. Như vậy, khu vực Các-pát hãy còn nằm trong tay địch, chúng có thể từ đó uy hiếp hai bên sườn và phía sau của cả hai cánh quân chiến lược của ta. Phải chú ý lới mối nguy cơ này.

Trong phiên họp của Đại bản doanh ngày 27 tháng Bảy, các đồng chí đã quyết định: tập đoàn quân cận vệ 1 của tướng A. A. Grê-xcô và tập đoàn quân 18 của tướng E. P. Giu-ráp-li-ôp có thể yểm hộ khá vững chắc hai bên sườn; tuy nhiên, các đồng chí vẫn lệnh cho Bộ tổng tham mưu phải kiểm tra lại một lần nữa xem có đúng như vậy không.

Bộ tổng tham mưu sau khi đã tính toán lại một cách chính xác và hỏi ý kiến I. X. Cô-nép, mới thấy rõ rằng hai tập đoàn quân trên chưa thể làm trọn nổi nhiệm vụ đó. Vì vậy, ba ngày sau, ngày 30 tháng Bảy, Đại bản doanh quyết định thành lập phương diện quân U-crai-na 4, thành phần gồm có tập đoàn quân cận vệ 1, tập đoàn quân 18, tập đoàn không quân 8, các đơn vị pháo binh, công binh và các đơn vị khác.

Như vậy là, ngày 27 tháng Bảy, Đại bản doanh đã vạch ra rất rõ ràng các nhiệm vụ chiến lược trên khắp các mặt trận, phù hợp với đặc điểm tình hình ở Pri-ban-tích và trên hướng phía Tây. Tiếp sau, các đồng chí quy định sẽ cắt Pri-ban-tích ra khỏi Đông Phổ, cắt Đông Phổ ra khỏi nước Đức và tiêu diệt các lực lượng chủ yếu của Cụm tập đoàn quân “bắc” của phát-xít Đức.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 06 Tháng Tám, 2011, 10:31:04 am
Đại bản doanh báo trước cho các phương diện quân phải chuẩn bị đầy đú khi tiến công vào Đông Phổ. Trên hướng phía Tây, hướng giữ vai trò chủ yếu trong quá trình chiến tranh, chúng ta dự kiến sẽ phá vỡ phòng ngự địch trên tuyến Vi-xla, tạo nên những điều kiện để giải phóng Vác-sa-va và tiếp tục tiến công sâu về phía Tây.

Các nhiệm vụ trên được viết ngay thành các chỉ thị, mệnh lệnh, được thông qua ngay trong cuộc họp, đến 24 giờ thì ký xong và gửi đi các phương diện quân.

Ngày hôm sau, Đại bản doanh bàn tới việc tổ chức chỉ huy các chiến dịch đang tiến hành và những chiến dịch sắp tới, tổ chức hiệp đồng giữa các phương diện quân. Các đồng chí đại diện của Đại bản doanh cho đến thời gian ấy vẫn giữ quyền phối hợp hành động giữa các đơn vị.

Gh. C. Giu-cốp phát biểu ý kiến tại cuộc họp rằng trong những trường hợp cần thiết, đại diện của Đại bản doanh nên được quyền trực tiếp chỉ đạo các chiến dịch. Thực ra, phải nói rằng do tính thích tỏ rõ uy quyền của mình, Gh. C. Giu-cốp thường hay sử dụng quyền đó. Vấn đề đặt ra lúc này là, cần được hợp pháp hóa quyền ấy.

Thời gian này, có một số tư lệnh phương diện quân tỏ ra bất bình những khi các đồng chí đại diện Đại bản doanh trực tiếp nắm lấy quyền chỉ đạo chiến dịch. Chúng ta có thể thông cảm được với các đồng chí tư lệnh phương diện quân, vì cuối cùng thì chính các đồng chí phải chịu trách nhiệm tất cả. Nhưng, cũng có những mặt khác của nó, là các đồng chí tư lệnh trước hết lại chỉ nghĩ đến phương diện quân của mình và thiếu chú ý đầy đủ đến các phương diện quân bạn, vì cho rằng tự mình cũng làm nổi. Gặp những trường hợp như thế, đại diện của Đại bản doanh phải nhanh chóng chấn chỉnh lại ngay.

Ngày 29 tháng Bảy, Đại bản doanh đã ra một nghị quyết đặc biệt dành cho A. M. Va-xi-lép-xki và Gh. C. Giu-cốp quyền chỉ đạo những phương diện quân mà các đồng chí làm đại diện Đại bản doanh ở đó: “đại bản doanh Bộ tổng tư lệnh tối cao giao nhiệm vụ cho Nguyên soái Liên Xô Giu-cốp, Phó Tổng tư lệnh tối cao, quyền hạn không những phối hợp mà còn chỉ đạo các chiến dịch của các phương diện quân U-crai-na 1, Bê-lô-ru-xi-a 1 và Bê-lô-ru-xi-a 2”. A. M. Va-xi-lép-xki cũng được giao quyền hạn chỉ đạo các chiến dịch của các phương diện quân Pri-ban-tích 2, Pri-ban-tích 1 và cả phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 3.

Không khỏi không có những chuyện buồn cười. Cuộc họp còn chưa kết thúc thì phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1 và U-crai-na 1, đã đề nghị giải thích những chỉ thị vừa mới nhận được. Ví dụ, các đồng chí hỏi: các tập đoàn quân không thấy nói trong chỉ thị có thể cho tiến công vượt sông Vi-xla được không? Nội dung hỏi cũng có những ý nghĩa của nó, vì các đồng chí tư lệnh muốn xin Đại bản doanh thêm nhiều phương tiện vượt sông, với lý do là cuộc tiến công vượt sông sẽ diễn ra trên một chính diện rộng.

Khi tôi và An-tô-nốp cho I. V. Xta-lin biết về các câu hỏi trên thì đồng chí rít một hơi thuốc rồi lệnh trả lời như sau: “mệnh lệnh của Đại bản doanh có quy định cho một số tập đoàn quân phải tiến công vượt sông Vi-xla và đánh chiếm căn cứ đầu cầu, nhưng không được hiểu là các tập đoàn quân còn lại khác sẽ ngồi yên và không tham gia tiến công vượt sông Vi-xla. Bộ tư lệnh phương diện quân có trách nhiệm phải bảo đảm tới mức tối đa các phương tiện vượt sông cho các tập đoàn quân đảm nhận nhiệm vụ vượt sông Vi-xla theo lệnh của Đại bản doanh. Tuy nhiên, các tập đoàn quân khác nếu có thể, cũng tham gia tiến công vượt sông Vi-xla. Đại bản doanh nhắc các đồng chí phổ biến cho tất cả các cấp chỉ huy trong phương diện quân của mình biết ý nghĩa to lớn của việc vượt sông Vi-xla; những chiến sĩ, sĩ quan nào hành động xuất sắc trong khi tiến công vượt sông sẽ được khen thưởng đặc biệt, được tặng thưởng huân chương và cả phong danh hiệu Anh hùng Liên Xô”.



Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 06 Tháng Tám, 2011, 10:31:12 am
Sau hội nghị, vào những dịp như thế, Tổng tư lệnh tối cao thường hay mời tất cả các đồng chí họp dự ăn cơm tối. Công việc của An-tô-nốp và của tôi ngập đến tận cổ, nên lần này chúng tôi xin phép trở về làm việc. Xta-lin khoát tay, ra hiệu đồng ý. Nhân đây, cũng xin kể lại một trong những bữa ăn tối tại “biệt thự gần thành phố” của Xta-lin mà tôi còn nhớ mãi.

Thường lệ đã có từ lâu, trước mặt chủ nhân bao giờ cũng đặt một chiếc bình pha lê đẹp, thon, đựng chất nước không màu gì đó, hai bên thành bình phủ mờ hơi nước.

Trước bữa ăn, I. V. Xta-lin hay dùng một-hai ly nhỏ rượu cô-nhác, rồi sau đó chỉ uống thứ rượu nhạt của xứ Gru-di-a đựng trong chai có nhãn hiệu đánh bằng máy chữ. Đồng chí rót ra cốc khoảng ba phần tư rượu, rồi từ từ đổ thêm chất nước không màu trong chiếc bình pha lê nói trên vào

Từ buổi ăn cơm đầu tiên tại “biệt thự gần thành phố” của Xta-lin, tôi đã chú ý quan sát mọi thứ xung quanh và đã nhận ra ngay chiếc bình pha lê ấy. Thật cũng tức cười cho mình là tôi cứ để ý tò mò xem trong bình đựng thứ nước gì. Rồi tôi nghĩ: “chắc là thứ rượu vôt-ca hảo hạng chi đây. Xta-lin rót vào cho rượu thêm đậm. Bữa nào có dịp mình phải nếm thử xem!”. Ý định này mãi tôi vẫn chưa thực hiện được, vì chỗ tôi ngồi cách chiếc bình đựng rượu khá xa.

Tối hôm ấy bận việc, tôi ngồi vào bàn ăn muộn, vì theo chỉ thị của I. V. Xta-lin, tôi còn phải nắm tình hình của một phương diện quân bằng điện thoại cao tần ở gian phòng bên. Làm việc xong, quay trở vào bàn ăn báo cáo với Xta-lin, thì ai nấy đã ngồi vào bàn, và chỗ tôi thường ngồi không còn nữa. Thấy vậy, Xta-lin ra hiệu chỉ cho tôi tới ngồi vào ghế còn trống ở bên cạnh đồng chí.

Bữa ăn kéo dài. Câu chuyện xoay quanh bữa ăn thường nói đến công việc ở ngoài mặt trận. Mỗi người tự phục vụ lấy, ai muốn ăn gì cứ tự sang chiếc bàn đã bày sẵn thức ăn để ở một bên.

“À! tôi nghĩ, - bây giờ mình phải nếm thử cái chất vốt-ca này xem sao". Khi Xta-lin cùng mọi người đứng dậy thay đĩa thức ăn, tôi vội với tay lấy nhanh chiếc bình bí mật và rót vào đầy cốc của mình. Cũng giữ phép lịch sự chờ cho đến khi mọi người cùng nâng cốc, tôi mới uống...

Nước lọc! Chà lạnh làm sao... Tôi ngượng hết chỗ nói, vì sớm nhận ra ngay đó là nước gì, và tôi cùng buộc phải nhắm thức ăn qua loa sau khi uống như các đồng chỉ khác. Song. có lẽ tôi vẫn không sao giấu nổi sự ngượng nghịu của mình.

Chủ nhân mỉm cười, nheo mắt nháy tôi, rồi một lát sau, khẽ hỏi để không ai nghe thấy: “thế nào, có đậm không?”. Máu dồn lên mặt, tôi xấu hổ quá; cả bữa cơm tối hôm ấy, tôi cảm thấy mất ngon, cứ nguyền rủa mãi thói tò mò không đúng chỗ của mình.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 07 Tháng Tám, 2011, 12:02:53 pm
CHƯƠNG BA
Trên hướng Vác-sa-va

Quân địch không mơ ngủ. - Mi-cô-lai-chích ra đi với mục đích gì? Bọn phiêu lưu và những người anh hùng. - Chi viện những người khởi nghĩa sao cho tốt hơn. - Căn cứ bàn đạp Tséc-nhi-a-khốp-xki. - Liên lạc bị ngừng. - Tấn thảm kịch Vác-sa-va. - Cuộc đấu tranh còn tiếp diễn. - Tình đoàn kết chiến dấu. - Tập đoàn quân Ba Lan 1 tiến vào Vác-sa-va.

Người chỉ huy mọi cấp khi lập kế hoạch tác chiến trước hết phải tính đến sự kháng cự của quân địch, các biện pháp chống trả lại của chúng. Nhưng trong chiến tranh, ngoài những trường hợp các sự kiện sẽ phát triển như mọi phương án dự kiến, quá trình giao chiến lại nảy nở ra những tình huống mới không sao lường nổi hết, yêu cầu phải sửa đổi lại các quyết tâm đã định ra trước đây.

Tất nhiên, Đại bản doanh và cả Bộ tổng tham mưu đều biết rằng bộ chỉ huy Hít-le đang tìm mọi phương pháp nhằm ổn định tình hình ngoài mặt trận của chúng, đặc biệt ở trong dải của các Cụm tập đoàn quân “bắc” và “trung tâm”, lúc này các cụm tập đoàn quân ấy đang bị uy hiếp.

Thật vậy, hồi đó chúng ta chưa nắm được chắc chắn các ý định chiến lược của địch. Nhưng các tin tức tình báo gửi về cho biết một bộ phận các đơn vị của địch từ Ru-ma-ni, trước hết là các đơn vị xe tăng, có thể sẽ chuyển sang hướng khác. Quân địch quả là đang tiến hành bố trí lại các đơn vị, cố gắng ổn định tình hình của Cụm tập đoàn quân “trung tâm”, rồi sau đó sẽ khôi phục lại liên lạc với Pri-ban-tích. Chúng ta sắp phải đụng độ với các lực lượng còn đang sung sức của địch trên hướng Vác-sa-va.

Phải nói rằng các biện pháp mà bộ chỉ huy Htt-le đem ra vận dụng giống hệt như những cố gắng của nhân vật Tơ-ri-xca trong truyện ngụ ngôn của Crư-lốp. Chúng ráng sức vá víu lại chiếc áo khoác ngoài. Bọn chúng củng cố được khu trung tâm, thì lại để hở hướng Tây - Nam.

Ít lâu sau, Ru-ma-ni phải rút khỏi chiến tranh và các đơn vị Liên Xô tiến mạnh về phía Ban-căng, tới Hung-ga-ri. Thế nhưng, trên hướng Vác-sa-va, địch đã kịp điều động các sinh lực lấy ở Ru-ma-ni sang để chống lại các đơn vị của phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1. Phương diện quân Bê-lô-ru-xia 1 lúc này đã mệt mỏi nên tình thế của chúng ta trở nên rất phức tạp, những lầm lẫn của trinh sát ở các đơn vị càng làm tăng thêm nhiều khó khăn.

Vào ngày đầu phiên họp của Đại bản doanh, tập đoàn quân xe tăng 2 đang phát triển tiến công bên sườn trái của phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1 bỗng vấp phải những lực lượng mạnh của địch. Sau này, chúng ta mới biết đó là sư đoàn xe tăng 19, các sư đoàn xe tăng SS “đầu lâu” và “vi-kinh” điều ở phía Nam tới, sư đoàn “Ghéc-man Gơ-rinh” mới chuyển từ mặt trận I-ta-li-a sang và nhiều binh đoàn bộ binh của tập đoàn quân Đức 2.

Những ngày tiếp sau, trong các trận giao tranh quyết liệt trên tuyến Xét-lét, Min-xcơ - Ma-dô-vét-xki, các đơn vị chúng ta chưa đẩy lùi được các xe tăng phản công của địch. Quân địch tập trung được ưu thế lực lượng hơn ta trên một khu vực hẹp ngoài mặt trận, khiến quân đoàn phái đi trước của tập đoàn quân xe tăng 2 bị thiệt hại, rồi sau đó chúng đã tiêu hao các quân đoàn khác trong tập đoàn quân của ta.

Những trận đánh đẫm máu và hết sức ác liệt diễn ra trong mấy ngày liền. Kết quả là phòng ngự của địch dựa vào phòng tuyến Vác-sa-va vẫn giữ được tình trạng tương đối ổn định trong một thời gian. Các đơn vị chúng ta không thể đột phá tới Pra-ga .

Điều đó rất quan trọng. Mũi vu hồi của tập đoàn quân xe tăng 2, có nhiệm vụ cắt con đường rút lui sang phía Tây của các đơn vị địch đang đóng tại phía Đông sông Vi-xla, đánh không thắng đã ảnh hưởng không lợi tới toàn bộ tình hình trên khu vực này. Lúc ấy, các đơn vị sườn phải của phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1 tiến công liên tục trong một thời gian dài vượt qua Bê-lô-ru-xi-a nay đã mỏi mệt, nên không thể tiến nhanh tới Vác-sa-va được. Ngoài ra, tình hình phòng ngự còn tương đối ổn định của các đơn vị Hít-le trên tuyến Xét-lét Min-xcơ - Ma-dô-vét-xki cũng là mối nguy cơ to lớn đối với các đơn vị của ta đã tiến tới Vi-xla ở phía Nam Vác-sa-va.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 07 Tháng Tám, 2011, 12:03:52 pm
Xác nhận tình hình, C. C. Rô-cô-xốp-xki nói với phóng viên An-ri Ma-ni-an của tờ báo Pháp “Thế giới” rằng, mọi ý định vượt sông Vi-xla của các tập đoàn quân Liên Xô đều có thể dẫn tới thất bại. Tư lệnh phương diện quân kết thúc cuộc nói chuyện với nhà báo Pháp: “chúng tôi đang bị uy hiếp ở bên sườn. Toàn bộ vấn đề là như vậy”.

Phải nói rằng, các sự kiện xảy ra ở Vác-sa-va chưa được đánh giá một cách thích đáng ngay. Gh. C. Giu-cốp, đại diện của Đại bản doanh, bộ tư lệnh phương diện quân và Bộ tổng tham mưu lúc ban đầu chưa đặc biệt chú ý tới tình hình đó. Chúng tôi cho rằng, chẳng bao lâu nữa quân địch cũng sẽ bị đánh tan.

Nhưng ngày tháng trôi qua, và tình hình vẫn chưa được cải thiện thêm mấy, thời gian tiến công vượt sông Vi-xla buộc phải hoãn lại, và nhiệm vụ hàng đầu là phải giữ vững các trận địa đã chiếm được ở phía trước. Theo ý kiến của tư lệnh phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1, địch sẽ sử dụng chừng 20 sư đoàn đột kích từ phía Bắc xuống phía Nam dọc theo bờ phía Đông sông Vi-xla vào các đơn vị cánh trái của phương diện quân đã tiến lới con sông này. Chúng ta cho rằng thế nào địch cũng sẽ mở mũi tiến công ấy.

Song điều đó hoàn toàn không có nghĩa là bộ chỉ huy Liên Xô chịu ngồi yên đợi mũi đột kích của địch vào bên sườn. Gh. C. Giu-cốp, C. C. Rô-cô-xốp-xki và cả Bộ tổng tham mưu, ngay từ hồi đầu tháng Tám 1944, đã áp dụng những biện pháp lích cực nhằm tiêu diệt cụm quân địch trên các đường tiếp cận Vác-sa-va.

Chứng minh cho điều này là, Đại bản doanh đã nhiều lần họp để bàn bạc những hành động sau này của phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1 cùng những trận đánh kéo dài liên tục, nhằm làm thất bại các biện pháp chống trả quyết liệt và nguy hiểm đó của địch. Tuy nhiên, tình hình ở Vác sa-va vẫn chưa cho phép ta tạo nên bước ngoặt thuận lợi cho mình.

Tôi nói về các sự biến trong thực tiễn chiến tranh, không phải chỉ vì tự nó có những nội dung đáng để chúng ta phải chú ý, mà các sự biến ấy còn quan trọng ở chỗ nó có quan hệ tới cuộc khởi nghĩa ở Vác-sa-va đang bị địch chiếm đóng.

Trong lúc Chính phủ Liên Xô ngày 26 tháng Bảy 1944 công khai tuyên bố rõ ràng quan điểm của mình về vấn đề Ba Lan, thì Mi-cô-lai-chích và đồng bọn ở Luân Đôn của y đã chơi ngón đòn xóc hai đầu. Té ra, ngay từ 24 tháng Bảy, chính phủ lưu vong và bộ chỉ huy Quân đội quốc gia (Quân đội quốc gia là tổ chức vũ trang do chính phủ tư sản lưu vong Ba Lan xây dựng trên đất nước Ba Lan đang bị chiếm đóng nhằm mục đích khôi phục lại chế độ tư sản ở trong nước.) đã thông qua quyết định phát động cuộc khởi nghĩa ở Vác-sa-va trước khi bộ đội Liên Xô tới đây. Mục đích của quyết định phiêu lưu đó là sau khi chiếm được thủ đô, chúng sẽ thiết lập các cơ quan chính quyền của chúng, chống lại chính phủ lâm thời của nước Ba Lan dân chủ.

Điểm đáng chú ý nữa là vấn đề thời gian khởi nghĩa ở Vác sa-va (lấy mật hiệu là “dông tố” đã được bọn chúng bàn bạc từ lâu. Hồi đó, Bộ tổng chỉ huy Quân đội quốc gia đã báo cáo về Luân Đôn rằng cuộc khởi nghĩa khó có thể thành công nổi. Nhưng, đến khi ở các vùng giải phóng thành lập các cơ quan chính quyền nhân dân, thì cái gọi là bộ máy của chính phủ lưu vong và bộ chỉ huy Quân đội quốc gia đã thay đổi ý kiến của mình. Ngày 25 tháng Bảy, tướng Ta-đe-út Bua - Cô mô-rôp-xki, từng chỉ huy Quân đội quốc gia báo tin cho Luân Đôn: “chúng tôi đã sẵn sàng bất kỳ lúc nào cũng có thể nổ súng chiếm lấy Vác-sa-va...;”

Chính phủ Liên Xô, bộ chỉ huy Hồng quân các cơ quan chính quyền nhân dân Ba Lan. Quân đội Ba Lan đều không được biết về cuộc khởi nghĩa và cả những tin tức lúc bọn họ chuẩn bị khởi nghĩa. Nếu tin vào bộ chỉ huy quân sự các nước đồng minh thì cả họ cũng không hề hay biết gì cả.

Bộ chỉ huy Quân đội quốc gia tuân theo lệnh của chính phủ Ba Lan lưu vong ở Luân Đôn, tìm mọi cách cô lập khu vực Vác-sa-va với các đơn vị Liên Xô. Theo chỉ thị của Bua - Cô mô-rốp-xki, các đơn vị hoạt động bí mật của Quân đội quốc gia đã từ chối không tiếp xúc và phối hợp hành động với bộ đội chúng ta. Khi chiếm được Li-u-blin, C. C. Rô-cô-xốp-xki đã cho chúng tôi biết các tin tức trên.

Bộ chỉ huy Quân đội quốc gia, các đại biểu của chính phủ Ba Lan lưu vong ở Luân Đôn và nhóm các quan chức thân cận của họ rất chăm chú theo dõi, mặc dù là theo ý riêng của họ, tiến trình cuộc đấu tranh vũ trang trên mặt trận Xô Đức trước hết là những diễn biến tại Vác-sa-va. Họ hiểu rằng sắp tới đây, cán cân sẽ nghiêng về phía Hồng quân và chính quyền nhân dân sẽ thiết lập ở Vác-sa-va, do đó họ ráo riết xúc tiến việc thiết lập chính quyền của họ - quyền  thống trị của giai cấp tư sản và địa chủ.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 07 Tháng Tám, 2011, 12:04:49 pm
Sợ chậm chân, những kẻ tổ chức khởi nghĩa nhiều lần thay đổi ngày giờ bắt đầu hành động ở thủ đô. Họ hy vọng sẽ làm chủ được tình hình ở thủ đô trước khi bộ đội Liên Xô và tập đoàn quân Ba Lan 1 tiến tới đây. Thời gian này, tập đoàn quân Ba Lan 1 đã sáp nhập vào Quân đội Ba Lan.

Bọn họ hy vọng các đồng minh phương Tây có thể sẽ giúp họ, cho quân đổ bộ đường không đến tiếp viện làm chỗ dựa cho chỉnh phủ Ba Lan ở Luân Đôn. Thế nhưng, bộ chỉ huy tối cao của Anh và Mỹ ngay từ mùa thu năm 1943 đã cho biết: chính phủ Ba Lan ở Luân Đôn không thể trông đợi vào sự chi viện của Anh cho cuộc khởi nghĩa nói chung và nói riêng bằng không quân. (A-đam Boóc-ké-rích. Cuộc khởi nghĩa Vác-sa-va. Vác-sa-va, 1957, tr. 19 (bằng tiếng Ba Lan).

Đương nhiên, bọn phản động Anh - những nhà chính trị biết tính toán chi li, hiểu rằng cuộc khởi nghĩa Vác-sa-va nhằm chống lại Liên Xô, nhưng họ không thể liều lĩnh giúp đỡ những người khởi nghĩa. Vì giúp đỡ bằng đường không có nghĩa là sẽ trực tiếp nguy hại đến sinh mệnh của các phi công Anh và máy bay của họ. Hệ thống phòng không mạnh của Đức sẽ loại họ ra khỏi vòng chiến đấu. Do đó, người Anh quyết định ngừng các chuyến bay.

Những người chủ mưu chưa định phát động khởi nghĩa khi bộ đội Liên Xô còn ở Min-xcơ và phía Đông Cô-ven, họ chờ cho đến khi mặt trận tiến gần đến Vác-sa-va vì họ còn nuôi dưỡng cả hy vọng là nếu những người khởi nghĩa lâm vào tình thế khó khăn, thì bộ đội Liên Xô sẽ có thể kịp cứu họ thoát khỏi mối hiếm họa.

Thắng lợi của bất kỳ chiến dịch nào - dù là chiến dịch nhỏ nhất hoặc lớn nhất - đều phụ thuộc vào nhiều nhân tố. Trong số các nhân tố ấy, kế hoạch hành động giữ một vị trí đảng kể, còn kế hoạch khởi nghĩa, một hình thức đấu tranh vũ trang rất phức tạp, thì lại càng vô cùng quan trọng. Mọi người đều biết, một kế hoạch dù thật tột về ý định và mục đích vẫn có thể bị thất bại nếu nó không phù hợp với tình hình và không được bảo đảm đầy đủ.

Tôi không nắm được kế hoạch “Dông tố" mà Bộ tổng chỉ huy Quân đội quốc gia dự định cho các đơn vị thực hiện khởi nghĩa ở Vác-sa-va, song, có đầy đủ bằng chứng là ngay trước khi diễn ra các sự kiện quyết định, thời gian bắt đầu khởi nghĩa theo quyết định của tướng Bua - Cô-mô-rốp-xki, đã chuyển từ ngày 2 tháng Tám (hoặc muộn một chút) sang lúc 17 giờ ngày 1 tháng Tám 1944.

Hành động tối quan trọng đó của bộ chỉ huy Quân đội quốc gia đã không đếm xỉa đến các khả năng hiện thực tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm tập trung lực lượng, vũ khí trang bị, nhằm tổ chức hành động của những người khởi nghĩa.

A-đam Boóc-kê-vích, một trong những nhà nghiên cứu lịch sử cuộc khởi nghĩa Vác-sa-va, đã chỉ rõ: thời gian đưa các lực lượng khởi nghĩa vào tình trạng sẵn sàng chiến đấu trước đó lẽ ra được quy định là 12 tiếng đồng hồ, nhưng ở một số vùng, một số đơn vị lại yêu cầu phải thực hiện xong trong 5 tiếng đồng hồ. Quyết định này đã phá hoại cuộc khởi nghĩa ngay từ trong trứng, làm hỏng cả mọi việc đã được chuẩn bị từ nhiều năm nay. Còn lại duy nhất chỉ là tinh thần chiến đấu cao của những người khởi nghĩa.

Các nhiệm vụ về thời hạn và mục tiêu tập kích, mà các đơn vị vạch ra, không thể thực hiện nổi trong các điều kiện ấy. Thậm chí, đường dây liên lạc cơ bản giữa các lực lượng khởi nghĩa lúc bắt đầu hành động chiến đấu không phải chỗ nào cũng đều tổ chức được.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 07 Tháng Tám, 2011, 12:05:39 pm
Đến ngày đã định (vì điều kiện khác nhau nên xảy ra trong những thời gian khác nhau), các đơn vị hoạt động bí mật của Quân đội quốc gia bắt đầu khởi nghĩa. Nhiều chiến binh đi tìm những người chỉ huy của mình, cả chiến binh và cán bộ chỉ huy đều chẳng biết kho để các trang bị, vũ khí thực tế đặt ở đâu. Tính chất bất ngờ hành động thế là bị mất, quân địch vẫn chiếm giữ được mọi trung tâm thông tin, giao thông và năng lượng then chốt.

Do đặc điểm tình hình trên, những người khởi nghĩa không thể hành động có định hướng chính xác và không thể tạo ra được một đòn tiến công mạnh đầu tiên. Cuộc tiến công trở nên rất yếu vì các đơn vị Quân đội quốc gia có tất cả 16 nghìn người, hơn nữa các loại vũ khí bộ binh cá nhân (những thứ khác hầu như không có) mới chỉ trang bị được cho 3.5 nghìn người.

Trong khi ấy, cuộc khởi nghĩa lại mang tính chất và quy mô bất ngờ ngay cả đối với những người tổ chức ra nó. Nhân cơ hội này, nhân dân Vác-sa-va có điều kiện trút căm thù của mình lên đầu bọn chiếm đóng Hít-le, quảng đại quần chúng nhân dân đã đứng lên tham gia khởi nghĩa: nhân dân bắt đầu xây dựng các vật chướng ngại, gia nhập hàng ngũ chiến binh mặc dầu trong tay họ không có vũ khí. Họ tin chắc là cuộc khởi nghĩa đã có sự phối hợp với bộ chỉ huy Liên Xô. Ngay bọn tay sai của chính phủ Ba Lan ở Luân Đôn, ra lời kêu gọi gửi nhân dân Vác-sa-va không nói gì đến Hồng quân, cũng không làm lay chuyển được lòng tin tưởng đó của họ.

Cuộc khởi nghĩa được nhân dân Vác-sa-va ủng hộ rộng rãi nên đã thu được những kết quả tương đối trong thời gian đầu. Thế nhưng, Quân đội quốc gia vẫn không thể chiếm nối toàn bộ thành phố, và sang ngày hôm sau, các sự kiện bắt đầu phát triển theo một chiều hướng khác hẳn, không như dự kiến của những người chủ mưu.

Quân địch chưa thiệt hại gì đáng kể, vẫn giữ vững các trận địa xung yếu trong thành phố, nhanh chóng ổn định tình hình và buộc những người khởi nghĩa phải chuyển sang phòng ngự. Song những người khởi nghĩa lại chưa sẵn sàng phòng ngự. Họ không đủ lực lượng, thêm nữa những người khởi nghĩa lại vấp phải tình trạng thiếu thốn đạn dược, phương tiện thông tin, thuốc men một cách nghiêm trọng.

Mọi hành động của Quân đội quốc gia xuất phát từ sự tính toán lạnh lùng về chính trị, đã biến thành cuộc khởi nghĩa của quần chúng nhân dân Vác-sa-va chống lại bọn xâm lược Hít-le. Thế nhưng, cuộc khởi nghĩa ấy lại không được bảo đảm và cuối cùng, đã bị những trận tập kích của bọn phát- xít Đức dẫn tới chỗ tan vỡ hoàn toàn.

C C Rô-cô-xốp-xki nhớ lại rằng: ngày 2 tháng Tám, đồng chí nhận được tin của trinh sát cho biết hình như ở Vác sa-va đã nổ ra cuộc khởi nghĩa. Các đồng chí muốn biết rõ các tin tức trên nhưng không được. Cả Uy ban giải phóng dân tộc Ba Lan, cả CRN, cả bộ chỉ huy Quân đội Ba Lan cũng đều không hay biết về cuộc khởi nghĩa.

Sau này, chúng ta được biết: cả bộ chỉ huy các đơn vị Quân đội nhân dân (Quân đội nhân dân là một tổ chức vũ trang do các đảng viên cộng sản lãnh đạo, là lực lượng của nhân dân tổ chức ra để giải phóng Ba Lan chống bọn xâm lược Hít-le và là một bộ phận cấu thành của Quân đội Ba Lan) đóng tại Vác-sa-va cũng không được biết.

Tuy nhiên, khi quảng đại quần chúng Vác-sa-va đứng lên đấu tranh thì những người cộng sản và các đơn vị Quân đội nhân dân do họ lãnh đạo đã hạ ngay quyết tâm bắt liên lạc với cuộc khởi nghĩa và đặt các lực lượng của mình thuộc quyền Bộ chỉ huy Quân đội quốc gia. Quyết định trên làm cho các lực lượng chống Hít-le ở Vác-sa-va không bị chia rẽ và đã củng cố thêm sức mạnh cho các lực lượng ấy.

Các chiến sĩ và cán bộ chỉ huy của Quân đội nhân dân, trong các trận đánh tại Vác-sa-va, đã lấy máu mình để chứng minh lòng trung thành với sự nghiệp giải phóng dân tộc khỏi ách chiếm đóng của phát-xít Đức.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 07 Tháng Tám, 2011, 12:06:33 pm
Mi-cô-lai-chích, thủ tướng chính phủ lưu vong tư sản Ba Lan ở Luân Đôn đến Mát-xcơ-va để đàm phán cũng không cho biết rõ ràng về các sự kiện ở Vác-sa-va. Nhưng ngày 28 tháng Bảy, trên đường đi Mát-xcơ-va, y đã gặp các đại biểu Vác-sa-va tại Lơ Ke, lẽ nào bọn họ lại không báo cáo cho y hay biết về cuộc khởi nghĩa.

Trong buổi tiếp kiến tại Bộ dân ủy ngoại giao Liên Xô ngày 31 tháng Bảy, Mi-cô-lai-chích tuyên bố rằng kế hoạch hành động đã vạch xong và chính phủ Ba Lan hiện nay đang tập trung lực lượng. Còn về Vác-sa-va, Mi-cô-lai-chích nói: chính phủ Ba Lan “đang suy nghĩ" tới kế hoạch tổng khởi nghĩa và muốn đề nghị với Chính phủ Liên Xô cho ném bom bắn phá các sân bay gần thành phố.

Như vậy là, thời gian đó mọi việc cơ hồ như chỉ mới hình thành trên những nét đại lược và chưa phải là trong tương lai sắp tới. Rõ ràng, thủ tướng của chính phủ lưu vong tư sản Ba Lan ở Luân Đôn không hề muốn nói tới những ngày đầu chiến đấu ở thủ đô Ba Lan.

Bọn chiếm đóng phát-xít Đức và những kẻ tư sản cầm đầu Quân đội quốc gia đã tìm mọi cách cô lập Vác-sa-va với những người thực sự có thể giúp đỡ quân khởi nghĩa giành thằng lợi.

Tư lệnh phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1 ra sức bắt liên lạc với những người khởi nghĩa, kể cả với người lãnh đạo khởi nghĩa. Nhưng, bức điện của C. C. Rô-cô-xốp-xki gửi cho tướng Bua - Cô-mô-rốp-xki đã không được đáp lại.

Ngày 2 tháng Tám, tình hình trên mặt trận Xô - Đức xấu hẳn đi. Quân địch tổ chức phản kích mạnh vào tập đoàn quân xe tăng 2 và tập đoàn quân 47 ở gần Vác-sa-va, các binh đoàn trên buộc phải tiến hành phòng ngự nặng nề trong các điều kiện bất lợi. Các đơn vị đều phải tung ra hết, trong tay tư lệnh phương diện quân không có lấy một lực lượng dự bị nào, và xe tăng địch lúc này sẵn sàng thọc xuống phía Nam dọc theo sông Vi-xla để tiến đánh cánh quân phía trái của phương diện quân đang vượt sông. Còn Vác-sa-va lúc này đang cháy. Các cán bộ chỉ huy của ta và cả bán thân C. C. Rô-cô-xôp-xki khi đến khu vực địch phản kích để chỉ huy bộ đột chiến đấu đều trực tiếp trông thấy khói lửa cuộn lên ở đó.

Mấy ngày sau, các hành động anh dũng của bộ đội Liên Xô và nghệ thuật chỉ huy tài tình của bộ tư lệnh phương diện quân, đã chấm dứt được những kết quả tạm thời của quân địch ở phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1. Quân địch không đẩy lùi được các tập đoàn quân của ta, song chúng ta cũng chưa thể phá vỡ được phòng ngự của chúng.

Vác-sa-va đang đổ máu, thế nhưng bộ chỉ huy Quân đội quốc gia, chính phủ lưu vong Ba Lan ở Luân Đôn vẫn không đề nghị Chính phủ Liên Xô hoặc bộ chỉ huy Liên Xô giúp đỡ quân khởi nghĩa. Thậm chí, bọn họ cũng không hề thông báo cho biết về tình hình khởi nghĩa.

Mãi sau này chúng ta mới được biết là tập đoàn Mi-cô-lai-chích và bộ chỉ huy Quân đội quốc gia nuôi những âm mưu chính trị, nên dù cuộc khởi nghĩa có bị quân đội của Hít-le dìm trong biển máu họ cũng không chịu thông báo hoặc đề nghị gì với Chính phủ Liên Xô.

Trong những ngày ấy, I. V. Xta-lin nhận được bức thông điệp khoái trá của U. Sớc-sin gửi đến, trong đó lần đầu tiên nói tới tình hình cuộc khởi nghĩa ở Vác-sa-va. Sớc-sin cho biết: Quân đội quốc gia đề nghị người Anh khẩn cấp chi viện cho quân khởi nghĩa vũ khí và đạn dược, đề nghị ấy rồi đây sẽ được thỏa mãn. Đồng thời có nói rằng chiến sự diễn biến tại Vác-sa-va mang tính chất rất ác liệt.

Sớc-sin còn viết là quân khởi nghĩa đề nghị cả người Nga chi viện nữa, và hy vọng sẽ sớm nhận được sự chi viện của người Nga. Theo lời của Sớc-sin, quân khởi nghĩa đang bị 1,5 sư đoàn Đức tiến công. Bức thông điệp ấy kết thúc bằng một câu có nhiều ẩn ý: “tình hình đó có thể giúp ích cho các chiến dịch của Ngài”.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 07 Tháng Tám, 2011, 12:07:57 pm
I. V. Xta-lin trước hết không tin vào những tin tức thông báo của Sớc-sin. Ngay ngày hôm sau, đồng chí trả lời thủ tướng Anh rằng các tin tức trên đã bị thổi phồng một cách quá đáng và khó làm cho người khác có thể tin cậy. Khó tin nhất là điều quân khởi nghĩa có ý định đánh chiếm Vác-sa-va.

“Quân đội quốc gia của Ba Lan, - I. V. Xta-lin viết, - chỉ gồm có mấy chi đội chưa thể gọi là sư đoàn được. Nó không có pháo binh, không quân và xe tăng. Tôi không thể hình dung nổi, với những chi đội như vậy mà có thể chiếm được Vác-sa-va trong khi Đức có 4 sư đoàn xe tăng, kể cả sư đoàn xe tảng “Ghéc-man Gơ-rinh” đang phòng thủ ở Vác-sa-va". (Thư từ trao đổi giìra Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Liên Xô với Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Anh trong thời kỳ Chiến tranh giữ nước vĩ đại 1941-1945, tiếng Nga, t. 1, tr. 252-253.)

Còn về câu kết thúc đầy ẩn ý của Sớc-sin viết trong bản thông điệp thì nó cùng mang tính chất hoàn toàn lố bịch: tựa như cuộc khởi nghĩa ở Vác-sa-va là một hành động chi viện cho Hồng quân!

Thế nhưng bức thông điệp đó của thủ tướng Anh cũng làm cho chúng ta phải chú ý. Xta-lin lệnh cho Gh. C. Giu-cốp, C. C. Rô-cô-xôp-xki và Bộ tổng tham mưu báo cáo các dự kiến của mình về việc đánh chiếm Vác-sa-va.

Đại diện Đại bản doanh và Hội đồng quân sự phương diện quân ngày 6 tháng Tám báo cáo về Mát-xcơ-va:

“1. Quân địch bố trí một lực lượng mạnh ở khu vực Xô-cô-lúp, Pốt-li- a-xki, Ô-gơ-ru-đéc (Bắc Ca-lu-sin 10 ki-lô-mét), Xta-ni-xla-vúp, Vô-lô-min, Pra-ha.

2. Chúng ta chưa đủ lực lượng tiêu diệt cụm quân địch ở đây”.

Các đồng chí đề nghị được phép sử dụng khả năng cuối cùng của mình là tung tập đoàn quân 70, trong biên chế có 4 sư đoàn, mới được dùng làm lực lượng dự bị, bước vào chiến đấu và cho 3 ngày để chuẩn bị chiến dịch. Báo cáo của các đồng chí nói rằng: “chúng tôi chưa thể chuyển sang tiến công trước ngày 10 tháng Tám, vì chưa kịp chuyên chở lên phía trước số đạn dược cần thiết ở mức tối thiểu trước thời hạn ấy”.


Bộ tổng tham mưu đồng ý với đề nghị của các đồng chí. Đại bản doanh cho phép các đồng chí chuẩn bị chiến dịch trong khoảng thời gian trên, nhưng cuối cùng tình hình cũng vẫn chưa chuyển biến được.

Đứng trước hoàn cảnh: bộ đội ta đột phá trong hành tiến vào Vác-sa-va không thành công, các đơn vị tiến công mỏi mệt không thể tạo nên bước ngoặt quyết định trong chiến dịch, kế hoạch tiến công lại bị địch phá vỡ, lúc này yêu cầu phải cải tiến hẳn việc bảo đám hậu cần của các tập đoàn quân, cho nên Bộ tổng tư lệnh tối cao Liên Xô buộc lòng phải tổ chức ra chiến dịch tiến công mới để giải phóng Vác-sa-va.

Chúng ta cũng cần thấy rõ một vấn đề khác nữa là các lực lượng dự bị lớn của Đại bản doanh cũng chưa có bao nhiêu, nên phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1 buộc phải giải quyết bằng các lực lượng hiện có của mình.

Như tôi được biết, kế hoạch chiến dịch giải phóng Vác-sa-va đang có cuộc khởi nghĩa hãy còn ít người viết đến, nên cho phép tôi được kể lại tỉ mỉ một chút. Tình hình diễn biến như sau.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 07 Tháng Tám, 2011, 12:09:01 pm
Theo chỉ thị của Đại bản doanh, Gh. C. Giu-cốp và C. C. Rô-cô-xôp-xki đã báo cáo lên I. V. Xta-lin các dự kiến hành động trong chiến dịch Vác-sa-va. Các đồng chí báo cáo:

“1. Phương diện quân có thể bắt đầu chiến dịch Vác-sa-va sau khi các tập đoàn quân cánh phải tiến ra tuyến sông Na-rép và chiếm được căn cứ bàn đạp ở bên bờ phía Tây con sông đó tại Pun-túc, Xê-rôt-xcơ. Đội hình chiến đấu của các tập đoàn quân ấy còn cách xa sông 120 ki-lô-mét. Muốn vượt qua chặng đường này cần tới 10 ngày.

Vậy là các tập đoàn quân bên cánh phải của phương diện quân cần tiến hành chiến dịch tiến công trong khoảng từ ngày 10 đến hết ngày 20 tháng Tám năm nay để tiến ra tuyến sông Na-rép.

2. Trong khoáng thời gian ấy, bên cánh trái của phương diện quân, các đơn vị của tập đoàn quân 69, tập đoàn quân cận vệ 8, quân đoàn kỵ binh cận vệ 7 và quân đoàn xe tăng 11 phải tiến hành một chiến dịch đệm, nhằm mở rộng căn cứ bàn đạp ở bờ phía Tây sông Vi-xla, đưa các tập đoàn quân đó tiến ra tuyến Vác-ca, Xtơ-rô-mét, Ra-đôm, Ve-giơ-bít-xa.

Muốn tiến hành chiến dịch này, cần rút tập đoàn quân xe tăng 1 của Ca-tu-cốp trong biên chế của phương diện quân U-crai-na 1 chuyển thuộc cho phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1 và điều tập đoàn quân ấy từ khu vực Ô-pa-túp vượt Ô-xtơ rô-vét, Xen-nô tiến công theo hướng Bắc ra tuyến Dơ-vô-len, Ra-dôm, chi viện cho tập đoàn quân 69, tập đoàn quân cận vệ 8, quân đoàn kỵ binh 7 và quân đoàn xe tăng 11 tiêu diệt quân địch ở đây.

Đi đôi với vấn đề này, cần chuyển dịch tuyến phân giới giữa phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1 và phương diện quân U-crai-na 1 chếch lên phía Bắc tới tuyến Cra-xnô-xtáp, sông In-gian-ca, Ô-pôt-nô, Pi-ốt-cúp. Như vậy, đội hình chiến đấu của các tập đoàn quân bên cánh trái của phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1 sẽ dày đặc hơn và tăng được sức mạnh đội kích của bộ đội ta trên hướng Ra-đôm.

3. Sau khi tiến hành chiến dịch và lúc các tập đoàn quân cánh phải của phương diện quân tiến ra tuyến sông Na-rép, các tập đoàn quân cánh trái tới tuyến Vác-ca, Ra-đôm, Ve-giơ-bít-xa, thì các binh đoàn cần ít nhất là 5 ngày để dời các căn cứ không quân, điều pháo binh và hậu cần lên phía trước và chuyên chở đạn dược, nhiên liệu.

4. Tính toán số thời gian cần thiết để chuẩn bị, chúng tôi có thể bắt đầu chiến dịch Vác-sa-va từ ngày 25 tháng Tám 1944 bằng tất cả các lực lượng của phương diện quân nhằm tiến ra tuyến Xê-kha-núp, Pơ-lôn-xcơ, Vư-sô-grút, Xô-kha-trép, Xke-rơ-ne-vi-xe, Tô-ma-súp và chiếm lấy Vác-sa-va.

Trong chiến dịch này. chúng tôi sẽ sử dụng 3 tập đoàn quân, 1 quân đoàn xe tăng và 1 quân đoàn kỵ binh để tiến công ở phía Bắc sông Vi-xla, sử dụng tập đoàn quân 69, tập đoàn quân cận vệ 8, tập đoàn quân xe tăng 1 và 2,2 quân đoàn kỵ binh, 1 quân đoàn xe tăng và 1 tập đoàn quân lấy ở cánh phải của phương diện quân để tiến công ở phía Nam sông Vi-xla.

Tập đoàn quân Ba Lan 1 trong chiến dịch này, sẽ tiến công dọc theo bờ phía Tây sông Vi-xla, có nhiệm vụ hiệp đồng với bộ đội bên cánh phải và ở giữa phương diện quân đánh chiếm lấy thành phố Vác-sa-va”.


Vậy là các đồng chí dự kiến sẽ dùng lực lượng của cả hai cánh của phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1 mở hai mũi vu hồi tiêu diệt tập đoàn địch đóng tại Vác-sa-va. Đồng thời, trong số các tập đoàn quân vượt sông Vi-xla, sẽ lấy ra 1 tập đoàn quân tiến công lên phía Bắc dọc theo bờ sông phía Tây làm nhiệm vụ chia cắt cụm quân địch ở đây.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 07 Tháng Tám, 2011, 12:10:57 pm
Các khu vực xuất phát tiến công của các binh đoàn ở hai bên sườn như sau: bên sườn phải là các căn cứ bàn đạp cần được chiếm lấy trên sông Na-rép trong khu vực Pun-túc và Xê-rốt-xcơ, còn ở bên sườn trái là các căn cứ bàn đạp của các tập đoàn quân cận vệ 8 và tập đoàn quân 69 ở Ma-gnu-se-vô và Pu-la-vư trên sông Vi-xla. Trường hợp thuận lợi nhất cũng không thể bắt đầu chiến dịch trước ngày 25 tháng Tám được.

Trong những ngày này, X. Mi-cô-lai-chích đang tiến hành hội đàm với I. V. Xta-lin và V. M. Mô-lô-tôp về tình hình các công việc ở Ba Lan và các quan hệ Liên Xô - Ba Lan. A. I. An-tô-nốp ở Bộ tổng tham mưu được triệu tập tham dự một số buổi họp.

Xta-lin tuyên bố kiên quyết rằng: công việc ở Ba Lan phải do chính những người Ba Lan thảo luận với nhau và phải tiến hành đàm phán với ủy ban giải phóng dân tộc Ba Lan. “Những người theo Luân đôn” đồng ý. Các đồng chí B. Be-rút, chủ tịch CRN, E. Ô-xúp-ca - Mô-ráp-xki, chủ tịch ủy ban giải phóng dân tộc Ba Lan, và những đồng chí khác từ Li-u-blin đến Mál-xcơ-va. Tướng M. Rô-li-a - Gi-me-rơ-xki. Tổng tư lệnh Quân đội Ba Lan, cũng đến họp.

Trong những buổi họp sau này, các bên đều giữ ý kiến của mình. Buổi hội đàm cuối cùng giữa I. V. Xta-lin và Mi-cô-lai-chích tiến hành vào ngày 9 tháng Tám. Trong buổi hội đàm ấy, rốt cuộc Mi-cô-lai-chích đã buộc phải thông báo tỉ mỉ hơn về cuộc khởi nghĩa Vác-sa-va và nói rằng những người khởi nghĩa đang bị thiếu thốn vũ khí một cách trầm trọng.

Chúng tôi ở Bộ tổng tham mưu ít lâu sau được biết rằng Tổng tư lệnh tối cao đã nói chuyện bằng điện thoại cao tần với C. C. Rô-cô-xốp-xki và lệnh cho đồng chí phải xem xét lại một lần nữa các vấn đề về chiến dịch Vác-sa-va và biện pháp đầu tiên là phải tổ chức chuyên chở vũ khí cho những người khởi nghĩa và cho người nhảy dù, có trang bị điện đài, bắt liên lạc với ban lãnh đạo khởi nghĩa. Chiến sĩ nhảy dù không nắm được nơi bố trí của quân khởi nghĩa đã bị sa vào tay giặc. 

Trở về Luân Đôn, Mi-cô-lai-chích thuật lại cho U. Sớc-sin nghe về các buổi hội đàm ở Mát-xcơ-va và tình hình đang ngày một xấu dần ở Vác-sa-va. U. Sớc-sin viết cho I. V. Xta-lin: “tôi nhận được bức điện đau buồn của những người Ba Lan ở Vác-sa-va gửi tới nói rằng: họ đã chiến đấu hơn 10 ngày nay để chống lại các lực lượng Đức rất mạnh đã cắt thành phố ra làm ba mảnh. Họ đang vật nài gửi cho họ súng máy và đạn dược. Vậy Ngài có thể chi viện thêm nữa cho họ được không, vì rằng từ I-ta-li-a tới đấy thật quá xa!”.

Qua bức thư trên, chúng ta thấy rằng không ai có ý định thông báo tỉ mỉ hơn cho Liên Xô biết. Các nước đồng minh hiểu rõ rằng phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1 chưa thể đảnh chiếm ngay được Vác-sa-va, nên sự la lối rùm beng về cuộc khởi nghĩa đó mang ý nghĩa của một ván bài chính trị bỉ ổi đối với vận mệnh của thủ đô Ba Lan đang khởi nghĩa.

Các thông báo đăng trên báo chí và truyền trên đài phát thanh của chỉnh phủ lưu vong Ba Lan do báo chí Anh đưa tin, đủ chứng minh cho vấn đề này. Các thông báo về cuộc khởi nghĩa ở Vác-sa-va nói ám chỉ rằng những người khởi nghĩa có liên lạc với bộ chỉ huy Liên Xô, thế nhưng, về phía Liên Xô lại không chi viện cho họ. Còn các báo chí tư sản của Ba Lan ở Luân Đôn lại tung ra các luận điệu xảo quyệt hơn, đổ lỗi cho Liên Xô đã gây nên tình thế khó khăn đó cho những người khởi nghĩa ở Vác-sa-va.

I. V. Xta-lin lệnh phải có thái độ ngay đối với những lời vu khống thâm hiểm ấy. Thông tấn xã Liên Xô cho in trên các báo chí, truyền đi trên đài phát thanh bán tuyên bố nói rằng: chính phủ lưu vong Ba Lan phải chịu trách nhiệm về các sự kiện đã xảy ra ở Vác-sa-va. Họ không hề báo trước cho bộ chỉ huy Liên Xô biết về cuộc khởi nghĩa và cũng không hề thỏa thuận gì với bộ chỉ huy Liên Xô về các cuộc nổi dậy ở thủ đô Ba Lan. Vì vậy, các giới lưu vong Ba Lan ở Luân Đôn phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về những vấn đề đã xảy ra.

Ngoài ra, Tổng tư lệnh tối cao còn gửi thư cho Sớc-sin sau khi phân tích chi tiết mọi vấn đề có liên quan tới Vác-sa-va. Trong thư nói rõ cuộc khởi nghĩa ở thủ đô Ba Lan là một hành động phiêu lưu liều lĩnh, làm cho nhân dân Ba Lan bị tổn thất quá nặng. “nếu như bộ chỉ huy Liên Xô được thông báo trước khi nổ ra các hành động ở Vác-sa-va và nếu như những người Ba Lan bắt liên lạc với bộ chỉ huy Liên Xô, thì tình hình sẽ không thể xảy ra như vậy” (Thư từ trao đổi giữa Chủ tịch Hội động bộ trưởng Liên Xô với Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Anh trong thời kỳ Chiến tranh giữ nước vĩ đại 1941-1945, tiếng Nga. t. 1, tr. 257.).


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 07 Tháng Tám, 2011, 12:11:50 pm
Trong thư còn nói rõ rằng các chính giới Ba Lan ở Luân Đôn âm mưu tung ra các sự kiện nằm trong mưu đồ chính trị của bọn họ, song lại không kịp nghĩ tới mặt quân sự của vấn đề. Cuộc khởi nghĩa chưa được chuẩn bị và báo đảm chu đáo mà chủ yếu là những người tổ chức ra cuộc khởi nghĩa ấy không tính đến vai trò khách quan của bộ đội Liên Xô. I. V. Xta-lin viết thẳng: “trước tình hình đó, bộ chỉ huy Liên Xô đi đến kết luận là phải cắt đứt liên hệ với cuộc phiêu lưu Vác-sa-va ấy, vì bộ chỉ huy Liên Xô không chịu trách nhiệm trực tiếp và gián tiếp về hành động Vác-sa-va này”.

Tổng tư lệnh tối cao biểu thị quan điểm khác về nguyên tắc với chính giới ở Luân Đôn đối với các biện pháp giải phóng Vác-sa-va về mặt quân sự. Bộ chỉ huy Liên Xô cho rằng chỉ có mở chiến dịch tiến công mới có thể đánh tan được quân địch. Bộ chỉ huy Liên Xô không từ chối việc giúp đỡ vũ khí và đạn dược cho quân khởi nghĩa, nhưng chưa liên lạc được với quân khởi nghĩa và những tin tức chính xác về tình hình ở Vác-sa-va, cần thiết cho việc tổ chức cung cấp, thì đến nay Liên Xô cũng vẫn chưa nhận được.

*
*   *

Kế hoạch các chiến dịch ở khu vực Vác-sa-va mà Đại bản doanh đã thông qua, bắt đầu được thực hiện ngay. Các trận đánh diễn ra hết sức quyết liệt, nhất là ở những của ngõ tiến vào các vùng phụ cận Vác-sa-va - Pra-ha là nơi tiến công của tập đoàn quân 47 và tập đoàn quân xe tăng 2, trong khu vực các căn cứ bàn đạp gần sông Vi-xla. Thế nhưng, phòng ngự của địch lần này cũng rất vững chắc. Bộ đội đột phá của ta gặp hoàn cảnh thiếu đạn dược nên có nhiều khó khăn.

Bộ chỉ huy Đức điều động một bộ phận binh lực của chúng tới các căn cứ bàn đạp và đã chặn được kế hoạch mở rộng căn cứ bàn đạp của ta. Chỉ có các đơn vị bên cánh phải là thu được một kết quả nhất định: vào cuối tháng Tám, họ phải trả giá bằng những hy sinh lớn lao mới chiếm được các căn cứ không lớn lắm ở Na-rép, phía Nam Rô-gia-nư, trong dải của tập đoàn quân 48 của tướng P. L. Rô-ma-nen-cô và phía Nam Pun-túc trong dải của tập đoàn quân 65 của tướng P. I. Ba-tốp.

Rõ ràng khả năng tiến công của phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1 đã cạn. Trong vòng hai tháng tiến công liên tục, bộ đội của phương diện quân đã tiến công trên một số hướng, vượt qua một chặng đường dài trên 600 ki-lô-mét. Bộ đội mỏi mệt. Các đơn vị thiệt hại. Cung cấp gặp trở ngại. Các phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 3 và 2, phương diện quân U-crai-na 1 cũng ở trong tình trạng tương tự như vậy. Do đó nảy ra sự cần thiết phải tạm thời chuyển sang phòng ngự.

Những thất bại của các tập đoàn quân ta khiến cho chúng ta rất đau lòng, đã thế ở Luân Đôn người ta lại đổ thêm dầu vào lửa. Sau khi nhận được thư trả lời của Bộ tổng tư lệnh tối cao Liên Xô ngày 16 tháng Tám, Sớc-sin rủ Ru-dơ-ven ký vào bức thông điệp gửi I. V. Xta-lin với lời ám chỉ rằng dư luận thế giới sẽ phản ứng bất lợi “nếu như những người chống quốc xã ở Vác-sa-va bị bỏ rơi trên thực tế”.

Ngày 22 tháng Tám, I. V. Xta-lin viết thông điệp trả lời: “sớm hay muộn, sự thật về bọn tội phạm gây ra cuộc phiêu lưu Vác-sa-va hòng chiếm lấy chính quyền rồi cũng sẽ bị lôi ra ngoài ánh sáng. Bọn họ đã lợi dụng lòng tin cậy của nhân dân Vác-sa-va, ném nhiều người dân tay không súng đạn ra trước họng súng của đại bác, xe tăng và máy bay quân thù. Trong những lúc này, mỗi ngày ở đây chưa phải là ngày giải phóng Vác-sa-va của nhân dân Ba Lan mà là ngày để cho bọn Hít-le tàn sát đẫm máu những người dân lành Vác-sa-va” (Thư từ trao đổi giữa Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Liên Xô với Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Anh trong thời kỳ Chiến tranh giữ nước vĩ đại 1941-1945. tiếng Nga, t. I, tr. 258.).

I. V. Xta-lin còn phân tích thêm cả về ý nghĩa quân sự của Vác-sa-va như sau:

“Xét về mặt quân sự, tình hình đó càng làm cho bọn Đức tăng thêm chú ý vào Vác-sa-va, càng bất lợi cả cho Hồng quân lẫn nhân dân Ba Lan. Trong khi ấy, bộ đội Liên Xô thời gian gần đây đang phải đối phó với các âm mưu tổ chức phản công của bọn Đức, đã làm hết mọi khả năng để phá vỡ các cuộc phản công ấy của bọn Hít-le và chuyển sang mở cuộc tiến công lớn mới ở Vác-sa-va. Mọi người đều thấy rõ là Hồng quân không hề tiếc sức mình để tiêu diệt quân Đức ở Vác-sa-va và giải phóng Vác-sa-va cho nhân dân Ba Lan. Đó cùng sẽ là sự chi viện tốt nhất và thiết thực cho những người Ba Lan chống bọn quốc xã”.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 07 Tháng Tám, 2011, 12:12:40 pm
Tình hình ở khu vực Vác-sa-va được đem ra bàn bạc nhiều lần trong Đại bản doanh. Trước khi thông qua các quyết định không chỉ thuần túy về quân sự mà là những quyết định cả về quân sự-chính trị, Đại bản doanh đã cân nhắc kỹ xem những hình thức nào chi viện cho quân khởi nghĩa sẽ đem lại hiệu quả nhiều nhất và đã đặt kế hoạch hành động cho bộ đội ta.

Đại bản doanh và phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1 không một phút nào lại không nhớ tới Vác-sa-va lúc này đang gặp nhiều đau khổ - cần phải chi viện cho những người khởi nghĩa, và chi viện sao cho thật nhanh. Xta-lin đã nhiều lần đề cập tới vấn đề này. Ví dụ như hồi đầu tháng Chín 1944, vào buổi tối chúng tôi đến báo cáo tình hình trong ngày, Xta-lin vẫn đi lại trong phòng, nghĩ ngợi, thỉnh thoảng bật lên thành tiếng. Tôi không nhớ kỹ hết từng lời đồng chí đã nói lên lúc ấy, nhưng vì đây là vấn đề rất nóng hổi, phức tạp và quan trọng nên tôi có thể cam đoan mình nhớ lại đúng ý chung trong các ý kiến của đồng chí.

Tổng tư lệnh tối cao khẳng định là các chính khách của chính phủ lưu vong Ba Lan ở Luân Đôn phải chịu trách nhiệm về chính sách phiêu lưu của họ ở Vác-sa-va. Họ hành động mà không thông báo cho bộ chỉ huy quân sự Liên Xô biết và đã làm đảo lộn các kế hoạch chiến dịch của Liên Xô. Chính phủ Liên Xô yêu cầu phải thành lập một ủy ban đặc biệt để tìm hiểu một cách vô tư xem cuộc khởi nghĩa ở Vác-sa-va nổ ra theo lệnh của ai và ai sẽ chịu trách nhiệm về việc không thông báo trước cho bộ chỉ huy Liên Xô.

Không một bộ chỉ huy nào, kể cả của Anh lẫn của Mỹ, lại chịu để cho người ta tổ chức một cuộc khởi nghĩa trong một thành phố lớn, ngay phía trước mặt trận của quân đội mình mà không hề thông báo cho mình biết, bất chấp cả những kế hoạch chiến dịch của mình. Cố nhiên, bộ chỉ huy Liên Xô cũng không phải là ngoại lệ. Rõ ràng là nếu người ta hỏi ý kiến trước bộ chỉ huy Liên Xô về việc phát động cuộc khởi nghĩa ở Vác-sa-va vào đầu tháng Tám này, thì bộ chỉ huy Liên Xô nhất định sẽ chưa thể đồng ý. Vì bấy giờ, quân đội Liên Xô chưa sẵn sàng công kích đánh chiếm Vác-sa-va, hơn nữa là quân Đức lại mới điều thêm các lực lượng dự bị xe tăng của chúng tới khu vực này.

Nhìn chúng tôi với vẻ dò xét, Tổng tư lệnh tối cao tiếp tục nói: không ai có thể trách cứ Chính phủ Liên Xô thiếu giúp đỡ nhân dân Ba Lan, kể cả Vác-sa-va. Hình thức giúp đỡ thiết thực nhất là những hành động quân sự tích cực của bộ đội Liên Xô chống lại quân chiếm đóng Đức ở Ba Lan, đã tạo điều kiện giải phóng được hơn một phần tư số vùng đất đai Ba Lan. Tất cả những hành động đó là sự đóng góp của bộ đội Liên Xô và chỉ của riêng bộ đội Liên Xô, những người đã đổ máu vì sự nghiệp giải phóng Ba Lan.

Chúng ta còn sử dụng cả hình thức chi viện khác nữa, tuy ít kết quả, là thả dù vũ khí, thuốc men, lương thực cho nhân dân Vác-sa-va. Chúng ta đã mấy lần thả dù cả trang bị và lương thực cho những người khởi nghĩa ở Vác-sa-va, nhưng đều được tin các thứ hàng ấy đã bị rơi vào tay bọn Đức.

Do Sớc-sin và Ru-dơ-ven viết thư cho I. V. Xta-lin, đề nghị tổ chức chi viện bằng đường không cho những người khởi nghĩa ở Vác-sa-va, Tổng tư lệnh tối cao đáp lại rằng: nếu Thủ tướng và Tổng thống tin tưởng là hình thức chi viện này thu được nhiều kết quả và đòi bộ chỉ huy Liên Xô cùng tổ chức chi viện như vậy với bộ chỉ huy Anh và Mỹ thì Chính phủ Liên Xô có thể đồng ý. Chỉ có điều là cần chi viện theo một kế hoạch đã được thỏa thuận trước.

Còn đối với âm mưu định trút trách nhiệm cho Chính phủ Liên Xô về vận mệnh cuộc khởi nghĩa và những thiệt hại của những người khởi nghĩa, Tổng tư lệnh tối cao tiếp tục nói, thì chỉ có thể coi đó là mưu toan đổ tội cho người ngay. Cũng có thể nói như vậy về ý kiến cho rằng sự giúp đỡ của Liên Xô trong vấn đề Vác-sa-va dường như trái với tinh thần hợp tác của các nước đồng minh. Không ai còn nghi ngờ rằng nếu chính phủ Anh áp dụng các biện pháp kịp thời thông báo cho bộ chỉ huy Liên Xô biết về cuộc khởi nghĩa ở Vác-sa-va, thì tình hình ở Vác-sa-va chắc chắn là sẽ khác hẳn.

I. V. Xta-lin còn nói: việc bóc trần sự thật các sự kiện ở Vác-sa-va sẽ giúp cho dư luận xã hội phán xét các hành động vô trách nhiệm của những kẻ chủ mưu tổ chức ra cuộc khởi nghĩa ở Vác-sa-va và sẽ hiểu được đúng đắn lập trường của Chính phủ Liên Xô. Chúng ta phải cố gắng làm cho dư luận xã hội nhận ra chân tướng các sự kiện ở Vác-sa-va.

Đó là nội dung những ý kiến chính của I. V. Xta-lin đã phát biểu về cuộc khởi nghĩa ở Vác-sa-va.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 10 Tháng Tám, 2011, 12:02:51 pm
Bộ tổng tham mưu nhận được lệnh phải tiếp tục duy trì các hành động tiến công ở Vác-sa-va, trước hết là phải thủ tiêu căn cứ bàn đạp của địch ở phía trước Pra-ga giữa hai con sông Vi-xla và Na-rép. Ngày 29 tháng Tám, ba phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a, phương diện quân U-crai-na 1 và 4 được lệnh phải chuyển sang tích cực phòng ngự. Riêng bộ đội cánh phải của phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1 nhận nhiệm vụ giải phóng thủ đô Ba Lan và hai tập đoàn quân của phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 2 của tướng G. Ph. Da-kha-rôp ở cửa ngõ phía Nam Đông Phổ là vẫn được lệnh tiếp tục tiến công.

Bộ tổng tham mưu và bộ tư lệnh phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1 đều đang suy nghĩ tới những biện pháp giải quyết các nhiệm vụ ở khu vực Vác-sa-va. Đầu tháng Chín, trinh sát của phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1 phát hiện thấy một trong số các sư đoàn xe tăng địch và một số đơn vị khác trước kia ở Pra-ga, nay lại xuất hiện ở phía trước các căn cứ bàn đạp của ta ở Vi-xla. Rõ ràng, bộ chỉ huy quân Đức phán đoán, cho rằng chúng ta sẽ hành động tích cực tại nơi đây. Vì vậy có thể lợi dụng tình hình này mà tổ chức tiến công vào Pra-ha. Chúng tôi báo cáo lên Tổng tư lệnh tối cao và đồng chí đã cho lệnh thực hiện ý định này.

Ngày 10 tháng Chín, tập đoàn quân 47 bắt đầu tiến công. Tập đoàn quân Ba Lan 1 tiến theo sau, và bộ đội đã hành động thật kiên quyết. Rạng ngày 13 tháng Chín, quân ta đột nhập được vào Pra-ha. Đáng lẽ, đến lúc này mới phát động cuộc khởi nghĩa ở Vác-sa-va để ngăn chặn không cho bọn Hít-le phá cầu rồi chiếm giữ các cầu ấy, giúp cho bộ đội Liên Xô vượt sang bên kia sông Vi-xla, tiến vào trung tâm thành phố thì đẹp đẽ biết bao! Nhưng, bọn địch đã phá sạch hết các cầu. Bộ đội ta bị ngăn cách với Vác-sa-va đã phải chiến đấu trong 45 ngày ròng rã, chính bởi tại con sông rộng này. Các đơn vị trinh sát của tập đoàn quân 47 tìm mọi cách vượt sông trong hành tiến và vọt sang bên kia sông nhưng đều không thành công.

Nhân dân ở các vùng phụ cận Vác-sa-va - Pra-ha hân hoan đón mừng các chiến sĩ Liên Xô và Ba Lan, những người giải phóng mình. Chị em phụ nữ Ba Lan xông ra chăm sóc thương binh và chôn cất các chiến sĩ bị hy sinh dưới mưa đạn.

Theo lệnh của C. C. Rô-cô-xốp-xki, khu vực chính diện tạt Vi-xla ở phía trước Vác-sa-va sẽ chuyển giao cho bộ đội của Dích-mun Béc-lin-gơ, còn tập đoàn quân 47 rời lên phía Bắc. Bộ đội Liên Xô và Ba Lan đã tiến ra tuyến có thể trực tiếp chi viện cho Vác-sa-va đang khởi nghĩa.

Tất nhiên, ở bên kia sông Vi-xla. những người lãnh đạo khởi nghĩa đều biết chúng ta đã tiêu diệt được các đơn vị của Hít-le ở Pra-ha, bên này sông. Thế nhưng, những người lãnh đạo khởi nghĩa thuộc phe Luân Đôn ấy vẫn tiếp tục duy trì đường lối của họ, không chịu bước ra tiếp xúc với ta. Họ vẫn giữ im lặng như cũ, không bắt liên lạc với ta, mặc dầu như chính phủ Anh thông báo là nhân dân Vác-sa-va đang gặp rất nhiều khó khăn.

Còn những người lãnh đạo các đơn vị Quân đội nhân dân đã tình nguyện liên lạc với quân khởi nghĩa, trong những giờ phút khó khăn ấy vẫn sát cánh chiến đấu cùng với nhân dân Vác-sa-va, đã phái ngay hai nữ liên lạc viên vượt sông Vi-xla khi bộ đội Liên Xô vừa tới Pra-ha. Hai nữ quân nhân yêu nước trẻ tuổi quên thân mình, băng qua lửa đạn đến với bộ đội ta. Bộ chỉ huy Liên Xô và Ba Lan lúc này mới biết được các chi tiết về tính chất cuộc khởi nghĩa, tình hình trong thành phố, nơi bố trí và tình trạng lực lượng của quân khởi nghĩa.

Hồi ấy, chúng tôi nghĩ chỉ vì con sông nên bộ đội Liên Xô và Quân đội Ba Lan mới bị chia cách với nhân dân Vác-sa-va đang đứng lên khởi nghĩa. Song, mọi việc còn phức tạp hơn thế nhiều, và nguyên nhân gây lên tội lỗi này lại chính do âm mưu chính trị tàn bạo của các phần tử thoái hóa nằm trong nhà nước Ba Lan tư sản-địa chủ trước đây. Nhưng về điều đó ta sẽ nói sau.

Trưa ngày 13 tháng Chín, tôi cùng với A. I. An-tô-nốp báo cáo lên Tổng tư lệnh tối cao những tin tức cuối cùng về tình hình ở phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1. Đồng chí ra lệnh cho chúng tôi phải đem hết khả năng ra chi viện cho nhân dân Ba Lan, cải tiến việc cung cấp vũ khí, đạn dược và các phương tiện vật chất khác bằng đường không cho quân khởi nghĩa. Chúng tôi chuyển ngay lệnh đó cho phương diện quân và bộ tư lệnh không quân. Ngay đêm hôm ấy, vũ khí và đạn dược được thả xuống Vác-sa-va thành công, rồi sang những ngày hôm sau, tiến trình cung cấp cho quân khởi nghĩa bắt đầu được thực hiện đều đặn.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 10 Tháng Tám, 2011, 12:03:31 pm
Nghe chúng tôi báo cáo xong, I. V. Xta-lin cầm ống nghe nói chuyện bằng điện thoại cao tần với C. C. Rô-cô-xốp-xki. Tư lệnh phương diện quân báo cáo rằng bộ đội của đồng chí trong lúc này chưa thể giải phóng được Vác-sa-va. I. V. Xta-lin thông cảm nội dung báo cáo đó của đồng chí tư lệnh nên không đòi hỏi gì thêm. Đồng chí lại nhắc tôi và An-tô-nốp một lần nữa rằng cần phải bắt liên lạc với quân khởi nghĩa. Về mặt này các hành động ấy đã bắt đầu.

Ngoài ra, đồng chí còn lệnh cho Gh. C. Giu-côp, vừa mới ở các mặt trận U-cra-na về, phải trở lại ngay phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1. “Đồng chí nắm vững tình hình ở đây. Đồng chí sẽ phân tích tại chỗ tình hình Vác-sa-va và định ra các biện pháp cần thiết. Không thể dùng bộ đội của Béc-lin-gơ mở một chiến dịch nhỏ, tổ chức tiến công vượt sông Vi-xla hay sao... Vấn đề này rất quan trọng... Đồng chí với Rô-cô-xôp-xki bàn bạc công việc với những người Ba Lan và trực tiếp giúp các đồng chí ấy tổ chức hoạt động. Các đồng chí ấy còn thiếu kinh nghiệm”.

Ngày 15 tháng Chín, Gh. C. Giu-cốp đáp máy bay tới phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1. Sáng 16 tháng Chín, đồng chí cùng với C. C. Rô-cô-xôp-xki đến khu vực Dê-lê-na ở Pra-ha, tới sở chỉ huy của tập đoàn quân Ba Lan 1. D. Béc-lin-gơ cho biết là đồng chí đã đưa được một tiểu đoàn bộ binh 500 người mang theo 9 khẩu đại liên, 16 khấu súng cối 82 ly và 1 khẩu đại bác 45 ly vượt sang Vác-sa-va tại khu vực Tséc-nhi-a-khốp; tiểu đoàn có nhiệm vụ liên lạc với các đơn vị quân khởi nghĩa đang hành động ở đây, tiến hành trinh sát và xây dựng căn cứ bản đạp để bảo đảm cho bộ đội vượt sông Vi-xla.

Đơn vị trinh sát được tổ chức vượt sông để bắt liên lạc với quân khởi nghĩa đang hoạt động ở phần phía Bắc Vác-sa-va nhưng không thành công. Các đơn vị Hít-le chốt rất chặt dọc theo bờ sông bên kia.

Đại diện của Đại bản doanh và tư lệnh phương diện quân lưu lại ở tập đoàn quân Ba Lan 1 trọn một ngày, để xác định nhiệm vụ với tập đoàn quân và vạch ra các biện pháp bảo đảm cho các đơn vị hành động.

Các đại biểu của Bộ tổng tham mưu bên cạnh Quân đội Ba Lan do thiếu tướng N. M. Mô-lôt-côp phụ trách, thường có mặt ở những nơi nào “nóng hổi” nhất. Các đồng chí thường xuyên báo cáo tình hình cho chúng tôi biết, nên lúc nào chúng tôi cùng nắm vững mọi diễn biến đã xảy ra.

Tối hôm ấy, chính nguyên soái Gh. C. Giu-côp trực tiếp điện báo về Đại bản doanh mọi chi tiết tình huống đã giải quyết, cho nên bức tranh như vậy là đã hoàn hảo. “Các lực lượng chủ yếu của Béc-lin-gơ trong thời gian gần đây, - Gh. C. Giu-cốp báo cáo cho Đại bản doanh, - có nhiệm vụ đánh chiếm phần phía Nam Vác-sa-va theo hướng từ Đại lộ 3 tháng Năm, Đại lộ I-e-rút-xa-lim tới quận Ghen-ri-cúp và trụ lại tại đấy để sau này tiếp tục đánh lên phía Bắc, dự kiến sẽ từ phía Tây - Nam đánh vu hồi vào thành phố”.

Sau đó, đồng chí tiếp tục: “Ngoài ra, nếu bắt liên lạc được với các đơn vị quân khởi nghĩa đang chiến đấu ở phần phía Bắc thành phố: thì chúng ta sẽ tổ chức đột kích về phía Bắc phối hợp với mũi đột kích từ phía Nam lại. và từ phía Tây - Bắc đánh chiếm lấy thành phố... Gặp tình hình thuận lợi. chúng ta sẽ tung quân đoàn bộ binh đã được tăng cường của Gu-xép tiến ra chiếm lấy căn cứ bàn đạp. Tôi cho rằng, ngoài ý nghĩa thành phố ra, nếu chúng ta tổ chức được cả cái căn cứ bàn đạp Vác-sa-va này thì thật tốt biết bao”.

Bộ đội của tập đoàn quân Ba Lan 1 bắt đầu tiến công vượt sông theo kế hoạch lúc 21 giờ. Thiếu tướng Mô-lốt-côp và đại tá Ép-xê-ép cùng đi với sư đoàn bộ binh Ba Lan 3 tiến công ở thê đội một, đại tá Đu-brôp-xki và đại úy E-rốp-ki-nốp trong tổ của Mô-lốt-cốp đi với các thê đội tiếp sau.

Công tác trinh sát được tăng cường, chúng ta quyết định cho hai chiến sỉ trinh sát mang theo điện đài, nhảy dù thẳng xuống quảng trường, vì theo các tin tức chúng ta nắm được, quân khởi nghĩa đang đóng tại quảng trường. Chúng ta còn thả dù cả vũ khí và súng cối xuống căn cứ bàn đạp đã chiếm được.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 10 Tháng Tám, 2011, 12:04:08 pm
Cụm pháo binh dùng để bắn phản pháo, gồm hơn một trăm khẩu bắn tầm xa được tổ chức ở khu vực Pra-ha, có nhiệm vụ bảo đảm bến vượt và khu vực căn cứ bàn đạp. Đại bộ phận pháo binh của tập đoàn quân Ba Lan 1 và lữ đoàn pháo 203 ly của phương diện quân triển khai tổ chức thành cụm pháo binh để chi viện cho bộ binh khi vượt sông và mở rộng căn cứ bàn đạp. Không quân được lệnh yểm hộ cho khu vực bến vượt và chi viện cho bộ đội ta hoạt động ở bờ phía Tây sông.

Nói tóm lại, chủng ta đã làm hết mọi việc để tổ chức vượt sông Vi-xla thắng lợi và bắt liên lạc với quân khởi nghĩa, tiêu diệt các đơn vị Hít-le trong thành phố và ở ngoại vi thành phố. Đồng thời Bộ tổng tham mưu còn lập ra những bảng tính cần thiết cho các đơn vị tiến công đánh vu hồi vào Vác-sa-va. 

Bộ tổng tham mưu thực hành một công tác rộng lớn để liên lạc với quân khởi nghĩa. Cuối cùng, bộ chỉ huy Quân đội quốc gia, đứng trước áp lực của các sự kiện, đã buộc phải bắt liên lạc với ta. Thông qua Luân đôn, Bộ tổng tham mưu đã chuyển được cho Bua - Cô-mô-rốp-xki tất cả những văn kiện cần thiết cho việc đó.

Các đơn vị của Quân đội quốc gia ở Vác-sa-va được lệnh tiếp xúc với tập đoàn quân Ba Lan 1 và bộ tham mưu phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1. Ngày 15 tháng Chín, Giô-li-bóc, sĩ quan thông tin vô tuyến của khu vực Vác-sa-va, cho biết là đã được lệnh bắt liên lạc vô tuyến với Hồng quân đang hoạt động ở Pra-ha.

Thời gian này, chúng tôi có thể không những cung cấp được đều đặn và thường xuyên cho quân khởi nghĩa mà còn thả dù những hàng hóa cần thiết xuống khu vực đã định.

Các nước đồng minh cùng lay động. Ngày 18 tháng Chín, 8 tốp máy bay, mỗi tốp gồm 12 chiếc (pháo đài bay) từ phía Tây bay đến Vác-sa-va. Trong vòng 20 phút, từ độ cao khoảng 4000 mét, chúng thả xuống những kiện hàng vũ khí, đạn dược, lương thực. Các quan sát viên của ta đếm được gần 1000 chiếc dù thả xuống, song chỉ rơi vào nơi đóng quân của quân khởi nghĩa có hơn 20 chiếc, còn phần lớn chúng đã thả xuống vùng đóng quân của bọn Hít-le, một số lại rơi vào tay quân ta.

Còn các phi công Liên Xô thời gian này đã nắm được vùng đóng quân của những người khởi nghĩa. nên tổ chức thả dù hàng vào ban đêm theo tín hiệu dưới đất, lại thả ở độ cao 150-200 mét, nên đã thả rất trúng.

Để khỏi quay trở lại nói về vấn đề cung cấp cho quân khởi nghĩa, tôi xin trích ra đây một vài con số. Từ 14 tháng Chín cho đến hết ngày 1 tháng Mười 1944, không quân của phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1 đã xuất kích 2243 lần chiếc để tiếp tế hàng cho Vác-sa-va, đã thả xuống 156 súng cối, 505 súng chống tăng, 2667 súng trường và tiểu liên, 3 triệu viên đạn, 42000 lựu đạn và các trang bị khác, 500 ki-lô-gam thuốc men và hơn 113 tấn lương thực.

Các chiến sĩ của tập đoàn quân Ba Lan 1 ở bờ phải sông Vi-xla, trong vùng giải phóng Pra-ha, nhìn thấy Vác-sa-va đang rực lửa. Lòng trung thành với nhân dân kêu gọi họ bước vào chiến đấu. Bộ tư lệnh tối cao của Quân đội Ba Lan ra nhật lệnh ngày 15 tháng Chín lên án tội tổ chức non cuộc khởi nghĩa của chính phú lưu vong ở Luân Đôn.

Trong nhật lệnh có đoạn nói: “nếu như lúc này mới nổ ra khởi nghĩa, có sự phối hợp với bộ chỉ huy Hồng quân và Quân đội Ba Lan, thì nhất định sẽ có thể giữ được các đầu cầu, tạo điều kiện nhanh chóng giải phóng được toàn bộ Vác-sa-va, cứu được sinh mạng của hàng trăm ngàn người. Vác-sa-va sẽ không bị lâm vào cánh tàn phá nặng nề như hiện nay...”

Bộ đội của tập đoàn quân Ba Lan 1 vượt sông Vi-xla gặp nhiều khó khăn, trước hết là do những nguyên nhân về kỹ thuật. Các đơn vị thiếu các phương tiện đổ bộ. Vì lòng sông phía quân ta nông nên cầu phao không thể bắc tới bờ, mà lúc này chúng ta cần chở pháo binh và các xe thiết giáp lên cầu phao.

Đến khi sang được bờ bên kia sông, tình hình cũng lại không kém phần khó khăn. Bọn Hít-le dùng súng máy và pháo binh bắn quét dọc theo bờ sông tại căn cứ Tréc-nhi-a-khôp và khu vực Pra-ha. Còn các phân đội của tập đoàn quân Ba Lan 1 đổ bộ bờ bên trái sông Vi-xla cũng bị quân địch chống trả lại ác liệt.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 10 Tháng Tám, 2011, 12:04:51 pm
Ngày 17 tháng Chín, hai tiểu đoàn của trung đoàn bộ binh Ba Lan 9 (chừng 1000 chiến sĩ) có các phương tiện tăng cường đã tập trung tại căn cứ bàn đạp ở Vác-sa-va. Dự kiến đêm hôm sau, tiểu đoàn thứ 3, khẩu đội pháo 76 ly và trung đoàn pháo chống tăng cũng sẽ tiếp tục vượt sông. Sau đó, được pháo binh của tập đoàn quân Ba Lan 1 ở bên này sông và không quân thuộc tập đoàn quân 16 chi viện, trung đoàn 9 sẽ bắt đầu tiến công để mở rộng thêm căn cứ bàn đạp dã chiếm được.

Trong khi ấy, các đơn vị khác của tập đoàn quân Ba Lan 1 thuộc biên chế của sư đoàn bộ binh 3 sẽ tiếp tục vượt sông. Tư lệnh phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1 và tư lệnh tập đoàn quân Ba Lan 1 cho rằng trong thời kỳ đầu, với số lực lượng trên cũng đủ để hoàn thành nhiệm vụ trước mắt và đánh lui các đợt phản xung phong, kể cả những đợt phản xung phong bằng xe tăng của địch.

Đồng thời, các tập đoàn quân 47 và 70 tiếp tục tiến công lên phía Bắc Pra-ha - giữa hai con sông Na-rép và Vi-xla. Bọn Hít-le ở đây còn chiếm giữ một căn cứ bàn đạp lớn, có thể tổ chức phản kích vào phía sau Pra-ha, sau đó sẽ phát triển xuống phía Nam.

Bộ đội ta hành động tích cực trong khu vực này theo chỉ thị trực tiếp của Tổng tư lệnh tối cao. Đồng chí quan tâm đến tình hình đang diễn biến trong lúc này ở phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1, yêu cầu các tập đoàn quân trên từ phía Tây - Bắc đánh vu hồi vào Vác-sa-va để chi viện cho các đơn vị đang chiến đấu trong thành phố. Chúng ta ra sức tổ chức tiến công, song vì thiếu đạn, địch lại chống trả mạnh, địa hình đặc biệt bất lợi cho ta, nên các mũi tiến công của ta không thành công, quân ta bị trả giá đắt.

Dòng dã mấy ngày liền, căn cứ bàn đạp Tséc-nhi-a-khốp vẫn chưa im tiếng súng. Các lực lượng kịp vượt sông bổ sung thêm cho căn cứ, nhưng kết quả vẫn chưa được là bao. Thế rồi, một số phân đội khởi nghĩa của Quân đội quốc gia rút về hướng Mô-cô-tốp không báo trước cho bộ tư lệnh tập đoàn quân Ba Lan 1, nên tình hình tại căn cứ bàn đạp ở Vác-sa-va càng rắc rối thêm.

Ở đây, quân phát-xít Đức chiếm ưu thế hơn ta rất nhiều về lực lượng và phương tiện. Thêm nữa, bọn chủng còn chiếm được cả lợi thế tác chiến. Từ khu vực đầu cầu Pô-ni-a-tốp-xki, bọn chúng chỉ cần tiến xuồng phía Nam thêm một đoạn nữa cũng đủ uy hiếp cắt đứt các phân đội của tập đoàn quân Ba Lan, không cho các phân đội ấy bám được sông, và như thế là sẽ cắt được các phân đội ấy ra khỏi các đơn vị đang bố trí tại Pra-ha.

Hai bên bờ và mát sông đều nằm trong tầm mật độ hỏa lực dày đặc của pháo binh, súng cối và súng máy của địch. Bọn Hít-le sử dụng các xe tăng của chúng làm thành những quả đấm cơ động hiệp đồng với các cụm bộ binh mạnh, và nếu không có các phương tiện đặc biệt chống tăng thì kháng cự lại chúng cùng không phải chuyện dễ.

Các chiến sĩ của sư đoàn bộ binh Ba Lan 3 ở căn cứ bàn đạp Tséc-nhi-a-khốp buộc phải chiến đấu trên một khu vực hẹp, rất khó tổ chức cơ động. Sư đoàn không thể đột phá vào trung tâm hoặc xuồng phía Nam Vác-sa-va vì quân địch chiếm lĩnh được khu vực địa hình có lợi ở phía Tây căn cứ, khống chế được quân ta, còn ở phía Nam. chúng có cả một hệ thống công sự phòng ngự dày đặc binh lính chiếm giữ.

Các phân đội của trung đoàn bộ binh 6 thuộc sư đoàn 2 gặp nhiều khó khăn hơn cả. Đêm rạng ngày 18 tháng Chín, các phân đội đó chiếm được một căn cứ nhỏ, thế nhưng mặc dầu các trận đánh quyết liệt diễn ra ở đây trong suốt ba ngày liền, quân ta vẫn không sao bám trụ lại được.

Tình hình buộc chúng ta phải có những bổ sung quan trọng vào kế hoạch tiến công Vác-sa-va bằng lực lượng của tập đoàn quân Ba Lan 1 đã vạch ra trước đây. Cần phải tìm ra những biện pháp khác tiêu diệt quân địch ở thủ đô Ba Lan và chúng tôi đã báo cáo lên Tổng tư lệnh tối cao.

- Bộ Tổng tham mưu đề nghị như thế nào? - Ngừng một lát, đồng chí hỏi.

An-tô-nôp báo cáo: không có cách nào khác là vẫn sử dụng 2 tập đoàn quân 47 và 70 từ phía Bắc và Tây - Bắc đánh vu hồi vào thành phố và tăng cường cho tập đoàn quân Ba Lan 1.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 10 Tháng Tám, 2011, 12:05:34 pm
Tổng tư lệnh tối cao yêu cầu tin tức về lực lượng của 2 tập đoàn quân 47 và 70. Tôi báo cáo. Các tập đoàn quân trên đã bị suy yếu. bộ đội mệt mỏi và bị tổn thất vì suốt từ ngày 18 tháng Bảy trở lại đây, các tập đoàn quân đã chiến đấu liên tục quyết liệt song phòng ngự của địch vẫn còn vững chắc. Tổng tư lệnh tối cao nghe hết, cả gian phòng im lặng hồi lâu. Đồng chí chậm rãi đi lại dọc theo chiếc bàn, tay cầm tẩu thuốc đã tắt. Cuối cùng, quay sang phía chúng tôi, đồng chí nói: 

- Các đồng chí báo tin cho Giu-cốp biết, để đồng chí ấy cùng với Rô-cô-xôp-xki suy nghĩ xem có thể chi viện cho Vác-sa-va như thế nào... Chẳng lẽ lại không thủ tiêu được cái căn cứ bàn đạp của địch ở giữa hai con sông ấy, không dùng lực lượng của hai tập đoàn quân của Gu-xép và Pô-pốp mà tổ chức tiến công đánh vu hồi vào Vác-sa-va được sao? Bảo các đồng chí ấy cũng suy nghĩ xem có thể làm được những gì trong thành phố, ở chỗ Béc-lin-gơ, tư lệnh tập đoàn quân Ba Lan 1. Có thể cấp tốc gửi cho các đồng chí ấy viện binh có kinh nghiệm đánh thành phố được không?..

Chúng tôi chuyển ngay những chỉ thị trên, và ngày hôm sau, 20 tháng Chỉn, Giu-côp và Rô-cô-xốp-xki gửi những ý kiến của mình về Bộ tổng tham mưu. Đồng chí đại diện Đại bản doanh và cả tư lệnh phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1 đều thấy rõ rằng cần phải tiếp tục chiến đấu tiêu diệt quân địch ở khu vực Vác-sa-va.

A. I. An-tô-nốp và Cục tác chiến Bộ tổng tham mưu tán thành những ý kiến của Gh. C. Giu-cốp và C. C. Rô-cô-xốp-xki. Tổng tư lệnh tối cao cũng đồng ý với các đồng chí, ra lệnh cho phương diện quân xúc tiến việc chuẩn bị chiến dịch và chú ý theo dõi tình hình ở căn cứ bàn đạp của tập đoàn quân Ba Lan 1 .

Trong những ngày ấy, I. V. Xta-lin, Bộ tổng tham mưu và Tổng cục chính trị nhận được những tin tức không thể tưởng tượng nổi ở Vi-xla gửi về, cho biết: Bộ tổng tư lệnh Quân đội quốc gia đang tiến hành âm mưu phá hoại ngầm từ bên trong các lực lượng khởi nghĩa.

Ngày 20 tháng Chín, bảy sĩ quan trong bộ tham mưu của Môn-te, tư lệnh quân khu Vác-sa-va trong Quân đội quốc gia được ủy nhiệm ra liên lạc với bộ tư lệnh Hồng quân và Quân đội Ba Lan. Một sĩ quan cho biết: tướng Bua bí mật ra lệnh cưỡng bức các đơn vị vũ trang theo chính phủ ở Li-u-blin phải phục tùng lệnh của riêng y và trấn áp những người không chịu phục tùng.

Đến hạ tuần tháng Chín. tình hình bộ đội của tập đoàn quân Ba Lan 1 ở bên kia sông Vi-xla lại càng xấu thêm, mặc dù ngày 20 tháng Chín họ vẫn còn giữ vững các trận địa của mình; thêm vào đó, ở phía Bắc Tséc-nhi-a-khôp, tiểu đoàn 2 của trung đoàn bộ binh 6 đã tìm cách vượt qua được phòng ngự của địch và tiến sâu về phía trước nhưng rốt cuộc bị địch bắn rát quá nên buộc phải nằm lại ở ven bờ.

Ngày hôm sau, tình hình ở Vác-sa-va càng nguy ngập hơn. Mô-lốt-cốp ở trực tiếp tại vị trí chiến đấu báo cáo cho đại diện của Đại bản doanh: “Mờ sáng ngày 21 tháng Chín 1944, được pháo bắn chi viện mạnh, địch thả khói mù, tiến công vào các phân đội của tập đoàn quân Ba Lan bên bờ phía Tây sông Vi-xla. Kết quả là mọi liên lạc với tiểu đoàn 2 thuộc trung đoàn 6 đều bị đứt, lúc 8 giờ 30 phút tiểu đoàn gọi pháo bắn vào mình”.

Ai đã qua chiến đấu đều hiểu rằng, gọi pháo bắn vào mình là như thế nào: nghĩa là không còn đường thoát nào khác, và đến lúc phải hy sinh cũng vẫn có tìm cách diệt địch.

“Tiểu đoàn của trung đoàn bộ binh 8 cũng đứt hết mọi liên lạc - báo cảo còn nói tiếp. Cụm quân gồm hai tiểu đoàn của trung đoàn bộ binh 9 bị địch phản xung phong mạnh, đến 18 giờ ngày 21 tháng Chín mới chiếm được một phần nhỏ của khu phố ở phía Đông...”

Quân địch tập trung được tới Vác-sa-va những lực lượng to lớn mới, có cả xe tăng, nên đã quyết định kết quả trận đánh. Đến hạ tuần tháng Chín, sức chiến đấu của các đơn vị quân khởi nghĩa giảm sút hẳn. Còn quân địch lại đang mở rộng tiến công bên phía Bắc, ở trung tâm, ở phía đông và ở vùng ven bờ sông phụ cận Vác-sa-va.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 10 Tháng Tám, 2011, 12:06:16 pm
Không quân và pháo binh của ta thường xuyên gây cho địch thiệt hại nặng. Cá biệt có những ngày máy bay địch nói chung không thể cất cánh bay trên thành phố, nhưng ta vẫn không sao tạo nên bước ngoặt cho bộ binh ở trên mặt đất được.

Tình hình trong thành phố, nhất là ở khu vực Tséc-nhi-a-khôp thất lợi như vậy, nên các đơn vị của Quân đội Ba Lan ở căn cứ bàn đạp lại càng gay go thêm. Các trận đánh diễn ra trong điều kiện tiếp tế rất khó khăn trên dải địa hình chật hẹp ven bờ sông, bị hoàn toàn cô lập với các khu vực khác ở Vác-sa-va, bị tách khỏi các lực lượng chủ yếu của tập đoàn quân Ba Lan 1.

Tất cả những tình hình trên, cộng thêm nhiều tin tức về các âm mưu chính trị của bọn cầm đầu Quân đội quốc gia, đã buộc tư lệnh phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1, Nguyên soái Liên Xô C. C. Rô-cô-xốp-xki, kiên quyết đi tới ý kiến ngừng các hành động chiến đấu ở Vác-sa-va. Gh. C. Giu-cốp ủng hộ đề nghị đó.

“Trong các điều kiện như thế, khó có thể bám giữ bờ phía Tây sông Vi-xla, - C. C. Rô-cô-xốp-xki viết trong cuốn hồi ký “nghĩa vụ quân nhân), - tôi quyết định ngừng chiến dịch lại. Chúng tôi cho các chiến sĩ đã đổ bộ sang bên kia sông trở về bên này. Đến ngày 23 tháng Chín, các phân đội của 3 trung đoàn bộ binh thuộc tập đoàn quân Ba Lan 1 đã liên lạc được với các đơn vị của mình”.

Bộ tổng từ lệnh tối cao đồng ý với tư lệnh phương diện quân. Tập đoàn quân Ba Lan 1 được lệnh chuyển sang phòng ngự dọc theo bờ phía Đông Vi-xla.

Ngày 28 tháng Chín, bọn Hít-le mở cuộc tổng tiến công ở Vác sa-va. Các trận đánh diễn ra hết sức quyết liệt. Trong vòng ba ngày chiến đấu, các đơn vị quân khởi nghĩa hầu như sắp bị thất bại hoàn toàn. Các sĩ quan liên lạc cuối cùng của tập đoàn quân Ba Lan 1 buộc phải rời cơ quan tham mưu của quân khởi nghĩa, vì chúng ta được tin tình báo địch đang chuẩn bị bắt giết họ.

Những ngày tiếp sau, lò lửa khởi nghĩa tắt dần trên các góc phố ở Vác-sa-va. Nhưng, các tốp quân khởi nghĩa ngay cả khi đã bị hoàn toàn vây chặt, bị phân tán, bị hỏa lực của quân Hít-le chế áp mạnh, bị đứt liên lạc với bộ chỉ huy của họ, vẫn kiên quyết không chịu hạ vũ khí.

Các trận đánh diễn ra ở Giô-li-bóc và Xri-út-mét-ti-e rất ác liệt. Các đảng viên cộng sản, những người chỉ huy Quân đội nhân dân bắt liên lạc với bộ chỉ huy tập đoàn quân Ba Lan 1, thông qua đó liên lạc với bộ tư lệnh phương diện quân, đã vạch ra kế hoạch hành động, bảo đảm cho những người khởi nghĩa rút khỏi Giô-li-bốc tới bờ sông Vi-xla, vượt sang Pra-ha dưới sự chi viện của pháo binh và không quân của phương diện quân Bê-lô ru-xi-a 1.

Thế nhưng, kế hoạch ấy lại bị bộ chỉ huy của Quân đội quốc gia phá hỏng. 18 giờ ngày 30 tháng Chín, bọn chúng yêu cầu những người khởi nghĩa phải đầu hàng ngay. Chỉ có một tốp nhỏ do thiếu tá Sa-nhi-áp-xki chỉ huy vừa chiến đấu vừa rút ra được tới bờ sông Vi-xla và dùng thuyền của các chiến sĩ thuộc tập đoàn quân Ba Lan 1 vượt sang bên kia sông về với chúng ta. Hai ngày sau, những trận đánh ở Xri-út-mét-ti-e cũng ngừng hẳn.

Cuộc khởi nghĩa ở Vác-sa-va kết thúc như thế đấy. Cuộc khởi nghĩa làm vẻ vang muôn đời cho nhân dân Ba Lan đã đứng lên khởi nghĩa, và cũng làm cho những kẻ trong cái gọi là “chính phủ Ba Lan" ở Luân Đôn muôn đời ô nhục.

Nhà sử học quân sự E-gi Kia-rơ-mai-e viết trong cuốn “Cuộc khởi nghĩa Vác-sa-va" đã công bằng nói rõ là, đứng về quan điểm quân sự, cuộc khởi nghĩa không có một ý nghĩa gì vào thời cơ ấy. “...Cuộc khởi nghĩa không đẩy nhanh thêm một giờ nào cho công cuộc giải phóng Vác-sa-va. - tác giả viết - Chỉ có dưới ánh sáng đó, chúng ta mới có thể hình dung ra những gánh nặng thất bại - thất bại không có căn cứ và không cần thiết”.

Tấn thảm kịch Vác-sa-va trở thành biểu tượng khủng khiếp của sự phá sản của các nhà chính trị tư sản phản động. Đồng thời, những trở ngại ở Vác-sa-va càng chứng minh trước toàn thế giới rằng Đảng công nhân Ba Lan và các lực lượng tiến bộ do Đảng lãnh đạo sẵn sàng chiến đấu đến cùng phục vụ nhân dân.

Ngày nay, ngọn lửa còn cháy sáng mãi ở Tséc-nhi-a-khốp bên bờ sông Vi-xla, gợi chúng ta nhớ đến các chiến sĩ Liên Xô và Ba Lan đã cùng đổ máu trong các trận đánh chung vì tương lai tươi sáng của nước Ba Lan nhân dân.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 10 Tháng Tám, 2011, 12:07:00 pm
*
*   *

Chính quyền nhân dân được xây dựng trong các vùng giải phóng ở phía Đông Ba Lan, đang ra sức mau chóng phục hồi đất nước. Nhiều người Ba Lan đã đáp ứng trách nhiệm đó bằng những công việc thiết thực: các đội du kích đẩy mạnh hoạt động của mình ở vùng sau lưng địch, còn trong các vùng giải phóng, nhân dân tiến bước dưới ngọn cờ của Quân đội Ba Lan, tích cực tham gia công cuộc giải phóng các vùng đất đai của Tổ quốc còn đang bị rên siết dưới gót sắt của bọn Hít-le.

