Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: macbupda trong 28 Tháng Sáu, 2011, 06:29:17 AM



Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Sáu, 2011, 06:29:17 AM
Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Nhà xuất bản: Chính trị quốc gia
Năm xuất bàn: 2002
Số hóa: macbupda

Chỉ đạo nội dung:
BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ TỈNH BÌNH PHƯỚC

Tổ chức thực hiện:
BỘ CHỈ HUY QUÂN SỰ TỈNH BÌNH PHƯỚC

Biên soạn:
TS. Thượng tá HỒ SƠN ĐÀI (Chủ biên, Kết luận)
Cử nhân ĐOÀN TẤN DŨNG (Mở đầu, các Chương bảy, tám)
Thạc sĩ NGUYỄN THU VÂN (Các Chương một, hai, ba)
Đại tá TRẦN PHẤN CHẤN (Các Chương bốn, năm, sáu)

Tư liệu:
Thiếu tá TRƯƠNG VĂN GIÃ

(http://img21.imageshack.us/img21/9505/plct.jpg)

Tượng đồng chiến thắng Phước Long


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Sáu, 2011, 06:30:48 AM
LỜI NHÀ XUẤT BẢN

Trong 30 năm kháng chiến đánh đuổi hai kẻ thù xâm lược lớn là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, quân và dân Bình Phước đã kế tiếp truyền thống yêu nước của các thế hệ trước, lập nên bao sự tích hào hùng mà mỗi thắng lợi trong đấu tranh và xây dựng đều gắn liền máu xương với những tên đất, tên người của quê hương yêu dấu. Dưới sự lãnh đạo của Đảng quang vinh và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, trực tiếp là Đảng bộ Bình Phước, quân và dân các dân tộc trên địa bàn này đã cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đứng lên làm Cách mạng Tháng Tám thành công năm 1945; và ngay sau đó bắt tay vào xây dựng và bảo vệ chính quyền non trẻ; cùng cả nước tiến hành hai cuộc kháng chiến oanh liệt, giải phóng Tổ quốc, giải phóng quê hương.

Để ghi lại những chặng đường vẻ vang của Đảng bộ, của quân và dân các dân tộc ở Bình Phước; tổng kết những bài học kinh nghiệm về sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ, biểu dương những tấm gương tiêu biểu của đồng bào và chiến sĩ trong chiến đấu và xây dựng (từ năm 1945 đến năm 1975); Nhà xuất bản Chính trị quốc gia giới thiệu cuốn sách: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975) do Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Binh Phước tổ chức biên soạn, dưới sự chỉ đạo nội dung của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Phước.

Cuốn sách là một tài liệu quý, góp phần giáo dục truyền thống cách mạng, nhất là đối với thế hệ trẻ, nâng cao lòng tự hào về quê hương đất nước, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, và chính quyền các cấp; tăng cường đoàn kết các dân tộc không ngừng phấn đấu vươn lên hoàn thành mọi nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới; góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Xin trận trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.

Tháng I năm 2002           
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Sáu, 2011, 06:34:19 AM
MỞ ĐẦU

ĐẤT VÀ NGƯỜI BÌNH PHƯỚC,
TRUYỀN THỐNG ĐẤU TRANH CHỐNG XÂM LƯỢC
TỪ GIỮA THẾ KỶ XIX ĐẾN CÁCH MẠNG THÁNG TÁM

I. BÌNH PHƯỚC - VÙNG ĐẤT VÀ CON NGƯỜI

Tỉnh Bình Phước nằm trong khu vực miền Đông Nam Bộ, nối liền với nam Tây Nguyên và là phần cuối của dãy Trường Sơn, đông giáp tỉnh Lâm Đồng và Đồng Nai, tây giáp tỉnh Tây Ninh và Campuchia. Tỉnh có đường biên giới dài 240 kilômét, nằm trên 12 xã của huyện Lộc Ninh và huyện Phước Long.

Bình Phước là vùng trung du miền núi phía bắc của tỉnh Sông Bé cũ, gồm 5 huyện, 1 thị xã: Bình Long, Phước Long, Đồng Phú, Bù Đăng và thị xã Đồng Xoài với tổng diện tích tự nhiên 6.853,93km2.

Dưới triều nhà Nguyễn, Bình Phước là vùng đất thuộc trấn Biên Hòa. Đến giữa thế kỷ thứ XIX, sau khi thực dân Pháp đánh chiếm và đặt nền cai trị tại sáu tỉnh Nam Kỳ, chúng chia Nam Kỳ thành bốn khu vực hành chính lớn: Sài Gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long và Bát Xắc. Bình Phước thuộc khu vực Sài Gòn, trong đó vùng đất phía đông thuộc tiểu khu Biên Hòa, vùng đất phía Tây Nam và phía Nam thuộc tiểu khu Thủ Dầu Một. Năm 1889, thực dân Pháp đổi các tiểu khu thành tỉnh thì Bình Phước thuộc địa phận phía bắc tỉnh Biên Hòa và tỉnh Thủ Dầu Một. Sau năm 1954, do ý đồ cai trị của thực dân Pháp, Bình Phước lại bị chia cắt, sáp nhập nhiều lần. Đến cuối năm 1972, Trung ương Cục miền Nam quyết định thành lập tỉnh Bình Phước bao gồm 2 tỉnh Bình Long và Phước Long. Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kết thúc thắng lợi, do yêu cầu phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội và an ninh, quốc phòng, ngày 02 tháng 07 năm 1976, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Quyết định sáp nhập các tỉnh Thủ Dầu Một, Bình Phước và 3 xã An Bình, Bình An, Đông Hòa (thuộc huyện Thủ Đức) thành tỉnh Sông Bé. Ngày 1 tháng 1 năm 1997 tỉnh Bình Phước được tái lập bao gồm 5 huyện phía bắc thuộc tỉnh Song Bé cũ, tỉnh lỵ đặt tại Đồng Xoài. Ngày 1 tháng 9 năm 1999, Chính phủ ban hành Nghị định 90/1999/NĐ-CP về việc thành lập thị xã Đồng Xoài. Ngày 1 tháng 1 năm 2000, thị xã Đồng Xoài chính thức đi vào hoạt động.

*
*   *

Bình Phước là địa bàn chuyển tiếp từ cao nguyên xuống đồng bằng. Trong chiến tranh giải phóng, Bình Phước là cửa ngõ, bàn đạp tiến công Sài Gòn từ phía Bắc, là đoạn cuối đường mòn Hồ Chí Minh - nơi trực tiếp tiếp nhận sức người, sức của từ hậu phương lớn đối với chiến trường Nam Bộ. Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, Bình Phước là nơi án ngữ bảo vệ thành phố Hồ Chí Minh. Từ những nét đặc thù về địa lý đã khẳng định Bình Phước là một địa bàn chiến lược quan trọng về quân sự, kinh tế và văn hóa - xã hội trong suốt cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.

Về địa lý, do chịu sự tác động của những biến thiên về địa chất, Bình Phước mang dáng dấp cao nguyên có diện tích khoảng 1100 héc ta chủ yếu là rừng tự nhiên; quanh sườn núi có nhiều hang động, dòng sông Bé ẩn hiện lượn quanh tạo nên những thác nước hùng vĩ, thơ mộng như Thác Mẹ, Thác Mơ… Ngay sát thị trấn Thác Mơ (huyện Phước Long) nổi lên núi Bà Rá cao 723 mét, là một trong ba ngọn núi cao nhất miền Đông Nam Bộ. Trong đấu tranh cách mạng, núi Bà Rá chiếm vị trí quân sự quan trọng đối với vùng và khu vực. Thời Mỹ - ngụy, nơi đây địch xây dựng một trung tâm truyền tin và bố trí lực lượng khá đông, có lúc gần 1 tiểu đoàn với hỏa lực mạnh. Dưới chân núi chúng dựng trại giam để cầm giữ những chiến sĩ cách mạng. Trong chiến tranh chống Mỹ, lợi dụng địa thế hiểm trở núi cao, rừng rậm, hang động và thác ghềnh, các chiến sĩ cách mạng đã dựa vào đây để chống lại nhiều cuộc càn quét của quân thù. Núi Bà Rá trở thành một trong những căn cứ địa của Bình Phước.

Do khí hậu nhiệt đới ẩm và đất đai màu mỡ nên rừng ở Bình Phước bạt ngàn, với nhiều loại gỗ quý như gỗ đỏ, cẩm lai, giáng hương, tếch, vên vên, bằng lăng, sao, dầu… Rừng ở Bình Phước có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái, điều hòa dòng chảy của các con sông lớn như sông Bé, sông Sài Gòn, sông Đồng Nai. Trong hai cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, rừng ở Bình Phước có giá trị lớn về quân sự. “Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”. Những cánh rừng bạt ngàn đã cung cấp lương thực, thực phẩm, thuốc men cho bộ đội và đồng bào những lúc khó khăn để đánh giặc. Đất rừng còn là nơi lý tưởng cho chiến tranh du kích phát triển. Rừng trên địa hình trung bình là địa bàn hoạt động, tác chiến thuận lợi của bộ đội chủ lực.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Sáu, 2011, 06:37:16 AM
Một đặc điểm riêng ở nơi đây là những di tích lịch sử. Căn cứ đầu tiên của Trung ương Cục miền Nam; Thủ phủ của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Lộc Ninh, nơi thường xuyên đón tiếp các phái đoàn Ba Lan, Hunggari, Inđônêxia, Canađa trong Ủy ban quốc tế kiểm soát việc thi hành Hiệp định Pari; Căn cứ của Quân ủy và Bộ chỉ huy Miền đặt tại Tà Thiết xã Lộc Thành (Lộc Ninh), mà ngày 14-1-1975 đã nhận được điện của đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn với nội dung: “Đồng ý chiến dịch giải phóng Sài Gòn lấy tên là Chiến dịch Hồ Chí Minh”; Sân bay Phước Long, nơi Nguyễn Thành Trung(1), sau khi ném hai quả bom trúng dinh Độc lập, sào huyệt cuối cùng của Tổng thống Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu đã cho máy bay hạ cánh an toàn.

Với hệ thống sông suối tương đối nhiều, mật độ 0,7-0,8km/km2, Bình Phước có ba con sông lớn: Sông Bé, sông Sài Gòn và sông Đồng Nai. Sông Bé dài 360 kilômét, là phụ lưu của hệ thống sông Đồng Nai, bắt nguồn từ vùng đồi núi tỉnh Đắc lắc chảy uốn khúc theo chiều dài của tỉnh. Lòng sông hẹp, có nhiều thác như Thác Mơ, Thác Mẹ…, mùa mưa nước chảy mạnh, mùa khô nước cạn. Sông Bé rất thuận lợi cho bộ đội hành quân sang sông vào mùa khô nhưng rất khó khăn cho bộ đội vào mùa mưa. Sông Đồng Nai bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên (Lâm Đồng) dài 635 kilômét, nhưng chỉ chảy vào lãnh thổ Bình Phước đoạn Bù Đăng. Sông Đồng Nai có giá trị cung cấp thủy sản và nguồn nước cho một bộ phận dân cư ở Phước Long. Sông Sài Gòn dài 250 kilômét, bắt nguồn từ vùng đồi cao nguyên Lộc Ninh. Ở thượng lưu, sông hẹp và uốn khúc quanh co. Sông Thị Tính là phụ lưu của sông Sài Gòn bắt nguồn từ đồi Cam Xe, huyện Bình Long chảy qua Bến Cát rồi đổ vào sông Sài Gòn. Ngoài các con sông trên, trong tỉnh còn có suối Cần Lê, suối Cam (Bình Long), suối Nước Trong, suối Gia, suối Rạt, sông Mã Đà (Đồng Phú) nước chảy quanh năm tạo điều kiện cho phát triển nông nghiệp và góp phần cung cấp nước sinh hoạt cho bộ đội và nhân dân.

Bình Phước ở vị trí tiếp giáp giữa đồng bằng và cao nguyên, địa hình thấp dần từ Đông Bắc, (giáp Tây Nguyên) xuống Tây Nam (tức là xuống các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, biên giới Campuchia). Độ dốc địa hình phụ thuộc cấu tạo địa chất. Trên nền đất phù sa cổ và bazan thường có địa hình bằng phẳng hơn trên nền đá trầm tích; nhưng nói chung độ dốc địa hình toàn vùng thấp, thuận lợi cho việc trống trọt và chăn nuôi. Tỉnh Bình Phước có 7 nhóm đất(2) trong đó đất đỏ vàng và đất đỏ bazan chiếm diện tích lớn, thích hợp với cây công nghiệp dài ngày như cao su, cà phê, hồ tiêu, điều. Trong lòng đất có các loại khoáng sản chính có giá trị kinh tế như đá vôi ở Tà Thiết (Lộc Ninh), với trữ lượng khoảng 360 triệu tấn, chất lượng đảm bảo để sản xuất I măng; đá xây dựng trữ lượng trên 1 tỷ mét khối, một số nhỏ có chất lượng tốt có thể làm đá ốplát như ở Núi Cẩm (Lộc Hưng - Lộc Ninh), Bà Rá (Phước Long). Ngoài ra vùng quặng Bôxít nối dài từ Gia Nghĩa (Đắc Lắc) xuống tới núi Bà Rá, trữ lượng trên 1 tỷ tấn.

Nằm giữa các tỉnh đồng bằng và Tây Nguyên giáp với Campuchia là các trục đường giao thông có ý nghĩa chiến lược về quân sự và kinh tế như quốc lộ 14 có chiều dài đi ngang qua tỉnh là 110 kilômét, quốc lộ 13 - con đường chiến lược cực kỳ quan trọng nối thành phố Hồ Chí Minh với cửa khẩu Hoa Lư (Lộc Ninh) với 75 kilômét qua tỉnh, đi Campuchia đến biên giới Thái Lan. Thời Mỹ - ngụy, địch triệt để khai thác con đường này để hành quân cơ động lực lượng đánh phá vùng căn cứ của ta, bảo vệ sào huyệt của chúng ở Sài Gòn. Nhưng với cuộc chiến tranh nhân dân thần kỳ của quân dân Bình Phước, đường 13 trở thành “con đường không vui” đối với thực dân Pháp và “con đường đầy máu và nước mắt” đối với quân Mỹ, ngụy. Đường ĐT641 là trục đường quan trọng nối Đồng Phú và xẻ dọc Phước Long với chiều dài là 120 kilômét thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa, phục vụ tốt cho quân sự. Các địa bàn dân cư trong tỉnh đều có những trục đường ngắn nối liền với ba trục đường nêu trên.

Trong thời kỳ xâm lược Việt Nam, thực dân Pháp xây dựng đoạn đường sắt Sài Gòn - Lộc Ninh dài 141 kilômét, nhằm vận chuyển hàng hóa phục vụ cho công cuộc khai thác tài nguyên vơ vét cao su. Con đường này đã bị phá hủy trong kháng chiến chống Pháp.

Bình Phước nằm trong vùng mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới cận xích đạo gió mùa, có hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, chiếm 85-90% lượng mưa cả năm. Hầu như không có bão, đôi lúc cũng xảy ra cơn lốc. Gió đông chuyển dần sang tây nam, tốc độ bình quân 3,2m/s. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau, lượng mưa chỉ chiếm 10-15% tổng lượng mưa cả năm, tháng có ít mưa nhất là tháng 2, tháng 3. Gió đông chuyển dần sang đông bắc, tốc độ bình quân 3,5m/s. Nhiệt độ bình quân thấp nhất 21,5-22oC. Nhiệt độ bình quân cao nhất 31,7-32,2oC. Sự thay đổi nhiệt độ qua các tháng không lớn song sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm khá lớn, khoảng 7-9oC nhất là vào các tháng mùa khô. Bình Phước nằm trong vùng dồi dào nắng, tổng số giờ nắng trong năm trung bình từ 2400-2500 giờ. Lượng mưa hàng năm biến động từ 2045-2325mm. Độ ẩm trung bình năm từ 80,8-81,4%. Khí hậu Bình Phước có nhiều thuận lợi cơ bản là vùng đất mưa nắng thuận hòa. Nếu nắm vững đặc điểm và quy luật diễn biến của nó, các lực lượng vũ trang sẽ tạo được nhiều thuận lợi trong hoạt động, tác chiến và dự đoán trước, khắc phục được khó khăn do thời tiết, khí hậu gây ra.


(1) Anh hùng quân đội (T.G).
(2) Đất xám, đất đen, đất phù sa, đất phèn, đất đỏ vàng, đất dốc tụ, đất xói mòn trơ sỏi đá (T.G).


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Sáu, 2011, 06:39:41 AM
*
*   *

Về dân cư, Bình Phước có nhiều đặc điểm so với các tỉnh Nam Bộ với nhiều dân tộc anh em sinh sống rải rác theo từng buôn sóc. Chủ nhân đầu tiên của vùng đất này là dân cư thuộc các dân tộc ít người Stiêng, Châu Ro, Châu Mạ, Mơnông… Họ sống du canh, du cư và phương thức sinh sống chủ yếu là săn bắt, hái lượm, làm nương, tỉa lúa với năng suất rất thấp. Sang đầu thế kỷ thứ XVII, vùng đất này có thêm những cư dân mới. Bao gồm những người vì không chịu nổi sự áp bức bóc lột của chế độ phong kiến Trịnh Nguyễn, cũng như cảnh sống cơ cực, lầm than nên phải rời bỏ quê hương vào đây lập nghiệp, lại có những người “mắc tội chống lại triều đình” mà phải bị lưu đày đến đây, có những người vì trốn sưu thuế, binh dịch tìm chốn nương thân. Thời gian này cũng có một số người Hoa bắt đầu nhập cư vào Bình Phước.

Đến thế kỷ XIX, người Kinh từ các nơi lên khai hoang vùng đất Bình Phước. Sự giao lưu về mặt kinh tế, văn hóa, xã hội giữa các dân tộc càng được đẩy mạnh.

Phải nói rằng, ngay từ khi xâm lược nước ta, thực dân Pháp nhận thấy ngay những điều kiện khí hậu nhiệt đới và chất đất đỏ, đất xám của miền Đông Nam Bộ (chủ yếu trên địa bàn Sông Bé cũ) thích hợp với cây cao su. Chúng đã trồng thử nghiệm thành công và từ đó lập một số công ty để chuẩn bị khai thác đồn điền cao su trên vùng đất này. Cùng với sự ra đời của ngành khai thác cao su, đội ngũ công nhân cũng bắt đầu xuất hiện. Lúc đầu do quy mô khai thác còn nhỏ bé, các chủ tư bản đồn điền tuyển người địa phương - nông dân Kinh và người các dân tộc vào làm. Về sau, do yêu cầu phát triển của sản xuất cao su, số dân địa phương không đủ cung cấp cho các đồn điền, buộc chúng phải ra miền Bắc, miền Trung “mộ phu” hay chúng gọi là “chiêu mộ công nhân giao kèo”. Trước năm 1929, chủ yếu là “mộ những thanh niên trai trẻ chưa lập gia đình, sau năm 1929 chủ yếu là “mộ” các hộ gia đình để “cột chặt” nguồn nhân lực lâu dài cho các đồn điền.

Đến thời Mỹ - ngụy, việc bố trí dân cư và tổ chức xã hội được chúng coi là vấn đề chiến lược nhằm tạo một cơ sở chính trị hạ tầng phục vụ cho việc bảo vệ ngụy quyền và làm bàn đạp bao vây căn cứ kháng chiến của ta.

Về tín ngưỡng, Bình Phước có nhiều tôn giáo nhưng chỉ có đạo Phật, đạo Thiên Chúa, đạo Tin Lành là có tín đồ tương đối đông.

Đạo Phật được truyền vào Bình Phước từ cuối thế kỷ XVI, khi những người Kinh đầu tiên từ phía Bắc đến làm ăn sinh sống ở vùng đất này. Từ đó, đạo Phật phát triển. Đến nay có gần 60.000 người theo đạo Phật. Đa số những người này đều có lòng yêu nước, thương dân, tham gia kháng chiến, góp phần vào công cuộc giải phóng dân tộc.

Đạo Thiên Chúa vào Bình Phước khoảng đầu thế kỷ XVII, lúc các nhà truyền đạo phương Tây theo các nhà buôn nước ngoài đến vùng đất này. Khi thực dân Pháp đặt ách thống trị trong cả nước thì đạo Thiên Chúa phát triển khá nhanh. Dưới thời Mỹ - ngụy, trên 20 nghìn giáo dân từ các tỉnh miền Bắc bị địch dụ dỗ đưa vào định cư ở những vùng chiến lược ở Bình Phước, với những âm mưu thâm độc. Hiện nay số tín đồ Thiên Chúa giáo trong tỉnh có khoảng 58 nghìn người, Tin Lành khoảng 40 nghìn người. Đa số đồng bào theo đạo Thiên Chúa, Tin Lành đều là những người lao động chân chính, họ có tinh thần yêu nước, nhiều người có công giúp đỡ cách mạng trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm.

Đạo Cao Đài được truyền vào Bình Phước từ năm 1926 với ba hệ phái là Tòa thánh Tây Ninh, Chơn Lý Mỹ Tho và Chính Đạo Bến Tre. Tín đồ Cao Đại hiện nay có khoảng 1.800 người. Đa số những người theo đạo Cao Đài đều làm ăn lương thiện, đóng góp công sức xây dựng Tổ quốc.

Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, kẻ địch luôn tìm mọi cách để lợi dụng chia rẽ dân tộc, chia rẽ giữa những người có đạo và không có đạo, gây mâu thuẫn giữa đạo này và đạo khác; nhưng trước chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước về đoàn kết dân tộc, tự do tín ngưỡng, tuyệt đại bộ phận những người có đạo đều nêu cao tinh thần yêu nước, tự tôn dân tộc, hướng về cách mạng, cùng toàn dân góp phần giải phóng dân tộc.

Cũng như một số tỉnh ở Tây Nguyên, Bình Phước là nơi quần tự dân cư từ khắp các tỉnh thành trong cả nước với 28 thành phần dân tộc, họ về đây cùng với đồng bào các dân tộc S’tiêng, M’nông… ra sức xây dựng, bảo vệ mảnh đất này. Có thể nói Bình Phước là hình ảnh thu nhỏ những sắc thái của đại gia đình các dân tộc Việt Nam, với bản sắc văn hóa riêng của mỗi miền mà đặc trưng là nền văn hóa truyền thống lâu đời của cư dân bản địa mà tiêu biểu là dân tộc S’tiêng.

Tóm lại, Bình Phước là quê hương đồng bào các dân tộc S’tiêng, M’nông và là nơi quy tụ dân cư của các miền đất nước đến đây làm ăn, sinh sống. Họ là những người lao động nghèo khổ, bị vua quan phong kiến, thực dân, đế quốc đàn áp, bóc lột. Do vậy, họ không phân biệt là những người từ nơi này hay nơi khác đến mà cùng đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau để tồn tại và phát triển. Họ nêu cao tinh thần thượng võ, không sợ khó khăn gian khổ đấu tranh bất khuất trước mọi kẻ thù; Sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp giải phóng quê hương, dân tộc và độc lập của Tổ quốc, vì tự do, ấm no, hạnh phúc của con người.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Sáu, 2011, 06:43:38 AM
II. TRUYỀN THỐNG ĐẤU TRANH CHỐNG XÂM LƯỢC

Cuối thế kỷ XVIII, chế độ phong kiến đổ nát, hỗn loạn. Nông dân nổi dậy đấu tranh chống thù trong, giặc ngoài. Từ khi vị lãnh tụ của phong trào nông dân - Vua Quang Trung - mất đột ngột, quân Tây Sơn tuy bị yếu dần nhưng vẫn kháng cự anh dũng. Mãi đến gần 10 năm sau, Nguyễn Ánh mới đàn áp nổi phong trào Tây Sơn, phục hồi chế độ phong kiến phản động. Chính tập đoàn phong kiến họ Nguyễn đã tạo cơ hội cho chủ nghĩa thực dân Pháp xâm lược Việt Nam. Bị sa lầy ở mặt trận Đà Nẵng, Pháp phải thay đổi kế hoạch xâm lược. Dựa vào ưu thế cơ động của hành quân, chúng quyết định đem quân vào đánh Gia Định vì vùng này có nhiều sông ngòi, tàu bè đi lại thuận tiện, lại là vựa lúa, hậu cần rất tốt cho quân đội viễn chinh. Hơn nữa, đánh Lục tỉnh sẽ cắt nguồn tiếp tế lúa gạo của triều đình Huế. Sau khi chiếm được thành Gia Định, ngày 19 tháng 2 năm 1861, một đoàn tàu chiến Pháp theo sông Sài Gòn tiến công vào huyện Bình An và Tân Uyên. Giặc Pháp đi đến đâu cũng vấp phải sự kháng cự mạnh mẽ của nhân dân Thủ Dầu Một kiên cường.

Sau khi đánh chiếm Bình An và Tân Uyên, Pháp bắt đầu thiết lập bộ máy cai trị ở đây. Từ đó, chúng luôn tìm mọi cách mở rộng phạm vi chiếm đóng như Bù Đốp, Hớn Quản, Bà Rá… nơi cư trú của đồng bào dân tộc ít người như S’tiêng, Châu Mạ, Châu Ro, M’nông, Tà Mun… Nhưng mãi đến năm 1892, chúng mới thiết lập được bộ máy cai trị ở Chơn Thành gồm 6 tổng và 50 buôn làng. Từ năm 1899 về sau, chúng tổ chức nhiều cuộc hành quân vùng lưu vực Sông Bé, sông Bà Rá để đàn áp, bắt dân đưa về làm lao dịch. Chúng dùng nhiều thủ đoạn lừa mị kết hợp với biện pháp vũ lực để cướp đất của đồng bào các dân tộc, buộc họ phải rời bỏ buôn làng, đi vào rừng sâu kiếm sống. Thâm độc hơn nữa là gây chia rẽ giữa người Kinh và đồng bào các dân tộc thiểu số. Chúng xỏa bỏ chế độ tù trưởng và dựng lên bọn tay sai thuộc tầng lớp có uy quyền nhất ở các làng tổng. Việc làm đó của chúng nhằm nhiều mục tiêu, mà mục tiêu chủ yếu là lấy đất để lập đồn điền cao su và khai thác tài nguyên theo chính sách khai thác thuộc địa và xây dựng căn cứ chiến lược Tây Nguyên do Toàn quyền Đông Dương đề ra.

Ngay khi đặt chân lên đất Nam Kỳ, thực dân Pháp đã nhận thấy ngay những điều kiện khí hậu nhiệt đới và chất đất đỏ, xám của miền Đông Nam Bộ nên chúng gấp rút lập vườn ươm thử nghiệm. Sau khi trồng thử nghiệm thành công, bọn tư bản Pháp thành lập nhiều công ty để khai thác đồn điền cao su(1).

Quá trình hình thành và phát triển các đồn điền cao su của thực dân Pháp gắn liền với việc cướp đoạt đất đai, nương rẫy của đồng bào các dân tộc và bóc lột thậm tệ đối với công nhân. Từ áp bức và bóc lột cùng cực của chủ đồn điền và lũ tay sai, đã buộc người công nhân cao su đoàn kết với các dân tộc S’tiêng, M’nông, Châu Mạ, Châu Ro… đứng lên chống lại để bảo vệ quyền sống của mình. Cụ thể là ở Hớn Quản, Lộc Ninh, dưới sự lãnh đạo của ông Điểu Dố (người S’tiêng) đã nổi dậy đánh đuổi quân Pháp xâm chiếm buôn rẫy, tiêu diệt nhiều quân địch. Trước sức mạnh của kẻ thù, nghĩa quân của ông phải rút về Long Nguyên (Bến Cát), kiên cường chống giặc và ông đã anh dũng hy sinh.

Một thủ lĩnh khác, ông Rít Đinh đã tập hợp được các thủ lĩnh của người Stiêng, Mơ Nông kết hợp với phong trào đấu tranh của công nhân cao su, chiến đấu chống sự đàn áp dã man của thực dân Pháp và bọn chủ các đồn điền đối với đồng bào các dân tộc và công nhân cao su. Hưởng ứng phong trào chống Pháp của Nơ Trang Lơng, ông Rít Đinh, chủ làng Stiêng ở sóc Bukơn, cùng ông R’ôngleng chủ làng M’nông ở thượng nguồn sông Đak Lung, sóc Buluk amprak tập hợp đội quân thường có từ 150-170 người, có lúc tăng đến 500 người. Rít Đing và nghĩa quân của ông đã phục kích, giết chết tên Gatidơ (Gatille), đại úy quận trưởng Bù Đốp và một số lính Pháp đi với hắn, trong lúc y đang chỉ huy làm con đường số 14. Bởi vì lúc thi công đường này, dân chúng quanh vùng bị đẩy vào tình cảnh khốn khổ, nhiều người khỏe mạnh bị bắt đi làm phu, nhà cửa bị tàn phá, phải bỏ nương rẫy. Sau đó, tên Morie về thay làm quận trường, hắn tiếp tục đàn áp, khủng bố dã man hơn, gây nên sự căm thù trong nhân dân. Trước tình thế đó, hai anh em Điển Môn và Điển Mốt người sóc Bù Xum vận động được khoảng 200 người ở các vùng lân cận giết chết tên Morie trong một trận phục kích ngày 25 tháng 10 năm 1933. Từ đó, phong trào vũ trang nổi dậy chống Pháp của đồng bào các dân tộc ở Bình Phước không lúc nào ngừng. Thủ lĩnh này bị Pháp bắt hoặc hy sinh đã có thủ lĩnh khác thay thế, tiếp tục cuộc chiến đấu, lớp nghĩa quân này bị tan đã có lớp nghĩa quân khác lên thay chiến đấu chống giặc.

Đồng thời với cuộc khởi nghĩa chống lại tên Morie, nhân dân Bình Phước đã tạo ra phong trào đấu tranh vũ trang nhằm tiêu diệt đồn Bukol do tên Gécbê (Gerber) làm đồn trưởng. Đồng này là nơi xuất phát của ngụy quân đi càn quét, gây tội ác đối với đồng bào các buôn làng ở Lộc Ninh, Hớn Quản, biên giới Việt Nam - Campuchia.

Cuộc tiến công nổ ra ngày 2 tháng 1 năm 1934. Trước khi nổ súng tấn công, những người chỉ huy đã tổ chức cho dân làng chặt hàng trăm cây to ngả xuống cản đường, không cho giặc từ Bù Na lên tiếp viện. Với lực lượng khoảng 300 người, phần nhiều được trang bị bằng vũ khí tự tạo như cung tên thẩm thuốc độc, tầm vông vạt nhọn, giáo mác, xà gạt và một số ít súng săn, súng trận, lựu đạn, những người khởi nghĩa đã bao vây đồn, chặn đánh quân tiếp viện. Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt và nghĩa quân đã thu được những thắng lợi lớn.

Sau trận này các thủ lĩnh nghĩa quân ở Bù Đốp, Bà Rá và các vùng lân cận đã liên hệ với nhau khá chặt chẽ. Dựa vào địa thế hiểm trở của rừng núi, họ phát triển mạnh phong trào rào đường vào sóc, đào cắm chông, làm bẫy đá ở dốc cao… Nghĩa quân gần như làm chủ cả khu vực, địch tấn công nhiều lần nhưng đều bị thất bại. Cuộc chiến đấu kéo dài mãi đến năm 1935, mới tạm ngưng, khi ông Nơ Trang Lơng, thủ lĩnh nghĩa quân ở Tây Nguyên bị giặc Pháp bắt.

Trong giai đoạn này, mặc dù các cuộc nổi dậy vũ trang của đồng bào các dân tộc đều không thành công nhưng qua đó đã thể hiện truyền thống bất khuất, đoàn kết chống giặc của nhân dân, khởi dậy tinh thần yêu nước và ý chí chống ngoại xâm. Các cuộc nổi dậy của đồng bào các dân tộc ở Bình Phước có ảnh hưởng đến những cuộc đấu tranh của thợ thủ công các lò gốm ở Tân Uyên, Lái Thiêu, Bến Cát… đã làm cho bọn thống trị thực dân và tay sai của chúng vô cùng lo ngại.


(1) Gồm :
- Công ty đồn điền đất đỏ (Planstions des terres rouges) thành lập 1910, do một viên toàn quyền Pháp làm chủ. Đối tượng khai thác là các đồn điền Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Bà Rịa.
- Công ty cao su Viễn Đông (Société de Coutchoues d’Extrême - Orient) tên thường gọi là Công ty CEXO, thành lập 1910, do một tên tư bản người Pháp làm chủ. Đối ttượng khai thác là ở Đông Dương.
- Công ty cao su đất đỏ được lập ra với những đồn điền lớn như Quản Lợi, Xa Cam, Xa Trạch…
- Công ty Mitsơlanh trong thời gian từ 1917 đến 1935 đã xây dựng được hai đồn điền lớn là Dầu Tiếng và Phú Riềng sau phát triển thêm đồn điền Thuận Lợi.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Sáu, 2011, 06:44:50 AM
*
*   *

Ở vùng miền Đông đất đỏ nói chung và ở Bình Phước nói riêng, thực dân pháp đặc biệt chú ý vùng đất màu mỡ này để thành lập đồn điền cao su nhằm khai thác tài nguyên. Mỗi đồn điền cao su là một địa ngục trần gian. Cùng với sự ra đời của ngành khai thác cao su, đội ngũ công nhân cao su cũng bắt đầu xuất hiện. Công nhân đồn điền cao su có sự thay đổi cùng với sự tiến triển của việc khai thác cao su. Lúc đầu, bọn tư bản đồn điền tuyển người địa phương - nông dân người Kinh và người các dân tộc vào làm. Sau đó do yêu cầu phát triển của sản xuất cao su, số dân địa phương không đủ cung cấp cho các đồn điền, buộc chúng phải ra miền Bắc, miền Trung chiêu mộ “nhân công giao kèo”. Đời sống của công nhân vô cùng cơ cực, họ bị cưỡng bức lao động quá sức chịu đựng của con người. Những câu da dao của công nhân cao su miền Đông Nam Bộ còn lưu truyền mãi đã thể hiện phần nào cuộc sống của họ:

      Ai về đất đỏ miền Đông
      Mà nghe lao động đồn điền thở than
      Than rằng: cực lắm trời ơi!
      Dân phu phải sống cuộc đời tối tăm
      Cá hôi, gạo mục quanh năm.
      Vẫn chưa đầy bụng, đói nằm rừng cây.
      Trời cao, cao mấy tầng mây,
      Trời cao có thấu nỗi này cho chăng?


Vì không chịu nổi sự áp bức bóc lột của bọn chủ tư bản, phong trào đấu tranh của công nhân ngày càng phát triển mạnh, trước hết là để bảo vệ quyền sống của mình, dần dần mang sắc thái chính trị của cuộc đấu tranh chống kẻ thù giai cấp và kẻ thù dân tộc.

Từ những năm 1925, 1926 ở Bình Phước, các phong trào đấu tranh được soi sáng bởi một đường lối cách mạng tiên tiến. Con đường cách mạng vô sản do Nguyễn Ái Quốc người chiến sĩ quốc tế lỗi lạc, nhà yêu nước vĩ đại, tiếp thu và truyền bá vào Việt Nam.

Tháng 6 năm 1924, tổ chức “Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên” được thành lập tại Quảng Châu, Trung Quốc. Đây là một tổ chức tiền thân chuẩn bị cho sự ra đời của một Đảng Mácxít - Lêninnít ở Việt Nam. Từ đó nhiều hội viên được huấn luyện về đường lối phương pháp cách mạng, được cử làm việc trong các nhà máy, đồn điền của thực dân. Nhiệm vụ của các đồng chí này là tuyên truyền vận động và xây dựng tổ chức chác mạng đồng thời cũng để tự rèn luyện lập trường giai cấp công nhân. Một trong những hội viên tiêu biểu của phong trào này là đồng chí Nguyễn Văn Vĩnh (tức Nguyễn Xuân Cừ) được cử đi “vô sản hóa” ở đồn điền cao su Phú Riêng..

Tháng 4 năm 1928, chi bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đồn điền cao su Phú Riềng được thành lập gồm 5 hội viên do đồng chí Nguyễn Xuân Cừ làm Bí thư. Các hội viên này đã tích cực vận động đông đảo quần chúng lao động bước vào một thời kỳ đấu tranh có sự lãnh đạo của tổ chức chác mạng. Từ đó, phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh phát triển mạnh mẽ hơn, nhất là phong trào đấu tranh của công nhân các đồn điền cao su.

Tháng 10 năm 1929, trên cơ sở tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, chị bộ Đông Dương Cộng sản Đảng đồn điền cao su Phú Riềng được thành lập tại làng 3. Chi bộ gồm 6 đảng viên là: Nguyễn Văn Vĩnh (tức Nguyễn Văn Cừ), Trần Tử Bình, Phạm Thư Hồng, Tạ, Hòa và Doanh. Nguyễn Văn Vĩnh được cử làm Bí thư. Đây là chi bộ cổng sản đầu tiên của tỉnh Thủ Dầu Một, đồng thời cũng là chi bộ cộng sản đầu tiên của ngành cao su Việt Nam. Cũng trong tháng 10 năm 1929 Xứ ủy Đông Dương Cộng sản Đảng đã “cắm” xong một tổ chức “đỏ” ở Phú Riềng, hình thành bộ khung tổ chức Đảng ở 3 nơi; Ba Son - Phú Riềng - Vĩnh Kim.

Ngày 30 tháng 1 năm 1930, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của chi bộ Đảng Phú Riềng, lần đầu tiên công hội đỏ tổ chức một cuộc biểu tình thị uy lớn kết hợp với bãi công gồm 500 công nhân đưa yêu sách đòi thực hiện đúng giao kèo giữa chủ thợ, cấm đánh đập, cấm cúp lương vô lý, miễn sưu thuế, trả lương cho nữ công nhân nghỉ đẻ, bồi thường tai nạn lao động, được trị bệnh và cung cấp đủ lương khi ốm đau. Cuộc đấu tranh diễn ra từ ngày 30 tháng 1 năm 1930 đến ngày 6 tháng 2 năm 1930, công nhân tước được 7 khẩu súng, bắt được 5 lính giải tới chủ sở làm con tin, buộc tên Soumagnac phải ký vào biên bản, ghi nhận đầy đủ những yêu cầu của nghiệp đoàn công nhân cao su Phú Riềng. Sau cuộc đấu tranh này, nhiều đảng viên kể cả Bí thư chi bộ, cán bộ nghiệp đoàn và thư ký nghiệp đoàn đã sa vào tay giặc, số còn lại rất ít nhưng họ vẫn giữ vững ý chí đấu tranh bất khuất, và tiếp tục vận động được hàng ngàn công nhân tham gia biểu tình đưa các yêu sách đòi ngày làm việc 8 giờ, tăng lương, bỏ đánh đập, thả những người bị bắt… Họ còn có ý định kéo xuống Biên Hòa gặp tỉnh trưởng, nhưng bọn chủ điều lính từ quận Bà Rá đến đàn áp.

Cuộc tổng bãi công và khởi nghĩa ở Phú Riềng từ đấy trở thành sự kiện trung tâm bình luận của báo chí ở Nam kỳ. Tờ Phụ nữ Tân Văn, liên tiếp đưa 5 tin về sự kiện này với những lời bình luận rất có lợi cho phong trào đấu tranh của công nhân. Sự kiện này cũng đã có tác động mạnh mẽ đến phong trào cách mạng ở Bình Phước nói riêng và cả nước nói chung. “Phú Riềng đỏ” xuất hiện từ thắng lợi của cuộc đấu tranh này. Và tiếng vọng của “Phú Riềng đỏ” còn là tiếng pháo đón mừng hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc triệu tập được tổ chức ở Cửu Long (Trung Quốc) đánh dấu sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đây là một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về lãnh đạo và bế tắc về đường lối của cách mạng Việt Nam.

Các chi bộ của ba tổ chức cộng sản trước đó chuyển thành chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam trong đó có chi bộ Phú Riềng.

Từ “Phú Riềng đỏ”, phong trào đấu tranh lan nhanh như một phản ứng dây chuyền.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Sáu, 2011, 06:47:54 AM
Ở đồn điền cao su Dầu Tiếng, sau khi xảy ra sự kiện “Phú Riềng”, công nhân cùng nhau hạ quyết tâm đấu đòi quyền lợi như ở Phú Riềng. Trong lúc không khí đấu tranh ở đây đang sôi sục thì bọn chủ công ty đã điều Xumanhắc từ Phú Riềng về Dầu Tiếng. Sự việc này đã gây nên một làn sóng phẫn nộ trong công nhân. Ngày 10-2-1930 hàng trăm công nhân các làng trong đồn điền bỏ việc và người cầm dao, người vác cuộc kéo về chợ Dầu Tiếng vừa đi vừa hô lớn:

- Xumanhắc cút ngay!

- Không được cho công nhân ăn gạo lức, gạo ẩm, cá thối!

- Không được đánh đập công nhân!

Xumanhắc cuống cuồng cầu cứu lính mã tà; nhưng những người biểu tình vẫn tiến thẳng không chút sợ hãi, bọn lính mã tà nổ súng làm chết hai người nhưng đoàn biểu tình vẫn tiếp tục ào ạt xông lên đấu tranh. Cuộc đấu tranh của công nhân Dầu Tiếng bước đầu thành công là hệ quả tất yếu của sự bóc lột tàn tệ của chủ đồn điền đối với công nhân lao động.

Sau cuộc đấu tranh của công nghiệp đồn điền cao su Dầu Tiếng ngày 1 tháng 5 năm 1930, công nhân nhà máy đèn Chợ Quán (Sài Gòn), phu làm đường Catina (Catinat) và Etspanhơ (Espagne) (Sài Gòn), công nhân hãng dầu Nhà Bè… tiếp tục đấu tranh đòi thi hành ngày làm việc 8 giờ.

Cuộc tổng biểu dương lực lượng của đông đảo công nhân vào ngày 1 tháng 5 năm 1930 cho thấy là từ sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng, phong trào công nhân đã có những bước tiến vững chắc - đấu tranh có tổ chức với ý thức tự giác để chống lại kẻ thù của giai cấp và dân tộc. Trong nửa cuối năm 1930 và năm 1931, anh chị em công nhân cao su trong các đồn điền Quản Lợi, Xa Cam, Xa Trạch, Lộc Ninh, Đa Kia… lần lượt nổi dậy đấu tranh trực diện với chủ đồn điền, buộc chúng phải giải quyết yêu sách của công nhân. Các cuộc đấu tranh sôi nổi ấy tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ liên tục của phong trào đấu tranh của công nhân cao su nói riêng và của nhân dân Bình Phước nói chung trong những năm sau.

Tháng 4 năm 1936, Chính phủ Mặt trận bình dân lên cầm quyền ở Pháp. Phong trào bãi công của công nhân “chính quốc” bùng nổ đã có tác dụng thúc đẩy phong trào đấu tranh của công nhân ở nước ta.

Tháng 7 năm 1936, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương quyết định thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất chống đế quốc, trên cơ sở liên minh công nông và thu hút cả sự ủng hộ của tư sản bản xứ để phát động cao trào đấu tranh dân chủ và cải cách xã hội; trước mắt là đấu tranh chống chế độ phản động thuộc địa và tay sai đòi tự do, cơm áo, hòa bình. Đây là sự vận dụng sáng tạo kết hợp giữa đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp của Đảng ta vào hoàn cảnh cụ thể ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến.

Về hình thức tổ chức và phương pháp đấu tranh, Đảng chủ trương triệt để lợi dụng khả năng hợp pháp và nửa hợp pháp kết hợp những hoạt động hợp pháp và nữa hợp pháp với những hoạt động không hợp pháp để tuyên truyền, tổ chức quần chúng; đồng thời củng cố và phát triển, tổ chức Đảng và tổ chức Mặt trận dân chủ tiếp tục đẩy mạnh phong trào đấu tranh của quần chúng.

Hội nghị lần thứ Nhất của Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần này có ý nghĩa vô cùng quan trọng, mở ra cho cách mạng Đông Dương một thời kỳ phát triển mới. Xứ ủy Nam Kỳ lúc này do đồng chí Võ Văn Tần làm Bí thư đã tiếp thu Nghị quyết tháng 7 năm 1936 và các Nghị quyết tiếp theo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng triển khai cho các tỉnh thực hiện.

Lúc này, tổ chức Đảng ở Bình Phước chỉ đạo các chi bộ đảng tận dụng mọi hình thức công khai, hợp pháp, nửa hợp pháp để tập hợp quần chúng đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ, đòi tự do, cơm áo, hòa bình.

Vào những năm 1936-1939, công nhân cao su Bình Phước vẫn phải sống và làm việc trong những điều kiện hết sức khắc nghiệt và tồi tệ, ngày lao động bị kéo dài, đồng lương chết đói lại bị ức hiếp đánh đập, và bệnh tật…; mặc dù, sau khi lên cầm quyền, Chính phủ Mặt trận nhân dân Pháp có ban hành một số sắc lệnh mang tính chất tiến bộ nhưng vẫn trong phạm vi chế độ dân chủ tư sản.

Với những điều kiện chính trị mới trên thế giới và trong nước đã có tác động đến phong trào công nhân cao su nói chung và Bình Phước nói riêng.

Trên thế giới, trước sự bành trướng của chủ nghĩa phát xít và nguy cơ của một cuộc chiến tranh với quy mô thế giới mà bọn phátxít đang rao riết chuẩn bị, Quốc tế Cộng sản đã họp Đại hội lần thứ VII tại Mátxcơva từ ngày 25 tháng 7 đến ngày 25 tháng 8 năm 1935, quyết định nhiệm vụ trước mắt của nhân dân thế giới là phải thống nhất hàng ngũ, lập mặt trận dân chủ rộng rãi để chống phát xít.

Chỉ thị Quốc tế Cộng sản vạch rõ cho các Đảng Cộng sản là phải xây dựng mặt trận đấu tranh chống bọn phátxít hiếu chiến.

Tại Pháp, tuy các tổ chức phátxít hoạt động mạnh, nhưng mặt trận nhân dân Pháp do Đảng Cộng sản Pháp làm nòng cốt đưa đưa ra chương tình tranh cử: “đòi giải tán các tổ chức phátxít; ân xá tù chính trị, chống thất nghiệp; cải cách chế độ thuế khóa; quốc hữu hóa công nghiệp quân sự; thiết lập một Ủy ban điều tra tình hình chính trị, kinh tế và tinh thần ở các nước thuộc địa Pháp, nhất là các nước ở bắc châu Phi và Đông Dương”. Cuộc tổng tuyển cử đã giành được thắng lợi và trước áp lực mạnh mẽ của phong trào công nhân và lao động Pháp, chính phủ Pháp đã thi hành một số biện pháp tiến bộ như tăng lương, tuần làm việc 40 giờ, nghỉ phép năm có lương… Đối với các thuộc địa, chính phủ Mặt trận nhân dân Pháp cũng đã thông qua quyết định quan trọng: Thả tù chính trị, lập Ủy ban điều tra tình hình thuộc địa; thi hành một số cải cách xã hội cho người lao động.

Thắng lợi của phong trào công nhân thế giới trước hết là của Mặt trận nhân dân Pháp, làm cho bọn thực dân Pháp ở Đông Dương không dám thẳng tay đàn áp phong trào quần chúng như trước.

Cùng với những thuận lợi của tình hình thế giới, tình hình trong nước cũng có thêm nhiều nhân tố mới, trong đó nổi bật nhất là đường lối đấu tranh mới của Đảng Cộng sản Đông Dương.

Những điều kiện thuận lợi đó đã góp phần cho quân dân Bình Phước tiếp tục đấu tranh giành thắng lợi.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Sáu, 2011, 06:50:00 AM
III. CAO TRÀO KHÁNG NHẬT CỨU NƯỚC -
TỔNG KHỞI NGHĨA THÁNG TÁM GIÀNH THẮNG LỢI

Ngày 1 tháng 9 năm 1939, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ. Chính phủ phản động Pháp bị lôi cuốn vào vòng chiến, liền cho thi hành một loạt biện pháp ngăn chặn cách mạng ở Pháp và các thuộc địa. Ở Việt Nam, thực dân Pháp lập ngay chế độ quân nhân phátxít tàn bạo và tiến hành đại khủng bố. Chúng ban bố lệnh tổng động viên, tăng cường vơ vét sức người, sức của để phục vụ cho chiến tranh đế quốc. Ngày 28 tháng 9 năm 1939, Phủ toàn quyền Đông Dương ra lệnh giải tán và tịch thu tài sản của các tổ chức ái hữu, nghiệp đoàn và bắt đầu cuộc khủng bố ác liệt đàn áp các lực lượng cách mạng. Thời kì vận động dân chủ hoạt động hộp pháp, nửa hợp pháp chấm dứt. Cách mạng Việt Nam chuyển sang một thời kỳ mới.

Trước tình hình đó, đầu tháng 11 năm 1939 Đảng ta triệu tập Hội nghị Trung ương lần thứ sáu. Hội nghị gồm có các đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn, Phan Đăng Lưu…. họp ở Bà Điểm (Hóc Môn - Gia Định) quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng, nêu cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc, tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, quyết định thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương, chuẩn bị những điều kiện để tiến tới tổng khởi nghĩa, hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc. Từ ngày 6 đến ngày 9-11-1940, Hội nghị Trung ương lần thứ bảy họp tại Đình Bảng (Bắc Ninh) có đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt tham dự. Hội nghị tiếp tục khẳng định chủ trương chuyển hướng chiến lược đúng đắn của Hội nghị tháng 11 năm trước (1939), xác định kẻ thù chính của cách mạng lúc này là phátxít Pháp và Nhật; khẳng định Đảng phải chuẩn bị để lãnh đạo nhân dân vũ trang khởi nghĩa giành chính quyền…

Mặc dù địch khủng bố ác liệt, phong trào quần chúng vẫn giữ vững và phát triển. Nhiều cuộc đấu tranh đã diễn ra ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam. Ngày 27 tháng 9 năm 1940, khởi nghĩa Bắc Sơn bùng nổ, đập tan chính quyền địch ở địa phương. Đội du kích Bắc Sơn ra đời. Ngày 23 tháng 11 năm 1940, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra, nhân dân ở hầu khắp các tỉnh miền Nam đứng lên với ý chí đấu tranh mạnh mẽ, phá tan hệ thống chính quyền địch ở nhiều nơi, lập chính quyền cách mạng, trừng trị bọn Việt gian, tịch thu ruộng đất của bọn địa chủ chia cho nông dân nghèo, thực hiện các quyền tự do, dân chủ. Lần đầu tiên, cờ đỏ sao vàng xuất hiện tại một số vùng quê Nam Bộ.

Tuy cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ đã bị thất bại vì kế hoạch bị lộ nhưng qua đó đã nêu một tấm gương ngời sáng về tinh thần kiên cường, bất khuất của nhân dân ta. Từ trong thực tế đấu tranh, quần chúng nhân dân tin tưởng, gắn bó với Đảng nhận thức sâu sắc rằng: muốn có độc lập, phải đoàn kết đấu tranh, muốn đấu tranh thành công thì không có con đường nào khác là phải dùng bạo lực cách mạng để trấn áp bạo lực phản cách mạng.

Đầu năm 1941, đồng chí Nguyễn Ái Quốc về nước. Từ ngày 10 đến 19 tháng 5 năm 1941 tại Pắc Bó - Cao Bằng, Người chủ trì Hội nghị lần thứ tám của Trung ương Đảng. Hội nghị quyết định giương cao hơn nữa ngọn cờ giải phóng dân tộc, phát huy tinh thần yêu nước của các giai cấp và các tầng lớp nhân dân, tạo ra sức mạnh tổng hợp nhằm đánh đổ Nhật - Pháp và bè lũ tay sai, giành độc lập cho dân tộc. Để thực hiện các nhiệm vụ cấp bách, Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh), chuẩn bị lực lượng, lập căn cứ địa chuẩn bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

Ngày 19 tháng 5 năm 1941, Mặt trận Việt Minh ra đời. Việt Minh tiêu biểu cho sự đoàn kết thống nhất, phát huy truyền thống kiên cường, bất khuất của dân tộc, thành lập nhiều tổ chức quần chúng như: công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ… để vận động nhân dân tham gia chống giặc.

Ngày 6-6-1941, đồng chí Nguyễn Ái Quốc gửi thư kêu gọi đồng bào cả nước: “Giờ đây công cuộc giải phóng dân tộc là cao hơn tất cả! Chúng ta phải đoàn kết lại, đánh đổ Pháp, Nhật và bè lũ tay sai của chúng, để cứu dân ta khỏi vòng nước sôi lửa bỏng!”.

Hội nghị Trung ương Tám, diễn ra vào lúc tình hình thế giới và trong nước đã có những đột biến gây tác động mạnh vào phong trào cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân ta.

Cuối năm 1942, cuộc chiến tranh thế giới có nhiều chuyển biến thuận lợi cho quân đồng minh. Quân đội Xô viết giành nhiều thắng lợi và đang tiến hành phản công trên khắp các mặt trận. Ở Đông Dương phát xít Nhật ngày càng lấn Pháp, nằm quyền kiểm soát hầu hết các đầu mối quân sự, kinh tế quan trọng.

Bọn thực dân Pháp ở thuộc địa phân hóa thành hai phái: Phái Pêtanh (Pétain) đầu hàng phát xít Đức và phái Đờ Gôn (De Gaul) kháng chiến chống phát xít Đức.

Những chuyển biến trên đã có tác động đến tình hình cách mạng Việt Nam. Riêng phong trào cách mạng trong tỉnh có sự chuyển biến mới. Tại trại Côlông, các đồng chí tổ chức hội “người cùng quê” để làm công tác binh vận, liên lạc với người nhà để nhận sách báo và tin tức đấu tranh ở các tỉnh. Nhà tù Bá Rá, nơi giam giữ gần 400 quần chúng yêu nước và những người cộng sản, trong đó phần lớn bị bắt vì tham gia khởi nghĩa Nam Kỳ đã bí mật thông báo tin tức cho nhau. Tại đồn điền Lộc Ninh, vào những ngày cuối năm 1942, hàng trăm công nhân các làng 4, 9, 10 đã biểu tình thị uy đòi chủ sở phải giảm giờ làm việc, thực hiện những điều mà toàn quyền Đông Dương đã ký trước đây, không được cúp lương công nhân. Thực dân Pháp và chủ sở chẳng những không đáp ứng yêu cầu chính đáng của công nhân mà con nổ súng đàn áp làm gần 10 người chết và bị thương, bắt đi một số công nhân, hành động này càng làm thêm sôi sục lòng căm thù của 2 vạn công nhân cao su đang sống ở 11 làng. Lúc này đồng chí Lê Đức Anh đang hoạt động hợp pháp ở Lộc Ninh, lập ra nhóm “công nhân nòng cốt” để củng cố và phát triển phong trào đấu tranh sắp tới.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Sáu, 2011, 06:52:11 AM
Ở Thủ Dầu Một, Tỉnh ủy lâm thời được thành lập vào tháng 4 năm 1943 ở làng 1 đồn điền cao su Dầu Tiếng do đồng chí Văn Công Khai làm Bí thư(1). Cuối năm 1943, tinh thần nghị quyết Tám của Trung ương Đảng ta được các đồng chí ở Xứ ủy Nam Kỳ và Thành ủy Sài Gòn truyền đạt đến các cán bộ chủ chốt của tỉnh. Từ đó, ngọn lửa cách mạng lại bùng lên trong toàn tỉnh, cơ sở và hệ thống chi bộ Đảng nhanh chóng được phục hồi tuy vẫn còn trong tình thế vận động bí mật.

Các tổ chức quần chúng nửa công khai, nửa hợp pháp trong công nhân, thợ thủ công, các tầng lớp công chức, tiểu chủ được tái lập. Gánh hát cải lương do đồng chí Văn Công Khai sáng lập đi biểu diễn nhiều nơi đã thu hút mạnh mẽ tình cảm và sự hưởng ứng của đông đảo quần chúng vào phong trào đấu tranh cách mạng. Mặt trận Việt Minh trong tỉnh đã có cơ sở vững chắc trong quần chúng. Phong trào đánh Pháp, đuổi Nhật dâng cao và ngày càng lan rộng trong toàn tỉnh. Bên cạnh các tổ chức chính trị được xây dựng và phát triển ngày càng mạnh, lực lượng vũ trang cách mạng bước đầu được nhen nhóm, hình thành.

Đầu năm 1944, Tỉnh ủy lâm thời họp lần thứ hai, quán triệt thêm một bước Nghị quyết Trung ương lần thứ Tám của Đảng, đẩy mạnh phong trào cách mạng lên một bước, nhất là ở các đồn điền cao su và vùng đồng bào dân tộc.

Tháng 2 năm 1944 chi bộ Lộc Ninh được thành lập gồm 3 đảng viên do đồng chí Lê Đức Anh làm Bí thư. Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, Điều lệ Việt Minh đã được phổ biến sâu rộng trong công nhân và nhân dân vùng này. Ngoài ra chi bộ còn thành lập nhóm trung kiên gồm các ông Mé, ông Kỳ Thinh, ông Kiêm, ông Ba Đèn, ông Cai Loại và ông Hai Đinh (con ông Ba Đèn) làm nòng cốt vận động phong trào Việt Minh, tạo cơ sở cho các Hội cứu quốc ra đời.

Ở đồn điền cao su Lộc Ninh, khoảng đầu năm 1944 hơn 300 công nhân bãi công đòi tăng lương, giảm giờ làm, không được cúp lượng… Lần này, anh em công nhân đã lập ra một đội tự vệ được trang bị dao găm, gậy gộc và nhiều phương tiện khác giấu trong người để bảo vệ đoàn biểu tình khi bị địch đàn áp. Lúc bấy giờ chủ sở đã bố trí sẵn vài chục tên lính canh gác trước cổng. Khi người đại diện công nhân tay cầm băng kiến nghị vừa bước ra khỏi đoàn biểu tình thì bọn lính xông vào đánh tới tấp. Xô xát đã diễn ra nhưng đại diện công nhân vẫn xông tới nhà để gặp chủ sở, song tên này hoảng sợ đã bỏ trốn.

Bên ngoài, bọn lính tiếp tục đánh công nhân, lập tức anh em trong đội bảo vệ bao vây đánh tên chỉ huy một trận nhừ tử. Bọn lính lại bắn xối xả vào anh chị em công nhân làm hai người chết, nhiều người bị thương. Lực lượng thanh niên tự vệ đồng loạt xông vào đánh nhau với bọn lính, mấy tên lính bị đâm chết, một số bị thương, số còn lại bỏ chạy. Cuộc đấu tranh tiếp tục, anh em phân công nhau đưa các đồng đội hy sinh và bị thương về làng, số còn lại tràn tới bao vây nhà tên chủ cánh Đơ Lalăng, đập phá cửa cổng. Cuối cùng tên chủ cánh buộc lòng phải nhượng bộ, chịu tiếp đại diện công nhân và nhận sẽ giải quyết các yêu sách, đồng thời buộc phải chuyển số lính ác ôn đi nơi khác.

Ở đồn điền cao su Quản Lợi, công nhân tiến hành “làm reo” chống lại bọn cai sếp gian ác như tên Cao Phong…

Những cuộc đấu tranh của công nhân đã tạo đào cho sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng sau này.

Giữa năm 1944, đồng chí Văn Công Khai, Bí thư Tỉnh ủy trực tiếp đứng ra củng cố, tổ chức Mặt trận Việt minh của tỉnh và các địa phương theo phương châm: nơi nào đã phục hồi cơ sở Đảng thì tổ chức các Hội cứu quốc (Hội công nhân cứu quốc, Hội nông dân cứu quốc, Hội thanh niên cứu quốc, Hội phụ nữ cứu quốc) sau đó phát triển ra các nơi khác.

Đến đầu năm 1945, các Hội cứu quốc lần lượt ra đời ở nhiều nơi trong tỉnh Thủ Dầu Một trong đó có Quản Lợi, Lộc Ninh… (thuộc quận Hớn Quản). Sau khi được thành lập, hội viên các Hội cứu quốc tích cực vận động đồng bào tham gia Hội để đấu tranh chống Pháp, Nhật, chuẩn bị giành chính quyền. Về phía địch, thực dân Pháp và phátxít Nhật tăng cường đánh phá ta bằng nhiều biện pháp, vừa tung ra những luận điệu tuyên truyền, xuyên tác vừa tiến hành các cuộc đàn áp phong trào yêu nước. Hành động của chúng đã gây ra một số tác hại cho phong trào: một bộ phận nhỏ trong nhân dân có tư tưởng bi quan thất vọng, tâm lý sợ địch và thiếu tin tưởng vào chính sách của Việt Minh.

Trên thế giới từ năm 1944 đến đầu năm 1945, tại chiến trường Châu Âu, quân đội Xôviết đã giành được thắng lợi. Giờ tận số của phát xít Đức đã điểm.

Ngày 7 tháng 6 năm 1944, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị sửa soạn khởi nghĩa. Ngày 10 tháng 8 năm 1944, Trung ương Đảng ra Lời kêu gọi sắm vũ khí đuổi thù chung nhằm thúc đẩy cuộc khởi nghĩa vũ trang tiến lên mạnh mẽ hơn. Tháng 10-1944 Hồ Chủ Trịch kêu gọi đồng bào, các đảng phái và các đoàn thể chuẩn bị Đại hội đại biểu quốc dân. Trong khi cuộc khởi nghĩa ở Cao - Bắc - Lạng sắp bùng nổ, Hồ Chủ tịch ra lệnh đình chỉ việc phát động khởi nghĩa, và chỉ thị “Phải tìm hình thức vũ trang đấu tranh linh hoạt hơn, chính trị trọng hơn quân sự, để đẩy mạnh phong trào đi tới và củng cố cơ sở chính trị”. Người chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Bản chỉ thị rất ngắn gọn, xúc tích, bao gồm nhiều vấn đề cơ bản trong đường lối quân sự cách mạng vô sản Việt Nam như: kháng chiến toàn dân, động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, nguyên tắc xây dựng lực lượng vũ trang, nguyên tắc tác chiến và chiến thuật du kích… Bản chỉ thị đó có tính chất như một cương lĩnh quân sự vắn tắt của Đảng ta.

Ngày 22 tháng 12 năm 1944, “Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân” gồm 34 người, do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy. Vừa thành lập, Đội đã mưu trí, dũng cảm diệt 2 đồn địch.


(1) Tỉnh ủy lâm thời gồm các đồng chí: Văn Công Khai, Nguyễn Văn Thi, Nguyễn Văn Trung, Vũ Văn Hiển (T.G).


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Sáu, 2011, 06:54:37 AM
Đúng như dự đoán của Đảng ta, ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật lật đổ Pháp độc chiếm Đông Dương. Ngày 12 tháng 3 năm 1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ta chỉ thị; “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Chỉ thị chỉ rõ lúc này “đế quốc phátxít Nhật là kẻ thù chính - kẻ thù cụ thể trước mắt - duy nhất của nhân dân Đông Dương”. Dưới ánh sáng của bản chỉ thị lịch sử, cao trào kháng Nhật cứu nước cuồn cuộn dâng lên khắp toàn quốc. Riêng phong trào đấu tranh cách mạng trong tỉnh từ tháng 3 năm 1945 đã phục hồi nhanh chóng. Nhiều cán bộ, đảng viên bị giặc bắt đã thoát khỏi nhà tù trở về địa phương hoạt động. Nhiều đồng chí đảng viên các nơi đã quy tụ về tỉnh, một số đảng viên phá nhà tù Bà Rá về đây cũng đã kết hợp với cơ sở ở địa phương để hoạt động chuẩn bị ráo riết cho Tổng khởi nghĩa.

Ngày 13 tháng 8 năm 1945, Hội nghị toàn quốc Đảng Cộng sản Đông Dương quyết định phải kịp thời lãnh đạo toàn dân Tổng khởi nghĩa giành chính quyền khi quân Đồng minh kéo vào Đông Dương.

Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc được thành lập. Quân lệnh số 1 của Ủy ban khởi nghĩa được truyền đi như hồi kèn xung trận. Giờ Tổng khởi nghĩa đã đến.

Ngày 16 tháng 8 năm 1945, Quốc dân Đại hội hợp ở Tân Trào, với đủ các đại biểu các đảng phái chính trị, các đoàn thể, các dân tộc, tôn giáo cả 3 miền đất nước. Đại hội tán thành chủ trương phát động Tổng khởi nghĩa của Đảng, thông qua Mệnh lệnh khởi nghĩa của Tổng bộ Việt Minh, cử Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam tức Chính phủ lâm thời do Cụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Thời cơ đã đến, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào toàn quốc: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem hết sức ta mà tự giải phóng cho ta… Chúng ta không thể chậm trễ.

Tiến lên! Tiến lên!… Dũng cảm tiến lên!”(1).

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, 25 triệu đồng bào ta đã nhất tề vùng dậy tự giải phóng, sức mạnh như thác đổ, cuốn sạch lũ cướp nước và bán nước.

Quán triệt Nghị quyết của Trung ương và Xứ ủy Nam Kỳ về Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, đồng chí Văn Công Khai - Bí thư Tỉnh ủy tổ chức ngay cuộc họp Tỉnh ủy mở rộng. Hội nghị quyết định: Thành lập Ủy ban khởi nghĩa của tỉnh do đồng chí Văn Công Khai phụ trách; các cơ sở lập ngay Ủy ban khởi nghĩa; ngày 25 tháng 8 năm 1945 tập trung lực lượng trong toàn tỉnh giành chính quyền tại thị xã; các thị trấn, đồn điền cao su đồng loạt khởi nghĩa.

Hội nghĩ đã khẳng định dù tình thế khó khăn thế nào cũng phải khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi.

Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy và Ủy ban khởi nghĩa tỉnh, nhân dân thị xã và các quận đã đứng lên giành chính quyền.

Tại Lộc Ninh, ngày 24 tháng 8 năm 1945, đội tự vệ do đồng chí Lê Đức Anh chỉ huy cùng với công nhân cao su và quần chúng tiến vào thị trấn cướp chính quyền. Bọn Nhật nổ súng chống cự nhưng chỉ sau 15 phút chiến đấu, đội tự vệ đã tiêu diệt 18 tên Nhật, thu 40 súng, buộc chúng phải xin hàng.

Cùng ngày, tại Bù Đốp, ta bao vây đánh địch thu được một kho súng. Đây là nguồn vũ khí giúp cho lực lượng vũ trang Lộc Ninh đánh địch sau này,

Lộc Ninh là một trong những nơi cướp chính quyền sớm nhất trong tỉnh Thủ Dầu Một.

Tại Hớn Quản (Bình Long), sáng 25 tháng 8 năm 1945 công nhân và nhân dân các đồn điền Quản Lợi, Xa Cam, Xa Trạch, Bình Sơn… tổ chức mít tinh rồi chuyển thành biểu tình có trang bị vũ khí chiếm nơi làm việc của bọn chủ, giành quyền làm chủ đồn điền. Trước sức mạnh của quần chúng cách mạng, hầu hết bọn chủ đồn điền và bọn chỉ huy Nhật đều run sợ, vội vàng giao lại nhà xưởng, kho tàng, máy móc, đồn điền cho nhân dân.

Sau khi giành quyền quản lý các đồn điền, lực lượng thành niên tiền phong cùng công nhân đã kéo về chợ Hớn Quản tổ chức mít tinh biểu dương lực lượng, sau đó cướp chính quyền quận lỵ.

Cũng trong sáng ngày 25 tháng 8 năm 1945, Ủy ban khởi nghĩa cử khoảng 100 công nhân Lộc Ninh - Hớn Quản và 50 công nhân người dân tộc thiểu số có trang bị vũ khí đến thị xã Thủ Dầu Một tham gia khởi nghĩa giành chính quyền.

Ở Bà Rá (Phước Long), bọn chỉ huy và bình lính Nhật không dám đi khủng bố, chờ quân đồng minh (quân Anh) đến để giao nộp vũ khí.

Tại thị xã Thủ Dầu Một, theo kế hoạch đã định, rạng sáng ngày 25 tháng 8 hàng chục ngàn đồng bào các nơi trong tỉnh kéo về thị xã. Đến 7 giờ sáng, một cuộc biểu tình lớn được tổ chức trước dinh tỉnh trưởng. Đồng chí Văn Công Khai - Bí thư Tỉnh ủy - Trưởng ban khởi nghĩa thay mặt Ủy ban tuyên bố xóa bỏ chính quyền phản động, thành lập chính quyền cách mạng.

Nhân dân Thủ Dầu Một dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã góp phần cùng cả nước xóa bỏ chế độ thực dân, phát xít, xây dựng nước Việt Nam độc lập.

Bình Phước giữ một vị trí địa lý tự nhiên, địa lý hành chính, địa lý quân sự quan trọng ở miền Đông Nam Bộ. Dân cư Bình Phước số đông là nông dân, công nhân cao su, đồng bào dân tộc thiểu số bị áp bức bóc lột nặng nề, có tinh thần yêu nước và đấu tranh chống ngoại xâm bất khuất. Từ trong phong trào công nhân, tổ chức Đảng Cộng sản đã ra đời từ rất sớm ở Bình Phước, và nhanh chóng trở thành tổ chức chính trị duy nhất lãnh đạo nhân dân đấu tranh cách mạng trong suốt các giai đoạn 1930-1931, 1936-1939, 1939-1945, góp phần làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám lịch sử năm 1945.

Trong dòng chảy chung của lịch sử dân tộc, lịch sử miền Đông Nam Bộ, những đặc điểm của Bình Phước đã tạo đặt những tiền đề quan trọng để quân và dân Bình Phước, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ ở địa phương.


(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr.554.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Sáu, 2011, 06:58:19 AM
PHẦN THỨ NHẤT

BÌNH PHƯỚC TRONG KHÁNG CHIẾN
CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1945-1954)


CHƯƠNG MỘT

XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG, CHUẨN BỊ VÀ
THỰC HÀNH KHÁNG CHIẾN (9-1945 - 12-1946)

I. XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG,
LỰC LƯỢNG VŨ TRANG VÀ CHUẨN BỊ KHÁNG CHIẾN

Trải qua gần một trăm năm đấu tranh đầy hy sinh, gian khổ, nhân dân ta đã giành được độc lập, tự do với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, đem lại “một cuộc đổi đời chưa từng có đối với mỗi người Việt Nam”. Trong không khí phấn khởi của những ngày đầu cách mạng, cùng với nhân dân cả nước, nhân dân vùng bắc Thủ Dầu Một, Biên Hòa gồm các quận Hớn Quản, Bà Rá, Bù Đốp(1) đã hăng hái tham gia vào công cuộc xây dựng và củng cố chính quyền mới.

Nhiệm vụ nặng nề và cần thiết đặt ra lúc này cho chính quyền cách mạng còn rất non trẻ là phải xây dựng bộ máy chính quyền các cấp, bảo đảm ổn định trật tự trị an, nhanh chóng khôi phục sản xuất và bảo vệ vững chắc những thành quả cách mạng.

Vượt ra khỏi sự cai trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật, nhân dân bắc Thủ Dầu Một, Biên Hòa đã thật sự thoát khỏi kiếp nô lệ, làm chủ đời mình, làm chủ mọi tài sản do chính mình làm ra. Công nhân, nhân dân lao động cùng với đồng bào dân tộc thiểu số đoàn kết gắn bó nêu cao lòng yêu nước, cùng nhau góp phần xây dựng và bảo vệ quê hương, với lời thề: “Quết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy”(2). Các công chức cũ, xếp đội, cai tổng tự nguyện phục vụ chính quyền mới; nhiều địa chủ yêu nước cũng ủng hộ chính quyền, không ít người đem toàn bộ điền sản hiến cho cách mạng.

Tuy nhiên, ở các quận phía bắc Thủ Dầu Một, Biên Hòa còn gặp không ít trở ngại. Chính quyền cách mạng đang đứng trước những khó khăn về chính trị, quân sự, kinh tế. Kinh nghiệm tổ chức quản lý của ta còn nhiều hạn chế. Phần lớn cán bộ non yếu về kinh nghiệm chiến đấu, lực lượng quân sự còn mỏng, trang bị chủ yếu là giáo, mác, mã tấu mà nhiệm vụ cấp bách, cam go và phức tạp lúc này là phải tiêu diệt các thế lực phản cách mạng, giữ vững thành quả cách mạng.

Sau Cách mạng Tháng Tám, hầu hết các đồn điền cao su, các nhà máy sản xuất chế biến cao su đều ngừng hoạt động, nhiều kho xưởng, máy móc, hóa chất bị hư hại, thất thoát chưa được phục hồi; giới tư bản quản lý các nhà máy, đồn điền bỏ trốn; hàng ngàn công nhân lâm vào tình trạng không tiền, gạo, thực phẩm; lực lượng phân tán và mất sức lao động, mang nhiều bệnh nghề nghiệp, mãn tính do hậu quả của xã hội cũ để lại khiến cho việc khôi phục và phát triển ngành sản xuất cao su gặp khó khăn. Đội ngũ công nhân xe lửa, công nhân cao su và thợ thủ công lâm vào tình trạng mất việc làm. Tất cả hệ thống trường học, trạm y tế, khu nghỉ dưỡng hầu như không còn. Đại bộ phận nhân dân không biết chữ, bệnh dịch hoành hành nhiều nơi.

Những trở ngại trên cùng với nguy cơ xâm lược của thực dân Pháp khiến nhân dân bắc Thủ Dầu Một, Biên Hòa đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Tuy nhiên, Cách mạng Tháng Thám thắng lợi là tiền đề, sức mạnh cho nhân dân vùng bắc Thủ Dầu Một, Biên Hòa vượt qua khó khăn, thử thách, đi lên xây dựng và bảo vệ chế độ mới.

*
*   *

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công chưa được bao lâu thì thực dân Pháp được sự hỗ trợ của quân Đồng minh Anh, quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa.

Âm mưu xâm lược Đông Dương của thực dân Pháp đã được đề ra từ khi nước Pháp còn bị phátxít Đức chiếm đóng và ngày càng ráo riết thực hiện khi phe đồng minh thắng trận trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Ngày 12-9-1944, Đờ Gôn (De Gaulle) chỉ định Mócđăng (Mordant) làm Tổng đại diện của chính phủ Pháp tại Đông Dương, đồng thời bên cạnh Chính phủ lâm thời, Pháp thành lập “Ủy an hành động giải phóng Đông Dương”. Ngày 24 tháng 3 năm 1945, Đờ Gôn tuyên bố “Đông Dương sẽ được thành lập theo kiểu liên bang gồm năm xứ (Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ, Cao Miên, Ai Lao), đứng đầu là một viên toàn quyền Pháp và liên bang này “sẽ cùng với nước Pháp xây dựng thành khối liên hiệp Pháp mà quyền đối ngoại sẽ do Pháp đại diện”. Ngày 22 tháng 8 năm 1945, Đại tá Xêđin (Cédille), người được Đờ Gôn trao chức Ủy viên cộng hòa Pháp tại Nam Việt Nam cùng với một tốp nhân viên quân sự và dân sự nhảy dù xuống Tây Ninh. Sau đó hai ngày, kế hoạch quay trở lại Đông Dương do Tướng Lơcờle (Leclerc) và Bộ tham mưu quân viễn chinh Pháp vạch ra được Ủy ban Đông Dương thông qua. Tập đoàn tư bản tài phiệt Pháp ra sức ủng hộ, tạo điều kiện để thực hiện kế hoạch này; đồng thời ráo riết cho việc chuẩn bị trở lại Đông Dương tái chiếm các cơ sơ kinh tế cũ của chúng. Theo J. Xanhtơni, đường thời là Ủy viên Cộng hòa Pháp ở Đông Dương cho rằng, chiếm được xứ sở này “sẽ thành một mối lợi vô cùng lớn lao có thể góp khá nhiều trong việc phục hồi kinh tế Pháp”(3).

Đông đảo công chức Pháp kiều, mật thám, chủ đồn điền của bộ máy cai trị cũ mừng rỡ trước hành động tái xâm lược của thực dân Pháp. Dựa vào thế lực Anh và và Pháp, bọn Tơrốtkít và tay sai thân Pháp, bọn đội lốt tôn giáo cũng hoạt động gây rối đón chủ cũ trở lại. Bọn phản động tung ra những khẩu hiệu đả kích, gây bạo loạn, vu khống chính quyền cách mạng, âm mưu dựng lên một “Chính phủ quốc gia liên hiệp” làm tay sai cho Pháp; các băng đảng trộm cướp thừa cơ cũng nổi dậy cướp phá…

Những diễn biến trên đã đặt ra nhiệm vụ lịch sử mới cho nhân dân các quận bắc Thủ Dầu Một, Biên Hòa là phải củng cố chính quyền cách mạng của nhân dân, bảo đảm trật tự trị an, xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng căn cứ địa, chuẩn bị tất cả mọi phương tiện về vật chất lẫn tinh thần để bước vào cuộc kháng chiến.


(1) Tỉnh Bình Phước ngày nay trong những năm 1945-1954 bao gồm một số quận của hai tỉnh Biên Hòa và Thủ Dầu Một. Khu vực Bình Long và một phần Lộc Ninh được gọi là quận Hớn Quản, phía đông bắc Lộc Ninh là quận Bù Đốp thuộc tỉnh Thủ Dầu Một. Khu vực Đồng Phú, Phước Long, Bù Đăng được gọi là quận Bà Rá thuộc tỉnh Biên Hòa (T.G).
(2) Văn kiện quân sự của Đáng, Nxb Quân đội nhân dân, 1976, t.2, tr. 13.
(3) Theo: J. Xanhtơni: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ, Pari, 1967, tr. 47.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Sáu, 2011, 07:02:16 AM
*
*   *

Trong những ngày đầu khi cuộc Tổng kinh nghiệm giành thắng lợi hoàn toàn ở tỉnh Thù Dầu Một, Biên Hòa, Tỉnh ủy và các cấp bộ Đảng hai tỉnh đã tập trung vào việc chăm lo, xây dựng, củng cố chính quyền các cấp từ tỉnh đến cơ sở xem đây là vấn đề then chốt, sống còn của cách mạng.

Ngay trong ngày Tổng khởi nghĩa 26 tháng 8 năm 1945, Ủy ban nhân dân cách mạng các cấp ở tỉnh Thủ Dầu Một được thành lập. Bác sĩ Trần Công Vị làm Chủ tịch, đồng chí Văn Công Khai và Nguyễn Minh Chương làm Phó Chủ tịch. Ngày 27 tháng 8 năm 1945, tại cuộc mít tinh ở thị xã Biên Hòa, danh sách Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Biên Hòa được công bố gồm 5 đồng chí, do đồng chí Hoàng Minh Châu làm Chủ tịch, đồng chí Huỳnh Văn Hớn làm Phó Chủ tịch. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, theo chỉ thị của Chính phủ, Ủy ban nhân dân cách mạng các cấp đổi thành Ủy ban hành chính, Ủy ban hành chính do đồng chí Nguyễn Minh Chương làm Chủ tịch thay bác sĩ Trần Công Vị. Xứ ủy Nam Bộ điều đồng chí Nguyễn Văn Tiết về Thủ Dầu Một làm Bí thư Tỉnh ủy, đồng chí Văn Công Khai làm Phó Bí thư. Đồng chí Nguyễn Văn Thi làm Ủy viên quân sự. Tham gia chính quyền là những cán bộ chủ chốt, từng tham gia tích cực vào các hoạt động cách mạng, từng gắn bó với nhân dân trong các cuộc đấu tranh. Phần đông là những công nhân nghèo khổ, bị chủ sở, cai sếp hành hạ nên họ sớm giác ngộ cách mạng.

Ở đồn điền Thuận Lợi, ngay chính văn phòng chủ sở người Pháp, nay trở thành trụ sở của Ủy ban nhân dân cách mạng.

Tại thị trấn Hớn Quản, Ủy ban kháng chiến hành chính do đồng chí Tốt làm Chủ tịch và một số thành viên khác như: Nguyễn Văn Lâm làm Phó Chủ tịch, đồng chí Nghĩa làm Ủy viên quân sự. Các đồn điền Quản Lợi, Xa Cam, Xa Trạch, chính quyền cách mạng cũng được thành lập. Ngoài ra công nhân còn cử đại biểu tham gia ủy ban nhân dân địa phương, góp sức xây dựng chính quyền mới. Với trang bị vũ khí hầu hết còn thô sơ, giáo, mác, tầm vông vạt nhọn; từng địa phương phải tự lực, giải quyết bằng cách tổ chức bí mật lấy súng từ kho vũ khí của Nhật, hay mua bằng tiền, đổi bằng lương thực, thực phẩm. Hoặc tổ chức những trận phục kích nhỏ uy hiếp lính Nhật, tước vũ khí của chúng trang bị cho mình.

Sau khi Tỉnh ủy và Ủy ban tỉnh được củng cố, cấp ủy và chính quyền hết sức quan tâm tới việc xây dựng và phát triển lực lượng của cách mạng bao gồm lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang.

Tỉnh ủy chủ trương tích cực xây dựng bộ máy chính quyền, đặc biệt là tổ chức Việt Minh và các đoàn thể quần chúng. Đồng chí Nguyễn Đức Nhàn được cử làm Chủ nhiệm Tỉnh bộ Việt Minh. Các tổ chức Việt Minh ở các tổng, xã nhanh chóng được thành lập làm chỗ dựa cho chính quyền cách mạng. Các tổ chức, đoàn thể cứu quốc trong thanh niên, phụ nữ, công nhân, nông dân ra đời ở hầu hết các xã. Đây là những lực lượng chính trị có vị trí hết sức quan trọng trong việc bảo vệ chính quyền và là nền tảng thực hiện vũ trang toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân.

Trong các đồn điền cao su, nhà máy, xí nghiệp, các Ban quản trị công nhân được thành lập; bao gồm những công nhân ưu tú, những cán bộ từng đóng vai trò nòng cốt cùng quần chúng nhân dân, công nhân trong các hoạt động cách mạng, các cuộc đấu tranh giải phóng quê hương như: ở đồn điền cao su Lộc Ninh, đồng chí Lê Đức Anh là người lãnh đạo trực tiếp Ban quản trị công nhân. Cùng trong Ban quản trị đồn điền Lộc Ninh còn có: đồng chí Ba Quyên (lái xe), Ba Anh (công nhân), Ba Đèn, Cầu, Kỳ, Nân, Dậu,… tham gia quản lý đồn điền. Bên cạnh đó, trong các đồn điền còn xây dựng lực lượng tự vệ làm nhiệm vụ giữ gìn an ninh, trật tự, bảo vệ thành quả cách mạng. Thanh niên nam nữ hăng hái gia nhập lực lượng tự vệ đồn điền. Trong nhiều đồn điền cao su ở Hớn Quản, Lộc Ninh, Ban quản trị công nhân phát động phong trào thực hiện nếp sống mới, xây dựng tình đoàn kết giữa người Kinh và người Thượng.

Phối hợp với chính quyền cách mạng, Ban quản trị các đồn điền bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới. Công nhân cao su Quản Lợi, Lộc Ninh, Thuận Lợi tham gia vào tổ chức công đoàn tiếp quản toàn bộ cơ sở vật chất do tư bản Pháp để lại, lấy lương thực, thực phẩm, tiền bạc còn lại trong kho phát cho công nhân và gia đình của họ. Toàn bộ nợ nần, tô thuế, lao dịch bị hủy bỏ. Rừng cây, nhà máy đã thuộc về tay công nhân. Nhưng vấn đề nổi trội lúc này là cứu đói. Phải giải quyết như thế nào? Khi việc khai thác chế biến cao su hầu hết đều ngừng hoạt động, số lương thực thực phẩm còn lại rất ít. Nhiều đồn điền bị bỏ hoang từ tháng 3 năm 1945, khi phát xít Nhật vào Đông Dương. Cuộc sống của người công nhân lâm vào hoàn cảnh bế tắc. Trước tình hình đó, Ủy viên Ban quản trị các đồn điền phối hợp với chính quyền cách mạng đi vận động công nhân tăng gia sản xuất, trồng khoai, chăn nuôi heo, gà vịt để chống đói và đã trở thành phong trào phát triển rộng khắp trong các đồn điền. Đồng thời, việc tăng cường phòng thủ, sẵn sàng ứng chiến với kẻ thù được đặc biệt chú trọng trong hầu khắp các đồn điền.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Sáu, 2011, 07:03:58 AM
Để giữ gìn an ninh trật tự, bảo vệ thành quả cách mạng công nhân thành lập lực lượng tự vệ đồn điền trên cơ sở phát triển lực lượng Thanh niên Tiền phòng đồn điền, xí nghiệp có từ trước Cách mạng Tháng Tám. Hầu hết các đồn điền đều có lực lượng tự vệ từ một đến bốn tiểu đội được trang bị súng trường, súng săn, giáo mác. Các đội tự vệ thường xuyên luyện tập quân sự, canh gác và tuần tra bảo vệ vườn cây, nhà máy, công xưởng.

Cuộc sống mới đã được khởi sắc ở các nơi trên địa bàn Hớn Quản, Bà Rá, Bù Đốp. Ở khắp các làng, xã, buôn, sóc cuộc vận động mở lớp học xóa mù chữ được nhân dân hưởng ứng sôi nổi, nhiều người dân nghèo thất học đã biết đọc, biết viết. Trong nhiều đồn điền Xa Cam, Xa Trạch, Quản Lợi, Ban quản trị công nhân phát động phong trào xây dựng nếp sống mới, bài trừ mê tín dị đoan, rượu chè, cờ bạc; công nhân lương - giáo, Kinh - Thượng xóa bỏ hiềm khích cùng bắt tay đoàn kết xây dựng và bảo vệ cuộc sống mới.

Từ sau Tổng khởi nghĩa Tháng 8 năm 1945, công nhân cao su trực tiếp làm chủ nhà máy, kho tàng, công sở, vườn cây. Các tổ chức đoàn thể cách mạng ra đời. Lực lượng tự vệ công nhân hình thành hoạt động sôi nổi. Tất cả đã làm thay đổi bộ mặt của các đồn điền cao su.

Để bảo vệ chính quyền mới của cách mạng, ở khắp các làng, xã trong vùng bắc Thủ Dầu Một, Biên Hòa vấn đề tổ chức đơn vị vũ trang được đặt ra. Dựa trên cơ sở những tổ chức quần chúng có vũ trang trong Tổng khởi nghĩa và sự tập hợp tự nguyện của đông đảo công nhân, nông dân sau này, hàng loạt các đơn vị vũ trang tập trung được hình thành và phát triển nhanh chóng, với quân số, trang bị vũ khí và tên gọi chưa thống nhất. Lực lượng vũ trang nhân dân mang những tên gọi như: tự vệ, du kích, dân quân, thanh niên cứu quốc quân, cộng hòa vệ binh, tự vệ chiến đấu quân lần lượt ra đời thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân địa phương tham gia. Một số lực lượng được trang bị súng ống đủ loại chủ yếu là của Pháp và Nhật. Còn lại là vũ khí thô sơ, tầm vông, dao, kiếm và mũ sắt Nhật. Nhiệm vụ chủ yếu của những tổ chức này là mở kho lương thực, thực phẩm của giặc phân phát cho dân nghèo; thu gom vũ khí quân trang của giặc để trang bị cho ta; xây dựng và huấn luyện lực lượng vũ trang; vận động bà con tăng gia sản xuất, chăn nuôi để chống đói, tích cực vận động xóa mù chữ trong nhân dân, bảo đảm hệ thống giao thông an toàn, thông suốt; tiết kiệm trong việc chi tiêu hàng ngày; đề cao cảnh giác với địch, bảo đảm an toàn cho bộ máy chính quyền cách mạng. Tuy lực lượng vũ trang trên địa bàn Hớn Quản, Bù Đốp số lượng không nhiều, trang bị vũ khí kém, phức tạp về mặt tổ chức, thế nhưng tuyệt đại bộ phận là những cán bộ, chiến sĩ yêu nước được giáo dục, rèn luyện trong đấu tranh cách mạng, trưởng thành từ trong phong trào khởi nghĩa toàn dân. Trước yêu cầu của chính quyền cách mạng, các lực lượng vũ trang được khẩn trương xây dựng, củng cố về tổ chức, biên chế, trang bị và lãnh đạo chỉ huy. Đây là lực lượng chính trị hùng hậu, là nguồn sức mạnh to lớn giữ vai trò hết sức quan trọng trong công cuộc bảo vệ chính quyền nhân dân, chủ quyền dân tộc. Tuy kinh nghiệm chiến đấu chưa nhiều, trang bị còn thiếu thốn, nhưng lực lượng chính trị hùng hậu này sẽ đóng góp một phần quan trọng trong việc bảo vệ chính quyền cách mạng và là tiền đề để thực hiện vũ trang toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân.

Mỗi đồn điền trong quận Hớn Quản ngoài lực lượng tự vệ, còn tổ chức ra một lực lượng vũ trang mới đầu gọi là Vệ quốc quân, sau đổi là Vệ quốc đoàn. Tại đồn điền Xa Cam, đã tuyển lựa những trai tráng khỏe mạnh ở các làng, sở lập ra một đại đội với quân số khoảng 200 người, vũ khí trang bị có súng gỗ gắn lưỡi lê, súng hai nòng, tên nà-rưng mua của đồng bào dân tộc thiểu số, có cả một súng mút cơ tông lấy được của Nhật do một lính Nhật ở Xa Cam trốn ra theo ta giao nộp. Ở Lộc Ninh, chính quyền cách mạng phân công đồng chí Lê Đức Anh phụ trách quân sự trực tiếp tổ chức lực lượng Vệ quốc đoàn. Lực lượng này thu hút hàng ngàn thanh niên tích cực trong các làng cao su, nhưng vì vũ khí có ít nên không sung vào đội ngũ hết được.

Số thanh niên trên địa bàn bắc Thủ Dầu Một được tuyển biên chế thành các tiểu đội, trung đội, đại đội Vệ quốc đoàn có quân phục là quần áo bà ba màu nâu, mũ calô xanh, giày cao su. Do lực lượng này mặc đồng phục nâu nên được gọi là “bộ đội áo nâu” hay “đội quân áo nâu”. Đây là đội quân gồm công nhân cao su, đồng bào dân tộc thiểu số. Hầu như vũ khí chỉ có giác mác, tầm vông vạt nhọn.

Đồn điền cao su Thuận Lợi, lực lượng “Việt Nam mới”của đồng bào dân tộc ít người như S’tiêng, M’nông, Ch’Ro được duy trì, tăng cường và trang bị thêm vũ khí, song hầu hết vẫn là cung tên nên lực lượng này được gọi là “đội quân cung tên”.

Giữa tháng 9 năm 1945, Tỉnh ủy Biên Hòa thành lập trường Huấn luyện cán bộ quân sự đầu tiên ở miền Đông, hay còn gọi là Trại du kích Vĩnh Cửu do đồng chí Phan Đình Cống trực tiếp quản lý. Hàng trăm thanh niên tự vệ chiến đấu, công nhân, nông dân khắp nơi đã đến tham gia khóa học. Các chiến sĩ được huấn luyện vừa biết chiến đấu, chỉ huy chiến đấu, quản lý đơn vị; vừa biết làm công tác chính trị, binh vận, dân vận. Hầu hết các lớp học viên của trường sau này đều là những cán bộ nòng cốt xây dựng lực lượng vũ trang ở các địa phương trong đó có quận ở bắc Biên Hòa, Thủ Dầu Một.

Đến đầu năm 1946, tổ chức Quốc gia tự vệ cuộc tỉnh Thủ Dầu Một được thành lập, do ông Hồ Văn Nâu làm Trưởng ban. Quốc gia tự vệ cuộc có khoảng một tiểu đội bao gồm những thanh niên Tiền phong cũ và một số thanh niên khác tự nguyện tham gia, được trang bị các loại vũ khí tự tạo thô sơ như: gươm giáo, cung tên, tầm vông vạt nhọn, các loại vũ khí cướp được của địch (súng trường mút cơ tông của Nhật, lựu đạn, súng hai nòng). Mục tiêu của tổ chức này là diệt ác, trừ gian, và phát triển lực lượng để sẽ đảm đương những nhiệm vụ to lớn, nặng nề hơn.

Trong điều kiện vừa giành được chính quyền, những người lãnh đạo cách mạng ở Hớn Quản, Bà Rá, Bù Đốp đã phải đối phó ngay với nhiều kẻ thù cùng một lúc, và giải quyết thành công hàng loạt nhiệm vụ hết sức cấp bách như: thành lập hệ thống chính quyền và đoàn thể cách mạng, hình thành các đơn vị vũ trang, chống lại âm mưu của một số phần tử phản động thân Pháp, bảo đảm an toàn cho nhân dân. Đó là những nhân tố quan trọng để quân và dân Hớn Quản, Bà Rá, Bù Đốp chủ động bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Sáu, 2011, 08:03:17 AM
*
*   *

Trong khi chính quyền mới còn gặp muôn vàn khó khăn về mọi mặt kinh tế, kinh tế, chính trị, quân sự…, thì đêm 22 rạng ngày 23 tháng 9 năm 1945, với trên 5.000 lính Nhật được sự hỗ trợ của quân Đồng minh Anh, thực dân Pháp bất ngờ nổ súng tiến công vào các cơ quan hành chính Nam Bộ và những cứ điểm quan trọng trong thành phố Sài Gòn, chính thức mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta một lần nữa.

Sáng ngày 23 tháng 9 năm 1945, Xứ ủy Nam Kỳ họp quyết định thành lập Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ do Trần Văn Giàu làm Chủ tịch và phát động nhân dân đứng lên tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Ngay chiều ngày 23 tháng 9, Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ đã phát đi lời kêu gọi: “Hỡi đồng bào! Từ giớ phút này, nhiệm vụ hàng đầu của chúng ta là tiêu diệt giặc Pháp, tiêu diệt tay sai của chúng”.

Theo lệnh của Ủy an Kháng chiến Nam Bộ, khắp nơi trong thành phố Sài Gòn nhân dân cùng với công nhân các công sở, nhà máy, xí nghiệp thực hiện triệt để chủ trương không hợp tác với địch. Mặt trận nội ô và xung quanh thành phố Sài Gòn dần dần hình thành bốn mặt bao vây quân địch. Cuộc chiến đấu diễn ra ngày càng ác liệt.

Trước hành động tái xâm lược của thực dân Pháp và cuộc chiến đấu của nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, Tỉnh ủy Thủ Dầu Một chủ trương góp sức người và sức của với Sài Gòn - Chợ Lớn để ngăn chặn sự lấn chiếm của địch, chuẩn bị sẵn sàng đánh địch tại chỗ nếu chiến sự lan đến địa phương. Người dân khắp nơi sôi sục khí thế vào trận: “Mùa thu rồi ngày hăm ba, ta đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến. Rền khắp trời, lời hoan hô, dân quân Nam nhịp chân tiến ra trận tiền. Thuốc súng kém, chân đi không mà lòng người giàu lòng vì nước. Nóp với giáo mang ngang vai nhưng thân trai nào kém oai hùng”(1).

Và ngày 26 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi: “Tôi tin và đồng bào cả nước đều tin vào lòng kiên quyết ái quốc của đồng bào Nam Bộ… Chúng ta nhất định thắng lợi vì chúng ta có lực lượng đoàn kết của cả quốc dân”(2).

Máu chảy ruột mềm, cả nước dấy lên phong trào sôi nổi ủng hộ miền Nam kháng chiến. Hầu hết các tỉnh Bắc Bộ và Trung Bộ lập “Phòng Nam Bộ’ ghi tên những người tình nguyện vào Nam giết giặc. Khắp nơi diễn ra mít tinh, biểu tình, biểu thị quyết tâm kháng chiến. Đông đảo công nhân, nông dân, học sinh, sinh viên, viên chức… tự nguyện lên đường chiến đấu. Chỉ trong một thời gian ngắn, các tỉnh Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ tổ chức mỗi tỉnh từ một đến hai chi đội (tương đương trung đoàn hoặc tiểu đoàn) Nam tiến. Với sức mạnh của nhân dân cả nước đứng lên đánh giặc, ngay trong tuần lễ đầu, đã gây cho giặc Pháp nhiều khó khăn và tổn thất.

Nhận thức rõ tình hình đất nước có chiến tranh, Cùng với nhân dân cả nước, từ Hớn Quản, Lộc Ninh một đoàn xe tải chở thanh niên chiến đấu theo quốc lộ 13 tiến về Sài Gòn, chi viện cho trận tuyến Miền Đông. Đây là những chiến sĩ được tuyển chọn từ “đội quân áo nâu” và một “bộ phận tên ná” trong “đội quân cung tên” do đồng chí Lê Đức Anh chỉ huy. Với số lượng gần một đại đội, vũ khí ít (chỉ có vài khẩu súng lấy được của Nhật, Pháp trong thời gian khởi nghĩa, còn phần lớn là súng gỗ gắn lưỡi lê và giáo mác, cung tên), sng đội quân lên đường với lòng căm thù giặc sâu sắc và ý chí quyết tâm chiến đấu đến cùng “thà chết tự do còn hơn sống nô lệ”.

Tại mặt trận cầu Bến Phân (Hóc Môn), hoạt động của đội quân áo nâu, đội quân cung tên ở Hớn Quản, Lộc Ninh đã góp phần làm cho binh lính, sĩ quan sư đoàn thuộc địa số 9 của Pháp phải vất vả chống đỡ.

Mặc dù với những vũ khí thô sơ, thiếu kinh nghiệm chiến đấu, nhưng các chiến sĩ, công nhân cao su, đồng bào bắc Thủ Dầu Một đã chiến đấu anh dũng cùng với quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định bao vây chặt quân địch trong thành phố. Nhiều người đã anh dũng hy sinh trên các chiến hào xung quanh thành phố.

Cùng với các chiến sĩ đánh giặc ở Sài Gòn, khắp nơi trong tỉnh Thủ Dầu Một phong trào quyên góp ủng hộ bộ đội đánh Pháp diễn ra sôi nổi. Lương thực, thực phẩm và các vật dụng khác của nhân dân, công nhân cao su và đồng bào dân tộc thiểu số ở Hớn Quản, Lộc Ninh chuyển về ngoại vi Sài Gòn, góp phần quan trọng bảo đảm nguồn lương thực, thực phẩm cho các lực lượng vũ trang chiến đấu bao vây địch.

Từ giữa tháng 10 năm 1945, sau khi tăng thêm viện binh, quân Pháp với sự hỗ trợ của quân Anh bắt đầu tổ chức các cuộc lấn chiếm ra ngoại vi Sài Gòn. Dấu hiệu chúng sẽ mở cuộc chiến tranh xâm lược ra các tỉnh Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Trong đó các quận bắc Thủ Dầu Một, Biên Hòa cũng trở thành một trong số những mục tiêu bị đánh chiếm trong kế hoạch của thực dân Pháp.

Vì thế, đồng thời với hoạt động đánh địch tại mặt trận Sài Gòn - Chợ Lớn, công tác chuẩn bị đánh địch tại chỗ được xúc tiến mạnh mẽ trên khắp địa bàn bắc Thủ Dầu Một, Biên Hòa.

Ở tất cả các đồn điền Quản Lợi, Lộc Ninh, Thuận Lợi, Xa Cát, Xa Cam, lực lượng tự vệ và công nhân cao su tích cực chuẩn bị vũ khí, phương án sẵn sàng chiến đấu. Tại những vị trí hiểm yếu đều có các phân đội tự vệ công nhân cao su luân phiên canh gác ngày đêm. Các đội tự vệ người Kinh và đồng bào Thượng chuẩn bị tên ná tẩm thuốc độc, bùi nhùi, bố trí phục kích chặn đánh địch.

Trong đồn điền cao su Thuận Lợi, công nhân cao su Nguyễn Đình Kính vận động, tổ chức đội thanh niên tự trang bị vũ khí, hăng hái luyện tập quân sự. Hội phụ nữ cứu quốc cùng vận động được nhiều chị em tham gia bảo vệ đồn điền dưới sự điều hành của Ủy ban nhân dân Thuận Lợi.

Các đội thanh niên cách mạng ở Hớn Quản được trang bị dao găm, gậy tầm vông, dây thừng thường xuyên luyện tập. Đội thanh niên có nhiệm vụ tuần tra, canh gác, khi có vấn đề xảy ra thì thổi tù và báo động.

Trên quốc lộ 13 từ Chơn Thành đến lộc Ninh, chính quyền cách mạng huy động hàng ngàn dân cùng với bộ đội và tự vệ các xã ra đào đường, đốn cây, lập chướng ngại vật, bố trí các trận địa để ngăn chặn bước tiến của quân xâm lược.

Tại các đồn điền, làng sở, công nhân được chỉ đạo chuyển kho tàng ra rừng, đồng thời phá hủy các cơ sở sản xuất còn lại của địch, đưa dân ra khỏi các vị trí có khả năng địch sẽ tới chiếm. Ngoài ra còn vận động nhân dân thực hiện “vườn không nhà trống”, đồng thời tiến hành chặt cây, phá đường nhằm gây khó khăn cho quân địch. Cuộc vận động này được đồng bào bà con hưởng ứng. Một phong trào bất hợp tác với địch phát triển rầm rộ và lan nhanh khắp các đồn điền.

Lực lượng Vệ quốc đoàn của các đồn điền được lệnh rút vào rừng, di chuyển theo tài sản lương thực để sinh sống và chờ lệnh trên triển khai kháng chiến. Lúc này, Ủy ban hành chính, lực lượng cách mạng cùng nhân dân tạm thời rút vào rừng tránh sự đàn áp và khủng bố của địch, đồng thời xây dựng cơ sở vững chắc cho cuộc kháng chiến về sau.

Khi cuộc kháng chiến lan đến địa bàn các quận bắc Thủ Dầu Một, Biên Hòa, nhân dân nơi đây đã hăng hái thực hiện nhiệm vụ xây dựng chính quyền cách mạng, xây dựng cuộc sống mới và chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến, từ xây dựng lực lượng vũ trang cho đến việc tổ chức bố trí chặn đánh địch. Với tinh thần chủ động đó, đến trước khi những đạo quân viễn chinh Pháp sử dụng xe thiết giáp tiến chiếm các đồn điền cao su thì quân dân địa phương đã ở tư thế sẵn sàng chiến đấu. Đó là bước chuẩn bị ban đầu có ý nghĩa đặt tiền đề quan trọng cho công cuộc kháng chiến đã cận kề.


(1) Bài hát “Nam Bộ kháng chiến” của Tạ Thanh Sơn (T.G).
(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.4, tr. 27.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Sáu, 2011, 08:04:36 AM
II. BÌNH PHƯỚC KHÁNG CHIẾN, XÂY DỰNG VÀ
CỦNG CỐ LỰC LƯỢNG VŨ TRANG

Ngày 23 tháng 10 năm 1945, binh đoàn kỵ binh thiết giáp của đại tá Mát Xuy (Massu) đến Sài Gòn, đưa tổng số quân Pháp tại Sài Gòn lên tới 6.000, không kể 20.000 quân Anh và 40.000 quân Nhật. Có thêm viện binh, Leclerc bắt đầu tổ chức các cuộc tiến công chọc thủng vòng vây xung quanh Sài Gòn, lần lượt đánh chiếm các tỉnh Miền Đông và Miền Tây Nam Bô.

Trong các ngày 23 đến 25 tháng 10 năm 1945, quân Pháp đánh chiếm Thủ Dầu Một và Biên Hòa. Sau đó, chúng lần lượt đánh chiếm thị trấn Bến Cát cùng nhiều nơi khác dọc trên đường 13. Binh đoàn bộ binh cơ giới Pháp do đại tá Mátxuy (Massu) chỉ huy sau khi chiếm Tây Ninh, đã tiến lên phía bắc mở đường vào vùng đồng bào các dân tộc và các đồn điền cao su của Hớn Quản, Lộc Ninh, Bù Đốp. Tại đoạn Chơn Thành - Lộc Ninh, địch tổ chức tiến chiếm nhưng đều bị lực lượng ta đánh tiêu hao, buộc phải tạm lui.

Thấy được tầm quan trọng của địa bàn Hớn Quản, Bà Rá, Bù Đốp nơi tập trung nhiều các đồn điền cao su như: Lộc Ninh, Hớn Quản, Thuận Lợi, Đa Kia, Bù Đốp… một nguồn nguyên liệu đem lại giá trị kinh tế to lớn mà các nước phát triển đều muốn giành độc quyền trên thị trường thế giới nên việc bình định và phục hồi sản xuất ở các đồn điền trở thành mục tiêu chính của thực dân Pháp. Không những thế, nơi đây còn là vùng có giá trị chiến lược rất lợi hại về quân sự. Một mặt, là địa bàn rừng núi, dân cư thưa thớt phân bố không đều, lương thực thực phẩm khan hiếm, giao thông liên lạc khó khăn, vì thế, các đồn điền cao su dễ trở thành những trung tâm tiếp tế, cung cấp mọi nhu cầu cho kháng chiến. Mặt khác, lại là nơi có đường xe lửa Sài Gòn - Lộc Ninh; với các mục tiêu đường giao thông chiến lược quan trọng như quốc lộ 13, quốc lộ 14 chạy dài từ Bắc đến Nam nối liền Bình Phước với các tỉnh Nam Trung Bộ, Nam Tây Nguyên và Campuchia. Do đó, hơn hai tháng sau ngày chiếm Thủ Dầu Một, ngày 25 tháng 12 năm 1945, quân Pháp được quân Anh yểm trợ mở cuộc tiến công với quy mô lớn, chia làm hai hướng đánh chiếm vùng cao su ở Hớn Quản, Bà Rá, Bù Đốp. Hướng thứ nhất từ thị xã Thủ Dầu Một đánh lên, hướng thứ hai từ thị xã Tây Ninh đánh qua tạo thành hai gọng kìm tiêu diệt lực lượng ta. Mục tiêu chung của chúng là khai thông và kiểm soát hoàn toàn các địa điểm nằm dọc theo quốc lộ 13, cùng với các đồn điền cao su rộng lớn ở Hớn Quản, Lộc Ninh. Tuy nhiên, địch liên tiếp đụng phải chướng ngại vật và trận địa phục kích của du kích trên quốc lộ 13. Lực lượng công nhân cao su cùng nhân dân lao động, đồng bào dân tộc thiểu số chỉ có vũ khí thô sơ đã chống trả quyết liệt, ngăn chặn từng bước tiến của kẻ thù, tiêu diệt và làm bị thương một số tên địch.

Nhưng sau một thời gian cầm cự, do lực lượng quá chênh lệch giữa một bên là quân đội viễn chinh nhà nghề trang bị vũ khí hiện đại với một bên là những người công nhân cao su và du kích địa phương chỉ với gậy gộc, giác mác, tầm vông vạt nhọn, nên hiều anh chị em đã anh dũng hy sinh để bảo vệ chính quyền vừa mới giành được. Cuối cùng lực lượng cách mạng cùng nhân dân tạm thời rút vào rừng tránh sự vây ráp, khủng bố của địch để bảo toàn lực lượng. Tuy nhiên, do lực lượng chênh lệch đến tháng 2 năm 1946, hầu hết các địa phương, các đồn điền cao su đều bị thực dân Pháp đánh chiếm.

Ngày 8 tháng 11 năm 1945, quân Pháp đánh chiếm các đồn điền cao su dọc lộ 13, 14. Ngày 12 tháng 12, chúng chiếm Hớn Quản, Lộc Ninh, Bù Đốp.

Sau khi quân Pháp chiếm đóng Hớn Quản, Bà Rá, Bù Đốp, chúng lập lại tề xã, các đồn bốt, chi khu, cứ điểm quân sự tại các trung tâm đồn điền, các làng công nhân và dọc đường giao thông, quốc lộ 13, quốc lộ 14.

Tại đồn điền Thuận Lợi, trừ lực lượng cơ động ứng chiến, có trên một trung đội lính bảo vệ văn phòng chủ sở, các làng công nhân đều có đồn bốt do lính Marốc được trang bị vũ khí đầy đủ canh giữ. Đồn điền Thuận Lợi trở thành một căn cứ quân sự của địch với nhiều đồn bót xung quanh, sẵn sàng chi viện cho các địa bàn khác.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Sáu, 2011, 08:06:16 AM
Ở Hớn Quản có tên Hai Tác, nguyên Ủy viên Ủy ban hành chính Hớn Quản đã phản bội, làm chỉ điểm cho Pháp bắn chết một số cán bộ chủ chốt của cách mạng như đồng chí Vị là đảng viên phụ trách quận bộ hành chính, đồng Nghĩa là ủy viên quân sự Ủy ban hành chính. Trung bình, tại mỗi đồn điền, địch đóng một chi khu quân sự với lực lượng thường trục khoảng 2 đại đội, gồm cả lính Âu Phi và lính Cao Miên. Những nơi lập được bộ máy kìm kẹp, chúng ra sức dụ dỗ, mua chuộc thanh niên đi lính cho chúng. Theo chân bọn lính viễn chinh, các chủ công ty đồn điền quay trở lại chiếm đoạt các đồn điền cao su cũ, phục hồi sản xuất. Quân đội Pháp cấu kết với bọn chủ đồn điền xây dựng các đồn điền cao su thành cơ sở quân sự và hậu cần, vừa bảo vệ an ninh tại chỗ, đồng thời làm bàn đạp bao vây và phong tỏa kinh tế căn cứ của ta. Chỉ riêng ở khu vực Đồng Xoài, Pháp thường xuyên duy trì hơn một tiểu đoàn, đóng đồn bốt khắp các khu vực dọc đường 14 từ Phước Hòa, Phước Vĩnh, Đồng Xoài đến quận lỵ Bà Rá.

Thực dân Pháp đẩy mạnh khủng bố và tăng cường các tổ chức tề điệp. Chúng tụ tập bọn tay chân là chủ đồn điền, tay sai ác ôn bị Nhật giam giữ trước đây, tổ chức lại bố máy cai trị địa phương và thi hành hàng loạt các cuộc bắn giết trả thù, và khủng bố những người tham gia cách mạng, tham gia thành công Thanh niên Tiền Phong khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám, tham gia lực lượng tự vệ công nhân, các đảng viên cộng sản; đồng thời lùng bắt công nhân, buộc họ trở lại công sở làm việc cho chúng.

Ngoài các đồn bốt, tháp canh, chi khu quân sự dùng để đàn áp và khủng bố công nhân, nhân dân cách mạng, quân viễn chinh Pháp còn dùng một công cụ khác không kém phần dã man nhằm đối phó với những người yêu nước cách mạng, đó là các trại tù. Đây là nơi lưu đầy dân phu cao su bỏ trốn hoặc những người mà chúng cho là “nổi loạn”. Những người bị bắt giam phần lớn là những cán bộ cách mạng. Mọi tù nhân đều chịu chung số phận đọa đày tàn nhẫn. Nhưng cũng chính trong thời gian bị giam cầm ở đây, họ đã biến trại tù thành trường học cộng sản, ngày đêm trau dồi đạo đức cách mạng. Khi có cơ hội là họ đào thoát trở về làm cách mạng triệt để hơn.

Dã man nhất là trận đàn áp ở đồn điền Kinkixa thuộc công ty CEXO (Lộc Ninh). Trong vài giờ, chúng đã bắn chết hàng trăm người, đốt trụi hàng trăm ngôi nhà. Cả làng công nhân chỉ còn một phụ nữ và một cháu bé 11 tuổi. Những vụ thảm sát này nằm trong hàng loạt hành động giết sách, đốt sạch, phá sạch tại các trận càn của địch ở vùng nông thôn.

Do không có phương tiện sinh sống, lại bị địch ruồng bố càn quét, một số công nhân cao su, một lần nữa trở lại cuộc sống lao động làm thuê cho tư bản thực dân Pháp. Người công nhân đã phải chua chát thốt lên rằng:

      “Trời cao cao mấy tầng mây
      Trời cao có thấu nỗi này cho chăng?”


Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, ngay từ đầu năm 1946, thực dân Pháp xây dựng những đội quân địa phương để bảo vệ đường và căn cứ quân sự. Chúng dùng nhiều thủ đoạn lừa mị, mua chuộc, dụ dỗ hòng phá vỡ phong trào kháng chiến cứu nước của đồng bào ta. Nhưng chúng đa bị thất bại, đồng bào không theo giặc Pháp, chúng lại giở thủ đoạn đốt sạch, phá sạch các buôn làng, tăng cường bóc lột đồng bào, khoét sâu mâu thuẫn Kinh - Thượng. Thâm hiểm hơn, chúng kích động đồng bào dân tộc thiểu số bắn giết cán bộ người Kinh, lấy đầu cán bộ đem đến đồn Phát đổi lấy muối, vải. Ban đầu chúng treo giá 3 lít muối và 1 lít vải (xấu) cho mỗi cán bộ bị giết. Sau chúng nâng lên thành 20 lít rồi cả bao muối và vải. Cuối cùng chỉ cần cắt được tai cán bộ nộp cho Pháp thì vẫn được một bảo muối và vải vóc(1). Đồng thời chúng mua chuộc và tổ chức điểm chỉ viên và gián điệp để cung cấp tin thức cho chúng, chống lại ta.

Cùng với âm mưu chia rẽ về chính trị, tăng cường quân sự, thực dân Pháp còn bao vây ta về kinh tế hòng làm cho cán bộ chiến sĩ và đồng bào ta không có phương tiện sinh sống, đói rét, thiếu thuốc chữa bệnh và nhiều nhu yếu phẩm khác.


(1) Xem: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập 1 (1930-1945), Ban Thường vụ tỉnh ủy Sông Bé xuất bản, 1995, tr. 40.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Sáu, 2011, 08:09:01 AM
*
*   *

Tất cả các hành động nêu trên của địch đã gây không ít khó khăn cho ta từ cuối năm 1945 và cả trong năm 1946. Song dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Thủ Dầu Một, quân và dân các quận Hớn Quản, Bà Rá, Bù Đốp, đã kiên cường từng bước một vượt qua mọi khó khăn, duy trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ Tịch Hồ Chí Minh và Ủy ban kháng chiến Nam Bộ “Hỡi anh em binh sĩ, dân quân, tự vệ! Hãy nắm chặt vũ khí trong tay xông lên đánh đuổi thực dân Pháp, cứu nước” nhân dân các quận bắc Thủ Dầu một hăng hái đứng lên kháng chiến.

Trước thế tấn công áp đảo của địch, huyện lỵ, đồn điền cao su bị chiếm các cơ quan kháng chiến và lực lượng vũ trang phải phân tán, rút lui ra nhiều hướng. Ngay từ những ngày 21, 22 tháng 10 năm 1945, do nắm được ý đồ của thực dân Pháp sẽ lấn chiếm tỉnh lỵ, các cơ quan tỉnh đã rút khỏi thị xã Thủ Dầu Một, dời ra vùng nông thôn để bảo toàn lực lượng và tổ chức chiến đấu. Thực hiện chỉ thị “triệt để bãi chợ, bãi công và tiêu thổ kháng chiến” của Ủy ban kháng chiến Nam Bộ và theo chỉ đạo của Tỉnh ủy Thủ Dầu Một, hầu hết các gia đình công nhân, nông dân đều tản cư vào các xóm ấp ven đồn điền hoặc các vùng rừng núi. Công nhân đồn điền Thuận Lợi chuyển về Phước Long; công nhân đồn điền Quản Lợi di chuyển đến các điểm ở phía đông Sông Bé; công nhân cao su Xa Cam, Xa Cát chuyển vào khu vực giáp phía đông sông Sài Gòn. Trong các đồn điền, làng sở, nhân dân được chỉ đạo chuyển kho tàng tài liệu, máy móc vào rừng.

