Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: vmt trong 07 Tháng Năm, 2011, 10:02:10 AM



Tiêu đề: Khúc tráng ca thành cổ Quảng trị
Gửi bởi: vmt trong 07 Tháng Năm, 2011, 10:02:10 AM
                                                   Khúc tráng ca Thành cổ Quảng Trị
                                                    Biên soạn chính : Trần Lê An
                                                    Nguồn : Vn thuquan



Chỉ đạo nội dung: Nguyễn Việt – Trần Lê An
* Biên soạn chính:  Trần Lê An
 ·   Cùng biên soạn, biên tập:
                                Nghiêm Hùng
                                  Nguyễn Văn Bằng
                                 Trần Diệp
                            Tạ Quỳnh Phương
                            Nguyễn Đức Minh
                              Trần Văn Kính
                                    Lê Trí Dũng
                                    Lê Xuân Tường
                                         Trọng Huân

* Tham gia tư vấn:
MẠC ĐÌNH VỊNH - Cựu chiến binh Sư đoàn 325
NGUYỄN ĐỨC HUY - Cựu chiến binh Trung đoàn 18 Sư đoàn 325
NGUYỄN HẢI NHƯ - Cựu chiến binh Trung đoàn 48 Sư đoàn 320B
NGÔ CÔNG NỘI -   Cựu chiến binh Trung đoàn 64 Sư đoàn 320B
PHẠM DUY TÂN - Cựu chiến binh Trung đoàn 88 Sư đoàn 308
Nhà thơ HOÀNG TRẦN CƯƠNG - Cựu chiến binh Trung đoàn 229 -
                                 Tổng biên tập Thời báo Tài chính
     VŨ ĐỨC THẾ    - Cựu chiến binh Trung đoàn 64 -
                                 Giám đốc điều hành Vinpearl - Nha Trang
     TRỊNH ĐÌNH VINH - Cựu chiến binh Trung đoàn 64,
                                 Chủ tịch hội đồng quản trị Mê Kông - Hacota
Nhạc  sĩ DOÃN NGUYÊN, Phó giám đốc Nhà hát Đài Tiếng nói Việt Nam
PHỤ LỤC:
Chương I: Những dòng lịch sử về 81 ngày đêm trận chiến thành cổ Quảng Trị (Trang 1-61)
Chương II: Những chuyện kể về khúc tráng ca Quảng Trị (trang 62- 143)
Chương III: Vẫn thơ khúc tráng ca (trang 143 – 151)
Phần nhạc và họa, ảnh : (sẽ cung cấp và bổ sung thêm).
 
Nguồn: Trọng Huấn
Được bạn: Thanh Vân đưa lên
vào ngày: 6 tháng 5 năm 2011

   Vn thuquan   


Tiêu đề: Re: Khúc tráng ca thành cổ Quẩng Tri
Gửi bởi: vmt trong 07 Tháng Năm, 2011, 10:09:51 AM
                                                          Chương I: Những dòng lịch sử về 81 ngày đêm trận chiến thành cổ Quảng Trị
 
           Lời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Tôi hoan nghênh các đồng chí đã biên soạn, xuất bản cuốn sách: "Khúc Tráng ca Thành cổ",  ghi nhớ lại cuộc chiến đấu vô cùng ác liệt, dài ngày của quân và dân ta, của nhiều trung đoàn, tiểu đoàn bộ binh, binh chủng kỹ thuật thuộc nhiều binh đoàn chủ lực và bộ đội địa phương đã kiên cường trụ bám, anh dũng chiến đấu giành giật với địch bảo vệ Thị xã - Thành cổ Quảng Trị mùa hè 1972.
 
Chiến công Quảng Trị là một đỉnh cao của tinh thần anh dũng chiến đấu hy sinh của quân và dân ta vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc và để lại cho chúng ta những bài học sâu sắc.
                                  Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2007

                                                              LỜI MỞ ĐẦU

Đúng 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 3 năm 1972, trận bão lửa - thép với hàng vạn quả đạn pháo của quân ta cấp tập trút xuống các căn cứ quân sự của đối phương tại Động Toàn, khởi đầu cho chiến dịch Trị - Thiên năm 1972, một chiến dịch kéo dài và ác liệt nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam. Thắng lợi của nó đã mở thông khu giới tuyến, cánh cửa ngăn cách giữa hai miền Nam - Bắc, tạo ra cục diện mới hết sức thuận lợi cho Đại thắng mùa Xuân năm 1975.
Chỉ trong vòng hơn ba mươi ngày, ta đã vượt qua sông Bến Hải, phá tan hệ thống phòng thủ chiến lược Mắc Na ma ra, đánh chiếm các căn cứ Tân Lâm, Đầu Mầu, Động Toàn, Quán Ngang, điểm cao 241, 544, v.v... làm chủ đường số 9, tiêu diệt căn cứ Cồn Tiên, đánh tan Dốc Miếu trên đường 1, giải phóng Đông Hà - Ái Tử, khiến đối phương phải rút khỏi Thị xã Quảng Trị (ngày 1 tháng 5 năm 1972) về cố thủ ở phía Nam sông Mỹ Chánh (Thừa Thiên - Huế). Toàn tỉnh Quảng Trị được giải phóng vào ngày 2 tháng 5 năm 1972.
 Để ngăn chặn đà tiến công của quân ta, ngay từ đầu tháng 4 năm 1972, Nich-xơn ra lệnh đánh phá trở lại miền Bắc với mức độ ác liệt chưa từng thấy. Hàng trăm lượt máy bay cường kích, phản lực và cả B.52 đã ném bom, bắn phá các thành phố Hà Nội, Hải Phòng và nhiều địa phương khác của miền Bắc. Đối phương đưa vào sử dụng các loại bom mới với phương tiện kỹ thuật đánh phá tối tân, hơn hẳn những lần trước, phong tỏa mọi cảng biển, bến bãi, đường sá, hòng ngăn chặn và làm cho việc tiếp tế cho chiến trường của ta trở nên cực kỳ khó khăn.
Không chịu nổi thất bại vì mất Quảng Trị, mất một hệ thống phòng thủ vào bậc nhất mà đối phương thường cho rằng là "bất khả chiến bại" và áp lực trên bàn đàm phán ở Hội nghị Pa-ri, đối phương tập trung cao độ binh lực, hỏa lực hòng "tái chiếm" những vùng đã mất, mục đích đầu tiên là trở lại sông Thạch Hãn với Thị xã Quảng Trị, mà hình ảnh tiêu biểu là Thành cổ. Cuộc chiến nảy lửa giành giật nhau từng tấc đất đã xảy ra trong suốt thời gian sau đó, kéo dài cho đến khi Hiệp định Pa-ri được ký kết vào đầu năm 1973. Những ngày đặc biệt ác liệt diễn ra từ ngày 28 tháng 6 đến ngày 16 tháng 9 năm 1972. Đây là một trong số những trận đánh được coi là khốc liệt nhất trong cả cuộc chiến tranh chống Mỹ, nó diễn ra trên khắp chiều ngang vốn rất chật hẹp của tỉnh Quảng Trị - cả ở phía Đông và Nam sông Thạch Hãn: từ cánh Đông - duyên hải đến cánh Tây - rừng núi, tập trung cao độ ở khu vực tuyến giữa, chủ yếu là Thị xã Quảng Trị.
Trong vùng hạn hẹp, mỗi chiều chỉ từ một đến hai kilômét, địa hình tương đối bằng phẳng đã phải chịu hỏa lực tối đa của không quân và hải quân Mỹ, với kỹ thuật hiện đại nhất thời đó. Được sự tiếp sức, chia lửa của quân dân cả nước, các chiến sĩ của nhiều trung đoàn, tiểu đoàn bộ binh, binh chủng kỹ thuật thuộc nhiều binh đoàn chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương đã chiến đấu dưới sức ép của  hàng chục vạn tấn bom đạn, trong điều kiện thiếu thốn trăm bề; bằng tính kỷ luật tuyệt vời, lòng dũng cảm, ý chí ngoan cường và hy sinh vô bờ bến, các chiến sĩ của ta anh dũng chiến đấu, giữ vững trận địa trong thế ba bề bị cô lập trong suốt 81 ngày đêm. Đó là 81 ngày đêm lịch sử bi tráng, hào hùng, ác liệt và mãi mãi bất tử, ghi sâu vào tâm thức của mỗi con người con nước Việt Nam.
Để tôn vinh một thời các anh đã sống hào hùng, chiến đấu oanh liệt và  nhân kỷ niệm 35 năm cuộc chiến đấu bảo vệ Thị xã và Thành cổ Quảng Trị, xin giới thiệu với bạn đọc cuốn sách với tựa đề: "Khúc tráng ca Thành cổ". Đây là những trang nhật ký, hồi ký, đoạn văn, ghi chép, bản nhạc, bài thơ, tranh vẽ, ảnh chụp… của chính những người tham gia chiến dịch, những con người có thật viết về những câu chuyện có thật, được sắp xếp trong các phần khác nhau với ba nội dung sau:
1. Tình hình tác chiến trong 81 ngày đêm từ ngày 28 tháng 6 đến ngày 16 tháng 9 năm 1972.
2. Hồi ức về những trận chiến đấu, về sinh hoạt, tâm tư, tình cảm của người lính trong thời khắc ác liệt, đầy kỷ niệm.
Với đội ngũ người viết không chuyên nghiệp, nhưng là những người trong cuộc, giàu tâm huyết, chắc chắn cuốn sách sẽ đem lại cho người đọc cái nhìn đầy đủ hơn về cuộc chiến đã qua. Tuy nhiên, cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị diễn ra  cách đây hơn một phần ba thế kỷ, do độ lùi thời gian, sức nhớ của những người trong cuộc lại có hạn, nếu có những sự việc, tình tiết nào đó thiếu thống nhất với những gì bạn đọc đã biết, đã có, là điều dễ hiểu và mong bạn đọc xem đây như một tư liệu để tham khảo. Ban biên soạn rất mong nhận được ý kiến đóng góp xây dựng của bạn đọc.
Xin chân thành cảm ơn các đồng chí, đồng đội đã gửi bài tham gia, đồng thời xin cảm ơn những đơn vị, cá nhân trong, ngoài quân đội đã động viên, giúp đỡ và ủng hộ sự ra đời của cuốn sách.
BẠN CHIẾN ĐẤU
BẢO VỆ THỊ XÃ - THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ 1972


Tiêu đề: Re: Khúc tráng ca thành cổ Quẩng Tri
Gửi bởi: vmt trong 07 Tháng Năm, 2011, 10:15:35 AM
                                                       Tiếp theo:
                                                   
                                              I – Tình hình tác chiến


TÌNH HÌNH TÁC CHIẾN TRONG 81 NGÀY ĐÊM TỪ NGÀY 28 THÁNG 6 ĐẾN NGÀY 16 THÁNG 9 NĂM 1972.
Do các Cựu chiến binh, bạn chiến đấu bảo vệ Thị xã - Thành cổ Quảng Trị 1972 tổng hợp từ tài liệu của các trung đoàn tham gia chiến đấu ở Thị xã Quảng Trị hè 1972
 
I – Tình hình tác chiến
Sau giải phóng Quảng Trị (đầu tháng 5 năm 1972), từ ngày 2 đến ngày 19 tháng 6 năm 1972 ta vừa chuẩn bị, vừa tổ chức đánh nhỏ tạo thế và bắt đầu mở đợt ba tiến công giải phóng Thừa Thiên (từ ngày 20 tháng 6 năm 1972), mà trọng điểm là khu vực Đồng Lâm, trên trục đường số 1.
Sau vài ngày đầu ta tiến công không mấy thành công, thương vong nhiều, thì ngày 26 tháng 6 năm 1972, Mỹ - ngụy mở chiến dịch phản công tái chiếm Quảng Trị.
 Đối phương sử dụng:
- 2 sư đoàn cơ động thiện chiến: Sư đoàn dù, Sư đoàn thủy quân lục chiến.
- Đơn vị hỏa lực quân đoàn 1: 2 tiểu đoàn pháo 175 ly - Quân khu 1 - Vùng Hải quân 1.
- Cùng toàn bộ lực lượng tại chỗ như: Sư đoàn bộ binh số 1, các liên đoàn biệt động, các thiết đoàn cơ giới, lực lượng dự bị Quân đoàn 1 ở Huế, dưới sự yểm hộ hỏa lực tối đa của không quân Mỹ (kể cả B.52), từ các căn cứ quân sự Mỹ ở miền Nam, vùng lân cận Châu Á - Thái Bình Dương và của hải quân thuộc Hạm đội 7 Mỹ.

Từ ngày 26 đến ngày 27-6-1972
Địch sử dụng hỏa lực trực tiếp đánh phá quân ta rất ác liệt, tàn bạo ở các khu vực bố trí từ sông Mỹ Chánh trở ra; đặc biệt tập trung đánh phá nơi trú quân, căn cứ trận địa hỏa lực ta như pháo binh, phòng không, tên lửa, cơ sở vật chất, kỹ thuật, kho tàng, bến bãi gây cho ta nhiều tổn thất.

Ngày 28-6-1972
- Đối phương bắt đầu thực hành phản công từ hai hướng, kết hợp đổ bộ đường không, đường biển, có nghi binh trên hướng Cửa Tùng, Cửa Việt.
- Hướng phản công chủ yếu trên đường 1 và phía Tây đường 1, đối phương sử dụng Sư đoàn dù (3 lữ đoàn), tăng cường 2 thiết đoàn cơ giới, 1 tiểu đoàn pháo 155 ly.
- Hướng Đông từ Hải Lăng ra ven biển, theo trục đường 68: đối phương  dùng Sư đoàn thủy quân lục chiến (3 lữ đoàn), tăng cường 2 thiết đoàn cơ giới (thiếu), 1 tiểu đoàn pháo 155 ly.
 Khi đối phương bắt đầu phản công vào ngày 28 tháng 6, quân ta từ phía Bắc sông Mỹ Chánh đến Thị xã Quảng Trị trên trục đường số 1, chỉ có 4 tiểu đoàn phòng giữ gồm:
- 2 tiểu đoàn của Trung đoàn 48.
- Tiểu đoàn 2 độc lập.
- Tiểu đoàn địa phương 8 Quảng Trị.
Lực lượng chủ yếu của chiến dịch đang ở phía Nam sông Mỹ Chánh.
Đội hình của ta ở thế bất lợi trước cuộc phản công của đối phương.
Ngày 28 tháng 6 năm 1972, Bộ Tư lệnh Mặt trận B5 hạ quyết tâm phản công, với cách đánh phòng thủ trận địa nơi trọng điểm kết hợp tích cực phản công, phản kích tiêu diệt từng bộ phận đối phương nhằm ngăn chặn từng đợt tiến công của đối phương trên trục đường 1, phía Tây đường 1, đường 68 ven biển.
Lệnh bố trí lực lượng phòng thủ phản công
- Sư đoàn bộ binh 308 (thiếu) gồm Trung đoàn 36, Trung đoàn 102, được tăng cường Trung đoàn 66 của Sư đoàn 304 và Tiểu đoàn 2 Độc lập tấn công đối phương trên trục đường 1 phía Bắc sông Mỹ Chánh, trước mắt chốt giữ khu vực cầu Bến Đá, cầu Nhùng, Thượng Nguyên.
- Sư đoàn bộ binh 320B (thiếu) gồm Trung đoàn 27, Trung đoàn 64, Tiểu đoàn địa phương 14, Tiểu đoàn địa phương 47 tiến đánh đối phương  ở hướng Đông từ Thanh Hương - Đông Dương trên trục đường 68 ra đến ven biển, bảo vệ khu vực Hải Lăng.
- Sư đoàn bộ binh 304 gồm Trung đoàn 24, Trung đoàn 9 và Trung đoàn 88 thuộc Sư đoàn 308, Tiểu đoàn đặc công 35 tiếp tục đánh địch ở phía Nam sông Mỹ Chánh.
- Trung đoàn 48 thuộc Sư đoàn 320B cùng Tiểu đoàn địa phương 8 bảo vệ Thị xã Quảng Trị  và khu vực La Vang.
- Trung đoàn 18 của Sư đoàn 325 dự bị chiến dịch, đứng chân ở Quảng Lương - Vĩnh Lại sẵn sàng tấn công đối phương đổ bộ vào Cửa Việt.
Tuy nhiên, do đội hình ở xa, thời gian gấp, các đơn vị không cơ động kịp về khu vực quy định phòng giữ, nên từ ngày 28 tháng 6 đến ngày 2 tháng 7, đối phương tiến quân tương đối thuận lợi.
Ngày 2-7-1972
Sư đoàn thủy quân lục chiến địch chiếm được quận lỵ Hải Lăng. Ta co về tuyến sông Vĩnh Định.
 Sư đoàn dù đánh chiếm cầu Nhùng, cầu Bến Đá, cầu Dài. Ta co về giữ một số cao điểm ở La Vang và quanh Thị xã Quảng Trị.

II. Diễn biến các đợt chiến đấu bảo vệ thị xã -
Thành cổ Quảng Trị
(Từ ngày 3 tháng 7 đến ngày 16 tháng 9 năm 1972
Chia thành 5 đợt)

Đợt 1: Đánh bại đợt tiến công thứ nhất của sư đoàn dù ở vùng ven Thị xã: từ ngày 3 đến ngày 13 tháng 7 năm 1972
Ngày 28 tháng 6, Bộ Tư lệnh Mặt trận B5 giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 48 phối hợp với lực lượng Tỉnh đội Quảng Trị tổ chức phòng thủ Thị xã Quảng Trị và khu vực La Vang, không để đối phương lọt vào Thị xã. Quyết tâm của Trung đoàn 48 là kiên cường phòng thủ, giữ vững thị xã Quảng Trị và La Vang, với khẩu hiệu "Quang Sơn còn, Thị xã còn". (Quang Sơn là bí danh của Trung đoàn 48).
Lúc này ở Thị xã có Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 3 của Trung đoàn 48 và Tiểu đoàn địa phương 8 Quảng Trị, được bố trí như sau:
- Tiểu đoàn 1 của Trung đoàn 48 bố trí vòng ngoài từ hướng Đông - Đông Bắc Thị xã trên chính diện khoảng 4 kilômét:
1 đại đội và Sở chỉ huy Tiểu đoàn 1 ở Tri Bưu - Quy Thiện.
1 đại đội ở Trầm Lý.
1 đại đội ở An Thái - Tiểu đoàn 3 của Trung đoàn 48 tập trung bố trí ở khu vực La Vang, cao điểm 25 (căn cứ cũ của trung đoàn ngụy, có đầy đủ công sự); lực lượng phía trước do Đại đội 11 thuộc Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 48 đảm nhiệm. Bố trí: một chốt ở ngã tư đường sắt - phía Đông La Vang - Hữu độ 500 mét và một chốt ở khu lô cốt có sẵn trên đường 1, phía Bắc cầu Nhùng độ 1 kilômét.
- Tiểu đoàn địa phương 8 Quảng Trị bố trí trên hướng chủ yếu đối phương tấn công chốt giữ ngã ba Long Hưng - Bệnh viện Quảng Trị, đầu Cầu Sắt - Thạch Hãn.
- Sở chỉ huy Trung đoàn 48 ở Bích Khê, phía bắc Thị xã độ 2 kilômét. Cử một trung đoàn phó trực tiếp đi cùng Tiểu đoàn 3 chiến đấu bảo vệ La Vang.


Tiêu đề: Re: Khúc tráng ca thành cổ Quẩng Tri
Gửi bởi: vmt trong 07 Tháng Năm, 2011, 10:18:15 AM
                                                               Tiếp theo :
Ngày 3-7-1972

Đối phương bắt đầu vượt sông Nhùng, sau khi đổ bộ đường không vào ngày 30 tháng 6 năm 1972, chiếm bàn đạp phía Nam sông Nhùng, tiến về hướng Thị xã trên hai trục đường 1 và đường sắt.
* Lực lượng chốt ở phía Đông La Vang Hữu là Đại đội 11 của Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 48 đánh trả quyết liệt, chặn 4 đợt xung phong của đối phương, diệt trên 40 binh lính, buộc đối phương phải dừng lại.
Đây là trận thắng đầu tiên của lực lượng bảo vệ Thị xã. Đại đội 11 được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất sau thắng lợi này.
Chiều tối ngày 3 tháng 7 năm 1972 do thương vong nhiều, mất sức chiến đấu, Đại đội 11 Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 48 rút chốt.

Đại đội 2 thuộc Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 48 ở An Thái cũng rút về phía sau.
* Trên hướng đường 1, đối phương dùng phi pháo đánh phá ác liệt vào vị trí của Tiểu đoàn địa phương 8 và tiến quân nhằm tiêu diệt lực lượng của ta. Tiểu đoàn địa phương 8 đã chiến đấu kiên cường, giữ vững trận địa, tiêu diệt nhiều sinh lực đối phương trong ngày và các ngày tiếp theo. Đây là hướng tấn công chủ yếu của đối phương.
Ngày 4-7-1972
Trên đường 1, đường sắt, không còn lực lượng ta chốt giữ, đối phương  tiến vào đánh An Thái, Đại Nải, chiếm bốn khẩu cao xạ 37 ly, uy hiếp nghiêm trọng hướng Đông Nam Thị xã.
Ở hướng La Vang, Tiểu đoàn 3 thuộc Trung đoàn 48 chốt đánh kiên cường, giữ vững khu vực, buộc đối phương phải dừng lại.

Ngày 5-7-1972
Đối phương oanh tạc bắn phá dữ dội khu vực Thị xã Quảng Trị - La Vang, đồng thời cho một tiểu đoàn đánh chiếm Trầm Lý, uy hiếp Thị xã từ hướng Đông - Đông Bắc.
Ngày 6-7-1972
- Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48 (từ phía Tây Thừa Thiên mới rút về Ái Tử) được lệnh vượt sông sang chiến đấu ở Thị xã và phân chia lực lượng:
+ Đại đội 5: Chốt giữ ngã ba Long Hưng cùng Tiểu đoàn địa phương 8.
+ Đại đội 7: Tăng cường cho Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 48 chốt giữ La Vang.
+ Đại đội 6: Bố trí tây Bắc ở hướng Thành cổ làm lực lượng cơ động.
+ Điều các đại đội hỏa lực Trung đoàn 48 (cối - ĐKZ - pháo 12,7 ly) vào Thị xã.
+ Tổ chức Sở chỉ huy nhẹ Trung đoàn 48 do Trung đoàn phó phụ trách vào Thị xã, đóng ở hầm dinh tỉnh trưởng cũ, sát bờ sông Thạch Hãn.
Như vậy đến ngày 6 tháng 7 năm 1972, toàn bộ lực lượng Trung đoàn 48 đã vào Thị xã. Cũng trong thời gian này, Trung đoàn 48 được tăng cường 1 đại đội xe tăng thuộc Lữ đoàn tăng 202 (thực tế chỉ đến được 3 xe tăng).
Ngày 7-7-1972
Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 48 sử dụng Đại đội 9 tăng cường 1 trung đội của Đại đội 10, với một trung đội địa phương và 3 xe tăng, được Trung đoàn pháo 45 chi viện trực tiếp, thực hành phản kích đối phương ở phía Đông La Vang Hữu. Đối phương thấy xe tăng ta bất ngờ xuất hiện, nên đội hình rối loạn. Ta diệt hàng trăm binh lính, bắn cháy hai xe tăng, đẩy đối phương ra khỏi khu vực La Vang Hữu. Ta bị hỏng hai xe tăng, một chiếc do bắn nhầm và một chiếc bị phá do bom.

Ngày 8-7-1972
- Đối phương tiếp tục tiến công La Vang, đối phương bị Tiểu đoàn 3 của Trung đoàn 48 chặn đánh, bẻ gãy nhiều đợt tiến công, diệt hàng trăm bính lính đối phương, giữ vững trận địa.
- Ở hướng  Đông Nam Thị xã, biệt kích đối phương luồn vào khu vực thôn Thạch Hãn, bị Tiểu đoàn địa phương 8 chặn đánh, diệt 39 bính lính, buộc đối phương phải tháo chạy.
- Ở hướng Đông Bắc Thị xã, đối phương từ Trầm Lý đánh sang Qui Thiện, bị các chốt của Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 48 chặn đánh, buộc đối phương phải rút chạy về Trầm Lý. Ta diệt trên 100 bính lính.

Ngày 9-7-1972
Đối phương tiếp tục bắn phá dữ dội vào Thị xã và các trận địa của ta.
Trên tăng cường cho Thị xã: Tiểu đoàn địa phương 3 vào chốt giữ trong Thành cổ Quảng Trị; Đại đội công binh của Trung đoàn công binh 229; 2 tiểu đội A72 tên lửa phòng không vác vai; một số đài quan sát quân báo nắm bắt tình hình đối phương trên hướng Đông Nam và Đông Bắc Thị xã.

Ngày 10-7-1972
Sáng sớm, đối phương tập trung quân cùng xe tăng trên đường 1 ở khu vực An Thái - Đại Nải, chuẩn bị tiến công vào Thị xã. Ta lập tức sử dụng hỏa lực pháo cối bắn dồn dập vào nơi đối phương tập trung. Riêng pháo 130 ly ta đã bắn 400 viên. Kết quả diệt hàng trăm địch quân, phá tan cuộc chuẩn bị tiến công của đối phương.
Ở ngã ba Long Hưng, nắm thời cơ pháo ta bắn, đối phương đang rối loạn, Đại đội 5 của Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48 xuất kích diệt 37 địch quân, đuổi đối phương phải rút khỏi khu vực, tạo thế chốt giữ vững chắc, được Bộ Tư lệnh Mặt trận B5 khen ngợi ngay chiều tối ngày 10 tháng 7.

Ngày 11-7-1972
- 7 giờ đối phương tiến đánh khu vực ngã ba Long Hưng, bị ta nổ súng ngăn chặn, đồng thời máy bay đối phương oanh tạc nhầm vào đội hình khiến đối phương bị thương vong nhiều, buộc phải dừng tiến công.
- 8 giờ 30 phút sau khi củng cố lực lượng, đối phương tiếp tục tiến công từ ba mũi vào trận địa chốt của Đại đội 5 thuộc Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48 và Tiểu đoàn địa phương 8. Ta đánh trả quyết liệt và xuất kích nhỏ vào sườn đội hình đối phương, bảo vệ được chốt sau ba đợt tiến công của đối phương. Đến chiều tối, đối phương dừng tiến công và con số thương vong tới hàng trăm bính lính.
Sau trận đánh Đại đội 5 Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48 được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba.
- Cùng ngày trên hướng Đông Bắc, đối phương tiến công vào Tri Bưu, bị Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 48 chặn đánh quyết liệt, buộc đối phương phải dừng lại, không phát triển được. Chiều ngày 11 tháng 7, đối phương sử dụng 90 lần/chiếc trực thăng đổ quân xuống An Tiêm - Nại Cửu, bị Trung đoàn 27 của Sư đoàn 320B đánh trả, bắn cháy hàng chục chiếc trực thăng, nhưng đối phương vẫn chiếm được khu vực này (nó sẽ để uy hiếp, cắt đường chi viện của ta cho Thị xã từ hướng bắc).

Ngày 12-7-1972
Đối phương tiếp tục tiến công ác liệt vào các trận địa ở Thị xã, La Vang, ngã ba Long Hưng, Tri Bưu.
Ta kiên cường đánh trả, giữ vững trận địa trong ngày. Riêng trên hướng Tri Bưu, đối phương chiếm được một phần, trực tiếp uy hiếp Đông Bắc Thành cổ.
Tư lệnh vùng 1 chiến thuật của đối phương ra lệnh cho quân dù "Bằng mọi cách, đêm 12 tháng 7 phải cắm được cờ trên Thành cổ, trước ngày khai mạc Hội nghị Pa-ri". Bộ Tư lệnh Mặt trận B5 lệnh cho Trung đoàn 48 quyết giữ vững Thành cổ, tổ chức phản kích, đẩy đối phương ra khỏi Tri Bưu. Quân ủy Trung ương điện số 915, ra lệnh: "Giữ Thành cổ bằng mọi giá".
 Nửa đêm 12 rạng ngày 13 tháng 7, Bộ Tư lệnh Mặt trận B5 thông báo: có tin đối phương cử một bộ phận đi theo cống ngầm vào Thành cổ để cắm cờ.
Trung đoàn 48 ra cho toàn bộ lực lượng, tăng cường trinh sát, kiểm tra từng góc trận địa, không cho đối phương lọt vào Thành cổ.
Đêm 12 tháng 7, Bộ Tư lệnh Mặt trận B5 lệnh cho Sư đoàn 325 đưa Trung đoàn 95 vào cùng Trung đoàn 48 chiến đấu bảo vệ Thị xã.

Ngày 13-7-1972
TRÊN HƯỚNG TRI BƯU - ĐÔNG BẮC THÀNH CỔ:
Vào mờ sáng, đối phương bắt đầu triển khai đội hình tiến công từ nhà thờ Tri Bưu. Ta dùng pháo bắn cấp tập vào khu vực. Đối phương bị thương vong một số, buộc phải chững lại và dùng hỏa lực không quân, pháo hạm, pháo đất bắn phá dữ dội vào Đông Bắc Thành cổ, dùng bom dù có sức khoan sâu và công phá lớn để phá tường thành, hầm ngầm, công sự của ta. Sau đó đối phương bắt đầu tiến công, nhưng đều bị Tiểu đoàn 1 và một bộ phận Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48 chặn đánh quyết liệt, giữ vững trận địa.
Trong ngày, tiểu đoàn dù đối phương bị thương vong vài trăm binh sỹ. Riêng đại đội phòng không 12,7 ly của Trung đoàn 48 bắn rơi một trực thăng, có một đại tá sư phó sư dù và một trung tá chỉ huy pháo sư đoàn dù cùng bảy sĩ quan tham mưu dù.

TRÊN HƯỚNG NAM - ĐÔNG NAM:
Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 48 và Tiểu đoàn địa phương 8 cùng Đại đội 5 Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48 đã ngăn chặn các đợt tiến công của đối phương, giữ vững trận địa chốt ở La Vang, ngã ba Long Hưng, phía Nam Thị xã.
Sau mười ngày liên tục tiến công Thị xã, sư đoàn dù của đối phương vẫn không thực hiện được ý định cắm cờ ngụy trên Thành cổ vào ngày 10 tháng 7, và cả sau đó ngày 13 tháng 7, chịu tổn thất lớn. Đối phương bị thương vong 1.071 binh lính, cháy 3 xe tăng, rơi 2 máy bay (1 phản lực, 1 trực thăng) và bị phá hủy nhiều vũ khí phương tiện kỹ thuật khác.
Ta đã kiên cường chiến đấu giữ vững trận địa, trong điều kiện chuyển vào phòng thủ khu vực quá rộng, lực lượng dàn mỏng, thiếu liên kết hiệp đồng chặt chẽ, công sự chưa vững chắc, quân số, vũ khí phương tiện kỹ thuật thiếu thốn, chưa đồng bộ.

Đợt 2: Đánh bại đợt tiến công thứ hai của đối phương vào Thị xã từ ngày 14 đến ngày 27 tháng 7 năm 1972.
Rút kinh nghiệm việc đánh nhanh thắng nhanh, tiến công ồ ạt không thành công, bị nhiều tổn thất, quân dù đối phương chuyển sang cách đánh thận trọng hơn. Đối phương tăng cường dùng phi pháo hủy diệt mục tiêu trước, sau đó mới cho bộ binh và xe tăng đánh chiếm từng bước.


Tiêu đề: Re: Khúc tráng ca thành cổ Quẩng Tri
Gửi bởi: vmt trong 07 Tháng Năm, 2011, 10:21:54 AM
                                                                 Tiếp theo :

Đối phương nâng tổng số đạn pháo đánh phá Thị xã từ 8.000 viên/ngày lên 15.000 viên/ngày, cao điểm có ngày lên tới 30.000 viên/ngày, sử dụng 40 đến 60 lần/chiếc máy bay phản lực một ngày, dùng bom khoan đánh phá hầm hào tường thành, tăng số phi vụ máy bay B.52 ném bom dọc bờ tả ngạn sông Thạch Hãn và hậu phương ta để ngăn chặn ta tăng cường quân số, vận chuyển tiếp tế. Trước âm mưu thủ đoạn mới của địch, ta chủ trương tăng cường lực lượng vào Thị xã, quyết giữ vững Thành cổ.

Đêm 13-7-1972
Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 95 Sư đoàn 325 của ta được đưa vào Thị xã, bố trí ở phía tây Bắc Thị xã, làm nhiệm vụ cơ động.
Ngày 14-7-1972
4 giờ sáng, đối phương cho một tốp biệt kích lẻn vào cắm cờ ở góc đông Bắc thành, bị các chiến sĩ Đại đội 14 hỏa lực của Trung đoàn 48 và các chốt của Tiểu đoàn địa phương  3 phát hiện và tiêu diệt. Sau hành động cắm cờ thất bại, đối phương tiến hành những đợt hỏa lực đánh phá ác liệt liên tục hai ngày 14 và 15 tháng 7 vào các trận địa của ta trong Thị xã.
Ngày 14 tháng 7 thành lập ban chỉ huy bảo vệ thị xã gồm:
 Chỉ huy trưởng là đồng chí Tham mưu phó Mặt trận B5. Chính ủy, Bí thư Ban cán sự là đồng chí Cục phó Cục Chính trị B5; Phó chỉ huy trưởng là đồng chí Trung đoàn trưởng Trung đoàn 48, Tỉnh đội phó Quảng Trị, Chủ tịch ủy ban quân quản Quảng Trị.
Ban chỉ huy lấy cơ quan tham mưu Trung đoàn 48 làm cơ quan chỉ huy. Bố trí Sở chỉ huy tại An Mỗ, phía bắc Thị xã cách độ 3 kilômét. Sở chỉ huy nhẹ do Trung đoàn phó Trung đoàn 48 phụ trách vẫn bố trí trong Thị xã, ở hầm dinh Tỉnh trưởng.

ĐỘI HÌNH CHIẾN ĐẤU BỐ TRÍ NHƯ SAU:
Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 48: Tri Bưu - góc đông bắc Thành.
Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48 (thiếu): thôn Cổ Thành.
Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 64: thôn Cổ Thành - Hạnh Hoa.
Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 95: Cơ động, bố trí ở bắc Thị xã và đông nam
Thị xã.
Tiểu đoàn địa phương 3: Trong Thành cổ.
Tiểu đoàn địa phương 8: Thạch Hãn - Bệnh viện - Cầu Sắt Quảng Trị.
1 đại đội của Tiểu đoàn địa phương 8 và Đại đội 5 Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48: Ngã ba Long Hưng.
Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 48: La Vang - Cao điểm 25.

Ngày 16-7-1972
Ta đưa Tiểu đoàn 9 thuộc Trung đoàn 64 Sư đoàn 320B vào chốt giữ phía Bắc Thị xã ở thôn Cổ Thành và khu vực Tri Bưu; đưa Đại đội 1 vận tải, Đại đội 6 công binh thuộc Sư đoàn 320B mở tuyến vận chuyển sông và tăng vận tải vật chất kỹ thuật từ 500 đến 600 kilôgam lên 4 đến 6 tấn/ngày.
Quân dù địch bắt đầu tiến công Thị xã trên các hướng:

HƯỚNG ĐÔNG BẮC:
Hai tiểu đoàn đối phương có xe tăng tiến công Tri Bưu - Hạnh Hoa. Ta dùng pháo bắn cấp tập vào đội hình đối phương, sau đó Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48 (thiếu) cùng 2 đại đội của Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 48 xuất kích đánh cạnh sườn quân dù. Đối phương rối loạn, tháo chạy. Ta truy kích, chiếm nhà thờ Tri Bưu, đẩy địch ra xa 500 mét. Trong trận này một đại đội của Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48 thực hiện đánh gần, đợi địch vào sát mới nổ súng diệt 25 binh lính, có binh lính đối phương gục cách quân ta có 5 mét.

HƯỚNG ĐÔNG NAM:
 Một tiểu đoàn lính dù từ quận Mai Lĩnh được xe tăng chi viện tiến công khu vực đông nam Thị xã.
Tiểu đoàn địa phương 8 và Tiểu đoàn địa phương 3 được pháo chi viện đã xuất kích nhỏ đánh bại hai đợt tiến công của đối phương.
15 giờ, địch đột nhập khu Mỹ Đông, Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 95 được lệnh xuất kích, dùng Đại đội 3 tập kích ban ngày diệt ngót trăm tên. Đối phương bỏ chạy, rút về Mai Lĩnh vào chiều tối.
Đại đội 3 Tiểu đoàn 4 của Trung đoàn 95 lập công xuất sắc, được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất.

HƯỚNG LA VANG:
Tiểu đoàn 4 của Trung đoàn 88 Sư đoàn 308 dùng Đại đội 2 và Đại đội 3 tập kích sở chỉ huy dù đối phương ở trại Gia Long, diệt 60 binh lính. Ta làm chủ trận địa. Trận này mở đầu cho Trung đoàn 88 từ hướng động Ông Do tiến công xuống La Vang, ra bờ sông Thạch Hãn, bảo vệ phía Nam Thị xã.
Ngày 17-7-1972
Sau đánh chiếm nhà thờ Tri Bưu (16 tháng 7), ta sử dụng: Tiểu đoàn 1 của Trung đoàn 48 tiếp tục đánh bồi, đẩy đối phương ra khỏi Tri Bưu; Tiểu đoàn 9 của Trung đoàn 64 và một đại đội của Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48 bảo vệ sườn trái cho Tiểu đoàn 1.

QUÁ TRÌNH CHIẾN ĐẤU
Tiểu đoàn 1 của Trung đoàn 48 đã nhanh chóng diệt địch, chiếm được khu nhà tôn và góc đông bắc Tri Bưu nhưng đã bị hai đại đội quân dù phản kích chiếm lại và đẩy Tiểu đoàn 1 ra khỏi nhà thờ Tri Bưu. Kết quả ta diệt 230 bính lính đối phương, bắn rơi 1 trực thăng. Nhưng Tiểu đoàn 1 cũng bị thiệt hại nặng. Ngay trong đêm 17 tháng 7, ta cho Tiểu đoàn 1 ra ngoài củng cố.
                               Hết: I – Tình hình tác chiến, xem tiếp: 2



Tiêu đề: Re: Khúc tráng ca thành cổ Quẩng Tri
Gửi bởi: vmt trong 07 Tháng Năm, 2011, 10:27:13 AM
                                                      Tiêp : Phần 2 chương 1

Từ ngày 19 đến ngày 20-7-1972
Ta dùng hỏa lực pháo bắn cấp tập vào khu vực Tri Bưu, sau đó xuất kích diệt đối phương, đẩy quân đối phương ra xa, cách ta 200 đến 300 mét và chốt giữ được khu vực đông bắc Thành cổ. Ta diệt hơn 200 binh lính đối phương, bắn cháy hai xe tăng.

Ngày 21-7-1972
Tiểu đoàn 3 của Trung đoàn 48 bàn giao khu vực La Vang cho Trung đoàn 88, chuyển về bố trí ở phía Đông Nam Thành cổ, quân số còn khoảng 100 người.

Ngày 22-7-1972
Bộ Tư lệnh Mặt trận B5 đưa toàn bộ Trung đoàn 95 của Sư đoàn 325 vào Thị xã chiến đấu, lệnh tổ chức Ban chỉ huy hỗn hợp của Trung đoàn 48 và Trung đoàn 95 bảo vệ Thị xã và Thành cổ (thay Ban chỉ huy do đồng chí Tham mưu phó B5 phụ trách từ ngày 14 tháng 7 vì đồng chí Tham mưu phó Mặt trận B5 bị thương nặng, và sau đó Tham mưu trưởng của Sư đoàn 320B đến thay cũng bị thương ngay). Đồng thời thành lập Ban cán sự Đảng trong Thị xã do đồng chí Chính ủy Trung đoàn 95 làm bí thư.

Ban chỉ huy hỗn hợp của Trung đoàn 48 và Trung đoàn 95 chuyển vào trong Thị xã, đóng quân tại hầm dinh tỉnh trưởng gồm: Chỉ huy trưởng là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 48; Chính ủy - Bí thư ban cán sự là Chính ủy Trung đoàn 95; Chỉ huy phó là Trung đoàn phó Trung đoàn 95 và Trung đoàn phó Trung đoàn 48; Tham mưu trưởng là Tham mưu trưởng Trung đoàn 48 cùng toàn bộ cơ quan tham mưu Trung đoàn 48.
Ngày 23-7-1972
Chấp hành lệnh của Bộ Tư lệnh Mặt trận B5, Trung đoàn 95 đưa Tiểu đoàn 5 vào Thành ban ngày lúc 10 giờ, lội qua đoạn bãi nổi mới bồi ở quãng gần Chợ Sải, không phải bơi.
Theo lệnh của Trung đoàn, Tiểu đoàn 5  nhanh chóng đưa:
- Đại đội 6 và Đại đội 7 tăng cường cùng Tiểu đoàn 1 của Trung đoàn 48, phản kích đối phương ở Tri Bưu. Sau phản kích, chuyển về bố trí ở Tây Bắc Thành cổ, dọc bờ sông Thạch Hãn.
- Đại đội 5 tăng cường cho Tiểu đoàn 4 của Trung đoàn 95 phòng giữ đông Nam Thị xã.
Đêm 23 tháng 7, một đại đội của Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 88 vào chốt giữ trường Bồ Đề ở phía Nam Thị xã.

Từ ngày 24 đến ngày 25-7-1972
- Quân dù và hai đại đội biệt kích đối phương đánh chiếm Tri Bưu cùng một phần làng Hạnh Hoa, bị Tiểu đoàn 2 của Trung đoàn 48 cùng Tiểu đoàn địa phương 3 đánh trả quyết liệt, chia cắt đối phương thành từng cụm. Đến 15 giờ ngày 24 tháng 7, ta chiếm lại khu vực Tri Bưu.
Hướng Đông Nam, quân dù tiến đánh khu vực chốt của Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 95, Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 48 và Đại đội 5 thuộc Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 95, đối phương bị ta đánh trả quyết liệt và chặn đứng lại.
- Hướng Tây Nam, đối phương tiến công Đại đội 10 Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 88 ở trường Bồ Đề. Quân ta đánh ngăn chặn cả ngày, diệt hơn 40 binh lính đối phương.

Ngày 26-7-1972
Theo lệnh của Bộ Tư lệnh Mặt trận B5, toàn bộ Trung đoàn 88 của Sư đoàn 308 vào chiến đấu bảo vệ phía Nam Thị xã:
Tiểu đoàn 4 chốt giữ khu vực La Vang - trại Gia Long, cao điểm 25.
Tiểu đoàn 5 chốt giữ khu Cầu Sắt.
Tiểu đoàn 6 chốt giữ khu trường Bồ Đề - ngã ba Long Hưng.
Quân số Trung đoàn 88 lúc này đã suy giảm nhiều, mỗi đại đội chỉ còn 15 đến 20 tay súng. Cả trung đoàn còn bốn súng ĐKZ, bốn khẩu 12,7 ly, 8 khẩu cối 82. Sở chỉ huy Trung đoàn 88 bố trí ở Tích Tường 2, phía Nam Cầu Sắt khoảng 2 kilômét.
Về phía đối phương, sau mấy ngày tiến công bị thất bại, thương vong nặng nề, đối phương vẫn chưa chiếm được Thành cổ, đối phương tung tin chiều 25 tháng 7 đã chiếm được Thành cổ. Sáng ngày 26 tháng 7, đối phương tổ chức kéo cờ, có cố vấn Mỹ, có phóng viên nhà báo, quay phim đến dự, thực ra đối phương tổ chức kéo cờ giả ở nhà thờ Trầm Lý, cách Thị xã 3 kilômét về phía Đông.
Nhưng khi đối phương mới bắt đầu đã bị pháo của ta tập kích dồn dập, khiến đối phương hoảng loạn, vội vã lên máy bay trực thăng rút chạy.
Ngày 27-7-1972
Phát hiện đối phương đang lúng túng, tiểu đoàn 5 dù và lực lượng biệt kích địch gặp nhiều khó khăn: quân số thương vong, trang bị kỹ thuật bị tổn thất lớn, nên ta đã lệnh cho Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn 48 và Tiểu đoàn 9 thuộc Trung đoàn 64 tập kích đánh bồi thêm một đòn vào đêm 27 tháng 7 tại khu vực nhà thờ Tri Bưu, khu vực nhà Tôn - Đông Nam Tri Bưu. Ta đã diệt hơn 100 binh lính, bắt 2 lính dù, thu nhiều phương tiện kỹ thuật. Đối phương bỏ lại nhiều xác chết mang phù hiệu quân dù thuộc tiểu đoàn 4, tiểu đoàn 5, tiểu đoàn 6, tiểu đoàn 7, tiểu đoàn 9, tiểu đoàn biệt kích 81…

Hai tuần cuối tháng 7, mặc dù đã tăng mật độ hỏa lực gấp đôi và hơn nữa, đã mở nhiều đợt tiến công dự đối phương cắm cờ trên Thành cổ Quảng Trị, nhưng quân đối phương vẫn chưa đạt được yêu cầu, trái lại còn bị thiệt hại lớn. Trong 10 ngày (từ ngày 18 đến ngày 27-7) đối phương bị tiêu diệt 1.702 binh sỹ, cháy 3 xe tăng, 3 xe ô tô, rơi 4 máy bay.