Số người tình nguyện tăng lên rất cao. Khả năng động viên lớp người tòng quân giết giặc thật dồi dào. Tình hình đó cho phép tiến tới xây dựng ở ngay trên lãnh thổ Ba Lan, chính tại khu vực Li-u-blin và Xét-lét, tập đoàn quân Ba Lan 2 trong tháng Tám 1944. Tướng Ca-rôn Xve-rơ-trép-xki được cử giữ chức tư lệnh tập đoàn quân này.

Tới ngày 1 tháng Mười, biên chế tập đoàn quân đã có khoảng 50000 người. Ngoài ra, đất nước Ba Lan đã bắt đầu thành lập quân đoàn không quân hỗn hợp và các binh đoàn, binh đội khác. Trong những trận đánh sau này, tập đoàn quân Ba Lan 2 đã tô thắm ngọn cờ của mình trong chiến dịch Béc-lin ở các vùng Ni-xa Lu-gít-cai-a, Đre-xđen, và hoàn thành chặng đường chiến đấu ở khu vực thủ đô nước Tiệp Khắc đồng minh.

Khả năng động viên trong các vùng giải phóng Ba Lan còn rất phong phú nên CRN dự định tiếp tục mở rộng thêm Quân đội Ba Lan. Tiếp sau tập đoàn quân Ba Lan 2, lại sẽ xây dựng thêm một tập đoàn quân nữa và thành lập các đơn vị đặc chủng và các đơn vị hậu cần. Vì thế cho nên Bộ tổng tham mưu được lệnh phải luôn luôn quan tâm tới vấn đề về tập đoàn quân Ba Lan thứ ba và chúng tôi cùng đã thực hiện đúng như vậy. Vả lại, chúng tôi không hề nghi ngờ gì về khả năng giải quyết vấn đề đó.

Hơn nữa, I. V. Xta-lin còn giao nhiệm vụ chuẩn bị chỉ lệnh thành lập phương diện quân Ba Lan vào ngày 15 tháng Mười một gồm 3 tập đoàn quân. Chúng tôi thảo chỉ lệnh đó và Đại bản doanh duyệt y. Ngày 3 tháng Mười tôi báo cáo việc đó cho Tổng tham mưu trưởng A. M. Va-xi-lép-xki lúc này đang làm đại diện Đại bản doanh ở Pri-ban-tích.

Thế nhưng, khi thực hiện nhiệm vụ đó, chúng ta đã vấp phải một khó khăn lớn: thiếu cán bộ chỉ huy người dân tộc. Sở dì như thế là do một loạt nguyên nhân: ở đây đã thể hiện rõ những hậu quả nặng nề của chính quyền địa chủ không tạo điều kiện cho nhân dân học hành, cũng như chính sách của bọn xâm lược Hít-le nhằm hủy hoại nền văn hóa Ba Lan và thẳng tay diệt trừ những đại biểu của nền văn hóa đó.

Như đã nói ở trên, phần lớn đội ngũ cán bộ chỉ huy các binh chủng kỹ thuật đã cùng ra đi với An-đéc-xơ. Bộ tổng tham mưu nghiên cứu các cách giải quyết khác nhau đối với những vấn đề được đặt ra lúc bấy giờ về cán bộ cho Quân đội Ba Lan. Cả các đồng chí Ba Lan của chúng ta cũng nghiên cứu những vấn đề ấy.

Thời gian trôi đi mà vẫn chưa tìm ra được cách gì đáng hy vọng cả. Rốt cuộc, tình hình gay go về đội ngũ sĩ quan đã buộc ta phải từ bỏ việc thành lập phương diện quân Ba Lan và đưa các cán bộ sĩ quan đã tập trung đi bổ sung cho các đơn vị hiện có.

Quân số của quân đội Ba Lan tăng lên rất nhanh. Đến lúc chấm dứt chiến tranh với nước Đức Hít-le, trong hàng ngũ Quân đội Ba Lan có tới 446000 người; tính đến ngày 1 tháng Năm 1945, trang bị của Quân đội Ba Lan có khoảng 303000 súng trường và súng các-bin, 106500 tiểu liên. khoảng 19000 súng máy các loại, gần 5 000 súng cối các cỡ, trên 3500 pháo, 673 xe tăng và pháo tự hành, 630 máy bay các loại, khoảng 12 000 xe và nhiều trang bị, khí tài khác.

Bộ tổng tham mưu nhận được những báo cáo nói về tình trạng rối loạn đang diễn ra sâu sắc trên đất nước Ba Lan do hậu quả của nhiều năm bị nước Đức Hít-le chiếm đóng nặng nề. Tất cả những gì quý báu đều bị bộ máy cai trị của phát-xít Đức và quân đội của chúng vơ vét, cướp bóc một cách vô liêm sỉ, chở về cái Đế chế thứ ba của bọn chúng, hoặc bị phá hủy bởi những sự thù hằn mù quáng.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 10 Tháng Tám, 2011, 12:07:48 pm
Tấm gương sống chúng minh cho các sự kiện trên là Vác-sa-va đang bị đau khổ ở bên kia sông Vi-xla. Thỉnh thoảng, từ bên ấy lại vọng sang những tiếng nổ đinh tai. Đó là những hành động trừng phạt của bọn phát-xít Đức, đang phá hủy một cách dã man những công trình ở thủ đô Ba Lan theo kế hoạch chúng đã vạch ra.

Tính mệnh của những người dân Ba Lan lúc nào cũng bị đe dọa. Ngày nay, chúng ta đã phát hiện được chính xác rằng, số người bị chết bởi tay bọn đao phủ Hít-le trong các trại tập trung là 3 triệu 577 nghìn dân Ba Lan. Nếu kể cả số người đã hy sinh ngoài chiến trường, thì con số chung lên tới 6 triệu 28 nghìn người. Nói một cách khác, cứ mỗi ngày chiếm đóng của bọn phát-xít Đức thì cướp đi sinh mệnh của ba nghìn người dân thường Ba Lan.

Qua những kinh nghiệm của bản thân trên đất nước mình, chúng tôi thông cảm đầy đủ cánh đau thương khôn tả xiết ấy của nhân dân Ba Lan và ra sức tìm mọi cách để giảm bớt những hậu quả tội ác đó của chủ nghĩa phát-xít.

Mặc dầu các cơ quan của chính quyền nhân dân Ba Lan đang giải quyết mọi vấn đề thuộc về đời sông dân sự song tình huống chiến tranh và sự rối loạn buộc họ luôn luôn phải nhờ đến bộ chỉ huy quân sự với đủ các yêu cầu. Đó cũng là lẽ đương nhiên, và các chiến sĩ xô-viết không thể không suy nghĩ và quan tâm tới vận mệnh của nước Ba Lan mai sau.

Tướng N. C. Xu-bốt-tin. ủy viên Hội đồng quân sự phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 2, tướng C. Ph. Tê-lê-ghin, ủy viên Hội đồng quân sự phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1, tướng C V Cray-nhi-u-cốp, ủy viên Hội đồng quân sự phương diện quân U-crai-na 1 thường xuyên quan tâm đến những công việc này và giải quyết gấp rút các vấn đề trong cuộc sống.

Chúng ta phải giải phóng các nhà trường để lấy chỗ học tập cho trẻ em, cho in các sách giáo khoa, tổ chức các bệnh viện và cung cấp thuốc men, không cho phép ai được làm trở ngại đến các nghi lễ, thủ tục của tôn giáo, đụng chạm đến miếu đền, nhà thờ.

Lợi dụng tình thế khó khăn do chiến tranh gây ra trong lúc này, một số phần tử phản động cũng đã len lỏi, bí mật hoạt động phá hoại, trong đó có bọn quốc xã U-crai-na. Chúng sát hại những người có trách nhiệm, cướp bóc của cải của nhân dân, phá hoại các kho chứa lương thực và cỏ khô. Chính quyền nhân dân phải đấu tranh chống lại bọn chúng, nhưng nếu không có sự giúp sức của quân ta thì họ không thể làm nổi việc đó.

Các đơn vị của chúng ta phối hợp với chính quyền, góp phần gìn giữ trật tự xã hội ở những vùng giải phóng. Các công việc trên đều là những việc cấp bách, không thể trì hoãn và rất phức tạp. Vì các phương diện quân của ta lúc này cũng còn thiếu thốn nhiều, chưa đủ đáp ứng yêu cầu khôi phục lại cuộc sống bình thường trên những vùng đất đai đã bị đau khổ bởi chủ nghĩa phát-xít tàn bạo.

Các cán bộ quân sự và chính trị của ta phải tiến hành nhiều mặt công tác thật khó khăn. Nhưng mọi việc rồi cũng trôi chảy cả. Các chiến sĩ chúng ta nhìn thấy tận mắt công cuộc khôi phục lại đất nước của nhân dân Ba Lan anh dũng, quên mình. Chính phủ và quân đội Liên Xô tìm mọi cách chi viện cho nhân dân Ba Lan. Sự thống nhất và tình hữu nghị đó chính là điều bảo đảm cho tương lai tươi sáng của đất nước Ba Lan.

Bộ tổng tham mưu Liên Xô chỉ thị cho các đồng chí tư lệnh các đơn vị đang tác chiến phải đặc biệt chú ý đến vấn đề an ninh của nhân dân khi thi hành nhiệm vụ và áp dụng các biện pháp nhằm bảo vệ các công trình công nghiệp, các thành phố và làng mạc, các di tích của nền văn hóa dân tộc Ba Lan.

Theo đề nghị của chính phủ Ba Lan (thời gian này chính phủ còn tạm thời đặt trụ sở ở Li-u-blin), các công nhân đường sắt và các đồng chí lái xe của chúng ta đã chở các loại hàng hóa đi trên “con đường xanh" tới khắp các khu vực đất nước Ba Lan. Chúng ta đã chở thuốc men và bột mì (10 nghìn tấn) vào cuối tháng Chín 1944 tới Pra-ha, đến các vùng phụ cận Vác-sa-va. Sau này, khi đất nước Ba Lan mở rộng thêm các vùng giải phóng ở phía bên kia sông Vi-xla, chúng ta lại chở 10 nghìn tấn bột mì và 5 nghìn tấn đường tới Ca-tô-vít-xe, chở 5 nghìn tấn bột và 2 nghìn tấn đường tới Cra-cốp, 2 nghìn tấn đường tới Tren-xtô-khôp và Ken-txe.

Cho tới cuối năm 1945, nông dân Ba Lan nhận được các súc vật kéo và hơn 138 nghìn tấn lúa mì của phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1, sau này của cụm các lực lượng Liên Xô đóng quân trên nước Đức. Chúng ta chuyển giao cho chính quyền nhân dân Ba Lan số súc vật, các kho tàng lương thực và cỏ khô của bọn địa chủ và tư sản Đức bỏ lại.

Chúng ta còn chuyển giao cả máy bay và xe cho chính quyền Ba Lan để duy trì công tác giao thông, vận tải. Bộ đội ta khôi phục được hơn 4000 ki-lô-mét đường sắt, trên 12000 ki-lô-mét thông tin liên lạc bằng đường sắt

Nói tóm lại, giữa bộ đội Liên Xô và các cơ quan chính quyền do ủy ban giải phóng dân tộc Ba Lan lập ra, đã hình thành nên những mối quan hệ thực sự con người, những mối quan hệ anh em của những người bạn cùng chiến đấu, và đến tháng Tư 1945 những mối quan hệ ấy lại được thể hiện rõ trong hiệp ước hữu nghị tương trợ và hợp tác sau chiến tranh giữa Liên Xô và nước Cộng hòa Ba Lan.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 10 Tháng Tám, 2011, 12:08:44 pm
*
*   *

Mặc dầu cuộc khởi nghĩa ở Vác-sa-va bị thất bại, song Đại bản doanh và Bộ tổng tham mưu vẫn tìm mọi cách tiêu diệt cụm quân địch bố trí ở Vác-sa-va. Tuyến sông Na-rép giữ một vị trí đặc biệt trong các kế hoạch tính toán của ta. Chúng ta đã nói tới kế hoạch chiến dịch tiến công từ căn cứ bàn đạp Na-rép mà cơ sở của ý định chiến dịch ấy là những đề nghị của Gh. C. Giu-cốp và C. C. Rô-cô-xốp-xki. Chúng ta đã tiến hành chuẩn bị đầy đủ cho chiến dịch và ngày 5 tháng Mười, chiến dịch sẽ bắt đầu.

Nhưng sáng 4 tháng Mười, chúng ta được tin: quân địch mở cuộc tiến công lớn đánh vào các đơn vị của P. I. Ba-tốp tại căn cứ Xê-rôt-xcơ, thậm chí đã đánh bật được quân ta. Chúng ta chặn được mũi tiến công của xe tăng và bộ binh địch, nhưng các trận đánh quyết liệt vẫn còn tiếp diễn. Đến ngày 9 tháng Mười, cuộc tiến công cua địch bị chặn đứng hẳn và bộ đội ta tổ chức phản địch. Đáng tiếc là chúng ta không làm cho địch bị thiệt hại nặng và triển vọng tới đây cũng không hứa hẹn được gì hơn. Do đó, tình hình buộc chúng ta phải điều động bố trí lại lực lượng, tích lũy binh lực, bảo đảm việc chuẩn bị vật chất cho các chiến dịch sắp tới.

Cuối tháng Mười, cả Xta-lin cũng không hy vọng có thể sớm giải phóng được Vác-sa-va. Bộ đội bên cánh phải của phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1 thực tế đã chuyển sang phòng ngự, và ngày 12 tháng Mười một, phương diện quân nhận được chỉ lệnh của Đại bản doanh về vấn đề đó.

Công cuộc giải phóng hoàn toàn đất nước Ba Lan, trong đó có Vác-sa-va, gắn liền với cuộc tiến công mùa đông của chúng ta trong năm 1945 là năm chiến thắng trên hướng Tây. Như mọi người đều biết cuộc tiến công đó thu được thắng lợi căn bản, dẫn đến tuyến cuối cùng, kết thúc việc tiêu diệt nước Đức Hít-le, thọc thẳng vào Béc-lin - trái tim của nước Đức phát-xít.

Trong quá trình các chiến dịch mùa đông năm 1945, phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 2 đã phá vỡ các cứ điểm phòng ngự của địch, đánh lui các cuộc phản kích của chúng, tiến ra khu vực Đan-xích. Bộ đội của phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1 vượt qua nhiều phòng tuyến địch, tiến tới sông Ô-đe. Bộ đội của phương diện quân U-crai-na 1 đánh tan quân địch ở Xi-lê-di, giải phóng được khu công nghiệp quan trọng cho nhân dân Ba Lan, tiến tới Nây-xe (Nư-xa). Bộ đội của phương diện quân U-crai-na 4, bảo đảm mặt phía Nam của chiến dịch cho các phương diện quân chủ yếu, cũng đã hoạt động thắng lợi.

Vinh quang tiến vào thủ đô Ba Lan dành cho tập đoàn quân Ba Lan 1 do trung tướng X. G. Pô-pơ-láp-xki làm tư lệnh. Hoạt động chiến đấu của tập đoàn quân này dựa vào các kết quả tiến công của các lực lượng chủ yếu thuộc phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1 của nguyên soái Gh. C. Giu-cốp, mà thành phần lúc đó bao gồm cả tập đoàn quân Ba Lan 1.

Các lực lượng chủ yếu của phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1 tiến ra Cút-nô, Lốt-dơ, đi đầu là các tập đoàn quân xe tăng cận vệ 1 và 2 của M. E. Ca-tu-cốp và X. I. Bô-gđa-nốp. Sau khi đã chọc thủng tuyến phòng ngự và đánh tan các đơn vị của Cụm lập đoàn quân “trung tâm”, 2 tập đoàn quân xe tăng trên đã nhanh chóng tiến vào phía sau lưng cụm quân địch đóng tại Vác-sa-va. Mũi thọc sâu của 2 tập đoàn quân xe tăng đã phá vỡ hệ thống phòng ngự của địch, buộc chúng phải suy nghĩ tới việc rút chân ra khỏi thủ đô nước Ba Lan đã bị tàn phá tan hoang. Và ngày 17 tháng Giêng 1945, tập đoàn quân Ba Lan 1 lợi dụng thời cơ đó tiến vào thủ đô Ba Lan quét sạch địch ra khỏi Vác-sa-va.

Phương diện quân U-crai-na 1 của I. X. Cô-nép là đơn vị bạn bên phải, nhanh chóng bẻ gãy phòng ngự địch trong dải tiến công của mình, và từ ngày 18 tháng Giêng, cả hai phương diện quân chuyển sang truy kích ráo riết các đơn vị phát-xít Đức. Nhưng, nếu như phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1 tiến nhanh được lên phía trước, thì ở phương diện quân U-crai-na 1 tình hình lại phức tạp hơn.



Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 10 Tháng Tám, 2011, 12:08:54 pm
Như đã nói ở phần trên, ở đây có khu công nghiệp Xi-lê-di, cần được giữ gìn cho nước Ba Lan nhân dân, nên không được đột phá thẳng vào đây. Tình huống buộc phương diện quân phải đánh vu hồi, nhử địch vận động ra ngoài để tiêu diệt địch ở bên ngoài khu công nghiệp. Bộ tư lệnh phương diện quân đã hành động thật xuất sắc. Chiến dịch Xi-lê-di của phương diện quân U-crai-na 1 là một trong những trang sử vẻ vang đầy hứng thú và có ý nghĩa nhất của nền nghệ thuật quân sự xô-viết.

Trong dải tiến công của phương diện quân U-crai-na 1 có thành phố Cra-cốp cổ - một di tích kiến trúc lâu đời của nhân dân Ba Lan, nơi đây tập trung những công trình sáng tạo tuyệt vời của nền nghệ thuật dân tộc Ba Lan. Muốn bảo vệ thành phố khỏi bị phá hoại, pháo binh và không quân ta không được bắn phá vào thành phố.

Những dẫn chứng như vậy có rất nhiều. Nó chứng minh cho những hành động sáng suốt, biết nhìn vào mai sau, chứng minh cho tình hữu nghị anh em đã ăn sâu trong ý thức của hai dân tộc Liên Xô và Ba Lan, chứng minh cho khát vọng giúp đỡ bạn bè trong những hoàn cảnh chiến tranh phức lạp nhất.

Chúng ta cũng không thể không nói một lần nữa đến việc hiệp đồng chiến đấu giữa bộ đội ta với các lực lượng du kích to lớn của Ba Lan trên lãnh thổ Ba Lan nhất là ở vùng Ke-lép-si-na. Những người dân thường Ba Lan, nếu không thể sát cánh chiến đấu cùng bộ đội chúng ta, thì cũng đã để lại tấm lòng còn in đậm trong mỗi người chiến sĩ Liên Xô, nhiều chiến sĩ Liên Xô đã được nhân dân Ba Lan quên mình cứu giúp, thoát khỏi những mối hiềm họa tưởng chừng khó bề tránh nổi.

Kết quả các chiến dịch phối hợp giữa các phương diện quân của ta và Quân đội Ba Lan là đã hoàn toàn giải phóng được đất nước Ba Lan khỏi ách nô dịch của bọn xâm lược Hít-le, từ bờ biển Ban-tích tới dải núi Các-pát. Ngọn cờ đỏ thắm của Liên Xô và trắng đỏ của Ba Lan phấp phới trên các bờ biến Pô-mô-ri-ê, trên làn sóng nước Ô-đe, và Nư-xa - biên giới của nước Ba Lan nhân dân tự do và độc lập.

Tình đoàn kết chiến đấu của bộ đội Liên Xô và Ba Lan ngày một phát triển. Trong chiến dịch Béc-lin, chiến dịch quan trọng nhất trong các chiến dịch cuối cùng chống nước Đức phát-xít, có sự tham gia của tập đoàn quân Ba Lan 1, tập đoàn quân Ba Lan 2, và cả quân đoàn không quân 1, quân đoàn xe tăng 1, sư đoàn pháo binh 2, lữ đoàn súng cối độc lập 1 và những đơn vị khác. Các đơn vị trên đã sát cánh chiến đấu trong thành phần của phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1 và U-crai-na 1, trong biên chế có tới 185000 chiến sĩ và sĩ quan, hơn 3000 khẩu pháo, gần 500 xe tăng, hơn 300 máy bay. Đó là sự đóng góp to lớn vào chiến thắng chung trước kẻ thù hung bạo.

Con đường đã trải qua của người chiến sĩ xô-viết chỗ nào và lúc nào cũng gặp nhiều gian truân. Con đường ấy khi tới Búc cũng còn gặp nhiều khó khăn. 600000 chiến sĩ chúng ta đã yên nghỉ trên đẩt nước Ba Lan. Các đài kỷ niệm những người đã ngã xuống còn nhắc nhở chúng ta về những ngày chiến tranh, về cuộc chiến đấu chung sức bên nhau của hai dân tộc Liên Xô và Ba Lan, vì tự do, độc lập và danh dự của nhà nước Ba Lan chống lại bọn chiếm đóng Hít-le. Nước Ba Lan nhân dân ghi công các chiến sĩ đã ngã xuống, khâm phục sự đóng góp to lớn của các chiến sĩ Liên Xô trong sự nghiệp tiêu diệt kẻ thù chung là chủ nghĩa phát-xít Đức.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 22 Tháng Tám, 2011, 12:07:47 pm
CHƯƠNG BỐN
Giải phóng Ru-ma-ni

Tại ngưỡng cửa Ru-ma-ni. - Chúng ta chuẩn bị chiến dịch. - Hai ý kiến. - Hội nghị trong Đại bản doanh. - Hợp vây và tiêu diệt quân địch ở Ki-si-ni-ốp và I-át-xu - Mở đường vào Ru-ma-ni. - Chế độ độc tài của I. An-tô-ne-xcu mất chỗ đứng. – Quân ta ở Bu-ca-rét. - Các sự kiện ở thủ đô Ru-ma- ni. - Vua Mi-khai với vai trò chống phát- xít - Cuộc khởi nghĩa của nhân dân. - Sự bất ngờ dễ chịu. - Trên đường nắm lấy chính quyền nhân dân. - Quân đội Ru-ma-ni là đồng minh của chúng ta.

Bộ đội Liên Xô tiến ra biên giới Liên Xô - Ru-ma-ni không những có liên quan tới việc tổ chức các chiến dịch, mà còn liên quan tới nhiều biện pháp chính trị lớn khác nữa. Chính phủ Liên Xô được biết công tước Stiếc-bây, cựu thủ tướng Ru-ma-ni, đang tiến hành những cuộc hội đàm bí mật giữa các giới cầm quyền Ru-ma-ni với các đại biểu của Mỹ và Anh về tình hình Ru-ma-ni. Khi bộ đội chúng ta tiến gần đến biên giới Ru-ma-ni, giới báo chí và các nhà ngoại giao nước ngoài tung tin rằng Chính phủ Liên Xô đề ra những điều kiện đặc biệt đối với chính phủ Ru-ma-ni.

Những hiện tượng chính trị đó biểu hiện mối lo lắng của các nhà cầm quyền phát-xít ở Ru-ma-ni. Các cơ quan chính thức của Liên Xô đã bác bỏ đích đáng những tin tức bịa đặt ấy.

Ngày 22 tháng Ba 1944, Thông tấn xã Liên Xô tuyên bố:

“Theo nguồn tin của báo chí Thụy Điển, “nhật báo Giơ-ne-vơ” của Thụy Sĩ tung tin là công tước Stiêc-bây, đại diện của Ru-ma-ni, đã nhận tại An-ca-ra “các điều kiện đình chiến của người Nga được người Anh tán thành”. Hình như các điều kiện ấy gồm bảy điểm nói về đường biên giới Liên Xô - Ru-ma-ni, việc trao trả tỉnh Tơ-ran-xin-va-ni cho Ru-ma-ni, việc Liên Xô từ chối không nhận bồi thường các phí tổn chiến tranh cùng những điểm khác.

Thông tấn xã Liên Xô được ủy nhiệm bác bỏ các tin tức trên, coi đó là những tin tức bịa đặt và tuyên bố rằng nói chung Liên Xô không hề đưa ra một điều kiện gì đối với Stiếc-bây hoặc một đại biểu nào khác của Ru-ma-ni”.

Tôi thấy cần phải nói rằng, đầu mùa xuân năm 1944, Bộ tổng tham mưu càng nhận thức rõ thêm đường lối của đoàn đại biểu Liên Xô tại Hội nghị Tê-hê-ran là rất sáng suốt (hội nghị họp từ ngày 28 tháng Mười một đến 1 tháng Chạp 1943). Hội nghị đã thông qua quyết định mở mặt trận thứ hai ở Tây Âu chứ không phải ở Ban-căng. Và, ngày nào Bộ tổng tham mưu cũng có tin về thái độ quanh co trong chính sách đối ngoại của các giới cầm quyền Ru-ma-ni, các mưu toan của họ nhích gần lại với khối Anh - Mỹ.

Các phải viên của Ru-ma-ni hoạt động lúc ở Bồ Đào Nha, lúc ở Thụy Sĩ, lúc ở Tây Ban Nha. Bọn họ còn xuất hiện ở cả Thổ Nhĩ Kỳ và Thụy Điển, thăm dò các điều kiện mà Mỹ - Anh ký kết hòa ước riêng rẽ với nước Đức phát-xít và các nước chư hầu. Các nhà cầm quyền phát-xít ở Ru-ma-ni, nhất là sau khi I-ta-li-a đầu hàng, đã chộp lấy cơ hội chạy sang khối Anh - Mỹ.

Từ mùa hè năm 1943, “phe đối lập” Ru-ma-ni do Ma-niu và Bra-ti-a-nu, những thủ lĩnh của các đảng phải có tính chất “lịch sử”, cầm đầu, đã tích cực tham gia vào các việc tìm kiếm cách ký kết các hòa ước riêng rẽ. Mọi mưu toan của họ đều nhằm mục đích sao cho quân Anh - Mỹ tiến vào Ru-ma-ni trước bộ đội Liên Xô. Các nhà cầm quyền Ru-ma-ni không tiếc lời hứa hẹn để cho quân Anh - Mỹ gấp rút vào chiếm đóng trên đất Ru-ma-ni.

Khi bộ đội chúng ta vượt qua biên giới Liên Xô - Ru-ma-ni, tại hội nghị các nhà báo ngày 2 tháng Tư 1944, Chính phủ Liên Xô đã ra bản tuyên bố mà bạn đọc đã biết và báo cho toàn thế giới biết rằng: các đơn vị của quân đội chúng ta đã vượt qua sông Prút và tiến vào lãnh thổ Ru-ma-ni, còn Bộ tổng tư lệnh tối cao thì ra lệnh cho các đơn vị đang tiến công phải truy kích địch cho tới khi hoàn toàn tiêu diệt chúng và buộc chúng phải đầu hàng.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 22 Tháng Tám, 2011, 12:08:26 pm
Ngày 10 tháng Tư, Hội đồng quốc phòng Nhà nước ra Nghị quyết về thái độ của bộ đội Liên Xô trên lãnh thổ Ru-ma-ni. Hội đồng quốc phòng Nhà nước phổ biến nghị quyết đó cho Hội đồng quân sự phương diện quân U-crai-na 2 và yêu cầu phổ biến tới nhân dân Ru-ma-ni lời kêu gọi đặc biệt, giải thích rõ thực chất bản tuyên bố của Chính phủ Liên Xô ngày 2 tháng Tư.

Đồng thời, nghị quyết còn quy định cả trách nhiệm của Hội đồng quân sự trong việc tổ chức lãnh đạo chung, kiểm soát và giám sát mọi hoạt động của các cơ quan chính quyền dân sự của Ru-ma-ni. Tướng I. D. Xu-xai-cốp, ủy viên Hội đồng quân sự, chịu trách nhiệm riêng về các lĩnh vực hoạt động này.

Nghị quyết còn quy định không được phá vỡ các cơ quan chính quyền của Ru-ma-ni, bảo vệ quyền sở hữu tài sản của các công dân và các đoàn thể tư nhân. Vùng giải phóng đã thành lập ra cơ quan quân chính xô-viết. Hội đồng quân sự của các phương diện quân và tập đoàn quân căn cứ vào nghị quyết đã triển khai hoạt động tuyên truyền giải thích rộng rãi và những hoạt động thực tiễn khác.

Bè lũ chư hầu Ru-ma-ni của Hít-le vẫn lo sợ trước bản tuyên bố nhân đạo của Chính phủ Liên Xô. Chúng thấy Hồng quân chiến thắng sẽ có ảnh hưởng cách mạng hóa to lớn đến những người lao động Ru-ma-ni và tạo nên những điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh chống phát-xít của những người lao động Ru-ma-ni.

Ít lâu sau, các nước đồng minh thông báo cho Liên Xô biết ý định mới của chính phủ Ru-ma-ni muốn đàm phán với các nước đồng minh. Nhưng lần này, cả Chính phủ Liên Xô cũng tham gia vào cuộc đàm phán và đề ra cho I. An-tô-ne-xcu sáu điều kiện để đình chiến: cắt đứt quan hệ với nước Đức, Ru-ma-ni sẽ cùng với các nước trong khối liên minh chống Hít-le đấu tranh chống lại nước Đức; khôi phục lại hoàn toàn đường biên giới Liên Xô với Ru-ma-ni và bồi thường cho chúng ta những thiệt hại do quân đội Ru-ma-ni gây ra; trao trả các tù binh của Liên Xô và các nước đồng minh; giúp đỡ về mọi mặt cho bộ đội Liên Xô và các nước đồng minh tổ chức chiến dịch trên lãnh thổ Ru-ma-ni: xóa bỏ vấn đề Tơ-ran-xin-va-ni và giúp đỡ bộ đội Liên Xô giải phóng khu vực này. Chính phủ I. An-to-ne-xcu đã lảng tránh các điều kiện trên và tiếp tục chiến tranh.

Trong lúc đang tiến hành đàm phán thì chiến sự vẫn tiếp diễn và phát triển. Dự định của chúng ta tiến công ngay từ căn cứ bàn đạp bên kia sông Prút từ hồi tháng Tư không thành công. Ba phương diện quân - phương diện quân U-crai- na 1, rồi sau đó là các phương diện quân U-crai-na 2 và 3, theo lệnh của Đại bản doanh chuyển sang phòng ngự. Tuy nhiên, tình hình đó không làm ảnh hưởng đến việc chuẩn bị tiến công của ta. Bộ tổng tham mưu và các phương diện quân vẫn xúc tiến vạch kế hoạch các chiến dịch ở hướng Tây - Nam.

Hồi đó, ban lãnh đạo của Bộ tổng tham mưu và Tổng cục chính trị đã phải suy nghĩ tới rất nhiều vấn đề. Công việc giải phóng Ru-ma-ni không những rất tế nhị mà còn rất phức tạp, vì Ru-ma-ni là nước đồng minh với nước Đức Hít-le và các giới cầm quyền Ru-ma-ni lại là những tên tòng phạm với các tội lỗi của Hít-le. Đất nước chúng ta vẫn chưa tiêu tan hết mùi khói cay đắng của những đám cháy do bọn chiếm đóng để lại, trong đó có cả binh lính của Ru-ma-ni. Làng mạc tan hoang, phố xá đố nát, biết bao nhiêu vợ góa, con côi ...

Suy nghĩ về tư cách người chiến sĩ của chúng ta hoạt động ở nước ngoài, chúng ta tin vào ý thức cách mạng, tinh thần quốc tế chủ nghĩa đã được thử thách của nhân dân Liên Xô, tin vào tài tổ chức của các cán bộ chỉ huy, tin vào hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị của chúng ta.

Chúng ta tin chắc rằng, bằng tầm gương của bản thân và lời của Đảng, các cán bộ chỉ huy và cán bộ chính trị của chúng ta sẽ biết giúp cho các chiến sĩ xô-viết kết hợp được đúng đắn lòng yêu nước nồng nàn với chủ nghĩa quốc tế vô sản trong quá trình chiến đấu. Và đó chính là điều chủ yếu bảo đảm cho mòi quan hệ đúng đắn giữa đấu tranh kiên quyết nhằm hoàn toàn tiêu diệt quân thù với tình hữu nghị chân chính đối với nhân dân lao động. Ở đây, không có bóng dáng của chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi. Các đại biểu của chế độ xô-viết tiên tiến và nhân đạo những người bảo vệ lợi ích của dân chủ và chủ nghĩa xã hội, đập tan chế độ phát-xít Hít-le, đã tiến vào Ru-ma-ni.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 22 Tháng Tám, 2011, 12:09:06 pm
Ngay từ cuối tháng Ba 1944, Bộ tổng tư lệnh tối cao Liên Xô đã chuẩn bị đội ngũ các cán bộ chỉ huy cho các đơn vị của Liên Xô và các cơ quan chính trị hoạt động trên lãnh thổ Ru-ma-ni. Việc tiêu diệt địch và bộ máy mật vụ của chúng phải tiến hành theo các điều luật của thời chiến, nhưng lại không được phạm tới các quyền hợp pháp của chính quyền quốc gia trong các công việc nội chính. Chúng ta đã quy định nhiệm vụ, nội dung và các phương pháp công tác chính trị cơ bản trong bộ đội, các quy tắc và các tiêu chuẩn hành động của quân nhân Liên Xô ở nước ngoài. Tất cả đều hiểu rằng phải kiên quyết ngăn chặn bất kỳ trường hợp nào vi phạm tới luật pháp, dù là cả biệt, vô ý thức.

Chúng ta rất quan tâm đến sự hợp tác chặt chẽ với nhân dân lao động Ru-ma-ni và chỉ có sự hợp tác chặt chẽ đó mới có thể đem lại thắng lợi cho các nguyên tắc dân chủ trong nước. Nhưng, chúng ta cũng thấy còn nhiều khó khăn to lớn. Chính phủ Ru-ma-ni đã khước từ các điều kiện đình chiến nhân đạo do Chính phủ Liên Xô nêu ra ngày 12 tháng Tư 1944, và máu vẫn tiếp tục đổ. Chính phủ độc tài phản động Ru-ma-ni tìm mọi cách đe dọa nhân dân, bịa đặt về “sự chiếm đóng khủng khiếp của Liên Xô”, “sự đầy ải ở Xi-bi-ri”, và nhiều điều khác.

Công tác tuyên truyền của bọn phát-xít đã kết hợp sự vu khống Hồng quân với âm mưu bôi nhọ danh dự của các đảng viên cộng sản và các chiến sĩ du kích Ru-ma-ni, nói xấu họ là những người ăn cướp, những tên thổ phỉ. Song, ta cần phải nói rằng nhân dân Ru-ma-ni đã sớm nhận ra ai là người chân chính đấu tranh cho hạnh phúc của mình.

Chúng ta đều biết rằng, đất nước Ru-ma-ni bị đau khổ dưới ách độc tài quân sự của An-tô-ne-xcu và trên thực tế bị nước Đức phát-xít nô dịch, các đảng viên cộng sản dần dần đã củng cố được vị trí và ảnh hưởng của mình.

Mùa xuân năm 1944, khi chế độ An-tô-ne-xcu bước vào giai đoạn khủng hoảng, Đảng cộng sản Ru-ma-ni đề ra một trong những nhiệm vụ chủ yếu của mình là đấu tranh nhằm thống nhất giai cấp công nhân. Đó là điều kiện rất quan trọng bảo đảm thắng lợi cho cuộc khởi nghĩa vũ trang sau này.

Để giải quyết nhiệm vụ đó, tháng Tư 1944, Mặt trận công nhân thống nhất Ru-ma-ni được thành lập, ra bản tuyên bố “gửi toàn thể giai cấp công nhân! Gửi nhân dân Ru-ma-ni!” nhân dịp ngày 1 tháng Năm. Tuyên ngôn kêu gọi dùng mọi phương thức để phá vỡ bộ máy quân sự của Hít-le. Đồng thời, Đảng cộng sản bắt đầu xây dựng các nhóm chiến đấu yêu nước, chuẩn bị từng bước cho cuộc khởi nghĩa vũ trang.

Còn trên đất nước Liên Xô thì đã tổ chức ra sư đoàn bộ binh mang tên Tu-đo Vla-đi-mia-re-xcu và các nhóm du kích gồm những người chống phát-xít và các tù binh trước đây. Các nhóm du kích sau này đã đổ bộ vào Ru-ma-ni. Tháng Năm 1944, Đảng cộng sản ký hiệp nghị thống nhất hành động với một trong các phái dân tộc-tự do, rồi sau đó các lãnh tụ của các đảng dân tộc-nông dân và dân tộc-tự do trực tiếp bắt liên lạc với các đảng viên cộng sản. Triển vọng bị phá sản của nước Đức Hít-le đã đẩy họ tới những hành động ấy.

Đảng cộng sản ra sức tập hợp mọi lực lượng chống Hít-le, trong đó có cả các đảng của giai cấp tư sản; Đảng đã hành động rất mềm dẻo nhằm cô lập tập đoàn phát-xít của I. An-tô-ne-xcu và thu hút bộ phận nhân dân đang chịu ảnh hưởng của các đảng tư sản-địa chủ đấu tranh chống lại tập đoàn đó. Tuy nhiên, lúc đó tình hình chưa đưa tới chỗ hình thành nên khối liên minh chính trị chống chế độ phát-xít Ru-ma-ni.

Khi đã có chỉ thị của Đại bản doanh, Bộ tổng tham mưu xô viết phải chú ý đến tình thế lúc bấy giờ ở nước này hay nước khác, tính toán đến mọi vấn đề chính trị phức tạp, thậm chí còn phải, trong chừng mực nào đó, tham gia giải quyết các vấn đề đó. Đại bản doanh nhiều lần nhắc chúng tôi chú ý đến tình hình mới của bộ đội ta đang tiến công trong lúc này, và chúng tôi cũng đã nhiều lần báo trước cho R. I-a. Ma-li-nốp-xki biết nhiệm vụ chính trị của bộ đội đồng chí có một tầm quan trọng đặc biệt như thế nào, vì phương diện quân của đồng chí là lực lượng chủ yếu ở Ru-ma-ni và Hung-ga-ri.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 22 Tháng Tám, 2011, 12:10:16 pm
Cụm tập đoàn quân phát-xít Đức “nam U-crai-na” phải chống đỡ với hai phương diện quân của ta là phương diện quân U-crai-na 2 và U-crai-na 3. Thành phần cụm quân của chúng có hai tập đoàn quân Đức (tập đoàn quân 8 và 6) và 2 tập đoàn quân Ru-ma-ni (tập đoàn quân 4 và 3), quân đoàn độc lập 17 (người Đức) và nhiều đơn vị bộ binh cùng nhiều đơn vị đặc chúng khác.

Quân địch khá mạnh, những trận đánh vừa qua đủ chứng minh cho tình hình đó. Chỉ huy cụm tập đoàn quân này trong một thời gian dài là thượng tướng Séc-nơ, một trong những tên tướng chỉ huy có tài năng của nước Đức phát-xít. Sau này, y vẫn điên cuồng chống phá lại bộ đội Liên Xô sau khi nước Đức đã có lệnh đầu hàng toàn bộ.

Vào cuối tháng Bảy, tướng Phrít-xne thay thế tướng Séc-nơ. Bộ chỉ huy Đức hy vọng sự thay đổi tướng lĩnh đó sẽ có lợi cho chúng. Chúng ta được biết Phrít-xne là một tên tướng giàu kinh nghiệm và có kiến thức rộng, mặc dầu trước đây, khi chỉ huy Cụm tập đoàn quân “bắc”, y đã bị thất bại ở Pri-ban-tích.

Các công trình phòng ngự được xây dựng suốt ngày đêm trên khắp các dải chiến đấu của Cụm tập đoàn quân “nam U-crai-na”; cả biệt trên một số hướng, chúng còn cấu trúc các trận địa dã chiến kết hợp với các khu cứ điểm đã được tăng cường từ trước .

Khi vạch kế hoạch các chiến dịch ở Ban-căng, ngoài những yếu tố tình huống thông thường, chúng tôi còn phải chú ý tới một tình hình khác nữa là: khả năng hành động của cái gọi là “phương án Ban-căng” của các nước đồng minh của chúng ta. Phương án này quy định sẽ đồng thời mở mặt trận thứ hai và quân đội của các nước đồng minh sẽ đột nhập vào các nước trên bán đảo Ban-căng. Uyn-xtơn Sớc-sin đã trình bày khái quát “phương án Ban-căng” ngay từ Hội nghị Tê-hê-ran và bây giờ đòi phải thực hiện phương án đó.

Nếu thực hiện “phương án Ban-căng” thì các lực lượng vũ trang Anh - Mỹ sẽ giữ vai trò chủ yếu trên bán đảo. Liên Xô sẽ phải khắc phục nhiều khó khăn có tính chất chính trị và tiến hành nhiều mặt công tác lớn để phối hợp hành động với quân đội đồng minh. Cùng không loại trừ cả trường hợp các nước đồng minh còn tiến hành những mưu toan thỏa thuận ngầm với chính phủ Ru-ma-ni ở sau lưng chúng ta. Ít lâu sau, chúng ta được biết đúng là họ đã tiến hành một số mưu toan đó.

Cũng có nhiều khó khăn trong việc phối hợp hành động của các Lực lượng vũ trang Liên Xô. Nhìn vào bản đồ, chúng ta ai cũng thấy rõ là bộ đội Liên Xô phải hành động đồng thời ở phía Nam nhằm giải phóng Bun-ga-ri và Nam Tư, và ở phía Tây nhằm tiêu diệt quân phát-xít Đức ở Hung-ga-ri, Áo và Tiệp Khắc. Như vậy là các lực lượng chúng ta sẽ bị phân tán, thêm nữa là bộ đội ta phải chiến đấu trên một chính diện rất rộng trong điều kiện địa hình rất không thuận tiện cho bên tiến công, vì núi sông và nhiều vùng dân cư có lợi cho việc tổ chức phòng ngự của địch.

Đi đôi với việc chuẩn bị các mặt quân sự, chính trị, tinh thần cho Hồng quân làm nhiệm vụ giải phóng trên lãnh thổ các nước chư hầu của nước Đức Hít-le, chúng ta còn vận dụng cả những hoạt động ngoại giao làm rung chuyển nền tảng của khối liên minh Hít-le.

Ví dụ như, ngày 13 tháng Năm 1944, các chính phủ Liên Xô, Anh và Mỹ đã ra những bản tuyên bố gửi cho các nước Hung-ga-ri, Ru-ma-ni. Bun-ga-ri và Phần Lan, lên án chính sách hiện nay của chính phủ các nước đó là đã củng cố thêm cho bộ máy chiến tranh của nước Đức. Đồng thời cũng vạch rõ: các nước này có thể rút ngắn thời hạn chiến tranh ở châu Âu, giảm bớt những tổn thất của mình và góp phần thắng lợi với các nước đồng minh.

Muốn vậy, họ phải rút khỏi chiến tranh, đình chỉ ngay việc hợp tác với nước Đức có hại cho chính họ và dùng mọi phương tiện hiện có chống lại bọn Hít-le. Các nước chư hầu đều được cảnh cáo trước rằng, họ cần quyết định ngay là họ sẽ ngoan cố bám giữ lấy chính sách vô hy vọng và nguy hại hiện nay của họ hay sẽ đóng góp vào thắng lợi chung với các nước đồng minh và do đó sẽ tránh khỏi trách nhiệm liên lụy chiến tranh cùng với bọn Hít-le. Hành động ấy của các nước đồng minh đã thu được kết quả chính trị to lớn, nó đã củng cố thêm một bước quan trọng cho vị trí của các lực lượng kháng chiến.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 22 Tháng Tám, 2011, 12:10:58 pm
*
*   *

Chúng ta đã nói ở phần trên là các đồng chí tư lệnh các phương diện quân U-crai-na 2 và 3 ngay từ hồi tháng Năm 1944 đã nhận nhiệm vụ chuẩn bị cho chiến dịch. Công tác chuẩn bị kéo dài vì thời hạn mở chiến dịch bị hoãn và lực lượng các phương diện quân có sự thay đổi.

Trước lúc diễn ra các sự kiện quyết định, có những thay đổi về nhân sự trong thành phần các cán bộ lãnh đạo của các phương diện quân như sau: R. I-a. Ma-li-nốp-xki chuyển sang phương diện quân U-crai-na 2, Ph. I. Tôn-bu-khin thay Ma-li-nốp-xki làm tư lệnh phương diện quân U-crai-na 3, I. X. Cô-nép được cử làm tư lệnh phương diện quân U-crai-na 1, còn Gh. C. Giu-côp trở về với cương vị Phó tổng tư lệnh tối cao của mình, ít lâu sau lại được cử làm đại diện Đại bản doanh ở các phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1 và 2.

Chúng ta cần nói rằng sự thay đổi nhân sự đó là rất cần thiết; ví dụ, R. I-a. Ma-li-nốp-xki và M. V. Da-kha-rốp, tham mưu trưởng phương diện quân U-crai-na 2, hồi đầu chiến tranh đã chiến đấu tại khu vực này và thông hiểu tường tận các khu vực đó.

Đến đầu tháng Bảy, chúng ta tiến hành xong việc rút một số đơn vị trong biên chế của các phương diện quân U-crai-na 2 và 3 để sử dụng tại Bê-lô-ru-xi-a và trên các hướng khác. Đại bản doanh buộc phải rút tập đoàn quân xe tăng cận vệ 5 trong biên chế của phương diện quân U-crai-na 2 sang phối thuộc cho phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 3 của Tséc-ni-a-khôp-xki và điều tập đoàn quân xe tăng 2 sang cho phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1 của C. C. Rô-cô-xốp-xki.

Phương diện quân U-crai-na 1 được tăng cường thêm tập đoàn quân cận vệ 5 trong thời gian chuẩn bị chiến dịch Lơ-vôp. Đại bản doanh lấy ở phương diện quân U-crai-na 3 tập đoàn quân cận vệ 8 và một số đơn vị đặc chủng để tăng cường cho cánh trái phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1.

Thời gian ấy, hướng Tây là hướng chủ yếu quyết định thắng lợi của chiến cục nên Bộ tổng tư lệnh tối cao Liên Xô kiên quyết giảm bớt lực lượng của các phương diện quân miền Nam. Các đồng chí cho rằng kết quả các chiến dịch ở Bê-lô-ru-xi-a và trên hướng Lơ-vốp sẽ cho phép giải quyết được các vấn đề nảy sinh ra sau này trên các hướng khác. Lúc này, chúng ta đã quyết định tương đối chính xác có thể sử dụng các lực lượng nào của Ma-li-nôp-xki và Tôn-bu-khin tiến công ở Tây - Nam.

Thời gian thực hiện kế hoạch chung của chiến cục đến gần. Do đó, Bộ tổng tham mưu chỉ thị cho các bộ tham mưu phương diện quân chuẩn bị các dự kiến về chiến dịch tiến công ở khu vực I-át-xư - Ki-si-ni-ốp, nhằm tiêu diệt Cụm tập đoàn quân phát-xít Đức “nam U-crai-na”.

Hồi ấy, thiếu tướng N. V. Pốt-nhi-cốp phụ trách các sĩ quan theo dõi phương diện quân U-crai-na 2 trong Bộ tổng tham mưu còn thiếu tướng C. Ph. Va-xin-tren-cô phụ trách theo dõi phương diện quân U-crai-na 3. Các đồng chí quan hệ chặt chẽ với các bộ tham mưu phương diện quân và cùng với các bộ tham mưu phương diện quân đặt kế hoạch hành động cho các đơn vị .

Công tác chuẩn bị tiến hành ở phương diện quân U-crai-na 2 được thuận lợi hơn cả. Bộ lư lệnh phương diện quân và Bộ tổng tham mưu nhanh chóng thống nhất ý kiến với nhau về ý định chiến dịch và hướng đột kích chủ yếu như sau: bộ đội của phương diện quân sẽ cắt các lực lượng chủ yếu của địch ở khu vực Un-ghe-nư, I-át-xư, Ki-si-ni-ốp ra khỏi các đường giao thông xuống phía Tây và phía Nam, hiệp đồng với đơn vị bạn ở bên trái là phương diện quân U-crai-na 3 hợp vây chúng. Do đó, mùi đột kích chủ yếu đánh vào hướng Khu-si sẽ cho phép giải quyết được mọi nhiệm vụ đã đề ra. Sau đấy, phương diện quân U-crai-na 2 hiệp đồng với phương diện quân U-crai-na 3 tiêu diệt hoàn toàn Cụm tập đoàn quân “nam U-crai-na” của địch.

Còn nói về nhiệm vụ và phương pháp hành động của phương diện quân U-crai-na 3 thì chúng ta có những ý kiến khác nhau. Hội đồng quân sự và bộ tham mưu phương diện quân muốn hợp vây các lực lượng chủ yếu của địch nên đòi mở mũi đột kích chủ yếu của phương diện quân vào hướng Khu-si từ căn cứ bàn đạp Ki-xcan-xki đã chiếm được ở hữu ngạn sông Đne-xtơ-rơ phía Nam Ti-ra-xpôn, vì các đơn vị tiến công ở đây không bị vướng các sông ngòi lớn và các chướng ngại tự nhiên khác.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 22 Tháng Tám, 2011, 12:11:35 pm
Bộ tổng tham mưu hiểu rõ điều đó nhưng lại cho rằng: nếu tiến công từ căn cứ bàn đạp, chúng ta sẽ không giành được yếu tố bất ngờ, nên đột phá sẽ gặp khó khăn vì quân địch đã chờ sẵn chúng ta chính tại đây và đã chuẩn bị đối phó lại. Bộ tổng tham mưu đề nghị mở mũi đột kích chủ yếu trên hướng Ki-si-ni-ôp: chúng ta sẽ giành được yếu tố bất ngờ tại hướng ấy dễ hơn dù có phải vượt sông Đne-xtơ-rơ, vì chúng ta đã có đủ các lực lượng và phương tiện. Và, nếu chúng ta giành được yếu tố bất ngờ thì vượt sông và đột phá tại đây, theo ý kiến chúng tôi, cũng vẫn dễ dàng hơn mọi nơi khác.

Công tác chuẩn bị các kế hoạch chiến dịch trong nửa cuối tháng Bảy được tiến hành rất khẩn trương và được phối hợp rất chặt chẽ. Chúng tôi đã nghiên cứu tỉ mỉ các lý lẽ của hai bên, song trong khi đang làm việc, chúng tôi còn nhận được của trinh sát nhưng tin tức mới cho phép chúng tôi rút ra kết luận rằng, địch không dự kiến nổi mũi đột kích chủ yếu của chúng ta đánh từ căn cứ bàn đạp Ki-xcan-xki, mà chúng tính toán cho rằng ta sẽ đột kích chủ yếu ở khu vực Ki-si-ni-ốp. Đó là một kết luận quan trọng. Đến đây, Bộ tổng tham mưu rút lui các ý kiến của mình. Chúng tôi đồng ý với ý kiến của bộ tư lệnh phương diện quân U-crai-na 3 là cần hành động từ căn cứ bàn đạp Ki-xcan-xki.

Trong khi ấy, trên các mặt trận lại xảy ra các sự kiện có ý nghĩa quyết định đối với quá trình chiến tranh. Các tin tức thắng trận từ hướng Tây - từ các phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 3, 2, 1 và từ phương diện quân U-crai-na 1 - gửi về làm nức lòng nhân dân Liên Xô.

Ở phần trên, chúng ta nói rằng các đơn vị của chúng ta đã làm cho Cụm tập đoàn quân “trung tâm” của địch bị thiệt hại nặng và đang lao nhanh tới các biên giới phía Tây của Liên Xô; trên một số khu vực, quân ta đã qua biên giới và chiếm được các căn cứ bàn đạp ở phía Tây sông Vi-xla. Phương diện quân U-crai-na 1 của I. X. Cô-nép lúc này tiến công rất mạnh, đã vượt sông Vi-xla thắng lợi tại Xan-đô-mìa và tiếp tục phát huy chiến quả.

Đã đến lúc cũng phải bàn tới các kế hoạch hành động ở hướng Tây - Nam. Ngày 31 tháng Bảy, tại Đại bản doanh đã tiến hành một hội nghị đặc biệt nhằm xem xét các vấn đề đề chuẩn bị cho bộ đội ta mở chiến dịch I-át-xư - Ki-si-ni-ôp. Được mời về dự hội nghị có nguyên soái X. C. Ti-mô-sen- cô, bấy giờ đang là đại diện Đại bản doanh ở các phương diện quân U-crai-na 2 và 3, tư lệnh các phương diện quân đó cùng các ủy viên Hội đồng quân sự I. D. Xu-xai-cốp và A. X. Giên-tốp.

Hội nghị chú ý tới ý nghĩa đặc biệt của chiến dịch I-át-xư Ki-si-ni-ôp đối với sự phát triển tiếp sau của các sự kiện quân sự-chính trị ở Ru-ma-ni. Các lực lượng vũ trang Liên Xô sẽ giáng một đòn cực mạnh tiêu diệt các lực lượng chủ yếu của địch và do đó sẽ phá vỡ được thành trì vững chắc của chế độ độc tài phát-xít ở Ru-ma-ni.

Đến đây, chúng ta cũng cần nói tới cái “độc đáo” của kế hoạch chiến dịch I-át-xư- Ki-si-ni-ốp. Vấn đề là ở chỗ bộ chỉ huy phát-xít Đức đặc biệt chú ý tới hướng Ki-si-ni-ốp và cho rằng bộ đội ta sẽ mở mũi đột kích chủ yếu trên hướng này. Do đó, chúng đã tập trung tại đây các lực lượng chủ yếu của các sư đoàn thiện chiến nhất của Đức. Chúng bố trí dày đặc trong vùng chiến thuật nhằm bẻ gãy mũi đột kích mạnh nhất của ta ngay trong tung thâm gần nhất. Chúng còn dự tính, khi cần thiết sẽ rút quân về các trận địa đã được chuẩn bị trong tung thâm phòng ngự. Ngoài ra, để chống đỡ lại các mũi đột kích của Hồng quân, trên hướng này chúng còn bố trí cả các lực lượng dự bị chủ yếu của chúng, tất nhiên là không mạnh lắm, gồm 2 sư đoàn bộ binh và 1 sư đoàn xe tăng.

Các đơn vị Ru-ma-ni, được trang bị, huấn luyện và cung cấp kém hơn bọn Đức, phòng ngự ở hai bên sườn tập đoàn Ki-si-ni-ốp của địch. Theo tin tức trinh sát cho biết, tinh thần chiến đấu của chúng không cao lắm, nhiều binh lính, thậm chí cả những phân đội có tư tưởng chống đối bọn Đức. Vậy là đã tạo nên một hình thái: khâu yếu nhất trong phòng ngự của địch là hai bên sườn tập đoàn Ki-si-ni-ốp của chúng.

Đại bản doanh đi tới kết luận trong phiên họp rằng, phương án hành động tốt nhất trong trường hợp này là hợp vây và tiêu diệt trong một thời gian ngắn các lực lượng chủ yếu của Cụm tập đoàn quân “nam U-crai-na” của địch ở vùng Ki-si-ni-ôp. Thế hợp vây của bộ đội ta lúc này cho phép đột phá vào phòng ngự quân địch ở hai bên sườn mỏng yếu của chúng, rồi sau đó tiến thẳng tới khu vực Khu-si, Va-xlui. Cô-mơ-rát, thọc sâu vào phía sau tập đoàn chủ yếu của quân Đức hợp vây và tiêu diệt chúng.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 22 Tháng Tám, 2011, 12:12:28 pm
Nhiệm vụ chiến dịch-chiến lược của bộ đội Liên Xô là không đánh chiếm thủ đô của Ru-ma-ni, mà hợp vây và tiêu diệt quân Đức ở khu vực Ki-si-ni-ốp. Sau khi đánh tan quân địch, chúng ta sẽ tạo nên những điều kiện thuận lợi để đưa các phương diện quân nhanh chóng thọc sâu vào lãnh thổ Ru-ma-ni và giải quyết các nhiệm vụ tiếp sau, trong đó có nhiệm vụ đánh chiếm Bu-ca-rét và các trung tâm kinh tế, chính trị khác.

Trong trường hợp này, bộ đội ta sẽ tiến công vượt qua “cửa ngõ Phôc-sa-nư”, tức là sẽ tiến công trên một địa hình thuận lợi nhất. Sau đó, bộ đội ta sẽ tiến công trên một chính diện rộng tới Đa-nuýp và biên giới phía Đông Hung-ga-ri, tới tuyến phía Bắc Nam Tư và Bun-ga-ri. Chúng tôi hy vọng kết quả những trận đánh nói trên sẽ làm cho Ru-ma-ni sớm rút ra khỏi cuộc chiến tranh mà họ đứng về phía nước Đức.

Chúng ta đặc biệt chú ý tới những khó khăn, ví dụ: bộ đội Liên Xô liệu có kịp đánh trước, chặn không cho quân địch kịp rút hay không? Tính lô-gích của sự vật nói lên rằng, nếu bọn Phrít-xne phát giác được các ý định của ta, chúng có thể cho các lực lượng chủ yếu của chúng rút về phía sau, tránh mũi đột kích của ta và tổ chức phòng ngự trên tuyến mới. Vậy đến lúc nào thì địch mới có thể nhận ra là bộ đội ta đang chuẩn bị mũi đột kích ấy?

Theo kinh nghiệm chiến tranh, chúng tôi cho rằng chỉ sang ngày thứ hai của chiến dịch, bộ chỉ huy Hít-le mới có thể phát hiện nổi ý định của chúng ta. Điều này rất quan trọng, vì muốn tránh khỏi bị hợp vây, quân địch chỉ phải vượt qua chặng đường có 60-80 ki-lô-mét khi rút về bến vượt sông Rút ở khu vực Khu-si.

Còn các đơn vị đang tiến công của ta muốn chặn đường rút lui của địch thì trước khi đến bến vượt đó lại phải vượt qua một chặng đường dài hơn, khoảng 100 ki-lô-mét. Vì vậy, nếu để bộ chỉ huy Hít-le kịp rút quân của chúng về trước thì kế hoạch hợp vây của chúng ta coi như bị phá sản và yêu cầu phải tiến hành một chiến dịch mới.

Do đó, điều kiện tiên quyết thắng lợi của chúng ta là phải giành bằng được tính bất ngờ và tốc độ tiến công nhanh. Chúng ta phải tiến công trong hành tiến, trong một thời hạn thật ngắn phải chiếm kỳ được các tuyến địa hình có lợi như dãy núi Ma-re, dải cứ điểm phòng ngự thứ hai của địch, không cho địch trụ lại tại đây và tiêu diệt các lực lượng dự bị của chúng mới điều ở tung thâm lên. Ngoài ra, chúng ta phải chiếm bằng được bến vượt qua sông Rút trước khi địch lợi dụng bến vượt đó để rút lui. Tính toán như vậy, chúng ta thấy bộ đội ta phải tiến công với tốc độ trên 25 ki-lô-mét trong một ngày đêm!

Từ đó, đề ra vấn đề yêu cầu bộ đội ta phải hành động có tổ chức: bộ binh phải đột phá nhanh, còn xe tăng phải phát triển đột phá mạnh vào tung thâm và vọt nhanh tới bến vượt qua sông Rút. Vì vậy, chúng ta phải giữ gìn các đơn vị xe tăng, tạo thành một quả đấm tập trung, không được sử dụng phân tán trong quá trình chiến dịch và sau khi chọc thủng phòng ngự địch, các đơn vị xe tăng phải tiến vào chiến đấu ngay. Trong quá trình chiến dịch, chúng ta phải bố trí chiến dịch có chiều sâu để có thể tăng cường được liên tục sức mạnh đột phá.

Đại bản doanh họp, đã thông qua cả quyết định về so sánh lực lượng. Ví dụ, phương diện quân U-crai-na 3 không chiếm ưu thế về lực lượng hơn địch bao nhiêu, về người là 1,2:1, về pháo dã chiến các cỡ - 1,3:1, về xe tăng và pháo tự hành - 1,4: 1, súng máy - 1:1, súng cối - 1,9:1, máy bay - 3:1, với mối tương quan như thế, rõ ràng chúng ta phải bù đắp bằng cách sử dụng lực lượng tập trung trên hướng đột kích chủ yếu.

Đại bản doanh đã quyết định rút bớt lực lượng trên khắp các khu vực thứ yếu ngoài mặt trận để giải quyết vấn đề này. Do đó mặt trận sẽ có hình thái kỳ lạ như sau: so sánh lực lượng của ta trên hướng đột kích chủ yếu về người là 6:1; pháo dã chiến các cỡ - 5,5:1; xe tăng - 5,4:1; súng máy - 4,3:1; súng cối - 6,7:1; máy bay - 3:1. Ưu thế lực, lượng như vậy đủ để đột phá phòng ngự địch và phát huy thắng lợi. Những vấn đề khác còn lại tùy thuộc vào nghệ thuật của bộ tư lệnh, bản lĩnh và lòng quả cảm của bộ đội.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 22 Tháng Tám, 2011, 12:13:11 pm
Trong cuộc họp này của Đại bản doanh, Tổng tư lệnh tối cao còn nêu lại một lần nữa ý nghĩa quân sự và chính trị cửa chiến dịch. Như chúng tôi được biết, thì Tổng tư lệnh tối cao đã chỉ ra cho đồng chí tư lệnh phương diện quân U-crai-na 2 ý nghĩa chính trị của vấn đề ngay trong giai đoạn đầu khởi thảo kế hoạch chiến dịch. Còn lúc này Xta-lin lại nhấn mạnh thêm nữa khi đề cập đến mật độ pháo binh của phương diện quân của R. I-a. Ma-li-nốp-xki.

Đến khi đồng chí tư lệnh báo cáo là trong suốt 22 ki-lô-mét chính diện đột phá, có thể tập trung trên mỗi ki-lô-mét 220 khẩu pháo cỡ trên 76 ly, tức là tạo nên một mật độ pháo binh rất cao, thì I. V. Xta-lin nhận xét là ngay cả như vậy cùng vẫn còn ít, cần tăng thêm nữa. Thế nhưng, nguồn pháo binh để tạo nên mật độ cao hơn nữa ở khu vực này không đủ, nên các đồng chí đề nghị thu hẹp khu vực đột phá còn 16 ki-lô-mẻt, như vậy có thể bố trí mật độ pháo binh trên một ki-lô-mét là 240 khẩu và hơn một ít.

Mật độ pháo binh cao như vậy là một trong những điều bảo đảm chắc chắn sẽ đánh bại quân địch, nhanh chóng bẻ gãy tuyến phòng ngự của chúng và phát triển thắng lợi vào tung thâm, đến các bến vượt trên sông Prút và trên hướng Phốc-sa-nư. Mũi đột kích cực mạnh như vậy vào phòng ngự của quân đồng minh với Hít-le, theo ý kiến của I. V. Xta-lin, phải làm chấn động tới chính sách của chỉnh phủ vương quốc Ru-ma-ni, buộc Ru-ma-ni phải rút khỏi chiến tranh.

Tham dự chiến dịch của phương diện quân U-crai-na 3 còn có cả Hạm đội Biển Đen và Chi hạm đội Đa-nuýp là những đơn vị mới lấy lại được những căn cứ vồn có từ lâu của mình. Hạm đội Biển Đen và Chi hạm đội Đa-nuýp hoạt động dọc theo bờ biển, ở vũng cửa sông Đne-xtơ-rơ và sông Đa-nuýp, nhằm đánh chiếm các căn cứ và các hải cảng của địch, cho quân ta đổ bộ vào phía sau tuyến phòng ngự địch và chi viện cho tiến công. Hoạt động ấy sẽ là một nhân tố hết sức quan trọng đối với thắng lợi chung.

Được sự giúp đỡ của đồng chí đại diện Đại bản doanh, tư lệnh phương diện quân sớm thông nhất kế hoạch với đô đốc Ph. X. Ốc-chi-áp-rơ-xki, tư lệnh hạm đội, và phó đô đốc X. G. Goóc-scốp, tư lệnh Chi hạm đội (nay là Đô đốc Hải quân Liên Xô, Tổng tư lệnh Hải quân). Các đồng chí làm việc ăn ý với nhau. Ta cũng phải nói đến tướng I. T. Slê-min. tư lệnh tập đoàn quân 46 là tập đoàn quân sẽ hiệp đồng với Chi hạm đội Đa-nuýp để vượt qua vũng cửa sông Đne-xtơ-rơ.

Sau cuộc họp của Đại bản doanh, kế hoạch của các phương diện quân được bổ sung thêm một số điểm. Thực chất kế hoạch của phương diện quân U-crai-na 2 là như sau:

“Mục đích chiến dịch là tiêu diệt địch trên hướng I-át-xư và cùng với phương diện quân U-crai-na 3 hợp vây và tiêu diệt các sư đoàn Đức trong cụm quân Ki-si-ni-ốp của chúng. Sau năm ngày tiến công: phương diện quân sẽ tiến ra tuyến Ba-kê-u, Đe-le-ni, Khu-si, tiếp sau sẽ phát triển đột kích tới Phốc-sa-nư nhằm chiếm các vùng dầu mỏ ở Ru-ma-ni.

Quyết tâm: căn cứ vào tính chất phòng ngự của địch thì khu vực đột phá hợp lý hơn cả là Pô-đu - I-lô-ây, I-át-xư, ở đây không có các công trình cố thủ. Các tập đoàn quân 27, 52, tập đoàn quân xe tăng 6 và quân đoàn xe tăng 18 được dùng làm lực lượng đột kích chủ yếu sẽ từ chính diện (chiều rộng là 16 ki-lô-mét) đi vòng qua I-át-xư tiến công vào Khu-si từ phía Tây – Nam”.

Tập đoàn quân không quân 5 lúc ấy do tướng X. C. Gô-ri-u-nốp chỉ huy sẽ bảo đảm cho lực lượng chủ yếu hoạt động. Các mũi đột kích thứ yếu sẽ đánh vào ba hướng ở bên phải và bên trái tập đoàn xung kích chủ yếu của phương diện quân, mỗi mũi là một tập đoàn quân binh chủng hợp thành.

Đội dự bị của phương diện quân rất lớn, trong đó có tập đoàn quân 53, được quy định sẽ hành động trong dải tiến công, thành phần gồm các lực lượng chủ yếu của tập đoàn quân 52. quân đoàn kỵ binh cận vệ 5, quân đoàn xe tăng 23, quân đoàn bộ binh cận vệ 57 và 27. Thành phần đội dự bị lớn như vậy là do yêu cầu nhiệm vụ cần phát huy thắng lợi trong tung thâm, đồng thời còn chú ý tới vị trí chủ đạo của phương diện quân trong chiến dịch có tính chất chiến lược này.

Thượng tướng X. G. Tơ-rô-phi-men-cô chỉ huy tập đoàn quân 27, trung tướng C. A. Cô-rô-tê-ép chỉ huy tập đoàn quân 52, trung tướng xe tăng A. G. Cráp-tsen-cô chỉ huy tập đoàn quân xe tăng 6, thiếu tướng xe tăng V. I. Pô-lô-dơ-cồp chỉ huy quân đoàn xe tăng 18.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 22 Tháng Tám, 2011, 12:13:48 pm
Ý định chiến dịch của phương diện quân U-crai-na 3, như hồi đó chúng tôi ghi trong báo cáo hoạt động chiến đấu của bộ đội Ph. I. Tôn-bu-khin, nhằm “đột phá phòng ngự bên sườn phải tập đoàn Ki-si-ni-ốp của địch (chủ yếu là diệt các đơn vị quân Ru-ma-ni) và dựa vào hành động của các đơn vị cơ động, phương diện quân sẽ nhanh chóng phát huy thắng lợi vào hướng chung tới Cô-mơ-rát, sau đó sẽ quặt sang Tây - Bắc vào khu vực Le-u-se-ni, Lô-pu-sna. Ne-grư, liên lạc với bộ đội của phương diện quân U-crai-na 2 cùng nhau hợp vây và tiêu diệt tập đoàn Ki-si-ni-ốp của địch. Đồng thời, sẽ sử dụng tập đoàn quân 46 hợp vây và tiêu diệt tập đoàn Ác-ke-man của địch”.

Lực lượng chủ yếu của phương diện quân gồm có tập đoàn quân 37 của tướng M. N. Sa-rô-khin và một bộ phận lực lượng của các tập đoàn quân 57 và 46 của các tướng N. A. Ga-ghen và I. T. Slê-min. Các quân đoàn cơ giới cận vệ 7 và 4 được sử dụng để phát triển thắng lợi. Tập đoàn quân không quân 17 do tướng V. A. Xu-đét chỉ huy sẽ hoạt động trên hướng đột kích chủ yếu.

Trong biên chế của phương diện quân U-crai-na 3 có tất cả 5 tập đoàn quân, nên Ph. I. Tôn-bu-khin không thể dành ra một lực lượng dự bị lớn, chỉ để quân đoàn bộ binh cận vệ 10 làm lực lượng dự bị. Vậy là ý định và quyết tâm của các tư lệnh phương diện quân nổi lên đặc điểm sử đụng tập trung các đơn vị trên hướng đột kích chủ yếu và bảo đảm tốt cho các mũi đột kích ấy. Các đồng chí đã tập trung ở đây trung bình hơn 240 khu pháo và súng cối cỡ 76 ly và hơn 30-50 xe tăng trên một ki-lô-mét chính diện đột phá.

Ngày 2 tháng Tám, hồi 23 giờ, Đại bản doanh ký lệnh cho hai phương diện quân U-crai-na 2 và 3 chuẩn bị và tiến hành chiến dịch tiêu diệt địch ở khu vực I-át-xư, Ki-si-ni-ốp, Bên-đê-rư.

Nhận được lệnh của Đại bản doanh, các phương diện quân đã triển khai chuẩn bị thêm nhiều nữa cho chiến dịch. Các đơn vị được điều động bố trí lại, thực hành các công tác chuẩn bị chiến đấu cần thiết. Những việc làm ấy thật không dễ dàng, nhất là lại căn cứ bàn đạp nhỏ, trống trải của các đơn vị của Ph. I. Tôn-bu-khin.

Theo chị thị của Đại bản doanh, các đơn vị đã tiến hành các biện pháp nghi binh chiến dịch, buộc quân địch mạnh và có kinh nghiệm chỉ chờ đón cuộc tiến công của ta tại khu vực Ki-si-ni-ốp mà thôi. Và, chúng ta đã lừa được chúng, tên Phrít-xne xảo quyệt cũng đã phải tin rằng quân đội Liên Xô chỉ có thể tiến công chúng trong khu vực này. Chúng la còn buộc địch lầm lẫn cả trong dự kiến về quy mô các chiến dịch của ta.

Song, đánh lừa được địch như vậy quả không phải chuyện dễ. Ví dụ, tập đoàn quân xung kích 5 của tướng N. E. Béc-da-rin đã làm giả việc chuẩn bị tổ chức tiến công ở khu vực Séc-pe-ni, dành riêng một số đơn vị để dùng các phương tiện vô tuyến đánh lừa địch là chúng ta đang tập trung một tập đoàn quân mới gồm một số quân đoàn và đơn vị xe tăng dành cho phương diện quân U-crai-na 3; các tập đoàn quân cận vệ 40 và 7 bên cánh phải của phương diện quân U-crai-na 2 cũng giả vờ tập trung các đơn vị trong các dải tiến công của mình.

Các đoàn xe vận động nghi binh kéo theo các rơ-moóc chở các thiết bị tự tạo gây nên những đám bụi lớn cuốn theo trên dọc đường. Tập đoàn quân xe tăng cận vệ 6 và quân đoàn cơ giới 7 nhất thiết phải để lại các xe tăng giả và pháo giả ở khu vực bố trí cũ của mình trước khi được điều động sang khu vực khác, nhằm tạo nên ấn tượng không có gì thay đổi ở đây

Các đơn vị đã bảo đảm thời hạn chuẩn bị hành động đúng như đã định. Ngày 19 tháng Tám, cả hai phương diện quân tiến hành trinh sát chiến đấu kiểm tra trên một khu vực rộng đều xác nhận rằng không cần phải bổ sung gì thêm vào kế hoạch chiến dịch sắp tới.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 22 Tháng Tám, 2011, 12:14:40 pm
*
*   *

Quân địch tỏ ra lo lắng khi thấy ta tiến hành trinh sát chiến đấu. Nhận được tin trên, tướng Phrít-xne đã triệu tập cuộc họp gồm các tư lệnh tập đoàn quân 6, 8 và tư lệnh tập đoàn không quân 4 vào cuối ngày hôm ấy. Các viên tư lệnh Ru-ma-ni không được mời họp. Theo ý kiến chung của các viên tướng Hít-le, sang ngày hôm sau chắc thế nào cũng sẽ có cuộc tiến công lớn của bộ đội Liên Xô, và quả chúng đã không lầm.

Thế nhưng, dù có vội và điều động bố trí lại để củng cố phòng ngự trên các hướng bị uy hiếp, chúng cũng không sao cứu vãn nổi tình thế khỏi bị thất bại. Những tên chỉ huy phát-xít Đức hiểu rõ tình hình, nên ngay tối hôm ấy, “đề phòng khi bất trắc xảy ra” (như sau này chính tên tư lệnh đã viết lại) chúng đã xem xét lại kế hoạch rút lui của Cụm tập đoàn quân “nam U-crai-na”.

Trong khi bộ tham mưu của Phrít-xne đang tiến hành cuộc họp căng thẳng, thì Nguyên soái Liên Xô X. C. Ti-mô-sen-cô, đại diện của Đại bản doanh, R. I-a. Ma-li-nốp-xki và nguyên soái không quân X. A. Khu-đi-a-cốp ở các đơn vị đã cùng với các cán bộ tác chiến có mặt tại đài quan sát của phương diện quân U-crai-na 2 trên điểm cao đánh dấu 195 trên bản đồ. Rồi Ph. I. Tôn-bu-khin, tư lệnh phương diện quân U-crai-na 3, cùng với các cán bộ tác chiến của mình cùng đã tới đài quan sát của phương diện quân.

Ngày 20 tháng Tám, hồi 6 giờ 10 phút, phương diện quân U-crai-na 2 và hồi 8 giờ, phương diện quân U-crai-na 3 bắt đầu cho pháo bắn chuẩn bị. Hàng nghìn cỗ pháo gầm lên, mở toang cửa tiến vào tuyến phòng ngự của địch. Đạn pháo hất tung các trận địa địch. Chiến dịch I-át-xư - Ki-si-ni-ôp bắt đầu.

Chúng ta đều biết những hành động chiến đấu của các đơn vị trong chiến dịch này, nên tôi không kể lại chi tiết thêm mà chỉ muốn nói rõ một điều: chiến dịch thu được thắng lợi lớn, nêu lên nhiều tầm gương dũng cảm vô song, khí phách anh hùng và lòng quả cảm của các chiến sĩ xô-viết.

Mũi đột kích của các binh đoàn bộ binh tiến công rất mạnh nên đến trưa các đơn vị của tập đoàn quân 27 của X. G. Tơ-rô-phi-men-cô đã phá vỡ vùng phòng ngự chiến thuật của địch sâu tới 1 6 ki-lô-mét và tiến công vượt sông Ba-khơ-lui tạo điều kiện đưa tập đoàn quân xe tăng 6 của A. G. Tráp- tsen-cô tiến vào đột phá, mặc dầu theo kế hoạch thì đến ngày thứ hai của chiến dịch mới sử dụng tập đoàn quân xe tăng 6.

Trong dải của tập đoàn quân 52 của C. A. Cô-rô-tê-ép, cuộc tiến công cũng phát triển thắng lợi, đến cuối ngày, bộ đội đã tiến đến các cửa ngõ tiếp cận vào I-át-xư và đánh chiếm thành phố.

Trong dải tiến công của phương diện quân U-crai-na 3, tình hình cũng diễn ra thuận lợi. Phòng ngự của địch trên hướng đột kích chủ yếu bị phá vỡ sâu tới 10- 12 ki-lô-mét.

Theo tổng kết hồi đó, trong ngày đầu chiến dịch, bộ đội ta đã tiêu diệt được 6 sư đoàn địch và tiến đến dải phòng ngự thứ ba của chúng, sâu tới 25-40 ki-lô-mét dọc theo dãy núi Ma-re. Đến đây, bộ đội ta phải tạm dừng vì tập đoàn quân xe tăng 6 không đột phá được phòng ngự địch trong hành tiến.

Đại bản doanh và Bộ tổng tham mưu đã đánh giá đúng khí phách anh hùng của các đơn vị và những thắng lợi đã giành được. Song, các kết quả ngày đầu tác chiến trong tình huống đó, theo ý kiến chúng tôi, có thể còn tốt hơn, đặc biệt là đối với phương diện quân U-crai-na 2. Phương diện quân đã đưa tập đoàn quân xe tăng của A. G. Cráp-tsen-cô bước vào chiến đấu nên rất có thể tăng thêm tốc độ và chiều sâu đột kích.

Vì cuộc tiến công bị kìm lại, nên chúng tôi lo ngại rằng địch sẽ lợi dụng những điều kiện địa hình có lợi, kéo thêm được lực lượng tới khu vực quan trọng nhất và sẽ kìm được chân bộ đội ta ở đây một thời gian lâu. Nếu tình hình xảy ra như vậy, bộ đội ta sê không tiến kịp đến các bến vượt sông Prút và không thể hợp vây địch trên đường rút quân của chúng ở hướng Nam.

Đó là nội dung báo cáo của Bộ tổng tham mưu lên Đại bản doanh trong đêm rạng ngày 21 tháng Tám. Hồi đó, Tổng tư lệnh tối cao thấy không cần phải chỉ thị gì thêm cho các tư lệnh phương diện quân, đồng chí cho rằng buổi sáng tất sẽ khôn ngoan hơn buổi chiều. Nhưng đến sáng ngày hôm sau, tập đoàn quân xe tăng 6 cũng vẫn chưa phá vỡ nổi phòng ngự địch, và cả quân đoàn xe tăng 18 tiến công trong dải của tập đoàn quân 52 đánh vu hồi vào I-át-xư cũng chưa chọc thủng được phòng ngự dịch.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 22 Tháng Tám, 2011, 12:15:31 pm
Sở dĩ như thế trước hết là vì bộ chỉ huy quân địch đã sử dụng lực lượng của 3 sư đoàn, trong đó có sư đoàn xe tăng Ru-ma-ni “nước Đại Ru-ma-ni” được trang bị lại bằng vũ khí Đức, tổ chức phản kích ở các đường tiếp cận vào dải phòng ngự thứ ba. Cả không quân lẫn các phương tiện khác của phương diện quân U-crai-na 2 đều không tài nào ngăn cản được địch thực hiện cuộc phản kích, dù rằng cuộc phản kích rốt cuộc đã bị đánh lui; song cuộc phản kích ấy đã khiến cho các đơn vị tiến công của ta bị kìm chân thêm một ngày nữa ở phía trước dãy núi Ma-re.

Phương diện quân của Ph. I. Tôn-bu-khin thu được thắng lợi nhiều hơn, đã bẻ gãy sức kháng cự của cụm tập đoàn quân của tướng Đu-mi-tơ-re-xcu, chủ yếu là tập đoàn quân Ru-ma-ni 3.

Bộ tổng tham mưu rất lo lắng đến tình hình trên hướng đột kích chủ yếu của phương diện quân U'crai-na 2. Trưa ngày 21 tháng Tám, như thường lệ, chúng tôi liên lạc bằng điện thoại với bộ tham mưu các phương diện quân đang tiến công và xác định lại tình hình. Lát nữa, chúng tôi sẽ phải tới điện Crem-li để báo cáo. M. V. Da-kha-rốp, tham mưu trưởng phương diện quân U-crai-na 2 đánh giá tình huống có phần lạc quan. Đồng chí cho rằng bộ đội ta sẽ không bị kìm chân ở phía trước dãy núi Ma-re và sắp tiến nhanh được lên phía trước. Đồng chí còn báo cáo: việc chiếm I-át-xư chỉ cần trông đợi từng giờ, và đồng chí đã nói đúng.

Hồi 15 giờ, A. I. An-tô-nốp cùng với tôi có mặt tại văn phòng Tổng tư lệnh tối cao. Chúng tôi báo cáo lần lượt về tình hình các phương diện quân, đến tình hình hướng Tây - Nam thì I. V. Xta-lin chăm chú nghiên cứu bản đồ, xong yêu cầu chúng tôi nhắc các đồng chí tư lệnh phương diện quân U-crai-na 2 và 3 và cả đồng chí đại điện Đại bản doanh về nhiệm vụ chủ yếu của bộ đội là phải sớm hợp vây được quân địch.

Đồng chí ra lệnh: “...Hiện nay nhiệm vụ chủ yếu của bộ đội các phương diện quân U-crai-na 2 và 3 là nhanh chóng phối hợp với nhau khóa vòng vây địch ở khu vực Khu-si, sau đó sẽ khép chặt lại để tiêu diệt hoặc bắt cụm quân địch đóng ở Ki-si-ni-ốp làm tù binh”.

Vì việc đột phá tuyến phòng ngự quân địch ở dãy núi Ma-re dễ cuốn hút các lực lượng chủ yếu của phương diện quân U-crai-na 2 vào truy kích các đơn vị Ru-ma-ni theo hướng Rô-man và Phốc-sa-nư, và của phương diện quân U-crai-na 3 theo hướng Ta-ru-ti-nô và Ga-lát nên Tổng tư lệnh tối cao đã nhấn mạnh: “đại bản doanh yêu cầu phải dùng các lực lượng và phương tiện chủ yếu của cả hai phương diện quân để thực hiện nhiệm vụ chủ yếu nhất đã quy định, không được phân tán lực lượng để giải quyết các nhiệm vụ khác. Tiêu diệt được cụm quân Ki-si-ni-ốp của địch sẽ mở đường cho chúng ta tiến vào các trung tâm kinh tế và chính trị chủ yếu của Ru-ma-ni.”

Chúng tôi đặc biệt quan tâm tới chỉ thị trên, vì Bộ tổng tham mưu có nhiệm vụ phải kiểm tra việc thực hiện các chỉ thị của Đại bản doanh.

Sang phần kết luận, I. V. Xla-lin nói: “Khoảng 44 sư đoàn địch, trong đó có 6 sư đoàn đã bị tiêu hao nặng, đang hoạt động đối phó lại hai phương diện quân ta. Các đồng chí có 87 sư đoàn, ngoài ra lại chiếm ưu thế hơn địch về pháo binh, xe tăng và không quân. Vậy thì các đồng chí có mọi khả năng để giải quyết thắng lợi nhiệm vụ đã đề ra và phải giải quyết bằng được nhiệm vụ ấy”.

Nguyên soái Liên Xô X. C. Ti-mô-sen-cô, đại diện của Đại bản doanh, được lệnh phải theo dõi chặt chẽ việc chấp hành chỉ thị trên.

Lúc chúng tôi đang báo cáo tình hình thì nhận được tin tức mới của các phương diện quân điện về. Hồi 15 giờ, quân ta chiếm được I-át-xư - trung tâm phòng ngự mạnh của quân địch. Các đơn vị thuộc tập đoàn quân cận vệ 7 của tướng M. X. Su-mi-lôp ở bên sườn phải tập đoàn quân 27 của tướng X. C. Tơ-rô-phi-men-cô đã quặt sang phía Tây, đánh vu hồi vào cứ điểm Tưa-gu - Phru-mốt.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 22 Tháng Tám, 2011, 12:16:40 pm
Tập đoàn quân có nhiệm vụ phá vỡ phòng ngự của địch và bảo đảm cho các lực lượng chủ yếu của phương diện quân hoạt động ở hướng Tây. Tập đoàn quân xe tăng 6 và tập đoàn quân 27 thọc sâu vào phòng ngự địch được 49 ki-lô-mét và tiến ra vùng phòng ngự chiến dịch của địch. Lúc này, bộ đội có thể trực tiếp chặn hết các đường rút lui về phía Tây và phía Nam của địch, tiêu diệt các đơn vị đang tìm cách thoát khỏi vòng vây.

Phương diện quân U-crai-na 3 cũng tiến khá sâu lên phía trước. Quân đoàn cơ giới cận vệ 4 của tướng V. I. Giơ-đa-nốp đột phá sâu tới 50 ki-lô-mét. Phương diện quân cắt được tập đoàn quân 3 của Ru-ma-ni ra khỏi tập đoàn quân 6 của Đức.

Chỉ thị của Đại bản doanh đến rất kịp thời cho các phương diện quân tổ chức hành động. Hết ngày 21 tháng Tám, quân địch không thể giữ nổi các trận địa có lợi cho chúng ở dãy núi Ma-re. Trước sức ép của các tập đoàn quân thuộc phương diện quân U-crai-na 2, quân địch bắt đầu rút lui. Bộ đội thuộc phương diện quân của R. I-a. Ma-li-nốp-xki cùng với tập đoàn quân xe tăng 6 và quân đoàn xe tăng 18 đang đi đầu liền rượt theo ngay, liên tục truy kích suốt đêm 22 tháng Tám và cả ngày hôm sau.

Tập đoàn quân cận vệ 4 của I. V. Ga-la-nin chuyển sang tiến công càng làm tăng thêm sức mạnh đột kích của các lực lượng chủ yếu của phương diện quân. Tập đoàn quân hoạt động dọc theo tả ngạn sông Prút bảo đảm mặt phía Đông cho phương diện quân, đồng thời, từ phía Bắc tiến công xuống phía Nam đã chia cắt được dải phòng ngự của cụm quân Ki-si-ni-ốp của địch. Đến cuối ngày, bộ đội của phương diện quân U-crai-na 2 thọc sâu vào phòng ngự địch được 60 ki-lô-mét và mở rộng diện đột phá tới 120 ki-lô-mét.

Các tập đoàn quân của phương diện quân U-crai-na 3 từ phía Đông tiến nhanh tới các bến vượt qua sông Prút. Các đơn vị cơ động bẻ gãy sức kháng cự của các đơn vị Ru-ma-ni và Đức, đến hết ngày 22 tháng Tám đã tiến sâu được 80 ki-lô-mét. vượt qua ba phần tư chặng đường tiến tới mục tiêu của mình. Bên sườn trái, bộ đội của phương diện quân hiệp đồng với Chi hạm đội Đa-nuýp tiến công thắng lợi ở vùng cửa sông Đne-xtơ-rơ.

Như vậy, đến ngày 22 tháng Tám, bộ đội ta đã tạo nên một vòng vây rộng, đó cùng là thực chất của kế hoạch chiến dịch do Đại bản doanh Bộ tổng tư lệnh tối cao Liên Xô vạch ra, nhằm tiêu diệt Cụm tập đoàn quân phát-xít Đức “nam U crai-na” ở I-át-xư và Ki-si-ni-ốp.

Đêm khuya hôm ấy, Tổng tư lệnh tối cao ký lệnh để ngày hôm sau sẽ tổ chức bắn pháo chào mừng thắng lợi và cho đài phát thanh truyền tin thắng trận ở I-át-xư và Ki-si-ni-ốp ngay hôm ấy. Theo tôi nhớ, trong suốt cuộc chiến tranh, đây là trường hợp duy nhất mà việc công bố lệnh và bắn pháo chào mừng thắng lợi chệch một ngày.





Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 22 Tháng Tám, 2011, 12:17:38 pm
*
*   *

Ngày 23 tháng Tám, tất cả các tập đoàn quân của các phương diện quân U-crai-na 2 và 3 ở trong thê đội một, tiếp tục truy kích địch. Tập đoàn quân xung kích 5 của tướng N. E. Béc-da-rin bước vào chiến đấu cùng thu được thắng lợi. Bộ đội của tập đoàn quân tác chiến trên những hướng độc lập trong một ngày tiến quân được 24-25 ki-lô-mét. Mũi vu hồi đánh vào hai bên sườn tập đoàn quân 6 của Đức cũng phát triển thắng lợi (như đã nói ở trên, tập đoàn quân này là cơ sở cho mặt trận quân Đức ở Ru-ma-ni). Thời gian hợp vây các lực lượng chủ yếu của Phrít-xne đang nhích lại gần, nhưng trong ngày ấy, các tập đoàn quân của ta cùng vẫn chưa xiết chặt được vòng vây.

Các đơn vị phát-xít Đức và Ru-ma-ni âm mưu rút về bên kia sông Prút trên các hướng phía Tây và phía Nam. Những trận đánh quyết liệt diễn ra trên một vòng cung lớn: Va-xlui, Khu-si, Lê-ô-vô. Quyết liệt nhất là những trận đánh ở các khu vực bến vượt qua sông Prút, vì quân địch cũng gắng hết sức để thoát khỏi những chiếc giá treo cổ bọn chúng tại nơi đây.

Sự cố gắng của địch nhằm thoát khỏi diệt vong thật mạnh, thật xảo quyệt. Chưa chịu từ bỏ hy vọng đánh bại Hồng quân, bộ chỉ huy phát-xít Đức vẫn ngoan cố tung thêm nhiều lực lượng xe tăng ra tiến công, nhiều máy bay yểm hộ cho xe tăng, còn trên mặt đất, chúng tăng thêm mật độ bắn của pháo binh. Cá biệt có những nơi địch thọc sâu vào đội hình chiến đấu của các đơn vị phương diện quân U-crai-na 2, tiến vào phía sau bộ đội Liên Xô. Chiến sự diễn ra khắp nơi, nhưng các mũi đột kích của địch rồi cùng bị bẻ gãy hết.

Ngày 24 tháng Tám. các lực lượng chủ yếu của quân đội Hít-le bị hợp vây ở khu vực Đông Khu-si. Trận đánh kéo đài ngày thêm ác liệt: Phrít-xne liều mạng cố rút quân của chúng sang phía Tây. Một số đơn vị vọt được sang bên kia sông Prút, đánh vào phía sau các đơn vị phái đi trước của tập đoàn quân xe tăng 6 và tập đoàn quân 27. Tình hình ở phương diện quân U-crai-na 2 ngày một phức tạp và căng thẳng hơn.

R. I-a. Ma-li-nốp-xki lúc này thật đáng khâm phục. Trước tình huống đó, đồng chí tỏ ra rất bình tình và kiên quyết kịp thời đề ra những giải pháp đúng đắn, vững vàng và tin tưởng chỉ huy hoạt động của các đơn vị đang tiến công. Tài năng chỉ huy của đồng chí lúc này biểu hiện thật xuất sắc, đó là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên chiến thắng lừng lẫy của bộ đội Liên Xô.

Cơ sở không gì lay chuyển nổi thắng lợi của các phương diện quân của ta là lòng dũng cảm và chủ nghĩa anh hùng của các chiến sĩ Liên Xô. Trong tháng Tám 1944, hơn 18 nghìn chiến sĩ và sĩ quan đã được tặng thưởng huân chương và huy chương vì đã có thành tích chiến đấu xuất sắc ở I-át-xư và Ki-si-ni-ốp, Va-xlui và Khu-si. Nhiều đồng chí được phong danh hiệu Anh hùng Liên Xô. Lòng dũng cảm và thắng lợi mà các đồng chí đã giành được là sự đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp chung tiêu diệt quân thù.

Trong quá trình diễn ra những trận đánh ngắn ngủi nhưng ác liệt ta đã hoàn toàn lấp kín được tất cả những chỗ quân địch đã chọc thủng. Cuối tháng Tám, phương diện quân U-crai-na 2 hiệp đồng với phương diện quân U-crai-na 3 đã kết liễu các lực lượng chủ yếu của quân địch bị hợp vây tại đây, 18 sư đoàn Đức trong số 25 sư đoàn thuộc biên chế của Cụm tập đoàn quân “nam U-crai-na” đã bị tiêu diệt.

Khó mà đánh giá hết ý nghĩa thắng lợi của chúng ta trong chiến dịch I-át-xư - Ki-si-ni-ốp. Các lực lượng chủ yếu của Cụm tập đoàn quân “nam U-crai-na” bị tiêu diệt đã đem lại những kết quả quan trọng về quân sự và chính trị. Bộ đội Liên Xô mở toang cửa tiến sâu vào Ru-ma-ni, ra biên giới Bun-ga-ri, và sau đó tới cả Nam Tư. Các nhiệm vụ chiến lược sau này đều phải giải quyết tại đây.

Chiến dịch I-át-xư- Ki-si-ni-ốp tạo nên tình huống quân sự-chính trị thuận lợi để thủ tiêu chế độ độc tài của I. An-tô-ne-xcu, vì đã tiêu diệt được lực lượng quân sự của nó, mà đại biểu là các đội quân Ru-ma-ni theo bọn Hít-le và trung thành với chính phủ. Đảng cộng sản Ru-ma-ni lợi dụng các điều kiện đó đã phát động cuộc khởi nghĩa vũ trang của nhân dân Ru-ma-ni, quyết định tương lai xã hội chủ nghĩa của đất nước mình.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 10 Tháng Mười, 2012, 08:34:10 am
*
*   *
[/b]

Trong lúc số phận các đơn vị phát-xít đã được quyết định sẵn và việc hợp vây cụm quân Ki-si-ni-ốp của địch đã trở thành hiện thực thì ở phía bên kia trận tuyến, đã xảy ra những sự kiện độc đáo và quan trọng đối với vận mệnh của đất nước Ru-ma-ni.

Rạng ngày 22 tháng Tám, trong cung vua Mi-khai có cuộc họp thường kỳ. Buổi họp hôm đó được triệu tập bí mật, không cho luôn An-tô-ne-xcu, kẻ đang cầm đầu chế độ độc tài phát-xít và chính phủ, biết. Nhà vua trẻ, các nhân vật thân cận trong hoàng gia và đại biểu của các đảng trong khối dân tộc-dân chủ: Đảng cộng sản, Đảng xã hội-dân chủ, Đảng dân tộc-nông dân và Đảng dân tộc-tự do.

Do kết quả các mặt hoạt động chuẩn bị công phu của các đảng viên cộng sản, nên đã lập ra được liên minh chống Hít-le với nhiều thành phần khác nhau như đã nói ở trên. Công tác chuẩn bị đó đã tiến hành một cách thận trọng và kiên nhẫn. Chỗ đứng của các đảng viên cộng sản dần dần được củng cố, và ngày 20 tháng Sáu 1944 đã thành lập ra khối chống phát-xít.

Đứng trước thắng lợi của Hồng quân, nhà vua đã phải bắt liên lạc với khối dân tộc-dân chủ. Tuy nhiên, ta cần nhận rõ là nhà vua liên lạc với khối dân tộc-dân chủ không phải vì ông ta quan tâm đến lợi ích của nhân dân Ru-ma-ni mà chính là để theo đuổi các mục đích của mình. Nhà vua cảm thấy ngôi vua đang lung lay, nên cần tìm phương kế bảo vệ lấy địa vị của ông ta.

Lúc này là thời cơ thuận tiện để lật đổ chế độ I. An-tô-ne-xcu. Đại biểu của các đảng đã hội họp với nhau để thảo luận tình hình quân sự-chính trị và quyết định các biện pháp thực tiễn thủ tiêu chính phủ phát-xít trung thành với Hít-le.

Trong cuộc hội nghị này, lực lượng của các đảng viên cộng sản không những cân bằng với các đảng phải khác, mà còn chiếm được lợi thế hơn. Đó là do trong nước đã có nhiều chuyển biến to lớn về mặt chính trị khi quân đội của khối liên minh Hít-le bị thất bại trên chiến trường xô-viết. Nước Ru-ma-ni đặc biệt ngấm đòn thất bại, phải chịu nhiều gánh nặng chiến tranh, bị thiệt hại nhiều người, nhiều của.

Mâu thuẫn giữa những người lao động, mà đại biểu quyền lợi cho họ là Đảng cộng sản Ru-ma-ni, với chế độ phát-xít và bọn chiếm đóng Hít-le đã lên tới định cao. Những mâu thuẫn ấy còn nổi rõ ở các mối quan hệ bên trong các giai cấp thống trị và các giới cầm quyền. Bọn chúng tựa như những con nhện đứng trong hộp kín đang đấu đá nhau để ngoi ra chiếm lấy chỗ có ánh sáng mặt trời. Cuộc đấu tranh ấy vào lúc này càng được đẩy mạnh thêm, vì các giai cấp bóc lột không còn hy vọng nữa vào chế độ phát-xít và khối liên minh với nước Đức Hít-le.

Đảng cộng sản Ru-ma-ni từ lâu đã nhận ra những mâu thuẫn nảy sinh bên trong các giai cấp đang cầm quyền, trong đó có chính quyền nhà vua và chính phủ An-tô-ne-xcu. Đảng đã đánh giá đúng tình hình và biết lợi dụng tình hình đó để lật đổ chính quyền của bọn phát-xít, mang lại thắng lợi cho công cuộc cách mạng của nhân dân, mặc dù nổi bật trên bề mặt các sự kiện là nhà vua Ru-ma-ni và giới thân cận của ông.

Để hiểu rõ quá trình diễn biến các sự kiện lịch sử, chúng ta cần nhớ lại rằng các mối quan hệ giữa nhà vua và chính phủ An-tô-ne-xcu bắt đầu khủng hoảng từ cuối tháng Ba 1944. Cuộc khủng hoảng ấy ngày càng sâu sắc thêm khi bộ đội Liên Xô vượt qua biên giới và tiến vào lãnh thổ Ru-ma-ni.

Trong cung vua, những người trong hoàng tộc nhận ra rằng, nếu cứ tiếp tục liên minh với chủ nghĩa phát-xít, thì không hứa hẹn đem lại điều gì tốt lành. Các giới cận thần nhà vua bèn mưu tính kế hoạch cứu vãn nền quân chủ.
Lúc đầu kế hoạch ấy không dành chỗ cho các đảng viên cộng sản và nhân dân Ru-ma-ni. Nhưng, thực tiễn cuộc sống đã buộc họ phải thay đổi sách lược và tìm bắt liên lạc với các đảng viên cộng sản. Những người ủng hộ nhà vua và bản thân vua Mi-khai nhận thấy rằng, chỉ có các đảng viên cộng sản mới được quần chúng lao động ủng hộ và là lực lượng duy nhất có khả năng lật đổ chế độ phát-xít.

Các chính trị gia giàu kinh nghiệm, cận thần của nhà vua Mi-khai, trong đó có hoàng thái hậu, người giữ vị trí rất đáng kể trong các công việc chính trị, tính toán rằng: nhân dân lao động Ru-ma-ni cần cù, trải qua nhiều đau khổ, lâu ngày sống dưới ách thống trị của các giai cấp cầm quyền, bị tăm tối và dốt nát, nên hãy còn giữ niềm tin vào thiện ý của chính thể quân chủ. Họ hòng lợi dụng lòng yêu nước của những thường dân cho rằng chế độ độc tài phát-xít mới chính là kẻ gây nên bao cảnh tang tóc cho đất nước, gây nên mọi nỗi bất hạnh trong chiến tranh và tàn sát biết bao binh sĩ Ru-ma-ni.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 10 Tháng Mười, 2012, 08:38:22 am
Các giới cận thần hiểu rằng lòng căm thù của nhân dân lúc này đang trút lên đầu chính phủ thân phát-xít của An-tô-ne-xcu nên sẽ che lấp được tính chất ăn bám và bản chất giai cấp của chế độ quân chủ của họ. Vì vậy, họ hy vọng nhân dân còn tin vào nhà vua và còn muốn bảo vệ ngai vua, nếu như chính nhà vua lại cùng với họ đứng lên đấu tranh chống lại chế độ độc tài quân sự phát-xít mà nhân dân đang căm ghét.

Các cận thần của nhà vua còn tin rằng họ sẽ được quân đội Ru-ma-ni ủng hộ, vì họ biết rằng nhiều tướng lĩnh Ru-ma-ni ở ngoài mặt trận đều có xu hướng chống Hít-le và chế độ của An-tô-ne-xcu. Đánh lá bài chính trị như vậy, họ còn trù tính lợi dụng cả những đảng phái có tính chất “lịch sử” như Đảng dân tộc-nông dân và Đảng dân tộc-tự do là những đảng đại biểu quyền lợi cho bọn tư bản và địa chủ Ru-ma-ni, có thể là chỗ dựa vững chắc và là tấm bình phong che đậy đường lối giai cấp của họ. Đồng thời, do những nguyên nhân hoàn toàn dễ hiểu nên các đảng phái này cũng tuyệt nhiên không tránh khỏi liên minh với chính thể quân chủ.