Ở vùng Lộc Ninh, Hớn Quản, ngay sau khi các gia đình công nhân tản cư, kho tàng cũng được đưa đến các nơi an toàn, lực lượng tự vệ đồn điền và bộ đội tiến hành phá hủy các cơ sở sản xuất còn lại: dân phá máy móc, đốt các kho chứa mủ cao su, lửa cháy âm ỉ suốt cả tuần lễ, vườn cây bị bỏ hoang trong nhiều tháng. Phong trào bất hợp tác với địch lan nhanh trong nhân dân, với khẩu hiệu “không làm cho giặc Pháp, không tiếp tế cho Pháp, không mua bán với Pháp, không dẫn đường cho Pháp”.

Các lực lượng dân quân được phân công bám các trục lộ giao thông, ven các làng xã diệt địch, trừ việt gian. Ban đêm những lực lượng này thường đột nhập vào những vùng địch chiếm đóng, bắn phá các đồn bốt địch, ban ngày rút ra ngoài phục kích.

Đầu tháng 12 năm 1945, lực lượng “đội quân áo nâu” (thành phần chủ yếu là lực lượng vũ trang chiến đấu của Quản Lợi, đồn điền Xa Cam, Xa Cát) đóng quân ở Sóc Tà Bái, bắc Sông Bé, huy động 2 phân đội đánh lính Nhật Bản ở làng sở Sóc Xiêm, thu 1 súng và một số lựu đạn, đồ dùng quân sự.

Ngày 10 tháng 12 năm 1945, cũng lực lượng ở Tà Bái với hơn 1 đại đội khoảng 150 người được trang bị 2 đại liên 12 ly 7 và 13 ly 2, một trung liên và 20 súng trường đã đánh phục kích quân Pháp ở bìa sở cao su XACO 28 thuộc đồn điền Quản Lợi. Hai ngày sau, ta lại tổ chức hai phân đội phối hợp với lực lượng vũ trang ở đông Bù Ka (phía đông sông Bé giáp với Bù Nho) đánh lính Nhật ở làng 2 đồn điền Đa Kia. Cùng với hoạt động của cánh quân ở Tà Bái, cánh quân ta ở Bù Nho cũng đột nhập vào Xẹcvixơ Técních (Service Technique) diệt tên việt gian chỉ điểm. Lúc này “đoàn quân áo nâu” của công nhân cao su Lộc Ninh do đồng chí Lê Đức Anh chỉ huy, đi chi viện cho mặt trận Sài Gòn, sau khi mặt trận này bị vỡ, đã rút về trấn giữ cầu Bến Phân Thủ Dầu Một, cũng được lệnh rút về xã Chánh Phú Hòa để củng cố và tăng cường lực lượng.

Giữa tháng 12 năm 1945, quân Pháp bung ra tiến công quân ta ở mạn đông sông Bé. Chúng triển khai lực lượng ở bờ tây sông tổ chức vượt sông. Quân ta nổ súng chống cự, giết và làm bị thương 3 tên, sau đó tổ chức rút lui bảo toàn lực lượng. Sau trận đánh này, các đơn vị vũ trang chiến đấu nhận lệnh rút về phía nam, vượt qua khu rừng phía tây Đồng Xoài về Phước Sang hợp lực với lực lượng chiến đấu do đồng chí Lê Đức Anh chỉ huy. Toàn bộ lực lượng kéo về Bình Mỹ - Bình Cơ bàn việc chấn chỉnh lại bộ đội, lo nguồn tiếp tế hậu cần, chuẩn bị cho đợt chiến đấu tiếp theo.

Tại Bù Đốp, đơn vị vũ trang ta đã đánh một trận giao thông vang dội trên quốc lộ 13. Đoàn xe quân sự của địch gồm 5 chiếc GMC, mỗi chiếc chở 30 lính Pháp đã lọt vào ổ phục kích của ta. Hai xe bị trúng mìn bốc cháy, 3 xe bị ta bắn bị thương, 60 tên địch bị giết. Ta làm chủ trận địa, thu nhiều vũ khí của địch để lại. Đối với giặc Pháp và tay sai, quốc lộ 13 được xem là “con đường đầy máu và nước mắt”.

Trước sự lớn mạnh của phong trào kháng chiến, giặc Pháp bắt đầu hoảng sợ; do đó chúng mở các cuộc khủng bố, tàn sát dã man đồng bào, lùng bắt và giết anh em cán bộ hòng dập tắt làn sóng đấu tranh của nhân dân. Ngày 20 tháng 12 năm 1946, chúng đã bắt và giết ông Ngô Tấn Nghi, bà Năm Phòng, bà Ba Cát(1)… Chúng cho ném xác bà Ba Cát xuống Cầu Đúc, cho quân canh giữ cẩn thận hòng giết những người đến lấy xác, đốt cháy rụi xóm Cầu Suối Đôi (Chơn Thành), giết ông Ngô Tấn Vĩnh, Ngô Tấn Ký(2). Cùng lúc, tên quan tư Moks chỉ huy lực lượng Pháp chiếm đóng Chơn Thành kết hợp với tên cò Ma Hu ở Hớn Quản tổ chức một cuộc vây ráp từ Hớn Quản xuống, từ Chơn Thành lên, tạo thành gọng kìm vây chặt xã Tân Quang. Trước tình thế đó lực lượng Thanh niên cứu quốc của xã phải rút vào rừng để bảo toàn lực lượng. Quân của tên cò Ma Hu bắt dân đưa về làm phu cho bọn chủ tư bản Pháp ở Hớn Quản. Còn tên Mosk cũng vây bắt một nửa số dân xã Tân Quang về Chơn Thành, đồng thời bắn chết 4 người mà hắn cho là Việt Minh, đó là ông Lâu, ông Năm nghiêm, ông Giỏi, ông Gặp. Ngoài ra tên Moks còn cho một cánh quân đánh vào khu vực Tàu Ô đốt sạch nhà cửa của bà con, bắn chết ông Hai Dâu, ông Tú, ông Bảy, ông Rừng, ông Gồng(3).

Tại Xa Cát và Xa Trạch cơ sở bị lộ, Pháp bắt một số người tra tấn, đánh đập. Trong số anh em công nhân bị bắt có anh xu Cảnh ở Xa Cát và một người nữa ở Xa Trạch bị địch xử tử hòng răn đe phong trào kháng chiến. Bị khủng bố bất ngờ, phong trào lắng xuống nhất là tầng lớp xu, ký tỏ ra hoảng sợ. Việc đi lại hoạt động hợp pháp gặp khó khăn, nhiều anh em ở các cơ sở phải thoát ly ra rừng như anh Mai (Nguyễn Hữu Mai) ở Xa Cát, anh Phê, anh Năng ở Xa Cam, anh Năm Thành (Nguyễn Khắc Thành) ở Xa Trạch…

Trước sự tấn công ồ ạt của giặc Pháp, tổ chức cách mạng trong buổi đầu còn non trẻ, gặp không ít khó khăn. Cán bộ nòng cốt một số hy sinh, một số tản mát khắp nơi. Hàng chục công nhân bị bắt bớ, tù đày. Thanh niên tự vệ chiến đấu rút ra rừng, chưa được củng cố, tổ chức lại. Ba con công nhân sau một thời gian sơ tán, vì cuộc sống buộc phải trở lại các đồn điền tiếp tục làm việc. Tuy vậy, các cán bộ cách mạng vẫn kiên cường bám trụ, tổ chức cơ sở, lãnh đạo nhân dân, công nhân đấu tranh, tham gia kháng chiến. Khí thế cách mạng vẫn ngày một lên cao.


(1) Tại Ủy ban nhân dân thị trấn Chơn Thành ngày nay (T.G).
(2) Hai người này là em của ông Ngô Tấn Nghi (T.G).
(3) Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Bình Long: Truyền thống đấu tranh cách mạng của quân và dân huyện Bình Long, 1988, tr.70.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Sáu, 2011, 08:10:32 AM
*
*   *

Diễn biến chiến sự ở Nam Bộ càng thêm nóng bóng sau khi quân Pháp triển khai chiếm đóng một số tỉnh xung quanh Sài Gòn. Công cuộc kháng chiến đang đứng trước những thử thách mới, đòi hỏi sự lãnh đạo nhạy bén, đúng hướng và kịp thời của Trung ương đối với các tỉnh Nam Bộ.

Để giữ vững chính quyền cách mạng, một trong những vấn đề cơ bản mà Đảng bộ tỉnh Thủ Dầu Một quan tâm là vấn đề củng cố tổ chức, chấn chỉnh và hoàn thiện để xây dựng, phát triển lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang.

Ngày 25 tháng 10 năm 1945, Xứ ủy Nam Bộ triệu tập hội nghị mở rộng tại Cái Bè (Mỹ Tho) do đồng chí Hoàng Quốc Việt chủ trì. Hội nghị đề ra nhiệm vụ lãnh đạo đẩy mạnh cuộc kháng chiến và quyết nghị một số biện pháp nhằm giải quyết những vấn đề cấp bách của cuộc kháng chiến. Đó là chấn chỉnh tổ chức, tăng cường sự đoàn kết nhất trí trong từng cấp ủy địa phương, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về mọi mặt, trước hết là việc xây dựng lực lượng vũ trang. Hội nghị xác định nguyên tắc: quân đội cách mạng phải đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng.

Chấp hành chỉ thị của Trung ương Đảng, ngày 10 tháng 12 năm 1945, Xứ ủy Nam Bộ triệu tập Hội nghị mở rộng tại một xã bên sông Vàm Cỏ Đông. Hội nghị quyết định giải thể Ủy ban kháng chiến Nam Bộ, thành lập Ủy ban kháng chiến Miền Nam do đồng chí Cao Hồng Lĩnh làm Chủ tịch, chia Nam Bộ thành ba khu 7, 8, 9. Khu 6 được thành lập gồm; Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định, Bà Rịa, Biên Hòa, Thủ Dầu Một và Tây Ninh, do Nguyễn Bình làm Khu bộ trưởng, Dương Văn Dương làm Khu bộ phó; Trần Xuân Độ làm Chính trị bộ chủ nhiệm. Hệ thống lãnh đạo của Đảng và hệ thống quân sự được thống nhất từ trên xuống, đã có tác dụng to lớn trong việc củng cố xây dựng các lực lượng vũ trang ở các địa phương.

Tiếp đó, ngày 20 tháng 11 năm 1945, đồng chí Nguyễn Bình với danh nghĩa phái viên của Trung ương triệu tập Hội nghị quân sự Nam Bộ tại xã An Phú (Hóc Môn - Gia Định) nhằm thống nhất quân đội, thống nhất chỉ huy và vạch chương trình hành động, phân chia khu vực hoạt động cho các đơn vị vũ trang và nhấn mạnh đến việc đoàn kết toàn dân, đoàn kết các giáo phái, chống lại chính sách chia rẽ lương giáo của địch.

Về mặt quân sự, các đơn vị vũ trang khẩn trương tập hợp lực lượng, nhiều đơn vị xây dựng thành tổ chức cấp chi đội (tương đương trung đoàn ngày nay). Hội nghị dự kiến tập trung các lực lượng vũ trang, tổ chức thành 25 chi đội lấy tên từ 1 đến 25 (tương đương trung đoàn).

Chi đội vũ trang của tỉnh Thủ Dầu Một ra đời lấy tên là Chi đội 1 do Huỳnh Kim Trương làm chi đội trưởng, Nguyễn Văn Thi làm chi đội phó, Vương Anh Tuấn, chính trị viên đã làm lễ ra mắt ở chiến khu An Sơn vào tháng 12 năm 1945. Chi đội 1 bao gồm nhiều thành phần tham gia: công nhân, nông dân, trí thức, giáo viên, học sinh, Thanh niên Tiền phong và một số lính Nhật,… Với tổng số 800 cán bộ, chiến sĩ được trang bị 80 súng trường, 10 súng phun lửa, 1 súng máy, 100 lựu đạn, 5 súng lục và nhiều đạn dược. Trên thực tế, các lực lượng vũ trang của Hớn Quản vì ở xa không nắm được kịp thời chủ trương trên, do đó vẫn chưa hội nhập vào Chi đội 1. Đến ngày 1 tháng 3 năm 1946, Chi đội 1 đã tổ chức thành 3 đại đội(1).

Cho tới cuối tháng 11 năm 1945, tình hình gặp nhiều khó khăn, giặc Pháp chiếm đóng sâu vào cả vùng căn cứ của ta, và đã mở thông được đường số 13 Sài Gòn - Lộc Ninh và đoạn đường số 14 lên Bù Đốp. Khi địch càn quét chiếm đóng lan rộng. hoạt động của chính quyền và đoàn thể ở cơ sở hầu như không còn. Tự vệ, du kích các xã thì đã nhập vào các đơn vị vệ quốc đoàn của chi đội. Căn cứ đóng quân và địa bàn hoạt động của bộ đội bị thu hẹp. Sau những trận chống càn quét bộ đội ta bị tiêu hao cả về người và vũ khí đạn dược. Cơ sở trong nhân dân thu hẹp. Địa bàn Hớn Quản, Bà Rá, Bù đốp với địa hình rừng rậm, ruộng ít, lương thực không đủ cho dân địa phương lại bị địch càn quét, phá hoại về kinh tế. Nguồn cung cấp lương thực thực phẩm, vũ khí từ trên chuyển xuống gặp khó khăn, tại địa phương thì cạn kiệt… Tuy gặp nhiều khó khăn gian khổ nhưng bộ đội và cán bộ vẫn kiên trì chịu đựng, tìm cách khắc phục khó khăn để sống và chiến đấu. Trong hoàn cảnh ấy nhiều đơn vị phải tự túc bằng cách vào rừng đào củ mài, cú nần, củ chụp… để ăn và đều quyết tâm tìm địch mà đánh, lấy vũ khí địch trang bị cho ta.


(1) Đại đội tương đương tiểu đoàn ngày nay (T.G).


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Sáu, 2011, 08:13:01 AM
Trước tình hình này, Chi đội 1 và các đại đội chủ trương quay trở lại vùng địch mới chiếm. Bộ đội Biên Hòa do đồng chí Huỳnh Văn Nghệ chỉ huy gây dựng lại cơ sở cách mạng và cơ sở vũ trang trong vùng địch tạm chiếm. Các đại đội thuộc Chi đội 1 tổ chức vũ trang tuyên truyền, diệt tề trừ gian, tổ chức lại cơ sở quần chúng và tự vệ. Lực lượng bảo vệ căn cứ Khu bao gồm trung đội A do Nguyễn Đình Kính là chỉ huy trưởng, Lê Đức Anh làm chính trị viên, Nguyễn văn Hội và Lê Danh Cát làm chỉ huy phó trở về Thủ Dầu Một sáp nhập vào đại đội 3 Chi đội 1(1). Từ đây, đại đội 3 do các đồng chí Nguyễn Văn Ngọ làm đại đội trưởng, Nguyễn Văn Hội là đại đội phó, Lê Đức Anh làm chính trị viên. Đại đội hoạt động ở vùng cao su Hớn Quản, Bù Đốp và vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Đại đội 3 có ba trung đội. Các đơn vị này cương quyết trở về vùng địch tạm chiếm, dựa vào dân để tồn tại, hoạt động khôi phục phong trào.

Tháng 4 năm 1946, đồng chí Nguyễn Đức Thuận thay mặt Khu ủy Khu 7 chỉ định thành lập Tỉnh ủy Biên Hòa do đồng chí Trần Minh Trí làm Bí thư. Tháng 6 năm 1946, Chi đội 10 - đơn vị vũ trang của tỉnh Biên Hòa được thành lập do đồng chí Huỳnh Văn Nghệ làm chi đội trưởng. Lực lượng lúc này lên tới 1.000 người, 380 súng trường, nhiều súng máy, tiểu liên và súng cối. Chi đội 10 được chia làm 3 đại đội A, B, C. Địa bàn hoạt động của chi đội mở rộng lên đường 14, Đồng Xoài.

Các đại đội Vệ quốc đoàn của chi đội 10 - Biên Hòa phân tán thành từng đơn vị nhỏ xuống đứng chân, hoạt động tại các xóm ấp, dựa vào sự tiếp tế của các địa phương. Ban chỉ huy chi đội 10 được sự đồng ý của Ủy ban kháng chiến hành chính Biên Hòa chuyển các quận quân sự thành các Ban công tác liên thôn. Dưới Ban công tác liên thôn là Ban công tác xã. Đây là cơ quan quân sự địa phương giúp việc cho Ủy ban kháng chiến hành chính huyện, xã thực hiện nhiệm vụ quân sự trên địa bàn mình do chi đội 10 thống nhất chỉ huy. Thực hiện theo chủ trương này, trên địa bàn từ Bình Mỹ đến Bà Rá có Ban công tác liên thôn 7 của tỉnh Biên Hòa thường xuyên hoạt động.

Đến đây, cuộc kháng chiến ở địa bàn tỉnh Bình Phước (ngày nay) được tiến hành dưới sự lãnh đạo của tỉnh ủy Thủ Dầu Một và tỉnh ủy Biên Hòa.

Ngay từ tháng 6 năm 1945, các tổ chức công đoàn cũng đã gây dựng được cơ sở trong hầu hết các đồn điền ở Miền Đông Nam Bộ. Tuy tên gọi không thống nhất như Ủy ban công nhân, Nông dân cứu quốc, Nghiệp đoàn nhưng đều cùng một mục đích là vận động, tổ chức công nhân cao su đấu tranh đòi quyền dân sinh và ủng hộ kháng chiến. Các công đoàn của công nhân cao su Lộc Ninh, Bù Đốp, Hớn Quản, Thuận Lợi lần lượt ra đời. Các tổ chức này đến cuối năm 1946 đã thống nhất thành một hệ thống của Tổng Công đoàn Nam Bộ sau đổi tên là Liên hiệp nghiệp đoàn Nam Bộ với chủ trương:

- Củng cố và phát triển tổ chức công đoàn và các tổ chức cách mạng khác.

- Đưa thanh niên ra tiền tuyến.

- Mở mặt trận cao su chiến.

Vào tháng 12 năm 1946, theo chủ trương của Tỉnh ủy Thủ Dầu Một, Ban Cán sự Đảng của quận Hớn Quản - tức Quận ủy lâm thời được thành lập gồm 5 đồng chí: đồng chí Lê Đức Anh (mang mật danh là Hòa) làm Bí thư, Trần Quang Sang (mang mật danh là Khai) làm Phó Bí thư và các đơn vị Việt (mang mật danh là Bình), Nguyễn Văn Hội (mang mật danh là An), Lê Danh Cát (mang mật danh là Ninh)(2). Quận ủy lâm thời phân công trách nhiệm như sau: đồng chí Nguyễn Văn Hội, Lê Danh Cát lo công việc phát triển Đảng trong bộ đội bao gồm đại đội ở Hớn Quản, và 2 đại đội đang hoạt động ở Bến Cát; đồng chí Việt lo công tác phát triển Đảng trong cơ quan Công an; các đồng chí Lê Đức Anh, Trần Quang Sang lo công việc phát triển Đảng ở xã Tân Khai và trong đồn điền cao su. Việc thành lập Quận ủy lâm thời Hớn Quản đánh dấu bước phát triển quan trọng của phong trào kháng chiến ở vùng này. Quận ủy đề ra nhiệm vụ chỉ đạo chặt chẽ Hội nông dân, củng cố và phát triển thêm các cơ sở cách mạng, vận động thanh niên vào bộ đội, đồng thời bao vây, phá hoại kinh tế địch là một chủ trương lớn của Xứ ủy, Khu ủy Miền Đông nhằm làm tiêu hao tiềm lực và dự trữ kinh tế của địch, góp phần vào việc phát triển kinh tế kháng chiến bằng việc mở rộng “Mặt trận cao su chiến”. Dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy, Ủy ban kháng chiến hành chính và Liên hiệp nghiệp đoàn cao su Nam Bộ ở quận Hớn Quản, Bù Đốp đã xây dựng nhiều tổ chức bí mật bên trong đồn điền cao su với nhiệm vụ phá hoại vườn cây, phá hoại việc khai thác mủ và cơ sở sản xuất, chế biến cao su của địch. “Mặt trận cao su chiến” trở thanh khẩu hiệu đấu tranh của công nhân cao su với nội dung: biến đồn điền cao su thanh chiến trường tiêu diệt địch.


(1) Đại đội bảo vệ căn cứ Khu bộ Khu 7 tại Chiến khu Đ (Lạc An) gồm 2 trung đội: Trung đội A (lực lượng Thủ Dầu Một) do Nguyễn Đình Kính làm chỉ huy trưởng, Trung đội B (lực lượng Biên Hòa) do Lê Văn Ngọc chỉ huy trưởng. Ban chỉ huy đại đội gồm: Lê Văn Ngọc (đại đội trưởng), Lê Đức Anh (chính trị viên), Nguyễn Văn Hội (đại đội phó) (T.G).
(2) Sau một thời gian các đồng chí Bình, An, Ninh chuyển sang công tác ở bộ đội và công an. Đến giữa năm 1947, đồng chí Lê Đức Anh được điều lên tỉnh làm chính trị viên Chi đội 1. Lúc này Ban cán sự Đảng của Quận được bổ sung thêm 3 đồng chí Chín Thinh, Tám Ngân, Mười Canh và đồng chí Trần Quang Sang được cử làm Bí thư. Sang năm 1948, đồng chí Tám Ngân hy sinh, Quận ủy bổ sung đồng chí Doãn Văn Mì, đến cuối năm 1948 lại được bổ sung thêm đồng chí Hai Lĩnh (T.G).


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Sáu, 2011, 08:14:20 AM
Cuộc kháng chiến tuy vẫn còn khó khăn, song so với những tháng cuối năm 1945 đầu năm 1946, tình hình có những chuyển biến tốt. Các hoạt động tuyên truyền kháng chiến được đẩy mạnh trong vùng cao su và vùng đồng bào dân tộc, nhất là việc phổ biến tin tức được tổ chức thường xuyên. Các hoạt động quân sự đánh địch cũng được tăng cường. Các hoạt động diệt ác, phá tề, trừng trị những tên việt gian nguy hiểm, được phát động rầm rộ trong quần chúng nhân dân có tác dụng làm tê liệt bộ máy tề ngụy ở cơ sở. Ngoài ra, bộ đội còn kết họp với cán bộ địa phương đẩy mạnh công tác xây dựng cơ sở cách mạng trong các thôn ấp, đồn điền cao su; tổ chức lại các đoàn thể cách mạng, từng bước xây dựng lại cơ sở chính trị trong quần chúng. Phong trào kháng chiến dần dần được khôi phục và phát triển.

Tháng 8 năm 1946, sau khi nắm được tình hình trong đồn địch ở Hớn Quản, trung đội 1 thuộc đại đội 3 - đại đội Hớn Quản, Lộc Ninh, có cơ sở nội ứng hỗ trợ, đã tổ chức trận đánh đầu tiên. Mục tiêu tiến công là dinh quận trưởng, đồn cảnh sát, nhà ga, nhà bưu điện, trụ sở xã Tân Lập Phú tại chợ Hớn Quản và nhà đồn trưởng cảnh sát, đồng thời tìm diệt một số tên ác ôn. Ta có thuận lợi do xung quanh là rừng cao su, và do địch chủ quan cho rằng đây là nơi an toàn tuyệt đối, nên trận đánh diễn ra nhanh gọn. Ta đối phá trụ sơ tề, nhà ga, nhà bưu điện, diệt tên việt gian có nợ máu, 3 tên lính khác, thu 2 khẩu súng và một ít đạn dược. Tuy lực lượng ít, những trận đánh đã mang lại thắng lợi lớn về chính trị. Nhân dân các vùng cao su, các xã, vùng đồng bào dân tộc thiểu số vui mừng phấn khởi trước kết quả đạt được. Ngày 7 tháng 9 năm 1946, phân đội 2 thuộc trung đội 3, đại đội 3 đột nhập thị trấn Chơn Thành diệt tên quận trưởng Hớn Quản cùng một số lính. Trận này làm rung động bộ máy kìm kẹp của giặc tại địa phương. Nhân đà thắng lợi ta bám đường dây xe lửa Lộc Ninh móc nối các cơ sở trong làng, sở cao su để tổ chức lại nghiệp đoàn, vận động phong trào công nhân cao su đấu tranh chính trị.

Các lực lượng dân quân, du kích địa phương được phân công bám vùng ven các tuyến đường quốc lộ 13 và 14, tiếp tục diệt địch, trừ việt gian.

Tháng 10 năm 1946, công nhân cao su ở đồn điền Lộc Ninh diệt tên xu Phú, đốt cháy nhiều quân trang quận dụng của địch trên xe lửa từ Sài Gòn đi Lộc Ninh. Một số cơ sở sản xuất của Pháp thuộc đồn điền Lộc Ninh bị công nhân bí mật phá hủy. Những tên mật vụ, chỉ điểm thường đánh đập công nhân như Cao Đề, Bái đã bị công nhân trừng trị đích đáng.

Thắng lợi của trận tập kích thị trấn Hớn Quản và tin tức về Hội nghị Phôngtennơbơlô(1) với việc ký kết Tạm ước ngày 14 tháng 9 năm 1946 đã tác động mạnh đến tinh thần cách mạng, gây dựng niềm tin trong nhân dân vùng cao su và đồng bào dân tộc thiểu số. Nhiều hoạt động đã diễn ra như công tác xây dựng và kiện toàn bộ máy kháng chiến, công tác địch vận, lôi kéo nhiều lính ngụy bỏ ngũ theo cách mạng…

Tình hình kháng chiến từ cuối năm 1946 về sau có chuyển biến tốt. Lực lượng bộ đội, các nhóm vũ trang tuyên truyền còn gian khổ, nhưng nhờ sự tiếp tế của nhân dân nên về cơ bản vấn đề lương thực thực phẩm không phải lo như lúc trước.

Các hoạt động tuyên truyền được đẩy mạnh trong vùng cao su và vùng đồng bào dân tộc, nhất là việc phổ biến tin tức được tổ chức thường xuyên. Hình thức là lập từng nhóm nhà rồi phổ biến miệng. Nơi nào có điều kiện thì họp nhóm để phổ biến

Cuộc kháng chiến của nhân dân ta buổi đầu đã gặp phải khó khăn gay gắt. Chính quyền và đoàn thể ở nhiều nơi tan vỡ. Bộ đội và lực lượng kháng chiến đang đứng trước tình thế hết sức khó khăn: vũ khí, thuốc men đều thiếu. Quân Pháp hầu như chiếm đóng khắp các trục đường giao thông, các đồn điền cao su. Lực lượng vũ trang còn rất non trẻ, chất lượng chính trị chưa cao, trình độ chiến, kỹ thuật và trang bị kém, hạn chế về mặt tổ chức. Nhưng chính trong những ngày gay go ác liệt này, các lực lượng vũ trang tuyệt đại đa số cán bộ, chiến sĩ là những người yêu nước, sớm giác ngộ cách mạng, được rèn luyện trong đấu tranh, trưởng thành từ phong trào khởi nghĩa toàn dân vẫn kiên quyết bám trụ tại chỗ, vừa chiến đấu, vừa xây dựng, lập căn cứ tạo thực lực to lớn cho công cuộc kháng chiến lâu dài.


(1) Fontainebleau, Pháp (T,G).


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Sáu, 2011, 06:27:04 PM
III. XÂY DỰNG CĂN CỨ ĐỊA KHÁNG CHIẾN

Sau khi chiếm được những địa bàn then chốt và kiểm soát các đường giao thông chính ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, mục tiêu tiếp theo của thực dân Pháp là đưa quân ra miền Bắc. Nguy cơ cuộc chiến tranh xâm lược lan rộng đang đến gần. Trước tình hình nghiêm trọng của đất nước, đại diện Chính phủ ta ký với đại diện Chính phủ Pháp Hiệp định Sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946. Với chủ trương chiến lược “Hòa để tiến”, việc ký kết Hiệp định Sơ bộ tạo điều kiện cho ta củng cố và phát triển lực lượng về mọi mặt, chuẩn bị đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược ở quy mô mới. Tuy nhiên, ngày 7 tháng 3 thực dân Pháp phản bội Hiệp định. Và chỉ 10 ngày sau đó, ngày 15 tháng 3, tướng Pháp Nyô (Nye), tư lệnh quân Pháp ở Nam Việt Nam tổ chức tiến công càn quét căn cứ khu bộ Khu 7. Các đơn vị vũ trang của ta chiến đấu bảo vệ chiến khu nhưng không thể ngăn chặn được bước chân xâm lược của quân Pháp. Ngày 10 tháng 4 năm 1946, Bộ chỉ huy Khu 7 đã đàm phán với đại diện tướng Nyô về việc thực hiện điều khoản ngừng bắn của Hiệp định Sơ bộ, nhưng cuộc đàm phán không đem lại kết quả.

Dự kiến quân Pháp sẽ tăng viện và mở rộng phạm vi đánh chiếm. Hơn nữa, cuộc chiến trang đang ngày càng diễn ra ác liệt trên các chiến trường. Trước tình hình đó, việc xây dựng căn cứ địa và giữ vững mối quan hệ giữa phong trào công nhân trong đồn điền với các hoạt động tại căn cứ kháng chiến trở thành một nhiệm vụ cấp thiết. Vì thế, Bộ chỉ huy Mặt trận Miền Đông đã triển khai lập các căn cứ kháng chiến. Căn cứ chiến khu Đ được xây dựng thành căn cứ lớn của miền Đông Nam Bộ. Đây là nơi đứng chân chỉ đạo của Xứ ủy, Trung ương Cục miền Nam, Khu ủy Miền Đông, nơi huấn luyện đào tạo nhiều cán bộ cách mạng, công nhân cao su. Bên cạnh đó ở mỗi địa phương cũng đã hình thành các căn cứ kháng chiến.

Dựa vào địa thế hiểm trở, núi cao thuận lợi cho việc huấn luyện, trú đóng quân, xây dựng bảo vệ và nuôi dưỡng phát triển các lực lượng vũ trang, là nơi tạo điều kiện cho lực lượng kháng chiến tổ chức phòng thủ cũng như tiến công tiêu diệt địch bằng lối đánh du kích. Nơi đây còn là địa bàn khá quan trọng, có tính chất yết hầu nối liền từ biên giới Tây Nam giáp Campuchia đến các tỉnh cực Nam Trung Bộ, từ chiến khu Đ đến các căn cứ Tây Nguyên. Nên từ năm 1946, trên địa bàn Hớn Quản, Bà Rá, Bù Đốp hệ thống căn cứ địa được hình thành tương đối hoàn chỉnh, tạo điều kiện cho các lực lượng vũ trang dừng chân phát triển lực lượng, huấn luyện quân sự, thực hành chiến đấu tiêu diệt địch. Mặc dù bị Pháp càn quét, khủng bố liên tục trong những ngày đầu kháng chiến, nhưng các căn cứ địa vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển, làm chỗ dựa cho lực lượng vũ trang bám trụ chiến đấu.

Trên suốt địa bàn từ Phước Hòa, Phước Vĩnh đến Phước Long, Bà Rá thuộc tả ngạn Sông Bé, Thuận Lợi có một vị trí khá quan trọng, là nơi thông thương tiếp viện giữa Sài Gòn và Tây Nguyên. Để đi Tây Nguyên Pháp phải qua Phước Hòa, Phước Vĩnh, rồi theo quốc lộ 15 lên Ban Mê Thuột. Đồng thời, Thuận Lợi có giá trị như một chốt điểm làm nơi nghỉ chân và làm bàn đạp tỏa đi các nơi khác, là nơi có số lượng công nhân khá đông. Do đó, ta có thể dựa vào để tiếp tế lương thực, thực phẩm, nắm tình hình địch, tổ chức cơ sở hoạt động cho các lực lượng kháng chiến đóng ở đây. Nhận thức được tầm quan trọng của Thuận Lợi, Bộ chỉ huy mặt trận Miền Đông triển khai lập chiến khu Thuận Lợi. Căn cứ Thuận Lới dự kiến là căn cứ chính. Lương thực, máy móc, cơ sơ vật chất của tỉnh Thủ Dầu Một, Miền Đông được chuyển về Thuận Lợi. Cuối năm 1945, cơ quan quân sự Khu 7 cử một đơn vị vũ trang do đồng chí Vũ Đức làm tư lệnh trưởng về đóng ở chiến khu Thuận Lợi. Lực lượng vũ trang ở căn cứ cùng với quân, dân Thuận Lợi củng cố tổ chức, luyện tập quân sự chuẩn bị kháng chiến ở địa phương. Từ căn cứ Thuận Lợi, hàng trăm công nhân cao su ở đồn điền được tuyển vào bộ đội đem theo nhiều máy móc, lương thực đến vùng Mỹ Lộc, Lạc An, Tân Định lập chiến khu Lạc An để cùng quân dân tỉnh Biên Hòa chống Pháp. Và từ năm 1946, Ban công tác liên thôn 7 của tỉnh Biên Hòa thường xuyên hoạt động trong đồn điền Thuận Lợi với gần một trung đội, được trang bị 19 súng trường do đồng chí Đỗ Bồng Long làm Trưởng ban, đồng chí Lý Quới làm Phó ban. Về sau tổ chức này phát triển thành một phân đội trực thuộc Chi đội 10, Ban công tác thường xuyên đánh quấy rối địch. Ta còn xây dựng được hai cơ sở cảm tình cách mạng ngay trong trung tâm đồn điền Thuận Lợi làm nơi tiếp tế lương thực thực phẩm và cung cấp tin tức cho ta.

Xuất phát từ căn cứ, các lực lượng vũ trang tổ chức nhiều cuộc hành quân ra bên ngoài tấn công tiêu diệt đồn bốt địch, tập kích vào vùng tạm bị chiếm diệt tề trừ gian, diệt sinh lực địch, đánh phá giao thông, cắt đường vận chuyển của chúng.

Đầu năm 1946, đồng chí Nguyễn Đức Thuận được Xứ ủy Nam Bộ phái về Thủ Dầu Một công tác. Đồng chí chỉ định Tỉnh ủy Thủ Dầu một gồm 7 đồng chí, do đồng chí Nguyễn Văn Tiết làm Bí thư, đồng chí Văn Công Khai làm Phó Bí thư. Và chỉ thị cho đồng chí Lê Đức Anh đưa đại đội 3 về xây dựng căn cứ Truông Ba Trường. Căn cứ này là vùng rừng núi thuộc ba xã Tân Khai, Tân Thành, Minh Thạnh của huyện Bình Long ngày nay. Nơi đây dần dần trở thành địa điểm đứng chân của các cơ quan huyện Hớn Quản và lực lượng vũ trang đại đội 3.

Từ căn cứ Truông Ba Trường, dưới sự lãnh đạo của đồng chí Lê Đức Anh, đại đội 3 tìm cách xây dựng cơ sở ở các đồn điền Xa Cam, Xa Cát, Xa Trạch, Quản Lợi, xã Tân Quang thị trấn Hớn Quản và các sóc đồng bào dân tộc thiểu số. Sau một thời gian ngắn ta bắt liên lạc được với ông Mười Lũy, anh Bảy Phú, Sáu Lục. Từ những cơ sở ban đầu này, anh em mở rộng cơ sở ra ở xã Tân Quang, các đồn điền Xa Trạch, Xa Cát, Quảng Lợi, Xa Cam, ấp ga Hớn Quản. Sau khi móc nối và mở được cơ sở, việc đầu tiên là vận động bà con ủng hộ lương thực, thực phẩm, tiền bạc cho bộ đội.

Cũng trong năm 1946, nhân dân An Linh, Phước Sang(1) xây dựng khu căn cứ kháng chiến tạo chỗ dựa cho phong trào cách mạng địa phương. Khu căn cứ có 3 vọng gác. Mỗi vọng gác cách nhau 3 km, xung quanh có dựng các chướng ngại vật. Ngoài ra du kích còn đào hầm chông và gài cung(2). Mỗi trạm gác có một tổ du kích tuần tra suốt ngày đêm với nhiệm vụ phát hiện địch, gài trái tự động mỗi chiều, sáng gỡ đi để nhân dân đi lại sản xuất. Nhân dân An Linh, Phước Sang dựa vào rừng núi để vừa chiến đấu vừa sản xuất, làm cho vùng An Linh - Phước Sang trở thành căn cứ kháng chiến lâu dài của ta. Trong căn cứ có đầy đủ các tổ chức đoàn thể cách mạng. Chủ tịch là đồng chí Nguyễn Đình Lập, xã đội trưởng là đồng chí Nguyễn Văn Huỳnh, hai xã đội phó là đồng chí Nguyễn Văn Dẻo và đồng chí Thửa, đồng chí Tám Hóa phụ trách chính trị.


(1) Thuộc huyện Đồng Phú ngày nay (T.G).
(2) Một loại vũ khí của đồng bào dân tộc thiểu số (T.G).


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Sáu, 2011, 06:28:34 PM
Tại khu căn cứ kháng chiến, chính quyền cách mạng tổ chức các lớp học, thành lập các đội văn nghệ. Các tổ chức đoàn thể như thanh niên phụ nữ. Đây là những lực lượng đi đầu trong phong trào học chữ và văn nghệ của căn cứ An Linh - Phước Sang.

Mỗi căn cứ tuy hoạt động tương đối độc lập nhưng không tách rời nhau. Hệ thống các căn cứ địa được thiết lập thành hành lang liên hoàn liên kết với nhau nhằm đáp ứng một cách toàn diện các yêu cầu đề ra của lực lượng kháng chiến.

Cùng với hệ thống các căn cứ kháng chiến, các đồn điền cao su không những đem lại nguồn lợi kinh tế quan trọng mà còn là những vị trí chiến lược rất lợi hại về quân sự. Dựa vào nguồn lương thực thực phẩm sẵn có ở đồn điền, ta đã xây dựng cơ sở cách mạng vững chắc trong các đồn điền, tổ chức thành hậu phương tại chỗ cho kháng chiến. Các làng công nhân cũng là nguồn tiếp tế không bao giờ cạn về sức người, sức của cho kháng chiến, nhiều công nhân được đào tạo, phát triển thành cán bộ nòng cốt. Các cán bộ được cử về các đồn điền cao su bắt liên lạc xây dựng phát triển tổ chức công đoàn, tổ chức công nhân tham gia kháng chiến. Đến cuối năm 1946, trong hầu khắp các đồn điền cao su ở Hớn Quản, Lộc Ninh, việc chỉ đạo phong trào công nhân tại chỗ và các cơ sở bám trụ đã được hoàn tất. Phong trào đấu tranh của công nhân cao su ngày một phát triển hòa cùng với sự phát triển của cuộc kháng chiến ở Nam Bộ.

Trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, ta xây dựng được một số cơ sở cách mạng, cán bộ cốt cán người dân tộc. Ở Phú Riềng và Nha Bích, có bà Điểu Thị Bách, người Châu Ro, bà Lâm Chung người Khmer. Nhờ sự giúp đỡ của đồng bào dân tộc thiểu số, nhiều thanh niên công nhân đã trốn vào rừng nhập vào các đơn vị của Chi đội 10; và đại đội 3 của Chi đội 1. Đồng bào còn tham gia phá đường, lập chướng ngại vật, rào làng và dùng những vũ khí tự tạo để đánh địch.

Sự ra đời của các căn cứ kháng chiến đã có ảnh hưởng to lớn, góp phần xây dựng căn cứ hậu phương hỗ trợ trực tiếp cho cuộc đấu tranh tại chỗ của công nhân cao su và phong trào kháng chiến trên địa bàn Hớn Quản, Bà Rá, Bù Đốp và là nơi xuất phát khi tiến công địch. Đối với công nhân cao su, các căn cứ kháng chiến là nơi lập nghiệp mới, là sự đổi đời. Tại đây họ có cuộc sống riêng độc lập, tự do tăng gia sản xuất, xây dựng lực lượng dân quân du kích xã ấp, xây dựng tổ chức cơ sở Đảng và là nơi hỗ trợ cho cuộc đấu tranh của công nhân các đồn điền. Trong công cuộc kháng chiến của quân và dân ta Hớn Quản, Bà Rá, Bù Đốp còn giữ vai trò làm nơi tiếp nhận các nguồn chi viện tiếp tế từ các làng bị tạm chiếm, sự chi viện tiếp tế của Trung ương, và từ đây được phân phối đến các chiến trường. Song song đó, mối liên kết chặt chẽ mật thết giữa phong trào kháng chiến ngày càng phát triển mạnh mẽ.

Ngoài ra, ta còn chủ trương đẩy mạnh việc xây dựng cơ sở các vùng còn trắng trong khu vực cao su, trong thị trấn và trong đồng bào các dân tộc. trong các xã nông thôn thì xây dựng các đoàn thể thanh niên, phụ nữ, nông dân, xây dựng hội phụ lão và Mặt trận Việt Minh; ở các đồn điền thì xây dựng nghiệp đoàn, đồng thời hết sức tranh thủ số các thầy xu, thầy ký của đồn điền; ở vùng đồng bào dân tộc thiểu sốt thì đẩy mạnh công tác tuyên truyền kháng chiến.

Trong thời gian cuối năm 1945 đầu năm 1946, quân dân các quận Hớn Quản, Bà Rá, Bù Đốp phải chiến đấu, sinh hoạt trong hoàn cảnh hết sức khó khăn. Với địa bàn ruộng ít, rừng nhiều, lại bị địch càn quét, phá hoại liên miên, khả năng ủng hộ cho kháng chiến của nhân dân rất hạn chế. Bệnh hoạn thiếu thuốc, nhất là bệnh sốt rét, không ít chiến sĩ chết vì sốt rét ác tính. Tuy nhiên, nhân dân vẫn tìm mọi cách để đóng góp cho cách mạng. Phong trào quyên góp tiền gạo, thuốc men cho bộ đội, lấy công binh xưởng, vũ trang phá rối địch phát triển rầm rộ ở khắp các đồn điền, các xóm ấp ở Hớn Quản, Lộc Ninh, Thuận Lợi.

Hoạt động lấy tài sản của tư bản Pháp gửi vào chiến khu phát triển thành phong trào rộng rãi khắp các đồn điền, mỗi đồn điền đều thành lập Ban vận động tiếp tế làm nhiệm vụ quyên góp và vận chuyển ra căn cứ.

Nhằm ngăn chặn việc công nhân tiếp tế cho kháng chiến, bọn chủ đồn điền lập ra “nhà ăn công nhân”, thực chất là để tránh phát gạo cho anh chị em. Công nhân bị bệnh, chúng bắt người bệnh há miệng rồi tự tay bỏ thuốc cho nuốt, nhằm ngăn chặn việc công nhân xin thuốc gửi cho bộ đội. Mặc dù bị giám sát, kìm kẹp, công nhân cao su Hớn Quản, Lộc Ninh vẫn tìm cách tiếp tế thuốc men, gạo cho cách mạng. Nhiều chị em giả bệnh để xin thuốc, bị buộc phải uống tại chỗ nhưng các chị chỉ ngậm thuốc sau đó đem phơi khô gửi cho các chiến sĩ. Ngay ở “nhà ăn công nhân”, nhiều người đã bớt phần cơm của mình mang về nhà phơi khô, tích trữ lại chờ ngày chuyển vào căn cứ. Đó là chưa kể hàng loạt công nhân cao su đã bỏ đồn điền gia nhập lực lượng vũ trang chống Pháp, đi dân công phục vụ chiến trường; ngay cả những người vốn là cai, xu, sếp, từng làm tay sai cho tư bản Pháp cai trị công nhân cũng theo lực lượng kháng chiến, góp phần quan trọng vào thắng lợi của kháng chiến.

Ngay trong vòng tạm chiếm - nơi còn rất nhiều khó khăn cho hoạt động, nhưng bất chấp mọi biện pháp kiểm soát và khủng bố gắt gao của địch, công nhân cao su và quần chúng nhân dân vẫn tìm mọi cách đóng góp sức người, sức của, không tiếc công sức, máu xương, nỗ lực hoàn thành nghĩa vụ của mình trong sự nghiệp cung. Đó là những thanh tích, những chiến công rất đáng tự hào.

*
*   *

Mặc dù kháng chiến trong điều kiện không cân sức, hoàn cảnh thiếu thốn trăm bề, lực lượng còn rất non yếu, phần lướn cán bộ thiếu kinh nghiệm tác chiến, thiếu huấn luyện, sức chiến sĩ có lúc sút kém; những cán bộ cách mạng lại thường xuyên bị giặc Pháp khủng bố, tàn sát, lùng bắt hòng dập tắt làn sóng đấu tranh của nhân dân; nhưng chỉ trong vòng hơn một năm từ tháng 9 năm 1945 đến tháng 12 năm 1946, quân và dân Hớn Quản, Bà Rá, Bù Đốp đã không ngừng vượt qua gian khổ, chống trả quyết liệt quân địch bằng mọi thứ vũ khí, bằng mọi hình thức để bảo vệ chính quyền cách mạng. Những thành quả bước đầu này là sức mạnh để quân và dân vùng bắc Thủ Dầu Một, Biên Hòa sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu mới trong những năm tiếp theo.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Sáu, 2011, 06:30:33 PM
CHƯƠNG HAI

PHÁT TRIỂN CHIẾN TRANH DU KÍCH,
XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG BA THỨ QUÂN,
PHÁ KẾ HOẠCH BÌNH ĐỊNH CỦA ĐỊCH (1947-1950)

I. PHÁT TRIỂN CHIẾN TRANH DU KÍCH RỘNG KHẮP

Tướng Valluy Tổng chỉ huy quân đội Pháp xâm lược đã chỉ thị cho tướng Nyo, phụ trách chiến trường Nam Bộ: “Nỗ lực chủ yếu của chúng ta là ở Bắc Kỳ nhằm tiêu diệt đơn vị chính quy và cơ quan Chính phủ Trung ương. Nhưng Nam Kỳ vẫn chiếm một vị trí quan trọng, đầu tiên là phải loại trừ Việt Minh ra khỏi Nam Kỳ. Nam Kỳ vẫn là cái nút của vấn đề Pháp - Việt. Hơn bao giờ hết, việc bình định Nam Kỳ phải là hòn đá thử vàng đối với sự khôn khéo giải quyết của người Pháp. Nếu trong vài tháng mà tách được Nam Kỳ ra khỏi chiến tranh thì Pháp sẽ giải quyết được 3/4 vấn đề Đông dương”(1). Và hạ quyết tâm vào mùa thu năm 1947 phải “bình định” xong Nam Bộ.

Chính vì thế mà ngay từ đầu năm 1947, thực dân Pháp vạch ra chương trình bình định Nam Bộ, coi đây là khâu then chốt trong chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh” của chúng. Trong đó, củng cố và đẩy mạnh hoạt động khai thác cao su ở Miền Đông Nam Bộ trở thành một trong những chính sách quan trọng trong chương trình bình định Nam Bộ của thực dân Pháp. Các đồn điền cao su được xem là “vàng trắng” đem lại nguồn lợi khổng lồ cho giới tư bản. Chính vì vậy, để bảo đảm an ninh cho các đồn điền cao su, kiểm soát được công nhân, Pháp cho tăng cường các đồn bốt khắp các đồn điền cao su Thuận Lợi, Lộc Ninh, Bù Đốp, Quản Lợi. Đồng thời chúng còn tổ chức các cuộc càn quét để ngăn chặn ảnh hưởng của cuộc kháng chiến đối với đội ngũ công nhân đồn điên, đàn áp các cuộc đấu tranh của công nhân nhằm mục đích sản xuất nhiều cao su hơn để bù đắp những thiệt hại do cuộc chiến trước gây ra. Ngoài hệ thống đồn bốt trong đồn điền, còn có các đồn bốt dọc theo các quốc lộ 13, 14; khắp các làng cao su, thực dân Pháp đóng tháp canh dày đặc; tăng cường lực lượng và trang bị thêm vũ khí cho các đòn bốt để trấn giữ các cửa rừng cao su, các trung tâm đồn điền, hỗ trợ cho tư bản Pháp khai thác, kiềm chế đàn áp phong trào cách mạng của công nhân và hoạt động tác chiến của bộ đội ta. Bên cạnh đó, chúng còn gài bọn mật thám, gián điệp vào các buôn làng, các sở cao su một cách chặt chẽ.

Song song đó, để thực hiện chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh”, quân Pháp tập trung mở các cuộc hành quân đánh sâu vào vùng căn cứ kháng chiến, tìm diệt lực lượng vũ trang, thường xuyên tổ chức các cuộc càn quét vùng du kích để diệt du kích và chính quyền cách mạng, từng bước mở rộng vùng kiểm soát, thu hẹp vùng căn cứ, triệt phá các cơ sở của ta ở Miền Đông.

Tuy nhiên, những âm mưu đó của thực dân Pháp đã gặp phải sự chống trả quyết liệt của nhân dân địa phương và công nhân trong các đồn điền. Dù với những tháp canh, đồn bốt dày đặc nhưng không rào chắn được lòng người. Đó là căn cứ lòng dân trong đồn điền, tinh thần yêu nước luôn hướng về cách mạng của nhân dân.

Tháng 12 năm 1946, Bộ chỉ huy Khu 7 thành lập 4 liên quân nhằm đánh bại lực lượng phản động Cao Đài do Pháp tổ chức chống lại cách mạng. Hai trung đội thuộc Chi đội 1 tham gia Liên quân B do đồng chí Huỳnh Kinh Trương chỉ huy. Sau một thời gian hoạt động, liên quân B hạn chế được hoạt động của quân phản động Cao Đài. Đầu tháng 6 năm 1947, liên quân B hành quân về Minh Thạnh đánh một đoàn xe địch trên đường Bến Cát đi Minh Thạnh diệt hơn một đại đội, thu 2 trung liên, 10 tiểu liên, 30 súng trường. Ngày 15 tháng 6 năm 1947, bộ phận Chi đội 1 trong Liên quân B trở về đội hình chi đội.

Cuối tháng 12 năm 1946, Khu bộ Khu 7 chấn chỉnh lại cơ quan, đổi tên Khu bộ thành Tư lệnh bộ. Tháng 1 năm 1947, Tư lệnh bộ triệu tập Hội nghị quân sự toàn khu. Hội nghị đề ra nhiệm vụ chủ yếu: chống chính sách mua chuộc giáo phái của giặc Pháp và củng cố xây dựng lực lượng bộ đội, đánh mạnh vào hậu phương của chúng ở các cơ sở kinh tế trong nội thành, rừng cao su và dọc các đường giao thông quan trọng.


(1) Dẫn theo: Lịch sử Đảng bộ Sông Bé, tập 1 (1930-1954), Ban Thường vụ Tỉnh ủy Sông Bé xuất bản, 1995, tr. 266.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Sáu, 2011, 06:31:53 PM
Trong tình hình này, Tỉnh ủy Thủ Dầu Một khẩn trương củng cố và chấn chỉnh tổ chức, phát triển lực lượng, đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích và các hoạt động đấu tranh chính trị trên các chiến trường, bằng mưu trí sáng tạo, bằng sức mạnh quân sự của ta và công tác địch ngụy vận, bằng phục kích chống càn, đánh giao thông, diệt đồn bốt ta đã làm tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch và tăng cường lực lượng của ta. Việc phá hoại cơ sở kinh tế của địch (nhất là các đồn điền cao su), xây dựng, mở rộng các khu căn cứ kháng chiến, quấy rối địch ở vùng tạm chiếm, ra sức giữ người giữ của, giành người, giành của với địch là những hoạt động được tiến hành thường xuyên. Trong các thị trấn, thị xã, đồn điền cao su đều có du kích mật hoạt động, các xã đều có tiểu đội du kích. Trong địa bàn Hớn Quản, Bù Đốp các cơ quan lãnh đạo, chỉ huy đều được củng cố, hệ thống tổ chức chính quyền cách mạng được chấn chỉnh và xây dựng mới. Xúc tiến công tác kinh tế - tài chính, vận động nhân dân đi lại, mua bán giữa vùng tạm chiếm và vùng căn cứ, phá thế bao vây kinh tế của địch, tìm mọi cách chuyển vào căn cứ lương thực, thực phẩm và các nhu yếu phẩm khác. Vận động thanh niên tòng quân, phát triển mạnh mẽ lực lượng vũ trang ở các cấp.

Hoạt động trên địa bàn bắc Thủ Dầu Một, Biên Hòa ngoài Chi đội 1 còn có Chi đội 10, bộ đội Hoàng Thọ, lực lượng Công an xung phong và Quốc vệ đội… Những lực lượng này cùng với bộ đội địa phương và dân quân du kích tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, cướp vũ khí trang bị cho ta. Các chi đội phối hợp cùng với du kích các xã tổ chức tấn công địch, tiêu diệt đồn bốt bằng nhiều cách như gài nội ứng, hóa trang làm binh lính, sĩ quan…; chống địch càn quét, bảo vệ căn cứ kháng chiến. Chiến tranh du kích phát triển ngày một phong phú, đa dạng đã gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề.

Tháng 7 năm 1947, Ủy ban kháng chiến hành chính Biên Hòa cử đồng chí Ngô Văn Long cùng một cán bộ là Lê Đình Ngữ và một liên lạc tên là Thái lên vùng Bà Rá để tổ chức, xây dựng cơ sở cách mạng trong đồng bào dân tộc thiểu số. Thông qua các cuộc tiếp xúc với những người thường lên buôn bán ở đây, đồng chí Ngô Văn Long đã tuyên truyền, thuyết phục, cảm hóa được một số người, vận động họ đi theo cách mạng. Cuối năm 1947, từ những cơ sở cách mạng do đội công tác Biên Hòa gây dựng lên, Ủy ban kháng chiến hành chính vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Bà Rá được thành lập. Ta tiếp tục vận động được một số cai tổng như Thạch Tam, Tổng Nhiêu và xây dựng thêm hàng chục cơ sở cách mạng ở vùng này.

Nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của cách mạng, cuối năm 1947, được sự đồng ý của Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ, tỉnh Biên Hòa thành lập huyện Sông Bé giáp với chiến khu Đ về phía đông - đông bắc(1). Huyện ủy đầu tiên của vùng Bà Rá được thành lập do đồng chí Ngô Văn Long làm Bí thư. Ủy ban kháng chiến hành chính huyện Sông Bé ra đời, đồng chí Bí thư huyện ủy kiêm Chủ tịch huyện, 2 Phó chủ tịch là người dân tộc thiểu số tại địa phương.

Sau khi ổn định tổ chức, Huyện ủy Sông Bé cử nhiều cán bộ đi xây dựng phong trào du kích trong các buôn sóc và đồn điền cao su. Nhờ đó, lực lượng tự vệ buôn sóc được thành lập và tổ chức thanh từng tiểu đội với các loại vũ khí tự chế như cung tên, nỏ ná, hầm chông, chà gạc để bảo vệ xóm làng. Mỗi phum sóc đều có hàng rào chiến đấu góp phần cản bước các trận càn quét của quân thù.

Tỉnh ủy Thủ Dầu Một còn chỉ thị cho các huyện ủy gấp rút khôi phục các đoàn thể cứu quốc như Mặt trận Việt Minh, Nông dân, Thanh niên, Phụ nữ. Đồng thời, điều động một số cán bộ trong Tỉnh bộ Việt Minh làm công tác xây dựng các đoàn thể ở trên khắp các địa bàn Hớn Quản, Bà Rá, Bù Đốp.

Ngày 1 tháng 10 năm 1947, theo sắc lệnh số 91/SL, Ủy ban kháng chiến hành chính của tỉnh Thủ Dầu Một được thành lập. Ủy ban gồm có: Huỳnh Minh Chương làm chủ tịch; Võ Văn Đợi, Phó chủ tịch; Trần Khắc Cần, Tổng thư ký; Nguyễn Văn Tiết, Ủy viên chính trị; Trần Minh Phương; Ủy viên kinh tế tài chính; Huỳnh Văn Bộ, Ủy viên xã hội.

Trong năm 1947, Công đoàn Nam Bộ đã phát hành tờ báo “Cảm tử” bí mật gửi đến các đồn điền cao su nhằm tuyên truyền, động viên, bồi dưỡng các cơ sở cách mạng của công nhân ngay trong lòng địch. Nhờ những thắng lợi này, niềm tin vào sức mạnh của công cuộc kháng chiến trong cán bộ, chiến sĩ được nâng lên một bước.


(1) Bao gồm Đồng Phú, Bù Đăng, Phước Long và một phần huyện Lộc Ninh ngày nay. (T.G).


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Sáu, 2011, 06:33:56 PM
Ngoài bộ máy quân sự, bộ máy chính quyền các cấp cũng được tăng cường, phát triển khá nhanh. Đến cuối năm 1947, Tỉnh ủy Thủ Dầu Một lần lượt hình thành các ngành mới như Ty Giáo dục với Ban Bình dân học vụ làm công tác xóa mù chữ cho nhân dân; Ty Y tế phục vụ công tác khám chữa bệnh, phổ biến là điều trị vết thương cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân; Ty Giao thông liên lạc làm nhiệm vụ giao liên đầu mối của các căn cứ kháng chiến; Ty văn hóa kháng chiến phục vụ văn hóa văn nghệ kháng chiến trong các căn cứ, các làng kháng chiến.

Việc mở rộng và đẩy mạnh chiến tranh du kích, xây dựng lực lượng dân quân rộng rãi trên cơ sở các đoàn thể của mặt trận, xây dựng các đội du kích xã, xây dựng làng xã chiến đấu, bảo vệ nguồn dự trữ của ta, đánh phá cơ sở dự trữ của địch cũng được Xứ ủy nhấn mạnh trong Hội nghị tháng 11 năm 1947. Từ tháng 9 năm 1947, Phòng Dân quân Nam Bộ được thành lập do đồng chí Lê Duẩn là Trưởng phòng. Chấp hành sự chỉ đạo của Xứ ủy và Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ, Tỉnh ủy Thủ Dầu Một và Ủy ban kháng chiến tỉnh Thủ Dầu Một thành lập Tỉnh đội Bộ dân quân do đồng chí Nguyễn Văn Tiết làm Tỉnh đội trưởng, Nguyễn Như Phong, Nguyễn Văn Kiệp, và đồng chí Trịnh làm Tỉnh đội phó; đã cử nhiều cán bộ đi xây dựng phong trào du kích trong các buôn, sóc và đồn điền cao su. Nhờ vậy, đội dân quân ở các xã được thành lập và phát triển rộng rãi, ấp xã chiến đấu được xây dựng khắp nơi, hầu khắp các xã đều có tiểu đội du kích. Trong các thị trấn, thị xã, xí nghiệp, đồn điền cao su có tổ chức du kích mật hoạt động, lực lượng tự vệ buôn sóc được thành lập và tổ chức thành từng tiểu đội với các loại vũ khí tự chế tạo như cung tên, hầm chông, chà bạc để bảo vệ xóm làng. Mỗi phum sóc đều có hàng rào chiến đấu góp phần cản bước các đợt càn quét của địch. Tại đồn điền cao su Phước Hòa, ta xây dựng được một đội du kích có 3 súng và một số tạc đạn. Đội du kích này đã tổ chức nhiều tổ phá hoại và thực hiện phá hoại hàng chục hécta cao su, gây thiệt hại đáng kể cho bọn tư bản Pháp.

Từ đầu năm 1948, phong trào công nhân đồng loạt bỏ đồn điền về xây dựng làng xã ở vùng căn cứ kháng chiến diễn ra mạnh mẽ. Ở các xã vùng đồng bào dân tộc như Lý Lịch, Bù Cháp, Bù Tôn, làng chiến đấu được xây dựng vững chắc kết hợp rào, chông với vũ khí là cung tên, đắp ụ chiến đấu, tổ chức các trung đội du kích luyện tập quân sự, tăng gia sản xuất. Thanh niên các dân tộc xung phong tòng quân giết giặc ngày càng đông. Cùng với việc xây dựng các làng xã chiến đấu, phong trào dân quân tỉnh Thủ Dầu Một đã phát triển nhanh chóng, tạo thành phong trào quần chúng sôi nổi. Lực lượng dân quân ở cơ sở gồm dân quân tự vệ và dân quân du kích. Dân quân được trang bị súng, lựu đạn, mã tấu và được luyện tập thường xuyên.

Do được tổ chức và huấn luyện chu đáo, đến cuối năm 1947 khắp các địa phương đã xây dựng được nhiều đội dân quân mạnh chống lại chính sách “bình đinh” của địch ở Nam Bộ. Hội nghị đại biểu Xứ Đảng bộ tháng 12-1947 chủ trương: “Phải triệt để phá hoại giao thông địch, sông ngòi làm cho quân địch cơ động khó khăn, làm cho quân địch hễ đánh vào ta là đánh vào chỗ trống. Giữ quyền chủ động, triệt để áp dụng chiến lược, chiến thuật du kích”(1).

Phong trào xây dựng xã chiến đấu được phát động, tạo điều kiện cho du kích và dân quân bám trụ làng xã đánh địch. Ở khu vực Hớn Quản, Bù Đốp trong năm 1947 nổi bật nhất trong phong trào dân quân là đội du kích xã Tân khai (Hớn Quản). Với hai tiểu đội được trang bị 3 khẩu súng và một số mìn, tạc đạn, du kích Tân Khai kết hợp với đại đội 3 đánh địch nhiều trận. Tháng 7-1947, đoàn xe của Pháp gồm 10 chiếc đi qua ấp 4 xã Tân Khai bị du kích bất ngờ nổ súng, tiêu diệt 3 xe và 30 tên lính Pháp.

Cũng trong đầu năm 1947, hai tiểu đội của Quốc vệ đội bất ngờ tổ chức đánh vào bốt của tên Mosk ở cầu Xa Mát (Nha Bích) có 10 tên lính gác. Ta tổ chức tấn công bằng hai mũi: mũi của đồng chí Năm Kính ở Chơn Thành xuống, mũi của đồng chí Chính Thành ở Nha Bích ra, cùng ập vào chiếm gọn bốt. Trong trận này, ta đốt bốt, bắt gọn 10 tên và thu 10 cây súng.

Đặc biệt đại đội 3 (Chi đội 1) hai lần chống càn tại xã An Tây, thu thắng lợi lớn làm nức lòng quân dân địa phương. Tháng 6 và tháng 8 năm 1947 cũng tại vùng này, đại đội 3 diệt 2 đại đội địch. Cả hai trận đều thu được nhiều vũ khí, trong đó có nhiều súng máy.


(1) Trần Văn Giàu (chủ biển): Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, tập 1, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1999, tr. 100.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Sáu, 2011, 06:34:57 PM
Để đối phó với phong trào phá hoại trong các đồn điền cao su, thực dân Pháp tăng thêm quân, cho đóng nhiều tua, bốt để cô lập, chia cắt vùng này với vùng khác. Chúng tổ chức lính luân phiên canh gác và thường xuyên tổ chức tuần tiễu, lùng sục trong các vườn cây về làng cao su. Ngoài ra, chúng còn cho gài mạng lưới mật báo, chỉ điểm vào hàng ngũ công nhân. Vì thế, vào cuối năm 1947 do một sơ suất của một cán bộ ta trong khi đi lại, một tài liệu mật gồm danh sách cơ sở công an quận Hớn Quản bị rơi vào tay địch. Từ đó, nắm được đầu mối tên chủ sở Đờ Lalăng đã chủ trương và tiếp tục chỉ đạo một cuộc truy lùng và tàn sát đẫm máu. Tại chợ Lộc Ninh hàng trăm người yêu nước, cơ sở cách mạng đã bị giặc bắt bắn tại chỗ. Trong số những người bị bắt có đồng chí Ba Đèn, Dậu, Ty, Ngân, Nhuận, Cầu, Kỳ. Đây là những cán bộ cách mạng cốt cán của ta. Ngày 21 tháng 12 năm 1947, đồng chí Ba Đèn bị xử tại sân chợ. Đồng chí Ty bị đưa về Quản Lợi cho cọp xé xác. Còn các đồng chí Dậu, Ngân, Cầu, Kỳ, Nhuận bị chặt đầu tại giếng nước Lộc Ninh, đầu mang lên dốc chợ trước văn phòng Sở cảnh sát, đóng cọc treo lên hòng uy hiếp tinh thần của quần chúng. Những hành động man rợ của thực dân Pháp càng làm bùng cháy lên ngọn lửa đấu tranh của các tầng lớp nhân dân.

Mặt trận kinh tế chiến, giao thông chiến được đẩy mạnh khắp nơi, đánh mạnh vào vận tải tiếp tế của địch. Tư lệnh Khu 7 chỉ đạo mở hàng loạt trận phục kích dọc đường giao thông, đánh vào các đoàn xe quân sự, phá hoại những đoạn đường bộ, đường sắt mà địch thường qua lại. Các đường giao thông huyết mạch: đường sắt từ Sài Gòn lên Lộc Ninh, đường 13 cũng từ Sài Gòn lên Lộc Ninh chạy qua Campuchia, qua Lào đều bị ta đánh phá. Đối với đường sắt, nhân dân gỡ tà vẹt, tháo ốc vít đem từng đoạt đường ray về rèn cuốc, dao, rựa phá được đường sắt thì việc vận chuyển của địch tiếp tế cho đồn điền và chở mủ cao su về Sài Gòn đem xuất khẩu sẽ gặp nhiều khó khăn.

Ở các làng, xã dân quân đã đào hào, đắp mô, cắm chông, gài lựu đạn, mìn trên các đường lộ lớn nhỏ, làm cản trở việc càn quét, tiếp tế cho các đồn bốt của địch, đánh phá đường giao thông làm cho xe cơ giới địch vận chuyển không được, tổ chức các đội canh gác để bảo vệ các khu căn cứ của ta. Những con đường bị phá thành những mô đất, những hào trũng là công sự chiến đấu của bộ đội và du kích chống địch.

Với sự chỉ đạo linh hoạt, khéo léo của Tỉnh ủy Biên Hòa và Tỉnh ủy Thủ Dầu Một, phong trào kháng chiến chống Pháp ở các địa phương (thuộc tỉnh Bình Phước ngày nay) đã phát triển rầm rộ.

Khắp nơi ở Hớn Quản, Bù Đốp phong trào phá hoại kinh tế địch diễn ra mạnh mẽ. Nổi bật nhất là phong trào phá hoại cao su của Pháp “mỗi sở cao su là một mặt trận”. Nhiều xã đã có cơ sở Đảng, nghiệp đoàn ở các đồn điền cao su tổ chức các cuộc đấu tranh đình công, lãn công, bỏ sở, biểu tình đòi quyền dân sinh dân chủ, các đợt phá hoại cao su cũng diễn ra sôi nổi. Công nhân tìm mọi cách làm giảm mức thu lợi của chủ tư bản Pháp bằng cách phá hoại máy móc, đổ mủ nước, mủ dăm, đập chén đựng mủ, đốt mủ thành phẩm, đốt nhà kho, xưởng chế biến… Ngoài các đội du kích chuyên trách làm nhiệm vụ phá hoại cao su, công nhân tổ chức thành từng tổ, nhóm chịu trách nhiệm phá hoại từng khu vực. Riêng năm 1947, công nhân các đồn điền cao su Hớn Quản, Minh Thạnh, Xa Cam, Xa Cát, Thuận Lợi đã chặt và vạt vỏ hơn 1.000 hécta cao su, phá hủy hàng trăm ngàn chén đựng mủ, hàng chục kho lương thực, kho chứa mủ. Riêng đồn điền Hớn Quản, công nhân đã phá hủy 450 tấn mủ, 2 kho chứa mủ, 200 thùng đựng mủ, 3 kho lương thực, 1 máy đèn; phá hủy 325.800 chén máng hứng mủ, 1.000 lít mủ, 2 nhà xông, 1 máy cán mủ… Ở đồn điền Quản Lợi, Xa Cam, Xa Cát, Minh Thạnh, gây thiệt hại nặng nề về kinh tế cho địch. Quần chúng cách mạng ở các xã trong huyện Hớn quản rút vào rừng lập nên những căn cứ như Tân Thành, Minh Thạnh, Tân Khai. Kết hợp với lực lượng vũ trang - đơn vị Vệ quốc đoàn tổ chức phá hoại kinh tế của địch như chặt phá cây cao su ở các đồn điền, phá cầu, phá đường, chặn đường 13 đánh các đoàn xe chở vũ khí, lương thực tiếp tế cho các đồn điền ở Hớn Quản, Lộc Ninh. Phá hoại ban ngày bị địch phát hiện, công nhân chuyển sang phá hoại ban đêm; đêm đêm đến từng khu vực lô cây để chặt phá, đổ mủ. Những nơi không có điều kiện chặt phá cây, ta đập chén đựng mủ, đổ mủ xuống đất. Chúng cho đổi chén sành thành chén nhôm, ta gom hết chén nhôm đem về cho bộ đội và du kích làm chén ăn cơm…

Sau những đợt công nhân phá hoại cao su, bọn chủ đồn điền tiếc của tìm cách bắt bớ, tra tấn công nhân. Ở Quản Lợi, năm 1947 nhà máy bị phá hoại, bọn lính lôi 11 anh em ra tra khảo và đã bắn chết cả 11 người. Còn ở Lộc Ninh, tên chủ sở phát hiện cây cao su bị chặt, chúng bắt những công nhân gần đó tra hỏi không có kết quả, chúng ra lệnh cho bọn lính chặt đầu 2 người. Những hành động này chỉ gây thêm lòng căm thù trong công nhân và thúc đẩy họ quyết tâm ủng hộ kháng chiến.

Hoạt động phá hoại kinh tế địch trong năm 1947 mặc dù chưa đạt kết quả cao, nhưng đã góp phần làm giảm công suất hoạt động của các nhà máy, hạn chế nguồn lợi kinh tế của tư bản thực dân Pháp; đồng thời cung ứng một phần quan trọng nhu cầu của ta ở các căn cứ.

Càng khó khăn bao nhiêu thì tinh thần cách mạng của các chiến sĩ, công nhân cao su, đồng bào dân tộc càng rực sáng. Trong cảnh tù đày chết chóc, hy sinh, gian khổ tất cả vẫn một lòng hướng về cách mạng, thủy chung với kháng chiến.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Sáu, 2011, 06:36:02 PM
*
*   *

Bên cạnh các hoạt động tiêu hao, tiêu diệt địch, diệt đồn bốt bằng mưu trí, sáng tạo, bằng địch ngụy vận, bằng sức mạnh quân sự của lực lượng vũ trang; Tỉnh ủy Thủ Dầu Một còn chỉ thị cho các huyện ủy gấp rút khôi phục các đoàn thể cứu quốc như Nông dân, Thanh niên, Phụ nữ; đồng thời, điều động một số cán bộ trong Tỉnh bộ Việt Minh làm công tác xây dựng các đoàn thể. Ở vùng Hớn Quản, đồng chí Trần Quang Sang được giao trách nhiệm vận động, tổ chức đồng bào dân tộc thiểu số; thành lập hai đội công tác vũ trang tuyên truyền ở phía đông và phía tây đường 13. Nhóm công tác phía đông đường 13 đã tiếp xúc được với bà con người Khmer ở Nha Bịch, Xa Trạch, Quản Lợi. Nhờ đồng bào và cơ sở cách mạng giúp đỡ, ta phát triển lên phía bắc rồi mở đường sang vùng Tà Bái, hướng lên Bù Nho, Bù Đinh, đông nam Lộc Ninh. Nhóm công tác phía tây đường 13 đã tuyên truyền vào các sóc Phú Lố, Bình Phú ven đồn điền Xa Cam, các sóc phía Tây thị trấn Hớn Quản. Nhiệm vụ chung của Đội công tác tuyên truyền là phát động đồng bào xây dựng cơ sở, nắm tình hình phục vụ chiến đấu; xây dựng xong cơ sở ở nơi này lại tiếp tục đi nơi khác.

Để đối phó với âm mưu của địch, bảo vệ cơ quan lãnh đạo, bảo vệ nhân dân và cơ sở cách mạng; các lực lượng tự vệ mật, du kích mật tổ chức nhiều đợt đánh đồn bốt địch, tập kích sâu vào vùng bị tạm chiếm diệt tề trừ gian, đánh phá giao thông, cắt đường vận chuyển của chúng. Tự vệ mật, du kích mật còn phối hợp với các chi đội vệ quốc đoàn hoạt động tác chiến đánh địch trong đồn điền, cùng với “quốc gia tự vệ cuộc” phục kích trên đường giao thông, tập kích đồn bót, chống càn quét. Tháng 4 năm 1947, bộ đội Hớn Quản khoảng 150 người do đồng chí Lê Đức Anh chỉ huy đã đánh địch ngay trong quận, vừa diệt địch, phá cầu đường, vừa đột nhập vào đồn điền Quản Lợi phá kho lấy vũ khí, lương thực và vận động nhân dân tham gia đấu tranh. Đồng thời, lực lượng này còn tiếp tục đánh vào đồn điền Xa Cát, Xa Trạch lấy được một số lương thực, thực phẩm, đốt cháy nhà kho, nhà mủ, nhà giấy. Tại đồn điền Quản Lợi, nhờ du kích mật cung cấp tình hình, ta đặt mìn phá 3 trong 5 máy phát điện, đốt 5 bồn nhiên liệu, gây cháy lớn cả một khu vực bao gồm nhà máy, xưởng thợ và nhà giấu.

Tại đồn điền Lộc Ninh, tên chủ Lalan khét tiếng tàn ác. Từ khi bị giết hụt trên đường 13, mỗi khi có việc cần về Sài Gòn hắn đi bằng máy bay chứ không dám đi bằng đường bộ. Ở Bình Long nhiều lần ta tấn công vào các đồn điền Xa Cát, Xa Cam vừa rút được thanh niên, công nhân bổ sung cho bộ đội, vừa giải thoát được nhiều chiến sĩ, du kích và đồng bào Bắc Bộ bị chúng bắt trong các cuộc càn quét ngoài ấy đưa vào đây buộc làm công nhân cạo mủ cao su. Số anh em được giải thoát đều xin gia nhập vào bộ đội.

Các trận đánh đã gây gác động mạnh đối với nhân dân, gây được niềm tin vào sự trưởng thành của lực lượng vũ trang chiến đấu, nhờ đó phong trào kháng chiến phát triển mạnh, các cơ sở bên trong được phục hồi và củng cố.

Quân và dân Hớn Quản, Bù Đốp được trang bị tốt hơn bằng những vũ khí chiến lợi phẩm và ngày một kinh nghiệm hơn trong việc tổ chức đánh địch. Bội đội đóng quân ở đâu cũng được dân thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ, mối tình quân dân càng thêm mật thiết gắn bó.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Sáu, 2011, 06:37:25 PM
II. XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG BA THỨ QUÂN,
ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG TÁC CHIẾN TIÊU DIỆT ĐỊCH

Để đưa cuộc kháng chiến tiến tới, nhiệm vụ cấp bách của ta là phải hoàn chỉnh lực lượng vũ trang ba thứ quân nhằm tiếp tục phát triển chiến tranh du kích đồng thời đẩy vận động chiến từ quy mô nhỏ lên quy mô ngày càng lớn. Trước nhiệm vụ và yêu cầu ngày một cao của cuộc kháng chiến, ngày 27 tháng 3 năm 1948, Hội nghị toàn quân Khu 7 đề ra nghị quyết xây dựng 10 trung đoàn và 1 tiểu đoàn chủ lực đứng chân hoạt động ở các địa phương. Theo đó Chi đội 1 của tỉnh Thủ Dầu Một chuyển thành trung đoàn 301, Chi đội 10 của tỉnh Biên Hòa chuyển thành trung đoàn 310. Trung đoàn 301 tổ chức thành 3 tiểu đoàn: tiểu đoàn 901 ở Lái Thiêu và Thủ Dầu Một, tiểu đoàn 902 ở vùng Châu Thành; tiểu đoàn 903 với 3 đại đội 2707, 2708 và 2709, trong đó đại đội 2709 do đồng chí Trần Quang Sang làm đại đội trưởng, hoạt động ở địa bàn Hớn Quản. Đại đội này tuy không đủ quân số nhưng vẫn phân tán lực lượng thành nhiều tổ, đội vũ trang tuyên truyền bám vào vùng đồn điền và vùng đồng bào dân tộc để xây dựng, mở rộng cơ sở.

Việc xây dựng lực lượng vũ trang tập trung với quy mô trung đoàn là một bước tiến mới đánh dấu sự trưởng thành của lực lượng chủ lực.

Để có lực lượng địa phương làm nòng cốt cho chiến tranh du kích và có bộ đội tập trung mạnh; sau Hội nghị quân sự của Xứ ủy Nam Bộ tháng 3 năm 1948, ngày 18 tháng 11 năm 1949, Bộ Tư lệnh Nam Bộ ra mệnh lệnh số 137 thành lập các Liên trung đoàn. Trung đoàn 301 sáp nhập với trung đoàn 310 thành Liên trung đoàn 301-310 do đồng chí Nguyễn Văn Thi làm Liên trung đoàn trưởng. Đồng chí Nguyễn Quang Việt công tác ở miền Tây Nam Bộ được Xứ ủy điều về làm Bí thư Tỉnh ủy Thủ Dầu Một kiêm chức vụ chính trị viên liên trung đoàn 301-310. Liên trung đoàn này hoạt động chủ yếu trên hai tỉnh Biên Hòa và Thủ Dầu Một. Đến đây, lực lượng vũ trang ba cấp đã hình thành rõ rệt. Trên toàn tỉnh Thủ Dầu Một có tiểu đoàn chủ lực cơ động, huyện có đại đội độc lập va du kích tập trung, xã có du kích và tổ chức dân quân rộng rãi.

Tháng 4 năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra sắc lệnh thành lập bộ đội địa phương. Nhiệm vụ của bộ đội địa phương là làm nòng cốt cho chiến tranh du kích ở địa phương, tạo điều kiện cho bộ đội chủ lực tác chiến trên các chiến trường.

Cũng trong tháng 4 năm 1949, Khu 7 lập tiểu đoàn chủ lực lấy phiên hiệu 303, do Hoàng Thọ làm Tiểu đoàn trưởng, sau đó, đồng chí Lê Văn Ngọc thay thế.

Sự củng cố lại hệ thống tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể cách mạng từ đầu năm 1947 cùng với việc đẩy mạnh chiến tranh du kích, lập làng xã kháng chiến đã làm cho lực lượng vũ trang ba cấp phát triển mạnh mẽ ở hầu khắp các địa bàn tỉnh Bình Phước ngày nay. Đây là nguồn lực to lớn thúc đẩy phong trào kháng chiến ở tỉnh Bình Phước phát triển thêm một bước mới.

Hoạt động vũ trang diễn ra sôi nổi trên địa bàn Hớn Quản, Bà Rá, Bù Đốp lúc bấy giờ, bên cạnh Chi đội 1, Chi đội 10 còn có lực lượng Công an xung phong và Quốc vệ đội. Lực lượng bộ đội địa phương huyện và du kích xã đã kết hợp đánh quấy rối, tiêu hao sinh lực địch, cướp nhiều vũ khí trang bị cho ta. Lực lượng vũ trang, bán vũ trang của địa phương cùng với công nhân cao su, nhân dân, đồng bào dân tộc thiểu số hợp thành đội quân hùng hậu, lúc nào cũng sẵn sàng vây hãm, tiêu diệt địch. Các lực lượng gắn bó máu thịt với nhân dân, được đồng bào thương yêu giúp đỡ, chia sẻ từng miếng cơm, manh áo trong những lúc gian nan khổ cực nhất.

Đầu năm 1948, Tỉnh ủy Thủ Dầu Một thành lập Phòng quốc dân thiểu số do đồng chí Trần Quang Sang làm trưởng phòng. Phòng quốc dân thiểu số có nhiệm vụ đi sâu vào các vùng đồng bào dân tộc, trong đồn điền cao su, thành lập các mũi xung kích để vận động nhân dân xây dựng cơ sở cách mạng. Cũng thời gian này, Phòng quốc dân thiểu số của tỉnh Biên Hòa được thành lập hoạt động trên địa bàn huyện Sông Bé. Các hoạt động tuyên truyền kháng chiến được đẩy mạnh ở mọi nơi. Phổ biết nhất là hình thức tuyên tuyền miệng trong từng nhóm gia đình. Với phương thức vận động linh hoạt này, đồng bào dân tộc thiểu số được giác ngộ đã nhận rõ sự lừa mị của thực dân Pháp đã cùng với công nhân cao su trong các đồn điền hăng hái tham gia kháng chiến chống Pháp ngày càng nhiều hơn. Cuối năm 1949, Phòng quốc dân thiểu số tỉnh Thủ Dầu Một và hai đội vũ trang tuyên truyền Lộc Ninh được Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ tuyên dương là “Đơn vị dẫn đầu trong công tác thiểu số vận”.

Trong năm 1949, Khu y lập ra Khoa quốc dân thiểu số đóng tại bến Cây Chanh do đồng chí Mười Thìn làm Khoa trưởng. Nhiệm vụ của Khoa Quốc dân thiểu số là tổ chức các lực lượng vũ trang để tuyên truyền trong vùng đồng bào dân tộc, tổ chức cho đồng bào tham gia kháng chiến. Khoa quốc dân thiểu số thành lập 5 đội vũ trang tuyên truyền, lấy quân số từ  các đại độ và tiểu đoàn của Liên trung đoàn 301-310, thường xuyên hoạt động ở phía nam và đông nam đường 14. Khoa quốc dân thiểu số đã tuyên truyền, giáo dục và vận động đồng bào vùng Bà Rá, Hớn Quản biết được âm mưu thâm độc của kẻ thù, từ đó nhiệt tình tham gia và ủng hộ kháng chiến. Nhiều buôn sóc đã trở thành căn cứ cách mạng như: Lý Lịch, Bù Cháp, Bù Tôn…

Tháng 7 năm 1947, Hội nghị dân quân toàn Khu 7 được triệu tập. Hội nghị chủ trương phát triển lực lượng dân quân du kích, đặc biệt chú trọng xây dựng lực lượng xây dựng lực lượng dân quân du kích vùng đồng bào dân tộc thiểu số và thành lập các làng ấp chiến đấu, tiến tới tự đảm nhiệm nhiệm vụ chống càn và bảo vệ địa phương.

Cùng với quá trình phát triển của cuộc kháng chiến, từ những đơn vị nhỏ lẻ, lực lượng vũ trang của tỉnh Thủ Dầu Một nói chung và trên địa bàn Hớn Quản, Bà Rá, Bù Đốp nói riêng ngày một lớn mạnh, phát triển thành chi đội, trung đoàn, liên tủng đoàn và các tiểu đoàn chủ lực cơ động, dày dạn kinh nghiệm chiến đấu và công tác xây dựng nội bộ, góp phần thúc đẩy phong trào kháng chiến phát triển mạnh mẽ.

Có thể nói, nửa đầu năm 19498 là mốc quan trọng đánh dấu thời kỳ thống nhất, trưởng thành của các đơn vị bộ đội, tạo nên sức chiến đấu mới, đáp ứng tình hình cuộc kháng chiến đang ngày càng trở nên quyết liệt, phức tạp, đầy khó khăn trên chiến trường miền Đông.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Sáu, 2011, 06:38:51 PM
*
*   *

Sau thất bại trong chiến dịch Việt Bắc thu đông 1947, từ năm 1948, thực dân Pháp đứng trước những khó khăn to lớn. Trên chiến trường Việt Nam, quân số bị thiếu hụt nghiêm trọng, tinh thần chiến đấu sa sút. Còn tại nước Pháp, phong trào đấu tranh của nhân dân Pháp đòi giảm ngân sách quân sự, đòi chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam phát triển mạnh mẽ. Những cuộc đấu tranh giành quyền lực giữa các phe phái làm cho chuộc khủng hoảng chính trị ở Pháp ngày càng trở nên sâu sắc. Với khủng hoảng về chính trị, những khó khăn về kinh tế và thất bại về quân sự trên chiến trường đã buộc thực dân Pháp phải chuyển hướng chiến lược chiến tranh. Từ chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh”, địch chuyển sang chiến lược đánh lâu dài, từ dùng quân sự là chủ yếu chuyển sang dùng chiến trang tổng lực, kết hợp cả quân sự, chính trị và kinh tế, thực hiện chính sách “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt trị người Việt”. Thực dân Pháp coi Nam Bộ là nơi “bình định” trọng điểm trong suốt quá trình tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, nhằm biến Nam Bộ thành kho dự trữ chiến lược cho cuộc chiến tranh. Để thực hiện điều đó, chúng dành một bộ phận lớn quân đội đóng thêm đồn bốt, cứ điểm, chi khu quân sự ở các đồn điền và đường giao thông chạy qua vùng cao su, xây dựng các đơn vị ứng chiến cơ động, sẵn sàng càn quét, bảo vệ sản xuất. Ở đồn điền Thuận Lợi, Lộc Ninh, Bù Đốp, Quản Lợi chúng liên tục tổ chức nhiều cuộc càn quét vào các khu căm cứ, khu tập trung đông dân cư, nhất là trên địa bàn 3 xã Tân Khai, Tân Thành, Minh Thạnh và khu vực đông - đông nam Xa Trạch. Chúng đã cấp tốc điều động đội biệt kích và sử dụng cả lực lượng lính lê dương để bảo vệ đường sá và các căn cứ quan trọng. Nhiều đồn biệt kích và đồn lính lê dương được lập ra ở vùng Bà Rá, Đồng Xoài, canh gác nghiêm ngặt trục lộ 14. Sau khi phát hiện ra căn cứ Truông Ba Trường là nơi đóng quân của bộ phận tiền phương tiểu đoàn 903, thực dân Pháp cho lính càn quét quyết liệt, cho xe ủi chia cắt khu rừng này từng khu vực nhỏ, âm mưu đánh bật lực lượng bám trụ của ta.

Ở khu vực đường lộ 13, tây lộ Nha Bích, địch tổ chức lực lượng đi lùng sục các địa bàn, đánh phá liên tục vùng căn cứ. Một số người phải chạy vào làm ở đồn điền tá túc với bà con công nhân. Bên cạnh đó vẫn có một số người kiên quyết bám rừng làm ăn sinh sống, làm nhà ở tạm, nhưng địch lùng sục đốt nhà liên tục, có tháng bà con phải dời đi hai ba chỗ, thậm chí có chỗ nhà chưa làm xong địch đã đã đến đốt phá. Ý đồ của chúng là ép đồng bào vào các đồn điền để dễ kiểm soát. Đối với đồng bào dân tộc thiểu số thì chúng dồn bà con vào các phum sóc nằm sâu trong đồn điền. Song song với việc tổ chức càn quét địch còn triển khai làm con đường mới từ đồn điền Minh Thạnh qua đồn điền Xa Cát, thông qua lộ 13 để cắt ngang căn cứ phía tây lộ 13 và sông Sài Gòn đồng thời chuẩn bị ủi một con đường từ Sóc Tranh thông qua Sóc Chà Ngõa, nối liền với đường Chơn Thành - Nha Bích tại khu vực Nha Bích, nhằm khống chế khu vực phía đông lộ 13.

Ngoài ra địch còn tiến hành đánh phá kinh tế vùng căn cứ nhằm làm kiệt quệ nguồn lương thực; đồng thời một mặt gây mâu thuẫn giữa đồng bào Kinh và đồng bào dân tộc thiểu số, mặt khác cho lính đi theo canh gác công nhân đi làm lô, nhằm ngăn chặn họ tiếp tế lương thực, thực phẩm cho kháng chiến.

Đi đôi với càn quét, biệt kích, giặc Pháp còn tăng cường hoạt động gián điệp. Chúng cho tình báo, gián điệp trà trộn trong nhân dân, trong căn cứ kháng chiến để làm tai mắt cho hành động quân sự và chính trị của chúng, gây chia rẽ trong hàng ngũ ta.

Chỉ tính riêng năm 1948, số lính Pháp và lính đánh thuê ở các đồn điền cao su đã tăng lên 1,5 lần so với đầu năm 1947. Riêng đồn điền cao su Lộc Ninh có 1.230 tên, Quản Lợi có 5 bốt với 200 tên, Xa Ca có 1 bốt với 100 tên. Trong năm 1948, chúng đã tấn công ta 220 trận với quy mô từ 200 đến 1.000 quân vào 6 tỉnh xung quanh Sài Gòn. Trong đó địch tấn công Thủ Dầu Một 12 trận, Biên Hòa 44 trận .

Sự tăng cường càn quét đánh phá của địch đã gây cho ta nhiều tồn thất trong năm 1948. Địa bàn 3 xã phía tây lộ 13 bị địch chà đi xát lại không biết bao nhiêu lần, nhân dân phải chịu nhiều thiệt hại về người và tài sản, bộ đội hy sinh khá đông, một số cơ sở mật ở đồn điền bị vỡ. Riêng việc đánh trả địch trên đường 13 và đường mới Minh Thạnh - Xa Cát, anh em ta cũng bị tổn thất không ít. Việc bảo vệ mùa gặt lúa rẫy đã làm hàng chục người bỏ mạng. Hoạt động ở các vùng đồn điền và vùng dân tộc thiểu số cũng chịu nhiều hy sinh tổn thất, nhất là những đêm đột nhập vào ấp, bị phục kích trên đường đi, hoặc bị đột kích ở những nơi tạm trú. Tuy gặp nhiều khó khăn to lớn, nhưng phong trào kháng chiến vẫn diễn ra ngày một mạnh mẽ, quần chúng cơ sở và đồng bào cọ xát nhiều với địch, được thử thách nhiều hơn, có kinh nghiệm nhiều hơn.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Bảy, 2011, 04:28:27 PM
Tháng 10 năm 1948, Bộ Tư lệnh Nam Bộ được thành lập do Nguyễn Bình làm Tư lệnh. Cơ quan Tư lệnh bộ các khu được chấn chỉnh thêm một bước, đổi tên thành Bộ chỉ huy khu. Cơ quan Khu bộ 7 do Huỳnh Văn Nghệ làm tư lệnh chuyển về chiến khu Đ. Từ chiến khu Đ, Bộ chỉ huy khu có điều kiện theo dõi, nắm bắt tình hình, chỉ đạo chỉ huy các chiến trường khác kịp thời hơn.

Việc thành lập các trung đoàn và chấn chỉnh, dời cơ quan đầu não kháng chiến khu đã tạo ra những nhân tố quan trọng đẩy mạnh các hoạt động kháng chiến sau đó. Các phong trào thi đua giết giặc lập công được phát động rầm rộ. Đơn vị nào cũng cố gắng lập nhiều chiến công.

Ngày 23 tháng 7 năm 1948, trung đoàn 310 diệt một trung đội Pháp trên đường xe lửa Sài Gòn - Lộc Ninh.

Sôi nổi nhất là mặt trận phá đường, đánh địch vận chuyển trên quốc lộ 13, đường xe lửa Sài Gòn - Lộc Ninh liên tục bị nhân dân phá từng quãng, gây khó khăn lớn cho địch. Việc đánh địch trên quốc lộ 13, 14 từ năm 1948 trở đi chủ yếu do dân quân du kích các xã ven trục lộ đảm nhiệm. Nhiều trận đánh gây tổn thất lớn cho địch, có tác dụng lớn đối với phong trào kháng chiến ở địa phương như trận Đồng Xoài trên quốc lộ 14 ngày 19 tháng 12 năm 1947, Chi đội 1 và Chi đội 10 phối hợp lực lượng du kích tổ chức đánh một đoàn địch trên đường t ừ Thủ Dầu Một lên Phú Riềng. Kết quả ta thiêu hủy được 1 xe chở đầy xăng, 9 xe GMC chở lính. Địch chết 60 tên, ta bắt sống một số tù binh, trong đó có 11 lái xe, thu 2 khẩu trung liên, 7 tiểu liên, 1 súng ngắn, 1 súng trường và 1 vô tuyến điện, 1 thiết giáp trong đó có 1 tiểu pháo 37 ly. Trận đánh thắng lợi đã chững tỏ bộ đội ta có bước tiến cơ bản về trình độ chiến thuật, kỹ thuật, tổ chức chỉ huy đủ sức đánh tiêu diệt những đoàn xe ô tô lớn của địch(1).

Ngoài ra, Ban công tác liên thôn 7 của tỉnh Biên Hòa liên tục bám trụ và hoạt động mạnh ở Thuận Lợi. Ban công tác đã chú trọng xây dựng cơ sở cách mạng trong công nhân cao su. Giữa năm 1948, Ban công tác liên thôn 7 phát triển thành Phân đội 10 huyện Sông Bé, trực thuộc Trung đoàn 310 của tỉnh Biên Hòa. Các hoạt động vũ trang tiêu biểu nhất trong thời gian này là trận tiêu diệt tên Phó chủ sở gian ác thường trực tiếp đánh đập công nhân. Trong lần hắn đi xe đến sân bay Thuận Lợi nhận tiếp tế, lực lượng; Phân đội 10 kết hợp với công nhân cao su giết chết hắn ngay trên đường về. Những tên xu, cai ác ôn làm tay sai cho chủ sở đều bị ta cảnh cáo. Ta đã xây dựng được hai cơ sở mật trở thành căn cứ điểm của các cán bộ, đôi viên Ban công tác liên thôn 7 đó là anh bếp Du và anh Vũ Khiêm là hai cơ sở mật của ta ở ngay trung tâm đồn điền. Các cơ sở có nhiệm vụ thực hiện các yêu cầu của ta ở bên ngoài, đồng thời tổ chức tiếp tế, đấu tranh vũ trang trong đồn điền. Anh bếp Du là người nấu ăn cho chủ sở đồn điền Thuận Lợi. Do được chủ tin cẩn nên anh thường xuyên bảo cho lực lượng ta bên ngoài biết tình hình và âm mưu của địch. Có lần anh bếp Du đã đánh cắp một khẩu súng carbine, 2 khẩu súng mistell, 2 roulo mang ra giáo cho Ban chỉ huy phân đội 10. Anh Vũ Khiêm lúc đó là cai Xuxâydăng nhưng có cảm tình lớn với công nhân. Trong năm 1947-1948, do uy thế của lực lượng ta bên ngoài, do sức mạnh của công nhân bên trong và vì muốn yên ổn làm ăn, tên Sale chủ đồn điền Thuận Lợi hàng tháng vẫn phải bí mật đóng thuế cho cách mạng. Khoản thu này đều được anh bếp Du và anh Vũ Khiêm chuyển ra vùng an toàn cho ta.

Song song đó, các hoạt động vũ trang ở vùng đồng bào dân tộc cũng được đẩy mạnh. Điển hình là trận bao vây đồn Bù Koh của đồng bào dân tộc 8 ấp tập hượn dân ở các sóc được gần 200 người chiếm được kho súng của đồn.

Cuối năm 1948, ở đồn điền Quản Lợi nhờ cơ sở vùng đồng bào dân tộc Sóc Xiêm và nội ứng ở đồn điền cung cấp tin tức, đại đội 2709 đã bố trí phục kích trên đường Quản Lợi đi Chà Thanh, bắt sống tên chủ Gácna, giết chết ba tên lính hộ tống. Nổi tiếng nhất là trận đánh ở nhà máy chế biến mủ Quản Lợi. Sau khi nghiên cứu chi tiết 5 máy đèn của nhà máy, ta đã sản xuất loại mìn đặc dùng đánh tan 5 máy đèn và 5 bồn xăng dầu, gây nên vụ cháy lớn trong suốt gần 3 tháng. Đại đội 2709 ở Hớn Quản và Phân đội 10 huyện Sông Bé còn tổ chức đánh nhỏ, lẻ trên đường 13, 14. Lực lượng vũ trang của ta bố trí mỗi tổ 3 người hoặc thành đội có 3 tổ phân chia từng đoạn đường để bắn trả, đánh quấy rối địch.

Trong năm 1948, trên cơ sở chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích phát triển, các cấp ủy Đảng phát động toàn dân chống càn quét, lấy lực lượng ba cấp làm nòng cốt, đã phá và đánh bại các loại càn quét của địch, tiêu diệt, tiêu hao lực lượng địch, bảo toàn lực lượng, hạn chế thiệt hại do địch gây ra. Nhờ chống càn thắng lợi kết hợp với tiến công địch trong đô thị và trên đường giao thông nên ta duy trì, mở rộng được vùng tự do và vùng căn cứ, giữ vững cơ sở quần chúng quanh đồn bốt địch.

Với những thắng lợi đạt được trong năm 1948, phong trào kháng chiến đánh địch tiếp tục phát triển trong hai năm 1949-1950; Ta tiếp tục mở rộng phạm vi, bao vây áp sát địch ở các đồn bốt và những khu vực dân cư đông.

Năm 1948 căn cứ địa từ Truông Ba Trường chuyển ra Chà Là, Đồng Ló. Vùng Hớn Quản, Lộc Ninh, Bù Đốp, các đại đội 2707, 2708, 2709 thuộc tiểu đoàn 903 về đây hoạt động.


(1) Tình hình Nam Bộ 1945-1947, Kho Lưu trữ Bộ Quốc phòng, Phòng Nam Bộ, Hồ sơ 6, tờ 81-119, tr.41.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Bảy, 2011, 04:30:15 PM
Tháng 3 năm 1949, được cơ sở cung cấp tin tức, đại đội 2709 cùng với Công an xung phong quận Hớn Quản do đồng chí Nguyễn Văn Cẩm chỉ huy, diệt đồn Bù Đốp, phá nhà tù, giải thoát cho 60 đồng bào, chiến sĩ bị giam giữ. Toàn bộ linh trong đồn bỏ chạy, ta thu được 41 súng. Trận đánh thắng lợi nhờ sự giúp đỡ tích cực của đồng bào Stiêng và Khmer. Nhiều đồng bào xin gia nhập bộ đội. Đặc biệt có hai vợ chồng anh Năm Do người Stiêng quyết xin đi kháng chiến.

Trận đánh vào thị trấn Bù Đốp gây được tiếng vang lớn, làm quân địch rung động, vì đây là vùng sâu, nơi chúng cho là an toàn nhất.

Cùng thời gian này, trung đội 10 huyện Sông Bé tiến công đồn giặc ở làng Ba - Thuận Lợi làm bọn quan lính Pháp và chủ sở khắp vùng từ Thuận Lợi đến Phước Vĩnh hoảng sợ.

Giữa năm 1949, du kích tập kích ở đồn Nha Bích, bố trí đánh quân tiếp viện diệt gọn một đại đội địch, thu một súng canông nòng dài. Đến tháng 8 năm 1949, lại tổ chức đánh đoàn xe lửa địch ở Chơn Thành, phá hủy nhiều toa xe lửa và thu được 2 súng canông. Tiếp đó, ta tập kích diệt tháp canh địch ở xóm Ruộng (Nha Bích), diệt 7 tên, thu toàn bộ vũ khí.

Sau chiến thắng ở Bù Đốp, các đội vũ trang tuyên truyền được Khu 7 thành lập về hoạt động ở các địa phương. Vùng Lộc Ninh có các trung đội A và B. Trung đội A chịu trách nhiệm phía Đông quốc lộ 13, do đồng chí Nguyễn Đình Kính phụ trách xây dựng được cơ sở ở các vùng dân tộc Sóc Nê, Đất Đỏ, Chàng Hai, Bù Nồm và Xóm Bưng. Trong công nhân có cơ sở Bù Đốp, Sở Nhỏ, sở Brélin, Bùgoen, Sóc Đá, Bù Đinh. Trung đội B do đồng chí Du (huyện đội Phó Hớn Quản) chịu trách nhiệm phía Tây lộ 13 từ Hớn Quản chạy dài đến Snoul, do đồng chí Du huyện đội Phó Hớn Quản phụ trách, mũi này xây dựng được cơ sở ở các vùng dân tộc Tà Thiết, Sóc Bù Núi và trong đồn điền cao su.

Trong các làng công nhân ta đã xây dựng được cơ sở, đồng chí Nguyễn Văn Chức (Chín Chức) cán bộ công an quận Hớn Quản phụ trách, bên cạnh có các cán bộ hoạt động công khai nằm trong các nghiệp đoàn công nhân. Tỉnh ủy Thủ Dầu Một còn đưa hai chị Lưu Mai Lan là Ủy viên Ban Chấp hành phụ nữ và chị Bình Minh ở tỉnh về hoạt động ở vùng Lộc Ninh. Hai chị đã tích cực tuyên truyền vận động được một số cơ sở phụ nữ ở đồn điền Xa Cát và một số sóc dân tộc thiểu số Nha Bích, Tà Bái.

Trong khi các đơn vị lực lượng vũ trang của ta tìm mọi cách tiêu hao, tiêu diệt địch trên các chiến trường, thì lực lượng trinh sát, công an xung phong, du kích dân quân các xã luôn bám địa bàn tìm diệt những tên tề, chỉ điểm, gián điệp góp phần làm thất bại chiến tranh gián điệp của chúng.

Từ mùa thu năm 1949, các Liên trung đoàn trên địa bàn Miền Đông Nam Bộ đều thành lập một đại đội đặc nhiệm phá hoại cao su và hỗ trợ cho phong trào công nhân tại các đồn điền. Đại đội 2709 trực thuộc tiểu đoàn 903 có 60 người hầu hết là dân cao su Quản Lợi, Xa Cát, Xa Cam, Lộc Ninh, Minh Thạnh gia nhập Vệ quốc đoàn từ sau Tổng khởi nghĩa, gọi là “Đại đội cao su”. Họ đều tham gia tổ chức Công đoàn bí mật, vừa tích cực đấu tranh chính trị đòi quyền lợi, vừa đẩy mạnh phá hoại sản xuất cao su của địch. Trong năm 1949, các đồn điền cao su trên toàn tỉnh Thủ Dầu Một đã phá hoại 212 mẫu cao su và 74.180 cây cao su, gây thiệt hại cho địch tổng trị giá hơn 2 triệu đồng(1).

Cùng với phong trào phá hoại cao su của địch, công nhân các đồn điền cao su còn đẩy mạnh đấu tranh kinh tế đòi các quyền dân sinh, đòi được cải thiện đời sống. Tại đồn điền Minh Thạnh, ngày 27 tháng 4 năm 1949, công nhân lãn công, tập trung trước cửa nhà chủ sở, đưa yêu sách:

“Tăng lương đủ sống, phát gạo trắng cho dân.
Bán đồ ăn ngon cho dân.
Không được bắt ép công nhân mua đồ mục hư”.

Trong các năm 1947, 1948, 1949, quân và dân Hớn Quản, Bà Rá, Bù Đốp càng lớn mạnh về tổ chức xây dựng và chiến đấu, góp phần cùng Miền Đông Nam Bộ làm tiêu hao nhiều sinh lực địch bằng nhiều cách đánh phong phú ngày càng có hiệu quả, giành thế chủ động trên chiến trường, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào một giai đoạn lịch sử mới.

Ngoài ra phong trào tòng quân giết giặc được phát triển khắp các đồn điền cao su. Ta cho một tổ công tác vũ trang đột nhập vào các đồn điền Xa Cát và Xa Trạch, vận động anh em thoát ly đi kháng chiến, kết quả là vào khoảng đầu tháng 1 năm 1948, ta huy động được gần 50 người của đồn điền Xa Cát và trên 10 người của đồn điền Xa Trạch đưa về bổ sung cho tiểu đoàn 903, sau đó một số đưa về bổ sung cho đại đội 2709 ở Hớn Quản.


(1) Trần Văn Cang: Hồi ức về hoạt động của bộ đội Hớn Quản - Lộc Ninh - Bù Đốp; trong sách: Những năm đầu kháng chiến: Hồi ký về Chi đội 1 trung đoàn 301 và dân quân Thủ Dầu Một, Hội Văn học - nghệ thuật Bình Dương xuất bản, 1999, tr. 114.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Bảy, 2011, 04:32:47 PM
*
*   *

Trước năm 1947, lương thực, nhu yếu phẩm cần thiết phục vụ cho kháng chiến chủ yếu là dựa vào ủng hộ của nhân dân. Những năm sau, do địch đẩy mạnh bình định, phong tỏa giao thông, đánh phá kinh tế nên việc nhân dân tiếp tế ngày một khó khăn. Nhu cầu về lương thực, thực phẩm cho đồng bào, cán bộ và chiến sĩ càng trở nên bức thiết. Chính vì thế mà vấn đề phát triển kinh tế kháng chiến trở thành một mặt trận không thể thiếu được. Nguồn tiếp tế lương thực cho bộ đội và cơ quan từ trước đến nay chủ yếu là dựa vào sự tiếp tế của các đồn điền và thị trấn Hớn Quản, vừa do cơ sở đóng góp ủng hộ, vừa nhờ cơ sở hợp pháp thu mua góp nhặt và do các quần chúng cơ sở tìm cách đưa ra bìa rừng, bìa lộ, nhưng từ khi địch bố trí lính đi theo dân đi làm lô khám xét nghiêm ngặt thì bà con không còn đem ra được nữa, ta chỉ còn cách thỉnh thoảng đột nhập vào các xóm dân, xóm công nhân để lấy ra. Còn ở vùng căn cứ, những lúc bị địch bao vây kinh tế gắt gao, cuộc sống ngày càng gặp nhiều khó khăn, nhưng ta vẫn bảo đảm đưa lương thực, thực phẩm, thuốc men từ vùng tạm chiếm nhờ vào sự tự túc khai hoang mở rộng diện tích trồng cây lương thực, sản xuất tại chỗ.

Ở Hớn Quản, khi mới xây dựng căn cứ Truông Ba Trường, các cơ quan, đơn vị bộ đội thường xuyên được đồng bào dân tộc thiểu số và công nhân cao su tiếp tế cho một phần lương thực. Các đơn vị bộ đội còn chặt tre, bứt mây để đan rổ, rá nhờ bà con mang ra chợ Hớn Quản bán giúp, để mua gạo, muối. Từ năm 1948 trở đi, các cơ quan đơn vị đều tổ chức được cơ sở làm nương rẫy, trồng trọt và chăn nuôi gia súc, gia cầm, tự túc lương thực, thực phẩm.

Cuối năm 1947, đại đội 3 phụ trách Hớn Quản của Chi đội 1 đã tổ chức được một cơ sở sản xuất cá mắm tại suối Xa Cát phục vụ hậu cần cho bộ đội. Cơ sở sản xuất này còn giúp cho đồng bào dân tộc ở Sóc Nuống, Tà Bái một số dụng cụ làm rẫy.

Ở Thuận Lợi, Đồng Xoài phong trào tiết kiệm gạo nuôi quân được đồng bào các dân tộc nhiệt tình hưởng ứng. Trung bình mỗi gia đình tiết kiệm được 2kg gạo/tháng, có những gia đình nghèo nhưng hết lòng vì cách mạng như gia đình má Điểu Khế, chị Xiêm mỗi tháng tiết kiệm được 3kg gạo.

Để đẩy mạnh công tác vận động nhân dân ủng hộ và tham gia kháng chiến có hiệu quả hơn, Tỉnh ủy Thủ Dầu Một đã thành lập Hội Nông dân ở một số xã, mà chủ yếu là ở các ấp trong huyện Hớn Quản và huyện Sông Bé. Bà con nông dân bằng mọi hình thức chống địch đánh phá sản xuất, canh gác bảo vệ nương rẫy, xóm làng, phòng gian bảo mật và ủng hộ lúa gạo, thực phẩm cho bộ đội. Đồng thời nông dân tham gia phá đường giao thông, cầu cống, phá hoại cao su.

Lực lượng thanh niên trong công nhân, nông dân và các tầng lớp khác luôn đứng mũi chịu sào trong cuộc chiến đấu. Phong trào tòng quân, tham gia công tác hậu cần phục vụ chiến đấu, phá hoại, tiêu diệt địch được thanh niên sôi nổi tham gia. Thành phần chủ yếu của Chi đội 1, Chi đội 10 là thanh niên công nhân cao su. Nguồn tiếp tế gạo, thực phẩm, máy móc, nguyên vật liệu trong các công binh xưởng phần lớn đều lấy ở các đồn điền cao su mà lực lượng thanh niên luôn đóng vai trò xung kích.

Hội Phụ nữ cứu quốc cũng đã có nhiều đóng góp đáng kể cho kháng chiến. Các mẹ, các chị ở vùng tạm chiếm vẫn tích cực đóng góp tiền bạc ủng hộ bộ đội, đưa thương binh nặng về chăm sóc tại nhà. Ngoài công tác phục vụ chiến đấu, phục vụ bộ đội, nhiều chị em đã thoát ly gia đình, trực tiếp giam gia kháng chiến, tham gia dân quân, du kích xã. Trong thời gian cuối năm 1948, đầu năm 1949, Tỉnh bộ Việt Minh điều 10 cán bộ nữ về công tác tại Phòng quốc dân thiểu số đặt tại Hớn Quản. Các chị được bố trí theo các đội, tổ vũ trang tuyên truyền vào vùng đồng bào dân tộc, chịu đựng mọi gian khổ để bám trụ làm công tác tuyên truyền, vận động bà con tham gia kháng chiến.

Năm 1949, do hạn hán, đồng bào và chiến sĩ Hớn Quản gặp khó khăn về lương thực. Tinh Hôi Phụ nữ nhận nuôi 40 cháu mồ côi thuộc diện chính sách bằng nguồn kinh phí do Tỉnh Hội vận động quyên góp. Tỉnh Đoàn Thanh niên nhận nhiệm vụ tổ chức việc học tập văn hóa cho các cháu. Đến năm 1950, Tỉnh hội vận động những gia đình có điều kiện nhận một số cháu nhỏ về nuôi tiếp, các cháu lớn hơn được đưa và công tác tại một số cơ quan, một số cháu được đưa đi học ở Miền Bắc và đã trưởng thành.

Mặc dù bị địch càn quét liên miên, nhưng nhân dân vẫn hăng hái sản xuất, trồng trọt và chăn nuôi gia súc, gia cầm giúp cho kháng chiến. Cuộc kháng chiến của quân và dân bắc Thủ Dầu Một ngoài việc dựa vào nguồn cung cấp lương thực thực phẩm tại chỗ, còn được sự chi viện tiếp tế từ các miền khác vủa của Trung ương. Trong năm 1949, nhân dân các vùng căn cứ miền Đông Nam Bộ đã ủng hộ 792.000 giạ lúa, 295.023 giạ gạo, 121.000 giạ muối, 675 tấn đường(1). Từ miền Tây và miền Trung Nam Bộ, lúa gạo, lương thực được chuyển về miền Đông, giúp quân và dân miền Đông Nam Bộ nói chung và bắc Thủ Dầu Một nói riêng khắc phục những khó khăn về hậu cần, tồn tại và tiếp tục chiến đấu chống quân xâm lược. Ngoài ra, đồng bào vùng tạm chiếm thông qua một số cơ sở mật của ta gửi hàng tấn thực phẩm, thuốc men, vải vóc trong đó có những hàng hóa quý hiếm như các loại hóa chất cho sản xuất, vũ khí, thuốc súng, phim ảnh ủng hộ cuộc kháng chiến.

Trong điều kiện kháng chiến thiếu thốn về mọi mặt, lại luôn bị địch đánh phá, sự chi viện của Trung ương còn nhiều hạn chế, thì việc đóng góp ủng hộ của đồng bào có ý nghĩa quan trọng. Góp phần xây dựng hậu cần kháng chiến, giúp cho lực lượng kháng chiến vượt qua mọi khó khăn, thử thách trong vòng phong tỏa của địch, đồng thời cũng nói lên tình cảm của nhân dân địa phương với cuộc kháng chiến.

Với sự chỉ đạo sâu sát của Tỉnh ủy Thủ Dầu Một, các đoàn thể đã phát huy tốt tác dụng, tuyên truyền động viên mọi thành viên từ thị trấn đến đồn điền, nông thôn, từ đồng bào Kinh đến đồng bào các dân tộc thiểu số trực tiếp tham gia kháng chiến hoặc ủng hộ kháng chiến với hình thành và mức độ thích hợp. Cuộc kháng chiến mang tính chất toàn dân ngay từ những ngày đầu nay càng tỏ rõ tính chất ấy trên một trình độ cao hơn và trên bình diện rộng lớn hơn.


(1) Báo cáo tình hình Nam Bộ năm 1949, Phòng Khoa học - Công nghệ và Môi trường Quân khu 7, LS.40.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Bảy, 2011, 04:34:04 PM
*
*   *

Tháng 1 năm 1950, Hội nghị toàn quốc lần thứ Ba của Đảng họp quyết định gấp rút hoàn thành nhiệm vụ chuẩn bị chuyển sang tổng phản công. Giữa năm 1950, theo chỉ đạo của Trung ương, Xứ ủy Nam Bộ quyết định sáp nhập Khu 7 và Khu Sài Gòn - Chợ Lớn thành Khu 7, đồng chí Hoàng Dư Khương làm Bí thư, đồng chí Trần Văn Trà được giao nhiệm vụ Tư lệnh Khu 7. Các đồng chí Huỳnh Văn Nghệ, Tô Ký, Phó Tư lệnh; đồng chí Lê Đức Anh, Tham mưu trưởng. Sở chỉ huy đặt tại chiến khu Đ.

Những năm 1948-1950, địch dùng chiến thuật Đờ latua (De Latour) - trùm lên Miền Đông Nam Bộ mạng lưới cứ điểm nhỏ dày đặc, tháp canh chằng chịt nhằm xiết chặt vùng chúng chiếm đóng, bảo vệ đường giao thông, ngăn chặn tiếp viện của ta, khống chế, chia cắt, bao vây các căn cứ. Trên địa bàn tỉnh Thủ Dầu Một tình hình ở các vùng cao su và vùng đồng bào dân tộc gặp nhiều khó khăn. Trên tuyến đường 13, 14 và các tuyến đường Minh Thạnh - Xa Cát, Chơn Thành - Nha Bích, Lộc Ninh - Bù Đốp… có hàng mấy trăm tua, tháp canh được dựng lên, cách nhau chừng 1km với nửa tiểu đội lính chiếm giữ. Những cứ điểm ở gần các trung tâm đồn điền Xa Cát, Xa Trạch, Minh Thạnh, Xa Can, Quản Lợi, Bù Đốp như các chi khu Hớn Quản, Lộc Ninh, Chơn Thành là nơi đóng quân và xuất phát hành quân càn quét gây tội ác của địch. Chúng thường xuyên mở những đợt đi càn, gom dân cao su lập thành khu tập trung lớn với hàng rào, lính canh gác. Công nhân đồn điền đi ra lô làm việc đều có lính đi theo canh giữ, tuần tra cảnh gới. Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, địch cũng cho gom lại thành từng khu lớn ven đồn điền hoặc ven thị trấn để bao vây kiểm soát và thường xuyên lùng sục các vùng rẫy của đồng bào nhằm phát hiện và ngăn giữ những người cách mạng.