 Và cuối cùng ngày 27 tháng 7, đối phương phải thay đổi lực lượng, đưa quân dù ra củng cố, sư đoàn thủy quân lục chiến vào thay thế, tiếp tục tiến công đánh chiếm Thị xã Quảng Trị.

Về phía ta, các đơn vị đều đã kiên cường chiến đấu, giữ từng khu vực chốt trước mật độ bom đạn rất lớn của kẻ địch, chấp nhận nhiều tổn thất về người và phương tiện kỹ thuật. Nhìn chung ta vẫn giữ được khu vực, mặc dù quân địch đã chiếm thêm được một vài nơi quan trọng như Tri Bưu, thôn Cổ Thành, Thạch Hãn v.v… và ta đang chiến đấu trong thế bị bao vây từ ba mặt.

Đợt 3: Đánh bại đợt tiến công đầu tiên của sư đoàn thủy quân lục chiến với cách đánh mới của chúng "Lấn dũi ban ngày, di tản ban đêm" (từ ngày 28-7 đến ngày 10-8-1972)

Cuối tháng 7 năm 1972, Ban cán sự Đảng cùng Ban chỉ huy hỗn hợp Trung đoàn 48 và Trung đoàn 95 họp rút kinh nghiệm chiến đấu tháng 7, đề ra chủ trương, nhiệm vụ:
- Động viên toàn đơn vị phát huy thắng lợi vừa qua, kiên quyết đánh bại mọi đợt tiến công của sư đoàn thủy quân lục chiến ngụy, giữ vững Thành cổ.
- Tranh thủ đưa từng tiểu đoàn đã chiến đấu dài ngày trong Thị xã ra ngoài củng cố lực lượng, chuẩn bị đánh lâu dài.
- Kiên quyết giành chủ động, tổ chức những trận đánh tập kích quy mô tiểu đoàn, diệt gọn từng trung đội, đại đội địch, đánh bại thủ đoạn lấn dũi của chúng, giữ vững trận địa.
- Bố trí đội hình hợp lý, củng cố công sự trận địa, phát triển giao thông hào; bổ sung cơ sở vật chất kỹ thuật, bảo đảm sinh hoạt đời sống bộ đội tại trận địa.
- Tranh thủ huấn luyện kỹ chiến thuật cho anh em mới, bổ sung ngay tại trận địa, chú trọng kỹ thuật sử dụng vũ khí bộ binh, bí mật vận động tiếp cận địch…
- Tăng cường xuống cơ sở kiểm tra đôn đốc thực hiện.
Điều chỉnh bố trí đội hình chiến đấu (cuối tháng 7 đầu tháng 8 năm 1972)
- Hướng Tri Bưu - Đông Bắc Thành: Tiểu đoàn 6 của Trung đoàn 95 và Tiểu đoàn 1 của Trung đoàn 48.
- Hướng thôn Cổ Thành - bắc Thị xã: Tiểu đoàn 2 của Trung đoàn 48; Tiểu đoàn 9 của Trung đoàn 64 và Đại đội địa phương 45 Quảng Bình.
- Trong Thành cổ: Tiểu đoàn địa phương 3 và một bộ phận Tiểu đoàn địa phương 8.
- Hướng đông nam Thị xã: Tiểu đoàn 4 của Trung đoàn 95.
- Thạch Hãn - Đệ Ngũ: Tiểu đoàn 3 của Trung đoàn 48 và Tiểu đoàn địa phương 8.


Tiêu đề: Re: Khúc tráng ca thành cổ Quẩng Tri
Gửi bởi: vmt trong 07 Tháng Năm, 2011, 10:28:38 AM
                                        TIẾP :
- Hướng Nam: Trung đoàn 88.
 + Tiểu đoàn 4: La Vang.
 + Tiểu đoàn 5: Cầu Sắt - Quảng Trị đến ngã ba Long Hưng.
 + Tiểu đoàn 6: Tây Nam Đệ Ngũ, trường Bồ Đề, ty Công chính.
- Lực lượng cơ động: Tiểu đoàn 5 của Trung đoàn 95 bố trí ở tây bắc Thị xã dọc sông Thạch Hãn.
- Đại đội đặc công của Tiểu đoàn đặc công 35 Mặt trận B5 ở hướng Đông Nam.
- Các đại đội hỏa lực của Trung đoàn 95 và Trung đội chống tăng B.72 thuộc Sư đoàn 325 vào bố trí hướng Đông Bắc và Đông Nam thay các đại đội hỏa lực Trung đoàn 48 rút ra ngoài củng cố.
- Đại đội công binh của Sư đoàn 320B vào thay đại đội công binh của Trung đoàn công binh 229 rút ra ngày 28 tháng 7; đại đội công binh thuộc Sư đoàn 325 vào ngày 3 tháng 8.
Diễn biến chiến đấu đợt 3:

Ngày 27-7-1972
Đối phương chiếm Chợ Sải - Bắc Thị xã nhằm cắt tiếp tế đường sông vào Thị xã.

Ngày 28-7-1972
Đối phương tiến công Đệ Ngũ đông.
 Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 95 và một bộ phận Tiểu đoàn địa phương 8 ngăn chặn, bắn 500 quả cối 82 ly, đánh trả quyết liệt, diệt 55 binh lĩnh, bẻ gãy cuộc tiến công của đối phương.

Từ ngày 28-7 đến 2-8-1972
Trời mưa bão lũ - nước sông Thạch Hãn lên to, hầm hào sụt lở, bộ đội ngâm mình trong nước suốt ngày đêm, tiếp tế qua sông rất khó khăn. Đối phương tiếp tục bắn phá ác liệt.

Từ ngày 30 đến ngày 31-7-1972
 Đoois phương tập kích hỏa lực hai ngày liền vào toàn bộ trận địa ta. Riêng pháo mặt đất, đối phương bắn 36.000 quả vào Thị xã và Thành Cổ.

Ngày 3-8-1972:
Một tiểu đoàn của lữ đoàn thủy quân lục chiến 258 ngụy bắt đầu tiến công Đệ Ngũ đông.
Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 95 và Tiểu đoàn địa phương 8, cùng Đại đội 9 Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 48 đánh ngăn chặn, xuất kích diệt quân đối phương.
Cuối ngày đối phương chiếm Đệ Ngũ đông và tiến ra Cầu Sắt, gặp Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 88 đánh trả quyết liệt.

Ngày 4-8-1972
Hai tiểu đoàn đối phương bí mật tiến vào hướng Tri Bưu, Hạnh Hoa, Đông Bắc Thị xã.
Ta chủ trương tập kích đối phương bằng lực lượng các chốt, quyết ngăn chặn giữ vững trận địa để hỗ trợ lực lượng tiến công gồm:
- Đại đội 6 thuộc Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48, Đại đội 7 thuộc Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 95 tiến công hướng chủ yếu ở Hạnh Hoa.
- Đại đội 1 thuộc Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 48 (mới vào thị xã ngày 2-8) tiến công hướng thứ yếu ở Tri Bưu.
- Đại đội 10 thuộc Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 64, Đại đội 6 Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48: tiến công phối hợp ở phía Bắc nhà thờ nhỏ Hạnh Hoa và tổ chức tiến đánh đối phương.
- Các hướng tập kích đối phương đều do cán bộ tiểu đoàn chỉ huy. Ban chỉ huy bảo vệ Thị xã - Thành cổ phân công một đồng chí chỉ huy phó trực tiếp chỉ huy trận đánh.

4 giờ 53 phút ngày 5-8-1972
Ta nổ súng tiến công, dùng hỏa lực chế áp mãnh liệt toàn bộ đội hình đối phương.
Đại đội 6 thuộc Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48 và Đại đội 7 Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 95 đã mạnh dạn thọc sâu chia cắt, áp đảo đối phương, nhanh chóng đánh chiếm khu nhà thờ nhỏ Hạnh Hoa. Đối phương chạy, bỏ lại 50 xác chết.
Trên hướng phối hợp, Đại đội 10 Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 64 tiến đánh, buộc đối phương phải co cụm ở Bắc Hạnh Hoa và bỏ chạy.
Ta chiếm Hạnh Hoa. Đại đội 10 thuộc Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 64 bố
trí chốt giữ khu vực. Trên hướng thứ yếu Đại đội 1 thuộc Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 48 và Đại đội 7 thuộc Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 95 đánh địch ở Tri Bưu, chiếm khu nhà tôn. Đại đội 1 thuộc Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 48 chốt giữ khu vực.
Kết quả sau 40 phút chiến đấu, ta diệt một đại đội đối phương, đánh thiệt hại ba đại đội khác, bắn cháy năm xe tăng, bắt sống hai binh lính, thu bốn vô tuyến điện và 70 súng các loại, đánh bại ý định đánh chiếm Thành cổ. Sau trận đánh, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48 được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất. Sau đó Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 64 rút ra, Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 64 vào thay thế chiến đấu ở đông nam Thị xã.

Ngày 5-8-1972
Tận dụng thời cơ thắng lợi của ta ở Tri Bưu - Hạnh Hoa:
- Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 95 và Tiểu đoàn địa phương 8 tập kích đối phương ở ngã tư đường 1, phía nam Thạch Hãn, khu chùa Bà Năm diệt hàng trăm bính lính đối phương đêm 5 tháng 8, cải thiện thế phòng thủ của ta ở đông nam Thị xã.
- Trung đoàn 88 đánh chiếm ngã ba Thạch Hãn - Bệnh viện. Đối phương dùng hỏa lực phi pháo bắn chặn ác liệt và tổ chức phản kích. Hai bên chiến đấu giằng co suốt ngày 5 tháng 8. Đến đêm mùng 5 tháng 8, Trung đoàn 88 rút khỏi khu vực do thương vong nhiều.
Ngày 7-8-1972
Các chốt của ta tiếp tục giữ vững trên các hướng Đông Nam và Đông Bắc Thị xã, khiến đối phương không thực hiện được ý định cắm cờ ở Thành cổ ngày 7-8.

Ngày 9-8-1972
Đối phương dùng một tiểu đoàn thủy quân lục chiến cùng xe tăng tiến công trận địa chốt Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 95 ở đông nam Thị xã và khu vực ngã tư đường 1 - Thạch Hãn.
Ta kiên cường đánh trả, giữ vững trận địa. Đại đội 3 thuộc Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 95 với 20 tay súng đã ngăn chặn nhiều đợt tiến công của đối phương trong ngày. Có nhiều chiến sĩ Đại đội 3 Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 95 bị thương nhiều lần vẫn ở lại chiến đấu với tinh thần "còn người còn trận địa".
Ở hướng Nam Thị xã khu vực Đệ Ngũ, Bồ Đề, Cầu Sắt: Tiểu đoàn 5 và Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 88 đánh bật nhiều đợt tiến công của đối phương giữ vững trận địa. Ta diệt 150 binh lính, bắn cháy 9 xe tăng thiết giáp (trong đó tên lửa chống tăng B72 diệt 6 xe) trong ngày.

Ngày 10-8-1972
Tiểu đoàn 5 và Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 88 tiếp tục đánh bại nhiều đợt tiến công của đối phương, giữ vững trận địa ở khu vực Đệ Ngũ - Bồ Đề, Cầu Sắt, mặc dầu ta bị tổn thất thương vong nhiều trong ngày.
Sau hơn 10 ngày vào chiến đấu thay quân dù, sư đoàn thủy quân lục chiến mà cụ thể là lữ đoàn thủy quân lục chiến 258 cả 5 tiểu đoàn đã bị tổn thất nặng nề.
Mỗi tiểu đoàn bị loại khỏi vòng chiến đấu từ 200 đến 250 binh sỹ, cháy 15 xe tăng thiết giáp, rơi 7 máy bay, tiểu đoàn 3 thủy quân lục chiến bị loại, phải về phía sau củng cố. Đối phương không thực hiện được ý định vào Thành cổ cắm cờ ngày 7 tháng 8 và sau đó ngày 10 tháng 8.


Tiêu đề: Re: Khúc tráng ca thành cổ Quẩng Tri
Gửi bởi: vmt trong 07 Tháng Năm, 2011, 10:59:20 AM
                                                        Tiếp :
Về ta, mặc dù đối phương đánh phá ác liệt, lại gặp mưa bão lũ gây nên vô vàn khó khăn, nhưng các lực lượng đã ngoan cường chiến đấu, bẻ gãy nhiều đợt tiến công của đối phương, giữ vững trận địa. Tuy nhiên, ta vẫn ở thế bị bao vây ba mặt. Một số trận địa bị thu hẹp như ở ngã ba Long Hưng, Thạch Hãn, Đệ Ngũ trên hướng Đông Nam - phía Nam Thị xã; ở Tri Bưu - Hạnh Hoa trên hướng Đông Bắc - phía Bắc Thị xã…
 Đợt 4: Đánh bại đợt tiến công tiếp theo của sư đoàn thủy quân lục chiến ngụy, cải thiện thế phòng ngự, giữ vững trận địa Thị xã và Thành cổ Quảng Trị (từ ngày 11 tháng 8 đến ngày 31 tháng 8 năm 1972)
A. Quá trình chiến đấu ác liệt dài ngày, dần dần hình thành cánh quân chiến dịch từ Tây sang Đông bảo vệ khu mới giải phóng Quảng Trị.
Vào trung tuần tháng 8 năm 1972, chấp hành Nghị quyết Đảng ủy
Mặt trận B5, Bộ Tư lệnh Mặt trận B5 giao nhiệm vụ cho Bộ chỉ huy Sư đoàn 325 chịu trách nhiệm tổ chức phòng thủ cánh giữa bao gồm Thị xã Quảng Trị, nhưng vẫn giữ quyền chỉ huy vượt cấp tới Ban chỉ huy Bảo vệ Thị xã Quảng Trị.
Sau khi nhận nhiệm vụ, Đảng ủy, Thủ trưởng Sư đoàn 325 quyết định tăng cường lực lượng cho Thị xã Quảng Trị, chủ yếu lực lượng pháo binh, đặc công, công binh, thông tin và bộ đội bảo đảm hậu cần kỹ thuật; đồng thời ngày 20 tháng 8 năm 1972 cử đồng chí Tham mưu phó Sư đoàn vào tăng cường công tác chỉ huy trong Thành.
 1. Sau khi vào Thị xã, nghiên cứu tình hình mọi mặt, trinh sát thực địa quanh Thị xã và Thành cổ, Ban chỉ huy Bảo vệ Thị xã thống nhất nhận định:
Lực lượng vũ trang Bảo vệ Thị xã đã và đang chiến đấu kiên cường, trụ vững dài ngày, giữ vững Thị xã trong thế phòng thủ bất lợi:
 - Địa hình bằng phẳng, tráng địa, lại bị dòng sông Thạch Hãn chia cắt.
 - Đối phương bao vây ba mặt, dùng hỏa lực tối đa của không quân, hải quân, hạm đội 7 Mỹ và quân đoàn 1 ngụy bắn phá ác liệt ngày đêm. Đối phương vận dụng chiến thuật lấn dũi ban ngày, di tản ban đêm, từng bước tiến công thận trọng, chưa thấy xung phong ồ ạt, đánh nhanh giải quyết nhanh.
 - Tổ chức lực lượng ta khá chắp vá. Có tới bốn đầu trung đoàn, hàng chục đầu tiểu đoàn và nhiều đơn vị lẻ khác mà tổng quân số chỉ độ 1.300 người.
Mỗi tiểu đoàn còn trên 150 quân, thực tế chỉ độ 50 đến 60 tay súng. Sức chiến đấu giảm sút sau nhiều ngày trụ bám. Quân số và vật chất kỹ thuật bổ sung mặc dù cấp trên rất cố gắng nhưng vẫn chưa bù đủ số quân thương vong và số vật chất tổn thất hàng ngày.
- Tổ chức đội hình chiến đấu, xây dựng trận địa phòng ngự còn nhiều nhược điểm, khuyết điểm. Chưa dứt khoát phòng ngự, còn lấn cấn giữa tiến công và phòng ngự, ụ súng chiến đấu, chiến hào nối liền các trận địa chốt, hệ thống công sự phụ (chướng ngại vật, dây thép gai, mìn…) còn sơ sài, thiếu vững chắc, thiếu liên kết, giao thông hào cơ động giữa các điểm tựa, chốt trong Thị xã hầu như không có, đại đa số đều vận động trên mặt đất, trên đường phố.
- Bảo đảm vật chất kỹ thuật, bảo đảm quân y, chuyển thương binh liệt sĩ, về phía sau còn rất nhiều khó khăn. Đạn dược, lương thực, thực phẩm, thuốc men còn thiếu thốn nhiều.

2. Trước tình hình trên, Ban chỉ huy Bảo vệ Thị xã tìm cách khắc phục từng bước khuyết nhược điểm. Tất nhiên việc khắc phục không dễ dàng, nhất là trong tình hình chiến sự diễn biến ác liệt hàng ngày. Đối phương tiếp tục oanh tạc bắn phá dữ dội, liên tiếp mở các đợt lấn dũi tiến công nối tiếp nhau hàng ngày vào Thị xã.
 Công việc trước hết là xác định ý định quyết tâm chiến đấu, củng cố điều chỉnh lực lượng, thu gọn đầu mối chỉ huy, đưa một số đơn vị ra ngoài củng cố, đề nghị trên tăng cường quân số và vật chất kỹ thuật tối thiểu.
Nội dung kế hoạch điều chỉnh lực lượng được Bộ chỉ huy Sư đoàn 325 và Bộ Tư lệnh Mặt trận B5 phê duyệt qua điện đài ngày 25 tháng 8 năm 1972 như sau:

* Hướng phòng thủ chủ yếu: nam - đông nam Thị xã do Trung đoàn 95 Sư đoàn 325 đảm nhiệm chốt giữ, cụ thể:
Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 95: khu Mỹ Đông, chùa Bà Năm, ty Cảnh sát, trại giam.
Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 95: khu Mỹ Tây, nhà thờ Tin lành, ngã ba Đống Đá.
Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 95: nam thôn Cổ Thành - Lực lượng cơ động.
Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 18 (vào Thành ngày 23-8): Khu vực Đệ Ngũ, Thạch Hãn.

* Hướng phòng thủ quan trọng: phía bắc và đông bắc Thị xã do Trung đoàn 48 Sư đoàn 320B đảm nhiệm chốt giữ, cụ thể:
Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 48: Khu vực Tri Bưu - Hạnh Hoa.
Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48: Khu vực thôn Cổ Thành, phía Nam sông Vĩnh Định.

* Tiểu đoàn địa phương 3 Quảng Trị trong Thành cổ.
Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 48, Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 165; Tiểu đoàn địa phương 8 và một số đơn vị lẻ khác chưa thật cần thiết trong Thị xã cho ra ngoài củng cố lực lượng.
Trung đoàn 88 của Sư đoàn 308 chốt giữ khu vực Cầu Sắt Quảng Trị, ven sông Thạch Hãn, trường Bồ Đề, có nhiệm vụ phối hợp chặt chẽ với đơn vị bạn trực tiếp ở khu vực phía nam Thị xã.

* Phối hợp với lực lượng chiến đấu vòng ngoài:
+ Từ hướng Nam - Tây Nam: Sư đoàn 304, Sư đoàn 308 chiến đấu tại khu vực điểm cao 367, động Chiên Giòng, động Ông Do, Trường Phước, điểm cao 105A-B, Tích Tường - Như Lệ, kết hợp chốt giữ với vận động tiến công, tập kích trên trục đường 1, và phía tây đường 1.
+ Từ hướng đông - đông bắc: Sư đoàn 320B chiến đấu tại khu vực Bích La - Nại Cửu - Chợ Sải - Long Quang kết hợp chốt giữ với vận động tiến công, tập kích khu vực tỉnh lộ 68, dọc sông Vĩnh Định.
* Bố trí sử dụng lực lượng binh chủng:
+ Đơn vị đặc công gồm: Đại đội đặc công Tiểu đoàn 19 Sư đoàn 325; Đại đội đặc công Tiểu đoàn 35 thuộc Mặt trận B5 được bố trí trong Thị xã, hoạt động, chiến đấu vùng sau lưng đối phương ở Hải Lăng - Mai Lĩnh.
+ Đơn vị pháo mặt đất gồm:
- Pháo tiểu đoàn, trung đoàn đi cùng: chủ yếu cối 82 ly (độ 30 viên/khẩu), ĐKZ75 - cối 82 ly (độ 20-30 viên/khẩu).
- Pháo Sư đoàn 325: bố trí tả ngạn sông Thạch Hãn ở khu vực Xuân An - Nhan Biều gồm 6 cối 120 ly; 5 dàn BM14 hỏa tiễn 5 nòng; 2 tiểu đội B.72 chống tăng. Có đài quan sát pháo sư đoàn ở trong Thị xã. Cơ số đạn: đều thiếu nhiều.
- Pháo do Bộ Tư lệnh Mặt trận B5 chi viện: Trung đoàn pháo 84, Trung đoàn pháo 164 và Trung đoàn pháo 45 đều có đài quan sát pháo trong Thị xã. Trận địa pháo đều bố trí ở xa về phía Tây, mỗi ngày được chi viện vài chục viên đạn pháo. Có đại diện chỉ huy pháo chi viện của Mặt trận B5 và Sư đoàn 325 ở cạnh Ban chỉ huy trong Thành.
+ Đơn vị pháo phòng không:
- Chủ yếu là trọng liên 12,7 ly của tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn và tên lửa phòng không mang vác A72 trực tiếp bảo vệ đội hình trận địa chốt trong Thị xã.
- Pháo phòng không của Mặt trận B5 bố trí ở xa Thị xã, ít tác dụng chi viện trực tiếp cho Thành.
+ Đơn vị trinh sát: Trung đoàn 48 Sư đoàn 320B, Trung đoàn 95 Sư đoàn 325 và Mặt trận B5 đều có mặt trong Thị xã, lập đài quan sát, bám địch phía trước. Quân số không quá 20 người một đại đội.
 + Đơn vị công binh: Trung đoàn 48, Trung đoàn 95 Sư đoàn 325 và Sư đoàn 320B, quân số không quá 30 người một đại đội, tập trung bảo đảm bến vượt sông qua Thị xã, làm Sở chỉ huy trung đoàn, tiểu đoàn, chuẩn bị di chuyển Sở chỉ huy hỗn hợp từ dinh Tỉnh trưởng phân tán ra ven bờ sông Thạch Hãn…
 + Đơn vị thông tin: Trung đoàn 48, Trung đoàn 95 Sư đoàn 325 - Mặt trận B5,  bảo đảm điện thoại từ Sở chỉ huy trung đoàn đến các tiểu đoàn, các chốt, đến Sư đoàn 325 và Mặt trận B5.
 
 Có mạng tải ba nói chuyện thẳng với Sư đoàn 325, Mặt trận B5 và cả đến Bộ Tổng tham mưu ở Hà Nội: bảo đảm vô tuyến điện 2Wt liên lạc với các tiểu đoàn, với hậu cứ Nhan Biều - Tả Kiên. Vô tuyến điện 15 W liên lạc với Sư đoàn 325 và Mặt trận B5, thường xuyên hàng ngày. Vài ba ngày một lần nạp ắc-quy ở Nhan Biều bên kia sông.
 + Đơn vị hậu cần - kỹ thuật hình thành các tuyến:
- Tuyến Ba Gơ - Phượng Hoàng - Nhan Biều do Mặt trận B5 đảm nhiệm.
- Tuyến Đông Hà - ái Tử - Nhan Biều do Sư đoàn 325 đảm nhiệm.
- Tuyến Nhan Biều vượt sông sang Thị xã do Trung đoàn 95 đảm nhiệm, có Tham mưu trưởng Trung đoàn 95 trực tiếp chỉ huy vượt sông.

- Tuyến Tả Kiên - Thị xã do Trung đoàn 48 đảm nhiệm. Đêm đêm, ta dùng thuyền máy, vượt trận địa đối phương ở Chợ Sải vào Thị xã tiếp tế vũ khí, đạn dược, lương thực và chở thương binh nặng ra hậu phương.
- Ở Nhan Biều, hình thành một hậu cứ trực tiếp bảo đảm hậu cần kỹ thuật cho Thị xã.

Có trạm phẫu quân y tiền phương do Tiểu đoàn quân y 24 của Sư đoàn 325 sơ cứu thương binh trước khi đưa về phía sau. Riêng Trung đoàn 48 có trạm phẫu ngay tại Thành cổ, có hầm quân y bên cạnh Sở chỉ huy tại khu vực dinh Tỉnh trưởng.
                            hết: ph 2 , xem tiếp: ph 3


Tiêu đề: Re: Khúc tráng ca thành cổ Quẩng Tri
Gửi bởi: vmt trong 07 Tháng Năm, 2011, 11:03:21 AM
                                                                  Phần 3 chương 1
 
        Diễn biến chiến đấu đợt 4
Quân đối phương bao gồm lữ đoàn 258 ở hướng Đông Nam Thị xã, lữ đoàn 147 ở hướng Đông Bắc Thị xã.
 Đối phương tiếp tục tăng cường hỏa lực đánh phá dữ dội vào Thị xã và các đường tiếp tế vào Thành, đặc biệt ngăn chặn các bến vượt sông Thạch Hãn, đồng thời tổ chức xây dựng công sự trận địa (ụ súng, chiến hào, chướng ngại, vật cản…) ở những khu vực đối phương mới chiếm như Thạch Hãn, Đệ Ngũ, Bồ Đề ở hướng Nam - Đông Nam, Tri Bưu - Hạnh Hoa ở hướng Bắc - Đông Bắc.
Đối phương thường xuyên sử dụng lực lượng nhỏ có xe tăng, pháo binh chi viện, thực hành lấn dũi từng bước chiếm bàn đạp quan trọng phía trước hòng thắt chặt thêm vòng vây.
Quân ta ở các trận địa chốt phía Nam - Đông Nam cũng như ở phía Bắc - Đông Bắc đều kiên cường giữ vững trận địa, tranh chấp từng mảnh đất Thị xã, mặc dù đối phương tích cực bắn phá ác liệt ngày đêm để từng bước lấn dũi chiếm thêm đất. Đêm đêm ta thực hành tập kích diệt đối phương, cải thiện thế phòng thủ ở hướng Nam - Đông Nam (Trung đoàn 95) và hướng Bắc - Đông Bắc (Trung đoàn 48).
Đặc biệt nổi lên một số trận từ ngày 19 đến ngày 25 tháng 8 năm 1972:  Trận tập kích của Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 95 vào khu Nhà Xanh - Tri Bưu từ ngày 21 đến ngày 25 tháng 8 đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn thủy quân lục chiến, cải thiện thế phòng thủ khu vực:
Từ ngày 19 đến ngày 20-8-1972
Trinh sát, chuẩn bị chiến đấu.
Ngày 21-8-1972
Từ 20 giờ đến 23 giờ tập kích hỏa lực đợt một, đợt hai, đợt ba nhưng chưa xung phong nhằm phá hoại đối phương, và gây cho đối phương sự chủ quan, mệt mỏi.
3 giờ ngày 22-8-1972
Ta bất ngờ tập kích bằng xung lực, diệt gọn một đại đội đối phương ở khu Nhà Xanh và rút ra ngoài.
Ngày 22-8-1972
Đối phương đưa tiếp một đại đội ra chiếm khu Nhà Xanh.
0 giờ ngày 23-8-1972
Tiểu đoàn 5 của Trung đoàn 95 tập kích lần hai vào khu Nhà Xanh. Kết quả sau 30 phút tiến công, ta diệt gọn quân đối phương và nhanh chóng chuyển sang chốt giữ khu vực mới chiếm.
 
Từ ngày 24 đến ngày 25-8-1972
Đối phương liên tục phản kích nhiều đợt để chiếm lại khu vực Nhà Xanh, đều bị Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 95 và đơn vị tại chỗ (Trung đoàn 48) bẻ gãy. Ta diệt 250 tên, làm thiệt hại nặng tiểu đoàn 8 thủy quân lục chiến ngụy.
Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 95 được Bộ Tư lệnh Mặt trận B5 khen ngợi là "Tiểu đoàn đánh giỏi" và tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba.
- Trận tập kích của Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 165 cùng lực lượng Trung đoàn 88 Sư đoàn 308:  Tiến công khu vực Thạch Hãn Tây - Bồ Đề - Đệ Ngũ diệt hàng trăm binh lính đối phương, nhưng ta không trụ giữ được.
- Trận Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 18 (mới vào Thành ngày 23-8) cùng Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 88: Tập kích đối phương ở khu Cầu Sắt Quảng Trị, chốt giữ mục tiêu vừa đánh chiếm, đánh bại nhiều đợt phản kích của đối phương trong khu vực.
Ngoài ra, trên toàn Thị xã, ta thực hành tập kích nhỏ, liên tục từ ngày 11 đến ngày 31 tháng 8, cải thiện thế phòng thủ, giữ vững trận địa, thực hiện chỉ tiêu diệt đối phương của Ban chỉ huy lực lượng vũ trang Thị xã là mỗi chốt diệt 50 binh lính đối phương một tuần, gây cho đối phương nhiều kinh hoàng và tổn thất. Tiêu biểu như:
- Đại đội 2 Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 95 đánh 15 trận tập kích nhỏ diệt 90 binh lính đối phương, bắn cháy 1 xe tăng M.41.
- Đại đội 5 Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 95 đánh 10 trận diệt 80 binh lính.
- Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 95 đánh hơn 10 trận, diệt 75 binh lính, bắn cháy 1 xe tăng.
- Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48 đánh và bắn tỉa hơn 10 trận, diệt 70 binh lính đối phương.
- Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 48 phát hiện địch tập trung quân ngày 22 tháng 8 năm 1972 đã dùng cối 82 ly bắn 400 viên tập kích vào đội hình đối phương ở Tri Bưu, diệt gần 1 đại đội thủy quân lục chiến.
- Tiểu đoàn 19 đặc công Sư đoàn 325 luồn sâu vào vùng sau lưng đối phương đánh nhỏ nhiều trận đạt hiệu quả tốt. Tiêu biểu như trận đêm 21 tháng 8 năm 1972 đánh trúng cơ quan chỉ huy tiểu đoàn thủy quân lục chiến ở thôn An Lưu diệt 80 binh lính, cháy 2 xe tăng, phá 2 nhà bạt và 1 trận địa súng cối.
- Tiểu đoàn 17 công binh Sư đoàn 325 xây dựng trận địa chốt trong Thị xã, đêm đêm bò sang trận địa đối phương, giăng bom, mìn, cạm bẫy rồi bắn pháo để đối phương chạy vướng mìn bẫy, bị nhiều thương vong.
Đợt 5: Khắc phục mưa lũ lớn dài ngày, vượt qua những đợt hỏa lực "Phong lôi 1, Phong lôi 2" có tính hủy diệt, tích cực tập kích đối phương giữ vững trận địa. (Từ ngày 1 đến ngày 16 tháng 9 năm 1972)
Đầu tháng 9 năm 1972, cơn bão lớn đổ vào Quảng Trị, gây mưa và lũ lớn dài ngày. Trên toàn Thị xã, nước mưa không kịp thoát, nước lũ tràn vào, làm ngập úng, sụt lở nhiều trận địa chốt của ta. Đối phương tranh thủ tăng cường đánh phá hỏa lực, thực hiện tích cực lấn dũi, cố chiếm Thành cổ trước ngày 14 tháng 9 năm 1972.
Ta vừa đánh, vừa tát nước, khôi phục công sự sụt lở. Chỗ ở của bộ đội đều bị ẩm ướt. Đời sống sinh hoạt, vệ sinh trận địa trở nên khó khăn. Bệnh tật nảy sinh, sức khỏe bộ đội giảm sút nhanh, ảnh hưởng đến sức chiến đấu. Lũ lớn sông Thạch Hãn kéo dài gây nhiều khó khăn cho tăng cường quân số, tiếp tế vận chuyển vũ khí đạn dược, lương thực thực phẩm, chuyển thương binh…
Mặc dù gặp vô vàn khó khăn, ta vẫn tích cực chủ động đánh  giữ vững trận địa. Trong đó, nổi lên một số trận:
- 2 giờ ngày 2-9-1972: Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 95 tiến công khu tam giác Đệ Ngũ diệt một số đối phương, nhưng phải dừng lại do hỏa lực đối phương ngăn chặn.
- 23 giờ ngày 2-9-1972: Ta tổ chức tấn công lần thứ hai, Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 95 chiếm gần hết khu Đệ Ngũ, nhưng ta không chốt giữ được.
- Đêm 2-9-1972: Đặc công Sư đoàn 325 đánh khu Nhà bằng (gần chùa Bà Năm), nhưng nhà chưa sập. Đến đêm mùng 3 tháng 9 ta tổ chức đánh tiếp, mới phá được.
Cùng đêm mùng 2, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48 tiến công khu Mỹ Đông, chiếm được một phần phía bắc, nhưng không phá được khu tường hộp kiên cố bên trong.


Tiêu đề: Re: Khúc tráng ca thành cổ Quẩng Tri
Gửi bởi: vmt trong 07 Tháng Năm, 2011, 11:04:55 AM
                                                           Tiếp theo :
Ngày 3-9-1972
- Phân đội B72 chốt cùng Đại đội 8 Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48 bắn cháy 3 xe tăng ở khu vực làng Hạnh Hoa, phía bắc Thị xã.
- Đối phương chiếm khu Nhà thờ Tin lành và khu bờ sông phía Đệ Ngũ tây, uy hiếp bến vượt sông của ta từ Nhan Biều sang.
 - Đêm mùng 3, Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 95 đánh chiếm lại khu vực Nhà thờ Tin lành nhưng không chốt giữ được, bị đối phương đánh bật ra.
Đêm mùng 4-9-1972
- Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 95 tiếp tục đánh cắt địch ở khu vực Mỹ Tây - Nhà thờ Tin lành. Đối phương phải rút bỏ khu vực. Ta giải tỏa được khu bến vượt sông.
- Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 88 chốt giữ Đệ Ngũ tây, đánh lui nhiều đợt tiến công địch, diệt 49 tên, giữ vững trận địa.
- Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 88 chốt giữ đầu Cầu Sắt Quảng Trị, bị đối phương có xe tăng yểm trợ đánh bật.
Ngay đêm mùng 4, Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 88 tập kích chiếm lại Cầu Sắt, vào sáng mùng 5 đẩy đối phương về khu ga Quảng Trị.
Ngày 5-9-1972
- Đối phương tiếp tục tiến công khu Cầu Sắt, nhà thờ Tin lành, bờ sông Đệ Ngũ tây.
- Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 95 được tăng cường một bộ phận Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 95 đánh đối phương ở khu tam giác Đệ Ngũ và chặn giữ được đối phương.
- Ngày 4 và ngày 5, Tiểu đoàn 5 và Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 88 đã đánh chiếm khu vực Đệ Ngũ, đầu Cầu Sắt, nhà ga, giành đi, giật lại nhiều lần, trong điều kiện trời mưa to, đã tiêu diệt gần 80 binh lính đối phương. Sau đó chuyển về phòng thủ phía Nam đường xe lửa đến La Vang.
Ngày 6-9-1972
 Trời lại mưa lũ, đối phương tiếp tục bắn phá oanh tạc mạnh. Trạm phẫu trong Thành cổ bị bom đánh sập. Thuyền vận chuyển không vào được, thương binh ùn lại, phải đưa sang cả hầm Ban chỉ huy Bảo vệ Thị xã. Đối phương phát hiện trục đường bờ sông Tây Nam Thị xã, lực lượng ta mỏng nên đối phương tập trung tiến công vào hướng này nhằm chiếm khu vực Nhà thờ Tin lành, làm bàn đạp tiến công khu chợ và khu Mỹ Tây.
Đêm mùng 6, Ban chỉ huy Bảo vệ Thị xã họp với chỉ huy các tiểu đoàn ở Thị xã để rút kinh nghiệm chiến đấu, củng cố quyết tâm giữ vững trận địa, tạo điều kiện phản kích hướng đông bắc để chặn các đợt tiến công của đối phương.
Ngày 7-9-1972
Đối phương thực hiện cuộc tiến công từ ngày 7 tháng 9 đến ngày 19 tháng 9, mở đầu bằng đợt hỏa lực tàn bạo mãnh liệt "Phong Lôi". Đối phương liên tục bắn phá trong 48 giờ từ ngày 7 đến ngày 8 tháng 9 năm 1972. Đối phương dùng pháo binh, không quân, hạm đội 7 Mỹ đánh vào các trận địa ta trên các hướng Bắc, Đông Bắc, Nam, Đông Nam Thị xã, các đường vận chuyển, các bến vượt sông. Máy bay B.52 rải thảm dọc bờ tả ngạn sông Thạch Hãn, đặc biệt khu vực Xuân An, Nhan Biều, ái Tử, Đông Hà.
Đi đôi với kế hoạch "Phong Lôi", đối phương điều lực lượng phía sau lên tăng cường cho sư đoàn lính thủy đánh bộ gồm: Liên đoàn biệt động quân số 1 (3 tiểu đoàn) và thiết đoàn 17 (thiếu) được trang bị thêm xe tăng phun lửa M.125.
Trong Thị xã, đối phương dồn bộ binh, xe tăng tấn công từ hướng nam, dùng một bộ phận vượt qua cầu xi măng (phía bắc Nhà thờ Tin lành) định đánh chiếm khu Mỹ Tây vào ngày 7 tháng 9. Đại đội công binh Sư đoàn 325 chốt giữ cầu, đánh trả quyết liệt, dùng mìn phóng và B.41 diệt bộ binh, bắn cháy hai xe tăng, nhưng cầu xi măng và hầm cố thủ của ta bị bom khoan đánh sập, công binh ta không đủ sức ngăn chặn. Đối phương chiếm cầu, tiến lên đánh chiếm khu Mỹ Tây, Trường Nữ.
Đêm ngày 7-9-1972, Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 95 tập kích đánh đối phương ở khu Nhà thờ Tin lành, tiêu diệt một số đối phương nhưng không chiếm được mục tiêu. Đồng chí Tiểu đoàn trưởng bị thương, ta cử đồng chí cán bộ Tác huấn - Hóa học Sư đoàn 325 ra thay làm chỉ huy trong đêm.
Trên hướng Đông Bắc, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48 tập kích đối phương ở Hạnh Hoa, diệt 1 đại đội, chiếm được một số công sự, nhưng bị đối phương phản kích chiếm lại.
Ngày 8-9-1972
Đối phương tiếp tục đợt hỏa lực "Phong Lôi". Phía sau đối phương, có hiện tượng giãn quân ra và tung tin "đánh bom B.52 vào Thành cổ". Thực chất là nghi binh để điều quân lên chuẩn bị tiến công ta.
Ta tiếp tục bám sát đối phương ở hướng Nam - Đông Nam và hướng Bắc - Đg Bc, phá thế tiến công của đối phương.
Hướng Nm - Đg Nm, ta tiếp tục đánh ở khu Mỹ Tây, Trường Nữ, Nhà thờ Tin lành.
Hướng Đông Bắc, lữ đoàn thủy quân lục chiến 147 có xe tăng yểm trợ từ Tri Bưu đánh vào sát chân Thành cổ bị Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 48 ngăn chặn quyết liệt, đối phương phải lui về hướng Nhà thờ Tri Bưu - Hạnh Hoa. Hai bên tiếp tục giằng co.
Ta nhận định đây là hướng đối phương đang uy hiếp trực tiếp, nên quyết định dùng Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48 đánh bật đối phương trên hướng này vào đêm mùng 8 tháng 9.
Đêm mùng 8-9 rạng ngày  9-9
Thực hiện lệnh của Ban chỉ huy lực lượng vũ trang bảo vệ Thị xã, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48 tập kích đối phương ở Hạnh Hoa do một đại đội thủy quân lục chiến chiếm giữ bằng cách bí mật tiếp cận hình thành bao vây, đồng loạt nổ súng từ nhiều hướng, nhanh chóng xung phong, thực hiện thọc sâu chia cắt diệt đôi phương sau đó chốt giữ, sẵn sàng đánh phản kích ban ngày, Ban chỉ huy Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48 sử dụng lực lượng:
- Đại đội 7 (40 đồng chí) tập kích hướng chủ yếu: Tây - Tây Nam Hạnh Hoa.
- Đại đội 5 (47 đồng chí) tập kích hướng quan trọng: Nam -Đông Nam Hạnh Hoa.
 - Đại đội 6 (32 đồng chí) bố trí ở phía Bắc Thành cổ, làm dự bị sẵn sàng đánh đối phương từ hướng An Tiêm sang.
23 giờ ngày 8-9-1972
Ta dùng cối 160 ly và 120 ly của sư đoàn bắn phá đối phương trước.
2 giờ 50 phút ngày 9-9-1972
Ta bắt đầu nổ súng, đồng loạt xung phong chiếm mục tiêu.
4 giờ 40 phút ngày 9-9-1972
Sau 2 giờ tiến công, ta làm chủ trận địa, chuyển sang chốt giữ.
Từ 6 giờ ngày 9-9-1972
Đối phương dùng tăng thiết giáp cùng một tiểu đoàn thủy quân lục chiến cố đánh chiếm lại khu Hạnh Hoa. Ta kiên cường giữ vững trận địa, đánh bật ba đợt xung phong của đối phương trong ngày.
 18 giờ ngày 9 tháng 9, ta rút khỏi Hạnh Hoa. Đối phương chiếm lại khu vực. Kết quả: Ta diệt một đại đội thuộc tiểu đoàn 7, lữ đoàn thủy quân lục chiến 147, đánh thiệt hại nặng một đại đội thuộc tiểu đoàn 3 lữ đoàn thủy quân lục chiến 147, bắn cháy 5 xe bọc thép.
Ta hy sinh 13 đồng chí, bị thương một số. Sau trận này, Tiểu đoàn bộ binh 2 Trung đoàn 48 được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất.