Các đảng viên cộng sản có mặt dự họp tán thành các ý kiến của triều đình đưa ra đề nghị bắt giữ I. An-tô-ne-xcu, tên độc tài đầu sỏ của chính phủ phát-xít. Các biện pháp chuẩn bị, do các cận thần của nhà vua áp dụng từ trước, đều có thông báo và được sự tham gia của Ban chấp hành Trung ương đảng cộng sản Ru-ma-ni.

Những nhân vật rất thân cận với nhà vua, đặc biệt là đại tá E. I-ô-ne-xcu, sĩ quan tùy tùng của nhà vua, đã vạch ra kế hoạch bắt giữ An-tô-ne-xcu từ hồi tháng Tư. Lúc ban đầu, các giới ở cung đình mới chỉ đề cập tới việc bắt giữ tên đầu sỏ của chính phủ phát-xít. Song, trước sức ép của tình hình, họ buộc phải thay đổi những tính toán của họ.
Trong một phiên họp kín, các đảng viên cộng sản đã thuyết phục được các giới ở cung đình tán thành chương trình hành động rộng rãi hơn, là lật đổ nền chuyên chính của An-tô-ne-xcu bằng cách vũ trang khởi nghĩa, cắt đứt sự liên minh với nước Đức phát-xít, đưa Ru-ma-ni khỏi chiến tranh và chiến đấu chống lại các đơn vị phát-xít Đức và quân đội của các nước chư hầu. Để chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa, về mặt kỹ thuật, người ta đã bầu ra ủy ban quân sự và các đảng viên cộng sản đã giữ vai trò lãnh đạo trong ủy ban đó. Nhà vua và các cận thần còn đồng ý cả thời gian bắt đầu khởi nghĩa.

Trong các buổi hội đàm kín khác giữa các đại biểu của Đảng cộng sản và nhà vua, đã thảo luận chi tiết thêm về kế hoạch khởi nghĩa, thành lập ra các bộ tham mưu và bộ chỉ huy khu Bắc và khu Nam thành phố, lập danh sách các mục tiêu cần đánh chiếm trước tiên (nhà ga, bưu điện, sở điện tín, v. v.) ở Bu-ca-rét, phát hiện các đơn vị quân Ru-ma-ni sẵn sàng ủng hộ quân khởi nghĩa.

Để thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu ở thủ đô, Đảng cộng sản có 50 chi đội yêu nước với quân số chừng 2000 chiến sĩ và dựa vào một số đơn vị chính quy của quân đội Ru-ma-ni. Tổng số lực lượng vũ trang khởi nghĩa ở Bu-ca-rét có trên 8000 người.

Các đảng viên cộng sản triển khai công tác chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa không riêng ở Bu-ca-rét mà còn ở các nơi khác trong nước. Các đồng chí đặc biệt chú ý tới vùng mỏ dầu Plô-e-sli, thành lập các chi đội và các nhóm chiến đấu gồm những người yêu nước tại đây.

Vấn đề thời cơ bắt đầu nổ ra cuộc khởi nghĩa giữ một vị trí đặc biệt. Cuộc khởi nghĩa thành công hay thất bại phụ thuộc vào sự quyết định đúng đắn thời điếm bắt đầu khởi nghĩa đó. Nếu khởi nghĩa bùng nổ sớm, dễ bị quân Đức dìm cả sự nghiệp vĩ đại vào biển máu và ứng cứu cho chế độ độc tài phát-xít của I. An-tô-ne-xcu. Tốt hơn hết là nên bắt đầu khởi nghĩa sau khi Hồng quân tiêu diệt quân đội của Hít-le, làm mất chỗ dựa về mặt quân sự của chế độ An-tô- ne-xcu, như vậy là đã tạo nên được cơ sở thuận lợi cho thắng lợi của cuộc khởi nghĩa.

Các sử gia Ru-ma-ni viết rằng: “Để bảo đảm cho cuộc khởi nghĩa thắng lợi, kế hoạch quân sự quy định sẽ phát động khởi nghĩa sau khi Hồng quân bắt đầu tiến công ở mặt trận I-át-xư - Ki-si-ni-ốp khiến bộ chỉ huy Hít-le không thể rút quân của chúng ở ngoài mặt trận về đối phó lại với các lực lượng khỏi nghĩa”.

Ngày 10 tháng Tám, tức trước khi bắt đầu chiến dịch I-át xứ Ki-si-ni-ôp mười ngày. Đảng cộng sản Ru-ma-ni đã tổ chức thành công cuộc vượt ngục của G. Ghê-oóc-ghiu – Đê-giơ cùng với một số lớn các cán bộ lãnh đạo khác của đảng.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 10 Tháng Mười, 2012, 08:44:15 am
Nhưng cho phép tôi trở về với các sự kiện trong đêm 22 tháng Tám, đêm quyết định bắt I. An-tô-ne-xcu tại cung vua bằng cách cho mời tên độc tài tới tiếp kiến vua Mi-khai để báo cáo về tình hình quân sự. Đảng cộng sản đã chuẩn bị trước một phân đội lấy từ các đơn vị yêu nước được tổ chức trong quá trình chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang sắp tới, làm nhiệm vụ bắt giữ An-tô-ne-xcu đêm hôm ấy.

Để phòng trường hợp nhỡ vì một lý do nào đấy mà phân đội không vào được trong cung vua, Đảng cộng sản đã đề nghị chuẩn bị thêm một tổ khác làm nhiệm vụ dự bị. Phân đội dự bị này do viên sĩ quan tùy tùng của nhà vua tổ chức ra, lấy trong số anh em binh lính của tiểu đoàn cảnh vệ Hoàng cung. Ngoài ra, còn chuẩn bị cả những biện pháp để tước vũ khí đội cảnh vệ đi bảo vệ cho An-tô-ne-xcu.

Thống chế I-ôn An-tô-ne-xcu, tên độc tài phát-xít vẫn không hay biết gì hết. Ngày 21 và ngày 22 tháng Tám, y đã hai lần gặp tướng Phrít-xne tại sở chỉ huy của y để thảo luận về những nguy cơ đang uy hiếp quân đội Đức và Ru-ma-ni ở ngoài mặt trận. Phrít-xne tỏ ý lo ngại rằng trong quân đội Ru-ma-ni đang có những âm mưu chính trị chống lại các đồng minh của Hít-le. An-tô-ne-xcu ra sức bác bỏ những tin đó và nói rằng y đã áp dụng các biện pháp nghiêm ngặt để trừng trị những kẻ đào ngũ và hứa với Phrít-xne hết sức trung thành với nước Đức của Hít-le. Cả hai đi đến kết luận rằng cần phải cho quân rút ra khỏi khu vực I-át-xư, Ki-si-ni-ốp và tổ chức phòng ngự trên phòng tuyến Các-pát, Phốc-sa-nư, Nê-mô-lô-a-xa, Ga-lát, vùng châu thổ sông Đa-nuýp. An-tô-ne-xcu hứa sẽ gấp rút chuyến giao tất cả những lực lượng dự bị của Ru-ma-ni cho bộ chỉ huy Hít-le.

Trở về thủ đô, An-tô-ne-xcu triệu tập ngay một cuộc họp của chính phủ quyết định động viên mọi lực lượng trong nước tiếp tục chiến tranh. Họp xong y đề nghị xin được tiếp kiến nhà vua vào ngày 23 tháng Tám, hồi 16 giờ. Mặc dù đề nghị ấy thật bất ngờ đối với các giới cận thần nhà vua, nhưng lại trùng hợp với ý định bắt giữ tên đầu sỏ phát-xít. Họ bèn liên lạc ngay với những người lãnh đạo Đảng cộng sản. Các đồng chí góp ý cứ nên thực hiện kế hoạch đã cùng nhau bàn bạc, và về phía mình, các đồng chí ra lệnh sẵn sàng khởi nghĩa. Mọi việc bắt đầu được tiến hành.

Ngày hôm sau, đến giờ đã định, An-tô-ne-xcu vào cung vua. Báo cáo xong với nhà vua về tình hình ngoài mặt trận, y liền bị các chiến sĩ cận vệ của Hoàng cung bắt giữ theo phương án kế hoạch dự bị. Trước đó nửa giờ, có cuộc tiếp kiến nhà vua của bộ trưởng ngoại giao người cùng họ với An-tô-ne-xcu, tên là M. An-tô-ne-xcu. Thế là y và tên độc tài này đều cùng bị giam trong hầm bọc thép của gia đình nhà vua. Đội cảnh vệ của cả hai tên An-tô-ne-xcu đều bị tước hết vũ khí.

Sau đó, những tên bộ trưởng chiến tranh, bộ trưởng nội vụ, tổng giám binh và cục trưởng cảnh sát của thủ đô được gọi điện đến tiếp kiến nhà vua, cũng đều bị bắt giữ nốt. Còn những thành viên khác trong chính phủ của An-tô-ne-xcu ít lâu sau cùng bị bắt hết.

Bắt giữ được An-tô-ne-xcu, các cận thần của nhà vua cảm thấy không yên lòng. Họ lo sợ thể nào rồi Hít-le cũng tổ chức đánh vào Hoàng cung để giải thoát cho đồng bọn của chúng. Nếu vậy, nhà vua và hoàng gia sẽ gặp chuyện không hay nên họ đã đề nghị với Đảng cộng sản tìm chỗ cho vua Mi-khai đi lánh nạn. Quá nửa đêm hôm ấy, nhà vua được chở đến một địa điểm an toàn ở xa thủ đô và vẫn tiếp tục làm mọi công việc bình thường của mình trong một thời gian dài ở nơi đó.

Trong ngày hôm ấy, ngày 23 tháng Tám, những biến cố lần lượt diễn ra trong cung vua. Ê-min Bôt-ne-rát - chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy trung ương các đơn vị yêu nước chiến đấu, được sự ủy nhiệm của ban lãnh đạo Đảng cộng sản, đã đến đây vào lúc sau 17 giờ ngày hôm ấy. Tám chiến sĩ yêu nước đi cùng với đồng chí đã đưa An-tô-ne-xcu tới một cơ sở bí mật của Đảng cộng sản.

Vào lúc đó ở cung vua có cuộc họp của nhiều đảng phái, trong đó có các đại biểu của Đảng cộng sản và Đảng xã hội-dân chủ, để bàn việc thành lập chính phủ mới. Đến 20 giờ thì thành lập xong chính phủ, thành phần chủ yếu gồm những người trong giới trí thức kỹ thuật và trong quân đội ủng hộ chế độ quân chủ.

Tướng Xa-na-te-xcu thân cận với nhà vua được cử làm thủ tướng chính phủ. Bốn đảng phái trong khối dân tộc-dân chủ, trong đó có Đảng cộng sản, giữ 4 ghế bộ trưởng không bộ trong chính phủ, mỗi đảng phái có một đại biểu. Vậy là, phần lớn các thành viên trong chính phủ không phải là những người sẽ thực hiện ý chí của nhân dân và bảo vệ quyền lợi của nhân dân.

Bắt giữ xong An-tô-ne-xcu và các bộ trưởng của y, họ ngấm ngầm muốn kết thúc sự phát triển của cách mạng và bắt tay vào việc thực hiện các biện pháp của mình. Ví dụ, tướng Mi-kha-in, một người rất thân cận với nhà vua, được cử ra giữ chức tổng tham mưu trong Ru-ma-ni. Trước đó, ông ta che giấu các chính kiến của mình, không công khai hành động trái ngược với các đảng viên cộng sản. Các đảng viên cộng sản cũng đã thấy trước xu hướng của phần đông các thành viên trong chính phủ của Xa-na-te-xcu nên đã yêu cầu phải đưa các đại biểu của mọi đảng phái chống phát-xít vào trong thành phần của chính phủ.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 10 Tháng Mười, 2012, 08:45:30 am
Thế nhưng, chính phủ mới cũng buộc phải thừa nhận một sự thật là Hồng quân đã mở đường vào các vùng trung tâm ở Ru-ma-ni. Họ đành phải che giấu các ý định đen tối của họ và tuyên bố: mục đích trước mắt của chính phủ là đình chiến với các nước đồng minh, rút ra khỏi khối liên minh với Hít-le, khôi phục lại đất nước và đấu tranh nhằm giải phóng miền Bắc Tơ-ran-xin-va-ni. Gần tới nửa đêm, nhà vua đọc trên đài phát thanh bản tuyên ngôn đình chỉ chiến sự với các nước đồng minh, lập lại hòa bình và ký kết hòa ước, thành lập chính phủ mới.

Trong khi ấy, bộ chỉ huy quân sự Bu-ca-rét ban hành cho các lực lượng vũ trang yêu nước một mệnh lệnh do ủy ban quân sự chuẩn bị từ trước, một ủy ban mà như bạn đọc còn nhớ, Đảng cộng sản đã giành được ảnh hưởng lãnh đạo của mình ở đó.

Cuộc khởi nghĩa bắt đầu nổ ra ở thủ đô. Những chi đội công nhân vũ trang tiến ra các đường phố và quảng trường, các tổ chức chiến đấu chiếm lấy những cơ quan, xí nghiệp trọng yếu. Ở ngoài mặt trận, các đơn vị phát-xít Đức đang bị Hồng quân đánh cho thiệt hại nặng. Còn ở Bu-ca-rét, ngoài các phân đội phòng không, một số đơn vị lẻ và các chuyên viên, quân Đức còn lại đóng trong các đồn bót không có là bao.

Tình hình đó tạo điều kiện thuận lợi cho quân khởi nghĩa. Nhưng quân đội Ru-ma-ni, chấp hành mệnh lệnh của chính phủ Xa-na-te-xcu, không chống lại bọn Đức, mặc dầu theo kế hoạch chung, họ có nhiệm vụ phải tước vũ khí các đơn vị quân Đức. Đảng cộng sản liền phát hành cuốn “Hồng quân tiến công”, giải thích cho nhân dân những mục đích giải phóng của bộ đội Liên Xô, kêu gọi nhân dân đứng lên đấu tranh giải phóng đất nước.

Đại sứ của Hít-le lo lắng trước các sự kiện chuyển biến bất ngờ như vậy liền chạy bổ tới cung vua. Tại đây, cùng với câu trả lời về vấn đề số phận của An-tô-ne-xcu, y còn nhận được yêu cầu của nhà vua đòi rút các đơn vị quân phát-xít Đức ra khỏi Ru-ma-ni và lời tuyên bố rằng sẽ không gây trở ngại cho các đơn vị Hít-le. Rời khỏi cung vua, tên đại sứ hung hăng tuyên bố sẽ dìm cả nước Ru-ma-ni vào trong biển máu.

Tiếp theo chân tên đại sứ, các tướng lĩnh Hít-le cũng lần lượt vào cung vua. Bọn chúng thừa hiểu là tình hình rất xấu nên hứa sẽ rút các đơn vị quân Đức đang đóng tại đây ra khỏi thủ đô. Thế nhưng, sang ngày hôm sau, khi nhận được lệnh của Hít-le phải dùng sức mạnh đàn áp những kẻ Ru-ma- ni “cứng đầu", thì các tướng lĩnh Hít-le bắt đầu cho máy bay bắn phá thành phố, tập kích vào những mục tiêu quan trọng nhất trong thành phố và cung vua. Một số lực lượng bộ binh tiến vào Bu-ca-rét.

Tình hình như vậy chẳng khác gì đã tuyên bố chiến tranh với Ru-ma-ni. Theo lời kêu gọi của các đảng viên cộng sản, nhân dân cùng với binh lính khởi nghĩa đã chặn đánh bọn Híl-le ở những vùng ven xa thành phố và tước vũ khí của các phân đội phát-xít Đức còn ở lại trong Bu-ca-rét.

Mặc dầu vua Mi-khai đã ra tuyên ngôn và chính phủ mới của Ru-ma-ni đã ban hành bản tuyên bố, Bộ tổng tham mưu Ru-ma-ni lại trực tiếp ra lệnh ngừng kháng cự bộ đội Liên Xô, song các đơn vị Ru-ma-ni vẫn không chịu hạ vũ khí, vẫn tiếp tục các hành động chiến đấu ở bên phía Hít-le.

Xảy ra tình hình đó là do một số nguyên nhân. Bộ tổng tham mưu Ru-ma-ni quả là bị mất quyền chỉ huy binh lính ở nhiều khu vực ngoài mặt trận. Nhưng chủ yếu không phải là vấn đề ấy. Những nơi vẫn giữ được sự chỉ đạo, Bộ tổng tham mưu Ru-ma-ni lại cho binh lính rút quân về tuyến phòng ngự Phốc-sa-nư, Nê-mô-lô-a-xa, Bra-i-lốp, cửa sông Đa-nuýp, để ngăn cản sự phát triển cuộc khởi nghĩa của nhân dân. Binh lính Ru-ma-ni được lệnh trực tiếp là sẽ chống lại mọi mưu toan tước vũ khí của họ.

Như vậy là, trên thực tế, Bộ tổng tham mưu Ru-ma-ni đã đồng ý để cho các hoạt động chiến đấu vẫn tiếp diễn, bởi vì không một quân đội nào, kế cả Hồng quân, lại có thể cho phép để ở phía sau lưng mình những đơn vị chưa bị giải giáp vũ khí của một nước đang trong tình trạng chiến tranh với mình: lúc này chúng ta chưa nhận được tin tức gì về việc họ sẽ ký kết đình chiến.

Thêm nữa là Bộ tổng tham mưu Ru-ma-ni còn hứa sẽ cho phép quân đội phát-xít Đức tự do rút về phía Tây, nếu như quân Đức không làm trở ngại gì đến quân Ru-ma-ni tiến về tuyến đã quy định ở trên.

Ngoài ra, các hành động của Bộ tổng tham mưu Ru-ma-ni còn cực kỳ nguy hiểm ở chỗ, nó đe dọa sẽ nổ ra nội chiến ở Ru-ma-ni nếu như quân đội trong nước được đem dùng chống lại cuộc khởi nghĩa của nhân dân.

Tất cả những vấn đề trên đi ngược lại các ý định của Đảng cộng sản. Vì vậy, ngày 24 tháng Tám, Đảng cộng sản đã ra lời kêu gọi, hô hào nhân dân cầm vũ khí chiến đấu chống lại bọn Hít-le. Lời kêu gọi ấy được nhân dân hưởng ứng mạnh mẽ và là lợi khí để phát triển cuộc khởi nghĩa trên khắp đất nước.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 10 Tháng Mười, 2012, 08:46:14 am
Sau khi đánh giá tình hình, nắm được ý định của Bộ tổng tham mưu Ru-ma-ni là vẫn muốn bảo vệ các lực lượng của mình và rút vào sâu trong nước, Bộ tổng tư lệnh tối cao Liên Xô ra lệnh cho các phương diện quân tiếp tục tiến công thật mạnh và tiêu diệt các đơn vị quân Hít-le. Còn đối với quân đội Ru-ma-ni thì sẽ tùy theo thái độ của họ mà hành động.

Nhằm giúp cho chính phủ mới và quân đội của Ru-ma-ni sớm xác định được đúng vị trí của mình trong chuỗi các sự kiện chiến tranh, ngày 25 tháng Tám, Chính phủ Liên Xô lại khẳng định một lần nữa bản tuyên bố hồi tháng Tư rằng, Liên Xô không có ý định xâm chiếm một vùng đất nào của Ru-ma-ni, cũng không thay đổi chế độ xã hội trong nước hoặc xâm phạm đến nền độc lập của đất nước này. “Trái lại, bản tuyên bố lần này nói, - Chính phủ Liên Xô thấy cần phải cùng với Ru-ma-ni (do tôi gạch dưới. X. S.) khôi phục lại nền độc lập của Ru-ma-ni bằng cách giải phóng Ru-ma-ni khỏi ách nô dịch của phát-xít Đức”.

Bản tuyên bố nói rõ: Hồng quân không tước vũ khí của quân đội Ru-ma-ni, không những bảo vệ tất cả những vũ khí của các đơn vị Ru-ma-ni mà còn giúp đỡ họ nếu họ ngừng bắn Hồng quân và cùng với Hồng quân tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng chống lại Hít-le, giành độc lập cho đất nước mình và chống lại bọn chư hầu Hung-ga-ri nhằm giải phóng Tơ-ran-xin-va-ni.

Đồng thời, Chính phủ Liên Xô còn chỉ rõ: Hồng quân chỉ có thể ngừng các hành động quân sự trên lãnh thổ Ru-ma-ni sau khi ở đây đã thủ tiêu được các đơn vị quân Đức, những kẻ áp bức và bóc lột nhân dân Ru-ma-ni. Sự giúp đỡ của quân đội Ru-ma-ni đối với Hồng quân trong trường hợp này, có thể tạo điều kiện sớm đình chỉ chiến sự trên đất nước Ru-ma-ni và ký kết được hiệp định đình chiến.

Ít lâu sau chúng tôi nhận được những tin tức chính trị và quân sự quan trọng. Đài phát thanh Ru-ma-ni công bố chính phủ Ru-ma-ni tuyên chiến với Đức, quân đội Ru-ma-ni bắt đầu xâm nhập Tơ-ran-xin-va-ni và Bu-ca-rét đã được hoàn toàn giải phóng khỏi bọn Hít-le. Chính phủ Xa-na-te-xcu đề nghị ký kết ngay hiệp định đình chiến. Như vậy có nghĩa là quân đội Ru-ma-ni trở thành bạn đồng minh với chúng ta và cùng với quân đội Liên Xô bước vào con đường đấu tranh nhằm quét sạch các đơn vị phát-xít Đức ra khỏi biên giới đất nước mình.

Chính phủ Ru-ma-ni phải quyết định như vậy do một số nguyên nhân. Bộ đội Liên Xô đang thu được những thắng lợi thật to lớn. Cuộc khởi nghĩa của nhân dân đang triển khai rộng trong nước. Thêm nữa là những hy vọng hòa hoãn với bọn Hít-le không còn nữa. Vì Hít-le đã ra lệnh “đàn áp cuộc chính biến”, bắt giữ nhà vua, dựng lên một chính phủ theo đuôi nước Đức ở Ru-ma-ni cho nên tướng Xa-na-te-xcu buộc phải quay vũ khí của quân đội Ru-ma-ni chĩa vào bọn chiếm đóng. Như vậy là, bản thân cuộc sống, các quyền lợi của đất nước Ru-ma-ni dân chủ đã đòi hỏi y phải hành động ngược lại với những ý định của mình.

Thế nhưng, chúng ta cũng cần phải nhận thấy rằng phần lớn quân đội Ru-ma-ni ở ngoài mặt trận vẫn chưa hiểu được ý nghĩa của mọi biến cố đã xảy ra. Họ không muốn chiến đấu cùng với quân đội Hít-le, mà muốn đầu hàng quân đội Liên Xô. Chẳng hạn ngày 26 tháng Tám, 5 sư đoàn Ru-ma-ni còn đầy đủ biên chế đã ra đầu hàng phương diện quân U-crai-na 2.

Vậy là đường vào Ru-ma-ni đã mở. Và xa hơn nữa, ở phía sau con sông Đa-nuýp là đường dẫn tới Bun-ga-ri. Còn bây giờ đây nhiệm vụ của Hồng quân là phải nhanh chóng tiến quân vào mọi khu vực quyết định trong nước Ru-ma-ni và kết thúc việc tiêu diệt tàn quân của Hít-le tại đây.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 10 Tháng Mười, 2012, 08:47:15 am
*
*   *

Khi bộ đội Liên Xô hoạt động trên lãnh thổ Ru-ma-ni, Bộ tổng tư lệnh tối cao Liên Xô đã đặc biệt chú ý tới các trung tâm kinh tế, chính trị và vận tải quan trọng nhất ở Ru-ma-ni là các vùng Plô-e-sti và Bu-ca-rét.

Như chúng ta được biết, Plô-e-sti là trái tim của cả vùng, dầu hỏa khai thác ở đây rất cần thiết cho cả khối liên minh của Hít-le và đặc biệt là cho nước Đức. Plô-e-sti còn là trung tâm lớn nhất của giai cấp vô sản, chỗ dựa của Đảng cộng sản, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển của cách mạng.

Bộ tổng tham mưu khi lập kế hoạch đã chú ý tới tất cả những vấn đề ấy. Ngoài ra, Plô-e-sti cách Bu-ca-rét có 60 ki-lô-mét, yểm hộ mặt Bắc cho thủ đô. Theo các tính toán của chúng ta, và những tính toán ấy rất sát với thực tế, thì địch tập trung ở đây 25 nghìn quân và gần 100 máy bay. Địch có thể sử dụng số quân trên để cố thủ Plô-e-sli và phá hoại các công trình thiết bị khai thác dầu, và cũng có thể dùng số lực lượng trên làm cụm quân xung kích hoạt động ở khu vực Bu-ca-rét.

Nhưng vấn đề không chỉ bó hẹp có như vậy, vì Plô-e-sti còn là một trung tâm giao thông lớn, ăn thông tới miền đồng bằng sông Pra-khốp, tiến sâu vào Tơ-ran-xin-va-ni. Quân Đức và Hung đang bố trí tại đây. Khi địch còn đóng quân ở Ru-ma-ni, thì địa điểm này là vị trí có lợi, dễ liên lạc với tập đoàn quân 8 của Đức và tập đoàn quân Hung-ga-ri. Còn hiện thời, quân địch đang trụ bám lấy các cứ điểm then chốt trong khu vực khai thác dầu này; binh lính chúng trực tiếp đóng ngay trong các nhà máy lọc dầu quan trọng nhất.

Khi đặt kế hoạch tiêu diệt địch ở trung tâm Ru-ma-ni, chúng ta không phải là không tính đến sự chi viện của giai cấp công nhân Ru-ma-ni đối với chúng ta. Nhưng, tất nhiên chúng ta cùng không nên quá hy vọng, bởi vì giai cấp vô sản ở Plô-e-sti sẽ phải đương đầu với các đơn vị quân đội chính quy của Hít-le được trang bị đủ các loại phương tiện kỹ thuật chiến đấu.

Plô-e-sti nằm cách Bu-ca-rét không xa lắm, cho phép chúng ta dễ phong tỏa, chặn mọi đường liên lạc, giao thông giữa hai thành phố này. Chúng tôi cho rằng, hình thức tiến công thích hợp nhất là các đơn vị cơ động của Liên Xô sẽ đồng loạt tiến công vào các khu vực của hai thành phố. Tổ chức đột kích như vậy sẽ không cho quân địch ở đây cứu viện được nhau.

Đi đôi với những biện pháp nhằm tiêu diệt địch, chúng ta còn đề ra những biện pháp bảo vệ khu công nghiệp dầu hóa cả ở mặt đất và trên không.

Ngày 27 tháng Tám, hồi 17 giờ, R. I-a. Ma-li-nốp-xki giao nhiệm vụ cho tướng A. G. Cráp-tren-cô, tư lệnh tập đoàn quân xe tăng 6 tiến vào Bu-ca-rét và Plô-e-sti. Đồng chí quyết định dùng một quân đoàn đánh vào Plô-e-sti và 2 quân đoàn đánh vào Bu-ca-rét.

Công nhân ở khu vực dầu hỏa, theo chỉ thị của Đảng cộng sản, trong đêm rạng ngày 24 tháng Tám đã tổ chức bảo vệ các cơ sở sản xuất và phòng thủ chống lại bọn Hít-le. Quân đoàn Ru-ma-ni 5 của tướng C. Va-xi-li-u - Re-xca-nu đóng quân ở địa phương đã tới chi viện cho công nhân. Các đơn vị quân Hít-le bị đánh lui ở ngoại vi Plô-e-sti. Tuy nhiên, trong quá trình giao chiến quyết liệt, các đơn vị quân Đức vẫn vây kín thành phố và chuẩn bị tiến công quyết định vào quân ta.

Tình huống diễn biến ở Plô-e-sti buộc bộ đội Liên Xô phải hành động nhanh và kiên quyết, không cho quân địch có thể tàn sát những người yêu nước Ru-ma-ni, chiếm thành phố và phá hoại các xí nghiệp khai thác dầu, gây tác hại lớn cho cuộc khởi nghĩa và tổn thất cho nền kinh tế Ru-ma-ni.

Sau khi tập trung lực lượng, ngày 29 tháng Tám, các chiến sĩ xe tăng của ta đã đột kích mạnh vào khu vực Plô-e-sti. Sư đoàn bộ binh 18 Ru-ma-ni được điều động ở ngoài mặt trận về đã góp phần hoạt động thắng lợi ở đây. Các đơn vị Hít-le bị đánh tan, chúng ta bảo vệ được cơ sở công nghiệp khai thác dầu ở Ru-ma-ni.

Được sự giúp đỡ của các công nhân vũ trang Ru-ma-ni, bộ đội Liên Xô đã thiết lập được trật tự và an ninh ở Plô-e-sti và các vùng ngoại vi Plô-e-sti. Bộ đội Ru-ma-ni tiếp tục kết thúc nốt việc thủ tiêu tàn quân của Hít-le còn lại ở các cứ điểm lẻ tẻ trong khu vực dầu hỏa này.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 10 Tháng Mười, 2012, 08:48:12 am
Ở Bu-ca-rét, tình hình diễn biến có khác hơn. Tối 27 tháng Tám, các quân đoàn xe tăng của tập đoàn quân xe tăng 6 dàn đội hình tiến vào thủ đô Ru-ma-ni và tiêu diệt quân địch bố trí tại những cửa ngõ tiến vào thành phố. Lúc này vua Mi-khai và thủ tướng Xa-na-te-xcu tuyên bố Ru-ma-ni đồng ý tiếp nhận mọi điều kiện đình chiến do Liên Xô đề ra ngày 12 tháng Tư.

Trong khi chờ đợi các hành động thực tiễn của Ru-ma-ni, bộ đội chúng ta vẫn tiếp tục tiến công mạnh vào sâu trong nước. Chúng ta lấy làm ngạc nhiên thấy ngày 29 và 30 tháng Tám, các đại biểu của chính phủ Ru-ma-ni lại đề nghị với các tư lệnh tập đoàn quân Liên Xô tạm dừng cuộc tiến công trên một số khu vực ngoài mặt trận ở tuyến Đông Các-pát tới Đa-nuýp. Chúng ta phải cảnh giác trước sự kiện này.

Chính sách đuôi cáo của chính phủ Xa-na-te-xcu lại lòi ra. Xem xét kỹ thực chất sự việc, chúng ta thấy rằng đề nghị đó của họ là nhằm tạo điều kiện cho tàn quân của các đơn vị Hít-le rút vào núi, tổ chức kháng cự tại đây và không cho bộ đội ta tiến sâu vào trong nước. Rõ ràng các giới tư sản của chính phủ còn nuôi hy vọng bám lấy chế độ cũ, có lợi cho họ ở trong nước.

Đồng thời, Xa-na-te-xcu còn đề nghị với bộ chỉ huy Anh - Mỹ cho quân nhảy dù đổ bộ vào thủ đô. Chúng ta đã nhận ra rằng nếu để quân Anh - Mỹ nhảy vào thủ đô thì mọi thành tựu của cuộc khởi nghĩa của các lực lượng nhân dân yêu nước Ru-ma-ni nổ ra ngày 23 tháng Tám sẽ bị đe dọa. Thế nhưng, may thay cho nhân dân Ru-ma-ni là tình hình đó lại không hề diễn ra. Bộ đội Liên Xô vản tiếp tục tiến công. Nhân dân Ru-ma-ni tỏ ra có ý thức chính trị cao, hành động theo những lời kêu gọi của Đảng cộng sản, mở rộng cuộc khởi nghĩa ra khắp đất nước.

Sau khi đẩy nhanh tốc độ hành quân, tập đoàn quân xe tăng 6 và tập đoàn quân 53 tiến sát tới Bu-ca-rét. Sự xuất hiện của các tập đoàn quân trên đã bảo đảm giữ gìn được các thành quả của nhân dân phá vỡ mọi kế hoạch của các nhà chính trị tư sản. Các chiến sĩ của sư đoàn tình nguyện Ru-ma-ni 1 lấy tên là sư đoàn Tu-đo Vla-đi-mia-re-xcu đã cùng sát cánh chiến đấu với Hồng quân tại đây. Và, chúng ta không thể không nói tới sư đoàn này.

Sư đoàn được thành lập gồm những người tình nguyện, vốn là binh lính và sĩ quan Ru-ma-ni bị chúng ta bắt làm tù binh. Nhận thức được rằng mình cần phải chiến đấu chống lại nước Đức Hít-le, đối với họ quả không phải dễ dàng và đơn giản. Họ đã hình dung thấy bức tranh thảm họa sắp tới của Đế chế thứ ba cùng với chế độ A. I. An-tô-ne-xcu ngay từ những ngày quân địch bị tiêu diệt ở Xta-lin-grát, nơi mà hai tập đoàn quân Ru-ma-ni cũng bị chôn vùi. Các sự kiện diễn biến tiếp sau trên mặt trận Xô - Đức đã làm cho nhiều tù binh thấy rõ sự tất yếu không tránh khỏi sụp đổ của cuộc phiêu lưu tội lỗi của Hít-le và bè lũ tay sai.

Ngày 2 tháng Hai 1943, các tù binh Ru-ma-ni đề nghị với Chính phủ Liên Xô tạo điều kiện cho họ được tình nguyện chiến đấu cùng với Hồng quân, và trong tháng Tám, Hội nghị đại biểu các tù binh Ru-ma-ni ủy nhiệm cho một số người đề nghị với I. V. Xta-lin được phép thành lập một đơn vị quân tình nguyện. Các đảng viên cộng sản Ru-ma-ni đang lưu trú ở Liên Xô ủng hộ các tù binh. Ngày 4 tháng Mười 1943, Hội đồng quốc phòng Nhà nước đã thông qua quyết nghị thành lập sư đoàn bộ binh tình nguyện Ru-ma-ni 1; ít lâu sau sư đoàn lấy tên một vị anh hùng dân tộc Ru-ma-ni là Tu-đo Vla-đi-mia-re-xcu.

Sư đoàn được thành lập ở các trại Xê-lét gần Ri-a-dan theo biên chế quân cận vệ. Chỉ huy những người tình nguyện ấy là đại tá Ni-cô-la-e Cam-bri-a, tham mưu trưởng là trung tá I-a-côp Te-clu. Chúng tôi theo dõi việc thành lập sư đoàn với sự giúp đỡ của đại tá G. M. Ê-rê-min, đại diện của Bộ tổng tham mưu Liên Xô. 159 sĩ quan huấn luyện viên Liên Xô tham gia huấn luyện sư đoàn, truyền đạt cho các đồng chí Ru-ma-ni mọi kinh nghiệm ưu việt của cuộc Chiến tranh giữ nước vĩ đại.

Ngày 7 tháng Năm 1944, sư đoàn mang tên Tu-đo Vla-đi-mia-re-xcu tập trung ở phía Bắc I-am-pôn, nằm trong thành phần của phương diện quân U-crai-na 2 và làm công tác chuẩn bị chiến đấu. Sư đoàn có 9 nghìn rưỡi người, được trang bị vũ khí đầy đủ: 98 khẩu pháo, 60 súng cối các loại, gần 500 súng máy và trên 110 đại liên.

Các chiến sĩ tình nguyện Ru-ma-ni đánh trận đầu trong chiến dịch I-át-xư - Ki-si-ni-ốp. Các đồng chí đã vượt qua những thử thách khó khăn một cách vẻ vang khi giao chiến chống lại một kẻ địch mạnh đang cố sức thoát khỏi vòng vây chạy sang phía Tây. Sư đoàn bị thiệt hại, nhưng đã làm tròn nhiệm vụ, củng cố được tinh thần và do đó đã xây dựng được cơ sở vững chắc cho tình hữu nghị chiến đấu sau này giữa các chiến sĩ Liên Xô và Ru-ma-ni.

Ngày 31 tháng Tám, nhân dân Bu-ca-rét sung sướng đón mừng bộ đội Liên Xô và sư đoàn Tu-đo Vla-đi-mia-re-xcu tiến vào thủ đô Ru-ma-ni.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 10 Tháng Mười, 2012, 08:49:33 am
*
*   *

Việc tiêu diệt Cụm tập đoàn quân “nam U-crai-na” và cuộc khởi nghĩa vũ trang của nhân dân triển khai rộng trên khắp đất nước, đã mở ra những triển vọng lịch sử to lớn cho Ru-ma-ni. Ủy ban kiểm soát của khối đồng minh được thành lập có nhiệm vụ theo dõi việc chấp hành chặt chẽ các điều kiện đình chiến.

Bộ đội Liên Xô đóng quân ở Ru-ma-ni. Sự có mặt của Hồng quân và hoạt động của Ủy ban kiểm soát đã khuyến khích hoạt động của các lực lượng dân chủ nhằm xây dựng một nhà nước kiểu mới - nhà nước dân thủ nhân dân - và giúp cho Ru-ma-ni tránh khỏi nội chiến. Cuộc nội chiến đã bị loại trừ, việc đó đã tạo điều kiện bên trong tương đối thuận lợi để đè bẹp sự kháng cự của các lực lượng phản cách mạng.

Phải nói rằng, Chính phủ Liên Xô và bộ chỉ huy quân đội rất tin cậy vào quần chúng lao động của những quốc gia mới được Hồng quân giải phóng, tất nhiên trong đó có nhân dân Ru-ma-m, một nước suốt cả một thời gian dài đã làm chư hầu cho nước Đức Hít-le. Chúng ta vô cùng tôn trọng Đảng cộng sản Ru-ma-ni - đội quân tiên phong của nhân dân đã giữ vững đội ngũ của mình trong các điều kiện của chủ nghĩa phát-xít, tổ chức và lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống nền độc tài của I. An-tô-ne-xcu.

Song dẫu sao, trong công tác Bộ tổng tham mưu cũng cảm thấy những trận địa của bọn phản cách mạng ở Ru-ma-ni còn khá vững, các lực lượng của chế độ mới khó mà phá vỡ nổi. Bọn phản cách mạng hoạt động rất khôn khéo và xảo quyệt biểu hiện theo các cách thức khác nhau.

Khi bộ đội Liên Xô đang tiến sâu vào Ru-ma-ni, những tin tức ví dụ như thành phần, tình trạng và sự điều động quân đội của ta đều bị lọt ra nước ngoài theo các đường dây thông tin khác nhau, nhất là bằng điện thoại và điện báo. Những tin tức ấy rõ ràng là những tin tình báo. Căn cứ vào báo cáo của Bộ tổng tham mưu, Hội đồng quốc phòng Nhà nước đã ra một nghị quyết đặc biệt về vấn đề này và đã cử các đồng chí chuyên viên thông tin tới các đài trung tâm thông tin của Ru-ma-ni để ngăn chặn không cho các tin tức trên lọt ra nước ngoài.

Tiếp đến là những hoạt động khác có tính chất phá hoại về mặt tư tưởng. Tôi còn nhớ một trong những hoạt động phá hoại ấy. Hồi đó bỗng nhiên có những dư luận vu không, bịa đặt ám chỉ sư đoàn bộ binh tình nguyện 1 mang tên Tu-đo Via-đi-mia-re-xcu của Ru-ma-ni. Quân địch vu khống rằng, các chiến sĩ tình nguyện trong sư đoàn là những người phản bội Tổ quốc, sau chiến tranh họ sẽ bị kết án, còn nước Đức sẽ không bị thất bại trong chiến tranh.

Nhân việc này, R. I-a. Ma-li nốp-xki và I. D. Xu-xai-cốp đã gửi bức điện sau đây cho sư đoàn trưởng: “sư đoàn Ru-ma-ni là binh đoàn có khả năng chiến đấu nhất của nhân dân Ru-ma-ni và đang hoàn thành tốt các nhiệm vụ chiến đấu. Nhân dân Ru-ma-ni không cho phép một ai nói xấu các anh hùng của mình, những người con trung thành với Tổ quốc và sớm hiểu biết về sự cần thiết phải đấu tranh giành tự do và độc lập của Ru-ma-ni. Các đồng chí hãy bình tĩnh, chiến đấu trung thực và thẳng tay đánh quân thù...”

Cũng đã có những âm mưu nhằm cứu bọn gián điệp của Hít-le ở trong nước. Hồi đó, bộ trưởng nội vụ từ chối không giao các tướng lĩnh, đô đốc và các sĩ quan của phái đoàn quân sự phát-xít Đức cho bộ chỉ huy Liên Xô. Y viện cớ rằng các cán bộ ngoại giao Ru-ma-ni và một số lớn các sĩ quan Ru-ma-ni hiện còn ở trong nước Đức, nên nếu giao số người quốc tịch Đức này cho quân Nga thì số cán bộ trên của Ru-ma-ni có thể sẽ bị đàn áp. Rồi Bu-ca-rét có thể sẽ bị bắn phá vì những sự thù hằn đó. Họ còn viện ra những lý do không có căn cứ xác đáng khác nữa.

Tất nhiên là phái đoàn phát-xít vẫn bị bắt giữ và các báo chí xô-viết đã phổ biến rộng rãi những tin tức trên. Bộ máy gián điệp của địch ở Ru-ma-ni bị mất bộ phận cầm đầu.

Các cán bộ quân cảnh của ta hết sức ngạc nhiên khi phát hiện thấy một số bệnh viện của Ru-ma-ni điều trị... cả những binh lính Đức khỏe mạnh. Sự ngụy trang đó được bóc trần khá nhanh và những “bệnh nhân” ấy phải trở về vị trí của mình trong các trại tập trung tù binh.

Các sĩ quan Liên Xô tới tòa đại sứ Hung để bắt giữ các đại biểu của Hoóc-ti là kẻ thù của chúng ta, nhưng khi bước đến ngưỡng cửa lại nhìn thấy tấm biển đề: “tòa đại sứ Thụy Điển”. Hóa ra, tấm biển nhằm cứu thoát bọn chúng cũng lại do có sự thỏa thuận với đại sứ Thụy Điển.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 10 Tháng Mười, 2012, 08:50:25 am
Các cương vị lãnh đạo ở trong các cơ quan hành chính thường do những tên ủng hộ chủ nghĩa phát-xít nắm hết, trong đó có cả bọn mật thám. Bọn chúng còn tiến hành các âm mưu phá hoại các đoàn tàu, chống đối lại ta. Thế nhưng, mọi mưu toan thù địch ấy cùng với những hành động khác, đều bị chặn đứng.

Các điều kiện thống nhất khối liên minh chống Hít-le và tình hình phát triển trong nội bộ của Ru-ma-ni thời bấy giờ không cho phép áp dụng các phương pháp tước đoạt ngay những kẻ đi tước đoạt theo kiểu cách mạng của chúng ta. Hồi ấy, các đại biểu của giai cấp tư sản và của các giới cung đình còn cầm quyền trong một thời gian dài. Chính phủ của tướng Xa-na-te-xcu sau lại nhường chỗ cho chính phủ của một viên tướng khác là Ra-đe-xcu. Chính phủ mới của Ra-đe-xcu có lẽ còn phản động và hướng về Anh - Mỹ mạnh hơn chính phủ cũ. Thế nhưng, tình hình buộc Ra-đe-xcu phải lựa chiều và dành nhiều ghế bộ trưởng cho các đảng phái trong mặt trận dân chủ nhân dân. Riêng các đảng viên cộng sản đã giữ hai ghế bộ trưởng và một ghế thứ trưởng.

Thời gian ấy, bác sĩ Pê-tơ-ru Grô-da, thủ lĩnh của tổ chức nông dân “mặt trận nông dân”, giữ vai trò nổi bật. Trong những năm chiến tranh, tổ chức này đã hoạt động sát cánh với các đảng viên cộng sản và dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Ru-ma-ni. P. Grô-da đấu tranh tích cực và không khoan nhượng chống lại mọi âm mưu của các bộ trưởng phản động; ông thi hành một chính sách hữu nghị với nước giải phóng mình là Liên Xô, tăng cường sự đóng góp của Ru-ma-ni vào sự nghiệp chiến thắng nước Đức Hít-le và phát triển dân chủ ở trong nước. P. Grô-da đã làm nhiều việc khiến chính phủ của Ra-đe-xcu phải sụp đổ vào tháng Ba 1945. Từ đó, P. Grô-da đã lãnh đạo chính phủ Ru-ma-ni trong suốt một thời gian dài và là một trong những người nổi tiếng xây dựng nhà nước dân chủ nhân dân, nước Ru-ma-ni xã hội chủ nghĩa.

Cuối tháng Tám và đầu tháng Chín 1944, Đại bản doanh Bộ tổng tư lệnh tối cao cần phải quyết định cách xử sự của chính quyền quân sự của ta đối với nhà vua trẻ của Ru-ma-ni đang tiếp tục giữ ngôi vua. Khi báo cáo tình hình quân sự cho Đại bản doanh, A. I. An-tô-nốp cùng với tôi đã nhiều lần nhận xét rằng, cung vua rồi sẽ không tránh khỏi là nơi tụ tập những phần tử chống xô-viết ở Ru-ma-ni và chúng tôi đã đề nghị cần có những biện pháp kiên quyết đối với họ.

Giống như mọi lần, Tổng tư lệnh tối cao chăm chú nghe ý kiến báo cáo của chúng tôi, chậm rãi châm thuốc hút, lấy cán tẩu vuốt chòm ria mép ám khói thuốc rồi nói đại loại như sau: vua của nước khác không phải là việc của ta. Thái độ khoan dung đối với vua cũng sẽ có ảnh hưởng tốt tới các mối quan hệ của chúng ta với các nước đồng minh. Nhân dân Ru-ma-ni hiện nay còn tin cậy ở nhà vua vì nhà vua là người đã đối lập với chính thể độc tài phát-xít, và chúng ta hy vọng rằng nhân dân Ru-ma-ni sẽ tự hiểu rõ thực chất của chế độ quân chủ ấy. Chúng ta cũng có cơ sở để cho rằng những đảng viên cộng sản Ru-ma-ni sẽ không ngồi không, mà sẽ giúp được nhân dân mình hiểu rõ tình hình.

Vậy là chúng tôi lại được tiếp thụ thêm một bài học chính trị. Và nói cho khách quan thì nhà vua cũng tỏ ra muốn được yên ổn, thích vui chơi giải trí hơn là làm các việc quốc sự. Biết nhà vua thích chơi máy bay, chúng tôi đã thay mặt I. V. Xta-lin tặng ông ta một chiếc máy bay “Po-2” làm quà. Nhà vua bay đi săn bắn, dạo chơi, giải trí.

Thời gian trôi qua, các sự kiện tiến triển và chế độ xã hội ở Ru-ma-ni đã đi theo ý chí của Đảng cộng sản và nhân dân, ý chí đưa đất nước lên chủ nghĩa xã hội. Cũng không ai gây trở ngại cho nhà vua cùng với hoàng thái hậu tự lựa chọn lấy nơi trú ngụ của mình. Sau đó, nhà vua và hoàng thái hậu đã bình an rời khỏi Ru-ma-ni.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 10 Tháng Mười, 2012, 08:52:51 am
*
*   *

Sau khi tiêu diệt quân địch bị hợp vây ở I-át-xư và Ki-si-ni-ôp, Bộ tổng tham mưu mới mở chiếc cặp xanh của mình. Công việc trong chiếc cặp xanh không phải là những công việc vội vã lắm, nhưng quan trọng không kém gì các công việc khác, trong đó có việc đề nghị khen thưởng và phong quân hàm. Thắng lợi rực rỡ của các phương diện quân U-crai-na 2 và 3 đã tạo nguyên cớ cho việc đó. Khi xem xét vấn đề này, I. V. Xta-lin nói rằng R. l-a. Ma-li-nốp-xki và Ph. I. Tôn-bu-khin xứng đáng được phong quân hàm cao nhất - nguyên soái Liên Xô.

- Thêm nữa, sau khi khôi phục đường biên giới quốc gia Liên Xô, các tư lệnh phương diện quân cần được phong cấp hàm ấy, - Tổng tư lệnh tối cao nói thêm. Đồng chí rất vui lòng trước những thắng lợi của hai phương diện quân.

Đề nghị trên được thông qua: ngày 10 tháng Chín 1944, R. I-a. Ma-li-nốp-xki, và ngày 12 tháng Chín, Ph. I. Tôn-bu-khin được phong hàm nguyên soái.

Còn có cả những trường hợp phong quân hàm, nói thẳng ra là hơi khác thường nữa. Tôi còn nhớ một trường hợp vào mùa thu năm 1943.
Câu chuyện như sau.

Ngày 16 tháng Mười một 1943, thượng tướng I. Kh. Ba-gra-mi-an, tư lệnh tập đoàn quân cận vệ 11, theo lệnh của I. V. Xta-lin được triệu tập về Mát-xcơ-va. Khi gặp A. I. An-tô-nốp, dĩ nhiên là I. Kh. Ba-gra-mi-an có hỏi về lý do được triệu tập.

- “chủ nhân” không thích nói trước ý định của mình, chúng ta cùng đi đến Đại bản doanh rồi sẽ rõ, - A. I. An-tô-nốp trả lời.

Hôm sau, đến giờ quy định báo cáo về tình hình các mặt trận cho Tổng tư lệnh tối cao, tôi cùng với An-tô-nốp và Ba-gra-mi-an tới Đại bản doanh.

Bây giờ bộ đội Liên Xô đang triển khai tiến công rộng khắp trên các mặt trận từ vịnh Phần Lan cho tới Biển Đen. Tuy nhiên ở Pri-ban-tích, thắng lợi tiến triển chậm, quân địch còn ngoan cố chống cự lại, lực lượng chúng ở đây tương đương với lực lượng bộ đội ta.

I. V Xta-lin lúc này có một mình và sắc thái vui vẻ.

- Có gì mới không? - đồng chí hỏi An-tô-nôp.

- So với báo cáo buổi trưa, tình hình chưa có gì biến đổi quan trọng, - A. I. An-tô-nốp báo cáo.

I. V. Xta-lin gật đầu và quay sang phía Ba-gra-mi-an.

- Công việc của chúng ta ở ngoài các mặt trận Pri-ban-tích chưa có gì đặc biệt lắm, - đồng chí nói, - cuộc tiến công ở đây bị kìm lại. Không thể tiến công ở khắp mọi nơi như một số người đôi khi vẫn nghĩ.

Ngừng một lát, đồng chí nói tiếp:

- Vì vậy chúng ta hiện nay đang áp dụng một số biện pháp để uốn nắn lại tình hình. Chúng ta sẽ lấy quân của các đơn vị bạn bên phải (Phương diện quân Pri-ban-tích 2. - X S ) tăng cường cho phương diện quân Pri-ban-tích 1. Nhưng như vậy có lẽ vẫn còn ít. Tập đoàn quân của đồng chí là một tập đoàn quân mạnh và đã chiến đấu anh dũng. Chúng tôi nghĩ nên giao cho Ê-ri-ô-men-cô. . .

Đồng chí lại ngừng lại, rồi sau đó quay sang Ba-gra-mi-an, nói hết ý định của mình:

- Và chúng tôi muốn cử đồng chí làm tư lệnh phương diện quân thay thế Ê-ri-ô-men-cô. Đồng chí thấy thế nào?

I. Kh. Ba-gra-mi-an hơi bối rối, chưa nói được ngay. Rồi đồng chí nói nhỏ:

- Thưa đồng chí Xta-lin, xin cảm ơn sự tin cậy đó. Tôi hứa sẽ cố gắng làm tròn nhiệm vụ.

- Tốt lắm. Và chúng tôi cũng sẽ cử Tsi-bi-xốp, một đồng chí chỉ huy giàu kinh nghiệm thay thế đồng chí làm tư lệnh tập đoàn quân. - Rồi Xta-lin lại thong thả đi tới bàn làm việc của đồng chí lấy thuốc nhồi vào tẩu.

- Người ta gọi đồng chí ấy là Ni-can-đrơ, có nghĩa là một vị “anh hùng-chiến thắng”. -A. I. An-tô-nốp nhân lúc tạm nghỉ nói về Tsi-bi-xốp.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 10 Tháng Mười, 2012, 08:55:02 am
Rít mấy hơi thuốc lúc này đang cháy, I. V. Xta-lin quay sang Ba-gra-mi-an đang im lặng.

- Tại sao đồng chí không phát biểu ý kiến? - Tổng tư lệnh tối cao hỏi. - Hoặc có gì không đồng ý cử Tsi-bi-xốp?

I. Kh. Ba-gra-mi-an càng bối rối hơn, nhưng sau đó, đồng chí trả lời: -

- Không, thưa đồng chí Xta-lin, tôi không có gì phản đối cả. Đồng chí ấy là một tư lệnh giàu kinh nghiệm. Khi đồng chí ấy là trung tướng, tôi hãy còn là đại tá. Còn bây giờ Tsi-bi-xốp là thượng tướng và Anh hùng Liên Xô. Tôi cảm thấy có điều gì không tiện đối với đồng chí ấy... Có thể cử người nào khác như trung tướng Ga-li-txki làm tư lệnh tập đoàn quân, được không?

I. V Xta-lin chăm chú nhìn vào I. Kh. Ba-gra-mi-an. 

- Đồng ý với đồng chí... Các đồng chí chuẩn bị làm quyết định cử Ba-gra-mi-an và Ga-li-txki, - đồng chí nói với chúng tôi và đi lại phía bàn làm việc ấn nút điện.

A. N. Pô-xcri-ô-bư-sép bước vào.

- Đồng chí chuẩn bị quyết định của Hội đồng bộ trưởng dân ủy phong cấp đại tướng cho Ba-gra-mi-an, - Xta-lin nói.

Pô-xcri-ô-bư-sép ghi vào sổ tay, nhưng chưa đi khỏi ngay, đồng chí nắm được phong cách của I. V. Xta-lin là không vội vã ra lệnh. I. V. Xta-lin lại im lặng, đi tới bàn châm thuốc hút.

- Còn Stê-men-cô, nếu chúng ta phong cấp thượng tướng thì liệu có làm việc được dễ dàng hơn không? - đồng chí rít tẩu thuốc và hỏi An-tô-nốp. 

- Thưa đồng chí Xta-lin, nhất định là dễ dàng hơn, - An-tô-nốp trả lời, - vì đồng chí ấy thường phải tiếp xúc với các nguyên soái và lại hay ra các mặt trận.

- Theo ý kiến tôi. chúng ta cũng cần phong Gô-vô-rốp lên đại tướng. Đồng chí ấy hoạt động ở Lê-nin-grát cũng không phải là dễ dàng gì.

Chúng tôi lại im lặng. 

- Đồng chí chuẩn bị làm quyết định cho cả ba đồng chí, - Tổng tư lệnh tối cao nói với Pô-xcri-ô-bư-sép.

Pô-xcri-ô-bư-sép gật đầu và đi khỏi. 

- Xin chúc mừng các đồng chí. - I. V. Xta-lin nói tiếp với tôi và Ba-gra-mi-an. - Còn bây giờ xin chia tay, tôi hiện đang bận phiên họp của Hội đồng quốc phòng Nhà nước.

Sau khi đến Bộ tổng tham mưu, chúng tôi ghé lại chỗ An-tô-nốp.

- Nhân dịp này chúng ta ăn cơm thân mật với nhau một bữa cho vui, - An-tô-nốp đề nghị với chúng tôi.

Chúng tôi bước vào phòng đằng sau phòng làm việc của An-tô-nốp, nơi An-tô-nốp thường hay nghỉ lại. Đồng chí tháo ngay quân hàm đại tướng trên chiếc áo quân phục thứ hai treo ở mắc áo trong tủ ra trao cho I. Kh. Ba-gra-mi-an, còn Ba-gra-mi-an lại tháo quân hàm của mình trao cho tôi. Sửa sang quân phục cho chỉnh tề sau khi đeo quân hàm mới, chúng tôi ngồi vào bàn ăn với nhau. A. I. An-tô-nốp còn chai rượu vang dùng để tiếp khách cao cấp nước ngoài, nhưng nhân dịp đáng ghi nhớ này của hai chúng lôi, đồng chí liền mở nút chai.

Ngay sau đó, chúng tôi nhận được quyết định của Hội đồng bộ trưởng dân ủy phong cấp quân hàm cho chúng tôi, còn ngày 19 tháng Mười một, I. V. Xta-lin ký quyết định cử đại tướng I. Kh. Ba-gra-mi-an làm tư lệnh phương diện quân Pri-ban-tích 1, và C. N. Ga-li-txki làm tư lệnh tập đoàn quân cận vệ 11


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: SaoVang trong 10 Tháng Mười, 2012, 08:56:00 am
*
*   *

Cho phép tôi lại quay trở về với các sự kiện ở Ru-ma-ni. Các cán bộ trong Bộ tổng tham mưu chúng tôi tất nhiên phải đi vào giải quyết các vấn đề quân sự, như: xác định cách thức sử dụng các đơn vị Ru-ma-ni và các nhiệm vụ họ có thể hoàn thành, tổ chức phối hợp hành động trên thực tiễn với các đơn vị quân Ru-ma-ni. Tiến hành những công việc này, chúng ta dựa vào các cơ quan tham mưu của phương diện quân U-crai-na 2 và các tập đoàn quân đang chiến đấu cùng với các đơn vị Ru-ma-ni. Các đồng chí ấy hiểu rõ khả năng chiến đấu của các đồng minh mới của chúng ta.

Cùng có nhiều ý kiến nghi ngại. Ví dụ, khi còn ở trong hàng ngũ của chủ nghĩa phát-xít, quân Ru-ma-ni chưa thấy tỏ ra có gì đặc biệt. So với các đơn vị của Liên Xô, thì trang bị kỹ thuật của quân đội Ru-ma-ni thua kém, nhất là không đủ pháo binh. Vì vậy, cần giao nhiệm vụ chiến đấu sao cho phù hợp với khả năng của họ. Chúng ta lại không được bỏ qua không chú ý kiểm tra các hoạt động của đội ngũ cán bộ chỉ huy vì trong số các tướng lĩnh và sĩ quan có nhiều phần tử thân phát-xít, trước đây đã từng tham gia chiến tranh ở bên phía Đức. Bởi lẽ đó nên thậm chí còn có người cho rằng quân đội Ru-ma-ni là quân đội không có khả năng chiến đấu. Thêm nữa, hậu phương của đất nước Ru-ma-ni hãy còn những dấu vết của nền độc tài phát-xít, nên khá phức tạp.

Thời gian ấy, quân đội Ru-ma-ni được quyết định sẽ sử dụng tập trung: tập đoàn quân Ru-ma-ni 4 (11 sư đoàn) do tướng A-vra-me-xcu chỉ huy, sẽ phối thuộc về mặt chiến dịch với tư lệnh tập đoàn quân 27 của chúng ta (tướng X. G. Tơ-rô-phi-men-cô), còn tập đoàn quân Ru-ma-ni 1 do tướng Ma-tri-trơ chỉ huy, thì phối thuộc về mặt chiến dịch với tư lệnh tập đoàn quân 53 (tướng I. M. Ma-na-ga-rốp). Cách phối thuộc như vậy sẽ bảo đảm cho bộ đội Liên Xô và Ru-ma-ni hiệp đồng được chặt chẽ với nhau trên những hướng quan trọng nhất lúc bấy giờ, hướng Đê-brê-xen và Bu-đa-pét, cũng như sẽ bảo đảm khả năng chi viện cho các binh đoàn Ru-ma-ni bằng hỏa lực và sức đột phá của các khí tài kỹ thuật Liên Xô.

Ý nghĩa những hành động ở đây là nhằm tiêu diệt quân địch ở các hướng nói trên và cắt đứt các con đường rút quân của các đơn vị phát-xít Đức và Hung-ga-ri từ miền Đông Các-pát sang phía Tây. Qua đó, sẽ mở đường cho bộ đội của phương diện quân U-crai-na 4 vượt qua dải núi. Tình hình trên được nói đến chi tiết trong chương “Ở giữa châu Âu” ở đây chúng ta chỉ cần nói một điều là ngay những trận đánh hiệp đồng đầu tiên ấy đã khẳng định một chân lý vốn có từ lâu là: khi một quân đội chiến đấu cho sự nghiệp chính nghĩa, thì quân đội ấy có thể chiến đấu gan dạ và dũng cảm. Hơn thế nữa, khi họ lại cảm thấy được rằng kề vai sát cánh với họ là các chiến sĩ Liên Xô. Sư đoàn bộ binh 1 mang lên Tu-đo Vla-di-mia-re-xcu mà ta nói tới ở trên đã chiến đấu đặc biệt xuất sắc trong những trận đầu ở gần Clu-giơ, sau này được nhận danh hiệu sư đoàn Đê-bre-xen và được tặng thưởng huân chương Cờ Đỏ, vì đã chiến đấu dũng cảm trong chiến dịch Đê-brê-xen.

Chặng đường chiến đấu từ Clu-giơ đến cửa ngõ tiếp cận vào Pra-ha còn in dấu cuộc chiến đấu chung của các chiến sĩ Liên Xô và Ru-ma-ni chống bọn chiếm đóng Hít-le. Tình đoàn kết chiến đấu giữa các chiến sĩ Liên Xô và quân đội của nước Ru-ma-m mới được củng cố, phát triển và mở rộng ở đây. Chúng ta đặc biệt chú ý thấy bản lĩnh chiến đấu của các cán bộ chỉ huy và các chiến sĩ Ru-ma-ni trưởng thành rất nhanh.

Tổng tư lệnh tối cao nhận được một số báo cáo về các chiến công của quân đội Ru-ma-ni. Ví dụ, R. I-a. Ma-li-nốp-xki gửi lên I. V. Xta-lin bức điện sau: “Đề nghị đồng chí cho phép tặng thưởng huân chương Cờ Đỏ cho các phi công lái máy bay tiêm kích: chuẩn úy Grê-cơ Ghê-oóc-ghi và chuẩn úy Vi-e-rơ Pa-ven trong khi chấp hành nhiệm vụ của bộ chỉ huy Liên Xô ở khu vực Đê-brê-xen ngày 10 tháng Hai năm nay, đã bắn rơi chiếc máy bay Xe-129 số 214. Chiếc máy bay đó chở những tên thủ lĩnh khét tiếng của các tổ chức phát- xít hoạt động ngầm ở Ru-ma-ni đang tìm cách bay về Đức...”

Bộ tổng tham mưu đã báo cáo bức điện trên và được phép giải quyết.

Các chiến sĩ Liên Xô và Ru-ma-ni đã cùng nhau trải qua những thử thách lửa đạn và máu xương trong cuộc chiến tranh chống Hít-le. Chúng ta cần hết sức trân trọng ghi sâu những thứ thách ấy trong lòng các dân tộc chúng ta. Những hy sinh vì thắng lợi của các đồng chí chúng ta, đòi hỏi chúng ta phải như vậy.

Hơn 286 nghìn chiến sĩ Liên Xô đã bị thương trong các trận đánh nhằm giải phóng Ru-ma-ni vào mùa hè và mùa thu năm 1944, 69 nghìn chiến sĩ và sĩ quan Liên Xô đã hy sinh để nhân dân Ru-ma-ni được giải phóng khỏi gông xiềng của chế độ độc tài phát-xít, có thể hưởng tự do và hạnh phúc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước mình. Các truyền thống hữu nghị và giúp đỡ anh em được vun đắp trong những trận đánh chống bọn phát-xít Đức xâm lược cần được phát triển, nhân lên trên cơ sở các nguyên tắc của đường lối quốc tế vô sản của Lê-nin. Đó cũng là lời di huấn của các dũng sĩ thần kỳ đã giải phóng nhân loại thoát khói nạn dịch hung nô.



Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Giêng, 2016, 03:09:09 pm

CHƯƠNG NĂM

Theo con đường của các anh hùng Síp-ca(*)

Quyết định tiến vào Bun-ga-ri. — Các thủ đoạn của chính phủ tư sản.
— Gh.c.Giu-cốp ở phía Nam. — Cuộc khởi nghĩa nhân dân ở Bun-ga-ri, các anh hùng của cuộc khởi nghĩa.
— Sứ mệnh của X.X.Bi-ri-u-dốp. — Như trong truyện trinh thám: đuổi theo đoàn tàu. — Kết liễu ổ rắn độc.
— Gh.M.Đi-mi-tơ-rốp giúp gỡ mối bất hòa. — Máu cùng đổ. — Bài học của phép lịch sự ngoại giao.


Sau khi tiêu diệt các lực lượng chủ yếu của Cụm tập đoàn quân «Nam U-crai-na» của địch, các Lực lượng vũ trang Liên Xô có nhiệm vụ phải quét nốt tàn quân địch đang vội vã rút về Hung-ga-ri, vào sâu trong đất Ru-ma-ni và Bun-ga-ri. Phải truy kích và tiêu diệt chúng.

Giống như chàng dũng sĩ trong thần thoại đứng trước ngã ba đường, vào cuồi tháng Tám 1944 này, Hồng quân cũng đang đứng trước ba con đường ở trên hướng Tây - Nam: một đường tiến vào Hung-ga-ri, một đường chạy qua Ru-ma-ni, và đường thứ ba qua Bun-ga-ri. Đường nào cũng chứa đựng những khó khăn và nhiều nguy hiểm. Nhưng, nếu như chàng dùng sĩ trong thần thoại chỉ phải chọn lấy một con đường, thì các chiến sĩ Liên Xô phải tiến quân trên cả ba con đường, và nhiệm vụ Bộ tổng tham mưu trong thời gian ấy là phải vạch ra được những công việc gì cần làm để đem lại hiệu quả cao nhất.

Chúng ta nhớ rằng, địch còn có những khả năng lớn. Chúng có thể điều quân ở Nam Tư, An-ba-ni và Hy Lạp sang chống lại ta. Ở những nơi ấy, địch còn 20 sư đoàn và 7 lữ đoàn. Cũng không loại trừ khả năng địch còn có thể lấy quân ở I-ta-li-a sang. Cụm quân địch đóng ở đây cũng gần bằng cụm quân bố trí ở Ban-căng. Như vậy là chúng có tất cả hơn 50 sư đoàn và lữ đoàn. Lực lượng chúng còn đông, còn các đổng minh của chúng ta lại tiến quân rất chậm. Trong các điều kiện ấy chỉ một thiếu sót nhỏ cũng sẽ kéo theo sau nhiều hậu quả nghiêm trọng.

Thời gian này, Bộ tổng tham mưu đã tính toán hết mọi tình thế phức tạp ở Bun-ga-ri. Một mặt, chúng ta hiểu rõ dân tộc Bun-ga-ri là một dân tộc không đông, nhưng có những truyền thống yêu tự do và cách mạng, xưa nay vẫn là bầu bạn và là anh em của nhân dân ta. Bun-ga-ri là đất nước của những con người đấu tranh dũng cảm, của những chiến sĩ can đảm chiến đấu chống bọn xâm lược nước ngoài và bọn tư bản trong nước, đất nước của những con người khởi nghĩa cách mạng anh hùng, tổ quốc của Khri-xtô Bô-tép, Đi-mi-tơ-rô Bla-gô-ép, Va-xi-li Cô-la-rốp, Ghê-oóc-ghi Đi-mi-tơ-rốp. Song mặt khác, chúng ta cũng lại nhìn thấy ở đây cả những bọn tay sai của chủ nghĩa phát-xít Đức đang đứng đầu một chính phủ xô đẩy Bun-ga-ri vào cuộc chiến tranh ở về phía nước Đức Hít-le, dâng đất nước cho bọn toàn quyền của Đế chế thứ ba.

Tôi phải nói rằng các sĩ quan và tướng lĩnh Liên Xô tin tưởng sâu sắc vào các lực lượng chống Hít-le và chống phát-xít của nhân dân Bun-ga-ri, vững tin vào tình cảm của nhân dân Bun-ga-ri đối với đất nước chúng ta. Chúng ta tin không một binh sĩ Bun-ga-ri nào sẽ giơ tay chống lại Hồng quân - những người giải phóng. Niềm tin đó có cơ sở của nó, dựa vào những quan hệ hữu nghị đã có từ lâu, lòng biết ơn của nhân dân Bun-ga-ri đối với nhân dân chúng ta trước đây đã giúp đỡ Bun-ga-ri thoát khỏi ách nô dịch của Đế quốc Ốt-tô-man, và dựa vào sự hiểu biết chính xác tình hình thực tế trong nước. Người cán bộ tham mưu phải biết kiểm tra lại mệnh lệnh của trái tim bằng tiếng nói ngăn ngừa của lý trí. Chúng ta biết trong nước Bun-ga-ri đang triển khai rộng rãi cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xã hội, các lực lượng yêu nước tập hợp thống nhất trong Mặt trận Tổ quốc, và Đảng công nhân Bun-ga-ri dẫn đầu cuộc đấu tranh ấy.

Giữa tháng Bảy 1942, theo sáng kiến của Gh. M. Đi-mi-tơ-rốp, đã đề ra khẩu hiện thành lập Mặt trận Tổ quốc. Gh. M. Đi-mi-tơ-rốp, người lãnh đạo sáng suốt và có uy tín của Đảng công nhân Bun-ga-ri trong thời gian ấy làm việc ở Mát-xcơ-va, đặt trụ sở tại ngôi nhà gần khu Triển lãm nông nghiệp ở Rô-xtô-ki-nô. Trước khi giải tán Quốc tế cộng sản (năm 1943), đồng chí đã giữ cương vị Tổng bí thư Ban chấp hành Quốc tế cộng sản trong nhiều năm. Đồng chí còn phụ trách cả Ban lãnh đạo hải ngoại của Ban chấp hành trung ương Đảng công nhân Bun-ga-ri.

Ban lãnh đạo hải ngoại của Ban chấp hành trung ương Đảng công nhân Bun-ga-ri soạn ra cương lĩnh của Mặt trận. Cương lĩnh đó trước hết đề ra nhiệm vụ giải phóng toàn dân tộc — cắt đứt liên minh giữa Bun-ga-ri với nước Đức Hít-le và các nước đồng minh của Hít-le, giải phóng nhân dân Bun-ga-ri thoát khỏi bọn quốc xã Đức đang thống trị trong nước, rút các đơn vị Bun-ga-ri chiếm đóng ra khỏi Nam Tư và Hy Lạp. Ngoài ra, cương lĩnh còn đề ra các yêu sách chính trị đối nội nhằm cải cách dân chủ trong nước, như: giải thoát cho những người bị truy bức vì tham gia đấu tranh chống phát-xít, khôi phục các quyền tự do chính trị đã bị vi phạm thô bạo, giải tán các tổ chức phát-xít. Nhiệm vụ trước mắt là lật đổ chính quyền thân Đức và lập ra chính phủ được sự tin cậy của nhân dân, bảo đảm tình hữu nghị và hợp tác với Liên Xô.

Hiểu rõ nội dung và các khẩu hiệu đề ra trong cương lĩnh, quảng đại quần chúng nhân dân Bun-ga-ri, các chiến sĩ tích cực của Đảng công nhân, các hội viên Nông hội, những người dân chủ-xã hội, các quân nhân, công nhân, nông dân, thợ thủ công, quan chức cấp dưới có tinh thần yêu nước và tầng lớp trí thức tiến bộ, thanh niên cách mạng, tất cả đều nhiệt tình ủng hộ Mặt trận Tổ quốc.

Còn chúng tôi, các sĩ quan và tướng lĩnh trong Bộ tổng tham mưu, khi chuẩn bị chiến dịch ở Bun-ga-ri thường sử dụng các tác phẩm của Gh. M. Đi-mi-tơ-rốp, hoặc có trường hợp trực tiếp tới xin ý kiến đồng chí. Không ai biết Bun-ga-ri rõ hơn đồng chí và có thể nhận định giỏi hơn đồng chí về những con đường phát triển của nước đó. Tôi có một số dịp được may mắn tiếp xúc với đồng chí trong những buổi đồng chí tới thăm Đại bản doanh và được dự những buổi tọa đàm của đồng chí với các đồng chí lành đạo Liên Xô. Đối với tôi và nhiều đồng chí cán bộ trẻ tuổi khác lúc bây giờ, Ghê-oóc-ghi Đi-mi-tơ-rốp là một con người siêu phàm, là tấm gương của một người cách mạng chân chính. Sau vụ án Lai-pxích, một vụ án mà như mọi người đều biết, Ghê-oóc-ghi Đi-mi-tơ-rốp đã giành quyền chủ động trước phiên tòa, biến Gơ-rinh, Gơ-ben, và toàn bộ hệ thống của chủ nghĩa phát-xít thành những tên bị cáo, đồng chí đã chiếm được lòng tin yêu của mỗi người dân trên đất nước ta, nổi danh là một chiến sĩ thông minh và bất khuất, đấu tranh cho những tư tưởng của chủ nghĩa cộng sản. Nhân dân Liên Xô hiểu biết và tin yêu đồng chí, coi Ghê-oóc-ghi Đi-mi-tơ-rốp là đồng chí, là anh em.

Mặc dầu Bộ tổng tham mưu hầu như không có quan hệ gì trực tiếp với vị Tổng bí thư Ban chấp hành Quốc tế cộng sản và cũng là Chủ tịch Ban lãnh đạo hải ngoại của Đảng công nhân Bun-ga-ri, nhưng chúng tôi, những sĩ quan trong Bộ tổng tham mưu còn nhớ rằng, chỉ mấy tiếng đồng hồ sau khi thảo luận trong điện Crem-li về tình thế mới nảy sinh do nước Đức Hít-le tập kích vào Liên Xô, Gh. M. Đi-mi-tơ-rốp đã triệu tập một cuộc họp của Ban bí thư Quốc tế cộng sản quyết định triển khai chiến dịch của quảng đại quần chúng nhằm chi viện cho Liên Xô, tổ chức ở châu Âu một phong trào giải phóng dân tộc mạnh mẽ chống bọn chiếm đóng phát-xít Đức, chống lại sự phụ thuộc vào nước Đức quốc xã.

Hồi ấy, tất cả chúng tôi đều thực sự cảm thấy rằng đất nước xô-viết không đơn độc, rằng cuộc đấu tranh của nhân dân Liên Xô đã hòa chung thành một mặt trận thống nhất cùng với các dân tộc khác chiến đấu chống kẻ thù đáng ghét.
____________________________________________________
* Các anh hùng Síp-ca là những người tham gia cuộc chiến tranh Nga-Thổ nãm 1877-1878. Các đơn vị quân Nga và các đội dân binh Bun-ga-ri đã tỏ ra xuất sắc trong các trận chiến đấu chống quân Thổ ở đèo Síp-ca. Thắng lợi cúa quân Nga trong cuộc chiến tranh này đã đảm bảo nền độc lập của Ru-ma-ni, Xéc-bi-a và Tséc-nô-gô-ri-a cũng như việc giải phóng Bun-ga-ri khỏi ách thống trị cúa Thổ Nhĩ Kỳ. — BT.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Giêng, 2016, 04:07:58 pm

Ban chấp hành Quốc tế cộng sản đã đề nghị thành lập, rồi sau đó trên thực tế đã tổ chức ra một đơn vị quốc tế gồm các kiều dân lưu trú chính trị của nhiều nước. Trong đơn vị ấy có người Tây Ban Nha, Séc, Xlô-vác, Ba Lan, Bun-ga-ri, Hy Lạp, Ru-ma-ni, Đức, Áo, Anh và các đại biểu của nhiều dân tộc khác. Đơn vị này được đưa vào biên chế của Lữ đoàn bộ binh cơ giới độc lập làm nhiệm vụ đặc biệt. Gh. M. Đi-mi-tơ-rốp trực tiếp lãnh đạo lữ đoàn này về mặt chính trị.

Tháng Mười 1941, theo đề nghị của Gh. M. Đi-mi-tơ-rốp, đồng chí I-van Vi-na-rốp, sau này trở thành nhà hoạt động nổi tiếng của nước Bun-ga-ri nhân dân, được cử làm chỉ huy phó lữ đoàn. Việc lựa chọn ấy có cân nhắc kỹ. I. Vi-na-rốp là một nhà cách mạng Bun-ga-ri. Trước đây, đồng chí buộc phải rời bỏ Tổ quốc và lưu vong sang Liên Xô. Đồng chí đã tốt nghiệp Học viện quân sự mang tên M. V. Phrun-de và được phong quân hàm đại tá Hồng quân. Sau đó, đồng chí làm việc trong cơ quan của Quốc tế cộng sản và trong Ban lãnh đạo hải ngoại của Ban chấp hành trung ương Đảng công nhân Bun-ga-ri. Hàng tuần, đồng chí thường đến trụ sở Quốc tế cộng sản gặp Gh. M. Đi-mi-tơ-rốp báo cáo tình hình các chiến sĩ trong quân đội quốc tế và nhận chỉ thị cùng những lời chỉ bảo của Đi-mi-tơ-rốp.

Lữ đoàn tham gia trực tiếp vào việc phòng thủ Mát-xcơ-va và làm các công tác phục vụ chiến đấu trong thành phố. Tình hình không đòi hỏi phải đưa cả lữ đoàn tham gia chiến đấu, nhưng từng phân đội, kể cả phân đội các chiến sĩ quốc tế, đã tham gia những trận đánh tại những đường tiếp cận vào thủ đô. Nhiều chiến sĩ trong đơn vị quốc tế này đã tham gia các nhóm trở về nước hoạt động bí mật: tổ quốc cần tới sự giúp đỡ của họ trong cuộc đấu tranh chống bọn chiếm đóng Hít-le.

Gh. M. Đi-mi-tơ-rốp đã nhìn thấy trước ngày tận số nhục nhã của bọn xâm lược phát-xít Đức, những biến đổi xã hội sâu sắc trong các nước và sự cần thiết phải xây dựng lực lượng vũ trang mới ở các nước ấy. Các đồng chí trước đây từng làm việc trong Ban bí thư Ban chấp hành Quốc tế cộng sản nhớ lại rằng, có lần đồng chí nói: «Điều rất quan trọng đối với người đảng viên cộng sản là phải nắm được, dù là những điều sơ đẳng về công tác quân sự. Chúng ta rồi sẽ trở về đất nước, và chúng ta không phải chỉ có hoạt động chính trị mà còn phải thành lập cả quân đội nữa»(1).

Tình hình chính trị ở trong nước Bun-ga-ri phát triển cho phép Gh. M. Đi-mi-tơ-rốp rút ra kết luận ngay từ tháng Sáu 1944: sẽ có một cuộc khủng hoảng sâu sắc xảy ra, mà nguyên nhân của nó là do chính sách phản bội nhân dân của chính phủ Ba-gri-a-nốp. Trong một buổi phát thanh của thông tấn xã «Khri-xtô Bô-tép», Gh. M. Đi-mi-tơ-rôp tuyên bố rằng, chính phủ thân phát-xít đại biểu cho những quyền lợi của Hít-le và bọn tay sai của chúng ở Bun-ga-ri đang lừa bịp nhân dân. Nhưng, chính phủ ấy không thể «hành động sao cho con sói thì no nê mà con cừu không bị sây sát» được. Gh. M. Đi-mi-tơ-rốp còn báo trước rằng, tình hình trong nước, tinh thần của nhân dân và quân đội sẽ không hứa hẹn một điều gì tốt lành cho cả Ba-gri-a-nôp lẫn bọn Hít-le(2) vì chính phủ phát-xít Bun-ga-ri đang xô đẩy đất nước vào vực thẳm của tai họa.

Bộ tổng tham mưu xô-viết chú ý nghiên cứu những kết quả hoạt động to lớn của Đảng công nhân Bun-ga-ri và biết rằng ở Bun-ga-ri đang phát triển một phong trào du kích rộng lớn và được tổ chức tốt. Năm 1944, Bun-ga-ri có Quân đội khởi nghĩa giải phóng dân tộc của Mặt trận Tổ quốc, quân số tới 18000 người. Đứng về quy mô của Bun-ga-ri thì như vậy là nhiều. Quân đội của những người khởi nghĩa đã tạo thành một mặt trận thực sự ở bên trong đất nước Bun-ga-ri trên khắp lãnh thổ, giam chân quân đội của chế độ quân chủ thân phát-xít, bọn cảnh sát và binh lính đồn trú của Hít-le. Trong các xí nghiệp, cơ quan, quân đội, ở thành phố và nông thôn, còn có cả một hệ thống các tổ chiến đấu đang hoạt động, tới 12000 chiến sĩ. Ngoài ra, lại phải tính thêm hơn 200000 dân quân đang giúp đỡ các chiến sĩ du kích. Mọi âm mưu của chính phủ thân phát-xít ở Bun-ga-ri định dùng sức mạnh của vũ khí đàn áp phong trào, đều bị các chiến sĩ du kích làm cho thất bại.
________________________________________________
1. Báo «Sự nghiệp công nhân» (cơ quan ngôn luận cúa Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Bun-ga-ri), ngày 12 tháng Ba 1972.
2. Gh. Đi-mi-tơ-rốp. Tuyến tập. Xô-phi-a, 1969, t. 42, tr. 52-53.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Giêng, 2016, 04:14:00 pm

*
* *

Bộ tổng tham mưu đã tính toán tất cả những vẫn đề trên và coi đó là nhân tố thuận lợi của tình hình.

Cũng không thể không tính đến việc Bun-ga-ri không chính thức ở trong tình trạng chiến tranh chống Liên Xô. Nhưng chính phủ phát-xít ở Bun-ga-ri mặc dù không dám bước vào con đường nguy hiểm nói trên, nhưng lại liên minh với nước Đức phát-xít và giúp đỡ chúng mọi thứ có thể. Quân đội Hít-le đã sử dụng lãnh thổ và các phương tiện giao thông vận tải của Bun-ga-ri, quân đội Bun-ga-ri giúp quân Đức chiếm đóng các vùng đất đai ở Nam Tư và Hy Lạp, tạo điều kiện cho bộ chỉ huy Hít-le rút quân của chúng sang hoạt động trên chiến trường Xô - Đức. Bè lũ tay sai của Hít-le ở Bun-ga-ri đàn áp tàn bạo các chiến sĩ du kích và những người yêu nước khác.

Các sĩ quan trong Bộ tổng tham mưu theo dõi hoạt động của phương diện quân Ư-crai-na 3 tất nhiên là chịu gánh nặng chính về việc lập kế hoạch các chiến dịch ở Bun-ga-ri. Thiếu tướng C. Ph. Va-xin-tren-cô, một người thông minh, lúc nào cũng sằn sàng cung cấp nhiều ý kiến hay, phụ trách tổ sĩ quan trên hướng này. Một hôm, khi báo cáo với tôi về các kế hoạch chiến dịch, đồng chí nhận xét qua rằng theo ý kiến của đồng chí thì bộ chỉ huy Đức sẽ không ngờ rằng bộ đội Liên Xô sẽ quặt xuống đánh vào Bun-ga-ri. Tôi đề nghị đồng chí luận chứng cho ý kiến này. Nếu như nước Đức Hít-le không ngờ chúng ta sẽ đánh vào Bun-ga-ri thì ắt chúng sẽ không tổ chức phòng ngự vững chắc tại đây. Và khi tiến công, chúng ta có thể dựa vào yếu tố bất ngờ đó cùng với những kết quả của nó.

C. Ph. Va-xin-tren-cô còn chú ý tới những thủ đoạn quanh co lén lút của chính phủ I. Ba-gri-a-nốp mà chúng tôi đã biết. Một số đại biểu trong chính phủ đó đang đi vào điều đình ngầm với Anh-Mỹ.

Tất cả những thủ đoạn lén lút đó của Ba-gri-a-nốp đều nhằm ngăn chặn Hồng quân tiến vào Bun-ga-ri, — Va-xin-tren-cô báo cáo. — Bằng chứng cho nhận xét này là bọn đầu sỏ Hít-le cho đến nay vẫn chưa nghĩ tới việc rời khỏi Bun-ga-ri và chúng vẫn cảm thấy ở đây còn yên ổn. Có lẽ, chúng cho rằng Liên Xô sẽ không vi phạm nền trung lập giả của Ba-gri-a-nôp được củng cố bằng hòa ước riêng rẽ với các đồng minh của chúng ta.

Mọi ý kiến của đồng chí đều trúng với những suy nghĩ của riêng tôi. Nhưng, rồi sẽ báo cáo những ý kiến ấy với cấp trên ra sao? Vì nếu chỉ dựa vào sự phân tích thuần túy về mặt quân sự thì không ổn. Tuy nhiên, tôi vẫn báo cáo cho A. I. An-tô-nốp biết, và đồng chí quyết định cứ báo cáo lên Tổng tư lệnh tối cao.

Trong khi ấy, các sự kiện tiếp tục phát triển nhanh. Các đơn vị quân phát-xít Đức bị tiêu diệt ở I-át-xư và Ki-si-ni-ốp đã buộc Ba-gri-a-nốp phải lìa bỏ giấc mộng vẫn ấp ủ là dựa vào sự chi viện quân sự của Hít-le để cứu vãn tình thế của chế độ phát-xít ở Bun-ga-ri. Hy vọng vào sự chi viện đó là điều không tưởng. Quần chúng nhân dân Bun-ga-ri ở trong nước lại đang căm thù bọn cầm quyền đáng ghét và chế độ phát-xít. Thời gian bùng nổ cách mạng đã chín muồi. Trong khi ấy, Hồng quân đang tiến công như vũ bão trên đất Ru-ma-ni, nơi đã bùng nổ cuộc khởi nghĩa của nhân dân, và đang tới gần biên giới phía Bắc Bun-ga-ri.

Ngày 26 tháng Tám 1944 Đảng công nhân Bun-ga-ri thông qua nghị quyết trực tiếp chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang của nhân dân Bun-ga-ri. Nghị quyết ấy phù hợp với tình hình và được bảo đảm bằng những khả năng hiện thực. Ban chấp hành trung ương Đảng công nhân Bun-ga-ri đã ra thông tri số 4, một thông tri có ý nghĩa lịch sử, yêu cầu các đảng viên cộng sản phải phát động hết thảy các lực lượng chống phát-xít đứng lên đấu tranh kiên quyết và dũng cảm, đánh đuổi các đơn vị Hít-le, lật đổ các bộ trưởng phát-xít, thành lập chính phủ của Mặt trận Tổ quốc và chính quyền dân chủ- nhân dân.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Giêng, 2016, 04:17:37 pm

Gh. M. Đi-mi-tơ-rốp thường vẫn có sự trao đổi ý kiến với I. V. Xta-lin, ngày hôm sau đã gửi chỉ thị cho Bộ tổng tham mưu các lực lượng du kích, nhưng chính là gửi cho Ban chấp hành trung ương Đảng công nhân Bun-ga-ri, yêu cầu phải đoàn kết mọi lực lượng nhân dân xung quanh ủy ban dân tộc Mặt trận Tổ quốc, tước vũ khí các đơn vị quân phát-xít Đức và bọn Giét-xta-pô, kiên quyết thủ tiêu mọi hoạt động chống lại Mặt trận Tổ quốc và Hồng quân, thành lập chính phủ của Mặt trận Tổ quốc. Trong chỉ thị còn dành một điểm riêng nói rõ: «Nhân dân Bun-ga-ri và các lực lượng vũ trang của Bun-ga-ri phải kiên quyết đứng về phía Hồng quân, quân đội của những người giải phóng Bun-ga-ri thoát khỏi ách chiếm đóng của bọn Đức, và sẽ cùng với Hồng quân quét sạch bọn ăn cướp Hít-le cùng bè lù tay sai đê hèn của chúng ra khỏi đất đai Bun-ga-ri»(1).

Vậy là, cương lĩnh đấu tranh cách mạng của nhân dân Bun-ga-ri cầm vũ khí chống lại chế độ phát-xít hiện hành ở trong nước đã được xác định rõ ràng. Các đảng viên cộng sản Bun-ga-ri lãnh đạo các lực lượng cách mạng, bắt tay vào thực hiện ngay tại chỗ các chỉ thị của đồng chí Đi-mi-tơ-rôp.

Mặc dầu đang đứng trước hoàn cảnh bế tắc, song chính phủ Ba-gri-a-nốp vẫn tiếp tục giữ chính sách hợp tác với bọn Hít-le và chống lại các lực lượng của Mặt trận Tổ quốc. Bộ tổng tham mưu Liên Xô có những chứng cớ xác đáng rằng, viện binh Đức đang mượn đường đi qua Bun-ga-ri tới Ru-ma-ni để ứng cứu cho các đơn vị quân phát-xít Đức. Chúng tôi báo cáo những tin tức trên cho Đại bản doanh, và ngày 30 tháng Tám, Chính phủ Liên Xô gửi thông điệp cho chính phủ Bun-ga-ri yêu cầu phải đình chỉ ngay việc cho quân Đức mượn đường tiến vào Ru-ma-ni. Ba-gri-a-nốp bị kẹt giữa hai ngọn lửa, không tìm ra lối thoát nào khác, bèn xin từ chức.

Đất nước Bun-ga-ri hai ngày không có chính phủ. Ngày 2 tháng Chín 1944, chính phủ mới của C. Mu-ra-vi-ép được thành lập. Lên nắm chính quyển, Mu-ra-vi-ép đọc bản tuyên bố của chính phủ trước đài phát thanh Xô-phi-a, công bố chấm dứt chính sách của chính phủ cũ mà nhân dân Bun-ga-ri không bao giờ tán thành. Ông ta tuyên bố khôi phục lại tất cả các quyền tự do dân chủ của nhân dân Bun-ga-ri, công bố ân xá triệt để và tuyệt đối tất cả những người trước đây bị bắt, vì lý do chống lại chế độ độc tài ở Bun-ga-ri và chống lại chính quyền liên minh với nước Đức. Mu-ra-vi-ép còn tuyên bố sẽ giải tán mọi tổ chức phát-xít và trong lĩnh vực chính sách đối ngoại sẽ thực hiện đường lối trung lập nghiêm chỉnh và tuyệt đối, tước vũ khí mọi đơn vị quân Đức đi qua lãnh thổ Bun-ga-ri cũng như những đơn vị đang đóng quân trên đất nước Bun-ga-ri. Ông ta còn hứa sẽ tiến hành đàm phán với Anh và Mỹ để tìm cách giúp Bun-ga-ri thoát khỏi chiến tranh, và đặc biệt còn nói rõ thêm rằng, một trong những nhiệm vụ chủ yếu nhất của chính phủ là kiến lập những mối quan hệ tin cậy với nước Nga.

Thế nhưng, ít lâu sau đã lộ rõ những lời tuyên bố trên của chính phủ mới chỉ là lừa bịp. Bộ tổng tham mưu Liên Xô có những tin tức chính xác về các tàu chiến Đức ra vào các bến cảng ở Bun-ga-ri, hàng ngàn binh lính Hít-le còn đang ẩn nấp trong nước Bun-ga-ri, trốn tránh sự truy nã của Hồng quân. Quân địch dựa vào các tàu ngầm đậu tại các bến cảng của Bun-ga-ri, vẫn tiếp tục uy hiếp tàu bè của Liên Xô qua lại Biển Đen và uy hiếp mạnh sườn phía ven biển của quân đội Liên Xô. Tất cả những tình hình trên buộc chúng ta phải đẩy mạnh tốc độ sẵn sàng tiến quân vào lãnh thổ Bun-ga-ri.

Bộ tổng tham mưu soạn thảo kế hoạch tiến hành các chiến dịch ở Bun-ga-ri và báo cáo cho Đại bản doanh. Thực chất kế hoạch đó như sau. Các lực lượng của phương diện quân U-crai-na 3, Hạm đội Biển Đen và Chi hạm đội Đa-nuýp sẽ phối hợp mở chiến dịch tiến công tiêu diệt địch trên lãnh thổ Bun-ga-ri và trên các vùng hải phận lân cận, lấy khu vực phía Nam Đô-brút-gi làm khu vực xuất phát, còn mũi đột kích chủ yếu sẽ đánh vào Ai-tô-xơ, Bua-rơ-gát. Một số binh đoàn của cụm xung kích phương diện quân phối hợp với Hạm đội Biển Đen đánh chiếm các bến cảng rất quan trọng là Vác-na và Bua-rơ-gát — nơi đỗ các tàu chiến địch. Khi báo cáo ý định chiến dịch, A. I. An-tô-nốp không quên nhắc đến khả năng sẽ giành được yếu tố bất ngờ, nếu quân địch không dự phòng ta đánh vào Bun-ga-ri.
_________________________________________
1. Gh. Đi-mi-tư-rốp. Tuyển tập, tiếng Nga, t. 2, tr. 35-36.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Giêng, 2016, 05:09:55 pm

Không bác bỏ những dự kiến của Bộ tổng tham mưu, I. V. Xta-lin nói: chúng ta cần chuẩn xác tình hình tại chỗ và kết thúc tại đó việc bổ sung kế hoạch chiến dịch. Nhằm mục đích ấy, đồng chí lệnh cho Gh. C. Giu-cốp đến các đơn vị của phương diện quân U-crai-na 2 và 3 trực tiếp nghiên cứu kế hoạch cùng với các tư lệnh phương diện quân và nguyên soái X. C. Ti-mô-sen-cô, đại diện của Đại bản doanh đang công tác tại các phương diện quân này. Xta-lin góp ý với Giu-cốp trước khi đi nên đến gặp và lấy ý kiến của Gh. M. Đi-mi-tơ-rốp, rồi đồng chí lại trực tiếp gọi điện nói chuyện với Gh. M. Đi-mi-tơ-rốp báo tin Giu-cốp sắp tới tiếp kiến. Buổi gặp gỡ diễn ra thật bổ ích.

Gh. C. Giu-cốp mỗi khi nhận nhiệm vụ thường ra đi ngay không chút chậm trễ. Vừa đến nơi, đồng chí liền bắt tay ngay vào công việc. Theo quy tắc thông thường của nghệ thuật quân sự, đồng chí bắt đầu từ việc tìm hiểu các tin tức về địch và phát hiện ra rằng, tình hình ở phía trước phương diện quân của Ph. I. Tôn-bu-khin chưa được nghiên cứu đầy đủ. Bun-ga-ri là nước nằm xa các đường lớn của chiến tranh, về hình thức không phải là kẻ thù của ta. Chúng ta lại hiểu biết về quân phát-xít Đức nhiều hơn là quân đội Bun-ga-ri. Chúng ta chỉ biết rằng bộ phận chủ yếu của các đơn vị quân Bun-ga-ri bố trí ớ phía giữa và phía Tây đất nước, một phần lớn lực lượng của Bun-ga-ri đóng quân ở Hy Lạp và Nam Tư, còn những vùng ở phía Bắc Bun-ga-ri thì cả phương diện quân, lẫn Bộ tổng tham mưu đều chưa biết một cách cặn kẽ. Tất nhiên, tình hình đó đã được nhanh chóng bổ khuyết ngay.

Chiến dịch được chuẩn bị gấp. Nếu như trước đây bộ chỉ huy Đức và chính phủ Bun-ga-ri thân Hít-le không ngờ Hồng quân sẽ tiến quân vào lãnh thổ Bun-ga-ri, thì lúc này vào đầu tháng Chín, chúng sẽ dễ dàng phát hiện thấy một cụm quân lớn của Liên Xô đang được tập trung tới đây. Vì vậy, nếu chậm trễ tức là sẽ bỏ lỡ mất yếu tố bất ngờ hành động. Nhưng, như thường xảy ra trong chiến tranh, tình huống buộc chúng ta phải chờ đợi thêm một thời gian. Cần phải cấp nhiên liệu cho các đơn vị, nếu không thì xe chiến đấu, xe tăng không thể tiến quân được. Cũng vì lý do này mà ở một tập đoàn quân, pháo binh đã bị rớt lại sau. Cuối cùng, chúng ta còn cần thêm một số thời gian để tổ chức, bố trí lại lực lượng.

Đến cuối ngày 4 tháng Chín, kế hoạch hành động của các đơn vị được chuẩn bị xong và về cơ bản vẫn giữ các ý kiến đề nghị của Bộ tổng tham mưu. X. C. Ti-mô-sen-cô lúc này bị ốm, không tham gia công tác.

Bây giờ tình hình ở Bun-ga-ri ngày một phức tạp thêm. Các đơn vị của Cụm tập đoàn quân «Nam U-crai-na» của Đức bị đánh tan, vẫn ngang nhiên rút quân qua lãnh thổ Bun-ga-ri mà không gặp trở ngại gì từ phía các nhà cầm quyền Bun-ga-ri, mấy chục tàu chiến Đức còn ẩn náu tại các bến cảng Bun-ga-ri, các đơn vị quân Đức tập trung ở các vùng Xô-phi-a, Xli-vơ-nít-xa, Bre-dơ-nít. Đại sứ Đức ở Bun-ga-ri tuyên bố với chính phủ Bun-ga-ri rằng, quân Đức trong thời gian trước mắt chưa có ý định bỏ Bun-ga-ri. Bộ tổng tham mưu Xô-viết được tin rằng đến giờ chót, bọn Hít-le có thể tiến hành một cuộc đảo chính ở Bun-ga-ri và lôi kéo nước này vào chiến tranh chống lại Liên Xô.

Vì các hoạt động trên biển có tầm quan trọng to lớn đối với kết cục thắng lợi của chiến dịch mở trên lãnh thổ Bun-ga-ri nên Đại bản doanh đã cử đô đốc N. Gh. Cu-dơ-nét-xốp tới trợ giúp Giu-cốp và Tôn-bu-khin. Hạm đội Biển Đen do đô đốc Ph. X. Ồc-chi-áp-rơ-xki chỉ huy và Chi hạm đội Đa-nuýp do X. G. Goóc-scốp đứng đầu, trong thời gian này được phối thuộc về mặt chiến dịch cho phương diện quân U-crai-na 3. Nhiệm vụ chủ yếu của hạm đội là không cho các tàu chiến địch chạy thoát khỏi Bun-ga-ri, phối hợp với bộ binh đánh chiếm các bến cảng Vác-na và Bua-rơ-gát. Hạm đội phải cho quân đổ bộ đường biển chiếm giữ các bến cảng của Bun-ga-ri để đón các đơn vị của Tôn-bu-khin. Chiến dịch được quy định bắt đầu vào ngày 10 tháng Chín.

Kế hoạch bổ sung về chiến dịch tại lãnh thổ Bun-ga-ri được Đại bản doanh duyệt y ngày 5 tháng Chín. Cũng trong ngày hôm ấy, Chính phủ Liên Xô gửi thông điệp cho chính quyền Bun-ga-ri, nói rằng:

«Chính phủ Liên Xô chỉ có thể coi chính sách hiện hành của Bun-ga-ri là thực sự đứng về phe Đức tiến hành chiến tranh chống lại Liên Xô, mặc dầu tình hình quân sự của nước Đức về cơ bản đã xấu hẳn, mặc dầu Bun-ga-ri lúc này hoàn toàn có khả năng cắt đứt liên hệ với nước Đức, cứu đất nước khỏi bị diệt vong» (1).

7 giờ tối cùng ngày hôm đó, bức thông điệp của Chính phủ Liên Xô được trao cho công sứ Bun-ga-ri ở Mát-xcơ-va và viên sứ giả này lập tức gửi ngay về nước.
_______________________________________
1. Chính sách đỗi ngoại của Liên Xô trong thời kỳ Chiến tranh giữ nước, tiếng Nga, t. II, tr. 182-183.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Giêng, 2016, 05:10:33 pm

Ít lâu sau khi ở Bun-ga-ri biết việc này, Ban chấp hành trung ương Đảng công nhân Bun-ga-ri triệu tập một cuộc họp bất thường cùng với Bộ tham mưu quân khởi nghĩa. Kế hoạch tiến hành khởi nghĩa được thông qua. Mùi tập kích chủ yếu đánh vào Xô-phi-a trong đêm rạng ngày 9 tháng Chín. Cuộc khởi nghĩa phải được chuẩn bị bằng những cuộc bãi công và biểu tình lớn của nhân dân lao động thủ đô. Đồng chí Tô-đo Gíp-cốp, nhà hoạt động lỗi lạc của Đảng công nhân Bun-ga-ri, được giao nhiệm vụ lãnh đạo chính trị, chiến đấu và cả công tác bảo vệ các cuộc biểu tình. Để lãnh đạo các lực lượng vũ trang khởi nghĩa của nhân dân tại thủ đô, đảng đã thành lập bộ tác chiến của đảng do đồng chí Tô-đo Gíp-cốp lãnh đạo. Các đồng chí Xtan-cô Tô-đo-rôp, Vla-đi-mia Bô-nép, I-van Bô-nép là ủy viên của bộ tác chiến. Những cuộc bãi công bắt đầu nổ ra ngay từ ngày 6 tháng Chín 1944.