Một yêu cầu thúc bách đối với ta lúc này là phải tìm mọi cách để phá được tháp canh của địch, đánh mạnh vào giao thông của chúng, giải tỏa và mở rộng vùng căn cứ. Bộ Tư lệnh Khu 7 giao nhiệm vụ cho Tỉnh đội Biên Hòa tổ chức đánh tháp canh, chỉ đạo cho Ban Quân giới Khu sản xuất nghiên cứu, thử nghiệm vũ khí đánh phá cứ điểm nhỏ, loại mìn đặc dụng đánh tua bốt được sử dụng đồng loạt đạt kết quả tốt. Thành công này được Bộ Tư lệnh quân khu, Liên trung đoàn 301-310 và Tỉnh đội bộ dân quân hai tỉnh Biên Hòa, Thủ Dầu Một tiếp tục rút kinh nghiệm để hoàn thiện cách đánh mới. Sau thắng lợi này, Khu 7 phát động chiến dịch Mùa xuân, thực hiện tiến công sâu vào vùng địch, buộc chúng phải rút lực lượng về đối phó. Thực hiện chỉ đạo của quân khu, ngay trong tháng 3 năm 1950, du kích Đồng Xoài kết hợp với đại đội 10 đánh đồn Tà Bế gần Đồng Xoài. Sau đó, phối hợp với lực lượng vũ trang tuyên truyền huyện Sông bé diệt đoàn xe vận tải 3 chiếc tại cống Bố Mua - Bàu Ké thu được 2 xe tải và toàn bộ chiến lợi phẩm.

Trước yêu cầu mới của cuộc kháng chiến, Tỉnh ủy Thủ Dầu Một ra sức xây dựng lực lượng, nâng cao sức chiến đấu ba thứ quân, coi trọng công tác hậu cần, công tác huấn luyện chiến đấu. Nhiệm vụ của Quân Khu 7 và Liên trung đoàn 301-310 là phải phát triển rộng rãi hơn nữa chiến tranh du kích, nghiên cứu và đẩy mạnh cách đánh vận động chiến.

Tháng 7 năm 1950, phối hợp với chiến dịch biên giới, Bộ Tư lệnh Khu 7 mở chiến dịch Bến Cát, nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, cứt đứt đường giải phóng số 7 và đường liên tỉnh 14, mở rộng căn cứ địa, mở thông hành lang tiếp tế từ đồng bằng sông Cửu Long và Sài Gòn lên vùng căn cứ Miền Đông. Đây là chiến dịch quy mô lớn đầu tiên của bộ đội chủ lực ta trên chiến trường Miền Đông. Khắp mọi nơi, từ Lộc Ninh, Hớn Quản, Thuận Lợi đến Đồng Xoài, Phước Vĩnh đều tham gia chuẩn bị mọi mặt cho chiến dịch.

Mục tiêu của chiến dịch Bến Cát là hệ thống tháp canh, đồn bốt nằm sâu trong Phân chi khu Bến Súc và sẵn sàng đánh trả khi địch ứng cứu. Tham gia chiến dịch có tiểu đoàn 302, 303, Liên trung đoàn 301-310, bốn đại đội độc lập của Hớn Quản, Bến Cát, Châu Thành, Trảng Bàng, 3.000 dân quân hỏa tuyến của ba huyện thuộc tỉnh Thủ Dầu Một và hai huyện của tỉnh Gia Định, Tây Ninh. Ngoài ra, còn huy động các đại đội độc lập, dân quân du kích huyện, xã của 4 tỉnh: Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Gia Định, Tây Ninh phá hoại giao thông, chặn đánh địch không cho chúng ứng cứu chiến trường Bến Cát.

Đêm ngày 7 rạng 8 tháng 10 năm 1950 bắt đầu vang lên tiếng súng mở màn chiến dịch Bến Cát. Sau 38 ngày đêm chiến đấu, trong đó có 3 đợt tiến công, chiến dịch kết thúc thắng lợi vào ngày 15 tháng 11 năm 1950. Ta diệt được trên 500 tên địch, làm bị thương trên 100 tên khác, bắt 120 tên, phá sập hàng chục tháp canh, đồn bốt, phá hủy 12 cầu cống, 84 xe quân sự, 5 đầu máy xe lửa, đánh chìm 7 tàu chiến đấu, thu nhiều vũ khí, đạn và đồ dùng quân sự khác.

Ngay sau chiến dịch Bến Cát, đại đội 3 của tiểu đoàn 903 do đồng chí Tạ Minh Khâm chỉ huy tổ chức đánh vào Làng 9 - đồn điền Thuận Lợi, diệt hai trung đội bảo an, thu toàn bộ vũ khí của địch và đưa khoảng 350 công nhân Làng 9 về chiến khu Đ.

Thắng lợi của việc đẩy mạnh các hoạt động quân sự, đặc biệt là chiến dịch Bến Cát và trận đánh ở Làng 9 đã khép lại năm 1950 với nhiều biến cố có lợi cho quân và dân các huyện Hớn Quản, Bà Rá, Bù Đốp khi bước vào cuộc kháng chiến mới ngày càng gay go ác liệt.

So với thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến, từ năm 1947 đến năm 1950, là thời kỳ đầu mà quân và dân Miền Đông Nam Bộ nói chung cũng như quân và dân Hớn Quản, Bà Rá, Bù Đốp nói riêng có bước phát triển lớn về tổ chức, phạm vi hoạt động. Từ chống chính sách bình định của địch, phát triển phong trào du kích chiến tranh, xây dựng và chấn chỉnh lực lượng vũ trang ba cấp, đến việc chống địch càn quét, phục kích giao thông, tiến công đồn bốt, cứ điểm, tháp canh và tổ chức những chiến dịch lớn góp phần đắc lực cho phong trào kháng chiến của các tỉnh lỵ tạm bị chiếm khác.

Cách mạng từ thế “ngàn cân treo sợi tóc” chuyển sang một bước vững chắc hơn, đủ khả năng đối phó với âm mưu mở rộng chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Bảy, 2011, 04:37:46 PM
CHƯƠNG BA

KIÊN CƯỜNG, GIỮ VỮNG PHONG TRÀO KHÁNG CHIẾN,
VƯỢT LÊN PHỐI HỢP VỚI CHIẾN TRƯỜNG TOÀN MIỀN VÀ CẢ NƯỚC
GÓP PHẦN KẾT THÚC THẮNG LỢI
CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP
(1951-1954)

I. SẮP XẾP LẠI CHIẾN TRƯỜNG VÀ LỰC LƯỢNG,
GIỮ VỮNG PHONG TRÀO DU KÍCH CHIẾN TRANH

Sau thất bại ở chiến dịch biên giới năm 1950, quân Pháp càng lâm vào tình thế bế tắc. Nền kinh tế Pháp không đủ sức đảm đương toàn bộ chiến phí ở Việt Nam. Nhưng với dã tâm xâm lược, lại được đế quốc Pháp hà hơi tiếp sức, thực dân Pháp tiếp tục theo đuổi cuộc chiến tranh ở Đông Dương. Ngày 6 tháng 2 năm 1950, chính phủ Pháp cử Đờlát Đờ Tátxinhi (De Lattre de Tassigny) làm Cao ủy kiêm Tổng tư lệnh quân đội Pháp ở Đông Dương với nhiệm vụ bảo vệ đội quân viễn chinh và giữ vững địa bàn.

Để nhanh chóng giành lại quyền chủ động đã mất trên chiến trường, thực dân Pháp tập trung sức tiến hành “bình định gấp rút, phản công quyết liệt”. Và đẩy mạnh việc thực hiện âm mưu “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng Người Việt đánh người Việt”, xây dựng hệ thống phòng thủ kiên cố ở những nơi trọng yếu. Đối với Miền Đông Nam Bộ, trong những tháng cuối năm 1950, đầu năm 1951 thực dân Pháp chủ trương phối hợp tiến công ta bằng cả quân sự, chính trị, kinh tế nhằm đè bẹp lực lượng và phong trào chiến tranh du kích của ta, tăng cường bóc lột vơ vét sức người, sức của cung ứng cho chiến tranh, lấn chiếm các vùng căn cứ du kích, ngăn chặn việc liên lạc vận chuyển tiếp tế từ đồng bằng sông Cửu Long, từ Tây Nguyên sang Miền Đông Nam Bộ. Bên cạnh đó, thực dân Pháp tích cực hỗ trợ cho các công ty tư bản đồn điền phát triển việc khai thác kinh doanh cao su cho cúng ở Việt Nam. Và do vị trí đặc biệt của ngành sản xuất cao su, nhiều đồn điền được thực dân Pháp tăng cường lực lượng, thiết lập các điểm chốt quân sự bảo vệ. Các làng công nhân đều bị khoanh vùng để kiểm soát, ngăn không cho công nhân tiếp xúc với kháng chiến. Ban ngày bọn cai xu kết hợp với lính canh theo dõi công nhân đi cạo mủ, ban đêm tổ chức phục kích ruồng, bố hoặc mở những cuộc hành quân đột kích, khám xét bất ngờ vào các làng công nhân để khủng bố, đánh đập những công nhân mà chúng nghi ngờ có quan hệ với kháng chiến.

Tường Săngxông thay Đờ latua, ra sức hoàn tất kế hoạch củng cố hệ thống tháp canh trên toàn miền Đông, tiến hành gom dân vào các trại tập trung dọc lộ giao thông và cho đóng thêm một số đồn bốt mới ở Hớn Quản, Bù Đốp.

Tình hình chung trên chiến trường Thủ Dầu Một, Biên Hòa ngày càng có chiều hướng khó khăn hơn so với những năm 1948-1950.

Việc triển khai sắp xếp, tổ chức lại chiến trường, củng cố lực lượng vũ trang địa phương, vừa đánh địch chống bao vây, lấn chiếm trở thành nhiệm vụ cấp bách, trọng yếu của quân và dân Hớn Quản, Bù Đốp, Bà Rá, trong giai đoạn mới này.

Ngay từ đầu năm 1951, Bộ Tư lệnh Nam Bộ chỉ đạo: chủ động kiềm chế địch trên chiến trường Nam Bộ và nêu rõ nhiệm vụ của Khu 7 là: Giữ vững và nâng cao sức chiến đấu của nhân dân và quân đội, phát triển mạnh mẽ và sâu rộng chiến tranh du kích toàn khu, đặc biệt xung quanh Sài Gòn và dọc đường giao thông, xây dựng hệ thống căn cứ cho cả Nam Bộ đến các vùng, các địa phương, bảo đảm và phát triển lực lượng chủ lực, tiến hành công tác Cao đài vận, thiểu số vận, địch ngụy vận(1).

Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng (tháng 2 năm 1951) tại chiến khu Việt Bắc, Trung ương Cục Miền Nam(2) chủ trương bố trí lại chiến trường Nam Bộ cho phù hợp với tình hình mới, không còn ba quân khu 7, 8 và 9. Toàn Nam Bộ được chia làm hai Phân liên khu: Phân liên khu Miền Đông và Phân liên khu miền Tây. Phân liên khu miền Đông gồm các tỉnh: Gia Định Ninh, Thủ Biên, Bà Chợ, Mỹ Tho và Long Châu Sa(3). Đối với các tỉnh Miền Đông chịu sự chỉ đạo thông qua cấp ủy Đảng, chính quyền và Bộ Tư lệnh phân liên khu.

Tháng 5 năm 1951, Tỉnh Thủ Dầu Một và tỉnh Biên Hòa sáp nhập lại thành tỉnh Thủ Biên được thành lập (Địa bàn Hớn Quản, Bà Rá, Bù Đốp nằm trong địa phận tỉnh Thủ Biên). Thủ Biên có diện tích rất rộng lớn (gần 1/4 diện tích Nam Bộ và một vùng cao su rộng lớn, chiếm đến 2/3 diện tích các đồn điền cao su Miền Đông. Nơi mà chủ yếu là rừng núi địch khó bình định, kiểm soát, lại là nơi tập trung nhiều cơ sở kinh tế, căn cứ quân sự của địch, và cũng là nơi có nhiều tuyến đường giao thông quan trọng (đường 13, đường 14), có số đồng bào dân tộc tập trung đông nhất. Ủy ban kháng chiến tỉnh quyết định giao hai xã Minh Thạnh và Tân Thành không nằm trên tục lộ 13 cho huyện Bến Cát, đồng thời cắt hai xã An Long và Lại Uyên của Bến Cát cho huyện Hớn Quản để tiện việc quản lý hoạt động chung của địa bàn, tạo điều kiện cho việc đi lại của nhân dân và cán bộ được thuận lợi.


(1) Nghị quyết quân sự Bộ Tư lệnh Nam Bộ (T.G).
(2) Xứ ủy Nam Bộ đổi thành Trung ương Cục (T.G).
(3) Gia Định Ninh gồm các tỉnh: Gia Định, Tây Ninh và huyện Đức Hòa, Trung Huyện khu Đông Thành (thuộc Chợ Lớn cũ); Thủ Biên gồm Thủ Dầu Một, Biên Hòa và huyện Thủ Đức (thuộc Gia Định cũ); Bà Chợ gồm Bà Rịa, Chợ Lớn và huyện Long Thành (thuộc Biên Hòa), huyện Nhà Bè (thuộc Gia Định); Long Châu Sa gồm: Long Xuyên, Châu Đốc, Sa Đéc (T.G).


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Bảy, 2011, 04:39:22 PM
Ban Chấp hành tỉnh ủy Thủ Biên gồm có 21 đồng chí. Ban Thường vụ có 5 đồng chí; Nguyễn Quang Việt, Bí thư kiêm Chính trị viên Tỉnh đội, Phạm Thuận, Phó Bí thư phụ trách dân vận; Võ Duy Hạnh, Phó Bí thư phụ trách Tuyên huấn; Huỳnh Văn Nghệ, Ủy viên thường vụ, Ủy viên Ủy ban kháng chiến hành chính.

Lúc này Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Thủ Biên do đồng chí Nguyễn Minh Chương làm Chủ tịch; Lê Minh Thành, Phó chủ tịch.

Ủy ban Mặt trận Liên Việt (thống nhất từ Mặt trận Việt Minh với Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam) gồm đồng chí Võ Văn Đợi (Chủ tịch); Phạm Thuận (Phó chủ tịch).

Về các đoàn thể: đồng chí Lê Văn Nhiễu làm Thư ký Liên hiệp công đoàn; đồng chí Nguyễn Văn Khoai làm Thư ký Hội nông dân cứu quốc, đồng chí Nguyễn Việt Trai làm tỉnh đoàn trưởng Đoàn thanh niên cứu quốc, đồng chí Lưu Hồng Thoại làm hội trưởng Hội Liên hiệp phụ nữ.

Tỉnh đội Thủ Biên gồm Huỳnh Văn Nghệ (Tỉnh đội trưởng); Nguyễn Quang Việt (Chính trị viên); Nguyễn Văn Tự, Đinh Quang Ân, Tùng Lâm (Tỉnh đội phó); Lê Hồng Lĩnh (Phó chính trị viên).

Thực hiện chủ trương củng cố căn cứ của Trung ương Cục Miền Nam, huyện Tân Uyên sáp nhập với huyện Hớn Quản - trừ các vùng đồng bào dân tộc thiểu số (thành lập huyện căn cứ Đồng Nai và điều đồng chí Lê Thái, Ủy viên thường vụ Tỉnh ủy về làm Bí thư Huyện ủy, đồng chí Nguyễn Văn Tư Huyện đội trưởng kiêm Trưởng ban căn cứ địa. Việc thành lập huyện căn cứ Đồng Nai là một chủ trương sáng tạo của Ban lãnh đạo tỉnh Thủ Biên, góp phần hoạch địch căn cứ về mặt tổ chức hành chính. Cùng với việc mở rộng và nâng cấp chiến khu Đ thành căn cứ kháng chiến của toàn Nam Bộ không những đã tạo nên một hệ thống phòng thủ liên hoàn và hành lang nối với các vùng, xây dựng địa bàn đứng chân cho cấp trên, mà còn có ý nghĩa quan trọng về mặt chính trị, kinh tế, văn hóa cho lâu dài về sau. Đến năm 1951, huyện Tân Uyên và Hớn Quản được tách thành hai huyện như cũ, huyện Tân Uyên lấy tên là huyện Đồng Nai.

Về tổ chức lực lượng vũ trang, hai Tỉnh đội bộ dân quân Thủ Dầu Một và Biên Hòa sáp nhập thành Tỉnh đội Thủ Biên do đồng chí Huỳnh Văn Nghệ làm Tỉnh đội trưởng. Bộ Tư lệnh Nam Bộ giải thể Liên trung đoàn 301-310, thành lập tiểu đoàn 303 là tiểu đoàn tập trung cơ động đầu tiên của tỉnh Thủ Biên. Đây là một tiểu đoàn chính quy với 764 cán bộ - chiến sĩ được trang bị vũ khí tương đối đầy đủ và có nhiều kinh nghiệm đánh vận động do đồng chí Lê Văn Ngọc, sau đó là Thanh Tám làm tiểu đoàn trưởng. Tiểu đoàn 303 có ba đại đội bộ binh 55, 60, 65, đại đội 70 trợ chiến và đại đội trinh sát - đặc công. Ngoài tiểu đoàn tập trung Tỉnh đội còn có một đội biệt động làm nhiệm vụ bảo vệ các cơ quan của tỉnh và một đội trinh sát nắm tình hình địch, một đại đội pháo binh và bốn đại đội bảo vệ giao thông.

Trong khoảng thời gian đầu năm 1951, Khoa quốc dân thiểu số tăng cường cán bộ và lực lượng vũ trang, cùng với hai đội vũ trang tuyên truyền cũ hình thành 4 đội vũ trang hoạt động trên địa bàn bắc Thủ Dầu Một, Biên Hòa; đội do đồng chí Kính chỉ huy hoạt động ở phía bắc Hớn Quản, Lộc Ninh; đội do đồng chí Cường chỉ huy hoạt động ở nam Hớn Quản, Lộc Ninh; đội do đồng chí Thân chỉ huy hoạt động ở tây đường 13, đông sông Sài Gòn; đội do đồng chí Hòa chỉ huy đứng chân ở Sóc Con Trăng tây sông Sài Gòn hoạt động lên sát biên giới Campuchia. Bốn đơn vị vũ trang làm nhiệm vụ khác nhau: hai đội vũ trang tuyên truyền hoạt động trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số; hai tiểu đoàn du kích tập trung hoạt động trong các làng, sở cao su; một đội binh chủng chuyên môn chiến đấu trên các đường giao thông của địch.

Vùng Bà Rá và các nơi khác đều có đội vũ trang tuyên truyền, nhiệm vụ chủ yếu là làm công tác dân vận. Hoạt động vũ trang nhằm củng cố các tổ chức ở cơ sở và phong trào chính trị ở địa phương, tác chiến nhỏ lẻ diệt tề, trừ gián điệp và đánh tiêu hao địch. Song song với việc củng cố các đại đội địa phương huyện, lực lượng dân quân du kích, các đại đội du kích mật cũng được hình thành trong vùng địch tạm chiếm và địch mới lấn chiếm.

Hầu hết các đồn điền cao su đều nằm trong vùng địch kiểm soát. Các làng công nhân trở thành những khu tập trung. Hoạt động của các công nhân cao su bên trong và bên ngoài đồn điền gặp khó khăn. Hầu hết các chi bộ Đảng ở đồn điền cao su đều bị xáo trộn. Vì vậy, việc xây dựng lại cơ sở công đoàn bên trong là một nhiệm vụ hết sức quan trọng.

Song song với việc củng cố các đại đội địa phương huyện, ở những vùng địch tạm chiếm và địch mới lấn chiếm trên địa bàn, ta ra sức tập trung xây dựng cơ sở chính trị, lực lượng dân quân du kích, các đội du kích mật, đẩy mạnh đấu tranh chính trị, rút những đội viên du kích bị lộ đưa về trên; ở vùng du kích thì tổ chức đấu tranh chính trị kết hợp với hoạt động vũ trang nhằm tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch; ở vùng căn cứ du kích thì tăng gia sản xuất bảo đảm tự túc về lương thực, chống địch càn quét.

Trung tuần tháng 9 năm 1951, Hội nghị cán bộ lần thứ nhất tỉnh Thủ Biên họp tại Suối Sâu. Đồng chí Lê Duẩn, Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Trung ương Cục Miền Nam trực tiếp chỉ đạo. Tham dự hội nghị có cán bộ Đảng từ tỉnh đến các huyện, cán bộ cốt cán các ban ngành, đoàn thể. Hội nghị đã góp phần nâng cao một bước nhận thức về công tác chính quyền, đoan thể, đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện và trường kỳ. Về phương châm hoạt động quân sự ở các vùng và đấu tranh kinh tế của ta đẩy lùi những trận càn của địch trước mắt cũng như lâu dài. Về đấu tranh kinh tế với địch, đẩy mạnh sản xuất tự túc ở vùng căn cứ du kích. Về công tác phòng gian bảo mật, chống chiến tranh gián điệp, chiêu hàng của địch.

Sắp xếp lại chiến trường, kiện toàn các cấp lãnh đạo, chỉ huy và tổ chức lực lượng đã góp phần khắc phục một phân tình trạng bị động do địch phong tỏa chia cắt địa bàn, bảo đảm việc hậu cần, trang bị kỹ thuật và liên lạc giữa các vùng trong tỉnh và huyện. Lực lượng vũ trang tổ chức thành tiểu đoàn, đại đội phù hợp với việc bám địa bàn, địa phương, chủ động linh hoạt trong nắm địch, tiêu hao tiêu diệt địch, hỗ trợ cho phong trào chiến tranh du kích ở địa phương tồn tại và hoạt động.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Bảy, 2011, 04:41:31 PM
*
*   *

Từ giữa năm 1951, tình hình ở địa bàn Hớn Quản, Bà Rá, Bù Đốp gặp nhiều khó khăn do trên các tuyến đường dọc Nam Bắc đường 13, các tuyến đường Minh Thạnh - Xa Cát, Chơn Thành - Nha Bích, Hớn Quản - Bù Đốp…, địch phát triển hệ thống ngăn chặn bằng một loạt đồn bốt lớn nhỏ. Ở các trung tâm đồn điền Xa Cát, Xa Trạch, Minh Thạnh, Xa Cam, Quản Lợi, Bù Đốp. các chi khu Chơn Thành, Hớn Quản, Lộc Ninh địch củng cố thế chốt cụm để bung ra đánh phá, càn quét, gom dân cao su, nhiều làng sở thành khu tập trung lớn để dễ bề kiểm soát và ngăn chặn lực lượng ta xâm nhập, đàn áp những người mà chúng tình nghi có tham gia cách mạng, có hành vi nuôi giấu cán bộ cách mạng. Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, chúng cũng gom lại thành từng khu lớn và thường xuyên lùng sục các vùng rẫy sản xuất của đồng bào và thường xuyên lùng sục các vùng rẫy sản xuất của đồng bào. Chúng còn phục kích các đường đi lối lại và nơi bám trụ của các đội công tác cơ sở hoặc đánh vào những địa bàn đứng chân của cơ quan và lực lượng vũ trang ta. Một khó khăn nữa không kém phần quan trọng với địa bàn Hớn Quản, Bà Rá, Bù Đốp là vấn đề lương thực. Việc đi lại, vận chuyển lương thực, thực phẩm gặp trở ngại, có lúc gần như bế tắc vì phải vận chuyển từ xa.

Song tất cả những hành động của chúng càng làm cho nhân dân tham gia kháng chiến ngày một đông hơn. Từ giữa năm 1951, bọn Tổng lý người dân tộc hoang mang, một số người giác ngộ cách mạng, ủng hộ kháng chiến. Sau này, chính họ là những người vận động nhiều binh sĩ ngụy trở về với cách mạng. Một số binh lính người dân tộc theo Pháp không tha thiết với nhiệm vụ của mình. Điều này buộc Pháp phải điều các đội biệt kích, lính lê dương đến đóng đồn ở những khu vực trọng yếu và phòng thủ nghiêm ngặt đường 14.

Ở Lộc Ninh, bọn chủ đồn điền cao su ngày càng bóc lột thậm tệ làm cho đời sống công nhân ngày càng bần cùng, tháng 2 năm 1952, bùng nổ cuộc đấu tranh quy mô lớn của 50.000 công nhân cao su trên các đồn điền Lộc Ninh, Xa Cam, Xa Cát, Mi Mốt, Quản Lợi, Xa Trạch, Tà Pao, Mai Long, Chúp, Ngọc Bích… Công nhân đề ra nhiều yêu sách đòi bọn chủ phải thực hiện như:

- Làm việc mỗi ngày 8 giờ theo luật.

- Tăng lương công nhân để bù đắp cho sinh hoạt đắt đỏ.

- Gạo ăn phải trắng, không trấu, không mục.

- Những người bị tai nạn lao động phải được sở nuôi dưỡng.

- Những người đã làm từ 20 đến 30 năm phải được về Bắc vì đã quá hạn giao kèo.

Bọn chủ chẳng những không chịu giải quyết mà còn thẳng tay đàn áp. Một đại đội lính được trang bị đầy đủ vũ khí đã bắn xối xả vào đoàn biểu tình làm chết 8 người và bị thương nhiều người khác. Căm thù cao độ, công nhân tiếp tục đòi bọn chủ thực dân các điều khoản đã cam kết trước đây. Hàng ngàn công nhân ở các đồn điền cao su Lộc Ninh biểu tình kéo đến văn phòng chủ sở. Tên Đờ Lalăng cấp tốc điều quân đến giải tán cuộc biểu tình, 13 người khác bị thương, bắt đi hai đại diện công nhân. Tuy cuộc đấu tranh bị thất bại nhưng công nhân cao su đã tỏ rõ chí khí và tạo nên lực lượng hùng hậu làm tiền đề cho cuộc đấu tranh sau này.

Song song với các cuộc đấu tranh của công nhân, các lực lượng vũ trang đã tập kích đánh các đoàn công voa trên quốc lộ 13, thu nhiều súng, hàng hóa, tiền mặt.

Tại các đồn điền cao su, ta thực hiện 5 vụ phá hoại lớn, đốt cháy 1 kho xăng dầu tên nửa triệu lít, phá 1 máy phát điện, 4 máy chế biến mủ, 1 lò chén hứng mủ và nhiều tài sản khác của chủ sở.

Bên cạnh đó, từ giữa năm 1951, Bộ Tư lệnh Phân liên khu Miền Đông chỉ thị mỗi tỉnh phải xây dựng một đội vũ trang tuyên truyền hoạt động ở vùng đồn điền cao su và vùng đồng bào dân tộc thiểu số thành phần gồm bộ đội, công an, chính quyền địa phương, công nhân, mặt trận; và phát triển làng xã chiến đấu. Theo đó, tỉnh Thủ Biên có 458 du kích xã, 942 du kích tham gia lại, 832 du kích mật(1). Huyện Hớn Quản chia làm hai khu:

- Khu Miền Nam: có hai xã An Long, Lại Uyên. Du kích Miền Nam (vùng độc lập) có điều kiện hoạt động để phát triển. Ngoài việc canh gác bảo vệ địa phương, hai đội du kích An Long và Lại Uyên thường hoạt động trên các đường giao thông gây nhiều thiệt hại cho địch.

- Khu miền Bắc gồm: Tân Khai, Tân Thành, Tân Minh, Tân Lập Phú, An Linh và xã Bông Lau (thuộc huyện Bình Long ngày nay). Ở khu này đất này đất rộng, nhiều rừng, dân cư ít nên phong trào du kích yếu lại bị địch uy hiếp nặng, gây khó khăn cho ta. Vì vậy, du kích ở đây chỉ canh gác chiến khu, sản xuất nhiều hơn là chiến đấu với địch.

Mỗi xã đều có một tiểu đội du kích được trang bị từ 2 đến 7 khẩu súng các loại. Các đội du kích đều hoạt động tại địa phương. Còn đại đội địa phương chủ yếu phục kích đánh địch trên đường 13, đường 14.


(1) Yves Gras: Lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương, Nxb Plon, Paris, 1979, bản dịch của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, 1982, tr. 85.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Bảy, 2011, 08:44:39 AM
Đến cuối năm 1951, các đội vũ trang tuyên truyền cao su đã thâm nhập và tổ chức được bàn đạp để đánh vào các đồn điền, khôi phục củng cố tổ chức công đoàn cơ sở, tạo điều kiện phát triển phong trào kháng chiến của công nhân cao su.

Mặc dù từ đầu năm đến cuối tháng 10 năm 1951, các đơn vị có thay đổi về số lượng, nhưng nhân lực phục vụ cho công tác chiến đấu còn ít, vật lực còn nghèo nàn, làm cho việc bổ sung và xây dựng lực lượng gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, về trang bị cấp dưỡng cũng gặp không ít khó khăn, mỗi tháng một người chỉ được 15 lít gạo và phụ vào là khoai mì, phải dựa vào tự túc sản xuất. Việc huấn luyện cho các đơn vị vũ trang chiến đấu còn yếu, các hoạt động ít phối hợp với du kích, nặng đánh tháp canh, hoạt động chủ yếu nặng về phòng ngự. Đánh tất cả 25 trận: 8 trận đánh tháp canh, 10 trận giao thông dọc theo quốc lộ 13 và 14, 4 chống bố, 2 quấy rối.

Tháng 10 năm 1951, lực lượng vũ trang huyện Hớn Quản tổ chức lại thành một đại đội địa phương huyện, lúc đầu có 2 trung đội và 1 tiểu đội binh chủng chuyên môn. Ngoài đại đội của huyện, du kích địa phương cũng được tăng cường số lượng gồm 3 tiểu đội và bố trí hoạt động ở các đồn điền. Sau các đại đội độc lập sáp nhập với đội du kích tập trung thành bộ đội địa phương huyện với tổng số 148 người có 62 chiến sĩ nòng cốt, còn lại là du kích và cơ quan. Thành tích nổi bật nhất của bộ đội địa phương Hớn Quản là đánh giao thông gây ra cho địch nhiều thiệt hại trên đường 13, 14 và đường sắt Sài Gòn - Lộc Ninh. Đội vũ trang tuyên truyền do đồng chí Nguyễn Đình Kính phụ trách hoạt động phía đông lộ 13 và đông tây huyện Sông Bé đã hoạt động lên tận phía bắc Bù Đốp giáp tới biên giới đông tỉnh Kratié. Hai đại đội vũ trang tuyên truyền phụ trách khu vực Đông và Tây sông Sài Gòn. Tây lộ 13 đã hoạt động lên giáp với ranh giới Campuchia. Đội vũ trang tuyên truyền do đồng chí Nguyễn Văn Cường chỉ huy cùng với cán bộ Phòng dân tộc thiểu số đã hình thành những nhóm nhỏ từ 3 đến 5 người xây dựng và củng cố cơ sở lên đến đồn điền Lộc Ninh.

Ngay sau khi tổ chức lại chủ trương, các lực lượng vũ trang cách mạng, với sự hỗ trợ và phối hợp của công nhân cao su đã triển khai một số trận đánh lớn ở xung quanh vùng đồn điền cao su. Tiêu biểu như Đội vũ trang của tỉnh Thủ Biên hoạt động trên địa bàn Lộc Ninh đã kết hợp với tiểu đoàn 303 đánh một trận mở màn tại Làng 9, đồn điền Thuận Lợi diệt một số tên lính, thu nhiều chiến lợi phẩm. Sau trận đánh này, có hàng trăm thanh niên là công nhân hăng hái xin tham gia bộ đội, góp phần làm cho lực lượng ta mạnh lên.

Trên địa bàn Thuận Lợi thường xuyên có các đội vũ trang tuyên truyền Lộc Ninh (do đồng chí Nguyễn Đình Kính phụ trách) và đội vũ trang tuyên truyền Sông Bé (do đồng chí Trần Liên Xô và Hoành Minh Chánh phụ trách) hoạt động. Các đơn vị vũ trang tuyên truyền này kết hợp chặt chẽ với công nhân để nắm tình hình hoạt động của địch, xây dựng cơ sở cách mạng và hoạt động vũ trang. Tại Làng 2, đội vũ trang tuyên truyền do đồng chí Nguyễn Đình Kính phụ trách đã xây dựng được nhiều cơ sở cách mạng trong công nhân như anh Mùi, anh Thôn, chị Đề, bà Cốc,… Từ cơ sở này, đội vũ trang tuyên truyền tiếp tục mở rộng mạng lưới cơ sở cách mạng trên khắp đồn điền cao su Thuận Lợi.

Ở Đồng Phú, đội vũ trang tuyên truyền đánh phục kích trên đường giao thông từ Bố Mua đến An Bình bắt một tên quan hai Pháp. Bị thua đau sau những đòn tấn công quân sự của bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương, thực dân Pháp tăng cường các biện pháp bảo vệ những vùng quan trọng, đàn áp những người mà chúng tình nghi có tham gia cách mạng hoặc có hành vi nuôi chứa cán bộ. Song những hành động đó của thực dân Pháp không làm cho nhân dân nao núng, ngược lại họ tham gia kháng chiến ngày một đông. Từ đó, bọn tổng lý người dân tộc bắt đầu run sợ và có một số người giác ngộ cách mạng, ủng hộ kháng chiến. Sau này, chính họ là người vận động nhiều binh sĩ ngụy trở về với cách mạng, với nhân dân. Một số binh lính người dân tộc theo Pháp ngày càng thờ ơ với nhiệm vụ. Để giải quyết vấn đề này, bọn Pháp buộc phải điều các đội biệt kích, lính lê dương đến đóng đồn ở những khu vực trọng yếu và phòng thủ nghiêm ngặt đường 14.

Từ đầu năm 1953, thực hiện phương châm chiến lược 3 vùng (căn cứ, du kích, tạm chiếm), các nơi tập trung xây dựng củng cố cơ sở trong các đồn điền cao su. Các đội vũ trang tuyên truyền cao su mở hàng loạt cuộc tuyên truyền trong các đồn điền. Công nhân trong các đồn điền được bố trí bảo vệ an toàn cho những cán bộ về tiếp tục hoạt động. Du kích cao su liên tục về các làng, phum sóc đồng bào dân tộc diệt bọn cai, xu ác ôn có nợ máu, nhiều lần phối hợp cùng bộ đội tiến công vào các đốt gác ở các sở nhà máy chế biến…

Những thắng lợi bước đầu đã có tác động rất to lớn, tạo điều kiện cho các đội vũ trang tuyên truyền ở các huyện Hớn Quản, Lộc Ninh, các cán bộ công nhân địa phương tiếp cận sâu vào các đồn điền khôi phục và phát triển cơ sở trong công nhân.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Bảy, 2011, 08:45:27 AM
Năm 1951, tuy tình hình kháng chiến còn nhiều khó khăn, nhưng quân và dân Hớn Quản, Bù Đốp vẫn chủ động đấu tranh với mọi âm mưu, thủ đoạn của địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại đáng kể, góp phần làm cho tình hình chung ở chiến trường Miền Đông cũng như cả nước có những chuyển biến thuận lợi cho cách mạng.

Lúc này, trên địa bàn bắc Thủ Dầu Một lực lượng vũ trang ba cấp được kiện toàn tạo nên một thế trận mới của chiến tranh toàn dân, toàn diện, từng bước đập tan các âm mưu của địch. Cùng với việc phát triển rộng khắp lực lượng dân quân du kích và bộ đội địa phương, việc xây dựng và phát triển nhanh bộ đội chủ lực đã đáp ứng yêu cầu đánh lớn, đánh tập trung của cuộc kháng chiến.

Tình thế cách mạng đang có nhiều chuyển biến có lợi cho ta, thì tháng 9 và 10 năm 1952 (Nhâm Thìn), một trận lũ lụt lớn ập đến các tỉnh Miền Đông Nam Bộ gây nên nạn lụt kéo dài làm cho tình hình nhiều nơi gặp khó khăn, tổn thất. Một vùng dân cư rộng lớn dọc theo các con sông Đồng Nai, Sông Bé, Sài Gòn… nước dâng lên như biển mênh mông, nhà cửa bị trôi dạt, gia súc, gia cầm chết sạch, rẫy lúa, rẫy mì của đồng bào và nhiều cơ quan bị nhấn chìm trong biển nước, kho tàng dự trữ bị tàn phá hư hại. Nạn đói đe dọa nghiêm trọng tính mạng cán bộ, chiến sĩ, nhân dân ở vùng căn cứ và du kích, buộc một số sân phải ra sống ở vùng địch tạm chiếm.

Quân địch cũng bị thiệt hại nhiều do lũ lụt gây ra. Một số đồn bốt bị nước ngập và hư hại. Tuy vậy, chúng vẫn thừa lúc ta đang gặp nhiều khó khăn nghiêm trọng do thiên tai gây ra, tiến hành hàng loạt cuộc hành quân càn quét, bao vây kinh tế, ngăn chặn các ngả đường vận chuyển, liên lạc, nhất là vận chuyển lương thực, lôi kéo dân bỏ các vùng tự do về vùng tạm bị chiếm. Ở các cơ sở cao su trọng yếu và dọc đường giao thông, đồn bốt mọc lên như nấm. Bộ máy tề ngụy được tăng cường, hoạt động tuyên truyền mị dân; địch không ngừng vây ráp, lùng sục, phục kích, bắt bớ thân nhân, gia đình có con em đi kháng chiến; đồng thời liên tục ném bom, bắn phá vùng căn cứ.

Trước tình hình đó, nhiệm vụ cấp bách của kháng chiến là vừa phải khắc phục hậu quả bão lụt, giải quyết nạn đói; vừa chiến đấu bảo vệ vùng căn cứ, vùng tự do, bảo vệ người và tài sản. Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Thủ Biên đã kêu gọi nhân dân vùng tạm chiếm bí mật chuyển gạo, muối, thuốc chữa bệnh cho vùng căn cứ. Hội Phụ nữ, Hội mẹ chiến sĩ các huyện đứng ra vận động gói bánh, xay lúa, chuyển vũ khí cho du kích, bộ đội. Đồng thời phát động nhân dân, chiến sĩ ở vùng căn cứ tăng gia sản xuất các loại cây lương thực và hoa màu ngắn ngày để cứu đói, thực hành tiết kiệm với khẩu hiệu “Cứu đói cũng là kháng chiến”. Trong những ngày gian khổ này, đồng bào dân tộc thiểu số cũng đã đóng góp sức người sức của ủng hộ cách mạng. Đặc biệt, Đảng ủy cao su Miền Đông đã phát động công nhân cao su ở các đồn điền Phú Riềng, Lộc Ninh, Hớn Quản góp gạo cứu tế cho nhân dân ở các vùng chiến khu bằng cách khai tăng số công nhân ra lô hàng ngày để lấy gạo gửi ra vùng căn cứ. Không có gì quý hơn những chén cơm, hạt muối từ những làng cao su đã vượt qua hàng rào, súng, lưỡi lê và mạng lưới rình rập của kẻ thù để đến tay người chiến sĩ. Việc làm của anh chị em công nhân các đồn điền các đồn điền cao su đã góp phần tăng cường khối liên minh công nông. Nhờ đó mà nhân dân càng thêm tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng. Tinh thần đùm bọc của đồng bào, công nhân Kinh - Thượng đã góp phần đưa phong trào cách mạng ở Hớn Quản, Bù Đốp qua những ngày gian khổ nhất. Đồng bào ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, miền Trung Nam Bộ cũng tích cực quyên góp, vận chuyển lương thực cứu trợ đồng bào và chiến sĩ ở vùng bị thiên tai.

Cùng với việc đẩy mạnh sản xuất, vận động nhân dân cùng các lực lượng du kích bám đất bám làng, ra sức khắc phục hậu quả bão lụt, tiếp tục xây dựng căn cứ kháng chiến, xây dựng lực lượng vũ trang, các đơn vị vũ trang tích cực hoạt động chống càn, bảo vệ sản xuất, tiến công tiêu hao lực lượng địch nhằm giành lại thế chủ động trên chiến trường. Đầu năm 1953, ở hầu khắp các huyện đều củng cố lại vũ trang tuyên truyền, tỏa đi hoạt động ở các vùng du kích và vùng tạm chiếm, diệt ác ôn, trừ gian, xây dựng lại cơ sở. Đến giữa năm 1953, vùng căn cứ giữa các huyện Bến Cát, Hớn Quản, Tân Uyên được hình thành và tạo tuyến liên hoàn vững chắc. Dựa vào hệ thống căn cứ vừa xây dựng và củng cố lại, các lực lượng vũ trang đã bung ra diệt địch trên các hướng khá thuận lợi.

Trong những tháng cuối năm 1952 đầu năm 1953, mặc dù vẫn trong tình trạng khó khăn, thiếu gạo, thiếu thuốc, bộ đội và du kích vẫn hăng hái chủ động tìm đánh địch. Tiểu đoàn 303 tiến công lên vùng Lộc Ninh diệt bốt Thuận Lợi và bốt Bù Na, thu hàng chục xe lương thực, thực phẩm kịp thời cứu đói. Và kết hợp xây dựng cơ sở trong công nhân cao su và đồng bào dân tộc thiểu số.

Đến giữa năm 1953, ta được mùa lớn, cây lương thực, cây hoa màu phát triển khá tốt, nạn đói về cơ bản được đẩy lùi. Việc vận chuyển lương thực từ đồng bằng sông Cửu Long, Liên khu 5 về chiến khu Đ đã cung ứng một phần lớn nhu cầu về hậu cần cho kháng chiến. Đời sống của cán bộ, bộ đội và nhân dân trong vùng căn cứ và vùng tự do được ổn định. Vượt qua những ngày khó khăn, cuộc kháng chiến lại được khởi sắc.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Bảy, 2011, 08:47:02 AM
II. PHÁT TRIỂN CUỘC KHÁNG CHIẾN MỘT CÁCH TOÀN DIỆN,
PHỐI HỢP CÓ HIỆU QUẢ VỚI CHIẾN TRƯỜNG CẢ NƯỚC

Nếu năm 1951 là năm bố trí, sắp xếp, chấn chỉnh lại chiến trường và lực lượng thì năm 1952 và nửa đầu năm 1953 là giai đoạn đấu tranh giằng co quyết liệt với địch, với thiên tai, giành và giữ dân, bảo vệ căn cứ, địa bàn, đánh bại một bước âm mưu “bình định gấp rút và phản công quyết liệt” của địch.

Bước sang năm 1952, tướng Bôngđi (Bondis) thay Săngxông (Chanson) làm Tư lệnh quân Pháp ở Nam Bộ. Thực hiện kế hoạch “bình định gấp rút, phản công quyết liệt” địch tập trung bao vây lấn sâu vào các khu căn cứ, chiếm đóng các vùng du kích, các đường giao thông vận tải, đồng thời tích cực tấn công càn quét để phòng thủ các cơ sở kinh tế, quân sự, chính trị quan trọng và các đường giao thông chiến lược của chúng.

Với âm mưu chia cắt chiến trường của tỉnh Thủ Biên thành từng mảnh, địch tăng cường bọn lính lê dương ở các đồn Bà Rá, Bù Đăng, Đồng Xoài…, đóng thêm bốt, tua ở dọc các đường giao thông trọng điểm nhằm ngăn chặn cán bộ ta đi công tác từ căn cứ đến các địa phương. Cũng từ đầu năm 1952, địch tổ chức nhiều cuộc càn quét vào các căn cứ du kích. Tính đến tháng 6 năm 1952, trên chiến trường bắc Thủ Dầu Một, địch tổ chức trên 40 trận, với lực lượng từ 1 đại đội đến 2 tiểu đoàn, trong đó đánh vào Hớn Quản 4 lần; chúng còn ra sức sửa chữa củng cố các đường giao thông quan trọng như đường 13, đường 14; mở thêm đường nối liền sở cao su Minh Thạnh, Chơn Thành, Lộc Ninh…, để bảo vệ cao su đồng thời để bao vây ta. Cùng với càn quét lớn, chúng thường xuyên tổ chức các đội commăngđô đánh phá căn cứ ta rồi rút nhanh, chúng chà đi xát lại các khu rừng vùng căn cứ để tìm diệt cán bộ cách mạng.

Ngoài biện pháp dùng áp lực quân sự, địch phát triển chiến tranh gián điệp và chiến tranh tâm lý nhằm đánh phá cơ sở kinh tế, chính trị, quân sự của ta, gây chia rẽ nội bộ, hòng làm tê liệt các cơ quan kháng chiến và lực lượng vũ trang.

Quán triệt phương châm “du kích chiến là chính, học tập đánh vận động trong điều kiện thuận lợi”, nghị quyết quân sự của Tỉnh đề ra 13 nhiệm vụ cụ thể nhằm chống địch chiếm đóng sâu, đánh phá vùng giải phóng và căn cứ địa, giữ vững và giành giật sức người, sức của với địch, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, phát triển lực lượng ta.

Trước tình hình kháng chiến ngày càng trở nên gay go, quyết liệt, lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên chủ trương tổ chức lực lượng vũ trang gọn, nhẹ, một số cán bộ chiến sĩ được bổ sung tăng cường cho các huyện. Về phương thức hoạt động, chia các xã thành hai loại: xã tạm chiếm và xã du kích để có phương châm hoạt động thích hợp.

- Xã tạm chiếm nhiệm vụ hàng đầu là xây dựng cơ sở chính trị, hướng dẫn cho cơ sở biết cách lãnh đạo quần chúng đấu tranh cho quyền lợi thiết thực, chống địch bóc lột, đàn áp các gia đình có người tham gia cách mạng, cán bộ hoạt động theo phương thức hợp pháp hoặc nửa hợp pháp. Lực lượng du kích mật làm nhiệm vụ nắm tình hình, hoạt động của địch, phục vụ cho yêu cầu của cấp trên, những du kích bị lộ được điều về trên cho các lực lượng vũ trang.

- Xã du kích thì tích cực tổ chức quần chúng đấu tranh hợp pháp, chống địch càn quét, bắt bớ tra tấn người vô cớ; về mặt vũ trang thì tổ chức một, hai tổ du kích bám địa phương chiến đấu tiêu hao từng bộ phận của địch, đẩy mạnh phong trào diệt ác trừ gian.

Trong tình thế hết sức khó khăn của ta, việc đơn giản hóa các tổ chức theo phương châm “tiinh binh, tinh cán” là sát với tình hình lúc bấy giờ. Ngoài ra, Bộ chỉ huy Phân liên khu chỉ đạo các lực lượng vũ trang đẩy mạnh các hoạt động tác chiến tiêu hao sinh lực địch, phá thế bao vây, lấy vũ khí địch trang bị cho lực lượng của ta. Huyện Hớn Quản có vị trí trấn giữ quốc lộ 13 và vùng cao su rộng lớn phía bắc tỉnh. Khắp các xã trong huyện từ An Long, Lại Uyên đến Tân Khai Tân Thành, Tân Minh, An Linh, Bông Lau… mỗi xã đều có từ một bán đội đến một tiểu đội du kích được trang bị từ 2 đến 6 khẩu súng các loại. Đại đội địa phương huyện có 2 trung đội bộ binh và 2 trung đội binh chủng. Các đơn vị phối hợp với du kích địa phương phục kích đánh địch trên đường 13, 14. Từ tháng 5 đến tháng 12 năm 1951, các lực lượng vũ trang đã tổ chức nhiều trận chống càn có hiệu quả như lực lượng vũ trang Hớn Quản đã đánh 25 trận, có 8 trận đánh tháp canh, 10 trận đánh giao thông, 4 trận chống càn… phá được tháp canh Xa Cát, Tham Rớt, diệt nhiều tên địch đi càn quét ở Bông Lau, Tân Minh(1).


(1) Báo cáo các trận đánh trong tháng 12 năm 1948, tài liệu Trung tâm lưu trữ Trung ương 3, Hồ sớ 317, tờ 75, tr. 4-5.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Bảy, 2011, 08:48:03 AM
Năm 1952, Phân liên khu Miền Đông sáp nhập Khoa Quốc dân thiểu số và các đội vũ trang tuyên truyền tổ chức thành từng đội công tác đi về các buôn sóc đồng bào dân tộc thiểu số làm nhiệm vụ tuyên truyền giáo dục, tập hợp đồng bào tham gia kháng chiến, bảo vệ buôn sóc, cán bộ, chống địch càn quét. Lúc đầu, việc tuyên truyền giác ngộ cách mạng còn gặp nhiều khó khăn do bất đồng ngôn ngữ và phong tục tập quán giữa người Kinh và người dân tộc. Đặc biệt, đồng bào dân tộc chưa tin cách mạng, vì sợ bọn Pháp và các tên tổng, xã. Trong thời gian cai trị, chúng tuyên truyền xuyên tác, nói xấu cách mạng nên khi ta mới đến với đồng bào thì họ bỏ trốn ra nương rẫy, chỉ để người già cả ở nhà tiếp cán bộ cách mạng. Nhưng với quyết tâm xây dựng cơ sở cách mạng trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, cán bộ cách mạng đề ra phương châm “bám trên, nắm dưới” ra sức tranh thủ các già làng để khởi dậy tinh thần dân tộc, vạch ra những âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, giải thích để đồng bào dân tộc biết là chống giặc để giữ nương rẫy, núi rừng. Đối với các tên tổng xã, thông qua gia đình, ta giáo dục, phân tích tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân, đường lối chính sách dân tộc của Đảng để họ hiểu, dẫn đến giảm bớt những hành động tàn ác đối với cách mạng. Đối với những tên ngoan cố, ta đe dọa buộc chúng không được làm hại cách mạng, quấy nhiễu nhân dân. Đối với tầng lớp bên dưới, ta hướng vào các đối tượng nghèo khổ để giáo dục, thuyết phục họ tham gia hoặc giúp đỡ cho cách mạng chiến đấu chống giặc và giải thích cho họ khi cách mạng thành công sẽ làm cho họ và gia đình hưởng được không khí tự do. Trong quá trình cùng ăn, cùng ở, cùng làm nhiều cán bộ cách mạng đã tổ chức kết nghĩa ăn thề sống chết có nhau đã cảm hóa, thuyết phục được đồng bào dân tộc. Vì vậy, họ đã ủng hộ sức của, sức người cho cách mạng, điển hình là ông K Riềng ở Bù Koh, ông Đinh Phồng ở Bù Rưng, ông Diên ở Bù Tôn… Nhân dân tích cực giúp đỡ cán bộ cách mạng, bộ đội cung cấp lương thực, thuốc men và những mặt hàng nhu yếu phẩm khác; đồng thời thông báo tình hình hoạt động của địch. Nhờ vậy mà lực lượng ta ít bị tổn thất.

Lúc đầu ta sử dụng phương thức “lấy quần chúng vận động quần chúng” dựa vào mối quan hệ họ hàng, thân quen để tuyên truyền đường lối chính sách cách mạng, đạt hiệu quả ở các buôn, làng vùng Bù Na và vùng sông nước Đồng Nai. Về sau, nhằm đẩy mạnh hơn nữa việc giác ngộ cách mạng trong vùng đồng bào dân tộc, tháng 2 năm 1952 đội vũ trang tuyên truyền do đồng chí Ba Phú chỉ huy gồm 12 người được chia làm 4 tổ trực tiếp bám chắc địa bà từ Bù Nard đến cây số 81. Nhiệm vụ chính của đoàn là: Điều tra tình hình hoạt động của địch ở 3 bót Bù Nard, Bù Đăng và cầu 38. Nắm tình hình tư tưởng và đời sống của nhân dân. Đội vũ trang tuyên truyền đã xây dựng cơ sở cách mạng trong 9 ban dân tộc như: Bù Ka Rá, Bù Klôn, Đak Có, Bù Trạch, Bù Khiu, Ban Ranh, Bù Tinh, Bù Nard và Phùng Hà. Đồng thời, dựa vào những người đứng dần dân tộc họ ta cử đại diện gồm những ông như Ông Lâu, ông Có, ông Sa, ông Diêu,…

Từ năm 1952 trở đi, qua các lễ hội liên hoan hoặc những buổi lao động của đồng bào dân tộc ở các xã trong huyện Bù Đăng, ta đã cử cán bộ cách mạng trực tiếp đối với đồng bào cũng như sử dụng người Kinh buôn bán ở vùng đồng bào dân tộc cùng với thân nhân của những người có người thân đi lính để tuyên truyền, kêu gọi họ bỏ súng trở về với nhân dân.

Từ năm 1951 đến nửa đầu năm 1953, là thời kỳ khó khăn nhất đối với quân và dân bắc Thủ Dầu Một trong quá trình kháng chiến chống thực dân Pháp. Vừa tổ chức chiến đấu bảo vệ địa bàn, bảo đảm tiềm lực cho công cuộc kháng chiến, chống lại sự đánh phá ác liệt của địch, vừa chống chọi với bão lụt thiên tai. Thế nhưng, với ý chí kiên cường, tinh thần bền bỉ chịu đựng gian khổ, quân dân Hớn Quản, Bù Đốp cùng bới Miền Đông Nam Bộ sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu mới ngày càng gay go và quyết liệt hơn.

Đến mùa xuân năm 1953, cuộc kháng chiến của nhân dân ta thu được những thắng lợi to lớn. Trong gần 8 năm đó, Chiến tranh Đông Dương đã ngốn của nước Pháp bao nhiêu người và tiền của. Pháp đang lâm vào tình thế khó khăn nhất. Cuối năm 1953 đầu năm 1954, quân Pháp bị động lớn trên chiến trường toàn quốc, sinh lực địch bị tiêu hao khá nhiều. Tinh thần binh lính ngụy hoang mang giao động. Phong trào đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới đòi chính phủ Pháp chấm dứt chiến tranh xâm lược ở Đông Dương, cuộc chiến tranh bị xem là “chiến tranh bẩn thỉu”, khiến cho thực dân Pháp ngày càng lúng túng, bối rối. Đầu tháng 5-1953, tướng Nava (Navarre), Tham mưu trưởng lục quân khối Bắc Đại tây dương được cử làm Tổng tư lệnh ở Đông Dương, được chính phủ Pháp cử làm Tổng chỉ huy các lực lượng viễn chinh Pháp ở Đông Dương đã vạch ra kế hoạch chiến lược quy mô lớn, tập trung quân để tấn công chủ lực của ta trong vòng 18 tháng buộc ta phải thương lượng theo những điều kiện mà chúng sắp dặt. Kế hoạch này đã được Mỹ chuẩn y và hà hơi tiếp sức cho chiến tranh của Pháp ở Đông Dương.

Tuy nhiên, ngay từ giữa năm 1953, Pháp buộc phải rút quân từ Nam Bộ chi viện cho chiến trường Trung Bộ và Lào làm cho số quân viễn chinh Pháp giảm xuống. Tại Thủ Biên, chúng rút 2 tiểu đoàn, 2 đại đội, 5 trung đội Âu Phi và một số đơn vị quân ngụy. Do thiếu quân và bị ta tấn công nên địch phải rút bỏ một số đồn bốt và tháp canh, để tổ chức thành những đơn vị cơ động trấn giữ đường 13, đường 14 với lực lượng thường xuyên từ 1 đến 2 tiểu đoàn. Mặc dù vậy, chúng vẫn tiến hành các hoạt động đánh phá càn quét liên miên gây cho ta nhiều khó khăn. Do ở một số địa phương, khi thực hiện phương châm vùng kháng chiến, ta có nhiều sai lầm, lệch lạc, rút lực lượng vũ trang vùng tạm chiếm về bổ sung cho bộ đội địa phương, giải tán lực lượng xã đội, chuyển du kích, một số cán bộ quân sự sang công tác dân vận hoặc công tác khác. Lợi dụng điều này, thực dân Pháp tập trung lực lượng tiến công mạnh vùng căn cứ và vùng du kích, đặc biệt ở đường 14 nhằm chia nhỏ một số căn cứ của ta và bao vây chiến khu Đ, khống chế các hoạt động của ta ở nhiều nơi trong đó có địa bàn tỉnh Bình Phước ngày nay.

Chủ trương của ta là tập trung lực lượng tiến công vào những hướng chiến lược quan trọng nhằm tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng đất đai, buộc địch phải bị động phân tán lực lượng hơn nữa để đối phó với ta trên những địa điểm xung yếu. Với phương châm tác chiến “tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt”. Tháng 9 năm 1953, Bộ Tư lệnh Phân liên khu kịp thời chỉ đạo đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích, đẩy mạnh hoạt động tiến công ở vùng sau lưng địch, và chủ trương cho tiểu đoàn 303 tỏa ra các huyện hỗ trợ cho bộ đội địa phương chống càn quét lấn chiếm. Bộ đội địa phương huyện Hớn Quản cùng với du kích các xã vùng du kích và vùng địch tạm chiếm đẩy mạnh các hoạt động tiêu hao sinh lực địch, buộc chúng phải dồn lực lượng đối phó. Các đội vũ trang tuyên truyền cùng với 2 đoàn công tác Phân liên khu về các xã móc nối, xây dựng lại cơ sở quần chúng và đội du kích. Phong trào đã dần dần phục hồi, có lợi cho ta. Nhanh chóng khắc phục những lệch lạc, đẩy mạnh hoạt động kháng chiến là những tiền đề quan trọng để quân và dân Bình Phước chuẩn bị cùng cả nước bước vào Chiến lược Đông Xuân 1953-1954.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Bảy, 2011, 08:48:50 AM
*
*   *

Thu đông 1953, cuộc kháng chiến bước vào giai đoạn quyết định. So sánh lực lượng giữa ta và địch đã có thay đổi theo chiều hướng có lợi cho ta. Từ phản công cục bộ bắt đầu từ Chiến dịch Biên giới, quân ta đang tiến lên phản công lớn.

Thực hiện kế hoạch Nava, từ tháng 9 năm 1953, trên chiến trường Đông Nam Bộ, nhiều đơn vị tinh nhuệ của thực dân Pháp phải rút đi. Tại Thủ Biên, chúng rút hai tiểu đoàn, 2 đại đội, 5 trung đội Âu Phi và một số đơn vị quân ngụy. Đến tháng 11, địch rút thêm 1 tiểu đoàn chính quy nữa. Đến cuối năm 1953, quân số địch trên địa bàn tỉnh chỉ còn 26.000 tên. Do thiếu quân và bị ta tiến công liên tục nên địch phải rút bỏ một số bốt và tháp canh, tổ chức thành những đơn vị cơ động trấn giữ đường 13, đường 14 với quân số thường xuyên từ 1 đến 2 tiểu đoàn để bảo vệ giao thông. Lực lượng quân Pháp và quân ngụy giảm đã gây hoang mang, giao động tinh thần quân ngụy. Đây là điều kiện thuận lợi cho chúng ta tiến công và phát huy công tác địch vận.

Trước tình hình đó, nhiệm vụ chiến đấu đặt ra cho quân đôi ta hết sức nặng nề. Từ năm 1953, lực lượng vũ trang nhân dân ngày càng lớn mạnh, các khu căn cứ không ngừng được củng cố và tại các chiến trường chính, quân chủ lực luôn giữ ưu thế về chuyển động tấn công. Sự thay đổi so sánh lực lượng trên cho phép Bộ Chính trị Trung ương Đảng vạch kế hoạch tác chiến mở cuộc tổng tấn công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 tiến đến đánh bại hoàn toàn quân Pháp ở Việt Nam.

Đối với chiến trường Nam Bộ, Bộ Chính trị chủ trương đẩy mạnh du kích chiến tranh, tiêu hao, tiêu diệt dần sinh lực địch, đẩy mạnh công tác địch vận, mở rộng vùng căn cứ, đánh địch cả trên hai mặt trận rừng núi và phía sau lưng địch. Quán triệt Nghị quyết của Trung ương Đảng, Tỉnh ủy Thủ Biên nhanh chóng triển khai công tác tăng cường bồi dưỡng sức dân và duy trì các hoạt động vũ trang trên chiến trường Miền Đông. Dưới sự lãnh đạo của chi bộ Đảng tỉnh Thủ Biên, từ tháng 9 năm 1953 đến tháng 3 năm 1954, trên địa bàn Hớn Quản, Bà Rá, Bù Đốp đã xây dựng nhiều đội du kích, số đội viên du kích tăng nhanh. Dân quân tự vệ phát triển mạnh. Bộ đội tỉnh, huyện cùng dân quân du kích thực hiện đánh lẻ, tiêu hao lực lượng địch trên đường 13, đường 14.

Việc giữ vững và củng cố các căn cứ kháng chiến trong mọi hoàn cảnh vô cùng khó khăn do bão lụt và sự đánh phá của địch đã dẫn đến sự hồi phục phong trào kháng chiến trong năm 1953 sau một thời gian tạm lắng. Trong năm này, công tác xây dựng đoàn thể lại được đẩy mạnh, nhân dân hăng hái tham gia diệt tề, trừ gian, cung cấp nhiều tin tức quan trọng cho cách mạng, vận động binh sĩ ngụy trở về với nhân dân thông qua gia đình và người thân; vận động thanh niên tòng quân giết giặc, nổi bật nhất là phong trào đấu tranh chống địch gom dân, bắt lính, bắt xâu. Nhiều nơi, thanh niên tổ chức canh gác tìm cách đối phó mỗi khi quân địch luồn vào xóm ấp bắt lính. Đồng bào còn hỗ trợ các đội vũ trang tuyên truyền vận động thanh niên không đi lính cho Pháp, một số tình nguyện vào lực lượng du kích, bộ đội. Các cuộc đấu tranh chống nộp thuế, chống chủ tây đánh đập công nhân, đòi quyền dân sinh, dân chủ, đòi ngày làm việc 8 giờ… ở đồn điền Lộc Ninh, Phú Riềng thu được thắng lợi. Lực lượng du kích Hớn Quản, Bù Đăng, Phước Long được quần chúng hết lòng đùm bọc, chở che, dẫn đường, cung cấp lương thực đã thực hiện chống càn quét, phục kích đánh địch, điều tra nghiên cứu địa hình và phối hợp với quân chủ lực đánh nhiều trận trên đường 14. Ở khu vực đồn điền Thuận Lợi, đội vũ trang tuyên truyền Sông Bé hoạt động trong công nhân nắm tình hình địch, xây dựng cơ sở cách mạng, hoạt động vũ trang và giúp cho công nhân cao su nắm được diễn biến tình hình trên cả nước. Nhờ đó, đồng bào và công nhân cao su đã hưởng ứng chiến dịch Điện Biên Phủ bằng từng hạt gạo cân muối chắt chiu từ khẩu phần ăn hàng ngày.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Bảy, 2011, 08:51:02 AM
Xứ ủy Nam Bộ chủ trương gấp rút xây dựng và kiện toàn hệ thống căn cứ địa, coi đó là một yêu cầu chiến lược hết sức quan trọng. Nghị quyết quân sự năm 1951 của Xứ ủy và Bộ Tư lệnh Nam Bộ nhấn mạnh phải “củng cố và mở rộng căn cứ địa của Nam Bộ và các khu. Củng cố và xây dựng căn cứ địa mỗi tỉnh”(1). Thực hiện chủ trương đó, Tỉnh ủy Thủ Biên khẩn trương tổ chức thực hiện chỉ thị của Bộ Tư lệnh phân khu Miền Đông với 3 nhiệm vụ chính: Giữ vững và đẩy mạnh chiến tranh du kích, mở rộng vùng căn cứ du kích, mở rộng công tác địch ngụy vận, vừa vận động công nhân tiếp tục đấu tranh kinh tế với địch, kêu gọi công nhân ra khu kháng chiến, vừa tranh thủ tầng lớp cai, xu trong đồn điền tham gia đấu tranh chống việc bắt cai vừa cạo mủ vừa trông coi công nhân, chống việc đi cạo ngày chủ nhật. Không ít các chủ đồn điền đồn tình cùng công nhân đấu tranh chống bắt lính, chống bọn lính xét nhà công nhân, nộp thuế cho bộ đội và chính quyền kháng chiến. Từ đó, các bốt địch bị lung lay thu hẹp, một số xã vùng tạm chiếm trở thành vùng du kích, vùng du kích chuyển lên vùng giải phóng… Để đánh bại âm mưu địch và phát triển cuộc kháng chiến đến thắng lợi, cần có những căn cứ lớn, vững chắc làm chỗ đứng cho các cơ quan lãnh đạo, chỉ huy và lực lượng vũ trang, tạo nguồn dự trữ, cung cấp kịp thời nhu cầu ngày càng cao cho kháng chiến. Chiến khu Đ được xây dựng, mở rộng, phát triển thành căn cứ kháng chiến của Nam Bộ. Các căn cứ địa trên địa bàn tỉnh được củng cố và ngày càng mở rộng. Chiến khu Đ phát triển lên tới các huyện (thuộc tỉnh Bình Phước ngày nay) cùng với những căn cứ An Long - Tân Khai - Lại Uyên - An Ninh - Phước Sang hình thành nên một hệ thống căn cứ địa kháng chiến rộng lớn, liên hoàn.

Cùng với việc mở rộng khu vực căn cứ địa, mặt trận thông tin, tuyên truyền, văn hóa, văn nghệ, giáo dục, y tế phát triển mạnh mẽ và rộng khắp trong cán bộ, bộ đội và nhân dân. Các đoàn văn công của tỉnh đội, các độ văn nghệ của các tiểu đoàn bộ đội lưu diễn khắp các khu vực trong căn cứ với những vỡ diễn ca ngợi lòng yêu nước. Phong trào bình dân học vụ được đông đảo bộ đội, nhân dân theo học. Nạn chống mù chữ được phát triển trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Ngay từ năm 1948, tại các vùng căn cứ, dấy lên phong trào thực hiện nếp sống văn minh, vệ sinh phòng bệnh được nhân dân hưởng ứng.

Khẩu hiệu “Kháng chiến hóa văn hóa, văn hóa hóa kháng chiến” trở thành quan điểm sáng tác văn hóa, văn nghệ và là quan điểm làm cho cuộc kháng chiến mang màu sắc văn hóa mới, tiến bộ, xóa bỏ những phong tục lạc hầu trong cuộc sống.

Mặt trận Việt Minh, Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam đối với các tổ chức thành viên gồm: các đoàn thể Công, Nông, Thanh, Phụ, Công giáo, Cao đài đã góp phần tích cực vận động đồng bào các tầng lớp, các giới, tín đồ tôn giáo tham gia kháng chiến và ủng hộ kháng chiến.

Trong những tháng đầu năm 1953-1954, ta đã mở những cuộc tiến công vào những hướng quan trọng tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng nhiều vùng rộng lớn, buộc địch phải bị động phân tán lực lượng, bước đầu làm phá sản kế hoạch của Nava (Navarre). Lực lượng vũ trang kết hợp với du kích ở Hớn Quản đánh trên đường 13, đường 14 diệt hàng trăm tên, phá hủy nhiều xe quân sự.

Trên mảnh đất Thủ Biên, với chiến thắng Bến Cát, Lái Thiêu, Thủ Đức, đặc biệt chiến thắng Cầu Định đã làm nức lòng nhân dân trong tỉnh. Trong khí thế quyết chiến quyết thắng của quân và dân cả nước, công nhân, nông dân và đồng bào dân tộc thiểu số Hớn Quản, Bù Đốp cùng các đội vũ trang trong các đồn điền cao su đẩy mạnh chiến đấu, đánh diệt hàng chục tháp canh của địch, vận động binh lính ngụy mang súng về các vùng căn cứ tham gia kháng chiến. Các lực lượng vũ trang các huyện bám sát các đồn điền vùng tạm bị chiếm, liên hệ với lực lượng công nhân trong đồn điền phối hợp kế hoạch hành động nhằm góp phần cùng nhân dân cả nước đánh bại hoàn toàn thực dân Pháp xâm lược.

Trong các đồn điền cao su, các chủ sở đều tỏ ra hoang mang trước thất bại của thực dân Pháp ở Điện Biên Phủ. Tất cả các hoạt động của bọn lính bảo vệ đồn điền gần như bị tê liệt. Nhiều chủ sở bỏ đồn điền chạy về Sài Gòn.

Chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7 tháng 5 năm 1954 đã kết thúc thắng lợi 9 năm kháng chiến trường kỳ, gian khổ và anh dũng của nhân dân ta, đưa tới việc ký kết Hiệp định Genève (năm 1954) công nhận độc lập, chủ quyền và thống nhất lãnh thổ toàn vẹn của nước ta, giải phóng một nửa nước.

Cách mạng nước ta đã chuyển giai đoạn, nhiệm vụ trước mắt là chuyển ngay hình thức đấu tranh từ vũ trang sang hòa bình, nhằm thực hiện Hiệp định Genève. Công việc phải triển khai ngay là sắp xếp lực lượng, chuyển quân tập kết. Xác định tinh thần ở lại miền Nam hoặc tập kết ra Bắc đều là nhiệm vụ, ý thức nhạy bén, cảnh giác cách mạng đã được quán xuyến từ Trung ương Cục(2) đến các cấp ủy, Đảng bộ địa phương.


(1) Nghị quyết quân sự năm 1951 của Bộ Tư lệnh Nam Bộ, Hồ sơ 43, phòng Nam Bộ, Kho Lưu trữ Bộ Quốc phòng.
(2) Đến tháng 10 năm 1954 tổ chức lại thành Xứ ủy. (T.G).


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Bảy, 2011, 08:52:39 AM
Ngày 30 tháng 7 năm 1954 tại vùng Bà Đả chiến khu Đ, Tỉnh ủy Thủ Biên tổ chức cuộc họp bất thường để triển khai thực hiện những công việc trước mắt và đề ra phương hướng hoạt động trong giai đoạn mới với hai nội dung chủ yếu là thực hiện hiệp định Genève và chuyển hình thức đấu tranh từ vũ trang sang chính trị. Về tình hình sắp tới, hội nghị dự kiến hai khả năng: một là, địch nghiêm chỉnh thi hành hiệp định, hai năm sau sẽ tổng tuyển cử, thống nhất đất nước; hai là, chúng rắp tâm phá hoại hiệp định, chống phá hòa bình, tổng tuyển cử, cuộc đấu tranh của nhân dân ta sẽ diễn biến phức tạp, kéo dài… Từ nhận định đó, hội nghị đã xác định, trong quá trình triển khai nhiệm vụ sắp tới phải thể hiện tinh thần sẵn sàng chuẩn bị ứng phó cả hai khả năng trên. Cụ thể những công việc cấp bách trước mắt là:

- Sắp xếp lực lượng đi, ở theo tinh thần “đi ở đều là nhiệm vụ”.

- Tổ chức mít tinh mừng hòa bình, tổ chức học tập văn bản hiệp định trong cả cán bộ và nhân dân.

- Từng ước chuyển căn cứ vào dân để lãnh đạo nhân dân đấu tranh.

- Các tổ chức Đảng rút vào bí mật, đưa một bộ phận lớn cán bộ và công khai hoạt động hợp pháp để trực tiếp lãnh đạo và cùng quần chúng đấu tranh với địch.

Theo hiệp định, các đơn vị vũ trang ở miền Nam sẽ chuyển quân tập kế theo thời hạn cho rừng vùng, từ 80 đến 300 ngày. Các đơn vị Thủ Biên và một số tỉnh ở miền Đông sẽ tập kết về Hàm Tân - Xuyên Mộc và chuyển quân ra Bắc trong vòng 80 ngày kể từ khi hiệp định có hiệu lực. Các đơn vị bộ đội, các đội vũ trang công tác, vũ trang tuyên truyền hoạt động vùng Hớn Quản, Lộc Ninh, Bù Đốp, Phú Riềng, Thuận Lợi, lần lượt rút về chiến khu Đ chuẩn bị tập kết. Vấn đề tư tưởng phải giải quyết lúc này là: nhận thức thắng lợi, xác định “đi ở đều là nhiệm vụ vinh quang”, tin tưởng ở Trung ương Đảng và Bác Hồ.

Theo sắp xếp lực lượng ở Tỉnh ủy Thủ Biên, bộ phận tập kết trong tỉnh được tổ chức thành một trung đoàn gồm cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang và cán bộ, nhân viên, dân, chính, Đảng, nhiều cán bộ các ngành khác. Cán bộ quân sự xã, du kích xã được quy định ở lại toàn bộ. Nhiều phương tiện, vũ khí được chôn giấu lại.

Ngày 15 tháng 8 năm 1954(1), tại Nhà Nai, chiến khu Đ, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ, đồng bào tham gia cuộc mít tinh lớn mừng thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, mừng hòa bình, tiễn đưa bộ đội tập kết ra Bắc. Cuộc mít tinh kết thúc trong không khí chia tay vừa phấn khởi vừa bịn rịn, kẻ ở người đi đều tỏ rõ lòng son sắt thủy chung với Đảng, với Bác Hồ, dù tình huống nào cũng phải đi đến ngày Bắc Nam xum họp. Tuy nhiên, cũng không tránh khỏi những băn khoăn, những lo âu đang đặt ra với một thực tế thấy trước là ở miền Nam không còn chính quyền và lực lượng vũ trang cách mạng.

Chiến trường đã im tiếng súng. Đâu đâu nhân dân cũng phấn khởi. Mít tinh mừng hòa bình mừng chiến thắng diễn ra trên hầu khắp các vùng, có mặt cả dân trong các vùng tạm bị chiếm, trong các đồn điền. Ở Lộc Ninh, cờ đỏ sao vàng, băng khẩu hiệu “Hoan hô độc lập muôn năm”… trương cao trên nhà máy. Các đội văn nghệ quần chúng vừa hình thành, đi lưu diễn khắp làng ở cao su. Ở các đồn điền Bù Đốp, Đa Kia, Phú Riềng tuy chưa có cơ sở cách mạng trong công nhân, quần chúng vẫn tập trung biểu tình mừng hòa bình; dân công đòi chủ Tây trả về xứ là nơi đang có tự do, độc lập. Trên vùng Tân Thuận cũ như Bù Tếch I, Bù Tếch II, Bù Cát, Bù Nho, Bù Ting, là vùng tranh chấp trong kháng chiến chống Pháp, tuy dân có lo ngại địch trả thù vẫn tỏ nỗi phấn khởi.

Tuy nhiên, đến tháng 8 năm 1954, lực lượng địch bắt đầu kéo vào vùng giải phóng để tiếp quản và chọn người, lập bô máy tề thì không khí “mừng chiến thắng” bắt đầu lắng xuống…

*
*   *

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của quân và dân cả nước đã kết thúc thắng lợi. Đó là minh chứng sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn của Đảng, tinh thần anh dũng của quân và dân ta. Đồng thời nó cũng chứng tỏ sự sai lầm của thực dân Pháp trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Như sau này Tổng thống Pháp Míttơrăng, trong chuyến thăm Việt Nam tháng 2-1993 đã phát biểu: “Cuộc chiến tranh đó (Chiến tranh Đông Dương 1945-1954) đối với tôi luôn luôn là một sai lầm” .

Trong giai đoạn cuối cùng của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, mặc dù bị địch chia cắt, phong tỏa và càn quét liên miên, lại gặp khó khăn do thiên tai gây ra, quân và dân Bình Phước vẫn luôn kiên cường chiến đấu bảo vệ địa bàn, bảo vệ tiềm lực của cuộc kháng chiến, xây dựng củng cố chính quyền, lực lượng, củng cả nước tiếp tục bước vào cuộc kháng chiến mới - cuộc đấu tranh chống Mỹ - ngụy, hoàn thành Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.


(1) Có tài liệu nói 15 tháng 8 năm 1954. (T.G)


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Bảy, 2011, 02:22:23 PM
PHẦN THỨ HAI

BÌNH PHƯỚC TRONG KHÁNG CHIẾN
CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1954-1975)

CHƯƠNG BỐN

ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ, XÂY DỰNG
LỰC LƯỢNG CHÍNH TRỊ, LỰC LƯỢNG VŨ TRANG;
KHÔI PHỤC CĂN CỨ, TIẾN LÊN ĐỒNG KHỞI
GIẢI PHÓNG PHẦN LỚN NÔNG THÔN
(1954-1960)

I. CUỘC CHIẾN ĐẤU MỚI - ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ, DÂN SINH,
ĐỐI ĐẦU VỚI CHÍNH SÁCH “TỐ CỘNG” CỦA MỸ VÀ TAY SAI

Sau Hiệp định Genève 1954 về Đông Dương, Đảng ta xác định đường lối đấu tranh bằng phương pháp hòa bình để đi đến thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trên cả nước.

Tuy nhiên, kẻ thù mới là đế quốc Mỹ đã thay chân Pháp thực hiện âm mưu thôn tính miền Nam bằng chủ nghĩa thực dân mới; dựng lên chính quyền tay sai, thực hiện chính sách “tố cộng - diệt cộng”, đàn áp khốc liệt lực lượng cách mạng và yêu nước. Tình thế đặt ra cho cách mạng miền Nam không còn con đường nào khác là bạo lực chính trị kết hợp lực lượng vũ trang.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng thông qua đảng bộ địa phương, cuộc chiến đấu mới của nhân dân Bình Phước đã diễn ra gay go khốc liệt, từ đấu tranh chính trị, dân sinh đến đối đầu “tố cộng - diệt cộng”, chống đàn áp; phải xây dựng lực lượng chính trị, khôi phục căn cứ và lực lượng vũ trang để hỗ trợ đấu tranh chính trị, chống đàn áp tiến lên đồng khởi, giải phóng phần lớn nông thôn, góp phần tạo điều kiện chuyển sang đấu tranh cách mạng.

Tháng 9 năm 1954, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết về “Tình hình mới, nhiệm vụ mới và chính sách của Đảng”, xác định nhiệm vụ của nhân dân ta trên cả hai miền là đấu tranh thực hiện Hiệp định Genève, ra sức củng cố miền Bắc, giữ vững và đẩu mạnh cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân ở miền Nam, nhằm củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lân và dân chủ trên cả nước. Nghị quyết chỉ rõ: cuộc đấu tranh cứu quốc không vì đình chiến mà kết thúc, song về phương châm đấu tranh thì phải thay đổi từ đấu tranh vũ trang chuyển sang đấu tranh chính trị, mọi hình thức đấu tranh kịch liệt (như kiểu khởi nghĩa và chiến tranh du kích) cần phải thay đổi ngay.

Với lực lượng được phân công ở lại, Xứ ủy Nam Bộ chỉ đạo duy trì, củng cố tất cả các tổ chức Đảng từ cơ sở trở lên. Các chi bộ xã, ấp được chia làm hai: chi bộ lộ và chi bộ mật. Các cấp ủy Đảng từ huyện trở lên phải hoạt động hoàn toàn trong vùng bí mật. Tháng 10 năm 1954, Trung ương Cục miền Nam đã được tổ chức lại thành Xứ ủy Nam Bộ cùng các Liên tỉnh ủy Miền Trung, miền Tây Nam Bộ, Liên tỉnh ủy miền Đông Nam Bộ được thành lập do các đồng chí Phan Đức (Tư Thưởng) làm Bí thư.

Trên các địa bàn Hớn Quản, Lộc Ninh, Sông Bé, Đồng Xoài(1)… phần lớn lực lượng ở lại đều về các địa phương hòa mình trong dân, làm đủ ngành, nghề để vừa kiếm sống vừa cùng đồng bào đấu tranh. Số cán bộ chủ trì từ huyện trở lên được bố trí vào các đồn điền cao su, nhà máy, xí nghiệp để lãnh đạo phong trào công nhân.

Đến ngày 10 tháng 10 năm 1954, địch tiếp quản toàn bộ tỉnh Thủ Dầu Một. Trong số 2 trung đoàn được điều về tỉnh có một trung đoàn Nùng Hoa phản động từ miền Bắc vào đóng ở Chơn Thành, chuẩn bị đánh phá chiến khu Đ và vùng rừng núi phía bắc của tỉnh.

Thực hiện từng bước âm mưu thôn tính miền Nam, bước đầu từ tháng 7 năm 1954 đến giữa năm 1956, bằng chính những công cụ của thực dân Pháp để lại như ngụy quân, ngụy quyền (được cải biên, đổi chủ…), đế quốc Mỹ và tay sai đã đánh sụp vây cánh và toàn bộ cơ cấu thống trị của thực dân Pháp, thay vào chế độ tay sai Mỹ do Ngô Đình Diệm (do Mỹ nuôi dưỡng và đưa về) cầm đầu. Buổi đầu chúng còn lo mị dân, tập trung loại trừ các thế lực thân Pháp, tạo cơ sở cho bước cơ bản tiếp theo là triển khai thực hiện chiến lược “tố cộng”, tập trung tiêu diệt lực lượng và phong trào cách mạng ở miền Nam. Chúng đã dụ dỗ hàng vạn đồng bào Công giáo ở miền Bắc di cư vào Nam, đưa vào các khu dinh điền. Số người di cư, người Hoa Nùng cũng được cắm vào các đồn điền cao su như ở các làng sở Phú Lố, An Lộc, Chà Là… (thuộc đồn điền Xa Cam và Xa Cát); khu trung tâm đồn điền Quản Lợi; làng sở Phú Riềng; làng sở Xa Cát có 28, Xa cô sud (nam); làng Sở Xa cô I, Xa cô II,… (thuộc đồn điền Quản Lợi); làng sở Văn Hiên đồn điền Xa Trạch,… Ngoài ra có một số dân một số tỉnh miền Trung được đưa vào làm ở các đồn điền nhưng không tập trung mà xen kẽ, phân tán trong dân nói chung.

Phía cách mạng, sau khi sắp xếp, triển khai lực lượng thì ngoài Đoàn thanh niên lao động vẫn tồn tại bên cạnh Đảng, các tổ chức quần chúng trong kháng chiến chống thực dân Pháp như mặt trận Liên Việt, các đoàn thể cứu quốc đều giải thể. Cơ sở cách mạng còn ở nông thôn và đồn điền nhưng nhìn chung ít và yếu. Lúc đầu việc đưa người của ta ra làm tề và tham gia dân vệ được thực hiện trót lọt, qua đó ta nắm khá tốt về tình hình địch, làm được nhiều giấy tờ hợp pháp cho một số cán bộ hoạt động công khai, còn phần lớn làm giấy tờ giả để tránh bộc lộ lực lượng.


(1) Đến lúc này, tỉnh Thủ Biên và hệ thống lãnh đạo tỉnh như trước tháng 7 năm 1954 vẫn tồn tại. Để phù hợp với tình hình mới, ngày 1 tháng 1 năm 1955, Xứ ủy quyết định tách tỉnh Thủ Biên trở lại thành hai tỉnh Thủ Dầu Một và Biên Hòa. Giữa tháng 1 năm 1955, Hội nghị đại biểu Đảng bộ Thủ Dầu Một họp phiên đầu tiên. Hội nghị đánh giá tình hình, đề ra phương hướng nhiệm vụ mới, bầu Ban chấp hành tỉnh Đảng bộ mới gồm 7 đồng chí do đồng chí Lê Đình Nhơn làm Bí thư. Tỉnh ủy chỉ đạo các địa phương móc nối, củng cố vững chắc các chi bộ xã, tổ chức đoàn thanh niên lao động bí mật làm lực lượng nòng cốt ở cơ sở trong đấu tranh, đưa người của ta ra làm đại diện, tham gia các ban tề; thành lập Ban địch tình, cùng các tổ chức quân báo xây dựng cơ sở trong vùng địch để nắm địch… (T.G)


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Bảy, 2011, 02:25:03 PM
Ở Hớn Quản, sau Hiệp định Genève, huyện ủy được củng cố do đồng chí Vũ Đình Thính (Chín Thính) làm Bí thư, đồng chí Tám Cường (còn gọi là Năm Điền) làm Phó Bí thư, đồng chí Năm Thành Ủy viên thường vụ. Đầu tháng 2 năm 1955, huyện ủy Hớn Quản được bổ sung một số ủy viên: Chín Chức, Sáu Quyền (còn gọi là Sáu Su, Bảy Ngà)(1). Để phù hợp với tình hình, huyện ủy chia làm hai bộ phận hoạt động ở hai tuyến khác nhau: bên trong và bên ngoài (công khai và bí mật) nhưng thực hiện nhiệm vụ chung là xây dựng cơ sở, tuyên truyền giáo dục, vận động nhân dân đấu tranh với kẻ thù. Trong vùng nông thôn, các xã Minh Thạnh, Tân Khai, Tân Thành, Tân Quang, Tân Lạc Phú đều có chi bộ Đảng. Ở các đồn điền Thuận Lợi, Bù Ka thuộc Hớn Quản, chi bộ Đảng được thành lập từ đầu tháng 11 năm 1954, gồm 4 đồng chí (Sa, Hữu, Nghi, Hoàng ) do Lê Sắc Nghi tức Bảy Nghi làm Bí thư. Ở Lộc Ninh, ngày 26 tháng 2 năm 1955, chi bộ Đảng đầu tiên trong chống Mỹ được thành lập do đồng chí Nguyễn Văn Tuyết làm Bí thư. Ở các vùng dân tộc, tuy chưa thành lập được chi bộ, nhưng có đảng viên hoạt động trong các sóc: sóc Tô có Điểu Do, Sóc Thu Bổn có Điểu Bốn, Sóc Lớn có đồng chí Lùi, ở Nha Bích có Điểu Minh, Lâm Nết,… Các cán bộ, đảng viên được pân công về các vùng lúc đầu chưa móc nối được với cơ sở, phải vào rừng đào củ mài ăn thay cơm, đốn củi lấy tiền đong gạo,… sống xa đồng bào, kiên trì chịu đựng mọi gian khổ. Dần dần mới bám rễ được vào dân, được dân đùm bọc, dựa vào dân để hoạt động.

Ở Sông Bé(1), sau Hiệp định Genève, theo phân công của Tỉnh ủy Thủ Biên, một số cán bộ cốt cán ở lại gồm Ba Phú, Lộc(3), Tuyên, Hảo, Ba Thiều, Ba Đấu… Các đồng chí bắt rễ cũ, bám trụ ở vùng Lý Lịch, Bù Tếch, Bù Nho, Bù Na, Tân Thuận, dọc đường 14 lên hướng Đồng Xoài, Bù Đăng. Hai chi bộ được thành lập: Chi bộ đồn điền cao su Bù Ka (3 đồng chí), chi bộ đồn điền Thuận Lợi (4 đồng chí).

Về phía địch, cùng với việc triển khai quân Hoa Nùng ở Chơn Thành, Hớn Quản, Lộc Ninh, Bến Cát, chúng thành lập các tiểu khu quân sự Thủ Dầu Một, Biên Hòa, mỗi tiểu khu có tiểu đoàn bảo an; thành lập các chi khu (cấp quận) có các trung đội bảo an, chi cảnh sát; xây dựng hàng loạt đồn bốt ở các đồn điền, làng xã, dọc các trục giao thông; kiểm soát các đường chiến lược 13, 14.

Dưới chế độ tay sai Mỹ, cấu tạo dân cư và chế độ ở các đồn điền cao su dần đổi khác; chế độ tự trị cao su ở các đồn điền bị bãi bỏ, thay vào đó là chế độ quân quản; chúng lập chính quyền xã, ấp - bộ máy hội tề. Ví dụ ở đồn điền Minh Thạnh chúng lập xã Minh Hòa, có thêm một số ấp xã Thanh Bình và Thanh Hương; đồn điền Quản Lợi lập 3 xã (Tân Lợi, Tân Hưng)…); đồn điền Xa Trạch lập xã Phước An; đồn điền Lộc Ninh lập 3 xã; đồn điền Xa Cát lập xã Minh Đức;… Vùng đồng bào dân tộc thời Pháp đã được khoanh vùng lập tổng, dưới tổng có sóc, thời Diệm vẫn vậy, có tề tổng, tề sóc. Công nhân các đồn điền không còn là “dân công tra” như trước mà đã trở thành “dân tự do”, làm cho chủ theo hợp đồng, công nhân tùy dịp làm theo thời vụ.

Mỹ - Diệm ban hành nhiều sinh sách như lập khu dinh điền để kiểm soát dân, tấn công vào các vùng căn cứ, kháng chiến cũ tách dân với lực lượng cách mạng “cải cách điền địa” nhằm xóa bỏ thành quả cách mạng thời chống Pháp đối với nông dân.

Để kiểm soát nhân dân, địch thực hiện nhiều biện pháp kìm kẹp như thành lập “ngũ gia, liên bảo”, các đoàn “công dân vụ” xuống các xã, ấp vừa tuyên truyền “bài phong đả thực”, nói xấu cách mạng vừa rình rập, truy tìm cán bộ, giám sát các gia đình có người tham gia cách mạng. Ở các đồn điền cao su, để tăng cường hiệu lực chế độ quân quản, chủ đồn điền Pháp cấu kết với ngụy quyền trong việc kìm kẹp công nhân; chúng góp phần nuôi dân vệ, mỗi đồn điền có từ 7 đến 10 người, trang bị từ 5 đến 7 súng.

Trước khi địch triển khai chính sách “tố Cộng” (từ tháng 3 năm 1955), địch còn dùng nhiều thủ đoạn mị dân, xoa dịu phong trào đấu tranh của quần chúng. Hai Đảng bộ Thủ Dầu Một, Biên Hòa lãnh đạo nhân dân đấu tranh chính trị dân sinh, chủ yếu bằng các hình thức công khai, hợp pháp như biểu tình, đưa kiến nghị đình công, bãi công.

Đầu tháng 8 năm 1954, công nhân các đồn điền bãi công ba ngày, cùng nông dân đấu tranh đòi trả tự do cho tù chính trị, trao trả hết tù binh, bãi bỏ thuế đảm phụ chiến tranh, tăng lương 20%.

Tháng 11 năm 1954, 40.000 công nhân ở các sở Quản Lợi, Lộc Ninh, Thuận Lợi, Dầu Tiếng tham gia đấu tranh đòi bãi bỏ chế độ cấp phát gạo mục, cá ươn, chống đánh đập, cúp phạt, sa thải, tăng lương, giảm giờ làm, chăm sóc công nhân đau ốm.

Đầu tháng 12 năm 1954, dưới sự lãnh đạo, vận động, của chi bộ Đảng ở Quản Lợi, 7.200 công nhân của sở tham gia đợt đấu tranh với những yêu cầu cụ thể về dân sinh ngày 16 tháng 12 năm 1954, công nhân từ các làng Sóc Trào, Sóc Gòn, Xa cô đơ, Xa cô xít, Xa cô 28, Trà Thanh và nhà máy Quản Lợi kéo về trung tâm chợ Quản Lợi. Bọn chủ đồn điền và ngụy quyền lo sợ, điều tiểu đoàn bảo an và chi cảnh sát đối phó. Chi bộ Đảng Quảng Lợi lãnh đạo công nhân vừa kiên trì đấu tranh vừa làm công tác binh vận, lôi kéo binh lính đồng tình với cuộc đấu tranh đồng thời mở rộng diện đấu tranh sang các đồn điền lân cận như Xa Cam, Xa Cát để tập hợp thêm lực lượng làm hậu thuẫn. Bọn chủ lo sợ, đã phải chấp nhận các yêu sách như bỏ việc cấp phát gạo mục, cấp gạo trắng loại 2; hủy bỏ chế độ đánh đập công nhân, tăng lương (17 đồng lên 26 đồng/ngày); tăng khẩu phần ăn cho người bệnh).

Phát huy thắng lợi trên, cuộc đấu tranh của 4000 công nhân các đồn điền cao su Phú Riềng, Thuận Lợi; cùng phương cách mở rộng diện và lôi kéo binh lính địch, lại thu được thắng lợi.


(1) Huyện ủy Hớn Quản lúc này còn có một người nữa là Năm Nhẫn, hoạt động được vài năm thì hàng giặc (T.G).
(2) Phước Long sau này (T.G).
(3) Chưa tìm ra họ người Kinh, hoạt động trong vùng đồng bào dân tộc cà răng, căng tai. Vì vậy còn có tên: “Lộc cà răng căng tai”. Không lầm với Tạ Quang Lộc. (T.G)


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Bảy, 2011, 02:26:18 PM
Đầu năm 1955, thừa lúc địch giải tán các ban hội đồng xã, thành lập hồi đồng hương chánh, ta vận động quần chúng đòi địch cho hội tề tiến hành bầu cử, qua đó đưa người của ta vào.

Năm 1955, lợi dụng những tổ chức, những “thuyết” dân chủ, tự do giải hiệu của địch như “Tổng liên đoàn lao động Việt Nam”, “thuyết” “hòa hợp giai cấp”, “lao tư lưỡng lợi”, “Đồng tiến xã hội”, “nghiệp đoàn không chính trị”… Xứ ủy chỉ đạo Ban công Vận Xứ lợi dụng tổ chức địch với nội dung “xanh vỏ đỏ lòng” hoặc lập ra các tổ chức hợp pháp, đưa cán bộ ta vào các nghiệp đoàn để tập hợp lực lượng, hướng dẫn công nhân đấu tranh.

Hưởng ứng chủ trương trên, dưới sự lãnh đạo của huyện ủy Hớn Quản, công nhân cao su đồn điền trong quận đã lập ra “Hội lao động tương tế” (tháng 3-1955).

Trong cuộc đấu tranh của công nhân cao su Hớn Quản đòi thành lập tổ chức nghiệp đoàn, đòi địch công nhân hội lao động tương tế, đã có 2 công nhân bị bắt (tháng 7-1955), nhưng cuộc đình công biến thành cuộc biểu tình của 3000 công nhân đồn điền Quản Lợi đã buộc tên Quận trưởng phải thả hai công nhân trên. Tại Lộc Ninh, ngày 3 tháng 3 năm 1955, cấp ủy Đảng Lộc Ninh huy động 12.000 công nhân Kinh, Thượng kéo về thị trấn Lộc Ninh đòi tăng lương, đòi trả lương cho người Thượng ngang lương người Kinh, đòi tự do hội họp. Cuộc đấu tranh tăng lên 17.000 người ngay trong ngày, chủ đồn điền Đờ Lalăng buộc phải chấp nhận yêu sách.

Những sự kiện này thúc đẩy phong trào đấu tranh đòi tự do nghiệp đoàn diễn ra sôi nổi và ngày càng quyết liệt ở các đồn điền. Ta chủ trương nâng phong trào lên với quy mô lớn hơn, tạo thế đấu tranh liên hoàn, buộc địch phải thi hành một số chính sách phù hợp với quyền lợi của công nhân.

Một cuộc đại hội đại biểu công nhân các đồn điền toàn miền Đông được tổ chức tại Lai Khê đã dẫn đến việc thành lập “Liên đoàn đồn điền Việt Nam”. Nhân ngày Quốc tế lao động 1-5-1955, liên đoàn đã huy động 40.0000 công nhân cao su miền Đông, đội ngũ chỉnh tề kéo về Sài Gòn, kết hợp với công nhân Sài Gòn biểu tình, thị uy đưa 16 yêu sách đòi Bộ Lao động, Bộ Nội vụ chính quyền Diệm phải giải quyết. Trong tình thế đang phải triệt phá, các thế lực thân Pháp, củng cố bộ máy cai trị, ngụy quyền buộc phải chấp nhận 16 yêu sách, viết thành văn bản gọi là “cộng đồng khế ước cao su Việt Nam”, có cả đại diện ngụy quyền, các chủ công ty cao su miền Đông, và đại diện công nhân đồng ký tên. Đây là thắng lợi chưa từng có trong lịch sử đấu tranh của công nhân cao su.

Tháng 3 năm 1955, trong khi đang tiếp tục thanh trừng vây cánh Pháp, Diệm ban hành chính sách “tố cộng giai đoạn 1”, tháng 5 năm 1955 phát động chiến dịch tố cộng, đồng thời từng bước loại trừ ngụy quyền Bảo Đại, dựng lên chính quyền tay sai Mỹ, triển khai “tố cộng”. Giai đoạn 1, bọn tình báo, gián điệp và cảnh sát núp dưới danh nghĩa các đoàn “công dân vụ” xuống xã ấp, khắp hang cùng ngõ hẻm, tổ chức điều tra nắm mạng lưới cơ sở cách mạng, nắm gia đình có người kháng chiến, lập danh sách phân loại dân để chuẩn bị “tố cộng” giai đoạn 2 nhằm diệt phong trào cách mạng ở miền Nam. Từ giữa năm 1955, số đảng viên, cán bộ kháng chiến lộ liễu nơi này nơi khác đã sa vào tay địch ngày càng nhiều. Cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam đi vào chiều hướng ngày càng ác liệt.

Tháng 7 năm 1955, kỷ niệm một năm ngày ký Hiệp định Genève, theo chỉ đạo của Tỉnh ủy Thủ Dầu Một, khắp nơi trong tỉnh đã nổ ra nhiều cuộc đấu tranh lớn nhỏ của đồng bào các giới, các dân tộc, đông nhất là phụ nữ, đưa kiến nghị đòi hiệp thương hai miền, chuẩn bị tổng tuyển cử. Ở đồn điền Thuận Lợi, cuộc đấu tranh đòi tăng 15% lương của công nhân lương dưới 1000 đồng/tháng đạt thắng lợi.

Tháng 10 năm 1955, để tạo cái vỏ gọi là “hợp hiến”, “hợp pháp” của chế độ tay sai Mỹ, Diệm bày trò “trưng cầu dân ý”, phế truất Bảo Đại. Các đoàn “công dân vụ” được tung xuống các đồn điền, thôn xóm, buôn sóc, ầm ĩ tuyên truyền “công đức” Ngô Đình Diệm. Bằng mọi hình thức, dân tẩy chay những buổi họp để gọi là”học tập đường lối cách mạng quốc gia”, “trưng cầu dân ý”. Đoàn công dân vụ 316 xuống đồn điền Quản Lợi để kết hợp với tề cưỡng bức dân đến nhà “xẹc” để “học”, bà con vạch trần trò lừa bịp của chúng, buổi họp giải tán giữa chừng, bọn công dân vụ cút luôn về Quản Lợi. Nhiều buổi “học” trở thành những buổi đấu tranh chính trị công khai, dân “tốc cáo ngược” bọn tay sai Mỹ. Dưới các hình thức tẩy chay, đình công, biểu tình. Công nhân các đồn điền cao su Quản Lợi, Xa Cam, Xa Cát, Lộc Ninh, Phước Bình, Thuận Lợi… kết hợp đấu tranh chống “học tập”, “trưng cầu dân ý” với đấu tranh đòi tăng lương. Trước sức mạnh quần chúng, nhiều chủ đồn điền Pháp buộc phải chấp nhận tăng lương cho công nhân. Ngày 1 tháng 5 năm 1956, 4000 công nhân Xa Trạch bãi công đòi tăng lương.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Bảy, 2011, 02:27:59 PM
Dù bị “tẩy chay”, rạch phiếu bầu nhưng với trò bịp bợm, gian lận, Diệm vẫn “đắc cử”, chế độ tay sai Mỹ tiếp tục được “hợp thức hóa” với cuộc “bầu cử” riêng rẽ để nặn ra “quốc hội” (4-3-1956). Cũng như cuộc “trưng cầu dân ý” và “bầu cử tổng thống”, dù bị tẩy chay, “quốc hội” bịp bợm vẫn ra đời. Đây chính là thời gian tiến đến ngày tổng tuyển cử theo quy định của Hiệp định Genève, nhưng để chính thức chống lại, chính quyền tay sai Mỹ đánh đòn tâm lý với khẩu hiệu “Bắc tiến”, “lấp sông Bến Hải”… Để củng cố bộ máy cai trị từ Trung ương đến cơ sở, chúng tiến hành cái gọi là “thanh lọc nội bộ”, một mặt vừa tiến hành những bước triệt phá toàn bộ vây cánh Pháp, mặt khác vừa triển khai chiến lược cơ bản là “tố cộng” nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng ở miền Nam. Bên cạnh việc tăng cường lực lượng quân sự, tổ chức chiến trường, địch tổ chức bộ máy tố cộng từ Trung ương đến cơ sở, Hội đồng tố cộng Trung ương do Diệm làm chỉ tịch.

Giữa năm 1956, trong lúc ở miền Trung và cao nguyên, phong trào cách mạng bị tổn thất nặng thì trên chiến trường Nam Bộ, qua các phong trào “chống bầu cử gian lận”, đòi “hiệp thương tổng tuyển cử”, chống cướp đất và đòi giảm tô, ta đã nâng được phát triển đấu tranh chính trị lên cao. Đặc biệt ở một số nơi ta đã “cài” người vào nắm được chính quyền ở cơ sở, nhiều nhóm, vũ trang tự vệ, chống đàn áp đang hình thành dưới danh nghĩa giáo phái, Bình Xuyên. Địch đã phải thừa nhận và tự cảnh báo “Việt cộng đã lại xúc tiến mạnh mẽ hoạt động chính trị khắp thôn quê hẻo lánh, gây được nhiều cơ sở, tổ chức ra các đoàn thể vũ trang cùng với tàn dư của giáo phái hoạt động quấy rối, vũ trang ám sát cả ở miền Tây và miền Đông Nam phần”(1).

Ngày 7 tháng 7 năm 1956, Diệm chính thức lên nắm quyền, công khai tuyên bố “Không Hiệp thương tổng tuyển cử”, “đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật”, “biên giới Hoa Kỳ đến vĩ tuyến 17”… vừa tăng cường bắt lính, đôn quân vừa hô hào “đặt miền Nam trong tình trạng chiến tranh”, “lấp sông Bến Hải”,…

Việc bình định giáo phái và các bước chuẩn bị đánh phá lực lượng cách mạng căn bản hoàn thành, địch huy động lực lượng cả vũ trang, chính trị, các đoàn tố cộng, bộ máy kìm kẹp ở cơ sở và mạng lưới tề điệp đã triển khai, từ trước… thực hiện chiến dịch “tố cộng” bằng lừa mị lẫn đàn áp, bằng cả đấu “tố”, “tấy não” lẫn hành quân chiến dịch đàn áp quy mô 1 đến 2 sư đoàn tăng cường.

Trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, chiến dịch Trương Tấn Bửu (10-7-1956 - 24-2-1956) huy động 1 sư đoàn (dã chiến), tăng cường 2 trung đoàn độc lập, 1 hải đoàn xung phong cùng lực lượng dân chính tố cộng, đánh trên phạm vi toàn miền Đông kể cả phân khu Sài Gòn - Chợ Lớn, nhằm “tiêu diệt lực lượng và cơ sở “Việt Cộng” cùng tàn dư Bình Xuyên - Cao Đài, kiểm soát biên giới, tái lập an ninh, nông thôn”. Một bộ phận sư đoàn dã chiến 3 (tức sư 5 sau này) Vòng A Sáng chỉ huy triển khai quân trên địa bàn ba công ty lớn của Pháp là Đất Đỏ, Síp, Xét Xô, lấy Lộc Ninh làm điểm mở màn. Một khu vực tập trung quân khác là Phú Giáo lên Bù Đăng, nhưng chủ yếu là ở Bù Na, cơ sở liên lạc của ta ở Đồng Xoài nối liền giữa Phước Long với vùng đồng bằng phía Nam bị cắt đứt. Một mũi tấn công vô cùng lợi hại, mang tính quyết định trong chiến dịch “tố cộng” của địch là mũi tấn công tổng hợp vào mọi tầng lớp, các lớp “học tập” tố cộng trong dân và cả trong hàng ngũ địch, chú ý sử dụng bọn đầu hàng và lưới tề điệp phát hiện các đối tượng, trên cơ sở đó phân loại; thanh lọc, lập hồ sơ, khống chế từng đối tượng; “phát động quần chúng, tố cáo “tội ác cộng sản”, cưỡng bức vợ con cán bộ kháng chiến lấy chồng ác ôn, tuyên truyền “chủ nghĩa quốc gia”, ly gián cán bộ cách mạng và quần chúng, gài mật thám vào đội ngũ công nhân… Những cực hình thời trung cổ được đưa ra áp dụng, thủ tiêu bí mật… đặt những người cách mạng vào tình thế phải lựa chọn “hoặc chết hoặc quy hàng”.

Với khẩu hiệu “không, đánh cho có, có, đánh cho chừa”, “thà giết lầm còn hơn thả lầm”… địch đã tạo ra một không khí khủng khiếp bao trùm. Trong một đêm tháng 7 năm 1956, ở Quản Lợi địch bắt 82 người. Ở Xa Cam, Xa Trạch, Minh Thanh, mỗi nơi từ 40 đến 50 người. Một số đồng chí lãnh đạo “Liên đoàn đồn điền Việt Nam” sa vào tay giặc. Trong suốt chiến dịch “tố cộng, diệt cộng” trong khắp các đồn điền ở Bình Long không có ngày nào không có người bị bắt. Ở Lộc Ninh khi địch bắt đồng chí Trần Văn Đang, chủ tịch nghiệp đoàn, hàng ngàn đồng bào người Kinh, Xtiêng, Mơnông, Tà Mun… đấu tranh quyết liệt, chúng sả súng bắn chết và làm bị thương 48 anh chị em. Cảnh sát mật vụ chỉ điểm bắt hàng loạt cán bộ và quần chúng tích cực bị bắt đưa về giam ở Hớn Quản. do địch bắt được danh sách gia đình cơ sở cách mạng, chúng tiếp tục bắt thêm 50 cán bộ, cơ sở cốt cán. Anh chị em bị địch phơi nắng, dầm mưa, bỏ đói, bị tra khảo hành hạ đến chết hoặc bị thương tật, bệnh và chết tại nhà.


(1) Tài liệu tổng kết tình hình 1956 của Bộ Tổng tham mưu ngụy (T.G).


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Bảy, 2011, 02:30:41 PM
Lợi dụng chiến dịch “tố cộng, diệt cộng”, bọn chủ Pháp lần lượt tước đoạt những quyền lợi của công nhân mà trước đây họ đã đấu tranh quyết liệt để giành cho được như tổ chức nghiệp đoàn, hội tương tế ái hữu, văn hóa văn nghệ, bình dân học vụ… Các chế độ hà khắc được phục hồi: cúp phạt, đánh đập, chửi mắng, hàng loạt công nhân bị sa thải, hầu hết là những người tích cực trong đấu tranh. Sự cấu kết giữa ngụy quân, ngụy quyền với chủ Tây đã hiện rõ ở các đồn điền cao su Thuận Lợi, Xa Cam, Xa Trạch, Xa Cát, Minh Hòa, Minh Thạnh, Thuận Lợi, Phú Riềng…

Chỉ qua vài tháng đầu của chiến dịch Trương Tấn Bửu, lực lượng cách mạng bị tổn thất nặng. Có nơi như chi bộ Tân Khai có 9 đảng viên thì 7 đồng chí bị bắt cùng 5 cơ sở cách mạng. Ở các đồn điền, hàng trăm cán bộ nghiệp đoàn bị bắt, có một số bị tra tấn đến chết như các ông Cảnh, Ban, Điều.

Trên toàn tỉnh Thủ Dầu Một, lực lượng Đảng đã tổn thất bốn phần năm, có nhiều đảng viên tuy đã muốn vũ trang nhưng còn bị chỉ thị “điều lắng” của xứ ủy (số 04/HBC) và chỉ thị 01/HBC(1) của Liên tỉnh ủy miền Đông kìm chế.

Trước tình hình khó khăn, ác liệt mới, thường vụ Huyện ủy Hớn Quản đặt ra vấn đề cấp bách là phải chuyển hướng hoạt động để giảm bớt thiệt hại. Một số cán bộ bị lộ và có nguy cơ lộ được rút ra căn cứ ở rừng Minh Thạnh (khu vực Suối Sâu) đồng thời có kế hoạch móc nối với cơ sở bên trong để tiếp tục hoạt động chủ yếu là xây dựng cơ sở hợp pháp, phát động đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Genève. Với cơ sở bên trong vững vàng, rừng Minh Thạnh trở thành nơi nuôi dưỡng cán bộ thoát ly đầu tiên của Hớn Quản, Châu Thành sau năm 1954 (sau này Minh Thạnh được Nhà nước phong tặng là xã anh hùng). Những cán bộ đang nắm những cương vị trong các tổ chức công khai mà chưa bị lộ thì tiếp tục dựa vào công nhân để giữ thế hợp pháp, duy trì hoạt động, hết sức khéo léo để tránh sự khủng bố của địch. Cơ quan huyện ủy cũng được chấn chỉnh về tổ chức và phương thức hoạt động cho phù hợp với tình thế mới.

Nhờ có sự chuyển hướng thích hợp, tuy có bị tổn thất, đảng bộ Hớn Quản đã vượt qua một tình thế đầy khó khăn, phức tạp và duy trì được phong trào. Các cuộc đấu tranh của công nhân trong thời gian này đều giành được thắng lợi: cuộc bãi công chống sa thải của công nhân cao su Quản Lợi (15-5-1956); Cuộc đấu tranh với tỉnh trưởng Bình Long đòi thả 40 đại biểu công nhân cao su Hớn Quản (tháng 6-1956) của công nhân và nhân dân Bình Long; cuộc đình công một tuần lễ đòi tăng lương, giảm giờ làm, hạ giá sinh hoạt, nâng lương cho công nhân nữ của hàng vạn công nhân ở các đồn điền Quản Lợi, Xa Trạch, Xa Cam, Xa Cát (tháng 10-1956); cuộc đấu tranh đòi thả 8 đại biểu công nhân bị bắt của công nhân Quản Lợi;… Cuối năm 1956 tại Xa cô 28, địch bắt 4 công nhân (Đại, Hữu, Hậu, Mười Ba) cột sau xe Jeep rồi cho xe chạy, bắt công nhân xem để trấn áp tinh thần họ. Sự việc này dẫn đến cuộc đình công 6 ngày của công nhân Quản Lợi đòi địch chấm dứt bắt người và khủng bố dân. Chúng ngoan cố không giải quyết. Cuộc đình công vẫn tiếp tục với khí thế ngày một quyết liệt và được công nhân cao su hỗ trợ hàng trăm bao gạo. Chủ sở Quản Lợi buộc phải chấp nhận thực hiện yêu sách, đồng ý tăng lương (thêm 1 đồng 50/ngày) và bồi thường 4 ngày đình công.

Đối với vùng đồng bào dân tộc ở phía Bắc Biên Hòa(2), đi đôi với càn quét, lùng sục, đánh phá căn cứ, địch tiến hành gom dân ở Bù Na, Bù Tếch về Tà Lài, Định Quán nhằm tách cán bộ cách mạng với dân. Tình thế trở nên hết sức khó khăn, đặc biệt là vấn đề lương thực, nhưng lực lượng cách mạng và số đồng bào còn lại đặc biệt là ở hai xã Lý Lịch, Bù Cháp vẫn tồn tại bằng cả củ chụp, rau rừng. Đội công tác của đồng chí Ba Phú lúc đầu chỉ có Tuyên, Lộc, Hải, về sau bổ sung các đồng chí Hảo, Hồng, Lộc, Quý, Bốn… dựa vào vùng căn cứ cũ Lý Lịch, Bù Cháp, Bù Rưng, Bù Tôn, xây dựng cơ sở, phát triển lên vùng Bù Tếch I, Bù Tếch II, Bù Na, Bù Nho dọc đường 14 lên Đồng Xoài, Bù Đăng. Các cơ sở xây dựng được trong các buôn, sóc trở thành chỗ dựa vững chắc cho những bước tiếp theo của phong trào cách mạng tại địa phương ở tỉnh Phước Long sau này.


(1) Trích chỉ thị 01/HBC: “chủ yếu là đấu tranh chính trị, tuyệt đối không được dùng vũ trang, tránh mang động” (T.G).
(2) Thuộc Phước Long sau này (T.G).


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Bảy, 2011, 02:32:01 PM
Từ năm 1955, đồng thời với “chiến lược tố cộng”, địch ban hành hai chính sách lớn là “cải cách nông thôn” và lập “khu dinh điền, khu trù mật” nhằm thao túng nông dân, ổn định tình hình nông thôn và vùng yếu dọc biên giới… đồng thời tạo những căn cứ bao vây “Việt cộng”, nơi cung cấp tin tức tình báo, nơi xuất phát hành quân ngăn chặn sự xâm nhập của các lực lượng cách mạng… Chính sách dinh điền bổ sung cho “chiến lược tố cộng”. Thực hiện những chính sách này ở Hớn Quản, chính quyền Diệm đưa một số bộ phận dân di cư từ vùng Bùi Chu, Phát Diệm và dân từ Quảng Nam, Bình Định vào lập các khu dinh điền Căm Xe, Cấu Bà Và, Trung Lợi, Trực Đạo, Xóm Ruộng, Đồng Hưu, Sâm Vất,… và các khu trù mật Đông Phất, tổng Cui, Văn Hiên, ấp 23…, Bò Com, Nhà Bò. Ở mỗi xã đều có một hoặc hai khu trù mật. Riêng xã Hưng Phước (Bù Đốp) có tới 5 khu trù mật. Ở Bù Đăng, địch đưa một số đồng bào công giáo vùng Thanh Nghệ Tĩnh và hàng ngàn dân ở Quảng Nam, Quảng Ngãi vào dinh điền “khai phá miền Sơn Cước”. Từ đó, các dinh điền Đak War (Vĩnh Thiện), Bù Na (Nghĩa Trang), Vi Thiện (Thọ Sơn) hình thành. Ở các dinh điền 1, 2, 3 An Linh địch dồn dân địa phương ở riêng với khối người Bắc di cư. Trong các dinh điền, bên cạnh các biện pháp khống chế, “cải tạo” tư tưởng, tuyên truyền lừa bịp còn hệ thống tổ chức kìm kẹp, trong đó bênh cạnh lực lượng tề điệp có cả lực lượng vũ trang như bảo an, dân vệ. Cùng với chính sách dinh điền, công cuộc mở đường vào các chiến khu cũ cũng là một hình thức tấn công lực lượng kháng chiến kết hợp khai thác rừng. Đội quân cơ giới của Trần Lệ Xuân tiến vào rừng ủi phá cả mồ mả đồng bào, tạo thành những đường ngang dọc trong các căn cứ kháng chiến cũ như các “lộ ủi” Bù Đăng - Vĩnh Thiện, Ngã ba đương 10 (Đak Nhau) qua Đức Hạnh, đường từ Đồng Xoài vào Mã Đà - Bù Đăng, Đồng Nai Thượng…

Về tổ chức chiến trường, tổ chức hành chính, để tăng cường kiểm soát, triệt phá các căn cứ kháng chiến đồng thời nắm chắc vùng rừng núi nối liền Đông Nam Bộ với Tây Nguyên và Campuchia, một địa bàn chiến lược vùng đông - bắc Sài Gòn, ngày 2 tháng 10 năm 1956, Diệm ký sắc lệnh số 143/NV tách tỉnh Thủ Dầu Một thành hai tỉnh Bình Dương và Bình Long; tách Biên Hòa thành ba tỉnh Biên Hòa, Phước Thành và Phước Long.

Tỉnh Bình Long gồm các quận Hớn Quản, Lộc Ninh, Chơn Thành, thị xã An Lộc gồm 54 xã, 274 thôn ấp. Tỉnh Phước Long gồm các quận Phước Bình, Được Phong (Bù Đăng), Đôn Luân (Đồng Xoài), Bố Đức (Bù Đốp), Phước Hòa (Bù Gia Mập), thị xã Phước Long, gồm 19 xã, 274 thôn ấp.

Về diện tích, cư dân (tính đến tháng 7 năm 1959) của hai tỉnh như sau:

Tỉnh Bình Long: diện tích chung 2.334km2, diện tích canh tác 1.460km2, số dân 64.200 người, dân tộc thiểu số 15.193 người; mật độ 28 người;km2.