Tiêu đề: Re: Khúc tráng ca thành cổ Quẩng Tri
Gửi bởi: vmt trong 07 Tháng Năm, 2011, 11:08:22 AM
                                                                Tiếp :
Ngày 9-9-1972
Lữ thủy quân lục chiến 258 tập trung 3 tiểu đoàn có xe tăng yểm trợ tiến công trên ba hướng: Nam -Đông Nam - Tây Nam vào Thị xã.
Từ hướng Nam, đối phương tập trung xe tăng, xe bọc thép, súng phun lửa chi viện cho bộ binh đánh chiếm Thành cổ. Một trung đội đối phương  đã lọt vào Thành. Tiểu đoàn địa phương 3 lập tức phản kích quyết liệt,  buộc đối phương phải tháo chạy, bị tiêu diệt 11 binh lính.
Bên ngoài Thành cổ, các chốt Tiểu đoàn 5 và Tiểu đoàn 4 của Trung đoàn 95 đánh trả, giành giật từng khu vực ở chùa Bà Năm, ty cảnh sát (hướngĐông Nam), khu trại giam, Thánh đường, Thạch Hãn (hướng Nam), khu Mỹ Tây (hướng Tây Nam) v.v… Trận địa gia]x ta và đối phương xen kẽ nhau.
Sở chỉ huy Tiểu đoàn 4, Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 95 cũng thành trận địa chặn địch. Kết quả trong ngày ở hướng Nam -Đông Nam, ta diệt trên trăm binh lính đối phương. Ta bị mất khu Mỹ Tây và bị thương vong trên 30 đồng chí, hỏng 3 cối 82 ly, 2 khẩu 12,7 ly, hầm hào bị sập gần một nửa.
Đêm 9-9-1972
Tiểu đoàn 4 cùng một bộ phận Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 95 tập kích đối phương ở khu Mỹ Tây đối phương phải tháo chạy về hướng Nam cầu xi măng qua sông Con. Ta chiếm lại khu Mỹ Tây.
Tiểu đoàn địa phương 8 ở ngoài vào tăng cường giữ Thành cổ (quân số 142 đồng chí) và cử một bộ phận ra chặn ở hướng Tây Nam: Trường Nữ - Mỹ Tây.
Ngày 10-9-1972
Đối phương tiếp tục lấn dũi hướng Nam - Tây Nam, cố đánh chiếm khu Mỹ Tây - Trường Nữ, trại giam - Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 95 được pháo cối chi viện đã kiên cường giữ vững chốt, diệt 90 tên, bắn cháy 1 xe tăng và thu nhiều súng đạn, nhưng đối phương chiếm được khu trại giam và ta cũng bị thương vong trên 50 đồng chí.
 Tiểu đoàn 4 mất sức chiến đấu, nên đêm  ngày 10 tháng 9 Ban chỉ huy Bảo vệ Thị xã lệnh Tiểu đoàn 4 rút ra ngoài củng cố và điều một bộ phận Tiểu đoàn 5 chuyển sang thay Tiểu đoàn 4 chốt giữ khu vực Nam - Tây Nam.
- Trên hướng Đông Bắc:
Đối phương từ Tri Bưu - Hạnh Hoa tiếp tục lấn dũi, một bộ phận lọt được vào hướng Đông Bắc Thành.
Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48 cùng Tiểu đoàn địa phương 3 trong Thành cổ kiên quyết chốt giữ, giành giật với địch từng khu vực, mảnh vườn, góc phố và đã đánh đuổi đối phương ra khỏi Đông Bắc Thành cổ.
Kết quả trong ngày, cả hướng Nam -Đông Nam, Bắc -Đông Bắc, trên toàn khu vực Thị xã, ta diệt hơn 200 binh lính đối phương, bắn cháy 1 xe tăng. Nhưng cũng bị thương vong 126 đồng chí và để mất khu trại giam và Mỹ Tây.
Ngày 11-9-1972
Đối phương tiếp tục tiến công trên các hướng vào Thành cổ.
- Trên hướng Đông Nam:  Từ 6 giờ, một bộ phận địch lọt vào Thành. Tiểu đoàn địa phương 3 phản kích, đánh bật đối phương ra khỏi Thành. 12 giờ, một đại đội đối phương nhảy vào Thành. Tiểu đoàn địa phương 3 đánh trả quyết liệt, địch bị thiệt hại nặng, buộc phải rút chạy khỏi Thành cổ trước khi trời tối.
- Trên hướng Tây Nam:  Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 95 cùng Đại đội 1 Tiểu đoàn địa phương 8 chiến đấu giằng co với đối phương ở khu vực Trường Nữ - Mỹ Tây.
Đêm 11, Đại đội 1 Tiểu đoàn địa phương 8 tập kích diệt 40 bính lính đối phương, chiếm lại khu Mỹ Tây nhưng hôm sau bị đối phương chiếm lại.
Trên hướng Đông Bắc: Đối phương liên tiếp lấn dũi vào các chốt Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48. Ta trụ bám, kiên cường đánh trả, giữ vững trận địa, mặc dù đến chiều bị mất một vài chốt nhỏ ở Tri Bưu và đến 21 giờ địch áp sát chốt Đại đội 6 Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48 ở Đông Bắc Thành cổ.Kết quả trong ngày, ta diệt 218 binh sỹ đối phương, thu một số súng nhưng cũng bị thương vong trên 108 chiến chí.
Ngày 12-9-1972Đối phương sử dụng 3 tiểu đoàn và 23 xe tăng xe bọc thép tiếp tục tiến công, lấn dũi trên cả ba hướng dưới sự yểm trợ mạnh mẽ của không quân, pháo mặt đất và pháo hạm Mỹ.
 11 giờ, một mũi đại đội đối phương lọt vào góc Đông Nam Thành, Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 95 và Tiểu đoàn địa phương 3 phối hợp phản kích trong, ngoài Thành cổ, đẩy lui đối phương ra khỏi Thành cổ, giữ vững trận địa, diệt cả trăm binh lính đối phương.
Quanh Thành cổ, dưới hào nước, xác binh lính đối phương chết vài ngày qua bị trương phềnh, mùi hôi thối nồng nặc.
Kết quả, trong ngày 12, trên cả ba hướng, đối phương bị diệt trên 300 binh lính, bị cháy 2 xe tăng, ta bị thương vong 108 chiến sỹ.
Đêm 12, ta tăng cường vào Thành Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 48 (201 đồng chí) và 70 tân binh cho Tiểu đoàn địa phương 3.
Ngày 13-9-1972
Trời tiếp tục mưa to, lũ lớn, hạn chế nhiều đến việc tăng cường lực lượng (quân số, vật chất kỹ thuật cho Thị xã).
Đối phương sau bốn ngày liên tục tiến công lấn dũi, vẫn chưa chiếm được Thành, nhưng đã áp sát ba góc Thành cổ: Nam, Đông Nam, Đông Bắc, cách trận địa ta từ 100 đến 300 mét.
Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 95 và Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 18 chiến đấu quyết liệt, giằng co với đối phương từng khu vực, góc tường, mảnh vườn. Đến trưa, địch chiếm được góc Đông Nam Thành, nhưng do ta kiên cường phản kích, gây nhiều tổn thất cho đối phương nên đến chiều, buộc đối phương phải rút ra khỏi Thành.
Kết quả trong ngày, ta diệt 123 binh sỹ đối phương, bắn cháy 1 xe tăng. Ta bị thương vong 34 chiến sỹ.
 23 giờ, Mặt trận B5 lệnh cho đồng chí Trung đoàn phó Trung đoàn 48 ra và sau đó vài giờ, (lúc 1 giờ ngày 14) lệnh đồng chí Tham mưu phó Sư đoàn 325 ra Nhan Biều để cùng Sư phó Sư đoàn 325 tổ chức đưa toàn bộ Trung đoàn 18 Sư đoàn 325 vào Thành phản kích.
Giao việc chỉ huy chung trong Thành cho đồng chí Trung đoàn phó Trung đoàn 95.


Tiêu đề: Re: Khúc tráng ca thành cổ Quẩng Tri
Gửi bởi: vmt trong 07 Tháng Năm, 2011, 11:10:13 AM
                                                       Tiếp :
Ngày 14-9-1972
Đối phương tiếp tục tiến công lấn dũi từ ba hướng vào Thành cổ, tập trung chủ yếu vào hướng Nam - Đông Nam.
Trên tất cả các hướng, các chốt của ta kiên cường chặn đánh.
14 giờ, một trung đội đối phương lọt vào hướng Tây Nam Thành. Ta lập tức phản kích đẩy lui địch ra ngoài, giữ vững khu vực.
Trên hướng Đông Nam, đối phương tiến sát khu chùa Bà Năm, trại giam.
Trên hướng Tây Nam, đối phương vào khu Mỹ Tây - Trường Nữ.
Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 95, Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 18 và một bộ phận Tiểu đoàn địa phương 8 chiến đấu chốt chặn quyết liệt, diệt nhiều binh lính đối phương, nhưng vẫn bị đối phương áp sát chân Thành.
Ta dồn lực lượng quyết giữ Thành cổ:
- Hướng Tây Nam: Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 95 và Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 18.
- Hướng Đông Nam: Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 95 cùng Tiểu đoàn địa phương 8 và Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 48 (mới vào đêm 12).
- Hướng Đông Bắc: Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 48.
- Hướng Tây Bắc: Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48.
- Trong Thành cổ: Tiểu đoàn địa phương 3 và một bộ phận Tiểu đoàn địa phương 8.
- Ở ngoài Nhan Biều: Mặt trận B5 điều một đại đội xe tăng đến tăng cường cho Thành, nhưng xe chưa đến kịp, chỉ có tiểu đoàn trưởng chỉ huy xe tăng đến nhận nhiệm vụ và đi trinh sát thực địa.
Ban chỉ huy Trung đoàn 18 chưa đến Nhan Biều nhận nhiệm vụ.
Ngày 15-9-1972
Lữ đoàn thủy quân lục chiến 258, lữ đoàn thủy quân lục chiến 147 đối phương tập trung lực lượng tổng công kích từ ba hướng, được chi viện tối đa hỏa lực của không quân, pháo binh, xe tăng, súng phun lửa các loại của Mỹ - ngụy.
4 giờ ngày 15, một đại đội đối phương bí mật tập kích Sở chỉ huy Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 48, chiếm góc Đông Bắc Thành cổ. Đồng thời pháo cối địch từ Chợ Sải - Bích La bắn dồn dập khống chế trận địa Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48 ở hướng Bắc - Tây Bắc Thành cổ.
 Trên các hướng khác, đối phương liên tục bắn phá kết hợp lấn dũi dứt điểm:
- Ở hướng Đông Nam: Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 48 và Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 95 kết hợp Tiểu đoàn địa phương 8 ở trong Thành đánh giành giật từng khu vực quanh Thành và trong Thành.
- Ở hướng Nam - Tây Nam: Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 95 và Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 18 đánh bật nhiều đợt đối phương nhảy vào cổng Nam Thành.
- Ở hướng Bắc - Tây Bắc: Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48 phối hợp cùng Tiểu đoàn địa phương 3 trong Thành đánh lui nhiều đợt lấn dũi của đối phương.
Đến cuối ngày 15, đối phương kiểm soát được cổng Thành phía Nam - Đông Nam, Đông Bắc Thành cổ. Ta buộc phải lui vào trong Thành cổ, cố thủ. Từ Sở chỉ huy Bảo vệ Thị xã  đã nghe tiếng hò hét lấn dũi của quân đối phương từ phía Nam sát bờ sông tiến vào khu Sở chỉ huy Trung đoàn hỗn hợp.
Tối 15 tháng 9, Ban chỉ huy Bảo vệ Thị xã họp nhận định:
- Đối phương đã chiếm góc Đông Nam - Nam - Đông Bắc Thành cổ, đang dồn lực lượng lên để chuẩn bị đánh chiếm Thành cổ vào ngày 16 tháng 9.
Các đơn vị đều đã kiên cường chiến đấu, giành giật từng khu vực trận địa, mảnh tường, góc Thành, nay đã bị tổn thất nhiều, mất sức chiến đấu. Quân số chiến đấu còn rất ít, kể cả Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 48, Tiểu đoàn địa phương 8 mới vào chiến đấu. Vũ khí đạn dược bị tiêu hao, cơ số đạn còn rất ít. Lực lượng Trung đoàn 18 phản kích chưa sang sông.
Vì vậy, lệnh rút toàn bộ lực lượng sang phòng thủ bờ Tả ngạn sông Thạch Hãn, để tiếp tục cuộc chiến đấu.
Thứ tự rút bắt đầu từ 22 giờ ngày 15:
- Thương binh rút trước.
- Tiếp đến các tiểu đoàn ở xa, rồi ở gần.
- Đơn vị trực thuộc quanh Sở chỉ huy, bao gồm cả các đài quan sát.
- Sở chỉ huy Bảo vệ Thị xã.
- Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48, Tiểu đoàn địa phương 8, đội vệ binh - trinh sát bảo vệ đội hình rút.
- Ban chỉ huy Trung đoàn hỗn hợp cùng đội vệ binh rút cuối cùng vào nửa đêm 15 rạng ngày 16.
Ngày 16-9-1972
Sáng 16, Bộ Tư lệnh Mặt trận B5 biểu dương lực lượng bảo vệ Thị xã đã chiến đấu kiên cường và ra lệnh tiếp tục đưa lực lượng Trung đoàn 18 Sư đoàn 325 đến đêm vượt sông sang Thành phản kích chiếm lại Thị xã.
Đến 18 giờ Bộ Tư lệnh Mặt trận B5 ra lệnh Trung đoàn 18 Sư đoàn 325 dừng lại, không vượt sông sang Thành phản kích nữa, mà nhanh chóng triển khai lực lượng phòng thủ tả ngạn sông Thạch Hãn, khu vực Nhan Biều - ái Tử.
- Lệnh cho Trung đoàn 48, Trung đoàn 95 và một số đơn vị trực thuộc chuyển về hậu cứ trung đoàn, sư đoàn củng cố lực lượng, chuẩn bị nhận nhiệm vụ mới.
 - Ban chỉ huy Bảo vệ Thị xã tiếp tục thu quân còn sót lại bên trong Thị xã, chú trọng thương binh, lạc ngũ, đào ngũ.
- Phòng quân báo Mặt trận B5 thông báo ngày 16, qua thông tin kỹ thuật, đối phương không bắt được một đồng chí nào của ta trong Thị xã bị bỏ sót lại, hoặc đào ngũ bỏ chạy.
Ngày 17-9-1972
Quân ủy Trung ương Bộ Quốc phòng điện cho Bộ Tư lệnh Mặt trận B5, chỉ rõ: "Bộ đội ta rút khỏi Thị xã chỉ là một sự lui quân có tính chiến thuật. Cần thấy: đứng về phạm vi cả mặt trận, thì cuộc chiến đấu của ta vẫn đang tiếp tục…". (Trích điện số 255Đ ngày 17-9-1972 Quân ủy Trung ương - Bộ Quốc phòng).
Chấp hành lệnh Mặt trận B5, Sư đoàn 325 cùng Trung đoàn 18 nhanh chóng triển khai xây dựng hệ thống trận địa phòng ngự cấp trung đoàn ở căn cứ ái Tử với đầy đủ công sự, thiết bị, vật liệu có sẵn do Mỹ - ngụy để lại, lấy tiền duyên phòng ngự là mép nước bờ tả ngạn sông Thạch Hãn từ đầu cầu Quảng Trị đến Nhan Biều, do Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 18 Sư đoàn 325 đảm nhiệm.
Sau thời gian độ một tuần, quân ta đã hình thành trận địa tương đối vững chắc và ngày một vững chắc hơn, bảo vệ lâu dài khu giải phóng Quảng Trị cho đến ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam mùa Xuân 1975, với đầy đủ các điểm tựa đại đội, cụm điểm tựa tiểu đoàn, khu vực phòng ngự trung đoàn, cùng hệ thống chiến hào, giao thông hào, chướng ngại vật, dây thép gai, chông mìn cạm bẫy bên mép sông Thạch Hãn kết hợp với thủy lôi thả dưới lòng sông do K5 Hải quân đảm nhiệm.
Trận tuyến phòng ngự tả ngạn sông Thạch Hãn, được đánh dấu bằng chiến thắng oanh liệt ngày 2 và ngày 3 tháng 11 năm 1972, tiêu diệt 2 đại đội quân đối phương mò sang sông hòng lập lại bàn đạp tấn công khu Nhan Biều - ái Tử, quân đối phương phải bỏ lại 120 xác chết. Ta phá 5 thuyền, bắn cháy 5 xe tăng, xe bọc thép, 8 ô tô bên bờ hữu ngạn sông, thu hàng trăm súng các loại và nhiều quân trang quân dụng…
Chiến thắng Nhan Biều ngày 2 và ngày 3 tháng 11 năm 1972 đã chấm dứt vĩnh viễn ý định tái chiếm Quảng Trị, ra đến ái Tử - Đông Hà của Mỹ-ngụy.
 
        Hết: ph  3 -, xem tiếp: ph  4


Tiêu đề: Re: Khúc tráng ca thành cổ Quẩng Tri
Gửi bởi: vmt trong 07 Tháng Năm, 2011, 11:58:49 AM
                                                      Phần 4 chương 1:

1. LỰC LƯỢNG VŨ TRANG BẢO VỆ THỊ XÃ QUẢNG TRỊ ĐÃ CHIẾN ĐẤU VÔ CÙNG DŨNG CẢM, KIÊN CƯỜNG BỀN BỈ CHỊU ĐỰNG MỌI KHÓ KHĂN ÁC LIỆT ĐỂ HOÀN THÀNH XUẤT SẮC NHIỆM VỤ BẢO VỆ THỊ XÃ VÀ THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ.
Cần khẳng định lực lượng Bảo vệ Thị xã Thành cổ Quảng Trị đã đạt vượt mức yêu cầu về thời gian phòng giữ Thị xã Thành cổ 81 ngày đêm (nếu tính từ khi quân đối phương bắt đầu phản công ngày 28-6) trong tình thế nhiều khó khăn, bất lợi như:
- Thiếu chuẩn bị, vội vã chuyển vào phòng ngự.
- Chiến đấu dài ngày trên địa hình đồng bằng ba mặt bị bao vây, một mặt là sông Thạch Hãn chia cắt. Mặt khác đã hứng chịu nhiều hỏa lực tối đa, hiện đại nhất (vào thời điểm đó) vô cùng ác liệt của không quân, hải quân Mỹ. Từ ngày 28 tháng 6 đến ngày 16 tháng 9 năm 1972, đối phương  đã sử dụng trên toàn Mặt trận B5:
4.958 lần/chiếc B.52 (trung bình 60 lần/chiếc ngày đêm).
9.048 lần/chiếc máy bay phản lực các loại (trung bình hơn 100 lần/chiếc ngày đêm).
 - Từ ngày 9 tháng 9 đến ngày 16 tháng 9 năm 1972 trong phạm vi Thị xã Quảng Trị, đối phương đã sử dụng:
95.570 viên đạn pháo 105 ly; 11.002 viên đạn pháo 155 ly;
2.630 viên đạn pháo 175 ly; 14.223 viên đạn pháo hạm đội 7;
163 lần/chiếc máy bay phản lực Mỹ.
(theo tài liệu địch thu được sau giải phóng năm 1975).
2. Ý CHÍ QUYẾT TÂM, TINH THẦN CHIẾN ĐẤU CỦA CÁN BỘ, CHIẾN SĨ, LỰC LƯỢNG BẢO VỆ THỊ XÃ RẤT ĐÁNG TỰ HÀO, ĐÃ XUẤT HIỆN NHIỀU GƯƠNG CHIẾN ĐẤU VÔ CÙNG DŨNG CẢM CỦA TẬP THỂ VÀ CÁN BỘ CHIẾN SĨ THUỘC CÁC ĐƠN VỊ THAM GIA CHIẾN ĐẤU TRONG THỊ XÃ
TRUNG ĐOÀN 48 SƯ ĐOÀN 320B:
Đã tham gia chiến đấu bảo vệ Thị xã - Thành cổ Quảng Trị từ ngày 3 tháng 7 đến ngày 15 tháng 9, đã chiến đấu kiên cường và lập nhiều thành tích như các trận:
- Đại đội 11 Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 48 chốt giữ khu vực đông La Vang Hữu, đánh lui bốn đợt tiến công của đối phương, diệt 40 binh lính đối phương, giữ vững trận địa chốt ngày 3 tháng 7 năm 1972. Được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất.
- Tiểu đoàn 3 trung đoàn 48 cùng 3 xe tăng diệt hàng trăm quân đối phương, chiếm lại trận địa đông La Vang Hữu ngày 7 tháng 7 năm 1972.
- Những ngày đầu tháng 7 năm 1972, Tiểu đoàn 1 đã đánh lui nhiều đợt tiến công của đối phương ở Tri Bưu - Quy Thiện - Trầm Lý, diệt hàng trăm binh lính đối phương.
- Ngày 10 tháng 7 đến ngày 13 tháng 7 và ngày 18 đến ngày 25 tháng 7, đối phương có âm mưu đánh chiếm để cắm cờ trên Thành cổ, ta kiên cường chiến đấu và giữ vững trận địa.
- Đại đội 5 Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48 cùng Tiểu đoàn địa phương 3 quyết tâm kiên cường giữ chốt ngã ba Long Hưng ngày 11 tháng 8 năm 1972, đánh lui ba đợt tiến công của đối phương, giữ vững trận địa.
- Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48 cùng đơn vị bạn ngày 5 tháng 8 đã tập kích diệt 1 đại đội quân đối phương ở Hạnh Hoa đánh thiệt hại 3 đại đội khác, bắn cháy 5 xe tăng địch. Được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất.
- Ngày 22 tháng 8 năm 1972, Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 48 dùng hỏa lực bắn 400 viên cối, diệt nhiều binh sỹ đối phương, chặn đứng quân đối phương tiến công vào Tri Bưu…
- Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48 cùng đơn vị bạn đêm 8 tháng 9 đã tập kích lần hai ở Hạnh Hoa diệt một đại đội quân đối phương, thiệt hại nặng một đại đội khác, cải thiện thế phòng ngự… Được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất.
TRUNG ĐOÀN 64 SƯ ĐOÀN 320B
Trung đoàn được lệnh đưa Tiểu đoàn 9 vào chiến đấu (từ đêm 16 tháng 7 đến đầu tháng 8 năm 1972) tại khu vực Đông Bắc Thị xã phối hợp với Trung đoàn 48 Sư đoàn 320B, thực hành tập kích khu vực Tri Bưu, Hạnh Hoa, khu nhà tôn. Trung đoàn đã chiến đấu ngoan cường, dũng cảm, mưu trí, giữ vững mục tiêu được giao, không cho đối phương thực hiện ý đồ cắm cờ lên Thành cổ Quảng Trị. Trong đó có những trận tiêu biểu:
- Ngày 17 tháng 7, bảo vệ sườn phải cùng Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 48 tiến công tiểu đoàn 5 quân dù, chiếm giữ khu nhà tôn, Đông bắc làng
Tri Bưu.
- Ngày 19 tháng 7, cùng Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48 tiêu diệt hàng trăm binh lính đối phương, bắn cháy 2 xe tăng.
- Ngày 27 tháng 7, tập kích hai đại đội biệt kích và Tiểu đoàn 5 lính dù khu nhà tôn đông nam Tri Bưu, tiêu diệt hàng trăm đối phương, bắt sống hai lính dù.
Sang đầu tháng 8 năm 1972, Trung đoàn đưa Tiểu đoàn 7 vào thay thế Tiểu đoàn 9, chiến đấu ở đông nam Thị xã gồm: Mỹ Đông, ty cảnh sát, chùa Bà Năm, Bắc Thạch Hãn khoảng một tuần. Tiểu đoàn 7 đã chiến đấu kiên cường, thực hành tập kích tiêu diệt, tiêu hao nhiều sinh lực đối phương, giữ vững trận địa trong khu vực.
TRUNG ĐOÀN 95 SƯ ĐOÀN 325:
Trung đoàn đã tham gia chiến đấu bảo vệ Thị xã - Thành cổ Quảng Trị từ ngày 13 tháng 7 đến 15 tháng 9. Đã có nhiều trận đánh xuất sắc như:
- Đại đội 3 Tiểu đoàn 4 chiến đấu bảo vệ chốt ở Nam Thị xã ngày 9 tháng 8. Nhiều tiểu đội, trung đội đã kiên cường chiến đấu đến người cuối cùng và được tặng danh hiệu: "Đơn vị lũy thép Thành cổ".
Nhiều chiến sĩ bị thương tới lần thứ tư trong ngày vẫn kiên cường ở lại chiến đấu, 2 chiến sĩ đã chặn đánh 50 binh lính đối phương có xe tăng yểm trợ…
Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 95 tập kích khu nhà xanh Đông Bắc Thị xã từ ngày 19 đến ngày 25 tháng 8, đã bám trụ khu vực, đánh lui nhiều đợt phản kích, loại 250 binh sỹ đối phương. Được tặng danh hiệu "Tiểu đoàn đánh giỏi" và Huân chương Quân công hạng Ba.
 Hàng chục tổ, đội chiến đấu của Trung đoàn 95 chiến đấu giỏi, đạt chỉ tiêu diệt 50 binh sỹ đối phương/tuần trong tháng 8 và 9 năm 1972, nổi bật:
- Tổ chiến đấu Đại đội 2 Tiểu đoàn 4 đánh 15 trận nhỏ, diệt 90 binh sỹ đối phương và 1 xe tăng M.41.
- Tổ chiến đấu Đại đội 5 Tiểu đoàn 5 đánh 10 trận diệt 80 binh sỹ đối phương.
- Tổ chiến đấu Đại đội 9 Tiểu đoàn 6 diệt 75 binh sỹ đối phương và 1 xe tăng v.v…
TRUNG ĐOÀN 101 SƯ ĐOÀN 325
Trung đoàn đã chiến đấu ở khu vực phía Bắc Thị xã Quảng Trị tại vùng An Tiêm - Chợ Sải từ hạ tuần tháng 7 đến giữa tháng 9, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chốt giữ khu vực, ngày ngày chống đối phương lấn dũi, đêm đêm đi tập kích, cải thiện thế phòng thủ. Trong số các trận chiến đấu nổi bật lên một số trận như:
- Đêm 26 tháng 7, Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 2 cùng Tiểu đoàn 19 đặc công Sư đoàn tập kích vào Chợ Sải, tiếp theo đưa lực lượng vào chốt giữ lâu dài. Đại đội 6 Tiểu đoàn 2 và một trung đội đặc công của Sư đoàn cùng lực lượng du kích Triệu Phong chiếm gọn khu vực Chợ Sải, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 100 binh sỹ đối phương.
- Sau đêm 26 tháng 7, địch ồ ạt tấn công vào làng, Tiểu đoàn 2 chuyển ra chốt giữ khu vực bờ sông Thạch Hãn.
- Bốn ngày sau, Đại đội 5, Đại đội 7 Tiểu đoàn 2 liên tiếp tập kích, làm chủ khu vực Chợ Sải, đánh bại nặng hai đại đội đối phương.
- Cuối tháng 8 đầu tháng 9, Đại đội 8 Tiểu đoàn 2 dùng hoả lực 12,7 ly bắn cháy một máy bay trực thăng.
- Sáng mùng 1 tháng 9, Tiểu đoàn 3 dùng cối 82 ly kết hợp chốt đánh lui nhiều đợt phản kích của đối phương, tiêu diệt 36 binh lính đối phương, giữ vững trận địa.
- Để hỗ trợ cho các đơn vị bảo vệ Thành cổ, ngày 15, 16 và 17 tháng 9, Trung đoàn đã tổ chức chiến đấu thọc sâu nhiều trận tập kích vào làng khu vực Chợ Sải, An Tiêm, tiêu diệt và tiêu hao sinh lực đối phương, diệt 30 binh lính đối phương.
Trung đoàn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.


Tiêu đề: Re: Khúc tráng ca thành cổ Quẩng Tri
Gửi bởi: vmt trong 07 Tháng Năm, 2011, 12:03:05 PM
                                                                    Tiếp :
        TRUNG ĐOÀN 18 THUỘC SƯ ĐOÀN 325
 Sau đợt tấn công tháng 5 và 6 năm 1972 vào khu Nam Mỹ Chánh - Hải Lăng, Trung đoàn trở về làm nhiệm vụ dự bị cho chiến dịch. Ngày 23 tháng 8, Trung đoàn được lệnh điều động Tiểu đoàn 7 vào chiến đấu tại khu vực Tây Nam Thành cổ, bao gồm khu Mỹ Tây, ngã ba Bãi Đá, Bồ Đề, cầu xi măng sông Con. Tiểu đoàn 7 phối hợp với các đơn vị bạn, chiến đấu ngoan cường dũng cảm, giành đi giật lại từng vị trí chiến đấu với đối phương cho đến ngày 15 tháng 9. Tiêu diệt nhiều sinh lực đối phương.
- Ngày 16 tháng 9 năm 1972, Trung đoàn được lệnh ra phòng ngự khu vực Nhan Biều - ái Tử. Trung đoàn đã nhanh chóng xây dựng trận địa chốt vững chắc, liên hoàn từ trung đội, đại đội, tiểu đoàn và cả trung đoàn từ mép tả ngạn sông Thạch Hãn vào sâu khu vực Ái Tử.
- Ngày 2 và ngày 3 tháng 11, Trung đoàn đã chiến đấu một trận xuất sắc không cho đối phương lấn chiếm vùng giải phóng của ta, tiêu diệt toàn bộ tiểu đoàn 6 thủy quân lục chiến, thu nhiều vũ khí, đạn dược, chặn đứng âm mưu của đối phương lấn chiếm vùng giải phóng.
       TRUNG ĐOÀN 88 THUỘC SƯ ĐOÀN 308
Trung đoàn đã tham gia chiến đấu từ hạ tuần tháng 7 đến ngày 15 tháng 9, bảo vệ khu vực Tây Nam Thị xã - Thành cổ, chiến đấu ngoan cường dũng cảm, bảo vệ và giữ vững trận địa từ khu vực trường Bồ Đề, khu Đệ Ngũ, ngã ba Bãi Đá, khu Cầu Sắt, khu Long Hưng đến La Vang và đồn Gia Long, có nhiều trận đánh lập thành tích xuất sắc như:
- Ngày 16 tháng 7, Đại đội 2 và Đại đội 3 Tiểu đoàn 7 đánh vào Sở chỉ huy tiểu đoàn 11 thủy quân lục chiến gần đồn Gia Long, tiêu diệt 60 binh lính đối phương, làm chủ trận địa.
- Đêm 23 tháng 7 năm 1972, Đại đội 10 Tiểu đoàn 6 thọc sâu cắm chốt khu vực trường Bồ Đề.
- Ngày 24 tháng 7 đến ngày 26 tháng 7, đối phương mở nhiều đợt tiến công nhằm lấy lại chốt của ta, Đại đội 9 xung phong tiêu diệt 30 binh sỹ đối phương, Đại đội 11 tiến vào làng Đệ Ngũ tiêu diệt 40 bính lính đối phương, đánh bật đối phương ra khỏi làng và tổ chức chốt giữ.
- 17 giờ ngày 27 tháng 7, Đại đội 5, Đại đội 1 Tiểu đoàn 5 và Đại đội 11 Tiểu đoàn 6 tổ chức tập kích tiểu đoàn thủy quân lục chiến ở làng Thạch Hãn, tiêu diệt 70 bính sỹ sý đối phương, làm chủ trận địa. Cùng ngày Đại đội 1 và Đại đội 2 đã đánh chặn tiểu đoàn 11 dù từ đường 1 tiến vào La Vang, tiêu diệt 30 binh sỹ đối phương.
- Ngày 9 tháng 8, hai tiểu đoàn đối phương có xe tăng của thiết đoàn 18 ào ạt tiến công vào khu Đệ Ngũ và đầu Cầu Sắt, Tiểu đoàn 5 và Tiểu đoàn 6 đã chiến đấu ngăn chặn, tiêu diệt 150 binh lính đối phương, bắn cháy 9 xe tăng.
- Ngày 9 tháng 8, Tiểu đoàn 5 đánh phía Bắc làng Đệ Ngũ, ngã tư đường sắt, đã đánh bật nhiều đợt phản công của đối phương, đến 6 giờ tối đối phương phải khiêng xác đồng đội ra và chịu những thất bại lớn. Tại hướng của Tiểu đoàn 6, đối phương tiến công năm lần đều bị Tiểu đoàn 6 đẩy lùi.
- Ngày 13 tháng 8, Trung đoàn tổ chức đánh ba trận vào ba nơi là: Nhà bằng, Khu bãi xe, Nam ngã tư đường sắt, tiêu diệt 60 binh lĩnh đối phương, bắn cháy 2 xe tăng.
Ngày 15 tháng 8, Đại đội 7 Tiểu đoàn 5 tiến công ngã ba Đống Đá, tiêu diệt 150 binh lính đối phương.
Ngày 4 tháng 9, Đại đội 7 Tiểu đoàn 5 chốt giữ làng Đệ Ngũ với 10 tay súng đánh tan một đại đội thuỷ quân lục chiến.
Ngày 5 tháng 9, Đại đội 7 Tiểu đoàn 5 tiến sát vào đầu Cầu Sắt đào công sự, phát hiện quân đối phương, đánh nhau suốt một ngày, tiêu diệt 20 binh lính đối phương. Tối mùng 5 tháng 9, Tiểu đoàn lệnh cho Đại đội 9 chi viện cho Đại đội 7, sau 20 phút chiến đấu ta tiêu diệt 30 binh sỹ đối phương, đánh bật đối phương ra khỏi ngã tư đường sắt.
Từ hạ tuần tháng 7 đến 15 tháng 9, Trung đoàn đã đánh hơn 100 trận lớn nhỏ, trong đó có 50 trận cấp đại đội đến trung đoàn, tiêu diệt 1.670 binh lính đối phương, bắn cháy 16 xe tăng, thu nhiều vũ khí đạn dược.
         TIỂU ĐOÀN 5 TRUNG ĐOÀN 165 THUỘC SƯ ĐOÀN 312
Trung đoàn 165 được lệnh đưa Tiểu đoàn 5 vào chiến đấu từ trung tuần tháng 8 năm 1972 ở khu vực Đông Nam Thị xã Quảng Trị, phối hợp cùng các đơn vị Trung đoàn 48 Sư đoàn 320B, Trung đoàn 95 Sư đoàn 325. Đã chiến đấu ngoan cường, dũng cảm, mưu trí, đánh lui nhiều đợt tiến công của địch, giữ vững trận địa khu vực Thạch Hãn, chùa Bà Năm. Cuối tháng 8 đầu tháng 9, Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 165 trở về đội hình chiến đấu của Trung đoàn 165 Sư đoàn 312 tại cánh Tây Quảng Trị.
         TIỂU ĐOÀN 3 VÀ TIỂU ĐOÀN 8 BỘ ĐỘI ĐỊA PHƯƠNG TỈNH QUẢNG TRỊ
Hai tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh Quảng Trị đã tham gia chiến đấu cùng các lực lượng bộ đội chủ lực từ ngày 3 tháng 7 đến ngày 15 tháng 9 tại các khu vực đường 1, đầu Cầu Sắt, khu Thành cổ. Với tinh thần quả cảm, lòng yêu nước, không quản khó khăn gian khổ, không sợ hy sinh xương máu, quân ta đã chiến đấu ngoan cường, giành giật với đối phương từng vị trí trước quân đối phương mạnh hơn ta gấp nhiều lần về sinh lực, hỏa lực chi viện, giữ vững trận địa chốt, tổ chức tập kích tiêu hao sinh lực đối phương, lập nhiều chiến công xuất sắc. Đã có nhiều gương chiến đấu kiên cường, anh dũng và hai tiểu đoàn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
         PHÂN ĐỘI PHÁO CỐI ĐI CÙNG TIỂU ĐOÀN, TRUNG ĐOÀN VÀ PHÁO CHI VIỆN CỦA SƯ ĐOÀN VÀ MẶT TRẬN
Các phân đội pháo đã tích cực hiệp đồng chặt chẽ cùng bộ binh đánh ngăn chặn đối phương giữ vững chốt cũng như trong các trận tập kích vận động tấn công diệt đối phương, cải thiện thế phòng thủ Thị xã suốt 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ, góp phần diệt nhiều sinh lực đối phương và phương tiện chiến tranh của chúng. Trong đó:
- Trận đánh ngày 10 tháng 7, ta dùng pháo 130 ly bắn cấp tập vào nơi tập trung của đối phương với 400 quả đạn, phá tan cuộc chuẩn bị tấn công của đối phương, diệt hàng trăm binh lính đối phương tại An Thái - Đại Nải.
- Ngày 22 tháng 8, Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 48 dùng cối 82 ly bắn 400 quả tiêu diệt nhiều sinh lực đối phương ở Tri Bưu.
       PHÂN ĐỘI PHÒNG KHÔNG CỦA TIỂU ĐOÀN, TRUNG ĐOÀN, SƯ ĐOÀN VÀ PHÁO PHÒNG KHÔNG MẶT TRẬN
Các phân đội phòng không đã ngoan cường chiến đấu, trực tiếp bảo vệ đội hình chiến đấu của các đơn vị ở Thị xã - Thành cổ, bắn rơi một số máy bay, trong đó có một chiếc máy bay chở viên Tư lệnh phó sư đoàn và chỉ huy pháo binh sư đoàn dù, góp phần cùng các đơn vị bạn bảo vệ Thị xã và Thành cổ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
        PHÂN ĐỘI ĐẶC CÔNG SƯ ĐOÀN 325 VÀ PHÂN ĐỘI ĐẶC CÔNG MẶT TRẬN B5
Tiểu đoàn đặc công 19 Sư đoàn 325 và Tiểu đoàn đặc công Mặt trận B5 đã đánh nhiều trận phía sau lưng đối phương tại khu vực Mai Lĩnh - Hải Lăng, có nhiều trận đạt hiệu suất khá tốt. Tiêu biểu như trận đêm 24 tháng 8, một phân đội đặc công Sư đoàn 325 đã luồn sâu đánh sở chỉ huy tiểu đoàn thủy quân lục chiến ở An Lưu, diệt 80 binh lính đối phương, bắn cháy 2 xe tăng, 2 nhà bạt, phá 1 trận địa súng cối.
       PHÂN ĐỘI TRINH SÁT CỦA CÁC ĐƠN VỊ THAM GIA CHIẾN ĐẤU
Các phân đội trinh sát đã ngày đêm bám sát đối phương, bắt tù binh, thu tài liệu, phát hiện kịp thời nhiều hoạt động, âm mưu, thủ đoạn của đối phương, phục vụ chỉ huy chiến đấu bảo vệ Thị xã. Nhiều phân đội trinh sát đã phải bổ sung đến lớp chiến sĩ thứ ba, thứ tư…
Một đại đội trinh sát thuộc Tiểu đoàn trinh sát 74 Bộ Tổng tham mưu lập chiến công trinh sát Thành cổ được tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang.
        PHÂN ĐỘI CÔNG BINH CỦA CÁC ĐƠN VỊ THAM GIA CHIẾN ĐẤU
- Đã dũng cảm đánh bom mìn, táo bạo bò sang trận địa đối phương đặt mìn, giăng bẫy diệt nhiều binh sỹ đối phương.
- Tích cực xây dựng công trình, góp phần cải thiện thế phòng thủ một số trận địa chốt ở Thị xã.
PHÂN ĐỘI CÔNG BINH BẾN ĐÒ NHAN BIỀU - THỊ XÃ
Đơn vị đã bảo đảm hoạt động liên tục dài ngày, kể cả những đợt mưa bão lũ tháng 8, tháng 9 sẵn sàng khắc phục khó khăn, đêm đêm chở đạn dược, lương thực, đưa quân vào Thành, chuyển thương binh ra ngoài.
- Phân đội đã phát huy sáng kiến làm thêm bè mảng bằng tre, bằng cây chuối để khắc phục khi thuyền gỗ, thuyền cao su bị hư hỏng.
- Phân đội đã buộc dây giăng qua sông để người bíu bám qua lại hai bên bờ được thuận lợi nhanh chóng. Nhiều lần nước lũ chảy xiết, bè mảng bị trôi, các chiến sĩ đã xả thân cứu người, cứu hàng đưa vào bờ an toàn.
      PHÂN ĐỘI THÔNG TIN CỦA CÁC ĐƠN VỊ THAM GIA CHIẾN ĐẤU
Các phân đội thông tin đã liên tục giữ vững thông tin thông suốt, bảo đảm liên lạc vô tuyến điện, điện thoại giữa Sở chỉ huy Thị xã với cấp trên, với các tiểu đoàn, các trận địa chốt. Các chiến sĩ đã không quản ngày đêm đi nối dây bị đứt, đi nạp ắc quy vô tuyến điện bên kia bờ sông.
Nhiều chiến sĩ truyền đạt băng qua bom đạn đối phương, có đồng chí bị thương vẫn nghiến răng chịu đau, bò đến truyền đạt kịp thời mệnh lệnh cấp trên cho chỉ huy phân đội.
Tiêu biểu có phân đội thông tin (Trung đoàn 48) bảo vệ đường dây hữu tuyến từ Sở chỉ huy trong Thị xã về Sở chỉ huy Mặt trận B5. Nhiều lần đã phải nối đi nối lại cả chục lần. Có lần giữa dòng sông chảy xiết, anh em đã kịp nối hai đầu dây đảm bảo truyền lệnh pháo chi viện kịp thời đẩy lùi đợt tiến công của địch…
     PHÂN ĐỘI QUÂN Y CỦA CÁC ĐƠN VỊ THAM GIA CHIẾN ĐẤU
Các phân đội quân y đã ngày đêm tận tình cứu chữa hàng nghìn thương binh ngay trong Thành cổ và ở bên kia bờ sông tại Nhan Biều, trong suốt cả 81 ngày đêm. Các chiến sĩ quân y đã nhanh chóng sơ cứu, phân loại thương binh, bảo đảm chuyển thương binh ra ngoài an toàn, kịp thời. Có ngày tại hầm quân y cạnh Sở chỉ huy lên tới hàng trăm thương binh phải cứu chữa và bảo đảm ăn uống v.v…
    PHÂN ĐỘI VẬN TẢI CỦA CÁC ĐƠN VỊ THAM GIA CHIẾN ĐẤU
Các phân đội vận tải đã vượt hàng chục tọa độ lửa từ Đông Hà, ái Tử, Ba Gơ, Nhan Biều, Tả Kiên… đưa vật chất vũ khí trang bị đạn dược, lương thực thực phẩm từ tuyến Mặt trận B5 - Tuyến sư đoàn đến tuyến trung đoàn, tiểu đoàn, bảo đảm chiến đấu dài ngày trong Thị xã.
Đội thuyền máy Trung đoàn 48 đêm đêm vượt sông Thạch Hãn từ Tả Kiên qua đồn địch ở Chợ Sải vào Thị xã tiếp tế vũ khí lương thực, rồi chở thương binh nặng ra tuyến sau. Có thể nói mỗi chuyến đi thuyền vào Thị xã là một trận chiến đấu thực sự, nào phải rà soát bom từ trường của đối phương thả trên sông, nào dùng hỏa lực từ Xuân An khống chế đồn Chợ Sải để thuyền tranh thủ vượt qua. Phân đội này được tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang.
 
hết: ph 4 -, xem tiếp:ph  5               


Tiêu đề: Re: Khúc tráng ca thành cổ Quẩng Tri
Gửi bởi: vmt trong 07 Tháng Năm, 2011, 12:07:06 PM
                                        Phần 5 chương 1:

      LỰC LƯỢNG DÂN QUÂN - DU KÍCH Ở THỊ XÃ VÀ CÁC XÃ LÂN CẬN
Lực lượng dân quân, du kích đã gắn bó với các đơn vị chủ lực cùng chiến đấu bảo vệ địa phương, góp phần bảo đảm trinh sát, dẫn đường, thông tin, chuyên chở đò, tìm kiếm vật tư, vận chuyển và nuôi dưỡng thương binh, động viên và duy trì cuộc chiến dài ngày của bộ đội ta, giữ vững an ninh trật tự địa bàn, đã lập được nhiều thành tích xuất sắc và có nhiều gương chiến đấu anh dũng.
 Nhìn chung, trải qua cuộc chiến đấu kiên cường ác liệt dài ngày hè 1972 ở Thị xã - Thành cổ Quảng Trị, cộng thêm những trận chiến đấu tiếp theo sau đó với ý chí rèn luyện, phát huy trí tuệ tài năng của từng đồng chí, ta đã đào tạo được một đội ngũ cán bộ chiến sĩ gang thép, xứng đáng với truyền thống vẻ vang của quân đội nhân dân anh hùng.
Nhiều đồng chí chiến sĩ chiến đấu ở Thị xã - Thành cổ Quảng Trị đã trưởng thành, đã là cán bộ cấp tá, cấp tướng, cán bộ trung cao cấp của Đảng, của Chính quyền, Trung ương và địa phương, của quân đội ta hiện nay.
3. VẬN DỤNG CÁCH ĐÁNH SÁNG TẠO, DŨNG CẢM, MƯU TRÍ, CHỦ ĐỘNG, KẾT HỢP CHẶT CHẼ GIỮA CHỐT CHẶN PHÒNG GIỮ VỚI TÍCH CỰC VẬN ĐỘNG TIẾN CÔNG, TẬP KÍCH, PHỤC KÍCH, ĐÁNH TỈA, TIÊU HAO, TIÊU DIỆT SINH LỰC ĐỐI PHƯƠNG, GIỮ VỮNG DÀI NGÀY MỤC TIÊU THỊ XÃ - THÀNH CỔ Ở VÒNG NGOÀI, VÒNG TRONG.
Ta đã không bị động trong ngăn chặn, chống trả các đợt tấn công của đối phương.
Ta đã chốt giữ có trọng điểm, kết hợp xuất kích, phục kích, tiêu diệt quân đối phương, tạo thế chủ động tích cực phòng giữ.
Trên toàn Mặt trận B5 (từ ngày 28 tháng 6 đến ngày 16 tháng 9) trong 81 ngày đêm, theo tài liệu tổng kết của Bộ và của Mặt trận, ta đã diệt 26.400 binh sỹ đối phương, bắt 71 binh sỹ đối phương, diệt gọn 12 đại đội, đánh thiệt hại 15 tiểu đoàn bộ binh và 2 thiết đoàn, bắn rơi 164 máy bay, phá hủy 345 xe trong đó 221 xe tăng và thiết giáp, phá hủy 230 khẩu pháo, đánh chìm 8 tàu, 13 xuồng, cháy 38 kho xăng.
Riêng trong Thị xã - Thành cổ, ta đã diệt 7.756 binh lính đối phương, bắt 4 binh lính đối phương, bắn rơi 9 máy bay, cháy 25 xe tăng - bọc thép, phá 4 ô tô.
- Từ ngày 20 tháng 7 đến ngày 20 tháng 8 năm 1972, sư đoàn thủy quân lục chiến bị diệt 9 đại đội, thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn trong phạm vi Thị xã Quảng Trị.
- Qua hơn 1 tháng lấn dũi tháng 8 và tháng 9 năm 1972 sư đoàn thủy quân lục chiến bị loại một phần ba lực lượng, tức là lớn hơn mức thiệt hại của sư đoàn dù tới gần hai lần.
- Giẫm theo lối mòn quân dù, sư đoàn thủy quân lục chiến đã húc phải bức tường đá ở Thị xã Quảng Trị…
4. TA ĐÃ PHÁT HUY SỨC MẠNH TỔNG HỢP CỦA CHIẾN TRANH NHÂN DÂN, TRƯỚC HẾT LÀ:
 SỨC MẠNH CHÍNH NGHĨA - "KHÔNG CÓ GÌ QUÝ HƠN ĐỘC LẬP, TỰ DO" CỦA TỔ QUỐC:
- Ta đã động viên được hàng vạn thanh niên từ nhà máy, công nông trường, đồng ruộng, hợp tác xã, sinh viên trường đại học,… hăng hái lên đường chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Họ được huấn luyện chưa là bao, đến thẳng bờ sông Thạch Hãn, bơi sang Thị xã và Thành cổ, nhanh chóng thích nghi với hoàn cảnh chiến trường, với trận địa chốt nóng bỏng để bước vào cuộc chiến đấu vô cùng ác liệt, một mất một còn với kẻ thù đế quốc Mỹ xâm lược.
Có thể nói mỗi chiến sĩ, chỉ với một việc là tự nguyện bơi vượt sông vào Thị xã, ra trận địa giữ chốt đều đã xứng đáng nhận ngay một huân chương cao quý của Tổ quốc.
Ta đã phát huy được sức mạnh của nhiều binh đoàn chủ lực, nhiều binh chủng kỹ thuật chiến đấu kiên cường ở vòng ngoài trên các trục đường 1, tây đường 1, đường 68 ven biển, đánh những đòn sấm sét vào bên sườn đội hình tiến công quân dù, quân thủy quân lục chiến, tiêu diệt nhiều sinh lực của chúng, từng bước ngăn chặn cuộc hành quân quy mô lớn của bộ binh xe tăng địch dưới sự yểm trợ tối đa của không quân, hải quân Mỹ… Có thể nói những trận tập kích, vận động tiến công, những đòn phản công của những trung đoàn, sư đoàn chiến đấu vòng ngoài đã được phối hợp chặt chẽ, hỗ trợ rất quan trọng, nếu không muốn nói là đã góp phần có ý nghĩa quyết định cho lực lượng trực tiếp phòng giữ dài ngày trong Thị xã và Thành cổ.
Ta cũng đã phát huy được sức mạnh của nhân dân địa phương, của các đoàn, đội dân công hỏa tuyến, thanh niên xung phong ngày đêm vượt bom đạn nguy hiểm để vận chuyển tiếp tế vũ khí lương thực, khiêng cáng, săn sóc thương binh từ tiền phương chuyển về sau, chôn cất, bảo đảm phần mộ cho liệt sĩ.