Chính phủ C. Mu-ra-vi-ép hoảng hốt. Rạng ngày 6 tháng Chín các đại biểu của chính phủ Bun-ga-ri tới gặp đồng chí đại biện của Liên Xô ở Xô-phi-a, đề nghị thông báo cho Chính phủ Liên Xô biết là Bun-ga-ri cắt đứt các mối quan hệ với nước Đức và xin điều đình. Đây là một đề nghị quan trọng.

Khi Mát-xcơ-va nhận được đề nghị của chính phủ Bun- ga-ri, I. V. Xta-lin liền hội ý với các đồng chí hiện đang có mặt tại Đại bản doanh, rồi nói chuyện bằng điện thoại với Gh. M. Đi-mi-tơ-rốp và gọi điện cho Giu-côp, chỉ thị rằng trong khi chờ đợi, để tìm hiểu rõ thêm tình hình, sẽ tạm thời hạn chế cuộc tiến quân của phương diện quân U-crai-na 3 tới tuyến Đơ-giuốc-du, Ra-giơ-grát, Su-men, Đưn-gô-pôn, bờ Bắc sông Ca-men. Đồng chí kể lại các sự kiện xảy ra ở Bun-ga-ri, tình hình quân khởi nghĩa, nói rằng cuộc khởi nghĩa của nhân dân sắp nổ ra và đã đến lúc chính phủ Mu-ra-vi-ép phải có những quyết định cơ bản: phải nghĩ tới mai sau.

Hội đồng quân sự phương diện quân U-crai-na 3 liên hệ với Quân đội khởi nghĩa giải phóng nhân dân Bun-ga-ri, với các ban chấp hành đảng bộ của Đảng công nhân Bun-ga-ri tại các vùng biên giới. Lời kêu gọi của các đảng viên cộng sản Bun-ga-ri hô hào nhân dân đứng lên phối hợp với Hồng quân quét sạch bọn cướp Hít-le ra khỏi Tổ quốc, vang vọng khắp đất nước Bun-ga-ri. Trong khi cuộc khởi nghĩa của nhân dân ở trong nước đã chín muồi, thì bộ đội Liên Xô ở biên giới phía Bắc đã sẵn sàng tiến vào lãnh thổ Bun-ga-ri.

Đứng trước tình thế không còn lối thoát nào khác, chính phủ C. Mu-ra-vi-ép ngàv 7 tháng Chín đã tuyên bố chính thức cắt đứt các quan hệ với Đức và ngày 8 tháng Chín tuyên chiến với nước Đức. Lúc nàv, Chính phủ Liên Xô nhận sẽ xem xét đề nghị điều đình của Bun-ga-ri.

Tất cả những sự kiện trên có quan hệ trực tiếp tới công tác của Bộ tổng tham mưu. Tôi còn nhớ, hồi đó những buổi báo cáo ban đêm về tình hình các mặt trận thường có mặt nhiều đồng chí ủy viên của Đại bản doanh và Hội đồng quốc phòng Nhà nước, vì phải thảo luận và quyết định những vấn đề thuộc về tình hình quân sự và chính trị.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Giêng, 2016, 05:11:06 pm

Tiếp sau đó, chúng tôi nhận được điện trả lời của Gh. C. Giu-cốp : mệnh lệnh hạn chế cuộc tiến quân tới tuyến định trước, đã chuyển ngay cho đích thân các đồng chí Tôn-bu-khin và Oc-chi-áp-rơ-xki chấp hành. Các đơn vị phải đi trước bắt đầu hành động lúc 11 giờ ngày 8 tháng Chín: tiếp đó, các lực lượng chủ yếu bắt đầu tiến công. Giu-cốp trực tiếp đi với bộ đội của Ga-ghen và Sa-rô-khin để kiểm tra sự sẵn sàng hành động của các tập đoàn quân.

Sự thông minh của người thống soái là không bao giờ bó hẹp trong phạm vi tình huống diễn biến lúc đó, mà luôn luôn cố gắng đi sâu vào những diễn biến sau này, biết nhìn xa tới các kết quả của chiến dịch. Gh. C. Giu-cốp đương nhiên là một người thống soái như thế. Sau khi báo cáo việc thực hiện chính xác các chỉ thị của Đại bản doanh, đồng chí còn cố gắng nhìn xa lên phía trước và đề nghị lên cấp trên những ý kiến của mình, những ý kiến dựa vào các điều kiện tình huống có thực.

«Phương diện quân U-crai-na 3, — đồng chí báo cáo,— sau khi tiến ra tuyến Ru-xúc, Ra-giơ-grát, Su-men, Vác-na nếu như không tiếp tục tiến công nữa, thì phương diện quân của Tôn-bu-khin cần mở rộng theo dọc sông Đa-nuýp tới Tuốc-nu Xe-ve-rin, để Ma-li-nốp-xki và các binh đoàn của đồng chí khỏi phải phòng ngự ở khu vực Đơ-giuốc-du, Tuốc- nu Xe-ve-rin.

Khi các đơn vị của Tôn-bu-khin tới khu vực Tuốc-nu Xe-ve-rin, Ca-la-phát thì có thể cho một tập đoàn quân tăng cường vượt sông Đa-nuýp làm nhiệm vụ cắt con đường sắt Bê-ô-grát — Xa-lô-ních và chiếm tuyến Bê-ô-grát, Pa-ra- chin, Cơ-nhi-a-de-vát, Lôm».

Bộ đội của phương diện quân U-crai-na 3 bố trí như vậy, theo ý kiến của nguyên soái, sẽ bảo đảm tốt cho chiến dịch của phương diện quân U-crai-na 2 đánh Hung-ga-ri, chi viện được cho Quân đội giải phóng nhân dân Nam Tư, và buộc quân Đức phải bỏ lại Hy Lạp.

Tư tưởng cơ bản của các đề nghị trên trùng hợp với những ý kiến của Bộ tổng tham mưu về sự phát triển của các sự kiện sau này. Tổng tư lệnh tối cao nắm được những ý kiến của các cán bộ Bộ tổng tham mưu, nên khi Gh. C. Giu- cốp gửi lên đồng chí các đề nghị của mình, đồng chí liền chuyển sang cho chúng tôi nghiên cứu. Các ý kiến trên đã được cân nhắc tới, khi bắt tay vào soạn thảo kế hoạch tiến hành các chiến dịch trên lãnh thổ Nam Tư.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Giêng, 2016, 05:11:30 pm

...Ngày 8 tháng Chín, đúng 11 giờ trưa, bộ đội của phương diện quân U-crai-na 3 tiến lên phía trước. Chi đội mô-tô cơ giới đi đầu vượt qua biên giới, và một tiếng đồng hồ sau, các sư đoàn bộ binh cũng tiến theo. Những người lính biên phòng Bun-ga-ri không kháng cự lại. Sư đoàn bộ binh Bun-ga-ri bố trí ở khu vực Đô-brích cũng không nổ một tiếng súng. Ngoài ra, binh sĩ Bun-ga-ri còn tỏ nhiều dấu hiệu thiện cảm với bộ đội Liên Xô. Nhân dân các địa phương mang bánh mì và muối ra đón tiếp các chiến sĩ và sĩ quan Liên Xô. Nhân dân xuống đường chào mừng Hồng quân đi qua. Các sĩ quan Bun-ga-ri nhanh chóng tiếp xúc với các cán bộ chỉ huy của Hồng quân. Họ cho biết rằng, họ nhận được lệnh của Bộ tổng tư lệnh Bun-ga-ri, cấm không được giao chiến với Hồng quân.

Các quân đoàn cơ giới 4 và 7 bắt đầu tiến quân lúc 18 giờ, dự kiến đến đêm sẽ vượt các đơn vị bộ binh. Hạm đội Biển Đen cho các chiến sĩ thủy quân lục chiến đổ bộ vào cảng Vác-na.

Chính phủ tư sản Bun-ga-ri buộc phải thực sự cắt đứt quan hệ với nước Đức phát-xít. Ngay sau khi Chính phủ Liên Xô nhận được những bằng chứng xác minh là Bun-ga-ri đã cắt đứt quan hệ với Đức, thì Gh. C. Giu-cốp, N. Gh. Cu- dơ-nét-xốp, Ph. I. Tôn-bu-khin và Ph. X. Ốc-chi-áp-rơ-xki cũng nhận được bức điện hồi 19 giờ ngày 9 tháng Chín: «Chính phủ Bun-ga-ri cắt đứt quan hệ với Đức, tuyên bô chiến tranh với nước Đức và đề nghị Chính phủ Liên Xô bắt đầu đàm phán đình chiến, nên Đại bản doanh Bộ tổng tư lệnh tối cao chiểu theo các chỉ thị của Hội đồng quốc phòng Nhà nước ra lệnh: đến 21 giờ ngày 9 tháng Chín sẽ kết thúc chiến dịch chiếm lĩnh các vùng dân cư quy định theo kế hoạch và từ 22 giờ ngày 9 tháng Chín sẽ đình chỉ chiến sự ở Bun-ga-ri...»

Ở Xô-phi-a và những vùng then chốt khác ở Bun-ga-ri phía bên kia tuyến đóng quân của bộ đội xô-viết, trong đêm rạng ngày 9 tháng Chín, đã xảy ra những sự kiện quyết định của cuộc khởi nghĩa nhân dân do Đảng công nhân Bun-ga-ri lãnh đạo. Như mọi người đều biết, các sự kiện ấy đã kết thúc bằng thắng lợi huy hoàng của nhân dân.

Chúng tôi nhanh chóng nhận được tin thắng lợi của cuộc khởi nghĩa nhân dân Bun-ga-ri. liền theo đó là tin thành lập Hội đồng bộ trưởng mới do Ki-môn Ghê-oóc-ghi-ép đứng đầu. Sáng hôm ấy, Ghê-oóc-ghi-ép phát biểu trên đài phát thanh, tuyên bố thành phần của nội các mới và đọc lời kêu gọi gửi nhân dân Bun-ga-ri. Chính phủ cử ra đoàn đại biểu đi ký kết đình chiến với Liên Xô. Ở trong nước, quyền tự do chính trị được khôi phục; chính quyền mới bắt giữ các thành viên của chính phủ cũ, những kẻ đã từng tiến hành chính sách phản lại nhân dân trước đây.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Giêng, 2016, 01:41:23 pm
Tất cả những tin tức trên đều là tin vui, đáng phấn khởi. Thế nhưng, chúng tôi vẫn chưa thể định hướng được dứt khoát, vì các tin tức về các sự kiện ở Bun-ga-ri rõ ràng vẫn chưa đủ để có thể rút ra những kết luận về quân sự. Trong lúc ấy, điều rất quan trọng là Bun-ga-ri, sau khi cắt đứt liên minh với bọn Hít-le, đã tham gia cuộc chiến tranh giải phóng vĩ đại chống lại nước Đức phát-xít. Đồng thời, cần phải làm vô hiệu hóa các lực lượng phản động và không cho chúng gây ra cuộc nội chiến ở trong nước. Những tin tức chúng ta nhận được lúc này chưa cho phép chúng ta xác định được hoàn toàn rõ ràng xem bộ máy nhà nước cũ ở Bun-ga-ri có bị phá vỡ hay không, lập trường của bộ chỉ huy tối cao quân đội Bun-ga-ri lúc này ra sao và sau này sẽ như thế nào, Đảng công nhân Bun-ga-ri giữ vai trò gì hiện nay và sắp tới đây trong quân đội. Chúng tôi vững tin rằng, Đảng công nhân Bun-ga-ri sẽ giữ vững tay lái lãnh đạo cuộc khởi nghĩa của nhân dân và sẽ biết áp dụng những biện pháp cần thiết để bình thường hóa đời sống trong nước, xây dựng chế độ nhà nước đáp ứng các quyền lợi của nhân dân.

Thế nhưng, chúng tôi vẫn chưa thật rõ về thành phần của chính phủ Ki-môn Ghê-oóc-ghi-ép. Chúng tôi chưa nắm được những chi tiết cần thiết về những hoạt động trước đây của các bộ trưởng. Còn về bản thân K. Ghê-oóc-ghi-ép, trước mắt thì ông ta là một người có tinh thần chống Đức, và theo ý kiến chúng tôi, đó là một ưu điểm lớn. Thêm nữa, trước đây, vốn là người đứng đầu chính phủ sau cuộc đảo chính ngày 19 tháng Năm 1934, ông ta đã kiến lập các quan hệ ngoại giao giữa Bun-ga-ri với Liên Xô, đây cũng lại là một ưu điểm nữa. Song đồng thời, vào năm 1934, lại cũng có một chiến dịch ráo riết chống phong trào công nhân và nhất là các đảng viên cộng sản. Chính trong những năm 30 ấy, những tàn dư cuối cùng của chế độ đại nghị và dân chủ tư sản ớ Bun-ga-ri đã chấm dứt và nền độc tài phát-xít quân sự được dựng lên.

Trong thành phần chính phủ lại có cả Ni-cô-la Pét-cốp giữ ghế bộ trưởng không bộ, hội viên Nông hội - một tên thực lợi cỡ bự, nổi tiếng vì có những quan điểm chính trị phản động. Con người ấy có thể sẽ gây ra ảnh hưởng hết sức nguy hại cho những thành quả dân chủ của cuộc khởi nghĩa nhân dân. Thời gian sau này càng chứng minh rằng, Pét-cốp là kẻ thù hung bạo của nước Bun-ga-ri xã hội chủ nghĩa. Nhiều cương vị quan trọng khác của nhà nước cũng nằm trong tay những kẻ chưa được công nhận là những người bạn tin cậy của nhân dân. Đại bản doanh không thể không tính toán những tình hình trên, vì các lực lượng chủ yếu của phương diện quân U-crai-na 3 vẫn đang ở trên lãnh thổ Bun-ga-ri, và thời gian tới đây, đất nước Bun-ga-ri sẽ là hậu phương trực tiếp của phương diện quân.

Trưa ngày 9 tháng Chín, A. I. An-tô-nốp báo cho tôi biết Gh. M. Đi-mi-tơ-rốp có nói chuyện bằng điện thoại với Bộ tổng tham mưu về đoàn đại biểu của chính phủ Bun-ga-ri mới đang sửa soạn đáp máy bay tới sở chỉ huy của Tôn-bu-khin. Đi-mi-tơ-rốp hỏi việc tổ chức chuyến bay, yêu cầu bảo đảm tốt và luôn tiện thông báo rằng, trong thành phần của đoàn đại biểu có Đi-mi-tơ-rốp Ga-nép — ủy viên Bộ chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng công nhân Bun-ga-ri. Đồng chí Ga-nép được ủy nhiệm trình bày cho hội đồng quân sự phương diện quân biết rõ tính chất của chính phủ và các sự kiện ở Bun-ga-ri.

Chúng tôi rất hứng thú chờ đợi các tin tức của phương diện quân gửi về. Cuối cùng, Ph. I. Tôn-bu-khin báo cáo cho Đại bản doanh là đoàn đại biểu của chính phủ Bun-ga-ri, được sự ủy nhiệm của Hội đồng bộ trưởng, ngày 10 tháng Chín đã đáp máy bay tới gặp Hội đồng quân sự phương diện quân. Thành phần của phái đoàn có giáo sư Đi-mi-tơ-rơ Mi-khan-chép — cựu công sứ Bun-ga-ri ở Mát-xcơ-va. Đi-mi-tơ-rốp Ga-nép, mà chúng ta đã biết, và một số nhân vật khác. Nhiệm vụ trước mắt của phái đoàn là tiếp xúc với đại tướng Tôn-bu-khin, tư lệnh phương diện quân, tìm hiểu các điều kiện đình chiến, thảo luận với đồng chí tất cả những vấn đề có liên quan tới việc bắt đầu đàm phán về đình chiến.

Các đại biểu sẽ phải thỏa thuận cả những điều kiện hợp tác giữa quân đội Bun-ga-ri với quân đội Liên Xô trong cuộc đấu tranh chung chống bọn Hít-le, thảo luận vấn đề khôi phục các quan hệ ngoại giao giữa Bun-ga-ri và Liên Xô. Như bạn đọc thấy, phái đoàn sẽ phải giải quyết sơ bộ những vấn đề quan trọng nhất đối với đất nước Bun-ga-ri. Lúc ấy, phía Bun-ga-ri không có con đường nào khác hơn là con đường thông qua phương diện quân để thỏa thuận với Mát-xcơ-va và cử một phái đoàn cần thiết tới đó.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Giêng, 2016, 01:42:06 pm

Phái đoàn đàm phán với bộ tư lệnh phương diện quân U-crai-na 3 bắt đầu từ vấn đề chính: chính phủ Bun-ga-ri đề nghị để Bun-ga-ri được tham gia vào cuộc đấu tranh vũ trang chung chống quân phát-xít Đức và tán thành sự phối hợp hành động giữa quân đội Liên Xô và quân đội Bun-ga-ri. Trưởng phái đoàn tuyên bố với Ph. I. Tôn-bu-khin rằng, hiện nay quân đội Bun-ga-ri rất cần phối hợp hành động với Hồng quân, vì theo lời ông ta, cả hai quân đội đều có một nhiệm vụ chung. Thay mặt Hội đồng bộ trưởng Bun-ga-ri, đoàn đại biểu đề nghị đồng chí tư lệnh cử tới Xô-phi-a một đại biểu có uy tín để phối hợp các hành động của hai quân đội Bun-ga-ri và Liên Xô.

Trong quá trình đàm phán, các đại biểu Bun-ga-ri thông báo cho Hội đồng quân sự phương diện quân biết rằng, lúc bấy giờ các đơn vị Hít-le đang tập trung những lực lượng lớn có rất nhiều xe tăng ở khu vực Ni-sơ, Be-la - Pa-lan-ca, trên lãnh thổ Nam Tư. Các đại biểu Bun-ga-ri cho rằng, việc tập trung quân phát-xít Đức ở đây là dấu hiệu rõ ràng chứng tỏ chúng đang chuẩn bị đánh vào Xô-phi-a. Các đại biểu tỏ ý lo lắng và đề nghị Liên Xô chi viện ngay cho các lực lượng Bun-ga-ri đang phòng thủ tại thủ đô Xô-phi-a, nhất là chi viện bằng không quân. Nhân dịp này, các đại biểu tường thuật về tình hình các sân bay ở khu vực Xô-phi-a, cũng như tình trạng không có nhiên liệu cho máy bay của quân đội Bun-ga-ri. Trong quá trình đàm phán, đã nảy ra một số vấn đề thiết thực về tình trạng sẵn sàng chiến đấu của quân đội Bun-ga-ri, về thông tin liên lạc giữa Vác-na và Xô-phi-a để giải quyết các vấn đề tác chiến quan trọng đối với cả hai bên.

Ph. I. Tôn-bu-khin hứa với các đại biểu Bun-ga-ri là sẽ chuyển các đề nghị của họ lên Chính phủ Liên Xô và bày tỏ sự quan tâm của mình về các phương tiện vận tải trên sông Đa-nuýp, về việc tổ chức cho bộ đội Liên Xô vượt qua con sông rộng và đầy nước này. Đồng chí tư lệnh thường rất thận trọng về các vấn đề bí mật, nhưng lẩn này, đồng chí lại công khai nói tới sự cần thiết phải cho bộ đội Liên Xô vượt qua lãnh thổ Bun-ga-ri tới khu vực Vi-đin. Để đáp lại, các đại biểu hứa là chính phủ và nhân dân Bun-ga-ri sẽ tìm mọi cách tạo điều kiện thuận lợi cho Hồng quân tiến quân, sẽ nhường các đường sắt và phương tiện vận tải đường thủy, kể cả những tàu của Đức nếu chúng còn ở trên sông Đa-nuýp. Các đại biểu Bun-ga-ri còn hứa sẽ cho trục các tàu Đức bị đắm ở sông Đa-nuýp, thông báo về khả năng vận chuyển bằng đường sắt trong nước, là nơi đầu tàu vốn đã có ít, lại rất cũ nát.

Sau khi kết thúc các cuộc đàm phán chính thức, Đi-mi-tơ-rơ Ga-nép đề nghị được gặp riêng Tôn-bu-khin. Đồng chí thông báo cho bộ chỉ huy Liên Xô biết về tính chất nội các mới của Ki-môn Ghê-oóc-ghi-ép. «Chính phủ này,— đống chí nói, — là chính phủ của Mặt trận Tổ quốc—tức khối liên minh giữa Đảng công nhân Bun-ga-ri, Nông hội, những người dân chủ-xã hội, liên minh nhân dân «Dơ-ve-nô» và những người «không phụ thuộc» (không đảng phái). Ga-nép nói rõ đặc điểm của chính phủ này là, mặc dù đảng viên cộng sản không chiếm nhiều ghế trong chính phủ, song Đảng công nhân Bun-ga-ri vẫn giữ vai trò lãnh đạo. Sau đó, đồng chí tường thuật lại chi tiết cuộc khởi nghĩa của nhân dân trong nước, các lực lượng du kích và hoạt động của các đảng viên cộng sản Bun-ga-ri.

Tất nhiên, đồng chí tư lệnh phương diện quân cũng chú ý tới tình hình quân đội chính quy của Bun-ga-ri. Đ. Ga-nép biết rõ tình hình, nên đã kể lại tỉ mỉ cả về tình trạng tinh thần của quân đội. Theo đồng chí, đội ngũ binh lính và hạ sĩ quan quân đội Bun-ga-ri sẵn sàng sát cánh chiến đấu ngay với bộ đội Liên Xô. Trong hàng ngũ sĩ quan có một số phản động, thân phát-xít, nhất là ở các đơn vị làm nhiệm vụ chiếm đóng ở các nước ngoài. Còn nhân dân Xô-phi-a thì đang nóng lòng chờ đợi Hồng quân tiền vào.

Đ. Ga-nép còn nói nhiều điều bổ ích về ban lãnh đạo quân sự của quân đội Bun-ga-ri. Đồng chí đã có nhận xét tốt về thiếu tướng I. Ma-ri-nốp, cựu bộ trưởng chiến tranh, nay giữ chức Tổng tư lệnh quân đội Bun-ga-ri trong chính phủ của Mặt trận Tổ quốc. Nhưng đồng thời, theo sự quan sát riêng của mình, đồng chí thấy Tổng tư lệnh mới xử trí chậm chạp trước những tình huống nguy hiểm mà các đơn vị Hít-le và đội ngũ sĩ quan phản động gây ra ở Bun-ga-ri, nhất là ở khu vực Xô-phi-a. Đ. Ga-nép còn nắm được cả tình hình của Bộ tổng tham mưu Bun-ga-ri. Ga-nép nói thẳng ra rằng, theo nhận xét của đồng chí, thì các cán bộ trong Bộ tổng tham mưu Bun-ga-ri chưa có ý định dứt khoát kiên quyết chống lại bọn Hít-le.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Giêng, 2016, 01:42:59 pm

Kết thúc buổi hội đàm, ủy viên Bộ chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng công nhân Bun-ga-ri nói lên ý kiến cho rằng, chính phủ Bun-ga-ri mới chưa bảo đảm được chắc chắn sự an ninh của mình, vì tình hình trong nước, đặc biệt là việc tập trung các đơn vị Bun-ga-ri ở khu vực Xô-phi-a, có thể bị bọn sĩ quan phản động lợi dụng để hoạt động chống lại chính phủ. Và, bộ chỉ huy Đức có thể cũng sẽ lợi dụng tình hình đó. Theo ý kiến đồng chí, hiện nay bọn phản động rất có khả năng hợp nhất được những lực lượng bên trong và bên ngoài để chống lại chính phủ của Mặt trận Tổ quốc.

Thay mặt Ban chấp hành trung ương Đảng công nhân Bun-ga-ri, đồng chí Đi-mi-tơ-rơ Ga-nép bày tỏ nguyện vọng muốn không quân của Hồng quân đặt căn cứ ở gần Xô-phi-a, để bảo đảm chống lại mọi mưu toan hành động của bọn sĩ quan phản động. Ngoài ra, đồng chí đề nghị thông báo cho Đảng công nhân Bun-ga-ri biết là chính quyền mới sẽ liên lạc và làm việc như thế nào ở những vùng Hồng quân đóng quân trên lãnh thổ Bun-ga-ri.

Cuộc hội đàm với đoàn đại biểu Bun-ga-ri và những thông báo cặn kẽ của Đi-mi-tơ-rơ Ga-nép càng làm sáng tỏ thêm tình hình công việc ở Bun-ga-ri. Tổng cục chính trị lại nhận được thêm một bản báo cáo nữa, lần này của I. X. A-nô-sin, chủ nhiệm chính trị phương diện quân.

Tuy nhiên, những lời giải thích đầy đủ nhất về triển vọng tới đây của nước Bun-ga-ri vẫn là những ý kiến của Ghê-oóc-ghi Mi-khai-lô-vích Đi-mi-tơ-rốp. Thực chất sự đánh giá của đồng chí về tình hình Bun-ga-ri sau này được trình bày trong bản Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng công nhân Bun-ga-ri (cộng sản), đọc tại Đại hội Đảng lần thứ V vào ngày 19 tháng Chạp 1948. Gh. M. Đi-mi-tơ-rốp nói trong Đại hội:

«Ngày 9 tháng Chín 1944, chính quyền trong nước chúng ta thoát khỏi bàn tay của giai cấp tư sản tư bản chủ nghĩa, thoát khỏi bọn thiểu số bóc lột quân chủ-phát-xít và chuyển sang tay đại đa số nhân dân, những người lao động ở thành thị và nông thôn dưới sự lãnh đạo tích cực của giai cấp công nhân và đội tiên phong cộng sản chủ nghĩa của nó. Được sự chi viện quyết định của Quân đội Liên Xô anh hùng, cuộc khởi nghĩa ngày 9 tháng Chín thắng lợi đã mở đường xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta.

Việc kết hợp cuộc khởi nghĩa nhân dân ngày 9 tháng Chín 1944, với cuộc tiến quân chiến thắng của Quân đội Liên Xô tại Ban-căng không những đã bảo đảm cho cuộc khởi nghĩa thắng lợi mà còn tăng thêm sức mạnh và đã phát triển rộng lớn của nó»1.
______________________________________
1. Gh. Đi-mi-tơ-rốp. Tuyển tập. Tiếng Nga, t. 2, tr. 612.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Giêng, 2016, 08:49:14 am

*
**

Cuộc khởi nghĩa của nhân dân thu được thắng lợi, thế nhưng, đất nước Bun-ga-ri vẫn còn chứa đựng nhiều khó khăn và nguy cơ khác. Chỗ này, chỗ kia vẫn còn bất ngờ nổ ra tiếng súng, những viên đạn từ những góc phố bay ra uy hiếp đời sống của các chiến sĩ ta, các du kích và các đảng viên cộng sản Bun-ga-ri. Các đoàn tàu quân sự quan trọng chạy theo kế hoạch bỗng nhiên bị đứt quãng, toàn bộ cơ quan sứ quán Đức và phái đoàn quân sự Đức đột nhiên biến đi đằng nào mất. Các quân nhân Liên Xô và những người yêu nước Bun-ga-ri mỗi bước đều gặp phải những hoạt động phá hoại lén lút của kẻ địch. Họ phải vạch trần các âm mưu đó và đấu tranh với tất cả nghị lực cùng nhiệt tình cách mạng cho nước Bun-ga-ri mới.

Lúc này, khi các đơn vị Liên Xô đã tiêu diệt quân địch ở I-át-xư và Ki-si-ni-ôp và đang tiếp tục tiến quân, thì điều có ý nghĩa quan trọng đối với tiến trình tiếp sau của các sự kiện ở Ru-ma-ni là phải nhanh chóng thủ tiêu bộ máy nô dịch của Hít-le đang còn tồn tại ở trong nước Ru-ma-ni. Nhân dân Ru-ma-ni tự bắt tay vào làm việc ấy, nhưng nhà vua và các đại biểu của các giới cầm quyền cũ của nhà nước, hiện còn đang nắm chính quyền, lại vẫn còn ngại những ông chủ Đức thống trị trong nước trước đây, nhất là viên đại sứ và những đại biểu quân sự của nước Đức phát-xít. Các đơn vị Liên Xô đang tiến công thì phát hiện thấy một toán lớn quân nhân Đức, liền bắt chúng làm tù binh. Nhờ đó, bộ máy gián điệp của Hít-le bị mất những tên cầm đầu, bị phá vở, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc khởi nghĩa của nhân dân phát triển ở Ru-ma-ni. Còn ở Bun-ga-ri, chúng ta chưa triệt hạ được ngay ổ rắn độc Hít-le, nên vẫn có điều đáng lo ngại.

Một tuần lễ sau khi Hồng quân đi qua lãnh thổ Bun-ga-ri được nhân dân đón tiếp nồng nhiệt... Một hôm, khi nghe chúng tôi báo cáo cho Đại bản doanh về tình hình các mặt trận, một đồng chí nào đó có mặt trong văn phòng Tổng tư lệnh tối cao sực nhớ tới sứ quan Đức ở Bun-ga-ri liền hỏi hiện nay nó đang ở đâu. An-tô-nốp và cả tôi đều không trả lời được cặn kẽ câu hỏi này, vì bộ đội mới tiến vào Xô-phi-a, còn đại biểu của bộ tư lệnh Liên Xô, đồng chí X. X. Bi-ri-u-dốp, thượng tướng tham mưu trưởng phương diện quân U-crai-na 3 thì đang dự định sáng 14 tháng Chín mới đáp máy bay tới đó. Nhiệm vụ chủ yếu của Bi-ri-u-dốp trong thời gian này hoàn toàn không phải là bắt bọn gián điệp Hít-le. Theo đề nghị của các đồng chí Bun-ga-ri, đồng chí tới Xô-phi-a để phối hợp các hoạt động của Hồng quân và quân đội Bun-ga-ri (rồi sau này sẽ đứng đầu ủy ban kiểm soát của đồng minh). Nhưng, chiến tranh lại yêu cầu phải làm cả những gì mà tình hình đòi hỏi tới, nên lúc này A. I. An-tô-nốp và tôi, người trợ lý gần gũi nhất của đồng chí, lại nhận thêm những chỉ thị của Đại bản doanh về các lĩnh vực hoạt động mới của Bộ tổng tham mưu. Bộ tổng tham mưu được chỉ thị thay mặt Đại bản doanh gửi cho Ph. I. Tôn-bu-khin mệnh lệnh phải truy lùng và bắt giữ toàn bộ các cơ quan của sứ quán Đức và phái đoàn quân sự Đức trong thời hạn ngắn nhất.

Mệnh lệnh trên được gửi ngay cho phương diện quân và Ph. I. Tôn-bu-khin lại chỉ thị cho X. X. Bi-ri-u-dốp phải bắt tay vào việc truy lùng đó. Như đã nói ở trên, ngày 14 tháng Chín, Bi-ri-u-dốp đã lên đường tới thủ đô Bun-ga-ri cùng với tướng I. X. A-nô-sin, chủ nhiệm cơ quan chính trị của phương diện quân.

Vừa tới nơi, Bi-ri-u-dốp đã xác định ngay rằng các đại biểu ngoại giao và quân sự Đức không còn ở thủ đô nữa. Các đại biểu của chính quyền Bun-ga-ri trả lời là họ không nhận được tin gì về nơi trú ngụ hiện nay của bọn Hít-le. Vậy thì, bọn chúng ẩn nấp ở đâu? Các nhà ngoại giao trốn đi tất nhiên phải có sự giúp đỡ của bọn tòng phạm. Chắc chắn bọn chúng đang còn một mạng lưới gián điệp lớn ở Bun-ga-ri dựa vào phản động ở bên trong. Chúng ta phải tiêu diệt bằng được cái ổ trung tâm này trong một thời gian thật ngắn.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Giêng, 2016, 08:49:45 am


Khi báo cáo lên I. V. Xta-lin tình hình các mặt trận, A. I. An-tô-nôp cũng không quên nói tới việc đó. Tổng tư lệnh tối cao chỉ thị cho chúng tôi truyền lệnh cho phương diện quân U-crai-na 3 phải tăng cường công tác truy tìm. Cuộc truy tìm sứ quán Đức đã được tổ chức một cách có kế hoạch trên đất Bun-ga-ri, sứ quán ấy lẽ nào lại có thế mất hút như cái kim rơi vào trong đồng cỏ khô được. X. X. Bi-ri-u-dốp và I. X. A-nô-sin lại gửi kiến nghị cho chính phủ Bun-ga-ri. Dần dần mới vỡ lẽ ra rằng, các nhà ngoại giao và phái đoàn quân sự Hít-le biến đi không phải là không báo trước và không có sự giúp đỡ trực tiếp của một số quan chức trong bộ máy nhà nước. Một quan chức nào đó đã giúp cho các sĩ quan và các nhà hoạt động ngoại giao Đức có một chuyến tàu riêng. Thế nhưng, bọn Đức ấy đi đâu thì không ai cho biết cả. Thế là việc tìm kiếm đoàn tàu được tổ chức ráo riết.

Cuối cùng, Bộ tổng tham mưu nhận được một bức điện cho biết bọn Đức bỏ trốn đang ở tại biên giới Thổ Nhĩ Kỳ trong khu vực thành phố Xvi-len-grát.

Tư lệnh phương diện quân và X. X. Bi-ri-u-dốp lập tức phái ngay những đội đổ bộ đường không tới địa điểm đã định theo các tuyến của mình. Đội đổ bộ của tư lệnh phương diện quân gồm 25 chiến sĩ bảo vệ tuyến sau của phương diện quân U-crai-na 3 do trung tá I. D. Cô-ten-cốp chỉ huy, đổ bộ đầu tiên xuống khu vực Xvi-len-grát, liền gấp rút vọt tới nhà ga. Nhưng, chậm mất rồi, đoàn tàu trước kia đậu ở đây, nay lại vừa mới rời đi về hướng biên giới Hy Lạp. Các công dân Bun-ga-ri cho biết rằng. những nhân viên trong sứ quán Đức đến Xvi-len-grát từ một tuần trước, bọn chúng chờ giấy nhập cảnh của chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ tại đây và không ra khỏi toa xe. Thế nhưng, chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ lúc này lại không vồn vã với các đại biểu của Đức nữa vì lẽ nước Đức đang thua hết trận này đến trận khác ngoài mặt trận. Như chúng ta biết, ngày 2 tháng Tám, Thổ Nhĩ Kỳ cắt đứt quan hệ ngoại giao với Đức, do đó họ đã lần nữa, không ký giấy nhập cảnh cho bọn Đức bỏ trốn. Số lương thực dự trữ mang theo đã cạn hết, bọn chúng lại được tin hiện đang bị truy lùng ráo riết, nên bỏ chạy sang biên giới Hy Lạp.

Sau khi biết rõ tình hình, trung tá Cô-ten-cốp cùng với các chiến sĩ của mình liền đuổi theo đoàn tàu. Đồng chí sơ bộ giải thích cho các nhân viên đường sắt Bun-ga-ri và viên cảnh sát trưởng của thành phố, yêu cầu cho lệnh chặn đoàn tàu ở đoạn đường tránh nhau gần nhất. Đoàn tàu bị giữ lại ở nhà ga Ra-cốp-xcai-a. Toàn bộ số nhân viên trong sứ quán gồm 32 tên do đại sứ Đức Be-kéc-le và đại tá tùy viên quân sự phôn Khiu-li-den dẫn đầu bị bắt giữ. Trong chuyến tàu ày, còn thấy một số nhân viên sứ quán của chính phủ Mút-xô-li-ni nay không còn nữa và hai nhân viên của sứ quán Thụy Điển. Các nhà ngoại giao liền được giải ngay về Đô- brích. Ổ rắn độc đã bị trừ khử. Việc bắt giữ các nhân viên trong sứ quán và phái đoàn quân sự phát-xít Đức đã góp phần vào sự phát triển thắng lợi của cuộc đấu tranh chống bọn gián điệp Hít-le tại Bun-ga-ri.

Khi bắt giữ kẻ thù công khai của nhân dân Bun-ga-ri và Hồng quân, bộ tư lệnh chúng ta đồng thời cũng quan tâm ngay đến quyển bất khả xâm phạm của các đoàn đại biểu ngoại giao khác và chấp hành nghiêm chỉnh các luật pháp đối với mọi công dân Bun-ga-ri cũng như đối với những người quốc tịch khác. Vấn đề này đã được họp bàn riêng trong Đại bản doanh, và ngày 26 tháng Chín 1944, bộ tham mưu phương diện quân U-crai-na 3 nhận được bức điện sau:

«Đại bản doanh Bộ tổng tư lệnh tối cao cấm tiến hành các vụ bắt bớ ở Bun-ga-ri và Ru-ma-ni. Từ nay về sau, không được phép của Đại bản doanh thì không được bắt giữ một ai. Thừa ủy nhiệm Đại bản doanh Bộ tổng tư lệnh tối cao—An-tô-nốp, Stê-men-cô».


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Giêng, 2016, 08:50:38 am


*
* *

Đại bản doanh Bộ tổng tư lệnh tối cao Liên Xô và Bộ tổng tham mưu nóng lòng chờ tin quân đội Bun-ga-ri quay súng bắn vào kẻ thù chung là nước Đức phát-xít. Trong trường hợp này, việc tiêu diệt quân Hít-le, trước hết là ở Nam Tư, sẽ có thể có chiều hướng thuận lợi hơn.

Từ những ngày đầu chuẩn bị các chiến dịch phối hợp giữa quân đội Liên Xô, Bun-ga-ri và Quân đội giải phóng nhân dân Nam Tư, chúng tôi đã vấp phải những hậu quả của chính sách thâm độc của vua Bô-rít. Vấn đề là, sau khi chiếm được Ban-căng, nước Đức phát-xít đã áp đặt tại đây không những một chế độ phù hợp với bọn chúng, mà còn xúi giục các dân tộc chống lẫn nhau. Nguyên tắc cũ của bọn chú nô ở đế quốc La Mã thời cổ là «chia để trị» đã được các nhà chính trị phát-xít lợi dụng một cách xảo quyệt. Kết quả là chính phủ quân chủ Bun-ga-ri, sau khi rơi vào tròng phụ thuộc nước Đức phát-xít, đã phái sang Nam Tư nhiều lực lượng để góp phần với bọn Hít-le đàn áp cuộc đấu tranh giải phóng ở đất nước này. Các đơn vị trên được chọn lọc kỹ và là những lực lượng tối phản động. Tất nhiên, nhân dân Nam Tư đã nuôi lòng căm thù sâu sắc đối với những tên tòng phạm của bọn phát-xít Đức xâm lược.

Sau ngày 9 tháng Chín mới hình thành cơ sở vững chắc cho các quan hệ hữu nghị thực sự giữa các dân tộc láng giềng. Nhưng, các sự kiện đã cho thấy rằng, xác lập sự tin cậy cần thiết giữa các dân tộc để cùng phối hợp tác chiến với nhau quả không phải là việc đơn giản, không những cần có thời gian, mà còn cần có cả những hoạt động giải thích ngay trong hàng ngũ các đảng viên cộng sản. Điều đặc biệt quan trọng là phải chứng minh tính chất mới về nguyên tắc, chức năng đã thay đổi về cơ bản của quân đội Bun-ga-ri.

Đồng chí Gh. M. Đi-mi-tơ-rốp lúc này đã đem lại sự giúp đỡ cần thiết để giải quyết vấn đề quan trọng đó. Đồng chí gửi cho I. Brốt Ti-tô bức điện nói về các hành động phối hợp giữa Quân đội giải phóng nhân dân Nam Tư và quân đội Bun-ga-ri chống bọn Hít-le. Đồng chí giải thích cho các đồng chí Nam Tư hiểu rõ tình hình mới ở Bun-ga-ri, giải thích cho các đảng viên cộng sản Bun-ga-ri hiểu rõ là họ phải tích cực cải thiện các quan hệ với những người anh em Nam Tư cùng giai cấp và với Đảng cộng sản Nam Tư, phải chiếm được lòng tin cậy và ký kết liên minh chiến đấu với các đồng chí Nam Tư. Chỉ trong các điều kiện ấy mới có thể tổ chức và tiến hành thắng lợi các chiến dịch phối hợp giữa các quân đội của Liên Xô, Nam Tư và Bun-ga-ri. Đường đi tới tương lai của Bun-ga-ri là trải qua cuộc chiến tranh quét sạch chủ nghĩa phát-xít.

Bức điện của Gh. M. Đi-mi-tơ-rốp đã hướng sự chú ý của Đảng công nhân Bun-ga-ri vào vấn đề quan trọng đó. Các đảng viên cộng sản đã buộc chính phủ phải rút các đơn vị Bun-ga-ri ở Nam Tư về nước và vạch ra cương lĩnh cải cách triệt để quân đội Bun-ga-ri. Bọn sĩ quan có tư tưởng thân phát-xít và bộ phận binh sĩ đã làm những việc càn bậy đối với nhân dân Nam Tư đều bị loại ra khỏi quân đội và bị truy tố. Nhờ đó, trung tâm phản động và cái ung nhọt bệnh hoạn trong cơ chế của quân đội Bun-ga-ri bị thủ tiêu. Các binh đoàn được kiện toàn bằng các chiến sĩ du kích và những người tình nguyện. Bởi vậy, các đơn vị quân Bun-ga-ri sắp tới chiến đấu chống quân Đức trên đất Nam Tư sẽ không phải là những đơn vị Bun-ga-ri đã từng chiếm ở đây, mà là các lực lượng vũ trang mới ra đời ở Bun-ga-ri trong cơn bão tố cách mạng tháng Chín.

Tất cả những tình hình trên đã định trước khả năng tổ chức các chiến dịch phối hợp thắng lợi giữa quân đội Liên Xô, Bun-ga-ri anh em và Quân đội giải phóng nhân dân Nam Tư trên đất Nam Tư mà chúng ta sẽ nói tới sau này.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Giêng, 2016, 08:51:17 am

Nhiệm vụ tham chiến của Bun-ga-ri chống nước Đức phát-xít và mục đích tiêu diệt đế chế của Hít-le, được tuyên bố trong cương lĩnh của Mặt trận Tổ quốc, là phù hợp với những lợi ích cơ bản của nhân dân Bun-ga-ri và các ý định của khối liên minh chống Hít-le. Nhưng chúng ta cũng không nên quá hy vọng rằng bước ngoặt ấy sẽ diễn ra ngay tức thì mà không vấp phải khó khăn gì, vì các di hại của chủ nghĩa phát-xít còn để lại rất nặng, đòi hỏi chúng ta phải thực sự tính đến.

Chúng ta quen đánh giá tiến trình các sự kiện sắp tới qua lăng kính của lịch sử Liên Xô, nên cho rằng Bun-ga-ri có thể sẽ có những hình thức xây dựng quân đội độc đáo. Tất nhiên, việc giải quyết vấn đề về các con đường xây dựng quân đội ở Bun-ga-ri không phụ thuộc vào chúng ta. Nhưng, chúng ta phải thấy trước được việc đó; vì vậy cần phải nắm vững tình hình, thường xuyên phân tích những xu hướng phát triển của tình hình. Chúng tôi bắt tay vào việc đó một cách nghiêm túc. Các sĩ quan theo dõi khu vực mặt trận của C. Ph. Va-xin-tren-cô trong tháng Chín nhận nhiệm vụ nghiên cứu thật tỉ mỉ về quân đội Bun-ga-ri và đã hết lòng hoàn thành nhiệm vụ đó ở mức cao nhất.

Xung quanh việc Bun-ga-ri đứng về phía liên minh chống Hít-le tham gia chiến tranh, đã nổ ra một trận chiến đấu vô hình. Các lực lượng cách mạng trong nước muốn nhanh chóng đưa quân đội Bun-ga-ri và tất cả các nguồn lực lượng khác vào đấu tranh chống lại nước Đức phát-xít, đã vấp phải sự chống trả, phá hoại ngầm rất quyết liệt của kẻ thù. Những kẻ thù của nước Bun-ga-ri mới đã hiện rõ không phải chỉ trong bộ máy nhà nước, mà cả trong chính phủ của Mặt trận Tổ quốc, trong các giới lãnh đạo quân sự.

Các sự kiện phát triển như sau. Nguyện vọng của chính phủ Bun-ga-ri (được bày tỏ trong buổi gặp gỡ đầu tiên với các đại biểu của Hội đồng quân sự phương diện quân U-crai-na 3) muốn có sự phối hợp giữa Hồng quân và quân đội Bun-ga-ri trong cuộc đấu tranh chung chống lại bọn Hít-le, là hoàn toàn phù hợp với những đòi hỏi của tình hình quân sự. Sự cần thiết phải tiến hành các chiến dịch phối hợp giữa quân đội Liên Xô, Bun-ga-ri và Quân đội giải phóng nhân dân Nam Tư cũng đã rõ ràng. Điều đặc biệt quan trọng là không để cho Xô-phi-a bị uy hiếp, vì chính phủ của Mặt trận Tổ quốc và Ban chấp hành Trung ương Đảng công nhân Bun-ga-ri bắt đầu hoạt động công khai, được bố trí tại đây.

Vì chính phủ Bun-ga-ri đề nghị chúng ta trước hết chi viện về quân sự, nên 1 quân đoàn bộ binh của tập đoàn quân 57, các lữ đoàn xe tăng và pháo tiêm kích chống tăng, các đơn vị súng cối «Ca-chiu-sa» và trung đoàn mô tô tiến vào khu vực Xô-phi-a. Sư đoàn không quân tiêm kích và cường kích của tập đoàn quân không quân 17 chuyển căn cứ tới các sân bay của thủ đô Bun-ga-ri. Đồng chí V. A. Xu-đét, tư lệnh tập đoàn quân không quân cũng rời sở chỉ huy đến đây.

Mọi đề nghị của chính phủ Bun-ga-ri về vấn đề hiệp đồng giữa các đơn vị Liên Xô và Bun-ga-ri cũng đều được giải quyết rất nhanh và đầy đủ. Ph. I. Tôn-bu-khin liền cử thượng tướng X. X. Bi-ri-u-dốp, tham mưu trưởng của mình, một nhà quân sự có tài năng, một người tổ chức giỏi và một nhà chính trị có kinh nghiệm tới Xô-phi-a. Thế nhưng, tình hình lúc bấy giờ đòi hỏi không thể chỉ bó hẹp trong phạm vi các biện pháp đó. Tình hình yêu cầu phải cấp bách chuyển giao quyền chỉ đạo tác chiến mọi lực lượng và phương tiện trên lãnh thổ Bun-ga-ri cho bộ tư lệnh phương diện quân U-crai-na 3. Chính các đồng chí Bun-ga-ri đã đề nghị như thế, vì làm như vậy mới có thể thống nhất được mọi ý chí và hành động của các lực lượng Liên Xô và Bun-ga-ri trong các chiến dịch chung.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Giêng, 2016, 08:52:08 am

Đại bản doanh chỉ thị cho Ph. I. Tôn-bu-khin thỏa thuận với chính phủ Bun-ga-ri về những vấn đề thiết thực nhằm đặt các lực lượng vũ trang Bun-ga-ri dưới sự chỉ đạo của phương diện quân U-crai-na 3. Biện pháp ấy cũng phù hợp với các tiêu chuẩn pháp lý quốc tế, vì lúc này vẫn chưa ký kết đình chiến giữa Liên Xô, các nước đồng minh của chúng ta và Bun-ga-ri.

Thi hành chỉ thị của Đại bản doanh, ngày 16 tháng Chín, Ph. I. Tôn-bu-khin gửi thư nói về nội dung trên cho Đ. Ven-trép, bộ trưởng chiến tranh của Bun-ga-ri. Đồng chí đề nghị rằng việc thực hiện các mệnh lệnh quân sự trong phạm vi quân đội Bun-ga-ri nhất thiêt phải thông qua Bộ tổng tham mưu quân đội Bun-ga-ri. Từ đó cho tới lúc kết thúc chiến tranh, bộ đội Liên Xô và Bun-ga-ri đã hợp tác chiến đấu chặt chẽ bên nhau.

Ở Xô-phi-a và trên khắp đất nước trong lúc này đang diễn ra một quá trình hình thành nước Bun-ga-ri mới, trong đó những cố gắng của bạn bè và những mưu toan của quân thù xen kẽ nhau trong một mớ bòng bong các sự kiện thường là đầy mâu thuẫn. Chúng ta đã nhanh chóng xây dựng vững chắc sự hiểu biết hoàn toàn với các đảng viên cộng sản và những người đồng chí cùng giai cấp. Còn đối với kẻ thù thì lại khác. Bọn chúng ngụy trang rất kỹ, đeo bộ mặt đồng chí, nên nhận rõ những hành động của chúng thật không phải là việc dễ. Kim chỉ nam đáng tin cậy cho các đại biểu của ta ở đây là sự nhạy bén giai cấp chính xác luôn được Đảng cộng sản nuôi dưỡng trong những con người xô-viết.

Lĩnh vực đầu tiên mà kẻ thù bí mật hoạt động phá hoại chính quyền mới ở Bun-ga-ri và bộ chỉ huy Liên Xô là vấn đề các nước đồng minh. Bộ tổng tham mưu Liên Xô nhận thức được tình hình đó ngay từ buổi đầu tiên khi Bi-ri-u-dốp tới thủ đô Bun-ga-ri ngày 17 tháng Chín. Một nhóm các sĩ quan Anh và Mỹ khi đó đã đến gặp thiếu tướng I. Ma-ri-nốp, Tổng tư lệnh quân đội Bun-ga-ri, mà không báo trước cho chúng ta. Chúng ta thấy rõ, chuyến đi thăm ấy được tổ chức và chuẩn bị từ trước do bàn tay của một kẻ mạnh đang còn nấp sau bóng tối. Các sĩ quan Anh và Mỹ yêu cầu giao quyền cho họ được sử dụng sân bay, trao cho họ các sơ đồ bãi mìn ở bờ Biển Đen; hình như thời gian tới đây tàu bè Anh được cập bến tại một cảng ở phía cực Nam Bun-ga-ri. I. Ma-ri-nốp cho chúng ta biết là người ta đã cử sĩ quan và công binh tới cảng để chuẩn bị tiếp nhận các tàu, mặc dầu chưa được sự đồng ý của Bun-ga-ri và bộ chỉ huy Liên Xô. Các sĩ quan Anh và Mỹ còn đề nghị là họ sẽ tham gia giúp đỡ về mặt quân sự tại Ban-căng, mặc dẩu chính phủ Bun-ga-ri mới không yêu cầu, và họ còn tuyên bố là sẽ đợi chính phủ Bun-ga-ri trả lời vào ngày hôm sau.

Ma-ri-nốp đã tìm cách lảng tránh không hứa hẹn gì và sau khi đã đuổi khéo được các vị khách không mời mà đến ấy đi, liền gọi điện luôn cho X. X. Bi-ri-u-dốp để giải quyết vấn đề. Ông tỏ ý lo ngại rằng Anh và Mỹ còn đi tiếp những bước khác mà người ta chỉ có thể coi là những mưu toan chiếm giữ các mục tiêu quan trọng đối với Bun-ga-ri, như các sân bay chắng hạn.

X. X. Bi-ri-u-dốp đoán chắc với tổng tư lệnh Bun-ga-ri rằng, các nước đồng minh không ngu ngốc đến mức dám ngang nhiên làm cho tình hình xấu đi ở nơi có cả một phương diện quân của Hồng quân. Đồng chí góp ý với tổng tư lệnh Bun-ga-ri nên trả lời mềm mỏng rằng: hiện nay bộ chỉ huy Liên Xô đang đóng quân ở Bun-ga-ri, và Bun-ga-ri sẽ không thể thực hiện được một yêu cầu nào, nếu như chưa có sự thỏa thuật với Liên Xô.

Chuyến đi thăm ấy của đại điện các nước đồng minh thật vô cùng xa lạ với mọi quy tắc lịch thiệp của hoạt động ngoại giao và quân sự mà mọi người đã từng biết. Tất nhiên, chuyến đi thăm ấy, cũng phản ảnh đầy đủ các ý định và mục đích của cái «phương án Ban-căng» của U. Sớc-sin. Bộ tổng tham mưu và cả các đại biểu quân sự Liên Xô ở Bun-ga-ri cũng đã đánh giá như vậy về chuyến đi thăm đó của các đại biểu Anh-Mỹ. Đến khi ở Xô-phi-a có cuộc tiếp kiến lần thứ hai giữa I. Ma-ri-nốp và nhóm các sĩ quan Anh và Mỹ, thì các cán bộ chúng ta đã tuyên bố không cần đến sự giúp đỡ của các nước đồng minh. Câu trả lời ấy không mềm mỏng nhã nhặn, nhưng lại hết sức rõ ràng, khiến các vị khách hiểu ra nội dung của nó liền bước ra về.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Giêng, 2016, 10:28:33 am

Cuộc sống và các điều kiện đặc biệt của sứ mệnh giải phóng của Hồng quân đã buộc Bộ tổng tham mưu và các phương diện quân trong quá trình các chiến dịch phải giải quyết một số vấn đế quốc tế. Phải nói trước rằng hình thức hoạt động rất độc đáo đó, hình như chưa phải là cái vốn có của một tổ chức quân sự, đã được phán ánh từ lâu trong cơ cấu tổ chức của Bộ tổng tham mưu. Ngay từ lúc bắt đầu chiến tranh, công tác ngoại giao — tất nhiên trong những giới hạn nhất định và trong khuôn khổ những vấn đề quân sự thuần túy — đã trở thành một yếu tố không thể tách rời trong hoại động của các cán bộ Bộ tổng tham mưu.

Bức điện về các sự kiện ở Xô-phi-a tất nhiên đã được báo cáo cho V. M. Mô-lô-tốp, sau đó lại trở về Bộ tổng tham mưu cùng với những ý kiến giải quyết của đồng chí. Về thực chất thì không có ý kiến gì, nhưng về hình thức trả lời thì chúng tôi và các đại biểu của chúng tôi đều nhận được những sự gợi ý. Ở góc trên bên trái có viết: «Không nên nói chúng ta «không cần đến các nước đồng minh», mà nên nói rằng các nước đồng minh phải sơ bộ thỏa thuận về những vấn đề ấy ở Mát-xcơ-va, do đó sẽ không hội đàm ở Bun-ga-ri và nên nói một cách lịch sự là các ngài hãy thỏa thuận ở Mát-xcơ-va».

Tôi liền chuyển ngay các ý kiến giải quyết nói trên tới bộ tham mưu phương diện quân U-crai-na 3 và thấy công tác ngoại giao quả là một công tác tế nhị: nhiều khi muốn nói toạc móng heo ra, song lại buộc phải lựa chọn cách nói cân nhắc thiệt hơn, thậm chí có khi lại phải cung kính cúi chào cho đúng mực nữa. Bộ trưởng Bộ dân ủy ngoại giao đã dạy chúng tôi phải nhã nhặn, lịch sự và từ đấy chúng tôi không còn phạm phải điều gì thiếu sót nữa.

Nhưng, câu chuyện trên đến đây chưa phải đã chấm dứt. Ngày hôm sau, A. I. An-tô-nốp và tôi tới báo cáo với I. V. Xta-lin về tình hình các mặt trận: trong phòng làm việc của đồng chí có mặt V. M. Mô-lô-tôp. I. V. Xta-lin chăm chú nghe và khi chúng tôi báo cáo đến tình hình Bun-ga-ri, đồng chí liền vớ lầy chiếc hộp «Ghéc-xô-gô-vi-na Phlo-rơ» để nhồi thuồc vào chiếc tẩu vẫn thường dùng của mình. Đồng chí quay về phía chúng tôi, từ tốn nói :

—   Bộ tổng tham mưu cũng cần nắm được những nguyên tắc của công pháp quốc tế, cách thức giao thiệp khi tiếp xúc với đại biểu các nước khác.

An-tô-nôp và tôi đã đoán ra được câu chuyện, có lẽ Mô-lô-tốp đã nói cho Xta-lin biết về sự ngoại giao «tế nhị» của các nhà quân sự.

A. I. An-tô-nốp có cương vị và cấp bậc cao hơn nên thường phải trả lời trong những trường hợp như vậy. Đồng chí nói rằng Bộ tổng tham mưu có một cơ quan chuyên trách về các vấn đề trên và vẫn giữ liên lạc chặt chẽ với Bộ ngoại giao. Đó là cục phụ trách các công việc đặc biệt, đồng chí Xta-lin biết rõ cục này. Còn tất nhiên là chúng tôi nắm chắc pháp lý quân sự hơn là công pháp quốc tế.

I. V. Xta-lin đúng là không hài lòng về cách trả lời như vậy.

—   Tôi thấy là đồng chí vẫn chưa hiểu vấn đề. — Xta-lin vừa nói vừa khe khẽ gõ chiếc tẩu thuốc lên nắp hộp, vẻ bực dọc. — Vấn để không phải là ở chỗ ấy, không phải là nói về cục... Cục đó phụ trách chủ yếu về vấn đề đại biểu quân sự của các phái đoàn. Chúng tôi muốn nói về các đồng chí, những người lãnh đạo của Bộ tổng tham mưu.

Sau đó, ngừng một lát, đồng chí nói thêm :

—   Và, cũng không phải chỉ có Bộ tổng tham mưu... mà cả các cán bộ quân sự đang trực tiếp hội đàm với những người nước ngoài hoặc đang tham gia những cuộc hội đàm ấy, đang biên soạn các văn kiện quân sự-ngoại giao quan trọng. Chính các đồng chí ấy cần biết làm đúng những công việc trên như thế nào, để có thể giới thiệu thật xứng đáng đất nước ta. Bây giờ các đồng chí đã hiểu ra vấn đề rồi chứ? Ngay cả trong những bữa tiệc, những buổi chiêu đãi, các đồng chí cũng vẫn cần phải biết giữ thể diện của mình... Còn về «pháp lý quân sự», mà ta cũng cần nhắc tới ở đây, thì chúng tôi đã được nghe nhiều lần rồi: nhiều đồng chí quân sự vẫn cho rằng pháp lý của họ chỉ là những lưỡi lê.

Đồng chí ngừng hẳn, rồi cuối cùng nhồi thuồc vào tẩu, khoan thai hút. Nhìn nét mặt Tổng tư lệnh tối cao, chúng tôi đoán câu chuyện đến đây là xong.

Cũng cần phải nói rằng, các yêu cầu đó đối với chúng tôi là chính đáng. Trong thời gian này, không một cuộc hội đàm lớn nào với các đại biểu các nước ngoài lại không có sự tham gia của các cán bộ quân sự, trước hết là các đại biểu của Bộ tổng tham mưu. Các hội nghị ở Tê-hê-ran, I-an-ta và Pốt-xđam đã chứng minh rõ ràng điều đó. Bộ tổng tham mưu thường phải chuẩn bị tỉ mỉ cho các công việc trên, nên tất nhiên phải nghiên cứu các nguyên tắc của công pháp quốc tế.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Giêng, 2016, 10:29:01 am


Trong toàn cuộc chiến tranh, Bộ tổng tham mưu đã giữ vững liên lạc trực tiếp và thường xuyên với Bộ dân ủy ngoại giao. Mối liên lạc ấy càng thêm chặt chẽ vào thời gian sắp kết thúc chiến tranh và trong những năm đầu tiên sau khi chiến tranh chấm dứt, những năm mà tiếng súng ngừng nổ thì tiếng nói của các nhà ngoại giao lại vang lên mạnh mẽ. Riêng tôi thường có nhiệm vụ soạn thảo hoặc phối hợp làm các văn kiện với các nhà hoạt động ngoại giao lỗi lạc của Liên Xô như M. M. Lít-vi-nốp, I. M. Mai-xki, A. A. Grô-mư-cô và các đồng chí khác. Bản thân tôi học tập được nhiều điều bổ ích ở từng đồng chí, mặc dầu tính chất và phương pháp làm việc của mỗi đồng chí hoàn toàn khác nhau. Chúng tôi, các cán bộ trong Bộ tổng tham mưu, được dịp tiếp xúc với các đồng chí và với các đại biểu khác của cơ quan ngoại giao chúng ta, rất biết ơn sự hiểu biết cũng như sự đóng góp to lớn của các đồng chí cho sự nghiệp quân sự và chính trị.

Anh và Mỹ nhiều lần muốn chen vào các công việc của Bun-ga-ri. Các nhóm sĩ quan của những nước này vẫn tiếp tục tìm cách gặp tổng tư lệnh quân đội Bun-ga-ri. Một trong những nhóm ấy trực tiếp đề nghị thông báo những tin tức về các đơn vị của Liên Xô. I. Ma-ri-nốp cảm thấy đề nghị đó có gì ẩn ý ở bên trong, liền đẩy các vị khách sang gặp X. X. Bi-ri-u-dốp. Vị tư lệnh Liên Xô chắc hiểu kỹ tình hình và sẽ đáp ứng được đầy đủ đề nghị đó. Câu chuyện này được kết thúc bằng sự kiện các vị khách không mời buộc phải lễ phép rời khỏi dãi hoạt động của phương diện quân U-crai-na 3, tức là ra khỏi đất nước Bun-ga-ri.

Hồi đó, cũng bắt đầu có sự thăm dò tương tự như vậy trong các đơn vị của Bun-ga-ri trên lãnh thổ Hy Lạp. Ở đây bỗng xuất hiện một viên thiếu tá, y yêu cầu bộ chỉ huy Bun-ga-ri giao chính quyền lại cho bọn y, tức là những người Anh, chứ không giao cho Mặt trận Tổ quốc của Hy Lạp, và đề nghị nhận sự giúp đỡ của các nước đồng minh. Tóm lại, những người cùng chia sẻ trách nhiệm với chúng ta trong khối chống Hít-le đã hoạt động tình báo, nhằm củng cố trận địa các lực lượng phương Tây và làm giảm ảnh hưởng của Liên Xô ở Ban-căng.

Ít lâu sau, chúng tôi được tin xác nhận rằng các hoạt động tình báo và âm mưu của Anh - Mỹ đã được sự ủng hộ trong bộ máy quan chức thừa hưởng lại của nền quân chủ ở Bun-ga-ri, ở chính ngay bộ trưởng chiến tranh Đ. Ven-trép. Thông qua hệ thống phát thanh của chính phủ Bun-ga-ri, họ đã truyền đi công khai các tin tức làm lộ nơi đóng quân của bộ đội Liên Xô. Bộ tham mưu phương diện quân lo ngại về việc đó, nên Ph. I. Tôn-bu-khin thông qua X. X. Bi-ri-u-dốp đề nghị với chính phủ Bun-ga-ri chỉ được phát thanh những tin tức về nơi đóng quân của các đơn vị Liên Xô khi đã được chúng ta đồng ý.

Còn nói về Ven-trép, bề ngoài y vẫn cố gắng tỏ ra là một chiến sĩ của Mặt trận Tổ quốc, song thực chất y là một kẻ thù điên cuồng đối với tất cả những cái gì tiến bộ gắn liền với nước Bun-ga-ri mới. Chúng tôi nhận ra cái trò chơi hai mặt đó của y, khi nhận được bức thư của y trả lời cho Tôn-bu-khin ngày 16 tháng Chín về vấn đề phối thuộc bộ đội Bun-ga-ri. Bộ trưởng chiến tranh Bun-ga-ri viết rằng, y sẽ làm hết mọi việc để thống nhất mọi nỗ lực của quân đội Bun-ga-ri và Liên Xô, nhưng y lại hành động ngược lại với những điều y viết; y cố gắng trì hoãn không để cho quân đội Bun-ga-ri tham gia ngay chiến tranh bên phía liên minh chống Hít-le.



Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Giêng, 2016, 10:29:48 am

Ngày 19 tháng Chín, Bi-ri-u-dốp và A-nô-sin đã tiếp xúc với những người lãnh đạo chính phủ Bun-ga-ri của Mặt trận Tổ quốc và những người lãnh đạo quân đội Bun-ga-ri. Bên phía Bun-ga-ri có mặt K. Ghê-oóc-ghi-ép, I. Ma-ri-nốp, Đ. Ven-trép và viên đại tá đại biểu cho Bộ tổng tham mưu quân đội Bun-ga-ri. Cuộc hội đàm bàn về vấn đề động viên các lực lượng của nhân dân và quân đội kiên quyết chiến đấu chống quân đội Hít-le.

Ở đây, trong buổi hội đàm này, chúng ta lại xác định thêm một lần nữa đường lối phản động của Ven-trép và một số giới trong Bộ tổng tham mưu Bun-ga-ri. Nếu như Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Bun-ga-ri và tổng tư lệnh quân đội Bun-ga-ri là những người chủ trương phải nhanh chóng triển khai quân đội Bun-ga-ri chống lại nước Đức và đưa quân đội vào chiến đấu, thì bộ trưởng chiến tranh và đại biểu của Bộ tổng tham mưu Bun-ga-ri lại phát biểu chống lại việc đưa quân Bun-ga-ri ra mặt trận, lấy lý do các sư đoàn đóng quân trên lãnh thổ Nam Tư và ở ngay tại Bun-ga-ri còn chưa đủ sức chiến đấu và không đáng tin cậy.

Lý do họ đưa ra thoạt nghe cũng có vẻ có căn cứ của nó. Như đã nói đến ở trên, các đơn vị Bun-ga-ri trước ngày 9 tháng Chín chiếm đóng trên lãnh thổ Nam Tư có nhiều phần tử thân phát-xít, nhất là thành phần sĩ quan. Tất nhiên, cần phải thanh lọc các phần tử thù địch với cách mạng ra khỏi quân đội, bổ sung các chiến sĩ du kích và những người tình nguyện vào quân đội rồi mới đưa các đơn vị ra chiến đấu. Quá trình thanh lọc kẻ thù của nhân dân ra khỏi quân đội đã diễn ra ngày một khẩn trương. Đảng công nhân Bun-ga-ri đã tiến hành công tác này thông qua các đại biểu của mình trong Mặt trận Tổ quốc, được sự giúp đỡ của các chiến sĩ du kích, những người hoạt động bí mật và các chiến sĩ khác đấu tranh cho thắng lợi của chế độ nhân dân. Nói toàn bộ quân đội Bun-ga-ri chưa có khả năng chiến đấu là hết sức sai lầm. Nhiệm vụ là ở chỗ không được để mất thời gian vào những cuộc tranh cãi về khả năng chiến đấu của bộ đội, mà phải đẩy mạnh quá trình chấn chỉnh bộ đội, cải tiến công tác bổ sung, lấy những lớp người mới trong hàng ngũ nhân dân, những người căm thù toàn bộ chế độ tay sai của bọn quân chủ phát-xít và Hít-le ở nước Bun-ga-ri.

X. X. Bi-ri-u-dốp sớm nhận ra ngay ý nghĩa thật trong lập trường của Đ. Ven-trép và hiểu ngay các mưu mô của y. Đồng chí đã tiến hành công việc với sự am hiểu triệt để tình hình. Và cũng cần phải nhận xét rằng, quân đội Bun-ga-ri đã nhanh chóng vượt qua thời kỳ thanh lọc, dũng cảm chiến đấu chống quân phát-xít Đức và nhờ đấu tranh quên mình đã đóng góp to lớn vào sự nghiệp thắng lợi chung trước quân thù. X. X. Bi-ri-u-dốp quả đã có công lớn trong công tác này.

Bộ tổng tham mưu Liên Xô rất cảnh giác trước lập trường của Đ. Ven-trép và đồng bọn. Chúng ta lưu ý Bi-ri-u-dốp và bộ máy công tác của đồng chí về tình hình trên. Cần phải tìm hiểu thật chính xác hơn nữa trạng thái thật sự của quân đội Bun-ga-ri, nếu cần thì giúp đỡ tất cả những gì có thể để các đơn vị Bun-ga-ri tiến ra chiến đấu được ở ngoài mặt trận. Nhờ đó mà củng cố vững chắc những thành quả của cuộc khởi nghĩa nhân dân Bun-ga-ri, làm phá sản mọi mưu toan của bọn gián điệp địch cùng những kẻ muốn phục hồi chế độ cũ và làm cho thắng lợi ngày một tiền đến gần.



Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Giêng, 2016, 10:30:21 am

Sự chống đối của Ven-trép và những tên phản động trong Bộ tổng tham mưu Bun-ga-ri không lọt qua mắt Đảng công nhân Bun-ga-ri, Ban chấp hành trung ương Đảng. Đảng hết sức quan tâm đến việc củng cố quân đội và đưa các đơn vị ra mặt trận. Theo đề nghị của Gh. M. Đi-mi-tơ-rôp, Ban chấp hành trung ương Đảng công nhân Bun-ga-ri đã cử I-van Vi-na-rốp xuống các đơn vị làm nhiệm vụ nắm tình hình quân đội Bun-ga-ri và giúp đỡ quân đội đứng vào đội ngũ chung chống Hít-le. Đặt chân tới Bun-ga-ri, I. Vi-na-rốp cùng với mấy đồng chí trợ lý xuống ngay các đơn vị bộ đội.

Tình hình ở đây hoàn toàn không sầu thảm như Ven-trép và đồng bọn thường mô tả. Tổ cán bộ của Vi-na-rốp không hề thấy một binh đoàn hoặc binh đội nào không chịu   phục tùng chính phủ của Mặt trận Tổ quốc. Lúc trở về Xô-phi-   a, Vi-na-rốp báo cáo những kết luận của mình. Đồng chí tuyên bố rằng quân đội Bun-ga-ri «cần thêm hai tuần lễ nữa để hoàn thành việc chấn chỉnh đội ngũ; hiện nay quân đội có khả năng chiến đấu, nhưng tất nhiên sau thời hạn trên sẽ còn có sức chiến đấu cao hơn». Như vậy, vấn đề quân đội Bun-ga-ri chưa có khả năng chiến đấu là không đúng với sự thật. Sau chuyến đi của I. Vi-na-rốp, vấn đề đó nói chung không còn tồn tại nữa. Những thiếu sót còn tồn tại trong các đơn vị đã được khắc phục trong một thời gian tương đối ngắn.

Bọn phản động còn mưu toan dựa vào các cuộc hội họp bấy giờ đang sôi động trong các doanh trại quân đội ở Bun- ga-ri để xuyên tạc rằng quân đội Bun-ga-ri đang ở trong tình trạng rối loạn, tan rã. Qua kinh nghiệm cách mạng ở nước mình, bộ chỉ huy Liên Xô hiểu rõ rằng, tình hình sục sôi như vậy ở quân đội Bun-ga-ri có ý nghĩa gì. Những buổi mít tinh ồn ào đó hoàn toàn không phải là dấu hiệu bộ đội không có khả năng chiến đấu, mà chỉ là biểu hiện của những khát vọng tìm kiếm chân lý. Mỗi quân nhân đều muốn tìm hiểu ra chân lý đó trong quá trình khởi nghĩa của nhân dân, muốn xác định được vị trí của mình trong trào lưu các sự kiện chân thực của lịch sử.

Tất nhiên là không phải mọi quân nhân, mọi sĩ quan đều có thể nhận thức được tất cả những cái mới sinh ra sau khi cuộc khởi nghĩa nhân dân thắng lợi. Có quân nhân không chịu phục tùng mệnh lệnh của sĩ quan cấp trên, vì họ không hiểu chính kiến những người chỉ huy của mình. Lại cũng còn những quân nhân suy nghĩ về mảnh đất của mình đang để lại ở nông thôn nhiều hơn là suy nghĩ về chính trị. Cái mới nảy sinh bên cạnh cái cũ đang tồn tại; không phải ai cũng dễ nhận ra ngay chỗ đứng của mình mai sau, mình sẽ đi theo ai, vì tiếng nói và tấm gương của các đảng viên cộng sản chưa kịp phát huy sức mạnh ở khắp mọi nơi.

Thay đổi trong một thời gian ngắn bản chất chính trị và tinh thần của một quân đội trước đây từng phục vụ chế độ quân chủ thân phát-xít, để đưa quân đội đó tiến lên phục vụ những thành quả của cuộc Khởi nghĩa nhân dân tháng Chín là một nhiệm vụ rất khó. Bộ tổng tham mưu cũng đã nghiên cứu tới vấn đề đó và đã nhiều lần thảo luận về vấn đề các ủy ban quân nhân sinh ra trong quá trình khởi nghĩa ở các đơn vị sẽ giúp đỡ hay sẽ làm trở ngại cho việc củng cố trật tự, động viên tinh thần sẵn sàng chiến đấu của bộ đội, xây dựng một quân đội Bun-ga-ri mới.

Đảng công nhân Bun-ga-ri đã sáng suốt quyết định được thời cơ, khi đội ngũ cán bộ sĩ quan lựa chọn ở những người trung thành với nhân dân được củng cố, đã làm mất tác dụng từng bước một các ủy ban quân nhân, vì nếu cứ tiếp tục để các ủy ban này tồn tại, chúng sẽ gây trở ngại cho việc củng cố kỷ luật và chế độ một người chỉ huy trong quân đội, cho việc chuẩn bị tác chiến của quân đội ở ngoài mặt trận. Các ủy ban ấy dần dần được giải thể.



Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Giêng, 2016, 10:30:52 am

Do chỗ đội ngũ cán bộ chỉ huy mới chưa phải đều đã được huấn luyện tốt về mặt quân sự, nên đã nảy sinh ý định cử các cố vấn của quân đội Liên Xô giúp đỡ quân đội Bun-ga-ri. I. X. A-nô-sin là người nảy ra ý định đó đầu tiên trong bức điện báo cáo gửi A. X. Giên-tốp, ủy viên Hội đồng quân sự phương diện quân U-crai-na 3.

A. X. Giên-tốp ủng hộ đề nghị ấy. Đồng chí hội ý với Ph. I. Tôn-bu-khin và chủ trương đặt vấn đề với Bộ tổng tham mưu về việc cử các đại biểu quân sự của ta. Đồng chí tư lệnh đồng ý.

Theo chỉ thị của tư lệnh phương diện quân, X. X. Bi-ri-u-dốp đem trao đổi vấn đề trên với K. Ghê-oóc-ghi-ép và Đ. Ven-trép. Họ quyết định chính thức mời Liên Xô cử các sĩ quan xô-viết vào làm đại biểu trong các đơn vị ở Bun-ga-ri, nói một cách chính xác hơn là làm huấn luyện viên về các vấn đề huấn luyện chiến đấu.

Ngày 20 tháng Chín. A. I. An-tô-nốp nhận được bức điện từ phương diện quân U-crai-na 3 của Ph. I. Tôn-bu-khin đặt vấn đề cử các cố vấn cho quân đội Bun-ga-ri theo đề nghị của chính phủ Bun-ga-ri.

Bức điện trên được báo cáo cho Đại bản doanh, sau đó ít lâu Chính phủ Liên Xô đồng ý cử các sĩ quan Hồng quàn vào các binh đoàn của Bun-ga-ri, nhưng chỉ vào những binh đoàn hoạt động cùng với bộ đội của phương diện quân U-crai-na 3.

Đầu tháng Mười 1944, bảy đại tá Liên Xô đến các đơn vị của Bun-ga-ri: Ta-tác-trép-xki tới sư đoàn bộ binh 4. Khê-ra-xcốp — sư đoàn 5, Ti-tốp — sư đoàn 6, Ga-li-ác-bê-rôp — sư đoàn 9, Gri-gô-ri-ép — sư đoàn 12, Sa-phô-rôt và Pô-gi-đa-ép — sư đoàn kỵ binh 1 và 2. Các cố vấn Liên Xô không chỉ huy mà chỉ đóng góp những ý kiến thiết thực khi cần thiết. Ít lâu sau, thiếu tướng A. V. Bla-gô-đa-tốp được cử làm trưởng đoàn cố vấn Liên Xô trong quân đội Bun-ga-ri.

Các chỉ huy sư đoàn và trung đoàn của Bun-ga-ri lúc bấy giờ chưa có nhiều kinh nghiệm chiến đấu, nên sự giúp đỡ của các đồng chí Liên Xô là đúng lúc. Các đại biểu quân sự của ta phải thâm nhập vào mọi vấn đề tổ chức hoạt động chiến đấu, bảo đảm chiến đấu, đặc biệt là vấn đề tổ chức trinh sát và chỉ huy các đơn vị. Bản thân cuộc sống yêu cầu như vậy. Ví dụ, đại tá Ta-tác-trép-xki báo cáo về tình trạng công tác trinh sát của binh đoàn nơi đồng chí công tác: «Sư đoàn không tổ chức trinh sát, các tin tức về địch đều lấy ở nhân dân địa phương và du kích. Những tin tức ấy chưa thật đúng và chính xác», cả những vấn đề khác tiến hành cũng chưa tốt.

Các cán bộ chính trị của Liên Xô cũng đã giúp đỡ nhiều trong việc tổ chức công tác chính trị, giáo dục quân đội nhân dân Bun-ga-ri còn non trẻ. Các đồng chí Bun-ga-ri đón tiếp nồng nhiệt các sĩ quan Liên Xô, hào hứng tiếp thụ những kinh nghiệm mà họ đã thu được trong cuộc đấu tranh gian khổ chống quân đội phát-xít Đức. Sự thông cảm lẫn nhau và hợp tác tốt đẹp đã nhanh chóng hình thành và sản sinh ra tình hữu nghị chiến đấu thắm thiết lâu dài sau này.

Đảng công nhân Bun-ga-ri và Mặt trận Tổ quốc đã tiến hành thắng lợi việc cải tổ lại quân đội Bun-ga-ri, đã tiếp thêm cho nó sức mạnh cách mạng của Quân đội khởi nghĩa giải phóng nhân dân. Những người chỉ huy các đơn vị du kích giữ các cương vị chỉ huy trong các binh đoàn và đơn vị. Các chiến sĩ trong mặt trận nhân dân đấu tranh chống chế độ quân chủ-phát-xít trở thành nòng cốt của quân đội mới.



Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Giêng, 2016, 10:32:15 am

Căn cứ vào kinh nghiệm đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản Nga, Đảng công nhân Bun-ga-ri và người trợ thủ gần gũi của Đáng là Đoàn thanh niên công nhân, đã công bố lời hiệu triệu những người tình nguyện. Gần 40 nghìn chiến sĩ tích cực đấu tranh cho nước Bun-ga-ri nhân dân nhiệt liệt hưởng ứng lời kêu gọi đó: các chiến sĩ du kích, các tù nhân chính trị trước đây và những người bị giam giữ trong các trại tập trung, những thanh niên nhiệt tình với cách mạng. Đó là những con người có ý chí cách mạng cao, tinh thần chiến đấu bầt khuất và biết hành động thiết thực, đã đem lại bộ mặt mới cho các doanh trại quân đội Bun-ga-ri, đem lại cho các đơn vị tính kiên cường và ý chí, dẫu thế nào cũng phải tiêu diệt bằng được quân địch ở ngoài chiến trường.

Những biện pháp rất táo bạo đã được áp dụng để đổi mới đội ngũ cán bộ chỉ huy. Những sĩ quan và tướng lĩnh đã là những tên đày tớ trung thành của chế độ quân chủ- phát-xít thì bị đuổi ra khỏi quân đội.

Các đảng viên cộng sản đã từng được thử thách, trước đây đứng trong hàng ngũ Quân đội khởi nghĩa giải phóng nhân dân đấu tranh chống nhà vua và tập đoàn phát-xít, nay cùng các sĩ quan là đảng viên cộng sản, những người đã từng tiến hành hoạt động bí mật trong quân đội chính quy của nước Bun-ga-ri, đứng ra nắm quyền lãnh đạo quân đội, kể cả khâu chỉ huy quân sự ở cấp cao. Trong số đó có những ngưòi anh hùng tháng Chín 19231, những kiều dân chính trị, các chính ủy và các nhà chỉ huy quân khởi nghĩa. Tên tuổi của họ đã được nhiều người biết đến, như: I-van Vi-na-rốp, Ghê-oóc-ghi Đa-mi-a-nốp, Da-kha-ri Da-kha-ri-ép, I-van Ki-nốp, Phéc-đi-na Cô-dốp-xki, I-van Mi-khai-lôp, Bra-ni-mia Oóc-ma-nốp, Pi-ốt Pan-trép-xki. Các đồng chí này trước đây đã công tác trong Hồng quân và tốt nghiệp các học viện quân sự ở Liên Xô. Họ đều nắm được lý luận và kinh nghiệm thực tiễn cần thiết để lãnh đạo xây dựng quân đội Bun-ga-ri và chỉ đạo tác chiến.

Một số sĩ quan trước đây bị loại ra ngạch dự bị vì có tư tưởng chống phát-xít, như Vla-đi-mia Xtôi-trép, Tô-đo Tô-sép, Xtô-i-an Tơ-ren-đa-phi-lốp, nay trở về đội ngũ để củng cố thành phần cán bộ chỉ huy. Theo thứ tự đó, các đồng chí giữ cương vị tư lệnh tập đoàn quân 1 và chỉ huy các sư đoàn bộ binh. Đại bộ phận sĩ quan cấp dưới được thay thế bằng các hạ sĩ quan có tinh thần cách mạng.

Tất cả những nguồn bổ sung cán bộ trên đã làm giảm bớt tình trạng thiếu thốn cán bộ chỉ huy trong quân đội Bun-ga-ri và tạo thêm tính chất thực sự nhân dân trong quân đội Bun-ga-ri mới.

Dựa theo kinh nghiệm lịch sử của các Lực lượng vũ trang Liên Xô, quân đội Bun-ga-ri cũng lập ra chế độ chính ủy để giúp những người chỉ huy. Những đảng viên cộng sản Bun-ga-ri nổi tiếng như Ste-ri-u A-ta-na-xôp và các đồng chí khác đã thể hiện ở đây sự sáng suốt và sự tôi luyện của Đảng.

Trong những ngày đáng ghi nhớ ấy đối với chúng tôi và đối với đất nước Bun-ga-ri nhân dân, bọn phản động đã nhiều lần thay đổi chiến thuật chống phá của chúng. Khi lý do quân đội chưa có khả năng chiến đấu mà bọn chúng đưa ra bị bác bỏ, chúng bèn tìm cách kéo dài thời gian, phá những biện pháp tổ chức các đơn vị, cố thu hẹp quân số các đơn vị tuyển mộ ra đi chiến đấu. Lúc này theo chúng, nhiệm vụ giải quyết các vấn đề nội bộ của đời sống Bun-ga-ri được đặt lên hàng đầu, còn nhiệm vụ đưa quân đội đi chiến đấu chống lại Hít-le phải đặt xuống hàng thứ hai.
___________________________________________
1. Những người anh hùng tháng Chín 1923 là những người tham gia cuộc khởi nghĩa tháng Chín 1923 chống phát-xít ở Bun-ga-ri dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản. — BT.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Giêng, 2016, 10:33:38 am

Mọi mưu đồ của kẻ thù nhân dân đều bị bóc trần, sự chống phá của chúng bị đè bẹp. Nhưng để đấu tranh với bọn chúng, chúng ta cũng phải mất công sức, phải quan tâm, chú ý và phải mất thời gian. Chúng ta cũng chưa thể lột ngay được mặt nạ của kẻ thù giả vờ là «bạn dân», vì chúng còn khôn khéo che đậy dưới cái chiêu bài Mặt trận Tổ quốc chiến đấu. Bản chất phản nhân dân của những kẻ «bạn dân» này trở nên đặc biệt rõ, khi chúng câu kết với bọn lưu vong phản động Bun-ga-ri ở nước ngoài, chẳng hạn như với Txan-cốp là kẻ đã lập ra ở Đức cái gọi là «chính phủ dân tộc Bun-ga-ri». Sự kiện trên xảy ra hồi cuối tháng Chín 1944, lúc hoàn thành cuộc động viên bộ đội Bun-ga-ri mở các chiến dịch trên lãnh thổ Nam Tư cùng với Hồng quân và Quân đội giải phóng nhân dân Nam Tư.

Bấy giờ, Đảng công nhân Bun-ga-ri (cộng sản) 1 kêu gọi nhân dân tích cực tham chiến và Gh. M. Đi-mi-tơ-rốp viết: «Tương lai đất nước chúng ta phụ thuộc trước hết vào sự đóng góp thiết thực của chúng ta, của nhân dân cũng như nhà nước, vào những cố gắng quân sự chung trong lúc này...» 2.

Lời kêu gọi của các đảng viên cộng sản được nhân dân tích cực hưởng ứng. Bắt đầu từ ngày 9 tháng Chín, quá trình cách mạng dâng lên khắp đất nước. Người ta triển khai việc động viên các lực lượng đứng về phía liên minh chống Hít-le tham gia cuộc chiến tranh thần thánh chống nước Đức phát-xít, và ngay từ đầu tháng Mười 1944, các chiến sĩ Bun-ga-ri đàã hiệp đồng với Quân đội giải phóng nhân dân Nam Tư và Hồng quân, tiến công thắng lợi trên hướng Ni-sơ.

Kẻ thù của nhân dân tạm thời giấu mặt, chúng không những vẫn tiếp tục phá hoại ngầm mà còn tăng cường hơn, nhất là sau khi ký kết hiệp nghị đình chiến với Bun-ga-ri ngày 28 tháng Mirời 1944. Lợi dụng tình hình các mối quan hệ với Bun-ga-ri lúc này đã được thể chế hóa chặt chẽ, Pét-cô Xtô-i-a-nốp, bộ trưởng tài chính, và Ni-cô-la Pét-cốp, bộ trưởng không bộ, đã chống đối quyết liệt việc tiếp tục mở rộng các hoạt động của quân đội Bun-ga-ri ngoài tiền tuyến cùng với Hồng quân.

Song, tất nhiên, những hành động chống phá của một nhóm nhỏ kẻ thù không thể ngăn chặn được các sự kiện phát triển. Bun-ga-ri vẫn bắt đầu lập ra binh đoàn mới, và công việc đó đã tiến hành tốt. Binh đoàn đó lấy tên cũ là tập đoàn quân Bun-ga-ri 1, nhưng về chức năng, biên chế và tinh thần chiến đấu của bộ đội thì nó lại là con đẻ của những cải cách cách mạng. Ngày 21 tháng Mười một 1944, bộ trưởng chiến tranh Bun-ga-ri ra quyết định thành lập tập đoàn quân này, gồm có 6 sư đoàn, mỗi sư đoàn 12000 người. Như đã nói ở trên, tư lệnh tập đoàn quân là trung tướng Vla-đi-mia Xtôi-trép, đã tỏ ra xuất sắc trong các trận đánh sau này. Phó của đồng chí là tướng Ste-ri-u A-ta-na-xốp, một đảng viên cộng sản, có kiến thức rộng, giàu kinh nghiệm hoạt động chính trị và quân sự. Các sư đoàn, trung đoàn và các đội dân binh đều được bổ nhiệm những cán bộ chỉ huy cấp phó đặc biệt, lấy trong số những người đã được thử thách trong cuộc đấu tranh chống phát-xít. Các đơn vị được củng cố, bổ sung các chiến sĩ tình nguyện, những người chống phát-xít.

Đảng đã tiến hành rộng khắp trong quân đội công tác giáo dục, giải thích các nguyên nhân vì sao bộ đội Bun-ga-ri cần đứng về phía Liên Xô, sát cánh chiến đấu với các chiến sĩ giải phóng Liên Xô, tiếp tục đấu tranh chống lại quân đội Hít-le. Đảng công nhân Bun-ga-ri (cộng sản) và chính phủ của Mặt trận Tổ quốc đặc biệt chú ý giải quyết nhiệm vụ này và đem lại cho nó một phương hướng chính trị rõ rệt. Đảng và chính phủ đã ra bản tuyên ngôn đặc biệt gửi nhân dân và quân đội Bun-ga-ri, trong đó chỉ rõ: «Chiến tranh sắp kết thúc, nhưng hiện nay vẫn chưa chấm dứt. Đất nước cần có những nỗ lực và hy sinh mới để bảo đảm tự do hoàn toàn cho nhân dân Bun-ga-ri cũng như các quyền lợi sống còn của Tổ quốc ta... Chúng ta không bao giờ được quên rằng, đây là thời cơ lịch sử quyết định vị trí của đất nước ta vào những năm sau này trong hàng ngũ các dân tộc yêu chuộng tự do và tiến bộ...»
____________________________________________
1. Từ cuối tháng Chín 1944, Đảng công nhân Bun-ga-ri lấy tên là Đảng công nhân Bun-ga-ri (cộng sản)
2. Gh. Đi-mi-tư-rốp. Tuyển tập, tiếng Nga, t. 2, Mát-xcơ-va, 1957, tr. 38.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Giêng, 2016, 10:34:05 am


Bọn phản động lại mưu đồ lợi dụng những khó khăn đang nảy sinh ở trong nước. Trong một phiên họp của Hội đồng bộ trưởng, chính những tên Xtô-i-a-nôp và Pét-cốp tuyên bố: việc gửi các sư đoàn mới ra ngoài mặt trận sẽ làm xấu hẳn tình hình nội bộ Bun-ga-ri, có thể sẽ dẫn đến khởi nghĩa của nhân dân. Một tên nói đại ý rằng Mỹ và Anh không tán thành tăng quân số. Cả hai tên bộ trưởng đều đặt vấn đề ngờ vực sự phù hợp giữa chính sách của Liên Xô với những lợi ích của nhân dân Bun-ga-ri. Pét-cốp và Ven-trép giấu giếm các bộ trưởng là đảng viên cộng sản, đưa lậu vào trong chính phủ bản «Nghị quyết số 4» nhằm bảo vệ cho bọn sĩ quan có những quan điểm thân phát-xít và đã từng có tội với nhân dân, khỏi bị trừng phạt một cách công bằng. Mọi mưu đồ đen tối của bọn phản động đều bị Đảng công nhân Bun-ga-ri (cộng sản) vạch mặt trước nhân dân. Quần chúng ủng hộ các đảng viên cộng sản, và trước áp lực của nhân dân, nghị quyết nguy hại đó đã bị bãi bỏ.

Đảng công nhân Bun-ga-ri (cộng sản), hiểu rõ ý nghĩa sự đóng góp của Bun-ga-ri vào sự nghiệp chung của các nước đồng minh, đã thuyết phục chính phủ của Mặt trận Tổ quốc bổ sung thêm các lực lượng chống lại nước Đức Hít-le. Ngày 14 tháng Chạp, bộ trưởng chiến tranh chính thức thông báo về vấn đề này. Để khỏi phải quay trở lại, tôi xin nói là đến cuối chiến tranh châu Âu, tổng số quân của tập đoàn quân Bun-ga-ri 1 hoạt động trong đội ngũ của phương diện quân U-crai-na 3 đã lên tới trên 245000 người.

Các binh đoàn và binh đội cận vệ, được bổ sung các chiến sĩ du kích và những người tình nguyện, đã giữ vai trò quan trọng trong việc xây dựng quân đội và thu được những thắng lợi rực rỡ trong chiến đấu. Các đơn vị đó hợp thành đạo quân xung kích của quân đội Bun-ga-ri, nổi bật ở tinh thần chiến đấu cao và sẵn sàng hoàn thành những nhiệm vụ khó khăn nhất.

Tiễn tập đoàn quân 1 ra mặt trận, nhân dân Bun-ga-ri đã chúc tập đoàn quân sớm thu được thắng lợi trước quân thù. Từng đơn vị một, căn cứ theo tình trạng sẵn sàng chiến đấu của mình, lẩn lượt lên đường. Trước hết là các sư đoàn bộ binh 3,8 và 11, rồi sau đó đến sư đoàn 16 có mặt ở ngoài mặt trận. Cuối tháng Chạp 1944, các sư đoàn trên đã chiến đấu tiến công ở vùng giữa hai con sông Đra-va và Xa-va, và từ đầu năm 1945 đã thực hành phòng ngự bảo đảm sườn tiếp giáp giữa phương diện quân U-crai-na 3 và Quân đội giải phóng nhân dân Nam Tư ở phía Tây và Nam thành phố Pét (Hung-ga-ri). Sau này, các đơn vị quân đội Liên Xô, Bun-ga-ri và Nam Tư đã phối hợp với nhau, tiêu diệt các đơn vị quân địch âm mưu đột phá vượt qua sông Đra-va, tiến vào sau lưng phương diện quân U-crai-na 3.

Kết cục thắng lợi của những trận giao chiến gay go, đẫm máu ở Đra-va và khu vực Két-ke-mét chứng minh rằng, công tác tổ chức và công tác chính trị của Đảng công nhân Bun-ga-ri (cộng sản) tiến hành trong thời kỳ kiện toàn quân đội và trong quá trình chiến đấu đã thu được những kết quả chính trị vả quân sự to lớn. Các chiến sĩ Bun-ga-ri đã dũng cảm và quên mình chiến đấu cho Tổ quốc cách mạng của mình và cho mục đích chung là tiêu diệt nước Đức phát-xít. Cuộc đấu tranh vũ trang của họ chống bọn chiếm đóng phát-xít đã được mọi người công nhận.



Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Giêng, 2016, 06:40:55 pm

CHƯƠNG SÁU

Ở Nam Tư

Trước những sự kiện quyết định. — I. Brôt Ti-tô ở Mảt-xcơ-va. — Phá bẫy.
— Chuyến bay dũng cảm. — Sự nhất trí tốt đẹp.— Chúng ta chuẩn bị các chiến dịch phối hợp.
— Những tính toán sai của bộ chỉ huy Hít-le. — Con đường dũng cảm tới Bê-ô-grát.
— Chiến thắng. — Các kế hoạch mai sau. — Những tháng chiến tranh cuối cùng ở Nam Tư. — Tình bạn chiến đấu.



Đầu tháng Chín 1944, bộ đội Liên Xô được nhân dân Bun-ga-ri đón tiếp nồng nhiệt, đang tiến sâu xuống phía Nam và Tây-Nam, thì Tổng tư lệnh tối cao giao nhiệm vụ cho Bộ tổng tham mưu chuẩn bị tài liệu về các công việc ở Nam Tư. Đồng chí nói: I-ô-xíp Brốt Ti-tô, Tổng tư lệnh tối cao Quân đội giải phóng nhân dân Nam Tư, thông qua phái đoàn quân sự của ta, đã đề nghị với Liên Xô cho Hồng quân tạm thời tiến vào lãnh thổ Nam Tư. Các sĩ quan trong Cục tác chiến Bộ tổng tham mưu bắt tay vào nhiệm vụ ngay. Nhiệm vụ khá phức tạp, vì phải suy nghĩ tới nhiều vấn đề.

Vào những ngày 20 tháng Chín, nguyên soái I. Brot Ti-tô đáp máy bay tới Mát-xcơ-va. Cùng đi có tướng N. V. Coóc- nê-ép, trưởng phái đoàn quân sự của ta. Tình hình các mặt trận ở Nam Tư vào thời gian này khá hơn nhiều. Mấy chiến dịch tiến công lớn của bọn Hít-le âm mưu tiêu diệt Quân đội giải phóng nhân dân Nam Tư đã bị thất bại hoàn toàn. Trong khi ấy, Quân đội giải phóng nhân dân Nam Tư đã lớn mạnh, tích lũy được nhiều kinh nghiệm chiến tranh và đang tiến hành những cải cách về tổ chức. Nó không còn là một đội quân du kích nữa, mà đã trở thành một đội quân chính quy hiện đại, thật ra thì vẫn còn mang những dấu vết sống động của thời quá khứ. Biên chế nó gồm có 50 sư đoàn, nhiều lữ đoàn và chi đội, gồm 400.000 chiến sĩ, đã được tôi luyện trong đấu tranh chống quân thù. Các đơn vị đó không chỉ đơn thuần phòng ngự mà đã biết tiến công có tổ chức, quét sạch bọn xâm lược hết vùng này đến vùng khác. Đầu tháng Chín, 7 sư đoàn của Quân đội giải phóng nhân dân Nam Tư phối hợp với 5 sư đoàn hoạt động ở trong nước cộng hòa Xéc-bi-a, đã tiến công vào Xéc-bi-a, 12 sư đoàn đó đã tiêu diệt được các đơn vị quân địch đóng tại căn cứ này. Trong vòng 10 ngày tiến công đầu tháng Chín, Quân đội giải phóng nhân dân Nam Tư đã giải phóng được 98 thành phố, thị trấn và gây cho địch nhiều thiệt hại nặng. Đài phát thanh «Nam Tư tự do» loan báo: quân địch chết 24.000 tên, có 11.900 binh lính và sĩ quan bị bắt làm tù binh. Thời gian gặp gỡ giữa các đơn vị Quân đội giải phóng nhân dân Nam Tư và Hồng quân đã nhích lại gần...

Khi các bạn Nam Tư đặt chân tới Liên Xô, A. I. An-tô-nốp báo cho tôi biết rằng khoảng nửa đêm đồng chí sẽ đến gặp I. V. Xta-lin tại «biệt thự gần thành phố» ở Cun-xê-vô.

Sau này, An-tô-nốp kể lại: cuộc mạn đàm trong bữa cơm thân mật buổi tối đã diễn ra rất nồng nhiệt, nhưng hết sức thiết thực. Được sự ủy nhiệm của ủy ban dân tộc giải phóng Nam Tư, nguyên soái Ti-tô đề nghị với Liên Xô cho các lực lượng vũ trang tiến vào lãnh thổ miền Đông Nam Tư và đề xuất các nguyên tắc hiệp đồng giữa Hồng quân và Quân đội Nam Tư. Các bạn Nam Tư hy vọng có thể giải phóng được thủ đô Bê-ô-grát trong quá trình các hành động chiến đấu sắp tới đây. I. V. Xta-lin quay sang phía A. I. An-tô-nốp nói: Bộ tổng tham mưu chắc sẽ không phản đối chứ! Và trong buổi hội đàm ấy, hai bên đã thỏa thuận với nhau về mặt nguyên tắc cho các chiến dịch phối hợp sau này, còn những văn bản chính thức sẽ được ký kết sau. Chúng ta thông báo cho Tổng tư lệnh tối cao Quân đội giải phóng nhân dân Nam Tư biết các ý định sắp tới đây của chúng ta.

Chúng ta thông báo cho nguyên soái Ti-tô rằng phương điện quân U-crai-na 3 và Chi hạm đội Đa-nuýp sẽ được sử dụng để chi viện cho Nam Tư. Với các lực lượng trên, chúng ta trù tính cũng đủ để tiêu diệt quân địch ở khu vực Bê-ô-grát. Còn trên các khu vực khác thì Quân đội giải phóng nhân dân Nam Tư tin là có thế đánh tan được bọn chiếm đóng Hít-le bằng những lực lượng của bản thân mình. Nhân dịp này, I. V. Xta-lin nêu ý kiến là thời gian tới đây, cánh trái của phương diện quân U-crai-na 2 sẽ đi qua Nam Tư để đánh vào Hung. Nếu ủy ban giải phóng dân tộc Nam Tư cho phép bộ đội Liên Xô tạm thời tiến vào đất Nam Tư, thì thuận lợi biết bao. Đề nghị đó xuất phát từ lợi ích đấu tranh chống kẻ thù chung và đã được sự thỏa thuận của I. Brốt Ti-tô, thay mặt ủy ban dân tộc giải phóng và Bộ tham mưu tối cao Quân đội giải phóng nhân dân Nam Tư.