Tỉnh Phước Long: diện tích chung 4734km2, diện tích canh tác 4700km2, số dân 39.300 người, dân tộc thiểu số 18.788 người, mật độ 8 người/km2.

Chính sách ruộng đất, chính sách dinh điền của Mỹ - Diệm lại đặt ra những yêu cầu bức thiết mới trong đấu tranh chính trị, dân sinh của nhân dân, đặc biệt là nông dân ở miền Nam.

Nhìn lại từ sau tháng 7 năm 1954 đến cuối năm 1956, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, cấp ủy địa phương, cuộc đấu tranh của nhân dân Bình Long và vùng bắc Biên Hòa bắt đầu từ những mục tiêu chính trị, dân sinh với nội dung hợp pháp và chủ yếu bằng hình thức hợp pháp, đã chuyển dần sang một số nội dung chính trị “bất hợp pháp” khi địch triển khai “tố cộng”, đàn áp, tính chất ác liệt tăng dần, dần đến cả yêu cầu vũ trang tự vệ. Các đợt “tố cộng” bước 1, rồi bước 2 đã dồn các lực lượng cách mạng địa phương vào một tình thế hết sức khó khăn, ác liệt, nhiều tổn thất, nhưng đảng bộ địa phương đã có được sự chuyển hướng thích hợp, vừa tự vệ vừa duy trì phong trào để chuẩn bị những bước tiếp theo.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Bảy, 2011, 02:34:55 PM
II. KHÔI PHỤC CĂN CỨ, XÂY DỰNG LƯỢNG LƯỢNG
CHÍNH TRỊ, LỰC LƯỢNG VŨ TRANG, TIẾN LÊN ĐỒNG KHỞI

Trước tình hình địch trắng trợn phá hoại Hiệp định Genève, khước từ tổng tuyển cử tiến hành “chiến tranh một phía”, đàn áp khốc liệt các lực lượng cách mạng và yêu nước ở miền Nam, giữa năm 1956, Đảng ta đã xác định một số điểm mới về biện pháp cách mạng ở miền Nam; đường lối chung là đấu tranh chính trị, đặt mạnh vấn đề xây dựng lực lượng chính trị, nhưng “đấu tranh chính trị không có nghĩa là tuyệt đối không dùng hình thành đấu tranh vũ trang, tự vệ trong hoàn cảnh nhất định”(1).

Trên tinh thần đó, tháng 12 năm 1956, Xứ ủy ra Nghị quyết tình hình nhiệm vụ, trong đó đặt vấn đề cần xây dựng lực lượng vũ trang tuyên truyền, xây dựng căn cứ rừng núi, đồng thời trước đó đã có dự thảo Đề cương cách mạng miền Nam của đồng chí Lê Duẩn Ủy viên Bộ Chính trị xác định con đường bạo lực của cách mạng miền Nam. Đầu năm 1957, Xứ ủy chủ trương khôi phục căn cứ địa ở miền Đông trên hai khu vực đông bắc và tây bắc Sài Gòn. Đông bắc là vùng chiến khu Đ, mở rộng lên hướng biên giới Việt Nam - Campuchia gọi là khu A; tây bắc là vùng căn cứ Dương Minh Châu mở rộng lên biên giới, gọi là khu B. Thực tế lúc này ở hầu hết các tỉnh đều đã nhen nhóm lực lượng vũ trang. Xứ ủy cử một đoàn cán bộ do đồng chí Nguyễn Hữu Xuyến, ủy viên quân sự Xứ ủy, phụ trách việc thống nhất lực lượng vũ trang và củng cố các căn cứ trên địa bàn miền Đông. Tuy nhiên, cho đến những năm 1957, 1958, bên cạnh những địa phương đã nhen nhóm, hình thành lực lượng vũ trang, vẫn còn nhiều địa phương lúng túng không được phổ biến, chỉ đạo theo tinh thần trên của Nghị quyết, lại chỉ ảnh hưởng chỉ thị 04 HBC về điều lắng (giữa năm 1956) và chỉ thị 01/HBC của Liên tỉnh ủy miền Đông nên vẫn coi việc xây dựng lực lượng vũ trang là điều cấm. Riêng ở Thủ Dầu Một, từ năm 1955, Tỉnh ủy đã có chủ trương khôi phục căn cứ Long Nguyên, đồng thời đã có một số cán bộ, đảng viên, du kích cũ lánh vào chiến khu Đ, Long Nguyên, rừng núi phía Bắc, thâm nhập vào các phum, sóc đồng bào Stiêng, Mơnông, Chro, Châu Mạ, Tà Mun xây dựng cơ sở chính trị và nhen nhóm lực lượng vũ trang chống địch khủng bố. Giữa năm 1955, xuất hiện “đảng cướp Rừng Xanh” chuyên cướp nhà giàu, không chống cách mạng, sau được ta tổ chức thu phục trở thành một đơn vị vũ trang của tỉnh. Giữa năm 1956, Tỉnh ủy đã cử người phụ trách xây dựng lực lượng vũ trang. Đầu năm 1957, Tỉnh ủy họp tại rừng An Điền, Bến Cát, nghiên cứu Đề cương cách mạng miền Nam và Nghị quyết Xứ ủy, Tỉnh ủy quyết định tổ chức Ban quân sự. Từ hai tiểu đội ban đầu, lực lượng vũ trang tỉnh phát triển thành 6 tiểu đội. Lúc bấy giờ lực lượng Bình Xuyên ly khai ở chiến khu Đ được bổ sung nhiều đảng viên, cán bộ, biên chế thành 3 đại đội. Đại đội Bùi Văn Dung đứng chân ở An Lính, Phước Sang (tây bắc chiến khu Đ). Đại đội Trịnh Phước Hùng đứng chân ở bắc sông Bé, từ Bàu Phụng đến suối Xà Cóc. Một đại đội đóng ở Gò Dầu (Tây Ninh). Các đại đội có chi bộ lãnh đạo, toàn lực lượng có Đảng ủy. Đồng chí Lâm Quốc Đăng chỉ huy Trưởng, đồng chí Phạm Văn Thuận Bí thư Đảng ủy; Xứ ủy chủ trương giữa nguyên lực lượng, lấy danh nghĩa “Bình Xuyên ly khai” để hoạt động.

Đảng bộ Hớn Quản (Bình Long) sau khi được quán triệt Nghị quyết Xứ ủy và Đề cương Cách mạng miền Nam triển khai ngay việc xây dựng lực lượng (chính trị, vũ trang), bắt đầu là việc xây dựng các đội, mũi công tác dựa trên lực lượng cán bộ, đảng viên đã rút vào rừng Minh Thạnh trước đây. Phân vùng hoạt động như sau: mũi các đồng chí Tám Cường, Lê Năm ở Chơn Thành; mũi của đồng chí Năm Sách ở Minh Thạnh; mũi của đồng chí Năm Thiểu ở Xa Trạch; mũi của đồng chí Út Quẹo ở Hớn Quản; mũi các đồng chí Sáu Xu (Sáu Quyền), Bảy Nguyệt ở Lộc Ninh (ở Lộc Ninh mũi này lại chia làm 3 tổ do các đồng chí Tư Thành Công, Năm Trực, Tảo phụ trách).

Các đội mũi công tác bám địa bàn nông thôn, đồn điền, bên cạnh công tác vận động quần chúng, bước đầu đã hoạt động vũ trang: bảo vệ cán bộ, cơ sở, gài mìn trên đường đánh bọn tuần tra; trừng trị, cảnh cáo những tên ác ôn đã gây nợ máu như cai Tân ở Phú Riềng, cai Tý, tên ấp trưởng Hai Trước… Tuy lực lượng ít (mỗi mũi từ 3 đến 5 người), vũ khí trang bị tương đối đầy đủ so với hiện tại. các đội mũi vũ trang đã đạt được một số thành tích đáng kể, có tác dụng hạn chế sự hung hăng và hoạt động sục sạo của bọn ác ôn. Ban đêm chúng thường trốn trong đồn chứ không dám đi ra ngoài như trước.

Tháng 8 năm 1957, để tiếp tục giải quyết khó khăn về hậu cần, đồng thời thăm dò phản ứng của địch và hỗ trợ đấu tranh chính trị, Ban quân sự miền Đông quyết định tiến công địch ở trung tâm đồn điền Minh Thạnh với lực lượng 21 tiểu đội (trong đó có lực lượng Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Khu Bình Xuyên ly khai), lấy danh nghĩa “Bình Xuyên, giáo phái ly khai”, có một số đội mũi công tác của Hớn Quản phối hợp. Trận đánh diễn ra giữa ban ngày, nhanh, gọn. Ta thu được nhiều chiến lợi phẩm. Tiếp sau trận Bến Củi (tháng 5 năm 1957), trận Minh Thạnh đánh dấu sự mở đầu thời kỳ có hoạt động vũ trang hỗ trợ đấu tranh chính trị ở miền Đông Nam Bộ. Đặc biệt trận đánh có ảnh hưởng tích cực trực tiếp đến không khí vũ trang và phong trào đấu tranh với địch ở Bình Long.

Ở Phước Long, trong tình thế bị địch bao vây, phong tỏa vùng căn cứ, nhưng do hoạt động tích cực của các đồng chí cốt cán được phân công ở lại, cơ sở cách mạng vẫn phát triển, từ căn cứ ra hướng Đồng Xoài, Bù Đăng theo trục lộ 14. để hình thành đoàn công tác trong vùng cao su, từ tháng 4 năm 1956, Tỉnh ủy Biên Hòa đã bổ sung cho Phước Long một số đồng chí như: Sáu Hải, Ba Hỷ, Hai Tuấn, chị Từ Huệ. Tháng 9 năm 1956, Tỉnh ủy chỉ thị cho đoàn công tác gắng xây dựng cho được ba chi bộ trên địa bàn người dân tộc và vùng cao su, trước mắt là các sở cao su Thuận Lợi, Bù Ka vì hai nơi này đã có cơ sở cách mạng từ thời chống Pháp.


(1) Trích Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 6-1956 - Việt Nam - những sự kiện, Nxb. Khoa học xã hội, 1991, tr.182.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Bảy, 2011, 09:17:35 AM
Thực hiện chỉ thị của trên, đoàn phân công các đồng chí Ba Phú, Ba Tuyên lên sở Bù Ka; các đồng chí Ba Đấu, Hai Tuấn vào sở Thuận Lợi để nắm lại tình hình và móc nối lại các đảng viên, quần chúng cốt cán. Kết quả là đến tháng 12 năm 1956, Tỉnh ủy Biên Hòa đã ra quyết định thành lập ba chi bộ:

Chi bộ 1 ở Tân Thuận - Bù Ka do đồng chí Ba Phú làm Bí thư (đảng viên gồm Hai Tập, Sáu Hải, Ba Hỷ, Tư Quí, Tư Huê). Trên địa bàn chi bộ 1 còn nhiều đối tượng phát triển.

Chi bộ 2 ở Thuận Lợi do đồng chí Ba Đấu làm Bí thư (Đảng viên: Hai Tuấn và hai đồng chí ở làng 2, làng 9 sở cao su).

Chi bộ 3 ở sở Bù Ka do đồng chí Ba Tuyên làm Bí thư (Đảng viên: Hai Lạc, Sáu Xê, Bảy Hát…).

Từ năm 1957, số cán bộ hoạt động ở Phước Long bắt đầu liên lạc với các đồng chí ở chiến khu Đ.

Địch đánh hơi sự phát triển lực lượng của ta, chúng tăng cường kiểm soát, kìm chặt quần chúng. Cán bộ đảng viên hoạt động gian khổ, thiếu thốn nhất là ở các vùng đồng bào dân tộc.

Để thuận lợi cho việc chỉ đạo phong trào, Tỉnh ủy Biên hòa quyết định thành lập Ban cán sự Đảng ở vùng Tân Thuận - Bù Na. Tháng 6 năm 1957, tại rừng Bùi Trúc (cách Đồng Xoài 1,5km), Ban cán sự Đảng vùng Tân Thuận - Bù Na được thành lập, các đồng chí Hai Đính, Ba Dục thay mặt Tỉnh ủy Biên Hòa chủ trì buổi họp làm thủ tục. Ban cán sự gồm: đồng chí Ba Phú làm Bí thư, Ba Tuyên Phó Bí thư, Ba Đấu ủy viên. Về sau số ủy viên được bổ sung gồm Hai Tuấn, Hai Lập, Tư Quí. Nhiệm vụ Ban cán sự vùng Tân Thuận - Bù Na: lãnh đạo và phát động phong trào quần chúng công nhân cao su, các dân tộc ít người đấu tranh chính trị, dân sinh, phát triển lực lượng cách mạng, xây dựng đoàn kết Kinh thượng. Những nội dung đấu tranh trước mắt như chống địch bắt bớ, bắt lính, đòi địch cứu đói, cứu đau, đòi được ở nguyên chỗ cũ làm ăn… chống khủng bố, chống mọi luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, vận động quần chúng, tăng gia sản xuất chống đói và tiết kiệm, giảm bớt các tập tục lạc hậu, gấp rút phát triển cơ sở trên hướng Bù Đăng, chú ý phát triển Đảng và xây dựng các tổ du kích ở Tân Thuận, Bù Na.

Ở Phước Vĩnh, trong và sau chiến dịch Trương Tấn Bửu, một số đồng chí bị bắt đầy ra Côn Đảo, trong đó có đồng chí Hà Minh, số còn lại trong chi bộ hầu hết phân tán khỏi địa bàn. Chi bộ Phước Sang có đảng viên không chịu nổi khó khăn, ác liệt đã ra đầu thú, gây tổn thất cho cách mạng: địch bắt 3 đảng viên, 22 quần chúng tốt. Số đảng viên còn lại do đồng chí Tám Hòa lãnh đạo đã vận động nhân dân đấu tranh đòi thả những người bị bắt nhưng bị địch đàn áp khốc liệt. Tình hình ở đồn điền cao su Thuận Lợi cũng tương tự.

Năm 1957, tại Đồng Xoài địch bó ráp ráo riết hơn, công bố ai chứa chấp, tiếp tế cho cộng sản sẽ bắn bỏ tại chỗ. Chúng đóng thêm các chốt ở dốc Tà Bế, cầu Nha Bích để tăng cường khám xét người đi lại, giả danh công nhân xịt thuốc muỗi, vào các làng xóm, đồn điền, buôn sóc để dò xét; ráo riết tuyên truyền triển khai lập khu dinh điền, “khu trù mật”. Hướng lãnh đạo đấu tranh của ta lúc này là chống địch lập khu dinh điền, khu trù mật, hướng dẫn dân cất giấu tài sản, làm rẫy bí mật, đòi ở lại chỗ cũ làm ăn.

Tại An Linh chi bộ mật do đồng chí Tư Chinh làm Bí thư, chỉ đạo cho cơ sở trong dinh điền là Nguyễn Thị Ngọc Liên (Hai Liên) xây dựng cơ sở cách mạng trong đồng bào Công giáo di cư. Bằng cách thâm nhập, gần gũi, chia xẻ khó khăn, bằng các bước công tác quần chúng từ thấp đến cao, đồng chí Hai Liên đã gây được một số cơ sở trong số đồng bào Công giáo Bùi Chu - Nam Hà. Dinh điền di cư không còn là vùng trắng nữa. Về mặt vũ trang, tại xã Anh Linh đến năm 1957 đã có một tiểu đội vũ trang làm nhiệm vụ bảo vệ cán bộ. Khi Ban cán sự Đảng vùng Tân Thuận - Bù Na được thành lập các mặt hoạt động, kể cả vũ trang tự vệ đã có nền nếp ổn định. Chi bộ Phước Vĩnh sau một thời gian phân tán, dàn mỏng đã được khôi phục với 9 đảng viên do đồng chí Bảy Đức làm Bí thư.

Lúc này lực lượng vũ trang miền Đông tiếp tục phát triển. Theo chỉ thị của Xứ ủy, Tỉnh ủy Thủ Dầu Một đã đưa lên 2 trung đội (4 tiểu đội) góp phần thành lập các đại đội 50, 70 trực thuộc Ban Quân sự miền Đông. Đại đội 50 xây dựng căn cứ ở vủng rừng núi 2 xã Bù Cháp, Lý Lịch - vùng đồng bào dân tộc Xtiêng, Châu Ro có truyền thống cách mạng lâu đời. Việc này tạo điều kiện thuận lợi để phát triển chiến khu Đ thành căn cứ khu A rộng lớn, nối liền với hành lang chiến lược sau này. Đại đội 60 tách ra 1 trung đội và 1 tiểu đội về chiến khu Đ, cùng các lực lượng Biên Hòa, “Rừng Xanh” và một bộ phận “Bình Xuyên ly khai” thành lập đại đội 250. Như vậy, lực lượng vũ trang miền Đông đã có các đại đội 60, 50, 70, 250 và lực lượng “Bình Xuyên ly khai” chủ yếu đứng chân hoạt động ở chiến khu Đ và địa bàn tỉnh Thủ Dầu Một. Cũng như ở Bù Cháp, Lý Lịch, đồng bào An Linh - Phước Sang là một trong những lực lượng tiếp tế quan trọng cho lực lượng vũ trang trong buổi đầu xây dựng.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Bảy, 2011, 09:18:35 AM
Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của phong trào công nhân, Tỉnh ủy Thủ Dầu Một chủ trương thành lập Đảng ủy Cao su. Đầu năm 1958, đồng chí Sáu Chí (Sáu FM), đại diện Liên Tỉnh ủy miền Đông chủ trì cuộc họp thành lập Đảng ủy cao su Thủ Dầu Một (trong đó có Bình Long). Đảng ủy gồm 11 đồng chí, do đồng chí Tám Cường Tỉnh ủy viên làm Bí thư, đồng chí Lê Sắc Nghi (Bảy Nghi) Phó Bí thư, đặc trách sở cao su Minh Thạnh và hai vùng nông thôn Minh Thạnh, Tân Thành; đồng chí Bảy Niên ủy viên phụ trách vùng cao su Hớn Quản; các đồng chí Sáu Quyền (Sáu Xu) và Sáu Sáng phụ trách Lộc Ninh…

Sau hội nghị trên, Huyện ủy Hớn Quản (Bình Long) được tách thành 2 bộ phận để chỉ đạo phong trào: Ban cán sự cao su vận do đồng chí Tám Cường phụ trách, Ban cán sự dân tộc vận do đồng chí Năm Thành phụ trách. Cả hai ban này trực thuộc Tỉnh ủy Thủ Dầu Một.

Năm 1958 có phát triển về tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo, có lực lượng vũ trang hỗ trợ, phong trào công nhân và nông dân Thủ Dầu Một có khí sắc mới. Do vậy, mặc dù địch vẫn tiếp tục các chiến dịch “tố cộng - diệt cộng một cách quyết liệt, thâm hiểm và tàn bạo, trong đó có “chiến dịch Nguyễn Trãi” (20-4-1958 - 20-11-1985), chiến dịch Hồng Châu, đánh lại 8 tỉnh miền Đông và ngoại ô Sài Gòn, phong trào đấu tranh của công nhân và nhân dân Thủ Dầu Một vẫn được duy trì và phát triển, đặc biệt là có nền nếp, tổ chức chu đáo hơn.

Về phong trào công nhân, những tháng đầu năm 1958 nổi bật có cuộc bãi công 7 ngày của 15 nghìn công nhân ở hai đồn điền Quản Lợi và Xa Trạch đòi dân sinh, dân chủ, đòi tự do nghiệp đoàn (tháng 1-1958) liên tiếp mấy ngày sau, công nhân 8 đồn điền khác bãi công ủng hộ (Sóc Tranh, Sóc Xiêm, Sóc Trào, Sóc Gòn, An Lộc, Phú Lố, Phú Riềng), cuộc biểu tình ngày Quốc tế lao động 1 tháng 5, hơn 10 nghìn người của toàn ngành cao su miền Đông kéo về Sài Gòn đòi tăng lương và các quyền dân sinh, dân chủ. Công nhân hưởng ứng cuộc đấu tranh Dầu Tiếng, Phước Hòa, tổ chức bãi công tại chỗ để hưởng ứng và chống bọn sa thải công nhân.

Phong trào công nhân ở nông thôn phát triển, trong đó có hoạt động trấn áp tề điệp, vô hiệu hóa, phá lỏng ách kìm kẹp của địch ở nông thôn, tạo điều kiện xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng.

Trong khối đồng bào các dinh điền, có một lực lượng quan trọng là người của các tỉnh vùng tự do Liên khu 5, có truyền thống cách mạng và kháng chiến, có cả cán bộ thôn, xã, đảng viên, đoàn viên, hội viên đoàn thể kháng chiến, họ bị địch o ép, cưỡng chế, vào rừng núi miền Đông. Bị kìm kẹp nặng nề, đồng bào vẫn hướng về cách mạng, quê hương. Đầu năm 1958, đồng chí Võ Đức Hòa (Hai Một) được Tỉnh ủy giao nhiệm vụ xây dựng cơ sở ở vùng Thiệu Hưng. Với danh nghĩa “thợ cưa gỗ” đồng chí thâm nhập đồn điền Vĩnh Thiện (Dak War), đến giữa năm 1958, đồng chí móc nối được đồng chí Võ Tâm là đảng viên quê ở Quảng Nam di dân vào, qua đó móc nối được thêm một số đồng chí khác, trong đó có Phan Thách. Các đồng chí tổ chức được hai chi bộ mật, hoạt động hợp pháp ở thôn 2, thôn 3 dinh điền Vĩnh Thiện, dưới sự lãnh đạo đơn tuyến của đồng chí Hai Một. Có chi bộ bên trong, ở dinh điền Vĩnh Thiện đã bắt đầu có đấu tranh, đầu tiên là đấu tranh dân sinh dân chủ, qua đó phát triển cơ sở cách mạng và xây dựng cơ sở thành cán bộ. Cho đến năm 1959 ở Bù Đăng có hai mũi công tác độc lập nhau. Một mũi hoạt động trong vùng đồng bào dân tộc chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Ban cán sự Đảng vùng dân tộc thiểu số Tân Thuận - Bù Na; mũi thứ hai hoạt động trong vùng người Kinh, chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh ủy Biên Hòa. Căn cứ tình hình cụ thể, ở Phước Long ta chủ trương luồn sâu, bí mật xây dựng cơ sở, nhen nhóm phong trào, mở rộng địa bàn hoạt động. Trong lúc đó ở hướng Bình Long, ta tiếp tục đẩy mạnh hoạt động các đội, mũi vũ trang công tác, kết hợp các làng công nhân để đưa phong trào lên bước mới, đặc biệt là tiến công quân sự.

Để hỗ trợ phong trào đấu tranh của nhân dân đồng thời giải quyết những khó khăn về vật chất cho các lực lượng vũ trang ở miền Đông, đêm 10 rạng 11 tháng 8 năm 1958, bộ đội liên tỉnh miền Đông tấn công chi khu quân sự Dầu Tiếng, nơi địch đặt trụ sở đốc chiến các chiến dịch Trương Tấn Bửu, Nguyễn Trãi. Lần đầu tiên ở miền Nam sau năm 1954, quân cách mạng đã chiếm và làm chủ chi khu địch trong nhiều giờ, diệt, bắt và thả tại chỗ một số tên địch, thu một số thuốc men, lương thực, tiền bạc, bắt chủ đồn điền để giáo dục, cam kết không hà hiếp công nhân.

Trận Dầu Tiếng có tiếng vang lớn, là đòn báo trước cho địch con đường tất yếu của cách mạng miền Nam là không chỉ đấu tranh chính trị mà còn bạo lực vũ trang.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Bảy, 2011, 09:20:57 AM
Địch lo sợ, phản kích quyết liệt, khủng bố trắng. Lần nữa, lực lượng cách mạng bị tổn thất nặng. Trên toàn Nam Bộ, lực lượng đảng viên, cán bộ tổn thất 90%; 7 vạn đảng viên, cán bộ bị giết; gần 90 vạn cán bộ, nhân dân bị bắt…

Cách mạng miền Nam đứng trước tình thế nghiêm trọng mới. Trong bối cảnh đó, vụ ngộ độc hàng ngàn tù nhân do địch gây ra ở nhà lao Phú Lợi ngày 1-2-1958 đã gây làn sóng phẫn nộ trên cả nước. Tại Bình Long, Đảng ủy cao su đã cử 200 đại biểu công nhân (do các đồng chí Sáu Xu, Kim Anh, Năm Thiếu phụ trách) kéo xuống thị xã Bình Dương, đến tận dinh tỉnh trưởng đòi được thăm bạn nạn nhân Phú Lợi. Địch ngoan cố không giải quyết yêu sách, nhưng qua cuộc đấu tranh, công nhân Bình Long đã biểu dương sức mạnh của mình.

Cuối năm 1958, Tỉnh ủy Thủ Dầu Một thành lập ban vận động dân tộc thiểu số. đây là sự kiện có ý nghĩa đặc biệt cho việc xây dựng căn cứ rừng núi. Trước sự xuất hiện lực lượng vũ trang và hoạt động vũ trang ngày càng tăng, tháng 3 năm 1959, Ngô Đình Diệm tuyên bố đặt miền Nam Việt Nam trong tình trạng chiến tranh. Đây là thủ đoạn chuẩn bị cho biện pháp phát xít mới. Tháng 4 năm 1959 chúng mở chiến dịch “đồng tâm diệt cộng”, quốc hội Diệm thông qua luật gọi là “luật 10/59” nhằm “đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật”, cho phép xử chém không cần xét xử đối với những người cộng sản hoặc tình nghi có liên quan với cách mạng. Máy chém của chế độ tay sai Mỹ về tận xã ấp ở miền Nam và trở thành biểu tượng của chế độ Diệm. Lực lượng cách mạng lại bị tổn thất nặng nề. Đồng chí Lê Duẩn nhận định tình hình miền Nam lúc bấy giờ: “Do sự khủng bố hết sức dã man, tàn ác của địch cùng với khuyết điểm lộ liễu của chúng ta trong công tác cho nên vào năm 1959, lực lượng miền Nam ở vào tình thế hết sức nguy hiểm. Cơ sở Đảng tan vỡ đến tám phần mười, quần chúng căm hờn nhưng bị kìm kẹp gay gắt cơ hồ như quỵ xuống, không vùng lên nổi”(1).

Tình thế đang đặt ra cho nhân dân miền Nam không còn con đường nào khác là khởi nghĩa vũ trang.

Tháng 1 năm 1959, Ban Cháp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 15 mở rộng để xác định đường lối, phương châm, phương pháp cách mạng ở miền Nam trong giai đoạn mới. Hội nghị ra dự thảo Nghị quyết 15, trong đó xác định “con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về thay nhân dân”, “lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân”.

Để chuẩn bị điều kiện kháng chiến lâu dài giải phóng miền Nam, tạo thế “hậu phương lớn miền Bắc, tiền tuyến lớn miền Nam”, sau khi có Nghị quyết 15, tháng 5 nắm 1959 Trung ương quyết định thành lập đoàn 559 tạo tuyến vận chuyển bộ nối liền Bắc Nam - con đường mòn chiến lược dọc Trường Sơn; tháng 7 năm 1959 thành lập đoàn vận tải 559. Theo quyết định của Trung ương, ngày 25 tháng 5 năm 1959, một đoàn cán bộ xoi đường từ miền Bắc vào, mật danh là Đoàn B90 gồm 25 người là con em đồng bào Nam Bộ và khu 5 tập kết, do đồng chí Trần Quang Sang (Ba Phước) làm Trưởng đoàn (kiêm Bí thư chi bộ), các đồng chí Phùng Đình Ấm (Ba Cung) và Phạm Lạc làm Phó đoàn. Ra đi ngày 25 tháng 5 năm 1959, 30 tháng 10 năm 1959 Đoàn tới nam Đắk Lắc, thống nhất với đội công tác Đăk Mil thành B4 và chia làm hai mũi để vừa công tác xây dựng cơ sở trong quần chúng vừa mở đường vào Nam Bộ.

Thực hiện chỉ thị của Trung ương, Xứ ủy Nam Bộ chỉ đạo Khu ủy miền Đông tổ chức các đoàn vũ trang công tác, vừa làm nhiệm vụ công tác quần chúng, xây dựng cơ sở, mở rộng căn cứ địa miền núi, vừa xoi ngược đường từ miền Đông Nam Bộ ra để bắt liên lạc với đoàn xoi đường từ phía Bắc vào.

Đoàn vũ trang công tác gồm ba mũi:

Mũi thứ nhất, dựa vào lực lượng C200, lúc đầu do đồng chí Hai Hồng Sơn, về sau tăng cường đồng chí Nguyễn Trọng Tâm (Bảy BK) phụ trách, từ chiến khu Đ mở ra hướng Đồng Nai thượng (thuộc tỉnh Lâm Đồng).

Mũi thứ hai do đồng chí Lâm Quốc Đăng phụ trách, lực lượng chủ yếu rút từ các C240, C250 của bộ đội liên tỉnh miền Đông (trong đó có lực lượng Bình Xuyên ly khai) và số cán bộ, chiến sĩ biết tiếng Khơ Me S’tiêng như các đồng chí Hai Sẻ, Tám, Lợi, Tư Thành Công. Đoàn nhận mệnh lệnh từ sau cuộc họp quán triệt Nghị quyết 15 do Xứ ủy giao (9-1959) nhưng đến tháng 2 năm 1960 mới xuất phát từ Suối Đá 1, còn gọi là Suối Dênh Dênh ở chiến khu Đ (nay thuộc xã Tân Phước, huyện Đồng Phú), vượt lộ 14, cùng lực lượng liên tỉnh tập kích Phú Riềng lấy gạo, phục vụ cho đoàn tiến qua vùng Lệ An, Bù Rạt, Đak R’Lập, Đak Nhau mở hướng về biên giới.


(1) Tại Hội nghị nghiên cứu Nghị quyết Trung ương thứ 12. (T.G)


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Bảy, 2011, 09:24:28 AM
Tiến vào rừng núi địa bàn mới lạ, vùng dân tộc ít người, chưa có cơ sở quần chúng, lương thực, thực phẩm hết sức thiếu thốn, các đoàn công tác, mở đường chịu đựng đói ăn, đói muối, sốt rét hoành hành, sống dựa vào củ nần, củ chụp, rau rừng, măng… nhưng tất cả hướng về phía trước, tin ngày thắng lợi, vượt mọi khó khăn, gian khổ, quyết tâm hoàn thành sứ mạng mà Đảng đã giao phó.

Địch đánh hơi ta đang xây dựng căn cứ, xây dựng lực lượng, xoi đường Bắc - Nam, Nam - Bắc, chúng triển khai kế hoạch đánh phá quyết liệt, trên một diện rộng vùng rừng núi đông bắc Sài Gòn. Với lực lượng hàng vạn tên gồm cả chủ lực và địa phương, chúng triển khai quân từ khu vực giáp Phú Giáo dọc trục lộ 14 đến cây số 22 Đồng Xoài - Bù Đăng, qua vùng Cây Gáo, Túc Trưng, Định Quán, chủ yếu từ khu Đồng Xoài hướng vào căn cứ Mã Đà. Suốt 6 tháng trời, cắt đứt mọi liên lạc của đối phương trong ngoài, giữa phía nam về phía bắc, triệt để bao vây kinh tế, vừa chia ô lùng sục, có máy bay trinh sát chỉ dẫn; kết hợp kêu gọi “Việt cộng”, đầu hàng với các thủ đoạn gom hốt triệt để, dồn dân vào các trại tập trung. Bằng vũ lực, chúng đã lùa hốt, dân Bù Na, Tân Thuận, Bù Tếch I, Bù Tếch II, Phùng Hà… vào các trại tập trung ở Long Khánh, Định Quán, Gia Kiệm. Trong khi đó, dân ở Bù Cháp, Lý Lịch “một tấc không đi, một ly không rời”, kiên cường bám trụ, cùng lực lượng cách mạng chống trả địch. Bị bao vây, phong tỏa bốn, năm tháng trời, hàng ngàn người, cả lực lượng cách mạng và dân hai xã sống dựa vào củ chụp, rau rừng. Cuối cùng địch phải rút, cuộc hành quân phong tỏa dài ngày thất bại. Hai xã Bù Cháp, Lý Lịch trụ vững, trở thành cái nôi cách mạng của một vùng, là nơi cung cấp nhiều cán bộ người dân tộc của tỉnh Phước Long”(1).

Giữa năm 1959, thực hiện chủ trương của Liên tỉnh ủy miền Đông, tỉnh Thủ Dầu Một được chia ba theo cơ cấu hành chính của ngụy quyền để tạo thuận lợi trong chỉ đạo phong trào. Đảng ủy cao su Bình Long được thành lập gồm các đồng chí Tám Cường, Sáu Quyền (Sáu Su), Út Quẹo, Mười Báu, Tám Lên, Năm Sao, đồng chí Tám Cường làm Bí thư.

Ở Lộc Ninh, để vượt qua tình thế hầu hết đảng viên bị bắt, tổ chức quần chúng bị địch đánh tê liệt, Ban cán sự Đảng tổ chức 2 đội công tác quần chúng để gây cơ sở, khôi phục phong trào. Một đội đi sâu vào thị trấn để vận động công nhân và đồng bào thị trấn. Một đội thâm nhập vào các làng, sở, phum, sóc để vận động công nhân và đồng bào các dân tộc. Đội công tác nông thôn lúc đầu có Út Nhỏ, Ba Dựa được giao nhiệm vụ từ Minh Thạnh trở về bám làng, sở, phum, sóc. Thời kỳ này đảng viên hoạt động đơn tuyến, cơ sở cách mạng đồng thời là những du kích mật. Các đồng chí công tác vận động đồng bào dân tộc gặp nhiều khó khăn do chính sách “chia để trị” của Mỹ - Diệm và các chủ Tây. Thường là ngày ở rừng, đêm vào nhà quen để “lần bắt mối”, lực lượng công tác vượt qua nhiều gian khổ, thường lấy rau củ, măng rừng thay cơm, thiếu muối, sốt rét, bị địch phong tỏa… từng bước thâm nhập,. cảm hóa được đồng bào, được đồng bào che chở… từ đó mà khôi phục cơ sở đoàn, Đảng…. Lộc Tấn, Làng 2, Ninh Thái là những nơi sớm tổ chức được Đoàn thanh niên, Đặc biệt trong đại đội bảo an Lộc Ninh, ta đã xây dựng lực lượng cơ sở chiếm 1 phần tư quân số.

Ở Bình Long, năm 1959, công nhân đấu tranh dân sinh đạt một số kết quả, nổi bật là buộc chủ Tây phải trả tiền làm nhà (2000 đồng) cho những gia đình công nhân chưa có nhà. Tháng 10 năm 1959, “Tết cộng hòa” ở Minh Thạnh địch thất bại trong việc bắt công nhân “tố cộng”, chúng quay ra đàn áp. Hàng trăm đại biểu công nhân kéo đến dinh tỉnh trưởng phản đối và đòi quyền tự do dân chủ.

Ở Phước Long, đầu năm 1959, sau khi đưa dân lập các dinh điền, địch tách quận Phước Tâm ra khỏi tỉnh Biên Hòa đổi tên là quận Đức Phong nhập vào tỉnh Phước Long, lập thêm xã mới là Vĩnh Thiện. Tháng 9 năm 1959, vùng Thiện Hưng phát triển thêm một chi bộ do đồng chí Võ Đức Hòa (Hai Một) làm Bí thư. Từ hạt nhân ban đầu chỉ có vài đảng viên cốt cán bám trụ xây dựng cơ sở trong điều kiện hết sức khó khăn, phức tạp, đến đầu năm 1960, Phước Long đã có hơn chục chi bộ cơ sở với hơn 30 đảng viên.

Tháng 9 năm 1959, Đại hội Xứ ủy Nam Bộ (mở rộng đến Bí thư Tỉnh ủy), được triệu tập tại Trảng Chiên (vùng căn cứ bắc Tây Ninh), nhằm quán triệt Nghị quyết Trung ương lần thứ 15 và đề ra phương hướng thực hiện Nghị quyết trong tình hình thực tế ở Nam Bộ, trong đó nhiệm vụ hàng đầu là xây dựng lực lượng, chính trị và vũ trang, lực lượng vũ trang sẽ giữ vai trò nòng cốt cho toàn dân khởi nghĩa.


(1) Hai xã Bù Cháp, Lý Lịch đều được Nhà nước tặng danh hiệu xã anh hùng lực lượng vũ trang. (T.G)


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Bảy, 2011, 09:27:36 AM
Tuy Nghị quyết chưa được phổ biến rộng rãi trên chiến trường, nhưng với yêu cầu bức bách của tình hình, với tình cảm của mọi đảng viên, cán bộ và nhân dân miền Nam, trên chiến trường tinh thần “vũ trang” đã “đến trước”, gây thành khí thế mạnh mẽ và đầy tin tưởng sau bao năm trăn trở, vướng mắc, dồn nén.

Trong không khí phấn chấn, náo nức từ những tin “đồng khởi” Bến Tre (1-1-1960), chiến thắng Tua Hai (26-1-1960) ở Thủ Dầu Một, ngày 31 tháng 1 năm 1960, tại căn cứ Giếng Chảo rừng An Điền (Bến Cát), Tỉnh ủy Thủ Dầu Một họp mở rộng đến các Bí thư Huyện ủy để quán triệt Nghị quyết 15 và bàn kế hoạch khởi nghĩa trong toàn tỉnh(1). Đánh giá phong trào cách mạng trong tỉnh, tỉnh ủy thống nhất nhận định: Tuy những chiến dịch “đồng tâm diệt cộng” và luật 10/59 của Mỹ - ngụy có gây cho ta những tổn thất mới, nhưng phong trào vẫn được giữ vững và phát triển là nhờ có sự chỉ đạo kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị và hoạt động vũ trang tự vệ hỗ trợ. Tỉnh ủy quyết định chọn ngày 25 tháng 2 năm 1960 làm ngày đồng khởi toàn tỉnh.

Cơ quan đồng khởi đóng tại Bưng Xóm (xã Minh Hòa).

Ở Bình Long (lúc này chưa có Đảng bộ mà có chi bộ Hớn Quản), đúng ngày 25 tháng 2 năm 1960, với vũ khí rất ít nhân dân Bình Long cùng lực lượng vũ trang tuyên truyền nổi dậy phá kìm, diệt ác. Tại các làng xã nông thôn, đồn điền, nông dân, công nhân đồng loạt đánh trống rải truyền đơn, treo băng rôn, biểu ngữ, dùng ống tre nhét khí đá đốt trộn ra tiếng nổ để phân tán lực lượng phản kích của địch. Trước khí thế quần chúng, lực lượng dân vệ, cảnh sát địa phương tuy đông (mỗi xã có 1 trung đội dân vệ cùng nhiều công an, cảnh sát) nhưng không dám khủng bố, bỏ chạy. Đội vũ trang Bình Long đã đột nhập khu dinh điền làng 3 Xa Cát… diệt ác ôn, tề ngụy. Nổi bật là trận diệt tên ác ôn An Vĩnh ở Rờlin thu 3 súng. Cuộc nổi dậy của nhân dân Bình Long đạt được mục tiêu cơ bản, ta làm chủ phần lớn nông thôn, địch co lại. Đặc biệt ở các xã Tân Khai, Minh Thạnh, ta diệt được nhiều tên địch, thu nhiều súng, nhiều đạn. Cờ đỏ búa liềm giương cao trên vùng ta làm chủ. Chi bộ Hớn Quản tổ chức ngay những buổi sinh hoạt chính trị trong dân: mít tinh, họp mặt để phổ biến, giải thích đường lối cách mạng của Đảng, vạch trần tội ác, âm mưu kẻ thù, những việc cần làm ngay, xác định nhiệm vụ trung tâm là xây dựng lực lượng chính trị, vũ trang. Nhiều gia đình đã chuẩn bị quần áo, võng để đưa con em tham gia lực lượng cách mạng. Hơn 50 thanh niên ở Hớn Quản đã vào vùng căn cứ. Tổ chức Đảng, Đoàn phát triển mạnh.

Ở Lộc Ninh, đến mùa xuân 1961, Nghị quyết 15 mới về đến cơ sở, tuy nhiên năm 1960 đã đạt nhiều thành quả về xây dựng lực lượng chính trị và đặt nền móng xây dựng lực lượng vũ trang tại chỗ. Từ đầu năm 1960, qua hoạt động của mũi vận động công nhân do đồng chí Bảy Nguyệt chỉ huy, một chi bộ ở phố chợ thị trấn đã được thành lập gồm 3 đảng viên. Các đảng viên của chi bộ đi sâu vào các làng cao su 2, 3, 5, 11, Cốc Rưới, công tác vận động thanh niên, tổ chức mỗi nơi một chi đoàn.

Tháng 5 năm 1960, một tổ tuyên truyền vũ trang thuộc lực lượng của Xứ ủy, do đồng chí Năm Trực phụ trách đã được giao nhiệm vụ về hoạt động ở Lộc Ninh - Bộ phận này liên lạc với tổ công tác của đồng chí Út Nhỏ và theo chỉ đạo của Ban cán sự, hai bộ phận chia làm 3 tổ: vũ trang công tác, một tổ phụ trách khu vực Lộc An, Lộc Hòa, Cốc Rưới(2); tổ đồng chí Năm Trực phụ trách khu vực làng 2, Đất Đỏ, Bù Nồm, Bù Dinh, Bù Ai, Chơ Ram; tổ đồng chí Tảo phụ trách khu Tây Lộc Ninh. Được sự hỗ trợ của các đội vũ trang công tác, đồng bào Kinh, Thượng các làng, sở, phum, sóc đẩy mạnh đấu tranh đòi quyền sống, đồng thời phối hợp giúp đỡ lực lượng vũ trang, tiến đánh các đồn bốt địch ở Brêlin, Lộc Tấn, Làng 2, chợ Lộc Ninh, làng 1, làng 11. Mầm mống lực lượng vũ trang địa phương hình thành: đội du kích mật được thành lập, lúc đầu do đồng chí Út Nhỏ chỉ huy, trang bị vài súng (trên cho và lấy được của địch).

Đồng Phú nằm trong điều kiện, hoàn cảnh chung của Biên Hòa, không có phong trào đồng khởi, song hoạt động vũ trang, tuyên truyền đã góp vào khí thế chung trên chiến trường. Để tạo thế và hỗ trợ Bình Long nhanh chóng xây dựng, mở rộng vùng căn cứ và phát động quần chúng trên những vùng mới mở, Xứ ủy và Liên tỉnh ủy miền Đông chủ trương đưa lực lượng tập trung lên hướng Đồng Xoài - Bù Đăng. Phát huy chiến thắng Tua Hai, mở cửa tiến công Đồng Xoài, lực lượng vũ trang từ Phước Long sang đã tiến công tiêu diệt các đồn An Bình, Nước Vàng, giải tán các trạm kiểm lâm của địch ở các cửa khẩu. Đêm 28 tháng 1 năm 1960, ta tiến công chi khu Đồng Xoài, thu nhiều chiến lợi phẩm. Trên 20 ngày sau, đêm 19 rạng ngày 20 tháng 2 năm 1960 ta tấn công sở Phú Riềng chiếm kho gạo dự trữ của sở (trận này có lực lượng xoi đường của đồng chí Lâm Quốc Đăng phối hợp). Ta huy động nhân dân Bù Na - Tân Thuận và dùng ô tô của sở Phú Riềng chuyển gạo vào rừng. Số gạo do dân vận chuyển, Ban cán sự vùng giải quyết cứu đói cho đồng bào; số gạo do ô tô chở ra để tập trung, hôm sau địch phản kích phá hủy (ta hy sinh một cán bộ hậu cần).


(1) Theo sách “Truyền thống đấu tranh cách mạng của quân và dân Bình Long” của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Bình Long (xuất bản năm 1988): Tháng 7-1959, Nghị quyết 15 của Trung ương đã đến Bình Long và được Đảng ủy cao su tổ chức hội nghị triển khai tại Suối Lạnh (Tân Khai). Theo đồng chí Ngô Thanh Phong (năm 1960 công tác ở Đảng ủy cao su Hớn Quản). tại hội nghị này đội vũ trang tuyên truyền đầu tiên của Bình Long được thành lập gồm 5 người (Út Nhỏ, Tư Lớn, Chín Liên, Ba Dừa do Út Lớn phụ trách), hoạt động từ Bình Long đến Lộc Ninh. (T.G)
(2) Chưa rõ người phụ trách lúc bấy giờ, năm 1962 đồng chí Tư Thành Công phụ trách. (T.G)


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Bảy, 2011, 09:30:09 AM
Tháng 1 năm 1960, ta mở tiếp đợt hoạt động ở chiến trường Bù Đăng. Lực lượng được huy động gồm các đơn vị C200, C59, C300, C250, C260, Ban chỉ huy gồm: Nguyễn Việt Hồng (chỉ huy Trưởng), Nguyễn Như Phong (chỉ huy Phó). Được sự hướng dẫn của cơ sở cách mạng ở địa phương, 28 tháng 1 năm 1960 đánh trận mở màn ở Đồng Xoài; 20 tháng 2 đánh trận thứ 2; đêm 28 rạng 29 tháng 6 năm 1960 quân ta đồng loạt tiến công các mục tiêu: quận lỵ Đức Phong, dinh điền Vĩnh Thiện, chặn viện cầu 38. Bị đánh bất ngờ, địch ở quận lỵ Đức Phong, dinh điền Vĩnh Thiện, bỏ chạy, ta thu chiến lợi phẩm. Địch ở Bù Na đến ứng cứu quận lỵ Đức Phong bị ta chặn đánh, phải tháo lui. Kết quả ta diệt một số địch, thu 30 súng, có 2 trung liên. Riêng tại chốt Tân Minh, ta thu kho gạo 18 tấn. Đồng chí Vũ Hùng ở bộ phận chặn viện cầu 38 anh dũng hy sinh.

Với những đặc thù riêng: đồng bào miền núi, dân tộc ít người, cơ sở cách mạng chưa có hoặc có mà ít, yếu, lực lượng cách mạng thoát ly mỏng… vùng Phước Long không có phong trào đồng khởi diễn ra đồng loạt, sôi nổi, rầm rộ như ở vùng dân cư có cơ sở mạnh. Tuy nhiên, ở đây lực lượng cách mạng cũng đã tranh thủ thời cơ hoạt động hưởng ứng phong trào, đẩy mạnh vũ trang tuyên truyền, mở mảng, mở vùng, phát triển cơ sở, xây dựng lực lượng trong quần chúng dân tộc ít người.

Sau cuộc càn quét, phong tỏa dài ngày của địch. Ban cán sự vùng Tân Thuận - Bù Na nhanh chóng ổn định tình hình, sắp xếp lại tổ chức các cơ sở quần chúng. Đầu năm 1960, tại Nước Sông, Ban cán sự vùng tổ chức cuộc Hội nghị cán bộ cốt cán trong đồng bào dân tộc, có khoảng 50 người dự. Hội nghị bàn các nội dung: xây dựng khối đoàn kết dân tộc Thượng, Kinh, phát động tinh thần cách mạng, hướng dẫn quần chúng đấu tranh chống địch bắt xâu, bắt lính, chống dồn dân và tổ chức người móc nối với số dân bị gom về Long Khánh, kêu họ trở về buôn làng cũ. Hội nghị cử Ban Chấp hành Mặt trận dân tộc do ông K’Lư làm chủ tịch có 3 ủy viên. Một đội vũ trang tuyên truyền 9 người được thành lập gồm những thanh niên thoát ly (trong số này có Điểu Ông là người sau này được nhà nước tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang), hướng hoạt động của đội là Bù Đăng.

Để chuẩn bị điều kiện thành lập tỉnh Đảng bộ Phước Long tách khỏi Đảng bộ Biên Hòa, trong những tháng đầu năm 1960, cấp trên đã điều nhiều cán bộ về Phước Long(1), trong đó các đồng chí Phạm Thuận (Ba Thu), Hai Đính là cán bộ cấp tỉnh.

Tháng 6 năm 1960, tại căn cứ vùng suối Dak Có(2), Ban cán sự tỉnh Đảng bộ Phước Long được thành lập, đồng chí Phạm Thuận được chỉ định làm Bí thư, đồng chí Ba Phú Phó Bí thư và đồng chí Hai Đính ủy viên. Việc thành lập tỉnh Đảng bộ Phước Long đáp ứng yêu cầu bức thiết lúc này là lãnh đạo thống nhất lực lượng nhanh chóng mở rộng địa bàn, phát triển cơ sở, xây dựng các tổ chức quần chúng cách mạng trong đồng bào dân tộc, trong các dinh điền và đồn điền cao su, xây dựng vùng căn cứ, nối liền với chiến khu Đ và mở đường liên lạc với Trung ương. Đồng chí Phạm Thuận phụ trách chung đồng thời trực tiếp chỉ đạo công tác mở đường, đồng chí Ba Phú phụ trách khối dân tộc, đồng chí Hai Đính phụ trách khối cao su. Về quân sự, Ban cán sự Tỉnh đội Phước Long được thành lập gồm các đồng chí Ba Khanh, Hai Phong, Hùng mắt kính.

Lực lượng Đảng bộ lúc đầu chỉ có 10 chi bộ với 30 đảng viên, đa số là cán bộ, hình thành văn phòng Ban cán sự và các mũi công tác. Ban cán sự quyết định tổ chức các K tương đương cấp huyện. K1 ở Bù Đốp do đồng chí Hai Công Chánh làm Bí thư. K2 gồm các sở cao su và thị trấn Đồng Xoài do đồng chí Hái Đính làm Bí thư. K3 gần đường 20 và dinh điền Vĩnh Thiện lúc đầu do đồng chí Võ Đức Hòa (Hai Một) làm Bí thư. K4 vùng Đak Nhau - Bom Bo do đồng chí Tư Quý phụ trách là người được tỉnh giao nhiệm vụ tìm bắt liên lạc với hai cánh mở đường của đồng chí Lâm Quốc Đăng và Bảy Cổ, mua lúa gạo trong dân để dự trữ cho tỉnh chuyển về căn cứ K4 và chuẩn bị cung cấp cho khách từ miền Bác về khi con đường Bắc - Nam được khai thông.

Tháng 11 năm 1960, Ban cán sự tỉnh Phước Long liên lạc được với hai cánh mở đường, chuyển căn cứ về Bu Liên - Đak Nhau. Đồng chí Lâm Quốc Đăng về Liên Tỉnh ủy miền Đông, đồng chí Bảy Cổ được bổ sung vào Ban cán sự tỉnh thống nhất lực lượng mở đường và lực lượng ở Biên Hòa lên, hình thành các cơ quan tỉnh. Đồng chí Phạm Thuận tiếp nhận lực lượng đồng chí Lâm Quốc Đăng giao lại, thành lập đội vũ trang tuyên truyền C270 của Xứ ủy. Địa bàn mới, lực lượng đông, cơ sở quần chúng vừa phát triển, khó khăn về lương thực. Tại căn cứ Đak Liên khẩu phần gạo mỗi cán bộ, chiến sĩ, nhân viên cơ quan chỉ được nửa lon một ngày. Địa danh “căn cứ cửa lon” ghi dấu những ngày gian khổ của Phước Long đã ra đời từ đây.

Đơn vị C270 vừa thành lập do đồng chí Ba Nhân, chỉ huy trưởng, đồng chí Hai Hùng (mắt kiếng) Chính trị viên, tiếp tục nhiệm vụ mở đường, đặt dưới sự lãnh đạo của Ban cán sự tỉnh Phước Long, trở thành đơn vị vũ trang tỉnh Phước Long.

Với phương thức hoạt động là vừa gây dựng cơ sở vừa xoi đường, lực lượng mở đường vượt qua nhiều gian khổ, trong đó phải lánh địch mà đi. Có lần mũi mở đường của đồng chí Mười Thuộc bị lộ, địch tung một tiểu đoàn biệt kích lùng sục gắt gao, phải tạm lùi về căn cứ.


(1) Như các đồng chí Tư Thân, Hai Cao, Ba Thọ, Hai Hùng, Bảy Chiến, Ba Kim, Bảy Mang, Tư Bốn, Chín Bản, tư Mạo, Tư Quý. (T.G)
(2) Buôn Bù Có, nay nằm trong xã Thống Nhất, huyện Bù Đăng. (T.G)


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Bảy, 2011, 09:31:44 AM
Ngày 30 tháng 10 năm 1960, lúc 16 giờ, tổ mở đường của C200 gồm các đồng chí Tâm, Tư, Cột bắt liên lạc được với tổ mở đường của Đoàn B90 từ Trung ương vào, gồm các đồng chí Lạc, Nhường, Đỏ tại Vàm sông Đak Tích - Đồng Nai Thượng, nam Gia Nghĩa. Tiếp sau đó, ở hướng tây bắc, ngày 4 tháng 11 năm 1960, lúc 20 giờ, theo điểm hẹn qua điện đài, tại chân trụ cây số 4, đường 14 bis, tính từ ngã ba Đak Song vào Gia Nghĩa, tổ vũ trang của Phước Long do đồng chí Hai Hùng và các đồng chí Chín Châu, Bé, Chiến bắt liên lạc được với tổ mở đường của Đoàn B90 do các đồng chí Ấm, Bảy Kính, Ba Quai và Ama Sa phụ trách. Các đoàn mở đường Bắc - Nam, Nam - Bắc đã hoàn thành nhiệm vụ. Từ đó, một nhánh của con đường mòn chiến lược Bắc Nam xuyên qua vùng ba biên giới, nơi tiếp giáp các chiến trường Nam Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Campuchia được nối liền, thông hành lang từ Trung ương đến Xứ ủy Nam Bộ.

Đến lúc này, nhìn chung ở Bình Phước ta đã làm chủ một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Tỉnh Phước long được đón tiếp đoàn cán bộ quân sự đầu tiên từ miền Bắc vào Nam Bộ do đồng chí Tăng Thiên Kim phụ trách. Ban Cán sự tỉnh Phước Long chi viện cho các đồng chí Phùng Đình Ấm, Lê Văn Tây, một số chiến sĩ để tổ chức các trạm giao liên tiếp giáp Phước Long và Quảng Đức, góp phần xây dựng một đoạn hành lang tiếp giáp Nam Bộ và Nam Tây Nguyên những ngày đầu.

Con đường mòn chiến lược dọc Trường Sơn thời đánh Mỹ sau này mang tên Hồ Chí Minh đã đi vào lịch sử dân tộc như một huyền thoại. Đảng ủy miền Đông tích cực lãnh đạo xây dựng địa bàn căn cứ miền Đông thành hậu phương vững chắc cả chiến trường Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ, nơi đứng chân các cơ quan lãnh đạo từ Xứ ủy, Trung ương Cục đến các khu ủy ở miền Đông. Về kinh tế, bằng mọi cách sản xuất ra nhiều lương thực, chuẩn bị vật chất và mọi điều kiện cần thiết để đón tiếp lực lượng chi viện từ miền Bác vào. Về đường dây, trước mắt phải thông từ đường Trường Sơn tới các tỉnh lân cận.

Ngày 20 tháng 12 năm 1960, tại một địa điểm trên vùng căn cứ bắc Tây Ninh, Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam họp, thành lập Mặt trận dân tộc giải quyết miền Nam Việt Nam do luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm chủ tịch. Mặt trận thành lập nhằm tập hợp mọi tầng lớp nhân dân, không phân biệt giai cấp, đảng phái, tôn giáo, xu hướng chính trị, cùng đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và tập đoàn tay sai Mỹ, thực hiện độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc.

Với cuộc đồng khởi năm 1960 làm phá sản chiến lược “tố cộng - diệt cộng” của Mỹ - ngụy, nhân dân miền Nam đặt tiền đề mới về thế và lực để chuyển giai đoạn cách mạng ở miền Nam, từ đấu tranh chính trị sang đấu tranh giải phóng.

*

Cũng như toàn miền Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Bình Long, Phước Long đã trải qua giai đoạn đấu tranh chính trị trong sự tiến công quyết liệt của kẻ thù nắm bộ máy và lực lượng cai trị, đàn áp, gây cho ta nhiều tổn thất, trong đó miền rừng núi, căn cứ cũ, đồn điền là những mục tiêu tập trung đánh phá của chúng. Trong tinh thế không thuận lợi và đầy gian khổ, ác liệt, có lúc, có nơi phong trào cách mạng đã tạm thời lâm vào thế thoái trào, nhưng trên toàn cục suốt hơn 6 năm thì đó là quá trình giữ vững và phát triển để tiến lên bước chuyển lớn vào năm 1960. Đó là nhờ Đảng bộ địa phương đã tương đối kịp thời có chủ trương chuyển hướng tổ chức và hoạt động, hình thành được tổ chức lãnh đạo và đề ra phương châm, phương thức hoạt động phù hợp với từng vùng rừng núi, đồn điền, nông thôn, vùng dân tộc ít người, vùng công nhân, nông dân… nhưng trong số đó cái chung vẫn là giữ vững lòng tin, kiên trì bám dân, dựa vào dân, thực hiện cả hai yêu cầu xây dựng và phát triển lực lượng cả chính trị, vũ trang, xây dựng và phát triển căn cứ. Xây dựng lực lượng chính trị bắt đầu từ những cuộc phát động đấu tranh dân sinh, dân chủ phù hợp yêu cầu quyền lợi quần chúng, từ đó xây dựng cơ sở cách mạng và xây dựng Đảng. Xây dựng lực lượng vũ trang bắt đầu từ việc xây dựng những đội, mũi công tác, vũ trang tuyên truyền, tiến lên những đội vũ trang tự vệ diệt ác và đơn vị vũ trang ngay trước và trong những ngày đồng khởi. Vùng đồn điền, vùng nông thôn, vùng rừng núi có dân tộc ít người đều có những đặc điểm riêng, hoàn cảnh riêng, vì vậy mà đồng khởi diễn ra không đồng loạt và có hình thức phù hợp cho môi vùng. Nơi tập trung dân, cơ sở quần chúng mạnh (như Hớn Quản) thì võ trang tuyên truyền kết hợp quần chúng nổi dậy diệt ác phá kìm, lật ngược thế, giành quyền làm chủ; nơi dân thưa, cơ sở ít, lực lượng mỏng thì chủ yếu là hoạt động xây dựng cơ sở, xây dựng lực lượng chính trị. Cuộc đồng khởi ở Bình Phước không chỉ khôi phục lại vùng căn cứ cho địa phương mà cho cả miền Đông, đồng thời nối tiếp đường Trường Sơn vào chiến trường Nam Bộ. Bài học về xây dựng lực lượng, xây dựng Đảng cũng bắt đầu từ xây dựng cơ sở, xây dựng lực lượng chính trị từ nhân dân.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Bảy, 2011, 08:34:17 AM
CHƯƠNG NĂM

XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VÀ THẾ TRẬN
CHIẾN TRANH NHÂN DÂN, GÓP PHẦN
ĐÁNH BẠI CHIẾN LƯỢC CHIẾN TRANH
ĐẶC BIỆT CỦA ĐẾ QUỐC MỸ (1961-1965)

I. PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG, XÂY DỰNG THẾ TRẬN
CHIẾN TRANH NHÂN DÂN ĐỊA PHƯƠNG
GÓP PHẦN XÂY DỰNG ĐƯỜNG MÒN HỒ CHÍ MINH,
ĐÁNH BẠI KẾ HOẠCH STALEY - TAYLOR VÀ
“QUỐC SÁCH ẤP CHIẾN LƯỢC” CỦA ĐỊCH

Cuộc đồng khởi 1960 của quân dân miền Nam đã tạo bước chuyển giai đoạn của cách mạng ở miền Nam từ đấu tranh chính trị sang chiến tranh cách mạng: chiến tranh nhân dân ở miền Nam chống chiến lược mới của đế quốc Mỹ là chiến tranh đặc biệt, thay thế cho chiến lược tố cộng đã bị phá sản. Cùng với quân và dân toàn miền, quân và dân Bình Phước xây dựng và phát triển mọi mặt, tạo thế và lực chiến tranh nhân dân địa phương nhằm thắng địch trên một địa bàn căn cứ có ý nghĩa sống còn đối với chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ.

Tháng 1 năm 1961, Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra chỉ thị cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (tháng 9-1960), trong đó có đoạn: “Thời kỳ tạm ổn định của chế độ Mỹ - Diệm đã qua và thời kỳ khủng hoảng liên tiếp, suy sụp nghiêm trọng đã bắt đầu, các hình thái du kích cục bộ, khởi nghĩa từng phần đã xuất hiện ngày càng rộng lớn. Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn quyết dùng bạo lực tiêu diệt cách mạng nên con đường tất yếu sẽ dẫn đến là cuộc Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa của nhân dân sẽ bùng nổ lật chính quyền Mỹ - Diệm, giải phóng miền Nam”.

Về hình thức và phương châm, Bộ Chính trị xác định: “Phải đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh chính trị, tiến công địch bằng cả hai mặt trận chính trị, quân sự, đấu tranh trên cả ba vùng chiến lược”. Song do đặc điểm phong trào cách mạng miền Nam phát triển không đều, so sánh lực lượng giữa ta và địch ở mỗi vùng khác nhau, nên phải vận dụng phương châm đấu tranh linh hoạt, thích hợp từng vùng: vùng rừng núi lấy đấu tranh quân sự làm chủ yếu, vùng nông thôn và đồng bằng đấu tranh quân sự và chính trị có thể ngang nhau, vùng đô thị lấy đấu tranh chính trị làm chủ yếu có vũ trang hỗ trợ, trong đấu tranh giữ thế hợp pháp với địch, nhưng từng lúc dùng cả đấu tranh không hợp pháp.

Về nhiệm vụ cụ thể, chỉ thị nêu rõ: “Ra sức xây dựng mau chóng lực lượng ta cả về hai mặt chính trị và quân sự, tập hợp đông đảo lực lượng cách mạng. Mặt trận dân tộc giải phóng, phát động phong trào đấu tranh chính trị mạnh mẽ trong quần chúng, tích cực tiêu diệt sinh lực địch, làm tan rã chính quyền và lực lượng địch trên phạm vi ngày càng rộng lớn, tiến lên làm chủ rừng núi, giành lại toàn bộ đồng bằng, ra sức xây dựng cơ sở, và đẩy mạnh đấu tranh chính trị ở đô thị, tạo mọi điều kiện và nắm mọi thời cơ để đánh đổ chính quyền Mỹ - Diệm, giải phóng miền Nam”.

Đế quốc Mỹ sau thất bại chiến lược “tố cộng” đã thăm dò, tính toán hơn một năm, mới quyết định thực thi một chiến lược ở miền Nam Việt Nam, mang tên “chiến lược chiến tranh đặc biệt” còn gọi là “chiến tranh không lật đổ” trong khuôn khổ chiến lược toàn cầu của Mỹ là “phản ứng linh hoạt, nhằm đánh bại phong trào cách mạng đã phát triển thành chiến tranh du kích”. Công thức của chiến lược chiến tranh đặc biệt là: quân ngụy, vũ khí Mỹ, đặt dưới sự chỉ huy của cố vẫn Mỹ; biện pháp trung tâm của chiến lược này là “ấp chiến lược”, trước mắt là triển khai ngay kế hoạch mang tên Staley - Taylor, bình định miền Nam 18 tháng, quyết giành thắng lợi quyết định(1) mở đường cho việc kết thúc chiến tranh toàn thắng trong năm 1965.

Địch tăng quân ngụy, tăng cố vấn Mỹ, tổ chức lại chiến trường, giải tán các quân khu, chia lại lãnh tổ miền Nam thành các vùng chiến thuật, khu chiến thuật, kiện toàn các tiểu khu (cấp tỉnh), chi khu (cấp quận). Địa bàn Bình Phước lúc này cùng với Thủ Dầu Một và Biên Hòa nằm trong khu chiến thuật 31, vùng chiến thuật 3 của địch(2). Lực lượng thường trực của quân ngụy trên địa bàn Bình Phước chủ yếu là các đơn vị của sư đoàn 5 bộ binh ngụy.

Theo yêu cầu của tình hình, nhiệm vụ mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng quyết định thành lập lại Trung ương Cục thay cho Xứ ủy Nam Bộ, phạm vi lãnh đạo lúc đầu là toàn miền Nam, sau đó, căn cứ hoàn cảnh cụ thể, phạm vi được giới hạn là chiến trường Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ (gọi là B2). Căn cứ đầu tiên của Trung ương Cục tại Suối Nhung, bắc Mã Đà(3). Cùng với hệ thống các cơ quan Đảng, Mặt trận, đoàn thể, hệ thống cơ quan quân sự được xác lập từ Miền đến xã. Ngày 15 tháng 2 năm 1961, Quân giải phóng miền Nam được công bố thành lập từ sự thống nhất các lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam. Bộ Chính trị xác định phải xây dựng ba thứ quân, trong đó, lực lượng vũ trang địa phương tỉnh sẽ gồm dân quân du kích, bộ đội địa phương huyện, một số đơn vị tập trung tỉnh đủ sức đảm nhận vai trò nòng cốt phong trào chiến tranh nhân dân ở tỉnh.


(1) Tháng 6-1961, Tổng thống Mỹ cử đoàn Staley sang miền Nam Việt Nam để vạch kế hoạch dập tắt phong trào cách mạng ở đây trong 18 tháng (từ tháng 6-1961 đến cuối năm 1962) - 3 tháng sau, Chủ tịch Hội đồng liên quân Mỹ Taylor lại sang miền Nam nghiên cứu tình hình, bổ sung các vấn đề quân sự cho kế hoạch Staley. Tháng 11-1961 Tổng thống Mỹ, Kennedy và Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ thông qua “chiến lược chiến tranh đặc biệt” và chuẩn y kế hoạch Staley - Taylor.
Tháng 8-1962, Diệm chính thức thông qua “quốc sách ấp chiến lược” quyết lập cho được 16000 khu, ấp chiến lược ở miền Nam trong 18 tháng.
(2) Các tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng các tỉnh Phước Long, Bình Long là thiếu tá Mã Sanh Nhơn, thiếu tá Nguyễn Thành Thông. (T.G).
(3) Nay thuộc xã Tân Lập (T.G)


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Bảy, 2011, 08:40:08 AM
Về tình hình quân số ở Bình Long, Phước Long từ trước đồng khởi đến cuối thời kỳ chống chiến lược chiến tranh đặc biệt đã có những biến đổi như sau:

Tỉnh
1957
1963
1965
Bình Long    64200 người
79000 người
65000 người
(Thị xã An Lộc 54000)
Phước Long    390000 người
62000 người
42000 người
(Thị xã Phước Bình 2000)
   

Việc trước mắt thời gian này là khẩn trương xây dựng lực lượng nhằm đáp ứng yêu cầu của chiến tranh nhân dân. Ở những vùng ta làm chủ (chủ yếu là vùng cao su và vùng dân tộc), khí thế cách mạng đang lên cao; lực lượng thanh niên, nhất là công nhân ở các làng và đồn điền cao su, được chi bộ Đảng và cơ sở cách mạng bên trong cùng các đội mũi vũ trang vận động tham gia cách mạng ngày càng đông như: ở Lộc Ninh, Xa Cam, Xa Trạch. Quản Lợi, Phú Riềng, Thuận Lợi, dinh điền Vĩnh Thiện đã có thanh niên tình nguyện vào quân giải phóng. Lực lượng thoát ly sau khi được học tập, huấn luyện, bổ sung cho các đội mũi công tác, các đội vũ trang. Du kích tập trung, bộ đội địa phương bước đầu được xây dựng ở cấp tiểu đội, trung đội.

Ở Bình Long, Đảng ủy đồn điền cao su được củng cố lại sau khi đồng chí Tám Cường (Bí thư) hy sinh (tháng 9 năm 1959), đồng chí Sáu Xu làm Bí thư, các ủy viên: Mười Bào, Út Quẹo, Năm Cánh. Đầu năm 1961, đồng chí Ba Nghệ (Bùi Đoàn), ủy viên thường vụ Tỉnh ủy Thủ Dầu Một được phân công về phụ trách Bình Long.

Tháng 5 năm 1961, với chủ trương mở rộng căn cứ Miền, Trung ương cục quyết định sáp nhập C150(1) vào Bình Long và bổ sung cho Bình Long một số cán bộ (Tư Mai, Tám Ba, Tư Huỳnh, Tư Hưng…), một trung đội do Năm Phước phụ trách. Đến tháng 10 năm 1961, Bình Long được trên quyết định tách khỏi tỉnh Thủ Dầu Một, thành một tỉnh riêng. Đảng bộ Bình Long được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương Cục. Địa giới của tỉnh quy định theo địa giới của địch. Ban Cán sự Bình Long mang mật danh C35, gồm các đồng chí Ba Nghệ (Bùi Đoàn) Bí thư, Tư Mai - Phó Bí thư, Năm Thành - Ủy viên. Thống nhất vùng cao su và vùng nông thôn thành 3 quận, mỗi quận mang mật danh riêng, gọi là C: C45 tương ứng với quận Chơn Thành, do đồng chí Hai Luận phụ trách (về sau đồng chí Tư Huỳnh thay); C55 tương ứng với quận Hớn Quản (bao gồm cả thị xã An Lộc) do đồng chí Lê Văn Hai (Năm Béo) phụ trách (sau đồng chí Năm Nhẫn thay); C65 tương ứng với Lộc Ninh do đồng chí Sáu Xu phụ trách.

Cuối tháng 7 đầu tháng 8 năm 1961, các đoàn cán bộ quân sự Trung ương tăng cường cho chiến trường B2 lần lượt vào tới miền Đông Nam Bộ. Các tổ chức quân sự theo lãnh thổ ở Nam Bộ được thành lập. Quân khu 7 (còn gọi là T1) gồm các tỉnh Tây Ninh, Bình Dương, Bình Long, Phước Long, Phước Thành, Biên Hòa, Bà Rịa; Tư lệnh kiêm chính ủy đầu tiên là Nguyễn Hữu Xuyến, căn cứ đóng tại Suối Linh (chiến khu Đ).

Tháng 8 năm 1961, Miền lại bổ sung cho Bình Long một số cán bộ quân sự tập kết ra Bắc vừa trở về miền Nam (các đồng chí Tô Hiến Thìn, Lê Hùng, Lê Văn Tựu, Lê Cho, Tô Thanh Việt, Nguyễn Quang Thưởng…), đây là nguồn để thành lập các cơ quan quân sự.

Cuối năm 1961, Trung ương Cục lại điều 10 cán bộ từ Bến Tre bổ sung cho Bình Long, trong đó có các đồng chí Tám Nhất, Năm Phong… để tăng cường đội ngũ cán bộ lãnh đạo phong trào.

Ở các quận của Bình Long các đội, mũi công tác(2) đều được củng cố, bám sát cơ sở để hoạt động.

- Mũi hoạt động vùng dân tộc ở các xã An Khương, An Quí A, An Quí B, Phú Lố, Bình Quới, do đồng chí Hai Sẻ phụ trách.

- Mũi hoạt động vùng Phú Miêng do đồng chí Chín Chùa phụ trách.

- Mũi hoạt động vùng Sóc Trào do đồng chí Sử phụ trách.


(1) Tháng 3 năm 1961, căn cứ địa khu A lấy phiên hiệu là C150, Lâm Quốc Đăng làm Bí thư Đảng ủy. C150 thuộc quân khu miền Đông (T1) có nhiệm vụ xây dựng căn cứ cho Trung ương Cục, xây dựng lực lượng vũ trang bảo vệ căn cứ, tổ chức sản xuất, hoạt động hậu cầu. (T.G)
(2) Đội phụ trách vùng lớn, gồm nhiều mũi hoạt động trên từng khu vực.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Bảy, 2011, 08:52:00 AM
Ở quận Chơn Thành:

- Mũi hoạt động vùng Xa Trạch, Bò Com, Văn Hiên, Sóc Tranh, Sóc Lớn, Sóc Tó, Tổng Cui, Sóc Đăng do đồng chí Năm Thiếu phụ trách.

- Mũi hoạt động vùng Xa Cát, Minh Đức, Sở Nhất do đồng chí Tám Liên phụ trách (đây là mũi mạnh nhất của quận).

- Mũi hoạt động vùng Minh Hòa, sở Minh Thạnh, Sóc số 5, 20 do Bảy Nguyệt phụ trách (đây là mũi mạnh nhất).

- Mũi hoạt động ở vùng Tân Khai, Tàu Ô, dọc quốc lộ 13 do đồng chí Năm Ẩn phụ trách.

- Mũi hoạt động vùng nông thôn Minh Thạnh, các dinh điền Căm Xe, Cầu Chà Và, Cây Dừng do đồng chí Chín Thu phụ trách.

- Mũi hoạt động vùng thượng Chơn Thành, dinh điền Đồng Hưu, Xóm Ruộng, do đồng chí Một Sai phụ trách.

- Mũi hoạt động vùng Nha Bích, Sóc Xà Nạp, Sóc Ứng, Sóc Ruộng do đồng chí Năm Kinh phụ trách.

Ở Lộc Ninh:

- Đội công tác được sắp xếp lại do Út Nhỏ làm đội Trưởng, Nam Hồng làm đội Phó. Đội chia làm nhiều mũi: mũi thị trấn do Út Nhỏ phụ trách; mũi bắc Lộc Ninh gồm Lộc An, Lộc Hòa, Cốc Rưới, do Năm Trực phụ trách; mũi hướng đông gồm Lộc Quang, Lộc Khánh do Năm Hồng, Ba Minh phụ trách; mũi tây Lộc Ninh gồm Tà Tê, Cần Giựt, Tà Thiết do Ba Tảo phụ trách.

Các đồng chí phụ trách các mũi đều là Bí thư chi bộ của mũi đó. Các mũi có từ 3 đến 8 người, vũ khí thiếu nhưng hoạt động rất tích cực, vừa đánh địch vừa vũ trang tuyên truyền hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, vừa xây dựng cơ sở, xây dựng thực lực cách mạng. Ở hầu hết vùng, khu vực hoạt động các mũi đều phát triển được đảng viên, xây dựng chi bộ, chi đoàn. Ở Lộc Ninh, phong trào vùng nông thôn từ cuối năm 1961 phát triển vượt bậc, ta làm chủ các khu vực hẻo lánh. Ở Chơn Thành đến năm 1961 toàn huyện có 37 đảng viên (cuối năm 1962 lên đến 140 đảng viên).Có nơi như ở Tân Khai, Lợi Hưng, ta xây dựng cả chi bộ bên trong, chi bộ bên ngoài. Tỷ lệ nữ ở nhiều chi bộ, chi đoàn bên trong rất cao, như ở Tân Khai, chi bộ mật do đồng chí Huỳnh Thị Chuỗi làm Bí thư, có 3 nữ đảng viên; chi đoàn bí mật do chị Trần Thị Lai làm Bí thư, có 3 đoàn viên nữ. Ở Lộc Ninh, số đảng viên mới phát triển gồm cả người dân tộc ở các phum, sóc như Tư Cươi, Chiến Thắng (xã Lộc Khánh), xây dựng được chi bộ mới ở Phước Thiện,… Nhờ có đội mũi bám chắc địa bàn, xây dựng được cơ sở Đảng và nòng cốt bên trong nên dù địch có càn quét, đánh phá, gom dân, phát triển đấu tranh của quần chúng vẫn được duy trì và giữ vững.

Ở Phước Long, Đảng bộ vừa thành lập, cơ sở được mở rộng, tỉnh mới chuyển căn cứ từ vùng Nước Sông sang vùng Đak Nhau, từng bước ổn định tổ chức và hoạt động. Tỉnh ủy được tăng cường gồm các đồng chí Phạm Thuận (Ba Thu) Bí, Ba Phú - Phó Bí thư, Bảy Cổ - ủy viên thường vụ; các đồng chí Ba Khanh, Hai Đính là ủy viên. Tháng 6 năm 1961, đồng chí Phùng Đình Ấm (Ba Cùng) từ Quảng Đức chuyển vào, được bổ sung vào Tỉnh ủy Phước Long (tỉnh ủy viên).

Tổ chức các K (tương đương huyện) từ K1 đến K4 vẫn giữ nguyên như lúc đầu thành lập, trừ một số thay đổi nhỏ về nhân sự và tổ chức. Ở K1 (Sóc Nê, Cốc Rưới, Bù Đốp) đồng chí Hai Tiến thay Hai Công Chánh. Ở K3 (Bù Đăng, Nước Sông) đồng chí Ba Kim thay Hai Một. Sau này cũng có nhũng K sáp nhập nhau, mỗi vùng làm nhiệm vụ toàn diện, có đội mũi công tác. Riêng ở Bù Đăng vùng phía đông 5 xã (25 buôn) của đồng bào S’tiêng, Mạ, tiếp giáp Lâm Đồng, sáp nhập với Gia Nghĩa (một phần của Kiến Đức)(1), xây dựng thành K59 gồm: K50, do đồng chí Phạm Văn Nhường làm Bí hư, K9 do đồng chí Ba Vinh làm Bí thư (đồng chí Phạm Văn Nhường là tỉnh ủy viên tỉnh Lâm Đồng). Hai K lúc đầu đặt dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Lâm Đồng, có nhiệm vụ xây dựng và mở rộng vùng căn cứ, bảo vệ và giữ vững đoạn hành lang chiến lược nối liền Lâm Đồng, Phước Long với chiến khu Đ, tạo thế hỗ trợ phong trào cách mạng, chiến tranh nhân dân địa phương.


(1) Phạm vi: đoạn đường 14 Đồng Xoài - Kiến Đức xuống vùng Nhân Cơ, Vĩnh Thiên, bao gồm cả vùng Cát Tiền ngày nay. (T.G).


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Bảy, 2011, 08:54:01 AM
Tháng 6 năm 1961, Trung ương Cục quyết định giao Kiến Đức về Quảng Đức, trừ vùng Đạo Nghĩa của K50 giao về Phước Long với nhiệm vụ xây dựng khu vực này thành vùng căn cứ, bảo vệ vững chắc đoạn hành lang chiến lược Bắc - Nam nối liền giữa Quảng Đức (Nam Tây Nguyên) và Phước Long (Đông Nam Bộ). Tỉnh ủy Phước Long, quyết định thành lập K5 (sau này thành K58) do đồng chí Ba Cung làm Bí thư(1). Khi đồng chí Ba Cùng về tỉnh, đồng chí Lê Văn Tây thay làm Bí thư.

Bước vào thời kỳ chiến tranh cách mạng, ta làm chủ vùng này trên một diện rộng nông thôn, miền núi, hình thành thế liên hoàn từ vùng “Ba biên giới” (tiếp giáp Trung Bộ, Nam Bộ, Campuchia) chạy dài qua K5, K4, K50 về chiến khu Đ. Việc xây dựng lực lượng cách mạng, phong trào đấu tranh và chiến tranh nhân dân, địa phương chính là yêu cầu hàng đầu để bảo đảm vùng căn cứ, đoạn hành lang chiến lược này. Có lực lượng vũ trang hỗ trợ các K, đặc biệt đẩy mạnh, xây dựng nhiều đội mũi công tác bám sát các khu, ấp chiến lược, đồn điền, dinh điền. Trong vùng địch kiểm soát, hình thức hoạt động của các đội mũi công tác rất đa dạng, phong phú.

Trên địa hình lân cận Bình Long, Phước Long còn có sự ra đời của tỉnh Phước Thành, một trong 5 tỉnh được tách ra từ Biên Hòa, Thủ Dầu Một. Tháng 6 năm 1961, Ban cán sự Đảng Phước Thành được thành lập do đồng chí Phạm Văn Lâm (Út Lâm) làm Bí thư, đồng chí Nguyễn Văn Cảnh (Sáu Cảnh) làm Phó Bí thư. Lần lượt hệ thống các cơ quan kháng chiến của tỉnh hình thành. Cùng với các tỉnh Bình Long, Phước Long, Phước Thành đã góp phần quan trọng tạo thế mạnh liên hoàn vùng căn cứ cứ kháng chiến rộng lớn ở phía bắc đông bắc của miền Đông Nam Bộ.

Một trong những công việc hàng đầu, cấp thiết để chuyển chiến lược từ đấu tranh chính trị sang chiến tranh cách mạng là xây dựng lực lượng vũ trang, đối với cấp tỉnh mục tiêu xây dựng phải đồng bộ gồm cả bộ đội tập trung tỉnh, bộ đội địa phương huyện, dân quân du kích xã ấp.

Ở Bình Long, sau khi có quyết định tách tỉnh, Trung ương Cục điều đồng chí Ba Nghệ về phụ trách Bình Long đồng thời bổ sung cho Bình Long một đại đội vũ trang đầu tiên, mang phiên hiệu C70 (thực chất chỉ một trung đội) do đồng chí Tám Dân chỉ huy, đồng chí Sáu Bang chính trị viên. Tỉnh chủ trương phân tán đơn vị này về các quận để làm nòng cốt xây dựng lực lượng vũ trang. Khoảng tháng 10 năm 1961, trên bổ sung một đơn vị nữa mật danh C75 (thực chất chỉ một tiểu đội). Lượng còn ít, ta phải vừa chiến đấu vừa tích cực vận động thanh niên tòng quân và thành công huấn luyện xây dựng một tổ đặc công C75. Cuối năm 1961, được cơ sở tuyến bên trong xã Thanh Lương, do đồng chí Năm Sao tổ chức cung cấp tin, nắm được quy luật trung đội dân vệ đồn Thanh Lương (sát thị xã), thường 4 giờ chiều chúng tập trung chơi thể thao, đánh bóng chuyền, chủ quan không phòng bị., B70 của tỉnh kết hợp với tổ đặc công, dùng hai xe của sở Phú Lố chở quân tập kích bất ngờ. Ta bắt sống phần lớn đội dân vệ (chỉ một số chạy thoát), thu toàn bộ vũ khí. Thừa thắng, cơ sở bên trong phát động quần chúng nổi dậy phá ấp, địch trong vùng hoang mang. Nhiều đồn điền ở Quản Lợi, Lộc Ninh, Xa Cát… được giải phóng. Hầu hết các sóc vùng sâu, hẻo lánh ở Lộc Ninh, Hớn Quản do ta làm chủ. Sóc nào cũng có Ủy ban tự quản. Ở Lộc Hòa (Lộc Ninh) nhiều đồng bào làm “rẫy cách mạng” để ủng hộ kháng chiến, có rẫy rộng đến 6 mẫu như ở ThomoĐa, Lâm Bụi…

Cuối năm 1961, khi đã có đội ngũ cán bộ quân sự mạnh, Ban quân sự Bình Long được chính thức thành lập. Trưởng ban là đồng chí Ba Nghệ, các phó ban phụ trách tham mưu: Tô Hiến Thìn, Lê Hùng, các ủy viên phụ trách chính trị và hậu cần: Lê Cho (Sáu Dự), Hai Thương, Hai Sinh. Các ban Kinh tài, Y tế, An ninh, Binh vận, Giao Liên, Tuyên huấn đều được thành lập.

Cùng với việc xây dựng lực lượng vũ trang tỉnh, ở các quận (các C), bộ đội địa phương được xây dựng. Mỗi quận có một trung đội vũ trang, mỗi đội công tác cũng có từ 1 đến 2 đội vũ trang. Ở Chơn Thành, có trung đội vũ trang mạnh do đồng chí Tư Xê chỉ huy và tổ giao liên do đồng chí Năm Đô phụ trách, 32 thanh niên dân tộc tòng quân (có 7 nữ) được bổ sung cho giao liên, kinh tài và lực lượng vũ trang quận.

Ở Bù Đốp và Lộc Ninh, một bộ phận mở đường của đồng chí Lâm Quốc Đăng sau khi hoàn thành nhiệm vụ đã được tăng cường về đây, trong đó có trung đội đồng chí Chín Hùng về Bù Đốp. Trung đội thâm nhập nhiều phum, sóc, làng, sở công tác vũ trang tuyên truyền, đột nhập thị trấn treo cờ Mặt trận giữa chợ. Trung đội đánh nhiều trận, nổi bậy là trận phối hợp với đại đội tỉnh diệt 1 trung đội của sư đoàn 5 ngụy ỏ sở Nhỏ, thu 10 súng, chỉ có hai tên chạy thoát. Lúc đầu trung đội toàn người Kinh, đến cuối năm 1961 đã có nhiều chiến sĩ người Stiêng, Khơme. Được sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang, cơ sở Đảng và cơ sở quần chúng ở Bù Đốp phát triển.


(1) Giữa năm 1962 Tỉnh ủy tách K59 thành 2 K (K5, K8). Mùa khô 1963 tỉnh lại quyết định nhập 2 K lại thành K58. (T.G).


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Bảy, 2011, 08:55:16 AM
Ở Phước Long, với nhiệm vụ hàng đầu là tổ chức, giữ vững và bảo vệ an toàn, thông suốt đoạn hành lang chiến lược, được Khu ủy miền Đông và Trung ương Cục chi viện quân số, tỉnh thành lập Ban quân sự tỉnh và đơn vị chuyên trách hành lang, lãnh đạo, chỉ huy trực tiếp của Thường vụ Tỉnh ủy và Ban chỉ đạo quân sự tỉnh. Ban quân sự lúc đầu chưa đầy đủ, do đồng chí Ba Khanh phụ trách, sau đồng chí Ba Khanh sang kinh tế, đồng chí Hai Phong thay làm trưởng ban quân sự. Hành lang qua Phước Long có hai hướng, một hướng nối liền từ Quản Đức về Bù Đăng xây khu A, một hướng nối từ đường 14 qua khu vực Chơn Thành về khu B. Đơn vị chuyên trách hành lang lấy mật danh C280, do đồng chí Năm Công phụ trách. Nhiệm vụ cụ thể của C280 là quan hệ chặt chẽ của các địa phương để tổ chức, chỉ huy các trạm hành lang từ đầu mối Quảng Đức, qua hai lần quốc lộ 14. vượt ngã ba Cây Chanh về hướng chiến khu Đ, đồng thời tổ chức khai thác cửa khẩu trên quốc lộ 14 để mua gạo và nhu yếu phẩm thiết yếu cung cấp cho khách. Tỉnh tổ chức mua gạo, bắp và huy động nhân dân ủng hộ, chuẩn bị bước đầu được 30 tấn gạo, vài tấn muối và thuốc men. Nhờ tổ chức tốt, an toàn, quy mô khách qua hành lang ngày càng lớn, từ từng đoàn cán bộ đến những đơn vị thực binh miền Bắc vào, hành quân rầm rộ. Cuối năm 1961, cũng qua hành lang này, một số sĩ quan, hạ sĩ quan được đào tạo từ miền Bắc đã về và được bổ sung cho tỉnh Phước Long (các đồng chí Bảy Tròn, Sáu Mai, Ba Thành, Ba Lẹ, Mười Đức, Ba Thức), trở thành cán bộ nòng cốt xây dựng lực lượng vũ trang của tỉnh, một số được bổ sung về Ban quân sự phụ trách các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần. Việc xây dựng đơn vị tập trung cơ động tỉnh, bắt đầu từ nhân cốt C20. Qua vận động các chi bộ trên trong các đồn điền Thuận Lợi, Bù Ca, Phú Riềng, dinh điền Vĩnh Thiện, qua vận động các mũi công tác ở các vùng, có gần trăm thanh niên tinh nguyện thoát ly vào Quân giải phóng, được bổ sung vào C270. đơn vị do đồng chí Ba Nhân làm chỉ huy Trưởng, đồng chí Hai Hùng làm chính trị viên (sau đồng chí Tư Thân thay). Một đơn vị mới là C15 trinh sát được xây dựng, nhanh chóng đi vào hoạt động, chất lượng tốt.

Tháng 3 năm 1961, đội vũ trang tuyên truyền người dân tộc gồm 9 anh em ở vùng Nước Sông do các đồng chí Ba Phú và Tư Ngụ phụ trách (các đội viên Điểm Mác, Điểu Ông, Thinh Khâm Gô Rơi Ma Tắc…) bắt liên lạc và cảm hóa được Điểu Đích (người sóc Đăng Lâu - Đăng Lo) chỉ huy đồn dân vệ ở cây số 81 trên quốc lộ 14, chịu làm nội ứng cho ta đánh đồn. Trận đánh diễn ra chớp nhoáng, tất cả dân vệ trong đồn bỏ chạy, ta thu 7 súng và một bộ chiêng đồng. Điểu Đích cùng em vợ bỏ ngũ theo cách mạng. Trận đánh tuy nhỏ nhưng có tác động tích cực đối với phong trào, đặc biệt là trong đồng bào dân tộc. Nhân chiến thắng này, Tỉnh ủy Phước Long chủ trương thành lập đơn vị C290 bao gồm những anh em người dân tộc, đồng chí Cấm (C270) được cử sang để giúp đỡ, xây dựng. Ý định ban đầu của Tỉnh ủy xây dựng đơn vị này là để tuyên truyền vận động, phát triển lực lượng trong đồng bào dân tộc. Nhưng thực tế qua quá trình hoạt động, nhất là hoạt động chiến đấu, C290 đã tự khẳng định là một đơn vị vũ trang, chiến đấu và công tác đều tốt.

Cùng với việc xây dựng đơn vị vũ trang tập trung tỉnh, các K cũng phấn đấu xây dựng đơn vị vũ trang của K, từ 1 tiểu đội đến 1 trung đội, đặc biệt xây dựng nhiều đội mũi công tác bám sát các vùng ấp chiến lược, đồn điền, dinh điền. Có lực lượng mạnh như đội công tác đồn điền Thuận Lợi với 16 người, trong đó có 10 đảng viên, do các đồng chí Hằng, Thu, Phụng phụ trách. Đội đã xây dựng được chi bộ, chi đoàn, hội lao động giải phóng, du kích mật… Đội mũi công tác đã tự khẳng định là một tổ chức phù hợp, thường xuyên trong vùng địch kiểm soát, rất đa dạng, phong phú về hình thức hoạt động.

Tháng 9 năm 1961, trên chiến trường miền Đông đã diễn ra trận Phước Thành, một trong những chiến thắng quan trọng nhất ở miền Nam trong bước chuyển từ đồng khởi sang chiến tranh cách mạng; đặc biệt có ý nghĩa lớn, tích cực đối với việc xây dựng, củng cố, mở rộng hệ thống các căn cứ rừng núi miền Đông Nam Bộ. Phước Thành là địa bàn xung yếu, án ngữ trên trục lộ giao thông chiến lược 14 và ngay cửa ngõ chiến khu Đ. Vì vậy Diệm đã ký sắc lệnh thành lập tỉnh nhằm nằm giữ một bàn đạp khống chế, đàn áp phong trào cách mạng địa phương, đặc biệt là đánh phá, bao vây, phong tỏa hệ thống căn cứ, rừng núi miền Đông, nhất là chiến khu Đ. Tỉnh lỵ Phước Thành đặng tại Phước Vĩnh và địch đã xây dựng ở đây căn cứ tiểu khu Phước Thành, chi khu Phước Vĩnh. Để phá vỡ âm mưu địch, mở rộng củng cố căn cứ ta, được Ban quân sự Miền chấp thuận, Ban quân sự miền Đông đã tổ chức tiến công tiểu khu Phước Thành vào đêm 17 tháng 9 năm 1961.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Bảy, 2011, 08:58:12 AM
Với lực lượng 1 chọi 5, nhưng thực hiện tốt chiến thuật bí mật, bất ngờ tạo được thế bao vây, chia cắt địch ngay từ đầu, trận đánh đạt được ý định, hiệu suất cao(1). 16 đồn bốt địch xung quanh rút chạy, chính quyền ngụy tại chỗ sụp đổ. Sau đó địch phải giải thể luôn tỉnh Phước Thành. Số vũ khí thu được giải quyết được một phần nhu cầu vũ khí cho lực lượng vũ trang miền Đông. Lực lượng tù nhân được giải phóng và vật chất thu được tạo thành cơ sở ban đầu để thành lập tiểu đoàn chủ lực mới ở miền Đông Nam Bộ (tiểu đoàn 800).

Để củng cố, giữ vững địa bàn Phước Thành, Khu ủy va Bộ chỉ huy quân khu miền Đông chủ trương tăng cường tổ chức lãnh đạo và lực lượng tỉnh Phước Thành. Ngày 25 tháng 12 năm 1961, Tỉnh ủy Phước Thành chính thức được thành lập (trước đó là Ban Cán sự) do đồng chí Phan Văn Lâm làm Bí thư. Đồng chí Lưu Phước Anh làm Tỉnh đội trưởng.

Vấn đề dân tộc ít người ở Phước Long có vị trí đặc biệt, trước hết đó là tiềm năng to lớn để xây dựng, củng cố căn địa rừng núi. Chính kẻ thù cũng đánh giá “phong trào đồng bào Thượng có một giá trị chiến lược”, “mục đích chiến lược là nắm dân. Nắm được dân là thắng, không nắm được dân là bại…”. Nhận thức tầm vóc của vấn đề trên, tháng 12 năm 1961, Tỉnh ủy Phước Long tổ chức Đại hội mặt trận dân tộc lần thứ nhất tại Điêng Rơ Bang, trên bờ suối Đak Lung (thuộc K58)(2), có mặt 250 đại biểu các già làng, nam nữ thanh niên các buôn, sóc toàn tỉnh (K4 và K58 đông nhất).Trong hai ngày, các đại biểu đã thảo luận sôi nổi, uống rượu ăn thề đoàn kết các dân tộc, động viên con em, tham gia du kích, tòng quân, động viên đóng góp sức người, sức của cho cách mạng, đánh thắng giặc Mỹ và tay sai. Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Mặt trận dân tộc tỉnh do ông Báp Long làm chủ tịch; các phó chủ tịch gồm: các ông Hai Ky, K’lư, Bơ Dân, Bô Đơm Bri, Xơ Rức, S’Tiêng; các ủy viên gồm: các ông Tế, Gơ, Beo, Mớp, Mác, nữ đồng chí Tư Đệ (dân tộc) và đồng chí Ba Phú làm ủy viên thư ký kiêm thường trực ủy ban.

Sau đại hội, phong trào đồng bào thiểu số ở vùng căn cứ vươn lên mạnh mẽ. Hàng loạt buôn sóc ở K58 (K5 cũ), K4 phá bỏ các khu tập trung về làng cũ làm ăn, lập làng chiến đấu. Phong trào chiến tranh du kích, làng chiến đấu với hầm chông, cạm bẫy bắt đầu từ đấy…

Theo yêu cầu của tình hình, để tạo huấn luyện cho lãnh đạo, chỉ đạo, tháng 2 năm 1962, Trung ương Cục quyết định thành lập Khu 10 (T10)(3), bao gồm các tỉnh Lâm Đồng, Quản Đức, Phước Long, Bình Long thuộc T1, C150 được sáp nhập lại với tỉnh Tây Ninh. Đảng bộ Bình Long đặt dưới sự lãnh đạo của Khu ủy Khu 10. Tỉnh ủy Bình Long được chính thức thành lập tại một sóc biên giới ở “mũi Kennơđi”. Đồng chí Ba Nghệ về làm khu ủy viên Khu 10. Đồng chí Trần Quang Sang (Ba Phước) được chỉ định làm Bí thư Tỉnh ủy Bình Long; các Tỉnh ủy viên gồm các đồng chí Năm Béo, Tư Nam, Sáu Xu, Tư Huỳnh, Ba Nhẫn, Ba Hùng. Đồng chí Năm Béo thay đồng chí Ba Nghệ làm Trưởng ban Quân sự tỉnh Bình Long.

Khi Bình Long về Khu 10, địa bàn C150 về Tây Ninh thì C75 về Tây Ninh, nhưng vẫn để lại cho Bình Long một tiểu đội do đồng chí Xước chỉ huy. Tiểu đội này là tiền thân của C75 Bình Long sau này. Do lực lượng nhỏ, tiểu đội vừa chiến đấu vừa tích cực vận động, thu nhận thanh niên tòng quân, tổ chức huấn luyện, tự bổ sung năm 1962 xây dựng được hai trung đội độc lập: B70 hoạt động ở phía tây quốc lộ 13, B75 hoạt động ở phía đông quốc lộ. Tiểu đội trinh sát đặc công kỹ thuật do đồng chí Lê Tính chỉ huy, phát triển dần thành trung đội trinh sát đặc công tỉnh. Ban quân sự còn có một tổ quân giới phát triển thành “công trường” (xưởng quân giới) của tỉnh, có trường huấn luyện tân binh ở Suối Bồ do đồng chí Tô Minh Việt phụ trách. Là những đơn vị vũ trang tập trung của tỉnh, B70 và B75 hoạt động trong điều kiện hết sức thiếu thốn nhất là về lương thực, mỗi B phải sản xuất tự túc lương thực với 8 ha rẫy, vào thời vụ phải sử dụng hai phần ba lực lượng, còn một phần ba bám địa bàn chiến đấu(4).

Ở các quận, huyện đều xây dựng cơ quan Ban quân sự(5); củng cố, phát triển bộ đội địa phương, mỗi quận, huyện có một trung đội vũ trang, một đội công tác trong đó có từ một đến hai tổ vũ trang. Huyện Chơn Thành là nơi có đội vũ trang mạnh (do đồng chí Tư Xê chỉ huy) và một tiểu đội giao liên (do đồng chí Năm Độ phụ trách).


(1) Tiêu diệt cơ quan chỉ huy tiểu khu Phước Thành, chi khu Phước Vĩnh, gần 1 tiểu đoàn biệt động quân, 1 đại đội cảnh sát dã chiến, 1 đại đội dân vệ, 1 trung đội pháo 105mm, toàn bộ cơ quan hành chính tỉnh. Số địch bị diệt khoảng 300 tên, bị bắt hơn 400 (giáo dục và thả tại chỗ, 15 tên được đưa về căn cứ). Ta thu 600 súng các loại, nhiều quân trang, quận dụng, giải thoát trên 300 cán bộ, đảng viên, quần chúng đang bị địch giam.
(2) Nay là xã Đak Nhau (T.G)
(3) Theo Khu 6 kháng chiến chống Mỹ, Nxb. Quân đội nhân dân, Khu 10 thành lập lần 1 từ đầu 1962 đến tháng 10 năm 1963. Có ý kiến cho rằng khu 10 thành lập từ năm 1961 đến năm 1963. (T.G)
(4) Lúc đầu Tỉnh ủy có chủ trương lực lượng vũ trang tự túc sản xuất đủ 18 tháng lương thực (lực lượng Đảng tự túc 8 tháng lương thực). Lực lượng vũ trang rất cố gắng nhưng thời gian tự túc quá nhiều trong lúc luôn phải chiến đấu ác liệt với địch, nên không hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu. Để giải quyết cùng lúc 2 nhiệm vụ, chính trị viên Sáu Bàng phân chia lực lượng như trên.
(5) Sau này là quận đội bộ, huyện đội bộ (T.G)


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Bảy, 2011, 08:59:41 AM
*
*   *

Kế hoạch Staley - Taylor về thời gian tính từ tháng 6 năm 1961 đến cuối năm 1962, kế hoạch ấp chiến lược được nâng thành “quốc sách” vào tháng 4 năm 1962 (tháng 8 năm 1962 Diệm thông qua). Tuy nhiên, ngay từ đầu năm 1961 hoạt động bình định và việc chuẩn bị lập ấp chiến lược của địch đã được triển khai đồng bộ, đến đầu năm 1962 việc gom dân lập ấp chiến lược trở nên quyết liệt.

Với phương châm “lấy dân để chiếm đất, không phải chiếm đất để giữ dân” đã lỗi thời, địch huênh hoang “ấp chiến lược nhằm mục đích đánh thức bản năng tự vệ, tự tồn của người dân, và bảo đảm tính tự nhiên của họ: là bảo đảm tài sản của mình bằng vũ khí”, nhưng mục tiêu tối hậu của :quốc sách” là làm cho người dân trở thành thù địch với cách mạng, và chính vì bản chất phản dân hại nước của nó, thay vì “tranh thủ trái tim khối óc” của người dân lại là biện pháp vũ lực, cưỡng bức.

Địch huy động toàn bộ lực lượng, từ chủ lực tới dân vệ, cảnh sát, lực lượng “cán bộ bình định”… vào công cuộc bình định lập áp chiến lược.

Ở Bình Long, địch huy động một trung đoàn chủ lực, 3 đại đội bảo an, 16 trung đội dân vệ cùng cả bộ máy kìm kẹp, mạng lưới tề điệp vào cuộc bình định gom dân. Đầu tiên chúng lập “ấp chiến lược kiểu mẫu” tại Phú Miêng, sau đó xây dựng các ấp Tân Lập Phú, Minh Thạnh, Phú Lạc, Núi Gió, Thanh Lương, Thanh Tân, Thanh Bình…

Đến năm 1962, chúng triển khai kế hoạch ấp chiến lược trên toàn tỉnh, từ nội ô thị xã, thị trấn đến đồn điền, nông thôn và vùng người dân tộc ở Tổng Cui, Phú Lố… Số ấp chiến lược trên toàn tỉnh Bình Long lên đến 75. Ở Phước Long, địch sử dụng một bộ phận sư đoàn 5 với quân địa phương càn quét vào các vùng sâu, cưỡng bức đồng bào dân tộc trong các buôn sóc ra xung quanh các thị trấn và các trục giao thông. Ta tích cực vận động đồng bào ở lại, nhưng địch dùng sức mạnh quân sự để thúc ép, vừa dùng nhiều thủ đoạn xảo quyệt, cuối cùng nhiều đồng bào cũng phải đứt ruột lìa nương rẫy, nơi chôn rau cắt rốn để vào trại tập trung. Chỉ riêng Bù Đăng đến năm 1962, ngoài các dinh điền cũ, địch đã cưỡng bức, gom dân xây dựng 25 ấp chiến lược trên trục lộ 14 từ cây số 22 đến cây số 94, trong đó 19 thôn sóc ở vùng sâu bị chúng xây dựng một trong những “ấp chiến lược kiểu mẫu” ở Phước Long lúc bấy giờ. Ở Bù Run, vào cuối năm 1961, một tiểu đoàn nhảy dù của địch đã đổ xuống vùng căn cứ của ta ở hướng Đồng Nai để phá kho tàng, đánh cơ quan đầu não, chặn hành lang kháng chiến. Quân ta chặn đánh địch quyết liệt, bẻ gãy cuộc càn. Chúng dùng máy bay oanh tạc giết chết 20 trâu bò của đồng bào.

Thủ đoạn về ấp chiến lược của địch mang tính toàn diện, sau các cuộc hành quân đốt phá, mở đường, các công việc khác trong toàn bộ dây chuyền bình định, gom dân, lập ấp được triển khai ngay. Ấp hình thành đến đâu, chúng tổ chức hệ thống kìm kẹp và xây đồn bốt đến đó. Chỉ trên dưới 7 ngày sau khi chiếm và gom, đoàn cán bộ bình định đã hình thành việc xây dựng về mọi mặt, từ việc tổ chức huấn luyện cho Ban trị sự ấp đến việc tổ chức huấn luyện dân vệ và các “đoàn thể” bảo vệ ấp, triệt phá hạ tầng cơ sở của ta. Việc trục phá cơ sở của ta đi đôi với việc phân loại quần chúng, dựa vào bộ máy tề điệp, bọn đầu hàng, đầu thú để có đối sách với từng loại. Đi đôi với cưỡng bức, kìm kẹp là lừa mị và xuyên tạc. Vì vậy, bên cạnh cách bố phóng nghiêm ngặt bằng cả hệ thống bốt gác, hàng rào kẽm gai, tường, hào chông mìn… là Ban hội tề và các luật lệ tước hết quyền tự do của dân, cộng vào đó các thứ sưu dịch, dịch vụ núp dưới danh nghĩa “nghĩa vụ” cùng với hoạt động tâm lý chiến âm ỉ “cộng đồng”, “đồng tiến, “đả thực bài phòng…”.

Lực lượng vũ trang ba thứ quân của ta vừa xây dựng đã liên tục chiến đấu, phản công, tiến công địch. Tác chiến chủ yếu là đánh càn, đánh giao thông. Tuy nhiên về mặt chống phá bình định, chống gom dân lúc đầu ta còn lúng túng(1), chủ yếu tùy cơ ứng biến. Nơi nào các đội mũi công tác bám được dân, tích cực vận động quần chúng đồng thời có lực lượng vũ trang hỗ trợ thì đấu tranh có hiệu quả hoặc giằng co với địch.

Ở Bình Long, do có cơ sở chính trị bên trong và được sự vận động tích cực của đội mũi công tác, tháng 5 năm 1961 hơn 4000 công nhân các đồn điều Minh Thạnh, Xa Cát, Xa Cô, Trà Thanh, Xa Trạch, Phú Miêng… kéo vào thị xã An Lộc trực diện với địch đòi bỏ kế hoạch bình định 18 tháng, bãi bỏ ấp chiến lược. Cuộc đấu tranh này tranh thủ được sự đồng tỉnh ủng hộ của các tầng lớp nhân dân trong thị xã, của đồng bào dân tộc, tên tỉnh trưởng Toàn phải ra nhận kiến nghị và hứa giải quyết yêu cầu của đồng bào. Đồng bào Minh Hòa, Minh Thạnh nổi dậy phá hết hàng rào, diệt tên trưởng ấp, giải phóng các làng 2, 3 Minh Thạnh. Tiếp theo, ở các nơi khác như Xa Cát, Xa Trạch, Tân Khai, Nha Bích… nhân dân phá rã, phá lỏng bộ máy kìm kẹp của địch. Ở Xa Trạch ta diệt hai tên trưởng ấp, trong đó có Xu Tuấn khét tiếng gian ác. Ở Tân Khai, ta diệt hương chủ Dầu, Nguyễn Văn Tuấn tay sai giặc. Ở Tàu Ô ta diệt những tên Tám Ai, Tư Dớn, Bảy Hoa, Bảy Dụng. Ở Nha Bích ta diệt tên cán bộ bình định Lâm Hẹn, tên Cường ở Sóc Lớn. Ta liên tục đón đánh địch trên quốc lộ 13, bắt được tên đại úy Trần Văn Giàu là dinh điền trưởng Bình Ninh (Bình Long - Tây Ninh). Địch lo sợ, co cụm vào các khu vực trung tâm thị xã, thị trấn. Vùng giải phóng được mở rộng, ở các ấp chiến lược còn lại sự kìm kẹp đã nới lỏng một phần.


(1) Nhận định trong chỉ thị ngày 27-8-1963 của Trung ương Cục: “Chưa tập trung, chưa tương xứng nhiều mặt” (nói về thời kỳ chống phá ấp chiến lược). (T.G)


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Bảy, 2011, 06:49:02 AM
Ở Lộc Ninh, từ tháng 6 năm 1961, địch triển khai kế hoạch ấp chiến lược. Trung đội vũ trang Lộc Ninh kết hợp các đội du kích các làng công nhân tổ chức chống càn, diệt ác trừ gian, vũ trang tuyên truyền. Đặc biệt vào giữa tháng 6, ta đột nhập trung tâm quận lỵ Lộc Ninh, treo cờ Mặt trận ngay giữa chợ, rải truyền đơn cảnh cáo tay sai, ác ôn. Sáng hôm sau, địch tập trung lực lượng càn quét vào các làng cao su. Nắm được ý đồ của địch, đội vũ trang C31 Lộc Ninh và B70 của tỉnh tổ chức phục kích chống càn, diệt gọn một trung đội bảo an, thu 10 súng, bẻ gãy cuộc càn. Do có chủ trương chỉ đạo của Ban cán sự, phong trào chống và phá ấp chiến lược ở Lộc Ninh Bù Đốp đã diễn ra khá quyết liệt. Ở làng 10, sau khi gom dân vào ấp chiến lược, địch phát thẻ căn cước. Bà con rủ nhau đốt thẻ. Cấp ủy chỉ đạo bà con giữ lại thẻ để giữ thế hợp pháp, tiếp tục liên lạc, tiếp tế cho kháng chiến. Đồng bào người dân tộc được du kích hỗ trợ, lại tranh thủ được binh lính, đã dọn hết đồ đạc ra ngoài, tự tay đốt nhà, bỏ ấp chiến lược bung về sóc cũ. Nhìn chung ở Lộc Ninh, ta xây dựng được cơ sở bên trong ấp chiến lược, thậm chí có nơi có đảng viên bí mật trong ấp, như trường hợp đồng chí Tư Cươi ở xã Lộc Tấn. Nhờ vậy, các cuộc đấu tranh của đồng bào trong ấp chiến lược tiếp diễn, tranh thủ được sự đồng tình của nhiều dân vệ, thanh niên chiến đấu, nội dung đấu tranh từ thấp đến cao và tiếp tục giữ vững liên lạc với lực lượng kháng chiến. Ở đồn Tích Thiện tại Lộc Hòa, ta còn gây được cơ sở trong binh sĩ địch.

Thấy được khả năng về công tác binh vận, các cấp ủy ở Bình Long chỉ đạo các đội mũi công tác đẩy mạnh công tác này. Ở một số xã, ấp (như Phú Lố, Thanh Lương, An Lộc, ấp 1 và ấp 3 ở Tân Khai…), kết hợp với cơ sở bên trong, ta đã xây dựng được nội tuyến trong hàng ngũ địch (chính quyền xã ấp, dân vệ, ảo an…), biến số này thành lực lượng du kích canh gác cho ta khi ta đột nhập ấp. Cuối năm 1961, B70 của tỉnh kết hợp đội công tác do đồng chí Tám Dần chỉ huy, được cơ sở nội tuyến bên trong xã Thanh Lương cung cấp tin, nắm được quy luật trung đội dân vệ giữ ấp thường tập trung chơi thể thao, đánh bóng chuyền từ 4 giờ chiều, đơn vị dùng 2 xe của sở Phú Lố chở quân tập kích bất ngờ. Ta bắt sống phần lớn trung đội dân vệ, thu toàn bộ vũ khí, một số tên còn lại bỏ chạy. Thừa thắng, cơ sở bên trong phát động quần chúng nổi dậy phá ấp. Địch vô cùng hoang mang. Nhìn chung, những tháng cuối năm 1961, hoạt động phá ấp chiến lược ở Bình Long khá sôi nổi, niều đồn điền cao su ở Quản Lợi, Lộc Ninh, Xa Cát… được giải phóng. Hầu hết các vùng sâu hẻo lánh ở Lộc Ninh, Hớn Quản do ta làm chủ, sóc nào cũng có Ủy ban cách mạng. Ở Lộc Quang, Lộc Hòa (Lộc Ninh) nhiều nơi đồng bào còn làm “rẫy cách mạng” để ủng hộ kháng chiến như Thomo Đạ, Lâm Bui,… Tuy nhiên, cuộc đấu tranh chống phá âm mưu lập ấp chiến lược còn là một quá trình giằng co lâu dài. Về mặt quân sự, sự có mặt của một số bộ phận chủ lực Miền đã tạo điều kiện thuận lợi cho các lực lượng vũ trang địa phương phối hợp, tiêu hao địch, lấy vũ khí tự trang bị. Nổi bật như trận Tân khai (2-1962) lực lượng tỉnh cùng du kích Tân Khai phối hợp Q762 Miền tấn công đồn, có nội tuyến phối hợp làm chủ đồn, diệt 11 tên trong đó có đồn trưởng. Cùng lúc đó, C270 Phước Long phối hợp với B10 đặc công do Ba Nhân chỉ huy đánh trận phục kích đoàn 5 xe địch trên đường 14 (đoạn cuối cầu 38), diệt 3 xe, 10 tên địch. Trận đánh bất ngờ gây chấn động địch khu vực Bù Đăng, Đồng Xoài, hệ thống ấp chiến lược trên đường 14.

Ở Phước Long cuộc chống phá kế hoạch gom dân lập ấp chiến lược đã diễn ra gay gắt ngay từ đầu. Theo tình thế cụ thể, đồng bào dân tộc tùy cơ ứng biến nảy sinh nhiều hình thức đấu tranh phong phú. Ở nhiều buôn sóc như Rạch Dạ, Bom Lố, Đak R’si,… đồng bào bỏ làng chạy vào rừng sâu tham gia cách mạng, lập thế chiến đấu chống địch. Một số sóc chấp nhận một nửa vào ấp chiến lược, một nửa ở nguyên làng cũ, nhưng chủ yếu vẫn ở nguyên làng cũ. Số vào ấp chiến lược vẫn luôn tìm cách liên lạc với đội mũi công tác để báo cáo tình hình, giữ mối quan hệ trong ngoài. Số đồng bào ở vùng Tân Thuận - Bù Na, các sóc Bù Tếch 1, Bù Tếch 2, Phùng Hà… đã bị địch gom qua Định Quán, Gia Kiệm, Long Khánh từ giữa năm 1961 (sau cuộc càn dài ngày từ cuối năm 1960) vẫn tìm mọi cách liên lạc được với số cán bộ, đảng viên còn lại (không bị gom) để bàn kế hoạch phá ấp chiến lược trở về rừng cũ. Được mũi công tác giúp đỡ, đồng bào sơ tán về vùng Nước Sông, lập làng chiến đấu, sau này thống nhất vào xã Đồng Nai.

(*)loạt các khu tập trung như Yok Tung, Điên Via, Điêng R’hách, Đăng Lân, Bu Lum… đã bị đồng bào phá bỏ, đồng bào kéo nhau về rừng cũ lập làng chiến đấu, chống địch. Riêng ở sóc Bom Bo, địch liên tục càn quét để gom dân ra đường 10, nhưng đồng bào vẫn kiên cường bám trụ, không vào ấp chiến lược, né tránh việc dời làng, ở nguyên rừng cũ, nhờ đó một số dân buôn sóc khác đã bị gom vào ấp chiến lược lại trốn chạy về đây, số dân Bom Bo từ 80 người tăng lên 150 người.

Đối với các ấp chiến lược địch đã lập được, các đội mũi công tác vẫn bám sát để xây dựng cơ sở bên trong, hướng dẫn quần chúng đấu tranh phá lòng sự kìm kẹp của địch và tạo mọi điều kiện chuẩn bị phá banh ấp. Ở các ấp chiến lược Vĩnh Thiện 1, 2, 3, Long Cơ, Bom Ría, Hòa Đồng, ta luôn có hoạt động vũ trang tuyên truyền đột ấp, móc ráp xây dựng cơ sở Đảng bên trong, thành lập được 2 chi bộ Đảng ở Bom Ría, Bù Gia Rá.


(*) Đoạn này theo nguyên bản trong sách, không hiểu sao lại thiếu phần đầu. Không phải sơ sót khi số hóa.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Bảy, 2011, 06:51:21 AM
Năm 1962 là năm có ý nghĩa quyết định của kế hoạch Saley - Taylor, địch triển khai kế hoạch ấp chiến lược một cách quy mô, toàn diện, ác liệt. Trên chiến trường miền Đông suốt năm 1962, trong khi các lực lượng địa phương địch đang dồn sức lập ấp chiến lược thì quân chủ lực liên tiếp hoặc đồng thời mở ba chiến dịch quy mô, từ cấp sư đoàn đến cấp sư đoàn tăng cường, chủ yếu đánh vào các căn cứ lớn (như Dương Minh Châu, chiến khu Đ), từ đó loang ra nhằm phá căn cứ, diệt lực lượng vũ trang cách mạng, hỗ trợ bình định lập ấp chiến lược: các chiến dịch “Mặt trời mọc”, “Sao Mai”, “Thu Đông”. Đặc biệt chiến dịch “Mặt trời mọc” (qui mô sư đoàn chủ lực) đánh vào các khu vực Bến Cát loang ra chín tỉnh Miền Đông kéo dài đến tháng 12 năm 1962, chiến dịch “Thu Đông” từ 20 tháng 12 năm 1962 đến đầu năm 1963 (15 tiểu đoàn bộ binh + 56 trực thăng, có 200 lính Mỹ làm nhiệm vụ tiếp tế, lái máy bay) đánh vào chiến khu Đ, hy vọng cùng với chiến dịch “Sao Mai” sẽ quét sạch hoặc vô hiệu hóa lực lượng vũ trang kháng chiến trên vòng cung bắc - đông bắc Sài Gòn.