                    Hết chương 1 xin mời xem tiếp: Chương II: Những chuyện kể về khúc tráng ca Quảng Trị



Tiêu đề: Re: Khúc tráng ca thành cổ Quảng trị
Gửi bởi: vmt trong 07 Tháng Năm, 2011, 09:55:26 PM
                                 Chương 2:
HỒI ỨC VỀ NHỮNG TRẬN CHIẾN ĐẤU, VỀ SINH HOẠT, TÂM TƯ, TÌNH CẢM CỦA NGƯỜI LÍNH TRONG THỜI KHẮC ÁC LIỆT, ĐẦY KỶ NIỆM.
 
                         Kỷ niệm giải phóng Quảng Trị
                            Trung tướng LÊ TỰ ĐỒNG
                                         Nguyên phó Chính ủy Mặt trận B5
 
Đã ba mươi năm trôi qua, trí nhớ không còn nguyên vẹn, nhưng các sự kiện lớn thì tôi không thể nào quên. Còn nhớ ý đồ tiến công giải phóng Trị - Thiên của cấp trên giao cho Mặt trận B5 rất nặng: Vừa phải phối hợp với các chiến trường toàn miền Nam, vừa phải gắn bó mật thiết với địa phương, vừa phục vụ nhiệm vụ chính trị cho mặt trận đấu tranh ngoại giao.

Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Mặt trận B5 phải xây dựng kế hoạch rất cụ thể, tỉ mỉ để trình lên Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh phê duyệt. Kế hoạch được thông qua, sáng ngày 30/3/1972, chiến dịch bắt đầu nổ súng.

Chỉ mấy ngày đầu, quân ta đã đập tan tuyến phòng ngự vòng ngoài rất kiên cố của đối phương được xây dựng và củng cố hàng chục năm. Ta đã giải phóng hai huyện Cam Lộ, Gio Linh và buộc trung đoàn 56 của đối phương ở điểm cao 241 phải đầu hàng.
Ngày 27/4/1972 ta mở tiếp cuộc tiến công. Ngày 1/5/1972 ta làm chủ Đông Hà - Ái Tử và Thị xã Quảng Trị. Ngày 2/5/1972 ta giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị.

Tàn quân đối phương tháo chạy về bờ Nam sông Mỹ Chánh, quân ta truy kích đến bờ Bắc sông Mỹ Chánh, thì ta cũng đuối sức. Không có lực lượng dự bị, nên quân ta dừng lại ở phía Bắc sông.

Ngày 20/6/1972, ta mở tiếp đợt tấn công lần thứ ba, nhưng tình hình lúc đó đã khác: thế và lực của ta không mạnh, thời cơ cũng đã qua, nên đợt tấn công này không đạt kết quả.

Qua hai đợt tấn công, quân ta đã giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị trong điều kiện phi pháo rất ác liệt. Quân Mỹ rút đi rồi, nhưng máy bay, pháo binh, kể cả pháo hạm vẫn ở yểm trợ cho quân ngụy.

Sau khi củng cố và bổ sung lực lượng, ngày 28/6/1972, đối phương mở cuộc phản kích lớn, ta đánh trả. Sau 81 ngày đêm chiến đấu cực kỳ quyết liệt, đối phương chiếm lại được huyện Hải Lăng và sáu xã thuộc huyện Triệu Phong và Thành cổ Quảng Trị. Mãi đến Chiến dịch Xuân năm 1975, ta mới giải phóng nốt phần đất nói trên.

Trong chiến dịch tấn công giải phóng Quảng Trị, ta đã giáng một đòn chí tử vào chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ. Lần đầu tiên ta mở chiến dịch binh chủng hợp đồng quy mô lớn, thắng lợi giòn giã, ta giải phóng một vùng đất khá rộng, làm cho địch bị thiệt hại nặng nề.
Quảng Trị được giải phóng trước toàn quốc ba năm. Thế nhưng Quảng Trị là một trong những nơi bị chiến tranh tàn phá nặng nề nhất. Sau khi được giải phóng, Quảng Trị đúng là một bãi chiến trường, đất đai bị cày xới, chỉ thấy một màu đỏ chói chang, không còn một ngọn cây nguyên vẹn!

Tôi được may mắn trở lại vùng đất này hồi tháng 12 năm 2001. Đông Hà nay là tỉnh lỵ mới của Quảng Trị, có chợ mới xây lại, bộ mặt của tỉnh thêm vui tươi. Tỉnh có hai nghĩa trang lớn: Nghĩa trang Trường Sơn và Nghĩa trang Đường 9 là nơi để nhân dân tỏ lòng biết ơn đối với các liệt sĩ. Đó là điều đáng trân trọng. Đồng bào cả nước - đặc biệt đồng bào các tỉnh phía Bắc - thường xuyên lui tới hai nghĩa trang này.
Tận mắt nhìn thấy sự thay đổi ở vùng đất này mà lòng tôi rộn niềm tin! Mong sao những nơi xa xôi hẻo lánh nhất của núi rừng trùng điệp này cũng có sự đổi mới, như vậy thì còn gì vui sướng hơn!

 Trung tướng :Lê Tự Đồng


Tiêu đề: Re: Khúc tráng ca thành cổ Quảng trị
Gửi bởi: vmt trong 07 Tháng Năm, 2011, 10:02:18 PM
                                  Tiếp theo :

           THIÊN ANH HÙNG CA VỀ LÒNG DŨNG CẢM
                          Trung tướng SÙNG LÃM
                           Nguyên Sư trưởng Sư đoàn 320B

Thị xã và Thành cổ Quảng Trị nằm bên bờ phía Đông sông Thạch Hãn tiếp giáp hai huyện Triệu Phong - Hải Lăng, diện tích khoảng 4 ki lô mét vuông. Năm 1972, toàn thị xã có khoảng 14.000 dân đã được sơ tán. Đứng về mặt quân sự, đây chỉ là một mục tiêu có tính chiến thuật, nhưng để phục vụ nhiệm vụ chính trị và yêu cầu trực tiếp của cuộc đấu tranh ngoại giao lúc đó, thì địa danh này trở thành trọng điểm rất quan trọng.

Tối 26/6/1972, đồng chí Hải Như, Tham mưu trưởng Trung đoàn 48, đến sở chỉ huy báo cáo với Bộ Tư lệnh Sư đoàn 320B về tình hình đơn vị. Tôi và Chính ủy Nguyễn Duy Tường ra lệnh sơ bộ cho trung đoàn phải khẩn trương chuẩn bị mọi mặt, sẵn sàng vào chiến đấu bảo vệ Thị xã Quảng Trị.

Quán triệt quyết tâm của Quân ủy Trung ương: Giữ vững Quảng Trị, đánh bại cuộc hành quân của địch. Bộ Tư lệnh Mặt trận Trị Thiên chủ trương: Tăng cường và chi viện cho lực lượng giữ Thị xã Quảng Trị, đồng thời liên tục tổ chức những trận phản kích từ hai bên sườn, chủ yếu là từ hướng Tây, từng bước đánh bại ý đồ chiếm lại Thị xã của đối phương nhằm. 22 giờ ngày 30 tháng 6, Thiếu tướng Lê Trọng Tấn, Tư lệnh Mặt trận Trị Thiên giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 48 thuộc Sư đoàn 320B cùng Tỉnh đội Quảng Trị tổ chức bảo vệ khu vực La Vang, Tích Tường, nhà ga, ngã ba Long Hưng, Tri Bưu, dùng vật cản kết hợp hỏa lực, tổ chức chiến đấu chặt chẽ, kiên quyết không để đối phương tiến vào Thị xã.

Tình hình quân số, vũ khí của ta bị tiêu hao trong chiến đấu chưa được bổ sung có ảnh hưởng đến sức mạnh chiến đấu của đơn vị. Ngày 1 tháng 7, toàn trung đoàn chuyển gấp vào phòng ngự theo phương án tác chiến:
- Tiểu đoàn 3 tăng cường đảm nhiệm phòng ngự hướng chủ yếu; tổ chức cụm chốt ở khu vực La Vang - cầu Thượng Xá trên trục đường 1 (Đông Nam Thị xã).
- Tiểu đoàn 1 tăng cường, đảm nhiệm phòng ngự hướng thứ yếu; tổ chức cụm chốt ở các thôn An Thái, Tri Bưu, Quy Thiện (Đông Bắc Thị xã).
- Tiểu đoàn địa phương  8 và Quảng Trị tổ chức phòng ngự trong Thị xã Quảng Trị.
- Tiểu đoàn 2 về đứng ở thôn Cổ Thành (Tây Bắc Thị xã) làm lực lượng cơ động.
- Các đại đội hỏa lực bố trí trong Thành cổ.
- Sở chỉ huy Trung đoàn ở Bối Khê (Tây Bắc Thị xã Quảng Trị), bộ phận chỉ huy nhẹ ở nhà tên tỉnh trưởng; Trung đoàn 48 chịu trách nhiệm chỉ huy các lực lượng vũ trang bảo vệ Thị xã Quảng Trị. Tỉnh đội trưởng Nguyễn Mạnh Khoa cử hai tỉnh đội phó là đồng chí Kiện Toàn, đồng chí Hòa tiến hành hiệp đồng chiến đấu với chủ lực và ở bên cạnh Sở chỉ huy Trung đoàn 48 để chỉ huy đơn vị thuộc quyền.
Ngày họp lại Hội nghị Pa-ri càng đến gần, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh cho Ngô Quang Trưởng phải cắm được cờ trong Thị xã.
1. TỪ NGÀY 4 ĐẾN NGÀY 10 THÁNG 7, SƯ ĐOÀN DÙ CỦA ĐỐI PHƯƠNG TỔ CHỨC ĐÁNH CHIẾM THỊ XÃ LẦN THỨ NHẤT.
Từ ngày 4 đến ngày 7 tháng 7, đối phương tiến công liên tục vào trận địa của ta và tung thám báo, biệt kích luồn vào Thị xã. Tất cả đều bị ta tiêu diệt và đẩy lùi. Trận đánh của Tiểu đoàn địa phương  8 thuộc Tỉnh đội Quảng Trị ở Thạch Hãn và trận đánh của Tiểu đoàn 1 thuộc Trung đoàn 48 ở Quy Thiện, Trầm Lý, ta diệt 150 địch quân, số còn lại tháo chạy.
Ngày 10 tháng 7, từ mờ sáng, bom pháo đối phương dồn dập đánh vào trận địa quân ta. Pháo binh, súng cối ta cũng bắn cấp tập vào khu vực An Thái, Đại Nải, nơi bộ binh, xe tăng đối phương tập trung, làm binh lực đối phương thiệt hại nặng, buộc đối phương phải tạm dừng cuộc tiến công để xốc lại lực lượng. Suốt ngày 10 tháng 7, quân đối phương tập trung một lực lượng lớn tiến công vào hướng Đông - Nam và Đông - Bắc, song vẫn không sao tiến vào được Thị xã, đối phương còn bị thiệt hại nặng nề, bỏ lại 500 xác binh lính và 12 xe tăng, thiết giáp trước trận địa quân ta. 18 giờ cùng ngày, Bộ chỉ huy Mặt trận gửi điện khen ngợi Lực lượng bảo vệ Thị xã Quảng Trị: Ngày 10 tháng 7 là ngày cao điểm, đối phương tập trung cố gắng chiếm Thị xã Quảng Trị, nhưng đã bị thất bại.
Các lực lượng ở hướng Đông và hướng Tây quân ta đã tích cực phản công để chi viện, chia lửa với lực lượng chiến đấu bảo vệ Thị xã.
- Hướng Tây Nam: Trung đoàn 66 và Trung đoàn 24 thuộc Sư đoàn 304 phản kích ở Phú Long và Cây Lời, chặn được bước tiến của sư đoàn dù.
- Hướng Đông: các Trung đoàn 27, 64 thuộc Sư đoàn 320B; Trung đoàn 18 thuộc Sư đoàn 325; Tiểu đoàn 47 Khu đội Vĩnh Linh; Tiểu đoàn 10 Tỉnh đội Quảng Trị cùng quân dân huyện Hải Lăng đã chặn được quân đối phương ở tuyến Ngô Xá, Cù Hoan, Trà Trì, Hà Lộc, không cho sư đoàn thủy quân lục chiến tiến vào Đông - Bắc Thị xã.
Tôi với cương vị Tư lệnh cánh Đông lúc đó, không bao giờ quên tấm gương chiến đấu kiên cường, chỉ huy kiên quyết và táo bạo của Xã đội phó Hải Khê - Hải Lăng, Trần Thị Tâm. Chị chỉ huy du kích đánh bại một tiểu đoàn thủy quân lục chiến được pháo binh, xe tăng yểm trợ ở Hải Quế, bảo vệ ngã ba trọng yếu tiến vào Thị xã Quảng Trị. Đồng chí Tâm hy sinh vào phút chót. Trong cuộc tiến công này, đối phương không chiếm được Thị xã. Thương vong của cả hai bên là không nhỏ.
Đêm 10 tháng 7, Chính ủy Trung đoàn Trần Quang Tùy vào Thị xã phổ biến chỉ thị của Tư lệnh Mặt trận, tiến hành rút kinh nghiệm chiến đấu, bổ sung phương án tác chiến và quán triệt nghị quyết Đảng ủy Sư đoàn: "Quyết đánh, biết đánh", chủ động tích cực tiến công để giữ vững mục tiêu bảo vệ. Các đồng chí Trung đoàn phó Trần Minh Vân, Tham mưu trưởng Hải Như và chỉ huy các đơn vị hứa quyết tâm thực hiện khẩu hiệu: "48 còn, Quảng Trị còn". Trần Minh Vân, Trung đoàn phó Trung đoàn 48, trực tiếp chỉ huy lực lượng trong Thị xã còn rất trẻ, chỉ huy xông pha, táo bạo, đã nói là làm bằng được.


Tiêu đề: Re: Khúc tráng ca thành cổ Quảng trị
Gửi bởi: vmt trong 07 Tháng Năm, 2011, 10:05:40 PM
                                    Tiếp theo :
 2. TỪ NGÀY 14 THÁNG 7 ĐẾN NGÀY 27 THÁNG 7, ĐỐI PHƯƠNG TỔ CHỨC TIẾN CÔNG LẦN THỨ HAI
Sư đoàn dù của đối phương cho một cánh quân từ ngã ba Long Hưng tiến đánh Quy Thiện, Tri Bưu, uy hiếp phía Đông Thị xã, một cánh quân đánh ra Tích Tường - Như Lệ, cắt đường tiếp tế cho Thị xã từ hướng Nam. Sư đoàn thủy quân lục chiến tiến sát sông Vĩnh Định, cố chiếm An Tiêm, Nại Cửu, Bích La Đông, bao vây Thị xã từ hướng Đông - Đông Bắc.
Dự đoán được ý đồ của đối phương, nên ta đã tích cực ngăn chặn, kết hợp với phản kích, đã đánh bại cuộc tiến công lần hai của đối phương. Ta đã đánh quỵ một lữ đoàn dù, một tiểu đoàn thủy quân lục chiến, loại hai đơn vị này ra ngoài vòng chiến. Ý định chiếm Thị xã của đối phương không thực hiện được. Khi sức chiến đấu của bộ đội ta giảm đi, đối phương chiếm được làng Tri Bưu, thôn Cổ Thành và khu vực Chợ Sải, hình thành thế bao vây ta ba mặt. Có những trận đánh hiệu suất chiến đấu cao, tác động cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân ta như:
Trung đoàn 88 thuộc Sư đoàn 308 cùng Trung đoàn 48 thuộc Sư đoàn 320B chiếm lại được Long Hưng Bắc, ngã tư đường sắt; Trung đoàn 66 thuộc Sư đoàn 304 chốt giữ được Phú Long, Tiểu đoàn 8 thuộc Tỉnh đội Quảng Trị cùng Trung đoàn 48 chiếm lại nhà thờ Thạch Hãn và ngã tư đường 1.
- Từ ngày 11 đến ngày 13 tháng 7, Trung đoàn 27 và Tiểu đoàn 7 thuộc Trung đoàn 64 có xe tăng và pháo binh chi viện, diệt gần hết tiểu đoàn thủy quân lục chiến đối phương, bắn rơi 11 máy bay trực thăng ở khu vực An Tiêm - Nại Cửu.
Đại đội 5 Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48 chốt giữa ngã ba Long Hưng (cửa ngõ chủ yếu tiến vào Đông - Nam Thị xã) do Vũ Trung Thướng chỉ huy đã liên tục chiến đấu bảy ngày đêm, diệt hai đại đội và đánh thiệt hại hai đại đội khác của lữ đoàn 2 dù, bắn cháy, bắn hỏng mười xe tăng, giữ vững chốt thép ngã ba Long Hưng.
Trên cánh Đông, Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 64 được tăng cường Tiểu đoàn 66 xe tăng, thiết giáp cùng quân dân địa phương đánh bại cuộc đổ bộ đường không xuống khu vực Lệ Xuyên của Tiểu đoàn 9 và Tiểu đoàn 6 thủy quân lục chiến ở phía Linh Chiểu lên phối hợp định chiếm cảng Cửa Việt.
Tiểu đoàn 4 thuộc Trung đoàn 95, Tiểu đoàn 9 thuộc Trung đoàn 64 đã kịp thời tham chiến, cùng với Trung đoàn 48 đã kiên cường, liên tục phản kích giữ vững khu vực Thành cổ Quảng Trị.
Ngày 14 tháng 7, Mặt trận cử đồng chí Dưỡng - Tham mưu phó và đồng chí Bình - Cục phó Chính trị Mặt trận thành lập Bộ chỉ huy và Ban cán sự Thị xã. Ngay sau đó, đồng chí Dưỡng bị thương nặng, đồng chí Trịnh Hồng Thái - Tham mưu trưởng Sư đoàn 320B vào thay, cũng bị thương nặng.
Ngày 20 tháng 7, Mặt trận quyết định thành lập Ban chỉ huy Bảo vệ Thị xã do Trung đoàn trưởng Trung đoàn 48 Lê Quang Thúy làm Chỉ huy trưởng; Chính ủy Trung đoàn 95 Nguyễn Văn Thiện làm Chính ủy; các trung đoàn phó của hai trung đoàn này làm Chỉ huy phó.
3. TỪ NGÀY 29 THÁNG 7 ĐẾN TRUNG TUẦN THÁNG 8 NĂM 1972
Sư đoàn dù của đối phương mất sức chiến đấu, phải rút ra củng cố, Sư đoàn thủy quân lục chiến vào thay áp dụng chiến thuật mới "lấn dũi", sử dụng tối đa hỏa lực của không quân, hải quân, pháo binh, xe tăng, chi viện của bộ binh đánh chiếm mục tiêu. Bộ Tư lệnh chiến dịch tăng cường Trung đoàn 165 thuộc Sư đoàn 312 cho Sư đoàn 308, Trung đoàn 95 thuộc Sư đoàn 325 chuyển sang tăng cường cho Lực lượng bảo vệ Thị xã. Tiểu đoàn 7 thuộc Trung đoàn 64 vào thay cho Tiểu đoàn 9 rút ra củng cố. Chủ trương của ta diệt cho được một tiểu đoàn đối phương, cải thiện thế phòng thủ của ta ở phía Nam. Trên hướng Tây Nam, Sư đoàn 308 tấn công quân đối phương ở điểm cao 150B, khu vực Tích Tường, Thạch Hãn, nhưng kết quả hạn chế. Hướng Đông, Trung đoàn 101 thuộc Sư đoàn 325 đánh ở Nại Cửu, Chợ Sải. Lực lượng bảo vệ Thị xã giữ vững trận địa. Đặc công của K1, K5 Hải quân tập kích vào cảng Mỹ Thủy và trận địa pháo binh ở Hải Lăng, gây cho đối phương nhiều thiệt hại.
Ta tăng cường lực lượng mới vào một số trung đoàn, nhưng sức chiến đấu không mạnh hơn, đối phương dốc kiệt sức ra mà vẫn không vào được Thị xã, những trận phản kích của ta không đạt yêu cầu. Thị xã Quảng Trị vẫn bị đối phương uy hiếp cả ba mặt. Ngày 9 tháng 8, Bộ Tư lệnh Chiến dịch (Mặt trận Trị Thiên) giao cho Sư đoàn 325 lãnh đạo chỉ huy chung và bảo đảm các mặt cho lực lượng chiến đấu bảo vệ Thị xã Quảng Trị, nhưng về tác chiến chiến dịch vẫn chỉ huy vượt cấp đến Ban chỉ huy Bảo vệ Thị xã. Thượng tá Lê Kích - Sư đoàn trưởng 325 chỉ huy sư đoàn ở hướng Tây, Sư đoàn 320B chúng tôi ở hướng Đông quyết tâm cùng nhau hiệp đồng chiến đấu bảo vệ Quảng Trị.
4. TỪ NGÀY 20 THÁNG 8 ĐẾN CUỐI THÁNG 8 NĂM 1972
 Đối phương vẫn dùng cách đánh cũ và hỏa lực của không quân, hải quân, pháo binh bắn với mật độ cao, cường độ lớn để yểm trợ cho Sư đoàn thủy quân lục chiến tiến công vào Thị xã và một lữ đoàn dù mới hồi sức lấn ra phía Tây để bảo vệ sườn bên trái cho Sư đoàn thủy quân lục chiến. Ta chủ trương phản kích, nhằm diệt hai đến ba tiểu đoàn, phá thế uy hiếp cả ba mặt Đông - Nam và Tây Nam.
- Sư đoàn 308 điều các Trung đoàn 88 và 102 tiến công một tiểu đoàn thủy quân lục chiến ở ngã tư Thạch Hãn và ngã ba Long Hưng, sau ba mươi  phút chiến đấu, ta chiếm được trận địa. Sau một ngày, bị máy bay và pháo binh của đối phương đánh phá ác liệt, ta thương vong nhiều, buộc phải bật ra ngoài. Ở khu vực Tích Tường, các Trung đoàn 36 và 165 thuộc Sư đoàn 312 chốt chặn kết hợp phản kích, đánh thiệt hại lữ đoàn dù, giữ vững trận địa.
- Hướng Đông, Trung đoàn 101 thuộc Sư đoàn 325 chặn đánh quân đối phương ở Chợ Sải. Trung đoàn 27 đánh chiếm Bích La Trung và một phần Nại Cửu, sau đó đối phương phản kích, chiếm lại.
- Trong Thị xã, Tiểu đoàn 5 thuộc Trung đoàn 95 tập kích diệt gọn một đại đội quân đối phương ở khu vực Tri Bưu. Lữ đoàn 258 thủy quân lục chiến liên tục phản kích, hòng chiếm lại khu vực đã mất, bị Tiểu đoàn 5 của ta chốt kết hợp phản kích đẩy lùi. Các đơn vị khác trong Thị xã đều tích cực phản kích, giữ vững trận địa.
 Những ngày cuối tháng 8, lũ lụt rất lớn, nước các sông Thạch Hãn, Vĩnh Định, Nhùng quanh Thị xã Quảng Trị đột ngột dâng cao. Nước tràn vào Thị xã, ngập hết công sự, hầm hào, ảnh hưởng xấu đến đời sống và sức chiến đấu của bộ đội. Đồng chí Phan Trần Thắng, Phó chính ủy Trung đoàn 48 báo cáo với Sư đoàn 320B về tình hình đơn vị bảo vệ Thị xã rất khó khăn: hàng trăm liệt sĩ, thương binh nằm lại, lương thực, thực phẩm còn một, hai ngày, súng đạn thiếu, quân số còn quá ít, Tiểu đoàn còn dưới 50 người, Đại đội còn trên dưới mười tay súng… đề nghị Sư đoàn giúp đỡ. Cùng ngày Chính ủy Mặt trận chỉ thị cho Bộ Tư lệnh Sư đoàn động viên, giúp khẩn cấp cho Trung đoàn 48 giải quyết chuyển thương binh ra tuyến sau, chuyển gấp số thực phẩm, súng đạn cần thiết cho chiến đấu và đời sống của bộ đội. Bộ Tư lệnh Sư đoàn cử đoàn cán bộ ba cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần xuống ngay kiểm tra, giải quyết tại chỗ; chỉ thị cho các đại đội vận tải, công binh, thông tin và đội phẫu thuật tiếp tục xuống ngay giúp Trung đoàn 48.
Chỉ tính từ ngày 20 tháng 8 đến ngày 30 tháng 8 năm 1972 trên Mặt trận Quảng Trị, ta đã diệt hàng vạn quân của đối phương, bắt sống gần 100 binh lính; phá hủy hàng trăm khẩu pháo, bắn cháy và phá hủy hàng trăm xe tăng và xe quân sự khác; bắn rơi và bắn cháy hơn 200 máy bay. Số thương vong của ta cũng rất lớn (riêng Thị xã Quảng Trị mỗi ngày đêm phải bổ sung một đại đội).
5. NHỮNG NGÀY ĐẦU THÁNG 9 ĐẾN NGÀY 14 THÁNG 9 NĂM 1972
Đối phương tăng cường lực lượng ra Quảng Trị hai lữ đoàn biệt động quân số 1 và 2, một thiết đoàn xe tăng, thiết giáp, một số đơn vị pháo binh, súng phun lửa. Ý đồ của đối phương tiếp tục mở cuộc tiến công mới (lần thứ năm) đánh chiếm Thị xã Quảng Trị trước ngày 14-9 để phục vụ yêu cầu cho Hội nghị ở Pa-ri.
- Ta phải bổ sung một đại đội chủ trương mở đợt "đòn" tiến công trên toàn mặt trận, thời gian từ 5 đến 7 ngày, nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực đối phương, đẩy lùi quân đối phương một bước nữa, chuẩn bị điều kiện đánh bại cuộc hành quân của đối phương. Lực lượng ta đến đầu tháng 9 có tới 5 sư đoàn bộ binh (Sư đoàn 304, 308, 312, 320B, 325) và các sư đoàn, trung đoàn pháo phòng không và tên lửa, pháo binh, xe tăng, thiết giáp, công binh, hóa học, thông tin, vận tải… và một bộ phận lực lượng hải quân (K1 và K5), nhiều tiểu đoàn đặc công, súng máy 12,7 ly và bộ đội địa phương. Nhưng quân số, sức chiến đấu của một số đơn vị giảm sút. Về đối phương cũng bị tổn thất lớn. Đối phương thay quân, bổ sung quân số, vũ khí, trang thiết bị kỹ thuật nên phục hồi sức chiến đấu nhanh, tiếp tục cuộc tiến công lần thứ năm vào Thị xã, đối phương vấp phải sự chống trả kiên cường của lực lượng bảo vệ Thị xã và lực lượng chủ lực quân ta ở cánh Đông và cánh Tây. Ta liên tục phản kích vào đội hình của đối phương.

Cuộc chiến đấu 81 ngày đêm ở Thị xã Quảng Trị anh hùng vô cùng gian khổ và ác liệt. Các chiến sĩ của ta chiến đấu anh dũng, kiên cường, giành giật với đối phương từng khu vực mục tiêu, từng căn nhà, bức tường, đống gạch đổ nát, góc Thành, công sự hầm hào, không chịu rời trận địa chiến đấu của mình. Đêm 16 tháng 9, Bộ Tư lệnh Chiến dịch quyết định cho các đơn vị còn lại rời Thị xã - Thành cổ Quảng Trị, rút về phía sau để chuẩn bị cho trận chiến đấu mới.

                   Trung tướng :Sùng Lãm


Tiêu đề: Re: Khúc tráng ca thành cổ Quảng trị
Gửi bởi: vmt trong 07 Tháng Năm, 2011, 10:11:40 PM
                                       35 năm ấy...
                                           
  NGUYỄN THẾ TƯỜNG
Cựu sinh viên khoá 14, Khoa Ngữ văn
Đại học Tổng hợp Hà Nội

Những cựu sinh viên nhập ngũ năm ấy rất muốn được ghi danh đơn vị mình là: Trung đoàn Thủ đô phiên hiệu 2 - hậu duệ của Trung đoàn Thủ đô năm 1947.

Ngày 6/9/1971, có một trung đoàn được thành lập giữa lòng Hà Nội gồm toàn sinh viên nhập ngũ từ các trường đại học: Tổng hợp, Bách khoa, Sư phạm, Nông nghiệp, Y khoa... Ngay sau đó đơn vị về Yên Sở chỉnh đốn đội ngũ rồi kéo lên Tân Yên (Hà Bắc) huấn luyện ba tháng, bổ sung cho các binh chủng, lại vội vã huấn luyện rồi cùng kéo vào Quảng Trị kịp tham chiến trong mùa hè đỏ lửa năm 1972 và 81 ngày đêm tại Thành cổ.

"Người ra đi đầu không ngoảnh lại...", chín mươi phần trăm số lính trong Trung đoàn thuộc làu hai câu thơ của Nguyễn Đình Thi "... Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy". Nhưng chẳng có cậu lính nào ra đi mà không ngoảnh lại. Bộ khung huấn luyện lần đầu tiên chứng kiến một đợt tân binh nhiều khách đến thế: người nhà, bạn học, thầy cô giáo... và cũng khổ sở vì có nhiều lính về Hà Nội chơi "ôm em" một tối rồi trở lên. Những đêm đi kiểm tra giờ lính ngủ trong doanh trại, các vị chỉ huy không ai dám chắc trên giường cá nhân, dưới lớp chăn là lính hay chỉ là một... chiếc chăn cuộn lại. Nhưng chỉ là "tút" về chơi, cả 1.200 lính sinh viên của Trung đoàn cho đến ngày tham chiến tuyệt nhiên không có bất cứ một người nào đào ngũ. Và, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp trước đây đã ghi công xứng đáng cho các chiến sĩ  của Trung đoàn khi trở về ngày chiến thắng trong mùa Xuân 1975.

Riêng trường Đại học Tổng hợp Hà Nội có 300 sinh viên nhập ngũ. Những ngày ấy lụt rất to, đê sông Hồng vỡ ở mạn Yên Viên, hàng vạn tấn gạo bị ngâm nước. Từ nơi cứu lụt, những chiếc xe tải chở sinh viên lấm lem bùn đất tiễn bạn nhập ngũ. Trên sân trường, một khối người xếp hàng vuông vức đang nghe lệnh. Quanh họ là các sĩ quan nhận quân và thân nhân đưa tiễn. Giáo sư, hiệu trưởng Ngụy Như Kon Tum đang phát biểu. Bài nói của thầy chưa kết thúc thì "lá cờ suý" đang tung bay trên ban công tầng hai bị gãy đổ xuống. Hàng trăm tiếng kêu ồ lên ngạc nhiên, thảng thốt, lo sợ. Nhất là các mợ, các chị nặng mê tín... phen này lành ít, dữ nhiều, không khéo hy sinh hết.

Mất mười lăm phút cho vị cán bộ hành chính mặt xanh như tàu lá lên sửa lại cờ. Anh chàng tân binh khoa Toán - Thái Khắc Sơn lên đọc quyết tâm thư. Đất nước lâm nguy, anh không thể nằm yên trong chăn mà làm thơ, ngày ngày lên giảng đường rồi đêm đêm lên sân thượng tán tỉnh các bé sinh viên khoá dưới. Còn chúng tôi, chí ít cũng đã 19, 20 tuổi ra dáng thanh niên, có học, đã dám cầm tay bạn gái mà nói những lời có cánh. Chúng tôi tự nguyện rời giảng đường và nhận thức được rằng: Đã đến lượt mình rồi đây, sống chết gì cũng phải đi. Sống được mà quay về trường thì tốt, nhược bằng nằm lại góc rừng nào đó thì đành vậy, coi như đền nợ nước.

300 lính sinh viên của trường Đại học Tổng hợp Hà Nội cũng đã bước lên xe quân sự. Không có đội quân nhạc hoành tráng, cũng chẳng có hành khúc nào được cử lên. Giáo sư Ngụy Như Kon Tum bắt tay một số tân binh, gạt mồ hôi trên trán (hình như có cả nước mắt). Phụ huynh ào lên, ồn ã một lúc, nhiều tiếng sụt sịt cố nén, dặn dò đủ chuyện. Xe của trung đội tôi có nhiều chàng sinh viên Khoa Văn như Hoàng Nhuận Cầm, Phùng Huy Thịnh, Đào Anh San, Phạm Thành Hưng, Phạm Hùng Việt, Đoàn Văn Phúc, Nguyễn Chí Thành… Lại có cả những sinh viên từng được giải văn miền Bắc như Nguyễn Văn Thạc, sau này để lại cuốn nhật ký nổi tiếng. Riêng tôi và Phạm Hải Triều cùng K14 có cái niềm vui nho nhỏ: cả hai thằng đều nợ môn Nga Văn cuối năm thứ hai, nhập ngũ coi như thoát, khỏi thi lại. Nếu hy sinh ở chiến trường thì... thoát hẳn.

Bốn năm sau, vào những ngày tháng 7 và 8/ 9/1975, người ta thấy rất nhiều người mặc áo lính, dày dạn trận mạc, lục tục đến các trường làm thủ tục nhập học. Không có cờ hoa đón chào, không có diễn văn hoan nghênh. Chúng tôi được làm thủ tục nhập trường khá nhanh, được nhận nguyên lương từ quân đội chuyển sang - dẫu rằng kinh tế bắt đầu biến động, đồng lương lọt thỏm trong nhu cầu đói kém hiện rất rõ. Chắc chắn không vì "lá cờ suý" bị đổ năm nào mà là sự tất yếu của chiến tranh, nhiều người bạn học của chúng tôi cùng lên xe ngày ấy đã không về: Nguyễn Chí Thành, Nguyễn Văn Thạc… nằm xuống; Dưỡng, Tuấn, Nguyên, Dũng, Chính, Hùng... nằm đâu đó ở Quảng Trị, hay trên suốt chiều dài chiến dịch vào Thành phố Hồ Chí Minh. Phạm Thành Hưng bị thương thủng sọ, Đào Anh San vết đạn xuyên đùi, Độ khoèo tay, Phú cụt, Thế què, Hoàng Nhuận Cầm đi pháo cao xạ may sao không dính đạn (có thể vì tầm vóc hắn ta hơi khiêm tốn). Phùng Huy Thịnh làm báo chiến trường, Phạm Hải Triều vừa đánh nhau vừa vẽ, từ một tay cọ nửa mùa thành hoạ sĩ chánh hiệu con nai vàng./.
      Nguyễn Thế Tường.


Tiêu đề: Re: Khúc tráng ca thành cổ Quảng trị
Gửi bởi: vmt trong 07 Tháng Năm, 2011, 10:15:14 PM
                           
Những câu chuyện kể ở bệnh viện

TRẦN LÊ AN
(Phỏng theo lời kể của đồng chí Dương Tâm chiến sĩ đặc công Sư đoàn 325 và một số đồng đội).

Tôi cũng chỉ loáng thoáng biết rằng từ trạm Gia Độ mình được một số anh em vận tải cáng trên võng dù, đi trong đêm rồi đưa lên ô tô chuyển tiếp. Tôi lúc tỉnh, lúc mê hầu như chẳng hay biết gì. Khi tỉnh dậy thì đã thấy mình nằm ở Quân y Viện 4.

Cùng nằm với tôi cũng có nhiều đồng chí bị thương từ trong Thành cổ ra. Có người bị cụt cả chân lẫn tay, có đồng chí bị băng kín đầu. Nằm cạnh tôi là một anh bạn người Thanh Hóa bị cả băng đạn bắn vào vỡ toác ngực. Mãi sau này tôi mới biết tên anh, vì suốt thời gian nằm cạnh, tôi chưa thấy anh tỉnh dậy. 

Quả là nắng gió vùng Quảng Trị thui cháy cả làn da, không thể chịu đựng nổi cái nắng của mùa hè như thiêu như đốt, lại nằm giữa vùng cỏ gianh như thế này. Ở đây nước lại rất hiếm, muốn có nước phải đi gần cây số, nên việc tắm táp rất hạn chế. Đành chỉ có cách là chui xuống dưới đất, dưới hầm sâu để mặc cho mồ hôi ra ướt đầm, rồi khi có một cơn gió mồ côi nào lạc đến thì may ra mới cảm thấy dễ chịu được đôi chút.

Thế mà giữa trưa nắng như thế, một thằng trực thăng vẫn cố tình bay là là gần sát dưới những triền đồi, bọn này vẫn coi thường quân ta trước đây chưa có cao xạ pháo vào chiến trường. Chúng bay thấp dưới các triền đồi để tiếng động cơ dội vào sườn đồi và dội lại, không vượt xa nên quân ta khó phát hiện ra ngay. Thình lình nó vọt lên. Gió từ cánh quạt máy bay thổi dạt cả những vạt cỏ gianh, chúng đã bay ngay trên đầu khẩu 12,7 ly của anh em đang đặt ngay giữa đỉnh đồi. Khẩu súng đang dần dần lộ ra khi cánh quạt trực thăng làm cho cỏ ngụy trang bay tơi tả.

Trên trực thăng, lố nhố hai tên lính lăm lăm khẩu đại liên chĩa xuống. Bất chợt, như một tia chớp, anh bạn tôi lao vụt từ trong hầm ra theo hướng giao thông hào và với một động tác thuần thục, anh ngóc thẳng khẩu 12,7 ly lên bụng chiếc trực thăng bóp cò. Một băng đạn căng dài trùm toàn bộ vào chiếc máy bay. Chiếc trực thăng rung lên, cánh quạt gió vẫn quay tít, loạng choạng bay về phía cuối khe chân đồi, từ bụng và đầu lái phụt ra một vài tia lửa, rồi khói bốc lên. Nó vẫn cố gượng để bay tiếp, nhưng không được, chiếc máy bay nghiêng ngả, chao đảo rơi ầm xuống lòng khe bốc cháy ngùn ngụt. Lúc đó anh em trong hầm mới ào ra, nhảy lên nhìn chiếc máy bay bốc cháy mà reo hò, cả bốn tên trên trực thăng không tên nào sống sót. Mấy người khác chạy tới bên khẩu súng. Anh bạn của tôi đang đứng ôm lấy khẩu súng, từ ngực anh máu chảy ướt sũng cả lớp áo. Thì ra, tên lính đại liên trên máy bay cũng đã kịp bắn một loạt đạn xuống. Anh em vội vàng đưa anh vào hầm băng bó và chuyển về trạm phẫu. Không biết sức mạnh phi thường nào đã giúp anh chịu đựng được cả chặng đường dài ra đến bệnh viện này, rồi anh mới vĩnh viến ra đi. Từ lúc bị thương, anh không nói được lời nào. Anh tên là Vượng, người dân tộc Mường ở Thanh Hóa.
Chỗ anh nằm sau đó thay vào là một anh bạn người Hải Hưng tên Đạt, thuộc Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 95, bị cắt cụt mất bàn tay phải. Một quả cối 61 của địch đã nổ bên thành công sự khi anh chiến đấu ở bên ngoài chùa Bà Năm - Đông Nam Thành cổ. Anh ta thán rằng, chẳng hiểu sao đã nấp kín dưới công sự rồi, mà lúc đó lại giơ tay lên.

Sau lần mổ lại hai ngón tay, tôi thấy mình khỏe hơn lên. Mỗi lần thấy máy bay địch bay qua, tôi lại thấy nhớ anh em trong đơn vị. Mấy thằng đã khỏe khỏe, những lúc rỗi nhàn thường ra ngồi chỗ mấy gốc cây trám lớn ở trước lán hầm quân y dã chiến để uống nước. Có lẽ, những lúc ấy chúng tôi mới thực sự được hưởng những khoảnh khắc của đời thường, hít thở không khí trong lành giữa rừng cây lá êm đềm. Có đồng chí bác sĩ, mới đi ra Bắc vào cho bọn tôi mấy lạng chè Thái Nguyên chính hiệu. Chúng tôi lấy nước sôi pha vào cái ăng-gô Trung Quốc và mỗi thằng một cái bát sắt  B.52 rót chè vào uống. Sao lúc đó tôi thấy bát chè Thái Nguyên thơm mà ngon đến thế!

Tôi kể câu chuyện đó giữa bữa tiệc trà bên một cánh rừng nơi Quân y Viện 4 sơ tán, nhưng có lẽ anh em cũng đã quen với những cảnh như thế. Mấy cậu còn nhao nhao lên kể các câu chuyện của chính mình đã được chứng kiến. Câu chuyện mấy anh em ta khi làm hầm kèo, vớ bất cứ cái gì cho lên nóc hầm được là cứ cho, có cái đệm lông của dân đã chạy tản cư ra Vĩnh Linh, Hồ Xá để lại, lính ta cũng cho lên nóc hầm.
Một lần, tất cả còn ngồi trong hầm, thấy pháo địch bắn lung tung nên cũng kệ, cứ ung dung ngồi dưới. Pháo 203 từ ngoài biển của hạm đội Mỹ, pháo 175 "vua chiến trường" từ mặt đất ở các cứ điểm phía nam sông Mỹ Chánh bắn tới tấp. Chúng cứ bắn hú họa lung tung, chỗ này một quả, cách vài ba trăm mét lại một quả khác. Chúng bắn theo những tọa độ ngẫu nhiên, trúng đâu thì trúng. Lúc thì pháo khoan sâu xuống lòng đất gặp chỗ hổng như hầm mới nổ. Cứ bảo ở dưới hầm là chắc chứ gặp phải quả pháo khoan trúng thì cũng đi đời; có loại thì nổ phá tức thì trên mặt đất, mảnh bắn tung tóe, khi xé ra hàng trăm mảnh gang từ cỡ như đốt tay đến cỡ bằng bàn tay, hình thù vô định và sắc lẹm văng tứ tung với vận tốc cực lớn theo lượng công phá.

Trong bán kính hơn trăm mét có thể sát thương vô cùng. Có loại lại nổ chụp từ trên cao ba đến bốn mét xuống mặt đất, trong vỏ quả pháo cấu tạo những cái đinh hình mũi tên dài cỡ hơn hai centimét, nằm chìm giữa lớp vỏ, khi pháo nổ những cái đinh đó văng ra chụp xuống mặt đất theo hình cái nơm. Chúng cứ bắn như thế chẳng may trúng phải đơn vị đang hành quân nào thì cũng làm sát thương vài chục người. Nhưng ít khi trúng lắm! Hình như bom đạn nó tránh người, chứ người đâu có tránh được bom đạn. Tụi Mỹ nghiên cứu ra lắm thứ, lắm kiểu để giết người.

Phải nói khoa học giết người của chúng nó giỏi thật! Nhưng chúng nó có biết đâu đa phần bom đạn cứ rơi vào chỗ không người! Lần đó, mấy anh em ngồi trong hầm cứ thấy hầm hơi rung lên một chút. Cũng là thường thôi, bom nổ gần thì hầm rung lên thì có gì là lạ. Chẳng để ý lắm, đến lúc lên khỏi hầm mới biết một quả pháo nổ tức thì bắn trúng cái đệm để trên nóc hầm, lông gà, lông vịt gì đấy bắn tung toé, trắng cả nóc hầm, toang toàng hết ra xung quanh, anh em được một bữa cười chí chết. Cười vì may không gặp pháo khoan, cười vì lông gà, lông vịt... Lại chuyện của anh em khi qua bến vượt, mấy chú lúc đầu là chúa lười đào hầm. Chỉ huy có bắt đào hầm thì đào rất qua loa, đại khái. Hôm đó trên bến vượt, tụi nó bắn pháo cấp tập, mấy chú không có hầm cứ rúc lung tung vào các bụi cây lúp xúp gần bờ nước, hoặc bạ chỗ nào có thể rúc được là rúc. Mảnh pháo bay rào rào, may cũng chưa ai việc gì./.
               Trần Lê An


Tiêu đề: Re: Khúc tráng ca thành cổ Quảng trị
Gửi bởi: vmt trong 07 Tháng Năm, 2011, 10:17:57 PM
                               
Vượt sông
TRỊNH HOÀ BÌNH
Cựu chiến binh Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 95, Sư đoàn 325

Tôi vượt sông Thạch Hãn để vào Thành cổ lúc 5 giờ chiều ngày 31/8/ 1972. Lúc ấy trời đã tối. Mưa đầy trời và những đám mây như bay sạt qua đầu. Phía trước có tiếng đạn pháo nổ vọng lại trong ánh chớp nhì nhằng, báo hiệu cho biết đó là chiến trường. Có tiếng lao xao: "Nhan Biều", "Bến vượt"... rồi có lệnh dừng lại để vượt sông.