Cuộc tiến công của bộ đội Liên Xô trong tháng Chín 1944 phát triển ở sườn phía Nam mặt trận Xô-Đức thu được thắng lợi triệt để. Ngày 30 tháng Chín, bộ đội ta quét sạch quân địch trên 20 vùng dân cư của Nam Tư. Vùng ta giải phóng ở Nam Tư ngày càng được mở rộng. Trong quá trình truy kích địch, các đơn vị của phương diện quân U-crai-na 2 đã tiến tới bờ phía Đông sông Đa-nuýp. Trong khi ấy, các tập đoàn quân của phương diện quân U-crai-na 3 tiến tới biên giới phía Nam và phía Tây Bun-ga-ri. Cuối tháng Chín, tập đoàn quân 57 của trung tướng N. A. Ga-ghen chiếm được một khu rất quan trọng của thành phố Vi-đin trên bờ đối diện, bờ phía Tây sông Đa-nuýp, nên đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho bộ đội ta vượt con sông rất rộng và chảy xiết ấy, đồng thời cũng hoàn toàn tránh cho một số binh đoàn khỏi phải vượt con sông này. Sông Đa-nuýp lúc này lại có lợi cho chúng ta, trở thành luồng tiếp tế quan trọng và thuận tiện cho các đơn vị. Chi hạm đội Đa-nuýp vẻ vang dưới sự chỉ huy của Xéc-gây Ghê-oóc-ghi-ê-vích Goóc-scốp, hoạt động trên con sông này.

Nhưng, trên hướng đó quân địch cũng còn nhiều lực lượng. Các đơn vị Hít-le có 270.000 người, gồm 14 sư đoàn đủ biên chế, 8 sư đoàn thiếu, nhiều trung đoàn và tiểu đoàn độc lập. Ngoài ra, ở phía Bắc Nam Tư còn 5 sư đoàn Hung-ga-ri gồm 30.000 binh lính và sĩ quan. Các đơn vị quân ngụy Nam Tư cũng còn khoảng 270.000 tên. Tính chung, chúng còn tới 570.000 binh lính và sĩ quan. Một con số đáng phải chú ý!

Các đơn vị phát-xít Đức đóng ở Đông-Nam Nam Tư thuộc quyền chỉ huy của viên thống chế tư lệnh Phôn Vai-khơ-xơ. Cả Cụm tập đoàn quân «Ph» đóng ở Khoóc-va-ti-a, Bô-xnhi-a và Ghéc-txơgô-vi-na, Tséc-nô-gô-ri-a và An-ba-ni cũng thuộc quyền y. Các đơn vị của Cụm tập đoàn quân «E» do thượng tướng Lo-rơ chỉ huy, đóng quân ở Hy Lạp và trên các hòn đảo. Cụm tập đoàn quân «Xéc-bi-a» do tướng Phen-béc chỉ huy hoạt động ở Xéc-bi-a. Từ cuối tháng Tám 1944. các lực lượng địch ở Nam Tư tăng hẳn lên. Để chống đỡ các đòn tiến công của Quân đội giải phóng nhân dân, quân địch buộc phải điều động tới đây một bộ phận của Cụm tập đoàn quân «E». Ọuân địch ở Ru-ma-ni bị tiêu diệt, Hồng quân lúc này đang tiến sâu vào bán đảo Ban-căng đã buộc địch phải chuẩn bị cho rút các binh đoàn và đơn vị của chúng ra khỏi Hy Lạp và Ma-xê-đoan để tránh không bị nguy hiểm. Ngày 3 tháng Mười 1944, chúng được lệnh rút lui. Ọuân địch ở Nam Tư chiếm giữ những vùng có ý nghĩa chính trị và kinh tế chủ yếu, đóng chốt trên những con đường sắt và đường ô tô, âm mưu dựa vào các cứ điểm để hòng kiểm soát tình hình. Chúng đặc biệt chú ý tới việc phòng thủ các đường biên giới phía Đông Nam Tư, giữ vững các đường rút khỏi Hy Lạp sang Hung-ga-ri, Áo và Bắc I-ta-li-a. Các cứ điểm mạnh nhất của địch, trừ Xéc-bi-a, bố trí ở khu vực Xcôp-le, Ni-sơ, Cra-lê-vô.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Giêng, 2016, 06:42:42 pm


*
* *

Bộ chỉ huy Hít-le đã nhiều lần âm mưu thủ tiêu ban lãnh đạo của Quân đội giải phóng nhân dân. Tháng Năm 1944, quân địch mưu toan tổ chức biệt kích vào khu vực thành phố Đrva-rơ của Nam Tư, nơi bố trí Bộ tham mưu tối cao của Quân đội giải phóng nhân dân. I. Brôt Ti-tô thuật lại sự việc này trong buổi hội đàm tại «biệt thự gần thành phố».

Đrva-rơ nằm ở phía Tây Bô-xni-a, có núi non che chở. Chỉ cần bố trí một lực lượng tương đối ít Quân đội giải phóng nhân dân Nam Tư là có thể bảo vệ được những cửa ngõ vào Bộ tham mưu tối cao. Ớ đây có một tiểu đoàn bảo vệ Đại bản doanh Nam Tư, các học viên trường sĩ quan, 2-3 xe tăng và một tiểu đoàn của lữ đoàn công binh.

Bộ chỉ huy phát-xít Đức vạch ra một kế hoạch rất xảo quyệt: tổ chức đột kích đường không kết hợp với tiến công bằng những lực lượng lớn trên bộ. Bọn Hít-le âm mưu đổ bộ bằng đường không một lực lượng mạnh xuống khu vực Đrva-rơ chiếm lấy Bộ tham mưu tối cao và bắt I-ô-xíp Brốt Ti-tô. Sau đó, quân đổ bộ sẽ chốt giữ ở tại khu vực đó cho tới khi quân đường bộ tiếp cận.

Chúng có ý định sử dụng tiểu đoàn nhảy dù SS500 và nhiều máy bay để tổ chức đổ bộ bằng đường không. Còn các đơn vị lấy trong biên chế của 3 sư đoàn bộ binh Đức cùng với một lực lượng lớn quân ngụy địa phương, sẽ tiến công bằng đường bộ. Tên quân đoàn trưởng quân đoàn núi Đức 15 chỉ huy chiến dịch này.

Sáng sớm ngày 25 tháng Năm 1944, không quân địch bắn phá ác liệt vào khu vực Đrva-rơ.

— Ngày tổ chức biệt kích, — N. V. Coóc-nê-ép nhận xét,—được bọn địch lựa chọn rất quỷ quyệt, đúng vào ngày sinh của I. Brôt Ti-tô. Chắc là Hít-le muốn tiêu diệt bộ phận đầu não của phong trào giải phóng dân tộc Nam Tư đúng vào ngày ấy.

Ngay sau khi bắn phá khu vực Đrva-rơ, quân địch dùng tàu lượn tổ chức đổ bộ đợt đầu hơn 600 tên. Đồng thời, bộ binh của chúng cũng bắt đầu xuất phát tiến vào Đrva-rơ. Trong túi áo mỗi tên lính phát-xít đều có ảnh của Tổng tư lệnh tối cao Quân đội giải phóng nhân dân Nam Tư, để khi gặp dễ nhận ra ngay. Bọn chúng còn được lệnh đặc biệt về phái đoàn quân sự Liên Xô, lấy ám hiệu là «Mát-xcơ-va». Bọn phát-xít tuyên bố phái đoàn quân sự Liên Xô ở đây nằm ngoài vòng pháp luật, việc đó cho phép những tên lính biệt kích khi bắt được các tướng lĩnh và sĩ quan Liên Xô sẽ giết ngay không cần xét xử.

Khi máy bay địch bắt đầu bắn phá, rồi sau đó các tàu lượn đổ bộ, bọn biệt kích bắt đầu tiến công thì I. Brốt Ti-tô đang ở trong hang núi. Hang này được cải tạo thành chỗ ở và nơi làm việc, ở độ cao trên 70 mét so với thung lũng phía dưới. Gặp trường hợp báo động, những người ở đây sẽ dùng chiếc dây thừng to, chắc chắn, để thoát khỏi hang, xuống thung lũng. Tất cả chạy tới địa điểm tập trung đã quy định trước.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Giêng, 2016, 06:43:43 pm


Hy vọng của bọn tổ chức biệt kích không thành. Bọn chúng bị đánh trả mãnh liệt. Phát hiện thấy các tàu lượn đổ bộ có mang theo dù hãm phía sau, các chiến sĩ trong tiểu đoàn cảnh vệ nổ súng. Học viên trường sĩ quan cũng kịp thời nổ súng. Trận đánh ác liệt bắt đầu.

Quân địch cho lính nhảy dù đổ bộ xuổng đợt hai (gồm 200 tên), chiếm được Đrva-rơ, nhưng I-ô-xíp Brốt Ti-tô, các ủy viên Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Nam Tư, các tướng lĩnh và sĩ quan trong Bộ tham mưu tối cao, các phái đoàn quân sự của Anh-Mỹ và của Liên Xô đã rút hết sang phía Đông.

Tướng A. P. Goóc-scốp, phó trưởng phái đoàn quân sự Liên Xô vừa nhận được tín hiệu báo động liền chạy tới chỗ N. V. Coóc-nê-ép. Vì Coóc-nê-ép đau răng, cả đêm không ngủ được, nên mãi đến sáng đồng chí mới thiếp đi được một lát. Chỉ mầy giây đồng hồ sau đồng chí đã vùng khỏi bao chăn và chẳng mấy chốc đã có mặt tại địa điểm tập trung.

I. Brốt Ti-tô được N. V. Coóc-nê-ép và các đồng chí khác hộ tống đi theo con đường hẻm xuyên núi tới Pô-tô-xi là địa điểm của sở chỉ huy dự bị đã chuẩn bị theo sự góp ý của phái đoàn quân sự ta. Các đồng chí đến Pô-tô-xi được an toàn, nhưng sau đó mọi con đường ra vào nơi đây cũng đều bị quân địch chặn hết lối. Quân địch mỗi lúc một dồn ép mạnh...

Đêm xuống. Nguyên soái Ti-tô triệu tập phiên họp chởp nhoáng đế quyết định sẽ hành động ra sao. Mọi người tụ họp dưới vách đá nhô rộng trên con đường mòn. Nhiều ý kiến đưa ra. Một số người đề nghị phân tán thành những tốp nhỏ và tìm cách thoát khỏi vòng vây. Trưởng phái đoàn quân sự Liên Xô, dựa vào kinh nghiệm các sự kiện đã xảy ra trước đây trên chiến trường Xô - Đức, đề nghị nên hành động tập trung, thống nhất bên nhau. Cuối cùng, mọi người đều đồng ý với đề nghị của N. V. Coóc-nê-ép.

Cuối cùng, tất cả thoát khỏi vòng vây, ra tới vùng núi Ve-li-ki Sa-to-rơ. Ở đây an toàn hơn, bọn Hít-le đã ở xa, còn bộ đội của quân đoàn vô sản 1 thì đã kịp tới ứng cứu. Sau đây, các đồng chí tới Cu-prê-scô Pô-le (Cu-prét) và tiến hành tổng kết tại đây. Nhận thấy rằng, địa điểm này hoàn toàn không đáp ứng được yêu cầu chỉ đạo các lực lượng vũ trang Nam Tư hoạt động, thêm nữa để I-ô-xíp Brốt Ti-tô ở xa bộ đội cũng sẽ vô cùng bất lợi, cho nên các đồng chí nghiên cứu tới hai phương án đề nghị về địa điểm, thuận lợi cho công tác chỉ đạo. Một là ở Tséc-nô-gô-ri-a, đây là vùng giải phóng có bộ đội Nam Tư chiếm giữ và hai là đảo Vít. Địa điểm thứ hai có vẻ thích hợp hơn. Nhưng trong thời gian này, muốn tới đảo Vít phải đi qua căn cứ không quân của ta ở Ba-ri, mà chúng ta lại chưa bắt liên lạc được với Ba-ri. Thêm nữa, I. B. Ti-tô lại trọng danh dự của người Tổng tư lệnh tối cao, không muốn nghĩ tới việc rời khỏi Nam Tư, dù chỉ là tạm thời. Lúc này, N. V. Coóc-nê-ép tìm mọi cách thuyết phục, nhắc tới những ngày hoạt động của Lê-nin khi buộc phải sống lâu năm ở nước ngoài, nhưng vẫn nắm chắc tay lái chỉ đạo sự hoạt động của các đảng viên cộng sản ở trong nước... Cuối cùng, nguyên soái quyết định vượt qua Ba-ri tới đảo Vít của Nam Tư trên biển A-đri-a-tích. Nhưng làm thế nào để tới được Ba-ri? Chúng ta không có máy bay, còn gọi được máy bay vào những lúc này quả là vấn đề thật khó khăn, vì điện đài của phái đoàn đánh đi không tới được Ba-ri, mà cũng chẳng tới Mát-xcơ-va... Bãi để máy bay hạ cánh cũng không có...

Bộ tổng tham mưu Liên Xô trong những ngày ấy cũng hết sức lo lắng. An-tô-nốp báo cáo cho Tổng tư lệnh tối cao: vẫn chưa nhận được tin tức gì từ Nam Tư. Đại bản doanh giao nhiệm vụ cho Bộ tổng tham mưu phải nắm được tình hỉnh và khi cần thiết phải chi viện ngay cho các đồng chí mình.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Giêng, 2016, 06:44:27 pm

Ngày 2 tháng Sáu 1944, tình trạng biệt tin rốt cuộc rồi cũng chấm dứt. Chúng tôi nhận được điện báo vô tuyến của N. V. Coóc-nê-ép. Sau này, đồng chí kể lại cho biết: Đôn-gốp, trợ lý phụ trách điện đài của phái đoàn là một người thông minh và tháo vát. Đồng chí đặt điện đài lên đỉnh một ngọn núi cao nhất, dựng ăng-ten thật cao, đã đánh đi được hai bức điện, chuyển cho X. V. Xô-cô-lốp ở Ba-ri và cho Mát-xcơ-va, đề nghị gửi máy bay tới Cu-prê-scô Pô-le vào lúc 22 giờ đêm rạng ngày 4 tháng Sáu. Đồng thời, phái đoàn quân sự của Anh-Mỹ cũng đánh điện về Ba-ri cho Bộ chỉ huy Anh một bức điện với nội dung tương tư như vậy.

Các bạn Nam Tư bắt đầu chuẩn bị bãi cho máy bay hạ cánh. Xung quanh đều là núi đá, vách đứng, khe sâu thăm thẳm. Tất cả mọi người không trừ một ai đều tham gia vào việc tạo bằng được một bãi trống cho máy bay hạ cánh, p. N. I-a-ki-mốp — hoa tiêu trong tổ lái của A. X. Soóc-ni-côp — là chuyên gia chính trong việc xây dựng bãi hạ cánh này. Đồng chí đến Đrva-rơ trước khi bọn phát-xít tổ chức biệt kích, để giúp việc lựa chọn địa điểm cho máy bay hạ cánh.

...Ở Ba-ri cũng sôi động hẳn lên. Ngày 2 tháng Sáu, các đồng chí ở đây chỉ nhận được có một phần bức điện của Đôn-gốp. Nhưng dù sao cũng hiểu được rằng N. V. Coóc-nê-ép yêu cầu cho máy bay tới hạ cánh ở Cu-prê-scô Pô-le, nhưng phần cuối bức điện nói về giờ hạ cánh thì lại không nhận được vì liên lạc bị đứt. Tuy nhiên ở Ba-ri, các đồng chí vẫn đoán rằng, cần gửi máy bay tới trong thời gian gần nhất — đêm rạng ngày 4 tháng Sáu 1944. Song tình hình lại phức tạp đi vì bộ chỉ huy Anh cũng chuyển cho X. V. Xô-cô-lốp bức điện của mình, mà ngày giờ quy định trong điện chậm hẳn một ngày — đêm rạng ngày 5 tháng Sáu. Vậy thời hạn nào đúng hon? Gặp điều kiện khác, các đồng chí sẽ hỏi lại lần nữa. Còn lúc này thì không thể nào bắt liên lạc được. Đồng chí chủ nhiệm khu căn cứ Ba-ri quyết định cho máy bay đi trinh sát vào ngày 3 tháng Sáu.

A. X. Soóc-ni-cốp, một trong những phi công dày dạn kinh nghiệm nhất ở căn cứ không quân Ba-ri, lái máy bay tới Nam Tư. Đồng chí bay ban đêm, vượt qua biển, qua núi tới bãi hạ cánh lạ, lại chưa được thiết bị, giữa những vách đá. Tài nghệ bay của đồng chí thật là điêu luyện và lòng dũng cảm của đồng chí thật là phi thường, đồng chí lại vững tin vào các bạn chiến đấu đã chuẩn bị cho mình một địa điểm hạ cánh bất thường.

Bay trong mây mù không nhìn thấy đất liển, đồng chí chao đi, nhào lại để tìm kiếm khoảng trời hé sáng trong biển mây mênh mông. Nguy cơ đâm vào núi quả là rất lớn, nhưng nỗi lo âu cho vận mệnh của các bạn hữu đang chờ đợi lại còn lớn hơn. Cuối cùng, luống ánh sáng ấy đã xuất hiện. Phía dưới, những đồng lửa đỏ bập bùng như đang kêu gọi.

Chuyến bay đầu tiên vào đêm rạng ngày 4 tháng Sáu 1944 đã đưa I-ô-xíp Brốt Ti-tô, các trợ lý thân cận, tướng N. V. Coóc-nê-ép và một số sĩ quan khác trong các phái đoàn quân sự và trong Bộ tham mưu tối cao Quân đội giải phóng nhân dân Nam Tư đến Ba-ri và họ được đón tiếp nồng nhiệt tại đây. Tổ lái của Soóc-ni-côp lại bay tới Cu-prê-scô Pô-le, tiếp theo đó là các máy bay của Anh. Những người còn lại đều được chuyển đi hết. Mấy ngày sau, các thủy thủ Anh chở tiếp Bộ tham mưu tối cao Quân đội nhân dân giải phóng Nam Tư, các phái đoàn quân sự tới đảo Vít, và Đại bản doanh của Nam Tư tiếp tục làm việc tại đây.

Âm mưu của quân địch định chặt đầu Bộ tham mưu tối cao Quân đội nhân dân giải phóng Nam Tư đã bị thất bại như thế đấy. A. X. Soóc-ni-cốp, chỉ huy trưởng máy bay Liên Xô, B. T. Ca-lin-kin, người lái phụ và P. N. I-a-ki-môp, người dẫn đường đã được tặng thưởng danh hiệu Anh hùng Liên Xô và Anh hùng nhân dân Nam Tư về thành tích chiến đấu của mình.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Giêng, 2016, 06:45:02 pm

*
* *

Đến cuối mùa hè năm 1944, cuộc đấu tranh chống phát-xít của nhân dân Nam Tư đã chuyển sang quy mô mới. Đội ngũ các chiến sĩ ngày càng tăng lên gấp bội. Bộ chỉ huy tối cao Quân đội nhân dân giải phóng Nam Tư kiên quyết lãnh đạo các lực lượng đấu tranh giải phóng. Ở Xéc-bi-a, Khoóc-va-ti-a, Xlô-ve-ni-a, Ma-xê-đoan, Vô-e-vô-đi-na đã thành lập các cơ quan tham mưu địa phương có các đồng chí tư lệnh tương ứng phụ trách, như tư lệnh tập đoàn quân và chủ nhiệm. Việc bổ sung các cơ quan của bộ máy chỉ huy quân sự đó được tiến hành trực tiếp tại các khu du kích, hoặc tại đảo Vít có lắm núi mà chúng ta đã nhắc đến ở trên. Cơ quan tham mưu địa phương đã chuyển từ đảo sang địa điểm chiến sự. Chẳng hạn, các sĩ quan Liên Xô tham gia thành lập và huấn luyện bộ đội ở bộ tham mưu Xéc-bi-a do tướng Cô-tra Pô-pô-vích lãnh đạo. Vào tháng Bảy 1944, thiếu tướng Goóc-scốp cùng đi với bộ tham mưu Xéc-bi-a đến khu vực chiến sự.

Căn cứ không quân của Liên Xô ở Ba-ri giữ vai trò to lớn trong việc di chuyến bộ tham mưu. Tổ lái của phi công Liên Xô N. A. Ghi-ren-cô đi trinh sát bãi đổ bộ ở khu vực Ca-dan-trích (cách phía Nam Ni-sơ 25 ki-lô-mét), đã tổ chức cho nhóm tham mưu cùng đại diện Liên Xô có mang theo điện đài nhảy dù xuống khu vực ấy. Sau khi tổ chức được đường liên lạc. Ghi-ren-cô đã chở tất cả các cán bộ trong bộ tham mưu tới khu vực ấy, ngay trước mũi quân địch vào một đêm tối trời không trăng sao (12 tháng Bảy). Trước sự táo bạo đó, ngay các chiến sĩ du kích ở đây cũng hết sức kinh ngạc; họ đã tổ chức iên hoan với các phi công và các đồng chí trong bộ tham mưu mới đến...

Quân đội nhân dân giải phóng Nam Tư và những người lãnh đạo quân đội được nhân dân Liên Xô, các chiến sĩ xô-viết và Bộ tổng tham mưu rất kính trọng. Họ đã biểu thị tinh thần dũng cảm, lòng trung thành với nhân dân trong cuộc đấu tranh không khoan nhượng chống bọn xâm chiếm Hít-le. Trong cuộc đấu tranh gian khổ và kéo dài nhiều năm ấy, Quân đội nhân dân giải phóng Nam Tư đã trưởng thành vượt bậc. Cuộc đấu tranh ấy đã tạo nên đội ngũ cán bộ chỉ huy và cán bộ chính trị của mình, những con người có tinh thần chiến đấu vững vàng, nắm được nghệ thuật đấu tranh, biết vận dụng trong các điều kiện hoạt động du kích, sẵn sàng xả thân vì thắng lợi. Nhưng chúng tôi nhận thấy rằng, trong một thời gian dài, vũ khí và trang bị của Quân đội nhân dân giải phóng Nam Tư lại tương đối yếu. Họ thiếu pháo binh và súng cối, xe tăng rất ít, có thể tính trên đầu ngón tay, còn máy bay thì hầu như chưa có. Vũ khí của bộ binh là súng trường, tiểu liên, súng máy — chiến lợi phẩm đủ các kiểu của địch: của Đức, của I-ta-li-a và của các nước khác. Phần lớn là súng của Anh. Cho đến mùa thu năm 1944, vũ khí Liên Xô vẫn giữ vai trò thứ yếu, vì việc cung cấp cho quân đội Nam Tư phải vượt qua một vùng đất đai rộng do địch chiếm đóng, nên gặp rất nhiều khó khăn.

Thời gian nguyên soái I. Brốt Ti-tô ở thăm Liên Xô, hai bên đã thỏa thuận tích cực cải tiến việc cung cấp vũ khí và trang bị của Liên Xô cho Quân đội nhân dân giải phóng Nam Tư. Bộ đội của các phương diện quân U-crai-na 2 và 3 tiến đến biên giới Nam Tư đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi trong việc cung cấp vũ khí cho những người anh em Nam Tư của chúng ta nhằm phục vụ cuộc đấu tranh giải phóng.

Vấn đề chủ yếu trong các cuộc hội đàm giữa các bạn Nam Tư và Chính phủ Liên Xô ở Mát-xcơ-va vào mùa thu năm 1944 là tổ chức các chiến dịch phối hợp giữa Hồng quân và Quân đội giải phóng nhân dân Nam Tư. Bộ đội Liên Xô tiến vào lãnh thổ Nam Tư đã làm thay đổi về cơ bản tình huống chiến lược ở trong nước, giúp cho quân đội Nam Tư tạo nên và bảo đảm tình thế có lợi cho việc hoàn toàn tiêu diệt quân chiếm đóng Hít-le sau này.

Việc hiệp đồng tác chiến giữa bộ đội Liên Xô và Quân đội giải phóng nhân dân Nam Tư đã đi tới chỗ hoàn toàn nhất trí với nhau. Khu vực Xéc-bi-a được chọn làm khu vực triển khai cuộc tiến công phối hợp. Xéc-bi-a là nơi tập trung các nỗ lực chủ yếu của bộ đội Liên Xô và bộ đội Nam Tư, nơi quyết định các điều kiện của tình huống chiến lược chung trên mặt trận đấu tranh chống nước Đức Hít-le và quyết định cả tình hình của Nam Tư.



Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Giêng, 2016, 06:46:48 pm

Ở Mát-xcơ-va, I. Brốt Ti-tô còn được gặp cả Gh. M. Đi-mi-tơ-rốp. Đi-mi-tơ-rốp đã thuật lại chi tiết về Mặt trận Tổ quốc, các mục tiêu mới của nước Bun-ga-ri nhân đân và quân đội Bun-ga-ri. Cuộc gặp gỡ ấy cỏ ảnh hưởng to lớn đến sự thống nhất hành động của Hồng quân, Quân đội nhân dân giải phóng Nam Tư và quân đội Bun-ga-ri.

Đối với Bộ tổng tham mưu, hiệp nghị được ký kết trong tháng Chín 1944 về các chiến dịch phối hợp giữa bộ đội Liên Xô và Nam Tư là một sự kiện rất quan trọng. Bộ tổng tham mưu xô-viết đã xác định điểm xuất phát của việc lập kế hoạch hành động chiến đấu, tất nhiên là phải đặc biệt chú ý tới Xéc-bi-a. Các cán bộ của Bộ tổng tham mưu xô-viết đi sâu nghiên cứu, tìm ra những chỗ yếu trong phòng ngự của Cụm tập đoàn quân «Ph» của địch và có ý định triệt để lợi dụng những điểm yếu ấy.

(http://)
h. Giải phóng thủ đô Nam Tư Bên-grát

Chúng ta phát hiện thấy Phôn Vai-khơ-xơ đang ra sức tổ chức phòng thủ vững chắc hơn cả dọc theo những dải núi biên giới phía Đông Xéc-bi-a và Ru-ma-ni, chúng xây dựng tại đây những công sự mạnh theo chiều sâu và tăng cường cho các đơn vị Cụm tập đoàn quân «Xéc-bi-a» của chúng. Số lượng quân lính và phương tiện của địch điều động tới khu vực này khá lớn. Còn dọc theo biên giới Bun-ga-ri, nơi triển khai các lực lượng chủ yếu của phương diện quân Ph. I. Tôn-bu-khin, địch đã không bố trí một cánh quân dày đặc và một hệ thống công sự vững chắc. Bộ chỉ huy phát-xít Đức không ngờ rằng Hồng quân có thể nhanh chóng tiến quân tới đây và quá tin vào khu vực địa hình vùng núi. Vì vậy, đến khi quân ta tiến đến biên giới Nam Tư thì Phôn Vai-khơ-xơ không đủ thời gian và phương tiện để đối phó.

Tuyến phòng ngự của quân phát-xít Đức trải ra song song với sông Đa-nuýp, trở thành mục tiêu thuận lợi của các mũi đột kích đồng loạt của ta trên toàn mặt trận. Quân địch bố trí ở trên núi, nhưng bộ chỉ huy Hít-le lại không có lực lượng dự bị lớn, nên khi bị quân ta uy hiếp, chúng buộc phải điều các lực lượng của chúng đóng sâu ở trong nước ra phản kích, hoặc phải sử dụng quân lính ở các tuyến phòng thủ ra làm nhiệm vụ đó. Vì thế, nhiệm vụ đặt ra cho chúng ta là phải tổ chức tiến công trên cả một tuyến dài, đồng thời do có cả bộ đội của Bun-ga-ri cùng tham gia chống nước Đức Hít-le, nên chúng ta phải thu hút cả những lực lượng mạnh của quân đội Bun-ga-ri, hoạt động thành thạo trên địa hình rừng núi, vào chiến dịch tiến công này. Tất nhiên, các đơn vị có kinh nghiệm của phương diện quân U-crai-na 3, với khả năng chiến đấu cao và sức cơ động lớn, phải được sử dụng trên hướng đột kích chủ yếu. Các đơn vị đó có đủ sức để đột phá tuyến phòng thủ của Cụm tập đoàn quân «Ph» ở khâu mạnh nhất và nhanh chóng đánh tan cánh quân chủ yếu của địch, như thế sẽ có ảnh hưởng ngay tới thắng lợi chung của ba quân đội cùng hiệp đồng tác chiến.

Các đơn vị của Quân đội giải phóng nhân dân Nam Tư và quân đội Bun-ga-ri có nhiệm vụ đánh bại địch, thu hút một bộ phận quan trọng quân địch, trói tay chân chúng lại, làm cho bọn Hít-le không thể xây dựng được lực lượng dự bị. Bộ đội Nam Tư và Bun-ga-ri sẽ phải đảm nhận một nhiệm vụ hết sức khó khăn khác nữa, nếu như các lực lượng chủ yếu của địch ở Hy Lạp được lệnh rút lên phía Bắc. Khi đó các đơn vị phải đối phó với những đòn đột kích mạnh của địch, kìm chân chúng và bảo đảm cho Hồng quân hoạt động. Đó là những ý kiến của Bộ tổng tham mưu xô-viết đề ra trong thời kỳ chuẩn bị kế hoạch chiến dịch.

Vì lúc bấy giờ Hồng quân, Quân đội nhân dân giải phóng Nam Tư và quân đội Bun-ga-ri còn phải hoạt động trên lãnh thổ Nam Tư, nên Bộ tổng tham mưu xô-viết có nhiệm vụ phải bàn bạc với Bộ chỉ huy Nam Tư và Bun-ga-ri. Những vấn đề nguyên tắc về sự phối hợp nỗ lực giữa bộ đội Liên Xô và bộ đội Nam Tư đều được giải quyết khi I. Brôt Ti-tô đang ở thăm Mát-xcơ-va. Cũng hồi ấy, I. V. Xta-lin và A. I. An-tô-nốp (thay mặt Bộ tổng tham mưu) đã đồng ý với Tổng tư lệnh tối cao Quân đội nhân dân giải phóng Nam Tư rằng Bộ tổng tư lệnh tối cao Liên Xô sẽ vạch ra kế hoạch chung của các chiến dịch phối hợp hoạt động ở Nam Tư xuất phát từ tình hình chung trên các mặt trận, còn các bạn Nam Tư chỉ vạch ra những phần trực tiếp liên quan đến quân đội Nam Tư. Trong lúc hội đàm, còn đề cập tới vấn đề sẽ có khả năng sử dụng trên đất Nam Tư ít ra là 2 tập đoàn quân của Bun-ga-ri. Vì không có các đồng chí Bun-ga-ri tham gia, nên chưa đi đến quyết định cuối cùng, song công việc chuẩn bị bộ đội của mình vẫn được tiến hành.

Cả bộ đội Bun-ga-ri cũng tham gia tổ chức các chiến dịch. Hồi giữa tháng Chín, theo chỉ thị của Đại bản doanh. Ph. I. Tôn-bu-khin trực tiếp đến Xô-phi-a để tiếp xúc với Bộ chỉ huy quân đội Bun-ga-ri. Ít lâu sau, Bộ chỉ huy Bun-ga-ri cũng đã vạch ra kế hoạch sơ bộ về các hành động tiến công của bộ đội Bun-ga-ri. Tôn-bu-khin nghiên cứu kế hoạch đó và báo cáo về Mát-xcơ-va. Bộ chỉ huy Bun-ga-ri cho rằng, sau khi quét sạch các phân tử độc tài thân phát-xít, bộ đội Bun-ga-ri có thể đánh chiếm các trung tâm đường bộ và đường sắt ở khu vực Cru-se-vát, Ni-sơ, Xcốp-le, Vê-lét, và cắt đường rút lui của địch từ Hy Lạp sang phía Bắc, tạo nên ít ra là ba đoạn chướng ngại. Đồng thời, những hành động đó sẽ tạo điều kiện chắc chắn cho bộ đội Liên Xô và Nam Tư khi tiến công vào Bê-ô-grát. Các đồng chí Bun-ga-ri bảo đảm bộ đội của mình sẵn sàng hành động vào cuối tháng Chín.

Ph. I. Tôn-bu-khin ủng hộ kế hoạch đó và đề nghị sử dụng không quân của phương diện quân nhằm yểm hộ cho các hành động của bộ đội Bun-ga-ri. Sau khi tính toán tình huống chung của chiến sự, Bộ chỉ huy Bun-ga-ri dự định đưa hết số lực lượng hiện có tham gia chiến đấu, gồm những sư đoàn bộ binh đủ biên chế, kể cả hai sư đoàn cận vệ, gồm các chiến sĩ du kích và những người tình nguyện, sư đoàn kỵ binh và một lữ đoàn, lữ đoàn xe bọc thép và hai lữ đoàn du kích. Điều đáng tiếc là bộ đội Bun-ga-ri còn thiếu các phương tiện tăng cường.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Giêng, 2016, 07:48:59 am

*
* *

Vấn đề Bộ tham mưu tối cao của Quân đội nhân dân giải phóng Nam Tư rời khỏi đảo Vít, đã được giải quyết trước khi nguyên soái Ti-tô đến Mát-xcơ-va. Biện pháp hết sức quan trọng đó, nhằm bảo đảm chỉ huy tác chiến được liên tục và vững chắc các hành động quân sự của Quân đội nhân dân giải phóng Nam Tư. Lũ diều hâu phát-xít Đức tập kích vào Đrva-rơ chứng minh rằng ở Nam Tư khó tìm kiếm nơi nào có thể tránh được mối đe dọa tập kích như vậy, dù là ở miền rừng núi hiểm trở. Đồng thời, Bộ chỉ huy tối cao Nam Tư phải bố trí ở những nơi phù hợp với các điều kiện mới, vì các hành động chiến đấu của Quân đội nhân dân giải phóng Nam Tư đã phát triển với quy mô rộng lớn và đòi hỏi phải có sự chỉ huy hàng ngày, liên tục từ trung ương, cần phải lãnh đạo những công tác to lớn và phức tạp khác nhằm cải tổ các đơn vị (thành lập các quân đoàn và các cụm tập đoàn quân), chỉ đạo việc động viên và xây dựng các lực lượng dự bị. Sắp tới đây, còn phải chỉ đạo các chiến dịch phối hợp có ý nghĩa quyết định với Hồng quân. Tất cả những vấn đề trên đòi hỏi cấp thiết phải lựa chọn một địa điểm làm sở chỉ huy quan trọng để chỉ đạo cuộc chiến tranh nhân dân giải phóng như Bộ tham mưu tối cao của Quân đội nhân dân giải phóng Nam Tư. Vì vậy các bạn Nam Tư đã chấp thuận đề nghị của chúng ta: rời Bộ tham mưu tối cao của quân đội Nam Tư đến thành phố Crai-ô-va ở Ru-ma-ni, trong vùng đóng quân của bộ đội Liên Xô. Bộ tham mưu tối cao của Nam Tư tiến hành di chuyển hết sức bí mật trước khi nguyên soái Ti-tô đến Mát-xcơ-va.

Việc rời các sở chỉ huy sang khu vực khác, thường được chuẩn bị chu đáo và thực hiện hết sức bí mật. Cả lần này cũng vậy. Ngày 19 tháng Chín 1944, khi màn đêm phủ xuống đảo Vít, tướng N. V. Coóc-nê-ép triệu tập các đồng chí  P. M. Mi-khai-lốp và V. Páp-lốp, phi công của căn cứ không quân ở Ba-ri, tới chỗ mình bàn về việc tổ chức chuyến bay có tầm quan trọng lớn lao ấy. Đồng chí trưởng phái đoàn quân sự nghe các hoa tiêu báo cáo về tình trạng sẵn sàng chiến đấu của không quân và chuyển cho các hoa tiêu bản đồ về chuyến bay có vạch chỉ đỏ đậm nét tới Crai-ô-va. Các hoa tiêu có trách nhiệm chở cán bộ Nam Tư và Liên Xô tói đây. Chính ai sẽ bay chuyến ấy, chúng ta không báo trước cho anh em biết. Đường bay vạch ra cũng không giống như trước, lúc đầu sẽ bay theo hướng Ba-ri nhưng sau, sẽ không bay tới căn cứ Ba-ri, mà quặt sang biển A-đri-a-tích, vượt qua Bô-xni-a và Xéc-bi-a, bay trên sông Đa-nuýp, rồi hạ cánh xuống địa điểm đã định. Chuyến bay được ấn định vào lúc 3 giờ đêm...

Tất cả những vấn đề trên phải được giữ gìn hết sức bí mật để bảo đảm an toàn cho chuyến bay. Mấy tiếng đồng hồ sau, các hoa tiêu đã lái máy bay tới Crai-ô-va, và từ ngày 19 tháng Chín, nguyên soái Ti-tô, cùng với các bạn Nam Tư khác — những hành khách trên các máy bay của Liên Xô — đã đóng căn cứ tại nơi không xa biên giới Nam Tư.

Khi Bộ tham mưu tối cao Nam Tư vừa bắt đầu hoạt động ở Crai-ô-va, thì I. Brốt Ti-tô theo sự thỏa thuận đã định trước, đáp máy bay đến Mát-xcơ-va.

Sáng sớm hôm sau. các cố vấn của phái đoàn quân sự Anh-Mỹ còn ở trên đảo Vít không thấy Tổng tư lệnh tối cao của Quân đội nhân dân giải phóng Nam Tư, cả máy bay của Liên Xô cũng biến đâu hết. Bọn họ bổ đi tìm kiếm, hỏi han... Các bạn Nam Tư trả lời rằng, nguyên soái Ti-tô có lẽ đi xuống các đcrn vị. Tướng Ma-clin. trưỏng phái đoàn quân sự gửi ngay điện khẩn hỏi thống chế không quân Anh E-li-ớt, tư lệnh không quân ở vùng Anh kiểm soát tại I-ta-li-a, cho rẳng ông ta nhất định phải biết vì I. Brốt Ti-tô, theo họ, nhất thiết phải bay qua căn cứ ở Ba-ri.

Nhận được điện hỏi, E-li-ớt mời X. V. Xô-cô-lốp đến chỗ ông ta.

— Ngài giấu Ti-tô ở đâu?

— Tôi không thể biết được, thưa ngài thống chế,—đồng chí trả lời.

Đồng chí chủ nhiệm căn cứ không quân Liên Xô ở Ba-ri cũng là một tay cự phách về lối nói chuyện như vậy, vừa nhẹ nhàng gọn ghẽ, vừa lịch sự có thừa.

— Các ngài lợi dụng những quan hệ tốt của phía chúng tôi đối với các ngài là những nước đồng minh, — E-li-ớt nói tiếp.

— Chúng tôi cảm ơn các đồng minh của chúng tôi, và cũng xin đền đáp bằng tấm lòng như vậy, — Xô-cô-lốp trả lời.

— Nhưng số máy bay trên đảo Vít này bay đi đâu?

— Thật đáng tiếc, tôi không hay biết gì hết. Ngài xem đây, thưa ngài thống chế, tôi vẫn ngồi ở đây, bên cạnh ngài.

Cuộc nói chuyện đến đây cũng chấm dứt.

Đồng minh không hỏi nữa vì Tổng tư lệnh tối cao Liên Xô thông báo cho U. Sớc-sin biết là I. Brôt Ti-tô hiện đang ở Mát-xcơ-va để bàn bạc việc tổ chức hiệp đồng trong các chiến dịch sắp tới.



Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Giêng, 2016, 07:49:51 am

Khi bộ đội Liên Xô tiến đến biên giới Nam Tư và Bộ tham mưu tối cao của Quân đội giải phóng nhân dân Nam Tư rời sang Crai-ô-va thì sự liên lạc giữa Hồng quân và quân đội Nam Tư trở nên thuận tiện hơn. Sự chi viện của Liên Xô cho nhân dân và quân đội Nam Tư tăng lên rõ rệt. Giờ đây các máy bay vận tải của chúng ta không còn phải vượt chặng đường dài, nguy hiểm như trước kia nữa. Vũ khí, đạn dược và các phương tiện khác đến với những người yêu nước Nam Tư qua lãnh thổ của Ru-ma-ni và Bun-ga-ri.

Trong những ngày đó, phái đoàn quân sự Liên Xô bận rất nhiều công việc. Do đó rõ ràng thiếu người. Các bạn Nam Tư đề nghị chúng ta cử các sĩ quan đại diện của Liên Xô tới các bộ tham mưu địa phương ở các nước cộng hòa. Đề nghị ấy được thỏa mãn và tăng quân số trong phái đoàn của ta. Được phép của Chính phủ Liên Xô, thiếu tướng A. p. Goóc-scốp được cử đến Xéc-bi-a, nơi sẽ triển khai các sự kiện chủ yếu của chiến dịch Bê-ô-grát, đại tá P. Gh. Rắc tới Khoóc-va-ti-a, đại tá N. C. Pa-tơ-ra-khan-xép tới Xlô-ve-ni-a, thiếu tá P. M. Cô-va-len-cô tới Tséc-nô-gô-ri-a (thiếu tá Cô-va-len-cô sau này được phong danh hiệu Anh hùng Liên Xô vì chủ nghĩa anh hùng và lòng dũng cảm trong khi thực hiện các nhiệm vụ chiến đấu). Cùng đi với các đồng chí ấy có một số sĩ quan, điện báo viên và nhân viên kỹ thuật.

Chế độ nhà nước của nước Nam Tư nhân dân càng củng cố thì phạm vi hoạt động của các sĩ quan và tướng lĩnh Liên Xô cũng được mở rộng thêm lên. Việc phái đoàn quân sự của ta đươc chính thức ủy nhiệm bên cạnh chính phủ lâm thời, tức ủy ban giải phóng dân tộc Nam Tư, không chỉ có ý nghĩa về mặt quân sự, mà còn có ý nghĩa về mặt chính trị. Điều đó, tất nhiên đã làm tăng thêm trách nhiệm của các cán bộ chúng ta. Nhất là các đồng chí còn thường phải giải quyết cả những vấn đề chính trị, tài chính phức tạp và nhiều vấn đề khác nữa. Vì vậy, trong thành phần phái đoàn quân sự có thêm các chuyên viên phụ trách công tác đối ngoại và công tác tài chính (M. Ph. Bô-đrốp, V. X. Ghê-ra-sen-cô). Nhưng hoạt động chủ yếu của phái đoàn thì vẫn như trước: giúp đỡ giải quyết các nhiệm vụ tác chiến chủ yếu.

Trong khoảng nửa cuối tháng Chín, Bộ tổng tham mưu, bộ tham mưu phương diện quân U-crai-na 3, Bộ tham mưu tối cao của quân đội Nam Tư, bộ tham mưu địa phương của Xéc-bi-a đều tập trung vào việc xây dựng kế hoạch chiến dịch Bê-ô-grát. Tôi muốn nhấn mạnh rằng đây là một công tác to lớn, có mục đích và phối hợp chặt chẽ, mặc dầu kế hoạch ấy do nhiều bộ tham mưu của các nước khác nhau cùng xây dựng, và tiến hành ở những địa điểm cách xa nhau hàng trăm, thậm chí hàng nghìn ki-lô-mét. Sở dĩ hướng mục đích đó đạt được, chủ yếu là nhờ sự tích cực cao độ của các đồng chí A. I. An-tô-nốp và N. V. Coóc-nê-ép. Các đồng chí đố rất hiểu nhau từ hồi còn học ở Học viện Bộ tổng tham mưu. Khi Coóc-nê-ép có điều kiện liên lạc trực tiếp từ Crai-ô-va bằng điện thoại cao tần với Bộ tổng tham mưu Liên Xô thì đồng chí đã tranh thủ sử dụng ngay. A. I. An-tô-nốp đã trình bày cho đồng chí trưởng phái đoàn quân sự Liên Xô ở Nam Tư biết thực chất các ý kiến của Bộ tổng tham mưu trong việc đặt kế hoạch tiêu diệt quân địch ở Bê-ô-grát, đồng thời đề nghị Coóc-nê-ép bàn bạc kế hoạch đó với Bộ tham mưu tối cao của quân đội Nam Tư, và điều đó đã được thực hiện. Bộ tham mưu tối cao của quân đội Nam Tư tán thành các ý kiến của Bộ tổng tham mưu Liên Xô, ra các mệnh lệnh cần thiết cho trung tướng Pê-cô Đáp-trê-vích, tư lệnh cụm tập đoàn quân 1 của Nam Tư, đang cùng với cơ quan tham mưu của mình, vạch kế hoạch hành động của bộ đội Nam Tư ở vùng Bê-ô-grát.

Ngày 30 tháng Chín, bộ tư lệnh phương diện quân U-crai- na 3 báo cáo về Bộ tổng tham mưu các ý kiến của mình đã được thỏa thuận trước với ban lãnh đạo Quân đội nhân dân giải phóng Nam Tư. Mục đích của chiến dịch phối hợp Liên Xô-Nam Tư nhằm: tiêu diệt cánh quân địch ở Đông-Bắc Nam Tư, chiếm lấy các trung tâm đường sá quan trọng nhất, cắt đường rút của quân địch, không cho chúng chạy từ các vùng trung tâm và Nam lên phía Bắc, sang Hung-ga-ri, và cuối cùng là giải phóng Bê-ô-grát.

Tập đoàn quân 57 của tướng N. A. Ga-ghen và quân đoàn cơ giới cận vệ 4 do tướng V. I. Giư-đa-nốp chỉ huy, thuộc phương diện quân U-crai-na 3, được phân công giải quyết các nhiệm vụ trên. Các lực lượng của tập đoàn quân không quân 17 có nhiệm vụ bảo đảm cho chiến dịch về mặt đường không.

Bộ đội Liên Xô phải trực tiếp đối chọi với Cụm tập đoàn quân «Xéc-bi-a» của Hít-le. Ở tuyến một, chúng có 4 sư đoàn trong đó có một sư đoàn mô-tô cơ giới. Trong quá trình chiến dịch, ta dự kiến địch có thể điều động thêm 2 sư đoàn nữa lấy ở khu vực Ni-sơ và một số lực lượng lấy trong thành phần của cụm quân đóng ở Hy Lạp sang. Bộ tham mưu của Ph. I. Tôn-bu-khin cho rằng, trong dải tiến công của tập đoàn quân 57, địch có thể tập trung đến 10-11 sư đoàn. Do đó, Hội đồng quân sự phương diện quân U-crai-na 3 đề nghị quân đội Nam Tư sẽ hoạt động nhằm thu hút một bộ phận quân phát-xít Đức sang phía mình và chặn đường rút của địch sang phía Bắc, kìm chân quân ngụy của Ne-đích và Mi- khai-lô-vích ở phía Nam và Tây-Nam Bê-ô-grát. Nếu gặp điều kiện thuận lợi, bộ đội Nam Tư sẽ đánh chiếm lấy Ni-sơ. Tất cả những ý kiến trên đều được thông báo cho Bộ tham mưu tối cao Nam Tư, thông qua N. V. Coóc-nê-ép, và Bộ tham mưu tối cao Nam Tư sẽ giao nhiệm vụ cho bộ đội của mình.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Giêng, 2016, 07:51:28 am

Kế hoạch tiến công vào Bê-ô-grát của Ph. I. Tôn-bu-khin dựa trên cơ sở những hiểu biết chính xác các tình huống thực tế. Đồng chí tính rằng bộ đội của tập đoàn quân 57 đã trụ lại vững chắc bên hữu ngạn sông Đa-nuýp ở khu vực thành phố Vi-đin của Bun-ga-ri, và ngày đêm chuẩn bị để vọt tiến lên phía trước. Ở phía Bắc Vi-đin, tại khúc ngoặt sông Đa-nuýp, quân đoàn bộ binh 75 đã hoàn thành thắng lợi những trận đánh phòng ngự quyết liệt, đánh lùi mọi âm mưu của địch định hất ta về phía sau. Lúc này, quân đoàn 75 được lệnh tách khỏi phương diện quân U-crai-na 2 chuyển thuộc tập đoàn quân 57.

Do đặc điểm của địa hình rừng núi, không cho phép bộ đội Liên Xô thực hiện một mũi đột kích duy nhất, mà buộc phải tổ chức tiến công theo hướng, Ph. I. Tôn-bu-khin đã đề ra một phương án giải quyết rất độc đáo: các lực lượng chủ yếu gồm quân đoàn bộ binh 64 và quân đoàn cơ giới 4 cùng với các phương tiện tăng cường sẽ tập trung bên cánh trái của tập đoàn quân trong khu vực Vi-đin để đột kích vào hướng Da-e-tra-rơ, Bô-le-vát, Tru-pri-a, Ba-tô-tri-na, Tây Pa-lan-ca. Một số đơn vị Liên Xô có nhiệm vụ phải tiêu diệt cánh quân chủ yếu của Cụm tập đoàn quân «Xéc-bi-a» và chặn đường rút của tàn quân địch chạy về Bê-ô-grát. Đồng thời, các đơn vị khác sẽ tiến công dọc theo sông Đa-nuýp tới Bê-ô-grát (quân đoàn bộ binh 75) và ở giữa mặt trận (quân đoàn bộ binh 68) nhằm hướng Xla-ti-na, Gia-gu-bi-txa, Dơ-la-tô-vô. Các quân đoàn sẽ tổ chức chi viện cho nhau trong trường hợp có hướng nào đó bị trắc trở. Khi bộ đội Liên Xô tiến đến Mô-ra-va và sau khi vượt sông thì có thể tạo điều kiện cho các lực lượng chủ yếu của ta trực tiếp quặt về hướng Bê-ô-grát, và chiếm được Bê-ô-grát có nghĩa là hoàn thành chiến dịch. Trong giai đoạn chiến dịch này, bộ đội Liên Xô cùng chiến đấu sát cánh với bộ đội Nam Tư. Còn về bộ đội Bun-ga-ri thì Ph. I. Tôn-bu-khin đề nghị sẽ hoạt động nhằm kìm chân quân địch ở phía chính diện của mình.

Bộ tổng tham mưu đồng ý với các ý kiến của Hội đồng quân sự phương diện quân U-crai-na 3 về cơ bản là đúng. Thế nhưng, Bộ tổng tham mưu thấy cần phải thu hút cả quân đoàn cận vệ bộ binh 10 của tập đoàn quân 46 thuộc phương diện quân U-crai-na 2 tham gia chiến dịch. Tư lệnh quân đoàn là tướng I-van An-đrê-ê-vích Ru-ba-ni-úc. Quân đoàn có thể giáng cho địch thất bại ở khu vực Vra-sát và đột phá vào tuyến phòng thủ vững chắc của địch ở phía Bắc và phía Đông Bê-ô-grát. Bộ tổng tham mưu không đồng ý với Tôn-bu-khin về việc sử dụng bộ đội Bun-ga-ri theo phương án trên. Vì, như chúng ta đều biết, Tổng tư lệnh quân đội Bun-ga-ri cho rằng bộ đội Bun-ga-ri có thể tiến công được, và khi báo cáo kế hoạch hành động ở Bê-ô-grát với Đại bản doanh, Bộ tổng tham mưu đã đề nghị phương án không nên hạn chế nhiệm vụ của bộ đội Bun-ga-ri chỉ có phòng ngự, mà phải dự kiến là nó sẽ tiến công.

Đại bản doanh đồng ý với Bộ tổng tham mưu, nhưng đối với vấn đề bộ đội Bun-ga-ri thì Đại bản doanh đề nghị chưa nên có quyết định dứt khoát, vì lúc này chưa thảo luận được đầy đủ và toàn diện với bộ chỉ huy Nam Tư và Bun-ga-ri. Đại bản doanh ra lệnh cho Tôn-bu-khin bắt đầu tiến công vào ngày 13-14 tháng Mười, sau khi tập trung xong các đơn vị tham gia chiến dịch. Lúc này, bất cứ một sự chậm trễ nào sẽ tạo cho địch có thêm thời gian điều động những lực lượng mới đến khu vực Bê-ô-grát và củng cố phòng ngự. Trong chỉ thị của Đại bản doanh gửi cho tư lệnh phương diện quân U-crai-na 3 có nói: «Đồng chí hãy liên lạc với Ti-tô ở Crai-ô-va và báo cáo chi tiết kế hoạch chiến dịch cho đồng chí ấy biết». Tôn-bu-khin đã chấp hành ngay chỉ thị đó, và trong suốt đêm mồng 1 rạng, ngày 2 tháng Mười, các đồng chí trong Bộ tham mưu tối cao Nam Tư đã nghiên cứu kế hoạch chiến dịch. Sáng 2 tháng Mười, Bộ tổng tham mưu ở Mát-xcơ-va nhận được báo cáo về quyết tâm của nguyên soái Ti-tô. Quyết tâm đó dự định trước hết sẽ kìm chân địch ở phía Nam và Tây-Nam Bê-ô-grát, không cho địch từ đây điều động các lực lượng của chúng đi để chống lại bộ đội Liên Xô. Để làm nhiệm vụ này, sẽ sử dụng 2 quân đoàn bộ binh của Nam Tư, quân đoàn 12 và quân đoàn 1. Sau khi địch bị thất bại, lực lượng chủ yếu của bộ đội Nam Tư phải trực tiếp đánh vào cánh quân địch ở Bê-ô-grát, còn một bộ phận lực lượng sẽ chuyển sang phía Đông, hiệp đồng với Hồng quân từ khu vực Nê-gô-tin đánh lên.

4 sư đoàn thuộc biên chế của bộ tham mưu địa phương Xéc-bi-a đảm nhiệm việc đánh chiếm thành phố Ni-sơ, đầu mối giao thông đường sắt và đường bộ quan trọng. Thượng tướng Cô-tra Pô-pô-vích, tư lệnh bộ đội khu vực Xéc-bi-a, được triệu tập về Crai-ô-va nhận nhiệm vụ vào ngày 2-3 tháng Mười. Về phía mình, nguyên soái Ti-tô đề nghị bộ chỉ huy Liên Xô dự kiến các mũi đột kích của phương diện quân U-crai-na 3 phải tiến ra hợp nhất với các đơn vị Nam Tư chia cắt địch, đang từ phía Nam tiến vào khu vực Bê-ô-grát.



Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Giêng, 2016, 07:53:44 am

Để giải quyết vấn đề tiến công của bộ đội Bun-ga-ri mới trên lãnh thổ Nam Tư và để bàn bạc thống nhất việc tổ chức hiệp đồng với nhau, chúng tôi gọi điện thông báo cho Tôn-bu-khin, tư lệnh phương diện quân U-crai-na 3, biết sự tế nhị và tính chất của nhiệm vụ sắp tới. Tôn-bu-khin đề nghị giao nhiệm vụ quan trọng đó cho X. X. Bi-ri-u-dốp, lúc này đang làm tư lệnh tập đoàn quân 37 đóng ở khu vực Xô-phi-a. Bi-ri-u-dốp đồng thời phụ trách Ủy ban kiểm soát của các nước đồng minh tại Bun-ga-ri. Ngày 4 tháng Mười, X. X. Bi- ri-u-dốp đến Crai-ô-va để gặp nguyên soái Ti-tô, và vào ngày hôm ấy đoàn của Bun-ga-ri cũng tới Crai-ô-va.

X. X. Bi-ri-u-dốp tiếp kiến I. Brốt Ti-tô hai lần. Lần thứ nhất, đồng chí báo cáo với Ti-tô về các đề nghị của Liên Xô trong kế hoạch chiến dịch Bê-ô-grát. Bộ chỉ huy Nam Tư rất hài lòng thông qua kế hoạch ấy. Trong biên chế của bộ đội Liên Xô, ngoài bộ binh, có 2.200 khẩu pháo và súng cối, 149 pháo phản lực, 358 xe tăng và pháo tự hành, 1.292 máy bay, còn Chi hạm đội Đa-nuýp có tới 80 tàu chiến (chủ yếu là các xuồng bọc sắt). Kế hoạch hiệp đồng tác chiến giữa phương diện quân U-crai-na 3 và Quân đội nhân dân giải phóng Nam Tư được nhanh chóng nhất trí với nhau.

Sau đó, đại biểu của ta báo cáo về tình hình bộ đội Bun-ga-ri X. X. Bi-ri-u-dốp nói rằng quân đội của Mặt trận Tổ quốc Bun-ga-ri theo đuổi một mục đích duy nhất là được đóng góp vào sự nghiệp tiêu diệt bọn phát-xít Đức xâm lược. Đồng chí nêu rõ là trong thành phần của đoàn đại biểu Bun-ga-ri ở Crai-ô-va có một số đảng viên cộng sản, điều đó đã chứng minh một cách hùng hồn tương lai đúng đắn và tốt đẹp. Trong cuốn hồi ký của mình, X. X. Bi-ri-u-dốp viết: «...Mọi người hiểu rằng nhân dân Bun-ga-ri không thể quên những hành động tội lỗi của chính phủ sa hoàng trước đây. Tất cả chúng tôi thông cảm và tin chắc rằng các chiến sĩ, sĩ quan và tướng lĩnh của quân đội nước Bun-ga-ri mới đều nuôi dưỡng tình cảm anh em chân thành đối với nhân dân Nam Tư». Ti-tô đồng ý với kế hoạch bộ đội Bun-ga-ri tiến công trên hướng Ni-sơ. Trong quá trình hội đàm sau này với đoàn đại biểu Bun-ga-ri, nguyên soái Ti-tô đã chính thức tuyên bố quyết định trên. Ít lâu sau, hai bên lại thỏa thuận với nhau là sau khi chiếm được Bê-ô-grát, bộ đội Bun-ga-ri sẽ mượn đường đi qua lãnh thổ Nam Tư để tiến vào Hung-ga-ri.

Công tác đó được tiến hành đồng thời với việc tập trung bộ đội và các dự trữ vật chất, với việc vạch ra các kế hoạch hành động từng phần, tổ chức chỉ huy. Về thực chất, việc chuẩn bị chiến dịch ở cấp cao đã hoàn thành. Bây giờ vấn đề là ở chỗ tổ chức thực hiện các kế hoạch đó ở dưới các đơn vị.

Đến giữa tháng Mười, mọi biện pháp chuẩn bị ở các khâu tập đoàn quân, quân đoàn và sư đoàn của bộ đội Liên Xô đều đã hoàn thành. Bộ chỉ huy Quân đội nhân dân giải phóng Nam tư và Tổng tư lệnh Bun-ga-ri cũng thông báo cho ta biết các đồng chí đã sẵn sàng tiến công.

...Cũng cần nói qua một chút về thời hạn bắt đầu chiến dịch Bê-ô-grát. Thời hạn đó được định vào ngày 28 tháng Chín 1944. Ngay trước ngày X. X. Bi-ri-u-dốp tới Đại bản doanh của nguyên soái Ti-tô, các đơn vị xung kích của 3 quân đoàn Liên Xô đã đột nhập vào phía Tây Ban-căng vả dãy núi phía Đông Xéc-bi-a, là tiền duyên phòng ngự của các lực lượng chủ yếu thuộc Cụm tập đoàn quân «Xéc-bi-a» của phát-xít Đức. Quân đoàn bộ binh cận vệ 10 đã quét sạch địch ở tả ngạn sông Đa-nuýp, tiến công vào hướng Bê-la Tséc-va, Pan-tre-vô. Do sự chiến đấu ngoan cường nên quân đoàn bộ binh 75 của tướng A. D. A-ki-men-cô và quân đoàn 68 của tướng N. N. Scô-đu-nô-vích thuộc tập đoàn quân 57 đã đánh tan cánh quân phát-xít Đức đang bị bao vây ở khu vực Nê-gô-tin, còn quân đoàn bộ binh 64 của tướng I. C. Cráp-txôp thì bao vây được đại bộ phận lực lượng địch ở khu vực thành phố Da-e-tra-rơ. Căn cứ vào tiến trình các sự kiện đang phát triển thuận lợi, Bộ chỉ huy Liên Xô quyết định không dừng lại, tiếp tục phát huy thắng lợi tiến công vả hủy bỏ thời hạn bắt đầu chiến dịch đã quy định trước đây. Đại bản doanh xô-viết ra lệnh: «Tập đoàn quân 57 tiếp tục tiến công, và chậm nhất là ngày 10-11 tháng Mười 1944 phải đưa quân đoàn cận vệ cơ giới 4 vào chiến đấu để phát huy thắng lợi». Chiến dịch phối hợp rất quan trọng đó giữa quân đội Liên Xô, Nam Tư và Bun-ga-ri đã bắt đầu như thế đấy.



Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Giêng, 2016, 08:32:51 am

Những trận đánh ác liệt với Cụm tập đoàn quân «Xéc-bi-a» tiến hành thắng lợi. Trong suốt nửa tháng chiến đấu, các binh đội và binh đoàn Liên Xô tiến được gần 130 ki-lô-met trên hướng đột kích chủ yếu. Chẳng bao lâu dãy núi Đông Xéc-bi-a đã lùi lại phía sau. Ngày 10 tháng Mười, bộ đội Liên Xô vượt sông Mô-ra-va trong hành tiến, và quân đoàn cận vệ cơ giới 4 hoàn thành thắng lợi cuộc hành quân chiến đấu phức tạp, chuyển sang bàn đạp ở khu vực Vê-li-ca Pla-¬na. Ngày 12 tháng Mười, các chiến sĩ xe tăng cận vệ tiến mạnh về Bê-ô-grát.

Các chiến hữu Nam tư và Bun-ga-ri của ta đã cùng với các chiến sĩ xô-viết chiến đấu dũng cảm. Bộ đội Liên Xô vừa nổ súng tiến công địch ở khu vực Nê-gô-tin thì quân đoàn 14 của bộ đội Nam Tư liền đánh vào các đường giao thông của địch, chạy ngang qua núi dẫn về phía sau.

Những trận đánh ác liệt diễn ra ở khu vực thành phố Da-e-tra-rơ. Ở đây, sư đoàn bộ binh 19 của thiếu tướng P. E. La-da-rép, thuộc quân đoàn bộ binh 64, đã bao vây khu cứ điểm của địch. Quân địch bám giữ lấy các tuyến có lợi, ngoan cố chống trả lại ta. Sư đoàn được tăng cường thêm tiểu đoàn mô-tô của quân đoàn cận vệ cơ giới 4. Đến sáng 8 tháng Mười, bộ đội Liên Xô hoàn toàn tiêu diệt quân Đức phát-xít và bắt được gần 1.600 tù binh. Đường băng qua núi đã mở.

Trên hướng Ni-sơ, bộ đội Liên Xô, Nam Tư và Bun-ga-ri hiệp đồng rất chặt chẽ. Bộ đội Bun-ga-ri đánh ép địch từ phía Đông lại, còn bộ đội Liên Xô và sư đoàn 45 của Nam Tư từ phía Bắc đánh xuống, các đơn vị thuộc sư đoàn 47 và 24 của Nam Tư từ phía Tây và phía Nam tiến công lên. Bộ đội Nam Tư đã chi viện đắc lực cho bộ đội Liên Xô khi tổ chức vượt sông Mô-ra-va gần bàn đạp Vê-li-ca Pla-na. Các binh đội và binh đoàn của quân đoàn Vô sản 1 Quân đội nhân dân giải phóng Nam Tư cùng tiến công ở khu vực này và đã góp phần giữ vững, củng cố bàn đạp mà quân ta đã chiếm được. Các binh đội và binh đoàn ấy còn tích cực hiệp đồng với các chiến sĩ Liên Xô trong khu vực Tô-pô-la, Mơ-la-đe-nô-vát-xư là những vùng tiếp giáp trực tiếp với trục tiến quân tới Bê-ô-grát của các lực lượng chủ yếu của bộ đội Liên Xô. Tình hữu nghị chiến đấu giữa quân đội hai nước Liên Xô và Nam Tư đã được củng cố bằng xương máu trong các trận đánh ác liệt, tiêu diệt địch ở khu vực Tô-pô-la và trong các trận giao tranh khác.

Quá trình chiến dịch Bê-ô-grát không những đã giải quyết được những nhiệm vụ quân sự hết sức quan trọng, mà còn giải quyết được cả những vấn đề của tình hữu nghị quốc tế, tình đồng chí chiến đấu của các dân tộc cùng đấu tranh chống bọn Hít-le chiếm đóng. I. V. Xta-lin và I. Brốt Ti-tô đã thỏa thuận với nhau là Hồng quân và Quân đội nhân dân giải phóng Nam Tư sẽ cùng phối hợp đánh chiếm Bê-ô-grát và sẽ cùng tiến vào thủ đô. Đáng tiếc là Bộ tổng tham mưu không lường hết mọi tình hình, chẳng hạn tốc độ tiến quân của xe tăng Liên Xô tiến nhanh hơn nhiều so với bộ đội Nam Tư bấy giờ chưa có xe tăng và xe ô-tô. Cả bộ tham mưu phương diện quân và các tập đoàn quân cũng không tính toán được hết những tình hình đó. Cho nên, các xe tăng của quân đoàn cận vệ cơ giới 4 vọt lên phía trước, đã bị hỏa lực của địch gây thiệt hại vì quân đoàn có tương đối ít bộ binh, còn bộ binh Nam Tư thì vẫn ở phía sau, chưa tiến theo kịp. Ngày 13 tháng Mười, N. V. Coóc-nê-ép điện lên Bộ tổng tham mưu cho biết tình hình bất lợi trên trong cuộc tiến công của bộ đội Liên Xô và Nam Tư. Bức điện ấy do một điện báo viên Nam Tư gửi đi, với nhan đề hơi khác thường: «Qua vô tuyến điện, rất khẩn». Chúng tôi báo cáo lên Đại bản doanh. Liền sau đó, phương diện quân U-crai-na 3 nhận được lệnh yêu cầu chở bộ binh Nam Tư bằng xe tăng của Liên Xô và cùng tiến nhanh vào Bê-ô-grát.

Ngay cả Ph. I. Tôn-bu-khin lúc bấy giờ cùng nhận thấy một số điểm không ăn khớp trong lúc tiến công, đã liên lạc báo cáo ngay với nguyên soái Ti-tô. Cả hai người đều muốn phá vỡ tuyến phòng thủ của địch, không cho chúng kịp rút quân. Trong phạm vi Bê-ô-grát, quân địch có thể dựa vào các công trình trong thành phố để tổ chức phòng thủ vững chắc và buộc bên tiến công phải tổ chức vây hãm thành phố. Mọi người đều biết rằng, nếu cứ để tình hình diễn ra như vậy thì không những sẽ mất thời gian và thiệt hại thêm người, mà chính thành phố rồi cùng bị phá hoại. Do đó, không riêng gì xe tăng, mà cả bộ binh cũng phải nhanh chóng tiến vào thành phố, phải tiến cùng một lúc với nhau chứ không được rời rạc, kẻ trước người sau.

Chấp hành chỉ thị của Đại bản doanh. Ph. I. Tôn-bu-khin đề nghị với Tổng tư lệnh tối cao Nam Tư cho bộ binh tiến quân bằng xe tăng và xe ô-tô của Liên Xô để cùng đánh chiếm Bê-ô-grát, đẩy mạnh tốc độ phát triển của chiến dịch. Tất nhiên, nguyên soái Ti-tô đồng ý. Ngay ngày 14 tháng Mười, những chiếc xe tăng đầu tiên của Liên Xô chở các xạ thủ Liên Xô và các chiến sĩ của quân đoàn Vô sản 1 Nam Tư, tiến đánh Bê-ô-grát.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Giêng, 2016, 08:33:34 am

Sách báo của ta cũng như của Nam Tư đã viết nhiều về những trận đánh diễn ra tại thủ đô Nam Tư. Trong cuốn sách này, tôi chỉ muốn nhấn mạnh thêm rằng quân địch đã điều động được đến đây một số lực lượng mới của chúng, và những trận đánh ở Bê-ô-grát diễn ra hết sức quyết liệt. Quân địch kháng cự đặc biệt mạnh ở khu vực pháo đài Ca-le-méc-đan cũ. Các sư đoàn bộ binh 1, 5, 6, 11, 16, 21, 28 và 36 của Quân đội nhân dân giải phóng Nam Tư đã hiệp đồng chặt chẽ với bộ binh Liên Xô và xe tăng của quân đoàn cận vệ cơ giới 4 ở Bê-ô-grát.

Sở dĩ quân địch bị thất bại nặng là vì trong một chừng mực lớn, bộ chỉ huy của quân Đức phát-xít không thực hiện được ý đồ điều động cánh quân trên 20.000 tên ở phía Đông - Nam và phía Nam tiến vào Bê-ô-grát. Đồng thời với lúc triển khai trận đánh chiếm thủ đô Bê-ô-grát, trên những con đường phía Đông-Nam dẫn đến thành phố cũng đã diễn ra những trận chiến đấu quyết liệt. Tại đây, quân đoàn bộ binh 75 của tập đoàn quân 57, quân đoàn 14 Nam Tư, các binh đội của sư đoàn xung kích 5 thuộc quân đoàn Vô sản 1 của quân đội Nam Tư, lữ đoàn bộ binh mô-tô cơ giới độc lập 5 của Liên Xô đã hiệp đồng rất chặt chẽ. Các đơn vị đó đã kịp chia cắt, chặn đường rút và mở những gọng kìm khác chặn địch nhằm tiêu diệt chúng. Lữ đoàn cận vệ cơ giới 15 do đại tá cận vệ M. A. An-đri-a-nốp chỉ huy và lữ đoàn cận vệ cơ giới 14 do đại tá cận vệ N. A. Ni-ki-tin chỉ huy (thuộc quân đoàn cơ giới 4) đã hành động thật xuất sắc. Tướng I. X. A-nô-sin, chủ nhiệm cục chính trị phương diện quân U-crai-na 3 có mặt ở Bê-ô-grát cùng với các đơn vị tiên phong, đã báo cáo với Tổng cục chính trị về những hành động xuất sắc của các lữ đoàn trên.

Trên các con đường tiến vào thủ đô Nam Tư, quân địch đã bỏ lại khoảng 200 khẩu pháo các cỡ và 1.500 xe ô-tô chở đầy hàng. Tàn quân của bọn Đức phát-xít chạy tán loạn vào rừng ở phía Nam núi A-va-la bị các chiến sĩ Nam Tư truy kích, tóm gọn hết.

Ngày 20 tháng Mười, trung tướng xe tăng V. I. Giơ-đa-nốp, chỉ huv trưởng quân đoàn cơ giới cận vệ 4 và thượng tướng Pê-cô Đáp-trê-vích, chỉ huy trưởng quân đoàn Vô sản 1 của Quân đội nhân dân giải phóng Nam Tư báo cáo với Bộ tư lệnh về tình hình giải phóng thủ đô Nam Tư. Ngay khi đó, ở thủ đô Nam Tư đã tổ chức cuộc mít tinh trọng thể toàn thành phố. Sau khi tiếng súng chấm dứt, những người chỉ huy quân đội anh hùng—tướng Liên Xô Giơ-đa-nốp và tướng Nam Tư Đáp-trê-vích, — đã phát biểu trước nhân dân thủ đô Bê-ô-grát với những lời đầy nhiệt tình và ôm nhau thắm thiết. Hàng ngàn người nhiệt liệt hoan nghênh tình bạn chiến đấu bất diệt. Và cũng ngay tối hôm ấy, thủ đô Mát- xcơ-va bắn đại bác chào mừng các chiến sĩ dũng cảm của phương diện quân U-crai-na 3 và bộ đội của Quân đội nhân dân giải phóng Nam Tư.

Ngày 21 tháng Mười, nguyên soái Ti-tô gửi thư cảm ơn đến tư lệnh phương diện quân U-crai-na 3.

Đồng chí viết: «Tôi đề nghị đồng chí chuyển tới bộ đội của đồng chí đang tác chiến trên hướng Bê-ô-grát bức thư sau : tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn đối với các chiến sĩ, sĩ quan và tướng lĩnh của các đơn vị Hồng quân đã phối hợp cùng với các đơn vị của Quân đội nhân dân giải phóng Nam Tư giải phóng thủ đô Bê-ô-grát của chúng tôi.

Chủ nghĩa anh hùng và chí kiên quyết của các đồng chí thể hiện trong những trận đánh quyết liệt giải phóng Bê-ô-grát, sẽ được các dân tộc Nam Tư mãi mãi ghi nhớ, coi đó là chủ nghĩa anh hùng bất tử của Hồng quân. Máu của các đồng chí và máu của các chiến sĩ Nam Tư cùng đổ trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung sẽ làm cho tình hữu nghị giữa nhân dân Nam Tư và nhân dân Liên Xô đời đời bền vững».

Nhiều chiến sĩ Liên Xô được tặng thưởng các huân chương của Nam Tư, còn tướng V. I. Giơ-đa-nốp được phong danh hiệu Anh hùng nhân dân Nam Tư.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Giêng, 2016, 08:36:25 am

*
* *

Khi chiến sự ở gần Bê-ô-grát đang còn tiếp diễn, các đồng chí trong Bộ tổng tham mưu Liên Xô, Bộ tham mưu tối cao Quân đội nhân dân giải phóng Nam Tư và bộ tham mưu phương diện quân U-crai-na 3 đã nghĩ tới vấn đề sẽ phát triển chiến dịch ra sao, sau khi giải phóng thành phố. Bộ chỉ huy phát-xít Đức đang cố gắng rút đại bộ phận quân của chúng đóng ở Hy Lạp và ở phía Nam Nam Tư lên phía Bắc. Quân địch rút theo những con đường sắt và đường nhựa ở phía Bê-ô-grát và dọc theo bờ biển A-đri-a-tích. Đường rút quân thuận tiện nhất, và ngắn nhất đối với bọn chúng là đồng bằng sông Tây Mô-ra-va.

Ngày 15 tháng Mười, Hội đồng quân sự phương diện quân U-crai-na 3 đã đề nghị với Bộ tổng tham mưu cắt con đường rút lui của địch lên phía Bắc. Ph. I. Tôn-bu-khin, V. M. Lai-ốc và A. P. Ta-ra-xốp báo cáo: các tuyến do phương diện quân U-crai-na 3, Quân đội nhân dân giải phóng Nam Tư và quân đội Bun-ga-ri đã chiếm được ở phía Tây sông Nam Mô-ra-va, ngay bây giờ tạo điều kiện chiếm lấy Tra-trắc và Cra-lê-vô. Nếu chiếm được những vị trí ấy, thì sẽ chặn được đường rút của quân phát-xít Đức. Các đồng chí đề nghị rằng hiện giờ có thể sử dụng một bộ phận lực lượng của tập đoàn quân 57 mở mũi đột kích vào hướng Gô-rơ-ni - Mi-la-nô-vát, Tra-trắc, tiếp đó sẽ phát triển tiến công tới Cra-lê-vô. Đồng thời, sẽ mở một mũi đột kích khác vào Cra-gu-ê-vát.

Bộ tham mưu tối cao Quân đội nhân dân giải phóng Nam Tư và bản thân nguyên soái Ti-tô đã tán thành ý kiến của bộ tư lệnh phương diện quân. Các bạn Nam tư cũng cho rằng, sau khi chiếm được các thành phố Tra-trắc và Cra-lê-vô, quân địch chỉ còn lại con đường rút lui duy nhất ra khỏi An-ba-ni và Hy Lạp là đi qua Tséc-nô-gô-ri-a và Xan-giắc tới Xa-ra-ê-vô. Ngày 18 tháng Mười, nguyên soái I. Brốt Ti-tô viết cho tư lệnh phương diện quân U-crai-na 3: «Để không cho quân địch lợi dụng cơ hội này, tôi cho rằng (cần) sử dụng các lực lượng chủ yếu trong cụm quân Bê-ô-grát của đồng chí đánh qua La-da-re-vát, Va-lê-vô, Dơ-vô-rơ-ních, Vla-xe-nít-xa và chiếm lấy Xa-ra-ê-vô... Tôi đề nghị sử dụng các đơn vị của quân đoàn cơ giới cận vệ 4, phối hợp hành động với các đơn vị của quân đoàn 3 vả 5 của quân đội Nam Tư để nhanh chóng đánh chiếm Xa-ra-ê-vô». Đồng thời, đồng chí còn thông báo cho biết là đã giải phóng khỏi bọn phát-xít Đức các khu vực mà bộ đội Liên Xô và bộ đội Nam Tư cùng hiệp đồng tác chiến phải đi qua.

Thế nhưng, cả hai kế hoạch trên đều không thực hiện được. Vấn đề chặn đường rút lui của quân địch lại được giải quyết theo phương án thứ ba, tức là phương án tổ chức chiến dịch phối hợp giữa bộ đội Nam Tư và bộ đội Bun-ga-ri ở khu vực Pri-stin, nơi có con đường sắt cuối cùng địch sẽ dùng để rút các đơn vị phát-xít Đức ra khỏi Hy Lạp lên phía Bắc. Các bộ tham mưu Nam Tư và Bun-ga-ri nhanh chóng thống nhất với nhau về kế hoạch chiến dịch và tổ chức hiệp đồng, sau đó bộ đội đã tiến công thắng lợi.

Cuối tháng Mười 1944, các binh đoàn và binh đội của phương diện quân U-crai-na 3, sau khi hoàn thành nhiệm vụ trên lãnh thổ Nam Tư, lại lên đường làm nhiệm vụ mới. Còn những phi công xô-viết, những người xứng đáng kế tục các truyền thông quân sự và truyền thống quốc tế đã được củng cố trong những ngày chiến đấu vẻ vang của chiến dịch Bê-ô-grát, vẫn tiếp tục giúp đỡ các bạn Nam Tư của chúng ta. Các đồng chí không quân chúng ta có nhiệm vụ chi viện cho bộ đội Nam Tư trong các chiến dịch sắp tới, nhằm kết thúc việc tiêu diệt địch, vì ở Nam Tư thời gian này còn lại ít ra cũng đến 10 sư đoàn Đức và khoảng 200.000 quân ngụy của Pa-ve-lích, Ne-đích, Rúp-ních và Mi-khai-lô-vích.

Tháng Mười 1944, chúng ta xác định được rõ thêm ý đồ của bộ chỉ huy phát-xít Đức ở Nam Tư. Chúng không những chỉ vội vã rút quân lên phía Bắc, mà còn tăng cường xây dựng các tuyến phòng thủ dọc theo các con sông Đra-va, Xa-va, và Đơ-ri-na. Các tuyến ấy, chắc sẽ được sử dụng để yểm hộ cho quân Đức rút khỏi I-ta-li-a và Nam Tư sang Hung-ga-ri và Áo. Trên các tuyến Tơ-ri-ét, Ma-ri-bo, Bra-ti-xla-va, bọn chúng cũng vội vã chuẩn bị các công sự mạnh, hoặc theo chính bọn Đức gọi là «các tuyến chống cự quyết liệt». Các tuyến ấy phải bảo đảm cho quân phát-xít Đức một chính diện dày đặc từ I-ta-li-a tới Hung-ga-ri. Quân địch cho rằng Bộ chỉ huy Liên Xô sẽ mở mũi đột phá vào chính diện này, và chúng chuẩn bị đối phó với tình huống ấy.

Bộ tổng tham mưu Liên Xô nhận thấy, nếu quân địch rút được về phòng ngự trên các tuyến từ Tơ-ri-ét đến Bra-ti-xla-va thì chúng sẽ bảo đảm được sự hiệp đồng chặt chẽ của các cánh quân ở Hung-ga-ri và ở I-ta-li-a, đồng thời sẽ hình thành mặt sườn có lợi cho chúng để đối phó với bộ đội của phương diện quân U-crai-na 2, lúc này đã thọc sâu lên phía Bắc. Do đó, giữa sườn trái của phương diện quân của R. I-a. Ma-li-nốp-xki và phương diện quân của Ph. I. Tôn- bu-khin sẽ bộc lộ một khoảng trống lớn, chưa được yểm hộ tốt từ Xôm-bo-rơ đến thành phố Nô-vi-xát. Muốn cho các cánh quân Đức đang bị phân tán, không hợp nhất được với nhau thành một chính diện dày đặc thì trước mùa mưa thu- đông, phương diện quân U-crai-na 3 phải chuyển sang tác chiến tích cực. Hướng tiến công chủ yếu có thể là miền đồng bằng sông Đra-va và sông Mu-ra, nơi có thể triển khai tất cả các binh chủng, đồng thời cũng là nơi địch rất sợ ta đột phá mạnh. Chính vì vậy, nên khi các quân đoàn của tập đoàn quân 57 tiến đến khu vực Xôm-bo-rơ, chúng tôi liền nhắc ngay đồng chí tư lệnh về khả năng tiến công ở hướng Tây.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Giêng, 2016, 08:37:17 am

Trong nửa đầu tháng Mười một, Đại bản doanh đã tiến hành tổng kết các chiến dịch trong năm 1944 và nghiên cứu ý đồ chiến cục năm 1945. Chúng ta cũng rất chú ý tới phương diện quân U-crai-na 3 là sườn trái của mặt trận Xô-Đức. Ph. I. Tôn-bu-khin cùng với các trợ lý được triệu tập về Mát- xcor-va, và ngày 7 - 8 tháng Mười một thì làm việc với Bộ tổng tham mưu.

Đại bản doanh xem xét hai ý kiến. Ý kiến thứ nhất, được Ph. I. Tôn-bu-khin ủng hộ là nên tổ chức tiến công vào Viên. Như vậy, quân địch phòng ngự ở vùng Bu-đa-pét sẽ hoảng sợ trước mũi đột kích sâu của ta bọc lấy phía sau lưng chúng, do đó chúng tự khắc sẽ phải bỏ Hung-ga-ri mà rút chạy. Ý kiến thứ hai lại cho rằng, không nên tổ chức mũi đột kích như thế trong tình hình lúc đó. Những người ủng hộ ý kiến này trong đó có Bộ tổng tham mưu, cho rằng trước hết cần phải trực tiếp giúp đỡ phương diện quân U-crai-na 2 đánh vào Bu-đa-pét để bao vây và tiêu diệt hoàn toàn quân địch ở đây. Trong trường hợp đó, chúng ta sẽ mở đường thắng lợi không những tới Viên mà còn tới cả Tséc và từ đó sẽ băng qua dãy núi Rút-nư-ê, Xu-đê-tư rồi tiến theo miền đồng bằng sông En-bơ đánh vào nước Đức. Ý kiến thứ hai được chấp nhận, Đại bản doanh cho tư lệnh phương diện quân U-crai-na 3 thêm một thời gian suy nghĩ về các ý kiến của mình trong kế hoạch đó.

Chúng ta giữ quan hệ rất chặt chẽ với Bộ tham mưu tối cao của Quân đội nhân dân giải phóng Nam Tư. Các bạn Nam Tư cũng nghiên cứu xem làm thế nào để tiêu diệt một cách tốt nhất quân địch ở phía Bắc Nam Tư, là nơi mà nhiều đơn vị mới của địch đã được điều tới. Từ ngày 1 tháng Mười một, ở các khu vực Tra-trắc, Cra-lê-lô đã diễn ra những trận đánh đẫm máu với các lực lượng lớn quân địch đang rút lên phía Bắc. Sở dĩ những trận đánh ác liệt xảy ra ở khu vực này là vì con đường sắt ở đây vẫn nằm trong phạm vi kiểm soát của địch. Trong các trận đánh ấy, các sư đoàn bộ binh 17, 23, 25 và sư đoàn bộ binh Vô sản 2 của Quân đội Nam Tư đã chiến đấu rất xuất sắc. Các sư đoàn ấy đã đánh lui được những đợt tấn công của các lực lượng lớn bộ binh và xe tăng địch, đồng thời chuyển sang hành động tiến công, tiêu diệt chúng, phá vỡ kế hoạch rút quân của chúng.

Sau khi tiêu diệt được cánh quân địch ở Bê-ô-grát, bộ đội Nam Tư có thêm một vùng đất đai rộng lớn, có lợi về mọi mặt để lập căn cứ, và từ đây có thể phát huy ảnh hưởng quyết định tới quá trình chiến dịch ở các vùng phía Bắc và phía giữa đất nước Nam Tư, là những vùng quân địch còn chiếm đóng. Bấy giờ, Quân đội nhân dân giải phóng Nam Tư càng hành động tích cực hơn. Dẫn chứng tiêu biểu cho sự lớn mạnh về nghệ thuật quân sự của bộ đội Nam Tư là việc tổ chức bao vây những cánh quân lớn của địch và đã hoàn toàn tiêu diệt chúng trong một thời hạn ngắn. Ví dụ, cụm quân Ven biển của Nam Tư và sư đoàn bộ binh 3 đã bao vây rồi sau đó tiêu diệt địch ở khu vực Đa-ni-lốp-grát, Xca-đa-rơ, Pốt-gô-ri-txa. Các chiến sĩ của quân đoàn 8 đã tạo nên chiếc lòng chảo hãm quân địch ở khu vực Cơ-nin và tiêu diệt gọn ở đây một trung đoàn bộ binh phát-xít Đức. Sư đoàn 25 của Nam Tư đã bao vây và tiêu diệt địch ở khu vực Gu-trơ.

Cuộc tiến công của các đơn vị quân đội Nam Tư ở Ghéc-xơ-gô-vi-na trong tháng Hai 1945 có một ý nghĩa lớn. Hồi đó, tình hình đặt ra cho Bộ tham mưu tối cao Nam Tư là cần phải phá vỡ tuyến phòng thủ của địch ở khu vực Mô-xta-rơ — thành phố chính của Ghéc-xơ-gô-vi-na. Quân địch phòng ngự ở đây đã chặn mất các con đường đi từ phía Tây - Nam đến những nơi khác, đến thành phố còn quan trọng hơn và đến các đầu mối giao thông là Xa-ra-ê-vô, để từ đó tiến đến Khoóc-va-ti-a. Từ ngày 6 cho đến ngày 15 tháng Hai, các đơn vị của quân đoàn 8 và sư đoàn 29 (quân đoàn 2) của Nam Tư đã tiến hành thắng lợi chiến dịch ở Mô-xta-rơ một cách có suy tính kỹ và có tổ chức. Lữ đoàn xe tăng Nam Tư đã tích cực tham gia cuộc tiến công này. Quân địch bị thất bại nặng nề, sư đoàn 369 của Đức bị đánh tan, hơn 1.200 binh lính và sĩ quan địch bị bắt làm tù binh. Mô-xta-rơ và đại bộ phận các vùng đất đai ở Ghéc-xơ-gô-vi-na được giải phóng. Sợ bị mất Xa-ra-ê-vô, bộ chỉ huy Hít-le phải từ bỏ kế hoạch điều động sư đoàn «Hoàng tử Ơ-giê-ni» của chúng mới được bổ sung sau những trận đánh vừa qua sang Hung-ga-ri. Bộ tổng tham mưu Liên Xô đánh giá cao sự chi viện đó của các chiến hữu Nam Tư.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Giêng, 2016, 08:38:11 am

Từ tháng Mười một 1944 cho tới tháng Năm 1945, các phi công Liên Xô thuộc cụm không quân của tướng A. N. Vi- tơ-rúc, đã chi viện đắc lực cho bộ đội Nam Tur. Chúng ta thành lập cụm không quân này sau khi có cuộc hội đàm với Ti-tô ở Mát -xcơ-va. Hồi đó, Tổng tư lệnh tối cao Ọuân đội nhân dân giải phóng Nam Tư đề nghị với chúng ta tổ chức chi viện bằng đường không cho bộ đội Nam Tư. Sau khi thấy nghị đó hợp lý, Hội đồng quốc phòng Nhà nước đã quyết định chuyển giao cho nước Nam Tư nhân dân cụm không quân, gồm 2 sư đoàn không quân (sư đoàn cận vệ cường kích 10 và sư đoàn tiêm kích 236). Chúng ta còn chuyển giao cả những bộ phận cần thiết khác của căn cứ không quân (vùng 9 của căn cứ không quân) cùng những phương tiện bảo đảm kỹ thuật khác. Ngày 15 tháng Mười một 1944, hiệp ước chuyển giao các sư đoàn không quân cho bộ đội Nam Tư được ký kết tại Bê-ô-grát.

Cụm không quân của tướng Vi-tơ-rúc không những là một binh đoàn chiến đấu mạnh (244 máy bay), mà còn là trung tâm đào tạo các cán bộ, xây dựng các cơ quan chỉ huy của không quân Nam Tư.

Các phi công trong cụm không quân đã biểu thị lòng dũng cảm cao độ khi thực hiện các nhiệm vụ chiến đấu, bản thân A. N. Vi-tơ-rúc cũng được phong danh hiệu Anh hùng nhân dân Nam Tư. Các đồng chí đã chiến đấu quên mình trên đất nước Nam Tư anh em cho đến ngày toàn thắng bọn chiếm đóng phát-xít.

Việc tiêu diệt quân Hít-le ở Nam Tư đã góp phần vào sự thắng lợi của lực lượng giải phóng nhân dân của nước An-ba-ni. Các phi công Liên Xô ở căn cứ không quân Ba-ri, theo chỉ thị của Mát-xcơ-va, đã nhiều lần giúp đỡ những người yêu nước An-ba-ni vũ khí, đạn dược và các dụng cụ, thuốc men. Mùa thu năm 1944, bộ đội Nam Tư tiếp xúc chặt chẽ với Quân đội nhân dân giải phóng An-ba-ni. Có trường hợp, quân đội của hai nước láng giềng đã phối hợp hành động. Ngày 17 tháng Mười một, Quân đội nhân dân giải phóng An-ba-ni đã tống cổ quân địch ra khỏi Ti-ra-na, đuổi chúng chạy lên núi, tiêu diệt chúng tại đây hoặc buộc chúng phải rời khỏi đất nước An-ba-ni. Ngày 29 tháng Mười một, An-ba-ni hoàn toàn giải phóng khỏi bọn chiếm đóng.

Tập đoàn quân Bun-ga-ri 1 tiến công cùng với các sư đoàn bộ binh 46 và 42, lữ đoàn Cô-xô-vô 3 và 2 của Quân đội nhân dân giải phóng Nam Tư, ngày 17 tháng Mười một 1944 đánh chiếm được đầu mối giao thông quan trọng của địch ở Pri-sti-na. Mấy ngày sau, các đơn vị của tập đoàn quân Bun-ga-ri 2 lại cùng với sư đoàn bộ binh 22 của Nam Tư giải phóng Mi-tơ-rô-vi-txa và chặn được con đường rút quân của địch tới Nô-vi - Pa-da-rơ.

Trong quá trình tác chiến ở Nam Tư, theo sự thỏa thuận của cả hai bên đồng minh, những máy bay Mỹ và Anh tại căn cứ ở I-ta-li-a cũng tham gia chiến dịch. Chúng ta đã gấp rút thỏa thuận những vấn đề trên với các nước đồng minh, và nhiệm vụ giao cho không quân Anh-Mỹ đều được thông qua Bộ tổng tham mưu Liên Xô. Trường hợp máy bay buộc phải hạ cánh ở các vùng rừng núi, thì bãi hạ cánh cần thiết trong khu vực du kích sẽ được lựa chọn và trang bị tùy theo khả năng. Kinh nghiệm của căn cứ không quân Ba-ri của Liên Xô giúp được nhiều cho công việc này. Như đã nói ở trên, các phi công ở căn cứ Ba-ri thường bay tới An-ba-ni và Tséc-nô-gô-ri-a đã sử dựng các bãi hạ cánh do nhân dân và du kích ở địa phương chuẩn bị.

Các phi công Liên Xô được nhân dân địa phương, đặc biệt là nhân dân ở Tséc-nô-gô-ri-a, đón tiếp rất nồng nhiệt. Các chiến sĩ du kích và nhân dân trong các làng mạc kể lại biết bao chuyện về nghệ thuật của những người lái các máy bay có ngôi sao đỏ! Một hôm, tại một bãi hạ cánh ở một bản làng vùng rẻo cao Nam Tư có hai máy bay hạ cánh: một của Liên Xô và một của Anh. Hai máy bay đều gắn nhãn hiệu Xi-47 nên tất nhiên là cùng kích thước và chỉ khác nhau về ký hiệu. Già trẻ ở bản làng quanh đấy tụ tập quanh hai chiếc máy bay. Khi các tổ lái hội họp, nông dân quây lại gần và bàn bạc với nhau, tranh luận xem máy bay nào tốt hơn và phi công nào bay giỏi hơn. Cuối cùng, một cụ già tiến lên, dùng bước chân đo chiều dài và sải cánh của máy bay trước mặt mọi người, vỗ vỗ vào thân máy bay, xong suy nghĩ một lát rồi lớn tiếng nói rằng : máy bay của Liên Xô dài hơn nửa mét. Máy bay này hạ cánh trên núi khó hơn máy bay của Anh. Cuộc tranh luận với nhau đến đây thì thông nhất ý kiến và kết thúc...

Tuy nhiên, trong các cơ quan tham mưu cấp trên đã thỏa thuận với nhau về việc sử dụng lực lượng không quân, nhưng việc tổ chức nó tại chỗ thì lại khác đi. Chúng tôi đã đoán thấy điều đó vào hồi tháng Mười một 1944, khi 27 máy bay Mỹ xuất hiện, bay trên đội hình của quân đoàn bộ binh cận vệ 6 đang hành quân qua Nam Tư. Vì nhận thấy đó là những máy bay đồng minh, nên các chiến sĩ ta hân hoan chào mừng, vẫy mũ. Nhưng bỗng nhiên các máy bay triển khai đội hình, và ném bom dữ dội. Quân đoàn bị lâm nạn: quân đoàn trưởng trung tướng Gri-gơri Pê-tơ-rô-vích Cô-tốp, cùng với 31 sĩ quan và chiến sĩ bị hy sinh, 37 người khác bị thương. Do thấy thủ đoạn của máy bay có thể quay lại bắn phá lần nữa, nên 9 máy bay tiêm kích của Liên Xô lập tức lên đón đánh. Thế là trận không chiến bắt đầu. Kết quả, không kể người, Mỹ mất 3 chiếc máy bay, còn ta cũng mất 3 chiếc.

Ngày 9 tháng Mười một, trưởng phái đoàn quân sự Mỹ ở Máí-xcơ-va nhận được kiến nghị của chúng ta về trường hợp này, và đến ngày 10 tháng Chạp, một viên tướng Mỹ tới Xô-phi-a ngỏ lời đáng tiếc với Bộ chỉ huy Liên Xô. Chúng ta ghi nhận lời đáng tiếc ấy, và từ nay về sau bộ đội Liên Xô được lệnh phải thận trọng trong mọi trường hợp khi thấy có máy bay xuất hiện, còn các cơ quan tham mưu cấp trên phải kiểm tra kỹ các tín hiệu hiệp đồng.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Giêng, 2016, 08:38:52 am
Đại bản doanh, Bộ tổng tham mưu, Hội đồng quân sự và bộ tham mưu phương diện quân U-crai-na 3 đã cùng phối hợp vạch ra kế hoạch tác chiến trên lãnh thổ Hung-ga-ri. Ngày 12 tháng Mười một, Ph. I. Tôn-bu-khin gửi về Bộ tham mưu các ý kiến đề nghị của mình, Bộ tổng tham mưu nghiên cứu trước, xong báo cáo lên Đại bản doanh và được Đại bản doanh phê chuẩn. Kế hoạch dự kiến nhiệm vụ trước mắt là đưa các lực lượng chủ yếu của phương diện quân ra khu vực Xu-bô-ti-xa, vượt sông Đa-nuýp và chiếm lĩnh bàn đạp chiến dịch ở khu vực Pét bên bờ phía Tây sông.

Đặc điểm của cuộc tiến công chống quân Hít-le trong giai đoạn sắp tới là sự hiệp đồng rộng rãi giữa quân đội Liên Xô, Bun-ga-ri và Nam Tư. Trong giai đoạn đầu tiến công của phương diện quân U-crai-na 3, khi sườn trái gắn chặt với sườn phải của bộ đội Nam Tư, thì vấn đề quan trọng là bộ đội Nam Tư cần tiếp tục hành động tích cực ở giữa hai con sông Đra-va và Xa-va. Sau này, khi các lực lượng chủ yếu của phương diện quân U-crai-na 3 tiến lên phía Bắc, các bên sườn của hai quân đội Liên Xô và Nam Tư không tiếp giáp với nhau nữa, thì lúc đó sẽ sử dụng tập đoàn quân Bun-ga-ri 1 do chính phủ của Mặt trận Tổ quốc thành lập, tiến công vào khoảng trống ở giữa đó.

Như vậy, kế hoạch các chiến dịch sau này dự định sẽ có sự tham gia của ba quân đội anh em, cùng chung sức giải quyết việc chia cắt các lực lượng của cánh quân địch đóng ở Hung-ga-ri và ở I-ta-li-a. Mọi vấn đề chuẩn bị và tiến hành các chiến dịch ấy đều phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa ba quân đội anh em.

Đại bản doanh lệnh cho nguyên soái Ph. I. Tôn-bu-khin phải trực tiếp thỏa thuận tất cả những vấn đề trên với I. Brốt Ti-tô và Bộ chỉ huy Bun-ga-ri. Trong khoảng thời gian từ 17 đến 20 tháng Mười một, Ph. I Tôn-bu-khin đã lưu lại ở Bê-ô-grát, rồi sau đó đến Xô-phi-a. Hành động của bộ đội Nam Tư và bộ đội Bun-ga-ri đã đi đến nhất trí, hơn nữa các bạn Nam Tư lại tạo điều kiện cho quân đội Bun-ga-ri tự cung cấp cỏ khô, củi và rơm ở ngay trên đất Nam Tư, là những thứ mà bộ đội Bun-ga-ri không thể thiếu lúc đó. Do chỗ tập đoàn quân 1 của Bun-ga-ri chưa tiến kịp ra mặt trận, nên Bộ chỉ huy Nam Tư đồng ý sẽ cho bộ đội Nam Tư tiến công dọc theo sông Xa-va trên hướng chung tới Da-grép, và trước khi tập đoàn quân Bun-ga-ri bước vào hành động, các bạn Nam Tư sẽ phái ra một quân đoàn để bảo đảm sườn trái cho tập đoàn quân 57.

Trong nửa sau tháng Mười một 1944, bộ đội của phương điện quân U-crai-na 3 đã vượt lên phía Bắc, còn bộ đội của Quân đội nhân dân giải phóng Nam Tư lớn mạnh và trưởng thành thì đang chuẩn bị tiến công dưới sự lãnh đạo của các đảng viên cộng sản. Nhưng đất nước Nam Tư lúc bấy giờ đang gặp những khó khăn to lớn về vật chất, nhất là về lương thực. Nhà nước Liên Xô đã giúp đỡ các bạn Nam Tư đang cùng chiến đấu bên nhau. Tháng Chạp 1944, chúng ta chuyển hơn 50 nghìn tấn lúa mì và bột mì cho Nam Tư. Ngày 10 tháng Ba, lữ đoàn xe tăng Nam Tư xây dựng trên đất nước Liên Xô (65 xe tăng T-34) đã chuyển từ Tu-la về Nam Tư bằng đường sắt. Và ngày 1 tháng Tư, ở khu vực thành phố Sít, lữ đoàn đã bước vào giao chiến với địch. Các chiến sĩ xe tăng Nam Tư tiến công trên hướng Da-grép, chiến đấu dũng cảm đến ngày toàn thắng. Từ tháng Ba 1945, chúng ta chuyển giao cho Quân đội nhân dân giải phóng Nam Tư hàng loạt trang bị vũ khí của Liên Xô và các trang bị vũ khí chiến lợi phẩm do bộ đội Liên Xô chiếm được. Với số vũ khí đó, các bạn Nam Tư đã trang bị đầy đủ cho 20 sư đoàn bộ binh, 3 lữ đoàn pháo binh và 2 lữ đoàn xe tăng, 2 sư đoàn không quân, một số trung đoàn thông tin liên lạc, các đơn vị công binh và cơ giới. Hội đồng quồc phòng Nhà nước đã ra một nghị quyết đặc biệt về vấn đề này vào ngày 10 tháng Hai 1945. Lịch sử chứng minh rằng, vũ khí Liên Xô đã được trao cho các chiến sĩ trung kiên và dũng cảm của đất nước Nam Tư nhân dân.