Ngày 26 tháng 2 năm 1962, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra nghị quyết xác định nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam là “Kiên quyết đẩy mạnh đấu tranh chính trị, quân sự giành và giữ thế chủ động, đẩy địch vào thế bị động hơn nữa, tích cực xây dựng lực lượng về mọi mặt, ra sức phá “kế hoạch Staley - Taylor” “phá ấp chiến lược, phá thế kìm kẹp của địch là nhiệm vụ có tính cấp bách đồng thời là nhiệm vụ lâu dài…”(1).

Trung ương Cục liên tiếp mở các lớp bồi dướng về kinh nghiệm chống càn quét, phá ấp chiến lược ở một số tỉnh miền Tây Nam Bộ cho các tỉnh. Tháng 5 năm 1962 Trung ương Cục họp nhận định tình hình, đề ra nhiệm vụ trước mắt: “… phải tăng cường đẩy mạnh hoạt động vũ trang, kết hợp với đấu tranh chính trị và binh vận của quần chúng để đập tan âm mưu bình định của kẻ thù…”. Tháng 7 năm 1962, Trung ương tiếp tục chỉ đạo: “Hiện nay địch đang đánh ta quyết liệt bằng cả chính trị và quân sự thông qua cái gọi là “quốc sách ấp chiến lược”. Ấp chiến lược là một kiểu trại tập trung khổng lồ để chống phá phong trào cách mạng của nhân dân, khống chế chiến tranh du kích bằng cách tách lực lượng vũ trang ra khỏi quần chúng. Đánh bại chương trình ấp chiến lược của địch là nhiệm vụ cấp bách hiện nay, đồng thời cũng là yêu cầu quan trọng hàng đầu trong đấu tranh lâu dài của ta” và “muốn chống địch lập ấp chiến lược nhất thiết phải dựa vào quần chúng. Tuyên truyền, giáo dục cho quần chúng hiểu rõ âm mưu thâm độc của địch, hiểu rõ tác hại của việc dồn dân lập ấp chiến lược, để quần chúng nung nấu quyết tâm phá bỏ ách kìm kẹp của địch. Về phần mình, để đánh thắng địch, đưa cách mạng đến thành công thì một mặt phải phá cho được kế hoạch lập ấp chiến lược của địch, mặt khác phải xây dựng lực lượng ta ngày càng vững mạnh, đặc biệt là xây dựng lực lượng quân sự trên cơ sở gắn liền với lực lượng chính trị của quần chúng”(2).

Ở miền Đông Nam Bộ, tháng 4 năm 1962, Hội nghị Công vận các đồn điền miền Đông được triệu tập. Hội nghị chủ trương vận động công nhân tích cực tham gia phong trào phá ấp chiến lược của địch, vận động thanh niên tòng quân giết giặc.

Với những kinh nghiệm bước đầu, đồng thời quán triệt tinh thần chỉ đạo của trên, các Tỉnh ủy Bình Long, Phước Long chỉ đạo các huyện, thị xã tiếp tục rút kinh nghiệm xây dựng quyết tâm đánh phá kế hoạch ấp chiến lược của địch bằng lực lượng và sức mạnh tổng hợp “hai chân” (quân sự, chính trị), ba mũi giáp công (chính trị, quân sự, binh vận), coi trọng việc xây dựng lực lượng vũ trang địa phương, các đội du kích mật và cơ sở chính trị bên trong các ấp chiến lược. Với tinh thần đó, trên địa bàn hai tỉnh, năm 1962, phong trào phá ấp chiến lược diễn ra một cách liên tục, quyết liệt.

Ở Lộc Ninh, Bù Đốp từ tháng 3 năm 1962, địch gom công nhân làng 10 và nhân dân ở Brélin, Cuốc Rưới để lập ba ấp chiến lược mới. Hai ấp chiến lược Brélin, Cốc Rưới có hơn 100 hộ gia đình thì phân nửa là cơ sở cách mạng nên huyện ủy chọn hai nơi này làm điểm để chỉ đạo phá ấp chiến lược. Tháng 4 năm 1962, được sự hỗ trợ của đơn vị vũ trang huyện, đồng bào nổi dậy phá banh hai ấp chiến lược này. Nhưng đây là hai ấp chiến lược nằm trên đường 14A qua Lộc Ninh, Bù Đốp, địch không thể bỏ. Chúng lại tiếp tục gom dân, chở vật liệu để xây dựng lại quá trình chống phá ấp chiến lược ở đây diễn giằng co, đến tháng 4 năm 1963 ấp hình thành, nhưng trong cuộc đấu tranh đầy thử thách này quần chúng trở nền dày dạn.

Giữa năm 1962, địch mở cuộc càn quét vào vùng căn cứ Tỉnh ủy Phước Long - Do tên G. nhân viên kinh tài phản bội đầu hàng địch, khai báo chỉ điểm, địch đánh trúng căn cứ Tỉnh ủy ở Đak Liên, địa bàn K4, hai cán bộ cấp K hy sinh. Tiếp đó địch lại đánh trúng căn cứ C280, căn cứ Ban chỉ huy hành lang và tiến vào căn cứ sản xuất của K5. Tình hình vùng căn cứ trở nên căng thẳng; nhưng Tỉnh ủy, Khu ủy, các K4, K5 kịp thời củng cố, ổn định.


(1) Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 2-1962. Những văn kiện Đảng về chống Mỹ cứu nước. Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1985, t.1, tr. 45.
(2) Lê Duẩn: Thư vào Nam, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1985, tr58-60.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Bảy, 2011, 06:52:36 AM
Tháng 8 năm 1962, Đại hội công nhân đồn điền Bình Long họp do đồng chí Ba Phước chủ trì, bàn triển khai phương hướng nhiệm vụ theo chủ trương của Hội nghị công vận đồn điền miền Đông tháng 4 năm 1962. Đại hội bàn sâu về phương thức tổ chức xây dựng cơ sở, vận động phong trào đấu tranh, kết hợp lực lượng chính trị, binh vận bên trong với lực lượng vũ trang bên ngoài phá ấp chiến lược; phát huy điểm mạnh của phong trào các đồn điền ở Bình Long và qua quá trình đấu tranh giằng co, quyết liệt với địch, tổ chức Đảng và cơ sở cách mạng bên trong vẫn được duy trì. Tháng 10 năm 1962, Tỉnh ủy Bình Long lại tổ chức Hội nghị dân tộc toàn tỉnh do các đồng chí Năm Thành, Hai Sẻ chủ trì, tham dự có khoảng 100 đại biểu các xã, ấp dân tộc. Nội dung chủ yếu của hội nghị là động viên đoàn kết dân tộc chống Mỹ và tay sai, chống địch gom dân lập ấp chiến lược, chống ắt lính.

Các hội nghị, công nhân và dân tộc đã góp phần đưa chủ trương, chính sách, chỉ đạo của Đảng về dân, tập trung nhiệm vụ chiến lược như phá ấp chiến lược cũng như những nhiệm vụ đấu tranh hàng ngày nhằm bảo vệ quyền lợi, bảo vệ đời sống của dân như chống đi xâu, chống đóng góp, chống địch vơ vét bóc lột, bắt lính, đấu tranh không tập quân sự… Những cuộc đấu tranh hàng ngày tuy không lớn, nhưng liên tục, rộng khắp, do các chi bộ và cơ sở bên trong lãnh đạo, hướng dẫn, luôn buộc địch phải bị động đối phó. Phong trào đấu tranh của đồng bào các xã dân tộc chống gom dân lập ấp, chống bắn phá bừa bãi vào nương rẫy, đòi tự do đi lại phát triển mạnh. Nổi bật là phong trào đồng bào Sóc Tó đấu tranh không vào ấp chiến lược cuối năm 1962. Đầu năm 1963, địch dùng cả bom xăng, bom phá hủy diệt Sóc Tó làm tất cả nhà cửa, tài sản của dân cháy sạch, gần 50 người chết, đồng bào buộc phải vào ấp Tổng Cui, Đồng Phất, ấp 23. Ta tổ chức 200 phụ nữ dân tộc, có cơ sở làm nòng cốt kéo lên gặp quận trưởng Hớn Quản đòi bồi thường mọi thiệt hại, tên này phải chấp nhận. Tuy đã bị gom vào ấp, qua vận động của các đội mũi công tác kết hợp với cơ sở bên trong, đồng bào vẫn liên tục đòi bung ra sản xuất, trở về làng cũ. Có ấp địch phải lập đi lập lại nhiều lần. Bằng mọi hình thức, dân trong các ấp phải liên lạc với các đội mũi công tác, tiếp tế cho kháng chiến. Do có cơ sở bên trong, phong trào vẫn được giữ vững.

Tháng 10 năm 1962, đại đội C270 tổ chức tiến công bọn ủi đường vào căn cứ kháng chiến ở Bù Xay, diệt 10 tên địch thu 6 súng, phá hỏng một xe ủi đất. Tiếp đó, một bộ phận trung đoàn 2 chủ lực Miền do đồng chí Mười Cộng chỉ huy, từ chiến khu Đ lên phối hợp với lực lượng tỉnh Phước Long, tiến công đồn Bù Đăng do một trung đội bảo an đóng giữ. Ta chiếm được đồn, thu vũ khí, bắt tù binh, trong đó có tên đồn trưởng, nhưng lại bị thiệt hại nặng; hy sinh gần 20 người, trong đó có tiểu đội của Phước Long hy sinh gần hết, bị thương hơn 20 người. Như vậy hiệu suất trận đánh không cao, nhưng đây là trận công đồn đầu tiên ở vùng này nên có tác động tích cực. Phong trào đồng bào vùng căn cứ, vùng trong ấp chiến lược đều tăng khí thế, đặc biệt làng Bu Rơ Nga là làng đầu tiên có chi bộ lãnh đạo dân đi dân công hỏa tuyến, thu chiến lợi phẩm và bắt sống đồn trưởng trong lúc tên này đang chạy trốn. Đồng bào rất phấn khởi và tận tình chăm sóc thương binh.

Nhìn chung, từ giữa năm 1962 trên chiến trường thể hiện rõ hình thái địch càn, ta chống càn; địch lập ấp chiến lược, ta phá ấp chiến lược, diễn ra liên tiếp và ngày càng quyết liệt, làm cho kế hoạch Staley - Taylor bị chặn lại, thất bại về cơ bản.

Tháng 12 năm 1962, Bộ Chính trị họp bàn về công tác trước mắt của cách mạng miền Nam. Hội nghị nhận định trong thời gian qua phong trào cách mạng miền Nam đã vượt qua những thử thách mới, từng lúc từng nơi ban đầu có lúng túng nhưng vẫn bảo tồn và phát triển được lực lượng…, ta có khả năng phá được “quốc sách ấp chiến lược” của địch. Bộ Chính trị xác định nhiệm vụ cấp bách trong thời gian tới là: Phát triển dân quân du kích, củng cố lực lượng vũ trang, đẩy mạnh công tác binh vận, chú ý tiến hành công tác Mặt trận, công tác đô thị, xây dựng căn cứ địa và vùng giải phóng, tăng cường công tác xây dựng Đảng từ trên xuống tận cơ sở.

Cuối năm 1962, Khu ủy Khu 10 chỉ đạo tổng kết công tác binh vận, khẳng định công tác binh vận có tầm quan trọng đặc biệt, là một mũi tiến công sắc bén vào hàng ngũ địch. Thực tế cho thấy nơi nào làm tốt công tác này thì tranh thủ được sự đồng tình của binh lính trong chống phá ấp chiến lược, chống càn quét trong đấu tranh chính trị.

Tỉnh Bình Long rút kinh nghiệm ở một số nơi như Phú Lố, Tân Khai, An Lộc… tiếp tục đẩy mạnh công tác binh vận, xây dựng nội tuyến chuẩn bị đánh bốt, phá ấp chiến lược. Qua vận động của cán bộ binh vận, thiếu úy Tốt, chi khu trưởng chi khu Quản Lợi cùng 5 binh sĩ và gia đình mang 5 súng ra vùng giải phóng ở Phú Miêng (thiếu úy Tốt được đưa về Ban binh vận). Ở Đồng Xoài (Phước Long) đội mũi công tác xây dựng được cơ sở xã Đồng Tiến, móc nối với một số sĩ quan ngụy ở chi khu Đồng Xoài (như tiểu đoàn trưởng biệt động quân, trung đội trưởng nghĩa quân Tám Cọp) để nắm tình hình. Thông qua các thành công bên trong, ta nắm được một trung đội thanh niên chiến đấu. Năm 1963 dựa vào cơ sở nội tuyến, ta đã phát động cả trung đội thanh niên chiến đấu ở đồn điền Thuận Lợi nổi dậy phá bốt, gom súng theo cách mạng, một số tình nguyện vào quân giải phóng, trong số đó có nhiều người trở thành cán bộ tốt (như Hoàng Kỳ).


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Bảy, 2011, 06:56:55 AM
Về nhiệm vụ xây dựng vùng giải phóng, bảo vệ và xây dựng vùng căn cứ, do vị trí đặc biệt, cả hai tỉnh Phước Long và Bình Long đều được Trung ương Cục chỉ đạo chặt chẽ. Khu ủy Khu 10 lãnh đạo, chỉ đạo triển khai đồng bộ chính trị, quân sự, kinh tế. K50, vùng căn cứ kháng chiến nối liền các tỉnh Lâm Đồng, Phước Long, chiến khu Đ và cơ quan đầu não của Khu ủy Khu 10, luôn được phát động toàn Đảng bộ và quân dân xây dựng căn cứ địa, tham gia bộ đội, phát triển du kích, xây dựng làng chiến đấu, tăng gia sản xuất lương thực, sẵn sàng đánh địch càn quét, đồng thời hỗ trợ phong trào phá ấp chiến lược. Tất cả 6 xã vùng căn cứ K50 đều có chi bộ, đội du kích. Năm 1963, từ Bù Đăng địch càn vào Đồng Nai đánh các trạm hành lang kháng chiến, du kích phối hợp lực lượng bảo vệ căn cứ chặn đánh, chúng rút lui. Các xã vùng căn cứ sau này thống nhất thành xã Đồng Nai Thượng, được Nhà nước tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang. Ban chỉ huy Tỉnh đội Phước Long thời gian này gồm các đồng chí Đỗ Văn Nuống (Tư Nguyên), Hai Phong, Ba Nhân.

Ở vùng giải phóng của K4, K58, nơi đặt căn cứ của tỉnh Phước Long (Đak Liên thuộc K4), phong trào du kích chiến tranh phát triển, mỗi buôn, sóc là một làng chiến đấu. Tỉnh ủy Phước Long còn chú trọng về mặt văn hóa xã hội, mở các lớp cứu thương để chăm sức khỏe, phục vụ đồng bào, ra tờ tin Sông Bé, tổ chức phiên âm chữ M’nông, S’Tiêng dạy thí điểm cho đồng bào (đồng chí Ba Cung, Trưởng ban Tuyên huấn Tỉnh ủy đã phiên tiếng M’nông, S’tiêng ra chữ quốc ngữ). Tỉnh ủy mở một lớp thí điểm có 20 em học sinh người dân tộc. Một đội văn nghệ dân tộc đã được thành lập, hăng hái phục vụ đồng bào.

Sang năm 1963 tình hình rất khó khăn về lương thực tăng lên. Trong vùng căn cứ Bình Long, Phước Long, đồng bào sản xuất được lương thực, chỉ giữ lại một phần vừa đủ cho gia đình, còn lại đóng góp và bán cho cách mạng. Già làng K’Tranh tặng cho bộ đội cả hai con trâu. Vật chất đóng góp của đồng bào ở đây trực tiếp phục vụ cho khách trên hành lang kháng chiến với lưu lượng ngày càng lớn.

Được Mỹ tăng viện trợ, lực lượng quân ngụy tăng rất mạnh(1). Chúng đã lập được 2.301 ấp chiến lược ở vùng nông thôn Nam Bộ (chiếm 50% của 3.000 ấp lập được, trên toàn miền Nam; riêng ở miền Đông Nam Bộ ta mất 13 xã trong số 35 xã giải phóng… Tuy nhiên, trên thực tế từ giữa năm 1962 thế địch trên chiến trường đã bắt đầu chựng lại, đến cuối năm 1962 đầu năm 1963 rơi vào tình thế khó khăn mới trước phong trào phá ấp chiến lược của ta kế hoạch ấp chiến lược mới đạt 36%, lực lượng vũ trang giải phóng chẳng những không bị diệt hoặc bị “vô hiệu hóa” mà còn phát triển cả về lượng và chất. Ngày 8 tháng 2 năm 1963, Harkins, Tư lệnh MACV(2) buộc phải thú nhận sự không thành công của kế hoạch bình định miền Nam trong 8 tháng và cho rằng “còn phải kéo dài mới thắng lợi được”. Dự kiến trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh MACV đã vạch ra một kế hoạch gọi là “tổng tiến công toàn diện” (mật danh AN16), Bộ Tổng tham mưu ngụy cụ thể hóa theo phương hướng “tích cực tranh thủ nhân dân”, “yểm trợ mạnh quân sự”, “tiếp viện và tiếp ứng mau”, hoạt động quân sự kết hợp chặt chẽ với hoạt động tình báo, công dân vụ, chiêu hàng, chiến tranh tâm lý. Mục tiêu là “khống chế 2 phần 3 dân số” nhằm đảo ngược tình thế.

Nhưng kế hoạch AN16 chưa kịp triển khai thì địch gặp phải sự kiện Ấp Bắc(3). Chúng thừa nhận: “Trận Ấp Bắc cùng các trận đánh lớn của cộng sản đã gây thiệt hại quan trọng cho quân đội Việt Nam Cộng hòa về người và trực thăng, tạo được tiếng vang trên quốc tế, và chứng tỏ cộng sản đang phát triển mạnh”. Trận Ấp Bắc chứng minh khả năng các lực lượng vũ trang giải phóng đánh bại chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận” của Mỹ và hơn thế nữa, là dấu hiện phá sản của chiến lược Chiến tranh đặc biệt.

Ngày 1 tháng 3 năm 1963, Quân ủy và Bộ chỉ huy Miền phát động phong trào “Thi đua Ấp Bắc giết giặc lập công”. Trung ương cục ra Nghị quyết về chống cố thủ, nhất là trong hoạt động đấu tranh chống địch bình định lập ấp chiến lược. Trong khi đó địch bắt đầu triển khai kế hoạch AN16 với mục tiêu cụ thể là lập 7.500 ấp chiến lược, gom 8.000.000 dân trong năm 1963. Hưởng ứng phong trào thi đua do Quẩn ủy và Bộ chỉ huy Miền phát động, các Tỉnh ủy Bình Long, Phước Long lãnh đạo quân dân đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích đánh địch, phá ấp chiến lược, kiện toàn tổ chức, sắp xếp lực lượng, tiếp tục rút kinh nghiệm, khắc phục những nhược điểm về phá ấp chiến lược. Ở Phước Long, đồng chí Phạm Thuận được điều động lên làm Khu ủy viên khu 10. Đồng chí Đỗ Văn Nuống (Tư Nguyện) về thay làm Bí thư. Đồng chí Hai Đính về thường vụ. Khu ủy Khu 10 bổ nhiệm các đồng chí Ba Cung và Bảy Kính làm ủy viên Thường vụ. Các đồng chí Bảy Chiến, Hai Phong vào Tỉnh ủy; Tỉnh ủy dời căn cứ về đóng ở Đak Lá sông Đak Huýt, giáp biên giới Campuchia. K1, K2 và K7 được sáp nhập thành K127, phạm vi hoạt động gồm Bù Đốp, Phước Bình, Đồng Xoài, do đồng chí Bảy Kính làm Bí thư. Từ giữa năm 1962 K5 cũ được tách ra, lập thêm K8, nhằm mở hành lang qua phía bên kia biên giới, đầu tháng 3 năm 1963 lại nhập trở lại K5 và K8 thành K58. Đồng bào Ba Cung làm Bí thư K58 đồng thời phụ trách hành lang của tỉnh nằm trên địa bàn K58.


(1) Năm 1963, chủ lực ngụy lên 200.000 tên, gần 10 sư đoàn bộ binh, 3 sư đoàn dự bị chiến lược, bảo an, dân vệ lên 211.000 tên; không quân, hải quân tăng gấp đôi về số thiết giáp có 50 chi đội… (T.G)
(2) Ngày 8-2-1962, Mỹ nâng cơ quan MAAG (Phái bộ viện trợ quân sự) thành Bộ tư lệnh MACV, tăng quyền lực cơ quan này như một Bộ Tư lệnh tiền phương của Mỹ ở Đông Nam Á.
(3) Ngày 2-1-1963, tại Ấp Bắc, một xã thuộc xã Tân Phú, huyện Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho, khoảng 300 chiến sĩ, bộ đội địa phương (khu và tỉnh) và dân quân du kích đã đánh bại cuộc càn 20000 quân ngụy do cố vấn Mỹ chỉ huy với các chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận”, diệt nhiều tên (tỉ lệ thương vong ta - địch: 1 phần 100, diệt và làm bị thương 19 cố vấn, giặc lái Mỹ, bắn trúng 15 trực thăng (rơi tại chỗ 5 chiếc), bắn cháy 3 xe M113. (T.G)


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Bảy, 2011, 06:58:19 AM
Tháng 2 năm 1963 tại Bù Du Nga, vùng sông Dak Huýt(1) đã diễn ra Đại hội Mặt trận dân tộc tỉnh Phước Long lần thứ hai. Lần này có khoảng 300 đại biểu tham dự (đông hơn lần trước). Trong 3 ngày, Đại hội kiểm điểm công tác của Mặt trận những năm 1961, 1962, tập trung bàn nhiệm vụ xây dựng vùng căn cứ, chống địch càn quét, gom dân, chống phá ấp chiến lược, xây dựng làng, xã chiến đấu, phát triển du kích chiến tranh, phát triển dân quân, du kích, động viên thanh niên tòng quân xây dựng lực lượng vũ trang… đánh bại âm mưu bình định của địch. Đại hội bầu ra Ban Chấp hành, hầu hết các thành viên nhiệm kỳ trước trúng cử. Ông Báp Long tiếp tục làm Chủ tịch, đồng chí Ba Phú làm Phó chủ tịch thường trực. Ở Bình Long từ cuối tháng 12 năm 1962, Bộ chỉ huy Miền điều động đồng chí Nguyễn Soái về phụ trách Ban quân sự thay đồng chí Năm Béo. Đến giữa năm 1963, Trung ương Cục điều đồng chí Ba Nghệ trở lại Bình Long làm Bí thư Tỉnh ủy, đồng chí Ba Phước làm Phó Bí thư, đồng chí Năm Thành ủy viên Thường vụ. Các Tỉnh ủy viên khác gồm Năm Béo, Ba Hùng, Tư Nam.

Cũng trong khoảng thời gian này, một hội nghị chuyên đề vể phát huy ba mũi giáp công đánh phá ấp chiến lược được tổ chức tại suối Bồ. Đây là hội nghị cụ thể hóa Nghị quyết về phá ấp chiến lược của tỉnh. Về lực lượng, Bình Long tiếp tục củng cố các mũi vũ trang đã có từ trước, một đội công tác mới tên An Lợi thuộc C45 (Chơ Thanh) được thành lập gồm 30 đoàn viên do đồng chí Sáu Ít làm Trưởng đoàn, phụ trách cụm các xã An Ninh, An Thạnh, An Lợi. Trong số những cán bộ có Ba Lùn là một đảng viên rất kiên cường, dũng cảm.

Để nâng cao khả năng và hiệu quả phá ấp chiến lược, cán bộ cốt cán của hai tỉnh Bình long, Phước Long, các cán bộ phụ trách các mũi công tác tiếp tục bám trụ trong quần chúng để xây dựng hệ thống cơ sở cách mạng và chi bộ Đảng trong các ấp. Trong các ấp Bù Đăng 4, Bù Đăng 2, La Ru, Bù Lố, Bù Dăng Xa Rây… trước đây do Đảng bộ ít chú ý phát triển Đảng người dân tộc nên phong trào đấu tranh của quần chúng bị hạn chế. Rút kinh nghiệm, từ đầu năm 1963, các mũi công tác tích cực xây dựng và phát triển trong mỗi ấp ít nhất một chi bộ và một số tổ du kích mật hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy diệt ác, phá kìm, phá ấp chiến lược. Trong mấy tháng đầu năm 1963, sau vụ lực lượng K5 diệt tên tổng K’Lang ác ôn trong ấp chiến lược Bu Thanh giữa ban ngày, bọn phản động hoang mang. Có tên ác ôn khét tiếng như tổng Hách, tổng Lô Ông, tổng Xa Ráy xã Tôn, xã Dân… được các đội công tác X1, X2 (Bù Đăng) gặp gỡ, giáo dục, giác ngộ và tổ chức ăn thề, hứa hẹn, làm cho thế kìm kẹp của địch bị nơi lỏng.

Suốt 3 tháng đầu năm 1963, lực lượng vũ trang tỉnh Phước Long phối hợp với đội vũ trang các K và du kích các xã mở nhiều cuộc đột nhập vào ấp chiến lược, vũ trang tuyên truyền, phát động đồng bào phá, bỏ ấp chiến lược, trở về buôn sóc cũ làm ăn. Đến giữa năm 1963, các ấp chiến lược Đak Ơ, Đak Son I, Đak Son II, Bù Xia, Phú Văn đã bị nhân dân phá lỏng. Ở ấp Bôm Ría, sau khi lực lượng vũ trang K19 (Bù Đăng) đánh bại cuộc càn gom dân của địch, đồng bào đã tự đốt nhà trong ấp chiến lược, bung về làng cũ.

Giữa năm 1963, các đơn vị C270 của Phước Long phối hợp với K127, B5 đặc công phục kích đánh 2 xe địch trên đường Hoàng Diệu, đoạn Đakia đi Bù Đốp gần cầu Sông Bé. Ban chỉ huy trận đánh: Ba Nhận, chỉ huy trưởng, Tư Thân chính trị viên, chỉ huy phó Sáu Mai. Xe trước lọt vào trận địa phục kích, ta nổ súng diệt, xe thứ hai chống trả. Ta xung phong diệt luôn xe thứ 2. Ta diệt 40 tên (có 1 lính Mỹ thu 12 súng). Đồng chí Ba Nhân, người chỉ huy đã gắn bó với đơn vị từ những ngày mở đường trên chiến trường Phước Long đã anh dũng hy sinh cùng 5 đồng chí khác (đồng chí Đức, đồng chí Lai, đồng chí Hai Sương, đồng chí Kế…).

Giải quyết xong thương binh, tử sĩ, ta rút về Sóc Nê. Tại đây đại bộ phận đi mua gạo, còn một số ở lại lo bảo vệ chiến thương do đồng chí Cấm trung đội trưởng chỉ huy. Điểu Ông trung đội phó, bố trí canh gác trên đồi. Sáng hôm sau ta phát hiện địch trên đồi xuống đúng vào lúc bộ phận đơn vị đi tải gạo chưa về. Trong tình thế một chọi mười, các chiến sĩ anh dũng chiến đấu đẩy lùi địch. Đặc biệt, Điểu Ông dùng súng trung liên chặn đứng, đẩy lùi nhiều đợt xung phong của chúng, tạo điều kiện cho đồng đội rút lui an toàn, ta diệt 6 tên, làm bị thương 5 tên địch. Đồng chí Điểu Ông là một trong những chiến sĩ người dân tộc đầu tiên của tỉnh Bình Long(2).


(1) Nay thuộc xã Bù Gia Mập, Phước Long (T.G).
(2) Năm 1974, đồng chí Điểu Ông được Nhà nước tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang”.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Bảy, 2011, 06:59:41 AM
Ở Bình Long, sau thời gian chuẩn bị, tháng 3 năm 1963 ta bắt đầu đợt phá ấp chiến lược. Đơn vị B75 của tỉnh phối hợp với đội vũ trang của C45 (Chơn Thành) và du kích xã Lợi Hưng tiến công đồn Lợi Hưng do một trung đội bảo an đóng giữ, hỗ trợ nhân dân nổi dậy phá ấp chiến lược Sóc Xiêm. Trung đội bảo an tan rã. Địch điều quân từ tỉnh đến, ta tạm lui để bảo toàn lực lượng. Trận đánh tuy không đạt yêu cầu nhưng có tiếng vang, làm cho hệ thống tề xã, ấp và ngụy quân trong vùng hoang mang, quần chúng phấn khởi. Ta lại rút được nhiều thanh niên đưa vào lực lượng vũ trang.

Tranh thủ tình hình trên, quân dân Bình Long liên tiếp mở những cuộc tiến công phá ấp chiến lược. Lúc này tình hình các ấp có khác nhau: có ấp có cơ sở bên trong, có ấp không có. Đối với loại thứ hai ta phải dùng lực lượng vũ trang từ ngoài đánh vào rồi phát động quần chúng phá ấp. Ấp chiến lược là vấn đề chiến lược sống còn của địch nên nói chung ta phải phá đi phá lại nhiều lần, tranh thủ mọi tình huống, sử dụng mọi lực lượng, mọi thời gian nhằm vào phá nội dung, làm cho bộ máy kìm kẹp của địch từ lỏng đến rã. Lực lượng vũ trang tỉnh phối hợp với đội mũi phá rã khu vực Phú Lố, làng 7, làng 8, làng 6 mảng phía tây Bình Long. Ấp Phú Lạc là ấp kiên cố, đơn vị vũ trang B4 mở rào, đánh bọn canh giữ, hỗ trợ đồng bào tự phá ấp, bung ra… Mặc dù địch cố sức xây dựng, củng cố nhưng đến giữa năm 1963 hệ thống ấp chiến lược ở Bình Long bắt đầu xộc xệch. Thế mạnh của ta là sự tồn tại hệ thống cơ sở một bên trong ấp và một số cơ sở nội tuyến trong binh lính địch. Nhờ vậy, ở nhiều ấp ta ra vào được, ấp trở thành điểm hoạt động mua lương thực, thực phẩm, thuốc men để chuyển ra vùng căn cứ. Ở các đồn điền cao su công nhân liên tục đấu tranh đòi chủ can thiệp với ngụy quyền, ngụy quân để công nhân được ra lô, ra sở làm việc, đi sớm về muộn.

Ở Lộc Ninh, một số ấp gần cơ sở bí mật còn có đảng viên, như ở Lộc Tấn có đồng chí Tư Cươi, người dân tộc. Quá trình đấu tranh chống địch lập các ấp chiến lược Brêlin, Cốc Rưới trên đoàn lộ 14A qua Lộc Ninh, Bù Đốp vẫn tiếp diễn giằng co đến tháng 4 năm 1963 địch mới lập được ấp. Nhưng qua quá trình đấu tranh quần chúng trở nên dày dạn, ở Brêlin vẫn thành lập được chi bộ do đồng chí Năm Hồng làm Bí thư. Nhờ vậy, cuộc đấu tranh của đồng bào trong ấp luôn tiếp diễn với nội dung từ thấp đến cao, tiếp tục giữ vững được mối liên lạc trong ngoài. Trong đấu tranh đồng bào tranh thủ được sự đồng tình của nhiều binh lính. Các đội mũi công tác gây dựng được cơ sở trong các đồn điền Tính Thiện, Lộc Bình. Riêng đồng chí Tư Cươi vận động được 2 lính người Khơme (Lâm Côm, Lâm Khanh) mang hai súng ra nộp cho cách mạng. Đồng chí còn vận động được bà con làm những hòm thư bí mật trong rừng để giấu đạn, gạo, thuốc men ủng hộ kháng chiến. Bộ đội huyện và du kích liên tục đánh bọn bảo an, dân vệ, yểm trợ cho đồng bào lấy xe ủi đất của sở ủi phá các ấp chiến lược Cốc Rưới, Brêlin. Bà con viện cớ có chiến sự xảy ra trong vùng, dắt díu, bồng bế con cái bung ra rừng, về phum sóc căn cứ, thanh niên chạy ra căn cứ gia nhập lực lượng vũ trang cách mạng. Ở Làng 10 nhân dân cũng nổi dậy phá banh ấp chiến lược. Mặc dù địch rất cố gắng nhưng một lần nữa đã bị thất bại, cuối năm 1963, một mảng phía tây quốc lộ 14A và đông quốc lộ 13, từ Brêlin đến ngã ba Cầu Trắng được giải phóng.

Trên toàn chiến trường, thực tế là trước khi phong trào thi đua Ấp Bắc thành cao trào, về phá ấp chiến lược “ta chưa thật tập trung, chưa tương xứng nhiều mặt”(1) so với nỗ lực toàn diện của địch, do đó trong gần 9 tháng sau sự kiện Ấp Bắc, địch đã lập được 7.500 ấp chiến lược (ở Nam Bộ 5.000 ấp), so với kế hoạch năm 1963, coi như đạt, nhưng so với toàn bộ kế hoạch ấp chiến lược thì mới đạt một nửa.

Tháng 8 năm 1963, Trung ương Cục ra chỉ thị tiếp về phá ấp chiến lược, trong đó nêu những thắng lợi lớn và những mặt hạn chế, chủ yếu là do chưa thật tập trung tương xứng với nỗ lực rất cao của địch. Nói chung, phong trào phá ấp chiến lược chưa mạnh, chưa đều… chỉ đạt mức giằng co, hạn chế hoặc làm cho địch không ổn định chứ chưa chặn đứng được chúng. Chỉ thị đặt mạnh việc phát triển phong trào chiến tranh du kích, ra sức chống càn quét, chống phá khu, ấp chiến lược; tiêu hao, củng cố và phát triển thế và lực cả chính trị, quân sự, bên ngoài cũng như bên trong ấp chiến lược; tập trung và kết hợp chặt chẽ mọi lực lượng, mọi công tác, nhằm chặn đứng, đẩy lùi, làm thất bại từng bước, tiến lên làm thất bại hoàn toàn âm mưu xây dựng khu, ấp chiến lược gom dân của địch.

Tháng 10 năm 1963, Tỉnh ủy Bình Long lại tổ chức cuộc họp đánh giá tình hình, rút kinh nghiệm việc phá ấp chiến lược, chủ trương và tập trung chỉ đạo lực lượng phá “ấp chiến lược kiểu mẫu” Phú Miêng. Được lực lượng vũ trang hỗ trợ, đồng bào nổi dậy phá banh ấp, diệt 4 tên địch, thu 4 súng. Thắng lợi này có ý nghĩa lớn đối với Bình Long vì đây là “ấp kiểu mẫu”, địch đã đầu tư xây dựng công phu. Tiếp sau, trận diệt đồn Cây Trường (18-10-1963) có ảnh hưởng trực tiếp, tích cực đến tình hình ở Bình Long. Đồn này do một đại đội bảo an đóng giữ nằm ở khu dinh điền sau thị trấn Chơn Thành, án ngữ trục lộ 13, kìm kẹp nhân dân các dinh điền Cái Sắc, Căm Xe, Suối Cạn, Hiếu Văn, hỗ trợ dân vệ và quân chủ lực ngụy trong các cuộc càn quét. Ta diệt gọn, thu vũ khí(2). Bên cạnh ý nghĩa diệt địch, phá kìm, trận đánh còn xuất hiện gương dũng cảm hy sinh của Trừ Văn Thố, lấy thân mình lấp lỗ châu mai để đồng đội xung phong diệt địch(3).


(1) Nhận định trong chỉ thị ngày 27-8-1963 của Trung ương Cục (T.G)
(2) Lực lượng thực hiện gồm tiểu đoàn bộ binh 5, trung đoàn 2 chủ lực Miền, được tăng cường đại đội đặc công của Trung đoàn.
(3) Đồng chí được Nhà nước truy tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang (T.G).


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Bảy, 2011, 07:00:04 AM
Ngay sau trận diệt đồn Cây Trường, ngày 19 tháng 10 năm 1963, địch dùng trực thăng đổ một bộ phận sư đoàn 5 ngụy xuống Lộc Tấn, thực hiện cuộc càn quét gom dân lập ấp chiến lược. Bộ đội địa phương Lộc Ninh, du kích xã và bộ đội tỉnh tăng cường, phối hợp đánh càn diệt hàng trăm tên, bắn rơi 4 máy bay. Cuộc hành quân của địch thất bại.

Đồn Cây Trường bị diệt tiếp theo chiến thắng ở Lộc Tấn làm cho địch ở các ấp chiến lược trong vùng hoang mang, một số đào ngũ, số còn lại co cụm, không dám bung ra hoạt động như trước. Các đội mũi công tác lại có thêm điều kiện thuận lợi để đột nhập vũ trang tuyên truyền, xây dựng cơ sở. Trên toàn chiến trường phong trào “thi đua Ấp Bắc” đã có đà phát triển và ta đang giành lại dần thế chủ động.

Ở Phước Long, du kích và lực lượng vũ trang K19 chống địch càn quét, gom dân lập ấp chiến lược ở Sóc Bôm Ría. Chống càn thắng lợi, nhân dân ấp Bôm Ría tự đốt nhà, bung về sóc cũ làm ăn.

Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới, tháng 10 năm 1963, Quân ủy Trung ương quyết định thành lập Quân ủy và Bộ chỉ huy chiến trường Nam Bộ - Cực Nam Trung bộ, tức miền B2 (Bộ chỉ huy Miền thay cho Ban Quân sự Miền). Cũng vào thời gian này, tỉnh Bình Long được tách khỏi Khu 10, đặt dưới sự chỉ huy của Quân khu ủy và Quân khu miền Đông (T1) và của Miền. Các tỉnh Bình Thuận, Lâm Đồng, Phước Long được nhập vào Khu 6. Địa bàn Khu 6 trở thành một vùng nối liền từ Cực Nam Trung Bộ đến tận biên giới Campuchia. Khu ủy và Bộ chỉ huy Khu 6 chuyển căn cứ đứng chân về địa bàn Bãi Cát Tiên tiếp giáp giữa Lâm Đồng và Phước Long. K50 và K9 được sáp nhập thành K59 (tức Bù Đăng) chuyển về trực thuộc Tỉnh ủy Phước Long. Đồng chí Tư Nguyện từ Lâm Đồng về làm Bí thư Tỉnh ủy Phước Long. Đồng chí Năm Nhường trước là tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Lâm Đồng nay được điều về làm Bí thư K59. Trung đội bảo vệ Khu 10 do Phùng Văn Chèo phụ trách nay phát triển thành đại đội 273 thuộc K59 do Cao Hoàng Thiên làm chỉ huy trưởng, Mai Hoàng Phương chính trị viên. Đồng chí Ba Huệ làm huyện đội Trưởng. Tỉnh Phước Long được Khu ủy và Bộ chỉ huy Khu 6 xác định là chiến trường trọng điểm của Khu.

Hoạt động quân sự của địch càng về cuối năm 1963 càng bị hạn chế, một phần do hiệu suất chiến đấu của lực lượng vũ trang và phong trào phá ấp chiến lược của nhân dân càng cao, một phần do tình hình chính trị suy yếu, lục đục từ bên trong của chế độ Diệm. Tập đoàn tay sai Ngô Đình Diệm ngày càn lao sâu vào con đường độc tài, gia đình trị. Mỹ buộc phải thay Diệm bằng cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963. Diệm, Nhu bị giết chết, một tướng lĩnh mới lên thay, nhưng tình hình lại xấu thêm, tướng lĩnh tay sai Mỹ tranh ăn càng quyết liệt, chế độ tay sai Mỹ rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng, kéo dài.

Trước tình hình trên, Quân ủy và Bộ chỉ huy Miền chỉ đạo các cấp tận dụng thơi cơ, đẩy mạnh hơn nữa hoạt động vũ trang để hỗ trợ phong trào, phá ấp chiến lược, tiến tới đánh bại hoàn toàn “quốc sách” của địch.

Tại Bình Long, đêm 11 tháng 11 năm 1963, B75 của tỉnh kết hợp với lực lượng địa phương đột nhập ấp chiến lược Tổng Củi, đốt phá toàn bộ ấp, đưa nhân dân trở về sóc cũ. Ở Quản Lợi, ta tập kích một trung đội dân vệ, diệt 7 tên, bắt sống 2 tên. Ở Tân Khai các chi bộ bên trong, bên ngoài phối hợp hướng dẫn nhân dân phá hàng rào ấp chiến lược, rồi dùng lý lẽ buộc địch không được bắt đồng bào làm lại hàng rào. Đến cuối năm 1963 địch bỏ luôn ấp chiến lược này.

Để chào mừng ngày kỷ niệm 3 năm thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng (20-12-1960 - 20-12-1963), ngày 23 tháng 12 năm 1963, lực lượng vũ trang ta đột nhập khu dinh điền Xóm Ruộng, địch hoảng hốt bỏ chạy. Bộ đội và 2000 đồng bào họp mít tinh mừng thắng lợi và làm chủ trận địa suốt đêm. Địch ở Bình Long điều quân tiếp viện, quân ta chặn đánh chúng ở cầu Cần Đâm, diệt 27 tên, bắt sống 6 tên, thu nhiều vũ khí, đạn dược. Từ đó, ta làm chủ dinh điền Xóm Ruộng vào ban đêm. Các đội mũi công tác ra vào thuận lợi nhưng địch lại theo dõi nắm được quy luật hoạt động của ta, phục kích đánh bất ngờ, ta hy sinh 6 trong số 9 đồng chí vào ấp, trong đó có huyện đội Trưởng Hai Luận.

Sự có mặt của Trung đoàn 2 chủ lực Miền ở Binh Long, Phước Long, Thủ Dầu Một góp phần quan trọng hỗ trợ phong trào chiến tranh nhân dân ở 3 tỉnh. Đặc biệt, ngày 31 tháng 12 năm 1963, tại ấp Đường Long (xã Thanh Tuyến, huyện Bến Cát), trung đoàn 2 đã diệt tiểu đoàn biệt động quân “Cọp đen”(1), đánh bại cuộc hành quân mang tên “chiến dịch Đại phong 35” càn quét khu vực bắc Bến Cát. Đây là lần đầu tiên trên chiến trường Đông Nam bộ, ta diệt gọn một tiểu đoàn chủ lực ngụy, sự kiện này trực tiếp cổ vũ khí thế quân dân Bình Long, Phước Long, góp phần tạo đào cho phong trào năm 1964.


(1) Diệt trên 250 tên gồm cả ban chỉ huy tiểu đoàn và cố vấn Mỹ, bắt sống 58 tên, bắn cháy 3 máy bay lên thẳng, thu 110 súng các loại (T.G).


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Bảy, 2011, 07:08:31 AM
Tại Chơn Thành, ngày 27 tháng 1 năm 1964, được bộ đội huyện và đội mũi công tác hỗ trợ, nhân dân đồng loạt nổi dậy phá banh các ấp chiến lược, dinh điền Suối Cạn, Căm Xe, Bàu Tây, Cầu Bà Và. Lính trong các dinh điền bỏ chạy, một số nộp vũ khí đầu hàng, trụ sở hành chính của địch bị san bằng. Phát huy thắng lợi, nhân dân Chơn Thành phối hợp với lực lượng tổ chức mít tinh lớn, căng biểu ngữ, cờ Mặt trận giải phóng, rải truyền đơn. Sau đó, bên ta công bố lệnh ngừng bắn trong dịp Tết nguyên đán, đồng bào kêu gọi con em mình trong hàng ngũ binh lính địch trở về gia đình.

Trên chiến trường Lộc Ninh, Bù Đốp, quân dân địa phương liên tục chiến đấu, chống địch càn quét gom dân lập ấp chiến lược. Ở Làng 10, tháng 3 năm 1964, với lực lượng 2 tiểu đoàn, có pháo binh xe tăng yểm trợ, địch càn quét một khu vực rộng để lập ấp chiến lược và xây đồn bốt mới nhằm cắt hành lang vận chuyển, tiếp tế của ta. Bộ đội địa phương và du kích các xã, chia thành nhiều mũi, dùng mìn, phục kích, liên tục đánh địch. Địch chưa đạt mục tiêu nhưng bị tiêu hao nhiều, cuối cùng chúng buộc phải bỏ dở kế hoạch. Ở Chu Ninh, Thuận Kiệm, Đa Kia các đội công tác kết hợp với du kích và cơ sở nội tuyến trong hàng ngũ địch, liên tục kìm chế bọn hiếu chiến, không cho chúng bung ra hoạt động, tạo điều kiện cho nhân dân phá rã từng ấp chiến lược. Trong đồn điền cao su, công nhân đấu tranh trực diện với chủ Tây, đòi các quyền lợi dân sinh, dân chủ, chống cúp phạt hoặc sa thải công nhân khi chưa có ý kiến của công đoàn và Ủy ban tự quản. Uy thế của cách mạng đang lên, chủ Tây buộc phải tuân thủ. Thực hiện chỉ thị của Trung ương Cục đối với công nhân cao su về việc “phát động phong trào công nhân cao su sản xuất lương thực chống đói, chống giặc, xây dựng lực lượng chính trị, vũ trang mạnh, làm công tác binh vận, địch vận, kiên quyết bám trụ các đồn điền giải phóng…”, Đảng bộ Lộc Ninh phát động phong trào “tay dao cạo, tay súng”, vừa sản xuất vừa chiến đấu giặc đến là đánh, giặc rút là cạo mủ, sản xuất lương thực, kiên quyết giữ vững vùng giải phóng.

Tại làng 10, địch lại tập trung lực lượng quân sự khá lớn, có xe tăng, pháo yểm trợ, hòng lập lại ấp chiến lược làng 10 để cắt đứt hành lang vận chuyển, tiếp tế đông tây đường 13 của ta. Chúng đóng đồn bảo ai tại làng. Huyện sử dụng 30 cán bộ, chiến sĩ thuộc 2 đại đội 70 và 75 phối hợp cùng thanh niên địa phương để bức hàng đồn bảo an, nhưng trên đường hành quân đến mục tiêu, đụng địch, bị thương vong, phải tạm hoãn kế hoạch. Chị Huỳnh Thị Dâng, cơ sở mật thuyết phục được 1 toán lính bảo an, bố trí 3 thanh niên cơ sở lấy 3 súng và lựu đạn, ra rừng đón lực lượng vũ trang. Địch sinh nghị bắt chị Dâng đưa về trại giam Bình Long, tra tấn chị đến tàn phế, nhưng không khai thác được gì. Ba năm sau ra tù với thương tật chị Dâng lại tiếp tục hoạt động kháng chiến.

Tháng 12 năm 1963, Hội nghị lần thứ Chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III ra Nghị quyết tình hình nhiệm vụ. Về cách mạng ở miền Nam, Nghị quyết xác định phương châm: chiến đấu lâu dài, dựa vào sức mình là chính, cần kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang một cách linh hoạt, tùy từng vùng và thời kỳ khác nhau… Đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang có vai trò rất cơ bản và rất quyết định. Cần nhận thức đấu tranh vũ trang đóng vai trò quyết định trực tiếp….(1). Về nhiệm vụ cấp bách trước mắt, Nghị quyết chỉ rõ: “Tích cực xây dựng và mở rộng căn cứ địa, đặc biệt là ở những địa bàn chiến lược và cơ động của quân chủ lực… Có mở rộng và củng cố căn cứ địa mới tạo được nhanh chóng cho bộ đội chủ lực có điều kiện đánh địch những trận tiêu diệt lớn, làm chuyển biến tình hình một cách có lợi cho ta”(2).

Tháng 2 năm 1964, Trung ương Cục mở hội nghị lần thứ 2 để cụ thể hóa Nghị quyết 9 của Ban Chấp hành Trung ương. Hội nghị ra văn kiện chỉ đạo, trong đó chỉ rõ: “… giữ vững, xây dựng, mở rộng các khu căn cứ miền núi và đồng bào thượng theo kịp sự phát triển cách mạng, nhất là trên các địa bàn chiến lược… Đẩy mạnh công tác phá ấp chiến lược của địch để tạo ra vùng giải phóng rộng lớn, liên hoàn, tiếp giáp với vùng căn cứ…”.

Thực hiện sự chỉ đạo của trên, chuẩn bị bước vào đợt hoạt động mới, liên tiếp trong hai tháng 5 và 6 năm 1964 Khu ủy Quân khu 6 mở hội nghị để kiểm điểm, đánh giá tình hình và đề ra nhiệm vụ mới. Hội nghị phê pháp tư tưởng hữu khuynh, co thủ ở một số địa phương và đơn vị, thông qua chủ trương mở đợt hoạt động Thu Đông của quân khu nhằm tiêu diệt, tiêu hao một bộ phận sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta; đẩy mạnh phá ấp chiến lược, giành dân, mở rộng căn cứ, bảo đảm hành lang… Xác định hướng chính là địa bàn tỉnh Phước Long. Cụ thể, theo chỉ đạo của Trung ương Cục và Bộ chỉ huy Miền, Thường vụ Khu ủy và Bộ chỉ huy Quân khu 6, quyết định hướng hoạt động đợt Đông Xuân của Phước Long là khu vực đường 10. Tiểu đoàn 840 cơ động của khu được điều động sang từ tháng 4 năm 1964 để hỗ trợ cho Phước Long thời gian dài, vừa diệt địch vừa làm nhiệm vụ phá ấp chiến lược. Đơn vị vũ trang của tỉnh Phước Long bấy giờ chưa đủ một đại đội, các huyện có từ 1 tiểu đội đến 1 trung đội tập trung. Về lương thực, hậu cần, ngoài việc mua gạo các dinh điền còn có xe vận tải thương nhân, xe bò khai thác gỗ của cơ sở từ Sài Gòn theo đường 14 đổ gạo xuống vùng đần Klang bắc Bù Đăng và đường 10. Lực lượng địch ở tiểu khu Phước Long có tiểu đoàn 34 biệt động, 1 chi đoàn xe bọc thép (có cả xe “nồi đồng Mã Lai) và một số đại đội bảo an. Mỗi chi khu có một đại đội bảo an. Một số đại đội và trung đội bảo an đóng thành cứ điểm như Buprang, Bôm Ría, Tuy Đức, Cầu 38, bảo vệ các trục giao thông và kiểm soát dân. Các dinh điền, ấp chiến lược có từ 1 đến 2 trung đội dân vệ. Ngoài ra còn có hai trại biệt kích Bù Đốp, Bù Gia Mập, mỗi nơi thường xuyên có từ 1 đến 2 đại đội biệt kích, được huấn luyện lối đánh biệt kích vùng rừng núi, dọc theo biên giới Phước Long - Campuchia.


(1) Xem: Một số văn kiện của Đảng về chống Mỹ, cứu nước. Nxb. Sự thật, Hà Nội, t.I, 1954-1965, các trang 178-180.
(2) Sđd, các trang 187 và 202.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Bảy, 2011, 07:09:58 AM
Tháng 10 năm 1964, cơ quan Tỉnh ủy, Tỉnh đội Phước Long từ Đak Huých chuyển căn cứ trở lại vùng Đak Nhau và quyết định thành lập Đảng ủy và Ban chỉ huy quân sự đường 10 do đồng chí Hai Phong, Ủy viên thường vụ, tỉnh đội trưởng làm chỉ huy trưởng, Bí thư Đảng ủy, Đại úy Nguyễn Thông cán bộ tham mưu quân khu và Đại úy Phan Mậu (tiểu đoàn phó tiểu đoàn 840) làm phó(1); Vũ Ngọc Đài chính trị viên tiểu đoàn 840 làm chính trị viên phó. Đồng thời, Tỉnh ủy quyết định thành lập K10 do đồng chí Tư Quý làm Bí thư. Đảng ủy và Ban chỉ huy đường 10 có nhiệm vụ thống nhất chỉ đạo, chỉ huy các lực lượng hoạt động trên địa bàn, phát huy sức mạnh tổng hợp của ba thứ quân, tiến công địch bằng cả ba mũi quân sự, chính trị, binh vận.

Mùa mưa năm 1964, tiểu đoàn 840 (thiếu) và lực lượng vũ trang tỉnh Phước Long phối hợp hoạt động, đánh phá ấp, phục kích trên đường 14 đoạn từ Bù Đăng đến Tuy Đức vòng xuống Bù Gia Phúc, Bù Xia, đánh cứ điểm cầu Đức Hạnh diệt một trung đội dân vệ, tiếp tục tiến công cứ điểm Bôm Ría. Cứ điểm này nằm trên một ngọn đồi phía bắc tục đường 10 do một đại đội bảo an đóng giữ, khống chế và kiểm soát dân vùng Bôm Ría và trục đường 10. Địch đã gom dân Thượng vùng căn cứ K4 và dân Kinh ở các tỉnh miền Trung lên lập ấp, khu dinh điền ở xen kẽ trên trục đường này. Với lực lượng tham gia gồm đại đội 5 đặc công, đại đội 1/840, trận đánh diễn ra đêm 5 tháng 9 năm 1964, tuy không dứt điểm, nhưng ta đã gây thiệt hại nặng cho địch.

Đầu tháng 11 năm 1964, chiến dịch đường 10 mở màn với trận đánh chiếm ấp chiến lược Bù Bông. Ấp Bù Bông có khoảng 150 người Thượng, nằm sát bờ sông Đarlap, có 1 trung đội dân vệ đóng giữ. Đêm 5 tháng 11 năm 1964, đại đội 2/840 đánh tan trung đội dân vệ, chiếm ấp, sau đó để lại 1 tiểu đội tăng cường bám ấp, toàn đại đội chuyển sang phục kích đoạn giữa cầu sông Đarlap và ngã ba đường 10. Hôm sau (6-11-1964), quân ta diệt đại đội bảo an 113 từ chi khu Bù Đăng đến cứu viện Bù Bông, thu vũ khí, bắt 7 tù binh (trong đó có tên đại đội trưởng). Trong lúc đó Tiểu đoàn 840 (thiếu) phục kích đoạn giữa Bôm Ría và Bù Bông đón địch từ Bôm Ría và tiểu khu, nhưng sau hai ngày chúng không đi, đơn vị chuyển sang vây đánh ấp Bôm Ría, một ấp lớn có trên 400 dân Thượng, do một đại đội bảo an và 2 trung đội dân vệ đống giữ (đại đội Bôm Ría này cơ động trong khu vực từ Bù Bông đến nam cầu Đức Hạnh). Ta bao vây không chặt nên địch cắt rừng tháo chạy qua sông về Phước Tín (tây nam Bôm Ría). Đội công tác phát động quần chúng nổi dậy phá ấp chiến lược, xóa bỏ kìm kẹp của địch, lập Ủy ban giải phóng tự quản của nhân dân. Tiểu đoàn 840 để lại đại đội 2 bám ấp Bôm Ría và Bù Bông tiếp tục truy qyết địch và cùng tham gia phát đông quần chúng, tiểu đoàn 840 (thiếu) chuyển lên chuẩn bị đánh địch ở Bù Xia, Đức Hạnh.

Trong lúc ta đánh phá ấp chiến lược phía bắc tỉnh Phước Long, ở phía nam lực lượng K127 cùng với trung đội của tỉnh tăng cường cho K127 do Năm Hòa chỉ huy tiến công dinh điền Thuận Kiệm 2, bắt sống tiểu đội dân vệ, thu 10 súng, bắt sống 1 tên tề ác ôn xử tại chỗ, tổ chức vũ trang tuyên truyền, phát động quần chúng, kết hợp nội tuyến hù dọa, tác động bọn ác ôn chạy trốn. Ta cùng dân phá banh ấp chiến lược, dinh điền Kiệm 1, Kiệm 3, Kiệm 4, cùng nội tuyến tiến công ấp chiến lược Thuận Hòa, phá banh khu tập trung đồng bào dân tộc ở ngã ba Phú Riềng, ngã ba Bù Nho, phá lỏng bộ máy kìm kẹp của địch ở đồn điền Thuận Lợi và đồn điền Phú Riềng.

Ngày 24 tháng 12 năm 1964 ta đánh bốt Bù Na. Địch ở các ấp chiến lược Bù Na 1, Bù Na 2 bỏ chạy. Ta trụ lại làm công tác binh vận, kêu gọi binh lính nghĩa quân đóng ở Bù Na 3 mang súng ra hàng. Các gia đình gọi con em trong nghĩa quân về và chỉ cho ta số súng cất giấu. Địch đóng ở dinh điền Bù Na cũng tháo chạy. Ta giải phóng toàn bộ dinh điền và ấp chiến lược Bù Na.

Dinh điền Bù Na, Đức Hạnh nằm dọc theo bờ đông - đông bắc sông Bé, dài 4km, gồm 2 khu vực: ấp Bù Xia, khoảng 200 dân là người Kinh, có 1 trung đội dân vệ năm ở phái bắc đường 10; dinh điền Đức Hanh chia làm 3 thôn, khoảng 800 dân làn người Kinh miền Trung, Quảng Nam, Quảng Ngãi, có 3 trung đội dân vệ chiếm giữ nằm ở phía nam đường 10. Tại ngã ba Đức Hạnh đường 10 có đường đi Phú Văn, Phước Quả, và đường đi thị xã Phước Long, địch gọi là đường Ngô Đình Thục.

Lợi dụng đường rừng, tiểu đoàn 840 (gồm các đại đội 81, 82, 54 bộ binh, C84 trợ chiến) đã tiếp cận địch ban ngày, chiều 25 tháng 12 năm 1964, các mũi đồng loạt nổ súng, vận động bao vây diệt địch. Bị bất ngờ, địch chạy tán loạn, ta chiếm lĩnh và làm chủ ấp. Trong đêm đơn vị chuyển lực lượng, bố trí trận địa đánh viện từ tiểu khu. Sáng hôm sau, địch tập hợp đại đội bảo an bị ta đánh ở Bôm Ría (tháo chạy về tiểu khu), đại đội bảo an Phước Bình, đại đội thám kích tiểu khu và một số trung đội dân vệ, chia thành 2 cánh, một đại đội ở ven sông từ phía Phú Vân đánh lên, 2 đại đội theo đường Ngô Đình Thục đánh vào trận địa đại đội 54/840. Trận đánh diễn ra suốt ngày. Buổi sáng ta đánh thiệt hại 2 đại đội bảo an trước rìa ấp đường Ngô Đình Thục và đánh bật đại đội thám kích xuống sông Đức Hạnh. Buổi chiều địch huy động lực lượng tàn quân các đơn vị tham chiến sáng hôm sau cùng 1 chi đội xe bọc thép và hai đại đội của tiểu đoàn 34 biệt động tiểu khu, chia làm nhiều mũi, nhiều cánh ồ ạt tiến công vào trận địa, các đại đội 54 và 4/840. Hai đại đội 4 và 54 đã tạo bất ngờ nhất cho địch (chờ cho chúng vượt qua cánh đồng nước, tiến sát rìa ấp, phơi mình dưới tầm hỏa lực của ta…), nổ súng ghìm xác địch trên đồng nước đồng thời cho hỏa lực xuất kích đánh xe bọc thép và các cụm hỏa lực yểm trợ của địch phía bên kia cánh đồng. Trong lúc đó, tiểu đoàn cho đại đội 1 vận động tự xa, vùng đánh vào sườn địch. Trận đánh kéo dài đến chiều tối, quân ta ồ ạt xung phong dẫm lên xác địch, xác xe bọc thép đang bốc cháy, truy kích địch trên đường Ngô Đình Thục đến tận nhà thờ Ngô Đình Thục (bờ bắc sông Bé, gần thị xã Phước Long).


(1) Sau đó đào ngũ theo địch trở lại đánh phá cách mạng (T.G).


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Bảy, 2011, 07:11:48 AM
Do chưa dồn sức cho quyết chiến điểm trên đường Ngô Đình Thục, trận Đức Hạnh diệt nhiều địch nhưng chưa gọn, tuy vậy trận này đã đánh bại cuộc hành quân tái chiếm của địch. Lần đầu tiên tiểu đoàn 840 (thiếu) trên chiến trường Phước Long đã tổ chức lực lượng bám trụ, phòng ngự điểm tựa kết hợp với lực lượng vận động đánh địch phản kích với một lực lượng tương đối lớn, đánh thiệt hại 5 đại đội địch (ngoài ra bắn rơi 1 máy bay, bắn cháy 2 xe bọc thép), làm chủ chiến trường, thu vũ khí… Trận đánh có ý nghĩa quyết định trong việc giải phóng đường 10, uy hiếp địch ở phía bắc - đông bắc thị xã Phước Long.

Sau trận Đức Hạnh, đại đội 1, đại đội 4/840 phát triển theo trục đường 10 đánh phá ấp Bù Dàm, Bù Gia Phúc và Khắc Khoan; đại đội 54 ở lại bám trụ dinh điền Đức Hạnh, cùng các lực lượng địa phương làm chủ ấp, phát động phong trào chiến tranh và tiếp tục đánh địch lấn chiếm, khuếch trương thắng lợi. Đại đội 54 được nhân dân trong vùng gọi là “Đại đội Đức Hạnh” - Với ý nghĩa là đơn vị đánh giặc giỏi, công tác dân vận tốt, bám trụ kiên cường.

Như vậy chiến dịch đường 10 về cơ bản đã đạt mục tiêu.

Trong khi quân ta đang tập trung tấn công địch ở đường 10, bộ đội địa phương Bù Đăng cùng du kích và nhân dân vùng căn cứ anh dũng chống cuộc càn quét của tiểu đoàn ngụy thuộc trung đoàn 5, sư đoàn 5 có xe tăng, pháo và máy bay yểm trợ ở Đak Ơ, Đak Nhau… để gom dân lập ấp chiến lược. Trong thế bất lợi về lực lượng, lực lượng ta đã tận dụng địa hình hiểm trở và hệ thống làng xã chiến đấu để bám đánh địch từ nhiều hướng, diệt 30 tên, phá hủy 1 xe tăng, thu 7 súng. Cuộc càn của địch bị bẻ gãy, âm mưu gom dân vào ấp chiến lược không thực hiện được.

Trên chiến trường Bình Long, phong trào phá ấp chiến lược đang tiếp tục phát triển. Tại hội nghị Công đoàn cao su miền Đông (giữa năm 1964), đồng chí Trần Nam Trung đại diện Trung ương Cục đã biểu dương thành tích đấu tranh của công nhân cao su ở nhiều làng, đồn điền, trong đó có làng 2 (Lộc Ninh), Sacô 2 (Quản Lợi), một số vùng giải phóng thuộc đồn điền Sacát (Bình Long).

Hỗ trợ phong trào địa phương Bình Long, tháng 7 năm 1964, trung đoàn 2 chủ lực Miền đã thực hiện trận phục kích ở Cần Đâm đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 34 biệt động quân, diệt 2 xe quân sự, bắt sống tiểu đoàn trưởng, diệt tên cố vấn Mỹ…

Năm 1964, ở Bù Đốp, cơ sở cách mạng tiếp tục phát triển trong vòng địch kiểm soát. Tại Chu Ninh 2, cơ sở đơn tuyến cung cấp nhiều tin tức có giá trị. Ta giải phóng thêm dinh điền Thuận Kiệm và Đa Kia.

Ở Chơn Thành, ngày 13 tháng 11 năm 1964, du kích phối hợp với D700 của trên đánh địch ở các ấp chiến lược, khu dinh điền Hiếu Văn I, Hiếu Văn II, Trung Lợi, giải phóng 3 dinh điền này với 3.000 dân.

Cuối năm 1964, trên toàn chiến trường, “quốc sách ấp chiến lược” của Mỹ ngụy về cơ bản đã bị đánh bại. Trung ương chỉ đạo Trung ương Cục lãnh đạo các địa phương liên tục tiến công đánh bại kế hoạch Giônxơn - M.Namara(1) tạo điều kiện tiến lên giành thắng lợi quyết định. Từ cuối tháng 10 năm 19674, Trung ương Cục họp, nhất trí thời cơ thuận lợi của cách mạng miền Nam đang đến, ngụy quân ngụy quyền đang trên đà suy sụp. Từ đó Trung ương Cục đã thông qua kế hoạch quân sự mùa khô 1964-1965, trọng điểm là chiến dịch đầu tiên của chủ lực Miền phối hợp các lực lượng địa phương tại miền Đông Nam bộ với phương châm “tích cực tiến công tiêu diệt sinh lực địch, hỗ trợ phong trào đấu tranh chính trị, phá ấp, mở vùng bằng lực lượng ba thứ quân, phối hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự với đấu tranh chính trị và binh vận, bảo đảm chắc thắng, tiêu diệt gọn từng đơn vị địch, xây dựng lực lượng ta, mở rộng vùng căn cứ, càng đánh càng mạnh”. Qua chủ trương và diễn biến thực tế, chiến dịch này được mang tên là Bình Giã (từ đêm 7-12-1964 đến 3-1-1965). Chiến dịch Bình Giã đạt thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, báo trước sự phá sản của chiến tranh đặc biệt.


(1) Kế hoạch bổ sung 2 năm của Mỹ sau khi kế hoạch Staley - Taylor thất bại (T.G).


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Bảy, 2011, 07:14:01 AM
Phát huy chiến thắng Bình Giã, ở Phước Long đêm 9 tháng 2 năm 1965, ta tiến công chi khu quân sự Đức Phong (Bù Đăng) nhằm cô lập, vây ép địch, mở rộng vùng giải phóng trên đường 14, nhất là dinh điền Vĩnh Thiện và thị trấn Bù Đăng. Lực lượng quân sự chủ yếu của địch ở đây gồm 1 đại đội bảo an, 2 trung đội dân vệ. Trận đánh đặt dưới sự chỉ huy của Ban chỉ huy đường 10, lực lượng tham gia gồm các đơn vị của tiểu đoàn 840 (đại đội 5 đặc công, các đại đội 81, 82, 54 (thiếu), phân đội DK57 của đại đội 84). Diễn biến trận đánh khá thuận lợi, sau 25 phút chiến đấu ta đã làm chủ chi khu, quận hành chính, thu chiến lợi phẩm. Lực lượng phía sau của tỉnh cùng tham gia chuyển tải chiến lợi phẩm. Hôm sau, địch dùng máy bay lên thẳng đổ quân cứu viện, trung đội cảnh giới của ta nổ súng rồi rút, mặt khác Ban chỉ huy đường 10 chưa dự kiến được trường hợp địch cứu viện bằng đường không, lại tập trung chặn viện đường bộ ở ngã ba đường 10 nên việc đánh viện không thành. Mặc dù vậy, trận diệt chi khu Đức Phong(1) đã kết thúc thắng lợi đợt hoạt động mùa khô 1964-1965 trên chiến trường Phước Long. Địch ở trong vùng rất hoang mang, dân vệ nhiều nơi tan rã. Lực lượng địch kìm kẹp ở các dinh điền Thuận Kiệm 1, 2, 3, 4 bỏ chạy. Đội công tác phát động nhân dân nổi dậy làm chủ. Lực lượng vũ trang tiếp tục hỗ trợ và phát động quần chúng nổi dậy phá rã, phá banh một loạt ấp ở Bù Yam, Bù Gia Phúc, Khắc Khoan, Phú Nghĩa, Đức Liễu, Bù Na,… Toàn bộ các ấp chiến lược trên đường 10 được giải phóng với 15.000 dân. Vùng ta làm chủ hoàn toàn hoặc làm chủ có mức độ được mở rộng đến tận nam chân núi Bà Rá. Một số xã xây dựng làng chiến đấu áp sát tiểu khu Phước Long như Phú Văn, Đức Hạnh, Bù Xia, Đức Bổn, Bù Rạt, Lệ An… Trong lúc đó, ở Bù Đăng các dinh điền Vĩnh Thiện, Bu Đăng Srây, Bu Đăng Gơ, Bu Đăng Lang 1, 2 dọc quốc lộ 14 cũng được bộ đội địa phương và đội công tác hỗ trợ, phát động quần chúng nổi dậy phá lỏng, phá rã và làm chủ. Khí thế quân dân đang lên cao, thế mới đang hình thành trên địa bàn. Địch co cụm lại ở yếu khu Bù Na và chi khu Đức Phong. Hàng ngàn đồng bào dân tộc bỏ ấp chiến lược trở về buôn làng cũ làm ăn.

Trong các đồn điền cao su nằm trên tỉnh lộ 2 như Thuận Lợi, Phú Riềng, Đa Kia… các đội mũi công tác và du kích liên tục đột nhập diệt ác, phá kìm, giải tán dân vệ, vũ trang tuyên truyền, phát động quần chúng công nhân nổi dậy giành quyền làm chủ làng sở. Vùng đồng bào các dân tộc ở Lộc Minh, Bù Đốp là căn cứ kháng chiến nên địch tập trung càn quét, đánh phá, vùng vũ lực lùa dân vào ấp chiến lược. Nhiều cán bộ người dân tộc bám theo dân vào ấp chiến lược (trong đó tiêu biểu như Tư Cươi người S’Tiêng. Ba anh em Lâm Khanh người Khơme, người là cán bộ, người là chiến sĩ, hoạt động gian khổ, hy sinh dần, cuối cùng chỉ còn Lâm khanh vẫn kiên cường tiếp tục chiến đấu. Đồng bào dân tộc, công nhân, dân Brêlin, bà con các dân tộc ở Lộc An, Lộc Quang, Lộc Khánh)… luôn dương đầu với khó khăn ác liệt, giữ vững liên lạc, ủng hộ kháng chiến. Ở Làng 1, địch tập trung o ép dân rất chặt. Hai chiến sĩ thuộc đại đội 75 của tỉnh về bám dân đụng địch phục kích. Đồng chí Hạ bị bắn gãy chân, nằm tại chỗ chiến đấu, hỗ trợ cho đồng đội thoát vây. Hết đạn, anh tháo cò súng ném vào bụi, dùng dao găm chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Đồng chí Khỏe thoát được, nhưng ngày sau đến Phú Lếch lại sa vào tay giặc. Chúng đánh đập anh tàn nhẫn rồi đưa về Làng 1 để tìm bắt cơ sở. Chúng đưa cả vợ con đến hòng lung lạc tinh thần. Nhưng trước dân 3 Làng 1, 10, 11 bị địch tập trung, trong đó có vợ, con, anh Khỏe không một lời khai. Địch hèn hạ bắn anh tại dốc Tầm. Chị Tý, vợ anh, đưa xác chồng về chôn cất và nguyện tiếp bước theo con đường của chồng. Địch ngang ngược bắt chị mỗi ngày phải cạo hai suất mủ của chị và cho chồng. Chị Tý đấu tranh bằng cách mỗi sáng gánh 2 con nhỏ ra lô, lấy cớ con dại phải đi muộn về sớm, tạo điều kiện móc nối với du kích mật dùng súng bắn chỉ thiên rồi lấy cớ “có chiến sự”, không đảm bảo được hai suất mủ. Một mình vừa nuôi 5 con vừa hoạt động kháng chiến, đến năm 1968, chị vào Đảng rồi lại trở thành Bí thư chi bộ.

Tháng 2 năm 1965, trên quốc lộ 14 ở khu vực Brêlin, Cốc Rưới, Cầu Trắng, ta huy động lực lượng ra đắp mô, càn đường từ cây số 57 đến Cầu Trắng, dài 11km, cắt đứt giao thông của địch sốt 27 ngày liền. Sau thấy dân qua lại vất vả ta thôi đắp mô, địch cho là ta không còn khả năng chặn giao thông, bèn tổ chức hành quân lên Bù Đốp để giải tỏa. Lực lượng vũ trang tỉnh, huyện cùng du kích các sở Brêlin, Cốc Rưới, Cầu Trắng phối hợp phục kích tại ngã ba Cây Điệp, diệt xe chỉ huy của tên trung tá chỉ huy trưởng cuộc kết quả và một xe tăng. Từ đó địch không dám xua quân đi mở đường, càn quét lên Bù Đốp. Ta làm chủ đoạn đường này đến năm 1969.


(1) Hiện nay chưa có tư liệu thống nhất về lực lượng địch bị diệt ở đây: Lịch sử tiểu đoàn 840 không đưa ra số liêu: - Truyền thống đấu tranh cách mạng của quân và dân huyện Bù Đăng: “diệt nhiều dịch, bắt sống 10 tên và 1 Mỹ”. Bản thảo lịch sử Đảng bộ Bình Phước: “Diệt 2 đại đội bảo an, bắt sống 10 tên (có 1 Mỹ)” (T.G).


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Bảy, 2011, 07:16:01 AM
II. THAM GIA CHIẾN DỊCH PHƯỚC LONG - ĐỒNG XOÀI,
TIẾP TỤC PHÁT TRIỂN PHONG TRÀO CHIẾN TRANH NHÂN DÂN

Đầu năm 1965, sau chiến thắng Bình Giã, trước sự sụp đổ của chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, có khả năng Mỹ sẽ thay đổi chiến lược sẽ đưa quân chiến đấu ồ ạt vào chiến trường… Tháng 3 năm 1965, trên cơ sở phân tích khả năng đó, Hội nghị lần thứ 11 Trung ương Đảng chủ trương “tích cực kìm chế và thắng địch trong chiến tranh đặc biệt… đồng thời sẵn sàng đối phó và quyết thắng cuộc chiến tranh cục bộ ở miền Nam nếu địch gây ra”. Trước đó, tháng 2 năm 1965, Bộ chính trị đã chỉ đạo cho Quân ủy Miền: “… phải căng địch ra bằng phong trào chiến tranh du kích thật mạnh và rộng khắp, đồng thời tập trung bộ đội chủ lực để mở những chiến dịch tiến công, đánh những đòn tiêu diệt lớn ở những chiến trường có sự lựa chọn và được chuẩn bị tốt, những đòn có ý nghĩa quyết định ở những thời điểm quyết định”(1).

Quyết tâm đánh quỵ quân ngụy trước khi quân Mỹ ồ ạt vào miền Nam, Quân ủy và Bộ chỉ huy Miền chủ trương mở đợt hoạt động quân sự mùa mưa 1965, mở đầu bằng chiến dịch tiến công với hướng chính là địa bàn hai tỉnh Bình Long, Phước Long(2); hướng phối hợp là 5 tỉnh Lâm Đồng, Bình Thuận, Bà Rịa, Long Khánh, Biên Hòa, toàn địa bàn chiến dịch rộng gần 1.000 cây số vuông. Chọn như vậy vì Phước Long, Bình Long là vùng rừng núi quan trọng, giáp Tây Nguyên có đường biên giới Việt Nam - Campuchia, có nhiều đường giao thông chiến lược, địch ở Binh Long, Phước Long tương đối yếu, phong trào chiến tranh du kích tương đối mạnh. Mục đích của chiến dịch là tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực ngụy, đẩy mạnh chiến tranh du kích và hỗ trợ quần chúng phá ấp chiến lược, mở rộng vùng giải phóng, nối liền các căn cứ của Miền với Tây Nguyên, tạo điều kiện mở rộng hành lang chiến lược từ miền Bắc vào chiến trường Cực Nam Trung bộ và Nam bộ.

Lực lượng tham gia trên hướng chính của chiến dịch gồm các trung đoàn chủ lực Miền 1, 2, 3, các đơn vị pháo binh, phòng không, công binh, đặc công Miền, tiểu đoàn 840 Quân khu và bộ đội địa phương, du kích ở các tỉnh Bình Long, Phước Long.

Để góp phần bảo đảm chiến dịch thắng lợi, Đảng bộ hai tỉnh Bình Long, Phước Long tập trung lãnh đạo quân dân tỉnh nhà đem hết sức mình phục vụ chiến dịch kể từ bước chuẩn bị, đồng thời phát huy nội lực tranh thủ thời cơ đẩy mạnh phong trào chiến tranh nhân dân địa phương, phá ấp chiến lược, củng cố vùng giải phóng.

Ở Bình Long, trước khi vào chiến dịch, Trung ương Cục điều động đồng chí Ba Nghệ ra R, chỉ định đồng chí Năm Thành làm Bí thư Tỉnh ủy, đồng chí Ba Phước Phó bí thư. Các đồng chí Hai Sẻ, Ba Vinh, Ba Sơn được bổ sung vào Tỉnh ủy để chuẩn bị tham gia chiến dịch. Ban chỉ huy tỉnh đội Phước Long lúc này gồm các đồng chí: Hai Võ tỉnh đội trưởng, Hai Phong chính trị viên, Võ Hòa tỉnh đội phó. Lực lượng vũ trang tỉnh chính thức thành lập đơn vị C70 với đầy đủ 3 trung đội bộ binh và trung đội trợ chiến, do đồng chí Sáu Bàng làm chỉ huy trưởng.

Được chọn là chiến trường trọng điểm trên hướng chính của chiến dịch, tỉnh Phước Long bước vào những ngày sôi nổi nhất trên mọi mặt hoạt động, đặc biệt là tập trung chuẩn bị hậu cần phục vụ chiến dịch.

Nhân dân các dân tộc hai tỉnh Bình Long, Phước Long tích cực đóng góp sức người, sức của, tập trung vào các mặt bảo đảm dân công, lương thực, thực phẩm… Theo yêu cầu của hậu cần chiến dịch, cùng với các phum sóc trong khu vực sóc Bom Bo phải lo cho bộ đội 5 tấn gạo. Trong tình thế khó khăn, đồng bào sóc Bom Bo hạ quyết tâm, bằng mọi giá, đáp ứng yêu cầu này. Tất cả già, trẻ, gái trai được huy động để giã gạo. Chỉ giã ban ngày thì không kịp, đồng bào đốt đuốc lồ ô giã suốt đêm. Gạo giã được tới đâu chuyển giao ngay cho bộ đội tới đó. Chỉ trong hai ngày đêm, đồng bào đã giao đủ 5 tấn gạo, giao cho hậu cần chiến dịch. Không chỉ có sóc Bom Bo mà các sóc khác ở Phước Long cũng hối hả ngày đêm giã gạo, giao cho hậu cần chiến dịch hàng chục tấn. Các sở Bù Nho, Phú Riềng, Thuận Lợi, các ấp chiến lược, dinh điền được giải phóng đã giúp thu mua và đóng góp hàng trăm tấn gạo. Đồng bào dân tộc vùng căn cứ ủng hộ 2.000 xá lúa (1 xá bằng 3 thùng), 80.000 gốc mì để nuôi quân. Nhân dân hai tỉnh tham gia hàng chục ngàn ngày công trước chiến dịch để gùi tải đạn, lương thực, hàng dự trữ cho chiến dịch.


(1) Lê Duẩn: Thư vào Nam, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1985.
(2) Chiến dịch đường 14 - Phước Long. Nhưng do trận then chốt đợt 2 là trận Đồng Xoài nên thường gọi là chiến dịch Đồng Xoài (T.G).


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Bảy, 2011, 07:17:48 AM
Có thể nói, những ngày chuẩn bị chiến dịch Đồng Xoài, cả rừng núi Phước Long ngày đêm không ngủ. Tiếng chày giã gạo, ánh đuốc lồ ô, tiếng bước chân, tiếng nói, tiếng cười dân công… tạo nên bức tranh hoàn thiện về toàn dân làm hậu cần, toàn dân kháng chiến của đồng bào các dân tộc vùng rừng núi miền Đông Nam Bộ. Hình ảnh đó đã tạo niềm cảm hứng cho nhạc sĩ Xuân Hồng với bài hát Tiếng chày trên sóc Bom Bo đã đi vào lịch sử.

         Cách mạng cần gạo nhiều để đánh Mỹ
         Sóc Bom Bo sẵn có cối chày đây
         Người Bom Bo sẵn có đôi bàn tay
         Với lòng yêu nước và thù giặc ngày ngày…


Công tác chuẩn bị cho chiến dịch đã hoàn tất, đêm 10 rạng ngày 11 tháng 5 năm 1965, mở màn chiến dịch, quân ta đồng loạt tiến công vào thị xã và tiểu khu Phước Long, chi khu Phước Bình (trong đó tiểu đoàn 840 nằm trong đội hình tiến công tiểu khu Phước Long). Chỉ trong một ngày, quân ta chiếm nhiều mục tiêu của tiểu khu Phước Long, tiêu diệt chi khu Phước Bình, bắt sống 3 tên, thu nhiều súng đạn (phải xe tải chở), làm chủ một vùng rộng xung quanh thị xã Phước Long. Quân ta cắt cử lực lượng bám giữ các mục tiêu dã chiến, đánh phản kích. Lực lượng tỉnh Phước Long và mũi đột công tác Phước Bình được tiểu đoàn 840 hỗ trợ, đã giải phóng các ấp chiến lược Phước Quả, Phước Tín, Hiếu Phong, Lê An, Đức Bốn… hàng ngàn dân thoát ách kìm kẹp của địch.

Phước Long nguy cấp, địch lập tức điều nhiều đơn vị chủ lực đến ứng cứu, giải tỏa. Nhưng các trục giao thông chiến lược 13, 14 đểu đã bị ta cắt đứt, địch buộc phải dùng trực thăng để tiếp tế. Để dọn bãi, chúng đã huy động không quân ném bom ồ ạt trên diện rộng. Lực lượng chiến đấu, phục vụ chiến đấu và nhân dân Phước Long tiếp tục quá trình chiến dịch trong tình thế ác liệt.

Sau đợt 1, phân tích tình hình cụ thể, Bộ chỉ huy chiến dịch chọn mục tiêu quyết chiến là chi khu Đồng Xoài, lấy trận tiêu diệt chi khu Đồng Xoài làm trận then chốt đợt 2. Chi khu này (địch gọi là Đôn Luân) nằm ở giao điểm hai con đường (liên tỉnh lộ 2, quốc lộ 14), làm cứ điểm chính trong tứ giác Đồng Xoài - Phước Long - Chơn Thành - Bình Long, khống chế cả khu vực Phước Long, Bình Long, Chơn Thành, Phú Giáo. Theo chỉ đạo của Ban chỉ huy thống nhất, C273 của K59 đã tham gia tác động để kéo địch lên Đồng Xoài. Sau khi tăng ường lực lượng, quân số địch ở đây đến 2.000 tên thuộc nhiều đơn vị thiện chiến, có đầy đủ pháo binh, cơ giới.

Đêm 9 rạng ngày 10 tháng 6 năm 1965, quân ta nổ súng tiến công chi khu Đồng Xoài. Tình huống phức tạp, trận đánh lâm vào thế giằng co, ác liệt, nhưng đã xuất hiện nhiều phân đội dũng cảm, nhiều gương cá nhân xuất sắc như Tạ Quang Tỷ “đại đội trưởng thọc sâu”, Bí thư chi bộ Lê Chí Tâm trước khi hy sinh còn động viên đồng đội tiến lên diệt đồn địch, tiểu đội Nguyễn Văn Sinh một mình thay cho cả tiểu đội đã thương vong liên tiếp đánh bốn trái bộc phá, tạo điều kiện cho quân ta làm chủ chi khu Đồng Xoài và khu biệt động quân, trụ lại trong tình thế vô cùng ác liệt. Ngay trong ngày, các đơn vị chủ lực Miền liên tiếp đánh địch đổ bộ đường không để giải tỏa.

Sau gần 3 ngày, trận then chốt Đồng Xoài kết thúc. Trong khu vực quyết chiến điểm ta đã diệt 608 tên địch có 42 cố vấn Mỹ (về đơn vị bị diệt gồm 4 đại đội biệt kích, 1 đại đội bảo an, 1 đội dân vệ, 1 trung đội pháo 105 ly, 1 trung đội cảnh sát, 1 chi đội cơ giới, thu 148 súng, 2 vạn viên đạn, bắn rơi 7 máy bay.

Do ta khống chế, địch không đổ quân được xuống Đồng Xoài, địch chọn đồn điều Thuận Lợi, sân bay Thuận Lợi cách Đồng Xoài 3 cây số làm điểm đổ quân phản kích chiếm lại Đồng Xoài. Đánh phản kích tại khu vực này, trong những ngày 10, 12 tháng 6 quân ta đã diệt tiểu đoàn 1 trung đoàn 7 sư đoàn 5 ngụy (bắt sống 87 tên), tiểu đoàn dù số 7 (chỉ còn 70 tên chạy thoát về Phước Vĩnh), bắt sống 34 tên. Tiểu đoàn dù số 7 là tiểu đoàn quân trù bị thứ 2 của quân ngỵ bị diệt (sau tiểu đoàn 4 thủy quân lục chiến bị diệt trong chiến dịch Bình Giã).

Phối hợp chia lửa mặt trận Đồng Xoài, lực lượng vũ trang tỉnh Phước Long tác chiến và đột nhập các ấp chiến lược Sơn Long, Sơn Giang, Tư Hiền đêm 9 tháng 6 năm 1965, tiểu đoàn 840 đánh đồn cảnh sát Phước Bình. Ở Đồng Xoài các đội công tác phát động công nhân kêu gọi một trung đội thanh niên chiến đấu cùng 1 cảnh sát ra hàng, nộp 41 súng, có 1 trung liên và 3 súng ngắn. Quần chúng ở hệ thống ấp chiến lược trên đường liên tỉnh 2 đoạn Phước Long, được các đội công tác phát động đã phá banh, phá rã toàn bộ.

Phối hợp với mặt trận Phước Long, lực lượng vũ trang Bình Long cùng chủ lực Miền chặn đánh quân ngụy từ Lai Khê (Bình Dương) lên Nha Bích, từ Chơn Thành lên Suối Cát, diệt nhiều tên. Du kích, nhân dân phối hợp đắp mô, làm chướng ngại vật trên đường 14A, đoạn Lộc Ninh - Bù Đốp, đánh sập cầu Trắng không cho địch tiếp ứng cho Bù Đốp. Cầu Suối Cát, cầu Bà Và, cầu 28, cầu Sông Bé, cầu Phước Tín cũng đều bị phá sập, đường bị phá, cắt đứt hoàn toàn đoạn dinh điền Xóm Rừng đi Nha Bích. Địch không tiếp ứng đường bộ được cho Đồng Xoài - Phước Long, buộc phải chuyển hướng bằng máy bay.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Bảy, 2011, 07:19:59 AM
Liên tiếp 4 ngày (từ 12 đến 15-6-1965), địch huy động máy bay đến ném bom và bắn phá hủy diệt hai đồn điền Thuận Lợi, Phú Riềng, giết hại hàng trăm đồng bào, thiêu hủy hàng ngàn ngôi nhà, nhiều người lâm vào cảnh màn trời chiếu đất. Mặt trận dân tộc giải phóng tỉnh Phước Long tổ chức vận động nhân dân quyên góp tiền bạc, lương thực để ủng hộ các gia đình bị nạn. Tỉnh ủy cùng các chi bộ cơ sở vận động hàng ngàn đồng bào kéo đến Tòa hành chính tỉnh Phước Long đấu tranh đòi bồi thường nhân mạng và tài sản, đòi cứu chữa người bị thương. Từ cuối tháng 6 đến đầu tháng 7 năm 1965 nhân dân cả tỉnh Phước Long tham gia phong trào cứu trợ Phú Riềng, Thuận Lợi. nhiều thanh niên xin tòng quân lực lượng vũ trang giải phóng để trả thù cho đồng bào bị địch sát hại.

Từ ngày 15 đến ngày 20 tháng 7 năm 1965, chiến dịch Phước Long - Đồng Xoài vào đợt 3. đêm 15 tháng 7 tại ấp Bàu Bàng ta tập kích cụm bộ binh cơ giới của trung đoàn 7 (sư đoàn 5 ngụy), diệt một tiểu đoàn bộ binh, 1 chi đoàn xe cơ gới và sở chỉ huy nhẹ của trung đoàn này, bắt sống trung đoàn trưởng(1). Ngày 20 tháng 7, trung đoàn bộ binh 3 chủ lực Miền phối hợp với tiểu đoàn 840 tiến công trung tâm huấn luyện biệt kích Bù Đốp trên sân bay Bù Đốp. Trong trận, giữa căn cứ địch chiến sĩ Thiệu ném thủ pháo cảnh cáo kêu chúng đầu hàng. Gần 100 tên ở hai hầm ngầm ra hàng nộp 30 súng. Nhưng ta chưa diệt hết các hầm cố thủ thì trời sáng. Địch cho lực lượng bảo an từ Bù Gia Mập và Phước Long đến giải tỏa, sau đó chúng hoảng hốt rút bỏ Bù Gia Mập. Một mảng tây bắc Phước Long giáp biên giới được giải phóng, ta lập K20.

Liên tiếp bị đánh, địch trên toàn địa bàn chiến dịch đều cố thủ, không tổ chức thêm được một cuộc hành quân nào. Ngày 2 tháng 7 năm 1965 chiến dịch Phước Long - Đồng Xoài kết thúc. Tiểu đoàn 840 để lại đại đội 1 tiếp tục hoạt động vùng Phước Bình; đại đội 54 hoạt động phía bắc thị xã Phước Long trên khu vực đường 10; đại đội 2 được đưa lên mở rộng vùng biên giới, xây dựng cửa khẩu Campuchia. Thời gian này Quân khu 6 giải thể tiểu đoàn 130 (thiếu), lấy đại đội 54 bổ sung cho Khu 6 để xây dựng, bảo vệ cửa khẩu biên giới và đại đội 2 bổ sung tiểu đoàn 840.

Qua 64 ngày đêm, với chiến dịch Phước Long - Đồng Xoài, ta đã diệt gần 4.500 tên địch, có 73 cố vấn Mỹ, bắn hạ 34 máy bay và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của chúng, có 4 tiểu đoàn bộ binh bị diệt (trong đó có 1 tiểu đoàn dù thuộc lực lượng tổng trù bị). Thắng lợi của chiến dịch có ý nghĩa to lớn nhiều mặt. Ta đã tiêu diệt, tiêu hao một bộ phận quan trọng sinh lực địch, trong đó có những đơn vị tinh nhuệ, ác ôn…, đập vỡ một mảng tuyến phòng thủ kiên cố của chúng gồm nhiều căn cứ, cả chi khu, tiểu khu, khiến tinh thần địch hoang mang nghiêm trọng. Vấn đề lớn hơn là đánh mạnh, đánh trúng “quốc sách” ấp chiến lược và lực lượng chủ yếu của chiến lược Chiến tranh đặc biệt, trong đó hàng loạt hệ thống ấp chiến lược, dinh điền của địch bị phá banh, phá rã, vùng giải phóng được mở ra rộng lớn. Ở Bình Long 58 ấp trong 75 ấp chiến lược mà địch đã xây dựng được, đã bị phá banh; 17 ấp còn lại lâm vào tình trạng hoang mang. Tiếp sau chiến dịch, ta phá banh, phá rã 38 ấp chiến lược trong đó có 8 ấp người dân tộc, 30 ấp là đồn điền, dinh điền, phát động quần chúng dân tộc về căn cứ, đồng bào Kinh bám trụ tại chỗ. Qua phát động quần chúng xây dựng chính quyền, chính quyền tự quản ở 11 xã được thành lập, mỗi xã có 1 trung đội du kích, tổ chức đoàn thể thanh niên, phụ nữ, nông hội, tổ chức 10 chi bộ. Hình thành phong trào chiến tranh du kích, bao vây, cắt lưu thông đường bộ của địch ở nhiều đoạn.

Trong quá trình chiến dịch, các cấp Khu ủy, Tỉnh ủy đã bám tình hình, kịp thời phát huy sự hỗ trợ của lực lượng cấp trên, kịp thời chỉ đạo quân dân địa phương vừa phục vụ bộ đội cấp trên vừa phát huy nội lực đánh phá hệ thống kìm kẹp của địch, phá ấp, giải phóng dân. Sau chiến dịch ta làm chủ nhiều trục giao thông từ chi khu lên tiểu khu, bộc địch phải tiếp tế bằng máy bay. Ở vùng mới giải phóng, nhiều cơ sở Đảng được tổ chức như ở Bù Na, Bù Rạt, Đức Hạnh, Đức Bổn, Phước Tin, Lệ An, Bù Xia, Phú Vận… Lực lượng các Ka được bổ sung từ 1 đến 2 trung đội. Một số đội du kích mới xây dựng ở vùng mới giải phóng đã hoạt động tốt như Đức Hạnh, Bù Xia, Phú Văn. Đặc biệt là đội du kích Phú Văn hoạt động có hiệu quả, đưa phong trào du kích chiến tranh áp sát địch.


(1) Vì tại Bầu Bàng sau này còn xảy ra nhiều trận, nên trận này gọi là trận Bàu Bàng 1 (T.G).


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Bảy, 2011, 07:21:26 AM
Trong chiến dịch Phước Long - Đồng Xoài, Hội đồng cung cấp tiền phương đã huy động dân công, thanh niên xung phong và phương tiện vận chuyển của nhân dân địa phương phục vụ chiến dịch, tổng cộng 140.000 ngày công, 6 ôtô, 50 xe bò. Lực lượng vận tải chiến dịch chuyển được 1.505 tấn vật chất, các loại trên địa bàn rộng hàng trăm kilômét vuông. Phương tiện ôtô vận chuyển được 43.992 tấn/km, xe bò 13.920 tấn/km, xe thồ 7.710 tấn/km, tải bộ của nhân dân 11.461 ngày công, lực lượng tải bộ đội 82.775 ngày công.

Khi chiến dịch kết thúc, lượng vật chất còn thừa 250.000 lít gạo (287 tấn), 12 tấn thực phẩm, 64 tấn đạn dược, thuốc quân y còn 4 cơ sở trung đoàn, 4 cơ số bệnh xá.

Chiến dịch Phước Long - Đồng Xoài đã đi vào lịch sử.

         Ai về Sông Bé - Phước Long
         Còn nghe vang dội chiến công Đồng Xoài


Tiếp theo chiến dịch Bình Giã, các chiến dịch Ba Gia, Phước Long - Đồng Xoài cùng với cao trào phá ấp chiến lược trên toàn miền Nam đã làm phá sản chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ ngụy.

*
*   *

Sau cuộc Đồng khởi 1960, quân dân Bình Phước tiếp tục cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước với nhiệm vụ tạo dựng, củng cố, phát triển và giữ vững một vùng căn cứ rừng núi rộng lớn có ý nghĩa chiến lược, một trong những hậu phương tại chỗ của chiến trường Nam bộ - Cực nam Trung bộ, đầu cầu nối đường mòn Hồ Chí Minh với chiến trường Nam bộ. Nhiệm vụ nặng nề, đứng trước nỗ lực của địch trong âm mưu giành dân, giành địa bàn rừng núi, xóa căn cứ cách mạng, hai Đảng bộ Bình Long, Phước Long đã khắc phục những khó khăn thực tế của chiến trường như đất rộng người thưa, đa dạng về xã hội (công nhân, nông dân, Kinh, Thượng, người tại chỗ, người nơi khác về), cơ sở cách mạng không đều (giữa các đồn điền cao su, vùng nông thôn giữa các vùng người dân tộc…) đồng thời phát huy thế “nhân hòa địa lợi” nhân dân có truyền thống yêu nước, bất khuất, có một bộ phận quan trọng lực lượng công nhân cao su, có thế núi rừng hiểm trở. Khắc phục khó khăn cũng như phát huy ưu thế đều lấy “nhân hòa” làm cơ bản “dân làm gốc”. Điều đó thể hiện qua quá trình xây dựng, tổ chức lực lượng, đặc biệt qua phương thức hoạt động, nội dung và hình thức vận động quần chúng thích hợp với từng khu vực, đối tượng cụ thể như vùng nông thôn, vùng đồn điền, vùng các buôn sóc, với các đối thượng nông dân, công nhân, đồng bào các dân tộc; đặc biệt phát huy mạnh mẽ hình thức đội mũi công tác mà nhiệm vụ của nó là bám quần chúng, xây dựng cơ sở cách mạng, cả quần chúng đã được giải phóng và quần chúng đang bị địch kìm kẹp. Trên tinh thần đó, trong mọi chủ trương, hành động của Đảng bộ hai tỉnh đều thể hiện tinh thần “hai chân”, “ba mũi”, đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển phong trào chiến tranh nhân dân trên chiến trường và rừng núi cụ thể, đất rộng người thưa nhưng đa dạng về xã hội. Để hoàn thành nhiệm vụ, trong quá trình chống chiến lược Chiến tranh đặc biệt của Mỹ ngụy, Đảng bộ, quân dân Bình Long, Phước Long tập trung, dồn sức nhằm vào những mục tiêu sống còn của chiến lược đó là lực lượng bình định, kìm kẹp của địch và ấp chiến lược, kiên quyết giành dân, xây dựng thế và lực chiến tranh nhân dân địa phương. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, sự có mặt và hỗ trợ của lực lượng cấp trên rất quan trọng; và dưới sự lãnh đạo của hai Đảng bộ, quân dân 2 tỉnh đã thể hiện tinh thần triệt để tận dụng thời cơ, phát huy thuận lợi đó; đồng thời luôn coi tự lực cánh sinh, phát huy nội lực, vươn lên từ nội lực là quyết định nhất, từ đó luôn chuẩn bị, sẵn sàng đốn thời cơ kết hợp tiến công và nổi dậy, bằng cả các lực lượng quân sự, chính trị, các mũi trong, ngoài ấp chiến lược. Ấp chiến lược là “quốc sách”, là biện pháp cơ bản của chiến lược Chiến tranh đặc biệt nên địch không thể bỏ. Chúng làm, ta phá, chúng lại làm…quá trình đó diễn ra giằng co, ác liệt, diễn ra hàng ngày, cũng chính là quá trình chuẩn bị, từ đó phá lỏng, phá từng ấp đến phá banh, phá hàng loạt khi thời cơ đến. Có quá trình chuẩn bị bằng cuộc chiến đấu giằng co, ác liệt, giành thắng lợi từng bước mới có cao trào những tháng cuối năm 1954 đầu năm 1965, Đảng bộ quân dân Bình Phước phối hợp cùng toàn chiến trường tiến lên đánh bại hoàn toàn “quốc sách ấp chiến lược”, làm phá sản hoàn toàn “Chiến lược chiến tranh đặc biệt”.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Tám, 2011, 07:56:34 PM
CHƯƠNG SÁU

PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG VÀ PHONG TRÀO CHIẾN TRANH
NHÂN DÂN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC, GÓP PHẦN
ĐÁNH BẠI CHIẾN LƯỢC CHIẾN TRANH CỤC BỘ
(GIỮA 1965 - CUỐI 1968)

I. PHÁT TRIỂN THẾ TRẬN VÀ PHONG TRÀO CHIẾN TRANH NHÂN DÂN
ĐÁNH MỸ - DIỆT NGỤY, BẢO VỆ CĂN CỨ, QUÂN DÂN BÌNH PHƯỚC
GÓP PHẦN ĐÁNH BẠI HAI CUỘC PHẢN CÔNG CHIẾN LƯỢC
MÙA KHÔ CỦA ĐẾ QUỐC MỸ

Chiến lược “chiến tranh đặc biệt” bị phá sản, tháng 7 năm 1965, Tổng thống Mỹ Johnson quyết định đưa nước Mỹ “vượt qua ngưỡng cửa chính thức bước vào cuộc chiến tranh trên bộ” ở miền Nam Việt Nam qua việc chấp thuận chiến lược “tìm - diệt” và kế hoạch “ba giai đoạn”(1) của tư lệnh MACV Wesmoreland, đưa quân chiến đấu Mỹ và chiến trường miền Nam Việt Nam.

Ở chiến trường Nam bộ và Cực Nam Trung bộ (B2), trong khi coi đồng bằng sông Cửu Long, là chiến trường chủ yếu của chương trình bình định, địch lấy miền Đông Nam bộ làm chiến trường chủ yếu thực hiện chiến lược “tìm - diệt” nhằm mục tiêu đánh rã khối chủ lực Quân giải phóng, triệt phá căn cứ, làm tê liệt đầu não chiến tranh cách mạng của chiến trường B2. Lấy Sài Gòn làm trung tâm, địch hình thành thế bố trí chiến lược theo tinh thần quân ngụy chủ yếu làm nhiệm vụ “bình định” giữ phía sau; quân Mỹ và “đồng minh” Mỹ làm nhiệm vụ “tìm - diệt”.

Triển khai chiến lược Chiến tranh cục bộ, trên chiến trường Đông Nam bộ, từ tháng 5 năm 1965 đến tháng 12 năm 1968, lần lượt có mặt trên 8 đơn vị Mỹ, từ cấp trung đoàn, lữ đoàn đến sư đoàn (trong đó 2 sư đoàn thường xuyên có mặt là sư đoàn bộ binh 1 “Anh cả đổ”, sư đoàn bộ binh cơ giới 25 “Tia chớp nhiệt đới”), 4 đơn vị “đồng minh Mỹ” từ cấp tiểu đoàn đến sư đoàn(2). Riêng trên chiến trường Đông Nam bộ và Cực Nam Trung bộ, số quân viễn chinh có mặt thường xuyên trên dưới 245.000 tên trong số trên 50 vạn(3); các đơn vị Mỹ thường xuyên có mặt ở chiến trường Bình Long, Phước Long; Sư đoàn bộ binh 1, sư đoàn kỵ binh bay số 1, lữ đoàn không vận 173…

Đơn vị chiến đấu Mỹ tham chiến sớm nhất trên chiến trường Bình Long, Phước Long là lữ đoàn không vận (thường gọi là lữ đoàn dù) 173. Vừa tới căn cứ Biên Hòa vào tháng 5 năm 1965, chưa chính thức được phép tham chiến; nhưng trước tình hình quân ngụy đang nguy cấp ở Đồng Xoài (trong chiến dịch Phước Long - Đồng Xoài), ngày 3 tháng 6 năm 1965, tướng Pôn Xmit, lữ đoàn trưởng lữ đoàn dù 173 đã phái một tiểu đoàn lên Phước Vĩnh. Đây cũng là cuộc hành quân chiến đấu đầu tiên của quân viễn chinh Mỹ trên chiến trường Nam bộ - Cực Nam Trung bộ (trước kia chỉ tham chiến với tư cách cố vấn. Đơn vị thứ hai sớm có mặt trên chiến trường Bình Dương, Bình Long, Phước Long là sư đoàn bộ binh 1 “Anh cả đỏ” (tháng 7-1965 bộ phận đầu tiên của sư đoàn đã vào chiến trường, tháng 10-1965 xây dựng căn cứ sư đoàn bộ ở Dĩ An, sau đó xây dựng các căn cứ Lai Khê, Phước Vĩnh…). Ngày 18 tháng 6 năm 1965, lần đầu tiên trên chiến trường Việt Nam cũng là lần đầu tiên trên thế giới, máy bay B52, một bộ ba vũ khí chiến lược của Mỹ (tên lửa chiến lược, tàu ngầm mang đầu đạn hạt nhân, và máy bay ném bom B52) ném bom rải thảm xuống Bến Cát. Sau 27 lần chiếc xuất kích, chúng thả truyền đơn huênh hoang về sức mạnh của “thần mưa bom khủng khiếp”.

“Không có gì quí hơn độc lập tự do”, quyết đánh và quyết thắng giặc Mỹ xâm lược! Đó là ý chí của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trên cả hai miền Nam, Bắc. Quyết tâm đó thể hiện trong lời kêu gọi đồng bào, chiến sĩ cả nước ngày 20 tháng 7 năm 1965 của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đứng trước nguy cơ giặc Mỹ cướp nước, đồng bào miền Bắc và đồng bào miền Nam đoàn kết một lòng, kiên quyết chiến đấu, dù phải chiến đấu 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, chúng ta cũng kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn”(4).

Với tinh thần và lực lượng đượ chuẩn bị một cách toàn diện khẩn trương, nhân dân hai tỉnh Bình Long, Phước Long sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu mới.


(1) Giai đoạn 1 (tháng 7-1965 đến cuối năm 1965): ngăn chặn tiến công mùa khô của đối phương, ngăn chặn chiều hướng thua, triển khai lực lượng Mỹ trên chiến trường. Giai đoạn 2 (từ đầu đến giữa năm 1966): phản công chiến lược giành chủ động diệt chủ lực đối phương, tiến hành bình định, kiểm soát nông thôn. Giai đoạn 3 (từ tháng 7-1966 đến giữa hoặc cuối năm 1967): hoàn thành tiêu diệt chủ lực và căn cứ của đối phương, bình định miền Nam, bắt đầu rút quân Mỹ, giao cho quân ngụy tiếp tục bình định.
(2) Chủ yếu lữ đoàn bộ binh số 1 Úc, sư đoàn bộ binh Báo Đen Thái Lan (T.G).
(3) Trên toàn miền Nam, lực lượng quân viễn chinh vào năm 1968 lên cao nhất là 767.000 tên, riêng số quân Mỹ đạt số cao nhất vào tháng 6 năm 1969 là 541.000 tên. Về đơn vị, ở miền Đông Nam bộ lúc quân viễn chinh đông nhất, có sư đoàn bộ binh 1, sư đoàn kỵ binh bay số 1, sư đoàn bộ binh cơ giới 25, sư đoàn không vận 101, sư đoàn bộ binh 9 (chủ yếu ở Mỹ Tho và Nam Long An), lữ đơàn 173 không vận, trung đoàn kỵ binh thiết giáp 11, lữ đoàn bộ binh 4 (sư đoàn bộ binh 4), lữ đoàn không vận số 3 (sư đoàn 82 không vận), hai lữ sư đoàn bộ binh Thái Lan…
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, t.11, tr.470.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Tám, 2011, 07:57:55 PM
Cũng như sự bố trí lực lượng và phân công chiến lược” với hai gọng kìm “tìm - diệt” và “bình định” trên toàn chiến trường, trên vành đai đông - bắc Sài Gòn, các căn cứ Mỹ, lực lượng Mỹ, chủ lực ngụy đều hướng về “phía trước” tức phía các căn cứ kháng chiến của Miền và quân giải phóng; các lực lượng ngụy còn lại chủ yếu làm nhiệm vụ bình định phía sau, xung quanh các đô thị, thiết lập phòng tuyến an ninh từ xa bảo vệ Sài Gòn.

Cùng với sự điều chuyển, tăng cường ráo riết, địch giải tán tỉnh Phước Thành và đặc khu Phước - Bình - Thành (đặc khu Phước Long - Bình Long - Phước Thành), tổ chức các khu chiến thuật 32, 33, trong đó các tỉnh Bình Long, Phước Long, Bình Dương đều nằm trên địa bàn khu chiến thuật 32. Trên địa bàn này thường xuyên có mặt sư đoàn bộ binh 5 ngụy, sư đoàn 18 thường xuyên hoặc lâm thời có mặt các đơn vị Mỹ thuộc sư đoàn 4 bộ binh 1 “Anh cả đỏ”, sư đoàn 1 “Kỵ binh bay”, sư đoàn dù 101, các lữ đoàn dù 173, bộ binh nhẹ 196, 199, trung đoàn kỵ binh thiết giáp số 11 Mỹ…

Ở Bình Long, các căn cứ Mỹ, ngụy được bố trí đan xen nhau chốt giữ các vị trí xung yếu, các trục giao thông quan trọng. Mỹ đầu tư mở rộng, nâng cấp các cơ sở kho tàng của Pháp thành các căn cứ quân sự kiên cố. Ở phía đông bắc An Lộc chúng xây dựng Téc Ních, từ một cơ sở thí nghiệm của đồn điền Quản Lợi, thành một căn cứ quân sự lớn của sư đoàn bộ binh số 1 “Anh Cả đỏ” (về sau một đơn vị của sư đoàn 1 “Kỵ binh bay” đến thay) với hệ thống công sự kiên cố, kho tàng, một trận địa pháo hạng nặng, và một Phi trường có thể tiếp nhận máy bay từ lên thẳng đến C130 (máy bay vận tải quân sự”. Bên cạnh căn cứ Phước Vĩnh, chi khu Phước Vĩnh tạo thế phòng thủ chiều sâu cho căn cứ này gồm đầy đủ công an, cảnh sát, gián điệp, hệ thống 7 đồn cấp trung đội, một trung đội biệt kích ngụy, một đại đội biệt kích Mỹ, một trung đội thám kích Mỹ, một tiểu đoàn bảo an, một trường đào tạo và thực tập biệt kích Mỹ… Một hệ thống ấp chiến lược kìm kẹp 11.000 dân.

Tiểu khu Bình Long bao gồm 3 chi khu, mỗi chi khu có hai đại đội bảo an, khu cảnh sát và 3 trung đội dân vệ. Tại thị xã An Lộc có một đơn vị pháo binh Tân Tây Lan. Sau này khi quân Mỹ vào thêm, những căn cứ quân sự lợi hại của địch ở Bình Long như trung tâm biệt kích cầu sông Bé, trung tâm biệt kích và sân bay Minh Hòa, căn cứ biệt kích Tống Lê Chân…

Tên “ấp chiến lược” gắn với một quốc sách đã bị phá sản, nhưng âm mưu về “ấp chiến lược” vẫn không thay đổi, chúng chỉ đổi tên “ấp chiến lược” là “ấp tân sinh’. Bên cạnh mũi lao “tìm - diệt”, mặt trận bình định được coi là “một cuộc chiến tranh thứ hai” có tính “quyết định tối hậu” sự thành bại của chiến lược mới. Với sự có mặt quân chiến đấu Mỹ trên chiến trường, và qua củng cố, tăng lực lượng quận ngụy, cuộc bình định lập lại ấp chiến lược (mang những tên mới “tân sinh”, “đời mới”) ác liệt, tàn khốc hơn, đồng thời lại thêm nhiều hình thức giả tạo, lừa bịp thâm độc hơn.

Trong khi triển khai lực lượng, địch đã tiến hành ngay hoạt động bình định lập lại hệ thống ấp chiến lược vừa bị phá. Triệt phá xóm ấp cũ, để cho dân bị gom không còn chỗ trở lại, chúng dùng xe cơ giới ủi sạch nhà cửa, ruộng vườn, dùng máy bay rải chất độc hóa học hủy diệt hoa màu, cây cối. Ở vùng ven và vùng giải phóng, chúng dùng bom đạn chà xát, tạo thành vành đai trắng.

Trên các ấp “đời mới” “tân sinh”, với trò giả tạo “chăm sóc đời sống nhân dân”, chúng dựng thêm trường học, bệnh xá, thậm chi có cả cố vấn Mỹ thâm nhập vào dân “hoạt động xã hội” như ở Lộc Hưng, Sóc Bế… Để theo dõi, kiểm tra, kìm kẹp dân, chúng chia các hộ dân thành ba loại và gắn bảng trước nhà: “thân cộng” gắn bảng đỏ, “lưng chừng” gắn bảng vàng, “thân chính quyền” gắn bảng xanh. Hệ thống kìm kẹp ấp vẫn như cũ nhưng được tăng cường: bốt dân vệ, bảo an, thanh niên chiến đấu, hàng rào kẽm gai… khi dân đấu tranh mạnh, chúng thẳng tay đàn áp. Ở Lộc Ninh, các sóc Chàng Hai, Bù Nôm, Bù Tam bị chúng đốt sạch.

Riêng sóc Bù Do Tó bị máy bay hủy diệt không còn một người. Nhiều nơi đồng bào phải tản mát vào rừng sống lại cảnh “hái, lượm”. Ở Lộc Ninh, một số đồng bào tập hợp lập nên những “buôn sóc kháng chiến”.

Quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ đã được xác định. Tuy nhiên, sự xuất hiện đối thượng mới là quân chiến đấu Mỹ, với “xe tăng bầy, trực thăng bầy, pháo bầy”, B52… không tránh khỏi sự xuất hiện tư tưởng ngán ngại trong một bộ phận Đảng viên, cán bộ, chiến sĩ, nhân dân; đồng thời thực tế đang đặt ra một câu hỏi, chính là vấn đề trung tâm bức xúc: “Đánh Mỹ và thắng Mỹ bằng cách nào”. Lời Đại tướng Nguyễn Chí Thanh Ủy viên Bộ Chính trị, Chính ủy Miền tại Đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua miền Nam lần thứ nhất (5-5-1965 tại Lò Gò, bắc Tây Ninh) cũng chính là quyết tâm của toàn dân ta: “Cứ đánh Mỹ rồi sẽ tìm ra cách thắng Mỹ”.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Tám, 2011, 07:58:17 PM
Để giữ vững quyền chủ động và yêu cầu thắng Mỹ thì trận đầu hết sức quan trọng. Tại An Điền, huyện Bến Cát, ngày 10 tháng 10 năm 1965 bốn du kích do xã đội phó Út Đỡ chỉ huy, chỉ có 2 súng, nhưng với thế trận đã bố trí gồm hào, ụ chiến đấu, hàng rào, mìn chặn đầu khóa đuôi, đã diệt tại trận 1 phân đội Mỹ, thuộc 1 tiểu đoàn của lữ dù 173 đang đi càn. Trận An Điền là một thực tiễn sinh động ngay trên chiến trường Đông Nam bộ để Quân ủy và cả Bộ chỉ huy Miền rút ra kết luận: du kích có khả năng diệt được Mỹ và có thể diệt được phân đội Mỹ, như vậy các lực lượng vũ trang giải phóng đều có khả năng diệt được phân đội Mỹ. Tại Lộc Ninh, cũng trong tháng 10 năm 1965, 12 du kích do Út Nhỏ (chỉ huy quân sự huyện) chỉ huy phục kích trên đường liền xã xóm Bưng - Lộc Khánh, chặn một lực lượng Mỹ đi càn, diệt 2 xe jeep, quân Mỹ tháo chạy, bỏ lại 2 xác sĩ quan Mỹ, ta thu 2 súng. Đây là trận đánh Mỹ đầu tiên ở Lộc Ninh khi chúng đặt chân lên đất này. Trong vòng một tháng sau, với trận Đất Cuốc diệt tiểu đoàn Mỹ (8-11-1965) của sư đoàn 9(1) chủ lực Miền đã chứng minh kết luận đó, tiếp theo trận Bàu Bàng (11 rạng 12-11-1965), Sư đoàn này lại diệt cụm dã chiến bộ binh, cơ giới Mỹ với lực lượng tương đương chiến đoàn… Toàn chiến trường sôi động khí thế “tìm mỹ mà đánh, “oán nặng thù sâu, thấy Mỹ đâu diệt sạch”… Ngày 20 tháng 11 năm 1965, Bộ chỉ huy Miền phát động phong trào giành danh hiệu “dũng sĩ diệt Mỹ”, “đơn vị diệt Mỹ”. Cục chính trị Miền cụ thể hóa tiêu chuẩn các cấp diệt Mỹ và bổ sung nhiều danh hiệu dũng sĩ khác “dũng sĩ diệt cơ giới, “dũng sĩ diệt máy bay, “dũng sĩ diệt ngụy”…

Trong khí thế đánh Mỹ toàn chiến trường đang dâng cao, Tỉnh ủy Bình Long họp đánh giá tình hình và ra Nghị quyết, chủ trương: “Đẩy mạnh hoạt động của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong tỉnh, kiên quyết ngăn chặn các cuộc hành quân lấn chiếm giành dân của địch, động viên lực lượng để giữ thế tấn công liên tục, không cho địch giành lại thế chủ động trên chiến trường, tích cực đánh địch bằng phương thức hai chân, ba mũi, tiêu diệt sinh lực địch, đồng thời chú trọng công tác xây dựng, củng cố tổ chức Đảng tại cơ sở để làm hạt nhân lãnh đạo, phát động quần chúng chống chính sách bình định của địch, giải quyết những khó khó khăn về hậu cần, xây dựng lực lượng ta”.