Cả đơn vị dừng lại, tôi cố căng mắt nhìn quanh mà không nhận ra khuôn mặt nào quen thuộc. Chúng tôi là lính thuộc Tiểu đoàn 58 Trung đoàn 59 Bộ Tư lệnh Quân khu Thủ đô, cùng nhập ngũ tháng 4 năm 1972. Sau ba tháng huấn luyện, đầu tháng 8 chúng tôi lên đường vào chiến trường. Trước đó vài hôm, cả đơn vị vào đến Bãi Hà, nhận thêm quân trang và vũ khí đạn dược. Một ngày sau tôi được chọn cùng một số anh em lên đường đi trước. Cứ nghĩ là mình đi tiền trạm như bao chặng hành quân khác, bây giờ tôi mới biết, mình được chọn để vào trận ngay, chiến trường đang cần người.

Dùng tấm tăng để gói ba lô làm phao, tôi đặt khẩu AK lên trên đúng như những gì được dạy, có lệnh vượt sông. Hai tay bê chiếc ba lô và khẩu súng, tôi đi theo cái bóng trắng phía trước. Cả đoàn quân đang vượt sông. Mưa vẫn rơi, mỗi lúc một nặng hạt. Nước sông khá lạnh và có vẻ chảy xiết. Vượt sông mà nước xiết thế này thì mệt đây... Rồi lại có lệnh truyền từ trên xuống, mỗi tiểu đội lên một chiếc thuyền để vượt sông... Mà không phải thuyền. Đó là một chiếc xuồng cao su vá lỗ chỗ, tôi sờ thấy những miếng vá to gần bằng bàn tay. Từ chỗ tôi ngồi có bốn miếng vá, vậy chiếc xuồng này có khoảng bốn mươi miếng vá như thế ư? Chiếc xuồng này cũ quá rồi, sao người ta không thay đi nhỉ?

Tôi cứ ngồi nghĩ lan man mà chẳng dám hỏi ai. Hai người lính công binh đang ra sức đưa chúng tôi vượt sông. Có một sợi cáp thật to, có lẽ phải bằng cổ tay tôi được căng ngang sông. Tôi nhìn sợi cáp, nó như hút vào đêm tối. Tôi nắm lấy sợi cáp như để ước lượng, cũng muốn giúp hai anh lính công binh. Sợi cáp run bần bật trước sức nặng của con xuồng và dòng nước xiết. Đã ra được nửa sông chưa nhỉ? Tôi có cảm giác da tay mình bật ra và ứa máu. Anh bạn ngồi phía trước tôi bất giác ho khùng khục. Sau tôi mới biết anh chàng này là sinh viên khoa Toán của trường Đại học Sư phạm, quê ở Nam Hà, bị hen nhưng giấu bệnh và tình nguyện nhập ngũ, là lính của Tiểu đoàn 60. Đêm lạnh, mưa lại to đã khiến anh ho lên như thế. Người lính công binh có dáng người thấp đậm cúi sát vào tai người vừa ho, giọng đánh gằn: "Im cái mồm, An Tiêm kia kìa!". An Tiêm... An Tiêm... Một cái tên thật đẹp, sao anh ta lại mang ra gắt với đám chúng tôi.

Mặt trận có vẻ đã gần hơn. Tôi đã nghe rõ tiếng đạn pháo bay vi vu và nhìn thấy ánh đèn dù thấp thoáng trong bóng mây. ở phía bắc và hướng thượng nguồn có những dây chớp sáng xa xa. Đó là chớp của  B.52 rải thảm. Mưa vẫn rơi và mây như bay sạt qua đầu. Mặt trận đây rồi. Đó sẽ là nơi mà tôi và những người lính trên chiếc xuồng này sẽ lao vào với tất cả tinh thần và sức lực của mình. Năm ấy tôi vừa tròn mười bảy tuổi, ra đi theo tiếng gọi của Tổ quốc, có một gương mặt nhung nhớ khắc trong tim nhưng chưa phải là tình yêu.

Sau này, còn nhiều con sông nữa tôi đã cùng đồng đội vượt qua, lúc bằng xuồng, lúc bơi lội... Nhưng kỷ niệm về con sông Thạch Hãn ở Thành cổ Quảng Trị, của cái đêm vượt sông lần đầu tiên nếm trải mùi vị của chiến tranh là không thể quên, giống như con sông Hồng quê tôi đã cho tôi kỷ niệm êm đềm thời thơ ấu; con sông Thạch Hãn khiến cho tôi lớn lên, từng trải, cùng tôi đi qua cuộc chiến tranh. Sau này tôi đã được ngắm con sông vào những ngày thanh bình. Đó là con sông trong xanh, hiền hòa như bao con sông khác trên quê hương tôi, quê hương Việt Nam!
          Trịnh Hòa Bình


Tiêu đề: Re: Khúc tráng ca thành cổ Quảng trị
Gửi bởi: vmt trong 08 Tháng Năm, 2011, 02:23:55 PM
                             
                                                     Nhật ký
                                                      Của Đào Chí Thành*
                                                      (Trích)
                                                      Cựu chiến binh - Đại đội 14 Trung đoàn 95 thuộc Sư đoàn 325
                                                      Nguyên sinh viên lớp A3 Khoa Toán Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 1

Ngày 12-7-1972
 Qua 12 ngày đêm hành quân, hôm nay đã đặt chân trên đất Quảng Trị. 9 giờ sáng ngày 11 tháng 7 chúng tôi đã vượt qua sông Bến Hải, qua thượng nguồn của nó. Một con sông nhỏ nước trong và mát - lội đến bụng chân. Tối 11 tháng 7 qua tiếp Cam Lộ rồi sẽ qua Cù Đinh. Toàn trèo đèo vượt suối mang nhẹ nhất cũng trên 30 kilôgam: chân pháo 19 kilôgam và ba lô. Người sút nhiều và mệt đâm ra hay nóng nảy, cần sửa ngay.
Ngày 15-7-1972
Qua nửa tháng hành quân vô cùng gian khổ: trèo đèo, lội suối, xuyên rừng, vượt đồi, chúng tôi đã tới Quảng Trị... vị trí tập kết để nhận nhiệm vụ chiến đấu. Tại đây là xã Triệu Giang, huyện Triệu Phong. Hôm qua ngày 14 tháng 7, chặng hành quân cuối cùng thật là gian khổ và vô cùng dũng cảm. Qua một loạt đồi chừng hơn 10 kilômét toàn là những đồi cỏ gianh nham nhở vết cháy hoặc đã trụi đi vì bom đạn Mỹ. Tại những ngọn đồi này, quân ta đã xua tan lũ giặc. Vượt qua quãng đồi trống và những bãi bom bi ngổn ngang súng đạn trong lúc trên đầu tụi OV10 luôn dòm ngó, trinh sát, thật là nguy hiểm. Thỉnh thoảng lại một vài tốp phản lực bay qua oanh tạc những vùng lân cận do OV10 chỉ điểm. Đường dài, trống trải, khó đi, nắng rát cộng với sự khẩn trương hành quân có lúc gần ba giờ đồng hồ không được một phút giải lao đã quần cho khá mệt. Người sút đi hốc hác. Quần áo bẩn bụi đường, chân tay mặt mũi sờ lên toàn là cát và đã hai ngày nay chỉ ăn cơm nắm thiu và lương khô, nước suối. Song do sự cố gắng vượt bậc và được rèn luyện nhiều trong quân đội cuối cùng chúng tôi đã vượt qua tất cả và đặt chân lên vùng tập kết.

Ngày 16-7-1972
ở lại đó một ngày. Đêm đi lấy đạn và gạo. Phải qua sông bằng bè chuối. Mỗi chuyến năm người (kể cả lái). Thật là lâu trong khi pháo sáng và OV10 trên đầu. Bom và đạn pháo nổ xung quanh rung bần bật, toé lửa. Khoảng 12 giờ đêm về đến nhà. Nhận lệnh mới phải cơ động ngay. Thế là lại để ba lô và gạo ở lại. Mỗi người mang theo vũ khí, tăng võng, 1 kilôgam gạo, thuốc, lương khô... lên đường ngay.

Ngày 17-7-1972
1 giờ đêm đang hành quân thì bị lạc, tối quá, đi giữa đồng không bám sát được thế là lạc cả khẩu đội, tìm không thấy đơn vị, theo đường 1 bị tắc vì gãy cầu. Đành quay về, bị mưa. Ngủ đến sáng thì đồng chí Ca về gọi đi. Đơn vị để lại B trưởng và một đồng chí của khẩu đội để đón. Thế là lại khăn gói lên đường. Ngày hôm nay vẫn ở Triệu Giang, cách làng cũ khoảng 2 kilômét, gần đường 1.

Ngày 18-7-1972
Khoảng 2 giờ 20 phút sáng. Đơn vị về lấy đạn. Thế là đã bắt được liên lạc. Thật mừng, quay về làng cũ lấy ba lô và đạn. Sáng qua máy bay Mỹ đã oanh tạc vùng này. Hai quả bom bi nổ ngay đầu nhà và trước cửa nhà mình ở... Khoảng 5 giờ sáng mới bắt đầu hành quân đến vị trí nhận nhiệm vụ của đơn vị. Khoảng 4 kilômét, đường 1, sợ trời sáng phải vận động thật mệt. Đường 1 to và thẳng, hai bên rất trống trải và bằng phẳng. Qua sân bay ái Tử... đến vị trí ở một làng mà dân đã sơ tán được 5 ngày, cách Thị xã theo đường chim bay khoảng 500 mét. Tại đây chúng tôi sẽ bắn vào Thị xã và ái tử, đường sắt.

Ngày 21-7-1972
Không khí vẫn ầm ầm xung quanh đến nhức cả đầu. Chỉ có tắm giặt mà cũng khó khăn. Một bộ quần áo mặc đến bốn lần mới giặt được. Cứ vừa thò ra giếng là đạn pháo đã nổ rầm xung quanh, thật là bực mình…..

 
 
                                 Nhật ký
                                 của Trần Quốc Hưng
                                  (Trích)
                                   Nguyên sinh viên năm thứ  ba Khoa Toán Đại học Sư phạm Hà Nội 2 - Đơn vị Đại đội 2 Trung đoàn 68 thuộc Sư đoàn 304

Ngày 26-5-1972
 Hôm nay bắt đầu hành quân vượt sông ái Tử tiến về Quảng Trị. Đường bộ gặp nhiều may mắn, cứ những chỗ qua rồi chúng mới thả pháo sáng. Khi vượt sông anh em phải cởi quần dài ra lội, tới giữa dòng thì pháo sáng bủa vây. Nước sông trong quá, tôi muốn nhúng chiếc khăn lau mặt mà không được... Song chúng không đánh, chắc là không phát hiện được. Qua sông an toàn. Đêm nay ngủ rừng.

Ngày 10-6-1972
Tới làng Như Lệ thì trời sáng. Chúng tôi xin gạo và nấu cơm ăn. Từ khi vào đây hôm nay mới chính thức được ở với dân và sinh hoạt cùng dân. Họ quả là những người dân tuyến đầu. Không ai ở nhà cả, mọi người chuyển xuống dưới hầm trong lòng đất, những gian hầm rất to. Bom toạ độ và pháo kích ngày đêm thường xuyên đe dọa họ nhưng sao vẫn thấy họ thản nhiên lắm.

 Có một điều đáng chú ý là dân trong này từ già tới trẻ đều rất diện, vận toàn quần áo vinilon. Con gái thì may bó sát lấy thân, mới trông họ thì khó mà cảm tình được, nhưng ai ngờ đó chính là những o du kích và bộ đội địa phương. Nói chuyện với họ thật là vui vẻ.

Ngày 22-6-1972
H. yêu quý của anh! Hôm qua anh được gặp bố trong giấc ngủ H. ạ! Bố đi công tác gì đó mà lại qua trận địa của anh. Có lẽ vì mệt nên giấc mơ nhòa đi không nhớ nữa. Anh chỉ thấy có một điều là bố già hơn là em thường nói với anh. Tóc bố đã lốm đốm hoa râm, trên vầng trán cao của bố đã đính lên một vài khắc của thời gian. Song trông bố vẫn khỏe lắm.

Anh vẫn rất mong thư của em. Anh thường xuyên nhắc tới em. Anh thường kể cho các bạn của anh nghe về giọng hát đầy tình cảm của em. ở giữa chiến trường khô khan đầy bom đạn này cái tiếng hát tưởng tượng của bọn anh sao mà trong mát làm sao. Các bạn anh thường ước có em ở đây để hát vài bài cho nghe.

Tự nhiên anh thấy nhớ cái tiếng hát trầm trầm âm ấm bay ra với tất cả tình cảm chân chất trong tâm hồn em, một cô gái trẻ đã tìm thấy hạnh phúc và cuộc sống.
Yêu em lắm H.ơi! Hôn em.
 Ngày nay vẫn trực chiến. Tin chiến thắng báo về pháo bắn tốt, bộ binh hoan nghênh. Và họ đã vượt sông Mỹ Chánh cùng tăng xông lên cao điểm 52. Bọn địch đang rút chạy toán loạn.

 Ngày 9-8-1972
 Tôi đã có ý định tạm không ghi nhật ký nữa. Bởi vì những điều hàng ngày đang xảy ra quanh tôi không vui chút nào hết. Tôi không muốn ghi vào cuốn sổ này những dòng mà nó hiện thân của những chuỗi thở dài vô tận trong lúc lửa đời tôi rực cháy. Tôi chỉ muốn ca ngợi, chỉ muốn reo vui thôi. Tôi chán ngán những dòng nước mắt lắm rồi, tôi ghê tởm sự đau khổ chua chát đến tột độ. Tôi không muốn nhắc đến những cái gì chua đắng của lòng người. Tôi chỉ muốn chung quanh tôi đều hạnh phúc.

Tôi là một sinh viên trong số hàng nghìn những sinh viên khác phải tạm rời sách bút và sự nghiệp của mình để lên đường chiến đấu. Tôi cũng như trăm nghìn những sinh viên khác đang bước vào thời kỳ đẹp nhất của cuộc đời. Tôi cũng có người yêu. Chúng tôi yêu nhau chân thành và tha thiết. Chúng tôi đã vẽ cho nhau hướng đi tới ngày mai, chúng tôi đã xác định hạnh phúc và chúng tôi hoàn toàn tin tưởng vào hạnh phúc vì hạnh phúc nhất định sẽ thuộc về chúng tôi. Chính vì vậy mà tôi tha thiết sống. Cầu mong cuộc sống đừng sớm phụ bạc với mình. Tôi chỉ muốn cho ngày thống nhất đến nhanh hơn nữa để tôi được trở về trường học tiếp cùng với các bạn tôi hoàn thành sự nghiệp của mình. Và rồi tôi sẽ xây dựng hạnh phúc - sống hạnh phúc. Khi đó có lẽ tôi cũng không đòi hỏi gì cao hơn là chúng tôi được hạnh phúc với nhau trong một căn phòng ấm cúng. Khi đó vợ tôi ngày ngày sẽ tới viện làm việc, còn tôi cũng sẽ làm việc trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật, cái mà tôi vẫn ôm ấp từ lâu. Ôi hạnh phúc, cứ nghĩ đến hạnh phúc là tôi lại cảm thấy sung sướng lạ. Một cảm giác khoái lạc say sưa lại xâm chiếm cơ thể tôi.

H. ơi! Em yêu quý của anh! Giờ này em đang làm gì? Em đang học tiết thứ năm hay tan học vì bây giờ đã gần 11 giờ 30 phút rồi. Nghĩ tới em anh thấy nhớ quá H. ạ, nỗi nhớ của anh không biết chứa vào đâu cho hết. Chỉ khi nào bên em anh mới hết nhớ thôi. Anh nhớ em từng phút, từng tích tắc, nhớ em không thể nào tả được. Thương em quá. Em sẽ phải chờ anh đến khi nào nhỉ? Anh tin rằng "Chúa sẽ che chở cho chúng ta". Hạnh phúc nhất định sẽ thuộc về chúng ta. Nhớ anh lắm phải không H.? Bố bảo: "Mọi sự cố gắng đều được bù đắp", chúng mình sẽ lấy câu nói của bố làm lẽ sống phải không H. Đúng, mọi sự cố gắng đều được bù đắp H. ạ! Em hãy cố gắng học và chờ anh. Khi nào về anh sẽ đền bù cho em. Anh sẽ nguyện phục vụ em đến suốt đời mình. Anh mong tin của em quá đi mất. Chưa bao giờ anh thấy mong tin của em như hiện nay. Em có khỏe không? Mẹ có khỏe không? Em đã nghỉ hè về thăm thầy mẹ chưa? Kỳ thi vừa rồi kết quả ra sao?... Anh mong quá!
Nhất định anh sẽ về với em. Về cho hết nhớ, về để đền bù những ngày đã chịu đựng của em. Về để sống hạnh phúc bên em!./.
 


Tiêu đề: Re: Khúc tráng ca thành cổ Quảng trị
Gửi bởi: vmt trong 08 Tháng Năm, 2011, 02:26:19 PM
                                                      Tiếp :

                                                 Những ngày Quảng Trị
                                                 LÊ XUÂN TƯỜNG
                                                 Nguyên cựu sinh viên - chiến sĩ, Thành cổ Quảng Trị 1972

Sau gần một tháng hành quân khi bằng xe, khi bằng canô và cả đi bộ nữa, chúng tôi dừng chân ở Bãi Hà - trạm giao liên cuối cùng trên đất Bắc. Bãi Hà nằm ở miền Tây Vĩnh Linh, gần thượng nguồn sông Bến Hải. Đây là một khu rừng già của đại ngàn Trường Sơn, những thân cây cổ thụ cao vút với dây leo chằng chịt. Quân ra, quân vào nườm nượp, bộ đội, thanh niên xung phong gặp nhau cười nói râm ran với đủ các chất giọng từ các miền quê khác nhau… Tại đây chúng tôi được bổ sung vũ khí, trang bị, lương thực, thực phẩm. Đến giờ tôi vẫn còn nhớ khẩu AK của tôi số hiệu IAG 4245 của Liên Xô sản xuất năm 1954. Chúng tôi sẽ được tăng cường cho các đơn vị bộ binh đang chiến đấu tại mặt trận Thị xã Quảng Trị.

Đêm cuối cùng trên đất Bắc, thao thức không làm sao ngủ được. Nhớ lời anh Được hẹn tới ngày trở về sẽ cùng nhau đi lang thang khắp phố phường Hà Nội để bù cho những chuỗi ngày xa cách và thưởng thức những món ăn do mẹ làm. Mẹ anh mất sớm nên anh rất thèm được bàn tay người mẹ chăm sóc. Nhớ tới anh Oanh chăm lo cho mình suốt dọc đường và tất cả những người bạn đã gắn bó với tôi suốt chặng đường hành quân từ Bắc vào. Bãi khách rất đông, tăng võng mắc kín đặc, văng vẳng trong đêm tiếng đài của ai đó đang đưa tin máy bay Mỹ tiếp tục đánh phá Hà Nội.

Sáng ra chúng tôi lên đường, dọc đường từng đoàn thương binh đi ngược lại, không ít thương binh nặng phải cáng bằng võng. Tình hình mặt trận rất căng thẳng, địch đang phản kích dữ dội để chiếm lại Thị xã Quảng Trị, quân ta thương vong nhiều chủ yếu do phi pháo địch.
Chúng tôi vượt sông Bến Hải ở thượng nguồn, hai bên bờ những tán cây rừng xòa xuống mặt nước. Dòng sông như một con suối, nước chỉ ngang đùi. Qua hết sông cô giao liên mới nói: "Đây là sông Bến Hải, từ giờ trở đi các anh đã đặt chân lên đất miền Nam", sững người vì câu nói đó chúng tôi quay ngay lại dòng sông: thằng thì trằm mình, thằng thì vục mặt vào dòng suối mát lạnh đó, có thằng quỳ sụp dưới nước đầu hướng về bờ Bắc vái lấy vái để… mỗi thằng một kiểu. Từ Bắc vào đây qua bao sông, bao suối nhưng chỉ có đây thôi khi nhớ tới bài học thời ấu thơ về dòng sông giới tuyến như vết dao cứa vào lòng đất nước, đã làm chúng tôi xúc động như vậy.

 Qua khỏi sông một quãng tôi thấy thầy Khôi dạy Toán của trường đi ngược lại. Thầy trong tốp về Trung đoàn 95, nhưng dọc đường được gọi ra nhận nhiệm vụ khác. Mong cho thầy không phải vào nơi hòn tên mũi đạn và được ở đơn vị nào phù hợp với tuổi tác và trình độ của thầy.

 Ra đến đường 9, đội hình hành quân giãn cách từ 10 đến 15 mét với cành cây trên đầu. Bầu trời xanh trong vắt bị rạch nát bởi những vệt khói của  B.52 và đủ loại máy bay chiến đấu của địch. Nhưng khó chịu nhất là thằng OV10 như gọng bừa đang vè vè trên đầu, thỉnh thoảng nó lại lao xuống bắn đạn khói đen chỉ điểm, vài phút sau lũ phản lực lao đến cắt bom. Nhưng chúng lại không ngờ rằng hơn trăm người chúng tôi giữa ban ngày đang bám theo đường 9 để về Đông Hà. Đường 9 trải bê tông nhựa rất tốt, những hố bom pháo chi chít trên đường. Dọc hai bên đường là những đồn bốt, những khu quân sự tan hoang. Khu vực này ta giải phóng vào đợt hai chiến dịch cuối tháng 4 năm 1972. Gần một tháng hành quân từ Bắc vào khi thì đi xe, khi thì đi bộ tưởng rằng đi trên đường nhựa sẽ ngon lành hơn đi đường rừng nào ngờ mới có vài cây số mà hai bắp chân đã ê ẩm không buồn nhấc nữa. Cảm giác này khi trên đường Trường Sơn không hề có, phải chăng do nền đường bê tông cứng nên dội vào hai bắp chân làm cho ta không thể chịu được. Cứ lết đôi chân, thằng nào cũng thế, nhiều thằng lăn ra vệ đường mặc cho những bụi gai xấu hổ đâm vào người. Thế rồi quá trưa chúng tôi đến Đông Hà. Thị trấn nằm ở ngã ba đường 1 và đường 9 chỉ còn những đống gạch vụn. Trận  B.52 lúc sớm giội vào đây, nhiều chỗ khói bom còn bốc nghi ngút. Ngay ngã ba có một tháp canh cũ của Pháp còn sót lại, bên vệ đường mấy gốc phượng bị bom phạt xác xơ cụt lủn nhưng lạ thay vẫn còn vài bông phượng đỏ rực như thách thức bom đạn. Thật kỳ lạ vào mùa này ở đây vẫn còn hoa phượng mà lại lớn hơn phượng ở Hà Nội.

  Ngày đầu tiên chúng tôi vượt dòng Thạch Hãn để về trung đoàn là như thế đó. Nơi chúng tôi vượt sông là bến vượt sang thôn Đầu Kênh, xã Triệu Long thuộc huyện Triệu Phong. Đây là nơi Trung đoàn 101 của chúng tôi đứng chân trong suốt mùa hè đỏ lửa năm 1972 tại đông - bắc thị xã và Thành cổ Quảng Trị.

Đã hơn ba mươi năm trôi qua, khi mái tóc trên đầu không còn xanh nữa, nhưng ký ức trong những ngày đầu tiên trên đất Quảng Trị vẫn nguyên trong tôi như mới ngày hôm qua. Điểm lại những khuôn mặt đồng đội cùng tôi ra đi từ Tân Đức ngày ấy và cùng về Trung đoàn 101 thuộc Sư đoàn 325 giờ này thiếu vắng anh Tạo, anh Lâm, anh Long, Tiến, Triệu, Tuấn, Sơn… và nhiều người lắm, không thể nào nhớ hết được. Các anh mãi mãi nằm lại mảnh đất này, thân thể của các anh đã hóa thành sông nước, thành cát trắng, thành gió lào hắt lửa, thành dai dẳng của mùa mưa Quảng Trị.

                                Hà Nội, những ngày tháng 10 - 2005


Tiêu đề: Re: Khúc tráng ca thành cổ Quảng trị
Gửi bởi: vmt trong 08 Tháng Năm, 2011, 02:30:18 PM
                                             
                                                     Người lính già của trung đoàn
 
                                                      LÊ XUÂN TƯỜNG
                                                      Cựu chiến binh Đại đội 3 Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 101 thuộc Sư đoàn 325 Quân đoàn 2.

Ông là một người lính già - như ông vẫn nói với chúng tôi - là một vị chỉ huy quả cảm của Trung đoàn 101 trong những thời khắc ác liệt nhất của cuộc chiến tranh giải phóng Tổ quốc.

Ba mươi tư năm về trước, tại khu vực Chợ Sải, An Tiêm, Nại Cửu… phía đông bắc thị xã Quảng Trị dưới sự chỉ huy của ông, những gã lính trẻ chúng tôi xuất thân từ mọi tầng lớp và từ mọi miền quê khác nhau đã gồng mình trước mưa bom, bão đạn của B.52, của đủ loại pháo bầy, pháo dàn từ hạm đội 7 Mỹ trong suốt Mùa hè đỏ lửa 1972. Lớp này ngã xuống, lớp khác xông lên giành đi giật lại từng mảnh đất thiêng liêng của Thị xã và Thành cổ Quảng Trị. Cũng những ngày này cuối tháng 1 năm 1973 ấy, tại cao điểm 12 phía nam Cửa Việt, khi xe tăng địch cùng Lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến của chúng đã thọc sâu vào khu vực Chỉ huy sở Trung đoàn, ông đã cùng các chiến sĩ, vệ binh, thông tin của mình và các cán bộ chiến sĩ, cơ quan trung đoàn bộ với tiểu liên AK và lựu đạn trong tay xông lên cản phá quân thù, quyết tâm giữ vững Cửa Việt dù phải hy sinh đến người cuối cùng, quyết không để cho địch chiếm được cảng. Mùa Xuân năm 1975, với cương vị Tham mưu phó sư đoàn, ông đã dẫn dắt chúng tôi ngược lên Trường Sơn đánh xuống tây Thừa Thiên cắt ngang đường số 1 tại Phú Lộc để tiến vào Huế, cắm lên Phú Văn Lâu ngọn cờ giải phóng của Trung đoàn 101 - đứa con của mảnh đất cố đô - lúc 13 giờ ngày 25 tháng 3 năm 1975.
 Vượt đèo Hải Vân, ông cùng chúng tôi tiến đánh bán đảo Sơn Trà, giải phóng Đà Nẵng; băng qua duyên hải miền Trung, công phá phòng tuyến Phan Rang - Tháp Chàm, sân bay Thành Sơn. Trong những ngày cuối tháng 4 năm 1975 không thể nào quên ấy, dưới sự chỉ huy của ông chúng tôi đã giành giật với địch từng căn nhà, góc phố tại Nước Trong - Long Thành để mở đường cho pháo tầm xa của ta vào Nhơn Trạch, đánh chiếm bến phà Cát Lái, tiến vào giải phóng Sài Gòn.

Với chiến sĩ, ông là một con người bình dị, rất nhân từ nhưng không kém phần nghiêm khắc. Cánh lính sinh viên Hà Nội chúng tôi vẫn thường mắc căn bệnh cao ngạo, ngang ngạnh, không phục và hay châm chọc những cán bộ chỉ huy có trình độ văn hoá thấp hơn mình nhưng lại mắc bệnh nói dai và hay áp đặt. Chúng tôi đã truyền tụng nhau câu chuyện ông đã gặp một số lính sinh viên và mắng thậm tệ những tật xấu đó. Nhưng ông cũng đã từng nói với những cán bộ cấp dưới: "Trong chiến công của trung đoàn năm 1972 thì lính sinh viên đóng góp một phần không nhỏ, chỉ huy họ không thể giống như những người lính khác...".

Tôi cũng là một người lính sinh viên. Tôi ra trận với cặp kính cận ba
đi-ốp. Trong trận Chợ Sải ngày 16 tháng 9 năm 1972, Đại đội 3 của tôi bị bao vây, tôi bị thương khi phá vây và lết về tới chốt của Đại đội 6. Tại đây, lính Đại đội 6 cho rằng tôi là thám báo ngụy vì "chỉ có lính địch ra trận mới đeo kính", may mà đại đội trưởng của tôi bị thương nằm ở đó nhận ra. Sau khi ra viện trở về đơn vị tiếp tục chiến đấu, cho tới một hôm, đại đội trưởng gọi tôi lên đưa cho một đôi pin "con thỏ" và nói rằng: "Từ tháng này trở đi tiêu chuẩn nhu yếu phẩm của đồng chí được thêm một đôi pin đèn, đây là lệnh của Trung đoàn trưởng".

Cầm đôi pin trong tay, tâm trạng tôi lúc ấy rất khó tả, thời đó chỉ có cán bộ trung đội trở lên mới có tiêu chuẩn pin đèn, mà tôi chỉ là một anh lính quèn mới được phong từ binh nhì lên binh nhất. Khoảng cách giữa người lính với vị chỉ huy trung đoàn xa lắm, thế mà ông biết đến một người lính trong số hàng nghìn lính của ông mắt bị cận đã phải vất vả như thế nào trong đêm tối, nhất là những đêm mưa dai dẳng của mùa mưa Quảng Trị để cố gắng hoàn thành nhiệm vụ của mình. Cái ơn đó theo tôi suốt cuộc đời cùng với ký ức của chiến tranh khốc liệt với những kỷ niệm không thể nào quên về những người đồng đội thân yêu.
 Mới đầu năm ngoái thôi, sau lễ mừng ông thượng thọ 80 tuổi, ông còn gửi thư và quà cho mấy thằng lính Đại đội 3 chúng tôi vì bận việc không về với ông được: "... cho người lính già hỏi thăm và có chút quà tới con cháu những người lính trẻ...".

Và tháng 5 vừa qua trong dịp công tác qua Hải Phòng, tôi tới thăm ông sau hơn ba mươi năm. Đây là lần đầu tiên tôi trực tiếp hầu chuyện ông, tôi kể lại câu chuyện đôi pin năm nào, ông không còn nhớ nữa. Với ông bây giờ là sự quan tâm lính của mình hoàn cảnh gia đình ra sao, kinh tế thế nào, đã được mấy cháu gọi bằng ông… Ông vui khi biết có những thằng lính của mình giờ đã trưởng thành, ông buồn vì quân của ông còn quá nhiều thằng vất vả. Nhắc đến những trận đánh ác liệt với bao người lính của mình ngã xuống, mắt ông rưng rưng ngấn lệ. Suốt hơn hai tiếng đồng hồ, ông đã bốn lần nhắc lại câu hỏi: "… Ngày ấy chúng mày chết nhiều quá, có oán bố không?".

Dường như câu hỏi đó day dứt trong lòng ông như một món nợ của cả một thế hệ đã chiến đấu và hy sinh vì sự tồn vong của dân tộc. Và cũng chỉ có ở những người chỉ huy như, ông nghĩ tới những người lính của mình với tấm lòng phụ tử mới có thể thốt lên những nỗi đau như vậy. Tuy về nghỉ, nhưng ông vẫn tập hợp tất cả những người lính cũ của trung đoàn ở mọi vùng quê khác nhau từ Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Hà Nội, ra đến Quảng Ninh… để động viên giúp đỡ nhau vượt qua những khó khăn của ngày hôm nay cũng như ngày xưa ông dẫn dắt chúng tôi xông lên tiêu diệt quân thù.

Đầu tháng 9, trong lễ kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Trung đoàn 101 Cao Vân (5-9-1945 - 5-9-2005), thiếu vắng ông, lòng chúng tôi se lại khi biết ông không còn khoẻ nữa…Thế mà ông đã rời xa chúng tôi. Trên đường ra Hải Phòng để tiễn biệt ông, xem lại bức ký họa Lê Duy ứng vẽ ông trong căn hầm chỉ huy tại cao điểm 12 cuối tháng 1 năm 1973, ông đang chỉ huy tác chiến qua điện thoại. Lần này, ông ra đi thực sự để trở lại những nơi ngày xưa ấy, nơi những người đồng đội, những người lính của ông đang chờ đợi mà với tấm lòng nhân hậu của mình ông vẫn thường nhắc đến họ từ trong vô thức sâu thẳm của cõi lòng của một người lính già.

Cho tôi được dâng lên ông bài viết nhỏ này như một nén nhang để tưởng nhớ tới một người lính già, một người chỉ huy quả cảm, một người cha già nhân hậu của trung đoàn. Ông là Đại tá Bùi Đức Ngoan, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 101 Sư đoàn 325 trong những năm 1972-1973 tại mặt trận cánh đông Quảng Trị.

                                            Nhớ lại trận đánh tại nhà thờ Tri Bưu
                                               BÙI DUY DÂN
                                               Nguyên lính Đại đội 10 Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 64 thuộc Sư đoàn 320B
Như một quy luật, đời người có nhiều kỷ niệm, nhưng kỷ niệm dễ nhớ, khó quên nhất vẫn là những kỷ niệm của những năm tháng cam go, một sống hai chết, hòn tên mũi đạn, xanh cỏ đỏ ngực, đi không trở về... kỷ niệm về một thời quân ngũ, khi tuổi xuân còn ngẩn ngơ, chập chững bước vào ngưỡng cửa cuộc đời. Đang là học sinh ngồi trên ghế nhà trường, nghe theo tiếng gọi của hồn thiêng sông núi, tôi hồn nhiên, tình nguyện vào lính như bao người bạn cùng trang lứa. Vào lính, vào chiến trường Quảng Trị, 81 ngày đêm đỏ lửa tại Thành cổ, tôi tham gia không trọn vẹn vì bị thương sớm (18-7-1972) nhưng kỉ niệm về một trận đánh vẫn còn tươi nguyên trong đầu óc tôi suốt 35 năm qua - trận đánh vào nhà thờ Tri Bưu, một hang ổ đầy gian nan, khó tiếp cận, đổ máu, hy sinh nhiều nhất phía sau bờ sông Thạch Hãn.

Từ Đông Hà, xe Viettel hành quân qua các làng bản, qua cầu Quảng Trị, qua Thạch Hãn, đưa chúng tôi về Thành cổ Quảng Trị. Cái đích Thành cổ bây giờ sao lại thênh thang, thuận lợi đến thế. Ngồi trên xe chúng tôi muốn xe đi chậm lại để suy ngẫm, nghe lại bước chân hành quân, hình dung lại những trận rượt đuổi thù năm xưa. Song cái gì đến sẽ đến, Thành cổ hiện ra trước mắt chúng tôi, bỏ lại sau lưng biết bao kỷ niệm mà chúng tôi chưa kịp mường tượng hết. Xuống xe, tôi và các cựu chiến binh Đại đội 10, những anh Bằng, Điệp, Luỹ, Hùng, Đức v.v... toả ra chạy vội đến nhà thờ Tri Bưu để tận mắt nhìn lại nơi diễn ra cuộc chiến ác liệt xưa.

Đoàn Cựu chiến binh Phủ Lý - Hà Nam đến Tri Bưu, mỗi người một tâm trạng khác nhau, buồn nhất là anh Hùng, người đã có người em ruột hy sinh tại đó (vẫn chưa tìm thấy mộ), anh thắp nén nhang, khóc nức nở, cầu xin hương hồn em trai anh trong niềm tuyệt vọng. Riêng tôi, trước đây Tri Bưu là một hình ảnh lờ mờ, vì thời đó năm 1972 ban ngày thì trú ẩn, ban đêm mới xông trận, cây cối trơ trụi, gạch đá ngổn ngang, cả Thành cổ ta địch lẫn lộn, làm sao nhớ nổi? Nay có dịp vào ban ngày cộng với những ký ức xưa dội về đã cho tôi một bức tranh toàn cảnh về Tri Bưu.

Tri Bưu hôm nay đẹp đẽ, hiền hoà, biểu tượng của sự pha trộn giữa đạo và đời. Quanh Tri Bưu xóm làng đông đúc, phủ kín cây xanh, đường đi lối về đàng hoàng hơn. Đến đó, tôi vội chạy phía sau một nhà dân tìm lại con đường nhựa nhỏ năm xưa, đường đó nay vẫn còn, đường không tên nhưng chính nó là một chướng ngại vật rất trống trải buộc chúng tôi phải vượt qua để tiếp cận nhà thờ. Nhà thờ Tri Bưu tháng 7 năm 1972 tồn tại như một thách thức giữa ta và địch. Trong nhà thờ có ngụy, có dân; diệt ngụy là diệt cả dân, diệt cả thì nhanh lắm nhưng ta là quân đội nhân dân, chiến đấu vì dân, chẳng nhẽ lại làm như vậy sao? Bằng nhiều cách tiếp cận, cách dùng loa kêu gọi nhiều lần, để giãn dân, ít đổ xương máu địch vẫn không nghe, chúng ngoan cố tử thủ đến cùng. Đã nhiều lần các đơn vị nhận nhiệm vụ đánh vào nhà thờ đều vấp phải sự kháng cự quyết liệt của kẻ thù. Ta - địch tổn thất thương vong khá nhiều. Mỗi lần đánh như thế, khi rút quân ra ta lại gom còn ai lại vào trận, bất biết người lính đó ở đơn vị nào. Sự chiến đấu, hy sinh tình nguyện là nguồn mạch để củng cố tinh thần tướng sĩ. Có lúc, có khi chúng tôi chẳng biết thủ trưởng mình là ai, vì họ đã hy sinh, bị thương cả rồi.

Tối 18 tháng 7 năm 1972, lệnh từ trên xuống, yêu cầu Tiểu đoàn 9 xung trận. Màn đêm buông xuống, tôi và đồng đội vào trận như bao trận đánh trước, các mũi, hướng đã bố trí sẵn sàng. Chúng tôi những người lính được lệnh của cấp trên bảo đi là đi, bảo đánh là đánh, cả đại đội dồn vào có lẽ được hơn một trung đội. Tôi đi theo mũi do Tiểu đoàn phó Kiều Ngọc Luân dẫn đầu. Sau một hồi tiếp cận gian nan, vất vả, địch chống cự mạnh mẽ. Trên trời pháo sáng, máy bay lượn vè vè, dưới đất thì đạn, cối, pháo tầm xa bắn như mưa. Mũi chúng tôi vấp phải ổ trung liên từ phía cửa sổ tầng hai nhà thờ bắn ra rát mặt, không sao tiến lên được.

Tạm trú ở một hố bom sâu nhỏ, chờ lệnh cấp trên, chờ đợi giữa cái sống và cái chết trong gang tấc, nghĩ lại thật là khủng khiếp! Tối đó, tôi được phân bắn B40 (chiến trường hồi đó mà cầm hoả lực thì cái chết chắc trong tay), mục tiêu là nhắm vào cửa sổ tầng hai nơi ổ trung liên. Tôi khom người, tìm mục tiêu bóp cò, đạn B40 bay đi để lại phía sau một vệt sáng và khói mù. Bắn xong tôi lao xuống hào, lập tức vài quả cối cá nhân từ hướng nào bắn tới nổ quanh tôi. Rất may, tôi vẫn an toàn nhưng bỗng tôi thấy nhói ở thái dương, sờ vào thấy máu chảy đầm đìa. Vết thương nhỏ thôi nhưng phải chỗ hiểm nên máu ra nhiều... Tôi được ai đó băng bó trắng toát cả đầu và đưa ra phía sau. Nhưng sau phát B40, tiếng súng trung liên của địch im bặt (sau tôi được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba tại trận này). Tôi được chuyển vào hầm nhà tỉnh trưởng, đêm đó ta thương vong nhiều, ngổn ngang thương binh trong hầm, mỗi người một vẻ. Tối sau, tôi được thuyền chuyển qua sông Thạch Hãn ra Vĩnh Linh điều trị, sau vài tháng chữa chạy vết thương và an dưỡng, tôi lại trở lại chiến trường tham dự trận đánh Cửa Việt trước giờ ngừng bắn ngày 27 tháng 1 năm 1973.

Tản mạn nhớ chuyện ngày xưa, chuyện người lính còn nhiều lắm, mực nào viết hết, giấy nào in xuể. Với tư cách một cựu chiến binh, một lần nữa xin cám ơn Ban liên lạc Trung đoàn 64 thuộc Sư đoàn 320B đã cho tôi một cơ hội để giãi bày tâm sự người lính hồi kết của cuộc chiến tranh ái quốc
vĩ đại.
                   Hà Nội tháng 7 năm 2007
 


Tiêu đề: Re: Khúc tráng ca thành cổ Quảng trị
Gửi bởi: vmt trong 08 Tháng Năm, 2011, 02:32:42 PM
                             
                                                        Một trang sử hào hùng
                                                        Đại tá NGUYỄN HẢI NHƯ
                                                        Nguyên Tham mưu trưởng Trung đoàn 48 thuộc Sư đoàn 320B

Đầu tháng 5 năm 1972, Đông Hà - ái Tử, Thị xã Quảng Trị được giải phóng, địch phải lui về cố thủ tỉnh Thừa Thiên - Huế. Không cam chịu thất bại, chúng mở cuộc phản công hòng "tái chiếm" Quảng Trị cho tới khu giới tuyến với mục đích đầu tiên là thị xã tỉnh lỵ. ở đây đã diễn ra các trận đánh vô cùng ác liệt ngay từ những ngày đầu, cho đến khi Hiệp định Pa-ri được ký kết vào cuối tháng 1 năm 1973. Ta đã đánh lui nhiều đợt tấn công của địch từ La Vang, ngã ba Long Hưng, Quy Thiện, Tri Bưu và trục đường 1, với ý chí kiên cường và lòng dũng cảm, đã bám trụ và giữ vững trận địa suốt 81 ngày đêm.

Xin kể lại một số trận chiến đấu đáng nhớ cũng như cảm xúc của bản thân về 81 ngày đêm đó. Địch âm mưu đánh chiếm Thị xã Quảng Trị để cắm cờ trên Thành cổ vào ngày 10 tháng 7, gặp phải sức chiến đấu ngoan cường và đầy mưu trí của ta, chúng không thực hiện được.

Đến ngày 12, địch chiếm được nhà thờ Tri Bưu ở phía bắc, cách Thành cổ khoảng 1 kilômét. Nếu địch chiếm được chỗ đó thì chỉ còn cách ta có 500-600 mét. Khi nắm được thời cơ này, Tư lệnh quân đoàn 1 quân đội Việt Nam Cộng hòa Ngô Quang Trưởng hạ lệnh cho quân dù bằng mọi giá phải cắm được cờ lên Thành cổ ngay trong đêm đó vì sáng hôm sau, ngày 13 tháng 7 diễn ra phiên họp của Hội nghị Pa-ri. Tối, chúng tôi nhận được điện của Tư lệnh chiến dịch hạ lệnh đêm nay không được để tên địch nào lọt được vào Thành cổ. Tiếp theo là điện của Quân ủy Trung ương hạ lệnh chỉ thị cho Trung đoàn 48, Tiểu đoàn địa phương 3 Quảng Trị là lực lượng trực tiếp giữ Thành, phía sau có Trung đoàn 95 của Sư đoàn 325 đóng ở bờ sông phía bên kia từ Nhan Biều đến ái Tử, sẵn sàng vượt sông sang để chi viện cho Trung đoàn 48.

Sáng ngày 14, địch cho một lực lượng biệt kích vào cắm cờ ở phía đông Thành cổ, quãng 3-4 giờ sáng, chủ yếu để chụp ảnh, bị Đại đội 14 hỏa lực của Trung đoàn 48 phát hiện, địch phải bỏ cờ lại đấy. Tôi nhớ hôm đó phóng viên ảnh Đoàn Công Tính vào, tôi còn điện xuống hỏi cờ địch còn không để chụp ảnh, nhưng không thấy, có thể đã rơi xuống hào nước xung quanh.

Địch tiếp tục củng cố lực lượng quân dù, chết bao nhiêu lại bổ sung đầy đủ ngay. Mỗi sư đoàn như thế bổ sung 500 tên. Qua ngày 18, địch vẫn không đạt được mục đích. Chúng mở cuộc tấn công quyết liệt nhất từ ngày 23 đến ngày 26, cố gắng đánh hủy diệt Thành để vào. Trong khi đó quân ta cố gắng giữ vững vị trí, đào công sự, nhanh chóng củng cố, làm thất bại kế hoạch của địch.

Không chiếm được Thành cổ, nhằm mục đích tuyên truyền, địch tổ chức cắm cờ giả ở đình làng Trầm Lý, phía đông bắc, cách thị xã 3 kilômét. Tối ngày 25, đài phát thanh Sài Gòn tuyên bố quân mũ nồi đỏ đã vào Thành cổ, chuẩn bị sáng mai làm lễ chào cờ. Sáng hôm sau, địch đốt hỏa mù lên, cho quân leo qua tường giả làm tường Thành. Địch dự định tổ chức họp báo có cả cố vấn Mỹ và phóng viên phương Tây đến quay phim chụp ảnh. Nhưng ta đã phát hiện, nên khi địch đưa bộ binh vào diễn thì pháo của ta bắn cấp tập vào đội hình của địch và cuộc cắm cờ giả không thành. Sau đó địch thay quân dù bằng thủy quân lục chiến ở khu vực này.