...Thời gian là thước đo tốt nhất về sự vững chắc của các sự kiện đã qua. Các dân tộc Liên Xô và Nam Tư trung thành với tình hữu nghị đã được tôi luyện trong cuộc đấu tranh quên mình chống lại kẻ thù chung. Tình hữu nghị ấy được củng cố bằng máu: các chiến sĩ Liên Xô và Nam Tư đã cùng sát cánh bên nhau trên chiến trường ở Bê-ô-grát, ở hàng chục thành thị lớn nhỏ và ở các bản làng Nam Tư. 6.500 chiến sĩ Liên Xô đã yên nghỉ trên đất Nam Tư. Các đài kỷ niệm dựng trên mồ những người đã khuất, ca ngợi những chiến sĩ từ Mát-xcơ-va, từ thành phố Xta-lin-grát đổ nát, từ những vùng bị tàn phá ở Ki-ép và Min-xcơ đã băng qua lửa đạn tới đây, để ứng cứu những ngôi nhà yên lành của những người Nam Tư anh em khỏi bị thiếu cháy và tàn phá.



Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Giêng, 2016, 07:57:54 am

CHƯƠNG BẢY

Ở giữa châu Âu


Đầu mối Hung-ga-ri. — Chỉ thị của Đại bản doanh. — Sự hoảng hốt trong phe Hoóc-ti.
— Sức ép của Hít-le. — Chuyến đi bí mật. — Thư của các sĩ quan tù binh.
— Các thủ đoạn vụng về. — Thượng tướng Be-la Mi-clốt. — Trận đánh bảo vệ Bu-đa-pét.
— U. Sớc-sin và A. I-đơn ở Má-xcơ-va. — Báo cáo của nguyên soái X. C. Ti-mô-sen-cô.
— Sự hy sinh của những người Liên Xô cầm cờ trắng. — Nẩy nở tình đoàn kết chiến đấu.
— Tại Ba-la-tông.— «Không được kéo dài chiến tranh».


Thắng lợi của chiến dịch I-át-xư - Ki-si-ni-ốp đặt ra cho bộ đội Liên Xô một trong những nhiệm vụ thực tiễn là giải phóng Hung-ga-ri.

Như mọi người đều biết, về địa lý, Hung-ga-ri nằm ở giữa châu Âu, đầu mối những con đường cái chính trên lục địa. Trong những năm chiến tranh thế giới thứ hai, bọn cầm quyền ở Hung-ga-ri, đứng đầu là nhiếp chính Hoóc-ti, trở thành những tên tay sai trung thành của Hít-le. Chúng biến Hung-ga-ri thành nước chư hầu, chỗ dựa của Đế chế thứ ba. Phát-xít Đức hút dầu hỏa của Hung-ga-ri, thứ nhiên liệu sống còn đối với các lực lượng vũ trang của Đức, sau khi chúng bị mất các nguồn dầu ở Ru-ma-ni; chúng vơ vét lúa mì, thịt và các nguyên liệu nông nghiệp. Hung-ga-ri còn cung cấp cả quân lính cho chúng.

Bộ tổng tham mưu chú ý tính toán tất cả những vẫn đề trên. Nhưng không chỉ có thế. Chúng ta cần nhớ rằng Hung-ga-ri giữ một vị trí đặc biệt trong những mưu toan của khối Anh-Mỹ. Mọi người đều biết rằng các nước phương Tây đang thi hành chính sách hai mặt với Hung-ga-ri. Ví dụ, họ đã phản ứng khá «độc đáo» việc Hung-ga-ri tham gia cuộc chiến tranh với Liên Xô: vừa mới cuối năm 1941 Anh đã tuyên chiến với Hung-ga-ri, còn Mỹ thì tuyên chiến muộn hơn, vào tháng Sáu 1942. Các mối quan hệ như vậy có thể đưa đến nhiều điều bất ngờ, và như chúng ta sẽ thấy, chúng có ảnh hưởng tới các kế hoạch của hai bên.

Việc giải phóng Hung-ga-ri hứa hẹn mang lại cho chúng ta những thuận lợi rõ rệt về quân sự. Giải phóng được đất nước này, bộ đội Liên Xô sẽ tiến vào Tiệp Khắc là nước đồng minh với chúng ta, trực tiếp giáp giới với nước Đức Hít-le và có điều kiện đánh vu hồi mặt phía Nam vào nước Đức. Từ đây vào đến trung tâm hang ổ của bọn phát-xít chỉ còn có mấy trăm ki-lô-mét. Chúng ta còn có những ý định khác nữa. Ví dụ, Hung-ga-ri được giải phóng sẽ làm thay đổi hắn tình hình quân sự ở I-ta-li-a, Nam Tư, Hy Lạp và An-ba-ni, vì các mũi đột kích của chúng ta đe dọa phía sau lưng các cánh quân phát-xít Đức đóng tại các nước này và chặn hết mọi ngả đường rút quân của chúng về nước Đức. Tình hình đó là yếu tố mới rất quan trọng đối với tình huống chiến lược ở châu Âu.

Quân địch hiểu các khả năng sẽ phát triển sắp tới của các sự kiện quân sự, nên ngoan cố bám giữ lấy Hung-ga-ri. Và, chúng ta cũng cảm thấy ngay tình hình đó khi quân đội Liên Xô tiến gần đến Tơ-ran-xin-va-ni.

Việc tiêu diệt quân địch ở I-át-xư và Ki-si-ni-ốp đã tạo điều kiện để có một cách nhìn khác hơn trước đây chút ít đối với việc giải quyết vấn đề về cách thức phá vỡ phòng ngự của quân phát-xít Đức và của chính phủ Hoóc-ti ở Các-pát. Bộ tổng tham mưu và Đại bản doanh suy nghĩ: liệu ta có cần tiến vào Hung-ga-ri qua dãy núi bằng mũi đột kích vỗ mặt như phương diện quân U-crai-na 4 đã chuẩn bị hay không? Tiến công như vậy thường bị tổn thất nhiều cả về người lẫn phương tiện vật chất. Vậy nếu biết lợi dụng tình hình chiến dịch phát triển nhanh ở hướng Tây - Nam để các tập đoàn quân Liên Xô tiến vào các vùng phía sau núi, tức là từ phía Nam đi vòng dãy núi qua Ru-ma-ni, có tốt hơn không? Tất nhiên là nếu không tiến công vào các vùng rừng núi và không đột phá vào tuyến phòng thủ của địch ở chính diện thì không được, nhưng dù sao nhiệm vụ chủ yếu có thể hoàn thành được thuận lợi hơn, tiết kiệm hơn, và dĩ nhiên là triệt để hơn.

Bộ tổng tham mưu đã thảo luận kỹ tình huống trên, và ngày 25 tháng Tám 1944, A. I. An-tô-nốp báo cáo với Đại bản doanh phương án dự kiến hành động của các phương diện quân U-crai-na 4 và 2. Bộ tổng tham mưu được chỉ thị lấy thêm ý kiến của I. E. Pê-tơ-rốp, tư lệnh phương diện quân U-crai-na 4, rồi của R. I-a. Ma-li-nốp-xki, tư lệnh phưong diện quân U-crai-na 2 và Gh. C. Giu-cốp, Phó tổng tư lệnh tối cao lúc này đang ở Ru-ma-ni.

Chúng tôi đã trao đổi ý kiến ngay với I. E. Pê-tơ-rốp bằng đường điện thoại cao tần. Trong dải của phương diện quân đồng chí, trên khắp các nẻo đường vùng chân núi Các-pát, bộ đội và khí tài đang luồn núi xuyên rừng, nơi thì chiến đấu mở đường, nơi thì đánh giáp lá cà với quân địch, đang bò lên các điểm cao một cách chậm chạp như đàn kiến. Phương diện quân vừa tiến công, vừa chuẩn bị các điều kiện để vượt dãy núi Đông Các-pát ở phía Đông. Trong khi đó, bộ đội lại không có đủ các thiết bị và trang bị chiến đấu ở vùng rừng núi.

Các kết quả tiến công chưa hứa hẹn được nhiều. Quân địch mặc dù phải lùi tới các điểm cao và các đèo ngang dãy núi chính, nhưng vẫn chưa chịu bỏ những vị trí quyết định. Bộ đội Liên Xô bị thiệt hại khá nhiều về người và khí tài.

I. E. Pê-tơ-rốp đồng ý với những ý kiến của Bộ tổng tham mưu, nhưng có nói rằng, trước khi chờ Đại bản doanh quyết định cuối cùng, tốt hơn là nên tạm dừng cuộc tiến công của phương diện quân U-crai-na 4, vì cần để cho phương diện quân học tập thêm cách đánh ở vùng rừng núi, cải tiến việc trang bị cho bộ đội và cho bộ đội nghỉ ngơi chút ít, vì họ đã tiến công lâu rồi. Bộ tổng tham mưu không phản đối, vì tạm thời chuyển sang phòng ngự sẽ giúp cho phương diện quân chuẩn bị các chiến dịch tiến công mới được dễ dàng hơn. Chúng tôi hy vọng Tổng tư lệnh tối cao sẽ đồng ý với chúng tôi và I. E. Pê-tơ-rốp. Hơn nữa, Bộ tổng tham mưu còn nhận được một số tin tức là ở Xlô-va-ki-a đang có cuộc chuẩn bị khởi nghĩa chống Hít-le. Những tin tức ấy tuy chưa được rõ ràng, chưa thật chắc chắn, nhưng cũng không thể bỏ qua được.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Giêng, 2016, 07:15:40 pm

Phương diện quân U-crai-na 4 hầu như không chuyển sang phòng ngự được, song, về vấn để này sẽ nói đến sau.

Đêm 25 rạng ngày 26 tháng Tám, các ý kiến của Bộ tổng tham mưu và của I. E. Pê-tơ-rốp được báo cáo lên Tổng tư lệnh tối cao. Chúng tôi đã chuẩn bị từ trước bản dự thảo: chỉ thị chuyển phương diện quân U-crai-na 4 sang phòng ngự. I. V. Xta-lin ký vào văn bản và ra lệnh cho phương diện quân vì lợi ích tiến công sau này, cần xây dựng những lực lượng dự bị mạnh cần thiết cho những trận đánh ở vùng rừng núi. Để nhấn mạnh thêm ý nghĩa của quyết định trên, I. V. Xta-lin chỉ thị viết tiếp: «Đồng chí hãy hoãn mở chiến dịch (mũi đột phá qua Các-pát. — T. G.), chưa có lệnh của Đại bản doanh thì chưa tiến hành». Đoạn viết thêm đó là cần thiết, vì rằng cuộc khởi nghĩa ở Xlô-va-ki-a nổ ra thì ta cần chú ý tới các hậu quả quân sự và nhất là hậu quả chính trị của sự kiện quan trọng đó. Trước mắt chúng ta còn in sâu tấm gương của những người khởi nghĩa ở Vác-sa-va, dù Hồng quân đã tìm mọi cách giúp đỡ, nhưng vẫn không thể cứu vãn khỏi tai họa.

I. E. Pê-tơ-rốp ra lệnh cho bộ đội của phương diện quân, giải thích cho các cán bộ chỉ huy trong phương diện quân biết nguyên nhân chuyển sang phòng ngự:

«Chấp hành chỉ thị của Đại bản doanh Bộ tổng tư lệnh tối cao, bộ đội phương diện quân sẽ chuyển sang phòng ngự tích cực, đồng thời phải duy trì lực lượng dự bị mạnh.

Sở dĩ chuyển sang phòng ngự là do các phương diện quân U-crai-na 2 và 3 hoạt động thắng lợi và do các khả năng mới tạo nên cho phép phương diện quân chúng ta hoàn thành nhiệm vụ bằng những phương pháp bớt khó khăn hơn và có hiệu quả nhiều hơn.

Do đó, chúng ta phải hiểu việc chuyển sang phòng ngự, là giai đoạn chuẩn bị để tiếp tục tiến công với những mục đích kiên quyết».

Ngày 4 tháng Chín, Đại bản doanh nhận được báo cáo của Gh. C. Giu-cốp và R. I-a. Ma-li-nốp-xki. Các đồng chí viết : «Chúng tôi không tin là các tập đoàn quân cận vệ 40 và 7 sẽ nhanh chóng mở những mũi đột kích vào chính diện». Các tập đoàn quân đó, do các tướng Ph. Ph. Giơ-ma-tren-cô và M. X. Su-mi-lốp chỉ huy, được quy định từ phía Nam đi vòng núi Các-pát đánh vào Hung-ga-ri.

Như chúng tôi dự kiến, trong báo cáo của các đồng chí có đề nghị tiến vào Tơ-ran-xin-va-ni bằng các mũi đột kích phối hợp từ phía Đông và phía Nam, cho các tập đoàn quân 53, 27 và tập đoàn quân xe tăng 6 từ Đa-nuýp quặt tới đây và đánh chiếm khu vực Clu-giơ, Ô-ra-đê-a - Ma-rê, Kha-txéc. «Chiếm được khu vực này, — Gh. C. Giu-cốp và R. I-a. Ma-li-nốp-xki viết, — chúng ta sẽ tạo được mối uy hiếp bao vây quân Đức và Hung-ga-ri đang chống lại các tập đoàn quân của Giơ-ma-tren-cô và Su-mi-lốp, sẽ giúp cho các tập đoàn quân nhanh chóng tiến ra tuyến Đe-giơ, Clu-giơ để sau đó sẽ hành động tới Xa-tu - Ma-rê hiệp đồng với phương diện quân U-crai-na 4». Như vậy ý kiến của Bộ tổng tham mưu càng được củng cố thêm.

Đại bản doanh chú ý nghiên cứu mọi ý kiến, và tôi hôm sau lệnh cho phương diện quân U-crai-na 2 sửa chữa lại kế hoạch chiến dịch trước đây của phương diện quân. Ý nghĩa của các chỉ thị như sau: đi vòng phía Nam núi Các-pát, kết hợp mở những mũi đột kích vào chính diện với những mũi đánh bọc của một số tập đoàn quân; chi viện cho phương diện quân của I. E. Pê-tơ-rốp; không được phân tán lực lượng.

Các tập đoàn quân của phương diện quân U-crai-na 2 đánh quặt xuống đã làm phá sản mọi dự đoán và những lời đồn đại của các nước ngoài, cho rằng Liên Xô vẫn sẽ theo đuổi mục đích cũ của nước Nga sa hoàng đối với Bô-xpho và Đác-đa-nen. Riêng Hít-le thì cho rằng, Hồng quân sẽ tung mọi lực lượng của mình ra hướng này và chỉ để lại ở Các-pát một số ít lực lượng để yểm hộ. Điều đó cũng được chứng minh trong cuốn sách «Những trận đánh thất bại» của tướng G. Phrít-xne, chỉ huy Cụm tập đoàn quân «Nam U-crai-na» đã bị bộ đội Liên Xô đánh cho tơi tả. Lầm lẫn đó của quân địch rất quan trọng, nó khiến chúng phải chú ý bố trí lại các đơn vị của chúng, tăng cường cho khu vực mặt trận ở hướng Nam Các-pát, chứ không phải ở phía Tây — hướng chiến lược rất quan trọng và có hiệu lực nhất.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Giêng, 2016, 07:20:00 pm

Tôi còn nhớ, trong chỉ thị lần đầu tiên có nói tới khu vực Đê-brê-xen — lúc này chỉ là mục tiêu hoạt động của kỵ binh; ta dự định sử dụng kỵ binh để mở rộng mũi đột kích của phương diện quân. Bộ đội Liên Xô tiến vào Đê-brê-xen có lợi cho hình thái tiến công trên mấy hướng: hướng Đông, và Đông-Bắc — tiến vào phía sau lưng tuyến phòng thủ của địch ở Các-pát; hướng Bắc — để chặn đường rút lui của quân phát-xít Đức; hướng Tây-Bắc — để chi viện cho cuộc khởi nghĩa có thể xẩy ra ở Xlô-va-ki-a; hướng Tây — để đột kích vào Bu-đa-pét. Mũi đột kích theo dự tính của Đại bản doanh sâu hơn là mũi đột kích theo đề nghị của tư lệnh phương diện quân U-crai-na 2; nó chứa đựng nhiều khả năng để tiếp tục phát triển chiến dịch, tạo nên mối uy hiếp bao vây quân địch đang phòng ngự ở vùng U-crai-na phía sau Các-pát và Tơ-ran-xin-va-ni.

Trong chỉ thị ấy, Bộ tổng tư lệnh tối cao đề ra các nguyên tắc hiệp đồng giữa bộ đội Liên Xô và bộ đội Ru-ma-ni lúc này đã quay súng chống lại nước Đức phát-xít. Đại bản doanh đề nghị Bộ chỉ huy Ru-ma-ni tách ra 2-3 sư đoàn bộ binh để phòng thủ Đa-nuýp và trên dưới 3 sư đoàn để phòng thủ khu vực Xe-ghét, Tuốc-nu - Xê-vê-rin. Tập đoàn quân Ru-ma-ni 1 được dùng làm cơ sở cho các đơn vị nói trên. Ta đề nghị sử dụng các đơn vị của tập đoàn quân Ru-ma-ni 4 do tướng G. A-bra-me-xcu chỉ huy và các đơn vị Ru-ma-ni khác ở khu vực Bra-sốp và Tơ-ran-xin-va-ni phối hợp với Hồng quân tiến công vào Clu-giơ.

Thực hiện chỉ thị của Đại bản doanh, bộ đội sườn trái thuộc phương diện quân của R. I-a. Ma-li-nốp-xki vận động quay lên phía Bắc. Tập đoàn quân xe tăng 6 của tướng A. G. Cráp-tsen-cô có 262 xe tăng và 82 pháo tự hành tiến quân ở giữa. Ngày 14 tháng Chín, khi tiến đến khu vực Tuốc-đa, tập đoàn quân đã bước vào giao chiến quyết liệt với xe tăng và bộ binh địch tổ chức phản kích mạnh ở đây nhằm phá các chiến dịch của ta.

Sự thất bại nặng nề của Cụm tập đoàn quân «Nam U-crai-na» ở I-át-xư và Ki-si-ni-ốp đã có ảnh hưởng lớn đến tình hình chính trị và quân sự ở Hung-ga-ri. Những tên thủ lĩnh của chế độ phát-xít trong nước cảm thấy đất bắt đầu bị rung chuyển dưới chân chúng. Mặc dầu quân phát-xít Đức đến chiếm đóng Hung-ga-ri từ tháng Ba 1944, nhưng cho đến bây giờ chúng vẫn không thể đảm bảo sự phòng thủ vững chắc của Hung-ga-ri trước sự tấn công của bộ đội Liên Xô. Chính sách của các giai cấp thống trị phản động và các chính phủ phản cách mạng, chính sách phản bội quyền lợi dân tộc và bóc lột nhân dân đã dẫn đất nước Hung-ga-ri tới thảm họa. Trong khi bọn phát-xít hò hét đến sùi bọt mép về «thắng lợi cuối cùng» và về «vũ khí kỳ diệu» của Hít-le thì ở Hung-ga-ri đã diễn ra một sự cưỡng bức đi những công nhân và chuyển những thiết bị nhà máy, dự trữ nguyên liệu, máy móc nông nghiệp và sản phẩm về nước Đức. Hung-ga-ri ngày càng phụ thuộc vào tên độc tài phát-xít Đức vì Hít-le đưa vào Hung-ga-ri mấy sư đoàn Đức, nhưng lại lấy đi các lực lượng chủ yếu có khả năng chiến đấu của quân đội Hung-ga-ri.

Ngay sau khi tiêu diệt quân phát-xít Đức bị bao vây ở I-át-xư - Ki-si-ni-ốp, bộ đội Liên Xô tiến đến biên giới Hung-ga-ri, Nam Tư và Bun-ga-ri thì phe phải của Hoóc-ti mới bắt đầu vội vã tìm đường thoát khỏi thảm họa đang đe dọa chủ nghĩa phát-xít ở Hung-ga-ri. Nhưng cả lúc này, khi lòng tin mù quáng của các giới cầm quyền Hung-ga-ri vào sức mạnh của vũ khí Hít-le bị phá sản, thì Hoóc-ti và tập đoàn của y lại hoàn toàn không nghĩ tới việc đầu hàng vô điều kiện. Muốn tránh khỏi sụp đổ, bọn chúng định dựa vào Anh và Mỹ. Bọn Hoóc-ti nghĩ rằng, các cường quốc phương Tây sớm muộn rồi cũng sẽ thỏa hiệp với nước Đức phát-xít ở sau lưng Liên Xô, và Đức sẽ cho quân Anh-Mỹ tiến vào đất Hung-ga-ri trước khi bộ đội Liên Xô vượt qua được dãy núi Các-pát. Những hy vọng đó của bọn chúng là có căn cứ. «Tôi rất muốn, — U. Sớc-sin nói, —chúng ta sẽ vượt trước người Nga ở một số vùng Trung Âu. Ví dụ, giới cầm quyền ở Hung-ga-ri có ý định chống lại việc tiến công của Liên Xô, nhưng nếu như quân Anh đến kịp thì họ sẽ đầu hàng quân Anh»1. Bè lũ Hoóc-ti cảm thầy đầu hàng Anh-Mỹ ít nhục nhã hơn là đầu hàng Liên Xô. Bọn chúng trông mong vào sự không bền vững của khối liên minh chống Hít-le. Lúc này, điều chủ yếu mà chúng lo là làm sao kìm chân được bộ đội Liên Xô, tranh thủ thời gian, tạo điều kiện cho quân Anh-Mỹ đến trước Hồng quân và sẽ làm chủ được tình hình ở Hung-ga-ri.
_____________________________________________
1. U. Sớc-sin. Chiến tranh thế giới thứ hai, t. VI, tr. 146.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Giêng, 2016, 07:21:17 pm

Các bộ trưởng Hung-ga-ri còn biết rằng, một số tên chóp bu của nước Đức Hít-le đã đồng ý mở cửa ở mặt trận phía Tây cho quân Anh-Mỹ tiến vào để có điều kiện tập trung toàn bộ lực lượng của đế chế thứ ba chống lại Hồng quân ở phía Đông. Tình hình đó tất nhiên sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quân Anh - Mỹ tiến vào Hung-ga-ri, trong khi Hồng quân còn phải đang đổ máu, từng bước phá tan tuyến phòng thủ ngoan cố của quân Đức và Hung-ga-ri. Bọn phát-xít ở Hung-ga-ri cho rằng, quân đội của các cường quốc phương Tây chiếm đóng Hung-ga-ri sẽ không bắt bọn chúng phải trả nợ những tội ác của chúng đối với nhân dân, mà sẽ còn giúp đỡ chúng tiếp tục chiến đấu chống lại Liên Xô.

Còn về các lực lượng vũ trang của Đức, với sự yểm trợ và sự có mặt của quân đội Anh-Mỹ, thì Hoóc-ti và bè lũ hy vọng sẽ giải quyết được tương đối dễ dàng.

Như vậy, mùa thu 1944, Hung-ga-ri là trung tâm của các sự kiện quân sự và chính trị ở châu Âu.

Khi Hồng quân Liên Xô chuyển sang hoạt động trên lãnh thổ các nước ngoài, thì tất nhiên chúng tôi khó giữ bí mật các hướng đột kích, vì quân địch thế nào cũng đã phát hiện thấy việc điều quân và tập trung quân của bộ đội Liên Xô. Chúng ta cũng không thể che giấu được mũi đột kích của sườn trái phương diện quân U-crai-na 2 đánh quặt lên phía Bắc. Chính phủ Hoóc-ti nhận được những tin tức trên liền báo động ngay. Chúng cho rằng, quân đội Liên Xô chiếm lĩnh vị trí xuất phát để tiến công vào Hung-ga-ri. Bu-đa-pét vội vã chuẩn bị. Tối 7 tháng Chín, cái gọi là hội đồng nhà vua họp. Tên nhiếp chính Hoóc-ti thảo luận với chính phủ và các đại biểu của Bộ tổng chỉ huy quân đội Hung-ga-ri về tình hình quân sự và chính sách đối ngoại của đất nước. Bọn chúng đánh giá tình hình lúc này là rất không lợi.

Trung tướng Tổng tham mưu trưởng I-a-nô-sơ Vi-ô-ri-ô-sơ thông báo tình hình mặt trận, tin chắc rằng Hồng quân sẽ mở những mũi đột kích mạnh, đồng loạt đánh theo hai hướng hợp điểm: phía Đông thì từ Ru-ma-ni và phía Bắc thì qua dãy núi Các-pát. Tổng tham mưu trưởng Hung-ga-ri nói toạc ra rằng, kết quả những hoạt động quân sự đó của bộ đội Liên Xô có thể là những gọng kìm khổng lồ, tách các lực lượng chủ yếu của quân đội Hung-ga-ri đang chiến đấu ở dãy núi Đông Các-pát ra khỏi trung tâm đất nước, và sẽ uy hiếp trực tiếp tới Bu-đa-pét.

Trong hội nghị này, chúng không nói một lời nào về vấn đề đầu hàng. Thế nhưng, những người tham dự cuộc họp đều thống nhất với nhau rằng, các lực lượng của bản thân Hung-ga-ri không đủ sức đối phó với Hồng quân. Do chưa liên hệ được với Anh-Mỹ, nên tình thế buộc chính phủ Hung-ga-ri phải yêu cầu sự giúp đỡ của Hít-le. Bọn chúng yêu cầu chứ không đi xin Hít-le, vì chúng biết rằng nước Đức phát-xít cũng rất quan tâm giữ lấy kẻ đồng minh cuối cùng của mình là Hung-ga-ri. Chúng còn dọa dẫm những tên chủ Đức là, nếu từ chối giúp đỡ thì Hung-ga-ri buộc phải thương lượng đình chiến với Liên Xô.

Ngày hôm sau, 8 tháng Chín, chính phủ Hung-ga-ri họp phiên đặc biệt. Hội nghị lại tiếp tục bàn bạc và tìm kiếm lối thoát, nhưng không một bộ trưởng nào có thể nêu lên được một đề nghị gì mới vì hôm trước chúng đã nói hết cả rồi. Hơn nữa tên địa chủ, bá tước Bê-la Tê-lê-ki, giáo sư trường đại học ở Clu-giơ nhận xét có lý rằng, thời cơ thuận lợi để thương lượng đình chiến với Liên Xô đã bị bỏ lỡ cách đây một tuần lễ. Như vậy, bọn chúng đi đến quyết định để quân Anh-Mỹ vào chiếm đóng Hung-ga-ri. Nguyên nhân của quyết định này là sự trả lời của chính phủ Đức: muốn tránh không để mặt trận phía Đông bị vỡ, bọn Hít-le đã sẵn sàng rút lực lượng của chúng ở mặt trận phía Tây. Ngoài ra, Grây-phen-béc, đại diện của Hít-le ở Bu-đa-pét thay mặt bộ chỉ huy phát-xít Đức hứa rằng, trong khoảng 5 ngày nữa sư đoàn xe tăng và sư đoàn cảnh sát SS từ khu vực Bê-ô-grát sẽ tới ứng cứu cho Hung-ga-ri, rồi sau đó sư đoàn bộ binh 18 SS từ Đi-ê-rơ và sư đoàn bộ binh 22 cùng với lữ đoàn xe tăng ở các khu vực khác cũng sẽ kéo đến.

Như vậy là bọn Hoóc-ti dường như thỏa mãn mọi điều mong ước, vì chính phủ Hít-le tuyên bố có khả năng sẽ mở toang cửa phía Tây, do đó quân Anh-Mỹ có thể nhanh chóng tiến vào Hung-ga-ri; quân phát-xít Đức sẽ tới. Điều đó cho phép tổ chức ở biên giới đất nước những tuyến phòng thủ mạnh, ngăn chặn Hồng quân và tranh thủ được thời gian quý báu. Còn sau đó... không một tên nào nói gì đến sự can thiệp của các nước phương Tây mà tất cả bọn chúng đều mong đợi nó. Tổng tham mưu trưởng quân đội Hung-ga-ri quá uổng công chứng minh cho chính phủ hay rằng, Hung-ga-ri phải biết dựa chủ yếu vào những lực lượng của bản thân. Những lời hứa hẹn của bọn Đức cuối cùng đã làm siêu lòng các bộ trưởng đi tới quyết định tiếp tục chiến tranh chống lại Liên Xô.

Như vậy là, lại mất thêm một cơ hội có thể ngăn ngừa được những tổn thất không cần thiết, nhích dần đến giờ kết thúc chiến tranh. Chính phủ Hoóc-ti không muốn nhìn thấy rằng, ngay cả những hy vọng thắng lợi hão huyền, bọn chúng cũng chẳng đào được ở đâu ra.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Giêng, 2016, 07:22:30 pm

Bộ chỉ huy quân sự Hít-le đã đánh giá đúng tình hình ở Hung-ga-ri. Phrít-xne, tư lệnh quân đội phát-xít Đức, chạy lăng xăng giữa bộ tham mưu của y với nội các của tên nhiếp chính Hung-ga-ri và Tổng hành dinh của Hít-le. Các đơn vị mới được cấp tốc chở đến. «Bộ chỉ huy cụm tập đoàn quân đã áp dụng nhiều biện pháp để bảo đảm an toàn cho vùng sau lưng của mình, nếu ở Hung-ga-ri xảy ra những biến động đột ngột về chính trị», — Phrít-xne sau này viết như vậy. Những lực lượng xe tăng lớn được tập trung ở khu vực Tuốc-đa để tổ chức phản kích: bọn Hít-le còn ngoan cố tìm mọi cách hòng phá vỡ các ý đồ của Bộ chỉ huy Liên Xô.

Ngày 13 tháng Chín, Tổng hành dinh của Hít-le mở phiên họp đặc biệt thảo luận về tình hình ở Hung-ga-ri. Cuộc họp gồm một số ít tên chỉ huy quân sự Đức và Hung-ga-ri cùng một số nhân vật cần thiết khác. Về thực chất, tướng Phrít-xne được giao toàn bộ quyền hành độc tài về quân sự. Mọi tổ chức quân sự và dân sự, không trừ một tổ chức nào, từ lúc này đều thuộc quyền y. «Trong lĩnh vực này, tôi không đếm xỉa gì đến mọi yêu cầu của Hung-ga-ri»—chính Phrít-xne đã viết như thế. Như vậy, Bộ tổng tham mưu Hung-ga-ri trở thành cơ quan phụ của bọn phát-xít Đức dùng để chỉ huy các đơn vị Hung-ga-ri, nhưng trên thực tế nó đã mất hết quyền lực.

Cuối phiên họp người ta ra lệnh là cụm tập đoàn quân của Phrít-xne phải chiến đấu đến cùng. Sau đó, ngày 20 tháng Chín, chính phủ Hít-le gửi tôi hậu thư cho Hung-ga-ri đòi hỏi phải giữ vững trật tự hiện hành ở trong nước theo đúng ý muốn của Đức. Thế là Hung-ga-ri bị chế độ kìm kẹp trói buộc và đã gây nên cuộc chiến tranh đẫm máu ngay tại đất nước mình.

Sau khi quay lên phía Bắc theo hướng Đê-brê-xen, bộ đội phương diện quân U-crai-na 2 đã sắp xếp lại đội hình và bước vào những trận chiến đấu mới với quân địch. Bộ chỉ huy Hít-le đã đón sẵn cuộc tiến công đó. Quân đoàn cơ giới Hung-ga-ri và sư đoàn xe tăng Đức được tập trung thêm tới đây để chống lại tập đoàn quân 40, tập đoàn quân cận vệ 7 và tập đoàn quân 27 của phương diện quân U-crai-na 2. Mọi cố gắng của bộ đội Liên Xô cùng với các binh đoàn của Ru-ma-ni chiến đấu phối hợp đột phá vào tuyến phòng thủ của địch đều không thu được thắng lợi. Trận đánh diễn ra hết sức ác liệt ở khu vực Tuốc-đa. nơi như đã nói ở trên, bộ chỉ huy phát-xít Đức âm mưu tổ chức cuộc phản kích để gỡ lại thắng lợi về quân sự. Quân thù được kích động bằng mệnh lệnh buộc phải chiến đấu đến cùng, điên cuồng tập kích vào quân ta.

Các tập đoàn quân xe tăng 27 và 6 bước vào trận chiến đấu kéo dài trong nhiều ngày, cả hai bên đều không thu được kết quả rõ rệt. Bộ tổng tham mưu liền báo cáo với Đại bản doanh những ý kiến phân vân của mình là ít có khả năng giành được bước ngoặt thuận lợi cho tình hình quân sự ở khu vực Tuốc-đa.

Tình hình trong dải tiến công bên trái tập đoàn quân 53 của tướng I. M. Ma-na-ga-rốp có khá hơn. Những công sự của địch ở đây yếu hơn. Bộ đội Liên Xô đã phá được các công sự đó một cách tương đối dễ và tiến vào khu vực Tây-Bắc thành phố A-rát. Theo ý kiến của bộ tư lệnh phương diện quân, trong dải của tập đoàn quân đã tạo nên những điều kiện thuận lợi cho bộ đội Liên Xô dùng những lực lượng lớn đột kích vào hướng Ô-ra-đê-a -ma-re, Đê-brê-xen.

Theo như ý kiến của Bộ tổng tham mưu thì hướng Đê-brê-xen là rất có triển vọng. Ở đấy, bộ đội Liên Xô có khả năng từ phía Tây đi vòng qua Tuốc-đa và vòng qua cả cánh quân địch đang đóng tại Tơ-ran-xin-va-ni — Các-pát.

Tuy nhiên, hướng này cũng có những khó khăn của nó. Các lực lượng chủ yếu đột kích vào Đê-brê-xen phải đặc biệt chú ý theo dõi hai bên sườn. Uy hiếp các sườn này có thể là những cánh quân rất lớn của địch: một cánh quân từ Các-pát và Tơ-ran-xin-va-ni tới, một cánh quân từ Nam Tư tới. Và không ai dám cam đoan rằng, các cánh quân này lại không được sử dụng theo một kế hoạch thống nhất trên hướng chung tới Bu-đa-pét. Các tuyến giao thông kéo dài, hậu phương của Ru-ma-ni vừa mới được ổn định và lực lượng cơ động của phương diện quân U-crai-na 2 còn tương đối yếu, tất cả những điều đó khiến cho tình tiết ấy trở thành nhân tố tác chiến khá quan trọng.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Giêng, 2016, 07:23:20 pm

Bộ tổng tham mưu chú ý theo dõi cả hai cánh quân địch và khi dự tính chiến dịch Đê-brê-xen, đã có ý định sẽ tiến hành đồng thời với những đòn tiến công quân địch ở Nam Tư. Các tính toán trên chỉ ra rằng, chúng ta có thể mở các chiến dịch phối hợp giữa phương diện quân U-crai-na 3 và Quân đội giải phóng nhân dân Nam Tư nhằm kìm chân bọn phát-xít Đức ở Ban-căng bằng cách triển khai các hành động quân sự vào ngày 28-29 tháng Chín 1944.

Còn cánh quân địch ở Tơ-ran-xin-va-ni và Các-pát uy hiếp trực tiếp mạn sườn bộ đội của R. I-a. Ma-li-nốp-xki đang tiến công vào Đê-brê-xen, thì sẽ trở thành mục tiêu chủ yếu trước mắt của các mũi tiến công phối hợp giữa các phương diện quân U-crai-na 4 và 2. Trong trường hợp cần thiết, chúng ta còn có thể thu hút ở đây một số lực lượng của phương diện quân U-crai-na 1 của I. X. Cô-nép tham gia các chiến dịch tiến công (việc đó đã xẩy ra ở khu vực đèo ngang Đu-cli-a).

Như vậy, chiến dịch Đê-brê-xen được bảo đảm đầy đủ, nhưng yêu cầu chính đối với các bộ tư lệnh phương diện quân là phải chỉ huy bộ đội thật sáng suốt, linh hoạt và cơ động nhanh.

Mọi ý kiến trên của Bộ tổng tham mưu đều được báo cáo lên Đại bản doanh, nhưng chúng tôi lại được chỉ thị trao đổi ý kiến một lần nữa với các tư lệnh phương diện quân hữu quan. Các tư lệnh ủng hộ ý định đó. Ngày 23 tháng Chín, Bộ tổng tham mưu nhận được ý kiến trả lời của Gh. C. Giu-cốp:

«Căn cứ vào tính chất địa hình và sự tổ chức bố trí của địch ở phía trước Ma-li-nốp-xki và Pê-tơ-rốp, tôi cho rằng tập trung ngay tập đoàn quân của Cráp-tsen-cô ở phía Bắc A-rát làm nhiệm vụ đột kích vào Đê-brê-xen, tức là vào phía sau cánh quân chủ yếu của quân Hung-ga-ri thì có lợi hơn.

Chiếm được khu vực Đê-brê-xen, toàn bộ hệ thống phòng ngự chiến dịch của quân Hung-ga-ri sẽ bị sụp đổ, và chúng sẽ buộc phải nhanh chóng rút khỏi Clu-giơ và Các-pát.

Cuộc tiến công vỗ mặt của Ma-li-nốp-xki sẽ dẫn tới những trận đánh kéo dài và tạo điều kiện cho địch trụ lại yên ổn ở khu vực Tít-xa».

Vậy là, các ý kiến của Bộ tổng tham mưu dựa trên đề nghị của Hội đồng quân sự phương diện quân U-crai-na 2 đã được ủng hộ.

Chiến dịch Đê-brê-xen bắt đầu ngày 6 tháng Mười và kéo dài gần đến hết tháng. Đặc điểm nổi bật của chiến dịch là rất căng thẳng và phức tạp. Vì có nhiều cuốn sách đã viết về chiến dịch đó rồi cho nên tôi thấy không cần thiết phải tường thuật tỉ mỉ nữa. Tôi chỉ nhắc là trong quá trình chiến dịch, địch bị thiệt hại nặng ở các khu vực Ô-ra-đê-a, Đê- brê-xen và Xe-ghét. Bộ đội Liên Xô giải phóng được Tơ-ran-xin-va-ni, tới Tít-xa, tiến công vượt sông ở sườn bên trái mặt trận, tiến ra Đa-nuýp, tạo nên một bàn đạp rộng lớn cho chiến dịch ở bên kia sông Tít-xa dọc theo tuyến Chốp, Bai-a bờ Đông sông Đa-nuýp, kênh đào nhà vua Pi-ốt.

Mũi đột kích rất mạnh của bộ đội phương diện quân U-crai-na 2 đã làm cho tuyến phòng thủ của địch ở phía trước phương diện quân U-crai-na 4 bị suy yếu. Các tính toán của chúng tôi là chính xác. Quân địch không sao cố thủ nổi tại Các-pát, và trong tiến trình các trận đánh quyết liệt, chúng đã bị hất về phía Tây. Bộ đội của I. E. Pê-tơ-rốp chuyển sang tiến công, vọt tiến lên phía trước, vượt qua hết tuyến này sang tuyến khác, và tiến tới phía Nam Chốp thì bắt liên lạc được với bộ đội phương diện quân U-crai-na 2.

Bộ đội Liên Xô đã đến lúc bước vào một cuộc tiến công mới và mạnh, lần này đánh thẳng vào Bu-đa-pét. Trong khi chuẩn bị cho chiến dịch đánh vào Bu-đa-pét, Đại bản doanh vẫn còn hy vọng là chính phủ Hung-ga-ri nhận ra tình thế lúc bây giờ ở các mặt trận và ở trong nước, sẽ tỏ ra khôn ngoan tìm cách rút Hung-ga-ri ra khỏi chiến tranh bằng con đường đình chiến. Ngày 29 tháng Chín 1944, I. V. Xta-lin viết cho Ph. Ru-dơ-ven một bức thư nói rằng, ngoài việc tiêu diệt địch ở Pri-ban-tích, bộ đội Liên Xô «có hai nhiệm vụ trước mắt: loại Hung-ga-ri ra khỏi chiến tranh và thăm dò phòng ngự của quân Đức trên mặt trận phía Đông bằng sự tiến công của bộ đội Liên Xô». Chúng ta không loại trừ sự chủ động hòa giải của Hung-ga-ri và cũng sẽ không bác bỏ thái độ đình chiến ấy.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Giêng, 2016, 07:26:29 pm

*
**

Tình hình trên các mặt trận biểu thị rõ các ý định kiên quyết của Bộ chỉ huy Liên Xô, khiến chính phủ Hoóc-ti sợ hãi phải bắt đầu thăm dò lập trường của Anh và Mỹ về vấn đề chiếm đóng Hung-ga-ri.

Ngày 22 tháng Chín 1944, thượng tướng Na-đai — nhân vật tin cẩn của Hoóc-ti — bí mật trốn bọn Hít-le đáp máy bay tới khu vực Nê-a-pôn, noi có bộ tham mưu của các nước đồng minh. Họ chọn bộ tham mưụ này không phải là việc ngẫu nhiên, vì bọn phát-xít ở Hung-ga-ri mong đợi các nước đồng minh vượt qua bán đảo I-xtơ-ri-a và Áo đến đây theo kế hoạch mà chúng ta đã biết, vì chính phủ Sớc-sin đã không hề giấu giếm sự việc này. Thế nhưng, chuyến đi ấy không thành công. Anh và Mỹ tiến quân trên các mặt trận rất chậm và hiểu rằng một khi Hồng quân đã vào đến lãnh thổ Hung-ga-ri, sẽ không dừng lại ở nửa đường. Họ mời tướng Na-đai trở về và góp ý nên sang gặp quân Nga. Mọi mưu toan của bọn chư hầu Hung-ga-ri của Hít-le tiến hành đằng sau lưng Liên Xô đều bị phá sản.

Lúc này, bè lũ Hoóc-ti chỉ còn lối thoát duy nhất là phải trực tiếp đàm phán với Mát-xcơ-va mới có thể hy vọng hòa giải có lợi cho họ. Cuối tháng Chín 1944, phái đoàn đặc biệt của chính phủ Hung do tướng Ga-bo Pha-ra-gô, cựu tùy viên quân sự Hung-ga-ri ở Mát-xcơ-va, làm trưởng đoàn lên đường sang Liên Xô. Thành phần phái đoàn, ngoài Pha-ra-gô ra, còn có Tê-lê-ki, mà ta nói đến rồi, và Xen-tơ I-va-ni, đại biểu của Bộ ngoại giao Hung-ga-ri. Tất nhiên phái đoàn đó ra đi đã giữ bí mật không cho bọn cầm đầu nước Đức phát-xít và bộ chỉ huy quân sự của chúng biết.

Phái đoàn Pha-ra-gô, sau khi được chúng ta tiếp đón an toàn khi vượt qua tiền tuyến, đã đến Mát-xcơ-va ngày 1 tháng Mười 1944. Chúng ta thông báo cho các nước đồng minh biết và các đại biểu của họ cùng đã góp phần mình vào các cuộc đàm phán.

Thượng tướng Ph. Ph. Cu-dơ-nét-xốp phụ trách đưa phái đoàn Hung-ga-ri đến Mát-xcơ-va, tiếp đón và sơ bộ trao đổi trước với phái đoàn. Mấy ngày sau khi phái đoàn đến, đồng chí kể lại cho tôi biết là Pha-ra-gô rất băn khoăn về những đàn lợn của y chăn nuôi đâu đó ở vùng Đê-brê-xen, đề nghị với chúng ta đừng xâm phạm đến đàn lợn ấy, khi bộ đội Liên Xô chiếm được vùng này. Pha-ra-gô được trả lời rằng: bộ đội Liên Xô không những không đụng chạm đến tài sản của người khác, mà còn bảo vệ những tài sản ấy nếu chủ nhân đi vắng. Tên địa chủ lúc này mới yên lòng. Nhân đấy, tôi muốn nói trước rằng khi chiếm được khu vực Đê-brê-xen, bộ đội Liên Xô không bảo vệ được đàn lợn trong ấp trại của Pha-ra-gô, vì bọn Hít-le đã chén sạch đến con lợn cuối cùng rồi.

Các thủ đoạn của chính phủ Hung-ga-ri đã khiến cho Hít-le điên tiết. Nhằm ra sức chiếm giữ Hung-ga-ri, bọn Hít-le đã đưa thêm vào đất nước này một lực lượng lớn xe tăng và bộ binh. Chúng xác lập sự kiểm soát hệ thống vô tuyến và hữu tuyến trong quân đội và chính quyền Hung-ga-ri, đặt ra các biện pháp phòng ngừa những cuộc nổi dậy có thể xảy ra nhằm chống Hít-le.

Vì bè lũ Hoóc-ti sợ Hồng quân tiến vào đất nước Hung-ga-ri, nên chính phủ Hung-ga-ri không chống đối mạnh các biện pháp trên của bộ chỉ huy Hít-le. Thế nhưng, đại bộ phận cán bộ chỉ huy cấp trên và sĩ quan thường của quân đội Hung-ga-ri coi sự tăng cường chế độ chiếm đóng nhục nhã đó ở trong nước như là một hành động bạo ngược mới, chà đạp thô bạo chủ quyền của Hung-ga-ri. Sự phẫn nộ càng tăng lên trước tình hình đất nước bị chủ nghĩa phát-xít Đức đàn áp nặng nề cùng với sự tổn thất to lớn của quân đội Hung-ga-ri ở ngoài mặt trận, và nguy cơ quân đội sắp bị tan rã ngày càng trầm trọng.

Để chống đối các hành động trừng phạt của bộ chỉ huy Đức và sự lăng nhục tổ quốc, nhiều sĩ quan Hung-ga-ri đã chạy sang hàng ngũ bộ đội Liên Xô và công khai công kích lập trường của chính phủ họ. Các tù binh khai rằng, thượng tướng Be-la Mi-clốt, tư lệnh tập đoàn quân Hung-ga-ri 1 phòng ngự ở Các-pát cũng không tán thành chính sách hiện hành ở trong nước và rất bất bình trước những hành động của bọn Hít-le.

Đại bản doanh và Bộ tổng tham mưu thấy có thể lợi dụng sự phẫn nộ đó trong hàng ngũ sĩ quan và binh lính Hung-ga-ri để đưa đất nước Hung-ga-ri thoát khỏi cuộc chiến tranh. Cơ sở của các biện pháp này là tình cảm yêu nước và chống Hít-le của các sĩ quan Hung-ga-ri. Do đó, I. V. Xta-lin nói chuyện bằng điện thoại với I. E. Pê-tơ-rốp và L. D. Mê-khơ-li-xơ, đề nghị các đồng chí suy nghĩ xem có thể làm gì ở đây được.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Giêng, 2016, 07:27:14 pm

Ít lâu sau, Mê-khơ-li-xơ báo cáo lên Tổng tư lệnh tối cao rằng có khả năng thông qua một số sĩ quan tù binh Hung-ga-ri, căm phẫn trước tình trạng đất nước bị chiếm đóng, một bức thư tập thể cho viên tư lệnh tập đoàn quân Hung-ga-ri 1 để kêu gọi ông ta tích cực đấu tranh chống bọn chiếm đóng Hít-le và do đó góp phần bảo vệ nền độc lập của Hung-ga-ri. Nội dung bức thư đó do chính các sĩ quan tù binh gợi ý vì họ biết rõ các quan điểm chống Hít-le của Mi-clốt. I. V. Xta-lin đồng ý với đề nghị ấy.

Các sĩ quan Hung-ga-ri bắt tay vào viết thư ngay, dưới có chữ ký của bốn mươi sĩ quan. Bức thư nêu rõ rằng, nước Đức Hít-le bị thiệt hại nặng trong chiến tranh, đang bị khủng hoảng về chính trị: tất cả các nước chư hầu của Hít-le, trừ Hung-ga-ri, không những tách khỏi nước Đức mà còn cầm vũ khí chống lại quân đội phát-xít Đức. Bức thư viết tiếp rằng do hậu quả cuộc chiến tranh xâm lược của Hít-le, nên Hung-ga-ri đang ở vào tình thế nghiêm trọng chưa từng thấy trong suốt toàn bộ lịch sử hàng ngàn năm và hiện nay đang đứng trước miệng hố diệt vong.

Bức thư còn nói lên lòng tin tưởng rằng Hung-ga-ri sẽ không bị diệt vong, nhưng muốn vậy phải kiên quyết đánh đuổi bọn chiếm đóng phát-xít Đức, và muốn đánh đuổi bọn chúng thì phải hợp tác với Hồng quân. «Ngày nay, khi toàn thế giới đang đứng lên chiến đấu chống lại Hít-le, cuộc khởi nghĩa vũ trang của quân đội Hung-ga-ri dù có bị tổn thất nào đó song sẽ giành lại được nền độc lập cho Hung-ga-ri, và bằng cuộc đấu tranh của mình sẽ đưa nhân dân Hung-ga-ri vào hàng ngũ các dân tộc yêu chuộng tự do trên thế giới. Chính lúc này, — bức thư nhấn mạnh; — là thời cơ quyết định vấn đề: tồn tại hay không tồn tại! »

Sở dĩ các sĩ quan tù binh đó kêu gọi viên tư lệnh là vì họ cho rằng tập đoàn quân 1 có thể hành động có hiệu quả cho lợi ích của toàn thể nhân dân Hung-ga-ri và quốc gia Hung-ga-ri. «Bước ngoặt trong lịch sử nước ta đã điểm, — họ viết. — Nếu Ngài hiểu được những đòi hỏi của thời đại trong giờ phút quyết định này, thì: tập đoàn quân Hung-ga-ri 1 sẽ lập tức ngừng bắn vào quân Nga, trở về với gia đình, quay súng chống lại bọn Đức. Hành động như vậy, tập đoàn quân sẽ cứu được đất nước khỏi thảm họa khó bề tránh khỏi. Tổ quốc và dân tộc đang chờ đợi Ngài và binh sĩ của Ngài».

Ba sĩ quan Hung-ga-ri — thiếu tá E-min Ga-lai, đại úy Mi-khai Đi-u-lai và thiếu úy Pan Nây-bao-e, tình nguyện đưa bức thư đó tới địa chỉ người nhận rồi quay trở về. Ngày 20 tháng Chỉn 1944, kế hoạch tiến hành biện pháp trên tại phương diện quân U-crai-na 4 được đồng chí đại diện của Đại bản doanh đồng ý. Hồi 6 giờ sáng ngày 24 tháng Chín 1944, trong dải của sư đoàn bộ binh 351, ba sĩ quan Hung, ga-ri cầm quốc kỳ an toàn vượt sang tới tiền duyên phòng ngự của sư đoàn bộ binh 16 của Hung-ga-ri. Tối 28 tháng Chín, đại úy Đi-u-lai trở về nơi đóng quân của bộ đội Liên Xô, Đi-u-lai mang theo bức thư của cả đoàn, nói rằng họ đã tới nơi được thuận lợi, được tiếp đón tử tế và đã trao thư tận tay người nhận. Vì các vấn đề nêu trong thư rất quan trọng, nên viên tư lệnh chưa thể trả lời ngay được, ông ta còn muốn sơ bộ liên lạc với Bu-đa-pét. Tiếp sau, bức thư nói rõ là những ngày tới đây sẽ có sự trả lời tích cực.

Cũng cần nói rằng, các cuộc đàm phán với Pha-ra-gô ở Mát-xcơ-va vào lúc này đã tiến được khá xa, mặc dù không phải không có nhiều khó khăn. Các đại biểu Hung-ga-ri chỉ được ủy nhiệm ký kết hiệp định đình chiến trong trường hợp Liên Xô thỏa thuận «cho Anh và Mỹ cùng tham gia chiếm đóng Hung-ga-ri» và «cho quân Đức được rút lui tự do».

Trong việc trả lời vấn đề này, các nước trong khối liên minh chống Hít-le kiên quyết tuyên bố rằng nền độc lập và tự guản của Hung-ga-ri chỉ có thể bảo đảm trong một điều kiện: Hung-ga-ri sẽ cắt đứt mọi quan hệ với nước Đức Hít-le, quân đội của Hung-ga-ri sẽ quay súng chống lại quân đội phát-xít Đức. Chỉ có hành động như vậy Hung-ga-ri mới có thể có những đóng góp xứng đáng vào thắng lợi chung của khối liên minh chống Hít-le trước quân thù. Ngoài ra, chính phủ Hoóc-ti phải cho rút quân đội Hung-ga-ri ra khỏi lãnh thổ các nước Ru-ma-ni, Nam Tư và Tiệp Khắc.

Rốt cuộc, phía Hung-ga-ri phải quyết định thỏa mãn tất cả những yêu cầu ấy.

Về phía mình, chính phủ Hung-ga-ri đề nghị bộ đội Liên Xô ngừng tiến công vào Bu-đa-pét, viện cớ rằng lúc này họ cần tập trung đầy đủ các lực lượng của Hung-ga-ri trong khu vực thủ đô, để chống lại các đòn đột kích có thể có của quân đội phát xít Đức ở đây. Chính phủ Liên Xô đồng ý đề nghị của Hung-ga-ri, và Bộ tổng tham mưu đã ra những chỉ thị cần thiết về vấn đề này.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Giêng, 2016, 07:30:31 pm
Cuối thượng tuần tháng Mười, các điều kiện hòa giải sơ bộ đã được hai bên tham gia soạn thảo xong. Tin tức về quá trình đàm phán thuận lợi được gửi về Bu-đa-pét, và bộ tư lệnh tập đoàn quân Hung-ga-ri cũng nhanh chóng nắm được ngay. Thế nhưng, quân đội Hung-ga-ri vẫn tiếp tục kháng cự như trước, không thấy chúng rút khỏi các trận địa về phía sau. Bu-đa-pét cũng không thông báo gì cho chúng ta biết.

Phía Liên Xô chiểu theo điều thỏa ước với Hung-ga-ri, đã cử R. I-a. Ma-li-nốp-xki, tư lệnh phương diện quân U-crai-na 2, đến Xe-ghét để đàm phán về việc thực hiện các điều kiện điều đình sơ bộ với chính phủ Hung-ga-ri. Ma-li-nốp-xki hết sức ngạc nhiên khi thấy phía Hung-ga-ri chỉ cử tới Xe-ghét một đại tá và một thượng úy thực ra hoàn toàn không chuẩn bị để tiến hành đàm phán. Viện đại tá là một trưởng phòng trong Bộ tổng tham mưu Hung-ga-ri, phụ trách các vấn đề giam giữ và vấn đề tù binh, nên không thể tiến hành đàm phán được. Y không nắm được tin tức về nơi đóng quân của quân đội Đức và Hung-ga-ri, nhưng có cho ta biết là tập đoàn quân Hung-ga-ri 1 được lệnh rút khỏi khu vực Đê-brê-xen tới vùng Mi-scôn và sau này có lẽ về Bu-đa-pét.

R. I-a. Ma-li-nốp-xki muốn tìm hiểu tại sao quân đội Hung-ga-ri không rút khỏi tuyến sông Tít-xa, nhưng y không chịu trả lời rõ ràng. Đồng chí tư lệnh nảy ra ý nghĩ «giới cầm đầu Hung-ga-ri muốn tranh thủ thời gian để rút quân đội của chúng ra khỏi cái túi ở Tơ-ran-xin-va-ni chăng?». Đồng chí liền nói cho các đại biểu của chính phủ Hung-ga-ri biết những yêu cầu sau đây:

«   1) Phải cho rút ngay quân đội Hung-ga-ri ra khỏi sông Tít-xa về Bu-đa-pét và sử dụng một bộ phận lực lượng mở mũi đột kích vào quân Đức đang chống lại phương diện quân ở khu vực Xôn-nốc;
    
     2) Ra lệnh ngay cho quân đội Hung-ga-ri bước vào chiến đấu chống lại quân Đức và bắt liên lạc ngay với Hồng quân;
    
     3) Đến 8 giờ ngày 16 tháng Mười 1944, phải đem tới Xe-ghét những tin tức đầy đủ về tình hình các lực lượng của Hung-ga-ri và Đức, sau đó phải cung cấp đầy đủ tin tức các hành động quân sự và nơi đóng quân của các đơn vị trên. »

Nhận được báo cáo của R. I-a. Ma-li-nốp-xki, I. V. Xta-lin lệnh cho A. I. An-tô-nốp gửi kiến nghị cho trưởng phái đoàn quân sự Hung-ga-ri về vấn đề này và Xta-lin tự đọc văn bản kiến nghị đó. Tối 14 tháng Mười, văn bản trên được giao cho Ga-bo Pha-ra-gô. Bản kiến nghị nêu rõ:

«Đại tá U-ta-si Lô-u-ren, đại biểu của Hung-ga-ri được Bu-đa-pét cử tới Xe-ghét để đàm phán, là người hoàn toàn không am hiểu tình hình, nên không thể tiến hành đàm phán với các đại biểu của Bộ chỉ huy Liên Xô về vấn đề thực hiện các điều kiện điều đình sơ bộ của chính phủ Hung-ga-ri,

Chính phủ Hung-ga-ri đề nghị Chính phủ Liên Xô ngừng tiến công vào hướng Bu-đa-pét, để có thể cho rút một phần lực lượng của mình ra khỏi hướng này và điều về Bu-đa-pét.

Chính phủ Liên Xô thỏa mãn đề nghị đó của chính phủ Hung-ga-ri. Thế nhưng, chính phủ Hung-ga-ri không những không cho rút quân khỏi sông Tít-xa để điều về Bu-đa-pét. mà còn đẩy mạnh các hành động quân sự, nhất là ở khu vực Xôn-nốc.

Tình hình trên đây chứng minh rằng, chính phủ Hung-ga-ri không chịu thực hiện các điều kiện điều đình sơ bộ mà họ đã tiếp nhận.

Do đó, Bộ tổng tư lệnh tối cao Liên Xô yêu cầu chính phủ Hung-ga-ri trong vòng 48 tiếng đồng hồ kể từ lúc nhận được kiến nghị này, phải thực hiện ngay các trách nhiệm về phần mình theo các điều kiện điều đình sơ bộ, trước hết là:

1.Cắt đứt mọi quan hệ với nước Đức và bắt đầu những hành động quân sự tích cực chống lại quân Đức.   

2.Rút ngay quân đội Hung-ga-ri khỏi lãnh thổ Ru-ma-ni, Nam Tư và Tiệp Khắc.

3.Đến 8 giờ ngày 16 tháng Mười phải mang đến cho các đại biểu của Bộ chỉ huy Liên Xô tại Xe-ghét những tin tức đầy đủ về vị trí đóng quân của quân đội Đức và Hung-ga-ri, đồng thời báo cáo cho các đại biểu của Bộ chỉ huy Liên Xô tiến trình thực hiện các điều kiện điều đình sơ bộ.

Thừa ủy quyền Bộ tổng tư lệnh tối cao quân đội Liên Xô —Phó tổng tham mưu trưởng Hồng quân, đại tướng Hồng quân An-tô-nốp. Ngày 14 tháng Mười 1944, 19 giờ 25 phút».


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Giêng, 2016, 07:33:08 pm

Ngày hôm sau, có lẽ nhận ra nếu cứ tiếp tục trì hoãn nữa thì sẽ đưa đến hậu quả không hay, nên Hoóc-ti đã ra lời kêu gọi gửi nhân dân Hung-ga-ri, trong đó nêu rõ tình trạng đất nước thực sự bị phát-xít Đức nô dịch và âm mưu thẳng tay thủ tiêu nền độc lập của Hung-ga-ri. Đồng thời, trong lời kêu gọi còn nói: «Tôi được tin đích xác rằng, các đội quân Đức đặc nhiệm mưu đồ dùng cuộc đảo chính để áp đặt chính quyền của chúng và biến đất nước Hung-ga-ri thành chiến trường phía sau của đế chế Đức».

Hoóc-ti tuyên bố quyết định bảo vệ đất nước chống lại Hít- le. «Do đó, — y viết, — tôi đã thông báo cho đại biểu của đế chế Đức ở Hung-ga-ri về việc chúng ta đã ký hiệp định đình chiến sơ bộ với đối phương của ta và Hung-ga-ri sẽ đình chỉ mọi hành động quân sự chống lại họ... Tôi đã ra các chỉ thị về những vấn đề trên cho bộ chỉ huy quân sự, vì vậy, chiểu theo lời tuyên thệ và mệnh lệnh tôi đã ban hành cho quân đội, các đơn vị có nhiệm vụ phải tuân theo những người chỉ huy tôi đã cử ra». Các chỉ thị trên gửi cho các đơn vị cùng đề ngày 15 tháng Mười 1944.

Tôi không được biết các ý định thực của Hoóc-ti, nhưng có một điều rõ ràng là y đã tổ chức việc thực hiện cắt đứt quan hệ với bọn Hít-le rất sơ sài, có thể nói là chỉ có tính chất bề ngoài. Y không tổ chức những cuộc tiếp xúc cần thiết giữa các giới chính trị và quân sự. Ngay cả những cán bộ quân sự trung thành với y cũng không được báo trước, còn các đơn vị quân đội tin cẩn của y cũng vẫn chưa rút về thủ đô.

Trong khi ấy, sư đoàn xe tăng 24 mạnh của Đức có một số lớn xe tăng kiểu «Con cọp» đang ở tại Bu-đa-pét. Lẽ đương nhiên, sư đoàn ấy mới là chủ nhân thực sự của thành phố. Vì vậy, khi Hít-le nắm được lời kêu gọi của Hoóc-ti, y liền cho áp dụng ngay các biện pháp cần thiết. Ở Bu-đa-pét xảy ra cuộc bạo động vũ trang. Tên nhiếp chính Hoóc-ti bị cách chức và tuyên bố lời kêu gọi nhân dân của y nay không còn hiệu lực nữa. Sau đó, y xin sang cư trú tại nước Đức và cùng với cả gia đình đáp chuyến tàu đặc biệt sang Đức. Xa-la-si một tên phát-xít Hung-ga-ri, đồng bọn với Hít-le, được cử ra cầm đầu nhà nước Hung-ga-ri.

«Các biện pháp chính trị ấy tiến hành ở sau lưng cụm tập đoàn quân, — G. Phrit-xne viết, — do thủ lĩnh các lực lượng cảnh sát và SS ở Bu-đa-pét thi hành theo chỉ thị trực tiếp của chính phủ Đức, được sự cộng tác của các «chuyên gia» như Xcoóc-xe-ni và Ba-khơ - Dê-lép-xki».

Quân đội Hung-ga-ri được lệnh phải kiên quyết chống lại bộ đội Liên Xô, thay cho quyết định ngừng chiến trước đây. Bộ tổng tham mưu quân đội Hung-ga-ri hoàn toàn không còn quyền chỉ đạo bộ đội tác chiến. Lúc này mọi kế hoạch và mệnh lệnh đều do bộ tham mưu Cụm tập đoàn quân «Nam» của Đức vạch ra và ban hành. Những người ủng hộ việc đình chỉ chiến sự chống lại Liên Xô và đồng minh của Liên Xô đều bị đàn áp bằng vũ lực. Chiến tranh tiếp tục hết sức khốc liệt.

Tất cả những sự biến trên đã tác động tới tư lệnh tập đoàn quân 1 của Hung-ga-ri. Ngày 16 tháng Mười, thượng tướng Be-la Mi-clốt cùng với một bộ phận cơ quan tham mưu chạy sang hàng ngũ bộ đội Liên Xô, trong dải phòng ngự của sư đoàn bộ binh 16 Hung-ga-ri do thiếu tướng Va-sva-ri chỉ huy.

Mi-clốt tuyên bố với I. E. Pê-tơ-rốp và L. D. Me-khơ-li-xơ rằng, tương lai của Tổ quốc Hung-ga-ri đang bị đe dọa. và là một người yêu nước, ông ta không thể cam tâm để cho bọn Hít-le chiếm đóng Hung-ga-ri, cũng như không muốn để cho nhân dân Hung-ga-ri bị đổ máu vì quyền lợi của bọn chúng.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Giêng, 2016, 07:33:44 pm

Trong một lần nói chuyện với I. E. Pê-tơ-rốp, I. V. Xta-lin có nêu ý kiến là nếu Mi-clốt ra lệnh cho tập đoàn quân của ông ta ngừng chiến với bộ đội Liên Xô và triển khai chiến đấu chống lại bọn Hít-le thì hay biết bao. Pê-tơ-rốp trao đổi vấn đề trên với Mi-clốt. Ông ta suy nghĩ: quyết định quay súng bắn lại bọn Hít-le quả không phải việc dễ. Nhưng cuối cùng, ông ta cũng đồng ý và ngày 17 tháng Mười thì trao cho I. E. Pê-tơ-rốp bản «Mệnh lệnh đình chỉ các hành động quân sự với quân đội Nga và bắt đầu chiến đấu chống lại quân đội Đức». Trong đó có nói tới những cuộc đàm phán của Ga-bo Pha-ra-gô với các chính phủ Liên Xô, Anh và Mỹ về vấn đề đình chiến nhằm «mau chóng chấm dứt cuộc chiến tranh bất hạnh này và lợi dụng được khả năng cuối cùng để bảo đảm tương lai tốt đẹp cho nhân dân, cho đất nước ta». Bản mệnh lệnh còn nói về bản dự thảo hiệp định đình chiến xác định rõ nền độc lập và tự chủ của Hung-ga-ri, hơn nữa «không một nước lớn nào được can thiệp vào công việc nội bộ của Hung-ga-ri». Tiếp đó, bản mệnh lệnh nêu rõ: «Quân đội vương quốc Hung-ga-ri hãy giữ lại vũ khí của mình, quay súng vào bọn chiếm đóng còn đang ở Hung-ga-ri và chiến đấu chống lại các đơn vị quân Đức».

Với quyền hạn của người tư lệnh, Mi-clốt ra lệnh cho quân đội Hung-ga-ri phải chấm dứt các hành động quân sự chống lại quân đội Liên Xô, chậm nhất là 6 giờ sáng ngày 19 tháng Mười, và bắt đầu từ thời gian đó sẽ cùng với Hồng quân Liên Xô chiến đấu chống bọn Hít-le. Các đơn vị đang phòng ngự được lệnh: kể từ 10 giờ cùng ngày, bắt đầu rút khỏi các trận địa của mình về các địa điểm đã định và «phải tiêu diệt tất cả những đơn vị quân Đức gặp ở dọc đường. Quân đội Nga sẽ chi viện cho chúng ta hành động. Đấy là thời cơ mà vấn đề sẽ được quyết định: Tổ quốc thân yêu của chúng ta sống hay là chết. Tôi trực tiếp giao trách nhiệm lịch sử cho những ai nhận được chỉ thị này của tôi phải thực hiện mệnh lệnh nói trên».

Mười sĩ quan tù binh Hung-ga-ri mang gấp mệnh lệnh của tư lệnh tập đoàn quân 1 Hung-ga-ri, vượt qua trận tuyến sang hàng ngũ quân đội Hung-ga-ri. Đông đảo binh lính và sĩ quan quân đội Hung-ga-ri bắt đầu hoang mang. Ngày 15 tháng Mười, họ nhận được lời kêu gọi của Hoóc-ti ngừng các hành động quân sự chống bộ đội Liên Xô, nhưng sang đến ngày hôm sau, lại có lệnh khẩn cấp của bộ chỉ huy quân sự của chính phủ Xa-la-si yêu cầu dù tình huống diễn biến như thế nào cùng vẫn phải chiến đấu, và bây giờ đây lại có thêm mệnh lệnh của Mi-clốt.

Bộ tổng tham mưu kiên trì chờ đợi kết quả mệnh lệnh của Mi-clốt. Thế nhưng, mọi hy vọng đối với việc đình chiến và việc Hung-ga-ri ra khỏi chiến tranh bằng con đường hòa bình đã không đạt được. Xa-la-si đã tung hết mọi lực lượng còn lại ở trong nước ra các mặt trận. Bộ chỉ huy Hít-le tìm mọi cách giúp y. Nhằm củng cố phòng ngự thêm vững chắc, chúng cố gắng bổ sung các binh đoàn và binh đội Hung-ga-ri vào thành phần quân Đức. Một số tư lệnh sư đoàn và tư lệnh tập đoàn quân Hung-ga-ri được thay thế bằng những tên tỏ ra trung thành hơn với chế độ Hít-le. Nhiều tên sĩ quan Đức được «phái» đến các binh đoàn Hung-ga-ri để làm mật thám và giám sát ngầm về chính trị. Tình hình trên dẫn đến kết quả là phòng ngự của địch, kể cả những khu vực của các binh đoàn Hung-ga-ri, vẫn vững chắc.

Trong những ngày cuối tháng Mười, Bộ tổng tham mưu nhận được những tin tức đích xác về các biện pháp trừng phạt mà Hít-le áp dụng ở Hung-ga-ri, về sự thay thế Hoóc-ti và lệnh cho quân đội Hung-ga-ri kiên quyết chống trả bộ đội Liên Xô. Các hành động chiến đấu chứng minh rằng, quân đội Hung-ga-ri đang thực hiện mệnh lệnh của chính phủ mới của chúng.

Ngày 20 thảng Mười 1944, R. I-a. Ma-li-nốp-xki gửi thẳng lên Tổng tư lệnh tối cao bản đề nghị khẩn cấp tăng cường xe tăng cho mặt trận. Đồng chí viết: «Quân địch, có lẽ đánh giá đúng rằng phương diện quân U-crai-na 2 đang tiến ra hướng chiến dịch - chiến lược rất quan trọng, nên đã tung 8 sư đoàn xe tăng ra chiến đấu chống lại phương diện quân... Phương diện quân đang sắp bước vào những trận đánh quyết liệt. Quân địch không chịu để mất Hung-ga-ri một cách dễ dàng, vì đấy là điểm yếu nhất của chúng, còn quân Hung-ga-ri vẫn tiếp tục ngoan cố chiến đấu dưới sự cầm đầu của Xa-la-si...»

Đồng chí tư lệnh còn báo cáo rằng trong những trận đánh gần đây, quân địch bị mất tới 400 xe tăng, nhưng chúng ta cũng bị thiệt hại 300 xe tăng.

Tất cả tình hình trên có nghĩa là không thể chờ đợi điều đình được nữa.

Ngày 24 tháng Mười, chúng tôi báo cáo lên Tổng tư lệnh tối cao rõ mệnh lệnh của Mi-clốt không có tác động là bao đối với quân địch và cũng trong ngày hôm đó, các phương diện quân U-crai-na 2 và 4 cũng như X. C. Ti-mô-sen-cô đều nhận được quyết định: «Vì lý do quân đội Hung-ga-ri vẫn không ngừng mọi hành động chiến đấu chống lại quân ta, vẫn tiếp tục duy trì mặt trận thống nhất với quân Đức, nên Đại bản doanh Bộ tổng tư lệnh tối cao ra lệnh: ở chiến trường bộ đội sẽ đánh quân Hung-ga-ri cũng như đánh quân Đức...»


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Giêng, 2016, 07:34:34 pm

*
* *

Bây giờ đây, sau chiến dịch Đê-brê-xen, bộ đội của các phương diện quân trực tiếp tiến công các cánh quân phát-xít Đức và quân Hung-ga-ri đang phòng ngự tại khu vực Bu-đa-pét. Tiêu diệt được quân địch tại đây sẽ mở đường tới Viên và tạo ra các tiền đề để tổ chức các chiến dịch tiếp sau ở Tiệp Khắc và ở chính tại nước Đức.

Để tiến công ở khu vực Bu-đa-pét, chúng ta sẽ sử dụng các phương diện quân U-crai-na 4 và 2. Sau đó, sẽ tăng cường thêm phương diện quân U-crai-na 3. Với những lực lượng như vậy tưởng chừng như hơi thừa. Nhưng tình huống ở đây lại chỉ ra rằng, địch có thể điều tới đây các lực lượng dự bị lấy ở tung thâm nước Đức, ở I-ta-li-a, ở Ban-căng và cả ở phía Tây sang. Chúng tôi dự kiến quy mô các cánh quân phát-xít Đức bố trí ở đây sẽ tăng lên và Hung-ga-ri có thể sẽ trở thành chiến trường quyết liệt.

Bộ chỉ huy Hít-le và bọn Xa-la-si xây dựng ở khu vực thủ đô Hung-ga-ri các tuyến phòng thủ mạnh, thành hình nửa vòng cung rộng yểm trợ mặt phía Đông Bu-đa-pét, hai bên sườn dựa vào sông Đa-nuýp. Thành phố lớn được chuẩn bị sẽ chiến đấu trong hoàn cảnh bị vây hãm lâu dài. Bọn Hít-le tập trung ở đây các lực lượng chủ yếu của Cụm tập đoàn quân «Nam» và các đơn vị Hung-ga-ri, dự trữ nhiều trang bị, đạn dược, lương thực, thuốc men và những thứ khác. Chúng làm hết mọi việc nhằm kiềm chế các lực lượng Liên Xô ở đây trong một thời gian dài, không cho bộ đội Liên Xô tiến ra biên giới nước Đức và tiến sang phía Tây.

Bộ tổng tham mưu đi sâu nghiên cứu tính chất và phương pháp thực hiện các hành động sắp tới của bộ đội Liên Xô trong chiến dịch Bu-đa-pét. Thực chất các dự kiến của chúng ta là cơ động bộ đội, từ phía Bắc và phía Nam đánh vu hồi vào thành phố, chỉ để một số rất ít lực lượng mở mũi đột kích vào chính diện. Chiến dịch đòi hỏi phải chuẩn bị tỉ mỉ và lâu dài, hơn nữa là đã đến mùa thu, có nhiều cơn mưa rào. Không quân hầu như không hoạt động. Pháo binh thường phải kéo bằng tay. Bất kể loại xe vận tải nào cũng đều bị sa lầy trên những con đường lầy lội. Cung cấp mọi thứ cần thiết trong điều kiện này cho phương diện quân rất khó khăn, việc bố trí đội hình và cơ động vu hồi lại càng khó khăn hơn.

Quân địch tìm mọi cách phá cuộc cơ động tiến quân của ta. Điều quan trọng đối với chúng là, phải hành động như thế nào để buộc ta phải tổ chức tiến công vỗ mặt, không những bất lợi cho chúng ta mà còn kéo theo nhiều thiệt hại, khiến chúng ta phải tiến công trong hành tiến mà không có những chuẩn bị cần thiết. Đó cùng là lô-gích của chiến tranh, khi mà hai lực lượng xung đột có những mục đích hoàn toàn đối lập nhau.

Phòng ngự quân địch yểm trợ mặt phía Đông Bu-đa-pét ở tuyến Tít-xa rất vững chắc. Ở đây có những công sự kiểu dã chiến được chuẩn bị hoàn hảo. Các lực lượng dự bị sung sức được điều tới đây. Các đơn vị quân đội của địch bị bộ đội Liên Xô đánh bật ra khỏi Da-các-pát và Tơ-ran-xin-va-ni dồn về chiếm lĩnh các trận địa tại đây. Quân địch ngoan cố bám giữ các địa hình có lợi cho phòng ngự, tổ chức các cuộc phản kích. Những trận phản kích đó diễn ra đặc biệt quyết liệt ở chỗ tiếp giáp giữa hai phương diện quân U-crai-na 4 và 2, là nơi mà tập đoàn quân 40 của tướng Ph. Ph. Giơ-ma-tren-cô và tập đoàn quân Ru-ma-ni 4 của tướng A-vra-me-xcu chỉ huy đang tổ chức tiến công. Các trận đánh diễn ra ác liệt, nhưng kết quả thu được rất ít. Các đồng chí tư lệnh và chỉ huy trưởng làm việc rất căng thắng. Ngay như R. I-a. Ma-li-nốp-xki là một người vốn trầm tĩnh, song đôi lúc phải nổi nóng. Có lần tướng I. M. Ma-na-ga-rốp, tư lệnh tập đoàn quân 53, một người cũng rất điềm đạm, đề nghị với Ma-li-nốp-xki bổ sung xe kéo cho tập đoàn quân vì trời mưa nhiều. Tư lệnh phương diện quân liền giận dữ trả lời cộc lốc: «Lấy xe của địch ấy...»

Hy vọng có thời gian để chuẩn bị cho chiến dịch của chúng ta như vậy là không thành.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Giêng, 2016, 09:17:48 am

*
* *

Giữa tháng Mười, Sớc-sin và I-đơn cùng các cố vấn chính trị, quân sự tới Mát-xcơ-va. Họ tiến hành hội đàm với I. V. Xta-lin, V. M. Mô-lô-tốp, A. I. An-tô-nốp. Tôi cùng các tướng lĩnh khác trong Bộ tổng tham mưu và các cán bộ của Bộ dân ủy ngoại giao được mới tham dự một số phiên họp,

A. I. An-tô-nốp được ủy nhiệm báo cáo về tình hình các mặt trận, thông thường các báo cáo đó đều do Cục tác chiến thuộc Bộ tổng tham mưu chuẩn bị. Ngoài những nhận xét chung về các chiến dịch trên mặt trận Xô - Đức, báo cáo có đề cập tới những khó khăn trong các hoạt động tiến công và nói tới các kế hoạch sau này của Bộ chỉ huy Liên Xô.

Ngay hôm trước ngày đầu đàm phán, Tổng tư lệnh tối cao yêu cầu đưa xem nội dung bản báo cáo. Đồng chí nói với A. I. An-tô-nốp: «Hãy để Stê-men-cô mang đến». Tôi được lệnh lên đường tới biệt thự «gần thành phố» của I. V. Xta-lin. Chặng đường đi không xa lắm, chẳng mấy chốc đã tới con đường vòng vèo mà tôi đã quen thuộc.

Lúc này chỉ có một mình I. V. Xta-lin. Đồng chí không hỏi gì, chỉ chào và cầm báo cáo đi vào phòng làm việc. Đồng chí nhồi thuốc vào tẩu, hút, rồi khoan thai ngồi xuống ghế, đọc lướt mấy trang. Bản báo cáo được dự kiến đọc hết 25 - 30 phút, có tính cả thời gian để chứng minh một số vấn đề trên bản đồ.

Tôi ngồi gần đây với tinh thần hoàn toàn sẵn sàng, Xta-lin vừa thở nặng nhọc, vừa sửa bản báo cáo, nhưng không hỏi gì thêm.

Khi đọc đến phần cuối bản báo cáo, Tổng tư lệnh tối cao cầm bút chì đỏ chỉ vào một dòng và nói :
— Đồng chí Xtê-men-cô, về các kế hoạch của chúng ta chỗ này cần được nói mạnh hơn so với bản dự thảo báo cáo Chúng ta nói chẳng bao lâu chúng ta sẽ tiến đến biên giới nước Đức Hít-le, muốn vậy, trước hết phải diệt được quân địch ở Hung-ga-ri. Lợi ích chủ yếu của chúng ta là ở đây, ở Hung-ga-ri. Đồng chí là một trợ lý nên cần phải nắm được điều đó.

... Cuộc đàm phán với Sớc-sin và I-đơn đã đi đến kết quả. Chương trình nghị sự đã thỏa thuận từ trước được thực hiện rất chính xác. Nhiều vấn đề phức tạp, kể cả vấn đề Liên Xô tham gia chiến tranh chống Nhật, đã được giải quyết. Những sự kiện ở Đông-Nam châu Âu được phân tích kỹ.

Rời Mát-xcơ-va, Sớc-sin tỏ ý hài lòng về kết quả cuộc tiếp xúc đó và đã phản ứng theo cách của mình đối với đoạn bổ sung của Xta-lin vào báo cáo của An-tô-nốp về vấn đề hướng những nỗ lực chủ yếu của các Lực lượng vũ trang Liên Xô vào Hung-ga-ri. Thủ tướng Anh hy vọng quân Anh-Mỹ sớm tiến được ra Li-u-bli-a-na để vào Nam Tư.

Tất nhiên, ý kiến đó của Sớc-sin đã được xem xét kỹ. Câu nói của ông ta không thể có nghĩa gì khác ngoài ý đồ muốn vượt qua Li-u-bli-a-na để tiến vào giữa châu Âu, từ phía Nam đi vòng qua dãy núi An-pơ hiểm trở, tới đất Hung-ga-ri và đất Áo trước bộ đội Liên Xô. Đó là «phương án Ban-căng» núp dưới một hình thức khác. Tổng tư lệnh tối cao liền nhận ra ngay ý đồ đó.

Cần nói rằng, ít lâu sau các nước đồng minh có kiểm tra lại những ý định của ta. Trung tướng Ga-men, đại diện của Bộ chỉ huy quân sự tối cao quân đội đồng minh trên chiến trường Địa Trung Hải, đã tới Bộ tổng tham mưu vào cuối tháng Mười. Ông ta tiếp xúc với A. I. An-tô-nốp và đề nghị nói cho ông ta biết các kế hoạch hành động sau này của bộ đội Liên Xô ở Ban-căng. Đồng thời, Ga-men còn muốn nắm được cả những tin tức về ý định của Bộ chỉ huy Quân đội giải phóng nhân dân Nam Tư, những hoạt động và lực lượng của Nam Tư ở phía Tây Bê-ô-grát.

A. I. An-tô-nốp từ chối, dứt khoát không báo cho Ga-men biết một tin gì về bộ đội Nam Tư và nói rằng: «Chúng tôi không có ý định tiến quân vào Nam Tư. Nhiệm vụ chiến đấu với quân Đức ở phía Tây Bê-ô-grát là nhiệm vụ của quân đội Nam Tư, vì vậy những tin tức ngài quan tâm, nên lấy ở chỗ nguyên soái Ti-tô thì tốt hơn».

Còn nói về các kế hoạch của Liên Xô, A. I. An-tô-nốp xác nhận tất cả những gì đã nói trong cuộc đàm phán với Sớc-sin và I-đơn: «...Nhiệm vụ chủ yếu của chúng tôi là nhanh chóng rút Hung-ga-ri ra khỏi chiến tranh, nên những cố gắng chủ yếu của chúng tôi cũng sẽ hướng vào đấy».


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Giêng, 2016, 09:20:50 am

Giống như các nước khác, trước khi tiến vào Hung-ga-ri, bộ đội Liên Xô đã phải giải quyết nhiều nhiệm vụ chính trị rất phức tạp. Trước hết, phải xác định những mối quan hệ đúng đắn và vô tư với nhân dân Hung-ga-ri. Ở đây cũng giống như ở Ru-ma-ni, yêu cầu chúng ta phải có sự phân biệt đối xử tinh tế giữa nhân dân lao động Hung-ga-ri với chính sách của các giới cầm quyền đã đẩy Hung-ga-ri vào cuộc chiến tranh tội lỗi thuộc phe cánh của nước Đức Hít-le. Bọn phát-xít ở Hung-ga-ri đe dọa nhân dân, tuyên truyền những điều bịa đặt về bộ đội Liên Xô.

Do đó, ngày 27 tháng Mười, Hội đồng quốc phòng Nhà nước đã thông qua một nghị quyết đặc biệt nói về phẩm chất bộ đội Liên Xô ở Hung-ga-ri, yêu cầu Hội đồng quân sự phương diện quân U-crai-na 2 cho công bố lời kêu gọi của Bộ chỉ huy Hồng quân gửi nhân dân Hung-ga-ri ở những vùng giải phóng, giải thích thực chất sứ mệnh giải phóng của các chiến sĩ Liên Xô, mục đích và nhiệm vụ các chiến dịch của bộ đội Liên Xô trên đất Hung-ga-ri. Tướng I. D. Xu-xai-cốp, ủy viên Hội đồng quân sự phương diện quân, đã thảo ngay lời kêu gọi và phổ biến cho nhân dân Hung-ga-ri.

Lời kêu gọi nêu rõ: mục đích của Hồng quân không phải là chiếm đóng một vùng đất đai nào của Hung-ga-ri hoặc thay đổi chế độ xã hội hiện hành. Bộ đội Liên Xô tiến quân vào Hung-ga-ri là do sự cần thiết đặc biệt của chiến tranh, do quân Đức và quân Hung-ga-ri — đồng minh với nước Đức — vẫn kháng cự lại. Mục đích duy nhất của các chiến sĩ Liên Xô là tiêu diệt quân đội của nước Đức thù địch, thủ tiêu ách thống trị của nước Đức Hít-le tại các nước đang bị Hít-le nô dịch. Quyền sở hữu tư nhân về ruộng đất ở Hung-ga-ri của mọi công dân không những vẫn được duy trì, mà còn được cơ quan quân quản xô-viết bảo vệ. Các cơ quan chính quyền địa phương và các cơ quan tự quản dân sự địa phương vẫn tiếp tục hoạt động. Phần kết luận kêu gọi nhân dân Hung-ga-ri hợp tác với Hồng quân để sớm kết thúc cuộc chiến tranh đó.

Chỉ thị của Hội đồng quốc phòng Nhà nước và lời kêu gọi của Bộ chỉ huy là những văn kiện chỉ đạo cơ bản cho các Hội đồng quân sự, các phòng chính trị và các đơn vị trong suốt cả thời kỳ chiến đấu ở Hung-ga-ri.

Tình hình đòi hỏi cuộc tiến công ở khu vực Bu-đa-pét phải triển khai nhanh hơn, phải tiến ra những tuyến có lợi cho cuộc đột kích vào trúng tim nước Đức Hít-le; ngoài ra, chiếm được thành phố sẽ có ảnh hưởng lớn tới tình hình các lực lượng chính trị ở Hung-ga-ri.

Những báo cáo lạc quan của L. D. Mê-khơ-li-xơ về tình hình tan rã và mất tinh thần đáng kể của quân đội Hung-ga- ri, là điều kiện quyết định đẩy nhanh mũi đột kích vào Bu-đa-pét. Bức điện của Mê-khơ-li-xơ gửi trực tiếp cho I. V. Xta-lin ngày 28 tháng Mười đã đổ thêm dầu vào lửa: «Chống lại phương diện quân của chúng tôi là các đơn vị của tập đoàn quân Hung-ga-ri 1 đang ở trong tình trạng tan rã và mất tinh thần. Hàng ngày, bộ đội bắt được 1.000-1.500-2.000 tù binh và hơn nữa. Ngày 25 tháng Mười 1944, tập đoàn quân 18 đã bắt được 2.500 tù binh, có cả phân đội địch nguyên vẹn ra hàng... Do các mũi tiến công vu hồi của phương diện quân, nên nhiều đơn vị quân địch tự nhiên tan vỡ, từng toán địch lang thang trong rừng, có toán mang theo vũ khí, toán không mang theo vũ khí, một số trà trộn vào nhân dân... ».

Bằng những báo cáo của mình, Mê-khơ-li-xơ đã nung nấu trí tưởng tượng của I. V. Xta-lin. Xta-lin hỏi Bộ tổng tham mưu nên tiến công vào Bu-đa-pét như thế nào cho tốt, để sớm chiếm được thành phố. Không nghi ngại gì, chúng tôi trả lời rằng sử dụng căn cứ bàn đạp rộng lớn mới chiếm được ở bên sườn trái phương diện quân U-crai-na 2, giữa hai con sông Tít-xa và Đa-nuýp, là tốt hơn hết. Ở đây, chúng ta không phải vượt sông, địch lại bố trí lực lượng ít hơn những hướng khác. Ngoài ra, lực lượng tập đoàn quân 46 mới điều tới đây còn sung sức. Sau khi đột phá, tập đoàn quân có thể quặt lên phía Bắc tuyến phòng thủ của địch ở bên kia sông Tít-xa, góp phần chi viện cho mũi đột kích trực tiếp của tập đoàn quân cận vệ 7 của Su-mi-lốp và tập đoàn quân Ru-ma-ni 1 từ phía Đông đánh vào Bu-đa-pét.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Giêng, 2016, 09:21:37 am
I. V. Xta-lin suy nghĩ về những ý kiến của Bộ tổng tham mưu, nói chuyện bằng điện thoại với R. I-a. Ma-li-nốp-xki và yêu cầu phương diện quân U-crai-na 2 phải đánh chiếm ngay Bu-đa-pét. Ngay cả A. I. An-tô-nốp, trong lúc báo cáo trung thực tình hình cũng không sao chứng minh nổi cho Tổng tư lệnh tối cao biết rằng, các báo cáo của L. D. Me-khơ-li-xơ là không phù hợp với tình hình thực tế ở khu vực Bu-đa-pét.

Tôi nhắc lại tình tiết này, vì các sách báo của ta nhiều lần hay nói về phương diện quân U-crai-na 2 khi tổ chức tiến công vào Bu-đa-pét ngày 29 tháng Mười 1944 đã không chuẩn bị và tập trung lực lượng được đầy đủ. R. I-a. Ma-li-nốp-xki viết bài đầu tiên nói về tình hình trên, vì đồng chí trực tiếp nhận lệnh của I. V. Xta-lin là phải đánh chiếm lấy thủ đô Hung-ga-ri trong thời gian ngắn nhất «gần như tính từng ngày một». Đồng chí tư lệnh đề nghị cho phép lui lại 5 ngày để hoàn thành các nhiệm vụ, nhưng mệnh lệnh yêu cầu đồng chí: «Ngày mai phải chuyển ngay sang tiến công vào Bu-đa-pét».

Chúng tôi khẳng định mệnh lệnh nói miệng kể trên của Tổng tư lệnh tối cao bằng quyết định của Đại bản doanh lúc 22 giờ ngày 28 tháng Mười 1944.

14 giờ ngày hôm sau, tập đoàn quân 46 của tướng I. T. Sle-min được tăng cường quân đoàn cơ giới cận vệ 2 bắt đầu tiến công. Tiếp sau. nguyên soái X. C. Ti-mô-sen-cô báo cáo về Đại bản doanh: quân địch tổ chức phản kích, kháng cự lại rất mạnh, khiến tập đoàn quân trong một ngày chiến đấu chỉ có thể tiến được 4-6 ki-lô-mét. R. I-a. Ma-li-nốp-xki đã làm hết sức mình để bộ đội đánh thắng. Đồng chí điều quân đoàn cơ giới cận vệ 4 của phương diện quân U-crai-na 3 sang phối thuộc tăng cường ngay cho khu vực tác chiến.

Bốn ngày sau, cuộc tiến công của tập đoàn quân 46 được đẩy mạnh hơn lên ít nhiều vì tập đoàn quân cận vệ của M. X. Su-mi-lốp và tập đoàn quân 1 của Ru-ma-ni đã được điều đến tham chiến. Nguyên soái Liên Xô X. C. Ti-mô-sen-cô, đại diện của Đại bản doanh, và nguyên soái không quân G. A. Va-rô-giây-kin đã giúp đỡ rất nhiều cho bộ tư lệnh phương diện quân và các tập đoàn quân. Các đồng chí đã khôn khéo sử dụng đại bộ phận máy bay tập trung hoạt động trong dải của tập đoàn quân 46 giữ vai chính lúc đó. Không quân của ta tập kích vào đội hình chiến đấu của địch, chế áp các hỏa điểm ở phía trước các đơn vị đang cơ động. Những máy bay có ngôi sao đỏ được sử dụng tập trung, và quân địch không kịp tổ chức chống đỡ lại. Đến hết ngày 3 tháng Mười một, các quân đoàn cơ giới cận vệ 4 và 2 của V. I. Giơ-đa-nốp và C. V. Xvi-ri-đốp bước vào chiến đấu đang ở cách Bu-đa-pét 10 -15 ki-lô-mét về phía Nam và Đông-Nam.

Cuộc tiến quân của bộ đội Liên Xô đến đây thì kết thúc. Như trinh sát báo cáo cho biết, quân địch đã lợi dụng việc tạm thời hoãn ngày mở chiến dịch của phương diện quân U-crai-na 4 ở phía Tây U-giơ-gô-rốt và ở Chốp để điều động 3 sư đoàn xe tăng tới chiến đấu tại dải tiến công của tập đoàn quân 46. Chẳng bao lâu chúng ta đã cảm thấy điều đó: bộ đội Liên Xô tiến công trên một chính diện tương đối hẹp ở bên kia sông Tít-xa đã bị địch đánh trả quyết liệt. Các mũi đội kích của ta vẫn mở ra, song không thu được kết quả. Chúng ta được biết là lực lượng quân địch phòng ngự tại đây tăng lên gấp đôi và không ai dám chắc rằng lực lượng của chúng không phải không còn tăng thêm hơn nữa; vì rằng khu vực thủ đô Hung-ga-ri chưa bị cắt đứt liên lạc với các vùng trong nước và các khu vực khác của mặt trận, nên cho phép địch có thể điều các lực lượng dự bị của chúng tới đây.

Như vậy là tình hình không thuận lợi cho chúng ta. Dải tiến công tương đối hẹp của bộ đội Liên Xô tạo điều kiện cho địch chống trả lại có kết quả và hình thái chiến tuyến của ta cho phép chúng trong những điều kiện nhất định, có thể tổ chức phản kích vào đội hình chiến đấu của các quân đoàn cơ giới và các đơn vị của tập đoàn quân 46 đang tiến về Bu-đa-pét. Tình hình đó đe dọa sẽ phá tan các biện pháp của ta, gây nên những hậu quả nghiêm trọng cho bộ đội.

Bộ tổng tham mưu suy nghĩ. Tổng tư lệnh tối cao trực tiếp quyết định đánh vào bên kia sông Tít-xa, nên không ai có thể thay đổi hoặc bác bỏ được quyết định đó. Nhưng, cần phải cứu vãn tình hình.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Giêng, 2016, 09:06:57 pm


Chúng tôi tìm ra lối thoát trước hết ở chỗ cho mở rộng chính diện và nâng cao tính tích cực tiến công của bộ đội của R. I-a. Ma-li-nốp-xki. Nếu như theo quyết định của I. V. Xta-lin, cuộc tiến công phát triển chủ yếu dựa vào tập đoàn quân 46 ở bên sườn trái của phương diện quân, thì bây giờ đây, theo ý kiến của Bộ tổng tham mưu, cả các đơn vị ở giữa phương diện quân cũng phải tăng sức ép đối với địch và tiến hành đột phá vào tuyến phòng thủ của địch. Bộ tổng tham mưu cho rằng, tổ chức phòng ngự của địch trên một chính diện rộng sẽ gặp nhiều khó khăn hơn là chính diện hẹp, như vậy là vẫn bám chắc thực chất quyết tâm của Tổng tư lệnh tối cao. Ngoài ra, chính diện tiến công rộng sẽ mở ra triển vọng đánh chiếm Bu-đa-pét không phải chỉ có các lực lượng ở bên sườn trái của phương diện quân (tập đoàn quân 46) đánh từ phía Tây-Nam theo ý định trước đây, mà còn có cả các lực lượng ở giữa—từ phía Đông và Đông - Bắc đánh vào. Hai mũi đánh vu hồi vào thành phố trong tình huống lúc đó sẽ có hiệu lực hơn. Tăng sức ép ở giữa dải tiến công của phương diện quân U-crai-na 2 còn giúp cho các tập đoàn quân của I. E. Pê-tơ-rốp vượt qua được điểm nút ở Chốp và cải thiện được các điều kiện để tiến lên phía trước.

R. I-a. Ma-li-nốp-xki đồng ý với đề nghị của Bộ tổng tham mưu—những đề nghị ấy phù hợp với ý định của đồng chí — và nói rằng: Hội đồng quân sự phương diện quân sẽ ủng hộ chúng tôi trước Tổng tư lệnh tối cao.

Ngày 4 tháng Mười một, Bộ tổng tham mưu báo cáo những ý kiến của mình với Đại bản doanh. Khi báo cáo, chúng tôi còn dựa cả vào những đề nghị của Hội đồng quân sự phương diện quân U-crai-na 2 mới gửi đến Mát-xcơ-va.

I. V. Xta-lin chấp thuận những ý kiến đó. Đồng chí hạ lệnh ra chỉ thị và đẩy mạnh tốc độ thực hiện các biện pháp đánh vu hồi Bu-đa-pét. Trong chỉ thị có nói: «...Cuộc tiến công vào Bu-đa-pét trên một chính diện hẹp chỉ bằng các lực lượng của hai quân đoàn cơ giới và một số đơn vị bộ binh thì có thể mang lại những thiệt hại không hợp lý và khiến cho các đơn vị đang tác chiến ở hướng này có thể bị địch phản kích từ phía Đông-Bắc vào bên sườn».

Vì cuộc tiến công của các tập đoàn quân 53 và 27 cũng như của các cụm kỵ binh - cơ giới của Pli-ép và Goóc-scốp đã được bộ tư lệnh phương diện quân quy định mãi đến ngày 10 tháng Mười một mới bắt đầu, nên Đại bản doanh ra lệnh: «Nhanh chóng tung ngay cánh phải của phương diện quân (tập đoàn quân cận vệ 7, các tập đoàn quân 53, 27 và 40) sang bờ phía Tây sông Tít-xa để mở rộng chính diện tiến công, dùng cánh phải của phương diện quân đột kích từ phía Bắc và Đông-Bắc, hiệp đồng với cánh trái của phương diện quân (tập đoàn quân 46, quân đoàn cơ giới cận vệ 2 và 4) từ phía Nam tiêu diệt cụm quân địch ở Bu-đa-pét».

Cụm kỵ binh-cơ giới của Pli-ép được lệnh trước ngày 7 tháng Mười một phải đột kích từ khu vực Xôn-nốc lên phía Bắc, phá tan tuyến phòng thủ của địch ở Tít-xa, tạo điều kiện cho cánh phải của phương diện quân tiến ra phía bên kia sông Tít-xa. Mặc dầu Pli-ép không có bộ binh, song V. Xta-lin vẫn giao cho bộ đội của đồng chí phải đảm đương nhiệm vụ trên, vì lúc này không còn có lực lượng dự bị nào khác.

Những trận đánh ác liệt lại bùng nổ ở Bu-đa-pét. Bộ đội chiến đấu rất dũng cảm, nhưng vẫn không sao giành được những kết quả quyết định. Có tình huống này không phải chỉ vì phòng ngự của địch mạnh, mà còn do một số tư lệnh binh đoàn sau khi đánh thắng địch ở Ru-ma-ni đã nẩy sinh ra tư tưởng có thể nói là say sưa với thắng lợi.



Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Giêng, 2016, 09:08:32 pm

Nguyên soái X. C. Ti-mô-sen-cô, đại diện của Đại bản doanh, bám sát các đơn vị, ngày 24 tháng Mười một 1944 đồng chí đã báo cáo về Đại bản doanh như sau:

«Phương diện quân U-crai-na 2 là một trong những phương diện quân mạnh, có nhiều lực lượng để đánh tan quân địch, nhưng cho đến những ngày gần đây, vẫn chưa giành được thắng lợi.

Tôi cho rằng những nguyên nhân chủ yếu làm cho hành động kém kết quả là:

1. Với ưu thế tương đối về binh lực, bộ tư lệnh phương diện quân muốn tiêu diệt cụm quân địch ngay trên mấy hướng (Mi-scôn, Ê-ghe, Khát-van).

2. Xu hướng muốn đánh địch trên tất cả các hướng làm cho lực lượng bị phân tán và không tạo nên ưu thế cần thiết. Ví dụ, cánh quân chủ yếu của phương diện quân (các tập đoàn quân 27, 53 và cận vệ 7) có 24 sư đoàn bộ binh, 3 quân đoàn cơ giới và 1 quân đoàn xe tăng, 2 quân đoàn kỵ binh, bố trí như sau:

a) Hướng Mi-scôn: tập đoàn quân 27 với biên chế có 8 sư đoàn bộ binh trên một chính diện rộng 50 ki-lô-mét;

b) Hướng Ê-ghe: tập đoàn quân 53 với biên chế có 7 sư đoàn bộ binh trên một chính diện rộng 45 ki-lô-mét;

c) Hướng Khát-van: tập đoàn quân cận vệ 7 với biên chế có 9 sư đoàn bộ binh trên một chính diện rộng 55 ki-lô-mét, 3 quân đoàn cơ giới, 1 quân đoàn xe tăng và 2 quân đoàn kỵ binh cũng hoạt động trên hướng này.

Như vậy là các binh đoàn bộ binh, tính theo các tập đoàn quân và theo hướng, được phân bổ đồng đều nhau; chỉ có tập đoàn quân cận vệ 7 tương đối ưu thế hơn về binh lực vì cụm quân của Pli-ép, các quân đoàn cơ giới 2 và 4 hành động ở trong dải này, nhưng cả Pli-ép lẫn các quân đoàn cơ giới đều đã bị tiêu hao trong các trận đánh trước đây, cho nên trên chính diện của Su-mi-lốp lại không chiếm được ưu thế về binh lực. Ngoài ra, các cụm quân cơ động nói trên, khi đột phá tuyến phòng thủ vững chắc của địch lại hành động phân tán, không đủ pháo binh chi viện và không hiệp đồng được với bộ binh.