Các Tỉnh ủy Bình Long, Phước Long khẩn trương củng cố và xây dựng lực lượng một mặt triển khai chiến đấu và công tác chống địch phản kích, bình định, quyết tâm giữ vững thế trận và phát huy thắng lợi chiến dịch Đồng Xoài.

Các Đảng bộ huyền đều được củng cố, các huyện ủy viên được phân công trực tiếp phụ trách từng đội mũi công tác. Ở Lộc Ninh tỉnh chỉ đạo thống nhất hai Ban cán sự phụ trách nông thôn và thành thị huyện Đảng bộ Lộc Ninh. Tại căn cứ lá buôn Sóc Cần Giựt (Lộc Thành) hội nghị huyện Đảng bộ bầu Huyện ủy 15 đồng chí do Tư Thành Công làm Bí thư. Tiếp sau Hớn Quản và Chơn Thành, huyện Đảng bộ Lộc Ninh được thành lập tạo bước phát triển mới cho phong trào Lộc Ninh. Huyện có một trung đội vũ trang gồm 3 tiểu đội do đồng chí Bảy Thành làm Trung đội trưởng, Năm Xước làm chỉ huy Phó.

Ở Phước Long, do đặc điểm của chiến trường, sau chiến dịch Đồng Xoài, về tổ chức hành chính ta vẫn giữ hình thức các K tương đương huyện, như K16 Bù Đốp (do Bảy Chiến và Hai Tiến phụ trách). K11 vùng Phước Bình do Nguyễn Đình Kính làm Bí thư (sau đồng chí Kính về tỉnh, đồng chí Tám Lưu làm Bí thư K11), K14 (do K10, sát nhập vùng đường 10, Đak Nhau, do Tư Quý sau đó là Nguyễn Tài Lực phụ trách). Mỗi K có nhiều làng xã, buôn sóc của đồng bào dân tộc. Riêng K11 chủ yếu gồm người Kinh và một số đồng bào bị gom vào các ấp chiến lược. Vùng giải phóng và vùng làm chủ nông thôn Phước Long ta giữ được 56.000 dân,. Về lực lượng vũ trang, bên cạnh việc củng cố C270, C290, Tỉnh ủy chủ trương đẩy mạnh vận động tân binh để thành lập thêm các đại đội C271, C273 bộ binh, C14 đại đội cối, C15 đại đội đặc công trinh sát. Các xã, buôn, sóc được tăng cường thêm cán bộ, phát triển du kích, khi quân Mỹ vào xã nào cũng có 1 đến 2 tiểu đội. Ở các buôn, sóc cũng có đội du kích thôn, sóc, nơi ít nhất cũng được nửa tiểu đội, trong đó, các đội du kích các xã Phú Văn, Đức Hạnh, Bù Xa, Bù Gia Mập, Đak Nhau… là những đội mạnh nhất.

Quân dân Bình Long, Phước Long kết hợp với một bộ phận chủ lực Miền, tiến công, phản công, thắng Mỹ những trận đầu, từng bước bẻ gãy âm mưu bình định của địch. Chỉ riêng ở các xã Đức Hạnh, Phú Văn, Bù Xia, Đak Ơ… trong những tháng mùa mưa năm 1965, bộ đội địa phương cùng du kích xã thôn, sóc đã bẻ gãy hàng chục cuộc càn lớn nhỏ, diệt nhiều tên địch. Ở những vùng lực lượng chính trị, vũ trang mạnh như Đức Hạnh, Phú Văn, Đak Ơ… hoạt động vũ trang có kết hợp đấu tranh vũ trang chính trị và binh vận.

Những chiến thắng Bàu Bàng, Dầu Tiếng, Bàu Da Đốt, Căm Xe,…(2) trực tiếp tác động tích cực đến khí thế quân dân Bình Long, Phước Long, cùng những chiến thắng của lực lượng tại chỗ đã từng bước giải quyết tư tưởng ngán ngại Mỹ… Đặc biệt trận Dầu Tiếng cổ vũ mạnh mẽ khí thế “tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt”.


(1) Theo quyết định của Quân ủy Trung ương và thành lập các sư đoàn ở miền Nam, trên chiến trường Đông Nam bộ, các sư đoàn đã lần lượt ra đời. Sư đoàn 9 (2-9-1965), Sư đoàn 5 (23-11-1965), sư đoàn 7 (tháng 6-1966),... (T.G).
(2) Trận Dầu Tiếng (26-11-1965) lần đầu tiên trên chiến trường miền Nam ta diệt chiến đoàn ngụy; trận Căm Xe (21-11-1965) vận động phúc diệt 20 xe Mỹ và gồm 200 tên (trong đoàn cơ giới lớn của Mỹ đang hành quân tiến lên đoạn đường Căm Xe - Dầu Tiếng; trận Bàu Da Đất, 5-12-1965 xã Long Nguyên, huyện Bến Cát, đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn Mỹ, đánh thiệt hại một tiểu đoàn Mỹ khác, xác minh hiệu quả chiến thuật “nắm thắt lưng Mỹ mà đánh”. Đây là những chiến công của Sư đoàn 9 chủ lực Miền (T.G).


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Tám, 2011, 07:58:38 PM
Ở Phước Long, sau khi quân Mỹ vào, địch hình thành ba cụm lớn: thị xã tiểu khu Phước Long, chi khu Phước Bình, cụm Bù Đốp, cụm chi khu quân sự và quận lỵ Đức Phong (Bù Đăng). Ở Bù Đăng, địch quyết tâm chiếm lại các địa bàn Bù Na, Vĩnh Thiện nhằm gom dân, củng cố lại các ấp chiến lược đã bị phá, chúng không tập trung xây dựng các đồn bốt, nhỏ rải rác, không đưa quân về đóng giữ các xã mà tập trung xây dựng lực lượng biệt kích. Các đơn vị biệt kích được Mỹ trực tiếp huấn luyện, trực tiếp chỉ huy trang bị mạnh. Biệt kích cộng hỏa lực mạnh là biện pháp chủ yếu ở Phước Long của Mỹ ngụy. Lực lượng quân sự địch trên toàn tỉnh lên đến 3.000 tên, bố trí thành hơn 70 vị trí chiến đấu lớn nhỏ, hình thành các cụm căn cứ lớn. Phước Bình là cụm chốt lớn với lực lượng hỗn hợp Mỹ, ngụy. Các trục giao thông như quốc lộ 14 (đoạn Đồng Xoài - Bù Đăng, Bù Đăng - Kiến Đức) và các đường giao thông nội tỉnh như Đức Liễu đi Phước Long, Phước Bình qua ngã ba Công Chánh đi Bù Đốp, bị ta cắt đứt, làm chủ hoặc phong tỏa. Hàng loạt ấp chiến lược, dinh điền như Đa Kia, Thuận Kiệm, Bù Na, Đức Bổn, Bù Rạt, Phước Tín, Phú Văn, Đức Hạnh, Bù Xia, Khắc Khoan… ta làm chủ, có chính quyền tự quản, tổ chức Đảng, các đoàn thể, quần chúng, và lực lượng du kích, phong trào du kích chiến tranh phát triển mạnh. Ở những vùng tiếp giáp như Vĩnh Thiện, Phước Quả, Hiếu Phong… thì giữa ta và địch xa nhau, ban ngày địch hoạt động, ban đêm ta làm chủ. Ở các đồn điền cách xa trục giao thông như Bù Nho, Thuận Lợi, Phú Riềng, Đức liễu, Đa Kia là những nơi ta đang đứng chân hoạt động. Riêng các đồn điền Thuận Lợi, Phú Riềng, Đa Kia, sau khi bị địch hủ diệt, chủ Tây chạy về Dầu Tiếng, bỏ trống đồn điền (từ 1965 đến 1969), công nhân về các xóm ấp vùng lân cận để làm ruộng, rẫy, tham gia kháng chiến. Các đồn điền này trở thành căn cứ của K17, K16, K11 (Đồng Xoài), nơi đứng chân của cả một bộ phận quân chủ lực Miền, đặc biệt là những điểm hậu cần. Khu vực đồng bào dân tộc cũng hình thành hai vùng. Vùng hoàn toàn giải phóng như Bom Bo, Đak Nhau, Đak Ơ, Bù Gia Mập lên tận biên giới Campuchia và các buôn sóc ở Nước sông(1) và vùng bị địch gom dân lập ấp chiến lược nhưng vẫn có cơ sở móc ráp, liên lạc với các đội, mũi công tác ở Đồng Xoài, Phước Long. Các đội mũi công tác ở Phước Long lúc bấy giờ: đội vùng núi Bà Rá (các đồng chí Tám Lực, Bảy Tuyết, Út Tiến, Nguyễn Văn Thỏa, Tạn Quang Sinh, Tứ Quý lần lượt phụ trách), đội Phước Bình (đồng chí Thành phụ trách), đội Nhơn Hòa (đồng chí Siêng phụ trách), đội Đức Hạnh (các đồng chí Mười Lồng, Sáu Non phụ trách), đội Phước Quả, Phước Tín (do đồng chí Bảy Phụng phụ trách)… Các đội mũi chân núi Bà Rá và Phước Bình áp sát thị xã, tiếp giáp kẻ thù đến mức chỉ một sơ suất nhỏ có thể có thể dẫn đến tổn thất. Trên đỉnh là đài ra đa, từ đây chúng quan sát cả một chiến trường rừng núi rộng lớn. Dưới đà ra đa là căn cứ, một đại đội bảo an, có pháo bắn thẳng, có sân bay trực thăng dã chiến, trận địa pháo. Dưới chân núi là chi khu, các đồn bốt, ấp chiến lược, ấp tân sinh. Đặc biệt, đội mũi Bà Rá có khoảng một trung đội đã được xây dựng từ năm 1965 bám trụ trong lòng địch nhiều lúc bị chúng bao vây phong tỏa phải sống bằng rau rừng, củ chuối, trái sung, vẫn bám địa bàn, móc nối xây dựng cơ sở trong các ấp chiến lược, tổ chức đánh địch, tạo bàn đáp áp sát thị xã, dẫn đường cho bộ đội của trên…

Với khẩu hiệu do Tỉnh ủy đề ra: “Kiên cường bám trụ, giành đất, giành dân giữ vững vùng căn cứ”, quân dân Phước Long đã đẩy mạnh xây dựng làng xã chiến đấu, nổi bật như sóc Bom Bo, xã 9. Ở xã Đak Ơ - K28, qua một thời gian, xây dựng, giáo dục và tổ chức, quần chúng đã thành công tố giác hơn 200 tên phản cách mạng do địch gài lại sau khi chúng rút chạy trong chiến dịch Đồng Xoài (xã này trước chiến dịch là xã vùng sâu, bị địch kìm kẹp nặng). ngay số này cũng được giáo dục, cảm hóa, dần dần một số bắt đầu nhận nhiệm vụ và sau đó trở thành du kích, đảng viên, có người vào bộ đội tỉnh. Đến đầu năm 1966 ở vùng mới giải phóng Đak Ơ - K28 đã có 4 chi bộ (22 đảng viên), 4 chi đoàn thanh niên, 16 cán bộ xã; trong vùng căn cứ có 6 chi bộ (61 Đảng viên), 32 đoàn viên, 69 du kích xã và 86 du kích ở các buôn sóc. Đến cuối năm 1965, quân dân Phước Long đã xây dựng được hệ thống làng xã, chiến đấu khá vững chắc với hệ thống hầm hào, ổ ụ, chiến đấu cắm bẫy dầy đặc với hàng triệu cây chông tre, trong đó có cả chông lạng chống địch đổ bộ đường không. Nhân dân Phước Long sẵn sàng ăn củ rừng, rau rừng, tiết kiệm lương thực để góp phần nuôi quân. Đặc biệt quân dân đã giành nhiều rẫy mì để làm nguồn dự trữ lương thực cho kháng chiến. Cuối năm 1965 địch dùng máy bay đánh phá bừa bãi, phun chất độc hóa học, ném bom xăng… hủy diệt rẫy, rừng, đảng bộ Phước Long lãnh đạo nhân dân đấu tranh trực tiếp với địch, đòi bồi thường thiệt hại, đòi không được càn quét bắn phá bừa bãi. Song song với việc tự túc lương thực, chống địch bao vây kinh tế, Tỉnh ủy Phước Long, các K ủy và chi bộ xã quan tâm mọi mặt đời sống của dân, đặc biệt như việc chăm sóc y tế.

Vào cuối năm 1965, Quân ủy, Bộ chỉ huy Miền tổ chức nhiều tuyến, đoàn hậu cần trên vùng biên giới Bình Long, Phước Long. Trên vùng biên giới tỉnh Bình Long, cuối năm 1965, Đoàn 85 hậu cần Miền được thành lập (tương đương cấp trung đoàn sau chia thành hai Đoàn 50 và 70). Ở Phước Long, đồng chí Trần Ngọc Khanh móc nối với cơ sở từ Campuchia để tổ chức cửa khẩu mua gạo và nhu yếu phẩm dự trữ trong căn cứ. Đồng chí Kính cùng một số đồng chí khác bàn với tỉnh đội tổ chức móc ráp chủ tây Phú Riềng cho công nhân làm ở Phú Riềng - Thuận Lợi, qua đó xây dựng cơ sở hoạt động trong lòng địch, xây dựng cơ sở tiếp tế. Nhờ vậy một cửa khẩu hậu cần được tổ chức ở Phú Riềng, Thuận Lợi. Đặc biệt, ông Vũ khiêm, chủ đồn điền cao su Thuận Lợi có uy tín với chính quyền Sài Gòn đồng thời có quan hệ với ta trong việc khai thác gỗ từ rừng Phước Long, để hợp đồng mua lương thực, thực phẩm, thuốc men và nhiều mặt hàng thiết yếu cho kháng chiến. Qua ông Vũ Khiêm ta móc nối được một số tư bản khác chuyên khai thác lâm sản để thu thuế tài nguyên rừng và tổ chức ra các cửa khẩu khu vực. Ở hướng Bù Đốp, Thuận Kiệm, Đa Kia và đường Hoàng Diệu, ta cũng tìm cách tổ chức mạng lưới các cửa khẩu nhỏ và vừa. Có thể nói, trên địa bàn Bình Long, Phước Long, bên cạnh những cơ sở sản xuất của hậu cần cấp trên, của dân, hệ thống cơ sở hậu cần chiến lược, hậu cần khu vực, hậu cần tại chỗ đã góp phần quan trọng vào sự hình thành hậu phương lớn tại chỗ của chiến trường Đông Nam Bộ. Trên các đồn điền, dinh điền và vùng dân tộc, thanh niên hăng hái tòng quân, có gần 500 thanh niên nhập ngũ (trong đó có hơn 300 bổ sung cho chủ lực Khu 6) nên các đơn vị tỉnh luôn tăng quân số, đặc biệt C280 toàn quân là người dân tộc thiểu số phát triển tốt.

Đến cuối năm 1965, được Mỹ hỗ trợ, trên chiến trường Phước Long địch sử dụng sư đoàn 5 cùng bảo an, dân vệ, liên tục mở các cuộc càn quét với thủ đoạn tàn bạo, càn đến đâu phá nhà cửa, ruộng rẫy của đồng bào đến đó để gom dân ở những vùng tiếp giáp, dọc các trục giao thông, cố giành lại những vùng đã mất. Có nơi chúng dùng trực thăng bất ngờ đổ xuống hốt hết dân, chở về trại tập trung. Những nơi bị đánh trả, chúng phản ứng mạnh, dùng máy bay hủy diệt xóm ấp. Bằng các thủ đoạn trên, chúng đã chiếm được các khu Bù Na 1, Vĩnh Thiện và xây dựng những nơi đây thành các yếu khu quân sự, có kho tàng, trận địa pháo, sân bay dã chiến. Một số dân bị địch gom về các ấp chiến lược Phước Long, xung quanh thị xã Phước Long.


(1) K59 cũ, về sau thuộc xã Đồng Nai (T.G).


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Tám, 2011, 07:58:53 PM
*
*   *

Tháng 12-1965, tư lệnh MACV Westmoreland đánh giá là hoàn thành giai đoạn 1 và chuyển sang giai đoạn “phản công chiến lược” gồm hai bước, gọi là giai đoạn 2, giai đoạn 3, thực tế là hai cuộc tổng phản công mùa khô:

- Phản công lần thứ 1 từ tháng 1 năm 1966 đến giữa năm 1966.

- Phản công lần thứ 2 từ tháng 10 năm 1966 đến giữa năm 1967.

- Trong cuộc phản công mùa khô lần 1, địch xác định Đông Nam bộ với hai hướng chủ yếu, nhằm vào các mục tiêu:

- Thực hành chiến lược “tìm - diệt”, diệt những sư đoàn của “Việt cộng” hoặc buộc những đơn vị này phải phân tán đánh du kích.

- Bình định có trọng điểm, đánh phá hậu cần dự trữ của đối phương giành dân.

Đây là bước đi tất yếu của địch trong chiến lược “Chiến tranh cục bộ” nhằm giành”thắng lợi quyết định” trong vòng 2 đến 3 năm. Song không ngoài dự kiến của Đảng ta, ngay từ tháng 2 năm 1965, Quân ủy Trung ương đã nêu rõ sáu phương thức tác chiến(1) nhằm phát triển thế chủ động tiến công, giành thắng lợi ngày càng lớn, tiến lên giành thắng lợi quyết định trên chiến trường. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 12 Ban Cấp hành Trung ương Đảng (tháng 12 năm 1965) xác định rõ phương châm chiến lược của ta là “đánh lâu dài” nhưng phải tích cực “tập trung lực lượng cả hai miền, tranh thủ thời cơ giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn”.

Ở miền Đông, địch tập trung lực lượng tinh nhuệ cơ động (chủ yếu là Mỹ) hành quân “tìm - diệt” lên các căn cứ, vùng giải phóng trên vành đai tây bắc, bắc đông bắc Sài Gòn; trong lúc đó các sư đoàn chủ lực ngụy cùng bảo an, dân vệ bình định các tỉnh xung quanh Sài Gòn và đồng bằng sông Cửu Long. Trong 10 tháng đầu năm 1966, trên chiến trường Miền Đông chúng mở 13 cuộc hành quân quy mô cấp sư đoàn tăng cường hoặc lữ đoàn tăng cường (trong tổng số 450 cuộc lớn nhỏ trên toàn miền Nam).

Ngày 1 tháng 1 năm 1966, địch mở cuộc hành quân then chốt mang tên Crimp (1-1-1966 - 19-1-1966, gồm F1 Mỹ + d Úc + 8 d ngụy, khoảng 30.000 quân) đánh lên vùng bắc Củ Chi nhằm diệt đầu não quân khu Sài Gòn - Gia Định triệt hạ vùng giải phóng bắc Củ Chi. Hướng tiến công thứ hai nằm vào các chiến khu ở tỉnh Tây Ninh và ở Thủ Dầu Một, Biên Hòa, trong đó có những cuộc hành quân ảnh hưởng trực tiếp đến chiến trường Bình Long, Phước Long: Rolling Stone (tháng 3-196, gồm lữ 1/f1 Mỹ + d Úc) đánh lên Bông Trang, Nhà Đỏ; Silver + City (7-3-1966 - 24-4-1966) gồm lữ 2/f1 Mỹ + lữ dù 173 + d Úc) đánh vào chiến khu Đ, Austin (1-5-1966 - 17-5-1966, gồm lữ 1/f10 Mỹ, đánh lên Bù Gia Mập, tỉnh Phước Long; Houston (từ 12-5-1966, gồm lữ 1/f1 Mỹ) đánh lên Dầu Tiếng; Alpasso II (từ 3-6-1966) đánh phá vùng ven Hớn Quản, Chơn Thành, Minh Thạnh,…

Đối đầu với cuộc hành quân hủy diệt tàn khốc, lực lượng chiến tranh nhân dân vùng bắc Củ Chi đã dũng cảm chiến đấu, “lấy một chọi mười, chọi trăm…”, trong 20 ngày đã đánh bại cuộc càn Crimp(2) kéo theo sự hình thành vành đai diệt Mỹ Bắc Hà (Đồng Dù); đồng thời hơn nửa tháng sau, từ thực tiễn Củ Chi, Quân khu Sài Gòn - Gia Định đã mở Đại hội dũng sĩ diệt Mỹ; tổng kết 10 điểm về khả năng đánh Mỹ, thắng Mỹ của lực lượng chiến tranh nhân dân. Đánh phủ đầu cuộc hành quân Rolling Stone; Sư đoàn 9 chủ lực Miền cùng lực lượng vũ trang địa phương tập kích cụm quận Mỹ tại Nhà Đỏ, loại khỏi vòng chiến 1.200 tên, tập kích diệt 1 tiểu đoàn Mỹ tại dốc Bà Nghĩa. Tại chiến khu Đ, Sư đoàn 9 cùng bộ đội địa phương và du kích đánh bại cuộc hành quân Silver City, loại khỏi vòng chiến 3 đại đội Mỹ, đặc biệt thắng lợi này mở ra khả năng bảo vệ căn cứ trước các cuộc hành quân “tìm - diệt” quy mô lớn của quân Mỹ. Mặc dù cường độ chiến tranh tăng cao; khắp các mặt trận cả phía trước và phía sau cuộc phản công của Mỹ đã có dấu hiệu thất bại hoàn toàn. Ngày 17 tháng 5 năm 1966, sau trận Bàu Sắn (Tây Ninh), ta diệt một cụm dã chiến của sư đoàn “Anh cả đỏ”, địch buộc phải kết thúc sớm cuộc phản công mùa khô thứ nhất.


(1) Đẩy mạnh tác chiến tập trung, mở những chiến dịch vừa và lớn của bộ đội chủ lực trên những hướng quan trọng; 2 - Đẩy mạnh chiến tranh du kích đến trình độ cao, phối hợp tác chiến giữa du kích, bộ đội địa phương và bộ đội chủ lực; 3 - Đánh phá các cơ sở hậu phương cơ quan đầu não của địch; 4 - Kết hợp hoạt động vũ trang với đấu tranh chính trị của quần chúng ở đô thị và vùng ven; 5 - Phát triển cách đánh giao thông; 6 - Phối hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự, chính trị và binh vận (T.G).
(1) Loại khỏi vòng chiến 1.632 tên địch (chủ yếu là Mỹ) hạ 84 trực thăng, bắn cháy, bắn hỏng 77 xe tăng, thiết giáp… (T.G).


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Tám, 2011, 07:59:09 PM
Những chiến thắng trên chiến trường đã cổ vũ mạnh mẽ khí thế đánh Mỹ diệt ngụy của quân dân Bình Long, Phước Long.

Tỉnh Phước Long đối với địch, vừa là tuyến phòng ngự từ xa vừa là cửa ngõ bảo vệ Sài Gòn từ hướng bắc, chúng xác định đây là địa bàn “tìm - diệt” và “bình định”, nhưng trong cuộc phản công mùa khô lần 1, là một trong những trọng điểm bình định. Khu ủy Khu 6 xác định; “Hướng chủ yếu của Khu là rừng núi Tây Nguyên, nhưng đồng bằng cũng rất quan trọng. Và trọng điểm vùng rừng núi là địa bàn Phước Long”(1). Ban chỉ huy tỉnh đội Phước Long lúc ngày gồm: Võ Hòa tỉnh đội trưởng, Hai Phong chính trị viên, Ba Huệ tỉnh đội phó, Tư Cần chính trị viên phó. Chuẩn bị mở đợt hoạt động Đông - Xuân 1965-1966, ở hướng trọng điểm Phước Long, Quảng Đức, ngoài các đơn vị của Bộ, Quân Khu thành lập thêm trung đoàn 346 (thiếu) sử dụng lực lượng của trung đoàn này phối hợp với lực lượng của trung đoàn 16 và của Bộ và tiểu đoàn 84 mở chiến dịch đông bắc Phước Long, với yêu cầu tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, mở rộng vùng giải phóng trên trục đường 14, đoạn vòng cung từ Kiến Đức đến Bu Prang mà cho đến cuối năm 1965 ta chưa làm được. Trong chiến dịch (từ tháng 2 đến tháng 4 năm 1966), trung đoàn 16 đã đánh dứt điểm căn cứ Tuy Đức, tiểu đoàn 840 diệt một đại đội bảo an ở Nhân Cơ (5-4-1966, bắt 8 tù binh, thu vũ khí), nhưng do bị căng kéo, địch không ứng viện, chiến dịch không đạt được yêu cầu về diệt sinh lực địch. Trung đoàn không dứt điểm được Bu Prang, nhưng gây được sức ép buộc địch phải rút bỏ căn cứ này. Chiến dịch đạt hiệu quả lớn về giải phóng vùng: ta đã mở được mảng từ đông Bù Đốp đến Đak Son, tạo một vùng giải phóng liên hoàn từ tỉnh lỵ Phước long đến tây Gia Nghĩa.

Không lấn chiếm lại được phải rút bỏ một số cứ điểm quan trọng, và đánh hơi có quân chủ lực đối phương trên địa bàn Phước Long, địch huy động lữ đoàn 1/sư đoàn dù 101 Mỹ và 6 tiểu đoàn ngụy có máy bay, xe tăng, pháo binh yểm trợ, thực hiện cuộc hành quân “tìm - diệt” mang tên Austin đánh sâu vào vùng giải phóng Bù Gia Mập, lên tận tuyến biên giới Việt Nam - Campuchia. Trên địa bàn này, bên cạnh các lực lượng chiến tranh nhân dân địa phương còn có một số đơn vị của Khu 6, các trung đoàn 141, 164 của Bộ (chuẩn bị thành lập sư đoàn 7). Suốt 17 ngày (từ 1 đến 17-5-1966), cuộc hành quân Austin diễn ra với mật độ bom đạn rất lớn, có máy bay B52 rải thảm và chất độc hóa học đánh vào căn cứ của ta. Dưới sự lãnh đạo. chỉ đạo của Tỉnh ủy và Ban chỉ huy quân sự tỉnh, các đơn vị bộ đội tỉnh, huyện, du kích các xã Đak Nhau, Đak Ơ, Bù Gia Mập, các thôn Bu Ninh, Bù Du Nga… hợp đồng chặn chẽ với bộ đội Khu 6 và các trung đoàn 141, 164 chặn đánh từng mũi tiến công của địch. Lần đầu tiên đối đầu quân chiến đấu Mỹ, có đơn vị còn ngần ngại, lúng túng, nhưng đã nhanh chóng nắm bắt thực tế, hình thành cách đánh để vượt qua tình thế bất lợi về so sánh lực lượng, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 200 tên Mỹ, bắn hỏng hàng chục máy bay, phá hủy 2 xe tăng và pháo. Cuối cùng địch phải dùng máy bay đến giải tỏa để trực thăng hốt quân, kết thúc cuộc càn. Trong quá trình chống càn, đã xuất hiện những gương mẫu điển hình của du kích như Điểu Up, Điểu Brao ở xã Đak Ơ, dùng súng AK bắn máy bay Mỹ rơi tại chỗ. Điểu Rú ở xã 9 bị thương vẫn chống gậy đi đánh địch. Đồng chí Điểu Sách, Bí thư xã 10, cõng con trên lưng đi chống càn…

Ngày 13 tháng 6 năm 1966, tại khu rừng già Bù Gia Mập, Sư đoàn 7, sư đoàn thứ ba của chủ lực Miền được thành lập, địa bàn hoạt động là chiến trường Đông Nam Bộ.

Song song với những cuộc hành quân “tìm - diệt” trên chiến trường Phước Long, những cuộc càn quét, bình định của địch đã có những nét mới. Từ đầu năm 1966, trên chiến trường này chúng bắt đầu sử dụng chiến thuật “vồ mồi” trực thăng bất ngờ đổ chụp, xua quân ồ ạt tấn công từng xã, từng ấp trong vùng giải phóng để vây bắt, xúc hốt đưa dân về trại tập trung. Tại Đức Hạnh, lần đầu tiên, hàng chục máy bay trực thăng chở hàng trăm lính Mỹ, sau một vòng quần đảo, vãi đạn “dọn bãi” bất ngờ hạ xuống Đức Hạnh. Lần đầu tiên đối đầu quân Mỹ trong tình huống “tao ngộ”, du kích xã Đức Hạnh lâm vào thế bị động đối phó. Song nhờ hệ thống hầm hào, ổ ụ chiến đấu, chông mìn, cạm bẫy đã bày sẵn, du kích có thế dựa, đã ngoan cường chiến đấu đẩy lùi nhiều đợt xung phong của quân Mỹ. Cuộc chiến đấu giằng co, quân Mỹ không chịu đựng được lâu trên trận địa gây nhiều bất ngờ do chông, mìn, cạm bẫy, nên chiều cùng ngày, chúng rút lui cùng một số tên thương vong, xúc hốt đi một số đồng bào. Ở các ấp Bù Xia, Thuận Kiệm, Lệ An, Đức Bổn, quân Mỹ cũng thực hiện chiến thuật bất ngờ đổ chụp, nhưng du kích ở các nơi này đã có bài học Đức Hạnh, nêu cao cảnh giác chuẩn bị sẵn sàng đánh địch. Ở Bù Xia, Thuận Kiệm, khi máy bay còn quần thảo trên bầu trời, du kích đã bắn hạ một chiếc. Số còn lại tập trung hỏa lực dọn bãi để hạ cánh và bảo vệ chếc bị rơi. Từ bãi đáp chúng bung ra, càn quét, gom dân, nhưng phần lớn dân đã được du kích hướng dẫn, mở đường rút sâu vào vùng giải phóng. Chúng chỉ xúc hốt được số người chưa kịp sơ tán. Suốt ngày du kích bám công sự, giao thông hào để chống càn. Vũ khí kém, đạn ít, nhưng biết dựa vào lợi thế địa hình, du kích anh dũng chiến đấu, giết, làm bị thương hàng chục tên Mỹ ngụy.


(1) Nghị quyết Hội nghị Khu ủy Khu 6 năm 1965 (T.G).


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Tám, 2011, 07:59:24 PM
Tại Đồng Xoài, từ đầu năm 1966, một trung đội bộ đội địa phương, người dân tộc do Điểu Khi (Phạm Thành Khi) làm trung đội trưởng đã bám sát các trục giao thông chính từ đường BuyMore tới làng 9 và đường 14, đường 322, gặp gỡ đồng bào đi làm nương rẫy để làm công tác tuyên truyền, vận động đồng bào ủng hộ kháng chiến. Qua vận động, mạng lưới cơ sở cách mạng hình thành trong các ấp dân tộc Đồng Tâm, Đồng Tiếng, Tân Phước. Sau này các cơ sở này đều trở thành Đảng viên (như Điểu Kiết, Điểu Rơi, Kbó, Điểu Đế,…). Trung đội bộ đội địa phương làm tốt công tác diệt ác, trừ gia (như đã diệt tên Thật Nhẫn, thư ký tên Tổng Thoại); phối hợp với du kích tiêu hao địch trong các cuộc chống càn.

Như vậy khi quân Mỹ kết thúc cuộc phản công mùa khô lần thứ nhất, trên chiến trường Phước Long, quân dân ta vẫn giữ thế chủ động, giữ và phát triển đuợc vùng giải phóng.

Cuộc phản công mùa khô lần thứ nhất đã kết thúc sớm so với kế hoạch mà không đạt được mục tiêu nào. Địch tiếp tục những cuộc hành quân bổ sung vào đầu mùa mưa, trọng điểm là chiến trường Bình Long.

Trên chiến trường Bình Long, trong khi đang chuẩn bị cho cuộc hành quân Houston đánh Dầu Tiếng, địch phát hiện sự có mặt của quân chủ lực Miền xung quanh An Lộc, tháng 5 năm 1966, chúng mở cuộc hành quân Alpasso ở các khu vực vùng ven Hớn Quản, Chơn Thành, Minh Thạnh. Chủ động đối phó cuộc hành quân này, Bộ chỉ huy Miền chủ trương mở chiến dịch Bình Long với lực lượng gồm một bộ phận chủ lực Miền chủ yếu là sư đoàn 9 với các lực lượng vũ trang địa phương, thực hiện đánh điểm, diệt viện. Mở màn chiến dịch, ngày 6 tháng 6 năm 1966, ta tiến công cứ điểm Đồng Long, một chốt điểm quan trọng án ngữ phía bắc An Lộc nhằm tiêu diệt sinh lực địch và đánh quân viện của chúng từ Lộc Ninh xuống, An Lộc lên, tạo khí thế cho quân dân Bình Long vào chiến dịch. Tương quan lực lượng trong trận này bất lợi về phía ta. Địch trong công sự kiên cố, gồm tiểu đoàn tăng cường của sư đoàn 5 ngụy một đại đội bảo an, được các trận địa pháo của tiểu khu Bình Long, sân bau An Lộc và căn cứ Téc Ních yểm trợ. Bên ta chỉ có đại đội 70 và trinh sát đặc công tỉnh. Được cơ sở nội tuyến cung cấp tin tức, sơ đồ phòng thủ, chiến sĩ trinh sát đột nhập, luồn sâu đến trung tâm căn cứ, bộ binh áp sát bên ngoài. Đến giờ G, quân ta đồng loạt tiến công, trong thời gian ngắn, đã làm chủ cứ điểm, diệt gần 200 tên địch.

Cùng lúc các mũi vũ trang công tác với các cơ sở bên trong đã vận động nhân dân nổi dậy diệt ác phá kìm, phá ấp chiến lược Đồng Long. Toàn bộ hệ thống hàng rào xung quanh ấp bị quần chúng nhổ sách. Quân địch từ Lộc Ninh xuống theo quốc lộ 13 bị du kích Sóc Bế chặn đánh, diệt 1 xe GMC, tiêu hao một số tên.

Chiến thắng Đồng Long có tiếng vang lớn, làm nức lòng quân dân Bình Long. Lực lượng vũ trang tỉnh được tặng thưởng huân chương chiến công hạng nhì. Phát huy thắng lợi, những ngày tiếp theo, lực lượng vũ trang tỉnh, huyện và du kích liên tiếp tiến công địch. Quốc lộ 13 thường xuyên bị du kích đắp mô, đánh mìn gây khó khăn vận chuyển của địch, buộc quân Mỹ phải nhiều lần hành quân giải tỏa. Mặc dù có phi pháo dọn đường, nhưng lần nào chúng cũng lọt vào trận địa phục kích của quân ta. Quân ngụy ở An Lộc bị uy hiếp, thiếu lương thực, đạn dược. Địch buộc phải đưa hai trung đoàn 8 và 9 thuộc sư đoàn 5 ngụy và một bộ phận sư đoàn “Anh cả đỏ” Mỹ lên giải tỏa áp lực đường 13. Trong lúc đó tiếp tục chiến dịch Bình Long, sư đoàn 9 chủ lực Miền đang vào đợt hoạt động mùa mưa trên địa bàn này. Địch phát hiện được, chúng hình thành từng cụm quân lớn và tổ chức phòng ngự để ngăn chặn. Ban chỉ huy sư đoàn kịp thời chủ trương thay đổi phương châm hoạt động, hết sức linh hoạt trong sử dụng lực lượng và cách đánh, dùng lực lượng nhỏ đánh châm ngòi, nếu địch ra sẽ đánh lớn, phục kích đánh giao thông, tập kích khi địch đóng quân dã ngoại, pháo kích tiêu hao chúng, cùng các lực lượng vũ trang địa phương phát triển chiến tranh du kích.

Theo phương án mới trung đoàn 2 chuyển sang phục kích đánh Mỹ trên đường 13. Khu vực trọng điểm là đoạn đường dài hơn 3km từ ngã ba Cây Đa đến cầu Cần Đâm. Trong khi đó Khu ủy và Bộ chỉ huy Quân khu 7 giao nhiệm vụ cho tỉnh đội Phước Thành: bằng mọi giá phải cầm chân cho được lữ đoàn 3 sư đoàn 1 Mỹ tại căn cứ Phước Vĩnh trong một tuần lễ, không cho chúng hành quân ứng cứu đồng bọn ở đường 13. Thi hành nhiệm vụ này, tỉnh đội Phước Thành đã huy động toàn bộ lực lượng vũ trang địa phương kết hợp với nhân dân Phước Vĩnh, thực hiện bao vây chặt căn cứ Phước Vĩnh qua nhiều tầng, bằng cả quân sự, chính trị, binh vận, gây tâm lý hoang mang, căn thẳng trong hàng ngũ địch. Hết sức giữ bí mật về thời gian, địa điểm kế hoạch, đặc biệt là làm thật tốt kế hoạch nghi binh.

Ngày 6 tháng 6 năm 1966, quân dân Bình Long tiến công căn cứ Núi Đất và vị trí đóng quân dã ngoại của một đại đội quân ngụy ở phía bắc sân bay Téc Ních, loại khỏi vòng chiến 2 trung đội.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Tám, 2011, 07:54:17 PM
Ngày 8 tháng 6 năm 1966, trung đoàn 2 sư đoàn 9 phối hợp với du kích tổ chức trận địa phục kích trên đường 13 từ ngã ba Cây Đa đến phía bắc cầu Cần Đâm. 13 giời 28 phút chi đoàn tăng - thiết giáp và 3 đại đội bộ binh thuộc sư đoàn 1 Mỹ lọt vào trận địa. Trận đánh ác liệt diễn ra trong 3 giờ liền. Quân ta diệt tại trận 40 xe tăng, thiết giáp, loại khỏi vòng chiến hàng trăm tên Mỹ; bắn rơi, bắn cháy 8 máy bay, thu 44 súng các loại. Kể từ khi quân chiến đấu Mỹ vào chiến trường, đây là trận đánh giao thông lớn nhất, diệt nhiều xe cơ giới nhất trên chiến trường Đông Nam bộ. Đường 13 tiếp tục bị uy hiếp liên tiếp trong 10 ngày từ 8 tháng 6 đến 18 tháng 6 năm 1966, trung đoàn 2 sư đoàn 9 cùng lực lượng địa phương diệt hơn 500 tên Mỹ, ngụy trong các cuộc hành quân giải tỏa đường 13, phá hủy hàng trăm xe cơ giới, có 48 xe tăng, xe bọc thép. Quân dân huyện Phú Giáo tỉnh Phước Thành thực hiện xuất sắc nhiệm vụ nghi binh và bao vây lữ đoàn 3 Mỹ ở Phước Vĩnh. Đúng ngày N, súng lớn súng nhỏ quanh căn cứ Phước Vĩnh và dọc đường 16 Phước Hòa đi Phước Vĩnh nổ súng suốt ngày đêm, kết hợp với gọi loa địch vận. Lữ đoàn 3, sư đoàn 1 Mỹ án binh bất động trong căn cứ. Lính ngụy trong bốt Phước Hòa nằm im. Một không khí căng thẳng, ngột ngạt bao trùm căn cứ đồn bốt địch. Trái lại, phía bên ngoài, du kích, nhân dân đi lại dễ dàng, các hoạt động kháng chiến nhộn nhịp từ các cơ sở trong ấp chiến lược ra. Cuộc bao vây mang tính chất toàn dân, lấy bộ đội địa phương và du kích làm nòng cốt, cả bằng quân sự, chính trị, binh vận, đã thắng lợi rực rỡ. Quân dân Phước Thành được Bộ chỉ huy Miền và Khu ủy nhiệt liệt khen ngợi.

Tiếp theo những ngày cao điểm, bộ đội địa phương và du kích Bình Long kết hợp chủ lực Miền tiếp tục đánh địch trên đường 13, diệt thêm hàng trăm tên Mỹ ngụy. Ngày 9 tháng 7 năm 1966, C70 và du kích Xa Cát phục kích đánh thiệt hại nặng lực lượng địch đang di chuyển từ Chơn Thành lên Bình Long. Ngày 11 tháng 6 năm 1966, tại ấp chiến lược làng 3 và khu vực Lộc Thiện, lực lượng vũ trang huyện Lộc Ninh và du kích xã đã phối hợp với tiểu đoàn 7 chủ lực Miền đánh địch lấn chiếm. Suốt 10 giờ chiến đấu, ta bẻ gãy 13 đợt xung phong của địch, loại khỏi vòng chiến 350 Mỹ thuộc tiểu đoàn 1 lữ dù 173, thu 25 súng các loại.

Suốt 32 ngày đêm chiến dịch Bình Long, trên mặt trận chống phá bình định, quân dân Bình Long đã vượt qua mọi thủ đoạn tàn bạo của địch, giữ vững thế trận chiến tranh nhân dân. Các đội mũi công tác kiên trì ngày bám lô cao su, đêm vào ấp chiến lược, tuyên truyền vận động, móc nối, xây dựng cơ sở, xây dựng lực lượng vũ trang chính trị bên trong, tổ chức cơ sở Đảng. Lợi dụng tình hình địch đang phân tán đối phó hoạt động vũ trang của ta và tinh thần đang giao động, các đội mũi công tác được sự hỗ trợ của các đơn vị vũ trang đã vận động, lãnh đạo nhân dân các ấp An Lộc, Bình Phú, Phú Lô, Sóc Bế, các làng 4, 5, 6, 7, 8, 9, Xa Cát… nổi dậy đấu tranh phá rã ấp chiến lược, diệt ác, trừ gian trở về làng, sóc cũ. Ở Quản Lợi, mũi công tác chỉ có 3 đồng chí đã xây dựng được cơ sở Đảng, du kích mật bên trong và vận động hàng chục thanh niên tòng quân tham gia Quân giải phóng. Ở Xa Cô 2, Xa Cô 28, dân đã bị địch hốt vào ấp, nhưng có sở sở mạnh, đã liên tục đấu tranh đòi dân sinh dân chủ, thường xuyên liên lạc với đội mũi công tác, vượt qua sự kiểm soát của địch, góp phần giải quyết khó khăn cho kháng chiến, cung cấp cho bộ đội lương thực, thuốc men, các nhu yếu phẩm khác. Ở Lộc Ninh, các chiến sĩ du kích, cơ sở bên trong là những người dẫn đường đắc lực cho quân chủ lực ta hành quân đánh địch. Có những người đã ngã xuống trên đường làm nhiệm vụ như Điểu Xấu (dân tộc S’tiêng), Lâm Khanh (dân tộc Khơ me). Tất cả bà con ở Brêlin, Cốc Rưới đều là cơ sở cách mạng. Với sự vận động của đội mũi công tác, nhân dân Xóm Bưng đã hình thành một “xóm hậu cần của bộ đội”. Làng 2 địch gọi là “đồn điền Việt Cộng” chính là nơi “cách mạng cả làng”,…

Trên toàn miền Nam, mùa khô 1965-1966, quân và dân ta đã loại khỏi vòng chiến 67.000 tên địch, trong đó có hàng vạn quân Mỹ và “đồng minh”(1), phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh (trong đó có 940 máy bay, hầu hết là trực thăng; 6.000 xe quân sự, trong đó có nhiều xe tăng, thiết giáp)… Tập trung lực lượng 68 vạn quân (gồm 25 vạn quân Mỹ, 40 vạn quân ngụy, 3 vạn quân “đồng minh”), gần như toàn bộ lực lượng cơ động đã được tung ra chiến trường, nhưng đế quốc Mỹ không thực hiện được những mục tiêu đã đề ra cho cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất:

- Không đánh bại được chủ lực quân giải phóng.

- Không giành được thế chủ động chiến lược.

- Không thực hiện được kế hoạch bình định.

- Đường giao thông chiến lược chỉ sử dụng được 30%.

- Nội bộ ngụy quyền tiếp tục khủng hoảng, nội bộ Mỹ tiếp tục phân hóa(1).

Những việc địch làm được trong cuộc phản công này là phá hủy của đối phương một số kho tàng dự trữ, cơ sở tiếp vận, mùa màng, bịt nhiều cửa khẩu, xúc hốt 15 vạn rưỡi dân vùng giải phóng giải phóng và vùng tranh chấp.


(1) Báo cáo lúc bấy giờ: 3 vạn rưỡi (T.G).
(2) Ngày 5-5-1966, đại sứ Mỹ Cabot Lodge về Washington để trình Tổng thống Johnson Báo cáo về cuộc phản công mà sau này Tài liệu Lầu năm góc gọi là “bản báo cáo bảy số 0”: 1 - “0” hao tổn được Việt Cộng. 2 - “0” tiêu hao đơn vị chính quy lớn nào của VC. 3 - “0” ngăn được du kích phát triển. 4 - “0” ổn định được địa phương. 5 - “0” giành được chủ động. 6 - “0” ngăn được sự suy sụp của quân đội Sài Gòn. 7 - “0” tăng cường và bổ sung kịp lực lượng Mỹ (T.G).


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Tám, 2011, 07:54:38 PM
Đánh giá thắng lợi mùa khô 1965-1966, Bộ Chính trị Trung ương Đảng nhận định: “Đây là thắng lợi có tầm quan trọng nhất về chiến lược, chiến thuật và chỉ đạo chiến tranh. Ta đã thắng hiệp đầu trong chiến tranh cục bộ của Mỹ”, “qua thực tiễn chiến đấu, chúng ta đã hiểu rõ chỗ mạnh, chỗ yếu của quân viễn chinh Mỹ, bước đầu rút ra những kinh nghiệm quí báu, nhận rõ những quy luật của cuộc cách mạng dân tộc giải phóng ở miền Nam, làm cho toàn Đảng, toàn dân quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.”.

Thất bại trong cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất đế quốc Mỹ đẩy mạnh leo thang chiến tranh phá hoại ở miền Bắc, tăng quân ở miền Nam, ráo riết chuẩn bị mở cuộc phản công lần thứ hai.

Ngày 17 tháng 7 năm 1966, tại Hội nghị chính trị đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi quân và dân cả nước “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! “Không có gì quí hơn độc lập, tự do”(1).

Lời kêu gọi thiêng liêng của Bác Hồ nung sôi thêm quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ của quân dân ta.

Tháng 7 năm 1966 Khu ủy Khu 6 mở Hội nghị Khu ủy mở rộng lần thứ 5 và ra nghị quyết chỉ đạo về tình hình, nhiệm vụ mới, trong đó nêu rõ: “Động viên quyết tâm toàn quân toàn dân thi đua vươn lên hàng đầu, vượt tất cả khó khăn, gian khổ, tiếp tục tiến công tiêu hao, tiêu diệt địch trên khắp 3 vùng, giữ vững và phát triển quyền chủ động của ta, đánh bại địch trong mùa mưa và mùa khô sắp tới, đập tan kế hoạch càn quét và bình định của địch, đưa phong trào du kích chiến tranh phát triển mạnh, phục vụ đắc lực cho phá ấp, mở vùng, giành dân, xây dựng căn cứ”. nghị quyết xác định hướng chủ yếu vẫn là Phước Long và Quảng Đức.

Mùa mưa năm 1966 là thời gian quân Mỹ chuẩn bị mọi mặt cho cuộc phản công mùa khô thứ 2, đó cũng là thời gian mà ta vừa tác chiến vừa xây dựng mọi mặt phát huy thắng lợi trong mùa khô thứ nhất, chuẩn bị quyết thắng trong mùa khô lần thứ 2.

Trên chiến trường Bình Long, khu vực nóng bỏng vẫn là trục và ven đường 13, đoạn Chơn Thành lên Lộc Ninh, chiến tranh du kích ở Lộc Ninh đang phát triển, tạo điều kiện cho chủ lực Miền đứng vững trên địa bàn, hiệu suất diệt địch ngày càng cao.

Nơi đây, một bộ phận Sư đoàn 9, chủ lực Miền vẫn đang tiếp tục cùng quân dân địa phương phát huy kết quả đợt hoạt động quân sự Bình Long tháng 5, tháng 6 năm 1966.

Sau đợt tiến công tháng 6 lên hướng bắc Hớn Quản bị trận đòn sau ngày 9 tháng 6, trung đoàn 2, Sư đoàn 9 chủ lực Miền cùng lực lượng địa phương đã thực hiện trận phục kích vận động xuất sắc trên đường đất đỏ Minh Hòa - Xa Cát, diệt 43 xe quân sự, phần lớn là xe bọc thép M113 và xe tăng M41, loại khỏi vòng chiến 300 tên thuộc sư đoàn bộ binh 1 Mỹ. Quân ta và sư đoàn bội binh 1 Mỹ tiếp tục gài thế trận trên quốc lộ 13 và lộ đá đó Hớn Quản - Minh Hòa (tam giác Hớn Quản Chơn Thành - Minh Hòa). Trong lúc đó tại khu vực Tà Thiết (phía bắc lộ 17, phía đông đường 13 độ 14km), liên tiếp trong 2 ngày 1 và 2 tháng 7 quân ta (Trung đoàn 1 Sư đoàn 9 chủ lực Miền) diệt gần 1 tiểu đoàn Mỹ (thuộc sư đoàn “Anh cả đỏ”) đang hành quân gọi là “truy kích chủ lực Việt Cộng), đánh tiêu hao 1 đại đội Mỹ khác. Trên khu vực cầu Xa Cát từ ngày 9 đến ngày 11 tháng 7, trung đoàn 2 (Sư đoàn 9) được tăng cường 1 tiểu đoàn thuộc trung đoàn 19 cùng lực lượng địa phương loại khỏi vòng chiến gần 400 Mỹ, diệt 35 xe (có 5 xe tăng M41 và M48, 30 xe M113). Trong những chiến công nói trên có sự góp sức đắc lực của đại đội trinh sát Bình Long do đồng chí Út Tính chỉ huy).

Trên chiến trường Phước Long, mùa mưa năm 1966 do quân Mỹ bị hút vào chiến trường Bình Long, sư đoàn 5 ngụy, các lực lượng bảo an, dân vệ co cụm về tỉnh lỵ, quận lỵ, yếu khu quân sự, để phòng thủ. Phối hợp mặt trận Bình Long, Tỉnh ủy Phước Long chủ trương sử dụng phần lớn lực lượng vũ trang hoạt động hưởng ứng. Tháng 7 năm 1966, các đơn vị của C270, C271, đợt tiến công chi khu quân sự Phước Bình, pháo kích vào các điểm địch trong tỉnh lỵ Phước Long. Đợt này ta phá hủy được một số xe quân sự, làm sập hai dãy nhà và một số lô cốt. Trong khi đó các bộ phận khác cùng lực lượng vũ trang các K, du kích các xã liên tục chặn đánh các lực lượng bảo an, dân vệ càn quét lấn chiếm vùng giải phóng. Sau những trận đánh địch phản ứng mạnh bằng máy bay, “pháo” bầy vào các khu vực, chúng nghi là căn cứ của lực lượng vũ trang kháng chiến. Có ngày địch huy động hàng chục máy bay B52 đánh bom, hủy diệt các khu rừng rậm, hành lang kháng chiến. Chúng còn dùng trực thăng đổ biệt kích vào các vùng căn cứ kháng chiến để thăm dò, chuẩn bị đánh phá lớn; Cùng với hoạt động tác chiến, phong trào phá ấp chiến lược ở các làng xã buôn sóc ở Phước Long đang phát triển manh. Tính đến cuối năm 1966, trên toàn địa bàn tỉnh có 23 ấp chiến lược bị phá rã, 12 ấp chiến lược ở vùng ven và ở những khu vực sát địch cũng bị phá lỏng từng mảng, dân bung ra vùng giải phóng ngày càng đông hơn. Tỉnh vận động phong trào thanh niên đi dân công để mở đường Trường Sơn từ Tây Nguyên cắt ngang Phước Long, từ giữa năm 1966 đã huy động được gần 1.000 thanh niên tham gia. Nhưng do địa hình phức tạp, sau đó Trung ương quyết định chuyển hướng mở đường khác từ nam Tây Nguyên qua Bù Gia Mập, Bù Đốp, Lộc Ninh để chuẩn bị hành lang chiến lược phục vụ cho những mùa tiến công lớn sau này.


(1) Hồ Chí minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, t.12, tr.108.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Tám, 2011, 07:54:55 PM
Về phía địch theo kế hoạch của Bộ tư lệnh MACV, cuộc phản công mùa khô thứ hai bắt đầu tháng 10 năm 1966, kết thúc vào cuối tháng 5 năm 1967, nhưng thực tế trên chiến trường miền Đông, cuộc phản công này bắt đầu từ giữa tháng 9 với cuộc hành quân thăm dò Attel boro lên “chiến khu Bàu Gòn” bắc Tây Ninh (thuộc chiến khu Dương Minh Châu).

Rút kinh nghiệm cuộc phản công mùa khô trước (địch cho rằng “nỗ lực quốc gia trước đây, đặt nặng về quân sự, năm 1967 xây dựng nông thôn phải được chú trọng hơn”, địch nhấn mạnh cả “hai gọng kìm”, “tìm - diệt”, và “bình định”, mục tiêu là làm chuyển biến cục diện chiến tranh vào giữa hoặc cuối năm 1967, tiến tới thương lượng trên thế mạnh… Mục tiêu cụ thể ở miền Đông Nam bộ ưu tiên tập trung lực lượng tiến công vào hệ thống căn cứ kháng chiến nhưng trọng điểm là chiến khu Dương Minh Châu và vùng “tam giác sắt” (bắc Sài Gòn, gồm phần đất của nhiều huyện Bến Cát, Củ Chi, một phần Trảng Bàng, trung tâm là Bến Súc), với hai cuộc hành quân then chốt mang tên Junction City và Cédar falls, nhằm vào căn cứ Miền và đầu não quân khu Sài Gòn Gia Định và địa đạo Củ Chi hòng “xé nát căn cứ trung ương Cục”, bẻ gãy xương sống “Việt Cộng”, “Bới tung địa đạo Củ Chi…”. Địa bàn Bình long nằm trong tuyến xuất phát hành quân và phục vụ các cuộc hành quân lớn phía Tây Ninh của địch. Trên cả hai chiến trường Bình Long, địch đều tăng cường thế lực quân sự và tiếp tục bình định, gom dân, triệt hạ vùng giải phóng.

Theo yêu cầu tình hình, nhiệm vụ sắp tới, tháng 10 năm 1966, Trung ương Cục, Quân ủy, Bộ chỉ huy Miền quyết định điều chỉnh tổ chức chiến trường. Tỉnh Bình Long được tách khỏi Quân khu miền Đông (T1), các tỉnh Quảng Đức, Phước Long được tách khỏi khu 6 (T6). Với nhiệm vụ trung tâm là xây dựng căn cứ và hành lang của Miền, Khu 10 (T10) được thành lập lần thứ hai gồm 3 tỉnh: Quảng Đức, Phước Long, Bình Long. Khu ủy Khu 10: Bùi Định (Ba Khiêm) Bí thư kiêm Chính ủy Quân khu 10; Đỗ Quang Thắng Phó Bí thư; Ba Cang, Ba Nghệ, Tư Nguyện Thường vụ. Các thành viên khác: Hai Phong, Bảy Kính, Mười Đông, Tám Tổ, Ba Kính, Ba Thiều, Tám Điển. Riêng tỉnh Bình Long lúc này vừa chịu sự chỉ đạo chỉ huy của Khu 10 vừa chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Miền (là một tỉnh căn cứ của Miền). Nhiệm vụ chủ yếu của Khu 10 là xây dựng căn cứ và hành lang cho Miền. Ở Bình Long, đồng chí Ba Nghệ được Trung ương Cục rút về trên, Tỉnh ủy do đồng chí Nguyễn Khắc Thành làm Bí thư, đồng chí Bùi Quang Sang (Ba Phước) làm Phó Bí thư, các tỉnh ủy viên: Tư Bình, Hai Soái, Năm Béo, Hai Sẻ, Tư Huỳnh, Tư Nam, Năm Chi sau đó thêm Ba Sơn, Ba Vinh, chị Sáu Sơn. Các Huyện ủy cũng được củng cố, bổ sung. Các thành viên Huyện ủy được phân công trực tiếp phụ trách các đội mũi công tác cơ sở.

Phước Long sau khi trở lại Khu 10, đã tổ chức lại các K: K16 (Bù Đốp) do Hai Tiến làm Bí thư, K11 (Phước Bình) do Bảy Kính làm bí thư, K17 (Đôn Luân) do Ba Kim làm Bí thư, K19 (các xã ven sông Đồng Nai - Bù Na), K10 (các xã hai bên đường 10) do Ba Anh làm Bí thư, K14 (Bắc Phước Long) do Lê Văn Mạo làm Bí thư, K59 (trước thuộc K6 nay nhập vào Phước Long).

Các thành viên Tỉnh ủy Phước Long sau khi trở lại Khu 10 gồm: Bí thư: Tư Nguyên, Phó Bí thư: Trần Ngọc Khanh; các tỉnh ủy viên: Ba Võ, Ba Minh, Út Lộc, Bải Kính, Hai Tiến, Ba Anh, Tám Điển, Tám Lực, Mười Đông (sau đó đồng chí Trần Ngọc Khanh thay đồng chí Đỗ Văn Nuống (Tư Nguyện) làm Bí thư Tỉnh ủy. Thi hành chỉ thị về công tác đô thị, Tỉnh ủy cử các đồng chí Lê Thị Dâu và Năm Liên (nữ) chuẩn bị đấu tranh chính trị bên trong.

Trong khi địch đã vào cuộc phản công chiến lược thứ hai, cuối tháng 10 năm 1966, tại Bình Long, Tỉnh Đảng bộ mở Hội nghị cán bộ các cấp, tiến hành đợt sinh hoạt chính trị về tình hình, nhiệm vụ. Xác định nhiệm vụ chủ yếu của toàn dân, toàn quân Bình Long là: đẩy mạnh chiến tranh du kích, kết hợp lực lượng tỉnh, huyện, du kích và chủ lực kiên quyết phản kích và ngăn chặn các cuộc hành quân của địch, đồng thời tiếp tục xây dựng cơ sở phá cho được kế hoạch bình định của địch, mở rộng vùng giải phóng. Trong đợt sinh hoạt chính trị này, tỉnh phát động phong trào thi đua đạt danh hiệu dũng sĩ diệt Mỹ, dũng sĩ diệt cơ giới trong toàn thể lực lượng vũ trang.

Ngày 17 tháng 10 năm 1966, được tin quân Mỹ theo đường Minh Thạnh từ Chơn Thành lên Tây Ninh hỗ trợ cánh quân càn quét vào chiến khu Dương Minh Châu, lực lượng vũ trang Chơn Thành và mũi công tác thị trấn dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Năm Phong, đã phối hợp với lực lượng trung đoàn 3 (Sư đoàn 9 chủ lực Miền) phục kích trên đường Xa Cát - Minh Thạnh. Địch hành quân hết sức thận trong, nhưng vẫn lọt vào trận địa phục kích. Quân ta xung phong mãnh liệt, chia cắt địch ra từng mảnh để tiêu diệt, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên Mỹ . Trong đó có 1 trung tá và 1 thiếu tá Mỹ, diệt 39 xe cơ giới.


(1) Báo cáo lúc đó: 300 tên (T.G).


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Tám, 2011, 07:55:13 PM
Tại Lộc Ninh, ngày 13 tháng 12 năm 1966, lực lượng vũ trang huyện trinh sát dẫn đường cho bộ đội tỉnh Bình Long đã pháo kích dữ dội vào trung tâm huấn luyện biệt kích trong chi khu. Đạn rớt chính xác vào dãy nhà ngủ của lính, diệt nhiều tên(1), trong đó có 2 Mỹ. Sau cuộc pháo kích này, địch củng cố chi khu Lộc Ninh thành căn cứ quân sự kiên cố. Mặc dù vậy, sau đó lực lượng vũ trang huyện một lần đã đột nhập được vào tận phòng quận, thu 2 trung liên, 7 cacbin.

Địch triển khai cuộc hành quân Junction City với ba mũi đánh vào chiến khu Dương Minh Châu, trong đó một mũi xuất phát từ hướng Bình Long. Tuy nhiệm vụ chính là hỗ trợ, nhưng mũi này không kém phần quan trọng vì nó đảm bảo tiếp tế, hậu cần và viện quân. Để phối hợp với hướng chính trong chiến dịch phản công bắc Tây Ninh do Bộ chỉ huy Miền đề ra, Tỉnh ủy Bình Long chủ trương mở đợt hoạt động quân sự trong toàn tình nhằm tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, chặn tiếp tế của chúng, góp phần bẻ gẫy cuộc hành quân chiến lược này.

“Dọn bãi” cho cuộc hành quân, địch dùng máy bay Dacota rải một lượng lớn chất độc hóa học, tiếp đến dùng B52 rải thảm và dùng bom xăng đặc khai quang địa hình vùng rừng đông tây sông Sài Gòn, để phát hiện và triệt hạ những điểm trú quân của ta, biến nơi này thành vùng trắng, trở thành bàn đạp của chúng để đánh sâu vào chiến khu Dương Minh Châu. Kết quả là toàn bộ cây rừng, thú rừng dọc hai bên bờ sông Sài Gòn hầu như bị hủy diệt. Vùng bị tàn phá nặng nề trùm lên khu vực Suối Bồ là căn cứ của Tỉnh đội Bình Long. Chuẩn bị phối hợp với chiến dịch phản công bắc Tây Ninh, lực lượng vũ trang tỉnh Bình Long được Miền trang bị B40, AK, CKC, tổ chức huấn luyện. Công binh xưởng ngày đêm sản xuất mìn chống thăng. Lực lượng các cơ quan làm nhiệm vụ vận chuyển đạn. Lực lượng vũ trang tập trung có C70 bộ binh (do đồng chí Lê Hùng làm đại đội trưởng), đơn vị công binh. Quyết đánh địch ngay từ nơi xuất phát và khi đổ quân, các lực lượng vũ trang Bình Long liên tiếp tổ chức pháo kích, phục kích, ngăn chặn làm chậm bước tiến của chúng.

Cuộc hành quân Junction City bắt đầu ngày 22 tháng 2 năm 1967. Đêm 20 rạng 21 tháng 3, quân ta tập kích một cụm chiến đoàn Mỹ tại Đồng Rùm thắng lợi (diệt 1.220 Mỹ, 18 khẩu pháo, 3 chi đoàn tăng - thiết giáp). Cùng lúc đó ở cụm Sóc Con Trăn một tiểu đoàn Mỹ nống ra phía bắc bị C70 Bình Long cùng du kích kìm chế cho chủ lực ta đến diệt, nhưng địch phát hiện, kịp dùng lực lượng trực thăng bốc tiểu đoàn Mỹ đi. Tính từ 7 tháng 3 đến 21 tháng 3 năm 1967, tại vùng Sóc Con Trăn và đường 13, C70 Bình Long cùng bộ đội huyện Hớn Quản và du kích đánh trên 30 trận, gồm pháo kích, phục kích nhằm vào các điểm chốt và các mũi tiếp ứng của quân Mỹ cho cuộc hành quân Junction City, loại khỏi vòng chiến 328 tên Mỹ, phá hủy trên 47 xe (tăng M41, M118 và xe bọc thép M113), bắn rơi 2 máy bay lên thẳng, phá hủy 2 khẩu pháo tự hành.

Ngày 13 tháng 4, bộ phận cuối cùng của Mỹ trong cuộc hành quân Junction City rút khỏi Sóc Con Trâu. Sau 53 ngày đêm, cuộc hành quân trên bộ lớn nhất của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam cũng là cuộc hành quân then chốt trong cuộc phản công mùa khô thứ hai không đạt được mục tiêu nào đề ra, lại bị loại gần 1 phần tư số quân tham chiến (45 ngàn quân), mất 2 phần ba số xe tăng thiết giáp, gần nửa số trực thăng và pháo được huy động… Riêng trên chiến trường Bình Long (thuộc hướng phối hợp trong chiến dịch phản công bắc Tây Ninh của ta), các lực lượng vũ trang tỉnh (gồm bộ đội tập trung và du kích) đã hoàn thành và vượt chỉ tiêu diệt sinh lực địch của năm 1967.

Một mũi khác trong cuộc chống càn là mũi nhân dân đấu tranh chống địch bắn phá bừa bãi. Trên chiến trường Bình Long, nắm thời cơ quân chủ lực bị địch thu hút vào chiến trường Tây Ninh, các đội mũi công tác vận động cơ sở, quần chúng đấu tranh chống địch bắn phá vào lô cao su, vào nương rẫy, đòi bồi thường tính mạng, hoa mùa bị bom đạn và chất độc háo học tàn phá. Ở Tân Khai, khi bắn pháo vào rẫy làm chết bà Tám Biên, gia đình người bị nạn và bà con ở đây được chi bộ Tân Khai hướng dẫn đã khiêng xác bà Tám Biên lên chốt địch đấu tranh đòi phải ngừng bắn pháo, bồi thường nhân mạng, tiếp tục làm bản kiến nghị lên tỉnh trưởng Bình Long đòi chấm dứt rải chất độc hóa học, bồi thường hoa màu bị thiệt hại… Trước áp lực của quần chúng, ngụy quyền buộc phải hứa chấp nhận kiến nghị, tổ chức cứu trợ cho dân. Trong đấu tranh với địch việc vận động binh sĩ địch vận động gia đình binh sĩ gọi con em mình trở về đã được coi trọng và đạt kết quả tốt. Ở Minh Đức có một tiểu đội dân vệ ra hàng, nộp vũ khí cho cách mạng, tại Chơn Thành và chốt Phước Hòa có 350 lính bỏ ngũ, toàn tỉnh Bình Long có khoảng 3.000 binh lính địch đào và rã ngũ.


(1) Báo cáo lúc đó 67 tên (T.G).


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Tám, 2011, 07:55:40 PM
Trên mặt trận bình định, thời gian sau này địch tiếp tục biện pháp vừa hủy diệt tàn bạo vừa ra sức lừa mị gọi là “tranh thủ trái tim khối óc” người dân, đặc biệt là sử dụng bọn chiêu hồi, thám báo, để lung lạc hàng ngũ cán bộ, chiến sĩ cách mạng và nhân dân. Đặc biệt ở Bình Long, Phước Long chúng sử dụng lính người Thượng phục vụ việc gom dân người dân tộc vào ấp chiến lược. Vượt qua mọi khó khăn các đội mũi công tác tiếp tục đi sâu vào số đồng bào sống dưới ách kìm kẹp của địch, đặc biệt là đồng bào dân tộc để gây cơ sở. Qua vận động, đồng bào tiếp tục đấu tranh đòi về làng sóc cũ làm ăn. Ở nhiều nơi, địch phải nhượng bộ trước sức đấu tranh kiên trì của quần chúng, để đồng bào ban ngày về làng, sóc cũ để sản xuất. Nhờ vậy, các đội mũi công tác có điều kiện thuận lợi để tiếp xúc với đồng bào. Do ta đánh giá đúng đắn về đồng bào dân tộc và thực hiện tốt chính sách của Đảng nên dần dân ta khắc phục được sự ngăn cách giữa người dân tộc, người Kinh và sự không đều về tổ chức cơ sở ở các sóc. Ở An Lợi, Xa cô Lết (Saco Est), sóc Xẹc Lay, các đội mũi phát triển do đảng viên người dân tộc (Điểu Biên, Điểu Cư, Điểu Do…, với sự sâu sát của các đội mũi công tác, các chi bộ Đảng người dân tộc đã hoạt động mạnh, qua đó nhân dân tích cực sản xuất, đóng góp cho kháng chiến, bảo vệ cán bộ… Song song với công tác tuyên truyền vận động quần chúng, các đội mũi công tác còn kết hợp với lực lượng du kích, lực lượng vũ trang làm công tác diệt ác, phá kìm gỡ thế kìm kẹp cho quần chúng và hỗ trợ nhân dân đấu tranh với địch.

Đối với các làng xã giải phóng, các đội mũi công tác tích cực vận động, hướng dẫn nhân dân xây dựng làng xã chiến đấu, xây dựng, phát triển lực lượng du kích. Từ Sóc Tranh đến Tổng Cui đồng bào đã xây dựng hàng rào chiến đấu dài 10km, cứ khoảng 10 mét có một hầm chống pháo. Bên cạnh đó là hệ thống hầm chông giao thông hào chiến đấu dài hàng chục cây số. Nhờ vậy trên khu vực này, ta đã ngăn chặn được các cuộc càn quét của địch. Du kích Trà Thanh chặn địch đi càn diệt được 2 xe cơ giới, bảo vệ tính mạng và tài sản nhân dân.

Hoạt động tích cực của các đội mũi công tác đã dần dần khôi phục lại các cơ sở cách mạng đã bị mất liên lạc qua các cuộc bình định gom dân của địch. Ngay ở các ấp nội thị như Phú Hòa, Phú Đức (Hớn Quản), ấp 2, thị trấn Chơn Thành, các đội mũi công tác đều móc nối được cơ sở. Đến cuối năm 1967, hầu hết các làng ấp đều xây dựng được đội du kích mật, và có cơ sở nòng cốt. Ở các sóc Xẹc Lay, Xa cô Lết, Sóc Tranh 3, tất cả dân đều theo cách mạng. Sau quá trình địch bình định, gom dân, việc khôi phục cơ sở và phát triển được phong trào là thắng lợi lớn nhất của phong trào cách mạng ở Bình Long.

Trên chiến trường Phước Long, trong khi địch bắt đầu cuộc phản công mùa khô thứ hai, tháng 10 năm 1966, địch đưa thêm một đơn vị thuộc sư đoàn 1 “Anh cả đỏ” Mỹ để phối hợp với sư đoàn 5 ngụy và bảo an địa phương để bao vây, cô lập, tìm cách tiêu diệt đội vũ trang tuyên truyền Bà Rá, mở rộng sân bay Phước Bình để thành lập căn cứ quân sự lớn. Chúng tăng cường lực lượng đóng trên đỉnh núi lên hơn 1 đại đội, bố trí thêm đồn bốt, tạo chướng ngại vật xung quanh núi, thành công càn quét các khu vực xung quanh các căn cứ quân sự để bình định gom dân lập ấp chiến lược và vành đai an toàn.

Nhiệm vụ của tỉnh Phước Long trong mùa khô 1966-1967 là phát triển hơn nữa phong trào du kích chiến tranh, vừa chống địch càn quét lấn chiếm bảo vệ căn cứ, vừa tạo bàn đạp cho quân ta tiến công địch, hỗ trợ cho các chiến trường khác tập trung đánh bại các mũi phản công lớn của địch. Tỉnh chủ trương phân tán lực lượng từng đơn vị lẻ để hoạt động, tiêu hao địch với các hình thức đột kích, chống càn phục kích, pháo kích, gây tâm lý hoang mang cho địch. Điển hình cho phong trào du kích chiến tranh đánh địch giữ làng là du kích Phú Văn trong 3 tháng cuối năm 1966 đánh địch 17 trận lớn nhỏ diệt hàng chục tên, làm bị thương nhiều tên khác. Đặc biệt ngày 15 tháng 12 năm 1966, du kích Dinh Điền Đức Bổn, phối hợp với bộ đội địa phương đánh trả cuộc oanh kích của nhiều máy bay địch, bắn rơi một máy bay phản lực, một trực thăng, bắn bị thương một trực thăng khác và 2 máy bay trinh sát. Tính chung trong 7 ngày từ 15 đến 21 tháng 12 năm 1966 quân và dân Phước Long đã đẩy lùi bẻ gãy gần 10 cuộc càn quét, bình định, gom dân và cướp lúa của địch, diệt gần 100 tên, có 2 tên giặc lái Mỹ, bắn rơi 2 máy bay, bắn bị thương 3 chiếc khác.

Tháng 12 năm 1966 địch tiếp tục đưa thêm 2 tiểu đoàn lính Nam Triều Tiên, một bộ phận của sư đoàn 1 “Anh cả đỏ”, sư đoàn 101 dù Mỹ cùng với lực lượng sư đoàn 5 ngụy càn quét sâu vào vùng căn cứ kháng chiến ở Đak Nhau, Bom Bo và khu vực đường 309 đi Bù Gia Mập. Cuộc càn quét mang tên “Phượng hoàng bay” với tổng số quân được huy động trên 1.000 tên, có máy bay, pháo binh tăng - thiết giáp yểm trợ. Tích cực theo dõi, bám sát địch, chúng càn quét đến đâu, ta bố trí lực lượng chặn đánh đến đó. Khi đến Đak Ơ, Bù Gia Mập, chúng dùng xe tăng, xe ủi bạt rừng, tạo chỗ đóng quân dài ngày để từ đây hàng ngày tung lực lượng ra càn quét khu vực xung quanh. Nắm được ý định của địch, Tỉnh ủy chủ trương sử dụng bộ đội tập trung tỉnh, du kích xã Đak Ơ phối hợp với một phần Sư đoàn 7 chủ lực Miền tổ chức tập kích cụm quân địch ở Đak Ơ. Lực lượng du kích xã được huy động vào trận này vừa chống càn vừa đào hầm, lập phòng tuyến ở các thôn Bù Nùng, Bù Nga… để bao vây giặc. Do trinh sát tốt, nắm chắc địch, quân ta đã tạo được thế bất ngờ, đồng loạt nổ súng, địch không kịp phản ứng. Kết quả: ta loại khỏi vòng chiến hơn 200 tên, phá hủy 2 xe tăng, thu một số vũ khí và đồ dùng quân sự, rút lui an toàn. Sau trận đánh chúng dùng may bay, pháo giải tỏa xung quanh và xua quân càn quét, vòng ngoài. Dựa vào công sự, hầm hào đã chuẩn bị từ trước, quân ta tiếp tục đánh càn. Địch đánh liên tục, bất ngờ, tổn thất nhiều, lại phải tập trung lực lượng ở hướng chính vùng “tam giác sắt” và chiến khu Dương Minh Châu, địch buộc phải kết thúc sớm cuộc hành quân “Phượng hoàng bay” mà không đạt được mục tiêu.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Tám, 2011, 07:55:59 PM
Lợi dụng tình thế địch đang bị thu hút vào các hướng phản công chính, địch ở Phước Long chủ yếu lo phòng thủ và chờ ứng cứu đồng bọn, Tỉnh ủy Phước Long chủ trương tích cực đẩy mạnh hoạt động, chống phá bình định, ra sức xây dựng lực lượng, củng cố các tổ chức Đảng, Mặt trận, đoàn thể, cơ sở chính trị, binh vận, hậu cần đều khắp các địa phương. Ở xã ấp, buôn làng giải phóng phong trào thanh niên tham gia lực lượng vũ trang, dân quân, du kích xã, thôn phát triển mạnh. Sau vài tháng, các đơn vị vũ trang tỉnh, các K được bổ sung quân số, các đội du kích xã, ấp buôn, làng cũng phát triển nhanh. Có nhiều xã lực lượng du kích lên đến 1 trung đội, cá biệt có một số xã, trong đó có Đak Ơ lực lượng du kích lên đến hai, ba trung đội. Nhiều đội du kích xã hoạt động mạnh, thường xuyên chống càn, tiêu hao địch như các đội du kích Phú Văn, Phước Tín, Phước Quả, Nhơn Lý, Đức Bổn, Đức Linh, Bù Xia, Đa Kia, Thuận Kiệm, Đak Ơ, Đak Nhau,… Ở vùng sau Đak Ơ, Đak Nhau, Bù Gia Mập, đồng bào dân tộc đã cắm hàng chục triệu cây chông, bố phòng làng chiến đấu. Các xã mới giải phóng ở vùng ven tiếp giáp thị xã, thị trấn như Bù Xia, Đức Hạnh, Đức Bổn, Phú Văn… lập thế trận tại chỗ, sẵn sàng chống địch càn quét. Tiêu biểu như xã Phú Văn có 8 đảng viên, có ủy ban xã, có tổ chức phụ nữ, thanh niên, nông dân, có lực lượng du kích với hơn 60 đội viên, có tổ chức hậu cần chiến đấu, bộ phận hướng dẫn nhân dân trong những tình huống ác liệt… Nhân dân Phú Văn đã đóng 6.000 ngày công, xây dựng thuyến phòng thủ xung quanh xã, đào 5.500m giao thông hào chiến đấu, cắm 1.500.000 cây chông tre, 2.000 bàn chông sắt, 9.000 cọc phòng không, 715 cọc sắt chống cơ giới. Xã Phú Văn chỉ cách tiểu khu Phước Long 4km theo đường chim bay, phong trào chiến tranh nhân dân ở đây trở thành cái gai trước mắt địch, vì vậy đây cũng là mục tiêu oanh kích, bắn phá tự do của chúng. Vượt qua tình thế cực kỳ ác liệt của nhân dân và du kích Phú Văn vẫn bám trụ kiên cường, ba năm liền bẻ gẫy 19 cuộc càn quét của địch, diệt 384 tên (có 23 tên Mỹ), bắn rơi 18 máy bay (chủ yếu là trực thăng), bắn bị thương 4 chiếc khác, phá hủy 3 xe quân sự. Trong Hội nghị tổng kết phong trào bảo vệ vùng giải phóng, Phú Văn được tỉnh Phước Long tặng “Lá cờ đầu phong trào du kích chiến tranh”, được Bộ tư lệnh Miền tặng thưởng Huân chương chiến công giải phóng hạng hai.

Ba tháng đầu năm 1967, quân và dân Phước Long đã đánh 16 trận lớn nhỏ, loại khỏi vòng chiến 122 tên địch, trong đó có 3 tên Mỹ, bắn rơi một máy bay vận tải C123, phá hủy 5 xe quân sự, hỗ trợ đồng bào phá rã 23 ấp chiến lược, phá lỏng 12 ấp khác, quần chúng bung ra vùng giải phóng ngày càng đông.

Tháng 4, tháng 5 năm 1967, nổi lên hoạt động vũ trang tuyên truyền, diệt ác và phục kích, chống càn tiêu hao địch của các đội du kích Phước Bình, Phước Tín, Phước Quả, Đức Bổn…

Bên cạnh mũi đấu tranh quân sự, riêng những tháng cuối năm 1966, ở Phước Long đã có 38 cuộc đấu tranh trực diện với địch ở đồn bốt, dinh quận, với 4.233 lượt người tham gia, đòi địch không được bắn phá, càn quét bừa bãi, đòi bồi thường thiệt hại nhân mạng, tài sản. Trong nhiều cuộc đấu tranh trước áp lực quần chúng và chứng cớ rõ ràng, địch buộc phải nhượng bộ, chấp nhận yêu sách.

Cuộc hành quân Manhattan của Mỹ trên chiến trường Tây Ninh tháng 6 năm 1967 đánh dấu sự kết thúc cuộc phản công mùa khô 1966-1967 của chúng trên chiến trường miền Đông.

Cuộc phản công chiến lược lần thứ 2, một cố gắng thuộc hàng lớn nhất của Mỹ ở miền Nam Việt Nam đã không đạt được mục tiêu nào: Không tiêu diệt được chủ lực Quân giải phóng, không “xé nát” được căn cứ kháng chiến, không đánh trúng được cơ quan lãnh đạo của ta, không bình định được các vùng trọng điểm, lại chịu tổn thất nặng nề. Toàn bộ chương trình “Phản công chiến lược” đầy tham vọng của tướng Westmoreland buộc phải kết thúc với kết quả hoàn toàn trái ngược với dự tính ban đầu (trong đó dự tính đến giữa năm 1967 sẽ căn bản giành được thắng lợi). Quân Mỹ từ phản công chiến lược đã lâm vào thế chiến lược phòng ngự bị động trên toàn chiến trường.

Tiếp tục phát huy thắng lợi to lớn mùa khô 1966-1967, Nghị quyết Trung ương Cục lần thứ năm xác định nhiệm vụ sắp tới: “Ra sức phát huy thắng lợi, khắc phục khó khăn, khuyết điểm, mở một cao trào mới của chiến tranh nhân dân, đẩy mạnh tiến công và phản công liên tục của các thứ quân, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực Mỹ ngụy và chư hầu, tiểu đoàn từ đại đội, tiểu đoàn đến chiến đoàn, lữ đoàn Mỹ, trung đoàn ngụy, đánh bại chiến lược hai gọng kìm của địch, góp phần đẩy mạnh phong trào đô thị và nông thôn yếu…”.

Thực hiện Nghị quyết Trung ương Cục, cuối tháng 5 năm 1967, Khu ủy, Khu 10 họp (tại suối Đá Bằng, Bù Gia Mập) ra Nghị quyết nhiệm vụ sắp tới, nêu rõ: “Toàn Đảng, toàn quân giữ vững thế tiến công, đẩy mạnh các mặt công tác, xây dựng thực lực cách mạng, vững mạnh, kiên quyết giành ưu thế quân sự và chính trị, buộc địch chuyển vào thế phòng ngự bị động đối phó”, “… tiếp tục đánh bại địch trong mùa mưa và mùa khô sắp tới”.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Tám, 2011, 07:56:21 PM
Triển khai hoạt động mùa mưa, ở Bình Long, đêm 10 rạng 11 tháng 7 năm 1967, bộ đội địa phương tỉnh phối hợp với một bộ phận bộ đội chủ lực Khu 10 tiến công vào nhiều vị trí và cụm quân dã chiến của Mỹ ngụy ở Hớn Quản, Chơn Thành. Tại Téc Ních, căn cứ lữ đoàn 2 thuộc sư đoàn bộ binh “Anh cả đỏ” Mỹ, đêm 11 rạng 12 tháng 7 năm 1967, cùng lúc quân ta nã pháo cấp tập, các chiến sĩ xung kích nhanh chóng tiếp cận, đánh thẳng vào khu vực sân bay, trận địa pháo, bãi để xe, nhà cửa, kho tàng địch, phá hủy 20 xe tăng M41 và xe bọc thép M113, 6 khẩu pháo (có 4 khẩu 175 ly), đốt cháy phá hủy một sở chỉ huy, khu thông tin, một kho xăng, một kho đạn, 22 nhà dù, đánh sập 3 nhà gạch, diệt nhiều tên Mỹ.

Cùng lúc, ta tiến công cứ điểm Tân Hưng cách Hớn Quản 8km do tiểu đoàn 2 thuộc sư đoàn 5 ngụy đóng giữ. Quân ta (một bộ phận Sư đoàn 7) tạo được thế bất ngờ, trong ít phút chiến đấu đã diệt sở chỉ huy và loại khỏi vòng chiến một đại đội bộ binh, bắt sống một số tên, thu nhiều súng.

Để phối hợp, kiềm chế địch, hỗ trợ các mũi tiến công Téc Ních và Tân Hưng, quân ta đồng thời pháo kích mãnh liệt vào các vị trí địch ở thị xã Bình Long, chi khu An Lộc, trận địa pháo Hớn Quản, nhiều chốt điểm khác ở phía đông nam Chơn Thành, tây, tây nam và đông nam Căm Xe, Cần Lê. Địch hoàn toàn không chi viện cho nhau được. Cùng lúc, bộ đội địa phương và du kích đột nhập ấp chiến lược Quản Lợi và một số ấp chiến lược xung quanh, diệt nhiều ác ôn, dân vệ.

Các trận đánh đêm 11 rạng ngày 12 tháng 7 năm 1967 trên địa bàn Bình Long đã thể hiện sự phối hợp chặt chẽ, có hiệu quả giữa các lực lượng chủ lực cấp trên với bộ đội địa phương tỉnh, huyện và du kích. Trên một khu vực rộng, địch đã bị tê liệt, không chi viện cho nhau được, quần chúng rất phấn khởi. Chiến công này lại tạo ra khí thế mới về công tác binh vận, địch vận trong tỉnh.

Tháng 7 năm 1967 cũng là thời gian sôi động trên chiến trường Phước Long: quân ta đánh 32 trận lớn nhỏ, loại khỏi vòng chiến 355 tên địch.

Đặc biệt, du kích Bù Xia lập công xuất sắc. được cơ sở hướng dẫn, đội tập kích một cụm quân dã chiến của một đơn vị sư đoàn “Kỵ binh bay” Mỹ, diệt 45 tên. Địch hốt hoảng, phả ứng loạn xạ, dùng hỏa lực dọn bãi trên một khu vực rộng để trực thăng đến lấy xác. Du kích bám công sự, sẵn sàng đón địch đánh tiếp, nổ súng vào tốp 7 trực thăng từ Phước Bình đến trong lúc chúng đang quần đảo, chuẩn bị xuống bãi đáp, hạ tại chỗ 3 chiếc. Qua trận đánh, Tỉnh đội Phước Long kết luận: Vận dụng tốt phương châm “bám thắt lưng địch mà đánh” thì du kích xã nào cũng diệt được Mỹ như du kích Bù Xia. Trên đoạn đường gần cầu sông Bé, ngày 25 tháng 8 năm 1967 bộ đội địa phương phục kích 2 đại đội biệt kích địch đang hành quân, diệt một đại đội, tiêu hao đại đội còn lại, thu nhiều vũ khí, có 2 đại liên và 5 trung liên.

Tháng 10 năm 1967, Hội nghị chiến tranh du kích toàn miền Nam lần thứ ba được triệu tập. Lần này hội nghị tập trung rút kinh nghiệm chiến tranh nhân dân trong thời kỳ chống chiến lược chiến tranh cục bộ. Năm 1967, lúc mà chiến tranh cục bộ của Mỹ đang diễn ra ác liệt nhất, lực lượng chiến tranh nhân dân có giảm, nhưng trang bị, chất lượng, hiệu quả chiến đấu đều tăng. Nếu gần 5 năm chống chiến lược Chiến tranh đặc biệt là thời kỳ xây dựng và phát triển lực lượng thì hơn 2 năm trực tiếp đối đầu với quân chiến đấu Mỹ là thời kỳ nâng cao và phát triển về chất. Qua thực tế diễn biến trong hơn hai năm qua, Hội nghị rút ra 12 khả năng cụ thể, nói lên hiệu quả, khả năng và vai trò to lớn của lực lượng chiến tranh nhân dân.

Sau Hội nghị này, cũng trong tháng 10 năm 1967, tại vùng căn cứ miền Đông, Đại hội quyết thắng giặc Mỹ xâm lược toàn miền Nam được triệu tập. Tại đại hội có 471 anh hùng, chiến sĩ thi đua, được tuyên dương, trong đó có 20 anh hùng được Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tặng Huân chương Tổ quốc, Huân chương Thành đồng hạng nhất và lá cờ mang danh hiệu “Trung thành vô hạn, anh dũng tuyệt vời, chiến thắng vẻ vang”.

Tháng 10 năm 1967 cũng là thời điểm mà toàn chiến trường miền Nam bắt đầu triển khai bước chuẩn bị tiến công chiến lược mới theo quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng: Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa. Mặc dù đã thất bại qua hai mùa khô phản công chiến lược, đồng thời không phát hiện được ý định chiến lược mới của ta, Bộ chỉ huy MACV Mỹ vẫn triển khai kế hoạch phản công chiến lược mùa khô thứ ba, dự định từ tháng 12 năm 1967 đến tháng 4 năm 1968. Chúng đưa tiếp vào miền Đông Nam bộ hai lữ 2 và 3 thuộc sư đoàn “Kỵ binh bay” số 1, trong đó có 1 lữ (lữ 2) về đóng ở Phước Vĩnh. Bộ tư lệnh dã chiến 2 Mỹ vạch kế hoạch “Tiến công ngăn chặn ở tỉnh Phước Long”, triển khai quân hình thành thế tiến công trên các vùng căn cứ (chủ yếu vẫn là vùng bắc Tây Ninh), trong đó bên cạnh lữ đoàn 2 “Kỵ binh bay”, sư đoàn bộ binh “Anh cả đỏ” được điều lên Bình Long. Tuy nhiên, do phát hiện các đơn vị lớn của ta đang di chuyển về phía Sài Gòn, kế hoạch trên đã phải thu nhỏ lại, trước mắt là giải tỏa áp lực đối với sư đoàn “Anh cả đỏ”.

Mặc dù đang khẩn trương chuẩn bị cho kế hoạch chiến lược mới, Bộ chỉ huy Miền vẫn chỉ đạo triển khai chiến dịch Lộc Ninh - Bù Đốp với quyết tâm đánh quỵ sư đoàn “Anh cả đỏ” tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận sư đoàn 25 bộ binh cơ giới Mỹ, hỗ trợ phong trào chiến tranh nhân dân, địa phương, mở rộng vùng làm chủ…; lực lượng được huy đồng gồm cả Sư đoàn 7, 9, đoàn 69 pháo binh Miền, phối hợp với bộ đội địa phương và du kích các tỉnh Bình Long, Phước Long; thời gian chiến dịch từ 27 tháng 10 đến 10 tháng 12 năm 1967.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Tám, 2011, 07:56:43 PM
Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của 2 Tỉnh ủy, chuẩn bị cho chiến dịch, nhân dân Lộc Ninh, Bù Đốp, Phước Long đã vận chuyển trên 500 quả đạn pháo; nhân dân Xóm Bưng - làng 2 (Lộc Ninh) dự trữ hàng chục tấn lương thực, thuốc men, đường sữa cho bộ đội.

Được sự hỗ trợ của quân chủ lực Miền, quân dân Bình Long, Phước Long, liên tục tác chiến và phục vụ tác chiến, hình thành sự phối hợp nhịp nhàng 3 thứ quân. Mở màn, quân ta chiến thắng giòn giã với các trận tiến công chi khu Lộc Ninh và chốt địch ở Lộc Tấn đêm 28 rạng ngày 29 tháng 10 năm 1967. Ta làm chủ chiến trường, quét sạch bộ máy ngụy quyền quận, tiêu diệt 550 tên Mỹ, ngụy, cán bộ bình định, ác ôn, làm tan rã hệ thống kìm kẹp của địch xung quanh thị trấn. C70 tỉnh, bộ đội huyện, du kích xã và một bộ phận chủ lực Sư đoàn 9 làm chủ thị trấn cho đến hết ngày 29 tháng 10 năm 1967.

Tiếp đến, đêm 30 tháng 10 năm 1967, bộ đội địa phương Bình Long phối hợp với Sư đoàn 9 tập kích viện binh địch trong cụm ở phía đông sân bay Lộc Ninh, loại khỏi vòng chiến 3 tiểu đoàn bộ binh, pháo binh cơ giới Mỹ, tiêu hao một tiểu đoàn ngụy, phá hỏng 40 xe tăng, thiết giáp và 12 pháo. Đêm 1 rạng ngày 2 tháng 11 năm 1967, quân ta tiếp tục tập kích cụm quân Mỹ tại điểm cách thị trấn Lộc Ninh 5km về phía tây, loại khỏi vòng chiến tiểu đoàn bộ binh và 1 đại đội pháo binh, phá hủy 12 khẩu pháo 105 và 155 li.

Ngày 7 tháng 11 năm 1967, bộ đội huyện Lộc Ninh và du kích Brêlin phối hợp hoạt động bất ngờ tập kích cụm tiểu đoàn Mỹ đóng ở trong sở cao su, loại khỏi vòng chiến một đại đội, làm trọng thương tên tiểu đoàn trưởng.

Ở Bù Đốp, một hướng của chiến dịch, đơn vị K16 bộ đội địa phương huyện, vừa phối hợp với chủ lực vừa tác chiến độc lập nhiều trận, diệt nhiều địch, trong đó diệt gọn 1 trung đội dân vệ ở Phước Thông, thêm 2 trung đội khác ở Phước Hưng, làng 3 Đa Kia, được Bộ chỉ huy Miền tặng thưởng 3 Huân chương chiến công. Nổi lên những tấm gương chiến đấu dũng cảm, vượt khó, vượt nguy hiểm để hoàn thành nhiệm vụ như: chiến sĩ thiếu niên Trường Sơn đã anh dũng hy sinh trong trận tiến công vào Thuận Kiệm.

Kết thúc chiến dịch Lộc Ninh đường 13 - Bù đốp, 3 thứ quân đã tác chiến 60 trận, loại khỏi vòng chiến 5.420 tên địch (có 3.000 tên Mỹ), phá hủy 103 xe cơ giới, 63 khẩu pháo, 4 kho đạn và xăng dầu, tiêu diệt 1 chi khu, bắt sống 617 tên ngụy, thu 172 súng các loại. Quân dân lộc Ninh - Bù Đốp góp phần xứng đáng vào chiến công trên. Ngày 7 tháng 11 năm 1967 Bộ chỉ huy Miền gửi thư biểu dương, khen ngợi quân dân mặt trận Lộc Ninh.

Về xây dựng cơ sở, đến cuối năm 1967, hầu hết các làng ấp ở Bình Long bị mất liên lạc với các đội công tác trước đây nay đều đã móc nối lại và xây dựng được đội du kích mật, có cơ sở cách mạng làm nòng cốt.

Phối hợp chiến trường Bình Long, quân dân Phước Long liên tục tác chiến, thực hiện được những đòn gây choáng váng cho địch; Ngày 26 tháng 10 năm 1967, C270 tỉnh phối hợp với B27 (lực lượng của K17), tiến công đồn Phước Quả do một đại đội bảo an đóng giữ, án ngữ hướng tây nam núi Bà Rá và kìm kẹp ấp chiến lược, làm chủ trận địa, diệt gần 100 tên, san bằng đồn, phá hủy hoàn toàn trận địa pháo gồm 4 khẩu 105 ly, 2 khẩu 155 ly, nhiều dãy trại lính trong sân bay. Cùng lúc ta pháo kích sân bay Phước Bình. Sáng hôm sau (27-10-1967) cụm quân Mỹ đóng dã ngoại gần Phước Bình đốt trại, phá hủy công sự, rút chạy.

Đoạn đường từ chi khu Phước Bình đến Phước Quả không đầy 7km, đồn bốt dày đặc, nhưng được dân báo tin và che chở, ta đã tổ chức phục kích ban ngày. Trong 2 ngày 4 và 5 tháng 11 năm 1967, với tinh thần dũng cảm, giữ được bí mật và tạo thế bất ngờ, quân ta đánh tan 1 tiểu đoàn biệt động, 1 đại đội thuộc tiểu đoàn 3 trung đoàn 5 ngụy, loại khỏi vòng chiến hàng trăm tên(1), bắt sống 40 tù binh, bắn rơi 2 máy bay, thu nhiều vũ khí và đồ dùng quân sự.

Phát huy thắng lợi, ngày 7 tháng 11 năm 1967, được sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang, 3.000 dân trong ấp chiến bức rút 1 đồn do một đại đội thuộc tiểu đoàn 3/trung đoàn 9/sư đoàn 5 và 2 trung đội dân vệ đóng giữ, giải phóng ấp. Ta tiếp tục bao vây đồn Đak Son, địch hoảng hốt cho máy bay oanh tạc bừa bãi vào ấp chiến lược, sát hại một số dân, thiêu rụi gần 200 ngôi nhà. Nhân dân Đak Son kéo lên Tòa hành chính tỉnh đấu tranh, đòi bồi thường nhân mạng và tài sản, buộc địch phải hứa bồi thường. Đến ngày 8 tháng 12 năm 1967, phối hợp lực lượng bên trong và bên ngoài, ta tiến công, tiêu diệt đồn Đak Son, diệt 80 tên địch, bắt sống 15 tên, thu toàn bộ vũ khí. Đồng bào Đak Son nổi dậy san bằng đồn bốt, truy lùng ác ôn, phá tan ấp chiến lược.

Mùa mưa năm 1967 quân dân Bình Long - Phước Long và bộ đội chủ lực trên địa bàn 2 tỉnh đã phát huy mạnh mẽ tiến công, đánh bại cuộc phản công mùa khô 1966-1967 của Mỹ ngụy, góp phần tạo bước phát triển mới về thế trên chiến trường, thiết thực góp phần chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công chiến lược Mậu Thân 1968.


(1) Báo cáo lúc đó: gần 500 tên (T.G).


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Tám, 2011, 07:15:29 AM
II. TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY ĐỒNG LOẠT XUÂN MẬU THÂN 1968,
QUÂN VÀ DÂN BÌNH PHƯỚC GÓP PHẦN ĐÁNH BẠI
CHIẾN LƯỢC CHIẾN TRANH CỤC BỘ CỦA ĐẾ QUỐC MỸ

Qua phân tích tình hình, nhận rõ tình thế và thời cơ chiến lực, từ tháng 1 năm 1967, Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương đã bàn về chủ trương giành thắng lợi quyết định; tháng 7 năm 1967, Bộ Chính trị thông qua quyết tâm chiến lược. Tháng 1 năm 1968, Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, sau khi nghiên cứu tình hình biến động mới nhất trên chiến trường, tình hình chính trị ở nước Mỹ, đã thông qua Nghị quyết đưa cuộc chiến tranh cách mạng lên bước phát triển cao nhất: “… động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ở cả hai Miền, đưa cuộc cách mạng của ta lên bước phát triển cao nhất, dùng phương pháp tổng khởi nghĩa - tổng công kích đẻ giành thắng lợi quyết định”(1).

Từ tháng 10 năm 1967, tinh thần Nghị quyết trên đã đến Trung ương Cục. Căn cứ quyết tấm chiến lược của Trung ương Đảng, Trung ương Cục ra “Nghị quyết Quang Trung” về Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa trên chiến trường Nam bộ và Cực Nam Trung bộ. Thời gian giành cho mọi việc chuẩn bị chỉ có 3 tháng trong đó có những việc lớn như tổ chức chiến trường, tổ chức lực lượng, đặc biệt là tổ chức đảm bảo hậu cần phục vụ chiến đấu.

Là những địa phương căn cứ và hậu phương tại chỗ, các tỉnh Bình Long, Phước Long bước vào những ngày sôi động, khẩn trương nhất vừa chuẩn bị cho nhiệm vụ bản thân vừa tham gia công tác hậu cần chiến dịch, phục vụ các lực lượng cấp trên. Trước đó khoảng tháng 9 năm 1967 Bộ chỉ huy Miền đã bổ sung một đại đội bộ binh (khoảng 100 cán bộ chiến sĩ) lấy mật danh là C71 bộ binh. Trên cả hai tỉnh, hàng nghìn người dân, già trẻ, gái trai, Kinh, Thượng… lên đường đi dân công, mở đường chiến dịch, tải đạn, tải lương thực, thực phẩm, thuốc men phục vụ chiến dịch. Đặc biệt hầu hết đồng bào dân tộc trong các vùng căn cứ, kể cả người già năm sáu mươi tuổi cũng lên đường.

Tỉnh Phước Long nằm trong địa bàn rừng núi hiểm trở, lại tiếp giáp Cực Nam Trung bộ và Campuchia, được giao nhiệm vụ xây dựng các kho hậu cần chiến lược tại chỗ để phục vụ chiến trường miền Đông trong chiến dịch. Triển khai nhiệm vụ, Tỉnh ủy Phước Long huy động hàng ngàn dân công, voi, xe thồ, cùng với lực lượng hậu cần đoàn 86, vận chuyển hàng chiến lược từ các cửa khẩu về các kho tàng trong vùng căn cứ. Nhiều buôn sóc huy động hàng chục con voi để thồ hàng. Nhiều gia đình người Kinh, người dân tộc, tích cực ủng hộ gạo, lúa, cho cách mạng mượn tiền, vàng để mua hàng phục vụ kháng chiến. Nhờ vậy, trước mùa tiến công, trên địa bàn Phước Long, ta đã dự trữ được hàng ngàn tấn vũ khí, đạn, lương thực, thực phẩm, thuốc men…

Ở Bình Long bên cạnh các đội dân công vận chuyển vật chất cho chiến dịch do Tỉnh ủy huy động, Ban hậu cần tỉnh thành lập một đội thồ chuyên trách vận chuyển gồm 22 chị em tuổi 17 đến 22, rút từ các cơ quan, do chị Hai Ánh làm Đội trưởng. Đội thồ đã vượt nhiều khó khăn, gian khổ, ác liệt, vượt đường dưới tọa độ bom B52… cả trước và trong chiến đấu, hoàn thành nhiệm vụ với khối lượng vật chất lớn(2). Nét độc đáo của tỉnh Bình Long là dựa vào các cơ sở trong các đồn điền cao su để tổ chức “kho hậu cần tại chỗ”. “Kho hậu cần tại chỗ” trở thành một biểu tượng lòng yêu nước của nhân dân.

Bên cạnh việc chuẩn bị lực lượng quân sự, chính trị, việc sinh hoạt quán triệt quyết tâm và nhiệm vụ cũng hết sức khẩn trương. Ở An Lộc là nơi tập trung các cơ quan đầu não địa phương của địch ở Bình Long, được chọn là mục tiêu chính của cuộc tiến công và nổi dậy. Hỗ trợ cho An Lộc, bộ đội huyện Chơn Thành và du kích các làng, xã phải thực hiện tiến công, diệt ác, trừ gian, cùng nhân dân nổi dậy giành quyền làm chủ, khoanh địch từng nơi, không cho chúng ứng cứu nhau.

Khu ủy Khu 10 phân công đồng chí Đỗ Quang Thắng (Năm Thắng), Ủy viên thường vụ Khu ủy trực tiếp chỉ đạo tiến công và nổi dậy ở Bình Long. Bộ chỉ huy chiến dịch Bình Long được thành lập, đồng chí Ba Phước, Phó Bí thư Tỉnh ủy phụ trách chỉ đạo chung và trực tiếp phụ trách mũi tiến công vào An Lộc; đồng chí Trần Công Chung (Ba Hải)(3) tỉnh đội trưởng làm chỉ huy trưởng, đồng chí Lê Hùng tỉnh đội phó làm chỉ huy phó. Sở chỉ huy tiền phương chiến dịch đóng ở phía bắc - đông bắc An Lộc. C70 tỉnh được bổ sung quân số, tăng cường trang bị, học tập nâng cao trình độ tác chiến. Xưởng quân giới tỉnh khẩn trương sản xuất đạn dược.


(1) Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Nxb. Sự thật, Hà Nội. tr. 112.
(2) Đội vẫn duy trì đến tháng 4 năm 1971 mới giải thể vì lý do sức khỏe; Được tặng huân chương chiến công hạng ba (T.G).
(3) Đồng chí Ba Hải thay đồng chí Nguyễn Soái tỉnh đội trưởng Bình Long về giữ chức tham mưu trưởng Quân khu 10 trước thời gian chuẩn bị chiến dịch.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Tám, 2011, 07:18:18 AM
Ở thị xã An Lộc, trước Mậu Thân trong nội thị chỉ có một đảng viên là nữ đồng chí Hai Việt. Chi bộ vận động cơ sở và nhân dân thị xã mua lương thực, thuốc men dự trữ, đào hầm bí mật để sẵn sàng nuôi giấu cán bộ, chăm sóc, cứu chữa chiến thương. Qua tuyên truyền, vận động, nhân dân cả trong vùng giải phóng và vùng địch kiểm soát đều tích trữ lương thực, may cờ Mặt trận, giúp đỡ bộ đội trinh sát điều tra, nghiên cứu tình hình địch.

Để chuẩn bị cho mũi nổi dậy của quần chúng, các đội mũi công tác đều được sắp xếp lại để phối hợp với các mũi tấn công quân sự. Ở Chơn Thành, Lộc Ninh, các đội, mũi công tác vẫn duy trì tổ chức cũ. Riêng Hớn Quản, các đội, mũi công tác được tổ chức thành 4 mũi (K) tiến công vào An Lộc:

- K1 chịu trách nhiệm toàn bộ thị xã An Lộc, Quản Lợi, do đồng chí Ba Phước làm Bí thư.

- K2 phụ trách các làng sở cao su Xa Cô 2, Xa Cô Xuýt, Xa Cô 28, do đồng chí Chín Hùng làm Bí thư.

- K3 vùng Xa Cam, Xa Cát, do đồng chí Tư Đạt Phó Bí thư.

- K4 bao gồm vùng Xa Trạch, Sóc Tranh, do đồng chí Chín Chức làm Bí thư.

Tỉnh ủy phân công đồng chí Lê Văn Hai (Năm Béo), Ủy viên thường vụ Tỉnh ủy Bình Long về Lộc Ninh phổ biến, quán triệt nhiệm vụ, triển khai công tác chuẩn bị và trực tiếp chỉ đạo huyện trong tổng tiến công và nổi dậy.

Ở Phước Long, Tỉnh ủy xác định mục tiêu chính tiến công và nổi dậy của tỉnh là tỉnh lỵ Phước Long và thị trấn Phước Bình, đồng thời mỗi K (tương đương huyện) đều có mục tiêu trọng điểm của mình.

Ngày 11 tháng 1 năm 1968, Quân khu 10 quyết định thành lập tiểu đoàn 168, là đơn vị vũ trang tập trung của tỉnh Phước Long, trên cơ sở nhập 4 đại đội bộ binh, 1 đại đội đặc công và đại đội trợ chiến, quân số gần 600 tay súng, do đồng chí Ba Huệ làm Tiểu đoàn trưởng, đồng chí Tư Cần làm Chính trị viên. Tiểu đoàn 168 là đơn vị chủ công của tỉnh trong đợt tổng tiến công. Bộ đội địa phương các K đều được củng cố, bổ sung quân số thành những đơn vị độc lập, trang bị đầy đủ. Các xã ấp, buôn làng đều chuẩn bị lực lượng sẵn sàng tham gia Tổng công kích. Có nhiều xã như Phú Văn, Đức Hạnh, Đak Ơ… đội du kích xã đã lên đến hàng trăm đội viên. Ngoài ra ấp, thôn nào cũng có một đến hai tiểu đội du kích.

Song song với việc chuẩn bị vật chất, lực lượng vũ trang, Tỉnh ủy khẩn trương triển khai chuẩn bị lực lượng chính trị. Hệ thống cơ sở cách mạng các đoàn thể quần chúng, nòng cốt trong phong trào địch vận ở các xã, ấp đều được củng cố, đặc biệt củng cố các tổ chức Đảng ở cơ sở, trong đó có 3 chi bộ trong hướng trọng điểm của tỉnh (chi bộ Vườn Cam, chi bộ Sơn Giang, chi bộ Xóm Mới nằm giữa Long Điền và thị trấn Phước Bình). Ngoài ra còn một số đảng viên hoạt động đơn tuyến khác.

Theo chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Trọng Xuyên (sáu H), Tư lệnh Khu 10, Bộ chỉ huy tiền phương Phước Long được thành lập gồm đồng chí Tư Nguyện phụ trách chung, Bí thư Tỉnh ủy, đồng chí Hai Phong (Trương Văn Nghi) Tỉnh đội trưởng chỉ huy trưởng, Bí thư Tỉnh ủy Năm Hoàn phó chỉ huy tỉnh đội làm chỉ huy phó). Bộ chỉ huy tiền phương đóng ở Lệ An là nơi có điều kiện bám sát địa bàn, kịp thời chỉ đạo tiến công và nổi dậy.

Giờ giao thừa Tết Mậu Thân 1968, quân dân miền Nam náo nức đón thơ Chúc Xuân của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cũng chính là "lệnh tổng tiến công” lúc bấy giờ:

… Tiến lên, toàn thắng ắt về ta.

Thực hiện quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng, mở màn Tổng công kích tổng khởi nghĩa, đêm 30 rạng 31 tháng 1 năm 1968 tức đêm giao thừa Tết Mậu Thân, quân dân toàn chiến trường Nam bộ - Cực Nam Trung bộ đã thực hiện đồng loạt tiến công nhằm vào các cơ quan đầu não trung ương, địa phương và hàng loạt mục tiêu quân sự của địch.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Tám, 2011, 07:20:57 AM
Tuy chưa đồng nhịp giữa nhiều nơi ở chiến trường Trị Thiên - Quân Khu 5 và Tây Nguyên với chiến trường Nam bộ - Cực Nam Trung bộ về "ngày N, giờ G"(1), nhưng ta đã giữ được bí mật tuyệt đối về Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa, địch lại bị hút vào mặt trận Khe Sanh nên chúng bị bất ngờ về chiến lược và những nhận định cụ thể của đối phương.

Có chuẩn bị tốt, quân dân Bình Long, Phước Long kịp vào trận đồng thời với toàn miền, từ quá trình bí mật tiếp cận mục tiêu đến khi nổ súng.

Tại Bình Long, lực lượng C70, C71, C75, đại đội đặc công, đại đội pháo kết hợp với 4 mũi công tác đồng loạt tiến công, tập trung đánh vào các mục tiêu địch trong thị xã An Lộc. Từ các hướng, quân ta tiến vào chiếm giữ và làm chủ toàn bộ mảng phía bắc An Lộc. Ta tiến công các vị trí quan trọng của địch như dinh tỉnh trưởng, nhà quân Tân Tây Lan, tòa hành chính, trại giam và ty cảnh sát. Địch hoàn toàn bất ngờ, không kịp trở tay đối phó. Sau hồi choáng váng, chúng mới hoàn hồn, xốc lại lực lượng và sáng 31 tháng 1 năm 1968 bắt đầu phản kích. Ta và địch giằng co, tranh chiếm từng góc phố, căn nhà. Dù tập trung mọi cố gắng và thông thuộc đường phố, địch vẫn không sao đẩy lùi được lực lượng ta. Diễn biến giằng co dẫn đến thế trận phân tuyến, trong đó đường Trần Hưng Đạo trong thị xã trở thành ranh giới giữa hai bên. Ta vẫn làm chủ toàn bộ khu vực phía bắc, từ dốc nhà thương Quản Lợi, vòng về đến Hưng Chiến. Địch ra sức cố thủ tuyến phía nam, tiểu khu.

Phối hợp tiến công quân sự, nhân dân các ấp, các làng, sóc nổi dậy, cùng du kích mật và cơ sở lùng diệt ác ôn, giành quyền làm chủ. Đối phó tình thế “chiến sự đã vào tận sào huyệt”, địch ra lệnh thiết quân luật đồng thời huy động các lực lượng công an, cảnh sát dã chiến mở các cuộc càn quét, truy bắt cơ sở, lùng bắt cán bộ ta. Với sự gan dạ, trài xử trí khéo léo, trong nhiều tình huống nguy hiểm, các cơ sở quần chúng đã bảo vệ an toàn các cán bộ của ta như các đồng chí Năm Sao, Ba Phước, Mười Tân, Chín Hùng… Các đồng chí vẫn tiếp tục bám trụ để chỉ đạo chiến dịch. Dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, mũi đấu tranh chính trị có hợp đồng chặt chẽ giữa bên trong và bên ngoài, đấu tranh quyết liệt. Bên trong thị xã nhân dân bãi thị, bên ngoài quần chúng ở các làng sở Xa Cam, Xa Cát, Xa Trạch, Sóc Trào, Quản Lợi tổ chức “nhập thị” dưới hình thức đi chợ, xếp thành đội ngũ kéo vào An Lộc, cùng nhân dân bên trong đồi bỏ lệnh thiết quân luật, đòi bồi thường thiệt hại, đòi cung cấp lương thực cho dân di tản vì chiến tranh, đòi chôn cất người chết… Địch đang điên cuồng phản kích, bất chấp mọi yêu cầu của dân, bắt giam người hàng loạt. Tại An Lộc có hơn 300 người bị chúng bắt giam. Ở ấp Vườn Rau không có gia đình nào không có người bị bắt giam.

Không dứt điểm được thị xã An Lộc, trong thế chung toàn Miền, quân ta lui quân ra ngoài, tổ chức đánh địch phản kích. Trên đoạn đường Bình Long - Quản Lợi chiến sự diễn ra ngày càng quyết liệt, quân ta bẻ gãy nhiều mũi phản kích của địch.

Trên các địa bàn Chơn Thành, Lộc Ninh, quân ta đều ra quân phối hợp mặt trận chính là thị xã An Lộc.

Tại Chơn Thành, du kích thực hiện nhiệm vụ bao vây, pháo kích, đồng loạt tiến công vào chi khu, chi cảnh sát, một số mục tiêu khác, gây cho địch nhiều thiệt hại. Ngày 6 tháng 2 năm 1968, một bộ phận B29 bộ đội huyện, do đồng chí Hai Sáng chỉ huy, cùng với đội mũi công tác và du kích mật đánh phá ấp Chơn Thành 2. Tề ấp bỏ chạy, nhân dân giành quyền làm chủ.

Ở Lộc Ninh, một bộ phận lực lượng Sư đoàn 7 chủ lực Miền phối hợp lực lượng vũ trang huyện và du kích tiến công, pháo kích vào chi khu, các mục tiêu địch trong thị trấn Lộc Ninh và các đồn bốt xung quanh, đánh địch ở làng 5 (Lộc Tấn), làng 2 (Lộc Thiện), Lộc An, Lộc Hòa. Tính đến ngày 4 tháng 2 năm 1968, từ làng 5 sang làng 2 (Ninh Thuận), Lộc An, Lộc Hòa, uy hiếp các ấp còn lại xung quanh chợ. Địch cố thủ chi khu. Dưới sự lãnh đạo của huyện ủy Lộc Ninh, 15.000 dân từ các làng, sở cao su và phum sóc, dân tộc tập hợp hàng ngũ chỉnh tề, trương cờ Mặt trận, khẩu hiệu đổ về thị trấn, 5.000 người tràn vào chợ… cử chị em phụ nữ mang đơn tố cáo địch khủng bố đồng bào, xông vào nhà quận trưởng, đấu tranh trực diện.

Phát triển lực lượng ngay trong thời gian Tổng tiến công và nổi dậy cũng là một trong những nét nổi bật trên chiến trường lúc này. Trong và sau đợt 1 tiến công và nổi dậy, ở sở Brêlin đã có 47 thanh niên xung phong và Quân giải phóng.

Ở Phước Long, vào giờ G ngày 31 tháng 1 năm 1968, theo hợp đồng tiểu đoàn 212 Quân khu 10 cùng tiểu đoàn 168, lực lượng đặc công tỉnh và các đội mũi công tác U11, U13 thực hiện tiến công quân sự và vũ trang tuyên truyền vận động nhân dân nổi dậy. Các mục tiêu tiến công chính gồm các cứ điểm địch trong tỉnh lỵ Phước Long, trong quận lỵ Phước Bình, ấp chiến lược Chu Ninh (Bù Đốp). Tuy nhiên do lực lượng khu chuẩn bị không kịp nên chỉ ó tiểu đoàn 168 đánh vào Tư Hiền như hợp đồng. Ta đã đánh sập 2 lô cốt, phá nhiều hầm ngầm, công sự, chiếm khu Kiến Thiết, làm chủ tình hình suốt ngày 31 tháng 1 năm 1968. Trong ngày, tiểu đoàn 168 tiếp tục bao vây chi khu, chiếm thị trấn Phước Bình, vận động quần chúng nổi dậy treo cờ, rải truyền đơn, phổ biến chính sách Mặt trận, cử một cơ sở (bà Năm Dẹo) mang thư của Mặt trận giải phóng tỉnh Phước Long giao Đại tá tỉnh trưởng Lưu Yểm kêu gọi tên này giao chính quyền cho cách mạng. Ở Phước Bình, bộ đội ta xây dựng công sự bám trụ chiến đấu, nhiều đồng bào giúp vật liệu, dụng cụ và mang cả lương thực, thực phẩm tiếp tế cho bộ đội. Địch tổ chức phản kích, có cả xe M113 và trực thăng yểm trợ giải tỏa thị trấn, ta trụ lại năm ngày, chặn đánh quyết liệt, diệt 80 tên, loại khỏi vòng chiến 1 đại đội Mỹ, phá hủy 2 xe M113. Phía ta, 30 đồng chí hy sinh.