Ngày 3 tháng 8 khi mưa vừa tạnh, địch bắt đầu tấn công và cuộc tấn công kéo dài cho đến ngày 10, song chúng gặp phải sự kháng cự kiên cường của quân ta, tinh thần của bộ đội mình còn, trận địa còn. Thủy quân lục chiến địch biết không thể tiếp tục lối đánh ồ ạt được, chuyển sang chiến thuật mới là dũi dần từng bước, đánh chiếm từng công sự một. Chiếm xong chúng mang dây thép gai và công sự lắp sẵn phía sau lên trận địa. Cho đến hết tháng 8 hai bên giằng co nhau, địch chiếm, ta phản kích. Địch đánh ban ngày, ta chuyển mọi hoạt động vào ban đêm, tập kích giành lại. Lúc này Thị xã và Thành cổ hầu như bị phá hủy hoàn toàn.

Trong tháng 9, sau một thời gian quyết tâm lấn dũi, địch quyết định tăng cường hỏa lực, thêm các liên đoàn biệt động xe tăng và dù, lợi dụng mùa mưa bão, tập trung đánh vòng ngoài hỗ trợ đánh dứt điểm các vị trí trong Thị xã. Tình hình diễn biến trong tháng 9 nổi lên một địa bàn quan trọng, phía đông có khu trại Mỹ đóng quân ngày trước, tường dày hàng thước; khu vực Tri Bưu… Có chỗ địch chỉ cách cổng Thành chừng 400-500 mét. Có hướng xa hơn như Cầu Sắt, nhưng ở hướng làng Thạch Hãn đi lên cửa nam chỉ còn cách 500-600 mét. Hai bên áp nhau, các trận đánh trở nên vô cùng ác liệt. Đặc biệt vài ngày một lần, ta dùng thuyền máy chạy dọc sông Thạch Hãn tiếp tế đạn dược, lương thực từ Tả Kiên qua Chợ Sải vào Thành cổ, để khi ra chở thương binh.

Diễn biến những ngày còn lại: địch tiếp tục dũi và ta chống cự. Nhưng ta thực sự khó khăn, các phương tiện chi viện rất hạn chế. Vận chuyển đường thủy bị tắc. Quân số trong Thành chỉ khoảng trên dưới một nghìn mà hỏa lực lại mỏng. Trong tình hình khó khăn đó, ta đã đánh trận ngày 9 tháng 9 tương đối có kết quả. Sau đó ta tổ chức tập kích lại trên các hướng. Tiểu đoàn 8 bộ đội địa phương được bổ sung quân và Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 48) sau khi ra nghỉ ngơi, đã trở lại vào cuối thượng tuần tháng 9. Tuy quân số trong Thị xã không nhiều lắm nhưng vẫn đánh tiếp dưới trời mưa lớn.

Ta dự định đưa Trung đoàn 18 của Sư đoàn 325 sang để phản kích nhưng không kịp. Tối 15, địch đã vào cả ba góc Thành, trừ góc tây bắc còn Tiểu đoàn 2 của ta. Tiểu đoàn này quân còn khá, có đại đội còn 7 đến 8 người, có đại đội độ 20 người. Sở chỉ huy họp với nhau và thấy rằng chỉ còn chờ vào khả năng bên ngoài bổ sung để phản kích, lại thêm nan giải là thương binh bị ùn lại, không có cách gì chuyển qua sông. Trung đoàn 18 thì chưa vào tiếp viện được, lực lượng tại chỗ hầu như mất sức chiến đấu nên quyết định rút khỏi Thị xã và Thành cổ theo thứ tự thương binh đi đầu, ở xa đi trước, ở gần đi sau, cuối cùng là lực lượng vệ binh. Tôi ở lại cùng rút ra với bộ phận cuối cùng này.
Trong 81 ngày đêm ở khu vực này, quân ta hy sinh nhiều. Khi vào Quảng Trị hôm giao lưu, tôi có gặp người nhà của một liệt sĩ, có lên ti vi nhờ đi tìm thi hài. Tôi có hỏi là báo tử ngày nào, nếu là ngày 23 tháng 7, thuộc Trung đoàn 101 thì lúc đó đang đánh ở An Tiêm, Nại Cửu, vì vậy nên tìm nghĩa trang xã đó; chứ không phải cứ nói đến Quảng Trị là chỉ có Thành cổ.

Trong trận chiến hậu phương là nguồn động viên rất lớn như thư từ, điện báo… Ngay như tôi, khi đó bà xã mới đẻ, đặc biệt may mắn biết sau đó ba ngày. Lúc đó điện báo là con gái, nhưng sau khi ký Hiệp định Pa-ri, đoàn nhà văn có Xuân Quỳnh, Nguyễn Thị Ngọc Tú, Phạm Hổ có qua nhà tôi mang ảnh và thư vào thăm chiến trường, lấy tài liệu, tôi mới biết là con trai.
 
                                                           Nhớ Lại những ngày cuối bảo vệ Thành cổ
                                                             Đại tá NGUYỄN VIỆT
 
Trung tuần tháng 8 năm 1972, Bộ Tư lệnh Mặt trận B5 quyết định giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 325 chỉ huy lực lượng bảo vệ Thành cổ Quảng Trị. Lúc này, Sở chỉ huy cơ bản của Sư đoàn đóng ở khu vực Cao Hy - phía tây Đông Hà độ 15 kilômét trên một bãi bom  B.52 địch đã đánh nát.

Tôi được mời lên gặp anh Lê Kích - Sư đoàn trưởng và được giao nhiệm vụ trực tiếp chỉ huy lực lượng của Sư đoàn phòng thủ Thành cổ Quảng Trị. Anh động viên tôi và nói rõ: "Nhiệm vụ rất khó khăn. Sư đoàn tin tưởng nên trao trách nhiệm nặng nề cho anh. Vào trong đó, cần chấn chỉnh lực lượng phòng thủ, cương quyết giữ vững trận địa, tạo điều kiện cho các sư đoàn bạn phản công từ hướng tây - nam và hướng đông".

Tôi cùng cậu Hùng công vụ và một liên lạc viên khẩn trương lên đường. Chúng tôi đi bộ giữa ban ngày, dựa theo vệt đường xe cơ giới qua dãy đồi lúp xúp, động Quai Vạc, Tân Vĩnh chi chít hố bom B.52, khét lẹt mùi thuốc nổ, cây cỏ bị đốt cháy nham nhở, xám xịt. Đây đó những xác xe tăng địch, xe vận tải của ta nằm rải rác, đen thui. Chúng tôi rẽ vào Sở chỉ huy Trung đoàn 95 ở ven sông Vĩnh Phước nắm tình hình mới nhất. Tôi gặp đồng chí Trung đoàn trưởng. Nhưng nói chung tình hình do anh cung cấp đều không cụ thể bằng những tài liệu mà Sư đoàn đã có.
Trên đường đi qua căn cứ ái Tử, một bên là sân bay lát ghi sắt máy bay phản lực lên xuống được, một bên là căn cứ đồ sộ của sư đoàn Mỹ cũ, sau là của sư đoàn ngụy, ngổn ngang cơ man nào là công sự bao cát, nhà cửa, chòi canh, cột điện. Không biết bao nhiêu của cải đã đổ vào đây. Những lô cốt xi măng, gỗ đất chi chít cả một vùng. Những cột điện dã chiến bằng gỗ thông sơn hắc ín đường kính từ 20 đến 30 centimét thẳng vút cao đến 20 mét, những chòi canh kiên cố sắt thép đen sì khống chế toàn khu vực. Đây đó dăm ba chiếc xe tăng M41 đổ chổng kềnh. Hàng chục xe tải GMC cháy nham nhở, lốp bẹp gí. Cả một vùng chết chóc, ảm đạm. Lác đác những cây cỏ mới chồi lá xanh, biểu thị sức sống mãnh liệt của vùng đất đỏ ba dan nhiệt đới.

Đến Nhan Biều, chúng tôi vào làng, cây cối đổ ngổn ngang, nhà cửa tốc mái ngả nghiêng. Lẻ tẻ còn một ít dân trụ bám trong hầm kèo chữ A làm bằng đủ thứ gỗ, sắt, tôn loại tốt, kể cả ghi đường băng sân bay. Đến hậu cứ cung cấp của Sư đoàn và Trung đoàn 95 sau hai ngày hành quân từ Sở chỉ huy Sư đoàn cơ bản, chúng tôi vào nghỉ ngơi, ăn vội vã bữa cơm chiều bằng gạo sấy với ruốc mặn Trung Quốc. Vừa lúc đó, đồng chí Chính ủy Trung đoàn 48 cũng mới từ Tả Kiên đến, anh em trò chuyện, trao đổi tình hình chiến đấu và bảo đảm hậu cần của các lực lượng bên Thành. Anh nêu những khó khăn cụ thể và đề nghị ở bên này để lo việc cho bên kia. Bên Thành đã có Chính ủy Trung đoàn 95.
 Sở chỉ huy Thành cổ ở ngay sát mép sông, dưới một căn hầm rượu của dinh tỉnh trưởng Quảng Trị đã bị bom đạn làm đổ nát, gạch đá gỗ sắt đổ ngổn ngang bao phủ cả khu hầm dày tới 4-5 mét, bom ném bên cạnh cũng chẳng hề gì, trừ trường hợp bom khoan đúng lỗ, nên nói chung là khá an toàn.

Tổng số quân trong Thành khoảng 1.300 người, tinh thần cán bộ chiến sĩ đều tích cực dũng cảm, ngày chốt giữ, đêm đi tập kích. Ngày 20 tháng 8 trước sức tiến công của địch, các chốt của ta vẫn được giữ vững.

Sáng hôm sau, tôi tranh thủ đi trinh sát địa hình Thị xã. Đứng ở đài quan sát gần Sở chỉ huy, nhìn bao quát toàn Thành, thấy Thị xã gần như bị san bằng, chỉ thấy nhà cửa cây cối đổ ngổn ngang, còn trơ lại một ít mái bằng hoặc mảng tường cao hình thù đủ loại, trơ ra cốt thép cong queo tua tủa. Khu Thành cổ tường cao độ ba đến bốn mét, xám xịt màu rêu phong, đây đó đã bị sập đổ từng đoạn. Đến gần, chung quanh có hào nước sâu, nhiều quãng đã cạn nước. Ta tổ chức từng chốt đại đội dọc bờ Thành, đã cải tạo tường Thành thành công sự chiến đấu và trú ẩn, chủ yếu bằng gỗ đất, có bao cát phủ dày tới một vài mét khá vững chắc.

 Tất cả cảnh vật ấy từ bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây đều đổ nát hoang tàn chết chóc. Khói bom đạn mù trời không ngớt. Ta và địch đang đứng trước một cuộc đọ sức quyết liệt mà phần ưu thế binh hỏa lực thuộc về chúng.

Anh em rất bỡ ngỡ với chiến trường, với súng đạn, nhưng với tinh thần hăng hái của tuổi trẻ (độ 17-18 tuổi) lại được cán bộ dìu dắt, hướng dẫn tập luyện ngay tại chốt: tập tháo lắp súng, bắn súng, ném lựu đạn, vận động bí mật qua gạch đá, tôn ván… nên cũng quen dần và đã thực sự chiến đấu được ngay. Tôi động viên anh em và nói vui: "Lớp trẻ các cậu thật anh hùng. Nếu mình có quyền thì gắn ngay tại trận địa huân chương cho bất kể chiến sĩ nào đã cởi quần áo bơi qua sông và vào được đến đây. Nhưng mình lại không có quyền đó. Biết làm sao bây giờ. Thôi hãy tranh thủ từng giờ để tập luyện đi. Kẻ thù đang ở trước mặt ta đó, cách đây có vài trăm mét thôi". Một vài anh em trẻ măng góp vui: "Chúng em sẽ quyết tập và quyết giữ. Nhưng thủ trưởng nhớ Huân chương Vượt sông vào Thành cổ nhé...".

 Trong 81 ngày đêm chiến đấu, chúng ta đã bổ sung trung bình một ngày một đại đội tân binh cho Thị xã. Nhiều thanh niên tân binh chưa kịp huấn luyện đã cấp tốc hành quân từ miền Bắc, hăng hái đến thẳng sông Thạch Hãn, cởi quần áo bơi vượt sông sang Thị xã dưới làn phi pháo, hai bên bờ sông luôn chớp lên ánh lửa và vang lên tiếng nổ bom đạn quân thù.

Tìm lại Sở chỉ huy Thành cổ trước đây dưới hầm dinh tỉnh trưởng, thì nay chỉ là một bãi phẳng lì, cỏ mọc xanh rì. Không còn lại một vết tích gì, dù là một góc tường, một bậc thềm, một ngách hào về nơi chỉ huy đầy bão tố cách đây 15 năm ngắn ngủi. Tôi thầm nghĩ giá có cột bia ghi giản dị vài hàng chữ: "Nơi đây, năm 1945 ta đã nổi dậy giành chính quyền, và năm 1972 ta đã bám trụ chỉ huy 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ" thì hay quá.

Hỏi thăm anh Nam cán bộ xã đội gan lì, anh Mến, anh Vữ chỉ huy tiểu đoàn bộ đội địa phương xông xáo, o Kim, o Lan đen giòn, xinh xắn với đôi mắt lúng liếng, bộ ngực căng đầy sức sống, hai o du kích Nhan Biều dẫn đường chúng tôi đi ái Tử - Xuân An - Tả Kiên… thì cũng chẳng biết hỏi ai, ai biết mà thăm.

                               Tháng 5 năm 1987


Tiêu đề: Re: Khúc tráng ca thành cổ Quảng trị
Gửi bởi: vmt trong 08 Tháng Năm, 2011, 02:37:43 PM
                         Đánh bại cuộc hành quân "Sóng thần 9"
                          Thiếu tướng NGUYỄN ĐỨC HUY
                           Nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 18 thuộc Sư đoàn 325

 
Đầu tháng 10, tôi được điều về làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 18, đồng chí Phạm Công Nhân về làm Chính uỷ. Trung đoàn lúc này đủ ba tiểu đoàn 7, tiểu đoàn 8, tiểu đoàn 9, quân số được bổ sung đạt khoảng sáu mươi phần trăm, hoả lực cũng được tăng cường tương đối mạnh, ngoài hoả lực bản thân còn được tăng cường một đại đội cối 120 ly, một đại đội cối 160, một đại đội hoả tiễn 14 (có 3 dàn), 1 tiểu đoàn ĐKB (Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 84), một đại đội xe tăng 6 chiếc, khi xảy ra tác chiến còn được pháo binh của Sư đoàn và Mặt trận chi viện trực tiếp.

Đêm hôm đó trời mưa rét, rất tối, 4 giờ sáng ngày 2 tháng 11 năm 1972, tôi kiểm tra tình hình các đơn vị, Tiểu đoàn 8 báo cáo không có gì xảy ra, nhưng chỉ sau khoảng 30 phút, đồng chí Chung -  Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 8 báo cáo gấp là đã có khoảng 2 đại đội địch bí mật vượt sông sang chiếm bãi cát Nhan Biều 1, trước chính diện của Đại đội 5 và Đại đội 7. Đây là điều rất bất ngờ, tôi lệnh cho kiểm tra lại thì được biết địch bí mật vượt sông khoảng 1 giờ sáng ngày 2 tháng 11 năm 1972. Trung đội đồng chí Thiều Chí Đinh phát hiện, nhưng chỉ cho là bọn thám báo, nên cử một tổ ra đánh và không báo cáo với Tiểu đoàn. Địch đã đưa được 2 đại đội và cơ quan chỉ huy tiểu đoàn 6 Thuỷ quân lục chiến qua sông, chiếm toàn bộ bãi cát trước mặt thôn Nhan Biều 1 dài khoảng 300 mét, có nơi chúng vào sâu chỉ cách đường số 1 độ 500 đến 600 mét, mở đầu cuộc hành quân "Sóng thần 9".

Mờ sáng ngày 2 tháng 11 năm 1972, hàng trăm quả pháo địch từ các trận địa trong Thị xã Quảng Trị, La Vang, Hải Lăng bắn vào trận địa phòng ngự của hai Tiểu đoàn 8, Tiểu đoàn 9; hàng chục máy bay phản lực đánh bom vào thôn Nhan Biều 1 và ái Tử, cao điểm 20, cao điểm 21, sân bay ái Tử;  B.52 cũng rải thảm hai đợt vào trận địa phía sau của Trung đoàn.

Được chi viện hoả lực mạnh của pháo binh và không quân, khoảng hơn 7 giờ, địch tổ chức tấn công thành hai hướng, một hướng tập trung đánh chiếm chốt lô cốt do trung đội đồng chí Đinh phụ trách, một hướng chừng một đại đội chia làm 2 mũi đánh vào Đại đội 5.

Quân ta dựa vào các công sự đã chuẩn bị, để địch vào thật gần tới 20-30 mét mới nổ súng, nhiều tên địch đã bị diệt ngay từ loạt đạn đầu, nhưng chúng vẫn tiếp tục xông lên, cuộc chiến đấu diễn ra rất quyết liệt, đặc biệt là khu vực lô cốt địch cố chiếm bằng được, vì nếu chiếm được nơi đây sẽ là bàn đạp tấn công vào đường số 1 và đảm bảo cho lực lượng vượt sông sang tiếp được thuận lợi. Quân ta chiến đấu rất ngoan cường, súng cối 60 ly, 82 ly bắn trực tiếp vào đội hình địch trên bãi cát, nhiều tên địch chưa kịp ngóc đầu đã bị diệt; cối 160 ly, hoả tiễn BM14 đánh trúng đội hình tập kết bờ đông sông, nên địch không thể vượt sông sang tiếp ứng được. Sau chừng 30 phút tấn công, địch bị thiệt hại nặng phải lui lại phía bãi cát và mép sông để củng cố, đồng thời pháo binh địch kể cả pháo hạm Mỹ bắn mãnh liệt vào trận địa của ta.

Gần 9 giờ, địch tổ chức một đợt tấn công tiếp nhưng bị quân ta bẻ gãy. Khoảng 10 giờ, tôi xuống thôn Nhan Biều gặp đồng chí Trần Minh Thiệt1 - Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 8 nắm tình hình và giao nhiệm vụ tổ chức phản kích diệt toàn bộ quân địch đã vượt sông. Dự kiến 12 giờ sẽ thực hành phản kích, nhưng do tổ chức không kịp nên mãi đến 14 giờ 15 phút mới thực hiện phản kích được. Để tăng thêm lực lượng cho Tiểu đoàn 8 phản kích, Trung đoàn đã điều một trung đội của Tiểu đoàn 7 tăng cường cho Tiểu đoàn 8.

Ta chủ trương đêm 2 tháng 11 năm 1972 sẽ dùng đặc công phối hợp với bộ binh để diệt nốt quân địch co cụm, nhưng do hiệp đồng không chặt nên không tập kích được.
Sáng 3 mùng tháng 11 năm 1972, ta sử dụng cối 82 ly, cối 60 ly chi viện cho lực lượng của Đại đội 5 và Đại đội 7 thực hành phản kích nốt quân địch co cụm.
Sau hai ngày chiến đấu, ta đã diệt gọn hai đại đội và cơ quan chỉ huy tiểu đoàn 6 Thuỷ quân lục chiến ngụy (diệt khoảng 350 tên, trong đó có tên Nghĩa thiếu tá - tiểu đoàn trưởng, bắt sống 1 tên) thu rất nhiều vũ khí, trang bị, đánh thiệt hại nặng 2 đại đội địch nữa ở bên kia sông Thạch Hãn.

Ta nhanh chóng bẻ gãy hoàn toàn cuộc hành quân "Sóng thần 9" của địch. Sau chiến thắng, Bộ Tư lệnh Mặt trận B5 đánh giá: "Đây là trận chiến đấu phòng ngự xuất sắc nhất, mở ra kinh nghiệm đánh tiêu diệt gọn bằng sức mạnh hiệp đồng binh chủng trong phòng ngự"1.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi điện khen và đánh giá:
"Trận chiến đấu phòng ngự của Trung đoàn 18 thắng lợi đã góp phần đánh bại ý chí của địch phản công lấy lại vùng đã mất sau ngày 30 tháng 3 năm 1972 tại bắc Quảng Trị".
         (Nhân dịp 35 năm chiến thắng Nhan Biều Quảng Trị Ngày 2-11-1972 - 20-11-2007)
 
                                             Về lại Quảng Trị
                                             TÙNG NGUYÊN

Cuối hè năm 1971, có nhiều đợt tuyển quân khẩn cấp. Sinh viên các trường đại học và học sinh hết cấp III lũ lượt lên đường. Cuối năm 1971, nhiều sư đoàn ngoài Bắc lần lượt chuyển dần vào miền Trung. Quảng Trị là điểm nóng nhất của chiến tranh lúc này, khi mọi diễn biến ở Hội nghị Pa-ri đều phụ thuộc vào chiến trường. Tết năm 1972, Sư đoàn 325 của tôi vừa chuyển từ huấn luyện quân tăng cường thành sư đoàn chiến đấu, cũng vào Hà Tĩnh thay cho các sư đoàn khác vào sâu hơn.

 Mùa hè năm 1972, tôi tròn hai mươi tuổi và theo đơn vị vào chiến dịch Quảng Trị. Sư đoàn tôi tham gia bảo vệ Thị xã và Thành cổ từ giữa tháng 7 năm 1972, vào giai đoạn quyết liệt nhất của chiến dịch. Tiểu đội trinh sát của tôi có nhiệm vụ theo dõi các trận đánh tại Thị xã và vùng ven với hai đài quan sát ở làng Nhan Biều và đầu cầu Thạch Hãn, đi điều tra hoặc lấy tin ở các nơi cấp trên cần. Từ làng Nhan Biều trông qua bên kia sông Thạch Hãn là Thị xã và Thành cổ. Nhan Biều là điểm bộ đội tập kết trước khi vượt sông sang bổ sung cho các đơn vị bảo vệ Thị xã, là nơi thương binh từ Thành đưa về để chuyển ra tuyến sau, là nơi tiếp đạn và lương thực… và cũng là một túi bom và đạn pháo.
 Đêm 13 tháng 9, hai gã trinh sát chúng tôi được lệnh ngụy trang tìm cách qua sông đến Sở chỉ huy trong Thành cổ nhận nhiệm vụ. Lên được bờ, chui xuống hai tầng hầm sâu, chúng tôi gặp được Ban chỉ huy Trung đoàn bảo vệ Thị xã và được giao nhiệm vụ trinh sát phía trước. Dưới hai tầng hầm sâu là những căn hầm nhỏ. Xung quanh tôi la liệt thương binh chưa được qua bên kia sông. Vòng vây thu hẹp dần, đêm 14 tháng 9 không ai qua sông được. Đêm 15 tháng 9 chúng tôi cùng rút ra với quân trong Thành.

Một ngày cuối tháng 11 này của ba mươi năm sau, trên đường đi tham gia trại huấn luyện công nghệ thông tin ITBC3, tôi được về đây rưng rưng nhớ lại những ngày xưa, nhớ đến các anh, nghĩ đến tất cả những người đã ngã xuống nơi đây, những người đã hóa thân thành sông nước, thành cát trắng, thành nắng rát, thành dai dẳng mùa mưa Trị Thiên.

Vẫn lất phất mưa như ngày nào. Vẫn lặng lẽ sông Thạch Hãn ra biển như ngày nào. Chỉ cây cối đã xanh lên. Chỉ nhà mới đã mọc lên. Và ngỡ ngàng giọng Quảng Trị của mấy em nhỏ với nụ cười trên môi xưa tôi chưa từng nghe từng thấy bao giờ. Thương biết bao những người đã ngã xuống. Mong biết bao những người đang sống đều biết đến, chia sẻ và xây đắp cho Quảng Trị, cho mỗi mảnh đất đã từng chịu nhiều máu lửa trên quê hương mình.
                            Tháng 12 năm 2002
 


Tiêu đề: Re: Khúc tráng ca thành cổ Quảng trị
Gửi bởi: vmt trong 08 Tháng Năm, 2011, 02:39:41 PM
 
                                                Những ngày ở Thượng Phước
                                                 TẠ QUỲNH PHƯƠNG

Thượng Phước một cao điểm nhỏ bên bờ sông Thạch Hãn, dạo ấy địch điên cuồng dồn hết lực lượng đẩy quân ta sang bên này sông, hòng chiếm hết hữu ngạn lấy sông Thạch Hãn làm phòng tuyến thay cho sông Bến Hải và gây sức ép với ta tại Hội nghị Pa-ri, vì vậy giao tranh ở đây ác liệt lắm. Đơn vị tôi được lệnh đặt một đài quan sát ở Thượng Phước.

 Chúng tôi gồm anh Vương Tùng - đại đội trưởng, anh Khanh - trung đội trưởng, Phong, Cường1, Cẩn và tôi. Chúng tôi phần lớn là sinh viên nhập ngũ. Trong số chúng tôi chỉ có anh Tùng là người nhiều tuổi nhất nhưng chưa vợ con gì nên vẫn sống vô tư lắm. Anh có khuôn mặt chữ điền, da đen lấp lánh, tóc xoăn tít như dân châu Phi, chỉ có nụ cười tươi, chúng tôi thường nói đùa anh mà đi quảng cáo kem đánh răng "Hi Nốt"2 chắc là đắt khách. Khanh "râu" thì nổi bật với bộ râu quai nón, da đỏ như gà chọi, sinh viên Tổng hợp Văn với những câu chuyện tiếu lâm ở một vùng quê Thanh Hoá nghèo túng và nhiều hủ tục. Anh kể chuyện rất dí dỏm, có nhiều chuyện không hay lắm, nhưng với tài kể chuyện cộng với những điệu bộ hòa theo, chúng tôi cười đến vỡ bụng, vui đáo để. Những đêm âm u trong hầm tối anh lại kể chuyện, bao giờ cũng bắt đầu bằng bộ râu quai nón rung rung, cặp mắt cứ hay háy, nhiều đoạn biết là anh bịa, nhưng hay và rất hợp lý nên chúng tôi say sưa ngồi nghe. Nghe chuyện cho đỡ nhớ nhà, đỡ buồn.

 Cao điểm này chi chít hố bom, đạn, cày đi xới lại không sót một tý màu xanh cho có gọi là, cây cối đổ ngổn ngang, thỉnh thoảng còn vài ba thân cây đen sì sì trơ trụi, nhằng nhịt vết bom đạn, đất đá thì đã nát tươm rồi mà bom đạn vẫn thi nhau xáo đi, xáo lại, trộn kỹ thế. Được cái màng nhĩ lỗ tai nghe nhiều tiếng nổ dày ra nhiều nên cũng đỡ điếc tai và cũng phải mặc kệ, chúng mày cứ bom, cứ đạn, việc chúng mày chúng mày làm, việc ông ông làm chứ chờ ngớt bom ngớt đạn thì họa chăng phải đợi đến hoà bình. Khi nào bom đạn nổ sát gần lại lăn vào một hố đạn, hoặc hố bom để tránh xong lại tiếp tục làm. Chúng tôi chọn địa điểm rồi làm hầm, cũng không phải đào cứ chọn hố bom cũ xong chặt một thân cây làm nóc rải cọc sắt, rải tôn rồi lấp đất lại.

 Phía bên kia sông là Tích Tường, Như Lệ, hình như là hai cái tên làng gì đó nhưng bây giờ thì chẳng còn một dấu tích nào của làng mạc nữa, chỉ còn màu đỏ của đất đồi nham nhở. Đồi Chè là một cao điểm thâm thấp sát sông, cái tên đồi Chè gợi nhớ một màu xanh mướt mát nay chỉ còn lại cái tên, còn chè gốc cũng chẳng có. Ở phía bên này sông nhìn sang thấy địch nhỏ xíu bằng cái đầu đũa, nhiều lúc chúng trồi lên khỏi mặt hầm. Nhất là những hôm mưa, chúng tôi gọi về trung đoàn xin dùng pháo giã cho chúng một trận, nhưng vì đạn dược ít, đành chịu ngồi nhìn; khi nào chúng tấn công đạn ta mới được nện. Phía bên này sông ĐKZ, SKZ, 12,7 ly cối ta nện sang, đạn A12, H12 cứ reo vu vu ở trên đầu như nghe nhạc. Tuy vậy để tiết kiệm đạn, khi chúng rụt lại ta phải dừng để dành cho hôm sau. Bên chúng bom đạn còn hơn ta nhiều, cứ gọi là xả ra, ta bắn một, chúng chơi mười, hai mươi, chúng chơi suốt ngày đêm, nhất là cối 81 ly, cối cá nhân nổ như ngô rang, nổ như pháo băng nổ, cứ cạch đùng liên hồi, khói bụi mù mịt. Địch với ta tranh nhau từng tấc đất một, giao tranh ác liệt, đánh nhau cứ ùng oàng cả ngày, địch chiếm được một đoạn ta đánh bật chiếm lại, thế giằng co nhau. Bên địch có thằng Lâm khét tiếng cả Quảng Trị là lì, hắn lớn lên trong một cô nhi viện không cha không mẹ nên chẳng sợ chết, quân ta vật nhau với nó cũng khá vất vả.

  B.52 chúng đánh thường xuyên, mà đánh về đêm nên khát nước vô cùng, bom nổ trên diện rộng, cũng không biết do không khí bị đốt cháy khô hết hay là trong bom có cái chất gì gì mà bom đánh xong khát nước lắm, khát khô cả họng. Nước để trên miệng hầm bom hắt đổ hết. Nhiều đêm khát quá, không tài nào chịu nổi, một, hai giờ sáng rồi tôi phải lọ mọ đi bộ đến 3, 4 cây số để lấy nước. Một mình một súng AK báng gập, trèo qua hố bom này lại đến hố bom khác. Trời thì tối thui, đèn đóm không dám thắp, bom mới đánh đất đá ngổn ngang, cây cối trơ trụi khó mà định hướng được, tìm cho đến nơi cũng không phải là dễ. Mò mẫm mãi cuối cùng cũng đến chỗ gặp nước sướng quá cúi đầu xuống uống lấy uống để. Chà, nước sao ngon thế, từ thời cha sinh mẹ đẻ đến giờ chưa được uống nước ngon như thế này bao giờ đâu. Mang nước về, tưởng đang ngủ cả, ai ngờ mọi người ngồi thức chờ nước, chẳng ai ngủ được vì khát, sáu người lại quây quần "liên hoan" nước, ngon hơn một bữa đại tiệc hay một bữa cơm thịnh soạn. Nước chảy đến đâu thấy sự sống hồi sinh đến đấy, mát và đã quá.
 Bom đạn chán rồi, sang tiết mục chất hoá học, thường thường hôm nào gió nam là lại chơi pháo hoá học vì hôm ấy gió sẽ thổi chất độc về phía quân ta. Pháo nổ từng hồi, nghe cứ "bục, bục" và một màn khói trắng bao trùm. Mặt nạ phòng độc sáu người chỉ được hai cái, cứ phải thay nhau, những người còn lại lấy khăn mặt Trung Quốc gấp đôi lại dấp nước có cho "ê te" đắp vào mặt. Mặt rát như bị bỏng và rất khó thở khi nào chịu không nổi, xin đổi ca. Chúng chơi cái món "hoá học" này đến cả tiếng đồng hồ, ruột gan ngấm chất độc đau quặn như ai đào bới bên trong, nhiều lúc có cảm giác như rữa hết cả ra rồi. Sau đấy bụng trướng phình lên to như trống "lâm thôn", mặt mũi và người đỏ rực như bị "lở sơn" rát vô kể. Cả ngày cứ vác cái bụng chẳng cơm chẳng nước gì được cả, đau và bức bối vô cùng, chỉ muốn rạch bụng ra cho nó nhẹ bớt đi chứ chịu không nổi. Được cái anh nào cũng khệ nệ nom như sếp cỡ bự cả. Ngồi chẳng yên, tức bụng, nằm thì ruột gan nó cứ xào xáo, đành phải trăn trở hoài lúc ngồi lúc nằm, khi thì nửa nằm, nửa ngồi.

 Thời gian thấm thoắt trôi đi, chúng tôi bây giờ nhiều người đã thành ông cả rồi, cũng có lần tôi về Quảng Trị nhưng vì đi công tác vội vã chỉ ghé qua Đông Hà và một vài nơi, chưa đến được nơi này, không biết Thượng Phước bây giờ ra sao, đồi chè bây giờ đã mướt mát chưa. Tích Tường, Như Lệ đã trù phú chưa. Nhớ quá!

                                    Hà Nội những ngày tháng 10 năm 2005
 
                                                       Chuyện cũ nhớ lại
                                                        LÊ VIỆT

Nguyên chiến sĩ Đại đội 4 Tiểu đoàn 12 Trung đoàn 58 Sư đoàn 308
 Khi cầm bút viết những dòng này thì cuộc chiến khốc liệt ở Quảng Trị đã lùi xa được 34 năm, trong quãng thời gian đó cứ mỗi khi nhớ đến hai tiếng Quảng Trị hoặc có dịp gặp lại các đồng đội cũ thì bao nhiêu ký ức kỷ niệm về cuộc chiến ấy lại hiện về.

Đơn vị chúng tôi là tiểu đoàn pháo cao xạ 37 ly thuộc Trung đoàn 58 Sư đoàn 308. Chúng tôi có nhiệm vụ bảo vệ một tiểu đoàn lựu pháo 122 ly mà tiểu đoàn này lại có nhiệm vụ chi viện cho bộ binh trong các trận đánh hiệp đồng binh chủng. Trận địa lựu pháo ở đâu thì trận địa cao xạ cũng nằm gần đó để đánh trả máy bay địch. Đêm 30 tháng 3 năm 1972, tiếng súng mở màn chiến dịch Quảng Trị bắt đầu thì ngày 1 tháng 4 năm 1972, đơn vị tôi được lệnh hành quân từ Bãi Hà vào Quảng Trị. Chiến dịch mới mở nên khí thế rất nhộn nhịp. Chúng tôi cũng gặp những xe tải lớn gọi là "đại xa" chở những hòm đạn lớn cho các trận địa lựu pháo và pháo nòng dài. Thế rồi chúng tôi cũng bắt gặp cả những xe kéo lựu pháo, pháo nòng dài và hết sức ngạc nhiên khi lần đầu tiên thấy những tốp nhỏ xe tăng, mỗi tốp 5 đến 6 chiếc, tháp pháo quay ngược cắm đầy lá ngụy trang, thành xe có buộc mấy chú lợn được nhốt trong rọ để làm thực phẩm sau này. Tiếng gầm của những chiếc xe tăng vang vọng cả một vùng rừng núi càng làm cho đường ra trận trở nên náo nhiệt, nhộn nhịp khác thường.

Chúng tôi phải dừng lại để chờ khá lâu vì chỉ có một chỗ duy nhất vượt sông cho những phương tiện cơ giới. Cả đoàn xe gồm xe pháo, xe tăng, xe lội nước đều chờ để đến lượt, lúc đó mặt trận mới mở, đường vận chuyển chưa bị địch phát hiện nên không gian hoàn toàn im ắng, không một tiếng máy bay địch.

 Sang tới bên kia sông Bến Hải, chúng tôi bắt đầu nhận thấy nhiều điều lạ khác hẳn bờ Bắc. Phía tây Quảng Trị, phần giáp với rừng già là những gò đồi thấp mọc toàn cỏ tranh xen lẫn những bụi cây nhỏ hoặc cây lúp xúp. Tới khoảng 10 giờ đêm, sau một ngày hành quân, các khẩu đội đều giấu xe pháo vào các bụi cây nhỏ ven đường mới mở và đào hầm để ngủ qua đêm. Lệnh của trên là từ lúc này trở đi không được ngủ trên mặt đất để tránh thương vong, nhưng suốt đêm đó chúng tôi không sao ngủ được vì thỉnh thoảng một vài tiếng nổ to như sấm lại vang lên, không khí xung quanh như bị dồn ép lại làm chúng tôi kinh hãi.

Sau 3, 4 ngày vào tới Quảng Trị, đại đội cao xạ chúng tôi được trên giao nhiệm vụ mới là bảo vệ cầu Trúc Khê. Đây là cây cầu trên quốc lộ 1 cách Quán Ngang vài cây số nằm trên đường tiến quân của quân ta vào Đông Hà. Trận địa của chúng tôi nằm trên một gò cát trắng rìa làng cạnh quốc lộ 1 và cách cầu khoảng 500 mét. Hai ngày đầu không có gì chứng tỏ đây là chiến trường vì dân cư của mấy làng quanh đó đã bỏ đi hết, ít tiếng bom đạn, có lúc còn im ắng hoàn toàn, chỉ có chiếc OV10 thỉnh thoảng đảo qua đảo lại. Nhưng đến ngày hôm sau, đó là ngày 7 tháng 4 năm 1972, trận đánh đầu tiên để lại thương vong cho đại đội tôi là một ngày đánh khó quên.

Khoảng giữa trưa ngày hôm đó, chiếc OV10 cứ lượn đi lượn lại quanh khu vực cầu, thấy hiện tượng khác thường cả đơn vị đã vào vị trí sẵn sàng chiến đấu. Quả nhiên một lúc sau mấy chiếc F4 kéo đến và chúng tôi thấy một tiếng nổ bụp, đó là tiếng nổ của pháo khói do chiếc OV10 bắn ra chỉ điểm mục tiêu cho F4 đánh phá cầu. Nhận ra mục tiêu, mấy chiếc F4 chọn hướng mặt trời, tăng độ cao rồi bổ nhào. Đại đội tôi tập trung hoả lực của cả bốn khẩu đội bắn chiếc đầu tiên và cả bốn khẩu đều thông báo đã bắt được mục tiêu. Trong đơn vị tôi là trắc thủ đo xa có nhiệm vụ dùng máy đo xa để đo khoảng cách từ mục tiêu đến trận địa. Lúc đó tôi cũng đã bắt được mục tiêu và đo được cự ly khoảng 4.000 mét, tức thì đồng loạt cả bốn khẩu đội nổ súng, những chùm đạn vun vút lao lên, nhưng vì đây là loạt đạn đầu tiên và hơn nữa đơn vị tôi chưa nhiều kinh nghiệm trận mạc nên đạn còn cách xa mục tiêu nhiều lắm. Chiếc F4 vẫn bổ nhào và cắt được bom.

Đây là lần đầu tiên chúng tôi bị đánh vào trận địa. Trận ấy đơn vị tôi hy sinh ba người, bị thương hơn chục người. Ba người hy sinh là các anh Thanh, Tự, Thảo trong đó anh Thanh trẻ nhất, là sinh viên năm thứ hai khoa Sinh Đại học Tổng hợp, cùng nhập ngũ với tôi. Mấy ngày sau, chúng tôi được lệnh rút ra nhưng trong đêm rút lui đó chúng tôi còn bị pháo hạm từ ngoài biển tới tấp bắn vào, may mà không bị thương vong gì.

 Trong tâm trí tôi đến bây giờ vẫn còn in đậm hình ảnh không thể nào quên khi đi qua khu vực khẩu đội 4. Đó là cảnh tượng một khẩu pháo 37 ly nặng hơn 2 tấn bị bom ném trúng hất lên hẳn bờ công sự, ám đen khói bom. Thi thể của các anh trong khẩu đội bị xé nát ra từng mảnh và có những mảnh còn giắt vào khẩu pháo. Mùi khét lẹt của bom, mùi thi thể, mùi của nhựa cây lúp xúp, mùi của đất bị cày tung… tất cả quyện lại thành một thứ mùi khó tả mà chỉ có ai ở chiến trường mới tưởng tượng ra nổi Cũng không hiểu sao mà nhanh thế một bầy quạ từ đâu kéo đến, chúng đậu đen trên khẩu pháo và bụi cây nhỏ gần đấy để tìm kiếm mùi tanh của xác chết.

Khẩu đội 4 có 6 người gồm anh Mâu (khẩu đội trưởng) và anh Ngô Quang Ngọc cùng quê Gia Lâm, anh Thường người dân tộc Thổ quê Thái Nguyên, anh Chí quê Vĩnh Phú, anh Nguyễn Văn Đống sinh viên năm thứ 2 khoa Hoá là người có biệt tài cắt tóc rất đẹp và anh Thẩm Quang Oánh đã tốt nghiệp khoa Lý nhà ở phố Cửa Đông, Hà Nội. Trong số họ chỉ có anh Mâu và anh Thường là có vợ con. Viết tới đây tôi chợt liên tưởng tới thông tin rằng hàng vạn liệt sĩ của chúng ta vẫn chưa tìm thấy phần mộ. Vâng Thế thì các anh trong khẩu đội 4 kia có bao giờ tìm thấy phần mộ? Thế mới hiểu thế nào là sự tàn khốc của chiến tranh. Sau này trong một lần vào thăm chùa Chân Tiên trên phố Bà Triệu, Hà Nội tình cờ tôi đọc thấy tên anh Thẩm Quang Oánh được khắc trên Bia các liệt sĩ của phường Vân Hồ. Phải chăng đó cũng là chút an ủi với anh.

Thiệt hại ngày hôm đó là nặng nhất trong toàn bộ chiến dịch đối với đơn vị tôi. Hôm đó chúng tôi bị hy sinh 9 người, ngoài 6 người trên còn 3 người khác ở sở chỉ huy bị trúng bom. Đó là anh Nguyễn Hữu Định đại đội trưởng, quê Nho Quan, Ninh Bình; anh Nguyễn Văn Chương chính trị viên nhà ở phố Lò Sũ, Hà Nội và anh Vũ Sĩ Lâm sinh viên năm thứ 3 khoa Hóa nhà ở phố Huế, Hà Nội. Riêng ba anh này vẫn còn thi thể. Do thiệt hại quá nặng nề, đại đội tôi mất sức chiến đấu hoàn toàn và phải chờ tới đầu tháng 5 năm 1972 sau khi ta giải phóng Đông Hà đơn vị tôi mới được tăng cường bổ sung người và xe pháo để tiếp tục tham gia chiến dịch.
                 Hà Nội, tháng 8 năm 2006


Tiêu đề: Re: Khúc tráng ca thành cổ Quảng trị
Gửi bởi: vmt trong 08 Tháng Năm, 2011, 02:44:19 PM

                                     Một thời hoa lửa(Trích)
                                      ĐỖ MINH QUANG
                                      Nguyên chiến sĩ, Tiểu đội thông tin 2W Tiểu đoàn bộ binh 1 Trung đoàn 101 Sư đoàn 325

"Tháng 3 năm 1972, chiến dịch Quảng Trị bắt đầu. Đơn vị tích cực huấn luyện. Khuya mồng 7, rạng sáng mồng 8 tháng 4, báo động di chuyển toàn bộ đội hình trung đoàn, với thông báo là đi diễn tập cấp trung đoàn. Chúng tôi thu dọn lán trại, xếp gọn ba lô và hành quân ra Bến Tắm. Tàu đưa chúng tôi tới ga Kép lúc trời tờ mờ sáng. Chúng tôi chưa rõ đi đâu. Khi đầu tàu được nối xuôi về phía Nam thì chúng tôi hiểu rằng đã đến lúc lên đường vào Nam chiến đấu.

Từ lúc nhập ngũ đến đó, chúng tôi chưa được về thăm gia đình, cũng còn nhiều tâm sự phải gửi gắm lại hậu phương chứ! Chúng tôi tranh thủ viết thư cho người thân. Xin giấy, xin phong bì, xin tem. Hết phong bì thì gấp bằng giấy. Hết giấy thì xé sổ. Hết tem thì thả thư không tem xuống đường. Thế là khi đi qua chắn tàu phố Trần Phú, Điện Biên Phủ, Nguyễn Thái Học, Nam Bộ, Cửa Nam thư bay xuống đường như bươm bướm. May mắn cho tôi là nhà ở ngay phố Tống Duy Tân nên sau ít phút gia đình tôi đã nhận được thư dù không tem, không qua bưu điện. Tàu đến ga Hàng Cỏ khoảng 12 giờ trưa và dừng lại thay đầu máy mất 45 phút. Thật bất ngờ khi thấy mẹ tôi và các em ra ga chia tay tôi. Cả đoàn tàu dài hàng ngàn người ra trận chỉ có hai gia đình biết tin kịp ra tiễn đưa. Đơn vị đã quán triệt đến ga không ai được phép xuống tàu.

Tôi lưỡng lự không biết xử trí ra sao. Thạc nói với anh Tuyến: "Gia đình Quang đấy, anh báo cấp trung đội cho Quang xuống tàu gặp gia đình". Được sự đồng ý của trung đội trưởng và tiểu đoàn trưởng, tôi xuống sân ga gặp gia đình. Một lát sau tàu đã hú còi báo hiệu chuẩn bị khởi hành. Tôi leo lên tàu. Tàu từ từ chuyển bánh, phút chia tay thật nghẹn ngào. Hình như tôi không nói được gì với gia đình ngoài câu: "Con đi nhé!". Mẹ tôi rơm rớm nước mắt, chúng tôi ai cũng rơm rớm nước mắt. Tôi vẫy tay, tiểu đội tôi vẫy tay, cả toa tàu vẫy tay và cả đoàn tàu vẫy tay. Sau đó là một khoảng thời gian im lặng. Lúc này tôi là người hạnh phúc nhất, còn mọi người nghĩ gì? Chắc ai cũng nhớ về người thân của mình và mong ước được gặp lần cuối trước lúc đi xa...".