3. Các cán bộ chỉ huy binh đoàn và các cơ quan tham mưu của họ có phần nào chủ quan với thắng lợi trước đây ở Ru-ma-ni và ở Tơ-ran-xin-va-ni, nên không bảo đảm tổ chức hiệp đồng vững chắc giữa các binh chủng.

Do đó, tôi thấy cần phải yêu cầu bộ tư lệnh phương diện quân U-crai-na 2:

l) Xem xét lại quyết định trước đây để xây dựng cánh quân có ưu thế tuyệt đối hơn địch trên hai hướng:

a) Khát-van — Ba-la-sát-đi-a-rơ-mát, được coi là hướng chủ yếu;

b) Mi-scôn, được coi là hướng phụ...»

Đại bản doanh đồng ý với ý kiến của đồng chí đại diện của mình và ngày 26 tháng Mười một đã yêu cầu tư lệnh phương diện quân phải xây dựng trên hướng chủ yếu ưu thế lực lượng quyết định hơn địch, tập trung ở đây các sư đoàn pháo binh đột phá và các binh đoàn xe tăng. Hướng hoạt động chủ yếu của phương diện quân nằm trong dải tiến công của tập đoàn quân cận vệ 7, đánh vu hồi mặt phía Bắc vào Bu-đa-pét.

Đại bản doanh ra lệnh:

«1. Để bảo đảm cho thắng lợi của cuộc tiến công mà các đồng chí dự định, trên khu vực tập đoàn quân cận vệ 7 của Su-mi-lốp phải tập trung ít nhất là 2 sư đoàn pháo binh để đột phá.

2. Đưa tập đoàn quân xe tăng cận vệ 6 của Cráp-tren-cô tham gia tiến công vào khu vực của Su-mi-lốp. Để tăng cường cho tập đoàn quân 46, chỉ được điều một quân đoàn cơ giới (không được lấy hai) ở khu vực của tập đoàn quân cận vệ 7.

3. Sử dụng cụm quân của Pli-ép để phát triển tiến công theo sau tập đoàn quân xe tăng cận vệ 6.

4. Tăng mật độ đội hình chiến đấu bộ binh của tập đoàn quân cận vệ 7 bằng cách mở rộng dải tiến công của tập đoàn quân 53 ở phía Tây-Nam... »


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Giêng, 2016, 09:09:04 pm

Phương diện quân được lệnh phải bắt đầu tổ chức tiến công trước ngày 2-3 tháng Chạp 1944.

Lần này, các chiến dịch của phương diện quân U-crai-na 2 ở Bu-đa-pét phải được tiến hành cùng với phương diện quân U-crai-na 3 của Ph. I. Tôn-bu-khin. Tôi xin phép nhắc lại rằng, bộ đội của phương diện quân U-crai-na 3 trong tháng Mười đã hoàn thành những nhiệm vụ giải phóng chủ yếu ở Nam Tư, giờ đây được sử dụng ở Hung-ga-ri. Hồi đầu tháng Mười một, Bộ tổng tham mưu thấy cần phải sử dụng phương diện quân này để tiêu diệt quân địch ở miền Tây Hung-ga-ri, rồi tiếp sau có thể tiến công cùng với bộ đội của R. I-a. Ma-li-nốp-xki trên hướng Viên.

Một số đồng chí tư lệnh, trong đó có Ph. I. Tôn-bu-khin, về Mát-xcơ-va dự lễ kỷ niệm Cách mạng tháng Mười. Giống như mọi lần, trước khi báo cáo tình hình lên Đại bản doanh và đề nghị sử dụng bộ đội của phương diện quân, đồng chí tư lệnh thường trao đổi ý kiến với Bộ tổng tham mưu. Các đồng chí đã trao đổi ý kiến với nhau về ý đồ hành động chung của bộ đội Liên Xô trong khu vực Bu-đa-pét, về việc điều động phương diện quân đánh vào Hung-ga-ri và những nhiệm vụ tiếp sau của phương diện quân. A. M. Va-xi-lép-xki, A. I. An-tô-nốp và Cục tác chiến Bộ tổng tham mưu chủ trương dùng lực lượng của hai phương diện quân bao vây rồi tiếp sau tiêu diệt quân địch ở khu vực Bu-đa-pét. Nguyên soái Tôn-bu-khin cương quyết ủng hộ những ý kiến của Bộ tổng tham mưu. Đại bản doanh cũng đồng ý với chúng tôi. Nhưng Ph. I. Tôn-bu-khin đề nghị bây giờ chưa nên ra chỉ thị ngay cho phương diện quân vì đồng chí muốn phân tích tình hình tại chỗ trước đã.

Trong dải của phương diện quân của Ph. I. Tôn-bu-khin có những tin tức quan trọng. Ngày 7-9 tháng Mười một, bộ đội của tập đoàn quân 57 do M. N. Sa-rô-khin làm tư lệnh, đã tổ chức tiến công vượt sông Đa-nuýp bằng các phương tiện thô sơ ở các khu vực Ba-ti-na và A-pa-tin. Cả hai bàn đạp này được nhanh chóng mở rộng và qua hai tuần lễ chiến đấu đã hợp nhất được với nhau. Tập đoàn quân cận vệ 4 của tướng I. V. Ga-la-nin trụ lại tại bàn đạp này ở bên phải tập đoàn quân 57. Như vậy là phương diện quân U-crai-na 3 hướng tới sẽ tiến ra Đa-nuýp.

Do đó, ngày 10 tháng Chạp, Ph. I. Tôn-bu-khin báo cáo rằng, rút phương diện quân của đồng chí đánh vào miền Tây Hung-ga-ri là không nên, mà nên sử dụng nó để bao vây và tiêu diệt cánh quân địch ở Bu-đa-pét. «Trước tình hình đó, — nguyên soái nhấn mạnh, — tôi cho rằng phương diện quân sẽ đột kích vào hướng Bắc tới Cô-mác-nô, một bộ phận lực lượng tới Đi-ê-rơ là hợp lý. Mũi đột kích đó có thể phối hợp với cánh trái của phương diện quân U-crai-na 2 chia cắt cánh quân địch và tiêu diệt chúng từng bộ phận một, tiến ra vùng châu thổ sông Đa-nuýp để tiếp tục tiến công vào Viên». Đồng chí đề nghị tập đoàn quân 46 sẽ thuộc biên chế của phương diện quân U-crai-na 3, vì tập đoàn quân này đã tiến công vượt sông Đa-nuýp ở phía Đông-Nam Bu-đa-pét và bàn đạp tập đoàn quân chiếm lĩnh được ở bên bờ phía Tây sông, có thể dùng làm khu vực xuất phát tốt cho bộ đội của phương diện quân trong chiến dịch sắp tới.

Các trận đánh ác liệt diễn ra ở Bu-đa-pét trong suốt nửa đầu tháng Chạp. Bộ đội đã hoàn thiện được các tuyến xuất phát của mình, các cơ quan tham mưu của cả hai phương diện quân đều nghiên cứu kế hoạch các chiến dịch sắp tới nhằm bao vây quân địch. Ngày 15 tháng Chạp, phương diện quân U-crai-na 3, rồi hai ngày sau, phương diện quân U-crai-na 2 đã báo cáo các kế hoạch chiến dịch lên Đại bản doanh. Kế hoạch được phê chuẩn nhưng trên ra lệnh cho phương diện quân U-crai-na 3 không được để bộ đội hút vào hướng Viên.

Theo kế hoạch, các phương diện quân dùng các lực lượng chủ yếu bao vây Bu-đa-pét, tổ chức đánh vu hồi như sau: bộ đội của R. I-a. Ma-li-nốp-xki đánh mặt phía Bắc, bộ đội của Ph. I. Tôn-bu-khin đánh mặt phía Tây-Nam. Các phương diện quân siết chặt vòng vây ở Đa-nuýp trong khu vực E-xtéc-gôm, Ne-xmây. Quân đoàn bộ binh 30 của tập đoàn quân cận vệ 7, quân đoàn Ru-ma-ni 7 và quân đoàn bộ binh cận vệ độc lập 18 tiến công trực tiếp vào Bu-đa-pét. Các phương diện quân được lệnh tổ chức vòng ngoài bao vây để chặn đứng âm mưu địch phá vây cho Bu-đa-pét. Cuộc tiến công được ấn định bắt đầu vào ngày 20 tháng Chạp 1944.

Bộ tổng tham mưu đặc biệt chú ý đến việc bảo đảm pháo binh cho chiến dịch sắp tới. Sở dĩ có yêu cầu đó trước hết là do tính chất phòng ngự có tổ chức của địch — các trận địa phòng ngự của chúng có nhiều hỏa điểm được che khuất, nếu không có mật độ hỏa lực pháo binh cao thì không đột phá nó được. Ngoài ra, trong biên chế của cánh quân địch có nhiều xe tăng. Theo tin tức của trinh sát lúc bấy giờ thì ở phía trước bộ đội của Ph. I. Tôn-bu-khin có 5 sư đoàn xe tăng (3 sư đoàn Đức, 2 sư đoàn Hung-ga-ri) và 1 sư đoàn cơ giới. Đối diện với phương diện quân của R. I-a. Ma-li-nốp-xki cũng có các sư đoàn xe tăng của địch. Ở đấy, theo tính toán của chúng ta hồi ấy, địch có 4 sư đoàn xe tăng và 3 sư đoàn mô-tô cơ giới. Các phương tiện chống tăng chủ yếu của chúng ta vẫn là pháo binh.

Còn nói về Bu-đa-pét, Tổng tư lệnh tối cao yêu cầu tổ chức mật độ pháo binh cao hơn nữa. Khu vực đột phá trong dải của tập đoàn quân cận vệ 7 tiến công trên hướng chủ yếu của phương diện quân U-crai-na 2 có 224 khẩu pháo trên một ki-lô-mét chính diện, còn trên hướng chủ yếu của phương diện quân U-crai-na 3, mật độ pháo binh trung bình là 170 nòng súng trên một ki-lô-mét chính diện.



Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Giêng, 2016, 11:32:12 am

*
* *



Ngày 20 tháng Chạp 1944, cả hai phương diện quân đều chuyển sang tiến công.

Trong quyển một hồi ký, tôi đã viết về sai lầm của bộ chỉ huy Hít-le. Bắt đầu chiến cục mùa hè năm 1944, chúng cho rằng hướng đột kích chủ yếu của Hồng quân sẽ đánh vào phía Tây-Nam. Có lẽ bây giờ đây, khi đứng trước ngưỡng cửa của năm 1945, bọn Hít-le vẫn mắc phải sai lầm ấy, thêm nữa, bộ đội Liên Xô đang phòng ngự ở hướng Tây. Vì vậy, quân địch đã tăng nhiều quân và xe tăng ở vùng bao vây bên ngoài Bu-đa-pét. Rõ ràng, bọn chúng trông chờ vào các hình thức tác chiến cơ động, không định bỏ lại các khu vực phía Tây Hung-ga-ri và nuôi ý đồ giải vây cho các đơn vị của chúng đang bị hãm trong lòng chảo. Chúng trù tính sẽ mở những đòn phản kích mạnh. Tiến công sang ngày hôm sau, ngày 21 tháng Chạp, thì bộ đội Liên Xô ở dải hoạt động của tập đoàn quân cận vệ 7 do tướng M. X. Su-mi-lốp chỉ huy và của các chiến sĩ xe tăng do A. G. Cráp-tsen-cô chỉ huy tại các khu vực Nem-xe, Xa-ca-lô-sơ, Sa-khơ-tư vấp phải những đòn phản kích đó. Quân địch ra sức chia cắt và tiêu diệt bộ đội Liên Xô ở đây, nhưng rồi chính bản thân chúng lại bị ăn đòn ở bên sườn cũng như ở phía sau lưng và bị đẩy lùi cùng với những thiệt hại nặng.

Trong dải tiến công của phương diện quân U-crai-na 3 quân địch dựa vào phòng tuyến vững chắc «Mác-ga-ri-ta» cũng chuẩn bị phản kích, nhưng chúng đã tính nhầm thời gian và mọi ý định của chúng bị phá vỡ khi chúng đang tập trung các lực lượng của cánh quân phản kích. Hai tấm bản đồ của sư đoàn xe tăng 2 Đức do phương diện quân U-crai-na 3 thu được ngày 22 tháng Chạp năm 1944 ở khu vực Xe-két-phe-khéc-va-rơ đã chứng minh cho nhận định trên. Hai tấm bản đồ đó đã cung cấp cho bộ tham mưu giàu kinh nghiệm nhiều điều bổ ích. Ph. I. Tôn-bu-khin hồi đó báo cáo về Bộ tổng tham mưu: «Tấm bản đồ thứ nhất đánh dấu nhiều vùng dân cư lớn trong phạm vi đất đai của ta ở phía Đông-Nam hồ Ba-la-tông. Tấm bản đồ thứ hai chỉ rõ vị trí bố trí của các cơ quan tham mưu quân đoàn xe tăng 3 và 57, các cơ quan tham mưu và các binh đội của các sư đoàn xe tăng 1, 3, 6 và 23 thuộc trung đoàn xe tăng 130 của lực lượng dự bị của Bộ tổng tư lệnh. Tình hình đó chứng minh một cách rõ ràng rằng, quân Đức đã chuẩn bị hành động tích cực ở phía Đông hồ Ba-la-tông». Sau này chúng ta lại biết là, ở đây còn có cả sư đoàn xe tăng 8 và các tiểu đoàn xe tăng độc lập.

Bộ tổng tham mưu đồng ý với ý kiến của Hội đồng quân sự phương diện quân. Chúng tôi báo cáo lên Tổng tư lệnh tối cao. Đồng chí chỉ thị thông báo cho phương diện quân phải hết sức cảnh giác và thường xuyên sẵn sàng đánh bại các biện pháp chống trả của địch. Quả vậy, quân phát-xít Đức và quân của Xa-la-si đã chuyển sang phản công nhiều lần trong một ngày. Những trận đánh diễn ra ác liệt, bộ đội Lièn Xô phá vỡ được tuyến phòng thủ của địch, song phải đổ nhiều máu. Qua 6 ngày chiến đấu liên tục, các phương diện quân U-crai-na 2 và 3 đã gặp nhau ở sông Đa-nuýp trong khu vực E-xtéc-gôm và vây chặt Bu-đa-pét. Gần 190.000 binh lính và sĩ quan địch bị nhốt trong vòng vây. Đồng thời khi đó cũng hình thành xong vòng vây bên ngoài, như chúng ta sẽ thấy, là rất cần thiết.

Tuy nhiên, các sự kiện chủ yếu vẫn còn ở phía trước các mũi đột kích của bộ đội Liên Xô vào Bu-đa-pét đã bị quân địch đẩy lùi. Địch tiếp tục hoàn thiện tuyến phòng thủ của chúng ở ngay trong thành phố và ở những vùng phụ cận. Ở đây, đến ngày 1 tháng Giêng 1945, địch đã tập trung 13 sư đoàn xe tăng, 2 sư đoàn mô-tô cơ giới và 1 lữ đoàn. Theo lời của chính bọn địch thì như vậy mật độ xe tăng ở mặt trận phía Đông dày đặc chưa từng có. Các biện pháp trên tiến hành dưới sự chỉ huy của tướng Ve-le, tư lệnh mới của Cụm tập đoàn quân «Nam» thay thế tướng Phrít-xne bị cách chức.

Lúc bấy giờ không phải chỉ có hai cánh quân mạnh của hai bên đối địch xung đột ở vùng Bu-đa-pét. Quân địch đã biến thủ đô đẹp đẽ của Hung-ga-ri thành trận địa phòng ngự, không đếm xỉa gì đến các giá trị lịch sử của thành phố, các công trình văn hóa và nghệ thuật phong phú, không tính đến xương máu của nhân dân. Bộ chỉ huy Liên Xô muốn tránh cho nhân dân Hung-ga-ri khỏi bị đổ máu không cần thiết và bảo vệ cho nhân dân Hung-ga-ri tất cả những gì đã được sáng tạo nên trước đây bởi những bàn tay khéo léo của những người thợ cả danh tiếng. Ngày 29 tháng Chạp, bộ tư lệnh phương diện quân U-crai-na 2 và bộ tư lệnh phương diện quân U-crai-na 3 gửi tối hậu thư cho quân địch đang bị bao vây ở Bu-đa-pét, đề ra những điều kiện đầu hàng nhân đạo, ví dụ, các tướng lĩnh, sĩ quan và binh lính Hung-ga-ri được bảo đảm nhanh chóng trở về với gia đình. Nhưng đại úy M. Xtây-mét, người đại diện của phương diện quân U-crai-na 2 đi đàm phán với đối phương đã bị quân địch bắn chết, còn đại úy I. A. Ô-xta-pen-cô, người đại diện của phương diện quân U-crai-na 3 cũng bị đối phương từ chối không nhận đầu hàng, rồi lúc quay trở về đã bị quân địch bắn vào lưng. Những người đại diện của Liên Xô được cử đi đàm phán với đối phương, để cứu thoát hàng vạn con người đang bị bao vây trong thành phố, bảo vệ các công trình văn hóa của đất nước Hung-ga-ri, đã bị quân thù bắn chết một cách đê tiện như vậy.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Giêng, 2016, 11:32:48 am


Đêm 1 rạng ngày 2 tháng Giêng 1945, bộ chỉ huy Hít-le bắt đầu hành động tích cực chống lại bộ đội Liên Xô ở vòng vây bên ngoài Bu-đa-pét. Các chiến sĩ Liên Xô đã đánh lui các đòn phản kích điên cuồng của các sư đoàn xe tăng Đức muốn giải thoát cho cánh quân địch đang bị bao vây ở Bu-đa-pét suốt gần một tháng trời (cho tới ngày 26 tháng Giêng). Các trận đánh diễn ra hết sức ác liệt, song các chiến sĩ Liên Xô vẫn đứng vững. Sức mạnh, lòng quả cảm và ý chí kiên cường của người chiến sĩ xô-viết bảo đảm sự đập tan ý định của bộ chỉ huy Hít-le. Trong những ngày này, các đồng chí tư lệnh, chỉ huy và tham mưu của Liên Xô đã tỏ rõ trình độ nghệ thuật quân sự cao. Họ buộc quân địch phải thất bại, mặc dầu phương diện quân U-crai-na 3 có lúc đã lâm vào tình thế nguy hiểm. Ví dụ, ngày 20 tháng Giêng, xe tăng địch đã vọt ra tới sông Đa-nuýp ở khu vực Đu-na-pen-te-le, và chia cắt được bộ đội của phương diện quân trong một thời gian. Các trung đoàn pháo tự hành được điều động từ phía Bắc và phía Nam tới khu vục trên, tổ chức mũi đột kích đón gặp và đã thủ tiêu được mối nguy cơ đó.

Khi xuất hiện những dấu hiệu đầu tiên của việc ra đời nước Hung-ga-ri mới, thì đồng thời cũng là ngày tận số của cụm quân địch bị bao vây ở Bu-đa-pét. Ví dụ, Bộ tổng tham mưu Hồng quân nắm được những hoạt động của các đội du kích Hung-ga-ri ở các vùng trong nước, nhất là ở các vùng mỏ. Bộ tổng tham mưu không cường điệu ý nghĩa quân sự của các hoạt động ấy, nhưng đồng thời đã hiểu rõ ảnh hưởng to lớn của các hoạt động đó đối với nhân dân. Các đội du kích đó đã chứng tỏ rằng trong nhân dân đang nung nấu âm ỉ sự căm phẫn đối với chế độ Hít-le. Cố nhiên, điều đáng chú ý nhất là Đảng cộng sản Hung-ga-ri là người chủ động hô hào và cổ vũ cuộc đấu tranh nhằm khôi phục nền độc lập dân tộc của đất nước trên những cơ sở dân chủ. Chúng tôi được biết rằng, ngay từ mùa hè năm 1944, theo sáng kiến của các đảng viên cộng sản Hung-ga-ri, cơ quan thống nhất trung ương của phong trào Kháng chiến — «Mặt trận Hung-ga-. ri» — đã được thành lập. Tháng Chín năm ấy, Đảng cộng sản ra lời kêu gọi gửi nhân dân Hung-ga-ri về sứ mệnh giải phóng của các chiến sĩ xô-viết. Đảng cộng sản kêu gọi nhân dân nổi dậy cùng chiến đấu với Liên Xô đánh đuổi bọn đế quốc Đức và đập tan chế độ phản động ở Hung-ga-ri, đấu tranh cho hòa bình và cho nước Hung-ga-ri độc lập, tự do, dân chủ. Tháng Mười một 1944, ủy ban giải phóng dân tộc Hung-ga-ri được thành lập và bắt đầu chuẩn bị cuộc khởi nghĩa ở Bu-đa-pét. Dưới sự chỉ đạo của ủy ban quân sự do Đảng cộng sản thành lập, các đội du kích ở Uy-pe-stơ, Kít-pe-stơ và ở các khu khác tại Bu-đa-pét đã đánh mìn thắng lợi các đoàn tàu chở hàng quân sự, tiêu diệt bọn sĩ quan và binh lính quốc xã, phá hoại các đường sắt. Ngày 1 tháng Chạp 1944, rạp hát thành phố Bu-đa-pét, nơi bọn phát-xít Hung-ga-ri đang hội họp, bị nổ tung. Chúng tôi còn biết nhiều trường hợp nhân dân Hung-ga-ri đã quên mình cứu sống các chiến sĩ Liên Xô...

Khóa họp của Quốc hội lâm thời Hung-ga-ri ở vùng giải phóng Đê-brê-xen là cái mốc lớn trong lịch sử của một quốc gia bị tàn phá đã được khôi phục. Đó là kết quả hoạt động của Đảng cộng sản Hung-ga-ri. Đảng ra sức tập hợp các lực lượng dân chủ trong nước trên cơ sở «Cương lĩnh khôi phục nền dân chủ và phát triển Hung-ga-ri», do đảng vạch ra. Quốc hội họp từ ngày 21-22 tháng Chạp 1944, thành lập Chính phủ dân tộc lâm thời do thượng tướng Be-la Mi-clốt đứng đầu.

Thành phần chính phủ phản ánh tất cả những mâu thuẫn trong nước, gồm có các đại biểu của Đảng cộng sản, những người xã hội - dân chủ, đảng dân tộc - nông dân và đảng độc lập của những người tiểu nông; ngoài ra, còn có đại biểu của chế độ Hoóc-ti đã bị sụp đổ, ví dụ như tướng Ga-bo Pha-ra-gô, công tước Ge-da Tê-lê-ki và thượng tướng I-a-nốt Vi-ơ-ri-o-sơ mà chúng ta đã biết.

Quốc hội lâm thời họp quyết định những hành động sau này của chính phủ Mi-clốt. Hành động đầu tiên của chính phủ là quyết định cắt đứt quan hệ với nước Đức Hít-le và tuyên bố chiến tranh chống lại chúng. Sau đó, chính phủ gửi lời kêu gọi đình chiến với các chính phủ của các nước đồng minh mà Hung-ga-ri đang ở trong tình trạng chiến tranh với họ.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Giêng, 2016, 11:33:37 am

Việc ký kết hiệp định đình chiến là nhiệm vụ trung tâm của Chính phủ dân tộc lâm thời, lẽ tất nhiên, có quan hệ tới việc Hung-ga-ri sẽ tham chiến chống lại nước Đức. Lời kêu gọi của Quốc hội lâm thời gửi nhân dân Hung-ga-ri ngày 21 tháng Chạp 1944 có nói tới nước Hung-ga-ri dân chủ tương lai và công cuộc giải phóng những phần đất còn lại khỏi ách chiếm đóng của bọn Đức phát-xít. «Chúng ta không được thờ ơ ngồi xem quân đội Nga đơn phương đứng ra giải phóng cho Tổ quốc chúng ta thoát ách nô địch của nước Đức. Chỉ khi nào chúng ta với tất cả lực lượng của mình tích cực tham gia công cuộc tự giải phóng mình, đứng lên đấu tranh chống bọn phát-xít Đức thống trị để giải phóng Tổ quốc, thì chúng ta mới xứng đáng nhận lấy quyền tự do và độc lập!»

Quốc hội lâm thời còn ra lời kêu gọi đặc biệt gửi anh em binh lính: «Hỡi những người con của đất nước Hung-ga-ri! Đối với anh em, không có một mệnh lệnh nào khác ngoài mệnh lệnh của dân tộc! Thay mặt dân tộc Hung-ga-ri, Ọuốc hội lâm thời ra lệnh: hãy quay súng chống lại bọn Đức thống trị, giúp đỡ Hồng quân — sứ giả giải phóng của chúng ta. đoàn kết với cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân, với các lực lượng vũ trang nhân dân mới thành lập!»

Chính phủ nước Hung-ga-ri mới đã tuyên bố đất nước sẵn sàng đứng lên, kề vai cùng các nước đồng minh trong cuộc chiến tranh chống lại nước Đức Hít-le như thế đấy.

Chính phủ Hung-ga-ri đề nghị dành cho họ một số thời gian để tìm hiểu các khả năng thành lập một quân đôi mới. Sau đó, chính phủ hứa sẽ xây dựng ít nhất 8 sư đoàn. Liên Xô, Mỹ và Anh đồng ý đề nghị đó và ngày 9 tháng Giêng 1945, thượng tướng Ph. Ph. Cu-dne-txốp đã tiếp xúc với tướng I-a-nốt Vi-o-ri-o-sơ, bộ trưởng chiến tranh của Chính phủ dân tộc lâm thời Hung-ga-ri. Thượng tướng I-a-nốt Vi-o-ri-o-sơ nguyên là tổng tham mưu trưởng quân đội Hung-ga-ri, sau vụ phiến loạn của Xa-la-si và vụ chính biến chạy sang phía ta.

Bộ trưởng chiến tranh hứa với các đại biểu Liên Xô là chính phủ Hung-ga-ri đã nhận ra sự cần thiết phải đứng về phía các nước đồng minh tích cực tham gia chiến tranh chống nước Đức Hít-le. Thế nhưng, ông ta lại nêu vấn đề là việc thành lập quân đội Hung-ga-ri phụ thuộc vào thời hạn trao trả các chiến sĩ và sĩ quan Hung-ga-ri bị quân Nga bắt làm tù binh trước đây. Vi-o-ri-o-sơ cho rằng, việc sử dụng các tù binh ấy trong quân đội Hung-ga-ri mới là có lợi hơn cả, vì các tù binh đó đã trang bị đủ thứ và theo ý kiến của ông ta, rất thuận tiện cho việc tổ chức các đơn vị.

Vi-o-ri-o-sơ cho biết, nhiều người tình nguyện sẽ gia nhập quân đội. Họ là những lực lượng dự bị cũ trước đây đã được huấn luyện quân sự và cả những lực lượng mới, trẻ, chưa qua huấn luyện. Ông ta còn thông báo là trong những ngày Quốc hội họp, ông ta nhận được tin của các đại biểu ở các địa phương rằng, nhân dân đã sẵn sàng cầm vũ khí bắt bọn chiếm đóng Hít-le phải đền các tội ác của chúng. Vi-o-ri-o-sơ đề nghị với Liên Xô giao trả càng sớm càng tốt các sĩ quan và hạ sĩ quan đang bị bắt làm tù binh, để làm nòng cốt phát triển quân đội. Ông ta nói, tình hình yêu cầu phải như vậy để thanh lọc những phần tử «phản bội» ra khỏi hàng ngũ sĩ quan, ông ta còn đề nghị Liên Xô sẽ cung cấp cho quân đội các trang bị và vũ khí thu được của Đức, vì bộ đội Hung-ga-ri đã được huấn luyện sử dụng các loại vũ khí đó. Vi-o-ri-o-sơ còn đề nghị Bộ chỉ huy Liên Xô nhận trách nhiệm cung cấp cho quân đội Hung-ga-ri, vì Liên Xô có đủ các phương tiện cần thiết và hệ thống hậu cần có tổ chức.

Ph. Ph. Cu-dne-txốp thông báo cho bộ trưởng chiến tranh Hung-ga-ri biết là Chính phủ Liên Xô đã cho phép thành lập một sư đoàn Hung-ga-ri — nguyên soái Ma-li-nốp-xki đã nhận được chỉ thị về vấn đề này, — hứa là sẽ chi viện quân sự cho Hung-ga-ri. Đồng chí đại biểu Liên Xô không góp ý về việc lựa chọn cơ cấu tổ chức các sư đoàn Hung-ga-ri, vì đó là công việc nội bộ của Hung-ga-ri. Ph. Ph. Cu-dne-txốp nói: «Các bạn thấy nên tổ chức như thế nào thì cứ xây dựng». Đồng chí chỉ nhấn mạnh rằng việc xây dựng quân đội phải do chính các đồng chí Hung-ga-ri làm và ở đây nhiều điều phụ thuộc vào việc thành lập sư đoàn đầu tiên một cách thắng lợi.

Vi-o-ri-o-sơ trả lời: «Tôi xin bảo đảm rằng trong quân đội sẽ thực hành chế độ dân chủ, thực hành tinh thần mới, tình hữu nghị, và sự hiệp đồng giữa quân Nga với quân Hung-ga-ri sẽ được củng cố trong chiến đấu, vì tình hữu nghị và sự hiệp đồng ấy không phải nẩy nở trên mặt bàn mà ở ngoài chiến địa». Không thể không đồng ý với những điều đó. nên đồng chí đại biểu Liên Xô lần này chỉ nhấn mạnh thêm là lời nói của chúng ta phải đi đối với việc làm.

Thế nhưng, chúng ta cũng phải chú ý là, việc làm của họ đã không đi đối với những lời nói. Mi-clốt, Vi-o-ri-o-sơ và các thành viên khác của chính phủ trong phe cánh cũ của Hoóc-ti, đã tìm mọi cách phá hoại việc xây dựng quân đội của nước Hung-ga-ri mới. Bọn họ kéo dài được thời hạn thành lập các sư đoàn có khả năng chiến đấu. Cuối cùng, chỉ có một sư đoàn được cử ra mặt trận, nhưng lại không kịp tham gia các hành động quân sự.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Giêng, 2016, 12:04:55 pm

Ngoài cái gọi là phương hướng chính thức xây dựng quân đội của nước Hung-ga-ri mới vẫn bị những phe phái cũ của Hoóc-ti khống chế và chi phối, ở ngoài chiến trường lại nảy nở ra xu hướng thực sự dân chủ dưới hình thức hợp tác chiến đấu giữa các chiến sĩ xô-viết và các chiến sĩ tình nguyện Hung-ga-ri. Tình đoàn kết chiến đấu ấy đã xuất hiện trong quá trình chiến đấu tiêu diệt quân địch bị bao vây ở Bu-đa-pét hồi tháng Hai 1945.

Chiến tranh biết làm nhiệm vụ của mình. Các chiến sĩ Hung-ga-ri còn ở trong hàng ngũ quân đội Hít-le tại Bu-đa-pét không muốn chiến đấu cho nước Đức. Họ buộc phải tiếp tục những trận đánh phòng ngự cùng với các đơn vị phát-xít Đức vì sợ sự trừng phạt nhục hình và tòa án quân sự phát-xít. Tuy nhiên, các sĩ quan cao cấp và trung cấp Hung-ga-ri hãy còn tin vào những điều hứa hẹn của Hít-le, rằng chúng sẽ cho quân tiếp viện tới phá vòng vây cho Bu-đa-pét do Liên Xô tạo nên. Những mâu thuẫn giữa đội ngũ sĩ quan và binh sĩ Hung-ga-ri phải được giải quyết, và mâu thuẫn ấy cũng đã được thực sự giải quyết trong quá trình chiến đấu.

Ở Bu-đa-pét, các chiến sĩ Liên Xô từng bước tiến sát tới (pháo đài) Va-rơ, vùng trung tâm của Bu-đa, nơi chuyển dần trọng tâm sức kháng cự của địch. Ngày 8 tháng Hai; tướng Đức Pơ-phép-phe Vi-len-brúc, tư lệnh thành phố Bu-đa-pét ra lệnh cho các đơn vị Hung-ga-ri tập trung tại vùng Va-rơ trong mấy ngày sắp tới và tiếp tục tổ chức kháng cự ở đây. Mệnh lệnh đó được chấp hành một cách khác nhau. Các sĩ quan muốn chấp hành mệnh lệnh, nhưng binh sĩ thì lại muốn giải quyết vấn đề theo cách của mình, nhiều người đã phân tán ra khắp thành phố, không chịu tập trung về Va-rơ.

Đại bộ phận binh sĩ muốn đầu hàng làm tù binh và chấm dứt chiến tranh. Một số lại muốn kiên quyết đấu tranh, lúc này thì chống bọn Hít-le. Nhiều nguyên nhân khác nhau thúc đẩy họ chạy sang phía bộ đội Liên Xô, nhưng chủ yếu là tình thần chống Hít-le, muốn bắt bọn chiếm đóng Đức phải đền tội ác của chúng đối với nhân dân và quân đội Hung-ga-ri. Nhiều tù binh kể lại rằng, bọn Hít-le đã đối xử thô bạo với nước đồng minh của chúng, đã cướp cả mẩu bánh mì cuối cùng của các binh sĩ Hung-ga-ri.

Số tù binh Hung-ga-ri trong phương diện quân U-crai-na 2 mỗi ngày một tăng lên, có tới trên mấy ngàn người. Vì các tù binh nhiều lần bày tỏ nguyện vọng muốn chiến đấu chống bọn Hít-le, cho nên ở một số đơn vị bộ đội Liên Xô đã thành lập những nhóm chiến sĩ tình nguyện Hung-ga-ri, và họ được tạo điều kiện để tham gia chiến đấu. Kinh nghiệm chứng minh rằng: những người tình nguyện đã chiến đấu dũng cảm và khôn khéo.

Sau đó, trong các binh đoàn của bộ đội Liên Xô chiến đấu ở Bu-đa-pét đã bắt đầu thành lập các đại đội bộ binh gồm các chiến sĩ tình nguyện Hung-ga-ri. Những đại đội như vậy cũng được thành lập trong lữ đoàn thủy quân lục chiến 83, sư đoàn cận vệ 108, sư đoàn bộ binh 180, 297, 320 và các sư đoàn khác. Tiếp sau, ở một số nơi, các đại đội ấy đã tổ chức thành các chi đội. Ví dụ, toàn thể cán bộ trong chi đội Hung-ga-ri ở sư đoàn bộ binh 320 đều là những cán bộ Hung-ga-ri. Thượng úy Ve-re-bơ chỉ huy chi đội.

Cần phải nói rằng, tác phong công tác Nga đối với các chiến sĩ trong thời kỳ thành lập các phân đội rất phù hợp với người Hung-ga-ri. Như mọi người đều biết, trước hết các chiến sĩ được ăn uống, rồi được tắm rửa. Sau đó với tư thế sạch sẽ, quân phục chỉnh tề và hài lòng, người chiến sĩ đến nhận vũ khí tại kho của người chuẩn úy. Trong những trận chiến đấu, những chiến sĩ Hung-ga-ri đã chịu đựng gian khổ vì nhiều ngày không có lương thực thực phẩm, và chỉ mỉm cười khi người ta hỏi họ tắm rửa lần cuối cùng vào lúc nào. Họ lấy làm vui lòng tiếp thu nền nếp của người Nga mà nhiều lần họ đã ca ngợi.

Tình huống chiến đấu buộc phải nhanh chóng đưa các phân đội đã sẵn sàng vào chiến đấu. Nhưng bộ chỉ huy của ta lại muốn làm lễ trọng thể mừng sự kiện đó trong điều kiện cho phép, nên đã tổ chức dàn nhạc kèn tiễn đưa đội quân bổ sung trong đó có các chiến sĩ tình nguyện Hung-ga-ri, ra tiến tuyến.   



Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Giêng, 2016, 12:05:26 pm

Những trận đánh đầu tiên của các phân đội Hung-ga-ri ngày 8 và 9 tháng Hai chứng minh rằng lời nói của các chiến sĩ tình nguyện đi đối với việc làm. Trưởng phòng chính trị sư đoàn bộ binh 320 đã báo cáo, chẳng hạn: «Chi đội tình nguyện Hung-ga-ri đầu tiên do thượng úy Ve-re-bơ chỉ huy, đã chiến đấu tốt trong suốt 2 ngày và đã hoàn thành các nhiệm vụ do bộ tư lệnh giao. Đại đội đã quét sạch quân Đức ra khỏi 5 khu phố, diệt 30 tên địch, bắt làm tù binh 15 tên, thu chiến lợi phẩm...». Tình chiến hữu đã nẩy nở trong cuộc đấu tranh chung chống bọn Hít-le tại Bu-đa-pét hoang tàn.

Chúng tôi nhận những tin tức chiến đấu của lữ đoàn thủy quân lục chiến 83, trong đó có cả các đại đội tình nguyện Hung-ga-ri. Bộ chỉ huy lữ đoàn báo cáo rằng tuyến phòng thủ của địch hoàn toàn bị phá vỡ. 80 chiến sĩ Hung-ga-ri bị bắt làm tù binh ở đây đã gia nhập đại đội tình nguyện Hung-ga-ri để chiến đấu. Những ngày tiếp sau, chúng tôi lại tiếp tục nhận được những tin tức mới về các hoạt động thắng lợi của các phân đội Hung-ga-ri cùng với bộ đội Liên Xô chiến đấu ở Bu-đa-pét.

Ít lâu trước khi Bu-đa-pét được giải phóng, khi địch ra sức chuẩn bị một cách tuyệt vọng phá vỡ vòng vây, các đại đội tình nguyện Hung-ga-ri đã phát triển lên thành tiều đoàn, mỗi tiểu đoàn có 4 đại đội.

Ngày 11 tháng Hai, trung tá Ô-xca Va-ri-kha-di, trung đoàn trưởng trung đoàn bộ binh 6 thuộc sư đoàn bộ binh 10 Hung-ga-ri, đã chạy sang phía các đơn vị Liên Xô mang theo cả cơ quan tham mưu cùng các đơn vị còn lại tới 300 người. Ông ta sinh ở Bu-đa-pét trong một gia đình hạ sĩ quan đã phục vụ quá thời hạn trong quân đội Áo-Hung. Mẹ ông ta làm thự may, Va-ri-kha-di đã tham gia chiến đấu cả trong Chiến tranh thế giới thứ nhất. Nãm 1919, ông ta đã đứng trong hàng ngũ Hồng quân của Hung-ga-ri. Sau khi nước Cộng hòa Xô-viết Hung-ga-ri bị bóp chết, Va-ri-kha-di bị loại ra khỏi các lực lượng vũ trang, mãi sau này mới lại được gọi vào quân đội.

Trong quá trình chiến tranh, Ô-xca Va-ri-kha-di học tập được rất nhiều, nhất là trên mặt trận Xô - Đức. Ông ta bị tòa án đe dọa kết án về tội chống Hít-le, song do bị ốm nên đã tránh được. Tháng Mười 1944, là chỉ huy trung đoàn bộ binh 18 của tập đoàn quân 1, Va-ri-kha-di không phục tùng chế độ Xa-la-si nên lại bị cách chức. Thế nhưng, trong thời gian chiến đấu ở Bu-đa, tình hình đòi hỏi bọn địch lại phải giao nhiệm vụ cho ông ta chỉ huy các lực lượng còn lại của trung đoàn bộ binh 6. Va-ri-kha-di đã cùng với cả trung đoàn chạy sang phía Hồng quân. Các đơn vị còn lại của trung đoàn bộ binh 6 trở thành nòng cốt để xây dựng các đơn vị tình nguyện Hung-ga-ri đủ biên chế, mà lịch sử chiến tranh còn ghi lại là «trung đoàn những người tình nguyện Bu-đa». Quân số trung đoàn lên tới 2.500 người. Trung đoàn đã chiến đấu xuất sắc chống cánh quân bị bao vây ở Bu-đa trong khu vực nhà ga I-u-giơ-nưi, núi Ghê-léc-tơ và Va-ra. Các chiến sĩ Liên Xô, Ru-ma-ni và Hung-ga-ri đã phối hợp chiến đấu tại đây. Chính ở đây, tình chiến hữu đã cố kết họ lại với nhau.

Trận đột phá Bu-đa-pét kéo dài tới ngày 13 tháng Hai. Hôm ấy, quân địch phòng ngự rất ngoan cố tại đây đã bị tiêu diệt hoàn toàn.

Sau khi kết thúc những hành động quân sự ở Bu-đa-pét, trung đoàn Bu-đa có 5 tiểu đoàn với quân số 2.534 người, trong đó có khoảng 1.200 pháo thủ, khoảng 400 tay súng bộ binh, hơn 100 chiến sĩ lái xe tăng, hơn 300 chiến sĩ thông tin, và công binh cùng các binh chủng khác.

Như vậy, việc tiêu diệt quân địch ở Bu-đa-pét hình như là mở ra những triển vọng thuận lợi để tổ chức các chiến dịch tiến công trên hướng Viên. Sau khi chiếm được lãnh thổ và thủ đô nước Áo, bộ đội Liên Xô sẽ nhổ được một căn cứ công nghiệp chiến tranh quan trọng của địch và tiến đến vùng công nghiệp chiến tranh khác là Pra-ha. Những khả năng sản xuất vũ khí của địch sẽ giảm sút một cách nghiêm trọng Ngoài ra, việc đánh chiếm vùng công nghiệp Pra-ha còn có ý nghĩa về mặt chính trị: Tiệp Khắc là nước đồng minh của chúng ta.

Cuộc tiến công trên hướng Viên còn có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc chi viện mặt phía Đông cho bộ đội đang đánh vào Béc-lin và uy hiếp quân địch ở mặt phía Nam Đại bản doanh và Bộ tổng tham mưu hướng mọi nỗ lực và phối hợp hành động của các phương diện quân nhằm bảo đảm cho các đòn đột kích của ta giữ được bất ngờ, buộc địch lâm vào tình thế chiến dịch khó khăn, khiến chúng phải phân tán lực lượng và áp dụng các phương pháp tác chiến bất lợi.



Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Giêng, 2016, 09:40:23 pm

Tháng Hai 1945, Đại bản doanh và Bộ tổng tham mưu đặc biệt chú ý đến vấn đề hiệp đồng giữa các hướng Tây và Tây-Nam. Tôi nhắc lại là khi tiến tới sông Ô-đe, bộ đội phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1 buộc phải dừng lại và tiến hành chiến dịch Đông Pô-mê-ra-ni để thanh toán mối uy hiếp mặt Bắc của quân địch. Thời gian này, cần phải đẩy mạnh tốc độ tiến công trên hướng Viên. Các chiến dịch của phương diện quân U-crai-na 4 tiến hành thắng lợi ở miền núi Các-pát thuộc nước Ba Lan và Da-các-pát đã tạo thêm nhiều điều kiện thuận lợi cho việc đó. Vì vậy, ngay ngày 17 tháng Hai — sau khi chiếm được Bu-đa-pét ba ngày — Đại bản doanh chỉ thị cho các phương diện quân U-crai-na 2 và 3 chuẩn bị và tiến hành chiến dịch tiến công vào Viên. Phương diện quân của R. I-a. Ma-li-nốp-xki giữ vai trò chủ yếu. Các lực lượng chủ yếu của phương diện quân phải tiến công ở phía Bắc sông Đa-nuýp. Theo các tin tức trinh sát thì, ở đây địch không có xe tăng, phòng ngự của chúng chủ yếu dựa vào bộ binh. Theo tin tức trinh sát thì có 7 sư đoàn xe tăng địch đối phó với bộ đội của Ph. I. Tôn-bu-khin đang hoạt động ở phía Nam. Lúc đầu, phương diện quân chỉ có nhiệm vụ là góp phần chiến đấu với đơn vị bạn bên cánh phải là phương diện quân U-crai-na 2. Thành phần các phương diên quân có một số thay đổi do có sự di chuyển giữa các đơn vị. Tập đoàn quân cận vệ mạnh số 9 của tướng V. V. Gla-gô-lep lấy từ lực lượng dự bị của Đại bản doanh phối thuộc cho R. I-a. Ma-li-nốp-xki (ở khu vực Xôn-nốc). Tập đoàn quân Bun-ga-ri 1, phối thuộc cho Ph. I. Tôn-bu-khin, nhận nhiệm vụ bảo đảm mặt phía Nam cho chiến dịch của phương diện quân, hoạt động dọc theo bờ Bắc sông Đra-va.

Cuộc tiến công được ấn định bắt đầu vào ngày 15 tháng Ba.

Như thường xẩy ra trong chiến tranh, lần này quân địch cũng muốn hướng tiến trình các trận đánh theo ý của chúng, tạo nên bước ngoặt tình huống có lợi cho mình, tiêu diệt được bộ đội Liên Xô ở Hung-ga-ri, hất ta ra khỏi Đa-nuýp và không cho đến gần biên giới phía Nam nước Đức.

Ngày mà chỉ thị của Đại bản doanh được truyền đạt tới bộ đội cũng là ngày bộ chỉ huy phát-xít Đức đưa những lực lượng lớn xe tăng vào dải tiến công của bộ đội R. I-a. Ma-li-nốp-xki. Mũi đột kích của xe tăng địch xuất phát từ Cô-mác-nô, dọc theo bở Bắc sông Đa-nuýp là nhằm chống lại tập đoàn quân cận vệ 7 của tướng M. X. Su-mi-lốp đang chiếm lĩnh bàn đạp chiến dịch rất quan trọng ở phía Tây sông Gơ-rôn, để sắp tới sẽ tiến công vào Viên. Các chiến sĩ cận vệ kiên quyết đánh trả được mấy ngày, nhưng cuối cùng địch buộc họ phải rút về bờ phía Đông sông Gơ-rôn.

Trong quá trình trận đánh, chúng ta phát hiện thấy một quân đoàn xe tăng thuộc tập đoàn quân xe tăng 6 SS hoạt động ở Cô-mác-nô, trước đó đã chiến đấu ở phía Tây, nổi tiếng là một binh đoàn đột kích giỏi nhất của quân đội Hít-le. Đi-tơ-rích Dép — tướng thân tín của Hít-le, chỉ huy tập đoàn quân này. Tập đoàn quân được trang bị các loại xe tăng hạng nặng «con báo», «con cọp» và «vua cọp».

Tập đoàn quân xe tăng 6 SS xuất hiện ở mặt trận chúng ta là một yếu tố tình huống rất mới. Chúng ta không dự kiến tập đoàn quân này ở đây, vì các đồng minh của ta cũng thông báo riêng cho Đại bản doanh biết rằng, nó hiện đang ở mật trận phía Tây. Rõ ràng, tập đoàn quân xe tăng 6 SS được điều động sang phía Đông có quan hệ tới một ý đồ nào đó rất quan trọng của địch. Các tin tức trinh sát của phương diện quân U-crai-na 2 gửi về cho chúng tôi hồi đó khẳng định tình hình trên, nhưng trong một thời gian nhất định chúng tôi cùng vẫn chưa tìm hiểu ra mục đích của bộ chỉ huy Hít-le.

Sử dụng một bộ phận lực lượng của tập đoàn quân xe tăng 6 SS đánh vào bộ đội của tướng M. X. Su-mi-lốp, như vậy quân địch hành động thiếu suy nghĩ. Thật ra, chúng phá được bàn đạp của ta ở bên kia sông Gơ-rôn - tuyến xuất phát có lợi để tiến công vào Viên, nhưng chúng lại mất nhân tố thắng lợi quan trọng hơn là tính bất ngờ. Chúng ta theo dõi kỹ tập đoàn quân xe tăng này và cuối cùng xác định được ý định và âm mưu của bộ chỉ huy phát-xít Đức. Trinh sát Liên Xô vận dụng mọi phương pháp, không ngừng khai thác các tin tức mới về địch.



Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Giêng, 2016, 09:41:12 pm

Công tác trinh sát có mục đích rõ rệt dần dần cho phép phát hiện ra rằng, ở Tây-Nam Bu-đa-pét, trong khu vực hồ Ba-la-tông đang tập trung một cánh quân Đức rất lớn gồm người và phương tiện kỹ thuật, trong đó chủ yếu là xe tăng. Ở đây, như sau này chúng ta được biết, có 31 sư đoàn (trong đó có 11 sư đoàn xe tăng) và một số các đơn vị khác. Tổng số gồm trên 430.000 binh lính và sĩ quan, được trang bị khoảng 900 xe tăng và pháo cường kích, trên 5.600 pháo và súng cối, 850 máy bay. Địch tập trung cánh quân mạnh như vậy rõ ràng chỉ để tổ chức phản công.

Đại bản doanh lập tức chỉ thị cho Bộ tổng tham mưu thông báo cho bộ đội và chú ý theo dõi địch. Việc chuẩn bị tổ chức tiến công vào Viên không bỏ, mà vẫn tiếp tục chuẩn bị thật đầy đủ.

Ý đồ của địch dần dần cùng bị phát giác. Trên tấm bản đồ của các trinh sát viên đã vạch ra các hướng dự kiến đột kích của địch. Mũi đột kích chủ yếu — từ tuyến giữa hai Vê-lên-xe và Ba-la-tông đánh xuống Đông-Nam chia bộ đội của phương diện quân U-crai-na 3 và tiến ra sông Đa-nuýp bằng con đường ngắn nhất (30 ki-lô-mét). Dự đoán, các lực lượng chủ yếu của tập đoàn quân xe tăng 6 SS và tập đoàn quân dã chiến 6 sẽ tiến công ở đây. Đối phó với địch ở đây có tập đoàn quân 26 của tướng N. A. Ga-ghen. Các mũi đột kích thứ yếu dự kiến như sau: một mũi từ khu vực Nát-ca-ni-gia đánh về phía Đông bằng lực lượng của tập đoàn quân xe tăng 2 nhằm tiêu diệt tập đoàn quân 57 của tướng M. N. Sa-rô-khin; một mũi từ bờ Nam sông Đa-nuýp, lấy một phần lực lượng của Cụm tập đoàn quân «Ph» đánh vào tập đoàn quân Bun-ga-ri 1 của tướng V. Xtôi-trép. Các hướng phụ sẽ hợp điểm với hướng đột kích chủ yếu ở khu vực Xéc-xác-đơ.

Bây giờ, vấn đề địch có thể theo đuổi những mục tiêu gì càng lộ rõ thêm. Sau khi Bu-đa-pét bị mất, điều rõ ràng nhất là bộ chỉ huy Hít-le muốn cố thủ các vùng công nghiệp dầu lớn cuối cùng ở Hung-ga-ri và bảo vệ vùng công nghiệp Viên, vì khu công nghiệp này còn đang cung cấp trang bị các loại. Chúng ta không loại trừ cả trường hợp nước Đức phát-xít sẽ chuyển trọng tâm kháng chiến vào các vùng núi ở Áo và Tiệp Khắc. Vùng đất đai này thuận tiện nhiều cho việc tổ chức phòng ngự. Ngoài ra, nếu không thể kháng cự được nữa, thì địa điểm này còn thuận lợi cả cho việc đầu hàng quân Anh-Mỹ, chứ không đầu hàng Hồng quân. Tập đoàn quân xe tăng 6 SS được tập trung ở khu vực Ba-la-tông có thể phục vụ mọi mục tiêu trên.

Căn cứ vào tình hình trên, bộ đội phương diện quân U-crai-na 3 sẽ phải chịu nhiều thử thách lớn hơn, nên cần được chuẩn bị chu đáo. Đại bản doanh chỉ thị cần tổ chức phòng ngự có chiều sâu, đặc biệt là các trận địa chống tăng phải mạnh. Lúc địch bắt đầu hoạt động tích cực, biên chế của phương điện quân U-crai-na 3 có khoảng 400.000 chiến sĩ và sĩ quan, 400 xe tăng và pháo tự hành, gần 7.000 pháo và súng cối, khoảng 700 máy bay. Như vậy, số quân của hai bên bằng nhau, về xe tăng và pháo cường kích địch chiếm ưu thế hơn ta hai lần, nhưng lại thua ta về pháo binh. Tình hình trên cho phép Đại bản doanh tin tưởng ra quyết định tổ chức chiến dịch phòng ngự.

Ph. I. Tôn-bu-khin dành phần lớn thời gian trực tiếp ở dưới các đơn vị để kiểm tra việc chuẩn bị những trận đánh phòng ngự và các mặt công tác khác nhằm sau đó chuyển ngay sang tiến công. Đồng chí đến cả sườn trái của phương diện quân, nơi ta dự kiến hai mũi tiến công thứ yếu của địch sẽ đánh vào đấy; còn bên phía chúng ta, đây cũng lại là một đơn vị «quốc tế» gồm có bộ đội Liên Xô và Bun-ga-ri hoạt động, và ở phía Nam Đra-va là các chiến sĩ Nam Tư Đồng chí tư lệnh phương diện quân triệu tập hội nghị tại thành phố Xi-ghét-va-rơ, họp với các tư lệnh tập đoàn quân 57 Liên Xô, tập đoàn quân 1 Bun-ga-ri và tập đoàn quân 3 Nam Tư. Hội nghị đã xem xét toàn diện các vấn đề hiệp đồng trong chiến dịch sắp tới.

Ngày 6 tháng Ba, địch bắt đầu mở cuộc phản công mà ta chờ đợi, mạnh nhất ở trên hướng chủ yếu. Các trận đánh tiếp diễn trong 9 ngày liền và mang tính chất hết sức quyết liệt. Các đơn vị Hít-le có nhiều lực lượng, song chúng vẫn không thể vọt tới sông Đa-nuýp được, mặc dù có lúc chúng đã tung ra đến 450 xe tăng trong một khu vực mặt trận.

Chiến dịch phòng ngự Ba-la-tông trở thành một tấm gương nữa về tinh thần dũng cảm cao độ, chí kiên quyết sắt đá và chủ nghĩa anh hùng của các chiến sĩ xô-viết. Trong quá trình chiến đấu, chỉ trong vòng 2 ngày — 6 và 7 tháng Ba — quân địch bị mất gần 100 xe tăng và pháo cường kích, còn trong suốt cả thời gian chiến dịch (6-15 tháng Ba) thì chúng mất gần 500 chiếc xe tăng và pháo cường kích! Chủ nghĩa anh hùng tập thể của các chiến sĩ và sĩ quan phương diện quân U-crai-na 3 đã làm tiêu tan những hy vọng cuối cùng của bộ chỉ huy Hít-le mưu toan khôi phục lại tình hình ở giữa châu Âu. Thắng lợi của chúng ta còn góp phần thuận lợi cho quân đội Anh-Mỹ ở I-ta-li-a và giúp Nam Tư hoàn thành việc tiêu diệt bọn phát-xít Đức chiếm đóng trên đất Nam Tư.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Giêng, 2016, 09:41:53 pm

Bộ tổng tham mưu và Đại bản doanh vững tin rằng, cuộc phản công của quân địch ở khu vực hồ Ba-la-tông sẽ bị thất bại. Các đồng chí hình dung thấy rõ những trận đánh ác liệt đang nổ ra ở bờ phía Tây sông Đa-nuýp và các chiến sĩ Liên Xô đã phải khắc phục biết bao nhiêu khó khăn. Trong quá trình trận đánh, Đại bản doanh đã dùng đơn vị bạn ở cánh phải để tăng cường cho phương diện quân U-crai-na 3. Nhưng Bộ tổng tư lệnh tối cao Liên Xô vẫn yêu cầu các phưcrng diện quân phải chuyển sang kiên quyết tiến công, sau khi kết thúc chiến dịch phòng ngự. Bộ tổng tư lệnh tối cao đã có những lực lượng mới, sẵn sàng hành động.

...Chúng ta không sao quên được những ngày tháng Ba lo âu trong năm 1945. Bấy giờ, cơ quan lãnh đạo chiến lược Liên Xô đã nhiều lần cân nhắc mọi khả năng của địch trong các phương án khác nhau, dự kiến các điều kiện có thể xẩy ra và kết quả của cuộc giao tranh, nhất là trường hợp phòng ngự quyết liệt bên hữu ngạn sông Đa-nuýp, nơi bộ đội Liên Xô phải bám chắc bàn đạp. Những trận đánh ở đây có thể sẽ gặp nhiều khó khăn và ác liệt. Chúng ta cũng đã thảo luận tới một phương án khác là, rút quân từ hữu ngạn sang tả ngạn sông Đa-nuýp, bỏ lại bàn đạp. Trong trường hợp này ta có thể dùng vật chướng ngại là mặt sông rộng lớn đó để bảo đảm giữ vững trận địa ở bên kia sông.

Nhưng rồi cũng không thể tránh khỏi nẩy sinh vấn đề: vậy sau này ta sẽ hành động ra sao? Vì cần phải chấm dứt chiến tranh, giáng cho địch những đòn đích đáng và tiếp tục tiến công về phía Tây. Ngay lúc đó, chúng ta cũng thấy rằng, phòng ngự ở bên hữu ngạn sông Đa-nuýp vẫn thuận lợi hơn và có nhiều triển vọng hơn bên tả ngạn. Nếu không, sau này khi chuyển sang tiến công thì khó khăn lại càng tăng lên gấp bội, vì quân địch rồi cũng phải dựa vào tuyến sông. Tất nhiên, chúng ta sẽ bị mất thời gian.

Đại bản doanh và Bộ tổng tham mưu cân nhắc lợi hại, và cuối cùng đi đến quyết định thực hiện phương án thứ nhất là phòng ngự bên hữu ngạn sông Đa-nuýp, và sau khi kết thúc chiến dịch phòng ngự, thì lập tức chuyển sang phản công.

Còn phương án thứ hai có liên quan đến vấn đề này là tập đoàn quân cận vệ 9 của tướng V. V. Gla-gô-lép.

Ngày 9 tháng Ba, Ph. I. Tôn-bu-khin nói chuyện bằng đỉện thoại với Đại bản doanh, xin phép được sử dụng tập đoàn quân cận vệ 9 mới phối thuộc cho phương diện quân của đồng chí vào mục đích phòng ngự. Đồng chí còn hỏi là có nên đưa bộ đội của mình và trong trường hợp gay cấn nhất, đưa cả bộ tham mưu rút sang tả ngạn sông Đa-nuýp không, để khỏi phải mất sự chỉ huy.

A. I. An-tô-nốp và tôi lúc này đều có mặt trong phòng làm việc của Tổng tư lệnh tối cao. I. V. Xta-lin chăm chú nghe các ý kiến của tư lệnh phương diện quân U-crai-na 3 rồi chậm rãi và đều giọng nói như sau:

- Đồng chí Tôn-bu-khin, nếu đồng chí nghĩ nên kéo dài thêm chiến tranh 5 - 6 tháng nữa thì tất nhiên đồng chí hãy cho rút quân sang bên kia sông Đa-nuýp. Ở đấy đúng là có bình yên hơn. Nhưng, tôi không cho rằng đồng chí lại nghĩ như thế. Vì vậy, cần tổ chức phòng ngự ở hữu ngạn sông Đa-nuýp, và đồng chí cùng với bộ tham mưu phải ở lại bên đó. Tôi tin rằng, bộ đội của đồng chí sẽ hoàn thành một cách vẻ vang những nhiệm vụ nặng nề của mình. Chỉ cần chúng ta biết chỉ đạo tốt bộ đội.

Sau đó, I. V. Xta-lin nêu rõ về sự cần thiết phải đánh bại xe tăng địch ngay trong quá trình chiến đấu phòng ngự, và đồng chí nói rằng, không được để cho quân địch có thời gian củng cố những tuyến mới chiếm lĩnh và tổ chức phòng ngự vững chắc.

- Do đó, — Tổng tư lệnh tối cao nhận xét, — khi quân địch bị chặn lại thì phải chuyển ngay sang tiến công và tiêu diệt chúng hoàn toàn. Muốn vậy, chúng ta cần có thêm nhiều lực lượng mới. Chúng ta đã có những lực lượng mới ấy, đó là tập đoàn quân của Gla-gô-lép. Tập đoàn quân xe tăng cận vệ 6 của tướng Cráp-tsen-cô cũng đang bố trí ở gần đó. Hiện nay, tập đoàn quân này trực thuộc phương diện quân của Ma-li-nốp-xki, nhưng nếu đồng chí yêu cầu, tập đoàn quân ấy có thể được chuyển thuộc cho phương diện quân của đồng chí. Do đó, đồng chí hãy rút ra những kết luận cần thiết. — Nhìn sang A. I. An-tô-nốp, I. V. Xta-lin nói thêm: — Bộ tổng tham mưu đồng ý với những ý kiến của tôi

Ph. I. Tôn-bu-khin nói đồng chí đã hiểu chỉ thị và đặt ống nghe xuống.



Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Giêng, 2016, 09:43:14 pm


Bộ tổng tham mưu được lệnh viết chỉ thị xác định nhiệm vụ của các phương diện quân và chúng tôi đã làm ngay. Trong chỉ thị nêu rõ: «Trong các trận đánh phòng ngự, tư lệnh bộ đội của phương diện quân U-crai-na 3 có nhiệm vụ làm tiêu hao cánh quân xe tăng của địch tiến công từ khu vực Xe-két-phe-khéc-va-rơ, sau đó chậm nhất là 15-16 tháng Ba năm nay, cánh phải của phương diện quân phải chuyển sang tiến công nhằm đánh tan quân địch ở phía Bắc hồ Ba-la-tông và phát triển đột kích vào hướng chung tới Pa-pa, Sô-prôn. Không được dùng tập đoàn quân cận vệ 9 vào chiến đấu phòng ngự, mà phải dùng để phát triển đột kích và tiêu diệt hoàn toàn quân địch» (do tác giả gạch dưới).

Tư lệnh phương diện quân U-crai-na 2 được lệnh chuyển sang phòng ngự quyết liệt ở phía Bắc sông Đa-nuýp, dùng sườn trái, tức là nơi phương diện quân trực tiếp tiếp giáp với cánh quân xung kích của Ph. I. Tôn-bu-khin, tiến công vào Đi-ê-rơ.

Đại bản doanh vạch ra những hành động nhằm tiêu diệt các lực lượng chủ yếu của địch ở khu vực hồ Ba-la-tông đại thể là như vậy. Chiến dịch ở đây còn dự định làm cơ sở cho thắng lợi của chiến dịch Viên. Nhân tiện nói thêm rằng, chiến dịch Viên được chuẩn bị ngay trong điều kiện còn đang tiếp tục chiến đấu phòng ngự quyết liệt.

Đúng như chúng ta dự đoán, các lực lượng quân địch hoàn toàn bị kiệt quệ, và đến ngày 15 tháng Ba thì chúng buộc phải ngừng tiến công. Bây giờ thời gian đã thuộc về chúng ta. Ngày 16 tháng Ba, bộ đội của Ph. I. Tôn-bu-khin được tăng cường tập đoàn quân xe tăng cận vệ 6 lấy ở phương điện quân U-crai-na 2, bắt đầu tiến công. Chiến dịch tiến công vào Viên mở ra ngay sau khi kết thúc chiến dịch phòng ngự mà không có tạm dừng chiến dịch, ta thu được những kết quả rất lớn.

Một trong những kết quả đó là hoàn toàn giải phóng đất nước Hung-ga-ri khỏi bọn phát-xít Đức chiếm đóng. Từ đấy, ngày 4 tháng Tư được nhân dân Hung-ga-ri kỷ niệm là ngày hội lớn của dân tộc. Trong ngày hội vui vẻ ấy, nhân dân mang hoa đến những nấm mộ của những người anh em, nơi yên nghỉ của hơn 140.000 anh hùng thuộc các phương diện quân U-crai-na 2 và 3, đã hiến dâng cả cuộc đời mình cho Độc lập và Tự do của đất nước Hung-ga-ri.

Trong ngày hôm ấy, nhân dân Hung-ga-ri không chỉ suy nghĩ tới những thắng lợi về quân sự đã giành được trên đất nước mình, mà còn nghĩ tới bước ngoặt cơ bản trong lịch sử ngàn năm của đất nước mình và những chiến công anh hùng của Hồng quân, đã góp phần tạo điều kiện cho nhân dân lao động trong nước phá bỏ ách thống trị xã hội và dân tộc, thủ tiêu chế độ bóc lột, đưa đất nước lên con đường thênh thang của cao trào dân tộc, sự phồn vinh về vật chất và tinh thần.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Giêng, 2016, 11:55:55 am

CHƯƠNG TÁM

Mấy ý kiến về các cơ quan tham mưu


Các cơ quan lãnh đạo chiến lược. — «Bộ não của quân đội». — Các nhiệm vụ của cơ quan tham mưu.—
Đặc điểm công tác. — Con số «0» dư thừa: ai chịu trách nhiệm?—Soạn thảo và báo cáo các văn kiện như thế nào. —
Cần phải biết thuyết phục.— Viện khoa học pháo binh.— Về tác phong công tác của các cơ quan tham mưu. —
Chiến sĩ báo cáo: «Bọn Đức hiện nav không phải là bọn Đức trước».— Không tách rời khỏi cuộc sống. — Tổng tư lệnh tối cao ở ngoài mặt trận.


Mỗi người đều cống hiến cuộc đời của mình cho một sự nghiệp nào đó. Sự nghiệp ấy được lựa chọn theo chí hướng, nhưng trên thực tế nó thường đến với chúng ta theo sự đòi hỏi cần thiết. Tôi là một cán bộ tham mưu. Toàn bộ cuộc đời có ý thức của tôi đã trôi qua giữa những người làm công tác binh nghiệp và chủ yếu là trong công tác tham mưu, có liên quan tới việc chỉ huy bộ đội trong thời chiến và thời bình. Giống như những người ở các ngành nghề khác, tôi yêu quý ngành nghể mình đang phục vụ và cống hiến cả cuộc đời mình cho ngành nghề ấy.

Tôi phân vân khá lâu xem có nên dành hẳn một chương để viết «Mấy ý kiến về các cơ quan tham mưu» này hay không. Vì thực ra, toàn bộ cuốn sách đều là những chuyện kể về các công việc của Bộ tổng tham mưu và cơ quan tham mưu cảc phương diện quân có liên quan tới các sự kiện chiến tranh... Mặc dầu vậy, tôi quyết định tập trung suy nghĩ và cảm tưởng của mình về công tác tham mưu, cố gắng trình bày với bạn đọc một số đặc điểm và ý nghĩa của nó. Mặt khác, tôi quyết định như vậy, còn vì trong số bạn đọc sẽ có các bạn đồng nghiệp trẻ tuổi của tôi, các sĩ quan tham mưu và những người sắp bước vào con đường ấy. Chắc là, các bạn sẽ vui lòng khi được biết những ý kiến của tôi, một người đã cống hiến phần lớn cuộc đời mình cho công tác tham mưu.

Viết chương này, khiến tôi nhớ đến tập thể những con người gắn bó với nhau bằng tình yêu Tổ quốc xô-viết, trung thành với lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, đã làm rạng rỡ cho định nghĩa chính xác về khái niệm cơ quan tham mưu với tư cách là cơ quan chỉ huy bộ đội. Tuy nhiên, họ lại là những con người có tài năng, trình độ học vấn và năng khiếu khác nhau, tình đồng chí, sự giúp đỡ lẫn nhau và thái độ đối với công việc được giao, cũng thể hiện những sắc thái không giống nhau.

Nhiều lần tôi được nghe những vấn đề như: các quyền lợi chung và riêng của những con người hết sức khác nhau ấy lại trùng hợp với nhau, thống nhất chặt chẽ với nhau trong cơ quan tham mưu. Vậy những yêu cầu đặc biệt gì đã gắn bó họ trong công tác chung, và phòng thí nghiệm của công tác cơ quan tham mưu, nhất là các cơ quan tác chiến của nó với tư cách là các cơ quan chủ đạo trong cơ quan tham mưu, đã hoạt động ra sao.

Muốn hiểu các cơ sở, chế độ công tác và tính phụ thuộc của người cán bộ tham mưu, nhất là của người cán bộ tham mưu cấp cao nhất, chúng ta cần có khái niệm về chỉ huy bộ đội và các lực lượng vũ trang nói chung. Phải nói ngay rằng, các nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc đều được giải quyết dưới sự lãnh đạo của Ban chấp hành Trung ương Đảng và Chính phủ Liên Xô. Điều đó cũng dễ hiểu, vì trong những năm chiến tranh, cuộc đấu tranh không phải chỉ diễn ra trên mặt trận vũ trang, mà kết quả đấu tranh lại phụ thuộc vào sự nỗ lực chung của cả nước. Chính quyền tối cao của Nhà nước trực tiếp nắm quân đội và hải quân. Ở nước ta trong những năm nội chiến, việc chỉ huy bộ đội và sự hoạt động của cả nước thuộc về Hội đồng quốc phòng công nông do V. I. Lê-nin đứng đầu. Trong thời kỳ Chiến tranh giữ nước vĩ đại, toàn bộ quyền lực tập trung trong Hội đồng quốc phòng Nhà nước, được thành lập ngày 30 tháng Sáu 1941. Hội đồng quốc phòng Nhà nước là cơ quan lãnh đạo tập thể của cả nước và quân đội, thành phần gồm các ủy viên Bộ chính trị, Chủ tịch Hội đồng là I. V. Xta-lin, Tổng bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng, đồng thời là Tổng tư lệnh tối cao.

Cần nhấn mạnh rằng quyết định mọi vấn đề có tính nguyên tắc trong việc lãnh đạo đất nước và tiến hành chiến tranh đều do Ban chấp hành Trung ương Đảng—Bộ chính trị, Ban tổ chức và Ban bí thư — rồi sau đó thông qua Đoàn chủ tịch Xô-viết tối cao Liên Xô, Hội đồng bộ trưởng dân ủy, đồng thời thông qua Hội đồng quốc phòng Nhà nước và Đại bản doanh Bộ tổng tư lệnh tối cao. Để giải quyết linh hoạt các vấn đề quân sự thì thường triệu tập hội nghị liên tịch gồm các ủy viên Bộ chính trị, các ủy viên Hội đồng quốc phòng Nhà nước, Bộ chính trị và Đại bản doanh; còn khi giải quyết các vấn đề quân sự quan trọng nhất thì thường đưa ra bàn bạc tập thể trong Bộ chính trị, Hội đồng quốc phòng Nhà nước và Đại bản doanh.

Do đó, trong lĩnh vực chỉ đạo các hành động quân sự, nguyên tắc một người chỉ huy, nguyên tắc quan trọng nhất trong việc xây dựng quân đội và chỉ huy bộ đội trong thời bình cũng như trong thời chiến, không bị vi phạm. Chỉ có Đại bản doanh Bộ tổng tư lệnh tối cao mới có quyền chỉ đạo các chiến dịch của các Lực lượng vũ trang ở cấp cao nhất. Nhưng, vì một số ủy viên của Đại bản doanh lại là ủy viên Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản (bôn-sê-vích) toàn Liên bang1 và là những người trong Bộ tổng tư lệnh tối cao, cho nên Đại bản doanh là cơ quan tập thể của chính quyền tối cao trong quân đội.
_____________________________________________
1. Từ Đại hội XIX của Đảng (1952), Đảng đổi tên là: Đảng cộng sản Liên Xô. — BT.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Giêng, 2016, 11:56:39 am

Các quyết định của Đại bản doanh được viết thành văn tiện đều có chữ ký của hai người — Tổng tư lệnh tối cao và Tổng tham mưu trưởng; đôi khi có cả chữ ký của Phó tổng tư lệnh tối cao. Cũng có những văn kiện chỉ có chữ ký của Tổng tham mưu trưởng. Trong trường hợp này đều phải ghi là «thừa ủy quyền Đại bản doanh». Thông thường, Tổng tư lệnh tối cao không ký một mình các văn kiện tác chiến, trừ những văn kiện phê bình gắt gao các cán bộ trong ban lãnh đạo quân sự cao cấp (Đồng chí nói: Bộ tổng tham ký các văn kiện như vậy không có lợi và làm cho các mối quan hệ thêm căng thẳng, vì nếu có chuyện gì thì các đồng chí ấy chỉ bực với riêng tôi). Đồng chí chỉ một mình ký các loại mệnh lệnh khác, chủ yếu là mệnh lệnh có tính chất hành chính.

Hình thức chỉ đạo đó bảo đảm sự tập trung cần thiết việc chỉ huy mọi hành động của các Lực lượng vũ trang phù hợp với các chỉ thị của Ban chấp hành Trung ương Đảng, cũng như phù hợp với tính chất chiến tranh.

Cũng như trước kia, trong những năm Chiến tranh giữ nước vĩ đại, «bộ máy quân sự» đã ra sức thực hiện một cách nghiêm túc và thường xuyên chính sách của Đảng cộng sản bằng mọi phương thức thích hợp với mình.

Tôi phải nói là Xta-lin không quyết định, và nói chung không thích tự ý quyết định các vấn đề chiến tranh quan trọng. Đồng chí hiểu rõ sự cần thiết của việc làm tập thể trong lĩnh vực phức tạp này, coi trọng uy tín của các đồng chí khác về vấn đề quân sự, biết chú ý đến ý kiến của các đồng chí đó và đánh giá đúng mỗi người. Tháng Chạp 1943, sau hội nghị Tê-hê-ran, khi tình hình đòi hỏi phải vạch các kế hoạch hành động sau này, tại hội nghị liên tịch Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản (b) toàn Liên bang, Hội đồng quốc phòng Nhà nước và Đại bản doanh, các đồng chí A. M. Va-xi-lép-xki và A. I. An-tô-nốp đã báo cáo về tiến trình đấu tranh vũ trang trên các mặt trận và triển vọng của tình hình, đồng chí N. A. Vô-dơ-ne-xen-xki báo cáo về các vấn đề kinh tế chiến tranh, còn I. V. Xta-lin đảm nhiệm việc phân tích các vấn đề có tính chất quốc tế.

Quá trình lãnh đạo chiến lược tự nó nói lên trình độ tổ chức cao. Đó là một quá trình lãnh đạo rất nhiều mặt, song thống nhất. Sự thống nhất ấy do nhiều nhân tố hợp thành. Theo quan điểm chúng tôi, các nhân tố chủ yếu là đã xác định được tiến trình có thể xẩy ra của chiến tranh và các hành động quân sự, tức là đã dự kiến được sự phát triển của tiến trình chiến tranh và các hoạt động quân sự; đề ra được các quyết định: xác định ý đồ và kế hoạch các chiến cục và chiến dịch có tính chất chiến lược, các phương thức hành động quân sự trong từng giai đoạn chiến tranh cho từng chiến trường nói riêng; bảo đảm toàn diện về vật chất và về tổ chức cho các quyết định lãnh đạo chiến lược, và cuối cùng, cần phải chỉ ra cơ sở chính trị của sự lãnh đạo chiến lược.

Nhiệm vụ tiêu diệt bọn xâm lược Hít-le xâm phạm các thành quả của chủ nghĩa xã hội, xâm phạm toàn thể loài người, đã quyết định cả mục đích chiến lược của Liên Xô trong cuộc Chiến tranh giữ nước vĩ đại đang được triển khai. Sự phụ thuộc của chiến lược vào chính trị biểu hiện trực tiếp ở mục đích của các bên tham chiến, trong quá trình chiến tranh và kết thúc chiến tranh. Các mục đích chiến tranh chính nghĩa và giải phóng của khối liên minh chống Hít-le đã giữ vai trò quyết định trong việc động viên các lực lượng nhân dân đứng lên chống bọn xâm lược, tạo nên những yếu tố kích thích về đạo đức và tinh thần của các chiến sĩ—những đức tính rất quan trọng để giành chiến thắng. Đại bản doanh xô-viết, cũng như những người đang thực hiện chỉ thị của Đại bản doanh ngoài chiến trường, không cảm thấy một sự «quá tải chính trị» nào của chiến lược như một số sử gia1 phương Tây thường nói, họ đã hình dung một cách mơ hồ những cơ sở tiến hành chiến tranh của bất cứ nước nào.

Như đã nói ở trên, cơ quan chỉ đạo chiến lược chủ yếu là Đại bản doanh Bộ tổng tư lệnh tối cao (lúc đầu lấy tên là Đại bản doanh Bộ tổng tư lệnh), được thành lập ra để chỉ huy các hành động quân sự. Trong suốt cuộc Chiến tranh giữ nước vĩ đại, hệ thống chỉ huy tiêu biểu là Đại bản doanh — phương diện quân, hạm đội, tập đoàn quân độc lập. Nhưng Bộ tổng tư lệnh tối cao lại có thể nói chuyện bằng vô tuyến diện, điện tín và điện thoại với bất kỳ tập đoàn quân nào của phương diện quân. Vấn đề này trở thành rất đơn giản sau khi đã xây dựng được hệ thống thông tin liên lạc bằng điện thoại cao tần tới từng tập đoàn quân._
____________________________________
1. Ví dụ: E. Xim-ke đã viết về vấn đề này trong cuốn sách «Từ Xta-lin-grát đến Béc-lin» (Oa-sinh-tơn, 1968, tr. 504).


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Giêng, 2016, 11:57:02 am

Khi tổ chức ra các Bộ tổng tư lệnh thì hệ thống chỉ huy càng trở nên phức tạp. Lúc bắt đầu chiến tranh, các Bộ tổng tư lệnh được thành lập trên ba hướng chiến lược không được bảo đảm đầy đủ các cơ quan chỉ huy và các phương tiện thông tin liên lạc. Vì vậy, các cơ quan đó không làm trọn nhiệm vụ và sau đấy phải giải thể. Nhưng đến năm 1945, vào thời kỳ tiêu diệt đạo quân Quan Đông của đế quốc Nhật, nguyên soái Liên Xô A. M. Va-xi-lép-xki giữ chức Tổng tư lệnh ở Viễn Đông, lúc đầu đã có một nhóm, sau đó là một cơ quan tham mưu không lớn lắm do tướng X. P. I-va-nốp làm tham mưu trưởng.

Cơ quan công tác của Đại bản doanh là Bộ tổng tham mưu. Trong chương một đã nêu rõ các chức năng của nó. Còn các cơ quan khác cũng có ý nghĩa to lớn trong việc chỉ đạo chiến lược. Nhiệm vụ của các cơ quan này không cần phải giải thích thêm.

Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản đã lãnh đạo chính trị các Lực lượng vũ trang, thông qua các cơ quan của mình trong quân đội và trong hải quân là Tổng cục chính trị Hồng quân và Tổng cục chính trị Hải quân. Những cơ quan này hoạt động với tư cách là những bộ phận của Ban chấp hành Trung ương, những cục chính trị và cơ quan chính trị. Mùa hè năm 1942, theo quyết định của Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng thì đồng chí A. X. Séc-ba-cốp, ủy viên dự khuyết Bộ chính trị, Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng được chỉ định làm Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Hồng quân.

Cục chính trị của các phương diện quân và hạm đội, ban chính trị của các tập đoàn quân, các chi hạm đội, quân đoàn, sư đoàn, lữ đoàn đều hướng mọi hoạt động của mình nhằm ra sức tăng cường sức mạnh chiến đấu của quân đội và hạm đội, giáo dục phẩm chất đạo đức cao cho các chiến sĩ xô-viết.

Tổng cục xây dựng và bổ sung các đơn vị của Hồng quân chủ yếu chăm lo việc xây dựng lực lượng dự bị và các nguồn bổ sung. Cơ quan tham mưu của các tư lệnh các quân chủng và binh chủng (không quân, phòng không, pháo binh, xe tăng, thiết giáp, công binh, thông tin liên lạc) chuẩn bị các kế hoạch phát triển và sử dụng các đơn vị của mình trong các chiến dịch. Việc lãnh đạo hậu cần của Hồng quân do đồng chí chủ nhiệm hậu cần và cơ quan tham mưu của đồng chí thực hiện. Bộ tham mưu trung ương, các cơ quan tham mưu phong trào du kích của các nước cộng hòa và các tỉnh điều khiển hoạt động của du kích.

Như đã nói ở trên, các đại diện của Đại bản doanh giữ một vai trò rất đặc biệt. Các đồng chí đó được phái xuống các đơn vị tùy theo sự cần thiết để phối hợp hành động giữa các phương diện quân trong các chiến dịch có tính chất chiến lược và kiểm tra việc thực hiện các quyết định của Đại bản doanh. Ở đây, chúng ta cần nói đến các đại diện của Đại bản doanh về mặt binh chủng. Thông thường các đồng chí đó công tác trong cùng một nhóm với những người chỉ huy bộ đội hợp thành, nhưng có những trường hợp cá biệt, các đồng chí đó làm việc độc lập. N. N. Vô-rô-nốp, A. A. Nô-vi-cốp, Ph. I-a. Pha-la-lê-ép, N. Đ. I-a-cô-vlép và một số nhà chỉ huy quân sự khác đã được chỉ định làm đại diện như thế.

Những hình thức chỉ đạo này là cần thiết, và có thể nói là không tránh khỏi trong điều kiện thời chiến. Hồi ấy, chúng ta phải giải quyết rất nhiều nhiệm vụ cực lớn, mà trong khuôn khổ suy nghĩ của một cá nhân không sao thực hiện nổi. Hình thức làm việc tập thể đều được tổ chức ở tất cả mọi cấp trong quân đội dưới hình thức các hội đồng quân sự của phương diện quân và tập đoàn quân, cũng như trong hệ thống phân nhánh của công tác tham mưu.

Nguyên soái Liên Xô B. M. Sa-pô-sni-côp đã định nghĩa một cách có hình ảnh và chính xác vai trò của các cơ quan tham mưu trong tác phẩm cơ bản của đồng chí: «Bộ não của quân đội». Các cơ quan tham mưu đã bổ sung được những gì mà một người chỉ huy không thể thực hiện được, nói cho đúng hơn là đã chuẩn bị cơ sở cho người chỉ huy ra quyết định. Sau đó, căn cứ vào quyết định đã được thông qua, cơ quan tham mưu sẽ lập kế hoạch, thống nhất và phối hợp mọi cố gắng của tất cả những người cần thiết cho thắng lợi của trận đánh, của trận chiến đấu và chiến dịch. Bộ chỉ huy sẽ sử dụng các kiến thức và hoạt động tổ chức của những người ấy để phục vụ cho việc giải quyết nhiệm vụ được giao phó. Cơ quan tham mưu tổ chức và thực hiện mọi biện pháp cần thiết nhằm triệt để thực hiện quyết định của người chỉ huy



Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Giêng, 2016, 11:57:41 am


Từ thời xa xưa đã có quân đội và chiến tranh, nhưng lúc đó chưa có cơ quan tham mưu. Cơ quan tham mưu chỉ ra đời khi nghệ thuật quân sự đã phát triển tới một trình độ nhất định, mà vị thống soái không thể một mình làm trọn nhiệm vụ chỉ huy bộ đội được.

Năm 1857, Ăng-ghen viết: «Để tạo khả năng cho người tư lệnh các tập đoàn quân và quân đoàn và cho các sư đoàn trưởng chỉ huy các đơn vị được giao phó, trong phạm vi quyền hạn của mình ... người ta đã thành lập ra một cơ quan đặc biệt chỉ gồm có các sĩ quan, và gọi nó là cơ quan tham mưu»1.

Mãi về sau này mới xuất hiện sự cần thiết phải có cơ quan tham mưu phức tạp. Cách đây hai trăm năm không cần có những cơ quan tham mưu phức tạp như vậy, vì chưa có những đạo quân đông và kết cục chiến tranh được giải quyết bằng một trận chiến đấu lớn, trong điều kiện vị thống soái có thể quan sát được toàn bộ chiến trường. Việc cung cấp cho quân đội được tiến hành bằng những phương tiện vận chuyển thô sơ và chỉ bó hẹp ở những vật phẩm tiêu dùng tối thiểu. Các hình thức thông tin phức tạp chưa có, các sĩ quan tùy tùng và cần vụ đi ngựa cũng đủ bảo đảm cho việc chỉ huy trận đánh. Trong điều kiện đó, các cơ quan tham mưu chưa giữ vai trò như trong điều kiện hiện nay, mà chủ yếu chỉ thực hiện các chức năng hành chính. Không phải ngẫu nhiên mà lịch sử đã không ghi lại tên tuổi nhiều tham mưu trưởng bên cạnh những nhà cầm quân vĩ đại. Có lẽ, chỉ có các chuyên gia nghiên cứu mới biết rằng, tham mưu trưởng của Na-pô-lê-ông là thống chế Béc-chi-ê, một người có năng lực làm việc kỳ lạ, có trí nhớ diệu kỳ, và biệt tài biến các chỉ thị chung của Na-pô-lê-ông thành những đoạn văn mệnh lệnh chính xác. Na-pô-lê-ông đã nói đến con người ấy là: Béc-chi-ê có tài «trình bày những biến động phức tạp nhất của quân đội thành các báo cáo rõ ràng và đơn giản». Mà phải chăng đã có nhiều người biết đến tướng Ben-ních-xen, tham mưu trưởng của M. I. Cu-tu-dốp? Ông cũng là một con người kiệt xuất. Thật vậy, ngày nay người ta còn biết về vị giám đốc nhiều hơn là người kỹ sư trưởng. Nhưng đó lại là vấn đề khác.

Nhiều năm đã trôi qua, nội dung và hình thức tiến hành chiến đấu và chiến tranh nói chung đã thay đổi, quân đội đông quân số hơn. Do sự phát triển của vũ khí và trang bị, do sự thay đổi quân số nên chiến thuật và chiến lược cũng thay đổi, xuất hiện nghệ thuật chiến dịch. Vai trò và ý nghĩa của các cơ quan tham mưu cũng thay đổi theo: các cơ quan tham mưu từ chỗ là cơ quan hành chính dần dần biến thành cơ quan thực sự tổ chức và chỉ huy các hành động chiến đấu của bộ đội trên mọi quy mô. Tất cả các quân đội hiện đại trên thế giới từ lâu đã có một tổ chức hoàn chỉnh của các cơ quan tham mưu và công tác tham mưu do những người có trình độ nghiệp vụ cao thực hiện, tức là những quân nhân chuyên nghiệp.

Ngày nay, cơ quan tham mưu tiến hành công tác cần thiết nhằm chuẩn bị và tổ chức trận đánh, chiến đấu, chiến dịch và chiến tranh nói chung. Cơ quan tham mưu thu thập các tin tức về địch, ta, địa hình, lập các bảng tính thời gian, tính toán quân số, trang bị và khí tài kỹ thuật, phân tích các tin tức nhận được, từ đấy rút ra các kết luận, báo cáo với tư lệnh (người chỉ huy) và dựa vào sự phân tích tình hình mà đề ra phương án giải quyết. Trên cơ sở quyết định đã được tư lệnh thông qua, cơ quan tham mưu lập kế hoạch trận đánh và chiến dịch, soạn thảo mọi văn kiện cần thiết (mệnh lệnh, chỉ thị, kế hoạch, v. v.), đệ trình phê chuẩn các văn kiện ấy, sau đó truyền đạt cho những đơn vị chấp hành, rồi sau đó kiểm tra việc chấp hành các quyết định đã được tư lệnh thông qua. Như vậy là, trong điều kiện hiện nay, nếu không có cơ quan tham mưu thì cũng sẽ không có cả vị thống soái mà tính tích cực sáng tạo của người đó sẽ bị những công việc vụn vặt hàng ngày lôi cuốn đi.

Một số người coi cơ quan tham mưu như là trung tâm máy tính, hoặc như là một tổ chức giống như phòng kề toán. Không có gì phải tranh cãi cả, cơ quan tham mưu làm ra nhiều con tính mà không một ai có thể làm được, dù thông minh đến đâu đi nữa. Nhưng đấy lại không phải là công việc máy móc, mà là một thứ lao động đòi hỏi trí thông minh và có định hướng mà máy móc không thể nào làm nổi. Quả vậy ngày nay máy móc đang giúp cho con người làm các con tính, nhưng lại không thể suy nghĩ thay cho con người được. Trừ những trường hợp hiếm có, mỗi con tính đều làm sáng tỏ một sự tìm kiếm, một phán đoán, một giả thuyết; nó được tiến hành nhằm mục đích phát hiện, chứng minh hoặc bác bỏ một cái gì đó và phải do một tập thể lớn những con người giàu kinh nghiệm, có trình độ hiểu biết chung và trình độ chuyên môn khá, mới hoàn thành một cách tốt đẹp được. Chỉ có sự suy nghĩ chung của tập thể, liên hệ thường xuyên và mật thiết với hoàn cảnh chiến tranh mới có thể rút ra một cách có tổ chức, từ các nguồn thông tin, tất cả những gì là bổ ích và cần thiết cho việc hình thành quyết định đúng đắn của nhà cầm quân.
___________________________________________
1. C. Mác và Ph. Ăng-ghen. Toàn tập, t.14, tr.47



Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Giêng, 2016, 11:58:09 am

Chúng ta hãy nói đến các nhiệm vụ cụ thể của cơ quan tham mưu. Các nhiệm vụ ấy chủ yếu có quan hệ tới việc phải cung cấp thường xuyên cho trí tuệ của nhà cầm quân các tài liệu cần thiết để ra quyết định. Cơ quan tham mưu có nhiệm vụ nhận, hay như các nhà quân sự thường nói là thu thập các tài liệu ấy, xử lý và báo cáo cho nhà cầm quân. Tất nhiên, muốn làm được công việc đó, cần có các cơ quan tổ chức thu thập, xử lý các số liệu và báo cáo cho người chỉ huy quân sự. Trong mỗi bộ tham mưu đều có các cơ quan như thế. Các cơ quan đó tiến hành các công việc hàng ngày, tỉ mỉ, có lúc là những công việc bình thường, «cành nguyệt quế» thì chưa thấy đâu, song hàng ngày chỉ có thể gặp những điều khó chịu mà thôi.

Có thể nói rằng, trong chiến tranh không việc gì là không có liên quan tới cơ quan tham mưu. Một số loại công tác có tính chất bắt buộc và là loại hoạt động tham mưu hết sức quan trọng. Trước hết phải kể đến công tác trinh sát, một trong những chức năng hàng đầu và quan trọng nhất của các cơ quan tham mưu. Công tác trinh sát phải tiến hành liên tục từ khi bắt đầu chiến tranh cho đến khi kết thúc chiến tranh, phải tiến hành thường xuyên và ở khắp mọi nơi — trong chiến đấu, trong hành quân và trong lúc nghỉ ngơi, trên mặt đất, trên không và trên biển, ở hậu phương gần và hậu phương xa; phải tiến hành bằng mọi biện pháp, mọi phương tiện có thể có — bằng quan sát, bằng phái đi các tổ đặc biệt và tình báo viên, bằng rình nghe, bằng xác định phác họa tọa độ các mục tiêu của địch, bằng các phương tiện vô tuyến điện tử và các phương tiện khác, bằng chụp ảnh và cuối cùng, bằng chiến đấu. Không phải vô cớ mà những yêu cầu chủ yếu đối với trinh sát là phải tiến hành trinh sát liên tục, kịp thời và chính xác. Công tác trinh sát được tổ chức và tiến hành tùy thuộc vào khả năng của cơ quan tham mưu. Cơ quan tham mưu càng cao thì càng có nhiều lực lượng và phương tiện, càng tiến hành trinh sát bằng nhiều phương pháp khác nhau. Cơ quan tham mưu cao nhất tổ chức và tiến hành trinh sát bằng mọi lực lượng và phương tiện của mình.

Công tác trinh sát đã được tổ chức và hoạt động như thế nào. Các báo cáo của cơ quan trinh sát không được có thiếu sót. Nhưng tất cả những báo cáo ấy thường có chung một đặc điểm là dường như chúng đã chụp ảnh các sự kiện; trinh sát viên báo cáo những gì mình trông thấy, nghe thấy và khai thác được. Còn cơ quan tham mưu tiến hành trinh sát phải rút ra kết luận là những tiến trình gì ẩn náu sau các bức ảnh đó, các sự kiện ấy nói lên cái gì và tại sao lại phản ánh trong đó, địch mưu toan hành động những gì và như thế nào. Thế nhưng, các kết luận ấy thật không đơn giản! Trước hết, các tin tức trinh sát nhận được thường mâu thuẫn, có lúc được thổi phồng lên hoặc bị bóp bẹp quá mức, có lúc lại không đúng sự thật. Sau khi sàng lọc tỉ mỉ, nghiên cứu và phân tích cẩn thận, chúng ta mới chọn được trong cả mớ tin tức trinh sát hỗn độn ấy tất cả những cái gì quý giá xác thực, để trên cơ sở đó mà rút ra kết luận.

Ví dụ, trong thời kỳ diễn ra trận đánh bảo vệ Mát-xcơ-va, chúng ta đã biết địch khá rõ để có thể xác định đúng ý đồ, tính chất và hướng hành động của chúng. Chúng ta nắm được mức độ cố gắng của quân địch trên tất cả các mặt trận tiến công của chúng. Vì vậy, Bộ tổng tư lệnh tối cao Liên Xô mới ra quyết định chuyển sang phản công ở ngoại vi Mát-xcơ-va vào thời cơ thích hợp nhất. Trận đánh ở Xta-lin-grát, tình hình cũng diễn ra như vậy.

Ở Vòng cung Cuốc-xcơ thì tình hình diễn biến có khác đôi chút. Tháng Năm 1943, căn cứ vào toàn bộ tin tức trinh sát, chúng ta đi tới kết luận là ở khu vực này, sẽ có trận giao chiến rất lớn, quyết định nhiều vấn đề trong tiến trình chiến tranh. Bộ tổng tham mưu làm việc căng thẳng suốt ngày đêm để phân tích các báo cáo của cơ quan trinh sát. Cũng giống như mọi lần, các tin tức ấy không thống nhất với nhau, nhưng dần dần cũng đi tới một ý kiến chín muồi là địch có thể chuyển sang tiến công ở khu vực Cuốc-xcơ trên mặt trận Xô-Đức vào khoảng từ ngày 10-12 tháng Năm. Chúng tôi báo cáo lên Tổng tư lệnh tối cao kết luận ấy vào ngày 8 tháng Năm, và cũng ngay trong ngày hôm ấy, chúng tôi đã báo trước cho bộ đội biết. Lúc đó không một ai nghi ngờ gì về tính chính xác của kết luận đó. Thế nhưng... địch không tiến công.

Trong khi ấy, trinh sát vẫn tiếp tục hoạt động, thu thập các tin tức về cuộc tiến công mà quân phát-xít Đức đang chuẩn bị ở Cuốc-xcơ. Bộ tổng tham mưu lại kết luận là địch sẽ chuyển sang tiến công từ ngày 19-26 tháng Năm. Lần thứ hai, chúng tôi lại báo trước cho các phưưng điện quân biết, thế nhưng cuộc tiến công của địch vẫn không xẩy ra! Chúng tôi tiến hành kiểm tra lại hết tất cả, rồi lại rút ra kết luận về cuộc tiến công sắp tới của quân địch; lần này vào khoảng từ ngày 3-6 tháng Bảy. Bộ đội đều được báo trước về thời hạn địch có thể chuyển sang hành động tích cực. Cuối cùng tiến trình thực tế các sự kiện diễn biến đã khẳng định kết luận đó: như chúng ta đều biết, sáng 5 tháng Bảy, địch đã bắt đầu tiến công.

Phải nói rằng, trong trường hợp này, Bộ tổng tham mưu Liên Xô không lần nào phạm sai lầm khi phân tích các tin tức. Quân địch đã thật sự sẵn sàng chuyển sang tiến công và chỉ chờ đợi hiệu lệnh. Nhưng Hít-le, kẻ phát hiệu lệnh, không dám cho quân lính của hắn tiến lên trong phương án một và phương án hai. Mãi tới phút cuối cùng của thời hạn tiến công đã định, địch mới bắt đầu tiến công.



Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Giêng, 2016, 11:58:43 am

Đôi khi, việc so sánh các tin tức trinh sát đã thu được lại có thể cung cấp cho ta một bức tranh hoàn toàn mới về sự bố trí lực lượng của địch, do đó phát hiện ra các ý định của địch. Tôi xin dẫn sự kiện xảy ra hồi tháng Ba 1945, khi chúng ta phát hiện tập đoàn quân xe tăng 6 SS được điều động tới khu vực Bu-đa-pét. Trước đó ít lâu, các nước đồng minh thông báo cho chúng ta biết quả đấm xung kích mạnh của địch hoàn toàn nhằm vào địa điểm khác, chứ không phải vào Bu-đa-pét. Căn cứ vào các tin tức trinh sát ta thu được, Bộ chỉ huy Liên Xô đã rút ra kết luận đúng đắn về ý định tích cực và âm mưu của địch trong khu vực thủ đô Hung-ga-ri và đề ra những biện pháp cần thiết. Kết quả là các kế hoạch của Bộ chỉ huy phát-xít Đức đã bị phá sản.

Những dẫn chứng như trên có thể còn nhiều, và qua đó rõ ràng là cơ quan tham mưu quả có khó khăn khi phân tích các hành động sắp tới của địch, mà đó lại là nhiệm vụ hết sức quan trọng; nếu cơ quan tham mưu báo cáo với bộ chỉ huy các kết luận không chính xác về địch và âm mưu của chúng thì cũng rất dễ làm cho bộ chỉ huy lầm lẫn.

Khi phân tích các tin tức trinh sát, chúng ta có thể mắc sai lầm là lấy điều mình mong muốn coi như là sự thật. Khả năng này cũng dễ xảy ra, nếu như chúng ta ít nắm được các dấu hiệu về ý đồ của địch. Điều đó được chứng minh bằng sự thất bại của quân đoàn xe tăng 11 của tướng Rút-kin ở Cô-ven, do không đánh giá đúng các hành động của địch; hoặc sự tính toán sai lầm nghiêm trọng của bộ tư lệnh phương diện quân Tây-Nam vào mùa đông năm 1943, về ý định của địch. Thật ra, không phải địch đã bỏ chạy đến sông Đni-ép-rơ như chúng ta phán đoán, mà chúng được bố trí lại để chiến đấu phòng ngự, rồi sau sẽ chuyển sang phản công. Các kết luận về hành động của địch hồi ấy chỉ dựa vào mỗi một dấu hiệu là thấy quân lính địch vội vã rút chạy về hướng Tây. Như bạn đọc đã thấy, muốn có kết luận đúng đắn mà chỉ dựa vào độc một dấu hiệu thì chưa đủ.

Trong công tác trinh sát, các dấu hiệu mới thoạt nhìn tuy rất nhỏ, song đôi khi lại có ý nghĩa rất lớn. Ví dụ, trong thời kỳ chuẩn bị trận đánh ở Cuốc-xcơ, chúng ta rất băn khoăn khi được tin có một bộ phận của cánh quân Oóc-lốp của địch đang chiến đấu với bộ đội của các phương diện quân Tây và Bri-an-xcơ. Bộ phận của cánh quân này có thể là nguồn bổ sung trước mắt cho các lực lượng của Hít-le để tiến công Cuốc-xcơ. Trước đó, chúng ta không thấy có một dấu hiệu thay đổi nào trong sự bố trí của địch, nhưng bất chợt tướng M. M. Pô-pốp lúc được chỉ định làm tư lệnh phương diện quân Bri-an-xcơ lại báo cáo bằng điện thoại về Bộ tổng tham mưu rằng, hình như địch đang bố trí lại lực lượng thế nào ấy. Và lúc này, đồng chí cũng chưa được biết chi tiết gì hơn.

Việc quân địch bố trí lại là do một chiến sĩ đã từng trải của chúng ta nhận xét thấy. Khi đồng chí tư lệnh ra ngoài tiền duyên để tìm hiểu địa hình dải phòng ngự của phương diện quân, có hỏi một chiến sĩ rằng: «Đối diện với các đồng chí là kẻ địch nào», thì chiến sĩ ấy đã báo cáo một cách tin tưởng là hiện nay quân Đức đang có sự thay phiên.