(1) Vì chưa có sự thống nhất giữa miền Nam và miền Bắc nên nhiều nơi ở Khu 5 và Tây Nguyên theo lịch miền Bắc nổ súng trước (đêm giao thừa theo lịch miền Bắc), chiến trường Nam bộ và Cực Nam Trung bộ, theo lịch miền Nam, nổ súng đêm sau (T.G).


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Tám, 2011, 07:24:14 AM
Hôm sau, ngày 1 tháng 2 năm 1868, ta phát triển đánh chiếm xung quanh Sơn Trung, Sơn Hà, Sơn Giang, Tư Hiền, tiếp tục đánh ấp chiến lược Bù Giai. Địch chống trả yếu ớt và bỏ chạy. Ta chiếm giữ trận địa, phát động quần chúng nổi dậy phá rào kẽm gai, truy bắt ác ôn, đập tan trụ sở tề ngụy. Chiều ngày 1 tháng 2 năm 1968, nhân dân các làng Phước Quả, Phước Sơn, Phước Vĩnh của Phước Bình mới được nghe cán bộ phổ biến mệnh lệnh Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa. Nghe mệnh lệnh, khí thế quần chúng sục sôi. Mỗi làng lập một Ủy ban giải phóng 5 người. Du kích mật lấy súng cất dưới hầm lên, tập hợp thanh niên tổ chức du kích, có đội lên đến 14 đội viên. Đồng bào đốt thẻ kiểm tra, may cờ, băng khẩu hiệu, chuẩn bị xuống đường. Sàng ngày 2 tháng 2 năm 1968, gần 200 quần chúng vùng giải phóng trong các dinh điền Lệ An, Bù Rạt, Đức, Bổn, Bù Nho huy động đồng bào ủng hộ vật chất cho phía trước, huy động lực lượng chuẩn bị gậy gộc xuống đường khi có thời cơ.

Do lực lượng quân khu không vào trận kịp ngày N nên địch có điều kiện tập trung đánh trả tiểu đoàn 168. Ta bám trụ khu Phước Bình và phố Kiến Thiết. Đánh phản kích một ngày mới tạm lùi để củng cố và đánh tiếp.

Đồng thời với các mũi tiến công địch ở tỉnh lỵ Phước Long, quận lỵ Phước Bình, lực lượng bộ binh và C102 của tiểu đoàn 168 tiến công sân bay Phước Bình. Kết hợp đột kích và tập kích bằng đạn cối, ĐKZ, súng B40, ta diệt 180 tên ngụy, 60 Mỹ, bắn cháy 2 máy bay lên thẳng, phá sân bay.

Đêm 6 tháng 2 năm 1968, lực lượng đặc công Khu 10 do đồng chí Bảy Phạm chỉ huy phối hợp với đội mũi Bà Rá, đội An Lương lại thọc sâu vào thị xã Phước Long, chiếm khu vực chùa và trụ lại đánh phản kích. Quân ta chiến đấu anh dũng, rất nhiều đồng chí đã anh dũng hy sinh.

Tại Đồng Xoài(1), để “chia lửa” mũi Phước Long, trung đội địa phương (trong đó có nhiều đồng chí người dân tộc thiểu số) tiến công trung đội dân vệ bảo vệ cầu, diệt 2 tên, thu 2 súng. Số còn lại chạy tan tác. Sau trận đánh, 8 đồng bào người dân tộc mang gạo, thuốc, vượt qua bom đạn chạy theo trung đội để tiếp tế.

Liên tục từ ngày 4 đến ngày 10 tháng 2 năm 1968, ta tổ chức tiến công địch ở nhiều nơi quanh thị xã và đánh địch phản kích, diệt nhiều tên, tạo thế cho quần chúng đấu tranh trực diện với địch. Trong thế tiến công toàn chiến trường, binh lính địch hoang mang, đồng bào Phước Long tranh thủ thời cơ, vận động hàng trăm tên bỏ ngũ, về với nhân dân.

Hiệp đồng với những mũi chính, ở các nơi khác trong tỉnh Phước Long, lực lượng vũ trang các K đồng loạt pháo kích vào các chốt địch trong các quận ly, chi khu Bù Đốp, Đức Phong… Ở Bù Đăng, ta tiến công các yếu khu Bù Na, hệ thống ấp chiến lược Vĩnh Thiện, Bù Môn, phát động quần chúng nổi dậy.

Sau hồi choáng váng, địch phục hồi củng cố lại lực lượng, tập trung toàn lực, bom đạn tối đa tổ chức phản kích rất ác liệt.

Tại Lộc Ninh, một bộ phận sư đoàn 1 “Anh cả đỏ” Mỹ thực hiện cuộc càn vào làng 2. Trong lô cao su thứ 31, trên đường vào làng 2 có một dốc gọi là Dốc 31 (còn gọi là dốc Năm Ông). Tại đây, một bộ phận Sư đoàn 7 chủ lực Miền phối hợp với trung đội Lộc Ninh, tổ chức trận phục kích xuất sắc, loại khỏi vòng chiến gần 200 tên địch, bắt sống 2 Mỹ, đập tan cuộc phản kích vào làng 2.

Để bảo toàn lực lượng và chuẩn bị cho những đợt tiến công tiếp theo, ta chủ trương cho lực lượng quân sự tạm lui về phía sau, các mũi công tác vẫn bám lại chiến trường, hướng dẫn quần chúng đấu tranh với địch.

Với đợt 1 từ 31 tháng 1 đến 16 tháng 2 năm 1968, Tổng tiến công và nổi dậy, quân dân toàn tỉnh Phước Long đã đán 117 trận, loại khỏi vòng chiến hàng ngàn tên Mỹ, ngụy.

Với đợt I tiến công và nổi dậy Mậu Thân, quân dân Miền Nam đã gây cho địch tổn thất cao nhất so với bất kỳ đợt hoạt động quân sự nào trước đây. Tuy nhiên, ý nghĩa lớn nhất của đợt này chính là đòn đánh trúng đầu não, sào huyệt và sự bất ngờ về mọi mặt của địch trước việc đối phương đã thực hiện tiến công đồng loạt vào sào huyện của chúng từ trung ương đến các địa phương.


(1) Tháng 10 năm 1967, tỉnh Phước Thành được giải thể, Đồng Xoài về Khu 10, Phú Giáo về Phân khu 5 (T.G).


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Tám, 2011, 07:25:18 AM
Ngày 9 tháng 3 năm 1968, thay vì tăng thêm 206.000 quân chiến đấu Mỹ vào miền Nam theo đề nghị của tướng Westmoreland, Tổng thống Mỹ Johnson triệu hồi (thực tế là bãi chức) viên tướng “chỉ biết tiến công không biết lùi” này về Washinhton, giao chức tư lệnh chiến trường lại cho tướng Creighton Abrams. Điều này cũng có nghĩa là chiến lược 3 giai đoạn do tướng Westmoreland đề xuất đã bị phá sản, thay vào đó địch lùi lại chiến lược “quét và giữ”.

Về đợt 2 Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa, Quân ủy Trung ương chỉ thị cho Miền phải tập trung lực lượng mọi mặt, tiếp tục tiến công đến cuối thu. Bên cạnh những chỉ tiêu, mục tiêu, quân sự. Quân ủy xác định phải tiếp tục tiến công vào đô thị, củng cố bàn đạp, xiết chặt vòng vây, gây cho địch khủng hoảng trầm trọng, diệt lực lượng địch phản kích, đấu tranh đòi dân chủ, tiến tới khởi nghĩa, từng bước làm chủ đô thị, giải phóng và làm chủ phần lớn nông thôn.

Các cuộc phản kích của địch gây cho ta nhiều khó khăn. Ta phải vừa đánh địch phản kích vừa chuẩn bị cho đợt 2.

Ở Bình Long, tháng 3 năm 1968, Tỉnh ủy và Ban chỉ huy tỉnh đội chủ trương rút một phần lực lượng vũ trang các huyện, lấy C70, C71, C75 làm nòng cốt, thành lập tiểu đoàn 368, tập trung cơ động của tỉnh, do đồng chí Sáu Hùng làm tiểu đoàn trưởng (sau đó là Ba Kháng), Sáu Bàng chính trị viên. Tiểu đoàn 368 có 3 đại đội bộ binh C70, C71, C72 (C72 thành lập sau từ lực lượng các huyện điều lên), một đại đội hỏa lực, 1 trung đội trinh sát, 1 trung đội pháo nữ. Trung đội pháo nữ gồm những chị em gan dạn, dày dạn, giỏi kỹ thuật pháo, cối và hăng hái. Sau đó thành lập C73 hỏa lực gồm lực lượng Chơn Thành, Hớn Quản, một số cán bộ chiến sĩ ở hậu cứ. Quân số toàn tiểu đoàn lên 400 người. Ở Chơn Thành, sau khi trung đội 29 về tỉnh để thành lập tiểu đoàn 368, số còn lại được bố sung quân, thành lập trung đội 19-3 do đồng chí Hai Sáng làm trung đội trưởng. Đồng chí Ba Hải tỉnh đội trưởng, chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy chiến dịch được rút về Khu 10 nhận công tác khác, đồng chí Ba Hùng được bổ nhiệm thay đồng chí Ba Hải làm tỉnh đội trưởng và chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy chiến dịch.

Tháng 5 năm 1968, Tỉnh ủy quyết định thành lập đơn vị thị xã An Lộc. Thị ủy do đồng chí Năm Chi làm Bí thư, Năm Sao Phó Bí thư. Các đồng chí ở hầm bí mật, bám trụ thị xã.

Ở Phước Long, sau đợt I ta nhanh chóng củng cố lực lượng. Tỉnh ủy động viên toàn Đảng bộ, quân dân xác định quyết tâm và nỗ lực mới, chuẩn bị vào đợt 2. Trước khi vào đợt, Tỉnh ủy quyết định nhập K10 và K19 thành lập K29 (toàn bộ huyện Bù Đăng) và thống nhất lực lượng vũ trang 2K thành lập C290 để tăng sức tiến công địch.

Đợt 2 toàn chiến trường được phát động vào ngày 5 tháng 5 năm 1968.

Ở Bình Long, tiểu đoàn 368 tuy mới thành lập, nhưng khí thế ra quân rất cao, trận đầu cả tiểu đoàn ra quân, đồng chí Sáu Hùng chỉ huy tiến công diệt gọn trong công sự đại đội 214 thuộc liên đoàn bảo an Bình Long đồn trú tại nhà thương Quản Lợi, bắt sống toàn bộ chỉ huy, thu 5 máy bộ đàm PRC25, 4 máy PRC10, xóa hẳn phiên hiệu đại đội này. Tiểu đoàn nhanh chóng trưởng thành về mọi mặt nhất là chiến thuật tập kích, phục kích. Tiểu đoàn tổ chức phục kích đánh một đoàn khoảng 100 xe cơ giới địch di chuyển từ thị xã lên An Khương. Thực hiện lối đánh chặn đầu khóa đuôi chặt, chia cắt đội hình địch ra từng mảnh để tiêu diệt, ta diệt tại trận 17 xe tăng và thiết giáp đi đầu. Đồng chí Cầu, xạ thủ diệt xe tăng giỏi của đơn vị anh dũng hy sinh.

Sau chiến thắng 2 trận đầu, tiểu đoàn 368 áp sát địch, bám trụ vùng ven thị xã An Lộc, tiếp tục tổ chức đột nhập thị xã nhiều lần, tiến công và đánh phản kích (đến 1970 vẫn đứng chân ven thị xã). Tuy nhiên, thế bất ngờ không còn, ta chỉ duy trì được thế giằng co với địch trong thời gian đầu. Địch tập trung được lực lượng, được tăng viện hỏa lực, tổ chức phản công, càn quét mạnh. Ta buộc phải lùi lại thế hoạt động du kích, kìm chân, gây khó khăn cho chúng bằng lực lượng du kích.

Tại Xa Trạch, ta nắm được ý đồ địch ở đây đang cố phản công để bắt liên lạc với đồng bọn ở Bình Long, lực lượng vũ trang K4 dưới sự lãnh đạo của đồng chí Sáu Dư, tổ chức các trận đánh ngăn chặn chúng bung ra. Vừa tiến công quân sự vừa hoạt động quần chúng nổi dậy, lực lượng K4 và du kích Sóc Tranh buộc địch phải co lại, phần lớn số tề điệp xã ấp bị diệt, số còn lại bỏ chạy về Bình Long. Ta làm chủ cả vùng Văn Hiên, Bù Cam, Xa Trạch.

Trên đường 13 và đường Chơn Thành đi Minh Thạnh, trung đội 19-3 của Chơn Thành phối hợp với du kích chặn đánh địch, phá đường, không cho chúng phát triển về phía Bình Long; thực hiện các trận phục kích cầu Bà Và, Cây Cầy, diệt được một bộ phận sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Tám, 2011, 07:28:02 AM
Tại Lộc Ninh, vào đợt 2, trung đội vũ trang huyện phối hợp với một bộ phận Sư đoàn 9 chủ lực Miền tiến chiếm và trụ lại một góc thị trấn Lộc Ninh chiến đấu giằng co với địch suốt 3 ngày. Lữ 1 sư đoàn “Anh cả đỏ” Mỹ với 37 xe tăng yểm trợ từ thực hành bao vây chợ Lộc Ninh, đánh bật ta ra ngoài. Một chiến sĩ giải phóng tên Viết bị lạc đơn vị, đã được bà Lê Thị Vừng che chở, khéo léo che mắt địch suốt 3 ngày, sau đó móc nối được với đơn vị, đưa đồng chí Viết ra an toàn. Nắm thời cơ địch co về phòng thủ chi khu và sân bay, du kích và đồng bào các xã, ấp, phum sóc đã nổi dậy làm chủ Làng 2 Lộc Ninh, địch chỉ kiểm soát được khu vực chi khu quân sự, khu dinh điền và Lộc Thành. Anh Giáo Hải(1) đã gây dựng được đội ngũ nòng cốt, cơ sở cách mạng trong hàng ngũ giáo chức, học sinh ở Lộc Ninh. Lực lượng này hoạt động tích cực, tiếp tế, báo tin, dẫn đường cho quân ta tác chiến ở Lộc Ninh.

Ở Phước Long, mở màn đợt 2, ngày 8 tháng 6 năm 1968, các đơn vị vũ trang đồng loạt pháo kích các chốt địch ở thị xã, dinh tỉnh trưởng, ty cảnh sát, sân bay Phước Bình, gây cho chúng nhiều thiệt hại. Trong lúc đó, tiểu đoàn 168 đánh chiếm thị trấn Phước Bình và trụ lại cả ngày đánh địch phản kích, bắn cháy 1 máy ba Dacota. Đồng bào Phước Bình cùng quân giải phóng truy lùng ác ôn, bắt sống nhiều tên tề điệp.

Ngày 12 tháng 6 năm 1968, tiểu đoàn 168 tiếp tục pháo kích sân bay Phước Bình, tiến công các ấp chiến lược Nhơn Hòa, An Lương, phục kích đánh địch giải tỏa, diệt hàng trăm tên địch (có 10 tên Mỹ), bắn cháy 4 xe quân sự, phá sập 3 lô cốt, giải phóng hàng ngàn dân ở ấp chiến lược An Lương. Trong khi đó có các K tổ chức đánh lẻ, đều khắp.

Đơn vị C290 của K29 vừa thành lập xong đã bước vào chiến đấu: pháo kích chi khu Đức Phong, tiến công phá 5 ấp chiến lược thuộc khu ấp chiến lược Vĩnh Thiện. Tính chung, đến tháng 8 năm 1968, quân dân Bù Đăng tác chiến 46 trận lớn nhỏ, diệt, làm bị thương 157 tên địch.

Đợt 2 Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn Miền kết thúc ngày 18 tháng 6 năm 1968.

Đây là một đòn bồi thêm sau đợt Tết, sau khi địch buộc phải bước đầu xuống thang chiến tranh, chịu nhận đàm phán hai bên, nhưng còn chưa chịu nhận đàm phán bốn bên.

Bộ Chính trị quyết định mở tiếp đợt 3, vẫn tiếp tục nhằm vào đô thị để dồn địch vào thế bị động chiến lược hơn nữa. Tuy nhiên, qua hai đợt tiến công và nổi dậy, giành thắng lợi chưa từng có, lực lượng ta tổn thất nặng, các đơn vị chưa được bổ sung, củng cố, chẳng những không còn đủ sức tiến công vào thành phố mà còn không đủ sức giữ một số địa bàn quan trọng mà địch đang tiến chiếm lại.

Căn cứ tình hình thực tế chiến trường, Trung ương Cục, Quân ủy Miền đề nghị và được Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đồng ý đợt này không tiến công vào thành phố, mà chuyển trọng tâm tiến công ra vành ngoài với mục tiêu là diệt một bộ phận sinh lực Mỹ ngụy, chủ yếu nhằm vào hai sư đoàn Mỹ bảo vệ vành ngoài và lực lượng tổng trù dự bị ngụy trên vùng ven Sài Gòn, tiếp tục tiến công các lực lượng địa phương của địch, củng cố những vùng mới giải phóng… Phương án đợt 2 trên chiến trường miền Đông gồm chiến dịch tiến công trên địa bàn Tây Ninh - Lộc Ninh, trong đó hướng chủ yếu là Tây Ninh, hướng thứ yếu là Lộc Ninh, hướng phối hợp là các địa bàn khác trên chiến trường miền Đông.

Lúc này trên địa bàn Bình Long, Phước Long địch đã phục hồi và tăng cường lực lượng, mở nhiều cuộc hành quân đánh phá ra vùng ven, đẩy các lực lượng giải phóng ra xa đô thị, đồng thời hành quân, bình định sâu vào vùng giải phóng. Trước những thay đổi của tình hình, ta chủ trương các đơn vị linh hoạt ứng phó cho phù hợp, chỉ đạo các huyện các đội mũi công tác phát động quần chúng đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị tiến công địch; lực lượng vũ trang tạm thời hạn chế các hoạt động quy mô như các đợt trước, chuyển sang đánh tập kích, đánh lẻ, vừa tiêu hao tiêu diệt sinh lực địch vừa bảo toàn lực lượng, bám giữ địa bàn, tạo thế đứng chân để phản công địch khi có điều kiện.

Trong thời gian này có hai trận nổi bật là trận diệt trung đội bình định bằng DH10 của B127 và diệt 7 tên bình định khác bằng DH5 của du kích mật.


(1) Sau này là sĩ quan quân báo của ta (T.G).


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Tám, 2011, 07:31:32 AM
Mùa mưa năm 1968, sau đợt 2, tại khu rừng Suối Sâu (Ninh Thuận) đại đội vũ trang tập trung của huyện Lộc Ninh chính thức được thành lập, lấy tên là C31. Quân số ban đầu của C31 gồm 86 cán bộ chiến sĩ, có nhiều cán bộ chiến sĩ người dân tộ như Điểu Xom (đại đội phó), Điểu Suôn (tiểu đội trưởng) là người S’tiêng. Biên chế C31 gồm 3 trung đội, trong đó có 1 trung đội cối 60 li gồm toàn chiến sĩ gái (chỉ huy trưởng là Việt Nga). Đại đội trưởng đầu tiên của C31 là Lê Trụng Sơn, chính trị viên đầu tiên là Huỳnh Công Liêm.

Đêm 17 tháng 8 năm 1968, đợt 3 Tiến công và nổi dậy mở màn với hàng loạt các trận tập kích cụm dã chiến và chốt Mỹ trên chiến trường Tây Ninh; các trận phục kích đánh giao thông trên quốc lộ 22, tỉnh lộ 26.

Trên hướng thứ yếu, Sư đoàn 7 chủ lực Miền uy hiếp chi khu Lộc Ninh, đánh trung đoàn 11 thiết giáp Mỹ và một bộ phận sư đoàn “Anh cả đỏ” đến giải tỏa, tiêu diệt một bộ phận lực lượng Mỹ. Trong lúc đó, tiểu đoàn 368 Bình Long chặn đánh tiểu đoàn Mỹ từ căn cứ Téc Ních lấn ra khu vực Phú Miên, diệt 4 xe bọc thép, bắt sống 1 xe. Ta xung phong truy kích địch chạy về Téc Ních, đánh thiệt hại tiểu đoàn Mỹ, trong đó có một đại đội bị diệt gọn.

Ở Lộc Ninh, đại đội 31 vừa thành lập đã vào đợt 3 với khí thế mới, phối hợp với bộ đội chủ lực. Trận đầu ngày 18 tháng 7 năm 1968, đơn vị phối hợp với một bộ phận của Sư đoàn 7 chủ lực Miền chặn đánh một đại đội Mỹ càn ra hướng tây Lộc Ninh diệt nhiều tên, bắn cháy 3 xe bọc thép, bắn rơi một máy bay lên thẳng. Một tháng sau đêm 17 rạng 18 tháng 8, lực lượng vũ trang Lộc Ninh tiến công chi khu quân sự gây nhiều thiệt hại cho địch. Cũng trong ngày 18 tháng 8, đại đội 31 tiếp tục tiến công địch ở làng 4, Lộc Tấn, Lộc Thiện, diệt 40 tên bảo an, cảnh sát và bình định, hỗ trợ 4.000 đồng bào phá banh ấp chiến lược. Ta hoàn toàn làm chủ làng 3, làng 5, Lộc Thiện. Phối hợp chủ lực Miền, ngoài ra đại đội 31 và du kích Lộc Ninh đánh hàng chục trận khác, diệt hàng trăm tên địch, phá hủy nhiều xe tăng, xe bọc thép, hàng chục máy bay lên thẳng. Tính chung các đợt tiến công và nổi dậy năm 1968, riêng du kích xã Lộc Tấn đã tác chiến 48 trận, loại khỏi vòng chiến 162 tên Mỹ, ngụy, hạ một máy bay lên thẳng(1).

Vào cao điểm 2, đợt 3, trên hướng Lộc Ninh, được sự hỗ trợ của quân dân địa phương, Sư đoàn 7 chủ lực Miền chủ động thực hiện nhiều trận đánh địch giải tỏa, hiệu suất cao. Ngày 12 tháng 9 hai trung đoàn 23 và 14 (Sư đoàn 7) diệt một tiểu đoàn Mỹ, bắn rơi 6 máy bay, bắn cháy 16 xe M113, thu 43 súng. Ngay hôm sau, (13 tháng 9) trung đoàn 23 lại đánh địch bung ra, hướng bắc - đông bắc Lộc Ninh, loại khỏi vòng chiến một tiểu đoàn Mỹ, tiêu hao một tiểu đoàn khác, bắn rơi 2 máy bay. Trong lúc đó ở phía tây làng 2 (Lộc ninh), đại đội súng máy cao xạ trung đoàn 320 bắn rơi chiếc trực thăng chở tướng hai sao, tư lệnh sư đoàn “Anh cả đỏ” Két Ua.

Thực hiện tiến công và nổi dậy, trên địa bàn hai tỉnh Bình Long và Phước Long, trong đợt 3 mũi nổi dậy tiếp tục phát triển dưới các hình thức phá ấp chiến lược, xây dựng làng chiến đấu, đấu tranh chính trị và binh vận…

Trên địa bàn tỉnh Bình Long, tính đến tháng 9 năm 1968 đã có 360 cuộc đấu tranh của nhân dân với 150.000 lượt người tham gia. Địch dùng dây kẽm gai, bùng nhùng để ngăn chặn, nhưng vô hiệu quả, phong trào đấu tranh của quần chúng tiếp tục dâng cao. Trong không khí Tổng tiến công và nổi dậy, binh lính địch hoang mang, đồng bào đã tuyên truyền, giải thích chính sách khoan hồng của cách mạng cho trên 350 gia đình binh sĩ ngụy, phát trên 5.000 truyền đơn, 65 thư tay cho binh sĩ. Nhiều nơi đồng bào đem truyền đơn, thư tay vào tận đồn bốt. Trong đợt 3 có 57 binh sĩ bỏ hàng ngũ địch về với nhân dân.

Đồng bào Bình Long đã rào 200 mét rào chiến đấu, kết hợp gài, cắm chông tre, chông sắt, bom bi, mìn tự tạo, mìn chống tăng…, đào hầm chống phi pháo dọc các lô cao su, quanh nhà trẻ, trường học… Ở Xa Cát, Mỹ càn vào hàng rào chiến đấu, 1 xe tăng trúng mìn, bị loại khỏi vòng chiến. Chúng hoảng sợ rút lui, du kích tiếp tục diệt 11 lính ngay trước tuyến rào chiến đấu. Ở Xa Trạch, 70 thanh niên gia nhập lực lượng vũ trang cách mạng. Ở nhiều nơi như: Quản Lợi, Xa Cam, các làng sở Lộc Ninh, phum sóc kháng chiến của đồng bào dân tộc, các đội du kích tiếp tục được xây dựng và củng cố. Cùng với Lộc Tấn, Brêlin, Cốc Rưới, Xóm Bưng là nơi có đội du kích mạnh của Lộc Ninh.


(1) Xã Lộc Tấn và đại đội 31 Lộc Ninh sau này đều được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng võ trang (T.G).


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Tám, 2011, 07:37:55 AM
Ở Phước Long sáng ngày 28 tháng 8 năm 1968, Mỹ ngụy huy động nhiều máy bay trực thăng, máy bay chiến đấu, pháo tiểu khu, ném bom, bắn phá điên cuồng vào các khu dân cư ở ngay trong thị trấn Phước Bình, như các khu Kiến Thiết, chợ Lộ Thiện, Xóm Mới… giết hại nhiều thường dân, thiêu hủy và tàn phá hàng trăm nhà cửa, trường học, chùa chiền, tiệm buôn. Ngay sau khi ngưng oanh tạc, chúng xua lính xông vào cướp đoạt vàng bạc, tài sản của đồng bào. Hưởng ứng lời kêu gọi của Ủy ban Mặt trận giải phóng tỉnh, tố cáo tội ác nói trên của địch, hàng loạt cuộc đấu tranh của đồng bào chống địch khủng bố, càn quét, bắn phá, bừa bãi, bắt lính… đã diễn ở Đồng Xoài, Phước Bình. Nổi bật là cuộc đấu tranh của hơn 4.000 người của đồng bào ấp chiến lược ở Bù Đăng kéo lên chi khu Đức Phong, đấu tranh trực diện với địch, Hơn 3.000 đồng bào dân tộc bỏ ấp chiến lược, bung về làng, sóc cũ làm ăn. Sau cuộc phản chiến tập thể của 2 tiểu đoàn địch ở Phước Long (sau đợt 1 Tổng tiến công và nổi dậy) đồng bào tiếp tục tiến công binh vận, hàng trăm binh sĩ địch đã bỏ ngũ về nhà làm ăn. Mặc dù địch phản kích quyết liệt, ta vẫn bám trụ hoạt động, phong trào chiến tranh du kích ở Bình Long vẫn được giữ vững và phát triển, đánh địch có hiệu quả ở Phước Long, nổi bật như ở Phú Văn, Đức Hạnh, Bù Xia… Riêng Phú Văn trong vòng 10 ngày (từ ngày 14 đến ngày 24 tháng 11 năm 1968) nhân dân và du kích Phú Văn đã tác chiến 40 trận, bẻ gẫy nhiều cuộc càn, giết chết và làm bị thương 180 tên địch (chủ yếu là Mỹ); bắn rơi, bắn bị thương 14 trực thăng. Với thành tích này, Phú Văn được Bộ chỉ huy Miền tặng thưởng huân chương chiến công giải phóng hạng nhất.

Với chủ trương đúng là chuyển hướng tiến công chủ yếu ra vành ngoài, đợt 3 Tổng tiến công và nổi dậy trên chiến trường miền Đông đã vượt chỉ tiêu về diệt tiểu đoàn địch (chỉ tiêu 10, diệt 13), ngoài ra diệt 35 đại đội, tiêu hao nhiều tiểu đoàn khác. Riêng phần nổi dậy, củng cố vùng giải phóng, ta có đạt được trên một số khu vực, và một số nơi giữ được thế giằng co, còn lại nói chung ta đang lâm vào tình thế khó khăn. Ta ít được bổ sung lực lượng, trái lại địch tăng cường bắt được lính nên bổ sung nhanh.

Tuy lùi về chiến lược (từ “tìm - diệt” và “bình định” lùi lại “quét và giữ”), nhưng địch đã phản kích quyết liệt, có hiệu quả, từng bước thực hiện được kế hoạch “quét và giữ”, “phòng ngự từ xa”, đặc biệt là ở chiến trường xung quanh Sài Gòn.

Trước diễn biến mới, dưới sự lãnh đạo của Khu ủy Khu 10, các Tỉnh ủy Bình Long, Phước Long, chỉ đạo các lực lượng vũ trang kiên quyết bám trụ địa bàn, dũng cảm, mưu trí sáng tạo đánh địch phản kích, tiếp tục xây dựng, củng cố lực lượng chính trị, vũ trang (tổ chức cơ sở Đảng, du kích lộ và mật, tự vệ mật…) đặc biệt là bên trong các ấp chiến lược, các dinh điền, đồn điền. Những tháng cuối năm 1968, lực lượng vũ trang hai tỉnh đã liên tục chống càn, diệt và đánh thiệt hại nặng 9 tiểu đoàn, 8 đại đội ngụy, 3 tiểu đoàn, 3 đại đội Mỹ; 1 đại đội quân Úc; diệt 106 xe tăng, thiết giáp; bắn rơi, bắn hỏng 16 máy bay. Tuy nhiên tình thế ác liệt và phức tạp đang tăng.

*
*   *

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 đã làm nên thắng lợi chưa từng có, tạo một bước ngoặt quyết định làm thay đổi cục diện chiến tranh, làm sụp đổ ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc đế quốc Mỹ phải thay đổi chiến lược nhằm đưa dần quân Mỹ ra khỏi cuộc chiến, ngồi vào bàn đàm phán. Tuy nhiên, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 được phát động trong tình thế địch còn hơn 1 triệu 200 ngàn quân, trong đó quân Mỹ 48 vạn (và đang còn tăng), việc chuẩn bị của ta còn rất hạn chế, ta mắc nhiều nhược điểm chủ quan, đặc biệt là trong đánh giá khả năng hai bên (đề cao khả năng của ta, hạ thấp khả năng của địch) và chậm chuyển hướng, tiến công khi địch đã xốc lại lực lượng, thay đổi biện pháp chiến lược, phản kích một cách có hiệu quả. Thực tế khách quan và những nhược điểm đó đã hạn chế thắng lợi, gây ra nhiều tổn thất và để lại nhiều khó khăn, phức tạp trong nhiều năm sau.

Ba năm trực tiếp đối đầu với quân chiến đấu Mỹ là một trong những thời kỳ thử thách quyết liệt nhất, đòi hỏi tinh thần quyết chiến quyết thắng và nỗ lực vượt bậc. Nhờ động viên cao nhất tinh thần yêu nước và cách mạng của nhân dân, không ngừng xây dựng lực lượng chính trị, vũ trang, từ trong vùng địch kiểm soát đến ngoài vùng giải phóng, xây dựng ý chí chiến đấu và trình độ tổ chức, kỷ luật của lực lượng vũ trang, phối hợp chặt chẽ ba mũi tiến công quân sự - chính trị - binh vận, cũng như toàn Miền, quân dân Bình Long, Phước Long tự quyết tâm và thực hiện thắng Mỹ những trận đầu đã phát triển chiến tranh nhân dân lên đỉnh cao, tự khẳng định khả năng thắng Mỹ, không ngừng xây dựng thế và lực cùng toàn Miền tiến hành Tổng tiến công và nổi dậy, đạt thắng lợi to lớn chưa từng có.

Bài học chủ yếu trong giai đoạn quyết liệt này vẫn là bài học về động viên chính trị, xây dựng quyết tâm, đi sâu vào mọi thành phần Kinh, Thượng, công nhân, nông dân,… phát huy sức mạnh đoàn kết, đánh giá chính xác tương quan lực lượng địch - ta từ đó xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân để thắng lực lượng và phương thức chiến tranh hiện đại.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Tám, 2011, 08:54:48 PM
CHƯƠNG BẢY

GIỮ VỮNG ĐỊA BÀN VÀ LỰC LƯỢNG KHÁNG CHIẾN,
GIẢI PHÓNG LỘC NINH
(1969-1972)

I. ĐẤU TRANH GIỮ VỮNG ĐỊA BÀN,
GIỮ VỮNG LỰC LƯỢNG

Bị thất bại trong “Chiến tranh cục bộ” nhất là sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt đầu Xuân Mậu Thân (1968) mà thực chất là một cuộc tập kích chiến lược, làm cho Mỹ - ngụy hoang mang, dao động mạnh. Quân và dân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hàng chục vạn tên địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, giải phóng thêm hàng triệu đồng bào khỏi ách kìm kẹp của Mỹ - ngụy. Đầu năm 1969, Mỹ phải chấp nhận cuộc đàm phán với chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, có sự tham gia của đoàn đại biểu Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam; đồng thời tiến hành chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Đây là một chính sách rất thâm độc của Mỹ nhằm “dùng người Việt Nam đánh người Việt Nam”. Để thực hiện chính sách này, Mỹ, một mặt phải rút quân ra khỏi miền Nam để sắp xếp lại lực lượng cho phù hợp với yêu cầu điều chỉnh của “học thuyết Ních Xơn”, mặt khác chúng ngoan cố không chịu rút hết quân ngay, tận dụng số quân Mỹ còn lại rất lớn trên chiến trường để cùng với quân ngụy tiếp tục kéo dài chiến tranh ở miền Nam và mở rộng chiến tranh sang Lào và Campuchia. Ở chiến trường Việt Nam, Mỹ ráo riết thực hiện chiến trường “bình định” nông thôn hòng cắt đứt mối quan hệ giữa nhân dân và cách mạng, kết hợp với các biện pháp mị dân về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội nhằm chống lại phong trào cách mạng của nhân dân miền Nam.

Kế hoạch “bình định nông thôn” đã gây cho ta nhiều khó khăn tổn thất bước đầu (1969-1971).

Đầu năm 1969, đế quốc Mỹ điều sư đoàn 1 kỵ binh không vận và lữ đoàn 1 sư đoàn dù 101 từ chiến trường Trị Thiên về miền Đông Nam Bộ kết hợp với lực lượng tại chỗ lập tuyến phòng thủ: tuyến biên giới, tuyến giữa và tuyến ven đô. Tuyến biên giới gồm địa bàn Phước Long, Bình Long, Lộc Ninh được Mỹ ngụy đặc biệt chú ý để bảo vệ Sài Gòn từ hướng Bắc và Đông Bắc mà chủ yếu là ngăn chặn bộ đội chủ lực ta từ xa và đánh phá hành lang vận chuyển, kho tàng hậu cứ của ta ở Tây Ninh, Bình Long, Phước Long. Tuyến giữa gồm Chơn Thành, Phú Giáo, Tân Uyên… là địa bàn quan trọng nhất, được ưu tiên sử dụng lực lượng. Tuyến này thường xuyên có trên 60 tiểu đoàn quân Mỹ và quân Mỹ kiểm soát. Tuyến ven đô được bố trí xung quanh Sài Gòn gồm các lực lượng tổng trù bị, biệt động, cảnh sát dã chiến, phòng vệ dân sự và lực lượng đặc biệt Mỹ, là địa bàn cơ động quan trọng nhất, được tăng cường tối đa lực lượng. Mỹ ngụy coi chiến trường Bình Long, Phước Long đều nằm trong vùng trọng điểm đánh phá của chúng.

Lúc này, kế hoạch bình định của Mỹ - ngụy nhăm đánh phá phong trào cách mạng nhiều mặt: quân sự, chính trị, kinh tế với những thủ đoạn cực kỳ tàn bạo và thâm độc. Ngoài những cuộc hành quân lớn có phi cơ, pháo binh và xe tăng yểm trợ chúng còn dùng xe cơ giới hủy diệt địa hình và dùng chiến tranh tâm lý để đánh vào tinh thần của gia đình cán bộ chiến sĩ ta.

Từ tháng 2 năm 1969 Mỹ ngụy mở cuộc hành quân “đại bàng” đánh vào ba tỉnh Bình Long, Phước Long và Tây Ninh nhằm triệt phá căn cứ hệ thống kho tàng và hành lang vận chuyển hàng hóa và vũ khí của ta từ miền Bắc vào.

Bên cạnh đó chúng còn dùng xe ủi phát quang dọc theo đường 13 để gây khó khăn trong việc phục kích của ta, rải chất độc hóa học triệt phá hàng ngàn héc ta rừng cây và cả ruộng vườn của đồng bào nhằm hủy diệt căn cứ của lãnh đạo, chỉ huy và các lực lượng vũ trang của ta. Hành động đó của chúng bước đầu đã gây cho ta nhiều khó khăn.

Ở Bình Long, địch liên tục mở những trận càn quét ác liệt nhưng cán bộ ta vẫn bám chặt địa bàn để duy trì và củng cố phong trào. Riêng ở Chơn Thành, một số đảng viên và quần chúng cốt cán vẫn kiên trì chịu đựng gian khổ dưới sự đùm bọc của quần chúng.

Ở Phước Long đồng bào các dân tộc bị địch tàn phá nương rẫy nên buộc phải tập trung về các ấp chiến lược ở ven đường giao thông và phải sống trong cảnh cơ cực, thiếu thốn. Tuy thế, nhiều người vẫn tìm cách bắt liên lạc với cán bộ cách mạng để cung cấp tin tức về tình hình địch để ta có giải pháp đối phó.

Riêng ở Đồng Xoài, nhờ các đơn vị thuộc sư đoàn 5 đứng chân trên trục đường 14 nên tuy bị địch đánh phá nhưng lực lượng địa phương vẫn hoạt động được.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Tám, 2011, 08:56:28 PM
Mặc dù, sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân năm 1968 trên địa bàn Bình Phước ta gặp nhiều khó khăn, địch ra sức phản kích quyết liệt, tăng cường công tác bình định nông thôn, lương thực và thuốc men cho bộ đội thiếu thốn nhưng với tinh thần cách mạng tiến công nên công tác xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng, củng cố các đoàn thể được các cấp ủy Đảng quan tâm. Tính đến giữa năm 1969, Bình Long, Phước Long có 168 chi bộ với 1736 đảng viên trong đó có 12 chi bộ hoạt động trong vùng địch tạm chiếm, các đồng chí đảng viên thuộc các chi bộ này đã phát huy được chức năng, nhiệm vụ của mình trong việc nắm, phân tích tình hình và quy luật hoạt động của địch để có biện pháp đối phó; công tác đoàn thể được củng cố, chỉ tính riêng Bình Long đã có 38 đoàn viên thanh niên 350 đoàn viên công đoàn, 146 hội viên nông hội, 69 đội viên thiếu niên tiền phong.

Lực lượng vũ trang được củng cố từng bước, cả tỉnh Bình Long có 1668 tay súng, trong đó cấp huyện có 568 chiến sĩ.

Phối hợp với bộ đội chủ lực, lực lượng vũ trang Bình Long, Phước Long tổ chức nhiều trận đánh địch.

- Đêm 12 tháng 5 năm 1969, đại đội đặc công 211 đã phối hợp cùng 1 đại đội của Quân khu 10(1) tập kích sân bay Phước Bình. Đây là lần đầu tiên bộ đội ta sử dụng hỏa tiễn H12 đánh địch. Sau 30 phút chiến đấu, ta tiêu diệt 1 đại đội Mỹ cùng Sở chỉ huy, tiêu hao sinh lực đại đội khác, phá hủy 6 pháo cối, 2 kho xăng, bắn rơi 1 máy bay lên thẳng.

- Ngày 6 tháng 6 năm 1969, bộ đội địa phương đã phối hợp với bộ đội thuộc Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 1, Sư đoàn 1 bộ binh chặn đánh đoàn xe địch trên quốc lộ 13 đoạn Chơn Thành - Hớn Quản. Sau 1 giờ 40 phút chiến đấu, ta đã đánh thiệt hại nặng đoàn xe địch gồm 107 chiếc (có 37 xe tăng), bắn cháy 11 máy bay, tiêu diệt và làm bị thương 403 tên. Bên ta hy sinh và bị thương 109 đồng chí. Qua trận đánh này ta đã phá hủy kế hoạch bình định của địch trên đoạn đường Chơn Thành - Bình Long, làm hạn chế vận chuyển của địch trên đường 13 đi Lộc Ninh và làm tiêu hao một phần sinh lực địch ở miền Đông Nam Bộ.

Đến ngày 20 tháng 6 năm 1969, Tiểu đoàn 8 - Trung đoàn 1 - Sư đoàn bộ binh 1 thuộc Bộ Tư lệnh Miền phối hợp với bộ đội địa phương phục kích giao thông tiêu diệt đoàn xe quân sự Mỹ trên quốc lộ 13 đoạn Chơn Thành - Hớn Quản (Bình Long). Kết quả ta diệt 75 xe các loại, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên Mỹ, bắn rơi nhiều máy bay. Qua trận đánh này ta đã bẻ gãy cuộc hành quân càn quét của quân Mỹ từ tuyến ven đô ra tuyến trung gian, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong đợt hoạt động quân sự của ta vào mùa hè 1969.

Trước nguy cơ tuyến “phòng thủ từ xa” trên hướng chiến lược này bị chọc thủng, địch phải điều lên Bình Long 8 tiểu đoàn, nhằm tiếp tục “quét và giữ” vùng này. Nhưng chúng vẫn không thoát khỏi những đòn trừng trị của các lực lượng vũ trang ta. Nhiều địa danh như Cầu Cần Lê, Cần Đâm đã trở thành vùng đất chết của thiết giáp Mỹ.

Phối hợp với bộ đội chủ lực, bộ đội Bình Long đánh vào Ty cảnh sát, trận địa pháo, đánh bọn “bình định” trong các ấp Bình Tây, Sở Nhất, Xa Cát. Tiểu đoàn 368 chủ lực tỉnh cùng đội mũi công tác thị xã Bình Long chặn đánh một đơn vị thiết giáp Mỹ tại ấp Phú Miêng. Trong trận này nổi lên gương chiến đấu của chiến sĩ Đinh La Cầu với thành tích bắn 3 trái B40 diệt 3 xe tăng địch, bắt sống 2 xe khác, bẻ gãy cuộc hành quân lấn chiếm của địch, đồng chí đã anh dũng hy sinh. Đại đội 31 Lộc Ninh cũng đánh địch nhiều trận xuất sắc, tiêu hao nặng đại đội biệt kích ngụy, diệt gọn 3 trung đội bảo an. Trung đội vũ trang Chơn Thành cùng đội công tác thị trấn nhiều lần đột nhập vào các ấp trong thị trấn, trừng trị những tên trưởng ấp ác ôn, giải tán nhiều tốp phòng vệ dân sự và góp phần đánh xe cơ giới quân sự địch trên lộ 13, 14.

Mặc dù gặp nhiều khó khăn, phong trào du kích chiến tranh vẫn phát triển, nổi bật là Bình Long, Phước Long. Du kích các xã Lộc Tấn, Brêlin, Xóm Bưng, An Lộc, Tân Hưng, Quản Lợi Bù Đốp, Đồng Xoài… đánh mìn, diệt xe, tiêu hao lực lượng vũ trang di chuyển trên đường giao thông. Song song với việc đánh tiêu hao sinh lực địch, cán bộ, chiến sĩ cách mạng đã tích cực giáo dục, vận động nhân dân thoát khỏi ấp chiến lược trở về tiếp tục sản xuất tại nương rẫy của mình như ở Phước Long đã có hơn 1000 đồng bào các dân tộc bỏ khu tập trung trở về Sóc, rẫy cũ; ở Bù Đốp, Sóc Nê, Bù Tâm, Bù Giai, dân bung ra sản xuất và tìm bắt liên lạc với cách mạng. Ở Bình Long, cán bộ chính trị và từng đội vũ trang hàng đêm tìm cách vượt qua hàng rào, bãi mìn của địch đột nhập vào ấp tìm đến công nhân cao su, đến nương rẫy của đồng bào các dân tộc để tuyên truyền, phát động, tổ chức quần chúng đấu tranh trực diện với ngụy quân, ngụy quyền không được bắn phá vùng dân cư, không phá nương rẫy của đồng bào. Ở Phước Long, du kích và bộ đội huyện đột nhập các ấp Nhơn Hòa, Sơn Trung, Phước Quả, Phước Tín… vận động trên 100 đồng bào bung về rẫy cũ làm ăn. Bộ đội Phước Bình đánh vào Sơn Giang, một trọng điểm “bình định” của địch, diệt trên 50 tên ác ôn.


(1) Quân khu 10 gồm 3 tỉnh: Bình Long, Phước Long, Quảng Đức do đồng chí Đặng Ngọc Sĩ làm Tư lệnh. Tháng 6 năm 1971 Quảng Đức cắt về Quân khu 6, thành lập Phân khu Bình Phước. (T.G).


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Tám, 2011, 09:00:08 PM
Trong khoảng thời gian này, địch ra sức ngăn chặn sự tiếp tế lương thực, thực phẩm, thuốc men cho bộ đội ở các căn cứ nhưng đồng bào ta vẫn tìm cách cung cấp lương thực cho bộ đội. Cụ thể là ở Lộc Ninh đồng bào Lộc Hòa, Bù Núi (Lộc Quang) trong nguy hiểm đã giấu từng lon gạo, hạt bắp, trong 15 ngày đã tìm mọi cách vượt qua sự rình rập của kẻ thù cung cấp cho bộ đội huyện, tỉnh 500 kg gạo. Trong cảnh “đói cơm lạt muối” nhiều tháng liền thì mỗi cân gạo, hạt muối của đồng bào mang đến là nguồn động viên vô cùng to lớn để bộ đội tiếp tục chiến đấu. Mặc dù địch tìm mọi cách buộc bà con vào ấp chiến lược để cách ly với cán bộ cách mạng nhưng hầu hết đồng bào trong tỉnh vẫn tìm mọi cách ở lại nương rẫy của mình để tiếp tục sản xuất, giúp đỡ cách mạng.

Cùng với công tác quân sự và đấu tranh chính trị, công tác binh vận được tiến hành tích cực. Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, tinh thần ngụy quân, ngụy quyền ở Bình Long, Phước Long tiếp tụ sa sút mạnh, mâu thuẫn trong nội bộ địch phát triển sâu sắc, ở các trọng điểm tấn công, các loại binh sĩ đều tan rã, rút chạy hoặc đầu hàng; nơi ta chưa tấn công địch cũng hoang mang rối loạn án binh bất động, phần lớn không chịu đi tiếp viện ứng cứu cho nhau. Số đông binh lính được ta giáo dục, vận động thông qua người thân trong gia đình họ, họ giác ngộ được nên đã bỏ ngũ trở về với cách mạng, đầu hàng nộp súng, hoặc bí mật liên hệ ủng hộ cách mạng(1). Nhìn chung, tinh thần binh lính, sĩ quan địch kể cả binh sĩ Mỹ và chư hầu đã có những chuyển biến quan trọng, đảo lộn về nhận thức, có đơn vị nổi dậy binh biến khởi nghĩa.

Căn cứ vào yêu cầu và tình hình đang diễn biến, thực hiện chỉ đạo của Trung ương Cục, Tỉnh ủy đề ra nhiệm vụ: “Kết hợp chặt chẽ với tấn công võ trang, chính trị, phát động cao trào binh vận dồn dập, liên tục vào quân ngụy, Mỹ và chư hầu, nhằm đánh tiêu diệt, làm tan rã tinh thần và tổ chức toàn bộ ngụy quân, ngụy quyền, thực hiện công, nông, binh liên hiệp giành chính quyền về tay nhân dân”.

Trong những tháng đầu năm 1968, thông qua bầu cử, chính quyền cách mạng đã được thành lập ở nhiều nơi từ ấp đến tỉnh, khu và thành phố.

Ngày 6 tháng 6 năm 1969, thực hiện nghị quyết của Hội nghị hiệp thương giữa 2 đoàn đại biểu của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam, Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam đã cử ra Chính phủ cách mạng lâm thời do đồng chí Huỳnh Tấn Phát làm Chủ tịch và Hội đồng cố vấn do đồng chí Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch.

Đại hội nhất trí thông qua Nghị quyết cơ bản và tuyên bố về chương trình hành động của Chính phủ cách mạng lâm thời. Các văn kiện đó đã nêu rõ: chính quyền dân tộc, dân chủ kiên quyết kháng chiến chống bọn xâm lược Mỹ và chính quyền tay sai, tiến tới giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc.

Chính phủ cách mạng lâm thời đã ra đời là kết quả những thắng lợi về quân sự, chính trị và ngoại giao, là một sự kiện chính trị to lớn đánh vào âm mưu của Mỹ cố bám giữ ngụy quyền Sài Gòn để thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và chủ nghĩa thực dân mới.

Sau đó, ngày 20 tháng 7 năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi quân dân cả nước kiên trì kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cho đến thắng lợi hoàn toàn.

Đáp lại lời kêu gọi của Bác, quân dân Bình Phước tiếp tục đẩy mạnh tiến công, góp phần cùng quân dân miền Nam, đánh bại âm mưu của đế quốc Mỹ.

Tháng 7 năm 1969, Trung ương Cục tổ chức Hội nghị lần thứ 9 đề ra nhiệm vụ: … khẩn trương xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng quân sự, phát triển thế tiến công chiến lược, đánh bại biện pháp chiến lược “quét và giữ”, chính sách “bình định” và mục tiêu phòng ngự của địch.

Thực hiện nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 của Trung ương Cục, các đơn vị vũ trang của tỉnh phối hợp với bộ đội chủ lực tiến công vào các quân địch ở Chơn Thành, Téc Ních, Hớn Quản, Bù Na, Phước Bình, Bù Đăng, trung tâm truyền tin ở Bù Rá… gây cho địch nhiều tổn thất.


(1) Theo tài liệu còn giữ lại, chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 1969, ta đã đấu tranh tuyên truyền được 43 cuộc với 14.314 binh sĩ, giáo dục gia đình binh sĩ 624 người, đào rã ngũ 213 binh sĩ, bắt tù hàng binh: 13 binh sĩ (T.G).


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Tám, 2011, 09:01:49 PM
Giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đang trên đà thắng lợi thì ngày 2 tháng 9 năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ thiên tài và người thầy kính yêu của Đảng và dân tộc ta, qua đời. Đồng bào ta từ Nam chí Bắc quyết biến đau thương thành sức mạnh, tăng cường đoàn kết chiến đấu, tiến lên thực hiện Di chúc thiêng liêng của Người.

Tin Bác mất gây xúc động mạnh mẽ, sâu sắc và rộng khắp trong cả nước. Trên chiến trường, cán bộ, chiến sĩ biến đau thương thành hành động cách mạng. Ngày 4 tháng 9 năm 1969, các lực lượng vũ trang miền Đông bước vào đợt 2 chiến dịch Thu Đông, đồng loạt tiến công vào các mục tiêu ở thị xã, thị trấn, kho tàng, hậu cứ địch.

Bình Long, Phước Long là hướng trọng điểm của chiến dịch. Bộ đội địa phương Bình Long phối hợp với các đơn vị Sư 9 chặn đánh các đoàn xe địch trên đường giao thông tập kích, pháo kích một loạt căn cứ, chốt dã ngoại của Mỹ, ngụy từ Nam Hớn Quản đến Chơn Thành, quanh thị trấn Lộc Ninh, phá hủy hơn trăm xe cơ giới, loại khỏi vòng chiến đấu hằng trăm tên địch.

Từ giữa năm 1969, Mỹ ngụy biết ta đang gặp khó khăn, chúng tổ chức phục kích quyết liệt, thực hiện ý đồ giành dân, chiếm đất, đẩy mạnh “bình định nông thôn”.

Những tháng đầu năm 1969, ta còn làm chủ được vùng trung tuyến, các đơn vị chủ lực Miền còn đứng vững ở vùng này và mở được những đợt tiến công vào căn cứ địch; nhưng đến giữa năm 1969, địch tập trung lực lượng bộ binh, không quân, pháo binh đánh dài ngày vùng trúng tuyến, cả vùng căn cứ Bình Long, Phước Long, Lộc Ninh, Chiến khu Đ… Chúng ném bom rải thảm, rải chất độc hóa học để hủy diệt rừng ở Bình Long, Phước Long, Đồng Xoài.

Cùng với càn quét đánh phá, địch gấp rút gom dân vào ở các “ấp chiến lược” để cách ly quần chúng nhân dân với cách mạng. Chúng dùng lực lượng chủ lực ngụy và quân Mỹ bao vây bên ngoài các ấp; bên trong dùng lực lượng bảo an, dân vệ, “bình định”, “phượng hoàng”… bố trí nằm trong dân liên tục từ 5 đến 10 ngày, kết hợp lùng sục, khủng bố với tuyên truyền lừa bịp dân nhằm đánh bật lực lượng bám trụ của ta ra khỏi cơ sở, chà đi xát lại những vùng xung yếu quanh thị xã, thị trấn, đầu mối giao thông quan trọng như Chơn Thành, Bình Long, Phước Long, Đồng Xoài.

Tuy đồng bào vùng dân tộc bị gom vào ấp chiến lược nhưng ta vẫn bám sát, thông qua đảng viên và quần chúng cơ sở lãnh đạo đồng bào đấu tranh đòi trở ra làm rẫy, chống địch bắt lính, vận động binh sĩ ngụy bỏ ngũ gây khó khăn trong việc càn quét, đánh phá ta. Nhiều đồng bào ở Phước Long thà chịu đựng khó khăn, gian khổ với cách mạng ở căn cứ chứ không chịu sống trong ấp chiến lược với địch. Lương thực thiếu thốn, những đơn vị phía sau nhường phần gạo ít ỏi của mình cho đơn vị chiến đấu phía trước và cho thương binh. Đồng bào các dinh điền Bù Na, Đức Bổn, Vĩnh Thiện, Phú Văn, Bù Xia, Đức Hạnh… được giải phóng từ năm 1965 phân tán ở khắp vùng căn cứ đến ngày toàn thắng. Nhiều buôn, sóc của đồng bào các dân tộc Stiêng, Khơme, Châu Mạ… ở Bình Long, Phước Long đã làm rạng rỡ thêm truyền thống yêu nước của Nơ Trang Lơng.

Ở các làng, sở cao su, địch kiểm soát lương thực rất gắt gao nhưng công nhân vẫn đem cơm cho cán bộ và giấu trong người từng lon gạo, cục pin, gói muối cung cấp cho cán bộ, chiến sĩ.

Từ trong gian khổ, ác liệt, thiếu thốn của chiến trường đã xuất hiện những tấm gương tập thể và cá nhân biểu hiện phẩm chất cách mạng cao quí.

Đội nữ vận tải Bình Long vượt qua bom đạn quân thù vận chuyển hàng kịp thời cho các đơn vị chiến đấu. Các chiến sĩ quân giới Bình Long, Phước Long ăn rau rừng, củ rừng thay cơm nhưng vẫn kiên trì len lỏi trong rừng để nhặt pháo, bom lép, gỡ mìn địch gài trong các ấp chiến lược mang về chế tạo vũ khí và cung cấp cho bộ đội đánh giặc.

Để thực hiện âm mưu bình định, địch dùng biện pháp cưỡng bức, khủng bố, dụ dỗ, mua chuộc nhằm lôi kéo quần chúng, tiếp tục phong tỏa kinh tế ở các cửa khẩu.

Ngày 8 tháng 11 năm 1969 quân chủ lực Miền phối hợp với bộ đội địa phương tiến công chi khu quân sự Bù Đốp. Ở Phước Long, lực lượng tiểu đoàn 168 Phước Long tập kích vào chốt Mỹ Dakson diệt 40 tên. Tiếp theo ngày 14 tháng 11 năm 1969 đơn vị lại đánh 1 tiểu đoàn thuộc sư đoàn 1 kỵ binh bay tại Suối Đất. Bị đánh bất ngờ Mỹ phải điều thêm 1 tiểu đoàn đến ứng cứu. Ngày 15 tháng 11 ta chặn đánh diệt thêm 80 tên, bắn rơi 1 trực thăng thu nhiều vũ khí và đồ dùng quân sự. Tiếp đó, đêm 24 tháng 11 năm 1969 đại đội pháo binh 568 kết hợp đơn vị bộ binh 168 của Phước Long tập kích vào cụm đóng quân của sư đoàn 1 kỵ binh bay Mỹ tại cao điểm 206 và chi khu quân sự Phước Bình, ấp chiến lược Sơn Hà diệt 19 tên Mỹ, 30 lính ngụy, phá hủy 11 khẩu pháo 105, 6 lô cốt, đốt 10.000 lít xăng.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Tám, 2011, 09:03:38 PM
Trong tháng 11 năm 1969, Đảng bộ Phước Long tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ nhất tại vùng căn cứ Nước Sông (gần sông Đồng Nai). Đại hội bầu ra Ban Chấp hành tỉnh ủy gồm 15 đồng chí, đồng chí Trần Ngọc Khanh được bầu làm Bí thư tỉnh ủy(1). Đại hội đã đánh giá những thắng lợi trong thời gian qua và rút ra những bài học kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo chỉ huy đồng thời thông qua Nghị quyết của Đảng bộ thời gian tới. Riêng về công tác xây dựng Đảng, nghị quyết chỉ rõ: “… Tích cực đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên, đoàn viên khắp 3 vùng, đặc biệt chú ý đến vùng ven và vùng bị tạm chiếm. Nhanh chóng hình thành các cơ sở đảng ở các địa bàn vùng yếu…”.

Để chào mừng Đại hội Đảng bộ tỉnh Phước Long thành công, liên tiếp trong năm 1969 bộ đội địa phương đã đẩy mạnh hoạt động tác chiến diệt, làm bị thương trên 500 tên Mỹ ngụy. Nổi bật nhất là những trận tập kích cụm quân Mỹ ở Đa Kia (12-12-1969), ngày 11 và 12 tháng 12 đánh đồng loạt: pháo kích cụm quân Mỹ ở Đức Hạnh, đột kích quận lỵ, chi khu Phước Bình, pháo kích tiến công địch ở Bù Na. Trong vùng căn cứ du kích các xã ĐaKơ, Đức Hạnh, Bù Xia chống càn quyết liệt.

Tháng 12 năm 1969, Đại hội lần thứ nhất tỉnh Bình Long được triệu tập - kiểm điểm, đánh giá tình hình, Đại hội đề ra nhiệm vụ Đảng bộ, quân dân trong tỉnh sắp tới là: “… Khẩn trương phát động phong trào quần chúng trên các địa bàn trong tỉnh (vùng dân tộc, tiến công địch với phương thức hai chân ba mũi tại chỗ, kết hợp chặt chẽ lực lượng trong ngoài (lực lượng quần chúng và lực lượng thoát ly), trên dưới (lực lượng quận tỉnh, lực lượng du kích) ra sức xây dựng lực lượng cách mạng và cơ sở Đảng trong quần chúng, giữ vững quyền lãnh đạo ở xã ấp, tiến công địch, đẩy lùi địch từng bước, giành thắng lợi từng phần… củng cố thế và lực, sẵn sàng khi có thời cơ thì phát động quần chúng nổi dậy vũ trang khởi nghĩa, kết hợp chặt chẽ với tấn công quân sự và cao trào binh vận, thực hiện yêu cầu cao nhất làm làm chủ đại bộ phận vùng dân tộc, đồn điền và phần thị xã, thị trấn, góp phần giành thắng lợi quyết định và sẵn sàng đối phó với bất kỳ tình huống chiến tranh nào xảy ra”.

Đại hội bầu ra Ban Chấp hành 17 đồng chí do đồng chí Nguyễn Khắc Thành làm Bí thư(2).

Đầu năm 1970, những khó khăn về thế và lực của lực lượng cách mạng đã trở nên nghiêm trọng. Nhiều vùng giải phóng có dân đã bị địch chiếm. Lực lượng vũ trang ba thứ quân giảm đến mức thấp nhất. phong trào chiến tranh nhân dân gặp nhiều khó khăn. Mỹ bắt đầu rút dần những đơn vị chủ lực Mỹ và chư hầu về nước nhưng máy bay B52, pháo và biệt kích hoạt động với cường độ mạnh hơn. Các loại mìn, bom bi, cây nhiệt đới… được chúng thả khắp nơi ở các vùng căn cứ gây cho ta nhiều khó khăn tổn thất.

Ngày 18 tháng 3 năm 1970, phái thân Mỹ Lon Non trong chính phủ Campuchia đã làm đảo chính lật đổ Quốc trưởng Xihanúc, thực hiện ý đồ của Mỹ phối hợp với chính quyền Sài Gòn ép lực lượng cách mạng giữa hai gọng kìm ở vùng biên giới, quyết tâm tiêu diệt các cơ quan đầu não và lực lượng chủ lực, chấm dứt nhanh chóng cuộc chiến tranh.

Trên địa bàn Bình Phước, một bộ phận lính ngụy cũng bị điều đi ứng cứu cho đồng bọn ở Campuchia nên một số hơi hoạt động càn quét của địch giảm bớt, lực lượng vũ trang ta thực hiện thắng lợi nhiều cuộc tiến công địch.


(1) Ban Chấp hành Đảng bộ gồm 15 đồng chí: Trần Ngọc Khanh, Bí thư Tỉnh ủy; Nguyễn Đình Kính - ủy viên Thường vụ, Chính trị viên tỉnh đội; Nguyễn Huệ - Tỉnh ủy viên, tỉnh đội trưởng; Trần Quang Minh - Ủy viên Thường vụ, Trưởng Ban dân vận; Phan Thành Đông - Tỉnh ủy viên, Trưởng Ban tổ chức; Nguyễn Thiều - Tỉnh ủy viên, Trưởng Ban Kinh tài; Nguyễn Tấn Lực - Tỉnh ủy viên, Bí thư K11; Điểu Va Răng - Tỉnh ủy viên, Phó Bí thư Huyện ủy Bù Đăng; Tạ Quang Lộc - Tỉnh ủy viên, Bí thư K14; Huỳnh Văn Điển - Bí thư K28; Nguyễn Đức Tùng, - Tỉnh ủy viên dự khuyết, Bí thư Huyện ủy Bù Đăng; Nguyễn Thanh - Tỉnh ủy viên dự khuyết, Chánh văn phòng Tỉnh ủy; Lê Văn Mạo - Tỉnh ủy viên dự khuyết, trưởng ban kinh vận; Phạm Văn Tiến - Tỉnh ủy viên dự khuyết, Bí thư Huyện ủy Bù Đốp.
(2) Mười bảy đồng chí gồm: Nguyễn Khắc Thành - Bí thư; Lê Văn Hải - Phó Bí thư; Lê Hùng - Tỉnh ủy viên, Tỉnh đội trưởng; Nguyễn Thanh Bình - Ủy viên thường vụ, Chính trị viên tỉnh đội; Lê Văn Sẻ - Ủy viên thường vụ, Phụ trách công tác dân tộc, Huỳnh Thu Phong - Tỉnh ủy viên, Chính trị viên phó (sau đó làm Bí thư Huyện ủy Chơn Thành); Lê Cho - Tỉnh ủy viên, tỉnh đội phó (sau đó làm Bí thư Huyện ủy Hớn Quản); Huỳnh Công Hùng - Tỉnh ủy viên, Tỉnh đội trưởng kiêm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 368; Cao Văn Chi - Tỉnh ủy viên, Chánh văn phòng Tình ủy; Trần Huỳnh - Tỉnh ủy viên, Trưởng ban Kinh tài; Nguyễn Hoạt - Tỉnh ủy viên, Trưởng ban dân vận; Ba Vinh - Tỉnh ủy viên, Trưởng ban an ninh, Hai Lễ - Tỉnh ủy viên dự khuyết, Phó Ban an ninh; Lê Thành Công - Tỉnh ủy viên dự khuyết, Trưởng Ban dân vận; Hai Thành - Tỉnh ủy viên dự khuyết, Trưởng Ban tổ chức, Sáu Sơn - Tỉnh ủy viên dự khuyết, Hội trưởng Hội Phụ nữ; Nguyễn Văn Chức - Tỉnh ủy viên dự khuyết, Bí thư Huyện ủy Lộc Ninh. (T.G).


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Tám, 2011, 09:04:58 PM
Để phù hợp với chiến trường trong du kích lực lượng tại địa phương quá mỏng, lực lượng chủ lực chưa có điều kiện phát huy tác dụng, ta nhanh chóng bố trí lại lực lượng, giảm nhẹ các cơ quan, tăng cường lực lượng cho chiến đấu, phân tán các đơn vị của tỉnh xuống huyện và cơ sở, thực hiện vừa chiến đấu, vừa củng cố lực lượng địa phương, phát triển phong trào chiến tranh du kích.

Một số địa bàn trọng điểm của tỉnh như Đồng Xoài, Phước Bình, An Lộc… lực lượng mật được xây dựng và phát triển. Tiếp tục xây dựng lực lượng nội ứng của ta trong phòng vệ dân sự để đánh phá bình định của địch ngay trong lòng địch.

Những tháng đầu năm 1970, Tỉnh ủy mở hai hội nghị chuyên đề về công tác ở vùng yếu cho cán bộ và chiến sĩ trong tỉnh. Qua đó, Tỉnh ủy tiến hành phân công cán bộ tỉnh, huyện xuống nằm ở cơ sở, phối hợp với du kích làm nhiệm vụ tiêu hao sinh lực địch tại địa phương.

Về công tác binh vận, Tỉnh ủy chủ trương phát động phong trào gia đình binh sĩ làm binh vận. Các cấp ủy đã chỉ đạo các ngành, lực lượng vũ trang, đoàn thể… về hoạt động ở địa phương phải tham gia phát động gia đình binh sĩ vận động, giáo dục để con em họ trở về với nhân dân. Kết quả đợt hoạt động này có nhiều binh sĩ ngụy đào, bỏ ngũ nhất là lực lượng phòng vệ dân sự, có trường hợp binh sĩ ngụy nhận làm cơ sở nội tuyến của ta.

Thực hiện tốt sự chỉ đạo của Trung ương và của Tỉnh ủy, quân và dân Bình Phước đã tiến công liên tục trên địa bàn tỉnh nhằm tiêu diệt biệt kích, tề điệp ác ôn, kết hợp đánh bọn đi càn quét, phá thế kìm kẹp của địch ở nhiều nơi, giải tán nhiều toán phòng vệ dân sự.

Ở thị xã An Lộc, đại đội đặc công tỉnh phối hợp với cơ sở mật tập kích trụ sở tề xã Tân Lập Phú, cư xá công chức và phá trại giam giải thoát một số tù chính trị. Chỉ tính 6 tháng đầu năm 1970, du kích Bình Long đã đánh 75 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 178 tên (có 57 tên Mỹ).

Du kích các xã vùng căn cứ Bù Xia, Phú Văn, xã 1, 2, 8, 9, 10 (Phước Long) liên tiếp đánh địch, chống càn, diệt nhiều tên Mỹ, ngụy.

Ở Bù Đăng, trong năm 1970, lực lượng du kích, bộ đội địa phương phối hợp với các lực lượng của trên đã đánh 6 trận trên dọc đường 14, diệt hàng trăm tên địch (có 8 tên Mỹ) hàng chục xe tăng, xe quân sự, bắn hỏng 3 máy bay lên thẳng.

Ở Lộc Ninh, mặc dù lực lượng ta gặp nhiều khó khăn về quân số, lương thực… nhưng đã vượt qua khó khăn gian khổ đánh địch nhiều trận trên lộ 13, lộ 14 đi Bù Đốp, diệt nhiều tên địch, phá hủy nhiều xe quân sự. Tiêu biểu là Đại đội 31 đã phải chịu nhiều hy sinh, mất mát bảo vệ an toàn các cơ quan của huyện ủy, tỉnh ủy.

Ngày 30 tháng 1 năm 1971, ta chủ trương giải thể Khu 10, tách huyện Kiến Đức của tỉnh Quảng Đức sáp nhập vào Phước Long và thành lập Đảng bộ Phân khu Bình Phước (bao gồm Bình Long, Phước Long) trực thuộc Trung ương Cục do đồng chí Nguyễn Khắc Tính làm Bí thư, Ba Kính là chỉ huy trưởng.

Trong thời gian này, trên địa bàn Bình Phước, để thực hiện chương trình “bình định phát triển”, địch tăng cường bọn tề trở về xã, ấp và các làng công nhân để kìm kẹp nhân dân. Ta đã phát động phong trào nhân dân phối hợp với bộ đội, du kích đột nhập vào các ấp chiến lược, diệt ác, phá kìm, giải tán phòng vệ dân sự. Từ tháng 3 năm 1971, dân ở các ấp chiến lược trở về vùng giải phóng sản xuất vừa ổn định cuộc sống gia đình vừa giúp đỡ cách mạng tiếp tục chiến đấu (có đến 25.000/42.000 dân trong vùng địch kìm kẹp bung ra rẫy về làng cũ làm ăn.

Trong năm 1971, phong trào chiến tranh du kích trong tỉnh được duy trình và củng cố. Các huyện Lộc Ninh, Bù Đăng, Phước Long… phong trào phát triển khá mạnh, thực hiện tốt kế hoạch chống phá “bình định” của Mỹ, ngụy.

Tóm lại, những năm 1969-1971 - một thời kỳ đầy khó khăn thử thách đối với các lực lượng vũ trang của tỉnh nhưng Đảng bộ và quân dân trong tỉnh chủ động tiến công, từng bước làm thất bại kế hoạch “bình định” nông thôn của Mỹ - ngụy, phá rã bộ máy kìm kẹp của địch trên diện rộng, tạo điều kiện thuận lợi cho toàn miền bước vào cuộc tiến công chiến lược năm 1972.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Tám, 2011, 09:06:26 PM
II. THAM GIA CUỘC TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC NĂM 1971

Thất bại của Mỹ - ngụy ở chiến trường Campuchia đã gây hoang mang mang tinh thần ngụy quân, ngụy quyền về “Việt Nam hóa chiến tranh”. Cục diện chiến tranh chuyển biến có lợi cho ta. Phong trào cách mạng miền Nam tuy có gặp nhiều khó khăn những năm 1969-1971, nhưng ta đã từng bước vượt qua khó khăn, phát triển tương đối thuận lợi vào cuối năm 1971.

Trước tình hình đó, tháng 8 năm 1971 Bộ Chính trị Trung ương Đảng chủ trương mở cuộc phản công chiến lược trên toàn miền Nam để đánh phá kế hoạch “bình định” của địch, và đề ra nhiệm vụ “kịp thời nắm lấy thời cơ, trên cơ sở phương châm chiến lược đánh lâu dài, đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị và ngoại giao, phát triển thế chiến lược tiến công mới trên toàn chiến trường miền Nam và trên cả Đông Dương, đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ… giành thắng lợi quyết định trong năm 1972, buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng thương lượng trên thế thua, đồng thời sẵn sàng chuẩn bị, kiên trì và đẩy mạnh kháng chiến trong trường hợp chiến tranh còn kéo dài.

Tiếp đó, vào tháng 11 năm 1971 Hội nghị Thường vụ Trung ương Cục lần thứ 11 đã xác định kế hoạch năm 1972. Ngày 13 tháng 2 năm 1972, Thường vụ Trung ương Cục ra chỉ thị 01/CT-72, chỉ thị để đánh giá tình hình chiến trường: “Thất bại của địch trong mùa khô năm 1970-1971 làm tình hình các mặt trận của địch thêm sa sút, và lúng túng; nhân dân tiến bộ trên thế giới ngày càng lên án cuộc xâm lược của Mỹ và ủng hộ chính sách 7 điểm của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam” “so sánh lực lượng giữa ta và địch đã có bước chuyển biến lớn, thời cơ thất bại của địch và thắng lợi của ta đã rõ. Tình hình đã chín muồi để ta chuyển phong trào lên một bước nhảy vọt…”.

Căn cứ vào kế hoạch tiến công Xuân Hè 1972 của Bộ tư lệnh Miền, chiến trường Bình Long - Phước Long được chia thành ba khu vực: Bù Đốp, Lộc Ninh, Hớn Quản, Chơn Thành; và các huyện còn lại.

Tháng 3 năm 1972 Quân ủy và Bộ chỉ huy miền quyết định mở chiến dịch Nguyễn Huệ trên chiến trường miền Đông Nam Bộ.

Hướng chủ yếu của chiến dịch là đường 13 - Lộc Ninh, Bình Long. Các tỉnh Tây Ninh, Phước Long, Biên Hòa, Long Khánh… là hướng phối hợp thứ yếu.

Ngày 30 tháng 3 năm 1972 cuộc tiến công chiến lược trên toàn Miền mở ra ở Đông Hà, Quảng Trị và Bắc Tây Nguyên. Ngay trong những ngày đầu ta đã tiêu diệt nhiều sinh lực địch, phá vỡ nhiều tuyến phòng thủ kiên cố và cứ điểm phòng ngự mạnh nhất của địch. Ngày 1 tháng 5 năm 1972 ta giải phóng tỉnh Quảng Trị.

Trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, ngày 1 tháng 4 năm 1972, quân chủ lực Miền cùng lực lượng vũ trang Tây Ninh nổ súng tiến công Thiện Ngôn - Xa Mát để nghi binh thu hút địch. Trên hướng chủ yếu Bình Long, Sư đoàn 9 triển khai phía bắc thị xã An Lộc, Sư đoàn 7 chốt chặn theo dọc đường 13 trên hai khu vực cầu Cần Lê ngã ba đường 17 phía bắc thị xã và từ nam thị xã đến bắc Chơn Thành. Lực lượng của phân khu Bình Phước cùng các đơn vị vũ trang huyện và du kích các xã áp sát các mục tiêu được giao, hình thành thế bố trí liên hoàn, bao vây chia cắt đội hình phòng ngự của địch, tạo cho ta lợi thế tiến công, hãm địch ngay từ đầu vào thế phòng ngự chống đỡ.

Lộc Ninh được Mỹ - ngụy xem như một cụm cứ điểm vững chắc nằm trên đường 13 trong tuyến phòng ngự từ xa. Trước ngày nổ súng, lực lượng địch tại đây có: 1 chiến đoàn bộ binh, 1 thiết đoàn kỵ binh, 1 tiểu đoàn biệt động quân biên phòng, 1 tiểu đoàn pháo binh hỗn hợp, 6 đại đội địa phương quân cùng với lực lượng cảnh sát, phòng vệ dân sự.

Trận tấn công Lộc Ninh bắt bắt đầu hồi 3 giờ 30 phút sáng ngày 5 tháng 4 năm 1972. Bộ đội chủ lực Miền đã lần lượt tiêu diệt trung đoàn thiết giáp số 1, chiến đoàn 9 thuộc sư đoàn 5 ngụy… đánh chiếm toàn bộ căn cứ, đồn bốt địch trong huyện Lộc Ninh. Đại đội 31 của huyện làm nhiệm vụ vây lấn đám biệt kích dân tộc ở đồn Ngolơ (Lộc Thắng). Ngày 7 tháng 4 năm 1972, bất ngờ xe tăng ta xuất hiện, địch hoang mang bỏ chạy, bộ đội ta tiếp tục truy quét chúng đến tận hang ổ cuối cùng. Sau 2 giờ chiến đấu quyết liệt, toàn bộ sĩ quan, binh sĩ ngụy đều bị diệt hoặc bị ta bắt sống. Lộc Ninh được hoàn toàn giải phóng. Ta khẩn trương phát triển lực lượng, ngày đêm sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vùng giải phóng, đẩy mạnh sản xuất, xây dựng vùng giải phóng, đào tạo cán bộ, ổn định đời sống nhân dân, huy động hàng ngàn dân công phục vụ chiến trường. Và nghĩa cử cao đẹp của quân dân Lộc Ninh là cưu mang, đùm bọc, ổn định đời sống cho 30.000 Việt kiều ở Campuchia về và hàng ngàn đồng bào từ vùng chiến sự ác liệt sơ tán về vùng giải phóng.

Ở Bình Long, phối hợp với bộ đội chủ lực, tiểu đoàn 368, các đại đội 70, 75 và đại đội đặc công của Bình Long nổ súng tiến công bốt Phú Miêng, Phú Lạc, phối hợp với trung đoàn 1 sư đoàn 5, trung đoàn 14 sư đoàn 7 đánh chiếm Núi Gió, điểm cao 169, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn dù, buộc địch phải lui về An Lộc để phòng thủ. Từ các trận đánh này cùng với quá trình chiến đấu lập nhiều thành tích đồng chí Lê Tính được Nhà nước phong tặng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Tám, 2011, 09:08:22 PM
Từ ngày 7 đến ngày 13 tháng 4 năm 1972, trong lúc quân chủ lực ta bao vây thị xã An Lộc, bộ đội huyện, tỉnh liên tục pháo kích tiểu khu Bình Long, chi khu An Lộc, sở chỉ huy nhẹ sư đoàn 5 ngụy… Du kích và bộ đội Hớn Quản tiếp tục tấn công bọn bảo an và dân vệ ở các ấp ven thị xã.

Ngày 13 tháng 4 năm 1972, ta bắt đầu tiến công thị xã Bình Long. Trong suốt 32 ngày đêm chiến đấu giằng co quyết liệt giữa ta và địch. Pháo, đạn, bom kể cả bom B52 cày nát mặt đất, giết hại hàng ngàn thường dân vô tội, hủy diệt nhiều tài sản của nhân dân. Dã man nhất là trận Mỹ ném bom vào bệnh viện Bình Long giết chết gần 3.000 người trong đó có bệnh nhân, binh sĩ ngụy bị thương đang nằm viện và thường dân(1). Trước hành động điên cuồng của giặc, tỉnh ủy Bình Long chủ trương tổ chức sơ tán hơn 20.000 dân vào vùng căn cứ.

Với quyết tâm chiếm lại An Lộc, các sư đoàn thiện chiến của địch kết hợp bộ binh với cơ giới và phi pháo tổ chức đột kích mạnh nhưng đều bị thất bại. Có ngày địch dùng tới cả chục phi vụ B52, 60 phi vụ máy bay chiến thuật ném bom vào khu vực Tàu Ô - Xóm Ruộng. Các sư đoàn 18, 21, 25 cùng nhiều đơn vị bộ binh, cơ giới bị ta đánh thiệt hại nặng.

Trong khi đại bộ phận quân chủ lực ngụy bị giam chân tại An Lộc, ở Chơn Thành cán bộ của các mũi công tác cùng với du kích xã Minh Hòa, Minh Thạnh, Sóc 5… đánh diệt bọn dân vệ ác ôn, giải phóng hoàn toàn các xã. Lợi dụng tinh thần quân ngụy đang hoang mang trước sức tấn công mạnh mẽ của ta, ta vận động gia đình binh sĩ kêu gọi chồng, con, em bỏ ngũ trở về với gia đình, vận động đồng bào quyên góp lương thực, thực phẩm, thuốc men ủng hộ bộ đội.

Ngày 15 tháng 5 năm 1972, địch tăng thêm quân để mở đợt phản kích. Để tránh tổn thất ta rút khỏi thị xã An Lộc, lập điểm chốt chặn ở Tàu Ô, Tân Khai đánh địch càn quét giải tỏa đường 13.

Đường 13 chiến lược cùng với bức tường thép năm 1972 trong chiến dịch Nguyễn Huệ mãi mãi đi vào lịch sử oai hùng trong cuộc chiến tranh 30 năm trên chiến trường Bình Long. Với những trận đánh ác liệt diễn ra trên con đường này thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, giờ đây trở thành con đường khủng khiếp nhất đối với bọn xâm lược và tay sai. Chúng thường ví con đường 13 là “con đường không vui”, “con đường máu và nước mắt”.

Ở Phước Long, từ ngày 1 tháng 4 đến giữa tháng 7 quân và dân địa phương đã loại khỏi vòng chiến đấu 1500 tên địch. Khi được tin Lộc Ninh thất thủ, tỉnh trưởng Phước Long cho trực thăng đến hốt bọn ngụy quân, ngụy quyền cùng một số giáo dân Bù Đốp về cao điểm 296 phía nam Phước Tín lập căn cứ mới gọi là “Bù Đốp lưu vong”. Bù Đốp giải phóng nối liền với Bù Gia Mập và Lộc Ninh, hình thành vùng căn cứ rộng, tiếp giáp vùng giải phóng Campuchia. Lộc Ninh trở thành thủ phủ của Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, giải phóng hoàn toàn khu vực Bù Đốp và Bù Gia Mập. Lực lượng vũ trang của ta đánh vào tiểu khu quân sự Phước Long, trung tâm truyền tin trên đỉnh núi Bà Rá, Phước Bình, Đồng Xoài, Bù Đăng để tiêu diệt địch và kìm chân địch không cho chúng ứng cứu bọn ngụy ở Bình Long. Mặt khác, ta tiếp tục tuyên truyền, giáo dục, vận động gia đình binh sĩ kêu gọi chồng, con, em của họ bỏ ngũ trở về sum họp với gia đình, tạo điều kiện thuận lợi để đồng bào ở các ấp chiến lược về vùng giải phóng làm ăn.

Sau khi ta giải phóng Lộc Ninh, Bù Đốp, các đơn vị địa phương cùng quân dân du kích khắp nơi trong tỉnh cùng với nhân dân đánh phá bình định, phá rã nhiều ấp chiến lược được mở rộng từ Kiến Đức, Phước Long, Bình Long, Bến Cát, Chiến khu Đ… Lộc Ninh trở thành thủ phủ của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Lúc này, con đường chiến lược độc đáo của Đảng ta được mở từ tháng 5 năm 1959 đã được thông suốt từ Bắc vào đến Lộc Ninh. Lộc Ninh trở thành nơi tập kết sức người, sức của từ hậu phương miền Bắc chuyển vào chi viện cho tiền tuyến miền Nam.

Bị thất bại, địch cay cú, bắn phá vùng giải phóng, dã man nhất ngày 3 tháng 6 năm 1972, chúng ném bom khu vực trung tâm chợ Lộc Ninh làm chết, bị thương trên 300 dân.

Trước tình hình mới, Trung ương Cục quyết định chuyển Phân khu Bình Phước thành tỉnh Bình Phước, bao gồm Bình Long, Phước Long, tách Kiến Đức, giao lại cho Khu 6. Tỉnh Đảng bộ Binh Phước trực thuộc Khu ủy T1.

Ở khu vực Bình Long, địch co cụm lại khu vực tiểu khu, chi khu An Lộc, chi khu Chơn Thành. Địch ở Tống Lê Chân rút về Bình Long. Ta bao vây Bình Long.

Đến tháng 10 năm 1972, Hội nghị bốn bên ở Pari về vấn đề Việt Nam đã tiến hành gần 4 năm nhưng vẫn bế tắc. Ngày 8 tháng 10 năm 1972, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, với sự nhất trí của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã chủ động đưa ra bản dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”.

Ngày 22 tháng 10 năm 1972, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa ra tuyên bố vạch trần thái độ ngoan cố, lật lọng của Níchxơn. Mỹ lại tiếp tục cung cấp vũ khí trang bị cho Chính quyền Thiệu. Quân dân Bình Phước lại chiến đấu bảo vệ vùng giải phóng, bảo vệ thành quả đã giành được.

Đầu năm 1973 trong khi Hội nghị Pari về Việt Nam đang tiến tới giải pháp hòa bình, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai ra sức thực hiện âm mưu “giành dân, giữ dân” nhằm tạo một thế chính trị, quân sự trước lúc hiệp định có hiệu lực. Nhưng âm mưu này đã bị quân dân miền Nam đập tan.

Trong tình thế tuyệt vọng ở cả chiến trường lẫn trên bàn hội nghị, từ ngày 18 tháng 12 đến ngày 29 tháng 12 Níchxơn ra lệnh cho một lực lượng lớn máy bay và tàu chiến liên tiếp ngày đêm đánh phá với quy mô lớn và mức độ tàn ác chưa từng thấy, hủy diệt nhiều vùng ở Hà Nội, Hải Phòng… để tạo ra một ưu thế trên bàn hội nghị. Nhưng chúng đã bị thất bại thảm hại. Thấy không thể giành chiến thắng bằng quân sự, ngày 27 tháng 1 năm 1973 đế quốc Mỹ buộc phải ngồi vào bàn hội nghị và ký kết Hiệp định Pari, chấp nhận rút quân về nước chấm dứt Chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam.

Từ sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân 1968, Đảng bộ và quân dân Bình Phước đã vượt qua khó khăn, chiến đấu đầy hy sinh, gian khổ, quyết liệt đã đánh bại âm mưu “bình định” của giặc, mở rộng vùng giải phóng, hình thành hành lang chiến lược áp sát sào huyệt địch ở Sài Gòn trên hướng chủ yếu.

Quân dân trong tỉnh đã tham gia tích cực chiến dịch Nguyễn Huệ, góp phần đánh tan nhiều sư đoàn quân chủ lực Mỹ, ngụy, bẻ gãy “xương sống” của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Tạo điều kiện cùng quân dân cả nước giải phóng miền Nam.


(1) Ngày nay, nơi đây được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là di tích lịch sử - ghi lại tội ác của giặc Mỹ đối với nhân dân ta (T.G).


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Tám, 2011, 02:09:59 PM
CHƯƠNG TÁM

ĐẤU TRANH CHỐNG ĐỊCH VI PHẠM HIỆP ĐỊNH
GIẢI PHÓNG PHƯỚC LONG, GIẢI PHÓNG TOÀN TỈNH
(1973-1975)

I. GIỮ VỮNG VÀ PHÁT TRIỂN VÙNG GIẢI PHÓNG, TẠO THẾ TẠO LỰC MỚI
CHUẨN BỊ CHO CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY

Ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết. Theo tinh thần của Hiệp định: Mỹ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam; Mỹ sẽ không tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam; Mỹ cam kết tôn trọng những nguyên tắc thực hiện quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam sau đây:

- Quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm và phải được tất cả các nước tôn trọng.

Nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của miền Nam Việt Nam thông qua tổng tuyển cử thật sự tự do và dân chủ.

Hiệp định Pari, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta, đây là một chiến thắng to lớn trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, tạo điều kiện cho nhân dân ta tiếp tục tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước.

Sau một ngày Hiệp định được ký kết (28-1-1973), Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chính phủ đã ra Lời kêu gọi nhân dân cả nước: “Với việc Hiệp định Pari được ký kết, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã giành được thắng lợi vẻ vang. Đây là thắng lợi rất to lớn của cuộc kháng chiến oanh liệt nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta”. Tuy nhiên: “Cuộc đấu tranh của nhân dân ta ở miền Nam còn phải vượt qua nhiều khó khăn, trở ngại. Những thế lực quân phiệt, phát xít, công cụ của chủ nghĩa thực dân mới, đi ngược lại nguyện vọng của dân tộc ta vẫn chưa từ bỏ âm mưu phá hoại hòa bình, ngăn trở con đường độc lập, tư do của nhân dân ta…”(1)

Hưởng ứng lời kêu gọi của Trung ương, nhân dân ta đã nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định và kiên quyết đòi Mỹ - ngụy cũng phải làm như vậy.

Song, đế quốc Mỹ vẫn hết sức ngoan cố, chúng tiếp tục thi hành chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” nhằm duy trì chủ nghĩa thực dân ở miền Nam Việt Nam, chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới dưới sự thống trị của một chính quyền tay sai lệ thuộc Mỹ.

Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, được đế quốc Mỹ tiếp sức và chỉ huy đã vi phạm hết sức trắng trợn Hiệp định Pari ngay sau khi ký, phá hoại hòa bình, ngăn trở con đường hòa giải và hòa hợp dân tộc, thống nhất đất nước. Ở Bình Phước từ đầu năm 1973 địch ồ ạt đưa quân đi càn quét và giành giật quyết liệt với ta khắp hơi các nơi trong tỉnh. Khi Hiệp định Pari vừa ký, chúng triển khai ngay chiến dịch “tràn ngập lãnh thổ” để chiếm giữ vùng tranh chấp và lấn sâu vào vùng giải phóng.

Ở những vùng tranh chấp chúng đưa quân chủ lực sư đoàn 5, sư đoàn 18, 2 chiến đoàn biệt động biên phòng cùng với ban biệt kích thủ đô, lính bảo an đóng chốt nhiều nơi trên trục lộ giao thông và các vùng tiếp giáp với các căn cứ cách mạng. Chúng tiến hành củng cố lại phòng vệ dân sự, tề, cảnh sát, chiến tranh tâm lý, tiến hành Chiến dịch cờ (bán cờ, sơn cờ, cắm cờ), điều chỉnh thế bố trí lại quân: bảo an, dân vệ, cảnh sát ruồng kích trong ấp; quân chủ lực phân tán từng tiểu đoàn, đại đội xây dựng công sự đóng vòng ngoài ấp để thực hiện mưu đồ tràn ngập lãnh thổ.

Ở vùng giải phóng, vùng căn cứ chúng tăng cường máy bay, kể cả máy bay B52, đạn pháo đánh thẳng vào dân kết hợp với bọn biệt kích, “thiên nga”, “phượng hoàng” trà trộn với dân để ra vùng giải phóng dò la tin tức. Chúng đẩy mạnh lấn chiếm ở các lõm căn cứ và lõm du kích xen kẽ ở vùng nông thôn phía trước để xóa thế “da beo”; gắn chặt bình định với lấn chiếm, lấn chiếm đến đâu bình định đến đó, tạo thế đứng chân để tiếp tục lấn chiếm rộng ra; kết hợp với lấn chiếm phía trước với ổn định và củng cố phía sau. Ra sức tăng cường ngụy quyền xã, ấp; ra sức tổ chức phân chi khu quân sự để thống nhất điều khiển các lực lượng bình định ở xã, ấp; tăng cường tổ chức cảnh sát, đẩy mạnh công tác “quân sự hóa”, “bình định hóa” quần chúng; gây nghi ngờ, chia rẽ trong nội bộ nhân dân, đồng thời ráo riết đánh phá cơ sở ta ở xã, ấp. Ra sức vơ vét lúa gạo, đôn quân bắt lính để tăng cường tiềm lực chiến tranh, giải quyết khó khăn về quân sự, kinh tế. Tăng cường lực lượng cơ động của tiểu khu, chi khu, yểm trợ đồn bốt bung ra hoạt động phản kích tác chiến, từng bước cải thiện lại thế bố trí ở nông thôn.

Nhìn chung, từ sau ngày 28-1-1973 ở Bình Phước, Mỹ ngụy phải sử dụng lại một số chính sách đã từng bị đánh bại nhiều lần làm nội dung biện pháp chiến lược chủ yếu trong điều kiện lực lượng so sánh trên chiến trường đã có sự thay đổi về căn bản bất lợi cho chúng. Điều đó nói lên con đường phá sản tất yếu của chúng.


(1) Những sự kiện lịch sử Đảng, Nxb. Thông tin lý luận, 1985, t.III, tr.679.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Tám, 2011, 02:11:01 PM
Về phía ta, trải qua nhiều năm đấu tranh dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân và các lực lượng vũ trang Bình Phước đã được rèn luyện, vượt qua mọi khó khăn đánh địch. Lợi thế của ta là từ tháng 4-1972 ta đã giải phóng Lộc Ninh, Bù Đốp. Lộc Ninh đã trở thành “thủ đô” của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Tuy trước mắt ta có khó khăn nhưng lực lượng vũ trang, du kích vẫn bám trụ địa bàn, đánh tiêu hao địch. Tỉnh ủy, các huyện ủy tổ chức nhiều đội vũ trang công tác để tuyên truyền giải thích ý nghĩa thắng lợi, phát động tổ chức nhân dân dựa vào pháp lý của Hiệp định đấu tranh chống địch vi phạm.

Sau khi có Hiệp định Pari, Trung ương Cục và Bộ chỉ huy Miền đã có cuộc họp thảo luận về việc di chuyển căn cứ cho phù hợp với tình hình mới. Sau khi bàn bạc Trung ương Cục quyết định trở lại căn cứ Chàng Riệc (Bắc Tây Ninh), còn Quân ủy và Bộ chỉ huy Miền thì về Sóc Tà Thiết (Lộc Ninh). Từ ngày 4 đến ngày 7-3-1973, Trung ương Cục có cuộc họp với Tỉnh ủy Bình Phước, đã nhất trí trước mắt tập trung toàn lực lượng xây dựng căn cứ địa Bình Phước, trên cơ sở 3 huyện giải phóng (Lộc Ninh, Bù Đốp, Bù Gia Mập), trong đó Lộc Ninh là điểm trọng tâm. Việc chọn Tà Thiết làm căn cứ của Bộ chỉ huy Miền vì Tà Thiết vẫn thuộc khu vực B, có những lợi thế của khu B; nó gần đoạn cuối đường mòn Hồ Chí Minh, thuận lợi cho việc tiếp nhận hậu cần chiến lược, có thế rừng giải phóng rộng lớn, đồng thời có điều kiện nắm bắt nhanh mọi diễn biến về chính trị, quân sự.

Tháng 2 năm 1973, đại bộ phận cơ quan Bộ chỉ huy Miền đều về ở tại căn cứ Tà Thiết.

Trong suốt thời gian Bộ chỉ huy Miền đóng tại đây, Đảng bộ và nhân dân Bình Phước đã bảo vệ và giữ bí mật tuyệt đối khu vực này mà nhân dân thường gọi là “rừng chính phủ”. Cách gọi đó chứng tỏ nhân dân hiểu rõ đây là một căn cứ đầu não quan trọng.

Cuối tháng 2-1973, Trung ương Cục phát hành tài liệu “Huyện xã phải làm gì khi có ngừng bắn” và các tài liệu về văn bản pháp lý của Hiệp định Pari để các Đảng bộ tổ chức học tập trong cán bộ đảng viên và phổ biến rộng rãi trong nhân dân. Đồng bào sống trong vùng địch kiểm soát đấu tranh đòi được lên nương rẫy sản xuất để có điều kiện ra vùng giải phóng tiếp xúc với cách mạng, xin gia nhập bộ đội. Không khí mừng chiến thắng rất sôi nổi, đặc biệt ở Lộc Ninh nơi đặt trụ sở làm việc của ta trong Phái đoàn liên hợp quân sự bốn bên. Tại đây, đồng bào các dân tộc trong huyện được vinh dự thay mặt đồng bào và chiến sĩ cả nước tiếp đón những chiến sĩ từ nhà tù đế quốc chiến thắng trở về. Trong tình hình cơ sở vật chất còn rất khó khăn, Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân đã tập trung chăm sóc anh chị em từ miếng cơm, manh áo, từng viên thuốc… để anh chị em phục hồi sức khỏe và tiếp tục chiến đấu.

Chiều ngày 12-2-1973, cuộc trao trả tù binh gồm các sĩ quan và binh lính của chúng, do ta bắt giữ được diễn ra tại Lộc Ninh dưới sự kiểm soát và giám sát của các sĩ quan Ba Lan, Hunggarri, Inđônêxia, Canada trong tổ quốc tế và các sĩ quan giải phóng, sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam, sĩ quan Sài Gòn trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên. Trong buổi trao trả này có 27 nhân viên quân sự và dân sự Hoa Kỳ được trả tự do, trong đó có 4 quân nhân Mỹ bị ta bắt ở sân bay Lộc Ninh trong trận giải phóng Lộc Ninh tháng 4-1972. Các tù binh Mỹ đã cảm ơn bộ đội ta đã giúp họ thoát chết và được trở về đoàn tụ với gia đình.

Sau cuộc trao trả tù binh, đế quốc Mỹ liều lĩnh cho bọn ngụy tiếp tục gây thêm tội ác với nhân dân. Ngày 8-3-1973, chúng bắn hàng ngàn quả đạn pháo vào khu vực Chơn Thành. Tháng 4-1973 bọn biệt kích của tiểu đoàn 81 nhảy dù xuống Lộc Hòa.

Trước tình hình địch liên tiếp trắng trợn vi phạm hiệp định, Trung ương Cục ra chỉ thị 02/CT-73, Khu ủy gửi điện bổ sung chỉ đạo các địa phương nhận rõ bản chất và âm mưu, thủ đoạn mới của địch tiến công đánh bại các cuộc hành quân lấn chiếm. Chấp hành chỉ thị của Trung ương Cục và Khu ủy, Tỉnh ủy Bình Phước và các huyện ủy tăng cường công tác cán bộ, đảng viên, đấu tranh trước những biểu hiện chủ quan, thỏa mãn thắng lợi, ảo tưởng về hòa bình hoặc sợ đánh địch sẽ vi phạm hiệp định.

Ở các thị xã, thị trấn, ta vận động quần chúng đấu tranh đòi địch bỏ lệnh giới nghiêm, tố cáo địch vi phạm hiệp định.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Tám, 2011, 02:13:48 PM
Về công tác binh vận, Hiệp định Pari có hiệu lực ở Bình Phước, đa số binh lính và sĩ quan cấp dưới cả chủ lực lẫn địa phương quân ngụy rất mừng khi thấy hòa bình được lập lại, chán ghét chiến tranh, không muốn đánh nhau nữa, muốn hòa hợp dân tộc. Những nơi ta kịp thời vận động hoặc tiếp xúc, tích cực tranh thủ thuyết phục thì họ có những biểu hiện hưởng ứng hoặc tham gia hành động.

Những ngày đầu ngừng bắn hầu hết các đồn bốt trong tỉnh đều tê liệt, chấp nhận cờ của ta cắm quanh đồn bốt. Nhiều đơn vị đại đội, tiểu đoàn bảo an, chủ lực bị thúc ép hành quân giải tỏa, lấn chiếm thì tiêu cực. Sĩ quan, nhất là sĩ quan cấp úy chỉ huy đơn vị đại đội, tiểu đoàn đang phân hóa rõ rệt. Bọn ngụy quyền, tề xã, tề ấp và lực lượng kìm kẹp ở cơ sở, nhiều nơi bỏ việc hoặc nghỉ việc, một số ít chạy về thú tội với nhân dân và cách mạng.

Rõ ràng là Hiệp định mang lại hòa bình chấm dứt chiến tranh, đáp ứng đúng nguyện vọng vô cùng bức thiết của đông đảo binh sĩ ngụy và nhân viên ngụy quyền, hòa hợp hòa giải dân tộc đã mở lối ra cho họ. Diễn biến trên đây quả là một bước phát triển lan rộng và ngày một thấm sâu hơn vào hàng ngũ địch.

Với kế hoạch chuẩn bị, nhân thời cơ thuận lợi ta đã đưa lực lượng quần chúng, giáo dục binh sĩ, lực lượng vũ trang tấn công binh vận đã thu được nhiều kết quả. Cụ thể là ở Bình Long, Phước Long có gần 400 binh sĩ bỏ súng trở về với gia đình. Ở Bù Đăng, ta đã xây dựng được 12 tổ tuyên truyền về Hiệp định Pari. Ở phía đường 10 có 5 tổ, ở Hòa Đồng có 3 tổ và phía Bù Na có 4 tổ. Các tổ công tác này đều do X1 phụ trách và quản lý. Qua tuyên truyền nội dung Hiệp định Pari, chính sách 10 điểm hòa hợp dân tộc đã có 20 lính và sĩ quan địch dự nghe. Ta đã đưa vào bên trong vùng địch được 130 quyển sách 10 điểm, 655 bản Hiệp định và Nghị định thư, rải 5720 truyền đơn các loại kêu gọi binh lính, sĩ quan địch; gửi 10 lá thư tay cho ngụy quyền cấp quận trở xuống. Từ nội dung những lá thư trên đã có tác dụng làm hạn chế sự hung hăng của địch đối với quần chúng và đã có một số tề, xã, ấp đồng tình với dân, đoàn kết đấu tranh buộc quận thực hiện theo ý dân. Cờ mặt trận tung bay bao quanh quận, khích lệ được quần chúng nổi dậy cùng binh lính chống địch với khí thế mới.

Ở Đồng Xoài quần chúng bung ra khỏi các ấp chiến lược với nhiều hình thức sáng tạo để thoát khỏi sự kìm kẹp của địch. Trong vùng đồn điền cao su Thuận Lợi công nhân đòi tăng lương và dựa vào hợp đồng giữa chủ sở và chính quyền cách mạng đòi bảo đảm đời sống, không được bắt công nhân vào lực lượng phòng vệ dân sự. Do quần chúng có những lý lẽ chính đáng, buộc địch phỉ cho nhân dân ra ngoài làm ăn nhưng chúng bí mật cài bọn tình báo, gián điệp trà trộn trong nhân dân để nắm bắt tin tức hoạt động của ta. Tuy nhiên, nhờ cảnh giác cao nên bọn tình báo gián điệp không lấy được tin tức nào của ta. Trong hai năm 1973-1974 không tháng nào không có binh sĩ bỏ hoặc chống lệnh hành quân.

Về hoạt động vũ trang, sau một thời gian ngắn, lúng túng do không đánh giá đúng âm mưu và thủ đoạn mới của địch, các địa phương đã từng bước giành lại thế chủ động, kiên quyết phản công ngăn chặn các cuộc hành quân lấn chiếm của địch. Trong 6 tháng đầu năm 1973, lực lượng vũ trang đã đánh 144 trận, làm thương vong hơn 700 tên, thu và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, chặn đứng các cuộc hành quân, lấn chiếm của quân ngụy.

Vùng giải phóng ngày càng mở rộng và củng cố. Tỉnh ủy và chính quyền cách mạng các cấp đã vận động nhân dân thực hiện một trong 3 công tác trọng tâm của vùng giải phóng là sản xuất lương thực, thực phẩm để vừa bảo đảm đời sống nhân dân, vừa dự trữ lương thực cho bộ đội. Nhiều nơi ở Lộc Ninh, Bù Đốp, Bình Long, Phước Long nhân dân bắt đầu dựng lại nhà ở, trường học, trạm xá, đường giao thông… Trẻ em được cắp sách đến trường, người bệnh được khám và điều trị, nhân dân đã có cái ăn, cái mặc.

Ngành giáo dục nhiều nơi ở vùng giải phóng đã cố gắng khắc phục các khó khăn về trường lớp, về sách giáo khoa, về giáo viên, đưa hoạt động giáo dục vào nề nếp. Phụ huynh học sinh thấy được tác dụng của việc đưa con em vào học không chỉ để biết chữ mà còn học được đạo đức cách mạng. Nhân dân đã tích cực đóng góp vào việc xây dựng trường học, đưa con em vào học mỗi ngày một đông. Phong trào bình dân học vụ phát triển sôi nổi, nhiều người nhất là thanh, thiếu niên đã tự giác cắp sách đến các điểm để học tập vào ban đêm. Nhờ vậy, nhiều người đã biết đọc, biết viết, có người từ các lớp học này đã trở thành giáo viên, cán bộ y tế, cán bộ lãnh đạo trong các cơ quan, các đơn vị bộ đội.

Từ ngày 6 tháng 4 năm 1973 đến 12 tháng 4 năm 1973, Thường vụ Khu ủy miền Đông đã triệu tập Hội nghị Khu uy mở rộng để nghiên cứu triển khai chỉ thị 03 của Trung ương Cục và bàn nhiệm vụ công tác đến tháng 6 năm 1973. Sau khi quán triệt chỉ thị 03, Hội nghị Khu ủy đã đề ra chủ trương và những biện pháp thực hiện nhiệm vụ của trên giao: “Kiên quyết củng cố và phát huy thế chiến lược mới, tích cực chuyển hướng phương châm, phương thức chỉ đạo, tập trung mọi cố gắng của các cấp, các ngành, lực lượng đưa cho phong trào công tác binh vận kết hợp với pháp lý Hiệp định và dựa vào lực lượng vũ trang làm hậu thuẫn, liên tục tấn công bẻ gãy các cuộc hành quân lấn chiếm của địch; tăng cường công tác thâm nhập vào dân và nắm các khối dân, giữ vững, mở rộng và không ngừng nâng cao quyền làm chủ ở vùng tranh chấp; phát triển thực lực và các phong trào đấu tranh của giai cấp từ thấp đến cao ở các vùng sâu, yếu; giữ vững và xây dựng từng bước nhưng vững chắc vùng căn cứ giải phóng…”.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Tám, 2011, 02:15:23 PM
Bình Phước có vùng giải phóng rộng lớn tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng vũ trang, các cơ quan của tỉnh và là một địa bàn chiến lược có vị trí quan trọng trong công tác chuẩn bị tạo thế, tạo lực cho toàn Miền. Bình Phước còn là nơi có dự trữ chiến lược của cả chiến trường B2 nên quân và dân trong tỉnh thường nhận những chủ trương lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, nhanh chóng. Nhiều đơn vị chủ lực Miền đứng chân trên địa bàn tỉnh đã hỗ trợ nhiều cho nhân dân và các lực lượng vũ trang đấu tranh đấu tranh với địch.

Để đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên theo tinh thần Nghị quyết của trên, Tỉnh ủy đề ra những chủ trương sát hợp, tập trung vào ba nhiệm vụ:

- Ra sức phát động quần chúng, xây dựng vùng giải phóng vững mạnh về kinh tế và quốc phòng.

- Các cấp ủy Đảng, các ban ngành, đoàn thể quần chúng phải coi việc xây dựng lực lượng vũ trang là nhiệm vụ trung tâm, coi trọng xây dựng chất lượng đi đôi với phát triển số lượng.

- Kiện toàn các ban chỉ huy xã, ấp; bồi dưỡng cán bộ chỉ huy cấp trung đội, đại đội và cơ quan chỉ huy quân sự tỉnh, huyện, xã. Phấn đấu đến cuối năm 1973, số lượng dân quân du kích ở các huyện giải phóng chiếm 15% dân số(1), được giáo dục, huấn luyện cơ bản, sẵn sàng chiến đấu cùng bộ đội chủ lực giải phóng toàn tỉnh. Trong 6 tháng cuối năm 1973, tỉnh có 3.784 dân quân du kích trong đó có gần một nửa là dân tộc ít người. Cơ quan chỉ huy quân sự các cấp, đặc biệt là ở xã, được củng cố, Cán bộ ấp, xã được bồi dưỡng về chính trị, quân sự qua các lớp tập trung.

Bộ đội địa phương tỉnh, huyện được củng cố về tổ chức và nâng cao sức mạnh chiến đấu. Tỉnh có tiểu đoàn bộ binh 203, 1 đại đội hỏa lực và 2 đại đội đặc công. Các huyện đều có từ 1 đến 2 đại đội bộ binh, 1 trung đội trợ chiến và tiểu đoàn trinh sát.

Đặc biệt, Tỉnh ủy cũng chú trọng xây dựng lực lượng vũ trang trong công nhân cao su để bảo vệ vùng giải phóng. Ở các vùng giải phóng, nhiệm vụ xây dựng lực lượng bảo vệ để chống giặc, bảo vệ sản xuất và đời sống nhân dân là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Do đó, phong trào du kích chiến tranh được phát động trong đội ngũ công nhân cao su. 1.500 công nhân cao su của tỉnh đã tình nguyện lên đường gia nhập lực lượng vũ trang của các huyện, tỉnh và trung ương. Số công nhân còn lại vừa sản xuất, vừa tham gia du kích, dân quân tự vệ tại các đồn điền.

Tại thị trấn Lộc Ninh, trong tổng số 2.784 công nhân từ 16 tuổi trở lên đã có 655 người gia nhập du kích, dân quân tự vệ. Ngoài thời gian lao động ngoài lô cạo mủ, trong nhà máy, công nhân cao su còn được huấn luyện về quân sự, nâng cao tinh thần sẵn sàng chiến đấu.

Dân quân tự vệ, du kích đồn điền cùng các đơn vị vũ trang thường xuyên tuần tra ngoài lô cao su và bắt giữ nhiều lính ngụy lẩn trốn không ra trình diện với chính quyền cách mạng, truy bắt nhiều toán biệt kích thám sát do địch thả dù xuống phá hoại vùng giải phóng.

Tháng 10-1973, bộ đội địa phương tỉnh Bình Phước được thành lập, lấy phiên hiệu tiểu đoàn 203 (D203). Nòng cốt của đơn vị là Đại đội 31, 32 Lộc Ninh, Đại đội 70 Bình Long, Đại đội 16 Bù Đốp, các chiến sĩ đa số là công nhân cao su.

Cùng với việc xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang, cấp ủy, chính quyền các cấp ở vùng giải phóng nêu khẩu hiệu “đoàn kết, sản xuất, chiến đấu, cải thiện đời sống” xây dựng vùng giải phóng vững mạnh về chính trị, kinh tế, xã hội. Ba phần tư số xã xây dựng được chính quyền cách mạng, một phần sáu số xã bầu cử được Hội đồng nhân dân. Thị trấn Lộc Ninh huyện Lộc Ninh và huyện Bù Đốp tổ chức chính quyền cấp huyện và thị trấn. Chính quyền cách mạng cùng nhân dân tích cực đấu tranh chống gián điệp, tình báo, phản động. Dựa vào nhân dân, lực lượng an ninh đã phát hiện và bắt nhiều toán, nhiều tên thám báo, gián điệp như toán “Trường sơn”, “Lôi hổ”, “Biệt đội sưu tầm”, toán gián điệp biệt kích C1. Có lần ta bắt 3 tên tình báo ở An Lộc với đầy đủ chứng cứ tài liệu, vũ khí, điện đài. Nhờ lực lượng an ninh hoạt động tốt nên đã hạn chế bọn tình báo, gián điệp len lỏi vào vùng giải phóng, ngăn chặn hành động phá hoại của địch. Cũng trong thời gian này, ta đã có kế hoạch đưa linh mục Vitơ người Pháp nđằm ở nhà thờ Tích Thiện (Lộc Quang, Lộc Ninh) ra vùng địch và không cho trở lại.

Song song với công tác đấu tranh chống gián điệp, tình báo, lực lượng vũ trang của tỉnh và các địa phương tập trung đánh địch.

Ngày 7-7-1973, địch tập trung lực lượng trung đoàn 9, sư đoàn 5 có xe tăng yểm trợ chia làm hai hướng từ Phú Phú Giáo lên và từ Phước Long xuống để giải tỏa đường 14, mở đường tiếp tế cho đồng bọn ở Phước Long. Lực lượng ta theo dõi các hoạt động của địch và liên tiếp trong 3 ngày (từ ngày 7 đến ngày 10-7-1973) lực lượng của trung đoàn 141 sư đoàn 7 cùng bộ đội địa phương và du kích các xã đánh nhiều trận, diệt 315 tên, bắt sống 85 tên, thu 115 súng các loại, bắn cháy 3 xe tăng M113, bắn hạ một máy bay lên thẳng và bức rút nhiều đồn bốt trên đường 14 buộc địch phải rút quân về án ngữ ở Đồng Xoài và Phước Vĩnh.


(1) Có tài liệu nói 13,5% dân số (T.G).


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Tám, 2011, 02:16:58 PM
Phối hợp nhịp nhàng với các trận tiến công lớn, từ tháng 7 đến tháng 10-1973 quân và dân Phước Long tổ chức nhiều trận phục kích đánh địch càn quét lấn chiếm, tiêu hao sinh lực địch, thu hẹp phạm vi kiểm soát của chúng. Cùng với hoạt động vũ trang, phong trào đấu tranh chính trị, binh vận của quần chúng phát triển mạnh.

Về binh vận, Tỉnh ủy chỉ đạo bằng mọi cách thực hiện đạt các yêu cầu sau:

+ Ở vùng địch kiểm soát:

- Tuyên truyền phổ biến sâu rộng đường lối chính sách của ta và vạch trận những luận điệu Chiến tranh tâm lý của địch cho binh sĩ và gia đình họ, làm cho họ hiểu ta, thật tin ta và sẵn sàng đi với ta.

- Kích động phong trào đấu tranh của binh lính có sự tham gia của gia đình họ, chống các cuộc hành quân lấn chiếm, bình định, chống thanh lọc, chống đôn quân bắt lính và đấu tranh đòi cải thiện đời sống.

- Xây dựng cơ sở trong lính và tề để nắm lính, nắm tề diệt ác, từng bước mở rộng quyền làm chủ vững chắc ở cơ sở.

- Đánh phá hậu cứ, kho tàng, phương tiện chiến tranh và diệt sinh lực cao cấp của địch.

+ Ở vùng địch lấn chiếm và tranh chấp cũ.

- Tổ chức lực lượng 3 mũi bao vây tấn công đồng bốt để vận động binh sĩ đào ngũ, bức rút, bức hàng hoặc trung lập các chốt chưa thể bức rút được.

- Tuyên truyền tấn công mạnh mẽ vào binh sĩ để hạn chế, ngăn chặn sự đánh phá, khủng bố của địch, tôn trọng việc tự do đi lại làm ăn và trao đổi hàng hóa giữa hai vùng.

- Nhanh chóng xây dựng cơ sở trong lính và tề để diệt ác, phá tề, phá phòng vệ dân sự, khi có điều kiện thì phát động binh lính nổi lên làm binh biến, khởi nghĩa.

- Tổ chức tuyên truyền, học tập chính sách cho quần chúng và gia đình binh sĩ.

+ Ở vùng giải phóng:

- Giáo dục tốt cho quần chúng và các lực lượng vũ trang về chính sách binh vận và công tác binh vận.

- Có lực lượng nòng cốt, bám trụ cùng quần chúng vận động binh lính địch khi chúng càn đến.

Phước Long là địa phương thực hiện tốt công tác chính trị, binh vận. Nổi nhất là phong trào đấu tranh của nhân dân các xã Bù Nho, Đa Kia, Sơn Giang, Phước Bình và ở các ấp xung quanh thị trấn Phước Bình… đòi địch thi hành Hiệp định Pari, chống càn quét lấn chiếm, chống bắn phá bừa bãi, đòi tự do đi lại sản xuất. Do đường 14 bị ta cắt nên hàng hóa, nhất là gạo ở Phước Long rất khan hiếm. Lợi dụng tình trạng thiếu lương thực, nhân dân trong các ấp chiến lược đấu tranh quyết liệt đòi địch cho ra đồng làm rẫy. Trước thực tế đó, địch buộc phải để nhân dân ra vùng giải phóng sản xuất. Thời gian đầu còn sáng đi chiều về nhưng về sau nhiều người cất chòi ở luôn ngoài rẫy. Nhiều người được ta tổ chức đã tìm cách móc nối binh lính địch ra vùng giải phóng tiếp súc với cán bộ cách mạng. Qua tuyên truyền, giáo dục những chính sách của Đảng đối với những người lầm đường, lạc lối, một số binh sĩ đã bỏ súng trở về làm ăn, hoặc phản chiến chống lại các cuộc đi càn.

Đầu tháng 8-1973, địch đưa tiểu đoàn 97 biệt động quân từ Biên Hòa về Phước Long thay vị trí chốt của tiểu đoàn 73 trên đường 14 và đưa tiểu đoàn 88 về Phước Long. Đến cuối tháng thì đưa luôn tiểu đoàn 84 biệt động quân ở Bù Na về Phước Bình Long; các đơn vị bảo an luôn thay đổi vị trí, đưa 2 đại đội bảo an ở Phước Long lên tăng viện Bù Đăng để chốt giữ đoạn đường 14, bảo vệ các đoàn xe vận tải từ Buôn Mê Thuột về Phước Long.