MAI NGỌC THOẢNG
Nguyên Tiểu đội trưởng thông tin Đại đội 18, Trung đoàn 48 Sư đoàn 320B
"Lúc đó tôi là hạ sĩ, tiểu đội trưởng thông tin của Trung đoàn 48, chịu trách nhiệm cho việc đảm bảo liên lạc của chỉ huy với các đơn vị trong Thành cổ Quảng Trị. Tôi còn nhớ những trận chiến đấu, đặc biệt là ngày 13 tháng 7 năm 1972, chính là ngày diễn ra đàm phán tại Pa- ri, và đồng thời Trung đoàn cho biết chúng ta quyết tâm giữ Thành cổ Quảng Trị.

Không ai truyền cho ai, nhưng chúng tôi đều biết khẩu hiệu: "Quang Sơn còn, Quảng Trị còn" (Quang Sơn chính là biệt danh của Trung đoàn). Trong điều kiện ngày 13 tháng 7 địch bắn phá ác liệt, đường dây qua sông Thạch Hãn bị đứt, tôi đã cùng đồng đội lao ra sông nối lại dây rồi bơi vào bờ. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, Sở chỉ huy đã thông báo: chính đồng chí đã vừa nối đường dây cho Trung đoàn nhận mệnh lệnh quan trọng của cấp trên lệnh cho Trung đoàn phải đảm bảo liên lạc với chỉ huy và đánh thắng trong ngày đó".

                                             ĐỒNG MẠNH MỨC
                                             Nguyên chiến sĩ truyền đạt Tiểu đoàn 18 Sư đoàn 325
"Đường hành quân của bộ đội ta từ Bắc vào rất gian khổ nhưng ở đoạn vượt sông sang Thành cổ thực sự ác liệt hơn nhiều. Trên trời pháo sáng, pháo bắn cấp tập, vượt sông rất nguy hiểm. Tôi nhớ có những chiến sĩ trẻ chuẩn bị vượt sông, hỏi tôi: "Đồng chí ơi, tình hình của ta như thế nào?". Tôi nói: "Các đồng chí yên tâm, sang bên thì sẽ biết". Hàng đêm, liên tục các đoàn quân vượt sông để tiếp quân giữ chốt ở Thành cổ. Tôi nhớ nhất có những chiến sĩ trẻ vào có nói với tôi: "Em không biết bơi". Tôi bảo, cứ bám vào phao rồi bơi sang. Bộ đội ta dùng ni lông cho tất cả ba lô vào, buộc chặt lại làm phao, súng cho lên trên". Các chiến sĩ ta chỉ mặc quần đùi bơi sang sông để tiếp tục cầm súng bổ sung. Có đồng chí chưa bơi qua sông được thì hy sinh. Đồng chí trẻ đi với tôi, có tâm sự chuyện quê hương với tôi, lúc bơi đến giữa dòng sông bị trúng đạn, chỉ kịp kêu lên: "Mẹ ơi! Mẹ cứu con!", rồi bị trôi theo dòng nước. Tôi nhớ khi tôi lên đường vào tháng 6 năm 1971, tôi nói "Chào mẹ con đi", mẹ tôi chỉ nói: "Khi nào giải phóng con nhớ về ngay với mẹ". Lúc đó trên đoạn đường đang có lụt lớn, tôi đến được nơi tập trung thì mẹ tôi về, tôi nhìn theo bóng mẹ tôi khuất dần. Khi trở về thì mẹ tôi không còn nữa.

Đơn vị chúng tôi ngoài nhiệm vụ đưa các chiến sĩ mới vào vượt sông thì nhiệm vụ chính là truyền đạt thông tin, có những đồng chí làm nhiệm vụ nối dây thông tin qua Thành. Đơn vị tôi có những "con cá kình" vượt sông thực sự, giữ cho đường dây thông suốt giữa hai bên bờ sông như đồng chí Trần Luân Tín, hiện đang ở Thành phố Hồ Chí Minh và đồng chí Nguyễn Gia Tân công tác ở Bưu điện Hà Nội. Và chúng tôi làm nhiệm vụ chiến đấu trên mảnh đất này như là những "con cá kình", luôn sẵn sàng cầm súng bảo vệ Tổ quốc".
 
                                         Đại tá BÙI ĐỨC NGOAN
                                         Nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn Cao Vân.Trung đoàn 101 Sư đoàn 325
"Từ nơi tạm đứng là Đông Hà - ái Tử, Trung đoàn 101 chúng tôi bước vào chiến đấu từ hạ tuần tháng 7 năm 1972 ở khu bắc Thị xã Quảng Trị, tại vùng An Tiêm - Chợ Sải, nơi ngã ba sông Thạch Hãn - Vĩnh Định. Lúc đầu giành giật nhau từng khu vực, sau đó chúng tôi chiến đấu trong vài tháng tại đây chống bọn thủy quân lục chiến trong mưa bom, bão đạn ác liệt. Ngày ngày chống địch lấn dũi, đánh lui nhiều đợt tấn công của địch, đêm đêm đi tập kích, cải thiện thế phòng thủ. Qua vài tháng tác chiến, quân số Trung đoàn đã giảm sút, mỗi đại đội còn vài chục tay súng, mỗi tiểu đoàn còn khoảng trên dưới 100 tay súng, nhưng ý chí quyết tâm, lòng dũng cảm đã được tôi luyện, tình đồng chí - đồng đội đoàn kết gắn bó keo sơn giữa chiến sĩ với chiến sĩ, và giữa cán bộ với chiến sĩ. Chúng tôi sống chung trong hầm chốt giữ, cùng ăn bánh lương khô, gói gạo sấy, chia sẻ từng điếu thuốc hiếm hoi.

Khi đó tuổi tôi đã trên 40, ngót 50, còn anh em chiến sĩ thì còn trẻ măng, tuổi mười tám, đôi mươi, hơn hẳn nhau một thế hệ tuổi tác nên nhiều chiến sĩ, thường gọi tôi là bố xưng con. Một số anh em còn vui xin được nhận cô con gái rượu của bố. Đôi lúc nhàn rỗi, chúng tôi thường hát câu ví dặm quê hương, ngâm bài thơ đất nước ngàn năm.
Sau này, chiến tranh đã lùi xa, trở về đời sống bình thường, chúng tôi thường gặp nhau cùng sinh hoạt truyền thống bạn chiến đấu Trung đoàn Cao Vân anh hùng tại Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên - vùng châu thổ sông Hồng. Anh em mừng mừng tủi tủi gặp nhau ôn lại chuyện cũ, nhớ thương những người bạn đã ngã xuống trên mảnh đất khói lửa, hỏi thăm nhau tình hình gia đình, vợ con, vượt khó, giảm nghèo, xây dựng kinh tế, dặn dò nhau luôn giữ vững bản chất Bộ đội Cụ Hồ trong mọi tình huống...".
 

                                      ĐOÀN CÔNG TÍNH
                                      Phóng viên chiến trường báo Quân đội nhân dân

"Nhằm phá hủy Thành cổ tới mức không còn một viên gạch dính vào nhau, Mỹ đã dùng loại bom dù thả từng chuỗi, đào bới phá nát các hầm hố. Rồi thả chất độc hoá học kéo từng vệt dài màu vàng trên vòm trời, tỏa dần ra, trùm xuống Thành cổ một thứ khói màu vàng nhạt chết người. Đội ngũ phóng viên Báo Quân đội nhân dân và một số báo khác có tại mặt trận, nhìn làn khói chết chóc, chốc chốc lửa bom đạn chớp loé lên dữ dội, đều muốn biết chiến sĩ ta sống ra sao trong cảnh bom đạn ngút trời đó. Nhưng con đường vào Thành cổ chẳng dễ dàng. Có lời khuyên từ Chỉ huy Mặt trận: không nên để cho phóng viên vào Thành cổ.

 Có điều gì thôi thúc khiến tôi phải tìm mọi cách vào đó cho bằng được. Tôi tìm đến vị trí người ta chỉ dẫn nhưng trước mắt tôi là một bãi dày đặc hố bom, cây cối đổ ngổn ngang... Một lúc trấn tĩnh lại thì nghe có tiếng người từ dưới đất vọng lên. Mừng quá, tôi men theo hào và đi vào căn hầm. Sau khi biết tôi muốn tìm đường vào Thành cổ, tôi nhận được lời khuyên nên bám tuyến đi ra của đường vận chuyển thương binh cũng đủ tài liệu. Nhưng tôi là phóng viên nhiếp ảnh không thể lấy tài liệu gián tiếp. ống kính của tôi đã gắn bó từ đầu với chiến sĩ giải phóng Quảng Trị. Tôi đã đưa được vào ống kính những hình ảnh anh hùng của chiến sĩ đánh sụp "Hàng rào điện tử Mắc Namara", ghi được phút lịch sử các chiến sĩ cắm cờ lên căn cứ Đầu Mầu, hình ảnh cả một trung đoàn 56 của quân ngụy Sài Gòn phản chiến trở về với cách mạng. Giờ đây, tôi phải có hình ảnh chiến sĩ ta chiến đấu tại Thành cổ. Cả nước muốn nhìn thấy họ sống ra sao dưới pháo bầy, bom chùm và bom rải thảm của  B.52 Mỹ.

Nghe tôi trình bày, một nữ du kích thường làm liên lạc ra vào Thành cổ nói vui:
- Nhà báo đã "ngoan cố" muốn vào Thành cổ thì em xin dẫn đường.
Hai nữ du kích đã tự nguyện dẫn đường là cô Lệ, cô Hảo. Các cô cho biết: "Vượt qua sông Thạch Hãn trong đêm rất khó khăn, nguy hiểm. Có lúc mảnh bom rơi như mưa, trên mặt sông đầy ánh pháo sáng...". Tôi đã từng chụp những hình ảnh lúc Thành cổ mới giải phóng, dinh tỉnh trưởng còn nguyên vẹn. Còn đây là Thành cổ ngày 14 tháng 7 năm 1972, dinh Tỉnh trưởng đã nát tan tành và Thành cổ cũng sụt lở. Chỉ còn nụ cười của những người chiến sĩ bảo vệ Thành cổ là nguyên vẹn và rạng rỡ. Anh em nói khi tôi đưa ống kính lên: "Có thể ngày mai đây một số anh em chúng tôi không còn nữa. Nhưng Thành cổ sẽ sống mãi với lịch sử vinh quang của đất nước".

Từ lời nói thiêng liêng như lời di chúc, tôi cũng cảm thấy thêm trách nhiệm nặng nề. Trước khi rời khỏi Thành cổ, mang tài liệu phim ảnh về Hà Nội, tôi đã viết một lời "Di chúc", phỏng theo lời người chiến sĩ đó: "Nếu chẳng may tôi hy sinh trên đường ra Hà Nội, xin nhờ mang hộ mười cuốn phim này giao cho Tòa soạn báo Quân đội nhân dân". Đây là hình ảnh của những người con quê hương Quảng Trị và cả nước, họ đã chiến đấu anh hùng bảo vệ thị xã Quảng Trị, những nụ cười bất diệt của họ sẽ sống mãi với Thành cổ anh hùng".

Nhưng may mắn cho tôi, tôi đã thực hiện chuyến đi trót lọt với những cuốn phim mà tôi đã giữ làm "của gia bảo" cho đến hôm nay gần nguyên vẹn./.


Tiêu đề: Re: Khúc tráng ca thành cổ Quảng trị
Gửi bởi: vmt trong 08 Tháng Năm, 2011, 02:47:10 PM
 
                                              NGUYỄN HẢI NHƯ
                                              Nguyên Tham mưu trưởng Trung đoàn 48Sư đoàn 320B
"Sở chỉ huy của chúng tôi trong hầm dinh tỉnh trưởng cũng là nơi đặt trạm phẫu vì không còn chỗ nào an toàn hơn nữa. Cho nên chỉ một vài ngày thuyền không sang được là số thương binh nằm ùn lại đấy. Vừa rồi có đồng chí Sử ban tác chiến Sư 325 viết một lá thư cho Viện Lịch sử Quân sự, tôi có được xem. Thư viết khi anh vào nắm tình hình. Gọi là Sở chỉ huy nhưng thực ra anh em trong đó tối tăm không có đèn đuốc gì cả. Anh nói vào đó thì cảm thấy có nhiều mùi: mồ hôi người, bom đạn, vết thương của anh em thương binh. Nhưng sau này, có đặc điểm là hầm bị đánh sập, trời nóng như thiêu như đốt, người trong Sở chỉ huy thì đông: người chỉ huy, thông tin liên lạc, pháo binh, thương binh, tất cả ở trong đó nên cái hơi phụt ra ngoài theo mấy cái cửa ra. Cho nên anh bước vào Sở chỉ huy thì thấy hơi phụt ra như là hơi nước sôi. Chính cái hơi phụt ra này mà hơi bom đạn cũng không vào được.
Nói là trong Sở chỉ huy nhưng chúng tôi cũng rất căng thẳng, chẳng để ý được mùi gì".

                                   Nhớ mãi những đồng đội ngã xuốngtrên đất Thành cổ
                                    TRẦN QUỐC VIỆT
                                    Ghi theo lời kể của Phạm Trọng Quý nguyên chiến sĩ Đại đội 1 Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 18 thuộc Sư đoàn 325

May mắn cho tôi còn sống để làm chứng nhân những khoảnh khắc bi tráng một thời máu lửa ở mặt trận Trị Thiên, nơi có nhiều cán bộ, chiến sĩ của đơn vị đã oanh liệt ngã xuống trên mảnh đất Thành cổ Quảng Trị anh hùng.

 Tôi còn nhớ hôm đó là ngày 7 tháng 5 năm 1972, đơn vị đang đứng chân ở Kỳ Anh, Hà Tĩnh thì được lệnh hành quân vào Nam. Ngày 10 tháng 5 năm 1972, chúng tôi tập kết tại khu vực Bãi Hà (phía bắc sông Bến Hải). Tại đây, ta bị máy bay địch ném bom trúng đội hình, một số đồng chí hy sinh. Đêm sau, dưới ánh đèn dù chiếu sáng rực cả một vùng dọc sông và máy bay địch liên tục quần đảo khống chế, đơn vị ngụy trang tổ chức vượt sông Bến Hải an toàn. Sáng ngày 12 tháng 5 năm 1972, chúng tôi đến Gio Linh, rồi vượt qua Cồn Tiên, Dốc Miếu, Quán Ngang và ngày 16 tháng 5 năm 1972 vượt Thạch Hãn vào Thị xã Quảng Trị đóng quân tại khu vực nhà thờ Tri Bưu (đông bắc Thành cổ). Bắt đầu từ đây là những ngày sống, chiến đấu quyết liệt đầy hy sinh trên mảnh đất Trị Thiên máu lửa.

 Đêm 25 tháng 5 năm 1972, đơn vị được lệnh cơ động vào Thanh Hương. Dọc đường tiến quân, bị pháo địch tập kích, Đào Văn Cao (quê Thái Nguyên), Y Đô (người gốc Ê Đê, quê Gia Lai) hy sinh. Sau khi vượt cuộc đánh chặn bằng pháo của địch, chúng tôi đến khu vực nhà thờ Thanh Hương triển khai đào hầm hào, công sự chiến đấu, chốt giữ điểm cao 27 (gần bờ biển).

Rạng sáng 27 tháng 5 năm 1972, pháo địch từ hạm tàu ngoài biển và các trận địa lân cận của chúng dồn dập bắn vào khu vực chúng tôi chốt giữ. Pháo địch ngớt, những chiếc tàu "há mồm" từ ngoài khơi ập vào đổ quân lên bờ. Trên trời từng tốp máy bay trực thăng HU1A quần đảo, phóng rốc két, xả đạn đại liên như vãi trấu xuống trận địa của chúng tôi. Trận đánh diễn ra vô cùng ác liệt. Đạn nổ chát chúa, cát bụi mịt mù. Địch ỷ vào hoả lực mạnh ào ạt xông lên, chúng tôi dựa vào công sự ngoan cường đánh trả, đẩy lùi các cuộc đột kích của địch. Trận đánh này Lê Đình Nam (quê Thái Nguyên), Đinh La (quê Plây Cu, Gia Lai) và anh Nuôi, Tiểu đoàn phó hy sinh.

Trưa ngày 27 tháng 5 năm 1972, anh Trần Thanh Xưng, Tiểu đoàn trưởng lệnh cho đại đội chúng tôi lui về xã Hải Quế triển khai trận địa chốt giữ mới. Tại đây, ngày nào cũng diễn ra nhiều trận đánh địch đột kích quyết liệt. Không gian tháng 5 ở Quảng Trị vốn khô nóng càng thêm hừng hực như cái chảo lửa khổng lồ úp mặt xuống đất, bởi bom đạn cày xới... ác liệt nhất là trận đánh sáng ngày 9 tháng 6 năm 1972, địch dùng xe tăng đột kích vào trận địa từ hướng đông làng Đôn Quế, xã Hải Quế. Tại vị trí chốt tiền tiêu của đại đội có một tổ ba người cảnh giới gồm: Nguyễn Văn Nhân, Đoàn Hùng (quê Thái Nguyên) do Nguyễn Văn Trận chỉ huy (hiện đang công tác tại Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Thái Nguyên). Ngay từ phút đầu trận đánh Nhân và Hùng đã anh dũng hy sinh. Sau đó, Hiền, Triệu (quê Vĩnh Phú), Ngôn (quê Hà Tây), Trần Hải, Nguyễn Văn Việt (quê Thái Nguyên), Lý Văn ảnh (quê Yên Bái)... vĩnh viễn nằm xuống. Tuy bị thương vong nhiều, nhưng chúng tôi vẫn ngoan cường đánh trả, tiêu diệt hàng chục tên địch và giữ vững trận địa...

 Đêm 12 tháng 6 năm 1972, tôi nhận nhiệm vụ chỉ huy Tiểu đội 3 thì pháo địch tập kích vào chốt của đại đội. Đỗ Quảng Thìn (quê Thái Nguyên) hy sinh. Tôi cùng Đinh Quang Thìn (quê Đồng Hỷ, Thái Nguyên, nay là đại tá nghỉ hưu) trực tiếp chôn cất liệt sĩ này tại thôn Đôn Quế (xã Hải Quế). Sáng 12 tháng 7 năm 1972, địch lại nã pháo vào trận địa của đơn vị, sau đó một tốp hai máy bay trực thăng bay đến, dưới bụng có treo một "thùng" nhỏ, tựa như công ten nơ và phụt ra những luồng khói trắng, anh Nguyễn Phi Trường hô to: "Địch thả chất độc, lấy khăn nhúng nước bịt mặt...". Một lúc sau, tôi cảm thấy không khí ngột ngạt, nước mắt, nước mũi chảy ròng ròng, da thịt bỏng rát như xát ớt. Tôi và một số người bị đổ máu mũi... ít phút sau, một chiếc máy bay phản lực lao đến ném một quả bom lớn xuống làng Trung An. Bom nổ, dựng lên cột khói cao và phụt ra những quầng lửa như hoa cải. Dứt đợt tập kích hoả lực bằng không quân, bộ binh địch được xe tăng yểm hộ, chúng dò dẫm tiến về phía trận địa phòng ngự của chúng tôi, vừa đi vừa bắn như vãi đạn. Hướng tiểu đội của tôi chốt giữ, một chiếc M41 lao đến, tôi dùng B40 nhắm thẳng nó bóp cò, đạn xé gió kéo một vệt lửa dài, rất tiếc không trúng mục tiêu. Song chiếc xe tăng khựng lại và quay đầu tháo chạy. Bọn lính bộ binh cũng bỏ chạy thục mạng... Trận đánh này Chu Văn Dịt (quê Thái Nguyên) hy sinh.

Sau nhiều tháng cơ động chiến đấu ở những vùng xung yếu phía đông và nam Quảng Trị, đơn vị tôi bị tổn thất nhiều, ngày 16 tháng 7 năm 1972, chúng tôi được lệnh quay về Gio Linh củng cố lực lượng. Vào hạ tuần tháng 8, đơn vị lại được lệnh vượt sông Thạch Hãn vào làm nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ phía nam Thành cổ Quảng Trị. Những ngày này, có thể nói là đỉnh điểm của sự ác liệt ở mặt trận Trị Thiên mà Thành cổ và Thị xã Quảng Trị là "túi lửa". Bởi, địch đã tái chiếm được nhiều vùng, tạo thế bao vây Thị xã Quảng Trị và Thành cổ từ ba hướng.

Sau khi vào Thành, đơn vị được chốt giữ khu tây nam từ trường Bồ Đề trở xuống và đi đánh nhiều trận. Phối hợp với đơn vị bạn, chúng tôi đã đánh vào khu Cầu Sắt, chiếm được mục tiêu. Trận đánh đạt hiệu quả cao, địch bị diệt, nhiều tên tháo chạy. Bắt đầu từ đây cho đến ngày 15 tháng 9 năm 1972 trước khi được lệnh rút khỏi Thành cổ, trong vòng 35 ngày đêm chiến đấu bảo vệ Thành cổ, đơn vị đã đánh hàng trăm trận đột kích, diệt hàng trăm tên lính của dư đoàn thủy quân lục chiến và sư đoàn dù được coi là những đơn vị "thiện chiến" của quân ngụy Sài Gòn. Song, cũng phải hứng chịu hàng ngàn quả đạn pháo các loại và hàng chục tấn bom của địch... ác liệt nhất, ngày 30 và 31 tháng 8 năm 1972, tại tuyến phòng ngự của Tiểu đoàn 7 chúng tôi, địch bắn 1.000 đến 2.000 quả đạn pháo một ngày. Ngoài ra hàng chục lần tốp máy bay phản lực thay nhau giội bom. Bầu trời ngày nào cũng như sôi lên, mặt đất luôn luôn bị cày xới, phố xá, làng mạc và nhiều khu vực Thành cổ trở thành bình địa, hoang tàn.

 Những ngày chiến đấu bảo vệ Thị xã và Thành cổ Quảng Trị đã lùi xa 35 năm, song với tôi mãi mãi chẳng bao giờ quên sự khốc liệt và đức hy sinh của những người lính Cụ Hồ, trong đó có rất nhiều cán bộ, chiến sĩ của Đại đội 1 Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 18 Sư 325 anh hùng...


Tiêu đề: Re: Khúc tráng ca thành cổ Quảng trị
Gửi bởi: vmt trong 08 Tháng Năm, 2011, 02:59:00 PM

                                         Trên dòng Thạch Hãn
                                           Đại tá LÊ NGHĨA
                                           Chánh Thanh tra Binh chủng Tăng Thiết giáp Nguyên đại đội phó Đại đội 1 Tiểu đoàn 25 vận tải thuộc Sư đoàn 320B

Tháng 7 năm 1972, Đại đội 1 Tiểu đoàn 25 vận tải thuộc Sư đoàn 320B được giao nhiệm vụ vận chuyển vũ khí, đạn dược và vận chuyển thương binh cho Trung đoàn bộ binh 48 (mật danh là "Đoàn Quang Sơn") đang chiến đấu bảo vệ Thị xã và Thành cổ Quảng Trị.

Nhận thấy chỉ dùng sức người mang vác vũ khí vào Thị xã và dùng võng cáng thương binh ra với quãng đường hàng chục kilômét dưới hỏa lực của máy bay, pháo binh mặt đất và pháo hạm của địch thì rất vất vả, mà số lượng vũ khí và thương binh chẳng được bao nhiêu; nếu tận dụng thuyền vận chuyển trên sông Thạch Hãn thì hiệu quả sẽ cao hơn nhiều. Ban chỉ huy đại đội đã bàn bạc và thống nhất với phương án của Đại đội trưởng Nguyễn Thanh Mai (sau này là giáo viên của Học viện Lục quân Đà Lạt) là vận động địa phương cho dùng thuyền máy của bà con ngư dân đi sơ tán, bỏ lại ở các thôn, xóm ven sông, làm phương tiện vận chuyển. Được cấp trên chuẩn y, đơn vị khẩn trương lùng tìm những chiếc thuyền trong các lùm cây, bụi cỏ ven sông Thạch Hãn.

 Ngay tuần đầu tiên anh em đã tìm được ba chiếc thuyền với máy móc còn khá tốt và một số thùng dầu mazut để chạy máy, thế là "phân đội vận tải thủy" của đại đội được hình thành. Để hướng dẫn anh em vận hành máy và điều khiển thuyền, đơn vị thành lập một tổ bảo đảm kỹ thuật mà nòng cốt là những đồng chí quê ở hai huyện Giao Thủy và Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Ngay trong năm đêm đầu tiên, đơn vị đã thực hiện vận chuyển được khoảng 8 tấn vũ khí vào Thị xã và đưa gần 100 thương binh về tuyến sau an toàn. Nhưng rồi địch cũng phát hiện ra ta dùng thuyền máy tiếp tế cho Thị xã và Thành cổ, thế là một cuộc chiến ác liệt trên sông Thạch Hãn bắt đầu.

Để tìm diệt thuyền của ta, máy bay địch thường xuyên thả đèn dù trên sông và rải bom từ trường xuống nhiều đoạn sông, nhiều nhất là đoạn từ cầu Quảng Trị và thôn Nhan Biều đến căn cứ ái Tử. Với ánh sáng đèn dù từ máy bay địch thả, ta đối phó không khó, cứ nghe tiếng máy bay và tiếng nổ "bụp" trên trời là anh em cho thuyền (đã được ngụy trang kín bằng cành lá) tắt máy áp sát vào bờ, đợi cho máy bay địch bay xa hoặc đèn dù tắt là lại tiếp tục cho thuyền đi. Nhưng đối phó với bom từ trường thì không dễ, bom chìm sâu dưới lòng sông ta không phát hiện được, khi thuyền đi qua dưới tác động của chân vịt, bom sẽ phát nổ làm đắm thuyền. Thời gian đầu bom từ trường của địch đã phá hủy nhiều thuyền của ta và hàng chục cán bộ, chiến sĩ của đơn vị đã hy sinh. Có đêm ta mất một lúc hai thuyền với hơn 10 đồng chí trên đoạn sông ngang căn cứ ái Tử.

Ngày hôm sau đồng chí Phạm Vị - chính trị viên đại đội dẫn một tổ lên tìm kiếm thi hài của anh em, đã phải thu nhặt từng mảnh thi thể liệt sĩ bị bom văng lên bờ sông để chôn cất. Để đối phó với bom từ trường, ban ngày đơn vị cử một tổ được tăng cường 3 chiến sĩ công binh của Sư đoàn và được du kích địa phương giúp đỡ thực hiện rà phá bom một cách rất thô sơ: dùng dây ni lông buộc các thùng đạn đại liên của địch (cách 5 mét một thùng) với độ sâu 1,5 mét đến 2 mét có cây chuối làm phao rồi chăng ngang sông và kéo xuôi dòng chảy để kích cho bom nổ. Trong quá trình rà phá bom trên sông, anh em phát hiện nhiều thi thể bộ đội ta hy sinh trong lúc vượt sông vào Thị xã, trôi trong dòng nước hoặc dạt vào các bãi cạn ven sông. Chúng tôi cùng du kích đưa xác anh em lên bờ mai táng mà lòng sục sôi căm thù địch và thương tiếc đồng đội vô cùng. Ban đêm khi thuyền ngang qua các đoạn sông có bom, để hạn chế thương vong ta tắt máy, chỉ để một đồng chí trên thuyền dùng sào chống giữ hướng, số người còn lại buộc dây vào mũi thuyền lội theo mép nước để kéo thuyền qua đoạn nguy hiểm…

Khoảng từ 12 giờ đêm đến 2 - 3 giờ sáng, khi thuyền đến được bến quy định (bờ phía Thị xã cách cầu Quảng Trị vài trăm mét, đối diện với thôn Nhan Biều) thì anh em nổ ba phát AK làm ám hiệu rồi bốc hàng lên bờ cho bộ đội ta ra lấy, sau đó đưa thương binh quay về. Nhiều đêm khi thuyền đến bến hoặc trên đường rời bến, pháo cối địch bắn như vãi đạn xuống khu vực bến làm một số thuyền trúng đạn chìm xuống lòng sông cùng với số vũ khí chưa kịp chuyển lên bờ hoặc số thương binh nặng vừa đưa xuống thuyền… Sau này anh em rút kinh nghiệm khi đến bến khoảng 1 kilômét thì tắt máy, ngâm mình xuống nước đẩy thuyền đến bến quy định, trả hàng và nhận thương binh xong, lại ngâm mình đẩy xuôi dòng đến khu vực an toàn mới nổ máy…

Khoảng giữa tháng 8 năm 1972, địch chiếm được một số khu vực xung quanh Thị xã. ở phía bắc Thị xã, địch xây dựng một trận địa chốt tại Chợ Sải nằm gần bờ sông Thạch Hãn. Tại đoạn sông này, lòng sông sát bờ nơi có địch, mới đủ độ sâu cho thuyền của ta đi được. Do vậy hàng đêm khi thuyền ta đi qua đây, địch từ Chợ Sải ra phục kích trên bờ sông, dùng mìn định hướng Clâymo, súng M72, M79 và các loại hỏa lực khác bắn rất ác liệt, làm chìm một vài thuyền và hy sinh một số anh em. Đại đội phải tổ chức một tiểu đội hỏa lực gồm súng B41, trung liên… bố trí trên bờ đối diện gần thôn Trung Kiên, phối hợp với hỏa lực của đơn vị bạn và du kích để chế áp địch mỗi khi thuyền của ta qua đoạn sông này.

Thời gian này đơn vị tập kết ở thôn Nhĩ Hạ, ở đây có một nhánh cụt của sông Thạch Hãn nên tiện cho việc cất giấu, sửa chữa thuyền mỗi khi có hư hỏng. Khu vực này thường xuyên bị bom  B.52 và pháo hạm địch đánh phá nhiều lần, làm ta tổn thất mất một số thuyền. Cũng cần phải nói thêm rằng, Đại đội 1 của Tiểu đoàn 25 là một đơn vị vận tải bộ, toàn bộ số thuyền máy, nhiên liệu dùng để vận chuyển đều do đơn vị tận dụng các phương tiện của nhân dân đã đi sơ tán bỏ lại là chính, cuối chiến dịch mới được cấp trên bảo đảm cho một số nhiên liệu chạy máy. 81 ngày đêm diễn ra chiến dịch bảo vệ Thị xã và Thành cổ Quảng Trị thì có tới gần 40 đêm thuyền máy của đơn vị vận chuyển vũ khí, thương binh cho các đơn vị đang chiến đấu trong Thị xã, với số lượng thuyền hàng đêm từ 1 đến 3 chiếc mà hầu như đêm nào cũng có tổn thất hy sinh…

Để có được số thuyền máy bổ sung thay thế liên tục cho số thuyền bị bom, đạn địch đánh chìm, đơn vị đã huy động anh em có sự giúp đỡ của du kích và nhân dân các thôn hai bên bờ sông lùng tìm khắp bến, bãi bờ, các nhánh cụt của sông Thạch Hãn, trục vớt mọi loại thuyền có thể sử dụng được. Các loại máy bơm nước, máy xe tải cỡ nhỏ, máy xay xát của bà con được thu gom về, tổ thợ máy gồm các đồng chí Trần Văn Hiển, Nguyễn Cao Mại, Đặng Văn Nhiếp và một số đồng chí khác (những đồng chí này trước khi nhập ngũ là thợ sửa chữa của xí nghiệp vận tải ô tô hoặc phụ trách máy bơm nước ở các hợp tác xã, nên có hiểu biết về kỹ thuật cơ khí) sửa chữa, lắp ráp thành những chiếc thuyền máy, để rồi hàng đêm những thuyền vũ khí lại đều đặn vượt qua bom đạn đến với chiến sĩ ta trong Thị xã Quảng Trị.

Phương tiện thì như vậy, còn nhiên liệu, dầu nhờn dùng để chạy máy đơn vị cũng phải cử một số anh em đi tìm những thùng dầu mazut, dầu nhờn bà con chôn giấu, tìm tới những xe ô tô của địch bỏ lại để hút số dầu còn lại trong thùng chứa của xe mang về sử dụng. Khó khăn gian khổ như vậy nhưng với khẩu hiệu: "Đoàn Quang Sơn còn thì Thị xã còn - Đại đội 1 còn thì Đoàn Quang Sơn còn được cung cấp vũ khí", anh em trong đại đội đã đoàn kết một lòng vượt qua mọi khó khăn gian khổ, vượt qua mưa bom bão đạn của quân thù để đưa những chuyến hàng tới đích.

Nhớ lại những ngày ấy càng không thể quên sự giúp đỡ tận tình, hiệu quả và những tình cảm chân thành của nhân dân và du kích các thôn Nhĩ Hạ, Vinh Quang, Mai Xá, Lâm Xuân… Những con thuyền đánh cá, những đầu máy xe tải nhỏ, máy bơm nước, máy xay xát thóc gạo, những thùng nhiên liệu chạy máy đều là những tài sản lớn mà bà con chắt chiu, dành dụm trong bao năm trời để làm kế sinh nhai. Vậy mà khi chúng tôi xin được trưng dụng để làm phương tiện vận chuyển vũ khí và thương binh thì ai cũng sẵn sàng ủng hộ: "Mấy chú từ Bắc vô đây chẳng tiếc máu xương để giải phóng cho bà con, thì tụi tôi tiếc chi mấy thứ đó…", chân thành và giản dị vậy thôi.

Thời gian đầu luồng lạch, đường sá chưa thông thuộc, bản đồ địa hình lại chẳng có, nên chúng tôi phải nhờ du kích dẫn đường mới khỏi bị lạc. Có những chiếc thuyền, chiếc máy xay xát… của dân cất giấu, còn chủ thì đi sơ tán ở đâu đó, chúng tôi đành phải nhờ du kích người địa phương biết "ông nớ đang ở mô" mà đưa anh em đến trưng dụng. Tôi nhớ nhất có o Hồng, du kích thôn Nhĩ Hạ, mới khoảng 16, 17 tuổi, mặt tròn, da trắng, mắt bồ câu. Khi dẫn đường cho chúng tôi bị pháo bắn dữ dội, một số chiến sĩ chưa quen trận mạc còn hốt hoảng, lúng túng thì o hướng dẫn anh em bò xuống nấp ngay vào những hố đạn pháo vừa nổ còn nồng nặc mùi thuốc súng và đất đang còn nóng hầm hập. Chập tối lúc chúng tôi ra bến đưa thuyền đi, o cũng đi tiễn với câu dặn: "Mấy eng đi cẩn thận".
                             Tháng 9 năm 2007


Tiêu đề: Re: Khúc tráng ca thành cổ Quảng trị
Gửi bởi: vmt trong 08 Tháng Năm, 2011, 03:00:59 PM

Chiến sĩ Phá bom
PHẠM NGỌC BÌNH

Bùi Minh Tâm vừa ở ngầm về thì nghe lệnh trung đội: Cử một số chiến sĩ đến đoạn X, phá bom nổ chậm. Tiểu đội trưởng Hạnh đang chọn người phân công thì Tâm đã chạy đến:
- Báo cáo tiểu đội trưởng cho tôi đi!
Biết suốt đêm qua Tâm thức trắng điều khiển xe vào, Hạnh ngăn lại:
- Đồng chí mệt, lại chưa ăn cơm, ở nhà nghỉ cho lại sức đã.
Tâm đáp rắn rỏi:
- Tôi còn đủ sức hoàn thành nhiệm vụ, anh cứ để tôi đi.
Chỉ một lát sau Tâm đã nai nịt gọn gàng, cùng đồng đội xuất phát. Vượt qua mấy bãi bom đất còn nóng hầm hập Tâm hướng về hướng X, nơi có bom vướng nổ. Anh thầm nghĩ: Mỗi quả bom là một tên giặc đang nấp rình hại đồng đội ta, phải kiên quyết quét sạch chúng, mở thông đường cho xe và đồng đội vào trận.
Tâm khẩn trương bắt tay vào chuẩn bị thuốc nổ và hỏa cụ đợi lệnh của trung đội trưởng tiến vào bãi bom.
Tâm sốt ruột bò lên trước trinh sát đường. Trung đội trưởng Nghị thấy chưa an toàn, anh ngăn lại:
- Phải làm dụng cụ chướng ngại rồi hãy phá!
Tâm suy nghĩ một lát rồi bỗng reo lên:
- Lấy bao cát của địch làm chướng ngại, vừa dễ cơ động lại an toàn anh Nghị ạ!
Nghị đồng ý, và chỉ một lát sau mọi công tác chuẩn bị đã hoàn thành.
 Trận chiến bắt đầu. Tâm thận trọng bò trước mở đường. Ngải và Dậu bám sát. "Chúng nó đây rồi!" - Tâm khẽ quay lại nói với anh em, rồi bằng một động tác hết sức chính xác và khéo léo, anh cho chùm bom thứ nhất nổ.
 Lối mở đã thông, cứ thế tổ của Tâm tiến sâu vào giữa bãi. Bước chân của anh đi đến đâu, cái chết của kẻ thù để lại đều phải gục đầu thú tội.
 Chưa đầy nửa giờ chiến đấu, tổ của Tâm đã quét sạch cả một bãi bom vướng nổ dài hơn một cây số. Riêng mình Tâm đảm nhiệm khu vực quan trọng nhất đã phá hơn ba chục quả, bảo đảm an toàn tuyệt đối.
Bất cứ một âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt nào của kẻ thù hòng ngăn đường cản lối chiến sĩ ta cũng sẽ bị các chiến sĩ công binh quét sạch, đường luôn thông, hàng luôn đủ phục vụ cho bộ đội chiến đấu.
Ngày 10 tháng 1 năm 1973
 
 
Giành khó khăn về mình
                                                           
VŨ THUỘC

Trung đội của đồng chí Khả tập kích vào một đại đội địch đóng ở nhà thờ La Vang, cũng có một xe tăng và một trung đội pháo cỡ lớn chi viện, đó là chưa kể cối 60 ly, 82 ly của đơn vị trực tiếp yểm trợ. Trong trận này, trung đội trưởng Khả không những chỉ biết chỉ huy trung đội đánh giỏi mà còn biết chỉ huy cả xe tăng, pháo binh và cối đánh rất giỏi.

Qua trận chiến đấu này của trung đội Khả, ta thấy nổi bật lên vấn đề chỉ huy và hiệp đồng trong chiến đấu rất quan trọng. Chiếc xe tăng phối thuộc ấy lại do đồng chí đại đội trưởng xe tăng trực tiếp chỉ huy. Trong lúc hiệp đồng chiến đấu, đồng chí đại đội trưởng xe tăng đã báo cáo cụ thể về tình hình xe mình cho Khả nắm và chú ý theo dõi phương tiện tác chiến do Khả phổ biến. Khả đã làm đúng cương vị của người chỉ huy binh chủng hợp thành. Ngay khi thông qua phương án, Khả cùng hai chiến sĩ, dẫn đồng chí đại đội trưởng xe tăng và chiến sĩ lái đi trinh sát đường, vào cách địch 100 mét, chỉ cho đồng chí đại đội trưởng xe tăng nhìn rõ mục tiêu rồi mới quay lại đưa bộ đội vào chiếm lĩnh vị trí xuất phát xung phong.

Trên đường quay về, đồng chí đại đội trưởng xe tăng tâm sự với Khả: "Các đồng chí đã tạo điều kiện cho chúng tôi lập công rồi, trận này các đồng chí yên trí, chúng tôi sẽ làm tròn trách nhiệm mũi đột kích chủ yếu, tạo điều kiện cho các đồng chí hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ". Chỉ sau ba mươi phút nổ súng chiến đấu, trung đội của Nguyễn Đức Khả được xe tăng và pháo binh chi viện đã tập kích thắng lợi, diệt và bắt gọn một đại đội lính dù ngụy, làm chủ trận địa. Khi được lệnh cho xe tăng rút ra, Khả đã dùng hỏa lực của mình bắn chế áp địch ở khu chợ, đồng thời gọi pháo bắn chế áp trận địa pháo địch, tạo điều kiện cho xe tăng rút về an toàn, sau đó mới cho trung đội quay lại làm công sự chốt giữ nhà thờ La Vang.

Cũng trên khu vực này, ngày 8 tháng 9, phân đội 2 được tăng cường một đại đội của đơn vị bạn tập kích vào một tiểu đoàn thủy quân lục chiến ngụy ở khu nhà bằng. Phân đội trưởng Định và chính trị viên Thu sau khi cân nhắc đã quyết định: Dành hướng đột kích thuận lợi cho bạn; còn hướng chính diện địch bố phòng cẩn mật giao cho Đại đội 7, vì đơn vị đã chiến đấu ở đây quen địa hình, quen đối tượng tác chiến. Mặc dù về hỏa lực và xung lực của Đại đội 7 thua kém đơn vị bạn.
Trận ấy cả hai cánh đều đánh rất đẹp. Đại đội 7 như mũi dao nhọn thọc vào giữa trận địa địch, rồi từ đó đánh tỏa ra xung quanh. Trong lúc địch đang hoang mang chưa kịp đối phó thì Định tung đại đội phối hợp vào, nhanh chóng chia cắt địch ra rồi tiêu diệt gọn. Sau trận này, khí thế của đơn vị bạn lên rất rõ.
                               Báo Tiền tuyến - Mặt trận Trị Thiên
                                      Ngày 10 tháng 1 năm 1973
 

                                         Đứa con của trung đoàn
                                          TRẦN DIỆP
                                         Nguyên chiến sĩ Tiểu đoàn 33 Đặc công Mặt trận Quảng Trị, Trung đoàn 64 thuộc Sư đoàn 320 Bảo vệ Thị xã Quảng Trị

Đầu tháng 7 năm 1972, cuộc chiến giữa ta và địch trên chiến trường Quảng Trị đang vào giai đoạn đỉnh điểm của khốc liệt để giành giật từng mét vuông trên khu vực Mặt trận Thị xã Thành cổ, suốt ngày đêm nhằm

đạt được mục tiêu tác chiến cũng như giành thế chủ động trên bàn Hội nghị Paris

 Đâu đâu cũng nồng nặc mùi bom đạn, cỏ cây với mùi cát cháy. Không có một nắm đất cát nào bốc lên mà không có mảnh kim loại của vũ khí. Không có một phút nào ngưng tiếng bom, tiếng động cơ của phương tiện giết người. Sư đoàn 320B của chúng tôi đặc biệt là Trung đoàn 48 đã cùng các đơn vị bạn kiên cường chiến đấu chốt giữ Thành cổ Quảng Trị.

Sáng ngày 8 tháng 7 năm 1972, trên đường từ Thành cổ về Sở chỉ huy tuyến sau, khi qua làng Kim Mỹ xã Triệu ái vừa bị máy bay  B.52 thả bom rải thảm, giữa chi chít hố bom, những mảnh tôn cong queo, những mảnh gỗ đang cháy dở, Trung đoàn phó Trung đoàn 48 Trần Minh Vân chợt phát hiện một khoảnh đất rung động. Anh nhẹ tay gạt lớp đất cát lên và thấy một cháu gái khoảng chừng 3 đến 4 tuổi da tím tái, lại bị gãy chân phải đang thoi thóp thở. Anh vội vàng băng bó cho cháu bé rồi bế cháu chạy về hầm phẫu của Trung đoàn. Các chiến sĩ quân y đã hết lòng cứu chữa cho cháu. Khi làm hồ sơ bệnh án cho cháu bé, anh Trần Minh Vân đã lấy họ của mình và tên nơi Trung đoàn đang đóng quân làm tên cho cháu. Thế là cái tên Trần Thị Trà Liên được đăng ký vào hồ sơ của cháu.

Sau này cái tên đó được đồng chí Tỉnh đội trưởng tỉnh Quảng Trị chứng thực. Trong thời gian điều trị cháu được anh em trong Trung đoàn nuôi dưỡng che chở và đùm bọc. Sức khoẻ của bé Trà Liên dần dần hồi phục nhưng cuộc chiến đấu bảo vệ Thị xã và Thành cổ càng ngày càng trở nên cam go. Trần Minh Vân lúc đó đang làm nhiệm vụ của người Phó chỉ huy trưởng mặt trận Thị xã, anh thường xuyên phải túc trực chỉ huy ở hầm dinh tỉnh trưởng ngụy bên tả ngạn con sông Thạch Hãn ngay gần cổng tây - tây bắc (cổng hậu) Thành cổ. Không thể giữ cháu ở lại Trung đoàn vào thời kỳ quyết liệt, anh đành phải đưa bé Trà Liên về bệnh xá huyện Cam Lộ và từ đó bé được nhân dân nuôi dưỡng, đùm bọc.