Đồng chí tư lệnh quan tâm tới nhận xét ấy và đồng thời có sự cảnh giác: cơ quan trinh sát không hề báo cáo gì về sự thay phiên đó. M. M. Pô-pốp hỏi người chiến sĩ: «Căn cứ vào đâu mà đồng chí phán đoán như vậy?»

- Thưa đồng chí đại tướng, bọn Đức hiện nay không phải là bọn Đức trước, — người chiến sĩ trả lời. — Trước đây, bọn lính cũ đi thẳng người, thường hay bắn vào những khu vực đã định, lúc bảy giờ sáng và một giờ trưa thì bọn chúng ngừng tiếng súng. Hình như lúc ấy bọn chúng ăn bữa sáng và ăn bữa trưa. Ngày ngày vẫn diễn ra đúng như vậy. Còn bọn mới đến thì ai cũng nhận thấy là chúng bắn lẻ tẻ, đi lại cúi lom khom, lúc thì chạy, lúc thì bò, tìm mọi cách ẩn nấp. Chúng lại nghỉ ăn bữa sáng và ăn bữa trưa vào thời gian khác...

Đồng chí tư lệnh cảm ơn người chiến sĩ, rồi sau đó tổ chức đội trinh sát mạnh bám riết khu vực đó. Đội trinh sát bắt được một cái «lưỡi» của một binh đoàn địch vừa được điều động tới tiền duyên. Lần trinh sát đó và một lần trinh sát tiếp sau giúp ta có thể xác định rằng địch đã cho thay thế một phần các sư đoàn đã bị suy yếu nhiều trong các trận đánh trước đây, rút chúng về phía sau gần nhất để bổ sung và nghỉ ngơi.

Trường hợp phát hiện được tuy nhỏ như vậy, nhưng lại là một bằng chứng để xác minh thêm rằng, bộ chỉ huy Đức không có ý định lấy quân của chúng ở đây để tăng cường cho hướng Cuốc-xcơ.

Một trong những điều tối kỵ trong công tác của bất kỳ người sĩ quan tham mưu nào, đặc biệt đối với người chiến sĩ trinh sát, là cố «đoán» những suy nghĩ của người chỉ huy, dùng báo cáo của mình để «chứng minh» những suy nghĩ đó và nguy hiểm nhất là bản báo cáo lại trái với những suy nghĩ đó. Trên thực tế, tình hình ấy thường dẫn đến chỗ đánh giá không đúng các sự kiện, bóp méo thực tế một cách tùy tiện. Hậu quả sẽ là quyết định sai, đánh không thắng, hơn nữa chiến đấu thất bại. Dám dũng cảm báo cáo sự thật cay đắng và có ý kiến riêng của mình trước khi người chỉ huy hoặc người tư lệnh ra quyết định: đó là những phẩm chất chân chính của người sĩ quan tham mưu tốt. Tất nhiên, báo cáo những sự thật không hài lòng cũng không phải là việc dễ, vì người báo cáo có thể sẽ là người đầu tiên chịu sự nóng giận hoặc bất bình của người thủ trưởng. Nhưng phải tôn trọng chân lý. Chỉ muốn gây những cảm giác dễ chịu cho thủ trưởng thôi thì thường không có lợi cho công tác.




Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Giêng, 2016, 06:41:50 am

*
* *


Thu thập tin tức về tình hình bộ đội ta cũng là một nhiệm vụ quan trọng của cơ quan tham mưu. Tất nhiên, việc này dễ làm hơn là rút ra những kết luận về địch. Thế nhưng, đó không phải là một công tác có tính chất kỹ thuật, thêm nữa nó là một công việc tốn rất nhiều công sức. Ở đây cũng có những đặc điểm riêng của nó.

Vấn đề là ở chỗ, người chỉ huy và cơ quan tham mưu đánh giá tình huống và hoàn cảnh của bộ đội ta xuất phát từ những quan điểm ít nhiều chật hẹp và cục bộ. Những quan điểm đó bị hạn chế bởi khu vực hoặc dải hoạt động của mình, nên các kết luận về các sự kiện thường không tính đến tình huống mà cấp trên đã biết. Ngoài ra, người chỉ huy vì chịu trách nhiệm về những hoạt động của binh đội hoặc binh đoàn của mình, nên tất nhiên đều muốn làm cho hoạt động của mình có vẻ tốt. Vì vậy, dù muốn hay không, họ cũng có xu hướng tô đậm thêm thực tế. Cơ quan tham mưu cần phải phân tích kỹ toàn bộ tính chất phức tạp của các vấn đề khách quan và chủ quan đó và phải tìm ra chân lý. Như tôi đã viết là có đồng chí tham mưu trưởng đã bị mang vạ do không báo cáo với Bộ tổng tham mưu về một điểm dân cư lớn đã bị địch chiếm đóng, vì quá tin vào lời hứa của những người chỉ huy cấp dưới của mình là «chúng tôi sẽ chiến đấu chiếm lại ngay trong ngày hôm nay». Thế nhưng, điểm dân cư ấy vẫn bị địch chiếm và đồng chí tham mưu trưởng đã bị cách chức.

Trong những năm chiến tranh, những trợ lý của Bộ tổng tham mưu chúng tôi có biệt tài bắt mạch được các báo cáo ở ngoài mặt trận gửi về. Ví dụ, khi báo cáo là địch «đã ít nhiều xâm nhập được vào tuyến phòng ngự của ta», hoặc xấu hơn là địch «đã phần nào đánh bật được một bộ phận bộ đội ta», thì chúng tôi hiểu ngay rằng nhất định phải kiểm tra những lời diễn đạt như thế và phải tìm mọi cách để xác định ý nghĩa chính xác của chúng. Trong thực tế đã có trường hợp: sau khi nhận báo cáo được một ngày thì địch đã tiến sâu, cách tiền duyên trong tung thâm tuyến phòng ngự của ta 10-20 ki-lô-mét và hơn một tí. Đấy, các đồng chí thử hình dung xem địch «đã phần nào đánh bật được một bộ phận» ra sao? Tóm lại, cơ quan tham mưu không nên chỉ thu thập một cách không suy nghĩ những báo cáo gửi đến, mà phải đi sâu phân tích mỗi dòng trong báo cáo và rút ra kết luận.

Ví dụ dưới đây là hậu quả việc làm cầu thả của một cán bộ tham mưu. Có một lần, báo cáo tổng kết chiến đấu trong ngày của phương diện quân Vô-rô-ne-giơ gửi về có đoạn viết là bộ đội ta đã phản công thắng lợi và chiếm được 100 khẩu pháo của địch. Đồng chí chủ nhiệm khu vực mặt trận đã nhận báo cáo này bằng điện báo, sau đó cho đánh máy, chứng thực và gửi lên Đại bản doanh như vẫn thường làm. Sớm hôm sau, I. V. Xta-lin gọi điện thoại hỏi tôi:

- Chúng ta chiếm được cả đạn pháo nữa chứ?

Tôi không rõ. I. V. Xta-lin nói:

- Đồng chí hãy hỏi xem và báo cáo cho tôi biết.

Tôi lập tức liên hệ với tham mưu trưởng phương diện quân. Đồng chí này cũng không biết và hứa sẽ cho tìm hiểu ngay rồi gọi điện thoại cho tôi. Thời gian trôi qua. Chừng hai tiếng đồng hồ sau, Tổng tư lệnh tối cao lại gọi điện thoại và nói thêm:

- Nếu có đạn thì với số pháo phương diện quân đã thu được chúng ta có thể tổ chức ít ra là 20 khẩu đội pháo. Phải thế không?

Tôi trả lời khẳng định: đúng như vậy. Rồi đồng chí lại hỏi:

- Đã nắm được tình hình chưa, bao nhiêu đạn?

- Vẫn chưa nắm được, — tôi trả lời.

I. V. Xta-lin đặt ống nghe xuống, tôi cảm thấy rõ ràng là đồng chí rất không hài lòng.

Tôi lại liên hệ với tham mưu trưởnng phương diện quân. Lần này, tôi được biết là không phải chúng ta đã chiếm được 100 khẩu pháo, mà tất cả chỉ có 10 khẩu, trong đó, 6 khẩu đã bị phá hủy, chỉ có 4 khẩu là còn dùng được; còn ai đã báo cáo và tại sao lại xảy ra như vậy thì bộ tham mưu phương diện quân đang phân tích.

Rắc rối to rồi. Tôi đi ngay tới chỗ A. I. An-tô-nốp và báo cáo với đồng chí câu chuyện vừa mới nhận được của tham mưu trưởng phương diện quân.

- Đúng, dông tố sắp đến nơi, — A. I. An-tô-nốp nói.— Chúng ta chưa nên gọi điện báo cáo với Xta-lin, tốt hơn hết là chúng ta sẽ trực tiếp báo cáo vào buổi tối. Còn nếu đồng chí hỏi đến, chúng ta đành phải báo cáo đúng như vậy thôi...

Đến tối, chuông điện thoại không thấy reo, và trong buổi báo cáo thường kỳ ở điện Crem-li, Tổng tư lệnh tối cao lại nhắc đến các khẩu pháo bất hạnh đó. Đúng như chúng tôi dự kiến, dông tố nổi lên: chúng tôi phải nghe những lời lẽ rất gay gắt phê phán chúng tôi và các ban tham mưu nói chung, nào là thiếu trách nhiệm, lơ là trong công tác, khờ khạo, tắc trách, thiếu kiểm tra... Cuối cùng, A. I. An-tô-nốp được lệnh phải trực tiếp điều tra việc này và báo cáo tên người đã phạm sai lầm ấy.

Qua điều tra, chúng tôi được biết Hội đồng quân sự phương diện quân viết trong báo cáo là 10 khẩu pháo, song khi truyền qua máy «Bô-đô», các điện báo viên đã ghi nhầm con số và truyền đi là 100. A. I. An-tô-nốp báo cáo về vấn đề này và nói rằng, Bộ tổng tham mưu đã áp dụng những biện pháp kiểm tra thật nghiêm ngặt, để từ nay về sau không mắc phải những sai lầm như vậy nữa. Đồng chí không báo cáo tên người phạm sai lầm.

Xta-lin rít mạnh tẩu thuốc, đi lại dọc theo cái bàn trải bản đồ và nói:

- Tất nhiên là cần phải nhắc nhở các cô điện báo viên phải chú ý... Nhưng bắt lỗi họ làm sao: vì họ không hiểu được nội dung bức điện. Mà chính đồng chí trợ lý nào nhận báo cáo đáng lẽ phải có trách nhiệm kiểm tra tính chất chính xác của các con số. Vì đấy không phải là 2 khẩu pháo, và cũng không phải ngày nào chúng ta cũng chiếm được một số lượng pháo như vậy, mà có lẽ, đây là lần đầu tiên kể từ ngày bắt đầu chiến tranh...

Đồng chí còn nói hồi lâu về vấn đề này, sau đó hỏi tôi:

- Đồng chí trợ lý nào nhận báo cáo?

Tôi trả lời là đồng chí chủ nhiệm hướng trực tiếp nhận ở máy.

- Phải cách chức đồng chí ấy! Cử đồng chí ấy làm công việc gì ít quan trọng hơn và không để trong Bộ tổng tham mưu nữa...


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Giêng, 2016, 06:43:04 am

*
* *


Trên đây, chúng ta mới chỉ nói đến một mặt hoạt động của tham mưu là thu thập tin tức về tình hình các đơn vị bộ đội. Nhưng ngoài ra, còn cần phải biết chính xác tình trạng, khả năng chiến đấu của các đơn vị ấy, tức là số lượng các phân đội, binh đội, binh đoàn, số lượng trang bị và khí tài kỹ thuật; việc bảo đảm các phương tiện vật chất khác; sư hiện có và kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ chỉ huy, tình trạng chính trị tinh thần và trình độ huấn luyện của các đơn vị. Đó cũng là một công việc rất quan trọng. Chúng ta không những phải thu thập tất cả những tài liệu ấy, mà còn phải biết phân tích tỉ mỉ những tài liệu ấy.

Các yếu tố có liên quan đến việc đánh giá tình hình đều được phân tích trong tất cả các cấp của tổ chức quân sự, từ trung đoàn cho đến Bộ tổng tham mưu. Đồng thời, Bộ tổng tham mưu còn đánh giá cả những nhân tố khác, chỉ có ở các cơ quan tham mưu cấp trên. Trước hết, đó là tình hình chính trị-quân sự của địch, của các nước đồng minh và của bản thân nước ta. Tất nhiên, không phải cứ mỗi một chiến dịch đều tiến hành đánh giá tình hình quân sự-chính trị. Trừ trường hợp ngoại lệ hiếm có, còn tình hình quân sự-chính trị thường hay thay đổi dần dần, và chúng ta thường phân tích nó theo từng thời kỳ. Bộ tổng tham mưu rút ra những tài liệu cần thiết cho mình từ những kết luận đánh giá tình hình chung của Ban chấp hành Trung ương Đảng. Sự đánh giá đầu tiên về tình hình quân sự-chính trị là báo cáo của Ban chấp hành Trung ương Đảng nhân dịp kỷ niệm lần thứ 24 ngày Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười vĩ đại, và trong diễn văn của Tổng tư lệnh tối cao đọc tại Quảng trường Đỏ ngày 7 tháng Mười một 1941. Tình hình được xác định là trầm trọng và đang đe dọa đất nước ta. Sau này, trong cả quá trình cuộc Chiến tranh giữ nước vĩ đại, chúng ta bao giờ cũng phân tích tình hình vào trước ngày 1 tháng Năm — dựa theo kết quả chiến cục mùa đông, và trước ngày 7 tháng Mười một về kết quả chiến cục mùa hè. Trường hợp cá biệt, chúng ta còn tiến hành tổng kết các chiến dịch có ý nghĩa quyết định của một số phương diện quân, chẳng hạn như sau khi đánh lui cuộc tiến công của quân Đức tại Vòng cung Cuốc-xcơ. Các bài phát biểu và nhật lệnh của Tổng tư lệnh tối cao cùng với các văn kiện khác thường nói rõ những sự đánh giá ấy.

Trong từng giai đoạn chiến tranh lại có những vấn đề quân sự-chính trị riêng và có ý nghĩa đặc biệt, chẳng hạn vấn đề mở mặt trận thứ hai. Trong báo cáo nhân dịp kỷ niệm lần thứ 25 Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười vĩ đại đã dành hẳn một phần để nói về vấn đề này. Những vấn đề có quan hệ chặt chẽ tới việc mở mặt trận thứ hai là vấn đề thực tiễn lập kế hoạch các chiến dịch của chúng ta. Chẳng hạn trong năm 1942, chúng ta phải quyết định một vấn đề: có tính hoặc không tính đến những lời hứa của Anh và Mỹ về việc mở mặt trận thứ hai trong năm nay?

Trong mọi dịp phân tích tình hình quân sự-chính trị, chúng ta đều có đánh giá chung và riêng về mặt quân sự những kết quả của hai bên. Trong báo cáo nói trên của I. V. Xta-lin kết quả cuộc tiến công của quân phát-xít Đức vào mùa hè năm 1942 đã bị coi là thất bại, vì không thực hiện được các kế hoạch chiến lược của chúng. Đồng thời còn rút ra kết luận về khối liên minh chống Hít-le và về sự tất yếu sẽ chiến thắng quân thù.   

Bạn đọc thấy là, chúng ta rất chú ý đến tình hình chính trị bên trong những nước có các Lực lượng vũ trang Liên Xô hoạt động trên lãnh thổ của họ. Khi lập kế hoạch các chiến dịch, Bộ tổng tham mưu chú ý đến tình hình đó, và có thể nói thẳng ra là, ở đây chúng ta thực hiện những biện pháp không hoàn toàn bình thường.

Khi lập kế hoạch hành động quân sự trước mắt và sắp tới, Bộ tổng tham mưu không những phải tính toán đến các dự trữ hiện có về trang bị, kỹ thuật, nhiên liệu và các loại cung cấp vật chất khác, mà còn phải nắm được khả năng công nghiệp sản xuất các sản phẩm quân sự và căn cứ vào đó để lập kế hoạch bảo đảm cho bộ đội hoạt động, dự kiến tình hình các nguồn dự trữ cho cả một thời gian sau, ví dụ như cho đến hết chiến dịch. Muốn vậy, Bộ tổng tham mưu phải nắm khá chi tiết tình hình của nền kinh tế. Chỉ có như vậy chúng ta mới có thể vạch ra triển vọng tiêu diệt địch, vạch ra một tiến trình có căn cứ và xác định mức triển khai các lực lượng tiến công quân địch, xây dựng các kế hoạch tác chiến thực tế. Trong chiến tranh, mọi chiến cục đều được lập kế hoạch như thế cả, với sự cân nhắc đầy đủ các khả năng kinh tế của đất nước.   

Chúng ta còn cần phải chú ý theo dõi cả các nguồn dự trữ của địch. Công việc này càng khó khăn hơn, vì ở Liên Xô chúng ta không có những số liệu tương đối chính xác về các khả năng sản xuất của chúng. Do đó, trong từng trường hợp cá biệt cũng có những sai sót. Chẳng hạn như trong tháng Mười một 1941, Tổng tư lệnh tối cao nói: «Chắc chắn là nước Đức sẽ không thể chịu đựng nổi sự căng thẳng kéo dài. Chỉ độ vài tháng nữa, nửa năm, hoặc cũng có thể đến một năm, nước Đức Hít-le nhất định phá sản do tội lỗi trầm trọng của chúng». Nhưng quân địch nhờ huy động được nền công nghiệp và nền nông nghiệp của các nước châu Âu bị chúng chinh phục phục vụ cho quyền lợi của chúng, nên chúng chỉ «phá sản» khi các quốc gia bị chúng chiếm đóng được giải phóng và đuổi chúng về hang ổ của chúng.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Giêng, 2016, 06:43:57 am

Việc cung cấp phương tiện vật chất cho các phương diện quân lúc bắt đầu và trong quá trình chiến dịch đỏi hỏi chúng ta phải làm rất nhiều bảng tính. Đấy là những bài tính phức tạp với những con số rất lớn. Chúng ta phải làm việc hết sức cẩn thận với các số liệu về vận tải, vì hoàn cảnh chiến tranh khiến cho điều kiện vận tải hết sức phức tạp. Trọng tải chủ yếu là dựa vào đường sắt, mà đường sắt trong phạm vi hậu phương của các phương diện quân lại bị hư hỏng nặng, một số đoạn còn bị địch phá hủy. Chúng ta phải mất nhiều công sức và thời gian để khôi phục đường sá, cầu cống và các nhà ga. Vì vậy, các bảng tính về vận chuyển không những thường xuyên phải chỉnh lý và khắc phục những khó khăn mới nảy sinh, mà có lúc phải làm lại.

Ví dụ như các bảng tính về vận chuyển làm hồi trước chiến dịch Bê-lô-ru-xi-a đã chỉ rõ rằng đường sắt có thể hoàn thành các nhiệm vụ của mình. Nhưng thực tiễn đã chỉnh lý các bảng tính ấy, do đó việc cung cấp các phương tiện vật chất và bổ sung quân cho các phương diện quân bị gián đoạn. Các tư lệnh phương diện quân và đại diện của Đại bản doanh tại các phương diện quân đều lo lắng. Tại phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 3, khi đồng chí A. M. Va-xi-lép-xki đang có mặt ở đó thì tình hình đặc biệt xấu. Đồng chí báo cáo với Mát-xcơ-va về tình hình vận chuyển và nói rõ với Tổng tư lệnh tối cao rằng, tất cả mọi việc đều phụ thuộc vào đường sắt. An-tô-nốp ủng hộ Va-xi-lép-xki bằng những con tính khiến cho I. V. Xta-lin thấy cần phải thúc giục Bộ dân ủy giao thông. Việc đó đã làm xong, nhưng chiến dịch bắt đầu hơi chậm một chút so với thời gian đã định.

Cuối cùng, Bộ tổng tham mưu lúc nào cũng phải tính tới khả năng tổn thất về sinh lực, trang bị và khí tài; phải dự kiến trước cách bổ sung, nguồn bổ sung và thời gian bổ sung. Không thể tiếp tục chiến đấu nếu số thiệt hại không được bù đắp kịp, không làm được như vậy thì phương diện quân tập đoàn quân đến cuối chiến dịch sẽ bị suy yếu, không đủ sức giữ vững các thành quả của mình. Trong chiến tranh cũng đã xảy ra những trường hợp như thế. Ví dụ như vào mùa đông năm 1943, phương diện quân Tây-Nam của N. Ph. Va-tu-tin đã vọt tiến đến sông Đni-ép-rơ, song lại phải rút về phía sau sông Bắc Đô-ne-txơ; và lúc đó phương diện quân Trung tâm cũng tiến công ở khu vực Đơ-mi-tơ-rốp-xcơ. Oóc-lốp-xki...

Cùng với các bảng tính về các yếu tố của tình hình quân sự lúc bắt đầu những chiến dịch lớn hoặc trong quá trình phát triển chiến dịch, Bộ tổng tham mưu còn nhất thiết phải báo cáo lên Đại bản doanh cả những dự đoán về sau này. Phải nói rằng Tổng tư lệnh tối cao (có lẽ do kinh nghiệm nhận định sai lầm của bản thân về thời gian nước Đức Hít-le tập kích vào Liên Xô và những dự kiến chưa đúng về khả năng các nguồn dự trữ chiến tranh của nước Đức phát-xít sẽ bị kiệt quệ) lúc đầu có ý hoài nghi những ý kiến của các cán bộ Bộ tổng tham mưu về khả năng phát triển của các sự kiện. Thế nhưng, cùng với việc tích lũy các lực lượng và phương tiện mà nhờ đó ban lãnh đạo chiến lược xô-viết đã có ảnh hưởng tích cực tới các hành động quân sự, nên thái độ không tin đối với những dự kiến của Bộ tổng tham mưu đã được A. M. Va-xi-Iép-xki lập luận một cách toàn diện, dần dần cũng tiêu tan và sau đó biến mất hẳn.

Cần phải nhận thấy là trong mọi trường hợp, Bộ tổng tham mưu đều đã đánh giá tình huống rất linh hoạt, đã xem xét mỗi yếu tố tình huống trong tổng thể của mọi điều kiện khác đang tồn tại ở chiến trường. Tôi nhắc lại trường hợp chưa từng thấy trong lịch sử chiến tranh là tập đoàn quân tăng cận vệ 6 của tướng A. G. Cráp-tsen-cô thuộc thê đội một của phương diện quân, đã băng qua dãy núi Hưng An tiến vào Mãn Châu Lý. Trong tất cả các điều kiện tình huống khác, có lẽ không thể tiến hành nổi phương án hành động như vậy. Song ở đây, nó lại là phương án đúng đắn hơn hết.

Các kết luận dựa trên cơ sở phân tích toàn diện và đánh giá tình huống của Bộ tổng tham mưu đều được báo cáo lên Đại bản doanh, hoặc thường được trực tiếp báo cáo lên Tổng tư lệnh tối cao. Báo cáo của Bộ tổng tham mưu là cơ sở đề ra quyết định. Tất nhiên, quyết định mở chiến dịch của phương diện quân, hoặc của cụm phương diện quân sau khi có báo cáo của Bộ tổng tham mưu cũng vẫn chưa được coi là quyết định cuối cùng. Ngoài Bộ tổng tham mưu, để thảo luận quyết định đó, Đại bản doanh còn triệu tập các hội đồng quân sự và cơ quan tham mưu phương diện quân, các tướng lĩnh và sĩ quan trong các cục trung ương của Bộ dân ủy quốc phòng, cố nhiên là chỉ gồm những người có quan hệ tới việc lập kế hoạch chiến dịch. Mọi chiến dịch lớn đều được chuẩn bị như vậy. Gh. C. Giu-cốp hoặc A. M. Va-xi-lép-xki thường ở ngoài mặt trận, đều có đề nghị của mình về các quyết định ấy. Cả các hội đồng quân sự phương diện quân cũng làm như vậy, đồng thời Đại bản doanh luôn luôn chú ý lắng nghe đề nghị của các đồng chí đó.

Trình tự làm việc thường không giống nhau. Có trường hợp, phương án quyết định mở chiến dịch do Bộ tổng tham mưu đề nghị, được sơ bộ thỏa thuận trên những nét chủ yếu với cơ quan tham mưu và tư lệnh phương diện quân. Có trường hợp lại chỉ giao nhiệm vụ chung cho phương diện quân, rồi phương diện quân căn cứ vào đó mà chuẩn bị kế hoạch chiến dịch và trình lên Đại bản doanh phê chuẩn. Trường hợp kế hoạch chiến dịch có quan hệ tới một số phương diện quân, thì các đồng chí tư lệnh các phương diện quân đó cùng với tham mưu trưởng phương diện quân hoặc cục trưởng cục tác chiến phương diện quân được triệu tập về Bộ tổng tham mưu, để cùng nhau nghiên cứu các phương án quyết định và dự thảo các chỉ thị, rồi sau đó cùng báo cáo lên Đại bản doanh những đề nghị chung của mình.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Giêng, 2016, 06:44:51 am

Trước những thời kỳ có tính chất bước ngoặt trong quá trình chiến tranh, Đại bản doanh đều tổ chức hội nghị, thành phần gồm có Bộ tổng tham mưu, các đại diện Đại bản doanh ở các phương diện quân, các tư lệnh bộ đội và các ủy viên hội đồng quân sự. Có thể nói, mọi đề nghị về quyết định thảo ra đều là công sức lao động sáng tạo của tập thể Bộ tổng tham mưu và các cán bộ lãnh đạo các phương diện quân. Để giữ được bí mật, thường chỉ có hai hoặc ba người ở các phương diện quân và hai hoặc ba người trong Bộ tổng tham mưu tham gia soạn thảo kế hoạch các chiến dịch. Phương án quyết định báo cáo lên Đại bản doanh được thể hiện trên bản đồ, và trong mọi trường hợp đều phải có luận cứ tỉ mỉ, kèm theo các loại bảng tính, và sau đó được thảo luận kỹ. Nếu có những sửa đổi lớn hoặc từng vấn đề cá biệt báo cáo chưa thật rõ ràng hoặc đầy đủ, thì sẽ dành thêm thời gian cho Bộ tổng tham mưu và đại diện của các phương diện quân nghiên cứu thêm các quyết định đó. Cuối cùng, Tổng tư lệnh tối cao mới phê chuẩn quyết định.

Khi soạn thảo quyết định, trước hết phải xác định mục đích hành động của bộ đội và nhiệm vụ cùa họ trong chiến dịch, cần và có thể vận dụng hình thức cơ động nào để giành thắng lợi lớn nhất mà tổn thất ít nhất, trong thời hạn ngắn nhất. Sự lựa chọn đó thật không đơn giản, nó phụ thuộc vào lực lượng và tình hình địch — hình thái mặt trận của địch, sự bố trí lực lượng dự bị trong vùng chiến thuật và tung thâm chiến dịch, khả năng chiến đấu của bộ đội, tương quan giữa các lực lượng và phương tiện, địa hình, thời gian và nhiều điều kiện tình huống khác mà bạn đọc đã biết.

Trong trường hợp có lợi, ta sẽ tập trung hết mọi lực lượng có thể, tổ chức đột kích trên một hướng nhằm chia cắt chính diện quân địch và nhanh chóng thọc sâu vào tung thâm của chúng. Ví dụ như trường hợp đã diễn ra vào mùa xuân năm 1944 trên hướng Tây-Nam, nơi các phương diện quân U-crai-na (1, 2 và 3) đã chọc thủng tuyến phòng ngự của quân phát-xít Đức và tiến tới chân núi Các-pát. Mùa thu năm ấy, phương diện quân Pri-ban-tích 1 đã tung tập đoàn quân xe tăng cận vệ 5 làm mũi nhọn tấn công, mở mũi đột kích từ khu vực Si-a-u-lai tới hướng Clai-pê-đa rồi tiến thẳng ra biển. Bản thân mũi đột kích chưa thật sâu lắm. Song, nó đã chia cắt tuyến phòng ngự của cụm tập đoàn quân «Bắc» và tạo khả năng cô lập các lực lượng lớn của địch ở Cuốc-li-an-đi-a, mà lúc đó quân địch rất cần những lực lượng ấy ở các khu vực khác của mặt trận Xô - Đức. Tháng Giêng 1945, Đại bản doanh đã điều các phương diện quân U-crai-na 1 và Bê-lô-ru-xi-a 1 tiến lên phía trước, mở chiến dịch Vi-xla - Ô-đe, và trong vòng 16 ngày chiến đấu đã tiến vào các con đường dài dẫn đến Béc-lin.

Trong trường hợp khác, tốt hơn cả là nên mở hai mũi đột kích hợp điểm, để bao vây rồi sau tiêu diệt chúng. Đó là những chiến dịch theo kiểu cổ điển như Xta-lin-grát, «tiểu Xta-lin-grát» ở Coóc-xun - Sép-tsen-côp-xki, các chiến dịch bao vây lòng chảo ở gần Min-xcơ, I-át-xư, Ki-si-ni-ốp và nhiều chiến dịch khác nhỏ hơn, bao vây bằng cách đánh bọc địch.

Trong trường hợp thứ ba, chúng ta mở hai mũi đột kích hoặc hơn, trong đó có một mũi chính, còn các mũi khác là mũi bổ trợ, nhằm thu hút lực lượng địch càng nhiều càng tốt để tạo điều kiện cho mũi chính thu được thắng lợi. Điển hình cho phương pháp hành động này trong kế hoạch chiến lược là chiến cục năm 1944. Ở đây, khu vực đột kích chủ yếu và khu vực đột kích phụ của nó đã khác nhau do phụ thuộc vào tình huống.

Sau khi quyết định đã được thông qua, cơ quan tham mưu viết quyết định đó thành mệnh lệnh hoặc chỉ lệnh. Chúng ta đều biết rằng, các văn kiện rất quan trọng ấy thường được viết căn cứ vào bản đồ-quyết định, cho nên bản đồ-quyết định đó phải được nghiên cứu hết sức cẩn thận và tỉ mỉ. Ví dụ như ở Bộ tổng tham mưu, các bản đồ đó trước hết vẽ các tuyến ranh giới của mặt trận, vị trí xuất phát của các đơn vị bao gồm từ cấp sư đoàn, các lực lượng dự bị và thê đội hai. Nếu nói về tiến công thì nhất thiết phải về hướng mũi đột kích chủ yếu và các mũi khác, khu vực đột phá, nhiệm vụ trước mắt và sau này của các đơn vị và thời gian phải hoàn thành các nhiệm vụ ấy, các tuyến và thời gian đưa thê đội hai vào chiến đấu. Ngoài ra, còn ghi những nét chính về những hành động của các đơn vị bạn và các tài liệu cần thiết về địch—tuyến chính diện của địch, lực lượng các đơn vị, các đội dự bị và các cơ quan tham mưu. Phần chú thích trên bản đồ có ghi thời gian chiến dịch, quy mô của nó (chiều sâu, chiều rộng, tốc độ tiến công trung bình), so sánh lực lượng trên hướng đột kích chủ yếu theo các giai đoạn của chiến dịch.

Căn cứ vào bản đồ ấy, chúng ta viết chỉ lệnh sẽ dễ dàng. Thật ra muốn làm được như vậy thì phải có kiến thức, kinh nghiệm và năng lực nhất định. Không phải người nào cũng đều có thể làm tốt việc ấy được. Vì thế, chúng ta để một số người chuyên viết các chỉ lệnh. Ví dụ như ở Bộ tổng tham mưu, chỉ cục trưởng và các cục phó Cục tác chiến mới được phân công viết các văn kiện đó. Các chỉ lệnh phải ngắn gọn (nhưng trình bày phải rõ và chính xác), không được có những câu văn làm người ta có thể hiểu thành hai nghĩa, lại không có gì thừa. Tóm lại, như ta thường nói là: lời phải chặt chẽ, ý phải sáng. Chỉ lệnh (mệnh lệnh) không phải là chứng minh và luận chứng cho quyết định, vì như vậy sẽ làm giảm hiệu lực của nó. Chỉ lệnh phải được tuyệt đối chấp hành, không phải để đưa ra thảo luận.

Tất nhiên trong chỉ lệnh không nên viết thật chi tiết hết mọi điểm; làm thế sẽ hạn chế tính chủ động của những người chấp hành. Song, lại không được viết dưới dạng quá chung chung, chẳng nói là sẽ làm gì, làm ra sao và trong thời hạn nào, nói một cách khác, như người ta thường nói là buông trôi chiến dịch để nó tự phát. Cần có lối viết vừa phải, đúng mực, người trợ lý có kinh nghiệm bao giờ cũng tìm được lối viết như vậy. Thông thường, trong chỉ lệnh của Đại bản doanh (ngoài những điểm đã ghi trên bản đồ) có nói rõ là sẽ vận dụng hình thức cơ động nào (bao vây. đột kích chia cắt, v. v.), tiến công trong đội hình chiến dịch như thế nào (số lượng các tập đoàn quân ở thê đội một và thê đội hai, lực lượng dự bị), quy định sẽ sử dụng các tập đoàn quân xe tăng ra sao. Điểm cuối cùng nhất thiết phải chỉ rõ chế độ bảo đảm vật chất cho các đơn vị.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Giêng, 2016, 06:45:45 am

Ngoài các chỉ lệnh và mệnh lệnh, cơ quan tham mưu trước kia và ngày nay còn phải soạn thảo rất nhiều văn kiện khác như: thông cáo, bản tin, báo cáo, các kế hoạch chung và kế hoạch từng phần về các chiến dịch và về việc tiến hành các loại hoạt động khác nhau, báo cáo, biểu đồ, v. v.. Nguyên tắc đầu tiên trong việc soạn thảo văn kiện là càng ít văn kiện càng tốt, nhất là trong điều kiện hiện đại có rất nhiều các nguồn tin tức, nếu không biết cách thu thập, sàng lọc, lựa chọn thì nó có thể tràn ngập cả cơ quan tham mưu. Vì vậy, tham mưu trưởng phải quy định xem ai và lúc nào phải soạn thảo các văn kiện kế hoạch, văn kiện thông tin và văn kiện mệnh lệnh. Trong thời gian chiến tranh, Bộ tổng tham mưu đã lập một bản danh mục cụ thể các văn kiện như thế, nghiêm chỉnh làm theo danh mục các văn kiện ấy và không soạn ra một văn bản nào thừa cả.

Quy định thứ hai, không viết thành văn, nhưng lại rất nghiêm, được chấp hành triệt để trong Bộ tổng tham mưu là: chỉ giao cho một người, trường hợp hãn hữu mới giao cho hai người sơ thảo văn kiện. Còn khi văn kiện đã soạn xong thì lại là việc khác. Lúc đó có thể triệu tập một số người, tùy theo mức độ cần thiết, tham gia thảo luận và phát triển các điều trong văn kiện. Ví dụ, các dự kiến trong Cục tác chiến của Bộ tổng tham mưu đã được soạn thảo theo quy định như vậy, sau đó đưa ra thảo luận trong các cục khác, và cuối cùng đưa ra thảo luận ở Đại bản doanh, mời những đồng chí có liên quan tới dự. Văn kiện sơ thảo được sửa đổi và bổ sung thêm. Đấy là một công trình sáng tạo của tập thể. Ví dụ điển hình về việc này là việc xây dựng kế hoạch hành động của bộ đội xô-viết trong chiến dịch Bê-lô-ru-xi-a. Đồng chí A. A. Grư-dơ-lốp, cục phó Cục tác chiến và cả tôi đã tham gia soạn thảo kế hoạch ấy, sau đó A. I. An-tô-nốp góp ý kiến. Cuối cùng mới báo cáo kế hoạch lên Đại bản doanh và được lệnh tổ chức phiên họp đặc biệt mời các hội đồng quân sự phương diện quân tham gia nghiên cứu. Trong phiên họp, kế hoạch được bổ sung về cơ bản, và chỉ sau đó Đại bản doanh mới phê chuẩn.

Việc soạn thảo một văn kiện quan trọng, chẳng hạn như ý đồ chiến dịch hoặc chiến cục, là một công việc sáng tạo. Người soạn thảo trước khi cầm cây bút chì phải suy nghĩ kỹ. Khi nào ý định đã thật chín thì mới nẩy sinh ra mô hình chiến dịch và mới hình dung trong đầu toàn bộ tiến trình các sự kiện chủ yếu sắp tới. Nếu làm khác đi, sẽ không thể có được ý định tốt. Thông thường, việc soạn thảo ý định được bắt đầu từ... điểm cuối, tức là từ mục đích cuối cùng của chiến dịch đã dự tính, ví dụ như việc giải vây Lê-nin-grát, việc tiêu diệt địch ở Bê-lô-ru-xi-a, v.v.. Mục đích cuối cùng chiến dịch, như đã nói, thường do Đại bản doanh chỉ thị hoặc Bộ tổng tham mưu đề nghị, có một số trường hợp là do đề nghị của bộ tư lệnh phương diện quân. Sau khi tìm hiểu mục đích chiến dịch, cần nghiên cứu, suy nghĩ để hình dung xem ta sẽ đạt mục đích đó như thế nào — đấy là một việc hết sức khó khăn và lúc bắt đầu soạn thảo lại không rõ ràng. Chỉ sau đó, mới có thể bắt tay vào «làm hỏng lần đầu tấm bản đồ». Trong quá trình của công việc sáng tạo ấy trước khi xuất hiện tấm bản đồ chính thức, thì không phải chỉ làm «hỏng» có một tấm bản đồ!..

Muốn làm sơ thảo, phác họa bức tranh trận đánh sắp tới, chúng ta cần phải hiểu biết chi tiết tình huống trong phạm vi chiến dịch dự tính. Đồng thời, cần phải nắm chắc các cơ sở tình huống chiến dịch trong óc, chứ không phải trên tài liệu. Nếu không thì sự suy nghĩ của chúng ta sẽ không thanh thoát, không nghĩ rộng ra được các sự kiện sắp tới. Người nào còn bị giấy tờ trói buộc, thì khó có thể hoàn thành công việc ấy có kết quả. Được phục vụ trong Bộ tổng tham mưu và các cơ quan tham mưu lớn khác hơn 30 năm (gần 7 năm là trong thời chiến), tôi có thể nói với đầy đủ trách nhiệm của mình rằng, một trong những phẩm chất chủ yếu của người sĩ quan tham mưu là phải có trí nhớ. Tôi nói về đặc tính ghi nhớ, giữ vững và tích lũy trong trí nhớ những tin tức thiết thực, cần thiết, chứ không phải những giai thoại. Thật là dở, nếu khi báo cáo, người sĩ quan tham mưu cứ bị lệ thuộc vào các tài liệu hoặc sổ công tác. Chúng ta có thể rèn luyện được trí nhớ, hơn nữa biết rèn luyện có chọn lọc. Không phải tôi chỉ dựa vào kinh nghiệm của bản thân để chứng minh cho điều này (trong thời kỳ chiến tranh, tôi có thể nhớ các sự kiện đã xẩy ra trên từng mặt trận tới cấp sư đoàn, nhớ phiên hiệu của sư đoàn, mà sư đoàn thì tất cả có tới trên 300). Trong Bộ tổng tham mưu đã có tới hàng chục người có trí nhớ tuyệt vời.

Có lẽ, tôi không cần phải kể ra các văn kiện tham mưu và cách thức chuẩn bị các văn kiện ấy, vì trong các cuốn sách
phổ thông và giáo lệnh dành cho các cán bộ chuyên môn đã nói kỹ. Ở đây, tôi chỉ muốn nhắc lại một lần nữa rằng việc soạn thảo các văn kiện tham mưu là một công tác sáng tạo, đòi hỏi trí thông minh, kinh nghiệm nghiệp vụ, kiến thức quân sự, kỹ năng và kỹ xảo.

Cuối cùng, sau khi thảo xong văn kiện, cơ quan tham mưu còn phải biết báo cáo nữa. Điều khó khăn trong khi báo cáo là ở chỗ phải biết chứng minh một cách xác đáng tính đúng đắn của điều đã viết và phải bảo vệ văn kiện. Việc này cũng không phải đơn giản. Đôi khi viết văn kiện còn dễ hơn là báo cáo văn kiện. Vấn đề là ở chỗ mỗi đồng chí thủ trưởng dù thống nhất về quan điểm chung đối với các sự kiện, song vẫn có những đặc điểm chủ quan của mình, tùy theo tính cách của con người và sự thụ cảm của người đó đối với các sự kiện đang xảy ra. Người báo cáo phải nắm vững đối tượng báo cáo, vững tin vào lẽ phải của mình và phải có can đảm, nếu có thể nói như vậy, để bảo vệ và chứng minh một cách khoa học quan điểm của cơ quan tham mưu trước thủ trưởng cấp trên. Tất nhiên, phải bảo vệ quan điểm của mình trong phạm vi hợp lý và phải nhớ đến chế độ một người chỉ huy.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Giêng, 2016, 06:46:09 am

Có trường hợp, bản báo cáo dường như đã được chuẩn bị rất tốt, phân tích có căn cứ sâu sắc và những người trợ lý tin chắc ở sự đúng đắn của nó, nhưng khi thủ trưởng cấp trên nghe báo cáo, đặt câu hỏi về vấn đề này, không đồng ý về vấn đề khác, phát biểu quan điểm của mình về một vấn đề nào đó, thì từ chỗ là một bản báo cáo tốt (dù là về kế hoạch chiến dịch, đánh giá các sự kiện hoặc về một vấn đề quan trọng nào khác) lại đi đến chỗ chẳng còn ra một cái gì nữa. Trường hợp này thường có hai nguyên nhân: một là, hoặc chưa phân tích được đầy đủ, tỉ mỉ mọi khía cạnh của vấn đề, người thủ trưởng nhận thấy những thiếu sót, liền bác bỏ bản báo cáo không xây dựng trên cơ sở vững chắc; hai là, người báo cáo hoàn toàn không biết chứng minh quan điểm đúng đắn của cơ quan tham mưu.

Đối với bản báo cáo của các cán bộ chuyên môn thường có những điều khá phức tạp. Những người này say mê binh chủng của mình nên thường hay mắc phải tật bảo vệ quan điểm của mình một cách tương đối phiến diện. Cơ quan tham mưu phải biết chú ý tới cái tật đó và báo cáo cho người tư lệnh hoặc người lãnh đạo khác tình hình chân thực của sự việc. Đôi lúc, phải tốn khá nhiều công sức mới thuyết phụ được họ.

Về chuyện này, tôi còn nhớ đến một quyết định được thông qua hồi năm 1946. Sau lễ duyệt binh ngày 1 tháng Năm mà như mọi người đều biết, là dịp trưng bày các vũ khí kỹ thuật. N. N. Vô-rô-nốp, nguyên soái tư lệnh pháo binh gặp riêng I. V. Xta-lin và đã thuyết phục được Xta-lin về sự cần thiết phải thành lập một cơ quan khoa học đặc biệt là Viện khoa học pháo binh. Xta-lin vốn yêu thích pháo binh, thường gọi pháo binh là «Thần chiến tranh», nên đồng chí đã đồng ý, không hỏi thêm ý kiến một ai về tính chất hợp lý của tổ chức đó. Bộ tổng tham mưu là người có trách nhiệm xây dựng Viện đã kiên quyết phản đối, vì cho rằng tổ chức cũ không hề cản trở sự phát triển của tư tưởng pháo binh và mối quan hệ gần gũi giữa các trung tâm khoa học — các học viện quân sự, Tổng cục pháo binh và các cơ quan khác — với các đơn vị đang tạo điều kiện cho việc hoàn thiện kỹ thuật pháo binh và phát triển các nguyên lý vận dụng pháo binh trong chiến đấu. Chúng tôi không hiểu tại sao bỗng nhiên lại cần phải thành lập ra Viện khoa học pháo binh, mà không phải là khoa học xe tăng hoặc khoa học không quân, chẳng hạn. Mà xe tăng và không quân lại giữ vai trò không phải nhỏ trong chiến tranh, kỹ thuật của nó lại phức tạp hơn pháo binh. Thế nhưng, không ai có thể chứng minh để I. V. Xta-lin thấy rõ tính chất không xác đáng của chủ trương đó. Và nói cho đúng, cũng không ai nêu ra được những bằng chứng gì quan trọng. Viện khoa học pháo binh được thành lập vào tháng Chín, đẻ ra một biên chế lớn có chủ tịch, phó chủ tịch và những người giữ các chức trách khác. Người ta chuyển giao một số cơ quan nghiên cứu khoa học cho nó và thành lập thêm một số cơ quan mới. Các tổ chức đó bắt đầu hoạt động... Thời gian trôi qua, đủ để tiến hành tổng kết lần thứ nhất các mặt hoạt động, thì Viện được giải thể.

Những người làm công tác văn kiện thường có những bí quyết nho nhỏ của mình. Ví dụ, nếu như thời gian cho phép, họ sẽ không báo cáo ngay văn kiện khi vừa viết xong. Họ thường để lui lại vài tiếng đồng hồ, tốt nhất là để sang ngày hôm sau nếu chưa thật gấp. Khi đọc lại văn kiện lúc đầu óc tỉnh táo, hầu như chúng ta thấy nhất thiết cần có sự sửa đổi, thường đó lại là những sửa đổi quan trọng, có khi (đã xẩy ra những trường hợp như vậy) buộc phải viết lại văn kiện.

Trong thời gian chiến tranh, chúng tôi chỉ gửi lên Đại bản doanh và Tổng tư lệnh tối cao những văn kiện có tính chất thông tin: báo cáo, thông cáo, bản đồ tình huống. Những văn kiện cần phải lấy chữ ký hoặc phê chuẩn thì bao giờ chúng tôi cũng phải báo cáo trực tiếp, còn những văn kiện ít quan trọng hơn thì chúng tôi báo cáo với Xta-lin bằng điện thoại đặc biệt, do Tổng tham mưu trưởng ký. Kinh nghiệm chỉ ra rằng, chế độ phê chuẩn các văn kiện chủ yếu làm như vậy là đúng đắn hơn cả. Khi báo cáo miệng, chúng tôi có thể giải thích thêm (vì không thể viết hết cả trong văn kiện), có thể trả lời những vấn đề mới nẩy sinh. Cuối cùng, nếu văn kiện chưa đạt mức để được ký thì khi báo cáo trực tiếp, chúng tôi cũng có thể thấy rõ được là sẽ phải viết lại ra sao. Ngoài ra, làm như vậy sẽ tiết kiệm được thời gian của thủ trưởng và người báo cáo — thủ trưởng không cần phải chỉ dẫn dài dòng về văn kiện, còn người báo cáo có thể bắt tay sửa chữa ngay vào báo cáo, không chờ đến khi phải gửi trả lại bản báo cáo cho mình. Tất nhiên, vấn đề ở đây là nói về cơ quan tham mưu. Còn đối với các cơ quan khác, nhất là cơ quan dân sự, thì chế độ đó có lẽ không phải bao giờ cũng thích hợp. Ở đấy, các văn kiện được xem xét trong các cuộc họp riêng, nói chung chế độ đó không thích dụng, vì các văn kiện đều được biên soạn và chuẩn bị từ trước.

Cuối cùng, văn kiện được phê chuẩn. «Đã ký — thế là khỏi có điều gì bận tâm nữa» ư? Không, câu tục ngữ đó không thích hợp với chúng tôi. Vì văn kiện còn cần được phổ biến cho những người chấp hành trong một thời hạn ngắn nhất và phải tuân thủ mọi biện pháp giữ bí mật. Ngoài ra, lại còn phải làm cho mọi vấn đề trình bày trong đó đều được hiểu đúng và được chấp hành chính xác. Tất cả những việc trên đều thuộc chức trách của cơ quan tham mưu...


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Giêng, 2016, 06:47:03 am

*
* *


Tổ chức các bộ tổng tham mưu ở tất cả các nước, kể cả ở Liên Xô, đã hình thành từ lâu rồi. Cho tới gần đây, việc tự động hóa các quá trình chỉ huy vẫn chưa được tiến hành nên chỉ có một tập thể lớn các tướng lĩnh, sĩ quan và nhân viên phục vụ mới có thể thực hiện nổi khối lượng công tác lớn lao với nhiều chức năng hết sức đa dạng. Hiệu quả công tác của bộ máy phức tạp ấy phụ thuộc vào nhiều nguyên nhân trước hết là phụ thuộc vào sự thành thạo của các cán bộ và tác phong công tác của họ.

Ở mỗi người, tùy thuộc vào kiến thức, kinh nghiệm đặc điểm vốn có của họ mà hình thành nên tác phong công tác, tức là một hệ thống nhất định các phương pháp, biện pháp và chế độ làm việc giúp cho họ có thể hoàn thành công việc với chất lượng cao nhất và trong thời gian ngắn nhất. Ở bất kỳ cơ quan chỉ huy nào, kể cả cơ quan tham mưu, đều phải có tác phong công tác đó. Cơ sở của nó phải là tác phong công tác của Lê-nin được vận dụng một cách sáng tạo trong công tác quân sự, đặc biệt là trong công tác chỉ huy bộ đội. Trong những năm chiến tranh, các yêu cầu đối với tác phong công tác của cơ quan tham mưu được đặt ra một cách rất nghiêm khắc.

Kinh nghiệm công tác cho phép tôi nói rằng, các cán bộ trong Bộ tổng tham mưu xô-viết đã xóa bỏ tình trạng vô tổ chức, tệ quan liêu, thói bàn giấy và các biểu hiện xấu khác trong công tác. Vị trí hàng đầu ở các đồng chí đó là lập trường chính trị, lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, trình độ học vấn chung, sâu rộng của mỗi cán bộ tham mưu và của cả tập thể nói chung. Chính các phẩm chất ấy đã quyết định tác phong công tác của họ. Vững tin vào các chính sách đúng đắn của Đảng, trung thành với lý tưởng của Đảng, lòng yêu Tổ quốc xô-viết là cơ sở quyết định phong thái của người chỉ huy đó, của mọi sĩ quan trong quân đội chúng ta. Các cơ sở ấy đã và đang là cái đảm bảo cho mỗi người có thể cống hiến sức lực, tài năng của mình, và nếu cần, cả cuộc đời mình cho sự nghiệp mà họ đang phục vụ.

Các sĩ quan tham mưu, hơn nữa các sĩ quan trong Bộ tổng tham mưu, là những người được tin cậy giao cho giải quyết các nhiệm vụ quan trọng. Họ đang thực hiện một công tác quan trọng, mà nhiều vấn đề lại phụ thuộc vào đặc điểm chính trị và tư chất đạo đức của họ. Tôi nghĩ rằng, không cần phải giải thích là tại sao trong cơ quan tham mưu lại không có đất dung thân cho những con người hay than thở, hay ba hoa, những người đặt tình cảm trên lý trí, những người thích rượu và thích phụ nữ của người khác. Tất nhiên điều đó không có nghĩa là trong công tác tham mưu chỉ có thể có những người khổ hạnh, tách rời cuộc sống. Nhưng tình yêu cuộc sống và sự phóng đãng là những khái niệm khác nhau.

Thực tiễn chứng minh rằng, công tác trong cơ quan tham mưu trước đây và hiện nay đặt ra một số yêu cầu đặc biệt đối với con người. Ví dụ như, những người được lựa chọn vào cơ quan tham mưu không những chỉ nắm vững công tác quân sự — như thế vẫn chưa đủ — mà còn phải có kiến thức uyên bác, đồng thời lại còn có tư duy biết phân tích. Tất nhiên, những người chỉ huy của chúng ta đều vốn có các phẩm chất ấy và đã trở thành những cán bộ tham mưu xuất sắc. Song, chúng ta cũng có thể đưa ra nhiều dẫn chứng khác: có những đồng chí chỉ huy trung đoàn hoặc sư đoàn buộc phải làm công tác tham mưu, và họ đã không chịu ngồi yên một chỗ. Một số đồng chí thiếu cần cù và nhẫn nại, mà đó lại là những đức tính quan trọng của người cán bộ tham mưu và tính năng động của anh ta trước hết lại là ở sự suy nghĩ. Khó mà thay các trường bắn, bãi huấn luyện xe tăng và thao trường của những cán bộ ấy bằng cái bàn, bằng giấy tờ và bản đồ. Tóm lại, chúng ta phải biết chú ý tới đặc trưng của công tác tham mưu.

Chúng ta, những con người xô-viết, hơn nữa lại là những người cộng sản, chúng ta đều biết rằng một trong những biểu hiện hết sức quan trọng của tác phong công tác đúng đắn là nguyên tắc cao của Đảng, tức là khi giải quyết bất kỳ một vấn đề nào, chúng ta cùng phải biết và phải có khả năng thực hiện theo đúng chính sách của Đảng, phải xuất phát từ lợi ích của sự nghiệp chung.

Tính nguyên tắc còn có nghĩa là biết nắm lấy điều chủ yếu. biết nhìn vào bản chất của vấn đề, không bị sa đà vào những việc vụn vặt, không lao vào những công việc sự vụ hàng ngày, mà phải biết nhằm vào cái mới, không theo đuôi các sự kiện. Người sĩ quan có nguyên tắc là người bao giờ cũng có quan điểm vững vàng. Khi giải quyết bất kỳ một vấn đề nào, đồng chí đó cùng chỉ xuất phát từ lợi ích của công việc. Đó là người sĩ quan có tinh thần tự phê bình và công bằng, không nhân nhượng các thiếu sót và thái độ dễ dãi. Ngưởị sĩ quan-chuyên gia không được hữu ý hoặc vô tình thổi phồng ý nghĩa của binh chủng mình, còn người phụ trách khu vực mặt trận thì không được thổi phồng về các đơn vị mình theo dõi. Thông thường, người sĩ quan như vậy không thể rút ra những kết luận khách quan; cử người ấy làm công tác kiểm tra thì thật là nguy hiểm, vì anh ta không thể nào nhìn nhận các sự việc một cách đúng đắn. Chắc không cần nói cũng rõ rằng, những người cán bộ như vậy không ở lại lâu trong cơ quan tham mưu. Trong tập I, tôi đã có nói đến các sĩ quan của Bộ tổng tham mưu từ cấp sư đoàn trở lên ở ngoài mặt trận. Xét cho cùng thì đó là những người có nguyên tắc. Nhưng, khi hình thành nên tập thể những con người như vậy, thì cũng có một số người bị loại khỏi cái tập thể ấy, chủ yếu vì họ nhìn nhận các sự kiện và sự việc bằng những con mắt khác, họ đánh giá các sự kiện ấy như thế nào để không có gì trái với ý kiến của bộ chỉ huy địa phương. Hoặc tồi tệ hơn nữa là họ đã cư xử theo cách «gió chiều nào, che chiều ấy»

May thay, những con người như vậy không nhiều. Trong những năm chiến tranh, các sĩ quan của Bộ tổng tham mưu đã được mọi người quý trọng. Tôi xin dẫn thêm một ví dụ, trung tá N. V. Re-dơ-nhi-cốp không sợ báo cáo một cách trung thực với Bộ tổng tham mưu về những hành động không đúng của trung tướng V. N. Goóc-đốp, tư lệnh tập đoàn quân. Căn cứ vào bản báo cáo của Rê-dơ-nhi-cốp, Hội đồng quốc phòng Nhà nước đã cử một tiểu ban đặc biệt đến phương điện quân Tây và tác giả của bản báo cáo đó cũng là một thành viên của tiểu ban. Bản báo cáo của Rê-dơ-nhi-cốp không những được xác nhận, mà còn giúp phát hiện ra nhiều khuyết điểm khác nữa. Căn cứ vào kết quả công tác của tiểu ban, Hội đồng quốc phòng Nhà nước đã ra một nghị quyết riêng đánh giá hoạt động của bộ đội phương diện quân Tây và có những kết luận nghiêm khác về tổ chức.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Giêng, 2016, 07:14:22 pm

*
* *


Chất lượng công tác cao luôn luôn là thước đo trình độ của người cán bộ Bộ tổng tham mưu, mặc dầu như chúng ta đều biết là trong lĩnh vực này không có và không thể có những tiêu chuẩn chính xác. Vì rằng, người sĩ quan tham mưu không tạo ra của cải vật chất là những thứ có tiêu chuẩn và dung sai được quy định rõ ràng. Họ cũng không sáng tạo ra những giá trị kỹ thuật hoặc tinh thần, như phát minh sáng chế, công trình kỹ thuật hoặc tác phẩm văn học... Đại bộ phận (nếu không phải là đại đa số) các sĩ quan trong cơ quan tham mưu cấp cao cũng không sáng tạo ra cho bộ chỉ huy những thành phẩm, mà họ chỉ tham gia vào quá trình biên soạn các văn kiện, hơn nữa họ chỉ làm việc đó theo chuyên môn của mình. Ngoài ra, kết quả cuối cùng của công tác này được tổng kết bởi các trận đánh, các trận chiến đấu và các công việc thực tế mà người ta đã giải quyết căn cứ vào những văn kiện do cơ quan tham mưu biên soạn. Kinh nghiệm của nhiều năm công tác cho phép tôi khẳng định rằng người sĩ quan tham mưu chỉ có thể đạt được chất lượng công tác cao trong điều kiện thực hiện được toàn bộ các yêu cầu. Vậy đó là những yêu cầu gì?

Trong những năm chiến tranh, vấn đề quan trọng hàng đầu ở Bộ tổng tham mưu là người cán bộ phải biết nắm chắc xu hướng phát triển của các hiện tượng hoặc sự kiện, hiểu rõ thực chất của nó, biết dự kiến sự phát triển đó sẽ có thể dẫn tới đâu. Dự kiến là một trong những đức tính quan trọng không những của vị thống soái mà còn của những người sĩ quan tham mưu nữa. Nếu không làm được như vậy thì rõ ràng chỉ có thể là người ghi chép các sự kiện một cách máy móc và lạc hậu với sự phát triển của các sự kiện đó. Những tháng chiến tranh đầu tiên trong năm 1941, khi các sự kiện đang phát triển rất nhanh và bất lợi cho chúng ta, nhiều mệnh lệnh và chỉ thị đã trở nên lạc hậu với tiến trình các sự kiện, khiến các đơn vị không thể thực hiện nổi. Tình hình đó xảy ra không phải do các cán bộ của Bộ tổng tham mưu kém cỏi về mặt quân sự, mà là do chúng ta không nắm được các tin tức chính xác về tình hình của bộ đội ta và của địch, và trong thời kỳ đầu chiến tranh, chúng ta cũng không thể buộc mình phải tin tưởng, để từ đó mà dự kiến được rằng các sự kiện sẽ phát triển bất lợi cho ta đến như vậy. Chúng ta phải mất mấy tháng cay đắng mới có được kinh nghiệm, nắm chắc được các sự kiện, rồi sau này Đại bản doanh Bộ tổng tư lệnh tối cao và bộ máy của nó là Bộ tổng tham mưu thường đã kịp thời phân tích được tình hình, đã đề xuất và thông qua được đúng lúc các quyết định.

Nhân tố quan trọng tiếp sau, quyết định chất lượng công tác của người sĩ quan tham mưu là tính hiện thực của các kết luận, đề nghị và ý kiến báo cáo lên bộ tư lệnh. Các trợ lý là những người nhớ rất kỹ các vấn đề này: ai khác không biết, chứ họ thì biết rất rõ là các mũi tên đẹp trên bản đồ tự nó sẽ không có giá trị gì hết, nếu như các ý đồ không chứa đựng nội dung có căn cứ vật chất hiện thực, nếu các ý đồ ấy không được củng cố vững chắc cả về mặt tổ chức.

Trong thời gian chiến tranh, có tới hàng trăm kiến nghị của những quân nhân và người dân gửi tới Bộ tổng tham mưu, nói về vấn đề giải vây Lê-nin-grát, bảo vệ Xê-va-xtô-pôn, tiêu diệt quân Đức ở Mát-xcơ-va, Xta-lin-grát và nhiều vấn đề khác có liên quan tới chiến tranh. Tất cả những kiến nghị ấy đều rất chân thành, quan tâm sâu sắc tới vận mệnh của Tổ quốc, muốn mau chóng tiêu diệt quân thù. Nhưng phần lớn các kiến nghị ấy lại không thực tế, vì các tác giả không nắm được tình hình xác thực về các nguồn dự trữ, không nắm được hoàn cảnh và tình hình các đơn vị. Song, cũng có những kiến nghị được chấp nhận đầy đủ hoặc chấp nhận một phần, chủ yếu đó là những kiến nghị về các vấn đề kỹ thuật.

Các đề nghị của phương diện quân và tập đoàn quân, tuy không thường xuyên lắm, nhưng có lúc cũng bị bác bỏ. Các đề nghị ấy không phải do đầu óc ảo tưởng đẻ ra. Trái lại các đồng chí tư lệnh và các cơ quan tham mưu đều có tính toán khá tỉ mỉ. Nhưng các đồng chí đó đã phạm sai lầm, chẳng han như đã đánh giá quá cao khả năng của Đại bản doanh. Năm 1944, các trợ lý của Bộ tổng tham mưu đúng là hết sức kinh ngạc trước vẻ đẹp của chiến dịch có quy mô lớn, hiếm có về hình thức và tính chất độc đáo của ý đồ mà C. C. Rô-cô-xốp-xki và cơ quan tham mưu phương diện quân đã đề nghị nhằm tiêu diệt quân địch ở Bê-lô-ru-xi-a. Nhà cầm quân xô-viết xuất sắc đó đã dự tính đánh vu hồi từ phía Tây vào các lực lượng chủ yếu của cụm tập đoàn quân «Trung tâm» của địch, đóng ở phía Đông Min-xcơ. Để thực hiện điều đó, đồng chí đề nghị tiến công ở phía Nam từ sau vùng Pô-lê-xi-ê, để thọc sâu vào sau lưng quân phát-xít Đức tới tuyến Cô-brin, Xlô-nim, Xtôn-bơ-txư, rồi sau đó đồng thời mở các mũi đột kích hợp điểm để tiêu diệt chúng. Bạn đọc chắc sẽ đồng ý là nếu thực hiện được ý định này, sẽ đem lại cho ta những thắng lợi lớn về chiến lược. Các trợ lý của Bộ tổng tham mưu khi nhận được đề nghị của Rô-cô-xốp-xki, đã tính toán tỉ mỉ lực lượng và phương tiện cần phải dành ra để sử dụng vào mục đích này. Các bảng tính chỉ rõ rằng, đất nước chúng ta hồi ấy chưa thể cung cấp nổi các lực lượng theo yêu cầu. A. I. An-tô-nốp báo cáo tình hình đó cho Đại bản doanh, và phải làm lại kế hoạch.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Giêng, 2016, 07:16:07 pm

Trong những năm chiến tranh, cả công việc soạn thảo văn kiện tham mưu mẫu mực cũng thường làm nổi bật các cơ quan tham mưu làm việc tốt. Văn kiện ấy giống như tấm gương, phản chiếu bộ mặt của người tư lệnh và những thủ trưởng khác tổ chức và thực hiện việc chỉ huy các đơn vị. Các trợ lý của Bộ tổng tham mưu chỉ cần nhìn bề ngoài cũng đủ xác định được là văn kiện ấy từ đâu gửi đến. Nhưng tất nhiên, điều quan trọng hơn hết vẫn là nội dung của nó. Đã đặt ra những yêu cầu nhất thiết phải có đối với một văn kiện. Mỗi văn kiện mà cơ quan tham mưu gửi cho bất kể cấp nào đều phải có sức thuyết phục, có bằng chứng xác đáng, lời văn rõ ràng, không để cho người ta có thể giải thích theo một cách nào khác và để hiểu được nó thì không cần bất cứ tài tiệu nào khác. Nói tóm lại, điều quan trọng là ý tứ trong văn kiện phải thật rõ. Thông thường, nếu văn kiện không đáp ứng được các yêu cầu nói trên thì phải giải thích thêm và phải gửi thêm những văn bản thuyết minh, sửa đổi. Văn kiện đó sẽ không được tôn trọng và thường được chấp hành kém kết quả.

Mọi người đều rõ là văn kiện ngắn gọn vẫn quý hơn văn kiện dài dòng. Vì vậy, mỗi sĩ quan tham mưu đều phải học tập cách soạn thảo văn kiện như thế. Song thực hiện được tốt yêu cầu này cũng không phải chuyện dễ dàng. Viết dài thường dễ hơn viết ngắn. Nhưng trong công tác quân sự lại cần ngắn gọn. Nếu chú ý tới các mệnh lệnh, chỉ thị của Đại bản doanh và Bộ tổng tham mưu trong những năm chiến tranh, chúng ta có thể thấy được rằng tất cả các văn kiện ấy, trừ trường hợp rất đặc biệt, đều chỉ viết trong một-hai trang giấy.

Tất nhiên, trong các cơ quan tham mưu không phải không cần có những văn kiện dài. Đó là các kế hoạch khác nhau, các thông báo tác chiến và trinh sát, các loại tài liệu tra cứu. Vấn đề ở đây không phải là nói đến loại văn kiện ấy, mà muốn nói đến các văn kiện chấp hành, song các văn kiện này cũng phải tuân theo các yêu cầu nói trên.

Trong công tác thực tiễn ở các cơ quan tham mưu cấp cao, kể cả Bộ tổng tham mưu, trong những năm chiến tranh đã quy định là mọi văn kiện quan trọng đều do chính tham mưu trưởng viết. Chúng tôi bỏ lối giao cho các sĩ quan cấp dưới viết, rồi sau đó chuyển lên cấp trên, vì làm như vậy mất rất nhiều thời gian, đôi khi còn làm sai lạc cả ý nghĩa của biện pháp đã định. Kết quả là nếu tham mưu trưởng tự tay viết văn kiện thì đỡ tốn thời gian hơn là để cho cấp dưới viết, rồi phải sửa chữa các thiếu sót hoặc những chỗ sai lạc ý định. Tham mưu trưởng tự mình viết văn kiện còn có lợi ở chỗ là làm như vậy sẽ buộc họ phải suy nghĩ độc lập và sáng tạo. Nhưng, tất nhiên, nói vậy không có nghĩa là tham mưu trưởng cứ phải tự mình viết hết mọi văn kiện, vì làm như thế lại trở thành một việc quá cực đoan. Nhiệm vụ chủ yếu của tham mưu trưởng là tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra mọi công việc. Tại các hội nghị đảng, chúng tôi còn nhớ rất rõ lời nói của V. I. Lê-nin: «Cho đến nay, những người cộng sản ở nước ta chưa hiểu rõ nhiệm vụ lãnh đạo thực sự của mình là như thế nào: không nên «tự mình» làm «tất cả», làm quá sức mà vẫn không kịp, làm một lúc cả hàng hai chục việc mà không được một việc nào ra trò, mà phải kiểm tra công việc của hàng chục, hàng trăm người phụ giúp... »1.

Điều kiện chiến tranh lại càng nhấn mạnh thêm đặc điểm nổi bật và không thể thiếu trong tác phong công tác của mọi cơ quan tham mưu là tính đòi hỏi cao đối với chính mình và đối với các cán bộ cấp dưới. Tính đòi hỏi cao ấy bao giờ cũng dựa trên cơ sở nghiêm túc và nhất thiết phải chấp hành các mệnh lệnh, chỉ thị, hiểu sâu các vấn đề mà người sĩ quan tham mưu phụ trách, biết làm việc và có những kỹ năng nghiệp vụ tới mức thật hoàn hảo. Chúng ta không thể nói đến vấn đề tính đòi hỏi cao, nếu như nó không vì lợi ích của công việc, nếu như người sĩ quan chỉ xuất phát từ quy tắc «tôi muốn thế», mà không cân nhắc đến tính lô-gích và lẽ phải. Người nào mà bản thân không hoàn thành các mệnh lệnh, thì về mặt tinh thần, người đó cũng không có quyền đòi hỏi người khác được.

Tình hình chiến tranh có liên quan tới nhiều bước ngoặt, có lúc lại là những bước ngoặt mang tính chất cực đoan. Hơn nữa, điều quan trọng là phải làm sao cho tính đòi hỏi cao không được đồng nhất với tính thô bạo. Những lời nói nặng nề là điều không thể chấp nhận được trong cơ quan tham mưu. Ở đây, cần làm việc bằng trí não chứ không phải bằng cổ họng. Người chỉ huy được kính trọng hơn hết là người chỉ huy nghiêm khắc nhưng công bằng, không cho phép mình quát mắng cấp dưới, lăng nhục họ, không tôn trọng ý kiến họ. Trong những năm chiến tranh, tôi có dịp gặp gỡ hoặc tiếp xúc với nhiều cán bộ tham mưu. Các đồng chí phần lớn là những người chỉ huy như thế đó, trước hết phải kể đến những nhà chỉ huy quân sự nổi tiếng như A. M. Va-xi-lép-xki, Ph. I. Tôn-bu-khin, A. I. An-tô-nốp, Gh. C. Ma-lan-đin và nhiều người khác. Các đồng chí đó đã kết hợp tính đòi hỏi cao với tình thân ái, tôn trọng cấp dưới và quan tâm đến họ.
____________________________________
1. V. I. Lê-nin. Toàn tập, tiếng Việt, Nhà xuất bản Tiến bộ, Mát-xcơ-va


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Giêng, 2016, 07:16:57 pm

Tại các hội nghị đảng, hội nghị công tác ở Bộ tổng tham mưu và các cơ quan tham mưu các cấp khác, chúng ta đặc biệt chú ý tới tính thiết thực trong công tác của các sĩ quan và các tập thể tham mưu. Tính thiết thực được coi là một điểm thiết yếu trong tác phong công tác của Lê-nin. Chúng ta đều biết, V. I. Lê-nin đánh giá cao những suy nghĩ mạnh dạn, biết kết hợp khí thế cách mạng với công tác tổ chức tỉ mỉ của các cán bộ đảng, cán bộ chính quyền và cán bộ quân sự.

Tính thiết thực là một khái niệm rất hàm súc, rất rộng. Nó vừa là sự hiểu biết công việc và vừa là tính cụ thể trong công tác, tính chấp hành và nhiều đức tính khác. Nói về tính thiết thực của người sĩ quan tham mưu, tôi muốn nêu bật trước hết khả năng linh hoạt ra quyết định phù hợp với điều kiện cụ thể. Trong chiến tranh, nếu không có quyết định thì không được, vì quyết định là cơ sở để chỉ huy các đơn vị. Trong điều kiện cơ quan tham mưu, ngoài việc trực tiếp chỉ huy chiến đấu hoặc chiến dịch, còn cần ra quyết định cả về các văn kiện chiến đấu được biên soạn cho việc đó. Người nào vì cớ gì đó muốn lảng tránh việc ra quyết định thì tình hình sẽ rất xấu. Trong trường hợp đó, văn kiện giống như quả bóng, sẽ được chuyền hết người chấp hành này sang người chấp hành khác, đầy những tài liệu tra cứu, những nghị quyết. Tác phong công tác như vậy không thể gọi là thiết thực, còn bộ máy đó thì chỉ làm ra được những việc vô bổ.

Cung cách làm việc một cách thiết thực đòi hỏi phải có thái độ khoa học, biết đi sâu vào thực chất của các hiện tượng chiến đấu hoặc chiến dịch, biết dự kiến khả năng phát triển của chúng, xác định các phương thức có thể lái sự phát triển đi đúng hướng cần thiết. Vì vậy, tính thiết thực không dung thứ sự hời hợt, làm việc theo «may rủi», không nắm được và không biết khéo sử dụng các quy luật của cuộc đấu tranh vũ trang, các kết luận và chỉ dẫn của khoa học quân sự và các khoa học khác, thiếu một nhãn quan bao quát của con người.

Người sĩ quan có thể phán xét rộng rãi hết thảy mọi vấn đề, nhưng hiểu biết trách nhiệm của mình một cách nông cạn và chấp hành không đến nơi đến chốn thì người đó sẽ ít có tác dụng. Đồng thời, nếu các quyết định không được thực hiện trong công tác thực tiễn sinh động thì nó vẫn chỉ là những ý định tốt mà thôi. Do đó, tính thiết thực đòi hỏi phải thống nhất lời nói với việc làm, thống nhất lý thuyết với thực hành. Con người thiết thực phải là người biết kiên trì đấu tranh hoàn thành tốt nhiệm vụ đã đề ra.

Tôi nghĩ là không cần thiết phải giải thích ý nghĩa của tính kế hoạch và kế hoạch hóa. Vì không phải chỉ những sĩ quan tham mưu mới hiểu biết và nhận thức rất rõ rằng, nếu không có kế hoạch thì không thể hoàn thành thắng lợi bất cứ một công việc to lớn nào. Ở cơ quan tham mưu, kế hoạch không cho phép sa vào những công việc sự vụ, xóa bỏ tình trạng chồng chéo lẫn nhau trong công tác của các sĩ quan, các phòng, cục. Kế hoạch sẽ cho phép chúng ta phân phối một cách đúng đắn các lực lượng và phương tiện.

Cuối cùng, tính thiết thực luôn luôn đòi hỏi phải có tính tổ chức, sử dụng tốt thời gian của công tác tham mưu. La cà trong giờ làm việc, nói chuyện điện thoại không cần thiết, đi lại hỏi han lẫn nhau luôn, không phải là những chỉ tiêu của tính thiết thực trong công tác; chúng ta phải tìm mọi cách chấm dứt tình trạng đó. Biết quý trọng thời gian, quý trọng lao động của các đồng chí và của chính mình, tuân thủ nghiêm túc chế độ công tác đã quy định, làm mọi việc đúng thời hạn, không lạc hậu với tiến trình các sự kiện mà biết đón trước các sự kiện, đó là những chỉ tiêu công tác thiết thực của các sĩ quan tham mưu, mà chúng ta phải ra sức duy trì. Các đồng chí trong Cục tác chiến và các cục khác thuộc Bộ tổng tham mưu trong những năm chiến tranh, đã nêu lên cho tôi tấm gương về tính thiết thực thật sự, về tinh thần hết lòng hoàn thành nghĩa vụ đối với Tổ quốc xô-viết.

Trong thực tiễn cuộc sống, người ta thường coi người có chức vụ lớn là người có trách nhiệm. Điều đó xuất phát từ sự tôn trọng những người biết suy nghĩ, lao động và đấu tranh vì lợi ích của nhân dân, được cử giữ những chức vụ cao của nhà nước hoặc của quân đội. Nhưng, khái niệm trách nhiệm lại được áp dụng đối với toàn bộ nhóm người đang hoạt động hữu ích và liên hệ với nhau một cách hợp quy luật trong một hệ thống các mối quan hệ phức tạp nhưng lại cần thiết. Tinh thần trách nhiệm cao trong việc hoàn thành công việc được giao là yếu tổ quan trọng trong tác phong công tác của mỗi người, và đặc biệt là của người sĩ quan trong cơ quan tham mưu là nơi mà mọi chức trách đã được phân công chặt chẽ.

Bất kỳ cơ quan tham mưu cấp cao nào cũng đều tiến hành nhiều công việc chỉ huy các hành động quân sự, làm nhiều văn kiện, chủ yếu là phân tích, sửa đổi, tính toán, so sánh lập bảng tổng hợp quân số, trang bị và khí tài khác... mà ngoài người trực tiếp chấp hành ra thì không có ai kiểm tra cả và không một ai có khả năng làm việc đó. Một sơ suất nhỏ, một con số không đúng, đều có thể gây ra những sai lầm khó sửa chữa được trong quyết định, vì ra quyết định phải dựa vào báo cáo và các văn kiện mà các cán bộ đó biên soạn ra. Chính vì vậy nên người sĩ quan tham mưu có tinh thần trách nhiệm cao là người biết chủ động tự mình nhiều lần kiểm tra công việc đang làm mà không cần có ai nhắc nhở thúc giục, biết phối hợp các hành động và giải pháp của mình với những người có trách nhiệm không tính toán đến thời gian riêng của mình. Những người thiếu tinh thần trách nhiệm không được ở lâu trong Bộ tổng tham mưu. Chỉ vài ba khuyết điểm của họ cũng đủ buộc người thủ trưởng không dám giao cho họ những công việc quan trọng và cuối cùng buộc phải từ biệt họ.

Đối với những «người quá ư dè dặt», chúng tôi cũng liệt họ vào hạng người thiếu tinh thần trách nhiệm. Do muốn lấy lòng người khác hoặc muốn tránh mọi điều khó chịu, nên họ có thể làm cho người thủ trưởng mất hướng trước tình hình và làm cho đồng chí đó khó đề ra quyết định đúng đắn. Trong thời gian chiến tranh, tôi đã gặp phải một trong số những người như vậy. Hồi đó, các cơ quan hậu cần có xu hướng phình ra, và Đại bản doanh bắt phải thu gọn lại, hoặc như hồi đó người ta thường nói là phải «gọt bớt» nó đi. Căn cứ vào chỉ thị thường lệ của Đại bản doanh về việc «gọt bớt» đó, một sĩ quan trong Bộ tổng tham mưu lãnh đạo một nhóm phụ trách việc tổ chức các cơ quan hậu cần (phải nói thêm: người đó biết thạo việc của mình) được giao nhiệm vụ nghiên cứu chỉ thị là sẽ giải thể và thu gọn những bộ phận gì và ở những khâu nào. Sau một thời gian khá dài đi công tác ngoài mặt trận, đồng chí sĩ quan ấy cùng với nhóm của mình có lẽ như muốn lấy lòng ai đó, đã đưa ra bản đề nghị thu gọn có ảnh hưởng phá hoại tới khả năng chiến đấu của các đơn vị hậu cần chúng ta. Tổng tham mưu trưởng coi cách làm việc đó là biểu hiện của tinh thần vô trách nhiệm và người sĩ quan ấy buộc phải rời khỏi Bộ tổng tham mưu.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Giêng, 2016, 07:18:00 pm

*
* *


Chúng tôi đã nói là người sĩ quan của cơ quan tham mưu, nhất là của Bộ tổng tham mưu, không thể chỉ là người ghi chép các sự kiện, đơn thuần thu thập các tin tức, chấp hành các chỉ thị. Mà người sĩ quan tham mưu còn cần phải có năng khiếu sáng tạo. Các điều lệnh của chúng ta đã đề ra và đòi hỏi người chiến sĩ phải có tính chủ động. Điều đó có nghĩa là người sĩ quan phải là người có óc sáng tạo, tinh thông công việc của mình, bất kỳ việc lớn hay nhỏ, đều phải đem hết kinh nghiệm và sự hiểu biết của mình để tìm tòi cái mới. Tất nhiên, đó là việc làm không đơn giản và không phải trong mỗi công việc đều có thể tìm ra và đề xuất được những cái gì mới. Như đã nói trong điều lệnh, chúng ta cần phải biểu thị tính chủ động một cách thông minh và sáng tạo, chứ không phải là «tối tạo». Sơ dĩ tôi nhắc đến điều này là vì thực tế chiến tranh có rất nhiều hình nhiều vẻ; chiến tranh tạo ra cả một môi trường hoạt động rộng lớn cho từng người sĩ quan thông minh và năng động.

Trong những ngày chiến tranh, người trợ lý, người tổ chức và bất kỳ người sĩ quan tham mưu nào cũng đều phải tìm ra trong mỗi công việc quan trọng, nhất là trong các dự kiến tiến hành các chiến dịch, «cái độc đáo» của mình, đòi hỏi phải xem xét nó trong mối liên hệ chung với các sự kiện khác, và ở đó sẽ phải phát huy cái gì, rồi tiếp sau sẽ sử dụng như thế nào trong thực tế. Trong chiến dịch Ki-ép vào mùa thu năm 1943, các sĩ quan tham mưu của tập đoàn quân xe tăng cận vệ 3, do tướng p. X. Rư-ban-cô chỉ huy, đã đề nghị một điều tưởng chừng như trái với tự nhiên: tấn công tuyến phòng thủ của quân địch bằng xe tăng vào ban đêm chứ không phải ban ngày, hơn nữa lại bật hết các đèn pha chiếu sáng và bóp còi inh tai. Đề nghị ấy tưởng chừng mâu thuẫn với điều lệnh nhưng kỳ thực thì nó lại rất phù hợp với tinh thần của yêu cầu điều lệnh về tính chủ động và không hề rập khuôn cứng nhắc, vì các sĩ quan đã biết dựa vào sự hiểu biết chính xác tình hình khu vực của tập đoàn quân và đã hành động đúng. Cuộc tấn công thắng lợi. Thêm một dẫn chứng nữa về thái độ sáng tạo đối với công việc là việc chọn hướng đột kích chủ yếu của tập đoàn quân 65, do tướng P. I. Ba-tốp chỉ huy trong chiến dịch «Ba-gra-ti-on» trên địa hình ao hồ sình lầy. Quyết định ấy đã được thông qua có tính toán đến yếu tố bất ngờ, và nó rất có hiệu quả.

Chúng ta còn có thể đưa ra nhiều dẫn chứng về những người chỉ huy và cơ quan tham mưu biết thể hiện tính sáng tạo, chủ động và đã giành được thắng lợi. Có thể có ý kiến không đồng ý với tôi, cho rằng ở các cơ quan tham mưu cấp cao có nhiều công việc lớn, nên mới có nhiều điều kiện để sáng tạo, còn người sĩ quan ở cơ quan tham mưu bình thường thì «sáng tạo» cái gì? Tôi tin chắc rằng, ngay những công việc bình thường của cơ quan tham mưu cũng có địa bàn hoạt động rộng lớn cho sự sáng tạo và chủ động. Trong các công việc tác chiến, nếu không có thái độ sáng tạo, thì không thể giải quyết tốt bất cứ một vấn đề gì, dù đó là việc đề ra ý đồ hoặc vạch kế hoạch chiến dịch, việc nghiên cứu nhiệm vụ ngụy trang chiến dịch, tính toán về so sánh lực lượng, lợi dụng địa hình, — ở bất cứ chỗ nào cũng mở ra cho người trợ lý những khả năng tạo nên ưu thế cho bộ đội mình hơn địch. Thế còn vấn đề trinh sát? Ở đây cũng vậy, chỉ có tính sáng tạo và chủ động mới có thể khai thác được những tin tức cần thiết, còn máy móc và rập khuôn thì chỉ có thể dẫn đến thất bại. Vậy lẽ nào các sĩ quan của các cơ quan tổ chức lại ít có khả năng biểu hiện tính chủ động, chẳng hạn như khi họ nghiên cứu một cơ cấu tổ chức mới, hoặc sửa đổi tổ chức cũ nhân việc sử dụng các vũ khí và khí tài hiện đại hơn? Tôi xin đưa ra đây một dẫn chứng qua thực tế bản thân, có quan hệ tới việc xuất hiện vũ khí mới, mà thoạt nhìn thì xem ra có vẻ như đã thành lập nên một cơ cấu tổ chức tốt. Thế nhưng, sau khi thứ vũ khí mới ấy được nghiên cứu tỉ mỉ và kiểm tra trong thực tiễn thì thấy rằng, có thể tăng số vũ khí lên gấp ba lần ở các phân đội mà biên chế vẫn không cần tăng thêm một người nào. Nói tóm lại, trong bất kỳ tình huống nào cũng như trong bất kỳ công tác tham mưu nào cũng đều có đất để phát huy tính sáng tạo và chủ động.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Giêng, 2016, 07:18:36 pm

*
* *


Trong những năm chiến tranh, ở Bộ tổng tham mưu, công việc hết sức dồn dập cả ngày đêm, hơn nữa chúng lại đòi hòi phải giải quyết hết sức nhanh. Và chúng tôi cũng sớm nhận ra rằng, nhanh và vội trong công tác không đồng nghĩa với nhau. Hơn nữa, đó lại là những khái niệm không giống nhau. Nhanh là bạn còn vội là thù của công tác tham mưu. Đức tính nhanh được tạo nên và có được là nhờ thực tiễn, được củng cố nhờ rèn luyện. Người làm việc nhanh là người biết tập trung mọi suy nghĩ vào công việc mình đang phụ trách, không hề phân tán sang công việc khác, nhanh chóng suy nghĩ để có mọi thứ cần thiết trong tay. Tiện đây, cần nói thêm rằng, người làm việc nhanh nhậy là người biết tập trung tư tưởng, hăng say công tác, không nghe những chuyện phiếm của những người bên cạnh, không bị những ồn ào ngoại cảnh chi phối; họ toàn tâm đi sâu vào công việc. Còn vội: đó là thiếu sót. Tính vội vàng thường xuất hiện ở những người thiếu đầu óc tổ chức, lười suy nghĩ. Những người như thế thì mọi thứ đều làm phiền họ, những người ấy mất nhiều thời gian một cách vô ích, nên họ không kịp làm các công việc đúng hạn, rồi sinh vội. Họ không chịu kiên nhẫn thâm nhập vào thực chất các sự kiện, họ vớ lấy những phỏng đoán ban đầu mà họ cho là đúng. Họ phạm sai lầm, nhầm lẫn và rút ra những kết luận nông nổi. Tôi cho rằng nhà văn Nga vĩ đại Mác-xim Goóc-ki đã từng nói về chính những con người ấy như sau: «...Anh ta suy nghĩ và lập luận không phải để nghiên cứu các hiện tượng trong cuộc sống, mà để vội tìm ra chốn nương náu yên hàn cho sự suy nghĩ của mình, vội xác nhận những sự thật hiển nhiên khác nhau». Chúng ta thường nói với nhau là trong các cơ quan tham mưu, chúng ta làm việc không cần vội, mà cần nhanh hơn.

Kết quả công tác của người sĩ quan tham mưu phụ thuộc trực tiếp vào mối liên hệ của họ với cuộc sống, với bộ đội. Trong những năm chiến tranh, Đại bản doanh Bộ tổng tư lệnh tối cao Liên Xô và ban lãnh đạo Bộ tổng tham mưu chú ý theo dõi giúp cho các cán bộ của Bộ tổng tham mưu nắm vững thực tế chiến tranh. Theo thường lệ, mọi sĩ quan giữ các trách nhiệm công tác trong Bộ tổng tham mưu đều nhất thiết phải có mặt ở ngoài mặt trận. Còn các chủ nhiệm khu vực mặt trận một nửa số thời gian là ở các cơ quan tham mưu và các đơn vị thuộc mặt trận mình theo dõi. Cá biệt có những sĩ quan trong số đó có cả tác giả những dòng chữ này, thỉnh thoảng phải đi công tác thường kỳ và chỉ ở Bộ Tổng tham mưu có vài ngày thôi. Thậm chí có một số người suy nghĩ: vậy thì nói chung họ cần gì phải ở Bộ tổng tham mưu, sao không «thả» họ ra mặt trận? Những ý kiến ấy đã từng có và tất nhiên là không đúng. Tổng tư lệnh tối cao có ý kiến riêng của mình về vấn đề này. Đồng chí coi trọng ý nghĩa và tác dụng của mối liên hệ giữa các cơ quan tham mưu với các đơn vị, muốn bồi dưỡng thực tế của các đơn vị cho các cán bộ tham mưu có trình độ lý luận; đồng chí thường hay hỏi: các cán bộ trong Bộ tổng tham mưu có hay ra mặt trận không?

Bản thân I. V. Xta-lin chỉ tới đầu tháng Tám 1943 mới ra mặt trận. Hồi đó, các phương diện quân Ca-li-nin và Tây đang chuẩn bị chiến dịch tiến công Xmô-len-xcơ. Các phương diện quân ấy có nhiệm vụ giải phóng một bộ phận quan trọng ở vùng cao Trung Nga và tiêu diệt quân địch ở khu vực Xmô- len-xcơ. Qua đó, chúng ta có thể bảo đảm mặt phía Bắc của sườn phải các lực lượng chủ yếu của ta (4 phương diện quân) đang tiến công từ vòng cung Cuốc-xcơ. Ngày 3 tháng Tám, khi các đơn vị của phương diện quân Vô-rô-ne-giơ và phương diện quân Thảo Nguyên đang hiệp đồng với cánh phải của phương diện quân Tây-Nam chuyển sang tiến công trên hướng Bê-lơ-gô-rốt - Khác-cốp, thì Tổng tư lệnh tối cao đã đến chỗ tướng V. Đ. Xô-cô-lốp-xki tại sở chỉ huy của phương diện quân Tây, ở khu vực I-u-khơ-nốp. Đồng chí nghe tư lệnh phương diện quân báo cáo tình hình, xem xét các vấn đề đặt kế hoạch và chuẩn bị cho chiến dịch. Đồng chí nghiên cứu tỉ mỉ nhiệm vụ của các tập đoàn quân, pháo binh và xe tăng.

Sáng ngày 5 tháng Tám, I. V. Xta-lin tới làng Khô-rô-se-vô ở gần Rơ-giép, gặp tướng A. I. Ê-ri-ô-men-cô, tư lệnh phương diện quân tại sở chỉ huy của phương diện quân Ca-li-nin. Ở đấy, đồng chí cũng nghiên cứu tình hình, kế hoạch chiến dịch của cả hai phương diện quân, nhất là phương diện quân Ca-li-nin, và các vấn đề bảo đảm vật chất cho chiến dịch. Chẳng hạn, đồng chí đã quyết định đưa mật độ pháo binh ở khu vực mũi đột kích chủ yếu lên tới 170 khẩu trên một ki-lô-mét chính diện đột phá, bằng cách cơ động pháo ở các hướng phụ sang, bổ sung thêm lực lượng cho phương diện quân Ca-li-nin (quân đoàn kỵ binh cận vệ 3 của tướng N. X. Ô-xli-cốp-xki và một số đơn vị không quân).

Ngày hôm ấy, chúng ta giải phóng được Ô-ri-ôn và Bê-lơ-gô-rốt. Xta-lin từ mặt trận gọi điện về Bộ tổng tham mưu đúng vào lúc tôi nhận điện. Đồng chí lệnh cho chúng tôi chuẩn bị nhật lệnh biểu dương. «Bao giờ tôi trở về, — đồng chí nói, — thì đồng chí cùng với An-tô-nốp đến ngay Đại bản doanh để giải quyết việc tổ chức mừng chiến thắng này».

Theo quan điểm chúng tôi, Tổng tư lệnh tối cao không thể thường xuyên ra mặt trận. Vì nếu vắng mặt trong việc chỉ đạo chung để đi vào giải quyết nhiệm vụ riêng cho một mặt trận nào đó, thì lại là một sự khinh suất không thể tha thứ được.

Tổng tư lệnh tối cao còn đi dự các hội nghị ở Tê-hê-ran, I-an-ta và Pốt-xđam. Nhưng dù đi dự các hội nghị ấy, Tổng tư lệnh tối cao vẫn trực tiếp nắm quyền chỉ đạo mọi hành động chiến đấu ở các phương diện quân. Chúng tôi cho rằng trong điều kiện chiến tranh quyết liệt thì đó quả là một quyết định đúng đắn; Tổng tư lệnh tối cao bao giờ cũng giữ vững mối liên hệ chặt chẽ với thực tế cuộc chiến tranh. Cung cấp cho đồng chí những thực tế sinh động là những người mà Tổng tư lệnh tối cao đã nghiêm khắc đòi hỏi và không để cho ngồi lâu ở Mát -xcơ-va.

Đồng thời, I. V. Xta-lin cho rằng, phải thường xuyên bổ sung các cán bộ tham mưu có trình độ lý luận cho đội ngũ các cán bộ thực hành. Nhiều sĩ quan trong Bộ tổng tham mưu đã được cử giữ các chức vụ tham mưu trưởng các phương diện quân, tập đoàn quân, và chính bản thân các cơ quan tham mưu cũng được tín nhiệm lớn. Mọi đồng chí tham mưu trưởng đều là người phó tư lệnh thứ nhất hoặc cán bộ chỉ huy. Ngay các nhật lệnh chào mừng chiến thắng của Đại bản doanh cũng gửi cho hai người: tư lệnh và tham mưu trưởng. Chúng tôi thiết nghĩ, đó là việc làm đúng, vì không ai ngoài tham mưu trưởng, lại có thể nắm được hết mọi công việc, bởi lẽ bất kì người thủ trưởng nào khác cũng chỉ nắm được một ngành công tác thôi. Trước đây và hiện nay chỉ có tham mưu trưởng mới có quyền thay mặt người chỉ huy hạ các mệnh lệnh.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Giêng, 2016, 07:19:50 pm

*
* *


Trong thời bình và nhất là trong thời chiến, đặc điểm nổi bật lên trong tác phong công tác của các cán bộ tham mưu mọi cấp là ý thức cảnh giác, biết giữ gìn bí mật. Yêu cầu tất yếu đối với họ là không được tò mò, biết những điều được phép biết và chỉ mình biết, không được lộ cho người khác biết, bảo vệ các văn kiện như bảo vệ con ngươi của mắt mình, không được đem những chuyện trong nội bộ cơ quan tham mưu nói ra ngoài. Các cán bộ tham mưu cần nhớ rằng trong những điều kiện nhất định, sự am hiểu những điều không cần thiết có thể gây nên nguy hại. Vì vậy, chúng tôi chỉ cho phép mình nói chuyện về công tác ở trong cơ quan tham mưu, không được bạ chỗ nào cũng nói và nói với tất cả mọi người. Không được sa đà vào những chỗ quen biết đáng nghi ngại. Trong các buổi họp, không được nói chuyện với nhau những điều bí mật. Những khi sử dụng điện đài và điện thoại, phải luôn luôn nhớ rằng: tất cả đều có thể bị nghe trộm ở trong khoảng không và trên những đường dây ấy.

Mọi sĩ quan đều hiểu biết những điều sơ đẳng ấy. Vi phạm những điều ấy, nhất là ở trong cơ quan tham mưu cấp cao, đều có thể mang lại những hậu quả nghiêm trọng. Một số người nhận thức chưa đầy đủ còn quan niệm một cách sai lầm rằng, tình báo của kẻ địch chỉ chú ý tới những tin tức quan trọng trong các văn kiện chúng đánh cắp được và tới bọn gián điệp bí mật chui sâu vào cơ quan tham mưu. Tình hình lại không hẳn như thế. Đánh cắp được tài liệu, hơn nữa chui sâu vào cơ quan tham mưu là một công việc cực khó. Trong suốt quá trình lịch sử, chỉ có một số người cá biệt mới làm được việc này. Phần lớn tin tức cơ quan tình báo địch thu lượm được trước đây cũng như hiện nay là ở nguồn tài liệu lấy trong báo chí, trong những lúc trò chuyện, ba hoa của những người có chức trách, trong các bữa tiệc, ở những người am hiểu mà hay khoe khoang trên các chuyến tàu, trên máy bay, ô-tô, rạp hát, rạp chiếu bóng, v.v.. Tình báo của chúng thu lượm những tin tức lẻ tẻ, rời rạc, rồi chắp lại với nhau, phân tích, so sánh và lấy đó làm căn cứ cho những kết luận đúng đắn. Chúng ta không cần kể chi tiết về vấn đề này, vì trong sách báo đã nói nhiều đến các trường hợp như thế.




*
* *



Cuối cùng, chúng ta cần thấy rằng không một sự nghiệp nào lại có thể thành công, nếu như không có công tác kiểm tra và kiểm soát sự chấp hành. Về mặt này, mọi người chúng ta đều đã biết tới các nguyên tắc của Lê-nin, thiết tưởng ở đây không cần phải giảng giải gì thêm. Tôi chỉ nói đến một điều là, Bộ tổng tham mưu đặt vấn đề kiểm tra việc chấp hành các quyết định và chỉ thị của Đại bản doanh thật hết sức gắt gao ngay từ lúc mới bắt đầu chiến tranh. Điều kiện tác chiến hồi đó rất khó khăn, chúng ta đã thấy rõ là nhiều mệnh lệnh của Bộ tổng tư lệnh tối cao không thể thực hiện được hoặc chỉ thực hiện được một phần, và sở dĩ có tình hình đó tuyệt nhiên không phải là do cá biệt người nào hoặc đơn vị nào có gì ác ý. Sau này, chúng ta đã tổ chức kiểm tra không ngừng, kiểm tra và lại kiểm tra mọi diễn biến thực sự của tình hình các công việc ngoài mặt trận, đó là một nguyên tắc bất di bất dịch trong công tác của Bộ tổng tư lệnh tối cao và của Bộ tổng tham mưu Liên Xô. Công tác kiểm tra đã bảo đảm thống nhất được mọi cố gắng mà nghệ thuật quân sự đòi hỏi phải làm như vậy. Đồng thời, nhờ có kiểm tra, chúng ta mới phát hiện được những nhu cầu cấp bách của các đơn vị, tính chất và quy mô của sự chi viện cần thiết.

Các mệnh lệnh, chỉ thị, kế hoạch và các văn kiện khác đã được vạch ra đúng đắn thì cần phải được thực hiện chính xác và đúng thời hạn; ngược lại, nếu không thực hiện được như thế thì tất cả đều chỉ là vô dụng. Xét đến cùng, bất kỳ văn kiện nào được biên soạn ra cũng chỉ là mới bắt đầu công việc, còn điều chủ yếu là ở chỗ quyết định ghi trong văn kiện phải được thực hiện. Song, đáng tiếc là trong quá trình chiến tranh, các chiến dịch được lập kế hoạch khá tốt, đúng như đã quy định, nhưng chỉ vì thực hiện hết sức tồi nên đã chuốc lấy thất bại thảm hại. Đó là do nhiều nguyên nhân chủ yếu là do tổ chức kém và không tiến hành kiểm tra tại chỗ.

Không thể chỉ có kiểm tra ở «bên ngoài», tức là ở các địa điểm, các đơn vị, các cơ quan chấp hành mệnh lệnh kế hoạch, mà nhất thiết phải tiến hành kiểm tra cả ở «bên trong», tức là quy định ngay ở trong cơ quan tham mưu thời hạn chấp hành mệnh lệnh, văn kiện, giúp đỡ những người soạn thảo kế hoạch hành động hoặc kế hoạch chiến dịch, kiểm tra quá trình biên soạn các văn kiện. Không tiến hành kiểm tra như vậy thì không thể nào hành động có hiệu quả được. Mỗi tập thể, dù là một tập thể đoàn kết và có trình độ nghiệp vụ, hoặc một người chấp hành dù là thành thạo nhất, có kỷ luật nhất cũng đều cần phải có sự kiểm tra từ trên. Nếu không như vậy thì sẽ có nguy cơ sinh ra thiếu sót về thời gian và chất lượng công tác.

Tất cả những điều trình bày ở trên là tác phong và phương pháp công tác của các cơ quan tham mưu, là những yêu cầu đối với vấn đề chỉ huy bộ đội, là sự đào tạo về mặt nghiệp vụ của các cán bộ tham mưu, và theo quan điểm chúng tôi, đó cũng là khái niệm về trình độ công tác tham mưu cao.




*
* *


Một số vấn đề công tác tham mưu nói trên là cả cuộc đời và sự nghiệp của chúng tôi, đã làm chúng tôi lo lắng trong những năm Chiến tranh giữ nước vĩ đại, nên tôi thấy cần phải trình bày trong chương này. Đối với chúng tôi, Bộ tổng tham mưu là cả một trường học to lớn trong công tác và đời sống. Các cán bộ trong Bộ tổng tham mưu đã học tập được sự sáng suốt trong chiến tranh của Đại bản doanh và Hội đồng quốc phòng Nhà nước, nơi tập trung trí tuệ của Nhà nước và của quân đội trong thời gian ấy.

Tổ chức ra những thắng lợi vẻ vang của bộ đội xô-viết vì sự toàn thắng của chủ nghĩa xã hội là một công tác khó khăn và quan trọng; công tác ấy đã diễn ra cả ở Bộ tổng tham mưu — cơ quan tham mưu ở đỉnh thang cao nhất và ở mọi cơ quan tham mưu khác.


Tiêu đề: Re: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Giêng, 2016, 07:21:53 pm

CHƯƠNG CHÍN

Vượt dãy Các-pát tiến Xlô-va-ki-a

Núi Các-pát ở phía trước, vượt qua như thế nào?
—Tiền thân của Quân đội nhân dân Tiệp Khắc.
— Lút-vích Xvô-bô-đa. — Tình hình ở Xlô-va-ki-a.
— Kế hoạch của Bê-nét: đường lối đảo chính bằng quân đội.
— Quyết định củ