Để giải tỏa sân bay Phước Bình, trong tháng 7 và tháng 8, chúng bắn hàng trăm trái pháo và thực hiện nhiều phi vụ vào khu vực tây Phước Bình (từ Sơn Hà đến Suối Minh, Bửu Hiệp).

Trên trục đường 14, chúng cho từng đại đội thường xuyên mở đường, có lúc đi sâu vào khu vực rẫy ở hai bên đường để phát hiện ta, đề phòng ta tấn công. Trong một số cuộc nống ra, chúng thường bắt dân đi trước để phá mìn.

Bọn an ninh ở Chơn Thành, dùng thủ đoạn đưa tiền cho một số người vào vùng giải phóng thu mua nhôm về bán cho chúng, qua đó chúng khai thác tin tức của ta.

Bước vào mùa khô 1973-1974, thực hiện quyết tâm của Trung ương Đảng, trên địa bàn Sông Bé nói chung và địa bàn Bình Phước nói riêng, Bộ Tư lệnh Miền sử dụng một bộ phận chủ lực sư đoàn 9 và sư đoàn 7 mở đợt hoạt động tập trung tiến công tuyến phòng thủ trung gian của địch. Bị thiệt hại nặng, quân ngụy tập trung lực lượng chống trả quyết liệt. Địch tiếp tục tăng cường lực lượng, lấn và đóng thêm nhiều chốt mới để kiểm soát dân, củng cố tuyến phòng thủ từ xa bảo vệ Sài Gòn.

Ở các vùng nông thôn, nhất là vùng giải phóng địch mở chiến dịch càn quét để cướp lương thực của nhân dân vừa thu hoạch. Trước tình hình trên, cuối năm 1973 các tỉnh ủy, huyện ủy mở hội nghị chuyên đề và lập Ban chỉ đạo bảo vệ nhân dân thu hoạch lúa. Được bộ đội địa phương và du kích bảo vệ, nhiều nơi dân tranh thủ thu hoạch nhanh và lập tức trở về nhà mà không kê khai cho địch. Các đảng bộ địa phương bố trí du kích và bộ đội giúp dân thu hoạch nhanh gọn từng thửa ruộng. Lúa thu hoạch xong vận chuyển vào rừng đào hầm cất giấu hoặc lúa được cho vào bao, để rái rác trên đồng, đậy rơm che mắt địch, tìm cách báo cáo cho các tổ thu mua ban đêm tổ chức đến vận chuyển.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Tám, 2011, 02:18:05 PM
Qua vụ mùa 1973-1974 nhân dân trong tỉnh đã đóng góp và bán cho cách mạng gần 1.000 tấn lúa. Trong khi đó, ở trong vùng căn cứ và vùng giải phóng nhân dân và các cơ quan, đơn vị vũ trang cũng tổ chức trồng lương thực và rau màu các loại để bổ sung cho du kích, bộ đội. Bộ đội địa phương tích cực tháo gỡ bom mìn, giải phóng đất, giúp dân khai hoang, vỡ đất… Cấp ủy, Ủy ban nhân dân Lộc Ninh, Bù Đốp cung cấp cho nhân dân các giống khoai mì, hạt bắp… Cán bộ các cơ quan, ban ngành, bộ đội và nhân dân đều tham gia lao động trong các “tổ đoàn kết sản xuất”. Công nhân các đồn điền cao su xưa nay chỉ quen việc trồng và cạo mủ cao su, nay cũng thay đổi tập quán, tích cực tham gia sản xuất lương thực. Trên vùng đất mới trải qua chiến sự ác liệt, bom đạn địch còn vung vãi khắp nơi, làm ra cân gạo, hạt bắp, củ khoai là vấn đề khó khăn, nan giải đôi khi phải đổi bằng máu; nhưng với tấm lòng yêu nước và căm thù giặc nhân dân ta đã quyết tâm làm ra nhiều lương thực, thực phẩm góp phần ổn định đời sống của nhân dân và giúp đỡ bộ đội.

Về hoạt động quân sự, phối hợp với bộ đội chủ lực, quân dân các huyện trong tỉnh đã đánh bại nhiều cuộc hành quân lấn chiếm của địch. Du kích Đồng Xoài đã đánh bọn địch nống ra chiến đấu hàng chục trận, diệt nhiều sinh lực địch không cho chúng chiếm đất, giành dân, tạo điều kiện cho quần chúng đấu tranh góp phần làm biến đổi tình hình chiến trường Đông Nam Bộ. Ở Bù Đăng, địch liên tiếp mở các cuộc hành quân đánh phá, có lúc cao điểm ta phải huy động lực lượng cơ quan chiến đấu. Kết hợp với khí thế chung, du kích xã 11 đã bao vây cầu 38 (trên đường 14) tiêu diệt 11 tên địch. Sau khi bị trừng trị, địch co cụm không còn hung hăng như trước.

Ở Phước Long, đầu năm 1974 toàn bộ lính chủ lực ngụy thuộc sư đoàn 5 đã rút khỏi tỉnh, thay vào đó là các tiểu đoàn biệt động quân. Quân bảo an, dân vệ qua thời gian chiến đấu với ta, một số bị ta tiêu diệt, số khác đào rã ngũ, vì thế chúng tích cực bắt lính đôn quân, tinh thần binh lính sa sút, tỏ ra ngao ngán chiến tranh trừ bọn ngoan cố hiếu chiến. Chúng tổ chức nhiều cuộc hành quân nống ra vùng ven, dùng máy bay oanh kích nhằm tạo ra một vành đai trắng phân cách giữa hai vùng. Trên trục đường 14, chúng cũng tăng cường càn quét bắn phá để khai thông đường vận chuyển tiếp tế cho bọn lính ở tiểu khu, chi khu đang bị cô lập. Có lúc, bị ta tấn công mạnh, không vận chuyển được bằng đường bộ, buộc chúng phải vận chuyển tiếp tế bằng máy bay vận tải. Riêng bộ máy kìm kẹp ở xã, ấp được chúng thay thế bằng những tên ác ôn hiếu chiến để kìm kẹp nhân dân. Trong 6 tháng đầu năm 1974, các đại đội độc lập của tỉnh và lực lượng huyện, xã đánh 55 trận, diệt 251 tên. Trong đó có những trận đánh thu được kết quả lớn như trận giải phóng Hồng Tâm, diệt địch tại khu vực hành chính Phước Bình. Du kích mật ở các xã, ấp đánh 7 trận, tiêu diệt một số tên ác ôn, qua đó đã có tác động tâm lý đến những tên ác ôn còn lại và làm cho bộ máy địch bị yếu đi.

Lợi dụng tình hình đó, các đội công tác, các tổ trinh sát cùng bộ đội địa phương, dân quân du kích các xã, ấp, tổ chức móc nối cơ sở đột nhập vào các ấp chiến lược để xây dựng phong trào. Qua một thời gian hoạt động, ở Phước Long không còn vùng trắng. Nơi nào cũng có từ 1 đến 2 chi bộ với vài đảng viên, các đoàn thể quần chúng cũng được thành lập và đi vào hoạt động.

Ở Phước Long, nhân dân vùng giải phóng tích cực sản xuất, xây dựng trạm xá, trường học, lập các đội chiếu phim lưu động để phục vụ nhân dân. Song song với việc phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, các cấp ủy đảng và chính quyền đẩy mạnh việc tuyên truyền giáo dục, vận động thanh niên tự nguyện đứng vào hàng ngũ du kích, lực lượng vũ trang: mỗi xã có từ một đến hai trung đội du kích, mỗi ấp có một tiểu đội du kích và một trung đội dân quân ngày đêm luyện tập sẵn sàng chiến đấu.

Nhìn chung, vào mùa khô 1973-1974, quân dân Bình Phước đã phối hợp với bộ đội chủ lực, lực lượng vũ trang giữ vững địa bàn, đánh 87 trận, diệt 387 tên địch. Trước thế chủ động và sức tiến công mạnh mẽ đều khắp của ta, địch càng lâm vào thế bị động và suy yếu nhanh chóng. Cục diện các tỉnh miền Đông nói chung và Bình Phước nói riêng đã xuất hiện thời cơ chiến lược mới.

Về phía ta, lực lượng vũ trang trong tỉnh gồm 3 thứ quân đã lớn mạnh không ngừng về số lượng, chất lượng, đã bẻ gãy kế hoạch “bình định” lấn chiếm của địch. Đường vận tải chiến lược 559, đường dây thông tin đã nối từ Hà Nội đến Lộc Ninh, tạo điều kiện về vật chất, vũ khí cho lực lượng vũ trang của tỉnh và lực lượng vũ trang của trên đóng trên địa bàn tỉnh tiến công quân địch. Trước tình hình mới, tháng 10 năm 1974, Bộ Chính trị quyết định kế hoạch chiến lược hai năm (1975-1976). Bộ Chính trị nhận định:

“Ngụy quyền Sài Gòn ngày càng suy yếu cả về quân sự, chính trị, kinh tế do sự tiến công mạnh mẽ của quân và dân miền Nam và do viện trợ của Mỹ ngày càng giảm bớt. Ở miền Nam, lực lượng ta đã mạnh hơn địch. Mỹ ngày càng gặp khó khăn cả ở trong nước và trên thế giới…”.

Trên cơ sơ đó Bộ chính trị quyết định:

“Động viên nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn dân ở cả hai miền, trong thời gian 1975-1976, đẩy mạnh đấu tranh chính trị, kết hợp với đấu tranh ngoại giao, làm thay đổi nhanh chóng và toàn diện so sánh lực lượng trên chiến trường miền Nam theo hướng có lợi cho ta, tiến hành rất khẩn trương và hoàn thành công tác chuẩn bị mọi mặt, tạo điều kiện chín muồi tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa, tiêu diệt và làm tan rã ngụy quân, đánh đổ ngụy quyền từ trung ương đến địa phương, giành chính quyền về tay nhân dân, giải phóng miền Nam”.

Thực hiện Nghị quyết của Bộ chính trị và Nghị quyết 15 của Trung ương Cục, Tỉnh ủy Bình Phước ra nghị quyết lãnh đạo toàn Đảng bộ ra sức chuẩn bị mọi mặt để phục vụ chiến dịch. Hàng ngàn dân công từ các đồn điền cao su, các buôn làng và các vùng giải phóng ngày đêm nô nức tham gia mở đường, sửa đường làm cầu vượt suối, vận chuyển lương thực, vũ khí, đạn dược đến các khu vực tập kết đã quy định. Nhiều đơn vị chi liên lạc đến các vùng tạm chiếm vận động quần chúng, xây dựng cơ sở chính trị, phát động quần chúng, sẵn sàng nổi dậy phối hợp với các mũi tiến công quân sự.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Tám, 2011, 09:26:12 AM
II. THAM GIA CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 14 - PHƯỚC LONG
TỈNH PHƯỚC LONG VÀ TỈNH BÌNH PHƯỚC HOÀN TOÀN GIẢI PHÓNG

Từ đầu mùa khô 1974-1975 ta đẩy mạnh hoạt động ở vùng đồng bằng sông Cửu Long và Tây Ninh. Khu vực “nóng nhất” ở phía tây - bắc Sài Gòn là đường 7 ngang, đường 16, đường 14, đường 8 lực lượng nghi binh ta không mở hoạt động nào lớn. Từ đó, Bộ tổng tham mưu và các cơ quan tình báo của địch thăm dò để xác định hướng tấn công chủ yếu của bộ đội ta và tìm cách đối phó. Quân ngụy cho rằng nếu ta không có khả năng đánh lớn vào mùa khô thì đó là cơ hội để chúng giành lại thế chủ động, lấn chiếm vào vùng giải phóng của ta.

Bộ tổng tham mưu ngụy nhận định ta sẽ mở chiến dịch ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Quân đoàn 3 ngụy cho rằng ta sẽ đánh lớn ở Tây Ninh.

Vào những tháng cuối năm 1974, sư đoàn 5 và sư đoàn 25 ngụy dồn sức vào khu vực đường 7 ngang hòng chiếm lại căn cứ Rạch Bắp và lấn sâu vào vùng giải phóng. Trên hướng Phước long tình hình khá yên tĩnh nên quân đoàn 3 ngụy chỉ đưa lên đây 2 đại đội tăng cường phòng thủ đường 14 và từ tháng 8 năm 1974 ở Phước Long địch quay về thế phòng thủ. Chúng xua quân bắt dân đào hào, đắp ụ, rào kẽm gai, xung quanh các khu căn cứ quân sự đề phòng ta tiến công. Trong khi đó, tinh thần quân lính ngụy đang hoang mang dao động manh. Nhiều binh lính địch bỏ trốn, phản chiến xảy ra ở nhiều nơi.

Đến gần cuối năm 1974, vùng giải phóng ở Phước Long được củng cố vững chắc, vùng tạm chiếm thì không còn cơ sở trắng, nơi nào cũng có chi bộ; các tổ chức đoàn thể được thành lập. Ngay trong hàng ngũ địch ta cũng đã tổ chức được một số cơ sở nội tuyến và đã cung cấp cho ta nhiều tin tức quan trọng. Trong khi đó, tháng 10 năm 1974, Tỉnh ủy được trên phổ biến kế hoạch chuẩn bị cho đợt tấn công mùa khô 1974-1975 và hướng hoạt động chủ yếu được xác định là đồng bằng sông Cửu Long và miền Đông Nam Bộ. Mục tiêu chủ yếu của chiến trường Đông Nam Bộ là Đường 14 - Phước Long.

Để chuẩn bị cho chiến dịch Đường 14 - Phước Long, Trung ương Cục và Quân ủy Miền giao nhiệm vụ cho Đảng bộ Phước Long phải đẩy mạnh hoạt động 3 mũi giáp công để kìm chân, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch tại chỗ. Đối với vùng căn cứ, Phước Long vừa có nhiệm vụ chuẩn bị lương thực, hậu cần tại chỗ, vừa chuẩn bị địa bàn đứng chân cho các đơn vị chủ lực lớn, mở đợt tiến công tiêu diệt địch. Tỉnh ủy và Tỉnh đội phối hợp với Quân đoàn 4 khẩn trương chuẩn bị các mặt cho chiến dịch, thông qua quyết tâm trước Trung ương Cục, Quân ủy Miền.

Chấp hành mệnh lệnh của cấp trên, quân dân Phước Long khẩn trương chuẩn bị mọi mặt: ở vùng yếu, các đội công tác và các đoàn cán bộ ngày đêm bám địa bàn, xây dựng cơ sở cách mạng, vận động đưa dân ra vùng giải phóng. Ở vùng căn cứ, Tỉnh ủy chỉ đạo nhân dân khẩn trương thu hoạch vụ mùa dự trữ lương thực chuẩn bị chiến đấu, xây dựng hầm, hào tránh bom pháo, xây dựng hệ thống xã chiến đấu, chuẩn bị vùng an toàn ở hướng Tây - Nam Phước Bình, hướng dọc sông Đồng Nai, phía Bù Đăng để đón dân vùng tạm chiếm, phối hợp với hậu cần Miền chuẩn bị các trạm xá để cứu chữa thương binh và nhân dân bị thương, đồng thời chuẩn bị các trại giam giữ tù, hàng binh địch.

Cũng trong tháng 12-1974, Trung ương Cục và Quân ủy Miền giao nhiệm vụ cho Bình Phước dùng lực lượng bộ đội địa phương tiến công tiêu diệt chi khu quân sự “Bù Đốp lưu vong” để mở màn chiến dịch, sau đó phối hợp với bộ đội chủ lực tiến công giải phóng Phước Long.

Nhận nhiệm vụ trên giao, Tỉnh ủy gấp rút tổ chức bố trí lực lượng, và lập Bộ chỉ huy tiền phương do đồng chí Đỗ Văn Nuống (Tư Nguyện) Bí thư Tỉnh ủy, Chính ủy trực tiếp lãnh đạo mũi tiến công này. Các thành viên khác: Lê Hùng Tỉnh đội trưởng - Chỉ huy trưởng, Nguyễn Đôn Kính (Bảy Kính), Năm Nhường, Ba Minh.

Đêm 12 rạng ngày 13 tháng 12 năm 1974, trong khi các đơn vị chủ lực hành quân về hướng Bù Đăng - Đường 14 thì Tiểu đoàn 212 và các đơn vị U11, U13 của Phước Long đồng loạt nổ súng tiêu diệt chi khu “Bù Đốp lưu vong”, ta vừa chiếm giữ trận địa vừa truy quét địch xung quanh, vừa nghi binh kéo địch để tạo điều kiện cho bộ đội chủ lực tập trung vào các hướng tiến công chủ yếu.

Đánh xong căn cứ “Bù Đốp lưu vong”, một đại đội của tiểu đoàn 208 và đại đội địa phương Bù Đốp cùng đại đội cối 82 được giao nhiệm vụ giữ căn cứ, lập trận địa ở đông nam Thác Mơ chờ đánh địch phản kích. Đại đội 1 (tiểu đoàn 208) sau 4 ngày truy quét địch ở khu vực Phước Lộc, trở về đứng chân ở Bù Rạc. Ngày 14 tháng 12 năm 1974 quân ta giải phóng Bù Đăng. Ngày 15 tháng 12 đánh chiếm yếu khu Bù Na.

Ngày 17 tháng 12 năm 1974, địch đưa hai tiểu đoàn thám kích đến tái chiếm lại chi khu “Bù Đốp lưu vong”. Lực lượng ta chiến đấu quyết liệt với địch. Đến ngày 22 tháng 12 ta hoàn toàn làm chủ trận địa và tiêu diệt nốt đồn Thác Mơ, Phước Quả, Phước Tín, Phước Lộc… Sau trận đánh, Tỉnh ủy Bình Phước tập trung các phân đội trực thuộc của tiểu đoàn 208 thành lập đại đội 54, lấy thêm đại đội 14 và đại đội 1 Bù Đốp thành lập tiểu đoàn Bà Rá, do đồng chí Bùi Văn Bạc làm tiểu đoàn trưởng, đồng chí Ngoan làm chính trị viên. Sau khi giải phóng Phước Long, tỉnh thành lập tiểu đoàn Bù Na gồm C54 bộ binh, C14 trợ chiến, 1b trinh sát, C1 và số còn lại của tỉnh xuống Chơn Thành.

Mất chi khu “Bù Đốp lưu vong”, tất cả các đồn bốt ở tiểu khu Phước Long được địch tăng cường đề phòng.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Tám, 2011, 09:27:40 AM
Ngày 26 tháng 12 năm 1974 ta đánh chiếm chi khu quân sự Đồng Xoài. Tuy vậy, quân địch ở tiểu khu Phước Long vẫn chủ quan cho rằng đó chỉ là những hoạt động nhỏ của ta nhằm phối hợp với các hướng tiến công khác trên toàn miền. Trong cuộc họp ngày 17 tháng 12 tại Vũng Tàu do Thủ tướng ngụy quyền Trần Thiện Khiêm chủ trì, tướng ngụy Dư Quốc Đống, Tư lệnh quân đoàn 3 đã nhận định: “Tình hình Phước Long sôi động, nhưng đó không phải là trọng điểm tiến công của Việt cộng. Trọng điểm vẫn là Tây Ninh”. Còn tên tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng Phước Long thì cho rằng: “Lực lượng của đối phương chỉ ở cấp tiểu đoàn kết hợp với lực lượng địa phương nhưng do bị tấn công bất ngờ nên ta thua”. Từ những nhận định đó, quân đoàn 3 ngụy không tăng viện lực lượng lên Phước Long. Nhưng sau khi ta diệt chi khu Đức Phong (Bù Đăng), yếu khu Bù Na thì làm chủ tình hình trên đoạn đường 14 và đang tiếp tục truy quét địch, bức rút trên 50 đồn bốt, chiếm 2 chi khu, 1 yếu khu. Kết thúc giai đoạn 1 của chiến dịch.

Sau một thời gian ngắn chuẩn bị, đêm 20 rạng 21-12-1974 chiến dịch chuyển sang giai đoạn 2, bộ đội chủ lực cùng với địa phương Phước Long đánh tiêu diệt chi khu “Bù Đốp lưu vong” lần thứ 2 từ ngày 7 tháng 12, các đồn bốt trên tuyến đường từ Phước Bình đến ngã ba Đức Liễu đều bị ta tấn công.

Ngày 26-12 bộ đội ta tiến công diệt chi khu quân sự Đồng Xoài. Đồng Xoài bị thất thủ, Phước Long và quận lỵ Phước Bình bị bao vây cô lập.

Rạng sáng ngày 31 tháng 12 năm 1974, sau loạt pháo mở đường, lực lượng ta gồm Tiểu đoàn BB4, Tiểu đoàn BB5 (Trung đoàn 165), Tiểu đoàn BB3 (Trung đoàn 141) kết hợp cùng lực lượng địa phương từ các hướng đồng loạt nổ súng tiến công vào tiểu khu Phước Long, quận lỵ Phước Bình, sân bay Phước Bình, trung tâm viễn thông Bà Rá. Chiều ngày 31 tháng 12 các vị trí xung yếu của Phước Bình đều bị ta tiêu diệt. Đêm 31-12 ta chiếm núi Bà Rá. Cùng lúc đó bộ đội địa phương kết hợp với bộ đội chủ lực bao vây các mục tiêu của địch.

Sáng ngày 1 tháng 1 năm 1975, hai cánh quân từ Thác Mơ và Phước Quả của ta thọc sâu, tiến công địch tại cầu Suối Dung và Tư Hiền. Các cánh quân khác tiến công các ấp chiến lược, xung quanh các đồn bốt phòng thủ của địch. Vòng vây thị xã Phước Long ngày càng khép chặt.

Ngày 2 tháng 1 năm 1975, quân ngụy sau 3 ngày bị mất chi khu Phước Bình, sân bay, cao điểm núi Bà Rá, ngã ba Tư Hiền 1, 2, 3 cửa ngõ thị xã bị uy hiếp có nguy cơ bị mất, quân đoàn 3 ngụy dự kiến tăng viện lực lượng biệt kích dù với ý định tăng thêm sức phòng thủ thị xã, cầm cự kéo dài thời gian để đổ thêm lực lượng đến cứ nguy cho Phước Long.

Về phía ta, sau 3 ngày chiến đấu ta phát triển thuận lợi, đánh chiếm được các mục tiêu mà kế hoạch đề ra, tạo bàn đạp, đưa đội hình bộ binh, xe tăng, pháo binh áp sát mục tiêu hình thành thế bao vây tiểu khu Phước Long.

Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương chủ động từng ngày từng giờ. Ta bắt đầu nổ súng tiến công vào thị xã Phước Long tiêu diệt từng mục tiêu của địch. Được nhân dân tiếp tế lương thực, đạn dược, thuốc men kịp thời đầy đủ và chuyển tải thương binh về tuyến sau, bộ đội chiến đấu quyết liệt, giành nhau với địch từng góc phố, ngả đường, từng công sự, căn nhà. Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt đến trưa ngày 6-1-1975 lá cờ chiến thắng tung bay trên nóc dinh tỉnh trưởng Phước Long. Lúc này thị xã Phước Long hỗn loạn. Binh lính địch, số tháo chạy, số bỏ ngũ, số đầu hàng. Nhân dân hướng dẫn bộ đội ta truy quét tàn binh địch và nổ súng tiêu diệt các mục tiêu còn lại. Đến 19 giờ ngày 6 tháng 1 năm 1975 Phước Long hoàn toàn giải phóng.

Sau 25 ngày đêm chiến đấu liên tục bộ đội chủ lực và quân dân Bình Phước đã diệt và bắt sống toàn bộ ngụy quân, ngụy quyền ở Phước Long thu 5.000 súng các loại, 10.000 đạn đại bác và nhiều phương tiện chiến tranh, bắn rơi 5 máy bay, giải phóng hơn 50.000 dân.

Sau giải phóng, các đơn vị chủ lực và quân dân Bình Phước đã phá hủy các trụ sở làm việc, chiếm giữ các hệ thống phòng thủ sẵn sàng đánh địch phản kích; đồng thời sơ tán dân ra vùng giải phóng, cấp phát lương thực, thực phẩm cho dân. Mặt khác, phát động phong trào nhân dân đào hầm tránh bom, pháo, cắm chông ở các trảng trống để chống máy bay đổ bộ.

Quyết không để giặc tái chiếm Phước Long, ta tổ chức Ban chỉ huy phòng thủ gồm một số đồng chí ở quân đoàn. Đồng chí Lê Hùng làm Phó chỉ huy. Ban quân quản có Lê Hùng, Bảy Kính.

Mất Phước Long, ngụy quyền Sài Gòn rất hoang mang. Thiệu lên đài truyền hình kêu gọi “toàn quốc dành 3 ngày để cầu nguyện cho Phước Long” và hắn tuyên bố “sẽ tái chiếm Phước Long”.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Tám, 2011, 09:29:33 AM
Sáng ngày 10 tháng 1 năm 1975 địch dùng trực thăng đổ quân để giải tỏa, tái chiếm Phước Long. Nhưng khi máy bay vừa hạ độ cao để đổ quân xuống đồi 230, lập tức các đơn vị cao xạ của ta nổ súng bắn rơi một số máy bay. Số còn lại hoảng hốt bay thẳng về Sài Gòn. Ở hướng gần cầu Đăk Lung địch cũng dùng máy bay lên thẳng đổ quân. Khi máy bay còn quần thảo trên cao đã bị cao xạ của đơn vị phòng không ta bắn rơi 2 chiếc. Số còn lại bay về.

Kế hoạch giải tỏa Phước Long bị thất bại, địch chạy về hướng Quảng Đức trưa ngày 6 tháng 1 năm 1975 giặc điên cuồng dùng máy bay ném bom xung quanh khu vực Phước Long và căn cứ Đăk Lung giết chết hàng trăm thường dân vô tội. Quân dân Phước Long được sự hỗ trợ của bộ đội chủ lực đã anh dũng đập tan âm mưu giải tỏa của địch, giữ vững thành quả đã giành được.

Lần đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trên toàn miền, quân dân ta đã giải phóng hoàn toàn một tỉnh ở ngay cửa ngõ phía bắc Sài Gòn. Phước Long đã trở thành bàn đạp chiến lược quan trọng ở miền Đông Nam Bộ, một địa bàn đứng chân của khối chủ lực cơ động Miền. Chiến thắng Đường 14 - Phước Long có ý nghĩa nhiều mặt: chiến thuật, chiến dịch, chiến lược, tạo thế và xây dựng lực lượng ở chiến trường B2; là một thực tiễn lớn để đánh giá khả năng phản ứng của ngụy và khả năng can thiệp trở lại của Mỹ, góp phần hạ quyết tâm chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Chiến thắng Phước Long, quân dân miền Đông Nam Bộ đã phá tan vành đai phòng thủ kiên cố, tiền đồn án ngữ của quân đội ngụy, cửa ngõ vào Sài Gòn - sào huyệt cuối cùng của ngụy. Qua đó đã phơi bày uy lực của binh khí, kỹ thuật hiện đại Mỹ và khả năng chống đỡ tuyệt vọng của đội quân chủ lực tay sai đang dao động trước quả đấm sấm sét của bộ đội chủ lực cùng quân dân Phước Long.

Giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long đã đánh dấu cuộc đọ sức giữa ta và địch, giữa chính nghĩa và phi nghĩa, tạo được một hậu phương mới, một bàn đạp tiến công, một binh trạm dừng chân cho xe tăng, pháo và các đơn vị vũ trang. Từ chiến thắng này đã động viên, cổ vũ, thôi thúc tinh thần quần chúng và toàn quân ta trên mọi miền đất nước tiến lên giải phóng; thế và lực của ta trên chiến trường miền Nam nói chung và miền Đông Nam Bộ nói riêng càng lớn mạnh hơn bao giờ hết. Tiền đề thắng lợi trong cuộc chiến tranh cách mạng, giải phóng miền Nam càng rõ nét.

Sau chiến thắng Phước Long, ngày 8 tháng 1 năm 1975, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã ra nghị quyết nêu rõ: “Chiến thắng Phước Long mở ra khả năng giành tháng lợi theo phương án dự kiến 2 năm 1975-1976 và quyết tâm kết thúc chiến tranh sớm trong năm 1975 khi thời cơ đến. Ta có đầy đủ quyết tâm và điều kiện thắng địch, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc”.

Ngày 31-1 nhân dân Phước Long hân hoan đón đoàn đại biểu Ủy ban Mặt trận giải phóng và Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh Bình Phước do đồng chí Đỗ Văn Nuống (Tư Nguyện) dẫn đầu đến thăm đồng bào Phước Long, Phước Bình và dự mít tinh chào mừng Phước Long giải phóng. Trong buổi lễ long trọng này, thay mặt Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận giải phóng Bình Phước, đồng chí đã biểu dương những đóng góp to lớn của quân dân Phước Long đã góp phần làm nên chiến thắng. Đồng thời đồng chí cũng nhắc nhở Đảng bộ và nhân dân luôn đề cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu chống phản kích để giữ vững thành quả cách mạng, sớm ổn định đời sống nhân dân và tích cực tham gia mọi hoạt động để góp phần cùng cả nước tiến lên giành thắng lợi cuối cùng.

Thực hiện chỉ đạo của Tỉnh ủy, quân dân Phước Long hứa quyết tâm đoàn kết gắn bó với dảng, chính quyền và Mặt trận cùng nhau ra sức bảo vệ chính quyền cách mạng, xây dựng cuộc sống mới và tích cực tham gia mọi hoạt động cách mạng để góp phần cùng cả nước tiến lên giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Sau khi ta giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long (6-1-1975) bọn địch ở An Lộc (Bình Long) ngày đêm cố thủ dưới các chiến hào, trong lúc đó ngày 20-3, hai sư đoàn ngụy  lại bị cầm chân ở Tây Ninh. Không có khả năng tiếp viện cho nhau, và biết chắc sẽ bị tiêu diệt, ngày 22-3-1975 địch rút chạy về Chơn Thành kết hợp với bọn ngụy ở Chơn Thành trấn giữ cửa ngõ vùng Tây Bắc Sài Gòn.

Trước diễn biến mới, ngày 20 tháng 3 năm 1975, theo chỉ đạo của Bộ Chỉ huy Miền, lực lượng vũ trang tỉnh Bình Phước tạm dừng hành quân ra giải phóng Gia Nghĩa (nhiệm vụ đã giao ban đầu) và cấp tốc quay lại, từ hướng Bù Đốp, hành quân xuống bao vây Bình Long để lực lượng Bình Long xuống bao vây Chơn Thành. 8 giờ tối ngày 23 tháng 3 năm 1975, nhận được thông báo của Miền về việc trong đêm địch ở Bình Long rút chạy xuống Chơn Thành để tiếp tục xuống Lai Khê, đồng thời bàn với Bí thư Huyện ủy Năm Phong, các đồng chí Huyện đội (Út Trơn, Ba Liệt) đưa đại đội địa phương tổ chức bao vây phía nam, nghi binh là trung đoàn để cầm chân địch. Trưa 24 tháng 3 năm 1975 lực lượng tỉnh phối hợp lực lượng Quân đoàn 4 đánh Chơn Thành.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Tám, 2011, 09:32:39 AM
Được tin giặc bỏ chạy, lực lượng vũ trang huyện Bình Long kết hợp với một trung đoàn của sư đoàn 341 cùng lực lượng của sư 9 tiến hành truy kích sau đó bao vây chi khu Chơn thành.

Có thêm quân từ tiểu khu Bình Long, chi khu An Lộc về, lực lượng địch khá mạnh, gồm có một liên đoàn biệt động quân, 3 pháo đội, 4 chi đội xe tăng thiết giáp cùng với lính bảo an, dân vệ.

Thế nhưng, thực hiện chỉ thị của Bộ Chính trị và Thường vụ Trung ương Cục, bộ đội địa phương kết hợp với bộ đội chủ lực mở trận tấn công đánh thẳng vào chi khu.

Trước tiên quân ta đánh vào các chốt bảo an ở ấp Chơn Thành 2, Ngọc Lầu, sau đó tiến vào phía bắc chi khu. Ở phía đông, ta bắn kìm chân lực lượng biệt động quân đóng ở vườn cao su ngã tư Chơn Thành. Các cánh quân của ta tiến công mãnh liệt, song hỏa lực của địch mạnh, lực lượng bố phòng dày đặc, địch đã phản kích dữ dội. Pháo từ chi khu, từ Tòa hành chính liên tiếp bắn vào đội hình ta, gây cho ta nhiều tổn thất.

Mặc dù nhiều chiến sĩ của ta hy sinh nhưng quyết tâm giải phóng chi khu không suy giảm. lực lượng đặc công của tỉnh do đồng chí Út Tính chỉ huy đã nhanh chóng tìm cách khắc phục những bất lợi về địa hình ở phía tây, tiêu diệt trận địa pháo của liên đoàn biệt động quân bên cạnh Tòa hành chính, sau đó phối hợp với cánh quân phía tây từ Nha Bích lên, phá cổng chi khu, mở đường cho quân chủ lực và bộ đội tỉnh đánh vào. Ngày 31-3-175 ta tiếp tục tăng cường thêm lực lượng mở đợt tấn công vào chi khu Chơn Thành, đến sáng ngày 2-4-1975 địch tháo chạy. Được nhân dân địa phương giúp đỡ, ta tiếp tục truy quét, bắt thêm một số tên địch và một số khác lần lượt ra đầu thú với cách mạng.

Chiều ngày 2-4-1975 Chơn Thành được giải phóng, cũng là ngày giải phóng toàn tỉnh Bình Phước.

Sau chiến thắng Phước Long, Chơn thành và toàn tỉnh Bình Phước được giải phóng đã phá vỡ một trong những tuyến phòng ngự kiên cố của địch ở phía tây bắc Sài Gòn, bảo đảm cho các quân đoàn chủ lực hành quân vào vị trí tập kết lực lượng và chiếm lĩnh bàn đạp tiến công Sài Gòn.

Bộ chỉ huy Miền chỉ thị cho Tỉnh đội trưởng Bình Phước Lê Hùng liên lạc với Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bình Dương phối hợp đánh Lai Khê. Mặc dù không liên lạc được, lực lượng vũ trang Bình Phước tiến hành trinh sát vùng bắc Lai Khê. Địch ở đây tháo chạy, lực lượng vũ trang Bình Phước tiếp quản rồi giao lại cho Bến Cát.

Trong khí thế chiến thắng, ngày 31-3-1975 Bộ chính trị họp nhận định thời cơ giải phóng Sài Gòn - Gia Định đã chín muồi. “Hiện nay ta có đầy đủ lực lượng và khả năng để giành thắng lợi hoàn toàn trong một thời gian ngắn hơn dự kiến rất nhiều. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cầm nắm vững thời cơ chiến lược hơn nữa với tư tưởng chỉ đạo thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng, thực hiện tổng công kích, tổng khởi nghĩa trong thời gian sớm nhất, tốt nhất là trong tháng 4-1975, không thể để chậm”(1).

Đầu tháng 4-1975, tỉnh Bình Long được hoàn toàn giải phóng. Đảng bộ các địa phương và chính quyền cách mạng lo tiếp quản, thu gom vũ khí, truy quét tàn binh, ổn định đời sống nhân dân và động viên nhân dân tình nguyên đi dân công phục vụ tiền tuyến, tòng quân giết giặc. Ở Bình Long, Phước Long, Lộc Ninh, Bù Đốp đông đảo thanh niên đã tích cực tham gia du kích, bộ đội chủ lực. Toàn tỉnh có hơn 2.000 đồng bào tình nguyện đi dân công. Lộc Ninh có 39 thanh niên xung phong gia nhập quân giải phóng. Những ngày này các nơi trong tỉnh nhộn nhịp không khí khởi nghĩa, cùng cả nước sẵn sàng bước vào chiến dịch lịch sử, thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Trong những ngày tháng 4-1975, tại sóc Tà Thiết và Lộc Ninh cách 17km là thị trấn Lộc Ninh giải phóng, xa hơn 30km đường bộ là thị xã An Lộc (Bình Long); tại dây, đã từng diễn ra các cuộc họp quan trọng, để cho quân dân Nam Bộ lập ra kỳ công mới.

Ngày 7 tháng 4 năm 1975, tại Hội trường giao ban của Bộ tư lệnh Miền, đồng chí Phạm Hùng đã chủ trì cuộc họp quan trọng giữa đoàn cán bộ của Bộ Tham mưu với Trung ương Cục và Quân ủy Miền, đánh giá toàn bộ tình hình, đồng thời quán triệt Chỉ thị của Bộ Chính trị ngày 1 tháng 4 về quyết tâm và phương án giải phóng Sài Gòn với phương châm: “Phải thần tốc, thần tốc toàn thắng, nhất định toàn thắng”.

Chiều hôm đó, giữa lúc cuộc họp đang diễn ra sôi nổi, đồng chí Lê Đức Thọ, Ủy viên Bộ Chính trị từ miền Bắc vào tới Tà Thiết tham gia lãnh đạo thực hiện trận quyết chiến.

Ngày 8 tháng 4 năm 1975, cuối cuộc họp, đồng chí Lê Đức Thọ thay mặt Bộ Chính trị, phổ biến tình hình nghị quyết của Đảng về việc thành lập Bộ chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định. Bộ chỉ huy do Đại tướng Văn Tiến Dũng làm Tư lệnh, đồng chí Phạm Hùng làm Chính ủy. Các đồng chí Trần Văn Trà, Lê Đức Anh, Lê Trọng Tấn và Đinh Đức Thiện làm Phó tư lệnh. Sở chỉ huy đóng tại Tà Thiết.

Cũng trong ngày 8 tháng 4 năm 1975, phi công Nguyễn Thành Trung(2) sau khi ném bom vào dinh Độc Lập rồi bay về hạ cánh an toàn tại sây bay Phước Bình (Phước Long). Sự kiện này làm cho tình hình Sài Gòn thêm rối loạn.


(1) Nghị quyết Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng. (T.G).
(2) Người của ta cài vào hàng ngũ địch (T.G).


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Tám, 2011, 09:33:51 AM
Trung tuần tháng 4 năm 1975, Tư lệnh các quân đoàn 1 và 3 đã trực tiếp đến sở chỉ huy chiến dịch Tà Thiết nhận nhiệm vụ.

Căn cứ Tà Thiết bước vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh với không khí khẩn trương, nhộn nhịp. Cán bộ các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần làm việc nghiêm túc, khẩn trương. Chuông điện thoại đổ hồi ở các văn phòng.

Ngày 14 tháng 4 năm 1975, để có một tên gọi xứng đáng với một chiến dịch lớn nhất, có ý nghĩa nhất, kết thúc cuộc chiến tranh dài 21 năm chống đế quốc Mỹ, Bộ chỉ huy chiến dịch đề nghị và Bộ Chính trị quyết định đặt tên cho chiến dịch giải phóng Sài Gòn là Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Ngày 22 tháng 4 năm 1975, Bộ chỉ huy chiến dịch duyệt lần cuối cùng kế hoạch mang tên Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Ngày 26 tháng 4 năm 1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu. Một bộ phận của Bộ chỉ huy chiến dịch - Bộ chỉ huy tiền phương rời Tà Thiết về đóng chỉ huy sở tại Cămxe (Bến Cát). Sở chỉ huy cơ bản vẫn đóng tại Tà Thiết để giải quyết toàn bộ tình hình và chiến trường chung.

Để thực hiện thành công Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Bộ tư lệnh 559 chuyển lực lượng và phương tiện vận tải từ tây sang đông, từ tuyến tây Trường Sơn sang quốc lộ 1.

Hai trung đoàn ô tô 571 cùng với lực lượng xe của tuyến vận tải hậu phương và các trung đoàn giao liên đã cơ động từ miền Bắc theo đường 15, đường 14 vào miền Đông Nam Bộ.

Sư đoàn 471 tập trung 1468 xe chở toàn bộ Quân đoàn 3 vào Lộc Ninh và vận chuyển 6.000 tấn vũ khí vào Đồng Xoài.

Cùng với lực lượng vận tải chiến lược, lực lượng vận tải chiến dịch do Bộ Tư lệnh Miền, các quân đoàn có kết hợp với nhân dân địa phương đã tranh thủ thời gian huy động hết khả năng phương tiện của đơn vị và nhân dân để bảo đảm yêu cầu vận chuyển vật chất và cơ động bộ đội.

Sáu tuyến vận tải bảo đảm cho các hướng tiến công vào Sài Gòn được hình thành, đa số các tuyến này đều xuất phát từ các địa bàn thuộc tỉnh Bình Phước, cụ thể là:

- Tuyến 1: Từ Lộc Ninh, Đồng Xoài đi Tà Lài, Cây Gáo, Vĩnh An tới Đoàn 814 La Ngà, Xuân Lộc và Túc Trưng, Dầu Giây bảo đảm cho hướng Đông.

- Tuyến 2: Từ Bù Gia Mập, Lộc Ninh, Đồng Xoài đi Bến Cầu tới các cụm thuộc Đoàn 210 đảm bảo cho hướng Bắc.

- Tuyến 3: Từ Đồng Xoài, Lộc Ninh đi Chơn Thành, Dầu Tiếng tới Đoàn 235 đảm bảo cho hướng Tây Bắc.

- Tuyến 4: Từ Lộc Ninh đi An Lộc, Võ Tùng, Dầu Tiếng đảm bảo cho hướng Tây Bắc.

- Tuyến 5: Từ Bù Đốp, Lộc Ninh, Đồng Xoài đi Lò Gò, Tà Nông xuống đường 1 với Đoàn 230 và 240, bảo đảm cho hướng Tây và hướng Nam.

- Tuyến 6: Là tuyến dự bị trên trục lộ 13 đi Bến Cát, Bình Dương và từ lộ 13 đến Dầu Tiếng, Gò Dầu xuống Đoàn 240, tạo thế liên hoàn trên các hướng.

Song song với các tuyến vận tải, quân dân ta mở cuộc tiến công quy mô lớn từ 5 hướng đánh vào Sài Gòn. Trên đường tiến quân, bộ đội ta lần lượt đập tan các tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch, hỗ trợ lực lượng vũ trang và nhân dân các địa phương giải phóng các tỉnh xung quanh Sài Gòn.

Từ ngày 2 tháng 4 năm 1975, Bình Phước sạch bóng quân thù. Quân dân Bình Phước ra sức ổn định tình hình, xây dựng và bảo vệ vùng mới giải phóng, tham gia phục vụ chiến dịch Hồ Chí Minh, góp phần vào thắng lợi vĩ đại ngày 30 tháng 4 năm 1975 giải phóng hoàn toàn Sài Gòn, giải phóng miền Nam, kết thúc cuộc kháng chiến 30 năm chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, hoàn thành trọn vẹn sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Tám, 2011, 09:35:33 AM
KẾT LUẬN

Cùng với Đông Nam Bộ và cả nước, quân và dân tỉnh Bình Phước vừa đi hết chặng đường tròn 30 năm kháng chiến chống xâm lược bắt đầu từ ngày 23 tháng 9 năm 1945 đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975 với đỉnh cao chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Chặng đường 30 năm ấy là bản anh hùng ca vĩ đại trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng bộ địa phương, quân và dân tỉnh Bình Phước tự hào đã góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và thống nhất Tổ quốc.

Nằm trong đặc điểm chung của chiến trường toàn miền Nam, chiến trường Đông Nam Bộ, Bình Phước có những nét riêng và những nét riêng ấy chi phối sâu sắc đến quá trình phát triển của cuộc kháng chiến ở địa phương.

Bình Phước là tỉnh có sự thay đổi liên tục về tổ chức địa lý hành chính. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Bình Phước thuộc phần đất phía bắc hai tỉnh Thủ Dầu Một (Hớn Quản, Bù Đốp) và Biên Hòa (Bà Rá), đến năm 1961 mới gộp chung lại trong tỉnh Thủ Biên. Sang thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ta tổ chức địa giới hành chính kháng chiến căn cứ vào sự lập tỉnh của chính quyền ngụy Sài Gòn: Bình Phước gồm hai tỉnh Bình Long,  Phước Long, lần lượt trực thuộc các quân khu 1, 6, 10 rồi phân khu Bình Phước. Đến cuối năm 1972, tỉnh Bình Phước được chính thức thành lập trên cơ sở giải thể phân khu Bình Phước và tổ chức này tồn tại đến ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam. Sự thay đổi liên tục về tổ chức địa lý hành chính nêu trên phản ánh mức độ phức tạp ác liệt của chiến trường Bình Phước cũng như vị trí, vai trò đặc biệt của tỉnh trong công cuộc kháng chiến.

Là một tỉnh miền núi, ó đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm một bộ phận lớn trong cấu trúc cư dân. Công cuộc kháng chiến ở Bình Phước do đó gắn liền với hoạt động tuyên truyền vận động đồng bào dân tộc ít người và mối liên hệ đoàn kết giữa họ với các lực lượng kháng chiến trong quá trình đấu tranh chống kẻ thù chung. Đồng thời, Bình Phước cũng là địa bàn tập trung nhiều đồn điền cao su thuộc các công ty tư bản lớn của thực dân Pháp với số lượng đông đảo công nhân nông nghiệp làm thuê. Hầu hết trong số họ vốn là những nông dân bị khánh kiệt ruộng đất ở Bắc, Trung kì, bị lừa mị vào làm phu contra tại các đồn điền “địa ngục trần gian”, đời sống hết sức khổ cực và có mối căm thù sâu sắc với phong kiến, đế quốc. Đồng bào dân tộc thiểu số và công nhân cao su là hai thành phần cư dân chính ở địa phương tham gia kháng chiến và điều này tạo ra sắc thái riêng ở Bình Phước trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc 30 năm qua.

Nằm ở cực bắc miền Đông Nam Bộ, trên triền thoải cuối cùng của cao nguyên Trung Bộ xuống miền Nam, có chung đường biên giới với Campuchia, lại án ngữ giao điểm các lộ 13, 14 và hành lang Bắc - Nam, Đông - Tây của Đông Nam Bộ, Bình Phước có vị trí quân sự đặc biệt quan trọng. Điều đó làm cho nơi đây trở thành đầu mối cuối cùng của hệ thống đường vận tải chiến lược Bắc - Nam trên bộ, nơi hoàn chỉnh thêm hệ thống tuyến đường Hồ Chí Minh, một trong những trung tâm giao liên vận tải ở miền Đông Nam Bộ cũng như ở phần phía Nam chiến trường ba nước Đông Dương, trở thành một trong những căn cứ địa chiến lược, hậu phương tại chỗ, thủ phủ của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và các cơ quan đầu não kháng chiến. Bình Phước còn là nơi diễn ra nhiều chiến dịch, trận đánh quan trọng mà kết quả của nó có ý nghĩa làm chuyển biến cục diện chiến trường, tác động sâu sắc đến tiến trình của cuộc chiến tranh.

Từ trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Bình Phước đã là một trong những trung tâm sôi động trong phong trào đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp ở Nam Bộ. Đây là những cuộc khởi nghĩa vũ trang của đồng bào các dân tộc M’nông, S’tiêng, Tàmung do Điều Dó, Nơ Trang Long lãnh đạo chống thực dân Pháp xâm lược vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Đó là sự ra đời của chi bộ Đảng Cộng sản tại đồn điền Phú Riềng tháng 10 năm 1929 và phong trào đấu tranh của công nhân các đồn điền cao su ở Bình Phước bắt đầu từ sự kiện “Phú Riềng đỏ” tháng 2 năm 1930. Đó là sự kiện hàng vạn nông dân, công nhân cao su, đồng bào dân tộc thiểu số, công nhân hỏa xa, công nhân sở củi ở Bà Rá, Hớn Quản, Bù Đốp nhất tề đứng dậy Tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, góp phần làm nên cuộc Cách mạng tháng Tám vĩ đại năm 1945.

Tiếng súng kháng chiến chống thực dân Pháp tái xâm lược ở Bình Phước nổ ra vào cuối năm 1945, sau hơn ba tháng kể từ sự kiện ngày 23 tháng 9 năm 1945. Trong hơn ba tháng ấy, cùng với nỗ lực xây dựng củng cố chính quyền cách mạng, xây dựng cuộc sống mới, đóng góp sức người sức của và trực tiếp tham gia chiến đấu ngăn chặn bước chân xâm lược của thực dân Pháp ở Sài Gòn và các tỉnh phụ cận, quân và dân Bình Phước đã ra sức xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, huấn luyện quân sự, tổ chức chiến trường, sẵn sàng chiến đấu đánh địch tái chiếm quê hương. Trong điều kiện hết sức khó khăn của buổi đầu kháng chiến, thế và lực địch đang áp đảo, quân và dân Bình Phước đã khẩn trương phát triển và củng cố hệ thống tổ chức Đảng, hệ thống tổ chức chính quyền và mặt trận cứu quốc, phát triển và chấn chỉnh lực lượng vũ trang, phát động phong trào chiến tranh nhân dân rộng khắp, góp phần làm phá sản chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của thực dân Pháp, tạo điều kiện cho nhân dân cả nước chuẩn bị lực lượng mọi mặt cho cuộc kháng chiến trường kỳ.

Từ đầu năm 1947, thực dân Pháp mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược ra phạm vi cả nước và tập trung bình định ở Nam Bộ. Bình Phước trở thành địa bàn trọng điểm khai thác nguồn lợi cao su của tư bản thực dân Pháp nhằm phục vụ cho cuộc chiến tranh xâm lược và góp phần vãn hồi nền kinh tế nước Pháp đang bị kiệt quệ kể từ sau Đại chiến Thế giới thứ hai. Vừa gióp phần xây dựng các đơn vị bộ đội tập trung của trên, các địa phương ở Bình Phước và ra sức phát triển lực lượng vũ trang ở huyện, xã, tiến tới hình thành lực lượng vũ trang ba cấp. Phối hợp nhịp nhàng với phong trào đấu tranh chính trị ở các huyện lỵ, các đồn điền cao su, nhân dân và các đơn vị vũ trang địa phương đẩy mạnh hoạt động diệt ác phá kìm, chống địch càn quét lấn chiếm và tổ chức đánh phục kích trên dọc các đường giao thông. Hàng loạt trận đánh giao thông địch trên quốc lộ 13, quốc lọ 14, đường sắt Sài Gòn - Lộc Ninh và phong trào “cao su chiến” phá hoại cao su của tư bản thực dân Pháp trong các đồn điền cao su ở Phú Riềng, Bình Long, Lộc Ninh là hai mảng hoạt động nổi bật nhất ở Bình Long trong giai đoạn 1947-1951; hai mảng hoạt động góp phần chống lại chính sách bình định, “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” của địch và xây dựng nền kinh tế kháng chiến của ta.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Tám, 2011, 09:37:03 AM
Trong điều kiện đặc biệt khó khăn do chính sách bao vây kinh tế của địch gây ra, từ giữa năm 1951 thực hiện chỉ thị của trên, quân và dân Bình Phước đã kịp thời tổ chức lại chiến trường, sắp xếp lại lực lượng, xây dựng hợp lý các đại đội bộ đội địa phương huyện, các đội vũ trang tuyên truyền và binh chủng chuyên môn cùng lực lượng dân quân du kích xã ấp Cùng với quân và dân toàn tỉnh Thủ Biên, quân và dân Bình Phước đã ra sức khắc phục hậu quả thiên tai, khắc phục những biểu hiện “hữu khuynh” trong thực hiện phương châm vùng kháng chiến, kiên cường bám trụ, đánh địch càn quét lấn chiếm, giữ vững và mở rộng vùng căn cứ địa. Đồng bào dân tộc thiểu số, nông dân, công nhân cao su và lực lượng vũ trang phối hợp đẩy mạnh đấu tranh chính trị, đấu tranh địch vận và hoạt động quân sự, duy trì và phát triển phong trào chiến tranh du kích, phối hợp có hiệu quả với quân và dân cả nước trong chiến cục đông xuân 1953-1954 mà đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ, góp phần kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Mặc dù ký kết Hiệp định Genève, nhưng đế quốc Mỹ đã ngang nhiên xé bỏ Hiệp định, trực tiếp nhảy vào miền Nam Việt Nam, thay chân Pháp tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược dưới hình thức chủ nghĩa thực dân kiểu mới. Địa bàn Bà Rá, Bù Đốp, Hớn Quản được tổ chức thành hai tỉnh Bình Long, Phước Long. Trong điều kiện lịch sử mới, Đảng bộ và nhân dân Bình Long - Phước Long đã kiên trì gìn giữ lực lượng cách mạng, đấu tranh chống địch “tố cộng diệt cộng”, đòi địch thi hành Hiệp định Genève, đòi quyền dân sinh, dân chủ trong các đồn điền cao su. Từ trong phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, từng bước và dưới nhiều hình thức, các đơn vị vũ trang được tái thành lập. Đồng thời, căn cứ địa kháng chiến được từng bước khôi phục và mở rộng. Bình Long - Phước Long trở thành một trong những địa bàn sôi động của hoạt động tái lập lực lượng vũ trang cách mạng, hoạt động đấu tranh vũ trang hỗ trợ cho đấu tranh chính trị tiến tới cao trào đồng khởi giành quyền làm chủ phần lớn vùng nông thôn rừng núi.

Sau thất bại của chính sách “tố cộng diệt cộng”, Mỹ Diệm chuyển sang thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, ráo riết bình định miền Nam với quốc sách “ấp chiến lược”. Cùng với quân và dân toàn miền Nam, quân và dân Bình Phước khẩn trương xây dựng và ổn định tổ chức chiến trường và lực lượng, phát triển thế trận chiến tranh nhân dân, đấu tranh giữ vững con đường Hồ Chí Minh mới được khai mở ở đoạn thuộc tỉnh Bình Phước. Bình Phước trở thanh khu vực đầu mối cuối cùng của hệ thống đường giao liên và vận tải chiến lược Bắc Nam trên bộ, một trong những trung tâm hoạt động giao liên vận tải ở miền Đông Nam Bộ cũng như phần phía Nam chiến trường ba nước Đông Dương, một căn cứ hậu phương tại chỗ trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Các lực lượng vũ trang cùng nhân dân đẩy mạnh phong trào phá ấp chiến lược bằng cả ba mũi giáp công, tổ chức hàng loạt trận phục kích trên quốc lộ 13, 14, trận tiến công vào tỉnh lỵ Phước Thành, tiểu khu Phước Long, chi khu Phước Bình, chi khu Đồng Xoài, đánh quân tiếp viện ở Thuận Lợi, góp phần đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ ngụy.

Từ giữa năm 1965, đế quốc Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, trực tiếp đưa quân chiến đấu Mỹ của du kích An Điền, quân và dân Bình Phước đã tổ chức đánh Mỹ, diệt ngụy, đẩy mạnh thành phong trào rộng khắp trong toàn tỉnh, góp phần làm nên những chiến thắng vang dội ở Bàu Bàng, Bông Trang, Nhà Đỏ. Cùng với lực lượng chủ lực của trên, lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương nỗ lực chiến đấu và phục vụ chiến đấu, góp phần đánh bại hai cuộc phản công chiến lược “tìm diệt” và “bình định” của địch trong các mùa khô 1965-1966, 1966-1967, chuẩn bị chiến trường, vận chuyển dự trữ, tiếp tế hậu cần, tạo thế tạo lực chuẩn bị mọi mặt cho Tổng tiến công và nổi dậy và thực hành chiến đấu ghìm chân địch, tham gia Tổng tiến công và nổi dậy trong suốt cả ba đợt của sự kiện tết Mậu Thân (1968).

Thất bại trong chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, địch buộc phải chuyển sang thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, đẩy mạnh “quét và giữ”, “bình định” giành dân, mở rộng chiến tranh sang Campuchia. Chúng ồ ạt tổ chức các cuộc hành quân “Đồng tiến”, “Toàn thắng 44, 45, 46” vào Đồng Xoài, Bình Long, Phước Long, gây cho ta rất nhiều khó khăn, tổn thất. Vượt qua mọi cam go thử thách, bộ đội, du kích, nông dân, công nhân các đồn điền cao su, đồng bào dân tộc thiểu số ở Bình Phước đã kiên cường bám trụ, chiến đấu đánh địch càn quét, lấn đất giành dân, giữ vững lực lượng, giữ vững địa bàn, phát triển căn cứ địa dọc khu vực biên giới Việt Nam - Campuchia. Và, cùng với lực lượng chủ lực của Miền, của Khu, quân và dân Bình Phước đã vượt lên, tham gia chiến dịch Nguyễn Huệ, đánh địch ở Lộc Ninh, Hớn Quản, Chơn Thành, giải phóng hoàn toàn Lộc Ninh, tạo địa bàn cho việc xây dựng thủ phủ Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, căn cứ của Bộ Tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam (Bộ chỉ huy Miền) cùng các cơ quan đầu não kháng chiến ở Nam Bộ trong giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh.

Mặc dù buộc phải ký Hiệp định Pari về Việt Nam, nhưng đế quốc Mỹ vẫn ngoan cố tiếp tục thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, ra sức phá hoại Hiệp định. Chúng đưa quân lấn chiếm Đồng Xoài, ném bom Lộc Ninh, sẵn sàng gây lại chiến tranh lớn. Quân và dân Bình Phước một mặt nỗ lực xây dựng vùng giải phóng Lộc Ninh - thủ đô của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam vững mạnh về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa xã hội, mặt khác chủ động đánh địch vi phạm Hiệp định. Lực lượng vũ trang và nhân dân Bình Phước trong đó đông đảo công nhân cao su và đồng bào các dân tộc thiểu số đã đấu tranh giữ vững và phát triển mạng lưới đầu cầu trong hệ thống đường Hồ Chí Minh Bắc - Nam trên bộ ở Bình Phước, tạo điều kiện để tiếp nhận sức người, sức của từ hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa với quy mô lớn; tham gia chiến dịch Đường 14 - Phước Long, giải phóng toàn tỉnh, hoàn thành nhiệm vụ thực hành đòn trinh sát chiến lược cho cuộc Tổng tổ chức và nổi dậy giải phóng miền Nam. Và trong mùa xuân năm 1975, nhân dân và lực lượng vũ trang Bình Phước cùng lực lượng của trên thực hành Tổng tổ chức và nổi dậy, lần lượt giải phóng An Lộc, Chơn Thành, Đồng Xoài và tất cả các địa phương còn lại trong tỉnh, giữ vững bàn đạp cho các binh đoàn chủ lực tiến về giải phóng Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Tám, 2011, 09:38:35 AM
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược của quân và dân Bình Phước đã góp phần cùng quân và dân cả nước giành được thắng lợi vẻ vang. Thành công của quân và dân Bình Phước trong 30 năm kháng chiến bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân:

Trước hết và cơ bản nhất là do các tổ chức Đảng bộ ở Bình Phước đã vận dụng một cách đúng đắn, linh hoạt đường lối và phương pháp cách mạng sáng suốt, tài tình của Đảng Cộng sản, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trực tiếp là Xứ ủy Nam Bộ, Trung ương Cục miền Nam và Khu ủy miền Đông để đề ra chủ trương, nhiệm vụ và biện pháp tổ chức thực hiện sát hợp, có hiệu quả ở địa phương.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, dựa trên cơ sở hệ thống các tổ chức Đảng tồn tại khá mạnh khắp các địa phương và đồn điền cao su (như Phú Riềng, Lộc Ninh,…), tổ chức Đảng Cộng sản được củng cố vững chắc ngay từ sau ngày Cách mạng Tháng Tám và giai đoạn đầu cuộc kháng chiến. So với nhiều địa phương khác ở Nam Bộ, tổ chức Đảng ở Bình Phước ngay từ đầu đã xác lập một cách vững chắc sự lãnh đạo đối với lực lượng vũ trang, lấy lực lượng vũ trang làm nòng cốt trong đấu tranh quân sự chống xâm lược. Trong những thời điểm đặc biệt khó khăn cuối năm 1945 đầu năm 1946 hay cuối năm 1952 đầu năm 1953, có những địa bàn ở phía bắc hoàn toàn không có cơ sở kháng chiến, các tổ chức Đảng ở Bình Phước vẫn kiên trì giữ vững đội ngũ, không ngừng phát triển số lượng và nâng cao chất lượng đảng viên, nắm vững sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy cấp trên và đề ra phương hướng nhiệm vụ sát hợp với đặc điểm tình hình của địa phương. Đó là chủ trương nắm và xây dựng lực lượng vũ trang ngay từ trong và sau Cách mạng tháng Tám, trước hết dựa vào lực lượng tự vệ chiến đấu trong các đồn điền cao su; chủ trương vận động công nhân cao su, vận động đồng bào dân tộc thiểu số cùng sát cánh đoàn kết kháng chiến; chủ trương kết hợp đấu tranh quân sự (mà hoạt động chủ yếu là phục kích và tập kích địch trên đường giao thông) với đấu tranh chính trị và đấu tranh kinh tế tạo nên sức mạnh tổng hợp chung…

Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, dựa vào đặc điểm địa bàn rừng núi, tổ chức Đảng bộ các cấp ở Bình Phước đã nỗ lực gây dựng và phát triển lực lượng, duy trì sự lãnh đạo vững chắc của Đảng từ sau khi thực hiện Hiệp định Genève. Trong những ngày địch phản kích quyết liệt sau sự kiện Mậu Thân 1968, các tổ chức Đảng ở Bình Phước vẫn kiên cường bám trụ lãnh đạo quân và dân địa phương chủ động tiến công và phản công địch, đấu tranh quyết liệt ở vùng nông thôn tạm bị chiếm và vùng tranh chấp, trên tất cả các mặt quân sự, chính trị và binh vận. Xây dựng và bảo vệ căn cứ địa, giữ vững và phát triển đoạn đường đầu cầu trong hệ thống liên lạc - vận tải chiến lược Bắc - Nam trên bộ, xác định quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ, tham gia chống trả các cuộc phản công mùa khô và hành quân bình định nông thôn của địch, tham gia cuộc tập kích chiến lược năm 1972 và các chiến dịch giải phóng Lộc Ninh, giải phóng Phước Long, xây dựng vùng giải phóng cả về quân sự chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội trên một địa bàn rộng lớn trước ngay 30 tháng 4 năm 1975… là những nội dung ở đó, các cấp bộ Đảng ở Bình Phước xây dựng nhiệm vụ kế hoạch và tổ chức lãnh đạo thực hiện một cách sáng tạo, đầy hiệu quả.

Thứ hai, do toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở Bình Phước đoàn kết một lòng, dám chấp nhận gian khổ hy sinh, kiên quyết vượt qua mọi khó khăn thử thách để kháng chiến chống xâm lược, giải phóng quê hương, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Cuộc kháng chiến chống xâm lược do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đã cuốn hút sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân khắp cả nước. Ở Bình Phước, ngay từ khi cuộc kháng chiến bùng nổ cho đến ngày kết thúc thắng lợi, toàn thể nhân dân thuộc mọi tầng lớp xã hội, không phân biệt già, trẻ, trai, gái, thành phần dân tộc, tôn giáo đều tham gia kháng chiến. Đó là lực lượng công nhân cao su ở các đồn điền, công nhân sở củi, sở hỏa xa, công nhân làm đường trên các lộ 13, 14; là nông dân làm rẫy, làm ruộng từ Bá Rá, Bù Đốp đến Hớn Quản, Lộc Ninh; là đồng bào các dân tộc ít người S’tiêng, M’nông, Ch’ro; là lực lượng bình dân thành thị, các tiểu chủ, tiểu thương, công chức, nhân sĩ, trí thức, học sinh ở các huyện lỵ, thị trấn, sở cao sủ của Tư bản Pháp; cả một số người trong tầng lớp cai, su ở các đồn điền, các tu sĩ đạo giáo và những người vốn một thời là binh lính cũ của quân đội Pháp, Nhật. Vì mục đích chung chống thực dân xâm lược bảo vệ nền độc lập dân tộc vừa giành được, tất cả đoàn kết thống nhất dưới ngọn cờ kháng chiến do Đảng Cộng sản lãnh đạo.

Không thể kể hết những khó khăn gian khổ và quân và dân Bình Phước đã chịu đựng trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt, từ những ngày cuối năm 1945 khi thực dân Pháp tái chiếm, khủng bố dã man những người tham gia cách mạng đến những năm 1952, 1953, khi cơn bão lụt ập đến tàn phá dữ dội, tình trạng hiếu gạo, thiếu muối diễn ra từng ngày một; rồi những ngày bị địch “tố cộng”, “diệt cộng” sau năm 1954, những ngày địch phản kích quyết liệt sau cuộc Tổng tiến công Mậu Thân năm 1968… Kẻ thù, cả thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, với trăm phương ngàn kế, từ sử dụng sức mạnh bom đạn cho đến chiến tranh tâm lý xảo quyệt vẫn không thể lung lạc ý chí chiến đấu và chia rẽ khối đoàn kết thống nhất trong nhân dân Bình Phước. Tin tưởng vào chính nghĩa, vào sự tất thắng của sự nghiệp kháng chiến do Đảng và Bác Hồ lãnh đạo, quân và dân Bình Phước đã lần lượt vượt qua mọi khó khăn thử thách, sáng tạo ra muôn vàn cách đánh linh hoạt, sáng tạo trên nền tảng cuộc chiến tranh nhân dân toàn dân toàn diện, lần lượt góp phần đánh bại các thủ đoạn chiến lược chiến tranh của địch, làm nên thắng lợi chung.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Tám, 2011, 09:39:42 AM
Thứ ba, quân và dân Bình Phước đã tạo ra được một hậu phương tại chỗ đồng thời tổ chức tiếp nhận có hiệu quả sự chi viện sức người, sức của của đồng bào toàn miền, đồng bào cả nước cho công cuộc kháng chiến.

Là một tỉnh miền núi, giáp với vùng cao nguyên Trung Bộ và biên giới Việt Nam - Campuchia, nghèo về kinh tế và xa sự chi viện của Trung ương, vấn đề cung ứng hậu cần kỹ thuật, vấn đề xây dựng tiềm lực mọi mặt cho kháng chiến luôn luôn là mặt trận bức xúc của Bình Phước, cả trong chiến tranh chống Pháp lẫn chống Mỹ. Trong quá trình tiến hành kháng chiến, các cấp bộ Đảng ở Bình Phước luôn chú trọng lãnh đạo xây dựng kinh tế, đẩy manh sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, làm than, khai gỗ, tạo nguồn lương thực thực phẩm cho bộ đội, cán bộ các cơ quan kháng chiến. Quyên góp, tiếp tế cho kháng chiến luôn luôn được duy trì, thành một hoạt động thường xuyên. Công nhân cao su tiếp tế lương thực, quần áo, máy móc (cho xưởng quân giới) trong những ngày đầu kháng chiến, phong trào công nhân cao su thực hiện “tuần lễ cứu trợ đồng bào bị bão lũ” năm 1952; đồng bào sóc Bom Bo giã gạo nuôi bộ đội; hàng vạn lượt dân công đêm đêm về Đồng Tháp Mười tải gạo, về Xuyên Mộc tải muối… là những hình ảnh đẹp còn lại mãi mãi trong ký ức mỗi người dân Bình Phước. Mặt khác, quân và dân Bình Phước chủ động đánh địch, “lấy của địch trang bị cho ta”. Hàng loạt cuộc chiến đấu phục kích dọc đường 13, đường 14, đường xe lửa Sài Gòn - Lộc Ninh, hàng loạt cuộc chiến đấu tập kích đồn bốt, sở cao su; những cuộc vận động các chủ đồn điền người Pháp, các chủ trại be, xe đò “nộp thuế” cho cách mạng… Tất cả, làm cho Bình Phước, dù là tỉnh nghèo và xa sự chi viện của Trung ương vẫn chủ động tạo ra một hậu phương tại chỗ, bảo đảm cung ứng về cơ bản mọi nhu cầu của cuộc kháng chiến.

Tuy nhiên, quân và dân Bình Phước hoàn thành được nhiệm vụ của mình một phần lớn nhờ sự chi viện to lớn về sức người, sức của, của đồng bào toàn Miền, đồng bào cả nước. Hàng loạt cán bộ cách mạng từ các nhà tù đế quốc, từ các địa phương khắp cả nước đã về đây hoạt động, tham gia lãnh đạo phong trào cách mạng. Các đơn vị vũ trang hoặc của trên về đứng cây trên địa bàn Bình Phước hoặc được điều về gia nhập, bổ sung cho Bình Phước đã góp phần nâng cao sức mạnh của đòn tiến công quân sự, hỗ trợ và thúc đẩy phong trào đấu tranh chính trị, đấu tranh binh vận ở các địa phương. Là địa bàn đầu mối cuối cùng của hệ thống đường giao liên vận tải chiến lược Bắc - Nam trên bộ, nơi trực tiếp tiếp nhận sự chi viện to lớn sức người sức của của hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa; nơi được cấp trên chọn lam hướng chủ yếu trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972 giải phóng hoàn toàn Lộc Ninh và thực hành chiến dịch “trinh sát chiến lược” giải phóng toàn tỉnh Phước Long; nơi được chọn xây dựng “Thủ đô” của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, căn cứ địa của Bộ Tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam, Bình Phước có nhiều điều kiện thuận lợi để mở rộng và phát triển căn cứ địa, mở rộng và phát triển vùng giải phóng. Chủ động chuẩn bị thực lực, sẵn sàng đáp ứng và tham gia có hiệu quả các hoạt động của trên, Bình Phước đã tổ chức tốt công tác tiếp nhận sự chi viện về sức người sức của của đồng bào cả nước, xây dựng và phát triển hậu phương tại chỗ, đặt cơ sở vững chắc cho việc xây dựng tiềm lực về mọi mặt, hoàn thành xuất sắc sự nghiệp kháng chiến.

*
*   *

Những nguyên nhân thắng lợi nêu trên cũng chính là những bài học lịch sử mà quân và dân Bình Phước đã dày công rèn đúc trong ba mươi năm trường kỳ kháng chiến. Trong ba mươi năm ấy, lớp lớp đồng bào, cán bộ, chiến sĩ ở Bình Phước, người trước ngã, người sau đứng lên, kế tiếp viết nên những trang sử vẻ vang và vun đắp nên những nét truyền thống rất đỗi tự hào!

Từ sau ngày quê hương hoàn toàn giải phóng, quân và dân Bình Phước lại tiếp tục bước vào cuộc đấu tranh mới. Phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong thời kỳ chiến tranh giải phóng, quân và dân Bình Phước đang ngày đêm nỗ lực khắc phục hậu quả chiến tranh, tham gia xây dựng lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa; chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia; góp phần xây dựng Bình Phước thành một tỉnh ổn định về chính trị, phát triển về kinh tế - xã hội, vững mạnh về quốc phòng - an ninh, tích lũy tiềm lực về mọi mặt, sẵn sàng đánh bại mọi âm mưu và hành động của kẻ thù, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng vừa giành được trong hơn hai mươi lăm năm xây dựng chủ nghĩa xã hội; bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam!


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Tám, 2011, 07:44:53 AM
PHỤ LỤC

I. PHẦN THƯỞNG CAO QUÝ

TẬP THỂ

- 1 Huân chương Sao vàng

- 535 Huân chương Độc lập

- 7.108 Huân chương Kháng chiến chống Pháp

- 28.114 Huân huy chương Kháng chiến chống Mỹ

- 38 Đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
 
- CÁ NHÂN

- 8.000 Huân chương Chiến sĩ vẻ vang

- 5.000 Huân chương chiến công

- 95 Huân chương Quân công

- 1.100 Huân chương chống Mỹ

- 150 Huân Huy chương chống Pháp

- 9 Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân

- 71 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Tám, 2011, 07:57:24 AM
II. ĐƠN VỊ ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN

Số TT
Đơn vị
Ngày tuyên dương
1Đại đội 70 Bình Long10-1973
2Đại đội 13 Đặc công Bình Long10-1976
3Nhân dân và lực lượng vũ trang xã Lộc Tấn - Lộc Ninh11-1978
4Nhân dân và lực lượng vũ trang huyện Bù Gia Mập11-1978
5Nhân dân và lực lượng vũ trang xã Hưng Long - Bình Long11-1978
6Nhân dân và lực lượng vũ trang xã Đồng Nai Thượng - Bù Đăng11-1978
7Đại đội 31 huyện Lộc Ninh12-1979
8Đại đội 568 huyện Phước Long12-1979
9Công ty cao su huyện Bình Long1-1990
10Nhân dân và lực lượng vũ trang xã Đắc Ơ - Phước Long11-1990
11Nhân dân và lực lượng vũ trang huyện Phước Long12-1994
12Nhân dân và lực lượng vũ trang Đắc Nhau - Phước Long12-1994
13Nhân dân và lực lượng vũ trang huyện Lộc Ninh8-1995
14Nhân dân và lực lượng vũ trang xã Đức Hạnh - Phước Long1-1996
15Nhân dân và lực lượng vũ trang xã Nghĩa Trung - Bù Đăng8-1996
16Nhân dân và lực lượng vũ trang Thị trấn An Lộc - Bình Long11-1994
17Ban An ninh huyện Lộc Ninh3-1977
18Nhân dân và lực lượng vũ trang huyện Bình Long12-1998
19Nhân dân và lực lượng vũ trang Tân Khai - Bình Long12-1998
20Nhân dân và lực lượng vũ trang xã Thuận Lợi - Đồng Phú12-1998
21Nhân dân và lực lượng vũ trang huyện Bù Đăng12-19998
22Nhân dân và lực lượng vũ trang xã Thống Nhất - Bù Đăng12-1998
23Nhân dân và lực lượng vũ trang huyện Đồng Phú28-4-2000
24Nhân dân và lực lượng vũ trang Thiện Hưng - Lộc Ninh28-4-2000
25Nhân dân và lực lượng vũ trang Lộc Thuận - Lộc Ninh28-4-2000
26Nhân dân và lực lượng vũ trang xã Lộc Khánh - Lộc Ninh28-4-2000
27Nhân dân và lực lượng vũ trang xã Lộc Thái - Lộc Ninh28-4-2000
28Nhân dân và lực lượng vũ trang Bình Thắng - Phước Long28-4-2000
29Nhân dân và lực lượng vũ trang thị trấn Phước Bình - Phước Long28-4-2000
30Nhân dân và lực lượng vũ trang xã Minh Đức - Bình Long28-4-2000
31Nhân dân và lực lượng vũ trang xã Phước An - Bình Long28-4-2000
32Nhân dân và lực lượng vũ trang xã Tân Lợi - Bình Long28-4-2000
33Nhân dân và lực lượng vũ trang thị trấn Chơn Thành - Bình Long28-4-2000
34Nhân dân và lực lượng vũ trang xã Thanh An - Bình Long28-4-2000
35Nhân dân và lực lượng vũ trang xã Đồng Tâm - Đồng Phú28-4-2000
36Nhân dân và lực lượng vũ trang xã Bom Bo - Bù Đăng28-4-2000
37Ban An ninh huyện Bình Long1-9-2000
38Ban An ninh Phước Long1-9-2000


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Tám, 2011, 08:01:48 AM
IV. BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG

THỊ XÃ ĐỒNG XOÀI

Số TT    
Họ và tên
Địa chỉ
Chồng, con là liệt sĩ
1Bồ Thị HạngThị xã Đồng XoàiChồng và 2 con
2Bùi Thị SơnPhường Tân Phú3 con
3Huỳnh Thị Hảo    Phường Tân Xuân    3 con
4Võ Thị ChắcThị xã Đồng Xoài2 con

HUYỆN ĐỒNG PHÚ

Số TT    
Họ và tên
Địa chỉ
Chồng, con là liệt sĩ
5Trần Thị Thảnh    Xã Thuận Lợi          3 con
6Phạm Thị MùnXã Tân Hòa3 con
7Lê Thị SenXã Thuận Lơi3 con

HUYỆN PHƯỚC LONG

Số TT    
Họ và tên
Địa chỉ
Chồng, con là liệt sĩ
8Phạm Thị ThungXã Sơn Giang4 con
9Phạm Thị LựaXã Sơn Giang3 con
10Huỳnh Thị VinhXã Sơn Giang3 con
11Đinh Thị PhòngThị trấn Thác Mơ1 con độc nhất
12Nguyễn Thị ChínhXã Bù Nho3 con
13Nguyễn Thị ĐiềuXã Bình Thắng3 con
14Phan Thị LữXã Bình Thắng3 con
15Lê Thị SàngThị trấn Phước Bình1 con độc nhất
16Nguyễn Thị ĐiệpXã Đa Kia1 con độc nhất
17Nguyễn Thị TiênXã Bình Thắng3 con
18Nguyễn Thị ChướcThị trấn Phước Bình  1 con độc nhất
19Nguyễn Thị BéoHuyện Bình LongChồng và 2 con
20Nguyễn Thị ChiếnXã Bình ThắngChồng và 2 con
21Phạm Thị LaiXã Sơn Giang3 con
22Nguyễn Thị ThìnThị trấn Thác MơChồng và 2 con

HUYỆN BÙ ĐĂNG

Số TT    
Họ và tên
Địa chỉ
Chồng, con là liệt sĩ
23Nguyễn Thị Kéo    Xã Nghĩa Trung          3 con

HUYỆN BÌNH LONG

Số TT    
Họ và tên
Địa chỉ
Chồng, con là liệt sĩ
24   Đỗ Thị ChắcXã Thanh Bình3 con
25Đinh Thị XuyếnXã Thanh Lương3 con
26Nguyễn Thị ChánhXã Thanh An1 con độc nhất
27Triệu Thị VuiXã Thanh Phú4 con
28Trương Thị SáuThị trấn An Lộc1 con độc nhất
29Huỳnh Thị TúyThị trấn Chơn Thành    3 con
30Lê Thị MẹoThị trấn Chơn Thành3 con
31Đoàn Thị HếtThị trấn Chơn Thành3 con
32Võ Thị TầnThị trấn Chơn Thành3 con
33Nguyễn thị ĐậmThị trấn Chơn Thành3 con
34Đặng Thị KiềuXã Tân Khai1 con độc nhất
35Võ Thị ÍchThị trấn An LộcChồng và 2 con
36Nguyễn Thị GhiXã Minh Đức1 con độc nhất
37Phạm Thị ĐạoThị trấn Chơn Thành3 con
38Nguyễn Thị ĐềnThị trấn An Lộc3 con
39Lê Thị ThiệtThị trấn Chơn Thành2 con
40Thị Đanh (Tâm)Xã Phước AnChồng và 2 con
41Nguyễn Thị MiênThị trấn An Lộc1 con độc nhất
42Dương Thị HươngXã Phước An3 con
43Nguyễn Thị NỏXã Minh Thành3 con
44Võ Thị ÁnhThị trấn Chơn Thành3 con
45Nguyễn Thị TánhThị trấn Chơn ThànhChồng và 2 con
46Lê Thị TừngXã Minh Hưng3 con
47Đặng Thị QuẹtXã Thạnh Phú1 con độc nhất
48Phạm Thị BaXã An PhúChồng và 4 con

HUYỆN LỘC NINH

Số TT    
Họ và tên
Địa chỉ
Chồng, con là liệt sĩ
49Lý Thị KhinhXã Lộc Hiệp3 con
50Thị ThơnXã Lộc An1 con độc nhất
51Nguyễn Thị SenXã Lộc Hiệp1 con độc nhất
52Nguyễn Thị ỐcXã Tân Tiến1 con độc nhất
53Đặng Thị LiêmThị trấn Lộc Ninh1 con độc nhất
54Trịnh Thị HạXã Lộc TháiChồng và 2 con
55Phạm Thị NgaXã Lộc Thái1 con độc nhất
56Phạm Thị BaXã Lộc Tấn4 con
57Nần Thị NuôiXã Lộc Tấn3 con
58Nguyễn Thị Nghĩa    Xã Lộc Hưng3 con
59Nguyễn Thị TỵXã Thiện Hưng3 con
60Phạm Thị ThếXã Thiện Hưng1 con độc nhất
61Nguyễn Thị TẻoThị trấn Lộc Ninh       Chồng và 2 con
62Lê Thị BảyThị trấn Lộc Ninh2 con
63Đặng Thị SángXã Lộc Hiệp3 con
64Nguyễn Thị ÚtXã Lộc TấnChồng và 2 con
65Nguyễn Thị TámXã Lộc TấnChồng và 2 con
66Nguyễn Thị HaiXã Lộc Hưng2 con ruột và 1 con nuôi
67Hồ Thị ThúiXã Lộc Tấn3 con
68Mai Thị NhungXã Lộc Thái1 con độc nhất
69Nguyễn Thị ThẹoXã Lộc TháiChồng và 2 con
70Nguyễn Thị ChâuXã Hưng Phước3 con
71Bùi Thị ChịtXã Hưng Phước3 con


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Tám, 2011, 08:20:25 AM
V. DANH SÁCH CÁN BỘ LÃNH ĐẠO VÀ
CHỈ HUY LỰC LƯỢNG VŨ TRANG BÌNH PHƯỚC QUA CÁC GIAI ĐOẠN

Đơn vị Bộ đội áo nâu (1945-1946)

Nguyễn Văn Kính: Chỉ huy trưởng
Lê Đức Anh: Chính trị viên
Lê Văn Cát: Chỉ huy phó
Nguyễn Văn Hội: Chỉ huy phó

Đơn vị trung đội A (1945-1946)

Nguyễn Văn Hội: Trung đội trưởng
Lê Đức Anh: Chính trị viên
Lê Văn Cát: Trung đội phó

Đại đội huyện Hớn Quản (1945-1946)

Nguyễn Văn Ngọ (Tư Quỳ): Đại đội trưởng
Lê Đức Anh: Chính trị viên
Nguyễn Văn Hội: Đại đội phó
Lê Văn Cát: Đại đội phó
Nguyễn Văn Cẩm: Đại đội phó

Chi đội 1 (1946-1948)

Huỳnh Kim Trương: Chi đội trưởng
Nguyễn Văn Thi: Chi đội phó, Chi đội trưởng
Lê Đức Anh: Chính trị viên
Nguyễn Văn Ngọ: Chi đội phó
Hoàng Anh Tuấn: Chi đội phó
Đoàn Hữu Hòa: Chi đội phó

Trung đoàn 301 (1948-1949)

Nguyễn Văn Thi: Trung đoàn trưởng
Lê Đức Anh: Chính trị viên
Nguyễn Văn Ngọ: Trung đoàn phó
Đoàn Hữu Hòa: Trung đoàn phó

Tiểu đoàn 903 thuộc Trung đoàn 301 (1948-1949)

Nguyễn Văn Cẩm: Tiểu đoàn trưởng
Vũ Thượng Liên: Chính trị viên
Lê Văn Cát: Tiểu đoàn phó

Liên Trung đoàn 301-310 (1950-1951)

Nguyễn Văn Thi: Liên Trung đoàn trưởng
Nguyễn Quang Việt: Chính trị viên
Đinh Quang Ân: Liên Trung đoàn phó
Nguyễn Văn Lung: Liên Trung đoàn phó

Huyện đội Hớn Quản

Trần Văn Canh: Huyện đội trưởng kiêm Đại đội phó 2709
Trần Quang Sang: Huyện đội trưởng kiêm Đại đội phó 2709
Nguyễn Đình Kính: Phụ trách đội võ trang tuyên truyền huyện Hớn Quản, Lộc Ninh

Tỉnh đội Thủ Biên (1951-1954)

Huỳnh Văn Nghệ: Tỉnh đội trưởng
Nguyễn Quang Việt: Bí thư Tỉnh ủy kiêm Chính trị viên
Lê Hồng Lĩnh: Phó Chính trị viên
Nguyễn Văn Tư: Tỉnh đội phó
Trịnh Văn Tạo (Tùng Lâm): Tỉnh đội phó
Bùi Cát Vũ: Tỉnh đội phó, Tham mưu trưởng

Tiểu đoàn 303 (1951-1954)

Lê Văn Ngọc: Tiểu đoàn trưởng
Nguyễn Văn Trực: Tiểu đoàn trưởng
Quang Văn Bảy: Chính trị viên
Tạ Minh Khâm: Tiểu đoàn phó


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Tám, 2011, 08:22:19 AM
Ban quân sự tỉnh Bình Long (1961-1963)

Tô Hiến Thìn (Ba Tranh Thủ): Trưởng ban quân sự
Lê Hùng: Phó ban quân sự
Nguyễn Quang Thưởng: Phụ trách Chính trị
Nguyễn Văn Cho (Sáu Dư): Phong trào Tham mưu

Tỉnh đội Bình Long (1963-1971)

Nguyễn Văn Hai (Béo): Tỉnh đội trưởng
Nguyễn Soái: Tỉnh đội trưởng
Lê Hùng: Tỉnh đội phó, Tỉnh đội trưởng
Trần Công Hải: Tỉnh đội trưởng
Huỳnh Công Hùng: Tỉnh đội phó
Nguyễn Văn Cho (Sáu Dư): Tỉnh đội phó
Nguyễn Quang Thưởng: Phó Chính trị viên

Ban quân sự tỉnh Phước Long (1961-1963)

Trần Ngọc Thanh: Trưởng ban quân sự
Trương Văn Nghĩ (Hai Phong): Phó ban quân sự
Hai Hùng: Ủy viên

Tỉnh đội Phước Long (1963-1971)

Trương Văn Nghĩ: Tỉnh đội trưởng, Chính trị viên
Đỗ Văn Nuống: Chính trị viên
Ba Nhân: Tỉnh đội phó
Võ Hòa: Tỉnh đội trưởng
Nguyễn Huệ; Tỉnh đội phó, Tỉnh đội trưởng
Nguyễn Văn Cần: Phó Chính trị viên
Nguyễn Đình Kính: Chính trị viên
Tư Thân: Phó Chính trị viên

Ban quân sự Phân khu 10

Lâm Quốc Đăng: Trưởng ban
Bùi San (Chín Liêm): Bí thư Đảng ủy quân sự

Bộ chỉ huy quân sự khu 10

Hồ Xuân Anh (Hoàng Anh Tuấn): Chỉ huy trưởng
Bùi Định (Tư Khiêm): Bí thư khu ủy, kiêm chính ủy
Nguyễn Trọng Xuyên: Chỉ huy phó, chỉ huy trưởng
Nguyễn Việt Hồng: Phó chỉ huy
Đặng Ngọc Sĩ: Chỉ huy trưởng

Bộ Tư lệnh phân khu Bình Phước (1971-1973)

Nguyễn Văn Kính: Tư lệnh
Lê Hùng: Phó Tư lệnh
Nguyễn Huệ: Phó Tư lệnh
Năm Nhân: Phó Tư lệnh
Nguyễn Văn Nhường: Phó Chính ủy

Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bình Phước (1973-1975)

Đỗ Văn Nuống (Tư Nguyện): Bí thư Tỉnh, Chính trị viên Tỉnh đội
Nguyễn Huệ: Tỉnh đội trưởng
Nguyễn Văn Nhường: Phó Chính trị viên
Lê Hùng: Tỉnh đội phó, Tỉnh đội trưởng


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Tám, 2011, 08:26:58 AM
ANH HÙNG LÊ VĂN TÍNH

Anh hùng Lê Văn Tính sinh năm 1942, dân tộc Kinh, quê ở xã Thanh Điền, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, thượng úy, huyện đội phó huyện Bình Long, tỉnh Sông Bé.

Từ năm 1960 đến tháng 4 năm 1975, Lê Văn Tính chiến đấu và công toác ở địa bàn huyện Bình Long, anh đã tham gia hơn 100 trận, diệt 102 tên địch (có 45 tên Mỹ). Năm 1967, là trung đội trưởng trinh sát, Lê Văn Tính đã cùng đơn vị phục vụ bộ binh chiến đấu, anh chỉ huy trung đội độc lập đánh nhiều trận, có trận diệt 14 tên (trong đó có tên quận trưởng Tây Ninh). Từ tháng 6 năm 1968 đến tháng 5 năm 1971, Lê Văn Tính là đại độ trưởng 75 đặc công. Anh đã chỉ huy đơn vị đánh 35 trận vào các mục tiêu xung quanh thị xã Bình Long và nhiều ấp chiến lược, diệt và làm bị thương gần 1.000 tên địch. Đơn vị của anh hoàn thành xuất sác nhiệm vụ. Cuối năm 1973, Lê Văn Tính là huyện đội phó huyện Hớn Quản. Anh chỉ huy bộ phận vây ép địch ở thị xã Bình Long, Tính đã chỉ huy đơn vị kết hợp nhiều cách đánh, làm cho chúng khiếp sợ không dám ra ngoài. Xuân 1975, Lê Văn Tính nhận nhiệm vụ đánh chi khu Chơn Thành, anh chỉ huy đánh địch liên tục suốt ngày. Kết quả, đánh chiếm được chi khu quân sự địch, mở rộng địa bàn cho lực lượng lớn của ta đứng chân.

Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 5 bằng khen, 3 lần là Chiến sĩ thi đua. Ngày 6 tháng 11 năm 1978, Lê Văn Tính được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

ANH HÙNG LÊ VĂN A

Anh hùng Lê Văn A sinh năm 1927, dân tộc Kinh, quê ở xã An Nhơn Tây, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, nghỉ hưu tại quê nhà và đã từ trần.

Lê Văn A chiến đấu, gây dựng cơ sở trên nhiều địa bàn thuộc tỉnh Phước Long (cũ). Từ năm 1959 đến tháng 4 năm 1975, đồng chí đã trực tiếp chiến đấu, chỉ huy chiến đấu nhiều trận diệt 29 tên địch (có 16 tên Mỹ), bắt sống 33 tên, bắn cháy 11 xe quân sự, bắn rơi và bắn cháy 3 máy bay, thu 4 máy thông tin, 47 quả lựu đạn và 44 súng (có 1 cối 60 ly và 2 trung liên). Từ tháng 11 năm 1960 đến cuối năm 1964, để góp phần tiêu hao sinh lực địch, bảo vệ đường dây liên lạc của tỉnh và chuẩn bị xây dựng căn cứ, Lê Văn A cùng đơn vị tiến hành nhiều trận đánh lẻ, loại khỏi vòng chiến đấu nhiều tên địch. Từ năm 1965, Lê Văn A chỉ huy bộ đội địa phương phối hợp với lực lượng của trên đánh vào chi khu Phước Bình, chi khu Đồng Xoài, tiểu khu Phước Long. Năm 1967, Lê Văn A dùng mìn định hướng đánh cháy 1 máy bay C130 đậu ở sân bay Phước Bình. Năm 1968, anh chỉ huy đơn vị đánh sân bay Phước Bình, đốt cháy 10.000 lít xăng, phá hủy 2 xe bọc thép, diệt 16 tên địch. Năm 1974, Lê Văn A cùng với đặc công bò vào điều tra từng nhà lính, từng lô cốt, từng hỏa điểm của địch… rồi chỉ huy đơn vị đánh tiêu diệt và tiêu hao nhiều tên địch.

Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 6 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ, nhiều bằng, giấy khen. Ngày 20 tháng 12 năm 1994, Lê Văn A được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

ANH HÙNG NGUYỄN VĂN TÔN
(Liệt sĩ)

Anh hùng Nguyễn Văn Tôn (Hai Tôn) sinh năm 1935, dân tộc Kinh, quê huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh. Khi hy sinh, đồng chí là đảng viên, chính trị viên đại đội 75 đặc công tỉnh Bình Long.

Từ tháng 12 năm 1956 đến tháng 5 năm 1959, Nguyễn Văn Tôn làm giao liên cho huyện ủy Tân Biên. Tháng 6 năm 1959, Nguyễn Văn Tôn nhập ngũ. Trong những năm 1961 đến năm 1964, chiến trường Bình Long gặp nhiều khó khăn về lương thực, đồng chí đã góp nhiều công sức vào việc sản xuất tự túc để bám địa bàn chiến đấu. Trong chiến dịch Đồng Xoài (5-6-1965) Nguyễn Văn Tôn chỉ huy một bộ phận của đại đội 75 chặn địch trên đường 13 ròng rã hơn một tháng trời, chịu đựng hàng nghìn trái bom pháo, diệt và làm bị thương hơn 80 tên địch, phá hủy 6 xe quân sự, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chia cắt chiến dịch. Trong chiến dịch Gianxơn Xity (1967), Nguyễn Văn Tôn trực tiếp dẫn một tổ B40 (lần đầu tiên ta sử dụng loại súng này) đi săn xe tăng địch, diệt 1 chiếc M41, tạo niềm tin cho bộ độ. Đồng chí còn tổ chức cho bộ đội chôn mìn, săn xe tăng. Kết thúc chiến dịch, đơn vị của đồng chí diệt 3 xe tăng địch. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, Nguyễn Văn Tôn chỉ huy đại đội 75 đã 3 lần tập kích vào nhiều vị trí địch trong thị xã An Lộc (Bình Long) như khu cố vấn Mỹ, khu trại giam, khu trại lính pháo binh Tân Tây Lan, kho xăng, sân bay… loại khỏi vòng chiến đấu hơn 270 tên địch (có gần 100 tên Mỹ), phá hủy 7 pháo 105 ly, đốt cháy 50 nghìn lít xăng, làm cháy nổ 1 kho đạn và nhiều phương tiện chiến tranh. Tháng 5 năm 1970, trong một trận chiến đấu ở xã Lộc Khánh, Nguyễn Văn Tôn đã anh dũng hy sinh.

Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng ba, chiến sĩ thi đua của tỉnh Bình Long. Ngày 28 tháng 4 năm 2000, Nguyễn Văn Tôn được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Tám, 2011, 08:30:02 AM
ANH HÙNG ĐOÀN VĂN THÁI

Anh hùng Đoàn Văn Thái sinh năm 1948, dân tộc Kinh, quê ở xã Long Nguyên, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, Đại đội trưởng đại đội 43, tiểu đoàn 1 bộ đội địa phương tỉnh Thủ Dầu Một.

Năm 16 tuổi, Đoàn Văn Thái vào dân quân, tích cực hoạt động ở địa phương, sau một năm, anh vào bộ đội, đã chiến đấu 51 trận, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Trong trận đánh Mỹ đầu tiên của đơn vị, Đoàn Văn Thái dẫn đầu tiểu đội, đánh mạnh, đánh nhau, thọc sâu tiêu diệt những hỏa điểm nguy hiểm của địch, tạo thuận lợi cho đơn vị diệt gọn chúng. Trong năm 1968, Đoàn Văn Thái cùng đơn vị đánh 19 trận, lập công xuất sắc. Trận đánh thành Công Binh (thị xã Bình Dương), địch phát hiện ta từ xa, bắn chặn rất ác liệt, Thái dẫn đầu tiểu đội vượt qua nhiều tuyến phòng thủ kiên cố của địch, đánh thẳng vào sở chỉ huy của chúng làm quân địch hỗn loạn, tạo thuận lợi cho đơn vị xung phong vào tiêu diệt quân địch. Trong đợt hai, đánh vào thành phố Sài Gòn, Đoàn Văn Thái cùng đơn vị liên tục tiến công chọc thủng tuyến phòng thủ của địch, táo bạo thọc sâu vào nội đo, cùng đồng đội trụ lại giữa hang ổ địch gần nửa tháng. Đoàn Văn Thái chiến đấu anh dũng, bị thương vẫn không rời trận địa, có ngày đánh bật hàng chục đợt tiến công của địch, giữ vững trận địa, góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung.

Đồng chí được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba. Ngày 20 tháng 12 năm 1969, Đoàn Văn Thái được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

ANH HÙNG ĐOÀN ĐỨC THÁI
(Liệt sĩ)

Anh hùng Đoàn Đức Thái sinh năm 1945, dân tộc Kinh, quê ở xã Hàng Kênh, huyện An Hải, thành phố Hải Phòng. Khi hy sinh, đồng chí là đảng viên, Tiểu đội trưởng đại đội 4 bộ binh, tiểu đoàn 2, trung đoàn 271, Sư đoàn 3, Bộ chỉ huy Miền.

Từ năm 1973 đến tháng 12 năm 1974, Đoàn Đức Thái chiến đấu ở chiến trường Đông Nam Bộ, luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đặc biệt là trận đánh chi khu Bù Đăng (huyện Phước Long, tỉnh Sông Bé), ngày 14 tháng 12 năm 1974, anh đã có hành động dũng cảm, nhận sự hy sinh về mình để giành thắng lợi cho đơn vị. Bước vào trận đánh, vì sức yếu, đơn vị cử Thái làm nhiệm vụ ở tuyến sau nhưng Đoàn Đức Thái viết thư xung phong đi chiến đấu bằng được. Tổ chiến đấu của anh làm nhiệm vụ đánh bộc phá hàng rào, mở cửa mở cho đơn vị xung phong. Địa hình trống trải, sườn đồi lại quá dốc, địch bắn ra ác liệt. Anh em trong tổ động viên nhau quyết tâm đánh bung 7 lớp rào của địch. Đến lớp rào thứ tám, đã 2 lần đặt xong bộc phá, nhưng vì độ dốc quá lớn ống bộc phá bị tụt, rơi xuống. Tỉnh thế hết sức khẩn trương, Đoàn Đức Thái lại ôm quả bộc phá xông lên, bám vào hàng rào, tìm cách khắc phục đặt được bộc phá. Sau đó, Thái giật nụ xòe và định lui về phía sau thì bộc phá lại một lần nữa rơi xuống. Nếu bộc phá lao xuống chân dốc phát nổ sẽ gây thương vong cho đồng đội. Không sợ hy sinh, Đoàn Đức Thái ôm bộc phá lao lên áp chặt cả người vào hàng rào. Bộc phá nổ, hàng rào cuối cùng bật tung. Lực lượng xung kích cua ta nhanh chóng vượt qua cửa mở, diệt gọn bọn địch trong chi khu. Trong trận đánh này, Đoàn Đức Thái đã hy sinh anh dũng.

Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất. Ngày 15 tháng 1 năm 1967, Đoàn Đức Thái được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

ANH HÙNG TRẦN VĂN LUÂN
(Liệt sĩ)

Anh hùng Trần Văn Luân (Hai Luân) sinh năm 1928, dân tộc Kinh, quê ở xã Lai Uyên, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Khi hy sinh, đồng chí là Bí thư huyện ủy - Truởng ban quân sự huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Long.

Trần Văn Luân tham gia cách mạng từ tháng 8 năm 1945, trong hơn 19 năm, đồng chí liên tục làm công tác quân sự, trưởng thành từ chiến sĩ du kích lên trưởng ban quân sự huyện. Trong kháng chiến chống Pháp, Trần Văn Luân chỉ huy hạ 3 đồn, diệt hơn 10 tên địch, thu 5 súng. Đồng chí còn 5 lần phối hợp với bộ đội huyện Bến Cát chặn đánh quân Pháp ở Đồng Sở (Lai Khê) diệt hơn 20 tên địch, thu nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh. Trong kháng chiến chống Mỹ, tháng 11 năm 1961, Trần Văn Luân chỉ huy trận đánh ở Làng Hai, xã Minh Hòa, diệt nhiều tề điệp, giải phóng nhân dân. Đây là ấp chiến lược đầu tiên ở Bình Long bị phá vào thời điểm bấy giờ. Năm 1962, đồng chí chỉ huy đơn vị phục kích địch trên đường 13 diệt nhiều tên địch, bắt 1 đại úy ngụy, thu 1 xe Jeep và 1 súng ngắn. Ngoài ra đồng chí còn chỉ huy đơn vị phối hợp với sư đoàn 9 đánh căn cứ Căm Xe, diệt hơn 2 đại đội địch khi chúng đi từ Dầu Tiếng về Chơn Thành thu nhiều vũ khí và quân trang, quân dụng. Trần Văn Luân đã có nhiều công lao tổ chức xây dựng tất cả các xã, ấp trong huyện đều có du kích hoạt động. Hàng năm, đồng chí tổ chức học tập quân sự cho du kích biết sử dụng các loại vũ khí của ta và vũ khí thu được của địch. Năm 1964, đồng chí đã anh dũng hy sinh trong một trận chiến đấu ở xóm Ruộng, thị trấn Chơn Thành.

Ngày 28 tháng 4 năm 2000, Trần Văn Luân được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Tám, 2011, 08:32:17 AM
ANH HÙNG ĐINH LA CẦU
(Liệt sĩ)

Anh hùng Đinh La Cầu sinh năm 1944, quê ở xã Vũ Lễ, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Khi hy sinh, đồng chí là đảng viên, Trung đội trưởng trung đội công binh tiểu đoàn 368 tỉnh Bình Long (nay là tỉnh Bình Phước).

Vừa tròn 20 tuổi, Đinh La Cầu gia nhập bộ đội địa phương. Với 5 năm chiến đấu, cho đến lúc hy sinh (1969) anh đã tham gia trên 130 trận lớn, nhỏ; diệt trên 20 xe tăng, thiết giáp, xe quân sự; 150 tên ác ôn, bảo an Mỹ - ngụy, phá hủy 1 kho xăng dầu, 2 máy bay của địch; thu 50 súng các loại. Những năm mới vào bộ đội, trong hoàn cảnh khó khăn, đơn vị phải tự cấp, tự túc. Đinh La Cầu năng nổ lao động tăng gia sản xuất, lôi cuốn nhiều anh em khác. Có khi đi công tác, suốt 5 ngày không ăn cơm nhường nhìn cho đồng đội ăn. Trong chiến đấu, nhiều trận anh đã nhử địch và đánh địch một cách thông minh., có một số trận đặc biệt xuất sắc. Trận đánh đồn Minh Hòa, ta diệt nhiều tên Mỹ và tề điệp. Tại đây, hôm sau Đinh La Cầu đặt mìn diệt 10 tên Mỹ. Năm 1967, Đinh La Cầu đánh chốt Mỹ ở Tàu Ô, Tân Khai, Đinh La Cầu cùng anh em dùng B41 diệt 2 xe tăng địch, làm nhiều tên chết và bị thương. Tháng 3 năm 1968, đơn vị anh được điều về tiểu đoàn 368, ngay những ngày đầu, Đinh La Cầu diệt được 3 xe tăng Mỹ ở Phú Miêng. Ngày 23 tháng 2 năm 1967, tiểu đoàn 368 phục kích, tiêu diệt gọn 1 đại đội bảo an ở ngã ba An Lục, diệt 40 tên Mỹ, 13 xe tăng địch. Riêng Đinh La Cầu phá hủy 6 xe tăng, 10 tên Mỹ. Trong trận chiến đấu này, anh đã hy sinh anh dũng.

Đồng chí được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công hạng ba, nhiều lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, diệt cơ giới, 10 giấy khen, 10 bằng khen. Ngày 28 tháng 4 năm 2000, Đinh La Cầu được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

ANH HÙNG ĐIỂU ONG
(Liệt sĩ)

Điểu Ong sinh năm 1939, dân tộc Xtiêng, quê ở xã 5, huyện Bù Đăng, tỉnh Sông Bé, nhập ngũ tháng 1 năm 1960. Khi hy sinh, đồng chí là Huyện đội trưởng huyện Bủ Đăng, tỉnh Sông Bé, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Từ năm 1960 đến tháng 12 năm 1969, Điểu Ong chiến đấu trên địa bàn huyện và tỉnh, đồng chí đã chỉ huy đơn vị diệt hàng trăm địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh; tự tay diệt 76 tên địch.

Trận Bù Liên tháng 4 năm 1966, lần đầu đơn vị chiến đấu với Mỹ, hỏa lực của chúng rất mạnh nhưng Điểu Ong vẫn bình tĩnh chỉ huy trung đội đánh lui 7 đợt phản kích của 1 tiểu đoàn địch, diệt 20 tên. Riêng đồng chí diệt 9 tên, bảo vệ được căn cứ.

Ngày 15 tháng 11 năm 1968, để thực hiện ý định chặn quân địch ở ấp Hòa Đồng, tạo điều kiện cho bộ đội chủ lực chiến đấu ở Bù Đăng, Điểu Ong phụ trách một tổ theo dõi địch ở đây. Khi vào ấp trinh sát bất ngờ gặp 2 trung đội địch, đồng chí đã chủ động nổ súng đánh trước làm chúng hoang mang, hoảng sợ. Sau một ngày đêm ngoan cường chiến đấu, Điểu Ong đã cùng tổ diệt nhiều tên, buộc chúng phải rút khỏi ấp.

Ngày 12 tháng 12 năm 1969, Mỹ - ngụy cho một lực lượng lớn càn vào căn cứ của huyện. Đồng chí trực tiếp chỉ huy một trung đội tiến công vào một toán địch ở Bà Môn, diệt nhiều tên. Đội hình địch rối loạn, chúng phải rút lui và sau đó đã dùng máy bay đánh phá căn cứ rất ác liệt. Đồng chí đã anh dũng hy sinh sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Điểu Ong luôn luôn sâu sát cơ sở, làm tốt công tác vận động quần chúng và góp nhiều công sức xây dựng lực lượng vũ trang huyện.

Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 3 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 5 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ.

Ngày 6 tháng 112 năm 1978, Điểu Ong được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Vn truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

ANH HÙNG DƯƠNG ĐỨC THÙNG

Dương Đức Thùng sinh năm 1954, dân tộc Nùng, quê ở xã Quốc Toản, huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng, nhập ngũ tháng 8 năm 1974. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là Chuẩn úy, Đại đội trưởng đại đội công binh, tiểu đoàn 4, lữ đoàn 25, Quân đoàn 4, đoàn viên Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh - Xuân 1975, Dương Đức Thùng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Từ năm 1979 đến năm 1983, Dương Đức Thúng làm nhiệm vụ trên đất Campuchia, đồng chí đã nêu cao tinh thần quốc tế vô sản, dũng cảm, mưu trí, gương mẫu đi đầu trong mọi việc, vượt khó khăn, gian khổ, đi sâu sát nhân dân bạn, làm công tác phát động quần chúng, xây dựng chính quyền, tổ chức lực lượng đánh địch, giữ vững trật tự xã hội ở nhiều xã thuộc huyện Kiêng Vay, tỉnh Căng Đan.

Tháng 12 năm 1974, Dương Đức Thùng là đội truởng đội công tác phát động quần chúng ở xã Đông Ất, huyện Kiêng Vay, tỉnh Căng Đan. Nhân dân ở đây chưa được giác ngộ, đời sống đói khổ, bệnh tật, địch ra sức tuyên truyền xuyên tạc những chủ trương chính sách của Đảng và Mặt trận dân tộc cứu nước Campuchia. Đồng chí đã xác định trách nhiệm, bản thân gương mẫu học tập và động viên mọi người học tiếng Campuchia. Chỉ sau một thời gian ngắn, Dương Đức Thùng đã nói được tiếng Campuchia. Thấy dân rách, đồng chí có 2 bộ quần áo, biếu 1 bộ cho một cụ già. Nhiều lần thấy trẻ em ghẻ bẩn, đồng chí đã tắm rửa cho chúng. Thấy nhà dân bề bộn, mất vệ sinh, Dương Đức Thùng đã dọn dẹp sạch sẽ. Có lần thấy một người dân bị rắn độc cắn, người mê man, Dương Đức Thùng đã nhanh chóng tìm lá đắp vào vết rắn cắn và cho uống nước lá giải độc. Sau 20 phút người này đã tỉnh. Một số người đòi tiêm thuộc cho người dân này với ý đồ xấu. Đồng chí kiên quyết không cho tiêm. Kết quả chỉ sau hơn 1 giờ đồng hồ, sức khỏe người dân được hồi phục. Một lần gặp một phụ nữ đẻ khó, Dương Đức Thùng đã tìm thứ lá gia truyền cho uống, giúp chị đẻ an toàn.

Nhân dân bị đói, lại không chịu làm do ảnh hưởng của luận điệu tuyên truyền xuyên tác của địch: “Dân không cần sản xuất, Xihanúc sẽ cấp cho mỗi gia đình 1 tấn gạo…” Dương Đức Thùng động viên mọi người trong đội công tác đi sâu sát nhân dân, tuyên truyền giải thích, vạch mặt những luận điệu xảo quyệt của địch; mặt khác tích cực giúp đỡ nhân dân lao động sản xuất và bằng những hành động cụ thể, thực tế của mình để giảm bớt khó khăn trong đời sống của nhân dân. Nhân dân tin tưởng ở bộ đội Việt Nam, đã chỉ những tên địch lọt vào hàng ngũ chính quyền cách mạng để ta cải tạo.

Nhiều lần, địch dụ dỗ, mua chuộc, dọa dẫm, những phần tử xấu tìm cách giết hại đồng chí. Chúng treo giải: Ai giết được Dương Đức Thùng thì chúng thưởng 10 lạng vàng, nếu bắt được thì được thưởng nhiều hơn. Đồng chí vẫn vững vàng tích cực lăn lộn, hoạt động, có lần Dương Đức Thùng cải trang làm dân, vượt qua 2 tên gác bí mật đến gần nghe cuộc họp của địch, và tổ chức lực lượng bắt được 2 tên từ Thái Lan về; bắt 3 tên khác ra trình diện, thu 21 súng, 300 viên đạn. Kết quả này đã gây được lòng tin trong nhân dân, củng cố chính quyền trong sạch, vững mạnh.

Một lần khác, vào lúc 19 giờ, 3 tên địch phục kích dùng gậy xông vào đánh, đồng chí đã bình tĩnh dũng cảm đánh trả lại, 3 tên này phải bỏ chạy. Sau vụ này bọn địch trong xã bỏ trốn, có tên ra trình diện và nói: Trước đây tôi lầm đường theo địch giết anh, nay tôi ân hận…

Đồng chí luôn gương mẫu về mọi mặt. Được bạn tin yêu.

Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng ba, 18 bằng và giấy khen, 2 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua. Được Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Campuchia tặng Huân chương.

Ngày 25 tháng 1 năm 1983, Dương Đức Thùng được Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Tám, 2011, 08:34:05 AM
(http://img821.imageshack.us/img821/861/95138270.jpg)

Phục kích đoàn xe quân sự của Pháp tại Đồng Xoài
Ngày 19-12-1947


(http://img18.imageshack.us/img18/3453/33916239.jpg)

Chôn địa lôi trên lộ 13
Năm 1948


(http://img51.imageshack.us/img51/9392/44315547.jpg)

Chi đội 1 ở Thủ Dầu Một, một trong những đơn vị vũ trang tập trung
đầu tiên của chiến trường Nam Bộ
Trong ảnh: Chi đội bước vào chiến dịch Bến Cát - Dầu Tiếng


(http://img854.imageshack.us/img854/329/39188096.jpg)

Một công binh xưởng sản xuất vũ khí năm 1950


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Tám, 2011, 08:35:28 AM
(http://img17.imageshack.us/img17/9376/34381878.jpg)

Báo chí xuất bản ở Sài Gòn ngày 1-1-1960 đưa tin về các cuộc đấu tranh
của công nhân đồn điền cao su trong vùng địch tạm chiếm


(http://img225.imageshack.us/img225/5751/94473893.jpg)

Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ (giữa), anh hùng Tạ Quang Tỷ (phải) và dũng sỹ diệt Mỹ 14 tuổi Hồ Văn Mên tại Đại hội liên hoan anh hùng, dũng sỹ toàn miền (Năm 1967).

(http://img820.imageshack.us/img820/5889/14014370.jpg)

Đồng bào dân tộc ở Bù Gia Mập đi dân công hỏa tuyến. Năm 1968.

(http://img143.imageshack.us/img143/812/82226975.jpg)

Đội xe thồ nữ của tỉnh đội Binh Long, đơn vị được tuyên dương
tại Đại hội thi đua Khu 10 (1967-1968)


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Tám, 2011, 08:37:46 AM
(http://img42.imageshack.us/img42/6352/47799698.jpg)

“Công binh xưởng” của một xã sản xuất mìn từ thuốc pháo lép
và vỏ lon đồ hộp của Mỹ năm 1969


(http://img546.imageshack.us/img546/2499/47641231.jpg)

Bác Hồ chăm sóc mầm non dân tộc. Trong đoàn thiếu nhi miền Nam
có Hồ Văn Mên (dấu x) dũng sỹ diệt Mỹ quê sông Bé
(Năm 1969)


(http://img28.imageshack.us/img28/7441/56568255.jpg)

Đội du kích Bù Tam luyện tập chiến đấu năm 1971

(http://img717.imageshack.us/img717/8019/41268008.jpg)

Chiến dịch Nguyễn Huệ mở màn thời kỳ tiến công chiến lược (1972).
Lần đầu tiên xe tăng của quân giải phóng xuất hiện trong
trận chiếm lĩnh sân bay TécNích (Bình Long)


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Tám, 2011, 08:38:59 AM
(http://img198.imageshack.us/img198/9049/77195566.jpg)

Chốt chặn Tàu ô trên vành đai diệt Mỹ, đường 13 năm 1972.

(http://img842.imageshack.us/img842/7589/10263886.jpg)

Sân bay Lộc Ninh năm 1973

(http://img801.imageshack.us/img801/8653/27992341.jpg)

Nhân dân Lộc Ninh và vùng lân cận hân hoan đón tiếp
những người chiến thắng từ nhà tù Mỹ ngụy trở về năm 1973


(http://img814.imageshack.us/img814/9352/41898513.jpg)

Trụ sở của Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được đặt ngay tại trung tâm
thị trấn Lộc Ninh năm 1973. Nơi đây vừa là nhà làm việc vừa nhà giao tế của Chính phủ.
Ngày nay, được dùng làm nhà bảo tàng Lộc Ninh.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Tám, 2011, 08:41:28 AM
(http://img215.imageshack.us/img215/3055/62386201.jpg)

Các nhà báo quốc tế phỏng vấn tại chỗ chị Võ Thị Thắng, người mà Mỹ ngụy
kết án tù chung thân khi chị vừa bước xuống sân bay Lộc Ninh năm 1973.


(http://img827.imageshack.us/img827/2207/23793600.jpg)

Một buổi biểu diễn văn nghệ tại vùng căn cứ Phước Long. Năm 1973.

(http://img20.imageshack.us/img20/6947/75193225.jpg)

Đồng chí Huỳnh Tấn Phát, Chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời
Cộng hòa miền Nam Việt Nam thăm nhân dân vùng giải phóng năm 1974


(http://img508.imageshack.us/img508/1742/73197012.jpg)

Quân ta nổ súng tiêu diệt chi khu quân sự Đồng Xoài (26-12-1974),
yết hầu của Mỹ, ngụy ở miền Đông Nam Bộ.


Tiêu đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Tám, 2011, 08:44:33 AM
(http://img851.imageshack.us/img851/5346/40324538.jpg)

Ngày4-1-1975, Quân giải phóng đánh chiếm
sân bay Phước Bình (huyện Phước Long), thu hai máy bay Mỹ C130.


(http://img707.imageshack.us/img707/4930/24906084.jpg)

Đồng bào ấp Gò Đồng (Bù Dăng) phá ấp chiến lược
Tháng 1-1975


(http://img585.imageshack.us/img585/9443/64781090.jpg)

Bộ Chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh họp tại rừng Tà Thiết (Lộc Ninh). Năm 1975.

(http://img41.imageshack.us/img41/3301/55040235.jpg)

Nhân dân Bình Phước từ vùng giải phóng gửi đặc sản của địa phương
(cặp ngà voi và gỗ quý) về xây lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh
Năm 1975.