Đến những năm tám mươi, Trần Minh Vân đảm nhận làm Sư đoàn trưởng Sư đoàn 312, với bộn bề công việc anh vẫn canh cánh trong lòng về số phận đứa bé mà cơ duyên anh cảm thấy đã trở nên gắn bó thân thiết với anh. Gặp đồng đội là anh hỏi thăm. Về Quảng Trị là anh sắp xếp để về Triệu ái, Triệu Giang, Trà Liên, Kim Mỹ gắng tìm. Nhưng rồi anh chỉ nhận được một thông tin là sau năm 1975, miền Nam được giải phóng, cháu đã lớn lên, được đi học và đã theo người thân vào An Giang sinh sống.

Năm 1981, nhờ một người bạn cùng học tại Học viện Quân sự cao cấp về công tác tại Quân khu 9, cháu Trà Liên đã biết địa chỉ và công sức tìm kiếm của anh. Cháu đã viết thư ra cho anh. Cháu đã lớn lên và khi có dịp về lại thôn Kim Mỹ, những người thân của cháu đã kể cho cháu nghe trong trận  B.52 năm ấy bom Mỹ đã cướp đi mẹ và nhiều người thân của cháu cùng với 8 chiến sĩ của Trung đoàn 48. Cháu đã khóc vì nỗi đau thương tột cùng ấy, và thầm cám ơn người đã cứu và cho cháu một cái tên mới gắn liền với số phận của cháu, bởi vì trước đó theo những người thân còn lại trong họ hàng, cháu đã có một cái tên do cha mẹ đặt là Cao Thị Diếm.

Ngày 5 tháng 7 năm 2007 vừa qua, cháu Trần Thị Trà Liên cùng với con gái 11 tuổi Nguyễn Thị Cẩm Chu, đã về thăm bố và ông ngoại Trần Minh Vân ở thị xã Tam Điệp tỉnh Ninh Bình. Cha con, ông cháu nhận ra nhau mừng mừng tủi tủi mà khó nói được nên lời./.


Tiêu đề: Re: Khúc tráng ca thành cổ Quảng trị
Gửi bởi: vmt trong 08 Tháng Năm, 2011, 03:03:19 PM
                          Khiêng thương binh ở nhan biều
                           TẠ QUỲNH PHƯƠNG

Chúng tôi chiến đấu ở Quảng Trị đã được khoảng hơn nửa năm. Đơn vị phải bổ sung quân liên tục, lính mới về nhiều, lại là lính chưa hề qua huấn luyện cho nên phải vừa đánh vừa học, học làm pháo thủ, học làm trinh sát ngay tại chiến trường, anh em lính cũ cùng tôi từ Bắc đi vào phần thì hy sinh, phần bị thương, còn lại cũng không được là mấy người.

Khiêng thương binh là chuyện cơm bữa của lính chúng tôi, nhưng lần này tôi khiêng cùng Điền "quáng". Điền da đen (lính chúng tôi dãi dầu nhiều nên không mấy ai có nước da sang sáng một tý), mắt quáng gà. Lần đầu tiên tôi nghe tiếng nói của Điền là một đêm ở Quảng Bình, tiếng nói của cậu ta cứ the thé tôi cứ tưởng là có con gái ở trong rừng. Mắt Điền lờ đờ, nhỏ ti hí, chiến trường không có kính, nên chỉ thấy mờ mờ. Hôm ấy chúng tôi đang ở làng Tả Hữu, khoảng 10 giờ đêm tôi đang say sưa ngủ thì anh Sửu Đại đội phó đến tận hầm gọi tôi dậy bảo tôi vào Nhan Biều khiêng thương binh. Chúng tôi buộc xong cáng rồi lên đường. Riêng cái tên Điền "quáng" cũng đã biết là một anh chàng mắt kém rồi, nhưng tôi vẫn không hình dung nổi mắt anh ta kém đến như thế. Đã cho đi sau cầm lấy đòn cáng đi theo mà Điền cứ ngã dúi, ngã dụi, thương quá cho đi trước thì không thấy đường đi, tôi phải một tay cầm cáng, một tay dắt đi.

Đêm đã khuya mà chúng nó cũng không để cho yên, bom đạn vẫn bắn thường xuyên. Chúng tôi vừa đi vừa chạy, nhiều lúc phải lao nhanh xuống hai bên bờ, ông Điền nhà ta cũng lao bừa, chả cần biết nơi ấy như thế nào. Thỉnh thoảng lại một cột lửa pháo kích bắn gần, tiếng nổ đanh khét lẹt, những bông lửa cứ rơi lả tả. Lần mò mãi cũng đến nơi, chúng tôi chui vào một căn hầm, dưới ngọn đèn tù mù hiện ra một ông già râu ria quai nón xồm xoàm, đen kịt, ngồi lặng yên như một pho tượng (sau này chúng tôi mới biết đó là anh Hùng, anh còn ít tuổi, nhưng tóc râu để tốt, đèn tối nên hai đứa tưởng là ông già). Một lúc sau thương binh được đưa đến, đó là anh Vân Đại đội phó Đại đội 4. Anh bị thương vào đầu và chân, băng trắng toát, tiếng rên khe khẽ. Chúng tôi vội vã khiêng anh lên đường.

Lúc đầu tôi để cho Điền đi trước, tôi đi sau bởi vì đi sau bao giờ cũng nặng hơn, khó đi hơn. Thương binh nặng, đường đất bom pháo cày nát tươm, người bình thường còn khó đi nữa là bị quáng gà, tôi đi sau cứ phải chỉ đạo liên tục, nhưng khốn nỗi mắt Điền chẳng thấy gì cả, cứ đi bừa chẳng cần biết là đường hay là ruộng, gặp hố bom hố đạn cũng không thèm tránh. Tất nhiên mỗi lần trước khi ngã, anh ta cũng cố gượng không để anh Vân rơi mạnh xuống đất, nếu rơi mạnh thương binh chắc không sống nổi. Tôi đi sau, đến là khổ, mỗi lần Điền loạng choạng là tôi cũng lao đao theo, nghiêng cả người hết ngả ra sau lại chúi về phía trước, võng khiêng nhiều khi suýt rơi xuống đất. Mới đi được một quãng mà tôi đứt cả hơi, chân tay rã rời, biết đường còn xa thương binh lại phải đi gấp, nhưng mệt quá không sao chịu nổi đành phải ngồi nghỉ.

Đêm khuya nhưng bom đạn vẫn bắn ầm ầm, đạn bom cứ nhì nhằng xé nát trời đêm vì địch biết đêm là hoạt động của ta. Nghỉ được một tí thấy anh Vân rên nhiều quá chúng tôi lo lại vội cáng đi. Lần này tôi để cho Điền đi sau, cũng không ổn nốt vì Điền còn ngã nhiều hơn, có lần cả hai thằng không gượng nổi ngã dúi xuống, quăng cả anh Vân xuống đất, anh ấy rít lên đau đớn, hai thằng lại vội vã khiêng anh lên. Đi sau không ổn, đi trước cũng không xong, khó quá, nhưng cũng không biết làm sao hơn vẫn phải lần mò từng bước một, tôi hét khản cả hơi, vừa nhìn phía trước vừa ngoảnh cổ ra sau "chỉ đạo" từng bước chân của Điền, chỉ mong sao nó không ngã. Khổ nhất là lúc bị bom hoặc pháo bắn gần, bom đạn nổ ngay bên cạnh, nhưng không thể nằm ngay xuống được phải để võng từ từ xuống đất rồi mới nằm xuống, cũng có lúc không nằm kịp chúng tôi cứ đi bừa đến đâu thì đến, may sao mảnh nó vẫn tránh mình. Lần khiêng sau lại để cho Điền khiêng trước, rút kinh nghiệm tôi chặt cho Điền một cây gậy, đành chơi "chính sách" thầy bói mù dùng gậy để dò đường và cũng để chống cho đỡ ngã. Nhưng có nhiều lúc gậy cũng văng đâu không thấy, khốn khổ cho tôi phải đặt cáng xuống mò tìm gậy cho hắn, bụng bảo dạ không bao giờ đi khiêng thương binh với ông này nữa. Nhiều khi cũng bực nhưng trời sinh thế trách cũng tội nghiệp nên tôi đành cắn răng chịu.

Đường từ Nhan Biều ra sân bay ái Tử chỉ không đầy ba cây số mà chật vật lắm mãi đến tận gần sáng chúng tôi vẫn đi chưa hết sân bay. Điền mệt phờ râu, mặt chảy xị xuống, chân tay quấn áo bộ đội như lính Tàu ô quấn xà cạp năm nào, máu ra cũng kha khá nên Điền mệt lắm. Nhưng vì anh Vân bị thương nhiều hơn, tôi lại động viên Điền tiếp tục đi. Trời đã mờ mờ sáng, bóng Điền đi trước cứ xiêu xó, dặt dẹo thật tội.

Trầy trật mãi cũng đến được nơi, sau khi sơ cứu lần nữa cho anh Vân, lại chuyển về tuyến trung đoàn vì anh Vân bị thương khá nặng. Anh Ngân y sĩ của đơn vị băng cho Điền, chân tay rách nhằng nhịt, máu chảy rơm rớm. Chúng tôi ra về, mệt bã người, hầu như không còn sức nữa, bụng đói như xát muối, cũng chẳng có gì để ăn. Nhìn mặt mày Điền hốc hác, râu ria mọc ở đâu ra mà nhiều thế, mặt mũi đờ đẫn, quần áo rách tả tơi. Tôi chắc mình trông cũng tội nghiệp, nhưng không bằng Điền. Cũng may mà chuyến khiêng thương binh trót lọt, lòng cũng nhẹ nhõm đi đôi chút. Lúc này trời đã sáng hẳn, mắt Điền đã nhìn thấy, nên không phải chỉ huy, nhưng chân không muốn bước. Không bao giờ quên chuyến khiêng thương binh này!
 

                            81 ngày đêm chống chọi với tử thần
                            Bác sĩ LÊ VĂN AN
                            Nguyên đại đội trưởng đại đội quân y Trung đoàn 48 thuộc Sư đoàn 320B

Cách đây 30 năm (tháng 4-1972), tại thời điểm lịch sử đó, tôi vừa tốt nghiệp Đại học Quân y khóa 1, được giữ lại làm giáo viên. Chấp hành mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng, nhà trường đã cử 700 cán bộ, giáo viên, học viên đi phục vụ chiến trường. Đoàn cán bộ, học viên của trường (trong đó có tôi) chia thành nhiều cụm, phục vụ từ phía nam Quân khu 4 trở vào chiến trường B5. Riêng vào cụm B5 có 100 học viên khóa 2 năm cuối khối y, 37 học viên năm cuối dược, 10 bác sĩ khóa 1 vừa ra trường và 14 cán bộ, giáo viên.

Tháng 5 năm 1972, tôi có mặt tại Mặt trận B5 cùng 20 học viên năm thứ 6 khóa 2. Thời gian đầu, tôi phục vụ ở đội điều trị 46 đứng chân ở Động Tiên thuộc cánh Tây của mặt trận. Đến giai đoạn 3 của chiến dịch, tôi được điều động từ cánh Tây về cánh Đông (đồng bằng), bổ sung về đại đội quân y Trung đoàn 48, Sư đoàn 320B chốt giữ Thành cổ Quảng Trị.

Đội phẫu của Trung đoàn 48 cùng ở chung với Sở chỉ huy nhẹ của lực lượng vũ trang hỗn hợp Trung đoàn 48 và Trung đoàn 95 nằm trong tầng hầm của dinh tỉnh trưởng, cách bờ sông khoảng vài chục mét. Tòa nhà hai tầng đã bị bom đạn phá hỏng tầng trên, công binh ta phá sập tầng dưới che phủ toàn bộ tầng ngầm để biến thành hầm chỉ huy kiên cố. Dưới tầng hầm lại được đào thêm ngách hào và hầm trú ẩn. Đội phẫu được triển khai trong gian hầm rộng mỗi chiều chừng 5 mét, có hai ngách thông ra ngoài, có hào để chuyển thương binh.

Thời gian đầu, đội phẫu còn đủ trang bị (1 bộ trung phẫu, các cơ số thuốc chấn thương, thuốc và bông băng) do đồng chí Phạm Văn Bằng chỉ huy. Phần lớn Đại đội quân y của Trung đoàn 48 ở phía sau, đứng chân tại thôn Lập Thạch nhận thương binh từ trong Thành cổ ra và vận chuyển về tuyến sau. Phương tiện vận chuyển thương binh qua sông chủ yếu dùng xuồng cao su, thuyền máy và cáng. Lực lượng vận tải có nhiệm vụ tiếp tế vũ khí, lương thực cho các đơn vị chốt và đưa thương binh ra. Công việc này chỉ được thực hiện vào ban đêm.

 Đêm 16 tháng 7 năm 1972, tổ ba người chúng tôi được lệnh vào Thành. Trên đường đi, các làng mạc đã xác xơ vì bom đạn; không một mái nhà, một gốc cây nào còn nguyên vẹn; cây cối bị bom phá đánh đổ ngổn ngang, cảnh tượng như vừa phải trải qua một cơn bão cực mạnh. Mùa mưa ở Quảng Trị cũng đã bắt đầu. Mưa tầm tã, nước sông Thạch Hãn dâng cao dần, trong khi bom pháo các loại vẫn rải thảm trên toàn tuyến, không lúc nào vắng tiếng máy bay và tiếng đạn rít trên đầu. Đến bờ tả ngạn sông Thạch Hãn, chúng tôi phải chờ xuồng cao su để sang sông. Ngồi dưới hầm trú ẩn nhìn sang phía Thị xã Quảng Trị thấy pháo sáng rực trời, bom pháo nổ liên hồi rền vang, lửa đạn tung lên trời như pháo hoa, tưởng chừng như không còn sinh vật nào có thể sống sót được.

Trước sự ác liệt, căng thẳng đó, y sĩ Tiến đi cùng tôi đã tỏ ra hoang mang, dao động và không muốn vượt sông. Thuyền đến, tôi động viên y sĩ Tiến và ra lệnh phải vượt sông để vào Thành cổ dù có thể bị hy sinh. Tới bờ bên Thị xã, chúng tôi vừa tránh đạn pháo, vừa bò men theo mép hào giao thông chạy vào hầm phẫu. Cảnh tượng ác liệt đầu tiên đập vào mắt chúng tôi là thương binh nằm, ngồi la liệt lẫn với một vài tử sĩ do chưa được chôn cất. Gặp tôi, đồng chí Bằng mừng khôn xiết, trao đổi về tình hình đội phẫu. Tôi quyết định để đồng chí Bằng về phía sau, vì Bằng là sinh viên đã hết thời gian phục vụ theo quy định của nhà trường. Hơn nữa, từ trong thâm tâm tôi không muốn để anh phải hy sinh, vì chỉ có 2 sinh viên tăng cường cho trung đoàn thì Cao Văn Khoan đã hy sinh tháng trước cùng với 15 thương binh tại cầu Lai Phước khi máy bay địch đánh trúng đội hình của đại đội quân y.

Đêm 14 và ngày 15 tháng 9, chiến sự đã ở đỉnh điểm của sự ác liệt. Ta và địch giành giật từng góc Thành, từng công sự, từng tấc chiến hào. Đêm ngày 15 tháng 9, toàn đơn vị được lệnh rút ra ngoài. Đội phẫu lúc này còn 22 thương binh. 19 giờ, chúng tôi tổ chức cho thương binh chuyển về phía sau với phương châm ai còn đi được thì dùng bao ni lông đựng gạo Trung Quốc làm phao bơi qua sông, những thương binh nặng bám vào phao có chiến sĩ vận tải dìu sang và rút trước. 22 giờ đêm, các đơn vị và bộ phận chỉ huy lần lượt rút. Gần 3 giờ sáng, thương binh cuối cùng bị gãy 2 xương cẳng chân được đặt lên phao, tôi cột vào người, vừa bơi vừa kéo sang sông...

Kết thúc 81 ngày đêm cùng đồng đội chốt giữ Thành cổ Quảng Trị, đội phẫu của tôi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đến phút cuối cùng của chiến dịch. Tổng hợp của Trung đoàn 48, trạm phẫu đã cứu chữa hàng nghìn thương binh thuộc các đơn vị tham gia chiến đấu trong Thành cổ, trong đó có 213 thương binh nặng, 843 thương binh vừa và có 58 thương binh tử vong tại đội phẫu. Riêng 10 ngày cuối chiến dịch, đã thu dung 310 thương binh, có 55 đồng chí tử vong tại đội phẫu. Tổn thất của quân y cũng khá lớn: 100% số y tá đại đội bị thương hoặc hy sinh (3 y sĩ, 1 sinh viên và 26 y tá quân y trung đoàn).

Tôi hồi tưởng và viết lại một giai đoạn khốc liệt trong chiến tranh mà các chiến sĩ quân y đã đóng góp nhiều xương máu cho chiến thắng vẻ vang của dân tộc; để nhớ lại và biết ơn những đồng đội thân yêu của tôi, những con người quả cảm đã khuất, có hoặc không tên trên bia đá. Hôm nay, nếu ai đó cố tình lãng quên những mốc son quá khứ lịch sử ấy là có lỗi với đồng bào, đồng chí, đồng đội từ mọi miền của Tổ quốc đang yên giấc ngàn thu ở mảnh đất Quảng Trị anh hùng./.
 


Tiêu đề: Re: Khúc tráng ca thành cổ Quảng trị
Gửi bởi: vmt trong 08 Tháng Năm, 2011, 03:05:33 PM
                                              Viên gạch Cổ Thành
                                               LÊ TRÍ DŨNG

 Ông – Họa sỹ Trường dẫn tôi lên căn phòng áp mái. Vâng, nó đúng là một cục gạch, nhưng là một cục gạch thiêng. Ông kể: Số là đơn vị tôi khi đóng quân ở Cửa Việt cách Thành cổ Quảng Trị khoảng 30 cây số, mùa hè năm ấy là một mùa hè đỏ lửa. Đêm ngày Thành cổ bị pháo tầm xa và máy bay địch quần thảo. Ta chuyển quân vào hết tiểu đoàn này đến tiểu đoàn khác. Trận chiến đấu đã đến hồi khốc liệt, "cối xay thịt" làm việc không ngừng nghỉ. Lữ dù 2 ngụy nổi tiếng thiện chiến bị đánh tơi bời, thủy quân lục chiến ngụy chạy tan tác.

Tổn thất của ta cũng rất lớn. Chúng tôi dằn lòng chờ đợi bên những chiến xa. Ruột như lửa đốt. Rồi 81 ngày qua đi, đạo quân năm vạn tên với đầy đủ phi pháo và máy bay yểm trợ đã bị đánh tan tành, mỗi tấc đất ở Thành cổ đã vùi xác hàng trăm tên địch và cũng thấm nhiều máu của chiến sĩ, và đồng bào ta. Thành cổ do phải gánh chịu một số lượng bom đạn khổng lồ đã trở thành bình địa. Những năm sau, tình cờ ngày nọ đơn vị tôi chuyển quân qua đó nghỉ một đêm cạnh Thành cổ. Dưới ánh trăng hạ tuần, tôi sờ tay vào cánh cổng hậu còn sót lại lỗ chỗ hàng trăm vết đạn, ngước nhìn vòm trần loang lổ mảnh trái phá đọc vội dòng chữ: "Quyết đánh giặc Mỹ cút khỏi nước ta!" viết nguệch ngoạc bằng lưỡi lê, bằng máu lẫn trong nhiều khẩu hiệu khác. Thành cổ giờ đây là mộ địa.

Tôi ngậm ngùi cầm lên một cục gạch, chính là cục gạch này đây, cho vào ba lô con cóc. Như tôi đã nói đó là một cục gạch thiêng - đúng thế. Những vật vô tri khi nhuốm đẫm máu người sẽ có "thần". Quả nhiên, ngay đêm ấy vừa gối đầu lên ba lô ngủ, tôi đã thấy chập chờn hoang vu, giữa tiếng sóng nhẹ vỗ bờ của dòng Thạch Hãn.

"Thành cổ này được làm từ thời Gia Long, nơi này xưa gọi là Ô châu ác địa đó. Nó chính là một trong hai châu Ô-Rý mà Chế Mân đã tặng vua Đại Việt để đổi công chúa Huyền Trân đó. Xưa đắp bằng đất, đến đời Minh Mạng mới xây bằng gạch. Do vị trí trọng yếu mà nó trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, quân sự một thời. Nó là lá chắn của Cố đô Huế. Là con đê ngăn chặn vững vàng phía Bắc với hàng rào điện tử Mắc Namara nổi tiếng của địch. Chợt khi nảy cuộc tương tàn, nhuốm cơn binh lửa, tôi theo lời kêu gọi của non sông, lên đường chiến đấu.

Vốn là con của một gia đình nông dân, lúc sắp lên đường, u tôi bảo: "Khái ơi, u chỉ có mình mày, mày đi bộ đội u không cản, chỉ mong mày lấy vợ cho u thằng cháu, để mai này..." rồi u tôi khóc. Tôi là đứa con hiếu thảo, ngay đêm ấy tôi ngỏ lời với Sen, cùng thôn. Rồi đám cưới tổ chức rất nhanh. Ông trưởng thôn làm chủ hôn. Giữa tiệc ông tặng tôi một chiếc gậy Trường Sơn bằng tre đực (ông bảo thế). Thế là tôi lên đường, bữa cơm tiễn đưa, tôi không nuốt được miếng nào. Vợ tôi cũng không nuốt được miếng nào. Cả nhà chỉ nhìn tôi mà khóc. Thầy tôi quát: "Thằng Khái đi làm việc nước, cấm đứa nào được khóc". Tôi nhìn lên, thầy tôi nước mắt lưng tròng. Tôi biết cũng như bao người cha khác, có xót con cũng nuốt nước mắt vào trong.

 Nhưng trận ấy ác liệt quá. Trước đó, chỉ trong 5 ngày quân ta có pháo binh và xe tăng yểm trợ đã đánh tan toàn bộ cứ điểm địch ở bắc Đường 9.  Hôm đó tôi vừa ló ra khỏi bờ tường thì nghe một tiếng: "Má ơi". Ngón tay đang đặt trên cò định điểm xạ chợt dừng lại. Má tức là Mẹ, tức là Bầm, tức là U tôi đó. Tôi quắc mắt, một thằng thủy quân lục chiến ở trần đầy mình xăm trổ bị mảnh pháo phang cụt tay, máu phùn phụt phun từ cách tay đứt. Trong một thoáng, hình ảnh Minh, đồng đội người Hà Nội, tháng trước khi trinh sát bị đạn pháo tiện một chân. Máu ra nhiều quá, choáng, lúc ấy xung quanh không có ai, cũng không đủ sức tự xé áo băng lấy. Anh ngồi tựa lưng vào bìa rừng nhìn máu chảy dần mà hy sinh... Rồi một thoáng nữa, chần chừ, chỉ nghe tiếng "tạch", từ cánh tay kia của tên ngụy một tia chớp bay ra. Vai tôi nhói lên một cái. Mẹ mày! Tôi lao tới dùng cả cái sức trai làng đè ập xuống thằng ngụy. Tay phải thuận đà rút phắt cái lê AK cạnh sườn, thằng ngụy cũng chĩa con dao Mỹ tự động lên, ấn nút.

Mũi lê ấn xuống vật mềm, nghe sừn sựt, người tôi bay lên, rồi một cơn khát, khát chưa từng thấy, khát không sao tả xiết cào xé cổ họng tôi. Trước mặt tôi là con hào hai bên hỗn chiến, ũng nước, nước chia thành ba lớp: dưới cùng là lớp bùn non đặc sệt, lớp giữa là máu cả hai bên đỏ lừ, trên cùng là một lớp nước trong hơn, lờ lờ. Tôi bơi trong mơ, há mồm định hớp lấy lớp nước trong mà uống. Chỉ thấy một con rồng lao đến đớp, đó là con rồng xăm trên mình thằng ngụy, nó thè ra hai cái lưỡi sáng trắng, là hai mũi dao tự động Mỹ đã phóng vào vai và tim tôi đó. Tôi huơ lê xông tới, chỉ thấy đầu nặng, chân nhẹ rồi không biết gì nữa...

Ngay đêm ấy đồng đội đã chôn cất tôi tại gốc phi lao già này. Mãi hôm nay, nhờ viên gạch thiêng mà tôi được gặp ông. Nơi tối u linh, chết vì việc nước, hồn nơi chín suối khí uất vẫn còn. Nếu nhờ ông mà được về quê cũ, có người nhang khói những ngày sóc vọng. May ra hồn thiêng được siêu thăng mà khí uất cũng tiêu tán đi phần nào chăng?"... Kể xong người ấy lui ra sau gốc phi lao già, tan dần vào màn sương đang loang dần trên dòng sông Thạch Hãn...

Hai chúng tôi lặng đi, lát sau tôi hỏi Trường: Rồi sau có đưa anh Khái về Thái Bình không? Trả lời: Có chớ! Cô Sen vẫn chờ, không chịu lấy ai. Nhưng cuộc tìm kiếm cũng gian nan lắm, phải thuốn mãi mới thấy ngôi mộ đó, hiện tượng ấy gọi là trôi mộ. Tôi lại hỏi: Thế viên gạch sau này có phát tác gì không? Trả lời: Có chớ! Ông phải biết rằng những người chết ở đây toàn là trai trẻ. Mà trai tân hoặc trinh nữ chết là thiêng lắm. Thỉnh thoảng gối đầu lên viên gạch mà cầu, lát sau chìm vào giấc ngủ là sẽ mơ thấy nhiều điều lạ, ứng lắm. Tôi hỏi: Thế không sợ phá phách à? Trả lời: Phá phách sao được. Một là tâm mình chính, lòng mình lành, không sợ. Hai là những hồn ma dù là ta hay địch thì trong cuộc chiến này đều là người Việt cả, hơn 30 năm rồi còn gì, nếu họ khôn thiêng thì phù hộ cho dân nước Việt này ngày càng phồn thịnh, trong đó có con cháu của họ. Ba là viên gạch tôi đã bày 5 pho tượng Phật: Như Lai, Quan Âm, Di Lặc, Đạt Lai Lạt Ma và Lý Thiết Quài, Phật pháp vô biên mà...

 Trời sáng dần, trên chiếc bàn bằng gỗ lũa hình con rùa, viên gạch Thành Quảng Trị, viên gạch thiêng Thành cổ vẫn nằm đó, lặng lẽ, thần bí. Một nửa cháy sém, đen thui vì napan, nửa kia lỗ chỗ vết đạn và cào xước của bom pháo, nó vỡ hình lưỡi rìu cổ, dựng đứng lên trông giống như một bức tượng đài.
           Thành cổ Quảng Trị
           Ngày 27 tháng 7 năm 2003             ( Hết chương 2 )                     


Tiêu đề: Re: Khúc tráng ca thành cổ Quảng trị
Gửi bởi: vmt trong 08 Tháng Năm, 2011, 03:09:43 PM
                                  Chương III: Vẫn thơ khúc tráng ca.


                Ga Quán Hành
                 TRẦN LÊ AN

 Chốn này xưa làm chi có sân ga
Cơn gió Lào thổi tung mù cát bụi
Cái nóng hầm hầm muốn thiêu cháy trụi
Mặt đất rùng mình trong mỗi đợt bom.
Giữa điêu tàn của cuộc chiến tranh
Chuyện ngày xưa như là không có thật
Người bẻ ghi chui lên từ lòng đất
Chẳng có sân ga, chẳng thấy một tiếng chim.
Những đoàn tàu xuyên thủng cả trời đêm
Bỗng hiện ra như là cổ tích
Những binh đoàn tiếp những binh đoàn
Nối theo nhau đi vào chiến dịch.
Những chàng trai tuổi trang giấy thếp
Những chiếc áo xanh phơi phới tinh nguyên
Đem cả tuổi xuân ném vào trận đánh
Những thiên thần tỏa sáng trong đêm.
Quán hành quân - Quán dừng chân giây lát
Chẳng có sân ga... Pháo sáng cứ bừng lên
Bom nổ - kính rung - Lính xuống tàu đi tiếp
Nhằm phương Nam hát khúc quân hành...
 
Giật mình súng đã tràn tay
Bàng hoàng biết tuổi thơ không về nữa
Lặng lẽ đi qua những thành phố cháy
Tàn tro bay đỏ quạch trước đình làng
Giật mình ngẫm may mà con có mặt
Để khỏi cúi đầu khi nghe chuyện ngày xưa
 

Quảng Trị yêu thương
Bữa con xa nhà trời xối xả mưa
Quanh mâm cơm chia tay cả nhà ngồi xổm
Nước ngoài sân tràn vào lênh láng
Mấy khuôn mặt âm thầm quây quanh chiếc nồi rang
Lặng lẽ đè lên nhau
Những vết đũa dọc ngang
Quệt vào lòng nồi rang mẹ chưng khô nước mắm
Nước mắm kho vừa khét vừa đắng
Đứa em út con cứ khen ngon vội vội vàng vàng đưa lên
        miệng mút
Mắt tròn đen len lén nhìn xuống đất
Canh chừng nước mưa ập vào lôi mất cái nồi rang
 
Thiếu bát canh rau dền
Nên tiếng cười của đàn con không bị lút
Mong cho mẹ vui gắng đợi lửa tàn
Mẹ lụi cụi chạy vào trong bếp
Con cúi đầu nuốt vội tiếng khóc than
Cái nấc nghẹn
Chỉ riêng mình mẹ thấy
Con đi theo bạn theo bầy
Họng súng hứng đầy bụi khói
Những đứa con trai vai gồng sông núi
Nhìn vầng trăng lại nhớ mảnh quê gầy
Đất dọc chiến hào đỏ tươi đâu phải ruộng mới cày
Sao đồng đội con cứ chăng dây cắm đầu đạn làm hàng
         lúa cấy
Những hàng lúa - đạn - đồng không run theo gió
Chỉ có khói bom bay là là như ai đang vãi tro
Khi lúa lốp sợ nhỡ thì con gái
Đất ruộng làng ta cũng đã mỡ màu
Gió ở chiến trường chẳng ngừng lâu
Hắt ngược vào mắt con cay xè nhung nhớ
Đạn bắn đi rồi
Vỏ đạn gỉ xanh
Rải rác những mảnh đời lẫn vào sắc cỏ
 
Con run run vuốt xuôi đôi mắt
Đồng đội con chưa kịp nhắm
Bỗng chạm phải
Một vệt sáng long lanh nóng hổi
Nước mắt của chính mình bỏng rát trên môi
Cái khoảng trống giữa hai trận đánh
Thường được lấp đầy như thế mẹ ơi!
Bao nhiêu khoảng trống qua rồi
Bao nhiêu đồng đội con nằm lại
Màu lúa vàng rưng rưng
Nơi nào suối sông chưa tìm đến
Đồng đội con ở lại
Tuổi đời mới ướm thời trai
Những phần mộ quặn rừng già hoang dại
Như sóng chợt ngừng
Những cơn sóng gãy
Không kịp về biển
Cuồn cuộn rừng xanh rú đỏ thâm nghiêm
Những lượn sóng ngầm thấm vào lòng đất
Ngày một ngày hai
Về lại quê làng
Mướt mịn phù sa đắp bồi bến bãi
Mượt mà đưa câu hát sang ngang
 
Đêm Trường Sơn nhập nhoà pháo sáng
Con máy mắt liên hồi
Chắc mẹ thầm nhắc gọi
Xin mẹ đừng lang thang ra ngoài ngõ
Đừng tựa lưng thêm vào nơi mẹ đứng chờ con
Cái thân cau bây giờ nhẵn bóng
Loáng trơn
Những tiếng thở dài
Có phải cây cau vừa trổ gai
Níu mẹ lại khỏi ngã xoài xuống đất
Chiến tranh đi qua bàn tay lật
Hắt vào mắt mẹ
Bóng tàn nhang
Con ruổi rong dọc những đại ngàn
Vách đá rừng Lào hao hao dáng mẹ
 

Đá mồ côi
Đá cũng mồ côi như lũ trẻ
Nên gió mênh mang thổi lộng tháng ngày
Đất nước mình đắng cay
Con xa nhà mẹ già thêm nhiều lắm
Cái sạp nứa gãy nan
Mẹ lui hui ngồi dặm
Sờ lên dấu chân con nhảy nhót ngày nào
Mẹ cứ vuốt ngón tay khô gầy lên vết chân con ngày ấy
Lên cái giát giường để dằm xóc vào tay
Những tháng năm tươi nguyên màu máu chảy
Thổi suốt đời con ngọn gió trong lành
Như vỉa quặng ẩn mình dưới đất
Chút vốn liếng dụm dành
Trầm tích của trái tim
Cho con biết cười biết khóc
Biết yêu người mình yêu như chính yêu mình
Biết bạn bè không có nhiều lắm đâu dẫu mặt đất ngày càng
           đông chật
Những gì đã có
Cố đừng để mất
 
Biết sự thật không hồn nhiên như cây cỏ
Cỏ bây giờ dần đã hiếm hoi
Ghét thì cho chơi
Thương thì cho roi
Lời thương mến lại nằm trong đá tảng
Đá tảng cô đơn
Giọt lệ vụng về.
(Trích chương 6 - Trường ca "Trầm Tích")


Tiêu đề: Re: Khúc tráng ca thành cổ Quảng trị
Gửi bởi: vmt trong 08 Tháng Năm, 2011, 03:13:00 PM
                   
             Quảng Trị và tôi
             Nhà thơ Nguyễn Thụy Kha
Năm nay, tròn 35 năm ngày thống nhất đất nước. Song với những người lính sinh viên và giáo viên đại học nhập ngũ ngày 6.9.1971, thì niềm vui giải phóng đã đến từ tháng tư năm 1972 ở Quảng Trị. Họ người thì là lính chiến đấu ở sư đoàn 325. Người thì ở những đơn vị hậu cần, thông tin, công binh phục vụ chiến dịch. Vui nhất là họ đã tụ quần với nhau những ngày đầu giải phóng Quảng Trị. Lúc ấy, tôi bắt đầu tập làm thơ. Bây giờ giở lại cuốn sổ tay ngày đó, mới nhớ rằng mình đã từng làm một bài thơ ngày Quảng Trị giải phóng. Bài thơ tên là “Ngọn lửa mùa hè”. Bài thơ của một người mới tập làm thơ thật nhiều “lỗi kỹ thuật”, nó thực sự chỉ là một trang nhật ký bằng thơ giữa không gian nồng khét khói súng.
Ngọn lửa mùa hè
Anh đi giữa trưa hè thị xã
Nắng biển mặn mà hòa lẫn sắc lá xanh
Màu áo xanh hòa lẫn sắc lá xanh
Đường phố ngập tràn màu xanh bóng nắng
 
Quê hương ơi! Bao tháng ngày cay đắng
26 năm đã tìm được một ngày
Anh lại trở về từ một buổi chia tay
Chẳng nói lên lời, lệ cười trên mí mắt
 
Mới hôm nao phố phường còn xám ngắt
Đời ngậm ngùi, nhức nhối vết giày đinh
Đạp lên những chi khu, căn cứ địch
Anh mang nắng về gọi đất mẹ hồi sinh
 
Nắng trưa hè ngời thép súng lung linh
Nắng tỏa từ ngực anh ban trưa thêm sắc lửa
Nắng tìm về tận ngõ sâu, phố đổ
Giữa bộn bề anh có thấy tương lai
 
Lửa bén bùng đỏ thắm sắc cờ bay,
Từ Cổ Thành lửa chia về mọi ngả
Mang hồn lửa cầu vồng từ ngọn súng tay ai
Lửa học trò phượng nghiêng nghiêng cửa sổ
 
Lửa tình yêu nhóm nhen từ lửa hoa
Cùng lửa cờ múa reo cùng lửa nắng
Bừng cháy giữa miền đất đai chiến thắng
Ngọn lửa mùa hè ấp ủ tự bao năm
 
Và trưa nay đang cùng anh hành quân...
Bài thơ đầy lạc quan. Nhưng sự thực của “Mùa hè đỏ lửa” diễn ra sau đó khốc liệt đến nỗi không thể tưởng tượng nổi. Quảng Trị thành nơi tranh chấp đẫm máu giữa hai bên liên quan tới Hội Nghị Paris đang đi tới quyết định ngừng bắn, lập lại hòa bình tại Việt Nam. Và cuối cùng thì sông Thạch Hãn trở thành giới tuyến tạm thời từ năm 1972 đến năm 1975.
Sau ngày thống nhất đất nước, đầu năm 1977, đơn vị tôi được cử ra Quảng Trị để xây dựng đường dây quân sự nối thông từ Quảng Bình đến Phú Bài (Huế). Những ngày mưa ẩm ướt của mùa xuân 1977, tôi mới có dịp chứng kiến lại những tàn phá, đổ nát của “Mùa hè đỏ lửa” 1972 mà khi ấy, hầu như vẫn còn nguyên hiện trạng giữa một cuộc sống mới bắt đầu nhú mầm hồi sinh. Những chiều lang thang bên bờ sông Thạch Hãn thật buồn. Luôn luôn có cảm giác bước chân mình đang chạm vào anh linh những người đã hy sinh ở Cổ Thành nhiều đến mức không sao đếm xiết. Vậy là bài thơ “Nhớ nắng” bật ra như một lời tưởng niệm. “Nhớ nắng” đã từng được in trên tạp chí “Văn nghệ Bình – Trị - Thiên”.
Không có lời nào rõ bằng cái nhìn
Bức tường đạn găm lỗ chỗ
Đất cát dưới chân nắng nằm mắt mở
Vết chém thân cây nhựa đọng thân
 
Vẫn còn đây Quảng Trị Cổ Thành
Trời bâng khuâng mây bạc
Gạch vụn ngổn ngang ngổn ngang đổ nát
Hố bom hun hút vết thương
 
Đo trên bản đồ hơn cây số vuông
Mà gặp ở đây tan tành bao miền dất
Nhưng nơi nào? Nơi nào đau nhất
Để suốt đời tôi không gặp lại Cổ Thành
 
Để suốt đời tôi không gặp lại các anh
Một mùa hè nung nấu
Mùa hè ấy gạch chảy ra như máu
Máu các anh che chở những căn nhà
 
Em cười chi? Em xếp gạch đằng xa
Em ghép lại mặt trời mùa hè ấy
Hay rưng rưng tay nâng dòng máu chảy
Có nghe dĩ vãng dội về?
Dĩ vãng trẻ măng, dĩ vãng binh nhì...


Tiêu đề: Re: Khúc tráng ca thành cổ Quảng trị
Gửi bởi: vmt trong 08 Tháng Năm, 2011, 03:16:30 PM
                                            Dáng ta đứng
                                            ĐÀO CHÍ THÀNH

Mặt trời ngang vai
Bởi ta trên núi
Dáng ta rất nổi
Giữa triền sóng núi mênh mông
Dáng dòng sông
Lượn vòng uốn khúc
Dưới chân đồi
Ta đứng
Oai hùng
Dáng ung dung
Đưa mắt nhìn bốn hướng.
Chốt Đá Đứng, ven bờ Thạch Hãn
thời kỳ giáp ranh năm 1973
Bên Mộ chung - Thành cổ
 
                                  Võ Quang Diệm
                                   37 Lê Đại Hành Hà Nội

Xin được nghiêng mình trước tưởng niệm đài - Thành cổ
Dâng nén hương thơm cho những anh hùng dưới mộ
Ngôi mộ chung không nấm lớn nhất trần gian
Nơi máu thịt xương hoà đất nước, hoá xanh cây cỏ
Linh hồn các anh bất tử với giang san.
Ôi muốn nấc, sao nghẹn ngào đến vậy
Khoé mắt cay cay, giọt lệ đong đầy
Cho tôi được khóc thay những người mẹ, người vợ
Cạn nước mắt tìm đợi chồng con, mà chưa đến được nơi đây.
Có cuộc chiến tranh nào trên thế gian này
ác liệt hơn 81 ngày đêm Thành cổ?
Nơi máu đỏ nhuộm hồng từng viên gạch vỡ
Mỗi nhát cuốc đào đều đụng xương thịt các anh.
Thạch Hãn bây giờ, nước đã lại trong xanh
Nhưng từng đỏ máu các anh một thuở
Nơi đáy sông, bao người còn nằm lại đó
Đẹp mãi những mối tình và ước vọng tuổi hai mươi.
Đau đớn đến tột cùng và chẳng thể nào nguôi
về sự vô tình với những người dưới sông, dưới mộ
Hậu thế sẽ chẳng bao giờ hiểu rõ
Sự ngạo nghễ đi vào thành cổ của các anh.
Xin hãy đến nơi đây, xin mãi tri ân
Cho siêu thoát những linh hồn chiến đấu, hy sinh
Nơi cõi thiêng, các anh ơi- phù hộ
cho đất nước mình đừng bao giờ tái diễn thành cổ thứ hai.
  Quảng Trị: 13/6/2009


 


Tiêu đề: Re: Khúc tráng ca thành cổ Quảng trị
Gửi bởi: vmt trong 08 Tháng Năm, 2011, 03:22:12 PM
                    Bụị
                    Nhà thơ Nguyễn Thụy Kha
Kỷ niệm Quảng Trị của tôi là một tấm chăn dù. Ra Hà Nội đã lâu mà tôi vẫn đắp tấm chăn dù đó. Đến năm 1992, nhẩm tính đã 20 năm chiến dịch Quảng Trị, tôi lại khai bút bằng một bài thơ nhiều nỗi niềm mang tên là “Bụi”.

 Cuộc chiến tranh không chịu ra khỏi tôi
Như bụi trong nhà chẳng chổi nào quét sạch
Cả em nữa tận cùng ngóc ngách
Cứ chợt khi nhoi nhói buồn thương
 
Mỗi sớm ăn bát cơm nguội ngày thường
Gặp bữa phụ trước giờ chiến đấu
Sao hờn giận cứ quẩn quanh như máu
Giấc bên em cả giấc không em
 
Ôi thanh xuân cỏ dại ngạt men
Mọc lang thang khắp thời gian xứ sở
Tôi không tiếc nhưng bây giờ tàn úa
Xin lãng quên hay đồ cổ cứ bày
 
Lại qua nhanh một năm cũ lên mây
Còn trĩu nặng tấm chăn dù Quảng Trị
Cuộc chiến tranh vẫn bám đầy thân thể
Như thịt da sốt rét những u mê

Cũng năm 1992, không thể chịu ngồi yên khi nỗi đau mất mát ở Quảng Trị cứ nhay nhứt trong lòng, tôi rủ nhà văn Hòa Vang, cùng nhà biên kịch Trần Trọng Hiền và nhà quay phim Phạm Đăng Minh vào Quảng Trị để làm một phim tài liệu mang tên “Quảng Trị – 20 năm và một khúc tưởng niệm”. Phim đã được chiếu rộng rãi ở Quảng Trị. Lời bình của phim thì in trên tạp chí “Cửa Việt” số 17 năm 1992. Trong lời bình, Quảng Trị đã được khái quát hóa hơn qua bài thơ “Vết sẹo câm”.
         Vết sẹo câm
Khi hy sinh lớn quá sự hy sinh
Dường như không ai kể nhiều nữa
Cồn cát nắng lặng trắng từng tâm sự
Tháy máu xương còn trên đất tầng tầng
 
Khi cái chết nhẹ như lẽ thường,
Quý biết mấy sự sống từng khoảnh khắc
Cứ đi vòng Cổ Thành đổ nát
Nghe 81 ngày xưa bật hát dưới chân
 
Mảnh đất này kẻ thù từng hủy diệt
Còn chúng ta cũng đã từng lãng quên
Hai mươi năm khôn thiêng về da diết
Chúng ta đã nhìn ra Quảng Trị. Và tin
 
Không bao giờ hoài phí sự hy sinh
Rằng cái chết bắt đầu cho sự sống
Rằng Quảng Trị vẫn là niềm xúc động
Trên hành tinh một vết sẹo câm

Sang thế kỷ mới, tôi tổ chức một tập thơ để vĩnh chào thế kỷ cũ mang tên “Biệt trăm năm” với 5 phần biệt “Biệt cố sử”, “Biệt thế sự”, “Biệt dị nhân”, “Biệt vãng xứ”, “Biệt thời truân”. Trong phần “Biệt cố sử”, tôi lại viết về mùa hè Quảng Trị 1972 với cái tên “Mùa hạ diễm”.
        Mùa hạ diễm
Thành Cổ nát tan cùng hàng phượng dọc đường Nguyễn Hoàng mà em vẫn hát “Diễm xưa”
Hương ơi! Áo dài trắng cây ghi ta bé bỏng
Chai la – de đầu tiên anh uống cùng đá lạnh
Tanh nồng mùi máu mùi xương
 
Em có còn trên đời không, hay đã nát tan cùng những mảnh tường Bồ Đề
Hay đã chết sập hầm trước tòa nhà tỉnh trưởng
Cái giọng khàn khàn giai điệu lạ lẫm
Đã hòa em vào trong ký ức của anh
 
Hòa cả mùa hạ 72 cùng đồng đội trẻ măng,
Những binh nhì hy sinh ngày lính mới
Mưa vẫn hay mưa.. nắm cơm thiu vắt vội
Diễm xưa... Quảng Trị xưa... Mùa hạ xưa... Còn mất đến bao giờ?
Vậy đấy, Quảng Trị và tôi là vậy đấy. Là 1972 hồn nhiên, 1977 suy tư, 1992 trăn trở, 2005 trắc ẩn.....

                              HẾT